filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
tripadvisor.txt | TripAdvisor, Inc. là một công ty du lịch Hoa Kỳ chuyên cung cấp các đánh giá liên quan đến du lịch. Nó cũng bao gồm các diễn đàn du lịch tương tác.
TripAdvisor đã có cách tiếp cận sớm với nội dung do người dùng tạo ra. Các dịch vụ của trang web sẽ miễn phí cho người dùng, và người dùng cung cấp lại hầu hết nội dung, và trang web được hỗ trợ bởi mô hình kinh doanh quảng cáo.
== Mô tả ==
TripAdvisor, có trụ sở tại Needham, Massachusetts, tuyên bố là trang web du lịch lớn nhất thế giới với hơn 60 triệu thành viên và hơn 170 triệu đánh giá và ý kiến về khách sạn, nhà hàng, điểm tham quan và các doanh nghiệp liên quan đến du lịch. TripAdvisor Media Group điều hành 25 thương hiệu du lịch, bao gồm TripAdvisor, Airfarewatchdog, BookingBuddy, Citymaps, Cruise Critic, Family Vacation Critic, FlipKey, GateGuru, Holiday Lettings, Holiday Watchdog, Independent Traveler, Jetsetter, lafourchette, Niumba, OneTime, SeatGuru, SmarterTravel, Tingo, TravelPod, Tripbod, VacationHomeRentals, Viator, và VirtualTourist. TripAdvisor điều hành các trang web quốc tế, với các địa điểm như Austria, Australia, Brazil, Canada, China (dưới thương hiệu 猫途鹰 www.tripadvisor.cn), Denmark, France, Germany, Greece, India, Indonesia, Ireland, Italy, Japan, Mexico, The Netherlands,Norway, Poland, Portugal, Russia, Serbia, Singapore, Spain, Sweden, Thailand, Turkey, Vương quốc Anh, và Hoa Kỳ.
== Lịch sử ==
Vào tháng 2 năm 2000, TripAdvisor được thành lập bởi Stephen Kaufer, Langley Steinert và nhiều người khác
== Mua bán ==
Tháng 5 năm 2007, TripAdvisor đã mua lại Smarter Travel Media vốn điều hành SmarterTravel.com và BookingBuddy.com; SeatGuru.com; TravelPod.com; và Travel-Library.com. Cũng trong tháng 5 năm 2007, TripAdvisor đã mua lại The Independent Traveler, Inc., nhà xuất bản của Cruise Critic.com và IndependentTraveler.com
== Tranh cãi và đánh giá gian lận ==
== Xem thêm ==
Expedia, Inc., công ty mẹ trước kia của TripAdvisor
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
nhân viên lưu trữ.txt | Nhân viên lưu trữ là chuyên gia thực hiện các công việc như đánh giá, thu thập, tổ chức, bảo quản, duy trì, kiểm soát, truy cập và cung cấp những thông tin được xác định là có giá trị bảo quản lâu dài. Các thông tin này được bảo quản bởi nhân viên lưu trữ có hình thức rất đa dạng và phong phú, không giống như thủ thư chỉ bảo quản và coi sóc sách vở trong thư viện là chính. Những thông tin này bao gồm bất kỳ hình thức phương tiện truyền thông nào từ hình ảnh, video, băng ghi âm, đoạn âm thanh, thư từ, tài liệu, hồ sơ điện tử, sách vở vv). Như Richard Pearce-Moses đã viết, "Nhân viên lưu trữ bảo quản những hồ sơ có giá trị lâu dài và là những bộ nhớ đáng tin cậy của quá khứ, và họ giúp mọi người tìm và hiểu được những thông tin mà họ cần trong một mớ hỗn độn các hồ sơ này."
Xác định những hồ sơ có giá trị lưu trữ lâu dài có thể là một thách thức không nhỏ đối với nghề này số lượng các thông tin, hồ sơ lưu trữ ngày càng tăng theo hàng ngày, hàng giờ. Nhân viên lưu trữ cũng phải chọn các bản lưu có giá trị đủ để biện minh cho các chi phí lưu trữ và bảo quản, và chi phí lao động chuyên sâu của sự sắp xếp, mô tả, và dịch vụ tài liệu tham khảo. Lý thuyết và công việc nền tảng học thuật lưu trữ thực hành được gọi là khoa học lưu trữ. Ở Việt Nam, nhân viên lưu trữ thường kiêm luôn mảng văn thư (quản lý công văn, giấy tờ) và gọi là nhân viên văn thư lưu trữ.
== Tham khảo ==
Sabine Brenner-Wilczek, Gertrude Cepl-Kaufmann, Max Plassmann: Einführung in die moderne Archivarbeit. Wissenschaftliche Buchgesellschaft, Darmstadt 2006. ISBN 3-534-18190-5
Julia Brüdegam: Auswahlverfahren im Staatsarchiv Hamburg. In: Archivar, Jg. 61, 2008, Heft 1, S. 45–47.
Norbert Reimann (Hrsg.): Praktische Archivkunde. Ein Leitfaden für Fachangestellte für Medien- und Informationsdienste, Fachrichtung Archiv. 2. überarbeitete Auflage, Ardey-Verlag, Münster 2008, ISBN 978-3-87023-255-9 |
1991.txt | Theo lịch Gregory, năm 1991 (số La Mã: MCMXCI) là một năm bắt đầu từ ngày thứ ba.
Bản mẫu:Tháng trong năm 1991
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1: Flavio Cotti trở thành tổng thống của Thụy Sĩ
13 tháng 1: Bầu cử tổng thống tại Bồ Đào Nha. Mário Soares tái đắc cử.
17 tháng 1: Helmut Kohl tái đắc cử thủ tướng Đức
17 tháng 1: vua Harald V của Na Uy trở thành nhà lãnh đạo quốc gia tại Na Uy
20 tháng 1: Bầu cử dân chủ đầu tiên tại São Tomé và Príncipe
=== Tháng 3 ===
3 tháng 3: Miguel Trovoada trở thành tổng thống của São Tomé và Príncipe
26 tháng 3: Gabon có Hiến pháp mới
=== Tháng 4 ===
9 tháng 4: Gruzia tuyên bố độc lập lần thứ 2
=== Tháng 5 ===
12 tháng 5: Bầu cử quốc hội dân chủ đầu tiên tại Nepal
26 tháng 5: Swiad Gamsachurdia trở thành tổng thống Gruzia.
=== Tháng 6 ===
1 tháng 6: Núi lửa Pinatubo (Philippines) lại hoạt động. Khoảng 1.000 người chết, 400.000 người mất nhà cửa
25 tháng 6: Nam Tư: Croatia và Slovenia độc lập
=== Tháng 7 ===
1 tháng 7: Thụy Điển xin gia nhập Liên minh châu Âu
12 tháng 7: Mauritanie có Hiến pháp mới
17 tháng 7: Bulgaria: Hiến pháp mới bắt đầu có hiệu lực
=== Tháng 8 ===
6 tháng 8: Sửa đổi hiến pháp thứ 12 tại Bangladesh
20 tháng 8: Estonia độc lập
21 tháng 8: Latvia. Hiến pháp năm 1922 có hiệu lực
21 tháng 8: Latvia độc lập
24 tháng 8: Ukraina trở thành độc lập
27 tháng 8: Moldova trở thành độc lập
28 tháng 8: Đức thiết lập quan hệ ngoại giao với Estonia
28 tháng 8: Quan hệ ngoại giao giữa Đức và Latvia
30 tháng 8: Azerbaijan. Mutalibow trở thành tổng thống
31 tháng 8: Kyrgyzstan và Uzbekistan độc lập
=== Tháng 9 ===
8 tháng 9: Macedonia trở thành độc lập
9 tháng 9: Tajikistan trở thành độc lập
21 tháng 9: Armenia độc lập
=== Tháng 10 ===
1 tháng 10: Hiến pháp mới tại Sierra Leone
6 tháng 10: Bầu cử quốc hội tại Bồ Đào Nha.
7 tháng 10: Litva trở thành thành viên tại UNESCO
13 tháng 10: Bulgaria. Bầu cử quốc hội lần đầu tiên từ khi có Hiến pháp mới
14 tháng 10: Estonia trở thành thành viên UNESCO
14 tháng 10: Latvia trở thành thành viên UNESCO
16 tháng 10: Armenia. Lewon Ter-Petrosjan được bầu làm tổng thống
17 tháng 10: Bầu cử dân chủ đầu tiên tại Ba Lan
18 tháng 10: Azerbaijan tuyên bố độc lập
19 tháng 10: Động đất tại Ấn Độ, khoảng 2.000 người chết
21 tháng 10: Tuvalu trở thành thành viên UNESCO
27 tháng 10: Turkmenistan tuyên bố độc lập
=== Tháng 11 ===
17 tháng 11: Hiến pháp mới tại Macedonia
=== Tháng 12 ===
4 tháng 12: Pan American World Airways chính thức chấm dứt hoạt động.
16 tháng 12: Kazakhstan trở thành độc lập
23 tháng 12: Guinée có Hiến pháp mới
23 tháng 12: Hiến pháp dân chủ mới tại Slovenia
24 tháng 12: Burkina Faso. Blaise Compaoré được bầu làm tổng thống
26 tháng 12: Liên Xô chính thức sụp đổ
== Người sinh ==
14 tháng 2: Torben Brinkmann, diễn viên Đức
17 tháng 2: Bonnie Wright, nữ diễn viên Anh
4 tháng 4: Jamie Lynn Spears, nữ diễn viên Mỹ và nữ ca sĩ
15 tháng 4: Arioka Daiki, nam ca sĩ diễn viên Nhật Bản
24 tháng 6: Mark Ehrenfried, nghệ sĩ dương cầm Đức
6 tháng 7: Victoire Thivisol, nữ diễn viên Pháp
12 tháng 7: Erik Per Sullivan, diễn viên Mỹ
5 tháng 9: Skandar Keynes, diễn viên Anh
13 tháng 3: Lê Quang Liêm, kì thủ cờ vua Việt Nam
== Người chết ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1: Inga Gentzel, nữ vận động viên điền kinh Thụy Điển (s. 1908)
4 tháng 1: Richard Maibaum, tác giả kịch bản Mỹ (s. 1909)
6 tháng 1: Heinrich Dathe, nhà động vật học Đức (s. 1910)
6 tháng 1: Ahmed Adnan Saygun, nhà soạn nhạc Thổ Nhĩ Kỳ (s. 1907)
7 tháng 1: Josef Stroh, cầu thủ bóng đá (s. 1913)
11 tháng 1: Ladislav Alster, kỳ thủ (s. 1927)
11 tháng 1: Carl David Anderson, nhà vật lý học Mỹ (s. 1905)
16 tháng 1: Heinz Rein, nhà văn Đức (s. 1906)
17 tháng 1: Olav V, vua của Na Uy (s. 1903)
17 tháng 1: Giacomo Manzù, nhà điêu khắc Ý, nghệ sĩ tạo hình (s. 1908)
19 tháng 1: Jean Mantelet, doanh nhân (s. 1900)
24 tháng 1: Karl Mark, chính khách Áo (s. 1900)
28 tháng 1: Kurt Sowinetz, diễn viên Áo (s. 1928)
29 tháng 1: Inoue Yasushi, nhà văn Nhật Bản (s. 1907)
30 tháng 1: Kurt Bittel, nhà khảo cổ học Đức (s. 1907)
30 tháng 1: John Bardeen, nhà vật lý học Mỹ, nhận Giải thưởng Nobel. (s. 1908)
=== Tháng 2 ===
7 tháng 2: Otto Friedrich Bollnow, triết gia, nhà sư phạm, nhà tâm lý học (s. 1903)
7 tháng 2: Otto Kuss, nhà thần học Công giáo (s. 1905)
11 tháng 2: Alja Rachmanowa, nhà văn nữ Nga (s. 1898)
13 tháng 2: Arno Breker, nhà điêu khắc Đức (s. 1900)
15 tháng 2: Alfred Gleisner, chính khách Đức (s. 1908)
16 tháng 2: Max Strecker, diễn viên Đức (s. 1906)
17 tháng 2: Hans Thimig, diễn viên Áo, đạo diễn phim (s. 1900)
18 tháng 2: Renate Kern, nữ ca sĩ Đức (s. 1945)
21 tháng 2: Margot Fonteyn de Arias, nữ nghệ sĩ múa Anh (s. 1919)
24 tháng 2: Jean Rogers, nữ diễn viên (s. 1916)
24 tháng 2: Webb Pierce, ca sĩ nhạc country Mỹ (s. 1921)
26 tháng 2: Joseph Schoiswohl, Giám mục Áo (s. 1901)
=== Tháng 3 ===
8 tháng 3: Dezider Kardoš, nhà soạn nhạc Séc (s. 1914)
10 tháng 3: Elie Siegmeister, nhà soạn nhạc Mỹ (s. 1909)
16 tháng 3: Trude Herr, nữ diễn viên Đức (s. 1927)
18 tháng 3: Herbert Sandberg, nghệ sĩ tạo hình Đức, họa sĩ biếm họa
25 tháng 3: Marcel Lefebvre, nhà thần học Công giáo (s. 1905)
26 tháng 3: Herbert Dörner, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1930)
=== Tháng 4 ===
1 tháng 4: Martha Graham, nữ nghệ sĩ múa Mỹ, nữ biên đạo múa, nhà nữ sư phạm (s. 1894)
1 tháng 4: Detlev Karsten Rohwedder, manager, chính khách Đức (s. 1932)
3 tháng 4: Graham Greene, nhà văn Anh (s. 1904)
4 tháng 4: Max Frisch, kiến trúc sư Thụy Sĩ, nhà văn (s. 1911)
4 tháng 4: Edmund Adamkiewicz, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1920)
5 tháng 4: Jiří Mucha, nhà văn, nhà xuất bản, tác giả kịch bản (s. 1915)
5 tháng 4: Friederike Mulert, nữ chính khách Đức (s. 1896)
6 tháng 4: David Lean, đạo diễn phim Anh (s. 1908)
13 tháng 4: Ernst Bokon, cầu thủ bóng đá Áo (s. 1922)
18 tháng 4: Martin Hannett, nhà sản xuất nhạc (s. 1948)
18 tháng 4: Austin Bradford Hill, nhà khoa học Anh (s. 1897)
20 tháng 4: Emmanuel Kiwanuka Nsubuga, tổng Giám mục của Kampala, Hồng y Giáo chủ (s. 1914)
20 tháng 4: Rudolf Heberle, nhà xã hội học Đức (s. 1896)
20 tháng 4: Steve Marriott, nhạc sĩ nhạc rock Anh (s. 1945)
26 tháng 4: Carmine Coppola, nhạc sĩ Mỹ, nhà soạn nhạc (s. 1910)
27 tháng 4: Fritz Corterier, chính khách Đức (s. 1906)
29 tháng 4: Ken Curtis, nam ca sĩ Mỹ (s. 1916)
=== Tháng 5 ===
1 tháng 5: Richard Thorpe, đạo diễn phim Mỹ (s. 1896)
3 tháng 5: Jerzy Kosiński, tác giả Mỹ (s. 1933)
5 tháng 5: Hermann Kopf, chính khách Đức (s. 1901)
8 tháng 5: Jean Langlais, nhà soạn nhạc Pháp, nghệ sĩ đàn ống (s. 1907)
8 tháng 5: Rudolf Serkin, nghệ sĩ dương cầm (s. 1903)
13 tháng 5: Victor-Emanuel Preusker, chính khách Đức (s. 1913)
16 tháng 5: Herbert Schäfer, huấn luyện viên bóng đá Đức (s. 1927)
18 tháng 5: Rudolf Nierlich, vận động viên chạy ski Áo (s. 1966)
21 tháng 5: Rajiv Gandhi, thủ tướng Ấn Độ (s. 1944)
23 tháng 5: Wilhelm Kempff, nghệ sĩ dương cầm Đức, nhà soạn nhạc (s. 1895)
25 tháng 5: Eberhard Werdin, nhà soạn nhạc Đức (s. 1911)
30 tháng 5: Walter Dirks, nhà xuất bản, nhà văn, nhà báo (s. 1901)
31 tháng 5: Hans Schwartz, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1913)
=== Tháng 6 ===
1 tháng 6: Wolfgang Stegmüller, triết gia (s. 1923)
8 tháng 6: Heidi Brühl, nữ diễn viên Đức, nữ ca sĩ (s. 1942)
9 tháng 6: Claudio Arrau, nghệ sĩ dương cầm Chile (s. 1903)
13 tháng 6: Karl Bielig, chính khách Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang (s. 1898)
14 tháng 6: Peggy Ashcroft, nữ diễn viên Anh (s. 1907)
15 tháng 6: Helga Brauer, nữ ca sĩ Đức (s. 1936)
15 tháng 6: William Arthur Lewis, nhận Giải thưởng Nobel, nhà kinh tế học (s. 1915)
16 tháng 6: Karl Krammig, chính khách Đức
19 tháng 6: Jean Arthur, nữ diễn viên Mỹ (s. 1900)
21 tháng 6: Klaus Schwarzkopf, diễn viên Đức (s. 1922)
23 tháng 6: Michael Pfleghar, đạo diễn phim Đức (s. 1933)
24 tháng 6: Franz Hengsbach, linh mục Công giáo La Mã, nhà thần học, Giám mục, Hồng y Giáo chủ (s. 1910)
24 tháng 6: Rufino Tamayo, họa sĩ Mexico (s. 1899)
28 tháng 6: Hans Nüsslein, vận động viên quần vợt Đức (s. 1910)
30 tháng 6: Aadriaan Cornelis van Leeuwen, nhà soạn nhạc Hà Lan, nhạc trưởng (s. 1887)
=== Tháng 7 ===
1 tháng 7: Michael Landon, diễn viên Mỹ (s. 1936)
2 tháng 7: Lee Remick, nữ diễn viên Mỹ (s. 1935)
3 tháng 7: Ernst Witt, nhà toán học Đức (s. 1911)
9 tháng 7: José Salazar López, tổng Giám mục của Guadalajara, Hồng y Giáo chủ (s. 1910)
12 tháng 7: Willi Schwabe, diễn viên Đức, nam ca sĩ (s. 1915)
13 tháng 7: Fritz Duda, họa sĩ Đức, nghệ sĩ tạo hình (s. 1904)
14 tháng 7: Axel Eggebrecht, nhà báo Đức, nhà văn (s. 1899)
16 tháng 7: Robert Motherwell, họa sĩ Mỹ (s. 1915)
18 tháng 7: André Cools, chính khách Bỉ (s. 1927)
22 tháng 7: Fritz Kassmann, chính khách Đức (s. 1908)
24 tháng 7: Isaac Bashevis Singer, nhà văn, Giả Nobel văn học 1978
25 tháng 7: Lazar Moiseyevich Kaganovich, chính khách Xô Viết (s. 1893)
=== Tháng 8 ===
5 tháng 8: Gaston Litaize, nhà soạn nhạc Pháp, nghệ sĩ đàn ống (s. 1909)
5 tháng 8: Soichiro Honda, doanh nhân Nhật Bản (s. 1906)
8 tháng 8: Walter Zeman, cầu thủ bóng đá Áo (s. 1927)
8 tháng 8: Werner Holz, họa sĩ Đức (s. 1948)
9 tháng 8: Richard Löwenthal, nhà chính trị học Đức, nhà xuất bản (s. 1908)
11 tháng 8: Alfred Dompert, vận động viên điền kinh Đức (s. 1914)
11 tháng 8: Helmut Walcha, nghệ sĩ đàn ống (s. 1907)
12 tháng 8: Hans Weigel, nhà văn (s. 1908)
18 tháng 8: Martin Eckermann, đạo diễn phim Đức, diễn viên (s. 1931)
21 tháng 8: Oswald von Nell-Breuning, nhà thần học Công giáo, nhà kinh tế quốc gia, triết gia xã hội (s. 1890)
21 tháng 8: Wolfgang Hildesheimer, nhà văn, họa sĩ (s. 1916)
23 tháng 8: Wilhelm Hahnemann, cầu thủ bóng đá (s. 1914)
23 tháng 8: Alexandre Hay, luật sư Thụy Sĩ (s. 1919)
30 tháng 8: Jean Tinguely, họa sĩ Thụy Sĩ, nhà điêu khắc (s. 1925)
=== Tháng 9 ===
1 tháng 9: Otl Aicher, nhà điêu khắc, nghệ sĩ tạo hình (s. 1922)
2 tháng 9: Alfonso García Robles, chính khách Mexico; Giải Nobel về hòa bình (s. 1911)
3 tháng 9: Frank Capra, đạo diễn phim Mỹ (s. 1897)
3 tháng 9: Falk Harnack, đạo diễn phim Đức (s. 1913)
3 tháng 9: Rolf Italiaander, nhà văn (s. 1913)
3 tháng 9: Daniel Prenn, vận động viên bóng bàn và quần vợt Đức (s. 1904)
4 tháng 9: Dottie West, nữ ca sĩ nhạc country Mỹ (s. 1932)
4 tháng 9: Henri de Lubac, nhà thần học, thầy tu dòng Tên (s. 1896)
7 tháng 9: Joe Bain, nhà kinh tế học Mỹ (s. 1912)
10 tháng 9: Julius Meinl III, doanh nhân Áo (s. 1903)
10 tháng 9: Michel Soutter, đạo diễn phim (s. 1932)
10 tháng 9: Jack Crawford, vận động viên quần vợt Úc (s. 1908)
13 tháng 9: Metin Oktay, cầu thủ bóng đá Thổ Nhĩ Kỳ (s. 1936)
15 tháng 9: Sulchan Zinzadse, nhà soạn nhạc (s. 1925)
20 tháng 9: Anton Besold, chính khách Đức (s. 1904)
28 tháng 9: Miles Davis, nhạc sĩ nhạc jazz Mỹ (s. 1926)
28 tháng 9: Eugène Bozza, nhà soạn nhạc Pháp (s. 1905)
=== Tháng 10 ===
2 tháng 10: Roland Gööck, nhà xuất bản Đức (s. 1923)
3 tháng 10: Hans Lipinsky-Gottersdorf, nhà văn Đức (s. 1920)
4 tháng 10: Heinrich Hellwege, chính khách Đức (s. 1908)
6 tháng 10: Ernst-Alfred Jauch, nhà báo (s. 1920)
7 tháng 10: Natalia Ginzburg, nữ tác giả, văn học Ý (s. 1916)
9 tháng 10: Roy Black, ca sĩ Đức, diễn viên (s. 1943)
9 tháng 10: Karl Helbig, nhà khoa học Đức, nhà dân tộc học (s. 1903)
14 tháng 10: Walter Elsasser, nhà vật lý học (s. 1904)
16 tháng 10: Boris Papandopulo, nhà soạn nhạc Croatia, nhạc trưởng (s. 1906)
17 tháng 10: Charlotte Knabe, nữ chuyên viên lưu trữ Đức, nữ sử gia (s. 1907)
20 tháng 10: Ronald M. Schernikau, nhà văn Đức (s. 1960)
24 tháng 10: Gene Roddenberry, tác giả kịch bản, nhà sản xuất phim (s. 1921)
25 tháng 10: Albert Baldauf, chính khách Đức, nghị sĩ quốc hội liên bang (s. 1917)
27 tháng 10: Ernst Wimmer, chính khách, nhà báo (s. 1924)
30 tháng 10: Erwin Lange, chính khách Đức (s. 1914)
31 tháng 10: Ewald Bucher, chính khách Đức (s. 1914)
=== Tháng 11 ===
2 tháng 11: Heinrich Drimmel, chính khách Áo, luật gia (s. 1912)
3 tháng 11: Mort Shuman, nam ca sĩ Mỹ (s. 1936)
7 tháng 11: Günter Schmölders, nhà kinh tế học (s. 1903)
8 tháng 11: John Jahr senior, nhà xuất bản Đức (s. 1900)
10 tháng 11: Erwin Levy, nhà tâm lý học Đức (s. 1907)
11 tháng 11: Franziska Bilek, nữ họa sĩ biếm họa (s. 1906)
14 tháng 11: Tony Richardson, đạo diễn phim Anh (s. 1928)
17 tháng 11: Adrian Quist, vận động viên quần vợt Úc (s. 1913)
17 tháng 11: Maurice Banach, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1967)
18 tháng 11: Gustáv Husák, chính khách Slovakia, tổng thống (s. 1913)
21 tháng 11: Daniel Mann, đạo diễn phim Mỹ (s. 1912)
23 tháng 11: Klaus Kinski, diễn viên Đức (s. 1926)
24 tháng 11: Eric Carr, nhạc sĩ Mỹ (s. 1950)
24 tháng 11: Freddie Mercury, ca sĩ nhạc rock Anh (s. 1946)
29 tháng 11: Ralph Bellamy, diễn viên Mỹ (s. 1904)
=== Tháng 12 ===
1 tháng 12: Patrick O’Callaghan, vận động viên điền kinh Ireland (s. 1905)
1 tháng 12: George Stigler, nhà kinh tế học Mỹ (s. 1911)
2 tháng 12: Ernst Achenbach, chính khách Đức (s. 1909)
6 tháng 12: Richard Stone, Giải Nobel, nhà kinh tế học (s. 1913)
9 tháng 12: Berenice Abbott, nữ nhiếp ảnh gia Mỹ (s. 1898)
18 tháng 12: George Abecassis, đua xe Anh (s. 1913)
22 tháng 12: Ernst Krenek, nhà soạn nhạc Áo (s. 1900)
24 tháng 12: Alfons Goppel, chính khách Đức (s. 1905)
25 tháng 12: Curt Bois, diễn viên Đức (s. 1901)
26 tháng 12: Gustav Neidlinger, nam ca sĩ Đức (s. 1910)
31 tháng 12: Pat Patrick, nhạc sĩ nhạc jazz Mỹ (s. 1929)
== Năm 1991 trong ngành điện ảnh ==
28 tháng 4 - Bonnie Raitt kết hôn với nam diễn viên Michael O'Keefe ở New York
Kẻ huỷ diệt 2: Ngày phán xét trở thành một tại những tượng đài cho thể loại phim hành động khoa học viễn tưởng với hiệu ứng hình ảnh mới lạ và xuất sắc của công ty Industrial Light & Magic.
Sony Pictures Entertainment được thành lập từ Columbia Pictures Industries. Do sự thành lập công ty mới này, Tri-Star Pictures loại bỏ dấu gạch ngang tại tên của họ và trở thành TriStar Pictures, tại khi RCA/Columbia Pictures Home Video đổi tên thành Columbia-TriStar Home Video.
22 tháng 11 - Walt Disney Pictures phát hành phim Người đẹp và quái thú, là bộ phim hoạt hình đầu tiên tại lịch sử điện ảnh được đề cử giải Oscar cho Phim hay nhất.
=== Các bộ phim có doanh thu cao nhất ===
Số liệu doanh thu phòng vé của Box Office Mojo.
== Giải thưởng Nobel ==
Hóa học - Richard R. Ernst
Văn học - Nadine Gordimer
Hòa bình - Aung San Suu Kyi
Vật lý - Pierre-Gilles de Gennes
Y học - Erwin Neher, Bert Sakmann
Kinh tế - Ronald Coase
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Thế giới trong năm 1991, tình trạng thế giới trong năm này |
nhạc dân gian scotland.txt | Nhạc dân gian Scotland là âm nhạc phát triển trong nền văn hóa ở Scotland vào cuối thời trung cổ.
== Lịch sử ==
Có bằng chứng cho thấy có một nền văn hóa âm nhạc phát triển ở Scotland vào hậu kỳ trung cổ, điều này được thể hiện bởi các ca khúc trong The Complaynt of Scotland (1549). Những giai điệu còn tồn tại trong The Gude and Godlie Ballatis (1567) được phát hành bởi James Wedderburn, John Wedderburn và Robert Wedderburn.
Ở Scotland, các bộ sưu tập âm nhạc thế tục được in sớm nhất bởi nhà xuất bản John Forbes ở Aberdeen năm 1662 như Songs and Fancies: to Thre, Foure, or Five Partes, both Apt for Voices and Viols. Nó được in ba lần trong hai mươi năm chứa bảy mươi ca khúc, trong đó có hai mươi lăm ca khúc xuất xứ Scotland.
Vào thế kỷ 18, các ấn phẩm bao gồm Collection of original Scotch-tunes, (full of the highland humours) for the violin (1700) của John Playford, Music Book (1710) của Margaret Sinkler, Choice Collection of Comic and Serious Scots Poems both Ancient and Modern (1711) của James Watson, The Tea Table Miscellany (1723) của Allan Ramsay, Orpheus Caledonius: or, A collection of Scots songs (1733) của William Thomson, The Caledonian Pocket Companion (1751) của James Oswald, Ancient and modern Scottish songs, heroic ballads, etc.: collected from memory, tradition and ancient authors (1776) của David Herd. The Scots Musical Museum (1787-1803) bao gồm sáu tập được công bố bởi James Johnson và Robert Burns là bộ sưu tập ảnh hưởng nhất. Select Scottish Airs được sưu tập bởi George Thomson được công bố giữa năm 1799 và 1818. Trong số các ấn phẩm đầu tiên của Scott là bộ sưu tập The Minstrelsy of the Scottish Border (1802–03).
== Thế kỷ 20 ==
== Một số bộ sư tập ==
The Complaynt of Scotland (1549)
The Gude and Godlie Ballatis (1567)
Songs and Fancies: to Thre, Foure, or Five Partes, both Apt for Voices and Viols (1662)
Collection of original Scotch-tunes, (full of the highland humours) for the violin (1700)
A Description of the Western Isles of Scotland (1703)
Music Book (1710)
Choice Collection of Comic and Serious Scots Poems both Ancient and Modern (1711)
The Tea Table Miscellany (1723)
Orpheus Caledonius: or, A collection of Scots songs (1733)
The Caledonian Pocket Companion (1751)
Ancient and modern Scottish songs, heroic ballads, etc.: collected from memory, tradition and ancient authors (1776)
The Scots Musical Museum (1787-1803)
Select Scottish Airs (1799-1818)
The Minstrelsy of the Scottish Border (1802–03)
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
"Popular Ballads", in The Broadview Anthology of British Literature: The Restoration and the Eighteenth Century (Broadview Press, 2006), ISBN 1551116111.
Baxter, J. R., "Culture, Enlightenment (1660–1843): music", in M. Lynch, ed., The Oxford Companion to Scottish History (Oxford: Oxford University Press, 2001), ISBN 0-19-211696-7.
Baxter, J. R., "Music, Highland", in M. Lynch, ed., The Oxford Companion to Scottish History (Oxford: Oxford University Press, 2001), ISBN 0-19-211696-7.
Broughton, S.,Ellingham M., and Trillo, R., eds, World Music: Africa, Europe and the Middle East (London: Rough Guides, 1999), ISBN 1858286352..
Craig, C., "Culture: modern times (1914–): the novel", in M. Lynch, ed., The Oxford Companion to Scottish History (Oxford: Oxford University Press, 2001), ISBN 0-19-211696-7.
Dawson, J. E. A., Scotland Re-Formed, 1488–1587 (Edinburgh: Edinburgh University Press, 2007), ISBN 0748614559.
DeRogatis, J., Turn on Your Mind: Four Decades of Great Psychedelic Rock (Milwaukie MI, Hal Leonard, 2003), ISBN 0634055488.
Gardiner, M., Modern Scottish Culture (Edinburgh: Edinburgh University Press, 2005), ISBN 978-0-7486-2027-2.
Herman, J., "British Folk-Rock; Celtic Rock", The Journal of American Folklore, 107, (425), (1994).
Hutchison, I. G. C., "Workshop of Empire: The Nineteenth Century" in J. Wormald, ed., Scotland: A History (Oxford: Oxford University Press, 2005), ISBN 0191622435.
Larkin, C., The Guinness Encyclopedia of Popular Music (Guinness, 1992), ISBN 1882267028.
Leitch, D., The Autobiography of Donovan: The Hurdy Gurdy Man (Macmillan, 2007), ISBN 0099487039.
Lyle, E., Scottish Ballads (Edinburgh: Canongate Books, 2001), ISBN 0-86241-477-6.
MacDougall, C., Scots: The Language of the People (Black & White, 2006), ISBN 1845020847.
Mathieson, K., Celtic Music (Backbeat Books, 2001), ISBN 0879306238.
Millar, P., Four Centuries Of Scottish Psalmody (1949, Read Books, 2008), ISBN 140869784X.
Porter, J., "Introduction" in J. Porter, ed., Defining Strains: The Musical Life of Scots in the Seventeenth Century (Peter Lang, 2007), ISBN 3039109480.
Sawyers, J. S., Celtic Music: A Complete Guide (Da Capo Press, 2001), ISBN 0306810077.
Simpson, P., The Rough Guide to Cult Pop (London: Rough Guides, 2003), ISBN 1843532298.
Sweers, B., Electric Folk: The Changing Face of English Traditional Music (Oxford: Oxford University Press, 2005), ISBN 978-0-19-517478-6.
Whetter, K. S., Understanding Genre and Medieval Romance (Aldershot: Ashgate, 2008) ISBN 978-0-7546-6142-9.
Wormald, J., Court, Kirk, and Community: Scotland, 1470–1625 (Edinburgh: Edinburgh University Press, 1991), ISBN 0748602763.
== Liên kết ngoài ==
John Playford's Collection of original Scotch-tunes, (full of the highland humours) for the violin
Walter Scott's The Minstrelsy of the Scottish Border
Bản mẫu:Scottish music Bản mẫu:Scottish folk music |
tổ chức hiệp ước đông nam á.txt | Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á(tiếng Anh: Southeast Asia Treaty Organization, viết tắt theo tiếng Anh là SEATO), cũng còn gọi là Tổ chức Liên phòng Đông Nam Á hay Tổ chức Minh ước Đông Nam Á là một tổ chức quốc tế đã giải tán. Tổ chức phòng vệ này được thành lập căn cứ theo Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á hay Hiệp ước Manila được ký vào tháng 9 năm 1954, thể chế chính thức của SEATO được thiết lập vào ngày 19 tháng 2 năm 1955 tại Bangkok, Thái Lan, trụ sở cũng đặt tại Bangkok. Tổ chức từng có 8 quốc gia thành viên.
Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á được thành lập với mục đích ngăn chặn sự lan tràn của chủ nghĩa cộng sản tại châu Á, tuy nhiên do chia rẽ nội bộ nên tổ chức này không có biện pháp thi hành hữu hiệu hành động phòng vệ, không thể can thiệp trong Nội chiến Lào và Chiến tranh Việt Nam, do đó sau khi tổ chức giải tán có học giả nhận định đây là một tổ chức quốc tế thất bại; tuy nhiên trên một phương diện khác, các kế hoạch văn hóa và giáo dục do tổ chức này tài trợ có ảnh hưởng sâu xa đối với khu vực Đông Nam Á. Do có nhiều quốc gia thành viên không còn muốn tham dự công tác của hội, lần lượt rút lui nên Tổ chức cuối cùng giải tán vào ngày 30 tháng 6 năm 1977.
== Khởi nguyên và cấu trúc ==
Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á được thành lập theo Chủ thuyết Truman, nhằm át chế thế lực cộng sản chủ nghĩa tại châu Á, đồng thời phòng ngừa thế lực của Trung Quốc và Miền Bắc Việt Nam phát triển về phương nam. Trong thời gian Eisenhower đảm nhiệm chức vụ Tổng thống Hoa Kỳ, Ngoại trưởng John Foster Dulles (tại nhiệm 1953–1959) mở rộng khái niệm phòng thủ tập thể chống cộng đến Đông Nam Á nhằm đạt được mục đích kể trên. Cuối năm 1953, Phó Tổng thống Hoa Kỳ đương thời là Richard Nixon sau khi công du châu Á đã chủ trương thành lập tại châu Á một tổ chức theo mô hình của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO). Ngoài ra, Hoa Kỳ và Việt Nam Cộng hòa đều không ủng hộ Hiệp định Genève 1954. Đến ngày 8 tháng 9 cùng năm, Hoa Kỳ cùng một số quốc gia khác tại Manila ký kết "Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á" (còn gọi là "Hiệp ước Manila"); chuyên gia của các quốc gia ký kết đã triển khai đàm phán nội dung hiệp ước từ vài ngày trước đó, đồng thời vào ngày 6 tháng 9 tại Manila triệu tập hội nghị, thành lập liên minh quân sự. Các quốc gia ký kết "Hiệp ước Manila" sau đó căn cứ theo hiệp ước để lập nên Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á. Đối tượng mà tổ chức bao vây ngăn chặn là nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa thi hành xã hội chủ nghĩa. Quốc gia thành viên của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (đặc biệt là Hoa Kỳ) nhận định rằng thể chế này có khả năng cản trở những người cộng sản thay đổi bản đồ chính trị Đông Nam Á.
Sau khi thành lập tổ chức, các quốc gia phương tây từng có ý muốn phát triển thể chế này thành NATO phiên bản Đông Nam Á. Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á điều phối quân đội các quốc gia thành viên nhằm đạt đến mục đích phòng vệ tập thể. Năm 1957, trong hội nghị của SEATO tại Canberra thiết lập Hội đồng Bộ trưởng, Bộ tham mưu quốc tế cùng các ủy ban về kinh tế, an ninh và thông tin, đồng thời lập chức vụ Tổng thư ký. Tổng thư ký đầu tiên của tổ chức là Pote Sarasin, ông là một nhà ngoại giao và chính trị người Thái Lan, từng giữ chức Đại sứ Thái Lan tại Hoa Kỳ trong khoảng thời gian 1952-1957, và từng giữ chức Thủ tướng Thái Lan từ tháng 9 đến hết năm 1957. Từ đó về sau, Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á do Tổng thư ký lãnh đạo..
Khác với NATO, Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á không thiết lập quyền chỉ huy thống nhất đối với lực lượng thường trực. Ngoài ra, nguyên tắc phản ứng của SEATO trong trường hợp chủ nghĩa cộng sản thể hiện "uy hiếp chung" đối với các quốc gia thành viên là mơ hồ và vô hiệu, song việc là thành viên của tổ chức cung cấp cho Hoa Kỳ một cơ sở pháp lý để tiến hành can thiệp quy mô lớn trong Chiến tranh Việt Nam
== Thành viên ==
Bất chấp danh xưng của mình, trong số tám quốc gia thành viên của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á chỉ có Thái Lan và Philippines nằm tại Đông Nam Á; các thành viên còn lại của tổ chức bao gồm Anh Quốc, Hoa Kỳ, New Zealand, Pakistan (bao gồm Đông Pakistan, nay là Bangladesh), Pháp, Philippines, Thái Lan, Úc.
Thời điểm Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á được thành lập, Philippines và Hoa Kỳ có quan hệ đặc biệt mật thiết;Thái Lan đang nằm dưới quyền chính phủ quân sự cũng thi hành chính sách ngoại giao thân Mỹ. Ngoài ra, hai quốc gia này đều phải đối diện với tình trạng cộng sản mới bắt đầu nổi dậy trong nước. Thái Lan lưu ý đến việc Trung Quốc lập khu tự trị dân tộc Thái tại tỉnh Vân Nam (năm 1953 lập Khu tự trị dân tộc Thái và dân tộc Cảnh Pha Đức Hoành và Khu tự trị dân tộc Thái Tây Song Bản Nạp) và chi viện cho người H'Mông tại miền bắc Thái Lan, Pathet Lào và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng ủng hộ các bộ tộc tại khu vực Đông Bắc Thái Lan khởi binh. Nhà đương cục Thái Lan lo ngại Trung Quốc và miền Bắc Việt Nam, lo lắng tổ chức của Đảng Cộng sản Trung Quốc tại Thái Lan tiến hành hoạt động lật đổ. Trước cục diện này, Thái Lan tìm kiếm viện trợ của Hoa Kỳ, do đó đó tích cực tham dự hoạt động của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á. Philippines hi vọng thông qua tham dự quá trình thành lập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á để thiết lập hình tượng quốc gia độc lập và tăng cường an ninh quốc gia. Ngoài ra, đương thời Brunei là quốc gia được Anh Quốc bảo hộ, song từ năm 1962 đến năm 1963 bùng phát bạo loạn, Anh Quốc cùng Úc và New Zealand đều phái binh đến Brunei, hiệp trợ Brunei bình định bạo loạn.
Các quốc gia Đông Nam Á còn lại không tham dự Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á khác vì nhiều nguyên nhân khác nhau: Miến Điện và Indonesia là thành viên của Phong trào không liên kết, nhận định rằng duy trì ổn định xã hội trong nước quan trọng hơn là đối phó với uy hiếp của cộng sản, do đó cự tuyệt gia nhập, thậm chí phản đối Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á. Cựu thủ tướng Djuanda Kartawidjaja và cựu Phó Tổng thống Adam Malik của Indonesia từng biểu thị Indonesia sẽ không gia nhập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á. Malaya do đã ký với Anh Quốc hiệp định phòng thủ nên được Anh Quốc hiệp trợ đối phó với cuộc nổi dậy của Đảng Cộng sản Malaya và xung đột với Indonesia, do đó Malaya (sau đó là Malaysia, Singapore) không gia nhập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á. Tuy nhiên, Malaysia và Singapore có thể không qua Anh Quốc để biết được các động thái mới nhất của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á. Việt Nam Cộng hòa, Campuchia và Lào do tuân thủ quy định trong Hiệp định Genève nên không gia nhập, tuy vậy các quốc gia này vẫn được tổ chức đặt dưới bảo hộ quân sự của mình. Tuy nhiên, năm 1956 Campuchia cự tuyệt tiếp nhận bảo hộ của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á.
Các quốc gia khác gia nhập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á vì các nguyên nhân khác nhau, đối với Úc và New Zealand, Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á được nhận định là tổ chức vừa ý hơn ANZUS, Anh Quốc và Pháp đều từng lập thuộc địa tại Đông Nam Á, cũng quan tâm đến phát triển cục thế tại Đông Dương, do đó gia nhập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á. Pakistan và Ấn Độ giao chiến, hy vọng có thể được các quốc gia khác ủng hộ, do đó gia nhập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á. Trong Chiến tranh Lạnh, Hoa Kỳ nhận định Đông Nam Á là tiền tuyến chủ chốt, cho rằng thành lập SEATO là điều cần thiết trong chính sách ngăn chặn của mình.
Các quốc gia thành viên của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á vào giữa thập niên 1950 đều thi hành chủ nghĩa chống cộng, trong đó Anh Quốc, Úc và Hoa Kỳ đại diện cho các cường quốc phương Tây. Tại Hoa Kỳ, Thượng nghị viện phê chuẩn việc tham gia Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á với 82 phiếu ủng hộ, 1 phiếu phản đối. Hoa Kỳ đương thời có ý cùng liên thủ với Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan, Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc và các quốc gia ký kết "Hiệp ước Manila", và Hiệp ước ANZUS hợp thành hệ thống phòng thủ Tây Thái Bình Dương.
Canada và Trung Hoa Dân Quốc vốn đã trù tính gia nhập Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á, song Canada muốn chuyên tâm xử lý công việc của NATO, còn Anh Quốc, Pháp, Philippines, Pakistan phản đối Trung Hoa Dân Quốc gia nhập, cuối cùng không thể giải quyết. Ngoài ra, đại biểu các quốc gia thương nghị nội dung hiệp ước, cuối cùng quy định "Hiệp ước Manila" chỉ áp dụng trong phạm vi đến 21°30' vĩ Bắc, do đó không áp dụng cho Hồng Kông, tránh gây khó khăn cho Anh Quốc.
== Quân sự ==
Sau khi Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á được thành lập, tổ chức nhanh chóng trở nên không quan trọng trên phương diện quân sự do đại bộ phận các quốc gia thành viên có cống hiến rất ít cho liên minh. Mặc dù quân đội các quốc gia thành viên tiến hành diễn tập quân sự liên hiệp, song chưa từng cùng tác chiến, nguyên nhân là giữa các quốc gia này phát sinh tranh chấp; như do Anh và Pháp phản đối nên tổ chức không thể can thiệp trong xung đột tại Lào. Do đó, Hoa Kỳ đơn phương chi viện cho Vương quốc Lào từ sau năm 1962. Hoa Kỳ hy vọng SEATO tham gia Chiến tranh Việt Nam, song tổ chức này cuối cùng do Anh và Pháp bất hợp tác nên không thể thực hiện. Cuối cùng, Hoa Kỳ chỉ có thể tự thân xuất binh đến Việt Nam tham chiến theo yêu cầu của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa.
Hoa Kỳ và Úc dùng liên minh để biện hộ cho việc họ tham dự Chiến tranh Việt Nam. Hoa Kỳ lấy tư cách hội viên của minh làm lý do tiến hành can thiệp quân sự quy mô lớn tại Đông Nam Á, các đồng minh của Anh và các quốc gia chủ chốt tại châu Á chấp nhận lý do này. Năm 1962, theo cam kết của mình với SEATO, Không quân Hoàng gia Úc triển khai các máy bay CAC Sabre của Trung đội số 79 đến Căn cứ Không quân Hoàng gia Thái Lan Ubon. Các máy bay Sabre này bắt đầu tham dự trong Chiến tranh Việt Nam từ năm 1965, khi chúng chịu trách nhiệm bảo vệ máy bay của Không quân Hoa Kỳ tiến hành oanh tạc miền Bắc Việt Nam từ căn cứ Ubon.
== Ảnh hưởng văn hóa ==
Ngoài tiến hành luyện tập quân sự liên hiệp, các quốc gia thành viên Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á còn nỗ lực cải thiện vấn đề xã hội và kinh tế. Trong tổ chức, các hoạt động như vậy do Ủy ban Thông tin, Văn hóa, Giáo dục và Lao động phụ trách, chúng nằm trong số các thành công lớn nhất của tổ chức. Năm 1959, Tổng thư ký đầu tiên của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á là Pote Sarasin cho lập Trường sau đại học kỹ thuật SEATO (nay là Viện Công nghệ châu Á) nhằm đào tạo các kỹ sư. Ngoài ra, Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á còn tài trợ thành lập Trung tâm phát triển giáo viên tại Bangkok, cùng Học viện Đào tạo kỹ thuật quân sự Thái Lan. Dự án Lao động lành nghề SEATO nhằm đào tạo kỹ năng cho thợ thủ công, đặc biệt là tại Thái Lan, tại đây có 91 xưởng đào tạo được lập ra.
Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á đồng thời cũng cung cấp kinh phí nghiên cứu và tài trợ cho các lĩnh vực nông nghiệp và y tế. Năm 1959, SEATO lập Phòng thí nghiệm nghiên cứu bệnh tả tại Bangkok, sau đó lập một phòng nghiên cứu bệnh tả nữa tại Dhaka, Đông Pakistan. Phòng thí nghiệm tại Dhaka nhanh chóng trở thành cơ sở nghiên cứu bệnh tả hàng đầu thế giới và sau này đổi tên thành Trung tâm Quốc tế nghiên cứu bệnh tiêu chảy. Tổ chức này còn quan tâm đến văn học, một giải thưởng văn học SEATO được lập ra để trao thưởng cho tác gia ưu tú đến từ các quốc gia thành viên.
== Phê bình và giải tán ==
Liên Xô và Trung Quốc biểu thị phản đối ngay từ khi Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á được thành lập. Dựa theo văn kiện do nhà đương cục Liên Xô biên soạn, chủ nghĩa thực dân không muốn thấy nhân dân thuộc địa nổi dậy, tự do phát triển, song không thể khiến nhân dân các quốc gia Á-Phi từ bỏ đấu tranh, do vậy họ thay đổi sách lược, lập ra các tập đoàn xâm lược như Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á, áp bức nhân dân bị nô dịch, trấn áp phong trào giải phóng dân tộc; Lãnh tụ Liên Xô và các quốc gia châu Á như Ấn Độ và Miến Điện phản đối SEATO, khiển trách kiểu tập đoàn xâm lược này, kết luận rằng tập đoàn này không thể khiến thế giới thêm hòa bình. Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai nhận định rằng các nước Anh, Mỹ muốn dựa vào liên minh chống cộng để khiến Đông Nam Á phân liệt, song vì Hiệp định Genève nên không thành, họ lại thuyết phục SEATO nhìn nhận Trung Quốc là kẻ thù, ý muốn phân liệt châu Á, can thiệp nội chính các quốc gia châu Á, khiến cục thế khu vực càng thêm căng thẳng.
Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ Dulles nhận định SEATO là một yếu tố cần thiết trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ tại châu Á. Tuy nhiên, không phải thành viên SEATO nào cũng đồng ý với chủ trương của Hoa Kỳ về việc dùng biện pháp quân sự để áp chế thế lực cộng sản chủ nghĩa. Năm 1954, Thủ tướng Anh Quốc Anthony Eden biểu thị vấn đề cộng sản chủ nghĩa tại châu Á vừa là vấn đề chính trị, vừa là vấn đề quân sự, do đó không thể chỉ dựa vào biện pháp quân sự để áp chế người cộng sản; nếu muốn sử dụng biện pháp quân sự để ngăn chặn hữu hiệu vấn đề này, cần phải đạt được sự ủng hộ rộng rãi nhất của các quốc gia châu Á.
Do Pháp không hăng hái tham gia công tác của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á, còn Anh Quốc tuyên bố từ năm 1971 bắt đầu triệt thoái quân đội khỏi khu vực phía đông Kênh đào Suez, Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á bất lực trước hành động quân sự của thế lực cộng sản chủ nghĩa. Cuối cùng, Đảng Cộng sản Việt Nam, Pathet Lào và Khmer Đỏ vào năm 1975 lần lượt lật đổ các chính quyền thân Mỹ. Ngoài ra, ngoại trừ Hoa Kỳ, các thành viên còn lại của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á vào thời điểm giải tán đều đã lập quan hệ ngoại giao với Trung Quốc, song từ sau khi Nixon thăm Trung Quốc vào năm 1972, quan hệ Mỹ-Trung cũng đã hòa hoãn.
Thập niên 1970, một số quốc gia thành viên của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á không muốn tham dự công tác của tổ chức, đồng thời rút khỏi tổ chức: Đông Pakistan được Ấn Độ chi viện đã ly khai Pakistan, lập ra Bangladesh, một năm sau Pakistan rút khỏi Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á; vào năm 1975 Pháp quyết định không tiếp tục viện trợ kinh tế trong khuôn khổ tổ chức. Các quốc gia thành viên khác của Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á và năm 1975 ra công báo, tuyên bố do tình hình biến đổi, tổ chức sẽ giải tán, song hoạt động và kế hoạch do tổ chức thi hành sẽ được duy trì dưới hình thức khác. Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á cử hành hội nghị cuối cùng vào ngày 20 tháng 2 năm 1976, đến ngày 30 tháng 6 năm 1977 thì chính thức giải tán.
Đại đa số sử gia nhận định "Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á" là hiệp ước thất bại, trong các sử sách có rất ít đề cập đến hiệp ước này. Quan chức ngoại giao Anh Quốc James Cable từng hình dung trong The Geneva Conference of 1954 on Indochina rằng Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á như một chiếc lá sung che đậy chính sách trơ trụi của Hoa Kỳ, còn Hiệp ước Manila là vườn thú gồm các con hổ giấy (hoặc các con sư tử giấy).
== Tham khảo ==
== Thư mục ==
Blaxland, John C. (2006). Strategic Cousins: Australian and Canadian Expeditionary Forces and the British and American Empires. McGill-Queen's University Press. ISBN 978-0-7735-3035-5.
Boyer, Paul; Clark, Jr., Clifford; Kett, Joseph; Salisbury, Neal; Sitkoff, Harvard; Woloch, Nancy (2007). The Enduring Vision (ấn bản 6). Houghton Mifflin. ISBN 978-0-618-80163-3.
Encyclopaedia Britannica (India) (2000). Students' Britannica India, Volume Five. Popular Prakashan. ISBN 978-0-85229-760-5.
Franklin, John K. (2006). The Hollow Pact: Pacific Security and the Southeast Asia Treaty Organization. ProQuest. ISBN 978-0-542-91563-5.
Grenville, John; Wasserstein, Bernard biên tập (2001). The Major International Treaties of the Twentieth Century: A History and Guide with Texts. Taylor & Francis. ISBN 978-0-415-14125-3.
Hearden, Patrick J. biên tập (1990). Vietnam: Four American Perspectives. Purdue University Press. ISBN 978-1-55753-003-5.
Jillson, Cal (2009). American Government: Political Development and Institutional Change. Taylor & Francis. ISBN 978-0-415-99570-2.
Leifer, Michael (2005). Chin Kin Wah, Leo Suryadinata, biên tập. Michael Leifer: Selected Works on Southeast Asia. ISBN 978-981-230-270-0.
Maga, Timothy P. (2010). The Complete Idiot's Guide to the Vietnam War, 2nd Edition. Penguin. ISBN 978-1-61564-040-9.
Ooi, Keat Gin biên tập (2004). Southeast Asia: A Historical Encyclopedia, From Angkor Wat to East Timor, Volume 2. ABC-CLIO. ISBN 978-1-57607-770-2.
Page, Melvin E. biên tập (2003). Colonialism: An International Social, Cultural, and Political Encyclopedia. ABC-CLIO. ISBN 978-1-57607-335-3.
Stephens, Alan (1995). Going Solo: The Royal Australian Air Force, 1946–1971. Australian Govt. Pub. Service. ISBN 978-0-644-42803-3.
Tarling, Nicholas (1992). The Cambridge History of Southeast Asia: Volume 2. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-35506-3.
Weiner, Tim (2008). Legacy of Ashes: The History of the CIA. Random House Digital. ISBN 978-0-307-38900-8.
== Đọc thêm ==
Buszynski, Leszek. SEATO: The Failure of an Alliance Strategy. Singapore: Singapore University Press, 1983.
Haas, Michael (1989). The Asian Way to Peace: A Story of Regional Cooperation. Praeger. ISBN 0-275-93216-8.
Dreisbach, Kai (2004). USA und ASEAN. Amerikanische Aussenpolitik und regionale Kooperation in Südostasien vom Vietnamkrieg bis zur Asienkrise (bằng tiếng Đức). Wissenschaftlicher Verlag. ISBN 3-88476-656-2.
== Liên kết ngoài ==
Copy of the Southeast Asia Collective Defense Treaty (Manila Pact); ngày 8 tháng 9 năm 1954, from Yale Law School
Phim ngắn này Big Picture: Southeast Asia Treaty Organization (SEATO) Nations có thể được tải về từ Internet Archive |
con đường gốm sứ.txt | Con đường gốm sứ ven sông Hồng xuất phát từ ý tưởng của họa sĩ, nhà báo Nguyễn Thu Thủy là một công trình nghệ thuật trong chương trình chào đón đại lễ 1000 năm Thăng Long của nhân dân thủ đô Hà Nội. Công trình này đã nhận được giải thưởng "Bùi Xuân Phái" vì tình yêu Hà Nội" năm 2008 và Tổ chức Guinness thế giới đã công nhận đây là bức tranh gốm dài nhất thế giới (dài xấp xỉ 3,85 km) - đạt kỷ lục Guinness.
== Các trường đoạn chủ đề ==
== Thi công ==
Danh sách người tham gia thực hiện thi công con đường gốm sứ:
== Tài trợ ==
Danh sách gần 70 nhà tài trợ công trình:
== Đánh giá về con đường gốm sứ ==
Nhận xét của một người là cư dân Hà Nội:
Nhận xét của GS Sử học Lê Văn Lan:
Ý kiến của nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc:
Đến thời điểm 11/9/2010 có nhiều vết nứt và vết vỡ trên các bức tường dọc theo con đường này.
== Xem thêm ==
Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Việt) Con đường gốm sứ lưu trữ 20-05-2008
Hình ảnh Con đường gốm sứ ven sông Hồng trên Flickr
(tiếng Anh) Hanoi Ceramic Mosaic Mural
Hanoi Ceramic Mosaic Mural, con duong gom su, con đường gốm sứ Hà Nội |
sữa.txt | Sữa là một chất lỏng màu trắng đục được tạo ra bởi con cái của động vật có vú (bao gồm cả động vật đơn huyệt). Khả năng tạo ra sữa là một trong những đặc điểm phân định động vật có vú. Sữa được tạo ra làm nguồn dinh dưỡng ban đầu cho các con sơ sinh ăn trước khi chúng có thể tiêu hóa các loại thực phẩm khác. Sữa được tiết ra ban đầu gọi là sữa non có chứa các kháng thể từ mẹ để cung cấp cho con non, do đó sữa non giúp con non giảm nguy cơ bị nhiễm một số bệnh. Vú của con cái của động vật có vú là một phần của cấu trúc thân thể cơ bản của động vật có vú. Sự tiết sữa chỉ diễn ra trong một số trường hợp hiếm hoi, về mặt tự nhiên và nhân tạo. Thành phần chính xác của sữa tươi khác nhau giữa các loài nhưng thành phần chính của sữa gồm: chất béo, protein, đường lactose, vitamin, khoáng chất và nước.
Trên khắp thế giới, có hơn 6 tỉ khách hàng tiêu thụ sữa và các sản phẩm từ sữa. Hơn 750 triệu người sống trong các hộ gia đình chăn nuôi bò sữa. Sữa là một loại chất giúp cải thiện dinh dưỡng và an toàn thực phẩm đặc biệt ở các nước đang phát triển. Cải tiến trong chăn nuôi và công nghệ chăn nuôi bò sữa cung cấp hứa hẹn quan trọng trong việc giảm nghèo và suy dinh dưỡng trên thế giới. Ấn Độ là quốc gia sản xuất và tiêu thụ sữa lớn nhất thế giới, nhưng không xuất khẩu cũng như nhập khẩu sữa. New Zealand, 28 quốc gia thuộc EU, Úc, và Hoa Kỳ là các nhà xuất khẩu sữa và sản phẩm từ sữa lớn của thế giới. Trung Quốc và Nga là các nước nhập khẩu sữa và các sản phẩm từ sữa lớn nhất.
== Lịch sử ==
Con người bắt đầu sử dụng thường xuyên sữa của các loài động vật có vú trong quá trình thuần hoá chúng, tức từ khi phát minh ra nông nghiệp, hay còn gọi là cuộc cách mạng thời kỳ đồ đá mới. Tiến trình này xảy ra một cách độc lập ở nhiều nơi trên thế giới, trong khoảng 9000-7000 năm TCN ở Tây Nam Á cho đến khoảng 3500-3000 năm TNC ở châu Mỹ. Những con vật cho sữa nhiều nhất - trâu bò, cừu và dê - được nuôi đầu tiên ở Tây Nam Á, mặc dù bò nhà có nguồn gốc từ các quần thể bò rừng châu Âu.
Việt Nam vốn không có ngành chăn nuôi trâu bò sữa truyền thống nên không có các giống trâu bò sữa chuyên dụng đặc thù nào. Chăn nuôi bò sữa xuất hiện ở Việt Nam từ những năm đầu của thế kỷ XX.
== Sữa nhân tạo ==
Sữa nhân tạo là sữa do con người chế biến lại từ sữa tươi. Có nhiều dạng sữa nhân tạo:
- Sữa đặc không đường (evaporated) là loại sữa được sấy cho đến khi lượng nước trong sữa bay hơi tới 60%.
- Carrageenin (một dạng gôm thực vật) được thêm vào sữa trước khi nó được xử lý để ổn định các protein casein.
- Sữa đặc có đường là sữa đã loại bỏ 50% nước và cho thêm 1 lượng đường bằng 44% trọng lượng của sản phẩm cuối cùng. Hàm lượng đường cao sẽ giúp ức chế sự phát triển của vi khuẩn trong sữa đặc.
- Sữa bột là loại sữa tươi đã được tách nước hoàn toàn.
Có một số sản phẩm sữa lên men như bơ, kem chua (sour cream) và sữa chua là sản phẩm sữa tươi có thêm vào một loại vi khuẩn và được ủ men trong 1 khoảng thời gian nhất định.
Sữa tiệt trùng (UHT) được xử lý ở nhiệt độ cao hơn so với sữa thanh trùng và sau đó được làm mát nhanh, giúp tiêu diệt vi khuẩn và cho phép sản phẩm có hạn sử dụng dài hơn. Thêm vào đó, các sữa có ký hiệu UHT thường được đóng gói trong các loại vật liệu như polyethylene, giấy, nhôm lá có một lớp màng polyethylene. Sau khi mở, nếu để tủ lạnh có thể sử dụng được trong ít nhất 10 ngày. Vị của sữa tiệt trùng ngọt hơn và cũng thường ít béo.
Hiện nay vì nhiều công ty sữa chế tạo sữa có thêm thành phần Melamine là một chất cấm sử dụng trong thực phẩm khiến dư luận hoang mang và vì thế gây cho việc kinh doanh sữa khó khăn.
== Tính Phổ Biến ==
Sữa là loại thức uống đặc biệt,mềm,dễ tiêu hóa và dễ hấp thu, cung cấp nhiều chất dinh dưỡng và có mùi vị thơm ngon. Sữa được sử dụng rộng rãi khắp thế giới.
== Vấn đề gây tranh cãi ==
Một số nghiên cứu cho thấy việc uống sữa nhiều có thể làm tăng nguy cơ bị một số vấn đề về sức khỏe. Chẳng hạn, dị ứng sữa bò là một phản ứng miễn dịch bất lợi của cơ thể đối với một số protein trong sữa bò. Sữa còn chứa casein, một hợp chất khi phân hủy trong dạ dày người sẽ tạo ra casomorphin, một loại peptide có tính gây nghiện.
Một nghiên cứu đã chứng minh rằng những người tiêu thụ nhiều sữa và sản phẩm sữa có nguy cơ bị bệnh Parkinson cao hơn. Nhiều nguồn nghiên cứu cũng cho rằng có mối tương quan giữa việc hấp thụ nhiều canxi (2000 mg mỗi ngày, tương đương với sáu cốc sữa mỗi ngày) và bệnh ung thư tuyến tiền liệt. Một nghiên cứu lớn đặc biệt chỉ ra thủ phạm là sữa ít chất béo. Một báo cáo đánh giá xuất bản bởi Quỹ Nghiên cứu Ung thư Thế giới và Viện Nghiên cứu Ung thư Mỹ liệt kê ít nhất 11 nghiên cứu đã chỉ ra sự liên quan giữa việc tiêu thụ quá nhiều sản phẩm sữa và bệnh ung thư tuyến tiền liệt.
Nhiều nghiên cứu y học cũng cho thấy sự liên quan giữa việc tiêu thụ sữa và sự tăng nặng của một số bệnh như bệnh Crohn, bệnh Hirschsprung, và bệnh Behçet.
== Ngữ nghĩa khác ==
Từ "sữa" còn là từ để chỉ một số loại thức uống dinh dưỡng có màu trắng đục ví dụ như: sữa đậu nành, sữa đậu xanh, sữa đậu phộng... mặc dù trong nguyên liệu chế biến các loại thức uống này có thể không có sữa trong đó. Ngoài ra, "sữa" còn chỉ các loại chất có màu trắng tương tự như sữa, ví dụ: keo sữa, sữa rửa mặt,...
== Xem thêm ==
Sữa mẹ
Melamine
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Harvard School of Public Health: Calcium and Milk
Milk Factsheet
Qualitionary - Legal Definitions - Milk |
vị thành niên.txt | Vị thành niên là một khái niệm chưa được thống nhất. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) quy định lứa tuổi 10 - 19 tuổi là độ tuổi vị thành niên. Thanh niên trẻ là lứa tuổi 19 - 24 tuổi. Chương trình Sức khỏe sinh sản/Sức khỏe tình dục vị thành niên-thanh niên của khối Liên minh châu Âu (EU) và Quỹ Dân số Liên Hiệp Quốc (UNFPA) lấy độ tuổi 15 - 24 tuổi.
Trên thế giới, các nước có quy định về độ tuổi thanh niên khác nhau: nhiều nước quy định từ 18 đến 24 tuổi hoặc 15 - 24 tuổi, một số nước quy định từ 15 - 30 tuổi.
Ở nhiều quốc gia, bao gồm Úc, Ấn Độ, Philippines, Brazil, Croatia và Colombia, trẻ vị thành niên được xác định là một người dưới tuổi 18.
Trong khi Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan và Hàn Quốc, trẻ vị thành niên là người dưới 20 tuổi. Pháp luật New Zealand quy định trẻ vị thành niên là người dưới 18 tuổi là thích hợp, nhưng hầu hết các quyền của tuổi trưởng thành được giả định ở độ tuổi thấp hơn: ví dụ, giao kết hợp đồng và có một ý chí là có thể hợp pháp ở tuổi 15.
Tại Việt Nam vị thành niên là lứa tuổi từ 10 đến 19 tuổi. Thanh niên là từ 19 - 24 tuổi. Trẻ em được luật pháp bảo vệ chăm sóc giáo dục là dưới 16 tuổi. Về mặt luật pháp vị thành niên là dưới 18 tuổi.
Như vậy có thể thấy rằng độ tuổi vị thành niên còn được quy định chưa thống nhất giữa các nước trên thế giới.
== Tham khảo == |
độ ẩm tương đối.txt | Độ ẩm tương đối là tỷ số của áp suất hơi nước hiện tại của bất kỳ một hỗn hợp khí nào với hơi nước so với áp suất hơi nước bão hòa tính theo đơn vị là %. Định nghĩa khác của độ ẩm tương đối là tỷ số giữa khối lượng nước trên một thể tích hiện tại so với khối lượng nước trên cùng thể tích đó khi hơi nước bão hòa. Khi hơi nước bão hoà, hỗn hợp khí và hơi nước đã đạt đến điểm sương.
== Công thức tính ==
R
H
=
e
p
e
s
×
100
%
{\displaystyle RH={{e_{p}} \over {e_{s}}}\times 100\%}
== Xem thêm ==
Độ ẩm
Độ ẩm tuyệt đối
Độ ẩm riêng
Điểm sương
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Glossary definition of psychrometric tables
Xem thêm các thiết bị đo độ ẩm Tại Đây |
quặng vàng.txt | Quặng vàng là một dạng vật chất của vàng với các phần tự nhiên xuất hiện từ các lớp bồi tích của vỏ Trái Đất sau sự vận động trong lòng đất và nhiệt độ nóng chảy phù hợp các nguyên tố vàng được liên kết với nhau và bị kéo dài theo sự vận động của vỏ trái đất. Vàng quặng cũng được tìm thấy trong đống chất thải của hoạt động khai thác mỏ trước đây, đặc biệt là những người còn sót lại bởi việc nạo vét khai thác vàng.
Vàng được tìm thấy trong quặng được tạo ra từ đá với các phần từ vàng rất nhỏ hay cực nhỏ. Quặng vàng này thường được tìm thấy cùng thạch anh hay các khoáng chất sulfide. Chúng được gọi là "mạch" trầm tích. Vàng tự nhiên cũng có dưới hình thức quặng vàng lớn đã bị ăn mòn khỏi đá và kết thúc trong các trầm tích phù sa (được gọi là trầm tích cát vàng). Những loại vàng tự do đó luôn nhiều hơn tại bề mặt các mạch có vàng do ôxi hoá các khoáng chất kèm theo bởi thời tiết, và việc rửa trôi bụi vào các con suối và dòng sông, nơi nó tụ tập lại và có thể được hoạt động của nước liên kết lại với nhau để hình thành nên các cục vàng.
== Phân loại ==
Quặng vàng thường có hai loại chính là quặng vàng và quặng kim loại vàng. Quặng vàng là quặng mà vàng đã đạt độ tinh khiết từ 75 đến 95%. Quặng loại này đã bị nóng chảy từ trong lòng đất và được đẩy lên theo sự vận động của vỏ trái đất. Có màu vàng dạng như kim tuyến hay như hạt tấm. Những mỏ vàng khổng lồ xuất hiện trong quá trình hình thành của trái đất khi sắt nóng chảy chìm xuống tâm của trái đất, kéo theo số lượng lớn các kim loại quý.
Quặng kim loại vàng ở Việt Nam thường là quặng đa kim. Vàng chưa bị nóng chảy nên bị lẫn trong các kim loại khác như đồng, sắt, bạc... Để khai thác quặng vàng loại này người ta phải dùng đến các phương pháp tuyển vàng khác nhau, tùy theo tính chất của mỗi loại quặng bị nhiễm vàng.
== Trữ lượng ==
=== Trên thế giới ===
Có nhiều thông tin dự báo, đến năm 2050, toàn bộ quặng vàng trên thế giới sẽ cạn kiệt. Tuy nhiên, thực tế chỉ ra hoạt động thăm dò địa chất không ngừng tìm ra các mỏ vàng mới. Trên toàn thế giới người ta đã tính được tài nguyên trữ lượng vàng đạt 250 ngàn tấn. Đến nay, loài người đã khai thác khoảng 150 nghìn tấn vàng từ lòng đất với sản lượng khai thác hàng năm trung bình là 2.300 tấn thì quặng vàng sẽ cạn kiệt vào năm 2050.
Năm 1993 tài nguyên trữ lượng vàng chỉ biết có 57.000 tấn và sản lượng khai thác hàng năm là 2.200 tấn. Lúc đó đã có nhà kinh tế lo ngại thế giới sẽ cạn kiệt vàng vào năm 2018. Nhưng, đến năm 2008, các nhà địa chất đã phát hiện những mỏ vàng mới, làm gia tăng thêm đến 43.000 tấn vàng đưa số vàng dự trữ trong thiên nhiên lên 100 nghìn tấn.
Một số nhà nghiên cứu cho rằng lượng vàng và bạch kim trong lõi trái đất đủ để dát trọn bề mặt trái đất một lớp vô giá dày tới 4 mét. Quặng vàng lớn nhất trên thế giới được tìm thấy tại vùng Moliagul, Victoria, Úc vào năm 1869 bởi hai người là John Deason và Richard Oates.
=== Ở Việt Nam ===
Ở Việt Nam, quặng hoá vàng ở Việt Nam phân bố rải rác ở nhiều nơi với quy mô nhỏ, tổng tài nguyên tính được khoảng vài nghìn tấn và trữ lượng chỉ đạt vài trăm tấn. Đến nay đã phát hiện gần 500 điểm quặng và mỏ vàng gốc (quặng vàng thực thụ và các loại quặng khác có chứa vàng), trong đó có gần 30 nơi đã được tìm kiếm thăm dò và đánh giá trữ lượng với số lượng khoảng 300 tấn vàng. Các mỏ vàng gốc tập trung tại miền núi phía Bắc. Vùng có biểu hiện khoáng hóa vàng khá tập trung ở quanh Đồi Bù (Hòa Bình) như Cao Răm, Da Bạc, Kim Bôi... với tổng trữ lượng khoảng 10 tấn. Vùng núi Xà Khía, xã Lâm Thủy (Lệ Thủy, Quảng Bình) cũng đã phát hiện được quặng chứa vàng, ở vùng Hà Giang, mỏ vàng tại Bồng Miêu (Quảng Nam)...
Trong quá trình khai thác quặng vàng, nhiều vụ đánh cướp đã xảy ra như việc mỏ vàng Bồng Miêu (Quảng Nam), cướp đi 15 tấn quặng ngay trong đêm bởi một số đông người. Theo một ước tính thì mỗi ngày mỏ vàng Bồng Miêu mất 5 - 7 tấn quặng vàng. Nguyên nhân chính là sự bất lực của chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng trong việc xử lý đối với các đối tượng cướp đoạt một cách xử lý đến nơi đến chốn để răn đe và có sự tiếp tay, xúi giục và thông đồng của các đối tượng đầu nậu thu mua quặng vàng bên ngoài.
== Tham khảo ==
McLaren, J. Malcom. Gold: Its Geological Occurrence and Geographical Distribution.
Dunn, E.J. (1912). Memoirs of the Geological Survey of Victoria.
Fox, Mark. Discovering Gold. Curriculum Corporation. p. 15. ISBN 1876973633. Truy cập ngày 25 tháng 5 năm 2010.
== Chú thích == |
mã số điện thoại quốc tế.txt | Mã số điện thoại quốc tế, còn gọi là Mã số điện thoại, là những con số đầu tiên phải truy cập khi gọi điện thoại vào một quốc gia. Mỗi quốc gia đều có một mã số để gọi ra ngoài nó và một mã số để gọi đến. Liên Minh Viễn thông Quốc tế phê chuẩn mã 00 là tiêu chuẩn để gọi ra ngoài mỗi quốc gia. Mã này được chấp nhận ở phần lớn quốc gia trên thế giới tuy rằng không phải tất cả. Mã số điện thoại gọi đến của mỗi quốc gia thường được gọi tắt là Mã số điện thoại quốc gia hay mã số điện thoại vì được đặc định riêng.
Các số điện thoại quốc tế thường được viết với dấu cộng (+) ở phía trước rồi đến mã số điện thoại quốc gia. Ví dụ: một số điện thoại ở Việt Nam sẽ được viết như sau +84 1 234 5678; để gọi từ nước ngoài về số điện thoại này, bấm 00 84 1 234 5678; gọi trong Việt Nam, bấm: 0 1 234 5678.
== Mã điện thoại theo quốc gia ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Máy tính số điện thoại cho việc gọi điện thoại quốc tế
Xem danh sách mã số điện thoại các quốc gia trên thế giới
Liên minh Viễn thông Quốc tế |
nam giới.txt | Nam giới, ngược với nữ giới, là những người có giới tính nam (giống đực), được xác định ngay từ khi mới sinh thông qua cấu tạo cơ thể có bộ phận sinh dục nam.
Dưới góc độ sinh lý học, sự xác lập giới tính bào thai được xác lập ngay từ khi thụ thai, với tinh trùng của người đàn ông mang nhiễm sắc thể X hoặc Y kết hợp với trứng của người phụ nữ mang sắc thể X, để tạo ra bào thai có mang nhiễm sắc thể XX (giống cái) hoặc XY (giống đực). Vì thế, để sinh được con trai, vấn đề phụ thuộc hoàn toàn vào việc tinh trùng thuộc loại nào (X hay Y) sẽ kết hợp được với trứng trước.
== Khác biệt với nữ giới ==
=== Về mặt giải phẫu và sinh lý học ===
Ở đàn ông, có sự khác biệt về chiều dài, bề dày của dương vật, và kích cỡ cùng hình dạng của bìu dái. Bộ phận sinh dục nam dương vật là bộ phận bên ngoài chủ yếu của nam giới, nó có chức năng sinh sản khi đưa tinh trùng vào âm đạo của nữ. Nó cũng là bộ phận tiểu tiện của đàn ông, giống như bộ phận sinh dục của nữ, kích thước và hình dạng của dương vật cũng thay đổi tùy theo người. Ở người lớn, trong tình trạng mềm, hầu hết dương vật đo được khoảng 5,5 đến 9 cm và khi cương cứng thì trung bình là 7 đến 12 cm. Đường kính trung bình của dương vật là 2,5 cm và khi cương cứng là 3 cm.
=== IQ ===
Vào năm 1999, một nghiên cứu của Richard Lynn, giáo sư danh dự tại Đại học Ulster phân tích số liệu từ một số bài test được xuất bản trước đó và phát hiện ra rằng chỉ số IQ trung bình của nam giới cao hơn của nữ giới khoảng 3-4 điểm IQ. Các phân tích quy mô lớn của Lynn thực hiện năm 2004 khảo sát sự khác biệt giới cũng chỉ ra nam giới có chỉ số IQ trung bình cao hơn nữ là 5.0 điểm IQ.
Do vậy, nam giới phù hợp với những nhiệm vụ có độ phức tạp cao hơn là phụ nữ. Số đàn ông có chỉ số IQ cao sẽ lớn hơn rất nhiều so với phụ nữ, Richard Lynn cho biết số đàn ông có IQ cao hơn 130 nhiều gấp 3 lần so với phụ nữ, và số đàn ông có IQ cao hơn 145 nhiều gấp 5,5 lần so với phụ nữ. Điều này giải thích tại sao phần lớn các thành tựu lớn như giải Nobel, các phát minh khoa học hoặc các Đại kiện tướng cờ vua luôn thuộc về nam giới.
== Vị thế trong gia đình ==
Trải qua nhiều chế độ khác nhau của lịch sử vị thế của nam giới trong gia đình cũng có sự thay đổi rất rõ rệt:
+ Trong xã hội nguyên thủy, việc làm chủ yếu của con người lúc đó là: săn bắt thú dành cho đàn ông và hái lượm hoa quả dành cho đàn bà. Vì công việc săn bắn có lúc được lúc không, còn việc hái lượm luôn mang lại nguồn thức ăn dồi dào nên nam giới trong thời kỳ này không hề có quyền lực trong gia đình, con cái lấy theo họ mẹ.
+ Khi việc sử dụng công cụ bằng kim khí đã xuất hiện và phát triển mạnh mẽ, việc cày bừa nông nghiệp mang lại hiệu quả rất cao, vượt xa việc hái lượm từ thiên nhiên. Đàn ông với sức khỏe thể chất tốt phù hợp hơn với công việc này và giành lấy quyền lực, vị thế trong gia đình, đóng vai trò trụ cột, quyết định, con cái lấy theo họ cha và còn tồn tại cho tới ngày nay.
+ Khi xã hội tư bản hình thành và phát triển, giai cấp tư sản làm chủ trong thời gian đó, vai trò của nông nghiệp nhường chỗ cho công nghiệp. Xã hội vẫn ưu tiên cho nam giới hơn vì nam giới làm được nhiều việc hơn so với nữ giới, nhất là các công việc đòi hỏi sức khỏe như thợ máy, thợ mỏ...
+ Trong chủ nghĩa xã hội hiện nay, "bình đẳng giới" được coi trọng, nam và nữ ngang nhau về mọi mặt. Tuy nhiên đó là mặt quy định pháp luật, còn thực tế về mặt tư duy, trí tuệ và sức khỏe thì nam giới vẫn vượt trội hơn hẳn so với nữ giới. Đó là đặc điểm tự nhiên không thể thay đổi được, do đó các nhân vật xuất chúng (nhà khoa học, lãnh tụ, tướng lĩnh...) vẫn thường là đàn ông.
== Bình đẳng nam nữ ==
Trong lịch sử loài người, sau khi chế độ mẫu hệ tàn lụi, hầu hết các nền văn hóa đã theo chế độ phụ hệ, với sự đề cao các quyền lợi của nam giới. Theo đó nam giới luôn là những người lãnh đạo bộ lạc, dân tộc, quốc gia v.v. và mọi của cải đều truyền cho con trai với ý nghĩa "quyền huynh thế phụ". Quan niệm Nho giáo tại các nước phương Đông cũng nhấn mạnh thêm vai trò thống trị tuyệt đối của nam giới, "nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô".
Hiện nay nền văn minh nhân loại đang hướng tới bình đẳng nam nữ với sự đề cao quyền bình đẳng trong xã hội của nữ giới tương đương nam giới. Tuy nhiên, những đặc điểm tự nhiên về giới tính được hình thành qua hàng triệu năm tiến hóa thì không thay đổi:
Nam giới có xu hướng hành động nhanh chóng, quyết đoán, trong khi phụ nữ có xu hướng thụ động, bị cảm xúc chi phối.
Phụ nữ yếu hơn nam giới về thể chất, bởi vì trong hàng triệu năm tiến hóa phụ nữ không thực hiện nhiệm vụ yêu cầu cao về thể chất như nam giới (phụ nữ hái lượm, nam giới săn thú).
Chức năng não: phụ nữ nói nhiều hơn, trong khi nam giới được định hướng nhiều hơn cho hành động. Nam giới học toán (tư duy logic học) tốt hơn, còn phụ nữ tư duy ngôn ngữ tốt hơn (do họ nói nhiều hơn)
Phụ nữ luôn có xu hướng tìm kiếm một người đàn ông mạnh mẽ để đạt được sự bảo vệ
Nam giới có tinh thần sắn sàng đối mặt với thử thách cao hơn phụ nữ.
Quyền lực và sự kiểm soát là động cơ xã hội thực sự đằng sau việc phân chia các vai trò giới tính, thông qua phân công lao động. Không chỉ đơn giản là sự khác biệt về quan niệm xã hội, các đặc điểm tự nhiên đem lại ưu thế cho nam giới (sức khỏe, tư duy logic, mức độ tập trung trí óc đều tốt hơn phụ nữ), vẫn thường thấy xu thế nam giới nổi trội rõ rệt trong các công việc phức tạp như nhà lãnh đạo, nhà khoa học, nghệ nhân... Ngay cả với những công việc thường được dành cho phụ nữ (nấu ăn), các cá nhân nổi bật nhất (đầu bếp chuyên nghiệp) vẫn thường là đàn ông.
Theo nghiên cứu của Đại học Harvard, ngay cả trong các xã hội và tổ chức đánh giá cao bình đẳng giới, phụ nữ chiếm tỷ lệ thấp ở hầu hết các vị trí lãnh đạo cao cấp. Phụ nữ chiếm tỷ lệ nhỏ hơn 5% trong số 500 CEO hàng đầu thế giới, nhỏ hơn 20% trong số các nhà khoa học tự nhiên. Theo nghiên cứu này, "những thứ chiếm lĩnh những suy nghĩ thường lệ, những thứ mà bạn quan tâm sâu sắc, hoặc những thứ thúc đẩy hành vi và quyết định" đã tạo ra sự cách biệt thành công giữa phái nam và nữ, theo đó nam giới được thúc đẩy bởi chiếm lĩnh quyền lực, trong khi phụ nữ lại muốn tạo dựng quan hệ gần gũi với người khác và thường gặp mâu thuẫn tâm lý khi theo đuổi mục tiêu lâu dài nào đó.
== Vai trò giới ==
Lịch sử nhân loại đến ngày nay vẫn được đánh dấu bởi sự thống trị của nam giới trong chính trị, gia đình, khoa học... Nhiều tôn giáo trên thế giới thuyết giáo về sự thống trị của nam giới. Về mặt sinh học, nam giới có những ưu thế về thể chất và trí tuệ so với nữ giới, do đó số lượng các nhân vật xuất chúng là nam giới luôn vượt trội so với nữ giới. Theo thống kê, tỉ lệ thiên tài trên thế giới bao gồm các nhà khoa học, nhà văn, chính trị gia, họa sĩ, nhà soạn nhạc... đều nghiêng vượt trội về phía nam giới.
Có nhiều vai trò chỉ dành riêng cho nam giới. Ví dụ như chức vị Giáo hoàng trong Giáo hội Công giáo Rôma chỉ dành riêng cho nam giới hay các vị trí tối cao là quốc vương của một quốc gia (vua trong trường hợp là nam) thời phong kiến trong các quốc gia theo chế độ quân chủ lập hiến thường được ưu tiên cho nam giới. Hoặc những công việc chỉ nam giới mới có thể làm được như hoạn quan (thái giám)...
Hình mẫu người đàn ông tốt hay một chàng trai tốt, một người tốt là thuật ngữ được nhắc đến nhiều trong công luận nói chung, trong xã hội, báo chí và trong văn hóa đại chúng mô tả một người nam trưởng thành hoặc thanh niên với những đặc điểm tính cách thân thiện, tốt bụng nhưng không quá quyết đoán, lấn át trong bối cảnh của một mối quan hệ với một người phụ nữ.
Ngày 19 tháng 11 hàng năm là Ngày Quốc tế Nam giới.
== Tiếng Việt ==
Trong tiếng Việt có nhiều từ dùng để chỉ nam giới. Để gọi khái quát có thể có các từ "nam", "đàn ông"; gọi nam giới còn trẻ tuổi có thể là "con giai", "con trai", "giai" "nam thanh niên"; gọi người cao tuổi có thể dùng các từ "ông già", "cụ già", "lão già"; nói về nam giới với ý nghĩa hơi mỉa mai, tếu táo có thể gọi "đực rựa", "đực"; gọi trong tương quan với nữ giới và có chút ngữ nghĩa văn chương có thể gọi là "phái mạnh" hay "đấng mày râu".
Trong xưng hô ngôi thứ ba, nam giới được gọi bằng các từ "thằng", "thằng ấy", "đực rựa", "cậu", "ông", "bố", "chú", "bác" v.v.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
"Cẩm nang về các vấn đề giới tính, mang thai, sức khỏe và hạnh phúc gia đình", tác giả Elizabeth Thompson Ortiz |
đắk nông.txt | Đắk Nông hay Đắc Nông là một tỉnh ở Tây Nguyên Việt Nam. Tỉnh Đắk Nông được tái lập vào ngày 1 tháng 1 năm 2004, theo Nghị quyết số 23/2003/QH11 ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội trên cơ sở chia tách tỉnh Đăk Lăk thành 2 tỉnh mới là Đắk Nông và Đăk Lăk.
== Vị trí địa lý ==
Đắk Nông nằm ở cửa ngõ phía tây nam của Tây Nguyên, nằm trong vùng tọa độ từ 11°45 đến 12°50 vĩ độ bắc và từ 107°12 đến 108°07 kinh độ đông. Trung tâm tỉnh Đắk Nông nằm cách thành phố Buôn Ma Thuột với chiều dài 125 km theo đường quốc lộ 14, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 250 km về phía nam. Phía bắc và đông bắc của Đắc Nông giáp với địa phận tỉnh Đắk Lắk, phía đông và đông Nam giáp tỉnh Lâm Đồng, phía nam giáp tỉnh Bình Phước, đồng thời phía tây tỉnh Đắk Nông giáp với Vương Quốc Campuchia với đường biên giới dài khoảng 120 km, qua hai cửa khẩu là cửa khẩu Đăk Per thuộc huyện Đắk Mil và Bup'rang thuộc địa phận Tuy Đức.
== Điều kiện tự nhiên ==
Đắk Nông nằm trọn trên cao nguyên M’Nông, với độ cao trung bình từ 600 mét đến 700 mét so với mặt nước biển, cao nhất là ở Tà Đùng với độ cao lên đến 1.982 mét. Nhìn chung địa hình Đăk Nông chạy dài và thấp dần từ đông sang tây. Địa hình đa dạng, phong phú và bị chia cắt mạnh, có sự xen kẽ giữa các núi cao, với các cao nguyên rộng lớn, dốc thoải, lượn sóng, khá bằng phẳng xen kẽ các dải đồng bằng thấp trũng.
Khí hậu Đăk Nông chuyển tiếp giữa hai tiểu vùng khí hậu Tây Nguyên và Đông nam bộ, chính vì vậy chế độ khí hậu mang đặc điểm chung của khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo, nhưng có sự nâng lên của địa hình nên có đặc trưng của khí hậu cao nguyên nhiệt đới ẩm, vừa chịu ảnh hưởng của gió mùa tây nam khô nóng. Khí hậu phân hóa thành 2 mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa thường kéo dài từ tháng 4 đến hết tháng 11, tập trung trên 90% lượng mưa cả năm. Lượng mưa trung bình năm 2.513 mm. Mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 3 năm sau, lượng mưa không đáng kể. Nhiệt độ trung bình năm 22-230C, nhiệt độ cao nhất 350C, thấp nhất 140C. Với điều kiện thời tiết này rất phù hợp với phát triển các cây trồng nhiệt đới lâu năm. Tuy nhiên khí hậu ở Đắc Nông cũng có những mặt bắt lợi là sự mất cân đối về lượng mưa trong năm và sự biến động lớn về biên độ nhiệt ngày đêm và theo mùa, nên yếu tố quyết định đến sản xuất và sinh hoạt là việc cấp nước, giữ nước và việc bố trí mùa vụ cây trồng.
Đắk Nông có mạng lưới sông suối, hồ, đập phân bố tương đối đều khắp, thuận lợi để khai thác nguồn nước phục vụ sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, xây dựng các công trình thủy điện. Đất đai Đăk Nông khá phong phú và đa dạng, được chia thành 5 nhóm đất chính gồm Nhóm đất xám, Đất đỏ bazan, còn lại là đất đen bồi tụ. Đất nông nghiệp chiếm 47% tổng diện tích tự nhiên. Trong đó đất trồng cây công nghiệp lâu năm chiếm phần lớn diện tích.
== Lịch sử ==
Thời Pháp thuộc năm 1893, người Pháp toàn quyền cai trị vùng cao nguyên Trung phần, trong đó có khu vực nay là tỉnh Đăk Nông. Hệ thống hành chính thực dân tập trung ở Đăk Mil và Đăk Song. Năm 1940, bên cạnh nhà tù Buôn Ma Thuột, Pháp cho xây dựng Ngục Đăk Mil (nay thuộc huyện Đăk Mil, Đăk Nông).
Khu vực này năm 1946 thuộc Xứ Thượng Nam Đông Dương rồi đến năm 1950 thì gom vào Hoàng triều Cương thổ trước khi đơn vị này bị xóa bỏ năm 1955 dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa. Từ năm 1959, khu vực Nâm Nung trở thành khu căn cứ của lực lượng quân cách mạng. Tháng 1 năm 1959, Việt Nam Cộng hòa cắt một phần phía Tây của tỉnh Đắk Lắk, một phần quận Kiến Hòa của Thủ Dầu Một để thành lập tỉnh Quảng Đức. Địa giới hành chính tỉnh Quảng Đức, về cơ bản giống như địa giới tỉnh Đắk Nông ngày nay, được chia làm 3 quận: Quận Đức Lập, quận Kiến Đức, quận Khiêm Đức và khu hành chính Đức Xuyên. Tháng 12 năm 1960, Chính quyền Cách mạng cũng đã quyết định thành lập tỉnh Quảng Đức, giữa năm 1961, tỉnh Quảng Đức do khu VI trực tiếp chỉ đạo. Đầu năm 1962, Chính quyền Cách mạng quyết định giải thể tỉnh Quảng Đức, chuyển Đức Lập, Đức Xuyên nhập về tỉnh Đắk Lắk, Kiến Đức nhập về tỉnh Phước Long, Khiêm Đức nhập về tỉnh Lâm Đồng.
Sau ngày hai miền thống nhất, tháng 5 tháng 1975, tỉnh Quảng Đức được thành lập lại. Tháng 11 năm 1975, tỉnh Quảng Đức sáp nhập vào tỉnh Đắk Lắk. Từ ngày 1 tháng 1 năm 2004, tỉnh Đắk Nông được tái lập theo Nghị quyết số 23/2003/QH11 ngày 26 tháng 11 năm 2003 của Quốc hội trên cơ sở chia tách tỉnh Đăk Lăk. Khi tách ra, tỉnh Đắk Nông có 6 đơn vị hành chính gồm 6 huyện: Cư Jút, Đắk Mil, Đắk Nông, Đắk R'lấp, Đắk Song, Krông Nô.
Ngày 27 tháng 6 năm 2005, chia huyện Đắk Nông thành thị xã Gia Nghĩa (thị xã tỉnh lị tỉnh Đắk Nông) và huyện Đắk Glong.
Ngày 22 tháng 11 năm 2006, chia huyện Đắk R'lấp thành 2 huyện: Đắk R'lấp và Tuy Đức.
== Hành chính ==
Đắk Nông có 1 thị xã và 7 huyện trực thuộc, Trong đó, có 71 đơn vị hành chính cấp xã bao gồm 61 xã, 5 phường và 5 thị trấn.
== Kinh tế ==
Năm 2011, tốc độ tăng trưởng GDP của Đắk Nông đạt 12,13%, trong đó khu vực công nghiệp xây dựng tăng 22,09%, nông lâm thủy sản tăng 5,95%, dịch vụ tăng 14,42%. Về Cơ cấu kinh tế năm 2011, công nghiệp xây dựng chiếm 26,66%, nông lâm thủy sản 50,21% và dịch vụ 23,13%. GDP theo giá hiện hành đạt 10.048 tỷ, tăng 1.619,5 tỷ so với năm 2010. Trong đó GDP ngành nông nghiệp 5.045 tỷ đồng, chiếm 50,2% so với giá trị tổng sản phẩm toàn tỉnh. GDP bình quân đầu người theo giá hiện hành đạt 18,96 triệu đồng (kế hoạch 16,95 triệu đồng)/
Nhìn chung, công tác chỉ đạo trong một số lĩnh vực sản xuất đã cơ bản hoàn thành các chỉ tiêu cơ bản được giao. Trong đó, Tổng sản lượng lương thực đạt 317,5 ngàn tấn, bằng 99,97% kế hoạch. Sản lượng cà phê nhân 140.069 tấn, 75% hộ dân cư nông thôn được sử dụng nước sạch. Giá trị sản xuất trên 01 ha canh tác đạt 39,02 triệu, tăng 2,03 triệu so với năm 2010.
== Dân cư ==
Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Đắk Nông đạt gần 516.300 người, mật độ dân số đạt 79 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 78.300 người, dân số sống tại nông thôn đạt 438.000 người. Dân số nam đạt 272.900 người, trong khi đó nữ đạt 243.400 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 14,4 ‰
Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Đắk Nông có 40 dân tộc. Trong đó, đông nhất là người kinh với 332.431 người, xếp thứ 2 là người Mnông với 39.964 người, vị trí thứ 3 là người Nùng với 27.333 người, người Mông ở vị trí thứ 4 với 21.952 người, cùng với các dân tộc khác như người Tày với 20.475 người, người Dao có 13.932 người, người Thái có 10.311 người, người Mạ có 6.456 người, Ê Đê có 5.271 người, người Hoa có 4.686 người, người Mường có 4.070 người...cùng một số dân tộc ít người khác.
== Văn hóa ==
Nét đặc sắc của Đắk Nông có lẽ vẫn phần nào là rất nhiều của Đắk Lắk do một thời gian dài tỉnh này là một khu vực của Đắk Lắk.
Vùng đất này có nền văn hóa cổ truyền khá đa dạng của nhiều dân tộc đậm nét truyền thống và bản sắc riêng. Nơi đây còn lưu giữ nhiều pho sử thi truyền miệng rất độc đáo như sử thi Đam San dài hàng ngàn câu. Các luật tục cổ, kiến trúc nhà sàn, nhà rông và tượng nhà mồ còn chứa bao điều bí ẩn đầy hấp dẫn.
Các loại nhạc cụ dân tộc từ lâu đời đã trở nên nổi tiếng và là niềm tự hào của cả vùng Tây Nguyên, của văn hóa dân gian Việt Nam: bộ đàn đá của người M'Nông (huyện Lăk - Đăk Lăk), bộ chiêng đá được phát hiện tại Đắk R'lấp có niên đại hàng ngàn năm về trước, đàn T'rưng, đàn K'lông pút, đàn nước, kèn, sáo... Nếu đúng dịp, du khách sẽ được tham dự những lễ hội độc đáo còn nguyên chất dân gian. Trong lễ hội, cả buôn làng cầm tay nhau nhảy múa xung quanh đống lửa theo nhịp của cồng, chiêng.
== Y tế & Giáo dục ==
=== Giáo dục ===
Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đắc Nông có 240 trường học ở cấp phổ, trong đó có Trung học phổ thông có 22 trường, Trung học cơ sở có 82 trường, Tiểu học có 136 trường, bên cạnh đó còn có 89 trường mẫu giáo. Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Đắc Nông cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh.
=== Y tế ===
Theo thống kê về y tế năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Đắc Nông có 79 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc Sở Y tế. Trong đó có 8 Bệnh viện, 71 Trạm y tế phường xã, với 1029 giường bệnh và 258 bác sĩ, 596 y sĩ, 859 y tá và khoảng 483 nữ hộ sinh.
== Chú thích == |
helenio herrera.txt | Helenio Herrera (sinh ngày 10 tháng 4 năm 1910 tại Buenos Aires, mất ngày 9 tháng 11 năm 1997 tại Venice)là cầu thủ bóng đá người Pháp-Argentina và cũng là một huấn luyện viên.
Ông là huấn luyện viên đầu tiên từng huấn luyện 3 đội tuyển quốc gia. Ông giành được 16 danh hiệu với tất cả các CLB(4 vô địch TBN, 2 vô địch cup quốc gia TBN, 3 vô địch Italia, 2 C1, 2 Liên Lục Địa, 1 Quốc gia ita, 2 Wefa Cup). Trước khi dẫn dắt Inter, Herrera từng là huấn luyện viên của Atletico Madrid và Barcelona, nhưng sau khi bất đông với Kubala của Barca, ông đã chuyển sang Inter. Và nơi đây, ông đã đạt đến tột đỉnh vinh quang trong sự nghiệp của mình. 2 Cúp C1, 2 Scudetto là điều không dễ gì làm được.
== Sự nghiệp ==
Vài năm trước khi ông qua đời, Herrera từng cười khoái trá khi nói chuyện với một phóng viên Anh: "Mọi người chỉ trích catenaccio, người Anh chỉ trích nhiều nhất, nhưng tôi nhớ là Wright đã chơi ở vai trò trung vệ quét". Herrera không nói rõ hậu vệ họ Wright nào, có thể là cả Mark Wright ở World Cup 1990 và Billy Wright của ĐTQG Anh vào thập niên 1950.
== Danh hiệu ==
Atlético Madrid
1950 - Vô địch La Liga
1951 - Vô địch La Liga
F.C. Barcelona
1959 - Vô địch La Liga
1959 - Cúp Nhà vua Tây Ban Nha
1959 - Cúp UEFA
1960 - Vô địch La Liga
1960 - Cúp UEFA
1981 - Cúp Nhà vua Tây Ban Nha
F.C. Internazionale Milano
1963 - Vô địch Serie A
1964 - Cúp C1
1964 - Cúp liên lục địa
1965 - Vô địch Serie A
1965 - Cúp C1
1965 - Cúp liên lục địa
1966 - Vô địch Serie A
== Tham khảo ==
A.S. Roma
1969 - Cúp quốc gia Ý |
samsung gt-b7330.txt | Samsung GT-B7330 (còn được gọi là Omnia Pro B7330) là điện thoại thông minh sản xuất bởi Samsung là một phần của dòng Samsung Omnia series. Nó chạy Windows Mobile 6.5 chuẩn. Điện thoại có bàn phím QWERTY. Tiền thân của điện thoại này là Samsung OmniaPRO B7320. Nó được phát hành vào tháng 10 năm 2009.
== Tính năng ==
=== Tính năng chính ===
GSM Quad band (850/900/1800/1900 MHz)
Mạng EDGE
3.5G
Wi-Fi
Bluetooth v2.0
AGPS
Speakerphone
Bộ nhớ điện thoại: 200MB, bộ nhớ lưu trữ: 400MB
Thẻ nhớ (microSD lên đến 32GB)
Microsoft Office Mobile
Internet Explorer Mobile 6.0
Adobe Reader LE
Windows Mobile 6.5 chuẩn
FM Radio với RDS
Máy ảnh 3,2 Megapixel
Quay video (320×240 pixels)
SMS
MMS
E-mail
Lịch
Danh bạ
Thời gian biểu
Chế độ ngoại tuyến
Microsoft ActiveSync
Báo thức
Audio notes
Máy tính
Chuyển đổi (Tiền tệ, Độ dài, Trọng lượng, Kích thước, Diện tích, Nhiệt độ)
Tìm kiếm
Smart reader
Bấm giờ
Tác vụ
Tip calculator
Giờ thế giới
Trò chơi
Java MIDP 2.1
Máy nghe nhạc
Lịch sử cuộc gọi
Photo Slides
Podcast reader
RSS feeds reader
Speed dial
Streaming Player
Windows Media
Quản lý tác vụ
Voice notes
Facebook
Windows Marketplace for Mobile
Windows Live (Hotmail, Messenger, Spaces, Tìm kiếm, Danh bạ)
Microsoft My Phone
Đa nhiệm
Thu nhỏ cửa sổ
=== Tính năng đặc biệt ===
Phím điều hướng áp lực-nhạy cảm (chỉ lên và xuống)
=== Màn hình chủ ===
Từ màn hình chủ mặc định của thiết bị, người dùng có thể kiểm tra thời tiết, phát nhạc, cập nhật dòng sự kiện CNN, xem ảnh, cài đặt cấu hình thiết bị, và đến các trang mạng xã hội như Facebook, Myspace, và YouTube.
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Official Omnia website
Samsung Mobile UK - Omnia Pro B7330 Overview |
phủ chủ tịch.txt | Phủ Chủ tịch tại Hà Nội, Việt Nam là nơi làm việc của Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tòa nhà nằm trong khuôn viên của khu Phủ chủ tịch, gần lăng Hồ Chí Minh và quảng trường Ba Đình, Hà Nội. Đây cũng là nơi diễn ra lễ đón các nguyên thủ quốc gia hoặc người đứng đầu chính phủ đến thăm chính thức Việt Nam.
== Kiến trúc ==
Tòa nhà là một trong những dinh thự lớn nhất được Pháp xây ở Đông Dương gồm 30 phòng, mỗi phòng có một phong cách trang trí khác nhau. Theo thiết kế ban đầu dành cho phủ Toàn quyền Đông Dương, mặt bằng của tòa nhà được thiết kế đối xứng, có một khối lớn ở giữa và hai khối ở hai bên. Tòa nhà này có hai tầng chính đặt trên một tầng đế, trên cùng là một tầng sát mái. Tầng đế là một tầng nửa hầm xây nổi, có kẻ mạch vữa giả đá thường thấy trong kiến trúc cổ điển Pháp, đặt các phòng phục vụ; tầng hai vốn là phòng khách, phòng làm việc và phòng đại tiệc. Tầng ba là những phòng riêng và nơi ở của toàn quyền.
Giống nhiều kiến trúc thuộc địa Pháp cùng thời, nó có phong cách hoàn toàn Châu Âu. Yếu tố Việt Nam duy nhất trong khu vực là các cây xoài trồng ở vườn xung quanh.
Tòa nhà được quét vôi vàng, nằm sau cổng sắt. Các yếu tố của kiến trúc Phục hưng Ý có thể liệt kê là:
các phòng (aedicules)
cầu thang lớn và sảnh trung tâm (a formal piano nobile reached by a grand staircase)
các trán tường gãy (broken pediments)
các cột cổ điển (classical columns)
các góc tường (quoins)
== Lịch sử ==
Cuối thế kỷ 19, trong quá trình xâm lược Việt Nam, người Pháp đã tổ chức ra một bộ máy khá hoàn chỉnh từ trung ương cho đến địa phương. Ở trung ương là Phủ toàn quyền Đông Dương; ở các kỳ là Thống sứ, Khâm sứ, Thống đốc; ở các tỉnh là các Công sứ... nhằm phục vụ cho việc cai trị Việt Nam.
Sau khi chiếm được Hà Nội vào năm 1883, người Pháp đã tiến hành xây dựng thành phố Hà Nội mới, xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng, trong đó có trụ sở Phủ toàn quyền Đông Dương, phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa lần thứ nhất.
Công trình Phủ Toàn quyền Đông Dương (tiếng Pháp: Palais du Gouvernement général de l'Indochine) tại Hà Nội do kiến trúc sư Charles Lichtenfelder thiết kế và được xây dựng trong những năm 1901-1906 với quy mô hoành tráng, uy nghiêm và quyền lực. Có nguồn cho biết người phụ trách xây dựng phủ là Auguste Henri Vildieu vì ông là người đứng đầu bộ phận xây dựng công của chế độ thực dân Pháp khi ấy. Việc xây dựng được khởi xướng bởi Toàn quyền Paul Doumer, học giả William Logan cho rằng việc tạo ra các dinh thự ở Hà Nội là một niềm đam mê quá mức của Doumer vì muốn xây dựng một thủ đô thuộc địa phản chiếu vinh quang của nước Pháp. Từ khi tòa nhà được hoàn thành đến ngày cách mạng Tháng Tám 1945 thành công, đã có 29 đời Toàn quyền và Quyền Toàn quyền ở và làm việc.
Khi Nhật đảo chính Pháp tại Đông Dương, dinh thự này được sử dụng là nơi ở và làm việc của Công sứ Nhật tại Bắc Bộ. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng Minh, người Pháp tìm cách tiếp quản dinh thự này như một biểu tượng tái xuất hiện quyền cai trị. Tuy nhiên, ngày 3 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh bãi bỏ toàn bộ các cơ quan thuộc Phủ Toàn quyền Đông Dương và thiết lập một hệ thống cơ quan phục vụ chính phủ lâm thời Việt Nam tại đây. Sau khi tái chiến Đông Dương, người Pháp đã sử dụng nơi đây làm nơi làm việc cho Ủy viên Cộng hòa tại Bắc Kỳ và Bắc Trung Kỳ (tiếng Pháp: Commissaire de la République pour le Tonkin et l'Annam du Nord). Năm 1954, Việt Nam đánh bại Pháp tại chiến dịch Điện Biên Phủ và chuyển chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa về Hà Nội. Nơi đây được dùng làm công thự cho Chủ tịch nước và bộ máy cơ quan giúp việc. Từ đó có tên gọi chính thức là Phủ Chủ tịch cho đến ngày nay.
Trong 15 năm, từ năm 1954 đến năm 1969, tại Phủ Chủ tịch, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp trên 1000 đoàn đại biểu trong nước và ngoài nước. Đây cũng là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần đọc thơ chúc Tết đầu xuân nhân dịp năm mới.
Hồ Chí Minh nổi tiếng với việc ông không bao giờ vào sinh sống và làm việc trong Phủ mà chỉ tiếp khách tại đây. Thay vào đó, ông chuyển đến ở khu nhà của những người thợ điện phục vụ trước đây phía sau Phủ, nơi ông sống từ năm 1954-1969 và cũng là nơi ông gặp gỡ các nhà báo quốc tế và các đại diện ngoại giao.
Nhà báo Úc Wilfred Burchett hồi tưởng về việc mong muốn được chụp một bức ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh tại nơi làm việc trong văn phòng của ông, nhưng Hồ Chí Minh trả lời: "Nhưng tôi không có một văn phòng làm việc nào. Nếu thời tiết tốt, tôi làm việc ngoài vườn, nếu trời mưa, tôi làm việc dưới mái hiên và nếu trời lạnh tôi làm việc trong phòng ngủ của tôi."
== Tham quan ==
Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (ngày 2 tháng 9 năm 1969), Phủ Chủ tịch trở thành một trong những di tích lưu niệm về Hồ Chí Minh được Nhà nước xếp hạng là di tích đặc biệt quan trọng trong tổng thể Khu di tích Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch. Song từ đó đến nay toà nhà này vẫn là nơi làm việc của Chủ tịch nước; những hoạt động có ý nghĩa quan trọng của Đảng và Nhà nước vẫn được tiến hành trọng thể ở đây. Xung quanh là khu di tích lịch sử; và gần đó có Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh, bảo tàng Hồ Chí Minh, chùa Một Cột. Phủ không mở tự do cho công chúng, tuy nhiên có thể mua vé để vào tham quan khu vườn.
Giờ mở cửa mùa hè: Sáng từ 7 h 30 đến 11h. Chiều từ 14h đến 16h.
Giờ mở cửa mùa đông: Sáng từ 8h đến 11h. Chiều từ: 13h 30 đến 16h.
Phí tham quan: 25.000 đồng
== Xem thêm ==
Khu di tích Phủ Chủ tịch
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Ảnh Phủ chủ tịch
Tổng thống Pháp tại Phủ chủ tịch |
hải dương (thành phố).txt | Thành phố Hải Dương là trung tâm kinh tế, kỹ thuật, giáo dục, khoa học, y tế, dịch vụ của tỉnh Hải Dương.
== Địa lý ==
=== Vị trí ===
Thành phố Hải Dương nằm ở vị trí trung tâm tỉnh, phía bắc giáp huyện Nam Sách, phía đông giáp các huyện Kim Thành và Thanh Hà, phía tây giáp huyện Cẩm Giàng, phía nam giáp huyện Gia Lộc, phía đông nam giáp hai huyện Thanh Hà và Tứ Kỳ. Thành phố Hải Dương nằm cách Thủ đô Hà Nội 57 km về phía đông, cách thành phố Hải Phòng 45 km về phía tây. Diện tích thành phố là 7.138,60 ha, với dân số: 400.893 người (2015)
Các sông lớn chảy qua thành phố có sông Thái Bình đi qua giữa thành phố, ở phía nam có sông Sặt, chi lưu sông Thái Bình. Sông Kinh Thầy ở phía đông phân định xã Ái Quốc (TP Hải Dương) và xã Lai Vu (Kim Thành). Ngoài ra, còn có các hồ điều hòa: Bạch Đằng và Bình Minh, là những hồ lớn của thành phố.
== Lịch sử hình thành ==
Xuất xứ tên gọi Hải Dương: Hải là miền duyên hải, vùng đất giáp biển (Hải Dương xưa bao gồm một miền đất rộng lớn kéo dài từ Hưng Yên đến vùng biển Hải Phòng) Dương là ánh sáng, ánh mặt trời. Hải Dương nằm ở phía đông kinh thành Thăng Long. Hướng Đông cũng là hướng mặt trời mọc. Vì vậy Hải Dương có nghĩa là "ánh mặt trời biển Đông" hay "ánh sáng từ miền duyên hải (phía đông) chiếu về". Tên gọi Hải Dương chính thức có từ năm 1469 .
Trước năm 1804, lỵ sở của tỉnh Hải Dương được đặt tại Lạc Thiên (Chí Linh), lúc ấy gọi là thành Vạn hay doanh Vạn. Sau đó rời về Mao Điền (Cẩm Giàng). Năm 1804, (năm Gia Long thứ 3), để củng cố bộ máy cai trị, nhà Nguyễn đã phân chia lại địa giới hành chính của cả nước, do vậy lỵ sở Hải Dương đã được rời từ Mao Điền về vùng ngã ba sông Thái Bình và sông Sặt, thuộc địa phận ba xã Hàn Giang, Hàn Thượng và Bình Lao, cách kinh đô Huế 1.097 dặm. Một ngôi thành sở được Tổng đốc Trần Công Hiến cho khởi công để làm trụ sở cho bộ máy và đồn trú quân sự, gọi là Thành Đông, với mục tiêu vừa là trấn thành, vừa án ngữ phía đông Kinh thành Thăng Long. Thành Đông lúc này là một trong 4 thành trong Thăng Long tứ trấn. Đây được xem như thời điểm khởi lập của thành phố Hải Dương.
Thành Đông ban đầu không có dân, chỉ có quan lại và quân lính. Đến năm 1866 (năm Tự Đức thứ 19), Đông Kiều phố được hình thành (tương ứng với phường Trần Phú và một phần phường Trần Hưng Đạo ngày nay), nhiều phố nghề ra đời như Hàng Giày - Rue Des Cordonnier (Sơn Hòa ngày nay), Hàng Đồng - Rue du cuivre (Đồng Xuân), Hàng Bạc - Rue des Changeurs (Xuân Đài), Hàng Lọng - Rue des parasols (Tuy An). Trong đó, phố Hàng Lọng chính là biểu tượng cho nền giáo dục của xứ Đông, vinh danh những người con đỗ đạt cao về vinh quy bái tổ. Ngoài các phố cổ mang tên nghề nghiệp như trên thì các phố cổ khác đều được bắt đầu bằng chữ "Đông" (sau khi giải phóng thành phố vào ngày 30 tháng 10 năm 1954, Hải Dương kết nghĩa với Phú Yên và nhiều tuyến phố được đổi tên theo địa danh của tỉnh Phú Yên như ngày nay). Năm 1889, Thành Đông bị thực dân Pháp phá bỏ để lấy mặt bằng xây dựng nhà máy rượu và vài tòa dinh thự của người Pháp.
Năm 1923, Toàn quyền Đông Dương quyết định thành lập thành phố Hải Dương. Không gian thành phố được chia thành hai khu vực: khu hành chính - nằm ven sông Sặt và khu kinh tế - từ Nhà máy Rượu đến Nhà ga xe lửa. Các công sở và dinh thự của quan chức người Pháp được tập trung ven sông Sặt. Một số tòa dinh thự mang kiến trúc Pháp hiện nay vẫn còn được sử dụng như dinh Công sứ (nhà làm việc và nhà khách Tỉnh ủy); Sở Lục bộ (Sở Giao thông); nhà Séc-tây (Sở Thể dục- Thể thao cũ), Kho bạc (Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh), dinh Phó sứ (Sở Văn hóa - Thể thao & du lịch)... Với vị trí thuận lợi về giao thông và phát triển kinh tế, văn hóa; thành phố Hải Dương đã trở thành một trong 4 thành phố quan trọng nhất của Bắc Kỳ cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Nam Định).
Tháng 3 năm 1947, nhà cầm quyền Pháp chia thành phố Hải Dương thành 2 quận, rồi sau đó một thời gian lại chuyển thành thị xã.
Ngày 30 tháng 10 năm 1954, thị xã Hải Dương chính thức được đặt dưới quyền kiểm soát của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thị xã được chia làm 5 xã: Bình Hàn, Cẩm Thượng, Thanh Bình, Tứ Minh, Việt Hòa; mỗi khu phố có một số đường phố và xóm nhỏ. Năm 1959, thị xã được tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng và quy hoạch đô thị với quy mô dân số từ 40.000 đến 50.000 người.
Ngày 26 tháng 1 năm 1968, thị xã Hải Dương được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Hải Hưng mới thành lập. Ngày 14 tháng 8 năm 1969, thị xã được mở rộng, sáp nhập thêm xã Ngọc Châu của huyện Nam Sách. Ngày 11 tháng 3 năm 1974, thành lập xã Hải Tân. Sau năm 1975, thị xã Hải Dương có 5 phường: Nguyễn Trãi, Phạm Ngũ Lão, Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Trần Phú và 7 xã: Bình Hàn, Cẩm Thượng, Hải Tân, Ngọc Châu, Thanh Bình, Tứ Minh, Việt Hòa.
Ngày 28 tháng 10 năm 1996, Chính phủ ban hành Nghị định 64/CP thành lập các phường Thanh Bình, Cẩm Thượng, Hải Tân, Ngọc Châu, Bình Hàn (trên cơ sở các xã có tên tương ứng) và tách một số khu dân cư của phường Trần Phú để thành lập phường Lê Thanh Nghị. Từ ngày 6 tháng 11 năm 1996, thị xã trở lại là tỉnh lỵ tỉnh Hải Dương mới được tái lập.
Ngày 6 tháng 8 năm 1997, Chính phủ ban hành Nghị định 88/CP thành lập thành phố Hải Dương trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số của thị xã Hải Dương và là đô thị loại III với 11 phường, 2 xã.
Ngày 19 tháng 3 năm 2008, thành phố sáp nhập thêm các xã Nam Đồng, An Châu, Ái Quốc, Thượng Đạt (Nam Sách), 38 ha của thị trấn Lai Cách (Cẩm Giàng), các xã Tân Hưng, Thạch Khôi (Gia Lộc) và một phần thôn Ngọc Lặc, xã Ngọc Sơn (Tứ Kỳ); chuyển 2 xã Tứ Minh và Việt Hòa thành 2 phường có tên tương ứng. Như vậy, sau khi được điều chỉnh địa giới hành chính, thành phố có 19 phường, xã (13 phường, 6 xã).
Ngày 17 tháng 5 năm 2009, thành phố có quyết định trở thành đô thị loại 2. Đến ngày 23 tháng 9 năm 2009, Chính phủ ban hành Nghị quyết về việc điều chỉnh địa giới hành chính phường và thành lập các phường Nhị Châu (tách ra từ phường Ngọc Châu) và Tân Bình (tách ra từ phường Thanh Bình) thuộc thành phố Hải Dương.
Ngày 29 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ban hành Nghị quyết về việc thành lập các phường Ái Quốc và Thạch Khôi trên cơ sở các xã có tên tương ứng
Hiện thành phố đang có quy hoạch trở thành đô thị loại 1 trước năm 2020
== Hành chính ==
Thành phố Hải Dương hiện có 21 đơn vị hành chính bao gồm 17 phường: Ái Quốc, Bình Hàn, Cẩm Thượng, Hải Tân, Lê Thanh Nghị, Ngọc Châu, Nguyễn Trãi, Nhị Châu, Phạm Ngũ Lão, Quang Trung, Tân Bình, Thạch Khôi, Thanh Bình, Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Tứ Minh, Việt Hòa và 4 xã: An Châu, Nam Đồng, Tân Hưng, Thượng Đạt.
== Kinh tế ==
Thành phố Hải Dương là trung tâm công nghiệp, thương mại và dịch vụ của tỉnh, đồng thời là một trong những trung tâm về công nghiệp của Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ.Thành phố Hải Dương hiện là 1 đô thị trong vùng Thủ đô Hà Nội. Cùng với các thành phố Thái Nguyên, Việt Trì, thành phố Hải Dương sẽ được đầu tư để trở thành một trong 3 đô thị cấp trung tâm vùng (đô thị cấp 1) và là một trung tâm công nghiệp của toàn vùng.
=== Khu - cụm - cảng công nghiệp ===
Trước đây, ngành công nghiệp của thành phố Hải Dương chủ yếu được biết đến qua sự đóng góp của Nhà máy Sứ Hải Dương, Công ty Chế tạo Bơm Hải Dương, các cơ sở sản xuất bánh đậu xanh và một số nhà máy khác. Mặt khác, sau năm 2000, với lợi thế về giao thông, thương mại..., tỉnh và thành phố đã triển khai quy hoạch xây dựng các khu - cụm công nghiệp:
KCN Đại An (603,82ha)
KCN Đại An được thành lập ngày 24/3/2003. Vị trí Km 51, Quốc lộ 5, Thành phố Hải Dương. KCN Đại An có vị trí giao thông hết sức thuận lợi, dọc theo tuyến đường cao tốc số 5 nối liền thủ đô Hà Nội với cảng Hải Phòng,nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, KCN cách thủ đô Hà Nội 50 km, sân bay Nội Bài 80 km, cảng Hải Phòng 51 km, cảng nước sâu Cái Lân 82 km, ga đường sắt Cao Xá 1,5 km, cảng sông Tiên Kiều 2 km. Tổng diện tích 664 ha: diện tích khu I 189,82 ha (170,82 ha đất công nghiệp và 19 ha đất khu dân cư phục vụ công nghiệp), khu II 474 ha (trong đó diện tích đất công nghiệp là 403 ha, diện tích đất Khu dân cư là 71 ha). Được đầu tư xây dựng đồng bộ, và hiện đại gồm: hệ thống cấp điện, cấp nước, thoát nước, giao thông, thông tin liên lạc, hệ thống chiếu sáng, trung tâm kho vận, an ninh, môi trường và cây xanh....Hiện tại đã có 31 dự án đã cấp giấy phép, tổng số vốn đầu tư của các dự án trong KCN là 422 triệu USD; vốn đã thực hiện 250 triệu USD; vốn đầu tư trung bình 1 ha đất là 4,7 triệu USD; số lượng công nhân sử dụng trong KCN khoảng 6.800 người, trong đó NLĐ địa phương là 5.780 người, chiếm tỷ lệ 85%. Hiện nay KCN đã thu hút được nhiều doanh nghiệp của các quốc gia trên thế giới: Mỹ, Nhật, Pháp, Đức, Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia, Đài Loan và Việt Nam.
Hệ thống cơ sở hạ tầng, dịch vụ, an sinh xã hội đồng bộ: tư vấn thành lập doanh nghiệp và các thủ tục xin cấp giấy phép đầu tư; dịch vụ tư vấn thiết kế và thi công xây dựng; dịch vụ vận chuyển hàng hóa; Dịch vụ kho tàng chứa trữ hàng hóa; dịch vụ bảo hiểm, thủ tục hải quan xuất nhập khẩu; hỗ trợ tuyển dụng công nhân; khu nhà ở cho chuyên gia và công nhân thuê. Hiện tại Bệnh viện Quốc tế Đại An Việt Nam Canada (Dai An Vietnam Canadian International Hospital) Quy mô vốn đầu tư 200 triệu USD,200 giường bệnh, đang được khởi công xây dựng.
KCN Nam Sách (60,2ha)
KCN Nam Sách được thành lập ngày 27/02/2003. Vị trí nằm trên trục đường Quốc lộ 5 nối liền Hà Nội - Hải Phòng và Quốc lộ 183 nối liền các trung tâm kinh tế lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, sân bay Quốc tế Nội Bài, cửa khẩu Lạng Sơn và các cảng biển quốc tế, rất thuận tiện cho việc xuất nhập khẩu hàng hoá. Tổng diện tích 60,2ha. Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ hiện đại: Nguồn điện 30.000 KVA. Nguồn nước 4.500 m3/ngày đêm.Thoát nước - Xử lý nước thải và chất thải rắn đạt tiêu chuẩn mức B công suất 3.600 m3/ngày.Thông tin liên lạc đạt tiêu chuẩn quốc tế đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc đạt 9-11 lines/ha.Hệ thống cáp quang ngầm được đấu nối trực tiếp đến chân hàng rào từng doanh.Hệ thống đường giao thông nội bộ: hệ thống đường khu trung tâm rộng 27m,đường chính rộng 16.5 m,đường nhánh, đường gom rộng 13.5 m.Hệ thống phòng cháy chữa cháy. Hệ thống phòng cháy chữa cháy đạt tiêu chuẩn quốc gia, các trụ cứu hoả được bố trí dọc theo trục đường KCN (khoảng 100-120m/1trụ).Hải quan mọi thủ tục hải quan được thực hiện tại cảng cạn (ICD) cách KCN 3 km. Ngân hàng hệ thống chi nhánh các ngân hàng (Vietcombank, Maritime Bank, ACB, Agribank, Techcombank...
Hiện Khu công nghiệp Nam Sách có tổng số trên 20 nhà đầu tư trong và ngoài nước: Toyo Denso, Okamoto của Nhật Bản, Ever Glory của Hồng Kông, Chyun Jaan của Đài Loan, Công ty Nam Tiến, Công ty Hồng Gia, Công ty Kiến Hưng của Việt Nam,... Khu công nghiệp đi vào hoạt động đã góp phần tạo việc làm cho hàng nghìn lao động tại địa phương và các vùng lân cận, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và tăng nguồn thu cho Ngân sách của Tỉnh.
KCN Việt Hòa-Kenmark (46,40ha)
Km 47, Quốc lộ 5, phường Việt Hòa, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.Quy mô tổng thể 123 héc ta. Tổng vốn đầu tư 1.594 tỷ đồng
CCN Thạch Khôi
Tổng mức đầu tư: 146.435.362.000 đồng. Diện tích 12,74 ha, gồm các hạng mục: khu chợ trung tâm, bãi đỗ xe, hai trục đường chính nối với Quốc lộ 38B, 10 tuyến đường nội bộ. Riêng khu tiểu, thủ công nghiệp nằm ở phía đông được thiết kế 7 dãy, với các lô liền kề, phục vụ nhu cầu sản xuất và kinh doanh nghề mộc, chạm và điêu khắc. Khối nhà ở liền kề được chia làm 10 khu. Ngoài ra, khu dân cư này còn quy hoạch khu công cộng gồm nhà trẻ, nhà văn hoá, cây xanh, đường đi bộ.
CCN Ngô Quyền
CCN Cẩm Thượng - Việt Hòa
CCN Ba Hàng.
Cảng nội địa Hải Dương
Cảng nội địa Hải Dương được thành lập ngày 09 tháng 09 năm 2002. Vị trí Vị trí nằm ở trung tâm vùng kinh tế trọng điểm Đồng bằng Bắc Bộ.Cách Hà Nội 55 km,cách sân bay nội bài 90 km cách cảng Hải Phòng 55 km cách cảng Cái Lân 120 km. Có cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ hiện đại:Hệ thống giao thông Đường bộ Quốc lộ 5, Quốc lộ 18, Quốc lộ 188, Quốc lộ 10, Quốc lộ 1A Đường sắt Hải Phòng - Hải Dương - Hưng Yên - Hà Nội - Lạng Sơn - Lào Cai. Hệ thống bãi container 12 hecta. Hệ thống kho chứa hàng Số lượng kho 5 Tổng diện tích kho: 24.000 m2. Dịch vụ:ICD, Đại lý hãng tàu Cho thuê kho ngoại quan, kho CFS, kho thông thường, bãi container và giao hàng theo yêu cầu Dịch vụ làm thủ tục hải quan, giao nhận hàng hoá XNK và logistics Vận tải đa phương thức nội địa và quốc tế Dịch vụ bảo hiểm và giám định hàng hoá
=== Thương mại ===
Sự phát triển mạnh mẽ, nhanh chóng về không gian và kết cấu hạ tầng đô thị đã tạo ra động lực to lớn, thúc đẩy sự phát triển kinh tế của TP Hải Dương đóng góp tỉ trọng lớn trong GDP chung của tỉnh với mức tăng trưởng kinh tế trong nhiều năm liền đều đạt bình quân hơn 14%/năm, nằm trong tốp các địa phương có tốc độ tăng trưởng cao nhất khu vực. Trong cơ cấu kinh tế chung của TP, công nghiệp, thương mại, dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trọng lớn, giảm dần tỷ trọng nông nghiệp.
Hiện tại, ngành công nghiệp - xây dựng đã chiếm tỷ lệ 55,5%; thương mại dịch vụ 40,3%; nông nghiệp thuỷ sản chỉ còn 4,2%. TP đã quy hoạch xây dựng được 30 điểm chợ, siêu thị, trung tâm thương mại với 5.800 hộ kinh doanh.
Ngành thương mại phát triển tương đối đồng đều tại các phường, xã. Trong đó, hàng hóa chủ yếu được lưu thông qua hệ thống bán lẻ.
Thành phố Hải Dương có các tuyến phố thương mại chính như Đồng Xuân, Đại lộ Hồ Chí Minh, Ngân Sơn, Phạm Hồng Thái, Phạm Ngũ Lão, Quang Trung, Thống Nhất, Trần Bình Trọng, Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Tuy An, Tuy Hòa, Đoàn Kết, Xuân Đài... Ngoài ra, còn có các phố chợ Bắc Kinh, Chi Lăng, Chợ Con, Mạc Thị Bưởi, Trần Phú... Một số chợ, siêu thị lớn:
Chợ: Chợ Phú Yên, Chợ Kho Đỏ, chợ Bắc Kinh, chợ Ngô Quyền, chợ Thanh Bình,chợ Hải Tân, chợ Ngọc Châu.
Siêu thị: Siêu thị Big C, Siêu thị Intimex Hải Dương, Siêu thị Hải Dương Vinatex, Siêu thị Vật liệu xây dựng và Nội thất Minh Hải Plaza, Siêu thị Điện máy Phương Đông, Siêu thị Sách Giáo dục, Trung tâm thương mại TP. Hải Dương, Siêu thị Thegioididong, Siêu thị Vien thong A, Siêu thị Thế giới số Trần Anh, Siêu thị Điện máy HC Hải Dương, Siêu thị Ocean Mart Hải Dương
Ngân hàng: Thành phố Hải Dương là nơi khai sinh ra Ngân hàng TMCP Đại Dương OceanBank. Ngân hàng TMCP Đại Dương OceanBank tiền thân là ngân hàng thương mại cổ phần Nông thôn Hải Hưng, được thành lập cuối năm 1993 với vốn điều lệ là 300 triệu đồng và chỉ đơn giản là nhận tiền gửi và cho vay hộ nông dân trên địa bàn nông thôn Hải Dương. Sau 14 năm hoạt động, Ngân hàng TMCP Nông thôn Hải Hưng chính thức được chuyển đổi mô hình hoạt động thành Ngân hàng cổ phần đô thị đổi tên thành Ngân hàng TMCP Đại Dương OceanBank. Hiện OceanBank đã có trên 100 chi nhánh và phòng giao dịch khắp 3 miền Bắc, Trung, Nam.
Hiện trên địa bàn Tp Hải Dương có 23 chi nhánh ngân hàng thương mại, đã phát hành trên 18.000 thẻ, lắp đặt 314 máy POS tại 138 điểm chấp nhận thẻ tập trung tại các siêu thị, khách sạn, nhà hàng, phòng vé máy bay và các cửa hàng bán hàng lưu niệm cho khách du lịch quốc tế. Hệ thống ngân hàng Hải Dương đã hoàn thành kết nối liên thông POS từ năm 2011.
=== Hạ tầng ===
Hiện nay trên địa bàn thành phố Hải Dương đã và đang hình thành một số khu đô thị cao cấp như khu đô thị Tuệ Tĩnh, khu đô thị Nam thành phố Hải Dương, khu đô thị Tân Phú Hưng, khu đô thị Thạch Khôi...
== Giao thông ==
=== Đường bộ ===
Các tuyến Quốc lộ: 5, 191, 37, 17
Đường phố chính:
Đại lộ: Hồ Chí Minh, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Lương Bằng, Lê Thanh Nghị, 30/10.
Phố: Phạm Ngũ Lão, Trường Chinh, Thanh Niên, Thống Nhất, Ngô Quyền, Hồng Quang, Yết Kiêu, Điện Biên Phủ, Bạch Đằng, Hoàng Diệu, Nguyễn Thượng Mẫn, Chi Lăng, Hoàng Hoa Thám, Bạch Năng Thi, Bùi Thị Xuân, An Thái, Phạm Ngũ Lão, Chương Dương, Tam Giang, Quang Trung, Đoàn Kểt, Cẩm Thượng, Đỗ Ngọc Du, Đức Minh...
=== Đường thủy ===
Thành phố Hải Dương có một hệ thống giao thông đường thủy khá thuận lợi. Từ thành phố Hải Dương, theo hệ thống sông Thái Bình, tàu thuyền có thể xuôi ra Cảng Hải Phòng, hoặc ngược lên các tỉnh miền núi trung du phía Bắc.
Cảng Cống Câu là cảng đường thủy nội địa có chức năng là nơi bốc dỡ hàng hóa - chủ yếu là nguyên vật liệu - đến và đi các tỉnh thành khác, cảng có công suất 300.000 tấn /năm và hệ thống bến bãi đáp ứng về vận tải hàng hoá bằng đường thuỷ một cách thuận lợi.
=== Đường sắt ===
Hệ thống đường sắt Hà Hải đi qua địa phận thành phố Hải Dương khoảng 13 km, bắt đầu từ phường Việt Hòa và kết thúc tại xã Ái Quốc. Kết nối với các tỉnh thành khác tại Nhà ga Hải Dương - đầu mối giao thông đường sắt của toàn tỉnh, và Tiền Trung là nhà ga trung chuyển của khu vực Đông bắc tỉnh.
=== Các tuyến xe buýt ===
Hiện tại, có tất cả 16 tuyến xe buýt xuất phát từ thành phố Hải Dương đi đến trung tâm các huyện trong tỉnh Hải Dương và các tỉnh, thành lân cận.
Các tuyến xuất phát từ Bến xe Hải Dương:
202 Hải Dương - Hà Nội
206 Hải Dương - Hưng Yên
216 Hải Dương - Sặt - Hưng Yên
209 Hải Dương - Thái Bình
Các tuyến xuất phát từ Bến xe Hải Tân:
02 Tp. Hải Dương - Việt Hồng - TT. Thanh Hà - Vĩnh Lập (Thanh Hà)
19 TP. Hải Dương - Nam Sách
207 Hải Dương - Uông Bí
215 Hải Dương - Lương Tài
217 Hải Dương - Bắc Ninh.
Các tuyến xuất phát từ Bến xe Phía Tây:
208 Hải Dương - Bắc Giang
01 TP Hải Dương - Chợ Nứa - TT. Thanh Hà - Vĩnh Lập (Thanh Hà)
18 TP Hải Dương - Phú Thái - Mạo Khê
08 TP Hải Dương - Tam Kỳ (Kim Thành)
07 TP Hải Dương - Bóng - Cầu Dầm
05 TP Hải Dương - Bình Giang - Hà Chợ
Các tuyến xuất phát từ Điểm đỗ Bắc đường Thanh Niên (Siêu thị Marko cũ):
06 TP Hải Dương - Bến Trại
09 TP Hải Dương - TT. Tứ Kỳ - Quý Cao - Ninh Giang
27 TP Hải Dương - Gia Lộc - Ninh Giang.
== Giáo dục - Y tế ==
=== Giáo dục ===
==== Đại học - Cao đẳng - Trung cấp chuyên nghiệp ====
==== Trung học phổ thông ====
=== Y tế ===
1. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương.
2. Bệnh viện Đa khoa TP. Hải Dương.
3. Viện Quân y 7.
4. Bệnh viện Lao & Bệnh phổi Hải Dương.
5. Bệnh viện Phụ sản Hải Dương
6. Bệnh viện Đa khoa Hòa Bình.
7. Bệnh viện Y học cổ truyền Hải Dương.
8. Trung tâm Y tế dự phòng Hải Dương.
9. Bệnh viện Điều dưỡng - Phục hồi chức năng Hải Dương.
10. Bệnh viện Nhi Hải Dương.
11. Bệnh viện Mắt Hải Dương.
12. Viện Da liễu Hải Dương
13. Bệnh viện Đại học Y Hải Dương.
14. Bệnh viện Hoà Bình.
15. Trung tâm Phòng, chống HIV/AIDS
== Ẩm thực - Đặc sản ==
Hải Dương là nơi nổi tiếng với nhiều đặc sản mang đậm hương vị của đồng bằng Bắc bộ như: Bánh đậu xanh, Bánh khảo, Cốm (An Châu). Thêm vào đó là những Bánh gai Ninh Giang, Vải thiều Thanh Hà… mang từ các huyện lên. Các món ăn ngon được biết đến nhiều của thành phố Hải Dương: Bún cá, Bánh đa cua, Bánh cuốn, Bánh đúc.
Thành phố Hải Dương có nhiều quán ăn đêm nằm rải rác ở nhiều tuyến phố, rất phong phú và đa dạng như phố Mạc Thị Bưởi nổi tiếng với các món ăn đường phố, bán từ chiều tối đến tận khuya, có thể ăn tại chỗ hoặc gói mang về, với những hàng xôi hộp, bánh bao, bánh mỳ pa-tê, bánh cuốn hấp, phở, miến, cháo, gà tần, tim tần thuốc bắc. Một phố khác được nhiều người biết đến là phố Phạm Hồng Thái, nổi danh là phố ẩm thực của Thành Đông với nhiều món ăn ngon và đa dạng, đặc biệt là món cháo,bánh cuốn.
== Điểm tham quan - du lịch ==
Thành Hải Dương
Quảng trường Độc Lập (quảng trường trung tâm)
Quảng trường 30 tháng 10 (quảng trường phía tây)
Quảng trường Thống Nhất
Cụm di tích: Đình, Đền, Chùa Sượt thuộc phường Thanh Bình, thành phố Hải Dương. Đền có tên chữ là Thanh Cương linh từ, Quang Liệt miếu. Đền Sượt và đình Sượt thờ Đức thánh Vũ Hữu có công phò vua Lê Chiêu Tông dẹp giặc Ai Lao giữ yên bờ cõi đất nước ở thế kỷ thứ XV. Đền đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá văn hoá cấp quốc gia năm 1992.
Cụm di tích: Đình, Đền, Chùa Bảo Sài thuộc khu dân cư số 14, phố Trương Mỹ, Phường Phạm Ngũ Lão, Thành phố Hải Dương. Trong đó Đình Bảo Sài thờ Tướng công Trương Mỹ - người có công trong chống giặc ngoại xâm phương Bắc: tham gia vào khởi nghĩa Hai Bà trưng năm 40 để đưa đến sự ra đời của nhà nước độc lập tự chủ trong những năm 40 – 43. Hiện nay, cụm di tích Đình, Đền, Chùa Bảo Sài đã được nhà nước công nhận là di tích lịch sử cấp Quốc gia.
Di tích Đình Đồng Niên thuộc phường Việt Hòa, thành phố Hải Dương. Đình Đồng Niên được xây dựng từ thế kỷ thứ 6. Đình thờ 3 vị Thành hoàng, là những vị anh hùng cứu quốc thời tiền Lý (544-602), có công đánh đuổi giặc Lương mở ra kỷ nguyên độc lập tự chủ cho dân tộc Việt Nam. Đình Đồng Niên còn là nơi hội tụ của "tam giáo đồng nguyên" (Nho, Phật, Lão) và cũng là công trình kiến trúc cổ với những mảng điêu khắc tinh tế thể hiện sự tài hoa của các nghệ nhân tiền bối
Công viên Bạch Đằng: Gồm quần thể hồ, công viên, nhà hàng, khách sạn dọc theo đường Thanh Niên và phố Đoàn Kết thành phố Hải Dương.
Các tuyến phố thương mại: Đồng Xuân, Đại lộ Hồ Chí Minh, Ngân Sơn, Phạm Hồng Thái, Phạm Ngũ Lão, Quang Trung, Thống Nhất, Trần Bình Trọng, Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Đoàn Kết, Tuy An, Tuy Hòa, Xuân Đài.
== Danh nhân ==
Lương Như Hộc
Đinh Văn Tả
Nguyễn Trác Luân
Trần Xuân Yến
Vũ Hựu
Hồng Quang
Nguyễn Thượng Mẫn
Đặng Quốc Chinh
Thâm Tâm
Lê Đình Vũ
Lê Tôn Hy
Phạm Xuân Huân
Phạm Ngọc Khánh
Đỗ Ngọc Du
== Báo chí, Văn hoá, Nghệ thuật ==
Báo Hải Dương cơ quan ngôn luận của Tỉnh uỷ Hải Dương. Địa chỉ: số 10 Đức Minh, phường Thanh Bình, TP Hải Dương
Tạp chí Văn hoá Thể thao và Du lịch tỉnh Hải Dương cơ quan ngôn luận của Sở VH-TT& DL Hải Dươngn. Địa chỉ: Số 75 Bạch Đằng TP Hải Dương
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Hải Dương cơ quan ngôn luận của Sở KH&CN Hải Dương
Tạp chí Lao động Hải Dương cơ quan ngôn luận của Liên Đoàn lao động Hải Dương
Tạp chí Văn nghệ Hải Dương cơ quan ngôn luận của Hội VHNT Hải Dương. Địa chỉ: số 66 Quang Trung, TP Hải Dương
Phân xã Thông Tấn Xã Việt Nam tại Hải Dương
Câu lạc bộ Văn nghệ sĩ trẻ tỉnh Hải Dương trực thuộc Tỉnh đoàn, Hội Liên hiệp thanh niên tỉnh Hải Dương .
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website tỉnh Hải Dương |
lãnh đạo.txt | Lãnh đạo là một trong những khái niệm quan trọng nhất trong khoa học về tổ chức - nhân sự. Đó là một quá trình ảnh hưởng mang tính xã hội trong đó lãnh đạo tìm kiếm sự tham gia tự nguyện của cấp dưới nhằm đạt mục tiêu của tổ chức. Lãnh đạo là quá trình gây ảnh hưởng và dẫn đắt hành vi của cá nhân hay nhóm người nhằm hướng tới mục tiêu của tổ chức. Môn nhân sự hiện đại đề cao vai trò của lãnh đạo nên đối tượng này càng được nghiên cứu kỹ lưỡng hơn.
Lãnh đạo được miêu tả là 'một quá trình ảnh hưởng xã hội cái mà một người có thể tìm kiếm sự giúp đỡ và hỗ trợ của những người khác nhằm đạt được thành công cho một mục tiêu chung". Tất nhiên cũng xuất hiện nhiều cách lý giải khác sâu hơn.
== Lý thuyết ==
Lãnh đạo là "tổ chức một nhóm những người để đạt mục tiêu chung". Người lãnh đạo có thể có hoặc không có quyền lực đặc biệt. Những nhà nghiên cứu về lãnh đạo đã đưa ra những lý thuyết bao gồm những đặc điểm, những sự tác động qua lại do các yếu tố bên ngoài, chức năng, ứng xử, tầm nhìn và giá trị, uy tín, và trí thông minh, cùng với nhiều thứ khác. Người mà mọi người sẽ tuân theo phải có khả năng hướng dẫn hoặc định hướng cho người khác.
=== Thời kì đầu trong lịch sử phương Tây ===
Công việc tìm kiếm cho đặc điểm hay những yếu tố của người lãnh đạo đã được thực hiện trong nhiều thế kỉ. Những tác phẩm triết học nổi tiéng nhất từ cuối Cộng hòa (Plato) cho tới cuốn Những cuộc đời song hành đã khám phá câu hỏi "Kĩ năng nào phân biệt một cá nhân và một người lãnh đạo?" Đặc biệt câu hỏi này là sự thừa nhận ban đầu về tầm quan trọng của lãnh đạo và được cho rằng nhà lãnh đạo cũng xuất phát từ những đặc điểm mà mỗi cá nhân có. Ý kiến này có nghĩa sự lãnh đạo dựa trên những đóng góp từ các cá nhân và được biết tới là "những đặc điểm của lãnh đạo trên lý thuyết".
Những đặc điểm trên lý thuyết đã được khám phá ra sau một loạt những sự kiện vào thế kỉ 19. Đáng chú ý nhất là tác phẩm của Thomas Carlyle và Francis Galton, những người mà công việc của họ đã khiến họ phải nghiên cứu trong hàng thập kỉ. Trong cuốn Heroes and Hero Worship (1841), Carlyle nhận ra tố chất, kĩ năng, và những đặc điểm thể chất của những người có thể có quyền lực. Trong cuối Hereditary Genius' của Galton (1869), ông nghiên cứu khả năng lãnh đạo trong một gia đình đầy quyền lực. Sau khi chỉ ra rằng số lượng những người thân nổi tiếng giảm đi khi chuyển từ tấm bằng thứ nhất sang tấm bằng thứ hai, Galton kết luận rằng lãnh đạo là thừa kế. Nói cách khác, những nhà lãnh đạo được sinh ra, chứ không phải được phát triển lên. Tất cả những tác phẩm đáng chú ý này đã bổ sung thêm những sự trợ giúp ban đầu rằng lãnh đạo là một đặc điểm của những người đứng đầu.
== Xu hướng hình thành và chuyển dịch của quyền lực lãnh đạo ==
Theo các nghiên cứu của lý thuyết lãnh đạo hiện đại, Quyền lực lãnh đạo có thể hình thành từ 4 nguồn quyền năng:
Do chức vụ, địa vị
Do chuyên môn
Do tố chất, quyền uy bẩm sinh
Do hệ thống đem lại
Tuy nhiên, trong một xã hội văn minh, càng ngày quyền lực do chức vụ, địa vị đem lại càng giảm. Các bậc thang diễn biến của các quyền lực xã hội được biết đến là Phong kiến => Quận sự trị vì => Kỹ trị => Kinh tế trị => Luật trị. Trong xã hội tiến triển ở bậc càng cao, quyền lực đơn thuần do chức vụ đem lại càng phải ít đi và lãnh đạo càng phải chú ý đến quần chúng mà mình muốn tập hợp hoặc dưới mình hơn.
== Những tố chất quan trọng nhất của một lãnh đạo ==
Theo các nhà nghiên cứu và tổng kết của các giáo sư McShane và Von Glinow trong giáo trình của McGraw-Hill Inc., để trở thành một lãnh đạo, cần hội tụ 7 nhân tố sau:
Nhạy cảm: Rất cần, và là cần nhất. Thể hiện trong việc chỉ số EQ phải cao. Lãnh đạo luôn cần có cảm nhân về thái dộ, tình cảm, mong muốn, buồn, vui... của người xung quanh mình, thậm chí của tất cả quần chúng, dù khả năng tiếp xúc của họ cũng bị hạn chế như mọi người.
Chính trực: Là điều công chúng mong đợi. Sự chính trực này làm cho công chúng cảm thấy tin tưởng; một nhân tố quan trọng để họ quyết định có đi theo lãnh đạo hay không. Nếu không, ít nhất lãnh đạo phải làm cho công chúng thấy là mình có chính trực.
Nghị lực: Để vượt qua các khó khăn nội tại và từ ngoại cảnh. Phần này phải hơn người và nhiều khi sự khâm phụ của quần chúng chỉ là từ đây.
Tự tin: Rất cần thiết để làm việc nói chung và sử dụng trong các trường hợp đặc biệt như nói trước công chúng.
Có động lực làm lãnh đạo: Đây có khi chính là tham vọng theo mọi nghĩa. Người lãnh đạo có thể tỏ ra họ có tham vọng hay không, song trên thực tế họ luôn cần có động lực làm lãnh đạo mới có thể là lãnh đạo thực thụ.
Trí thông minh: Chỉ cần ở mức trung bình trở lên. Đây là lý do vì sao người Việt hay nhìn nhận sai về lãnh đạo, hay đòi hỏi lãnh đạo phải là người thông minh nhất, IQ cao nhất, chuyên môn phải giỏi nhất... song thực tế lãnh đạo giỏi không cần những điều này. Nhưng cần thiết phải có khả năng phân tích các vấn đề và cơ hội.
Kiến thức chuyên môn: Cần có ở mức vừa phải trở lên, chủ yếu để trợ giúp quá trình ra quyết định. Năng lực mỗi người có hạn. Nếu lãnh đạo quá thiên về chuyên môn họ khó có đủ quỹ thời gian cho chính việc lãnh đạo.
== Các tính cách và khả năng của lãnh đạo ==
Năm 1994, House and Podsakoff đã đưa ra mô hình tính cách của các nhà lãnh đạo điển hình như sau:
Tầm nhìn:
Sự đam mê và đức hy sinh:
Tin tưởng, sự quyết tâm và tính bền bỉ:
Xây dựng hình ảnh tốt:
Gương mẫu:
Vai trò bên ngoài:
Tạo sự tin tưởng cho những người đi theo:
Có khả năng phát động khi cần:
Khả năng cấu trúc tốt:
Khả năng truyền cảm:
== 7 việc lãnh đạo cần phải làm ==
Lãnh đạo có vô số công việc cần làm trong mỗi ngày làm việc của họ. Tuy nhiên, việc xác định được các trọng tâm công việc là vô cùng quan trọng bởi nếu không đạt được điều đó, tổ chức sẽ đi sai đường.
Thiết lập tầm nhìn cho tổ chức: Thông thường nhân tố này bị xem là mông lung, song thực tế cho thấy tầm nhìn chính là ngọn hải đăng chỉ đường cho mỗi tổ chức. Không có tổ chức nào có tầm nhìn kém, không có tầm nhìn rõ ràng hay thậm chí không có tầm nhìn lại thành công trong thực tế.
Tập hợp quần chúng: Để tập hợp được quần chúng, lãnh đạo cần làm cho họ thấu hiểu, thích thú, đam mê và tin tưởng. Quần chúng trong trường hợp nào cũng là nền tảng cho thành công.
Cổ vũ, động viên toàn bộ đội ngũ: Công việc quản lý thường làm cho các thành viên bị ức chế và cảm thấy mất động lực hành động. Chính vì vậy sự cổ vũ, động viên của lãnh đạo lại càng cần thiết.
Xây dựng chiến lược cho tổ chức: Đây là công việc hay bị bỏ qua song lại rất cần thiết.
Ra quyết định: Là bước quan trọng nhất, song lại chỉ là kết quả của cả một quá trình.
Tạo ra những sự thay đổi: Tình hình bên ngoài luôn có những biến động; bao gồm cả môi trường toàn cầu, biến động kinh tế toàn cầu... đến tình hình quốc gia, tình hình của cả ngành kinh doanh đó. Kết hợp với thay đổi của các nhân tố nội tại công ty đòi hỏi có sự thay đổi và lãnh đạo cần phải là người tạo ra thay đổi đó.
Tạo dựng môi trường làm việc lành mạnh: Cần hài hòa giữa cống hiến và hưởng thụ. Có vô số công ty đã thành công trong kinh doanh. Song các thành công không tính đến các nhân tố phát triển bền vững sẽ đều phải trả giá sớm muộn.
== 4E của lãnh đạo trong lý thuyết của Jack Welch ==
Jack Welch được tôn vinh là Tổng giám đốc số 1 của thế giới. Ông lãnh đạo Tập đoàn GE (General Electric) suốt hơn 20 năm và đã thực hiện một cuộc cách mạng lớn ở đây. Ông đã sa thải hơn 100.000 người, trong đó có rất nhiều quản lý cấp cao, đóng cửa, sáp nhập hàng loạt nhà máy, công ty.
Ông đã có công chuyển một tập đoàn sản xuất già cỗi, đầy nguy cơ thành một tập đoàn hàng đầu thế giới về sản phẩm và dịch vụ. Ông đã làm gia tăng giá trị công ty (market value) lên gấp gần 30 lần. Ông đã đưa ra tư tưởng 4E Leader nổi tiếng về lãnh đạo mà đến nay vẫn được các CEO trên toàn thế giới học tập. Tóm tắt 4E này là:
Nhà lãnh đạo phải có Nghị lực (The 4E Leader Energy)
Nhà lãnh đạo phải biết truyền Nghị lực (The 4E Leader Energizes).
Nhà lãnh đạo phải Sắc bén (The 4E Leader has Edge).
Nhà lãnh đạo phải Hành động (The 4E Leader Executes).
== Các tư tưởng về lãnh đạo cần xem xét lại ==
Trong tư tưởng trước đây, người ta đòi hỏi các nhà lãnh đạo phải "vừa có tài năng, vừa có đức độ". Tuy nhiên, chính Jack Welch đã khẳng định bằng các tri thức mà ông có được và kinh nghiệm bản thân từ thực tế vô cùng sinh động rằng đó chỉ là mong muốn có tính lý tưởng mà thôi. Trên thực tế gần như không có loại lãnh đạo này.
Những người "có đức độ" thường là người có thiên hướng hoạt động xã hội, phi lợi nhuận và thiếu động lực cần thiết để theo đuổi mục đích mà một lãnh đạo giỏi cần có. Nhiều người trong số này có thể là lãnh đạo song không bao giờ giỏi hoặc chỉ dừng ở mức là các nhà quản lý bình thường.
Trong khi đó, theo Jack Welch, đại đa số các nhà lãnh đạo lại bị thúc đẩy bởi các động lực, thậm chí là các dục vọng (gần trùng với tư tưởng về dục vọng thúc đẩy (libido) trong trường phái phân tâm học của Sigmund Freud). Các động lực này có thể là quyền lực, là tiền, là của cải, các quyền lợi... hay là danh tiếng. Jack Welch cũng bác bỏ mô hình nhà lãnh đạo lý tưởng và cho thấy theo tổng kết của ông, có đến khoảng 70% số lãnh đạo giỏi bị thúc đẩy và thành công bởi động lực hay dục vọng.
== Liên kết ngoài ==
Bí quyết lãnh đạo của Jack Welch - Tổng giám đốc của GE và là CEO hàng đầu thế giới
Trang thông tin chuyên đề về các kỹ năng
== Chú thích == |
alphabet inc..txt | Tập đoàn Alphabet (thường được gọi là Alphabet, hoặc gọi một cách không chính thức là Google) là một tập đoàn đa quốc gia của Mỹ được thành lập năm 2015 dưới danh nghĩa là công ty mẹ của Google và những công ty khác trước đây được sở hữu hay ràng buộc bởi Google. Công ty có trụ sở tại California và được dẫn dắt bởi đồng sáng lập của Google, Larry Page và Sergey Brin, với Page làm CEO và Brin làm Chủ tịch. Việc tổ chức lại Google thành Alphabet đã được hoàn thành vào ngày 2 tháng 10 năm 2015. Danh mục đầu tư của Alphabet bao gồm nhiều ngành công nghiệp, bao gồm cả công nghệ, khoa học đời sống, vốn đầu tư, và nghiên cứu. Một vài công ty con bao gồm Google, Calico, GV, Google Capital, X, Google Fiber và Nest Labs. Một số công ty con của Alphabet đã đổi tên kể từ khi rời Google - Google Ventures trở thành GV, Google Life Sciences trở thành Verily và Google X trở thành X. Sau khi tái cơ cấu Page trở thành CEO của Alphabet trong khi Sundar Pichai thế vào vị trí của ông là CEO của Google. Các cổ phiếu chứng khoán của Google đã được chuyển đổi thành chứng khoán Alphabet, mà biểu tượng thương mại trước đây của Google là"GOOG" và "GOOGL".
Việc thành lập Alphabet như một công ty mẹ Google được đưa ra sau khi giám đốc điều hành của công ty cảm thấy rằng Google nên cần "gọn gàng hơn và chuyên môn hơn". Alphabet cho phép kiểm soát tốt hơn các công ty có kinh doanh không cốt lõi, không liên quan đến sứ mệnh ban đầu của Google.
== Lịch sử ==
Vào ngày 10/8/2015, Google công bố những kế hoạch để tạo ra một công ty mới, Alphabet. CEO Google, Larry Page đã thông báo trên blog chính thức của Google. Alphabet đã được tạo ra để tái cấu trúc Google bằng cách chuyển các công ty con của Google sang Alphabet, từ đó thu hẹp phạm vi hoạt động của Google. Công ty mới này bao gồm Google, Nest Labs và Calico, cũng như các doanh nghiệp khác bao gồm X, Google Capital và GV. Giám đốc sản phẩm của Google lúc đó là Sundar Pichai trở thành CEO của Google, thay thế Larry Page.
Trong một thông báo, Page mô tả kế hoạch thành lập tập đoàn:
Alphabet chủ yếu là sự tập hợp các công ty. Lớn nhất trong số đó tất nhiên là Google. Đây mới hơn Google nhưng được rút gọn xuống, với các công ty con ở khá xa với lĩnh vực sản phẩm chính về internet sẽ được nằm trong Alphabet. [...] Về cơ bản, chúng tôi tin rằng việc này cho phép chúng tôi quản lý một cách cân bằng hơn, để chúng tôi có thể hoạt động những thứ không mấy liên quan một cách độc lập hơn.
Cũng như giải thích ý nghĩa cái tên của tập đoàn:
Chúng tôi thích tên Alphabet vì nó có nghĩa là một bộ sưu tập các chữ cái đại diện cho ngôn ngữ, một trong những sự đổi mới quan trọng nhất của nhân loại, và là cốt lõi của các mục lục của chúng tôi bằng Google Search như thế nào! Chúng tôi cũng thích nó vì nó có nghĩa là alpha-bet (Alpha là một sự đầu tư trên cả điểm chuẩn), thứ mà chúng tôi luôn phấn đấu !
Page nói động lực đằng sau việc tổ chức lại là làm Google " sạch sẽ hơn và trách nhiệm hơn ". "Page cũng đã nói anh ấy muốn cải thiện " sự minh bạch và giám sát được những gì chúng tôi đang làm ", và nó cho phép kiểm soát tốt hơn của các công ty không liên quan đến nhau.
Vào ngày 1/1/2016, Alphabet, vượt qua Apple, trở thành công ty có giá trị giao dịch lớn nhất thế giới cho đến ngày 3/1/2016 khi Apple giành lại vị trí đó từ Alphabet.
== Trang Web / Tên miền ==
Alphabet đã chọn tên miền abc.xyz với đuôi.xyz là tên miền cấp độ cao (top-level domain hay TLD), đuôi miền này vốn được ra mắt năm 2014. Alphabet không sở hữu tên miền alphabet.com, vốn thuộc sở hữu của một bộ phận quản lý đội xe của BMW. BMW đã nói rằng " cần thiết để xem xét những tác động về mặt thương hiệu ". Alphabet cũng không sở hữu tên miền abc.com, vốn thuộc sở hữu của đài ABC (American Broadcasting Company) trực thuộc tập đoàn Disney (mặc dù abc.com được chuyển hướng đến một tên miền phụ là go.com, qua đó hầu hết các trang web của Disney được lưu trữ).
== Cấu trúc ==
Công ty con lớn nhất của Alphabet là Google, nhưng Alphabet còn có các công ty con khác như Calio, GV, Google Capital, X, Google Fiber, Nest Labs, và Verily. Trong khi các công ty trước đây trực thuộc Google đã tách ra và trở thành công ty con của Alphabet, Google di chuyển công ty chủ thể của mạng lưới liên kết kinh doanh cùng với các sản phẩm trên Internet của Alphabet. Chúng bao gồm rất nhiều các sản phẩm và dịch vụ mang tính biểu tượng nhất với Google, chẳng hạn như hệ điều hành di động Android, YouTube và Google Search, chúng vẫn sẽ là một phần của Google và không bị trở thành một công ty con của Alphabet.
== Tăng trưởng ==
Eric Schmidt cho biết trong một sự kiện rằng có thể sẽ có hơn 26 công ty con của Alphabet. Anh ấy cũng nói rằng anh ấy đã gặp mặt CEO hiện tại và nêu ra đề xuất về các công ty con của Alphabet. Eric nói: "Bạn sẽ thấy rất nhiều điều thay đổi đó".
== Quá trình tái cấu trúc ==
Alphabet đã được tạo ra như là một công ty con được sở hữu trực tiếp bởi Google. Vai trò của hai công ty này - một là công ty mẹ và công ty còn lại là công ty con - sau đó đã được đảo ngược lại trong hai bước thay đổi. Đầu tiên, một công ty bù nhìn của Alphabet được tạo ra. Sau đó, Google sáp nhập với công ty bù nhìn đó trong khi chuyển đổi cổ phiếu của Google sang cổ phiếu Alphabet. Công ty con sau khi sát nhập đó nhất, bây giờ không còn là bù nhìn nữa, đổi tên thành " Alphabet Inc ". Theo luật của bang Delaware, một công ty tổ chức lại như thế này có thể được thực hiện mà không cần có một cuộc bỏ phiếu của các cổ đông.
Quá trình tái cấu trúc đã hoàn thành vào ngày 2/10/2015. Alphabet giữ lại cổ phiếu của Google và tiếp tục trao đổi mậu dịch dưới mã giao dịch trước đây của Google là "GOOG" và "GOOGL'', cả hai mã này là các thành phần của các chỉ số thị trường chứng khoán chính như S&P 500 và NASDAQ-100.
== Tham khảo == |
mangalitsa.txt | Mangalitsa, Mangalitza hay Mangalica là một giống lợn tự nhiên từ Châu Âu có nguồn gốc trực tiếp từ các quần thể lợn rừng. Lợn Mangalitsa khác thường ở chỗ nó mọc bộ lông dày, gần giống của cừu. Chỉ có một giống lợn khác có bộ lông dài là lợn lông xoắn Lincolnshire của Anh nay đã tuyệt chủng. Mangalitsa trước đây được nuôi như lợn mỡ. Vì nhu cầu mỡ giảm nên giống này đã suy thoái và hiện nay là "giống lợn hiếm".
== Tên ==
Nó được gọi là "Mangalitza" ở Anh và "Mangalitsa" ở Mỹ.
== Chủng loại ==
Có ba loại Mangalitsa: vàng, bụng lông nhạn, và đỏ. Chúng có cùng tập tính; chỉ khác nhau ở màu lông. Mangalitsa vàng có lông vàng hoe, loại bụng lông nhạn có bụng và chân vàng với cơ thể đen, loại màu đỏ có lông màu đỏ hoe. Các loại khác (đen, lông sói) đều đã tuyệt diệt.
== Trong văn hóa đại chúng ==
Trong một tập của Iron Chef America, Morimoto vs Forgione, lợn Mangalitsa là nguyên liệu bí mật.
Miss Piggy trong The Muppets là một con lợn Mangalitsa.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Sanders, Michael S. "An Old Breed of Hungarian Pig Is Back in Favor," The New York Times, Wednesday, ngày 1 tháng 4 năm 2009.
Curlypigs
Breeding Stock in US
Dr. Radnóczi László "The Hungarian Mangalica" |
20 tháng 12.txt | Ngày 20 tháng 12 là ngày thứ 354 (355 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 11 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
403 – Tấn An Đế sai người dâng tỉ thiện vị cho Sở vương Hoàn Huyền, kết thúc triều Đông Tấn, tức ngày Canh Thìn (20) tháng 11 năm Quý Mão.
933 – Tống vương Lý Tòng Hậu trở thành hoàng đế của Hậu Đường, ngày Tân Sửu (29) tháng 11 năm Quý Tị.
1803 – Thương vụ mua vùng đất Louisiana hoàn thành trong một buổi lễ tại New Orleans.
1860 – Nam Carolina trở thành bang đầu tiên trong số 11 bang duy trì chế độ nô lệ ly khai khỏi Hoa Kỳ.
1917 – Ủy ban Đặc biệt toàn Nga (Cheka), cơ quan mật vụ của nước Nga Xô Viết, được thành lập.
1946 – Đài Tiếng nói Việt Nam phát đi Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
1955 – Cardiff được tuyên bố là thủ đô của Wales, Anh Quốc.
1960 – Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập.
1963 - Chính phủ Việt Nam Cộng hòa thành lập tỉnh Gò Công.
1971 – Zulfikar Ali Bhutto trở thành tổng thống thứ tư của Pakistan.
1977 – Djibouti và Việt Nam gia nhập Liên Hiệp Quốc.
1987 – Phà chở khách MV Doña Paz bị đắm sau khi va chạm với một tàu chở dầu tại eo biển Tablas, Philippines, khiến khoảng 4.000 người thiệt mạng.
1989 – Hoa Kỳ đưa quân vào Panama nhằm lập đổ chính phủ của Tổng thống Manuel Noriega.
1991 – Paul Keating tuyên thệ nhậm chức thủ tướng thứ 24 của Úc sau khi đánh bại Bob Hawke trong cuộc bỏ phiếu bầu lãnh đạo Đảng Lao động Úc.
1994 – Khánh thành Nhà máy thủy điện Hòa Bình tại Việt Nam.
1995 – NATO bắt đầu sứ mạnh gìn giữ hòa bình tại Bosna và Hercegovina.
1999 – Bồ Đào Nha chuyển giao chủ quyền Ma Cao cho Trung Quốc.
== Sinh ==
1820 – Julius Heinrich von Boehn, tướng lĩnh người Đức (s. 1893)
1890 – Jaroslav Heyrovský, nhà hóa học người Séc, đoạt giải Nobel (m. 1967)
1894 – Robert Menzies, chính trị gia người Úc, thủ tướng thứ 12 của Úc (m. 1978)
1915 – Aziz Nesin, tác gia người Thổ Nhĩ Kỳ (m. 1995)
1924 – Nguyễn Đình Thi, nhà thơ người Việt Nam (m. 2003)
1927 – Kim Young-sam, chính trị gia người Hàn Quốc tổng thống thứ 7 của Hàn Quốc
1940 – Đa Minh Mai Thanh Lương, linh mục người Việt-Mỹ
1956 – Mohamed Ould Abdel Aziz, tướng lĩnh và chính trị gia người Mauritania, Tổng thống Mauritania
1958 – Nguyễn Thị Quyết Tâm, chính trị gia người Việt Nam
1960 – Kim Ki Duk, đạo diễn người Hàn Quốc
1963 – Elena, Công chúa Tây Ban Nha
1976 – Lý Ngọc, diễn viên người Trung Quốc
1978 – Geremi Njitap, cầu thủ bóng đá người Cameroon
1980 – Ashley Cole, cầu thủ bóng đá người Anh
1980 – Martín Demichelis, cầu thủ bóng đá người Argentina
1982 – David Cook, ca sĩ-người viết ca khúc, tay chơi guitar người Mỹ
1983 – Lara Stone, người mẫu người Hà Lan
1988 – Aso Nozomi, diễn viên khiêu dâm người Nhật Bản
1990 – Joanna Noëlle Blagden Levesque, nghệ danh JoJo, ca sĩ-người viết ca khúc và diễn viên người Mỹ
1995 – Feliks Zemdegs, vận động viên rubic người Úc
== Mất ==
217 – Giáo hoàng Đêphyrinô
1355 – Stefan Dushan, "quốc vương của người Serbia và người Hy Lạp" (m. 1308)
1590 – Ambroise Paré, thầy thuốc người Pháp (s. 1510)
1722 – Ái Tân Giác La Huyền Diệp, tức Khang Hy Đế, hoàng đế của triều Thanh, tức 13 tháng 11 năm Nhâm Dần (s. 1654)
1873 – Nguyễn Tri Phương, danh tướng nhà Nguyễn Việt Nam, tức 1 tháng 11 năm Quý Dậu (s. 1800)
1921 – Hans Hartwig von Beseler, tướng người Đức (s. 1850)
1921 – Julius Richard Petri, nhà vi khuẩn học người Đức (s. 1852)
1929 – Émile Loubet, chính trị gia người Pháp, tổng thống thứ 8 của Pháp (s. 1838)
1937 – Erich Ludendorff, tướng người Đức (s. 1865)
1941 – Igor Severyanin, nhà thơ người Nga (s. 1887)
1954 – James Hilton, tác gia người Anh (s. 1900)
1954 – Phạm Viết Muôn, chính trị gia người Việt Nam
1961 – Earle Page, chính trị gia người Úc, thủ tướng thứ 11 của Úc (s. 1880)
1968 – John Steinbeck, nhà văn, giải thưởng Nobel người Mỹ (s. 1902)
1968 – Max Brod, tác gia, nhà soạn nhạc, nhà báo người Do Thái sinh tại Áo-Hung, sau trở thành người Israel (s. 1884)
1971 – Suzuki Shigeyoshi, cầu thủ bóng đá người Nhật Bản (s. 1902)
1982 – Arthur Rubinstein, nghệ sĩ dương cầm người Ba Lan (s. 1887)
1990 – Trần Văn Đỗ, chính trị gia người Việt Nam (s. 1903)
1996 – Carl Sagan, nhà thiên văn, nhà văn người Mỹ (s. 1934)
2009 – Brittany Murphy, diễn viên người Mỹ (s. 1977)
2012 – Duy Quang, ca sĩ và nhạc sĩ người Việt Nam-Mỹ (s. 1950)
2013 – Việt Dzũng, ca sĩ và nhạc sĩ người Việt Nam-Mỹ (s. 1958)
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
Ngày Quốc tế Đoàn kết Nhân loại (International Human Solidarity Day)
== Tham khảo == |
dango.txt | Dango (団子, Đoàn tử) là một loại bánh trôi của ẩm thực Nhật Bản được làm từ bột nếp (mochiko), tương tự như bánh dày Nhật Bản mochi (餅, bính). Bánh này thường được ăn với trà xanh. Đoàn tử được ăn quanh năm, tuy nhiên theo truyền thống mỗi giai đoạn nhất định trong năm sẽ ăn một loại đoàn tử khác nhau. Người ta thường ghim 3, 4 viên đoàn tử vào que tre.
== Các loại dango ==
Có nhiều loại dango khác nhau, thường được đặt tên theo mùa, hay lễ hội nào mà người ta ăn nó. [1]
Anko (餡子, Hãm tử): Bánh đậu đỏ ngọt, chỉ thỉnh thoảng mới dùng các nguyên liệu khác.
Chadango: Bánh dango vị trà xanh.
Bocchan dango: Đoàn tử 3 màu. Một màu làm từ đậu đỏ, một làm từ trứng và màu thứ ba từ trà xanh.
Denpun dango: Là loại đoàn tử đến từ Hokkaidō làm từ bột khoai tây và nướng với đậu ngọt luộc.
Kuri dango: Đoàn tử được bọc ngoài bởi hạt dẻ nghiền nhuyễn.
Chichi dango: Loại bánh ngọt nhẹ làm món tráng miệng.
Hanami dango (花見 団子, Hoa kiến đoàn tử): Cũng có 3 màu, Hanami dango theo truyền thống thường được làm vào dịp lễ hội hoa anh đào. Cho nên, trong tên mới có chữ hoa kiến (Hanami) nghĩa "nhìn thấy hoa".
Goma: hạt mè. Loại bánh này vừa mặn vừa ngọt.
Kibi dango: Đoàn tử làm từ bột kê.
Kinako (黄粉, Hoàng phấn): Bột đậu nành nướng.
Kushi dango: Dango held by a skewer
Mitarashi dango (御手洗団子, Ngự thủ tẩy đoàn tử): Được bao phủ bởi một loại si rô làm từ nước tương, đường và tinh bột. Bánh này được đặt tên theo những bọt bong bóng của "ngự thủ tẩy" (Mitarashi), một loại "nước thánh" ở trước cổng Hạ Áp Thần xã (Shimogamo jinja), một ngôi đền thần đạo nổi tiếng ở cố đô Bình An kinh.
Nikudango (肉団子, Nhục đoàn tử): Một loại thịt viên.[2]
Teppanyaki (鉄板焼き): Đoàn tử ghim vào que tre có vị cay của món nướng teppanyaki.
Sasa dango: Loại dango được làm và thưởng thức chủ yếu tại vùng Niigata. Sasa dango có hai loại: "Onna Dango" và "Otoko Dango." Onna Dango (nghĩa đen là "Dango Nữ") có nhân là đậu đỏ, trong khi đó, otoko dango (nghĩa đen là "Dango Nam") có nhân là kinpira, một món ăn được nấu từ rễ củ của các loại rau với rong biển, đậu phụ và thịt. Loại đoàn tử này được gói trong lá sậy Nhật Bản sasa (笹) để bảo quản.
== Biến nghĩa của từ "dango" ==
Có một thành ngữ Nhật Bản phổ biến là "Hana yori dango" (花より団子), có nghĩa đen là "dango tuyệt hơn hoa", muốn nói rằng những thứ thực tế thì tốt hơn là những thứ chỉ có vẻ đẹp bên ngoài.
Dango được dùng các vận động viên cờ vây dùng với nghĩa xúc phạm nhóm quân cờ đi không hiệu quả, trông chẳng khác gì mấy cái bánh đoàn tử. Dango cũng là tên của trò chơi go variant ra đời năm 1991.
Kiểu tóc với những búi tóc hình đoàn tử ở về một phía của đầu thường được gọi là "odango".
== Xem thêm ==
Wagashi
Mochi
== Tham khảo == |
14 tháng 6.txt | Ngày 14 tháng 6 là ngày thứ 165 (166 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 200 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1158 – Công tước Sachsen Heinrich cho xây một cầu mới qua sông Isar nhằm thu lợi qua việc buôn bán muối, tên gọi München xuất hiện lần đầu tiên.
1206 – Hàn Thác Trụ thỉnh Tống Ninh Tông hạ chiếu phạt Kim, khởi đầu chiến tranh kéo dài trong ba năm giữa hai bên, tức ngày Đinh Hợi tháng 5.
1285 – Thượng tướng Trần Quang Khải lãnh đạo quân Trần đánh bại thủy quân Nguyên ở Chương Dương nay thuộc Hà Nội, Việt Nam.
1797 – Nước Cộng hòa Genova bị Napoléon Bonaparte thay thế bằng nước Cộng hòa Liguria phụ thuộc Pháp.
1807 – Đại quân của Hoàng đế Pháp Napoléon Bonaparte đánh bại quân Nga trong trận Friedland tại Phổ, kết thúc Chiến tranh Liên minh thứ tư.
1775 – Lục quân Lục địa tiền thân của Lục quân Hoa Kỳ là lực lượng quân đội được thành lập sớm nhất của Hoa Kỳ.
1777 – Đệ nhị Quốc hội Lục địa áp dụng thiết kế cờ và sao cho Quốc kỳ Hoa Kỳ.
1784 – Lục quân Hoa Kỳ được thành lập thay thế Lục quân Lục địa.
1956 – Nguyên mẫu Ye-4 của máy bay tiêm kích phản lực MiG-21 do Liên Xô sản xuất tiến hành chuyến bay thử nghiệm đầu tiên.
1982 – Quân Argentine đầu hàng quân Anh tại thủ phủ Stanley, kết thúc Chiến tranh Falkland.
1985 – Hiệp ước Schengen được ký kết giữa năm trong mười thành viên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu.
== Sinh ==
1906 - Nguyễn Lân, học giả, nhà văn, nhà nghiên cứu, nhà giáo nhân dân Việt Nam (m. 2003)
1928 - Che Guevara, nhà cách mạng Argentina (m. 1967)
== Mất ==
1883 - Edward FitzGerald, nhà thơ Anh (s. 1809)
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
cừu rouge.txt | Cừu Rouge (tiếng Pháp: Rouge de l'Ouest, Queue Fine de l'Ouest hay còn được gọi là Tête rouge du Maine) là giống cừu có nguồn gốc từ cừu nhà nội địa Pháp. Tên của giống cừu này, mà theo nghĩa đen dịch từ tiếng Pháp là "Sắc đỏ phương Tây", đề cập đến khu vực xuất xứ và khuôn mặt hơi hồng độc đáo của nó và ở vùng chân. Giống cừu này được phát triển trong các vùng Maine et Loire của Pháp, thông qua việc lai giữa cừu địa phương là cừu Landrace với cừu Wensleydale và cừu mặt lam Leicester. Việc đăng ký ở Pháp được thành lập vào năm 1968, và công tác đăng ký ở Anh là vào năm 1986.
== Đặc điểm ==
Cừu Rouge ban đầu là một giống cừu hướng sữa được sử dụng để sản xuất pho mát Camembert, nhưng hiện nay chủ yếu nuôi để lấy thịt cừu. Đặc biệt, cừu đực Rouge được sử dụng như những con đực cho con chiên thông dụng trên thị trường. Nó có len vừa có chiều dài, đầu khuyết sừng, và một thân hình cơ bắp. Mặc dù xuất hiện khá khác nhau nhưng nó có liên quan đến cừu Bleu du Maine. Trọng lượng lông cừu trung bình của cừu Rouge là 1,5 kg (£ 0,68) đến 2.0 kg (0.9 lbs) với chiều dài staple 4 cm (1,8 inch) đến 5 cm (2,3 inch)
Trán chúng phẳng, xương mũi lồi ra, chúng có hố nước mắt, mõm của chúng mỏng, môi hoạt động, răng cửa sắc, nhờ đó chúng có thể gặm được cỏ mọc thấp và bứt được những lá thân cây mềm mại, hợp khẩu vị trên cao để ăn. Chúng có thói quen đi kiếm ăn theo bầy đàn, tạo thành nhóm lớn trên đồng cỏ. Trong da chúng có nhiều tuyến mồ hôi và tuyến mỡ hơn dê. Bởi thế chúng bài tiết mồ hôi nhiều hơn và các cơ quan hô hấp tham gia tích cực hơn vào quá trình điều tiết nhiệt. Mô mỡ dưới da của chúng phát triển tốt hơn dê và ngược lại ở các cơ bên trong của chúng có ít tích lũy mỡ hơn dê.
== Chăn nuôi ==
Chúng có tính bầy đàn cao nên dễ quản lý, chúng thường đi kiếm ăn theo đàn nên việc chăm sóc và quản lý rất thuận lợi. Chúng cũng là loài dễ nuôi, mau lớn, ít tốn công chăm sóc. So với chăn nuôi bò thì chúng là vật nuôi dễ tính hơn, thức ăn của chúng rất đa dạng, thức ăn của chúng là những loại không cạnh tranh với lương thực của người. Chúng là động vật có vú ăn rất nhiều cỏ. Hầu hết chúng gặm cỏ và ăn các loại cỏ khô khác, tránh các phần thực vật có gỗ nhiều. Chúng có chế độ hoạt động ban ngày, ăn từ sáng đến tối, thỉnh thoảng dừng lại để nghỉ ngơi và nhai lại. Đồng cỏ lý tưởng cho chúng như cỏ và cây họ Đậu. Khác với thức ăn gia súc, thức ăn chính của chúng trong mùa đông là cỏ khô.
Chúng là loài ăn tạp, có thể ăn được nhiều loại thức ăn bao gồm thức ăn thô xanh các loại như: rơm cỏ tươi, khô, rau, củ quả bầu bí các loại, phế phụ phẩm công nông nghiệp và các loại thức ăn tinh bổ sung như cám gạo ngũ cốc. Mỗi ngày chúng có thể ăn được một lượng thức ăn 15-20% thể trọng. Chúng cần một lượng thức ăn tính theo vật chất khô bằng 3,5% thể trọng. Với nhu cầu 65% vật chất khô từ thức ăn thô xanh (0,91 kg) và 35% vật chất khô từ thức ăn tinh (0,49 kg). Khi cho chúng ăn loại thức ăn thô xanh chứa 20% vật chất khô và thức ăn tinh chứa 90% vật chất khô.
Nguồn nước uống là nhu cầu cơ bản của chúng. Lượng nước cần cho chúng biến động theo mùa và loại và chất lượng thực phẩm mà chúng tiêu thụ. Khi chúng ăn nhiều trong các tháng đầu tiên và có mưa (kể cả sương, khi chúng ăn vào sáng sớm), chúng cần ít nước hơn. Khi chúng ăn nhiều cỏ khô thì chúng cần nhiều nước. Chúng cũng cần uống nước sạch, và có thể không uống nếu nước có tảo hoặc chất cặn. Trong một số khẩu phần ăn của chúng cũng bao gồm các khoáng chất, hoặc trộn với lượng ít.
Dinh dưỡng của cừu cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của cừu, kỹ thuật Flushing - bổ sung chất dinh dưỡng cho cừu cái trước khi phối giống đã làm tăng đáng kể tỷ lệ rụng trứng, ở cừu rất sung mãn như giống cừu D'Man, mức độ cao hơn dinh dưỡng trước và trong khi giao phối có liên quan đến cải thiện hiệu suất sinh sản, nhưng những giống năng suất thấp như cừu Queue Fine de l'Ouest, (Rouge de l'Ouest) khẩu phần ăn không ảnh hưởng nhiều đến tỷ lệ rụng trứng cũng như tỷ lệ đẻ, dinh dưỡng là một trong những yếu tố chính ảnh hưởng đến tỷ lệ rụng trứng.
== Chăm sóc ==
Sau khi cho phối giống 16-17 ngày mà không có biểu hiện động dục lại là có thể cừu đã có chửa, Căn cứ vào ngày phối giống để chuẩn bị đỡ đẻ cho cừu (thời gian mang thai của cừu 146-150 ngày) nhằm hạn chế cừu sơ sinh bị chết; Có thể bồi dưỡng thêm thức ăn tinh và rau cỏ non cho cừu có chửa nhưng tuyệt đối tránh thức ăn hôi mốc; Khi có dấu hiệu sắp đẻ (bầu vú căng, xuống sữa, sụt mông, âm hộ sưng to, dịch nhờn chảy ra, cào bới sàn…) nên nhốt ở chuồng riêng có lót ổ rơm và chăn dắt gần, tránh đồi dốc.
Thông thường cừu mẹ nằm đẻ nhưng cũng có trường hợp đứng đẻ, tốt nhất nên chuẩn bị đỡ đẻ cho cừu; Sau khi đẻ cừu mẹ tự liếm cho con. Tuy nhiên, vẫn phải lấy khăn sạch lau khô cho cừu con, nhất là ở miệng và mũi cho cừu con dễ thở. Lấy chỉ sạch buộc cuống rốn (cách rốn 4–5 cm), cắt cuống rốn cho cừu con và dùng cồn Iot để sát trùng; Giúp cừu con sơ sinh đứng dậy bú sữa đầu càng sớm càng tốt (vì trong sữa đầu có nhiều kháng thể tự nhiên); Đẻ xong cho cừu mẹ uống nước thoải mái (có pha đường 1% hoặc muối 0.5%).
Cừu con trong 10 ngày đầu sau khi đẻ cừu con bú sữa mẹ tự do; Từ 11-21 ngày tuổi cừu con bú mẹ 3 lần/ngày, nên tập cho cừu con ăn thêm thức ăn tinh và cỏ non, ngon; 80-90 ngày tuổi có thể cai sữa. Giai đoạn này phải có cỏ tươi non, ngon cho cừu con để kích thích bộ máy tiêu hóa phát triển (đặc biệt là dạ cỏ) và bù đắp lượng dinh dưỡng thiếu hụt do sữa mẹ cung cấp không đủ; Cừu sinh trưởng và phát triển nhanh, mạnh ở giai đoạn này.
== Tham khảo ==
"Rouge de l'Ouest". Breeds of Livestock. Oklahoma State University, Dept. of Animal Science. Truy cập 2009-04-30.
"Breed description: Rouge de l'Ouest". Sheep in France. EAAP Animal Genetic Database. Truy cập 2009-04-30.
"Breed description: Rouge de l'Ouest". Sheep in United Kingdom. EAAP Animal Genetic Database. Truy cập 2009-04-30.
"Rouge de l'Ouest". Sheep Breeds - R. Sheep101.info. Truy cập 2009-04-30.
Budiansky, Stephen (1999). The Covenant of the Wild: Why animals chose domestication. Yale University Press. ISBN 0-300-07993-1.
Ensminger, Dr. M.E.; Dr. R.O. Parker (1986). Sheep and Goat Science, Fifth Edition. Danville, Illinois: The Interstate Printers and Publishers Inc. ISBN 0-8134-2464-X.
Pugh, David G. (2001). Sheep & Goat Medicine. Elsevier Health Sciences. ISBN 0-7216-9052-1.
Simmons, Paula; Carol Ekarius (2001). Storey's Guide to Raising Sheep. North Adams, MA: Storey Publishing LLC. ISBN 978-1-58017-262-2.
Smith M.S., Barbara; Mark Aseltine PhD; Gerald Kennedy DVM (1997). Beginning Shepherd's Manual, Second Edition. Ames, Iowa: Iowa State University Press. ISBN 0-8138-2799-X.
Weaver, Sue (2005). Sheep: small-scale sheep keeping for pleasure and profit. 3 Burroughs Irvine, CA 92618: Hobby Farm Press, an imprint of BowTie Press, a division of BowTie Inc. ISBN 1-931993-49-1.
Wooster, Chuck (2005). Living with Sheep: Everything You Need to Know to Raise Your Own Flock. Geoff Hansen (Photography). Guilford, Connecticut: The Lyons Press. ISBN 1-59228-531-7. |
chích chòe than.txt | Chích chòe than (danh pháp hai phần: Copsychus saularis) là một loài chim dạng sẻ nhỏ trước đây là phân loại như là một thành viên của họ Hoét, nhưng nay được xem là thuộc họ Đớp ruồi cựu thế giới nó là các loài chim đặc biệt màu đen và trắng với một cái đuôi dài được giữ thẳng đứng khi kiếm thức ăn trên mặt đất. Phân bố ở nhiều vùng nhiệt đới Nam và Đông Nam Á, chúng là các loài chim phổ biến trong các vườn đô thị cũng như rừng. Chúng đặc biệt nổi tiếng với những giọng hót hay đã từng phổ biến như các loài chim nuôi.
== Mô tả ==
Chích chòe than có chiều dài khoảng 19 cm (7,5 in), bao gồm cả các đuôi dài thường hay dựng thẳng̣. Nó tương tự như loài chích chòe châu Âu nhỏ hơn, nhưng có đuôi dài hơn. chim trống trên lưng màu đen, đầu và cổ họng ngoài một mảng trắng trên vai. Các phần dưới và các bên của đuôi dài màu trắng. Con mái có màu xám đen ở trên và màu xám trắng. Chim non có màu nâu xếp như vảy trên lưng và đầu. Phân loài chỉ định được tìm thấy trên tiểu lục địa Ấn Độ và các con mái giống này có màu nhợt nhất. Các con mái của giống Andamans andamanensis có màu tối hơn, bụng nặng hơn và đuôi ngắn hơn. Một số loài Sri Lanka ceylonensis (trước đây là bao gồm các quần thể bán đảo Ấn Độ ở phía Nam sông Kaveri) và các cá thể chỉ định miền Nam thì chim mái gần giống với những con trống về sắc thái. Một số loài phía đông (Bhutan và Bangladesh) có nhiều màu đen trên đuôi và được đặt tên trước đây là erimelas.. Quần thể tại Myanma và xa hơn về phía nam là giống musicus. Một số giống khác được đặt tên gồm prosthopellus (Hong Kong), nesiotes, zacnecus, nesiarchus, masculus, pagiensis, javensis, problematicus, amoenus, adamsi, pluto, deuteronymus and mindanensis.. Tuy nhiên nhiều tên trong số này không rõ rệt và một số tên gây tranh cãi. Có sự biến thể địa lý trong bộ lông của con cái hơn so với những con đực. Chích chòe than chủ yếu là thấy gần mặt đất, tìm kiếm thức ăn trong rác xả trên mặt đất với đuôi dựng đứng̣. Chim trống hót to từ trên ngọn cây trong mùa sinh sản.
== Phân bố ==
Loài chim này cư trú ở vùng nhiệt đới miền nam châu Á từ Bangladesh, Ấn Độ, Sri Lanka và miền đông Pakistan đông sang Indonesia, Thái Lan, phía nam Trung Quốc, Singapore và Philippines, Việt Nam. Chúng được du nhập vào Úc. Chích chòe than được tìm thấy trong rừng thưa, các khu vực canh tác thường gần các vườn tược gần con người và được con người nuôi như loài chim cảnh với tiếng hót to, dễ gần với người.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
quốc gia.txt | Quốc gia là một khái niệm địa lý và chính trị, trừu tượng về tinh thần, tình cảm và pháp lý, để chỉ về một lãnh thổ có chủ quyền, một chính quyền và những con người của các dân tộc có trên lãnh thổ đó; họ gắn bó với nhau bằng luật pháp, quyền lợi, văn hóa, tôn giáo, ngôn ngữ, chữ viết qua quá trình lịch sử lập quốc, và những con người chấp nhận nền văn hóa cũng như lịch sử lập quốc đó cùng chịu sự chi phối của chính quyền, và, họ cùng nhau chia sẻ quá khứ cũng như hiện tại và cùng nhau xây dựng một tương lai chung trên vùng lãnh thổ có chủ quyền.
Quốc gia cũng có khi được dùng để chỉ một nước hay đất nước, như "Nước Việt Nam là một quốc gia ở vùng Đông Nam Á". Hai khái niệm này, mặc dù vẫn thường được dùng thay cho nhau, có sắc thái khác nhau.
Tính từ "quốc gia" dùng để chỉ mức độ quan trọng tầm cỡ quốc gia và/hoặc được chính phủ bảo trợ như "Thư viện quốc gia, Trung tâm lưu trữ quốc gia, Hội đồng quốc gia biên soạn từ điển..."
Về phương diện công pháp quốc tế thì một chủ thể được xem là quốc gia khi có đầy đủ các yếu tố sau: lãnh thổ, dân cư và có chính quyền. Quốc gia là chủ thể quan trọng của quan hệ pháp luật quốc tế.
== Xem thêm ==
Danh sách các nước trên thế giới
Danh sách quốc gia theo dân số
Danh sách các nước không còn nữa
Danh sách các nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
8 tháng 7.txt | Ngày 8 tháng 7 là ngày thứ 189 (190 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 176 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1497 – Thuyền trưởng Vasco da Gama, khởi hành chuyến đi đầu tiên thẳng từ châu Âu đến Ấn Độ.
1709 – Đại chiến Bắc Âu: Pyotr I của Nga đánh bại Karl XII của Thụy Điển ở Poltava thuộc Ukraina ngày nay, chấm dứt địa vị cường quốc của Thụy Điển tại châu Âu.
1853 – Phó đề đốc Matthew Perry cùng với bốn chiến hạm của Hải quân Hoa Kỳ vào vịnh Edo nhằm buộc Nhật Bản phải mở cửa ngoại thương với Hoa Kỳ.
1864 – Sự kiện Ikedaya: Các chí sĩ phiên Choshu tập kích tổ chức Shinsengumi tại lữ quán Ikedaya thuộc Kyoto, Nhật Bản.
1889 – Ấn bản đầu tiên của The Wall Street Journal được xuất bản.
1932 – Chỉ số công nghiệp Dow Jones bị tụt xuống mức thấp nhất trong cuộc Đại khủng hoảng, đóng cửa ở mức 41,22 điểm.
1994 – Kim Chính Nhật trở thành người lãnh đạo Triều Tiên khi cha ông là Kim Nhật Thành từ trần.
2011 – Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc thông qua nghị quyết thành lập Phái bộ gìn giữ hòa bình tại Nam Sudan.
2011 – Tàu con thoi Atlantis được phóng trong phi vụ STS-135, phi vụ cuối cùng của chương trình tàu con thoi.
== Ngày sinh ==
Jean de La Fontaine
== Người mất ==
1994, Kim Nhật Thành, Chủ tịch nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên).
2009, Đoàn Trọng Truyến, Giáo sư - Nhà giáo Nhân dân Việt Nam
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
trịnh-nguyễn phân tranh.txt | Trịnh-Nguyễn phân tranh là thời kỳ phân chia giữa chế độ "vua Lê chúa Trịnh" ở phía Bắc sông Ranh (sử gọi là Đàng Ngoài) và chúa Nguyễn cai trị ở miền Nam (Đàng Trong), mở đầu khi Trịnh Tráng đem quân đánh Nguyễn Phúc Nguyên năm 1627 và kết thúc vào cuối thế kỷ 18 khi nhà Tây Sơn dẹp cả chúa Nguyễn lẫn chúa Trịnh. Nước Đại Việt bị chia cách hơn 100 năm.
Về mặt lý thuyết cả hai thế lực họ Trịnh và họ Nguyễn đều mang khẩu hiệu "phù Lê diệt Mạc" để lấy lòng thiên hạ và thề trung thành với triều Hậu Lê. Nhưng trên thực tế thì khác, cả hai đều muốn tạo nên thế lực cho riêng mình chèn ép thiên tử Đại Việt.
== Bối cảnh ==
Năm 1527, Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Hậu Lê lập ra nhà Mạc. Năm 1533, tướng cũ của nhà Lê là Nguyễn Kim lập con vua Lê Chiêu Tông lên ngôi, tức là Lê Trang Tông. Năm 1545, Nguyễn Kim bị sát hại, con rể là Trịnh Kiểm lên thay. Để nắm trọn binh quyền, Trịnh Kiểm đầu độc giết con cả của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông. Em Uông là Hoàng lo sợ bị anh rể hại, nên nghe theo lời khuyên của Nguyễn Bỉnh Khiêm, xin vào trấn thủ Thuận Hóa. Trịnh Kiểm cho rằng đất ấy là nơi xa xôi, hoang vu nên đồng ý cho đi, nhằm mục đích mượn tay quân Mạc giết Hoàng. Tuy nhiên, không những đánh bại quân Mạc, Nguyễn Hoàng còn lấy được lòng dân Thuận Hóa.
Mải đối phó với nhà Mạc, Trịnh Kiểm cho Hoàng kiêm trấn thủ luôn Quảng Nam. Năm 1570, Trịnh Kiểm chết, con cả là Cối lên thay. Cối không màng chính sự, bị em là Trịnh Tùng đoạt quyền. Cối cùng đường đầu hàng nhà Mạc và chết già ở đất Bắc.
Trịnh Tùng nắm đại quyền, thao túng triều đình, giết vua Lê Anh Tông lập vua nhỏ là Thế Tông. Năm 1592 Trịnh Tùng đánh chiếm được Thăng Long, đuổi họ Mạc chạy lên Cao Bằng. Khi rước được vua Lê về kinh thành, Trịnh Tùng bắt đầu tính tới người cậu Nguyễn Hoàng phía nam.
== Chiến tranh ngầm ==
Cuộc chiến Trịnh - Nguyễn thực sự diễn ra từ năm 1627 nhưng đó là chỉ tính về mặt quân sự. Nếu tính cả trên mặt trận ngoại giao, xung đột giữa hai bên đã nổ ra từ nhiều năm trước.
=== Nguyễn Hoàng trốn về nam ===
Năm 1593, Trịnh Tùng triệu Nguyễn Hoàng ra bắc với lý do để cùng đánh tàn dư họ Mạc còn tản mát ở Bắc bộ. Hoàng vâng lệnh mang quân ra bắc, phá tan quân Mạc ở Hà Trung và Sơn Nam, sau đó được Tùng giao trách nhiệm trấn giữ Sơn Nam.
Nguyễn Hoàng đóng quân ở Sơn Nam được 8 năm cố tìm cách thoát về nam. Năm 1600, nhân họ Mạc nổi dậy, Hoàng ngầm xúi giục các hàng tướng Mạc cũ là Phan Ngạn, Bùi Văn Khuê, Ngô Đình Nga nổi loạn để lấy cớ đi dẹp. Trịnh Tùng mải đối phó họ Mạc ở Cao Bằng, họ Vũ ở Tuyên Quang (tức Chúa Bầu) nên đồng ý cho Nguyễn Hoàng đi dẹp. Hoàng nhân cơ hội đó chạy thẳng ra biển đi thoát về nam.
Thấy Nguyễn Hoàng trốn thoát, Trịnh Tùng sai người cầm thư vào nam dụ ra lần nữa nhưng Hoàng không ra, sau đó lại bỏ không nộp thuế đều đặn cho miền bắc. Để xoa dịu tình hình, Hoàng gả con gái là Ngọc Tú cho con Tùng là Tráng (tức là cháu lấy cô).
=== "Ta không nhận sắc" ===
Năm 1613, Nguyễn Hoàng qua đời, người con trai thứ sáu là Nguyễn Phúc Nguyên lên thay, tức là Sãi vương (hay chúa Sãi). Năm 1623, Bình An Vương Trịnh Tùng qua đời, con là Trịnh Tráng lên thay, tức là Thanh Đô Vương.
Sử sách nhà Nguyễn chép rằng, năm 1627, lấy cớ Nguyễn Phúc Nguyên bỏ không nộp thuế cho vua Lê, Trịnh Tráng làm sắc đứng tên vua Lê gửi trách Nguyễn, đòi đích thân hoặc sai con tải thuế ra bắc. Theo kế của mưu sĩ Đào Duy Từ, Phúc Nguyên một mặt lo tăng cường phòng thủ, một mặt tìm cách trả lại sắc thư.
Vì lực lượng yếu không thể ra mặt trả sắc thư cho chúa Trịnh, chúa Nguyễn sai đúc mâm hai đáy, để sắc thư kèm theo một bài thơ do Đào Duy Từ viết, cho vào đáy dưới, bên trên để vàng bạc, rồi sai Văn Khuông mang ra bắc tạ với chúa Trịnh. Khuông dâng mâm lên chúa Trịnh rồi giả cách về công quán nghỉ, trốn luôn về nam. Phía Trịnh phát giác mâm hai đáy bèn mở ra, bên trong có tờ sắc thư và một bài thơ chữ Hán như sau:
矛而無腋
覔非見跡
愛落心腸
力來相敵
Âm Hán-Việt:
Mâu nhi vô dịch
Mịch phi kiến tích
Ái lạc tâm trường
Lực lai tương địch
Các bầy tôi dưới quyền chúa Trịnh không giải được nghĩa bài thơ. Mãi sau Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan mới giải được nghĩa rằng:
Câu đầu ý là chữ "mâu" 矛 bỏ nét phẩy. Chữ "mâu" không có nét phẩy thì thành ra chữ "dư" 予, nghĩa là "ta, tôi".
Câu thứ hai ý là chữ "mịch" 覔 bỏ chữ "kiến" 見. Chữ "mịch" sau khi bỏ chữ "kiến" thì còn lại chữ "bất" 不, nghĩa là "không".
Câu thứ ba ý là chữ "ái" 愛 bỏ chữ "tâm" 心. Chữ "ái" không có chữ "tâm" thì thành ra chữ "thụ" (受), nghĩa là "nhận".
Câu cuối ý là chữ "lai (來) ghép với chữ "lực" 來. Chữ "lai" đem ghép với chữ "lực" thì thành chữ "sắc" (勑).
Ẩn ý của bài thơ này là "dư bất thụ sắc" 予不受勑, nghĩa là "Ta không nhận sắc".
Theo sử sách nhà Nguyễn, sau khi hiểu được nghĩa bài thơ, nhận ra câu trả lời ngang ngạnh của Nguyễn Phúc Nguyên, Trịnh Tráng tức giận quyết định khởi đại binh vào nam. Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu đều cho rằng điều này không phải là sự thật. Trên thực tế, người giải được bài thơ của Đào Duy Từ là Phùng Khắc Khoan đã mất từ năm 1613, trước đó 14 năm rồi. Không những thế, trong chính cuốn sử biên niên Đại Nam thực lục của nhà Nguyễn cũng chép rằng, sau khi Văn Khuông dâng mâm xong trốn về, tướng Nguyễn đóng ở biên giới đã chủ động đánh lấn sang đất Trịnh gây hấn trước, do đó Trịnh Tráng mới động binh vào nam, dẫn tới cuộc đại chiến đầu tiên giữa Trịnh và Nguyễn.
Chân tướng của sự việc này không giống những gì sử nhà Nguyễn chép. Chiếc mâm đồng hai đáy và bài thơ mà Đào Duy Từ dụng tâm khổ trí làm ra thì có thể có, nhưng thực ra phía Trịnh đã không phát giác ra cái mâm có hai đáy và do đó chúa Trịnh không phải tức giận về bài thơ này. Nhà Nguyễn muốn cha ông mình – chúa Sãi - đấm được họ Trịnh một cú đòn ngoại giao ngoạn mục, nhưng trên thực tế quả đấm đó chỉ trúng vào không khí. Các sử gia nhà Nguyễn đã sơ hở khi chọn Trạng Bùng làm người giải bài thơ của mưu sĩ họ Đào nhưng lại quên rằng lúc đó Trạng Bùng đã mồ yên mả đẹp từ lâu. Theo các nhà nghiên cứu, việc chúa Nguyễn tiếp tục không nộp thuế, cũng không ra nộp mình và cũng không sai con ra theo sắc của vua Lê (chúa Trịnh nhân danh), rồi họ Nguyễn chủ động gây hấn mới là lý do để Trịnh Tráng khởi binh.
== Bảy lần đại chiến ==
=== Cuộc chiến đầu tiên 1627 ===
Tháng 3 năm 1627, Trịnh Tráng khởi 20 vạn đại quân thủy bộ vào nam, cùng các tướng Nguyễn Khải, Lê Khuê chia làm hai đạo tiến vào, hội binh ở cửa Nhật Lệ. Phía Nguyễn cử các tướng Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Vệ, Nguyễn Phúc Trung đón đánh.
Quân Trịnh chủ động tấn công nhưng không chọc thủng được tuyến phòng thủ của quân Nguyễn. Phía Nguyễn có lợi thế là đại bác kiểu Bồ Đào Nha nên làm quân Trịnh sợ chạy dạt. Hai tướng Trịnh là Nguyễn Khải và Lê Khuê đều thua chạy.
Trong lúc hai bên tiếp tục giằng co thì Nguyễn Hữu Dật phao tin ở miền bắc, Trịnh Gia và Trịnh Nhạc âm mưu làm phản. Trịnh Tráng nghi ngờ vội thu quân về bắc.
=== Cuộc chiến thứ hai 1633 ===
Quân Trịnh rút về, Nguyễn Phúc Nguyên theo kế của Đào Duy Từ gấp rút xây lũy Trường Dục (Lũy Thầy) để phòng thủ.
Năm 1631, con Phúc Nguyên là thế tử Kỳ chết, con thứ hai là Lan được lập làm thế tử, con thứ tư là Nguyễn Anh ra thay Kỳ trấn giữ Quảng Nam. Anh bất mãn không được làm thế tử, mưu thông đồng với chúa Trịnh, bèn viết thư hẹn làm nội ứng cho Trịnh Tráng.
Năm 1633, Trịnh Tráng khởi binh nam tiến lần thứ hai, đóng ở cửa Nhật Lệ. Chúa Nguyễn cử Nguyễn Hữu Dật, Nguyễn Hữu Tiến làm tướng ra đánh. Trịnh Tráng đang đợi suốt hơn 10 hôm không thấy hiệu làm nội ứng của Ánh thì bị quân Nguyễn đánh úp, quân Trịnh hoảng loạn tan vỡ bỏ chạy. Trịnh Tráng rút về bắc, để lại con rể là Nguyễn Khắc Liệt trấn thủ châu Bắc Bố Chính.
==== Quân Nguyễn đánh ra Bố Chính ====
Năm 1634, Đào Duy Từ chết, năm sau Nguyễn Phúc Nguyên chết, con là Phúc Lan lên thay, tức là Thượng vương. Em Lan là Phúc Ánh nổi loạn bị giết chết.
Năm 1637, Phúc Lan sai Nguyễn Đình Hùng mang quân đánh úp chiếm Nam Bố Chính, giết tướng trấn thủ là Nguyễn Tịch.
Năm 1640, tướng Trịnh là Nguyễn Khắc Liệt mang quân đánh phá Nam Bố Chính rồi rút về. Chúa Nguyễn theo kế phản gián của Nguyễn Hữu Dật, viết thư cho Trịnh Tráng nói Liệt mưu thông đồng với chúa Nguyễn nên mặt ngoài gây chiến mà bên trong muốn hàng. Mặt khác, Nguyễn Phúc Lan thúc quân đánh Khắc Liệt. Khắc Liệt thua chạy, viết thư cầu cứu. Trịnh Tráng tin lời gièm của bên Nguyễn nên khi Liệt xin viện binh, Tráng điều Trịnh Kiều mang quân vào cứu, thực ra là để thay Liệt.
Kiều theo lệnh đến nơi nhưng không cứu Liệt mà chặn đường bắt Liệt mang về nộp chúa Trịnh, do đó quân Nguyễn nhân thời cơ đánh chiếm luôn Bắc Bố Chính. Nguyễn Khắc Liệt bị Trịnh Tráng xử tử.
=== Cuộc chiến thứ ba 1643 ===
Mất Bắc Bố Chính, năm 1643, Trịnh Tráng điều quân vào nam chiếm lại. Chúa Trịnh cử hai con là Tạc và Lệ đi tiên phong, cùng các tướng Phạm Công Trứ, Nguyễn Danh Thọ, Nguyễn Quang Minh.
Quân Trịnh ồ ạt tiến công giết chết tướng Nguyễn là Bùi Công Thắng, chiếm lại Bắc Bố Chính, tiến lên đóng ở cửa Nhật Lệ. Sau khi hai con ra quân được một tháng, chúa Trịnh rước vua Lê Thần Tông cùng đi nam chinh. Hai bên đối trận chưa phân thắng bại, gặp lúc mùa hè, khí hậu oi bức, quân Trịnh bị bệnh nhiều nên Trịnh Tráng đành ra lệnh lui quân.
Tháng 6 năm 1643, theo đề nghị của chúa Trịnh, ba tàu chiến Hà Lan (trước gọi là Hòa Lan) là Wojdenes (De Wijdeness), Waterhond và Vos tiến vào cửa Thuận An đánh chúa Nguyễn. Thế tử Nguyễn Phúc Tần chưa được lệnh của cha vẫn mang quân ra nghênh chiến, làm một tàu của Hà Lan bị va phải đá ngầm rồi chìm, chiếc chỉ huy bị quân Nguyễn vây chặt nên thuyền trưởng phải tự đốt tàu, chiếc còn lại chạy thoát được.
=== Cuộc chiến thứ tư 1648 ===
Tháng 2 âm lịch năm 1648, Trịnh Tráng sai Lê Văn Hiểu khởi binh nam tiến lần thứ tư, dẫn bộ binh đánh Nam Bố Chính, còn thủy quân đánh cửa Nhật Lệ. Cha con Trương Phúc Phấn cố thủ ở lũy Trường Dục, quân Trịnh đánh không hạ được.
Thế tử Phúc Tần mang quân cứu viện ra Quảng Bình, chia quân thủy phục ở sông Cẩm La, sai Nguyễn Hữu Tiến mang quân đánh úp quân Trịnh lúc nửa đêm. Quân Trịnh thua lớn, bị thủy quân Nguyễn chặn đánh chạy đến tận sông Gianh.
Tháng 3 năm 1648, quân Nguyễn định vượt sông Gianh đánh ra Bắc Bố Chính thì nghe tin chúa Nguyễn ngã bệnh chết trên thuyền trên đường về Thuận Hóa nên phải lui binh. Con Phúc Lan là Nguyễn Phúc Tần lên thay, tức là Hiền vương.
Trịnh Tráng lui binh, sai Lê Văn Hiểu giữ Hà Trung, Lê Hữu Đức đóng ở Hoành Sơn, Phạm Tất Toàn giữ Bắc Bố Chính.
=== Đại chiến lần thứ năm 1655 – 1660: Giằng co ở Nghệ An ===
Cuộc chiến lần thứ năm là cuộc chiến dài nhất, lớn nhất trong cuộc xung đột Trịnh - Nguyễn và là lần duy nhất quân Nguyễn chủ động đánh ra bắc.
==== Quân nam chiếm 7 huyện Nghệ An ====
Tháng 4 năm 1655, chúa Nguyễn sai Nguyễn Hữu Tiến, Nguyễn Hữu Dật mang quân vượt sông Gianh đánh Bắc Bố Chính. Tướng Trịnh là Phạm Tất Toàn đầu hàng. Tiến và Dật thừa thắng tiến lên đánh Hoành Sơn, Lê Hữu Đức thua chạy. Tiến và Dật đánh luôn Hà Trung, Lê Văn Hiểu thua chạy nốt, cùng Đức lui về giữ An Trường (Nghệ An).
Trịnh Tráng thấy các tướng thua luôn, sai Trịnh Thượng làm thống lĩnh mang quân vào nam, triệu các tướng cũ về. Lê Văn Hiểu bị thương, nửa đường chết, còn Đức bị giáng chức.
Trịnh Thượng lãnh binh, tiến quân bộ vào huyện Kỳ Hoa, chia quân thủy tiến đến cửa Kỳ La. Hữu Tiến rút về nam sông Gianh. Trịnh Thượng thấy địch vô cớ rút, biết có mưu nhử nên không đuổi, đóng lại Lạc Xuyên, chia quân ra giữ Hà Trung. Hữu Tiến, Hữu Dật thấy địch không đuổi, liền chia quân thủy bộ đánh ra. Quân Trịnh hai cánh đều thua, quân thủy bỏ Kỳ La về Châu Nhai, quân bộ bỏ Lạc Xuyên về giữ An Trường. Thế là 7 huyện Nghệ An ở phía nam sông Lam là Kỳ Hoa, Thạch Hà, Thiên Lộc, Nghi Xuân, La Sơn, Hương Sơn, Thanh Chương về tay chúa Nguyễn.
==== Trịnh Toàn cầm quân ====
Trịnh Tráng giáng chức Thượng rồi cử con là Trịnh Tạc vào làm Thống lĩnh. Hữu Tiến thấy viện binh Trịnh bèn lui về giữ Hà Trung. Gặp lúc họ Mạc phía bắc quấy rối, Trịnh Tạc phải rút về bắc, để Đào Quang Nhiêu ở lại đóng ở An Trường, Vũ Văn Thiêm lãnh thủy quân đóng ở Khu Độc; Thân Văn Quang và Mẫn Văn Liên đóng ở Tiếp Vũ.
Năm 1656, Hữu Tiến đánh Tiếp Vũ, Quang và Liên bỏ chạy. Hữu Dật phá tan thủy quân của Văn Thiêm, Thiêm cũng chạy. Quân Nguyễn hợp lại đụng Đào Quang Nhiêu, Nhiêu bại trận chạy về giữ An Trường.
Trịnh Tráng bèn cử con út là Trịnh Toàn vào cứu viện. Toàn đốc quân tiến đến Thạch Hà, sai Nhiêu và Dương Hồ tiến lên đóng ở Đại Nại và Hương Bộc, Văn Thiêm tiến lên cửa Châu Nhai (cửa khẩu sông Lam). Hữu Dật sai Nguyễn Cửu Kiều một lần nữa đánh tan Văn Thiêm, Thiêm lại bỏ chạy. Dật sang bờ sông Lam hợp binh với Kiều kéo đến Đại Nại. Quân bộ của Hữu Tiến đánh Nhiêu ở Hương Bộc, Trịnh Toàn mang quân đến cứu, đánh bại quân Nguyễn. Sau đó Toàn lại sang đánh quân Nguyễn ở Đại Nại, giết chết Cửu Kiều, quân Nguyễn thua to, chạy về Hà Trung. Toàn và Nhiêu cùng đuổi đến Tam Lộng lại bị Tiến và Dật đánh bại, phải rút về An Trường.
Sách Việt Nam sử lược mô tả trận này hai bên có thắng có thua, sách Đại Việt Sử ký Toàn thư của Lê - Trịnh mô tả trận này quân Trịnh thắng lớn, ngược lại sách Đại Nam thực lục tiền biên của nhà Nguyễn soạn sau này lại mô tả trận này quân Nguyễn thắng. Các nhà nghiên cứu thống nhất với Việt Nam sử lược rằng hai bên có thắng có thua: sau trận thắng đầu quân Trịnh bị thua, nếu không đang đà thắng lợi phải tiến lên chứ không thể lui về giữ An Trường.
Trịnh Tráng bệnh nặng, thế tử Trịnh Tạc cầm quyền điều hành. Thấy Trịnh Toàn rất có uy tín với quân sĩ, Trịnh Tạc lo lắng. Tạc sai con là Căn mang quân vào Nghệ An, tiếng là tăng viện nhưng để kìm chế Trịnh Toàn. Tháng 4 năm 1657, Trịnh Tráng chết, Tây Định vương Trịnh Tạc lên thay. Biết anh em chúa Trịnh bất hòa, chúa Nguyễn sai người đến dụ nhưng Toàn cự tuyệt. Chúa Trịnh cử Trịnh Căn thay Toàn làm Thống lĩnh, triệu Toàn về kinh. Thủ hạ của Toàn một số người sang với Trịnh Căn, một số hàng Nguyễn. Toàn về kinh, chúa Trịnh lấy cớ trách Toàn không chịu tang cha rồi giam vào ngục và giết đi.
==== Trịnh Căn lãnh binh ====
Tháng 6 năm 1657, Trịnh Căn chia quân sai Hoàng Thể Giao, Lê Thì Hiến và Trịnh Thế Công vượt sông Lam đánh tướng Nguyễn là Tống Hữu Đại ở huyện Thanh Chương. Do có người tiết lộ, Hữu Tiến biết trước phòng bị nên quân Trịnh bị thua rút về bờ bắc sông Lam.
Hai bên tạm hưu chiến cầm cự ở sông Lam, chỉ giao tranh những trận nhỏ. Tháng 6 năm 1658, tù trưởng Lang Công Chấn ở Quỳnh Lưu theo Nguyễn, mang quân đánh Trịnh, bị quân Trịnh đánh bại bắt được giải về Thăng Long. Tháng 7, quân Nguyễn vượt sông Lam thắng được Nguyễn Hữu Tá ở huyện Hưng Nguyên nhưng bị Lê Thì Hiến đánh bại phải rút về. Tháng 12, quân Trịnh đánh huyện Hương Sơn, thắng quân Nguyễn. Tháng 8 năm 1660, quân Trịnh lại đánh Nghi Xuân bị bại trận.
==== Chiến tranh hậu phương ====
Trong khi ngoài mặt trận diễn ra các trận đánh lẻ tẻ thì phía trong mỗi bên đều lo củng cố hậu phương. Hữu Dật nhân lúc ngưng chiến tung gián điệp ra bắc dụ Phạm Hữu Lễ trấn thủ Sơn Tây, Văn Dũ trấn thủ Hải Dương làm phản Trịnh, lại hẹn họ Vũ ở Tuyên Quang và họ Mạc ở Cao Bằng cùng nổi dậy. Tuy nhiên do lực lượng các cánh này đều yếu, nhất là hai cánh Vũ, Mạc đều có ý đồ riêng. Tất cả có ý chờ quân Nguyễn vượt sông Lam, bắc tiến thật gấp mới ra mặt. Trong khi đó, quân Nguyễn cũng không hùng hậu, đi đánh xa lâu ngày đã mệt, cũng có ý chờ miền bắc có biến mới dám đánh lớn. Hai bên dùng dằng chờ nhau. Chúa Trịnh biết Hữu Lễ thông đồng với Nguyễn bèn dụ và giết chết. Ngoài biên cương, Trịnh Căn cũng cầm quân rất nghiêm, xử tử tướng Hoàng Nghĩa Chấn vì đố kỵ không tiếp ứng cho Đào Quang Nhiêu, sau đó lại giết Nguyễn Đức Dương vì bán trộm lương cho quân Nguyễn. Bên kia, Hữu Dật cũng giết hàng tướng Phạm Tất Toàn vì có ý về bắc.
Các tướng Nguyễn nảy sinh mâu thuẫn. Hữu Tiến và thuộc tướng ghét Hữu Dật vì Dật được chúa Nguyễn tin yêu hơn. Trịnh Căn nhân đó sai người mang vàng đến dụ nhưng Dật không nghe, báo hết cho chúa Nguyễn biết.
==== Trịnh Căn thu hồi đất cũ ====
Tháng 9 năm 1660, Trịnh Căn chia quân, sai Hoàng Nghĩa Giao và Lê Thì Hiến đang đêm vượt sông Lam đánh Lận Sơn. Cánh quân của Giao đến Lận Sơn bị Nguyễn Hữu Dật vây ngặt, mấy thuộc tướng tử trận. Trịnh Căn thấy vậy mang quân bộ đến cứu Giao, lại điều quân thủy tiến lên áp sát quân Nguyễn mà bắn, đánh tan Dật, Dật thua chạy về Khu Độc. Cánh quân của Thì Hiến và Mẫn Văn Liên đụng độ Nguyễn Hữu Tiến ở Tả Ao, tuy Liên bị tử trận nhưng quân Trịnh phá được lũy, đánh bại được Hữu Tiến. Tiến phải rút về Nghi Xuân.
Nguyễn Phúc Tần mang quân tiếp ứng, đóng ở Quảng Bình. Hữu Dật muốn khoe công với chúa bèn lẻn về ra mắt Tần, thuật chuyện các chiến công vừa lập ngoài mặt trận. Tần ban cho Dật thanh bảo kiếm và sai quay lại đánh tiếp. Tiến nghe tin đó càng ghét Dật. Nhân lúc quân mới hàng ở Nghệ An bỏ trốn nhiều, tướng sĩ Nguyễn đều ngã lòng, Tiến bàn rút lui, chỉ có Dật không nghe.
Chúa Trịnh tăng viện cho Trịnh Căn. Tháng 11 năm 1660, biết bên Nguyễn các tướng bất hòa, quân lại bỏ trốn, Trịnh Căn sai Lê Thì Hiến và Lê Sĩ Triệt đánh huyện Nghi Xuân, Hoàng Nghĩa Giao và Nguyễn Năng Thiệu đánh huyện Thiên Lộc, phá tan quân Nguyễn. Quân Trịnh lấy lại 7 huyện ở Nghệ An mất từ năm 1655.
Hữu Tiến thua trận buộc phải rút quân, nhưng vì ghét Dật nên giả cách hạ lệnh đánh An Trường và bí mật rút về Nam Bố Chính mà không báo cho Dật biết. Quân Trịnh đang đà thắng, sang sông đánh Khu Độc. Dật biết tin Tiến rút rồi, bèn làm nghi binh khiến quân Trịnh không dám đuổi gắt. Về đến Hoành Sơn, Dật gặp Tiến, vừa lúc Trịnh Căn thúc quân đuổi tới, hai bên giao tranh ác liệt và cùng thiệt hại lớn.
Hai bên bèn hưu chiến, Trịnh Căn lui về giữ Kỳ Hoa, Hữu Tiến giữ Nhật Lệ, Hữu Dật giữ Đông Cao. Trịnh Căn sai Đào Quang Nhiêu trấn thủ Nghệ An kiêm Bắc Bố Chính, còn mình rút về bắc.
=== Cuộc chiến thứ sáu 1661-1662 ===
Sau 1 năm nghỉ binh, nhân vừa thắng quân Nguyễn, tháng 10 năm 1661, Trịnh Tạc mang vua Lê Thần Tông cử đại binh vào nam, cử Trịnh Căn làm thống lĩnh cùng các tướng Hoàng Thể Giao, Đào Quang Nhiêu, Lê Thì Hiến vượt sông Gianh.
Nguyễn Hữu Dật trấn thủ Nam Bố Chính chia quân đắp lũy thế thủ, quân Trịnh đánh mấy tháng không hạ được. Tháng 3 năm 1662, quân viễn chinh mệt mỏi, lương hết, chúa Trịnh bèn rút quân về bắc. Hữu Dật đuổi theo đến sông Gianh rồi rút về.
=== Cuộc chiến thứ bảy 1672 ===
Vua Thần Tông rồi Huyền Tông qua đời, vua Gia Tông lên ngôi. Sau khi dứt được họ Mạc ở Cao Bằng (1667), năm 1672, chúa Trịnh lại cử binh nam tiến, sai Trịnh Căn lĩnh thủy binh, Lê Thì Hiến lĩnh bộ binh.
Bên Nguyễn năm 1666 Nguyễn Hữu Tiến chết. Chúa Nguyễn cử em là Hiệp làm chủ tướng cùng Hữu Dật và Nguyễn Mỹ Đức ra chống cự, tự chúa Nguyễn ra tiếp ứng. Quân Trịnh hăng hái đánh lũy Trấn Ninh mấy lần suýt hạ được nhưng Hữu Dật cố sức chống đỡ. Quân Trịnh đánh mãi không thắng phải rút về Bắc Bố Chính, Trịnh Căn lại bị ốm nên Trịnh Tạc rút đại quân về kinh, cử Lê Thì Hiến, Lê Sĩ Triệt ở lại trấn thủ.
== Chia đôi đất nước ==
Trước sau trong 46 năm ròng rã, hai bên Trịnh - Nguyễn đánh nhau lớn bảy lần và một số lần đánh nhau quy mô nhỏ hơn. Chiến trường chủ yếu ở hai bờ sông Gianh, vùng Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình ngày nay.
Hai bên đều có lợi thế và điểm yếu nên không thể tiêu diệt được nhau, dù cùng mang khẩu hiệu "Phù Lê". Sau nhiều năm giao chiến, cả hai bên đều kiệt quệ về sức người sức của nên phải chấp nhận đình chiến, chia cắt lâu dài. Sông Gianh, sử sách hay gọi là Linh Giang, trở thành ranh giới chia nước Đại Việt thành Đàng Trong và Đàng Ngoài.
Họ Trịnh không thể tiến vào chiếm Thuận Hóa nên tập trung diệt tàn dư nhà Mạc ở Cao Bằng (1677), dứt họ Vũ ở Tuyên Quang (1699), củng cố địa bàn Bắc Bộ. Họ Nguyễn không thể ra Thăng Long nên dồn sức diệt Chiêm Thành, lấn sang Chân Lạp để mở mang bờ cõi vốn nhỏ hẹp về phía nam. Hai bên đều có những chúa cai trị giỏi nên ổn định được lãnh thổ suốt hơn 100 năm.
== Cuộc chiến cuối cùng ==
=== Quân Trịnh lại nam tiến ===
Một trăm năm sau khi đình chiến, một biến cố lớn ở Đàng Trong làm xáo trộn cả Nam Hà lẫn Bắc Hà.
Ba anh em Tây Sơn nổi dậy khởi nghĩa nhân lúc chính quyền họ Nguyễn lục đục rơi vào tay quyền thần Trương Phúc Loan. Khi thủ lĩnh Tây Sơn là Nguyễn Nhạc làm chủ được Nam Trung Bộ thì họ Trịnh nhận thấy thời cơ tiêu diệt họ Nguyễn đã đến.
Đầu tiên dùng danh nghĩa đánh Tây Sơn giúp Nguyễn, tháng 9 âm lịch năm 1774, chúa Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm cử lão tướng Việp quận công Hoàng Ngũ Phúc làm Bình nam thượng tướng quân, Bùi Thế Đạt làm phó tướng mang 36.000 quân nam tiến.
Quân Trịnh tiến tới địa giới Bắc Bố Chính, tướng Nguyễn là Trần Giai chạy sang đầu hàng, làm hướng đạo cho quân Trịnh. Hoàng Ngũ Phúc vượt sông Gianh. Chúa Nguyễn biết ý Trịnh muốn đánh chiếm nên điều quân kháng cự.
=== Quận Việp đánh chiếm Phú Xuân ===
Được sứ giả họ Nguyễn là Kiêm Long gợi ý, Hoàng Ngũ Phúc sai Hoàng Đình Thể tiến đánh lũy Trấn Ninh. Các tướng Nguyễn làm nội ứng mở cửa đầu hàng. Quân Trịnh chiếm được Quảng Bình.
Tháng 11 năm 1774, Trịnh Sâm tự cầm thủy quân vào Nghệ An làm thanh viện cho quận Việp. Quận Việp đánh Lưu Đồn, thống suất bên Nguyễn là Tống Hữu Trường bỏ chạy. Quận Việp tiến đến Hồ Xá dùng chiêu bài khác, lấy cớ trừng phạt Trương Phúc Loan chuyên quyền để nam tiến tiếp.
Quân Nguyễn yếu thế không chống nổi, Định vương Nguyễn Phúc Thuần phải trói Trương Phúc Loan nộp quân Trịnh. Giết Loan rồi, Hoàng Ngũ Phúc lại dùng lý do giúp Nguyễn đánh Tây Sơn để tiến vào Phú Xuân hội binh. Chúa Nguyễn sai các tướng trá hàng để quấy rối Quảng Bình, Bố Chính sau lưng quân Trịnh, nhưng các cánh quân đó bị quân Trịnh nhanh chóng phá tan. Chúa Nguyễn điều Tôn Thất Chí, Nguyễn Văn Chính ra đánh đều bị quận Việp đánh bại. Quận Việp sai Hoàng Đình Thể, Hoàng Nghĩa Phác theo đường núi qua thác Trầm Ma đánh tan quân Nguyễn, giết chết Chính.
Đầu năm 1775 quân Trịnh tiến vào Phú Xuân. Chúa Nguyễn không chống nổi phải bỏ chạy vào Quảng Nam. Quân Trịnh chiếm toàn bộ Thuận Hóa.
=== Tây Sơn hàng Trịnh ===
Nguyễn Nhạc nhân chúa Nguyễn bỏ chạy vào Quảng Nam bèn mang quân hai đường thủy bộ ra đánh. Nguyễn Phúc Thuần vội bỏ Quảng Nam theo đường biển trốn vào Gia Định, để lại Nguyễn Phúc Dương.
Tháng 2 năm 1775, Trịnh Sâm từ Hà Trung trở về kinh, hạ lệnh cho quận Việp đánh Quảng Nam. Quân Tây Sơn cũng tiến ra, lùng bắt được Phúc Dương. Tháng 4, quân Trịnh vượt đèo Hải Vân và đụng độ với quân Tây Sơn. Hoàng Ngũ Phúc đang đà thắng lợi, sai Hoàng Đình Thể, Hoàng Phùng Cơ đánh bại quân Tây Sơn ở Cẩm Sa. Nguyễn Nhạc phải rút quân về Quy Nhơn.
Nhân lúc Nguyễn Nhạc thua trận, tướng Nguyễn là Tống Phúc Hiệp từ Bình Khang đánh ra Phú Yên, quân Tây Sơn lại thua phải co về Quy Nhơn. Tình thế của Nguyễn Nhạc rất nguy ngập, bèn sai người đến chỗ Hoàng Ngũ Phúc xin đầu hàng và làm tiên phong cho chúa Trịnh để đánh chúa Nguyễn. Quân Trịnh đi xa bấy giờ đã mệt mỏi, quân sĩ nhớ nhà, Hoàng Ngũ Phúc cũng muốn mượn sức Tây Sơn diệt họ Nguyễn nên nhân danh chúa Trịnh cho Nguyễn Nhạc hàng, sai Nguyễn Hữu Chỉnh đem sắc, ấn, cờ đến phong Nguyễn Nhạc làm "Tây Sơn trưởng hiệu tráng tiết tướng quân".
Dù thế, quận Việp lão luyện vẫn không lui quân, đóng sát địa giới Quảng Ngãi, định chờ nếu Tây Sơn bại trận sẽ tiến vào chiếm Quảng Ngãi và Quy Nhơn. Nhân lúc Tây Sơn mang quân vào đánh Phú Yên, quận Việp liền lấn tới đóng quân ở Chu Ổ thuộc Quảng Ngãi.
=== Thịnh quá hóa suy, suy quá lại thịnh ===
Tháng 7 năm 1775, nghe tin Nguyễn Huệ thắng quân Nguyễn chiếm lại Phú Yên, quận Việp án binh lại. Theo yêu cầu của Nguyễn Nhạc, quận Việp phong chức cho Nguyễn Huệ làm "Tây Sơn hiệu tiền tướng quân". Ít lâu sau, quân Trịnh bị bệnh dịch chết khá nhiều, quận Việp tuổi già sức yếu bèn bỏ Quảng Nam lui về Phú Xuân, sau đó giao lại thành này cho Bùi Thế Đạt, còn mình dẫn đại quân về bắc. Tháng 10 năm đó, quận Việp bị bệnh chết trên đường về.
Lần đầu tiên sau 150 năm nam chinh, họ Trịnh tiến tới Quảng Nam, mở cương thổ cho vua Lê thời trung hưng tới gần được như thời Lê Thánh Tông của Lê sơ trước đây. Cũng lần đầu tiên họ Nguyễn mất toàn bộ đất căn bản Thuận - Quảng, bị dồn vào Nam Bộ, mảnh đất họ Nguyễn đã đặt bộ máy hành chính của mình chưa đầy 100 năm.
Cuộc nam tiến lần thứ 8 năm 1774 – 1775 của quân Trịnh cũng là trận chiến Trịnh - Nguyễn cuối cùng. Từ đây hai bên bị địa bàn của Tây Sơn ngăn cách và không còn tái chiến. Sau 8 cuộc chiến vẫn không bên nào diệt được bên nào nhưng không lâu sau đó cả Trịnh và Nguyễn đều bại dưới tay Tây Sơn.
Sau trận 1774, lãnh thổ họ Trịnh quản lý phát triển đến cực thịnh. Nhưng sau khi quận Việp chết, phía Trịnh từ chúa đến quân đều có ý tận hưởng chiến thắng, lơ là phòng bị biên cương phía nam. Chỉ hơn 10 năm sau thắng lợi ở Phú Xuân, chính kinh thành Thăng Long của họ Trịnh bị thất thủ và họ Trịnh mất theo. Trong khi đó, sau khi bị đánh bật khỏi mảnh đất cuối cùng là Nam Bộ phải đi lưu vong, họ Nguyễn đã trở về và khôi phục lại lãnh thổ. Cuối cùng vì những biến cố có lợi, họ Nguyễn trở thành người cai trị cả nước.
== Nhận định ==
=== Lợi thế, nhược điểm ===
Trong cuộc chiến 7 lần thế kỷ 17, tuy Trịnh có danh nghĩa vua Lê, có lực lượng mạnh hơn, lợi thế về nhân lực đông đảo, vật chất dồi dào hơn nhưng quân phải đi đánh đường xa thường mệt mỏi và lương thảo không vận kịp, mặt khác Bắc Hà luôn có mối lo các lực lượng cát cứ ở hậu phương nên không thể dốc toàn lực, toàn tâm vào cuộc chiến.
Phía Nguyễn dù lực lượng ít hơn nhưng được đánh tại đất nhà, có hai tướng giỏi là Hữu Tiến và Hữu Dật, lại có các chiến lũy kiên cố. Qua nhiều năm giao chiến khi tiến khi lui, cuối cùng họ Nguyễn từ Thuận Hóa lấn được ra tới sông Gianh, chiếm được Nam Bố Chính. Hơn nữa, ngoài đất đai, họ Nguyễn còn mang về được một lượng nhân lực khá lớn để khai khẩn những vùng đất mới khai thác phía nam. Điều đó cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển thế lực của họ Nguyễn lúc đó cũng như sau này.
Phía Trịnh trong giai đoạn đầu đã mắc sai lầm chủ quan, ỷ vào lợi thế của mình, đánh giá chưa đúng về thực lực của họ Nguyễn nên hay bị thua trận. Tuy nhiên, khi đánh ra Nghệ An, chính quân Nguyễn cũng bộc lộ điểm yếu của đạo quân phải đánh xa nhà nên không thể tự mình tiếp tục duy trì ưu thế bắc tiến. Ngay các danh tướng nhiều mưu mẹo như Hữu Dật, Hữu Tiến cũng lực bất tòng tâm, không thể có đủ lực lượng để dàn ra khắp mặt trận nhằm thực hiện tấn công tổng lực ra bắc mà có ý hoãn binh, trông chờ vào các lực lượng quấy rối ở hậu phương địch để chia sức quân Trịnh. Mặt khác, vì lực lượng có hạn, quân viễn chinh của Nguyễn không còn đủ sức đương đầu với phía Trịnh đông quân nhiều tướng hết lớp này đến lớp khác (Lê Văn Hiểu đến Trịnh Thượng, rồi Trịnh Toàn, lại Trịnh Căn) được điều ra mặt trận. Khi họ Trịnh củng cố nhân sự, siết chặt lại đội ngũ thì ưu thế nhân lực vật lực được phát huy rõ hiệu quả.
Một nhân tố khác giúp hai bên đứng vững là các tướng ngoài mặt trận của hai bên, dù tài năng ở mức độ khác nhau nhưng nhìn chung đều là những người cần lao, trung thành. Trịnh Toàn bị dụ hàng ở thời điểm ngoài gặp địch mạnh, trong bị anh bức bách không khác gì Trịnh Cối trước đây, thủ hạ sợ vạ lây đều đã hàng Nguyễn, thế nhưng Toàn vẫn không hàng như Cối mà chấp nhận cái chết. Lê Văn Hiểu thua trận, thân bị thương, bị chúa gọi về trị tội cũng không nghe theo lời dụ của Hữu Dật. Nguyễn Hữu Dật cũng bị dụ khi vừa thua trận và bị các tướng ganh ghét, nhưng cũng không đổi dạ thay lòng. Những trường hợp sang đầu hàng bên kia không nhiều và không nắm trọng trách nên không gây ảnh hưởng quyết định tới kết quả cuộc chiến.
=== So sánh với chiến tranh Lê - Mạc ===
Lê-Mạc và Trịnh-Nguyễn đều là những cuộc nội chiến trường kỳ trong lịch sử Việt Nam, gây ra hậu quả chia đôi nước Đại Việt trong 250 năm. Tuy nhiên, so với chiến tranh Lê - Mạc thời Nam Bắc triều, mức độ của chiến tranh Trịnh - Nguyễn có phần bớt nghiêm trọng hơn.
==== Về tính đối kháng ====
Lê - Mạc là kẻ thù không đội trời chung. Mạc cướp ngôi Lê, Lê khôi phục rồi chống Mạc, do đó Lê và Mạc đánh nhau một mất một còn để chứng minh mình là "chính thống", nhất là nhà Minh dùng chiêu bài lập lờ, không dứt khoát công nhận ai.
Giữa Trịnh và Nguyễn, xuất phát vốn là người trong một nhà, Trịnh Kiểm lấy chị Nguyễn Hoàng là Ngọc Bảo, đến Trịnh Tráng lại lấy con gái Nguyễn Hoàng cũng là cô họ của mình là Ngọc Tú. Trước khi dùng "binh", Trịnh và Nguyễn đã dùng "lễ" trong thời gian khá dài vì cả hai đều khởi phát từ danh nghĩa "phù Lê".
==== Thời gian, mật độ ====
Chỉ trừ lần đụng độ thứ năm kéo dài 5 năm (1655-1660), các cuộc đụng độ khác giữa Trịnh và Nguyễn đều kéo dài chỉ vài tháng, thậm chí trong chưa đầy một tháng; khoảng cách giữa các cuộc chiến cũng khá dài, thường là 5-7 năm, có khi dài tới hàng chục năm. Giữa các cuộc chiến có thời gian đình chiến giúp cả hai bên củng cố thực lực. Trong khi đó, cuộc chiến tranh Lê-Mạc trong 60 năm diễn ra với mật độ liên tục, gần như chỉ một vài năm lại có một cuộc hành quân bắc tiến hoặc nam tiến của bên này hoặc bên kia.
Lực lượng của Lê và Mạc nhìn chung ngang nhau nên cả hai bên "ăn miếng trả miếng", lúc thủ lúc đánh. Còn khi đụng đầu với Trịnh, Nguyễn chủ yếu ở thế phòng thủ, dùng chiến lũy kiên cố, địa hình hiểm trở để cản đường nam tiến của Trịnh. Lúc đó Nguyễn chưa lấy được đất Chiêm Thành và Thủy Chân Lạp nên lực lượng còn hạn chế, vì vậy sau cuộc chiến Nghệ An 1655 – 1660, Nguyễn không thể tái diễn một cuộc chiến dài hơi như vậy với Trịnh.
==== Địa bàn ====
Chiến tranh Trịnh - Nguyễn chỉ diễn ra ở phạm vi Trung Bộ, thuộc các tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Chiến tranh Lê - Mạc trải khắp gần như toàn lãnh thổ Đại Việt khi đó, từ Bắc Bộ tới Thanh - Nghệ và có lần tới Thuận Hóa. Vì thế ảnh hưởng và thiệt hại của quân, dân hai bên trong chiến tranh Lê - Mạc lớn hơn so với chiến tranh Trịnh - Nguyễn.
=== Chính sách ===
Nhân tố quan trọng hơn cả giúp các chúa Trịnh và chúa Nguyễn ngồi vững và giữ được cơ nghiệp là chính sách cai trị phù hợp. Ngoài danh nghĩa "phù Lê", các chúa đều lấy được lòng dân tại khu vực mình cai quản để huy động nhân lực, vật lực vào cuộc chiến. Hơn nữa, các chúa Trịnh, Nguyễn đều giải quyết nhanh chóng, dứt điểm những rạn nứt từ bên trong chính quyền mình, chủ yếu là những người trong cùng một nhà có ý đồ khác, không để những xung đột nội bộ xé rộng làm ảnh hưởng tới toàn cục.
Sử sách không chép rõ thiệt hại về người qua từng cuộc chiến là bao nhiêu nhưng chắc chắn con số thương vong của hai bên phải tới hàng vạn người. Ngoài ra, nhân dân trong vùng chiến sự bị thiệt hại nhiều hơn cả.
Hơn một trăm năm sau, các lũy Trấn Ninh, Trường Dục vẫn vững chắc như xưa, nhân tài vật lực của Đàng Trong bấy giờ không còn kém Đàng Ngoài nữa, nhưng lòng người lúc đó đã chia lìa nên lũy cao, đất hiểm không còn giúp được họ Nguyễn cản đường quân Trịnh nam tiến như 7 lần trước. Quân Trịnh đánh tới như cuốn chiếu, tướng Nguyễn thi nhau hàng Trịnh, giúp quận Việp lập công. Sau thành quả chiếm Phú Xuân, họ Trịnh say sưa chiến thắng, tưởng như công nghiệp của mình đã vượt được cha ông. Đất đai rộng hơn, quân số và dân số đông thêm, của cải giàu lên, các mối lo cát cứ ở hậu phương không còn, lẽ ra Bắc Hà phải hùng mạnh hơn trước. Thế nhưng chính sự lại rối ren, nhân dân chán ghét nhà chúa; tướng lười quân kiêu, còn lấy việc mất Thuận Hóa (về tay Tây Sơn) làm may, bởi thế cơ đồ mới bị mất mau chóng hơn cả nhà Mạc trước kia vốn chỉ còn vùng Bắc bộ.
Tài đức của người lãnh đạo có thu phục, đoàn kết được nhân dân hay không mới mang yếu tố quyết định sự mất còn của đất nước.
== Quân lực đôi bên ==
=== Quân số ===
Dân số 2 bên chênh lệch nhiều khiến ảnh hưởng lớn tới việc tăng cường quân số. Tính về diện tích lãnh thổ Đàng Ngoài rộng gấp 2 đến 3 lần lãnh thổ Đàng Trong. Về dân số thì đầu thế kỷ XVII, từ năm 1600 đến 1650, dân số dưới sự cai trị của chúa Trịnh khoảng dưới 5 triệu người, trong khi dân số của chúa Nguyễn khoảng 500.000-1.000.000 Quân số của hai bên không được thống kê đầy đủ, thường xuyên bị phóng đại để nghi binh, những thống kê chủ yếu chỉ là con số ước đoán của những người đương thời bấy giờ:
Sử gia Phan Khoang trong Việt Sử xứ đàng trong có thống kê quân số như sau:
Không nói rõ năm: Chúa Nguyễn có chừng 22.740 quân chính quy. Chúa Trịnh có chừng 50.000 quân đóng ở Thăng Long (khi đánh nhau sẽ huy động thêm dân binh, hương binh ở địa phương). Số quân này thường xuyên bị hai phe "nói phao" đôi lúc quân số bị phao từ 10 vạn lên 18 vạn (Trịnh); Nguyễn phóng đại lên 26 vạn. Quân số mỗi phe có thể có tối đa là 20 vạn chính quy và địa phương, và quân chúa Nguyễn lúc nào cũng ít hơn số quân Trịnh.
Thủy binh: quân Trịnh có ưu thế lớn với chừng 600 chiến thuyền to hơn tàu châu Âu và trên mỗi thuyền có 3 đại bác, 25 người chèo và binh sĩ. Trong khi chúa Nguyễn có 200 chiến thuyền.
Một giáo sĩ khác tên Bénigne Vachet: chúa Nguyễn có 40.000 lính: 15.000 thủ Bắc, 9.000 giữ phủ chúa, 6.000 bảo vệ hoàng thân và đại thần và 10.000 binh trấn giữ các khu vực tỉnh lỵ khác. Chiến thuyền 200. Quân bộ chúa Trịnh không có nói, nhưng quân thủy thì khẳng định gấp 3, 4 lần quân chúa Nguyễn. Một tu sĩ tên Choisy kể năm 1697, chúa Nguyễn có 131 chiếc thuyền (chưa tính chiến thuyền địa phương), có chừng 60 tay chèo, 2 pháo thủ, 3 sĩ quan chỉ huy, hai trống trận.
Các lần chiến tranh
1627 không ghi quân số
1633 không ghi quân số
1643 như trên, nhưng có tàu châu Âu đến đòi giúp chúa Trịnh
1648 không ghi, quân Nguyễn huy động 100 voi, quân Trịnh bị bắt là 3 vạn và hai tướng. Nguyễn Hữu Tiến di chuyển 3000 quân đóng ở Võ Xá để thủ. Các tướng Trịnh được tha, còn các binh sĩ Trịnh thì chia nhỏ ra cho đi khai hoang hết
1655 và 1660 chúa Trịnh bố phòng 1 vạn rưỡi binh thủ nam Chúa Nguyễn không ghi rõ số quân
1661 và 1662 không ghi
1672 Chúa Trịnh có 10 vạn phóng đại lên 18 vạn, chúa Nguyễn thì không rõ thực bao nhiêu nhưng phóng đại lên 26 vạn.
Giáo sĩ Cristophoto Borri trong Xứ đàng trong năm 1621:
"Thế lực của chúa rất mạnh đến nỗi khi ngài muốn ngài có thể tuyển ngay được tám mươi ngàn quân binh chiến đấu. Với tất cả lực lượng này ngài vẫn sợ chúa Đàng Ngoài vốn có lực lượng lớn hơn gấp 4 lần"
Nguyễn Quang Ngọc trong sách Tiến trình Lịch sử Việt Nam:
Chúa Trịnh có thể huy động ngay lập tức 200.000 quân, 600 thuyền chiến, 500 thuyền vận tải và 500 voi chiến.
Chúa Nguyễn chỉ có thể huy động tối đa 40.000 quân và 200 chiến thuyền nhưng bù lại có một hệ thống chiến lũy hết sức dày đặc và đường tiếp vận lương thực của chúa Trịnh ra rất khó khăn.
William Dampier, một nhà du hành từng đến Đàng Ngoài năm 1688 có ghi nhận là quân đội chúa Trịnh có chừng 70.000-80.000 quân thường trực, trong số đó hầu hết là bộ binh trang bị súng tay, ở kinh thành chúa có thường trực voi chiến 200 thớt, ngựa chiến 300 con, nuôi béo khỏe . Charles Maybon và Henri Russier ước tính quân đội Đàng Ngoài khoảng 100.000 người, 500 voi, 500 chiến thuyền lớn trang bị 3 súng thần công mỗi chiếc.
Trong Đại Việt sử ký toàn thư, Bản kỷ tục biên ghi nhận thời Nam Bắc triều, quân Trịnh theo phò nhà Lê có lực lượng kỵ binh khá mạnh. Trịnh Tùng từng sử dụng 400 quân thiết kỵ làm trợ chiến để đẩy lùi cuộc xâm lấn của quân Bắc triều. Năm 1592 ông huy động tới 5000 kỵ binh nặng, trang bị giáp sắt cho cả ngựa để vây hãm Đông Kinh của nhà Mạc.
Một ghi chép của người phương Tây về lực lượng quân sự Đàng Ngoài dưới thời Thanh Đô Trịnh Tráng cho rằng vào năm 1640 ông này có trong tay hơn ba mươi vạn bộ binh, hai ngàn thớt voi trận và một trăm lẻ hai ngàn quân kỵ (!) . Con số này còn cần làm rõ.
=== Quân đội chúa Trịnh ===
Binh chia ra làm hai hạng: Ưu binh và Nhất binh. Ưu binh là lính mộ ở ba phủ thuộc tỉnh Thanh Hóa và bốn phủ thuộc tỉnh Nghệ An. Nhất binh là lính tuyển ở bốn trấn ngoài Bắc: Sơn Nam, Kinh Bắc (Bắc Ninh), Hải Dương, Sơn Tây cứ 5 xuất đinh bắt một người sung quân ngũ. Lính Ưu binh đóng ở Kinh đô, được nhiều đặc ân, đặc quyền như được cấp công điền và cả chức sắc.
Lính Nhất binh phục vụ tại các trấn, phục dịch các quan, có việc loạn ly và chiến tranh mới được gọi đến, không thì về làm ruộng.
Đến đời chúa Trịnh Doanh (1720–1767) có nhiều giặc dã ở nhiều nơi nên phải gọi lính tứ trấn, động viên cả thảy được 115.000 người hợp thành các đơn vị lớn nhỏ như sau:
Đội gồm có: 20 người.
Cơ gồm 20 đội có: 400 người.
Vệ gồm từ 5 đến 6 cơ: 2000 hay 2400 người (Bên Vệ có Tư là đơn vị có: 100 người).
=== Quân đội chúa Nguyễn ===
Binh có hai loại đầu, cũng như ngoài Bắc được gọi đi quân dịch; những trai tráng khỏe mạnh sung thẳng vào quân ngũ và một số được gọi dần có tính cách trừ bị. Việc binh bị đối với các chúa miền Nam là một việc quan trọng nhất, gồm những đơn vị dưới đây:
Ở hạ tầng là Thuyền hay Tiểu đội, có từ 30 đến 50 người cùng làng hay thuộc làng lân cận. Đội có từ hai ba đến năm Thuyền do một Đội trưởng hay một Cai đội trông. Cơ gồm có nhiều đội thường có tới từ 6 đến 10 Thuyền, có cơ đặc biệt gồm có tới 60 thuyền. Quân số có từ 250 đến 600 người, do một cai cơ hay trưởng cơ chỉ huy.
Thời đó có 5 cơ: Trung cơ, Tả cơ, Hữu cơ, Hậu cơ và Tiền cơ.
Dinh gồm có một số quân ngang với cơ do một Trưởng dinh điều kiển. Dưới quyền Trưởng dinh có các Trưởng cơ (theo sự khảo cứu của các sử gia Pháp quân số của các đơn vị trong binh đội Nam Hà hay thay đổi về quân số, nghĩa là quân số khi thăng khi giảm không nhất định).
== Các tướng tham chiến chủ yếu của hai bên ==
=== Quân Trịnh ===
Trịnh Tạc
Trịnh Toàn
Trịnh Căn
Đào Quang Nhiêu
Lê Thì Hiến
Lê Sĩ Triệt
Nguyễn Khắc Liệt
Lê Văn Hiểu
Hoàng Ngũ Phúc
Bùi Thế Đạt
Hoàng Phùng Cơ
Hoàng Đình Thể
=== Quân Nguyễn ===
Nguyễn Phúc Tần
Đào Duy Từ
Nguyễn Hữu Dật
Nguyễn Hữu Tiến
Trương Phúc Phấn
Tống Hữu Đại
Nguyễn Cửu Kiều
Tôn Thất Tráng
== Kết luận ==
Chiến tranh Trịnh-Nguyễn bùng nổ. Trong vòng 45 năm (từ năm 1627 đến năm 1672, hai họ Trịnh-Nguyễn đánh nhau bảy lần với những trận chiến ác liệt, có khi kéo dài năm này qua năm khác. Cuộc chiến tranh đã làm hao tổn sức người, sứa của dân, triệt phá đồng ruộng, xóm làng. Cuộc chiến tranh cũng dẫn đến việc chia đôi lãnh thổ của nước Đại Việt thống nhất giang sơn riêng của hai dòng họ.
== Chú giải ==
• a)^ chúa này là Chúa Nguyễn
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam - Viện Sử học, 1988
Các triều đại Việt Nam - Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng, Nhà xuất bản Thanh niên, 2001
Việt Nam sử lược - Trần Trọng Kim
Đại Nam thực lục, tập 1
Đại Việt Sử ký Toàn thư
Khâm định Việt sử Thông giám cương mục
Thời Nam Bắc triều - Việt Chương, Nhà xuất bản Phụ nữ, 2001
Asia in the Making of Europe, The University of Chicago Press, 1993.
== Xem thêm ==
Trịnh-Nguyễn phân tranh, 1774-1775
Nhà Hậu Lê
Chúa Trịnh
Chúa Nguyễn
Chúa Bầu
Trịnh Tùng
Trịnh Tráng
Trịnh Căn
Trịnh Sâm
Nguyễn Hoàng
Nguyễn Phúc Nguyên
Nguyễn Phúc Tần
Hoàng Ngũ Phúc |
hypena modesta.txt | Hypena modesta là một loài bướm đêm trong họ Erebidae.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Dữ liệu liên quan tới Hypena modesta tại Wikispecies
Phương tiện liên quan tới Hypena modesta tại Wikimedia Commons |
búp bê.txt | Búp bê (từ mượn của tiếng Pháp poupée) là mô hình phỏng theo hình dáng của con người và thường làm đồ chơi của trẻ em. Từ lâu búp bê đã được dùng trong các nghi thức ma thuật và tôn giáo khắp nơi trên thế giới. Người ta tìm thấy búp bê truyền thống được làm từ chất liệu đất sét, gỗ ở châu Á, châu Âu, châu Mỹ và châu Phi. Búp bê sớm nhất đã ra đời từ thời Ai Cập cổ đại, Hy Lạp cổ đại và La Mã cổ đại. Tài liệu Hy Lạp cho biết búp bê được dùng làm đồ chơi khoảng năm 100. Búp bê có nhiều loại, từ búp bê thô sơ đến búp bê tinh xảo đầy tính nghệ thuật. Ngành sản xuất búp bê hiện đại phát xuất từ nước Đức vào thế kỷ 15. Càng ngày búp bê càng được sản xuất ở quy mô lớn nhờ công nghiệp hóa và sự ra đời của các chất liệu mới như sứ và chất dẻo. Trong thế kỷ 20, búp bê dần trở thành đồ sưu tập phổ biến.
== Tham khảo ==
=== Sách ===
Fraser, Antonia (1973). Dolls. Octopus Books. ISBN 0-7064-0056-9.
== Liên kết ngoài ==
Định nghĩa trên Wiktionary của búp bê
Phương tiện liên quan tới Dolls tại Wikimedia Commons |
bóng đá tại thế vận hội mùa hè 1996 - nữ.txt | Thế vận hội Mùa hè 1996 — tổ chức tại Atlanta, Georgia, Hoa Kỳ — đánh dấu lần đầu tiên phụ nữ tham gia môn bóng đá. Giải đấu quy tụ 8 đội tuyển quốc gia nữ từ bốn liên đoàn châu lục. 8 đội chia làm hai bảng thi đấu theo thể thức vòng tròn (diễn ra tại Miami, Orlando, Birmingham và Washington, D.C.). Sau khi kết thúc vòng bảng, hai đội đứng đầu mỗi bảng tiến vào vòng bán kết để chọn ra hai đội thi đấu trận tranh huy chương vàng vào ngày 1 tháng 8 năm 1996.
== Các vận động viên giành huy chương ==
== Vòng loại ==
Do không có thời gian tổ chức một giải đấu vòng loại, 8 đội bóng xuất sắc nhất tại Giải vô địch bóng đá nữ thế giới 1995 được trao suất dự Thế vận hội (đồng nghĩa với việc không có đội tuyển nào của châu Phi và châu Đại Dương). Ngoại lệ duy nhất là Brasil thế chỗ của Anh (đội tuyển không thuộc Ủy ban Olympic Quốc tế).
Chủ nhà
Hoa Kỳ
== Đội hình ==
== Trọng tài nữ ==
== Vòng bảng ==
=== Bảng E ===
==== Hoa Kỳ v Đan Mạch ====
==== Thụy Điển v Trung Quốc ====
==== Hoa Kỳ v Thụy Điển ====
==== Đan Mạch v Trung Quốc ====
==== Hoa Kỳ v Trung Quốc ====
==== Đan Mạch v Thụy Điển ====
=== Bảng F ===
==== Na Uy v Brasil ====
==== Đức v Nhật Bản ====
==== Na Uy v Đức ====
==== Brasil v Nhật Bản ====
==== Na Uy v Nhật Bản ====
==== Brasil v Đức ====
== Vòng đấu loại trực tiếp ==
=== Bán kết ===
==== Trung Quốc v Brasil ====
==== Na Uy v Hoa Kỳ ====
=== Trận tranh huy chương đồng ===
==== Brasil v Na Uy ====
=== Trận tranh huy chương vàng ===
==== Trung Quốc v Hoa Kỳ ====
== Người ghi bàn ==
4 bàn
Pretinha
Ann Kristin Aarønes
Linda Medalen
3 bàn
Shannon MacMillan
Tôn Khánh Mai
2 bàn
1 bàn
Phản lưới nhà
Tomei Yumi (gặp Đức)
Carla Overbeck (gặp Thụy Điển)
== Xếp hạng ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Olympic Football Tournaments Atlanta 1996 - Women, FIFA.com
RSSSF
FIFA Technical Report (Phần 1), (Phần 2), (Phần 3) và (Phần 4) |
kẹp cà vạt.txt | Kẹp cà vạt (cũng gọi là kim kẹp caravat hay kẹp caravat) là một phụ kiện thời trang. Chiếc kẹp cravat mới xuất hiện vào những năm 20 của thế kỷ này. Từ đó trở đi, cùng với cà vạt, nó đã trở thành bộ phận không thiếu được của bộ complet.
== Công dụng ==
Kẹp cà vạt được dùng cố định dải lụa trước ngực vào áo sơ mi.
== Một số lưu ý ==
Có hai loại kẹp cà vạt chính là kẹp bấm và kẹp ghim trượt. Với áo sơ mi dày và cà vạt dày, dùng kẹp bấm để giữ mọi thứ bằng phẳng cố định. Với áo sơ mi mỏng và cà vạt mỏng, nên dùng loại kẹp ghim trượt vì loại kẹp bấm sẽ làm cộm chiếc cà vạt mỏng lên.
Kích thước của kẹp cà vạt cũng rất quan trọng. Đừng bao giờ đeo một chiếc kẹp dài hơn cà vạt. Tỉ lệ chuẩn của kẹp và cà vạt là kẹp dài bằng ¾ hoặc ngắn hơn khoảng 2.5 cm chiều rộng chiếc cà vạt.
Đeo kẹp cà vạt quá cao hay quá thấp đều sẽ làm hỏng toàn bộ diện mạo. Nó phải được gắn chặt tại vị trí giữa nút thứ 3 và thứ tư của cúc áo, ngay trước xương ức.
Kim kẹp cà vạt lúc nào cũng phải đặt ngang. Đừng bao giờ kẹp kim chéo lên hay chéo xuống.
Sự kết hợp thừa thãi khi mặc áo gilê. Áo gilê mang tác dụng giữ cà vạt ở yên vị trí, nếu kết hợp với kim kẹp cà vạt thì chúng sẽ trở nên thừa và lộn xộn.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
"So I Bought the Damn Tie Bar. Now What?!" |
chiến tranh da đỏ.txt | Chiến tranh Da đỏ (tiếng Anh: American-Indian Wars) là một loạt những cuộc tranh chấp vũ trang giữa quân đội thuộc địa hay liên bang Hoa Kỳ và các bộ lạc dân bản địa Bắc Mỹ trong nhiều thời kỳ từ thế kỷ 17 đến cuối thế kỷ 19.
Tiếng Việt thường gọi các dân tộc bộ lạc bản địa Bắc Mỹ là "người da đỏ" theo từ tiếng Anh là "redskin" (từ lóng mang tính miệt thị, chỉ những người bản địa thường bôi phẩm đỏ vào mặt và mình khi ra chiến đấu).
Theo một ước tính, khoảng 95 triệu tới 114 triệu người da đỏ bản xứ đã bị tiêu diệt trong hơn 300 năm lãnh thổ Bắc Mỹ bị người da trắng xâm chiếm Trong sách tựa đề American Holocaust, nhà sử học người Mỹ là David Stannard cho rằng cuộc càn quét sát hại người bản địa tại châu Mỹ qua nhiều chiến dịch của người châu Âu và các thế hệ sau (Anglo Americans - người da trắng Hoa Kỳ) là một hành động diệt chủng khổng lồ nhất trong lịch sử nhân loại.. Có người thì cho là kế hoạch diệt chủng là có thực, có người lại không tin..
Trong những ngày đầu mới đến đất lạ, người Anh di cư sang Mỹ thường sống hòa bình với các bộ lạc bản địa chung quanh. Nhưng bắt đầu từ 1637 (chiến tranh Pequot), chính quyền thuộc địa ngầm tham gia các cuộc tranh chấp lãnh thổ giữa các bộ lạc, lợi dụng tình hình để chiếm đất, củng cố sức mạnh của mình là đồng thời làm mất đoàn kết và suy giảm lực lượng của các bộ lạc này.
Những cuộc chiến nổ ra từ thế kỷ 17 khi Bắc Mỹ còn là thuộc địa của Đế quốc Anh dưới triều vua William III, cho đến các trận đánh sau cùng với quân đội Hoa Kỳ năm 1890 (cuộc tàn sát tại Wounded Knee) với hậu quả là thổ dân bị mất đất về tay người da trắng, bị bắt buộc hội nhập văn hóa và di tản về sinh sống các vùng tập trung.
Theo báo cáo của Gregory Michno dựa theo hồ sơ lưu trữ quân đội thì chỉ trong 40 năm từ 1850 đến 1890 khoảng 21.586 người (lính lẫn thường dân) bị giết, bị thương hay bị bắt. Theo Russell Thornton thì khoảng 45.000 người da đỏ và 19.000 người da trắng bị giết - trong đó có đàn bà và trẻ em của cả hai bên.
Theo William M. Osborn, trong sách tựa The Wild Frontier: Atrocities during the American-Indian War from Jamestown Colony to Wounded Knee, thì từ năm 1511 đến 1890 có 9.156 người bị dân da đỏ tàn sát và 7.193 do dân da trắng giết - không kể cố sát riêng tư, tra tấn, bị thương hay bị bắt.
Một điều không thể chối cãi là cả hai phe đều dùng những thủ đoạn thô bạo dã man. Người da đỏ dùng chiến thuật tấn công hung bạo, trong khi quân Mỹ thì tàn phá không nương tay, nhiều khi tận diệt cả một bộ lạc da đỏ.
Vì người da đỏ sống trong những bộ lạc riêng lẻ nên chiến tranh xảy ra và kết thúc thường trong lĩnh vực địa phương, nhưng cũng có một số trận đánh gồm nhiều bộ lạc da đỏ hợp sức cùng chống lại quân đội da trắng xâm lược.
== Các vụ thảm sát ==
Trong cuộc xâm lấn đất đai của các bộ lạc da đỏ Bắc Mỹ, người Mỹ đã tiến hành hàng trăm vụ thảm sát đẫm máu. Một số vụ nổi tiếng nhất gồm:
Ngày 29/11/1813, trong vụ thảm sát Autossee, dân quân Georgia do tướng Floyd chỉ huy đã tấn công một làng của bộ tộc Creek bên bờ sông Tallapoosa (quận Macon, bang Alabama ngày nay), giết 200 người da đỏ trước khi đốt cháy ngôi làng của họ.
Ngày 1/8/1832, trong trận Bad Axe, binh lính dưới quyền Tướng Henry Atkinson và các tình nguyện viên vũ trang đã giết chết khoảng 150 người da đỏ, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em gần Victory, Wisconsin ngày nay.
Ngày 24/10/1840, bên bờ sông Colorado, lực lượng vũ trang dưới quyền Đại tá Moore đã tàn sát 140 người Comanche, gồm cả phụ nữ, trẻ em và bắt giữ 35 người khác trong ngôi làng của họ
Vào năm 1840, một đội cảnh sát chỉ huy bởi đại tá người Mexico, Salvador Vallejo, đã tàn sát 150 người da đỏ thuộc bộ tộc Pomo và Wappo ở vùng Clear Lake, California.
Ngày 23/4/1852, 70 người Mỹ do cảnh sát trưởng William H. Dixon dẫn đầu đã giết chết hơn 150 người thuộc bộ tộc Wintu trong thung lũng Hayfork ở California.
Vào tháng 4/1859, để trả thù cho vụ giết 3 con bò và 1 con ngựa của một chú trại da trắng ở Round Valley, dân quân California đã tàn sát 240 người da đỏ trên sông Eel.
Ngày 29/1/1863, Đại tá Patrick Connor đã chỉ huy quân Mỹ thực hiện cuộc tàn sát 280 người Shoshone, gồm cả phụ nữ và trẻ em bên sông Bear, gần Preston, Idaho.
Năm 1864, dân quân California đã tàn sát 300 người da đỏ thuộc bộ lạc Yana khi họ tập trung ở Oak Run để cử hành một buổi lễ thiêng liêng.
Ngày 29/11/1864, dân quân Colorado đã tấn công một ngôi làng người Cheyenne ở Sand Creek, giết chết ít nhất 160 người, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em.
Ngày 27/11/1868, đoàn kỵ binh số 7 do Trung tá G. A. Custer chỉ huy đã tập kích một ngôi làng Cheyenne, giết chết 140 nam giới cùng khoảng 75 phụ nữ và trẻ em da đỏ.
Ngày 30/4/1871, một đội quân do William Oury, cựu Thị trưởng thành phố Tucson đã tấn công người Apache tại trại Grant, Arizona, giết chết 144 người. 1 người lớn và 29 trẻ em sống sót sau đó bị bán làm nô lệ.
== Xem thêm ==
American Conquest
== Chú thích == |
nguyễn văn cừ.txt | Nguyễn Văn Cừ (9 tháng 7 năm 1912 - 28 tháng 8 năm 1941) là Tổng bí thư thứ tư của Đảng Cộng sản Đông Dương từ năm 1938 đến năm 1940. Ông còn là hậu duệ đời thứ 17 của Nguyễn Trãi.
== Tiểu sử ==
Ông sinh trong một gia đình Nho giáo, quê xã Phù Khê, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.
Năm 1927, ông tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội.
Tháng 6 năm 1929, ông được kết nạp vào chi bộ Đông Dương Cộng sản đảng đầu tiên ở Hà Nội. Năm 1930, được cử làm Bí thư đặc khu Hồng Gai – Uông Bí. Sau bị Pháp bắt, kết án khổ sai, đày đi Côn Đảo.
Năm 1936, ông được trả tự do, về hoạt động bí mật ở Hà Nội. Nguyên Văn Cừ đã tập trung vào công tác khôi phục cơ sở Đảng khôi phục và đẩy mạnh phong trào đấu tranh của nhân dân và đã thành công trong việc lập lại Xứ ủy Bắc kỳ và trở thành ủy viên Thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ (tháng 3 năm 1937). Tháng 9 năm 1937, được cử vào Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương ở hội nghị Hóc Môn (Gia Định). Năm 1938, ông được bầu làm Tổng Bí thư khi mới 26 tuổi.
Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 3 năm 1938, Nguyễn Văn Cừ đã cùng Trung ương Đảng xây dựng Nghị quyết "kiểm điểm các công tác, vạch ra nhiệm vụ của Đảng trong thời kỳ mới, xác định vấn đề lập Mặt trận dân chủ thống nhất là một nhiệm vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn hiện tại" và "chỉ rõ rằng cần đưa hết toàn lực của Đảng", "dùng hết phương pháp làm thế nào cho thực hiện được Mặt trận dân chủ, ấy là công cuộc của Đảng ta trong lúc này".
Xây dựng Mặt trận dân chủ Đông Dương, một hình thức mặt trận đoàn kết dân tộc thay thế cho Mặt trận thống nhất nhân dân phản đế Đông Dương trước đó, được đảng đánh giá là chủ trương đúng đắn và kịp thời của Đảng và Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ trước sự vận động nhanh chóng của tình hình mới trong nước và thế giới. Để thực hiện nhiệm vụ này, Nguyễn Văn Cừ và Đảng đã chủ trương phải tiến hành cuộc đấu tranh chống khuynh hướng "tả"- đưa ra những khẩu hiệu quá cao, và đề phòng khuynh hướng "hữu"- không chú trọng phong trào quần chúng công nông. Ngay sau Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương, ông đã xúc tiến ngay việc thành lập Mặt trận dân chủ Đông Dương. Đóng góp của Nguyễn Vãn Cừ vào nội dung Nghị quyết của Hội nghị Trung ương tháng 3 năm 1938 cũng như những vấn đề nêu ra trong tác phẩm Tự chỉ trích do ông viết hoàn toàn sát đúng với nội dung trong thư của Nguyễn Ái Quốc gửi cho Đảng vào cuối tháng 7 năm 1939. Cuốn Tự chỉ trích (Sau cuộc tổng tuyển cử Hội đồng quản hạt Nam Kỳ) có viết: "Mặt trận Dân chủ phải thực hiện trong quá trình cuộc tranh đấu. Mỗi cuộc mít tinh, biểu tình, bãi công đòi tự do dân chủ và cải thiện sinh hoạt là một yếu tố xây đắp Mặt trận Dân chủ [...] Chúng ta không bao giờ có thể đổ hết những nguyên nhân thất bại cho việc quân thù đàn áp và nhân dân chưa giác ngộ. Chúng ta phải biết nhìn nhận những khuyết điểm về chủ quan mà chính ta gây ra, chính ta phải chịu hoàn toàn trách nhiệm".
Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Tổng bí thư Nguyễn Văn Cừ, Nghị quyết Hội nghị của Ban Chấp hành trung ương (tháng 11 năm 1939) đã quyết định những vấn đề quan trọng trong chuyển hướng chiến lược cách mạng, mà nội dung trọng yếu là giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc – giai cấp, giai cấp-dân tộc, vấn đề xây dựng Đảng, Mặt trận và phương pháp cách mạng trong tình hình lịch sử mới.
Để tập trung lực lượng đánh đổ đế quốc, Đảng chủ trương tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất và đề ra khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và địa chủ phản bội quyền lợi dân tộc, chống tô cao, chống nặng lãi và tạm gác khẩu hiệu lập chính quyền xô viết công nông binh, thay bằng thành lập chính quyền cộng hòa dân chủ...Mặt trận dân chủ thích hợp với hoàn cảnh trước kia, ngày nay khòng còn thích hợp nữa, phải thành lập Mặt trận Nhân dân Phản đế Đông Dương.
Tháng 6 năm 1940, ông bị thực dân Pháp bắt tại Sài Gòn cùng với một số đảng viên khác. Nha cảnh sát Pháp tại Đông Dương đã có báo cáo "Ngày 3/9/1940 tòa tiểu hình Sài Gòn đã tiến hành khởi tố 4 vụ "hoạt động lật đổ", trong đó 3 vụ quan hệ đến chiến dịch trấn áp đã được tiến hành tại Sài Gòn vào tháng 2,3 vừa qua. Tòa đã công bố 4 vụ kết án từ 6 tháng đến 5 năm tù và 10 năm cấm cư trú. Trong đó những người bị kết án có những nhà cựu lãnh đạo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương: Lê Huy Doãn tức Lê Hồng Phong tức Létvinốp, Hà Huy Tập tức Sênikin và Nguyễn Văn Cừ tức cậu Lé. Những người này đã chịu những hình phạt nặng nhất". "Trong phiên tòa ngày 14/10/1940 tòa án binh thường trực tại Sài Gòn đã tuyên án từ 6 tháng đến 2 năm tù giam, 1500 phơ răng tiền nộp phạt, 4 năm cấm cư trú và 4 năm bị tước quyền công dân đến 5 năm tù giam, 1000 phơ răng tiền nộp phạt, 20 năm cấm cư trú, 20 năm tước quyền công dân với tội phiến loạn, can tội "xâm phạm nền an ninh quốc gia" vì đã tham dự truyền bá tài liệu cộng sản nhan đề "công tác binh vận trong quân đội" thu được trong cuộc khám xét ngày 17/1/1940 tại trụ sở Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, ngõ Nguyễn Tấn Nghiêm, Sài Gòn. Trong số những người này có Nguyễn Văn Cừ tức cậu Lé và Nguyễn Thị Minh Khai tức cô Duy đều là ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương".
Sau cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 1940, thực dân Pháp ghép ông vào tội đã thảo ra "Nghị quyết thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương", "chủ trương bạo động" và là "người có trách nhiệm tinh thần trong cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ" và kết án tử hình.
Ngày 28 tháng 8 năm 1941, bản án được thi hành cùng lúc với một số đảng viên cộng sản khác như Hà Huy Tập, Nguyễn Thị Minh Khai, Võ Văn Tần, Phan Đăng Lưu... tại trường bắn Hóc Môn.
== Tác phẩm ==
Các quyền tự do dân chủ với nhân dân Đông Dương, bút danh Trí Thành, Tan -Van -Hoa Tong-Tho, Sài Gòn, 1938
Tự chỉ trích, bút danh Trí Cường, Tập sách Dân chúng xuất bản, Sài Gòn tháng 7 năm 1939, sau in trong Văn kiện Đảng toàn tập
v.v
== Viết về Nguyễn Văn Cừ ==
Lê Duẩn: "Về tuổi đời anh Cừ kém chúng tôi và các anh Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập từ 5 đến 10 tuổi nhưng anh là một trí tuệ lỗi lạc của Đảng, rất sắc sảo và nhạy bén về chính trị lại có khả năng đoàn kết và thuyết phục anh em".
Võ Nguyên Giáp: "...Thật tự hào cho Đảng ta đã có một đồng chí Tổng Bí thư rất trẻ mà đã có tài năng lãnh đạo xuất sắc - đồng chí Nguyễn Văn Cừ".
Hoàng Quốc Việt: "Nhớ ngày nào còn về Tam Sơn gặp Nguyễn Văn Cừ, rồi ngày ở Côn Đảo, mắt le lé nhìn, miệng hơi nhô ra tranh luận,... một trí tuệ siêu việt của Đảng đã mất rồi".
== Tưởng nhớ ==
Tên của ông được đặt cho các đường phố ở các thành phố Hà Nội (nối cầu Chương Dương với Ngô Gia Tự), thành phố Hồ Chí Minh (từ ngã sáu Cộng Hòa nối Dương Bá Trạc), Đà Nẵng (từ đèo Hải Vân đến cầu Nam Ô), Đồng Hới (từ Cầu Vượt Thuận Lý tới Lê Lợi), Vũng Tàu (cắt Nguyễn An Ninh), Vinh, Cần Thơ, Hạ Long (từ Kênh Liêm đến Cầu Trắng - Vũ Văn Hiếu), Móng Cái (từ trường THPT Trần Phú đến phố Lý Công Uẩn), Tuy Hòa (nối đường Hùng Vương với đường Độc Lập), Rạch Giá, Phú Quốc, Bắc Ninh (khu vực xã Phù Khê),...
== Chú thích == |
chiến tranh anh-hà lan.txt | Chiến tranh Anh-Hà Lan (tiếng Anh: the Anglo-Dutch Wars, tiếng Hà Lan: Engels–Nederlandse Oorlogen hoặc Engelse Zeeoorlogen) là một loạt các cuộc chiến giữa Anh và Các tỉnh liên kết diễn ra trong hai thế kỷ 17 và 18 tranh giành quyền kiểm soát các con đường thương mại và hàng hải.
== Bối cảnh ==
Trong thời Trung cổ và thời Phục Hưng, cả Anh lẫn các tỉnh ở Vùng Đất Thấp (Flanders và Hà Lan) đều không phải là những cường quốc hàng hải so với Bồ Đào Nha, Castile, Aragon hay Venice. Trong Chiến tranh tôn giáo Pháp ở thế kỷ 16 giữa triều đại Habsburg Thiên Chúa giáo và những quốc gia Tin lành mới nổi lên, nước Anh, dưới sự lãnh đạo của nữ hoàng Elizabeth I, đã xây dựng một lực lượng hải quân hùng mạnh. Lực lượng này tiến hành các chiến dịch tấn công và cướp bóc chống lại Đế quốc Tây Ban Nha. Những cuộc tấn công này, được hoàng gia Anh tài trợ, lúc đầu mang lại rất nhiều chiến lợi phẩm, nhưng sau đó thất bại nặng nề khi vấp phải sự chống cự quyết liệt của hệ thống hải quân và tình báo quân sự Tây Ban Nha. Trong bối cảnh căng thẳng với Tây Ban Nha, Elizabeth I đã hỗ trợ cuộc Cách mạng Hà Lan bằng Hiệp ước Nonsuch 1585 với Các tỉnh liên kết. Hà Lan khi đó đấu tranh giành độc lập từ Tây Ban Nha và chiến đấu chống lại nhà Habsburg, một đồng minh thân cận của Tây Ban Nha.
Tuy nhiên, vào giai đoạn cuối thế kỷ 16, quan hệ Anh-Tây Ban Nha bắt đầu được cải thiện. Hòa bình tái lập năm 1605, kết thúc các hoạt động cướp bóc lẫn nhau trên biển (cuộc chiến năm 1625 chỉ là thay đổi ngắn trong chính sách). Hệ quả là hải quân Anh không còn được đầu tư nhiều như trước kia. Trong khi đó phía Hà Lan, vẫn tiếp tục cuộc chiến với nhà Habsburg và vẫn đầu tư cho hải quân để tiến hành các chiến dịch dài ngày trên biển. Năm 1628, đô đốc hải quân Hà Lan Piet Heyn tấn công và bắt được một đoàn tàu trở châu báu lớn của Tây Ban Nha, sự kiện đánh dấu giai đoạn hải quân Hà Lan qua mặt Bồ Đào Nha trở thành những thương gia trên biển số một của châu Âu, nối với châu Á và vùng Viễn Đông. Việc chiếm được các thương cảng của Bồ Đào Nha ở Đông Ấn giúp người Hà Lan kiểm soát tuyến đường hàng hải buôn gia vị đầy lợi lộc. Nhờ đó, các đội thương thuyền Hà Lan phát triển ngày càng mạnh mẽ, với quy mô đủ lớn để có thể đóng hàng loạt nhiều tàu với giá rẻ. Điều đó tất yếu dẫn đến đụng độ giữa các đội hàng hải Hà Lan với những thế lực cũ trên biển của châu Âu, cho nhiều vị trí chiến lược, đặc biệt là đường thương mại qua biển Baltic.
Từ tháng 1 năm 1631, Charles I của Anh xúc tiến một loạt thỏa thuận bí mật với Tây Ban Nha nhắm kiềm chế sức mạnh trên biển của Hà Lan. Ông cũng thực hiện một chương trình cải cách hải quân quy mô lớn với việc xây các chiến thuyền khổng lồ như HMS Sovereign of the Seas. Tuy nhiên, chính sách của Charles I không thật sự thành công. Do lo sợ làm tổn hại quan hệ tốt đẹp với vị thống đốc đầy quyền lực ở Hà Lan, Frederick Henry, Công vương của Orange, những hỗ trợ của Charles I với Tây Ban Nha chỉ giới hạn ở việc cho phép quân Habsburg sử dụng các tàu trung lập của Anh trên đường tới Dunkirk. Năm 1636 và 1637, Charles I thực thi những biện pháp không chính thức nhằm thu tiền đánh cá ở biển bắc với các tàu cá Hà Lan, nhưng sự can thiệp của hải quân Hà Lan sau đó đã khiến Anh phải chấm dứt kế hoạch này. Năm 1639, khi một hải đội vận tải lớn của Tây Ban Nha xin tị nạn ở các cảng vùng phía nam nước Anh, Charles I không dám bảo vệ đội thuyền khi quân Hà Lan tấn công. Trận Downs đã làm suy giảm nghiêm trọng sức mạnh hàng hải của Tây Ban Nha cũng như uy tín cá nhân của Charles I.
Cuộc nội chiến ở Anh, diễn ra sau đó không lâu, càng khiến hải quân Anh thêm suy yếu. Lực lượng hải quân bị chia rẽ giống như các thế lực chính trị trong nước. Quân Hà Lan, chiếm ưu thế cả trên biển và đất liền, giành quyền kiểm soát thậm chí cả các đường thương mại hàng hải giữa Anh với những thuộc địa Bắc Mỹ của Anh. Tuy nhiên, từ năm 1648 đến 1651, tình hình hoàn toàn đảo ngược. Năm 1648, Các tỉnh liên kết ký Hòa ước Münster với Tây Ban Nha. Hòa ước này gây ra mâu thuẫn giữa các thành bang lớn của Hà Lan cũng như vị thống đốc mới William II, Vương công của Orange, đẩy nước cộng hòa non trẻ đến bờ vực một cuộc nội chiến. Cái chết bất ngờ của William II vào năm 1650 khiến các căng thẳng chính trị càng gia tăng. Trong khi đó ở Anh, Oliver Cromwell đã thống nhất được đất nước và trong vài năm xây dựng một lực lượng hải quân hùng mạnh, tăng nhanh số tàu và cải thiện tổ chức cũng như kỷ luật. Lúc này, Anh đã sẵn sàng để thách thức quyền lực thương mại trên biển của Hà Lan.
Quan điểm chính trị ở Anh với Hà Lan cũng trở nên hung hăng hơn. Nhiều người Anh coi Hà Lan là kẻ vong ân bội nghĩa khi đổi lại những hỗ trợ trong cuộc chiến với người Tây Ban Nha, Hà Lan lại vươn lên trở thành một quốc gia hùng mạnh hơn đồng minh bảo hộ Anh. Họ chiếm quyền đánh bắt cá trích ngay sát bờ biển tây nam Anh, đẩy người Anh ra khỏi con đường hàng hải qua Đông Ấn, đánh thuế với các tàu Anh khi họ trên đường qua thuộc địa của chính mình. Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân trực tiếp khác: sự suy yếu của Tây Ban Nha sau cuộc Chiến tranh Ba Mươi Năm kết thúc năm 1648, tranh giành thuộc địa, quyền thương mại với bán đảo Iberia và sự ủng hộ của nhà Orange với những đối thủ chính trị lưu vong của Cromwell. Các thống đốc ở Hà Lan luôn ủng hộ phái hoàng gia Anh trong cuộc chiến với Cromwell và lên án gay gắt vụ hành quyết Charles I.
Đầu năm 1651, Cromwell tìm cách giảm bớt căng thẳng khi ông cử một phái đoàn đến The Hague, đề nghị Hà Lan gia nhập Khối Thịnh vượng chung và hỗ trợ Anh chinh phục các thuộc địa của Tây Ban Nha ở châu Mỹ. Tuy nhiên, cuộc thương thảo đã kết thúc trong thất vọng khi phía Hà Lan từ chối yêu cầu hoàn toàn vô lý đó. Đi xa hơn, thống đốc Hà Lan, có tư tưởng thân gia đình hoàng tộc Anh Stuart, còn ra lệnh tấn công và cướp bóc đoàn đại biểu của Cromwell. Sau khi nhận được báo cáo của đoàn sứ thần quay về, Nghị viện Anh, rất tức giận trước thái độ của người Hà Lan, quyết định theo đuổi chính sách đối đầu.
== Cuộc chiến thứ nhất (1652-1654) ==
Để bảo vệ vị trí của mình ở Bắc Mỹ, tháng 10 năm 1651, Nghị viện Anh thông qua đạo luật hàng hải quy định tất cả hàng hóa nhập khẩu vào Anh phải do tàu Anh hoặc tàu từ nước xuất khẩu chuyên chở. Đạo luật này đã loại trừ các tàu buôn trung gian, hầu hết là của Hà Lan, ra khỏi các hoạt động thương mại hàng hải với Anh. Một cách trực tiếp, đạo luật này không ảnh hưởng mấy đến quyền lợi của hàng hải Hà Lan. Tuy nhiên, một cách gián tiếp, giờ đây các tàu cướp biển hoạt động ở những vùng biển Anh có thể tấn công cướp bóc bất cứ tàu Hà Lan nào họ gặp mà không sợ làm phật lòng Anh. Hà Lan đối phó bằng cách vũ trang mạnh cho các tàu buôn. Căng thẳng gia tăng khi phía Anh, muốn khôi phục vị trí bá chủ trên biển trước kia, yêu cầu các tàu nước ngoài phải hạ thấp cờ để chào tàu của họ, ngay cả ở những cảng không phải ở Anh. Ngày 29 tháng 5 năm 1652, Chuẩn đô đốc Maarten Tromp của Hà Lan từ chối thực hiện nghi thức đó khi gặp một hải đội Anh. Va chạm vũ trang liền xảy ra giữa hai phía, trận Goodwin Sands. Sau sự kiện đó, Anh tuyên chiến với Hà Lan ngày 10 tháng 7 năm 1652.
== Tham khảo == |
ba lan.txt | Ba Lan (tiếng Ba Lan: Polska), tên chính thức là Cộng hòa Ba Lan (tiếng Ba Lan: Rzeczpospolita Polska), là một quốc gia ở Trung Âu, tiếp giáp với các nước Đức, Slovakia, Cộng hòa Séc, Ukraina, Belarus, Litva, Nga và biển Baltic; diện tích 312.685 km², dân số 38,56 triệu gần như thuần chủng người Ba Lan, đa phần (95%) theo đạo Công giáo Rôma được truyền bá vào đây khi nhà nước Ba Lan đầu tiên hình thành vào thế kỷ thứ 10. Lãnh thổ Ba Lan trong lịch sử có nhiều thay đổi, biên giới hiện nay có từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai theo Thoả thuận Yalta.
Quốc gia Ba Lan được thành lập từ hơn 1.000 năm trước và đạt tới thời kỳ hoàng kim ở gần cuối thế kỷ 16 dưới thời Triều đại Jagiellonia, khi Ba Lan là một trong những nước lớn nhất, giàu nhất và mạnh nhất Châu Âu. Năm 1791, hạ viện của Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litva chấp nhận Hiến pháp mùng 3 tháng 5, hiến pháp hiện đại đầu tiên của châu Âu và thứ hai trên thế giới sau Hiến pháp Hoa Kỳ. Ngay sau đó, nước này dừng tồn tại sau khi bị phân chia bởi các nước láng giềng là Nga, Áo và Phổ. Ba Lan giành lại độc lập năm 1918 sau Chiến tranh thế giới thứ nhất với tư cách Nền Cộng hoà Ba Lan thứ hai. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai nước này trở thành một quốc gia vệ tinh đi theo chủ nghĩa cộng sản của Liên bang xô viết với cái tên Cộng hòa Nhân dân Ba Lan. Năm 1989 cuộc bầu cử bán tự do đầu tiên tại Ba Lan thời hậu chiến đã chấm dứt cuộc đấu tranh giành tự do của Công đoàn Đoàn Kết (Solidarność) khi phong trào này đánh bại những người cầm quyền cộng sản. Nền Cộng hoà Ba Lan thứ ba hiện tại đã được thành lập vài năm sau khi một hiến pháp mới ra đời năm 1997. Năm 1999 gia nhập NATO, và năm 2004 tham gia vào Liên minh châu Âu.
== Nguồn gốc quốc hiệu ==
Tên gọi của Ba Lan trong tiếng Việt bắt nguồn từ tên gọi của Ba Lan trong tiếng Trung. Trong tiếng Trung Ba Lan được gọi là “波蘭”. “波蘭” có âm Hán Việt là “Ba Lan”.
"Cộng hòa Ba Lan" trong tiếng Ba Lan là Rzeczpospolita Polska. Từ rzeczpospolita là cái tên lịch sử từng được sử dụng liên tục từ thế kỷ 16 thời còn tồn tại Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litva, một chế độ quân chủ do bầu cử. Thuật ngữ rzeczpospolita có thể mang ý nghĩa "thịnh vượng chung" hay "cộng hoà" (có hai cách dịch sang tiếng Ba Lan cho thuật ngữ republic của tiếng Anh: republika và rzeczpospolita; nghĩa thứ hai hiện chỉ được sử dụng riêng cho Ba Lan, ví dụ Republika Czeska - Cộng hoà Séc, Republika Francuska - Cộng hoà Pháp, vân vân). Trong thời dưới quyền cộng sản (1952-1989) tên chính thức của nước này là Cộng hòa Nhân dân Ba Lan (Polska Rzeczpospolita Ludowa), cái tên này là sự ngắt đoạn duy nhất trong lịch sử cách gọi tên chính thức.
== Lịch sử ==
Ba Lan bắt đầu trở thành một thực thể và lãnh thổ được ghi nhận từ khoảng giữa thế kỷ thứ 10 dưới thời triều đại Piast. Nhà vua Ba Lan đầu tiên được ghi chép trong lịch sử, Mieszko I, được rửa tội năm 966, chấp nhận Công giáo làm tôn giáo chính thức mới của quốc gia, và đa phần dân cư đều cải theo đạo này trong thế kỷ tiếp sau. Ở thế kỷ 12, Ba Lan bị phân chia thành nhiều quốc gia nhỏ hơn, các quốc gia này sau đó đã bị các đội quân Mông Cổ tàn phá trong những năm 1241, 1259 và 1287. Năm 1320 Władysław I trở thành vua nước Ba Lan mới tái thống nhất. Con trai ông, Kazimierz III, chấn chỉnh lại nền kinh tế Ba Lan, xây dựng các lâu đài mới và chiến thắng trong cuộc chiến với Lãnh địa công tước Ruthenia (Lwów trở thành một thành phố Ba Lan).
Tử thần Đen (nạn dịch hạch) ảnh hưởng tới hầu như mọi vùng châu Âu trong giai đoạn 1347-1351 không lan tới Ba Lan cho tới tận năm 1389.
Thời triều đại Jagiellon, lập liên minh với nước láng giềng Litva. Một thời kỳ hoàng kim diễn ra trong thế kỷ 16 sau khi Liên minh Lublin, lập ra Khối thịnh vượng chung Ba Lan-Litva. Các công dân Ba Lan kiêu hãnh về những quyền tự do thời trước (Złota Wolność) của mình và hệ thống nghị viện Sejm, với quyền ưu tiên lớn nhất dành cho giới quý tộc szlachta. Từ thời ấy, người Ba Lan đã coi tự do là giá trị quan trọng nhất của họ; người Ba Lan thường tự gọi mình là "quốc gia của những người tự do". Về lãnh thổ, Ba Lan bành trướng ra xung quanh, chiếm nhiều vùng đất của Đế chế Nga (những vùng mà nay là Ucraina và Belarus) và thậm chí còn từng bao vây thủ đô Moskva của Nga vào năm 1612.
Giữa thế kỷ 17, Thụy Điển xâm lược Ba Lan trong thời kỳ hỗn loạn của quốc gia này được gọi là "Đại hồng thuỷ" (potop). Nhiều cuộc chiến chống lại Đế chế Ottoman, Nga, Cossacks, Transilvania và Brandenburg-Phổ cuối cùng kết thúc vào cuối năm 1699. Trong 80 năm tiếp theo, sự suy tàn của chính quyền trung ương và sự đình trệ của các định chế khiến quốc gia trở nên suy yếu, dẫn tới khuynh hướng vô chính phủ và tăng tình trạng phụ thuộc vào Nga. Cuối cùng điều này dẫn tới Liberum Veto (phủ quyết tự do), cho phép bất kỳ một thành viên nghị viện nào cũng có thể làm đình trệ hoạt động của Sejm trong kỳ họp, làm tê liệt hoàn toàn bất kỳ nỗ lực cải cách nào. Các Sa hoàng Nga lợi dụng tình trạng chính trị hỗn loạn này cung cấp tiền cho những kẻ phản quốc trong nghị viện để chúng ngăn cản mọi cải cách và nỗ lực thành lập hiến pháp mới cần thiết cho Ba Lan.Bản mẫu:Polish statehood
Thời đại khai sáng ở Ba Lan đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển phong trào quốc gia tái thiết đất nước, mang lại hiến pháp văn bản hiện đại đầu tiên của châu Âu, Hiến pháp mùng 3 tháng 5 năm 1791. Quá trình cải cách bị ngừng trệ với ba lần phân chia Ba Lan giữa Nga, Phổ và Áo trong các năm 1772, 1793 và 1795, khiến nước này hoàn toàn tan rã. Những người Ba Lan cảm thấy tự do của họ đang mất đi và đã nhiều lần đứng lên chống lại những kẻ xâm lược (xem Danh sách các cuộc khởi nghĩa Ba Lan).
Napoléon Bonaparte tái lập quốc gia Ba Lan dưới tên Lãnh địa Warszawa,, nhưng sau các cuộc chiến tranh Napoléon, Ba Lan một lần nữa lại bị phân chia bởi Đồng Minh tại Hội nghị Wien. Phần phía đông do các Sa hoàng Nga cai quản với tư cách một Vương quốc Hội nghị, và có một hiến pháp tự do. Tuy nhiên, các Sa hoàng nhanh chóng thu hẹp các quyền tự do của người Ba Lan và cuối cùng đã sáp nhập nước này trên thực tế (de facto). Cuối thế kỷ 19, vùng Galicia thuộc quyền quản lý của Áo đã trở thành ốc đảo tự do của Ba Lan.
Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất tất cả các nước Đồng Minh đồng ý việc phục hồi quốc gia Ba Lan mà Tổng thống Hoa Kỳ Woodrow Wilson đã tuyên bố tại Điểm 13 trong văn bản Mười bốn Điểm của ông. Một thời gian ngắn sau khi Đức đầu hàng vào tháng 11 năm 1918, Ba Lan tái giành độc lập trở thành nền Cộng hòa Ba Lan thứ hai (II Rzeczpospolita Polska). Nước này tái khẳng định sự độc lập của mình sau một loạt các cuộc xung đột quân sự, nổi tiếng nhất là cuộc Chiến tranh Ba Lan-Xô viết 1919-1921, kết thúc với việc Ba Lan chiếm đóng vùng Tây Ucraina và Tây Belarus.
Cuộc Đảo chính tháng 5 năm 1926 của Józef Piłsudski khiến quyền kiểm soát nền Cộng hòa Ba Lan thứ hai rơi vào tay phong trào Sanacja. Thời kỳ này kéo dài tới khi Chiến tranh thế giới thứ hai nổ ra ngày 1 tháng 9 năm 1939, khi nước Đức Phát xít và Liên bang Xô viết tấn công Ba Lan (17 tháng 9). Warszawa bị chiếm ngày 28 tháng 9 năm 1939 và Ba Lan được chia thành hai vùng, vùng phía Tây thuộc quyền kiểm soát của Đức Phát xít, còn vùng phía Đông (những lãnh thổ mà Ba Lan chiếm từ Liên Xô vào năm 1921) được trao trả cho Liên Xô như được đồng thuận trong Hiệp ước Ribbentrop-Molotov. Phần phía đông thuộc Phát xít Đức được gộp vào vùng Chính phủ Chung, và phần phía tây (đa số từng thuộc Đức trước Chiến tranh thế giới thứ nhất) được sáp nhập vào Nhà nước Đức.
Trong số tất cả các quốc gia liên quạn tới cuộc chiến, Ba Lan có phần trăm thiệt hại nhân mạng cao nhất: hơn 6 triệu người chết, một nửa trong số đó là người Ba Lan Do Thái. Ba Lan cũng là nước có số quân tham chiến đứng thứ tư của Đồng Minh, sau Hoa Kỳ, và Anh Quốc và Liên Xô, để đánh bại hoàn toàn Phát xít Đức. Khi kết thúc chiến tranh, các biên giới của Ba Lan được mở rộng thêm về phía tây, biên giới phía tây được rời đến ranh giới Oder-Neisse, trong lúc ấy biên giới phía đông lùi về ranh giới Curzon, giống như đường biên giới năm 1919 với Liên Xô. Nước Ba Lan mới xuất hiện nhỏ hơn trước 20% với diện tích 77.500 km² (29.900 dặm vuông). Việc sửa đổi biên giới đã buộc hàng triệu người Ba Lan, Đức, Ukraina và Do Thái phải rời bỏ nhà cửa.
Hậu quả của các sự kiện trên là Ba Lan, lần đầu tiên trong lịch sử đa văn hóa của họ, trở thành một đất nước thống nhất chủng tộc. Một cộng đồng Ba Lan thiểu số vẫn đang sống ở các nước lân cận như Ukraina, Belarus và Latvi, cũng như tại các nước khác (xem bài viết người Ba Lan để biết con số dân). Số lượng người Ba Lan tại nước ngoài đông đảo nhất là ở Hoa Kỳ.
Liên bang Xô viết thành lập ra một chính phủ cộng sản chủ nghĩa mới tại Ba Lan, tương tự với đa phần còn lại của Khối Đông Âu. Sự liên minh quân sự bên trong khối Hiệp ước Warszawa) trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh cũng là một phần của sự thay đổi này. Năm 1948 một bước chuyển sang chủ nghĩa Stalin khiến nước này bắt đầu rơi vào thời kỳ cầm quyền chuyên chế. Nước Cộng hòa Nhân dân Ba Lan (Polska Rzeczpospolita Ludowa) được chính thức tuyên bố thành lập năm 1952. Năm 1956 chính quyền bắt đầu nới lỏng kiểm soát, thả tự do một số tù nhân và cho thêm dân chúng một số quyền tự do. Sự trấn áp những nhân vật đối lập vẫn diễn ra. Tình trạng hỗn loạn lao động năm 1980 dẫn tới việc thành lập "Công đoàn Đoàn Kết" ("Solidarność") đối lập, và tổ chức này dần trở thành một lực lượng đối lập chính trị. Công đoàn đoàn kết làm xói mòn ảnh hưởng thống trị của Đảng Công nhân Thống nhất Ba Lan tức Đảng cộng sản Ba Lan; tới năm 1989 họ đã giành được thắng lợi vang dội trong cuộc bầu cử nghị viện, và Lech Wałęsa, một ứng cử viên của Công đoàn Đoàn kết đã thắng cử tổng thống năm 1990. Phong trào Công đoàn Đoàn kết đã góp phần to lớn vào sự sụp đổ nhanh chóng sau đó của các chính phủ chủ nghĩa cộng sản trên khắp Đông Âu.
Một chương trình liệu pháp sốc đầu thập niên 1990 đã cho phép nước này chuyển đổi nền kinh tế trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất vùng Trung Âu. Dù lâm vào tình trạng sụt giảm tạm thời các tiêu chuẩn kinh tế và xã hội, nhưng nước này đã có được nhiều cải thiện về tự do ngôn luận, điều hành đất nước theo quy chế nghị viện. Ba Lan là nước hậu cộng sản đầu tiên khôi phục sau khủng hoảng, đạt tới mức GDP bằng với mức trước năm 1989. Năm 1991 Ba Lan trở thành thành viên Nhóm Visegrad và gia nhập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) năm 1999 cùng với Cộng hòa Séc và Hungary. Các cử tri Ba Lan đã bỏ phiếu đồng ý gia nhập Liên minh châu Âu trong một cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức vào tháng 6 năm 2003, và nước này đã chính thức trở thành thành viên ngày 1 tháng 5 năm 2004.
== Chính trị ==
=== Giai đoạn hậu Cộng sản ===
Sau khi chuyển từ chế độ Cộng sản độc đảng sang thể chế đa nguyên chính trị, các đảng phái mọc lên như nấm vào những năm đầu thập niên 1990. Sau cuộc bầu cử tự do đầu tiên vào năm 1991, số ghế tại quốc hội (Sejm) được chia ra cho cả hơn chục đảng phái khác nhau (Trong số đó có những đảng đặc biệt như đảng của những người yêu bia (Polska Partia Przyjaciół Piwa), được lãnh đạo bởi diễn viên hề nổi tiếng, Janusz Rewiński).
Sự tồn tại của quá nhiều đảng phái được nhiều người cho là làm cho quốc hội hoạt động không hiệu quả và làm cản trở sự thành lập một chính phủ bền vững. Vì thế luật bầu cử đã được sửa đổi, mỗi đảng cần tối thiểu 5% số phiếu để có thể được ghế trong quốc hội (ngoại trừ các đảng của dân tộc thiểu số), liên minh các đảng cần phải đạt được 8% bắt đầu từ cuộc bầu cử 1993. Từ năm 1990 phe tả được dẫn đầu bởi đảng cộng sản trước đây (đổi tên là đảng Dân chủ Xã hội). Phe hữu phần lớn là các người hoạt động và ủng hộ Công đoàn Ba Lan (Solidarity), nhưng từ ban đầu đã có nhiều chia rẽ, không đoàn kết như phe tả, mà cứ hợp lại,rồi chia ra, cứ đổi tên luôn. Tuy nhiên các đảng phái phe hữu đã giành được chính quyền thành công từ năm 1997-2001 (đã nắm quyền từ 1989–93).
Từ cuộc bầu cử quốc hội 2005, các đảng phe hữu đã giành được vị thế mạnh nhất cho tới bây giờ. Có 2 sự phát triển quan trọng về chính trị trong nước. Đầu tiên đảng SLD (trước đây là đảng Cộng sản) không còn là một trong 2 đảng mạnh nhất. Thứ hai, cuộc đấu tranh chính yếu về chính trị không còn sảy ra giữa cựu Công đoàn viên phía hữu và cựu đảng viên Cộng sản phe tả nữa. 2 nhóm mới mà tranh giành ảnh hưởng chính trị là đảng Luật pháp và Công lý (Law and Justice) (có khuynh hướng Dân tộc và Xã hội Bảo thủ) và Diễn đàn Dân sự (Civic Platform) (có khuynh hướng bảo thủ cấp tiến). Dân chúng nói chung có vẻ không ưa các đảng phái và các chính trị gia. Cho nên các đảng phái thường không dùng chữ đảng nữa mà hay gọi mình là "Liên đoàn", "Diễn đàn", "Liên minh".
Hiến pháp hiện tại của nước này được công bố năm 1997. Cơ cấu chính phủ tập trung quanh Hội đồng Bộ trưởng, do thủ tướng lãnh đạo. Thủ tướng hiện nay của Ba Lan là Donald Tusk. Tổng thống chỉ định nội các theo đề xuất của thủ tướng, thường thủ tướng là người đứng đầu liên minh đa số trong hạ viện (Sejm). Tổng thống được bầu theo hình thức phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ năm năm, giữ vai trò lãnh đạo nhà nước. Tổng thống hiện tại là Bronisław Komorowski.
Các cử tri Ba Lan bầu ra nghị viện lưỡng viện gồm 460 thành viên hạ viện Sejm và 100 thành viên thượng viện. Sejm được bầu theo hệ thống bầu cử đại diện tỷ lệ sử dụng phương pháp d'Hondt tương tự như cách thức được áp dụng trong các hệ thống chính trị nghị viện. Thượng viện, được bầu theo cách thức bầu khối đa số, nhiều ứng cử viên có tỷ lệ ủng hộ cao nhất được bầu ra từ mỗi khu vực bầu cử. Ngoại trừ các đảng dân tộc thiểu số, chỉ các ứng cử viên của các đảng chính trị nhận được ít nhất 5% tổng số phiếu bầu toàn quốc mới được vào Sejm. Khi cùng họp, các thành viên của Sejm và Thượng viện tạo thành Quốc hội (Zgromadzenie Narodowe). Quốc hội chỉ họp trong ba trường hợp: chấp nhận lời tuyên thệ nhậm chức của Tổng thống mới, buộc tội Tổng thống nền Cộng hòa trước Tòa án Quốc gia và tuyên bố Tổng thống không đủ năng lực thi hành những trách nhiệm của mình vì lý do sức khoẻ. Từ trước tới nay, Quốc hội chưa từng họp để thực hiện hai quyền sau trong ba quyền trên.
Nhánh tư pháp đóng vai trò khiêm tốn trong việc đưa ra quyết định. Các thể chế chủ yếu của nó gồm Tòa án Tối cao (Sąd Najwyższy), Tòa án Hành chính Tối cao (Naczelny Sąd Administracyjny) - các thẩm phán được Tổng thống chỉ định theo giới thiệu của Hội đồng Quốc gia về Tư pháp trong một thời hạn xác định, Tòa án Hiến pháp (Trybunał Konstytucyjny) - các thẩm phán do Sejm lựa chọn với nhiệm kỳ chín năm và Tòa án Quốc gia (Trybunał Stanu) - các thẩm phán do Sejm lựa chọn với nhiệm kỳ tương đương nhiệm kỳ của Sejm, ngoại trừ chức danh chủ tịch do Chủ tịch thứ nhất Tòa án Tối cao nắm giữ. Sejm (khi được Thượng viện đồng thuận) chỉ định Ombudsman hay Cao ủy Bảo vệ Nhân quyền (Rzecznik Praw Obywatelskich) với nhiệm kỳ chín năm. Ombudsman có trách nhiệm giám sát và thực thi các quyền hạn và các quyền tự do của con người cũng như của công dân, luật pháp và các nguyên tắc của đời sống cộng đồng và sự công bằng xã hội.
== Địa lý ==
Địa lý Ba Lan gồm hầu như gồm toàn bộ những vùng đất thấp của Đồng bằng Bắc Âu, với độ cao trung bình 173 mét (568 ft), dù Sudetes (gồm Karkonosze) và dãy Núi Carpathia (gồm dãy núi Tatra, nơi có điểm cao nhất Ba Lan, Rysy, 2.499 m hay 8.199 ft) hình thành nên biên giới phía nam. Nhiều con sông lớn chảy ngang các đồng bằng; ví dụ, Wisła, Odra, Warta (Phía Tây) Bug. Ba Lan có hơn 9.300 hồ, chủ yếu ở phía bắc đất nước. Mazuria là vùng hồ lớn nhất và được nhiều du khách tham quan nhất tại Ba Lan. Những tàn tích của các khu rừng cổ vẫn còn sót lại: xem Danh sách những khu rừng tại Ba Lan, Rừng Bialowieza. Ba Lan có khí hậu ôn hoà, thời tiết lạnh, nhiều mây, hơi khắc nghiệt vào mùa đông và mùa hè dễ chịu, thường có mưa rào và mưa sét.
Xem chi tiết tại: Poland Topo Map on-line
=== Các thành phố chính ===
== Phân cấp hành chính ==
Ba Lan được chia thành mười sáu tỉnh (województwa, số ít - województwo):
Dưới tỉnh là:
powiat (huyện)
gmina (xã)
== Kinh tế ==
Từ khi quay trở lại chế độ dân chủ, Ba Lan đã kiên định theo đuổi chính sách tự do hoá kinh tế và hiện đã trở thành một trong những ví dụ thành công nhất trong việc chuyển tiếp từ một nền kinh tế nửa tư bản nửa nhà nước sang một nền kinh tế thị trường chủ yếu sở hữu tư nhân.
Việc tư nhân hoá các công ty nhà nước vừa và nhỏ và luật tự do thành lập các công ty mới đã cho phép lĩnh vực tư nhân có bước phát triển mạnh mẽ, cùng với đó là sự xuất hiện của những tổ chức vì quyền lợi người tiêu dùng. Việc tái cơ cấu và tư nhân hóa "các lĩnh vực nhạy cảm" (như, than, thép, đường sắt, và năng lượng) đã bắt đầu. Vụ tư nhân hóa lớn nhất là việc bán Telekomunikacja Polska, công ty viễn thông quốc gia cho France Telecom (2000) và phát hành 30% cổ phần của ngân hàng lớn nhất Ba Lan, PKO BP, ra thị trường chứng khoán nước này (2004).
Ba Lan có khu vực nông nghiệp rộng lớn với những trang trại tư nhân với tiềm năng để trở thành nước xuất khẩu lương thực hàng đầu trong Liên minh châu Âu mà họ đang là thành viên. Tuy nhiên, những thách thức vẫn tồn tại, đặc biệt là sự phụ thuộc vào đầu tư. Những cải cách cơ cấu trong lĩnh vực chăm sóc sức khoẻ, giáo dục, hệ thống trợ cấp, và hành chính nhà nước đã tạo ra những áp lực thuế lớn hơn dự kiến. Warszawa dẫn đầu Trung Âu trong đầu tư nước ngoài và cần tiếp tục duy trì nguồn đầu tư đó. Tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) đã đạt mức mạnh mẽ và vững chắc từ năm 1993 tới năm 2000 với chỉ một giai đoạn giảm sút ngắn năm 2001 và 2002. Viễn cảnh hội nhập sâu hơn nữa vào Liên minh châu Âu buộc nền kinh tế phải đi đúng hướng, với mức tăng trưởng hàng năm là 3.7% năm 2003, tăng so với mức 1.4% năm 2002. Năm 2004 tăng trưởng GDP lên đến 5.4%, và năm 2005 là 3.3%. Dự báo GDP năm 2006 là 5.0%.
Tỷ lệ tăng trưởng hàng năm theo Quý:
2003: Q1 - 2.2% | Q2 - 3.8% | Q3 - 4.7% | Q4 - 4.7%
2004: Q1 - 7.0% | Q2 - 6.1% | Q3 - 4.8% | Q4 - 4.9%
2005: Q1 - 2.1% | Q2 - 2.8% | Q3 - 3.7% | Q4 - 4.3%
2006: Q1 - 5.2% | Q2 - 5.5% |
Dù nền kinh tế Ba Lan hiện đang ở giai đoạn phát triển, vẫn còn nhiều thách thức trước mắt. Nhiệm vụ quan trọng nhất hiện nay là chuẩn bị cho nền kinh tế (thông qua việc tiếp tục cải cách cơ cấu một cách sâu rộng) nhằm cho phép nước này đạt các tiêu chí kinh tế chặt chẽ để gia nhập Đồng tiền chung châu Âu. Hiện có nhiều dự đoán về thời điểm Ba Lan có thể gia nhập Eurozone, dù những ước tính thường thấy nhất là trong khoảng 2009 và 2013 . Hiện tại, Ba Lan đang chuẩn bị đưa đồng Euro vào sử dụng (dù họ vẫn chưa gia nhập ERM), và đồng Złoty cuối cùng sẽ bị loại bỏ khỏi nền kinh tế Ba Lan.
Từ khi gia nhập Liên minh châu Âu, nhiều người Ba Lan trẻ tuổi đã rời đất nước sang làm việc tại các nước khác trong Liên minh châu Âu bởi tỷ lệ thất nghiệp cao trong nước, cao nhất EU (15.7% tháng 7 năm 2006).
Các sản phẩm của Ba Lan gồm quần áo, vật dụng điện tử, ô tô (gồm cả loại xe Leopard hạng sang), xe buýt (Autosan, Jelcz SA, Solaris, Solbus), máy bay trực thăng (PZL Świdnik), phương tiện vận tải, đầu máy xe lửa, máy bay (PZL Mielec), tàu thuỷ, cơ khí quân sự (gồm xe tăng, các hệ thống SPAAG), dược phẩm (Polpharma, Polfa, vân vân), thực phẩm, các sản phẩm hóa chất, công nghệ micro chip silicon (Sonion), vân vân.
Tính đến năm 2016, GDP của Ba Lan đạt 467.350 USD, đứng thứ 25 thế giới và đứng thứ 12 châu Âu.
== Khoa học, Kỹ thuật và Giáo dục ==
Giáo dục trong xã hội Ba Lan đã được các vị vua cai trị quan tâm tới ngay từ thế kỷ 12. Cuốn danh mục thư viện Thánh đường Giáo hội Kraków có niên đại từ năm 1110 cho thấy ngay từ đầu thế kỷ 12 tầng lớp trí thức Ba Lan đã tiếp cận với văn hóa châu Âu. Năm 1364, tại Kraków, Đại học Jagiellonian, do Vua Casimir III sáng lập đã trở thành một trong những trường đại học lớn và sớm nhất châu Âu. Năm 1773 Vua Stanisław August Poniatowski đã thành lập Hội đồng Giáo dục Quốc gia (Komisja Edukacji Narodowej), bộ giáo dục quốc gia đầu tiên trên thế giới. Ngày nay, Ba Lan có hơn một trăm viện giáo dục sau Trung học; các trường đại học truyền thống có tại các thành phố Gdańsk, Bydgoszcz, Katowice, Kraków, Lublin, Łódź,Olsztyn, Poznań, Rzeszów, Toruń, Warszawa và Wrocław cũng như các trường đại học kỹ thuật, y, kinh tế có mặt ở khắp nơi trên đất nước với khoảng 61.000 nhân viên. Có khoảng 300 viện nghiên cứu và phát triển với 10.000 nhà nghiên cứu. Tổng số có khoảng 91.000 nhà khoa học tại nước Ba Lan hiện nay.
Theo một bản báo cáo gần đây của Cao ủy châu Âu, Ba Lan xếp hạng thứ 21 trong danh sách các quốc gia Liên minh châu Âu về đổi mới. Các điều kiện sáng tạo tri thức đang giảm sút, đặc biệt bởi sự sụt giảm trong nghiên cứu và phát triển kinh doanh, từ 0.28% GDP năm 1998 xuống còn 0.16% năm 2003. Chi phí Nghiên cứu và phát triển công cộng chiếm 0.43% GDP năm 2003. Số lượng trường đại học nhận được tiền tài trợ Nghiên cứu và phát triển từ các doanh nghiệp cũng sút giảm. Vì mức độ chi tiêu Nghiên cứu và phát triển thấp, quá trình chuyển hóa sang nền kinh tế tri thức của Ba Lan rất chậm chạp.
=== Viễn thông và Công nghệ thông tin ===
Lĩnh vực viễn thông chiếm 4.4% GDP (cuối năm 2000), so với 2.5% năm 1996. Tuy nhiên, dù có chi phí đầu tư cơ sở hạ tầng viễn thông lớn (mức độ sử dụng điện thoại chỉ tăng từ 78 trên 1000 dân năm 1989 lên 282 năm 2000)
mức độ sử dụng điện thoại di động 660 người trên 1000 dân (2005)
Điện thoại - di động: 25.3 triệu (Raport Telecom Team 2005)
Điện thoại - cố định: 12.5 triệu (Raport Telecom Team 2005)
=== Vận tải ===
Đường sắt: Đường sắt Ba Lan là một trong những hệ thống đường sắt lớn nhất Liên minh châu Âu với tổng cộng 23.420 kilômét (14.552 dặm) (1998). Lĩnh vực này đã được cho phép cạnh tranh tự do theo yêu cầu của EU. Tuy nhiên, những sự trì hoãn trong việc cải tổ công ty đường sắt, PKP, của các chính phủ trước đây cộng với những khó khăn lớn về tài chính khiến ngành này đang rơi vào khủng hoảng. Việc cải tạo hệ thống, chuẩn hóa tiêu chuẩn với mạng lưới đường sắt phương Tây đang được tiến hành chậm chạp, và nhiều dự án sửa chữa còn đang dang dở khiến cho tốc độ chạy tàu trên nhiều tuyến đường bị hạn chế đáng kể. Những vụ đóng tuyến tương tự những gì đã từng xảy ra tại Vương quốc Anh trong vụ 'Beeching Axe' đã tăng lên nhiều kể từ năm 2000.
Đường bộ: Theo tiêu chuẩn Tây Âu, Ba Lan có cơ sở hạ tầng mạng đường cao tốc khá yếu kém. Chính phủ đã tiến hành chương trình nằm cải thiện tiêu chuẩn một số tuyến đường cao tốc chính của quốc gia tới năm 2013. Tổng chiều dài đường cao tốc là 364.657 kilômét (226.587 dặm). Tổng cộng có 9.283.000 ô tô khách được đăng ký và 1.762.000 xe tải, xe buýt (2.000).
Hàng không: Mười sân bay lớn nhất Ban Lan (Theo thứ tự lượng khách giảm dần: Warszawa, Kraków, Katowice, Gdańsk, Wrocław, Poznań, Szczecin, Rzeszów, Bydgoszcz và Łódź), với tổng cộng 123 sân bay và phi trường cũng như ba sân bay trực thăng. Số lượng hành khách đi máy bay tại Ba Lan đã tăng liên tục từ năm 1991.
Đường thuỷ: Tổng chiều dài các con sông và kênh có thể vận chuyển đường thủy là 3.812 kilômét (2.369 dặm). Merchant marine gồm 114 tàu, và 100 tàu khác đăng ký bên ngoài quốc gia. Các cảng chính gồm: Cảng Gdańsk, Cảng Gdynia, Cảng Szczecin, Cảng Świnoujście, Cảng Ustka, Cảng Kolobrzeg, Gliwice, Warszawa, Wrocław.
== Nhân khẩu ==
Trước kia Ba Lan là đất nước của nhiều ngôn ngữ, văn hóa và tôn giáo. Tuy nhiên, sau Chiến tranh thế giới thứ hai và cuộc di chuyển về phía tây tới vùng nằm giữa đường Curzon và đường Oder-Neisse khiến Ba Lan trở thành một nước thuần nhất dân tộc. Ngày nay, 36.983.700 triệu người, hay 96,74% tổng dân số tự coi mình là người Ba Lan (Điều tra dân số 2002), 471.500 (1.23%) tự cho mình thuộc quốc tịch khác. 774.900 người (2.03%) không tuyên bố thuộc bất kỳ một quốc tịch nào. Các nhóm dân tộc thiểu số được công nhận chính thức gồm: German, Ukraina, Látvi, Do Thái và Belarus. Tiếng Ba Lan, một thành viên của nhánh Tây Slavic của các ngôn ngữ Slavic, là ngôn ngữ chính thức của Ba Lan. Đa số dân nước này theo Công giáo Rôma, (trong tổng số 89,8% là người Kitô hữu) với 75% thực hiện các nghi lễ Công giáo. Số còn lại chủ yếu theo Chính Thống giáo Đông phương (khoảng 509 500), Chứng nhân Giêhôva (khoảng 123 034) và nhiều nhóm phái Tin Lành (khoảng 86 880 trong nhóm Giáo hội Evangelical-Augsburg và khoảng con số tương tự các nhà thờ nhỏ khác).
Những năm gần đây, dân số Ba Lan không còn tăng trưởng nữa, vì sự di cư tăng lên và tỷ lệ sinh trong nước giảm rõ rệt. Văn phòng điều tra dân số đã ước tính tổng số dân Ba Lan năm 2005 là 38.173.835, hơi giảm so với 38.230.080 năm 2002. Bởi việc gia nhập Liên minh châu Âu của Ba Lan, một lượng lớn người dân nước này đã đi sang làm việc tại các nước Tây Âu như Anh Quốc và Ireland.
== Văn hoá ==
Văn hóa Ba Lan có lịch sử lâu dài hàng nghìn năm, có ảnh hưởng từ cả phương Đông và phương Tây.
=== Nghệ thuật ===
Ngày nay chúng ta vẫn thấy các ảnh hưởng đó trong kiến trúc, văn hóa dân gian và nghệ thuật Ba Lan. Ba Lan cũng nằm trong vùng ảnh hưởng từ các nước như Ý, Đế chế Ottoman, Pháp và Mỹ. Giáo hoàng John Paul II, Fryderyk Chopin, Mikołaj Copernicus, Lech Wałęsa, Henryk Sienkiewicz, Adam Mickiewicz, Jan Matejko, Marie Curie, Roman Polański, Witold Gombrowicz và nhiều người khác đều là công dân Ba Lan.
Hội họa
Kiến trúc
Âm nhạc
Sân khấu
Điện ảnh
Điện ảnh Ba Lan bắt đầu từ năm 1902, trải qua nhiều biến động lịch sử đã đạt được một số thành tựu và hiện đang trong quá trình hội nhập với thế giới.
=== Ẩm thực ===
Những món ăn nổi tiếng của ẩm thực Ba Lan gồm bigos, kiełbasa, barszcz (súp củ cải đỏ), czernina (súp máu vịt), schabowy z kapustą, pierogi, gołąbki và nhiều món khoai tây khác.
== Xếp hạng quốc tế ==
Chỉ số phát triển con người 2005: Hạng 36 trong số 177 quốc gia.
Phóng viên không biên giới chỉ số tự do báo chí thế giới 2005: Hạng 53 trong số 167 quốc gia.
Chỉ số tự do kinh tế 2005: Hạng 41 trong số 155 quốc gia.
Chỉ số đổi mới sơ lược 2005: Hạng 21 trong số 25 quốc gia.
== Xem thêm ==
Du lịch Ba Lan
Ngày nghỉ lễ tại Ba Lan
Danh sách các lâu đài tại Ba Lan
Danh sách các thành phố Ba Lan
Danh sách các chủ đề liên quan tới Ba Lan
Danh sách nhân vật Ba Lan
Các lực lượng vũ trang Ba Lan
Tỉnh của Ba Lan
Đội tuyển bóng đá quốc gia Ba Lan
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
=== Cơ quan chính phủ ===
Sejm - Sejm - lower chamber of the Parliament
Senat - Senate - upper chamber of the Parliament
Prezydent - President of the Republic of Poland
KPRM - Prime Minister's Office
Sąd Najwyższy - Supreme Court
Trybunał Konstytucyjny - Constitutional Tribunal
National Bank of Poland
The Poland.pl portal
Warsaw Stock Exchange
GUS - Central Statistical Office
Constitution of Poland
poland-export.com
=== Du lịch Ba Lan ===
Polish Guide of the Ministry of Foreign Affairs (poland.gov.pl)
Polish National Tourist Office (poland-tourism.pl, a part of pot.gov.pl)
Parks in Poland National parks, wetlands, biosphere reserves and other protected areas
=== Các website tiếng Anh về Ba Lan ===
poland.gov.pl - the governmental page about Poland for international visitors
Polish Forums - discussions about Poland and Polish people
Centreurope.org: Poland section
World History Database Chronology of Poland
Poland main cities satellite views. Latitude and longitude coordinates
=== Tin tức bằng tiếng Anh về Ba Lan ===
Warsaw Voice, an English-language newspaper
Warsaw Business Journal, an English-language newspaper
PolBlog - Polish News Site
- Google News listing stories about Poland
=== Tin tức bằng tiếng Pháp về Ba Lan ===
Święta Polska News, a French-language newspaper about Poland and Polish communauties all over the World
Bản mẫu:Ba Lan
Bản mẫu:Baltic Bản mẫu:Các quốc gia Slav |
chủ tịch nước việt nam.txt | Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nguyên thủ quốc gia của Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, người đứng đầu Nhà nước Việt Nam về đối nội và đối ngoại, điều hành chính quyền, Thống lĩnh các lực lượng vũ trang của Việt Nam và giữ chức Chủ tịch Hội đồng Quốc phòng và An ninh, Trưởng ban Chỉ đạo cải cách Tư pháp Trung ương, Ủy viên thường vụ Đảng ủy Công an Trung ương, Ủy viên thường vụ Quân ủy Trung ương. Đây là cán bộ cao cấp xếp vị trí thứ hai về mặt ảnh hưởng trong chính trị ở Việt Nam.
Từ 4 tháng 7 năm 1981 đến 22 tháng 9 năm 1992 chức danh này gọi là Chủ tịch Hội đồng Nhà nước.
Chủ tịch nước do Quốc hội bầu trong số Đại biểu Quốc hội.
Chủ tịch nước chịu trách nhiệm và báo cáo công tác trước Quốc hội.
Chủ tịch nước có quyền tham dự và đồng thời là chủ tọa phiên họp của Chính phủ.
Chủ tịch nước phải là đại biểu Quốc hội và Ủy viên Bộ Chính trị
Nhiệm kỳ của Chủ tịch nước theo nhiệm kỳ của Quốc hội là 5 năm và không quá 3 nhiệm kỳ. Khi Quốc hội hết nhiệm kỳ, Chủ tịch nước tiếp tục làm nhiệm vụ cho đến khi Quốc hội khóa mới bầu Chủ tịch nước mới.
Chủ tịch nước Việt Nam từ ngày 02 tháng 04 năm 2016 là Trần Đại Quang.
== Nhiệm vụ và quyền hạn ==
Điều 88 Hiến pháp năm 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định:
Chủ tịch nước có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
Công bố Hiến pháp, luật, pháp lệnh; đề nghị Uỷ ban thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh trong thời hạn mười ngày, kể từ ngày pháp lệnh được thông qua, nếu pháp lệnh đó vẫn được Uỷ ban thường vụ Quốc hội biểu quyết tán thành mà Chủ tịch nước vẫn không nhất trí thì Chủ tịch nước trình Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất;
Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ;
Quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và thành viên khác của Chính phủ;
Có quyền tham dự và đồng thời là chủ tọa các phiên họp của Chính phủ;
Đề nghị Quốc hội bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Phó Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Thẩm phán các Tòa án khác, Phó Viện trưởng, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tối cao; quyết định đặc xá; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội, công bố quyết định đại xá;
Quyết định tặng thưởng huân chương, huy chương, các giải thưởng nhà nước, danh hiệu vinh dự nhà nước; quyết định cho nhập quốc tịch, thôi quốc tịch, trở lại quốc tịch hoặc tước quốc tịch Việt Nam;
Thống lĩnh lực lượng vũ trang nhân dân, giữ chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh; quyết định phong, thăng, giáng, tước quân hàm cấp tướng, chuẩn đô đốc, phó đô đốc, đô đốc hải quân; bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức Tổng tham mưu trưởng, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Quân đội nhân dân Việt Nam; căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh; căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ra lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc hội không thể họp được, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc ở từng địa phương;
Tiếp nhận đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước ngoài;
Căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bổ nhiệm, miễn nhiệm; quyết định cử, triệu hồi đại sứ đặc mệnh toàn quyền của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; phong hàm, cấp đại sứ; quyết định đàm phán, ký điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước; trình Quốc hội phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế quy định tại khoản 14 Điều 70; quyết định phê chuẩn, gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực điều ước quốc tế khác nhân danh Nhà nước.
== Mối quan hệ với Bộ Chính trị ==
Những vấn đề thuộc thẩm quyền của Bộ Chính trị, Chủ tịch nước đề xuất hoặc trình.
1- Những vấn đề mà Hội đồng Quốc phòng và An ninh sẽ thảo luận và quyết định liên quan đến tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh của đất nước.
2- Đề xuất những vấn đề thuộc thẩm quyền của Chủ tịch nước liên quan đến việc bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm các chức danh Phó Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ.
3- Những vấn đề mà Chủ tịch nước thấy cần đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại trước khi công bố pháp lệnh, nghị quyết của Quốc hội.
4- Phát biểu của Chủ tịch nước với Quốc hội về những vấn đề quan trọng của đất nước để Quốc hội thảo luận và quyết định.
5- Những vấn đề khác Chủ tịch nước thấy cần thiết báo cáo Bộ Chính trị.
(trích Quy định (Bổ sung) số 216-QĐ/TW ngày 01 tháng 4 năm 2009 của Bộ Chính trị 1212)
== Điều kiện để trở thành Chủ tịch nước ==
Là công dân Việt Nam được sinh ra tại Việt Nam;
Ít nhất là 50 tuổi;
Được Đại hội Đại biểu toàn quốc giới thiệu ra ứng cử bầu tại Quốc hội;
Là Đại biểu trong Quốc hội;
Là Uỷ viên Bộ Chính trị.
== Chức vụ bỏ trống ==
Theo điều 92 trong Hiến pháp 2013, trong trường hợp chức vụ Chủ tịch nước bị bỏ trống (đột ngột qua đời, từ chức hay bị đình chỉ chức vụ tạm thời) thì Phó Chủ tịch nước giữ quyền Chủ tịch nước tạm quyền. Chủ tịch nước tạm quyền có đầy đủ quyền hành cho đến khi Quốc hội bầu ra Chủ tịch nước mới.
== Tuyên thệ nhậm chức ==
Theo khoản 9 điều 8 của Luật Tổ chức Quốc hội, Chủ tịch nước phải tuyên thệ trước khi nhậm chức
"Tôi - Chủ tịch nước ........... xin tuyên thệ: Tuyệt đối trung thành với tổ quốc, với nhân dân, với hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Tôi nguyện nỗ lực rèn luyện phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ Đảng, nhà nước và nhân dân giao phó"
== Danh sách Chủ tịch nước Việt Nam ==
Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946 có quy định về chức vụ Chủ tịch nước:
Chính phủ gồm có Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước và Nội các. Nội các có Thủ tướng, Phó Thủ tướng, các Bộ trưởng, Thứ trưởng. (điều 44)
Chủ tịch nước chọn Thủ tướng trong Quốc hội và đưa ra cho các đại biểu quốc hội biểu quyết (điều 47)
Chủ tịch nước có các quyền hạn chính như: thay mặt cho nước; giữ quyền Tổng chỉ huy quân đội toàn quốc, chỉ định hoặc cách chức các tướng soái; ký sắc lệnh bổ nhiệm hoặc cách chức Thủ tướng, nhân viên Nội các; chủ tọa Hội đồng chính phủ... (điều 49)
Trong hoàn cảnh chiến tranh, Hồ Chí Minh là Chủ tịch nước, đứng đầu Chính phủ, và kiêm nhiệm chức vụ Thủ tướng. Đến năm 1955 chức vụ Thủ tướng được chuyển giao cho Phó Thủ tướng lúc đó là Phạm Văn Đồng đảm nhiệm. Hồ Chí Minh là Chủ tịch đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, được Quốc hội khoá II bầu lại và làm Chủ tịch đến khi ông mất ngày 2 tháng 9 năm 1969. Người kế nhiệm ông ở cương vị này là Tôn Đức Thắng, chính thức từ ngày 22 tháng 9 năm 1969, trước đó là Quyền Chủ tịch nước, cho đến khi đổi tên nước thành Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Từ năm 1981 đến 1992, chức danh Chủ tịch nước được đổi tên gọi thành Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Sau đây là danh sách các Chủ tịch nước Việt Nam từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập. Tất cả các Chủ tịch nước đều là Đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam, Ủy viên Bộ Chính trị. Trừ trường hợp đặc biệt là Bộ trưởng Nội vụ Huỳnh Thúc Kháng là người không đảng phái được Chủ tịch Hồ Chí Minh đề nghị tạm quyền Chủ tịch nước trong thời gian ông sang Pháp vận động ngoại giao.
Khung màu xám chỉ người giữ chức vụ Quyền Chủ tịch nước.
== Xem thêm ==
Phó Chủ tịch nước Việt Nam
Thủ tướng Việt Nam
Chủ tịch Quốc hội Việt Nam
Chánh án Tối cao Việt Nam
Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam |
shizuoka (thành phố).txt | Thành phố Shizuoka (tiếng Nhật: 静岡市 Shizuoka-shi, Tĩnh Cương thị) là thành phố thủ phủ của tỉnh Shizuoka, Nhật Bản.
Thành phố được thành lập từ ngày 1 tháng 4 năm 1889. Năm 2003, thành phố Shimizu liền kề được sáp nhập vào và thành một khu của Shizuoka, cho phép Shizuoka trở thành đô thị quốc gia của Nhật Bản vào năm 2005. Ngày 31 tháng 3 năm 2006, thị trấn Kanbara lại được sáp nhập thêm vào thành phố Shizuoka.
Shizuoka là thành phố kết nghĩa với thành phố Huế của Việt Nam.
== Nhân khẩu ==
Vào năm 2006, dân số của thành phố Shizuoka ước tính khoảng 713.333 người. Mật độ dân số khoảng 513,65 người/km² trên tổng diện tích là 1388.74 km².
=== Phân khu ===
Aoi-ku
Suruga-ku
Shimizu-ku
== Kinh tế ==
Năm 2004, thành phố Shizuoka có 39.237 cơ sở thương mại, đứng đầu trong tỉnh Shizuoka. Cơ cấu kinh tế của thành phố như sau: nông nghiệp 0,1%, công nghiệp 26,9% và dịch vụ 73%.
=== Nông nghiệp ===
Tuy chiếm cơ cấu vô cùng nhỏ bé song ngành nông nghiệp của Shizuoka rất phát triển. Các loại cây trồng chủ yếu ở Shizuoka là chè xanh, dâu tây, wasabi, cam chanh, hoa sen và hoa hồng. Cảng Shimizu của thành phố là nơi tập trung nhiều nhất sản lượng cá ngừ của Nhật Bản.
=== Ngư nghiệp ===
Cảng Shimizu chiếm giữ sản lượng đánh bắt cá tuna lớn nhất ở Nhật Bản. Cảng Kanbara đánh bắt được một lượng sakura ebi dồi dào. Cảng Mochimune đánh bắt được shirasu sardines với số lượng rất lớn.
=== Ẩm thực ===
Oden
Gyoza
Soba
Đồ biển
Zoni
Tororo
== Văn hóa ==
Có 3 lễ hội chính được tổ chức hàng năm tại thành phố Shizuoka:
Shizuoka Matsuri: lễ hội này được tổ chức vào tháng 4 khi hoa anh đào nở rộ và người dân tổ chức lễ hội ngắm hoa anh đào. Mọi người noi theo phong tục cũ rước daimyo (chúa đất) đến lăng Sengen để ngắm hoa.
Abekawa Hanabi: lễ hội pháo hoa được tổ chức vào cuối tháng 7 hàng năm.
Daidogen: lễ hội đường phố quy tụ nhiều nghệ sĩ về ảo thuật, xiếc được tổ chức vào tháng 11.
== Truyền thông ==
=== Báo chí ===
Tờ Shizuoka Shimbun là tờ báo chính của vùng.
=== Truyền hình ===
NHK Shizuoka
NHK Shizuoka Educational Channel
Shizuoka Broadcasting System
TV Shizuoka
Shizuoka Daiichi Television
Shizuoka Asahi Television
=== Truyền hình cáp ===
Shizuoka Cable Television (Dream Wave Shizuoka)
=== Radio ===
NHK1 882 kHz
NHK2 639 kHz FM88.8 MHz
SBS 1404 kHz
K-MIX 79.2 MHz
FM・Hi!76.9 MHz
Marine Pal (FM Shimizu) 76.3 MHz
Guzen Media Japan
== Giáo dục ==
Đại học Shizuoka (Shizuoka University)
Đại học Shizuoka (University of Shizuoka)
Đại học Tokai
Đại học Tokoha Gakuen
Đại học Shizuoka Eiwa Gakuin
== Công dân tiêu biểu ==
Kazuyocshi Miura (cầu thủ bóng đá)
Yoshitaka Amano (họa sĩ)
Kazuyoshi Hoshino (vận động viên đua xe)
Riyo Mori (Hoa hậu Hoàn vũ 2007)
Momoko Sakura (họa sĩ manga)
Keiko Masuda (ca sĩ)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ thành phố Shizuoka
Website chính thức bằng tiếng Anh của thành phố Shizuoka |
người lớn.txt | Người lớn, người trưởng thành hay thành nhân là con người ở độ tuổi trưởng thành, thường là những người đã trưởng thành về mặt sinh lý và đến tuổi sinh sản. Trong xã hội loài người, người lớn còn gắn với khái niệm xã hội và pháp lý; ví dụ về mặt pháp lý, một người lớn về mặt pháp lý là người ở tuổi trưởng thành, có khả năng tự nuôi sống bản thân và biết chịu trách nhiệm với bản thân (đối nghịch với "vị thành niên").
== Về mặt sinh học ==
Về mặt lịch sử hay văn hóa, tuổi trưởng thành được quyết định bởi tuổi dậy thì (với các dấu hiệu sinh dục như xuất tinh ở nam giới và kinh nguyệt ở nữ giới).
Từ khi xuất hiện khái niệm thiếu niên, tuổi trưởng thành được chia thành hai dạng là: trưởng thành về mặt sinh lý và trưởng thành về mặt xã hội, vì thế hiện nay người lớn cũng được phân biệt thành hai dạng là: người lớn về mặt sinh lý và người lớn về mặt xã hội.
Ở các nước phát triển hiện nay, tuổi dậy thì thường bắt đầu ở độ tuổi 10 hay 11 tuổi ở nữ và 12 hay 13 tuổi ở nam, tuy vậy điều này cũng còn tùy thuộc vào từng người.
== Về mặt pháp lý ==
Về mặt pháp lý, người lớn có nghĩa là người có thể tham gia vào một hợp đồng. Người lớn về mặt pháp lý còn liên quan tới quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm, ví dụ như trách nhiệm tài chính, quyền kết hôn, bầu cử, có việc làm, phục vụ quân đội, mua/sở hữu súng (tùy theo pháp luật của từng quốc gia), sử dụng đồ uống có cồn (nếu hợp pháp), hút thuốc, quan hệ tình dục..v.v
Tuổi trưởng thành về mặt pháp lý được xem bắt đầu từ khoảng 16-21 tuổi, tùy theo khu vực. Một vài nền văn hóa ở châu Phi định nghĩa người lớn bắt đầu ở tuổi 13.
Hầu như trên khắp thế giới, tuổi trưởng thành về mặt pháp lý là tuổi 18 (trước kia là 21), có một vài khu vực và quốc gia ngoại lệ gồm:
Scotland (16)
British Columbia, New Brunswick, Newfoundland and Labrador, Northwest Territories, Nova Scotia, Nunavut, Yukon Territory ở Canada; Nebraska và Alabama ở Hoa Kỳ, và Hàn Quốc (19)
Indonesia và Nhật Bản (20)
== Xem thêm ==
Thiếu niên
Trẻ em
== Chú thích == |
nhà hát tuổi trẻ.txt | Nhà hát Tuổi trẻ (tên giao dịch quốc tế: Youth Theatre of Vietnam) là nhà hát quốc gia trực thuộc Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam, nằm ở 11 phố Ngô Thì Nhậm, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Chức năng biểu diễn nghệ thuật của nhà hát bao gồm nhiều bộ môn: kịch nói, ca – múa – nhạc nhẹ - nhạc dân tộc – kịch câm. Đây là nơi sưu tầm, bảo tồn và nâng cao để giới thiệu nghệ thuật đặc sắc trong nước và quốc tế.
Nhà hát Tuổi trẻ thành lập tháng 4 năm 1978. Đến nay tổng số nghệ sĩ của nhà hát là 175, trong đó có 3 Nghệ sĩ Nhân dân, 10 NSUT. Nhà hát Tuổi trẻ là thành viên của Hiệp hội sân khấu Thế giới dành cho Tuổi trẻ (ASSITEJ) và là Trung tâm ASSITEJ Việt Nam.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức nhà hát Tuổi trẻ |
giải bóng đá vô địch quốc gia ý.txt | Serie A còn gọi là Serie A TIM do được tài trợ bởi TIM, là một giải đấu chuyên nghiệp cao nhất cấp câu lạc bộ trong hệ thống các giải đấu bóng đá Ý và đã hoạt động trong hơn tám mươi năm kể từ khi mùa 1929-1930. Serie A được xếp vào hàng một trong những giải đấu bóng đá tốt nhất trên thế giới và thường được mô tả như một giải đấu vô địch quốc gia mang tính chiến thuật nhất. Giải được xếp hạng thứ tư trong số các giải đấu châu Âu theo hệ số elo của UEFA, xếp sau La Liga, Bundesliga và Premier League, một phần cũng dựa trên thành tích thi đấu của các câu lạc bộ Ý tại Champions League và Europa League trong 5 năm qua. Serie A đã từng dẫn đầu bảng xếp hạng UEFA vào 2 giai đoạn 1986-1988 và 1990-1999.
Serie A cũng sở hữu 3 câu lạc bộ nổi tiếng nhất thế giới như Juventus, AC Milan và Inter Milan, cả 3 đều là thành viên sáng lập của G-14, một nhóm đại diện các câu lạc bộ bóng đá lớn nhất châu Âu và có uy tín nhất.
Hiện nay, Inter Milan là câu lạc bộ duy nhất còn lại giải đấu này chưa một lần phải xuống hạng. Họ từng đoạt Chức vô địch Serie A vào mùa giải 2009-10, và sau đó trở thành đội bóng duy nhất đến từ Serie A đoạt được cú ăn ba. Vào trước năm 2006, nhóm các câu lạc bộ chưa bao giờ xuống hạng còn có Juventus, nhưng sau vụ Calciopoli vào năm 2006, câu lạc bộ này đã bị tòa án thể thao Ý đánh tụt hạng xuống Serie B.
Ngoài 3 câu lạc bộ nói trên, Serie A còn những câu lạc bộ xuất sắc khác mà tiêu biểu như 4 đội: AS Roma, Fiorentina, Napoli và Lazio, cùng với Milan, Inter và Juve tạo thành nhóm 7 chị em của Serie A.
== Serie A mùa giải 2016-17 ==
== Danh sách các đội vô địch ==
Juventus: 33 ( )
1905, 1925–26, 1930–31, 1931–32, 1932–33, 1933–34, 1934–35, 1949–50, 1951–52, 1957–58, 1959–60, 1960–61, 1966–67, 1971–72, 1972–73, 1974–75, 1976-77, 1977–78, 1980–81, 1981–82, 1983–84, 1985–86, 1994–95, 1996–97, 1997–98, 2001–02, 2002–03, 2004–05, 2005–06[bị tước], 2011–12, 2012–13, 2013–14, 2014–15, 2015–16.
Inter Milan: 18 ()
1909–10, 1919–20, 1929–30, 1937–38, 1939–40, 1952–53, 1953–54, 1962–63, 1964–65, 1965–66, 1970–71, 1979–80, 1988–89, 2005–06, 2006–07, 2007–08, 2008–09, 2009–10.
AC Milan: 18 ()
1901, 1906, 1907, 1950–51, 1954–55, 1956–57, 1958–59, 1961–62, 1967–68, 1978–79, 1987–88, 1991–92, 1992–93, 1993–94, 1995–96, 1998–99, 2003–04, 2010–11.
Genoa: 9
1898, 1899, 1900, 1902, 1903, 1904, 1914–15, 1922–23, 1923–24.
Torino: 7
1927–28, 1942–43, 1945–46, 1946–47, 1947–48, 1948–49, 1975–76.
Bologna: 7
1924–25, 1928–29, 1935–36, 1936–37, 1938–39, 1940–41, 1963–64.
Pro Vercelli
1908, 1909, 1910–11, 1911–12, 1912–13, 1920–21, 1921–22
AS Roma: 3
1941–42, 1982–83, 2000–01
Lazio: 2
1973–74, 1999–2000
Fiorentina: 2
1955–56, 1968–69
Napoli: 2
1986–87, 1989–90
Cagliari: 1
1969–70
Sampdoria: 1
1955–56, 1968–69
Hellas Verona: 1
1984
Casale:1
1913–14
Novese:1
1921–22
== Những câu lạc bộ giàu thành tích ==
Juventus F.C.
Serie A: 32 lần
Serie B: 1 lần
Coppa Italia: 10 lần
Siêu cúp quốc gia Ý: 6 lần
UEFA Champions League/Cúp C1: 2 lần
UEFA Europa League/Cúp C2: 3 lần
Vô địch liên lục địa: 2 lần
UEFA Cúp Winners': 1 lần
Cúp Intertoto: 1 lần.
AC Milan.
Serie A: 18 lần
Serie B: 2 lần
Coppa Italia: 5 lần
Siêu cúp quốc gia Ý: 6 lần
UEFA Champions League/Cúp C1: 7 lần
UEFA Cúp Winners'/Cúp C2: 2 lần
UEFA Super cup/Siêu cúp bóng đá châu âu: 5 lần
Vô địch Cúp Liên lục địa: 3 lần
Cúp vô địch thế giới các câu lạc bộ: 1.
Inter Milan
Serie A: 18 lần
Coppa Italia: 7 lần
Super coppa italia: 5 lần
Cúp/C1: 3 lần
Cúp/C3: 3 lần
Cúp Liên Lục Địa: 1 lần
Cúp vô địch thế giới các câu lạc bộ: 1 lần.
(Không tính cúp Giao hữu)
=== Kỷ lục ===
Câu lạc bộ
Tham dự nhiều mùa giải nhất: 77 Inter Milan
Vô địch nhiều lần nhất: 32 Juventus
== Vô địch liên tiếp ==
Juventus 1930-35, 2011-16
Inter Milan 2005-10
Torino F.C. 1946-49
Chiến thắng liên tiếp:
17 Trận Inter Milan Mùa 2006-07 (cũng là kỷ lục châu Âu).
11 Trận AS Roma Mùa 2005-06
10 Juventus Mùa 1931-32
10 AC Milan 1950-51
10, Bologna 1963-64
Thắng nhiều trận nhất: 1982 Juventus
Ghi nhiều bàn thắng nhất: 4852 Juventus (1,72 bàn/trận)
== Vô địch nhiều lần nhất ==
8: Virginio Rosetta, Giovanni Ferrari, Giuseppe Furino
7: Roberto Bettega, Alessandro Costacurta, Ciro Ferrara, Paolo Maldini, Gaetano Scirea, Guglielmo Gabetto, Alessandro Del Piero
6: Guido Ara, Edoardo Pasteur, James Richardson Spensley, Claudio Gentile, Franco Baresi, Antonio Cabrini, Franco Causio, Dino Zoff, Roberto Donadoni
5: Walter Agari, Henri Dapples, Giovanni Innocenti, Pietro Leone, Felice Milano, Giuseppe Milano, Carlo Rampini, Renato Cesarini, Raimundo Orsi Bibiani, Umberto Caligaris, Mario Varglien, Gianpiero Combi, Giuseppe Grezar, Valentino Mazzola, Franco Ossola, Ezio Loik, Pietro Ferraris, Lorenzo Buffon, Sandro Salvadore, Giampiero Boniperti, Tarcisio Burgnich, Antonello Cuccureddu, Francesco Morini, Luciano Spinosi, Marco Tardelli, Pietro Fanna, Sebastiano Rossi, Demetrio Albertini, Mauro Tassotti, Antonio Conte, Alessio Tacchinardi.
== Ghi bàn nhiều nhất ==
== Thi đấu nhiều trận nhất ==
Bản mẫu:Country data italia Paolo Maldini 647(1984-2009)
Javier Zanetti 603 (1995-2014)
Gianluca Pagliuca 592 (1987-2007)
Dino Zoff 570 (1961-1983)
Pietro Vierchowod 562 (1980-2000)
Francesco Totti 543 (1992-nay)
Roberto Mancini 541 (1981-2000)
Silvio Piola 537 (1930-1954)
Enrico Albertosi 532 (1959-1980)
Gianni Rivera 527 (1959-1979)
== Nhiều tuổi nhất ==
Marco Ballotta 44 năm và 38 ngày
Alberto Fontana 41 năm và 297 ngày
Dino Zoff 41 năm và 76 ngày
Pietro Vierchowod 41 năm và 10 ngày
Gianluca Berti 40 năm và 251 ngày
Alessandro Costacurta 40 năm và 208 ngày
Silvio Piola 40 năm và 159 ngày
Javier Zanetti 40 năm và 85 ngày (còn thi đấu)
Gianluca Pagliuca 40 năm và 55 ngày
== Trẻ tuổi nhất ==
Amedeo Amadei, A.S. Roma, 15 năm, 9 tháng và 6 ngày (2 tháng 5 năm 1937)
Gianni Rivera, U.S. Alessandria, 15 năm, 9 tháng và 15 ngày (2 tháng 6 năm 1959)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ
Lịch sử giải Serie A — từ năm 1929. |
thế kỷ 17.txt | Thế kỷ 17 là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 1601 đến hết năm 1700, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory, trước thế kỷ 18 và sau thế kỷ 16.
== Các sự kiện ==
1700-Chiến hạm Vasa được đóng
== Tham khảo == |
internet explorer.txt | Internet Explorer (trước đây là Microsoft Internet Explorer; viết tắt là IE), là một dòng trình duyệt web giao diện đồ họa do Microsoft phát triển và là một thành phần của các hệ điều hành Microsoft Windows kể từ năm 1995. Đây là trình duyệt web có nhiều người sử dụng nhất từ năm 1999, đạt tới đỉnh cao là khoảng 95% thị phần trong năm 2002 và 2003 với IE5 và IE6. Kể từ đó thị phần của trình duyệt này đã từ từ giảm xuống với sự cạnh tranh đổi mới từ các trình duyệt web khác, với Mozilla Firefox là đối thủ đáng kể. Microsoft đã chi hơn 100 triệu đô la Mỹ mỗi năm vào IE vào cuối thập niên 1990, với hơn 1000 người tham gia phát triển vào năm 1999.
Phiên bản phát hành mới nhất là Internet Explorer 11, là một phần của hệ điều hành Windows 8.1 và Windows Sever 2012 có từ tháng 10 năm 2013. Hiện nay cũng có một phiên bản miễn phí cho hệ điều hành Windows 7 Service Pack 1, phiên bản này phát hành vào tháng 11 năm 2013.
Từ ngày 12 tháng 1 năm 2016, Microsoft chỉ hỗ trợ Internet Explorer 9 trên Windows Vista và Windows Server 2008. Internet Explorer 10 chỉ được hỗ trợ trên Windows Server 2012.
== Tổng quan ==
Internet Explorer được phát hành lần đầu tiên với vai trò là một gói bổ sung Plus! for Windows 95 vào năm 1995. Các phiên bản sau đó cho phép tải về miễn phí, hoặc nằm trong các bản service pack, và kèm trong các bản phát hành dịch vụ OEM của Windows 95 và các phiên bản Windows sau đó.
Các phiên bản khác có mặt từ cuối thập niên 1990 bao gồm một phiên bản OEM nhúng có tên gọi Internet Explorer for Windows CE (IE CE) có trong các nền tảng trên WinCE và hiện dựa trên IE6. Internet Explorer dành cho Pocket PC, sau đó được đổi tên thành Internet Explorer Mobile dành cho Windows Mobile cũng đã được phát triển, và vẫn tiếp tục phát triển cùng với các phiên bản dành cho máy tính để bàn với nhiều chức năng hơn.
== Lịch sử ==
Dự án Internet Explorer được bắt đầu vào mùa hè năm 1994 bởi Thomas Reardon và sau đó do Benjamin Slivka làm trưởng nhóm, lấy ý tưởng mã nguồn từ Spyglass, Inc. Mosaic, một trình duyệt web thương mại có mặt từ sớm với hình thức gắn liền với trình duyệt tiên phong Mosaic của NCSA. Vào cuối năm 1994, Microsoft đã xin được phép từ Spyglass Mosaic với sự hỗ trợ chi phí hàng quý cùng với một số phần trăm trong lợi nhuận thu được từ các sản phẩm không phải Windows của Microsoft để đổi lấy phần mềm. Mặc dù có tên tương tự như Mosaic của NCSA, Spyglass Mosaic dùng không nhiều mã nguồn của NCSA Mosaic.
Internet Explorer 1 ra mắt vào tháng 8 năm 1995. Nó là phiên bản chỉnh sửa của Spyglass Mosaic mà Microsoft đã có phép, giống như nhiều công ty khác bắt đầu việc phát triển trình duyệt cho riêng mình, từ Spyglass Inc. Nó đi kèm với Microsoft Plus! for Windows 95 và bản phát hành OEM của Windows 95. Phiên bản này được cài đặt thành một phần của Internet Jumpstart Kit trong Plus!. Nhóm Internet Explorer bắt đầu khoảng sáu người trong giai đoạn phát triển đầu tiên. Internet Explorer 1.5 được phát hành vài tháng sau đó dành cho Windows NT và bổ sung tính năng hỗ trợ hiển thị bảng biểu cơ bản. Tuy nhiên, với việc đưa kèm miễn phí nó vào hệ điều hành, họ không phải trả tiền bản quyền cho Spyglass Inc., dẫn đến kiện cáo làm tiêu tốn hàng triệu đô la Mỹ.
Internet Explorer 2 được phát hành dành cho Windows 95, Windows NT 3.5, và NT 4.0 vào tháng 11 năm 1995 (sau bản 2.0 beta vào tháng 10). Nó hỗ trợ SSL, cookie, VRML, RSA, và nhóm tin Internet. Phiên bản 2 cũng là bản phát hành đầu tiên dành cho Windows 3.1 và Macintosh System 7.0.1 (PPC hay 68k), mặc dù phiên bản Mac không được phát hành cho đến tháng 1 năm 1996 dành cho PPC, và tháng 4 dành cho 68k. Phiên bản 2.1 dành cho Mac ra mắt vào tháng 8 năm 1996, mặc dù vào thời điểm đó Windows đã lên đến phiên bản 3.0. Phiên bản 2 được kèm trong Windows 95 OSR 1 và Internet Starter Kit for Windows 95 của Microsoft vào đầu năm 1996. Phần mềm phát hành với 12 ngôn ngữ trong đó có tiếng Anh nhưng nó mở rộng ra đến 24, 20, và 9 lần lượt cho các phiên bản dành cho Win 95, Win 3.1 và Mac vào tháng 4 năm 1996. Bản 2.0i hỗ trợ bộ ký tự byte kép.
Internet Explorer 3, phát hành vào tháng 8 năm 1996, và tiếp tục nổi tiếng hơn người tiền nhiệm. Nó được phát triển mà không dùng mã nguồn Spyglass, mặc dù vẫn ghi công cho "công nghệ" Spyglass trong tài liệu của chương trình. Internet Explorer 3 là trình duyệt lớn đầu tiên có hỗ trợ CSS, mặc dù còn hạn chế. Được phát hành vào ngày 13 tháng 8 năm 1996, nó cũng cho ra mắt tính năng hỗ trợ ActiveX controls, Java applet, đa phương tiện nhúng, và hệ thống PICS dành cho nội dung siêu dữ liệu (metadata). Phiên bản 3 cũng được đóng gói chung với Internet Mail and News, NetMeeting, và phiên bản đầu tiên của Windows Address Book, và nó cũng kèm trong Windows 95 OSR 2. Phiên bản 3 đã chứng tỏ mình là phiên bản nổi tiếng hơn của Internet Explorer, nhờ sự chăm chút kỹ lưỡng cho nó. Trong nhiều tháng sau khi ra mắt, một số lỗ hổng bảo mật và riêng tư được các nhà nghiên cứu và hacker tìm thấy. Phiên bản này của Internet Explorer là phiên bản đầu tiên có logo "chữ e màu xanh". Nhóm Internet Explorer bao gồm 100 người trong suốt quá trình 3 tháng phát triển. Lỗ hổng bảo mật IE lớn đầu tiên, Princeton Word Macro Virus Loophole, được khám phá vào ngày 22 tháng 8 năm 1996 trong IE3. Tính năng tương thích ngược xử lý bằng cách cho phép những người nào nâng cấp lên IE3 vẫn có thể sử dụng IE trước đó, vì quá trình cài đặt đã chuyển phiên bản trước vào thư mục riêng rẽ.
Internet Explorer 4, phát hành vào tháng 9 năm 1997 đào sâu hơn mức độ tích hợp giữa trình duyệt web và hệ điều hành phía dưới. Việc cài đặt phiên bản 4 trên máy Windows 95 và Windows NT 4 và chọn Windows Desktop Update có thể dẫn đến việc Windows Explorer truyền thống bị thay bằng một phiên bản trông giao diện như trình duyệt web, cũng như màn hình nền Windows cũng trở thành web được thông qua Active Desktop. Tuy nhiên, sự tích hợp với Windows là chủ đề của rất nhiều những chỉ trích về đóng gói (xem Hoa Kỳ kiện Microsoft). Tùy chọn này không còn tồn tại với các bản cài đặt dành cho các phiên bản sau của Internet Explorer nhưng vẫn không bỏ ra khỏi hệ thống được nếu đã cài đặt rồi. Internet Explorer 4 ra mắt sự hỗ trợ Group Policy, cho phép các công ty cấu hình và khóa nhiều chức năng cấu hình của trình duyệt. Internet Mail and News được thay bằng Outlook Express, và Microsoft Chat và một phiên bản NetMeeting cải tiến cũng được đính kèm. Phiên bản này cũng kèm trong Windows 98. Các tính năng mới được thêm vào cho phép người dùng lưu và truy xuất các nội dung đăng trong các mẫu bình luận mà đến nay vẫn không được sử dụng. Internet Explorer 4.5 có thêm các tính năng mới như mã hóa 128-bit dễ dàng hơn. Nó cũng có sự phát triển vượt bậc về độ ổn định so với các phiên bản trước, đặc biệt là phiên bản 68k hoàn toàn không bị treo.
Internet Explorer 5, phát hành vào ngày 18 tháng 3 năm 1999, và sau đó được kèm trong Windows 98 Second Edition và đóng gói chung với Office 2000, là một phiên bản nổi bật khác có hỗ trợ văn bản hai hướng, ký tự ruby, XML, XSLT và khả năng lưu trang web dưới định dạng MHTML. IE5 được đóng gói với Outlook Express 5. Ngoài ra, với việc phát hành Internet Explorer 5.0, Microsoft cũng phát hành phiên bản XMLHttpRequest đầu tiên, khai sinh ra Ajax (mặc dù thuật ngữ "Ajax" vẫn không xuất hiện cho đến vài năm sau). Nó là phiên bản cuối cùng ở dạng 16-bit. Internet Explorer 5.01, một phiên bản sửa lỗi, được phát hành vào tháng 12 năm 1999. Windows 2000 có phiên bản này. Internet Explorer 5.5 tiếp nối vào tháng 7 năm 2000, tăng cường khả năng xem thử trước khi in, hỗ trợ chuẩn CSS và HTML, và API cho lập trình viên; phiên bản này đi cùng với Windows Me. Phiên bản 5.5 cũng hỗ trợ mã hóa 128-bit. Tuy nhiên, phiên bản 5 là phiên bản cuối cùng dành cho Mac và UNIX. Phiên bản 5.5 là phiên bản cuối cùng có Chế độ Tương thích, cho phép Internet Explorer 4 có thể chạy song song với 5.x. Nhóm IE lúc nào đã lên đến hơn 1000 người vào năm 1999, tiêu tốn 100 triệu USD mỗi năm.
Internet Explorer 6 phát hành vào ngày 27 tháng 8 năm 2001, một vài tháng trước khi Windows XP ra mắt. Phiên bản này bao gồm cải tiến DHTML, các khung chứa nội dung, và hỗ trợ một phần CSS cấp 1, DOM cấp 1 và SMIL 2.0. Bộ máy MSXML cũng được cập nhật lên phiên bản 3.0. Các tính năng mới khác bao gồm một phiên bản mới của Internet Explorer Administration Kit (IEAK), thanh Trình diễn, tích hợp Windows Messenger, thu thập lỗi, tự thay đổi kích thước hình ảnh, P3P, và trải nghiệm giao diện mới giống như phong cách hình ảnh Luna của Windows XP, khi dùng trong Windows XP. Internet Explorer 6.0 SP1 có thêm những cải tiến bảo mật và phát hành cùng lúc với phiên bản vá XP SP1. Vào năm 2002, giao thức Gopher đã bị tắt và không còn được hỗ trợ trong Internet Explorer 7. Internet Explorer 6.0 SV1 phát hành vào ngày 6 tháng 8 năm 2004 dành cho Windows XP SP2 và đưa nhiều cải tiến bảo mật và các nút có màu mới trên giao diện. IE6 đã cập nhật biểu trưng "chữ e màu xanh" sang màu xanh nhạt hơn và có hình dáng 3 chiều hơn.
Internet Explorer 7 phát hành vào ngày 18 tháng 10 năm 2006. Nó gồm các sửa lỗi, cải tiến hỗ trợ các tiêu chuẩn web, duyệt theo thẻ với tính năng xem trước và quản lý thẻ, một hộp tìm kiếm tích hợp nhiều bộ máy, bộ đọc mẩu tin mạng, hỗ trợ Tên miền quốc tế hóa (IDN), và bộ lọc chống lừa đảo. Với IE7, Internet Explorer đã được tách ra khỏi Windows Shell - không như các phiên bản khác, Internet Explorer ActiveX control không còn đặt trên tiến trình của Windows Explorer, mà chạy trên một tính trình Internet Explorer riêng biệt. Nó được kèm trong Windows Vista và Windows Server 2008, và có thể tải về cho Windows XP Service Pack 2 trở về sau, và Windows Server 2003 Service Pack 1 trở về sau. Bản phát hành nguyên thủy của Internet Explorer 7 đòi hỏi máy tính phải vượt qua quy trình kiểm tra Windows Genuine Advantage trước khi cài đặt, nhưng vào ngày 5 tháng 10 năm 2007, Microsoft đã bỏ yêu cầu này. Theo như một số thống kê cho thấy, đến giữa năm 2008, Internet Explorer 7 đã vượt qua Internet Explorer 6 về số người sử dụng.
Internet Explorer 8 phát hành vào ngày 19 tháng 3 năm 2009. Nó đã được phát triển trễ nhất là từ tháng 8 năm 2007. Vào ngày 5 tháng 3 năm 2008, bản beta công cộng đầu tiên (Beta 1) được phát hành cho công chúng. Vào ngày 27 tháng 8 năm 2008, bản beta công cộng thứ hai (Beta 2) được phát hành. Nó hỗ trợ Windows XP SP2 và SP3, Windows Server 2003 SP2, Windows Vista và Windows Server 2008 trên cả kiến trúc 32-bit lẫn 64-bit. Internet Explorer 8 (IE8) RC1 được phát hành vào ngày 26 tháng 1 năm 2009. Bảo mật, dễ dùng, và những cải tiến về RSS, CSS, và hỗ trợ Ajax là những ưu tiên của Microsoft dành cho IE8. Nó tương thích chặt hơn với các tiêu chuẩn web, gồm có tương thích đầy đủ với Cascading Style Sheets 2.1. Tất cả các thay đổi này cho phép Internet Explorer 8 vượt qua kiểm tra Acid2. Tuy nhiên, để ngăn ngừa các vấn đề về tương thích, IE8 cũng kèm cả khả năng hiển thị kiểu IE7. Các trang không muốn chuyển đổi giao diện theo IE8 có thể tắt sự thay đổi này bằng cách thêm một thẻ vào phần HEAD của trang web. IE8 cũng kèm thêm nhiều cải tiến đối với JavaScript cũng như tăng cường hiệu năng, mặc dù nó vẫn chưa vượt qua được kiểm tra Acid3, với phiên bản 8.0 RC1 ghi được 20/100 điểm. Nó bao gồm sự hỗ trợ Accelerators - cho phép hỗ trợ ứng dụng web được kích hoạt mà không cần gọi tường minh - và WebSlices - cho phép các thành phần trang được đăng ký và theo dõi từ một Favorites Bar có sẵn. Các tính năng khác gồm có tính năng duyệt riêng tưInPrivate, và bộ lọc lừa đảo SmartScreen .Internet Explorer 9 (viết tắt IE9) là phiên bản hiện tại của trình duyệt web Internet Explorer của hãng Microsoft. Nó được phát hành chính thức vào ngày 14 tháng 3 năm 2011. Internet Explorer 9 hỗ trợ một vài đặc điểm CSS 3, hỗ trợ nhúng ICC v2 hoặc hỗ trợ cấu hình màu v4 thông qua Windows Color System, đồng thời đã cải thiện hiệu năng JavaScript. Nó cũng có tính năng tăng tốc quá trình kết xuất đồ họa bằng cách sử dụng Direct2D, tăng tốc kết xuất văn bản nhờ sử dụng DirectWrite, tăng tốc kết xuất video thông qua Media Foundation, hỗ trợ hình ảnh được cung cấp bởi Windows Imaging Component, và khả năng in ấn độ trung thực cao hỗ trợ bởi định dạng văn bản XPS. IE9 cũng hỗ trợ thành phần HTML5 video, đánh dấu audio và định dạng font cho các trang web (Web Open Font Format). Microsoft đã phát hành IE9 như là một phiên bản riêng (out-of-band) mà nó không gắn liền với lịch sử phát hành của các phiên bản hệ điều hành Windows đặc biệt như trước đây.
Hệ điều hành yêu cầu của IE9 là Windows 7, Windows Server 2008 R2, Windows Vista Service Pack 2 hay Windows Server 2008 SP2 với phiên bản update. IE9 không hoạt động trên Windows XP được. IE9 cũng được xây dựng cho cả hai nền tảng 32-bit và 64-bit.
== Tính năng ==
Internet Explorer đã được thiết kế để xem được nhiều loại trang web khác nhau và cung cấp một số tính năng nhất định cùng với hệ điều hành, trong đó có Microsoft Update. Vào thời hoàng kim của cuộc chiến trình duyệt lúc trước, Internet Explorer đã chiến thắng Netscape chỉ khi nó bắt kịp với công nghệ để hỗ trợ những tính năng tiên tiến lúc bấy giờ.
Hỗ trợ các tiêu chuẩn
Internet Explorer, dùng bộ máy trình bày Trident:
hỗ trợ đầy đủ HTML 4.01, CSS Cấp 1, XML 1.0 và DOM Cấp 1, với một ít khác biệt hiện thực.
hỗ trợ đầy đủ XSLT 1.0 cũng như một biến thể của XSLT do Microsoft đưa ra (nay đã không còn tồn tại) có tên WD-xsl, dựa một phần trên Bản nháp XSL của W3C vào tháng 12 năm 1998. Hỗ trợ XSLT 2.0 tùy vào tương lai.
hỗ trợ một phần CSS Cấp 2 và DOM Cấp 2, với khoảng cách hiện thực lớn và các vấn đề tương thích lớn. Tương thích hoàn toàn với CSS 2.1 đã có trong bản Internet Explorer 8.
không hỗ trợ XHTML
không hỗ trợ SVG, cả bản 7.0 lẫn 8.0.
Internet Explorer sử dụng DOCTYPE sniffing để lựa chọn giữa "chế độ thoái thác" (hiển thị tương tự như các phiên bản MSIE cũ hơn) và chế độ tiêu chuẩn (hiển thị gần với tài liệu W3C) đối với việc hiển thị HTML và CSS trên màn hình (Internet Explorer luôn dùng chế độ chuẩn khi in ấn). Nó cũng cung cấp một biến thể của ECMAScript có tên JScript.
Internet Explorer đã là chủ đề chỉ trích vì sự hỗ trợ hạn chế đối với các tiêu chuẩn web mở.
Bộ mở rộng cho các tiêu chuẩn
Internet Explorer đã giới thiệu một loạt các phần mở rộng thương mại vào nhiều tiêu chuẩn, trong đó có HTML, CSS và DOM. Điều này dẫn đến một số trang web chỉ có thể xem đúng nếu đùng Internet Explorer.
Internet Explorer cũng giới thiệu một số phần mở rộng cho JScript và đã được các trình duyệt khác đưa vào. Trong số các phần mở rộng có thuộc tính innerHTML, sẽ trả về chuỗi HTML trong một thành tố (element); đối tượng XMLHttpRequest, cho phép gửi yêu cầu HTTP và nhận về hồi đáp HTTP; và thuộc tính designMode của đối tượng contentDocument, cho phép soạn thảo nhiều chức năng đối với văn bản HTML. Một số các chức năng này không thể hoạt động được cho đến khi các phương thức W3C DOM ra mắt. Bộ mở rộng ký tự Ruby của nó vào HTML cũng được chấp nhận làm một module trong W3C XHTML 1.1, mặc dù không tìm thấy nó trong tất cả các phiên bản của W3C HTML.
Microsoft đã đề cử một số tính năng khác của IE để W3C xem xét chuẩn hóa. Trong số này có thuộc tính CSS 'hành vi', kết nối các thành tố HTML với các hành vi JScript (có tên HTML Components, HTC); hồ sơ HTML+TIME, thêm hỗ trợ đồng bộ hóa thời gian và phương tiện vào văn bản HTML (tương tự như W3C XHTML+SMIL); và định dạng tập tin đồ họa vector VML. Tuy nhiên, tất cả chúng đều bị từ chối, ít nhất là ở dạng nguyên bản. Tuy nhiên, VML sau đó đã được phối hợp với PGML (do Adobe và Sun đề xuất), để có được định dạng SVG mà W3C đã chứng nhận, hiện là một số ít các định dạng hình ảnh vector đang được sử dụng trên web, còn IE lại rất độc đáo khi vẫn không hỗ trợ định dạng này.
Các tiêu chuẩn thương mại khác bao gồm, hỗ trợ văn bản dọc, nhưng trong một cú pháp khác với lời khuyên ứng viên W3C CSS3. Hỗ trợ các hiệu ứng hình ảnh khác nhau và chuyển trang, không có trong W3C CSS. Hỗ trợ mã kịch bản hoang mang (obfuscated), mà cụ thể là JScript.Encode(). Hỗ trợ các phông chữ EOT nhúng trong trang web.
Favicon
Favicon (viết tắt cho "favorites icon", biểu tượng ưa thích) được Internet Explorer giới thiệu, hiện nay cũng đã được hỗ trợ và mở rộng trong các trình duyệt khác. Nó cho phép các trang web chỉ định một hình ảnh rộng 16x16 pixel trong mục đánh dấu trang. Nguyên thủy, nó chỉ hỗ trợ cho định dạng ICO gốc của Windows, tuy nhiên nó đã được mở rộng cho các loại hình ảnh khác như PNG và GIF.
Tính dễ dùng và dễ tiếp cận
Internet Explorer tận dụng nền tảng dễ tiếp cận (accessibility) trong Windows. Internet Explorer cũng là một giao diện người dùng cho FTP, với các tác vụ tương tự như Windows Explorer (mặc dù tính năng này cần phải dùng cửa sổ dòng lệnh để kích hoạt trong các phiên bản gần đây, chứ không nằm hẳn trong trình duyệt). Visual Basic for Applications (VBA) không được hỗ trợ, nhưng vẫn dùng được thông qua bộ mở rộng (iMacros). Các phiên bản gần đây có tính năng chặn pop-up và duyệt theo thẻ. Duyệt theo thẻ cũng có thể thêm vào các phiên bản cũ nếu cài MSN Search Toolbar của Microsoft hay Yahoo Toolbar của Yahoo.
Bộ đệm
Internet Explorer lưu vào bộ đệm các nội dung đã viếng thăm trong thư mục Temporary Internet Files để cho phép truy cập nhanh hơn (hoặc truy cập ngoại tuyến) vào các trang đã xem trước đó. Nội dung được đánh chỉ mục trong một tập tin cơ sở dữ liệu, có tên Index.dat. Nhiều tập tin Index.dat khác nhau tồn tại để đánh chỉ các nội dung khác nhau - nội dung đã xem, bản tin web, mục tự điền, URL đã xem, cookie, v.v.
Trước IE7, xóa bộ đệm sẽ xóa chỉ mục nhưng bản thân tập tin không bị xóa. Tính năng này có thể là nguy cơ bảo mật cho cả cá nhân lẫn công ty. Từ IE7 trở đi, cả chỉ mục lẫn tập tin đều bị xóa khi tẩy bộ đệm.
Group Policy
Internet Explorer hoàn toàn có thể cấu hình được bằng cách dùng Group Policy (chính sách nhóm). Những người quản trị miền Windows Server có thể áp dụng và bắt buộc một số các thiết lập có ảnh hưởng đến giao diện người dùng (như tắt các mục trên trình đơn và các tùy chọn cấu hình chho từng cá nhân), cũng như các tính năng bảo mật phía dưới như tải tập tin, cấu hình vùng (zone), thiết lập theo từng trang, hành vi ActiveX control, và nhiều thứ khác. Các thiết lập chính sách có thể được cấu hình cho mỗi người dùng và do mỗi máy tính. Internet Explorer cũng hỗ trợ Integrated Windows Authentication (Chứng nhận Windows Tích hợp).
== Kiến trúc ==
Internet Explorer sử dụng kiến trúc phân rã thành phần được xây dựng xoay quanh công nghệ Mô hình Đối tượng Thành phần (Component Object Model - COM). Nó bao gồm năm thành phần chính, mỗi thành phần được chứa trong một thư viện .dll riêng rẽ và đưa ra một tập các interface COM cho phép được chứa trong tập tin thực thi chính của Internet Explorer, iexplore.exe:
WinInet.dll
WinInet.dll là bộ xử lý giao thức dành cho HTTP và FTP. Nó xử lý tất cả các giao tiếp mạng thông qua các giao thức này.
URLMon.dll
URLMon.dll chịu trách nhiệm xử lý kiểu MIME và việc tải về các nội dung web-type handling and download of web.
MSHTML.dll
MSHTML.dll giữ bộ máy biểu diễn Trident được giới thiệu từ Internet Explorer 4, chịu trách nhiệm hiển thị trang lên màn hình và xử lý Mô hình Đối tượng Tài liệu (DOM) của trang web. MSHTML.dll sẽ phân tích các tập tin HTML/CSS và tạo ra dạng biểu diễn cây DOM cho nó. Nó cũng đưa ra một tập các API dành cho việc duyệt và điều chỉnh cây DOM trong khi đang chạy. Cây DOM được bộ máy trình bày xử lý kỹ hơn rồi sau đó được biểu diễn thành cách trình bày lên màn hình.
IEFrame.dll
IEFrame.dll chứa giao diện người dùng và cửa sổ IE trong Internet Explorer 7 trở về trước.
ShDocVw.dll
ShDocVw.dll cung cấp các tác vụ để duyệt web, lưu bộ đệm và lịch sử cho trình duyệt.
BrowseUI.dll
BrowseUI.dll chịu trách nhiệm giao diện người dùng trình duyệt, bao gồm chrome của trình duyệt, tức là tất cả các trình đơn và thanh công cụ.
Internet Explorer không chứa bất kỳ chức năng tạo kịch bản nào bên trong nó. Mà chính MSHTML.dll sẽ đưa ra một tập API khác để cho phép các môi trường tạo kịch bản được nhúng vào và truy xuất cây DOM. Internet Explorer 8 có gắn sẵn bộ máy Active Scripting (là một phần của Microsoft Windows), cho phép bất cứ ngôn ngữ nào được hiện thực thành một module Active Scripting có thể được dùng để tạo kịch bản từ phía máy khách. Mặc định, chỉ có module JScript và VBScript là được cung cấp; các hiện thực từ bên thứ ba như ScreamingMonkey (để hỗ trợ ECMAScript 4) cũng có thể dùng được. Microsoft cũng đưa ra trình chạy Microsoft Silverlight để cho phép ngôn ngữ CLI, bao gồm các ngôn ngữ động dựa trên DLR như IronPython và IronRuby, dùng cho việc tạo kịch bản từ phía máy khách.
Internet Explorer 8 giới thiệu một vài thay đổi lớn, có tên là Loosely Coupled IE (LCIE). LCIE tách các tiến trình giao diện ra khỏi tiến trình chứa các ứng dụng web khác nhau tại các thẻ khác nhau (tiến trình thẻ). Một tiến trình giao diện có thể tạo ra nhiều tiến trình thẻ, mỗi tiến trình thẻ có thể có độ tích hợp khác nhau; mỗi tiến trình thẻ có thể chứa nhiều website và có bộ đệm cookie của riêng nó. Hai tiến trình sử dụng Liên lạc Liên Tiến trình (Inter-Process Communication) bất đồng bộ để tự đồng bộ chúng. Nói chung, sẽ có một tiến trình thẻ dành cho tất cả các web site. Tuy nhiên, trong Windows Vista nếu bật chế độ bảo vệ, nội dung ưu tiên đang được mở (như các trang HTML trong máy) sẽ tạo ra một tiến trình thẻ mới vì nó không bị ràng buộc bởi chế độ bảo vệ.
== Khả năng mở rộng ==
Internet Explorer đưa ra một tập các interface Mô hình Đối tượng Thành phần (Component Object Model - COM) cho phép các thành phần khác mở rộng chức năng của trình duyệt. Khả năng mở rộng này được chia làm hai loại: Mở rộng trình duyệt và Mở rộng nội dung. Các interface mở rộng trình duyệt có thể dùng để nhúng các thành phần dùng để thêm các mục trình đơn, thanh công cụ, mục trong một trình đơn hay Đối tượng Trợ giúp Trình duyệt (Browser Helper Objects - BHO). Các BHO được dùng để mở rộng bộ tính năng của trình duyệt, trong khi các tùy chọn mở rộng khác dùng để đưa tính năng đó ra giao diện. Các interface mở rộng nội dung được các bộ xử lý kiểu nội dung khác nhau sử dụng để thêm hỗ trợ cho các định dạng nội dung không có sẵn. Các BHO không chỉ được truy cập không giới hạn vào DOM và mô hình sự kiện của Internet Explorer, mà chúng còn có thể truy cập hệ thống tập tin, registry và các thành phần hệ điều hành khác. Khả năng mở rộng nội dung có thể được gọi là Active Documents (Doc Objects) (ví dụ, SVG hay MathML) hoặc ActiveX controls. Các ActiveX control được dành cho các bộ xử lý nội dung trình bày nội dung được nhúng trong trang HTML (như Adobe Flash hay Microsoft Silverlight). Các đối tượng Doc được dùng khi kiểu nội dung không được nhúng trong HTML (như Microsoft Word, PDF hay XPS). Trên thực tế, bản thân bộ máy biểu diễn Trident cũng là một đối tượng Doc, do đó HTML tự nó cũng được xem là một Active Document.vvfsedygrsegrehjutrhgetgrweaehjwfkwehytuifhwerltuihrwiahtioewahtuiofhweguiohtguiwehgfogehioghiowehagioehwaiogheuiowhagioewhrgiohwriogher
Các thành phần bổ trợ (add-on) Interner Explorer chạy với cùng mức ưu tiên với trình duyệt, không giống như các đoạn mã kịch bản phía máy khách có ít quyền ưu tiên hơn. Thành phần bổ trợ có thể được cài đặt từ máy, hoặc trực tiếp từ website. Vì các thành phần bổ trợ có mức truy cập đến hệ thống cao hơn, các trình bổ trợ ác ý có thể và đã được dùng để xâm nhập vào sự bảo mật của hệ thống. Internet Explorer 6 Service Pack 2 trở về sau đã cung cấp các công cụ bảo vệ khỏi những thứ này, bao gồm một Trình quản lý Add-on Manager dùng để quản lý các ActiveX control và Đối tượng Trợ giúp Trình duyệt và một chế độ vận hành "Không có trình bổ sung" cũng như hạn chế hơn đối với việc cài đặt add-on từ website.
Bản thân Internet Explorer có thể được các trình ứng dụng khác lưu trữ thông qua một tập các interface COM. Nó có thể dùng để nhúng các chức năng trình duyệt vào bên trong một ứng dụng. Tương tự, ứng dụng lưu trữ có thể chọn chỉ chứa bộ máy biểu diễn MSHTML.dll chứ không cần phải chứa toàn bộ trình duyệt.
== Bảo mật ==
Internet sử dụng nền tảng bảo mật dựa theo khu vực, nó sẽ nhóm các site lại dựa trên một số điều kiện cụ thể, như nó có phải là site trên Internet hay Intranet hoặc có nằm trong danh sách trắng do người dùng ghi nhận hay không. Các hạn chế bảo mật được áp dụng theo khu vực; tất cả các site trong một khu vực sẽ tuân theo cùng một hạn chế.
Internet Explorer 6 SP2 trở về sau sử dụng Dịch vụ Thực thi Đính kèm (Attachment Execution Service) của Microsoft Windows để đánh các tập tin thực thi được tải về từ Internet có thể không an toàn. Khi truy cập các tập tin được đánh dấu như vậy, trình duyệt sẽ nhắc người dùng phải có quyết định tin tưởng trước khi thực thi, vì các tập tin thực thi xuất phát từ Internet có thể có nhiều nguy cơ không an toàn. Cách làm này giúp ngăn ngừa việc cài đặt phần mềm độc hại một cách vô ý.
Internet Explorer 7 giới thiệu bộ lọc chống lừa đảo (phishing), hạn chế truy cập đến các site phishing trừ khi người dùng quyết định tiếp tục xem. Với phiên bản 8, trình duyệt còn khóa truy cập vào trang site được biết là đang lưu trữ phần mềm độc hại (malware). Việc tải về cũng được kiểm tra để xem chúng có từng được báo là nhiễm phần mềm độc hại hay không.
Trong Windows Vista, Internet Explorer mặc định chạy trong chế độ có tên là Chế độ Bảo vệ (Protected Mode), trong đó đặc quyền của chính trình duyệt bị hạn chế đáng kể - nó không thể thực hiện thay đổi hệ thống. Người dùng có thể tắt chế độ này nhưng không được khuyến khích. Nó cũng hạn chế hiệu quả đặc quyền của các trình bổ sung (add-on). Kết quả là thậm chí nếu trình duyệt hoặc trình bổ sung nào bị khống chế, những thiệt hại bảo mật vẫn rất hạn chế.
Các bản vá và bản cập nhật trình duyệt được phát hành định kỳ và có thể tải về thông qua dịch vụ Microsoft Update, cũng như thông qua Automatic Updates. Mặc dù các bản vá bảo mật tiếp tục được phát hành cho nhiều hệ điều hành, đa số các bổ sung tính năng hay cải tiến nền tảng bảo mật chỉ có mặt cho các hệ điều hành đang trong giai đoạn hỗ trợ chủ yếu của Microsoft.
Vào ngày 16 tháng 12 năm 2008, Trend Micro khuyến cáo người dùng chuyển sang các trình duyệt đối thủ cho đến khi IE phát hành bản vá khẩn cấp để sửa một nguy cơ bảo mật có thể cho phép những kẻ bên ngoài tiếm quyền điều khiển máy tính và ăn cắp mật khẩu của bạn. Người đại diện của Microsoft phản đối đề nghị này, cho rằng chỉ có "0,02% người dùng Internet" bị ảnh hưởng bởi lỗi này. Vào ngày 17 tháng 12 năm 2008, Microsoft phát hành bản vá vấn đề bảo mật này trong bản Cập nhật Bảo mật dành cho Internet Explorer KB960714.
=== Dễ tổn thương về bảo mật ===
Internet Explorer luôn là chủ đề của nhiều lỗ hổng và lo ngại về bảo mật: Nhiều phần mềm gián điệp, phần mềm quảng cáo, và virus máy tính trên Internet đã khai thác các lỗi và lỗ hổng trong kiến trúc bảo mật của Internet Explorer, đôi khi không phá hoại trực tiếp ngoài việc khiến người dùng xem một trang web độc hại nào đó để tự cài chúng vào máy. Kiểu phá hoại này có tên "drive-by install". Cũng có loại phần mềm lừa người dùng cài đặt phần mềm độc hại bằng cách giới thiệu một cách giả mạo mục đích tốt đẹp của phần mềm trong phần miêu tả của một cảnh báo bảo mật ActiveX.
Một số lỗ hổng bảo mật ảnh hưởng đến IE không phải xuất phát từ trình duyệt, mà từ các trình bổ sung ActiveX mà IE sử dụng. Vì những trình bổ sung này có cùng đặc quyền với IE, những lỗ hổng này cũng nguy hiểm như lỗ hổng từ trình duyệt. Do đó kiến trúc dựa trên ActiveX này đã bị chỉ trích rất nhiều. Gần đây, nhiều chuyên gia khác vẫn bảo lưu quan điểm rằng các nguy hiểm từ ActiveX đã bị phóng đại và vẫn có những cách bảo vệ đúng nơi đúng lúc. Các trình duyệt khác sử dụng NPAPI làm cơ chế mở rộng cũng đang gặp vấn đề y hệt. Trong cột ý kiến trong tờ tháng 4 năm 2005 của eWeek, Larry Seltzer cho rằng:
Trong khi đã có những lời cáo buộc thiếu chứng cứ rằng ActiveX thiếu an toàn, tiếp tục vẫn không ít lời xác nhận thiếu chứng cứ và tấn công rẻ tiền. Điều tôi ưa thích là vụ việc "Internet Explorer" trong đó Sun thực sự trả tiền cho người khác để viết một ActiveX control độc hại. Hệ thống kiểm thử đưa ra tất cả các hộp thoại cảnh báo về chương trình mà bạn vẫn thường hay thấy còn các nhân viên Sun thì thấy khó chịu khi cứ phải nhấn phím enter thật nhanh để họ có thể đóng hộp thoại đó càng nhanh càng tốt mà không đề cập đến các cảnh báo. Trong khi đó, họ cũng không đề cập đến việc một Java applet đã ký cũng có thể thực hiện các hành vi đặc quyền nguy hiểm và cũng đưa ra cùng kiểu cảnh báo như vậy. Đa số những người chỉ trích ActiveX đơn giản là do không hiểu rõ, nhưng ví dụ này thật là đạo đức giả và thiếu chân thật
.
Tuy Internet Explorer vào năm 2008 có số lỗ hổng bảo mật tương tự với Safari và Opera, và ít hơn đáng kể cho với đối thủ cạnh tranh chính, Mozilla Firefox, sự phổ biến của nó đã dẫn đến có nhiều người bị ảnh hưởng hơn khi có một lỗ hổng bị phát hiện. Theo nghiên cứu của công ty nghiên cứu bảo mật Secunia, Microsoft đã không hồi đáp nhanh bằng các đối thủ cạnh tranh trong việc sửa các lỗ hổng bảo mật và đưa ra các bản vá. Công ty này cũng báo cáo rằng có 366 lỗ hổng tìm thấy trong các ActiveX control, tăng hơn so với năm trước.
== Tỷ lệ sử dụng và thị phần người dùng ==
Tỷ lệ sử dụng Internet Explorer dường như liên hệ chặt chẽ với Microsoft Windows, vì nó là trình duyệt web mặc định của Windows. Từ khi tích hợp Internet Explorer 2.0 vào Windows 95 OSR một trong năm 1996, và đặc biệt là sau khi phát hành phiên bản 4.0, tỷ lệ sử dụng tăng lên rất nhanh: từ dưới 20% vào năm 1996 lên đến 40% vào năm 1998 và trên 80% vào năm 2000.
Một bài báo của CNN đã bình luận khi Internet Explorer 4 phát hành: "Internet Explorer của Microsoft đã đi đúng đường và ước tính nâng thị phần sử dụng trình duyệt lên 30 đến 35 phần trăm so với 10 phần trăm vào năm trước". Đến năm 2002, Internet Explorer đã hoàn toàn đánh bại đối thủ chính Netscape và chiếm lĩnh đến 95% thị phần.
Sau khi chiến đấu và giành chiến thắng cuộc chiến trình duyệt vào cuối thập niên 1990, Internet Explorer hầu như thống trị hoàn toàn thị trường trình duyệt. Đạt đến đỉnh 95% vào năm 2002 và 2003, thị phần của nó từ đó giảm đều đặn. Lý do chính là do việc sử dụng Mozilla Firefox, mà các con số thống kê cho thấy đó là đối thủ cạnh tranh đáng chú ý nhất hiện nay. Tuy nhiên, Internet Explorer vẫn là trình duyệt web thống trị, với thị phần toàn cầu là khoảng 66% (con số có thể thay đổi). Tỷ lệ sử dụng có cao hơn ở châu Á và thấp hơn ở châu Âu.
Bản mẫu:Msieshare1
Firefox 1.0 đã vượt qua Internet Explorer 5 vào đầu năm 2005 với con số là xấp xỉ 8% thị phần. Một bài báo đã ghi khi Internet Explorer 7 phát hành vào tháng 10 năm 2006 "IE6 có thị phần thống lĩnh với 77,22%. Internet Explorer 7 đã leo đến 3,18%, còn Firefox 2.0 là 0.69%".
Internet Explorer 7 được phát hành cùng thời gian với Firefox 2.0, và vượt qua Firefox 1.x vào tháng 11 năm 2006, với khoảng 9% thị phần. Firefox 2.0 vượt qua 1.x vào tháng 1 năm 2007, nhưng IE7 vẫn không qua mặt được IE6 cho đến tháng 12 năm 2007. Đến tháng 1 năm 2008, thị phần tương ứng của chúng là 43% đối với IE7, 32% cho IE6, 16% cho FF2, 4% cho Safari 3 và cả phiên bản FF1.x và IE5 là ít hơn nửa phần trăm.
Số người dùng xấp xỉ qua thời gian dựa trên số liệu thị phần người dùng khác nhau trong cả năm, hoặc dựa trên từng quý, hoặc trong tháng cuối của năm tùy thuộc vào nguồn tham khảo.
=== Sử dụng trong công nghiệp ===
Cơ chế mở rộng ActiveX được nhiều website và ứng dụng web công cộng sử dụng, trong đó có eBay. Tương tự, Đối tượng Trợ giúp Trình duyệt cũng được nhiều công ty cung cấp bộ máy tìm kiếm và các bên thứ 3 sử dụng để tạo ra các trình bổ sung để truy cập vào dịch vụ của họ, như thanh công cụ bộ máy tìm kiếm. Do việc sử dụng COM, hoàn toàn có thể nhúng chức năng duyệt web vào các ứng dụng của bên thứ ba. Do đó, hiện có một số Internet Explorer shell, và một số ứng dụng hướng nội dung như RealPlayer cũng sử dụng module duyệt web của Internet Explorer để xem trang web bên trong ứng dụng.
== Tương thích với Hệ điều hành ==
Các phiên bản IE qua thời gian có nhiều độ tương thích hệ điều hành khác nhau, từ việc có mặt ở nhiều nền tảng hệ điều hành và vài phiên bản Windows cho đến chỉ một số ít phiên bản Windows. Nhiều phiên bản IE có hỗ trợ cho hệ điều hành cũ hơn nhưng dừng cập nhật. Lượng người dùng Internet tăng vọt vào thập niên 1990 và 2000 có nghĩa là các trình duyệt hiện nay có thị phần nhỏ vẫn có số lượng người dùng lớn hơn toàn bộ thị phần khi xưa. Ví dụ, 90% thị phần vào năm 1997 là khoảng 60 triệu người dùng, nhưng vào đầu năm 2007 90% thị phần tương đương với 900 triệu người dùng. Kết quả là các phiên bản sau của IE6 có tổng cộng nhiều người dùng hơn tất cả các phiên bản trước đó gộp lại.
Việc phát hành IE7 vào cuối năm 2006 đã dẫn đến sự sụp đổ về thị phần của IE6; đến tháng 2 năm 2007 các con số thống kê thị phần phiên bản cho thấy IE6 đạt khoảng 50% và IE7 khoảng 29%. Bất kể thị phần thực sự thế nào, phiên bản tương thích tốt nhất (qua nhiều hệ điều hành) của IE là 5.x, có mặt cho Mac OS 9 và Mac OS X, Unix, và hầu hết các hệ điều hành Windows và được hỗ trợ một thời gian ngắn vào cuối thập niên 1990 (mặc dù phiên bản 4.x có nền tảng mã nguồn thống nhất hơn qua các phiên bản). Đến năm 2007, IE có mức hỗ trợ hệ điều hành hẹp hơn, với phiên bản mới nhất chỉ hỗ trợ Windows XP Service Pack 2 trở lên. Internet Explorer 5.0, 5.5, 6.0, và 7.0 (thử nghiệm) cũng được chuyển không chính thức sang hệ điều hành Linux từ dự án "ies4linux" tại [2].
* Internet Explorer 6 SP2 chỉ có mặt dưới dạng thành phần của Windows XP SP2 hay Windows Server 2003 SP1 hay SP2.** Phiên bản Internet Explorer kèm trong Windows 95 khác nhau tùy theo lần phát hành OSR; 2.0 kèm trong OSR1, 3.0 kèm trong OSR2, và 4.0 kèm trong OSR2.5.*** Bản chất là không hỗ trợ, nhưng dùng được với bộ cài đặt "Đứng một mình" của bên thứ ba.**** Phiên bản cuối cùng của Windows XP Service Pack 3 không kèm theo IE7.
Xem thêm Internet Explorer Mobile. Các phiên bản IE không dành cho máy tính bàn cũng hỗ trợ Windows CE.
== Internet Explorer "đứng một mình" ==
Các phiên bản đầu của Internet Explorer 5 như có chế độ tương thích để chạy Internet Explorer 4, mặc dù tính năng này đã được bỏ (tương tự người dùng Mac vẫn dùng được 4.5 sau khi cài đặt 5). Trong khi Microsoft tuyên bố không thể giữ nhiều phiên bản Internet Explorer trên cùng máy tính, một số hacker đã tách thành công các phiên bản của Internet Explorer, khiến cho chúng trở thành các ứng dụng đứng một mình (standalone). Chúng được gọi là IE "đứng một mình" và có từ các phiên bản 3 cho đến 8.
Nhiều IE trong Thiết kế Web Windows — nhà phát triển web Joe Maddalone là người tìm ra giải pháp này.
Hộp cát Trình duyệt Xenocode — chương trình ảo hóa ứng dụng Xenocode
Microsoft không còn tiếp tục cung các bộ cài đặt đứng một mình của Internet Explorer dành cho công chúng. Tuy nhiên, có một số quy trình không chính thức để tải các gói cài đặt đầy đủ về. Các bản hack Internet Explorer đứng một mình thực hiện một các đi vòng qua DLL hell, được giới thiệu trong Windows 2000, có tên đổi hướng DLL.
Bộ IE. Một trình cài đặt dành cho các phiên bản độc lập của IE8.0, IE7.0, IE6.0, IE5.51, IE5.01, IE4.01, IE3.0, IE2.01, IE1.5, và IE1.0
Tài liệu Hỗ trợ Microsoft, với các hướng dẫn tải về toàn bộ các tập tin cài đặt.
Cũng có thể cài đặt Internet Explorer thông qua Wine.
IEs4Linux tự động cài đặt Internet Explorer 5.0, 5.5, và 6.0 trong Wine. Việc hỗ trợ cho Internet Explorer 7 hiện đang được phát triển; đến tháng 8 năm 2007, bộ máy hiển thị IE7 có thể dùng với giao diện IE6.
Sau khi cài đặt Internet Explorer 7, vẫn còn một tập tin thực thi Internet Explorer 6 trong C:\WINDOWS\ie7, mặc định là ẩn. Chạy tập tin này sẽ chuyển người dùng về giao diện cũ của IE6, nhưng các trang web được hiển thị dùng bộ máy IE7. Bộ máy IE6 có thể được tái kích hoạt bằng cách đặt một tập tin có tên "iexplore.exe.local" vào thư mục IE7.
Với một cách thay thế cho việc sử dụng IE đứng một mình, Microsoft cho ra mắt các ảnh Microsoft Virtual PC có chứa các phiên bản Windows XP kích hoạt sẵn với IE6 hoặc IE7 đã được cài. Microsoft khuyến cáo cách dùng này cho những nhà phát triển web tìm cách kiểm thử trang web của họ trong nhiều phiên bản IE khác nhau vì các phiên bản đứng một mình không được hỗ trợ và có thể không hoạt động giống như bản sao đã cài đặt đúng của IE.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Opera
Safari
Mozilla Firefox
Danh sách trình đọc bản tin
So sánh các trình đọc bản tin
So sánh các trình duyệt web
== Liên kết ngoài ==
Website chính của Internet Explorer (tiếng Anh)
IEBlog – weblog của nhóm đang phát triển Internet Explorer (Anh)
Channel9 Wiki: InternetExplorer – trang wiki của Microsoft về Internet Explorer (Anh)
Cộng đồng Internet Explorer – cộng đồng chính thức sử dụng Microsoft Internet Explorer (Anh)
Bản mẫu:Aggregators |
alcuin.txt | Alcuin thành York (tiếng Latinh: Flaccus Albinus Alcuinus; k. 735 – 19 tháng 5, 804 AD), cũng viết là Ealhwine, Alhwin hoặc Alchoin, là một học giả, nhà giáo, nhà thơ, giáo sĩ người Anh tới từ York, Northumbria. Ông là môn sinh của Tổng giám mục Ecgbert thành York. Đáp ứng lời mời của Charlemagne, ông trở thành một giảng sư và học giả hàng đầu trong triều đình Carolus. Ông viết nhiều bài luận thần học và giáo lý cũng như một vài tác phẩm về văn phạm và một số bài thơ. Ông được đặt làm Viện phụ thành Tours năm 796 cho tới khi qua đời. Là "người học thức nhất ở bất cứ nơi đâu" theo như Einhard nhận định trong Vita Karoli Magni, Alcuin được coi là một trong những kiến trúc sư quan trọng nhất của cuộc Phục hưng Carolus. Nhiều học trò của ông là những nhà trí thức có ảnh hưởng trong thời đại Carolingian.
== Chú thích == |
trung tây hoa kỳ.txt | Trung tây Hoa Kỳ (tiếng Anh: Midwestern United States hay thường được nói tắt là Midwest) là một trong bốn vùng địa lý của Hoa Kỳ, được Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ chính thức công nhận. Thuật từ "Midwest" hay có nghĩa "trung tây" là một thuật từ sai nghĩa vì phần lớn vùng này nằm trong nữa phía đông của Hoa Kỳ..
Vùng này bao gồm 12 tiểu bang nằm ở giữa và phía bên trong đông bắc Hoa Kỳ: Illinois, Indiana, Iowa, Kansas, Michigan, Minnesota, Missouri, Nebraska, Bắc Dakota, Ohio, Nam Dakota, và Wisconsin. Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ ước tính dân số vùng vào năm 2006 là 66.217.736 người. Cả trung tâm địa lý của Hoa Kỳ Lục địa và trung tâm dân số của Hoa Kỳ là ở vùng Trung tây. Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ chia vùng này thành các tiểu bang Trung Đông Bắc (đặc biệt là các tiểu bang Ngũ Đại Hồ) và các tiểu bang Trung Tây Bắc.
Chicago là thành phố lớn nhất trong vùng, theo sau là Detroit và Indianapolis. Chicagoland là vùng đô thị lớn nhất, theo sau là Vùng đô thị Detroit, Minneapolis – Saint Paul, và Đại St. Louis. Sault Ste. Marie, Michigan là thành phố cổ nhất trong vùng, được thành lập bởi những người truyền giáo và thám hiểm Pháp vào năm 1668.
Thuật từ Midwest (Trung Tây) đã được sử dụng phổ thông trên 100 năm. Một thuật từ khác đôi khi được dùng để chỉ cùng vùng tương tự là "the heartland" (vùng đất trung tâm). Những thuật từ khác được dùng để chỉ vùng này nhưng không còn được sử dụng nữa còn gồm có "Northwest" (Tây Bắc) hay "Old Northwest" (Cựu Tây Bắc vì toàn bộ Hoa Kỳ lúc đó chỉ nằm bên duyên hải phía đông ngày nay) và "Mid-America" (Trung-Hoa Kỳ). Từ khi cuốn sách Middletown xuất hiện năm 1929, các nhà xã hội học thường hay dùng các thành phố Trung Tây như "đại diện đặc trưng" cho cả quốc gia. Vùng này có một tỉ lệ cao giữa dân số và công ăn việc làm (phần trăm số người có việc làm, tuổi ít nhất là 16) hơn vùng Đông Bắc, vùng miền Tây, vùng miền Nam, hay các tiểu bang vùng Vành đai Mặt trời.
== Định nghĩa ==
Các định nghĩa truyền thống về vùng Trung Tây Hoa Kỳ đều bao gồm các tiểu bang "Cựu Tây Bắc" và nhiều tiểu bang thuộc Vùng đất mua Louisiana. Các tiểu bang Cựu Tây Bắc cũng được biết là "các tiểu bang Ngũ Đại Hồ". Nhiều tiểu bang thuộc Vùng đất mua Louisiana cũng còn được biết với cái tên "các tiểu bang Đại Bình nguyên".
Vùng Trung Bắc được Cục điều tra dân số Hoa Kỳ định nghĩa gồm các tiểu bang sau đây:
Illinois: Cựu Tây Bắc, Sông Ohio và các tiểu bang Ngũ Đại Hồ.
Indiana: Cựu Tây Bắc, Sông Ohio và các tiểu bang Ngũ Đại Hồ.
Iowa: Vùng đất mua Louisiana, tiểu bang Đại Bình nguyên.
Kansas: Vùng đất mua Louisiana, tiểu bang biên giới, tiểu bang Đại Bình nguyên.
Michigan: Cựu Tây Bắc và tiểu bang Ngũ Đại Hồ.
Minnesota: Cựu Tây Bắc, Vùng đất mua Louisiana và tiểu bang Ngũ Đại Hồ.
Missouri: Vùng đất mua Louisiana, tiểu bang biên giới, tiểu bang Đại Bình nguyên.
Nebraska: Vùng đất mua Louisiana, tiểu bang Đại Bình nguyên.
Bắc Dakota: Vùng đất mua Louisiana, tiểu bang Đại Bình nguyên.
Ohio: Cựu Tây Bắc, Sông Ohio và tiểu bang Ngũ Đại Hồ. Cũng là một tiểu bang vùng Đông bắc Appalachia ở đông nam.
Nam Dakota: Vùng đất mua Louisiana, tiểu bang Đại Bình nguyên.
Wisconsin: Cựu Tây Bắc và tiểu bang Ngũ Đại Hồ.
== Địa lý hình thể ==
Mặc dù các tiểu bang này tương đối bằng phẳng, gồm có các bình nguyên hay các đồi nhỏ trùng điệp nhưng vùng này cũng có các đặc điểm địa lý đa dạng. Đặc biệt là phía đông (gần phía chân của các ngọn đồi thuộc Dãy núi Appalachian); Bồn trũng Ngũ Đại Hồ; và Vùng Driftless thuộc đông nam Wisconsin, đông nam Minnesota, và đông bắc Iowa cho thấy một mức độ cao về địa hình đa dạng. Các đồng cỏ bao phủ phần lớn các tiểu bang phía tây Sông Mississippi, trừ bắc Minnesota có rừng Taiga và nam Missouri có Dãy núi Ozark. Illinois nằm trong một khu vực gọi là "bán đảo đồng cỏ" (prairie peninsula). Mưa giảm dần từ đông sang tây nên khiến cho vùng này có nhiều loại đồng cỏ: đồng cỏ cao ở vùng phía đông mưa nhiều, đồng cỏ hỗn tạp trong miền trung Đại Bình nguyên và đồng cỏ thấp nằm ở phía khuất mưa thuộc Rặng Thạch Sơn. Ngày nay, ba loại đồng cỏ này là những khu vực trồng bắp/đậu nành, khu vực trồng lúa mì, và khu vực nuôi gia súc theo thứ tự vừa nói. Mặc dù những khu rừng cây gỗ chắc ở bắc Trung Tây bị khai thác đến tuyệt chủng vào cuối thập niên 1800 nhưng chúng đã được trồng lại. Rừng của Ohio và Michigan vẫn còn phát triển. Phần lớn Trung Tây bây giờ có thể được xếp vào loại những khu vực đô thị hay nông nghiệp chăn nuôi.
=== Các thành phố lớn và vùng đô thị của Trung Tây Hoa Kỳ ===
== Xem thêm ==
Danh sách các vùng của Hoa Kỳ
Đông Bắc Hoa Kỳ
Đại Bình nguyên Hoa Kỳ
Ngũ Đại Hồ
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
Buley, R. Carlyle. The Old Northwest: Pioneer Period 1815-1840 2 vol (1951), Pulitzer Prize
Cayton, Andrew R. L. Midwest and the Nation (1990)
Cayton, Andrew R. L. and Susan E. Gray, Eds. The American Midwest: Essays on Regional History. (2001)
Frederick; John T. ed. Out of the Midwest: A Collection of Present-Day Writing (1944) literary excerpts
Garland, John H. The North American Midwest: A Regional Geography (1955)
Jensen, Richard. The Winning of the Midwest: Social and Political Conflict, 1888-1896 (1971)
Fred A. Shannon, "The Status of the Midwestern Farmer in 1900". The Mississippi Valley Historical Review. Vol. 37, No. 3. (Dec., 1950), pp. 491–510. in JSTOR
Richard Sisson, Christian Zacher, and Andrew Cayton, eds. The American Midwest: An Interpretive Encyclopedia (Indiana University Press, 2006), 1916 pp of articles by scholars on all topics covering the 12 states; ISBN 0-253-34886-2 ISBN 978-0-253-34886-9
Terre Haute Tribune-Star (West Central news daily)
Meyer, David R. "Midwestern Industrialization and the American Manufacturing Belt in the Nineteenth Century". Vol. 49, No. 4 (Dec., 1989) pp. 921–937. The Journal of Economic History, [2], JSTOR. |
playstation 3.txt | PlayStation 3 (プレイステーション 3,, Pureisutēshon Surī, nhãn hiệu PLAYSTATION 3, thường gọi tắt PS3) là video game console thế hệ thứ bảy. Nó là thành công của PlayStation và PlayStation 2 và cạnh tranh với Xbox 360 của Microsoft và Wii của Nintendo.
PS3 được phát hành ngày 11 tháng 11 năm 2006 tại Nhật Bản, và ngày 17 tháng 11 năm 2006 tại Hoa Kỳ, Canada, Hồng Kông, và Đài Loan. Nó được phát hành vào tháng 3 năm 2007 tại châu Âu và Úc.
== Công nghệ ==
PlayStation 3 dùng bộ xử lý (BXL) Cell do IBM, Sony, và Toshiba phát triển. Chip này có 9 processors. Công nghệ Cell có thể xử lý nhanh gấp 10 lần các bộ xử lý trước nên PS3 có khả năng chạy đồng thời nhiều chương trình.
Khả năng đồ họa trong PS3 tinh tế đến mức cho phép đổ bóng theo sự thay đổi của các vật thể và có khả năng tạo sự phản chiếu của ánh sáng trong mắt nhân vật. Đó là nhờ sức mạnh của BXL đồ họa RSX, dựa trên công nghệ của NVIDIA với 512 MB bộ nhớ và khả năng xử lý điểm ảnh 128 bit, độ phân giải 1080 p.
RSX được sản xuất bằng công nghệ 90 nm với 8 lớp và hơn 300 triệu transistor.
PS3 được trang bị chip nhớ XDR RAM 512MB của Samsung có tốc độ 9,6 GB/s đạt tốc độ trung bình 4,8 GB/s ở hiệu điện thế 1,8 v.
Playstation 3 được trang bị ổ cứng 80GB.
PS3 khi mới sản xuất mạnh đến mức hầu như chẳng có cỗ máy pc nào mạnh hơn nó và đến khoảng 4 năm sau cũng chỉ có khoảng 10% máy PC có cấu hình mạnh hơn PS3 vào thời điểm bấy giờ
Với cổng Ethernet tích hợp, game thủ có thể vừa chơi, vừa chat hay lướt web, xem hình, nghe nhạc. Điều đặc biệt là PS3 có thể chơi những trò được thiết kế cho dòng Playstation và Playstation 2.
Nhờ firmware mới nhất từ Sony và tính năng OtherOS, người dùng còn có thể cài Linux trên PS3, biến nó thành một chiếc PC với đầy đủ các tính năng như chơi nhạc, xem phim. Trên Linux, việc emulate Windows XP trên PS3 đã được thực hiện thành công. vào năm 2010 sony đã loại bỏ tính năng hệ điều hành khác vì lý do bảo mật và giảm thiểu việc hack chỉnh sửa hệ thống.
== Tay cầm điều khiển ==
Ban đầu Sony dự định cho ra mắt loại tay "Boomerang" mới. Nhưng sau đó kế hoạch này đã bị huỷ bỏ. PlayStation 3 tiếp tục được bán kèm với loại tay cầm điều khiển của PlayStation truyền thống để đảm bảo tính tương thích với tay của PlayStation 2 và PlayStation 1. Với cùng kiểu dáng cũng như số nút điều khiển, người sử dụng có thể dùng tay cầm điều khiển của PlayStation 1 và 2 trên PlayStation 3, giúp tiết kiệm một khoản chi phí đáng kể. Nhưng 8/5/2006, CEO Kutaragi của Sony hé lộ tay cầm PS3 mới với giá gần 50$
== Hack ==
Sau nhiều năm nghiên cứu, cuối cùng Geohotz (hacker đã hack iPhone) đã hack thành công PS3, cho phép người chơi dùng đĩa lậu để chơi. Nhờ một thiết bị có tên USB Jail Break, người sử dụng có thể dùng đĩa lậu để chơi online trên PlayStation Network.
== Rắc rối ==
Phát hành cùng thời gian với máy Wii của Nintendo, nhưng số lượng máy PS3 bán ra trên thị trường khi đó thấp hơn so với các hệ máy khác. Nguyên nhân chủ yếu là do giá thành của máy và số lượng đầu game ít phong phú. Tuy nhiên sau một thời gian thì PlayStation 3 cũng đã khắc phục được nhược điểm này khi giảm được 70% chi phí sản xuất cùng giá thành cũng như có nhiều tựa game hơn, sau đó số lượng bán ra đã gần bắt kịp với Xbox 360.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ PlayStation 3 Hoa Kỳ
Trang chủ PlayStation 3 Úc
Trang chủ PlayStation 3 châu Âu
Trang chủ PlayStation 3 Anh
Trang sản phẩm PlayStation
Trang quảng cáo PS3
Hướng dẫn sử dụng PlayStation 3
Open Platform cho PlayStation 3 |
peso philippines.txt | Piso (tiếng Philippines) hay peso (tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha) là đơn vị tiền tệ của Philippines. Đơn vị tiền tệ này được chia nhỏ ra 100 sentimo (tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha: centavos). Tên theo ISO 4217 là "Philippine peso" và mã là "PHP". Dù tên gọi được in trên giấy bạc và đồng xu kim loại đã đổi từ "peso" sang "piso" năm 1967, tên gọi peso tiếp tục được sử dụng tại địa phương trong nhiều ngữ cảnh khi tiếng Anh được sử dụng.
Đồng tiền peso thường được ký hiệu là . Ký hiệu này đã được bổ sung vào tiêu chuẩn Unicode trong phiên bản 3.2 và quy cho mã là U+20B1 (₱). Do thiếu sự hỗ trợ phông chữ, ký hiệu này thường được thay thế bằng chữ cái đơn giản P, một chữ P với một đường ngang thay vì hai (có sẵn với dấu hiệu peseta, U+20A7 (₧), trong một vài phông chữ), PHP, hoặc PhP.
Tiền kim loại được đúc tại Security Plant Complex. Tiền giấy và nhiều giấy tờ, tài liệu chính phủ khác đều được in ở Tổ hợp Nhà máy An ninh hoặc Văn phòng In ấn Quốc gia.
== Lịch sử ==
Tiền peso Philippine lấy tên gọi từ đồng xu bạc Tây Ban Nha Real de a Ocho hay dollar Tây Ban Nha, được lưu hành rộng rãi ở châu Mỹ và châu Á vào thế kỷ 17 và 18, thông qua việc sử dụng nó ở các thuộc địa của Tây Ban Nha và thậm chí ở Mỹ và Canada.
== Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng PHP ==
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Tiền Philippines tại Wikimedia Commons |
thời đại đồ đá mới.txt | Thời đại đồ đá mới là một giai đoạn trong lịch sử phát triển công nghệ của loài người, bắt đầu từ khoảng năm 10.200 TCN theo niên đại học ASPRO ở một vài nơi thuộc Trung Đông, và muộn hơn ở những nơi khác của thế giới. Theo cách hiểu thông thường, đây là giai đoạn cuối của thời kỳ đồ đá. Thời kỳ đồ đá mới là giai đoạn tiếp theo của Epipaleolithic trong Holocene, bắt đầu bằng sự rộ lên của việc nuôi trồng, và tạo ra cuộc "cách mạng thời kỳ đồ đá mới", và thời kỳ này kết thúc khi các công cụ kim loại trở nên phổ biến trong thời đại đồ đồng đá, hoặc thời đại đồ đồng hoặc phát triển trực tiếp lên thời kỳ đồ sắt, tùy theo các vùng địa lý. Thời kỳ đồ đá mới là một bước tiến triển về các thay đổi và đặc điểm của văn hóa và ứng xử, như việc sử dụng các loại cây trồng hoang dại và thuần hóa và sử dụng các loài động vật được thuần hóa.
== Tham khảo ==
== Tài liệu ==
== Liên kết ngoài ==
McNamara, John (2005). “Neolithic Period”. World Museum of Man. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2008.
Rincon, Paul (ngày 11 tháng 5 năm 2006). “Brutal lives of Stone Age Britons”. BBC News. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2008.
Current Directions in West African Prehistory – McIntosh & McIntosh (1983)
Vincha Neolithic Script
UB Préhistoire — Enseignements sur le Néolithique |
danh sách đơn vị hành chính cấp huyện của việt nam.txt | Đây là danh sách các đơn vị hành chính cấp huyện của Việt Nam. Tính đến ngày 19 tháng 4 năm 2017, danh sách có tổng cộng 713 đơn vị, gồm: 68 thành phố trực thuộc tỉnh, 50 thị xã, 49 quận và 546 huyện.
== Danh sách các đơn vị hành chính cấp huyện ==
Số liệu dân số chủ yếu từ Điều tra dân số 01/04/2009.
== Xem thêm ==
Danh sách các huyện cũ của Việt Nam
Phân cấp hành chính Việt Nam
Thành phố (Việt Nam)
Tỉnh (Việt Nam)
Thành phố trực thuộc trung ương (Việt Nam)
Quận (Việt Nam)
Thành phố trực thuộc tỉnh (Việt Nam)
Thị xã (Việt Nam)
Huyện (Việt Nam)
Phường (Việt Nam)
Danh sách thị trấn tại Việt Nam
Thị trấn (Việt Nam)
Thị trấn nông trường
Xã (Việt Nam)
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Mã cấp tỉnh, cấp huyện Việt Nam, ngày 29 tháng 6 năm 2004
Mã và tên các đơn vị hành chính Việt Nam |
danh sách quốc gia theo chỉ số bình đẳng thu nhập.txt | Biểu đồ dưới đây là danh sách sơ lược các quốc gia theo hệ số bất bình đẳng thu nhập (hệ số Gini). Danh sách này do Liên Hiệp Quốc và Cục tình báo Trung ương Mỹ CIA cung cấp. Một quốc gia có hệ số Gini càng gần 0 thì nền kinh tế càng bình đẳng giữa người giàu và người nghèo, còn ngược lại hệ số này càng gần 100 thì càng bất bình đẳng. (Chú ý: các số liệu khác nhau cho các ước tính trong bảng có thể cho các hướng so sánh.)
== Danh sách theo chỉ số bình đẳng thu nhập ==
Hệ số R/P: Tỷ số thu nhập trung bình của giàu nhất/nghèo nhất (richest/poorest).
LHQ R/P: Số liệu của Liên Hiệp Quốc về tỷ số R/P, mức 10% và 20% dân
World Bank Gini
CIA R/P Số liệu CIA The World Factbook
CIA Gini, The World Factbook
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Lists of countries and territories
Danh sách quốc gia theo tính tự do kinh tế
== Liên kết ngoài ==
The World Distribution of Household Wealth |
tượng thần vệ nữ.txt | Hãy đừng lẫn lộn tượng này với nhóm tượng nhỏ tiền sử được gọi Các tượng Vệ Nữ
Tượng thần Vệ Nữ thành Milo (tiếng Pháp: Venus de Milo) là một bức tượng Hy Lạp cổ đại và là một tác phẩm điêu khắc Hy Lạp cổ đại nổi tiếng nhất, khắc hoạ Aphrodite (người La Mã gọi là Venus; Hán-Việt là "Vệ nữ"), vị nữ thần tình yêu và sắc đẹp của người Hy Lạp. Tượng được điêu khắc trên chất liệu cẩm thạch, hơi lớn hơn người thật với chiều cao 203 cm (80 inches), nhưng đã mất hai tay và bệ nguyên bản. Theo một đoạn văn khắc trên cái bệ ngày nay đã mất, mọi người cho rằng đây là tác phẩm của Alexandros xứ Antioch; trước kia tượng từng bị nhầm là tác phẩm của nhà điêu khắc Praxiteles.
== Giải thích ==
Tượng có niên đại khoảng năm 130 TCN. Dù niên đại này khá muộn, nó tổng hợp các phong cách điêu khắc cổ điển Hy Lạp. Hiện vẫn chưa biết chính xác bức tượng này, theo nguyên bản, thể hiện khía cạnh nào của thần Vệ nữ. Thông thường mọi người cho rằng tượng khắc hoạ Venus Victrix đang giữ một quả táo vàng do Paris thành Troia đưa (xem thêm Sự phán xử của Paris). Đây cũng có thể là nguồn gốc cách đặt tên kiểu chơi chữ hòn đảo Milos, có nghĩa là "quả táo" trong tiếng Hy Lạp. Một mảnh của cánh tay với quả táo đã được tìm thấy gần bức tượng và được cho là cánh tay nguyên bản của tượng. Sau khi bức tượng được tìm thấy, nhiều người đã tìm cách khôi phục dáng bộ nguyên thuỷ, dù vậy vẫn chưa mang lại thành công. (Một bản vẽ của Adolf Furtwängler về đề xuất dáng vẻ nguyên thủy của bức tượng có trong một bài viết của Kousser[1].)
== Khám phá và tiếng đồn ==
Bức tượng được một người nông dân tên là Yorgos Kentrotas tìm thấy trong tình trạng rời làm hai mảnh năm 1820 trên đảo Milos, cũng được gọi là Melos hay Milo, ở Aegae. Ông giấu bức tượng nhưng sau này các quan chức người Thổ Nhĩ Kỳ đã tìm ra và tịch thu. Một sĩ quan hải quân Pháp, Jules Dumont d'Urville, phát hiện vẻ đẹp của tượng và dàn xếp vụ mua bán cùng Đại sứ Pháp tại Thổ Nhĩ Kỳ, Marquis de Riviere. Sau khi phục chế, bức tượng được mang giới thiệu cho vua Louis XVIII năm 1821. Cuối cùng nhà vua cho đặt tượng tại bảo tàng Louvre ở Paris, nơi bức tượng vẫn được trưng bày đến ngày nay.
Sự nổi tiếng của bức tượng trong thế kỷ 19 không đơn thuần vì vẻ đẹp của nó mà còn vì những nỗ lực quảng bá mạnh của chính quyền Pháp. Năm 1815 Pháp trả lại bức tượng Medici Venus cho Ý sau khi bức tượng bị Napoléon Bonaparte cướp đoạt đem về nước. Tượng thần Vệ nữ được coi là một trong những tác phẩm điêu khắc cổ điển đẹp nhất còn tồn tại khiến người Pháp càng bỏ công quảng cáo bức tượng Vệ nữ Milo là tuyệt tác hơn so với bức tượng họ vừa mất trước đó. Tượng được các nghệ sĩ và các nhà phê bình ca ngợi, họ coi đó là biểu tượng của vẻ đẹp duyên dáng của phụ nữ; tuy nhiên, Pierre-Auguste Renoir rõ ràng không theo trào lưu chung khi cho rằng nó giống như một "tên sen đầm" (gendarme).
== Thư viện hình ==
== Tham khảo ==
^ Kousser, Rachel (2005). Creating the past: the Vénus de Milo and the Hellenistic reception of Classical Greece. American Journal of Archeology 109 (2), 227–250.
== Liên kết ngoài ==
Musée du Louvre – Louvre Museum: Venus de Milo
Controversy and politics over the sculptor's identity
Unusual Louvre Museum Image of the Venus di Milo. |
ngôn ngữ.txt | Ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp con người sử dụng để liên lạc hay giao tiếp với nhau cũng như chỉ chính năng lực của con người có khả năng sử dụng 1 hệ thống như vậy. Ngành khoa học nghiên cứu khoa học về ngôn ngữ được gọi là ngôn ngữ học.
Ước tính số lượng ngôn ngữ trên thế giới khác nhau giữa 6000 và 7000. Tuy nhiên, bất cứ ước lượng chính xác nào phụ thuộc vào sự phân biệt khá tùy ý giữa các ngôn ngữ chính và ngôn ngữ địa phương. Ngôn ngữ tự nhiên được nói hoặc ghi lại, nhưng bất kỳ ngôn ngữ nào cũng có thể được mã hóa thành phương tiện truyền thông sử dụng các giác quan thính giác, thị giác, xúc giác hoặc kích thích - ví dụ: bằng văn bản, đồ họa, chữ nổi, hoặc huýt sáo. Điều này là do ngôn ngữ của con người là độc lập với phương thức biểu đạt. Khi được sử dụng như là 1 khái niệm chung, "ngôn ngữ" có thể nói đến các khả năng nhận thức để học hỏi và sử dụng hệ thống thông tin liên lạc phức tạp, hoặc để mô tả các bộ quy tắc tạo nên các hệ thống này, hoặc tập hợp các lời phát biểu có thể được tạo thành từ những quy tắc.
Tất cả ngôn ngữ dựa vào quá trình liên kết dấu hiệu với các ý nghĩa cụ thể. Ngôn ngữ truyền miệng và ngôn ngữ dùng dấu hiệu bao gồm một hệ thống âm vị học, hệ thống này điều chỉnh các biểu tượng được sử dụng để tạo các trình tự được gọi là từ hoặc hình vị, và một hệ thống ngữ pháp điều chỉnh cách thức lời nói và hình vị được kết hợp để tạo thành cụm từ và câu nói hoàn chỉnh.
Ngôn ngữ của con người có các tính tự tạo, tính đệ quy, tính di chuyển, và phụ thuộc hoàn toàn vào các nhu cầu của xã hội và học tập. Cấu trúc phức tạp của nó cho phép thể hiện cảm xúc rộng rãi hơn so với bất kỳ hệ thống thông tin liên lạc được biết đến của động vật. Ngôn ngữ được cho là có nguồn gốc khi loài người thượng cổ (homo sapiens) dần dần thay đổi hệ thống thông tin liên lạc sơ khai của họ, bắt đầu có được khả năng hình thành một lý thuyết về tâm trí của những người xung quanh và một chủ ý muốn chia sẻ thông tin. Sự phát triển này đôi khi được cho là đã trùng hợp với sự gia tăng khối lượng của não, và nhiều nhà ngôn ngữ học coi các cấu trúc của ngôn ngữ đã phát triển để phục vụ các chức năng giao tiếp và xã hội cụ thể. Ngôn ngữ được xử lý ở nhiều vị trí khác nhau trong não người, nhưng đặc biệt là trong khu vực của Broca và Wernicke. Con người có được ngôn ngữ thông qua giao tiếp xã hội trong thời thơ ấu, và trẻ em thường nói lưu loát khi lên ba tuổi. Việc sử dụng ngôn ngữ đã định hình sâu sắc trong nền văn hóa của con người. Vì vậy, ngoài việc sử dụng cho mục đích giao tiếp, ngôn ngữ cũng có nhiều công dụng trong xã hội và văn hóa, chẳng hạn như tạo ra bản sắc nhóm, phân tầng xã hội, cũng như việc làm đẹp xã hội và giải trí.
Ngôn ngữ phát triển và đa dạng hóa theo thời gian và lịch sử tiến hóa của ngôn ngữ có thể được tái tạo bằng cách so sánh ngôn ngữ hiện đại để xác định các tính trạng ngôn ngữ của tổ tiên họ phải có để cho các giai đoạn phát triển ngôn ngữ hiện đại xảy ra. Một nhóm các ngôn ngữ có chung một tổ tiên được gọi là một hệ ngôn ngữ. Hệ ngôn ngữ Ấn-Âu được sử dụng rộng rãi nhất và bao gồm cả tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Nga, và tiếng Hindi; hệ ngôn ngữ Hán-Tạng bao gồm tiếng Quan Thoại, tiếng Quảng Đông, tiếng Tạng và nhiều ngôn ngữ khác; hệ ngôn ngữ Phi-Á, trong đó bao gồm tiếng Ả Rập, tiếng Amhara, tiếng Somali, và tiếng Hebrew; nhóm ngôn ngữ Bantu của hệ ngôn ngữ Niger-Congo, bao gồm có tiếng Swahili, tiếng Zulu, tiếng Shona, và hàng trăm ngôn ngữ khác trên khắp châu Phi; và nhóm ngôn ngữ Malayo-Polynesia, bao gồm tiếng Indonesia, tiếng Malaysia, tiếng Tagalog, tiếng Malagasy, và hàng trăm ngôn ngữ khác trên khắp Thái Bình Dương. Các nhà khoa học đều đồng thuận cho rằng từ 50% đến 90% ngôn ngữ được sử dụng vào đầu thế kỷ 21 có thể sẽ tuyệt chủng vào năm 2100.
== Từ nguyên ==
Trong tiếng Anh từ "ngôn ngữ" - language bắt nguồn từ chữ Ấn-Âu dn̥ǵʰwéh₂s lưỡi, lời nói", tiếng Latin lingua, "lưỡi", tiếng Pháp cổ (language) Từ này đôi khi được sử dụng để nói đến mật mã, và các loại khác của hệ thống thông tin liên lạc được xây dựng nhân tạo như các ngôn ngữ máy tính được sử dụng để lập trình. Không giống như ngôn ngữ của con người thông thường, một ngôn ngữ trong hàm nghĩa này là một hệ thống các dấu hiệu để mã hóa và giải mã thông tin. Bài viết này chỉ tập trung vào các tính chất của ngôn ngữ loài người tự nhiên, được nghiên cứu trong ngành ngôn ngữ học.
Trong tiếng Việt "ngôn ngữ" xuất phát từ chữ Hán-Việt, ngôn là lời nói và ngữ- cách diễn đạt, tổng hợp chung là cách diễn đạt lời nói.
== Định nghĩa ==
Là một đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ học, "ngôn ngữ" có hai nghĩa chính: một khái niệm trừu tượng, và một hệ thống ngôn ngữ cụ thể, ví dụ: "tiếng Việt". Nhà ngôn ngữ học Thụy Sĩ Ferdinand de Saussure, người định nghĩa phương pháp nghiên cứu hiện đại của ngôn ngữ học, trước tiên khẳng định một cách rõ ràng sự khác biệt bằng cách sử dụng language (từ tiếng Pháp) cho ngôn ngữ khi là một khái niệm; langue như là một ví dụ cụ thể của một hệ thống ngôn ngữ, và parole cho việc sử dụng cụ thể của lời nói trong một ngôn ngữ cụ thể.
Khi nói về ngôn ngữ như là một khái niệm chung, định nghĩa có thể được sử dụng để nhấn mạnh khía cạnh khác nhau của hiện tượng này. Những định nghĩa này cũng đòi hỏi cách tiếp cận khác nhau và sự hiểu biết về ngôn ngữ, và chúng trỏ đến các trường phái nghiên cứu khác nhau và thường không tương thích với nhau, của lý thuyết ngôn ngữ học.
=== Trí tuệ hay bản năng ===
Một định nghĩa coi ngôn ngữ chủ yếu là khả năng trí tuệ cho phép con người thực hiện hành vi ngôn ngữ: để học ngôn ngữ, để nói và hiểu lời nói của người khác. Định nghĩa này nhấn mạnh tính phổ quát của ngôn ngữ cho tất cả mọi người, và nó nhấn mạnh đến cơ sở sinh học về khả năng con người sử dụng ngôn ngữ như là một sự phát triển độc đáo của bộ não con người. Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng các động cơ để học ngôn ngữ là bẩm sinh ở người, lập luận rằng điều này được chứng minh vì thực tế là tất cả trẻ em nhận thức bình thường lớn lên trong một môi trường có tiếp xúc với ngôn ngữ đều có thể học được ngôn ngữ mà không cần hướng dẫn. Ngôn ngữ thậm chí có thể phát triển một cách tự nhiên trong môi trường con người sống hoặc lớn lên cùng nhau mà không có một ngôn ngữ chung; ví dụ, ngôn ngữ Creole và phát triển một cách tự nhiên ngôn ngữ ký hiệu như ngôn ngữ ký hiệu Nicaragua. Quan điểm này có thể được bắt nguồn từ các triết gia Kant và Descartes, coi ngôn ngữ là bẩm sinh, ví dụ, trong lý thuyết về ngữ pháp phổ thông của Chomsky, hoặc lý thuyết cực đoan innatist của nhà triết học Mỹ Jerry Fodor. Các loại định nghĩa này thường được áp dụng trong các nghiên cứu của ngôn ngữ trong một khuôn khổ nhận thức khoa học và trong neurolinguistics.
=== Hệ thống biểu tượng hình thức ===
Một định nghĩa khác coi ngôn ngữ là một hệ thống hình thức của các dấu hiệu được điều chỉnh bởi các quy tắc kết hợp theo ngữ pháp để truyền tải ý nghĩa. Định nghĩa này nhấn mạnh rằng ngôn ngữ con người có thể được mô tả như hệ thống kết cấu khép kín bao gồm các quy tắc ánh xạ các dấu hiệu đặc biệt tới các ý nghĩa đặc biệt. Cách nhìn ngôn ngữ có cấu trúc như thế này lần đầu tiên được Ferdinand de Saussure giới thiệu, và cấu trúc cơ bản của ông trở thành cấu trúc cơ bản của nhiều cách tiếp cận ngôn ngữ.
Một số những người ủng hộ quan điểm của Saussure về ngôn ngữ đã ủng hộ một cách tiếp cận chính thức nhằm nghiên cứu cấu trúc ngôn ngữ bằng cách xác định các yếu tố cơ bản của nó và sau đó trình bày các quy tắc để kết hợp các yếu tố nhằm hình thành các từ và câu hoàn chỉnh. Noam Chomsky là người ủng hộ nhiệt tình lý thuyết trên, và ông đã viết ra các lý thuyết ngữ pháp sản sinh. Chomsky đã xác định ngôn ngữ như việc xây dựng các câu có thể được tạo ra bằng cách sử dụng ngữ pháp mang tính chuyển đổi. Chomsky cho rằng những quy định này là một đặc điểm bẩm sinh của tâm trí con người và tạo thành các nguyên lý cơ bản của ngôn ngữ. Trái lại, ngữ pháp chuyển đổi như vậy cũng thường được sử dụng để cung cấp các định nghĩa chính thức của ngôn ngữ, mà thường được sử dụng trong logic hình thức, trong các lý thuyết chính thức về ngữ pháp, và áp dụng ngôn ngữ học máy tính.
Nhiều ngôn ngữ sử dụng điệu bộ, âm thanh, ký hiệu, hay chữ viết, và cố gắng truyền khái niệm, ý nghĩa, và ý nghĩ, nhưng mà nhiều khi những khía cạnh này nằm sát quá, cho nên khó phân biệt nó. Ngôn ngữ không phải là một bộ "quy tắc và ngữ pháp". Ngôn ngữ là công cụ người ta dùng để biểu đạt ý nghĩa và tình cảm của mình đối với người khác, qua đó để người ta hiểu nhau.
Ngôn ngữ có thể cấu tạo bởi hình thức biểu ý, cũng tức là âm thanh (tiếng nói), nét mặt, hoặc là điệu bộ bằng tay, hoặc động tác cụ thể! Nó cũng có thể là thể tổng hợp của tất cả những cái đó. Khi ta cần nói về một sự việc gì đó, ta không những chỉ nói bằng miệng, mà còn có thể làm điệu bộ, ra hiệu bằng tay hoặc bằng nét mặt.
Theo đà phát triển của văn minh, con người bắt đầu sống trong những quần thể cộng đồng lớn, cuộc sống trở nên phức tạp hơn, tri thức nắm được cũng ngày một nhiều hơn, mà ngôn ngữ cũng trở nên phức tạp và phát triển mạnh mẽ.
Đến nay, chúng ta chưa thực sự hiểu được ngôn ngữ bắt đầu như thế nào. Có người cho rằng ngôn ngữ bắt đầu từ việc người ta gọi nhau một cách tự nhiên, người ta dùng nó để diễn đạt sự kinh ngạc, vui hoặc buồn của mình. Cũng có người cho rằng, ngôn ngữ bắt đầu từ việc người ta bắt chước những âm thanh trong thiên nhiên. Có thể là mỗi nhận định kể trên đều là một phần của nguồn gốc ngôn ngữ, nhưng nhận định nào chiếm một tỷ lệ bao nhiêu thì ta chưa biết.
Chúng ta chỉ biết rằng, tất cả mọi ngôn ngữ mà loài người trên thế giới sử dụng đều có thể truy tìm về cùng một nguồn gốc chung: Một ngôn ngữ ban đầu, từ đó đẻ ra nhiều ngôn ngữ khác. Loại ngôn ngữ ban đầu ấy cùng với tất cả những ngôn ngữ phát triển từ đó mà ra, gọi là "ngữ hệ".
== Chức năng ==
Ngôn ngữ có 3 chức năng chính: để chỉ nghĩa, để thông báo và để khái quát hóa (có quan hệ với tư duy). Chức năng chỉ nghĩa: để chỉ chính bản thân sự vật hiện tượng, để gắn với một biểu tượng nào đó của sự vật hiện tượng và có chức năng làm phương tiện cho sự tồn tại, truyền đạt và nắm vững các kinh nghiệm xã hội, lịch sử loài người.
Để chỉ nghĩa
Chức năng thông báo: dùng để truyền đạt và tiếp nhận thông tin, để biểu cảm qua đó thúc đẩy điều chỉnh hành động con người.
Chức năng khái quát hóa. Ví dụ:
Từ: là một khái niệm chỉ chung cho nhiều sự vật hiện tượng.
Hoạt động trí tuệ phải dùng ngôn ngữ làm công cụ.
== Phân bố ==
Các ngôn ngữ có số lượng người nói nhiều nhất trên thế giới:
Tiếng Quan Thoại 874 triệu
Tiếng Hindi 366 triệu
Tiếng Anh 341 triệu
Tiếng Tây Ban Nha 322-358 triệu
Tiếng Bengal 207 triệu
Tiếng Bồ Đào Nha 176 triệu
Tiếng Nga 167 triệu
Tiếng Pháp 130 triệu
Tiếng Nhật 125 triệu
Tiếng Đức 120 triệu
Còn lại 40 % dân số thế giới nói các ngôn ngữ khác.
== Xem thêm ==
Ngôn ngữ máy tính
Văn hóa
Triết học
Nhân khẩu học
Trò lừa dối
Ethnologue, có danh sách tương đối đầy đủ về những ngôn ngữ, miền, dân cư và hệ ngôn ngữ
Từ ngữ
Tiếng nước ngoài
Ngôn ngữ hình thức
Phái Đại ngữ nghĩa
ISO 639, mã hai-ba chữ cái cho những ngôn ngữ
Dạy về ngôn ngữ
Chính sách về ngôn ngữ
Trường ngôn ngữ
Chế độ bảo vệ ngôn ngữ
Danh sách ngôn ngữ
Cách đặt tên
Ngôn ngữ phi giới tính
Ngôn ngữ chính thức
Chính tả
Ngữ văn và ngôn sử học
Triết ngữ học
Âm vị học
Lời nói báng bổ
Ngôn ngữ tâm lý học
Giả thuyết Sapir-Whorf
Ngôn ngữ thứ hai
Ngữ nghĩa học
Tiếng lóng
Giao thiệp tượng trưng
Phương pháp điều trị về tật nói (speech therapy)
Nhóm từ khó phát âm đúng (tongue-twister)
Dịch
Tiếng còi hiệu (whistled language)
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Ngôn ngữ học trên Thư viện khoa học VLOS |
truyền hình.txt | Truyền hình, hay còn được gọi là TV (Tivi) hay vô tuyến truyền hình (truyền hình không dây), máy thu hình, máy phát hình, là hệ thống điện tử viễn thông có khả năng thu nhận tín hiệu sóng và tín hiệu qua đường cáp để chuyển thành hình ảnh và âm thanh (truyền thanh truyền hình) và là một loại máy phát hình truyền tải nội dung chủ yếu bằng hình ảnh sống động và âm thanh kèm theo. Máy truyền hình là máy nhận những tín hiệu đó (qua ăng-ten) và phát bằng hình ảnh.
Được đưa ra thị trường đầu tiên trong hình thức rất thô sơ trên cơ sở thử nghiệm vào cuối năm 1920, sau đó được phổ biến với việc cải thiện rất nhiều về hình thức ngay sau Chiến tranh thế giới thứ hai, các máy thu truyền hình (tivi) đã trở thành phổ biến trong gia đình, các doanh nghiệp và các tổ chức, chủ yếu là một phương tiện để giải trí, quảng cáo và xem tin tức. Trong những năm 1950, truyền hình đã trở thành phương tiện chính để định hướng dư luận. Vào giữa những năm 1960, việc phát truyền hình màu và kinh doanh máy thu hình màu tăng ở Mỹ và bắt đầu ở hầu hết các nước phát triển khác. Sự sẵn có của các phương tiện lưu trữ như VHS (giữa năm 1970), laserdisc (1978), Video CD (1993), DVD (1997), và Blu-ray độ nét cao (2006) cho phép người xem sử dụng các máy truyền hình để xem và ghi nhận các tài liệu như phim ảnh và các tài liệu quảng bá. Kể từ những năm 2010, truyền hình Internet đã gia tăng các chương trình truyền hình có sẵn thông qua Internet thông qua các dịch vụ như iPlayer, Hulu, và Netflix.
Trong năm 2013, 79% hộ gia đình trên thế giới sở hữu một chiếc tivi. Việc thay thế các màn hình hiển thị với ống cao áp cathode (CRT) to nặng với các lựa chọn thay thế nhỏ gọn, tiết kiệm năng lượng, màn hình phẳng như màn hình plasma, màn hình LCD (cả huỳnh quang-backlit và LED-backlit), và màn hình OLED là một trong những cuộc cách mạng phần cứng. Nó bắt đầu thâm nhập vào thị trường màn hình máy tính của người tiêu dùng vào cuối năm 1990 và nhanh chóng lan rộng đến các thiết bị truyền hình. Trong năm 2014, hầu hết các thiết bị TV LCD bán ra là chủ yếu là màn hình LCD LED-backlit. Các nhà sản xuất TV lớn thông báo về việc ngừng sản xuất màn hình CRT, RPTV, plasma và LCD thậm chí huỳnh quang-backlit vào năm 2014. TV LED được dự kiến sẽ được thay thế dần bằng OLED trong tương lai gần. Ngoài ra, các nhà sản xuất lớn đã công bố rằng họ sẽ tăng sản xuất TV thông minh vào giữa thập kỷ 2010s. TV thông minh được mong đợi trở thành hình thức thống trị của truyền hình thiết lập vào cuối 2010s.
Các tín hiệu truyền hình được phân phối như tín hiệu truyền hình phát sóng được mô hình hóa trên hệ thống phát sóng radio trước đó. Phát sóng truyền hình sử dụng máy phát vô tuyến tần số công suất cao phát sóng tín hiệu truyền hình đến các máy thu truyền hình cá nhân. Cho đến đầu những năm 2000, tín hiệu truyền hình phát sóng là tín hiệu analog nhưng các nước nhanh chóng bắt đầu chuyển sang tín hiệu kỹ thuật số, với việc chuyển đổi dự kiến sẽ được hoàn thành trên toàn thế giới vào năm 2020. Ngoài ra để truyền trên mặt đất, tín hiệu truyền hình cũng được phân phối bằng cáp (chuyển đổi kỹ thuật số) và vệ tinh các hệ thống kỹ thuật số.
Một TV tiêu chuẩn được bao gồm nhiều mạch điện tử nội bộ, bao gồm các mạch tiếp nhận và giải mã tín hiệu truyền hình. Một thiết bị hiển thị hình ảnh mà thiếu một bộ chỉnh được gọi chính xác là một màn hình video hơn là một chiếc tivi. Hệ thống truyền hình cũng được sử dụng để giám sát, điều khiển quá trình công nghiệp và ở những nơi quan sát trực tiếp là khó khăn hoặc nguy hiểm..
== Từ nguyên ==
Từ tivi (đọc theo tiếng Anh, TV viết tắt từ television) là một từ ghép, kết hợp từ tiếng Hy Lạp và tiếng Latinh. "Tele", tiếng Hy Lạp, có nghĩa là "xa"; trong khi từ "vision", từ tiếng Latinh visio, có nghĩa là "nhìn" hay "thấy". Tiếng Anh viết tắt thành TV và đọc là /ˈtiːˈviː/.
Vô tuyến truyền hình là một từ Hán Việt kết hợp từ vô tuyến 无线 có nghĩa là không dây và truyền hình, có nghĩa là chuyển tải dữ liệu hình ảnh.
== Lịch sử ==
Sự phát triển của công nghệ truyền hình có thể được thực hiện trên 2 phạm vi: các phát triển trên phương diện cơ học và điện tử học, và các phát triển hoàn toàn trên điện tử học. Sự phát triển thứ hai là nguồn gốc của các tivi hiện đại, nhưng những điều trên không thể thực hiện nếu không có sự phát hiện và sự thấu hiểu từ hệ thống cơ khí.
=== Truyền hình cơ học ===
Hệ thống truyền tải fax cho hình ảnh tiên phong trong phương pháp quét cơ học của hình ảnh trong đầu thế kỷ 19. Alexander Bain giới thiệu máy fax năm 1843 đến 1846. Frederick Bakewell giới thiệu một phiên bản của máy fax trong phòng thí nghiệm vào năm 1951.
Willoughby Smith phát hiện ra quang dẫn của nguyên tố selen vào năm 1873.
Một sinh viên người Đức Paul Gottlieb Nipkow đưa ra phát kiến hệ thống tivi cơ điện tử đầu tiên năm 1884. Đây là một đĩa quay với một mô hình xoắn ốc với các lỗ trên đĩa, vì vậy mỗi lỗ quét một dòng của hình ảnh. Mặc dù Nipkow không bao giờ xây dựng một mô hình hoạt động thực sự, các biến thể của vòng quay đĩa Nipkow trở nên cực kỳ phổ biến. Constantin Perskyi đã đặt ra thuật ngữ truyền hình trong bài báo đọc ở Đại hội Điện Quốc tế tại Hội chợ Thế giới Quốc tế ở Paris vào ngày 25/08/1900. Bài báo của Perskyi xem xét các công nghệ cơ điện hiện có, đề cập đến công việc của Nipkow và những người khác. Tuy nhiên, phải tới năm 1907, sự phát minh của công nghệ ống phóng đại do Lee de Forest và Arthur Korn đưa ra mới biến các thiết kế trên thành hiện thực.
Buổi trình diễn đầu tiên của việc truyền tải tức thời của hình ảnh được Georges Rignoux và A. Fournier trình bày tại Paris vào năm 1909. Một ma trận của 64 ô chứa selen, từng ô nối dây vào một bộ chuyển mạch cơ khí, được coi như một võng mạc điện tử. Trong máy thu, một tập hợp ô Kerr phát ánh sáng và một loạt các gương góc khác nhau gắn vào các cạnh của một đĩa quay quét chùm tia tạo ra được lên màn hình hiển thị. Một mạch riêng biệt xử lý việc đồng bộ hóa. Độ phân giải 8x8 pixel trong màn trình trình diễn lý thuyết này chỉ đủ để truyền tải rõ ràng các chữ cái của bảng chữ cái. Một hình ảnh được cập nhật đã được truyền "nhiều lần" mỗi giây.
Năm 1911, Boris Rosing và học trò của ông Vladimir Kosma Zworykin thành công trong việc tạo ra hệ thống tivi sử dụng bộ phân hình gương để phát hình, theo Zworykin, "các hình rất thô" qua các dây tới ống điện tử Braun (ống cathode) trong đầu nhận. Các hình chuyển động là không thể, bởi vì bộ phân hình, có "độ nhạy cảm không đủ và các phân tử selen quá chậm". Rosing bị Stalin đày đến Arkhangelsk năm 1931 và qua đời năm 1933, nhưng Zworykin sau đó quay lại làm việc cho RCA để xây dựng tivi điện tử, thiết kế này sau đó bị phát hiện là vi phạm bản quyền của Philo Farnsworth, người đã công bố hệ thông phát hình đầu tiên từ năm 1928 trước đó.
Đến những năm 1920 khi sự khuếch đại truyền hình đi vào thực tiễn, Baird sử dụng đĩa Nipkow trong các hệ thống video mẫu của ông. Ngày 25 tháng 3 năm 1925, nhà phát minh người Scotland John Logie Baird đã cho trình diễn lần đầu tiên của hình ảnh trên truyền hình chiếu bóng di động tại Department Store Selfridge ở London. Vì hình mặt người có độ tương phản không đủ để hiển thị trên hệ thống thô sơ này, Baird truyền đi ảnh của một hình nộm "Stooky Bill" nói chuyện và di chuyển, với khuôn mặt được vẽ có độ tương phản cao hơn.
Ngày 26 tháng 1 năm 1926 Baird đã chứng minh việc truyền tải hình ảnh của một khuôn mặt đang chuyển động qua sóng radio. Đây được coi là trình diễn truyền hình đầu tiên. Các đối tượng là đối tác kinh doanh của Baird, Oliver Hutchinson. Hệ thống Baird sử dụng đĩa Nipkow cho cả hai chức năng quét và hiển thị hình ảnh. Một ánh sáng chiếu xuyên qua một bộ đĩa quay Nipkow với ống kính chiếu một chùm tia sáng quét qua đối tượng. Ống quang điện dùng selen nhận ánh sáng phản xạ từ đối tượng và chuyển đổi nó thành tín hiệu điện tỷ lệ thuận. Tín hiệu này được truyền qua sóng radio AM tới một máy thu, nơi các tín hiệu video được dùng để điều khiển một ánh sáng neon phía sau một đĩa Nipkow thứ hai quay đồng bộ với đĩa thứ nhất. Độ sáng của đèn neon được thay đổi theo tỷ lệ với độ sáng của mỗi điểm trên hình ảnh. Khi mỗi lỗ trong đĩa đi qua, một dòng quét của hình ảnh được tái tạo. Đĩa Baird có 30 lỗ, tạo ra một hình ảnh chỉ với 30 dòng quét, chỉ đủ để nhận ra một khuôn mặt người.
Năm 1927, Baird truyền đi một tín hiệu truyền hình cách 438 dặm (705 km) bằng đường dây điện thoại giữa London và Glasgow. Năm 1928, công ty Baird Baird Television Development Company/Cinema Television) phát sóng tín hiệu truyền hình đầu tiên xuyên Đại Tây Dương, giữa London và New York, đánh dấu việc truyền tải từ tàu vào đất liền lần đầu tiên. Năm 1929, ông tham gia vào dịch vụ truyền hình cơ khí thử nghiệm đầu tiên tại Đức. Trong tháng 11 cùng năm đó, Baird và Bernard Natan của Pathé thành lập công ty truyền hình đầu tiên của Pháp, Télévision-Baird-Natan. Năm 1931, ông đã thực hiện các chương trình phát sóng từ xa ngoài trời đầu tiên với giải đua ngựa Epsom Derby. Năm 1932, ông đã thực nghiệm truyền hình dùng sóng siêu ngắn. Hệ thống truyền hình cơ học của Baird đạt đến đỉnh cao với 240 dòng phân giải trên chương trình phát sóng truyền hình BBC vào năm 1936 mặc dù các hệ thống cơ học không thể hiện các cảnh được truyền hình trực tiếp. Thay vào đó là một bộ phim 17.5mm được quay, rửa phim thật nhanh chóng và sau đó phim được chiếu ngay khi phim vẫn còn chưa khô.
Một nhà phát minh người Mỹ, Charles Francis Jenkins cũng đi tiên phong trong truyền hình. Ông đã xuất bản một bài viết trong cuốn sách "Motion Pictures by Wireless" vào năm 1913. Nhưng mãi đến năm 1923 thì Jenkins mới truyền hình ảnh chuyển động chiếu bóng với sự có mặt của người làm chứng, và đến ngày 13 tháng 6 năm 1925 ông đã công khai thực hiện truyền tải đồng bộ hình ảnh chiếu bóng. Năm 1925 Jenkins dùng đĩa Nipkow và truyền hình ảnh chuyển động của một cối xay gió đồ chơi với khoảng cách năm dặm từ một đài phát thanh hải quân ở Maryland đến phòng thí nghiệm của ông ở Washington D.C, sử dụng một máy quét đĩa dùng thấu kính với độ phân giải 48 dòng. Ông đã được cấp bằng sáng chế tại Mỹ số 1.544.156 (truyền hình ảnh không dây) vào ngày 30 tháng 6 năm 1925 (đệ đơn ngày 13 tháng 3 năm 1922).
Herbert E. Ives và Frank Gray của công ty Bell Telephone Laboratories đã có một màn trình diễn truyền hình cơ học ấn tượng vào ngày 7 tháng 4 năm 1927. Các hệ thống truyền hình phản xạ ánh sáng này bao gồm cả màn hình xem lớn và nhỏ. Các máy thu nhỏ có chiều rộng màn hình là 2 inch và chiều cao là 2,5 inch. Các máy thu lớn có một màn hình rộng 24 inch, cao 30 inch. Cả hai bộ lớn nhỏ đều có khả năng tái tạo hợp lý chính xác, hình ảnh chuyển động đơn sắc. Cùng với các hình ảnh, các máy thu cũng nhận được âm thanh đồng bộ. Hệ thống truyền hình ảnh qua hai con đường: đầu tiên, thông qua một liên kết dùng dây đồng từ Washington đến New York City, sau đó thông qua một liên kết vô tuyến từ Whippany, New Jersey. So sánh hai phương pháp truyền dẫn, khán giả ghi nhận không có sự khác biệt. Đối tượng của chương trình truyền hình là Thứ trưởng Thương mại Hoa Kỳ Herbert Hoover. Một máy quét dùng chùm tia chiếu sáng đối tượng. Các máy quét tạo ra các chùm tia trên một đĩa có khẩu độ 50. Đĩa xoay với tốc độ 18 khung hình mỗi giây, 56 miligiây mỗi khung hình. (Hệ thống ngày nay thường truyền 30 hoặc 60 khung hình mỗi giây, hoặc 33,3 hoặc 16,7 miligiây cho một khung hình.) Sử gia truyền hình Albert Abramson nhấn mạnh tầm quan trọng màn trình diễn của Bell Labs: "Thực tế đây là màn trình diễn tốt nhất của một hệ thống truyền hình cơ học đã từng được thực hiện đến thời điểm đó. Phải mất một vài năm trước khi bất kỳ hệ thống khác có thể so sánh với nó về chất lượng hình ảnh."
Năm 1928, WRGB lúc đó tên là W2XB trở thành đài truyền hình đầu tiên của thế giới. Chương trình được phát đi từ các cơ sở của General Electric ở Schenectady, New York, với tên gọi phổ biến "WGY Television".
Trong khi đó ở Liên Xô, Léon Theremin đã phát triển máy thu phát truyền hình mới dùng các trống và gương, bắt đầu với độ phân giải 16 dòng trong năm 1925, sau đó tăng lên 32 và cuối cùng là 64 dòng dùng xen kẽ vào năm 1926. Trong luận án của mình vào ngày 7 tháng 5 năm 1926 ông truyền tín hiệu truyền hình và sau đó đồng thời thể hiện hình ảnh chuyển động trên một màn hình vuông 5 feet gần như đồng thời. Đến năm 1927 ông đã nâng độ phân giải hình ảnh lên 100 dòng, một kỷ lục mãi đến năm 1931 RCA mới vượt qua với 120 dòng.
Ngày 25 tháng 12 năm 1925, Kenjiro Takayanagi trình diễn một hệ thống truyền hình với độ phân giải 40 dòng, sử dụng một máy quét đĩa Nipkow và màn hình CRT tại Trường trung học kỹ thuật Hamamatsu, Nhật Bản. Mẫu thử nghiệm này vẫn đang được trưng bày tại Bảo tàng Takayanagi thuộc Đại học Shizuoka, Hamamatsu Campus. Nghiên cứu của Takayanagi trong việc tạo ra một mô hình để sản xuất đại trà đã bị nước Mỹ tạm dừng sau khi Nhật Bản thất bại tại chiến tranh thế giới thứ hai.
Bởi vì chỉ có một số lượng hạn chế lỗ trong các ổ đĩa, và việc tăng đường kính đĩa là không thực tế, nên độ phân giải hình ảnh về chương trình phát sóng truyền hình cơ học là tương đối thấp, dao động từ khoảng 30 dòng tới 120 dòng hoặc hơn. Tuy nhiên, chất lượng hình ảnh của truyền hình với 30 dòng dần dần được cải thiện với những tiến bộ kỹ thuật, và vào năm 1933 các chương trình phát sóng của Anh sử dụng hệ thống Baird có chất lượng khá sắc nét. Một vài hệ thống khác với độ phân giải cỡ 200 dòng cũng đã đi vào hoạt động. Hai trong số này là các hệ thống 180 dòng Compagnie des Compteurs (CDC) được phát sóng tại Paris vào năm 1935, và hệ thống 180 dòng Peck Television Corp bắt đầu vào năm 1935 tại trạm VE9AK ở Montreal.
Sự tiến bộ của tất cả các thiết bị truyền hình điện tử (bao gồm cả hệ thống tách hình ảnh cho thiết bị phát và ống cathode quang cho thiết bị thu) đã đánh dấu sự kết thúc cho các hệ thống cơ học sau một thời gian dài thống trị truyền hình. Các TV cơ học thường chỉ tạo ra hình ảnh nhỏ, nhưng chúng là dạng truyền hình chính cho đến những năm 1930. Các chương trình phát sóng truyền hình cơ học cuối cùng đã kết thúc vào năm 1939 với các kênh truyền hình của một số ít các trường đại học công lập ở Hoa Kỳ.
=== Truyền hình điện tử ===
Năm 1897, J. J. Thomson, một nhà vật lý học người Anh với ba thí nghiệm nổi tiếng của ông, đã có thể làm chệch hướng các tia âm cực, một chức năng cơ bản của màn hình CRT hiện đại. Các phiên bản sớm nhất của màn hình CRT được nhà khoa học Đức Ferdinand Braun phát minh vào năm 1897 và cũng được biết đến như là ống Braun. Đó là một diode âm cực lạnh, một sửa đổi của ống Crookes với một màn hình tráng phốt-pho. Năm 1907, nhà khoa học Nga Boris Rosing sử dụng một màn hình CRT trong máy thu tín hiệu video thử nghiệm để tạo thành một bức tranh. Ông đã hiển thị thành công những hình đơn giản lên màn hình, đánh dấu lần đầu tiên công nghệ CRT đã được dùng trong truyền hình.
Năm 1908 Alan Archibald Campbell-Swinton, thành viên của Hội Hoàng gia Anh, đã công bố một bức thư trong tạp chí khoa học Nature, trong đó ông mô tả "tầm nhìn xa điện tử" có thể đạt được bằng cách sử dụng một ống âm cực quang (hoặc ống "Braun", theo tên của người phát minh, Karl Braun) làm thiết bị truyền và nhận tín hiệu. Ông đã mở rộng ý tưởng này trong một bài phát biểu được đưa ra ở London vào năm 1911 và một bài báo trong tạp chí The Times và tạp chí của Hiệp hội Röntgen. Trong một bức thư gửi cho tạp chí Nature công bố tháng 10 năm 1926, Campbell-Swinton cũng công bố kết quả của một số thí nghiệm "không phải là thí nghiệm thành công lắm" đã tiến hành với GM Minchin và JCM Stanton. Họ đã cố gắng để tạo ra một tín hiệu điện bằng cách chiếu một hình ảnh lên một tấm kim loại đã phủ selen đồng thời được một chùm tia âm cực quét qua. Những thực nghiệm này đã được thực hiện trước tháng 3 năm 1914, khi Minchin chết, nhưng sau đó đã được hai nhóm khác thực hiện lại vào năm 1937, nhóm thứ nhất gồm H. Miller và JW Strange của công ty EMI, và nhóm thứ hai gồm H. Iams và A. Rose của công ty RCA. Cả hai nhoms đã thành công trong việc truyền hình ảnh tuy "rất mờ nhạt" với tấm kim loại bọc selen của Campbell-Swinton. Mặc dù những người khác đã thử nghiệm sử dụng ống tia âm cực như một thiết bị nhận, ý tưởng sử dụng chúng như một máy phát là một ý tưởng hoàn toàn mới vào lúc đó. Ống âm cực quang đầu tiên sử dụng một tia âm cực nóng được John B. Johnson (người đã ra khái niệm tiếng ồn Johnson) và Harry Weiner Weinhart của Western Electric phát triển. Ống này đã trở thành một sản phẩm thương mại vào năm 1922.
Năm 1926, kỹ sư người Hungary Kálmán Tihanyi thiết kế một hệ thống truyền hình sử dụng đầy đủ các yếu tố điện tử với các ống cathode thu và phát, và sử dụng các nguyên tắc của "lưu trữ năng lượng" trong các ống dùng để phát hoặc thu. Các vấn đề về độ nhạy sáng thấp dẫn đến cường độ điện đầu ra thấp từ thiết bị phát sẽ được giải quyết với sự ra đời của công nghệ lưu trữ năng lượng này củai Kálmán Tihanyi bắt đầu từ năm 1924. Giải pháp của ông là một ống camera có tích lũy và lưu trữ điện tích ("quang điện tử") trong các ống trong suốt mỗi chu kỳ quét. Thiết bị này được mô tả lần đầu tiên trong một ứng dụng sáng chế Tihanyi nộp tại Hungary tháng 3 năm 1926 cho một hệ thống truyền hình được ông đặt tên là "Radioskop". Sau nhiều cải tiến bao gồm một ứng dụng bằng sáng chế năm 1928, bằng sáng chế của Tihanyi đã được tuyên bố vô hiệu tại Vương quốc Anh vào năm 1930, và do đó, ông chuyển qua đăng ký cho các bằng sáng chế của mình tại Hoa Kỳ. Mặc dù sáng chế mang tính đột phá của ông đã được đưa vào thiết kế của "iconoscope" của RCA vào năm 1931, bằng sáng chế tại Mỹ cho ống phát tín hiệu của Tihanyi chỉ được cấp vào tháng 5 năm 1939. Các bằng sáng chế cho ống nhận tín hiệu của ông đã được cấp tháng 10 năm trước đó. Cả hai bằng sáng chế của Tihanyi đã được RCA mua trước khi chúng được phê duyệt. Lưu trữ năng lượng vẫn là một nguyên tắc cơ bản trong việc thiết kế các thiết bị hình ảnh truyền hình cho đến ngày nay.
Ngày 25 tháng 12 năm 1926, Kenjiro Takayanagi trình diễn một hệ thống truyền hình với độ phân giải 40 dòng sử dụng một màn hình CRT tại Trường trung học công nghiệp Hamamatsu tại Nhật Bản. Đây là máy thu truyền hình hoàn toàn điện tử đầu tiên. Takayanagi không đăng ký bằng sáng chế cho hệ thống này.
Ngày 7 tháng 9 năm 1927, ống camera tách hình ảnh của Farnsworth truyền hình ảnh đầu tiên, một đường thẳng đơn giản, tại phòng thí nghiệm của Fansworth tại 202 Green Street, San Francisco. Vào ngày 3 tháng 9 năm 1928, Farnsworth đã phát triển hệ thống đầy đủ để tổ chức một buổi trình diễn trước báo chí. Năm 1929, hệ thống đã được cải thiện hơn nữa bằng cách loại bỏ một máy phát điện động cơ, do đó hệ thống truyền hình này đã không có bộ phận cơ học nào nữa. Năm đó, Farnsworth truyền hình ảnh trực tiếp đầu tiên của con người với hệ thống của mình, ảnh kích cỡ 3 1/2 inch cô vợ Elma của ông ("Pem") với đôi mắt nhắm (có thể do bị chiếu đèn quá sáng).
Trong khi đó, Vladimir Zworykin cũng đang thử nghiệm với ống tia âm cực để tạo ra và hiển thị hình ảnh. Trong khi làm việc cho Westinghouse Electric vào năm 1923, ông bắt đầu phát triển một ống camera điện tử. Nhưng trong lần trình diễn năm 1925, hình ảnh đã bị mờ, hình tĩnh, có độ tương phản thấp và xấu. Ống hình ảnh Zworykin không phát triển được gì ngoài mục đích thí nghiệm. Nhưng RCA, công ty mua lại bằng sáng chế Westinghouse, khẳng định rằng bằng sáng chế về công nghệ tách hình ảnh của Farnsworth năm 1927 đã được định nghĩa rộng đến mức nó loại trừ bất kỳ thiết bị hình ảnh điện tử khác. Do vậy RCA, trên cơ sở ứng dụng bằng sáng chế của Zworykin của năm 1923, đã đệ đơn kiện bằng sáng chế chống lại Farnsworth với lý do vi phạm bản quyền. Văn phòng Bằng sáng chế tại Mỹ đã không đồng ý với RCA trong một quyết định năm 1935, lý do sáng chế của Farnsworth sớm hơn của Zworykin. Farnsworth tuyên bố rằng hệ thống Zworykin của năm 1923 sẽ không thể tạo ra một hình ảnh điện tử đủ để thách thức bằng sáng chế của mình. Zworykin nhận bằng sáng chế vào năm 1928 cho một phiên bản ứng dụng bằng sáng chế của mình năm 1923, nhưng với việc truyền hình ảnh màu. Ông cũng chia ứng dụng ban đầu của mình thành các đơn bản quyền khác nhau trong năm 1931. Zworykin đã không thể hoặc không sẵn sàng để giới thiệu bằng chứng của mô hình làm việc được dựa trên sáng chế của chính ông vào năm 1923. Trong tháng 9 năm 1939, sau khi thua kiện tòa án và quyết tâm tiếp tục thương mại hóa thiết bị truyền hình, RCA đã đồng ý trả Farnsworth 1 triệu USD trong khoảng thời gian mười năm, ngoài việc thanh toán tiền giấy phép, để được sử dụng bằng sáng chế của Farnsworth.
Năm 1933 RCA giới thiệu một ống camera cải tiến, dựa trên nguyên tắc lưu trữ năng lượng của Tihanyi. Được Zworykin đặt tên là Iconoscope, ống mới có độ nhạy sáng khoảng 75.000 lux, do đó được khẳng định là nhạy hơn thiết bị tách hình ảnh của Farnsworth. Tuy nhiên, Farnsworth đã khắc phục vấn đề năng lượng với máy tách hình ảnh của mình thông qua việc phát minh ra "multipactor" một cách hoàn toàn độc đáo, thiết bị mà ông bắt đầu nghiên cứu vào năm 1930, và trình diễn vào năm 1931. Ống nhỏ này có thể khuếch đại tín hiệu theo báo cáo tới 60 lần hoặc tốt hơn và cho thấy triển vọng rất lớn trong tất cả các lĩnh vực điện tử. Không may multipactor có vấn đề: nó phát tín hiệu với tốc độ không đạt yêu cầu.
Tại Berlin Radio Show vào tháng 8 năm 1931, Manfred von Ardenne trình diễn trước công chúng về một hệ thống truyền hình sử dụng một màn hình CRT cho cả truyền và nhận. Tuy nhiên, Ardenne đã chưa phát triển một ống quét mà chỉ sử dụng màn hình CRT như một máy quét bay tại chỗ để quét slide và phim. Philo Farnsworth đã trình diễn lần đầu tiên trên thế giới một hệ thống truyền hình toàn điện tử, sử dụng một máy ảnh trực tiếp, tại Viện Franklin ở Philadelphia vào ngày 25 tháng 8 năm 1934, và trong mười ngày sau đó.
Nhà phát minh người Mexico Guillermo González Camarena cũng đóng một vai trò quan trọng trong giai đoạn sơ khai truyền hình. Thí nghiệm của ông với TV (lúc đầu gọi là telectroescopía) bắt đầu vào năm 1931 và đã dẫn đến một bằng sáng chế cho "hệ thống tuần tự 3 màu" (truyền hình màu) trong năm 1940.
Tại Anh đội ngũ kỹ thuật EMI do Isaac Shoenberg đăng ký vào năm 1932 một bằng sáng chế cho một thiết bị mới mà họ gọi là "Emitron", nó trở thành các trung tâm của các máy quay được thiết kế cho BBC. Ngày 2 tháng 11 năm 1936, một dịch vụ phát thanh truyền hình 405 dòng sử dụng các Emitron khởi động tại trường quay ở Alexandra Palace. Tín hiệu được truyền từ một cột đặc biệt xây dựng trên đỉnh một tháp tòa nhà Victorian. Nó được dùng xen kẽ trong một thời gian ngắn cùng với hệ thống cơ học Baird trong các studio, nhưng hệ thống mới tỏ ra đáng tin cậy hơn và rõ ràng vượt trội. Đây là dịch vụ truyền hình độ nét cao thường xuyên đầu tiên của thế giới.
Các iconoscope của Mỹ khá ồn, nhiều nhiễu tín hiệu, đáng thất vọng khi so sánh với độ nét cao của hệ thống quét cơ học sẵn có. Các nhóm của EMI dưới sự giám sát của Isaac Shoenberg phân tích cách iconoscope (hoặc Emitron) tạo ra một tín hiệu điện tử và kết luận rằng hiệu quả thực sự của nó tối đa chỉ đạt 5% của lý thuyết. Họ giải quyết vấn đề này bằng cách phát triển và cấp bằng sáng chế vào năm 1934 cho hai ống máy ảnh mới được mệnh danh super (siêu) Emitron và CPS Emitron. Các siêu Emitron nhạy cảm hơn 10 tới 15 lần so với Emitron và ống iconoscope ban đầu, và trong một số trường hợp, tỷ lệ này là cao hơn đáng kể. Chúng được sử dụng cho một phóng sự phát thanh truyền hình ngoài trời của BBC lần đầu tiên, vào Ngày đình chiến năm 1937, khi công chúng có thể xem truyền hình quay cảnh nhà vua đặt một vòng hoa tại đài kỷ niệm. Đây là lần đầu tiên con người có thể phát sóng một khung cảnh đường phố trực tiếp từ máy quay được cài đặt trên nóc tòa nhà lân cận, bởi vì Farnsworth cũng như RCA đều chưa thể làm như vậy cho đến khi Hội chợ New York toàn cầu được tổ chức năm 1939.
Mặt khác, trong năm 1934, Zworykin chia sẻ một số bản quyền sáng chế với công ty Đức được cấp phép Telefunken. "Iconoscope hình ảnh" ("Superikonoskop" ở Đức) đã được sản xuất như kết quả của sự hợp tác này. Ống này là cơ bản giống với các siêu Emitron. Việc sản xuất và thương mại hóa các siêu Emitron và iconoscope hình ảnh ở châu Âu không bị ảnh hưởng bởi cuộc chiến bằng sáng chế giữa Zworykin và Farnsworth, vì Dieckmann và Hell được ưu tiên ở Đức cho việc phát minh ra máy tách hình ảnh, sau khi nộp đơn xin cấp bằng sáng chế cho Lichtelektrische của Bildzerlegerröhre für Fernseher (quang điện hình ảnh Dissector Tube cho Television) ở Đức vào năm 1925, hai năm trước khi Farnsworth đã làm tương tự ở Hoa Kỳ. Những iconoscope hình ảnh (Superikonoskop) đã trở thành tiêu chuẩn công nghiệp cho truyền hình công cộng ở châu Âu từ năm 1936 cho đến năm 1960, khi nó được các ống Vidicon và plumbicon thay thế. Thiết bị này là đại diện của ống điện tử truyền thống châu Âu cạnh tranh với truyền thống Mỹ đại diện bởi các orthicon hình ảnh. Các công ty của Đức Heimann sản xuất Superikonoskop cho Olympic Berlin năm 1936, sau đó Heimann cũng sản xuất và thương mại hóa nó vào năm 1940-1955, cuối cùng công ty Hà Lan Philips sản xuất và thương mại hóa các iconoscope hình ảnh và multicon từ năm 1952 tới năm 1958.
Truyền hình tại Mỹ vào lúc đó bao gồm các thị trường khác nhau với các quy mô khác nhau, cạnh tranh bằng nội dung chương trình và sự thống trị của các công nghệ khác nhau, cho đến khi thỏa thuận được thực hiện và các tiêu chuẩn được chuẩn hóa trong năm 1941. RCA chỉ sử dụng iconoscopes trong khu vực New York, nhưng dùng thiết bị tách hình ảnh của Farnsworth tại Philadelphia và San Francisco. Vào tháng 9 năm 1939, RCA đã đồng ý trả tiền bản quyền cho Farnsworth Television and Radio Corporation trong mười năm tiếp theo để được sử dụng các bằng sáng chế của Farnsworth. Với hiệp định lịch sử này, RCA đã tích hợp phần lớn ưu việt của công nghệ Farnsworth vào hệ thống của họ.
Năm 1941, Hoa Kỳ thực hiện phát truyền hình với 525 dòng.
Tiêu chuẩn truyền hình 625 dòng đầu tiên trên thế giới được thiết kế ở Liên Xô vào năm 1944, và đã trở thành một tiêu chuẩn quốc gia vào năm 1946. Việc phát sóng đầu tiên trong tiêu chuẩn 625 dòng được thực hiện năm 1948 tại Matxcơva. Khái niệm 625 dòng cho mỗi khung hình sau đó đã được quy chuẩn trong các tiêu chuẩn CCIR của châu Âu.
Năm 1936, Kálmán Tihanyi mô tả các nguyên tắc của màn hình plasma, hệ thống hiển thị màn hình phẳng đầu tiên.
=== Truyền hình màu ===
Ý tưởng cơ bản của việc sử dụng ba hình ảnh đơn sắc để tạo ra một hình ảnh màu sắc đã được thử nghiệm gần như ngay khi TV đen-trắng lần đầu tiên được tạo ra. Trong số các đề xuất được công bố sớm nhất cho truyền hình là đề xuất của Maurice Le Blanc vào năm 1880 cho một hệ thống màu sắc, bao gồm cả những lần đề cập đầu tiên trong các tài liệu truyền hình về số dòng quét khung hình, mặc dù ông không đưa ra chi tiết thực tế. Nhà phát minh Ba Lan Jan Szczepanik được cấp bằng sáng chế cho một hệ thống truyền hình màu trong năm 1897, bằng cách sử dụng một tế bào quang điện selen ở máy phát và một nam châm điện điều khiển một tấm gương dao động và một lăng kính di chuyển tại máy thu. Nhưng hệ thống của ông không chứa phương tiện phân tích quang phổ của màu sắc ở máy thu, và do vậy không thể làm việc như cách ông mô tả. Nhà phát minh Hovannes Adamian, cũng thử nghiệm với truyền hình màu vào đầu năm 1907. Ông đã thử nghiệm truyền hình màu đầu tiên, và đã được cấp bằng sáng chế tại Đức ngày 31 tháng 3 năm 1908, bằng sáng chế № 197.183, sau đó ở Anh, vào ngày 1 tháng 4 năm 1908, bằng sáng chế № 7219, ở Pháp (bằng sáng chế № 390.326) và ở Nga vào năm 1910 (bằng sáng chế № 17.912).
Nhà phát minh người Scotland John Logie Baird đã trình bày hệ thống truyền hình màu đầu tiên trên thế giới vào ngày 3 tháng 7 năm 1928, sử dụng đĩa quét ở máy phát và nhận được hình ảnh với ba vòng xoắn của khẩu độ, mỗi xoắn ốc với các bộ lọc cho một màu cơ bản khác nhau; và ba nguồn ánh sáng tại máy thu, với một bộ chuyển mạch để thay đổi màu minh họa. Baird cũng đã phát sóng truyền hình màu đầu tiên ngày 4 tháng 2 năm 1938: ông gửi một hình ảnh 120 dòng quét từ Crystal Palace Studio Baird tới một màn chiếu tại nhà hát Dominion ở London.
Tivi màu quét cơ học cũng đã được Bell Laboratories trình diễn vào tháng 6/1929 sử dụng ba hệ thốngtế bào quang điện hoàn chỉnh, bộ khuếch đại, ống glow, và các bộ lọc màu sắc, với một loạt các gương để chồng lên những hình ảnh màu đỏ, xanh lá cây, và màu xanh vào một hình ảnh đầy đủ màu sắc.
John Logie Baird một lần nữa đi tiên phong với hệ thống hybrid đầu tiên. Năm 1940, ông công khai thể hiện một hình màu kết hợp một màn hình màu đen và trắng truyền thống với một đĩa màu luân phiên. Thiết bị này tạo ra màu có độ nét khá sâu, nhưng sau đó đã được cải thiện hơn nữa với một tấm gương gập đường dẫn ánh sáng thành một thiết bị hoàn toàn thực tế giống như một màn hình điều khiển lớn thông thường. Tuy nhiên, Baird đã không hài lòng với thiết kế này, và ngay từ năm 1944 ông báo cáo cho một ủy ban của chính phủ Anh rằng sẽ có một thiết bị hoàn toàn điện tử tốt hơn nữa.
Năm 1939, kỹ sư người Hungary Peter Carl Goldmark giới thiệu một hệ thống cơ điện tại CBS, trong đó có một bộ cảm biến Iconoscope. Hệ thống màu CBS tuần tự là một phần cơ học, với một đĩa gồm các bộ lọc màu đỏ, xanh dương và xanh da trời quay tròn bên trong máy quay truyền hình với tốc độ 1.200 vòng/phút, và một đĩa quay tương tự ở phía trước đồng bộ với ống tia âm cực bên trong máy thu. Hệ thống này lần đầu tiên trình diễn trước Ủy ban Truyền thông Liên bang (FCC) vào ngày 29 tháng 8 năm 1940, và được phổ cập trên báo chí vào ngày 4 tháng 9.
CBS đã bắt đầu thử nghiệm sử dụng truyền hình màu ngay từ 28 tháng 8 năm 1940, và thử nghiệm truyền hình màu trực tiếp vào tháng 12. NBC (thuộc sở hữu của RCA) thực hiện kiểm tra truyền hình màu đầu tiên vào 20 tháng 2 năm 1941. CBS đã bắt đầu thực nghiệm truyền hình màu hàng ngày từ 1 tháng 6 năm 1941, mặc dù các hệ thống màu không tương thích với các máy thu hình đen trắng lúc đó. Vì không có máy thu hình màu bán cho công chúng tại thời điểm trên, nên các thực nghiệm truyền hình màu chỉ dành cho cho các kỹ sư RCA và CBS và mời báo chí quan sát. Production War Board tạm dừng việc sản xuất các thiết bị phát thanh truyền hình và cho mục đích dân sự từ ngày 22 tháng 4 năm 1942 đến 20 tháng 8 năm 1945, hạn chế bất kỳ hoạt động sản xuất tivi màu cho công chúng nói chung.
Ngay từ năm 1940, Baird đã bắt đầu làm việc trên một hệ thống hoàn toàn điện tử mà ông gọi là "Telechrome". Telechrome ban đầu sử dụng hai súng electron nhằm vào hai bên của một tấm phốt-pho. Các tấm phốt-pho được phân bố sao cho các electron từ các khẩu súng chỉ bắn vào một bên của khuôn mẫu. Bằng cách sử dụng phốt-pho màu lục, lam và đỏ, có thể thu được một hình ảnh màu tuy còn hạn chế. Ông cũng đã trình diễn một hệ thống sử dụng các tín hiệu đơn sắc để tạo ra một hình ảnh 3D (gọi là "lập thể" vào thời điểm đó). Một buổi trình diễn vào 16 tháng 8 năm 1944 là ví dụ đầu tiên của một hệ thống truyền hình màu thực tế. Nghiên cứu Telechrome được tiếp tục và kế hoạch giới thiệu một phiên bản dùng ba-súng cho một hình ảnh đầy đủ màu sắc đã được thực hiện. Tuy nhiên, cái chết không đúng lúc của Baird vào năm 1946 đã kết thúc phát triển của hệ thống Telechrome này.
Khái niệm tương tự đã được phổ biến thông qua các thập niên 1940 và thập niên 50, sự khác biệt chủ yếu trong cách tái kết hợp các màu sắc được tạo ra bởi ba khẩu súng. Các ống Geer tương tự như khái niệm của Baird, nhưng sử dụng kim tự tháp nhỏ với các chất lân quang đọng lại trên mặt bên ngoài của tháp, thay vì khuôn mẫu 3D như của Baird thì Geer dựa trên một bề mặt phẳng. Các Penetron sử dụng ba lớp phốt-pho trên mỗi đỉnh và tăng sức mạnh của các chùm tia để chạm tới các tầng trên khi vẽ những màu sắc. Các Chromatron sử dụng một tập hợp các dây tập trung để chọn các phốt-pho màu được sắp xếp trong các đường sọc dọc trên ống.
Một trong những thách thức kỹ thuật lớn nhất của việc phát sóng truyền hình màu là mong muốn tiết kiệm băng thông: truyền hình màu cần băng thông gấp ba lần so với tiêu chuẩn đen trắng hiện có, và không sử dụng một lượng quá mức băng tần vô tuyến. Tại Hoa Kỳ, sau khi nghiên cứu, Ủy ban Hệ thống truyền hình quốc gia đã thông qua hệ thống màu sắc tương thích tất cả các thiết bị điện tử, do RCA phát triển, trong đó mã hóa các thông tin màu sắc riêng biệt khỏi các thông tin về độ sáng và làm giảm độ phân giải của các thông tin màu để tiết kiệm băng thông. Những hình ảnh độ sáng vẫn tương thích với các máy thu hình đen trắng với độ phân giải giảm nhẹ hiện có, trong khi TV màu có thể giải mã các thông tin thêm trong các tín hiệu và tạo ra một màn hình màu với độ phân giải giới hạn. Màn hình độ phân giải cao nhưng chỉ có màu đen-trắng và một hình ảnh độ phân giải thấp nhưng có màu sắc kết hợp trong não để tạo ra một độ hình ảnh phân giải cao dường như có màu sắc. Tiêu chuẩn NTSC đại diện cho một thành tựu kỹ thuật lớn.
Mặc dù tất cả các màu sắc điện tử đã được giới thiệu ở Mỹ vào năm 1953, do giá cao và sự khan hiếm của các thiết bị lập trình màu sắc nên thị trường khó chấp nhận nó. Việc phát sóng truyền hình màu đầu tiên tại Mỹ (1954 Tournament of Roses Parade) diễn ra vào ngày 1 tháng 1 năm 1954, nhưng trong thời gian mười năm sau hầu hết chương trình phát sóng quốc gia và gần như tất cả các chương trình địa phương, vẫn dùng trắng đen. Cho đến giữa những năm 1960, TV màu bắt đầu bán được với số lượng lớn, một phần do sự chuyển đổi màu sắc trong năm 1965, với thông báo rằng hơn một nửa của các chương trình giờ vàng sẽ được truyền hình màu trong mùa thu năm đó. Toàn bộ giờ vàng được truyền hình màu chỉ một năm sau đó.
TV màu đầu tiên hoặc dùng chân đứng hoặc các phiên bản để trên bàn khá cồng kềnh và nặng nề, vì vậy trong thực tế chúng vẫn để tại một nơi cố định. Việc giới thiệu TV Porta-Color GE tương đối nhỏ gọn và trọng lượng nhẹ vào mùa xuân năm 1966 đã làm cho việc xem truyền hình màu trở nên linh hoạt và thuận tiện hơn. Năm 1972, tại Mỹ doanh thu của TV màu cuối cùng đã vượt qua doanh thu TV đen trắng. Cũng trong năm 1972, chương trình đen trắng cuối cùng phát ban ngày đã được chuyển sang phát màu, dẫn đến kết quả là toàn bộ chương trình tại nướ Mỹ đều phát màu.
Truyền hình màu ở châu Âu đã không được chuẩn hóa định dạng PAL cho đến những năm 1960, và chương trình phát sóng màu chỉ xuất hiện từ năm 1967. Đến thời điểm đó, nhiều vấn đề kỹ thuật trong các TV màu đời đầu đã được giải quyết, và sự phát triển của TV màu ở châu Âu là khá nhanh chóng.
Vào giữa những năm 1970, các trạm phát sóng đen trắng chỉ còn một vài trạm dùng tần số UHF cao tại các thị trường nhỏ, và một số ít các đài chuyển tiếp phát lại với công suất thấp trong các thị trường nhỏ hơn như các điểm nghỉ mát. Vào năm 1979, những trạm phát cuối cùng trên cũng đã chuyển sang truyền hình màu và tới những năm đầu thập niên 1980 truyền hình đen trắng chuyển qua thị trường dùng TV năng lượng thấp, TV xách tay nhỏ, hoặc sử dụng như màn hình video trong các thiết bị tiêu dùng với chi phí thấp hơn. Đến cuối năm 1980, ngay cả các thị trường này cũng đã chuyển sang sử dụng TV màu.
=== Truyền hình kỹ thuật số ===
Truyền hình kỹ thuật số (DTV) là việc truyền tải âm thanh và video bằng cách xử lý tín hiệu kỹ thuật số và ghép kênh, ngược lại hoàn toàn với các tín hiệu kênh analog được sử dụng bởi truyền hình analog. TV kỹ thuật số có thể hỗ trợ nhiều hơn một chương trình trong các băng thông cùng kênh. Đây là một dịch vụ mới đại diện cho sự phát triển quan trọng đầu tiên trong công nghệ truyền hình kể từ khi truyền hình màu trong những năm 1950.
TV kỹ thuật số gắn chặt với sự ra đời của máy tính hiệu suất cao rẻ tiền. Mãi cho đến những năm 1990 TV kỹ thuật số mới trở thành đại trà.
Vào giữa những năm 1980, khi các công ty điện tử tiêu dùng Nhật Bản đi đầu với sự phát triển của công nghệ HDTV, các định dạng analog MUSE do NHK, một công ty Nhật Bản, đề xuất được xem như là một người dẫn đầu thị trường đe dọa làm lu mờ các công ty điện tử Mỹ. Cho đến tháng 6 năm 1990, tiêu chuẩn MUSE của Nhật Bản, dựa trên một hệ thống tương tự, là chuẩn đi đầu trong số hơn 23 chuẩn kỹ thuật khác nhau được xem xét lúc đó. Sau đó, một công ty Mỹ, General Instrument, chứng minh tính khả thi của một tín hiệu truyền hình kỹ thuật số. Bước đột phá này là có tầm quan trọng đến nỗi đã thuyết phục FCC trì hoãn quyết định của mình về một tiêu chuẩn ATV, chờ đến khi một tiêu chuẩn dựa trên kỹ thuật số có thể được phát triển.
Vào tháng 3 năm 1990, khi một tiêu chuẩn kỹ thuật số có tính khả thi đã trở nên rõ ràng, FCC mới thực hiện một số quyết định quan trọng. Đầu tiên, các Ủy ban tuyên bố rằng các tiêu chuẩn ATV mới không những phải là một tín hiệu analog tăng cường mà còn có thể cung cấp một tín hiệu HDTV chính hãng với độ phân giải ít nhất phải gấp đôi độ phân giải của hình ảnh truyền hình hiện có. Sau đó, để đảm bảo rằng những người xem khác không muốn mua một bộ truyền hình kỹ thuật số mới có thể tiếp tục nhận được chương trình phát sóng truyền hình thông thường, FCC quyết định các tiêu chuẩn ATV mới phải có khả năng truyền song song trên các kênh khác nhau. Các tiêu chuẩn ATV mới cũng cho phép các tín hiệu DTV mới được dựa trên các nguyên tắc thiết kế hoàn toàn mới. Mặc dù không tương thích với các tiêu chuẩn NTSC hiện có, các tiêu chuẩn DTV mới sẽ có thể kết hợp nhiều cải tiến.
Các tiêu chuẩn cuối cùng được thông qua bởi FCC đã không yêu cầu một tiêu chuẩn duy nhất cho các định dạng quét, hệ số co, hay số dòng của độ phân giải. Kết quả này là kết quả của một cuộc tranh chấp giữa các ngành công nghiệp điện tử tiêu dùng (với sự tham gia của một số đài truyền hình) và các ngành công nghiệp máy tính (với sự tham gia của các ngành công nghiệp điện ảnh và một số nhóm lợi ích công cộng) tranh cãi xem quá trình quét là xen kẽ hay tuần tự sẽ là phù hợp nhất cho thiết bị hiển thị HDTV kỹ thuật số tương thích mới. Phương pháp quét xen kẽ, vốn đã được thiết kế đặc biệt cho công nghệ màn hình CRT analog cũ, quét dòng chẵn đầu tiên, sau đó những dòng lẻ. Tuy nhiên quét xen kẽ không làm việc một cách hiệu quả trên các thiết bị màn hình hiển thị mới như màn hình tinh thể lỏng (LCD), vốn phù hợp hơn với một tỷ lệ làm mới màn hình thường xuyên hơn theo kiểu tuần tự. Phương pháp quét tuần tự, là định dạng mà các ngành công nghiệp máy tính đã lâu được áp dụng để màn hình hiển thị máy tính, quét tất cả các dòng theo thứ tự, từ trên xuống dưới. Quét tuần tự có hiệu lực tăng gấp đôi số lượng dữ liệu được tạo ra cho mỗi màn hình hiển thị so với quét xen kẽ bằng cách hiển thị màn hình 60 lần một giây, thay vì hai đường quét trong 1/30 giây. Các ngành công nghiệp máy tính cho rằng quét tuần tự là tốt hơn hẳn bởi vì nó không tạo ra sự "nhấp nháy" trên các tiêu chuẩn mới của thiết bị hiển thị như là cách quét xen kẽ. Nó cũng cho rằng quét tuần tự cho phép kết nối dễ dàng hơn với Internet, và việc chuyển đổi sang định dạng này có giá rẻ hơn khi so với chuyển đổi sang định dạng quét xen kẽ. Ngành công nghiệp phim cũng được hỗ trợ chức năng quét tuần tự bởi vì nó các chương trình chuyển đổi quay sang các định dạng kỹ thuật số dễ dàng hơn. Về phần mình, các ngành công nghiệp điện tử tiêu dùng và các đài truyền hình cho rằng quét xen kẽ là công nghệ duy nhất có thể truyền tải những hình ảnh chất lượng cao nhất sau đó (và hiện tại) có tính khả thi, lên tới 1.080 dòng trên mỗi hình ảnh và 1.920 điểm ảnh trên mỗi dòng. Các đài truyền hình cũng ưa chuộng quét xen kẽ bởi họ lưu trữ một số lượng lớn các chương trình có định dạng xen kẽ vốn không dễ dàng tương thích với định dạng tuần tự.
Chuyển tiếp truyền hình kỹ thuật số bắt đầu trong những cuối thập kỷ 2000. Tất cả các chính phủ trên thế giới thiết lập thời hạn ngừng phát analog trong những năm 2010s. Ban đầu, tỷ lệ chấp nhận thấp. Nhưng ngay sau đó, ngày càng có nhiều hộ gia đình đã chuyển đổi sang TV kỹ thuật số. Việc chuyển đổi dự kiến sẽ được hoàn thành trên toàn thế giới vào giữa đến cuối những năm 2010s.
=== Truyền hình thông minh ===
Sự ra đời của truyền hình kỹ thuật số tạo điều kiện cho TV thông minh ra đời. Một TV thông minh, đôi khi được gọi là TV kết nối hoặc hybrid TV, là một bộ truyền hình hay set-top box có tích hợp Internet và tính năng Web 2.0, là một ví dụ của sự hội tụ công nghệ giữa các máy tính, TV và hộp set-top. Bên cạnh các chức năng truyền thống của bộ truyền hình và hộp set-top được cung cấp thông qua các phương tiện truyền thông phát thanh truyền hình truyền thống, các thiết bị này cũng có thể cung cấp truyền hình Internet, truyền thông tương tác đa phương tiện trực tuyến, nội dung over-the-top, cũng như truyền thông đa phương tiện theo yêu cầu, và truy cập Internet tại nhà. Những TV này được cài đặt sẵn một hệ điều hành.
TV thông minh có khác biệt với các Internet TV, IPTV hoặc với TV Web. Internet TV chỉ việc tiếp nhận nội dung truyền hình qua internet thay vì bằng các hệ thống truyền thống - trên mặt đất, truyền hình cáp và truyền hình vệ tinh (mặc dù Internet cũng thông qua các đường truyền này). Truyền hình giao thức Internet (IPTV) là một trong các tiêu chuẩn công nghệ truyền hình Internet đang nổi lên được các đài truyền hình sử dụng. Truyền hình Web (WebTV) là một thuật ngữ được sử dụng cho các chương trình được một loạt các công ty, cá nhân sản xuất để phát sóng trên truyền hình Internet.
Một bằng sáng chế đầu tiên đã được đăng ký vào năm 1994 (và mở rộng vào năm sau) cho một hệ thống truyền hình "thông minh", liên kết với các hệ thống xử lý dữ liệu, thông qua phương tiện của một mạng lưới kỹ thuật số hoặc analog. Ngoài việc được kết nối với mạng dữ liệu, một lợi điểm quan trọng là khả năng tự động tải về phần mềm cần thiết hay dùng, theo nhu cầu của người dùng, và xử lý các nhu cầu của họ.
Các nhà sản xuất TV lớn đã công bố chỉ sản xuất TV thông minh, cho các TV trung cấp và cao cấp trong năm 2015. TV thông minh được kỳ vọng sẽ trở thành hình thức thống trị của truyền hình của cuối những năm 2010s.
=== Truyền hình 3D ===
Truyền hình nổi 3D được trình diễn lần đầu tiên vào ngày 10 tháng 8 năm 1928, do John Logie Baird thực hiện trong nhà xưởng của công ty mình tại 133 Long Acre, London. Baird đi tiên phong trong một loạt các hệ thống truyền hình 3D bằng cách sử dụng các kỹ thuật ống cơ điện và ống catốt. TV 3D đầu tiên được sản xuất vào năm 1935. Sự ra đời của truyền hình kỹ thuật số trong những năm 2000 cải thiện rất nhiều đối với TV 3D.
Mặc dù TV 3D khá phổ biến để xem phương tiện truyền thông 3D tại nhà như trên đĩa Blu-ray, các chương trình truyền hình 3D hầu hết thất bại trong việc đến với cộng đồng. Nhiều kênh truyền hình 3D bắt đầu vào đầu những năm 2010s đã bị đóng cửa vào giữa những năm 2010s.
== Hệ thống phát truyền hình ==
=== Truyền hình mặt đất ===
Chương trình truyền hình được phát sóng bởi các đài truyền hình, đôi khi được gọi là "kênh truyền hình", các đài được cấp phép bởi chính phủ của họ để phát sóng trên các kênh truyền hình được giao trong băng tần truyền hình. Đầu tiên, phát sóng truyền hình trên mặt đất là cách duy nhất có thể được phân phối rộng rãi, và bởi vì băng thông bị hạn chế, chỉ có một số lượng nhỏ của các kênh có sẵn, quy định của chính phủ là chuẩn mực.
Tại Mỹ, Ủy ban Truyền thông Liên bang (Federal Communications Commission (FCC))cho phép các trạm phát sóng quảng cáo bắt đầu từ tháng 7 năm 1941, nhưng phải cam kết chương trình dịch vụ công cộng như một yêu cầu cho một giấy phép. Ngược lại, Anh Quốc đã chọn một con đường khác nhau, áp đặt một khoản phí bản quyền truyền hình về chủ sở hữu của thiết bị thu truyền hình để tài trợ cho các British Broadcasting Corporation (BBC), trong đó có dịch vụ công cộng như là một phần của Royal Charter (Hiến chương Hoàng gia) của mình.
WRGB tuyên bố là đài truyền hình lâu đời nhất trên thế giới, truy tìm nguồn gốc của nó dẫn đến một trạm thực nghiệm được thành lập vào ngày 13 tháng 1 năm 1928, nó được phát sóng từ các nhà máy General Electric ở Schenectady, NY, dưới tên gọi là W2XB. Nó đã được phổ biến và được gọi là "WGY Television". Sau đó vào năm 1928, General Electric bắt đầu một cơ sở thứ hai, cơ sở này nằm ở thành phố New York, nó có tên gọi W2XBS và ngày nay được biết đến với cái tên là WNBC. Hai đài đã thử nghiệm trong khuôn mẫu và không có chương trình thông thường, cũng như nhận được sự điều hành bởi các kỹ sư trong công ty. Những hình ảnh của một con búp bê Felix Cat xoay trên một bàn xoay đã được phát sóng trong 2 giờ mỗi ngày trong nhiều năm cũng như công nghệ mới đang được các kỹ sư thử nghiệm.
Ngày 2 tháng 11 năm 1936, đài BBC đã bắt đầu dịch vụ truyền hình thường xuyên công khai đầu tiên trên thế giới có độ nét cao từ Victoria Alexandra Palace ở phía bắc London. Do đó, đài này tuyên bố đây là nơi đầu tiên phát sóng truyền hình như chúng ta biết ngày nay.
Với sự phổ biến của truyền hình cáp trên khắp Hoa Kỳ trong thập niên 1970 và thập niên 80, chương trình phát sóng truyền hình mặt đất đã bị suy giảm, vào năm 2013 người ta ước tính rằng chỉ có khoảng 7% hộ gia đình Mỹ sử dụng ăng-ten. Một sự gia tăng nhẹ trong sử dụng truyền hình cáp bắt đầu vào khoảng năm 2010 dành cho chương trình phát sóng truyền hình kỹ thuật số mặt đất, trong đó cung cấp chất lượng hình ảnh nguyên sơ trên diện tích rất lớn, và cung cấp dịch vụ thay thế CATV cho truyền hình hữu tuyến.
Tất cả các nước khác trên thế giới cũng đang trong quá trình chuyển đổi của một trong hai dịch vụ truyền hình mặt đất analog hoặc chuyển đổi sang truyền hình kỹ thuật số mặt đất.
=== Truyền hình cáp ===
Truyền hình cáp là một hệ thống các chương trình truyền hình phát sóng phải trả tiền thuê bao qua các tín hiệu tần số radio RF vô tuyến truyền qua cáp đồng trục hoặc xung ánh sáng qua sợi cáp quang. Điều này trái ngược với truyền hình mặt đất analog, trong đó các tín hiệu truyền hình được truyền qua không gian bằng sóng vô tuyến và được nhận bởi một ăng-ten gắn liền với truyền hình. chương trình FM radio, Internet tốc độ cao, dịch vụ điện thoại, và các dịch vụ phi truyền hình tương tự cũng có thể được cung cấp thông qua các loại cáp.
Từ viết tắt CATV thường được sử dụng cho truyền hình cáp. Lúc ban đầu nó được lấy tên cho truy cập truyền hình cộng đồng hoặc Community Antenna Television, từ nguồn gốc truyền hình cáp của năm 1948: khu vực nhận được giới hạn bởi khoảng cách từ máy phát hoặc núi lớn "ăng-ten công cộng" đã được xây dựng, và cáp đã chạy từ chúng để tới các nhà riêng. Nguồn gốc của truyền hình cáp thậm chí còn lâu đời hơn các chương trình phát thanh đã được phân phối bằng cáp ở một số thành phố châu Âu những năm 1924.
Truyền hình cáp trước đó là analog nhưng kể từ những năm 2000, tất cả các nhà khai thác cáp đã chuyển sang hoặc đang trong quá trình chuyển đổi sang truyền hình cáp kỹ thuật số.
=== Truyền hình vệ tinh ===
Truyền hình vệ tinh là một hệ thống cung cấp chương trình truyền hình sử dụng tín hiệu phát sóng từ vệ tinh chuyển tiếp truyền thông. Các tín hiệu được nhận thông qua một ăng-ten parabol ngoài trời thường được gọi là chảo thu truyền hình vệ tinh và một khối downconverter độ nhiễu thấp (LNB). Một máy thu vệ tinh sau đó giải mã chương trình truyền hình mong muốn để xem trên TV. Người nhận có thể lắp một hộp set-top bên ngoài, hoặc tích hợp sẵn trong bộ chỉnh TV. Truyền hình vệ tinh cung cấp một loạt các kênh và dịch vụ, đặc biệt là các khu vực địa lý mà không nhân được tín hiệu truyền hình mặt đất hoặc truyền hình cáp.
Các phương pháp phổ biến nhất của việc nhận là truyền hình trực tiếp phát sóng vệ tinh (DBSTV), còn được gọi là "trực tiếp đến nhà" (DTH). Trong các hệ thống DBSTV, tín hiệu được truyền từ một vệ tinh phát sóng kỷ thuật số hoàn toàn trực tiếp trên sóng Ku. Hệ thống truyền hình vệ tinh được biết đến như hệ thống truyền hình chỉ nhận. Các hệ thống nhận tín hiệu analog truyền trong quang phổ C-band từ loại vệ tinh FSS, và yêu cầu sử dụng các chảo thu lớn. Do đó các hệ thống này có biệt danh là hệ thống "chảo thu", và cũng đắt hơn và ít phổ biến.
Các tín hiệu truyền hình vệ tinh phát sóng trực tiếp là tín hiệu analog trước đó và sau đó là tín hiệu kỹ thuật số, cả hai đều đòi hỏi một thiết bị tiếp nhận tương thích. Các tín hiệu kỹ thuật số có thể bao gồm truyền hình độ nét cao (HDTV). Một số truyền thông và các kênh truyền hình được tự do phát hay tự do xem, trong khi nhiều kênh truyền hình khác đòi hỏi mỗi thuê bao phải trả tiền.
Năm 1945 một nhà văn nhà khoa học viễn tưởng người Anh Arthur C. Clarke đã đề xuất một hệ thống thông tin liên lạc trên toàn thế giới nó sẽ hoạt động bằng thiết bị của ba vệ tinh đều cách nhau trong quỹ đạo của trái đất đã được công bố trên tạp chí Wireless World số ra tháng 10 năm 1945 của và ông đã giành được Huy chương Franklin Stuart Ballantine của Viện trong năm 1963.
Các tín hiệu truyền hình vệ tinh đầu tiên từ châu Âu đến Bắc Mỹ đã được chuyển tiếp qua vệ tinh Telstar trên vùng biển Đại Tây Dương vào ngày 23 tháng 7 năm 1962. Các tín hiệu được nhận và phát sóng ở Bắc Mỹ và các nước châu Âu và được theo dõi bởi hơn 100 triệu người. Ra mắt vào năm 1962, vệ tinh Relay 1 là vệ tinh đầu tiên để truyền tín hiệu truyền hình từ Mỹ đến Nhật Bản. Các thông tin vệ tinh địa tĩnh đầu tiên, Syncom 2, đã được đưa ra vào ngày 26 tháng 7 năm 1963.
Vệ tinh truyền thông thương mại đầu tiên trên thế giới, được gọi là Intelsat I và biệt danh "Early Bird", đã được phóng lên quỹ đạo địa tĩnh vào ngày 6 tháng 4 năm 1965. Các mạng quốc gia đầu tiên của vệ tinh truyền hình gọi là Orbita, được tạo ra bởi Liên Xô vào tháng 10 năm 1967, và được dựa trên các nguyên tắc sử dụng các vệ tinh Molniya hình elip cho việc phát sóng lại và cung cấp các tín hiệu cho trạm truyền hình mặt đất downlink. Các vệ tinh thương mại Bắc Mỹ đầu tiên thực hiện truyền hình địa tĩnh là của Canada Anik 1, mà đã được đưa ra vào ngày 09 tháng 11 năm 1972. ATS-6, thử nghiệm thế giới đầu tiên cho mục đích giáo dục và Direct Broadcast Satellite (DBS), đã được đưa ra vào ngày 30 tháng 5 năm 1974. Nó được truyền với tần số 860 MHz sử dụng băng rộng điều chế FM và có hai kênh âm thanh. Các mạng truyền tải được tập trung vào các tiểu lục địa Ấn Độ, nhưng thí nghiệm đã có thể nhận được tín hiệu ở Tây Âu sử dụng nhà xây dựng các thiết bị kỹ thuật thiết kế truyền hình UHF đã được sử dụng.
Việc đầu tiên trong một loạt các vệ tinh địa tĩnh Liên Xô thực hiện Truyền tải trực tiếp truyền hình, Ekran 1, đã được đưa ra vào ngày 26 tháng 10 năm 1976. Nó sử dụng một tần số 714 MHz UHF downlink để truyền đi có thể được nhận được với các công nghệ truyền hình UHF hiện tại hơn là công nghệ vi sóng.
== Máy thu truyền hình (ti vi) ==
Ti vi, máy thu truyền hình, viết tắt là TV, là một thiết bị kết hợp một bộ thu sóng, màn hình hiển thị, và loa cho các mục đích của việc xem truyền hình. Được giới thiệu vào cuối năm 1920 ở dạng cơ học, bộ truyền hình đã trở thành một sản phẩm tiêu dùng phổ biến sau Thế chiến thứ II ở dạng điện tử, sử dụng ống tia cathode. Việc bổ sung các màu sắc để phát sóng truyền hình sau năm 1953 tăng thêm sự phổ biến của máy thu hình ở năm 1960, và một ăng ten ngoài trời đã trở thành một tính năng phổ biến của các căn nhà ở các vùng ngoại ô. Các bộ truyền hình ở khắp nơi đã trở thành thiết bị hiển thị cho các phương tiện truyền thông đầu tiên được ghi nhận trong năm 1970, như VHS và DVD sau đó. Đây cũng là thiết bị hiển thị cho thế hệ đầu tiên của máy tính gia đình (ví dụ, Timex Sinclair 1000) và video game console (ví dụ, Atari) trong năm 1980. TV kể từ cuối những năm 2010 màn hình LCD sử dụng đặc biệt là màn hình LED-backlit LCD (màn hình LED này được sử dụng chủ yếu) và OLED. TV LED được cho là sẽ bị TV OLEDs thay thế trong tương lai gần.
=== Công nghệ màn hình ===
==== Quay đĩa ====
Hệ thống đầu tiền là hệ thống cơ học mà sử dụng một đĩa quay để tạo ra hình ảnh. Chúng thường có một độ phân giải và kích thước màn hình thấp và không phổ biến với cộng đồng.
==== Công nghệ CRT ====
Các ống cathode (CRT) là một ống chân không chứa một hoặc nhiều súng electron (một nguồn của các electron hoặc cực phát electron) và một màn hình huỳnh quang được sử dụng để xem hình ảnh. Nó có một tác dụng là để đẩy nhanh và làm chệch hướng các chùm electron (s) vào màn hình để tạo ra các hình ảnh. Các hình ảnh có thể đại diện cho dạng sóng điện (dao động), hình ảnh (tivi, màn hình máy tính), mục tiêu radar hoặc những người khác. Các CRT sử dụng một tấm kính sơ tán, rộng, sâu (tức là dài từ phía trước mặt màn hình cho đến cuối phía sau), khá nặng, và tương đối dễ vỡ. Như một vấn đề của an toàn, mặt màn hình thường được làm bằng thủy tinh chì dày để tránh được các va đập và ngăn chặn hầu hết các khí thải X-ray, đặc biệt là CRT được sử dụng trong sản phẩm tiêu dùng.
Trong bộ truyền hình và màn hình máy tính, toàn bộ khu vực phía trước của ống được quét nhiều lần và có hệ thống trong một mẫu hình cố định gọi là raster. Một hình ảnh được tạo ra bằng cách kiểm soát cường độ của mỗi tia trong ba chùm electron, cho mỗi màu cơ bản (đỏ, xanh lá cây, và màu xanh) với một tín hiệu video như là một tài liệu tham khảo. Trong tất cả các màn hình CRT hiện đại và TV, các chùm tia bị bẻ cong bởi độ lệch từ, một từ trường khác nhau được tạo ra bởi cuộn dây và điều khiển bằng mạch điện tử xung quanh cổ ống, mặc dù lệch tĩnh điện thường được sử dụng trong dao động, là một loại công cụ chẩn đoán.
==== Công nghệ DLP ====
Digital Light Processing (DLP) là một loại công nghệ máy chiếu sử dụng một thiết bị kỹ thuật số Micromirror. Một số DLPS có một TV tuner, và thiết bị này có một loại màn hình TV. Ban đầu nó được phát triển vào năm 1987 bởi Tiến sĩ Larry Hornbeck của Texas Instruments. Trong khi các thiết bị hình ảnh DLP được phát minh bởi Texas Instruments, máy chiếu DLP đầu tiên dựa được giới thiệu bởi Digital Projection Ltd vào năm 1997. Digital Projection và Texas Instruments đã được cả hai giải thưởng Emmy trao năm 1998 cho các công nghệ máy chiếu DLP. DLP được sử dụng trong một loạt các ứng dụng hiển thị từ màn hình tĩnh truyền thống với màn hình tương tác và cũng ứng dụng chúng vào các dịch vụ truyền thống bao gồm y tế, an ninh, và các ứng dụng công nghiệp.
Công nghệ DLP được sử dụng trong máy chiếu DLP trước (chủ yếu thiết bị chiếu độc lập cho các lớp học và các doanh nghiệp), DLP TV chiếu phía sau, và các dấu hiệu kỹ thuật số. Nó cũng được sử dụng trong khoảng 85% kế hoạch điện ảnh kỹ thuật số, và trong sản xuất phụ gia như một nguồn năng lượng trong một số máy in để hiệu chỉnh các loại nhựa thành các đối tượng 3D rắn.
==== Plasma ====
Một bảng điều khiển màn hình plasma (PDP) là một loại màn hình phẳng thông thường và rộng để truyền hình có kích thước 30 inch (76 cm) hoặc lớn hơn. Chúng được gọi là "plasma" sẽ được hiển thị bởi công nghệ sử dụng tế bào nhỏ có chứa chất khí tích điện ion hóa, hoặc những chất đặc biệt trong các buồng thường được gọi là đèn huỳnh quang.
==== LCD ====
TV màn hình tinh thể lỏng (TV LCD) là máy thu hình sử dụng công nghệ màn hình LCD để tạo ra hình ảnh. TV LCD mỏng hơn và nhẹ hơn so với ống tia cathode màn hình(CRT) kích thước màn hình tương tự, và có thể sản xuất các kích cỡ lớn hơn nhiều (ví dụ, 90 inch đường chéo). Khi giảm được các chi phí sản xuất, thì cho ra đời sự kết hợp của các tính năng có màn hình LCD cho máy thu truyền hình thực tế.
Năm 2007, TV LCD vượt quá doanh số của TV CRT-dựa trên toàn thế giới lần đầu tiên, [cần dẫn nguồn] và con số bán hàng của họ so với các ngành công nghệ khác tăng mạnh. TV LCD đã nhanh chóng có đối thủ cạnh tranh lớn trên thị trường màn hình lớn, bảng điều khiển màn hình plasma và phía sau là máy chiếu TV. Trong giữa những năm 2010 màn hình LCD đã trở thành màn hình phổ biến nhất, bởi đến nay, nó vẫn được sản xuất và mua bán rộng rãi nhất.
Màn hình LCD cũng có những nhược điểm riêng. Các công nghệ khác đã giải quyết những điểm yếu đó, bao gồm OLED, FED và SED, nhưng đến năm 2014 những công nghệ này không được đưa vào sản xuất trên diện rộng.
==== OLED ====
OLED (diode phát sáng hữu cơ) là một diode phát sáng (LED), trong đó các lớp quang điện phát xạ là một tấm phim của hợp chất hữu cơ phát ra ánh sáng để đáp ứng với một dòng điện. Đây là lớp bán dẫn hữu cơ nằm giữa hai điện cực. Nói chung, ít nhất là một trong những điện cực trong suốt. OLED được sử dụng để tạo ra màn hình kỹ thuật số trong các thiết bị như màn hình TV. Nó cũng được sử dụng cho màn hình máy tính, hệ thống di động như điện thoại di động, trò chơi cầm tay console và PDA.
Có hai đối tượng chủ yếu của OLED: những đối tượng dựa trên các phân tử nhỏ và những đối tượng sử dụng polymer. Thêm các ion di động để OLED tạo ra một tế bào điện hóa phát quang hoặc LED, trong đó có một chế độ hoạt động hơi khác nhau. Màn hình OLED có thể sử dụng hoặc là ma trận thụ động (PMOLED) hay ma trận tự động động giải quyết các đề án. OLED ma trận tự động (AMOLED) đòi hỏi một transistor backplane màng mỏng để chuyển từng điểm ảnh riêng hoặc tắt, nhưng cho phép độ phân giải cao hơn và kích thước màn hình lớn hơn.
Một màn hình hiển thị OLED không có đèn nền. Vì vậy, nó có thể hiển thị màu đen sâu và có thể mỏng hơn và nhẹ hơn so với một màn hình tinh thể lỏng (LCD). Trong điều kiện ánh sáng môi trường xung quanh thấp như một căn phòng tối một màn hình OLED có thể đạt được một tỷ lệ tương phản cao hơn so với màn hình LCD, cho dù màn hình LCD sử dụng đèn huỳnh quang cathode lạnh hoặc đèn nền LED.
OLED được cho là sẽ thay thế các công nghệ màn hình khác trong tương lai gần.
=== Độ phân giải màn hình ===
==== LD ====
Truyền hình Low definition hoặc LDTV đề cập đến hệ thống truyền hình có độ phân giải màn hình thấp hơn so với các hệ thống truyền hình độ nét tiêu chuẩn 240p như vậy (320 * 240). Chúng được sử dụng trong các thiết bị truyền hình cầm tay.
==== SD ====
Truyền hình độ nét tiêu chuẩn SDTV hoặc đề cập đến hai độ phân giải khác nhau: 576i, với 576 dòng xen kẽ của độ phân giải, có nguồn gốc từ các PAL và SECAM hệ thống châu Âu phát triển; và 480i dựa trên hệ thống truyền hình quốc gia Mỹ hệ thống Committee NTSC.
==== HD ====
Truyền hình độ nét cao (HDTV) cung cấp một độ phân giải cao hơn đáng kể so với truyền hình độ nét tiêu chuẩn. HDTV có thể được truyền trong các định dạng khác nhau:
1080p: 1920 × 1080p: 2.073.600 điểm ảnh (~ 2,07 megapixel) mỗi khung
1080i: 1920 × 1080i: 1.036.800 điểm ảnh (~ 1,04 MP) cho mỗi trường hoặc 2.073.600 pixel (~ 2.07 MP) cho mỗi khung hình. Độ phân giải CEA phi tiêu chuẩn tồn tại ở một số nước như 1440 × 1080i: 777.600 pixels (~ 0,78 MP) cho mỗi trường hoặc 1.555.200 pixel (~ 1,56 MP) cho mỗi khung hình
720p: 1280 × 720p: 921.600 pixels (~ 0,92 MP) cho mỗi khung hình.
==== UHD ====
Truyền hình độ nét siêu cao (còn gọi là Super Hi-Vision, Ultra truyền hình HD, UltraHD, UHDTV, hoặc UHD) bao gồm 4K UHD (2160p) và 8K UHD (4320p), là hai định dạng video kỹ thuật số được NHK Science & Technology Research Laboratories đề xuất và được Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) chấp thuận.
=== Kinh doanh ===
Người tiêu dùng Bắc Mỹ mua một TV mới trung bình bảy năm một lần, và các hộ gia đình có trung bình 2.8 chiếc TV. Tính đến năm 2011, 48 triệu bộ truyền hình mỗi năm được bán với giá trung bình là $ 460 và kích thước của 38 inch (97 cm). [152] Trong năm 2014, hầu hết các TV LCD bán ra là chủ yếu LED-backlit hiển thị LCD. Các nhà sản xuất TV lớn thông báo về việc ngừng sản xuất CRT, RPTV, plasma và LCD thậm chí huỳnh quang-backlit trong năm 2014.
Note: Vendor shipments are branded shipments and exclude OEM sales for all vendors
== Nội dung ==
=== Chương trình ===
Việc chương trình truyền đến công chúng có thể xảy ra nhiều cách khác nhau. Sau khi sản xuất, bước tiếp theo là cho ra thị trường và cung cấp những sản phẩm để bất cứ thị trường nào mở là sử dụng nó. Điều này thường xảy ra ở hai cấp độ:
Original Run hoặc First Run: một nhà sản xuất tạo ra một chương trình bằng một hoặc nhiều giai đoạn và hiển thị nó trên một trạm phát sóng hoặc mạng mà đã trả tiền cho những chương trình này hoặc có giấy phép đã được cấp bởi các nhà sản xuất truyền hình để làm như vậy.
Hợp tác phát sóng: đây là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi để mô tả tập quán thành lập chương trình (ngoài chạy ban đầu). Nó bao gồm chạy thứ cấp trong nước về các vấn đề về lần chạy đầu tiên mà còn được sử dụng quốc tế và có thể không được quản lý bởi các nhà sản xuất có nguồn gốc. Trong nhiều trường hợp, các công ty khác, các đài truyền hình, hoặc cá nhân đang tham gia làm công tác cung cấp, nói cách khác, để bán các sản phẩm vào thị trường mà họ được phép bán kết hợp bởi hợp đồng của chủ sở hữu quyền tác giả, trong hầu hết các trường hợp sản xuất.
Chương trình đầu tiên đang tăng về các dịch vụ thuê bao bên ngoài nước Mỹ, nhưng rất ít các chương trình sản xuất trong nước được cung cấp thông tin về nội địa free-to-air (FTA) ở nơi khác. Tuy nhiên thực tế này đang tăng lên, thường trên các kênh truyền hình kỹ thuật số FTA-only hoặc với thuê bao đầu tiên xuất hiện trên FTA.
Không giống như Mỹ, FTA chiếu lặp lại một chương trình của mạng FTA thường chỉ xảy ra trên mạng. Ngoài ra, các chi nhánh ít khi mua hoặc sản xuất các chương trình ngoài mạng lưới mà không tập trung vào chương trình địa phương.
=== Thể loại ===
Các thể loại truyền hình bao gồm một lượng lớn các loại chương trình giải trí, thông tin, và giáo dục người xem. Các thể loại vui chơi giải trí sản xuất đắt tiền nhất thường là thể loại phim truyền hình dài tập và kịch tính. Tuy nhiên, thể loại khác, chẳng hạn như các thể loại lịch sử phương Tây, cũng có thể có chi phí sản xuất cao.
Phổ biến các thể loại giải trí văn hóa bao gồm các chương trình hành động theo định hướng như các bộ phim truyền hình cảnh sát, tội phạm, trinh thám, kinh dị. Đồng thời, cũng có những biến thể khác của thể loại phim truyền hình, chẳng hạn như những phim truyền hình y học và những bộ phim dài tập opera xà phòng (soap operas). Các chương trình khoa học viễn tưởng có thể rơi vào một trong hai dạng thể loại phim truyền hình hay thể loại hành động, tùy thuộc vào việc họ nhấn mạnh câu hỏi triết học hay mạo hiểm cao. Phim hài là một thể loại phổ biến bao gồm tình huống hài (sitcom) và chương trình hoạt hình cho người lớn như South Park.
Các hình thức ít tốn kém nhất của Các thể loại chương trình giải trí là các game show, talk show, show truyền hình, và truyền hình thực tế. Gameshow yêu cầu thí sinh trả lời các câu hỏi và đoán các câu đố để giành chiến thắng và đoạt các giải thưởng. Talk show có cuộc phỏng vấn với các diễn viên đóng phim, truyền hình, ngôi sao âm nhạc và người nổi tiếng. Show truyền hình có một loạt các nghệ sĩ biểu diễn âm nhạc và các nghệ sĩ khác, chẳng hạn như diễn viên hài và ảo thuật, được MC hoặc người quản lý giới thiệu. Có một số điểm trùng giữa một số talk show và show truyền hình bởi vì những show này thường có màn trình diễn của các ban nhạc, ca sĩ, diễn viên hài, và các diễn viên khác giữa những đoạn phỏng vấn. Truyền hình thực tế cho thấy những người "bình thường" (không phải diễn viên) phải đối mặt với những thách thức hay kinh nghiệm khác nhau, từ bị bắt giữ bởi cảnh sát (COPS) hoăc giảm cân bất thường (The Biggest Loser). Một phiên bản biến thể của chương trình thực tế miêu tả những người nổi tiếng làm các hoạt động thường ngày (The Osbournes, Cha Hood Snoop Dogg) hoặc làm lao động chân tay (The Simple Life).
Các chương trình truyền hình giả tưởng cho phép một số học giả truyền hình và phát thanh truyền hình các nhóm vận động tranh luận đều là "truyền hình có chất lượng" bao gồm hàng loạt các chương trình như Twin Peaks và The Sopranos. Kristin Thompson cho rằng một số trong những phim truyền hình mang đặc điểm của những việc triển lãm cũng được tìm thấy trong các bộ phim nghệ thuật, chẳng hạn như chủ nghĩa hiện thực tâm lý, sự phức tạp trong lời thoại, và cốt truyện rõ ràng. Chương trình truyền hình không giả tưởng mà một số học giả truyền hình và phát thanh truyền hình các nhóm vận động tranh luận là "chất lượng truyền hình " bao gồm một loạt các vấn đề nghiêm túc vàh phi thương mại nhằm vào một loạt các đối tượng thích hợp, chẳng hạn như các chương trình phim tài liệu và chương trình về quan hệ công chúng.
=== Tài trợ ===
Trên khắp thế giới, việc phát sóng TV được tài trợ bởi chính phủ, quảng cáo, cấp phép (một hình thức thuế), đăng ký thuê bao, hoặc sự kết hợp của tất cả các yếu tố trên. Để bảo vệ các khoản thu, các kênh truyền hình thuê bao thường được mã hóa để đảm bảo rằng chỉ các thuê bao nhận được các mã giải mã để xem các tín hiệu. Kênh không được mã hóa được gọi là miễn phí hoặc FTA (free to air).
Trong năm 2009, thị trường TV toàn cầu có 1,217.2 triệu TV cho các hộ gia đình với ít nhất một hộ gia đình có một TV và tổng doanh thu là 268.9 tỷ EUR (giảm 1,2% so với năm 2008). Bắc Mỹ đã có những thị phần doanh thu truyền hình lớn nhất với 39%, theo sau Châu Âu (31%), châu Á-Thái Bình Dương (21%), châu Mỹ Latin (8%), và châu Phi và Trung Đông (2%).
Trên toàn cầu, các nguồn thu truyền hình khác nhau chia thành 45% -50% doanh thu quảng cáo truyền hình, 40% -45% phí thuê bao và 10% ngân sách công.
=== Quảng cáo ===
Tầm ảnh hưởng rộng lớn của truyền hình làm cho nó trở thành một phương tiện mạnh mẽ và hấp dẫn đối với các nhà quảng cáo. Nhiều đài và kênh truyền hình bán các khoảng thời gian phát sóng cho các nhà quảng cáo ("nhà tài trợ") để tài trợ cho chương trình của họ.
==== Tại Mỹ ====
Kể từ khi ra đời ở Mỹ vào năm 1941, quảng cáo truyền hình đã trở thành một trong những phương tiện quảng cáo hiệu quả nhất, có sức thuyết phục, và phổ biến nhất của nhiều loại sản phẩm, đặc biệt là hàng tiêu dùng. Trong những năm 1940 và những năm 1950, chương trình truyền hình chỉ do các nhà quảng cáo này sản xuất. Điều này cho phép các nhà quảng cáo sáng tạo các nội dung tốt của chương trình truyền hình. Có lẽ do các vụ bê bối chương trình trong năm 1950, các đài truyền hình chuyển sang quảng cáo theo kiểu tạp chí, giới thiệu nhiều đoạn quảng cáo ngắn với nhiều nhà quảng cáo khác nhau.
Giá quảng cáo tại Mỹ được xác định chủ yếu bởi thống kê của Nielsen. Thời gian trong ngày và độ phổ biến của kênh xác định đoạn phim quảng cáo có giá bao nhiêu. Ví dụ, nó có thể có giá khoảng 750,000 USD cho một block 30 giây quảng cáo thương mại trong thời gian rất đặc biệt của chương trình American Idol, trong khi cùng một lượng thời gian cho chương trình Super Bowl có thể có giá vài triệu USD. Ngược lại, các khung thời gian ít được xem như buổi sáng sớm và buổi chiều các ngày trong tuần, thường được bán với số lượng lớn cho nhà sản xuất infomercials ở mức giá thấp.
Trong những năm gần đây, các chương trình trả tiền hoặc quảng cáo thương mại đã trở nên phổ biến, thường là ở độ dài 30 phút hoặc một giờ. Một số công ty dược phẩm và các doanh nghiệp khác thậm chí còn tạo ra cái gọi là video "tin tức" các mặt hàng để phát sóng (từ nội bộ trong ngành), và trả tiền cho giám đốc chương trình để họ lồng ghép phát sóng các đoạn video quảng cáo gián tiếp này.
Một số chương trình TV cũng kèm quảng cáo vào chương trình của họ, bắt đầu trong các bộ phim và được biết đến như là định vị sản phẩm. Ví dụ, một nhân vật có thể uống một loại soda nhất định, đi đến một chuỗi nhà hàng đặc biệt, hoặc lái xe một loại xe nhất định của hãng xe. (Điều này đôi khi rất tinh tế, với chương trình có cung cấp bởi các nhà sản xuất xe với chi phí thấp hơn.) Đôi khi, một thương hiệu cụ thể hoặc nhãn hiệu thương mại, hoặc âm nhạc của một nghệ sĩ hay nhóm nhạc nhất định được sử dụng. (Điều này không bao gồm các khách mời xuất hiện của các nghệ sĩ người thực hiện chương trình.)
==== Anh ====
Cơ quan giám sát truyền hình quản lý quảng cáo truyền hình tại Anh. Hạn chế của nó đã được áp dụng kể từ những ngày đầu của truyền hình thương mại được tài trợ. Mặc dù vậy, có một ông trùm truyền hình, Roy Thomson, đã coi các giấy phép phát sóng như là một "giấy phép để in tiền". Giới hạn chỉ rõ: cho phép ba kênh truyền hình quốc gia thương mại lớn như là ITV, Channel 4 và Five có thể phát trung bình các quảng cáo tối đa bảy phút mỗi giờ (tám phút trong giờ cao điểm). Các đài truyền hình khác chỉ được phát trung bình không quá chín phút quảng cáo mỗi giờ (mười hai phút ở trong giờ cao điểm). Điều này có nghĩa rằng nhiều chương trình truyền hình được nhập khẩu từ Mỹ có thời gian tạm dừng bất thường mà các công ty của Anh không thể tận dụng các khoảng ngắt đoạn này, vốn dành cho quảng cáo thường xuyên hơn tại Mỹ. Không có quảng cáo nào được chèn vào trong quá trình ngắt quãng của một số chương trình bị cấm quảng cáo hoặc chương trình đó có độ dài dự kiến ngắn hơn 30 phút. Danh mục này bao gồm bất kỳ chương trình tin tức, phim tài liệu, và các chương trình cho trẻ em; thêm vào đó, các quảng cáo có thể không được phát sóng trong một chương trình được thiết kế và tiếp nhận phát sóng trong các trường học hoặc trong bất kỳ dịch vụ phát thanh truyền hình tôn giáo hoặc trong một buổi lễ chính thức của Hoàng gia, hoặc dịp lễ nào đó. Cơ quan này cũng phân chia ranh giới rõ ràng thời gian giữa các chương trình và quảng cáo.
Kênh BBC hiện nay đang được theo dõi nghiêm ngặt với yêu cầu là kênh truyền hình phi thương mại. Kênh này không được phép phát quảng cáo trên truyền hình ở Anh, mặc dù nó có nhiều kênh quảng cáo được tài trợ ở bên ngoài nước Anh. Phần lớn ngân sách của nó đến từ phí bản quyền truyền hình (xem dưới đây), hợp tác phát sóng và việc bán nội dung phát sóng cho các đài truyền hình khác.
==== Ireland ====
Ủy ban phát thanh truyền hình của Ireland (BCI) (tiếng Ireland: Coimisiún Craolacháin na hÉireann) giám sát quảng cáo trên truyền hình và đài phát thanh toàn Ireland, bao gồm cả các đài truyền hình tư nhân và nhà nước. Có một số hạn chế dựa trên quảng cáo, đặc biệt là liên quan đến việc quảng cáo rượu. Quảng cáo rượu bị cấm cho đến sau 7 giờ tối mỗi ngày. Đài truyền hình ở Ireland tuân thủ luật phát thanh truyền hình được Ủy ban phát thanh truyền hình của Ireland và Liên minh châu Âu ban hành. Tài trợ của chương trình thời sự bị cấm hoàn toàn.
Tính đến ngày 1 tháng 10 năm 2009, trách nhiệm của BCI đang dần được chuyển giao cho các Broadcasting Authority của Ireland.
==== Đăng ký ====
Một số kênh truyền hình được tài trợ một phần từ thuê bao; Do đó, các tín hiệu được mã hóa trong phát sóng để đảm bảo rằng chỉ có các thuê bao thanh toán có quyền xem các chương trình truyền hình trả tiền hoặc kênh chuyên ngành. Hầu hết các dịch vụ thuê bao cũng được tài trợ bởi quảng cáo.
=== Thuế hoặc giấy phép ===
Dịch vụ truyền hình ở một số quốc gia có thể được tài trợ bởi một giấy phép hoặc một hình thức đánh thuế, đồng nghĩa với việc quảng cáo đóng một vai trò ít hoặc không có vai trò gì cả. Ví dụ, một số kênh có thể thực hiện không có quảng cáo ở tất cả và một số rất ít, bao gồm:
Australia (ABC)
Nhật Bản (NHK)
Na Uy (NRK)
Thụy Điển (SVT)
Vương quốc Anh (BBC)
Hoa Kỳ (PBS)
Đan Mạch (DR)
Kênh BBC phát tại Vương quốc Anh không có quảng cáo truyền hình và được tài trợ bởi một giấy phép truyền hình hàng năm được các tòa nhà nhận chương trình phát sóng truyền hình trực tiếp trả tiền. Hiện nay, ước tính có khoảng 26,8 triệu các hộ cá thể gia đình Anhtrong nước sở hữu TV, với khoảng 25 triệu bản quyền truyền hình tại các hộ gia đình có hiệu lực từ năm 2010. Chi phí cấp giấy phép truyền hình này do chính phủ quy định, nhưng BBC không phải chịu kiểm soát của chính phủ.
Hai kênh truyền hình BBC chính được theo dõi bởi gần 90% dân số mỗi tuần; tổng thể đạt mức 27% tổng số người xem, mặc dù thực tế cho thấy 85% hộ gia đình là đa kênh, với 42% trong số này có quyền truy cập vào 200 kênh truyền hình miễn phí thông qua qua vệ tinh và 43% số hộ gia đình có quyền truy cập vào 30 kênh hoặc hơn thông qua Freeview. Các giấy phép cho phép bảy kênh truyền hình BBC phát mà không quảng cáo hiện có giá £139,50 một năm (khoảng 215 USD) không phụ thuộc vào số tivi sở hữu. Khi cùng một sự kiện thể thao được phát trên BBC và các kênh thương mại khác, đài BBC luôn luôn thu hút của số đông khán giả, cho thấy rằng khán giả thích xem truyền hình không bị gián đoạn bởi quảng cáo.
Ngoài thông tin quảng cáo nội bộ, Australian Broadcasting Corporation (ABC) không có quảng cáo; quảng cáo trên kênh này bị cấm theo Đạo Luật ABC năm 1983. ABC nhận được tài trợ từ chính phủ Úc ba năm một lần. Trong ngân sách liên bang năm 2008/09, ABC nhận được 1,13 tỷ AUD. Các quỹ cung cấp cho truyền hình, đài phát thanh, thông tin trực tuyến, và đầu ra quốc tế của ABC. ABC cũng nhận được tiền từ nhiều cửa hàng ABC của nó trên khắp nước Úc. Mặc dù được tài trợ bởi chính phủ Úc, nhưng sự độc lập biên tập của ABC được đảm bảo thông qua pháp luật.
Ở Pháp, các kênh truyền hình chính phủ tài trợ được quảng cáo, nhưng những người sở hữu bộ truyền hình phải trả tiền thuế hàng năm ("la redevance audiovisuelle").
Tại Nhật Bản, NHK được trả bởi chi phí bản quyền (được biết đến trong tiếng Nhật là lệ phí tiếp nhận (受信料 Jushinryō)). Các luật phát sóng quy định kinh phí NHK rằng bất kỳ trang bị truyền hình NHK đều phải trả tiền. Lệ phí được chuẩn hóa, có giảm giá cho nhân viên văn phòng và sinh viên đi làm, và cho các cư dân của quận Okinawa.
== Xem thêm ==
Giới giải trí
Công nghiệp văn hoá
Công nghiệp sáng tạo
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Albert Abramson, The History of Television, 1942 to 2000, Jefferson, NC, and London, McFarland, 2003, ISBN 0-7864-1220-8.
Pierre Bourdieu, On Television, The New Press, 2001.
Tim Brooks and Earle March, The Complete Guide to Prime Time Network and Cable TV Shows, 8th ed., Ballantine, 2002.
Jacques Derrida và Bernard Stiegler, Echographies of Television, Polity Press, 2002.
David E. Fisher and Marshall J. Fisher, Tube: the Invention of Television, Counterpoint, Washington, DC, 1996, ISBN 1-887178-17-1.
Steven Johnson, Everything Bad is Good for You: How Today's Popular Culture Is Actually Making Us Smarter, New York, Riverhead (Penguin), 2005, 2006, ISBN 1-59448-194-6.
Leggett, Julian (tháng 4 năm 1941). “Television in Color”. Popular Mechanics (Chicago). Truy cập ngày 7 tháng 12 năm 2014.
Jerry Mander, Four Arguments for the Elimination of Television, Perennial, 1978.
Jerry Mander, In the Absence of the Sacred, Sierra Club Books, 1992, ISBN 0-87156-509-9.
Neil Postman, Amusing Ourselves to Death: Public Discourse in the Age of Show Business, New York, Penguin US, 1985, ISBN 0-670-80454-1.
Evan I. Schwartz, The Last Lone Inventor: A Tale of Genius, Deceit, and the Birth of Television, New York, Harper Paperbacks, 2003, ISBN 0-06-093559-6.
Beretta E. Smith-Shomade, Shaded Lives: African-American Women and Television, Rutgers University Press, 2002.
Alan Taylor, We, the Media: Pedagogic Intrusions into US Mainstream Film and Television News Broadcasting Rhetoric, Peter Lang, 2005, ISBN 3-631-51852-8.
Amanda D. Lotz, The Television Will Be Revolutionized, New York University Press, ISBN 978-0814752203
== Liên kết ngoài ==
National Association of Broadcasters
Association of Commercial Television in Europe
The Encyclopedia of Television at the Museum of Broadcast Communications
Television's History - The First 75 Years
Collection Profile - Television at the Canada Science and Technology Museum
The Evolution of TV, A Brief History of TV Technology in Japan - NHK (Japan Broadcasting Corporation)
Worldwide Television Standards
Truyền hình tại DMOZ |
công ty cổ phần bóng đèn điện quang.txt | Công ty Cổ phần Bóng đèn Điện Quang (mã trên HSX: DQC) là một công ty sản xuất kinh doanh các giải pháp, sản phẩm và dịch vụ trong lĩnh vực chiếu sáng và thiết bị điện tại Việt Nam.
== Lịch sử ==
Năm 1973: Thành lập.
Năm 1979: Thành lập nhà máy Bóng Đèn Điện Quang trên cơ sở sát nhập các đơn vị:
Xí nghiệp Đèn Ống (Biên Hòa).
Xí nghiệp Ống Thủy tinh (Biên Hòa).
Xí nghiệp Đèn tròn (TP.HCM).
Năm 1989: Bộ Công nghiệp nhẹ quyết định thành lập Xí nghiệp Liên hợp Bóng đèn Điện Quang trên cơ sở nhà máy Bóng đèn Điện Quang trực thuộc liên hiệp xí nghiệp sành sứ thủy tinh II.
Năm 1991: Bộ Công nghiệp nhẹ đổi tên Xí nghiệp Liên hợp Bóng đèn Điện Quang thành Công ty Bóng đèn Điện Quang.
Năm 1997: Điện Quang bắt đầu gia nhập thị trường xuất khẩu.
Năm 2000: Bắt đầu sản xuất bóng đèn Compact tiết kiệm điện.
Năm 2005: Cổ phần hóa - Chuyển đổi thành Công ty Cổ phần Bóng Đèn Điện Quang.
Năm 2007: Nắm bắt xu thế chiếu sáng hiện đại và xu thế tiêu dùng mới Điện Quang bắt đầu nghiên cứu và đầu tư dây chuyền sản xuất đèn LED.
Năm 2008:
Ký kết hợp đồng liên doanh với Tập đoàn dầu khí công nghiệp Venezuela để xây dựng khu liên hợp sản xuất bóng đèn tiết kiệm điện tại Venezuela.
Chính thức niêm yết cổ phiếu công ty tại sản giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) mã chứng khoán là DQC
Năm 2012: Khu Liên hợp Sản xuất Bóng đèn tiết kiệm điện Vietven chính thức đi vào hoạt động
Năm 2013: Công ty Cổ phần Bóng đèn Điện Quang kỷ niệm 40 năm hình thành và phát triển, đón nhận huân chương Độc Lập Hạng Nhì.
== Thành tích, chứng nhận ==
Huân chương Độc lập hạng Nhì, Ba.
Huân chương Lao động hạng Nhất, Nhì, Ba.
Cờ luân lưu của Chính phủ các năm 1997, 1998, 2005, 2006, 2007, 2008, 2009, 2010, 2011, 2012.
13 Huy Chương Vàng tại Hội chợ Quốc tế hàng công nghiệp Việt Nam.
Liên tục 20 năm được người tiêu dùng bình chọn là Hàng Việt Nam chất lượng cao.
Giải thưởng Business Excellence Award 2006 do các Cơ quan Thương vụ của Việt Nam tại nước ngoài bình chọn.
Từ năm 2003 đến nay, Điện Quang liên tục được nhận giải thưởng Sao vàng Đất Việt do Trung ương Hội Doanh nghiệp Trẻ Việt Nam trao tặng.
Năm 2006, Điện Quang được lựa chọn tham gia vào chương trình "20 thương hiệu hạt giống" và chương trình sản phẩm công nghiệp chủ lực TP.HCM do Ủy ban Nhân dân TP.HCM - ITPC tổ chức. Đây là chương trình trọng điểm hướng đến các doanh nghiệp đã có thế mạnh về chiến lược thương hiệu, có thị trường xuất khẩu... để hỗ trợ doanh nghiệp trờ thành các đơn vị chủ lực, đầu tàu cho sự phát triển của kinh tế TP.HCM.
Năm 2008 - 2010 - 2012 - 2014, thương hiệu Điện Quang 4 lần liên tiếp được Chính phủ công nhận là "Thương hiệu Quốc gia", được sử dụng biểu tượng Vietnam Value trong các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia tại Việt Nam và trên thế giới.
Năm 2009, đạt giải thưởng Cúp vàng Thương hiệu - Sản phẩm - Uy tín - Chất lượng. Đồng thời, trong năm Điện Quang được chứng nhận đạt giải thưởng thương hiệu chứng khoán uy tín năm 2009 và danh hiệu Top 100 doanh nghiệp niêm yết hàng đầu Việt Nam dành cho các doanh nghiệp tiêu biểu trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Năm 2010, sản phẩm Điện Quang được dán nhãn Ngôi sao năng lượng Việt do Bộ công thương cấp chứng nhận sản phẩm tiết kiệm năng lượng.
Điện Quang đạt giải thưởng Hội nhập kinh tế quốc tế lần 2 do Ủy ban Quốc gia và hợp tác Quốc tế bình chọn, đạt bằng khen của Bộ trưởng Bộ Công thương đã có thành tích xuất sắc trong việc đưa "Hàng Việt Nam về nông thôn"
Năm 2011, thương hiệu Điện Quang đứng đầu ngành điện chiếu sáng trong Top 500 thương hiệu nổi tiếng do Phòng Thương mại và công nghiệp Việt nam (VCCI) tổ chức.
Năm 2011-2014, Điện Quang liên tiếp được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp chứng nhận sản phẩm đạt Nhãn Xanh Việt Nam. Hiện nay, Điện Quang là doanh nghiệp duy nhất trong cả nước liên tục 2 lần được công nhận giải thưởng này.
Năm 2011, Điện Quang đứng trong top 10 dự án khảo sát "500 sản phẩm và dịch vụ hàng đầu Việt Nam" do người tiêu dùng bình chọn được tổ chức dưới sự bảo trợ của Bộ Công Thương.
Năm 2011-2014, Điện Quang đứng trong Top 500 doanh nghiệp tư nhân lớn nhất Việt Nam do VNR tổ chức dựa theo kết quả nghiên cứu và đánh giá độc lập theo chuẩn mực quốc tế của công ty Vietnam Report.
Năm 2012-2013-2014, Điện Quang nhận giải thưởng cúp vàng, huy chương vàng Vietbuild chất lượng sản phẩm ngành xây dựng - Vật liệu xây dựng và trang trí nội ngoại thất do Bộ Xây dựng trao tặng.
Năm 2012, Điện Quang vinh dự nhận giải thưởng Top 20 sản phẩm Vàng tiêu biểu nhất Việt Nam do hội sở hữu trí tuệ Việt Nam trao tặng.
Năm 2013, Điện Quang nhận giải thưởng Thương hiệu mạnh Việt Nam do Thời Báo Kinh tế Việt Nam trao tặng.
Năm 2013, 2014 Điện Quang liên tiếp được nhận bằng khen "đơn vị đã có nhiều đổi mới, sáng tạo góp phần thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh" do Bộ Khoa học và Công nghệ trao tặng.
Năm 2014, Điện Quang nằm trong Top 500 doanh nghiệp nộp thuế thu nhập lớn nhất Việt Nam.
Top 50 công ty niêm yết tốt nhất Việt Nam năm 2015 do Forbes bình chọn.
2003-2014: Giải Sao vàng đất Việt.
== Quy mô ==
Số lượng nhà máy: 5 (1 tại Venezuela)
Sản phẩm: 1000+, với ~320 sản phẩm LED.
Doanh thu:
2010: 646 tỷ đồng
2013: 914 tỷ đồng
Lợi nhuận:
2011: 39,19 tỷ đồng
2013: 121 tỷ đồng
Số lượng nhân viên:?
== Trốn thuế ==
Ngày 12 tháng 12 năm 2015, Tổng cục Thuế đã điều chỉnh và yêu cầu truy thu hơn 548,1 triệu đồng tiền thuế của Công ty cổ phần bóng đèn Điện Quang. Trong đó truy thu thuế GTGT hơn 21,8 triệu đồng, truy thu thuế TNDN gần 338 triệu đồng. Ngoài ra, thuế GTGT còn khấu trừ cuối năm 2014 chuyển kỳ sau giảm 361,29 triệu đồng.
== Tham khảo == |
somerset.txt | Somerset (i /ˈsʌmərsɛt/ hoặc /ˈsʌmərsɪt/) là một hạt ở Tây Nam Anh. Thủ phủ của Somerset là Taunton. Hạt nghi lễ Somerset giáp giới Bristol và Gloucestershire ở phía bắc, Wiltshire phía đông, Dorset ở phía đông nam, và Devon ở phía tây nam. Quận có một phần giáp về phía bắc và phía tây bờ biển của kênh Bristol và cửa sông Severn. Ranh giới phía Bắc truyền thống của quận là sông Avon, nhưng địa giới hành chính kéo về phía nam, với việc tạo ra và mở rộng của thành phố Bristol, và sau này quận của Avon và các cơ quan đơn nhất của nó ở phía bắc.
Somerset là một hạt nông thôn với các ngọn đồi như đồi Mendip, đồi Quantock và Vườn quốc gia Exmoor, và các khu vực bằng phẳng rộng lớn bao gồm cả các Somerset Levels. Có bằng chứng về sự sinh sống của con người từ thời Palaeolithic, và khu định cư tiếp theo trong các thời kỳ La Mã và Saxon. Hạt đã đóng một phần quan trọng trong việc củng cố quyền lực và sự gia tăng của vua Alfred Đại đế, và sau này trong cuộc nội chiến Anh và các cuộc nổi dậy Monmouth.
Nông nghiệp là ngành chính của hạt. Ngành chăn nuôi cừu và gia súc, bao gồm để lấy len và pho mát nổi tiếng của hạt (đáng chú ý là Cheddar), truyền thống và đương đại, như là canh tác không bình thường của cây liễu rổ rá. Apple vườn cây ăn trái đã được một lần phong phú, và cho đến ngày nay Somerset được biết đến với việc sản xuất rượu táo mạnh. Tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn mức trung bình quốc gia, và các lĩnh vực việc làm lớn nhất là bán lẻ, sản xuất, du lịch, y tế và xã hội chăm sóc. Dân số tăng trưởng trong hạt là cao hơn mức trung bình quốc gia.
== Tham khảo == |
tôma aquinô.txt | Tôma Aquinô (tiếng Ý: Tommaso d'Aquino, tiếng Latinh và tiếng Anh: Thomas Aquinas) (1225-1274), cũng phiên âm là Tômát Đacanh từ tiếng Pháp Thomas d'Aquin, là một tu sỹ, linh mục dòng Đa Minh người Ý và là một nhà thần học và triết học có nhiều ảnh hưởng trong truyền thống chủ nghĩa kinh viện mà trong lĩnh vực này ông cũng được gọi là "Doctor Angelicus" và "Doctor Communis". Tôma sinh ra tại lâu đài của cha mình: lâu đài Roccasecea, thuộc lãnh thổ Napoli. Phần tên "Aquinas" của tên ông là từ tên của vùng đất Aquino, vốn thuộc về gia đình ông cho đến năm 1137.
Tôma là người đề xướng quan trọng nhất của thần học tự nhiên, và là cha đẻ của học thuyết Thomas. Ông có ảnh hưởng đáng kể trong tư tưởng phương Tây, và nhiều triết học hiện đại đã được hình thành trong quá trình phát triển hoặc phản đối ý tưởng của ông, đặc biệt là trong các lĩnh vực đạo đức, luật tự nhiên, siêu hình học, và lý luận chính trị. Không giống như nhiều trường phái trong Giáo hội thời gian đó, Thomas chấp nhận một số ý tưởng do Aristotle đưa ra - người mà ông gọi là "vị Triết gia" - và ông đã cố gắng kết hợp triết học Aristotle với các nguyên tắc của Kitô giáo. Các tác phẩm của ông được biết đến nhiều nhất là Summa Theologica (Tổng luận thần học) và Summa contra Gentiles (Tổng luận chống lại dân ngoại). Bình luận của ông về Kinh Thánh và Aristotle là một phần quan trọng trong các tác phẩm của ông. Hơn nữa, ông còn nổi bật với những bài thánh ca Thánh Thể của mình, chúng đã trở thành một phần của phụng vụ Giáo hội.
== Tiểu sử ==
Cha ông là bá tước Landulf, một dòng tộc lâu đời ở phía nam nước Ý, mẹ ông là nữ bá tước Theodora của nhà Theate,, một dòng dõi quý tộc Norman. Hồi nhỏ ông học trong tu viện Monte Cassino sau đó ông học ở đại học Naples, khi tốt nghiệp ông đi theo học các tu sĩ dòng thánh Dominic. Các tu si trưởng của dòng thánh Dominic nhanh chóng nhận thấy tài năng của Tôma nên liền gửi anh tới Köln, ở đây Tôma trở thành học trò giỏi nhất và sau này là đồng nghiệp của Albertus Magnus. Ông đi theo Albert đến Paris sau đó lại cũng theo Albert quay lại Köln và trở thành giáo sư ở đây. Sau này ông còn đi nhiều nơi như Naples, Paris, Rome và nhiều nơi khác ở Ý để giảng dạy và thuyết trình trước công chúng. Ông từng được nhiều vị hoàng đế mời tới nói chuyện (Louis VIII, Charles,…) và cuối đời ông còn được phong thánh.
== Sự nghiệp ==
=== Tổng quát ===
Với sự giáo dục như vậy, các tư tưởng và nghiên cứu của Tôma không khác gì của người thầy là Albert của mình. Tôma cũng rất hâm mộ Aristotle, Platon như người thầy của minh. Tôma ít nghiên cứu, tìm tòi cái mới mà ông lại cố gắng giải thích các điều căn bản của Aristotle và một số các nhà bác học khác sao cho đúng với Kinh Thánh, sao cho hợp ý Chúa. Chính xác hơn thì ông muốn sử dụng các kiến thức khoa học để phục vụ cho tôn giáo nhưng ông đã không thành công.
Nói chung, Thomas Aquinas là một trong những người đi kế thừa tư tưởng từ các bậc tiền bối nhiều nhất. Suy nghĩ lại những gì mà Aristotle để lại, chấp nhận tư tưởng của chủ nghĩa khắc kỷ, đồng quan điểm với chủ nghĩa Platon mới, Augustin thành Hippo, Boethius và dung hợp các quan điểm của Cicero, Averroes,..., đó là những gì mà Thomas đã làm.
=== Đức tin và lý tính ===
Tuy kế thừa từ những con người xuất sắc như vậy, Thomas Aquinas lại cho thấy suy nghĩ riêng của bản thân. Đối với ngài Thomas, triết học và thần học không phải là một, chúng theo đuổi những đối tượng khác nhau. Tuy nhiên, các đối tượng này lại không có sự đối lập nào với nhau. Nếu đối tượng của triết học là nghiên cứu những chân lý của lý trí thì đối tượng của thần học là chân lý của lòng tin tôn giáo.
Từ lập trường mang tính chất dung hòa trên, Thomas đã cho rằng Thiên Chúa là khách thể cuối cùng của triết học và thần học, là nguồn gốc nền tảng của mọi chân lý.
Vì vậy, về nguyên tắc, không có sự mâu thuẫn nào giữa thần học và triết học, giữa đức tin và lý tính. Thomas còn viếtː
Ấy thế nhưng, Thomas Aquinas lại đánh giá triết học thấp hơn thần học. Triết học thấp hơn thần học giống như là lý tính của người không thể nào bằng trí tuệ của Thượng đế. Vì vậy, "để giải thoát, con người phải biết chạy trốn khỏi lý tính của mình thông qua sự mặc khải của Chúa".
Theo Thomas, mọi nhận thức đều đến từ cảm giác. Nhưng các đối tượng như Thương đế, thần linh, linh hồn lại là các đối tượng đặc biêt, đây là các đối tượng siêu nhiên, siêu cảm giác. Vì vậy, chỉ cảm giác thôi là chưa đủ. Chính vì thế, cảm giác phải được bổ sung bằng đức tin.
Nếu mâu thuẫn giữa đức tin và lý tính xuất hiện thì, theo Thomas, có dấu hiệu để một trong hai cái đã sai. Sai lầm đó sẽ thuộc về lý tính, bởi không có sai lầm nào trong sự mặc khải của Chúa.
So với các bậc tiền bối như Augustin thành Hippo, Anselm thành Canterbury hay Pierre Abélard, Thomas đã có sự phân định rõ ràng hơn giữa hai mặt lý trí và đức tin. Đồng thời, ông thể hiện rõ tính nhất nguyên của mình trong vấn đề này khi ông bác bỏ quan niệm "chân lý hai mặt" tồn tại và ông cho rằng người ta có thể dùng ly trí để làm sáng tỏ tính hợp lý của các định đề không thể chứng minh mà phải chấp nhận như những định đề tín ngưỡng. Thomas bày tỏ rằng cái làm nên giá trị của triết học không phải là tính cách của Cơ Đốc giáo mà là tính hợp lý. Sách Triết học Trung cổ châu Âu đã viết như thế này về Thomasː
=== Giải thích Thiên Chúa ===
Trước Thomas Aquinas, nhiều người cô chứng minh sự hiện hữu của Thượng đế theo chiều từ nguyên nhân đến kết quả. Đó là những nhà triết học theo cái gọi là thần học bản chất, khẳng định Thiên Chúa là một hữu thể tối cao, là đấng sáng tạo hoàn hảo, là một hiển nhiên tuyệt đối không cần phải chứng minh. Ông viết như sauː
Thiên Chúa đã được đánh giá đúng bản chất của mình. Đó là một hữu thể không thể tranh cãi và không cần giải thích. Nếu ai đó cố làm vậy với trí tuệ nhỏ bé của bản thân (tức chấp nhận rằng con người do Chúa sáng tạo ra) thì đó là điều không thể chấp nhận được.
Còn khi triết học có Thomas, mọi thứ đã bị đảo ngược lại. Étienne Gilson cho biết các luận chứng của Thomas Aquinas về Thiên Chúa là Thiên Chúa hiện hữu, rất khác so với những tiền bối của ông. Đây là cách giải thích Thiên chúa là hữu thể sáng tạo ra vạn vật (có cả con người). Cụ thể, sự hiện hữu của Thiên Chúa được chứng mình bằng năm con đường là đi tìmː
Nguồn gốc đầu tiên của vận độngː Mọi chuyển động cần phải có động lực ban đầu nhưng cái đóng vai trò động lực, lực đẩy thì không nhất thiết phải ở trong chuyển động. Vì vậy, phải có một hữu thể là động lực của mọi vận động nhưng hữu thể đó không ở trong vận động.
Nguyên nhân đầu tiênː Các nguyên nhân tác động trong thế giới không thể là vô cùng để mãi mãi đi từ nguyên nhân này đến nguyên nhân khác. Vì vậy, "nếu không có một nguyên nhân tác động làm giới hạn tuyệt đối cho chuỗi nguyên nhân tác động thì không thể có giới hạn cuối cùng hay giới hạn trung gian được". Nguyên nhân đầu tiên thông qua nguyên nhân trung gian hoặc qua nhiều hơn một nguyên nhân trung gian để nối liến với nguyên nhân cuối cùng. Bởi vậy, nguyên nhân đầu tiên và nguyên nhân cuối cùng thực chất là một. Vì vậy, nếu xóa bỏ nguyên nhân đầu tiên thì cũng có nghĩa là xóa bỏ nguyên nhân cuối cùng. Và nếu không xác định được giới hạn đầu tiên cho các nguyên nhân tác động thì cũng chẳng có nguyên nhân trung gian nào cả. Nếu điều đó xảy ra thì chỉ là một thế giới chết, bất động mà thực tế thì thế giới sinh sôi nảy nở không ngừng. Vì thế, không thể không có nguyên nhân đầu tiên và nguyên nhân đó chính là Thiên Chúa.
Tính tất yếu đầu tiênː Các sự vật ở trạng thái ngẫu nhiên, vì thế "phải công nhận một hữu thể tự nó tất yếu, không phải và không cần có nguyên nhân cho sự tất yếu của nó ở bên ngoài bản thân nó. Tuy nhiên, nó lại là nguyên nhân tất yếu cho những cái khác. Hữu thể ấy mọi người gọi là Thiên Chúa.
Thang bậc hoàn hảo nhấtː Các sự vật trong thế giới hiện hữuu trong các mức độ hoàn thiện khác nhau, nên "phải có một cái gì tuyệt đối thiện, tuyệt đối thực, tuyệt đối đẹp và có giá tri, vượt trên tất cả, và do đó, hữu thể một cách tuyệt đối. Vì vậy, phải có một hữu thể làm nguyên nhân cho hữu thể cái thiện hoàn hảo và mọi cái hoàn hảo khác cho tất cả mọi sự vật; hữu thể đó chúng ta gọi là Thiên Chúa."
Mục đích tối caoː Tính chất hợp lý của giới tự nhiên không thể giải thích bằng những nguyên nhân tự nhiên. Vì vậy, cần tồn tại một thực thể siêu lý trí tự nhiên điềuu chính thế giới.
Nhiều học giả thế hệ sau cho rằng tính đồng kết của năm con đường chứng minh sự hiện hữu của Thiên Chúa của Thomas Aquinas đều được xây dựng trên một nền tảng hiện sinh, trên cơ sở áp dụng tính tất yếu của mối liên hệ nhân quả. Trong đó, kết quả được xem là chứng ly đối chất để khẳng định sự hiện hữu của Chúa. Còn có thể có những nhận định, đánh giá khác nhau về cách chứng minh của ông, nhưng có lẽ dễ chấp nhận hơn cả là ý kiến của Gilson ("phải khởi đầu từ một hiện hữu, vì chỉ cần chấp nhận bất cứ một nguyên do nào hợp lý trong đời sống thường nhật thì cũng đủ chứng minh cho sự hiện hữu của Thiên Chúa").
=== Quan điểm về vũ trụ ===
Nói chung, Thomas Aquinas kế thừa suy nghĩ của các nhà triết học của chủ nghĩa kinh viện. Ông cho rằng hệ thống địa tâm của Ptolemey có giá trị như các giáo điều của tôn giáo. Ông ủng hộ quan điểm trung tâm của vũ trụ là Trái Đất bất động. Mặt Trời, Mặt Trăng và 5 hành tinh gắn với những hình cầu do các tinh thần đặc biệt trấn giữ, làm xung lực để quay quanh Trái Đất. Giới hạn cuối cùng của Trái Đất là hình cầu thứ tám. Bước ra khỏi nó là nơi của Chúa trời. Con người sống ở trung tâm của vũ trụ. Mọi cái sỉnh ra đã hàm chứa ngay mục đích từ đầu. "Cuộc sống của sư tử không thể thiếu sự tàn bạo của bạo chúa", những thiên tai như động đất, lụt lội, bão tố, mưa đá là Chúa trời gây ra để trừng phạt con người.
=== Ý kiến về cái chung ===
Thomas Aquinas đã đứng trên lập trường chủ nghĩa duy thực ôn hòa để giải quyết cái chung. Theo ông, cái chung tồn tại tên ba mặtː
Là mẫu mực lý tưởng của các sự vật cụ thể, có trước các sự vật cụ thể và tồn tại ở trong trí tuệ của Thượng đế.
Là bản chất hiện hữu của các sự vật cụ thể.
Là sự trừu tượng hóa các sự vật cụ thể.
=== Nhận thức luận ===
Thomas Aquinas đã tiếp thu quan niệm hình dạng của Aristotle. Theo ông, mọi nhận thức đều diễn ra trong chủ thể nhờ tiếp thu sự tác động từ hình ảnh của khách thể. Nhưng đó là sự tiếp nhận có chọn lọc. Chủ thể chỉ tiếp nhận ở khách thể những cái gì giống với chủ thể (hình ảnh về sự vật) chứ không phải mọi tồn tại về khách thể, là bản thân sự vật vì cái gia nhập vào tinh thần của chủ thể không thể là bản thân khách thể mà phải là cái đã mất đi tính vật chất, hiển hiện lên trong một hình dạng của nó. Bởi nguyên tắc tinh thần chỉ được tiếp nhận được những cái thuộc về tinh thần.
Hình dạng được Thomas Aquinas phân thành hai hình dạngː
Hình dạng cảm tínhː Đây là hình dạng có trật tự ở bậc thấp. Nó chỉ bao bao quát sự vật với những tính chất ngẫu nhiên, bề ngoài như hình dáng, màu sắc, mùi vị, nhưng nhờ nó mà cái cảm giác trở nên cái cảm thụ tích cực.
Hình dạng lý tínhː Đây là hình dạng có trật tự ở bậc cao. Thông qua hình dạng lý tính, con người tiếp nhận được những cái chung, cái giống với đối tượng, cái mà trong đó chứa đựng nhiều thực thể riêng biệt để xâm nhập vào bản chất của nó.
Là con trai của một nhà thần học nổi tiếng, tuy vậy tư tưởng của Thomas trong vấn đề này trở thành bước tiến lớn của triết học kinh viện. Ông quan tâm rất nhiềuu những gì Aristotle để lại mà dửng dưng trước di sản của Platon. Thế nhưng, Thomas cũng để lại khá nhiều yếu tố tiêu cực như nặng về logic hình thức, lập luận sáo rỗng, xa rời nghiên cứu có tính chất kinh nghiệm.
=== Lý thuyết về xã hội ===
Thomas Aquinas tán dương sự thống trị của nhà thờ với nhân dân. Đối với ông, cuộc sống dưới trần gian chỉ là sự chờ đợi và chuẩn bị cho cuộc sống tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia. Vì vậy, nhiệm vụ của vương quốc trần thế là thực hiện yêu cầu chính quyền tối cao là nhà thờ và trừng phạt không thương tiếc những kẻ tà giáo.
=== Ảnh hưởng ===
Vào ngày 4 tháng 8 năm 1879, trong thông điệp Oeterni Patris, Giáo hoàng Leo XIII tuyên bố học thuyết của Thomas Aquinas là bắt buộc với mọi giáo hội Cơ Đốc giáo với tư cách "triết học duy nhất chân chính của Cơ Đốc giáo". Còn trong Giáo luật sửa đổi năm 1918, ở khoản 589 có quy định các chủng sinh phải học ít nhất hai năm triết học và bốn năm thần học theo lý thuyết của ngài Thomas mới trở thành được Linh mục. Khoản 1336 yêu cầu các giáo viên chủng viện phải lấy phương pháp và nguyên tắc của ông làm chuẩn.
=== Tác phẩm ===
Tác phẩm lớn nhất của Tôma là cuốn Summa, cuốn sách ông viết từ năm 23 tuổi cho tới lúc chết tuy mới chỉ đến phần III. Cuốn sách đã thể hiện vô cùng rõ quan điểm của Tôma, ông cho rằng mọi hiện tượng tự nhiên, theo ý Chúa, đều có giá trị riêng của nó. Ông đã cố gắng giải thích vì sao hiện tượng lại xảy ra như thế theo kiểu vì Chúa muốn như thế. Ví dụ như ông cho rằng sự giống nhau giữa các loài là bởi vì chúng được tạo ra gần nhau, Chúa đã lấy hình mẫu của con truớc để tạo thành con sau.
Dưới đây là danh sách các tác phẩm của Thomasː
Về tính vĩnh cửu của thế giới nhằm chống lại những kẻ càu nhàu
Sự thống nhất của lý tính nhằm chống lại Averroes
Về sự cầm quyền của các lãnh chúa
Về sự tồn tại và bản chất (1250-1256)
Tổng số chân lý của giáo hội Cơ Đốc giáo nhằm chống lại đa thần giáo (1259-1264)
Giải thích biểu tượng niềm tin của các giáo đồ
Vấn đề phép màu nhiệm
Về sức mạnh của Chúa
Về các thiên thần
Về quỷ dữ
Về các việc làm bí ẩn của giới tự nhiên
Về số phận
Bình luận về siêu hình học của Aristotle
Bình luận về cuốn sách "Về tâm hồn" của Aristotle
Bình luận về "Đạo đức của phái Nicolas
== Nhận định ==
Có lẽ Tôma là một nhà thần học, triết học nhiều hơn là một nhà khoa học, các quan điểm của ông về các lĩnh vực này cho đến ngày nay vẫn còn được đưa ra bàn luận. Mặc dù vậy ông cũng được mệnh danh là "Thầy thuốc của dòng Dominic". Dù rằng các lập luận không đúng nhưng nó cũng (không biết bao nhiêu lần) làm sôi động nền khoa học châu Âu, là tiền đề cho các ý tưởng mới, nghiên cứu sau này.
Vì chịu ảnh hưởng rất nhiều Aristotle, triết học của Thomas có hai đặc điểm nổi bậtː
Hệ thống tư tưởng của Thomas trở nên sinh động hơn gần gũi hơn với hiện thực. Mặc dù Vladimir Ilyich Lenin cho đó là tư tưởng kinh viện, đã giết chết sự sáng tạo của Aristotle cũng như làm bất tử hóa những cái đã chết, ông cũng đánh giá cao sự kế thừa này của Thomas bởi Aristotle đã phê phán chính người thầy của mình là Platon khi triết học của ông thấy mang tính chất bất khả tri.
Quá dựa vào những ý kiến của Aristotle, Thomas đã không cho phép mình một sự sáng tạo thực sự. Bởi Thomas cũng như nhiều người trước đó và đương thời đều coi Aristotle là mặt trời của tri thức. Bertrand Russell đã viết về thực tế này như sauː
== Danh ngôn ==
== Sách tham khảo ==
Aquinas, Thomas (2000). Mary T. Clark, biên tập. An Aquinas Reader: Selections from the Writings of Thomas Aquinas. Fordham University Press. ISBN 0-8232-2029-X.
——— (2002). Aquinas's Shorter Summa. Manchester, New Hampshire: Sophia Institute Press. ISBN 1-928832-43-1.
Davies, Brian (1993). The Thought of Thomas Aquinas. Oxford University Press. ISBN 0-19-826753-3.
——— (2004). Aquinas: An Introduction. Continuum. ISBN 0-8264-7095-5.
Geisler, Norman biên tập (1999). Baker Encyclopedia of Christian Apologetics. Grand Rapids, Michigan: Baker Academic.
Gordon, Barry (2009) [1987], “Aquinas, St Thomas”, The New Palgrave: A Dictionary of Economics 1 .
Hampden, Renn Dickson (1848). “Encyclopædia Metropolitana”. London: John J. Griffin & Co.
Healy, Nicholas M. (2003). Thomas Aquinas: Theologian of the Christian Life. Ashgate. ISBN 0-7546-1472-7.
Kreeft, Peter (1990). Summa of the Summa. Ignatius Press. ISBN 0-89870-300-X.
Kung, Hans (1994). Great Christian Thinkers. New York: Continuum Books. ISBN 0-8264-0848-6.
McInerny, Ralph M. (1993). Aquinas Against the Averroists: On There Being Only One Intellect. Purdue University Press. ISBN 1-55753-029-7.
Nichols, Aidan (2003). Discovering Aquinas: An Introduction to His Life, Work, and Influence. Wm. B. Eerdmans. ISBN 0-8028-0514-0.
Russell, Bertrand (1967), A History of Western Philosophy, Simon & Schuster, ISBN 0-67120158-1
Schaff, Philip (1953). “Thomas Aquinas”. The New Schaff-Herzog Encyclopedia of Religious Knowledge 126 (3190). Grand Rapids, Michigan: Baker Book House. tr. 422–23. Bibcode:1930Natur.126..951G. doi:10.1038/126951c0.
Stump, Eleonore (2003). Aquinas. Routledge. ISBN 0-415-02960-0.
Ghi nhận
== Đọc thêm ==
Copleston, Frederick (1991). Aquinas: An Introduction to the Life and Work of the Great Medieval Thinker. Penguin Books. ISBN 0-14-013674-6.
Faitanin, Paulo (2008). A Sabedoria do Amor: iniciação à filosofia de Santo Tomás de Aquino [Love's philosophy: initiation to Saint Thomas Aquinas’ philosophy] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Instituto Aquinate. ISSN 1982-8845. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
——— (2008). O Ofício do Sábio: o modo de estudar e ensinar segundo Santo Tomás de Aquino [The wise's profession: the way of studying & learning after Saint Thomas Aquinas] (bằng tiếng Bồ Đào Nha). Instituto Aquinate. ISSN 1982-8845. Bảo trì CS1: Ngôn ngữ không rõ (link)
Paterson, Craig & Matthew S. Pugh (eds.), Analytical Thomism: Traditions in Dialogue. Ashgate, 2006. Introduction to Thomism
Schmitz, Kenneth (2007). St. Thomas Aquinas (audiobook). Narrated by Charlton Heston. Ashland, Oregon; Boulder, Colorado: Knowledge Products; Blackstone Audiobooks; NetLibrary. ISBN 0-7861-6932-X. OCLC 78235338.
Strathern, Paul (1998). Thomas Aquinas in 90 Minutes. Chicago: I.R. Dee. 90 p. ISBN 1-56663-194-7
Torrell, Jean-Pierre (2005). Saint Thomas Aquinas . Washington, D.C.: Catholic University of America Press. ISBN 978-0-8132-1423-8. OCLC 456104266.
Wallace, William A (1970). “Thomas Aquinas, Saint”. Trong Gillispie, Charles. Dictionary of Scientific Biography 1. New York: Scribner & American Council of Learned Societies. tr. 196–200. ISBN 978-0-684-10114-9.
Weisheipl, James (1974). Friar Thomas D'Aquino: his life, thought, and work (ấn bản 1). Garden City, New York: Doubleday. ISBN 978-0-385-01299-7.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
=== Tiểu sử ===
St. Thomas Aquinas (pdf) biography from Fr. Alban Butler's Lives of the Saints
“St. Thomas Aquinas”. Catholic Encyclopedia. 1913.
St. Thomas Aquinas article by Daniel Kennedy in Catholic Encyclopedia (1912), at NewAdvent.org
St. Thomas Aquinas biography by Jacques Maritain
St. Thomas Aquinas biography by G. K. Chesterton protected by copyright outside Australia
Vita D. Thomae Aquinatis a pictorial life of Aquinas from a manuscript by Otto van Veen (1610)
=== Về tư tưởng của ông ===
Actus Essendi: An Electronic Journal on Aquinas's Doctrine of the Act of Being.
Brown, Paterson. "Infinite Causal Regression", Philosophical Review, 1966.
Brown, Paterson. "St. Thomas's Doctrine of Necessary Being", Philosophical Review, 1964.
Instituto Teológico São Tomás de Aquino (Portuguese)
On the legend of St. Albert's automaton
Aquinas on Intelligent Extra-Terrestrial Life
Poetry of St. Thomas Aquinas
Biography and ideas at SWIF/University of Bari/Italy (Italian)
Postilla in Job From the Book and Special Collections Division at the Library of Congress
Aquinas's Moral, Political and Legal Philosophy
Thomas Aquinas entry trong Internet Encyclopedia of Philosophy
Aquinas: Metaphysics entry trong Internet Encyclopedia of Philosophy
Aquinas: Moral Philosophy entry trong Internet Encyclopedia of Philosophy
Aquinas: Political Philosophy entry trong Internet Encyclopedia of Philosophy
Aquinas: Theology entry trong Internet Encyclopedia of Philosophy
Thomas Aquinas at Find a Grave
Thomistic Philosophy Inspired by the enduring thought of Saint Thomas Aquinas
Article on Thomism by the Jacques Maritain Center of Notre Dame University
Thomistica.net news and newsletter devoted to the academic study of Aquinas
Aquinas the Scholar from The Thirteenth, the Greatest of Centuries, ch. XVII. by James Joseph Walsh
A discussion of Aquinas on BBC Radio 4's In Our Time series 2009
=== Tác phẩm của ông ===
Các công trình liên quan hoặc của Tôma Aquinô trên các thư viện của thư mục (WorldCat)
Corpus Thomisticum – his complete works in (tiếng Latinh)
De Rationibus Fidei/Reasons for the Faith against Muslim Objections...
Documenta Catholica Omnia – his complete works in PDF files, in (tiếng Latinh), (tiếng Ý), (tiếng Anh), (tiếng Đức), (tiếng Tây Ban Nha), (tiếng Pháp), (tiếng Bồ Đào Nha)
Summa contra Gentiles
Summa Theologica
The Principles of Nature
On Being and Essence (De Ente et Essentia)
Catena Aurea (partial)
Các tác phẩm của Thomas Aquinas tại Dự án Gutenberg
Bibliotheca Thomistica IntraText: texts, concordances and frequency lists
An Aquinas Bibliography
Thomas Aquinas in English
De Magistro (On the teacher q. 11, a.1 of de Veritate)
Online Galleries, History of Science Collections, University of Oklahoma Libraries High resolution images of works by Thomas Aquinas in.jpg and.tiff format. |
radi.txt | Radi là một nguyên tố hóa học có tính phóng xạ, có ký hiệu là Ra và số hiệu nguyên tử là 88 trong bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Nó có màu trắng và dễ bị oxi hóa khi tiếp xúc với không khí sẽ chuyển sang màu đen. Radi là một kim loại kiềm thổ được tìm thấy ở dạng vết trong các quặng urani. Đồng vị bền nhất của Ra là Radi 226, có chu kỳ bán rã là 1602 năm và quá trình phân rã sẽ tạo ra khí radon.
== Đặc điểm ==
Ra là kim loại kiềm thổ nặng nhất có tính phóng xạ và tính chất hóa học khá giống với bari. Đây là kim loại được tìm thấy trong quặng urani và các kim loại urani khác. Các hạt phóng xạ từ radi giữ cho nhiệt độ của nó cao hơn môi trường xung quanh, thuộc ba loại: hạt alpha, hạt beta, và tia gamma.
Kim loại radi nguyên chất có màu trắng sáng nhưng khi tiếp xúc với không khí sẽ chuyển sang màu đen (có thể tạo ra nitrit). Radi có tính phát quang (tạo ra màu xanh dương), phản ứng mạnh với nước và dầu để tạo thành radi hidroxit và hơi mạnh hơn so với phản ứng của bari. Radi thường ở trạng thái rắn.
== Ứng dụng ==
Các ứng dụng thực tiễn của radi được phân chia theo đặc tính phóng xạ của nó. Các đồng vị phóng xạ được phát hiện gần đây như Coban 60 và Xeri 137, đang thay thế dần radi thậm chí dẫn đến việc sử dụng hạn chế bởi vì một số đồng vị phát xạ rất mạnh không an toàn trong vận chuyển và các đồng vị mới này xuất hiện phổ biến hơn trong tự nhiên.
Khi trộn với beri nó là nguồn nơtron dùng trong các thí nghiệm vật lý.
== Phân bố ==
Radi là một sản phẩm phân rã của urani và cũng được tìm thấy trong tất cả các quặng chứa urani (một tấn quặng uraninit chứa 0,0001 gram radi). Radi đầu tiên được tìm thấy trong các quặng chứa urani ở Joachimsthal, Bohemia, Cộng hòa Sec. Cát carnotit ở Colorado cũng cung cấp một số nguyên tố nhưng các quặng giàu hơn thì được tìm thấy ở Congo và khu vực Great Lakes, Canada, và cũng có thể được chiết tách từ chất thải urani. Các mỏ urani chứa lượng lớn radi được phát hiện ở Canada (Ontario), Hoa Kỳ (New Mexico, Utah, và Virginia), Australia, cũng như một số nơi khác.
== Hợp chất ==
Các hợp chất có màu ngọn lửa là crimson (đỏ hoặc crimson sắc tía) và mang đặc điểm của quang phổ điện từ. Do chu kỳ bán rã của nó ngắn và cường độ phóng xạ cao nên các hợp chất radi rất hiếm và hầu như chỉ gặp trong các quặng urani.
radi florua (RaF2)
radi clorua (RaCl2)
radi bromua (RaBr2)
radi iốđua (RaI2)
radi ôxít (RaO)
radi nitrua (Ra3N2)
== Các đồng vị ==
Radi (Ra) có 25 đồng vị khác nhau đã được biết đến, 4 trong số đó được tìm thấy trong tự nhiên thì 226Ra phổ biến nhất.223Ra, 224Ra, 226Ra và 228Ra tất cả được tạo ra từ phân rã của Urani (U) hoặc Thori (Th).226Ra là sản phẩm phân rã từ 238U, và là đồng vị có chu kỳ bán rã dài nhất 1602 năm; tiếp sau là 228Ra phân rã từ 232Th có chu kỳ bán rã 5,75 năm.
== Tính phóng xạ ==
Radi có tính phóng xạ cao hơn 1 triệu lần so với urani có cùng khối lượng. Phân rã diễn ra ít nhất là sáu giai đoạn; các sản phẩm chính của nó theo các kết quả nghiên cứu được gọi xạ khí radi (như radon) gồm radi A (poloni), radi B (chì), radi C (bitmut), vv.... Radon là một khí nặng và sản phẩm sau nó là chất rắn. Các sản phẩm này bản thân nó cũng là các nguyên tố phóng xạ, và tất nhiên những nguyên tố tạo ra sau sẽ có khối lượng nhẹ hơn các nguyên tố phóng xạ trước đó.
Radi giảm khoảng 1% độ hoạt động mỗi 25 năm để biến đổi thành các nguyên tố có khối lượng nguyên tử nhẹ hơn và chì là sản phẩm cuối cùng.
Độ phóng xạ theo đơn vị SI là becquerel (Bq), tương đương với một phân rã/giây. Đơn vị Curie (ký hiệu Ci) cũng được sử dụng nhưng không thuộc hệ SI: 1 Ci = 3.7 x 1010 Bq, xấp xỉ bằng độ phóng xạ của 1 gram Ra-226.
== Phát hiện ==
Radi được Marie Curie và chồng là Pierre Curie phát hiện ngày 21 tháng 12 năm 1898 trong một mẫu uraninit. Trong lúc nghiên cứu khoáng vật học ban đầu, Curies đã tách urani từ khoáng vật này và phát hiện rằng vật liệu còn trong nó vẫn có tính phóng xạ. Họ đã tách ra một nguyên tố tương tự như bismuth từ pitchblende và tháng 7 năm 1898, sau này là poloni. Sau đó họ tách ra khỏi một hỗn hợp phóng xạ chứa hầu hết có 2 thành phần chính hồm: các hợp chất của bari, ngọn lửa cháy có màu lục sáng, và các hợp chất phóng xạ chưa biết tên có quang phổ vạch là mà carmine chưa được biết đến trước đó. Nhà Curies phát hiện các hợp chất có tính phóng xạ có đặc điểm rất giống với các hợp chất bari, trừ đặc điểm tính tan thấp hơn. Đây là đặc điểm để Curies có thể tách nó ra khỏi hợp chất phóng xạ và phát hiện ra nguyên tố mới trong hỗn hợp này. Nhà Curies đã thông báo phát hiện này đến Viện Hàn lâm Khoa học Pháp vào ngày 26 tháng 12 năm 1898. Việc đặt tên radium vào khoảng năm 1899, mượn từ tiếng Pháp radium, gốc tiếng Latinh hiện đại là radius (tia): là do đặc điểm năng lượng phát xạ của radi ở dạng tia phóng xạ.
Năm 1910, radi đã được tách ra ở dạng kim loại nguyên chất bởi Marie Curie và André-Louis Debierne bằng phương pháp điện phân dung dịch radi clorua nguyên chất (RaCl2) dùng điện cực là thủy ngân, tạo ra hỗn hống radi–thủy ngân. Hỗn hống này sau đó được nung trong môi trường khí hidro để loại bỏ thủy ngân, còn lại kim loại radi nguyên chất. Cùng năm E. Eoler cũng đã cô lập radi bằng phương pháp nhiệt phân azua của nó, Ra(N3)2. Radi kim loại lần đầu tiên được sản xuất công nghiệp từ đầu thế kỷ 20 bởi Biraco, một thành viên của Union Minière du Haut Katanga (UMHK) tại một nhà máy ở Olen, Bỉ.
Lịch sử phóng xạ của nguyên tố này, nhà Curies chủ yếu dựa vào đồng vị 226Ra.
== Độ an toàn ==
Do tiếp xúc nhiều với radi trong quá trình nghiên cứu mà Marie Curie chết là do nhiễm chất phóng xạ này.
Radi có tính phóng xạ rất cao kể cả các sản phẩm phân rã của nó, khí radon cũng có tính phóng xạ. Radi có đặc điểm hóa học giống với canxi, nó có thể gây tổn hại lớn khi đặt nó trong xương. Việc hít, tiêm, ăn hoặc tiếp xúc với radi có thể gây ung thư và các rối loại khác. Các kho lưu giữ radi cần được thông gió để tránh tích tụ khí radon.
Năng lượng phát xạ từ phân rã radi có thể ion hóa các chất khí, ảnh hưởng đến bản kẽm phim ảnh, hoặc làm đau rát trên da cũng như tạo ra một số ảnh hưởng bất lợi khác.
== Tham khảo ==
Albert Stwertka (1998). Guide to the Elements - Revised Edition. Nhà in Đại hocOxford University Press. ISBN 0-19-508083-1.
“Radium”. Los Alamos National Laboratory (Chemistry Operations). Ngày 18 tháng 12 năm 2003. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2007.
Denise Grady (ngày 6 tháng 10 năm 1998). “A Glow in the Dark, and a Lesson in Scientific Peril”. The New York Times. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2007.
Nanny Fröman (ngày 1 tháng 12 năm 1996). “Marie and Pierre Curie and the Discovery of Polonium and Radium”. Nobel Foundation. Truy cập ngày 25 tháng 12 năm 2007.
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com - Radium (also used as a reference)
Lateral Science - Radium Discovery
Photos of Radium Water Bath in Oklahoma
NLM Hazardous Substances Databank – Radium, Radioactive
Reproduction of a 1942 comic book ad selling a "Radiumscope" to children |
bồ đào nha.txt | Bồ Đào Nha (tiếng Bồ Đào Nha: Portugal, [puɾtuˈɣaɫ]), tên chính thức là Cộng hòa Bồ Đào Nha (tiếng Bồ Đào Nha: República Portuguesa, [ʁɨ'publikɐ puɾtu'ɣezɐ]), là một quốc gia nằm ở Tây Nam châu Âu trên bán đảo Iberia. Bồ Đào Nha là nước cực Tây của lục địa châu Âu. Bồ Đào Nha giáp với Đại Tây Dương ở phía Tây và phía Nam, giáp Tây Ban Nha ở phía Đông và phía Bắc. Các quần đảo Açores và Madeira ở ngoài khơi Đại Tây Dương cũng thuộc Bồ Đào Nha.
Trên lãnh thổ Bồ Đào Nha ngày nay, con người đã có mặt từ thời tiền sử. Các dân tộc cổ đại như người Gallaeci, Lusitania, Celt, Cynete, Phoenicia, Carthage, La Mã cổ đại và nhiều những dân tộc Đức như Suevi, Buri, và Visigoth đã để lại ít nhiều ảnh hưởng đến lịch sử lãnh thổ Bồ Đào Nha ngày nay. Lãnh thổ Bồ Đào Nha lúc đó được sáp nhập vào Đế quốc La Mã thành tỉnh Lusitania. Văn hóa La Mã để lại dấu ấn sâu đậm, nhất là về mặt ngôn ngữ: tiếng Bồ Đào Nha gốc từ tiếng Latinh của người La Mã. Vào thế kỷ thứ 5, sau khi Đế quốc La Mã sụp đổ, những bộ tộc gốc Đức tràn vào xâm chiếm. Sang đầu thế kỷ thứ 8, người Moor theo đạo Hồi giáo từ Bắc Phi mở cuộc chinh phục Lusitania, chiếm được gần hết bán đảo Iberia, thu phục các tiểu vương quốc gốc Đức theo đạo Thiên Chúa về một mối.
Những thế kỷ kế tiếp, dân đạo Thiên Chúa cố đánh đuổi người Hồi giáo trong cuộc "Tái chinh phục". Tỉnh Bồ Đào Nha (County of Portugal) được thành lập và là một phần của Vương quốc Galicia. Vì vương quốc được thành lập, công nhận năm 1143 và có biên giới ổn định năm 1249, Bồ Đào Nha tự nhận là quốc gia dân tộc lâu đời nhất ở châu Âu.
Trong suốt thế kỷ 15 và 16, nhờ thám hiểm hàng hải, Bồ Đào Nha đã thành lập một đế quốc toàn cầu bao gồm những thuộc địa ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ, trở thành một trong những nền kinh tế, chính trị và quân sự mạnh nhất thế giới. Năm 1580, Bồ Đào Nha liên minh với Tây Ban Nha tạo thành Liên Minh Iberia, tuy nhiên vào năm 1640, Bồ Đào Nha cũng cố lại chủ quyền và độc lập trong cuộc Chiến tranh Khôi phục Bồ Đào Nha dẫn đến một triều đại mới được thành lập và trở về tình trạng chia tách của hai vương triều và đế quốc.
Năm 1755, có động đất ở Lisboa, bị Tây Ban Nha và Pháp xâm lược, mất thuộc địa lớn nhất, Brasil, dẫn đến sự mất ổn định về chính trị và tiềm năng kinh tế cũng như sự giảm sút sức mạnh toàn cầu suốt thế kỷ 19. Năm 1910, chế độ quân chủ bị lật đổ, nền cộng hòa được thành lập và sau đó là chế độ độc tài. Với cuộc Chiến tranh Thực dân Bồ Đào Nha và cuộc đảo chính Cách mạng Hoa cẩm chướng vào năm 1974, nền độc tài bị lật đổ ở Lisboa và Bồ Đào Nha trao trả những tỉnh ở nước ngoài cuối cùng (hầu hết ở Angola và Mozambique); lãnh thổ ở nước ngoài cuối cùng, Ma Cao, được trả lại cho Trung Quốc tháng 12-1999.
Bồ Đào Nha là một nước phát triển và có mức sống đứng thứ 19 trên thế giới, theo The Economist Intelligence Unit. Bồ Đào Nha là nước yên bình thứ 14 và toàn cầu hóa thứ 13 trên thế giới. Bồ Đào Nha là thành viên của Liên minh châu Âu và Liên hiệp quốc, đồng thời là thành viên sáng lập của Liên minh Latinh, OECD, NATO, Cộng đồng các nước nói tiếng Bồ Đào Nha, Khu vực đồng Euro và Khu vực Schengen.
== Tên gọi ==
Tên gọi của Bồ Đào Nha trong tiếng Việt bắt nguồn từ tên gọi của Bồ Đào Nha trong tiếng Trung. Trong tiếng Trung Bồ Đào Nha được gọi là “葡萄牙”. “葡萄牙” có âm Hán Việt là “Bồ Đào Nha”.
Quốc hiệu Bồ Đào Nha (tiếng Bồ Đào Nha: Portugal) bắt nguồn từ tên của làng Cale ở thung lũng sông Douro. Cale có thể là một từ của tiếng Hy Lạp (Kalles: đẹp) và dùng để chỉ vẻ đẹp của tự nhiên ở vùng miền bắc của nước Bồ Đào Nha ngày nay, thuộc địa của Hy Lạp trong thời kỳ Thượng cổ. Những nhà lịch sử học khác cho rằng cale có nguồn gốc từ tiếng Phoenicia vì người Phoenicia đã định cư ở Bồ Đào Nha trước cả người Hy Lạp. Khi phần đất của Bồ Đào Nha ngày nay thuộc về Đế quốc La Mã, Cale trở thành một cảng quan trọng, trong tiếng La Tinh là Portus Cale. Trong thời kỳ Trung Cổ Portus Cale trở thành Portucale và sau đó là Portugale, thế nhưng trong thế kỷ thứ 7 và thế kỷ thứ 8 từ này chỉ dùng để chỉ phần đất miền bắc của nước Bồ Đào Nha, tức là vùng giữa hai con sông Douro và Minho. Về mặt khác, Portus Cale được rút ngắn thành Porto, thành phố quan trọng thứ nhì của Bồ Đào Nha, người dân nơi đây tự hào là thành phố mang tên cho đất nước.
== Chính trị ==
=== Hệ thống chính trị ===
Từ sau cuộc Cách mạng hoa cẩm chướng năm 1974 Bồ Đào Nha có một nền dân chủ nghị viện vững chắc. Bốn cơ quan quan trọng nhất của chính trị ở Bồ Đào Nha là Tổng thống, Thủ tướng và Hội đồng bộ trưởng, Quốc hội và Tư pháp.
Tổng thống được bầu trực tiếp có nhiệm kỳ 5 năm và đồng thời là người chỉ huy tối cao của quân đội. Tổng thống bổ nhiệm Thủ tướng và Hội đồng bộ trưởng theo kết quả của bầu cử quốc hội. Hội đồng Quốc gia là hội đồng cố vấn Tổng thống bao gồm tất cả các cựu tổng thổng, Thủ tướng, Chánh án của Tòa án Hiến pháp, Thanh tra Nhân dân, hai tổng thống của Açores và Madeira, 5 người do Tổng thống chọn lựa và 5 người do Quốc hội chọn lựa.
Chính phủ do Thủ tướng lãnh đạo, ông thành lập Hội đồng bộ trưởng. Tất cả các chính phủ mới thành lập đều phải đệ trình trước Quốc hội một chương trình để tranh luận. Nếu như chương trình này không bị từ chối thì có nghĩa là chính phủ được Quốc hội chấp nhận.
Quốc hội được gọi là Assembleia da República bao gồm một viện với tối đa 230 đại biểu. Các đại biểu được bầu 4 năm một lần theo tỷ lệ phiếu bầu cho các đảng phái chính trị. Tổng thống có quyền giải tán Quốc hội và yêu cầu bầu cử mới.
Tòa án tối cao là tòa cao nhất của nền tư pháp Bồ Đào Nha, gồm có các Tòa án tối cao về quân sự, luật lệ hành chánh và luật lệ thuế. Tòa án Hiến pháp của Bồ Đào Nha bao gồm 9 thành viên và có nhiệm vụ giám sát việc thi hành luật đúng theo Hiến pháp.
Bồ Đào Nha có hai đảng lớn. Đảng Xã hội chủ nghĩa (Partido Socialista) với định hướng dân chủ xã hội và Đảng Xã hội Dân chủ (Partido Social Democrata) với định hướng bảo thủ. Ngoài ra còn có Đảng Nhân dân (Partido Popular) được coi là đảng có định hướng thiên hữu nhất trong Quốc hội, Đảng Cộng sản Bồ Đào Nha có truyền thống lâu đời và Bloco de Esquerda của giới trí thức cánh tả. Tất cả 5 đảng này hiện có đại diện trong Quốc hội. Đảng Xanh Bồ Đào Nha (Partido Ecologista "os Verdes") bao giờ cũng liên minh với Đảng Cộng sản và thường là có được một đại biểu trong Quốc hội.
Đọc thêm: Danh sách các đảng phái chính trị của Bồ Đào Nha
=== Quan hệ quốc tế ===
Bồ Đào Nha là thành viên của Liên minh châu Âu và giữ chức Chủ tịch hội đồng trong nửa năm đầu của năm 2000. Trong thời gian này Bồ Đào Nha trước nhất là theo đuổi mục đích thúc đẩy đối thoại với châu Phi và tăng cường khả năng cạnh tranh của nền kinh tế châu Âu.
Bồ Đào Nha là thành viên sáng lập khối OTAN/NATO và tham gia bảo vệ hòa bình trên bán đảo Balkans bằng quân đội. Cùng với Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha tham gia vào các cuộc họp Hội nghị thượng đỉnh Ibero-Mỹ có mục đích đối thoại với các nước châu Mỹ La tinh.
Bồ Đào Nha cũng đã dẫn đầu trong việc thành lập Cộng đồng các nước nói tiếng Bồ Đào Nha (CPLP) với mục đích tăng cường sự hợp tác của các nước này. Bồ Đào Nha cũng đã giúp đỡ Đông Timor, một thuộc địa cũ, bằng tài chính và quân sự trong cuộc đấu tranh giành độc lập.
Bồ Đào Nha đang có tranh chấp với Tây Ban Nha về vùng đất Olivença, là vùng đất thuộc về Tây Ban Nha nhưng đang được Bồ Đào Nha đòi chủ quyền. Olivença thuộc về Tây Ban Nha từ năm 1801 nhưng trong Hội nghị Wien vào năm 1815 Tây Ban Nha đã tuyên bố đồng ý trao trả vùng đất này lại cho Bồ Đào Nha. Việc này cho tới nay vẫn chưa được thực hiện và vì thế Bồ Đào Nha đã thường xuyên yêu cầu thực hiện việc trao trả này.
Bồ Đào Nha ưu tiên hàng đầu quan hệ với các nước trong khu vực, đặc biệt với 27 thành viênEU. Tiếp theo, Bồ Đào Nha chú trọng tăng cường quan hệ với Mỹ, thông qua cặp quan hệ EU - Mỹ và trong khuôn khổ Khối Hiệp Ước Bắc Đại Tây Dương (NATO).
Ngoài hai ưu tiên hàng đầu nêu trên, Bồ Đào Nha tiếp tục triển khai chính sách theo các hướng ưu tiên thúc đẩy quan hệ với các nước thuộc Cộng đồng nước nói tiếng Bồ Đào Nha gồm: Brasil, Angola, Mozambique, Guiné-Bissau, São Tomé và Príncipe, Cabo Verde và Đông Timor.
Trong quan hệ với Châu Á – Thái Bình Dương, Bồ Đào Nha chủ trương giữ quan hệ tốt với tất cả các nước, đặc biệt chú trọng Trung Quốc, Ấn Độ, chủ động thực hiện các chuyến thăm cấp cao và ký các hiệp định hợp tác với 2 nước này (Tổng thống Bồ Đào Nha thăm Trung Quốc 2005, thăm Ấn Độ năm 2007; Thủ tướng thăm Trung Quốc và Ấn Độ năm 2007).
Đối với Châu Phi, dù có quan hệ lịch sử với khu vực này, vai trò và vị thế của Bồ Đào Nha đã không còn như trước, Bồ Đào Nha chủ trương thông qua EU tăng cường quan hệ với các nước châu Phi, giữ vai trò nhất định trong các chính sách EU đối với khu vực châu Phi.
Bồ Đào Nha lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 4 tháng 7 năm 1975.
=== Phân chia hành chính ===
Cơ cấu hành chính của Bồ Đào Nha gồm 308 concelho (huyện) và dưới các concelho là 3091 freguesia (xã). Các concelho được nhóm lại thành các vùng hành chính. Trên đất liền, có 18 vùng hành chính như vậy, và toàn bộ các đảo là một vùng hành chính nữa.
== Lịch sử ==
Đọc bài chính: Lịch sử Bồ Đào Nha
=== Từ Tiền sử đến Thượng cổ ===
Thời tiền sử của Bồ Đào Nha tương tự như phát triển chung của các vùng khác trong bán đảo Iberia. Bắt đầu từ 2000 TCN người Iberia đi đến đây có lẽ từ Bắc Phi. Từ 1200 TCN người Phoenicia và từ 700 TCN là người Hy Lạp đã thành lập các thuộc địa của mình ở đây. Từ khoảng 600 TCN người Celt du nhập vào đây, trộn lẫn với người Iberia.
Từ năm 450 TCN vùng đất này bị người Carthage chinh phục và sau cuộc chiến Punic lần thứ nhì được trao lại cho La Mã. Trong hệ thống hành chính của người La Mã, vùng đất này là một tỉnh được hưởng một phần tự trị. Sự thống trị La Mã chất dứt vào thời kỳ di dân, người Suebi (từ năm 409) và nhất là người Goth (từ năm 416) đã thành lập các vương quốc của họ trên lãnh thổ của Bồ Đào Nha ngày nay.
=== Từ người Mor đến khi có thuộc địa ===
Năm 711 người Moor xâm chiếm vùng đất này, Bồ Đào Nha trở thành một phần của lãnh địa Al-Andalus của vua Hồi Córdoba, triều nhà Almoravid. Năm 722, từ Asturias công tước người Goth Pelágio bắt đầu cuộc chinh phục (Reconquista), cho tới năm 1492 khi người Mor bị đánh đuổi ra khỏi bán đảo Iberia. Ngay từ thế kỷ 11, Bồ Đào Nha được thành lập như là lãnh địa độc lập của một bá tước (Condada Portucalense), từ năm 1093 thuộc về Henrique de Borgonha, cha đẻ của vương triều Bồ Đào Nha đầu tiên.
Dưới thời con trai và người nối nghiệp của Henrique là Afonso I đất nước này giành được quyền độc lập vào năm 1143. Vào năm 1139, sau khi chiến thắng trong trận Ourique ngày 25 tháng 7, chống lại một đội quân hùng mạnh của đế quốc Almoravid, Alfonso Henriques đã được quân đội của mình tôn làm vua của Bồ Đào Nha. Ngày 26 tháng 7 năm 1139 Afonso đăng quang làm Afonso I của Bồ Đào Nha. Dòng họ Borgonha (tiếng Pháp: Bourgogne) trị vì ở Bồ Đào Nha cho đến năm 1383; năm 1211 quốc hội đầu tiên (Cortes) được thành lập; năm 1250 với cuộc đánh chiếm Algarve, việc đánh đuổi người Mor ở Bồ Đào Nha hoàn thành; năm 1256 thủ đô được dời về Lisboa.
Năm 1383 dòng họ Borgonha không có người kế thừa, João I, một người con không chính thức, tự xưng là vua. Trong trận chiến Aljubarrota (1385) João I chống trả được yêu cầu kế vị ngai vàng của vua xứ Castilla và thành lập triều vua thứ hai của Bồ Đào Nha, triều nhà Avis. Các vua của triều đại Avis, đặc biệt là Emanuel I (1495-1521), đã dẫn đất nước Bồ Đào Nha đi đến phồn vinh thịnh vượng; Bồ Đào Nha trở thành thế lực dẫn đầu trong hàng hải và thương mại, chiếm cứ thuộc địa ở Brasil, châu Phi, Ả Rập, Ấn Độ và Trung Quốc, đất nước này trở thành một thế lực trên thế giới và là quốc gia giàu có nhất châu Âu (xem thêm Henrique người đi biển). Về mặt nghệ thuật đây cũng là một thời kỳ hưng thịnh (Luís de Camões).
Năm 1580 dòng họ Avis không còn nữa, vì các lý do về vương triều, Bồ Đào Nha thuộc về những người của dòng họ Habsburg trị vì từ Tây Ban Nha. Cho đến năm 1640 người Tây Ban Nha cai trị đất nước này, Bồ Đào Nha mất quyền độc lập, trở thành một tỉnh của Tây Ban Nha và mất đi một phần thuộc địa. Năm 1640 Công tước của Bragança dẫn đầu một cuộc nổi loạn trong giới quý tộc chống lại nền cai trị của Tây Ban Nha và tự xưng là vua João IV. Ông thành lập triều đại kế cuối của Bồ Đào Nha, triều nhà Bragança. Về chính sách kinh tế và đối ngoại Bồ Đào Nha ngày càng phụ thuộc vào Anh quốc (Hiệp định Methuen năm 1703). Năm 1755 một cuộc động đất lớn phá hủy phần lớn thủ đô Lisboa. Hầu tước của Pombal, Sebastião José de Carvalho e Melo, xây dựng lại thành phố và dùng nhiều biện pháp mạnh để cải tổ đất nước trở thành một quốc gia có nền quân chủ chuyên chế. Năm 1807 quân đội của Napoléon chiếm đóng đất nước, hoàng gia của Bồ Đào Nha trốn chạy đến Brasil. Sau khi người Pháp bị đánh đuổi đi với sự giúp đỡ của Anh, nhờ vào cuộc Cách mạng tự do của Bồ Đào Nha đất nước này lần đầu tiên trong lịch sử có một hiến pháp (1821). Cuộc chiến giữa những người theo chế độ chuyên chế và những người vì một chế độ quân chủ lập hiến chỉ chấm dứt khi những người theo chế độ quân chủ lập hiến chiến thắng trong Cuộc chiến tranh tự do
=== Từ chế độ quân chủ đến "Quốc gia mới" ===
Thời kỳ sau cuộc chiến tranh tự do mang dấu ấn của cuộc tranh chấp giữa những người tự do cánh hữu và những người tự do cánh tả. Năm 1853 nữ hoàng Maria II, người trực hệ cuối cùng của dòng họ Bragança qua đời. Thông qua cuộc hôn nhân của nữ hoàng với Ferdinand II của Sachsen-Coburg-Gotha nhánh Bồ Đào Nha của dòng họ quý tộc Đức này tiếp nhận ngôi vua cho đến năm 1910. Thời kỳ cuối cùng của chế độ quân chủ mang dấu ấn của sự yếu kém chung của đất nước, nhiều vấn đề về kinh tế (phá sản quốc gia năm 1891), và các cuộc nổi dậy của những người theo chế độ cộng hòa. Năm 1908 vua Karl I và người kế vị bị giết chết trong một cuộc ám sát, chế độ cộng hòa được tuyên bố thành lập vào năm 1910.
Tháng 3 năm 1916 Bồ Đào Nha gia nhập khối đồng minh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, huy động đến 100.000 quân nhân mà trong số đó cho đến khi chấm dứt chiến tranh có khoảng 7.000 người đã hy sinh. Thời kỳ của Đệ nhất Cộng hòa (đến 1926) mang trạng thái hỗn loạn vô chính phủ với các cuộc nổi dậy của những người theo chế độ quân chủ và của những người cộng sản, các cuộc đảo chính (như của Sidónio Pais vào năm 1917), các chính phủ yếu kém và hay thay đổi, không có đa số trong quốc hội và một sự không ổn định chung về chính trị.
Năm 1926 giới quân sự làm đảo chính và chấm dứt Đệ nhất Cộng hòa. Thế nhưng dưới giới quân sự, một người dân sự, António de Oliveira Salazar, từ 1928 là Bộ trưởng Bộ Tài chính, từ 1932 là Thủ tướng, lại đạt đến quyền lực cao nhất. Năm 1933 ông thành lập "Quốc gia mới" ("Estado Novo"), một chế độ độc tài có xu hướng phát xít, với một đảng thống nhất (União Nacional), Đoàn Thanh niên Quốc gia và Công an mật (PIDE). Trong Chiến tranh thế giới thứ hai quốc gia này giữ vai trò trung lập nhưng cho phép quân Đồng Minh thiết lập căn cứ quân sự trên quần đảo Açores và sau chiến tranh gia nhập khối NATO. Mặc dầu ông là nhà độc tài trong nhiều năm, ông vẫn có công rất lớn đối với Bồ Đào Nha. Chính ông tạo sự ổn định chính trị cho đất nước, làm cho kinh tế phát triển mạnh và giúp đất nước đứng ngoài cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai.
Cuộc chiến tranh thuộc địa của Bồ Đào Nha từ năm 1960 được tiến hành một cách cứng rắn, đặc biệt là ở châu Phi (Angola, Mozambique, Guiné-Bissau). Năm 1968 Salazar phải từ chức vì lý do sức khỏe và người kế tiếp ông, Marcello Caetano, đã không quyết tâm làm những cải cách cơ bản. Vì cuộc chiến tranh thuộc địa, Bồ Đào Nha ngày càng bị cô lập trong chính trị đối ngoại, tốn kém của cuộc chiến dẫn đến nợ quốc gia và nạn lạm phát ngày càng cao. Các nhà lãnh đạo trong giới quân sự nhận ra rằng Bồ Đào Nha không thể chiến thắng cuộc chiến tranh thuộc địa bằng quân sự và vì chính phủ không có khả năng tìm kiếm một giải pháp chính trị cho vấn đề này nên họ cuối cùng đã làm cuộc đảo chính năm 1974. Do người dân bất bình với chế độ độc tài, lại càng được tăng cường bởi cuộc khủng hoảng kinh tế đang bắt đầu (nguyên nhân là cuộc khủng hoảng dầu lần thứ nhất vào năm 1973) nên đã đoàn kết với những sĩ quan đảo chính, dẫn đến một cuộc nổi dậy của quần chúng, cuộc Cách mạng hoa cẩm chướng, chấm dứt thời kỳ "Quốc gia mới". Những người cầm quyền mới trao trả quyền độc lập cho các thuộc địa (1974/1975), chấm dứt chế độ thuộc địa hằng trăm năm của Bồ Đào Nha.
=== Từ Cách mạng hoa cẩm chướng đến khi gia nhập Liên hiệp Châu ÂU ===
Thời kỳ đầu tiên sau cuộc cách mạng mang dấu ấn của tranh chấp giữa khuynh hướng bảo thủ (tướng Spínola) và khuynh hướng xã hội chủ nghĩa (Đại úy Otelo) trong MFA (Movimento das Forças Armadas – Phong trào của lực lượng quân đội), liên minh của những sĩ quan đảo chính. Đầu tiên tưởng chừng như khuynh hướng xã hội chủ nghĩa đã thắng thế, đã có quốc hữu hóa và cải cách ruộng đất, Hiến pháp mới của năm 1976 định nghĩa thời kỳ quá độ dẫn đến Chủ nghĩa xã hội là mục tiêu quốc gia.
Thế nhưng trong cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên sau khi có Hiến pháp mới vào năm 1976 người ôn hòa hơn, tướng Eanes, bất ngờ thắng đại úy Otelo một cách rõ rệt, đặt lại hướng đi của đất nước trở về chế độ dân chủ nghị viện theo lối Tây Âu. Eanes và Chủ tịch của Đảng Xã hội Chủ nghĩa (lãnh đạo chính phủ từ 1976 đến 1978 và từ 1983 đến 1985, Tổng thống từ 1986 đến 1996) cuối cùng đã dẫn đất nước đi vào Cộng đồng châu Âu (gia nhập năm 1986).
=== Từ khi gia nhập EU đến ngày nay ===
Năm 1979, lần đầu tiên từ sau cuộc Cách mạng hoa cẩm chướng, một nhóm chính trị đứng phía hữu của trung lập thắng trong cuộc bầu cử Quốc hội (các chính phủ của Francisco de Sá Carneiro và Francisco Pinto Balsemão). Chính phủ đã có thể thống nhất với phe đối lập theo khuynh hướng xã hội chủ nghĩa để sửa đổi hiến pháp, xóa bỏ các phần xã hội chủ nghĩa còn lại đã được ghi vào trong hiến pháp sau cuộc Cách mạng hoa cẩm chướng. Ngoài những việc khác, các sửa đổi hiến pháp có hiệu lực từ năm 1982 đã xóa bỏ Hội đồng Cách mạng có tính chất quan trọng cho đến thời điểm đó và thành lập một Tòa án Hiến pháp theo gương của các quốc gia dân chủ khác. Năm 1985 Aníbal Cavaco Silva trở thành Thủ tướng, đảng bảo thủ của ông, Đảng Xã hội Dân chủ (Partido Social Democrata – PSD) thắng lớn trong cuộc bầu cử năm 1987, là cuộc bầu cử mà lần đầu tiên một đảng giành được đa số tuyệt đối. Cavaco Silva là thủ tướng cho đến năm 1995, có một chính sách kinh tế theo khynh hướng chủ nghĩa tự do mới (tiếng Pháp: Néoliberalisme) và xóa bỏ các quốc hữu hóa từ thời kỳ của Cách mạng hoa cẩm chướng. Từ năm 1995 đến 2002 những người của Đảng Xã hội Chủ nghĩa tái thành lập chính phủ với António Guterres.
Trong cuộc bầu cử ngày 17 tháng 3 năm 2002 lại có một cuộc chuyển hướng về cánh hữu. Với tỷ lệ đi bầu là 62,3%, Đảng bảo thủ PSD dưới sự lãnh đạo của José Manuel Durão Barroso đạt được đa số tương đối của số phiếu là 40,1%, tiếp theo đó là Đảng Xã hội Chủ nghĩa (Partido Socialista) (37,9%) và Đảng Nhân dân (Partido Popular - PP) bảo thủ cánh hữu với 8,8%. Barroso thành lập chính phủ liên minh với Partido Popular, Chủ tịch của đảng này (PP), Paulo Portas, nhận chức bộ trưởng Bộ Quốc phòng và đồng thời các phần Tư pháp cũng như Lao động và Xã hội cũng đều thuộc về đảng này. Mặc dầu vậy những người của Đảng Xã hội Chủ nghĩa có được chức vụ tổng thống liên tục vì Jorge Sampaio, Tổng thống sau Soares năm 1996, là người của Đảng Xã hội Chủ nghĩa.
Trong năm 2004 Barroso được Hội đồng châu Âu bổ nhiệm làm Chủ tịch Ủy ban châu Âu, kế tục Romano Prodi. Người kế tục ông trong chức vụ Thủ tướng là Pedro Santana Lopes chỉ cầm quyền được một thời gian ngắn, vì Tổng thống đã giải tán Quốc hội từ tháng 11 và yêu cầu bầu cử mới trong tháng 2 năm 2005. Trong cuộc bầu cử này Đảng Xã hội Chủ nghĩa lần đầu tiên trong lịch sử đạt được đa số tuyệt đối, ứng cử viên José Sócrates là Thủ tướng mới từ ngày 12 tháng 3 năm 2005.
== Địa lý ==
Miền Bắc của Bồ Đào Nha có một khí hậu tương đối ẩm và lạnh, bao gồm hai vùng đất: Vùng đất sông Minho ở phía tây bắc thuộc về những vùng đất đông dân cư nhất của Bồ Đào Nha mà trong đó các thành phố lớn đều nằm dọc theo bờ biển Đại Tây Dương, trong nội địa có rất nhiều thành phố nhỏ và làng mạc. Vùng đất Minho được gọi là "Vườn Xanh" của Bồ Đào Nha vì khí hậu và vì giới thực vật tương đối giàu có. Trên các cánh đồi dọc theo các thung lũng có rất nhiều ở đây người ta trồng chủ yếu là nho để chế biến thành loại rượu nho nổi tiếng, rượu vang porto (tiếng Việt còn gọi là rượu vang Bồ Đào Nha hay rượu vang poóc tô) và vinho verde. Giới thực vật tự nhiên là một sự pha trộn giữa hệ thực vật của vùng khí hậu ôn hòa và hệ thực vật của vùng cận nhiệt đới, tùy theo độ cao có những cây như cây sồi (Quercus), cây hạt dẻ hay thông (Pinus pinea) và cây ô liu (Olea europaea).
Về phía đông bắc là vùng Trás-os-Montes ("Đằng sau núi"). Đây là vùng nhiều núi, có mùa đông rất lạnh và mùa hè rất nóng. Giới thực vật ít hơn vùng Minho nhiều và càng gần biên giới Tây Ban Nha thì càng ít đi. Cả hai vùng có điểm chung là các khối núi đều có nhiều sông chảy cắt ngang qua như sông Minho (là sông biên giới với Tây Ban Nha) hay sông Douro. Ở miền Bắc Bồ Đào Nha là Vườn quốc gia Peneda-Gerês, khu bảo tồn tự nhiên quan trọng nhất của quốc gia này. Tại đây còn tồn tại một số rừng tự nhiên còn sót lại, đặc biệt như là rừng cây sồi xanh (Quercus ilex). Các thành phố quan trọng của miền bắc là Porto, Vila Nova de Gaia, Matosinhos, Braga, Vila Real và Bragança.
Phần lớn miền Trung Bồ Đào Nha là đồi núi với Serra da Estrela là một vùng núi quan trọng có khu trượt tuyết. Cả vùng đất này rất màu mỡ và có khí hậu tối ưu để trồng nho, vì thế mà truyền thống trồng nho đã có từ thời kỳ của những người La Mã. Ngoài ra người ta còn trồng ngũ cốc, lúa, cây hướng dương (Helianthus) và rau cải. Sông Tejo chia vùng này làm hai. Các thành phố quan trọng nhất của miền trung Bồ Đào Nha là Lisboa, Aveiro, Amadora, Coimbra, Leiria, Castelo Branco và Setúbal.
Miền Nam Bồ Đào Nha bao gồm ba vùng: Terras do Sado, Alentejo và Algarve, có địa hình từ bằng phẳng cho đến có nhiều đồi, khí hậu nóng và khô. Alentejo đã từng là vựa ngũ cốc của Bồ Đào Nha, ngày nay có dân cư thưa thớt và là vùng đang bị người dân bỏ đi. Sản phẩm chính của vùng ngoài ngũ cốc là nho và cây hướng dương là sản phẩm đang được trồng ngày càng nhiều. Các thời kỳ hạn hán ngày càng kéo dài đã góp phần vào sự suy sụp kinh tế của vùng này.
Vùng Algarve bao gồm toàn bộ bờ biển phía nam của Bồ Đào Nha, với các thành phố xinh đẹp và bãi cát hay bờ biển dốc đứng là một nơi nghỉ mát được ưa thích nhưng cũng mang lại những hiện tượng đi kèm theo của du lịch phổ thông. Các thành phố lớn trong vùng là Évora, Faro và Lagos.
Ngoài ra thuộc về Bồ Đào Nha là hai quần đảo Madeira và Açores có nguồn gốc là núi lửa. Ngọn núi cao nhất của Bồ Đào Nha là Monte Pico, cao 2.351 m trên đảo Pico thuộc về quần đảo Açores.
== Dân cư ==
Nhìn về mặt ngôn ngữ, dân tộc và tôn giáo Bồ Đào Nha là một nước rất thuần nhất, ít nhất là tính trên số dân cư lâu đời. Tiếng Bồ Đào Nha được nói trên khắp đất nước và chỉ có vài làng của vùng Miranda do Douro là nói một thứ tiếng địa phương (Mirandês hay Língua Mirandesa trong tiếng Bồ Đào Nha, thuộc về tiếng Asturien, được chính phủ công nhận chính thức. Phần lớn người Bồ Đào Nha theo đạo Công giáo La Mã.
Về mặt nhân chủng học người Bồ Đào Nha là một dân tộc pha trộn giữa những người Iberia, dân tộc nguyên thủy của bán đảo Iberia và hậu duệ của những người La Mã, Goth, Suebi và Mor xâm chiếm đất nước này. Người Mor có ảnh hưởng ở Bồ Đào Nha lớn hơn ở các nước Âu châu khác. Sau cuộc đánh đuổi (Reconquista), người Mor một phần bị đuổi đi nhưng phần lớn lại bị bắt làm nô lệ, họ pha trộn vào dân tộc Bồ Đào Nha sau đó và đã góp phần lớn vào sự hưng thịnh của nghề thủ công và nông nghiệp trong thời kỳ Trung cổ.
Trong một thời gian dài Bồ Đào Nha là một nước di dân, các trung tâm văn hóa Bồ Đào Nha quan trọng có nhiều nhất ở Pháp, nơi có khoảng 600.000 người Bồ Đào Nha sinh sống, nhưng cũng có ở nhiều quốc gia khác. Mặt khác, ngay từ thời kỳ các cuộc chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa, Bồ Đào Nha đã là nước đến của những người nhập cư từ các vùng là thuộc địa Bồ Đào Nha. Từ khi gia nhập Liên hiệp châu Âu và đi cùng theo là những sự biến đổi về kinh tế cũng như chính trị, Bồ Đào Nha lại càng là một nước di dân đến nhiều hơn nữa mà những người nhập cư chủ yếu là từ châu Phi (Angola, Cabo Verde), Nam Mỹ (Brasil) và Đông Âu (Nga, Ukraina, Moldova).
Cuối năm 2003 có vào khoảng 250.000 người có các quốc tịch khác sống tại Bồ Đào Nha, trong số những người này có hơn một nửa đến từ các nước nói tiếng Bồ Đào Nha, đa số theo Công giáo và có nền văn hóa tương tự. Vào khoảng một phần tư trong số những người ngoại quốc sống ở Bồ Đào Nha là người Âu, một phần là những người nghỉ phép dài hạn, sống cuộc sống về hưu tại đây, một phần không nhỏ trong số đó đã từng là người Bồ Đào Nha di cư ra khỏi đất nước và nay quay trở về với một quốc tịch khác. Vì thế Bồ Đào Nha không biết đến hiện tượng đặc biệt là phải hòa nhập những người di dân với ngôn ngữ và văn hóa hoàn toàn khác hẳn nhau như Đức. Theo thống kê cứ mỗi 10 người Bồ Đào Nha là có một người dân có nguồn gốc không phải Bồ Đào Nha (và rất nhiều người trong số đó giờ đây với một hộ chiếu Bồ Đào Nha).
Hơn phân nửa người ngoại quốc sống tại thủ đô Lisboa, ngoài ra họ sống tập trung tại các vùng đô thị ven biển. Tại các vùng đất nội địa, thành phần người nước ngoài dưới 0,5%.
== Kinh tế ==
Từ khi gia nhập vào Cộng đồng châu Âu năm 1986 nền kinh tế Bồ Đào Nha đã phát triển ngày càng đa dạng hơn và chủ yếu là có định hướng về dịch vụ nhiều hơn. Trong thời gian gần đây các dịch vụ đã chiếm khoảng 2/3 tổng sản phẩm quốc nội. Cũng giống như ở các quốc gia châu Âu khác, việc tư nhân hóa được tiến hành một cách rộng rãi và chi tiêu quốc gia được giảm thiểu. Năm 1998 Bồ Đào Nha đạt đủ điều kiện để gia nhập Liên minh Tiền tệ châu Âu và ngày 1 tháng 1 năm 2002, cũng như 11 quốc gia châu Âu khác, đã đưa đồng Euro vào sử dụng. Nợ mới của Bồ Đào Nha hiện đang vượt quá mức 3% (của tổng sản phẩm quốc nội) được quy định trong Hiệp ước Maastricht, nhưng không phải là quốc gia duy nhất vượt quá quy định này.
Với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế vào khoảng 3,3% hằng năm, tuy trong thời gian qua thường vượt mức trung bình của Liên minh châu Âu, Bồ Đào Nha trước sau vẫn là thành viên cũ nghèo nhất của EU: Tổng sản phẩm quốc nội trên đầu người (tính theo sức mua tương đương, tiếng Anh: Purchasing power parity – PPP) ở vào khoảng 78% của mức trung bình các nước trong EU trước khi mở rộng, trong khi năm 1985 còn vào khoảng 50%. Các vấn đề về cơ cấu thí dụ như hệ thống giáo dục không tốt, tỷ lệ mù chữ cao, cơ sở hạ tầng một phần không được tốt và hệ thống quản lý hành chính không hiệu quả được xem là cản trở cho việc tăng trưởng sản xuất và tăng việc làm một cách nhanh chóng hơn. Vì lý do này, Bồ Đào Nha ngày càng gặp phải sự cạnh tranh của các nước có tiền lương thấp từ Trung Âu và Đông Âu, châu Á và Bắc Phi và không có sức thu hút đặc biệt đối với những đầu tư trực tiếp từ nước ngoài. Lương bình quân rất thấp ở Bồ Đào Nha và thời gian làm việc rất dài. Các đầu tư nước ngoài phần nhiều là từ Anh và Tây Ban Nha. Đầu tư lớn nhất từ trước đến nay là việc xây dựng nhà máy ô tô Auto-Europa.
Tỷ lệ thất nghiệp vào khoảng 4% so với trung bình của EU là thấp, nhưng phải lưu ý là nền kinh tế Bồ Đào Nha có một khu vực không chính thức lớn, thu hút một phần những người thất nghiệp không rơi vào thống kê những người thất nghiệp.
Về ngoại thương, trao đổi với các đối tác trong EU chiếm tỷ lệ 80%. Bồ Đào Nha xuất khẩu chủ yếu là quần áo, giày dép, máy móc, sản phẩm hóa học, nút bần, bột giấy và giấy; nhập khẩu máy móc, xe cơ giới, dầu và các sản phẩm từ dầu và các sản phẩm nông nghiệp. Bồ Đào Nha có thâm hụt lớn cả trong cán cân thương mại lẫn trong cán cân thanh toán. Nhờ vào nguồn thu nhập lớn từ du lịch mà cán cân thanh toán không thâm hụt lớn như cán cân thương mại.
Bồ Đào Nha có nhiều tài nguyên, trong đó có than, đồng, thiếc, vàng, các quặng sắt như pirit (tiếng Anh: pyrite) và chalcopyrite, kaolinite, wolframite và uraninite. Bồ Đào Nha thuộc trong số các quốc gia dẫn đầu về sản xuất vonfram (còn được viết là vôn-phram hay vôn-phơ-ram, tiếng Anh: wolfram) và urani (uranium). Trong Chiến tranh thế giới thứ hai nước Đức Hitler đã dùng vonfram Bồ Đào Nha trong sản xuất vũ khí và quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima có chứa urani từ Bồ Đào Nha.
Nông nghiệp của Bồ Đào Nha là một trong những nền nông nghiệp kém hiệu quả nhất trong châu Âu, tỷ lệ nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội chiếm vào khoảng 5% nhưng hơn 15% tổng số lao động lại làm việc trong nông nghiệp. Việc này đã dẫn đến tình trạng là nhiều doanh nghiệp trong nông nghiệp đã ngưng hoạt động và vào thời gian gần đây gần một nửa thực phẩm phải được nhập khẩu. Các đồn điền trồng cây sồi bần (Quercus suber) tại Alentejo và trồng cây hạnh (Prunus dulcis) cũng đang bị khủng hoảng trầm trọng. Mặt khác cây bạch đàn đang được trồng trên diện tích rộng vì tăng trưởng nhanh, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp bột giấy, một yếu tố kinh tế quan trọng của Bồ Đào Nha. Vì những nguyên nhân về môi trường, việc này là đáng lo ngại vì bạch đàn làm kiệt quệ đất, đẩy lùi rừng nguyên thủy và kèm theo đó là đẩy lùi thế giới động vật và ngoài ra rất dễ cháy, đã dẫn đến các vụ cháy rừng lớn trong mùa hè.
Tương tự như nông nghiệp, ngành đánh bắt thủy sản cũng phải đương đầu với các vấn đề về hiệu quả. Đoàn tàu đánh cá Bồ Đào Nha rơi lại sau đoàn tàu Tây Ban Nha xa. Phần lớn cá đều phải nhập khẩu.
Du lịch mang lại khoảng 8% tổng sản phẩm quốc nội có chiều hướng tăng, phần lớn khách du lịch đến từ Tây Ban Nha và Anh với Algarve là khu trung tâm du lịch hàng đầu.
Tổng thu nhập quốc gia (tỉ USD): 109,86 (1998), 109,99 (1999), 110,6 (2000)
Tổng thu nhập quốc gia trên đầu người (USD): 11.020 (1998), 11.010 (1999), 11.060 (2000)
Thành viên của EU, Hội đồng châu Âu, NATO, OCDE, WTO
Tính đến năm 2016, GDP của Bồ Đào Nha đạt 205.860 USD, đứng thứ 47 thế giới và đứng thứ 18 châu Âu.
== Văn hóa ==
=== Văn học ===
Đọc bài chính về văn học Bồ Đào Nha
Bồ Đào Nha thỉnh thoảng còn được gọi là xứ sở của các nhà thơ. Trong văn học Bồ Đào Nha thơ có ảnh hưởng mạnh hơn văn xuôi. Trong thời kỳ Trung Cổ, khi quốc gia Bồ Đào Nha ra đời, thơ rất phổ biến ở miền đông bắc của bán đảo Iberia, đã mang lại nhiều tác phẩm thi ca và thiên anh hùng ca xuất sắc. Ngoài các nhà thơ cổ điển nổi tiếng nhất như Luís de Camões và Fernando Pessoa còn có một loạt các tác giả khác ít nổi tiếng hơn nhưng cũng có ảnh hưởng quan trọng đến nền văn học hiện đại Bồ Đào Nha.
Văn xuôi phát triển chậm hơn thơ và chỉ hình thành từ thế kỷ 14, từ dạng sử biên niên hay miêu tả cuộc đời của các vị thánh. Fernão Lopes là người đại diện nổi tiếng nhất, ông đã viết quyển sử biên niên về thời kỳ cai trị của 3 vị vua thời của ông. Thế nhưng được biết nhiều nhất trên thế giới lại là nền văn học hiện đại của Bồ Đào Nha, đặc biệt với các tác phẩm của José Maria Eça de Queiroz và người nhận giải Nobel về văn học năm 1998, José Saramago.
=== Tôn giáo ===
Khoảng 86,7% người Bồ Đào Nha theo Công giáo Rôma. Nơi hành hương Fátima trong lãnh thổ Bồ Đào Nha là nơi để tưởng niệm mẹ của Chúa Giêsu, Đức Maria - còn được gọi là Đức Mẹ Fátima. Đức Mẹ Maria được người Bồ Đào Nha rất tôn kính, như là một nữ thần, và đối với một số người đó cũng là một dấu hiệu chứng tỏ tổ tiên của người Bồ Đào Nha trước khi theo Công giáo trước hết là thờ những nữ thần. Có 1% người Bồ Đào Nha theo đạo Tin Lành, 2% theo các tôn giáo khác như Hồi giáo, Phật giáo...
=== Ẩm thực ===
Ẩm thực của Bồ Đào Nha rất đa dạng vì người Bồ Đào Nha đã mang vào truyền thống của họ nhiều món ẩm thực được biết đến qua những chuyến đi thám hiểm. Mỗi địa phương ở Bồ Đào Nha đều có món đặc sản nấu từ nhiều loại thịt, cá hay các thủy sản khác. Món ăn dân tộc là con cá tuyết Đại Tây Dương (Gadus morhua) mà người ta nói rằng có đến 365 cách thức chế biến khác nhau. Rượu vang Bồ Đào Nha cũng nổi tiếng, ngay từ thời La Mã, Bồ Đào Nha đã được liên tưởng với Bacchus, vị thần rượu và lễ hội trong thần thoại La Mã. Ngày nay một vài loại rượu vang của Bồ Đào Nha là một trong những loại rượu vang ngon nhất thế giới, đặc biệt là loại rượu vang ngọt porto.
=== Âm nhạc ===
Thể loại âm nhạc quan trọng nhất của Bồ Đào Nha là Fado (trong tiếng Bồ Đào Nha có nghĩa là "số mạng"), là một điệu nhạc dân tộc có thể trở thành rất buồn và vì thế một phần tạo nên hình ảnh của người Bồ Đào Nha buồn bã (so với người Tây Ban Nha sôi nổi). Thể loại âm nhạc này được gắn liền với từ saudade (buồn bã, tưởng nhớ) và có lẽ hình thành từ sự pha trộn của những bài hát của những người đi biển Bồ Đào Nha với âm điệu của những người nô lệ châu Phi. Người ta phân biệt hai chiều hướng, Fado của Lisboa và của Coimbra. Amália Rodrigues là người nữ nhạc sĩ Fado có tầm quan trọng nhất. Sau khi bà qua đời nhiều nhạc sĩ khác đã tạo nên nhiều hình thức mới cho loại nhạc dân tộc này. Tại các nước trước kia là thuộc địa của Bồ Đào Nha, loại nhạc Fado cũng rất phổ biến và tiếp tục phát triển thành Morna của Cabo Verde và Choro của Brasil.
Một truyền thống nhạc khác bắt nguồn từ thời kỳ "Quốc gia mới". Những người đại diện nổi tiếng nhất của phong trào âm nhạc chống đối này là José Afonso (thường được gọi là Zeca) và Sérgio Godinho. Bài hát nổi tiếng Grândola, Vila Morena của José Afonso là tín hiệu khởi đầu cho cuộc Cách mạng hoa cẩm chướng.
Truyền thống múa và nhạc Bồ Đào Nha đã được pha lẫn với truyền thống của những người nô lệ từ nước Angola ngày nay tại Brasil trở thành Samba và cũng rất phổ biến ở Bồ Đào Nha.
=== Lễ hội ===
Lễ tôn vinh ba vị thánh của người dân (Santos Populares) được tổ chức vào tháng 6 hằng năm trên khắp nước Bồ Đào Nha. Ba vị thánh này là Antôn thành Padova (Anthony of Padua), Gioan Baotixita (John the Baptist) và Phêrô (Saint Peter). Người Bồ Đào Nha mừng lễ hội này với rượu vang, água-pé (rượu làm bằng trái cây lên men), bánh mì cùng với cá mòi, hóa trang và múa trên đường phố, đám cưới và pháo hoa.
Lễ kỷ niệm Santo António (thánh Antôn) diễn ra trong đêm 12 và sáng ngày 13 tháng 6, đặc biệt là ở Lisboa (nơi vị thánh này ra đời và ngụ tại đó) với hóa trang trên đường phố (Marchas Populares). Vị thánh được ngưỡng mộ nhất là Thánh Gioan Baotixita (São João), được kỷ niệm vào ngày sinh nhật ông (ngày 24 tháng 6), đặc biệt là ở Porto và Braga, theo truyền thống có món cá mòi và xúp Caldo Verde và người ta dùng búa nhựa gõ lên đầu nhau vì tin rằng như vậy sẽ mang lại nhiều may mắn. Lễ kỷ niệm Thánh Phêrô (São Pedro) được tổ chức vào ngày 28 và 29 tháng 6, đặc biệt là tại Póvoa de Varzim và Barcelos.
=== Thể thao ===
Bóng đá là bộ môn thể thao phổ biến nhất, được ưa chuộng nhất và cũng là bộ môn thể thao được chơi nhiều nhất ở Bồ Đào Nha. Nền bóng đá Bồ Đào Nha đã mang lại nhiều cầu thủ có tầm cỡ thế giới như Cristiano Ronaldo, Luis Nani, Eusébio, Manuel Rui Costa,Nuno Gomes hay Luís Figo.
Bên cạnh bóng đá, các vận động viên thể thao Bồ Đào Nha cũng đã có nhiều thành tích quốc tế trong chạy việt dã, bóng chuyền bãi biển và Roller-Hockey (khúc côn cầu dùng giày trượt).
Bồ Đào Nha có một môn thể thao truyền thống với tên là Jogo do pau (chơi gậy), là một môn thể thao tự vệ dùng một gậy gỗ đơn giản làm vũ khí. Môn thể thao này bắt nguồn từ thời kỳ Trung cổ, ngày nay vẫn còn được luyện tập với gậy dài khoảng từ 60 cm đến 80 cm tức là ngắn hơn nguyên thủy rất nhiều.
== Hệ thống giáo dục ==
Cho đến cuộc Cách mạng hoa cẩm chướng năm 1974 việc giáo dục không được quan tâm đến và sau cuộc cách mạng việc xây dựng hệ thống giáo dục cũng chỉ được tiến hành một cách chậm chạp. Ngày nay người ta có thể nhận ra được điều này: Thí dụ như trong năm 2000 chỉ có một phần mười những người trong độ tuổi 30 là tốt nghiệp đại học. Tỷ lệ này của Bồ Đào Nha là tỷ lệ thấp nhấp với một khoảng cách xa trong số những thành viên của Liên hiệp châu Âu trước khi mở rộng. Ngoài ra tỷ lệ người mù chữ gần 15% cũng là tỷ lệ người mù chữ cao nhất châu Âu.
Điều này là một cản trở lớn trong phát triển kinh tế, nhất là góp phần vào vấn đề kém hiệu quả trong nông nghiệp vì những người mù chữ chủ yếu là ở nông thôn. Nhưng giới trung lưu của Bồ Đào Nha cũng chỉ được đào tạo dưới trung bình vì việc vào đại học chỉ trở thành đơn giản hơn trong những năm gần đây. Vì thế mà thiếu thí dụ như là doanh nhân được đào tạo tốt, chủ các doanh nghiệp có truyền thống thường không cạnh tranh lại được với nước ngoài vì họ vào những vị trí lãnh đạo là vì thừa kế chứ không phải vì được đào tạo.
Hệ thống trường học bao gồm trường tiểu học (4 năm) và trường trung học cấp I (5 năm). Theo pháp luật, tất cả các trẻ em từ 6 tuổi đều bắt buộc phải đi học 9 năm. Việc giảng dạy theo chương trình ở các trường học của nhà nước là không tốn tiền và gia đình có thể nhận được giúp đỡ khi con học tại các trường tư nhân, loại trường tương đối có rất nhiều.
Sau trường trung học cấp I, học sinh nào học xong trung học cấp II (Escola Secundária) kéo dài 3 năm thì đủ điều kiện để có thể học đại học và có thể lựa chọn một trong nhiều hình thức học đại học: tại các trường đại học tổng hợp (universidades) quốc gia và tư nhân hay tại các trường đại học thực hành (escolas politécnicas) của quốc gia hay của tư nhân. Để nâng đỡ các nơi hẻo lánh trường đại học cũng được thành lập ở nhiều thành phố trung bình, việc chuyển từ trường này qua trường khác tương đối dễ dàng. Phải thi vào đại học và phải trả học phí, học phí ở các trường tư nhân cao hơn ở các trường nhà nước và thay đổi tùy theo chuyên ngành, trong các trường đại học nhà nước có thể đến 850 Euro hằng năm. Mặc dầu vậy khoảng 1/3 sinh viên đang theo học tại các trường tư nhân. Khoảng 20% sinh viên hưởng sự giúp đỡ của nhà nước tùy theo thu nhập.
== Hệ thống thư viện ==
Bồ Đào Nha có một truyền thống thư viện lâu đời trong lịch sử, bắt đầu từ những sưu tập trong tu viện và từ thời kỳ Trung Cổ. Vì thế mà ngày nay hệ thống thư viện đã phát triển thành nhiều loại thư viện đa dạng như các thư viện khoa học, thư viện của các trường đại học, thư viện công cộng, thư viện của trung tâm quản lý hành chánh và nhiều thư viện chuyên môn. Tuy vậy không có con số chính xác cho tổng số thư viện cũng như cho tổng số các lưu trữ trong thư viện.
Công việc khuyến khích phát triển hệ thống thư viện công cộng một cách có phương pháp và hệ thống bắt đầu từ thế kỷ 19. Trong thời gian "Quốc gia mới" (Estado Novo, 1928-1974) tầm quan trọng và ngay chính việc làm thư viện bị giới hạn rất nhiều vì có kiểm duyệt và các quy định khắt khe. Vì thế mà cho đến ngày nay việc phát triển hệ thống giáo dục và thư viện vẫn còn thiếu hụt.
Sau cuộc Cách mạnh hoa cẩm chướng năm 1974 bắt đầu có sự dân chủ hóa trong lãnh vực giáo dục và văn hóa. Một kết quả của chế độ độc tài hằng chục năm là sự yếu kém của hiểu biết quần chúng và vấn đề mù chữ, làm cho việc đào tạo người trưởng thành và khuyến khích đọc trở nên cần thiết. Tình trạng đáng lo ngại của các thư viện công cộng cũng đã dẫn đến nhiều sáng kiến và các quy định mới trong hệ thống thư viện thí dụ như "Tuyên ngôn của đọc sách công cộng" năm 1983. Năm 1986 việc này được củng cố bằng một đạo luật thiết lập và điều phối một mạng lưới cho việc đọc sách công cộng. Đồng thời, tuy tương đối muộn, việc tự động hóa các công việc trong thư viện và sử dụng kỹ thuật thông tin hiện đại cũng được bắt đầu.
Trong việc này thư viện của các trường đại học và Thư viện Quốc gia Lisboa (Biblioteca Nacional de Lisboa) đóng vai trò dẫn đầu. Ngày nay Thư viện Quốc gia Lisboa, là thư viện công cộng đầu tiên được thành lập năm 1796 như là Thư viện Hoàng gia công cộng, sở hữu Cơ sở dữ liệu Thư viện Quốc gia PORBASE với trên 1 triệu mục sách, 800.000 mục về tác giả của khoảng 134 thư viện và trung tâm lưu trữ văn kiện.
Các trường đại học quốc gia ở Coimbra, Lisboa và Porto đều có chuyên ngành về lưu trữ văn thư và về quản lý thư viện. Một số tổ chức mà một phần là của nhà nước đảm nhiệm các nhiệm vụ điều phối và góp phần giúp đỡ vào việc khuyến khích sách tiếng Bồ Đào Nha cũng như vào việc điều phối và giúp đỡ các thư viện. Nhờ vào các công việc đổi mới rộng lớn của những năm gần đây, hệ thống thư viện Bồ Đào Nha gần như đã hoàn toàn theo kịp các tiêu chuẩn của quốc tế và châu Âu.
== Truyền thông - Thông tin ==
Đài phát thanh và truyền hình quốc gia của Bồ Đào Nha (Radiotelevisão Portuguesa) có hai đài truyền hình, RTP 1 và RTP 2. Từ năm 1992 khi được phép thành lập đài truyền hình tư nhân có hai đài truyền hình tư nhân là SIC và TVI (Televisão Independente, của Giáo hội Công giáo). Chương trình của đài phát sóng ra nước ngoài RTP-Internacional có thể xem được ở Trung Âu và chiếu các chương trình hay nhất của 4 đài truyền hình kia.
Bồ Đào Nha có khoảng 150 đài phát thanh, trong đó đài RTP và Đài phát thanh Công giáo Radio Renascença phát sóng trên toàn quốc. Tại Trung Âu có thể nghe đài phát thanh RTP qua sóng ngắn nhưng chỉ có tiếng Bồ Đào Nha.
Trong các báo có nhiều ở Bồ Đào nha hiện nay đang có một quá trình hợp nhất mà qua đó rất có thể nhiều tờ báo nhỏ sẽ phải ngưng phát hành. Các báo quan trọng nhất là báo Diário de Notícias có khuynh hướng tự do bảo thủ, Público có khuynh hướng tự do khuynh tả (cả hai đều ở Lisboa) và tờ Jornal de Notícias tại Porto. Các báo thể thao có số lượng in rất lớn, phát hành hằng ngày và gần như chỉ nói về bóng đá, các báo quan trọng nhất là O Jogo và A Bola. Tờ tuần báo được xem là tốt nhất là Expresso. Trong lãnh vực của báo đăng tin giật gân (yellow press), hai tạp chí phát hành hằng tuần Maria và Nova Gente là có số lượng in nhiều nhất.
== Giao thông ==
Cả 3 phi trường quan trọng nhất của Bồ Đào Nha, Porto, Lisboa và Faro, đều có chuyến bay của nhiều hãng hàng không mà trong đó nhiều nhất là các tuyến bay của hai hãng hàng không Bồ Đào Nha TAP Air Portugal và Portugália. Cũng có các đường bay nội địa nhưng vì nước Bồ Đào Nha không lớn nên không hấp dẫn lắm và tương đối đắt.
Hệ thống đường bộ được xây dựng tốt, một phần cũng nhờ vào tiền của EU từ nhiều quỹ giúp đỡ. Các tuyến đường quan trọng nhất được bao phủ bởi các xa lộ phải trả tiền (Autoestradas) và các đường không phải trả tiền (Itinerários Principais (IP) hay Itinerários Complementares (IC)). Tại các vùng hẻo lánh người ta vẫn còn thường gặp đường được lát bằng đá tảng. Người đến từ Trung Âu nên suy nghĩ cẩn thận trước khi tự lái xe, đặc biệt là trong thành phố, vì không phải ai cũng đối phó được với sự lộn xộn trong giờ giao thông cao điểm cũng như với việc diễn giải các luật lệ giao thông một cách rộng rãi. Các thống kê về tai nạn ở châu Âu đã nhiều lần cho thấy giao thông đường bộ của Bồ Đào Nha là một trong những giao thông không an toàn nhất. Taxi tương đối rẻ, nhất là trong thành phố.
Mạng lưới đường sắt không thật sự nhiều lắm nhưng trên các tuyến đường giao thông chính thì nhanh và có hiệu quả, nếu như nhân viên đường sắt không vừa mới đình công. Vé tàu hỏa không đắt. Các tuyến đường phụ đã không được đầu tư thêm từ hằng chục năm nay và nhiều tuyến đã ngưng hoạt động trong thời gian vừa qua.
Ngược lại Bồ Đào Nha có một mạng lưới xe buýt dày đặc, có các tuyến đi đến gần như tất cả các làng với giá rẻ.
== Các ngày lễ ==
Ngày Tết Dương lịch (1 tháng 1)
Lễ hội hóa trang (tuy không phải chính thức nhưng trên thực tế là lễ)
Thứ Sáu Tuần Thánh (còn gọi là Thứ Sáu tốt lành), là ngày Thứ Sáu trước Lễ Phục Sinh
Lễ Phục Sinh
Ngày Tự do - Kỷ niệm Cách mạng hoa cẩm chướng (ngày 25 tháng 4)
Ngày 1 tháng 5
Ngày 10 tháng 6: Ngày Bồ Đào Nha (Ngày mất của Luís de Camões)
Corpus Christi
Ngày 15 tháng 8: Lễ Đức Mẹ Lên Trời
Ngày 5 tháng 10: Thành lập Cộng hòa (năm 1910)
Ngày 1 tháng 11: Lễ Các Thánh
Ngày 1 tháng 12: Tái độc lập (năm 1640)
Ngày 8 tháng 12: Lễ Đức Mẹ Vô nhiễm Nguyên tội
Ngày 25 tháng 12: Lễ Giáng Sinh
== Ghi chú ==
^ Tiếng Bồ Đào Nha được coi như ngôn ngữ chính thức của Bồ Đào Nha từ 1296, khi nó thay cho tiếng Latinh cổ điển, ngôn ngữ chính thức từ khi độc lập. Tiếng Bồ Đào Nha hiện đại bắt nguồn từ tiếng Latinh bình dân. Phương ngôn của Bồ Đào Nha được gọi là "tiếng thường dân" trước khi đổi tên nó thành tiếng Bồ Đào Nha. Tiếng Miranda, một ngôn ngữ Rôman liên quan, được nhận chính thức tại thành phố Miranda do Douro, và dân của các làng trong đấy nói tiếng đó.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Thuộc địa Bồ Đào Nha
Trồng nho ở Bồ Đào Nha
== Liên kết ngoài ==
Portal do Governo – cổng chính phủ
Assembleia da República – website chính thức của nghị viện
Presidência da República Portuguesa – website chính thức của tổng thống
Dự báo thời tiết |
phật giáo việt nam.txt | Phật giáo Việt Nam là Phật giáo được bản địa hóa khi du nhập vào Việt Nam, Phật giáo Việt Nam mang những đặc điểm tương đồng và khác biệt so với Phật giáo của các nước khác trên thế giới. Việt Nam bị Trung Quốc đô hộ một ngàn năm nên mang nhiều nét của văn hóa Trung Quốc, đặc biệt là tôn giáo. Phật giáo là tôn giáo có ảnh hưởng sâu rộng nhất ở Việt Nam. Theo thống kê của Ban Tôn giáo chính phủ Việt Nam năm 2009, hiện có gần 6.802.318 tín đồ Phật giáo , còn theo số liệu thống kê của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, cả nước có gần 45 triệu tín đồ quy y tam bảo, có 839 đơn vị gia đình Phật tử và khoảng 44.498 tăng ni, hơn 14.775 tự, viện, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường.
== Lịch sử ==
Phật giáo được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên theo đường biển. Đầu Công nguyên với truyện cổ tích Chử Đồng Tử học đạo của một nhà sư Ấn Độ. Đầu công nguyên, Luy Lâu (Bắc Ninh) là thủ phủ của quận Giao Chỉ sớm trở thành trung tâm Phật giáo quan trọng. Các truyền thuyết về Thạch Quang Phật và Man Nương Phật Mẫu xuất hiện cùng với sự giảng đạo của Khâu Đà La (Ksudra) trong khoảng các năm 168-189, Phật giáo hình thành nên hệ thống tín ngưỡng thờ Tứ Pháp.
Do tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ nên từ Buddha (bậc giác ngộ) được phiên âm trực tiếp thành "Bụt", từ đó chữ "Bụt" được dùng nhiều trong các truyện dân gian. Phật giáo Việt Nam lúc ấy mang màu sắc của Phật giáo nam truyền được địa phương hóa, Bụt được dân gian hóa coi như một vị thần cứu giúp người tốt. Sau này, vào thế kỷ thứ IV - V, do ảnh hưởng của Phật giáo nhà Hán, Trung Quốc mà từ "Bụt" bị thay thế dần bởi từ "Phật". Trong tiếng Hán, từ Buddha được phiên âm thành "Phật đà", "Phật đồ" rồi được rút gọn thành "Phật".
Phật giáo ăn sâu, bám rễ vào Việt Nam từ rất sớm. Đến thời Ngô - Đinh - Tiền Lê, nhà Lý, nhà Trần, Phật giáo phát triển cực thịnh, được coi là quốc giáo, ảnh hưởng đến tất cả mọi vấn đề trong cuộc sống. Đến đời nhà Hậu Lê thì Nho giáo được coi là quốc giáo và Phật giáo đi vào giai đoạn suy thoái. Đến cuối thế kỷ XVIII, vua Quang Trung cố gắng chấn hưng đạo Phật, chỉnh đốn xây chùa, nhưng vì mất sớm nên việc này không có nhiều kết quả. Đến thế kỷ 20, mặc dù ảnh hưởng mạnh của phong trào chấn hưng Phật giáo của các nước, Phật giáo Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ khởi đầu từ các đô thị miền Nam với các đóng góp quan trọng của các nhà sư Khánh Hòa và Thiện Chiếu .
Tóm lại, lịch sử Phật giáo Việt Nam trải qua bốn giai đoạn:
từ đầu công nguyên đến hết thời kỳ Bắc thuộc là giai đoạn hình thành và phát triển rộng khắp;
thời Nhà Lý - Nhà Trần là giai đoạn cực thịnh;
từ đời Hậu Lê đến cuối thế kỷ 19 là giai đoạn suy thoái;
từ đầu thế kỷ 20 đến nay là giai đoạn chấn hưng.
Các tông phái lớn của Phật giáo:
=== Thiền tông ===
Thiền tông (còn được biết là Zen hay Ch'an) là một tông phái Phật giáo do nhà sư Ấn Độ Bồ Đề Đạt Ma (Boddidharma) sáng lập ra ở Trung Quốc vào đầu thế kỷ thứ 6. "Thiền" là cách gọi tắt của "Thiền na" (Dhyana), có nghĩa là "Tĩnh tâm", chủ trương tập trung trí tuệ để quán định (thiền) nhằm đạt đến chân lý giác ngộ của đạo Phật. Theo Thiền tông, "thiền" không phải là "suy nghĩ" vì suy nghĩ là "tâm vọng tưởng", làm phân tâm và mầm mống của sanh tử luân hồi. Cách tu theo Thiền tông đòi hỏi phải tập trung toàn bộ công sức và thời gian cộng với phải có khả năng giác ngộ. Yêu cầu đó chỉ có những kẻ căn cơ cao mới có được nên người tu thiền thì nhiều nhưng người chứng ngộ quả thật rất là hiếm hoi. Tuy nhiên lịch sử Thiền tông ở Việt Nam cũng có một lịch sử rõ ràng hơn cả.
Dòng thiền tu thứ nhất trong lịch sử Phật giáo Việt Nam do nhà sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci) lập ra. Ông là người Ấn Độ, qua Trung Quốc rồi đến Việt Nam vào năm 580, tu tại chùa Pháp Vân (hay chùa Dâu), thuộc huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh và truyền cho tổ thứ hai là Pháp Hiền. Dòng thiền này truyền được đến 19 thế hệ. Dòng thiền tu thứ hai do Vô Ngôn Thông, người Trung Quốc lập ra vào năm 820, tu tại chùa Kiến Sơ, thuộc xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm, Hà Nội. Dòng thiền này truyền được đến 17 đời. Dòng thiền thứ ba do Thảo Đường, người Trung Quốc, vốn là tù binh bị bắt tại Chiêm Thành và được vua Lý Thánh Tông giải phóng khỏi kiếp nô lệ và cho truyền đạo tại chùa Khai Quốc vào năm 1069. Dòng thiền này truyền được đến 6 đời. Năm 1299, vua Trần Nhân Tông, dưới sự hướng dẫn của thiền sư Tuệ Trung Thượng Sĩ, ông xuất gia và lên tu ở núi Yên Tử, thuộc huyện Uông Bí, Quảng Ninh, thống nhất các thiền phái tồn tại trước đó và lập nên Thiền phái Trúc Lâm. Sau này, một số thiền phái khác xuất hiện như phái Tào Động dưới thời Trịnh-Nguyễn, phái Liên Tôn vào thế kỷ 16-19 (có trụ sở tại chùa Bà Đá và chùa Liên Phái, Hà Nội), phái Liễu Quán (Liễu Quán là tên một vị tổ thuộc dòng Lâm Tế) vào thế kỷ 18 (miền Trung), phái Lâm Tế dưới thời nhà Nguyễn (miền Trung, và sau này phát triển ở miền Nam).
Thiền tông Việt Nam đề cao cái "tâm": "Phật ở tại tâm", tâm là Niết Bàn, hay Phật. Trần Nhân Tông viết trong bài phú Cư Trần Lạc Đạo:
"Cư trần lạc đạo thả tùy duyên, Cơ tắc xan hề khốn tắc miên. Gia trung hữu bảo hưu tầm mích, Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền."
Dịch: "Ở đời vui đạo hãy tùy duyên, Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền. Trong nhà có báu thôi tìm kiếm, Đối cảnh vô tâm chớ hỏi thiền."
=== Tịnh độ tông ===
Tịnh độ tông là một tông phái Phật giáo, chủ trương tu dựa trên tha lực của Phật A Di Đà là chủ yếu, tuy nhiên vẫn có tự lực. Phật Thích Ca Mâu Ni có lần thuyết giảng: "Một viên đá dù nhỏ đến mấy mà ném xuống nước thì nó cũng chìm, nhưng nếu một hòn đá dù to đến mấy mà đặt trên bè thì nó cũng nổi".
Có một cõi cách biệt với lục độ, gọi là Thế giới Cực Lạc - Nơi không có sự luân hồi, do đức Phật A Di Đà (tiếng Phạn: Amitabha) tạo nên. Nơi đây hoa báu rất nhiều, rất trang nghiêm, thanh tịnh, nhiều vị đại bồ tát như Quán Thế Âm, Đại Thế Chí Bồ Tát và bạn đồng tu tạo ra môi trường rất tốt để tu chóng đạt vị quả. Việc tu hành như viếng chùa, làm việc thiện để tích công phước đức, tụng danh Phật A Di Đà đến khi "Nhất tâm bất loạn", đọc các chú như Chú Đại Bi... Do đây là thời mạt pháp, yêu quỷ hoành hành, chúng sanh căn cơ thấp kém nên việc tu Tịnh Độ là điều tối cần thiết và đúng đắn. Vì vậy Tịnh Độ tông là tông phái phổ biến khắp cõi Việt Nam. Đi đến đâu ta cũng gặp người dân tụng niệm câu "Nam mô A Di Đà Phật" (có nghĩa là "Nguyện quy y đức Phật A Di Đà"). Tượng Phật A Di Đà là tượng có mặt ở khắp mọi nơi và có mặt từ rất lâu đời.
=== Hệ phái Khất sĩ Việt Nam ===
Đạo phật Khất sĩ Việt Nam là một tông phái Phật giáo nội sinh do Tổ sư Minh Đăng Quang sáng lập từ 1944, lấy chí nguyện " Nối truyền Thích ca chánh Pháp", sư đã dung hợp hai truyền thống Đại thừa phát triển mạnh và Nguyên thủy gần gũi với lời dạy gốc của Đức phật. Đi trước phong trào chấn hưng phật giáo những đóng góp của sư có vai trò to lớn trong sự phát triển của Phật giáo Việt Nam nữa sau thế kỷ XX. Bộ sách Chân lý đã đúc kết những nguyệ vọng, tông chỉ, đường hướng hoằng đạo của ngài cho các đệ tử.
=== Mật tông ===
Mật tông là một tông phái Phật giáo chủ trương sử dụng những phép tu tụng niệm các mật chú để đạt đến chân lý giác ngộ. Cũng còn gọi là Lạt Ma tông, Mật tông là sự hợp nhất giới luật của thuyết nhất thiết hữu bộ (Sarvastivada) và nghi thức tác pháp của Kim Cương thừa. Bước quyết định trong nghi thức này là lễ Quán Đỉnh (Abhiseka) do một vị sư cả (guru hay "lạt ma") ban phép cho người đệ tử được nhập thiền định tâm vào một vị Phật cụ thể bằng cách đọc chân âm (mantra), suy niệm đồ hình Mạn đà la (mandala) và thực thi ấn quyết (mudra) để đạt đến độ thăng hoa loại bỏ ý niệm nhị nguyên (duality) để nhập vào Chân Như, vào cõi Không. Trạng thái đó được biểu tượng bằng Kim cương chử (Vajra). Để làm chủ được các nghi thức tác pháp của Mật tông (còn gọi là Kim Cương thừa - Vajrayana) thì điều tiên quyết là phải thấu hiểu giáo nghĩa của Bát-nhã-ba-la-mật-đa (Prajnaparamita) của Long Thọ và Vô Trước. Giáo nghĩa Bát-nhã-ba-la-mật-đa được gọi là "Nhân thừa", và giáo nghĩa Kim Cương thừa được gọi là "Quả thừa". Tương truyền rằng Mật tông do đức Phật Đại Nhật khởi xướng. Mật tông có hai bộ kinh cơ bản là Đại Nhật kinh và Kim cương bát-nhã-ba-la-mật-đa kinh. Như vậy, từ thế kỉ thứ 3 đến thế kỉ thứ 7, Thiền tông Việt Nam mang đậm giáo nghĩa Tam Luận tông của Long Thọ, mà đặc biệt là tư tưởng Bát-nhã-ba-la-mật-đa của Long Thọ và Vô Trước. Các thiền sư thuộc Thiền phái Tì Ni Đa Lưu Chi không chỉ uyên thâm về Phật pháp mà nhiều vị rất có uy tín với triều đình và biểu thị rõ ý thức độc lập tự chủ của đất nước. Các thiền sư Pháp Thuận, Ma Ha (thế kỉ thứ 10), Sùng Phạm (thế kỉ 12),... đều làm cố vấn cho nhà vua không chỉ việc đạo mà cả việc đời, việc ngoại giao. Dòng Tì Ni Đa Lưu Chi còn kéo dài mãi đến thế kỉ 19. Đặc biệt, các thiền sư dòng Tì Ni Đa Lưu Chi thường có hình thức tu tập "Tổng Trì Tam Muội" (Dharani samadhi), một hình thức tu tập phổ biến của Mật giáo (Tantrism), dùng chân âm kết hợp với ấn quyết trong trạng thái đại định để giữ được thân, khẩu, ý. Ở Hoa Lư (Ninh Bình), một cột kinh Phật bằng đá vào thế kỉ thứ 10 có khắc bài thần chú Phật Đỉnh Tối Thắng Đà La Ni (Usnisavijaya dharani), một thần chú phổ biến của Mật tông, đã được phát hiện.
Khi vào Việt Nam, Mật tông không tồn tại độc lập như một tông phái riêng mà nhanh chóng hòa lẫn vào dòng tín ngưỡng dân gian với những truyền thống cầu đồng, pháp thuật, yểm bùa, trị tà ma, chữa bệnh,...
=== Nam tông ===
Phật giáo nguyên thủy được truyền rất sớm vào Việt Nam do các tổ sư Ấn Độ truyền bá nhưng đến khi Đại thừa truyền vào từ Trung Quốc thì dần dần thay thế Phật giáo nam truyền.
Hiện nay Phật giáo nam tông phát triển mạnh ở miền nam chủ yếu là Phật tử đồng bào dân tộc Khmer. Mãi đến cuối những năm 1930, thì các sư Hộ Tông, Bửu Chơn, Thiện Luật... truyền bá phật giáo nguyên thủy từ Campuchia. Hiện nay Phật giáo nguyên thủy là thành viên của Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
== Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam ==
Trên bước đường truyền bá và hội nhập, Phật giáo luôn luôn cố gắng thực hiện hai điều đó là khế lý và khế cơ. Nếu thiếu đi một trong hai yếu tố này Phật giáo sẽ chẳng còn là Phật giáo nữa. Duy trì và phát triển hai yếu tố này, Phật giáo được truyền vào Việt Nam và các nước khác.
Khế lý là nói về mặt tư tưởng, nhờ khế lý nên dù ở thời gian và không gian nào, giáo lý Phật-đà vẫn hợp với chân lý, tư tưởng vẫn luôn luôn phong phú, sâu sắc mà vẫn giữ được bản chất của mình và chỉ có một vị đó là vị giải thoát.
Khế cơ thiên trọng về mặt lịch sử, nhờ khế cơ nên dù trong hoàn cảnh và quốc độ nào thì sự sinh hoạt, thể hiện, truyền đạt cũng luôn luôn đa dạng. Tùy theo phong tục tập quán của mỗi quốc gia mà vẫn không hề mất gốc (Phật giáo). Nói một cách khác thì có thể tùy nghi phương tiện theo từng vùng miền để truyền bá giáo lý Phật-đà nhưng không làm mất đi bản sắc của Phật giáo là ứng hợp với mọi tầng lớp và căn cơ chúng sanh.
Tên gọi tuy có khác nhưng giáo lý vẫn là một nên gọi là khế lý, dù một mà không phải một, nên có lắm tên Phật giáo Việt Nam, Phật giáo Tây Tạng, Phật giáo Thái Lan, v.v. tất cả đều có tên chung là Phật giáo, bảo rằng giống cũng được nhưng bảo rằng không thì là sai. Đây gọi là khế cơ, là bản địa hóa, hay sắc thái Phật giáo của từng vùng miền.
Khi Phật giáo được truyền vào Việt Nam đã được các vị thiền sư người Việt bản địa hóa, khiến Phật giáo hòa mình vào lòng dân tộc tạo nên một sắc thái đặc biệt của riêng Việt Nam. Phật giáo đã cùng sinh tồn cùng dân tộc. Điểm này dễ dàng nhận thấy trong những thời đại hưng thịnh của đất nước như Đinh, Lê, Lý Trần đều là những lúc Phật giáo cũng song hành hưng thịnh và các vị thiền sư có vị trí quan trọng trong các Triều đại đó. Dù được bản địa hóa để quyện mình vào lòng dân tộc nhưng tam tạng kinh điển Phật giáo Việt Nam vẫn được truyền thừa trong suốt hơn 2000 năm lịch sử Phật giáo Việt Nam.
=== Tính dung hòa ===
==== Dung hợp giữa Phật giáo với tín ngưỡng truyền thống ====
Phật giáo thờ Phật trong chùa, tín ngưỡng truyền thống Việt Nam là thờ thần trong miếu và thờ Mẫu trong phủ, bốn vị thần được thờ nhiều nhất là Tứ pháp: Mây-Mưa-Sấm-Chớp. Tuy nhiên bốn vị thần này đã được "Phật giáo hóa". Các pho tượng này thường được gọi tượng Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi và Pháp Điện, trên thực tế các tượng này hoàn toàn điêu khắc theo tiêu chuẩn của một pho tượng Phật. Các hệ thống thờ phụ này tổng hợp với nhau tạo nên các ngôi chùa "tiền Phật, hậu Thần" hay "tiền Phật, hậu Mẫu". Người Việt Nam đưa các vị Thần, Thánh, Mẫu, thành hoàng thổ địa, anh hùng dân tộc... vào thờ trong chùa. Đa số các chùa còn để cả bia hậu, bát nhang cho các linh hồn đã khuất.
==== Dung hòa giữa các tông phái Phật giáo ====
Các tông phái Phật giáo Đại thừa sau khi du nhập vào Việt Nam trộn lẫn với nhau. Dòng thiền Tỳ Ni Đa Lưu Chi pha trộn với Mật giáo. Nhiều vị thiền sư đời Lý như Vạn Hạnh, Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không,... đều giỏi pháp thuật và có tài thần thông biến hóa. Thiền tông còn kết hợp với Tịnh Độ tông như là trong việc tụng niệm Phật A Di Đà và Bồ Tát.
Các điện thờ ở chùa miền Bắc vô cùng phong phú các loại tượng Phật, Bồ tát, La hán và các tông phái khác nhau. Các chùa miền Nam còn có xu hướng dung hợp hai truyền thống truyền thừa. Nhiều chùa mang hình thức Nam truyền (chỉ thờ Phật Thích Ca Mâu Ni, sư đắp y vàng) nhưng lại theo giáo lý Đại thừa; bên cạnh Phật Thích Ca Mâu Ni còn có các tượng Phật nhỏ khác, bên cạnh y vàng còn có áo nâu, áo lam.
==== Hòa hợp giữa Phật giáo với Khổng, Lão ====
Tín ngưỡng truyền thống đã tiếp nhận Phật giáo ngay từ đầu Công nguyên. Sau đó Phật giáo bắc truyền tiếp nhận Đạo giáo. Rồi cùng tiếp nhận Nho giáo để làm nên "Tam giáo đồng nguyên" (cả ba tôn giáo có cùng một gốc) và "Tam giáo đồng quy" (cả ba tôn giáo có cùng một mục đích) truyền vào Việt Nam qua đường Bắc thuộc. Ba tôn giáo trợ giúp lẫn nhau: Nho giáo lo tổ chức xã hội, Đạo giáo lo thể xác con người, Phật giáo lo tâm linh, kiếp sau của con người. Trong nhiều thế kỷ, hình ảnh "Tam giáo tổ sư" với Thích Ca Mâu Ni ở giữa, Lão Tử ở bên trái, Khổng Tử ở bên phải đã in sâu vào tâm thức mọi người Việt.
Ngoài ra giáo lý Phật giáo còn được hòa trộn với các tôn giáo khác để hình thành Đạo Cao Đài vào thập niên 1920 với quan điểm là "Thiên nhân hợp nhất" và "Vạn giáo nhất lý".
=== Phật giáo ảnh hưởng của mẫu hệ ===
Nó ảnh hưởng rất lớn đến Phật giáo Việt Nam, làm cho Phật giáo Việt Nam có phần nữ tính hóa.
Các vị Phật Ấn Độ xuất hiện với thân nam, khi vào Việt Nam bị biến thành "Phật ông - Phật bà". Mẹ Quan Âm (Quán Thế Âm Bồ Tát) là vị "thần" cứu giúp cho nhân dân, người miền biển còn gọi là Quan Âm Nam Hải (biển đông). Ngoài ra người Việt còn có những vị "Phật-Mẫu" riêng của mình như Man Nương Phật Mẫu (tên khác: Phật Mẫu), Quan Âm Thị Kính (tên khác: Quan Âm Tống Tử), Quan Âm Diệu Thiện (tên khác: Phật Bà Chùa Hương, Bà chúa Ba).
== Các tôn giáo, tông phái phát sinh dựa trên một phần giáo lý của Đức Phật ==
=== Bửu Sơn Kỳ Hương ===
Bửu Sơn Kỳ Hương hay đạo Lành do Đoàn Minh Huyên, đạo hiệu Giác Linh khai sáng vào năm 1849, là một giáo phái dựa vào sự tích Bồ tát Di Lặc hạ sinh để rao giảng về hội Long Hoa của Phật Di Lặc. Bửu Sơn Kỳ Hương đơn giảng hóa các triết lý sâu xa của đạo Phật. Đạo đề cao tứ ân, tôn người lập đạo là Phật thầy Tây An.
=== Tứ Ân Hiếu Nghĩa ===
Tứ Ân Hiếu Nghĩa, gọi tắt là đạo Hiếu Nghĩa[1], do Ngô Lợi (thường được tín đồ gọi là Đức Bổn sư) sáng lập. Buổi đầu, đạo là một trong những phong trào Cần Vương, nhưng dùng hình thức tôn giáo để qui tập tín đồ và để che mắt thực dân Pháp. Sau khi vua Hàm Nghi bị đày, Ngô Lợi mất, phong trào tan rã chỉ còn lại những hoạt động tín ngưỡng. Đạo hình thành trên tư tưởng của Bửu Sơn Kỳ Hương nên ngày càng xa với triết lý của Phật dạy.
=== Đạo Hòa Hảo ===
Đạo Hòa Hảo hay còn gọi là Phật giáo Hòa Hảo, là một giáo phái dựa trên nền đạo đức triết lý Phật giáo do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939, lấy pháp môn Tịnh Độ tông làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia. Số tín đồ Đạo Hòa Hảo ước tính khoảng 2 triệu người, tập trung chủ yếu ở đồng bằng Nam bộ, nhất là ở Tây Nam bộ.
Thực chất Phật giáo Hòa Hảo là tiếp nối của một tông phái Phật giáo có từ gần một trăm năm trước ở đồng bằng Nam bộ có tên là Bửu Sơn Kỳ Hương do Phật Thầy Tây An (Đoàn Minh Huyên) sáng lập vào năm 1849 tại vùng Bảy Núi (tỉnh An Giang). Tiếp sau Phật Thầy Tây An là Tứ ân hiếu nghĩa của Phật Trùm, Ngô Lợi (Đức Bổn Sư) rồi đến Huỳnh Phú Sổ. Thời kỳ Huỳnh Phú Sổ là thời kỳ phát triển rực rỡ nhất của đạo Hòa Hảo.
Giáo lý là sự kết hợp của Tịnh Độ tông với Đạo Ông Bà. Tôn chỉ là "Học Phật Tu Nhân", noi theo giáo lý Đức Phật mà tu sửa con người, tích cực thực hành thuyết "Tứ ân (ơn)": cha mẹ, đất nước, tam bảo (Phật-Pháp-Tăng), nhân loại.
Cách thức tu hành của Phật giáo Hòa Hảo rất đơn giản là "tu hành tại gia". Người "cư sĩ tại gia" cúng lạy vào hai buổi sớm mai và chiều tối với 16 lạy như một bài thể dục toàn thân ở "bàn thông thiên", ăn chay một tháng 4 ngày để cơ thể khỏe mạnh; thờ trần đỏ hoặc trần dà với ý nghĩa hòa hợp; không chấp nhận mê tín dị đoan (không đốt vàng mã, không cúng tà thần...); thực hành tiết kiệm triệt để như không dâng cúng thực phẩm cho Phật mà chỉ cúng bông hoa nước sạch, không ăn thịt trâu, chó, bò để giữ sức kéo...; không hình thức: không đúc tượng, không chuông mõ, "tử thì táng", không có hàng giáo phẩm và không có tổ chức đạo (trước năm 1947).
=== Tịnh độ cư sĩ Phật hội ===
Do đức Tôn sư Minh Trí sáng lập dựa vào pháp môn tịnh độ lấy giáo lý Đức Phật làm gốc, nhưng diễn đạt đơn giản, dễ hiểu phù hợp với quần chúng nông dân hơn. Phương châm hành đạo "Phước Huệ song tu" lấy việc chữa bị bệnh chăm sóc sức khỏe bằng thuốc nam và Đông y làm phương tiện hành đạo - Phước; lấy pháp môn niệm phật A Di Đà học tập kinh A Di Đà, Vô Lương Thọ, Quán Vô Lượng Thọ - Huệ.
Đạo lấy giáo lý của tôn sư Minh Trí làm căn bản dạy cư sĩ tu tập theo các quyển "kinh, luật, luân" như: Lục Phương lễ bái, Phu thê ngôn luận, Đạo đức, Giới luật, Phật học vấn đáp, Phương pháp kiến tánh.
Nhìn chung trong bối cảnh cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, Phật giáo suy vi, đất nước chiến tranh loạn lạc, hạn hán mất mùa liên lục ở miền nam tạo ra chỗ trống về tín ngưỡng sự ra đời của các tôn giáo tông phái là để đáp ứng nhu cầu đó các đạo điều dựa trên tư tưởng từ bi của Phật và đạo đức hiếu hạnh, ái quốc của dân tộc để hành đạo. Có nhiều điểm chung giữa các đạo này là lấy việc học đạo làm người làm tiền đề tu học, lấy việc bốc thuốc chữa bệnh làm phương tiện truyền đạo, khi các tín đồ vào đạo thì lấy pháp môn tịnh độ tu tập hướng tới tịnh độ Cực Lạc tây phương của Phật A Di Đà hay tịnh độ của Phật Di Lặc.
== Phật giáo và Văn hóa Việt ==
Phật giáo đã thấm nhuần vào cách suy tư và sinh hoạt của người Việt nên dấu vết Phật giáo trong văn hóa Việt khá đậm nét. Nhiều người Việt có thói quen ăn chay đạm bạc vào những ngày mồng một hay ngày rằm để tu dưỡng lòng từ bi, khổ hạnh. Phật giáo đã ảnh hưởng rất lớn đến xã hội nước ta trong suốt quá trình phát triển của đất nước. Trong văn học dân gian thì truyện bình dân kể lại truyện Bà Chúa Ba tức truyện Quan âm chùa Hương. Nghệ thuật trình diễn có vở chèo Quan Âm Thị Kính. Truyện Kiều của Tố như Nguyễn Du cũng hàm chứa nhiều tư tưởng Phật giáo.
Số tục ngữ ca dao liên quan đến Phật giáo rất đa dạng:
Dù xây chín bậc phù đồ
Không bằng làm phúc cứu cho một người.
Hiền như Bụt.
Khẩu xà tâm Phật / Khẩu Phật tâm xà.
Phật tại tâm, tâm tức Phật.
Bụt nhà không thiêng.
Đi với Bụt mặc áo cà-sa
Đi với ma mặc áo giấy.
Miệng thì nam-mô, bụng bồ dao găm.
== Tổ chức Giáo hội Phật giáo và quan hệ Phật giáo với chính quyền ==
Thời nhà Đinh, nhà tiền Lê, nhà Lý, và nhà Trần Phật giáo Việt Nam có ảnh hưởng lớn đến các Triều đại. Đã có nhiều vị cao tăng được triều đình trọng dụng như thiền sư Pháp Thuận, Khuông Việt, Vạn Hạnh, Minh Không, Pháp Loa, v.v. ra giúp tham chính và cố vấn, giúp chèo lái con thuyền đất nước trong những lúc khó khăn. Đinh Tiên Hoàng đế lập ra chức tăng thống và Tăng lục để đại diện cho Phật giáo với chính quyền.
Thời kỳ thuộc Minh, khi nhà Hồ chấn chỉnh đạo đến thời thuộc Minh, nhà Minh tàn phá tự viện, đập phá tượng Phật, đốt kinh sách, bắt bớ tu sĩ làm cho đạo Phật bị suy yếu. Tới thời Lê sơ, Lê trung hưng chính quyền Lê, Trịnh tôn sùng Nho giáo kìm hãm Phật giáo, còn miền Nam các chúa Nguyễn lại là các Phật tử nên đã chấn hưng Phật giáo, đạo Phật có một thời gian khới hưng ngắn cho đến hết thời Tây Sơn.
Đến thời nhà Nguyễn, Gia Long cũng lấy Nho giáo làm trọng, Phật giáo bấy giờ bắt đầu suy vi mãi đến khi phong trào chấn hưng Phật giáo được phát động.
Vào cuối thời chống Pháp dưới chính thể Quốc gia Việt Nam năm 1951 Tổng hội Phật giáo Việt Nam ra đời. Đây là tổ chức đầu tiên với ý định thống nhất các tổ chức Phật giáo rời rạc. Tổng hội thành công trong việc liên kết các tự viện Đại thừa khắp ba miền Nam, Trung, Bắc. Tuy nhiên Tổng hội không có cơ cấu điều hành ngoài việc mở đường liên lạc.
Khoảng thập niên 1960 Phật giáo lại bị chính sách bất công tôn giáo Việt Nam Cộng hòa dẫn đến cuộc đấu tranh 1963. Hiến chương 1964 đặt nền móng cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, một tổ chức quy tụ nhiều giáo phái ở phía nam vĩ tuyến 17 thành một lực lượng tôn giáo đáng kể.
Năm 1958 tại miền bắc, Đảng Lao động Việt Nam cho phép thành lập Hội Phật giáo Thống nhất Việt Nam.
Sau năm 1975, mãi đến năm 1981 chính quyền mới cho phép thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam, tổ chức Phật giáo duy nhất là đại diện cho Phật giáo tại Việt Nam, là thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Giáo hội được thành lập vào ngày 7 tháng 11 năm 1981 tại chùa Quán Sứ, Hà Nội, trên cơ sở hợp nhất tất cả tổ chức Phật giáo trong nước. Hiện nay đệ tam Pháp chủ của Giáo hội Phật giáo Việt Nam là Trưởng lão Hòa thượng Thích Phổ Tuệ.
== Công cuộc Chấn hưng Phật giáo ==
Vào đầu thế kỉ XX, hưởng ứng phong trào chấn hưng Phật giáo các nước các nhà sư Việt Nam cũng vận động chấn hưng Phật giáo Việt Nam phát triển mạnh trên cả ba miền, đã tạo lập nên tổng thể Phật giáo Việt Nam hiện đại, Phật giáo dần lấy lại vị thế đáng có của mình, nhưng vẫn chưa phải là Quốc giáo ở Việt Nam.
== Đọc thêm ==
Phật giáo
Thích Ca Mâu Ni
Lịch sử Phật giáo Việt Nam
Đạo Hòa Hảo
Thiền tông
Tịnh Độ tông
Mật tông
== Sách tham khảo ==
Trần Ngọc Thêm, Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nhà xuất bản TP. HCM, 2001
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang mạng Giáo hội Phật giáo Việt Nam
Trang mạng Gia đình Phật tử Việt Nam |
thức uống.txt | Thức uống hay Đồ uống là một loại chất lỏng được đặc biệt chế biến cho sự tiêu thụ của con người. Ngoài chức năng đáp ứng nhu cầu cơ bản của con người, thức uống còn hình thành một phần văn hóa trong xã hội loài người.
=== Các loại đồ uống ===
Thức uống có cồn
Thức uống không cồn
Thức uống nhẹ
Nước ép trái cây
Thức uống nóng
Cà phê
Trà
.....
== Tham khảo == |
rajshahi (phân khu).txt | Phân vùng Rajshahi (tiếng Bengal: রাজশাহী বিভাগ) là một trong bảy đơn vị hành chính của Bangladesh. Phân vùng có diện tích 18.174,4 km² và dân số theo điều tra năm 2011 là 18.329.000 (kết quả sơ bộ). Phân khu Rajshahi bao gồm 8 huyện (Bogra, Joypurhat, Naogaon, Natore, Nawabganj, Pabna, Rajshahi, Sirajganj), 70 Upazila (phó huyện) and 1.092 liên hiệp. Phân khu này có điểm đặc trưng là nguồn lao động giá rẻ. Cho đến năm 2010, phân khu có 16 huyện, song đến đầu năm đó nó lại bị tách làm đôi để tạo ra phân khu Rangpur từ 8 huyện phía bắc.
== Tham khảo ==
Banglapedia: Rajshahi Division |
muak lek.txt | Muak Lek (tiếng Thái: มวกเหล็ก) là một huyện (amphoe) ở tỉnh Saraburi của Thái Lan.
== Địa lý ==
Muak Lek là huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Saraburi, nằm ở phía đông tỉnh. Các huyện giáp ranh là (từ phía bắc theo chiều kim đồng hồ): Phattana Nikhom, Tha Luang và Lam Sonthi của tỉnh Lopburi, Sikhio và Pak Chong của tỉnh Nakhon Ratchasima, Mueang Nakhon Nayok của tỉnh Nakhon Nayok, và Kaeng Khoi và Wang Muang của Saraburi.
Huyện nằm trong khu vực đồi của dãy núi Phetchabun tách miền trung Thái Lan với khu vực đông bắc (Isan). Phía nam huyện là Vườn quốc gia Khao Yai.
== Lịch sử ==
Huyện đã được lập ngày 27 tháng 12 năm 1968, khi khu vực của tambon cũ Muak Lek ở huyện Kaeng Khoi đã được tách thành 3 tambon với 33 làng và lập huyện mới tên là Muak Lek. Huyện bắt đầu hoạt đồng ngày 21 tháng 1 năm 1969. Năm 1988, khu vực phía bắc được tách ra khỏi huyện này để lập tiểu huyện Wang Muang mới.
== Hành chính ==
Huyện này được chia thành 6 phó huyện (tambon), các đơn vị này lại được chia ra thành 65 làng (muban). Muak Lek itself là thị trấn(thesaban tambon) và nằm trên một phần của tambon Muak Lek và Mittraphap. Có 6 Tổ chức hành chính tambon.
Các con số 3, 6 và 8 không có trong bảng là các tambon nay tạo thành huyện Wang Muang.
== Tham khảo ==
http://web.archive.org/20070928225623/www.saraburi.go.th/file/am-muak.doc (Thai winword file)
== Liên kết ngoài ==
amphoe.com |
xứ basque.txt | Xứ Basque (tiếng Basque: Euskal Herria) là vùng lãnh thổ nằm giữa Pháp và Tây Ban Nha và nằm phía tây dãy núi Pyrénées.
Theo truyền thống, xứ Basque được chia thành 7 vùng gồm 4 vùng phía nam (Hegoalde) thuộc Tây Ban Nha và 3 vùng phía bắc (Iparralde) thuộc Pháp:
Vùng phía nam (thuộc Tây Ban Nha):
+ Álava
+ Bizkaia
+ Gipuzkoa
+ Nafarroa
Vùng phía bắc (thuộc Pháp):
+ Behe Nafarroa
+ Lapurdi
+ Zuberoa (còn có tên khác là Xiberu và Xüberoa)
== Lịch sử ==
Thời tiền sử [sửa mã nguồn]
Theo một số tác giả, người Basques có thể là dấu tích đồng hóa nhất của cư dân thời Đá cũ Tây Âu (đặc biệt là những người trong khu vực Franco-Cantabrian gọi là Azilian) đối với sự di cư của người Ấn-Âu. Bộ tộc Basque đã được đề cập bởi nhà văn Hy Lạp Strabo và nhà văn La Mã Pliny, bao gồm người Vascones, người Aquitani, và những người khác. Có bằng chứng đáng kể cho thấy dân tộc Basque trong thời La Mã dưới dạng các tên địa danh, tài liệu tham khảo của Caesar về phong tục và đặc điểm vật lý, cái gọi là chữ khắc Aquitanian ghi tên của những người và các vị thần (approx. Thế kỷ 1, xem ngôn ngữ Aquitanian), v.v…
Về mặt địa lý, xứ Basque là nơi sinh sống trong thời La Mã của một số bộ lạc: Vascones, Varduli, Caristi, Autrigones, Berones,Tarbelli, và Sibulates. Nhiều người tin rằng ngoại trừ người Berones và Autrigones, họ là dân tộc phi Ấn-Âu, mặc dù tính dân tộc của các bộ lạc cực tây là không rõ ràng do thiếu thông tin. Một số địa danh cổ xưa, như Deba, Butrón, Nervión, Zegama, có thể là của các dân tộc phi Basque tại một số điểm thời tiền sử. Các bộ tộc cổ xưa nhất được trích dẫn trong thế kỷ thứ 5, sau đó họ biến mất, chỉ còn Vascones, trong khi mở rộng vượt xa ranh giới cũ của mình, ví dụ tại các vùng đất hiện tại của Álava và dễ thấy nhất xung quanh Pyrenees và Novempopulania.
Lãnh thổ của Cantabri bao trùm có lẽ Biscay ngày nay, Cantabria, Burgos và ít nhất là một phần của Álava và La Rioja, tức là về phía tây của lãnh thổ Vascon vào thời Trung cổ, nhưng bản chất dân tộc của người này là không rõ ràng, do có thể có ảnh hưởng người Visigoth. Người Vascones chung quanh Pamplona, sau nhiều lần chiến đấu chống lại Franks và Visigoth, thành lập Vương quốc Pamplona (824), gắn bó chặt chẽ với những người bà con của họ Banu Qasi.
Tất cả các bộ tộc khác ở bán đảo Iberia, ở tầm vĩ mô, bị ngôn ngữ và văn hóa La Mã đồng hóa vào cuối thời kỳ La Mã hay đầu thời Trung cổ, trong khi người Basques tồn tại phía Đông vào vùng đất của Pyrenees (Pallars, Val d'Aran) từ thế kỷ 8 đến thế kỷ thứ 11.
Thời Trung cổ [sửa mã nguồn]
Vào đầu thời Trung cổ (cho đến thế kỷ thứ 9) lãnh thổ giữa các con sông Ebro và Garonne được biết đến như Vasconia, một khu vực dân tộc và chính thể mờ đấu tranh để chống lại chính quyền phong kiến Frankish từ phía bắc và áp lực của những người Visigoth Iberia và Andalusi Cordovans từ phía nam.
Bước sang thiên niên kỷ, tránh xa thẩm quyền của vương quyền Carolingian thiết lập chế độ phong kiến riêng Vasconia (để trở thành Gascony) phân tán thành vô số các quận và tiểu quận ví dụ Fezensac, Bigorre, Astarac, Béarn, Tartas, Marsan, Soule, Labourd, vv… trong hệ thống bộ lạc cũ và tiểu vùng (Quận Vasconia), trong khi phía nam dãy núi Pyrenees, bên cạnh Vương quốc Pamplona, Gipuzkoa, Álava và Biscay phát sinh tại các vùng đất hiện tại của miền Nam xứ Basque từ thế kỷ thứ 9 trở đi.
Các lãnh thổ phía Tây cam kết trung thành liên tục với Navarre trong giai đoạn đầu, nhưng được sáp nhập vào Vương quốc Castile vào cuối thế kỷ 12, vì vậy tước Vương quốc Navarre tiếp cận trực tiếp với vùng mênh mông. Vào cuối Trung cổ, những gia đình trọng yếu nằm rải rác trên toàn lãnh thổ Basque đã trở nên nổi bật, thường tranh giành quyền lực và gây ra cuộc chiến tranh đẫm máu giữa các nhánh, chỉ dừng lại bởi sự can thiệp của hoàng gia và sự thay đổi dần dần quyền lực từ nông thôn đến các thị trấn vào thế kỷ 16. Trong khi đó, tiểu quốc Labourd và Soule dưới quyền bá chủ của Anh cuối cùng đã kết hợp với Pháp sau chiến tranh Trăm năm, với Bayonne còn lại Plantagenet cuối cùng vào 1453.
== Chính trị ==
== Văn hóa ==
Ngôn ngữ:
Basque (/ bæsk / hoặc / bɑːsk /; Basque: Euskara, IPA: [eus̺kaɾa]) là một ngôn ngữ riêng rẽ của những người Basque. Người Basque là bản địa, chủ yếu sinh sống ở xứ Basque, một khu vực nằm giữa tây dãy núi Pyrenees và các bộ phận lân cận phía bắc Tây Ban Nha và tây nam nước Pháp. Ngôn ngữ Basque được nói bởi 27% người Basques trong các vùng lãnh thổ (714.135 người trên 2.648.998). Trong số này, 663.035 là ở các khu vực của Tây Ban Nha của Basque Country và số còn lại 51.100 là trong phần Pháp.
Người bản xứ sống trong một khu vực tiếp giáp khu vực bao gồm các bộ phận của bốn vùng lãnh thổ Tây Ban Nha và ba "tỉnh cổ" ở Pháp. Gipuzkoa, nhất Biscay, một vài thành phố của Álava, và các khu vực phía bắc của Navarre hình thành cốt lõi của khu vực còn nói Basque trước khi các biện pháp đã được giới thiệu trong năm 1980 để tăng cường ngôn ngữ. Ngược lại, hầu hết Álava, phần phía tây của Biscay và khu vực miền Trung và miền Navarre được chủ yếu là dân cư của người bản ngữ nói tiếng Tây Ban Nha, hoặc vì Basque đã được thay thế bằng tiếng Tây Ban Nha qua nhiều thế kỷ, ở một số vùng (hầu hết Álava và trung tâm Navarre), hoặc bởi vì nó đã có thể không bao giờ được nói ở đó, trong các khu vực khác (Encartaciones và đông nam Navarre).
Một cô lập ngôn ngữ, tiếng Basque được cho là một trong số ít tồn tại ngôn ngữ tiền Ấn-Âu ở châu Âu, và là tiếng duy nhất ở Tây Âu. Nguồn gốc của ngôn ngữ không được biết, mặc dù các lý thuyết được chấp nhận nhất là dạng đầu của Basque phát triển trước khi sự xuất hiện của các ngôn ngữ Ấn-Âu trong khu vực, bao gồm cả các ngôn ngữ Roman do địa lý bao quanh khu vực nói tiếng Basque. Basque đã thông qua một vay mượn tốt về từ vựng từ các ngôn ngữ Romance, và người nói Basque đã lần lượt cho mượn từ của riêng mình đến người nói tiếng Romance. Bảng chữ cái Tiếng Basque sử dụng chữ Latin.
== Xem thêm ==
ETA
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Basque Country tại Wikimedia Commons
Eusko Jaurlaritza/Basque Government
Hướng dẫn du lịch Basque |
bờ biển ngà.txt | Cộng hòa Côte d'Ivoire (phiên âm là Cốt Đi-voa giống cách phát âm của Côte d'Ivoire trong tiếng Pháp), trong tiếng Việt thường được gọi là Bờ Biển Ngà, là một quốc gia nằm ở Tây Phi. Bờ Biển Ngà có biên giới giáp với Liberia, Guinea, Mali, Burkina Faso, và Ghana về phía tây, bắc, đông, và nằm bên cạnh Vịnh Guinea về phía nam.
Dân số của Bờ Biển Ngà năm 1998 là 15.366.672 người , năm 2009 là 20.617.068 người.
Trước khi bị người châu Âu chiếm đóng, Bờ Biển Ngà bao gồm nhiều nước nhỏ như Gyaaman, Kong Empire, và Baoulé. Ngoài ra còn có hai vương quốc Anyi, đó là Indénié và Sanwi, những quốc gia đã cố gắng duy trì sự độc lập của mình trong suốt thời kì Pháp thuộc và kể cả về sau này, khi Bờ Biển Ngà đã giành được độc lập. Hiệp định 1843-1844 đã buộc Bờ Biển Ngà chấp nhận sự bảo hộ của Pháp và vào năm 1883, Bờ Biển Ngà trở thành một bộ phận của hệ thống thuộc địa của Pháp.
Bờ Biển Ngà tuyên bố độc lập vào ngày 7 tháng 8 năm 1960. Từ năm 1960 đến 1993, Bờ Biển Ngà được lãnh đạo bởi Félix Houphouët-Boigny. Trong giai đoạn này, Bờ Biển Ngà vẫn giữ mối liên kết mật thiết về kinh tế với các nước láng giềng Tây Phi cũng như các nước châu Âu, đặc biệt là Pháp. Tuy nhiên, sau giai đoạn lãnh đạo của Houphouët-Boigny, Bờ Biển Ngà đã trải qua hai cuộc đảo chính (1999 and 2001) và một cuộc nội chiến, bất chấp cuộc bầu cử và một hiệp định giữa chính phủ mới và nhóm nổi loạn được ký kết mang lại hòa bình cho Bờ Biển Ngà. Bờ Biển Ngà là nền cộng hòa hiện thân của sức mạnh hành pháp hoàn toàn nằm trong tay của tổng thống. Thủ đô về mặt pháp lý của Bờ Biển Ngà là Yamoussoukro và thành phố lớn nhất là thành phố cảng Abidjan. Bờ Biển Ngà có 19 vùng và 81 tỉnh. Bờ Biển Ngà là thành viên của Tổ chức Hội nghị Hồi giáo, Liên minh châu Phi, Cộng đồng Pháp ngữ, Liên minh Latin, Cộng đồng Kinh tế Tây Phi và Khu vực hòa bình và hợp tác Nam Đại Tây Dương.
Ngôn ngữ chính thức là tiếng Pháp nhưng Bờ Biển Ngà có rất nhiều thổ ngữ bao gồm tiếng Baoulé, tiếng Dioula, tiếng Dan, tiếng Anyin và tiếng Cebaara Senufo. Tôn giáo chính ở Bờ Biển Ngà là đạo Hồi, đạo Thiên Chúa và những tôn giáo bản địa khác.
Thông qua xuất khẩu cà phê và cacao, Bờ Biển Ngà là một nền kinh tế mạnh mẽ ở Tây Phi trong những năm 60 và 70 thế kỉ XX. Tuy nhiên, trong những năm 1980, Bờ Biển Ngà đã phải trải qua khủng hoảng kinh tế, khiến cho quốc gia này trở nên rối loạn về chính trị cũng như xã hội. Kinh tế Bờ Biển Ngà trong thế kỉ XXI vẫn chủ yếu giữa vào kinh tế tiểu chủ nông nghiệp.
== Từ nguyên học ==
Trong tiếng Việt, quốc gia này được gọi là Bờ Biển Ngà và trong nhiều ngôn ngữ khác cũng mang ý nghĩa tương tự: Elfenbeinküste trong tiếng Đức, Costa de Marfil trong tiếng Tây Ban Nha, Costa do Marfim trong tiếng Bồ Đào Nha, Ivoorkust trong tiếng Hà Lan, v.v. Vào tháng 10 năm 1985, Chính phủ nước này yêu cầu là nước được gọi Côte d'Ivoire trong mọi ngôn ngữ.
Mặc dù đã có quyết định của Chính phủ Côte d'Ivoire, "Bờ Biển Ngà" vẫn là tên phổ biến nhất trong tiếng Việt và Elfenbeinküste phổ biến trong tiếng Đức [1][2]. Tuy nhiên, các chính phủ sử dụng tên "Côte d'Ivoire" với lý do ngoại giao, còn cẩm nang về văn phong báo chí thường khuyên dùng tên "Bờ Biển Ngà".
== Lịch sử ==
=== Thuở sơ khai ===
Rất khó để xác định khi nào xuất hiện dấu vết đầu tiên của con người ở Bờ Biển Ngà bởi vì thời tiết ẩm ướt của Bờ Biển không cho phép lưu giữ tốt những vết tích như vậy. Tuy nhiên, sự hiện diện của các loại vũ khí thô sơ cũng như các công cụ rời rạc (đặc biệt là dấu vết của các lưỡi rìu được mài sắc trên đất sét và những gì còn sót lại của việc nấu nướng và đánh cá) chứng tỏ khả năng một số lượng lớn người đã sinh sống ở Bờ Biển Ngà là có thể trong giai đoạn Hậu đồ đá (từ năm 15.000 đến năm 10.000 trước CN), hoặc ít ra là trong giai đoạn Đồ đá mới.
Tuy nhiên, những cư dân đầu tiên của Bờ Biển Ngà đã để lại dấu vết chứng minh cho sự tồn tại của mình rải rác khắp nơi trên vùng đất này. Những nhà sử học đều tin rằng những cư dân đầu tiên đó đã được thay thế hoặc bij đồng hóa bởi tổ tiên của cư dân Bờ Biển Ngà hiện nay bắt đầu từ thế kỉ XVI, bao gồm người Ehotilé (Aboisso), người Kotrowou (Fresco), người Zéhiri (Grand Lahou), người Ega và người Diès (Divo).
=== Thời kỳ thuộc địa ===
Côte d'Ivoire là vùng đất hấp dẫn đối với các thương gia Pháp và Bồ Đào Nha từ thế kỉ 15. Họ đến đây để tìm kiếm ngà voi và nô lệ. Năm 1842, thực dân Pháp chiếm các vùng ven biển, thiết lập chế độ thuộc địa năm 1893 và sáp nhập vào lãnh thổ Tây Phi thuộc Pháp năm 1896. Năm 1934, Abidjan trở thành thủ đô, đất nước phát triển nhờ khai khẩn các đồn điền ca cao và cà phê, việc khai thác rừng được dễ dàng nhờ việc xây dựng đường sắt Abidjan-Niger kéo dài đến biên giới vùng Thượng Volta.
=== Độc lập ===
Côte d'Ivoire giành độc lập năm 1960. Côte d'Ivoire cùng Dahomay (Bénin), Niger và Burkina Faso thành lập đồng minh thuế quan năm 1959. Côte d’Ivoire là một trong những nước có nền kinh tế phát triển trong vùng châu Phi cận Sahara, đứng đầu thế giới về xuất khẩu ca cao, là một trong những nước xuất khẩu cà phê hàng đầu thế giới.
=== Houphouët-Boigny quản lý ===
Houphouët-Boigny trở thành Tổng thống sau khi đất nước độc lập (1960). Boigny tái đắc cử sáu lần và giữ chức này cho đến năm 1993. Lực lượng sinh viên, nông dân và thợ thuyền đã phản đối buộc Tổng thống phải hợp pháp hóa các đảng đối lập và tổ chức các cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng 10 năm 1990. Houphouet Boigny giành thắng lợi với 81% số phiếu.
Về chính trị, Houphouët-Boigny lãnh đạo Bờ Biển Ngà với chính sách "bàn tay sắt". Một số nhận xét mềm mỏng hơn cho rằng sự lãnh đạo của ông giống với hình thái "phụ quyền-gia trưởng". Không có tự do báo chí và chỉ có một chính đảng tồn tại. Điều này được một số người chấp nhận điều này như yêu cầu tất yếu nhằm mục đích tranh thủ lá phiếu của cử tri. Houphouët-Boigny cũng bị chỉ trích bởi những vấn đề liên quan các dự án quy mô lớn. Nhiều người cho rằng việc chi hàng triệu USD để cải tạo Yamoussoukro, quê hương của Houphouët Boigny, thành thủ đô mới là vô cùng lãng phí; một số người khác thì ủng hộ tầm nhìn của ông theo hướng phát triển thành phố này thành một trung tâm hòa bình, giáo dục và tôn giáo ngay giữa lòng Bờ Biển Ngà. Nhưng vào những năm đầu thập niên 80 của thế kỉ 20, suy thoái kinh té thế giới cộng với hạn hán đã tác động không nhỏ đến kinh tế Bờ Biển Ngà. Cùng với việc lạm dụng khai thác gỗ và đường bị rớt giá, nợ nước ngoài của Bờ Biển Ngà tăng lên gấp 3. Tội phạm gia tăng một cách đáng lo ngại ở Abidjan.
Vào năm 1990, hàng trăm cán bộ nhà nước và sinh viên gây bạo loạn để phản đối tình trạng tham nhũng đang hoành hành. Cuộc bạo loạn buộc chính phủ phải chuyển sang nền dân chủ đa đảng. Sức khỏe của Houphouët-Boigny ngày càng yếu và chết vào năm 1993. Ông đề cử Henri Konan Bédié là người kế nhiệm.
=== Bédié quản lý ===
Tháng 10 năm 1995, Bédié giành chiến thắng áp đảo trước phe đối lập rời rạc và thiếu tổ chức trong lần tái tranh cử. Bédié thắt chặt sự kiểm soát về chính trị, tống giam hơn 700 người ủng hộ phe đối lập. Tuy nhiên, kinh tế của Bờ Biển Ngà lại có những dấu hiệu khả quan như lạm phát giảm và chính phủ cố gắng xóa bỏ nợ nước ngoài.
Khác với Houphouët-Boigny, người chủ trương tránh những mâu thuẫn sắc tộc và để ngỏ một số vị trí trong bộ máy hành chính cho những người nhập cư từ các nước láng giếng, Bản mẫu:Bedié chú trọng vào quan điểm "Ivority" (tiếng Pháp: Ivoirité) để loại bỏ đối thủ của ông ta Alassane Ouattara, vốn có bố mẹ là người phía bắc Bờ Biển Ngà, khỏi cuộc đua vào chiếc ghế tổng thống. Tuy nhiên, chính sách loại bỏ người nước ngoài này đã làm căng thẳng mối quan hệ giữa các sắc tộc khác nhau ở Bờ Biển Ngà, vốn từ trước đến nay có số lượng dân nhập cư chiếm phần lớn trong tổng số dân của cả nước.
=== Đảo chính năm 1999 ===
Tương tự, Bédié đã loại bỏ nhiều đối thủ chính trị khỏi quân đội. Cuối năm 1999, một nhóm sĩ quan bất mãn với chính phủ đã tổ chức một cuộc đảo chính quân sự, đưa tướng Robert Guéï lên nắm quyền. Bédié bỏ trốn sang Pháp. Chính quyền mới đã giảm bớt tình hình tội phạm và tham nhũng, cùng với việc áp đặt giới nghiêm và vận động rộng khắp trên đường phố về một xã hội tiết kiệm hơn.
=== Gbagbo quản lý ===
Cuộc bầu cử tổng thống tháng 10 năm 2000 giữa hai ứng cử viên Laurent Gbagbo và Guéï diễn ra quyết liệt nhưng hòa bình. Sự kiện nổi bật tiếp theo cuộc bầu cử tổng thống được đánh dấu bằng cuộc bạo loạn của quân đội và dân chúng Bờ Biển Ngà. Cuộc bạo loạn đã khiến 180 người chết và Guéï phải nhường lại chiếc ghế cho Gbagbo. Tòa án tối cao Bờ Biển Ngà ra quyết định phế truất Alassane Ouattara vì gốc gác Burkinabé của ông ta. Hiến pháp Bờ Biển Ngà tại thời điểm đó cũng như dưới thời Guéï không cho phép người không đáp ứng đủ yêu cầu về quốc tịch đứng ra tranh cử tổng thống. Sự kiện này đã châm ngòi cho những xô xát bạo lực giữa người ủng hộ Alassane Ouattara, chủ yếu là cư dân đến từ phía bắc Bờ Biển Ngà, và cảnh sát chống bạo động ở thủ đô Yamoussoukro.
Mỗi bên đều tuyên bố thắng lợi trong cuộc bầu cử được cho là gian lận. Sự phản đối của nhân dân biến thành bạo động và buộc Tướng Guei rời khỏi nhóm quân đội nổí loạn mưu toan đảo chính. Tướng Guei và Bộ trưởng Bộ Nội vụ Doudou bị giết trong cuộc chiến giữa quân Chính phủ và phe nổi dậy. Tổng thống Laurent Gbagbo, đắc cử năm 2000, tố cáo Guei tiến hành đảo chính.
=== Đảo chính năm 2002 ===
Bờ Biển Ngà vẫn còn phải đối mặt với hậu quả của cuộc khủng hoảng chính trị trong đó đỉnh điểm là vụ đảo chính năm 1999, cuộc bầu cử Tổng thống đương nhiệm Laurent Gbagbo vào năm 2000 và cuộc xung đột vũ trang năm 2002 giữa phe nổi loạn và lực lượng chính phủ. Kể từ tháng 9 năm 2002, tình hình này đã dẫn tới sự di dân ồ ạt của gần 1,7 triệu người, phá huỷ cơ sở hạ tầng kinh tế và sự rối loạn hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước.
=== Chính phủ thống nhất 2003 ===
Cuộc chiến vẫn tiếp tục, ngay cả sau khi một hiệp định hòa bình do Pháp làm trung gian được ký kết tháng 1 năm 2003. Hiệp định này kêu gọi Chính phủ chia sẻ quyền lực với phe nổi dậy. Tình hình vẫn còn căng thẳng mặc dầu Tổng thống cam kết sẽ khôi phục dân chủ.
=== Hậu quả 2004 - 2007 ===
Trong năm 2007, những thành tựu nổi bật cũng đã được ghi nhận trong việc tái lập các thẻ chế của nước Cộng hoà này. Đây là kết quả của việc thực hiện Thoả thuận chính trị Ouagadougou ký ngày 4 tháng 3 năm 2007 giữa các bên liên quan đến cuộc khủng hoảng. Tuy nhiên, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc vẫn tỏ lo ngại về sự chậm trễ trong thực hiện tiến trình hoà bình tại Bờ Biển Ngà theo thoả thuân Ouagadougou. Đến nay, thời điểm dự định cuộc bầu cử Tổng thống vẫn chưa được ấn định.
== Các vùng và khu hành chính ==
Côte d'Ivoire được chia làm 19 vùng gồm:
Các vùng này lại được chia ra làm 58 khu hành chính.
=== Dân số ở các thành phố lớn ===
Thủ đô chính thức của Bờ Biển Ngà có dân số là Yamoussoukro (295.500 người), thành phố có dân số xếp thứ 4 trong cả nước. Abidjan, với dân số 3.310.500 người, là thành phố lớn nhất của Bờ Biển Ngà, là trung tâm thương mại và ngân hàng, thủ đô de facto của quốc giai này. Đây là thành phố có đông người nói tiếng Pháp nhất ở khu vực Tây Phi.
== Chính trị ==
Từ năm 1983, thủ đô chính thức của Bờ Biển Ngà là Yamoussoukro; tuy nhiên, Abidjan vẫn là trung tâm hành chính của cả nước. Hầu hết các quốc gia khác đều đặt Đại sứ quán tại Abidjan, ngoại trừ Đại sứ quán Vương quốc Anh đã chấm dứt nhiệm vụ vì những hành động bạo lực và những cuộc tấn công liên tiếp nhằm vào người châu Âu ở Bờ Biển Ngà. Người dân Bờ Biển Ngà lúc này vẫn phải chịu đựng bạo lực tiếp diễn do nội chiến. Các tổ chức quốc tế về nhân quyền đã ghi nhận Bờ Biển Ngà có những vấn đề về đối xử với dân thường bị bắt giữ của cả hai phe trong cuộc nội chiến này và sự tái trỗi dậy việc lạm dụng lao động nộ lệ trẻ em ở các đồn điền cacao. Mặc dầu chiến sự đã gần như chấm dứt vào năm 2004, nhưng Bờ Biển Ngà vẫn bị chia cắt thành hai phe, phía Bắc nămd dưới quyền kiểm soát của lực lượng "Chiến binh mới"(FN). Cuộc bầu cử tổng thống dự kiến diễn ra vào tháng 10 năm 2005 để đi đến một thỏa thuận giữa các phe phái đối địch đúng vào tháng 3 năm 2007, tuy nhiên cuộc bầu cử này vẫn bị trì hoàn nhiều lần ngay cả trong giai đoạn chuẩn bị.
Thể chế Cộng hoà Tổng thống
Các đảng phái chính trị lớn: Liên minh Dân chủ Công dân, Đảng Dân chủ Bờ Biển Ngà, Đảng Lao động Bờ Biển Ngà, Liên minh Dân chủ và Hoà bình, Mặt trận nhân dân Bờ Biển Ngà (Đảng của Tổng thống Gbagbo).
Từ khi độc lập cho đến năm 1990, Đảng Dân chủ luôn nắm quyền tại Bờ Biển Ngà. Tháng 11 năm 1990, cuộc bầu cử Quốc hội đa đảng đầu tiên được tổ chức (có 19 đảng đối lập tham gia) nhưng đảng Dân chủ của ông F.H Boigny vẫn giành đa số tuyệt đối và tiếp tục nắm quyền (148/175 ghế trong Quốc hội).
=== Tình hình chính trị – xã hội hiện nay ===
Ngày 28 tháng 11 năm 2010 đã diễn ra cuộc bầu cử Tổng thống vòng hai giữa hai ứng cử viên là ông Laurent Gbagbo, Tổng thống mãn nhiệm (lên nắm quyền từ năm 2000) và ông Alasane Ouattara, nguyên là Thủ tướng nước này. Ngày 2 tháng 12 năm 2010, Chủ tịch Ủy ban Bầu cử độc lập Bờ Biển Ngà chính thức thông báo kết quả bầu cử với việc ông Alasane Ouattara giành 54,10% số phiếu (được thế giới thừa nhận là Tổng thống) và ông Laurent Gbagbo giành 45,90% số phiếu. Tuy nhiên, Tổng thống mãn nhiệm Gbagbo đã tố cáo lực lượng phiến loạn miền Bắc nước này gian lận bầu cử và không công nhận kết quả trên. Vì vậy, bạo lực đã nổ ra giữa hai phe ủng hộ hai Tổng thống. Việc ông Gbagbo không chấp nhận thất bại đã đẩy nước này vào cuộc nội chiến với hàng nghìn người bị thiệt mạng và hàng triệu người dân phải chạy khỏi Bờ Biển Ngà. Sau 4 tháng không chịu nhượng bộ, dinh thự của ông Gbagbo đã bị quân đội của tổng thống đắc cử Alassane Ouattara tấn công hôm 11 tháng 4 và ông Gbagbo bị bắt giữ.
== Địa lý ==
Bờ Biển Ngà là một quốc gia Tây Phi hạ Sahara, bên vịnh Guinea, Đông giáp Ghana, Tây giáp Liberia và Guinea, Bắc giáp Mali và Burkina Faso. Địa hình được cấu tạo bởi các vùng cao nguyên và núi ở miền Tây; vùng Tây Bắc thoải dần về phía Nam gồm các vùng đồng bằng trầm tích và vùng duyên hải, bờ biển thấp và nhiều cát. Phía Nam chịu ảnh hưởng khí hậu xích đạo tạo điều kiện thích hợp cho các vùng rừng rậm phát triển và chuyển dần sang các khu rừng thưa và các đồng cỏ nhiệt đới ở phía Bắc.
== Kinh tế ==
Việc duy trì mối liên hệ chặt chẽ với Pháp sau khi giành độc lập từ năm 1960, tính đa dạng trong xuất khẩu nông nghiệp cũng như việc khuyến khích đầu tư của nước ngoài là những nhân tố chủ yếu của kinh tế Bờ Biển Ngà. Trong những năm trở lại đây, Bờ Biển Ngà phải đối mặt với sự rớt giá và cạnh tranh mạnh mẽ của cà phê và ca cao trên thị trường nông sản thế giới. Chính điều này cùng với tham nhũng trong nước cao khiến cho cuộc sống cũng như xuất khẩu của người nông dân ngày càng trở nên khó khăn hơn.
Bờ Biển Ngà là một nước có tài nguyên phong phú, đặc biệt có nhiều kim cương, măng gan và sắt.
Ngành công nghiệp, nông nghiệp của Côte d'Ivoire phát triển khá cân đối. Bờ Biển Ngà là nhà xuất khẩu hàng đầu thế giới về ca cao và từ vài năm nay nước này còn có thêm nguồn thu xuất khẩu từ dầu lửa ngoài khơi. Tuy nhiên thu nhập của Côte d'Ivoire vẫn dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp (70% dân số sống bằng nghề nông). Bên cạnh đó nền công nghiệp của Bờ Biển Ngà cũng khá phát triển như: công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng dệt, da, hoá chất, khai khoáng, sản phẩm gỗ, sửa chữa và đóng tàu.
Về ngoại thương, năm 2010, kim ngạch xuất khẩu của Bờ Biển Ngà đạt 10,25 tỷ USD với các sản phẩm ca cao, cà phê, gỗ, dầu lửa, bông, chuối, dứa, dầu cọ, cá. Các đối tác xuất khẩu chính gồm Hà Lan 13.92%, Pháp 10.75%, Mỹ 7.79%, Đức 7.2%, Nigeria 6.99%, Ghana 5.56%. Năm 2010, kim ngạch nhập khẩu của Bờ Biển Ngà đạt 7 tỷ USD với các mặt hàng chính là dầu thô, máy móc trang thiết bị, lương thực, thực phẩm. Do sản xuất lúa trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân nên mỗi năm, Bờ Biển Ngà phải mua khoảng 900.000 tấn gạo.
Các đối tác nhập khẩu chính gồm Nigeria 20.75%, Pháp 14.19%, Trung Quốc 7.18%, Thái Lan 5.09%.
Mặc dù trải qua gần 1 thập kỷ bất ổn chính trị nhưng Bờ Biển Ngà vẫn được xem là một trong những nền kinh tế hàng đầu khu vực Tây Phi. Với vị trí địa lý chiến lược, nguồn tài nguyên thiên nhiên, nông nghiệp, lâm nghiệp phong phú, nước này tiếp tục duy trì vai trò là nhà cung cấp hàng hoá và dịch vụ chính cho các nước láng giềng như Guinea, Mali, Burkina Faso… Cảng biển Abidjan và tuyến đường sắt nối Abidjan với thủ đô Ouagadouro (Burkina Faso) vẫn là tuyến đường xuất nhập cảnh ưu tiên, nhất là đối với những nước nằm sâu trong lục địa, mang lại nguồn thu ngoại tệ quan trọng cho ngân sách quốc gia.
GDP: 23,18 tỷ USD (2009)
Tỷ lệ tăng trưởng GDP: 3,8% (2009)
GDP bình quân đầu người: 1.100 USD (2009)
== Dân số ==
77% dân số là người Bờ Biển Ngà, bao gồm nhiều dân tộc va nhóm ngôn ngữ khác nhau. Ở Bờ Biền Ngà có khoảng 65 ngôn ngữ. Phổ biến nhất là tiếng Dyula, được dùng trong giao dịch buôn bán và những người Hồi giáo.
Tiếng Pháp, ngôn ngữ chính thức của Bờ Biển Ngà, được giảng dạy trong trường học và là ngôn ngữ được sử dụng giữa các nhóm dân tộc khác nhau. Bờ Biển Ngà có 3 nhóm tôn giáo chính đó là đạo Hồi, đạo Thiên Chúa và những người theo thuyết vật linh. Là một quốc gia có kinh tế ổn định ở khu vực Tây Phi nên Bờ Biển Ngà thu hút đến 3,4 triệu lao động đến từ các nước láng giềng như Liveria, Burkina Faso và Guinea, chiếm tới 20% dân số của Bờ Biển Ngà. Hơn 2/3 trong số những lao động này là người Hồi Giáo.
4% dân số Bờ Biển Ngà không phải là người gốc Phi. Họ là người Pháp, Liban, Việt Nam và Tây Ban Nha.
== Văn hóa ==
=== Văn học, nghệ thuật truyền thống và tượng hình, các công trình kiến trúc ===
Văn học Bờ Biển Nga rất đa dạng và phong phú từ phong cách cho đến những câu thành ngữ, tục ngữ có nguồn gốc tương đối vững chắc từ việc biên tập cho đến các tác giả có uy tín. Trong số những tác giả nổi tiếng, có thể kể đến Bernard Dadié, phóng viên, nhà văn, nhà soạn kịch, tiểu thuyết gia và cũng là nhà thơ đã thống trị văn đàn Bờ Biển Ngà ngay từ những năm 30 hay là Aké Loba (với L'Étudiant noir, 1960) và Ahmadou Kourouma (với Les Soleils des indépendances, 1968) đã nhận được giải thưởng Prix du Livre Inter vào năm 1998 cho tác phẩm mà đã trở thành kinh điển đối với văn học châu Phi En attendant le vote des bêtes sauvages.
Nét đặc trưng của nghệ thuật Bờ Biển Ngà xuất hiện trong nhiều vật dụng hàng ngày bằng các chất liệu đa dạng. Nghệ thuật này có mặt trên khắp đất nước, là minh chứng cho phong cách sống ở quốc gia này. Ví dụ như việc đan thúng, điêu khắc, chạm khắc gỗ, tạc tượng đã sử dụng rất nhiều chất liệu như gỗ, đồng, mây và tre...
Mặt nạ Dan, Baoulés, Gouros, Guérés và Bétés rất nổi tiếng ở Bờ Biển Ngà. Ngoài ra, nghề dệt tiếng tăm của những người Baoulés và những người Sénoufos đã trở thành bộ môn nghệ thuật hội họa trên nền vải. Những bức tượng nhỏ bằng đồng vốn xưa kia dùng để cân vàng nay lại được dùng làm vật trang trí, nhất là trong văn hóa Akan. Tuy nhiên, tất cả người dân Bờ Biển Ngà đều chia sẻ với nhau những vũ điệu truyền thống trên âm thanh của những nhạc cụ phổ biến như (tam-tams, balafon). Một số vũ điệu còn nổi tiếng khắp cả đất nước như: Temate của Facobly, Gouessesso và Danané, Boloye của vùng sénoufo, Zaouli của vùng gouro. Cũng nên nhắc đến những đồ sành sứ thủ công được chế tác bởi phụ nữ Bờ Biển Ngà, trong số đó nổi tiếng nhất là đồ sành sứ Katiola.
Di sản văn hóa này có sẵn và rất dồi dào. Rất nhiều tác phẩm truyền thống (đặc biệt là điêu khắc) được bày bán cho khách du lịch dừng chân ở các thành phố nghỉ mát nổi tiếng như Grand-Bassam hay Assinie. Một số khác còn được trưng bày trong các phòng triển lãm nghệ thuật hoặc tại viện bảo tàng văn hóa ở Abidjan.
Một số họa sĩ như Gilbert G. Groud và Michel Kodjo thường xuyên có những tác phẩm giá trị trong khi đó, mảng truyện tranh thuộc về Zohoré Lassane, họa sĩ phác thảo và cũng là người sáng lập ra tờ nhật báo hài hước và châm biếm Gbich !.
Có thể thấy ở Bờ Biển Ngà sự đa dạng trong những công trình lịch sử. Grand-Bassam, kinh đô đầu tiên của Bờ Biển Ngà chính là nơi tọa lạc của Dinh tổng trấn (Palais de Gouverneur), nơi đầu tiên chính quyền thuộc địa Pháp đặt trụ sở. Dinh thự này được sơ tác ở Pháp sau đó được xây dựng và hoàn thiện tại chính Bờ Biển Ngà vào năm 1983. Thành phố Grand-Bassam còn có khá nhiều công trình kiến trúc tuyệt đẹp theo lối kiến trúc thuộc địa kết hợp với chất liệu xây dựng bản địa như tòa nhà Varlet hay tòa nhà Ganamet thuộc về những thương gia giàu có.
Ở Abidjan, đại giáo đường Saint-Paul là một công trình kiến trúc rất đặc biệt có 2 mặt được làm hoàn toàn bằng kính theo dấu ấn của những người truyền giáo ở châu Phi. Ở Yamoussoukro, Nhà thờ Đức Bà hòa bình được khánh thành bởi Giáo hoàng Jean-Paul II vào năm 1990. Nhà thờ này cũng là phiên bản của Nhà thờ lớn Saint-Pierre ở Roma và có thể đón tiếp 18000 đứng trong điện. Hơn nữa, đó được coi là một trong những kiến trúc tôn giáo lớn nhất trên thế giới về chiều cao và diện tích. Người ta đã tiêu tốn khoảng 300 triệu USD để xây dựng côn trình kiến trúc này . Bên cạnh đó, còn phải nhắc đến tòa nhà của Quỹ hòa bình Félix Houphouët-Boigny nổi tiếng.
Ở phía Bắc đất nước, những kiến trúc Hồi giáo theo phong cách Sudan xuất hiện từ thời kì đế chế Mali ở thế kỉ 14 cũng rất đáng chú ý. Theo các chuyên gia, đáng kể nhất trong số đó là nhà thờ Kaouara (tỉnh Ouangolodougou), nhà thờ Tengréla, nhà thờ Kouto, nhà thờ Nambira, hai nhà thờ khác ở Kong đều mang giá trị văn hóa, kiến trúc, lịch sử nhất định..
=== Thể thao, truyền thông, giải trí ===
Người dân Bờ Biển Ngà rất ưa thích thể thao. Từ các sân golf ở Abidjan, Yamoussoukro và San-Pédro, Bờ Biển Ngà có thể tổ chức những cuộc thi đấu golf 9 lỗ hoặc 18 lỗ. Hằng năm, giải đấu golf quốc tế mở rộng mang tên Félix Houphouët Boigny vẫn diễn ra đều đặn ở Bờ Biển Ngà với sự tham gia của nhiều vận động viên chuyên nghiệp.
Những vùng phá và biển tạo cho Bờ Biển Ngà cơ hội phát triển nhiều môn thể thao dưới nước như lặn, lướt ván, đua thuyền buồm, canoe-kayak và bóng chuyền bãi biển. Đua ngựa và đua xe cũng rất phổ biến ở Bờ Biển Ngà. Bên cạnh đó còn có bóng ném, bóng rổ, bóng chuyền, bóng bầu dục, điền kinh và quần vợt.
Tuy nhiên, bóng đá luôn là môn thể thao số một ở Bờ Biển Ngà. Bóng đá thu hút nhiều người dân tham gia tập luyện, kể cả những khu vực hẻo lánh nhất của đất nước. Mỗi thành phố, thậm chí là mỗi khu phố đều tổ chức một giải đấu bóng đá riêng.
Liên đoàn bóng đá Bờ Biển Ngà đã tổ chức và đưa vào thi đấu giải bóng đá cấp quốc gia Bờ Biển Ngà. Trong giải đấu này, hai đội bóng là Africa Sports National và ASEC Mimosas luôn tỏ ra vượt trội so với các đội bóng còn lại. Rất nhiều cầu thủ Bờ Biển Ngà đang phát triển sự nghiệp ở nước ngoài trong những đội bóng danh giá nhất thế giới. Chính những cầu thủ thi đấu ở nước ngoài này là nguồn lực chính cho đội tuyển bóng đá quốc gia Bờ Biển Ngà ở các giải đấu quốc tế.
Trong quá khứ, với sự dẫn dắt của những cầu thủ như Ben Badi, Gadji Celi et Alain Gouaméné, bóng đá Bờ Biển Ngà đã đạt được những thành công nhất định. Đến thế hệ của Didier Drogba, Bờ Biển Ngà lần đầu tiên đã góp mặt tại vòng chung kết World Cup 2006.
Trong lĩnh vực truyền thông, Bờ Biển Ngà có đầy đủ các cơ quan phụ trách nghe nhìn, báo viết, kể cả các cơ quan quản lý chuyên nghiệp tuân theo sự điều hành của Ủy ban quốc gia về báo chí mà sau này là Hội đồng báo chí quốc gia (CNP), Hội đồng nghe nhìn quốc gia (CNCA) và một tổ chức tự quản giám sát đạo đức và tự do báo chí (OLPED).
Từ năm 1991, truyền thông của Bờ Biển Ngà được điều chỉnh bởi đạo luật số 91-1034 · · về hoạt động báo chí chuyên nghiệp. Đài phát thanh truyền hình Bờ Biển Ngà (RTI) thuộc về nhà nước, được hỗ trợ tài chính nhờ tiền bản quyền, quảng cáo và các nguồn ủng hộ khác. Bao gồm 2 kênh truyền hình và 2 trạm phát thanh: La Première, TV2 - kênh giải trí phát sóng trong khu vực bán kính 200 km ở Abidjan, Radio Côte d'Ivoire, Fréquence 2 - kênh giải trí, Radio Jam, kênh radio tư nhân đầu tiên của Bờ Biển Ngà; Africahit Music TV.
Nhiều đầu báo khác nhau phần lớn đều tập trung ở Abidjan. Ngoài Tập đoàn báo buổi sáng Bác Ái (Groupe Fraternité Matin) với khoảng 25000 ấn bản mỗi ngày, 15 đầu báo khác đều do các công ty tư nhân nắm giữ.
Âm nhạc của Bờ Biển Ngà pha trộn nhiều trào lưu khác nhau, trong đó có thể kể đến những nhạc sĩ tiên phong như Ziglibithy, Gbégbé, Lékiné hay nhóm những nhạc sĩ thuộc thế hệ thứ hai (Zouglou, Zoblazo, Mapouka,Youssoumba...) và nhóm nhạc sĩ thuộc trào lưu hiện đại (Coupé-décalé). Âm nhạc Bờ Biển Ngà là sự kết hợp của nhiều điệu nhạc khiêu vũ.
Hài kịch rất được ưa chuộng ở Bờ Biển Ngà, đặc biệt là tác phẩm trào phúng của Digbeu Cravate, Zoumana, Adjé Daniel, Gbi de Fer, Jimmy Danger, Doh Kanon, Adrienne Koutouan, Marie Louise Asseu, Adama Dahico, Bamba Bakary, duo Zongo và Tao sản xuất, biểu diễn trên sân khấu và truyền hình.
Năm 2004, với sự phát triển của công nghệ kĩ thuật số, điện ảnh Bờ Biển Ngà đã cho ra đời hàng loạt bộ phim như Coupé-décalé (Fadiga de Milano đạo diễn) hay Le Bijou du sergent Digbeu của Alex Kouassi, Signature của Alain Guikou hay là Un homme pour deux sœurs của Marie-Louise Asseu. Tính cho đến thời điểm hiện tại, trung bình cứ 3 tháng lại có một bộ phim được xuất xưởng. Những bộ phim này còn nhiều yếu kém về kĩ thuật (do hình ảnh hoặc âm thanh) nhưng sự hữu ích của công nghệ kĩ thuật số thật sự đã tạo ra bước ngoặt cho điện ảnh Bờ Biển Ngà.
Festival về nghệ thuật châu Phi Marché des arts du spectacle africain - MASA được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1993 bởi Tổ chức Pháp ngữ, đến tháng 3 năm 1998 đã nhanh chóng trở thành một chương trình có tính chất quốc tế nhằm phát triển những nghệ thuật hiện có tại châu Phi. Chương trình này là một dự án nghệ thuật liên quốc gia của châu Phi bao gồm một hội chợ về nghệ thuật trình diễn, một diễn đàn của những người làm nghệ thuật và một festival diễn ra hai năm một lần ở Abidjan..
Faya Flow là cuộc thi hip hop lớn nhất ở Bờ Biển Ngà. Được tổ chức bởi Hiệp hội Tuổi trẻ Hip hop Năng động (JACH, đọc là "jack") từ năm 2005, cuộc thi này nhằm mục đích thông qua hip hop tìm kiếm, phát hiện và giúp đỡ những tài năng ca hát và văn nghệ cho Bờ Biển Ngà.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Government
(tiếng Pháp) Présidence de la République de Côte d'Ivoire Official Site of the Ivoirian President
Embassy of Côte d'Ivoire in Japan government information and links
Embassy of Côte d'Ivoire in Scandinavia
Chief of State and Cabinet Members
General information
Country Profile from BBC News
Cote-D'Ivoire from the Encyclopaedia Britannica
Mục “Cote d'Ivoire” trên trang của CIA World Factbook.
Cote d'Ivoire from UCB Libraries GovPubs
Bờ Biển Ngà tại DMOZ
Wikimedia Atlas của Côte d'Ivoire, có một số bản đồ liên quan đến Côte d'Ivoire.
News
allAfrica – Côte d'Ivoire news headline links
Abidjan.Net news forum links
Tourism
Other
Cote D'Ivoire literature
Map of Côte d'Ivoire
(tiếng Pháp) Parti Ivoirien du Peuple
Akwaba in Ivory Coast
French intervention in Ivory Coast 2002–2003
Crisis briefing on Ivory Coast's recovery from war from Reuters AlertNet
Safer Access – A Precis of the Historical Security Context in Cote d'IvoirePDF (193 KiB) |
hàng châu.txt | Hàng Châu (chữ Hán: 杭州, bính âm: Hángzhōu, Wade-Giles: Hang-cho) là một thành phố nằm trong đồng bằng châu thổ sông Trường Giang của Trung Quốc, và là thủ phủ tỉnh Chiết Giang. Hàng Châu cách Thượng Hải 180 km về phía tây Nam, dân số vào năm 2004 của toàn bộ vùng Hàng Châu ("杭州市" - Hàng Châu thị) là khoảng 6,5 triệu người. Trong đó, khu vực nội thị vào năm 2003 có 3.931.900 người thường trú, và 2.636.700 người trong số này không có hộ khẩu. Số dân thường trú ở 6 quận chính trong thành phố là 1.910.000 người.
Là một thành phố nổi tiếng và thịnh vượng bậc nhất ở Trung Quốc từ khoảng 1000 năm trở lại đây, Hàng Châu được biết đến nhiều với phong cảnh thiên nhiên đẹp, trong đó có Tây Hồ (Xī Hú, 西湖). Nơi đây có lụa tơ tằm, trà xanh nổi tiếng ở Trung Quốc, nơi đây cũng có nghề dâu tằm tơ rất phát triển và cũng là nơi gắn liền với con đường tơ lụa nổi tiếng.
== Phân cấp hành chính ==
Hàng Châu bao gồm khu đô thị Hàng Châu (có 8 quận), 3 thành phố cấp huyện, và 2 huyện. 6 quận trung tâm có diện tích 682 km² và có dân số 1.910.000 người. 2 quận còn lại có diện tích 2.642 km² và có dân số 1.950.000.
Quận Củng Thự (拱墅区)
Quận Thượng Thành (上城区)
Quận Hạ Thành (下城区)
Quận Giang Can (江干区)
Quận Tây Hồ (西湖区)
Quận Tân Giang (滨江区)
Quận Dư Hàng (余杭区)
Quận Tiêu Sơn (萧山区)
Thành phố Lâm An (临安市)
Thành phố Phú Dương (富阳市)
Thành phố Kiến Đức (建德市)
Huyện Đồng Lư (桐庐县)
Huyện Thuần An (淳安县)
== Lịch sử ==
=== Thời kỳ đầu ===
Sau khi Bắc Tống bị Kim diệt, một hoàng tộc nhà Tống ở miền Nam lên ngôi vua kiến lập triều Nam Tống. Hàng Châu la kinh đô.===Thời Nam Tống===
=== Từ thời nhà Minh ===
== Địa lý và khí hậu ==
Hàng Châu nằm ở phía Bắc tỉnh Chiết Giang, miền Đông Trung Quốc, ở đầu cuối phía Nam của Kinh Hàng Đại Vận Hà ("大运河"), trên vùng đồng bằng châu thổ ở hạ lưu sông Dương Tử. Toàn bộ thành phố ngang tỉnh Hàng Châu trải dài về phía tây tiếp giáp với vùng núi của tỉnh An Huy, phía đông là một vùng bằng phẳng cạnh vịnh Hàng Châu. Thành phố được xây dựng bao quanh mặt phía đông và phía bắc của Tây Hồ ("西湖"), phía chính bắc sông Tiền Đường.
Hàng Châu có khí hậu cận nhiệt đới ẩm với 4 mùa rõ rệt. Nhiệt độ trung bình hàng năm của Hàng Châu là 16,2 °C (61,2 °F). Mùa hè nóng ẩm, trong khi mùa đông mát mẻ và khô hanh. Vào tháng 7, tháng nóng nhất trong năm, nhiệt độ trung bình xấp xỉ 33,8 °C (92,8 °F); vào tháng 1 nhiệt độ trung bình khoảng 3,6 °C (38,5 °F). Lượng mưa hàng năm là 1450 mm. Vào giữa mùa hè, Hàng Châu và nhiều thành phố khác của tỉnh Chiết Giang phải hứng chịu khá nhiều cơn bão từ biển Hoàng Hải, nhưng hiếm khi bị các cơn bão tấn công trực tiếp. Hầu hết các cơn bão này gây ảnh hưởng đến Hàng Châu sau khi tác động dọc bờ biển Chiết Giang.
== Du lịch ==
Hàng Châu nổi tiếng với những di tích lịch sử và thiên nhiên tươi đẹp. Thành phố này được xếp vào danh sách 10 thành phố đẹp nhất Trung Quốc. Mặc dù, trong thời gian gần đây nhiều khu đô thị mới được xây dựng, nó vẫn giữ được nhiều di sản lịch sử - văn hóa giá trị. Ngày nay, du lịch góp một phần quan trọng trong nên kinh tế của Hàng Châu. Một trong những danh thắng nổi tiếng nhất của Hàng Châu là Tây Hồ (chữ Hán:西湖). Tây Hồ có diện tích khoảng hơn 6 km vuông, bao gồm nhiều địa điểm du lịch nhỏ khác. Hàng Châu có một quần thể các địa điểm du lịch bao gồm các đền chùa cổ, khu phố cổ, cũng như cảnh quan thiên nhiên pha trộn vẻ đẹp của hồ và núi.
== Kinh tế ==
Nền công nghiệp truyền thống của Hàng Châu có tơ lụa, vải, và chế tạo máy, ngành điện tử và các ngành công nghiệp nhẹ khác đang phát triển khá mạnh mẽ, đặc biệt từ khi nền kinh tế mở cửa năm 1992.
Toshiba có kế hoạch sản xuất máy tính xách tay duy nhất ở nước ngoài tại đây.
Wahaha, công ty đồ uống nhà nước lớn nhất Trung Quốc có đại bản doanh đóng tại Hàng Châu.
Trà Long tỉnh (loại trà rất nổi tiếng của Trung Quốc), được chế biến tại thị trấn Long Tỉnh ở ngoại ô thành phố vẫn theo phương thức truyền thông, bằng tay được cho là loại trà xanh ngon nhất của Trung Quốc.
GDP đầu người của Hàng Châu vào khoảng $6.505 đô la Mỹ, đứng thứ 8 trong 659 thành phố của Trung Quốc.
Tạp chí Forbes trong các năm 2004, 2005, 2006 đã xếp Hàng Châu là thành phố kinh doanh tốt nhất tại Trung Quốc.
== Các trường đại học ==
=== Công lập ===
Đại học Chiết Giang (浙江大学) (thành lập năm 1898)
Học viện Mỹ thuật Chiết Giang (中国美术学院) (thành lập năm 1928)
Đại học Công nghệ Chiết Giang (浙江工业大学) (thành lập năm 1953)
Đại học Công nghiệp và Thương mại Chiết Giang (浙江工商大学)
Đại học Điện tử Hàng Châu (杭州电子科技大学)
Đại học Khoa học - Công nghệ Chiết Giang (浙江理工大学)
Đại học Kỹ nghệ Chiết Giang (浙江科技学院)
Đại học Y học Trung Quốc của Chiết Giang (浙江中医药大学)
Đại học Trung Quốc kế lượng (中国计量学院)
Đại học Tài chính - Kinh tê Chiết Giang (浙江财经学院)
Đại học Sư phạm Hàng Châu (杭州师范大学)
Đại học Truyền thông Chiết Giang (浙江传媒学院)
=== Tư lập ===
Đại học Thụ Nhân Chiết Giang (浙江树人大学)
Học viện Thành thị Chiết Giang (浙江大学城市学院)
== Thành ngữ ==
Hàng Châu xuất hiện trong câu thành ngữ khá nổi tiếng
Sinh ở Tô Châu, sống ở Hàng Châu, ăn ở Quảng Châu, chết ở Liễu Châu.
== Tham khảo == |
voa.txt | Voice of America (tiếng Anh, viết tắt VOA; cũng được gọi là Đài Tiếng nói Hoa Kỳ) là dịch vụ truyền thông đối ngoại chính thức của chính phủ Hoa Kỳ. Cùng với BBC, đây là một trong các đài nổi tiếng nhất về phát thanh quốc tế.
== Lịch sử ==
VOA được thành lập năm 1942 thuộc Văn phòng Thông tin thời chiến với những chương trình tuyên truyền nhằm vào khu vực châu Âu bị chiếm đóng bởi Đức và khu vực Bắc Phi. VOA bắt đầu phát thanh vào ngày 24 tháng 2 năm 1942. Các trạm phát sóng được VOA sử dụng lúc đó là các trạm phát sóng ngắn của Hệ thống phát thanh Columbia (CBS) và Công ty phát thanh quốc gia (NBC). Đài Tiếng nói Hoa Kỳ bắt đầu phủ sóng phát thanh trên lãnh thổ Liên Xô vào ngày 17 tháng 2 năm 1947.
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, VOA được đặt dưới quyền giám sát của Cơ quan Thông tin Hoa Kỳ. VOA khi đó dính dáng đến các chương trình phát thanh mang tính tuyên truyền. Vào thập niên 1980, VOA tăng thêm dịch vụ truyền hình cũng như các chương trình khu vực đặc biệt nhắm vào Cuba như Radio Marti và TV Marti.
VOA hiện nay nằm dưới sự quản lý của Ủy ban Phát thanh Quốc tế (IBB), là một bộ phận của Ủy ban Phát thanh chính quyền (BBG). Điều này dẫn đến sự tranh cãi về mức độ độc lập của các chương trình thông tin của VOA đối với các đường lối chính sách của chính quyền (Hoa Kỳ).
== Hoạt động ==
IBB sử dụng một loạt mạng lưới truyền thông trên toàn thế giới. Các trạm trong nước đặt tại Greenville ở Bắc Carolina và Delano ở California. Bên ngoài Mỹ, IBB có trạm tiếp vận đặt tại Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Hy Lạp, Philippines, São Tomé và Príncipe, Kuwait và Thái Lan.
VOA là một trong những cơ quan dưới quyền của Hội đồng quản lý phát sóng (BBG). BBG là một cơ quan thuộc chính phủ Hoa Kỳ và được chính phủ Hoa Kỳ tài trợ kinh phí hoạt động:
Theo luật pháp Hoa Kỳ thì Đài Tiếng nói Hoa Kỳ bị cấm phát thanh trực tiếp tới công dân Mỹ. Nhiều phát thanh viên của đài này như Willis Conover, Pat Gates và Judy Massa đã trở thành nổi tiếng trên toàn thế giới nhưng họ lại không được biết đến ngay tại chính đất nước mình. Tuy vậy các chương trình của VOA trên sóng ngắn và Internet có thể nghe được tại Mỹ.
Đài Tiếng nói Hoa Kỳ hiện nay phát thanh bằng hơn 50 thứ tiếng, bao gồm cả tiếng Anh đặc biệt (tiếng Anh với từ vựng và ngữ pháp được đơn giản hóa).
Địa chỉ của Đài Tiếng nói Hoa Kỳ là 330 Independence Avenue, Washington, D.C., 20547.
Nhạc hiệu của đài là bài "Yankee Doodle," được chơi bởi ban nhạc đồng và gõ, tiếp theo là thông báo: "This is the Voice of America, signing on" (Đây là Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, bắt đầu). Bài "Columbia, Gem of the Ocean" ("Columbia, hòn ngọc đại dương") đã từng được dùng làm nhạc hiệu trong nhiều năm.
Các đài phát thanh "anh em" với VOA, được quản lý bởi IBB hoặc trực tiếp bởi một cơ quan thuộc chính phủ Hoa Kỳ mang tên Hội đồng quản lý phát sóng (BBG):
Radio Marti nhằm vào Cuba
Radio Sawa nhằm vào các thính giả trẻ của thế giới Ả Rập
Radio Free Europe/Radio Liberty và Radio Free Asia nhằm vào các nước Xã hội chủ nghĩa cũ và các nước mà họ xem là "bị áp bức" tại châu Âu, châu Á và Trung Đông
== Ngôn ngữ ==
Đài VOA hiện phát bằng 45 ngôn ngữ (có chương trình truyền hình được đánh dấu *):
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
BBC
RFA
RFI
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức VOA
VOA tiếng Việt
Đài Á Châu Tự Do (có thể không truy cập được từ Việt Nam) |
chứng nhận xuất xứ.txt | Giấy chứng nhận xuất xứ (tiếng Anh: Certificate of Origin, thường viết tắt là C/O) là một tài liệu sử dụng trong thương mại quốc tế nhằm xác định quốc gia xuất xứ của hàng hóa.
== Giới hạn về tính xuất xứ ==
Về mặt lịch sử, đây là một giấy chứng nhận hàng hóa được đưa lên tàu, có xuất xứ từ một quốc gia nào đó. Nhưng tính "xuất xứ" trong một C/O không nghiễm nhiên đồng nghĩa với quốc gia xuất hàng, mà đó phải là quốc gia đã thực sự sản xuất/chế tạo hàng hóa đó. Việc này nảy sinh, khi hàng hóa không được sản xuất từ 100% nguyên liệu của quốc gia xuất hàng, hoặc quá trình chế biến và giá trị gia tăng không xuất phát từ một quốc gia duy nhất.
Thông thường, nếu hơn 50% giá hàng bán ra xuất phát từ một nước thì nước đó được chấp nhận là quốc gia xuất xứ. Theo nhiều hiệp ước quốc tế khác, các tỉ lệ khác về mức nội hóa cũng được chấp nhận.
Khi các nước tham gia các hiệp ước thương mại, họ có thể chấp nhận giấy Chứng nhận xuất xứ hàng hóa từ một khối thương mại (ví dụ như EU, Bắc Mỹ), thay vì một quốc gia cụ thể.
== Ý nghĩa ==
Chứng từ C/O có thể không được coi là một chứng từ chính thức, khi nó được chính người xuất khẩu cấp. Thông thường, nước nhập khẩu sẽ yêu cầu nhà nhập khẩu trình chứng nhận xuất xứ do một cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu cấp. Trong nhiều trường hợp, việc sử dụng chứng từ chính thức là bắt buộc, ví dụ như đối với vận tải hàng theo Hiệp ước Tự do Thương mại Bắc Mỹ hoặc để nhận được ưu đãi thuế quan từ các nước nhập khẩu về việc nhập hàng sản xuất/chế biến từ các nước kém phát triển tới các nước phát triển (thường được gọi là C/O mẫu A hay GSP form A, viết tắt từ Generalized System of Preferences Form A C/O: C/O form A của Hệ thống ưu đãi phổ cập).
Chứng nhận xuất xứ đặc biệt quan trọng trong phân loại hàng hóa theo quy định hải quan của nước nhập khẩu và vì vậy sẽ quyết định thuế suất thuế nhập khẩu hàng hóa. C/O cũng quan trọng cho áp dụng hạn ngạch nhập khẩu và thống kê, đặc biệt là với hàng thực phẩm. C/O cũng có thể quan trọng trong các quy định về an toàn thực phẩm.
Trước khi kết thúc giao địch hợp đồng, nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu nên xác định rõ là có cần C/O không, mẫu C/O nào, nội dung gì.
Chứng nhận nhập khẩu ưu đãi là một chứng từ xác nhận hàng hóa trong một lô hàng cụ thể có xuất xứ nhất định theo các định nghĩa của một Hiệp ước thương mại tự do song phương hay đa phương nào đó. Chứng nhận này do các cơ quan hải quan của nước nhập khẩu sử dụng để quyết định liệu lô hàng nhập khẩu đó có được hưởng các ưu đãi theo các khu vực thương mại hoặc liên đoàn hải quan đặc biệt như EU hay NAFTA hay trước khi các biện pháp thuế chống phá giá được áp dụng.
Khái niệm "nước xuất xứ" và "xuất xứ ưu đãi" khác nhau. Liên minh châu Âu thường xác định nước xuất xứ không được ưu đãi thông qua địa điểm nơi có giai đoạn sản xuất lớn diễn ra trong quá trình sản xuất sản phẩm. (Theo thuật ngữ luật: "biến đổi lớn cuối cùng").
Một sản phẩm có xuất xứ ưu đãi hay không phụ thuộc vào các quy định mà một Hiệp ước thương mại tự do cụ thể áp dụng. Các quy định này có thể dựa theo giá trị hoặc dựa theo mức thuế và được gọi là "Quy định về xuất xứ". Quy định về xuất xứ của bất kỳ Hiệp ước Thương mại Tự do sẽ quyết định một quy tắc cho mỗi sản phẩm được sản xuất dựa theo mã xác định danh mục thuế chung. Mỗi quy tắc sẽ cung cấp nhiều lựa chọn để xác định liệu sản phẩm có xuất xứ ưu đãi hay không. Mỗi quy tắc cũng sẽ kèm theo quy tắc loại trừ trong đó xác định các trường hợp mà sản phẩm đó không được hưởng bất kỳ ưu đãi nào.
Một ví dụ điển hình về quy tắc theo giá trị có thể có dạng: nguyên liệu thô, nhập khẩu từ các nước không phải là thành viên FTA, sử dụng trong sản xuất và không vượt quá 25% giá trị xuất xưởng (Ex-work) của hàng thành phẩm (trị giá của hàng hóa tại cổng nhà máy).
Một ví dụ điển hình về quy tắc theo mức thuế có thể có dạng: không bao gồm nguyên liệu thô, nhập khẩu từ các nước không phải là thành viên của FTA này, sử dụng trong sản xuất mà có thể có cùng mã danh mục thuế với thành phẩm.
== Tham khảo == |
danh sách khoáng vật.txt | Đây là danh sách các khoáng vật. Một số khoáng vật có nhiều tên gọi khác nhau được chú thích (nhóm khoáng vật).
== A ==
Các dạng không được xếp
Agat (một dạng của thạch anh)
Alabaster (một dạng của thạch cao)
Alexandrit (một dạng của chrysoberyl)
Allingit (một dạng của hổ phách)
Alum
Amazonit (một dạng của microclin)
Amber (hổ phách)
Ametit (một dạng của thạch anh)
Ammolit (hữu cơ; cũng được xem là đá quý)
Amosit (một dạng của amphibol)
Anyolit (đá biến chất - zoisit, hồng ngọc, và hornblend)
Aquamarin (một dạng của beryl - ngọc lục bảo)
Asbest (một dạng của amphibol)
Avalit (một dạng của Illit)
Aventurin (Một dạng của thạch anh)
== B ==
Các dạng không được xếp:
Bauxit (quặng nhôm)
Beckerit (nhựa tự nhiên)
Bixbit (một dạng của beryl đỏ)
== C ==
Các dạng không được xếp:
Carnelian (một dạng của thạch anh)
Canxedon (dạng ẩn tinh của thạch anh)
Chrysolit (forsterit màu vàng xanh)
Chrysopras (nicken lục chứa canxedon)
Chrysotil (tên nhóm asbest serpentine)
Citrin (thạch anh vàng)
Cleveite
Coltan (khoáng vật thuộc nhóm columbit)
Crocidolit (asbest riebeckit)
Cymophan (một dạng của chrysoberyl)
== D ==
Danburit
Datolit
Davidit
Dawsonit
Delvauxit
Descloizit
Diadochit
Diaspor
Dickit
Digenit
Diopsid
Dioptas
Djurleit
Dolomit
Domeykit
Dumortierit
Các dạng không được xếp:
Delessit (magnesian chamosit magiê)
Diatomit (tảo diatomit)
== Đ ==
Đồng tự sinh
== E ==
== F ==
Các loại không được xếp:
Fassait một dạng của augit
Ferricret trầm tích được gắn kết bở sắt ôxít
== G ==
Các dạng không được xếp:
Gedanit (nhưa hóa thạch)
Glessit (nhựa tự nhiên)
== H ==
Các dạng không được xếp:
Heliodor (Beryl màu vàng lục)
Heliotrop (Một dạng của canxedon)
Hiddenit (một dạng của spodumen)
Hyalit (một dạng của opan)
== I ==
Idocras (tên gọi khác của vesuvianit)
Idrialit
Ikait
Illit
Ilmenit
Ilvait
Iodargyrit
Istisuit
Ivanukit
== J ==
Jacobsit
Jadarit
Jadeit
Jamesonit
Jarosewichit
Jarosit
Jeffersonit
Jerrygibbsit
Juonniit
Jurbanit
Các dạng không được xếp:
Jad (khoáng vật màu lục hoặc là jadeit hoặc là maphibol nephrit)
Jasper (một dạng của thạch anh)
Jet (gỗ hóa thạch)
== K ==
Các dạng không được xếp:
Keilhauit (một dạng của titan)
Krantzit (nhựa tự nhiên)
Kunzit (một dạng của spodumen)
== L ==
Các dạng không được xếp:
Lapis lazuli (đá chứa chủ yếu lazurit, canxít và pyrit)
Larimar (pectolit xanh dương)
Lechatelierit (thủy tinh thạch anh)
Lignit (một loại than)
Limonit -(mineraloid)
Lodeston (tên gọi khác của magnetit)
Lublinit một dạng canxít
== M ==
Các dạng không được xếp:
Magnesia
Mariposit (một dạng của mica trắng phengit)
Menilit (một dạng của opan)
Meerschaum (một dạng của sepiolit)
Milky quartz (thạch anh ám khói)
Morganit (beryl hồng)
Morion (tên gọi khác của thạch anh ám khói)
== N ==
Các dạng không được xếp:
Ngọc lục bảo (beryl màu lục)
== O ==
Oligocla
Olivin (nhóm khoáng vật silicat)
Olivenit
Omphacit
Ordonezit
Oregonit
Orpiment
Orthochrysotil
Orthoclas
Osarizawait
Osmium
Osumilit
Otavit
Ottrelit
Overit
Các dạng không được xếp nhóm:
Onyx (một nhánh của canxedon)
Opan
== P ==
Các dạng không được xếp:
Palagonit (thủy tinh núi lửa đá bazan)
Perlit (thủy tinh núi lửa)
Phosphorit (apatit dạng khối lẫn tạp chất)
Plessit (gồm kamacit và taenit)
Pitchblend (unranit dạng khối lẫn tạp chất)
Pumicit (tên gọi khác của pumice)
== Q ==
Quenstedtit
== R ==
Các dạng không được xếp nhóm:
Tinh thể đá (thạch anh)
Thạch anh hoa hồng
Roumanit (hổ phách)
== S ==
Các dạng không được xếp:
Sa phia (corundum có màu trừ màu đỏ)
Sard (một dạng của canxedon/thạch anh)
Satinspar (một dạng của thạch cao)
Smoky quartz (a brown or black variety of quartz)
Soapston (đá)
Spectrolit (một dạng của labradorit)
Stantienit (một dạng của hổ phách)
== T ==
Các dạng không được xếp:
Tanzanit (một dạng của Zoisit)
Thạch anh
Thulit (một dạng của Zoisit)
Travertin (một dạng của cacbonat canxi)
Tsavorit (một dạng của granat)
== U ==
Uchucchacuait
Uklonskovit
Ulexit
Ullmannit
Ulvospinl
Umangit
Umber
Umbite
Upalit
Uraninit
Uranophan
Uranopilit
Uvarovit
Các dạng không được xếp:
Ultramarin
Unakit, đá có thành phần gồm fenspat, epidot và thạch anh
Uralit actinolit
== V ==
Vaesit
Valentinit
Vanadinit
Vàng
Variscit
Vaterit
Vauquelinit
Vauxit
Vermiculit
Vesuvianit
Villiaumit
Violarit
Vivianit
Volborthit
== W ==
== X ==
Xenotim
Xifengit
Xonotlit
== Y ==
Ye'elimit
Yttrialit
Yttrocerit
Yttrocolumbit
== Z ==
== Xem thêm ==
Danh sách các đá quý
Danh sách các loại đá
Các khoáng vật công nghiệp
Đá quý
Địa chất học
Khoáng vật học
Đá
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Minerals.net - Vương quốc đá quý và khoáng vật
Mindat.org - Cơ sở dữ liệu khoáng vật |
ngữ chi thái.txt | Ngữ chi Thái (Tai) (còn gọi là ngữ chi Tráng-Thái) là một ngữ chi thuộc hệ ngôn ngữ Tai-Kadai. Ngữ chi này bao gồm các ngôn ngữ như tiếng Tráng, tiếng Bố Y, tiếng Thái Lặc, tiếng Thái Na (tại Trung Quốc), tiếng Thái (tại Thái Lan), tiếng Lào, tiếng Shan, tiếng Tày, tiếng Nùng v.v.
== Phân loại ==
=== Haudricourt (1956) ===
André-Georges Haudricourt phân loại các ngôn ngữ Tai thành hai nhánh với Tai Trung tâm và Tai Tây Nam là hai tiểu nhánh của cùng một nhánh, trong khi Tai Bắc là một nhánh độc lập.
=== Lý Phương Quế (1977) ===
Lý Phương Quế (Li Fang-Kuei, 李方桂) chia các ngôn ngữ Tai thành ba nhánh: Tai Bắc, Tai Trung tâm và Tai Tây Nam. Hệ thống phân loại này được xem là mô hình chuẩn trong lĩnh vực ngôn ngữ học so sánh các ngôn ngữ Tai.
=== Gedney (1989) ===
William J. Gedney (1989) xem Tai Trung tâm và Tai Tây Nam là hai tiểu nhánh của cùng một nhánh, trong khi Tai Bắc là một nhánh độc lập.
=== Luo (2001) ===
Luo Yongxian (2001) nhận ra đặc điểm khác biệt của Tai Dehong (Tai Nüa) và cho rằng ngôn ngữ này nên được xếp vào một nhánh riêng Tai Tây Bắc. Luo cho rằng nhánh Tai Tây Bắc có nhiều đặc điểm của Tai Trung tâm và Tai Bắc mà không thấy ở Tai Tây Nam.
=== Pittayawat Pittayaporn (2009) ===
Trong luận văn tiến sĩ 2009, Pittayawat Pittayaporn phân loại các ngôn ngữ Tai như sau:
== Phục Nguyên ==
Tai Nguyên Thủy được phục nguyên bởi Lý Phương Quế năm 1977 và Pittayawat Pittayaporn năm 2009.
Tai Tây Nam Nguyên Thủy được phục nguyên bởi Lý Phương Quế năm 1977 và bởi Nanna L. Jonsson năm 1991.
== Liệt kê ngôn ngữ ==
Các ngôn ngữ thuộc ngữ chi Tai được liệt kê dưới đây dựa trên SIL International:
Trung bộ:
Tiếng Tráng phương nam (sử dụng mã ccy)
Tiếng Tráng Nghiễn Quảng (zhn)
Tiếng Tráng Đức Tĩnh (zyg)
Tiếng Tráng Minz (zgm)
Tiếng Tráng Ung Nam (zyn)
Tiếng Tráng Tả Giang (zzj)
Tiếng Tráng Văn Ma (zhd)
Ngũ Sắc thoại (eee) (Trung Quốc)
Tiếng Sán Chay (Cao Lan) (mlc) (Việt Nam)
Tiếng Nùng (nut) (Việt Nam)
Tiếng Lào Bóc (Lào Noi, Ts'ün-Lao) (tsl) (Lai Châu, Việt Nam)
Tiếng Tày (tyz) (Việt Nam)
Trung đông bộ
Tây bắc bộ
Tiếng Đồ Long (Turung) (try) (Ấn Độ) (tuyệt chủng)
Bắc bộ
Tiếng Tráng phương bắc (dùng mã ccx)
Tiếng Tráng Quế Biên (zgn)
Tiếng Tráng Liễu Giang (zlj)
Tiếng Tráng Khâu Bắc (zqe)
Tiếng Tráng Quế Bắc (zgb)
Tiếng Tráng Hữu Giang (zyj)
Tiếng Tráng Trung Hồng Thủy Hà (zch)
Tiếng Tráng Đông Hồng Thủy Hà (zeh)
Tiếng Tráng Liễu Kiềm (zlq)
Tiếng Tráng Ung Bắc (zyb)
Tiếng Tráng Liên Sơn (zln)
Tiếng Bố Y (pcc) (Trung Quốc/Việt Nam)
Tiếng Thái Mạn (Tai Mène) (tmp) (Lào)
Yoy (yoy) (Thái Lan)
Rien (rie) (Lào)
Tây nam bộ
Tiếng Thái Nhã (Tai Ya) (cuu) (Trung Quốc)
Trung đông bộ
Chiang Saeng
Phuan (phu) (Thái Lan)
Tiếng Thái Đỏ (Thái Đăng, Thái Mộc Châu, Tai Daeng) (tyr) (Việt Nam)
Tiếng Thái Đam (Thái Đen, Táy Mười) (blt) (Thái Lan, Lào, Việt Nam)
Tiếng Thái Đoan (Tay Đón, Táy Khao, Thái Tráng) (twh) (Việt Nam)
Tiếng Thái Hàng Tổng (Hàng Tổng, Tày Mường) (thc) (Việt Nam)
Tiếng Tày Tạc (Tay Tac/Tai Tac) (tyt) (Việt Nam)
Tiếng Thái (tha) (Thái Lan)
Tiếng Lào Tống (Lao Song, Lao Song Dam, Song) (soa) (Thái Lan)
Tiếng Thái Bắc bộ (nod) (Thái Lan)
Thu Lao (tyl) (Trung Quốc, Việt Nam)
Lào - Phu Thái
Tiếng Lào (lao) (Lào)
Tiếng Nyaw (nyw) (Thái Lan)
Tiếng Phu Thái (pht) (Thái Lan)
Tiếng Isan (tts) (Thái Lan)
Tây bắc
Tiếng Ahom (A Hoắc Mỗ) (aho) (Ấn Độ) (tuyệt chủng)
Tiếng Aiton (Ngải Thông) (aio) (Ấn Độ)
Tiếng Thái Lặc (Thái Tây Song Bản Nạp) (khb) (Trung Quốc)
Tiếng Khamti (Khảm Đề) (kht) (Myanma)
Tiếng Khün (Thái Ngân) (kkh) (Myanma)
Tiếng Khamyang (Khảm Dương) (ksu) (Ấn Độ)
Tiếng Phake (phk) (Ấn Độ)
Tiếng Shan (shn) (Myanma)
Tiếng Thái Na (Thái Đức Hoành) (tdd) (Trung Quốc)
Tiếng Padi (pdi) (Trung Quốc)
Tiếng Phổ Cách (Puko) (puk) (Lào)
Nam bộ
Tiếng Thái phương nam (sou) (Thái Lan)
Tiếng Thái Long (thi) (Lào)
Tiếng Thái Thanh (Táy Thanh, Thanh, Tai Man Thanh)(tmm) (Việt Nam)
Tiếng Tày Sa Pa (tys) (Việt Nam)
Chưa phân loại:
Tiếng Thái Hồng Kim (phân tán tại vùng thung lũng Hồng Hà và Kim Sa giang) (tiz) (Trung Quốc)
Yong (yno) (Thái Lan)
Tay Khang (tnu) (Lào)
Tai Pao (tpo) (Lào)
Tiếng Thái Quỳ Châu (Tay Do, Tay-Jo, Tay Yo, Tay Muoi, Tay Quỳ Châu) (tyj) (Việt Nam)
Chưa phân loại:
Tiếng Kuan (uan) (Lào).
Có tác giả cho là tiếng Saek (skb) thuộc nhóm Bắc bộ của ngữ chi Thái. Cũng có tác giả coi tiếng Ông Bối (Lâm Cao) thuộc về ngữ chi Thái.
== Tham khảo == |
đội tuyển bóng đá quốc gia liban.txt | Đội tuyển bóng đá quốc gia Liban là đội tuyển cấp quốc gia của Liban do Hiệp hội bóng đá Liban (FLFA) quản lý. Liên đoàn được ngài Nassif Majdalani, người được coi như là cha đẻ của nền thể thao Liban thành lập vào năm 1933. Một năm sau đó đội tuyển quốc gia Liban có trận đấu đầu tiên, gặp đội bóng Altak đến từ Rumani tại Beirut. Liban cũng chính thức trở thành thành viên của FIFA ngay từ năm 1936. Nhưng do cuộc nội chiến kéo dài từ năm 1975 cho đến năm 1991 khiến bóng đá tại quốc gia này không có được sự phát triển trong điều kiện thuận lợi nhất. Đội tuyển chưa bao giờ vượt qua được vòng loại của một kỳ World Cup. Giải đấu quốc tế lớn duy nhất họ được góp mặt là Cúp bóng đá châu Á 2000 với tư cách nước chủ nhà.
Tuy nhiên, tại vòng loại World Cup 2014 khu vực châu Á, Liban đã gây bất ngờ lớn. Sau trận đại bại 0–6 trước Hàn Quốc tại Goyang, Liban đã thăng hoa trở lại. Họ đã bất ngờ thắng UAE 3–1, hòa Kuwait tại Beirut 2–2, đánh bại chính Kuwait tại thành phố Kuwait 1–0, và đặc biệt nhất là chiến thắng 2–1 trước đối thủ mạnh Hàn Quốc. Kết thúc vòng loại thứ 3, họ đứng nhì bảng và giành quyền dự vòng loại cuối cùng của World Cup 2014. Tuy nhiên, đội kết thức ở vị trí cuối bảng với 5 điểm, thắng 1, hòa 2 và thua 5, ghi được 3 bàn thắng và bị thủng lưới 12 bàn.
== Danh hiệu ==
Vô địch cúp Ả Rập: 0
Hạng ba: 1963
Hạng tư: 1964; 1966
== Thành tích ==
=== Cấp thế giới ===
==== World Cup ====
=== Cấp châu lục ===
==== Cúp bóng đá châu Á ====
==== Á Vận Hội ====
(Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1998)
=== Cấp khu vực ===
==== Giải vô địch bóng đá Tây Á ====
==== Cúp bóng đá Ả Rập ====
1963 - Hạng ba
1964 - Hạng tư
1966 - Hạng tư
1985 - Không tham dự
1988 - Vòng bảng
1992 - Không tham dự
1998 đến 2012 - Vòng bảng
== Cầu thủ ==
=== Đội hình hiện tại ===
Đội hình dưới đây được triệu tập tham dự vòng loại Asian Cup 2019 gặp Hồng Kông vào ngày 28 tháng 3 năm 2017.
Cập nhật thống kê đến ngày 28 tháng 3 năm 2017 sau trận gặp Hồng Kông.
=== Triệu tập gần đây ===
== Huấn luyện viên trưởng ==
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Đội tuyển bóng đá quốc gia Liban trên trang chủ của FIFA |
hồng kông.txt | Hồng Kông (tiếng Trung: 香港; Hán-Việt: Hương Cảng), là một Đặc khu hành chính thuộc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH), nằm trên bờ biển Đông Nam của Trung Quốc. Trong khi phần lớn tên các thành phố của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được Latinh hóa bằng cách sử dụng bính âm thì tên tiếng Anh chính thức của Hồng Kông vẫn là Hong Kong chứ không phải Xiānggǎng. Hồng Kông là một trong hai đặc khu hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (đặc khu hành chính còn lại là Ma Cao). Lãnh thổ này, gồm hơn 260 hòn đảo, nằm về phía Đông của Đồng bằng châu thổ Châu Giang, giáp với tỉnh Quảng Đông về phía Bắc và nhìn ra biển Đông ở phía Đông, Tây và Nam.
Hồng Kông từng là một lãnh thổ phụ thuộc của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland từ năm 1842 đến khi chuyển giao chủ quyền cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997. Tuyên bố chung Trung-Anh và Luật Cơ bản của Hồng Kông quy định rằng Hồng Kông được hưởng một quy chế tự trị cao cho đến ít nhất là năm 2047 - 50 năm sau khi chuyển giao chủ quyền. Dưới chính sách một quốc gia, hai chế độ, Chính quyền Trung ương chịu trách nhiệm về mặt quốc phòng và ngoại giao của lãnh thổ này còn Hồng Kông thì duy trì phần lớn chế độ chính trị, hệ thống pháp luật, lực lượng cảnh sát, chế độ tiền tệ, chính sách hải quan, chính sách nhập cư, hệ thống xuất bản, báo chí, hệ thống giáo dục của Anh, và các đại biểu trong các tổ chức, đảng phái, và sự kiện quốc tế.
== Lịch sử ==
=== Thời kỳ tiền thuộc địa ===
Các nghiên cứu khảo cổ học đã xác nhận về sự hiện diện của loài người tại khu vực Xích Liệp Giác từ 35.000 đến 39.000 năm trước đây, và tại bán đảo Tây Cống từ 6.000 năm trước đây. Hoàng Địa Động và Xí Lĩnh Hạ Hải là hai địa điểm mà loài người cư trú sớm nhất trong Thời đại đồ đá cũ. Người ta tin rằng Xí Lĩnh Hạ Hải từng là một điểm dân cư thung lũng sông và Hoàng Địa Động từng là một nơi chế tạo đồ đá. Các hiện vật thời đại đồ đá mới được khai quật cho thấy sự khác biệt văn hóa với văn hóa Long Sơn ở miền bắc Trung Quốc và cho thấy sự định cư của người Xá (輋族) trước khi người Bách Việt di cư đến. Đã phát hiện ra tám bãi đá khắc trên các đảo xung quanh, chúng có niên đại từ thời nhà Thương tại Trung Quốc.
Năm 214 TCN, Tần Thủy Hoàng, hoàng đế đầu tiên của Trung Quốc, đã chinh phục các bộ lạc Bách Việt tại khu vực Lưỡng Quảng và lần đầu tiên sáp nhập các lãnh thổ này vào đế quốc Trung Hoa. Hồng Kông khi đó thuộc về Nam Hải quận và ở gần thủ phủ Phiên Ngung. Sau khi nhà Tần sụp đổ vào năm 204 TCN, khu vực được hợp nhất vào vương quốc Nam Việt do tướng Triệu Đà lập ra. Khi Hán Vũ Đế tiến hành chinh phục Nam Việt vào năm 111 TCN, khu vực được quy thuộc vào Giao Chỉ bộ của nhà Hán. Bằng chứng khảo cổ cho thấy dân số đã tăng lên và lĩnh vực sản xuất muối ban đầu đã phát triển mạnh mẽ trong thời kỳ này. Cổ mộ Lý Trịnh Ốc tại bán đảo Cửu Long được cho là xây dựng từ thời nhà Hán.
Trong thời kỳ nhà Đường, khu vực Quảng Đông đã phát triển mạnh mẽ rồi trở thành một trung tâm thương mại khu vực. Năm 736, Đường Huyền Tông đã cho thiết lập một đồn quân sự tại Đồn Môn để phòng thủ khu vực ven biển trong vùng. Trường làng đầu tiên, Lực Doanh thư viện, đã được thành lập vào khoảng năm 1075 tại Tân Giới dưới thời Bắc Tống. Khi bị người Mông Cổ xâm lược vào năm 1276, triều đình Nam Tống đã chuyển đến Phúc Kiến, sau đó đến đảo Lạn Đầu và rồi lại đến Tống Vương Đài (nay là Cửu Long Thành), tuy nhiên Tống Đế Bính nhỏ tuổi đã phải nhảy xuống biển tự vẫn cùng các quan của mình sau khi bị đánh bại trong trận Nhai Môn. Hầu Vương, một viên quan của Tống đế Bính nay vẫn được thờ tại Hồng Kông.
Theo các tài liệu, người khách châu Âu đầu tiên đến khu vực Hồng Kông là một nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha mang tên Jorge Álvares, vào năm 1513. Sau khi thiết lập nên các điểm định cư trong khu vực, các thương gia Bồ Đào Nha bắt đầu mua bán ở miền Nam Trung Quốc. Cùng thời gian đó, họ đã tiến hành xâm chiếm và xây dựng công sự quân sự tại Đồn Môn. Các xung đột quân sự giữa Trung Quốc và Bồ Đào Nha đã khiến người Bồ Đào Nha bị trục xuất. Vào giữa thế kỷ 16, lệnh Hải cấm nghiêm cấm các hoạt động hàng hải và ngăn chặn việc tiếp xúc với người ngoại quốc; luật này cũng hạn chế hoạt động trên biển của địa phương. Năm 1661–69, lãnh thổ bị ảnh hưởng từ Thiên giới lệnh do Khang Hy Đế ban hành, lệnh này yêu cầu thực hiện việc di tản tại các vùng ven biển của Quảng Đông. Sử sách đã ghi lại rằng có 16.000 người từ Tân An huyện đã bị buộc phải di dời vào trong nội địa, và 1.648 trong số những người dời đi đã quay trở lại khi quy định tản cư bị bãi bỏ vào năm 1669. Lãnh thổ mà nay là Hồng Kông phần lớn trở thành đất hoang do lệnh cấm. Năm 1685, Khang Hy Đế cho mở cửa việc giao dịch hạn chế với người ngoại quốc, bắt đầu từ đất Quảng Châu. Ông cũng áp đặt các điều kiện nghiêm ngặt đối với mậu dịch như yêu cầu các thương nhân ngoại quốc sinh sống tại các khu vực bị hạn chế, chỉ được ở lại trong thời gian mua bán, cấm buôn bán súng, và chỉ được dùng bạc trong thanh toán. Công ty Đông Ấn Anh đã thực hiện chuyến đi biển đầu tiên đến Trung Quốc vào năm 1699, và việc mua bán với các thương nhân người Anh đã phát triển nhanh chóng ngay sau đó. Năm 1711, công ty thiết lập trạm thông thương đầu tiên của họ tại Quảng Châu. Năm 1773, người Anh đã đạt mốc 1.000 rương thuốc phiện tại Quảng Châu và Trung Quốc đã đạt mốc tiêu thụ 2.000 rương mỗi năm trong năm 1799.
=== Thời kỳ thực dân Anh ===
Năm 1839, do triều đình nhà Thanh từ chối nhập khẩu thuốc phiện, giữa Đại Thanh và nước Anh đã nổ ra Chiến tranh Nha phiến. Đảo Hồng Kông bị quân Anh chiếm vào ngày 20 tháng 1 năm 1841 và ban đầu được nhượng cho nước Anh theo thảo ước Xuyên Tị như là một phần của thỏa thuận ngừng bắn giữa Đại tá hải quân Charles Elliot và tổng đốc Lưỡng Quảng Kỳ Thiện (琦善), song thỏa thuận này đã không bao giờ được phê chuẩn do tranh cãi giữa các quan chức cấp cao của cả hai chính phủ. Phải cho đến ngày 29 tháng 8 năm 1842, hòn đảo mới chính thức bị nhượng lại vĩnh viễn cho nước Anh theo Điều ước Nam Kinh. Người Anh đã thiết lập nên một thuộc địa vương lĩnh bằng việc xây dựng Victoria City vào năm sau.
Dưới sự cai trị của người Anh, dân số đảo Hồng Kông tăng từ 7.450 cư dân người Hán, chủ yếu là ngư dân, vào năm 1841 lên 115.000 người Hán và 8.754 người Âu tại Hồng Kông (bao gồm Cửu Long) vào năm 1870.
Năm 1860, sau khi nhà Thanh thất bại trong Chiến tranh Nha phiến lần thứ hai, bán đảo Cửu Long và đảo Ngang Thuyền Châu bị nhượng lại vĩnh viễn cho nước Anh theo Điều ước Bắc Kinh.
Năm 1894, đại dịch dịch hạch chết chóc đã lan từ Trung Quốc sang Hồng Kông, gây ra 50.000–100.000 ca tử vong.
Năm 1898, theo các điều khoản của Hiệp định về Mở rộng chỉ giới Hồng Kông, nước Anh thu được quyền thuê đảo Lạn Đầu và các vùng đất lân cận ở phía bắc trong vòng 99 năm, các khu vực này được gọi chung với tên gọi "Tân Giới". Từ đó, lãnh thổ Hồng Kông không thay đổi.
Trong nửa đầu thế kỷ 20, Hồng Kông là một cảng tự do, có chức năng như một trung tâm xuất nhập khẩu (entrepôt) của Đế quốc Anh. Người Anh đã đưa đến Hồng Kông một hệ thống giáo dục dựa trên mô hình của họ, trong khi đó, những cư dân người Hán bản địa ít tiếp xúc với cộng đồng người Âu "đại ban" giàu sang định cư gần đỉnh Victoria.
=== Nhật Bản xâm lược ===
Ngày 8 tháng 12 năm 1941, Đế quốc Nhật Bản đã xâm lược Hồng Kông như một phần của chiến dịch quân sự trong Chiến tranh thế giới lần thứ hai. Trận Hồng Kông kết thúc với việc các lực lượng bảo hộ Anh và Canada giao nộp quyền kiểm soát thuộc địa này cho Nhật Bản ngày 25 tháng 12. Trong thời kì Nhật Bản chiếm đóng Hồng Kông, người dân ở đây đã phải gánh chịu nạn thiếu lương thực do sự áp đặt khẩu phần gây ra và nạn siêu lạm phát do áp đặt tỷ giá của quân đội Nhật. Năm 1945, khi Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tiếp tục kiểm soát thuộc địa này sau thất bại của Nhật Bản trong cuộc chiến, dân số Hồng Kông còn khoảng 600 nghìn so với 1,6 triệu người trước khi Nhật xâm chiếm.
=== Thời kỳ Chiến tranh Lạnh ===
Dân số Hồng Kông phục hồi nhanh chóng sau chiến tranh, khi một làn sóng dân nhập cư từ đại lục đến để tị nạn khỏi cuộc Nội chiến Trung Quốc đang diễn ra. Với việc thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1949, nhiều người nhập cư tìm đến Hồng Kông vì sợ sự ngược đãi của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nhiều công ty ở Thượng Hải và Quảng Châu cũng chuyển hoạt động đến Hồng Kông. Thuộc địa này đã trở thành nơi liên lạc duy nhất giữa Trung Quốc và thế giới phương Tây khi chính quyền mới ở Trung Quốc tăng cường cô lập đất nước khỏi ảnh hưởng từ bên ngoài. Thương mại với đại lục bị gián đoạn trong thời kì Chiến tranh Triều Tiên khi Liên Hiệp Quốc đã ra lệnh cấm vận thương mại đối với Trung Quốc.
Ngành dệt và chế tạo đã phát triển với sự trợ giúp của sự tăng trưởng dân số và giá nhân công thấp. Khi Hồng Kông được công nghiệp hóa nhanh, nền kinh tế của Hồng Kông đã được thúc đẩy nhờ xuất khẩu ra thị trường quốc tế. Mức sống tăng ổn định cùng với sự tăng trưởng công nghiệp. Việc xây dựng thôn Thạch Giáp Vĩ năm 1953 đánh dấu sự bắt đầu của chương trình public housing estate (khu chung cư công cộng). Hồng Kông bị phá hoại bởi những hỗn loạn trong các cuộc bạo loạn năm 1967. Những người cánh tả thân cộng sản, lấy cảm hứng từ cuộc Cách mạng Văn hóa ở đại lục, đã biến một cuộc tranh chấp lao động thành một cuộc nổi dậy bạo động chống lại chính quyền thuộc địa kéo dài cho đến cuối năm.
Được thành lập năm 1974, Ủy ban Độc lập chống Tham nhũng đã làm giảm mạnh mẽ nạn tham nhũng của chính quyền. Khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa khởi xướng một công cuộc cải cách kinh tế năm 1978, Hồng Kông đã trở thành một nguồn đầu tư nước ngoài chủ yếu cho đại lục. Một Đặc khu Kinh tế đã được thành lập năm sau ở Thâm Quyến, một thành phố nằm ở ngay phía Bắc của biên giới giữa đại lục và Hồng Kông. Nền kinh tế của Hồng Kông đã dần thay thế từ ngành dệt may và chế tạo bằng dịch vụ, khi các lĩnh vực tài chính và ngân hàng đã trở nên chiếm ưu thế ngày càng tăng. Sau cuộc Chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975, chính quyền Hồng Kông đã trải qua 25 năm xử lý vấn đề hồi hương người tị nạn Việt Nam.
Khi thời hạn cho thuê Tân Giới chuẩn bị kết thúc trong hai thập kỉ, chính phủ hai nước Trung Quốc và nước Anh đã thảo luận vấn đề chủ quyền Hồng Kông vào thập niên 1980. Năm 1983, nước Anh tái xác định Hồng Kông từ một thuộc địa vương lĩnh thành một lãnh thổ phụ thuộc, chính phủ nước Anh và nước Anh đã sẵn sàng thảo luận về vấn đề chủ quyền Hồng Kông do thời hạn thuê Tân Giới sắp hết. Năm 1984, hai nước đã ký Tuyên bố chung Trung-Anh, đồng ý chuyển chủ quyền Hồng Kông cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997. Tuyên bố này quy định rằng Hồng Kông sẽ được quản lý như một đặc khu hành chính, được giữ lại các luật lệ của mình và một mức độ tự trị cao trong 50 năm sau khi chuyển giao. Do thiếu tin tưởng vào thỏa thuận này, nhiều cư dân của Hồng Kông đã chọn di cư khỏi Hồng Kông, đặc biệt sau Sự kiện Quảng trường Thiên An Môn năm 1989.
Luật Cơ bản của Hồng Kông, có vai trò như một văn bản hiến pháp sau cuộc bàn giao chủ quyền, đã được phê chuẩn năm 1990. Với sự phản đối mạnh mẽ từ Bắc Kinh, Thống đốc Chris Patten đã đưa ra các cải cách về quá trình tự bầu cử vào Hội đồng Lập pháp Hồng Kông.
=== Sau năm 1997 ===
Việc chuyển giao chủ quyền Hồng Kông đã được thực hiện vào giữa đêm ngày 1 tháng 7 năm 1997, đánh dấu bằng lễ chuyển giao tại Trung tâm Hội nghị và Triển lãm Hồng Kông. Đổng Kiến Hoa đã nhậm chức Trưởng Đặc khu Hành chính Hồng Kông đầu tiên. Khoảng 10% người dân Hồng Kông đã di dân sang nước khác trước khi Hồng Kông được trả lại cho Trung Quốc vì không muốn sống dưới quyền cai trị của Trung Quốc.
Nền kinh tế của Hồng Kông đã chịu ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997. Dịch cúm gia cầm do H5N1 gây ra cũng xuất hiện ở Hồng Kông vào năm đó. Việc thực hiện Airport Core Programme dẫn đến việc khai trương Sân bay Quốc tế Hồng Kông mới năm 1998, sau 6 năm xây dựng. Dự án này là một phần của Chiến lược Phát triển Cảng và Sân bay đầy tham vọng được dự thảo trong thập niên 1980.
Năm 2003, một nửa triệu người tham gia vào cuộc tuần hành biểu thị phản đối chính quyền của Đổng Kiến Hoa và đề xuất thi hành Điều 23 Luật Cơ bản, mà trước đó đã nêu lên các lo ngại về sự vi phạm các quyền và sự tự do. Đề xuất này sau đó bị chính quyền Hồng Kông huỷ bỏ. Năm 2005, Đổng Kiến Hoa đệ đơn từ chức Trưởng Đặc khu. Tăng Âm Quyền, Trưởng Ty Hành chính, đã được chọn làm Trưởng Đặc khu để hoàn thành nốt nhiệm kì của Đổng Kiến Hoa. Năm 2012, Lương Chấn Anh kế nhiệm chức Trưởng Đặc khu. Cuộc thăm dò hàng năm của Đại học Hồng Kông vào cuối tháng 12 năm 2012 cho thấy hơn 70% những người được hỏi ý kiến nói rằng họ tự nhận là người Hồng Kông chứ không phải là người Trung Quốc và người đứng đầu cuộc thăm dò đã bị ông Hách Thiết Xuyên, đặc sứ cao cấp của Trung Quốc, công khai đả kích. Báo chí trích lời ông Hách nói rằng Hồng Kông không phải là một thực thể chính trị độc lập.
== Địa lý ==
Hồng Kông chủ yếu bao gồm Đảo Hồng Kông, Đại Nhĩ Sơn, Bán đảo Cửu Long và Tân Giới. Bán đảo Cửu Long gắn liền với Tân Giới về phía Bắc và Tân Giới nối về phía Bắc và cuối cùng nối với Trung Hoa Đại Lục qua con sông Thâm Quyến. Tổng cộng, Hồng Kông bao gồm một tập hợp 262 hòn đảo ở biển Đông, trong đó Đại Nhĩ Sơn là đảo lớn nhất. Đảo Hồng Kông là đảo lớn thứ hai và đông dân nhất. Áp Lợi Châu là một trong các đảo có mật độ dân số cao nhất thế giới.
Tên gọi "Hồng Kông" (xuất phát từ "Hương Cảng", tiếng Quảng Đông đọc là Hướng Coỏng, có nghĩa là "cảng thơm", lấy từ khu vực ngày nay là Aberdeen nằm trên đảo Hồng Kông, nơi các sản phẩm từ gỗ hương và hương một thời được buôn bán. Vùng nước hẹp tách đảo Hồng Kông và bán đảo Cửu Long là bến cảng Victoria, một trong những hải cảng tự nhiên sâu nhất thế giới.
Dù Hồng Kông đã đô thị hóa cao, lãnh thổ này cũng đã có những nỗ lực tăng cường môi trường cây xanh. Phần lớn lãnh thổ vẫn giữ không phát triển do các khu vực này phần lớn là đồi núi với các sườn dốc. Trong 1104 km² của lãnh thổ, chỉ ít hơn 25% là phát triển. Phần diện tích đất còn lại chủ yếu là không gian cây xanh với khoảng 40% đất được dành cho công viên thôn quê và các khu dự trữ thiên nhiên. Phần lớn sự phát triển đô thị của lãnh thổ hiện hữu ở bán đảo Cửu Long, dọc theo các bờ biển phía Bắc của đảo Hồng Kông và ở khu định cư rải rác khắp Tân Giới.
Bờ biển dài và không thẳng của Hồng Kông đã tạo cho lãnh thổ này nhiều vịnh, sông và bãi biển. Dù lãnh thổ này có mật độ cây xây cao và nằm ven biển, ý thức môi trường vẫn tăng lên khi bầu không khí của Hồng Kông được xếp vào hàng một trong những nơi ô nhiễm nhất. Khoảng 80% khói của thành phố xuất phát từ các vùng khác của đồng bằng Châu Giang.
Hồng Kông cách Ma Cao 60 km về phía Đông, về phía đối diện của Đồng bằng châu thổ Châu Giang và giáp với thành phố đặc khu Thâm Quyến thuộc tỉnh Quảng Đông về phía Bắc. Đỉnh cao nhất của lãnh thổ này là Đại Mạo Sơn, với độ cao 958 m trên mực nước biển. Các vùng đất thấp nằm ở phần Tây Bắc của Tân Giới.
== Khí hậu ==
Khí hậu Hồng Kông thuộc kiểu cận nhiệt đới và chịu ảnh hưởng của gió mùa. Vào mùa đông khí hậu lạnh hơn và khô từ tháng 12 đến đầu tháng 3 dương lịch và nóng, ẩm và mưa vào mùa xuân đến mùa hè. Vào mùa thu trời nắng và khô. Hồng Kông thường có khí xoáy tụ nhiệt đới vào mùa hè và mùa thu. Hệ sinh thái của Hồng Kông chịu ảnh hưởng của sự thay đổi khí hậu này. Khí hậu của Hồng Kông theo mùa là do các hướng gió thay đổi giữa mùa đông và mùa hè. Về mặt địa chất, Hồng Kông đã ổn định hàng triệu năm nay, dù các vụ lở đất vẫn thường xảy ra, đặc biệt là sau các cơn mưa dông lớn. Hệ động thực vật ở Hồng Kông thay đổi theo sự thay đổi của khí hậu, mực nước biển và ảnh hưởng của con người. Nhiệt độ cao nhất ghi nhận được ở Hồng Kông là 38°C (98,0°F) còn nhiệt độ thấp nhất ghi nhận được là -4 °C (25,0 °F). Nhiệt độ trung bình trong tháng lạnh nhất là tháng một là 16,1 °C (61,0 °F) còn nhiệt độ trung bình trong tháng nóng nhất là tháng 7 là 28,7 °C (83.7 °F).
Lãnh thổ tọa lạc về phía Nam của hạ chí tuyến tương đương với vĩ độ của Hawaii. Về mùa Đông, các cơn gió mạnh và lạnh thổi từ phía Bắc làm thành phố trở nên lạnh; về mùa hè, hướng gió thay đổi mang theo không khí ẩm và ấm từ phía Tây Nam. Khí hậu lúc này phù hợp với rừng mưa nhiệt đới.
== Chính trị và chính quyền ==
Theo Luật Cơ bản và văn bản hiến pháp của Hồng Kông, chính quyền địa phương Hồng Kông nắm giữ chủ quyền lãnh thổ ngoại trừ lĩnh vực quốc phòng và ngoại giao. Chỉ có Trưởng Đặc khu, người đứng đầu lãnh thổ và là người đứng đầu chính quyền là được bầu chọn bởi Ủy ban Bầu cử Trưởng Đặc khu bao gồm 800 thành viên. Tất cả các viên chức khác của chính quyền, bao gồm các thành viên của các cơ quan hành pháp và lập pháp đều hoặc là được Trưởng Đặc khu bổ nhiệm (trực tiếp hay ủy nhiệm) hoặc được cử tri bầu ra. Trên lý thuyết, việc quy định này đảm bảo Hồng Kông được quản lý hầu như độc lập khỏi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và có thể gìn giữ được hạ tầng cơ sở kinh tế, pháp luật, văn hóa độc nhất của mình.
Các luật của Hồng Kông chỉ có hiệu lực khi được Trưởng Đặc khu Hành chính phê chuẩn và sự đồng thuận đa số của 60 đại biểu của Hội đồng Lập pháp Hồng Kông, hay LegCo. Bất chấp đặc điểm thường được cho là không dân chủ của chính quyền Hồng Kông, một nửa số ghế của LegCo' được bầu cử thông qua phổ thông đầu phiếu với nửa kia được chọn thông qua công năng giới biệt (tiếng Anh: functional constituencies) bao gồm các nghiệp đoàn và các nhóm lợi ích đặc biệt. Luật Cơ bản đảm bảo rằng tất cả các ghế cuối cùng sẽ được bầu thông qua phổ thông đầu phiếu.
Tăng Âm Quyền giữ chức Trưởng Đặc khu sau khi ông được bầu cử ngày 16 tháng 6 năm 2005 bởi một hội đồng bầu cử được bổ nhiệm bởi Bắc Kinh. Trước cuộc chuyển giao năm 1997, Tằng đã giữ chức Trưởng Ty Hành chính dưới thời người Anh quản lý. Ông đã nhậm chức ngày 24 tháng 6 và theo kế hoạch sẽ kết thúc phần còn lại của nhiệm kì cuối của Đổng Kiến Hoa kết thúc vào ngày 30 tháng 6 năm 2007 phù hợp với Phụ lục I và Điều 46 ban hành bởi Uỷ ban Thường vụ Hội nghị Hiệp thương Nhân dân Trung Hoa.
Việc Hội đồng Bầu cử 852 thành viên bầu chọn một Trưởng Đặc khu mới diễn ra vào ngày 10 tháng 7 năm 2005. Ngày 16 tháng 6 năm 2005, Tăng Âm Quyền được tuyên bố là người giành chiến thắng vì ông là ứng cử viên duy nhất đảm bảo nhận được 100 phiếu của Hội đồng Bầu cử. Đổng Kiến Hoa, Trưởng Đặc khu đầu tiên nhậm chức ngày 1 tháng 7 năm 1997 sau một cuộc bầu cử Bởi một Hội đồng Bầu cử 400 thành viên. Đối với nhiệm kì thứ hai kéo dài 5 năm bắt đầu từ tháng 6 năm 2002, Đổng là ứng cử viên duy nhất được giới thiệu do đó là người đắc cử.
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã lập nên một Hội đồng Lập pháp Lâm thời (PLC) năm 1996 ngay trước ngày chuyển giao, khi Hội đồng này đã chuyển đến Hồng Kông và họp sau cuộc chuyển giao. Hội đồng này đã xem xét lại một số luật được Hội đồng Lập pháp thông qua bằng phổ thông đầu phiếu từ năm 1995. PLC đã thông qua một số luật mới như Sắc lệnh Trật tự công cộng, yêu cầu sự cho phép của cảnh sát khi tổ chức một cuộc biểu tình có số người tham gia vượt quá 30 người. Cuộc bầu cử Hội đồng Lập pháp được tổ chức vào ngày 24 tháng 5 năm 1998, ngày 10 tháng 9 năm 2000 và tiếp theo là ngày 12 tháng 9 năm 2004, với cuộc bầu cử tiếp theo diễn ra vào năm 2008. Theo Luật Cơ bản, "hiến pháp-mini" của Hồng kông, nhiệm kì thứ ba hiện tại của Hội đồng Lập pháp có 25 ghế được bầu cử theo đơn vị bầu cử địa phương (geographical constituencies) và 30 ghế từ công năng giới biệt. Các cuộc bầu cử Hội đồng Lập pháp năm 1998, 2000 và 2004 đã diễn ra tự do, mở và tranh luận rộng rãi dù có một số bất mãn của một số nhà chính trị chủ yếu là 'ủng hộ dân chủ', những người tranh luận rằng các cuộc bầu cử công năng giới biệt năm 1998 và 2000 là không dân chủ vì họ cho răng khu vực cử tri cho những ghế này là quá hẹp.
Ngành dân chính của Hồng Kông vẫn duy trì chất lượng và tính trung lập như truyền thống trong thời thuộc địa, hoạt động mà không có chỉ đạo rõ rệt từ Bắc Kinh. Nhiều hoạt động của chính quyền và hành chính thực hiện ở khu vực trung tâm của Đảo Hồng Kông gần địa điểm lịch sử của Thành phố Victoria, khu vực của những khu định cư Anh đầu tiên.
== Hệ thống pháp luật và tư pháp ==
Trái với hệ thống luật dân sự của Trung Hoa đại lục, Hồng Kông tiếp tục theo truyền thống thông luật được chính quyền thuộc địa Anh thiết lập. Điều 84 của Luật Cơ bản Hồng Kông cho phép các tòa án Hồng Kông được tham chiếu đến các quyết định tiền lệ án được đưa ra bởi các tòa có quyền hạn pháp lý thông luật khác. Điều 82 và 92 cho phép các thẩm phán từ các từ các khu vực xét xử thông luật khác được tham gia vào quá trình xét xử trong Tòa chung thẩm của Hồng Kông và nhóm họp như các thẩm phán Hồng Kông.
Về mặt cơ cấu, hệ thống tòa án Hồng Kông bao gồm Tòa chung thẩm và Ủy ban Tòa án Hội đồng Cơ mật, Tòa án Tối cao, được cấu thành từ Tòa Thượng thẩm, Tòa Sơ thẩm và Tòa án Quận, bao gồm Tòa án Gia đình. Các cơ quan xét xử khác bao gồm: Tòa án Đất đai, Tòa Trị an, Tòa Thanh thiếu niên, Tòa Khiếu nại Nhỏ, Tòa Những vụ chết bất thường, Tòa Lao động, Tòa Các điều khoản Khiêu dâm chịu trách nhiệm phân loại văn hóa phẩm khiêu dâm không phải video được lưu hành ở Hồng Kông. Thẩm phán của Tòa Chung thẩm được Trưởng Đặc khu Hành chính Hồng Kông bổ nhiệm. Luật Cơ bản Hồng Kông thì được hiểu theo cách giải thích của Ủy ban Thường vụ Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc (Quốc hội) và quyền hạn này đã từng được viện dẫn 3 lần: Vấn đề quyền cư trú tại Hồng Kông (right of abode issue), một sự diễn giải liên quan đến các thủ tục bầu cử sau năm 2008, và một lần giải thích liên quan đến độ dài nhiệm kỳ của Trưởng Đặc khu hành chính.
Như ở Anh, luật gia ở Hồng Kông được phân ra thành luật sư hoặc cố vấn pháp lý, và người ta có thể chọn hành nghề dưới danh nghĩa một trong hai chức danh này nhưng không được cả hai (nhưng có thể chuyển từ chức danh này sang chức danh kia). Phần lớn luật gia là cố vấn pháp lý và được cấp giấy phép hành nghề và được điều chỉnh bởi Hội Pháp luật Hồng Kông. Các luật sư, mặt khác được cấp giấy phép và được điều chỉnh bởi Hội Luật sư Hồng Kông. Chỉ có các luật sư mới được có mặt để bào chữa tại Tòa Chung tẩm và Tòa án Tối cao. Cũng giống như hệ thống thông luật được duy trì, như thông lệ các phòng xử án nước Anh, các thẩm phán và luật sư phải đội tóc giả và áo choàng trong quá trình xét xử.
Theo Điều 63 của Luật Cơ bản Hồng Kông, Cục Tư pháp kiểm soát việc truy tố hình sự và không chịu bất kỳ sự can thiệp nào. Đây là thể chế pháp lý lớn nhất Hồng Kông và có trách nhiệm liên quan đến pháp chế, quản lý xét xử, truy tố, đại diện dân sự, soạn thảo và cải cách pháp lý và nghề pháp lý. Ngoài việc khởi tố các vụ án hình sự tại Hồng Kông, các quan chức của Cục Tư pháp cũng có mặt tại tòa với tư cách đại diện cho chính quyền trong tất cả vụ kiện dân sự kiện chính quyền. Là một cơ quan bảo vệ quyền lợi công chúng, cơ quan này có thể áp dụng và ấn định đại diện pháp lý thay mặt cho quyền lợi công chúng để tham gia vào việc xét xử các vụ án liên quan đến lợi ích công chúng về vật chất.
== Các đơn vị hành chính ==
Hồng Kông có 18 quận:
Đảo Hương Cảng (Hong Kong Island)
Quận Trung Tây (Central and Western) (15)
Quận Đông (Eastern) (16)
Quận Nam (Southern) (17)
Loan Tử (Wan Chai) (18)
Cửu Long Đông (Kowloon East)
Hoàng Đại Tiên (Wong Tai Sin) (13)
Quan Đường (Kwun Tong) (11)
Cửu Long Tây (Kowloon West)
Cửu Long Thành (Kowloon City) (10)
Thâm Thủy Bộ (Sham Shui Po) (12)
Du Tiêm Vượng (Yau Tsim Mong) (14)
Tân Giới Đông (New Territories East)
Quận Bắc (North) (3)
Tây Cống (Sai Kung) (4)
Sa Điền (Sha Tin) (5)
Đại Bộ (Tai Po) (6)
Tân Giới Tây (New Territories West)
Li Đảo (Islands) (1)
Quỳ Thanh (Kwai Tsing) (2)
Thuyền Loan (Tsuen Wan) (7)
Đồn Môn (Tuen Mun) (8)
Nguyên Lãng (Yuen Long) (9)
Ranh giới hành chính giữa Victoria City, bán đảo Cửu Long, và Tân Cửu Long đã từng được nêu ra trong luật, nhưng hiện không còn giá trị pháp lý và hành chính nữa.
== Kinh tế ==
Kinh tế Hồng Kông là một nền kinh tế tư bản chủ nghĩa phát triển được xây dựng trên nền kinh tế thị trường, thuế thấp và ít có sự can thiệp kinh tế của chính phủ. Đây là một trung tâm tài chính, thương mại quan trọng và là nơi tập trung nhiều đại bản doanh công ty của khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Nếu tính về GDP bình quân đầu người và tổng sản phẩm nội địa, Hồng Kông là trung tâm đô thị giàu nhất ở Trung Quốc. Tính đến năm 2016, GDP của Hồng Kông đạt 316.070 USD, đứng thứ 34 thế giới và đứng thứ 11 châu Á.
Trong khi tiếp tục duy trì những luật lệ và thông lệ của chính quyền Anh trước đây, chính quyền Hồng Kông nhường quyền điều khiển thị trường cho các lực lượng thị trường và khu vực tư nhân. Kể từ năm 1980, nhìn chung, chính quyền đã đóng một vai trò thụ động theo chính sách không can thiệp tích cực. Hồng Kông thường xuyên được xem, đặc biệt bởi nhà kinh tế Milton Friedman, là một hình mẫu của chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh về mặt thực tiễn. Hồng Kông được xếp hạng nhất thế giới về tự do kinh tế trong 13 năm liên tục, kể từ khi có chỉ số này vào năm 1995. Thành phố này cũng nằm ở vị trí thứ nhất trong Báo cáo Tự do Kinh tế của Thế giới.
Hồng Kông có ít đất bằng phẳng và ít tài nguyên thiên nhiên, do đó phải nhập khẩu hầu hết thực phẩm và nguyên liệu. Hồng Kông là vùng lãnh thổ thương mại lớn thứ 11 thế giới, với tổng giá trị nhập khẩu và xuất khẩu vượt quá GDP của mình. Năm 2006, có 114 nước có lãnh sự quán ở Hồng Kông, hơn bất cứ thành phố nào trên thế giới. Phần lớn xuất khẩu của Hồng Kông là tái xuất khẩu, là những sản phẩm sản xuất bên ngoài lãnh thổ Hồng Kông, đặc biệt ở Trung Hoa đại lục và được phân phối thông qua Hồng Kông. Thậm chí ngay cả trước khi chuyển giao chủ quyền cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Hồng Kông đã thiết lập các quan hệ thương mại và đầu tư sâu rộng với Trung Hoa đại lục. Vị thế tự trị của nó đã giúp Hồng Kông có thể phục vụ như một điểm cửa ngõ cho đầu tư và các nguồn lực chảy vào Trung Hoa đại lục. Hồng Kông cũng là một điểm nối cho các chuyến bay từ Trung Hoa Dân Quốc từ trên đảo Đài Loan vào đại lục.
Đơn vị tiền tệ của Hồng Kông là Dollar Hồng Kông. Kể từ năm 1983, đồng tiền này đã được neo chặt vào Dollar Mỹ. Đồng tiền này được phép trao đổi với một dải tỷ giá từ 7,75 và 7,85 dollar Hồng Kông ăn một dollar Mĩ. Sở giao dịch chứng khoán Hồng Kông lớn thứ 6 thế giới, với giá trị vốn hóa thị trường khoảng 1.710 tỷ USD. Năm 2006, giá trị các cuộc phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng thực hiện ở Hồng Kông xếp thứ 2 thế giới chỉ sau thị trường chứng khoán Luân Đôn.
Kinh tế Hồng Kông chủ yếu là dịch vụ. Tỉ trọng của khu vực này trong GDP của Hồng Kông lên đến 90%. Trong quá khứ, chế tạo là khu vực quan trọng nhất của nền kinh tế do Hồng Kông đã tiến hành công nghiệp hóa sau Chiến tranh thế giới thứ 2. Với xuất khẩu làm động lực, kinh tế Hồng Kông đã tăng trưởng với tốc độ bình quân hàng năm là 8,9% trong thập niên 1970. Hồng Kông đã trải qua một quá trình chuyển dịch nhanh sang một nền kinh tế dịch vụ trong những năm 1980, khi tốc độ tăng trưởng đạt 7,7% bình quân mỗi năm. Phần lớn các hoạt động sản xuất được chuyển qua Trung Hoa đại lục trong thời kỳ này và công nghiệp hiện nay chỉ còn chiếm 9% nền kinh tế. Khi Hồng Kông đã lớn mạnh để trở thành một trung tâm tài chính, tăng trưởng chậm lại xuống còn 2,7% mỗi năm trong những năm 1990. Cùng với Singapore, Hàn Quốc, và Đài Loan, Hồng Kông được gọi là một trong Bốn con hổ châu Á do tốc độ tăng trưởng cao và công nghiệp hóa nhanh chóng trong thời kỳ từ thập niên 1960 đến thập niên 1990.
Năm 1998, do hậu quả của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á, nền kinh tế này đã sụt giảm 5,3%. Sau đó, nền kinh tế phục hồi với tốc độ tăng trưởng tới 10% năm 2000 dù giảm phát vẫn dai dẳng. Năm 2003, kinh tế Hong Kong đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng của dịch SARS, làm cho tốc độ tăng trưởng chỉ còn 2,3%. Sự hồi sinh của nhu cầu nội địa và bên ngoài đã dẫn đến một sự hồi sinh mạnh mẽ trong năm sau đó do sự chi phí giảm đã tăng năng lực cạnh tranh xuất khẩu của Hồng Kông. Giai đoạn giảm phát kéo dài 68 tháng đã chấm dứt vào giữa năm 2004 với chỉ số lạm phát theo giá hàng tiêu dùng xoay quanh mức zero. Từ 2003, chương trình Du lịch cá nhân đã cho phép những du khách từ một số thành phố Trung Quốc đại lục thăm Hồng Kông mà không cần đi theo đoàn. Kết quả là, ngành du lịch Hồng Kông đã thu lợi từ sự gia tăng du khách đại lục, đặc biệt là sự mở cửa của Khu giải trí Hong Kong Disneyland năm 2005. Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng mạnh mẽ với sự tin tưởng trở lại của người tiêu dùng và sự gia tăng thương mại.
Hồng Kông đặt ra mức thuế cá nhân và thuế doanh nghiệp thấp. Lo lắng trước việc thuế thu được quá ít và việc chi tiêu của chính quyền phụ thuộc quá nặng nề vào nguồn thuế từ các giao dịch bất động sản, chính quyền đã xem xét đưa ra một chính sách về Thuế dịch vụ và hàng hóa. Phản ứng ban đầu của người dân là hoàn toàn không hưởng ứng, vì họ lo rằng việc đánh thuế sẽ đặt gánh nặng quá mức lên người nghèo, và sẽ ảnh hưởng tới sự thu hút của Hồng Kông trong lĩnh vực du lịch. Vào tháng 1 năm 2007, chính quyền đã rút lại đề xuất này.
Năm 2006, GDP của Hồng Kông xếp thứ 40 thế giới với giá trị 253,1 tỷ USD. GDP bình quân đầu người xếp hạng 14 với mức 36.500 USD, cao hơn mức này của Canada, Nhật Bản, Thụy Sĩ, và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, và vẫn cao hơn nhiều mức của Trung Quốc.
== Văn hóa ==
Hồng Kông thường được mô tả là nơi phương Đông gặp phương Tây, điều này được phản ánh trong hạ tầng kinh tế, giáo dục và văn hóa đường phố. Trên một góc phố nào đó, có thể có các tiệm truyền thống Trung Hoa bán thảo dược Trung Hoa, các đồ dùng linh tinh có liên quan đến Phật giáo hoặc bát súp vi cá mập bằng chất dẻo. Nhưng tại góc phố tiếp theo, người ta có thể tìm thấy các rạp hát đang chiếu các bộ phim ăn khách của Hollywood, một quán rượu theo phong cách Anh, một nhà thờ Công giáo hoặc một quán thức ăn nhanh McDonald's. Ngôn ngữ chính thức của lãnh thổ này là tiếng Hoa và tiếng Anh; các biển hiệu bằng hai thứ tiếng này hiện diện khắp nơi ở Hồng Kông. Chính quyền, cảnh sát và phần lớn các nơi làm việc đều sử dụng cả hai thứ tiếng. Sự cai trị của người Anh đã kết thúc một thập kỉ trước nhưng văn hóa phương Tây vẫn thấm sâu vào Hồng Kông và cùng tồn tại liền một mạch với triết lý và phong tục truyền thống phương Đông.
Hồng Kông có một cuộc sống về đêm náo nhiệt ở các quận giải trí — Lan Kwai Fong (Lan Quế Phường), Tsim Sha Tsui (Chiếm Sá Chủi), Wan Chai... Những nơi này thường được người địa phương, du khách nước ngoài viếng thăm. Vào một ngày trời quang, Đỉnh Victoria cho khách tham quan một tầm nhìn ngoạn mục về thành phố này. Thành phố này có một khu đi dạo dọc theo bến nước Tsim Sha Tsui, nơi các đôi uyên ương ưa thích. Các hoạt động mua sắm thường diễn ra về đêm với ví dụ cụ thể là ở Chợ đêm phố Temple nơi người ta cũng có thể xem Kinh kịch miễn phí.
Ẩm thực của thành phố cũng phong phú đa dạng. Ngoài ẩm thực phong phú đa dạng của các vùng miền Trung Quốc ra, đặc biệt là các món hải sản, Hồng Kông cũng có các nhà hàng Nhật Bản, châu Âu, Mĩ, Hàn Quốc và các nước khác. Các món ăn địa phương phục vụ ở các phòng trà và quầy bán đồ ăn cũng phổ biến. Dân Hồng Kông nghiêm túc trong việc ăn uống và nhiều đầu bếp từ khắp nơi đến đây để biểu diễn tài nghệ cho thực khách.
Trong khi Hồng Kông là một trung tâm thương mại toàn cầu, có lẽ sản phẩm xuất khẩu nổi tiếng nhất của thành phố này là ngành giải trí, đặc biệt là thể loại võ thuật, nhiều minh tinh Hollywood xuất thân từ Hồng Kông như: Lý Tiểu Long, Châu Nhuận Phát, Thành Long, Dương Tử Quỳnh, và Lý Liên Kiệt. Những nhà làm phim Hồng Kông cũng làm nên sự nghiệp ở Hollywood như Ngô Vũ Sâm, Vương Gia Vệ, Từ Văn Quang và các biên đạo võ thuật đã thiết kế các cảnh giao chiến trong các phim Matrix trilogy, Kill Bill và Ngọa hổ tàng long. Nhiều phim sản xuất tại Hồng Kông cũng nhận được sự công nhận quốc tế như Trùng Khánh Sâm Lâm, Vô gian đạo, Đội bóng Thiếu Lâm, Hồng phiên khu và Tâm trạng khi yêu. Nhà làm phim nổi tiếng Quentin Tarantino từng cho rằng ông chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi điện ảnh hành động Hồng Kông. Hồng Kông cũng là trung tâm chính của thế giới về thể loại nhạc cantopop. Trong lúc lãnh thổ này là nơi có nhiều ngôi sao, văn hóa karaoke cũng là một phần hoạt động về đêm của Hồng Kông.
Chính quyền Hồng Kông cũng ủng hộ các cơ quan văn hóa như Bảo tàng Di sản Hồng Kông, Bảo tàng Nghệ thuật Hồng Kông, Học viện Nghệ thuật biểu diễn Hồng Kông và Giàn nhạc giao hưởng Hồng Kông. Ngoài ra, Cục dịch vụ Văn hóa và Giải trí của chính quyền cũng bao cấp và tài trợ cho việc đưa các diễn viên quốc tế đến biểu diễn tại Hồng Kông.
== Tôn giáo ==
Hồng Kông được hưởng mức độ tự do tôn giáo cao, một quyền được gìn giữ thiêng liêng và được bảo vệ thông qua bản hiến pháp của mình là Luật Cơ bản. Đa số dân chúng Hồng Kông, khoảng 6 triêu người, theo Phật giáo kiểu dân gian giống như ở Trung Hoa đại lục. Tổng số dân Hồng Kông ít hơn 7 triệu người, tức là khoảng gần 90% dân chúng theo Phật giáo (xem Phật giáo theo quốc gia). Một cộng đồng Kitô giáo có quy mô đáng kể hiện diện ở đây với khoảng 500.000 dân, chiếm 7% tổng dân số; cộng đồng này gần như chia đều giữa Công giáo và Tin Lành. Cũng có khoảng 200.000 tín đồ theo Phật giáo và Đạo giáo chính thống. Ngoài các tôn giáo lớn ra, còn có một số tín đồ theo các tôn giáo khác nữa, bao gồm 23.000 tín đồ Mormon, 3.000 Do Thái giáo và một số tín đồ Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Sikh giáo và Bahá'í. Ngoài các chức năng tôn giáo, nhiều tổ chức tôn giáo đã thiết lập trường học và cung cấp các tiện ích phúc lợi xã hội.
Tính ngưỡng tôn giáo của Hồng Kông có liên hệ với vai trò lúc ban sơ của khu vực này là một làng chài. Thiên Hậu (hay Mụ Tổ), thần bảo hộ những người đi biển, đã được tôn thờ với nhiều đền thờ khắp Hồng Kông trong 300 năm qua. Hồng Thánh, một vị thần bảo hộ những người đi biển khác, cũng được tôn thờ trong nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, các cư dân Hồng Kông, đặc biệt là những người thuộc thế hế hệ già tuổi hơn, thường viếng các đền chùa Đạo giáo và Phật giáo để cầu xin thần linh ban phước lành, sức khỏe hoặc cầu phát tài. Người ta dâng lễ trái cây hoặc thực phẩm và đốt nhang để cầu khấn.
Với việc chuyển giao Hồng Kông cho Trung Quốc, đã có một số lo ngại đáng kể về quyền tự do tôn giáo ở Hồng Kông. Cho đến nay, nỗi lo ngại này đã tỏ ra không có căn cứ. Dù Bắc Kinh đã cấm giáo phái Pháp Luân Công năm 1999, những môn đồ của giáo phái này vẫn được tự do hành đạo môn phái này ở Hồng Kông. Tương tự, Giáo hội Công giáo được tự do bổ nhiệm các Giám mục, linh mục của mình ở Hồng Kông, không giống như ở Trung Hoa đại lục nơi thể chế "Công giáo" được công nhận là Hội Công giáo Yêu nước Trung Hoa - nơi mà các Giám mục và linh mục được Bắc Kinh bổ nhiệm (dù cũng có một bộ phận bất hợp pháp và không chính thức của Công giáo vẫn giữ liên lạc với Tòa Thánh Vatican). Một vấn đề lớn trong tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Tòa Thánh là việc Bắc Kinh cứ khăng khăng yêu cầu Vatican chấm dứt quan hệ với Trung Hoa Dân quốc (Đài Loan). Hồng Kông là nơi duy nhất ở Trung Quốc có những người truyền giáo của Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô (Giáo hội Mormon).
== Kiến trúc ==
Do đất đai chật chội, còn ít tòa nhà lịch sử tồn tại ở Hồng Kông. Thay vào đó, thành phố này đã trở thành một trung tâm của kiến trúc hiện đại, đặc biệt là ở trong và xung quanh khu vực Trung tâm. Các ngôi nhà chọc trời thương mại dày đặc giữa khu Trung tâm và khu Causeway Bay sắp hàng dọc theo Bến cảng Victoria là một trong những địa điểm thu hút du khách của Hồng Kông và được liệt vào các đường chân trời đẹp nhất thế giới. Bốn trong số 15 tòa nhà chọc trời cao nhất thế giới nằm ở Hồng Kông. Ở Cửu Long, nơi đã từng là một khu định cư vô chính phủ có tên gọi là Cửu Long Trại Thành (Kowloon Walled City), các quy định hạn chế chiều cao các kết cấu đã có hiệu lực cho đến năm 1998 với việc đóng cửa Sân bay Kai Tak gần đó. Với việc dỡ bỏ hạn chế chiều cao, nhiều nhà chọc trời mới ở Kowloon đang được xây dựng, bao gồm tòa nhà International Commerce Centre khi hoàn thành vào năm 2010 sẽ là tòa nhà cao thứ 4 thế giới.
Một trong những tòa nhà nổi bật ở Hồng Kông là tòa tháp Trung Ngân (Bank of China Tower) do I. M. Pei thiết kế, tòa nhà hoàn thành năm 1990 và hiện là tòa nhà chọc trời cao thứ ba Hồng Kông. Tòa nhà này đã thu hút tranh cãi nãy lửa khi bắt đầu dự án vì các cạnh sắc nhọn của nó bị người ta cho là đẩy năng lượng phong thủy âm vào trung tâm Hồng Kông. Trước tòa nhà này, một cấu trúc khác là Tòa nhà Trụ sở của HSBC, hoàn thành năm 1985. Nó được xây trên địa điểm của tòa nhà chọc trời đầu tiên của Hồng Kông được hoàn thành năm 1935 và đã trở thành chủ đề của một đấu tranh bảo tồn di sản khốc liệt cuối thập niên 1970. Cả hai tòa nhà của ngân hàng được in trên nhiều tờ giấy bạc Hồng Kông.
Tòa nhà cao nhất ở Hồng Kông là International Finance Centre 2. Một trong những dự án xây dựng lớn nhất ở Hồng Kông và của thế giới là Sân bay Quốc tế Hồng Kông mới ở Chek Lap Kok gần Lantau, một dự án lấn biển khổng lồ được kết nối với trung tâm Hồng Kông bằng Lantau Link nổi bật bằng ba cây cầu lớn mới là: Thanh Mã, cây cầu treo lớn thứ 6 thế giới; Cấp Thủy Môn, cây cầu dây văng (cable-stayed bridge) dài nhất thế giới dành cho cả giao thông đường bộ và đường sắt; và Đinh Cửu, cây cầu dây văng bốn nhịp đầu tiên của thế giới.
Đặc biệt đáng chú ý về cảnh chân trời và phố xá Hồng Kông là sự có mặt khắp nơi của các bất động sản nhà ở công, bắt đầu như là một chương trình tái định cư cho những người chiếm đất thập niên 1950 và ngày nay đã cung cấp nhà ở cho gần một nửa dân số. Các khu bất động sản này đã được nâng cấp từ các khu căn hộ không có thang máy 7 tầng với nhà vệ sinh công cộng và các tiện nghi tối thiểu, phân phối 24 m2 cho mỗi người lớn, nếu cho trẻ con thì được 12 m2/người thành các tòa nhà cao tầng chất lượng cao. Chương trình cho thuê công cộng này đã được bổ sung vào Kế hoạch Sở hữu Nhà do chính phủ trợ cấp.
== Giao thông ==
Hồng Kông có một mạng lưới giao thông tinh vi và phát triển cao, bao gồm cả mạng lưới giao thông công cộng lẫn tư nhân. Hệ thống thống thanh toán bằng thẻ thông minh Octopus card có thể được sử dụng để trả cước phí đi lại cho hầu như tất cả các tuyến đường sắt, xe buýt và phà ở Hồng Kông. Thẻ Octopus sử dụng công nghệ RFID (Nhận dạng bằng tần số radio) cho phép người sử dụng có thể quét thẻ mà không cần lấy nó ra khỏi ví hoặc túi xách. Tất cả những bãi đậu xe có đồng hồ đếm giờ ở Hồng Kông chỉ chấp nhận thanh toán bằng thẻ Octopus và việc thanh toán bằng thẻ Octupus có thể thực hiện ở nhiều bãi đỗ xe.
Địa hình Hồng Kông chủ yếu là đồi và dốc và một số phương pháp giao thông không thông thường đã được sáng chế để dễ dàng di chuyển lên xuống trên các sườn dốc. Ví dụ, tàu điện Peak Tram nối giữa khu Trung tâm và Đỉnh Victoria từ năm 1888 bằng cách men theo sườn núi. Ở Trung Tây khu, có một hệ thống thang cuốn lớn và các vỉa hè di động, bao gồm hệ thống thang cuốn có mái che ngoài trời dài nhất thế giới, đó là Thang cuốn Mid-levels.
Hồng Kông có nhiều phương thức vận tải đường sắt công cộng. Hai hệ thống tàu điện ngầm cho thành phố là MTR (Mass Transit Railway) và KCR có chức năng kết nối giữa Hồng Kông và Trung Hoa đại lục (KCR cũng vận hành một hệ thống đường sắt nhẹ ở Tây Bắc Tân Giới). Hệ thống MTR do công ty MTR Corporation Limited vận hành còn Kowloon-Canton Railway Corporation thì vận hành KCR. Hệ thống xe điện hoạt động ở các khu vực phía Bắc Hồng Kông và là hệ thống xe điện duy nhất trên thế giới chỉ chạy loại xe buýt hai tầng.
Năm công ty riêng rẽ (KMB, Citybus, NWFB, Long Win và NLB) cung cấp dịch vụ xe buýt công cộng nhượng quyền ở Hồng Kông. Xe buýt hai tầng được du nhập vào Hồng Kông năm 1949. Hiện loại xe hai tầng này được sử dụng riêng biệt ở Hồng Kông, Singapore, Dublin và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Tuy nhiên, xe buýt hai tầng vẫn được sử dụng cho các tuyến có nhu cầu thấp hoặc các tuyến đường có năng lực vận tải thấp. Xe buýt một tầng được sử dụng chủ yếu ở Đảo Lạn Đầu và phục vụ đêm. Phần lớn các tuyến xe buýt nhượng quyền bình thường ở Hồng Kông hoạt động đến tận 1h đêm. Xe buýt nhẹ công cộng chạy suốt chiều dài và chiều rộng của Hồng Kông, qua những khu vực nơi các tuyến xe buýt tiêu chuẩn không thể đến hoặc không thể chạy thường xuyên, nhanh chóng hoặc trực tiếp. Xe taxi cũng được sử dụng rộng rãi khắp Hồng Kông. 99% xe taxi của Hồng Kông chạy bằng khí hỏa lỏng, phần còn lại chạy bằng dầu diesel.
Phần lớn dịch vụ vận tải bằng phà do các công ty vận tải phà có giấy phép, phục vụ các đảo ngoài khơi, các khu phố mới trong Bến cảng Victoria, Macau và các thành phố ở Trung Hoa đại lục. Loại phà xưa nhất, Star Ferry huyền thoại hoạt động trong bốn tuyến giữa bán đảo Cửu Long và Đảo Hồng Kông và đã cung cấp dịch vụ vận chuyển có hiệu quả về chi phí trong suốt một thế kỷ. Star Ferry phổ thông đối với những du khách ưu thích ngắm nhìn toàn cảnh bến cảng và đường chân trời, nhiều người dân Hồng Kông xem Star Ferry à một trong những biểu tượng văn hóa nổi bật nhất của thành phố. Ngoài ra, các phà 78 "kai-to" được cấp phép phục vụ cho các khu định cư ven biển xa xôi.
Hồng Kông có một sân bay quốc tế còn hoạt động có tên gọi Sân bay Quốc tế Hồng Kông tọa lạc tại đảo Xích Liệp Giác. Năm 1998, sân bay này đã thay thế sân bay quốc tế trước đây của Hồng Kông là Sân bay Khải Đức nằm ở Cửu Long, một sân bay đã được đóng cửa vào thời điểm thay thế. Sau một thời gian chậm trễ trong các hệ thống vận chuyển hàng hóa trong những tháng đầu, sân bay này hiện đang đóng vai trò là trung tâm vận chuyển cho khu vực Đông Nam Á và là trung tâm hoạt động chính của các hãng hàng không Cathay Pacific Airways, Dragonair, Air Hong Kong, Oasis Hong Kong Airlines, Hong Kong Airlines và Hong Kong Express. Ngoài ra, Skytrax đã bầu chọn Sân bay quốc tế Hồng Kông là sân bay tốt nhất thế giới và hãng hàng không Cathay Pacific Airways đã được bầu chọn là hãng hàng không tốt nhất thế giới từ năm 2001 đến năm 2005. Sân bay Quốc tế Hồng Kông đã phục vụ hơn 36 triệu hành khách trong năm 2004 và 40 triệu khách trong năm 2005.
Các phương tiện đi vào sân bay có 'Airport Express', 'CityFlyers' và 'Airbuses'. Các dịch vụ vận tải này kết nối sân bay với phần còn lại của Hồng Kông. Thời gian khách đi bằng Airport Express đến Trung tâm thành phố ở Đảo Hồng Kông chỉ mất 23 phút. Việc mở cửa gần đây của Nhà ga Sunny Bay của MTR cho phép người ta đến Khu Giải trí Disneyland Hồng Kông dễ dàng hơn.
Trong khi lưu thông ở Trung Hoa đại lục lái xe bên phải, Hồng Kông vẫn duy trì luật lệ giao thông riêng của mình với việc lưu thông lái xe bên trái. Có khoảng 517.000 xe cơ giới được đăng ký ở Hồng Kông, 64% số đó là xe hơi tư nhân. Là một đô thị xa hoa ở châu Á, Hồng Kông nổi tiếng thế giới là nơi có số lượng xe hơi Rolls-Royce đầu người cao nhất thế giới.
Lưu ý rằng mã đường quốc lộ Hồng Kông sử dụng một hệ thống báo hiệu như Anh quốc trong khi hệ thống báo hiệu của Trung Quốc thì khác hẳn.
Giao thông Hồng Kông có điểm đặc biệt là đi bên trái như ở Anh Quốc, Thái Lan, Nhật Bản,... mà không đi bên phải như tất cả các tỉnh, thành phố khác ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
== Cơ cấu dân số ==
Dân số Hồng Kông tăng nhanh chóng trong thập niên 1990, đạt 6,99 triệu vào năm 2006. Khoảng 95% dân Hồng Kông là gốc Trung Hoa, đa số dân của Hồng Kông là Quảng Đông hoặc từ các nhóm dân tộc như Người Khách gia và Triều Châu. Tiếng Quảng Đông, một ngôn ngữ Trung Quốc được sử dụng phổ biến ở phía Nam Trung Quốc là phương ngữ chính thức của Hồng Kông. Tiếng Anh cũng là một ngôn ngữ chính thức được sử dụng rộng rãi bởi hơn 1⁄3 dân số. Các bảng hiệu bằng tiếng Anh và tiếng Hoa thường rất phổ biến khắp lãnh thổ này. Kể từ năm 1997, các nhóm dân nhập cư mới từ Trung Hoa Đại Lục đã đến đây. Việc sử dụng tiếng Quan Thoại, ngôn ngữ chính thức của Trung Quốc cũng đang tăng lên. Việc hội nhập vào nền kinh tế Đại lục đã dẫn đến nhu cầu gia tăng số người nói tiếng Phổ thông Trung Quốc.
Phần còn lại 5% dân số bao gồm các dân tộc không phải là người Hoa là một nhóm dân cư có thể thấy rất rõ dù số lượng nhỏ. Một cộng đồng Người Nam Á bao gồm người Ấn Độ, Nepal. Dân tị nạn người Việt đã trở thành các cư dân thường trú của Hồng Kông. Khoảng 140.000 Người Philippines làm việc ở Hồng Kông với những công việc như những người giúp việc nhà. Một số công nhân cũng đến từ Indonesia. Có một số người châu Âu, người Mỹ, người Úc, người Canada, người Nhật, và người Hàn Quốc làm việc trong các lĩnh vực tài chính và thương mại.
Nếu được xem là một xứ phụ thuộc, Hồng Kông là một trong quốc gia/lãnh thổ phụ thuộc có mật độ dân dày đặc nhất, với mật độ chung hơn 6200 người trên km². Hồng Kông có tỷ lệ sinh 0,95 trẻ trên một người phụ nữ, một trong những nơi thấp nhất thế giới và thấp xa so với tỷ lệ 2,1 trẻ em trên một phụ nữ cần để duy trì mức dân số hiện hữu. Tuy nhiên, dân số của Hồng Kông tiếp tục tăng do làn sóng dân di cư từ Trung Hoa Đại Lục khoảng 45.000 người mỗi năm. Tuổi thọ trung bình của dân Hồng Kông là 81,6 năm năm 2006, cao thứ 5 thế giới.
Dân số Hồng Kông tập trung cao độ vào một khu vực trung tâm bao gồm Cửu Long và phía Bắc đảo Hồng Kông. Phần còn lại, dân cư thưa thớt với hàng triệu dân rải rác không đều khắp Tân Giới, phía Nam Đảo Hồng Kông và đảo Đại Nhĩ Sơn. Một số lượng đang tăng công dân đang sống ở Thâm Quyến và đi lại bằng xe hàng ngày từ Trung Hoa đại lục.
== Giáo dục ==
Là một thuộc địa Anh, hệ thống giáo dục của Hồng Kông gần như theo hệ thống giáo dục của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, và đặc biệt là hệ thống giáo dục Anh. Tại các cấp giáo dục chuyên nghiệp bậc đại học, cả hai hệ thống giáo dục Anh và Mỹ đều tồn tại. Đại học Hồng Kông (HKU), là trường đại học cổ nhất ở lãnh thổ này, đã có truyền thống dựa trên kiểu mẫu của Anh nhưng đã áp dụng nhiều yếu tố của Mỹ trong những năm gần đây. Xếp thứ hai sau HKU về thời gian thành lập là Đại học Trung Hoa Hồng Kông (CUHK) theo mô hình Mỹ với một hệ thống viện đặc trưng của Anh. Đại học Khoa học Công nghệ Hồng Kông (HKUST) được thành lập theo mô hình giáo dục bậc đại học của Mỹ. Có 9 trường đại học công lập ở Hồng Kông và một số các cơ sở giáo dục bậc đại học tư thục. Đại học Lĩnh Nam ở Đồn Môn là một ví dụ tốt, đây là trường đại học duy nhất ở Hồng Kông có đào tạo kiểu giáo dục cơ bản (liberal arts education). Các trường công của Hồng Kông do Phòng Giáo dục và Nhân lực của Đặc khu Hành chính Hồng Kông quản lý. Hệ thống giáo dục của Hồng Kông có đặc điểm: 3 năm mẫu giáo không bắt buộc, tiếp theo là 6 năm phổ thông cơ sở và 3 năm phổ thông trung học bắt buộc và 2 năm phổ thông cao cấp (senior secondary education) không bắt buộc để được cấp bằng bằng trung học Hồng Kông (Hong Kong Certificate of Education Examination) và một khoá 2 năm học chương trình cao đẳng đại học để nhận bằng giáo dục cao cấp Hồng Kông (Hong Kong Advanced Level Examination). Một hệ thống giáo dục trung học cao cấp cải cách kiểu "3+3+4", trong đó có ba năm trung học thông thường, ba năm trung học cao cấp và bốn năm cao đẳng, đại học sẽ được áp dụng từ năm 2009 trở đi. Ngoài ra cũng có các cơ sở giáo dục bậc đại học đào tạo và cấp bằng cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ, chứng chỉ đại học đại cương (associate degree), cũng như các bằng cấp bậc đại học khác. Phần lớn các trường phổ thông toàn diện ở Hồng Kông thuộc trong ba dạng sau: trường công (ít), trường được trợ cấp và trường tư. Các trường được trợ cấp cho đến nay là loại phổ biến nhất, trong đó có các trường được chính quyền hỗ trợ và phụ cấp ("aids-and-grant"). Các trường tư thường được điều hành bởi các tổ chức tôn giáo (chủ yếu là Cơ Đốc giáo nhưng cũng có một số thuộc về các tổ chức Phật giáo, Đạo giáo, Hồi giáo) với kỳ thi đầu vào dựa vào kết quả học tập hơn là khả năng tài chính. Ngoài hệ thống này là các trường dưới dạng Direct Subsidy Scheme (chương trình trực tiếp tài trợ) và các trường quốc tế tư thục.
== Quân đội ==
Hồng Kông chưa bao giờ có lực lượng quân đội riêng bởi vì lãnh thổ này chưa bao giờ là một nhà nước có chủ quyền, ngoại trừ lực lượng bổ trợ tình nguyện như Quân đoàn Hồng Kông Hoàng gia (quân tình nguyện). Các vấn đề quốc phòng đã bị phụ thuộc vào nhà nước kiểm soát Hồng Kông. Trước khi Anh trao trả chủ quyền Hồng Kông cho Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, việc bảo vệ quốc phòng được quân đội Anh đảm nhận và quân đội Anh đã đóng quân ở những doanh trại khắp Hồng Kông, bao gồm cả Quân đội Hải ngoại Anh ở Hồng Kông. Nguồn tài chính cho các đội quân này do Chính quyền Hồng Kông hỗ trợ.
Chính quyền Nhân dân Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã tiếp quản chủ quyền đối với Hồng Kông vào ngày 1 tháng 7 năm 1997 và đã đóng một đội quân đồn trú Quân Giải phóng Nhân dân để quản lý các công việc quốc phòng của Hồng Kông. Dù đội quân đồn trú này ít có giá trị quân sự trên thực tế, việc đóng Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc ở Hồng Kông là một biểu tượng của việc nắm giữ chủ quyền của chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đối với Hồng Kông.
Theo Luật Cơ bản của Hồng Kông, các lực lượng quân sự đóng ở Hồng Kông sẽ không được can thiệp vào các công việc dân sự của địa phương; Chính quyền Hồng Kông sẽ phải chịu trách nhiệm duy trì trật tự công cộng. Quân đồn trú tại Hồng Kông, bao gồm các binh chủng lục quân, hải quân, và không quân, dưới sự chỉ huy của Hội đồng Quân sự Trung ương Trung Quốc. Sau đó, quân đồn trú đã mở cửa các doanh trại trên Đảo Stonecutters và Stanley cho công chúng để tăng cường hiểu biết và tin cậy giữa quân đội và dân chúng.
== Xếp hạng quốc tế ==
== Hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Danh sách vùng đô thị châu Á
== Tham khảo ==
(tiếng Anh)
A History of Hong Kong (Third Edition). Frank Welsh. HarperCollins. 1 tháng 10 1998. 624 pages. ISBN 1-56836-002-9.
Mathematical Modelling of Hong Kong Political and Economical Development. Derek Lam. Guangzhou Academic Press. 18 tháng 2 1986. 23 pages.
Hong Kong's History: State and Society Under Colonial Rule (Asia's Transformations). Tak-Wing Ngo. Routledge. 1 tháng 8 1999. 205 pages. ISBN 0-415-20868-8.
The Cinema of Hong Kong: History, Arts, Identity. Poshek Fu, David Deser. Cambridge University Press. 25 tháng 3 2002. 346 pages. ISBN 0-521-77602-3.
A Modern History of Hong Kong. Steve Tsang. I.B. Tauris. 14 tháng 5 2004. 356 pages. ISBN 1-86064-184-9.
An Outline History of Hong Kong. Liu Shuyong. 291 pages. ISBN 7-119-01946-5.
Forts and Pirates - A History of Hong Kong. Hong Kong History Society. Hyperion Books. tháng 12 năm 1990. ISBN 962-7489-01-8.
List of Graded Historical Buildings in Hong Kong - 6 tháng 1 năm 2007 from the Antiquities and Monuments Office
List of Declared Monuments in Hong Kong - 3 tháng 3 năm 2006 from the Antiquities and Monuments Office
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trung tâm Thông tin về Chính phủ ĐKHC Hồng Kông – website chính của Chính phủ Hồng Kông
Các Hội đồng khu Hồng Kông
Hội đồng Lập pháp Hồng Kông
Metro – báo The Metro của Hồng Kông
South China Morning Post – tờ báo Anh ngữ dẫn đầu ở Hồng Kông
The Standard – tờ báo dẫn đầu về buôn bán ở Hồng Kông
Đài Radio và TV Hồng Kông – đài công cộng của Hồng Kông
Hồng Kông - Hình ảnh
Wikimedia Atlas của Hong Kong, có một số bản đồ liên quan đến Hong Kong. |
comoros.txt | Comoros (tiếng Việt: Cô-mô-rô), tên đầy đủ là Liên bang Comoros (tiếng Pháp: Union des Comores; tiếng Shikomor: Udzima wa Komori; tiếng Ả Rập: اتحاد القمر) là một quốc gia ở Châu Phi.
Quốc đảo này lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam ngày 24 tháng 9 năm 2015.
== Lịch sử ==
=== Trước khi thực dân xâm lăng ===
Những cư dân trên quần đảo này đến từ châu Phi, Madagascar và vịnh Ba Tư, phần lớn là người Hồi giáo. Người Bồ Đào Nha khám phá ra quần đảo này năm 1503 và người Pháp đến đây năm 1517.
=== Thực dân Pháp và tiếp xúc châu Âu ===
Pháp lập chế độ bảo hộ từ năm 1886, Comoros trở thành vùng lãnh thổ hải ngoại của Pháp từ năm 1958.
=== Comoros Độc lập đến nay ===
Comoros tuyên bố độc lập năm 1975, riêng đảo Mayotte tuyên bố ở lại trong Cộng hòa Pháp trong cuộc trưng cầu ý dân năm 1976. Ahmed Abdallah được bầu làm Tổng thống tháng 7 năm 1975, bị một ủy ban cách mạng do Ali Soilih lãnh dạo truất phế tháng 8 năm 1975. Đến lượt Soilih bị cựu Tổng thống Abdallah lật đổ với sự giúp đỡ của lính đánh thuê nước ngoài tháng 5 năm 1978 và quần đảo lấy tên là Cộng hòa Liên bang Hồi giáo Comoros. Tháng 11 năm 1989, Tổng thống Abdallah lại bị chính quân lính đánh thuê ám sát và Said M. Djohar lên thay thế năm 1990. Sau nhiều tháng phản đối và xung đột với lực lượng an ninh, đảo Anjouan (Ndzouani) tuyên bố độc lập ngày 3 tháng 8 năm 1997. Tháng 7-1997, lực lượng của Tổng thống Mohamed Taki cố gắng chiếm lại đảo Anjouan nhưng thất bại. Taki tuyên bố tình trạng khẩn cấp. Các cuộc đàm phán hòa bình đầu năm 1999 giữa đại diện của đảo Anjouan và Chính phủ không mang lại kết quả nào.
Tháng 4 năm 1999, Đại tá Trali Assoumani cầm đầu cuộc đảo chính lật đổ quyền Tổng thống Tadjidine, Đảo Anjouan tiếp tục cuộc đấu tranh chống lại Chính phủ ở đảo Qomor Lớn trong cả năm 1999.
Tháng 3 năm 2000, Tổ chức Thống nhất châu Phi (OAU) cắt đứt liên lạc với Anjouan nhằm chấm dứt cuộc nổi dậy. OAU yêu cầu Tổng thống Assoumani áp đặt lệnh cấm vận thương mại và trao trả quyền lại cho giới dân sự tại Comoros. Tháng 2 năm 2001, Tổng thống ký một hiệp ước hòa giải với các nhà lãnh đạo chính trị ở ba đảo, kể cả nhà lãnh đạo nhóm li khai của đảo Anjouan, Đại tá Said Abeid. Tháng 3 năm 2002, một hiến pháp mới được thông qua, ba đảo được thống nhất lại. Mỗi đảo bầu một Tổng thống riêng và Assoumani được bầu làm Tổng thống liên bang.
== Địa lý ==
Comoros nằm ở Đông Phi, gồm ba đảo núi lửa (Ngazidja, Moili và Ndzouani) ở Ấn Độ Dương nằm về phía Tây Bắc Madagascar. Địa hình chủ yếu là các cao nguyên đất bazan thoải dần về phía các dải đồng bằng hẹp ven biển.
Với diện tích 2.235 km2, đảo quốc này là một trong những quốc gia nhỏ nhất trên thế giới. Comoros cũng cóyêu cầu bồi thường 320 km2 lãnh hải đối với các nước láng giềng. Khí hậu nhiệt đới với hai mùa phân biệt tương đối rõ rệt. Nhiệt độ đạt trung bình 29-30 °C (84-86 °F) trong tháng 3, tháng nóng nhất trong mùa mưa (gọi là kashkazi) là tháng 12, và nhiệt đọ thấp nhất là 19 °C (66 °F) trong mùa lạnh, mùa khô gọi là Kusi, bắt đầu từ tháng năm đến tháng mười một.
== Chính trị ==
Chính trị của Comoros diễn ra trong khuôn khổ của một nước cộng hòa tổng thống liên bang, theo đó Tổng thống Comoros là nguyên thủ quốc gia và là người đứng đầu chính phủ, và một hệ thống chính trị đa đảng. Hiến pháp của Comoros đã được phê duyệt bởi cuộc trưng cầu dân ý ngày 23 tháng 12 năm 2001. Nước này trước đây đã được coi là một chế độ độc tài quân sự, và sự chuyển giao quyền lực từ tướng Azali Assoumani sang Tổng thống Ahmed Mohamed Abdallah Sambi vào tháng 5 năm 2006 là cuộc chuyển giao quyền lực hòa bình đầu tiên trong lịch sử Comoros.
Quyền hành pháp thuộc chính phủ. Quyền lập pháp liên bang được trao cho cả chính phủ và quốc hội. Lời nói đầu của Hiến pháp bảo đảm Hồi giáo có mặt trong chính trị cũng như cam kết về nhân quyền, và một số quyền được liệt kê cụ thể trong đó có dân chủ được áp dụng cho tất cả người dân Comoros. Các đảo (theo Tiêu đề II của Hiến pháp) có quyền tự trị lớn trong liên bang, bao gồm có hiến pháp riêng của họ (hoặc Luật cơ bản), có chủ tịch và Quốc hội riêng. Tổng thống và Hội đồng Liên bang được giao xoay vòng giữ người đứng đầu chính phủ các đảo.
Hệ thống pháp luật Comoros dựa trên luật Hồi giáo. Già làng, kadis hoặc tòa án dân sự giải quyết hầu hết các tranh chấp. Cơ quan tư pháp độc lập với cơ quan lập pháp và hành pháp. Tòa án tối cao hoạt động như một Hội đồng Hiến pháp trong việc giải quyết vấn đề hiến pháp và giám sát cuộc bầu cử tổng thống.
=== Quân đội ===
Quân đội Comoros bao gồm một đội quân nhỏ và một lực lượng cảnh sát 500 thành viên, cũng như một lực lượng quốc phòng 500 thành viên. Một hiệp ước quốc phòng với Pháp cung cấp các nguồn lực hải quân để bảo vệ các vùng lãnh hải, đào tạo cán bộ quân sự Comoros, và giám sát không phận. Pháp duy trì vài cán bộ cao cấp có mặt tại Quốc đảo Comoros theo yêu cầu của chính phủ nước này. Pháp duy trì một cơ sở hàng hải nhỏ nằm trên Mayotte.
=== Quan hệ với nước ngoài ===
Trong tháng 11 năm 1975, Comoros trở thành thành viên 143 của Liên Hiệp Quốc.
Comoros cũng là thành viên của Liên minh châu Phi, Liên đoàn Ả Rập, Quỹ Phát triển châu Âu, Ngân hàng Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ủy ban Ấn Độ Dương, và Ngân hàng Phát triển châu Phi. Vào ngày 10 tháng 4 năm 2008, Comoros trở thành quốc gia thứ 179 chấp nhận Nghị định thư Kyoto.
== Kinh tế ==
Kinh tế dựa trên hai lãnh vực chính: nông nghiệp trồng cây lương thực (lúa, sắn), cây công nghiệp (cà phê, dừa, vani, đinh hương và một số cây cho tinh dầu) và mậu dịch đường biển. Du lịch ít phát triển.
Comoros là một trong những nước nghèo nhất trên thế giới. Đất đai cằn cỗi và bị xói mòn. Tỉ lệ tăng dân số cao, nguồn tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn. Trình độ học vấn của lực lượng lao động thấp, tình trạng thất nghiệp cao, phụ thuộc nhiều vào sự tài trợ của nước ngoài. Hiện nay Chính phủ ra sức nâng cao trình độ giáo dục và huấn luyện kĩ thuật, tiến hành tư nhân hóa các xí nghiệp thương mại và công nghiệp, cải thiện hệ thống y tế, đa dạng hóa các mặt hàng xuất khẩu, khuyến khích phát triền ngành du lịch và giảm tỉ lệ tăng dân số.
== Dân số ==
Dân số nước này chưa đến một triệu người, Comoros là một trong những quốc gia ít dân nhất trên thế giới, nhưng cũng là một trong những nước có mật độ dân số cao nhất, với trung bình 275 người trên mỗi km vuông. Trong năm 2001, 34% dân số được sống ở là đô thị, nhưng được dự kiến sẽ tăng, trong khi mức tăng dân số vẫn còn tương đối cao. Gần một nửa dân số của Quốc đảo Comoros ở độ tuổi dưới 15 và sống tập trung tại các trung tâm đô thị lớn bao gồm Moroni, Mutsamudu, Domoni, Fomboni, và Tsémbéhou. Có từ 200.000 và 350.000 người Comoros sống tại Pháp.
Các đảo của Comoros có người dân chủ yếu là nguồn gốc châu Phi-Ả Rập. Hồi giáo Sunni là tôn giáo chiếm ưu thế, đại diện cho 98% dân số. Mặc dù văn hóa Ả Rập được thiết lập vững chắc trên khắp quần đảo, nhưng cũng có một thiểu số dân số của Mayotte, chủ yếu là người nhập cư từ Pháp, là người Công giáo La Mã. Người Malagasy (theo Cơ Đốc giáo) và Ấn Độ (chủ yếu là giáo phái Ismaili) là những dân tộc thiểu số. Người Trung Quốc cũng có mặt trên Mayotte và các bộ phận của Grande Comore (đặc biệt là Moroni).
Ngôn ngữ phổ biến nhất trong Quốc đảo Comoros là tiếng Comorian hay còn gọi là Shikomor, một ngôn ngữ chịu ảnh hưởng từ tiếng Swahili và tiếng Ả Rập nặng, với bốn biến thể khác nhau (Shingazidja, Shimwali, Shinzwani, và Shimaore) được nói trên bốn hòn đảo chính tạo nên nước này. Tiếng Pháp và tiếng Ả Rập cũng là ngôn ngữ chính thức, cùng với Comorian. Tiếng Ả Rập được biết đến rộng rãi như một ngôn ngữ thứ hai, là ngôn ngữ giảng dạy kinh Coran. Tiếng Pháp là ngôn ngữ hành chính và ngôn ngữ của ngành giáo dục. Một số ngôn ngữ khác như tiếng Malagasy, Shibushi, được nói bởi khoảng một phần ba dân số của Mayotte. Khoảng 57% dân số biết chữ và viết được ngôn ngữ của mình bằng chữ cá Latinh trong khi hơn 90% biết đọc biết viết tiếng Ả Rập, tổng số biết đọc biết viết được ước tính là 62,5%. Comoros không có chữ viết bản địa, vì vậy chữ Ả Rập và chữ Latinh được sử dụng để ghi lại ngôn ngữ quốc gia.
== Giáo dục ==
Hệ thống giáo dục của Comoros được tổ chức dựa theo mô hình của Pháp. Giáo dục tiểu học miễn phí, mỗi làng có một trường tiểu học. Tuy nhiên, chỉ khoảng 1/3 số trẻ em học xong tiểu học và một số ít học lên trung học. Comoros không có hệ thống đại học ngoài một số trường sư phạm.
== Y tế ==
Chăm sóc y tế chưa được coi trọng. Ở thành phố và thị trấn cũng có các bệnh viện nhưng thiếu các phương tiện và thiết bị. Các bệnh dịch như sốt rét, tiêu chảy và các bệnh đường ruột khác khá phổ biến.
== Phương tiện truyền thông ==
Có một tờ báo quốc gia của chính phủ là Al-Watwan, xuất bản ở Moroni. Đài phát thanh Quốc đảo Comoros là dịch vụ phát thanh quốc gia và truyền hình quốc gia Comoros là dịch vụ truyền hình chính.
== Xem khác ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Anjouan.net |
vành đai thái bình dương.txt | Vành đai Thái Bình Dương là thuật ngữ dùng để ám chỉ các quốc gia và thành phố nằm quanh bờ viền Thái Bình Dương. Có nhiều trung tâm kinh tế quanh Vành đai Thái Bình Dương như Auckland, Busan, Brisbane, Thành phố Hồ Chí Minh, Hong Kong, Lima, Los Angeles, Manila, Melbourne, Thành phố Panama, Portland, San Diego, San Francisco, Santiago, Seattle, Seoul, Thượng Hải, Singapore, Sydney, Đài Bắc, Tokyo, Vancouver, và Yokohama.
Honolulu là tổng hành dinh của nhiều tổ chức liên chính phủ và tổ chức phi chính phủ khác nhau của Vành đai Thái Bình Dương, trong đó gồm có Trung tâm Đông-Tây (East-West Center) và Viện Nghiên cứu châu Á (Institute of Asian Research). Ngoài ra cuộc tập trận hải quân mang tên Vành đai Thái Bình Dương (Rim of the Pacific Exercise) cũng được Bộ chỉ huy Thái Bình Dương Hoa Kỳ (United States Pacific Command) có tổng hành dinh tại Honolulu điều hợp.
Vùng này có sự đa dạng rất lớn — với sự năng động kinh tế của Hong Kong, Đài Loan và Singapore; sự thành thạo kỹ thuật của Nhật Bản, Hàn Quốc và miền tây Hoa Kỳ; tài nguyên thiên nhiên của Úc, Colombia, Canada, México, Peru, Philippines, Vùng viễn đông Nga và Hoa Kỳ; tài nguyên nhân lực của Trung quốc và Indonesia; sức sản suất nông nghiệp của Úc, Chile, New Zealand, Philippines và Hoa Kỳ trong số các nước khác
== Danh sách các nước trong Vùng Bờ Thái Bình Dương ==
Dưới đây là danh sách các nước thường được coi là thành phần của Vùng Bờ Thái Bình Dương, vì nằm trên bờ của đại dương này.
== Sách tham khảo ==
Clausen, A. W. The Pacific Asian Countries: A Force For Growth in the Global Economy. Los Angeles: World Affairs Council, 1984. ED 244 852.
Cleveland, Harlan. The Future of the Pacific Basin: A Keynote Address. New Zealand: Conference on New Zealand's Prospects in the Pacific Region, 1983.
Gibney, Frank B., Ed. Whole Pacific Catalog. Los Angeles, CA: 1981.
"The Pacific Basin Alliances, Trade and Bases." GREAT DECISIONS 1987. New York: Foreign Policy Association, 1987. ED 283 743.
Rogers, Theodore S., and Robert L. Snakenber. "Language Studies in the Schools: A Pacific Prospect." EDUCATIONAL PERSPECTIVES 21 (1982): 12-15.
Wedemeyer, Dan J., and Anthony J. Pennings, Eds. Telecommunications--Asia, Americas, Pacific: PTC 86. "Evolution of the Digital Pacific." Proceedings of the Annual Meeting of the Pacific Telecommunications Council: Honolulu, Hawaii, 1986. ED 272 147.
West, Philip, and Thomas Jackson. The Pacific Rim and the Bottom Line. Bloomington, Indiana, 1987.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Teaching about the Pacific Rim
Institute of Asian Research: http://www.iar.ubc.ca |
thành phố trực thuộc tỉnh (việt nam).txt | Thành phố trực thuộc tỉnh là một loại hình đơn vị hành chính nhà nước hiện nay tại Việt Nam, tương đương cấp huyện, quận và thị xã. Thành phố trực thuộc tỉnh là một đô thị và là trung tâm hành chính, kinh tế của một tỉnh nhưng không phải tỉnh nào cũng có thành phố trực thuộc tỉnh. Một số thành phố trực thuộc tỉnh còn được chỉ định làm trung tâm kinh tế và văn hóa của cả một vùng (liên tỉnh). Tuy về loại hình, thành phố trực thuộc tỉnh là một đô thị và dân cư tại đó được xếp là dân thành thị, nhưng vẫn có thể còn một phần dân sống bằng nông nghiệp ở các xã ngoại thành.
== Các đơn vị hành chính tương đương ==
Thành phố trực thuộc tỉnh ngang cấp với huyện, quận hoặc thị xã, nhưng lớn hơn và có vị thế quan trọng hơn. Vai trò này được ghi rõ trong Nghị định của Chính phủ số 15/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 1 năm 2007 "Về phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp huyện": Thành phố thuộc tỉnh có vị trí là trung tâm chính trị, kinh tế - xã hội hoặc là trung tâm kinh tế, văn hoá, xã hội, khoa học kỹ thuật, du lịch, dịch vụ, đầu mối giao thông của tỉnh và giao lưu trong nước, quốc tế; có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội liên huyện, liên tỉnh và vùng lãnh thổ (điều 5). Cũng theo Nghị định này thì thành phố trực thuộc tỉnh là đơn vị hành chính cấp huyện loại I trong tổng số 3 loại.
== Các đơn vị hành chính cấp dưới ==
Một thành phố trực thuộc tỉnh được chia ra thành nhiều phường (phần nội thành) và xã (phần ngoại thành). Tại thời điểm tháng 07/2015, Việt Nam có 5 thành phố trực thuộc tỉnh không có xã nào là Hạ Long, Sóc Trăng, Đông Hà, Huế, Thủ Dầu Một.
== Danh sách các thành phố trực thuộc tỉnh ==
Các tỉnh đã có quyết định của Bộ chính trị xây dựng thành Thành phố trực thuộc Trung ương là:
Thừa Thiên-Huế (lấy Thành phố Huế làm Trung tâm)
Khánh Hòa (lấy Thành phố Nha Trang làm trung tâm)
Các tỉnh đang có đề án chuyển thành thành phố trực thuộc Trung ương là:
Bình Dương (2016-2020) (lấy Thành phố mới Bình Dương làm Trung tâm)
Thái Nguyên (trước năm 2020) (lấy Thành phố Thái Nguyên làm Trung tâm)
Bình Định (năm 2022) Quy nhơn sáp nhập huyện Tuy Phước, Thị xã An nhơn và một phần huyện Phù Cát để thành lập thành phố Quy Nhơn trực thuộc Trung ương và Tỉnh Bình Định (lấy thị xã Hoài Nhơn làm tỉnh lỵ)
Ninh Bình (lấy các Thành phố Ninh Bình và Tam Điệp làm Trung tâm)
Vĩnh Phúc (lấy Thành phố Vĩnh Yên làm Trung tâm)
Bắc Ninh (lấy Thành phố Bắc Ninh làm Trung tâm)
Quảng Ninh (lấy Thành phố Hạ Long làm Trung tâm)
Hiện nay, 1 tỉnh có 4 Thành phố trực thuộc là:
Quảng Ninh (Hạ Long, Móng Cái, Uông Bí, Cẩm Phả)
Hiện nay, 9 tỉnh có hai Thành phố trực thuộc là:
Thái Nguyên (Thái Nguyên, Sông Công)
Ninh Bình (Ninh Bình, Tam Điệp)
Thanh Hóa (Thanh Hóa, Sầm Sơn)
Quảng Nam (Tam Kỳ, Hội An)
Khánh Hòa (Nha Trang, Cam Ranh)
Lâm Đồng (Đà Lạt, Bảo Lộc)
Bà Rịa - Vũng Tàu (Bà Rịa, Vũng Tàu)
Đồng Tháp (Cao Lãnh, Sa Đéc)
An Giang (Long Xuyên, Châu Đốc)
Hiện nay, 2 tỉnh không có Thành phố trực thuộc là:
Bình Phước, Đắk Nông.
== Chú thích ==
== Chú thích ==
== Danh sách các thị xã là đô thị loại 3 ==
Các thị xã đô thị loại 3 được định hướng phát triển lên thành Thành phố Trực thuộc tỉnh trong tương lai gần:
Thị xã Cửa Lò, Nghệ An
Thị xã Phú Thọ, Phú Thọ
Thị xã Đồng Xoài, Bình Phước
Thị xã Ngã Bảy, Hậu Giang
Thị xã Gia Nghĩa, Đắk Nông
Thị xã Chí Linh, Hải Dương
Thị xã Sơn Tây, Hà Nội
Thị xã Hà Tiên, Kiên Giang
Thị xã Phúc Yên, Vĩnh Phúc
Thị xã Long Khánh, Đồng Nai
Thị xã Gò Công, Tiền Giang
== Một số huyện, thị xã đang có thủ tục đề nghị Chính phủ nâng cấp lên thành phố ==
Thị Xã La Gi (Bình Thuận)
Huyện Nhơn Trạch (Đồng Nai)
Huyện Phú Quốc (Kiên Giang)
== Xem thêm ==
Phân cấp hành chính Việt Nam
Thành phố (Việt Nam)
Tỉnh (Việt Nam)
Thành phố trực thuộc trung ương (Việt Nam)
Danh sách đơn vị hành chính cấp huyện của Việt Nam
Quận (Việt Nam)
Thị xã (Việt Nam)
Huyện (Việt Nam)
Phường (Việt Nam)
Danh sách thị trấn tại Việt Nam
Thị trấn (Việt Nam)
Thị trấn nông trường
Xã (Việt Nam)
== Chú thích ==
== Thư mục ==
TCTKVN (2009). Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009: Kết quả toàn bộ. Hà Nội: Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương.
== Liên kết ngoài ==
Nghị định số 62/2011/NĐ-CP của Chính phủ: Về thành lập thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận, phường, thị trấn Nguyễn Tấn Dũng 26 tháng 7 năm 2011
Thông tư số 02/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ: Hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 62/2011/NĐ-CP ngày 26 tháng 7 năm 2011 của Chính phủ về thành lập thành phố thuộc tỉnh, thị xã, quận, phường, thị trấn 15 tháng 6 năm 2012 |
hối lộ.txt | Hối lộ (tiếng Anh: bribery), còn gọi là mãi lộ, dân gian thường gọi là đút lót, là hành vi đưa tiền, hoặc vật phẩm có giá trị, hoặc những thứ khác khiến cho người nhận cảm thấy hài lòng, để mong muốn người nhận giúp đỡ mình thực hiện hành vi trái pháp luật.
== Các hình thức của hối lộ ==
Hối lộ vật chất
Tiền là thứ phổ biến nhất, do bởi nó nhẹ và có giá trị cao. Thời phong kiến ở phương Đông, người ta không dùng tiền mà thường dùng vàng hoặc bạc. Dù sao thì nó vẫn là phương tiện trao đổi tiền tệ.
Ngọc hoặc châu báu hoặc của lạ của một vùng nào đó, là những thứ thường được dùng trong thời phong kiến, được các quý bà (là người có uy quyền hoặc có chồng là người có uy quyền).
Người, ở đây thường là người con gái được đưa đi làm dâu hoặc hiến cho vua, hoặc đơn giản chỉ là để cho người nhận được quan hệ tình dục với người bị đem đi hối lộ.
Hối lộ phi vật chất
Các hình thức đưa và nhận hối lộ truyền thống - giao dịch tiền, quyền - hiện nay đã lạc hậu. Thay vào đó là hình thức hối lộ phi vật chất, hối lộ phi vật chất được chia thành ba loại:
Hối lộ tình dục: là điển hình của hối lộ phi vật chất; người đưa hối lộ thông qua phục vụ tình dục để mong đạt được lợi ích;
Hối lộ thông tin: là người đưa hối lộ cung cấp thông tin cho người nhận hối lộ để mưu cầu lợi ích; người nhận hối lộ cũng nhận được lợi ích từ thông tin được cung cấp. Thông tin này chủ yếu là về thăng chức, thuyên chuyển, bí mật thương mại, thông tin mật về kết án, v.v...;
Hối lộ thành tích: là hình thức hối lộ giữa cấp trên và cấp dưới trong cùng hệ thống, cùng ngành; người đưa hối lộ cố ý chuyển thành tích công việc cho cấp trên hưởng. Cũng có trường hợp cấp trên muốn được thăng chức cao hơn nên cố ý chiếm thành tích của nhân viên. Khi được thăng chức cao hơn, cấp trên sẽ điều động cấp dưới trở thành vị trí cao hơn và có lợi hơn.
== Nguyên nhân hối lộ ==
Việc tấn công tội phạm tham nhũng ngày càng gay gắt. Do vậy, quan tham cấp cao chỉ nhận hối lộ đến mức độ nào đó rồi thay đổi phương thức nhận hối lộ từ vật chất sang phi vật chất;
Vẫn còn tồn tại kẽ hở pháp luật. Công ước chống tham nhũng của LHQ xác định hối lộ bao gồm cả lợi ích vật chất và phi vật chất. Nhưng đến nay, các quy định pháp luật của đa số các quốc gia chỉ dừng lại đối tượng hối lộ là vật chất (tiền bạc, vật dụng, nhà cửa,...);
Thói quen quyền lực; người đưa hối lộ thường tìm cách với người có quyền thông qua quan hệ tình cảm. Dần dà người có quyền lực bị mê hoặc dẫn đến sai phạm và cuối cùng trở thành quan tham.
== Giải thích về hành vi hối lộ ==
Bản chất đây là hành vi "trao đổi" giữa lợi ích hai bên, dựa trên lý thuyết hành vi trao đổi hợp lý thì giải thích các mối quan hệ này phát triển có mục đích là cùng mang lại lợi ích giữa hai bên, quan hệ tạo nên lợi ích càng lớn thì mức độ tương tác xảy ra thường xuyên hơn, mạnh mẽ hơn. Và nó trở thành kỳ vọng mong muốn từ hai phía. Như vậy trong tương lai chúng sẽ được tiến hành lặp lại thành thói quen, có hệ thống và chuẩn mực rõ ràng hình thành lên khuân mẫu xã hội, một hiện tượng.
Hình mẫu hành động dựa trên hợp tác và trao đổi. Người này tự nguyện cho ra một cái gì đó mà anh ta cho rằng có thể không cần đến nó hoặc nó không quan trọng bằng thứ mà anh ta có thể nhận lại từ đối phương, và anh ta đánh giá thứ mà mình mang ra trao đổi có lợi ích cho đối phương hơn thứ đối phương dùng để trao đổi lại. Quá trình tiến hành trao đổi dựa trên đàm phám, thỏa thuận và vì lợi ích chung, ích kỷ về quyền lợi cá nhân từ hai phía. Nhưng dưới tác động đa chiều khi mạng lưới xã hội được trải ra và bao trùm lên cá nhân thì nó không còn đơn thuần là quá trình trao đổi thương lượng thông thường, công khai giữa hai bên. Hay nói cách khác nó bị điều chỉnh và biến thế hoặc tiềm ẩn đi hành động trao đổi này. Đó là hành vi tặng quà tết với mục đích hối lộ.
Dựa vào lý thuyết trên chúng ta có thể phân tích như sau:
Đối với hành vi tặng quà tết nhằm mục đích hối lộ, thứ mà họ mang ra trao đổi là món quà tết có giá trị… và việc đáp ứng mục đích tặng quà từ người nhận quà. Việc trao đổi này thực sự mang lại lợi ích lớn cho cả hai phía mà cái họ mất là không đáng kể. Ví như bỏ ra 10 triệu có thể được ưu tiên khu đất tốt sinh lời đến 100 triệu, còn đối phương "chẳng mất gì" mà có tiền tiêu tết. Vì thế dựa vào thuyết hành vi có thể thấy hành động được kích thích xảy ra thường xuyên và mạnh mẽ hơn. Và dưới tác động của lưới xã hội hành vi trao đổi bị bóp méo, lợi ích từ hai phía đã tác động lên lợi ích chung cả mạng lưới xã hội. Người hối lộ phải mất một khoản tiền lớn mà không chắc ăn đối phương có đáp ứng lại mục đích của mình hay không, và hành động của họ là phạm pháp và gian lận vì lợi dụng "mối quan hệ ràng buộc" tạo cơ hội tốt hơn hay cướp lấy cơ hội phần thưởng đáng lẽ ra của người khác. Như vậy họ phải tiến hành bí mật, tìm cách làm tiềm ẩn đi hành vi trao đổi phi pháp của mình. Và chính truyền thống tặng quà tết bị họ lợi dụng để tiến hành cuộc trao đổi ngầm có "tín hiệu chung mà hai bên cùng hiểu và biết mục đích của nhau" đó chính là giá trị món quà và mong muốn người tặng. Hành động lách luật này vô hình trung có điều kiện để tồn tại công khai, và ảnh hưởng xấu của nó lại được che giấu đi khiến lợi ích của xã hội bị tổn hại mà không có, hoặc có ít phản lực tác động lại làm triệt tiêu hành vi phi lý trên. Thế là "hành vi tặng quà tết nhằm mục đích hối lộ" tiếp tục xảy ra ngày càng mạnh mẽ hơn đang gây tổn hại lớn đến xã hội, lấy lợi chung đáp ứng lợi ích cá nhân, mất đi cơ hội ngang bằng nhau khi tiếp cận nguồn lực. Đôi khi nó còn là hành động ăn cắp trắng trợn, mua chuộc và tham ô tài sản người khác.
== Các vụ án hối lộ nổi tiếng ==
Quản lý viên của Apple nhận hối lộ một triệu USD: Paul Shin Devine - người quản lý nhận hàng thầu do các công ty ở Á châu cung cấp bị sở FBI và IRS (Sở Thuế vụ Hoa Kỳ) truy tố. Chính Apple, công ty mẹ cũng khởi đơn kiện Devine. Devine bị kết tội nhận hơn 1 triệu USD tiền mặt và rất nhiều món quà hối lộ có giá trị khác.
Úc hối lộ để giành hợp đồng in loại tiền polymer cho Việt Nam;
Vụ hối lộ quan chức Việt Nam của PCI.
== Hậu quả của việc hối lộ ==
== Luật pháp về hối lộ ==
== Nạn hối lộ trên doanh trường quốc tế ==
Nạn hối lộ có mặt không chỉ ở mức cá nhân mà cả ở tầng lớp công ty cổ phần và cơ quan công quyền. Nhóm Transparency International (Minh bạch Quốc tế) trong cuộc khảo sát 3000 giám đốc doanh thương trên 28 quốc gia năm 2011 cho biết Hòa Lan và Thụy Sĩ đứng đầu bảng (đồng hạng) thanh liêm trong khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Liên Bang Nga đội số về mặt nhân viên có thẩm quyền sẵn sàng đút lót để đoạt thầu.
=== Việt Nam hiện nay ===
Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam quy định việc trừng trị tội hối lộ.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
thái phiên (nhiếp ảnh gia).txt | Thái Phiên (tên đầy đủ Nguyễn Thái Phiên, sinh 1960 tại Huế) là một nghệ sĩ nhiếp ảnh nổi tiếng với nghệ thuật chụp ảnh khỏa thân. Ông bắt đầu chụp ảnh nghệ thuật từ năm 1992, khi đang là một kỹ sư Nông Lâm.
== Danh hiệu ==
Ông là hội viên của Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam (VAPA), đã được phong tước hiệu cao quý nhất: Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Đặc biệt Xuất sắc - E.VAPA/G (Gold Excellence Artist of Vietnam Association of Photographic Artist) và cũng là hội viên của Liên đoàn Nhiếp ảnh Quốc tế FIAP (Fédération Internationale de l'Art Photographique) với tước hiệu Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Xuất sắc - Excellence Artiste FIAP (E.FIAP).
Được Hiệp hội Nhiếp ảnh Hoa Kỳ PSA xếp hạng "Who's Who?".
Cuối năm 2008, tập sách ảnh Xuân Thì của ông được Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam VAPA tặng Cúp đồng (không có Cúp vàng và bạc).
Tháng 11/2014, ông được Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam (VAPA) trao tặng danh hiệu cao quý nhất: E.VAPA/G (Gold Excellence Artist of Vietnam Association of Photographic Artist) - Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Đặc biệt Xuất sắc với bộ ảnh "Bước thời gian". Bộ ảnh (15 tác phẩm) là câu chuyện kể về 1 giai đoạn đáng nhớ của đời người phụ nữ, ông đã dùng ánh sáng và ngôn ngữ nhiếp ảnh (sắc độ nặng - Low key lighting - sử dụng tông màu đen là chủ đạo) để diễn đạt nội tâm theo thời gian dần trôi...
Chia sẻ về bộ ảnh này, NSNA Thái Phiên cho biết: “Trong khoảnh khắc khi biết mình được phong tước hiệu E.VAPA/G, tôi nghĩ nhiều nhất đến những người đã từng làm mẫu cho tôi, họ là những người hy sinh, ẩn mình đằng sau những tác phẩm của tôi. Họ đã vượt qua nhiều thành trì định kiến của xã hội...”.
== Tác phẩm ==
Đến nay, Thái Phiên đã đoạt đã đoạt 50 giải thưởng, trong đó 25 giải thưởng quốc tế. Có 300 tác phẩm của ông được triển lãm tại trên 60 nước trên thế giới, trong đó hai tác phẩm nổi tiếng mang tên "Xuân thì" và "Lối về" được trưng bày vĩnh viễn tại Viện Bảo tàng Nhiếp ảnh Tây Ban Nha (MIF). Ngoài ra ông còn là chủ biên bộ sách Những tác phẩm nhiếp ảnh đoạt giải thưởng quốc tế, bộ sách (2 tập) được đưa vào thư viện của FIAP.
Cùng với sách ảnh "Xuân Thì", Nhà xuất bản Văn Nghệ thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2007, Thái Phiên còn xuất bản lịch treo tường và lịch để bàn với ảnh khỏa thân nghệ thuật năm 2009, 2010, 2011, 2013 .
Nghệ sĩ Thái Phiên hiện đang sống tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhận xét về nghệ thuật chụp ảnh nude của NSNA Thái Phiên, có người học trò của ông nhận xét: "Chụp ảnh Nude đẹp và tinh khiết như NSNA Thái Phiên thì cái Tâm đã phải sáng lắm rồi. Tâm sáng nghĩa là người biết Đạo..."
Về thưởng thức ảnh khỏa thân nghệ thuật, đã có lần Thái Phiên nói: "Xem những tác phẩm khoả thân chụp trong gió, ta cảm thấy tâm hồn mình thư thái, nhẹ bỗng lạ thường, như đang sống trong cõi mơ, như ta cùng người trong ảnh đã thoát tục tự thuở hồng hoang để nhẹ nhàng cất cánh bay lên, bay cao và lạc đến chốn Bồng Lai..."
"Đến với nghệ thuật nhiếp ảnh khỏa thân cần phải có Tâm Hồn. Tâm phải Tĩnh và Hồn phải Mỹ."
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của Thái Phiên
Trang Facebook chính thức của Thái Phiên |
hà tĩnh.txt | Hà Tĩnh là một tỉnh của Việt Nam, nằm ở khu vực Bắc Trung Bộ. Trước đây, Hà Tĩnh cùng với Nghệ An là một miền đất có cùng tên chung là Hoan Châu (thời Bắc thuộc), Nghệ An châu (thời Lý, Trần), xứ Nghệ (năm 1490, đời vua Lê Thánh Tông), rồi trấn Nghệ An. Năm 1831, vua Minh Mạng chia trấn Nghệ An thành hai tỉnh: Nghệ An (bắc sông Lam) và Hà Tĩnh (nam sông Lam).
Năm 1976, Hà Tĩnh sáp nhập với Nghệ An, lấy tên là Nghệ Tĩnh. Năm 1991, Quốc hội Việt Nam khóa VIII ra nghị quyết chia tỉnh Nghệ Tĩnh, tái lập tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh.
== Địa lý ==
=== Vị trí ===
Hà Tĩnh trải dài từ 17°54’ đến 18°37’ vĩ Bắc và từ 106°30’ đến 105°07’ kinh Đông. Phía Bắc giáp tỉnh Nghệ An, phía Nam giáp tỉnh Quảng Bình, phía Tây giáp hai tỉnh Borikhamxay và Khammuane của Lào, phía Đông giáp Biển Đông.
=== Địa hình ===
Hà Tĩnh nằm cách thủ đô Hà Nội 340 km về phía nam, ở phía đông dãy Trường Sơn với địa hình hẹp, dốc và nghiêng từ tây sang đông, độ dốc trung bình 1,2%, có nơi 1,8%. Lãnh thổ chạy dài theo hướng tây bắc - đông nam và bị chia cắt mạnh bởi các sông suối nhỏ của dãy Trường Sơn với nhiều dạng địa hình chuyển tiếp, xen kẻ lẫn nhau. Sườn Đông của dãy Trường Sơn nằm ở phía tây, có độ cao trung bình 1500 mét, đỉnh Rào Cọ 2.235 mét, phía dưới là vùng đồi thấp giống bát úp, tiếp nữa là dải đồng bằng nhỏ hẹp chạy ra biển có độ cao trung bình 5 mét và sau cùng là dãy cát ven biển bị nhiều cửa lạch chia cắt. Tỉnh Hà Tĩnh được chia làm 4 loại địa hình cơ bản gồm:
Vùng núi cao nằm ở phía Đông của dãy Trường Sơn, địa hình dốc bị chia cắt mạnh, tạo nên thành những thung lũng nhỏ hẹp chạy dọc theo các triền sông lớn của hệ thống sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu và Rào Trổ.
Vùng trung du và bán sơn địa là vùng chuyển từ vùng núi cao xuống vùng đồng bằng, chạy dọc phía tây nam đường Hồ Chí Minh, địa hình có dạng xen lẫn giữa các đồi trung bình và thấp với đất ruộng.
Vùng đồng bằng chạy dọc hai bên Quốc lộ 1A theo chân núi Trà Sơn và dải ven biển với địa hình tương đối bằng phẳng do quá trình bồi tụ phù sa của các sông, phù sa biển trên các vỏ phong hoá Feralit hay trầm tích biển.
Vùng ven biển nằm ở phía Đông đường Quốc lộ 1A, địa hình vùng này được tạo bởi những đụn cát, ở những vùng trũng được lấp đầy bởi những trầm tích, đầm phá hay phù sa. Ngoài ra, vùng này còn xuất hiện các dãy đồi núi sót chạy dọc ven biển và nhiều bãi ngập mặn được tạo ra từ nhiều cửa sông.
=== Khí hậu ===
Hà Tĩnh nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa nóng ẩm, mưa nhiều. Ngoài ra, Hà Tĩnh còn chịu ảnh hưởng của khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam, với đặc trưng khí hậu nhiệt đới điển hình của miền Nam và có một mùa đông giá lạnh của miền Bắc; nên thời tiết, khí hậu rất khắc nghiệt. Hàng năm, Hà Tĩnh có hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa hè:
Mùa hè: Từ tháng 4 đến tháng 10, đây là mùa nắng gắt, khô hạn kéo dài kèm theo nhiều đợt gió phơn Tây Nam (gió Lào) khô nóng, nhiệt độ có thể lên tới hơn 40oC, khoảng cuối tháng 7 đến tháng 10 thường có nhiều đợt bão kèm theo mưa lớn gây ngập úng nhiều nơi, lượng mưa lớn nhất 500 mm/ngày đêm.
Mùa đông: Từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, mùa này chủ yếu có gió mùa Đông Bắc kéo theo gió lạnh và mưa phùn, nhiệt độ có thể xuống tới 7oC.
== Tài nguyên thiên nhiên ==
Hà Tĩnh hiện có 276.003 ha rừng, gồm 199.847 ha rừng tự nhiên và 76.156 ha rừng trồng, với độ che phủ của rừng đạt 45 %. Rừng tự nhiên thường gặp là kiểu rừng nhiệt đới, vùng núi cao có thể gặp các loại rừng lá kim á nhiệt đới. Rừng trồng phần lớn là thông nhựa. Hà Tĩnh có thảm thực vật rừng đa dạng với hơn 86 họ và 500 loài cây gỗ, gồm nhiều loại gỗ quý như lim xanh, sến, táu, đinh, gụ, pơmu... và nhiều loài thú quý hiếm như hổ, báo, hươu đen, dê sừng thẳng, trĩ, gà lôi và các loài bò sát khác.
Hà Tĩnh có bờ biển dài 137 km với nhiều cửa sông lớn với khoảng 267 loài cá, thuộc 90 họ, trong đó có 60 loài có giá trị kinh tế cao, 20 loài tôm, nhuyễn thể như sò, mực,.... Về khoáng sản, tỉnh có trữ lượng khoáng sản nằm rải rác ở hầu khắp các huyện gồm than đá, sắt, thiếc, phosphorit, than bùn, kaolin, cát thuỷ tinh, thạch anh.
Hà Tĩnh có nhiều sông nhỏ và bé chảy qua, con sông lớn nhất là sông La và sông Lam, ngoài ra có con sông Ngàn Phố, Ngàn Sâu, Ngàn Trươi, Rào Cái, Tổng chiều dài các con sông khoảng 400 km, tổng sức chứa 13 tỷ m³. còn hồ Kẻ Gỗ, hồ Sông Rác, hồ Cửa Thờ Trại Tiểu, Đập Đồng Quốc Cổ Đạm... ước 600 triệu m³.
== Hành chính ==
Hà Tĩnh có 13 đơn vị hành chính cấp huyện gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 10 huyện, trong đó có với 262 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 11 thị trấn, 21 phường và 230 xã:
== Lịch sử ==
Trước thời các vua Hùng dựng nước, Hà Tĩnh cùng với Nghệ An là nước Việt Thường.
Thời các vua Hùng dựng nước Văn Lang liên bộ lạc, theo Đại Việt sử ký toàn thư, Hà Tĩnh thuộc bộ Cửu Đức
Thời nhà Hán (Bắc thuộc), đất Hà Tĩnh ngày nay thuộc huyện Hàm Hoan thuộc quận Cửu Chân
Thời nhà Ngô (thời độc lập tự chủ), thuộc Cửu Đức
Thời nhà Đinh, nhà Tiền Lê: gọi là Hoan Châu, vùng địa đầu phía Nam của nước Đại Cồ Việt, tiếp giáp với nước Chiêm Thành và nước Ai Lao.
Thời Lý-Trần, từ năm 1030, bắt đầu gọi là châu Nghệ An. Vào đầu thời kỳ này (đầu thời nhà Lý), đất Hà Tĩnh (phía Bắc đèo Ngang) vẫn là vùng đất biên cương của Đại Việt với Chiêm Thành.
Thời nhà Hậu Lê, từ năm Hồng Đức thứ 20 (1490) vua Lê Thánh Tông đặt ra thừa tuyên Nghệ An, nhưng vùng đất Nghệ An-Hà Tĩnh ngày nay cũng còn được gọi là xứ Nghệ An, phần đất thuộc tỉnh Hà Tĩnh ngày nay là đất thuộc 2 phủ Đức Quang (tức phủ Đức Thọ sau này) và phủ Hà Hoa (sau còn gọi là phủ Hà Thanh). Phủ Hà Hoa gồm 2 huyện: Thạch Hà và Kỳ Hoa (tức Kỳ Anh và Hoa Xuyên sau này). Phủ Đức Quang gồm 6 huyện: Thiên Lộc (tức Can Lộc), La Sơn (tức Đức Thọ ngày nay), Hương Sơn, Nghi Xuân, Chân Phúc (tức Nghi Lộc Nghệ An), Thanh Chương (Nghệ An).
Thời Tây Sơn, vùng đất Nghệ An-Hà Tĩnh được gọi chung là Nghĩa An trấn
Nhà Nguyễn năm Gia Long nguyên niên (1802) lại đặt làm Nghệ An trấn
Năm 1831, vua Minh Mạng chia trấn Nghệ An thành 2 tỉnh: Nghệ An (phía Bắc sông Lam); Hà Tĩnh (phía nam sông Lam). Tỉnh Hà Tĩnh được thành lập với 2 phủ Đức Thọ và Hà Hoa của trấn Nghệ An trước đó. Năm Minh Mạng 17 (1838) lập thêm huyện Hoa Xuyên thuộc phủ Hà Hoa (Hoa Xuyên tức là Cẩm Xuyên ngày nay). Năm Minh Mạng 21 (1840), 2 huyện (trước của vương quốc Viêng Chăn bị diệt vong bởi Xiêm La và đất châu Trịnh Cao) là: Cam Cát (tức Khamkheuth tỉnh Borikhamxay) và Cam Môn (tức vùng các huyện Hương Khê, Vũ Quang và phia Đông Bắc tỉnh Khammuane ngày nay), từng nhập vào phủ Trấn Định (tức Ngọc Ma) thuộc xứ Nghệ của Đại Nam, đến lúc đó Minh Mạng cho nhập vào phủ Đức Thọ của tỉnh Hà Tĩnh. Năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), đổi phủ Hà Hoa thành phủ Hà Thanh (do kỵ húy), đồng thời Thiệu Trị lấy cả 3 phủ Trấn Định, Trấn Tĩnh, Lạc Biên (trước thuộc Nghệ An) nhập vào tỉnh Hà Tĩnh.
Năm Tự Đức thứ 6 (năm 1853) đổi tỉnh Hà Tĩnh làm đạo, hợp vào Nghệ An thành An Tĩnh.
Năm Tự Đức thứ 29 (năm 1876) lại đặt tỉnh Hà Tĩnh như cũ.
Thời Pháp thuộc tỉnh Hà Tĩnh thuộc xứ Trung Kỳ nằm trong Liên bang Đông Dương của Pháp. Các phủ huyện là đất (các tỉnh Khammuane, Borikhamxay) thuộc Lào ngày nay (tức là đất các phủ Trấn Định, Trấn Tĩnh, Lạc Biên) bị cắt về xứ Lào thuộc Pháp, và từ đó không thuộc Việt Nam nữa.
Thời nước Việt Nam độc lập (sau 1945), tỉnh Hà Tĩnh là một tỉnh thuộc vùng Trung Bộ Việt Nam. Sau năm 1954, Hà Tĩnh thuộc Bắc Việt (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa).
Từ sau khi Việt Nam thống nhất (Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam), giai đoạn 1976-1991, 2 tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh nhập làm một tỉnh và được gọi là tỉnh Nghệ Tĩnh
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Nghệ Tĩnh lại tách ra thành Nghệ An và Hà Tĩnh như ngày nay. Khi tách ra, tỉnh Hà Tĩnh có 9 đơn vị hành chính gồm thị xã Hà Tĩnh và 8 huyện: Cẩm Xuyên, Can Lộc, Đức Thọ, Hương Khê, Hương Sơn, Kỳ Anh, Nghi Xuân, Thạch Hà.
Ngày 2 tháng 3 năm 1992, thành lập thị xã Hồng Lĩnh thuộc tỉnh Hà Tĩnh trên cơ sở tách thị trấn Hồng Lĩnh; 2 xã: Đức Thuận, Trung Lương; một phần xã Đức Thịnh thuộc huyện Đức Thọ và 2 xã: Đậu Liêu và Thuận Lộc thuộc huyện Can Lộc.
Ngày 4 tháng 8 năm 2000, huyện Vũ Quang được thành lập trên cơ sở tách 6 xã: Đức Lĩnh, Đức Giang, Đức Liên, Ân Phú, Đức Hương, Đức Bồng thuộc huyện Đức Thọ, 5 xã: Hương Thọ, Hương Minh, Hương Đại, Hương Điền, Hương Quang, Hương Trạch, thuộc huyện Hương Khê và xã Sơn Thọ thuộc huyện Hương Sơn.
Ngày 7 tháng 2 năm 2007, huyện Lộc Hà được thành lập trên cơ sở tách 7 xã ven biển: Ích Hậu, Hồng Lộc, Phù Lưu, Bình Lộc, Tân Lộc, An Lộc, Thịnh Lộc thuộc huyện Can Lộc và 6 xã ven biển: Thạch Kim, Thạch Bằng, Thạch Châu, Mai Phụ, Hộ Độ, Thạch Mỹ thuộc huyện Thạch Hà.
Ngày 28 tháng 5 năm 2007, chuyển thị xã Hà Tĩnh thành thành phố Hà Tĩnh.
Ngày 6 tháng 4 năm 2015, thị xã Kỳ Anh được thành lập trên cơ sở tách thị trấn Kỳ Anh và 11 xã: Kỳ Hà, Kỳ Ninh, Kỳ Lợi, Kỳ Trinh, Kỳ Thịnh, Kỳ Long, Kỳ Liên, Kỳ Phương, Kỳ Nam, Kỳ Hưng, Kỳ Hoa thuộc huyện Kỳ Anh.
== Dân cư & Tôn giáo ==
=== Dân cư ===
Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Hà Tĩnh đạt gần 1.229.300 người, mật độ dân số đạt 205 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 196.800 người, dân số sống tại nông thôn đạt 1.032.500 người. Dân số nam đạt 607.600 người, trong khi đó nữ đạt 621.700 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 4.8 ‰.
Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, trên địa bàn toàn tỉnh có 31 dân tộc cùng 1 người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc kinh là đông nhất với 1.224.869 người, xếp ở vị trí thứ hai là người Mường với 549 người, người Thái đứng ở vị trí thứ 3 với 500 người, thứ 4 là người Lào với 433 người. Ngoài ra, Tỉnh còn có một số dân tộc ít người khác gồm: Tày, Khmer, Hoa, Nùng, Mông, Dao, Gia Rai, Ê Đê, Ba Na, Sán Chay, Chăm, Cơ Ho, Xơ Đăng, Sán Dìu, Hrê, Raglay, Mnông, Thổ, Khơ Mú, Tà Ôi, Mạ, Giẻ - Triêng, La Chí, Chứt, Lô Lô, Cơ Lao, Cống.
=== Tôn giáo ===
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, Toàn tỉnh Hà Tĩnh có 8 Tôn giáo khác nhau chiếm 132.961 người. Trong đó, nhiều nhất là Công giáo có 131.972 người, thứ 2 là Phật giáo có 935 người và các tôn giáo khác là Phật giáo Hòa Hảo 7 người, Hồi giáo Việt Nam 6 người, Minh Lý Đạo 4 người, Tin Lành 18 người, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa 1 người, Đạo Bửu Sơn Kỳ Hương 5 người.
Riêng đạo Công giáo, Hà Tĩnh là một trong 15 tỉnh, thành phố có số lượng tín đồ đạo Công giáo đông nhất toàn quốc, hiện nay có 6 giáo hạt, 58 giáo xứ, 231 họ đạo, 3 tu viện thuộc dòng Mến Thánh giá Vinh, ngoài ra còn một số cơ sở, nhóm nữ tu Dòng Mến Thánh giá, Dòng Bác ái. Hiện nay toàn tỉnh có 56 linh mục và hơn 150 nữ tu ở các cơ sở dòng, nhóm nữ tu, có 149.273 giáo dân, chiếm 11,5% dân số, có 131/262 xã, phường, thị trấn có đông giáo dân và có 461 khu dân cư vùng giáo, trong đó 114 vùng giáo toàn tòng.
== Kinh tế ==
Hà Tĩnh có Khu kinh tế Vũng Áng được xem là khu kinh tế ven biển trọng điểm quốc gia, với sản phẩm công nghiệp chủ lực là thép (22,5 triệu tấn), nhiệt điện (7.000MW) và dịch vụ cảng nước sâu với 59 cầu cảng cho tàu từ 5 vạn đến 30 vạn tấn cập bến.
== Văn hóa ==
Xứ Nghệ là tên chung của vùng Hoan Châu cũ (bao gồm cả Nghệ An và Hà Tĩnh) từ thời nhà Hậu Lê. Hai tỉnh này cùng chung một vùng văn hóa gọi là văn hóa Lam Hồng, có chung biểu tượng là núi Hồng - sông Lam. Hai tỉnh này có cùng phương ngữ- tiếng Nghệ, cùng kho tàng văn hóa dân gian, cùng ca câu hò ví dặm, cùng uống chung dòng nước sông Lam.
Hà Tĩnh là một vùng đất nằm trên dải đất miền Trung, phía nam sông Lam, thiên nhiên không mấy ưu đãi, nhưng lại được coi là nơi "địa linh nhân kiệt"[1]. Nhiều làng quê ở Hà Tĩnh nổi tiếng văn chương, khoa bảng và kiên cường. Nhiều anh hùng, danh nhân Việt Nam xuất thân từ Hà Tĩnh.
Núi Hồng Lĩnh với 99 ngọn cùng sông Ngàn Phố, sông Ngàn Sâu và sông La, sông Lam là nguồn cảm hứng cho các thế hệ thi nhân, nhạc sĩ. Núi Hồng Lĩnh là một trong số các địa danh được khắc vào Bách khoa thư cửu đỉnh hiện đang đặt tại cố đô Huế.
Phía đông Hồng Lĩnh là làng Tiên Điền của đại thi hào Nguyễn Du, tác giả của Truyện Kiều. Phía tây nam núi Hồng lĩnh là làng "Bát cảnh Trường Lưu" của dòng họ Nguyễn Huy. Hai làng văn hiến ở hai sườn đông và tây núi Hồng Lĩnh ấy đã tạo nên một Hồng Sơn văn phái với những tác phẩm tiêu biểu như Hoa tiên (của Nguyễn Huy Tự), Mai Đình mộng ký (của Nguyễn Huy Hổ), Truyện Kiều.
Các làng Thu Hoạch, Trường Lưu, Tiên Điền, Uy Viễn, Đông Thái, Yên Hội, Gôi Mỹ, Thần Đầu, Trung Lễ, Bùi Xá, Ích Hậu, Trung Lương, Ân Phú... nổi danh về truyền thống học hành, khoa bảng và văn chương
Hà Tĩnh còn có nhiều làng văn nghệ nổi tiếng trong vùng như: làng hát ca trù Cổ Đạm, chèo Kiều Xuân Liên, hát ví phường vải Trương Lưu, hò ví dặm Đan Du, Phong Phú... Nhiều làng nền nếp, phong lưu có nhiều lễ hội, hương ước, phong tục như: Kim Chùy, Hội Thống, Đan Trường, Kim Đôi, Phù Lưu Thượng... Các làng truyền thống với những giọng hò nổi tiếng quanh núi Hồng Lĩnh, ven dòng sông Lam, sông La, sông Ngàn Sâu, sông Ngàn Phố đã để lại nhiều thơ văn và trước tác.
== Giao thông ==
Hà Tĩnh là tuyến giao thông huyết mạch, có đường Quốc lộ 1A đi qua với chiều dài 127,3 km (xếp thứ 3 trong các tỉnh có Quốc lộ 1A đi qua), 87 km đường Hồ Chí Minh và tuyến đường sắt Bắc - Nam chạy dọc theo hướng Bắc Nam với chiều dài 70 km. Ngoài ra, tỉnh còn có đường Quốc lộ 8A chạy sang Lào qua cửa khẩu Quốc tế Cầu Treo với chiều dài 85 km, Quốc lộ 12 dài 55 km đi từ cảng Vũng Áng qua Quảng Bình đến cửa khẩu Cha Lo sang Lào và Đông Bắc Thái Lan. Hà Tĩnh còn có 137 km bờ biển với nhiều cảng và cửa sông lớn.
== Di tích ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Ủy ban Nhân dân tỉnh Hà Tĩnh
Thông tin cơ bản tỉnh Hà Tĩnh |
trường giang.txt | Trường Giang (giản thể: 长江; phồn thể: 長江; pinyin: Cháng Jiāng; Wade-Giles: Ch'ang Chiang) hay sông Dương Tử (扬子江 , Yángzǐ Jiāng hay Yangtze Kiang; Hán-Việt: Dương Tử Giang) là con sông dài nhất châu Á và đứng thứ ba trên thế giới sau sông Nin ở Châu Phi, sông Amazon ở Nam Mỹ.
Trường Giang dài khoảng 6.385 km, bắt nguồn từ phía tây Trung Quốc (Thanh Hải) và chảy về phía đông đổ ra Biển Hoa Đông, Trung Quốc. Thông thường sông này được coi như điểm phân chia giữa hai miền Hoa Bắc và Hoa Nam Trung Quốc, mặc dù sông Hoài (淮河) cũng đôi khi được coi như vậy.
Cùng với Hoàng Hà, Trường Giang là sông quan trọng nhất trong lịch sử, văn hóa, và kinh tế của Trung Quốc. Đồng bằng châu thổ Trường Giang màu mỡ tạo ra 20% GDP của Trung Quốc. Trường Giang chảy qua nhiều hệ sinh thái đa dạng và bản thân nó cũng là nơi sinh sống cho nhiều loài đặc hữu và loài nguy cấp như Cá sấu Trung Quốc và Cá tầm Dương Tử. Qua hàng ngàn năm, người dân đã sử dụng con sông để lấy nước, tưới tiêu, ngọt hóa, vận tải, công nghệp, ranh giới và chiến tranh. Đập Tam Hiệp trên Trường Giang là công trình thủy điện lớn nhất thế giới.
Trong những năm gần đây, con sông phải chịu đựng những chất ô nhiễm từ công nghiệp, nông nghiệp, và mất nhiều vùng đất ngập nước và hồ, làm gia tăng yếu tố lũ theo mùa. Một số đoạn sông hiện đang được bảo vệ làm các khu bảo tồn thiên nhiên. Một đoạn sông Trường Giang chảy qua các hẻm núi sâu, hẹp ở phía đông Vân Nam được công nhận là một phần của khu bảo tồn Sông Vân Nam, một di sản thế giới của UNESCO.
== Tên gọi ==
Tên gọi Dương Tử nguyên thủy là tên gọi của người dân khu vực hạ lưu sông này để chỉ khúc sông chảy qua đó. Vì được phổ biến qua những nhà nhà truyền giáo châu Âu nên tên "Dương Tử" đã được dùng trong tiếng Anh để chỉ cả con sông (Yangtse, Yangtze Kiang). Phần còn lại của bài này sẽ dùng tên Trường Giang để chỉ con sông này. Con sông này đôi khi còn được gọi là Thủy lộ Vàng (Golden Waterway).
Con sông này mang nhiều tên khác nhau tùy theo khu vực mà nó chảy qua. Ở cao nguyên Thanh Tạng, Tây Tạng, nó được gọi là Vbri-chu (འབྲི་ཆུ་ trong tiếng Tây Tạng, nghĩa là "dòng sông bò yak cái"). Ở thượng nguồn, thuộc tỉnh Thanh Hải sông được gọi là Đà Đà hà (沱沱河), Đương Khúc hà (當曲河), Thông Thiên hà (通天河). Đoạn từ Thanh Hải chảy đến Nghi Tân tỉnh Tứ Xuyên được gọi là Kim Sa giang (金沙江). Đoạn từ Nghi Tân đến Nghi Xương được gọi là Xuyên giang (川江). Đoạn từ Nghi Đô tỉnh Hồ Bắc đến Nhạc Dương tỉnh Hồ Nam được gọi là Kinh giang (荊江) (xưa là đất Kinh Châu). Cuối cùng, khi chảy qua khu vực Dương Châu tỉnh Giang Tô nó được gọi là Dương Tử giang (揚子江). Một số học giả cho rằng chữ "giang" (江) (âm Hán cổ của 江 là "kroong") có nguồn gốc phát âm từ các ngôn ngữ trong hệ ngôn ngữ Nam Á (như " Kraong" trong tiếng Champa hay "krung" trong tiếng Mông cổ).
== Địa lý ==
Con sông bắt nguồn từ một số nhánh ở thượng lưu, tuy nhiên hai trong số đó được xem là đầu nguồn của nó là nhánh Tuotuo và Dan Qu. Chính phủ Trung Quốc thì cho rằng nguồn nhánh Tuotuo bắt đầu từ chân của băng hà nằm ở phía tây của núi Geladandong ở dãi núi Dangla rìa phía đông của cao nguyên Thanh Tạng. Tuy nhiên theo các nguồn địa lý (như sông dài nhất tính từ biển) thì nguồn của nó nằm ở vùng đất ngập nước ở tọa độ 32°36′14″B 94°30′44″Đ và độ cao 5170 m trên mực nước biển, chính là đầu nguồn của nhánh Dan Qu. Các nhánh này hợp lưu và sau đó chảy về phía đông qua Qinghai, rồi vòng về phía nam tạo thành một thung lũng sâu ở ranh giới của Tứ Xuyên và Tây Tạng rồi mới đến Vân Nam. Trong phạm vi thung lũng này, cao độ của sông giảm mạnh từ trên 5000m xuống dưới 1000m.
Sông được hình thành từ Eocene, khoảng 45 triệu năm trước nhưng một số người không chấp nhận quan điểm này.
== Lịch sử ==
Sông Dương Tử góp phần quan trọng trong việc hình thành các nguồn gốc văn hóa miền nam Trung Quốc. Hoạt động của con người đã được phát hiện ở khu vực Tam Hiệp cách đây 27.000 năm.
== Đặc trưng ==
Trường Giang là con sông lớn nhất của Trung Quốc về chiều dài, lượng nước chảy, diện tích, lưu vực và ảnh hưởng kinh tế. Trường Giang bắt nguồn từ vùng cao nguyên tỉnh Thanh Hải, chảy về hướng nam, dọc theo ranh giới cao nguyên Tây Tạng vào địa phận tỉnh Vân Nam, sau đó rẽ sang hướng đông bắc vào tỉnh Tứ Xuyên, qua các tỉnh Hồ Bắc, Giang Tây, An Huy và Giang Tô rồi đổ ra biển ở giữa Hoàng Hải và Nam Hải.
Vào tháng 6 năm 2003 công trình đập Tam Hiệp đã nối liền hai bờ sông, làm ngập lụt thị trấn Phụng Tiết, là khu dân cư đầu tiên trong các khu vực dân cư chịu ảnh hưởng của dự án kiểm soát lụt lội và phát điện này. Dự án này là lớn nhất so với các dự án thủy lợi khác trên thế giới. Nó sẽ giải phóng người dân hai bên bờ con sông này khỏi cảnh ngập lụt là mối đe dọa thường xuyên trong quá khứ cũng như cung cấp cho họ điện năng và vận tải đường thủy - mặc dù phải chấp nhận hy sinh vĩnh viễn một số thành phố và tạo ra sự thay đổi lớn trong hệ sinh thái khu vực.
Con sông này cũng là nơi sinh sống duy nhất của một số động vật trong danh sách báo động nguy hiểm như cá heo sông Trung Quốc (năm 1998 chỉ còn khoảng 7 con) hay cá kiếm Trung Quốc (cá tầm thìa).
Trường Giang là đầu mối giao thông quan trọng của Trung Quốc. Nó nối liền Trung Hoa lục địa với bờ biển. Việc vận chuyển trên sông rất đa dạng từ vận chuyển than, hàng hóa tiêu dùng và hành khách. Các chuyến tàu thủy trên sông trong vài ngày sẽ đưa ta qua các khu vực có phong cảnh đẹp như khu vực Tam Hiệp ngày càng trở nên phổ thông hơn làm cho du lịch Trung Quốc phát triển.
Những trận ngập lụt dọc theo hai bờ sông đã từng là vấn đề lớn, lần gần đây nhất là năm 1998, nhưng gây thảm họa lớn hơn cả là năm 1954. Trận ngập lụt sông Dương Tử này đã giết chết khoảng 30.000 người. Những trận ngập lụt nặng nề nhất diễn ra năm 1911 giết chết khoảng 100.000 người, năm 1931 (145.000 người chết) và năm 1935 (142.000 người chết).
== Các thành phố nổi tiếng dọc bờ sông ==
Nghi Tân
Lô Châu
Trùng Khánh
Phong Đô
Nghi Xương (Bạch Đế Thành)
Sa Thị tức Kinh Châu cũ gắn với tên tuổi Quan Vũ thời Tam Quốc
Trấn Giang
Vũ Hán do Hán Dương, Hán Khẩu và Vũ Xương hợp thành
Cửu Giang
Tô Châu
Quý Trì
Nam Kinh
Thượng Hải
== Một số sông nhánh ==
Sông Dương Tử có hơn 700 chi lưu. Các chi lưu chính được liệt kê bên dưới theo thứ tự từ thượng nguồn xuống và nơi mà nó hợp lưu với sông chính:
Đà Giang
Tương Giang
Hán Thủy
Nhã Lung Giang
Mạnh Giang
Gia Lăng Giang
Ô Giang
Cám Giang
Tư Thủy
Dân Giang
== Hồ nổi tiếng ==
Hồ Động Đình gắn với tên tuổi nhiều nhà thơ nổi tiếng như Thôi Hiệu, Lý Bạch
Hồ Bà Dương
== Sinh vật ==
Sông Trường Giang là nơi sinh sống của một số loài cực kỳ nguy cấp như cá sấu Trung Quốc, cá heo không vây, cá kiếm Trung Quốc, và Cá heo sông Dương Tử. Đây là nơi duy nhất ngoài Hoa Kỳ có loài cá sấu bản địa và paddlefish. Cá heo không vây theo ước tính năm 2010 chỉ còn 1000 cá thể, sự suy giảm này do việc sử dụng tuyến sông phục vụ thương mại cùng với du lịch và ô nhiễm môi trường.
== Xem thêm ==
Đồng bằng Trường Giang
Đồng bằng Giang Nam
Danh sách các sông Trung Quốc
Đập Tam Hiệp
Địa lý Trung Quốc
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Thủy kinh chú sớ |
đại học columbia.txt | Viện Đại học Columbia (tiếng Anh: Columbia University), còn gọi là Đại học Columbia, là một viện đại học nghiên cứu tư thục ở khu vực Morningside Heights, quận Manhattan, thành phố New York, tiểu bang New York, Hoa Kỳ. Columbia là một thành viên của Ivy League. Columbia là cơ sở giáo dục đại học lâu đời nhất tại tiểu bang New York, lâu đời thứ năm tại Hoa Kỳ, và là một trong chín đại học thuộc địa được thành lập trước Cách mạng Hoa Kỳ. Trường được thành lập vào năm 1754 với tên King's College dưới hiến chương hoàng gia của vua George đệ Nhị của Vương quốc Anh, và là một trong ba trường đại học duy nhất tại Hoa Kỳ được thành lập dưới đặc quyền này.
Columbia hàng năm điều hành giải thưởng văn học Mỹ, giải Pulitzer, và là một trong những thành viên sáng lập của Hiệp hội các Viện Đại học Hoa Kỳ. Columbia có mối liên kết với các chủ nhân giải Nobel nhiều hơn bất kỳ học viện nào khác trên thế giới. Quỹ tài trợ và tài chính dành cho nghiên cứu hàng năm của Columbia thuộc vào loại lớn nhất trong các viện đại học tại Hoa Kỳ. Viện Đại học Columbia hiện tại có bốn trung tâm toàn cầu tại Amman, Jordan; Bắc Kinh, Trung Quốc; Paris, Pháp; và Mumbai, Ấn Độ.
Cựu học sinh và các thành viên liên kết nổi tiếng của Viện Đại học bao gồm: năm nhà Khai Quốc Hoa Kỳ (Founding Fathers of the United States); bốn Tổng thống Hoa Kỳ, bao gồm cả người đương nhiệm; chín Thẩm phán của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ; 15 Nguyên thủ Quốc gia ngoài Mỹ; 97 chủ nhân giải Nobel, nhiều hơn bất cứ viện đại học nào khác; 101 chủ nhân giải Pulitzer, nhiều hơn bất cứ viện đại học nào khác; 25 chủ nhân giải Oscar, với tổng số giải Oscar giành được là 30 giải, nhiều hơn bất cứ viện đại học nào khác; và hàng loạt chủ nhân của các giải thưởng danh giá trong nhiều lĩnh vực. Columbia hiện là nơi công tác và giảng dạy của chín chủ nhân giải Nobel, 30 chủ nhân giải MacArthur Genius, bốn chủ nhân của Huy chương Khoa học Quốc gia Mỹ, 143 thành viên của Viện Hàn lâm Nghệ thuật và Khoa học Mỹ, 38 thành viên của Viện Y tế thuộc nhóm các Viện Hàn lâm Quốc gia Mỹ, 20 thành viên của Viện Hàn lâm Kỹ thuật Hoa Kỳ, và 43 thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Hoa Kỳ.
== Lịch sử ==
Columbia là học viện cấp cao lâu đời nhất tại tiểu bang New York. Được thành lập và ban đặc quyền dưới tên King's College vào năm 1754, Columbia là trường lâu đời thứ sáu tại Hoa Kỳ căn cứ theo năm thành lập, và thứ năm căn cứ theo năm được trao hiến chương. Viện Đại học hiện tại hoạt động dưới hiến chương trao năm 1787, nghĩa là dưới sự quản lý của một hội đồng tín nhiệm tư. Trong vòng hơn 250 năm, trải qua nhiều biến cố và phải thay đổi địa điểm giảng dạy, Columbia đã phát triển từ một đại học nhỏ, trở thành một viện đại học bao gồm 20 đại học và học viện liên kết khác nhau.
=== King’s College ===
Thảo luận xung quanh việc thành lập một đại học cấp cao tại tỉnh New York (bấy giờ còn là thuộc địa của Anh) bắt đầu từ năm 1704. Tuy nhiên, những dự kiến đưa ra chỉ nhận được sự cân nhắc nghiêm túc sau khi một số cựu học sinh Đại học Yale sinh sống tại thành phố New York tỏ ra lo ngại trước việc Đại học New Jersey (nay là Viện Đại học Princeton) được thành lập vào năm 1746. Lo ngại này xuất phát từ khác biệt về tôn giáo giữa New York trực thuộc Giáo hội Anh và New Jersey vốn chịu nhiều ảnh hưởng của Giáo hội Trưởng Lão; bên cạnh đó, cư dân địa phương sợ rằng New York sẽ trở nên kém cạnh về văn hóa và tri thức so với bờ bên kia sông Hudson. Do vậy, họ thành lập học viện riêng của New York như là một trường cạnh tranh với Đại học New Jersey. Các lớp học bắt đầu vào ngày 17 tháng 7, 1754 tại sân của nhà thờ Trinity với Samuel Johnson là hiệu trưởng và cũng là người giảng dạy duy nhất. Ngày 31 tháng 10, 1754, trường chính thức nhận hiến chương thành lập từ vua George đệ Nhị với tên King’s College (nghĩa đen: Đại học của Nhà Vua). Năm 1760, King’s College chuyển về Park Place, khu vực gần Tòa thị chính thành phố hiện nay. Từ đó, trường phát triển nhanh chóng, trở thành trường Y đầu tiên tại thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ vào năm 1767.
Tuy vậy, ngay từ ban đầu đã có nhiều tranh cãi về việc thành lập một học viện cấp cao tại thuộc địa mà trực thuộc Giáo hội Anh, chưa kể bộ máy quản lý chịu nhiều ảnh hưởng của Hoàng gia Anh. Sự vượt trội về tài chính của King’s College so với các đại học thuộc địa khác càng tạo cơ sở cho mối e ngại này.
Cách mạng Hoa Kỳ và cuộc chiến kéo theo ngay sau đó giữa các thuộc địa và quân đội Anh khiến cho King’s College suy sụp trong một thời gian dài, từ 1776 khi Lục quân Lục địa tấn công New York đến 1783 khi binh lính Anh rút lui. Trong tám năm này, trường đã phải ngừng hoạt động, trong khi thư viện chính bị cải tạo thành bệnh viện phục vụ chiến tranh.
Dù bị coi là một hiện thân của Hoàng gia Anh, song King’s College lại là nơi sản sinh ra không ít nhân vật đóng vai trò quan trọng trong cuộc cách mạng giành độc lập của các thuộc địa. Tiêu biểu trong số những học sinh đầu tiên của trường bao gồm: John Jay, người đàm phán Hiệp định Paris (1783) kết thúc chiến tranh với Anh và cũng là người sau này trở thành Chánh án Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đầu tiên; Alexander Hamilton, quân sư của George Washington, tác giả của phần lớn các bài luận Người Liên Bang (ủng hộ một Chính phủ liên bang mạnh), Bộ trưởng Ngân Khố Hoa Kỳ đầu tiên; Gouverneur Morris, tác giả của bản Hiến pháp Hoa Kỳ hoàn thiện; Robert R. Livingston, một trong năm người soạn thảo Tuyên ngôn Độc lập Mỹ; và Egbert Benson, đại biểu Quốc hội Lục địa và một trong những người ký thông qua Hiến pháp Hoa Kỳ.
=== Đại học Columbia: thời kỳ đầu (1784–1857) ===
== Nhân vật nổi tiếng ==
Trong số những người Việt nổi tiếng có Thiền sư Thích Nhất Hạnh từng giảng dạy ở viện đại học này trong thập niên 1960.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Columbia's homepage
Timeline |
linh kiện điện tử.txt | Các linh kiện điện tử là các phần tử rời rạc cơ bản có những tính năng xác định được dùng cho ghép nối thành mạch điện hay thiết bị điện tử.
== Phân loại ==
Phân loại linh kiện điện tử có thể có nhiều tiêu chí khác nhau. Song với ý nghĩa phục vụ cho phân tích mạch và khả năng mô hình hoá thành mạch tương đương để tính toán được các tham số mà mạch điện thiết kế ra có thể đạt được, thì sự phân loại theo tác động tới tín hiệu điện được quan niệm là hợp lý nhất. Trong phân loại này thì bỏ qua tác động đến dòng nguồn nuôi DC nếu không có sự cần thiết phải ghi chú, như công suất lớn, toả nhiệt, gây nhiễu,...
Linh kiện chủ động là loại tác động phi tuyến lên nguồn nuôi AC/DC để cho ra nguồn tín hiệu mới, trong mạch tương đương thì biểu diễn bằng một máy phát tín hiệu, như diode, transistor,...
Linh kiện bị động không cấp nguồn vào mạch, nói chung có quan hệ tuyến tính với điện áp, dòng, tần số, như điện trở, tụ điện, cuộn cảm, biến áp,...
Linh kiện điện cơ tác động điện liên kết với cơ học, như thạch anh, rơle, công tắc,...
Vì rằng không có vật liệu nào có tính năng vật lý lý tưởng và không có sự tuyến tính lý tưởng, nên những linh kiện như "điện trở điện áp" nằm vào giữa các phân loại hàn lâm.
== Linh kiện chủ động ==
=== Linh kiện bán dẫn ===
==== Điốt ====
Điốt, chỉnh lưu, cầu chỉnh lưu
Điốt Schottky: Điốt có tiếp giáp kim loại-bán dẫn và cho ra điện áp rơi phân cực thuận thấp
Điốt Zener: Điốt ổn áp.
Điốt TVS (Transient voltage suppression diode): Điốt dùng cho mạch hạn chế điện áp.
Varicap hay Varactor: Điốt biến dung dùng làm tụ điện.
LED (Light-emitting diode): Điốt phát sáng.
laser: (LD)-laser diode- Điốt phát quang nhờ bức xạ cưỡng bức.
Photodiode: Điốt quang (cảm quang).
Avalanche photodiode: Điốt cảm quang làm việc ở miền gần đánh thủng.
Pin mặt trời, photovoltaic cell, PV array hoặc panel: biến ánh sáng thành điện tích.
DIAC, Điốt Trigger (SIDAC) – thường dùng cho khởi SCR
Điốt ổn dòng (Constant-current): ít dùng.
Bơm nhiệt điện (Peltier cooler) – một loại bơm nhiệt bán dẫn (semiconductor heat pump)
==== Transistor ====
Transistor:
Transistor lưỡng cực (BJT, hoặc gọn là "transistor") – NPN hoặc PNP
Phototransistor: transistor có cửa sổ ở vỏ để ánh sáng chiếu được vào base, dùng như Photodiode
Transistor Darlington, Sziklai pair (complementary Darlington) – NPN hoặc PNP: transistor ghép.
IGBT (Insulated-gate bipolar transistor): transistor có cực điều khiển cách ly.
Transistor hiệu ứng trường (FET, Field-effect transistor):
JFET (Junction Field-Effect Transistor) kênh N hoặc P
MOSFET (Metal Oxide Semiconductor FET) kênh N hoặc P
MESFET (MEtal Semiconductor FET)
HEMT (High electron mobility transistor)
Thyristor:
SCR (Silicon-controlled rectifier)
TRIAC (TRIode for Alternating Current) – Bidirectional SCR
UJT (Unijunction transistor)
Programmable Unijunction transistor (PUT)
SIT (Static induction transistor)
SITh (Static induction thyristor)
==== Mạch tích hợp ====
IC Digital
IC Analog
Các modul chế sẵn: modul cấp nguồn, modul tần số chuẩn, modul hiển thị,...
Cảm biến hiệu ứng Hall – cảm biến từ trường (Hall effect sensor)
=== Quang điện tử, hiển thị ===
Opto-Isolator, Photocoupler, Optocoupler
Opto switch, Opto interrupter, Optical switch, Optical interrupter, Photo switch, Photo interrupter
CRT (Cathode ray tube)
LCD (preformed characters, dot matrix) (passive, TFT)
Neon (individual, 7 segment display)
LED (individual, 7 segment display, starburst display, dot matrix)
Flap indicator (numeric, preprinted messages)
Màn hình plasma (dot matrix)
=== Đèn điện tử chân không ===
Các đèn (ống điện tử) đã lỗi thờiː Diode, Triode, Tetrode, Pentode, Hexode, Pentagrid, Octode,...
Đèn vi sóng (Microwave)
Klystron: đèn khuếch đại vi sóng công suất cực lớn, dùng ở trạm phát/chuyển tiếp sóng trong phát thanh hoặc thông tin liên lạc, kể cả liên lạc với vệ tinh.
Magnetron: đèn phát vi sóng, ví dụ trong lò vi sóng.
Đèn Traveling-wave
Đèn quang điện (Phototube), Photodiode: cảm quang, hiện dùng trong phát hiện ánh sáng cực yếu, cỡ vài photon.
Đèn nhân quang điện (Photomultiplier tube, PMT): cảm quang có kèm dynode để khuếch đại.
Vacuum fluorescent display (VFD) – một dạng màn hiện CRT không quét cỡ nhỏ, đã lỗi thời.
Đèn phát tia X: dùng ở máy chiếu X-quang trong y tế, phân tích hóa,...
=== Nguồn điện ===
Pin, Ắc quy các loại
Pin mặt trời
Pin nhiệt (Thermoelectric generator, Seebeck generator) – phát điện khi có gradient nhiệt
== Linh kiện thụ động ==
=== Điện trở ===
=== Tụ điện ===
Tụ điện tích hợp
Tụ điện MIS: tụ điện được chế tạo theo công nghệ bán dẫn, gồm 3 lớp kim loại - điện môi - chất bán dẫn (metal-isolator-semiconductor), trong đó điện môi là polyme.
Tụ điện trench
Tụ điện cố định
Tụ điện gốm (Ceramic): tụ có điện môi chế tạo theo công nghệ gốm.
Tụ điện màng (film): tụ có điện môi là màng plastic (plastic film).
Tụ điện mica: tụ có điện môi là mica.
Tụ hóa: hay tụ điện điện phân (electrolytic capacitor), dùng chất điện phân phù hợp với kim loại dùng làm anode để tạo ra cathode, nhằm đạt được lớp điện môi mỏng và điện dung cao.Tụ hóa nhôm: có anode (+) làm bằng nhôm.
Tụ hóa tantali: có anode (+) làm bằng tantali.
Tụ hóa niobi: có anode (+) làm bằng niobi.
Tụ polyme, tụ OS-CON: dùng điện phân là polyme dẫn điện.
Siêu tụ điện (Supercapacitor, Electric double-layer capacitor - EDLS)Siêu tụ điện Nanoionic: chế tạo theo công nghệ lớp kép nano để đạt mật độ điện dung cực cao.
Siêu tụ điện Li ion (LIC): chế tạo theo công nghệ lớp kép lai để đạt mật độ điện dung siêu cao.
Tụ điện vacuum: điện môi chân không (lỗi thời).
Tụ điện biến đổi: tụ thay đổi được điện dung.
Tụ điện tuning: tụ thay đổi dải rộng dùng trong mạch điều hưởng
Tụ điện trim: tụ thay đổi dải hẹp để vi chỉnh
Tụ điện vacuum biến đổi (lỗi thời).
Tụ điện ứng dụng đặc biệt:
Tụ điện filter: tụ lọc nhiễu, có một bản cực làm vỏ nối mát, bản cực kia có hai đầu nối.
Tụ điện phát sáng (Light-emitting): tụ phát sáng khi tích điện?
Tụ điện motor: tụ dùng cho để khởi động và tạo từ trường xoay cho motor.
Tụ điện photoflash: tụ dùng cho đèn flash như đèn flash máy ảnh, cần đến phóng điện nhanh.
Dãy tụ điện (network, array): các tụ được nối sẵn thành mảng.
Varicap: Điốt bán dẫn làm việc ở chế độ biến dung.
=== Cảm ứng từ điện ===
Cuộn cảm
Chấn lưu
Điện trở cảm ứng điện
Ampe kế hiệu ứng hall
=== Memristor ===
=== Networks ===
=== Transducer, cảm biến ===
Cảm biến quang học hay sóng điện từ nói chung
Cảm biến nhiệt hồng ngoại, nhiệt chuyển động
Cảm biến tiệm cận từ
Cảm biến tiệm cận sóng âm
Cảm biến biến dạng
Cảm biến góc xoay
Cảm biến rung
Cảm biến gia tốc
Cảm biến la bàn
Cảm biến từ thông
Cảm biến gas, ethanol, chất khí
Cảm biến đo hạt bụi, khói
Cảm biến lửa
Một số cảm biến có thể dùng linh kiện chuyên dụng, hoặc dùng linh kiện phát để thu 1 dạng năng lượng tín hiệu từ một nguồn phát cùng loại.
=== Antenna ===
Antenna Lưỡng cực
Yagi
Phased array
Antenna vòng (Loop antenna)
Antenna Parabolic dish
Log-periodic dipole array
Biconical
Feedhorn
== Linh kiện điện cơ ==
Cápː Power cord, Patch cord, Test lead
=== Phần tử gốm áp điện ===
Crystal (thạch anh) – Ceramic crystal phát tần số chính xác
Ceramic resonator – Ceramic crystal phát tần số bán chính xác
Ceramic filter - phần tử lọc bằng gốm, lọc tín hiệu xoay chiều có tần số ổn định (trong thực tế nó như Ceramic resonator)
Surface acoustic wave (SAW) filters
Ultrasonic motor – Motor áp điện (piezoelectric effect)
Còi gốm (Piezo buzzer)
Microphone gốm
=== Đầu nối ===
Terminal
Connector
Socket
Screw terminal
Terminal Blocks
Pin header
=== Chuyển mạch, công tắc ===
Switch – Manually
Electrical description: SPST, SPDT, DPST, DPDT, NPNT (general)
Technology: slide switch, toggle switch, rocker switch, rotary switch, pushbutton
Keypad
DIP switch - dãy công tắc được chế với hàng chân kiểu DIP như vi mạch logic
Footswitch
Knife switch – Switch with unenclosed conductors
Micro switch – công tắc kích hoạt cơ học với tác động tự khớp (snap)
Limit switch – công tắc kích hoạt cơ học với cảm nhận giới hạn dịch chuyển
Công tắc thuỷ ngân (Mercury switch): công tắc phản ứng với độ nghiêng, làm giọt thủy ngân cắt mạch điện
Công tắc lực ly tâm (Centrifugal switch)
Rơ le – công tắc điều khiển bằng điện
Reed switch – công tắc từ trường
Thermostat – công tắc nhiệt
Humidistat – công tắc độ ẩm
=== Cầu chì, bảo vệ ===
Cầu chì – bảo vệ mạch một lần quá dòng, dùng dây chì đứt mạch khi nóng chảy
Circuit breaker – bảo vệ mạch nối lại được bằng cơ học
Resettable fuse or PolySwitch – bảo vệ mạch nối lại được bằng mạch bán dẫn (solid state device)
Ground-fault protection, residual-current device – bảo vệ mạch nối đất
Metal oxide varistor (MOV), surge absorber (hấp thụ quá áp), Điốt TVS – bảo vệ mạch tránh quá áp
Inrush current limiter – bảo vệ mạch tránh dòng điện cao xâm nhập
Đèn phóng điện khí (Gas discharge tube) – bảo vệ mạch tránh điện áp cao
Khe đánh lửa (Spark gap) – bảo vệ mạch tránh điện áp quá cao.
Chống sét (Lightning arrester)
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Ký hiệu điện tử
Sơ đồ mạch điện
Electronic components' Datasheets
== Liên kết ngoài == |
oliver bierhoff.txt | Oliver Bierhoff (Sinh 1 tháng 5 năm 1968) là một cựu cầu thủ bóng đá người Đức, người đã có bàn thắng vàng đầu tiên cho Đội tuyển bóng đá quốc gia Đức trong lịch sử bóng đá quốc tế trong trận chung kết Euro 96. Đưa đội Đức lên ngôi vô địch.
Bierhoff sinh ra ở Karlsruhe. Trong sự nghiệp bóng đá của anh từ năm 1985 đến 2003, anh đã chơi cho KFC Uerdingen, Hamburg, Borussia Mönchengladbach, Austria Salzburg, Ascoli, Udinese, AC Milan, AS Monaco, Chievo Verona. Anh đã giành tổng cộng 103 bàn thắng trong mùa giải Serie A. Trong mùa bóng 1997-1998, anh đã cùng AC Milan đoạt Cúp vô địch bóng đá Italia, là cầu thủ xuất sắc nhất trong Giải vô địch bóng đá quốc gia Italia với 27 bàn thắng.
Tuy nhiên, Bierhoff khởi đầu không được may mắn trên sân cỏ Đức. Sau khi thất bại ở Đức, anh chuyển sang Áo lập nghiệp, tại đây anh đã ghi được 23 bàn thắng. Đây là cơ hội để anh chuyển sang đá cho Ý. Tại Ý, anh tiếp tục khẳng định mình, trong thời gian 5 năm tại đây anh đã 2 lần trở thành "Vua phá lưới" giải vô địch Italia.
== Sự nghiệp câu lạc bộ ==
Bierhoff chơi cho chín câu lạc bộ khác nhau, trong bốn giải đấu khác nhau. Anh đã ghi được tổng cộng 103 bàn thắng tại Serie A, một trong những cầu thủ không phải người Ý ghi nhiều bàn thắng nhất trong lịch sử của giải đấu. Trong mùa giải 1997-1998, anh là vua phá lưới Serie A với 27 bàn thắng cho Udinese. Tuy nhiên Bierhoff không bao giờ là một thành công ở Bundesliga. Sau khi không tỏa sáng ở Đức, anh đã có cơ hội của mình tại Bundesliga Áo. Điều đó đã cho anh cơ hội tại Ascoli ở Ý. Nhưng đó là tại Udinese, dưới thời Alberto Zaccheroni, Bierhoff tìm thấy thành công ở cả câu lạc bộ và đội tuyển quốc gia Đức. Sau đó anh chuyển đến Milan vào năm 1998, và đạt danh hiệu Serie A trong mùa giải đầu tiên của mình ở đó. Sau ba mùa giải đó, anh chuyển tới giải Pháp Ligue 1 thi đấu cho Monaco vào năm 2001 trong một năm, trước khi trở lại Serie A để chơi cho Chievo Verona, nơi anh giải nghệ vào cuối mùa giải 2002-03. Trong trận đấu cuối cùng của mình, anh đã ghi một hat-trick cho Chievo Verona trong trận thua 3-4 trước Juventus.
== Sự nghiệp Đội tuyển ==
Bierhoff xuất hiện lần đầu ở đội tuyển quốc gia Đức trong một trận giao hữu với Bồ Đào Nha vào ngày 21 tháng 2 năm 1996. Trong lần xuất hiện thứ hai của mình ngày 27 tháng 3 năm 1996, anh ghi hai bàn thắng quốc tế đầu tiên của mình trong chiến thắng 2-0 trước đội tuyển Đan Mạch. Tổng cộng Bierhoff ghi được 37 bàn trong 70 lần ra sân, bao gồm cả hai bàn trong chiến thắng 2-1 trước Cộng hòa Séc tại Euro 1996 sau khi được vào sân từ băng ghế dự bị. Trong một trận đấu quan trọng ở vòng loại World Cup 1998 ngày 20 Tháng Tám 1997, Đức thua Bắc Ireland, 0-1, với 20 phút còn lại khi huấn luyện viên đội tuyển quốc gia, Berti Vogts, quyết định đưa Thomas Hassler và Oliver Bierhoff. Trong thời hạn bảy phút Bierhoff đã ghi ba bàn thắng, lập một hat-trick nhanh nhất hat-trick trong lịch sử của đội tuyển quốc gia Đức. Bierhoff cũng đã chơi tại Euro 2000 và World Cup cả hai năm 1998 và 2002. Anh xuất hiện lần cuối cùng ở Đội tuyển Đức khi anh được đưa vào sân trong hiệp hai của trận chung kết với Brazil tại World Cup 2002, nhưng không thể giúp gì trước thất bại 0-2.
== Danh hiệu ==
=== Milan ===
Vô địch Seri A mùa bóng 1998-99
=== Đội tuyển quốc gia ===
Vô địch Euro 1996
=== Cá nhân ===
Vua phá lưới Seri A mùa bóng 1997-98 Cầu thủ hay nhất nước Đức năm 1998
== Đời tư ==
Hiện nay Bierhoff đang là quản lý tài chính của đội tuyển bóng đá quốc gia Đức. Anh kết hôn với Klara Szalantzy, một người mẫu ở Munich.Họ đã sinh một cô con gái vào ngày 27 tháng 1 năm 2007.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
sport club corinthians paulista.txt | Sport Club Corinthians Paulista là câu lạc bộ bóng đá Brasil thành lập ngày 1-9-1910, đang chơi ở Giải vô địch bóng đá Brasil.
=== Achievements ===
World
FIFA Club World Cup (2): 2000,
2012
Continent
Copa Libertadores da América (1): 2012
National
Campeonato Brasileiro Série A (5): 1990, 1998, 1999, 2005, 2011
Campeonato Brasileiro Série B (1): 2008
Copa do Brasil (3): 1995, 2002, 2009
Supercopa do Brasil (1): 1991
Regional
Rio-São Paulo Tournament (5): 1950, 1953, 1954, 1966, 2002
State
Campeonato Paulista (26): 1914, 1916, 1922, 1923, 1924, 1928, 1929, 1930, 1937, 1938, 1939, 1941, 1951, 1952, 1954, 1977, 1979, 1982, 1983, 1988, 1995, 1997, 1999, 2001, 2003, 2009
== Các cầu thủ ==
As of 15 September 2015
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
=== Out on Loan ===
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
== Chú thích == |
tô áo, nghi lan.txt | Tô Áo (phồn thể: 蘇澳; bính âm: Sūào; Wade–Giles: Su-ao; Bạch thoại tự: So͘-ò), là một trấn (xã) của huyện Nghi Lan, tỉnh Đài Loan, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). Trên địa bàn trấn Tô Áo có hai cảng lớn: cảng Tô Áo là một cảng đa chức năng và cũng là một căn cứ hải quân, cảng Nam Phương là một trong những cảng cá lớn nhất tại Đài Loan. Tô Áo hiện phải đối mặt với tình trạng giảm dân số do di cư song cũng là một địa điểm du lịch được biết đến. Trấn có diện tích 89,0196 km², dân số vào tháng 8 năm 2011 là 42.588 người thuộc 13.676 hộ gia đình, mật độ cư trú đạt 478,4 người/km².
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang thông tin chính thức (tiếng Trung) |
bộ giáo dục và đào tạo.txt | Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam là cơ quan của Chính phủ Việt Nam thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục bao gồm: giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục trung học chuyên nghiệp, giáo dục đại học, sau đại học và giáo dục không chính quy; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc các lĩnh vực quản lý của Bộ; thực hiện đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật.
Bộ trưởng hiện nay là GS.TS Phùng Xuân Nhạ.
== Lịch sử ==
Bộ Giáo dục được thành lập ngay từ khi Chính phủ lâm thời ra mắt quốc dân đồng bào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Tháng 10 năm 1965, Bộ Đại học và Trung học được thành lập với nhiệm vụ quản lý bậc đào tạo cấp Trung học và Đại học. Năm 1975, Bộ Đại học và Trung học đổi tên là Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp. Đến tháng 3 năm 1990, Bộ Đại học và Trung học được nhập vào Bộ Giáo dục thành Bộ Giáo dục và Đào tạo.
=== Bộ trưởng Bộ Giáo dục ===
Vũ Đình Hoè (tháng 9 năm 1945 - tháng 3 năm 1946) (Bộ trưởng Chính phủ lâm thời)
Đặng Thai Mai (tháng 3 năm 1946 - tháng 11 năm 1946)
Nguyễn Văn Huyên (tháng 11 năm 1946 - tháng 10 năm 1975) (qua đời khi tại nhiệm)
Nguyễn Thị Bình (1976 - tháng 2 năm 1987)
Phạm Minh Hạc (tháng 2 năm 1987 - tháng 3 năm 1990)
=== Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp ===
Tạ Quang Bửu
Nguyễn Đình Tứ
Trần Hồng Quân
=== Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ===
Trần Hồng Quân (tháng 3 năm 1990 - 1997)
Nguyễn Minh Hiển (1997 - tháng 6 năm 2006)
Nguyễn Thiện Nhân (2006 đến ngày 17 tháng 6 năm 2010)
Phạm Vũ Luận (từ ngày 18 tháng 6 năm 2010 đến ngày 08 tháng 04 năm 2016)
Phùng Xuân Nhạ (từ ngày 09 tháng 04 năm 2016 đến nay)
=== Cựu Thứ trưởng ===
Võ Thuần Nho
Lê Liêm - Ủy viên Dự khuyết khóa III
Lê Văn Giạng
Nguyễn Cảnh Toàn (1976 - 1989)
Đặng Quốc Bảo
Nghiêm Chưởng Châu
Vũ Ngọc Hải
Trần Chí Đáo
Hoàng Xuân Tùy
Mai Hữu Khuê
Hồng Long
Trần Xuân Nhĩ
Lương Ngọc Toản
Lê Vũ Hùng (1998 - 2003) (qua đời khi đang tại nhiệm)
Nguyễn Tấn Phát (2001 - 2006)
Đặng Huỳnh Mai (2002 - 9/2007)
Nguyễn Văn Vọng (7/1998 - 9/2007)
Trần Văn Nhung (4/2001 - 10/2008)
Bành Tiến Long (6/2004 - 5/2009)
Phạm Vũ Luận (6/2004 - 6/2010)
Trần Quang Quý (11/2009 - 5/2014)
Nguyễn Vinh Hiển (12/2007 - 9/2016)
== Cơ cấu tổ chức ==
=== Lãnh đạo Bộ ===
Bộ trưởng
Phùng Xuân Nhạ
Thứ trưởng
Nguyễn Thị Nghĩa: Phụ trách Giáo dục Mầm non, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Trung học, Giáo dục dân tộc.
Bùi Văn Ga: Phụ trách Giáo dục Đại học & Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, Giáo dục Quốc phòng, hợp tác và đào tạo với quốc tế kiêm Phó Chủ tịch Hội đồng chức danh Giáo sư Nhà nước.
Phạm Mạnh Hùng: Phụ trách văn phòng, thanh tra, cơ quan Bộ phía Nam.
=== Khối Quản lý nhà nước ===
=== Tổ chức Sự nghiệp thuộc Bộ ===
Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam [1]
Học viện Quản lý Giáo dục
Báo Giáo dục và Thời đại
Tạp chí Giáo dục
Trường Cán bộ, Quản lý Giáo dục Tp.HCM
=== Tổ chức Doanh nghiệp thuộc Bộ ===
Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Công ty Cổ phần Thiết bị giáo dục 1 (đã sát nhập vào Nhà xuất bản Giáo dục)
Công ty Cổ phần Thiết bị giáo dục 2 (đã sát nhập vào Nhà xuất bản Giáo dục)
Viện Nghiên cứu Thiết kế Trường học
== Chức năng và nhiệm vụ ==
Bộ Giáo dục và Đào tạo là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo thuộc hệ thống giáo dục quốc dân và các cơ sở giáo dục khác về các lĩnh vực: mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch, chất lượng giáo dục và đào tạo; tiêu chuẩn nhà giáo, cán bộ quản lý giáo dục; quy chế thi, tuyển sinh; hệ thống văn bằng, chứng chỉ; cơ sở vật chất và thiết bị trường học; quản lý nhà nước đối với các dịch vụ công thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ theo quy định của pháp luật.
Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Nghị định số 178/2007/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2007 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ, cơ quan ngang Bộ và những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể sau đây:
1. Trình Chính phủ:
a) Các dự án luật, dự thảo nghị quyết của Quốc hội, dự án pháp lệnh, dự thảo nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, dự thảo nghị quyết, nghị định của Chính phủ theo chương trình, kế hoạch xây dựng pháp luật hàng năm của Bộ đã được phê duyệt và các dự án, đề án theo sự phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ;
b) Các định hướng, phương hướng, chính sách phát triển giáo dục và đào tạo.
2. Trình Thủ tướng Chính phủ:
a) Dự thảo quyết định, chỉ thị và các văn bản khác thuộc thẩm quyền chỉ đạo, điều hành của Thủ tướng Chính phủ theo quy định của pháp luật;
b) Phê duyệt chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm của toàn ngành; các chiến lược, quy hoạch vùng trọng điểm; các đề án, dự án và chương trình quốc gia về lĩnh vực giáo dục và đào tạo thuộc phạm vi quản lý của Bộ;
c) Phê duyệt quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng; điều lệ trường đại học, quy chế tổ chức và hoạt động của trường đại học tư thục; quy định thủ tục thành lập, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia tách, giải thể trường đại học; quy định tiêu chí xây dựng các trường đại học đạt tiêu chuẩn quốc tế, trường đại học trọng điểm, trường đại học nghiên cứu; quyết định thành lập, đổi tên, đình chỉ hoạt động, sáp nhập, chia tách, giải thể trường đại học; cho phép thành lập trường đại học tư thục;
d) Quyết định cơ cấu đào tạo, cơ cấu đầu tư và các chính sách về đảm bảo chất lượng đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; giao nhiệm vụ đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ cho các đại học, trường đại học, học viện, viện nghiên cứu khoa học;
đ) Ban hành tiêu chuẩn, thủ tục và thẩm quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cho từ chức, cách chức giám đốc, phó giám đốc đại học quốc gia, đại học, học viện, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng trường đại học theo quy định của pháp luật.
3. Ban hành quyết định, chỉ thị, thông tư, tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật về quản lý ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; hướng dẫn, kiểm tra việc thực hiện các văn bản đó.
4. Hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án, chương trình về giáo dục và đào tạo đã được ban hành; chỉ đạo thực hiện các cơ chế, chính sách về xã hội hóa giáo dục và đào tạo; huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo; hướng dẫn, kiểm tra các bộ, cơ quan ngang bộ, các cơ quan, tổ chức khác và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo theo quy định của pháp luật.
5. Ban hành chương trình giáo dục và đào tạo:
a) Ban hành chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên; chương trình khung đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học; khung chương trình, khối lượng kiến thức đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ;
b) Chỉ đạo việc đổi mới chương trình giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên; chương trình đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; kiểm tra việc thực hiện chương trình giáo dục mầm non, phổ thông đối với các cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông; chủ trì, phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương kiểm tra việc thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành đối với các cơ sở giáo dục thường xuyên, các trung tâm tin học, ngoại ngữ thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo trong phạm vi cả nước; thanh tra, kiểm tra các trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học, học viện, đại học trong việc thực hiện chương trình và quy chế đào tạo do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; thanh tra, kiểm tra các cơ sở đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ trong việc thực hiện quy chế đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
6. Ban hành danh mục ngành đào tạo đối với các trường trung cấp chuyên nghiệp, trường cao đẳng, trường đại học, học viện, đại học; quy định quy trình, điều kiện, hồ sơ đăng ký mở ngành đào tạo mới và mở ngành đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ cho các trường đại học, học viện, đại học, mở ngành đào tạo tiến sĩ cho các viện nghiên cứu khoa học.
7. Ban hành điều lệ, quy chế trường mầm non, trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học, trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú, cơ sở giáo dục thường xuyên, trường trung cấp chuyên nghiệp, trường dự bị đại học, trường cao đẳng và các cơ sở giáo dục khác thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; quy chế đào tạo trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ; ban hành quy định tiêu chuẩn trường chuẩn quốc gia mầm non, phổ thông.
8. Ban hành tiêu chí phát triển giáo dục; tiêu chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học, trung học cơ sở; quy định về công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục; chỉ đạo, hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra thực hiện phổ cập giáo dục theo quy định của pháp luật.
9. Quy định việc biên soạn, thẩm định, duyệt, xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; chỉ đạo việc xây dựng giáo trình điện tử, thư viện điện tử, cơ sở dữ liệu cấp quốc gia; tổ chức biên soạn, xét duyệt các giáo trình sử dụng chung cho các trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học theo các khối, ngành, chuyên môn.
10. Ban hành các quy chế thi và tuyển sinh, chế độ cử tuyển; tiêu chuẩn đảm bảo chất lượng giáo dục; quy định về đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục; quy định về điều kiện thành lập, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của các tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục; quy định chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục ở từng cấp học và trình độ đào tạo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ; chỉ đạo kiểm định chất lượng giáo dục.
11. Quy định điều kiện xác nhận hoàn thành chương trình tiểu học; điều kiện, trình tự, thủ tục cấp văn bằng, chứng chỉ trong hệ thống giáo dục quốc dân; quy định về mẫu văn bằng, chứng chỉ; quy định về việc in và quản lý cấp phát, thu hồi, hủy bỏ văn bằng, chứng chỉ; quy định việc công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp cho người Việt Nam.
12. Hợp tác quốc tế:
a) Đàm phán, ký kết, gia nhập và tổ chức thực hiện các điều ước quốc tế trong các lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ theo ủy quyền của Chính phủ; ký kết, tham gia các chương trình, dự án hợp tác về giáo dục và đào tạo với các nước, các vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế theo quy định của pháp luật; tham gia các tổ chức quốc tế theo phân công của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; đàm phán, ký kết các thỏa thuận quốc tế nhân danh Bộ;
b) Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan chỉ đạo công tác phát triển và dạy tiếng Việt cho người Việt Nam ở nước ngoài; quy định về quản lý các cơ sở giáo dục và đào tạo nước ngoài và cơ sở giáo dục và đào tạo có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam; chỉ đạo và tổ chức thực hiện các chính sách, cơ chế đối với các cơ sở giáo dục và đào tạo nước ngoài và các cơ sở giáo dục và đào tạo có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
c) Chủ trì tổ chức các hội nghị, hội thảo quốc tế về giáo dục và đào tạo sau khi đã được cấp có thẩm quyền cho phép theo quy định của pháp luật;
d) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo theo quy định của pháp luật.
13. Quản lý đào tạo với nước ngoài:
a) Ban hành các quy chế quản lý học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh Việt Nam học tập tại nước ngoài (bao gồm: học sinh, sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh Việt Nam đi học bằng các nguồn ngân sách nhà nước và đi học tự túc); quy chế quản lý chuyên gia giáo dục của Việt Nam tại nước ngoài; các quy chế quản lý học sinh, sinh viên, thực tập sinh, nghiên cứu sinh, nhà khoa học là người nước ngoài nghiên cứu, giảng dạy, học tập tại Việt Nam;
b) Quy định về trình tự, thủ tục, điều kiện thành lập, đình chỉ, giải thể và quy chế tổ chức, hoạt động đối với các tổ chức dịch vụ và tư vấn cho người Việt Nam đi học tại nước ngoài;
c) Hướng dẫn, thanh tra, kiểm tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về hợp tác đào tạo với nước ngoài và các tổ chức quốc tế;
d) Thống kê, xây dựng dữ liệu thông tin, cung cấp thông tin về lĩnh vực đào tạo với nước ngoài;
đ) Tổ chức các dịch vụ tư vấn, hỗ trợ việc liên doanh, liên kết giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam với các cơ sơ giáo dục và đào tạo của nước ngoài; giữa các cơ sở giáo dục và đào tạo của nước ngoài với các cơ sở giáo dục và đào tạo của Việt Nam.
14. Về học phí, học bổng và chính sách đối với người học:
Chủ trì xây dựng, ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành và hướng dẫn thực hiện cơ chế thu, sử dụng học phí đối với tất cả các loại hình nhà trường, chính sách học bổng từ ngân sách nhà nước và các chính sách khác đối với người học theo quy định của pháp luật.
15. Về cơ sở vật chất, thiết bị trường học và đồ chơi trẻ em:
a) Xây dựng, công bố theo thẩm quyền tiêu chuẩn cơ sở hoặc xây dựng và đề nghị Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ công bố tiêu chuẩn quốc gia về cơ sở vật chất, thiết bị trường học và vệ sinh học đường phù hợp với yêu cầu của giáo dục và đào tạo; xây dựng, công bố theo thẩm quyền tiêu chuẩn cơ sở hoặc xây dựng và đề nghị Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ công bố tiêu chuẩn quốc gia về đồ chơi trẻ em đảm bảo phù hợp với yêu cầu giáo dục và tâm sinh lý lứa tuổi trẻ em; quản lý cơ sở vật chất, thiết bị trường học, đồ chơi cho trẻ em trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ theo quy định của pháp luật;
b) Chủ trì, phối hợp với các Bộ, ngành liên quan và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương kiểm tra các trường, cơ sở giáo dục trong việc trang bị, quản lý, sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị trường học, đồ chơi cho trẻ em trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo theo quy định của pháp luật.
16. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện kế hoạch nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ phục vụ phát triển giáo dục và đào tạo, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.
17. Chỉ đạo, tổ chức thực hiện các chính sách, cơ chế về đào tạo theo nhu cầu xã hội.
18. Quyết định các chủ trương, biện pháp cụ thể và chỉ đạo thực hiện cơ chế hoạt động của các tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo theo quy định của pháp luật; quản lý và chỉ đạo hoạt động đối với các tổ chức sự nghiệp thuộc Bộ.
19. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể thuộc quyền đại diện chủ sở hữu phần vốn của Nhà nước tại doanh nghiệp có vốn nhà nước trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo thuộc phạm vi quản lý của Bộ, bao gồm:
a) Xây dựng đề án sắp xếp, tổ chức lại, chuyển đổi sở hữu để trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và chỉ đạo tổ chức thực hiện đề án sau khi được phê duyệt;
b) Bổ nhiệm các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý, kế toán trưởng của doanh nghiệp nhà nước chưa cổ phần hóa;
c) Phê duyệt Điều lệ tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp nhà nước chưa cổ phần hóa.
20. Quản lý nhà nước đối với các hoạt động của hội và tổ chức phi Chính phủ thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo trong phạm vi cả nước hoặc liên tỉnh:
a) Công nhận ban vận động thành lập hội, tổ chức phi Chính phủ; có ý kiến bằng văn bản với Bộ Nội vụ về việc cho phép thành lập, sáp nhập, chia tách, giải thể hội, tổ chức phi Chính phủ hoạt động trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ;
b) Hướng dẫn, tạo điều kiện để các hội, tổ chức phi Chính phủ tham gia các hoạt động của ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật; tổ chức lấy ý kiến và tiếp thu việc đề xuất, phản biện của hội, tổ chức phi Chính phủ để hoàn thiện các quy định về quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực;
c) Kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của Nhà nước đối với các hội, tổ chức phi Chính phủ hoạt động trong ngành, lĩnh vực thuộc phạm vi quản lý của Bộ; xử lý hoặc kiến nghị các cơ quan có thẩm quyền xử lý các vi phạm pháp luật của hội, tổ chức phi Chính phủ theo quy định của pháp luật.
21. Thông tin, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về giáo dục và đào tạo trong ngành và xã hội.
22. Về kiểm tra, thanh tra:
a) Hướng dẫn và kiểm tra, thanh tra việc thực hiện chính sách, pháp luật về giáo dục và đào tạo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ;
b) Kiểm tra, xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cấp có thẩm quyền xử lý các văn bản có dấu hiệu trái pháp luật do các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, giám đốc các đại học quốc gia, các đại học, học viện, hiệu trưởng trường đại học, Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành trái với các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục và đào tạo của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo;
c) Thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo theo quy định của pháp luật;
d) Giải quyết khiếu nại, tố cáo và kiến nghị của công dân liên quan đến lĩnh vực giáo dục và đào tạo thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ;
đ) Thực hành tiết kiệm và phòng ngừa, đấu tranh chống tham nhũng theo quy định của pháp luật;
e) Xử lý các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo theo quy định của pháp luật.
23. Quyết định và tổ chức thực hiện kế hoạch cải cách hành chính của Bộ theo chương trình, kế hoạch cải cách hành chính nhà nước của Chính phủ và sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ; ban hành các quy định về phân cấp quản lý đối với các cơ sở giáo dục và đào tạo trực thuộc Bộ quản lý.
24. Tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác thống kê, thông tin và xây dựng cơ sở dữ liệu về giáo dục và đào tạo, ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành giáo dục và đào tạo theo quy định của pháp luật.
25. Quản lý ngạch viên chức giáo dục và đào tạo:
a) Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn về quản lý ngạch viên chức chuyên ngành giáo dục và đào tạo; xây dựng và ban hành định mức biên chế sự nghiệp thuộc lĩnh vực giáo dục và đào tạo sau khi thống nhất với Bộ Nội vụ;
b) Chỉ đạo tổ chức thi nâng ngạch viên chức chuyên ngành giáo dục và đào tạo từ ngạch viên chức lên ngạch viên chức chính, từ ngạch viên chức chính lên ngạch viên chức cao cấp theo quy định của pháp luật;
c) Ban hành tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch viên chức chuyên ngành giáo dục và đào tạo sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Nội vụ; ban hành cơ cấu ngạch viên chức chuyên ngành giáo dục và đào tạo; chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, phổ thông; tiêu chuẩn người đứng đầu các cơ sở giáo dục và đào tạo mầm non, phổ thông, giáo dục thường xuyên, trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng; quy chế đánh giá viên chức; quy định về nội dung, hình thức tuyển dụng viên chức chuyên ngành giáo dục và đào tạo sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ Nội vụ;
d) Chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện các chế độ, chính sách đặc thù về đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo quy định của pháp luật; ban hành chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục;
đ) Chỉ đạo và tổ chức thực hiện việc tặng thưởng các danh hiệu vinh dự cho nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo quy định của pháp luật.
26. Quản lý về tổ chức, biên chế, cán bộ, công chức, viên chức; thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ, chính sách đãi ngộ, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cho từ chức, cách chức, khen thưởng, kỷ luật đối với cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật; đào tạo, bồi dưỡng, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức ở các đơn vị thuộc Bộ quản lý; xây dựng tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ của ngạch công chức chuyên ngành giáo dục và đào tạo để Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành; ban hành tiêu chuẩn Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo.
27. Quản lý tài chính và tài sản:
a) Quản lý tài chính, tài sản được giao và tổ chức thực hiện ngân sách được phân bổ theo quy định của pháp luật;
b) Quản lý, triển khai các dự án đầu tư cho giáo dục và đào tạo thuộc lĩnh vực quản lý của Bộ theo quy định của pháp luật;
c) Phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phân bổ ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo trình Chính phủ; quyết định việc phân bổ ngân sách giáo dục và đào tạo đối với phần dự toán ngân sách thuộc Bộ sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt; hướng dẫn, kiểm tra kinh phí chi thực hiện chương trình, mục tiêu quốc gia về giáo dục và đào tạo trong phạm vi ngân sách được giao.
28. Thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn khác do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ giao hoặc theo quy định của pháp luật.
== Điều kiện để trở thành Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ==
Là công dân Việt Nam được sinh ra tại Việt Nam
Ít nhất là 35 tuổi
Ít nhất phải có học hàm Phó Giáo sư
Là Ủy viên Trung ương Đảng
Là Đại biểu Quốc hội
Từng giữ chức một trong các chức vụ như: Thứ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội, Giám đốc Đại học Quốc gia TP. HCM, Hiệu trưởng/Phó Hiệu trưởng ở Đại học
Được Thủ tướng đề cử ra ứng cử bầu giữ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Quốc hội
== Chức năng và Nhiệm vụ của Văn phòng Bộ Giáo dục và Đào tạo ==
I. Chức năng:
Giúp Bộ trưởng tổng hợp đánh giá tình hình hoạt động của Cơ quan Bộ Giáo dục và Đào tạo và toàn ngành, điều phối hoạt động của các tổ chức thuộc Bộ theo chương trình, kế hoạch làm việc; thực hiện công tác hành chính, quản trị đối với các hoạt động của cơ quan Bộ, các hoạt động báo chí tuyên truyền trên các phương tiện thông tin đại chúng.
Văn phòng có tư cách pháp nhân, có con dấu, được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước và Ngân hàng Thương mại theo quy định của pháp luật.
II. Nhiệm vụ và quyền hạn:
1. Tổng hợp và xây dựng các chương trình, kế hoạch công tác của Bộ; tổ chức theo dõi, đôn đốc hoạt động của cơ quan Bộ và các đơn vị thuộc Bộ thực hiện chương trình, kế hoạch của Bộ; xây dựng báo cáo định kỳ, báo cáo đột xuất về việc thực hiện nhiệm vụ của Bộ; xây dựng và tổ chức thực hiện nội quy, quy định đảm bảo kỷ cương, kỷ luật lao động, nền nếp trong các hoạt động của cơ quan Bộ.
2. Làm công tác thư ký cho lãnh đạo Bộ: xây dựng chương trình, kế hoạch, lịch công tác; phối hợp với các đơn vị chuẩn bị nội dung, ghi biên bản và dự thảo thông báo, kết luận của cuộc họp do Bộ trưởng, Thứ trưởng chủ trì.
3. Theo dõi hoạt động báo chí của ngành; xây dựng kế hoạch và tổ chức tuyên truyền về ngành trên các báo chí trung ương và địa phương; làm đầu mối trong công tác quan hệ với các cơ quan báo chí để thu thập và cung cấp thông tin trên các phương tiện thông tin về các hoạt động của ngành; tổ chức họp báo.
4. Tổ chức, quản lý và hướng dẫn thực hiện công tác hành chính, văn thư, lưu trữ và tài liệu lưu trữ trong cơ quan Bộ; công tác tổng hợp phục vụ cho hoạt động quản lý của Bộ. Chủ trì xây dựng danh mục các tài liệu mật của ngành theo quy định của Nhà nước. Xây dựng và quản lý thư viện của cơ quan Bộ, phòng truyền thống của ngành.
5. Kiểm soát văn bản trước khi phát hành.
6. Xây dựng, điều hành và duy trì hoạt động website của Bộ; xây dựng và quản lý hệ thống mạng nội bộ, cổng thông tin điện tử của cơ quan Bộ; đảm bảo cơ sở vật chất hạ tầng công nghệ thông tin; xây dựng hệ thống thông tin của cơ quan Bộ, vận hành hệ thống hội nghị truyền hình giữa Bộ với các điểm cầu để phục vụ sự chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Bộ.
7. Thực hiện nhiệm vụ dự toán, kế toán hành chính sự nghiệp cấp 2 thuộc Bộ; lập dự toán và thực hiện việc sửa chữa, xây dựng cơ bản và trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật thuộc cơ quan Bộ; thực hiện thu, chi các nguồn kinh phí của cơ quan Bộ theo quy định của nhà nước.
8. Quản lý đất đai, trụ sở làm việc, tài sản vật tư thiết bị, đảm bảo các điều kiện làm việc, phương tiện đi lại, thông tin liên lạc kịp thời thông suốt của cơ quan Bộ; đảm bảo công tác phòng cháy, chữa cháy. Bảo vệ trật tự an toàn cơ quan, đảm bảo vệ sinh, bảo vệ môi trường, cảnh quan khuôn viên trụ sở làm việc. Thường trực công tác phòng chống lụt bão, thiên tai của cơ quan.
9. Đảm bảo các điều kiện, phương tiện cho việc hội họp của cơ quan Bộ và các hội nghị của Bộ.
10. Cấp phát các loại phôi văn bằng, chứng chỉ theo quy định của Bộ; in các tài liệu phục vụ cho chỉ đạo quản lý của Bộ.
11. Tổ chức kỷ niệm các ngày lễ, tết; đảm bảo các điều kiện làm việc; chăm lo bảo vệ sức khoẻ, cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho cán bộ, công chức, viên chức cơ quan Bộ.
12. Phối hợp với Vụ Tổ chức cán bộ thực hiện cải cách hành chính.
== Các vấn đề liên quan gần đây ==
Gian lận trong thi cử.
Tiêu cực trong việc chạy đua theo thành tích.
Tiêu cực trong việc xét tuyển viên chức, thuyên chuyển giáo viên, bổ nhiệm cán bộ quản lý.
Khủng hoảng số lượng giảng viên đại học có trình độ tiến sĩ, sinh viên sư phạm thất nghiệp tràn lan.
Đạo đức nhà giáo.
Học sinh nghỉ học nhiều ở nông thôn.
Điểm thi tuyển vào Đại học thấp.
Bạo lực học đường.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Website của Mạng Giáo dục
Chuyển đổi cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo Nghị định số 32/2008/NĐ-CP ngày 19 tháng 3 năm 2008 |
phật sơn.txt | Phật Sơn (chữ Hán: 佛山; bính âm: Fóshān, tức là Núi Phật) là một thành phố trực thuộc tỉnh (cấp địa khu tức địa cấp thị-thành phố trực thuộc tỉnh) của tỉnh Quảng Đông, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Diện tích: 3840 km² và dân số 5,4 triệu người, trong đó có 1,1 triệu người sống trong nội thành (số liệu năm 2000).
== Các đơn vị hành chính trực thuộc ==
Thành phố Phật Sơn quản lý năm đơn vị cấp huyện, cả 5 đơn vị này là quận (khu).
Thiền Thành khu (禅城区)
Nam Hải khu (南海区)
Tam Thủy khu (三水区)
Cao Minh khu (高明区)
Thuận Đức khu (顺德区)
Các quận này được chia làm 64 hương, bao gồm 37 trấn và 27 nhai đạo.
Phật Sơn gần Quảng Châu và có mối liên hệ rất chặt chẽ với Quảng Châu. Một vùng đô thị Quảng Châu - Phật Sơn đang được hình thành. Nơi đây còn là một trung tâm võ thuật Trung Quốc, nhiêu danh môn hoặc danh gia võ thuật đều có liên hệ đến Phật Sơn như Hoàng Phi Hồng, Lương Tán, Diệp Vấn...
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang thông tin chính thức (tiếng Trung và tiếng Anh)
Bản đồ Phật Sơn (Trung văn giản thể) |
angkor wat.txt | Angkor Wat (tiếng Khmer: អង្គរវត្ត) là một quần thể đền đài tại Campuchia và là di tích tôn giáo lớn nhất thế giới, rộng 162.6 hecta (1,626,000 mét vuông). Ban đầu nó được xây dựng như một đền thờ Ấn Độ giáo dành của Đế quốc Khmer, và dần dần chuyển thành đền thờ Phật giáo vào cuối thế kỷ 12. Vua Khmer Suryavarman II xây dựng Angkor Wat vào đầu thế kỷ 12 tại Yaśodharapura (tiếng Khmer: យសោធរបុរៈ, Angkor ngày nay), thủ đô của Đế quốc Khmer như là đền thờ và lăng mộ của ông. Khác với truyền thống theo theo đạo Shaiva (thờ thần Shiva) của các vị vua tiền nhiệm, Angkor Wat thờ thần Vishnu. Được bảo tồn tốt nhất trong khu vực, Angkor Wat là ngôi đền duy nhất vẫn giữ được vị trí trung tâm tôn giáo. Ngôi đền là đỉnh cao của phong cách kiến trúc Khmer. Nó đã trở thành biểu tượng của đất nước Campuchia, xuất hiện trên quốc kỳ và là điểm thu hút du khách hàng đầu đất nước.
Angkor Wat là sự kết hợp của hai nét cơ bản của kiến trúc Khmer: kiến trúc đền-núi cùng với những dãy hành lang dài và nhỏ hẹp. Kiến trúc này tượng trưng cho Núi Meru, quê hương của các vị thần trong truyền thuyết Ấn Độ giáo: nằm giữa một con hào và lớp tường bao dài 3.6 km (2.2 dặm) là khu chính điện ba tầng với kiến trúc hình chữ nhật, kết nối với nhau bởi những dãy hành lang sâu thẳm. Trung tâm của ngôi đền là tổ hợp 5 tháp với một tháp trung tâm và bốn tháp tại bốn góc hình vuông. Không giống những ngôi đền theo phong cách Angkor khác, Angkor quay mặt về phía Tây và vẫn chưa có cách giải thích thống nhất về ý nghĩa của điều này. Ngôi đền được ngưỡng mộ bởi vẻ hùng vĩ và hài hòa của kiến trúc, sự phong phú của nghệ thuật điêu khắc và số lượng lớn các vị thần được trang hoàng trên những bức tường đá.
Tên hiện đại của ngôi đền, Angkor Wat, nghĩa là "Thành phố Đền" hay "Thành phố của những ngôi Đền" trong tiếng Khmer; Angkor, nghĩa là "thành phố" hay "thủ đô", là từ nokor (នគរ), được bắt nguồn từ từ tiếng Phạn nagara (नगर), trong tiếng bản xứ. Wat nghĩa là "sân đền" trong tiếng Khmer (tiếng Phạn: वाट "khoảng đất").
== Lịch sử ==
Angkor Wat nằm cách thị trấn Xiêm Riệp 5.5 km (3.4 dặm) về phía bắc và chếch về phía đông nam của kinh đô cũ, với trung tâm là đền Baphuon. Đây là một khu vực có nhiều kiến trúc cổ quan trọng và là cực nam của cụm di tích chính Angkor.
Truyền thuyết kể rằng Angkor Wat được xây dựng theo lệnh của Indra để làm cung điện cho con trai Precha Ket Mealea. Theo nhà ngoại giao Chu Đạt Quan (thế kỷ 13), một số người tin rằng ngôi đền được xây dựng chỉ trong một đêm bởi một kiến trúc sư nhà Trời.
Việc thiết kế và xây dựng được tiến hành vào nửa đầu thế kỷ 12 dưới thời vua Suryavarman II (trị vì từ năm 1113 - 1150). Thờ thần Vishnu, ngôi đền được coi như thủ đô và đền thờ của nhà vua. Do không tìm thấy tấm bia nền móng cũng như bất kỳ bản khắc nào nhắc đến ngôi đền vào thời đó, tên ban đầu của nó vẫn là một dấu hỏi, nhưng nó có thể đã được gọi là "Varah Vishnu-lok", theo tên của vị thần được thờ. Công việc có vẻ như đã kết thúc sau khi nhà vua băng hà không lâu, dựa vào một số bức điêu khắc vẫn còn dang dở.
Năm 1177, 27 năm sau cái chết của Suryavarman II, Angkor bị tàn phá bởi người Chăm Pa, kẻ thù truyền kiếp của người Khmer trong một cuộc tấn công chớp nhoáng bằng đường thủy. Sau đó vua Jayavarman VII đã phục hưng đế quốc và thành lập một thủ đô và đền thờ mới (Angkor Thom và Bayon) cách Angkor Wat vài kilo mét về phía bắc.
Đến cuối thế kỷ 12, Angkor Wat từ một trung tâm tín ngưỡng Ấn Độ giáo dần chuyển sang Phật giáo và tiếp tục cho đến ngày nay. Không giống nhiều ngôi đền Angkor khác, tuy Angkor Wat một phần bị quên lãng từ sau thế kỷ 16, nó không bao giờ hoàn toàn bị bỏ hoang, một phần nhờ con hào bao xung quanh đã bảo vệ ngôi đền khỏi sự xâm lấn của rừng rậm.
Một trong những người châu Âu đầu tiên đặt chân đến Angkor là António da Madalena, một nhà sư người Bồ Đào Nha đến đây vào năm 1586 và nói rằng "nó là một kiến trúc phi thường mà không giấy bút nào tả xiết, chủ yếu là vì nó không giống bất kỳ công trình nào khác trên thế giới. Nó có những tòa tháp, lối trang trí và tất cả sự tinh xảo mà con người có thể tưởng tượng ra."
Cho đến thế kỷ 17, Angkor Wat vẫn chưa hoàn toàn bị bỏ hoang và có chức năng như một đền thờ Phật giáo. Mười bốn bản khắc chữ có niên đại từ thế kỷ thứ 17 được phát hiện ở khu vực Angkor, cho thấy những người hành hương Phật giáo Nhật Bản có thể đã thành lập các khu định cư nhỏ cùng với người dân địa phương Khmer. Cũng vào thời điểm đó, các du khách Nhật nghĩ rằng ngôi đền là khu vườn nổi tiếng Jetavana của Đức Phật, ban đầu nằm trong vương quốc Magadha, Ấn Độ. Bản khắc nổi tiếng nhất kể về Ukondafu Kazufusa, người đón chào năm mới của người Khmer tại Angkor Wat năm 1632.
Giữa thế kỷ 19, nhà tự nhiên học và thám hiểm người Pháp Henri Mouhot đã đến đây và giúp phương Tây biết đến Angkor Wat nhiều hơn bằng các ghi chép của mình. Trong đó ông viết:
"Một trong những ngôi đền đó-một đối thủ của đền Solomon, và được một số Michelangelo thời cổ đại dựng lên - có thể có một chỗ đứng trang trọng bên cạnh những công trình đẹp nhất của chúng ta. Nó vĩ đại hơn tất cả những gì người Hy Lạp hay La Mã để lại cho chúng ta, và thể hiện một sự tương phản đáng buồn cho tình trạng man rợ mà đất nước đang mắc phải."
Mouhot, cũng giống như những người phương Tây khác, khó tin rằng người Khmer có thể xây dựng được ngôi đền và đã ngỡ rằng nó được xây dựng cùng thời với thành Rome. Lịch sử thực sự của Angkor Wat chỉ được ráp nối lại với nhau bởi các bằng chứng nghệ thuật và bút tích được thu thập trong quá trình dọn dẹp và phục dựng trên cả khu vực Angkor. Không có nhà ở hoặc dấu vết gì của việc định cư như đồ dùng nấu ăn, vũ khí hoặc trang phục thường thấy tại các địa điểm cổ đại. Thay vào đó là các bằng chứng của một di tích lịch sử.
Cần nhiều công sức để phục dựng Angkor Wat vào thế kỷ 20, phần lớn là để loại bỏ đất đá và cây cối bị tích tụ. Công việc này bị gián đoạn do nội chiến và thời kỳ Khmer Đỏ kiểm soát đất nước trong những năm 1970 và 1980, nhưng ngoài nạn trộm cắp và sự xuống cấp của những bực tượng hậu Angkor, không có thiệt hại nào đáng kể được ghi nhận.
Ngôi đền là một biểu tượng mạnh mẽ của Campuchia và là niềm tự hào tổ quốc to lớn đã có ảnh hưởng đến mối quan hệ ngoại giao của Campuchia với Pháp, Hoa Kỳ và người láng giềng Thái Lan. Hình ảnh Angkor Wat đã xuất hiện trên quốc kỳ Campuchia ngay từ khi nó mới được ra mắt vào năm 1863. Tuy nhiên, từ một góc độ lịch sử và văn hóa lớn hơn, trong quá khứ Angkor Wat không phải là một biểu tượng quốc gia độc đáo và đã xuất hiện trong quá trình hình thành nên di sản thuộc Pháp về văn hóa—chính trị. Ngôi đền được giới thiệu tại triển lãm thuộc địa Pháp và thế giới tại Paris và Marseilles vào giữa những năm 1889 và 1937. Vẻ đẹp của Angkor Wat cũng xuất hiện trong bảo tàng thạch cao của Louis Delaporte với tên gọi bảo tàng Đông Dương (musée Indo-chinois) từng nằm trong Cung điện Trocadéro tại Paris từ năm 1880 cho đến giữa thập niên 1920.
Di sản nghệ thuật tuyệt vời của Angkor Wat và các di tích Khmer khác trong khu vực Angkor đã trực tiếp dẫn đến sự bảo hộ của Pháp đối với Campuchia như một thuộc địa vào ngày 11 tháng 8 năm 1863 và sự xâm lược Xiêm La nhằm nắm quyền kiểm soát khu di tích. Điều này nhanh chóng dẫn đến việc Campuchia đòi lại những vùng đất phía tây bắc đã nằm trong quyền kiểm soát của người Xiêm (Thái) từ năm 1351 (Manich Jumsai 2001) hay theo các nguồn khác là năm 1431. Campuchia giành độc lập vào ngày 9 tháng 11 năm 1953 và sở hữu Angkor Wat từ đó đến nay. Có thể nói rằng từ thời kỳ thuộc địa cho đến khi được UNESCO đề cử làm Di sản Thế giới năm 1992, ngôi đền Angkor Wat đã có một vai trò quan trọng trong việc hình thành khái niệm di sản văn hóa hiện đại cũng như sự toàn cầu hóa di sản văn hóa.
Tháng 12 năm 2015, một nhóm nghiên cứu từ Đại học Sydney đã tìm thấy một quần thể tháp được xây dựng và phá hủy trong quá trình hình thành Angkor Wat chưa từng thấy trước đó, cũng như một công trình lớn chưa rõ mục đích tại mặt phía nam và các công sự bằng gỗ. Những phát hiện này cũng bao gồm bằng chứng về sự có mặt của quần thể cư dân mật độ thấp với một mạng lưới đường, các ao và gò. Điều đó chỉ ra rằng khu vực đền bao quanh bởi hào nước và tường, có thể không chỉ dành riêng cho các tu sĩ như những suy nghĩ trước đây. Nhóm nghiên cứu đã sử dụng LiDAR, radar xuyên mặt đất và khai quật từng vùng để nghiên cứu Angkor Wat.
== Kiến trúc ==
=== Vị trí và thiết kế xây dựng ===
Angkor Wat, nằm ở 13°24′45″B 103°52′0″Đ, là một sự kết hợp độc đáo của chùa chiền và núi. Angkor Wat đạt thiết kế tiêu chuẩn của đền thờ cấp quốc gia và các tiêu chuẩn sau này của phòng trưng bày hiện đại. Ngôi đền là một đại diện của núi Meru, quê hương của các vị thần: các quincunx trung tâm của tháp tượng trưng cho năm đỉnh núi, và các bức tường và hào tượng trưng cho các dãy núi bao quanh và đại dương. Khả năng đi vào các khu vực trên cao của đền thờ càng ngày càng khó, với các giáo dân chỉ được vào tầng thấp nhất.
Không giống như hầu hết các ngôi chùa Khmer, Angkor Wat được định hướng về phía tây hơn là phía đông. Điều này đã khiến nhiều người (kể cả Maurice Glaize và George Coedès) đã kết luận rằng Suryavarman dự định xây đền này làm lăng mộ của mình. Thêm bằng chứng cho quan điểm này là các bức phù điêu, mà tiến hành trong một hướng ngược chiều kim đồng hồ-prasavya trong tiếng Hindu-vì đây là mặt trái của thứ tự bình thường. Nghi lễ diễn ra trong trật tự ngược trong nghi thức tang lễ Brahminic. Nhà khảo cổ học Charles Higham cũng tìm thấy và mô tả một cái lọ có thể là một cái lọ dùng để chứa tro đã được tìm thấy trong tháp trung tâm. Đền đã được đề cử là như là khoản chi phí lớn nhất cho việc xây dựng lăng mộ để lưu trữ xác người chết. Tuy nhiên Freeman và Jacques lưu ý rằng một số ngôi đền khác của Angkor có định hướng khác với định hướng Đông nói chung, và cho rằng việc định hướng Angkor Wat là vì nghi lễ thờ cúng Vishnu, vị thần có liên quan với phương Tây.
Eleanor Mannikka đã đề xuất một lời giải thích thêm về Angkor Wat. Dựa trên định hướng và kích thước của ngôi đền, và trên các nội dung và cách sắp xếp các phù điêu, bà lập luận rằng cấu trúc đền đại diện cho một kỷ nguyên mới với tuyên bố hòa bình dưới thời vua Suryavarman II: "vì các số đo của chu kỳ thời gian mặt trời và mặt trăng đã được gắn vào không gian thiêng liêng của Angkor Wat, nhiệm vụ cai quản đất nước thiêng liêng này được chạm khắc vào phòng và hành lang ngôi đền, với ý nghĩa là để duy trì quyền lực của nhà vua và để tôn vinh và thờ phượng các vị thần ở trên trời." Nhận xét của Mannikka đã được đón nhận với sự kết hợp giữa quan tâm và hoài nghi trong giới học thuật. Bà đã nhận xét khác hẳn với những suy đoán của những người khác, chẳng hạn như Graham Hancock, rằng Angkor Wat là một phần của việc mô phỏng chòm sao Thiên Long.
=== Phong cách ===
Angkor Wat là ví dụ điển hình của phong cách cổ điển của kiến trúc Khmer—phong cách Angkor Wat. Cho đến thế kỷ thứ 12, các kiến trúc sư Khmer đã trở nên thành thục và tự tin trong việc sử dụng sa thạch (chứ không phải là gạch hoặc đá ong) làm vật liệu xây dựng chính. Hầu hết các khu vực có thể nhìn thấy là các khối sa thạch, trong khi đá ong đã được sử dụng cho các bức tường bên ngoài và cho các bộ phận cấu trúc ẩn. Các vật liệu được sử dụng để kết nối các khối vẫn chưa được xác định, mặc dù các loại nhựa cây hoặc vôi tôi đã được nhắc đến.
Ngôi đền đã nhận được sự tán thưởng cho sự hài hòa trong thiết kế của mình. Theo Maurice Glaize, một người bảo tồn giữa thế kỷ 20 của Angkor, ngôi đền "đã đạt tới sự hoàn hảo kinh điển bởi sự hoành tráng được tiết chế của các yếu tố cân bằng và sự sắp xếp chính xác về tỷ lệ. Nó là một tác phẩm của sức mạnh, sự thống nhất và phong cách."
Về mặt kiến trúc, các yếu tố đặc trưng của phong cách bao gồm: các tháp dạng oval giống như búp sen; các hành lang nhỏ để mở rộng lối đi; các phòng dọc theo các trục để kết nối các khoảnh sân; và các bậc thang hình chữ thập xuất hiện dọc theo các trục chính của ngôi đền. Các yếu tố trang trí điển hình là devata (hoặc apsara), phù điêu, và trên các bức tường áp mát là các vòng hoa lớn và những cảnh dẫn truyện.Các bức tượng của Angkor Wat được đánh giá là bảo thủ, thiếu sinh động và thiếu hấp dẫn hơn những công trình ở trên. Các yếu tố khác của thiết kế đã bị phá hủy bởi nạn cướp bóc và thời gian, bao gồm vữa mạ vàng trên tháp, lớp mạ vàng trên một số bức phù điêu, và các tấm trần và cửa ra vào bằng gỗ.
=== Các đặc điểm nổi bật ===
==== Khoảng không gian bên ngoài ====
Bức tường bên ngoài, dài 1,024m (3,360 ft), rộng 802m (2,631 ft) và cao 4.5 m (15 ft), được bao quanh bởi một khu đất rộng 30 m (98 ft) và một con hào rộng 190 m (620 ft). Lối vào đền là một bờ đất ở phía đông và một đường đắp bằng sa thạch ở phía tây. Lối vào chính ở phía Tây được thêm vào sau, có thể nhằm thay thế cho một cây cầu gỗ. Tại mỗi hướng chính đều có một gopura (kiến trúc cổng vào).
== Angkor Wat ngày nay ==
=== Phục dựng và bảo tồn ===
Việc phục dựng Angkor Wat bắt đầu từ khi Viện Viễn Đông Bác cổ (École Française d’Extrême-Orient - EFEO) thành lập chương trình Phục dựng Angkor (Conversation d'Angkor) vào năm 1908. Cho đến lúc đó, các hoạt động tại khu vực chủ yếu là thăm dò. Chương trình chịu trách nhiệm về các hoạt động nghiên cứu, bảo tồn và phục dựng tại Angkor cho đến đầu những năm 1970 và phần lớn việc phục dựng được thực hiện vào những năm 1960. Tuy nhiên, các hoạt động này đã bị dừng lại vào thời Khmer Đỏ. Từ năm 1986 đến năm 1992, tổ chức Nghiên cứu Khảo cổ Ấn Độ (Archaeological Survey of India) tiến hành công việc phục dựng ngôi đền, cho dù đã có những ý kiến tranh cãi về việc sử dụng hóa chất gây ảnh hưởng đến bề mặt đá.
Năm 1992, sau lời kêu gọi giúp đỡ của Quốc vương Norodom Sihanouk, Angkor Wat được cho vào danh sách di sản thế giới bị đe dọa của UNESCO (sau đó đã được gạch tên vào năm 2004) và di sản thế giới cùng với lời kêu cứu của UNESCO đến cộng đồng quốc tế. Năm 1994, các phân vùng đã được thiết lập để bảo vệ khu vực Angkor. Cơ quan quản lý APSARA được thành lập năm 1995 nhằm bảo vệ và quản lý khu vực, và một điều luật đã được thông qua năm 1996 nhằm bảo vệ các di sản tại Campuchia. Một số quốc gia như Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc đã tham gia vào các dự án bảo tồn Angkor Wat. Tổ chức Dự án Bảo tồn Apsara Đức đang làm công tác bảo vệ các hoa văn và họa tiết điêu khắc đá khỏi hư hại. Khảo sát của công ty cho thấy khoảng 20 phần trăm các họa tiết đang trong tình trạng tồi tệ, chủ yếu bởi sự xói mòn tự nhiên và sư xuống cấp của đá, nhưng một phần cũng do các cố gắng phục dựng trước đó. Các công việc khác bao gồm sửa chữa các phần bị sụp đổ của cấu trúc, và đề phòng sự sụp đổ thêm: mặt phía tây của tầng trên đã được củng cố thêm bằng giàn giáo từ năm 2002, trong khi một đội từ Nhật Bản đã hoàn thiện việc phục dựng thư viện phía bắc của khoảng đất phía ngoài năm 2005. Quỹ Di tích Thế giới (World Monuments Fund) bắt đầu công việc phục dựng hành lang Churning of Sea of Milk năm 2008 sau một vài năm nghiên cứu tình trạng. Dự án khôi phục hệ thống mái truyền thống của người Khmer và loại bỏ xi măng được dùng trong các lần phục dựng trước khiến muối thấm vào sau các bức điêu khắc đá, làm phai màu và gây hư hại các bề mặt điêu khắc.
Màng vi sinh vật sinh học đã tìm thấy đá sa thạch đang xuống cấp tại Angkor Wat, Preah Khan, và Bayon và Tây Prasat ở Angkor. Sự mất nước và vi khuẩn lam dạng sợi chống bức xạ có thể sản xuất các axit hữu cơ phân hủy đá. Một loại nấm tối dạng sợi đã được tìm thấy trong các mẫu vật trong và ngoài Preah Khan, trong khi tảo Trentepohlia chỉ được tìm thấy trong các mẫu vật lấy từ đá hồng bên ngoài Preah Khan. Các bản sao cũng đã được thực hiện để thay thế một số các điêu khắc bị mất hoặc hư hỏng.
=== Du lịch ===
Từ những năm 1990, Angkor Wat đã trở thành một địa điểm du lịch lớn. Năm 1993, chỉ có 7,650 du khách đến đây; đến năm 2004, số liệu chính phủ đã cho thấy đã có 561,000 du khách nước ngoài đến tỉnh Xiêm Riệp, chiếm xấp xỉ 50% lượng du khách nước ngoài đến Campuchia. Đến năm 2007 con số này là trên một triệu, và trên hai triệu vào năm 2012. Phần lớn mọi người đến thăm Angkor Wat với trên 2 triệu du khách nước ngoài năm 2013. Khu di tích được quản lý bởi tập đoàn tư nhân SOKIMEX, tổ chức đã thuê lại Angkor Wat từ Chính phủ Campuchia. Các dòng khách du lịch không gây ra thiệt hại nào đáng kể, trừ một số bức graffti; các bức điêu khắc đá và bề mặt sàn được bảo vệ bởi dây thừng và mặt gỗ. Du lịch cũng mang về một nguồn thu khác cho công tác bảo trì—cho đến năm 2000, khoảng 28% nguồn thu từ bán vé tại khu vực Angkor được sử dụng cho ngôi đền—cho dù phần lớn công việc được tiến hành bởi các đội được tài trợ bởi các chính phủ nước ngoài chứ không phải các nhà chức trách Campuchia.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
Michael Freeman, Claude Jacques, Ancient Angkor, Thames & Hudson Ltd, London,trang 12 xuất bản năm 1999.
Vương Hồng Sển, Hơn nửa đời hư, Nhà xuất bản trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh, 2003
Maurice Glaise, A guide to the Angkor monuments, (translated from French)
Jacque Lange, "Angkor, La resurrection du temple montagne", Paris Match no. 2851, 8-19 tháng 1 năm 2004
Eleanor Mannikka, Angkor Wat, Time, space and kingship, Allen & Unwin, 1997
Michael Freeman, Roger Warner, Angkor, The hidden glories, David Larken book, 1990
Jared Diamond, Collapse: How societies choose to fail or succeed, Penguin books, 2005
Charles Higham, The civilization of Angkor, University of California Press, 2002
George Coedes, The Indianized states of Southeast Asia, East West Center Press, University of Hawaii, 1968
Ugo Zoppi et al, The contribution of C14 AMS dating to the greater Angkor archeological project, Poster presented at the AMS-9 conference in Nagoya, September 9-13, 2002
Ngô Sĩ Liên, Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 1993
Phan Vĩnh Thống, Dịch thuật VN-Khmer, Công ty Thai Lai 2009
== Xem thêm ==
Angkor Thom
== Liên kết ngoài ==
ANGKOR WAT Từ Cánh Đồng Chết Tới Đế Thiên Đế Thích |
samsung galaxy s plus.txt | Samsung Galaxy S Plus là điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Android, giới thiệu vào tháng 8 năm 2011. Về mặt lý thuyết nó là một bản cập nhật nhỏ của Samsung Galaxy S. Tuy nhiên, nó không khác nhau về phần cứng.
Galaxy S Plus sử dụng chip Qualcomm Snapdragon S2 MSM8255T với 1.4 GHz Qualcomm vi xử lý Scorpion nhanh hơn Samsung Galaxy S và đi kèm với Adreno 205 (tăng cường) GPU nó sẽ hơi chậm hơn PowerVR SGX540.
Thiết bị này không phổ biến. Một số nhà phát triển không làm việc với thiết bị này. Nó chạy Android 2.3.3, nhưng có thể nâng cấp lên Android 2.3.6. Thiết bị này không chính thức hỗ trợ CyanogenMod phiên bản 11.0 (Android 4.4.4). Bộ vi xử lý của thiết bị có thể ép xung lên 1.8 GHz với kernel tuỳ chỉnh.
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy S series
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
All Galaxy S Plus related development (XDA-Developers)
Samsung Galaxy S Plus Jelly Bean |
nhân dân tệ.txt | Nhân dân tệ (chữ Hán giản thể: 人民币, bính âm: rénmínbì, viết tắt theo quy ước quốc tế là RMB) là tên gọi chính thức của đơn vị tiền tệ nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (nhưng không sử dụng chính thức ở Hong Kong và Macau). Đơn vị đếm của đồng tiền này là nguyên/viên (sử dụng hàng ngày: 元-nguyên; phồn thể: 圓-viên; giản thể: 圆-viên; phát âm: yuan) (tiền giấy), giác (角, jiao) hoặc phân (分, fen) (tiền kim loại). Một nguyên bằng mười giác. Một giác lại bằng mười phân. Trên mặt tờ tiền là chân dung chủ tịch Mao Trạch Đông.
Nhân dân tệ do Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc phát hành. Năm 1948, một năm trước khi thành lập nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nhân dân tệ đã được phát hành chính thức. Tuy nhiên, đến năm 1955, loạt mới được phát hành thay cho loạt thứ nhất. Năm 1962, loạt thứ hai lại được thay thế bằng loạt mới. Loạt thứ tư được phát hành trong thời gian từ năm 1987 đến năm 1997. Loạt đang dùng hiện nay là loạt thứ năm phát hành từ năm 1999, bao gồm các loại 1 phân, 2 phân, 5 phân, 1 giác, 5 giác, 1 nguyên, 5 nguyên, 10 nguyên, 20 nguyên, 50 nguyên và 100 nguyên.
Theo tiêu chuẩn ISO-4217, viết tắt chính thức của Nhân dân tệ là CNY, tuy nhiên thường được ký hiệu là RMB, biểu tượng là ¥.
== Giỏ các đồng tiền dự trữ ==
Ngày 30 tháng 11 năm 2015, Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) chính thức thêm đồng Nhân dân tệ vào giỏ các đồng tiền dự trữ, bên cạnh đồng USD, Euro, Bảng Anh và Yên. Đây là lần đầu tiên kể từ năm 1999, giỏ các đồng tiền dự trữ của IMF có thay đổi. Năm 1999, IMF đã quyết định đưa đồng Euro vào giỏ thay cho đồng Mark Đức và đồng Franc Pháp cũ.
Trong tương lai (từ tháng 10 năm 2016), lúc nhân dân tệ trở thành một trong 5 đồng tiền dự trữ quốc tế, khi các nước gặp khó khăn phải vay tiền IMF, số tiền vay này phải theo trọng số hơn 10%, tức một phần khoản vay phải bằng nhân dân tệ. Có nghĩa là, nguồn cầu về nhân dân tệ sẽ tăng lên, và lãi suất cho vay cũng sẽ phụ thuộc một phần lãi suất của nhân dân tệ.
Một đồng tiền dự trữ quốc tế đảm nhận nhiều chức năng khác nhau như tài trợ thương mại, thanh toán các giao dịch, mua bán ngoại hối, thước đo giá trị; nó đồng thời còn là một thành phần trong dự trữ ngoại hối của một quốc gia.
== Vị trí trên thị trường tiền tệ ==
Năm 2013, đồng NDT đã vượt qua đồng Euro để trở thành đồng tiền quan trọng thứ hai trong tài trợ thương mại, chiếm 9% thị trường toàn cầu. Tuy vậy, đồng đô la Mỹ vẫn chiếm vị thế thống trị với 81%. Còn với tư cách một đồng tiền thanh toán được sử dụng rộng rãi hơn, năm 2014, NDT xếp vị trí thứ 5 sau đô la Mỹ, euro, bảng Anh và yên Nhật. Đồng NDT khi đó chỉ chiếm 2,2% thị trường toàn cầu trong khi đô la Mỹ chiếm 44%. Tuy nhiên, tỷ trọng này hiện đang tăng lên nhanh chóng. Tương tự, trong mua bán ngoại hối toàn cầu, do những chính sách kiểm soát ngoại hối của Trung Quốc, tỷ trọng của đồng NDT cũng chỉ chiếm 1% so với 44% của đồng đôla Mỹ. Tuy vậy, tỷ trọng này đang tăng lên với tốc độ ngoạn mục và hoàn toàn có thể tăng trưởng bùng nổ nếu Trung Quốc nới lỏng những chính sách kiểm soát này.
Năm 2016, trong một phát biểu của Christine Lagarde, bà đã công bố: Đồng Nhân dân tệ của Trung Quốc sẽ chính thức cùng đồng USD, đồng Euro, đồng Yên Nhật, bảng Anh góp mặt trong giỏ Quyền rút vốn đặc biệt từ ngày 1 tháng 10 năm 2016.
== Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng CNY ==
== Xem thêm ==
Yuan
Yuan Trung Quốc
Tân Đài tệ
== Tham khảo == |
công thức 1.txt | Công thức 1 (tiếng Anh: Formula One), còn gọi là Thể thức 1 hay F1, là cấp độ đua ô tô bánh hở cao nhất theo định nghĩa của Liên đoàn Ô tô Quốc tế (Fédération Internationale de l'Automobile hay FIA), cơ quan quản lý thế giới về thể thao mô tô. "Công thức" trong tên gọi là để chỉ một loạt quy định mà tất cả người và xe tham gia phải tuân thủ. Mùa giải vô địch thế giới F1 bao gồm một chuỗi các cuộc đua, được biết đến với tên Grands Prix, thường được tổ chức tại những đường đua được xây dựng riêng, cũng có một số ít trường hợp là trên những con đường trong thành phố, cuộc đua nổi tiếng nhất trong số đó là Monaco Grand Prix ở Monte Carlo. Kết quả của mỗi cuộc đua được tổng hợp lại để xác định hai Nhà vô địch Thế giới hàng năm, một dành cho tay đua và một dành cho đội đua.
Xe hơi Công thức 1 khi đua với tốc độ cao nhất có thể lên tới 360 km/h (225 mph) với vòng quay máy lên tới 19000 vòng một phút. Những chiếc xe này có khả năng kéo gấp 5 lần trọng lực tại một số khúc cua. Hiệu suất của xe phụ thuộc rất nhiều vào điện tử, khí động lực học, nhíp và bánh xe. Động cơ và truyền động của một chiếc xe Công thức 1 hiện đại là một trong số những bộ phận cơ khí phải chịu áp lực lớn nhất trên hành tinh. Công thức 1 đã chứng kiến nhiều sự phát triển và thay đổi trong suốt chiều dài lịch sử của môn thể thao này.
Châu Âu là cái nôi của Công thức 1; tất cả các đội đấu đều có trụ sở tại đó và khoảng một nửa cuộc đua tổ chức tại đó. Cụ thể hơn Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland đã sản sinh ra nhiều tay đua vô địch nhất (13), và đại đa số đội đua vô địch (32). Tuy nhiên, phạm vi của môn thể thao này đã mở rộng đáng kể trong những năm gần đây và Grands Prix giờ đây được tổ chức ở khắp nơi trên thế giới. Một số cuộc đua ở châu Âu dần chuyển sang các cuộc đua tại các châu lục khác, nhất là châu Á như Bahrain, Trung Quốc, Malaysia và Thổ Nhĩ Kỳ, Singapore đã tổ chức cuộc đua đêm đầu tiên vào năm 2008, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất bắt đầu đăng cai năm 2009 và Ấn Độ đã được thêm vào lịch bắt đầu từ năm 2011. Trong số 19 cuộc đua vào năm 2011 (chưa kể GP Bahrain), có 9 cuộc đua là ở bên ngoài châu Âu
Công thức 1 là một sự kiện truyền hình lớn, với hàng triệu người theo dõi mỗi cuộc đua trên khắp thế giới. Là môn thể thao đắt đỏ nhất thế giới, hiệu ứng kinh tế của nó là rất rõ ràng, và những trận chiến tài chính và chính trị đã xảy ra ở nhiều nơi. Trung bình khoảng 55 triệu người trên thế giới theo dõi trực tiếp các cuộc đua Công thức 1. Lịch sử và sự phổ biến của môn thể thao này đã khiến cho nó trở thành một môi trường buôn bán hiển nhiên, dẫn đến sự đầu tư cao từ những nhà tài trợ, chuyển thành ngân sách cực lớn dành cho các đội đua. Vài đội đua đã phá sản hoặc bán cho công ty khác từ năm 2000. Ví dụ gần đây nhất về điều này là đội đua Super Aguri đã bị từ chối không cho tham gia Giải Grand Prix Tây Ban Nha và sau đó phải giải tán do thiếu nguồn tiền sau khi nỗ lực thu hút tài trợ bất thành.
Môn thể thao này do FIA quản lý. Các quyền thương mại của Công thức 1 thuộc quyền sở hữu của Nhóm Công thức 1.
== Lịch sử ==
Loạt cuộc đua Công thức 1 có nguồn gốc từ Giải Grand Prix Đua Mô tô vào những năm 1920 và 1930. "Công thức" là một tập các quy định mà tất cả những người và xe tham gia phải tuân thủ. Công thức 1 là một công thức mới được chấp thuận sau Chiến tranh thế giới thứ hai vào năm 1946, với cuộc đua không tính vô địch đầu tiên được tổ chức vào năm đó. Một số tổ chức đua xe Grand Prix đã đặt ra các luật lệ dành cho Giải vô địch Thế giới ngay từ trước chiến tranh, nhưng do sự trì hoãn vì chiến tranh, Giải vô địch Các tay đua Thế giới vẫn không được trở thành giải chính thức cho đến năm 1947. Cuộc đua vô địch thế giới đầu tiên được tổ chức tại Silverstone, Liên hiệp Anh vào năm 1950. Một giải vô địch dành cho đội đua diễn ra tiếp đó vào năm 1958. Các giải vô địch quốc gia được tổ chức tại Nam Phi và Liên hiệp Anh vào thập niên 1960 và 1970. Các cuộc đua Công thức 1 không tính vô địch được tổ chức trong nhiều năm nhưng do chi phí cho cuộc đua ngày càng cao, cuộc đua cuối cùng như thế này đã diễn ra vào năm 1983.
=== Các cuộc đua trở lại (1950–1958) ===
Nhà vô địch Giải vô địch Thế giới Công thức 1 đầu tiên là tay đua người Ý Giuseppe Farina trong chiếc Alfa Romeo trong năm 1950, chỉ vừa vặn đánh bại đồng đội người Argentina Juan Manuel Fangio của ông. Tuy nhiên Fangio đã giành lại chức vô địch các năm 1951, 1954, 1955, 1956 & 1957 (kỷ lục 5 lần giành chức vô địch thế giới của ông đã tồn tại suốt 45 năm cho đến khi tay đua người Đức Michael Schumacher giành được chức vô địch thứ 6 vào năm 2003), mạch chiến thắng của ông bị ngắt trong 2 năm 1952 và 1953 do chấn thương, và người đoạt giải trong các năm đó là Alberto Ascari của đội đua Ferrari. Mặc dù Stirling Moss thường xuyên thi đấu, ông chưa bao giờ giành được một Chức vô địch Thế giới nào, và được xem là tay đua vĩ đại nhất chưa từng giành được danh hiệu nào.
Khoảng thời gian này là khoảng thời gian thống trị của những đội đua do những nhà sản xuất xe hơi phổ thông điều hành - Alfa Romeo, Ferrari, Mercedes Benz và Maserati - tất cả các đội đua này đều đã thi đấu từ trước chiến tranh. Mùa giải đầu tiên, các đội đua sử dụng những chiếc xe trước thế chiến như 158 của Alfa. Chúng đều có động cơ phía trước, bánh xe có ta-lông hẹp và động cơ hút thường 4,5 lít hoặc tăng nạp 1,5 lít. Giải vô địch thế giới các năm 1952 và 1953 áp dụng quy định của Công thức 2, với những chiếc xe nhỏ hơn, yếu hơn, do lo ngại về số lượng xe hơi Công thức 1 không có nhiều trên thị trường. Khi quy định Công thức 1 mới, với động cơ giới hạn còn 2,5 lít, được tái áp dụng vào năm 1954, Mercedes-Benz đã cho ra mắt chiếc W196 cải tiến, trong đó có một số sáng kiến đáng chú ý như van điều khiển vòng (desmodromic valve) và phun nhiên liệu cũng như thân xe đóng kín có hình dáng thuôn hơn. Mercedes đã giành chức vô địch tay đua trong hai năm, trước khi rút ra khỏi tất cả các giải đua mô tô sau Cuộc khủng hoảng Le Mans 1955.
=== Những cải tiến vĩ đại (1959–1980) ===
Sự cải tiến lớn về công nghệ đầu tiên, đó là sự tái sản xuất các loại hơi có động cơ tầm trung của Cooper (theo sau chiếc Auto Union tiên phong của Ferdinand Porsche vào những năm 1930), lấy ý tưởng từ những mẫu thiết kế Công thức 3 thành công của công ty, diễn ra vào những năm 1950. Tay đua người Úc Jack Brabham, nhà vô địch thế giới vào năm 1959, 1960 và 1966, đã nhanh chóng chứng tỏ được tính ưu việc của mẫu thiết kế mới. Đến năm 1961, tất cả những tay đua thi đấu đã chuyển sang các loại xe hơi động cơ tầm trung.
Nhà vô địch Thế giới người Anh đầu tiên là Mike Hawthorn, người lái một chiếc Ferrari giành được danh hiệu vào năm 1958. Tuy nhiên, khi Colin Chapman gia nhập làng với vai trò nhà thiết kế khung gầm và sau đó là người thành lập Team Lotus, Đội đua xanh của Anh bắt đầu thống trị các đường đua trong thập niên tiếp theo. Với Jim Clark, Jackie Stewart, John Surtees, Jack Brabham, Graham Hill, và Denny Hulme, các tay đua của đội Anh và Khối thịnh vượng chung đã giành được mười hai chức vô địch thế giới từ năm 1962 đến 1973.
Vào năm 1962, Lotus giới thiệu chiếc xe hơi có miếng gầm khung bằng nhôm gắn liền với thân thay cho kiểu thiết kế dạng khung truyền thống. Cải tiến này đã được chứng minh là bước đột phá vĩ đại nhất về công nghệ kể từ khi những chiếc xe hơi động cơ tầm trung ra mắt. Vào năm 1968, Lotus sơn lại tất cả chiếc xe của đội sang màu gan của hãng Imperial Tobacco, từ đó giới thiệu hình thức tài trợ vào môn thể thao.
Lực ép xuống của động lực học dần dần trở nên quan trọng trong mẫu thiết kế xe kể từ khi có sự xuất hiện của cánh máy bay vào cuối thập niên 1960. Vào cuối thập niên 1970, Lotus giới thiệu khí động lực học về hiệu ứng mặt đất cung cấp lực ép xuống khổng lồ và làm tăng đáng kể tốc độ bẻ cua (mặc dù khái niệm này trước đây đã được dùng trong Chaparral 2J của Jim Hall vào năm 1970). Các lực động lực học tác động lên xe lớn quá lớn (lên đến 5 lần trọng lượng xe) đến nỗi cần những lò xo cực cứng để duy trì một khoảng sáng gầm xe cố định, khiến cho nhíp xe gần như rắn, và bất kỳ một độ nhún nào giữa xe và người với độ bấp bênh của mặt đường phụ thuộc hoàn toàn vào bánh xe.
=== Sự hiện đại của các tay đua (2010 - nay) ===
Mercedes-Benz returned công thức 1 mùa giải 2010 sau khi after buying a minority stake (45.1%) in the Brawn GP team with Aabar Investments purchasing 30% on 16 November 2009, with Ross Brawn continuing his duties as team principal and the team retaining its base and workforce in Brackley, close to the Mercedes-Benz Formula One engine plant (formerly Ilmor Engineering) in Brixworth. Following the purchase of the team, as well as a sponsorship deal with Petronas, the team was rebranded as Mercedes GP Petronas Formula One Team. The team has a complex history; it can be traced back to Tyrrell Racing, who competed as a constructor from 1970 until 1998, until being bought by British American Tobacco to become British American Racing in 1999. BAR, who had formed a partnership with Honda, eventually became Honda Racing F1 Team in 2006 when BAT withdrew from the sport. It again changed hands in 2008, when Honda withdrew, and was purchased by the team's management, naming it Brawn GP after team principal Ross Brawn. Brawn used engines from Mercedes-Benz High Performance Engines, and despite running on a low budget, Jenson Button won six of the first seven races and ultimately the 2009 Drivers' Championship, while Brawn won the Constructors' Championship. It was the first time in the sport's sixty-year history that a team won both titles in its maiden season.
The team hired German drivers Nico Rosberg, seven-times world champion Michael Schumacher, who returned to Formula One after a three-year absence, and Nick Heidfeld as the test and reserve driver. Of Brawn's 2009 drivers, Jenson Button signed for McLaren, whilst Rubens Barrichello moved to Rosberg's former seat with Williams team for 2010. With the acquisition of Brawn, the team ended its involvement with McLaren, parent company Daimler AG sold back the 40% shareholding in the McLaren Group, while continuing to supply engines to the team.
The team's performance during 2010 was not so competitive as under Brawn, with the team behind the leading three teams of Ferrari, McLaren, and Red Bull. Their best results came from Rosberg finishing on the podium three times, scoring third places at Sepang, Shanghai, and Silverstone. Rosberg eventually finished in seventh place, but Schumacher had a disappointing return, being beaten by his teammate and finishing the season without a single race win, podium, pole position, or fastest lap for the first time since his début season in 1991. He also was involved in a controversy in Hungary after nearly squeezing former Ferrari team-mate Rubens Barrichello into the wall at 180 mph (290 km/h). Ultimately, the team finished fourth in the Constructors' Championship, with 214 points.
Prior to the 2011 season, Daimler and Aabar purchased the remaining 24.9% stake owned by the team management in February 2011. Using the new MGP W02, the Bản mẫu:F1 GP ended when Schumacher and Rosberg both retired due to crash damage on laps 19 and 22 respectively. In Malaysia, Rosberg qualified ninth and Schumacher again failed to make Q3, qualifying eleventh. Schumacher scored the team's first points of the season with a ninth-place finish, whereas Rosberg had a quiet race and finished twelfth. In China, Rosberg and Schumacher showed strong form, with Rosberg finishing fifth as well as leading fourteen laps during the race, while Schumacher ended the race in eighth place. Rosberg added another fifth place in Turkey, while in Spain, Schumacher finished in sixth place, ahead of Rosberg.
After a pointless Bản mẫu:F1 GP, Schumacher equalled his best finish for the team in Canada, finishing fourth after running as high as second. In Valencia, Rosberg finished seventh, and Schumacher seventeenth, after contact with Vitaly Petrov. Rosberg and Schumacher both finished in the points at the following two races in Great Britain và Germany. Gearbox issues stopped Schumacher from scoring at the Bản mẫu:F1 GP, but Rosberg managed to finish in ninth place. At the Bản mẫu:F1 GP, Schumacher moved from the back of the grid – after losing a wheel in qualifying – to finish fifth, while Rosberg finished sixth, having led the race in its early stages. Again, the team finished fourth in the Constructors' Championship just as in 2010, with 165 points with no wins, podiums, or poles.
For 2012, the team removed the GP from their name and added the name of AMG, the high performance division of Mercedes-Benz, to their title. The team will be known as Mercedes AMG Petronas F1 Team. At the start of the season the team was the subject of protest over the use of a "radical" rear wing concept on the Mercedes F1 W03, which was not settled until the third race in China when the stewards unanimously rejected the protest.
At the third race of the season in China, Rosberg took the team's first pole position as a works team since Fangio in 1955; Schumacher finished the session third, but moved up to second after a grid penalty for Lewis Hamilton. The team secured its first win in 57 years when Nico Rosberg finished first in the 2012 Chinese Grand Prix. In addition to that, Rosberg became the first German driver to win a Grand Prix driving a German vehicle since Hermann Lang's victory at the 1939 Swiss Grand Prix.
On 28 September 2012, it was announced that McLaren driver Lewis Hamilton would join the team from the 2013 season onwards, having signed a three-year deal to partner Nico Rosberg in the team. On 26 May 2013 Nico Rosberg capitalised on a pole position to award the team its first win of 2013 at the Monaco Grand Prix. Mercedes then went on to take third place in the Canadian Grand Prix courtesy of Hamilton, followed by another win for Rosberg at the British Grand Prix after the team took 1–2 in qualifying. The team then celebrated their third win of the season after Hamilton took his first victory for the team at the Hungarian Grand Prix, resulting in second place ahead of Ferrari in the Constructors' Championship.
Both drivers were retained for 2014. Rosberg won the first race of the season in Australia, then in Malaysia, Hamilton completed a grand chelem –leading every lap from pole position, with the fastest race lap –while Rosberg completed a 1–2 finish for the team; it ended Hamilton's nine race streak without a podium finish, and was the first 1–2 finish by Mercedes-Benz as a works team since the 1955 Italian Grand Prix. The team repeated the result at the Bahrain, the Chinese, and the Spanish Grands Prix, while Rosberg and Hamilton finished 1–2 respectively at the Monaco và Austrian Grands Prix. At the Bản mẫu:F1 GP, Rosberg became the first German driver driving a German vehicle to win the German Grand Prix since it was achieved by Rudolf Caracciola and Mercedes-Benz at the 1939 German Grand Prix. At the Russian Grand Prix the team won their first Constructors' Championship as a works team. Hamilton won the last race of the season, held in Abu Dhabi. He finished the season 67 points ahead of Rosberg, clinching the World Drivers' Championship. The team finished the 2014 season 296 points ahead of their closest rival Red Bull Racing in the Constructors' World Championship standings.
For the 2015 season, the team retained both Hamilton and Rosberg. At the 2015 Russian Grand Prix the team won their second Constructors' Championship as a works team, they won 16 of the 19 races of the championship. and Hamilton won his second consecutive Drivers' Title at the 2015 United States Grand Prix.
In the 2016 season, Mercedes won the Constructors' Championship for the third consecutive season, winning 19 of the 21 races held. Rosberg won his only Drivers' Championship, finishing 5 points ahead of Hamilton, before announcing his retirement shortly after winning the title.
On 16 January 2017, Valtteri Bottas was announced as Rosberg's replacement for the 2017 season and British GP3 driver George Russell was incorporated into the junior team.
== Các quy định và kỹ thuật theo dòng thời gian ==
Xem Danh sách các cuộc đua xe Công thức 1 (từ 1950 cho đến nay)
Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, bên cạnh các quy định cho ô tô chuyên dùng trong các giải Grand Prix còn có một loại khung xe rẻ tiền hơn gọi là voiturettes (xe con), cho phép có động cơ lắp máy nén đến 1.500 cm³.
Dưới áp lực của hai đội Grand Prix của Đức, Mercedes-Benz và Auto Union, hai đội mà không được sự đồng tình ở nước ngoài cả về chính trị lẫn về thể thao, nên vào cuối thập niên 1930 đã có những cố gắng hủy bỏ những quy định thời bấy giờ và đưa các voiturettes trở thành hạng Grand Prix. Ngoài việc khả năng cạnh tranh của các nhà sản xuất Anh, Pháp và Ý được cải thiện rõ rệt, các đổi mới về an toàn cũng được nêu lên làm lý do cho việc thay đổi các quy định. Vì thế giải Grand Prix ở Tripoli (Libya) năm 1939 được tổ chức cho các voiturettes, nhưng mặc dù vậy Mercedes-Benz đã đoạt giải một cách bất ngờ với một chiếc ô tô được chế tạo mới đặc biệt cho mục đích này.
Ngay sau chiến tranh các xe đua voiturettes vẫn được chế tạo, đặc biệt là bởi Alfa Romeo, nên Liên đoàn Ô tô Quốc tế (FIA) đã điều chỉnh lại các quy định dành cho các xe đua Grand Prix có hiệu lực từ năm 1947: trong hạng từ đó được gọi là Formula 1 cho phép các động cơ lắp máy nén (supercharged engine) có dung tích đến 1.500 cm³ và động cơ hút (atmospheric engine) đến 4.500 cm³. Thêm vào đó Formula 2 được định nghĩa cho loại động cơ hút có dung tích đến 2.000 cm³.
Các cuộc đua xe riêng lẻ cho giải Grand Prix được tổ chức theo các quy định này, loạt đua hay giải vô địch châu Âu như trước chiến tranh không còn nữa. Nhưng khi Liên đoàn Mô tô Quốc tế (Fédération Internationale de Motocyclisme - FIM) tổ chức giải vô địch thế giới vào năm 1949, FIA phản ứng bằng giải vô địch thế giới trong năm 1950. Cuộc đua xe đầu tiên của giải vô địch thế giới mới diễn ra vào ngày 13 tháng 5 năm 1950 ở Silverstone (Anh).
Để củng cố cho yêu cầu tự đưa ra là một giải vô địch thế giới mặc dù gần như chỉ có châu Âu tham dự, trong thời gian từ 1950 đến 1960 cuộc đua 500 dặm ở Indianapolis (Hoa Kỳ) đã được cho điểm của giải vô địch thế giới mặc dầu thi theo các quy định hoàn toàn khác.
Trong 2 năm đầu tiên xe Alfetta trang bị động cơ có máy nén của Alfa Romeo, xe có nhiều điểm tương tự như các thiết kế trước chiến tranh, tiếp tục chiếm ưu thế. Tuy vậy cuối năm 1951 Alfa Romeo rút lui ra khỏi môn thể thao đua xe này sau hai thập niên đạt được nhiều thành tích. Vì chỉ còn có Ferrari, lãnh đạo đua xe của Alfa, là có khả năng thiết kế các loại xe đua F1 có thể cạnh tranh nên giải vô địch thế giới các năm 1952 và 1953 tạm thời được tổ chức cho loại xe F2 ít tốn kém hơn hơn. Mặc dù vậy Ferrari vẫn chiếm ưu thế trong các năm này và đều đoạt giải với Alberto Ascari.
Năm 1954 quy định mới ít tốn kém hơn (F1 với động cơ hút đến 2.500 cm³ hay động cơ có máy nén đến 750 cm³, F2 đến 1.500 cm³) ra đời, vì thế nhiều hãng xe trong đó có Mercedes quyết định lại tiếp tục tham dự.
Từ 1961 đến 1965 các quy định cũ dùng cho F2 trở thành F1 làm cho các đội nhỏ của Anh đang chiếm ưu thế giận dữ vì họ không tự chế tạo động cơ được. Porsche đã chế tạo xe cho F2 đạt được nhiều thành tích từ nhiều năm nên việc đi lên F1 trở nên gần gũi. Thế nhưng chiếc động cơ 4 xy lanh có nguồn gốc từ Volkswagen không thể cạnh tranh được. Khung xe kiểu 718 cũng quá nặng nề so với các đối thủ. Với kiểu 804 mới có động cơ 8 xy lanh Porsche chiến thắng duy nhất một lần ở giải vô địch thế giới tại Rouen (Pháp) năm 1962 với Dan Gurney. Cuối mùa đua xe năm đó Porsche rút lui khỏi hạng F1 do tốn kém và do không sản xuất hằng loạt được và lại tập trung vào sản xuất ô tô thể thao vốn là lĩnh vực của họ.
Vì xe thể thao và ngay cả một số xe được sản xuất hằng loạt vào thời gian này có công suất lớn hơn cả loại gọi là cao nhất này nên vào năm 1966 các quy định lại được thay đổi bằng cách nâng gấp đôi dung tích xy lanh (3.000 cm³ cho động cơ hút, 1.500 cm³ cho động cơ có máy nén).
Động cơ Repco tương đối đơn giản chiếm ưu thế trong hai năm đầu tiên của hạng 3 lít vì sau khi quy định thay đổi trong thời gian ngắn không có động cơ nào thích hợp. Ngay cả Ferrari cũng phải mang một động cơ xe đua thể thao nhỏ cùng với một thiết kế sai lầm ra đường đua. BRM chồng hai động cơ 8 xy lanh lên thành một chiếc H16 và được gọi là "quái vật", Maserati khởi động lại một động cơ V12 từ thời đại 2.500 cm³ của thập niên 1950. Các động cơ được khoan thêm thành khoảng 2 lít của Coventry-Climax đã qua thử thách vẫn tiếp tục giành chiến thắng. Thế nhưng công ty này không muốn đầu tư vào phát triển một động cơ 3 lít nên rút lui khỏi F1.
Trong những năm từ 1968 đến 1982 động cơ được bán tự do V8-DFV Cosworth của Ford chiếm ưu thế trong F1 vì nhiều đội với động cơ này và cùng với 12 người lái xe đã giật giải vô địch thế giới trong tổng cộng 155 cuộc đua. Ferrari đoạt giải một lần với chiếc V12 có công suất mạnh hơn một ít, BRM với chiếc V12 chiến thắng một vài lần.
Bắt đầu từ năm 1977 Renault đưa động cơ turbo vào F1 và chiến thắng lần đầu với động cơ này vào năm 1979. Cho đến năm 1982 các động cơ hút tiết kiệm hơn, tin cậy hơn, ít tốn kém hơn và dễ lái hơn vẫn tiếp tục nắm giữ ưu thế mặc dù có công suất nhỏ hơn ngày càng thấy rõ. Bắt đầu từ năm 1983 các động cơ turbo có công suất mạnh hơn cuối cùng cũng chiếm ưu thế, trong các vòng chạy thử đã có thể tạo công suất cao hơn 1.000 mã lực rất nhiều trong khoản thời gian ngắn và vì thế đẩy lùi các lái xe động cơ hút xuống phần phía sau của đội hình khởi hành.
Các động cơ Cosworth đã qua thử thách với khoản 500 mã lực sau đó được sử dụng trong Formula 3000, hạng đua thay thế Formula 2 với các động cơ đua 2.000 cm³.
Chiếc xe đua mạnh nhất từ trước đến nay trong Công thức 1 là chiếc Benetton-BMW năm 1986 với 1.350 mã lực được điều khiển bởi tay đua người Áo Gerhard Berger, chiếm giải Grand Prix của México trong cùng năm. Sau đó Berger tường thuật lại là "chiếc ô tô này gần như không thể chạy được vì mạnh quá", tức là phải hết sức cực nhọc mới điều khiển được chiếc xe.
Bắt đầu từ năm 1989 các động cơ turbo bị cấm và chỉ còn cho phép các động cơ hút đến 3.500 cm³ (để phân biệt với F3000 với dung tích là 3.000 cm³), được sử dụng trong các loại V8, V10, V12 và ngay cả cho W12. Renault giới thiệu bộ điều khiển van bằng khí nén thay thế các lò xo thép cho phép tăng vòng quay nhanh 12.000 vòng/phút đang thông dụng cho đến thời điểm đó.
Sau mùa đua xe năm 1994, vì có nhiều tai nạn, dung tích được giảm xuống còn 3.000 cm³, công suất giảm từ khoảng 750 xuống còn 650 mã lực.
Từ năm 1996 Ferrari thay V12 nặng và tốn nhiều nhiên liệu bằng loại V10 mà cùng với loại này Michael Schumacher đã chiến thắng được 3 cuộc đua. Ngay từ năm 1997 người ta đã đạt lại được công suất 750 mã lực bằng cách tăng vòng quay nhanh hơn 17.000 vòng/phút.
Từ mùa đua xe 2005 các xe phải qua được hai cuối tuần đua mà không phải thay thế để giảm phí tổn và kiềm chế việc tăng công suất (hiện nay vào khoản 900 mã lực ở 19.000 vòng/phút).
== Các quy định về kỹ thuật và phát triển ==
Xem Quy luật của Công thức 1
Xem Cuộc đua xe Công thức 1
== Kinh tế ==
Các cuộc thi thể thao của Công thức 1 được tiến hành bởi Formula One Management. Sở hữu công ty này là Slec Holdings, giám đốc Bernie Ecclestone hiện sở hữu khoản 25% công ty. Ngoài ra các ngân hàng sau đây đều có đầu tư vào Slec Holdings: BayernLB, Lehman Brothers và J. P. Morgan Chase. Các đội đua xe Công thức 1 chỉ có một phần của công ty với quyền phủ quyết.
FIA sở hữu các quyền về quảng cáo và truyền hình của các cuộc thi Công thức 1.
== Cờ hiệu ==
== Các hình thức phạt ==
Xe phải chạy một lần qua pit mà không cần phải ngừng.
Phạt Stop-and-Go: xe phải chạy qua pit, ngừng 10 giây trước khi được tiếp tục, trong khi ngừng xe không được quyền bảo trì.
Qua 3 lần cảnh cáo của hội đồng đua người lái sẽ bị cấm không cho tham dự một cuộc đua.
Vị trí tại cuộc đua tới sẽ bị tuột xuống 10 vị trí.
Cờ đen: người lái tự động bị loại khỏi cuộc đua.
Nếu hình phạt qua 3 vòng vẫn chưa được thực hiện thì xe sẽ bị loại. Nếu hình phạt được đưa ra trong 5 vòng cuối cùng, hay ngay sau khi chấm dứt cuộc đua, thì thời gian lái sẽ bị cộng thêm 25 giây, không cần thiết phải chạy qua pit nữa.
Nhiều khi một người lái, hay một đội, có thể bị cấm tham dự vài cuộc đua. Số lần nhiều hay ít tùy thuộc vào sự vi phạm quy luật của người lái, hay đội, đó.
== Thông tin mùa đua hiện tại (2015) ==
Số đội đua: 9, số tay đua đã tham dự: 18
=== Kết quả ===
==== Thứ tự 10 tay đua đầu tiên ====
==== Thứ tự các đội đua ====
== Xem thêm ==
Danh sách các Vô địch thế giới F1
Danh sách các cuộc đua F1
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang Web chính thức của Công thức 1 (tiếng Anh)
Fédération Internationale de l'Automobile (FIA)
Điều lệ của Công thức 1 |
người ngái.txt | Người Ngái còn có tên gọi khác là Ngái Nhằn, Ngái Lầu Mần, Sín, Đàn, Lê. Họ là một trong 54 dân tộc sinh sống tại Việt Nam. Tên tự gọi chung là Sán Ngái (nghĩa là người miền núi). Mặc dù có ngôn ngữ bản địa là tiếng Ngái và có nguồn gốc từ khu vực miền núi Bắc Việt.
== Nhóm ngôn ngữ ==
Thuộc nhóm ngôn ngữ Hán
== Dân số và địa bàn cư trú ==
Người Ngái cư trú rải rác ở nhiều tỉnh thành. Theo số liệu điều tra dân số năm 1999 thì tại Việt Nam có 4.841 người Ngái. Các tỉnh thành tập trung đông nhất là: Thái Nguyên, Bình Thuận, Đồng Nai, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Đắk Lắk, Cao Bằng...
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Ngái ở Việt Nam chỉ còn 1.035 người, có mặt ở 27 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Ngái cư trú tập trung tại các tỉnh: Thái Nguyên (495 người, chiếm 47,8% tổng số người Ngái tại Việt Nam), Bình Thuận (157 người, chiếm 15,2% tổng số người Ngái tại Việt Nam), Đồng Nai (53 người), Bắc Kạn (48 người), Tuyên Quang (43 người), Đắk Lắk (37 người), Cao Bằng (30 người)...
== Đặc điểm kinh tế ==
Người Ngái sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng trồng lúa. Ở vùng hải đảo, ven biển thì đánh cá là chính. Họ có truyền thống đào kênh, mương, đắp đập, tạo hồ nước, đắp đê biển, có những nghề thủ công như dệt chiếu, làm mành trúc, rèn, mộc, nung vôi, làm gạch ngói.
Việc gieo trồng mùa vụ trong năm của họ căn cứ vào các hiện tượng tự nhiên như: tiếng chim hót, lá cây rụng, hoa nở... Họ xây các mương đập dài vài chục km để tưới tiêu. Người Ngáiở tp HCM làm các nghề tiểu thủ công nghiệp như giày dép, tập trung ở quận 11,Tân bình, tân phú.Các tiểu thương chợ Lớn.Một số đã thành những doanh nghiệp lớn trong ngành giày dép,cao su...
== Hôn nhân gia đình ==
Trong gia đình, người chồng quyết định mọi việc lớn, con trai được coi trọng, con gái không được chia gia tài khi cha mẹ chết và phải về nhà chồng sau khi cưới.
Xưa kia, trai gái Ngái được cha mẹ dựng vợ gả chồng phải trải qua hai lần cưới: lễ thành hôn và lễ nhập phòng. Để cưới vợ cho con, nhà trai chủ động chọn tìm đối tượng dạm hỏi. Khi có thai, phụ nữ Ngái kiêng cữ rất cẩn thận: không ăn ốc, thịt bò, dê, không may vá hay mua quần áo. Sau khi sinh con 60 ngày đối với con đầu, 40 ngày đối với con thứ, người sản phụ mới được đến nhà mẹ đẻ của mình.
Họ nhà vợ, đại diện là ông cậu có vai trò quan trọng trong gia đình người Ngái. Ông cậu gọi là khảo, được coi như người cha của các chị em gái trong gia đình. Khi các cháu gái sinh con, khảo đặt tên cho các cháu ngoại.
== Tục lệ ma chay ==
Theo phong tục Ngái, người chết được tổ chức đám ma chu đáo. Sau khi chôn cất được cúng vào dịp 21 ngày, 35 ngày, 42 ngày, 49 ngày, 63 ngày, 70 ngày, 3 năm thì làm lễ đoạn tang.
== Văn hóa ==
Người Ngái có lối hát giao duyên nam nữ, gọi là Sường cô, rất phong phú. Có thể hát đối nhau 5 đến 7 đêm liền vẫn không bị trùng lặp. Tục ngữ có ý nghĩa răn dạy về kinh nghiệm làm ăn, về cách sống. Nhiều trò chơi được ưa thích như múa sư tử, múa gậy, chơi rồng rắn.
== Nhà cửa ==
Người Ngái thường lập thôn xóm ở sườn đồi, thung lũng hoặc ven biển, trên đảo. Nhà phổ biến là nhà ba gian hai chái
== Trang phục ==
Trang phục Ngái giống người Nùng (Choang). Ngoài quần áo, họ còn đội mũ, nón các loại tự làm từ lá, mây tre, đồng thời đội khăn, che ô.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Tiếng Việt
Các dân tộc ít người ở Việt Nam.. Hà Nội, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. 1978. "Dân tộc Hoa": trang 388-395
Tiếng Anh
Grant Evants (2000). Where China meets Southeast Asia: Social & Cultural Change in the Border Region.. Palgrave Macmillan. ISBN 9780312236342. Chapter 13: Cross-Border Categories: Ethnic Chinese and the Sino-Vietnamese Border at Mong Cai |
quốc lộ 51.txt | Quốc lộ 51 là quốc lộ bắt đầu từ Biên Hòa đến Vũng Tàu qua Long Thành, Tân Thành, thành phố Bà Rịa. Quốc lộ 51 chính là một phần của đường Xuyên Á AH17.
Trên trục đường này có 2 trạm thu phí (trạm Ngã ba Thái Lan thuộc Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và trạm Cầu Cỏ May, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu (đã ngưng hoạt động)). Mặc dù đường rộng nhưng mật độ giao thông rất cao do nhu cầu vận tải sắt từ các nhà máy trong KCN Phú Mỹ (Vina Kyeo, PFS, SSC, BSV, ThepViet,...), xi măng (Hocilm,...), hải sản từ cảng cá Vũng Tàu và các mặt hàng khác về Thành phố Hồ Chí Minh nên con đường trở nên chật hẹp và tai nạn giao thông thường xuyên xảy ra.
Các đường ngang:
Ngã ba Bến Gỗ giao với đường Hương lộ 2 dẫn vào khu đô thị Long Hưng
Ngã ba Cổng 11 giao với Quốc lộ 1A tuyến tránh Thành phố Biên Hòa
Ngã ba Thái Lan (thuộc khu vực xã Tam Phước, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai): Ngã ba hình thành do đường tên Phùng Hưng nối với quốc lộ 51, ngày ngay là ranh giới giữa TP.Biên Hòa và H.Long Thành, tỉnh Đồng Nai. Trong thời chiến tranh Việt-Mỹ, trước năm 1972 một đơn vị lính Thái Lan tham gia quân đồng minh trú đóng tại vùng này. Con đường trước dẫn vào trường Thiết giáp của Quân lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngày nay khu vực ấy là trường Lục Quân, quân đội Nhân dân Việt Nam. Đường này có thể nối với các đường khác đi Dầu Giây.
Ngã tư Lộc An: giao lộ với đường 769 khởi đầu từ đường 51A giữa thị Trấn Long Thành, đường 769 đi về hướng Đông Bắc cắt đường 51B tại xã Lộc An rồi đi tiếp có thể đến được ngã tư Dầu Giây theo hướng này.
Ngã ba Cầu Xéo, giao lộ với tỉnh lộ 25A tại Cầu Xéo cách thị trấn Long Thành 1 km. Tỉnh lộ 25A dẫn đến Nhơn Trạch và phà Cát Lái.
Ngã tư nút giao cao tốc Thành phố Hồ Chí MInh - Long Thành - Dầu Giây
Ngã ba Dầu Khí còn gọi là ngã ba Nhơn Trạch: giao lộ với tỉnh lộ 25B. Tỉnh lộ 25B dẫn đến trung tâm thị trấn Nhơn Trạch.
Ngã ba Bà Ký: giao lộ với hương lộ 12. Hương lộ 12 từ giao lộ với quốc lộ 51 dẫn đến chợ xã Long Thọ, huyện Nhơn Trạch.
Ngã ba Bàu Cạn còn gọi là ngã ba 67(cũ). đường liên xã nối quốc lộ 51 đến xã Bàu Cạn-huyện Long Thành, nông trường cao su Thái Hiệp Thành, xã Đồi 61-huyện Trảng Bom
Ngã ba Mỹ Xuân (huyện Tân Thành): đi Ngãi Giao, Hách Dịch, khu du lich Hồ Tràm Osaka, Hồ Cốc.
Ngã ba Long Hương (thành phố Bà Rịa): đi Long Khánh.
== Thông số chung ==
Tổng chiều dài: 86 km;
Chiều rộng: mặt đường rộng từ 15 m đến 23 m, trải bê tông nhựa;
Trên đường có 15 cầu, tải trọng từ 13 tấn đến 25 tấn;
Loại đường: đường cấp I đồng bằng
Ven đường là các vùng dân cư, các khu công nghiệp mới thành lập như Long Thành, Tam An, Nhơn Trạch, Mỹ Xuân,Phú Mỹ...
Là con đường huyết mạch nối Bà Rịa - Vũng Tàu với các Tỉnh thành khác nắm trong tam giác phát triển kinh tế của Miền Nam: Tp Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bà Rịa Vũng Tàu
== Đường tránh, đường nhánh ==
Quốc lộ 51B là đường tránh về phía đông của quốc lộ 51 khi qua thị trấn Long Thành. Hiện tại 2 đường này là đường một chiều. Đường tránh dự kiến sẽ được mở rộng và thành đường 2 chiều khi quốc lộ 51 mở rộng; còn quốc lộ 51 hiện tại qua thị trấn Long Thành sẽ trở thành đường nội thị.
Quốc lộ 51 khi vào thành phố Vũng Tàu chạy ở bờ tây và mở thêm 2 đường về phía đông lần lượt là 51B và 51C.
Ngày 2/8/2009 đã chính thức khởi công dự án mở rộng Quốc lộ 51 lên đến 8 làn xe, tổng mức đầu tư lên đến 3.200 tỷ đồng VND. Thời gian hoàn thành dự kiến là đến tháng 2/2012
== Tham khảo == |
14 tháng 7.txt | Ngày 14 tháng 7 là ngày thứ 195 (196 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 170 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
756 – Loạn An Sử: Đường Huyền Tông chạy khỏi kinh sư Trường An trong lúc quân An Lộc Sơn tiến gần đến thành.
1223 – Louis VIII trở thành Hoàng đế Pháp sau cái chết của cha, Philip II của Pháp.
1420 – Lực lượng Hussite Séc dưới quyền Jan Žižka giành thắng lợi quyết định tại Đồi Vítkov trước Thập tự quân dưới quyền Hoàng đế Thánh chế La Mã Sigismund.
1789 - Bắt đầu Cách mạng Pháp: các công dân Paris tấn công ngục Bastille và giải thoát bảy tù nhân. Ngày này được lấy làm ngày quốc khánh Pháp hiện nay.
1881 – Billy the Kid bị bắn chết bởi Pat Garrett trước Pháo đài Sumner.
1900 – Quân đội của Liên quân tám nước chiếm Thiên Tân trong sự kiện Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn.
1928 - Thành lập Tân Việt cách mạng đảng ở Việt Nam.
1948 – Palmiro Togliatti, lãnh đạo Đảng Cộng sản Ý, bị bắn gần tòa nhà Quốc hội Ý.
1958 – Cách mạng Iraq: Chính quyền quân chủ bị lật đổ bởi Abdul Karim Kassem, nhà lãnh đạo mới của nước này.
1969 - Chiến tranh Bóng đá: El Salvador và Honduras nổ ra cuộc chiến 100 tiếng đồng hồ. Kết thúc ngày 18 tháng 7 năm 1969.
2003 – Chính phủ Hoa Kỳ thừa nhận sự tồn tại của "Vùng 51".
2007 – Nga rút khỏi Hiệp ước hạn chế vũ khí thông thường ở châu Âu.
2015 – Phi thuyền New Horizons tiếp cận Sao Diêm Vương ở khoảng cách 12.500 km, trở thành tàu thăm dò đầu tiên khám phá hành tinh lùn này.
== Sinh ==
1602 - Hồng y Mazarin, thủ tướng Pháp 1642-1661
1743 - Gavrila Romanovich Derzhavin nhà thơ Nga Thời kỳ Khai sáng
1862 - Gustav Klimt, họa sĩ, nghệ sĩ tạo hình người Áo (m. 1918)
1916 - Thái Văn Lung, luật sư, chính khách Việt Nam (m. 1946)
1977 - Victoria, công chúa Thụy Điển, Nữ công nước xứ Västergötland
== Mất ==
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
Pháp: Quốc khánh
== Tham khảo == |
vinhomes times city.txt | Khu đô thị Vinhomes Times City Hà Nội (Vinhomes Times City, gọi tắt là Times City) là một tổ hợp đô thị phức hợp tại Hà Nội được đầu tư bởi tập đoàn Vingroup, có diện tích mặt bằng tổng cộng 360.367 - 360.500m2, tổng diện tích sàn xây dựng 2.181.298 m2 - 2.205.595 m² khởi công xây dựng từ năm 2011, với tổng mức vốn đầu tư dự toán 23.883 tỷ-30.308 tỷ. Times City bao gồm nhiều phân khu chức năng: căn hộ, trung tâm thương mại, bệnh viện, trường học, công viên, hồ nước, hồ bơi, thủy cung, quảng trường với sân khấu nhạc nước đặc trưng...
== Vị trí - Giao thông ==
Times City có địa chỉ hành chính tại số nhà 458 phố Minh Khai (phường Vĩnh Tuy, quận Hai Bà Trưng) và số 25 ngõ 13 đường Lĩnh Nam (phường Mai Động, quận Hoàng Mai) thuộc về nhà máy dệt 8/3 và Hanosimex., giáp về phía bắc với Hòa Bình Green City và chung cư Imperia Minh Khai, phía đông có đại học Kinh tế - Kỹ thuật Công nghiệp (456 Minh Khai) và Công ty TNHH một thành viên Dệt kim Đông Xuân (524 Minh Khai), Trường Đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (29 A ngõ 124, phố Vĩnh Tuy), dự án chung cư 31 tầng nổi Sunshine Garden nằm cuối ngõ 13 Lĩnh Nam, gần ngõ 622 Minh Khai. Phía tây có dự án Green Pearl 378 Minh Khai. Phía nam có dự án New Horizon City của chủ đầu tư là liên doanh Công ty TNHH MTV Đầu tư Việt Hà (Việt Hà) và Công ty Cổ phần xây dựng và Kỹ thuật Việt Nam (Vinaenco).
Giao thông công cộng
Năm 2013, xe buýt đi và đến khu vực này có tuyến số 19, 24, (tuyến 26 chỉ đi đoạn giữa Nguyễn Tam Trinh với Đại La, tuyến 36 chỉ đi đoạn giữa Kim Ngưu và Trương Định, tuyến 38 chỉ đi đoạn Bạch Mai và Tam Trinh) 51, 52 (A và B), (tuyến 55 và 204 chỉ đi đoạn Nguyễn Khoái dốc Minh Khai) và 205. Tuyến số 45 Times City - Bãi đỗ xe Nam Thăng Long bắt đầu đón, trả khách trước cửa bệnh viện Vinmex từ 1/1/2014. Tháng 7/2016, do việc bến xe Lương Yên ngừng hoạt động, các tuyến xe buýt số 10B và 55 được điều chỉnh về đây.
Khu đất này ngày trước thuộc làng Vĩnh Tuy Đoài, Vĩnh Tuy Sở đời Lê. Sông Kim Ngưu hồi đó chảy vòng cung qua Lạc Trung, Vĩnh Tuy Đoài rồi vòng qua phía Tây nhập với sông Lừ ở đền Lừ xuôi xuống Yên Duyên; đoạn này còn được gọi là sông Gạo. Tại đây còn đình Vĩnh Tuy Đoài thờ Nhã Cát Đại Vương của Chiêm Thành và Nguyệt Nga Công Chúa Chinh Thiên Phu Nhân.
== Khu căn hộ ==
=== 12 tòa T ===
Khu căn hộ giai đoạn 1 đã hoàn thành cuối năm 2014 với 12 tòa từ T1 đến T11 và tòa T18. Từ T1 đến T11 mỗi tòa có 8 thang máy và 2 thang bộ thoát hiểm. T18 có 10 tháng máy và 2 thang bộ thoát hiểm.
Đầu năm 2014, một số người dân ở đây đã phản ánh việc sản xuất của Công ty TNHH một thành viên Dệt kim Đông Xuân bên cạnh đã gây ảnh hưởng tới sức khỏe của họ: Phun khói đen bốc mùi khét lẹt, bụi vải, nước thải... Việc này đang được định hướng giải quyết di dời.
Trong quá trình hoàn thành bàn giao căn hộ, với sức ép từ phía thị trường và nhằm giải phóng nốt số lượng căn hộ chưa bán được, trong năm 2013 Vingroup đã thay đổi một số thiết kế khu đô thị, giảm bớt diện tích cho thuê trung tâm thương mại để gia tăng các tiện ích cho cư dân tại đây:
Tăng diện tích khu vực sử dụng chung tại mỗi tòa nhà bằng một sảnh (Lounge) có dịch vụ cà phê. Đến cuối tháng 10/2013, một số sảnh tại các tòa nhà T1~T7 đã đi vào hoạt động với wifi miễn phí.
Các hộ cư dân tại Times City còn được miễn phí dịch vụ quản lý trong thời hạn 10 năm kể từ khi nhận nhà và các suất học bổng miễn phí tại các Trường Mầm non, hoặc Trường cấp 1, 2, 3 Vinschool, thẻ bảo hiểm y tế toàn diện cho gia đình tại Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec
Bể bơi 4 mùa dành riêng cho khu dân cư được khai trương
=== Vinhomes Times City - Park Hill ===
Park Hill là tên gọi cho giai đoạn 2, gồm 8 tòa trong đó bao gồm T18 và 7 tòa P bàn giao cuối 2016, đầu năm 2017.
=== Vinhomes Times City - Park Hill Premium ===
Park Hill Premium là tên gọi của giai đoạn 3, gồm 4 tòa cao 35 tầng. Có 2 tầng hầm. Tại tầng 1 và tầng 2 cũng có shophouse.
Park Hill Premium có thêm lựa chọn căn hộ thông minh.
=== Nhà liền kề The Boutique ===
Năm 2016. Times City có thêm dãy 10 nhà liền kề.
== Trung tâm thương mại Vincom Mega Mall ==
Vincom Mega Mall khai trương 24 tháng 12 năm 2013, gồm 1 tầng hầm và 2 tầng nổi (đế của các tòa nhà căn hộ chung cư), có thể được chia làm 2 khu:
Khu mua sắm: thời trang quốc tế và Việt Nam, đồ thể thao, đồ trẻ em, đồ điện máy và gia dụng, nội thất và siêu thị hàng tiêu dùng. Siêu thị ở đây lúc khai trương trung tâm thương mại là Ocean Mart, cuối năm 2014 là Vinmart và Vinmart+
Khu ẩm thực: gồm khoảng gần 100 nhà hàng
1/10/2013, Vingroup chính thức công bố đầu tư phát triển hệ thống Vin Kids Center (VinKC) - chuỗi trung tâm mua sắm, tư vấn giáo dục, sức khỏe dành riêng cho trẻ em từ 0 – 15 tuổi, khai trương 24/12/2013, tổng diện tích khoảng 9000m². VinKC bao gồm Thế giới đồ chơi, Nhà kẹo, Khu thời trang bà bầu và trẻ em, Khu sản phẩm chăm sóc Mẹ & Bé, Siêu thị thực phẩm sạch, Khu Nhà sách "ươm mầm trí tuệ", Thế giới nội thất trẻ em, Khu đồ lưu niệm, quà tặng, Khu tư vấn giáo dục Vinschool, Phòng tư vấn y tế Vinmec.
== Khu giải trí ==
Khu giải trí với tổng diện tích dự kiến 40.000 m2
Thế giới Games có cả phòng chiếu phim 5D
Vườn trí tuệ cho trẻ em vui chơi
Các lớp phát triển năng khiếu: khiêu vũ, âm nhạc, hội họa, võ thuật
Thủy cung Vinpearl Aquarium Times City rộng 4.000 - 6.200 m2 (hình minh họa) tại tầng hầm B1. Thủy cung do Australian Aquatica tư vấn, thiết kế ý tưởng và triển khai thi công. Tiến trình thi công được cập nhật trên facebook của nhóm. Mở cửa hàng ngày từ 9:30 - 22:00.
Rạp chiếu phim Platinum Cineplex. rộng hơn 5.300 m2, chiếu phim 2D và 3D.
Ngày 1/3/2017, cụm rạp chiếu phim Platinum tại Times City đã đóng cửa sau hơn 3 năm hoạt động.
== Khu tập luyện ==
Khu tập luyện gồm có 3 khối
Sân vận động ngoài trời: tennis, cầu lông, bóng chuyền, bóng rổ, sân bóng đá mini
Khu spa và phòng tập thể dục
Bể bơi: thông dụng, trẻ em và bể VIP. Khu bể bơi trong nhà này rộng khoảng 4000 m², gồm 1 bể bơi người lớn rộng 1.350 m², sâu 1,3 m; 1 bể bơi thiếu niên rộng 600 m², sâu 0,9 m; 01 bể bơi nhi đồng rộng 300 m², sâu 0,5 m, còn lại là các khu vực phụ trợ với diện tích hơn 1.000 m², miễn phí cho cư dân và bắt đầu hoạt động ngày 1 tháng 12 năm 2013.
== Trường học ==
Hệ thống trường học chiếm trên 51.000 m2
Trường tiểu học
Trường trung học cơ sở
Trường phổ thông trung học
== Bệnh viện ==
Bệnh viện đa khoa đầu tiên trong hệ thống Vinmec chiếm diện tích sử dụng 60.500 m2, hơn 500 giường bệnh với toàn bộ phòng bệnh đơn (mỗi bệnh nhân sử dụng một phòng riêng biệt) trên tổng diện tích 24.670 m2 khởi công xây ngày 27/2/2011 theo mô hình Hospital Facilities (bệnh viện – khách sạn) với dự kiến hơn 30 chuyên khoa (Ngoại khoa, Nội khoa, Sản Phụ khoa, Nhi khoa, Tim mạch, Ung thư, Tai Mũi Họng, Răng Hàm Mặt, Mắt, Da liễu và Dị ứng...).
== Đầu tư ==
Chủ đầu tư xây dựng và quản lý khu đô thị Times City là công ty Cổ phần Phát triển Đô thị Nam Hà Nội, một công ty cổ phần vốn điều lệ 2.000 tỷ đồng với phần góp vốn 53% thuộc về Tập đoàn Vingroup - Công ty CP. Vào thời điểm cuối năm 2012, chủ tịch hội đồng quản trị công ty Nam Hà Nội là ông Vũ Đức Thế,, từ 3/2/2015 là bà Mai Hương Nội, tổng giám đốc là ông Nguyễn Việt Quang.
== Quá trình xây dựng ==
Times City được xây dựng chia làm 3 giai đoạn. Giai đoạn 1 gồm 11 tòa phía ngoài và tòa T18 phía trong, Vinmec và Vinschool. Giai đoạn 2 gồm 7 tòa, được lấy tên mới là Vinhomes Times City Park Hill.
9/9/2010, một số công nhân nhà máy dệt 8/3 đã vây trụ sở Tập đoàn Dệt may Việt Nam nhằm thắc mắc về các chế độ lao động sau khi di dời cơ sở
Bắt đầu khởi công xây dựng khoảng đầu năm 2011. Từ tháng 9 năm 2011, trên trang web chính thức đã đăng tải các bản tin cập nhật tiến độ xây dựng.
== Truyền thông ==
Lồng đèn Trung thu hình cá chép lớn nhất Việt Nam 2014.
Bức tranh với chủ đề Chung tay bảo vệ động vật quý hiếm được ghép từ nhiều hình nhất tại thủy cung.
Kỷ lục Đèn lồng Thỏ Vọng Nguyệt lớn nhất và Tiểu cảnh trang trí sử dụng nhiều đèn lồng nhất cho trung thu 2016.
== Thư viện ảnh ==
== Xem thêm ==
Danh sách chung cư cao tầng tại Hà Nội
Rạp Platinum Cineplex
Người tiêu dùng
Luật cạnh tranh
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Báo cáo quý 4/2011: Toàn cảnh thị trường Hà Nội, bộ phận nghiên cứu thị trường và tư vấn đầu tư, công ty TNHH CB Richard Ellis (Việt Nam), 5/1/2012
Báo cáo tài chính 2006-2011 của Vincom
Báo cáo tài chính hợp nhất, quý I của năm 2012 và cả năm 2013 (cập nhật 15:54 19/3/2014) - Tập đoàn Vingroup - Công ty Cổ phần
Thông tư số 02/2016/TT-BXD ngày 15/02/2016 của Bộ Xây dựng ban hành Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư
Quy chế quản lý, sử dụng nhà chung cư Ban hành kèm theo Thông tư số 02/2016/TT-BXD ngày 15 tháng 02 năm 2016 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Times City tại Wikimedia Commons |
thiết kế nội thất.txt | Thiết kế nội thất mô tả một nhóm các dự án khác nhau liên quan đến sự chuyển đổi không gian nội thất thành các thiết lập hiệu quả cho phạm vi các hoạt động của con người được xảy ra ở đó. Thiết kế nội thất còn là một nghề kết hợp sự sáng tạo, kiến thức kỹ thuật và các kỹ năng kinh doanh. Nhà thiết kế nội thất làm việc với khách hàng và các chuyên gia thiết kế khác để phát triển các giải pháp thiết kế được an toàn, chức năng, hấp dẫn, và đáp ứng nhu cầu của những người sử dụng không gian.
== Phân loại ==
Hiện nay, tùy theo cách phân loại thì có nhiều dạng thiết kế nội thất khác nhau. Thông thường, thiết kế nội thất được phân loại các dạng chính bao gồm:
Thiết kế nội thất nhà ở
Thiết kế nội thất văn phòng
Thiết kế nội thất cửa hàng bán lẻ
Thiết kế nội thất chăm sóc sức khỏe
Thiết kế nội thất khách sạn
Hoặc theo một cách phân loại tổng quát hơn thì thiết kế nội thất bao gồm: Thiết kế và bố trí không gian nội thất trong nhà, cách bố trí sắp xếp đồ đạc khoa học và hợp lý nhất
== Nhà thiết kế nội thất ==
Đa số các nhà thiết kế nội thất chuyên nghiệp đều có kỹ năng và trình độ chuyên môn. Họ có thể nghiên cứu về kiến trúc trong một thời gian hoặc được đào tạo về thiết kế 3D hoặc một môn học liên quan. Nhà thiết kế cần biết cách xác định không gian và trình bày không gian một cách trực quan. Nhà thiết kế còn phải am hiểu về chất liệu và sản phẩm được dùng để tạo ra không gian, việc ết hợp màu sắc, độ sáng, chất liệu và các nhân tố khác, cuối cùng là cách tương tác để tạo không gian tương đồng. Ngoài ra, nhà thiết kế cần biết các yêu cầu cấu trúc trong các dự án, vấn đề sức khỏe, vấn đề an toàn, tiêu chuẩn xây dựng và các khía cạnh kỹ thuật khác.
Một số công việc mà nhà thiết kế nội thất thường làm bao gồm:
== Giáo dục ==
Trang trí nội thất được xem là bộ môn thuộc nhóm ngành mỹ thuật công nghiệp ở nhiều trường đại học. Vì vậy yếu tố thẩm mỹ, cách nhìn, sự sáng tạo của sản phẩm phù hợp cho từng không gian là quan trọng và rất cần thiết.
== Một số nhà thiết kế nổi tiếng ==
Sybil Colefax
Dorothy Draper
Pierre François Léonard Fontaine
Syrie Maugham
Elsie de Wolfe
Arthur Stannard Vernay
== Xem thêm ==
Kiến trúc nội thất
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Interiors tại Wikimedia Commons |
john roberts.txt | John Glover Roberts, Jr. (sinh ngày 27 tháng 1 năm 1955) là Chánh án thứ 17 và là Chánh án đương nhiệm của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Ông đảm đương chức vụ này từ năm 2005, được tổng thống George W. Bush bổ nhiệm sau khi Chánh án William Rehnquist đột ngột qua đời. Ông được đánh giá là người có khuynh hướng thiên về bảo thủ trong quan điểm luật học và pháp chế.
Roberts sinh trưởng ở vùng phía bắc bang Indiana, theo học tại trường tư trước khi tới học tại Harvard College rồi sau đó là Khoa luật thuộc Đại học Havard, nơi mà ông phụ trách tờ Harvard Law Review. Sau khi thi đỗ kỳ thi luật sư, ông trở thành công tố viên cho Thẩm phán Henry Friendly và William Rehnquist trước khi trở thành thành viên văn phòng Bộ trưởng Tư pháp Hoa Kỳ, nhiệm kỳ của Tổng thống Ronald Reagan. Sau đó, ông được bổ nhiệm vào Bộ Tư pháp trong nhiệm kỳ của Tổng thống George H. W. Bush, rồi làm thành viên của Hội đồng cố vấn Nhà Trắng, trước khi dành 14 năm hành nghề luật tư nhân. Trong quãng thời gian này, ông tham gia tới 39 vụ án tại Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ.
Năm 2003, ông trở thành Thẩm phán tối cao tại Washington D.C. bởi Tổng thống George W. Bush, cùng với đó là trở thành Thẩm phán tại Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ thay thế cho Thẩm phán Sandra Day O'Connor về hưu. Khi Chánh án Rehnquist qua đời và trước khi Roberts được chính thức bổ nhiệm, Roberts cũng được Tổng thống Bush chỉ định làm Chánh án tạm thời của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Bản mẫu:Wikisource-author
Bản mẫu:Judgepedia
Issue positions and quotes at OnTheIssues
Judge Roberts's Published Opinions in a searchable database
Chief Justice John Roberts at About.com
List of Circuit Judge Roberts's opinions for the DC Circuit
Federalist Society
A summary of media-related cases handled by Supreme Court nominee John G. Roberts Jr. from The Reporters Committee for Freedom of the Press, ngày 21 tháng 7 năm 2005
SCOTUSblog
List of Chief Justices, including John Roberts, Jr.
On first day, Roberts sets no-nonsense tone – The Boston Globe
Đề bạt và bổ nhiệm
Transcript of Senate Judiciary Committee hearing on the nomination of John Roberts to the D.C. circuit (Roberts Q&A on pages 17–79) plain text available here
Supreme Court Nomination Blog
Senate Vote on the Roberts nomination
Experts Analyze Supreme Court Nominee John Roberts's Legal Record
Profile of the Nominee – The Washington Post
A Senate Hearing Primer – The New York Times
Video and Transcripts From the Roberts Confirmation Hearings – The New York Times
Search and browse the transcripts from Judge Roberts's confirmation hearing |
kilôwatt giờ.txt | Kilôwatt giờ, hay Kilowatt giờ, (ký hiệu kW·h, kW h) là đơn vị của năng lượng bằng 1000 watt giờ hay 3,6 megajoule.
Năng lượng theo watt giờ là tích của công suất đo bằng watt và thời gian đo bằng giờ.
Kilôwatt giờ phổ biến nhất được biết đến như một đơn vị thanh toán cho năng lượng cung cấp cho người tiêu dùng bằng các thiết bị điện.
== Định nghĩa ==
Đơn vị tiêu chuẩn của năng lượng trong hệ đo lường quốc tế (SI) là joule (J), bằng một watt giây.
Ngược lại, một watt bằng 1 J/s. Một kilowatt giờ bằng 3,6 megajoule, đó là lượng năng lượng được chuyển đổi nếu công thực hiện với tốc độ trung bình trong một giờ bằng một nghìn watt.
== Ví dụ ==
Một máy sưởi có công suất 1000 watt (1 kilowatt), hoạt động trong một giờ sẽ tiêu thụ 1 kilowatt giờ (tương đương 3.600 kilo joule) năng lượng.
Sử dụng một bóng đèn 60 watt trong một giờ sẽ tiêu thụ 0,06 kilowatt giờ điện. Và bật liên tục trong một nghìn giờ sẽ tiêu thụ hết 60 kilowatt giờ điện.
Nếu một bóng đèn 100 watt bật một giờ một ngày và 30 ngày trong một tháng, năng lượng tiêu thụ sẽ là 100 W × 30 h = 3000 W·h = 3 kW·h, tương đương với 10,8 triệu joule.
== Chuyển đổi ==
Để đổi một đại lượng được đo theo đơn vị ghi ở cột trái sang đơn vị ghi ở hàng trên, nhân đại lượng đó với hệ số ở trong ô hàng và cột giao với nhau.
== Xem thêm ==
Ampe giờ
Kilowatt
Watt
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Power and Energy in the Home: The Trustworthy Cyber Infrastructure for the Power Grid (TCIP) group at the University of Illinois at Urbana-Champaign has developed an applet which illustrates the consumption and cost of energy in the home, and allows the user to see the effects of manipulating the flow of electricity to various household appliances.
Prices per kilowatt hour in the USA, Energy Information Administration |
cơ học cổ điển.txt | Cơ học là ngành khoa học nghiên cứu chuyển động của vật chất trong không gian và tương tác giữa chúng.
Thông thường khi nói đến cơ học người ta hiểu ngầm là cơ học cổ điển, dựa trên cơ sở của các định luật Newton. Cơ học cổ điển nghiên cứu chuyển động của các vật vi mô có vận tốc nhỏ hơn rất nhiều so với vận tốc của ánh sáng, được xây dựng bởi các nhà vật lý như Galileo Galilei, Isaac Newton và các nhà toán học sau này như William Rowan Hamilton, Joseph Louis Lagrange... Chuyển động của các vật thể (các hạt) có vận tốc gần bằng vận tốc ánh sáng được nghiên cứu trong cơ học tương đối, còn chuyển động của các vi hạt được nghiên cứu trong cơ học lượng tử
Cơ học cổ điển là cơ sở cho sự phát triển các ngành khoa học kỹ thuật và công nghệ như:chế tạo máy, xây dựng,...
== Lịch sử ==
Những viên gạch đầu tiên của bộ môn cơ học dường như được xây nền từ thời Hy Lạp cổ đại. Những kết quả nghiên cứu đầu tiên được ngày nay biết đến là của Archimedes (287-212 TCN). Chúng bao gồm định lý mang tên ông trong thuỷ tĩnh học, khái niệm về khối tâm và nghiên cứu cân bằng của đòn bẩy.
Cơ học chỉ được đánh thức vào thời kỳ Phục Hưng ở châu Âu với những tiến bộ vượt bậc vào thế kỉ 16. Trong suốt đêm trường thời Trung Cổ, những lý thuyết ngụy biện của Aristote (384-322 TCN) đã ngăn trở rất nhiều sự đi lên của khoa học đích thực. Vào thời này, chúng ta phải kể đến Leonardo da Vinci (1452-1519) với những nghiên cứu về tĩnh học. Tuy nhiên những tên tuổi lớn nhất của giai đoạn huy hoàng này chính là nhà khoa học người Ba Lan Nicolai Copernic (1473-1543) - người đã phủ nhận mô hình với Trái Đất là trung tâm vũ trụ của Ptolémée (xem thuyết địa tâm) và mô tả những chuyển động đúng đắn của hệ mặt trời, là nhà thiên văn học người Đức Johannes Kepler (1571-1630) - người đã phát biểu ba định luật mang tên ông về sự chuyển động của các hành tinh, là nhà bác học thiên tài người Ý Galileo Galilei (1564-1642). Có thể nói Galileo là ông tổ khai sáng ra động lực học: ông đã đưa ra khái niệm gia tốc, phát biểu vào năm 1632 nguyên lý tương đối Galileo và nguyên lý quán tính. Ông cũng đã nghiên cứu đến rất nhiều những vấn đề khác nhau của cơ học: con lắc, mặt phẳng nghiêng, sự rơi tự do.
Kế tiếp sau đó, sang thế kỉ 17, nhà khoa học người Pháp Blaise Pascal (1623-1662) đã có những nghiên cứu quan trọng về thủy tĩnh học. Nhà vật lý người Hà Lan Christiaan Huygens (1629-1695) đã phân tích chuyển động quay, đặc biệt là những dao động của con lắc và đưa ra khái niệm về động năng cũng như về lực hướng tâm. Đặc biệt, nhà bác học người Anh Isaac Newton (1642-1727) đã xuất bản cuốn sách Philosphiae naturalis principia mathematica (Những nguyên lý toán học của triết học tự nhiên) trong đó có nêu lên ba định luật mang tên ông, tạo nên nền tảng của cơ học cổ điển. Chúng ta cũng biết đến Newton với định luật vạn vật hấp dẫn của vũ trụ.
Thế kỉ 18 được xem như là thế kỉ của cơ học giải tích. Nhà bác học người Thụy Sĩ Leonhard Euler (1707-1783) đã phát biểu những phương trình về cơ học chất lưu. Ông cũng tham gia vào việc xây dựng nên ngành cơ học giải tích cùng với Louis Joseph Lagrange (1736-1813) và Jean Le Rond d'Alembert (1717-1783).
Tiếp theo đó, sự phát triển của cơ học cổ điển đã đạt tới giới hạn với những ứng dụng tuyệt vời. Ví dụ như Pierre-Simon Laplace (1749-1827) đã cải thiện sự chính sáng về sự ra đời của chuyển động các hành tinh nhờ vào phương pháp nhiễu loạn. Urbain Le Verrier (1811-1877) đã tiên đoán trước sự tồn tại của Sao Hải Vương bằng chính phương pháp này. Ngoài ra, ông cũng đã khám phá ra sự gần lại của cận điểm của Sao Thủy. Tuy nhiên chính kết quả này lại đánh dấu một trong những giới hạn của cơ học Newton: kết quả này chỉ có thể được giải thích dựa vào cơ học tương đối. William Rowan Hamilton (1805-1865) đã đề xuất ra phép khai triển chính được biết đến với tên phương trình Hamilton. Chúng ta cũng có thể kể đến Henri Poincaré (1854-1912) với những đóng góp trong cơ học tính toán.
Cuối cùng có rất nhiều sự mở rộng của cơ học cổ điển trong lĩnh vực về các môi trường liên tục (thuỷ động lực học hoặc môi trường chịu biến dạng).
Chúng ta cũng không được phép quên rằng mặc dù ngày nay đã có rất nhiều những phát minh và khám phá trong cơ học lượng tử và cơ học tương đối ở thế kỉ 20 nhưng những nghiên cứu về hệ hỗn độn trong những năm 1970, về những áp dụng của cơ học cổ điển vẫn là một phần to lớn trong lâu đài vật lý học. Mặt khác, vẫn còn đó nguyên vẹn rất nhiều vấn đề chưa được giải quyết trong cơ học cổ điển, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến dao động kép.
xem Lịch sử cơ học
== Đối tượng nghiên cứu ==
Người ta phân biệt các phần khác nhau trong cơ học cổ điển:
Chuyển động học
tiếng Anh: kinematics, tiếng Pháp: cinématique, bắt nguồn từ chữ Hy Lạp κινημα (hay kinema) có nghĩa là chuyển động. Đây là những nghiên cứu mô tả chuyển động nhưng không quan tâm đến nguyên nhân gây ra chuyển động.
Động lực học
tiếng Anh: dynamics, tiếng Pháp: dynamique, bắt nguồn từ chữ Hy Lạp δύναμη (hay dyname) có nghĩa là lực. Đây là những nghiên cứu nhằm thiết lập mối liên hệ giữa chuyển động và những nguyên nhân gây ra nó.
Cũng có thể chia cơ học thành hai nhánh:
Động học
tiếng Anh: kinetics, hay là nghiên cứu mô tả những hệ vật chất đang trong quá trình chuyển động: đây được xem là thuỷ tổ của hầu như mọi lĩnh vực khác nhau của cơ học. Ở đây, người ta thường xuyên phải định nghĩa những đại lượng cho phép mô tả chuyển động như là động lượng, mômen động lượng...
Tĩnh học
tiếng Anh: statics, hay là nghiên cứu sự cân bằng của các hệ vật chất: nhánh này đã được ngầm bao hàm trong bộ môn phân tích động lực học khi xem rằng vận tốc và gia tốc của mọi thành phần động lực học đều bằng 0.
== Tham khảo ==
Cơ sở vật lý phần Cơ học, của Halliday, Walker và Resnick, dịch sang tiếng Việt bởi Ngô Quốc Quýnh, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998.
== Liên kết ngoài ==
Viện Cơ học Việt Nam
Viện Cơ học Ứng dụng Việt Nam
Nhóm Cơ điện tử (thuộc Viện Cơ học) |
múa ba lê.txt | Múa Ba Lê (tiếng Pháp: ballet) là một loại hình vũ kịch có nguồn gốc xuất xứ từ triều đình Ý và được phát triển tại Pháp, Nga, Mỹ và Anh thành dạng múa phối hợp. Đây là một dạng múa kỹ thuật hình thể với ngôn từ riêng của mình. Loại hình nghệ thuật này có tầm ảnh hưởng toàn cầu và được giảng dạy tại các trường múa trên khắp thế giới. Múa Ba Lê được dàn dựng bao gồm nhạc (được dàn nhạc biểu diễn nhưng đôi khi được ca sĩ hát), lời ca, và diễn xuất của dàn múa. Loại hình biểu diễn Múa Ba Lê cổ điển nổi tiếng nhất là ballet cổ điển với động tác uyển chuyển và chính xác. Sau này biến thể của ballet cổ điển có Múa Ba Lê tân cổ điển và Múa Ba Lê đương đại.
Về mặt từ nguyên, từ Ba Lê trong tiếng Việt lấy từ tiếng Pháp "ballet" nhưng từ tiếng Pháp này lại được tiếng Anh vay mượn vào khoảng thế kỷ 17. Từ ballet này lại có nguồn gốc tiếng Ý balletto, một dạng diminutive của ballo (múa). Ballet lại có từ nguyên sâu xa hơn từ tiếng Latin ballere, có nghĩa là múa.
== Lịch sử ==
Italia là quê hương của opera, Ballett Italia thời Phục hưng ra đời nhằm phục vụ cho các lễ cưới hoàng gia và của tầng lớp quý tộc. Trong giai đoạn này, người châu Âu đặc biệt quan tâm đến học vấn và các loại hình nghệ thuật. Cùng lúc đó, thương mại và buôn bán cũng rất phát triển, Các thành phố của Italia trở thành những trung tâm nghệ thuật cũng như thương mại của châu Âu. Catherine de Médicis, người Florence, kết hôn với Henri II, trở thành hoàng hậu của nước Pháp vào năm 1547. Bà đã giới thiệu tới triều đình Pháp loại hình giải trí được biết đến tại Italia. Năm 1661, Louis XIV (Vua Mặt trời) thành lập Học viện Múa Hoàng gia (Academie Royale de Danse) nhằm đào tạo các vũ công chuyên nghiệp để biểu diễn cho ông và triều đình. Thời kỳ này chỉ có nam vũ công. Để thể hiện vai nữ, các diễn viên nam sẽ mặc trang phục nữ, đeo mặt nạ và đội tóc giả. Chỉ đến vở ba lê Le Triomphe de l'Amour (The Triumph of Love) năm 1681 nữ vũ công mới bắt đầu tham gia vào ba lê. Từ mô hình của Pháp, Trường Ballett Hoàng gia Nga (Russian Imperial Ballet - hiện nay là Kirov Ballet) được thành lập năm 1738 tại St. Petersburg, sau này trở thành một trong số học viện ballett vĩ đại nhất thế giới, và đoàn Ba lê Hoàng gia Đan Mạch năm 1748. Ballett thời kỳ lãng mạn coi phụ nữ là thực thể lý tưởng và, lần đầu tiên trong lịch sử ba lê, họ được trao cho một vị trí quan trọng hơn hẳn so với nam giới. Nam diễn viên chỉ có vai trò phụ trên sân khâu nhằm nâng đỡ cho các ballerina và cho khán giả thấy họ không trọng lượng ra sao. Sau năm 1850, ba lê tại Pháp rơi vào thời kỳ thoái trào, trong khi lại thăng hoa tại Nga, nhờ vào sự đóng góp của những bậc thầy ba lê như August Bournonville, Jules Perrot, Arthur Saint-Léon, Enrico Cecchetti và Marius Petipa. Nửa sau thế kỷ 19, trung tâm thế giới ballett chuyển từ Pháp sang Nga. Một trong những người tạo ra kỷ nguyên vàng cho Trường Ba lê Hoàng gia Nga và đóng vai trò lớn trong việc biến St. Petersburg trở thành kinh đô của ballett thế giới là Marius Petipa. Đoàn ballett của St. Petersburg là nơi đào tạo ra những diễn viên ballett vĩ đại nhất của mọi thời, trong đó nổi bật lên là cái tên Anna Pavlova. Pavlova nổi tiếng thế giới nhờ phong cách diễn vô cùng thanh thoát, uyển chuyển. Quê hương ballett là Italia, phát triển và định hình ở Pháp, thăng hoa ở Nga
== Tham khảo == |
robert boyle.txt | Robert Boyle, FRS, (25 tháng 1 năm 1627 – 30 tháng 12 năm 1691) là một nhà nghiên cứu thiên nhiên người Ireland. Ông được coi là người đồng sáng lập ra vật lý và hóa học hiện đại, cũng như các ngành khoa học tự nhiên khác qua nhiều thí nghiệm. Ông đã phát hiện ra mối liên hệ giữa áp suất và thể tích của chất khí qua định luật có tên ông.
== Tiểu sử ==
Robert Boyle là con trai thứ 7 (14) trong gia đình Richard Boyle tại County Waterford, Ireland. 8 tuổi ông đi học tại trường Eton, 12 tuổi sang học tại Gèneve, Pháp, sau đấy là Firenze, Ý. Với các bộ môn yêu thích của ông là khoa học tự nhiên, toán học, y học, ngôn ngữ cổ và thần học; ông đã nghiên cứu các công trình của Galileo Galilei trong thời gian lưu lại Ý. Sau khi bố ông mất năm 1644, ông sống tại Stalbridge, 1655 chuyển đến Oxford. Ông không lập gia đình, sống từ 1668 tại nhà chị gái.
Ông mất ngày 30 tháng 12 năm 1691 tại London, đúng 1 tuần sau chị gái ông; Isaac Newton cũng có mặt tại lễ an táng. Mộ ông được đặt trong khuôn viên một nhà thờ, nhưng sau đó bị tàn phá, đến giờ không còn lại dấu vết gì.
== Các đóng góp chính ==
Ngoài định luật Boyle-Mariotte, ông còn có nhiều đóng góp khác cho vật lý và hóa học. Bằng các thí nghiệm ông đã chứng minh âm thanh không lan truyền được trong chân không, và vận tốc rơi của mọi vật trong chân không là như nhau (định luật rơi tự do của Galileo).
Quan điểm của ông trong hóa học được chấp nhận cho đến giờ: các nguyên tố là những phần không thể chia cắt được của vật chất. Ông đã nhận ra được sự khác biệt giữa hỗn hợp và hợp chất, tiến hành nhiều thí nghiệm phân tích thành phần các chất, vì thế ông được coi là cha đẻ của chuyên ngành hóa phân tích.
Trong thí nghiệm con chuột và đèn cầy năm 1660, cả hai trong cùng một lồng kín, khi đèn tắt cũng là khi chuột chết, lý do là thiếu khí ôxy, nguyên tố mà hơn 100 năm sau mới được phát hiện.
== Published work by Boyle (online) ==
The Sceptical Chymist University of Pennsylvania Library
Essay on the Virtue of Gems Gem and Diamond Foundation
Experiments Touching Colours Gem and Diamond Foundation
Boyle Papers University of London
== Chú thích == |
phông chữ.txt | Từ này bắt nguồn từ nước Pháp, các hợp kim đúc chữ in phải được đúc thành từ các hợp kim nóng chảy ở các nhà máy luyện kim (Foundries) mà trong tiếng Pháp gọi là "Foundue" nghĩa là "thứ bị nóng chảy". Và chính bởi từ "Foundue" mà ngày nay chúng ta gọi một bộ các ký tự cùng một kiểu chữ là một phông (Font)
Khi sắp chữ, những người thợ cất các khối đúc chữ trong một cái kệ, những chữ nào thường được dùng nhất thì cất ở kệ dưới "Lower case" để dễ lấy hơn. Trong khi đó, các chữ in hoa thì được cất trên cao một tí, ở những kệ trên "Upper case"
== Tham khảo == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.