filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
hydro peroxid.txt | Hydro peroxid, hay Hydro peroxide (tên Việt hóa là Hidrô perôxit hay nước oxy già) có công thức hóa học H2O2), là một chất oxy hóa dạng lỏng trong suốt, nhớt hơn một chút so với nước, có các thuộc tính ôxi hóa mạnh và vì thế là chất tẩy trắng mạnh được sử dụng như là chất tẩy uế, cũng như làm chất ôxi hóa, và (đặc biệt ở nồng độ cao như HTP) làm tác nhân đẩy trong các tên lửa.
== Sử dụng ==
=== Trong gia đình ===
Khi ở nồng độ thấp (dưới 5%) nó được sử dụng phổ biến để tẩy tóc người. Với nồng độ cao hơn nó có thể làm cháy da khi tiếp xúc. Ở nồng độ rất thấp (3%), nó được sử dụng trong y học để rửa vết thương và loại bỏ các mô chết. Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm (Mỹ) đã cho phép sử dụng nước oxy già 3% ("Cấp thực phẩm", hay không có sự bổ sung các hóa chất ổn định) như là nước rửa miệng. Các dung dịch peroxide thương mại (chủ yếu là H2O2 mua từ các hiệu thuốc) là không thích hợp cho việc uống nó do chúng chứa các hóa chất bổ sung có tính độc hại.
Một số người làm vườn và những người trồng cây thủy sinh đã nói đến giá trị của hydro peroxide trong các dung dịch nước của họ. Họ cho rằng sự phân hủy tự nhiên của nó giải phóng oxy cho cây trồng mà nó có thể làm tăng sự phát triển của rễ cũng như giúp xử lý các rễ đã thối rữa, là các tế bào chết do thiếu oxy.
Peroxide thương mại, như các dung dịch 3% mua tại hiệu thuốc, có thể sử dụng để tẩy các vết máu khỏi quần áo và thảm.
==== Lưu trữ ====
Do hydro peroxide phân hủy khi có ánh sáng nên nó cần phải bảo quản trong điều kiện mát và tránh chiếu nắng trực tiếp. Nó cũng cần được bảo quản trong chai lọ có dãn nhãn rõ ràng, xa tầm với của trẻ em do nếu uống nhầm một lượng lớn thì nó có thể sinh ra các vấn đề với hệ tiêu hóa như bỏng, tổn thương và nôn mửa.
Các dung dịch đậm đặc hơn, chẳng hạn 35% sẽ gây ra chết người khi uống.
=== Ứng dụng công nghiệp ===
Khoảng 50% sản lượng hydro peroxide của thế giới năm 1994 được sử dụng để tẩy trắng giấy và bột giấy. Các ứng dụng tẩy trắng khác ngày càng trở nên quan trọng hơn do hydro peroxide được coi là chất thay thế tốt hơn về mặt môi trường so với các chất tẩy gốc clo.
Các ứng dụng chủ yếu khác trong công nghiệp của nó còn bao gồm cả việc sản xuất natri percacbonat và natri perborat, được sử dụng như là các chất tẩy rửa nhẹ trong các loại bột giặt để giặt là (ủi). Nó còn được sử dụng trong sản xuất các hợp chất peroxide hữu cơ nào đó như dibenzoyl peroxide, được sử dụng như là chất mồi gốc tự do trong các phản ứng trùng hợp và các phản ứng hóa học khác. Nó cũng được sử dụng để sản xuất các êpôxit chẳng hạn như propylen oxid. Phản ứng với các acid cacboxylic tạo ra các "acid per-" tương ứng; ví dụ acid peracetic sử dụng công nghiệp được điều chế theo cách này từ acid axetic. Tương tự, acid mêta-clorôperoxybenzôic (MCPBA), được sử dụng nhiều trong các phòng thí nghiệm, cũng được điều chế từ acid meta-clorôbenzôic.
=== Tác nhân đẩy ===
Sử dụng H2O2 như là tác nhân đẩy có một số ưu thế như sự phân hủy của nó tạo ra nước và oxy. Nhiên liệu được bơm vào trong khoang phản ứng, ở đó thông thường các chất xúc tác kim loại (đặc biệt là bạc hay bạch kim) kích thích sự phân hủy, luồng hơi nước-oxy được tạo ra hoặc là được sử dụng trực tiếp hoặc được trộn với nhiên liệu để đốt cháy. Khi là tác nhân đẩy đơn (không trộn với nhiên liệu) nó sinh ra xung lực riêng tối đa là (Isp) 161 s (1,6 kN•s/kg) làm cho nó là tác nhân đẩy hiệu suất thấp. Tên lửa đai lưng nổi tiếng của Bell sử dụng hydro peroxide làm tác nhân đẩy đơn. Khi phân hủy như là chất ôxi hóa để đốt nhiên liệu thì xung lực riêng của nó cao hơn, có thể đạt tới 350 s (3,5 kN•s/kg), phụ thuộc vào loại nhiên liệu. Peroxide đã được sử dụng rất thành công như là chất ôxi hóa cho tên lửa đẩy giá thành thấp của Anh, tên lửa Black Knight (Hiệp sĩ đen) cho các lần phóng vệ tinh của dự án Black Arrow (Mũi tên đen).
So sánh với hidrazin, peroxide ít độc hại hơn nhưng nó cũng không mạnh bằng. Peroxide cung cấp Isp thấp hơn một chút so với oxy lỏng, nhưng là một chất dễ bảo quản, không cần làm lạnh và đậm đặc hơn và nó có thể sử dụng để chạy các tuốc bin khí nhằm tạo ra áp suất cao. Nó cũng có thể sử dụng để làm mát tái sinh các động cơ tên lửa.
Trong những năm thập niên 1940- 1950, tuốc bin của Walter sử dụng hydro peroxide để chạy các tàu ngầm khi chúng lặn; chúng là quá ồn và có yêu cầu bảo dưỡng cao hơn khi so với hệ thống cung cấp năng lượng kiểu điêzen-điện chuyển đổi. Một số ngư lôi sử dụng hydro peroxide như là chất ôxi hóa hay tác nhân đẩy, nhưng việc sử dụng này đã bị hải quân nhiều nước dừng lại vì các lý do an toàn. Sự rò rỉ hydro peroxide đã bị coi là nguyên nhân gây ra chìm các tàu HMS Sidon 2 và Kursk. Ví dụ, hải quân Nhật Bản phát hiện ra trong các lần thử nghiệm ngư lôi là nồng độ cao của H2O2 trong các chỗ uốn vuông góc của các ống dẫn HTP có thể dẫn tới các vụ nổ của các tàu ngầm hay ngư lôi.
Trong khi ứng dụng của nó như là tác nhân đẩy đơn cho các động cơ lớn đã bị suy giảm thì các thiết bị đẩy nhỏ (để kiểm soát tư thế) sử dụng hydro peroxide vẫn còn được sử dụng trong một số vệ tinh và đem lại ích lợi cho tàu vũ trụ, làm cho nó dễ dàng hơn trong việc điều chỉnh và an toàn hơn trong khi nạp và chứa nhiên liệu trước khi hạ cánh (khi so sánh với tác nhân đẩy đơn hidrazin). Tuy nhiên hiđrazin là tác nhân đẩy đơn phổ biến hơn trong các tàu vũ trụ vì nó có xung lực riêng cao hơn và tỷ lệ phân hủy thấp hơn.
=== Sử dụng trong y tế ===
Nước oxy già được sử dụng như là chất khử trùng và chất khử khuẩn trong nhiều năm. Trong khi việc sử dụng nó đã bị suy giảm trong những năm gần đây do sự phổ biến của các sản phẩm OTC có mùi vị dễ chịu hơn và có sẵn hơn thì nó vẫn được nhiều bệnh viện, bác sĩ và nha sĩ sử dụng trong việc vô trùng, làm sạch và xử lý mọi thứ từ sàn nhà đến các phẫu thuật chân răng.
Hydro peroxide 35% cấp thực phẩm được gọi là "nước oxy già", với các giá trị y học hay trị liệu được coi như là liệu pháp hydro peroxide. Những người chủ trương sử dụng sản phẩm này cho rằng nó có thể hòa loãng và sử dụng trong "liệu pháp siêu ôxi hóa" để điều trị AIDS, ung thư và nhiều bệnh khác; một số cũng kêu ca rằng thông tin về các sử dụng có lợi của peroxide bị cấm bởi cộng đồng khoa học.
Gần đây, các nhà thực hành y học khác cũng sử dụng các liều hydro peroxide tiêm tĩnh mạch trong nồng độ cực thấp (nhỏ hơn 1%) trong liệu pháp hydro peroxide - một hướng điều trị y học gây tranh cãi đối với ung thư. Tuy nhiên, theo Hiệp hội ung thư Mỹ, "đã không có các chứng cứ khoa học cho thấy hydro peroxide là an toàn, có hiệu quả hay có ích trong điều trị ung thư". Họ cũng khuyến cáo các bệnh nhân ung thư cần "duy trì việc chăm sóc của các bác sĩ chuyên khoa, là những người sử dụng các phương pháp điều trị đã được thử thách và các thử nghiệm điều trị đã được phê chuẩn của các điều trị mới có triển vọng".
== Các thuộc tính vật lý ==
Hydro peroxide có hình dạng "xiên lệch", do lực đẩy giữa các cặp đơn trên các nguyên tử oxy. Mặc dù trên thực tế liên kết O-O là một liên kết đơn, phân tử có rào cản cao đáng kể để thực hiện vòng quay hoàn hảo là 29,45 kJ/mol; nó có nguyên nhân là do lực đẩy của cặp đơn.
Các góc liên kết bị ảnh hưởng chủ yếu bởi liên kết hydro, nó giải thích sự khác biệt giữa các dạng hơi và tinh thể; thực vậy người ta đã quan sát được một khoảng rộng giá trị trong các tinh thể chứa phân tử H2O2.
== Các thuộc tính hóa học ==
Hydro peroxide có thể phân hủy tự nhiên thành nước và oxy. Thông thường nó phản ứng như là một chất ôxi hóa, nhưng có nhiều phản ứng trong đó nó phản ứng như là chất khử, giải phóng ra oxy như là phụ phẩm. Nó cũng rất nhanh chóng tạo ra các peroxide vô cơ và hữu cơ.
=== Phân hủy ===
Hydro peroxide thông thường phân hủy theo phản ứng tỏa nhiệt thành nước và khí oxy một cách tự nhiên:
2 H2O2 → 2 H2O + O2 + Nhiệt lượng
Phản ứng này là thuận; nó có ΔH° -98,2 kJ/mol và ΔG° -119,2 kJ/mol. Tỷ lệ phân hủy phụ thuộc vào nhiệt độ, nồng độ của peroxide, cũng như là độ pH và sự có mặt của các chất ổn định hay tạp chất. Hydro peroxide kỵ với nhiều chất gây ra sự xúc tác quá trình phân hủy nó, bao gồm phần lớn các kim loại chuyển tiếp và hợp chất của chúng. Các chất xúc tác phổ biến nhất là mangan điôxít, kali pemanganat và bạc. Phản ứng y như vậy cũng được xúc tác bằng enzym catalase, tìm thấy trong gan, mà chức năng chính của nó trong cơ thể là thải loại các sản phẩm phụ độc hại trong quá trình trao đổi chất và khử oxidative stress. Sự phân hủy diễn ra nhanh hơn trong chất kiềm, vì thế acid thường được thêm vào như là chất ổn định.
Việc đổ hydro peroxide nồng độ cao vào các chất dễ cháy có thể sinh ra sự cháy tức thì do oxy được giải phóng từ sự phân hủy hydro peroxide. Hydro peroxide nồng độ cao (viết tắt tiếng Anh: HTP high-test peroxide) cần phải lưu trữ trong các thùng chứa thông thoáng khí để ngăn ngừa việc tích lũy khí oxy nếu không sẽ dẫn tới sự phá hỏng thùng chứa. Thùng chứa phải được làm từ các vật liệu tương thích như PTFE, polyetylen hay nhôm (không sử dụng thép không gỉ tức inốc) và phải trải qua quá trình làm sạch (thụ động hóa) để loại bỏ tất cả các chất ô nhiễm trước khi đưa peroxide vào. (Lưu ý rằng polyetylen là tương thích ở nhiệt độ phòng nhưng có thể nổ cùng với peroxide khi bị cháy.)
Khi có mặt một chất xúc tác nào đó, như Fe2+ hay Ti3+, sự phân hủy có thể diễn ra theo cách khác, với các gốc tự do như HO· (hydroxyl) và HOO· được tạo ra. Tổ hợp của H2O2 và Fe2+ được biết đến như là thuốc thử Fenton.
=== Phản ứng ôxi hóa-khử ===
Trong dung dịch nước, hydro peroxide có thể ôxi hóa hay khử nhiều loại ion vô cơ. Khi nó như là một chất khử thì khí oxy được tạo ra. Trong dung dịch acid ion sắt Fe2+ bị ôxi hóa thành ion sắt Fe3+,
2 Fe2+(Dung dịch) + H2O2 + 2 H+(dung dịch) → 2 Fe3+(dung dịch) + 2H2O(lỏng)
và sulfit (SO32−) bị ôxi hóa thành sulfat (SO42−). Tuy nhiên kali pemanganat bị khử thành mangan Mn2+ bởi tính acid của H2O2. Thú vị là dưới các điều kiện môi trườnglà kiềm thì một số trong các phản ứng này là ngược lại; Mn2+ bị ôxi hóa thành Mn4+ (trong dạng MnO2), và Fe3+ bị khử thành Fe2+.
2 Fe3+ + H2O2 + 2 OH− → 2 Fe2+ + 2 H2O + O2
Hydro peroxide thường xuyên được sử dụng làm chất khử trong hóa hữu cơ. Một ứng dụng là để ôxi hóa các thioête thành các sulfôxít. Ví dụ mêtyl phênyl sulfit bị ôxi hóa thành mêtyl phênyl sulfôxít trong 99% yield trong metanol trong thời gian 18 giờ (hay 20 phút với xúc tác TiCl3):
Ph-S-CH3 + H2O2 → Ph-S(O)-CH3 + H2O
Hydro peroxide kiềm hóa được sử dụng để êpôxit hóa các alken thiếu hụt điện tử như acid acrylic, cũng như để ôxi hóa các alkylboran thành rượu, bước thứ hai của quá trình hydroborua hóa-ôxi hóa.
=== Tạo thành các hợp chất peroxide ===
Hydro peroxide là một acid yếu (pH = 4,5), và nó có thể tạo ra các muối hydroperoxide hay peroxide hay các dẫn xuất của nhiều kim loại. Ví dụ, với dung dịch acid crômic (CrO3) nó có thể tạo ra peroxide màu xanh lam không ổn định CrO(O2)2. Nó cũng có thể tạo ra các peroxoanion theo phản ứng với các anion; ví dụ phản ứng với borac tạo ra natri perborat, là một chất tẩy sử dụng trong các bột giặt:
Na2B4O7 + 4 H2O2 + 2 NaOH → 2 Na2B2O4(OH)4 + H2O
H2O2 chuyển hóa các acid cacboxylic (RCOOH) thành các acid peroxy (RCOOOH), mà tự chúng lại được sử dụng như là các chất ôxi hóa. Hydro peroxide phản ứng với axêtôn để tạo ra axêtôn peroxide và nó tương tác với ôzôn để tạo ra hydro triôxít. Phản ứng với urê tạo ra cacbamua peroxide, được sử dụng để làm trắng răng. Cân bằng acid-bazơ với triphenylphosphin ôxít là "người vận chuyển" hữu ích của H2O2 trong một số phản ứng.
=== Tính bazơ ===
Hydro peroxide là một bazơ yếu hơn cả nước, nhưng nó có thể tạo ra một số sản phẩm với các acid rất mạnh. Siêu acid HF/SbF5 tạo ra các hợp chất không ổn định chứa ion (H3O2)+.
== Sản xuất ==
Ngày nay hydro peroxide được sản xuất gần như duy nhất chỉ bằng sự tự ôxi hóa của 2-etyl-9,10-đihydroxyanthracen thành 2-etylanthraquinon và hydro peroxide sử dụng oxy từ không khí. Dẫn xuất anthraquinon sau đó được chiết ra khỏi hỗn hợp và được khử ngược trở lại thành hợp chất đihydroxy bằng khí hydro với chất xúc tác kim loại. Phương trình tổng quan của quá trình này được đơn giản hóa như sau (dễ nhầm lẫn):
H2 + O2 → H2O2
Tuy nhiên tính kinh tế của công nghệ này phụ thuộc vào tính hiệu quả của quá trình tái chế quinon cũng như quá trình chiết dung dịch và của chất xúc tác cho quá trình hydro hóa.
Trước đây các công nghệ vô cơ đã được sử dụng, bằng cách điện phân dung dịch acid sulfuric hay amoni bisulfat acid (NH4HSO4), tiếp theo là sự thủy phân của peroxyđisulfat ((SO4)2)2− được tạo ra sau khi điện phân.
Năm 1994, sản lượng toàn thế giới của H2O2 là khoảng 1,9 triệu tấn, phần lớn trong chúng có nồng độ 70% hoặc thấp hơn. Trong năm này giá bán buôn H2O2 30% là khoảng US$0,54 một kg, tương đương với US$1,50/kg (US$0,68/ lb) trên "cơ sở 100%".
== Nồng độ ==
Hydro peroxide làm việc tốt nhất như là tác nhân đẩy khi ở nồng độ cực cao. Tuy nhiên, có rất ít nhà cung cấp hydro peroxide có độ tinh khiết cao, và họ cũng không thể bán với lượng lớn cho bất kỳ ai. Kết quả là những người nghiệp dư mong muốn sử dụng nó như là nhiên liệu cho tên lửa thông thường phải mua nó với nồng độ 70% hoặc thấp hơn (phần lớn trong số 30% còn lại là nước, và đôi khi còn có dấu vết của các chất ổn định, như thiếc), và sau đó tự làm tăng nồng độ của nó lên. Nhiều người thử chưng cất, nhưng điều này là cực kỳ nguy hiểm do hơi peroxide có thể kích nổ ở nhiệt độ khoảng 70 °C. Hướng tiếp cận an toàn hơn là thổi khí (trơ về mặt hóa học với các chất có trong dung dịch) qua dung dịch, tiếp theo là đóng băng phân đoạn, nhưng thậm chí khi sử dụng phương pháp này thì các tạp chất thường vẫn có thể gây nổ.
Trong những năm thập niên 1950 HTP đã từng có sẵn hơn, nhưng do sự e ngại về an toàn nên các nhà sản xuất hàng loạt kể từ đó đã chuyển sang sản xuất H2O2 có nồng độ thấp khi có thể. Một số nhóm nghiệp dư đã biểu thị sự quan tâm của họ trong việc tự sản xuất peroxide để sử dụng cho chính họ và bán lại với một lượng nhỏ cho những người khác.
== Các nguy hiểm ==
Hơi hydro peroxide có thể kích nổ trên 70 °C, vì thế việc bảo quản dung dịch và hơi ở điều kiện mát là then chốt. Việc chưng cất hydro peroxide ở áp suất thường cũng rất nguy hiểm. Hơi hydro peroxide có thể tạo ra các chất nhạy nổ do tiếp xúc với các hydrocacbon như dầu mỡ. Các phản ứng nguy hiểm dao động từ bắt cháy tới nổ đã được thông báo là xuất hiện cùng với rượu, các cetone, acid cacboxylic (cụ thể là acid axêtic), các amin và phốtpho.
Hydro peroxide, nếu đổ vào vải (hay các chất dễ cháy khác) sẽ làm bay hơi nước cho đến khi nồng độ đạt đến mức đủ lớn thì vật liệu sẽ tự động bắt cháy. Sản phẩm da nói chung chứa sắt kim loại từ quá trình thuộc da và thông thường bắt lửa rất nhanh.
Hydro peroxide đặc (>50%) là một chất ăn mòn, và thậm chí các dung dịch mạnh để sử dụng trong gia đình cũng có thể kích thích mắt, các màng nhầy và da. Việc uống dung dịch hydro peroxide là nguy hiểm, do sự phân hủy trong dạ dày giải phóng ra một lượng khí lớn (10 lần thể tích của dung dịch 3%) dẫn tới sự chảy máu trong.
IARC liệt kê hydro peroxide trong Nhóm 3: không được phân loại như là có tính gây ung thư đối với con người. Nghiên cứu trên chuột phát hiện ra sự tăng nguy cơ ung thư hệ tiêu hóa sau việc hấp thụ hydro peroxide, nhưng các nghiên cứu khác trên động vật đã chứng tỏ nó không thuyết phục. Hydro peroxide được sản xuất như là phụ phẩm trong việc trao đổi oxy trong cơ thể, và gần như mọi cơ thể đều có enzym có tên gọi là peroxidase để xúc tác sự phân hủy nó thành nước và oxy (xem Phân hủy trên đây).
Sự rò rỉ của HTP (85-98% hydro peroxide) từ các ngư lôi là nguyên nhân làm nổ tàu ngầm Kursk của Nga năm 2000.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Hiệp hội đẩy tên lửa thực nghiệm
Hydro Peroxide như là nhiên liệu PESWiki.com
NIST Dữ liệu tham chiếu tiêu chuẩn
Trang wiki về hóa điện toán
Ủy ban hóa chất châu Âu
Thẻ an toàn hóa chất quốc tế 0164
NIOSH Hướng dẫn bỏ túi cho các nguy hiểm hóa chất
Chuyên khảo của IARC về "Hydro Peroxide"
General Kinetics Inc. Động cơ tên lửa hydro peroxide và thiết bị sản xuất khí
== Tham khảo ==
J. Drabowicz et al., in The Syntheses of Sulphones, Sulphoxides and Cyclic Sulphides, p112-116, G. Capozzi et al., eds., John Wiley & Sons, Chichester, UK, 1994. ISBN 0-471-93970-6.
N. N. Greenwood, A. Earnshaw, Chemistry of the Elements, 2nd ed., Butterworth-Heinemann, Oxford, UK, 1997. A great description of properties & chemistry of H2O2.
J. March, Advanced Organic Chemistry, 4th ed., p. 723, Wiley, New York, 1992.
W. T. Hess, Hydrogen Peroxide, in Kirk-Othmer Encyclopedia of Chemical Technology, 4th edition, Wiley, New York, Vol. 13, 961-995 (1995).
CA Cancer J Clin. 1993 Jan-Feb;43(1):47-56. "Questionable methods of cancer management: hydrogen peroxide and other 'hyperoxygenation' therapies." PMID 8422605 |
hari won.txt | Hari Won (하리원) tên thật là Lưu Esther (sinh ngày 22 tháng 6 năm 1985) là một nữ ca sĩ, diễn viên và người dẫn chương trình người Hàn Quốc gốc Việt.
== Gia đình ==
Hari sinh ra và lớn lên tại thủ đô Seoul, Hàn Quốc. Tên Hari Won trong tiếng Hàn có nghĩa là “mong muốn điều gì cũng sẽ được như vậy”. Cô có bố là người Việt, mẹ là người Hàn.
== Đời tư ==
Vào tháng 01/2016, cô chính thức xác nhận chuyện chia tay với rapper Đinh Tiến Đạt sau 9 năm hẹn hò. Theo đó, nguyên nhân xuất phát từ những trục trặc trong năm 2015. Hari Won và Tiến Đạt đã chính thức chia tay vào tháng 11/2015.
Tháng 2 năm 2016, Hari Won bị phóng viên quay hôn say đắm Trấn Thành giữa đêm khuya dù trước đó cả hai đã ra sức phủ nhận. Sau đó cô công khai hẹn hò thân mật với Trấn Thành.
Hari Won kết hôn với Trấn Thành vào ngày 25 tháng 12 năm 2016 tại Trung tâm Hội nghị Gem Center, Thành phố Hồ Chí Minh.
== Sự nghiệp ==
Khi ở Hàn Quốc, Hari đã là thành viên của một nhóm nhạc Hàn Quốc thành lập năm 2012 có tên là Kiss. Hari từng là sinh viên Khoa Việt Nam học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, TP Hồ Chí Minh.
Hari Won là người chơi trong Cuộc đua kỳ thú năm 2013, cùng bạn trai lúc đó là rapper Đinh Tiến Đạt. Cũng chính chương trình đó, cô được khán giả truyền hình cả nước biết đến rộng rãi hơn qua các tập phim, cuộc hành trình mà cô trải qua.
Hari có nhiều hoạt động trong giới nghệ thuật như phát hành đĩa đơn mang tên Hoa Tuyết, Hương đêm bay xa,... biểu diễn trên một số sân khấu ca nhạc như chương trình Mai Vàng kết nối. Hari có thể hát ba thứ tiếng: tiếng Việt, tiếng Hàn và tiếng Anh. Hari Won còn tham gia đóng phim Chàng trai năm ấy cùng với Sơn Tùng M-TP. Cô còn tham gia nhiều bộ phim như: Bệnh viện ma, Trùm cỏ, 49 Ngày,...
Hari Won tham gia Biến hóa hoàn hảo với tư cách giám khảo cùng với Trấn Thành, Chí Tài, Việt Trinh.
=== Các ca khúc ===
Hương đêm bay xa
Hoa Tuyết - Snow Flower
Bài ca thịt nướng
Jingle Bells
Aloha
Mùa xuân trở về
Love you hate you
Lovely active sexy
Honey Honey
Lời tỏ tình
Khóc (lời Hàn)
Hạnh phúc mới
Cảm ơn cha
Con gái có quyền điệu
Anh cứ đi đi
Yêu không hối hận
Làm sao để yêu
Cuối cùng anh cũng đến
=== Phim đã tham gia ===
Chàng trai năm ấy
Bếp của mẹ
Ma Dai
49 Ngày
Trùm cỏ
Em là bà nội của anh
Bệnh viện ma
49 Ngày 2
=== Dẫn chương trình ===
Chung Sức (năm 2015)
T-ara Fan Meeting
Tôi tỏa sáng
Hội Ngộ Danh Hài 2015 (2 tập)
Hội Ngộ Danh Hài 2016 (2 tập)
Tám Ngàn Won
Ai cũng bật cười
Siêu bất ngờ
=== Giám khảo ===
Biến hóa hoàn hảo
Bước nhảy ngàn cân (tập 8)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Hari Won tại Internet Movie Database
Hari Won tại Facebook |
sân bay quốc tế tân sơn nhất.txt | Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (trước đây được gọi là Phi trường Tân Sơn Nhứt) là cảng hàng không quốc tế ở miền Nam Việt Nam. Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất với diện tích 850 ha đứng thứ hai về mặt diện tích và đứng thứ nhất về mặt công suất nhà ga (với công suất từ 15-17 triệu lượt khách mỗi năm - quá tải khi lượng hành khách lớn hơn 25 triệu khách/năm, so với công suất hiện tại của sân bay Nội Bài là 20 triệu, Sân bay Đà Nẵng là 6 triệu) và cũng là sân bay có lượng khách lớn nhất Việt Nam. Nằm cách trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh 8 km về phía bắc ở quận Tân Bình, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất là đầu mối giao thông quan trọng của cả miền Nam. Năm 2014, sân bay này phục vụ 26.546.475 lượt khách, nằm trong nhóm 50 sân bay có lượng khách nhiều nhất thế giới. Năm 2016, sân bay này đã phục vụ 32,6 triệu lượt khách, tăng 22,8% so với năm 2015.
Sân bay cũng là trụ sở hoạt động chính của tất cả các hãng hàng không Việt Nam, là nơi đóng trụ sở của Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam quản lý toàn bộ các sân bay dân dụng ở Việt Nam.
Tên giao dịch chính thức: Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất. Sân bay này thuộc sự quản lý và khai thác của Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam (ACV), trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải.
Mã IATA: SGN (lấy theo Sài Gòn, tên gọi trước đây của Thành phố Hồ Chí Minh)
Mã ICAO: VVTS
== Lịch sử ==
Sân bay được xây dựng vào năm 1930 ở làng Tân Sơn Nhất, thuộc quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định.
Chuyến bay đầu tiên từ Paris đến Sài Gòn ở sân bay Tân Sơn Nhất là vào năm 1933, chuyến bay này kéo dài 18 ngày.
Năm 1938 Pháp cho thành lập Sở Hàng không Dân dụng.
Năm 1956 Mỹ cho xây dựng sân bay rộng hơn, dài hơn 3000 m, bằng bê tông. Trong khi đó sân bay do Pháp xây dựng năm xưa dài hơn 1500 m, bằng đất đỏ.
Trong Chiến tranh Việt Nam, sân bay là căn cứ quân sự quan trọng của Quân đội Hoa Kỳ và của Không lực Việt Nam Cộng hoà. Sau khi Việt Nam thống nhất, sân bay tiếp tục được mở rộng để khai thác các chuyến bay trong nước và quốc tế. Tuy nhiên tính theo diện tích thì sân bay ngày nay (2016) chỉ còn 1/4 đến 1/5 so với phi trường Tân Sơn Nhứt năm 1975.
== Hoạt động ==
Hiện có 3 hãng hàng không nội địa và 43 hãng hàng không quốc tế (5 hãng bay theo mùa) đang có đường bay đến Tân Sơn Nhất. Nok Air là hãng hàng không mới nhất có đường bay đến sân bay này (từ 10/2015).
Phí sân bay: 18 đô-la Mỹ (cho các chuyến bay quốc tế). Phí sân bay đã được tính trong vé máy bay. Hành khách không cần phải mua khi đến sân bay như trước đây.
=== Hạ tầng kỹ thuật ===
Sân bay có hai đường băng song song, trong đó đường băng 07L/25R dài 3.048 m rộng 45m, đường băng 07R/25L dài 3.800m rộng 45m, sân bay có thể phục vụ các chuyến bay của nhiều loại máy bay. Nhà ga quốc tế với tám cầu lồng hàng không (nhiều hơn 4 cái so với ở nhà ga nội địa) thích ứng với cả những loại máy bay thân rộng bay tầm xa như Boeing 747-400, Boeing 777-200/300, Airbus A340-300/500/600, Boeing 767, Airbus A330, Boeing 787
Từ 25 tháng 2 đến 25 tháng 10 năm 2015, đường băng 07L/25R được đóng cửa để sửa chữa, làm giảm 1/3 năng lực phục vụ của sân bay này, kéo dài thời gian chờ cất và hạ cánh của máy bay trong các giờ cao điểm.
=== Nhà ga ===
==== Nhà ga quốc nội ====
Sau khi khánh thành nhà ga mới, toàn bộ nhà ga quốc tế cũ được chuyển thành nhà ga quốc nội.
Lúc 3:00 sáng ngày 27 tháng 10 năm 2008, nhà ga quốc nội đã cháy lớn. Đến 6:30 sáng cùng ngày, đám cháy mới được dập tắt. Theo kết quả điều tra nguyên nhân vụ cháy là do chập điện, không có thiệt hại về người nhưng thiệt hại về tài sản là khá nặng. Sự việc khiến nhà ga quốc nội phải ngưng hoạt động từ ngày 27 tháng 10 năm 2008 để sửa chữa và đưa vào hoạt động trở lại một phần vào ngày 3 tháng 11 năm 2008, các dịch vụ khác tại nhà ga quốc nội vẫn tiếp tục được sửa chữa. Đến nay, toàn bộ nhà ga quốc nội đã hoàn tất sửa chữa và đưa vào khai thác bình thường trở lại.
Năm 2010, nhà ga nội địa đã phục vụ 8 lượt triệu khách nội địa, đạt công suất tối đa của nhà ga nội địa.
Cuối năm 2011, nhà ga nội địa đã được nâng cấp và mở rộng nhằm tăng công suất phục vụ và khai thác lên khoảng 15 triệu khách/năm. Các hạng mục sẽ được cải tạo bao gồm tầng trệt nhà ga nội địa rộng khoảng 22.000 m², tầng lầu 2 rộng 17.000 m² và tầng mái khoảng 22.000 m².
Hiện nay, nhà ga quốc nội với diện tích là 40.048 m², công suất phục vụ hành khách đi lại vào giờ cao điểm là 2.100 hành khách; nhà ga quốc nội có 111 quầy làm thủ tục, một quầy làm thủ tục nối chuyến và một quầy hành lý quá khổ; số cửa boarding: 19; 4 máy soi chiếu hành lý xách tay; 4 cổng từ, 6 băng chuyền hành lý đến, 6 băng chuyền hành lý đi, 9 cửa kiểm tra an ninh, 2 thang máy, 10 thiết bị kiểm tra kim loại cầm tay đưa vào sử dụng, có thể phục vụ tối đa 13 triệu khách mỗi năm.
==== Nhà ga quốc tế ====
Nhà ga quốc tế có công suất tối đa 15-17 triệu lượt hành khách/năm với tổng dự toán: 260 triệu USD từ vốn ODA Chính phủ Nhật Bản. Tổng thầu thi công là Tổ hợp Liên danh 4 nhà thầu Nhật Bản (KTOM - Kajima, Taisei, Obayashi, Maeda).
Nhà ga có diện tích: 93.228 m², trong đó diện tích đường và sân đậu ôtô: 78.000 m², diện tích đường tầng: 10.540 m², diện tích đường công vụ: 13.000 m².
Nhà ga được trang bị: 8 lồng đôi dẫn khách cho máy bay cỡ lớn, 6 băng chuyền hành lý đến, 4 băng chuyền hành lý đi, 8 băng tải cho người đi bộ, hệ thống thông báo bay, 18 thang máy và 20 thang cuốn, 43 máy soi chiếu, 10 cổng từ: 12 cổng ra máy bay, có thể đáp ứng cùng 1 lúc 20 chuyến bay vào giờ cao điểm. Công trình nhà ga quốc tế mới đã được đưa vào sử dụng lúc 12h20 ngày 14 tháng 8 năm 2007 với chuyến bay số hiệu TR 328 của hãng Tiger Airways. Nhà ga này đã phục vụ thử một số hãng quốc tế và sau đó đã được chính thức đưa vào sử dụng chính thức kể từ ngày 2 tháng 9 năm 2007.
Khu đến và đi của nhà ga quốc tế được chia thành hai lầu riêng biệt.
Nhà ga quốc tế có 80 quầy làm thủ tục, 1 quầy nối chuyến; 18 quầy thủ tục xuất cảnh, 20 quầy thủ tục nhập cảnh; 2 máy soi hải quan đi và 6 máy soi hải quan đến.
Hiện tại, nhà ga quốc tế có công suất tối đa 12 triệu khách mỗi năm
== Tương lai ==
Theo dự kiến điều chỉnh quy hoạch của Bộ Giao thông vận tải, tới năm 2015, Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất sẽ đáp ứng được 23,5 triệu lượt khách và hơn 600 ngàn tấn hàng hóa thông qua mỗi năm.
=== Phi trường mới ===
Trong tương lai, sân bay Tân Sơn Nhất là một trong hai sân bay chính của Thành phố Hồ Chí Minh và khu vực Nam Bộ, chủ yếu phục vụ khách nội địa. Một sân bay quốc tế mới có công suất thiết kế tối đa 100 triệu lượt hành khách/năm và 5 triệu tấn hàng hóa/năm, sân bay Quốc tế Long Thành hiện đang được tiến hành thực hiện các thủ tục chuẩn bị đầu tư. Tốn kém theo dự định khoảng 15,8 tỷ USD..
=== Nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất ===
TS Nguyễn Bách Phúc - Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học công nghệ&Quản lý TP.HCM HASCON; Viện trưởng Viện Điện – Điện tử - Tin học EEI cho rằng có thể nâng năng lực vận chuyển của sân bay Tân Sơn Nhất qua 2 giai đoạn:
Giai đoạn 1: Năng cấp từ 20 triệu hành khách/năm như hiện nay lên 56 triệu hành khách/ năm cần xây dựng thêm 3 nhà ga. Đất sẽ dùng sân golf rộng 157 ha và 38 ha đất trống trong khuôn viên sân bay, vốn đầu tư thực hiện trong giai đoạn này dưới 2 tỉ USD.
Giai đoạn 2: Năng cấp từ 56 triệu hành khách/năm như hiện nay lên 80 triệu hành khách/ năm bằng việc di dời đơn vị Quân đội và các xí nghiệp thuê đất khỏi khu vực Tân Sơn Nhất để có thể xây thêm nhà ga và đường băng mới. Vốn đầu tư của cả giai đoạn này khoảng hơn 1 tỉ USD..
=== Xây thêm nhà ga ===
Đây là giải pháp nhằm giảm áp lực cho sân bay Tân Sơn Nhất trong khi chờ đợi sân bay Long Thành hoàn thành. Nhà ga mới sẽ được xây dựng trên khu đất rộng khoảng 10 hecta, kết nối với các tuyến đường Cộng Hòa, Hoàng Hoa Thám.
Trong quá trình thi công nhà ga, các tuyến đường này cũng được hoàn thành để kết nối đồng bộ với nhà ga.
Theo Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, công suất thiết kế của cảng năm 2020 sẽ đạt 25 triệu lượt hành khách/năm. Nhưng trong năm 2015 đã có đến 26,5 triệu lượt, vượt 1,5 triệu lượt và 5 năm.
Dự kiến, trong năm 2016 sẽ có khoảng 30 triệu lượt hành khách lưu thông qua Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, năm 2020 là 40 triệu lượt.
Trong cuộc họp hôm 6/2/2017 do Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Trương Quang Nghĩa nói là "sẽ tiếp tục đề nghị Bộ Quốc phòng sớm giao đất" để triển khai xây dựng thêm nhà ga T3, T4 trong một phương án có sử dụng quỹ đất đã có của quân đội. Tuy sân bay Tân Sơn Nhất thiếu mặt bằng, nhưng lại có một sân golf của công ty quân đội nằm ngay cạnh đường băng.
== Thống kê ==
Số lượng hành khách thông qua tính đến năm 2015. Sân bay có tốc độ tăng trưởng khoảng 8 - 10%.
== Nâng cấp và vấn đề sân Golf ==
Sự tăng trưởng lượng khách đi/đến sân bay Tân Sơn Nhất hiện tại gây ra tình trạng ùn tắc giao thông ở khu vực sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, cả bên trong, bên ngoài và trên trời ở khu vực này. Bộ Quốc phòng và Bộ Giao thông Vận tải do đó ký kết biên bản bàn giao 21ha sân đỗ quân sự tại sân bay này về Bộ Giao thông Vận tải, nhằm xây dựng thêm đường lăn và sân đỗ máy bay. Nói về việc này, chiều ngày 11/5, trao đổi với phóng viên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, ông Phan Tương – nguyên Giám đốc sân bay Tân Sơn Nhất từ sau tháng 4/1975 cho rằng, việc bàn giao này sẽ không thể giải quyết được tình trạng hiện tại của sân bay, mà trái lại có thể gây kẹt hơn. Theo ông, một trong những giải pháp tối ưu nhất, mà ít tốn kém nhất là cần phải thu hồi ngay sân golf bên trong sân bay này.
Về tình trạng sân bay Tân Sơn Nhất bị ngập nước mỗi khi thành phố có mưa to, ông Phan Tương góp ý: Cần phải thực hiện việc khai thông tất cả các kênh, mương thì mới có chỗ thoát nước, vì hiện có tình trạng nhà cao tầng xây, bít hết lối thoát nước của sân bay. Ông cho là: “Một sân bay quốc tế lớn, hàng năm phục vụ đến hàng chục triệu lượt hành khách, mà không khắc phục được tình trạng ngập khi thành phố có mưa to là không thể chấp nhận được”.
Trung tá Lê Trọng Sành - Nguyên Cục phó cục tác chiến Quân chủng Phòng không không quân, nguyên Trưởng phòng quản lý bay sân bay Tân Sơn Nhất cho biết: "Trong khi hàng không cần đất để mở rộng sân bay, xây dựng thêm điểm đỗ, nhà ga thì đất tại đây lại sử dụng làm sân golf, sân bóng đá, nhà kho chứa hàng… đó là điều không hợp lý." Ông Sành cho là, để giải quyết quá tải Tân Sơn Nhất trong dài hạn cần phải thu hồi ngay 157 héc-ta đất sân golf để làm thêm nhà ga, xây dựng thêm chỗ đỗ tàu bay, làm thêm đường lăn từ chỗ đỗ tàu bay ra đường băng cất hạ cánh. Đồng thời mở thêm đường vào sân bay Tân Sơn Nhất ở đường Trường Chinh và đường Quang Trung.
== Các hãng hàng không và điểm đến ==
=== Hành khách ===
Các chuyến bay nội địa sử dụng nhà ga 1; các chuyến bay quốc tế sử dụng nhà ga 2.
Ghi chú:
Chuyến bay của Turkish Airlines từ Thành phố Hồ Chí Minh tới Istanbul sẽ dừng hoặc tiếp tục tới Hà Nội, tuy nhiên, sẽ không có quyền tự do hàng không thứ tám để vận chuyển hành khách từ TPHCM tới Hà Nội
=== Hàng hóa ===
=== Thống kê ===
Bảng dưới đây thống kê các điểm đến có tần suất cao nhất xuất phát từ sân bay Tân Sơn Nhất, không phải xếp hạng theo số lượt khách vận chuyển.
== Hình ảnh ==
== Sự cố mất điện tại trung tâm kiểm soát không lưu ==
Vào lúc 11h5' ngày 20.11.2014, Trung tâm kiểm soát đường dài Hồ Chí Minh và tiếp cận Tân Sơn Nhất (AACC HCM) bị gián đoạn hệ thống cấp điện cho thiết bị điều hành bay, đến 12g19 mới trở lại bình thường. Đây là một sự cố chưa từng có trong lịch sử hàng không thế giới. Khi đó có 54 máy bay đang hoạt động trong vùng trời TP HCM, trong đó 8 máy bay đã nằm trong vùng chuẩn bị hạ cánh. Ngoài ra, trong thời gian mất điện đã có 92 máy bay bay vào vùng trời này. Tuy nhiên, Tân Sơn Nhất không có khả năng tiếp nhận máy bay, ảnh hưởng các chuyến bay chuẩn bị cất cánh đến TP HCM. Hậu quả là nhiều chuyến phải lơ lửng trên trời. Có chuyến phải đáp xuống các sân bay khác, có chuyến phải chuyển hướng bay … và được điều hành bằng phương pháp cổ điển không ra-đa.
Nói về nguyên nhân gây sự cố mất điện tại sân bay Tân Sơn Nhất, ông Đinh Việt Thắng cho biết, lúc 11h ngày 20.11, các nhân viên kỹ thuật của Cty Quản lý bay miền Nam thực hiện công tác ngắt điện lưới để kiểm tra định kỳ hệ thống máy phát điện. Sau khi tiến hành ngắt điện, 3 máy phát vẫn hoạt động bình thường. Đến 11h05, một hệ thống UPS báo lỗi. Theo quy trình, trước hết các nhân viên kỹ thuật phải cô lập toàn bộ hệ thống UPS bị lỗi, rồi mới tiến hành sửa chữa. Tuy nhiên, kíp trưởng của ca trực là Lê Trí Tình đã thực hiện sai thao tác dẫn tới toàn bộ hệ thống điện bị sập..
Đài kiểm soát không lưu Cảng Hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất vừa mới được khánh thành vào ngày 2 tháng 7 năm 2013, trị giá hơn 400 tỷ đồng, là một trong những cơ sở điều hành bay được trang bị hiện đại nhất của Việt Nam và Đông Nam Á..
== Chất lượng ==
Theo trang mạng chuyên xếp hạng sân bay khắp thế giới SleepinginAirports vừa công bố, 2015 trong danh sách 10 sân bay tệ nhất thế giới sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất xếp vị trí thứ 8: “Tân Sơn Nhất xấu đi rất nhiều trong mắt hành khách trong những năm qua bởi những cáo buộc về nhũng nhiễu. Nhiều người tham gia khảo sát cho biết cán bộ xin hối lộ để được giải quyết nhanh hơn; những ai từ chối hối lộ ngay lập tức bị xử lý chậm chạp hoặc làm trì hoãn một số thủ tục giấy tờ của hành khách. Một số than phiền khác về tín hiệu wifi nghèo nàn, nhà vệ sinh dơ bẩn và không nhiều lựa chọn nhà hàng. Nếu đến sân bay này, bạn chắc chắn phải giấu đi những vật có giá trị”. Còn trong danh sách bình chọn 10 sân bay tệ nhất châu Á, Tân Sơn Nhất xếp ở vị trí thứ 4 .
== Xem thêm ==
Sân bay quốc tế Nội Bài
Sân bay quốc tế Đà Nẵng
Sân bay quốc tế Long Thành
Căn cứ không quân Tân Sơn Nhứt
Danh sách các sân bay ở Việt Nam
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam
Tổng công ty Cảng hàng không miền Nam
Website Sân bay Tân Sơn Nhất
Tân Sơn Nhất nhìn từ vệ tinh trên Google Maps
Nhà ga quốc tế mới |
bún nem.txt | Bún nem (theo cách gọi miền Bắc) hay bún chả giò (Miền Nam) là một món ăn đặc sản của người Hà Nội gồm bún (bún rối hoặc bún lá) và nem rán (chả giò). Thưởng thức món ăn này không thể thiếu nước chấm gồm nước mắm, dấm, ớt, tỏi, đường và hạt tiêu. Cùng với món bún chả, bún nem rát được ưa dùng tại Hà Nội, nhất là các dịp lễ Tết và liên hoan sau các bữa cỗ nhiều thịt và đầy ắp món béo.
== Nguyên liệu và chế biến ==
Nem rán gồm vỏ nem và nhân nem. Vỏ nem hay bánh đa nem là loại bánh tráng bằng bột gạo xay với nước, tráng mỏng, phơi khô. Khi dùng để gói nem thì bánh tráng này được nhúng ướt để tránh gãy vỡ. Nhân nem thường bao gồm thịt lợn hoặc thịt bò băm nhỏ, miến (bún tàu) ngâm mềm cắt ngắn, mộc nhĩ, nấm hương, hành, trứng, hạt tiêu và gia vị... Có thể có thêm susu hay cà rốt bào sợi, hành tây thái hạt lựu... tùy sở thích từng người. Nhân được cuốn trong bánh tráng cuốn nem thành hình trụ dài tầm 1 gang tay hoặc ngắn hơn.
Nem cuốn xong được rán trong chảo ngập dầu đến khi vàng đều, sau đó được để bớt nóng rồi cắt thành miếng vừa ăn cỡ 2 đốt ngón tay, bày cùng ra thơm (kinh giới, rau húng, xà lách, ra mùi...) ăn với bún và nước chấm.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
petelia.txt | Petilia hoặc Petelia là một thành phố cổ của Bruzio, bờ biển của Bruttium trên bán đảo Ý, trong đó người La Mã đã xác định một phần phía nam của Calabria hiện nay. Một số học giả xác định với Strongoli ngày nay. Petilia theo truyền thống được thành lập bởi Philoctetes. Phần quan trọng nhất của lịch sử Petelia là giao ước của tình hữu nghị với Roma trong cuộc chiến tranh của người La Mã chống lại Carthage. Trong cuộc chiến tranh Punic lần thứ hai, nó vẫn là một đồng minh La Mã còn các thành phố Bruttia khác đã theo Hannibal. Sau một thời gian bị bao vây kéo dài, thành phố bị những người Carthaginia chiếm. Người dân bị trục xuất và thay thế bởi những người Bruttia khác, nhưng sau chiến thắng La Mã dân số ban đầu của nó đã được phục hồi. Địa điểm của thành phố ngày nay là thị xã Strongoli ở Calabria.
== Tham khảo == |
chúa trịnh.txt | Chúa Trịnh (chữ Hán: 鄭王 / Trịnh vương, chữ Nôm: 主鄭; 1545 – 1787) là một vọng tộc phong kiến kiểm soát quyền lực Đàng Ngoài suốt thời Lê Trung hưng, khi nhà vua tuy không có thực quyền vẫn được duy trì ngôi vị. Bộ máy triều đình lúc này hoạt động theo thể chế lưỡng đầu. Tổng cộng có 11 chúa Trịnh chính thức (nếu tính luôn Trịnh Kiểm là có 12 chúa) cai quản xứ Đàng Ngoài trong hơn 2 thế kỷ.
== Nổi lên nắm quyền lực ==
Sau khi vua Lê Túc Tông mất năm 1504, các vua kế vị đều là những hôn quân hoặc yếu ớt. Đến năm 1527, quyền thần Mạc Đăng Dung cướp ngôi vua Lê Cung Hoàng rồi sáng lập nhà Mạc. Năm 1533, ở Thanh Hóa, một võ tướng nhà Lê là Nguyễn Kim nổi dậy chống lại nhà Mạc, lập lại nhà Lê, ông tìm được hậu duệ của nhà Lê là Lê Duy Ninh bèn lập làm vua tức là Lê Trang Tông. Trong vòng 5 năm, các vùng phía nam nằm dưới quyền kiểm soát của nhà Lê Trung Hưng nhưng họ không thể chiếm Thăng Long. Trong thời gian này, nhà Lê cũng phát triển thế lực về phía Nam, chiếm quyền kiểm soát vùng cực nam lãnh thổ nơi từng là đất đai của Chăm Pa.
Người mở đầu sự nghiệp của họ Trịnh là Trịnh Kiểm, người huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Tương truyền thuở nhỏ nhà Trịnh Kiểm nghèo, mẹ thích ăn gà nên ông thường bắt trộm gà của hàng xóm cho mẹ ăn. Hàng xóm rất ghét, nhân khi Trịnh Kiểm đi vắng bèn bắt mẹ ông ném xuống vực. Trịnh Kiểm về không thấy mẹ đâu bèn đi tìm, đến vực tìm ra xác mẹ thì mối đã xông đầy lên rồi. Sau có ông thầy tướng đi qua chỉ vào ngôi mộ mẹ Trịnh Kiểm đọc rằng:
Phi đế phi bá
Quyền khuynh thiên hạ
Truyền tộ bát đại
Tiêu tường khởi vạ
Nghĩa là:
Chẳng đế chẳng bá
Quyền nghiêng thiên hạ
Truyền được tám đời
Trong nhà dấy vạ
Mẹ mất, nghe tin Nguyễn Kim nổi dậy dựng lại nhà Lê, Trịnh Kiểm bèn đến xin gia nhập. Nhờ tài năng, ông được Nguyễn Kim tin cậy và gả con gái là Ngọc Bảo cho. Nǎm 1539 ông được phong làm Đại tướng quân, tước Dực quận công. Năm 1545, Nguyễn Kim mất, Trịnh Kiểm lên thay cầm quyền, được phong làm thái sư nắm toàn thể quân đội.
== "Phù Lê diệt Mạc" ==
=== "Phi đế phi bá, quyền khuynh thiên hạ" ===
Nắm quyền trong triều đình Nam triều nhà Lê, trước hết Trịnh Kiểm lo đối phó với các con của Nguyễn Kim để củng cố quyền lực. Ông sai thuộc hạ xông vào nhà giết con cả của Kim là Nguyễn Uông. Người con thứ là Nguyễn Hoàng sợ hãi xin xuống trấn giữ vùng Thuận Hóa - Quảng Nam ở phía Nam. Trịnh Kiểm cho rằng giết cả hai anh em Hoàng sẽ mang tiếng, mà Thuận - Quảng là nơi xa xôi, "ô châu ác địa" nên bằng lòng cho Hoàng vào đó để mượn tay nhà Mạc giết Hoàng. Từ đó Trịnh Kiểm nắm toàn bộ quyền hành của nhà Lê, xây dựng sự nghiệp cho họ Trịnh.
Năm 1556, vua Lê Trung Tông mất sớm không có con nối, Trịnh Kiểm định cướp ngôi nhà Lê, nhưng còn do dự sợ dư luận, bèn sai người tìm đến Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm bấy giờ đang ẩn dật. Nghe theo lời khuyên của Trạng Trình ("giữ chùa thờ Phật thì ăn oản"), Trịnh Kiểm bèn đi tìm được người trong tôn thất nhà Lê là Lê Duy Bang, cháu 6 đời của Lê Trừ (anh Lê Thái Tổ), lập làm vua, tức là Lê Anh Tông. Từ đó họ Trịnh nối đời cầm quyền nhưng danh nghĩa vẫn tôn phò, làm bề tôi cho nhà Lê, hai họ sống chung trong cơ chế lưỡng đầu. Bởi vậy người đời truyền lại câu: "Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong."
Năm 1570, Trịnh Kiểm mất, hai con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh quyền. Hai anh em dàn quân đánh nhau. Cùng lúc đó quân Mạc từ bắc kéo vào. Trịnh Cối bị kẹp giữa hai đường không thể cự nổi bèn đầu hàng nhà Mạc, được nhà Mạc thu nhận và phong chức.
Vua Lê Anh Tông ủng hộ ngôi con trưởng của Trịnh Cối, cùng mưu với Lê Cập Đệ định giết Trịnh Tùng việc bị lộ. Vua Anh Tông mang 4 người con lánh đi nơi khác. Trịnh Tùng lập người con út của vua là Đàm lên ngôi, tức là Lê Thế Tông. Sau đó, Trịnh Tùng lùng bắt được cha con vua Anh Tông mang về lập mưu giám sát, rồi bức chết. Từ đó vua Lê hoàn toàn nép trong cung, Trịnh Tùng tự mình xử trí mọi việc trong triều. Các vua Lê sau có ý định chống lại đều bị bức tử và thay thế bằng một hoàng đế nhỏ tuổi hoặc dễ bảo hơn.
=== Khôi phục Thăng Long ===
Từ khi Trịnh Kiểm nắm quyền, họ Trịnh cai quản vùng phía nam của Đại Việt (trên danh nghĩa vẫn là chiến đấu dưới quyền vua Lê) và chiến đấu với nhà Mạc ở phía bắc. Bấy giờ nhà Lê chiếm lại được Thanh Hóa và Nghệ An. Nhờ có khẩu hiệu "Phù Lê diệt Mạc" (giúp Lê diệt Mạc), thanh thế họ Trịnh ngày một lớn. Ở vùng Tây bắc, anh em Vũ Văn Mật, Vũ Văn Uyên cát cứ tại Tuyên Quang sai người đến xin quy phục. Sau đó năm 1550, thái tể nhà Mạc là Lê Bá Ly là cựu thần nhà Lê sơ cùng thông gia là Nguyễn Thiến mang gia quyến về hàng.
Trong suốt những năm 1545-1580 là giai đoạn hai bên giằng co. Được tăng sức mạnh, họ Trịnh liên tiếp tấn công ra bắc đánh Sơn Nam, Ninh Bình, Sơn Tây, Thăng Long. Nhà Mạc lúc đó dưới sự chèo lái của Khiêm Vương Mạc Kính Điển đã đứng vững. Mạc Kính Điển nhiều lần phải mang vua Mạc qua sông tránh sang Kim Thành (Hải Dương) nhưng quân Lê-Trịnh vẫn không vào được Thăng Long. Ngược lại, sau những đợt tấn công ra bắc, quân Trịnh cũng phải đối phó với những đợt tiến công vào Thanh Hóa - Nghệ An của Mạc Kính Điển. Hai bên khi được khi thua. Cuộc chiến giằng co nổi lên tên tuổi các tướng Hoàng Đình Ái, Nguyễn Hữu Liêu bên Lê-Trịnh, Nguyễn Quyện bên Mạc.
Sau khi trấn thủ Thuận Hoá (năm 1558), năm 1570, Nguyễn Hoàng lại xin trấn thủ Quảng Nam. Chúa Trịnh mải lo chiến trường phía bắc nên chấp thuận. Năm 1572, Hoàng dùng kế giết được tướng Mạc là Mạc Lập Bạo vào đánh. Nhà Mạc mất hẳn phía nam và chỉ còn kiểm soát Bắc Bộ.
Sau khi Mạc Kính Điển chết (1580), nhà Mạc bắt đầu suy yếu. Vua Mạc là Mậu Hợp ít lo chính sự, phụ chính Mạc Đôn Nhượng không đủ năng lực. Quân Lê-Trịnh bắt đầu chiếm ưu thế. Năm 1591, Trịnh Tùng đem quân bắc tiến áp sát thành Thăng Long. Đầu năm 1592, Mạc Mậu Hợp chạy sang Gia Lâm, thống suất thủy quân để làm thanh thế trên sông Nhị Hà cho các tướng giữ kinh thành Thăng Long. Trịnh Tùng thúc quân tổng tiến công. Các tướng Mạc Ngọc Liễn, Bùi Văn Khuê, Trần Bách Niên tan vỡ bỏ chạy. Phục binh của Nguyễn Quyện ở cầu Dền không kịp nổi dậy đã bị giết. Nguyễn Quyện bị bắt rồi bị giết, hai con tử trận. Quân Mạc chết rất nhiều.
Trịnh Tùng rút quân chủ lực về. Mạc Mậu Hợp thu tàn quân án ngữ sông Nhị Hà, lại ham sắc đẹp của vợ tướng Bùi Văn Khuê là Nguyễn Thị Niên nên muốn giết Khuê. Tháng 8 năm 1592, Bùi Văn Khuê biết chuyện bèn đem quân hàng Lê, hợp binh với Trịnh Tùng đại phá quân Mạc.
Tháng 11 năm 1592, Trịnh Tùng lại tiến đánh Thăng Long. Mạc Mậu Hợp thua chạy về Kim Thành (Hải Dương). Thấy thế nguy cấp, Mậu Hợp lập con là Toàn lên ngôi, tự mình làm tướng thống suất quân đội. Sau các cuộc chiến ác liệt tại khu vực các phủ Nam Sách, Hạ Hồng, Kinh Môn trong tháng 11 và 12 thì quân Mạc thua to. Mạc Mậu Hợp phải bỏ trốn đến huyện Phượng Nhãn, bị bắt sống sau đó ít ngày và bị hành hình.
Sau vài cuộc chiến khác chống lại các thế lực tàn dư nhà Mạc, Trịnh Tùng rước vua Lê Thế Tông trở lại Thăng Long năm 1593. Họ Trịnh đánh dấu quyền lực bằng cách tiến hành xây Phủ chúa ở Thăng Long.
=== Dẹp tàn dư họ Mạc ===
Dù Mạc Mậu Hợp và sau đó là Mạc Toàn bị bắt và bị giết thì thế lực của nhà Mạc chưa bị tiêu diệt hết. Các vùng như Thái Nguyên, Lạng Sơn, Cao Bằng vẫn thuộc quyền quản lý của nhiều người như Mạc Kính Chỉ, Mạc Kính Cung cho tới năm 1623. Nhà Minh, vì muốn duy trì thế Nam Bắc triều ở Đại Việt có lợi cho họ nên can thiệp để họ Mạc được cát cứ ở Cao Bằng. Vì vậy cháu Mạc Kính Điển là Kính Khoan và con Khoan là Kính Vũ vẫn cát cứ ở Cao Bằng, dù về cơ bản, họ Trịnh đã làm chủ Bắc Bộ và Bắc Trung bộ.
Khi nhà Minh sụp đổ (1644), các vua Nam Minh - tàn dư nhà Minh - vẫn ủng hộ họ Mạc. Họ Mạc nối nhau trấn giữ ở đây trong nhiều năm. Mãi đến khi nhà Minh mất hẳn (1662) về tay nhà Thanh, họ Trịnh mới ra tay dẹp họ Mạc. Tới năm 1677, chúa Trịnh Tạc sai tướng Đinh Văn Tả đi đánh, việc trấn giữ Cao Bằng của họ Mạc mới chấm dứt.
== Trịnh - Nguyễn phân tranh ==
Sau khi Nguyễn Hoàng xuống phía Nam đã xây dựng căn cứ và phát triển thành một thế lực độc lập, hình thành chính quyền của họ Nguyễn. Tuy các chúa Nguyễn vẫn hợp tác với chúa Trịnh để chống nhà Mạc và vẫn đứng danh nghĩa là thần tử nhà Lê, nhưng thực tế các chúa Nguyễn vẫn cai trị các tỉnh biên giới phía Nam Đại Việt với một chính quyền độc lập. Hơn thế nữa, họ đã có công mở rộng lãnh thổ Đại Việt lên gấp đôi về phía Nam. Sau khi đánh bại nhà Mạc, sự độc lập của các chúa Nguyễn ngày càng trở nên khó chịu đối với các chúa Trịnh.
Những sự căng thẳng lên đỉnh điểm năm 1627 khi chiến tranh nổ ra giữa hai phe. Trong khi phe chúa Trịnh kiểm soát một vùng rộng lớn và đông dân cư hơn, thì chúa Nguyễn lại có nhiều ưu thế. Thứ nhất, họ chỉ muốn bảo vệ lãnh thổ của mình, họ không muốn tấn công miền bắc. Thứ hai, chúa Nguyễn có thể lợi dụng ưu thế về các tiếp xúc của mình với những người châu Âu, đặc biệt là những người Bồ Đào Nha, để mua các loại súng hiện đại của châu Âu. Thứ ba, điều kiện địa lý cũng ưu đãi cho họ, đất đai phẳng vốn thích hợp cho những quân đội được tổ chức lớn lại hiếm có ở lãnh thổ của họ, nơi núi non hầu như lan ra đến tận biển.
Chúa Nguyễn xây dựng hai giới tuyến rất vững chắc kéo dài vài dặm từ biển đến tận các ngọn đồi ở phía bắc thành Phú Xuân. Họ đã bảo vệ hai giới tuyến này chống lại nhiều cuộc tấn công của các chúa Trịnh. Trong thời gian từ 1627 đến tận 1672, hai bên giao chiến cả thảy 7 lần. Năm 1655, quân Nguyễn thắng thế vượt sông Gianh đánh Nghệ An, chiếm 7 huyện và mang theo nhiều dân cư ở đây vào khai khẩn trong nam. Năm sau quân Trịnh phản công chiếm lại.
Năm 1672, hai bên đình chiến, Tây Định Vương Trịnh Tạc và Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần lấy sông Gianh làm ranh giới chia cắt Việt Nam. Đất nước bị chia ra bởi hai gia đình cai trị. Hai bên cùng mang danh nghĩa tôn phò nhà Hậu Lê.
== Dẹp yên khởi nghĩa nông dân ==
Các chúa Trịnh từ Trịnh Kiểm, Trịnh Tùng, Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh Căn, Trịnh Cương đều là những chúa giỏi cai trị. Sau khi chiến tranh Trịnh - Nguyễn và Trịnh-Mạc chấm dứt, Bắc Hà yên ổn thịnh trị.
Các chúa Trịnh cai trị khá tốt, luôn giữ danh nghĩa cho vua nhà Lê. Tuy nhiên họ là người lựa chọn ra vua, họ thay thế vua và họ cũng có quyền cha truyền con nối để chỉ định nhiều quan chức hàng đầu trong triều đình. Không giống như các chúa Nguyễn, những người thường gây chiến với Chân Lạp và Xiêm La, các chúa Trịnh giữ quan hệ hòa bình hữu hảo với các nước láng giềng.
Năm 1729, Trịnh Cương chết, con là Trịnh Giang lên thay. Trịnh Giang ăn chơi trác táng, xa đọa, sửa đổi nhiều phép tắc của cha mình, giết chết hàng loạt các vị quan giỏi như Lê Anh Tuấn, Nguyễn Công Hãng, giết vua nọ lập vua kia, gian dâm với cung nữ của cha, lại gây ra thuế khóa nặng nề làm mất lòng dân. Từ đó nông dân liên tiếp nổi dậy khởi nghĩa. Đó chính là phong trào khởi nghĩa nông dân Đàng Ngoài.
Năm 1737, nhà sư Nguyễn Dương Hưng nổi dậy khởi nghĩa. Năm 1739, hậu duệ nhà Mạc (đã bị đổi họ) là Nguyễn Cừ, Nguyễn Tuyển cùng Vũ Trác Oánh nổi dậy ở Hải Dương. Tông thất nhà Lê là Lê Duy Mật cũng định làm binh biến ở Thăng Long để lật đổ họ Trịnh nhưng không thành nên rút ra ngoài khởi nghĩa. Đến năm 1740 đồng loạt các cuộc khởi nghĩa lớn của quận He Nguyễn Hữu Cầu, quận Hẻo Nguyễn Danh Phương và Hoàng Công Chất bùng phát. Chính sự Bắc Hà hết sức rối ren.
Trịnh Giang không khắc phục được khó khăn, lại mắc bệnh nằm bẹp dưới nhà hầm không điều hành được công việc. Trước tình hình đó, gia tộc họ Trịnh phế bỏ Trịnh Giang, lập em Giang là Trịnh Doanh lên ngôi năm 1740. Là người có tài năng, Trịnh Doanh điều chỉnh chính sách, ra tay đánh dẹp, dần dần củng cố lại tình hình Bắc bộ. Trong cuộc chinh phạt các cuộc khởi nghĩa, nổi lên tên tuổi các danh tướng Hoàng Ngũ Phúc, Bùi Thế Đạt, Phạm Đình Trọng. Đến khi Trịnh Doanh mất (1767), cơ bản các cuộc khởi nghĩa đều bị dẹp tan, chỉ còn Hoàng Công Chất và Lê Duy Mật. Con Doanh là Trịnh Sâm lên ngôi nhanh chóng dẹp nốt các cuộc khởi nghĩa này năm 1769.
== Lê bại Trịnh vong ==
=== Tây Sơn khởi nghĩa ===
Hòa bình lâu dài với Đàng Trong kết thúc khi cuộc nổi dậy Tây Sơn ở phía nam chống lại chúa Nguyễn bùng nổ năm 1771. Cuộc khởi nghĩa Tây Sơn được chúa Trịnh Sâm coi là một cơ hội để kết liễu chúa Nguyễn ở miền nam Việt Nam. Năm 1774, Trịnh Sâm cử lão tướng quận Việp Hoàng Ngũ Phúc mang quân tấn công và chiếm Phú Xuân. Quân Trịnh tiếp tục tiến về phía nam trong khi quân Tây Sơn chiếm các thành khác ở trong nam. Các chúa Nguyễn giữ Gia Định tới tận khi nó bị chiếm vào năm 1777 và dòng họ nhà Nguyễn gần như bị tiêu diệt.
Lần đầu tiên bờ cõi của Lê-Trịnh được mở rộng đến Quảng Nam.
=== "Truyền tộ bát đại, tiêu tường khởi vạ" ===
Họ Trịnh từ Trịnh Kiểm đến Trịnh Sâm là truyền được 9 đời chúa. Năm 1782, Trịnh Sâm qua đời. Ngay từ khi Sâm còn sống đã diễn ra cuộc tranh giành ngôi thế tử giữa con trưởng Trịnh Tông và con thứ Trịnh Cán. Cán còn nhỏ nên thực chất đó là phe Tuyên phi Đặng Thị Huệ. Tuyên phi lôi kéo quận Huy là Hoàng Đình Bảo (cháu Hoàng Ngũ Phúc). Vì Tuyên phi được sủng ái nên Trịnh Cán được lập làm thế tử. Khi Sâm mất, Trịnh Cán lên thay, quận Huy phụ chính. Quân kiêu binh giúp Trịnh Tông làm binh biến giết chết quận Huy, phế bỏ Trịnh Cán và đưa Tông lên ngôi chúa, đổi tên là Khải.
Tuy nhiên từ khi Trịnh Khải lên ngôi, chính sự cũng không sáng sủa. Quân kiêu binh cậy công làm càn, cướp của, phá phách kinh đô, kể cả nhà các quan lại. Trịnh Khải không dẹp nổi.
Ngoài biên cương, sau khi quận Việp mất, thành Phú Xuân giao cho Bùi Thế Đạt. Sau Đạt cũng rút về bắc giao lại cho Phạm Ngô Cầu và Hoàng Đình Thể. Tướng sĩ kiêu ngạo, lơ là mất cảnh giác phòng bị.
=== Vua chúa cùng chạy ===
Tây Sơn không muốn trở thành kẻ bầy tôi của các chúa Trịnh và sau một vài năm củng cố quyền lực ở phía nam, tướng Tây Sơn là Nguyễn Huệ tiến ra phía bắc Đại Việt vào giữa năm 1786 với một đội quân đông đảo. Quân Trịnh bị quân Tây Sơn đánh bại và chúa Trịnh Khải phải chạy về phía bắc rồi sau đó bị bắt và tự vẫn.
Quân Tây Sơn rút về, sau đó các bầy tôi cũ lại lập con Trịnh Giang là Trịnh Bồng lên ngôi. Vua Lê mới là Chiêu Thống muốn chấn hưng nhà Lê nên triệu Nguyễn Hữu Chỉnh đang trấn thủ Nghệ An ra giúp. Chỉnh đánh tan quân Trịnh, Trịnh Bồng bỏ đi mất tích.
Tuy nhiên sau đó Nguyễn Hữu Chỉnh lại lộng quyền. Nguyễn Huệ phái Vũ Văn Nhậm ra giết Chỉnh rồi đến lượt Nhậm lại mưu cát cứ ở Bắc Hà khiến Lê Chiêu Thống phải bỏ đi lưu vong, chạy sang Trung Quốc cầu viện nhà Thanh. Vua Càn Long điều một đội quân lớn tới Đại Việt nhằm tái lập vua Lê. Quân Thanh chiếm được Thăng Long năm 1788 nhưng sau đó bị Nguyễn Huệ giáng cho một đòn nặng nề đầu năm 1789. Quân Thanh thua to, rút chạy. Nguyễn Huệ -lúc ấy đã là hoàng đế Quang Trung - sau đó được vua Thanh công nhận và chính thức thay họ Lê cai trị nước Đại Việt. Chiêu Thống lưu vong và mất (1793) ở Trung Quốc.
== Đánh giá ==
Các chúa Trịnh cầm quyền từ năm 1545 đến năm 1786, tổng cộng 241 năm, được 11 đời chúa. Nếu kể cả Trịnh Kiểm và Trịnh Cối là có 13 chúa. Xét ra đời Trịnh Cán, Trịnh Khải và Trịnh Bồng ngắn và rối ren nên thường chỉ tính 8 đời cầm quyền vững vàng, thịnh trị của họ Trịnh từ Trịnh Tùng đến Trịnh Sâm như lời "sấm ngữ". Có lẽ câu chuyện về mẹ Trịnh Kiểm do đời sau đặt ra.
Thời gian nắm quyền của các chúa Trịnh là dài so với các Triều đại nhà Trần, Mạc, Tiền Lê, Hồ cũng như nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn sau này, ổn định đất nước trong thời Nam Bắc triều phân tranh.
Các chúa Trịnh đã tránh một số vấn đề quản lý triều đình bằng cách lựa chọn người giỏi nhất từ thế hệ trẻ họ Trịnh để cai trị đất nước. Thứ bậc anh em không được họ Trịnh coi trọng nhiều và đã có lời nói rằng đứa con thứ hai sẽ trở thành người lãnh đạo tốt hơn. Giống như các chúa Nguyễn và nhà Nguyễn sau này, các chúa Trịnh cũng gặp phải vấn đề với các cuộc nổi dậy của nông dân và việc không có ruộng đất đã trở thành một nguồn gốc gây nên các vấn đề cho triều đình.
Các chúa Trịnh chú ý tới việc giữ vững các quan hệ tốt với Trung Quốc và giữ gìn xã hội Khổng giáo hơn các chúa Nguyễn. Những người châu Âu hầu như không có lãi khi buôn bán với các chúa Trịnh, cả người Hà Lan (năm 1637) và người Anh (năm 1673) đều đã lập thương điếm nhỏ ở trung tâm Thăng Long nhưng không phát triển được.
Vào những năm sau này khi nhà Nguyễn nổi lên và cai trị toàn bộ Việt Nam, các chúa Trịnh đã bị đánh giá thấp, thậm chí lên án trong chính sử, điển hình là sách "Khâm định Việt sử Thông giám cương mục". Nếu nhìn nhận khách quan hơn, chỉ trừ Trịnh Giang, các chúa từ Trịnh Kiểm đến Trịnh Sâm đều là những vị chúa tài ba, do đó đã hoàn thành việc đánh dẹp và cai trị phía Bắc Việt Nam, giữ cho xã hội Đại Việt ổn định trong gần 2 thế kỷ. Chiến tranh Trịnh-Nguyễn diễn ra trong 45 năm giữa thế kỷ 17 nhưng trong thời gian đó Bắc Hà không có cuộc bạo loạn, chống đối nào của nông dân.
Các chúa Trịnh Căn, Trịnh Doanh và Trịnh Sâm ngoài võ công còn được đánh giá là những người hay chữ. 5 chúa đầu từ Trịnh Kiểm đến Trịnh Căn đều rất thọ (từ 68 đến 81 tuổi), hẳn các chúa cũng phải là những sống người nghiêm túc và điều độ. Các thành tựu của nhà Lê Trung Hưng thực chất là thành tựu do các chúa Trịnh.
Hiển nhiên với ngôi vị "phi đế phi bá", vừa thực sự là người cầm trịch trong bộ máy chính quyền, vừa phải cảnh giác với sự nổi dậy đòi quyền của họ Lê, các chúa Trịnh phải luôn có thái độ cứng rắn, cương quyết, không thể ôn hòa để nhằm bảo vệ địa vị của mình. Do đó việc phế lập tại triều đình trong cuộc đấu tranh đó là khó tránh khỏi. Chỉ có các vua Lê Trung Hưng bằng lòng sống chung với họ Trịnh mới có thể tồn tại. Tuy nhiên trong thời phong kiến việc lấn át quyền lực của nhà vua làm cho các chúa Trịnh bị mang tiếng mãi cùng với lịch sử. Họ Trịnh suy tàn bắt đầu từ thời Trịnh Giang lên nắm quyền hành. Trịnh Giang ăn chơi trác táng, giết vua này, lập vua kia, tư thông với cung nữ của cha, xây dựng nhiều chùa chiền làm hao tổn sức dân. Vì những việc làm đó họ Trịnh quyết định đưa Trịnh Doanh lên thay nhằm cải cách lại đất nước, đối xử tốt với vua Lê nên đã phần nào cải thiện lại được tình hình, tuy nhiên sang thời Trịnh Sâm tình hình lại xấu đi vì Trịnh Sâm kiêu căng ngạo mạn, ăn chơi xa xỉ, sửa sang phép tắc mô hình trong cung một cách bừa bãi, không quyết đoán, đố kị người hiền, ham mê chiến trận quá mức khiến đất nước kiệt quệ và điều gì đến sẽ phải đến họ Trịnh trượt dốc nhanh chóng rồi bị Tây Sơn đánh đổ một cách dễ dàng, Trịnh Khải phải dùng dao cắt cổ tự tử.
== Danh sách mười một chúa Trịnh ==
== Phả hệ ==
== Niên Biểu ==
== Xem thêm ==
Chúa Nguyễn
Chúa Bầu
Chúa Mạc
Triều Lê trung hưng
Triều Tây Sơn
== Tham khảo ==
List of the Trinh lords and the nominal Le Kings
The Encyclopedia of Military History by R. Ernest Dupuy and Trevor N. Dupuy. Harper & Row (New York). |
nội chiến hoa kỳ.txt | Nội chiến Hoa Kỳ (1861–1865), hay còn gọi là cuộc Chiến tranh Giữa các Tiểu bang (War Between the States), là một cuộc tranh chấp quân sự diễn ra tại Hoa Kỳ, giữa Chính phủ Liên bang và các tiểu bang phía nam vào giữa thế kỉ 19. Sau khi Abraham Lincoln đắc cử trong cuộc bầu cử Tổng thống Hoa Kỳ năm 1860, 11 tiểu bang theo chế độ nô lệ ở miền Nam Hoa Kỳ đã tuyên bố ly khai khỏi Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ và lập ra Liên minh miền Nam (Confederate States of America); 25 tiểu bang còn lại ủng hộ chính phủ Liên bang miền Bắc (Union). Cuộc phân tranh Nam-Bắc – chủ yếu diễn ra tại các tiểu bang phía Nam – kéo dài 4 năm và chấm dứt khi quân miền Nam đầu hàng năm 1865 và chế độ nô lệ bị đặt ra ngoài vòng pháp luật trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ. Trong những vấn đề là nguyên nhân gây nên cuộc chiến, một số đã được giải quyết trong Thời kỳ Tái thiết sau đó, và một số khác vẫn còn tiếp tục tồn tại.
Trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1860, Đảng Cộng hòa do Abraham Lincoln lãnh đạo đã tiến hành vận động tranh cử theo đường lối chống lại việc mở rộng chế độ nô lệ vượt ra ngoài các tiểu bang mà nó đã tồn tại. Những người Cộng hòa ủng hộ mạnh mẽ chủ nghĩa dân tộc, và trong cương lĩnh năm 1860 của mình họ lên án kịch liệt những sự đe dọa gây chia rẽ như là hành động phản quốc. Sau chiến thắng của phe Cộng hòa, nhưng trước khi chính quyền mới lên nhậm chức vào ngày 4 tháng 3 năm 1861, 7 tiểu bang bông vải đã tuyên bố ly khai và cùng nhau thành lập chính phủ riêng do Jefferson Davis làm tổng thống, tạo nên Liên minh miền Nam Hoa Kỳ. Cả chính quyền sắp mãn nhiệm của Tổng thống James Buchanan lẫn chính quyền sắp lên nhận chức đều không công nhận tính hợp pháp của việc ly khai và coi đó là hành động nổi loạn. Tám tiểu bang nô lệ khác đã bác bỏ lời kêu gọi ly khai vào thời điểm đó. Không một quốc gia nào trên thế giới tuyên bố công nhận khối Liên minh này.
Chiến sự bắt đầu vào ngày 12 tháng 4 năm 1861, khi các lực lượng của miền Nam tấn công một căn cứ quân sự của Liên bang tại Đồn Sumter thuộc Nam Carolina. Lincoln phản ứng lại bằng cách kêu gọi một đội quân tình nguyện từ mỗi tiểu bang để chiếm lại các tài sản liên bang, và dẫn đến sự ly khai của thêm bốn tiểu bang nô lệ nữa. Cả hai bên đều tăng cường xây dựng quân đội. Trong năm đầu của cuộc chiến, phe miền Bắc chiếm quyền kiểm soát các tiểu bang biên giới và tiến hành một cuộc phong tỏa bằng hải quân. Chiến cuộc ở miền Đông bất phân thắng bại trong các năm 1861-1862, phe miền Nam đánh lui những nỗ lực của quân miền Bắc nhằm đánh chiếm thủ đô Richmond, Virginia, đáng chú ý nhất là trong chiến dịch Bán đảo. Vào tháng 9 năm 1862, chiến dịch Maryland của quân miền Nam kết thúc với thất bại trong trận Antietam, trận đánh này đã khiến người Anh từ bỏ ý định can thiệp vào cuộc chiến. Sau trận chiến này, Abraham Lincoln đọc bản Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ, xác định việc kết thúc chế độ nô lệ là một mục tiêu chiến tranh. Đến năm 1863, chiến dịch tiến công lên miền bắc của Đại tướng miền Nam Robert E. Lee kết thúc trong thất bại tại trận Gettysburg.
Tại Mặt trận miền Tây, quân miền Bắc thu được nhiều thắng lợi liên tiếp, và đến tháng 7 năm 1862 đã giành được quyền kiểm soát sông Mississippi sau cuộc vây hãm Vicksburg, chia cắt Liên minh miền Nam ra làm hai và tiêu diệt phần lớn quân đội miền Nam trên mặt trận này. Nhờ vào những thành công tại miền Tây của mình, Ulysses S. Grant đã được nhận chức tổng chỉ huy quân đội tại miền đông vào năm 1864, ông bố trí các đội quân của William Tecumseh Sherman, Philip Sheridan và nhiều lực lượng khác để tấn công miền Nam trên tất cả các hướng, nhằm gia tăng lợi thế của phe miền Bắc về mặt nhân lực. Grant tái cơ cấu lại quân đội miền Bắc, và đặt các tướng khác làm chỉ huy các sư đoàn trong đội quân hỗ trợ cho cuộc tiến công của ông vào Virginia. Đến năm 1864, quân miền Bắc với nhiều lợi thế về địa hình, quân lực, kỹ nghệ, tài chính, kế hoạch chính trị và tiếp vận bắt đầu chiếm ưu thế đối với quân miền Nam. Grant đánh nhau nhiều trận chiến tiêu hao khốc liệt tại vùng Virginia với tướng Lee trong Chiến dịch Overland vào mùa hè năm 1864 nhằm chiếm Richmond, tuy nhiên khi vấp phải sự kháng cự quyết liệt của đối phương, ông liền thay đổi kế hoạch của mình và dẫn đến cuộc vây hãm Petersburg mà đã gần xóa sổ phần còn lại của đội quân của tướng Lee. Trong khi đó, Sherman chiếm được Atlanta, Georgia và tiến quân ra phía biển, phá hủy toàn bộ cơ sở vật chất hạ tầng của Liên minh miền Nam trên đường đi. Khi cố gắng bảo vệ Petersburg thất bại, quân đội miền Nam rút lui nhưng đã bị truy kích và đánh bại, cuối cùng Lee phải đầu hàng Grant tại làng Appomattox Court House thuộc Virginia vào ngày 9 tháng 4 năm 1865 - đây là thời điểm chấm dứt cuộc chiến tương tàn giữa hai miền Nam Bắc Hoa Kỳ.
Nội chiến Hoa Kỳ là một trong những cuộc chiến tranh công nghiệp thực sự đầu tiên. Đường sắt, điện báo, tàu hơi nước và vũ khí sản xuất hàng loạt đã được sử dụng một cách rộng rãi. Các học thuyết chiến tranh toàn diện được Sherman phát triển ở Georgia, và chiến tranh chiến hào quanh Petersburg là điềm báo trước cho cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất ở châu Âu. Cho đến này đây vẫn là cuộc chiến tranh đẫm máu nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, dẫn đến cái chết của khoảng 750.000 binh sĩ và một số lượng thương vong dân sự không xác định. Sử gia John Huddleston ước tính số người chết chiếm 10% toàn bộ số nam giới miền Bắc từ 20 đến 45 tuổi, và 30% đàn ông da trắng miền Nam trong độ tuổi từ 18-40.
Chiến thắng của miền Bắc đặt dấu chấm hết cho Liên minh miền Nam cũng như chế độ nô lệ Hoa Kỳ, và làm tăng cường vai trò của chính phủ liên bang. Các vấn đề xã hội, chính trị, kinh tế và chủng tộc của cuộc Nội chiến đã có vai trò quyết định trong việc định hình Thời kỳ Tái thiết, kéo dài đến năm 1877.
== Diễn biến ==
=== 1860 ===
6 tháng 11 - Abraham Lincoln, đảng viên Cộng hòa đầu tiên đắc cử tổng thống với 180 phiếu thuận trong tổng số 303 phiếu. Lincoln tuyên bố chính phủ không thể chấp nhận một xã hội có nô lệ.
20 tháng 12 - Tiểu bang Nam Carolina phản đối chính sách của Lincoln và tuyên bố ly khai. Hai tháng sau, các tiểu bang Mississippi, Florida, Alabama, Georgia, Louisiana và Texas cũng ly khai.
=== 1861 ===
9 tháng 2 - Các tiểu bang miền Nam thành lập Liên minh miền Nam và bầu lãnh tụ là Jefferson Davis - cựu sĩ quan quân đội Hoa Kỳ, từng học trừ bị tại Trường Võ bị West Point.
4 tháng 3 - Abraham Lincoln chính thức tuyên thệ nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ.
12 tháng 4 - Lúc 4:30 sáng, quân miền Nam dưới chỉ huy của Tướng Pierre Beauregard bắn đại bác vào đồn Sumter ở Charleston, Nam Carolina. Nội chiến Hoa Kỳ bùng nổ.
15 tháng 4 - Lincoln ra tuyên cáo tuyển mộ 75.000 binh sĩ và họp quốc hội đặc kỳ cho ngày quốc khánh 4 tháng 7.
Tướng Robert E. Lee, con trai của một anh hùng cách mạng Mỹ, cựu sĩ quan với 25 năm kinh nghiệm chiến trường và cựu giám đốc Trường Võ bị West Point được đề cử thống lĩnh quân miền Bắc, nhưng ông từ chối.
17 tháng 4 - Virginia ly khai, tiếp theo là Arkansas, Tennessee, và Bắc Carolina - tạo khối 11 tiểu bang, gồm 9 triệu dân, trong đó có 4 triệu nô lệ. Chính phủ miền Bắc Hoa Kỳ chỉ còn 21 tiểu bang và 20 triệu dân.
19 tháng 4 - Lincoln ra lệnh phong tỏa các hải cảng phía nam. Do đó, miền Nam bị thiếu nguyên liệu trong khi miền Bắc tiếp tục phát triển kỹ nghệ.
20 tháng 4 - Tướng Lee sau khi từ chối không giúp miền Bắc, từ chức và trở về quê quán tại Richmond, Virginia và nhận chỉ huy quân đội miền Nam.
4 tháng 7 - Lincoln đọc diễn văn tại quốc hội. Quốc hội đồng ý kêu gọi 50.000 binh sĩ cho cuộc chiến với miền Nam.
21 tháng 7 - Tướng miền Bắc Irvin McDowell bị đánh bại tại trận Bull Run thứ nhất, cách Washington 25 dặm phía tâynam. Trong trận này, một lữ đoàn quân miền Nam dưới chỉ huy của đại tá Thomas J. Jackson đã kiên cường ngăn chặn nhiều đợt tấn công của quân miền Bắc, nhờ đó ông nhận được biệt hiệu nổi tiếng "Stonewall" (bức tường đá).
27 tháng 7 - George B. McClellan được thăng chức thay thế McDowell. Sau đó McClellan được cử làm chỉ huy tham mưu trưởng.
10 tháng 8 - Quân miền Nam thắng trận Wilson's Creek, trận đánh lớn nhất tại tiểu bang Missouri trong năm 1861 và giành quyền kiểm soát phần tây nam của tiểu bang này.
8 tháng 11 - Khủng hoảng bang giao quốc tế với Anh Quốc. Hai tùy viên miền Nam trên chuyến tàu sang Anh bị hải quân miền Bắc bắt giữ. Chính phủ Anh đòi trả tự do cho hai người này, không thì sẽ khai chiến. Tổng thống Hoa Kỳ Lincoln đành nhượng bộ thả họ ra vào tháng 12.
=== 1862 ===
6 tháng 2 - Tướng miền Bắc Ulysses S. Grant đánh thắng chiếm đoạt đồn Henry và 10 ngày sau hạ đồn Donelson. Ông được biệt hiệu Grant "đầu hàng vô điều kiện" ("Unconditional Surrender" Grant).
Tháng 3 - McClellan kéo Binh đoàn Potomac từ Washington tiến theo vịnh Chesapeake đổ bộ xuống bán đảo Virginia và tiến về thủ phủ Richmond của miền Nam trong chiến dịch Bán đảo. Lincoln tạm thời giữ chức tham mưu trường chỉ huy quân miền Bắc.
7 tháng 3 - Trận Pea Ridge nổ ra ở tây bắc Arkansas. Quân miền Bắc tiến từ trung Missouri xuống phía nam đã đánh bại cuộc phản công nhằm tái chiếm Missouri của đối phương. Trận này đánh dấu mốc quân miền Bắc kiểm soát được tiểu bang Missouri và phần phía bắc tiểu bang Arkansas.
8 tháng 3 - Trong trận Hampton Roads tàu chiến bọc sắt USS Merrimack của miền Nam đánh chìm hai tàu chiến gỗ miền Bắc. Sau đó bất phân thắng bại khi đụng độ với tàu bọc sắt USS Monitor của miền Bắc.
Từ tháng 3 đến tháng 6 - Chiến dịch Thung lũng của Jackson. Tướng miền Nam Stonewall Jackson đem 17.000 quân đánh phá trong vùng Thung lũng Shenandoah, giành nhiều thắng lợi, thu hút 52.000 quân miền Bắc khiến cho họ không thể tham gia chiến dịch Bán đảo của McClellan.
6 tháng 4 - Quân miền Nam bất thình lình đánh úp quân của tướng Grant tại Shiloh trên sông Tennessee. Gần 13.000 quân miền Bắc và 11.000 quân miền nam tử trận. Các chính giới miền Bắc đòi đuổi Grant nhưng Lincoln không nghe, tin tưởng tài nghệ của vị tướng này.
24 tháng 4 - Sĩ quan hải quân miền Bắc David Farragut đem 17 chiến thuyền theo sông Mississippi lên đánh chiếm New Orleans, một hải cảng quan trọng của miền Nam.
29 tháng 4 - Henry W. Halleck đem quân tiến về Corinth, Mississippi và đến 30 tháng 5 thì chiếm được thành phố. P.G.T. Beauregard rút được quân miền Nam an toàn về Tupelo, Mississippi.
31 tháng 5 - Tướng miền Nam Joseph E. Johnston bị thương nặng trong trận Seven Pines đánh với quân của McClellan bên ngoài Richmond. Hôm sau tướng Robert E. Lee lên thay thế Johnston, đổi tên lực lượng miền Nam thành Binh đoàn Bắc Virginia. McClellan khinh thường Lee, cho ông ta là người "...bẽn lẽn và thiếu cơ mưu trong tác chiến".
25 tháng 6-1 tháng 7 - Chuỗi trận Bảy ngày. Lee đánh nhau với McClellan gần Richmond. Hai bên đều tổn thất nặng nề. McClellan thấy không xong bèn từ từ rút về sông James. Trong trận đánh tại Malvern Hill, binh sĩ miền Nam Edwin Jennison tử trận khi mới 16 tuổi.
11 tháng 7 - Tướng Henry W. Halleck lãnh chức chỉ huy tham mưu trưởng quân đội miền Bắc.
19 tháng 7 - Lee bắt đầu Chiến dịch Bắc Virginia tiến công Binh đoàn Virginia. Ngày 29 tháng 8, nổ ra trận Bull Run thứ hai giữa 62.000 quân miền Bắc do tướng John Pope chỉ huy và 50.000 quân miền Nam của hai tướng Stonewall Jackson và James Longstreet. Đến 30 tháng 8, quân miền Bắc thua to. Pope bị cách chức.
Tháng 8 - Tướng Braxton Bragg dẫn quân miền Nam từ Đông Tennessee tiến vào xâm chiếm Kentucky, đối đầu với Don Carlos Buell tại đây.
4 tháng 9 - Tướng Lee dẫn 50.000 quân tấn công miền Bắc trong Chiến dịch Maryland. Tướng McClellan dẫn 84.000 quân miền Bắc đuổi theo. Ngày 12 tháng 9, Stonewall Jackson tấn công Harpers Ferry, cách Washington 50 dặm về phía tây bắc.
17 tháng 9 - Trận Antietam - ngày đẫm máu nhất trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. McClellan và các tướng tùy tùng chặn đánh quân của tướng Lee tại rạch Antietam, Maryland. 23.000 binh lính tử trận, bị thương hay mất tích. Tướng Lee phải rút lui chạy về Virginia.
22 tháng 9 - Lincoln tuyên cáo sơ khai về cuộc giải phóng nô lệ.
8 tháng 10 - Trận Perryville. Bragg đánh thắng Buell về chiến thuật nhưng phải rút lui, chấm dứt chiến dịch Kentucky của phe miền Nam.
7 tháng 11 - Tổng thống Lincoln thất vọng khi thấy McClellan không biết nhanh chóng thừa thắng xông lên, bỏ lỡ cơ hội tấn công miền Nam khi Lee thua chạy. Tướng Ambrose Burnside được bổ nhiệm thay thế McClellan.
13 tháng 12 - Burnside thất bại nặng nề trong trận chiến tại Fredericksburg thuộc Virginia. Sau 14 lần công kích các chiến hào gần Marye's Heights, quân miền Bắc bị thương vong mất 12.653 lính so với 5.309 bên miền Nam.
31 tháng 12 - Quân miền Nam của Braxton Bragg tấn công William S. Rosecrans tại Tennessee trong trận Stones River - trận đánh có tỷ lệ quân số thương vong cao nhất trong Nội chiến Hoa Kỳ. Hai bên bất phân thắng bại nhưng đến ngày 2 tháng 1 năm 1863 quân miền Nam phải rút lui.
=== 1863 ===
1 tháng 1 - Tổng thống Lincoln chính thức ra Tuyên ngôn Giải phóng Nô lệ - trả tự do cho mọi người Mỹ gốc Phi xưa nay là nô lệ của các địa chủ Mỹ. Đồng thời kêu gọi những người nô lệ này nhập ngũ. Cuộc chiến lúc đầu có ý nghĩa bảo vệ quyền hạn chính phủ; lúc này trở thành cuộc chiến cách mạng giải thể chế độ nô lệ.
25 tháng 1 - Tướng Joseph Hooker thay thế Burnside chỉ huy Binh đoàn Potomac.
3 tháng 3 - Quốc hội ra lệnh tổng động viên, bắt buộc người nam tuổi từ 20 đến 40 phải nhập ngũ - trừ khi đóng $300 thế chân hay mướn được ai khác đi thay mình.
1 tháng 5 - Tướng Lee đem 60.000 quân miền Nam đánh 130.000 quân miền Bắc do tướng Hooker cầm đầu tại Chancellorsville. Do chiến thuật tài tình táo bạo, Lee đánh bại quân miền Bắc. Bên miền Nam 13.000 lính thương vong, so với 17.000 lính bên miền Bắc.
10 tháng 5 - Tướng miền Nam Stonewall Jackson chết vì vết thương trong trận Chancellorsville. Ông bị quân của chính mình bắn nhầm.
3 tháng 6 - Tướng Lee kéo 75.000 quân phát động chiến dịch Gettysburg đánh miền Bắc lần thứ nhì, nhắm hướng Pennsylvania.
24 tháng 6 - William Rosecrans tiến hành Chiến dịch Tullahoma hầu như không đổ máu, đánh bật được Braxton Bragg ra khỏi Trung Tennessee và bắt đầu đe dọa Chattanooga.
28 tháng 6 - Tướng George G. Meade được Lincoln cử làm chỉ huy binh đoàn Potomac thay thế Hooker. Trong vòng 1 năm chức vụ này thay người 5 lần.
Trận Gettysburg
1 tháng 7 - Meade đem quân ngăn chặn quân của tướng Lee từ miền Nam lên. Hai bên dàn trận tại Gettysburg. Dải đất phía tây bắc của thị trấn do một sư đoàn kỵ binh miền Bắc phòng thủ, sau đó tăng cường thêm hai quân đoàn bộ binh. Nhưng quân miền Nam tràn vào thật nhanh phá vỡ hàng phòng thủ này. Quân miền Bắc phải rút vào trong thị trấn và chạy về các ngọn đồi phía nam.
Ngày hôm sau, 2 tháng 7, quân đội hai bên hầu hết đã tập hợp đầy đủ. Quân miền Bắc có đội hình móc câu. Tướng Lee xua quân miền Nam tràn sang tấn công bắt đầu từ cánh trái và sau đó là cả cánh phải, hai bên đánh nhau kịch liệt. Tuy thiệt hại nặng nề, quân miền Bắc giữ được phòng tuyến, không lùi bước.
3 tháng 7, ngày thứ ba của trận đánh, trong khi kỵ binh hai bên đánh xáp lá cà tại một số nơi ở phía đông và nam, tướng Lee quyết định xua 12.500 quân bộ binh miền Nam mở cuộc tấn công của Pickett vào trung tâm của đội hình quân miền Bắc. Nhưng cả đoàn quân bị miền Bắc đem súng và đại bác ra bắn tan tành. Lee phải rút quân chạy về Virginia.
Trận đánh tại Gettysburg là trận chiến khốc liệt nhất trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Tổng cộng thương vong của hai bên lên đến khoảng 45-50 ngàn binh lính trong trận đánh kinh hồn này.
4 tháng 7 - Tướng Grant chiếm Vicksburg, sau đó hoàn thành việc đánh chiếm những cứ điểm cuối cùng trên sông Mississippi của miền Nam. Lực lượng miền Nam do đó bị chia hai không liên lạc tiếp tế được cho nhau.
13 tháng 6 - Cuộc bạo động chống tổng động viên tại New York do người di dân da trắng chủ động. Có đến 120 người da đen, kể cả trẻ con, bị giết và nhà cửa bị đốt. Quân đội từ Gettysburg phải kéo về giữ an ninh.
18 tháng 7 - Đội quân da đen của Trung đoàn 54 Massachusetts dưới sự chỉ huy của Trung tá Robert G. Shaw tấn công đồn Wagner thuộc Nam Carolina của quân miền Nam. Shaw và 600 binh sĩ của ông bị bắn chết. Quân miền Nam cố giữ đồn này được 60 ngày thì bỏ chạy.
10 tháng 8 - Chính trị gia Frederick Douglass đòi quyền bình đẳng cho binh sĩ của Đội quân da đen.
21 tháng 8 - William C. Quantrill và 450 người ủng hộ thể chế nô lệ tràn vào tỉnh Lawrence của Kansas và giết 182 người, đàn ông và thiếu niên.
19 tháng 9 - Binh đoàn Tennessee do tướng miền Nam Braxton Bragg thống lãnh chiến thắng tại Chickamauga - trận chiến đẫm máu đứng thứ hai trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Tướng miền Bắc William S. Rosecrans và Binh đoàn Cumberland của ông bị vây chặt tại Chattanooga, Tennessee.
16 tháng 10 - Tướng Grant được tổng thống Lincoln giao phó chức vụ tổng chỉ huy toàn Mặt trận miền Tây.
Tháng 11 - Longstreet tiến hành Chiến dịch Knoxville cầm chân Ambrose Burnside tại Knoxville, Tennessee nhằm phối hợp với cuộc vây hãm Chattanooga nhưng sau đó thất bại.
19 tháng 11 - Tổng thống Lincoln đọc diễn văn Gettysburg dài hai phút - công bố chiến trường Gettysburg là Nghĩa Trang Quốc gia.
23 tháng 11 - Tướng Grant kéo quân đến giải vây cho tướng Rosecrans, phá vỡ vòng vây tại Chattanooga. Bragg phải đem quân bỏ chạy về Georgia. Phe miền Nam mất hoàn toàn quyền kiểm soát tiểu bang Tennessee.
=== 1864 ===
9 tháng 3 - Tổng thống Lincoln đề cử tướng Grant làm tổng chỉ huy toàn bộ quân đội Hoa Kỳ. Tướng William T. Sherman nhậm chức chỉ huy Mặt trận miền Tây. Grant bắt đầu áp dụng chiến lược mới, đồng loạt tấn công quân miền Nam tại nhiều nơi: Chiến dịch Red River, Chiến dịch Bermuda Hundred, Chiến dịch Thung lũng, Chiến dịch Atlanta và Chiến dịch Overland.
Tháng 5 - Các chiến dịch Red River đánh chiếm Mobile, Alabama và Bermuda Hundred nhằm vào Richmond, Virginia đều lần lượt thất bại. Vào giai đoạn đầu của Chiến dịch Thung lũng 1864, các tướng Franz Sigel và David Hunter của miền Bắc cũng lần lượt bị đánh bại trong các trận đánh tại New Market và Lynchburg.
4 tháng 5 - Grant tập trung một lực lượng 120.000 lính tiến về Richmond trong Chiến dịch Overland. Tướng Lee lúc này chỉ còn 64.000 quân. Hai bên đánh nhau tại nhiều nơi: Trận Wilderness (5 tháng 5), Trận Spotsylvania (8 tháng 5), Trận Bắc Anna (23 tháng 5).
7 tháng 5 - Tại miền Tây, tướng Sherman đem 100.000 quân bắt đầu chiến dịch Atlanta, đương đầu với 60.000 quân thuộc binh đoàn Tennessee của tướng miền Nam Joseph E. Johnston. Trong vòng hơn hai tháng, Johnston phải từ từ rút lui về phía Atlanta trước những đòn tấn công bọc sườn liên tiếp của Sherman.
11 tháng 5 - Tướng kỵ binh J.E.B. Stuart của miền Nam bị bắn trong trận Yellow Tavern và chết ngày hôm sau.
3 tháng 6 - Tướng Grant tính toán sai lạc khi tấn công Cold Harbor và lãnh thiệt hại nặng nề với 13.000 quân miền Bắc thương vong. Trước đó nhiều viên chức sĩ quan trong đội quân này đã biết không thể nào chiếm được Cold Harbor. Một binh sĩ bị chết trong trận này đã biết trước số phận của mình và viết trong nhật ký: "3 tháng 6, Cold Harbor. Tôi bị giết."
15 tháng 6 - Quân miền Bắc bỏ lỡ cơ hội chiếm Petersburg và cắt đứt đường xe lửa tiếp vận của miền Nam cho Richmond. Petersburg bắt đầu bị bao vây trong suốt 10 tháng.
Tháng 7 - Jubal Early theo lệnh của tướng Lee tiến qua vùng Thung lũng Shenandoah kéo lên uy hiếp Washington, D.C., với hy vọng buộc Grant giảm bớt lực lượng bao vây Petersburg.
11 tháng 7 - Trận đồn Stevens - trận đánh duy nhất diễn ra tại Washington, D.C. trong cuộc Nội chiến. Early tấn công đồn quân sự Stevens thuộc vành đai phòng thủ phía tây bắc Washington nhưng không thành công và phải rút lui. Trong trận này, Tổng thống Abraham Lincoln tận mắt chứng kiến cảnh đánh nhau giữa hai đội quân Nam-Bắc. Sau đó Early tiếp tục hoành hành trong vùng Thung lũng Shenandoah, với đỉnh cao là việc đốt cháy thành phố Chambersburg, Pennsylvania của miền Bắc. Grant phải phái tướng Philip Sheridan đi đánh dẹp Early.
17 tháng 7 - Tướng Joseph E. Johnston bị cách chức chỉ huy Binh đoàn Tennessee. Hôm sau, 18 tháng 7, John B. Hood được chỉ định lên thay Johnston phòng thủ Atlanta.
22 tháng 7 - Trận Atlanta. Hood tiến hành tấn công Sherman ở phía đông thành phố, nhưng bị đẩy lùi với tổn thất nặng nề. Quân miền Bắc bắt đầu bao vây và pháo kích Atlanta trong suốt 6 tuần lễ.
23 tháng 8 - Trận Mobile Bay. David Farragut khóa chặt hải cảng Mobile, Alabama, cảng biển lớn cuối cùng của miền Nam trên vịnh Mexico, thắt chặt hơn nữa cuộc phong tỏa của miền Bắc.
29 tháng 8 - Đảng Dân Chủ đưa George B. McClellan ra ứng cử tổng thống.
2 tháng 9 - Atlanta thất thủ. Đây là thắng lợi lớn cho Lincoln khi ông đang vận động tranh cử.
18 tháng 9 - Hood bắt đầu chiến dịch Franklin-Nashville nhằm tấn công tuyến liên lạc của Sherman với khu vực trung tâm Tennessee. Sherman phái thiếu tướng George H. Thomas đi Nashville đối phó với Hood.
19 tháng 9 - Philip Sheridan, tư lệnh Binh đoàn Shenandoah của miền Bắc đánh bại Jubal Early trong trận Opequon - trận đánh lớn nhất và là bước ngoặt của Chiến dịch Thung lũng 1864.
19 tháng 10 - Quân miền Bắc do tướng Sheridan chỉ huy thắng lớn trong Trận Cedar Creek tại thung lũng Shenandoah, chấm dứt hoàn toàn cuộc tấn công cuối cùng lên miền Bắc của quân miền Nam do Jubal Early cầm đầu.
8 tháng 11 - Abraham Lincoln tái đắc cử tổng thống.
15 tháng 11 - Sau khi phóng hỏa thiêu cháy Atlanta, tướng miền Bắc Sherman bắt đầu kéo 62.000 quân tiến ra hướng biển, về phía Savannah thuộc Georgia.
30 tháng 11 - Hood thất bại nặng nề trong trận Franklin thứ hai tại Tennessee, nhưng vẫn tiếp tục tiến lên phía bắc chiến dịch xâm chiếm Tennessee, nhằm hướng Nashville.
15 tháng 12 - Tại trận Nashville, 30.000 quân miền Nam do tướng Hood chỉ huy bị 55.000 quân miền Bắc (trong đó có cả quân da đen) của tướng George H. Thomas đánh bại. Binh đoàn Tennessee của miền Nam hầu như hoàn toàn tan rã.
21 tháng 12 - Tướng Sherman đến Savannah, sau một cuộc tàn phá tiêu thổ 300 dặm từ Atlanta. Ông đánh điện cho tổng thống Lincoln, xin dâng Savannah làm quà Giáng sinh.
=== 1865 ===
Tháng 1 - Sherman bắt đầu Chiến dịch Carolinas tiến quân từ Savannah lên phía bắc, tiếp tục áp dụng chính sách tiêu thổ qua địa phận các tiểu bang Carolina trên đường kết hợp với lực lượng của Grant tại Virginia. Đối đầu với ông là những gì còn lại của Binh đoàn Tennessee dưới quyền tướng Joseph E. Johnston.
31 tháng 1 - Quốc hội Hoa Kỳ thông qua sửa đổi thứ 13 của Hiến pháp, bác bỏ thể chế nô lệ.
3 tháng 2 - Lincoln đến gặp phó tổng thống miền Nam là Alexander Stephens tại Hampton Roads của Virginia để thương lượng hoà giải nhưng không thành. Cuộc nội chiến vẫn tiếp diễn.
Quân miền Nam lúc này chỉ còn hai nơi: Binh đoàn Bắc Viriginia của tướng Lee đang bị vây tại Petersburg và quân của Johnston tại Bắc Carolina. Trong khi đó lực lượng quân miền Bắc lên đến 280.000 lính.
4 tháng 3 - Tổng thống Lincoln tuyên thệ nhậm chức lần thứ nhì.
25 tháng 3 - Tướng Lee kéo quân từ Petersburg ra đánh phá vòng vây nhưng chỉ 4 tiếng sau cuộc công kích bị phá vỡ.
1 tháng 4 - Sheridan đánh tan quân của George Pickett trong trận Five Forks, tiêu diệt cánh trái quân miền Nam tại Petersburg. Hôm sau, 2 tháng 4, tướng Grant tấn công Petersburg, phá từng tuyến phòng thủ của Lee. Tướng miền Nam A.P. Hill bị giết. Lee bỏ Petersburg, bắt đầu Chiến dịch Appomattox rút chạy theo hướng tây nam. Nhiều vụ đốt phá và cướp bóc xảy ra. Hôm sau cờ Liên bang Hoa Kỳ được kéo lên tại thủ phủ Richmond của miền Nam.
4 tháng 4 - Lincoln tham quan Richmond và vào xem văn phòng của Jefferson Davis tại Toà Bạch Ốc của Liên minh miền Nam.
9 tháng 4 - Tại làng Appomattox Court House, Virginia, tướng miền Nam Robert E. Lee ký giấy đầu hàng tướng miền Bắc Ulysses S. Grant. Grant cho phép hàng quân được tiếp tục giữ súng tay bên hông, và cho giữ lừa ngựa. Tướng Lee khuyên nhủ quân sĩ của mình: "Sau 4 năm chiến đấu khó khăn, với sự can đảm và ngoan cường chưa từng thấy, Binh đoàn Bắc Virginia bị bắt buộc phải nhượng bộ một lực lượng và hậu thuẫn quá to lớn".
10 tháng 4 - Cuộc liên hoan chiến thắng bắt đầu tại Washington.
14 tháng 4 - Cờ Hoa Kỳ được kéo lên long trọng tại đồn Sumter nơi cuộc nội chiến bắt đầu 4 năm trước. Tối hôm đó, tổng thống Lincoln cùng vợ là bà Mary đi xem vở kịch "Người bà con Mỹ của chúng ta" tại Ford's Theater. Lúc 10:30 tối, trong phần 3 của vở kịch, John Wilkes Booth thò súng ngắn bắn vào đầu Lincoln. Ông bất tỉnh và chết vào lúc 7 giờ 22 phút sáng hôm sau.
15 tháng 4 - Phó tổng thống Andrew Johnson lên thay làm tổng thống.
18 tháng 4 - Tướng miền Nam Joseph Johnston đầu hàng tướng Sherman tại Durham thuộc Bắc Carolina.
13 tháng 5 - Trận Palmito Ranch là trận đánh sau cùng của cuộc Nội chiến.
== Hậu quả ==
=== Kết quả ===
Toàn thể người nô lệ tại các tiểu bang miền Nam được thả tự do. Nô lệ tại các tiểu bang ranh giới, kể cả Washington, D.C., được trả tự do vào mùa xuân năm 1865. Khoảng 4 triệu người nô lệ được phóng thích.
Khoảng 970,000 người bị tử thương, gần 3 phần trăm tổng số dân Mỹ - trong đó 620,000 là binh sĩ chết trận hay vì bệnh tật. Số binh sĩ tử trận trong Nội chiến Hoa Kỳ cao hơn tổng số lính chết trong những chiến cuộc khác của quân Hoa Kỳ. Ngày nay người ta vẫn còn tranh cãi về nguyên nhân và tên gọi cuộc chiến đẫm máu này. Căn cứ theo thống kê dân số năm 1860, 8% người nam da trắng Mỹ tuổi từ 13 đến 43 chết trong cuộc nội chiến (6% miền Bắc và 18% miền Nam).
Sau khi chiến cuộc kết thúc, người ta vẫn tranh cãi vấn đề quân miền Nam có cơ hội chiến thắng hay không. Nhiều học giả cho rằng miền Bắc quá hùng mạnh và quân miền Nam không bao giờ có hy vọng chiến thắng, chỉ đánh để đình hoãn thất bại. Trong phim tài liệu về Nội chiến Hoa Kỳ của Ken Burns, sử gia Shelby Foote tổng kết: "Tôi nghĩ miền Bắc đánh trận chấp một tay sau lưng. Nhỡ khi miền Nam thắng nhiều trận, nhiều hơn nữa, thì miền Bắc sẽ lôi tiếp tay sau lưng ra mà đánh. Tôi không nghĩ miền Nam có cơ hội nào thắng được cuộc chiến." Lực lượng miền Nam cố gắng giữ độc lập bằng cách chờ cho Lincoln hết nhiệm kỳ. Nhưng sau khi Sherman phá được Atlanta, Lincoln thắng cử lần thứ nhì thì hy vọng chiến thắng chính trị của miền Nam tan biến. Lincoln đoạt nhiều thắng lợi lớn, được thêm ủng hộ từ các tiểu bang ranh giới, từ phe chủ chiến trong Đảng Dân chủ, từ các nô lệ được giải phóng và từ các nước ngoài như Anh và Pháp. Lincoln đánh bại McClellan và Đảng Dân chủ, đồng thời dập tắt nhóm chủ hòa Copperheads . Ngoài ra, Lincoln có tướng tài như Grant và Sherman, sẵn sàng đẩy hết quân lực hùng hậu, không sợ tốn lính. Những vị tướng không sợ đổ máu đã đem lại chiến thắng. Đến cuối năm 1864 mọi hy vọng chiến thắng của miền Nam đều tan biến.
Theo James McPherson thì miền Bắc nhờ có lực lượng hùng hậu, tài nguyên nhiều nên thế thắng cao nhưng không thể gọi là tất thắng được. Trong nhiều chiến tranh khác, phe ít lính, thiếu súng đạn vẫm có thể thắng (như Chiến tranh giành độc lập Hoa Kỳ). Quân miền Nam đáng lý không nên tấn công miền Bắc mà chỉ nên phòng thủ kéo dài cuộc chiến làm lung lay tinh thần chiến đấu của miền Bắc, cho dân miền Bắc thấy được cái giá quá đắt của cuộc chiến. Quân miền Bắc phải tấn công, chiếm giữ và kiểm soát một lãnh thổ quá to lớn, sẽ bị tốn phí rất nhiều.
Một điểm quan trọng nữa là khả năng kêu gọi của tổng thống Lincoln. Ông dùng tài biện thuyết, thuyết phục các tiểu bang đang lừng khừng tại ranh giới Nam Bắc ngả theo miền Bắc. Bài tuyên cáo giải phóng nô lệ tuy được đề xuất trễ nhưng có hiệu lực tạo điều kiện cho miền Bắc tiếp tục dấy binh đánh miền Nam.
Vì miền Bắc có phát triển kỹ nghệ kinh tế cao nên có khả năng sản xuất vũ khí, đạn dược nhiều hơn, đồng thời có điều kiện tốt về tài chánh và vận tải. Bảng bên đây so sánh khoảng cách kinh tế giữa hai miền vào đầu cuộc chiến. Khoảng cách này tăng xa lên trong cuộc chiến, trong khi kinh tế miền Bắc tiếp tục phát triển thì miền Nam tụt dốc. Năm 1861, miền Bắc có 22 triệu dân, miền Nam 9 triệu; trong đó có 3,5 triệu là nô lệ và 5.5 dân da trắng - khoảng một phần tư số dân da trắng miền Bắc. Khi quân miền Bắc thành công trong việc chiếm đoạt các đồn quân sự, khống chế biên giới, cắt đường tiếp vận của quân miền Nam ở sông Mississippi, kiểm soát 80% đường sông, đường biển, xây dựng thêm cơ xưởng đóng tàu, thì miền Nam coi như không còn hy vọng chiến thắng. Trong khi miền Bắc xây được đường xe lửa tốt liên kết giữa các khu vực chính yếu thì tuyến đường xe lửa của miền Nam bị trì trệ, hư hỏng, không kịp tu chỉnh.
Tổng thống miền Nam Davis thiếu khả năng thuyết phục các tổng đốc của Georgia và Bắc Carolina, bỏ mất cơ hội tăng cường lực lượng cho miền Nam. Chính quyền miền Nam lại tiên đoán nhầm về kinh tế thế giới, tự mãn về khả năng sản xuất vải của mình, thiếu tế nhị trong ngoại giao nên chóng bị cô lập. Một thí dụ điển hình là chần chừ không chịu cho chuyên chở vải bán ra nước ngoài trước khi bị miền Bắc khống chế mặt biển.
Sau bản tuyên ngôn giải phóng nô lệ của Lincoln, khoảng 190 nghìn dân nô lệ tình nguyện tòng quân, quân số của miền Bắc lên gấp bội. Trong khi đó miền nam không dám cho nô lệ nhập ngũ vì sợ đi ngược lại chính sách nô lệ của mình. Quân da đen miền Bắc chiến đấu anh dũng trong nhiều trận then chốt của cuộc nội chiến Ngoài ra còn có dân di cư từ châu Âu cũng gia nhập quân miền Bắc. Khoảng 23.4% quân miền Bắc có gốc Đức, với gần 216 nghìn sanh tại Đức.
=== Giai đoạn hậu chiến ===
==== Trấn áp tàn dư của Hợp bang miền Nam ====
Các lễ hội ăn mừng thắng lợi ở miền Bắc bắt đầu từ ngày 10/4, nhưng chỉ diễn ra một thời gian ngắn thì đột nhiên chấm dứt với sự kiện tổng thống Abraham Lincoln bị ám sát ngày 14-4-1865. Andrew Johnson của tiểu bang Tennessee lên kế nhiệm.
Đối với tù binh của quân đội miền Nam, tuy không có ai bị xử tử, song tất cả phải trải qua giam giữ trong khoảng 2-4 năm cho tới khi một đạo luật ân xá được thông qua vào tháng 5/1866. Tuy nhiên, phải thêm 6 năm sau đó, những tù binh này mới được trao lại quyền công dân theo đạo luật năm 1872, tuy nhiên luật ân xá này không áp dụng với 500 chỉ huy quân sự cao cấp của Hợp bang miền Nam
Giới lãnh đạo miền Bắc đồng ý rằng chiến thắng thực sự không thể dừng lại khi chiến cuộc chấm dứt mà phải tiếp tục cho đến khi đạt được hai mục đích: một là dập tắt hoàn toàn các chính quyền ly khai, hai là giải thể hoàn toàn hệ thống nô lệ dưới mọi hình thức. Tuy vậy, giữa các chính giới lại có nhiều quan điểm khác nhau về phương cách thực hiện hai mục đích này. Họ cũng tranh cãi gay go về vai trò của miền Bắc trong cuộc kiểm soát miền Nam sau cuộc chiến, và làm thế nào cho miền Nam kết hợp trở lại với Chính phủ liên bang. Nhóm cấp tiến trong đảng Cộng hòa đang kiểm soát Nghị viện như Thaddeus Stevens, Charles Summer và Benjamin Wade, chủ trương phải nhanh chóng triệt hạ giới chủ nô, tiêu diệt những mầm mống chống đối còn sót lại ở miền Nam và muốn các định chế của miền Nam phải được thay đổi cấp tốc.
Andrew Johnson và nghị viện miền Bắc tiến hành mở rộng quyền dân sự cho người da đen, đồng thời ngăn cấm những thành viên của Hợp bang miền Nam giành lại quyền lực. Họ phái quân đội tới miền Nam để ngăn chặn những người da trắng từng chống đối Liên bang đăng ký hoặc tham gia bầu cử. Việc triển khai quân đội là biện pháp chính yếu để thiết lập chính quyền mới ở các bang miền Nam, cũng như dùng vũ lực đàn áp những cử tri da trắng và da đen chống lại Liên bang. Việc này gây căm phẫn cho người da trắng miền Nam, dẫn rới sự ra đời phong trào Ku Klux Klan (3K) và nhiều nhóm theo chủ nghĩa phân biệt chủng tộc.
==== Sự trả thù của Ku Klux Klan ====
Sáu cựu chiến binh miền Nam từ Pulaski, Tennessee đã tạo ra tổ chức Ku Klux Klan vào 24 tháng 12 năm 1865, trong quá trình tái thiết của miền Nam sau cuộc Nội chiến. Nhóm này được biết đến trong một thời gian ngắn là "Ku Klux Klan".
Các nhà sử học thường phân loại các KKK như là một phần của cuộc trả thù bạo lực sau Nội chiến, không chỉ vì số lượng cao thành viên là các cựu chiến binh miền Nam, mà còn vì nỗ lực của KKK để kiểm soát xã hội bằng cách sử dụng các phương tiện phi pháp để khôi phục uy quyền tối cao của người da trắng. Trong năm 1866, Thống đốc Mississippi William L. Sharkey báo cáo rằng sự hỗn loạn, thiếu kiểm soát, và vô luật pháp đã trở nên tràn lan; ở một số bang, các nhóm vũ trang của lính miền Nam lang thang đã sử dụng bạo lực công khai chống lại người da đen. Họ đốt nhà, tấn công và giết người da đen, để lại cơ thể của họ trên đường.
KKK đã tiến hành một chiến dịch khủng bố chết chóc để ngăn chặn bỏ phiếu màu đen. Hơn 2.000 người đã thiệt mạng hoặc bị thương chỉ riêng ở Louisiana trong vòng một vài tuần trước cuộc bầu cử Tổng thống tháng 11 năm 1868. KKK cũng đã giết hoặc làm bị thương hơn 200 đảng viên Cộng hòa da đen. Hoạt động của KKK đến năm 1870 mới cơ bản bị trấn áp.
=== Di sản ===
Cuộc tái thiết đất nước Hoa Kỳ sau cuộc nội chiến kéo dài cho đến năm 1877 (Thỏa ước 1877). Điều này dẫn tới gồm nhiều đợt thay đổi phức tạp trong chính sách từ liên bang đến tiểu bang. Ba điều được thay đổi trong Hiến pháp Hoa Kỳ: điều XIII (giải thể nô lệ), điều XIV (chính phủ liên bang có nhiệm vụ bảo vệ công lý cho mọi công dân bất kể sắc tộc) và điều XV (xóa bỏ kỳ thị chủng tộc trong việc bỏ phiếu bầu cử). Tuy nhiên, cuộc bầu cử năm 1876 diễn ra không suôn sẻ, các bang miền Nam bất mãn với chính phủ miền Bắc nổi dậy đòi lại quyền lực, thường là bằng bạo lực.
Thay đổi hiến pháp thực ra chỉ là lý thuyết vì trên thực tế, nạn kỳ thị chủng tộc tại Hoa Kỳ vẫn tiếp tục kéo dài, người da đen vẫn phải sống trong nghèo túng, thất học và bị coi là "công dân hạng hai". Chẳng bao lâu sau, các bang miền Nam mà người da trắng mới giành lại quyền lực cho áp đặt những hạn chế về quyền bầu cử để gạt bỏ người da đen khỏi các cuộc bầu cử. Điều này chỉ thay đổi cho đến khi phong trào dân quyền bùng nổ vào thập niên 1960.. Bên cạnh đó, tâm lý nghi kỵ với các chính khách miền Nam vẫn dai dẳng, và phải 100 năm sau, nước Mỹ mới có một tổng thống xuất thân từ miền Nam là Lyndon Johnson (nắm quyền giai đoạn 1963-1969).
== Xem thêm ==
Carpetbagger
Danh sách các trận đánh trong Nội chiến Hoa Kỳ theo thứ tự thời gian.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Diễn tiến Nội chiến Mỹ
Trang web sưu tập dữ liệu về Nội chiến Mỹ
Hình ảnh từ Thư Viện Quốc hội Hoa Kỳ
Bản đồ Nội chiến - trang web bủa Trường Võ bị West Point
=== Phim có bối cảnh cuộc Nội chiến Mỹ ===
Gone with the wind - 1939 - Phim tình cảm xã hội Mỹ thời nội chiến. Vivien Leigh Clark Gable
Glory - 1989 - Phim về trung tá Shaw và quân đoàn da đen 54 Massachusetts
The Blue and the Gray - 1982 - Phim hai tập. Gregory Peck
Love me tender - 1956 - Phim tình càm xã hội Mỹ thời nội chiến. Elvis Presley, Richard Egan
=== Phim tài liệu ===
Civil War của Ken Burns – phim của PBS |
alibaba (tập đoàn).txt | Xem bài Ali Baba và bốn mươi tên cướp để biết thông tin về nhân vật Alibaba.
Alibaba (tiếng Hán: 阿里巴巴 - A Lý Ba Ba) với khẩu hiệu "Global Trade starts here..." là một tập đoàn thương mại điện tử / đấu giá trực tuyến được Jack Ma thành lập vào năm 1999, có trụ sở đặt tại Hàng Châu, Chiết Giang, Trung Quốc.
Năm 1999, Jack Ma cùng 17 người khác đã lên kế hoạch thành lập Alibaba. Họ thành lập trang web Alibaba.com, một cổng thông tin doanh nghiệp với doanh nghiệp để kết nối các nhà sản xuất Trung Quốc với người mua ở nước ngoài. Năm 2002, công ty này bắt đầu có lợi nhuận lần đầu tiên.
Website tiếng Anh alibaba.com chuyên về thương mại B2B, đặc biệt cho các khách mua quốc tế muốn giao thương với các khách bán Trung Quốc. Từ năm 2010, Alibaba.com bắt đầu mở rộng hoạt động kinh doanh ra toàn cầu bằng việc cho phép các doanh nghiệp nước ngoài có thể khai thác và sử dụng như doanh nghiệp trung quốc. Alibaba.com là một website dạng định hướng tìm kiếm như google nhưng chuyên về mua bán xuất nhập khẩu (Tức là nếu cần nhập bất kỳ sản phẩm nào, chỉ cần dùng từ khóa vào mục tìm kiếm trên web thì người dùng sẽ có được những thông tin chuyên ngành về sản phẩm và nhà cung cấp). Website tiếng Trung Quốc chinese.alibaba.com tập trung vào thị trường B2B nội trong Trung Quốc và www.taobao.com là một site thương mại C2C cho các khách hàng Trung Quốc.
Ngày 11 tháng 8 năm 2005, Alibaba và Yahoo! tuyên bố một thỏa thuận về việc thành lập một đối tác chiến lược lâu dài tại Trung Quốc. Theo đó, Yahoo! sẽ đóng góp phần thương mại của Yahoo! Trung Quốc cho Alibaba và hai bên sẽ làm việc cùng nhau như các đối tác độc quyền để thúc đẩy chi nhánh Yahoo! ở Trung Quốc. Thêm vào đó, Yahoo! sẽ đầu tư 1 tỉ USD mua cổ phần của Alibaba, tương đương khoảng 40% cổ phần với 35% quyền biểu quyết, khiến cho Yahoo! trở thành nhà đầu tư chiến lược lớn nhất của Alibaba. Năm 2012, Alibaba chi 7 tỉ USD mua lại 20% cổ phần của Yahoo.
Tính đến tháng 1 năm 2007, Alibaba Group gồm có 5 công ty:
Alibaba.com: Website thương mại quốc tế phục vụ các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đào Bảo - Đối thủ chính của eBay ở Trung Quốc về đấu giá trực tuyến. Hiện tại Đào Bảo đã có trên 65% thị trường đấu giá
Yahoo! Trung Quốc - Dịch vụ tìm kiếm trực tuyến của Trung Quốc
Chi Phó Bảo – Đối thủ chính của PayPal về thanh toán trực tuyến ở Trung Quốc
Phần mềm A Lý - Hoạt động từ tháng 1 năm 2007, Alisoft cung cấp các dịch vụ web cho thị trường các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Alibaba.com cũng là một trang web đối tác GlobalTrade.net cùng với Bộ Thương mại Hoa Kỳ
Trong năm 2012, hai trong số các cổng thông tin của Alibaba xử lý 1,1 nghìn tỷ nhân dân tệ (170 tỷ USD) doanh số bán hàng. Công ty chủ yếu hoạt động ở Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Ngày 19 tháng 9 năm 2014, tập đoàn Alibaba chính thức phát hành cổ phiếu lần đầu tài Sở giao dịch chứng khoán New York với vốn hóa 231 tỷ USD, cao hơn cả Amazon và eBay cộng lại. Tính đến thời điểm tháng 9 năm 2014, tập đoàn Alibaba có quy mô 20.000 nhân viên và 90 văn phòng trên toàn thế giới.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
B2B Network
== Liên kết ngoài ==
Alibaba.com
Wired story about the purchase
Commentary about Jack Ma and Alibaba's Yahoo! China purchase
Alibaba! Tôi Bảo Rồi Mà! | Trung Quốc Không Kiểm Duyệt
Vì sao Alibaba là Sự Đầu tư Mạo Hiểm? | Trung Quốc Không Kiểm Duyệt |
park chung hee.txt | Park Chung Hee hay Bak Jeonghui (Chosŏn'gŭl: 박정희 (âm Việt: Pac Choong Hi); Hanja: 朴正熙; Hán-Việt: Phác Chính Hy) (14 tháng 11 năm 1917 – 26 tháng 10 năm 1979) là một nhà hoạt động chính trị người Hàn Quốc, Đại tướng, Thủ lĩnh Đảng Dân chủ Cộng hòa. Ông là người cầm đầu một cuộc đảo chính quân sự vào ngày 16 tháng 5 năm 1961, lên làm lãnh đạo của Ủy ban Cách mạng (tiền thân của Hội đồng Tối cao Tái thiết quốc gia sau này). Park Chung Hee trở thành vị Tổng thống thứ ba của Đại Hàn Dân Quốc, tại nhiệm trong bốn nhiệm kỳ: từ ngày 17 tháng 12 năm 1963 đến ngày 26 tháng 10 năm 1979. Ông là người thành lập nền Cộng hòa thứ ba trong lịch sử Hàn Quốc.
Park là nhân vật nhận được nhiều quan điểm trái chiều cũng như gây tranh cãi nhất trong lịch sử Hàn Quốc. Ông là người đã dẫn dắt Hàn Quốc tạo ra "Điều kỳ diệu trên sông Hàn", một thời đại chứng kiến sự phát triển thần tốc về kinh tế cho tới năm 1979, làm thay đổi cơ bản Hàn Quốc, biến Quốc gia này trở thành một trong những con hổ về kinh tế của châu Á cũng như thế giới. Nhưng đồng thời, ông cũng bị chỉ trích và lên án như một nhà độc tài, xâm phạm quyền tự do, thủ tiêu dân chủ và quyền con người trong quá trình điều hành đất nước.
== Thiếu thời và giáo dụcSửa đổi ==
Park Chung Hee sinh ngày 14 tháng 11 năm 1917 trong một gia đình nông dân nghèo tại Seonsan, một thị trấn nhỏ ở Gumi, bắc Gyeongsang, Triều Tiên, dưới sự cai trị của Đế quốc Nhật Bản. Cha ông là Park Sung-bin, Mẹ là Bek Nam-eui. Ông là con út trong gia đình có 7 anh chị em. Những ghi chép về thuở thiếu thời mô tả ông là người có vóc dáng hơi nhỏ, gầy, và có khuynh hướng thích sự đơn độc. Trong những năm học phổ thông, Park học rất giỏi. Thầy cô của Park đã tiến cử ông tới học tại trường Cao đẳng Sư phạm Daegu, một ngôi trường dành cho những học sinh nghèo nhưng xuất sắc và có ước mơ trở thành giáo viên tiểu học. Park học tại đây 5 năm (4/1932-3/1937). Sau khi tốt nghiệp, ông đi dạy học ở Trường Tiểu học Mungyeong.
Quá trình trưởng thành của Park trùng với thời gian Nhật Bản bắt đầu xâm chiếm Trung Quốc, bắt đầu từ vụ Mãn Châu Lý năm 1931 và gia tăng căng thẳng lên đỉnh điểm dẫn tới bùng nỗ chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai năm 1937. Điều này đã tạo ra tiền đề cho sự phát triển con đường binh nghiệp của ông sau này cũng như con đường biến ông trở thành vị Tổng thống với nhiều tranh cãi nhất trong lịch sử Hàn Quốc hiện đại.
Sau hai năm giảng dạy, tháng 4/1940, do không còn hứng thú với việc giảng dạy, đồng thời bị thu hút bởi các ý niệm về quân đội, ông quyết định vào học tại Học viện Quân sự Hoàng gia của Mãn Châu quốc, ngôi trường được lập ra bởi sự hậu thuẫn của đạo quân Quan Đông, Nhật Bản. Năm 1942, Park tốt nghiệp loại xuất sắc và được chọn để đưa sang Nhật tu nghiệp sĩ quan tại Học viện Quân sự Hoàng gia. Park được các giảng viên Nhật Bản đánh giá là một quân nhân tài năng. Sau khi tốt nghiệp loại xuất sắc (xếp thứ ba trong lớp học, được trao tặng chiếc đồng hồ vàng của vua Phổ Nghi), Park nhận quân hàm trung úy trong Sư đoàn Bộ binh thứ 8 của quân đội Mãn Châu với biệt danh Okamoto Minoru. Ông phục vụ trong đội hình này cho tới giai đoạn cuối của Chiến tranh thế giới thứ hai rồi về đầu quân cho lực lượng vũ trang của miền nam Triều Tiên. Tuy nhiên, chỉ tới năm 1948, Park Chung-hee đã bị loại khỏi quân đội Nam Triều Tiên do những nghi ngờ rằng ông tham gia một tổ chức cánh tả (?!). Nghi ngờ này về sau chưa từng bao giờ được chứng minh…
== Sự nghiệpSửa đổi ==
=== Tại Mãn ChâuSửa đổi ===
Trong những năm từ 1940-1944, Park được đào tạo để trở thành một quân nhân. Với năng lực của mình, sau khi tốt nghiệp loại xuất sắc, ông trở thành trung úy phục vụ cho quân đội Hoàng gia Mãn Châu cho tới khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc.
=== Quay trở lại Triều TiênSửa đổi ===
Khi Nhật Bản đầu hàng đồng minh vào ngày 2/9/1945, Park rời bỏ quân ngũ. Ông quay trở lại quê hương mình Seonsan, sống tại đó trong vòng 1 năm sau chiến tranh và tham gia vào lực lượng cảnh sát Triều Tiên. Vào tháng 9 năm 1946, Park tham gia vào một chương trình huấn luyện bốn tháng tại Học viện Quân sự Triều Tiên và tốt nghiệp vào tháng 12 với quân hàm Đại úy. Park phục vụ cho quân đội trong vòng hơn một năm trước khi giải ngũ một lần nữa. Thời gian này được đánh giá là quãng thời gian u tối của ông.
Khi cuộc chiến tranh giữa hai miền nam bắc bùng nổ trên bán đảo Triều Tiên, Park Chung-hee lại gia nhập quân đội Hàn Quốc và trở thành một chuyên gia về hậu cần. Là một sĩ quan có khả năng nên ông được chọn đưa đi sang Mỹ để tham dự một khóa huấn luyện đặc biệt tại Fort Sill (Oklahoma). Khi chiến tranh kết thúc, Park Chung-hee mang quân hàm thiếu tướng.
=== Khi làm Tổng thốngSửa đổi ===
Theo yêu cầu của Hoa Kỳ, Park đã điều động gần 320.000 lính Nam Hàn tham chiến tại Việt Nam; đây là số lượng lính tham chiến nhiều thứ hai tại Việt Nam, chỉ đứng sau Hoa Kỳ. Lý do của việc tham chiến của quân đội Nam Hàn nhằm mục đích duy trì mối quan hệ đồng minh giữa Hàn Quốc và Mĩ, ngăn ngừa sự xâm lấn của chủ nghĩa cộng sản theo học thuyết Domino tại Đông Á và nâng cao vị thế của Hàn Quốc trên chính trường quốc tế. Tháng 1 năm 1965, khi đề xuất triển khai quân đội được Quốc hội thông qua với 106 phiếu thuận và 11 phiếu chống, Park tuyên bố rằng "đây chính là thời điểm Hàn Quốc chuyển từ vị thế bị động sang vai trò chủ động đối với các vấn đề quốc tế."
Bên cạnh những lý do chính trị, việc tham chiến của Hàn Quốc cũng được cho là xuất phát từ động cơ tài chính. Quân đội Hàn Quốc được chi trả bởi chính phủ liên bang Hoa Kỳ và số tiền này, khoảng 10 tỷ đô la Mĩ, được chuyển thẳng đến chính phủ Hàn Quốc dưới hình thức trợ cấp, cho vay, chuyển giao công nghệ và ưu đãi thị trường bởi các tổng thống Johnson và Nixon.
== Nhận địnhSửa đổi ==
Tên tuổi ông gắn liền với công cuộc hiện đại hóa Hàn Quốc nhờ đường lối phát triển kinh tế lấy xuất khẩu làm chủ đạo. Hàn Quốc không còn là một đất nước nghèo nàn như những thế kỷ trước nữa, mà vươn lên trở thành một trong những con hổ của châu Á. Về mặt quân sự, ông thực hiện chính sách liên minh với Mỹ, và phái quân sĩ sang chiến đấu tại chiến trường Miền Nam Việt Nam. Mặt khác, trong 18 năm cầm quyền ông đã thực hiện chính sách độc tài, vi phạm nhân quyền, trấn áp những người theo đường lối Cộng sản và cả những người bất đồng chính kiến và cho gián điệp theo dõi các trường học. Điều này đã dẫn đến Vụ ám sát Park Chung Hee năm 1979, do giám đốc Cục Tình báo Trung ương Hàn Quốc thực hiện. Dù Park Chung Hee đã ra lệnh không cho phép phụ nữ mặc váy ngắn khi đi trên phố phường, về đêm ông thường dự tiệc cùng những phụ nữ trẻ tuổi. Năm 1999, ông được tạp chí Time chọn là một trong 100 người châu Á tiêu biểu của thế kỉ 20. Ông vừa là một vị Tổng thống được nhân dân Đại Hàn mến mộ nhưng đồng thời bị chỉ trích như một lãnh đạo độc tài.
== Gia đìnhSửa đổi ==
Cha: Phác Thành Bân (박성빈)(1871 - 1938)
Mẹ: Bạch Nam Nghĩa (백남의)(1872 - 1949)
Phu nhân: Lục Anh Tu (육영수)(1925 - 1974) kết hôn năm 1950
Trưởng nữ: Phác Cận Huệ (박근혜)(1952 -)
Thứ nữ: Phác Cận Lịnh (박근령)(1954 - )
Trưởng tử: Phác Chí Vãn (박지만)(1958 - )
== Xem thêmSửa đổi ==
Danh sách Tổng thống Hàn Quốc
== Chú thíchSửa đổi == |
kinh tế méxico.txt | Kinh tế Mexico là một trong những nền kinh tế lớn nhất thế giới, đứng thứ 15 trên thế giới. Kể từ cuộc khủng hoảng 1994, chính phủ México đã có những cải cách đáng kể về nền tảng kinh tế vĩ mô. México đã không chịu tác động nghiêm trọng của cuộc khủng hoảng Nam Mỹ 2002, và đã duy trì tích cực mặc dù thấp tỷ lệ tăng trưởng sau một thời gian ngắn trì trệ trong năm 2001. Moody's (trong tháng 3 2000) và Fitch IBCA (trong tháng 1 2002) đã chấm điểm đầu tư cho những khoản nợ chính phủ của México. Mặc dù có sự ổn định kinh tế vĩ mô chưa từng có trước đó, khiến cho lạm phát và lãi suất giảm xuống mức thấp kỷ lục trong khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên, nhưng vẫn còn chênh lệch rất lớn giữa dân sống ở thành thị với dân ở nông thôn, giữa các tiểu bang phía bắc với phía nam, người giàu và người nghèo. Hiện nay chính phủ đang phải đối mặt với một số thách thức, bao gồm việc nâng cấp cơ sở hạ tầng, hiện đại hóa các hệ thống thuế và luật lao động, và giảm bất bình đẳng thu nhập.
Các ngành công nghiệp hiện đại và lĩnh vực dịch vụ phát triển nhanh, và quyền sở hữu tư nhân ngày càng được tôn trọng. Gần đây chính phủ đã tăng cạnh tranh trên thị trường dịch vụ cảng biển, đường sắt, viễn thông, cung cấp điện, khí đốt tự nhiên, phân phối, sân bay, với mục đích nâng cấp cơ sở hạ tầng. Vì là một nền kinh tế theo định hướng xuất khẩu, nên hơn 90% thương mại của México được thực hiện trong khuôn khổ của các hiệp định thương mại tự do (FTA) với hơn 40 quốc gia, bao gồm cả với Liên minh châu Âu, Nhật Bản, Israel, và nhiều nước Trung Mỹ và Nam Mỹ. FTA mang lại nhiều lợi ích nhất cho México là Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ (NAFTA) được ký kết với chính phủ của Hoa Kỳ, Canada vào năm 1992 và có hiệu lực từ năm 1994. Trong năm 2006, thương mại México với hai đối tác của miền Bắc chiếm gần 90% của xuất khẩu và 55% số hàng nhập khẩu. Gần đây, Quốc hội Mexico đã thông qua các chương trình cải cách quan trọng về thuế, trợ cấp và tư pháp, cải cách về ngành công nghiệp dầu mỏ hiện đang được thảo luận. Theo Forbes Global danh sách 2000 công ty lớn nhất thế giới trong năm 2008, México đã có 16 công ty trong danh sách.
== Lịch sử ==
Sau 5 thập kỷ rối loạn chính trị kể từ khi giành được độc lập, 4 chính quyền liên tục của tổng thống Porfirio Díaz trong suốt 1/4 thế kỷ cuối cùng của thế kỷ 19 vẫn đã làm cho kinh tế México tăng trưởng mạnh mẽ. Kinh tế tăng trưởng được là nhờ đầu tư nước ngoài và người nhập cư Châu Âu, sự phát triển mạng lưới đường sắt hiệu quả và khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước. Năm 1900, GDP bình quân đầu người của México tương đương với của Argentina và Uruguay, gấp gần ba lần của Brasil và Venezuela. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm thời kỳ 1876-1910 đạt 3,3%. Sự đàn áp và gian lận chính trị, sự bất bình đẳng tăng lên cực độ do hệ thống phân phối đất đai latifundios trong đó những đồn điền rộng lớn thuộc sở hữu của một số ít người, nhưng được canh tác bởi hàng triệu người nông dân chỉ được trả lương không xứng đáng và sống trong điều kiện tồi tàn, đã dẫn tới cuộc Cách mạng México (1910-1917), một cuộc xung đột vũ trang dẫn tới sự thay đổi mạnh mẽ về chính trị, xã hội, văn hoá và cơ cấu kinh tế trong thế kỷ 20 theo hướng dân chủ xã hội. Tuy nhiên, cuộc nội chiến đã để lại hậu quả nặng nề về kinh tế và dân số. Việc tái thiết đất nước đã diễn ra trong các thập kỷ tiếp theo.
Thời kỳ 1930-1970 được các sử gia kinh tế gọi là "Thần kỳ Mexico". Đây là thời kỳ mà tăng trưởng kinh tế dựa vào chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu. Các ngành công nghiệp trong nước được bảo hộ và thúc đẩy. Với chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu, México đã có sự bùng nổ kinh tế, các ngành công nghiệp của nước này nhanh chóng mở rộng sản xuất. Thay đổi quan trọng trong cơ cấu kinh tế bao gồm phân phối miễn phí đất cho nông dân theo khái niệm ejido, quốc hữu hóa dầu mỏ và các công ty đường sắt, việc giới thiệu các quyền lợi xã hội vào hiến pháp, sự ra đời của công đoàn lớn và nhiều ảnh hưởng, và nâng cấp cơ sở hạ tầng. Trong khi dân số tăng gấp đôi từ năm 1940 đến năm 1970, GDP bình quân đầu người tăng lên sáu lần.
Chiến lược công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu đã phát huy hiệu quả cực điểm vào những năm 1960. Trong những năm 1970, các chính quyền của Echeverría và López Portillo đã cố gắng đưa các nội dung phát triển xã hội vào chương trình nghị sự của mình. Điều này đã làm tăng chi ngân sách nhà nước. Nhờ việc phát hiện các mỏ dầu lớn vào lúc giá dầu tăng cao và lãi suất quốc tế lại xuống thấp - thậm chí xuống mức âm - chính phủ đã quyết định đi vay trên các thị trường vốn quốc tế để đầu tư vào các công ty dầu mỏ quốc doanh, với hy vọng sẽ tạo ra nguồn thu nhập lâu dài để thúc đẩy phúc lợi xã hội. Thực tế, cách làm này đã cho phép tăng đáng kể chi tiêu công cộng, và tổng thống López Portillo đã tuyên bố rằng đã đến để học cách "quản lý sự thịnh vượng". México đã mạnh tay mở rộng việc sản xuất dầu mỏ, biến họ trở thành nước sản xuất và xuất khẩu dầu mỏ lớn thứ tư trên thế giới.
Trong giai đoạn 1981-1982, thế giới đã có những thay đổi đột ngột: giá dầu mỏ giảm do sản xuất thừa và lãi suất tăng. Năm 1982, tổng thống López Portillo ngay trước khi kết thúc nhiệm kỳ của mình, đã quyết định ngưng thanh toán nợ nước ngoài, phá giá đồng peso và quốc hữu hóa hệ thống ngân hàng, cùng với nhiều ngành công nghiệp khác đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi cuộc khủng hoảng, nhất là ngành luyện thép. Trong khi chiến lược thay thế nhập khẩu đã tạo ra một thời đại công nghiệp hóa trong những thập kỷ trước, thì trong những năm 1980 việc bảo hộ các ngành công nghiệp trong nước suốt một thời gian dài đã tạo ra một khu vực công nghiệp kém cạnh tranh và năng suất thấp.
Tổng thống de la Madrid là người đầu tiên trong hàng loạt các tổng thống bắt đầu triển khai thực hiện cải cách theo đường lối của chủ nghĩa tự do mới. Sau cuộc khủng hoảng năm 1982, những người cho vay không còn muốn quay lại México, và để củng cố cán cân vãng lai, chính phủ cực chẳng đã đành phá giá tiền tệ, dẫn tới nạn lạm phát chưa từng thấy, mà mức lạm phát cao lịch sử là vào năm 1987 tới 159,7%.
Bước đi đầu tiên trong quá trình tự do hoá thương mại là việc México ký Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) vào năm 1986. Trong suốt nhiệm kỳ tổng thống Salinas, nhiều doanh nghiệp nhà nước đã được tư nhân hóa. Năm 1992, Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ đã được ký giữa Hoa Kỳ, Canada và México, và sau đó ký thêm hai lần bổ sung thêm về các tiêu chuẩn về môi trường và lao động. Hiệp định có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 1994. Salinas cũng đã áp dụng việc kiểm soát chặt chẽ giá cả và tăng lương tối thiểu từng mức nhỏ qua đàm phán với công đoàn lao động nhằm mục đích kiềm chế lạm phát. Mặc dù thành công trong việc giảm lạm phát, nhưng chiến lực của ông đã dẫn tới tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân chỉ đạt 2,8% một năm. Hơn nữa, do chính sách cố định tỷ giá, đồng peso trở nên bị định giá quá cao, trong khi chi tiêu tiêu dùng tăng lên, khiến cho thâm hụt tài khoản vãng lai lên đến 7% GDP vào năm 1994. Thâm hụt được bù đắp bằng thu từ phát hành tesobonos một loại công cụ nợ được bảo hiểm thanh toán bằng đô la Mỹ. Cuộc nổi loạn Chiapas, vụ ám sát ứng cử viên tổng thống của đảng cầm quyền, Luis Donaldo Colosio và ám sát Tổng bí thư của Đảng và anh em của trợ lý-Tổng chưởng lý José Francisco Ruiz Massieu trong năm 1994, đã làm bất an nhà đầu tư. Họ ồ ạt bán tháo tesobonos, khiến cho Ngân hàng Mexico cạn kiệt dự trữ ngoại hối, trong khi đó đầu tư gián tiếp, chiếm đến 90% tổng số vốn đầu tư chảy vào México, đã đi ra khỏi đất nước nhanh cũng như khi chúng đã đi vào. Tình hình buộc chính quyền mới của Zedillo buộc phải từ bỏ việc cố định tỷ giá. Giá trị đồng peso đã bị mất giá và đất nước đã lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế trong tháng 12 năm 1994. Sự phát triển vượt bậc trong xuất khẩu, cũng như gói cứu trợ quốc tế thực hiện bởi tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton, đã giúp làm nhẹ bớt cho cuộc khủng hoảng. Trong chưa đầy 18 tháng, nền kinh tế đã được phát triển trở lại, và tỷ lệ tăng trưởng trung bình hàng năm 5,1% vào giữa những năm 1995 và 2000.
Tổng thống Zedillo và tổng thống Fox tiếp tục đường lối tự do hoá thương mại và trong thời gian họ cầm quyền, México đã ký kết một số FTA với các nước Mỹ Latinh và các nước Châu Âu, Nhật Bản và Israel, và cả hai ông đều cố gắng để duy trì sự ổn định kinh tế vĩ mô. Vì vậy, México đã trở thành một trong những nền kinh tế mở cửa lớn nhất thế giới về mặt thương mại, và nền kinh tế chuyển dịch cơ bản theo hướng phù hợp. Tổng giao dịch thương mại với Hoa Kỳ và Canada tăng gấp ba lần, và tổng số xuất khẩu và nhập khẩu gần như tăng gấp bốn lần vào giữa những năm 1991 và 2003. Bản chất của đầu tư nước ngoài cũng đã thay đổi từ gián tiếp sang đến trực tiếp (FDI).
== Các chỉ số kinh tế vĩ mô, tài chính và phúc lợi ==
=== Nghèo đói ===
Sau cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1994-1995, 50% dân số rơi vào nghèo đói. Tốc độ tăng trưởng nhanh chóng của xuất khẩu có được nhờ NAFTA và các thỏa thuận thương mại, và tái cơ cấu tài chính vĩ mô của chính quyền Zedillo và chính quyền Fox đã làm giảm đáng kể tỷ lệ hộ nghèo: Theo Ngân hàng Thế giới, nghèo đói đã giảm từ 24,2% năm 2000 xuống còn 17,6% trong năm 2004. Đặc biệt, trong các cộng đồng nông thôn tỷ lệ nghèo giảm từ 42% xuống còn 27,9% trong giai đoạn 2000-2004, trong khi tỷ lệ nghèo ở khu vực thành thị vẫn dậm chân ở mức 12%. Theo Ngân hàng Thế giới, trong năm 2004, 17,6% dân số của México sống ở mức rất nghèo, trong khi 21% sống ở mức nghèo vừa phải. Mặt khác, theo CIA Factbook, 13,8% dân số sống dưới ngưỡng nghèo, nếu đo bằng việc sử dụng thực phẩm để xác định nghèo đói.
=== Kiều hối ===
Kiều hối - các khoản tiền do những người Mexico sống ở nước ngoài, chủ yếu là ở Hoa Kỳ, chuyển về cho gia đình họ ở Mexico - là một nguồn tài chính quan trọng đối với phát triển kinh tế của nước này. Khoản tài chính này lên tới 18 tỷ Đô la Mỹ trong năm 2005. Vào năm 2004, kiều hối đã trở thành nguồn thu từ nước ngoài lớn thứ hai sau xuất khẩu dầu thô, gần tương đương với vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và lớn hơn doanh thu từ du lịch; và chiếm khoảng 2,5% GDP của quốc gia. Tốc độ tăng của kiều hối rất cao: nó đã trở nên nhiều gấp đôi so với mức năm 1997. Số lượng giao dịch kiều hối qua ngân hàng đã vượt quá 41 triệu lượt vào năm 2003, trong đó có 86% được thực hiện bằng cách chuyển giao điện tử.
Chính phủ México, biết rõ vai trò của kiều hối đối với nền kinh tế, đã bắt đầu phát hành một phiên bản nâng cấp của các Matrícula Consular de Alta Seguridad (MACS, High Security Consular Identification), một tài liệu nhận dạng do các lãnh sự quán México ở nước ngoài cấp. Tài liệu này hiện đang được chấp nhận như là một thẻ nhận dạng hợp lệ trong 32 tiểu bang Hoa Kỳ, cũng như các cơ quan, hàng ngàn cảnh sát, hàng trăm khách hàng ở các thành phố và quốc gia, cũng như các cơ sở ngân hàng.
Các bang nhận được nhiều kiều hối nhất trong năm 2004 là Michoacán, Guanajuato, Jalisco, Mexico và Puebla, cùng nhận được 45% tổng số kiều hối trong năm đó. Một số chính quyền tiểu bang, với sự hỗ trợ của chính phủ liên bang, đã triển khai thực hiện các chương trình để sử dụng một phần của kiều hối để chi cho các công trình công cộng. Theo chương trình này, được gọi là Dos por Uno (Hai với một), cứ với mỗi peso thu từ kiều hối, chính phủ liên bang và tiểu bang sẽ đầu tư thêm hai peso để xây dựng cơ sở hạ tầng tại các địa phương.
=== Kinh tế vùng ===
Chênh lệch giữa các vùng và bất bình đẳng thu nhập vẫn là một vấn đề ở México. Dù chỉ số phát triển con người (HDI) của tất cả các bang đều cao hơn 0,70 (tức là mức trung bình đến phát triển cao), song các bang miền Bắc và miền Trung có HDI cao hơn so với các bang miền Nam. Nuevo León và thành phố Mexico có HDI tương đương các nước Châu Âu, trong khi đó các bang Oaxaca và Chiapas tương tự như là của Syria hoặc Ai Cập. Tại cấp thành phố, chênh lệch thậm chí là lớn hơn: San Pedro Garza García ở Nuevo León có HDI tương đương của Tây Ban Nha, trong khi đó, Metlatonoc ở Guerrero lại có HDI tương đương của Malawi. Phần lớn các bang có trình độ phát triển cao (cao hơn 0,80) nằm ở miền Bắc (với những trường hợp ngoại lệ của Colima, Jalisco, Aguascalientes, thành phố Mexico, Querétaro, cũng như các tiểu bang miền Đông Nam như Quintana Roo và Campeche). Các tiểu bang kém phát triển (trình độ phát triển trung bình xét theo HDI, cao hơn 0,70) đều ở bờ biển Thái Bình Dương phía Nam (với ngoại lệ là Veracruz).
Xét theo tỷ trọng trong GDP của từng khu vực kinh tế (trong năm 2004), những vùng đóng góp lớn nhất trong nông nghiệp là Jalisco (9,7%), Sinaloa (7,7%) và Veracruz (7,6%); những vùng đóng góp lớn nhất trong sản xuất công nghiệp là thành phố Mexico (15,8%), Bang Mexico (11,8%) và Nuevo León (7,9%); những vùng đóng góp lớn nhất trong các ngành dịch vụ cũng là thành phố Mexico (25,3%), bang México (8,9%) và Nuevo León (7,5%).
Kể từ những năm 1980, nền kinh tế bắt đầu đỡ phân cực hơn; tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm của thành phố Mexico giai đoạn 2003-2004 là nhỏ nhất trong tất cả địa phương, chỉ có 0,23%, với sự sa sút ghê gớm của các lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp. Tuy nhiên, nó vẫn còn chiếm 21,8% trong GDP của cả nước. Các tiểu bang với tốc độ tăng trưởng GDP cao nhất là Quintana Roo (9,04%), Baja California (8,89%), và San Luis Potosí (8,18%). Năm 2000, các đơn vị liên bang có GDP bình quân đầu người cao nhất ở México là thành phố Mexico (17.696 đô la Mỹ), Campeche (13.153 đô la Mỹ) và Nuevo León (13.033 đô la Mỹ); các tiểu bang có GDP bình quân đầu người thấp nhất là Chiapas (3.302 đô la Mỹ), Oaxaca (3.489 đô la Mỹ) và Guerrero (4.112 đô la Mỹ).
== Các thành phần của nền kinh tế ==
Tổng sản phẩm trong nước (GDP) theo sức mua tương đương (PPP) trong năm 2006 ước khoảng 1,134 nghìn tỷ đô la Mỹ, và GDP bình quân đầu người theo PPP đạt mức 10.600 đô la Mỹ. Dịch vụ là khu vực lớn nhất, chiếm 70,5% GDP, sau đó là công nghiệp với 25,7% (ước tính năm 2006). Sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 3,9% GDP (số liệu ước tính năm 2006). Lực lượng lao động México được ước tính là 38 triệu người, trong đó 18% là trong nông nghiệp, 24% trong ngành công nghiệp, và 58% trong các ngành dịch vụ (2003 ước tính).
=== Nông nghiệp và sản xuất lương thực ===
==== Lịch sử ====
Sau cách mạng, México đã tiến hành cải cách nông nghiệp, căn cứ điều 27 của Hiến pháp. Cải cách đã chuyển giao đất và/hoặc phát ruộng đất miễn phí cho tá điền và các điền chủ nhỏ theo khái niệm về ejido. Chương trình này đã được mở rộng hơn nữa trong thời gian tổng thống Cárdenas cầm quyền trong thời gian những năm 1930 và tiếp tục vào những năm 1960 với các mức độ khác nhau. Các cải cách nông nghiệp tập thể, để đảm bảo người nông dân nhỏ có một phương tiện để họ có thể mưu sinh tồn tại, cũng gây ra hiện tượng sẻ nhỏ đất đai và thiếu vốn đầu tư, bởi vì những thửa ruộng công không thể đem thế chấp để vay. Để nâng cao năng suất lao động và mức sống ở nông thôn, Mexico đã sửa đổi hiến pháp vào năm 1992 để cho phép chuyển nhượng quyền sở hữu đất công cộng cho những nông dân đang canh tác trên đó. Do có thể cho thuê hoặc bán, các trang trại lớn cho phép đem lại tính kinh tế nhờ quy mô có điều kiện được thành lập. Ở một số bang miền Tây Bắc (chủ yếu ở Sinaloa) đã có những trang trại cơ giới hóa lớn. Tuy nhiên, việc tư nhân hoá của ejidos hãy còn tiến hành rất chậm tại các bang miền Trung và miền Nam, nơi mà đa số tiểu nông chỉ sản xuất cho nhu cầu bản thân.
Tính cho đến những năm 1990, Chính phủ khuyến khích sản xuất cơ bản cây trồng (cây chính là corn và hạt cà phê) bằng cách hỗ trợ duy trì và kiểm soát giá cả hàng nhập khẩu thông qua National Company for Popular Subsistence (CONASUPO). Với tự do hoá thương mại, tuy nhiên, CONASUPO đã từng bước đã được giỡ bỏ và hai cơ chế mới đã được triển khai thực hiện: Alianza và Procampo. Alianza cung cấp các khoản thanh toán thu nhập và ưu đãi cho các cơ giới và nâng cao hệ thống thủy lợi. Procampo là thu nhập từ chuyển nhượng tài trợ cho nông dân. Điều này cung cấp các chương trình hỗ trợ cho 3,5 triệu nông dân người sản xuất cơ bản hàng hóa (chủ yếu là ngô), và các đại diện 64% của tất các nông dân, với một khoản thanh toán chuyển khoản thu nhập cố định cho mỗi đơn vị diện tích của đất cắt. Điều này được báo là gia tăng đáng kể trong thời gian tổng thống Fox cầm quyền, chủ yếu để sản xuất ngô trắng để góp phần giảm bớt số lượng hàng nhập khẩu từ Hoa Kỳ. Chương trình này đã thành công, và trong năm 2004, chỉ khoảng 15% là hàng nhập khẩu ngô trắng – nó được sử dụng cho những người tiêu dùng và các loại hình chủ yếu là phát triển ở México – như là trái ngược với 85% loại màu vàng và bắp bị loại bỏ - một trong những thứ để sử dụng cho thức ăn chăn nuôi, và đó là không đủ để sản xuất ở México.
==== Tầm quan trọng của nông nghiệp đối với kinh tế Mexico ====
Nông nghiệp đóng góp một tỷ lệ phần trăm nhất định của GDP và được ổn định giảm dần, và bây giờ là phần của những nước phát triển, trong đó nó phát huy một vai trò không nhỏ hơn trong nền kinh tế. Trong năm 2006, sản xuất nông nghiệp chỉ chiếm 3,9% GDP, xuống từ 7% năm 1980, và 25% trong năm 1970. Tuy nhiên, do cấu trúc của các di tích lịch sử ejidos, nông nghiệp vẫn còn sử dụng một lượng lao động tương đối cao, tỷ lệ phần trăm của lực lượng lao động: 18% trong năm 2003, trong đó chủ yếu là phát triển cơ bản cho các cây trồng để duy trì tồn tại, so với 2-5% tại các quốc gia phát triển, trong đó sản xuất là rất cao đã được cơ giới hóa.
==== Cây trồng ====
Mặc dù là một vùng nguyên liệu trong thành phần chế độ ăn uống của México, lợi thế so sánh của México trong nông nghiệp là không có trong bắp, nhưng là lại có trong nghề làm vườn, trái cây nhiệt đới, và rau quả. Người thương thuyết của NAFTA mong rằng thông qua tự do hoá và cơ giới nông nghiệp hai phần ba việc sản xuất ngô của México sẽ tự nhiên chuyển từ sản xuất ngô bằng tự nhiên sang dụng cụ làm vườn và các lao động khác - chẳng hạn như các cây trồng hoa quả, hạt, rau quả, cà phê và mía. Trong khi nhờ sử dụng dụng cụ làm vườn mà thương mại đã tăng mạnh tới NAFTA, nó đã không hấp thu thay đổi lao động sản xuất từ bắp (ước tính khoảng 600,000). Hơn nữa, bắp sản xuất vẫn ổn định, đã có (đạt 20 triệu tấn), như là một kết quả của việc hỗ trợ thu nhập cho nông dân, chứng tỏ, hoặc một sự miễn cưỡng để bỏ một truyền thống lâu đời ở México: không chỉ có nông dân trồng ngô cho thiên niên kỷ, ngô originated ở México. Ngay cả ngày hôm nay, México vẫn là quốc gia sản xuất các sản phẩm ngô lớn thứ tư trên thế giới.
Khu vực dành riêng cho khoai tây đã thay đổi nhỏ từ năm 1980 và sản lượng trung bình tăng gần gấp ba lần kể từ năm 1961. Sản xuất đạt tới một kết quả ghi là 1,7 triệu tấn trong năm 2003. Bình quân đầu người tiêu thụ khoai tây ở México đứng ở 17 kg một năm, rất thấp so với ngô đã thu hẹp lại ở mức 400 kg. Trung bình, trang trại khoai tây ở México có diện tích lớn hơn diện tích trồng các loại cây lương thực cơ bản. Sản xuất khoai tây ở México là chủ yếu cho các mục đích thương mại; sản xuất cho các hộ gia đình tiêu thụ là rất nhỏ.
Khoảng 160.000 cỡ nhỏ và trung bình người nông dân trồng mía trong 15 tiểu bang México, hiện tại đang có 57 nhà máy đường xung quanh đất nước. Ngành công nghiệp đường của México có đặc trưng là chi phí sản xuất cao và thiếu vốn đầu tư. México sản xuất đường nhiều hơn mức tiêu thụ.
=== Công nghiệp ===
Lĩnh vực công nghiệp cũng như một toàn thể nền kinh tế đã hưởng lợi từ tự do hoá thương mại, trong năm 2000 công nghiệp chiếm gần 90% của tất cả các hàng xuất khẩu.
Ngành công nghiệp ô tô là một trong số các ngành công nghiệp sản xuất quan trọng nhất ở México, có các tiêu chuẩn chất lượng được quốc tế công nhận. Các ngành ô tô ở México khác từ các quốc gia Mỹ Latinh và những quốc gia đang phát triển trong này không có chức năng như là chỉ nhà sản xuất lắp ráp. Các ngành công nghiệp sản xuất có thành phần công nghệ phức tạp và tham gia trong một số nghiên cứu và phát triển các hoạt động. "Ba ông lớn" (General Motors, Ford và Chrysler) đã hoạt động tại México kể từ những năm 1930, trong khi Volkswagen và Nissan đã xây dựng các nhà máy trong những năm 1960. Muộn hơn, Toyota, Honda, BMW, và Mercedes-Benz cũng đã tham gia. Do các yêu cầu cao của các thành phần Bắc Mỹ trong các ngành công nghiệp, nhiều người châu Âu và người châu Á một phần trong các nhà cung cấp đã chuyển đến México: ở Puebla trơ trọi, 70 thành phần cụm công nghiệp bao quanh Volkswagen. Tương đối nhỏ các ngành công nghiệp xe hơi trong nước vẫn còn là đại diện của DINA Camiones S.A. de C.V., hãng mà đã xây dựng cho các xe buýt và xe tải gần nửa thế kỷ và những chiếc xe hơi của công ty xây dựng Mastrettadesign với các chủng loại xe hơi Mastretta MXT.
Một số lớn các ngành công nghiệp của México bao gồm Cemex, tập đoàn xi măng lớn thứ ba trên thế giới; các ngành công nghiệp rượu nước giải khát, lớn trên cả thế giới-bao gồm cả tay chơi nổi tiếng giống như Grupo Modelo; các tập đoàn kinh tế giống như FEMSA, trong đó ngoài sở hữu chỗ làm rượu bia và chuỗi cửa hàng tiện lợi OXXO, cũng là lớn thứ hai trên thế giới Coca-Cola người/chai; Gruma, lớn nhất sản xuất các sản phẩm bột ngô và tortillas trên thế giới; và Grupo Bimbo, Telmex, Televisa, trong số rất nhiều những hãng khác. Trong năm 2005, theo Ngân hàng thế giới, công nghiệp sản xuất công nghệ cao đại diện 19,6% tổng số xuất khẩu.
Maquiladora (các nhà máy Mexico nhập khẩu nguyên vật liệu và sản xuất hàng hoá xuất khẩu) đã trở thành bước ngoặt trong thương mại của México. Điều này ngành đã hưởng lợi từ NAFTA, trong đó thu nhập thực tế trong lĩnh vực Maquiladora đã tăng lên 15,5% từ năm 1994, mặc dù từ nhiều lĩnh vực phi Maquiladora đã phát triển nhanh hơn. Với niềm tin phổ biến, điều này không gây nên được bất ngờ kể từ khi những sản phẩm của Maquiladora có thể nhập vào Hoa Kỳ nhiệm vụ miễn phí từ những năm 1960 thỏa thuận ngành công nghiệp. Các ngành khác hiện nay được hưởng lợi từ các thỏa thuận thương mại tự do, và chia sẻ về xuất khẩu từ các tiểu bang không biên giới đã tăng lên trong 5 năm qua, trong khi chia sẻ về xuất khẩu từ Maquiladora - biên giới tiểu bang đã giảm xuống.
Hiện nay México là nơi tập trung chủ yếu trong việc phát triển ngành công nghiệp hàng không và lắp ráp của máy bay lên thẳng và thân máy bay phản lực nội địa đang diễn ra. Các doanh nghiệp nước ngoài như: MD Helicopters và Bombardier đã chế tạo máy bay lên thẳng và tương đương với thân máy bay phản lực nội địa ở México. Mặc dù ngành công nghiệp máy bay của México hầu hết là thuộc nước ngoài, cũng như là ngành công nghiệp xe hơi, các doanh nghiệp México đã được thành lập như là Aeromarmi, nó tham gia chế tạo những cánh quạt máy bay nhẹ, và Hydra Technologies, trong đó xây dựng những Unmanned Aerial Vehicle như là S4 Ehécatl.
Khi so sánh với Hoa Kỳ hoặc quốc gia ở Tây Âu thì một khu vực lớn hơn kinh tế công nghiệp của México là sản xuất lương thực trong đó bao gồm nhiều lớp học thế giới các công ty nhưng khu vực công nghiệp chưa phát triển. Có những quốc gia mà đã trở thành thương hiệu quốc tế và địa phương Mom và Pop sản xuất nhưng còn trong sản xuất giữa.
=== Năng lượng và tài nguyên khoáng sản ===
Tài nguyên khoáng sản là các "nation's property" (i.e. công khai tài sản) theo hiến pháp. Như vậy, năng lượng là lĩnh vực quản lý của chính phủ với mức độ đầu tư tư nhân khác nhau. México là nhà nhà sản xuất dầu mỏ lớn thứ sáu ở trên thế giới, với 3,7 triệu thùng mỗi ngày. Pemex, công ty của nhà nước chịu trách nhiệm quản lý nghiên cứu, khai thác và kinh doanh dầu mỏ, là công ty lớn nhất (dầu mỏ hoặc khác hơn) ở Mỹ Latin, tạo ra $ 86 tỷ đô la Mỹ doanh thu trong một năm, một số tiền lớn hơn GDP của một số lĩnh vực của các quốc gia.
Tuy nhiên, các công ty dầu mỏ bị đánh thuế nặng nề, đó là một nguồn thu đáng kể cho các chính phủ, chiếm gần 62% doanh số bán hàng của công ty. Nếu không có đủ tiền để tiếp tục đầu tư vào tìm kiếm nguồn mới hoặc nâng cấp cơ sở hạ tầng, và đang được bảo vệ theo hiến pháp từ đầu tư tư nhân trong và đầu tư nước ngoài, có dự đoán một số công ty có thể phải đối mặt thể chế sụp đổ. Trong khi các ngành công nghiệp dầu mỏ vẫn còn thích hợp cho ngân sách của chính phủ, tầm quan trọng của nó trong GDP của cả nước và ổn định xuất khẩu đã giảm kể từ những năm 1980. Năm 1980 xuất khẩu dầu mỏ chiếm 61,6% tổng xuất khẩu; năm 2000 nó đã chỉ đạt 7.3%.
=== Dịch vụ ===
==== Tổng quát ====
Các ngành dịch vụ được ước tính đóng góp vào tài khoản 70,5% trong GDP của đất nước, và sử dụng 58% lao động của dân số hiện tại. Lĩnh vực này bao gồm giao thông vận tải, thương mại, kho bãi, nhà hàng và khách sạn, nghệ thuật và vui chơi giải trí, y tế, giáo dục, tài chính và dịch vụ ngân hàng, viễn thông công cộng cũng như quản lý và bảo vệ. Ngành dịch vụ của México lĩnh vực là thế mạnh, và vào năm 2001 thay thế Brasil như là quốc gia lớn nhất trong ngành dịch vụ của Mỹ Latin trong điều kiện đồng đô la.
==== Du lịch ====
Du lịch là một trong những ngành công nghiệp quan trọng nhất ở México. Nó là yếu tố lớn thứ tư của dất nước trao đổi với nước ngoài. México là nước lớn thứ tám trên thế giới về lượng khách du lịch viếng thăm (với hơn 20 triệu khách du lịch trong một năm).
==== Ngành tài chính ====
===== Hệ thống ngân hàng =====
Theo IMF: México có hệ thống ngân hàng mạnh, trong đó có các ngân hàng tư nhân là có lợi nhuận và tư bản hóa tốt. Ngành tài chính và ngân hàng ngày càng bị thống trị bởi các công ty nước ngoài hoặc bị sáp nhập vào các công ty nước ngoài và các công ty México ngoại trừ các công ty danh tiếng của Banorte. Việc mua lại Banamex, một trong những tổ chức tài chính lâu đời nhất còn sót lại ở México, bởi Citigroup là công ty sáp nhập lớn nhất Hoa Kỳ-México, tại mức $12.5 tỷ đô la Mỹ. Mặc dù vậy, các tổ chức tài chính lớn nhất tại México là Bancomer liên quan đến BBVA của Tây Ban Nha.
Quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng trong ngành tài chính tại México đã phát triển đồng thời với những nỗ lực tự do hoá tài chính và xen thêm nền kinh tế đầy đủ vào thị trường thế giới. Trong thời gian những năm gần đây, có một làn sóng của việc mua lại bởi các cơ sở giáo dục nước ngoài như: Hoa Kỳ đã dựa vào Citigroup, BBVA của Tây Ban Nha và HSBC của Vương quốc Anh. Hiện diện của họ, cùng với một khuôn khổ quy định tốt hơn, đã cho phép hệ thống ngân hàng củaMéxico phục hồi từ năm 1994-1995 việc mất giá của đồng Peso. Cho vay cho cộng đồng và khu vực tư nhân đang gia tăng và như vậy là năng động trong lĩnh vực bảo hiểm, cho thuê và thế chấp. Tuy nhiên, tài khoản tín dụng ngân hàng chỉ chiếm 22% GDP, là mức thấp đáng kể so với 70% ở Chile. Tín dụng cho ngành nông nghiệp đã giảm 45,5% trong sáu năm (từ năm 2001 đến năm 2007), và bây giờ đại diện cho khoảng 1% tổng số cho vay của ngân hàng. Các thể chế quan trọng bao gồm tiền tiết kiệm và cho vay, tín dụng công đoàn, ngân hàng phát triển chính phủ, "non-bank banks", bảo lãnh kho bãi, công ty trái phiếu và trao đổi các doanh nghiệp nước ngoài.
Một làn sóng của việc mua lại đã khiến cho ngành tài chính của México rơi vào trong tay của nước ngoài. Các ngân hàng nước ngoài của họ hoạt động với các chi nhánh cạnh tranh với các doanh nghiệp hoạt động độc lập về tài chính như các ngân hàng thương mại, môi giới chứng khoán và nhà ở, các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí của các quản trị viên, cùng các quỹ và các công ty cho thuê. Các tổ chức quan trọng bao gồm tổ chức tiền tiết kiệm và cho vay, các tổ hợp tín dụng, ngân hàng phát triển của chính phủ, "non-bank banks", bảo lãnh kho bãi, trái phiếu các công ty trong và ngoài nước - các doanh nghiệp trao đổi.
===== Thị trường chứng khoán =====
México đã có một thị trường chứng khoán, sở giao dịch chứng khoán México (Bolsa Mexicana de Valores, được gọi là BOLSA). Thị trường đã phát triển vững chắc, với những chỉ số chính tăng hơn 150% trong năm 2003-2005. Nó là nơi diễn ra trao đổi chứng khoán lớn thứ hai của Mỹ Latin, chỉ sau Brasil. Tuy nhiên, các BOLSA vẫn còn tương đối nhỏ so với những nơi trao đổi khác ở Bắc Mỹ. Sở giao dịch chứng khoán New York lớn hơn nó khoảng 100 lần; Sở giao dịch chứng khoán Toronto lớn hơn nó sáu lần.
Indice de Precios y Cotizaciones (IPC, chỉ số bình quân chung) là dãy đánh dấu cổ chỉ mục phiếu trên BOLSA. Trong năm 2005, IPC đã biến động 37.8%, đạt được 17.802,71 điểm từ 12.917,88 điểm, đã tăng trở lại với nền kinh tế México mạnh mẽ hơn và lãi suất thấp hơn. Nó tiếp tục tăng qua các mốc vào đầu năm 2006, và đạt tới 19.272,63 điểm vào cuối tháng 3 năm 2006. Các thị trường chứng khoán cũng gửi một bản ghi thấp tỷ lệ việc làm, theo các ngân hàng trung ương. Thị trường chứng khoán địa phương capitalisation tổng US$236bn tại cuối năm 2005, tăng từ US$170bn tại cuối năm 2004. Kể từ tháng 3 năm 2006 đã có 135 công ty được liệt kê, giảm từ 153 công ty so với năm trước. Chỉ nắm chắc danh sách các công ty là nước ngoài. Hầu hết là từ thành phố Mexico hoặc Monterrey; các công ty từ hai thành phố trên chiếm 67% tổng số danh sách các công ty.
IPC bao gồm một mẫu của 35 cổ phiếu trọng yếu của họ trên thị trường capitalisation. Những cổ phiếu có giá trị cao là hãng viễn thông Hoa Kỳ, tổ chức quản lý công ty với công ty điện thoại di động lớn nhất của Mỹ Latin, América Móvil; Telefonos de Mexico, công ty điện thoại lớn nhất của México; Grupo Bimbo, hãng sản xuất bánh mì lớn nhất của México và Mỹ Latin; và Wal-Mart de México, một chi nhánh bán lẻ khổng lồ của Hoa Kỳ. Mẫu cỏo phiếu của IPC được điều chỉnh sáu tháng một lần, với lựa chọn nhằm mục đích bao gồm hầu hết các nước trong điều khoản của cổ phiếu có giá trị, khối lượng và số lượng kinh doanh.
Thị trường chứng khoán của México là liên kết chặt chẽ để phát triển tại Hoa Kỳ. Vì vậy, sự dễ thay đổi ở trao đổi cổ phiếu New York và NASDAQ, cũng như thay đổi tỷ lệ lãi suất và kỳ vọng kinh tế ở Hoa Kỳ, có thể chỉ đạo việc thực hiện của Mexican equities. Điều này là cả hai bởi vì của nền kinh tế bị lệ thuộc của México vào Hoa Kỳ và khối lượng lớn của kinh doanh ở Mexican equities qua American Depositary Receipts (ADRs). Hiện tại, sự suy giảm trong giá trị của đồng đô la khiến cho không phải chỉ thị trường Hoa Kỳ mà còn bao gồm cả thị trường của México, hấp dẫn hơn.
Mặc dù gần đây đạt được một số lợi nhuận, các nhà đầu tư vẫn thận trọng trong việc đầu tư lần thứ hai-Phát hành lần đầu ra công chúng (IPO). Những người mua thông tin mới đã thất vọng sau khi giá giảm xuống trong rất nhiều loại hình kích cỡ các công ty làm dịch vụ trong năm 1996 và 1997. IPO hoạt động ở México vẫn còn ấm và trên thị trường thứ hai - cho các tầng IPO là nhìn thấy vừa đủ sống. Đã có ba IPO trong năm 2005.
== Các chính sách chính phủ và Ngân hàng trung ương ==
Banco de México là ngân hàng trung ương của México, một tổ chức công cộng được tự điều khiển bởi nội bộ với thống đốc ngân hàng được tổng thống bổ nhiệm và được chấp thuận bởi lập pháp mà nó có thể hoàn toàn chịu trách nhiệm. Banco de México's có chức năng đã được vạch ra trong bài viết thứ 28 của Hiến pháp và tiếp tục được mở rộng trong luật tiền tệ của Liên hiệp Mexico. Banco de México's có mục tiêu chính là để đạt được sự ổn định trong sức mua của các loại tiền tệ quốc gia. Đó cũng là người cho vay cứu cánh cuối cùng.
=== Chính sách tiền tệ ===
México có một chế tỷ giá thả nổi. Nguồn gốc của cơ chế tỷ giá thả nổi với các cải cách bắt đầu sau việc đồng peso sụp đổ vào tháng 12 năm 1994 sau đó đã có một tham gia không bền để một dải ngắn. Theo hệ thống mới, Banco de México bây giờ không đưa ra cam kết với cấp độ của các tỷ lệ trao đổi Peso, mặc dù nó có phải sử dụng một cơ chế tự động để tích lũy nghiệp nước ngoài. Nó cũng có các công cụ nhằm mục đích smoothing out volatility. Ủy ban tỷ lệ tỷ giá ngoại tệ đặt ra những chính sách; nó được tạo ra trong sáu thành viên- ba người từ Bộ Tài chính và Tín dụng công cộng (Secretaría de Hacienda y Crédito Publico—SHCP) và ngân hàng trung ương, với SHCP đang nắm giữ những quyết định bình chọn.
Trong tháng 8 năm 1996, Banco de México bắt đầu một cơ chế để thu mua ngoại tệ nước ngoài khi đồng Peso là mạnh, mà không cần đưa ra những tín hiệu về một thị trường mục tiêu nhiều cho việc trao đổi tỷ lệ. Các kết quả cao của việc dự trữ, chủ yếu là doanh thu từ dầu mỏ, đã giúp cải thiện các điều khoản và điều kiện về nợ México nơi trên thị trường nước ngoài. Tuy nhiên, có mối quan tâm rằng chính phủ quá dựa rất nhiều vào thu nhập từ dầu mỏ để xây dựng một cơ sở dự trữ mạnh. Theo ngân hàng trung ương, dự trữ quốc tế đã đứng tại mức $75.8 tỷ đô la Mỹ trong năm 2007. Trong tháng 5 năm 2003, Banco de México đưa ra một chương trình để bán đô la Mỹ thông qua một cuộc đấu giá hàng tháng, với mục tiêu duy trì ổn định, nhưng vừa, mức độ dự trữ.
Từ ngày 1 tháng 4 năm 1998 đến ngày 1 tháng 4 năm 2008, các thương mại xung quanh đồng Peso có một loạt các thay đổi từ $ 8.46 cho mỗi $ MXN trên 1,00 USD vào 21 tháng 4 năm 1998 đến $ 11,69 cho mỗi MXN $ 1,00 USD vào tháng 11 năm 2004, 10 năm đỉnh khấu hao 38,18% giữa hai thái cực tham chiếu ngày trước khi khôi phục.
Sau khi một cuộc tấn công của cuộc khủng hoảng tín dụng nhanh ở Hoa Kỳ trong tháng 10 năm 2008, đồng Peso đã có một tỷ giá trong suốt thời gian 1 tháng 10 năm 2008 đến 1 tháng 4 năm 2009 dao động từ cao nhất đến thấp nhất giữa $ 10.96 MXN $ 1,00 USD cho mỗi vào ngày 1 tháng 10 năm 2008 đến $ 15,42 cho mỗi MXN $ 1.00 USD trong ngày 9 tháng 3 năm 2009, một đỉnh ytd khấu hao của 28,92% những người trong thời gian sáu tháng giữa hai ngày cực tham khảo trước khi khôi phục.
Từ $ 11,69 tỷ lệ thấp trong thời gian 2004 đến $ 15,42 tỷ lệ thấp trong thời gian 2009, giảm giá đồng peso 31,91% trong đó bao gồm span the US recession coinciding Chiến tranh Iraq năm 2003 và 2004 đến Hoa Kỳ & khủng hoảng tín dụng toàn cầu năm 2008.
Bao gồm một số chuyên gia phân tích tại Goldman Sachs người coined thuật ngữ BRIC trong tham chiếu đến tăng trưởng kinh tế của Brasil, Nga, Ấn Độ, và Trung Quốc cho mục đích tiếp thị cho rằng México là có được lần thứ 5 hay 6. Nền kinh tế lớn nhất trên thế giới vào năm 2050, phía sau Trung Quốc, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Brasil, và có thể Nga.
=== Hệ thống tiền tệ ===
Chính sách tiền tệ của México đã được sửa đổi sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 1994-1995, khi các nhà lãnh đạo nhà nước đã quyết định rằng việc duy trì sự ổn định giá chung là cách tốt nhất để góp phần vào việc duy trì tốc độ tăng trưởng của việc làm và hoạt động kinh tế. Kết quả là, Banco de México đã là mục tiêu chính trong việc duy trì sự ổn định sức mua của peso. Nó đặt ra một mục tiêu lạm phát, mà nó đòi hỏi phải định lượng tương ứng để thiết lập mục tiêu cho sự tăng trưởng của tiền tệ cơ sở và mở rộng mạng lưới tín dụng trong nước.
Các ngân hàng trung ương cũng giám sát và theo dõi sự tiến triển của một số chỉ tiêu kinh tế, chẳng hạn như tỷ giá trao đổi, sự khác biệt giữa bị quan sát và dự kiến lạm phát, kết quả của cuộc điều tra trong cộng đồng và các nhà chuyên môn về lạm phát kỳ vọng, phiên bản trên hợp đồng lao động tập thể, giá sản xuất, và số dư hiện tại và tài khoản vốn đầu tư.
Một cuộc tranh luận trên tiếp tục tăng lên nếu México nên chuyển sang một US-kiểu lãi suất-nhằm hệ thống mục tiêu. Quan chức chính phủ trong lợi ích của một sự thay đổi nói rằng hệ thống mới sẽ đem lại nhiều hơn trong việc kiểm soát lãi suất, đó là trở nên quan trọng hơn là cấp tín dụng tiêu dùng tăng.
Cho đến năm 2008, México được sử dụng một hệ thống duy nhất, trong các nước OECD, để kiểm soát lạm phát trong một cơ chế, gọi là corto (lit. "shortage") một cơ chế cho phép các ngân hàng trung ương đến ảnh hưởng của thị trường lãi suất rời hệ thống ngân hàng ngắn hạn của nó, hàng ngày nhu cầu về tiền bạc của một số tiền định trước. Nếu các ngân hàng trung ương muốn đẩy lãi suất cao hơn, nó tăng corto. Nếu nó muốn lãi suất thấp hơn, nó giảm các corto. Khởi đầu vào năm 2008, các ngân hàng trung ương sẽ thiết lập một referential lãi suất, như Federal Reserve Bank; Tuy nhiên sự chuyển đổi trong thời gian sẽ bao gồm việc sử dụng corto trong một số trường hợp.
== Thương mại ==
México là một nền kinh tế theo định hướng xuất khẩu. Đây là một điều quan trọng thể hiện sức mạnh thương mại như đo bằng giá trị của hàng hóa thương mại, và tạo ra cho đất nước số lượng lớn nhất các thoả thuận tự do thương mại. Trong năm 2005, México xếp thứ 15 trên thế giới về xuất khẩu hàng hóa và xếp thứ 12 trên thế giới về nhập khẩu hàng hóa với 12% hàng năm tăng tỷ lệ phần trăm trong tổng thương mại. Trong thực tế, từ năm 1991 đến năm 2005 thương mại của México tăng năm lần. México là nước xuất khẩu và nhập khẩu lớn nhất ở Mỹ Latin; trong năm 2005, riêng México đã xuất khẩu đạt $ 213,7 tỷ đô la Mỹ, gần tương đương với tổng xuất khẩu của Brasil, Argentina, Venezuela, Uruguay, và Paraguay. Tuy nhiên, thương mại của México được tổng hợp đầy đủ với các đối tác Bắc Mỹ: gần 90% xuất khẩu của México và 50% của nó là hàng nhập khẩu thương mại với Hoa Kỳ và Canada. Tuy nhiên, NAFTA đã không được sản xuất thương mại xoay hướng. Trong khi thương mại với Hoa Kỳ tăng 183% từ năm 1993-2002, và với Canada là 165%, các hợp đồng thương mại đã được hiển thị nhiều hơn cùng các kết quả ấn tượng: thương mại với Chile tăng 285%, với Costa Rica là 528% và Honduras là 420%. Thương mại với Liên Minh châu Âu đã tăng 105% so với cùng khoảng thời gian đó.
=== Những hiệp định Thương mại tự do ===
México đã tham gia Hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) trong năm 1986, và ngày nay là một hoạt động và tham gia xây dựng của Tổ chức thương mại thế giới. Trong nhiệm kỳ quản lý của tổng thống Fox đã thúc đẩy việc thành lập một Khu vực thương mại tự do châu Mỹ; Puebla phục vụ như là trụ sở tạm thời cho các đàm phán, và một số các thành phố khác hiện nay cho các ứng viên thường trực trụ sở, nếu đạt được thỏa thuận và triển khai thực hiện. Mexico đã ký 12 Hiệp định thương mại tự do với 44 quốc gia:
Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) (1994) với Hoa Kỳ và Canada;
Grupo de los tres, Group of the three [countries], or G-3 (1995) với Colombia và Venezuela; sau đó quyết định để chấm dứt các thỏa thuận trong năm 2006; México với thông báo của họ chủ ý mời Ecuador, Peru hay Panama như là một thay thế;
Hiệp định thương mại tự do với Costa Rica (1995);
Hiệp định thương mại tự do với Bolivia (1995);
Hiệp định thương mại tự do với Nicaragua (1998);
Hiệp định thương mại tự do với Chile (1999);
Hiệp định thương mại tự do với Liên minh châu Âu (2000);
Hiệp định thương mại tự do với Israel (2000);
TN Hiệp định thương mại tự do (2001), với Guatemala, El Salvador và Honduras;
Hiệp định thương mại tự do với Hiệp hội thương mại tự do châu Âu (EFTA), tham gia bởi Iceland, Na Uy, Liechtenstein và Thụy Sĩ (2001);
Hiệp định thương mại tự do với Uruguay (2004)
Hiệp định thương mại tự do với Nhật (2005)
México đã thể hiện sự quan tâm của mình trở thành một liên kết cho các thành viên của Mercosur. Chính phủ Mexico cũng đã bắt đầu đàm phán với Hàn Quốc, Singapore, Pêru, và cũng mong muốn bắt đầu đàm phán với Úc cho một thỏa thuận thương mại giữa hai nước.
==== NAFTA ====
Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) cho đến nay là hiệp định quan trọng nhất trong các Hiệp định thương mại của México, đã được ký kết thể hiện cả hai mặt tính quan trọng của tương hỗ thương mại với các đối tác cũng như trong phạm vi của nó. Không giống như phần còn lại của các Hiệp định thương mại tự do mà México đã ký, NAFTA thêm nữa là toàn diện trong phạm vi của nó và đã được bổ sung bởi Hiệp định Bắc Mỹ về hợp tác môi trường (NAAEC) và Hiệp định về hợp tác lao động Bắc Mỹ (NAALC).
Thỏa thuận NAAEC là một phản ứng của những người bảo vệ môi trường lo ngại rằng các công ty sẽ xin chỗ để México hoặc Hoa Kỳ sẽ có điều kiện thấp hơn các tiêu chuẩn của nó, nếu ba nước đã không đạt được một nhất trí quy định về môi trường. NAAEC, trong một mục tiêu nhằm mục đích để được nhiều hơn một bộ các quy định về môi trường, thành lập Ủy ban Bắc Mỹ về hợp tác môi trường (NACEC), một cơ chế cho các địa chỉ thương mại và các vấn đề môi trường, Ngân hàng Phát triển Bắc Mỹ (NADBank) cho việc hỗ trợ tài chính và đầu tư trong giảm thiểu ô nhiễm và Border Environmental Cooperation Commission (BECC). Ngân hàng NADBank và BECC đã cung cấp lợi ích cho kinh tế México bởi tài trợ 36 dự án, phần lớn trong các khu vực về nước. Bổ sung bởi NAFTA với NAAEC, nó đã được gắn nhãn "greenest" thỏa thuận thương mại.
NAALC bổ sung vào NAFTA nhằm tạo ra một nền tảng cho hợp tác giữa ba thành viên cho việc giải quyết các vấn đề về lao động, cũng như nhiều hơn để thúc đẩy hợp tác giữa công đoàn và các tổ chức xã hội trong cả ba nước, để đấu tranh cho cải thiện điều kiện lao động. Mặc dù hầu hết các kinh tế đồng ý rằng đó là khó khăn để đánh giá những tác động trực tiếp của các NAALC, đó là đồng ý rằng có được một hội tụ các tiêu chuẩn về lao động ở Bắc Mỹ. Do hạn chế của nó, tuy nhiên NAALC đã không được sản xuất (và trong thực tế đã không được để đạt được) hội tụ trong việc làm, tiền lương và các xu hướng sản xuất ở Bắc Mỹ.
Thỏa thuận ngắn gọn trong tư tưởng tự do di chuyển của người dân trên khắp ba quốc gia. Trong một giới hạn theo quy cách, tuy nhiên người nhập cư của Canada và México với tay nghề công nhân đến Hoa Kỳ đã được cho phép theo TN status. NAFTA cho phép đối với một danh mục các nghề, hầu hết mọi người nhập cư đều phải có ít nhất một văn bằng Đại học, do đó công dân México hoặc một công dân Canada có thể yêu cầu tạm thời và tình trạng di trú TN tới Hoa Kỳ. Không giống như yêu cầu về thị thực như các quốc gia khác, tình trạng TN không yêu cầu phải tài trợ, nhưng chỉ đơn giản là có một công việc như là cung cấp thư từ.
Toàn bộ lợi ích của NAFTA đã được hạn định bởi một số các nhà kinh tế, kết quả đã được báo cáo trong một số ấn phẩm như Ngân hàng Thế giới Số liệu thống kê cho các bài học từ NAFTA cho LA và Caribê, NAFTA's Impact on North America, và NAFTA đã đi thăm lại của Viện Kinh tế Quốc tế. Họ đánh giá rằng NAFTA đã đóng góp tích cực cho kinh tế México, giúp giảm tỷ lệ đói nghèo, thu nhập thực tế và lương có tăng, ngay cả sau khi tính toán cho cả cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1994-1995. Tuy nhiên, họ cũng ghi rõ rằng nó là không đầy đủ, hoặc đủ nhanh để sản xuất kinh doanh tập trung, và cũng không phải để giảm tỷ lệ đói nghèo đáng kể hoặc để thúc đẩy cao hơn tỷ lệ tăng trưởng. Có một số đề xuất rằng, để hoàn toàn được hưởng lợi từ thoả thuận thì México cần đầu tư trong giáo dục và đẩy mạnh đổi mới cũng như tại cơ sở hạ tầng và sản xuất nông nghiệp.
Với niềm tin phổ biến, các chương trình maquiladora đã được đặt ở xa trước khi có NAFTA, trong một số ý nghĩa hẹn gặp tất cả các con đường trở về năm 1965. Một nhà sản xuất maquiladora hoạt động bằng nguyên liệu nhập khẩu vào México hoặc miễn thuế (NAFTA), hoặc tại một tỷ lệ giảm thuế trong một cơ sở tạm thời (18 tháng) và sau đó doanh nghiệp México bằng cách sử dụng tương đối ít tốn kém chi phí lao động để hoàn thành sản xuất hàng hoá phục vụ cho xuất khẩu. Trước khi có NAFTA các công ty maquiladora nhập khẩu nguyên liệu từ bất kỳ nơi nào trên thế giới được cho thuế thích hợp theo giá của chính phủ México trong lâu dài như là kết thúc tốt đẹp đã được xuất khẩu. Hoa Kỳ, trước khi có NAFTA, Maquiladora được cho phép, sản xuất hàng hóa để được nhập khẩu vào Hoa Kỳ với thuế suất chỉ áp dụng cho các giá trị của Hoa Kỳ không được sử dụng nguyên vật liệu để sản xuất cho tốt, vì vậy việc giảm thuế liên quan đến các quốc gia khác. NAFTA đã loại bỏ tất cả các thuế về hàng hoá giữa hai nước, nhưng maquiladora cho các ngành công nghiệp tăng đáng kể tỷ lệ thuế đối với hàng hóa có nguồn gốc từ bên ngoài NAFTA.
Do tổng khối lượng thương mại giữa México và Hoa Kỳ, chỉ có một số ít các tranh chấp thương mại, liên quan đến một lượng tương đối nhỏ số tiền đô la. Những tranh chấp nói chung là ổn định trong khối WTO hay NAFTA hoặc thông qua đàm phán giữa hai nước. Những lĩnh vực quan trọng nhất của xích mích liên quan đến vận tải, đường, high fructose corn syrup, và một số sản phẩm nông nghiệp khác.
=== Thương mại Mexico thuận lợi & cạnh tranh ===
Một nghiên cứu, là một phần của dự án Trade Costs and Facilitation Project do Ngân hàng thế giới xuất bản cho thấy rằng México có tiềm năng để tăng dòng chảy thương mại và tăng trưởng kinh tế thông qua cải cách thương mại một cách dễ dàng. Nghiên cứu kiểm tra khả năng tác động của cải cách thương mại dễ dàng trong bốn khu vực: hiệu suất cảng, hải quan hành chính, công nghệ thông tin, các quy định môi trường (bao gồm cả các tiêu chuẩn).
Nghiên cứu các dự án tổng thể cho thấy lợi tức từ cải cách trong nước đã thu được kết quả là $ 31,8 tỷ đô la Mỹ, tương đương với 22,4% tổng số sản xuất của México để phục vụ cho xuất khẩu trong năm 2000-2003. Về mặt hàng nhập khẩu, con số tương ứng là $ 17,1 tỷ đô la Mỹ tương ứng với 11,2%. Gia tăng trong xuất khẩu, bao gồm cả dệt may, sẽ cho kết quả chủ yếu là từ các cải cách có hiệu quả của hiệu suất cảng và các quy định môi trường. Xuất khẩu các thiết bị phương tiện giao thông được dự kiến sẽ tăng bởi lợi ích lớn nhất từ cải cách trong hiệu suất cảng, trong khi xuất khẩu thực phẩm và phần lớn máy móc thiết bị sẽ đạt được kết quả từ các cải cách trong các quy định môi trường. Trong mặt hàng nhập khẩu, México cải thiện trong hiệu suất cảng sẽ xuất hiện cho được những yếu tố quan trọng, mặc dù các phương tiện giao thông cho hàng nhập khẩu thiết bị, cải tiến dịch vụ trong lĩnh vực cơ sở hạ tầng cũng cho thấy được tầm quan trọng của bản thân nó.
== Xem thêm ==
Cơ sở hạ tầng
Thông tin liên lạc ở Mexico
Giao thông vận tải ở Mexico
Danh sách các công ty Mexico
N-11
Nhân khẩu học của Mexico
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Tây Ban Nha) Hội đồng thành phố Mexico cho phát triển kinh tế và xã hội
(tiếng Tây Ban Nha) Mexico phát triển mở cửa
(tiếng Anh) OECD's Mexico country Web site và OECD Khảo sát về kinh tế của Mexico |
tiểu bang hoa kỳ.txt | Một tiểu bang Hoa Kỳ (tiếng Anh: U.S. state) là một trong số 50 bang "tạo thành" Hoa Kỳ. Mỗi tiểu bang chia sẻ chủ quyền của mình với chính phủ liên bang Hoa Kỳ. Theo luật Hoa Kỳ, các tiểu bang được xem là các thực thể có chủ quyền, nghĩa là quyền lực của các tiểu bang trực tiếp đến từ người dân của các tiểu bang đó chứ không phải là đến từ chính phủ liên bang. Chính phủ liên bang Hoa Kỳ lúc đầu được thành lập khi các tiểu quốc (bang) có chủ quyền gửi một số đại diện cho chủ quyền của mình đến tham gia vào chính phủ trung ương. Tuy nhiên chủ quyền mà họ gửi đến trung ương không phải là toàn bộ vì vậy chính phủ liên bang được hưởng chủ quyền có giới hạn và các tiểu bang vẫn duy trì được bất cứ phần chủ quyền nào mà họ chưa từng nhượng lại cho chính phủ liên bang qua đại diện của họ. Vì sự chia sẻ chủ quyền như thế nên một người Mỹ vừa là công dân của toàn liên bang vừa là công dân của tiểu bang mình. Bốn tiểu bang sử dụng danh xưng chính thức là thịnh vượng chung hơn là tiểu bang. Tình trạng công dân của tiểu bang thì linh động và việc đi lại giữa các tiểu bang là tự do, không cần có sự chấp thuận của chính phủ liên bang hay tiểu bang (ngoại trừ những trường hợp tội phạm đang bị quản thúc).
Hiến pháp Hoa Kỳ phân chia quyền lực giữa hai cấp bậc chính quyền. Bằng việc chấp thuận thông qua Hiến pháp Hoa Kỳ, người dân của các tiểu bang đã thuyên chuyển một số quyền lực có giới hạn của chủ quyền tiểu bang sang cho chính phủ liên bang. Theo tu chính án 10, tất cả quyền lực chưa được trao cho chính phủ liên bang Hoa Kỳ, hoặc bị cấm chuyển giao, đều được các tiểu bang hoặc nhân dân tiểu bang đó giữ lại. Trong lịch sử, các nhiệm vụ như an ninh công cộng (có nghĩa là kiềm chế tội phạm), giáo dục công cộng, ý tế công cộng, giao thông và hạ tầng cơ sở thông thường được xem là trách nhiệm chính của tiểu bang mặc dù tất cả những nhiệm vụ này hiện nay cũng do chính phủ liên bang tài trợ và áp đặt những quy định khá nổi bật (phần lớn dựa vào điều khoản nói về thương mại, điều khoản về thuế và chi tiêu, và điều khoản về nhu yếu và hợp lý được nêu trong Hiến pháp Hoa Kỳ).
Theo thời gian, Hiến pháp Hoa Kỳ được tu chính nhiều lần. Kết quả là sự diễn giải và việc áp dụng các điều khoản của Hiến pháp cũng thay đổi theo. Chiều hướng tổng thể hiện nay là đang đi dần về hướng tập quyền và hợp nhất với việc chính phủ liên bang đóng một vai trò rộng lớn hơn nhiều so với xưa kia. Có một cuộc tranh luận đang tiếp diễn về quyền của các tiểu bang liên quan đến tầm mức và bản chất quyền lực và chủ quyền của các tiểu bang so với chính phủ liên bang cũng như quyền của từng cá nhân.
Quốc hội Hoa Kỳ có thể thu nhận thêm các tiểu bang mới trên căn bản bình quyền với các tiểu bang hiện hữu; điều này đã xảy ra gần đây nhất là vào năm 1959 khi Hawaii và Alaska được thu nhận vào liên bang. Trong tương lai, Quốc hội Hoa Kỳ có thể sẽ xem xét thu nhận Puerto Rico thành tiểu bang thứ 51 vì theo cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức vào ngày 6 tháng 11 năm 2012, cử tri Puerto Rico đã bác bỏ xít xao tình trạng chính trị hiện tại (câu hỏi thứ nhất) và chấp thuận áp đảo việc trở thành tiểu bang của Hoa Kỳ như là một chọn lựa ưng ý (câu hỏi thứ hai). Hiến pháp Hoa Kỳ không có đề cập đến câu hỏi rằng liệu các tiểu bang có quyền đơn phương rời bỏ, hay ly khai khỏi liên bang hay không nhưng Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã có phán quyết rằng ly khai là vi hiến, đây là một lập trường bị tác động một phần bởi kết quả của cuộc Nội chiến Hoa Kỳ.
== Quyền lực của liên bang ==
Từ thập niên 1930, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ đã diễn giải Mệnh đề Thương mại nằm trong Hiến pháp Hoa Kỳ theo cách mở rộng làm cho tầm mức quyền lực liên bang mở rộng đáng kể. Ví dụ, Quốc hội Hoa Kỳ có thể đưa ra những quy định kiểm soát giao thông đường sắt nào chạy qua ranh giới giữa các tiểu bang. Tuy nhiên quốc hội cũng có thể đưa ra những quy định kiểm soát giao thông đường sắt chỉ nằm hoàn toàn bên trong một tiểu bang, dựa trên ý tưởng cho rằng giao thông nằm hoàn toàn trong một tiểu bang vẫn có thể gây ra ảnh hướng đối với nền thương mại liên-tiểu bang.
Một nguồn quyền lực khác của Quốc hội là quyền chi tiêu - đó là khả năng của quốc hội áp đặt các loại thuế đồng bộ trên khắp Hoa Kỳ và rồi phân phát nguồn tiền thuế thu được trở về các tiểu bang (theo những điều kiện mà Quốc hội ấn định). Một ví dụ cổ điển của vấn đề này là hệ thống quốc lộ do liên bang tài trợ trong đó bao gồm Hệ thống Xa lộ Liên tiểu bang. Hệ thống này được chính phủ liên bang tài trợ và quản lý nhưng nó cũng phục vụ lợi ích của các tiểu bang. Bằng cách đe dọa giữ lấy tiền quỹ xa lộ liên bang, như được phán quyết trong vụ kiện South Dakota đối đầu Dole, Quốc hội Hoa Kỳ đã có thể gây áp lực với các nghị viện tiểu bang thông qua vô số các luật lệ khác nhau. Mặc dù một số tiểu bang chống đối rằng điều này vi phạm quyền của tiểu bang nhưng Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ vẫn giữ nguyên phán quyết theo hướng thuận lợi cho Quốc hội Hoa Kỳ vì cho rằng Quốc hội đã sử dụng hợp lý Mệnh đề Chi tiêu nằm trong Hiến pháp Hoa Kỳ.
== Chính quyền tiểu bang ==
Mỗi tiểu bang được quyền tự do tổ chức chính quyền cá biệt của mình theo bất cứ hình thức nào mà mình thích miễn sao chính quyền tiểu bang phải tuân thủ một điều kiện duy nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ rằng họ có "một chính thể cộng hòa" (có nghĩa rằng mỗi chính phủ tiểu bang phải là một chính phủ cộng hòa; nó không có ý nói đến đảng Cộng hòa, là đảng chưa được thành lập cho mãi đến năm 1854—trên 60 năm sau khi Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua). Trên thực tế, mỗi tiểu bang đều áp dụng một hệ thống chính quyền gồm ba ngành (lập pháp, hành pháp và tư pháp) giống như chính phủ liên bang - mặc dù điều này không phải là bắt buộc.
=== Hành pháp ===
Trong khi chỉ có một tổng thống liên bang, người này sau đó chọn lựa các thành viên nội các của mình để những thành viên này chịu trách nhiệm đối với mình thì đa số các tiểu bang có một "hệ thống hành pháp đa diện" trong đó nhiều thành viên khác nhau của ngành hành pháp được người dân trực tiếp bầu lên. Như thế, những người này phục vụ trong vai trò là thành viên của ngành hành pháp nhưng không phải chịu sự kiềm chế hay chi phối của thống đốc và thống đốc cũng không thể bãi chức họ.
=== Lập pháp ===
Ngành lập pháp của 49 trong số 50 tiểu bang gồm có hai viện: một hạ viện (tiếng Anh gọi là House of Representatives, State Assembly hay House of Delegates) và một thượng viện nhỏ hơn, luôn được gọi trong tiếng Anh là Senate. Ngoại lệ là ngành lập pháp độc viện của tiểu bang Nebraska có một viện duy nhất.
Khác biệt chính giữa các tiểu bang là rằng nhiều tiểu bang ít dân số có các nghị viện bán-thời gian trong khi các tiểu bang có dân số đông thì có chiều hướng là những nghị viện toàn thời gian. Tiểu bang Texas, tiểu bang đông dân thứ hai, là một ngoại lệ đáng nói: trừ khi có các phiên họp đặc biệt, ngành lập pháp Texas bị pháp luật hạn chế thời gian hoạt động là 140 ngày cho mỗi hai năm.
Trong vụ kiện Baker đối đầu Carr (1962) và Reynolds đối đầu Sims (1964), Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ phán quyết rằng tất cả các tiểu bang phải tuân thủ việc bầu lên ngành lập pháp của mình trong một thể thức sao cho mỗi công dân tiểu bang đều có một cấp độ đại diện tương đồng. Điều này được hiểu theo ý nghĩa phổ thông là "một người một phiếu bầu". Trong thực tế, đa số tiểu bang chọn bầu các nhà lập pháp theo từng khu vực và chỉ chọn một người duy nhất cho từng khu vực bầu cử. Các khu vực bầu cử như thế có dân số xấp xỉ bằng nhau. Một số tiểu bang khác như Maryland và Vermont, phân chia tiểu bang của mình thành những khu vực bầu cử khác nhau: có khu chỉ chọn duy nhất một thành viên lập pháp, có khu chọn nhiều thành viên lập pháp tùy thuộc vào dân số của từng khu. Ví dụ khu vực bầu cử chọn hai đại biểu phải có dân số xấp xỉ gấp đôi khu bầu cử chọn một đại biểu và theo tỉ lệ như vậy cho các khu bầu cử chọn nhiều đại biểu hơn.
=== Tư pháp ===
Tiểu bang cũng có thể tổ chức hệ thống tư pháp khác biệt so với hệ thống tư pháp liên bang miễn sao các tòa án này bảo vệ quyền hiến định của công dân tiểu bang theo đúng trình tự pháp lý công chính. Đa số tiểu bang có một tòa án cấp bậc xét xử được gọi là District Court hay Superior court, một tòa án thượng thẩm cấp một thường được gọi là Court of Appeal hay Appeals, và một tối cao pháp viện. Tuy nhiên, tiểu bang Oklahoma và Texas có các tòa án cấp bật cao nhất riêng biệt để xem xét chống án cho các vụ án tội phạm. Tiểu bang New York nổi tiếng vì sử dụng thuật từ khác thường như việc tòa án xét xử được gọi là Tối cao Pháp viện. Các vụ chống án được đưa đến Tối cao Pháp viện thuộc Phân bộ Thượng thẩm, và từ đó được đưa lên Tòa Thượng thẩm. Đa số tiểu bang sử dụng luật phổ thông của Anh làm căn bản cho hệ thống pháp lý của mình, trừ tiểu bang Louisiana là đặc biệt vì áp dụng phần lớn hệ thống pháp lý của mình dựa trên căn bản luật dân sự của Pháp.
Chỉ có một ít tiểu bang chọn lựa việc cho phép các quan tòa tại các toà án tiểu bang phục vụ trọn đời. Đa số các quan tòa tiểu bang trong đó có các thẩm phán tại các tòa án cấp cao nhất đều được bầu lên hay được bổ nhiệm với những nhiệm kỳ phục vụ có giới hạn số năm, ví dụ là 5 năm. Họ thường được bầu lại hay bổ nhiệm lại nếu như họ được xét thấy là làm việc đáng được ngồi lại tại chức.
=== Ngân sách ===
Năm 2010, mục chi tiêu lớn nhất từ ngân sách của đa số các tiểu bang là hệ thống giáo dục công cộng.
Năm 2010, 41 tiểu bang trả lương cho nhân viên chính quyền nhiều hơn là trong lãnh vực tư nhân. Tiền lương trung bình nhiều hơn kể từ năm 2003 phần lớn là do giá cả chăm sóc sức khỏe tăng cao đối với các công nhân làm việc cho tư nhân và lợi ích hồi hưu gia tăng cho nhân viên chính quyền.
== Mối quan hệ ==
Theo Điền khoản 4 Hiến pháp Hoa Kỳ là điều khoản phác thảo ra mối quan hệ giữa các tiểu bang thì Quốc hội Hoa Kỳ có quyền cho phép các tiểu bang mới được gia nhập vào liên bang. Các tiểu bang được yêu cầu phải đặt niềm tin và tín nhiệm hoàn toàn đối với các đạo luật của ngành lập pháp và tòa án của nhau, thường thường bao gồm việc công nhận các bản khế ước pháp lý, hôn thú, các phán quyết đối với tội phạm, và đặc biệt là trước năm 1865 còn có tình trạng của người nô lệ. Nghiêm cấm các tiểu bang kỳ thị công dân của các tiểu bang khác về quyền cơ bản của họ chiếu theo Mệnh đề Miễn trừ và Đặc quyền (Privileges and Immunities Clause) trong Hiến pháp. Các tiểu bang được chính phủ liên bang bảo đảm về dân phòng và quân sự và ngược lại chính phủ liên bang cũng được yêu cầu là phải chắc chắn rằng mỗi tiểu bang vẫn luôn là một nền cộng hòa.
Bốn tiểu bang sử dụng danh xưng thịnh vượng chung hơn là tiểu bang. Tuy nhiên, đây là chỉ là hình thức khác biệt trên giấy tờ vì Hiến pháp Hoa Kỳ gọi chung tất cả là "các tiểu bang", như trong Điều khoản 1, Đoạn 2, Mệnh đề 1 của Hiến pháp nói về Hạ viện Hoa Kỳ có ghi rằng những dân biểu phải được bầu lên bởi người dân của "các tiểu bang". Hơn nữa, Điều khoản 1, Đoạn 3, Mệnh đề 1 nói về Thượng viện Hoa Kỳ có ghi rằng mỗi "tiểu bang" được hai thượng nghị sĩ. Như vậy, tất cả các thịnh vượng chung như đã nói ở trên đều được tính như là các tiểu bang.
== Gia nhập liên bang ==
Kể từ khi thành lập Hợp chúng quốc châu Mỹ (Hoa Kỳ), con số các tiểu bang mở rộng từ 13 lên đến 50. Hiến pháp Hoa Kỳ chỉ nói khá ngắn gọn về tiến trình mà các tiểu bang mới có thể được thêm vào liên bang như sau "các tiểu bang mới có thể được Quốc hội Hoa Kỳ cho phép gia nhập" và cấm một tiểu bang mới được thành lập từ lãnh thổ của một tiểu bang hiện hữu, hay nhập hai hoặc nhiều tiểu bang lại thành một mà không có sự ưng thuận của cả Quốc hội Hoa Kỳ và tất cả các nghị viện tiểu bang có liên quan.
Trong thực tế, đa số các tiểu bang được phép gia nhập liên bang, sau 13 tiểu bang ban đầu, đều được thành lập từ các lãnh thổ hợp nhất có tổ chức. Các lãnh thổ này là những vùng đất nằm dưới chủ quyền của chính phủ liên bang nhưng không phải là một phần đất nào của bất cứ tiểu bang nào. Phần lớn là những vùng đất mới mà Hoa Kỳ chiếm được hay thu được khi mở rộng lãnh thổ trong lịch sử. Quốc hội Hoa Kỳ sử dụng Mệnh đề Lãnh thổ nằm trong Điều khoản IV, Đoạn 3, Hiến pháp Hoa Kỳ để tổ chức chính quyền tự trị cho các lãnh thổ này nhưng chúng vẫn nằm dưới thẩm quyền toàn phần của Quốc hội. Các trường hợp ngoại lệ còn gồm có ba tiểu bang đã được tách ra từ phần đất của các tiểu bang gốc với sự cho phép của nghị viện của các tiểu bang đó: Vermont, tiểu bang thứ 14; Kentucky, tiểu bang thứ 15; Tây Virginia, tiểu bang thứ 36; và rồi Texas, một Cộng hòa Texas độc lập trong một thập niên, tiểu bang thứ 34; và California, được gia nhập liên bang vào năm 1850 trực tiếp từ phần đất mới thu được từ tay México.
Nói chung, chính quyền được tổ chức của một lãnh thổ luôn tìm cách tạo cho dân chúng của mình mong muốn được trở thành tiểu bang. Lúc đó, Quốc hội chỉ đạo cho chính quyền lãnh thổ tổ chức một hội nghị hiến pháp để viết ra hiến pháp tiểu bang. Sau khi hiến pháp tiểu bang được chấp thuận, Quốc hội Hoa Kỳ luôn chấp thuận cho phép lãnh thổ đó trở thành tiểu bang. Những phác thảo tổng thể trong tiến trình này được thiết lập bởi Sắc lệnh Tây Bắc (Northwest Ordinance) năm 1787 mà đã có từ trước khi Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua.
Tuy nhiên, Quốc hội có quyền lực tối hậu đối với việc cho phép các tiểu bang mới gia nhập liên bang và không bị ràng buộc phải theo đúng tiến trình. Một số ít tiểu bang của Hoa Kỳ (không kể 13 tiểu bang gốc) chưa bao giờ được tổ chức thành những lãnh thổ của chính phủ liên bang nhưng vẫn được chấp thuận gia nhập liên bang:
Vermont, trên thực tế là một nước cộng hòa độc lập tuy chưa được công nhận cho đến khi gia nhập liên bang năm 1791
Kentucky, một phần đất của Virginia cho đến khi gia nhập liên bang năm 1792
Maine, một phần đất của Massachusetts cho đến khi gia nhập liên bang năm 1820 theo sau Thỏa ước Missouri
Texas, một nước cộng hòa độc lập được công nhận cho đến khi gian nhập liên bang năm 1845
California, được lập thành tiểu bang (như một phần của Thỏa ước 1850) từ lãnh thổ chưa được tổ chức của Nhượng địa Mexico năm 1850 mà không phải trải qua thời kỳ làm lãnh thổ được tổ chức
Tây Virginia, được thành lập từ những vùng đất của Virginia muốn tái gia nhập vào liên bang năm 1863 sau khi Virginia ly khai liên bang năm 1861 để gia nhập Liên minh miền Nam Hoa Kỳ
Quốc hội Hoa Kỳ cũng không bị bắt buộc phải thu nhận các tiểu bang mới thậm chí tại những vùng mà dân chúng tỏ ra mong muốn trở thành tiểu bang của Hoa Kỳ. Ví dụ, Cộng hòa Texas đã yêu cầu Hoa Kỳ sát nhập mình vào liên bang năm 1837, nhưng vì Hoa Kỳ sợ phải có xung đột với Mexico nên Hoa Kỳ phải trì hoãn thu nhận Texas đến 9 năm. Lãnh thổ Utah bị từ chối xin gia nhập liên bang trong nhiều thập niên vì không hài lòng với sự chi phối của Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô tại lãnh thổ. Giáo hội này muốn đặt tên cho vùng này là "Deseret" (Kinh thánh Đạo Mormon) vì liên hệ của giáo hội với Đạo Mormon, và đặc biệt nhất là sự thực hành chế độ đa thê ngày đó của Đạo Mormon. Một khi được thành lập, ranh giới của các tiểu bang phần lớn là không thay đổi. Ngoại trừ các trường hợp như việc Maryland và Virginia nhượng đất của mình cho chính phủ liên bang thành lập Đặc khu Columbia (phần đất của Virginia sau đó được trả lại) và trường hợp lập ra các tiểu bang từ các tiểu bang đã có trong đó phải kể là việc thành lập tiểu bang Kentucky và Tây Virginia từ Virginia, Maine từ Massachusetts, và Tennessee từ Bắc Carolina.
=== Các tiểu bang mới khả dĩ ===
==== Puerto Rico ====
Ngày nay, có một vài lãnh thổ của Hoa Kỳ còn sót lại mà có thể có tiềm năng trở thành các tiểu bang mới. Ứng viên khả dĩ nhất có thể là Puerto Rico. Puerto Rico đã nằm dưới chủ quyền của chính phủ liên bang Hoa Kỳ hơn một thế kỷ và người Puerto Rico là công dân Hoa Kỳ kể từ năm 1917; nhưng tình trạng chính trị tối hậu của hòn đảo này vẫn chưa được định đoạt tính đến năm 2011. Vì là một lãnh thổ, không phải là tiểu bang của Hoa Kỳ nên cư dân của nó không có đại biểu có quyền biểu quyết trong Quốc hội Hoa Kỳ. Quốc hội Hoa Kỳ đã chỉ thị cho chính quyền địa phương tổ chức đại hội hiến pháp để viết ra Hiến pháp Puerto Rico năm 1951. Hiến pháp này được cử tri đoàn Puerto Rico, Quốc hội và Tổng thống Hoa Kỳ chấp thuận vào năm 1952. Puerto Rico chính thức đặt tên cho mình là "Thịnh vượng chung Puerto Rico". Hiện nay, Puerto Rico chỉ có một đại biểu không quyền biểu quyết trong Quốc hội Hoa Kỳ, được gọi là Ủy viên Cư dân Puerto Rico. Tổng thống George H. W. Bush ban hành một bản ghi nhớ ngày 30 tháng 11 năm 1992 đến các bộ trưởng và những người đứng đầu các cơ quan nhằm thiết lập mối quan hệ hành chính hiện thời giữa chính phủ liên bang và Thịnh vượng chung Puerto Rico. Bản ghi nhớ này chỉ thị cho tất cả các bộ hành chính, cơ quan và viên chức liên bang đối xử với Puerto Rico về mặt hành pháp giống như là một tiểu bang.
Chính quyền thịnh vượng chung đã tổ chức một số cuộc trưng cầu dân ý về vấn đề tình trạng chính trị trong một vài thập niên qua mặc dù Quốc hội Hoa Kỳ không công nhận những cuộc trưng cầu dân ý này là có giá trị; tất cả các cuộc trưng cầu cho thấy kết quả chiến thắng khích khao ủng hộ tình trạng chính trị như hiện nay hơn là trở thành tiểu bang trong khi đó vấn đề độc lập chỉ thu được một con số ít ỏi phiếu bầu. Ngày 23 tháng 12 năm 2000, Tổng thống Bill Clinton ký Lệnh hành pháp 13183, thiết lập Lực lượng Đặc nhiệm Tổng thống đặc trách về Tình trạng chính trị của Puerto Rico và những luật lệ thành viên cho nó. Đoạn 4 trong Lệnh hành pháp 13183 (như đã được tu chính bởi Lệnh hành pháp 13319) chỉ thị cho lực lượng đặc nhiệm "báo cáo các công tác của lực lượng cho tổng thống... về tiến triển đã được thực hiện trong việc quyết định tình trạng tối hậu của Puerto Rico".
Tổng thống George W. Bush ký thêm một tu chính án của Lệnh hành pháp 13183 ngày 3 tháng 12 năm 3, 2003, thành lập các đồng-chủ tọa hiện tại và chỉ thị cho lực lượng đặc nhiệm phát hành các bản báo cáo khi cần thiết, nhưng không dưới một lần báo cáo cho mỗi 2 năm. Tháng 12 năm 2005, lực lượng đặc nhiệm tổng thống đề nghị một loại trưng cầu dân ý mới về vấn đề này; nếu Quốc hội Hoa Kỳ biểu quyết theo như sự đề nghị của lực lượng đặc nhiệm thì nó sẽ trải đường cho các cuộc bầu cử được Quốc hội Hoa Kỳ hậu thuẫn lần đầu tiên về tình trạng chính trị của hòn đảo, và (có tiềm năng) hòn đảo trở thành tiểu bang vào năm 2011. Bản báo cáo tình trạng tháng 12 năm 2007 của lực lượng đặc nhiệm tái lập lại và xác nhận những lời đề nghị của lực lượng vào năm 2005.
Ngày 29 tháng 4 năm 2010, Hạ viện Hoa Kỳ biểu quyết với tỉ lệ 223–169 chấp thuận Đạo luật Dân chủ Puerto Rico 2010 nhằm tiến hành việc cho phép Puerto Rico tự quyết định xếp đặt một cuộc trưng cầu dân ý mới mà trải đường cho một cuộc biểu quyết do Quốc hội Hoa Kỳ hậu thuẫn lần đầu tiên về tình trạng chính trị của hòn đảo, và (có tiềm năng) trở thành tiểu bang của Hoa Kỳ vào năm 2011. Tuy nhiên, đạo luật này không được Thượng viện Hoa Kỳ chấp thuận và sau đó bị khai tử khi Quốc hội Hoa Kỳ lần thứ 111 khai mạc.
==== Washington D.C. ====
Ý định của những vị cha già dân tộc Mỹ là thủ đô của Hoa Kỳ phải ở một nơi trung lập, không thiên vị bất cứ tiểu bang nào; kết quả là, Đặc khu Columbia được thành lập năm 1800 để làm nơi làm việc chính thức của chính phủ liên bang. Cư dân của Đặc khu không có người đại diện toàn phần cho họ trong Quốc hội Hoa Kỳ cũng như họ không có một chính quyền được bầu lên có chủ quyền (cư dân của Đặc khu được chia 3 đại cử tri tổng thống theo tu chính án hiến pháp 23, và có một đại biểu không quyền biểu quyết trong Quốc hội Hoa Kỳ). Một số cư dân trong Đặc khu ủng hộ việc đặc khu trở thành tiểu bang với một số hình thức như - toàn thể đặc khu trở thành tiểu bang hay chỉ một phần nào đó của đặc khu và phần còn lại vẫn nằm dưới thẩm quyền liên bang. Mặc dù tình trạng tiểu bang tại Đặc khu vẫn luôn là câu hỏi chính trị sống động nhưng viễn cảnh vận động cho chiều hướng đó trong tương lai gần thì dường như mù mịt. Thay vào đó, người ta nhấn mạnh đến việc tiếp tục duy trì chính quyền tự quản trong khi đó mong muốn Đặc khu được ban cho một phiếu bầu tại Quốc hội.
Theo Điều khoản IV, Đoạn 3 Hiến pháp Hoa Kỳ, "các tiểu bang mới có thể được thu nhận vào liên bang này bởi Quốc hội Hoa Kỳ; nhưng không có tiểu bang mới nào được thành lập hay được dựng lên trong khu vực thẩm quyền của bất cứ tiểu bang nào khác; cũng không có bất cứ tiểu bang nào được thành lập bằng cách nhập hai hoặc nhiều hơn các tiểu bang lại với nhau, hay những phần đất của các tiểu bang mà không có sự ưng thuận của các nghị viện của các tiểu bang có liên quan cũng như của Quốc hội Hoa Kỳ." Đây là trường hợp khi Maine được tách ra khỏi Massachusetts; và khi Tây Virginia được tách ra từ Virginia trong cuộc Nội chiến Hoa Kỳ. Khi Texas được phép gia nhập vào liên bang năm 1845, nó lớn hơn bất cứ tiểu bang nào khác rất nhiều và đặc biệt là nó được quyền phân chia chính nó lên thành 5 tiểu bang khác nhau.
=== Những thực thể không được công nhận ===
Tiểu bang Franklin tồn tại khoảng bốn năm, không bao lâu sau khi kết thúc cuộc Cách mạng Mỹ nhưng nó chưa bao giờ được liên bang công nhận. Sau cùng liên bang công nhận tuyên bố chủ quyền của Bắc Carolina trên khu vực này. Đa số các tiểu bang mong muốn công nhận tiểu bang Franklin, nhưng con số tiểu bang ủng hộ thiếu 2/3 đa số cần thiết bắt buộc để thu nhận một lãnh thổ thành tiểu bang theo Các điều khoản Hợp bang. Sau này lãnh thổ bao gồm Franklin trở thành một phần của tiểu bang Tennessee.
Tiểu bang Jefferson
Ngày 24 tháng 7 năm 1859, cử tri đánh bại việc đề nghị thành lập tiểu bang Jefferson ở miền Nam Rặng Thạch Sơn. Ngày 24 tháng 10 năm 1859, thay vào đó cử tri chấp thuận việc thành lập Lãnh thổ Jefferson mà sau này được thay thế bởi Lãnh thổ Colorado ngày 28 tháng 2 năm 1861.
Năm 1915, một Tiểu bang Jefferson thứ hai được đề nghị cho khu vực rộng một phần ba Texas nằm ở phía bắc nhưng không đạt được đa số phiếu ủng hộ từ Quốc hội Hoa Kỳ.
Năm 1941, một Tiểu bang Jefferson thứ ba được đề nghị nằm trong khu vực phần lớn là nông thôn của miền Nam Oregon và miền Bắc California, nhưng bị hủy bỏ vì Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng. Kể từ đó việc đề nghị này vẫn đưa đưa ra một số lần nữa.
Tiểu bang Lincoln
Lincoln là một tiểu bang khác được đề nghị thành lập nhiều lần. Đại thể nó bao gồm phần phía đông của tiểu bang Washington và vùng cán chảo hay phần phía bắc của Idaho. Ban đầu nó được chính Idaho đề nghị năm 1864 bao gồm phần vùng cán chảo của Idaho, và lần nữa vào năm 1901 bao gồm Đông Washington. Các lần đề nghị được đưa ra vào năm 1996, 1999, và 2005.
Lincoln cũng là cái tên của một tiểu bang được đề nghị nhưng thất bại sau Nội chiến Hoa Kỳ năm 1869. Phần tây nam của Texas được đề nghị với Quốc hội Hoa Kỳ để thành lập một tiểu bang mới trong thời kỳ tái thiết chính phủ liên bang sau Nội chiến Hoa Kỳ
Tiểu bang Muskogee (tại Florida năm 1800), một tiểu bang không được thừa nhận, có dân số người bản thổ Mỹ rất đông
Tiểu bang Superior
Một tiểu bang được đề nghị thành lập từ bán đảo trên (Upper Peninsular) của tiểu bang Michigan (Michigan gồm có hai bán đảo không dính liền nhau: phía bắc là "bán đảo trên" và phía nam là "bán đảo dưới"). Một vài nhà lập pháp đáng chú ý trong đó có nhà chính trị địa phương tên là Dominic Jacobetti chính thức tìm cách đưa ra dự luật nhằm thành lập một tiểu bang như thế vào thập niên 1970 nhưng không thành công. Nếu nó là một tiểu bang, nó sẽ có dân số nhỏ nhất Hoa Kỳ vào lúc đó và cho đến cả ngay bây giờ. Với dân số 320.000 người, nó chỉ bằng 60% dân số của tiểu bang Wyoming, và ít hơn 50% dân số của tiểu bang Alaska. Một tiểu bang như vậy sẽ có diện tích đất đứng thứ 40 trên 50 tiểu bang của Hoa Kỳ.
Tiểu bang Deseret
Tiểu bang Deseret là một tiểu bang lâm thời của Hoa Kỳ, được những người định cư theo đạo Mormon tại Thành phố Salt Lake đề nghị thành lập vào năm 1849. Tiểu bang lâm thời này tồn tại trong hai năm và chưa từng được Quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận. Các tên của nó được lấy từ tên "Deseret" (có nghĩa là "ông mật"]] trong thánh kinh của đạo Mormon.
== Ly khai ==
Hiến pháp Hoa Kỳ vắng tiếng đối với vấn đề một tiểu bang ly khai khỏi liên bang. Tuy nhiên, tài liệu tiền thân của nó là Các điều khoản Hợp bang có nói rằng Hợp chúng quốc "sẽ là vĩnh viễn". Câu hỏi là liệu các cá thể tiểu bang có quyền đơn phương ly khai hay không. Câu hỏi này vẫn từng là một câu hỏi gây chia rẻ và khó khăn cho đến lúc Nội chiến Hoa Kỳ. Năm 1860 và 1861, mười một tiểu bang miền Nam ly khai nhưng chúng bị đưa trở lại liên bang trong suốt thời kỳ được gọi là "Thời đại Tái thiết" sau khi chúng bại trận trong Nội chiến Hoa Kỳ. Chính phủ liên bang chưa bao giờ công nhận sự ly khai của bất cứ tiểu bang nổi loạn nào. Sau Nội chiến Hoa Kỳ, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, trong vụ xử Texas đối đầu White, phán quyết rằng các tiểu bang không có quyền ly khai và rằng bất cứ hành động ly khai nào cũng đều coi như không có giá trị pháp lý. Bằng cách trích dẫn phần mở đầu của Hiến pháp Hoa Kỳ là phần nói rằng Hiến pháp được viết ra với ý định "thành lập một liên bang hoàn hảo hơn" và đại diện tiếng nói của nhân dân Hoa Kỳ hữu hiệu như một nền chính trị độc nhất cũng như ngôn ngữ của Các điều khoản Hợp bang, Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ luôn duy trì không thay đổi lập trường rằng các tiểu bang không có quyền ly khai. Tuy nhiên, tòa án ám thị trong cùng phán quyết rằng có thể có những thay đổi như thế xảy ra "qua cách mạng, hay qua sự ưng thuận của các tiểu bang", có nghĩa thiết thực rằng phán quyết này luôn cho rằng không có tiểu bang nào có quyền đơn phương quyết định rời liên bang.
== Thịnh vượng chung ==
Bốn trong số các tiểu bang của Hoa Kỳ mang danh xưng là thịnh vượng chung: Kentucky, Massachusetts, Pennsylvania, và Virginia. Tại các tiểu bang này, danh xưng "thịnh vượng chung" chỉ là cái tên lịch sử và cái tên như thế không có ảnh hưởng pháp lý gì cả. Danh xưng này có vẻ gây chút nhầm lần bởi vì các lãnh thổ của Hoa Kỳ là Quần đảo Bắc Mariana và Puerto Rico cũng được gọi là các thịnh vượng chung. Danh xưng như thế không khiến các tiểu bang vừa kể có tình trạng pháp lý khác biệt so với tình trạng pháp lý của các tiểu bang khác của Hoa Kỳ. Hai vùng quốc hải có danh xưng thịnh vượng chung (Quần đảo Bắc Mariana và Puerto Rico) là các lãnh thổ chưa hợp nhất (chưa vĩnh viễn thuộc về Hoa Kỳ: có thể giữ nguyên tình trạng chính trị hiện nay, gia nhập liên bang để trở thành tiểu bang mới hay tách rời để trở thành quốc gia độc lập) của Hoa Kỳ.
== Phân chia theo nhóm vùng ==
Các tiểu bang có thể được phân nhóm thành các vùng; có vô số cách phân vùng và phân nhóm khác nhau vì đa số các tiểu bang không được xác định theo ranh giới văn hóa hay địa lý rõ rệt nào. Để biết thêm chi tiết về các vùng của Hoa Kỳ, xin xem Danh sách các vùng của Hoa Kỳ.
== Danh sách tiểu bang Hoa Kỳ ==
Bản sau đây liệt kê từng tiểu bang trong số 50 tiểu bang của Hoa Kỳ cùng với các số liệu và thông tin:
Tên tiểu bang
Cách phát âm tên thường gọi của tiểu bang theo chuẩn của Bảng mẫu tự phiên âm quốc tế
Các viết tắc tên tiểu bang bằng hai chữ cái của Cục Bưu điện Hoa Kỳ
(được dựa theo chuẩn ISO 3166-2, mã số phân cấp hành chính quốc gia)
Hình cờ chính thức của tiểu bang
Ngày tiểu bang chấp thuận thông qua Hiến pháp Hoa Kỳ hay được nhận vào liên bang Hoa Kỳ
Tổng diện tích mặt đất và mặt nước của tiểu bang
Dân số tiểu bang theo Điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2010, tính đến ngày 1 tháng 4, năm 2010
Thủ phủ tiểu bang
Nơi hợp nhất hay Nơi ấn định cho điều tra dân số đông dân nhất trong tiểu bang tính đến ngày 1 tháng 7 năm 2008 như được Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ ước tính
== Chú thích == |
trường trung học phổ thông chu văn an, hà nội.txt | Trường Trung học phổ thông Quốc gia Chu Văn An (còn được gọi là trường Chu Văn An, trường Bưởi, trường Chu hay trước kia là trường PTTH Chuyên ban Chu Văn An) là một trường trung học phổ thông công lập ở Hà Nội. Được thành lập từ năm 1908, cho đến nay Chu Văn An là một trong những trường phổ thông lâu đời và có truyền thống nhất của nền giáo dục Việt Nam.
Được người Pháp thành lập với tên chính thức Lycée du Protectorat (Trường Trung học Bảo hộ) nhằm đào tạo nhân viên cho bộ máy cai trị của họ tại Bắc Kỳ, trường lại thường được biết tới với tên trường Bưởi, vốn được các học sinh dùng để thể hiện lòng yêu nước của mình. Năm 1945, trường được đổi tên thành Quốc lập Trung học hiệu Chu Văn An dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim và giữ cái tên này từ đó cho tới nay. Cơ sở của trường ban đầu được đặt tại làng Thụy Khuê (nay là phường Thụy Khuê) bên cạnh hồ Tây, sau một thời gian phải sơ tán đi nhiều nơi do hoàn cảnh chiến tranh, trường chuyển về địa điểm cũ từ năm 1954 và cố định ở đó đến hiện tại.
== Lịch sử ==
=== Giai đoạn 1908 - 1945 ===
Ngày 9 tháng 12 năm 1908, Toàn quyền Đông Dương Klobukowski ra quyết định thành lập Collège du Protectorat (Trường Thành chung Bảo hộ - tương đương trường cấp II hiện nay) trên cơ sở sáp nhập Trường Thông ngôn Bờ sông, Trường trung học Jules Ferry Nam Định và lớp Sư phạm (Cours normal) phố Pottier (nay là phố Bảo Khánh). Năm 1931, trường được nâng cấp thành một lycée (tương đương cấp trung học phỏ thông hiện nay) - Lycée du Protectorat (Trường Trung học Bảo hộ). Tuy nhiên do trường được xây dựng trên đất làng Thụy Khuê (thời Hậu Lê là nơi đặt điện Thụy Chương) ở vùng Kẻ Bưởi, ven hồ Tây nên người dân vẫn gọi là trường Bưởi. Trường Bưởi là cái tên mà các học sinh có tinh thần phản kháng lại người Pháp dùng khi đề cập đến trường nhằm không gọi cái tên chính thức người Pháp đặt.
Cuối năm 1943 do Chiến tranh thế giới thứ hai lan rộng, trường phải sơ tán một phần về Tu chủng viện Phúc Nhạc (Ninh Bình) và phần còn lại vào Thanh Hóa, mãi đến giữa năm 1945 mới quay lại Hà Nội. Tuy vậy số lượng học sinh của trường vẫn tăng đều trong khoảng thời gian từ 1937 (190 học sinh) đến 1944 (424 học sinh). Sau khi Nhật đảo chính Pháp, ngày 12 tháng 6 năm 1945, Khâm sai Bắc Bộ Phan Kế Toại ra quyết định đổi tên trường thành Quốc lập Trung học hiệu Chu Văn An - lấy theo tên vị danh sư Chu Văn An dưới thời nhà Trần và cử giáo sư Nguyễn Gia Tường làm hiệu trưởng, đây là hiệu trưởng người Việt đầu tiên của trường Bưởi - Chu Văn An. Tên Trường Chu Văn An được giữ từ ngày đó đến nay, dù có lúc phải sơ tán, phải chia đôi trong Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất.
Sau khi ra lệnh đóng cửa trường Đông Kinh Nghĩa Thục năm 1907, người Pháp mở trường Trung học Bảo hộ theo mô hình giáo dục Pháp với mục đích đào tạo công chức trung-cao cấp người Việt cho bộ máy cai trị, nhưng cả Bắc Kỳ khi đó chỉ có trường Bưởi là lycée dành cho học sinh người Việt vì lycée Albert Sarraut là của học sinh Pháp, họ lấy rất ít học sinh Việt (đây cũng là đối thủ chính của trường Bưởi trong thời gian này cả về thành tích học tập lẫn thể thao,) và mãi sau mới thêm mấy trường trung học nữa ở Hải Phòng, Nam Định,... Vì vậy nơi đây đã là cái nôi của lớp trí thức trẻ người Việt, một năm trường tuyển ở cả Bắc Kỳ đúng 120 chỉ tiêu (và tỉ lệ học sinh của toàn Bắc Kỳ khi đó cũng thấp nhất nước, khoảng 1 học sinh/10.000 người dân,) đậu vào trường Bưởi trong thời gian này được gọi là cả một tự hào lớn lao, học trò ra trường đi vào khắp các ngành kinh tế - văn hóa, những người đại diện phần đông là xuất sắc. Không chỉ có học sinh người Việt, trường Bưởi còn là nơi học tập của một số học sinh Lào và Campuchia trong đó phải kể tới Souphanouvong và Kaysone Phomvihane. Học phí thời gian này chừng 4 đồng Đông Dương một tháng, nên vấn đề giành học bổng để học tập là một vấn đề rất quan trọng.
Tuy nhà cầm quyền Pháp lúc bấy giờ không đề ra mục tiêu giáo dục tinh thần dân tộc, các học sinh trong trường đã thông qua những hành động cụ thể đi ngược lại chủ trương ban đầu đó. Họ tổ chức bãi khóa đòi ân xá nhà yêu nước Phan Bội Châu hay để tang Phan Chu Trinh, hưởng ứng phong trào Việt Minh, tham gia vào các nhóm luyện võ cổ truyền và truyền nhau các lời chào hỏi yêu nước học được từ thầy dạy võ của mình, cũng như xung đột với các cộng tác viên trường Albert Sarraut vốn học dành cho tầng lớp thượng lưu... Một số học sinh đã sớm tham gia các phong trào độc lập dân tộc như Ngô Gia Tự, Nguyễn Văn Cừ, Phạm Văn Đồng.
=== Giai đoạn 1945 - 1954 ===
Sau Cách mạng tháng Tám trường phải học tạm ở thị xã Hà Đông vì trường phải dùng làm nơi đóng quân của quân đội Tưởng Giới Thạch. Đến đầu năm 1946, trường chuyển về Việt Nam Học xá (tức Đông Dương Học xá trước đó, nay là Đại học Bách khoa Hà Nội). Sau kỳ nghỉ hè 1946, trường lại chuyển về một trường trung học nữ Pháp (bây giờ là Tòa nhà Bộ Tư pháp).
Khi Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất bùng nổ, trường Chu Văn An được chia làm hai phân hiệu, một phân hiệu chuyển về vùng kháng chiến Đào Giã - Phú Thọ do thầy giáo Trần Văn Khang làm hiệu trưởng, phân hiệu thứ hai ở lại Hà Nội. Trong những năm Hà Nội bị tạm chiến, nhà trường bị binh đoàn xe tăng Pháp chiếm đóng, nên thầy và trò phải tạm trú tại trường nữ sinh Đồng Khánh (nay là trường Trưng Vương) ở phố Hàng Bài, sau lên Cửa Bắc chung với trường Sư phạm Đỗ Hữu Vị cũ (nay là trường Phan Đình Phùng). Sau ngày giải phóng Thủ đô tháng 10 năm 1954, trường Chu Văn An mới lại trở về địa điểm ban đầu cạnh hồ Tây.
Trong 9 năm chiến tranh, rất nhiều học sinh Chu Văn An đã gia nhập tự vệ và bộ đội Việt Minh. Nhiều người sau đó trở thành cán bộ cao cấp của chính quyền như Nguyễn Xiển, Phan Anh,... Một số sau này trở thành tướng lĩnh như Thượng tướng Đặng Vũ Hiệp, Thiếu tướng Nguyễn Đôn Tự...
=== Giai đoạn 1954 - 1986 ===
Vào thập niên 1950 vì thiếu giảng viên, do sau Hiệp định Genève 1954, một số các giáo viên học sinh di cư vào miền Nam Việt Nam, chính phủ có yêu cầu Pháp cung cấp một số giáo sư như ông bà Gérard Tongas sang thỉnh giáo ở trường Chu Văn An.
Trong giai đoạn chiến tranh Việt Nam, vì Không quân Mỹ đánh phá Hà Nội, trường lại phải sơ tán đi nơi khác một lần nữa, lần này là về Khoái Châu (Hưng Yên). Rất nhiều con em cán bộ tập kết miền Nam cũng đã học tập tại trường.
Nhiều học sinh Chu Văn An sau đó đã cầm súng chiến đấu ở chiến trường miền Nam, nhiều người đã trở thành liệt sĩ và được phong Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân như liệt sĩ - bác sĩ Đặng Thuỳ Trâm, liệt sĩ Nguyễn Văn Chư (học sinh miền Nam, được truy tặng danh hiệu Anh hùng). Nhiều học sinh và cả giáo viên của trường đã tham gia chiến đấu trong các binh chủng không quân, phòng không chống lại các cuộc không kích của Không quân Hoa Kỳ, trong đó có những người được phong anh hùng như Nguyễn Tiến Sâm, Vũ Xuân Thiều.
Cho đến trước năm 1986, trường Chu Văn An là trường có lớp chuyên Toán duy nhất của Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, nơi đã đào tạo nhiều thế hệ học sinh chuyên Toán giành thành tích cao trong các cuộc thi Học sinh giỏi Quốc gia, các kì thi Olympic Toán Quốc tế và sau đó đã thành công trên nhiều lĩnh vực, tiêu biểu như GS-TSKH Nguyễn Hữu Việt Hưng, chủ nhiệm bộ môn Đại số tuyến tính trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội, PGS-TS Trương Gia Bình, tổng giám đốc công ty FPT, PGS-TS Đào Tiến Khoa, giám đốc Trung tâm tính toán cơ bản, Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân.
=== Từ năm 1986 đến nay ===
Từ năm 1986, các giáo viên và học sinh nòng cốt của trường được Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội cử sang xây dựng trường chuyên mới của Hà Nội, trường Trung học phổ thông chuyên Hà Nội - Amsterdam. Do đó, Chu Văn An mất vị trí dẫn đầu về chất lượng giáo dục ở Hà Nội. Từ năm 1977 đến năm 1993, trường Chu Văn An chia sẻ cơ sở vật chất với trường cấp III Ba Đình theo hình thức một trường buổi sáng, một trường buổi chiều, hai trường hợp nhất làm một từ tháng 1 năm 1993.
Ngày 17 tháng 2 năm 1995, Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã ra quyết định xây dựng trường Chu Văn An trở thành một trong 3 trường trung học phổ thông trọng điểm quốc của Việt Nam. Cùng với trường Quốc học Huế và trường chuyên Lê Hồng Phong Thành phố Hồ Chí Minh, trường Chu Văn An bước sang một giai đoạn mới, giai đoạn đầu tư cơ sở mạnh mẽ cơ sở vật chất và đội ngũ giáo viên, tiến tới kỉ niệm 100 năm ngày thành lập.
Ngày 6 tháng 11 năm 2004, trường Chu Văn An đã được nhận bằng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia Việt Nam. Lễ kỉ niệm 100 thành lập trường được tổ chức vào hai ngày 16 và 17 tháng 5 năm 2008.
=== Danh sách hiệu trưởng ===
== Đào tạo ==
=== Cơ cấu tổ chức ===
Trường được tổ chức với mô hình ban giám hiệu điều hành và quản lý chung với hiệu trưởng là Lê Mai Anh và hiệu phó ông Lê Văn Dũng và ông Hoàng Văn Phú. Công tác giáo dục được phân chia thành 12 tổ bộ môn riêng biệt: Toán học, Vật lý - Kỹ thuật công nghiệp, Hóa học, Sinh học - Kỹ thuật nông nghiệp, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Giáo dục công dân, Tiếng Anh, Tiếng Pháp-Nhật, Tin học và Giáo dục thể chất. Ngoài ra còn các phòng ban thực hiện công tác phục vụ vận hành trường gồm: Văn thư, Thí nghiệm, Thư viện, Bảo vệ, Quản trị, Lao công và Y tế.
=== Thi tuyển ===
Theo quy định của Sở Giáo dục - Đào tạo Hà Nội thì trường Chu Văn An cùng trường Hà Nội - Amsterdam là hai trường trung học phổ thông có hệ thống lớp chuyên của Sở, vì vậy học sinh tốt nghiệp lớp 9 muốn vào học tại hai trường này ngoài việc phải tham gia kì thi vào lớp 10 chung cho các trường trung học phổ thông chuyên và không chuyên trực thuộc Sở, còn phải tham gia kì thi chuyên chung của hai trường. Trên địa bàn Hà Nội (sau khi mở rộng tháng 8 năm 2009), đây là hai trong số bảy trường trung học phổ thông có kì thi tuyển đầu vào, các trường còn lại là Hệ thpt Chuyên của Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, trường thpt Chuyên, Đại học Sư phạm Hà Nội, trường thpt Chuyên Ngoại ngữ, trường thpt Chuyên Sơn Tây và trường thpt Chuyên Nguyễn Huệ.
Kì thi tuyển gồm ba môn bắt buộc là Toán, Văn và Ngoại ngữ điều kiện. Các thí sinh đăng ký thi tuyển vào các lớp chuyên phải thi thêm môn chuyên tương ứng. Điểm xét tuyển sẽ là tổng điểm ba môn Toán, Văn, Ngoại ngữ (mỗi môn lấy hệ số 1) cộng với điểm môn chuyên nhân đôi (hệ số 2), thí sinh lấy từ cao xuống thấp đến hết chỉ tiêu của lớp chuyên. Các thí sinh chỉ đăng ký xét tuyển vào các lớp nâng cao sẽ thi hai môn Toán, Văn và lấy điểm xét tuyển là tổng điểm hai môn này. Thông thường diện dự tuyển của hai trường chỉ bao gồm học sinh có hộ khẩu Hà Nội nhưng kể từ năm học 2008 - 2009, trường Chu Văn An được phép tuyển mở rộng học sinh của toàn miền Bắc (từ Thanh Hóa trở ra) với điều kiện học sinh đó phải đoạt giải trong kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh. Chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 năm học 2010-2011 của trường Chu Văn An là 605 học sinh gồm 245 chỉ tiêu cho lớp chuyên và 360 chỉ tiêu cho lớp chất lượng cao.
Kì thi tuyển thông thường diễn ra vào cuối tháng 6 hàng năm, kết quả được thông báo nửa tháng sau đó. Năm học mới khai giảng từ ngày 25 tháng 8 và bế giảng vào ngày 23 tháng 5 của năm sau.
=== Thi tuyển công chức ===
Sinh viên tốt nghiệp đại học muốn vào giảng dạy tại trường THPT Chu Văn An phải qua các bước sau:
Bước 1: Có bằng tốt nghiệp đại học chính quy. Theo quy định của Luật Giáo dục 2005:
Điều 77. Trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo
1. Trình độ chuẩn được đào tạo của nhà giáo được quy định như sau:
Có bằng tốt nghiệp trung cấp sư phạm đối với giáo viên mầm non, giáo viên tiểu học;
Có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp cao đẳng và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trung học cơ sở;
Có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên trung học phổ thông.
Có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, cao đẳng nghề hoặc là nghệ nhân, công nhân kỹ thuật có tay nghề cao đối với giáo viên hướng dẫn thực hành ở cơ sở dạy nghề;
Có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm hoặc có bằng tốt nghiệp đại học và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với giáo viên giảng dạy trung cấp;
Có bằng tốt nghiệp đại học trở lên và có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm đối với nhà giáo giảng dạy cao đẳng, đại học; có bằng thạc sĩ trở lên đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận văn thạc sĩ; có bằng tiến sĩ đối với nhà giáo giảng dạy chuyên đề, hướng dẫn luận án tiến sĩ.
2. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề theo thẩm quyền quy định về việc bồi dưỡng, sử dụng nhà giáo chưa đạt trình độ chuẩn.
Căn cứ quy định trên (còn một số quy định khác liên quan và tương tự nữa), ngoài bằng cấp ra, với các ngành ngoài sư phạm, ứng viên cần có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ sự phạm.
Bước 2: Theo khoản 4, Điều 17 Thông tư 06/2012/TT-BGDĐT (Quy chế tổ chức và hoạt động trường THPT chuyên) ngoài bằng tốt nghiệp đại học, phải có thêm một trong 4 điều kiện sau: có kết quả tốt nghiệp đại học xếp loại giỏi; có học vị tiến sĩ, thạc sĩ; là giáo viên giỏi ở các trường THPT khác; đã từng là thành viên đội tuyển tham dự kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế. Các điều kiện trên xét theo năm học.
=== Hệ thống lớp học ===
Tính cho đến niên khóa 2007 - 2010 Chu Văn An có khoảng trên 2.000 học sinh thuộc 3 khối 10, 11 và 12. Hệ thống lớp học của trường Chu Văn An bao gồm có 11 lớp chuyên: Toán, Lý, Hóa, Tin, Văn, tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nhật, Địa, Sử và Sinh. Đây là các lớp được dạy tăng cường (số tiết, khối lượng kiến thức nhiều hơn so với các lớp còn lại) các môn chuyên tương ứng. Học sinh của các lớp chuyên hàng năm có thể tham gia các kì thi học sinh giỏi cấp trường và thành phố. Ngoài ra, trường còn có 1 lớp song ngữ tiếng Pháp (F): đây là lớp thuộc hệ thống lớp song ngữ do Tổ chức Đại học Pháp ngữ (AUF) tài trợ và đào tạo, học sinh sẽ được dạy các môn chính khóa song song tiếng Pháp và tiếng Việt. Đôi khi lớp này được chia đôi sĩ số thành hai lớp F1 và F2. Ngoài các lớp chuyên trên, trường Chu Văn An còn có 7 lớp đào tạo chất lượng cao (từ A1 đến A7). Các lớp hệ B đã được bãi bỏ.
Từ niên khóa 2007-2010 Chu Văn An sẽ là trường trung học phổ thông đầu tiên tại Hà Nội mở lớp chuyên tiếng Nhật, đây là đề án hợp tác của Bộ Giáo dục Việt Nam và Đại sứ quán Nhật Bản tại Việt Nam.
Trong thời gian Bộ Giáo dục còn sử dụng hệ thống giáo dục phân ban (ban Tự nhiên - ban Xã hội) thì hệ thống lớp không chuyên của Chu Văn An được chia thành các lớp A (ban Tự nhiên - ban A) và các lớp C (ban Xã hội - ban C).
Trong niên khóa 2009-2012, nhà trường bắt đầu triển khai hệ thống lớp học mới, chia các lớp thành hai nhóm lớp chuyên và không chuyên. Nhóm lớp chuyên có các lớp: Toán, Tin, Nhật, Anh, Văn, Sử, Địa, Pháp 1, Pháp 2 (tăng cường), Lý (từ khóa 2011-2014), Hóa (từ khóa 2011-2014), Sinh (từ khóa 2011-2014). Nhóm lớp không chuyên có các lớp: A1, A2 theo định hướng khối A và D1, D2, D3 theo định hướng khối D.
=== Kết quả đào tạo ===
Với tỷ lệ đỗ tốt nghiệp của học sinh thường xấp xỉ 100%, tỷ lệ đỗ đại học trên 70%, trường Chu Văn An được coi là cơ sở đào tạo cấp phổ thông trung học có chất lượng cao ở Hà Nội và Việt Nam. Cụ thể niên khóa 2006 - 2007 học sinh Chu Văn An có tỷ lệ đỗ tốt nghiệp đạt 99,1% (40,59% đỗ loại khá giỏi), tỷ lệ đỗ đại học đạt 78% với điểm thi trung bình 18,77 (xếp thứ 24 toàn quốc).
Trước năm 1986 do là trường duy nhất có lớp chuyên Toán của thành phố Hà Nội nên học sinh Chu Văn An luôn có thành tích tốt trong các kì thi học sinh giỏi quốc gia và quốc tế. Trong các kì thi Olympic Toán Quốc tế, học sinh Chu Văn An đã đạt được 6 huy chương, trong đó có 2 huy chương bạc và 4 huy chương đồng. Từ năm 1986, với việc Sở Giáo dục Hà Nội rút đội ngũ giáo viên và học sinh nòng cốt để thành lập trường chuyên mới Hà Nội - Amsterdam, trường Chu Văn An không còn là trường dẫn đầu về thành tích đào tạo ở Hà Nội.
=== Vinh dự ===
Do thành tích dạy và học, trường đã được Nhà nước Việt Nam trao tặng:
Huân chương Lao động hạng ba (năm 1964)
Huân chương Lao động hạng nhì (năm 1992)
Huân chương Độc lập hạng nhất (năm 1998)
Danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (năm 2013)
== Hoạt động ngoại khóa ==
Tuy có cơ sở vật chất vào loại tốt trong số các trường trung học công Hà Nội với một nhà thi đấu đa năng, một sân bóng đá và một sân bóng rổ ngoài trời tuy nhiên phong trào ngoại khóa của trường Chu Văn An không mạnh nếu so với trường chuyên còn lại của Hà Nội là Hà Nội - Amsterdam. Đội bóng đá nam Chu Văn An từng một lần vô địch giải bóng đá trung học phổ thông Hà Nội (năm 2002) còn đội bóng rổ chưa từng vô địch giải trung học phổ thông. Chu Văn An còn một số câu lạc bộ ngoại khóa khác như khiêu vũ cổ điển (từng vô địch giải trung học phổ thông năm 2005), bóng bàn và cờ tướng. Về học thuật, học sinh trong trường có Câu lạc bộ Khoa học trẻ, Câu lạc bộ Kịch (Drama Club), Câu lạc bộ Lãnh đạo trẻ, Câu lạc bộ Lịch sử, Câu lạc bộ quốc tế,... Các câu lạc bộ kể trên đa phần hoạt động trong năm, chỉ nghỉ khi chuẩn bị kiểm tra học kỳ hay có yêu cầu từ Ban chấp hành Đoàn trường. Tất cả các hoạt động ngoại khóa của học sinh Chu Văn An đều do Ban chấp hành Đoàn trường Chu Văn An phụ trách.
Hằng năm, trường Chu Văn An thường tổ chức một chuỗi sự kiện,còn được gọi là Sparkling, nhằm tiến đến kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam. Chuỗi sự kiện bao gồm bóng đá nữ, nhảy cổ động (cheerdance) cho nam, cuộc thi "Vẻ đẹp học sinh Chu Văn An (Icon)", Rung chuông vàng và cuộc thi làm video " Chu Văn An trong tôi" của học sinh khối 12. Trong khi tham gia sự kiện, các lớp được chia thành các nhà và được bốc thăm ngẫu nhiên. Sự kiện thường được bắt đầu bằng vòng loại bóng đá nữ và kết thúc bằng đêm chung kết cuộc thi "Vẻ đẹp học sinh Chu Văn An", còn được gọi là đêm Snight.
== Cơ sở vật chất ==
Chu Văn An có cơ sở vật chất pha trộn giữa phong cách kiến trúc của các nhà học kiểu Pháp đã gần 100 năm tuổi với các công trình mới được xây dựng trong thời gian gần đây nằm trong dự án xây dựng trường điểm quốc gia của chính phủ. Hệ thống nhà học gồm 3 dãy nhà 3 tầng là nhà A, B và E, 2 dãy nhà 1 tầng là nhà C và D đã được xây dựng từ thời Pháp và liên tục được cải tạo trên cơ sở giữ nguyên những nét kiến trúc cổ và tạo điều kiện học tập tốt nhất cho học sinh. Phục vụ cho công tác thực hành thực nghiệm, trường có một nhà học thực nghiệm (nhà T) gồm phòng đa phương tiện (multimedia), phòng đựng giáo cụ trực quan và đồ thí nghiệm, phòng thí nghiệm, một nhà Hội đồng sư phạm (nhà S) gồm phòng Hội đồng các phòng học tiếng và tin học. Về mảng tự học và ngoại khóa của học sinh, trường có một thư viện , phòng truyền thống, một hội trường hiện đại với 200 chỗ ngồi tên là Hội trường Thăng Long, khu nhà thi đấu và các khu luyện tập thể chất ngoài trời, một sân bóng đá, một sân bóng rổ, và vườn trường. Ngoài ra trường còn có ký túc xá dành cho các học sinh ở xa và 3 căng tin: hai căng tin mới ở nhà K (ký túc xá) và căng tin cũ cạnh nhà I (nhà tập). Sân vận động của trường từ 3 sân đất đã được tu sửa trở thành 3 sân cỏ nhân tạo và 2 sân quần vợt. Sân cỏ sau nhà A cũng được xây thành sân bê tông dành cho môn bóng rổ.
Toà nhà cổ kính và đẹp nhất của trường là khu thư viện hay được gọi với cái tên Nhà Bát Giác, được xây dựng từ năm 1898. Ban đầu tòa nhà có tên Biệt thự Schneider (La villa Schneider) lấy theo tên người chủ căn biệt thự, một ông chủ xưởng giấy người Pháp tên là Henri Schneider. Sau đó tòa nhà được dùng làm nơi ở của Hiệu trưởng người Pháp của trường Trung học Bảo hộ. Năm 1999, với sự giúp đỡ tài chính của vùng Île-de-France (Pháp), tòa nhà đã được tu sửa và hiện được dùng làm thư viện của trường. Ngày nay phòng đọc đã được di chuyển xuống tầng hầm, các tầng còn lại được sử dụng làm phòng hiệu trưởng, phòng học đàn và phòng vi tính. Phòng truyền thống của trường vốn ở nhà Bát Giác đã được chuyển tới tòa nhà nằm sau khu Hội trường Thăng Long. Đây nguyên là nơi ở của ông hiệu phó trường trung học bảo hộ mới được xây dựng lại năm 2006.
Ngày 19 tháng 1 năm 2007, trường đã khánh thành bức tượng Danh sư Chu Văn An, một trong các công trình chuẩn bị cho lễ kỉ niệm 100 năm trường Bưởi - Chu Văn An.
== Trong văn hóa đại chúng ==
Với khung cảnh cổ kính nên thơ, trường Chu Văn An đã được chọn làm bối cảnh cho bộ phim 12A và 4H của đạo diễn Bùi Thạc Chuyên. Nguyên một lớp học đã được chọn làm diễn viên phụ cho bộ phim.
Ngôi trường cũng là bối cảnh cho mối tình tuổi học trò của hai nhân vật chính Kiên và Phương trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh.
== Giáo viên và cựu học sinh nổi tiếng ==
Với truyền thống lâu đời của mình, trường Bưởi - Chu Văn An đã là nơi học tập và giảng dạy của rất nhiều danh nhân trên mọi lĩnh vực của Việt Nam. Dưới đây là một số giáo viên và cựu học sinh nổi tiếng của trường Bưởi - Chu Văn An.
Giáo viên
Nguyễn Lân, nhà giáo nhân dân
Nguyễn Phan Chánh, họa sĩ tranh lụa nổi tiếng.
Dương Quảng Hàm (từ năm 1920 đến năm 1946), nhà nghiên cứu văn học, nhà giáo dục nổi tiếng.
Hoàng Xuân Hãn (học sinh khóa 1926, giảng dạy từ năm 1936 đến năm 1939), học giả, người soạn thảo Chương trình giáo dục phổ thông đầu tiên của nước Việt Nam dưới thời chính phủ Trần Trọng Kim
Nguyễn Văn Huyên (1935 - 1938), nhà nghiên cứu văn hóa, Bộ trưởng Bộ Giáo dục nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong 29 năm.
Nguỵ Như Kon Tum, (1941 - 1945) nhà vật lý, hiệu trưởng đầu tiên của Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Nguyễn Mạnh Tường, luật sư, người Việt Nam đầu tiên đỗ hai bằng tiến sĩ tại Pháp.
Nguyễn Xiển, (học sinh khóa 1925, giảng dạy từ năm 1935 đến năm 1937) nhà khí tượng học, Tổng Thư ký Đảng Xã hội Việt Nam.
Học sinh
Chính trị - quân sự
Phan Anh, luật sư, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Vương Văn Bắc, luật sư, Tổng trưởng Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa
Nguyễn Văn Cừ (khóa 1928), Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương.
Trịnh Đình Cửu, một trong những người tham gia thành lập chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam.
Nguyễn Khoa Điềm, nhà thơ, bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin Việt Nam, Trưởng ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương.
Phạm Văn Đồng, (khóa 1924), Thủ tướng Việt Nam trong 32 năm.
Dương Đức Hiền, tổng bí thư đầu tiên của Đảng Dân chủ Việt Nam.
Đặng Vũ Hiệp (khóa 1941), thượng tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Nguyễn Cao Kỳ, Thủ tướng và Phó Tổng thống của Việt Nam Cộng hòa
Kaysone Phomvihane, Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào.
Souphanouvong, hoàng thân, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào.
Lê Trọng Tấn, đại tướng, Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng.
Nguyễn Cơ Thạch, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Vũ Xuân Thiều, liệt sĩ - phi công Không quân Nhân dân Việt Nam, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.
Nguyễn Tiến Sâm, phi công Không quân Nhân dân Việt Nam, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, Thứ trưởng Bộ Giao thông - Vận tải.
Ngô Gia Tự (khóa 1922), bí thư lâm thời của Xứ ủy Nam Kỳ.
Khoa học - giáo dục
Tạ Quang Bửu (khóa 1926), nhà toán học, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
GS, NGND Nguyễn Văn Chiển (khóa 1934), nhà địa chất học, tổng biên tập Tập bản đồ (Atlas) Việt Nam.
Bùi Huy Đáp (khóa 1931), nhà nông học, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I.
Đỗ Xuân Hợp, nhà giải phẫu học, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I.
Nguyễn Đình Ngọc, thiếu tướng Công an Nhân dân Việt Nam, nhà tình báo, Phó Chủ tịch Hội Vô tuyến Điện tử Việt Nam.
Dương Trung Quốc, nhà sử học, Tổng Thư ký Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, đại biểu Quốc hội.
Trần Đức Thảo, nhà triết học, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II.
Lê Văn Lan, giáo sư Sử học, đồng sáng lập Viện Lịch sử Việt Nam.
Lê Văn Thiêm (khóa 1936), nhà toán học, viện trưởng đầu tiên của Viện Toán học.
Tôn Thất Tùng, nhà giải phẫu học, giám đốc Bệnh viện Phủ Doãn.
Nguyễn Khắc Viện (khóa 1932), bác sĩ, nhà văn hóa.
Văn học - Nghệ thuật
Bùi Văn Bảo (khóa 1940), nhà giáo, soạn giả.
Ngô Xuân Diệu (Xuân Diệu) (khóa 1933), nhà thơ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I.
Hồ Trọng Hiếu (Tú Mỡ) (khóa 1915), nhà thơ, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II.
Nguyễn Công Hoan (khóa 1920), nhà văn, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I.
Nam Trân (khóa 1924) nhà thơ, dịch giả
Vũ Khắc Khoan nhà văn, nhà viết kịch
Nguyễn Hiến Lê (khóa 1926), soạn giả, dịch giả.
Dương Bích Liên, họa sĩ, một trong bộ tứ Sáng - Nghiêm - Liên - Phái.
Vũ Đình Liên (khóa 1930), nhà thơ, tác giả bài thơ Ông đồ, nhà giáo nhân dân.
Vương Trí Nhàn (khóa 1958), nhà phê bình văn học, soạn giả.
Võ An Ninh, nhiếp ảnh gia, Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt I.
Hoàng Ngọc Phách (khóa 1914), nhà văn, tác giả tiểu thuyết Tố tâm.
Nguyễn Tường Tam (Nhất Linh), nhà văn, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Nguyễn Đình Thi (khóa 1941), nhà thơ, nhà văn, nhạc sĩ, Tổng Thư ký Hội Nhà văn Việt Nam.
Trần Tiến, nghệ sĩ kịch nói, nghệ sĩ nhân dân.
Thanh Tùng, nhạc sĩ.
Tô Ngọc Vân, họa sĩ, một trong bộ tứ Trí - Vân - Lân - Cẩn.
Lĩnh vực khác
Trương Gia Bình (khóa 1970), sáng lập viên, chủ tịch hội đồng quản trị công ty FPT.
Bùi Quang Ngọc (khóa 1970), sáng lập viên, phó chủ tịch hội đồng quản trị công ty FPT.
Hoàng Đạo Thuý, lãnh tụ phong trào Hướng đạo Việt Nam.
Đặng Thuỳ Trâm (khóa 1958), bác sĩ, liệt sĩ, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân, tác giả Nhật ký Đặng Thùy Trâm.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Bayly, Susan (2007). Asian Voices in a Post-Colonial Age: Vietnam, India and Beyond. Cambridge University Press. ISBN 0521868858.
Nguyễn, Đình Hoà; Inh Hoa Nguyen, D. Nguyen (1999). From the City Inside the Red River: A Cultural Memoir of Mid-century. McFarland. ISBN 0786404981.
Trịnh Văn Thảo (1995). L'école française en Indochine. KARTHALA Editions. ISBN 2865375722.
Kamm, Henry (1996). Dragon ascending: Vietnam and the Vietnamese. Arcade Publishing. ISBN 1559703067.
== Liên kết ngoài ==
Trang web hoc sinh trường Chu Văn An
Trang web chính thức của trường Chu Văn An
Hiệp hội học sinh Chu Văn An
Bộ đội Cụ Hồ từ trường Bưởi |
haworthia kemari.txt | Haworthia kemari là một loài thực vật có hoa trong họ Măng tây. Loài này được M.Hayashi mô tả khoa học đầu tiên năm 2003.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Haworthia kemari tại Wikimedia Commons
Dữ liệu liên quan tới Haworthia kemari tại Wikispecies
Vườn thực vật hoàng gia Kew; Đại học Harvard; Australian Plant Name Index (biên tập). “Haworthia kemari”. International Plant Names Index. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2013. |
heli.txt | Heli (hay Hêli) là nguyên tố trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu He và số hiệu nguyên tử bằng hai, nguyên tử khối bằng 4. Tên của nguyên tố này bắt nguồn từ Helios, tên của thần Mặt Trời trong thần thoại Hy Lạp, do nguồn gốc nguyên tố này được tìm thấy trong quang phổ trên Mặt Trời.
== Thuộc tính ==
Heli có điểm sôi thấp nhất trong tất cả các nguyên tố và chỉ có thể đông đặc dưới áp suất rất cao. Nguyên tố này thường thường là khí đơn nguyên tử và về mặt hoá học nó là trơ.
== Sự phổ biến ==
Heli là nguyên tố nhiều thứ hai trong vũ trụ, sau hyđrô. Trong khí quyển Trái Đất mật độ heli theo thể tích là 5,2 x 10−6 tại mực nước biển và tăng dần đến độ cao 24 km, chủ yếu là do phần lớn heli trong bầu khí quyển Trái Đất đã thoát ra ngoài khoảng không gian vũ trụ vì tỷ trọng thấp và tính trơ của nó. Có một lớp trong bầu khí quyển Trái Đất ở độ cao khoảng 1.000 km mà ở đó heli là chất khí chủ yếu (mặc dù tổng áp suất gây ra là rất nhỏ).
Heli là nguyên tố phổ biến thứ 71 trong vỏ Trái Đất, chiếm tỷ lệ 8 x 10−9, còn trong nước biển chỉ có 4 x 10−12. Nói chung, nó hình thành từ sự phân rã phóng xạ của các nguyên tố, do vậy người ta có thể tìm thấy heli trong các mỏ khoáng chất chứa urani, thori v.v và trong vài loại nước khoáng cũng như khí phun trào núi lửa. Heli tồn tại trong nhiều loại khí tự nhiên.
== Đồng vị ==
Có 8 đồng vị của heli, nhưng chỉ heli-3 và heli-4 là bền. Trong khí quyển Trái Đất, trong một triệu nguyên tử 4He có một nguyên tử 3He. Không giống như các nguyên tử khác, sự phổ biến của các đồng vị heli thay đổi tùy theo nguồn gốc, do các quá trình hình thành khác nhau. Đồng vị phổ biến nhất, heli-4, được tạo ra trên Trái Đất từ phân rã alpha của các nguyên tố phóng xạ nặng hơn; các hạt alpha sinh ra bị ion hóa hoàn toàn hạt nhân heli-4. Heli-4 là hạt nhân ổn định bất thường do các nucleon được sắp xếp vào lớp vỏ đầy đủ. Nó cũng được tạo ra với số lượng lớn trong tổng hợp hạt nhân Big Bang.
Heli-3 có chỉ có mặt trên Trái Đất ở dạng dấu vết; đa số trong đó có từ lúc hình thành Trái Đất, mặc dù một số rơi vào Trái Đất trong bụi vũ trụ. Một lượng vết cũng được tạo ra từ phân rã beta của triti. Các đá trong vỏ Trái Đất có các tỉ lệ đồng vị thay đổi khoảng 1/10, và các tỉ lệ này có thể được dùng để khảo sát nguồn gốc của các đá và thành phần lớp phủ của Trái Đất. 3He phổ biến hơn trong các ngôi sao ở dạng sản phẩm của phản ứng tổng hợp hạt nhân. Do đó trong môi trường liên sao, tỉ lệ 3He so với 4He cao khoảng 100 lần so với trên Trái Đất. Các vật liệu ngoài hành tinh như tầng phong hóa của Mặt Trăng và tiểu hành tinh có heli-3 ở dạng vết, chúng được hình thành từ sự bắn phá của gió Mặt Trời. Bề mặt Mặt Trăng chứa heli-3 với nồng độ 0.01 ppm. Một số người, đầu tiên là Gerald Kulcinski năm 1986, đã đề xuất thám hiểm Mặt Trăng, khai thác lớp phong hóa Mặt Trăng và sử dụng heli-3 trong phản ứng tổng hợp hạt nhân.
Heli-4 hóa lỏng có thể được làm lạnh ở khoảng 1 kelvin bằng làm lạnh bay hơi trong 1-K pot. Cách làm lạnh tương tự cũng áp dụng cho heli-3, đồng vị này có điểm sôi thấp hơn nên có thể lạnh ở 0,2 kelvin trong helium-3 refrigerator. Hỗn hợp cân bằng của 3He và 4He lỏng dưới 0,8 K tách thành hai pha không trộn lẫn do sự khác biệt của chúng (chúng tuên theo các thống kê lượng tử khác nhau: các nguyên tử heli-4 tuên theo boson trong khi heli-3 tuân theo fermion). Dilution refrigerators use this immiscibility to achieve temperatures of a few millikelvins.
Nó có thể tạo ra các đồng vị heli ngoại lai, mà chúng có thể phân rã nhanh chóng thành các chất khác. Đồng vị heli nặng tồn tại ngắn nhất là heli-5 có chu kỳ bán rã 7,6×10–22 giây. Heli-6 phân rã bằng cách phát ra hạt beta và có chu kỳ bán rã 0,8 giây. Heli-7 cũng phát ra hạt beta cũng như tia gamma. Heli- và heli-8 được tạo ra trong các phản ứng hạt nhân nhất định. Heli-6 và heli-8 thể hiện là một nuclear halo. Heli-2 (2 proton, không có neutron) là một đồng vị phóng xạ phân rã bằng phát xạ proton thành proti (hydro), có chu kỳ bán rã 3×10–27 giây.
== Ứng dụng ==
Heli được dùng để đẩy các bóng thám không và khí cầu nhỏ do tỷ trọng riêng nhỏ hơn tỷ trọng của không khí và như chất lỏng làm lạnh cho nam châm siêu dẫn.
Đồng vị Heli 3 có nhiều trong gió mặt trời nhưng mà phần lớn chúng bị từ trường của Trái Đất đẩy ra. Người ta đang nghiên cứu khai thác Heli-3 trên Mặt Trăng để sử dụng như một nguồn năng lượng rất tiềm năng.
Làm cho giọng nói trở nên thay đổi (trở nên cao hơn). Do heli nhẹ hơn không khí rất nhiều nên trong khí heli, tốc độ của âm thanh nhanh hơn tới 3 lần trong không khí, lên tới 927 m/s.Khi hít khí heli, trong vòm họng bạn tràn ngập khí ấy. Do đó, tần số giọng nói sẽ biến đổi, tăng lên rất nhiều và tất yếu khiến giọng bạn cao và trong hơn. Tuy nhiên, do hàm lượng khí heli trong bóng bay thấp nên "giọng nói chipmunk" chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn, rồi trở về bình thường.
== Xem thêm ==
Nguyên tử heli
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
donald trump.txt | Donald John Trump (sinh ngày 14 tháng 6 năm 1946) là đương kim Tổng thống Hoa Kỳ, và là tổng thống thứ 45. Trước đó, ông nổi tiếng với vai trò là một tỷ phú doanh nhân, nhà sản xuất chương trình truyền hình.
Là chủ tịch kiêm tổng giám đốc của The Trump Organization, Trump cũng đồng thời là người sáng lập Trump Entertainment Resorts. Ông nổi tiếng trên toàn nước Mỹ nhờ sự nghiệp, nỗ lực gây dựng thương hiệu, đời sống cá nhân, sự giàu có và bản tính thẳng thắn của mình. Ngày 9 tháng 11 năm 2016, trong cuộc bầu cử tổng thống Hoa Kỳ 2016, ông đã chiến thắng ứng cử viên Hillary Clinton của Đảng Dân chủ để trở thành Tổng thống thứ 45 của Hoa Kỳ.
Trump là công dân chính gốc của Thành phố New York và là con của Fred Trump, người đã truyền cảm hứng cho ông đi theo nghề phát triển bất động sản. Sau hai năm học tại Đại học Fordham và trong khi theo học trường Wharton thuộc Đại học Pennsylvania, Trump làm việc tại công ty của cha mình, Elizabeth Trump & Son. Ông chính thức gia nhập công ty năm 1968 sau khi tốt nghiệp và được giao quyền điều hành vào năm 1971, đổi tên công ty thành "The Trump Organization". Kể từ đó ông đã xây dựng nhiều khách sạn, sân golf và các công trình khác, rất nhiều trong số đó mang tên ông. Ông là một nhân vật quan trọng trong giới doanh nhân Hoa Kỳ và nhận được sự quan tâm đặc biệt của giới truyền thông. Chương trình truyền hình thực tế The Apprentice của đài NBC đã khuếch trương tên tuổi của ông và ba đám cưới của ông được giới báo lá cải đưa tin hết sức chi tiết.
Trump đã hai lần chạy đua cho chức Tổng thống Hoa Kỳ. Năm 2000, ông phát động một chiến dịch thăm dò và giành chiến thắng ở hai cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Cải cách. Tháng 6 năm 2015, Trump tuyên bố ứng cử tổng thống nhiệm kì 2016 và chiến dịch tranh cử cho Đảng Cộng hòa của ông thu hút được sự quan tâm của giới truyền thông nhiều hơn tất cả các ứng viên Đảng Cộng hòa khác gộp lại; thêm vào đó, việc giới truyền thông đưa tin miễn phí và sự tự chủ về mặt tài chính cho chiến dịch cho phép ông không cần sử dụng tới mô hình super PAC. Trump luôn là người dẫn đầu trong các cuộc thăm dò dư luận cho người nhận được đề cử của Đảng Cộng hòa. Chiến dịch của ông dựa trên nền tảng chủ nghĩa đại chúng, một lý tưởng nhận được sự ủng hộ của tầng lớp cử tri công nhân, những người bất mãn vì mất việc làm và những thay đổi về sắc tộc và tôn giáo đang diễn ra trên đất Mỹ. Phong cách chính trị trung thực, chính sách phản đối người nhập cư bất hợp pháp và việc nhấn mạnh vào khủng bố và các mối lo ngại về an ninh quốc gia của Trump đem lại cho ông sự ủng hộ của tầng lớp cử tri công nhận cũng như sự phản đối rộng khắp của cộng đồng người gốc Tây Ban Nha/Mỹ La-tinh, người Hồi giáo, người Mỹ gốc Á, doanh nghiệp, thành viên Đảng Dân chủ cũng như một số người thuộc Đảng Cộng hòa khác.
== Thời niên thiếuSửa đổi ==
Donald John Trump sinh ngày 14 tháng 6 năm 1946 tại quận Queens thuộc Thành phố New York. Ông là con thứ tư trong số năm người con của Mary Anne (1912–2000), một nhà từ thiện và cũng là một bà nội trợ và Fred Trump (1905–1999), một nhà phát triển bất động sản. Mẹ ông sinh ra tại làng Tong trên đảo Lewis thuộc Scotland. Năm 1930, bà tới Mỹ và gặp Fred Trump. Họ kết hôn năm 1936 và cư trú tại khu Jamaica Estates, Queens, và sau đó Fred Trump trở thành một trong những nhà phát triển bất động sản lớn nhất thành phố. Trump có một người em trai, Robert (sinh năm 1948) và hai chị gái: Maryanne (sinh năm 1937) và Elizabeth (sinh năm 1942). Maryanne là thẩm phán liên bang của Tòa Phúc thẩm Vùng 3 Hoa Kỳ. Ông có một người anh trai, Fred Jr. (1938–1981), chết vì các biến chứng do nghiện rượu.
Ông bà nội của Trump, Elizabeth và Frederick Trump, vốn là người Đức sau đó nhập cư tại Mỹ năm 1885. Frederick là một ông chủ quán ăn thành đạt giữa cơn sốt tìm vàng tại Klondike. Họ của ông ban đầu là Drumpf, nhưng sau đó được đổi thành Trump hồi thế kỉ 17. Trong cuốn sách xuất bản năm 1987 của mình, The Art of Deal (Nghệ thuật Đàm phán), Trump có viết nhầm rằng Frederick Trump là người gốc Thụy Điển, theo như lời cha ông Fred Trump nói suốt nhiều năm. Sau này Trump có công nhận nguồn gốc Đức của mình và là người chủ trì cuộc diễu hành Steuben của người Mỹ gốc Đức tại New York năm 1999.
Gia đình ông có một căn hộ hai tầng xây theo phong cách Tudor Revival ở Wareham Place trong Jamaica Estates, nơi Trump sống khi còn học tại trường The Kew-Forest. Tại Kew-Forest, Fred Trump là thành viên của Hội đồng Ủy thác. Năm 1983, trong một cuộc phỏng vấn Fred có nói rằng Donald "khá cục cằn khi còn là một cậu bé", nên ông đăng ký cho con mình học tại Học viện Quân sự New York (NYMA). Trump học hết lớp tám và trung học tại NYMA. Trong năm cuối cấp, Trump tham gia đội diễu hành, đạt cấp đại úy của thiếu sinh quân. Năm 2015, ông có nói với một nhà viết tiểu sử rằng NYMA "đã rèn giũa ông về mặt quân sự nhiều hơn rất nhiều người trực tiếp nhập ngũ".
Trump theo học tại Đại học Fordham hai năm. Ông nhập học Phân hiệu Kinh doanh Wharton của Đại học Pennsylvania, bởi lúc đó Wharton là một trong số ít những trường ở Mỹ có khoa nghiên cứu về bất động sản. Cùng lúc với việc học, ông cũng làm việc tại công ty của cha mình; Elizabeth Trump & Son. Trump tốt nghiệp Wharton năm 1968 với bằng Cử nhân Kinh tế.
Trong Chiến tranh Việt Nam, Trump đủ điều kiện tham gia bốc thăm gọi nhập ngũ. "Thực ra tôi gặp may bởi hồi đó số thăm của tôi rất cao", ông nói với đài WNYW năm 2011. Số liệu hồ sơ ghi nhận rằng, mặc dù Trump đúng là có số thăm rất cao vào năm 1969, nhưng trước đó ông cũng không được gọi bởi bốn lần tạm hoãn dành cho sinh viên (2-S) khi còn theo học đại học, và sau khi tốt nghiệp năm 1968 ông được tạm hoãn vì lý do sức khỏe (1-Y, sau chuyển thành 4-F). Năm 1966 sau khi khám sức khỏe nghĩa vụ quân sự Trump được cho là đủ điều kiện nhập ngũ và được xếp loại 1-A bởi ban tuyển chọn địa phương ngay trước khi ông bị loại bởi lý do sức khỏe năm 1968. Trump nói rằng lý do sức khỏe của mình là do ông bị "gai xương" ở cả hai bàn chân, theo lời một nhà viết tiểu sử năm 2015, nhưng khi vận động tranh cử tại Iowa ông lại nói rằng ông bị gai xương ở một bên chân, nhưng không nhớ là bên nào.
== Sự nghiệp kinh doanhSửa đổi ==
Khi Trump tốt nghiệp đại học, tổng tài sản của ông đạt khoảng 200.000 USD (1.021.000 USD theo thời giá 2016). Ông khởi nghiệp tại công ty bất động sản của cha mình, Elizabeth Trump & Son, nơi tập trung chủ yếu vào mảng nhà cho thuê dành cho giới trung lưu tại các quận Brooklyn, Queens và Staten Island của Thành phố New York. Trong những năm học đại học, một trong những dự án đầu tiên của Trump là việc hồi sinh tổ hợp căn hộ Swifton Village ở Cincinnati, Ohio, được cha ông mua lại với giá 5,7 triệu USD năm 1962. Fred và Donald Trump đều tham gia vào dự án, nâng mật độ dân cư của 1.200 căn hộ từ 34% lên 100% với khoản đầu tư 500.000 USD. Trump quản lý 14.000 căn hộ của công ty ở Brooklyn, Queens và Staten Island. Năm 1972, The Trump Organization bán Swifton Village với giá 6,75 triệu USD.
Năm 1971, Trump tới Manhattan, tham gia vào những dự án xây dựng lớn hơn và áp dụng các thiết kế kiến trúc hấp dẫn để thu hút sự chú ý của công chúng. Trump bắt đầu nhận được sự chú ý vào năm 1973, khi ông bị Bộ Tư pháp Hoa Kỳ cáo buộc đã vi phạm Đạo luật Nhà ở Công bằng trong quá trình quản lý 39 tòa nhà. Trump cáo buộc ngược lại Bộ Tư pháp nhắm vào ông vì công ty ông lớn, ép ông phải cho những đối tượng đang hưởng trợ cấp thuê nhà. Trump dàn xếp xong vụ kiện vào năm 1975, nói rằng ông hài lòng vì phán quyết đã không "ép The Trump Organization cho các đối tượng đang nhận trợ cấp thuê nhà, trừ khi họ đạt đủ điều kiện như những người khác".
Trump có quyền chọn được mua và lập kế hoạch phát triển tài sản của một công ty vận tải đã phá sản Penn Central. Hợp đồng bao gồm sân ga Phố 60 dọc Sông Hudson – sau này được phát triển thành khu Riverside South – và khu đất xung quanh Grand Central Terminal mà Trump đã mua với giá 60 triệu USD và không phải đặt cọc. Sau này, với khoản ưu đãi giảm thuế 40 năm từ chính quyền Thành phố New York, ông đã biến khách sạn đã phá sản Commodore cạnh Grand Central thành Grand Hyatt và lập nên The Trump Organization.
Trump từng đề xuất xây Trung tâm Hội nghị Jacob K. Javits theo dự kiến của Thành phố New York trên sân ga Phố 30 của Penn Central. Trump ước tính rằng công ty của mình có thể hoàn thành dự án với 110 triệu USD, nhưng trong khi chính quyền thành phố đồng ý với đề xuất của Trump, họ từ chối lời mời thầu và thay vào đó Trump nhận một khoản phí môi giới từ việc bán tài sản. Việc sửa chữa sân băng Wollman (khánh thành năm 1955) ở Công viên Trung tâm được tiến hành vào năm 1980 với thời gian dự kiến là hai năm, nhưng tới năm 1986 vẫn chưa xong. Trump tiếp quản dự án mà không cần thành phố chi trả thêm bất cứ khoản nào và hoàn thành trong ba tháng với chi phí 1,95 triệu USD, ít hơn ngân sách ban đầu 750.000 USD.
Năm 1988, Trump mua lại Taj Mahal Casino sau một thương vụ với Merv Griffin và Resorts International, dẫn tới một khoản nợ lớn nên tới năm 1989, Trump không có khả năng trả các khoản vay. Mặc dù ông tìm đựoc các khoản vay mới và gia hạn việc trả lãi, nợ ngày một nhiều khiến công ty của Trump phá sản vào năm 1991. Ngân hàng và các chủ trái phiếu bị thiệt hại hàng trăm triệu USD nhưng lựa chọn việc tái cấu trúc lại nợ. Taj Mahal thoát khỏi phá sản vào ngày 5 tháng 10 năm 1991 khi Trump nhượng lại 50 phần trăm cố phần ở sòng bạc cho các chủ trái phiếu ban đầu để đổi lấy mức lãi suất thấp hơn cho các khoản nợ và kéo dài thời gian đáo hạn. Ông cũng bán đi công ty hàng không làm ăn kém hiệu quả Trump Shuttle và du thuyền dài 85m Trump Princess của mình. Những năm cuối của thập kỉ 1990 chứng kiến sự phục hồi về mặt tài chính của Trump. Năm 1999, cha của Trump sau khi mất đã chia đều cho bốn người con còn sống của mình mỗi người từ 250–300 triệu USD.
Năm 2001, Donald Trump khánh thành Trump World Tower, tòa cao ốc dân sinh 72 tầng đối diện Trụ sở Liên Hiệp Quốc. Ông cũng bắt tay vào xây dựng Trump Place, tổ hợp văn phòng dọc Sông Hudson. Trump sở hữu mặt bằng kinh doanh tại Trump International Hotel & Tower, tòa nhà phức hợp 44 tầng (khách sạn và chung cư) tại Bùng binh Columbus. Trump cũng sở hữu hàng trăm nghìn mét vuông bất động sản hạng nhất tại Manhattan.
Trump đã cho thuê tên và hình ảnh của mình trong nhiều dự án bất động sản. Có ít nhất hai dự án bất động sản mang thương hiệu Trump đã bị tịch biên. Chủ sở hữu người Thổ Nhĩ Kì của Trump Towers Istanbul, người đã mua quyền sử dụng tên của Trump, vào tháng 12 năm 2015 được cho là đã tìm các biện pháp pháp lý để chấm dứt mối liên hệ sau khi Trump kêu gọi cấm người Hồi giáo nhập cảnh vào Mỹ.
Năm 2015, Forbes ước tính tài sản của Trump là 4 tỉ USD. Tháng 6 năm 2015, Business Insider công bố bản báo cáo tài chính ngày 30 tháng 6 năm 2014 được cung cấp bởi Trump. Bản báo cáo đưa ra con số tổng tài sản 8,7 tỉ USD. Trong số đó, 3,3 tỉ USD đến từ "Hợp đồng cho thuê Thương hiệu Bất động sản, Thương hiệu và các Phát triển gắn với Thương hiệu", mà Business Insider mô tả rằng "[chứng tỏ] Trump định giá bản thân mình 3,3 tỉ USD".
== Các khoản đầu tư và kinh doanhSửa đổi ==
=== Bất động sảnSửa đổi ===
==== Trump TowerSửa đổi ====
Trump Tower – cao ốc phức hợp 58 tầng tọa lạc tại 725 Fifth Avenue, Midtown Manhattan, Thành phố New York – được phát triển bởi Trump và Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Equitable, thiết kế bởi kiến trúc sư Der Scutt của Swanke Hayden Connell. Hiện nay Trump là chủ sở hữu duy nhất của tòa nhà.
Trump Tower nằm trên mảnh đất từng là cửa hàng chính của Bonwit Teller, một công trình quan trọng về mặt kiến trúc, sau đó bị phá bỏ năm 1980. Trump bị kiện vì việc phá hủy bức phù điêu quý giá mang phong cách Art Deco trên mặt tiền của tòa nhà, mà như đã hứa là sẽ chuyển giao cho Bảo tàng Nghệ thuật Metropolitan và việc sử dụng 200 lao động nhập cư trái phép người Ba Lan trong quá trình phá dỡ gấp rút. Họ chỉ được trả (nếu có) khoảng 4 đến 5 USD một giờ và làm việc 12 tiếng một ca. Năm 1990 Trump khai nhận rằng ông hiếm khi có mặt tại công trường và không biết gì về các lao động trái phép, mà một phần trong số đó sống tại công trường và được biết tới dưới cái tên "Lữ đoàn Ba Lan". Vụ kiện lao động kéo dài được dàn xếp năm 1999, kết quả của phán quyết được giữ kín.
==== GolfSửa đổi ====
The Trump Organization điều hành nhiều sân golf và khu nghỉ dưỡng trên nước Mỹ và toàn thế giới. Ngày 11 tháng 2 năm 2014, Trump mua lại Doonbeg Golf Club tại Cộng hòa Ireland. Nguồn tin xác nhận rằng sân golf sẽ được đổi tên thành Trump International Golf Links, Ireland. Năm 2006, Trump mua lại Menie Estate ở Balmedie, Aberdeenshire, Scotland, xây dựng một sân golf nghỉ dưỡng đầy tranh cãi, trái với nguyện vọng của cư dân địa phương, trên khu vực dành riêng cho nghiên cứu khoa học. You've Been Trumped (Bạn đã bị Trump chơi xỏ) là một bộ phim tài liệu độc lập được thực hiện năm 2011 bởi nhà làm phim người Anh Anthony Baxter, thuật lại quá trình xây dựng sân golf và mâu thuẫn giữa người dân và Donald Trump. Mặc dù Trump hứa hẹn sẽ tạo ra 6.000 việc làm, một thập kỉ sau đó, sân golf ở Scotland chỉ tạo ra 200 việc làm.
Tháng 4 năm 2014, Trump mua lại khách sạn Turnberry và sân golf nghỉ dưỡng ở Ayshire, Scotland, là một trong những điểm đến quen thuộc của giải Open Championship. Tháng 6 năm 2015, khiếu nại của Trump phản đối một nhà máy điện gió nằm trong tầm nhìn của sân golf đã bị bác bỏ.
Tháng 12 năm 2015, nỗ lực của Trump nhằm ngăn chặn việc xây dựng nhà máy điện gió trong tầm nhìn của sân golf đã bị bác bỏ bởi năm thẩm phán Toà án Tối cao Anh, trong vụ kiện giữa Công ty TNHH Trump International Golf Club Scotland và Chính phủ Scotland. Cựu Thủ tướng Scotland Alex Salmond bình luận Trump là "kẻ thua cuộc ba lần". Một người phát ngôn của Trump Organization đáp lại bình luận của Salmond: "Có ai quan tâm ông ta nghĩ gì không? Ông ta hết thời rồi và hoàn toàn chẳng liên quan gì. Bằng chứng là ông ấy còn chẳng biết điều gì đang xảy ra ở chính cơ quan của mình... Ông ấy nên tiếp tục làm những gì mà ông ấy làm tốt nhất: khai trương mấy tấm chân dung hoa mỹ của mình để thổi phồng thêm cái tôi cá nhân vốn dĩ đã to tướng".
=== Thương hiệu và cho thuê thương hiệuSửa đổi ===
Trump đã quảng bá tên của mình trên một số lượng lớn sản phẩm và dịch vụ, đạt được cả thất bại lẫn thành công. Có thể kể đến những khoản đầu tư và kinh doanh bên ngoài của ông như Trump Financial (công ty thế chấp), Trump Sales & Leasing (bán nhà ở), Trump International Realty (công ty môi giới bất động sản nhà ở và thương mại), The Trump Entrepreneur Initiative (công ty giáo dục kinh doanh vì lợi nhuận, tên chính thức trước đây là Đại học Trump), Trump Restaurants (nằm trong Trump Tower và bao gồm Trump Buffet, Trump Catering, Trump Ice Cream Parlor và Trump Bar), GoTrump (công cụ tìm kiếm du lịch online), Select By Trump (dòng sản phẩm đồ uống cà phê), Trump Drinks (nước uống tăng lực dành cho thị trường Israel và Palestine), Donald J. Trump Signature Collection (dòng sản phẩm thời trang nam, phụ kiện nam và đồng hồ), Donald Trump The Fragrance (2004), SUCCESS by Donald Trump (nhãn hiệu nước hoa thứ hai được phát triển bởi Trump Organization và Công ty Nước hoa Five Star, phát hành tháng 3 năm 2012), nước uống đóng chai Trump Ice, Trump Magazine, Trump Golf, Trump Chocolate, Trump Home (nội thất nhà ở), Trump Productions (công ty sản xuất truyền hình), Trump Institute, Trump: The Game (board game năm 1989 với phiên bản phát hành lại năm 2005 gắn với The Apprentice), Donald Trump's Real Estate Tycoon (trò chơi giả lập kinh doanh), Trump Books, Trump Model Management, Trump Shuttle, Trump Mortgage, Trump Vodka, Trump Steakhouse và Trump Steaks. Thêm vào đó, theo như báo cáo thì Trump được nhận 1,5 triệu USD cho mỗi giờ thuyết trình trên The Learning Annex. Trump cũng ủng hộ ACN Inc., một công ty đa cấp về lĩnh vực viễn thông. Ông đã phát biểu tại các khóa huấn luyện quốc tế của ACN, mà tại đó ông đã ca ngợi những người sáng lập, mô hình kinh doanh và sản phẩm của công ty. Ông kiếm được tổng cộng 1,35 triệu USD cho ba bài phát biểu, 450.000 USD mỗi bài.
Năm 2011, các chuyên gia tài chính của Forbes ước tính giá trị thương hiệu của Trump là 200 triệu USD. Trump không đồng tình với ước tính này, nói rằng thương hiệu của ông trị giá khoảng 3 tỉ USD. Nhiều nhà đầu tư thuê Trump quảng bá sản phẩm và trở thành gương mặt đại diện cho dự án của họ. Vì lý do đó, Trump không là chủ của nhiều tòa nhà có tên mình trên đó. Theo Forbes, lĩnh vực kinh doanh này của đế chế Trump, thực chất được điều hành bởi các con của Trump, là lĩnh vực giá trị nhất, được định giá 562 triệu USD. Cũng theo Forbes, có 33 dự án cho thuê thương hiệu đang đựoc phát triển bao gồm bảy "khách sạn chung cư" (bảy dự án Trump International Hotel & Tower). Tháng 6 năm 2015, Forbes ấn định thương hiệu Trump ở mức 125 triệu USD khi các nhà bán lẻ như Macy's Inc và Serta Mattresses bắt đầu tẩy chay các sản phẩm có thương hiệu Trump, mà Macy bình luận rằng họ "thất vọng và buồn bã bởi những phát ngôn gần đây về người nhập cư từ Mexico."
=== Tổng tài sảnSửa đổi ===
Tháng 4 năm 2011, trong khi dư luận đang quan sát xem liệu Trump có tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kì 2012 không, Politico trích dẫn một nguồn tin giấu tên thân cận với ông, nói rằng nếu Trump ra tranh cử tổng thống, ông ấy sẽ nộp "bản báo cáo tài chính mà trong đó [sẽ] liệt kê tổng tài sản trên 7 tỉ USD với hơn 250 triệu USD tiền mặt và rất ít nợ". (Các ứng viên tổng thống được yêu cầu công bố tình hình tài chính sau khi tuyên bố sẽ tranh cử). Mặc dù Trump không tranh cử nhiệm kì 2012, bản báo cáo tài chính vẫn được công bố trong cuốn sách của ông, liệt kê tổng tài sản 7 tỉ USD.
Giá trị ước tính tổng tài sản của Trump biến động cùng với các định giá bất động sản: vào năm 2015, Forbes ấn định giá trị 4 tỉ USD, trong khi đó Bloomberg Billionaires Index (đã xem xét kĩ lưỡng hồ sơ nộp cho Hội đồng Bầu cử Liên bang của Trump) ước tính tổng tài sản 2,9 tỉ USD. Ngày 16 tháng 6 năm 2015, ngay trước khi Trump tuyên bố tranh cử, Trump công bố với báo giới một bản báo cáo tài chính dài một trang "từ một công ty kiểm toán lớn – một trong số những công ty uy tín nhất" liệt kê tổng tài sản 8.737.540.000 USD. "Tôi thật sự giàu", Trump nói. Forbes bình luận rằng con số gần 9 tỉ USD là "100%" cường điệu. Tháng 7 năm 2015, ủy ban điều phối bầu cử Liên bang công bố số liệu mới về tài sản của Trump và tình hình tài chính khi ông trở thành ứng viên tổng thống của Đảng Cộng hòa, trong đó nói rằng tài sản của ông có giá trị trên 1,4 tỉ USD, bao gồm ít nhất 70 triệu USD từ cố phiếu, và một khoản nợ ít nhất là 265 triệu USD.
Trump nói trong một buổi họp báo tháng 7 năm 2015, một tháng sau khi tuyên bố tranh cử tổng thống, rằng "tổng tài sản của ông hơn 10 tỉ USD". Tuy nhiên, Trump từng nói rằng "tổng tài sản của tôi luôn biến động, nó lên xuống cùng với thị trường, cùng với thái độ và cảm xúc – thậm chí là cảm xúc của chính tôi". Trump cũng thừa nhận rằng những ước tính tổng tài sản cao hơn thực tế của ông trong quá khứ là "có lợi về mặt tài chính". Forbes nói rằng mặc dù Trump "chia sẻ rất nhiều thông tin để chúng tôi có được con số như đã công bố", ông ấy "luôn muốn có một con số tổng tài sản cao hơn – đặc biệt là khi nó liên quan tới giá trị thương hiệu cá nhân của ông". Forbes giảm ước tính tổng tài sản của Trump xuống 125 triệu USD sau những phát ngôn gây tranh cãi của ông năm 2015 về người nhập cư Mexico, khiến cho các hợp đồng kinh doanh của Trump với NBCUniversal, Univision, Macy's, Serta, PVH Corporation và Perfumania đi đến kết thúc. Một nghiên cứu nội bộ của Young & Rubicam về mức độ ưa thích của thương hiệu Trump giữa những người tiêu dùng có thu nhập cao cho thấy sự "lao dốc" của điểm số vào cuối năm 2015, chỉ ra rằng nhiều lĩnh vực kinh doanh của Trump có thể phải đối mặt với các thách thức về thị trường và tài chính trong tương lai.
=== Các khoản đầu tưSửa đổi ===
Một phần nhỏ tài sản của Trump nằm trong các khoản đầu tư nằm ngoài cổ phần của ông tại The Trump Organization, phần lớn trong số đó tập trung vào thị trường tài chính. Năm 2011, Trump gây bất ngờ với quyết định thâm nhập thị trường cổ phiếu sau khi thất vọng với sự suy thoái của thị trường bất động sản Hoa Kỳ và mức lãi suất thấp của tiền gửi ngân hàng. Ông nói rằng ông không phải dân chứng khoán, nhưng ông cũng nói rằng khó lòng mà mua được bất động sản ở vị trí đẹp với mức giá tốt. Trong số những cố phiếu mà Trump mua, ông xác nhận đã mua cổ phiếu của Bank of America, Citigroup, Caterpillar Inc., Intel, Johnson & Johnson và Procter & Gamble. Tháng 12 năm 2012, Trump công bố rằng ông cũng thêm cố phiếu của Facebook vào danh mục đầu tư của mình. Trump cũng có 9 triệu USD đầu tư vào các quỹ tự bảo hiểm rủi ro. Ông kiếm được 6,7 triệu USD từ việc bán cổ phiếu Bank of America và 3,9 triệu USD từ bán cổ phiếu Facebook trong năm 2014.
=== Thể thaoSửa đổi ===
Vào năm 1983, Trump mua câu lạc bộ New Jersey Generals cho mùa giải đầu tiên của Giải Bóng bầu dục Hoa Kỳ (USFL). Generals đã thuê cựu huấn luyện viên trưởng của New York Jets Walt Michaels. Trước khi mùa giải đầu tiên diễn ra, Trump bán đội bóng cho ông trùm dầu lửa Oklahoma J. Walter Duncan. Trước mùa giải năm 1984, Duncan bán lại đội bóng cho Trump.
USFL dự định tổ chức mùa giải 1986 vào mùa thu, nhằm trực tiếp cạnh tranh với Giải Bóng bầu dục Quốc gia (NFL), mà phần lớn là do sự ủng hộ mạnh mẽ của Trump trong việc cạnh tranh trực tiếp với một giải lâu đời và nổi tiếng hơn. Trước đó hai năm, Trump đã thuyết phục hầu hết các chủ câu lạc bộ khác đồng ý dời lịch sang mùa thu, với lý do việc này rồi sẽ khiến cho giải sáp nhập với NFL, và bất kì chủ câu lạc bộ nào đang chơi trong USFL cũng sẽ có được lợi nhuận gấp đôi.
Generals sáp nhập với Houston Gamblers trong kì nghỉ kéo dài sau mùa giải, bổ sung thêm những ngôi sao mới như Jim Kelly và Ricky Sanders. Michaels bị sa thải, thay thế bởi cựu huấn luyện viên của Gamblers Jack Pardee, người dự định áp dụng chiến thuật đầy năng lượng chạy và ném tấn công của Gamblers. Tuy nhiên, đội hình trong mơ này của USFL không bao giờ được thi đấu. Mùa giải 1986 đã bị hủy bỏ sau khi USFL giành được chiến thắng trong vụ kiện cạnh tranh chống lại NFL. Giải USFL cũng bị giải thể ngay sau đó.
Trump cũng từng là cố vấn tài chính cho Mike Tyson, chủ trì trận đấu của Tyson với Michael Spinks tại thành phố Atlantic.
=== Các cuộc thi sắc đẹpSửa đổi ===
Từ 1996 đến 2015, khi ông bán cổ tức của mình cho WME/IMG, Trump nắm một phần sở hữu của các cuộc thi Miss Universe (Hoa hậu Hoàn Vũ), Miss USA (Hoa hậu Mỹ), Miss Teen USA (Hoa hậu Thiếu niên Mỹ). Miss Universe được sáng lập năm 1952 bởi công ty may mặc Pacific Mills tại California và là một trong số những cuộc thi sắc đẹp nổi tiếng nhất trên thế giới,
Năm 2015, NBC và Univision đều chấm dứt mối quan hệ làm ăn của mình với Miss Universe Organization sau bài phát biểu phát động tranh cử tổng thống của Trump ngày 16 tháng 6, trong đó ông nói rằng:
Trump ngay sau đó đã đâm đơn kiện Univision 500 triệu USD với cáo buộc đơn phương chấm dứt hợp đồng và bôi nhọ danh dự. Nhà cung cấp truyền hình cáp Reelz sau đó đã trở thành nhà độc quyền phát sóng cuộc thi Hoa hậu Mỹ. Trump chia sẻ với tạp chí People vào tháng 7 năm 2015 rằng vụ kiện với Univision là "một phần trong chiến dịch tranh cử [tổng thống]". Ngày 11 tháng 9 năm 2015, Trump tuyên bố ông đã mua lại cổ phần của đài NBC trong Tổ chức Hoa hậu Hoàn vũ, biến ông trở thành chủ sở hữu duy nhất, và cũng đã "dàn xếp" xong vụ kiện với đài, mặc dù không rõ rằng Trump đã đâm đơn kiện NBC thật hay đấy chỉ là một lời đe dọa suông. Không lâu sau đó ông cũng bán đi cổ tức của mình trong đó.
== Hoạt động giải tríSửa đổi ==
Trong giới giải trí, Trump đã hai lần là ứng cử viên cho Giải Emmy, xuất hiện trong các chương trình truyền hình và phim ảnh với tư cách là chính mình nhưng dưới góc độ hài hước (ví dụ: Ở nhà một mình 2: Lạc ở New York The Nanny, The Fresh Prince of Bel-Air, Days of Our Lives, Wall Street: Money Never Sleeps) và là một nhân vật khác (The Little Rascals). Ông là chủ đề của nhiều danh hài, họa sĩ phim hoạt hình và họa sĩ tranh biếm họa online. Trump cũng có một chương trình trò chuyện radio của riêng ông với tên gọi Trumped! Ông cũng từng xuất hiện trong một tập của phim truyền hình Sex and the City qua một vai diễn khách mời. Trump cũng là thành viên của Screen Actors Guild và nhận khoản trợ cấp hơn 110.000 USD hàng năm.
Tháng 3 năm 2011, Trump là chủ đề của một tập Comedy Central Roast. Chương trình được dẫn bởi Seth MacFarlane, khách mời đặc biệt (roaster) bao gồm Larry King, Snoop Dogg và Anthony Jeselnik cùng với các khách mời thông thường khác. Con gái Trump, Ivanka, cũng có mặt trong hàng ghế khán giả. Tháng 4 năm 2011, Trump tham dự White House Correspondents' Dinner (Tiệc Liên hoan Phóng viên Nhà Trắng), với sự góp mặt của danh hài Seth Meyers. Tổng thống Obama nhân sự kiện này đã có một số câu đùa châm biếm Trump.
Ngày 5 tháng 8 năm 2015, một bộ phim tài liệu về Trump thời kì thập niên 1980 và 1990 được phát hành trên mạng với tựa đề "What's the Deal?" (Thỏa thuận gì thế?).
=== The ApprenticeSửa đổi ===
Năm 2003, Trump trở thành giám đốc sản xuất và MC của chương trình truyền hình thực tế của đài NBC The Apprentice (Nhân viên Tập sự), ở đó một nhóm các thí sinh cạnh tranh với nhau giành lấy một vị trí quản lý cấp cao tại một trong những công ty của Trump. Các thí sinh lần lượt bị "sa thải" và loại khỏi cuộc chơi. Năm 2004, Trump đăng ký bảo hộ nhãn hiệu cho câu cửa miệng "You're fired!" (Bạn đã bị sa thải!).
Trong năm đầu tiên của chương trình, Trump kiếm được 50.000 USD mỗi tập (gần 700.000 USD cho mùa đầu tiên). Tiếp nối thành công ban đầu, sau này ông được trả tới 3 triệu USD mỗi tập, đưa ông trở thành một trong những ngôi sao truyền hình có mức thù lao cao nhất. Tháng 7 năm 2015, Trump công bố trong báo cáo tài chính cá nhân của mình với Hội đồng Bầu cử Liên bang rằng NBCUniversal đã trả cho ông 213.606.575 USD trong suốt 14 mùa dẫn chương trình. Năm 2007, Trump được gắn sao trên Đại lộ Danh vọng Hollywood vì những đóng góp của ông cho truyền hình (The Apprentice).
Cùng với nhà sản xuất truyền hình người Anh Mark Burnett, Trump được mời làm MC của chương trình The Celebrity Apprentice, tại đó những người nổi tiếng thi đấu với nhau để giành tiền cho quỹ từ thiện của mình. Trong khi cả Trump và Burnett đều là người sản xuất chương trình, Trump là người xuất hiện trên màn ảnh, quyết định ai là người thắng cuộc và "sa thải" người thua cuộc.
Ngày 16 tháng 2 năm 2015, NBC thông báo rằng họ có thể sẽ tiếp tục sản xuất The Apprentice mùa thứ 15. Mười một ngày sau, Trump tuyên bố rằng ông "chưa sẵn sàng" để ký hợp đồng cho một mùa nữa vì có thể ông sẽ tranh cử tổng thống. Mặc dù vậy, ngày 18 tháng 3, NBC vẫn tuyên bố họ sẽ bắt tay vào sản xuất. Ngày 29 tháng 6, sau khi làn sóng phản đối bài phát biểu tranh cử của Trump lan rộng, NBC ra thông cáo nói rằng, "Do những phát ngôn có tính xúc phạm gần đây của Donald Trump về vấn đề người nhập cư, NBCUniversal sẽ chấm dứt mối quan hệ làm ăn với ông Trump", và hiển nhiên kết thúc vai trò của Trump trong The Apprentice.
=== World Wrestling EntertainmentSửa đổi ===
Trump là một fan của World Wrestling Entertainment (Đấu vật Giải trí Thế giới) và là bạn của ông chủ WWE Vince McMahon. Ông đã đăng cai hai sự kiện WrestleMania tại Trump Plaza và là khách mời trong vài chương trình khác. Trump Taj Mahal ở Thành phố Atlantic của Trump là nơi đăng cai 1991 WBF Championship (được sở hữu bởi WWE, lúc đó được biết đến dưới cái tên "World Wrestling Federation"). Trump từng được phỏng vấn bởi Jesse Ventura bên cạnh sàn đấu tại WrestleMania XX.
Ông cũng xuất hiện tại WrestleMania 23 trong một trận đấu mang tên "The Battle of Billionaires" (Trận đấu của các Tỷ phú). Trump thuộc đội của Bobby Lashley, trong khi đội của Vince McMahon là Umaga với Stone Cold Steve Austin là trọng tài khách mời. Giao kèo của trận đấu là tóc đấu với tóc, có nghĩa là cả Trump và McMahon đều sẽ bị cạo trọc nếu đô vật của mình thua. Lashley chiến thắng nên Trump đã cạo đầu McMahon.
Ngày 15 tháng 6 năm 2009, theo kịch bản, McMahon tuyên bố trong Monday Night Raw rằng ông đã "bán" chương trình cho Trump. Xuất hiện trên màn ảnh, Trump tuyên bố rằng ông sẽ đến sân trong tập tiếp theo, không hề có quảng cáo và sẽ hoàn tiền 100% cho ai đã mua vé tới sân cho chương trình ngày hôm đó. McMahon "mua lại" Raw ngay tuần sau với mức giá gấp đôi. Nhạc nền chào sân của ông hôm đó "Money, Money" được sáng tác bởi Jim Johnston.
Trump được vinh danh trong khu người nổi tiếng của WWE Hall of Fame vào năm 2013, tại Madison Square Garden vì những đóng góp của ông trong công tác quảng bá. Đêm hôm sau ông đánh dấu lần xuất hiện thứ năm của mình tại WrestleMania.
== Chính trịSửa đổi ==
Trump mô tả các khuynh hướng chính trị và quan điểm của ông qua rất nhiều cách, đôi khi đối lập lẫn nhau theo thời gian. Politico miêu tả ông là "người theo chủ nghĩa chiết trung, ứng biến và đôi khi không nhất quán". Ông từng là thành viên các đảng Cộng hòa, Độc lập, Dân chủ và "từ chối nhà nước". Ông cũng từng tranh cử dưới danh nghĩa ứng viên Đảng Cải cách. Ông đã từng thay đổi quan điểm của mình về thuế suất cho người thu nhập cao, quyền nạo hút thai và y tế.
=== Đảng phái chính trịSửa đổi ===
Một báo cáo năm 2011 của Center for Responsive Politics cho hay trong vòng hai thập kỉ bầu cử vừa qua của Mỹ, Donald Trump đã quyên góp cho chiến dịch tranh cử của các ứng viên của cả Đảng Cộng hòa lẫn Đảng Dân chủ. Trong mười người nhận quyên góp nhiều nhất thì có sáu người Đảng Dân chủ và bốn người Đảng Cộng hòa. Sau 2011, ông chủ yếu đóng góp cho các ứng viên Đảng Cộng hòa.
Trump là một người ủng hộ sớm của ứng viên Đảng Cộng hòa Ronald Reagan cho chức tổng thống Mỹ và ông cũng lên tiếng ủng hộ ứng viên Đảng Cộng hòa Mitt Romney làm tổng thống. Năm 2015 khi được hỏi ai là người giỏi nhất trong số các tổng thống gần đây, Trump lựa chọn Bill Clinton thuộc Đảng Dân chủ thay vì George H.W. Bush và George W. Bush thuộc Đảng Cộng hòa. Clinton's Foundation đã nhận khoảng 100.000 đến 250.000 USD từ Trump và cũng đã tham dự đám cưới của Trump năm 2005. Năm 2008 Trump có viết rằng Hillary Clinton sẽ là một "tổng thống hoặc phó tổng thống tuyệt vời".
Đảng phái chính trị của Trump thay đổi theo thời gian. Trước 1987, ông thuộc Đảng Dân chủ, sau đó gia nhập Đảng Cộng hòa từ 1987–1999. Sau đó ông chuyển qua Đảng Cải cách từ 1999–2001. Từ 2001–2009 ông lại quay về Đảng Dân chủ và lại tham gia Đảng Cộng hòa từ 2009–2011. Sau khi không theo đảng phái nào từ 2011–2012, ông trở về Đảng Cộng hòa nơi ông vẫn hoạt động từ 2012–nay.
=== Quan điểm chính trịSửa đổi ===
Trump miêu tả các khuynh hướng chính trị và quan điểm của ông bằng rất nhiều cách, đôi khi đối lập nhau qua theo thời gian. Các quan điểm dưới đây được chiếu theo năm 2016, dẫn nguồn từ các bài phát biểu công khai, các buổi tranh luận, thông cáo chính sách và theo như thông tin trên website của chiến dịch.
Trump mô tả mình là một người chống nạo phá thai và sẽ cấm nạo phá thai muộn, trừ trường hợp do hiếp dâm, loạn luân hay vấn đề sức khỏe. Ông cũng ủng hộ việc kết thúc sự trợ cấp của nhà nước cho tổ chức Planned Parenthood.
Trump ủng hộ Tu chính án thứ hai, phản đối việc kiểm soát súng đạn và ông cũng có giấy phép mang súng kín của New York. Ông ủng hộ việc sửa lại hệ thống điều tra lý lịch liên bang, nhờ đó tội phạm và các trường hợp thần kinh luôn được ghi chép trong hệ thống.
Về vấn đề y tế, Trump ủng hộ việc thay thế Đạo luật Bảo vệ Bệnh nhân và Chăm sóc sức khỏe Hợp túi tiền (thường được biết đến dưới cái tên "Obamacare") với kế hoạch thị trường tự do cho chăm sóc sức khỏe có cạnh tranh nhằm giảm giá thành, mặc dù trong quá khứ ông cũng từng tuyên bố ủng hộ hình thức nhà nước bao cấp chăm sóc sức khỏe. Trump ủng hộ việc dỡ bỏ chế độ dự trữ và xếp hàng, bắt nguồn từ vụ bê bối chăm sóc sức khỏe cựu chiến binh năm 2014. Trong một thông cáo, ông nói rằng các cơ sở của Bộ Cựu chiến binh cần được nâng cấp với công nghệ hiện đại, thuê nhiều cựu chiến binh để chữa trị cho các cựu chiến binh khác, gia tăng hỗ trợ cho các cựu chiến binh nữ và xây dựng các phòng khám vệ tinh quanh các bệnh viện ở các vùng hẻo lánh.
Trump phản đối hợp pháp hóa việc sử dụng cần sa cho mục đích tiêu khiển nhưng ủng hộ hợp pháp hóa cần sa cho mục đích y tế và cũng ủng hộ quyết định riêng của từng bang.
Trong vấn đề nhập cư, Trump nhấn mạnh vào an ninh biên giới. Trong buổi vận động tranh cử đầu tiên tại Derry, New Hampshire, Trump xác nhận rằng nếu ông đắc cử, "Trong ngày đầu tiên làm tổng thống, người nhập cư bất hợp pháp sẽ phải rời khỏi đây và rời khỏi đây nhanh". Trump phản đối quyền nhập quốc tịch cho trẻ sinh tại Mỹ, ông lập luận rằng điều này không được và không nên được bảo vệ bởi Tu chính án thứ 14 của Hiến pháp Hoa Kỳ.
Trump từng nói rằng sự ấm lên toàn cầu "hoàn toàn là một tin đồn nhảm". Ông cũng nói rằng "khái niệm ấm lên toàn cầu được tạo ra bởi Trung Quốc, phục vụ cho Trung Quốc nhằm làm cho ngành công nghiệp sản xuất của Mỹ mất khả năng cạnh tranh", mặc dù sau này ông có đính chính đây chỉ là trò đùa. Ông nói rằng "Cục Bảo vệ Môi trường Mỹ (EPA) là một chướng ngại vật cho sự tăng trưởng và nghề nghiệp". Trump ủng hộ phát triển khai thác dầu đá phiến và chỉ trích điện gió, nói rằng "các máy phát điện gió hủy hoại mọi vùng quê mà chúng có mặt" trong khi sản xuất loại năng lựong "không đáng tin cậy và tồi tệ".
Trump nói rằng ông ủng hộ hôn nhân truyền thống. Tháng 6 năm 2015, sau vụ kiện giữa Obergefell và Hodges, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đưa ra phán quyết hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính trên toàn quốc, ông nói: "Tôi thích để cho các bang tự đưa ra quyết định hơn, và tôi muốn bạn biết điều đó. Nhưng họ đã đưa ra quyết định rồi. [...] Thế nên, đến một lúc nào đó bạn phải tư duy thực tế về chuyện này".
Về vấn đề lương tối thiểu, Trump tin rằng không nên tăng lương tối thiểu vì nó sẽ gây bất lợi cho sức cạnh tranh của nền kinh tế Mỹ.
Trump cũng ủng hộ cho các trường và địa phương tự quyết định chương trình học bậc tiểu học và trung học cơ sở. Ông phản đối tiêu chuẩn liên bang về chương trình học Common Core cho bậc tiểu học và trung học cơ sở, và gọi đó là một "thảm họa" cần phải đựoc chấm dứt.
=== Ý định tranh cử tổng thống, 1988-2012Sửa đổi ===
Trump có để ngỏ ý định tranh cử tổng thống vào các năm 1988, 2004 và 2012 và tranh cử Thống đốc New York vào các năm 2006 và 2014, nhưng đều không thực hiện. Ông cũng được coi là bạn đồng hành tiềm năng của George H. W. Bush cho tấm vé vào Nhà Trắng của Đảng Cộng hòa, nhưng rồi thua cuộc trước Phó Tổng thống sau này là Dan Quayle. Hiện tại dư luận vẫn đặt dấu hỏi nguyên nhân là do Trump hay chiến dịch của Bush. Năm 1999, Trump nộp hồ sơ thành lập hội đồng thăm dò để tìm kiếm đề cử ứng viên tổng thống của Đảng Cải cách vào năm 2000. Một cuộc thăm dò tháng 7 năm 1999 so sánh ông với ứng viên được dự báo của Đảng Cộng hòa George W. Bush và ứng viên được dự báo của Đảng Dân chủ Al Gore cho thấy Trump có bảy phần trăm số người ủng hộ. Mặc dù sau đó Trump bỏ cuộc vì lý do lục đục nội bộ đảng, Trump vẫn giành chiến thắng trong cuộc bầu cử sơ bộ của đảng tại bang California và Michigan.
Sau này Trump có nói rằng tầm ảnh hưởng trên phạm vi quốc gia của ông đã thay đổi: "Chuyện là tôi đã tham gia The Apprentice và nó trở nên cực kì thành công. Ai mà biết trước được điều đó?", ông trả lời người phỏng vấn Larry King năm 2005. "Không gì có thể sánh được việc có một chương trình nổi tiếng trên TV cả", Trump nói.
Trong khi Trump công khai cân nhắc việc tìm kiếm đề cử ứng viên tổng thống năm 2012 của Đảng Cộng hòa, một thăm dò dư luận của Wall Street Journal/NBC News công bố tháng 3 năm 2011 cho thấy Trump dẫn đầu trong số những đối thủ tiềm năng, hơn cựu Thống đốc bang Massachusetts Mitt Romney một điểm. Một thăm dò của Newsweek thực hiện tháng 2 năm 2011 cho thấy Trump hơn Barack Obama vài điểm, trong bối cảnh có rất nhiều cử tri còn đang lưỡng lự cho cuộc bầu cử tổng thống tháng 11 năm 2012. Một thăm dò được công bố tháng 4 năm 2011 bởi Public Policy Polling cho thấy Trump dẫn đầu với khoảng cách chín điểm trong một cuộc cạnh tranh tiềm năng cho đề cử của Đảng Công hòa, giữa lúc ông vẫn đang cân nhắc về chuyện tranh cử. Giới truyền thông cho rằng hành động của Trump có thể là chiến lược quảng bá cho chương trình của ông The Apprentice. Ngày 16 tháng 5 năm 2011, Trump tuyên bố rằng ông sẽ không tranh cử tổng thống. Public Policy Polling miêu tả rằng các sự kiện trong tháng 5 năm 2011 là "một trong những lần lên và xuống nhanh nhất trong lịch sử tranh cử tổng thống".
=== Giữa hai lần tuyên bố tranh cử tổng thống, 2011-2015Sửa đổi ===
Tháng 12 năm 2011, Donald Trump được xem là một trong mười người đàn ông còn sống được người Mỹ ngưỡng mộ nhất, ở vị trí thứ 7 với 1% người nêu tên (hạng 1 là Barack Obama được 17%, rồi đến George W. Bush được 3%), theo thăm dò của USA Today/Gallup.
Tháng 4 năm 2011, Trump đặt dấu hỏi về bằng chứng quốc tịch của Tổng thống Barack Obama, cáo buộc rằng "bà của ông ta ở Kenya nói rằng ông ta sinh ra ở Kenya và bà ấy đã ở đó và tận mắt chứng kiến" (Luận điểm của Trump bắt nguồn từ đoạn ghi âm bài phỏng vấn qua điện thoại với bà của Obama, sản phẩm của một mục sư bang Pennsylvania phản đối việc bầu Obama). Trump cũng hoài nghi việc liệu Obama có đủ điểm đầu vào Trường Luật Harvard hay không. Trump nói rằng ông đã gửi một nhóm điều tra tư nhân tới Hawaii, nơi sinh ghi trên giấy tờ của Obama và chia sẻ với The Today Show "họ không thể tin vào những gì họ tìm thấy". Ngày 25 tháng 4 năm 2011, Trump kêu gọi Obama hãy kết thúc vấn đề quốc tịch bằng việc công bố bản đầy đủ giấy khai sinh của mình. Hai ngày sau, Obama đưa ra thông cáo chính thức trong một nỗ lực của Nhà Trắng nhằm khép lại sự vụ và công bố bản đầy đủ giấy khai sinh của mình. Trump bày tỏ sự tự hào với vai trò của ông trong việc giấy khai sinh được công bố qua một buổi họp báo ngay sau đó, nói rằng ông mong rằng nó "hợp lý" và "chúng ta phải tận mắt thấy, nó có thật hay không?" Khi được hỏi vào tháng 7 năm 2015 có đúng Obama sinh ra ở Mỹ không, Trump nói: "Tôi thật sự không biết. Ý tôi là, tôi không hiểu tại sao trước đó ông ta không công bố giấy tờ của mình".
Tháng 12 năm 2008, Trump nổi lên với tư cách là người sớm ủng hộ kế hoạch năm 2009 nhằm giải cứu nền công nghiệp ô tô Mỹ của chính phủ, mà đến năm 2012 đã đựoc ủng hộ bởi 56% người dân Mỹ (63% số người ủng hộ ở Michigan), theo cuộc thăm dò từ Pew Research Center. Tuyên bố của Trump gợi ý rằng vaccine có thể gây ra bệnh tự kỉ trở thành đề tài chỉ trích của cộng đồng khoa học trên rất nhiều phương tiện thông tin đại chúng. Ông cũng bị chỉ trích bởi tuyên bố phủ nhận sự thay đổi khí hậu, bởi nó trái với quan điểm của cộng đồng khoa học.
Năm 2013, Trump là khách mời phát biểu tại Conservative Political Action Conference (Hội nghị Hành động Chính trị Bảo thủ - CPAC). Bài phát biểu hôm đó không có nhiều người lắng nghe. Ông đã dành hơn một triệu USD nhằm nghiên cứu tính khả thi của việc tranh cử tổng thống Mỹ. Tháng 10 năm 2013, Đảng Cộng hòa New York ban hành một bản ghi nhớ đề xuất rằng Trump nên tranh cử thống đốc bang năm 2014, cạnh tranh với Andrew Cuomo. Trump nói rằng mặc dù New York có một số vấn đề và thuế thì quá cao, việc tranh cử thống đốc bang không phải là mối quan tâm sâu sắc của ông. Tháng 2 năm 2015, Trump không gia hạn hợp đồng cho chương trình The Apprentice, dấy lên tin đồn rằng ông có thể chạy đua vào Nhà Trắng năm 2016.
=== Chiến dịch tranh cử tổng thống, 2016Sửa đổi ===
Trump chính thức tuyên bố tham gia tranh cử tổng thống nhiệm kì 2016 vào ngày 16 tháng 6 năm 2015. Thông cáo của ông được đưa ra tại một buổi vận động tranh cử ở Trump Tower tại Thành phố New York. Trong bài phát biểu, Trump cũng hứa sẽ tăng ngân sách An sinh Xã hội, đàm phán lại các hiệp định thương mại của Hoa Kỳ, phản đối chuẩn giáo dục liên bang Common Core và hoàn tất bức tường biên giới Mexico-Hoa Kỳ và bắt Mexico phải bỏ tiền xây dựng. Trump nói rằng ông sẽ tự bỏ tiền túi trang trải cho chiến dịch, không cần dùng tiền từ nhà tài trợ và các nhà vận động hành lang. Trump luôn nhận được kết quả cao suốt quá trình tranh cử trong các thăm dò dư luận. Một cuộc điều tra thực hiện bởi The Economist/YouGov công bố ngày 9 tháng 7 năm 2015, là cuộc thăm dò lớn đầu tiên trên toàn quốc cho thấy Trump là ứng viên dẫn đầu của Đảng Cộng hòa. Một thăm dò của Suffolk/USA Today công bố ngày 14 tháng 7 năm 2015 cho thấy có 17% cử tri Đảng Cộng hòa ủng hộ Trump, 14% ủng hộ Jeb Bush. Một thăm dò của Washington Post/ABC News thực hiện ngày 16–19 tháng 7 cho thấy Trump có 24% sự ủng hộ của Đảng Cộng hòa, hơn Scott Walker tại 13%. Một thăm dò của CNN/ORC cho thấy Trump dẫn đầu với 18% cử tri Đảng Cộng hòa ủng hộ, hơn Jeb Bush tại 15%. Một thăm dò của CBS News ngày 4 tháng 8 cho thấy Trump có 24% người ủng hộ, Bush đứng thứ hai với 13% và Walker thứ ba với 10%.
Tư tưởng chính trị theo chủ nghĩa đại chúng và dân tộc của Trump nhận được sự ủng hộ mãnh liệt của tầng lớp cử tri công nhân và cử tri có trình độ dưới đại học, trong bối cảnh có rất nhiều tranh cãi gay gắt xoay quanh ông trên các phưong tiện thông tin đại chúng. Những chính sách mà ông đề xuất và các bình luận của ông về tình hình đất nước đã giúp ông luôn là ứng viên dẫn đầu của Đảng Cộng hòa trong các thăm dò dư luận. Một số bình luận của ông đã được cho là gây tranh cãi bởi nhiều nhân vật chính trị và đặc biệt là các cơ quan truyền thông chính thống, những người liên tục đưa tin về Trump và gián tiếp giúp ông đạt kết quả cao trong các cuộc thăm dò. Việc được đưa tin liên tục cùng với khả năng tự chủ tài chính cho toàn bộ chiến dịch đã tạo điều kiện cho ông không cần tới mô hình super PAC, điều mà ông luôn chỉ trích cùng với các chính trị gia sử dụng mô hình này cho việc gây quỹ các chiến dịch của họ. Việc Trump nói không với nói giảm nói tranh trong chính trị đã trở thành chủ đề chính trong chiến dịch của ông và được số đông người ủng hộ yêu thích. Tuyên bố gây ra nhiều tranh cãi nhất và được đưa tin nhiều nhất của Trump liên quan tới vấn đề nhập cư và an ninh biên giới, với việc Trump đề nghị trục xuất toàn bộ người nhập cư bất hợp pháp, xây tường dọc biên giới Mexico, và lệnh cấm tạm thời người Hồi giáo nhập cảnh vào Hoa Kỳ, trong khi đưa ra những bình luận mang tính kích động về những người nhập cư bất hợp pháp vào Mỹ qua biên giới Mexico.
Trump nhận đựoc sự ủng hộ rộng khắp cho ý tưởng mà ông và những người ủng hộ gọi là "có sao nói vậy", với thái độ lên án kịch liệt cách nói giảm nói tránh của chính trị gia. Việc chạy đua của ông đối trọng với phe truyền thống của Đảng Cộng hòa, những người phản đối chiến dịch của ông và quan ngại rằng việc ông được đề cử có thể khiến cho Đảng Dân chủ giành được thắng lợi cuối cùng. Tuy nhiên, chiến dịch của Trump vẫn đang đạt được thắng lợi lớn, một phần do sự đưa tin rộng khắp của giới truyền thông. Ông thường xuyên đưa ra những tuyên bố mạnh mẽ và gây tranh cãi về những vấn đề thu hút sự chú ý của tầng lớp cử tri công nhân. Các đối thủ chính trị nói rằng Trump cố tình gây "bất hòa", "không nghiêm túc" và là một "tên du côn".
Trump đã thực hiện một số công kích cá nhân vào các nhân vật quan trọng trong giới báo chí, chính trị gia và các đối thủ. Ông thường đăng tải nhiều tin trên Twitter bày tỏ thái độ bức xúc về những người chỉ trích ông hoặc người mà ông không đồng quan điểm. Một "bách khoa toàn thư" đầy đủ về những tin "xúc phạm" của Trump đã đựoc đăng tải trên New York Times.
Không cần tới mô hình super PAC (Hội đồng Hoạt động Chính trị) rất phổ biến trong số các đối thủ, Trump nhấn mạnh rằng khả năng độc lập tài chính cho chiến dịch của mình – nhờ có khối tài sản cá nhân đáng kể (do ông là tỷ phú) – là bằng chứng cho thấy ông "không thể bị mua chuộc". Tuy nhiên, cho tới 15 tháng 10 thì quyên góp đã vượt mặt tự chủ tài chính. Trump chi tiền ít hơn các đối thủ rất nhiều, chủ yếu dựa vào sự đưa tin miễn phí của báo giới thay vì phải thuê quảng cáo trên truyền hình.
Chính sách nhập cư của Trump đề nghị trục xuất 11 triệu người nhập cư bất hợp pháp tại Mỹ và xây dựng một bức tường lớn dọc biên giới Mexico–Hoa Kỳ. Felipe Calderon, cựu tổng thống Mexico nói rằng, "Chúng tôi sẽ không trả một xu nào cho một bức tường ngớ ngẩn như vậy! Và nó cũng sẽ hoàn toàn vô dụng".
Trump cũng kêu gọi không kích quyết liệt nhóm khủng bố ở Trung Đông ISIS và ủng hộ việc theo dõi các nhà thờ hồi giáo ở Mỹ.
Trump có phát biểu rất đanh thép về tôn giáo. Ông kêu gọi một lệnh cấm tạm thời người Hồi giáo nhập cảnh vào Mỹ, viện dẫn mối liên hệ giữa người Hồi giáo và khủng bố. Ông cũng đặt câu hỏi về đức tin của các ứng viên khác, bao gồm Ben Carson và Ted Cruz.
Các vấn đề khác mà ông nhấn mạnh bao gồm việc chăm lo cho cựu chiến binh, củng cố lại quân đội "mạnh hơn", và kéo các hiệp ước thương mại về phía có lợi cho người lao động Mỹ.
==== Đề xuất lệnh cấm người Hồi giáo nhập cảnh vào MỹSửa đổi ====
Tuy nhiên, một số lượng lớn và đa dạng người nổi tiếng không đồng tình với ý kiến của Trump. Đề xuất vấp phải sự chỉ trích rộng khắp từ cả trong và ngoài nước Mỹ – bao gồm cả những nhân vật ít khi dính dáng tới các chiến dịch bầu cử tổng thống Mỹ như các lãnh đạo nước ngoài và chính những người lãnh đạo đảng của Trump, những người có quan điểm hiếm khi đối lập trong kì bầu cử sơ bộ của đảng. Cụ thể, những người chỉ trích gồm có Thủ tướng Anh David Cameron, Thủ tướng Pháp Manuel Valls và Ngoại trưởng Canada Stephane Dion, Chủ tịch Đảng Cộng hòa Reince Priebus, Người phát ngôn Hạ viện Mỹ thuộc Đảng Cộng hòa Paul Ryan, Người đứng đầu đảng đa số Thượng viện Mỹ thuộc Đảng Cộng hòa Mitch McConnell. Một cuộc vận động nhằm cấm Trump nhập cảnh vào Vương quốc Anh đã nhận được trên 540.000 chữ ký, một kỉ lục cho website của Chính phủ Anh. Các thành viên trong chính đảng của Trump cũng tranh luận rằng một đề xuất cấm thành viên của một tôn giáo lớn trên thế giới vi phạm những giá trị truyền thống của đảng, đó là Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp (quyền được tự do tôn giáo) và nguồn gốc nhập cư của quốc gia. Những người chỉ trích cũng chỉ ra rằng đề nghị này cũng dẫn đến việc cấm cửa nhiều đồng minh thân cận nhất trong cuộc chiến chống khủng bố của đất nước, từ những người phiên dịch trợ giúp cho CIA cho đến Quốc vương Abdullah của Jordan và nó sẽ có lợi cho ISIL thông qua việc củng cố luận điểm của ISIL rằng Hoa Kỳ đang chống lại đức tin của người Hồi giáo. Lầu Năm Góc đã đưa ra thông cáo rằng "bất cứ điều gì đem lại lợi ích cho các luận điểm của ISIL và đem nước Mỹ chống lại đức tin người Hồi giáo thì không chỉ đi ngược lại những giá trị của đất nước mà còn đi ngược lại an ninh quốc gia". The Washington Post đưa tin, "Donald Trump có mặt trong một video tuyển mộ mới của những kẻ thánh chiến".
Tháng 1 năm 2013, Trump là một nhân vật nổi tiếng ở Israel, đã mua đất ở Israel. Trump còn đăng tải một đoạn video ủng hộ Thủ tướng Israel Benjamin Netanyahu trong kì bầu cử năm 2013. Tuy nhiên, sau lời kêu gọi tạm thời cấm người Hồi giáo tới Hoa Kỳ, nhiều lãnh tụ Do thái, bao gồm cả Netanyahu, đã chỉ trích đề xuất của Trump. Hàng chục thành viên nội các Israel, trong đó nhiều người theo đạo Hồi, gồm đủ mọi tư tưởng chính trị, đã ký một bản kiến nghị kêu gọi Netanyahu không gặp mặt Trump trong tháng đó. Một ngày sau, Trump hoãn chuyến thăm tới Israel cho tới khi "một ngày nào đó sau khi tôi trở thành Tổng thống Mỹ", nói rằng ông không muốn khiến cho Netanyahu phải "chịu áp lực".
Trong một cuộc tranh luận của đài Fox News, khi được hỏi về tính khả thi của kế hoạch cấm người Hồi giáo tới Mỹ, Trump nói rằng Bỉ và Pháp đã gặp tai họa bởi người Hồi giáo ở các nước đó không thể hòa nhập. Trump nói rằng sống ở Brussels như sống ở "địa ngục" vì sự đồng hóa của người Hồi giáo ở mức khủng khiếp.
==== Kiến nghị cấm Trump tới Vương quốc AnhSửa đổi ====
Ngay sau những bình luận gây tranh cãi của Trump về vấn đề người nhập cư Hồi giáo, một cuộc vận động với tên gọi "Cấm Donald J. Trump tới Anh" được phát động ở Anh, trên trang web kiến nghị điện tử của Quốc hội, kêu gọi Chính phủ Anh cấm ông nhập cảnh. Tới 05:00 ngày 11 tháng 12, tổng số chữ ký đã vượt quá 500.000, vượt xa mức 100.000 theo yêu cầu để triệu tập một cuộc tranh luận trong Nghị viện. Ngày 18 tháng 1, Hạ viện Anh tranh luận về vấn đề này, nhưng cuối cùng không tổ chức bỏ phiếu vì các nghị sĩ không có quyền để ban hành một lệnh cấm như vậy. Cuộc tranh luận kéo dài 3 giờ đồng hồ đã chứng kiến thành viên của tất cả các bên trong nghị viện miêu tả Trump là "một thằng hề", "điên khùng", "hiếu chiến" và "một kẻ khó ưa".
==== Phê bìnhSửa đổi ====
Roland Nelles, biên tập trưởng về mục chính trị báo Spiegel, Đức viết từ Washington nhân ngày "Super Tuesday", "Trump không phải là Hoa Kỳ. Ông ta chỉ đại diện cho mặt xấu của Mỹ.
== Đời sống cá nhânSửa đổi ==
Trump đã ba lần kết hôn, cả ba lần đều được giới báo lá cải đưa tin rất chi tiết. Đời sống cá nhân của ông cũng nhận được sự chú ý đặc biệt của giới truyền thông.
Trump kết hôn với người mẫu Ivana Zelníčková vào ngày 7 tháng 4 năm 1977 tại Nhà thờ Marble Collegiate ở New York. Họ có ba người con: hai con trai Donald Jr. (sinh ngày 31 tháng 12 năm 1977) và Eric (sinh ngày 6 tháng 1 năm 1984) và con gái Ivanka (sinh ngày 30 tháng 10 năm 1981). Ivana nhập quốc tịch Mỹ năm 1988 với Trump là người bảo lãnh. Trump được nhiều người biết đến với cái tên "The Donald", biệt danh được giới truyền thông hay dùng sau khi được Ivana sử dụng trong một lần xuất hiện trên Spy Magazine năm 1989. Tới đầu năm 1990, chuyện hôn nhân rạn nứt giữa Trump và Ivanna và việc Trump ngoại tình với diễn viên Marla Maples trong một thời gian dài đã được đưa tin khắp các báo lá cải. Họ tiến tới li dị vào năm 1991.
Maples sinh cho Trump một người con gái, Tiffany, vào ngày 13 tháng 10 năm 1993. Cặp đôi kết hôn sau đó hai tháng vào ngày 20 tháng 12 năm 1993. Họ chính thức li thân vào tháng 5 năm 1997 và li dị vào tháng 6 năm 1999.
Trump có qua lại với người mẫu Kara Young vào giữa và cuối những năm 1990 và được cho là đã "khủng bố" Công nương Diana bằng những bó hoa đắt tiền sau khi bà li dị Hoàng tử Charles năm 1996. "Tôi chỉ có một điều hối tiếc về chuyện tình ái – đó là tôi chưa từng có cơ hội được tỏ tình với Công nương Diana Spencer", Trump viết trong cuốn sách xuất bản năm 1997 của mình The Art of the Comeback (Nghệ thuật Lội ngược dòng). "Tôi có gặp bà ấy một vài lần... Bà là một công chúa đích thực – một người phụ nữ trong mơ".
Năm 1998, Trump bắt đầu mối quan hệ với người mẫu thời trang gốc Slovenia, Melania Knauss. Họ đính hôn vào tháng 4 năm 2004 và kết hôn ngày 22 tháng 1 năm 2005 tại Nhà thờ Episcopal Bethesda-by-the-Sea, Palm Beach, Florida, sau đó tổ chức tiệc tại dinh thự Mar-A-Lago của Trump. Năm 2005, Melania nhập quốc tịch Mỹ. Cũng năm đó, bà sinh cho Trump một người con trai Barron William Trump. (Trump trước đó từng sử dụng bút danh "John Barron" trong một số giao kèo kinh doanh). Barron thông thạo tiếng Slovene do sử dụng từ khi còn nhỏ. Trong một buổi phỏng vấn tháng 2 năm 2009 trên bản tin Nightline của đài ABC, Trump có bình luận về những người vợ cũ: "Tôi biết là rất khó cho họ [Ivana và Marla] để có thể cạnh tranh vì tôi yêu những gì tôi có. Thực sự là như vậy".
Trump có tám người cháu: năm người cháu nội của Donald Jr. (Kai Madison, Donald John III, Tristan Milos, Spencer Frederick và Chloe Sophia) và ba đứa cháu ngoại của Ivanka (Arabella Rose và Joseph Frederick).
=== Quan điểm tôn giáoSửa đổi ===
Trump là người theo Giáo hội Trưởng Nhiệm. Trong một bài phỏng vấn tháng 4 năm 2011 trên chương trình 700 Club, ông bình luận: "Tôi theo đạo Tin Lành, tôi theo Giáo hội Trưởng Nhiệm. Và bạn biết đấy tôi có mối quan hệ tốt đẹp với nhà thờ trong suốt những năm qua. Tôi nghĩ rằng tôn giáo là một điều tuyệt vời. Tôi nghĩ rằng đạo của tôi là một tôn giáo tuyệt vời". Trump nói với khán giả của một buổi vận động tranh cử năm 2015 tại Nam Carolina rằng ông sinh hoạt tại Nhà thờ Marble Collegiate, nơi ông kết hôn với người vợ đầu Ivana năm 1977. Nhà thờ nói rằng ông "không phải là một thành viên tích cực".
Năm 1983, Đức cha Norman Vincent Peale, người được miêu tả trong một bản tiểu sử trên New York Times là "cha xứ" của nhà Trump, nói rằng Trump là người "tử tế và nhã nhặn trong các cuộc thương lượng và là người hết sức khiêm nhường một cách trung thực". Trump nói rằng cuốn The Art of Deal (Nghệ thuật Đàm phán) (1987) mà ông viết là "cuốn sách ưa thích thứ nhì" của ông và nói với khán giả trong các cuộc vận động tranh cử: "Các bạn có biết cuốn sách ưa thích nhất của tôi là gì không? Kinh thánh! Không gì hơn được Kinh thánh". Ông từ chối chia sẻ tiết Kinh thánh mà mình thích nhất, ông nói "Tôi không thích chia sẻ điều này với những người mà tôi gần như không quen biết".
Trump nói rằng, mặc dù ông tham gia Tiệc Thánh, ông không đòi hỏi Chúa tha thứ cho tội lỗi của mình. Ông nói rằng: "Nếu tôi nghĩ rằng tôi đã làm chuyện gì sai, thì, tôi sẽ cố gắng sửa chữa nó. Tôi không muốn lôi Chúa vào chuyện này".
Trump cũng ca ngợi và giữ mối quan hệ với một vài chính trị gia nổi tiếng theo phong trào Tin Lành và Kitô giáo, bao gồm Tony Perkins và Ralph Reed. Trong chiến dịch tranh cử tổng thống 2016 của ông, ông nhận được lời chúc phúc từ linh mục Chính thống giáo Hy Lạp Emmanuel Lemelson.
Trump cũng có mối quan hệ chặt chẽ với cộng đồng người Do Thái Mỹ. Khi được hỏi tại lễ trao thưởng giải Algemeiner Journal năm 2015 về việc có cháu người Do Thái, Trump nói: "Tôi không chỉ có cháu người Do Thái, tôi còn có con gái người Do Thái (Ivanka đã cải đạo sang Do Thái giáo trước khi cưới Jared Kushner) và tôi rất vinh dự vì điều đó... tuy không phải điều tôi dự kiến nhưng tôi mừng là nó đã xảy ra".
=== Kiểu tócSửa đổi ===
Kiểu tóc của Trump đã được nghiên cứu rộng khắp và thường là tiêu điểm cho các bình luận hài hước. Kiểu đầu của ông nổi tiếng vì hình dáng đặc biệt, màu trắng cát vàng và theo Vanity Fair miêu tả thì nó là một kiểu "chải ngược đôi" hai hướng lạ mắt, nên nó đặc biệt nổi bật trong môi trường ánh sáng mạnh. Louis Licari phỏng đoán rằng đây đúng là tóc của Trump, nhưng là do cấy ghép tóc, có thể đã được thực hiện bởi người tiên phong trong lĩnh vực cấy ghép tóc Norman Orentreich. Một tiểu sử không chính thức năm 1993 thực hiện bởi phóng viên Harry Hurt III của Newsweek nói rằng Trump đã trải qua cuộc phẫu thuật gọt da đầu đầy đau đớn vào năm 1989, thực hiện bởi một trong những bác sĩ phẫu thuật thẩm mĩ của vợ [cũ] Ivana, mà sau này Trump đã phủ nhận. Tháng 8 năm 2015, trong một buổi vận động tại Mobile, Alabama, Trump nói: "Nếu trời mưa, tôi sẽ bỏ mũ và tôi sẽ chứng minh một lần và mãi mãi rằng nó là thật". Trump trả lời trên Playboy năm 2004 rằng ông tự tạo kiểu tóc cho mình và chỉ để một người tỉa nó: "Bạn gái [giờ là vợ] Melania". Trong những năm gần đây có tin nói rằng Trump có thợ cắt tóc riêng. Nói về các sản phẩm chăm sóc tóc, Trump nói trong một buổi vận động tranh cử ngày 30 tháng 12 năm 2015, tại Hilton Head, Nam Carolina rằng ông thích tự do sử dụng các sản phẩm tại căn hộ ở New York. Bàn về vấn đề môi trường liên quan tới các loại bình xịt, Trump gạt bỏ các loại bình bơm được ưa chuộng bởi các nhà hoạt động vì môi trường, nói rằng "Tôi muốn dùng bình xịt tóc!" Tháng 6 năm 2015, Trump nói với The Des Moines Register rằng ông có thể sẽ thay đổi kiểu tóc hiện tại nếu đắc cử Tổng thống Mỹ năm 2016, bởi ông sẽ không có thời gian vì ông sẽ phải "làm việc bở hơi tai tại Nhà Trắng".
== Các vấn đề pháp lýSửa đổi ==
=== Doanh nghiệp phá sảnSửa đổi ===
Đã có bốn doanh nghiệp của Trump phải đệ đơn xin phá sản theo Điều 11 Luật Phá sản Mỹ. Theo một báo cáo của Forbes năm 2011, nguyên nhân đều do việc kinh doanh khách sạn và sòng bạc tại Thành phố Atlantic gặp quá nhiều nợ nần, bao gồm Trump Taj Mahal (1991), Trump Plaza Hotel (1992), Trump Hotels & Casino Resorts (2004) và Trump Entertainment Resorts (2009). Trump nói rằng "Tôi đã vận dụng luật của nước mình để giảm bớt nợ... Chúng ta sẽ lập công ty. Chúng ta sẽ đệ đơn phá sản. Chúng ta sẽ thương lượng với ngân hàng. Chúng ta sẽ có một thỏa thuận tuyệt vời. Bạn biết đấy, như trong The Apprentice vậy. Đây không phải là chuyện cá nhân. Đây là chuyện làm ăn". Ông chỉ ra rằng các "doanh nhân vĩ đại" khác cũng làm như vậy.
Doanh nghiệp đầu tiên của Trump phải nộp đơn phá sản vào năm 1991, khi Trump Taj Mahal mất khả năng trả nợ. Forbes chỉ ra rằng trường hợp phá sản đầu tiên này là lần duy nhất có sự liên quan tới nguồn lực tài chính cá nhân của Trump. Tuy nhiên, Time lại cho rằng 72 triệu USD tiền túi của ông cũng có liên quan tới một vụ phá sản sau này vào năm 2004.
Ngày 2 tháng 11 năm 1992, Trump Plaza Hotel nộp hồ sơ nhận gói cứu trợ theo Điều 11 Luật Phá sản. Trong đó Trump đồng ý chuyển giao 49 phần trăm cổ phần của khách sạn cho Citibank và năm chủ nợ. Đổi lại Trump sẽ nhận được các ưu đãi trên khoản nợ hơn 550 triệu USD của các chủ nợ khác và vẫn là tổng giám đốc, mặc dù ông sẽ không có lương và không có vai trò gì trong các hoạt động hàng ngày.
Trong quá trình tái cấu trúc sau hai sự kiện trên, Trump đã giải quyết xong một phần lớn khoản nợ cá nhân 900 triệu USD của mình vào năm 1994 và giảm đi khá nhiều khoản nợ kinh doanh gần 3,5 tỉ USD. Mặc dù phải bán đi du thuyền Trump Princess và công ty Trump Shuttle (mua năm 1989), ông vẫn giữ lại đựoc Trump Tower ở Thành phố New York và sở hữu ba sòng bạc tại Thành phố Atlantic. Trump nhượng lại quyền sở hữu West Side Yards cho các chủ đầu tư châu Á theo như điều khoản trong thỏa thuận của ông với Chase Manhattan Bank. Trump được cho là đã được trả lợi tức từ việc đặt tên ông cho các cao ốc. Năm 1995, ông hợp nhất cổ phần ở các sòng bạc của mình vào Trump Hotels & Casino Resorts. Các khoản bất động sản khiến ông trở nên giàu có ngay cả khi lợi nhuận giảm sút.
Lần doanh nghiệp phá sản thứ ba xảy ra vào ngày 21 tháng 10 năm 2004, khi Trump Hotels & Casino Resorts tuyên bố tái cấu trúc lại các khoản nợ. Theo kế hoạch đặt ra, cổ phần của Trump được giảm từ 56 phần trăm xuống 27 phần trăm, các chủ trái phiếu sẽ xóa bớt nợ để đổi lấy nhận được cổ phần từ công ty. Trump Hotels buộc phải nộp đơn tự nguyện phá sản lấy gói cứu trợ để tiếp tục kinh doanh. Sau khi công ty nộp đơn vào tháng 11 năm 2004, Trump chấp nhận từ bỏ vị trí giám đốc điều hành nhưng vẫn giữ chức Chủ tịch Hội đồng quản trị. Tháng 5 năm 2005 công ty thoát khỏi trạng thái phá sản với tên mới Trump Entertainment Resorts Holdings. Viết về sự kiện này và những lần phá sản trước trong cuốn sách năm 2007 của mình, Think BIG and Kick Ass in Business and Life (Nghĩ lớn và Thành công trong Công việc và Cuộc sống), Trump viết: "Tôi nhận ra đó là lỗi của ngân hàng, không phải của tôi. Tôi đã bận tâm cái gì thế không biết? Tôi có nói với một ngân hàng, 'Tôi đã nói rồi lẽ ra các ông không nên cho tôi vay. Tôi đã nói rồi hợp đồng đó không tốt chút nào'".
Lần phá sản doanh nghiệp gần đây nhất của Trump là vào năm 2009. Ngày 13 tháng 2, Trump tuyên bố ông sẽ rút khỏi hội đồng quản trị của Trump Entertainment Resorts và bốn ngày sau đó công ty đệ đơn xin phá sản theo Điều 11 Luật Phá sản Mỹ. Tại thời điểm đó, Trump Entertainment Resorts có ba tài sản ở Thành phố Atlantic: Trump Taj Mahal, Trump Plaza và Trump Marina (bán năm 2011). Đầu tháng 8 năm 2014, Trump đâm đơn kiện yêu cầu gỡ tên ông khỏi Trump Plaza Hotels & Casino và các cơ sở vật chất của Taj Mahal vì ông không còn quyền sở hữu tại đây nữa. Trump Entertainment Resorts sau đó lại nộp đơn xin phá sản vào năm 2014.
=== Kiện tụngSửa đổi ===
Trong suốt sự nghiệp của mình, Trump đã khởi kiện và là mục tiêu của "hàng trăm" vụ kiện dân sự, điều mà luật sư của ông Alan Garten nói năm 2015 "một phần tất yếu của việc làm ăn trên đất nước này".
Năm 1973, Bộ Tư pháp kiện Trump Management Corporation vì được cho là đã phân biệt chủng tộc, một cáo buộc mà công ty của Trump đã phản bác. Vụ kiện được dàn xếp trước khi được đưa ra tòa năm 1975.
Năm 1990, sau khi một nhà phân tích tại Janney Montgomery Scott nói rằng dự án Taj Mahal của Trump ban đầu sẽ "phá kỉ lục" nhưng sẽ thất bại trước khi hết năm, Trump đe dọa sẽ kiện công ty chủ quản trừ khi nhà phân tích rút lại ý kiến hoặc bị sa thải. Nhà phân tích từ chối rút lại phát ngôn của mình và bị công ty sa thải. Taj Mahal sau đó nộp đơn xin phá sản lần đầu vào tháng 11 năm 1990. Nhà phân tích đã kiện Trump vì bôi nhọ danh dự, đòi bồi thường 2 triệu USD. Vụ kiện đã được dàn xếp trước khi ra tòa. Nhận định của nhà phân tích về tương lai của Taj Mahal sau này được nhận xét là "chính xác không tưởng".
Năm 2002, Ủy ban Chứng khoán Hoa Kỳ khởi xướng một vụ kiện tài chính chống lại Công ty Trump Hotels & Casino Resorts, tình nghi công ty đã công bố một số "thông tin sai lệch về thu nhập quý 3 năm 1999". Vụ kiện được dàn xếp mà bên bị đơn đều không công nhận hay phủ nhận cáo buộc.
Trong giai đoạn khủng hoảng tài chính 2008, Trump International Hotel & Tower (Chicago) không có đủ doanh số cần thiết. Chủ nợ Deutsche Bank từ chối đồng ý cho Trump hạ giá bán để tăng doanh số. Lập luận rằng việc khủng hoảng tài chính và thị trường bất động sản ảm đạm là do các yếu tố bất khả kháng, Trump đã viện dẫn một điều khoản trong hợp đồng nhằm không phải trả nợ. Sau đó Trump đâm đơn kiện, nói rằng hình ảnh của ông đã bị ảnh hưởng. Hai bên sau đó đồng ý rút đơn kiện và tiếp tục kinh doanh.
Năm 2008, Trump khởi xướng một vụ kiện lừa đảo và vi phạm quyền công dân 100 triệu USD chống lại thành phố Rancho Palos Verdes, California, một thành phố ven biển với 41.000 dân và ngân sách hàng năm chỉ dưới 20 triệu USD, do đã cản trở dự án căn hộ cao cấp và dự án mở rộng sân golf chống sạt lở (mua bởi Trump năm 2002 với giá 27 triệu USD) của ông. Trước đó Trump đã kiện một trường học ở địa phương vì một mảnh đất ông đã thuê từ trường nằm trong Trump National Golf Club, và sau đó làm phật ý một số người dân địa phương bằng việc đổi tên một con đường theo tên ông. Luật sư của Trump đã không thế thuyết phục thẩm phán rằng "tư tưởng chống phát triển không biết mệt mỏi" của thành phố đã cản trở tham vọng của Trump, vì Trump trước đó chưa từng nộp hồ sơ xin cấp phép. Vụ kiện kéo dài mãi đến 2012 với kết quả là Trump và thành phố đồng ý thay đổi thăm dò địa chất và mở rộng giấy phép cho 20 căn hộ cao cấp đựoc như đã đề xuất (cùng với 36 căn trước đó đã được cấp phép). Cuối cùng Trump lựa chọn không thay đổi vĩnh viễn mục đích sử dụng đất thay vì mở rộng việc xây nhà trên vùng đất vốn là sân golf cũ.
Năm 2009, Trump bị kiện bởi những nhà đầu tư đã đặt cọc tiền, từ 200.000 đến 300.000 USD một người cho các chung cư trong dự án treo Trump Ocean Resort Baja Mexico. Các nhà đầu tư cho rằng Trump (đã cho các nhà đầu tư tiềm năng xem các video quảng bá) đã gây hiểu nhầm về vai trò của ông trong dự án, rằng sau khi dự án bất thành Trump nói mình chỉ là người phát ngôn, rũ bỏ toàn bộ trách nhiệm tài chính. Họ được thông báo chóng vánh rằng họ sẽ không được hoàn lại gì hết. Tờ Associated Press năm 2009 đã miêu tả: "Những gì còn sót lại của Trump Baja là một biển quảng cáo với tấm hình lớn của Donald Trump mời chào mở bán chung cư. Nó được treo phía trên một showroom và cửa hàng đã đóng cửa, một bãi đậu xe được lát gạch, một cái hố to cắt ngang bãi cỏ, vài ống cống và các thiết bị xây dựng". Trong quá trình pháp lý diễn ra tại tòa án bang California, luật sư của Trump chất vấn một phóng viên San Diego Union-Tribune về phóng sự năm 2006 với tựa đề "Trump đặt 'tên' mình cho Baja với chung cư-khách sạn", trong đó có trích lời Trump nói rằng ông là nhà đầu tư vốn chủ sở hữu "cỡ lớn" của dự án. Tòa án bang California đã bác bỏ mánh khóe pháp lý của Trump, đứng về phía các luật sư lập luận rằng Luật Bảo hộ California không cho phép việc điều tra nguồn tin của phóng viên. Năm 2013, Trump đi đến hòa giải với hơn 100 người sẽ-là chủ chung cư, với khoản tiền bồi thường không được tiết lộ.
Năm 2011, tòa phúc thẩm đã giữ nguyên quyết định của thẩm phán Tòa án bang New Jersey, bác bỏ cáo buộc bôi nhọ danh dự và đòi 5 tỉ USD bồi thường của Trump đối với Timothy L. O'Brien, người đã viết trong cuốn sách của mình, TrumpNation: The Art of Being The Donald (Quốc gia Trump: Nghệ thuật khi là The Donald) (2006), rằng tổng tài sản thực sự của Trump thực chất chỉ từ 150 đến 250 triệu USD, không phải "hàng tỷ" như Trump đã nói với tác giả và công khai tuyên bố năm 2005. Trump phàn nàn rằng việc tác giả được cho là cố tình đánh giá thấp tổng tài sản của ông là có mục đích xấu và đã khiến ông mất các hợp đồng làm ăn và ảnh hưởng tới uy tín của ông. Tuy nhiên toà phúc thẩm lại lưu tâm tới sự nhất quán của ba nguồn tin mật mà O'Brien có đựoc.
Trump đã khởi kiện danh hài Bill Maher 5 triệu USD vào năm 2013, về việc Maher xuất hiện trong chương trình The Tonight Show with Jay Leno và nói sẽ quyên góp 5 triệu USD cho một tổ chức từ thiện nếu Trump đưa ra giấy khai sinh chứng minh rằng mẹ ông đã không giao phối với đười ươi. Hành động này nhằm đáp lại việc Trump trước đó đã thách thức Obama đưa ra giấy khai sinh của mình, nói sẽ quyên góp 5 triệu USD cho một tổ chức từ thiện mà Obama chọn nếu Obama đưa ra được đơn nhập học đại học, bảng điểm và lý lịch hộ chiếu. Trump đã đưa ra giấy khai sinh của mình, và khởi kiện sau khi Maher không giữ lời, với lập luận rằng lời đề nghị 5 triệu USD của Maher là có tính pháp lý. "Tôi không nghĩ là ông ấy đùa", Trump nói. "Ông ấy nói một cách đầy ác ý". Maher đáp lại rằng Trump nên học cách phân biệt "đâu là lời nói đùa và đâu là hợp đồng" và hệ thống pháp lý của Mỹ "không phải là đồ chơi cho bọn nhà giàu đần độn đùa nghịch", nói rằng người và đười ươi đương nhiên không thể có con với nhau. Trump rút lại đơn kiện danh hài tám tuần sau đó.
Năm 2013, một vụ kiện khởi xướng bởi Tổng chưởng lý New York Eric Schneiderman cáo buộc Trump lừa đảo hơn 5.000 người với số tiền 40 triệu USD về cơ hội được học kĩ thuật đầu tư bất động sản của Trump ở một chương trình vì lợi nhuận, Đại học Trump, hoạt động từ 2005 đến 2011. Schneiderman lập luận rằng các hội nghị chuyên đề của Trump cấu thành một "cơ sở giáo dục không được cấp phép và bất hợp pháp", sử dụng quảng cáo sai lệch, chiến lược treo đầu dê bán thịt chó, cố tình truyền đạt sai và các thủ thuật lừa đảo khác. Tháng 1 năm 2014, Tòa án bang New York đồng tình với một số cáo buộc của Tổng chưởng lý, và vào tháng 10 năm 2014, nhận định Trump chịu trách nhiệm về việc không có giấy phép hoạt động trường đầu tư vì lợi nhuận, Trump Entrepreneur Initiative, trước đó được biết đến dưới tên Đại học Trump. (Trump ngừng sử dụng từ "Đại học" sau chỉ thị năm 2010 của nhà chức trách New York, nói rằng việc sử dụng từ đó của Trump là "gây nhầm lẫn và thậm chí bất hợp pháp", chính quyền bang trước đó đã cảnh báo Trump vào năm 2005 không sử dụng từ này hoặc không mở các hội nghị chuyên đề tại New York). Trong một vụ kiện dân sự tập thể khác vào giữa tháng 2 năm 2014, một thẩm phán liên bang San Diego cho phép nguyên đơn tại California, Florida và New York khởi kiện. Trump đã kiện ngược lại, cho rằng việc điều tra của Tổng chưởng lý đi kèm với việc ông ép buộc quyên góp cho chiến dịch tranh cử. Vụ việc được điều tra bởi ủy ban đạo đức New York và bị bác bỏ tháng 8 năm 2015. Trump cũng khởi xướng vụ kiện bôi nhọ danh dự và đòi 1 triệu USD bồi thường đối với cựu sinh viên Đại học Trump Tarla Makaeff, người đã chi khoảng 37.000 USD cho các buổi hội nghị chuyên đề, sau khi bà tham gia vụ kiện tập thể và công khai trải nghiệm ở lớp học trên mạng xã hội. Không thể chứng minh được mục đích xấu, Đại học Trump thua kiện khi bị kiện ngược với cáo buộc cố tình khởi kiện chiến thuật để bịt miệng nhân chứng, bị buộc phải trả Makaeff và luật sư của bà 798.774,24 USD chi phí tố tụng theo phán quyết của một thẩm phán tòa án quận đưa ra tháng 4 năm 2015. "Điều đó chứng tỏ họ sẽ cố gắng tới đâu để bịt miệng người khác", Makaeff bình luận.
Năm 2014, cựu hoa hậu Pennsylvania Sheena Monnin bị xử thua 5 triệu USD, sau khi bị kiện bởi Trump vì đã cáo buộc kết quả cuộc thi Hoa hậu Mỹ 2012 đã đựoc dàn xếp. Monnin viết trên trang Facebook của cô rằng trong một buổi tập, một thí sinh khác kể với cô là cô ta đã trông thấy danh sách năm người đứng đầu, và khi năm cái tên đó được công bố theo đúng thứ tự, Monnin nhận ra là quy trình bỏ phiếu của cuộc thi có sự mờ ám, khiến cô từ bỏ danh hiệu Hoa hậu Pennsylvania của mình. Luật sư của Trump nói rằng cáo buộc của Monnin khiến cho cuộc thi mất một hợp đồng tài trợ lớn từ British Petroleum và đã làm nản lòng những người muốn tham dự Hoa hậu Mỹ trong tương lai. Theo lời Monnin, lời khai từ Tổ chức Hoa hậu Hoàn vũ và Ernst & Young tiết lộ rằng top 15 người đứng đầu được lựa chọn bởi các đạo diễn cuộc thi, bất kể điểm số của các giám khảo. Điều khoản của phán quyết cũng không yêu cầu Monnin phải rút lại tuyên bố ban đầu của mình. "Nói ra sự thật đã khiến tôi mất đi quá nhiều", Monnin nói.
Năm 2014, người mẫu Alexia Palmer khởi kiện dân sự chống lại Trump Model Management vì đã hứa một mức lương 75.000 USD hàng năm nhưng chỉ trả 3.380,75 USD cho ba năm làm việc. Palmer cho rằng mình đang bị nợ hơn 200,000 USD. Palmer quả quyết rằng ngoài ngoài một khoản phí quản lý thì Trump Model Management đều trừ "các khoản chi mờ ám", từ bưu phẩm cho tới các chuyến xe limousine, vào phần lương còn lại của cô. Luật sư của Trump Alan Garten cho rằng vụ kiện là "giả mạo và hoàn toàn phù phiếm".
Năm 2015, Trump khởi xướng một vụ kiện 100 triệu USD đối với hạt Palm Beach, cho rằng các nhà chức trách, bằng một hành động "có tính toán và đầy ác ý", đã gây áp lực lên Cục Hàng không Liên bang (FAA) để họ chuyển hướng toàn bộ lưu lượng đường không tới Sân bay Quốc tế Palm Beach bay qua dinh thự Mar-A-Lago của ông. Lượng không lưu được cho là đã gây hại tới kiến trúc công trình và gây ô nhiễm tiếng ồn. Trump trước đó đã hai lần khởi kiện vì tiếng ồn từ sân bay.
Tháng 7 năm 2015, Trump khởi xướng một vụ kiện 10 triệu USD đối với đầu bếp José Andrés, cho rằng ông đã phá bỏ thỏa thuận mở một nhà hàng hàng đầu tại Trump International Hotel Washington, D.C. Andrés đáp lại rằng vụ kiện của Trump "vừa không bất ngờ và không có giá trị". Đầu bếp Geoffrey Zakarian, người mà cũng như Andrés, đã rút lui khỏi dự án Trump International Hotel sau những bình luận của Trump về người nhập cư bất hợp pháp Mexico (và cũng là người được dự đoán là sẽ mất 500.000 USD khoản đặt cọc cho thuê nhà hàng vì chuyện này). Trump sau đó đã khởi kiện Zakarian vào tháng 8 năm 2015 với số tiền "trên 10 triệu USD" vì bị mất chỗ thuê và các thiệt hại khác. Đơn kiện của Trump có nhắc tới lời bình luận của Zakarian "tò mò bởi lẽ quan điểm được công bố rộng rãi của ông Trump về người nhập cư luôn nhất quán qua nhiều năm, và việc ông Trump luôn sẵn sàng chia sẻ thẳng thắn quan điểm của mình thì ai cũng biết".
=== Mối liên hệ với tội phạm có tổ chứcSửa đổi ===
Nhà báo đoạt giải Pulitzer David Cay Johnston, và nhà báo điều tra Wayne Barrett người đã viết bản tiểu sử không chính thức của Trump năm 1992, cáo buộc Trump và các công ty của ông có làm ăn với các băng đảng ở New York và Philadelphia có dính dáng tới Mafia Mỹ gốc Italia. Theo như Washington Post, "Ông ấy chưa từng bị kết án, mà theo như những người sống vào thời đó thì ai làm ăn với các đối tượng xã hội đen và các con buôn chính trị cũng đều dính chàm".
Johnston và Barrett quả quyết rằng Trump mua khu đất mà sau này là Trump Plaza Thành phố Atlantic với giá gấp đôi giá thị trường từ thành viên của băng đảng tội phạm Philadelphia Salvatore Testa và theo như báo cáo năm 1986 của Ủy ban Điều tra Bang New Jersey về tội phạm có tổ chức thì Trump đã xây dựng sòng bạc nhờ hai doanh nghiệp được sở hữu bởi Nicodemo Scarfo. Mặc dù Trump là mục tiêu liên bang trong một điều tra hối lộ năm 1979 và sau đó được phỏng vấn trong một cuộc khảo sát phạm pháp năm 1981, không cuộc điều tra nào dẫn đến việc khởi tố hình sự. Trump bị chỉ trích là đã không đề cập các cuộc điều tra đó khi ông nộp đơn đăng ký mở sòng bạc ở New Jersey và Johnston cáo buộc ông đã thuyết phục nhà chức trách bang giới hạn phạm vi điều tra lý lịch của mình. Johnston và các phóng viên điều tra khác cũng đưa tin Trump Tower, Trump Plaza và các công trình khác ở Thành phố New York được xây dựng bởi bê tông mua từ S&A Concrete Co., công ty được sở hữu bởi Anthony Salerno, ông trùm băng đảng tội phạm Genovese và Paul Castellano, ông trùm băng đảng tội phạm Gambino.
Theo nhà báo điều tra người Anh John Sweeney, Trump bỏ ngang một cuộc phỏng vấn với Sweeney cho chương trình Panorama của đài BBC sau khi Trump trả lời một câu hỏi rằng vì sao ông tiếp tục làm ăn với Felix Sater, cựu tù nhân tự xưng là "cố vấn cấp cao của Donald Trump" (người đại diện của Trump đã bác bỏ nhận định này), bất chấp mối liên hệ của Sater với mafia và tội phạm người Nga, cộng thêm bản án năm 1998 về kế hoạch lừa đảo cố phiếu có liên quan tới mafia lên tới 40 triệu USD, sau này được đưa tin rộng rãi năm 2007. Nạn nhân trong vụ lừa đảo của Sater bao gồm người sống sót sau vụ Holocaust Ernest và Judit Gottdiener. Sater từng chuyển đến một văn phòng ở Trump Tower cùng tầng với văn phòng của Trump năm 2010, theo như ghi chép của tòa án và bài phỏng vấn của Associated Press. "Felix Sater, chà, tôi thậm chí còn phải nhớ lại đã", Trump nói với AP vào tháng 12 năm 2015. "Tôi không quen ông ấy lắm". Trước đó khi được hỏi về Sater bởi The New Yorks Times vào tháng 12 năm 2007, Trump bình luận về Sater "Chúng tôi không biết điều đó. Chúng tôi có kiểm tra lý lịch đối tác kĩ nhất có thể. Tôi thật sự không biết rõ về ông ấy lắm". Sater sinh năm 1966 tại Nga và tới Mỹ cùng gia đình năm lên 8, sau đó hình thành mối quan hệ với các thành viên của băng đảng tội phạm Bonanno và Genovese. Ông làm việc với Trump trong ít nhất 4 dự án bao gồm Trump SoHo, Trump International Hotel & Residence Phoenix (về sau thất bại), Trump International Hotel & Residence Ft. Lauderdale (về sau thất bại giữa các cáo buộc lừa đảo) và một dự án cao ốc chưa thực hiện tại Denver. Sater từng đi công tác với Trump tới Denver và cũng từng được phỏng vấn cùng Trump bởi The Rocky Mountain News năm 2005 trong quá trình phục vụ dự án này. Alan Garten, luật sư cấp cao của Trump, nói rằng Sater "có rất nhiều mối làm ăn" và từng làm việc với Trump trong việc tìm kiếm các bất động sản xa xỉ cao cấp, nhưng chưa bao giờ là nhân viên chính thức và cũng chưa bao giờ ký kết hợp đồng nào cho Trump trong suốt 6 tháng làm ăn ngoài hợp đồng vào năm 2010. "Nếu ông Sater đủ tư cách làm việc với chính quyền", viện dẫn thỏa thuận hợp tác nhằm giữ kín cáo trạng phạm pháp của Sater trước thẩm tra công khai trong vòng 14 năm, "thì tôi thấy không có lý do gì ông ấy không đủ tư cách làm việc với ông Trump".
=== Những khoản đóng góp cho chiến dịch tranh cửSửa đổi ===
Theo một báo cáo của bang New York, Trump đã "lách luật" hạn mức đóng góp cá nhân và doanh nghiệp cho chiến dịch tranh cử vào những năm 1980 bằng việc quyên góp tiền cho các ứng viên từ 18 công ty con khác nhau, thay vì đóng góp chủ yếu dưới tên mình. Trump nói với các điều tra viên rằng ông nghe theo lời khuyên của các luật sư và không phải để cầu cạnh các ứng viên thân thiết với doanh nghiệp, mà là đáp ứng những yêu cầu từ bạn bè.
== Danh hiệu và giải thưởngSửa đổi ==
Gaming Hall of Fame (năm 1995)
NY Ride of Fame (năm 2010)
Trump đã được trao tặng bằng Tiến sĩ Danh dự về Quản trị Kinh doanh (Hon. D.B.A) vào năm 2010 bởi Đại học Robert Gordon. Tuy nhiên, trường quyết định rút lại tấm bằng vào ngày 9 tháng 12 năm 2015 vì Trump đã có "những bình luận đi ngược lại giá trị và bản sắc của trường".
Tháng 2 năm 2016 Trump đã được đề cử bởi 'một chính trị gia giấu tên người Mỹ' cho Giải Nobel Hòa bình, vì "lý tưởng hòa bình nhờ sức mạnh mãnh liệt" của ông.
Bằng Tiến sĩ Danh dự về Kinh doanh (Hon. D.B.) cấp năm 2012 của Đại học Liberty.
WWE Hall of Fame (năm 2013)
Ngôi sao trên Đại lộ Danh vọng Hollywood
Chính khách của năm, Đảng Cộng hòa Sarasota năm 2012
Giải thưởng Tự do, trao năm 2015 tại Algemeiner Jewish 100 Gala vì những đóng góp tích cực của ông cho mối quan hệ Israel–Hoa Kỳ. Trump nói rằng: "Tôi có rất nhiều bạn ở Israel".
Key to the City tại Doral, Florida, 2015
Giải thưởng Lãnh đạo của Ban Chỉ huy Thủy quân Lục chiến, 2015, Ban Điều tra Tội phạm Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ.
New Jersey Boxing Hall of Fame (trao tặng ngày 12 tháng 11 năm 2015)
Nhân vật của năm 2016 do tạp chí Time bình chọn. Việc Time chọn ông Trump là nhân vật của năm không đồng nghĩa với việc tờ báo này “có cảm tình” với tân Tổng thống Mỹ. Bằng chứng là bên cạnh hình ông, Time chơi chữ khi viết tựa: “Donald Trump: President of the Divided States of America”. “united” có nghĩa liên hiệp, thống nhất, đoàn kết trái với “divided” là phân hóa, chia rẽ. Ngoài ra, Cộng đồng người sử dụng Twitter nhận ra là chữ M của TIME nằm ngay trên đầu ông Trump có vẻ như “hai cái sừng của ác quỷ”. Tạp chí Time nhanh chóng phủ nhận có sự cố ý như thế.
== Sách đã phát hànhSửa đổi ==
== Sách Về gia đình TrumpSửa đổi ==
"The Trumps" (2001), Gwenda Blair viết về sự nghiệp 3 thế hệ của gia đình Trump, khởi đầu từ ông nội của Donald Trump,Friedrich mà di cư từ Kallstadt (Đức) vào năm 1885 sang Hoa Kỳ.
== Tham khảoSửa đổi ==
== Đọc thêmSửa đổi ==
Gwenda Blair (2000), The Trumps: Three Generations That Built An Empire. Nhà xuất bản Simon & Schuster. ISBN 0-684-80849-8. 592 trang.
Lịch sử bài viết của Trump tại The Huffington Post.
== Liên kết ngoàiSửa đổi ==
Trang mạng chiến dịch tranh cử chính thức – Donaldjtrump.com
Tiểu sử của Trump – The Trump Organization
Donald Trump tại Internet Movie Database
Thêm tin tức và bình luận về Donald Trump trên The Wall Street Journal
Thêm tin tức và bình luận về Donald Trump trên The Guardian
Donald Trump trên C-SPAN
Donald Trump tại DMOZ |
hình chữ nhật.txt | Hình chữ nhật trong hình học Euclid là một hình tứ giác có ba góc vuông. Từ định nghĩa này, ta thấy hình chữ nhật là một tứ giác lồi có bốn góc vuông. Đây là hình bình hành có hai đường chéo bằng nhau.
== Tính chất ==
Trong hình chữ nhật, hai đường chéo bằng nhau và cắt nhau tại trung điểm của mỗi đường.
Có tất cả các tính chất của hình thang cân và hình bình hành.
Các đường chéo cắt nhau tạo thành 4 tam giác cân.
== Trong tích phân ==
Trong toán học tích phân, tích phân Riemann có thể được xem là một giới hạn của tổng số các diện tích của nhiều hình chữ nhật với một chiều ngang cực nhỏ.
== Diện tích hình chữ nhật ==
Diện tích hình chữ nhật bằng tích của chiều dài và chiều rộng:
a
×
b
{\displaystyle a\times b}
Trong hai cạnh đối và song song với nhau, cạnh dài hơn (A) được gọi là chiều dài, cạnh ngắn hơn (B) gọi là chiều rộng.
== Chu vi hình chữ nhật ==
Chu vi hình chữ nhật bằng hai lần tổng chiều dài và chiều rộng của nó:
(
a
+
b
)
×
2
{\displaystyle \left(a+b\right)\times 2}
== Dấu hiệu nhận biết hình chữ nhật ==
Tứ giác có ba góc vuông là hình chữ nhật.
Hình thang cân có một góc vuông là hình chữ nhật:
Hình bình hành có một góc vuông là hình chữ nhật.
Hình bình hành có hai đường chéo bằng nhau là hình chữ nhật
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
đô la brunei.txt | Đô la Brunei (mã tiền tệ: BND) là đơn vị tiền tệ của Brunei từ năm 1967. Nó thường được viết tắt theo ký hiệu đồng đô la là $, hoặc được viết B$ để phân biệt với các đơn vị tiền tệ dùng đô la khác. Đô la Brunei được chia thành 100 sen (Malay) hoặc cents (Anh).
Đô la Brunei có tỷ giá trao đổi cố định theo tỉ lệ 1:1 với đô la Singapore. (Singapore là một trong những đối tác thương mại lớn của Brunei).
== Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng BND ==
== Tham khảo == |
sông saale.txt | Saale, cũng được gọi là Saale thuộc Sachsen (tiếng Đức: Sächsische Saale) và Saale thuộc Thüringen (tiếng Đức: Thüringische Saale), là một con sông tại Đức và là một chi lưu tả ngạn của Elbe.
Saale bắt nguồn từ núi Großer Waldstein gần Zell tại Fichtelgebirge thuộc Upper Franconia (Bayern), ở độ cao 728 m. Saale sau đó có một dòng chảy quanh có với hướng chung là hướng bắc, và sau đó chảy qua thị trấn chế tạo Hof, tiến vào Thüringen. Saale chảy giữa vùng đồi núi thấp cây cối rậm rạp của rừng Thüringen cho đến khi tiến vào thung lũng Saalfeld. Sau khi dời Saalfeld, Saale chảy đến Rudolstadt. Tại đây, Saale nhận nước từ Schwarza, thung lũng sông này nằm bên tòa lâu đài đổ nát Schwarzburg, trụ sở của nhà cầm quyền trước đây, Nhà Schwarzburg.
Từ Saalfeld, Saale tiếng vào vùng đồi đá vôi ở phía bắc rừng Thüringen, và lướt qua phía dưới các ngọn đồi cằn cỗi, hình nón bao quanh đô thị đại học Jena. Sông tiến vào Sachsen-Anhalt và chảy qua vùng suối khoáng Bad Kösen, tưới nước cho những ngọn đồi nho, sau khi tiếp nhận một phụ lưu nước sâu là Unstrut tại Naumburg, Saale chảy qua Weißenfels, Merseburg, Halle, Bernburg và Calbe. Saale cuối cùng đổ vào Elbe ngay phía trên Barby, sau khi vượt qua 413 km (257 mi) (bị rút ngắn 14 km (8,7 mi) do một tuyến kênh vòng, chiều dài tự nhiên là 427 kilômét (265 mi)).
Saale có khả năng thông hành từ Naumburg và kết nối với Weiße Elster gần Leipzig bằng một kênh đào. Đất đai của phần phía dưới của thung lũng sông đặc biệt màu mỡ, và là nơi cung cấp một lượng lớn củ cải đường. Các chi lưu Weiße Elster, Regnitz và Orla nằm bên hữu ngạn, và Ilm, Unstrut, Salza, Wipper và Bode nằm ở tả ngạn. Ở phần thượng du, Saale chảy nhanh.
== Tham khảo ==
== Nguồn ==
Ernst-Otto Luthardt, Reinhard Feldrapp: An der Saale. Vom Fichtelgebirge durch Thüringen bis zur Elbe. Würzburg 1990. ISBN 3-8035-1335-9
Wolf Thieme, Markus Altmann (Fotos): Mitten ins Herz. Sie entspringt in Bayern, durchquert Thüringen und fließt in Sachsen-Anhalt in die Elbe – die Saale ist ein Fluss, der alles verbindet. Und jedem Spaß macht: dem Sportler, dem Kulturfreund, dem Faulenzer. In: stern Nr. 26 (22. Juni 2006), S. 84-89. (Online-Version) |
samsung galaxy gear.txt | Samsung Galaxy Gear là đồng hồ thông minh chạy hệ điều hành Android, được nghiên cứu và phát triển bởi Samsung Electronics. Được giới thiệu lần đầu tiên tại sự kiện Samsung Unpacked diễn ra ở Berlin vào 04/09/ 2013, thiết bị này tương thích với tất cả các dòng điện thoại thông minh Samsung Galaxy và máy tính bảng chạy hệ điều hành Android 4.3; vào thời điểm Galaxy Gear ra mắt, những dòng máy có khả năng tương thích bao gồm Galaxy Note 3 và Galaxy Note 10.1 2014 Edition.
Galaxy Gear nhận nhiều chỉ trích từ giới chuyên môn và người dùng do cách thiết kế giao diện thiết bị, các phần mềm bổ sung, số lượng hạn chế của các ứng dụng tương thích, thời lượng pin thấp và sự phụ thuộc vào các dòng điện thoại cũng như máy tính bảng Samsung Galaxy.
== Lịch sử ==
=== Phát triển ===
Ý tưởng phát triển Galaxy Gear bắt đầu từ mong muốn tạo chỗ đứng trong thị trường đồng hồ thông minh đang ngày càng tiềm năng; Đối thủ chính của Samsung, Apple được đồn thổi sẽ sớm ra mắt một dòng sản phẩm đồng hồ, trong khi dòng sản phẩm Pebble trên Kickstarter (được tiêu thụ rộng rãi trên toàn thế giới từ tháng 07/2013) đã thành công khi bước đầu thu hút sự chú ý từ người dùng về thiết bị mới mẻ này. Vào tháng 07/2013, Lee Young-hee, phó giám đốc của ngành hàng điện thoại Samsung, cho biết công ty đã nghiên cứu và phát triển một chiếc đồng hồ trong thời gian dài, và tuyên bố đây sẽ là "sản phẩm của tương lai". Vào tháng 08/2013, Bloomberg thông báo "hai nguồn tin mật" đưa ra thông tin Samsung sẽ cho ra mắt một dòng đồng hồ thông minh, dưới tên gọi "Galaxy Gear", vào ngày 04/09/2013, trong sự kiện Samsung Unpacked trước thềm triển lãm công nghệ IFA tổ chức tại Berlin. Samsung được cho rằng sẽ công bố phablet Galaxy Note 3 trong cùng sự kiện này.
Trong một buổi phỏng vấn với tờ báo Korea Times phát hành vào ngày 27/08/2013, Lee Young-hee cho biết Galaxy Gear sẽ "nâng tầm chất lượng và đem đến những trải nghiệm mới khi sử dụng điện thoại thông minh trên nhiều phương diện", sẽ "dẫn tới một xu hướng hoàn toàn mới của công nghệ điện thoại thông minh", và "tăng thêm động lực cho ngành công nghiệp điện thoại".
=== Xuất hiện trên thị trường ===
Như thông tin trước đây, Samsung chính thức giới thiệu Galaxy Gear vào ngày 04/09/2013, và chính thức bán ra thị trường vào ngày 25/09/2013 (riêng với hai thị trường Mỹ và Nhật, đến tận tháng 10, Galaxy Gear mới được chào bán chính thức). Một số nhà cung cấp dịch vụ Internet không dây, như một động thái khích lệ, đã tặng kèm Galaxy Gear khi khách hàng mua Galaxy Note 3.
Để quảng bá cho dòng Galaxy Gear, Samsung đã phát hành hai phiên bản quảng cáo trên ti vi, "Evolution" và "A Long Time Coming". Cả hai mẫu quảng cáo đều giới thiệu những thiết bị giống như đồng hồ thông minh trong những tác phẩm nổi tiếng (bao gồm Dick Tracy, Star Trek, The Jetsons, Predator, và Inspector Gadget), với câu khẩu hiệu "After all these years, it's finally real." (tạm dịch: Sau tất cả những năm dài chờ đợi, cuối cùng đã trở thành thành hiện thực)
== Tính năng ==
=== Phần cứng ===
Galaxy Gear nổi bật với chip vi xử lý lõi đơn 800 MHz Exynos hệ thống tích hợp, và màn hình cảm ứng hình vuông Super AMOLED 320 pixel với mật độ điểm ảnh 277 PPI. Dây đeo được tích hợp camera 1.9 megapixel, cảm biến ánh sáng ở phía sau, khả năng tự động lấy nét, chế độ quay phim 720p, loa và hai tai nghe chống ồn. Galaxy Gear cũng sở hữu bộ nhớ trong 4 GB, RAM 512 MB, máy đo gia tốc, và con quay hồi chuyển. Thiết bị này sử dụng pin 315 mAh; Galaxy Gear không có chấu sạc mà sử dụng bộ sạc đặc biệt được trang bị Micro USB và NFC sử dụng khi thiết lập ban đầu cho thiết bị. Galaxy Gear được thiết kế tuân thủ IP55 với khả năng chống bụi và bảo vệ tạm thời khỏi thấm nước.
Để kết nối với thiết bị nguồn, Galaxy Gear sử dụng Bluetooth low energy. Chỉ những thiết bị chạy hệ điều hành Android 4.3 và cao hơn mới hỗ trợ Bluetooth LE, do đó chỉ Galaxy Note 3 và Galaxy Note 10.1 2014 Edition, những thiết bị Samsung đầu tiên chạy 4.3, tương thích với Galaxy Gear. Ngay sau khi giới thiệu Galaxy Gear, Samsung bắt đầu hỗ trợ bản cập nhật Android 4.3 cho những thiết bị khác, chẳng hạn như Galaxy S III, S4 và Note 2, để đảm bảo khả năng tương thích với Galaxy Gear.
=== Phần mềm ===
Galaxy Gear chạy hệ điều hành Android 4.2.2 với một giao diện tối giản và được xây dựng dựa trên cử động tay của người dùng. Để kết nối với thiết bị nguồn, chẳng hạn như một chiếc điện thoại thông minh hay máy tính bảng, NFC bên trong bộ sạc Galaxy Gear sẽ kích hoạt việc cài đặt ứng dụng Gear Manager, sử dụng Bluetooth để bắt cặp và đảm bảo các kết nối sau này giữa hai thiết bị. Gear Manager dùng để tùy chỉnh các tính năng của thiết bị (ví dụ như màu sắc và hình thức hiển thị của đồng hồ) cũng như theo dõi và cài đặt các ứng dụng thông qua Samsung Apps.
Tin báo có thể được đồng bộ từ thiết bị chính và hiển thị trên màn hình của Gear khi nhận; một đoạn giới thiệu ngắn về nội dung của tin báo sẽ được hiển thị trên đồng hồ, trong khi tính năng Smart Relay cho phép người dùng mở nội dung được hiển thị trên Gear bằng máy tính bảng hoặc điện thoại thông minh của mình. S Voice có thể dùng để thực hiện các lệnh điều khiển bằng giọng nói đơn giản cho một số ứng dụng. Người dùng có thể gọi và trả lời điện thoại bằng đồng hồ (lệnh gọi được thực hiện bằng cách thực hiện động tác kéo lên phía trên của màn hình đồng hồ), trong khi đó, công cụ "Find My Device" có thể xác định vị trí của đồng hồ bằng điện thoại hoặc máy tính bảng, cũng như sử dụng cho mục đích ngược lại.
Galaxy Gear cho phép chụp hình, hoặc quay phim với độ dài tối đa 15 giây. Hình ảnh và phim có thể được chứa trong bộ nhớ trong của đồng hồ, hoặc ngay lập tức chuyển sang máy điện thoại, máy tính bảng đang được kết nối. Người dùng có thể ghi âm với độ dài tối đa 5 phút. Một ứng dụng của Gear cho phép điều khiển phim ảnh và nhạc chạy trên thiết bị nguồn cũng được hỗ trợ.
Mặc dù có thể chạy các ứng dụng Android trên Gear thông qua Android Debug Bridge (ADB), việc sử dụng có thể bị ảnh hưởng bởi màn hình nhỏ và thiết bị không có khả năng kết nối trực tiếp với internet.
== Đón nhận từ thị trường ==
Galaxy Gear nhận chỉ trích từ giới chuyên môn và người dùng. Thiết kế của Gear cũng đối mặt với luồng ý kiến trái chiều; mặc dù được đánh giá cao bởi chất lượng, cách tích hợp các công cụ vào dây đeo bị chỉ trích do làm cho chiếc đồng hồ mất đi tính llinh hoạt (cũng như khiến người dùng không cảm thấy thoải mái khi đeo). Gear cũng bị chỉ trích do số lượng giới hạn của các ứng dụng, cùng với hệ thống báo tin không nhất quán. Những nhà chỉ trích đã đưa ra một số ví dụ của sự không nhất quán, như email tích hợp của hệ điều hành Android IMAP/POP3 có thể hiển thị một đoạn giới thiệu ngắn về nội dung của tin báo trên Galaxy Gear, trong khi Gmail chỉ có thể hiển thị một dấu hiệu icon và yêu cầu người dùng mở điện thoại để xem thông tin.
The Verge đánh giá "khi đề cập đến thiết kế công nghiệp, kỹ thuật phần mềm không phải là một trong những thế mạnh của Samsung, do đó, Galaxy Gear là một thiết bị thiếu tin cậy và không đạt chuẩn." Khả năng trả lời điện thoại trên Gear được đánh giá cao bởi sự tiện dụng và tín hiệu cuộc gọi tốt (dẫn đến việc so sánh với thiết bị Dick Tracy), trong khi máy chụp hình của Gear cũng được ca ngợi vì chất lượng tốt đáng kinh ngạc với chỉ số megapixel thấp. Sự phụ thuộc của các thiết bị Samsung Galaxy vào các hệ điều hành khác nhau của Android cũng bị chỉ trích. Ngoài ra, thời lượng pin của Gear ngắn, được so sánh như một chiếc điện thoại thông minh hơn là đồng hồ.
Những thiếu sót khi liên quan đến phần tin báo cũng được Samsung đề cập đến trong bản nâng cấp phần mềm đầu tiên của Galaxy Gear. Bản nâng cấp này cho phép tất cả các ứng dụng hiển thị tin báo với đoạn giới thiệu ngắn về nội dung trên Galaxy Gear.
=== Doanh số ===
Galaxy Gear có doanh số thấp; trong cuối tháng 10/2013, ít nhất 30% Galaxy Gear được bán từ các cửa hàng Best Buy tại Mỹ đã bị trả lại do khách hàng không cảm thấy hài lòng. Trong tháng 11/2013, Reuters công bố một nguồn tin từ Samsung cho rằng hơn 800,000 Galaxy Gears đã được bán trên toàn thế giới; tuy nhiên, một tờ báo của Hàn Yonhap phủ định thông tin này, cho rằng đây là số lượng đồng hồ đã được giao đến các cửa hàng, chứ không phải con số thật sự được bán ra.
== Xem thêm ==
Google Glass
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
kinh tế jordan.txt | Jordan là một nước nhỏ với nguồn tài nguyên thiên nhiên hạn chế nhưng nền kinh tế đã có sự tiến bộ lớn kể từ khi bắt đầu thành lập quốc gia. GDP bình quân đầu người hiện nay [1] đã tăng đến 351% so với những năm 1970. Jordan chỉ có trên 10% diện tích đất liền có thể trồng trọt được, thêm vào đó là sự thiếu hụt nguồn nước. Lượng mưa không ổn định, và nhiều nguồn nước không thể dùng lại. Nền kinh tế Jordan tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực gồm: du lịch; các sản phẩm hỗ trơn nông nghiệp như phân lân, ka li cácbonnát, các loại phân bón; tiền gửi từ nước ngoài; và sự viện trợ kinh tế. Thiếu rừng, nguồn dự trữ than đá, thủy điện và dầu mỏ tự nhiên, Jordan chỉ có thể trông cậy vào lượng khí tự nhiên đáp ứng được 10% năng lượng cần thiết của đất nước. Jordan phụ thuộc vào Iraq về dầu mỏ cho đến tận cuộc xâm lược Iraq vào năm 2003 bởi Hoa Kỳ.
== Tổng sản phẩm quốc dân ==
Dưới đây là biểu đồ xu hướng tổng sản phẩm quốc nội của Jordan theo giá cả thị trường được ước tính bởi Quỹ tiền tệ quốc tế, đơn vị tính là triệu Dinars Jordan.
Để tính theo sức mua tương đương, 1 USD = 0.34 Dinars.
== Tham khảo == |
người đàn bà và con chó nhỏ (phim, 1959).txt | Người đàn bà và con chó nhỏ (tiếng Nga: Дама с собачкой) là một bộ phim tâm lý, có phần lãng mạn của đạo diễn Iosif Kheyfits, ra mắt lần đầu năm 1960.
Truyện phim dựa theo truyện ngắn cùng tên của nhà văn Anton Chekhov.
== Nội dung ==
== Diễn viên ==
Iya Savvina... Anna Sergeyevna
Aleksey Batalov... Dimitry Gurov
Nina Alisova... Bà Gurova
Panteleymon Krymov... von Didenitz
Yury Medvedev
Vladimir Erenberg
Yakov Gudkin
D.Zebrov... Frolov
Maria Safonova... Natasha
G.Barysheva
Zinayda Dorogova
Kirill Gun
Mikhail Ivanov
G.Kurovsky
Svetlana Mazovetskaya
Aleksandr Orlov
Pavel Pervushin
T.Rozanov
Lev Stepanov
Yury Svirin
== Ê-kíp ==
Thiết kế sản xuất: Isaak Kaplan, Berta Manevich
Âm thanh: Arnold Shargorodsky
== Vinh danh ==
== Xem thêm ==
Thông tin trên trang NasheKino
Thông tin trên trang Kino-Teatr |
chimarra merengue.txt | Chimarra merengue là một loài Trichoptera trong họ Philopotamidae. Chúng phân bố ở vùng Tân nhiệt đới.
== Tham khảo == |
mặt trăng.txt | Mặt Trăng (tiếng Latin: Luna, ký hiệu: ☾) là vệ tinh tự nhiên duy nhất của Trái Đất và là vệ tinh tự nhiên lớn thứ năm trong Hệ Mặt Trời.
Khoảng cách trung bình tính từ tâm Trái Đất đến Mặt Trăng là 384.403 km, lớn khoảng 30 lần đường kính Trái Đất. Đường kính Mặt Trăng là 3.474 km, tức hơn một phần tư đường kính Trái Đất. Khối lượng Mặt Trăng khoảng bằng 2% khối lượng Trái Đất và lực hấp dẫn tại bề mặt Mặt Trăng bằng 17% lực hấp dẫn trên bề mặt Trái Đất. Mặt Trăng quay một vòng quanh Trái Đất với chu kỳ quỹ đạo 27,32 ngày, và các biến đổi định kỳ trong hình học của hệ Trái Đất-Mặt Trăng–Mặt Trời là nguyên nhân gây ra các pha Mặt Trăng, lặp lại sau mỗi chu kỳ giao hội 29,53 ngày.
Mặt Trăng là thiên thể duy nhất ngoài Trái Đất mà con người đã đặt chân tới. Năm 1959 là năm mang tính lịch sử đối với công cuộc khám phá Mặt Trăng, mở đầu bằng chuyến bay của vệ tinh nhân tạo Luna 1 của Liên bang Xô viết đến phạm vi của Mặt Trăng, tiếp đó Luna 2 rơi xuống bề mặt của Mặt Trăng và Luna 3 lần đầu tiên cung cấp ảnh mặt sau của Mặt Trăng. Năm 1966, Luna 9 trở thành tàu vũ trụ đầu tiên hạ cánh thành công và Luna 10 là tàu vũ trụ không người lái đầu tiên bay quanh Mặt Trăng. Hiện nay, các miệng hố đen ở vùng cực Nam của Mặt Trăng là nơi lạnh nhất trong hệ Mặt Trời.
Cho đến nay, Chương trình Apollo của Hoa Kỳ đã thực hiện được những cuộc đổ bộ duy nhất của con người xuống Mặt Trăng, tổng cộng gồm sáu lần hạ cánh trong giai đoạn từ 1969 tới 1972. Năm 1969, Neil Armstrong và Buzz Aldrin là những người đầu tiên đặt chân lên Mặt Trăng trong chuyến bay Apollo 11. Việc thám hiểm Mặt Trăng của loài người đã ngừng lại với sự chấm dứt của chương trình Apollo, dù nhiều quốc gia đã thông báo các kế hoạch đưa người hay tàu vũ trụ robot tới Mặt Trăng.
== Tên gọi và từ nguyên ==
Trong tiếng Việt, Mặt Trăng còn được gọi bằng những tên khác như ông trăng, ông giăng, giăng, nguyệt, Hằng Nga, Thường Nga, Thái Âm v.v... Không giống như vệ tinh của những hành tinh khác, Mặt Trăng - vệ tinh của Trái Đất - không có tên riêng nào khác. Trong một số ngôn ngữ, Mặt Trăng của Trái Đất được viết hoa để phân biệt với danh từ chung "Mặt Trăng", nói đến các vệ tinh tự nhiên của các hành tinh khác như "the Moon" trong tiếng Anh và "the moon".
Từ moon ("Mặt Trăng" trong tiếng Anh) là một từ thuộc nhóm ngôn ngữ German, liên quan tới từ mensis trong tiếng Latin; từ này lại xuất phát từ gốc me- trong ngôn ngữ Ấn-Âu nguyên thủy (Proto-Indo-European), cũng xuất hiện trong measure (đo lường) (thời gian), với sự gợi nhớ tới tầm quan trọng của nó trong việc đo đạc thời gian trong những từ có nguồn gốc từ nó như Monday ("thứ Hai" trong tiếng Anh), month ("tháng" trong tiếng Anh) và menstrual (hàng tháng/kinh nguyệt). Trong tiếng Anh, từ moon chỉ có nghĩa "Mặt Trăng" cho tới tận năm 1665, khi nó được mở rộng nghĩa để chỉ những vệ tinh tự nhiên mới được khám phá của các hành tinh khác. Mặt Trăng thỉnh thoảng cũng được gọi theo tên tiếng Latin của nó, Luna, để phân biệt với các vệ tinh tự nhiên khác; tính từ có liên quan là lunar và một tiền tố tính từ seleno - hay hậu tố - selene (theo vị thần Hy Lạp Selene.
== Bề mặt trên Mặt Trăng ==
=== Hai phía Mặt Trăng ===
Mặt Trăng nằm trên quỹ đạo quay đồng bộ, có nghĩa là nó hầu như giữ nguyên một mặt hướng về Trái Đất ở tất cả mọi thời điểm. Buổi đầu mới hình thành, Mặt Trăng quay chậm dần và bị khoá ở vị trí hiện tại vì những hiệu ứng ma sát xuất hiện cùng hiện tượng biến dạng thuỷ triều do Trái Đất gây ra.
Từ đã rất lâu khi Mặt Trăng còn quay nhanh hơn hiện tại rất nhiều, bướu thuỷ triều (tidal bulge) của nó chạy trước đường nối Trái Đất-Mặt Trăng bởi nó không thể làm xẹp bướu đủ nhanh để giữ bướu này luôn ở trên đường thẳng đó. Lực quay khiến bướu luôn vượt quá đường nối này. Hiện tượng này gây ra mô men xoắn, làm giảm tốc độ quay của Mặt Trăng, như một lực vặn siết chặt đai ốc. Khi tốc độ quay của Mặt Trăng giảm xuống đủ để cân bằng với tốc độ quỹ đạo của nó, khi ấy bướu luôn hướng về phía Trái Đất, bướu nằm trên đường thẳng nối Trái Đất-Mặt Trăng, và lực xoắn biến mất. Điều này giải thích tại sao Mặt Trăng quay với tốc độ bằng tốc độ quỹ đạo và chúng ta luôn chỉ nhìn thấy một phía của Mặt Trăng.
Các biến đổi nhỏ (đu đưa - libration) trong góc quan sát cho phép chúng ta có thể nhìn thấy được khoảng 59% bề mặt Mặt Trăng (nhưng luôn luôn chỉ là một nửa ở mọi thời điểm).
Mặt quay về phía Trái Đất được gọi là phần nhìn thấy, và phía đối diện được gọi là phần không nhìn thấy. Phần không nhìn thấy thỉnh thoảng còn được gọi là "phần tối," nhưng trên thực tế nó cũng được chiếu sáng thường xuyên như phần nhìn thấy: một lần trong mỗi ngày Mặt Trăng, trong tuần trăng mới mà chúng ta quan sát thấy từ Trái Đất khi phần nhìn thấy đang bị che tối. Phần không nhìn thấy của Mặt Trăng lần đầu tiên được tàu thăm dò Xô Viết Luna 3 chụp ảnh năm 1959. Một đặc điểm phân biệt của phần không nhìn thấy được là nó hầu như không có "các vùng tối Mặt Trăng" (các "biển").
=== Các vùng tối trên Mặt Trăng/Biển Mặt Trăng ===
Các đồng bằng tối và hầu như không có đặc điểm riêng trên Mặt Trăng có thể được nhìn thấy rõ bằng mắt thường được gọi là "các vùng tối" hay các biển Mặt Trăng, từ tiếng Latin (mare) có nghĩa là "biển", bởi chúng được các nhà thiên văn học cổ đại cho là những nơi chứa đầy nước. Hiện chúng đã được biết chỉ là những bề mặt lớn chứa dung nham bazan cổ đã đông đặc. Đa số các dung nham này đã được phun ra hay chảy vào những chỗ lõm hình thành nên sau các vụ va chạm thiên thạch hay sao chổi vào bề mặt Mặt Trăng. (Oceanus Procellarum là trường hợp khác bởi nó không được hình thành do va chạm). Các biển xuất hiện dày đặc phía bề mặt nhìn thấy được của Mặt Trăng, phía không nhìn thấy có rất ít biển và chúng chỉ chiếm khoảng 2% bề mặt, so với khoảng 31% ở phía đối diện. Cách giải thích có vẻ đúng đắn nhất cho sự khác biệt này liên quan tới sự tập trung cao của các yếu tố sinh nhiệt phía bề mặt nhìn thấy được, như đã được thể hiện bởi các bản đồ địa hóa học có được từ những máy quang phổ tia gama. Nhiều vùng có chứa những núi lửa hình khiên và các vòm núi lửa được tìm thấy trong các biển ở phía có thể nhìn thấy.
=== Terrae/Đất liền ===
Các vùng có màu sáng trên Mặt Trăng được gọi là terrae, hay theo cách thông thường hơn là các "cao nguyên", bởi chúng cao hơn hầu hết các biển. Nhiều rặng núi cao ở phía bề mặt nhìn thấy được chạy dọc theo bờ ngoài các vùng trũng do va chạm lớn, nhiều vùng trũng này đã được bazan lấp kín. Chúng được cho là các tàn tích còn lại của các gờ bên ngoài của vùng trũng va chạm. Không giống Trái Đất, không một ngọn núi lớn nào trên Mặt Trăng được cho là được hình thành từ các sự kiện kiến tạo.
Các bức ảnh được chụp bởi phi vụ Clementine năm 1994 cho thấy bốn vùng núi trên vùng gờ hố va chạm Peary rộng 73 km tại cực bắc Mặt Trăng luôn được chiếu sáng trong cả ngày Mặt Trăng. Những đỉnh sáng vĩnh cửu này là có thể do độ nghiêng trục tự quay rất nhỏ trên mặt phẳng hoàng đạo của Mặt Trăng. Không vùng sáng vĩnh cửu nào được phát hiện ở phía cực nam, dù vùng gờ của hố va chạm Shackleton được chiếu sáng trong khoảng 80% ngày Mặt Trăng. Một hậu quả khác từ việc Mặt Trăng có độ nghiêng trục nhỏ là một số vùng đáy của các hố va chạm vùng cực luôn ở trong bóng tối.
=== Hố va chạm ===
Bề mặt Mặt Trăng cho thấy bằng chứng rõ ràng rằng nó đã bị ảnh hưởng nhiều bởi các sự kiện va chạm thiên thạch. Các hố va chạm hình thành khi các thiên thạch và sao chổi va chạm vào bề mặt Mặt Trăng, và nói chung có khoảng nửa triệu hố va chạm với đường kính hơn 1 km. Do các hố va chạm hình thành với tỷ lệ gần như cố định, nên số lượng hố va chạm trên một đơn vị diện tích chồng lên trên một đơn vị địa chất có thể được sử dụng để ước tính tuổi của bề mặt (xem Đếm hố va chạm). Vì không có khí quyển, thời tiết và các hoạt động địa chất gần đây nên nhiều hố va chạm được bảo tồn trong trạng thái khá tốt so với những hố va chạm trên bề mặt Trái Đất.
Hố va chạm lớn nhất trên Mặt Trăng, cũng là một trong các hố va chạm lớn nhất đã được biết đến trong Hệ Mặt Trời, là Vùng trũng Nam cực-Aitken. Vùng này nằm ở phía mặt không nhìn thấy, giữa Nam cực và xích đạo, và có đường kính khoảng 2.240 km và sâu khoảng 13 km. Các vùng trũng va chạm lớn ở phía bề mặt nhìn thấy được gồm Imbrium, Serenitatis, Crisium và Nectaris.
Hầu hết các hố va chạm trên Mặt Trăng được đặt theo tên người, bao gồm tên các học giả, nhà khoa học, nhà thám hiểm, nhà nghệ thuật nổi tiếng (xem thêm danh sách nhân vật được đặt tên cho hố va chạm trên Mặt Trăng - tiếng Anh). Thói quen này bắt đầu từ năm 1645.
=== Regolith ===
Bao trùm phía ngoài bề mặt Mặt Trăng là một lớp bụi rất mịn (vật chất vỡ thành các phần tử rất nhỏ) và lớp bề mặt vỡ vụn do va chạm này được gọi là regolith. Bởi được hình thành từ các quá trình va chạm, regolith của các bề mặt già thường dày hơn tại các nơi bề mặt trẻ khác. Đặc biệt, người ta đã ước tính rằng regolith có độ dày thay đổi từ khoảng 3–5 m tại các biển, và khoảng 10–20 m trên các cao nguyên. Bên dưới lớp regolith mịn là cái thường được gọi là megaregolith. Lớp này dày hơn rất nhiều (khoảng hàng chục km) và bao gồm lớp nền đá đứt gãy.
=== Nước trên Mặt Trăng ===
Những vụ bắn phá liên tiếp của các sao chổi và các thiên thạch có lẽ đã mang tới một lượng nước nhỏ vào bề mặt Mặt Trăng. Nếu như vậy, ánh sáng Mặt Trời sẽ phân chia đa phần lượng nước này thành các nguyên tố cấu tạo là hiđrô và ôxy, cả hai chất này theo thời gian nói chung lại bay vào vũ trụ, vì lực hấp dẫn của Mặt Trăng yếu. Tuy nhiên, vì độ nghiêng của trục tự quay của Mặt Trăng so với mặt phẳng hoàng đạo nhỏ, chỉ chênh 1,5°, nên có một số hố va chạm sâu gần các cực không bao giờ bị ánh sáng Mặt Trời trực tiếp chiếu tới (xem Hố va chạm Shackleton). Các phân tử nước ở trong các hố va chạm này có thể ổn định trong một thời gian dài.
Clementine đã vẽ bản đồ các hố va chạm tại cực nam Mặt Trăng nơi luôn ở trong bóng tối, và các cuộc thử nghiệm mô phỏng máy tính cho thấy có thể có tới 14.000 km² luôn ở trong bóng tối. Các kết quả thám sát radar từ phi vụ Clementine cho rằng có một số túi nước nhỏ, đóng băng nằm gần bề mặt, và dữ liệu từ máy quang phổ nơtron của Lunar Prospector cho thấy sự tập trung lớn dị thường của hiđrô ở vài mét phía trên của regolith gần các vùng cực. Các ước tính tổng số lượng băng gần một kilômét khối.
Băng có thể được khai thác và phân chia thành nguyên tử cấu tạo ra nó là hiđrô và ôxy bằng các lò phản ứng hạt nhân hay các trạm điện mặt trời. Sự hiện diện của lượng nước sử dụng được trên Mặt Trăng là yếu tố quan trọng để việc thực hiện tham vọng đưa con người lên sinh sống trên Mặt Trăng có thể trở thành hiện thực, bởi việc chuyên chở nước từ Trái Đất lên quá tốn kém. Tuy nhiên, những quan sát gần đây bằng radar hành tinh Arecibo cho thấy một số dữ liệu thám sát radar của chương trình Clementine gần vùng cực trước kia được cho là dấu hiệu của sự hiện diện của băng thì trên thực tế có thể chỉ là hậu quả từ những tảng đá bị bắn ra từ các hố va chạm gần đây. Năm 2008, những phân tích mới đã tìm thấy một lượng nước nhỏ ở bên trong dung nham núi lửa mang về Trái Đất từ tàu Apollo 15. Tháng 9 năm 2009, phổ kế trên tàu Chandrayaan-1' đã xác định được các vạch phổ hấp thụ của nước và hiđrôxyl nhờ sự phản xạ của tia sáng Mặt Trời, mang lại chứng cứ về sự có mặt của một lượng lớn nước trên bề mặt của Mặt Trăng, có thể cao tới 1.000;ppm. Vài tuần sau, tàu LCROSS phóng một thiết bị va chạm nặng 2.300 kg vào một hố va chạm ở vùng cực tối vĩnh cửu, và xác định được ít nhất 100 kg nước trong đám vật chất bắn tung lên từ vụ va chạm.
== Các đặc điểm vật lý ==
=== Cấu trúc bên trong ===
Mặt Trăng là một vật thể phân dị, về mặt địa hoá học gồm một lớp vỏ, một lớp phủ, và lõi. Cấu trúc này được cho là kết quả của sự kết tinh phân đoạn của một biển macma chỉ một thời gian ngắn sau khi nó hình thành khoảng 4,5 tỷ năm trước. Năng lượng cần thiết để làm tan chảy phần phía ngoài của Mặt Trăng thường được cho là xuất phát từ một sự kiện va chạm lớn được cho là đã hình thành nên hệ thống Trái Đất-Mặt Trăng, và sự bồi đắp sau đó của vật chất trong quỹ đạo Trái Đất. Sự kết tinh của biển macma khiến xuất hiện lớp phủ mafic và một lớp vỏ giàu plagiocla (xem Nguồn gốc và tiến hoá địa chất bên dưới).
Việc vẽ bản đồ địa hoá học từ quỹ đạo cho thấy lớp vỏ Mặt Trăng gồm phần lớn thành phần là anorthosit, phù hợp với giả thuyết biển macma. Về các nguyên tố, lớp vỏ gồm chủ yếu là ôxy, silic, magiê, sắt, canxi và nhôm. Dựa trên các kỹ thuật địa vật lý, chiều dày của nó được ước tính trung bình khoảng 50 km.
Sự tan chảy một phần bên trong lớp phủ Mặt Trăng khiến phóng xạ của biển bazan nổi lên trên bề mặt Mặt Trăng. Các phân tích bazan này cho thấy lớp phủ bao gồm chủ yếu là các khoáng chất olivin, orthopyroxen và clinopyroxen, và rằng lớp phủ Mặt Trăng có nhiều sắt hơn Trái Đất. Một số bazan Mặt Trăng chứa rất nhiều titan (hiện diện trong khoáng chất ilmenit), cho thấy lớp phủ có sự không đồng nhất lớn trong thành phần. Các trận động đất trên Mặt Trăng được phát hiện xảy ra sâu bên trong lớp phủ, khoảng 1.000 km dưới bề mặt. Chúng diễn ra theo chu kỳ hàng tháng và liên quan tới các ứng suất thuỷ triều gây ra bởi quỹ đạo lệch tâm của Mặt Trăng quanh Trái Đất.
Mặt Trăng có mật độ trung bình 3.346,4 kg/m³, khiến nó trở thành vệ tinh có mật độ lớn thứ hai trong Hệ Mặt Trời sau Io. Tuy nhiên, nhiều bằng chứng cho thấy có thể lõi Mặt Trăng nhỏ, với bán kính khoảng 350 km hay nhỏ hơn. Nó chỉ bằng khoảng 20% kích thước Mặt Trăng, trái ngược so với 50% của đa số các thiên thể khác. Thành phần lõi Mặt Trăng không đặc chắc, nhưng phần lớn tin rằng nó gồm một lõi sắt kim loại với một lượng nhỏ lưu huỳnh và niken. Các phân tích về sự khác biệt trong thời gian tự quay của Mặt Trăng cho thấy ít nhất lõi Mặt Trăng cũng nóng chảy một phần.
=== Địa hình ===
Địa hình Mặt Trăng đã được đo đạc bằng các biện pháp đo độ cao laser và phân tích hình lập thể, đa số được thực hiện gần đây từ các dữ liệu thu thập được trong phi vụ Clementine. Đặc điểm địa hình dễ nhận thấy nhất là Vùng trũng Nam cực-Aitken phía bề mặt không nhìn thấy, nơi có những điểm thấp nhất của Mặt Trăng. Các điểm cao nhất ở ngay phía đông bắc vùng trũng này, và nó cho thấy vùng này có thể có những trầm tích vật phóng núi lửa dày đã xuất hiện trong sự kiện va chạm xiên vào vùng trũng Nam cực-Aitken. Các vùng trũng do va chạm lớn khác, như Imbrium, Serenitatis, Crisium, Smythii và Orientale, cũng có địa hình vùng khá thấp và các gờ tròn nổi. Một đặc điểm phân biệt khác của hình dáng Mặt Trăng là cao độ trung bình ở phía không nhìn thấy khoảng 1,9 km cao hơn so với phía nhìn thấy.
=== Trường hấp dẫn ===
Trường hấp dẫn của Mặt Trăng đã được xác định qua việc thám sát các tín hiệu radio do các tàu vũ trụ bay trên quỹ đạo phát ra. Nguyên tắc sử dụng dựa trên Hiệu ứng Doppler, theo đó việc tàu vũ trụ tăng tốc theo hướng đường quan sát có thể được xác định bằng những thay đổi tăng nhỏ trong tần số tín hiệu radio, và khoảng cách từ tàu vũ trụ tới một trạm trên Trái Đất. Tuy nhiên, vì sự quay đồng bộ của Mặt Trăng vẫn không thể thám sát tàu vũ trụ vượt quá các rìa của Mặt Trăng, và trường hấp dẫn phía bề mặt không nhìn thấy được vì thế vẫn còn chưa được biết rõ.
Đặc điểm chính của trường hấp dẫn Mặt Trăng là sự hiện diện của các mascon (tập trung khối lượng), là những dị thường hấp dẫn dương gắn liền với một số vùng trũng va chạm lớn. Những dị thường này ảnh hưởng lớn tới quỹ đạo của các tàu vũ trụ quay xung quanh Mặt Trăng, và một mô hình hấp dẫn chính xác là cần thiết để lập kế hoạch cho các phi vụ tàu vũ trụ có và không có người lái. Các mascon một phần xuất hiện bởi sự hiện diện của các dòng chảy dung nham bazan vào một số vùng trũng va chạm. Tuy nhiên, các dòng chảy dung nham chính chúng lại không thể giải thích toàn bộ trường hấp dẫn, và phay nghịch của mặt phân giới lớp vỏ-lớp phủ cũng là điều cần thiết. Dựa trên các mô hình hấp dẫn Lunar Prospector, người ta thấy rằng một số mascon tồn tại nhưng không cho thấy bằng chứng cho thuyết núi lửa biển bazan. Sự mở rộng to lớn của núi lửa biển bazan gắn liền với Oceanus Procellarum không chỉ ra sự bất thường hấp dẫn dương.
=== Từ trường ===
Mặt Trăng có một từ trường bên ngoài trong khoảng một tới một trăm nanotesla— chưa bằng 1% từ trường Trái Đất (khoảng 30-60 microtesla). Các khác biệt chính khác là Mặt Trăng hiện tại không có một từ trường lưỡng cực (lẽ ra phải được tạo ra bởi địa động lực trong lõi của nó), và sự từ hóa hiện diện hầu như đều có nguồn gốc từ lớp vỏ. Một giả thuyết cho rằng sự từ hóa ở lớp vỏ đã xuất hiện ngay từ buổi đầu lịch sử Mặt Trăng khi địa động lực đang hoạt động. Tuy nhiên, kích thước nhỏ của lõi Mặt Trăng là một yếu tố cản trở tiềm tàng cho giả thuyết này. Một giả thuyết khác, có thể trên một vật thể không có không khí như Mặt Trăng, các từ trường tạm thời có thể xuất hiện trong những sự kiện va chạm lớn. Ủng hộ giả thuyết này, cần lưu ý rằng sự từ hóa lớp vỏ lớn nhất là ở gần các vùng đối chân của những vùng trũng do va chạm lớn. Người ta đề xuất rằng một hiện tượng như vậy có thể xảy ra từ sự mở rộng tự do của một đám mây plasma sinh ra từ va chạm bao quanh Mặt Trăng với sự hiện diện của một từ trường bao quanh.
=== Khí quyển ===
Mặt Trăng có khí quyển mỏng đến nỗi hầu như không đáng kể, với tổng khối lượng khí quyển chưa tới 104 kg. Một nguồn gốc hình thành khí quyển Mặt Trăng chính là hiện tượng tự phun khí—sự phun các loại khí như radon hình thành bởi quá trình phân rã phóng xạ bên trong lớp vỏ và lớp phủ. Một nguồn quan trọng khác hình thành trong quá trình tiên xạ, liên quan tới sự bắn phá của vi thiên thạch, các ion, electron của gió Mặt Trời và ánh sáng Mặt Trời. Các loại khí phát sinh từ quá trình tiên xạ hoặc chui vào trong regolith vì lực hấp dẫn của Mặt Trăng, hoặc có thể lại rơi vào vũ trụ vì áp suất bức xạ của Mặt Trời hay bị quét sạch bởi từ trường gió Mặt Trời nếu chúng đã bị ion hoá. Các nguyên tố natri và kali đã được phát hiện bằng cách phương pháp quang phổ trên Trái Đất, trong khi nguyên tố radon–222 (222Rn) và poloni-210 (210Po) đã được suy ra từ máy quang phổ hạt alpha của Lunar Prospector. Agon–40 (40Ar), heli-4 (4He), ôxy (O2) và/hay metan (CH4), nitơ (N2) và/hay mônôxít cacbon (CO), và điôxít cacbon (CO2) đã được phát hiện tại chỗ bởi các máy do các nhà du hành vũ trụ chương trình Apollo để lại.
=== Nhiệt độ bề mặt ===
Ban ngày trên Mặt Trăng, nhiệt độ trung bình là 107 °C, còn ban đêm nhiệt độ là -153 °C.
== Nguồn gốc và sự tiến hoá địa chất ==
=== Hình thành ===
Nhiều cơ cấu đã được đưa ra nhằm giải thích sự hình thành của Mặt Trăng. Mọi người tin rằng Mặt Trăng đã được hình thành từ 4,527 ± 0,010 tỷ năm trước, khoảng 30-50 triệu năm sau sự hình thành của Hệ Mặt Trời.
Giả thuyết phân đôi
Nghiên cứu ban đầu cho rằng Mặt Trăng đã vỡ ra từ vỏ Trái Đất bởi các lực ly tâm, để lại một vùng trũng – được cho là Thái Bình Dương – . Tuy nhiên, ý tưởng này đòi hỏi Trái Đất phải có một tốc độ quay ban đầu rất lớn, thậm chí nếu điều này có thể xảy ra, quá trình đó sẽ khiến Mặt Trăng phải quay theo mặt phẳng xích đạo của Trái Đất, nhưng thực tế lại không phải như vậy.
Giả thuyết bắt giữ
Nghiên cứu khác lại cho rằng Mặt Trăng đã được hình thành ở đâu đó và cuối cùng bị lực hấp dẫn của Trái Đất bắt giữ. Tuy nhiên, các điều kiện được cho là cần thiết để một cơ cấu như vậy hoạt động, như một khí quyển mở rộng của Trái Đất nhằm tiêu diệt năng lượng của Mặt Trăng đi ngang qua, là không thể xảy ra.
Giả thuyết cùng hình thành
Giả thuyết cùng hình thành cho rằng Trái Đất và Mặt Trăng cùng hình thành ở một thời điểm và vị trí từ đĩa bồi đắp nguyên thuỷ. Mặt Trăng đã được hình thành từ vật chất bao quanh Tiền Trái Đất, tương tự sự hình thành của các hành tinh xung quanh Mặt Trời. Một số người cho rằng giả thuyết này không giải thích thỏa đáng sự suy kiệt của sắt kim loại trên Mặt Trăng.
Một sự thiếu hụt lớn trong mọi giả thuyết trên là chúng không thể giải thích được động lượng góc cao của hệ Trái Đất-Mặt Trăng.
Giả thuyết vụ va chạm lớn
Giả thuyết ưu thế nhất hiện tại là hệ Trái Đất-Mặt Trăng đã được hình thành như kết quả của một vụ va chạm lớn. Một vật thể cỡ Sao Hỏa (được gọi là "Theia") được cho là đã đâm vào Tiền Trái Đất, đẩy bắn ra lượng vật chất đủ vào trong quỹ đạo Tiền Trái Đất để hình thành nên Mặt Trăng qua quá trình bồi tụ. Bởi bồi tụ là quá trình mà mọi hành tinh được cho là đều phải trải qua để hình thành, các vụ va chạm lớn được cho là đã ảnh hưởng tới hầu hết, nếu không phải toàn bộ quá trình hình thành hành tinh. Các mô hình giả lập máy tính về một vụ va chạm lớn phù hợp với các đo đạc về động lượng góc của hệ Trái Đất-Mặt Trăng, cũng như kích thước nhỏ của lõi Mặt Trăng. Các câu hỏi vẫn chưa được giải đáp của giả thuyết này liên quan tới việc xác định tương quan kích thước của Tiền Trái Đất và Theia và bao nhiêu vật liệu từ hai thiên thể trên đã góp phần hình thành nên Mặt Trăng.
=== Biển macma Mặt Trăng ===
Vì kết quả của một lượng lớn năng lượng được giải phóng trong vụ va chạm lớn và sự bồi tụ vật liệu sau đó trên quỹ đạo Trái Đất, mọi người thường cho rằng một phần lớn Mặt Trăng trước kia từng tan chảy. Phần tan chảy bên ngoài của Mặt Trăng ở thời điểm đó được gọi là biển macma, và ước tính độ sâu của nó trong khoảng 500 km cho tới toàn bộ bán kính Mặt Trăng.
Khi biển macma nguội đi, sự kết tinh phân đoạn và phân dị của nó khiến tạo thành lớp phủ và lớp vỏ riêng biệt. Lớp phủ được cho là được hình thành chủ yếu bởi sự kết tủa và lắng đọng của các khoáng chất olivin, clinopyroxen và orthopyroxen. Sau khi khoảng 3/4 biển macma kết tinh, khoáng chất anorthit được cho là đã kết tủa và trôi nổi lên bề mặt bởi nó có mật độ thấp, hình thành nên lớp vỏ.
Các chất lỏng cuối cùng kết tinh từ biển macma có thể ban đầu đã len giữa lớp vỏ và áo, và có thể chứa nhiều nguyên tố không tương thích và tạo nhiệt. Thành phần địa hóa học này được gọi bằng tên viết tắt theo các chữ cái đầu KREEP, của kali (K), các nguyên tố đất hiếm (REE) và phốt pho (P), và có lẽ đã tập trung trong Procellarum KREEP Terrane, là một vùng địa chất nhỏ bao gồm hầu hết Oceanus Procellarum và Biển Imbrium ở phần bề mặt nhìn thấy được của Mặt Trăng.
=== Tiến hóa địa chất ===
Một phần lớn tiến hóa địa chất của Mặt Trăng hậu biển macma là do quá trình hình thành hố va chạm. Niên đại địa chất Mặt Trăng chủ yếu được phân chia dựa trên sự hình thành các vùng trũng lớn do va chạm, như Nectaris, Imbrium và Orientale. Các cấu trúc va chạm này có đặc điểm là những gờ tròn vật chất do va chạm hất lên, và thường có đường kính lên tới hàng trăm đến hàng ngàn kilômét. Mỗi vùng trũng nhiều gờ này đều gắn liền với một bề mặt trầm tích vật phóng lớn để hình thành các tầng của địa tầng khu vực. Tuy chỉ một số vùng trũng đa gờ được xác định niên đại chính xác, chúng rất hữu ích để xác định niên đại gần đúng dựa trên các vùng đất theo địa tầng. Các ảnh hưởng tiếp diễn của va chạm là nguyên nhân hình thành nên regolith.
Quá trình địa chất lớn khác ảnh hưởng tới bề mặt Mặt Trăng là biển núi lửa. Sự tăng các nguyên tố tạo nhiệt bên trong Procellarum KREEP Terrane được cho là đã khiến lớp phủ bên dưới nóng lên, và cuối cùng nóng chảy một phần. Một phần những macma đó tràn lên bề mặt và phun trào, gây ra sự tập trung cao của bazan biển ở phía bề mặt nhìn thấy được của Mặt Trăng. Đa phần biển bazan trên Mặt Trăng đã phun trào trong kỷ Imbrium ở vùng địa chất này từ 3,0–3,5 tỷ năm trước. Tuy nhiên, một số mẫu có niên đại từ tới 4,2 tỷ năm trước và những vụ phun trào gần đây nhất, dựa trên phương pháp đếm hố va chạm, được cho là đã xảy ra chỉ từ 1,2 tỷ năm trước.
Đã có tranh cãi về việc các đặc điểm trên bề mặt Mặt Trăng có thay đổi theo thời gian hay không. Một số nhà quan sát đã tuyên bố rằng các hố va chạm có xuất hiện hoặc mất đi, hay rằng các hình thức khác của các hiện tượng tạm thời có thể xảy ra. Ngày nay, nhiều tuyên bố như vậy được cho là không thực tế, vì việc quan sát được tiến hành dưới các điều kiện ánh sáng khác nhau, quan sát thiên văn học kém, hay sự thiếu chính xác của các tấm bản đồ trước đó, Tuy nhiên, người ta biết rằng hiện tượng phun trào khí đôi khi có thể xảy ra và chúng có thể là yếu tố chịu trách nhiệm cho một tỷ lệ phần trăm nhỏ các hiện tượng nhất thời trên Mặt Trăng đã được thông báo. Gần đây, đã có ý kiến cho rằng một vùng có đường kính khoảng 3 km trên bề mặt Mặt Trăng bị biến đổi bởi một sự kiện phun trào khí ga khoảng 1 triệu năm trước.
=== Đá Mặt Trăng ===
Đá Mặt Trăng được xếp thành hai loại, dựa trên địa điểm tồn tại của chúng tại các cao nguyên Mặt Trăng (terrae) hay tại các biển. Đá trên các cao nguyên gồm ba bộ: anorthosit sắt, magiê và kiềm (một số người coi bộ kiềm là một tập hợp con của bộ magiê). Đá thuộc bộ anorthosit sắt gồm hầu như chỉ là khoáng chất anorthit (một calic plagiocla fenspa) và được cho là đại diện cho sự tích tụ plagiocla trôi nổi của biển macma Mặt Trăng. Theo các biện pháp tính niên đại phóng xạ thì anorthosit sắt đã được hình thành từ 4,4 tỷ năm trước.
Đá bộ magiê và kiềm chủ yếu là đá sâu mafic. Các loại đá đặc trưng gồm dunit, troctolit, gabbro, anorthosit kiềm và hiếm hơn là granit. Trái với bộ anorthosit sắt, các loại đá này đều có tỷ lệ Mg/Fe cao trong các khoáng vật mafic của chúng. Nói chung, các loại đá này là sự xâm nhập vào lớp vỏ cao nguyên đã hình thành từ trước (dù một số ví dụ hiếm hơn có lẽ là sự phun trào dung nham), và chúng đã hình thành từ khoảng 4,4–3,9 tỷ năm trước. Nhiều loại đá trên có sự phổ biến cao của, hay về mặt phát sinh có liên quan tới, thành phần địa hóa học KREEP.
Các biển Mặt Trăng gồm toàn bộ các biển bazan. Tuy tương tự như bazan Trái Đất, chúng chứa nhiều sắt hơn, và hoàn toàn không có chứa các sản phẩm bị biến đổi bởi nước, và chứa nhiều titan.
Các nhà du hành vũ trụ đã thông báo rằng bụi từ bề mặt kết xuống giống như tuyết và có mùi thuốc súng cháy. Bụi hầu hết được hình thành từ thủy tinh điôxít silic (SiO2), có lẽ được tạo ra từ các thiên thạch đã đâm xuống bề mặt Mặt Trăng. Chúng cũng có chứa canxi và magiê.
== Chuyển động ==
=== Các tham số quỹ đạo ===
Mặt Trăng chuyển động quanh Trái Đất trên quỹ đạo hình elíp gần tròn ở khoảng cách trung bình 384.403 km với cận điểm 363.104 km, viễn điểm 405.696 km và độ lệch tâm trung bình 0,0554. Giá trị độ lệch tâm này thay đổi từ 0,043 đến 0,072 trong chu kì 8,85 năm. Mặt phẳng quỹ đạo của Mặt Trăng quanh Trái Đất nằm nghiêng so với mặt phẳng quỹ đạo của Trái Đất quanh Mặt Trời trong khoảng 4°59′ đến 5°18′, với giá trị trung bình 5°9′. Chu kỳ quỹ đạo khoảng 27,321 ngày, kinh độ của điểm nút lên 125,08°, acgumen của cận điểm 318,15°.
=== Chuyển động biểu kiến ===
Chuyển động biểu kiến của Mặt Trăng là kết quả tổng hợp chuyển động tương đối của nhiều thiên thể và của người quan sát, trong đó các chuyển động thành phần còn chịu ảnh hưởng nhiễu từ các thiên thể khác trong hệ Mặt Trời và từ tính chất cấu trúc các thiên thể. Mặt Trăng chuyển động biểu kiến theo hướng Đông Nam do chuyển động xoay của Trái Đất. Trên nền trời sao, nó dịch chuyển theo hướng Tây trung bình mỗi ngày 13° do chuyển động quanh Trái Đất và hàng ngày Mặt Trăng tụt lùi sau Mặt Trời 12° do Mặt Trời tiến về hướng Đông khoảng 1° mỗi ngày. Hàng ngày, Mặt Trăng mọc muộn hơn ngày trước đó trung bình 50 phút. Tháng giao hội của nó khoảng 29,53 ngày, dài hơn một chút so với chu kỳ quỹ đạo của Mặt Trăng (27,32 ngày), vì Trái Đất thực hiện chuyển động riêng của mình trên quỹ đạo xung quanh Mặt Trời, nên Mặt Trăng phải mất thêm một khoảng thời gian để trở về vị trí cũ của nó so với Mặt Trời.
=== Các nguyên nhân gây bất ổn định trong quỹ đạo ===
Nhiễu loạn kỳ sai
Nhiễu loạn kỳ sai là tác động nhiễu loạn nhỏ có chu kì của Mặt Trời đến chuyển động của Mặt Trăng trên quỹ đạo do các vị trí khác nhau của Mặt Trời so với đường củng điểm. Vận tốc góc không đều của Mặt Trăng trên quỹ đạo đã được biết đến từ thời cổ đại. Tác động này đã được nhà thiên văn Hy Lạp Ptolemaeus nhắc đến trong quyển Almagest. Ông cho rằng tác động này với chu kì 31,8 ngày có thể gây nhiễu tối đa 1°16,4' đến nhiễu loạn lớn trong chuyển động của Mặt Trăng.
Nhiễu loạn dao động
Nhiễu loạn dao động là hiện tượng gây nhiễu trong chuyển động của Mặt Trăng do tác động của lực hấp dẫn nhiễu loạn từ Mặt Trời. Hiện tượng này là những biến đổi nhỏ với biên độ 39′ 30″ trong chuyển động của Mặt Trăng, lúc nhanh hơn, lúc chậm hơn so với chuyển động trung bình trên quỹ đạo của mình với chu kì bằng một phần hai chu kì giao hội. Nhiễu quỹ đạo của Mặt Trăng được Tycho Brahe phát hiện và sau đó Isaac Newton giải thích trên cơ sở lý thuyết nhiễu trong trường hấp dẫn.
Đa số các hiệu ứng thủy triều quan sát được trên Trái Đất đều do lực kéo hấp dẫn của Mặt Trăng, Mặt Trời chỉ gây một hiệu ứng nhỏ. Các hiệu ứng thủy triều dẫn khiến khoảng cách trung bình giữa Trái Đất và Mặt Trăng tăng khoảng 3,8 m mỗi thế kỷ, hay 3,8 cm mỗi năm. Vì hiệu ứng bảo toàn động lượng góc, sự tăng bán trục lớn của Mặt Trăng gắn liền với sự chậm dần tốc độ tự quay của Trái Đất khoảng 0,002 giây mỗi ngày sau mỗi thế kỷ.
Hệ Trái Đất-Mặt Trăng thỉnh thoảng được coi là một hành tinh đôi chứ không phải một hệ hành tinh-vệ tinh. Điều này bởi kích thước đặc biệt lớn của Mặt Trăng so với hành tinh của nó; Mặt Trăng có đường kính bằng một phần tư đường kính Trái Đất và có khối lượng bằng 1/81 khối lượng Trái Đất. Tuy nhiên, định nghĩa này đã bị một số người chỉ trích, bởi khối tâm chung của hệ nằm khoảng 1.700 km bên dưới bề mặt Trái Đất, hay khoảng một phần tư bán kính Trái Đất. Bề mặt Mặt Trăng chưa bằng 1/10 bề mặt Trái Đất, và chỉ bằng khoảng một phần tư diện tích phần đất liền của Trái Đất (hay cỡ diện tích Nga, Canada và Hoa Kỳ cộng lại).
Năm 1997, tiểu hành tinh 3753 Cruithne được khám phá có quỹ đạo hình móng ngựa liên kết với Trái Đất một cách bất thường. Tuy nhiên, các nhà thiên văn học không coi nó là một Mặt Trăng thứ hai của Trái Đất, và quỹ đạo của nó không ổn định trong thời gian dài. Ba tiểu hành tinh gần Trái Đất khác, (54509) 2000 PH5, (85770) 1998 UP1 và 2002 AA29, nằm trên quỹ đạo tương tự quỹ đạo Cruithne, cũng đã được phát hiện ra.
Nó là Mặt Trăng lớn nhất trong Hệ Mặt Trời về kích thước tương đối so với hành tinh. (Charon lớn hơn về kích thước so sánh so với hành tinh lùn Diêm vương.) Các vệ tinh tự nhiên bay quanh các hành tinh khác được gọi là "các Mặt Trăng", theo tên Mặt Trăng của Trái Đất.
== Thủy triều ==
Thủy triều trên Trái Đất do lực thủy triều của trường hấp dẫn của Mặt Trăng gây ra và được khuếch đại bởi nhiều hiệu ứng trong các đại dương của Trái Đất. Lực hấp dẫn thủy triều xuất hiện bởi phía Trái Đất hướng về Mặt Trăng (gần nó hơn) bị hút mạnh hơn bởi lực hấp dẫn của Mặt Trăng so với tâm Trái Đất và phía bên kia thì càng thấp hơn nữa. Thủy triều hấp dẫn kéo các đại dương của Trái Đất thành một hình elip với Trái Đất ở trung tâm. Hiệu ứng này tạo nên hai "bướu" nước cao trên Trái Đất; một ở phía gần Mặt Trăng và một ở phía xa. Bởi hai bướu này quay quanh Trái Đất mỗi lần một ngày khi Trái Đất tự quay quanh trục của nó, nước trong đại dương liên tục chạy về hướng hai bướu đang chuyển động. Các hiệu ứng của hai bướu và các dòng hải lưu lớn trên biển đuổi theo chúng được khuếch đại bởi sự tham gia của các hiệu ứng khác; cụ thể là sự kết hợp ma sát của nước tới sự quay của Trái Đất qua các đáy biển, quán tính của chuyển động của nước, các lòng chảo đại dương nông dần lên về phía đất liền, và sự dao động giữa các lòng chảo đại dương khác nhau. Sự khuếch đại hiệu ứng hơi giống kiểu nước đập lên sườn nghiêng của một bồn tắm sau khi có sự nhiễu loạn do thân người gây ra ở phần đáy sâu của bồn.
Sự kết hợp hấp dẫn giữa Mặt Trăng và bướu đại dương gần với Mặt Trăng ảnh hưởng tới quỹ đạo của nó. Trái Đất tự quay trên trục trên cùng hướng, và ở tốc độ nhanh hơn khoảng 27 lần, so với Mặt Trăng quay quanh Trái Đất. Vì thế, sự kết hợp ma sát giữa đáy biển và nước đại dương, cũng như quán tính của nước, kéo đỉnh của bướu thủy triều gần Mặt Trăng hơi tiến hơn về phía trước của đường thẳng tưởng tượng nối trung tâm Trái Đất với Mặt Trăng. Từ góc nhìn Mặt Trăng, trung tâm khối lượng của bướu thủy triều gần Mặt Trăng liên tục chạy trước điểm mà nó đang quay. Tương tự như vậy hiệu ứng ngược lại cũng xảy ra với bướu phía xa; nó lùi lại phía sau đường nối tưởng tượng. Tuy nhiên, nó cách xa 12.756 km và có kết hợp hấp dẫn với Mặt Trăng thấp hơn. Vì thế, Mặt Trăng liên tục bị hút hấp dẫn tiến về phía trước trên quỹ đạo của nó với Trái Đất. Sự kết hợp hấp dẫn này làm giảm động năng và động lượng góc của sự tự quay của Trái Đất (xem thêm, Ngày và Giây nhuận). Trái lại, động lượng góc được tăng thêm cho quỹ đạo của Mặt Trăng, khiến Mặt Trăng bị đưa vào một quỹ đạo xa hơn và dài hơn. Hiệu ứng với bán kính quỹ đạo của Mặt Trăng khá nhỏ, chỉ 0,10 ppb/năm, nhưng dẫn tới sự tăng khoảng cách đo được hàng năm là 3,82 cm trong khoảng cách Trái Đất-Mặt Trăng. Dần dần, hiệu ứng này trở nên dễ nhận thấy hơn, từ khi các nhà du hành vũ trụ lần đầu tiên đặt chân xuống Mặt Trăng 39 năm về trước, hiện Mặt Trăng đã cách xa chúng ta thêm 1,48 m.
== Nhật thực và Nguyệt thực ==
Nhật/Nguyệt thực chỉ có thể xảy ra khi Mặt Trời, Trái Đất và Mặt Trăng cùng nằm trên một đường thẳng. Nhật thực xảy ra gần tuần trăng mới, khi Mặt Trăng nằm giữa Mặt Trời và Trái Đất. Trái lại, nguyệt thực xảy ra gần lúc trăng tròn, khi Trái Đất nằm giữa Mặt Trời và Mặt Trăng.
Vì Mặt Trăng quay quanh Trái Đất với góc nghiêng khoảng 5° so với quỹ đạo của Trái Đất quanh Mặt Trời, các cuộc nhật/nguyệt thực không xảy ra tại mọi tuần trăng mới và trăng tròn. Để có thể xảy ra nhật/nguyệt thực, Mặt Trăng phải ở gần nơi giao cắt của hai mặt phẳng quỹ đạo.
Tính định kỳ và sự tái diễn các lần thực của Mặt Trời bởi Mặt Trăng, và của Mặt Trăng bởi Trái Đất, được miêu tả bởi chu kỳ thiên thực, tái diễn sau xấp xỉ 6.585,3 ngày (18 năm 11 ngày 8 giờ).
Các đường kính góc của Mặt Trăng và Mặt Trời khi quan sát từ Trái Đất chồng lên nhau trong sự biến đổi của chúng, vì thế cả Nhật thực toàn phần và Nhật thực một phần đều có thể xảy ra. Khi xảy ra nhật thực toàn phần, Mặt Trăng hoàn toàn che lấp đĩa Mặt Trời và hào quang Mặt Trời có thể được nhìn thấy bằng mắt thường từ Trái Đất. Bởi khoảng cách giữa Mặt Trăng và Trái Đất hơi tăng thêm theo thời gian, đường kính góc của Mặt Trăng giảm xuống. Điều này có nghĩa từ hàng trăm triệu năm trước Mặt Trăng có thể luôn che khuất Mặt Trời ở mọi lần nhật thực, vì thế có thể trong quá khứ nhật thực một phần không thể xảy ra. Tương tự, khoảng 600 triệu năm nữa (giả thiết rằng đường kính góc của Mặt Trời không thay đổi), Mặt Trăng không thể che khuất hoàn toàn Mặt Trời nữa và khi ấy chỉ xảy ra nhật thực một phần.
Một hiện tượng liên quan tới nhật/nguyệt thực là sự che khuất. Mặt Trăng liên tục ngăn tầm nhìn bầu trời của chúng ta với một diện tích hình tròn rộng khoảng 0,5 độ. Khi một ngôi sao sáng hay một hành tinh qua phía sau Mặt Trăng thì nó bị che khuất hay không thể quan sát được. Một cuộc nhật thực là một sự che khuất của Mặt Trời. Bởi Mặt Trăng gần với Trái Đất, các cuộc che khuất các ngôi sao riêng biệt không nhìn thấy được ở mọi nơi, cũng không ở cùng thời điểm. Bởi sự tiến động của quỹ đạo Mặt Trăng, mỗi năm các ngôi sao khác nhau sẽ bị che khuất.
Lần nguyệt thực diễn ra ngày 20 tháng 2 năm 2008 là lần nguyệt thực toàn phần. Toàn bộ diễn biến có thể được quan sát từ Nam Mỹ và hầu hết Bắc Mỹ (ngày 20 tháng 2), cũng như từ Đông Âu, châu Phi, và Tây Á (ngày 21 tháng 2). Lần nhật thực diễn ra ngày 11 tháng 9 năm 2007, quan sát được từ Nam Mỹ và nhiều vùng thuộc Nam Cực. Lần nhật thực toàn phần diễn ra ngày 1 tháng 8 năm 2008 có đường che khuất hoàn toàn bắt đầu từ bắc Canada chạy qua Nga và Trung Quốc. Lần nguyệt thực sắp tới sẽ là ngày 21 tháng 12 năm 2010, là đợt nguyệt thực toàn phần. Dự kiến ở Việt Nam, nguyệt thực sẽ bắt đầu lúc 13 giờ 30 phút, che khuất hoàn toàn vào 15 giờ 20 phút và kết thúc lúc 17 giờ 10 phút.
== Thám hiểm ==
Bước tiến đầu tiên trong việc quan sát Mặt Trăng được thực hiện nhờ sự phát minh kính viễn vọng. Galileo Galilei đã sử dụng tốt công cụ này để quan sát các ngọn núi và hố va chạm trên Mặt Trăng.
Cuộc chạy đua vũ trụ thời Chiến tranh Lạnh giữa Liên Xô và Hoa Kỳ đã dẫn tới sự tập trung chú ý vào Mặt Trăng. Các phi vụ tàu vũ trụ không người lái, kể cả bay ngang qua và va chạm/hạ cánh, đã được thực hiện ngay khi các khả năng phóng tàu của con người cho phép. Chương trình Luna của Liên bang Xô viết đã lần đầu tiên đưa được tàu vũ trụ không người lái tới Mặt Trăng. Vật thể đầu tiên do con người chế tạo thoát được lực hấp dẫn Trái Đất đi tới gần Mặt Trăng là Luna 1, vật thể nhân tạo đầu tiên va chạm xuống bề mặt Mặt Trăng là Luna 2, và những bức ảnh đầu tiên về bề mặt không nhìn thấy được của Mặt Trăng đã được Luna 3 chụp, ba phi vụ này diễn ra năm 1959. Tàu vũ trụ đầu tiên thực hiện thành công hạ cánh nhẹ nhàng xuống Mặt Trăng là Luna 9 và phương tiện không người điều khiển đầu tiên bay quanh quỹ đạo Mặt Trăng là Luna 10, hai phi vụ này diễn ra năm 1966. Các mẫu vật từ Mặt Trăng đã được các phi vụ Luna (Luna 16, 20, và 24) và các phi vụ Apollo 11 tới 17 đưa về Trái Đất (ngoại trừ Apollo 13, đã phải hủy bỏ kế hoạch hạ cánh).
Những bước chân đầu tiên của con người trên Mặt Trăng năm 1969 được coi là đỉnh cao của cuộc chạy đua vũ trụ. Neil Armstrong trở thành người đầu tiên đi bộ trên bề mặt Mặt Trăng với tư cách chỉ huy phi vụ Apollo 11 của Hoa Kỳ lúc 02:56 UTC ngày 21 tháng 7 năm 1969. Các cuộc hạ cánh xuống Mặt Trăng và quay trở về Trái Đất đã được thực hiện nhờ các tiến bộ kỹ thuật to lớn, trong các lĩnh vực như tiêu mòn hóa học và kỹ thuật tái thâm nhập khí quyển hồi đầu thập niên 1960.
Các gói phương tiện kỹ thuật đã được đặt trên bề mặt Mặt Trăng trong mọi phi vụ Apollo. Các trạm ALSEP (Gói thí nghiệm bề mặt Mặt Trăng Apollo) có tuổi thọ sử dụng dài đã được đặt tại các địa điểm hạ cánh của Apollo 12, 14, 15, 16, và 17, trong khi đó các trạm tạm thời được gọi là EASEP (Gói kỹ thuật khoa học Apollo ban đầu) đã được đặt khi thực hiện phi vụ Apollo 11. Các trạm ALSEP có các thiết bị như máy thăm dò dòng, máy đo địa chấn, từ kế và các thiết bị phản hồi. Việc truyền dữ liệu về Trái Đất đã kết thúc ngày 30 tháng 9 năm 1977 vì các lý do tài chính. Bởi các thiết bị phản hồi laser Mặt Trăng (LLR) là các thiết bị động nên chúng vẫn còn được sử dụng. Việc chiếu tia laser lên các trạm LLR vẫn được thực hiện hàng ngày từ các trạm ở Trái Đất với độ chính xác vài centimét, và dữ liệu thu được dùng để tính toán kích thước lõi Mặt Trăng.
Cho tới nay, Eugene Cernan, thành viên của phi vụ Apollo 17, là người cuối cùng rời bề mặt Mặt Trăng, vào ngày 14 tháng 12 năm 1972 và từ đó chưa từng có ai đặt chân lên đây.
Từ giữa thập niên 1960 tới giữa thập niên 1970, 65 vật thể nhân tạo đã bay tới Mặt Trăng (cả có và không có người điều khiển, chỉ riêng trong năm 1971 đã có 10 vụ), lần cuối là của Luna 24 năm 1976. Chỉ 18 phi vụ trong số đó là những cuộc hạ cánh xuống Mặt Trăng có điều khiển, 9 phi vụ hoàn thành cuộc du hành vòng quanh từ Trái Đất và quay trở về với các mẫu đá Mặt Trăng. Liên Xô sau đó đã đặt trọng tâm chú ý vào Sao Kim và các trạm vũ trụ, còn Hoa Kỳ tập trung vào Sao Hỏa và các hành tinh phía ngoài. Năm 1990, tàu vũ trụ Hiten của Nhật Bản đã bay trên quỹ đạo quanh Mặt Trăng, khiến nước này trở thành quốc gia thứ ba đưa được tàu vũ trụ vào quỹ đạo Mặt Trăng. Tàu vũ trụ này thả một tàu thăm dò nhỏ, Hagormo, vào quỹ đạo Mặt Trăng, nhưng thiết bị truyền dữ liệu bị hỏng nên các sứ mệnh khoa học sau đó đã không thể thực hiện.
Năm 1994, cuối cùng Hoa Kỳ cũng quay lại với Mặt Trăng, tuy chỉ bằng robot, tàu vũ trụ Clementine. Phi vụ này đã thực hiện được việc lập bản đồ địa hình gần toàn bộ của Mặt Trăng lần đầu tiên, và các hình ảnh đa phổ đầu tiên về bề mặt Mặt Trăng. Tiếp sau đó là phi vụ Lunar Prospector năm 1998. Quang phổ kế nơtron trên Lunar Prospector cho thấy sự hiện diện với số lượng lớn của hiđrô tại các vùng cực của Mặt Trăng, dường như được gây ra do sự hiện diện của băng ở vài mét bên trên tầng regolith bên trong những hố va chạm không bao giờ được chiếu sáng. Tàu vũ trụ Smart 1 của châu Âu được phóng đi ngày 27 tháng 9 năm 2003 và ở trên quỹ đạo Mặt Trăng từ ngày 15 tháng 11 năm 2004 đến ngày 3 tháng 9 năm 2006.
Ngày 14 tháng 1 năm 2004, Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush đã kêu gọi một kế hoạch thực hiện các phi vụ có người điều khiển tới Mặt Trăng vào năm 2020 (xem Viễn cảnh Thám hiểm Mặt Trăng). NASA hiện có kế hoạch xây dựng một tiền trạm thường trực tại một trong các cực Mặt Trăng. Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã đưa ra các kế hoạch đầy tham vọng nhằm thám hiểm Mặt Trăng và đã bắt đầu Chương trình Thường Nga để thực hiện mục tiêu này, họ đã phóng thành công tàu vũ trụ đầu tiên, Thường Nga-1, ngày 24 tháng 10 năm 2007.
Phi vụ thám hiểm Mặt Trăng đầu tiên của Ấn Độ, Chandrayaan I, đã quay trên quỹ đạo quanh Mặt Trăng vào ngày 8 tháng 11 năm 2008 cho đến khi mất liên lạc với con tàu vào ngày 27 tháng 8 năm 2009. Con tàu này đã gửi về bản đồ bề mặt Mặt Trăng độ phân giải cao về thành phần hóa học, ảnh chụp địa chất và khoáng vật, từ đó xác nhận sự có mặt của phân tử nước trong đất Mặt Trăng. Cơ quan nghiên cứu không gian Ấn Độ có kế hoạch phóng tàu Chandrayaan II vào năm 2013, nó sẽ mang theo một rô bốt tự hành của Nga đổ bộ lên Mặt Trăng. Hai tàu Lunar Reconnaissance Orbiter (LRO) và LCROSS chứa khối va chạm được phóng lên đồng thời và chúng đã đi vào quỹ đạo quanh Mặt Trăng ngày 18 tháng 6 năm 2009; LCROSS đã hoàn thành phi vụ của nó khi con tàu thả khối va chạm và thực hiện quan sát sự kiện va chạm xảy ra ở hố Cabeus vào ngày 9 tháng 10 năm 2009, trong khi LRO hiện tại vẫn đang hoạt động, và gửi về trung tâm điều khiển các bức ảnh có độ phân giải cao.
Giải Lunar X của Google, được thông báo ngày 13 tháng 9 năm 2007, hy vọng khuyến khích việc thám hiểm Mặt Trăng do tư nhân tài trợ. Quỹ X Prize sẽ trao cho bất kỳ ai 20 triệu dollar Mỹ nếu họ cho hạ cánh thành công một thiết bị robot xuống Mặt Trăng và đạt được một số tiêu chí do họ quy định.
Ngày 14 tháng 9 năm 2007 Cơ quan Thám hiểm Không gian Nhật Bản đã phóng SELENE một tàu vũ trụ quỹ đạo Mặt Trăng được trang bị một camera có độ phân giải cao và hai vệ tinh nhỏ. Phi vụ này được chờ đợi kéo dài trong một năm.
Tàu Kaguya của Nhật Bản phóng lên năm 2007 đã tìm thấy Uranium trên Mặt Trăng bằng máy phân tích quang phổ tia gamma. Mặt Trăng hứa hẹn sẽ là nguồn cung cấp Uranium dồi dào cho Trái Đất.
== Sự hiểu biết của con người ==
Mặt Trăng đã là chủ đề của nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật và là nguồn cảm hứng của rất nhiều công trình khác. Nó là một trong những môn nghệ thuật thị giác, nghệ thuật biểu diễn, thơ, văn và nhiều môn nghệ thuật khác. Một bức tranh khắc đá có niên đại từ 5.000 năm trước tại Knowth, Ireland có thể thể hiện Mặt Trăng, đây cũng có thể là bức vẽ Mặt Trăng sớm nhất từng được phát hiện. Trong nhiều nền văn hóa tiền sử và cổ đại, Mặt Trăng từng được cho là một nữ thần hay các hiện tượng siêu nhiên khác, và những quan điểm chiêm tinh học về Mặt Trăng vẫn còn được truyền đạt đến ngày nay.
Một trong số những giải thích khoa học đầu tiên của thế giới phương Tây về Mặt Trăng là của nhà triết học Hy Lạp Anaxagoras (năm 428 trước Công Nguyên), ông suy luận rằng cả Mặt Trời và Mặt Trăng đều là các thiên thể hình cầu lớn bằng đá, và rằng Mặt Trăng phản chiếu ánh sáng của Mặt Trời. Quan điểm vô thần của ông về các bầu trời là một trong những nguyên nhân khiến ông bị bắt giam và cuối cùng bị trục xuất.
Theo miêu tả vũ trụ của Aristotle (384–322 trước Công Nguyên), Mặt Trăng là biên giới giữa các bầu trời của các nguyên tố có thể biến đổi (đất, nước, không khí và lửa), và các ngôi sao bất diệt của ête. Sự phân chia này đã là một phần của vật lý học trong nhiều thế kỷ sau đó.
Ở thời Chiến quốc tại Trung Quốc, nhà thiên văn học Thạch Thân (thế kỷ 4 trước Công Nguyên) đã đưa ra những lý luận để phán đoán nhật thực và nguyệt thực dựa trên các vị trí tương quan của Mặt Trời và Mặt Trăng. Dù người Trung Quốc ở thời Hán (202 TCN–202) tin rằng Mặt Trăng là nguồn năng lượng tương đương khí, lý thuyết 'ảnh hưởng bức xạ' của họ công nhận rằng ánh sáng của Mặt Trăng chỉ đơn giản là sự phản chiếu của Mặt Trời (đã được Anaxagoras đề cập ở trên). Điều này được các nhà tư tưởng chủ đạo như Kinh Phòng (78–37 trước Công Nguyên) và Trương Hành (78–139) ủng hộ, những cũng bị nhà triết học có tầm ảnh hưởng là Vương Sung (27–97) phản đối. Kinh Phòng đã lưu ý tới hình cầu của Mặt Trăng trong khi Trương Hành đã miêu tả chính xác về nhật thực và nguyệt thực. Những điều quả quyết đó được Thẩm Quát (1031–1095) thời nhà Tống (960–1279) ủng hộ, ông đã tạo ra một biểu tượng giải thích thời kỳ trăng khuyết và trăng tròn tương tự như một quả bóng tròn bạc tròn phản chiếu, mà khi được phủ bột trắng và nhìn từ phía bên, sẽ có hình lưỡi liềm. Ông cũng lưu ý rằng lý do Mặt Trời và Mặt Trăng không che khuất nhau mỗi lần trùng vị trí bởi có một lượng xiên nhỏ trong đường quỹ đạo của chúng.
Tới thời Trung cổ, trước khi kính viễn vọng được phát minh, ngày càng có nhiều người công nhận Mặt Trăng là hình cầu, dù rằng họ vẫn tin nó "hoàn toàn nhẵn". Năm 1609, Galileo Galilei vẽ một trong những hình vẽ qua kính thiên văn đầu tiên về Mặt Trăng trong cuốn sách Sidereus Nuncius của ông và ghi chú rằng nó không nhẵn mà có các ngọn núi và các hố va chạm. Sau này ở thế kỷ 17, Giovanni Battista Riccioli và Francesco Maria Grimaldi đã vẽ một bản đồ Mặt Trăng và đặt tên cho nhiều hố va chạm, những tên này vẫn được giữ đến ngày nay.
Trên các tấm bản đồ, những phần tối trên bề mặt Mặt Trăng được gọi là maria (các biển), và những phần sáng được gọi là terrae (lục địa). Khả năng Mặt Trăng có một số loại thực vật và có người Mặt Trăng sinh sống đã được xem xét một cách nghiêm túc bởi một số nhà thiên văn học nổi tiếng, thậm chí ở ngay những thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 19. Sự tương phản giữa phần cao nguyên sáng và biển tối tạo nên những mô hình được các nền văn hóa khác nhau coi là những người trên Mặt Trăng, thỏ và trâu, cùng nhiều hình tượng khác.
Năm 1835, Trò lừa vĩ đại về Mặt Trăng khiến một số người nghĩ rằng có một số loại động vật kỳ lạ đang sống trên Mặt Trăng. Tuy nhiên, hầu như cùng lúc đó (trong giai đoạn 1834–1836), Wilhelm Beer và Johann Heinrich Mädler đã xuất bản cuốn bản đồ bốn tập Mappa Selenographica và cuốn sách Der Mond năm 1837, đưa ra kết luận rõ ràng rằng Mặt Trăng không có nước cũng như không có khí quyển một cách đáng kể.
Phía không nhìn thấy được của Mặt Trăng hoàn toàn không được biết tới cho tới khi tàu vũ trụ Luna 3 được phóng đi năm 1959, và đã được Chương trình Lunar Orbiter vẽ bản đồ bao quát trong thập niên 1960.
== Tình trạng pháp luật ==
Dù nhiều lá cờ của Liên Xô đã được Luna 2 thả xuống Mặt Trăng năm 1959 cũng như trong các phi vụ hạ cánh sau đó, và những lá cờ Hoa Kỳ cũng đã được cắm mang tính biểu tượng xuống Mặt Trăng, không quốc gia nào hiện tuyên bố quyền sở hữu với bất kỳ phần bề mặt nào của Mặt Trăng. Nga và Hoa Kỳ là các bên trong Hiệp ước Vũ trụ, đặt Mặt Trăng dưới cùng quyền tài phán như vùng biển quốc tế (tiếng Latin: res communis). Hiệp ước này cũng giới hạn việc sử dụng Mặt Trăng vào các mục đích hòa bình, cấm đặt các căn cứ quân sự và vũ khí hủy diệt hàng loạt (gồm cả vũ khí hạt nhân).
Một hiệp ước thứ hai, Hiệp ước Mặt Trăng, đã được đề xuất nhằm hạn chế việc khai thác các nguồn tài nguyên trên Mặt Trăng bởi bất kỳ một quốc gia riêng biệt nào, nhưng nó vẫn chưa được bất kỳ quốc gia nào có khả năng lên Mặt Trăng ký kết. Nhiều cá nhân đã đưa ra những tuyên bố sở hữu một phần hay toàn bộ Mặt Trăng, dù không một tuyên bố nào trong số đó được coi là đáng tin cậy.
== Mặt Trăng trong văn hóa ==
Nhờ các pha đều đặn của Mặt Trăng khiến nó trở thành một đồng hồ tự nhiên rất thuận tiện, và chu kỳ nó tròn dần và khuyết dần đã trở thành cơ sở cho nhiều lịch cổ. Một mảnh xương đại bàng trên đó có khắc các ký tự tìm thấy gần làng Le Placard ở Pháp có niên đại khoảng 13.000 năm trước, được cho rằng là các dấu hiệu tượng trưng cho các pha Mặt Trăng. Chu kỳ Mặt Trăng xấp xỉ 30 ngày (gần một tháng). Từ month trong tiếng Anh và các từ cùng gốc khác trong các ngôn ngữ Giéc-manh có chung gốc từ ngôn ngữ tiền-Giéc manh *mǣnṓth-, nó được liên hệ với từ *mǣnōn trong ngôn ngữ tiền-Giéc manh, ám chỉ cho lịch Mặt Trăng được sử dụng trong các dân tộc Giec-manh (lịch Giec-manh) hơn là cho lịch Mặt Trời. Cùng nguồn gốc trong hệ ngôn ngữ Ấn-Âu là moon đã dẫn đến sự phát triển của các từ Latin measure and menstrual, những từ phản ánh tầm quan trọng của Mặt Trăng trong nhiều nền văn hóa cổ trong việc xác định thời gian (xem từ Latin mensis và ngôn ngữ Hy Lạp cổ đại μήνας (mēnas), có nghĩa là "month").
Mặt Trăng đã trở thành chủ đề chính trong nhiều tác phẩm văn học và nghệ thuật và cảm hứng cho vô số những thứ khác. Nó là mộtip trong nghệ thuật thị giác, nghệ thuật trình diễn, thơ, văn xuôi và âm nhạc. Một phiến đá khắc 5.000 năm tuổi ở Knowth, Ai Len, có thể tượng trưng cho Mặt Trăng và có lẽ là tác phẩm cổ xưa nhất từng được khám phá. Trong nhiều nền văn hóa tiền sử và cổ đại, Mặt Trăng được nhân cách hóa thành thần Mặt Trăng hay những hiện tượng siêu nhiên khác, và quan điểm chiêm tinh học vẫn còn ảnh hưởng đến ngày nay. Sự tương phản giữa các cao nguyên sáng và biển tối trên bề mặt của Mặt Trăng tạo ra những hình tượng khác nhau trong các nền văn hóa như chú Cuội, thỏ Mặt Trăng và trâu, cùng với những hình tượng khác. Mặt Trăng từ lâu đã được một số người gắn với bệnh điên và sự phi lý; các từ lunacy (điên rồ) và loony (người điên) có nguồn gốc từ tiếng Latin cho tên gọi của Mặt Trăng, Luna. Những nhà triết học như Aristotle và Pliny the Elder lập luận là khi trăng tròn sẽ tác động đến thần kinh của những cá nhân nhạy cảm, dễ bị tổn thương, họ tin là não người, phần lớn chứa nước, phải bị ảnh hưởng bởi Mặt Trăng và sức mạnh của nó lên thủy triều, nhưng nó lại quá yếu để ảnh hưởng đến một cá nhân. Thậm chí ngày nay, nhiều người cho rằng có nhiều người phải nhập viện tâm thần, tai nạn giao thông, giết người hoặc tự tử tăng lên trong thời gian trăng tròn, mặc dù không có bằng chứng nào ủng hộ cho điều này.
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
=== Chú thích ===
=== Thư mục ===
== Liên kết ngoài ==
Mặt Trăng tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Mặt Trăng tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Hình ảnh và bản đồ
Constantine, M. (2004). “Apollo Panoramas”. moonpans.com. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
“Clementine Lunar Map 2.0 (Beta)”. U.S. Navy. Ngày 15 tháng 10 năm 2003. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 8 năm 1999. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
“Digital Lunar Orbiter Photographic Atlas of the Moon”. Viện Mặt Trăng và Hành tinh. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
“Google Moon”. Google. 2007. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
“Lunar Atlases”. Viện Mặt Trăng và Hành tinh. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
Aeschliman, R. “Lunar Maps”. Planetary Cartography and Graphics. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
“Lunar Photo of the Day”. 2007. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
“Moon”. World Wind Central. NASA. 2007. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
“The Moon: 50 fantastic features”. Skymania. 2007. Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2007.
Video về sự mọc lên của Trái Đất từ quỹ đạo Mặt Trăng do camera trên vệ tinh Kaguya của JAXA (Nhật Bản) quay. (Trái Đất chỉ dường như mọc do vệ tinh đang bay. Nhìn từ bề mặt Mặt Trăng thì Trái Đất không chuyển động do Mặt Trăng luôn hướng một mặt về Trái Đất.)
Thám hiểm
Jones, E.M. (2006). “Apollo Lunar Surface Journal”. NASA. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
“Lunar Exploration Timeline”. Viện Mặt Trăng và Hành tinh. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
Teague, K. (2006). “The Project Apollo Archive”. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
Các tuần trăng
“Current Moon Phase”. 2007. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
“NASA's SKYCAL - Sky Events Calendar”. Trang về nhật/nguyệt thực của NASA. Truy cập ngày 27 tháng 8 năm 2007.
“Virtual Reality Moon Phase Pictures”. Đài thiên văn Hải quân Hoa Kỳ. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
“Find moonrise, moonset and moonphase for a location”. 2008. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2008.
Khác
“All About the Moon”. Space.com. 2007. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
Hồ sơ Mặt Trăng của Solar System Exploration, NASA
“Archive of Moon Articles”. Planetary Science Research Discoveries. 2007. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
Williams, D.R. (2006). “Moon Fact Sheet”. NASA. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2007.
“Moon Wiki”. 2007. Truy cập ngày 6 tháng 9 năm 2007.
Cain, Fraser (1 tháng 7 năm 2007). “Where does the Moon Come From?”. Universe Today. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2008.
Moon articles from Planetary Science Research Discoveries
NASA - Evolution of the Moon trên YouTube, cập nhật 14 tháng 3 năm 2012
Lịch sử tiến hóa dữ dội của Mặt Trăng, Hà Hương, VietNamNet. Cập nhật 19/03/2012 06:30:00 AM (GMT+7)
Các nguồn bản đồ
10 vệ tinh lạ lùng nhất hệ mặt trời Thuvienvatly.com
Map of the Moon Bản đồ Mặt Trăng
Planetary Names: The Moon Danh pháp cho Mặt Trăng
PDS Map-a-Planet Moon top page |
phốtpho.txt | Phốtpho, (từ tiếng Hy Lạp: phôs có nghĩa là "ánh sáng" và phoros nghĩa là "người/vật mang"), là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu P và số nguyên tử 15. Là một phi kim đa hóa trị trong nhóm nitơ, phốtpho chủ yếu được tìm thấy trong các loại đá phốtphat vô cơ và trong các cơ thể sống. Do độ hoạt động hóa học cao, không bao giờ người ta tìm thấy nó ở dạng đơn chất trong tự nhiên. Nó phát xạ ra ánh sáng nhạt khi bị phơi ra trước ôxy (vì thế có tên gọi của nó trong tiếng Latinh để chỉ "ngôi sao buổi sáng", từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là "ánh sáng" và "mang"), và xuất hiện dưới một số dạng thù hình. Nó cũng là nguyên tố thiết yếu cho các cơ thể sống. Sử dụng quan trọng nhất trong thương mại của nó là để sản xuất phân bón. Nó cũng được sử dụng rộng rãi trong các loại vật liệu nổ, diêm, pháo hoa, thuốc trừ sâu, kem đánh răng và chất tẩy rửa.
== Các đặc trưng nổi bật ==
Dạng phổ biến của phốtpho là chất rắn dạng sáp có màu trắng có mùi đặc trưng khó ngửi tương tự như tỏi. Dạng tinh khiết của nó là không màu và trong suốt. Phi kim này không hòa tan trong nước nhưng hòa tan trong đisulfua cacbon. Phốtpho tinh khiết bắt cháy ngay trong không khí và tạo ra khói trắng chứa điphốtpho pentaôxít P2O5.
== Thù hình ==
Phốtpho tồn tại dưới ba dạng thù hình cơ bản có màu: trắng, đỏ và đen. Các dạng thù hình khác cũng có thể tồn tại. Phổ biến nhất là phốt pho trắng và phốt pho đỏ, cả hai đều chứa các mạng gồm các nhóm phân bổ kiểu tứ diện gồm 4 nguyên tử phốtpho. Các tứ diện của phốt pho trắng tạo thành các nhóm riêng; các tứ diện của phốtpho đỏ liên kết với nhau thành chuỗi. Phốtpho trắng cháy khi tiếp xúc với không khí hay khi bị tiếp xúc với nguồn nhiệt và ánh sáng.
Phốtpho cũng tồn tại trong các dạng ưa thích về mặt động học và nhiệt động lực học. Chúng được tách ra ở nhiệt độ chuyển tiếp -3,8 °C. Một dạng gọi là dạng "alpha", dạng kia gọi là "beta". Phốtpho đỏ là tương đối ổn định và thăng hoa ở áp suất 1 atm và 170 °C nhưng cháy do va chạm hay nhiệt do ma sát. Thù hình phốtpho đen tồn tại và có cấu trúc tương tự như graphit – các nguyên tử được sắp xếp trong các lớp theo tấm lục giác và có tính dẫn điện.
== Ứng dụng ==
Axít phốtphoric đậm đặc, có thể chứa tới 70% - 75% P2O5 là rất quan trọng đối với ngành nông nghiệp do nó được dùng để sản xuất phân bón. Nhu cầu toàn cầu về phân bón đã dẫn tới sự tăng trưởng đáng kể trong sản xuất phốtphat (PO43-) trong nửa sau của thế kỷ 20. Các sử dụng khác còn có:
Các phốtphat được dùng trong sản xuất các loại thủy tinh đặc biệt được sử dụng trong các loại đèn hơi natri.
Tro xương, phốtphat canxi, được sử dụng trong sản xuất đồ sứ.
Tripolyphốtphat natri được sản xuất từ axít phốphoric được sử dụng trong bột giặt ở một số quốc gia, nhưng lại bị cấm ở một số quốc gia khác.
Axít phốtphoric được sản xuất từ phốtpho nguyên tố được sử dụng trong các ứng dụng như các đồ uống chứa sôđa. Axít này cũng là điểm khởi đầu để chế tạo các phốtphat cấp thực phẩm. Các hóa chất này bao gồm phốtphat mônôcanxi được dùng trong bột nở và tripolyphốtphat natri và các phốtphat khác của natri. Trong số các ứng dụng khác, các hóa chất này được dùng để cải thiện các đặc trưng của thịt hay pho mát đã chế biến. Người ta còn dùng nó trong thuốc đánh răng. Phốtphat trinatri được dùng trong các chất làm sạch để làm mềm nước và chống ăn mòn cho các đường ống/nồi hơi.
Phốtpho được sử dụng rộng rãi để sản xuất các hợp chất hữu cơ chứa phốtpho, thôngqua các chất trung gian như clorua phốtpho và sulfua phốtpho. Các chất này có nhiều ứng dụng, bao gồm các chất làm dẻo, các chất làm chậm cháy, thuốc trừ sâu, các chất chiết và các chất xử lý nước.
Nguyên tố này cũng là thành phần quan trọng trong sản xuất thép, trong sản xuất đồng thau chứa phốtpho và trong nhiều sản phẩm liên quan khác.
Phốtpho trắng được sử dụng trong các ứng dụng quân sự như bom lửa, tạo ra các màn khói như trong các bình khói và bom khói, và trong đạn lửa.
Phốtpho đỏ được sử dụng để sản xuất các vỏ bao diêm an toàn, pháo hoa và nhất là mêtamphếtamin (C10H15N).
Với một lượng nhỏ, phốtpho được dùng như là chất thêm vào cho các loại bán dẫn loại n.
Phốtpho P32 và phốtpho P33 được dùng như là các chất phát hiện dấu vết phóng xạ trong các phòng thí nghiệm hóa sinh học (xem Đồng vị dưới đây)
== Vai trò sinh học ==
Phốtpho là nguyên tố quan trọng trong mọi dạng hình sự sống đã biết. Phốtpho vô cơ trong dạng phốtphat PO43- đóng một vai trò quan trọng trong các phân tử sinh học như ADN và ARN trong đó nó tạo thành một phần của phần cấu trúc cốt tủy của các phân tử này. Các tế bào sống cũng sử dụng phốtphat để vận chuyển năng lượng tế bào thông qua ađênôsin triphốtphat (ATP). Gần như mọi tiến trình trong tế bào có sử dụng năng lượng đều có nó trong dạng ATP. ATP cũng là quan trọng trong phốtphat hóa, một dạng điều chỉnh quan trọng trong các tế bào. Các phốtpholipit là thành phần cấu trúc chủ yếu của mọi màng tế bào. Các muối phốtphat canxi được các động vật dùng để làm cứng xương của chúng. Trung bình trong cơ thể người chứa khoảng gần 1 kg phốtpho, và khoảng ba phần tư số đó nằm trong xương và răng dưới dạng apatit. Một người lớn ăn uống đầy đủ tiêu thụ và bài tiết ra khoảng 1-3 g phốtpho trong ngày trong dạng phốtphat.
Theo thuật ngữ sinh thái học, phốtpho thường được coi là chất dinh dưỡng giới hạn trong nhiều môi trường, tức là khả năng có sẵn của phốtpho điều chỉnh tốc độ tăng trưởng của nhiều sinh vật. Trong các hệ sinh thái sự dư thừa phốtpho có thể là một vấn đề, đặc biệt là trong các hệ thủy sinh thái, xem thêm sự dinh dưỡng tốt và bùng nổ tảo.
== Lịch sử ==
Phốtpho (từ tiếng Hy Lạp phosphoros, có nghĩa là "vật mang ánh sáng" và nó cũng là tên gọi cổ đại của Sao Kim) đã được nhà giả kim thuật người Đức là Hennig Brand phát hiện năm 1669 thông qua việc điều chế nước tiểu. Làm việc ở Hamburg, Brand đã cố gắng chưng cất các muối bằng cách cho bay hơi nước tiểu, và trong quá trình đó ông đã thu được một khoáng chất màu trắng phát sáng trong bóng đêm và cháy sáng rực rỡ. Kể từ đó, chữ lân quang, liên quan đến các ánh sáng lân tinh của phốtpho, đã được sử dụng để miêu tả các chất phát sáng trong bóng tối mà không cần cháy. Tuy nhiên bản chất vật lý của hiện tượng lân quang không trùng với cơ chế phát sáng của phốtpho: Brand đã không nhận ra rằng thực tế phốtpho cháy âm ỉ khi phát sáng.
Các loại diêm đầu tiên sử dụng phốtpho trắng trong thành phần của chúng, nó là nguy hiểm do độc tính của phốtpho trắng. Các trường hợp giết người, tự sát và các vụ ngộ độc ngẫu nhiên là hậu quả của việc sử dụng chất này. Ngoài ra, sự phơi nhiễm trước hơi phốtpho đã làm cho nhiều công nhân bị mắc chứng bệnh chết hoại xương hàm. Khi phốtpho đỏ được phát hiện, khả năng cháy kém hơn cũng như độc tính thấp hơn của nó đã làm cho dạng phốtpho này được nhanh chóng chấp nhận như là chất thay thế cho phốtpho trắng trong sản xuất diêm.
== Sự phổ biến ==
Do độ hoạt động hóa học cao đối với ôxy trong không khí và các hợp chất chứa ôxy khác nên phốtpho trong tự nhiên không tồn tại ở dạng đơn chất, mà nó phân bổ rộng rãi trong các loại khoáng chất khác nhau. Các loại đá phốtphat, trong đó một phần cấu tạo là apatit (khoáng chất chứa phốtphat tricanxi dạng không tinh khiết) là một nguồn quan trọng về mặt thương mại của nguyên tố này. Các mỏ apatit lớn có ở Nga, Maroc, Florida, Idaho, Tennessee, Utah v.v. Tại Việt Nam có mỏ apatit tại Lào Cai. Tuy nhiên, đang có các e ngại là các mỏ apatit sẽ nhanh chóng cạn kiệt. Hoa Kỳ sẽ không còn các mỏ apatit vào khoảng năm 2035. Trung Quốc và Maroc sở hữu các mỏ apatit lớn nhất đã biết hiện nay, nhưng rồi chúng cũng sẽ cạn kiệt. Cùng với sự cạn kiệt các mỏ này thì sẽ nảy sinh các vấn đề nghiêm trọng đối với việc sản xuất lương thực, thực phẩm của thế giới do phốtpho là một thành phần cơ bản trong các loại phân bón.
Thù hình màu trắng của phốtpho có thể được sản xuất theo nhiều cách khác nhau. Trong một quy trình, phốtphat tricanxi thu được từ các loại đá phốtphat, được nung nóng trong các lò nung với sự có mặt của cacbon và silica. Phốtpho dạng nguyên tố sau đó được giải phóng dưới dạng hơi và được thu thập lại dưới dạng axít phốtphoric.
== Phòng ngừa ==
Đây là nguyên tố có độc tính với 50 mg là liều trung bình gây chết người (phốtpho trắng nói chung được coi là dạng độc hại của phốtpho trong khi phốtphat và orthophốtphat lại là các chất dinh dưỡng thiết yếu). Thù hình phốtpho trắng cần được bảo quản dưới dạng ngâm nước do nó có độ hoạt động hóa học rất cao với ôxy trong khí quyển và gây ra nguy hiểm cháy và thao tác với nó cần được thực hiện bằng kẹp chuyên dụng do việc tiếp xúc trực tiếp với da có thể sinh ra các vết bỏng nghiêm trọng. Ngộ độc mãn tính phốtpho trắng đối với các công nhân không được trang bị bảo hộ lao động tốt dẫn đến chứng chết hoại xương hàm. Nuốt phải phốtpho trắng có thể sinh ra tình trạng mà trong y tế gọi là "hội chứng tiêu chảy khói". Các hợp chất hữu cơ của phốtpho tạo ra một lớp lớn các chất, một số trong đó là cực kỳ độc. Các este florophốtphat thuộc về số các chất độc thần kinh có hiệu lực mạnh nhất mà người ta đã biết. Một loạt các hợp chất hữu cơ chứa phốtpho được sử dụng bằng độc tính của chúng để làm các thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, thuốc diệt nấm v.v. Phần lớn các phốtphat vô cơ là tương đối không độc và là các chất dinh dưỡng thiết yếu.
Khi phốtpho trắng bị đưa ra ánh sáng Mặt Trời hay bị đốt nóng thành dạng hơi ở 250 °C thì nó chuyển thành dạng phốtpho đỏ, và nó không tự cháy trong không khí, do vậy nó không nguy hiểm như phốtpho trắng. Tuy nhiên, việc tiếp xúc với nó vẫn cần sự thận trọng do nó cũng có thể chuyển thành dạng phốtpho trắng trong một khoảng nhiệt độ nhất định và nó cũng tỏa ra khói có độc tính cao chứa các ôxít phốtpho khi bị đốt nóng.
Khi bị phơi nhiễm phốtpho, trong quá khứ người ta đề nghị rửa bằng dung dịch chứa 2% sulfat đồng CuSO4 để tạo ra một hợp chất không độc có thể rửa sạch. Tuy nhiên, theo báo cáo của Hải quân Mỹ gần đây thì "...sulfat đồng có độc tính và việc sử dụng nó sẽ được dừng lại. Sulfat đồng có thể gây độc cho thận và não cũng như phá hủy hồng cầu trong mạch máu."
Hướng dẫn này cũng đề xuất thay thế là "dung dịch bicacbonat để trung hòa axít phốtphoric...".
Có thể tìm them tài liệu về xử lý ngộ độc phốtpho tại Emergency War Surgery NATO Handbook: Phần I: Types of Wounds and Injuries: Chương III: Burn Injury: Chemical Burns And White Phosphorus injury.
== Đồng vị ==
Các đồng vị phóng xạ của phốtpho bao gồm:
P32: chất tạo bức xạ beta (1,71 MeV) với chu kỳ bán rã 14,3 ngày. Nó được dùng trong các phòng thí nghiệm khoa học nghiên cứu về sự sống, chủ yếu để tạo ra các mẫu ADN và ARN đánh dấu phóng xạ, ví dụ để sử dụng trong các phương pháp đánh dấu Northern hay đánh dấu Southern. Do các hạt beta cao năng lượng được tạo ra thâm nhập qua da và giác mạc, và do bất kỳ lượng P32 nào được đi vào cơ thể theo các đường tiêu hóa, hô hấp hay hấp thụ qua các đường khác đều kết hợp lại trong xương và các axít nucleic, OSHA yêu cầu là mọi người làm việc với P32 bắt buộc phải dùng quần áo bảo hộ, găng tay và kính bảo hộ, và phải tránh sự tiến hành công việc trên các thùng chứa hở để bảo vệ mắt. OSHA cũng yêu cầu phải có sự giám sát cá nhân, quần áo và bề mặt bị phơi nhiễm. Ngoài ra, do năng lượng cao của các hạt beta, thông thường người ta hay sử dụng các vật liệu nặng để che chắn (chẳng hạn chì), nhưng điều này lại tạo ra bức xạ thứ cấp các tia X, thông qua một tiến trình được biết đến như là Bremsstrahlung, có nghĩa là bức xạ phanh. Vì thế, các tấm che phải kèm theo với các vật liệu nhẹ như plexiglas, acrylic, lucit, chất dẻo, gỗ hay nước [1].
P33; chất tạo bức xạ beta (0,25 MeV) với chu kỳ bán rã 25,4 ngày. Nó được dùng trong các phòng thí nghiệm khoa học về sự sống trong các ứng dụng mà bức xạ beta thấp năng lượng là ưu thế hơn, ví dụ trong sắp xếp chuỗi ADN.
== Hợp chất ==
Phốtphat amôni ((NH4)3PO4)
Phốtphin (trihiđrua phốtpho PH3)
Phốtphat canxi (Ca3(PO4)2)
Đihiđrô phốtphat canxi (Ca(H2PO4)2)
Phốt phua canxi (Ca3P2)
Phốtphat sắt (III) (FePO4)
Phốt phát sắt (II) (Fe3(PO4)2)
Axít hypophốtphorơ (H3PO2)
Thuốc thử Lawesson
Parathion
Axít phốtphoric (H3PO4)
Axit phosphorous (H3PO3)
Pentabrômua phốtpho (PBr5)
Pentôxít phốtpho (P2O5)
Tribrômua phốtpho (PBr3)
Triclorua phốtpho (PCl3)
Triiốđua phốtpho (PI3)
Phốtphin (PH3)
Sarin C4H10FO2P
Somon
Phốtphat mônôkali (KH2PO4)
Phốtphat trinatri (Na3PO4)
VX
== Tham khảo ==
Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos National, Hoa Kỳ – Phốtpho
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com – Phốtpho
Entrez PubMed - Ngộ độc cấp tính phốtpho vàng |
đồng hồ mặt trời.txt | Đồng hồ Mặt Trời là một thiết bị đo thời gian dựa vào vị trí của Mặt Trời. Trong thiết kế thường gặp nhất, như trong đồng hồ mặt trời ngang, mặt trời đổ bóng kim (một thanh kim loại mỏng và sắc) lên trên một mặt phẳng có khắc các đường chỉ thời gian trong ngày. Khi mặt trời di chuyển trong ngày, bóng của kim sẽ đổ xuống thẳng hàng với các đường trên mặt đĩa. Thiết kế như vậy đòi hỏi kim thẳng hàng với trục quay của Trái Đất. Vì thế, để một đồng hồ Mặt trời chỉ được giờ chính xác, kim phải chỉ về cực bắc đúng (không phải cực bắc từ) và góc của kim với đường ngang phải bằng vĩ độ của chiếc đồng hồ. Những loại đồng hồ Mặt Trời được sản xuất hàng loạt nhằm mục đích trang trí nhiều khi không chỉ đúng thời gian.
== Xem thêm ==
Đồng hồ
Thời gian
Mặt Trời
== Tham khảo == |
dấu chấm than.txt | Dấu chấm than là một dấu chấm câu dùng để thể hiện cảm xúc mạnh hoặc khi câu nói được diễn đạt với âm lượng lớn (hét to), và thường là dấu kết thúc câu.
Trong lập trình, dấu này dùng để chỉ phủ định (!A là đúng nếu A là sai và ngược lại). Trong toán học, dấu này dùng để chỉ giai thừa.
== Tham khảo == |
natri.txt | Natri (phát âm: nát-ri, bắt nguồn từ từ tiếng Latinh mới: natrium) là tên một nguyên tố hóa học hóa trị một trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Na và số nguyên tử bằng 11, nguyên tử khối bằng 23. Natri là kim loại mềm, màu trắng bạc, hoạt động mạnh, và thuộc nhóm kim loại kiềm; nó chỉ có một đồng vị bền là 23Na. Kim loại nguyên chất không có mặt trong tư nhiên nhưng để có được dạng này phải điều chế từ các hợp chất của nó; natri được Humphry Davy cô lập đầu tiên năm 1807 bằng cách điện phân natri hyđrôxit. Natri là nguyên tố phổ biến nhất thứ 6 trong vỏ Trái Đất, và có mặt trong nhiều loại khoáng vật như felspat, sodalit và đá muối. Nhiều loại muối natri là những hợp chất hòa tan mạnh trong nước, và natri của chúng bị rò rỉ do hoạt động của nước nên clo và natri là các nguyên tố hòa tan phổ biến nhất theo khối lượng trong các vùng biển trên Trái Đất.
Nhiều hợp chất natri được sử dụng rộng rãi như natri hydroxide để làm xà phòng, và natri clorua dùng làm chất tan băng và là một chất dinh dưỡng (muối ăn). Natri là một nguyên tố thiết yếu cho tất cả động vật và một số thực vật. Ở động vật, các ion natri được dùng làm chất đối nghịch với các ion kali để tạo thành các điện tích trên các màng tế bào, cho phép truyền các xung thần kinh khi điện tích bị mất đi. Nhu cầu thiết yếu của natri đối với động vật làm cho nó được phân loại là một khoáng vô cơ trong khẩu phần ăn.
== Tính chất ==
=== Tính chất vật lý ===
Natri ở điều kiện nhiệt độ và áp suất tiêu chuẩn là một kim loại mềm, màu bạc, khi bị ôxy hóa chuyển sang màu trắng xám trừ khi nó được cất giữ trong dầu hoặc khí trơ. Natri có thể bị cắt dễ dàng bằng dao, và là một chất dẫn nhiệt và điện tốt. Các tính chất này thay đổi rõ rệt khi tăng áp suất: ở 1,5 Mbar, màu sắc thay đổi từ bạc sang đen; ở 1,9 Mbar vật liệu trở nên trong, có màu đỏ; và ở 3 Mbar natri là chất rắn trong suốt không màu. Tất cả các đồng phân ở áp suất cao này là chất cách điện và electride.
Khi natri hoặc các hợp chất của natri cháy, chúng chuyển thành màu vàng, do các electron ở lớp 3s của natri bị kích thích phát ra photon khi chúng từ phân lớp 3p trở về 3s; bước sóng của các photon này tương ứng với đường D có giá trị 589,3 nm. Tương tác orbitan liên quan đến electron trong phân lớp 3p chia đường D thành 2; cấu trúc siêu mịn liên quan đến cả 2 orbitan tạo ra nhiều đường hơn.
=== Tính chất hóa học ===
Natri thường ít phản ứng hơn kali và phản ứng mạnh hơn liti. Natri nổi trong nước và có phản ứng mãnh liệt với nước, tạo ra hiđrô và các ion hiđrôxit. Nếu được chế thành dạng bột đủ mịn, natri sẽ tự bốc cháy trong không khí. Kim loại natri có tính khử mạnh, để khử các ion natri cần −2.71 vôn. Do đó, để tách natri kim loại từ các hợp chất của nó cần sử dụng một lượng năng lượng lớn. Tuy nhiên, kali và liti còn có mức âm nhiều hơn.
=== Đồng vị ===
Có 20 đồng vị của natri đã được biết đến. Đồng vị ổn định duy nhất là 23Na. Natri có hai đồng vị phóng xạ nguồn gốc vũ trụ là (22Na, chu kỳ bán rã = 2,605 năm; 24Na, chu kỳ bán rã ≈ 15 giờ). Tất cả các đồng vị còn lại có chu kỳ bán rã nhỏ hơn một phút. Hai đồng phân hạt nhân đã được phát hiện, đồng phân có thời gian tồn tại lâu hơn 24mNa có chu kỳ bán rã khoảng 20,2 micro giây. Phát xạ neutron cấp, như các vụ tai nạn hạt nhân, chuyển đổi một số 23Na trong máu người thành 24Na; bằng cách đo hàm lượng 24Na tương quan với 23Na, liều trị phát xạ nơtron cho bệnh nhân có thể tính toán được.
=== Sự phổ biến ===
23Na được tạo ra từ quá trình đốt cháy cacbon trong các sao bởi sự hợp hạch của hai nguyên tử cacbon; quá trình này cần nhiệt độ trên 600 megakelvin và ngôi sao có khối lượng ít nhất bằng 3 lần khối lượng Mặt Trời. Natri là nguyên tố tương đối phổ biến trong các ngôi sao và quang phổ vạch D của nguyên tố này là nằm trong số các vạch rõ nhất từ ánh sáng của các sao. Natri chiếm khoảng 2,6% theo khối lượng của vỏ Trái Đất, làm nó trở thành nguyên tố phổ biến thứ sáu nói chung và là kim loại kiềm phổ biến nhất. Trong môi trường liên sao, natri được xác định bằng đường D; mặc dò nó có nhiệt độ hóa hơi cao, sự phổ biến của nó cho phép tàu Mariner 10 phát hiện nó trong khí quyển của Sao Thủy. Natri còn được phát hiện trong ít nhất một sao chổi; các nhà thiên văn học trong quá trình quan sát sao chổi Hale-Bopp năm 1997 đã quan sát được đuôi sao chổ bằng natri, nó bao gồm các nguyên tử trung hòa điện và kéo dài khoảng 50 triệu km.
== Lịch sử ==
Muối ăn là một loại hàng hóa quan trọng trong các hoạt động của con người, các tấm muối đôi khi được giao cho lính La Mã cùng với lương thực của họ. Ở châu Âu thời Trung cổ các hợp chất của natri với tên Latin sonadum đã được sử dụng như là thuốc chữa đau đầu. Tên gọi natri được cho là có nguồn gốc từ tiếng Ả Rập suda, nghĩa là đau đầu, vì tính chất giảm đau của natri cacbonat hay soda được biết khá rõ từ rất sớm. Ký hiệu của natri được Jöns Jakob Berzelius công bố đầu tiên trong hệ thống ký hiệu nguyên tử của ông, và có tên trong tiếng Latinh mới là natrium, nhằm ám chỉ tên gọi trong tiếng Hy Lạp của natron, một loại muối tự nhiên ban đầu được làm từ natri cacbonat ngậm nước. Về tính lịch sử, natron có nhiều ứng dụng quan trọng trong công nghiệp và gia đình, sau đó trở nên ít chú ý khi có nhiều hợp chất natri khác. Mặc dù vậy, natri, đôi khi còn được gọi là soda một thời gian dài được xem là một hợp chất, bản thân kim loại không được cô lập mãi cho đến năm 1807 khi Sir Humphry Davy điện phân natri hydroxit.
== Sản xuất ==
Chỉ có khoảng 100.000 tấn natri kim loại được sản xuất hàng năm Natri kim loại được sản xuất thương mại đầu tiên năm 1855 bằng cách khử cacbon nhiệt từ natri cacbonat ở 1100 °C, hay còn gọi là công nghệ Deville:
Na2CO3 + 2 C → 2 Na + 3 CO
Quá trình liên quan dựa trên sự khử natro hydroxit được phát triển năm 1886.
Natri hiện được sản xuất thương mại bằng phương pháp điện phân natri clorua nóng chảy, theo công nghệ được cấp bẳng sáng chế năm 1924. Phương pháp này rẻ tiền hơn so với phương pháp cũ là điện phân xút ăn da nóng chảy Natri hiđroxit. Natri kim loại có giá khoảng 15 đến 20 xent Mỹ trên một pound (0,30 USD/kg đến 0,45 USD/kg) năm 1997 nhưng loại dùng trong các phản ứng hóa học (ACS) của natri có giá khoảng 35 USD trên pao (75 USD/kg) vào năm 1990. Nó là kim loại rẻ tiền nhất tính theo khối lượng.
Natri dạng thuốc thử được cung cấp với số lượng hàng tấn có giá khoảng US$3.30/kg năm 2009; số lượng mua ít hơn có giá khác nhau dao động trong khoảng US$165/kg; giá cao một phần là do chi phí vận chuyển vật liệu độc hại.
== Ứng dụng ==
Natri trong dạng kim loại của nó là thành phần quan trọng trong sản xuất este và các hợp chất hữu cơ. Kim loại kiềm này là thành phần của clorua natri (NaCl)(muối ăn) là một chất quan trọng cho sự sống. Các ứng dụng khác còn có:
Trong một số hợp kim để cải thiện cấu trúc của chúng.
Trong xà phòng (trong hợp chất với các axít béo).
Để làm trơn bề mặt kim loại.
Để làm tinh khiết kim loại nóng chảy.
Trong các đèn hơi natri, một thiết bị cung cấp ánh sáng từ điện năng có hiệu quả.
Như là một chất lỏng dẫn nhiệt trong một số loại lò phản ứng nguyên tử.
== Hợp chất ==
Clorua natri, được biết đến nhiều hơn như muối ăn, là hợp chất phổ biến nhất của natri được sử dụng làm các chất chống đông đá và tan đá và chất bảo quản. Natri bicacbonat được sử dụng chủ yếu trong nấu ăn. Cùng với kali, nhiều dược phẩm quan trọng đã cho thêm natri vào để cải thiện ứng dụng sinh học của chúng; mặc dù trong hầu hết các trường hợp, kali là loại ion tốt hơn, natri được chọn do chi phí và khối lượng nguyên tử thấp.Natri hydrat được dùng làm chất nền cho nhiều phản ứng khác nhau (như phản ứng aldol) trong hóa hữu cơ, và là chất khử trong hóa vô cơ. Natri còn có mặt trong nhiều khoáng chất, chẳng hạn amphibôn, cryôlit, muối mỏ, diêm tiêu, zêôlit, v.v. Các hợp chất của natri rất quan trọng trong các công nghiệp hóa chất, thủy tinh, luyện kim, sản xuất giấy, dầu mỏ, xà phòng và dệt may. Nói chung xà phòng là muối của natri với các axít béo. Các xà phòng natri là cứng hơn (độ nóng chảy cao hơn) so với xà phòng kali.
Các hợp chất quan trọng nhất đối với công nghiệp là muối (NaCl), sôđa khan (Na2CO3), bột nở (NaHCO3), xút ăn da (NaOH), diêm tiêu Chile (NaNO3), đi- và tri-natri phốtphat, thiôsulfat natri (hypô, Na2S2O3·5H2O), và borax (Na2B4O7·10H2O). Trong các hợp chất của nó, natri thường tạo liên kết ion với nước và các anion, và được xem là một axit Lewis mạnh.
== Cảnh báo ==
Dạng bột của natri là chất nổ mạnh trong nước và là chất độc có khả năng liên kết và rời liên kết với nhiều nguyên tố khác. Làm việc hay tiếp xúc với natri phải cực kỳ cẩn thận trong mọi lúc, mọi nơi. Natri phải được bảo quản trong khí trơ hay dưới các lớp dầu mỏ.
== Sinh lý học và ion Na ==
Các ion natri đóng vai trò khác nhau trong nhiều quá trình sinh lý học. Ví dụ, các tế bào dễ bị kích thích dựa vào sự tiếp nhận ion Na+ để sinh ra sự phân cực. Một ví dụ của nó là biến đổi tín hiệu trong hệ thần kinh trung ương.
== Tham khảo ==
Los Alamos National Laboratory – Sodium
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com – Sodium
EnvironmentalChemistry.com – Sodium
The Wooden Periodic Table Table's Entry on Sodium
== Chú thích == |
kinh tế bỉ.txt | Bỉ là một thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế và là một trong những thành viên sáng lập Cộng đồng châu Âu. Năm 2006, GDP đầu người của Bỉ tính theo GDP danh nghĩa là 31.800 USD. Dù là một quốc gia công nghiệp hóa cao, Bỉ vẫn có tỷ trọng dịch vụ chiếm 72,5% GDP, nông nghiệp chỉ chiếm 1,4% GDP.
== Kinh tế Bỉ trong thế kỷ 20 ==
Trong 200 năm cho đến Thế chiến I, vùng Wallonia nói tiếng Pháp là một vùng công nghiệp tiên tiến hơn về mặt kỹ thuật còn vùng nói tiếng Hà Lan Flanders thì chủ yếu là nông nghiệp. Sự khác biệt này đã giảm đi sau chiến tranh. Sau cuộc Thế chiến II, hạ tầng công nghiệp của Bỉ tương đối không bị hư hại và do đó đã tạo cho sự bùng nổ kinh tế hậu chiến, đặc biệt là ở Flanders. Sự bùng nổ kinh tế được tăng lên kho EU và NATO đóng trụ sở ở Brussels, đóng góp cho sự mở mang nhanh chónh ngành công nghiệp nhẹ ở Flanders, đặc biệt dọc một hành lang giữa Brussels và Antwerp (hiện là cảng lớn thứ ba châu Âu sau cảnh ở Rotterdam và Hamburg), nơi tập trung các ngành hóa dầu.
== Tham khảo == |
anh chị em.txt | Anh chị em là những người được sinh ra bởi cùng một người bố và người mẹ hoặc ít nhất cùng một trong hai vị phụ mẫu này (người cha hoặc người mẹ). Anh chị em có thể là anh em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha. Những người nam thì gọi là người anh em hay anh em trai, những người phụ nữ thì được gọi là chị em gái. Nếu người nữ lớn tuổi hơn người nam thì gọi là chị em nếu người nam lớn tuổi hơn thì gọi là anh em.
Đây là những người anh chị em có quan hệ về mặt huyết thống (huyết thống trực hệ đời thứ nhất), tức anh chị em ruột ngoài ra những anh chị em không có quan hệ huyết thống và hình thành trên mối quan hệ nuôi dưỡng (anh chị em nuôi), hôn nhân (anh em cột kèo, anh em dì dượng) cũng được pháp luật nhiều nước thừa nhận vị trí bình đẳng như anh chị em ruột trong những quan hệ nhất định (thừa kế, nuôi dưỡng...)
== Đặc điểm ==
Trong hầu hết các xã hội trên toàn thế giới, anh, chị, em ruột thường sinh trương và được nuôi dưỡng chung ở thời thơ ấu và sống gần gũi với nhau, chơi đùa với nhau rất thân thiết (anh em như thể tay chân), cũng có khi gây gổ, đánh nhau nhưng về cơ bản các anh chị em khi còn nhỏ thường yêu thương lẫn nhau, cũng như sự ganh tỵ nhất định. Các mối quan hệ tình cảm giữa anh chị em thường phức tạp và chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như cha mẹ, thứ tự sinh, nhân cách, và kinh nghiệm cá nhân bên ngoài gia đình, nếu trong những gia đình đông con thì dễ xảy ra mâu thuẫn và bè phái trong nội bộ anh chị em hơn là những gia đình ít con hơn, tuy nhiên yếu tố này không đáng kể. Khi lớn lên, trưởng thành, những anh chị em thường tách ra sống riêng rẽ với gia đình riêng của mình nhưng cũng có khi họ sống chung trong một đại gia đình.
== Quy định của pháp luật Việt Nam ==
Theo Điều 8, Luật Hôn nhân gia đình Việt Nam năm 2000 thì những người có quan hệ trong phạm vi 3 đời là những người có cùng một nguồn gốc sinh ra: Cha mẹ là đời thứ nhất, anh chị em cùng cha mẹ, cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha (anh chị em ruột) là đời thứ 2. Anh chị em con chú con bác, con cô con cậu, con dì là đời thứ 3. Điều 10 Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 cũng quy định: Những trường hợp cấm kết hôn gồm giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời.
Nghị Quyết 02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân gia đình năm 2000 tại Mục 1 điểm C.3 quy định: giữa những người có dòng máu về trực hệ là cha mẹ với con, giữa ông bà với cháu nội cháu ngoại. Giữa những người có họ trong phạm vi 3 đời là những người có cùng một gốc sinh ra: Cha mẹ là đời thứ nhất, anh em cùng cha cùng mẹ hoặc cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha là đời thứ 2, anh chị em con chú con bác con cô con cậu con dì là đời thứ 3.
== Xem thêm ==
Sinh đôi
Anh chị em họ
Anh em kết nghĩa
Loạn luân
== Tham khảo == |
cau.txt | Cau (danh pháp hai phần: Areca catechu), còn gọi là tân lang hay binh lang, là một loài cây trong họ Cau (Arecaceae) được trồng nhiều tại khu vực nhiệt đới châu Á và Thái Bình Dương cũng như ở phía đông châu Phi. Nó là loại cây thân gỗ trung bình, cao tới 20 m, với đường kính thân cây có thể tới 20–30 cm. Các lá dài 1,5–2 m, hình lông chim với nhiều lá chét mọc dày dặc.
Areca catechu được trồng vì giá trị kinh tế đáng kể của nó có từ việc thu hoạch quả. Quả cau chứa các ancaloit như arecain và arecolin, khi được nhai thì gây say và có thể hơi gây nghiện. Cau được trồng tại Ấn Độ, Malaysia, Đài Loan, Việt Nam và nhiều nước châu Á khác.
Đảo Penang, ngoài khơi bờ biển phía tây bán đảo Mã Lai, được đặt tên theo từ pinang, tên gọi địa phương của cau.
== Đặc điểm và sử dụng ==
Cây cau được trồng ở các khu vực ấm áp của châu Á để lấy quả khi còn non có màu xanh ánh vàng, kích thước xấp xỉ cỡ quả trứng gà, có chứa hạt kích thước cỡ hạt của quả cây sồi, hình nón với đáy phẳng và màu bên ngoài có ánh nâu; bên trong lốm đốm như hạt nhục đậu khấu. Quả của nó được bổ (hay cắt) thành các lát mỏng cuộn trong lá trầu không và têm vôi thành miếng trầu. Người dùng nhai trầu rồi bỏ bã. Cau, trầu và vôi làm răng và môi người nhai đỏ thẫm. Vị trầu rất nóng và hăng. Quả cau có vị thơm nồng và hăng và có thể gây say khi lần đầu tiên sử dụng nó. Người Đài Loan là những người buôn bán và ăn trầu cau nổi tiếng thế giới. Hàng năm, họ nhập khẩu rất nhiều cau từ Sumatra, Malacca, Thái Lan, Việt Nam. Mo cau có thể dùng làm quạt. Lá cau khô được dùng làm chổi.
== Vị hăng của quả cau ==
Quả cau chứa một lượng lớn ta nanh (tannin), axít galic, tinh dầu gôm, một lượng nhỏ tinh dầu dễ bay hơi, li nhin (lignin), và một loạt các chất muối. Có 4 ancaloit (alkaloid) đã được tìm thấy trong quả cau - Arecolin, Arecain, Guraxin và một chất chưa rõ tên do số lượng quá ít. Arecolin tương tự như Pilocarpin về mặt tác động lên cơ thể. Arecain là chất hoạt hóa chính trong quả cau.
== Sử dụng trong y học ==
Catechu thông thường được chiết từ quả cau bằng cách luộc chúng cho đến khi cô đặc được, nhưng Catechu tinh khiết sử dụng ở Anh được sản xuất từ Acacia catechu. Hoa cau có mùi thơm ngọt và ở Borneo người ta dùng nó như một loại bùa để chữa bệnh. Tại Ấn Độ, hạt cau được sử dụng để tẩy giun. Tác động của Arecain tương tự như của Muscarin và Pilocarpin khi sử dụng bên ngoài, còn khi sử dụng bên trong cơ thể nó gây ra hiện tượng co đồng tử.
Arecolin Hiđrôbrômua, một muối có giá trị thương phẩm, là một chất kích thích tuyến nước bọt mạnh hơn Pilocarpin và là một chất nhuận tràng mạnh hơn Eserin. Nó được sử dụng để chữa bệnh đau bụng cho ngựa.
=== Liều dùng ===
Để tẩy giun, hạt ở dạng bột dùng từ 1-2 thìa trà. Ở dạng chiết xuất thành chất lỏng là khoảng 3,56 ml. Để chữa bệnh cho ngựa, dùng 0,065-0,097 gam arecolin. Đối với người, dùng không quá 0,0043 đến 0,0065 gam.
== Các loài khác ==
Chi Cau có khoảng 50 loài. Ở Malabar, Areca dicksoni mọc hoang dã và những người nghèo dùng nó thay cho cau thực thụ.
== Sự tích trầu cau ==
Trong kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, có truyện Sự tích trầu cau. Câu chuyện này nhân cách hóa nguồn gốc của cây cau, cây trầu không và tảng đá vôi là những thứ được sử dụng để ăn trầu cũng như giải thích tục lệ sử dụng trầu cau trong các đám cưới.
Câu chuyện kể về việc hai anh em Tân và Lang cùng người vợ của Tân. Chỉ vì một sự hiểu lầm rất nhỏ mà cả ba người đã biến thành cau, trầu và tảng đá vôi. Tân biến thành cây cau, Lang biến thành tảng đá và vợ Tân biến thành cây trầu quấn quanh cây cau để minh chứng cho sự trong sáng, tình nghĩa anh em, vợ chồng của họ.
Cho đến ngày nay, trầu cau vẫn là thứ không thể thiếu trong các lễ cưới của người Việt.
== Vị trí trong văn hóa Việt ==
Trầu cau là những thứ ngày xưa không thể thiếu trong các dịp xã giao hay lễ hội của người Việt; là một thứ đầu các lễ nghĩa. Phàm việc tế tự tang ma, cưới xin... việc gì cũng lấy miếng trầu làm trọng. “Miếng trầu là đầu câu chuyện” dân thôn ai có việc gì đến nhà người nhà tôn trưởng hoặc vào cửa quan, cũng đem buồng cau vào là quý. Nhà tư gia cúng giỗ tổ tiên tất phải có cơi trầu. Khách đến chơi nhà, phải có trầu thiết đãi. Đám hương ẩm, tùy người tôn ty mà chia phần trầu có thứ tự, nếu kém một khẩu trầu có khi sinh sự tranh kiện nhau. Kẻ buôn bán, đã ăn trầu của nhau rồi thì phải nể nhau có câu rằng: miếng trầu là đầu thuốc cấm...
Tuy rằng ngày nay các phong tục tập quán này mất đi khá nhiều nhưng nó vẫn còn mang ý nghĩa sâu đậm trong văn hóa và văn chương Việt Nam.
Ngoài truyện cổ tích Trầu Cau, sau đây là một số thí dụ tiêu biểu:
Truyện “Chim Trĩ Trắng” viết, khoảng thế kỷ VI trước công nguyên, khi sứ Việt sang triệu kiến, Chu Vương hỏi rằng: “người Việt xăm trổ để làm gì?” Sứ ta đáp: “người Việt xăm trổ để tránh thủy quái ăn thịt”, lại hỏi rằng: “thế cạo tóc để làm gì?” sứ ta đáp: “cạo tóc để đi rừng cho khỏi vướng”, Chu Vương hỏi tiếp: “thế ăn trầu để làm gì” sứ ta trả lời: “ăn trầu để tránh ô trừ uế”... Nghe xong Chu Vương phán rằng: “người Việt có văn hóa riêng của họ, không cùng giống với ta, nay cấp cho thủy xa trở về gìn giữ lấy tập quán, hai bên cùng nhau giao hảo”.
Thương nhau cau sáu bổ ba,
Ghét nhau cau sáu bổ ra làm mười.
—Ca dao
Quả cau nho nhỏ,
Cái vỏ vân vân.
Nay anh học gần,
Mai anh học xa
Lấy anh từ thuở mười ba,
Đến năm mười tám thiếp đà năm con.
Ra đường thiếp hãy còn son,
Về nhà thiếp đã năm con cùng chàng.
—Ca dao
Mời Trầu
Quả cau nho nhỏ, miếng trầu ôi,
Này của Xuân Hương đã quệt rồi.
Có phải duyên nhau thì thắm lại,
Đừng xanh như lá bạc như vôi.
—Thơ của Nữ sĩ Hồ Xuân Hương
== Một vài hình ảnh về cây cau ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Cau nhà -Areca catechu L., họ Cau - Arecaceae
CAU (Hạt)-Binh lang-Semen Arecae catechi
Binh lang (Areca seed) - Areca cathechu L.
Plant Cultures: Betelnut botany and history
Photos of The fruit of Areca catechu |
samsung galaxy tab 4 7.0.txt | Samsung Galaxy Tab 4 7.0 là máy tính bảng 7-inch chạy hệ điều hành Android sản xuất và phân phối bởi Samsung Electronics.Nó thuộc thế hệ thứ tư của dòng Samsung Galaxy Tab series, bao gồm bản 8-inch và 10.1-inch, Galaxy Tab 4 8.0 và Galaxy Tab 4 10.1. Nó được công bố vào 01 tháng 4 năm 2014, và vẫn chưa được phát hành.
== Lịch sử ==
Galaxy Tab 4 7.0 được công bố vào ngày 1 tháng 4 năm 2014. Nó được ra mắt cùng với Galaxy Tab 4 8.0 và Galaxy Tab 4 10.1 trước Mobile World Conference 2014.
== Tính năng ==
Galaxy Tab 4 7.0 phát hành với Android 4.4.2 KitKat. Samsung tùy biến giao diện người dùng với TouchWiz UX. Cũng như ứng dụng từ Google, bao gồm Google Play, Gmail và YouTube, cho phép truy cập vào ứng dụng Samsung như ChatON, S Suggest, S Voice, S Translator, S Planner, Smart Remote, Smart Stay, Multi-Window, Group Play, và All Share Play.
Galaxy Tab 4 7.0 có bản WiFi, biến thể 3G & WiFi, và 4G/LTE & WiFi. Bộ nhớ trong 8, 16, hoặc 32 GB tùy thuộc vào mẫu, với khe thẻ nhớ mở rộng microSDXC. Nó có màn hình 7-inch WXGA TFT độ phân giải 1.280x800 pixel. Nó có máy ảnh trước 1.3 MP front không flash và 3.0 MP AF máy ảnh chính. Nó có khả năng quay video HD.
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy Tab series
Samsung Electronics
Samsung Galaxy Tab 4 8.0
Samsung Galaxy Tab 4 10.1
== Tham khảo == |
slovenia.txt | Slovenia (tiếng Slovene: Slovenija [slɔˈʋéːnija]), tên chính thức là Cộng hòa Slovenia (Slovene: ) là một quốc gia thuộc khu vực Nam Âu. Slovenia giáp với Ý về phía tây, giáp với Áo về phía bắc, giáp với Hungary về phía đông bắc, giáp với Croatia về phía đông và phía nam. Ngoài ra Slovenia còn tiếp giáp với biển Adriatic về phía tây nam. Thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của Slovenia là Ljubljana. Slovenia là một quốc gia có diện tích tương đối nhỏ và ít dân. Theo số liệu tháng 7 năm 2007, dân số Slovenia là 2.009.245 người.
== Địa lý ==
Slovenia tọa lạc tại Trung và Đông Nam Âu và giáp với Địa Trung Hải. Lãnh thổ kéo dài từ vĩ độ 45° đến 47° B, kinh độ từ 13° đến 17° Đ. Kinh tuyến 15° Đ tương ứng với đường chia đôi đất nước theo hướng đông-tây. Điểm trung tâm của đất nước có tọa độ 46°07'11,8" B và 14°48'55,2" Đ, nằm tại điểm dân cư Slivna của khu tự quản Litija. Đỉnh cao nhất của Slovenia là Triglav (2.864 m hoặc 9.396 ft); độ cao trung bình của nước này là 557 m (1.827 ft).
Bốn vùng địa lý lớn tại châu Âu gặp nhau tại Slovenia: dãy Alps (Anpơ), dãy Dinarides, the bồn địa Pannonia, và Địa Trung Hải. Dãy Alps—bao gồm Alps Julius, Alps Kamnik-Savinja và dãy Karavanke, cũng như khối núi Pohorje-chiếm phần lớn Bắc Slovenia, và vùng dọc biên giới với Áo. Bờ biến Adriatic của Slovenia kéo dài chừng 47 km (29 mi).
Hơn một nửa nước này (10.124 km2 hoặc 3.909 sq mi) phủ rừng. Điều này làm Slovenia trở thành quốc gia nhiều rừng thứ ba châu Âu, sau Phần Lan và Thụy Điển, chủ yếu là rừng cử, lãnh sam-cử và cử-sồi. Tàn dư của rừng nguyên thủy vẫn còn có thể được tìm thấy, lớn nhất là ở vùng Kočevje. Thảo nguyên chiếm 5.593 km2 (2.159 sq mi), đồng và vườn chiếm 954 km2 (368 sq mi).
== Lịch sử ==
Trong lịch sử, Slovenia đã từng là một phần của Đế chế La Mã, rồi sau đó là Đại Lãnh địa Carantania, Đế quốc La Mã Thần thánh, Đế chế Áo-Hung. Khi đế chế Áo-Hung sụp đổ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, người Slovenia đã cùng với hai dân tộc Serbia và Croatia thành lập một quốc gia độc lập mà sau này được đổi tên thành Nam Tư vào năm 1929. Sau Chiến tranh thế giới thứ hai, Slovenia trở thành một nước cộng hòa nằm trong Liên bang Nam Tư theo chế độ xã hội chủ nghĩa nhưng cách biệt với Liên Xô. Năm 1991, cuộc khủng hoảng trong các nước xã hội chủ nghĩa ở châu Âu lan rộng, dẫn đến việc Slovenia tuyên bố thành lập một quốc gia độc lập vào ngày 25 tháng 6 năm 1991, tách khỏi Nam Tư. Nền độc lập của Slovenia được cả thế giới chính thức công nhận vào năm 1992.
Nền kinh tế của Slovenia đang phát triển mạnh mẽ và bền vững, với thu nhập bình quân đầu người cao hơn mọi quốc gia cựu xã hội chủ nghĩa khác ở châu Âu. Slovenia đang trở thành mô hình về một nền kinh tế chuyển đổi đáng học tập.
== Chính trị ==
Từ năm 1991, Slovenia là một nước cộng hòa dân chủ nghị viện với một hệ thống đa đảng. Người đứng đầu nhà nước là Tổng thống, được bầu theo phiếu phổ thông 5 năm một lần, tối đa hai nhiệm kỳ liên tiếp, và có nhiệm vụ chủ yếu là tư vấn và mang tính nghi lễ. Quyền hành pháp là của Chính phủ do Thủ tướng đứng đầu. Quyền lập pháp nằm trong tay Quốc hội và một phần nhỏ trong Hội đồng quốc gia. Các ngành tư pháp của Slovenia độc lập với hành pháp và cơ quan lập pháp. Slovenia có chút bất ổn chính trị.
=== Tư pháp ===
Quyền hạn tư pháp ở Slovenia được thực hiện bởi các thẩm phán, những người được bầu bởi Quốc hội. Quyền tư pháp ở Slovenia được thực hiện bởi tòa án với những trách nhiệm chung và các tòa án chuyên ngành đối phó với các vấn đề liên quan đến các khu vực pháp lý cụ thể. Công tố viên nhà nước là một cơ quan nhà nước có thẩm quyền độc lập chịu trách nhiệm đối với các trường hợp truy tố chống lại những người bị nghi là tội phạm. Tòa án Hiến pháp, bao gồm 9 thẩm phán được bầu trong 9 năm về, quyết định sự phù hợp của pháp luật với Hiến pháp, tất cả các luật và quy định phải phù hợp với các nguyên tắc chung của luật pháp quốc tế và với các thỏa thuận quốc tế đã được phê duyệt.
=== Phân cấp hành chính và vùng truyền thống ===
Khu tự quản (có tư cách pháp nhân)
Slovenia chính thức được chia thành 211 khu tự quản (11 trong số này là các khu tự quản đô thị). Các khu tự quản là bộ phận tự trị địa phương duy nhất tại Slovenia. Mỗi khu tự quản có một trưởng khu tự quản (župan, tạm dịch là thị trưởng nếu là khu tự quản đô thị), được bầu lên theo hình thức phổ thông cứ mỗi 4 năm, và một hội đồng khu tự quản (občinski svet). Tại đa số các khu tự quản, hội đồng khu tự quản được bầu theo hệ thống đại diện tỉ lệ; chỉ một ít khu tự quản sử dụng lối đầu phiếu đa số tương đối. Tại các khu tự quản đô thị, hội đồng khu tự quản được gọi là hội đồng thành phố hay hội đồng thị trấn. Mỗi khu tự quản cũng có một trưởng hành chính khu tự quản (načelnik občinske uprave) do trưởng khu tự quản bổ nhiệm. Người này có trách nhiệm điều hành nền hành chính địa phương.
Địa khu hành chính (không tư cách pháp nhân)
Không có đơn vị hành chính chính thức chuyển tiếp giữa khu tự quản và Cộng hòa Slovenia. 62 địa khu hành chính được chính thức gọi là "các đơn vị hành chính" (upravne enote) là đơn vị lãnh thổ bên dưới duy nhất của Slovenia và được đặt tên theo thủ phủ của nó. Tương tự như đơn vị quận của Việt Nam Cộng hòa hay quận của Pháp, đơn vị hành chính này không có tư cách pháp nhân và vì thế không có hội đồng địa khu do dân chúng bầu lên. Người đứng đầu địa khu này do Bộ trưởng Hành chính Công bổ nhiệm.
Một địa khu hành chính có thể có từ 1 hay nhiều khu tự quản nằm bên trong địa giới của nó.
Các vùng truyền thống và đặc tính
Các vùng truyền thống được dựa theo phần đất vương quyền của dòng họ Habsburg gồm có Carniola, Carinthia, Styria, và Vùng ven biển. Trong lịch sử, người Slovenia có chiều hướng tự nhận mình thuộc các vùng truyền thống Vùng ven biển, Prekmurje, và thậm chí các tiểu vùng truyền thống như vùng Thượng, vùng Hạ và ít hơn là vùng nội địa của Carniola.
Thành phố thủ đô, Ljubljana, trong lịch sử là trung tâm hành chính của vùng Carniola và thuộc Hạ Carniola trừ địa khu Šentvid nằm trong Thượng Carniola là nơi biên giới giữa vùng chiếm đóng của Đức và tỉnh Ljubljana trong suốt thời Chiến tranh thế giới thứ hai.
Các vùng thống kê
12 vùng thống kê không có chức năng hành chính và được chia thành hai đại vùng cho phù hợp chính sách vùng của Liên hiệp châu Âu. Hai đại vùng này là:
Đông Slovenia (Vzhodna Slovenija – SI01) gồm có các vùng thống kê: Pomurska, Podravska, Koroška, Savinjska, Zasavska, Spodnjeposavska, Jugovzhodna Slovenija và Notranjsko-kraška.
Tây Slovenia (Zahodna Slovenija – SI02) gồm có các vùng thống kê Osrednjeslovenska, Gorenjska, Goriška và Obalno-kraška.
== Nhân khẩu ==
Theo điều tra dân số năm 2002, nhóm dân tộc chính của Slovenia là Slovenes (chiếm 83% dân số). Có ít nhất 13% dân số là người thuộc các sắc tộc khác đa phần là người nhập cư từ các bộ phận khác của cựu Nam Tư. Họ định cư chủ yếu ở các thành phố và các khu vực suburbanised. Có một cộng đồng nhỏ người Hungary và người Ý. Ngoài ra cũng có một phần nhỏ dân số là người Rôma
== Kinh tế ==
Slovenia có nền kinh tế phát triển với mức thu nhập đầu người cao nhất trong các nước thành viên mới của Liên minh châu Âu, là 33,279 USD trong năm 2016. Slovenia ngày nay là một quốc gia phát triển được hưởng sự thịnh vượng và ổn định, cũng như GDP bình quân đầu người cao hơn đáng kể hơn so với các nền kinh tế chuyển đổi khác của Trung Âu. Tính đến năm 2016, GDP của Slovenia đạt 44.122 USD, đứng thứ 85 thế giới và đứng thứ 29 châu Âu.
Tuy nhiên một sự khác biệt lớn trong sự phát triển kinh tế giữa Tây Slovenia (Ljubljana, Littoral và Carniola) với GDP bình quân đầu người ở mức 106,7%, trong khi đó khu vực Đông Slovenia (Flanders, Carinthia và Prekmurje), có GDP bình quân đầu người chỉ ở mức 72,5%.
Trong thập niên đầu của thế kỷ 21, các ngành như tài chính, ngân hàng, viễn thông, và các lĩnh vực khác đã được tư nhân hóa. Ngoài ra, các hạn chế về đầu tư nước ngoài đang được phá dỡ, và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) dự kiến sẽ tăng. Slovenia hiện là quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất trong các nước gia nhập Liên minh châu Âu vào năm 2004.
Trong cuộc khủng hoảng tài chính cuối những năm 2000, nền kinh tế Slovenia bị trở ngại lớn. Trong năm 2009, GDP bình quân đầu người đã giảm 7,33%, là mức giảm lớn nhất trong Liên minh châu Âu (EU) sau các nước khu vực Baltic và Phần Lan. Tỷ lệ thất nghiệp tăng từ 5,1% trong năm 2008 lên 11.1% trong tháng 11 năm 2010, trên mức trung bình của Liên minh châu Âu, và vẫn còn tăng. Tính đến tháng 1 năm 2011, tổng số nợ của Slovenia theo CIA, chiếm đến 33% của GDP quốc gia, theo các phương tiện truyền thông ước tính, là khoảng 22,43 tỷ euro tương đương 63% GDP, vượt qua giới hạn của Liên minh châu Âu 60% GDP.
== Tôn giáo ==
Trước chiến tranh thế giới II, 97% dân số tự tuyên bố là tín hữu Công giáo Rôma, khoảng 2,5% là Giáo hội Luther, và khoảng 0,5% dân số tự nhận mình là thành viên của các giáo phái khác. Công giáo Rôma có một vị trí quan trọng trong cuộc sống, xã hội và chính trị ở Slovenia trước khi chế độ Cộng sản được thiết lập ở nước này. Sau năm 1945, đất nước đã trải qua một quá trình thế tục hóa dần dần nhưng ổn định.
Sau một thập kỷ đàn áp nghiêm trọng các tôn giáo, chế độ Cộng sản đã thông qua một chính sách khoan dung tương đối về phía Công giáo, nhưng giới hạn chức năng xã hội của họ. Sau năm 1990, Giáo hội Công giáo Rôma lấy lại một số ảnh hưởng trước đây của nó, nhưng Slovenia vẫn còn là một xã hội thế tục hóa. Theo điều tra dân số năm 2002, 57,8% dân số là Công giáo. Như những nơi khác ở châu Âu, tín hữu Công giáo bị giảm: năm 1991, 71,6% dân số tự tuyên bố mình là tín hữu Công giáo, có nghĩa là giảm hơn 1% mỗi năm. Phần lớn người Công giáo Slovenia thuộc về nghi lễ Latinh. Một số ít người Công giáo Hy Lạp sống ở khu vực Carniola.
Mặc dù có số lượng tương đối nhỏ (ít hơn 1% dân số trong năm 2002), nhưng đạo Tin Lành đã để lại các di sản quý báo cho Slovenia vì ý nghĩa lịch sử của nó, người ta cho rằng tiếng Slovenia tiêu chuẩn và văn học tiếng Slovenia đã được khởi nguồn từ sự Cải Cách Tin Lành trong thế kỷ 16. Ngày nay, một nhóm tín hữu Tin Lành thuộc Giáo hội Luther thiểu số đáng kể sống trong các khu vực phía đông của Prekmurje, nơi họ chiếm khoảng 1/5 dân số và được lãnh đạo bởi một giám mục ở Murska Sobota.
Ngoài hai giáo phái Kitô giáo trên, một cộng đồng nhỏ người Do Thái cũng đã có mặt trong lịch sử. Mặc dù số lượng đã giảm sút trong vụ thảm sát Holocaust, Do Thái giáo vẫn còn vài trăm tín đồ, chủ yếu sống ở Ljubljana, nơi còn các giáo đường Do Thái duy nhất hoạt động trong cả nước.
Theo điều tra dân số năm 2002, Hồi giáo là tôn giáo lớn thứ hai với khoảng 2,4% dân số. Người Hồi giáo Slovenia đến từ Bosnia, Kosovo và Macedonia. Các tôn giáo lớn thứ ba, với khoảng 2,2% dân số, là Chính Thống giáo, với hầu hết các tín đồ thuộc Giáo hội Chính thống Serbia trong khi một thiểu số khác thuộc Giáo hội Chính Thống Macedonia và các nhà thờ Chính Thống khác.
Trong năm 2002, khoảng 10% người dân Slovenia tuyên bố mình là người vô thần, thêm 10% không xác định tôn giáo cụ thể, và khoảng 16% đã quyết định không trả lời các câu hỏi về tôn giáo của họ.
== Văn hóa ==
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
== Links ==
Slovenia.si. Your gateway to information on Slovenia.
Government of the Republic of Slovenia.
== Liên kết ngoài == |
vui vẻ.txt | Vui vẻ (hay thú vị) là trạng thái hưởng thụ niềm vui, đặc biệt là trong các hoạt động giải trí. Vui vẻ là một trải nghiệm ngắn hạn, thường là bất ngờ, không chính thức, thư giãn não và nói chung là không có mục đích. Nó thường thể hiện bằng sự mất tập trung nhưng gây thú vị, chuyển hướng cả tâm trí và cơ thể từ bất kỳ việc nghiêm trọng sang việc khác. Vui vẻ không chỉ có khi vui chơi giải trí mà còn trong quá trình làm việc, tham gia xã hội và thậm chí trong hoạt động bình thường của cuộc sống hàng ngày. Nó thường có ít hoặc không có cơ sở hợp lý. Ý kiến về việc một hoạt động nào đó gây thú vị, theo mỗi người là khác nhau. Có sự khác nhau giữa thích thú và vui vẻ. Thích thú thường yêu cầu cao hơn về hoạt động, nhưng có thể nói rõ nguyên nhân thích thú. Còn vui vẻ thì mang tính tự phát nhiều hơn, vui tươi và chủ động hơn. Trải nghiệm vui vẻ có sự tác động của tâm sinh lý.
== Từ nguyên ==
== Tâm lý ==
== Sinh lý ==
== Tham khảo == |
hùng vương.txt | Hùng Vương (chữ Hán: 雄王, chữ Nôm:𤤰雄), là cách gọi các vị vua nước Văn Lang của người Lạc Việt. Hùng Vương thứ I là con trai của Lạc Long Quân, lên ngôi vào năm 2879 trước công nguyên, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15 bộ, truyền đời đến năm 258 trước công nguyên thì bị Thục Phán (An Dương Vương) chiếm mất nước.
== Nguồn gốc ==
Xưa cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông là Đế Minh sinh ra Đế Nghi, sau Đế Minh nhân đi tuần phương Nam, đến Ngũ Lĩnh lấy con gái Vụ Tiên, sinh ra Lộc Tục. Lộc Tục là bậc thánh trí thông minh, Đế Minh rất yêu quý, muốn cho nối ngôi. Lộc Tục cố nhường cho anh, không dám vâng mệnh. Đế Minh mới lập Đế Nghi (anh trai Lộc Tục) là con nối ngôi, cai quản phương Bắc, phong Lộc Tục làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, gọi là nước Xích Quỷ.
Kinh Dương Vương xuống Thủy phủ, lấy con gái Động Đình Quân tên là Thần Long sinh ra Lạc Long Quân. Lạc Long Quân thay cha trị nước, còn Kinh Dương Vương không biết đi đâu. Đế Nghi truyền ngôi cho Đế Lai cai trị phương Bắc, Đế Lai nhân thiên hạ vô sự mà đi chu du khắp nơi, đi qua nước Xích Quỷ, thấy Lạc Long Quân đã về Thủy phủ, liền lưu con gái của mình là Âu Cơ ở lại đó.
Lạc Long Quân trở về, thấy Âu Cơ xinh đẹp, liền biến hóa thành chàng trai phong tú mĩ lệ, Âu Cơ ưng theo, Lạc Long Quân liền rước nàng về núi Long Trang. Hai người ở với nhau một năm, sinh ra bọc trăm trứng, sinh ra trăm con trai anh dũng phi thường. Lạc Long Quân ở lâu dưới Thủy phủ, Âu Cơ vốn là người Bắc quốc, nhớ nhà liền gọi Long Quân trở về. Âu Cơ nói với Lạc Long Quân:
Thiếp vốn người Bắc, cùng ở một nơi với quân, sinh được một trăm con trai mà không gì cúc dưỡng, xin cùng theo nhau chớ nên xa bỏ, khiến cho ta là người không chồng, không vợ, một mình vò võ.
Lạc Long Quân bảo rằng:
Ta là loài rồng, sinh trưởng ở thủy tộc; nàng là giống tiên, người trên đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm dương hợp mà lại có con nhưng phương viên bất đồng, thủy hỏa tương khắc, khó mà ở cùng nhau trường cửu. Bây giờ phải ly biệt, ta đem năm mươi con trai về Thủy phủ, phân trị các xứ, năm mươi con trai theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước nhưng có việc thì cùng nghe không được bỏ nhau.
Âu Cơ cùng năm mươi con trai ở tại Phong Châu, tự suy tôn người hùng trưởng lên làm vua, hiệu là Hùng Vương.
== Sự nghiệp ==
Con của Lạc Long Quân là Hùng Vương lên ngôi, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước ra làm 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức; đóng đô ở bộ Văn Lang, Phong Châu. Về bờ cõi, nước đông giáp biển Đông, tây đến Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Quốc), bắc đến hồ Động Đình (Hồ Nam, Trung quốc), nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành.
Hùng Vương sai các em trai phân trị, đặt em thứ làm Tướng võ, Tướng văn. Tướng văn gọi là Lạc Hầu, Tướng võ là Lạc Tướng, con trai vua gọi là Quan Lang, con gái vua gọi là Mị Nương, quan Hữu ty gọi là Bố chính, thần bộc nô lệ gọi là nô tỳ, xưng thần là khôi, đời đời cha truyền con nối gọi là phụ đạo, thay đời truyền nhau cho đến hiệu là Hùng Vương không đổi.
Theo sách Khâm định Việt sử thông giám cương mục: Theo sách An Nam chí nguyên của Cao Hùng Trưng chép. Giao Chỉ khi chưa đặt làm quận huyện, bấy giờ có ruộng Lạc, theo nước triều lên xuống mà làm ruộng, khai khẩn ruộng ấy là Lạc dân, thống trị dân ấy là Lạc Vương, người giúp việc là Lạc Tướng: đều dùng ấn đồng thao xanh. Nước gọi là Văn Lang. Phong tục thuần hận, mộc mạc, chưa có chữ nghĩa, còn dùng lối thắt nút dây làm dấu ghi nhớ; truyền được mười tám chi.
== Ngoại giao ==
Năm (2557-2258 TCN), năm Mậu Thân thứ 5 đời Đường Nghiêu, Hùng Vương sai sứ sang, tặng vua Nghiêu con rùa thần, có lẽ hơn nghìn năm, mình rùa hơn ba thước, trên lưng có văn khoa đẩu ghi việc từ khi trời đất mới mở mang trở về sau. Vua Nghiêu sai chép lấy gọi là Quy lịch (lịch rùa).
Năm 1110 TCN, Hùng Vương sai sứ qua Trung Quốc, tặng Thành Vương nhà Chu chim trĩ trắng.
== Văn hóa ==
Thời Lạc Long Quân trị vì, nhà vua dạy dân ăn mặc, bắt đầu có trật tự về vua tôi, tôn ti, có luân thường về cha con, vợ chồng.
Dân ở rừng núi xuống sông ngòi đánh cá, thường bị giao long làm hại nên tâu lại với Hùng Vương. Hùng Vương bảo rằng: Ở núi là loài rồng cùng với thủy tộc có khác, bọn chúng ưa đồng mà ghét dị cho nên mới xâm hại. Bèn lấy mực xăm hình thủy quái ở thân thể, tránh được nạn giao long cắn hại. Tục xăm mình của Bách Việt bắt đầu từ đây.
Ban đầu do ăn mặc chưa đủ, phải lấy vỏ cây làm áo mặc, dệt cỏ ống làm chiếu nằm, lấy cốt gạo làm rượu, lấy cây quang lang, cây soa đồng làm bánh; lấy cầm thú, cá tôm làm nước mắm; lấy rễ gừng làm muối; lấy dao cày, lấy nước cấy, đất trồng nhiều gạo nếp, lấy ống tre thổi cơm. Gác cây làm nhà để tránh hổ báo; cắt ngắn đầu để tiện vào rừng núi, con đẻ ra lót lá chuối cho nằm, nhà có người chết thì giã cối gạo để cho hàng xóm nghe chạy đến giúp. Trai gái cưới nhau trước hết lấy muối làm lễ hỏi, rồi sau mới giết trâu để làm lễ thành hôn, đem cơm nếp vào trong phòng cùng ăn với nhau cho hết, rồi sau mới tương thông.
== Dòng họ Hùng Vương ==
Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép phần đầu tiên đặt tên là Kỷ Hồng Bàng thị, 3 tiểu mục là Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân và Hùng Vương. Sách Lĩnh Nam Chích Quái đặt tên là Truyện Hồng Bàng.
== Lãnh thổ ==
Lãnh thổ nước Văn Lang được sách Đại Việt sử ký toàn thư chép: Đông giáp biển Nam Hải, tây đến Ba Thục, bắc đến hồ Động Đình, nam giáp nước Hồ Tôn, tức nước Chiêm Thành, nay là Quảng Nam ngày nay.
Hùng Vương chia nước Văn Lang làm 15 bộ Giao Chỉ, Chu Diên, Vũ Ninh, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Lục Hải, Vũ Định, Hoài Hoan, Cửu Chân, Bình Văn, Tân Hưng, Cửu Đức, đóng đô ở bộ Văn Lang. Theo sách Lĩnh Nam Chích Quái 15 bộ là: Giao Chỉ, Chu Diên, Ninh Sơn, Phúc Lộc, Việt Thường, Ninh Hải, Dương Tuyền, Quế Dương, Vũ Ninh, Hoài Hoan, Cửu Chân, Nhật Nam, Quế Lâm, Tượng Quận.
Mười lăm bộ theo sách Khâm định việt sử thông giám cương mục chép từ sách Dư địa chí của Nguyễn Trãi, Nguyễn Thiên Túng:
Sơn Nam (bây giờ là Hà Nội, Nam Định, Hưng Yên) xưa là bộ Giao Chỉ. Sơn Tây xưa là bộ Chu Diên, bộ Phúc Lộc. Kinh Bắc (nay là Bắc Ninh) xưa là bộ Vũ Ninh. Thuận Hóa (bây giờ là từ Hải Lăng thuộc Quảng Trị đến Điện Bàn thuộc Quảng Nam) xưa là bộ Việt Thường; An Bang (bây giờ là Quảng Yên) xưa là bộ Ninh Hải; Hải Dương xưa là bộ Dương Tuyền; Lạng Sơn xưa là bộ Lục Hải; Thái Nguyên, Cao Bằng xưa là bộ Vũ định nội ngoại; Nghệ An xưa là bộ Hoài Hoan; Thanh Hóa xưa là bộ Cửu Chân; Hưng Hóa và Tuyên Quang xưa là bộ Tân Hưng; Còn hai bộ Bình Văn và Cửu Đức thì đều khuyết nghi. Nay khảo ở sách Tấn chí, quận Cửu Đức, do nhà Ngô đặt, nay là đất Hà Tĩnh. Sử cũ chua tức là nước Chiêm Thành, bây giờ là đất Bình Định.
== Diệt vong ==
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, cuối thời Hùng Vương, vua có người con gái vô cùng xinh đẹp. Thục Vương nghe tiếng, liền sai người đến cầu hôn. Hùng hầu can rằng, Thục vương chỉ lấy làm cớ hôn nhân để xâm lược mà thôi. Thục vương đem lòng oán giận. Về sau Hùng Vương gả con gái cho Sơn Tinh, Thục vương căm giận, căn dặn con cháu phải diệt nước Văn Lang.
Cháu Thục vương là Thục Phán nối ngôi, có dũng lược, đem quân xâm lược Văn Lang. Hùng Vương có binh hùng tướng mạnh đánh bại Thục Phán. Hùng Vương bảo Thục Phán rằng: Ta có sức thần, nước Thục không sợ ư?, rồi bỏ bê đất nước, chỉ lo ăn uống vui chơi. Khi quân Thục kéo sát đến nơi, vua còn say mềm chưa tỉnh. Tỉnh dậy, Hùng Vương cùng đường, thổ huyết nhảy xuống giếng chết, quân lính đầu hàng Thục Phán. Từ đây trong sử sách nước Việt bước sang kỷ mới gọi là Kỷ nhà Thục
Sử gia Ngô Sĩ Liên cho rằng chuyện Sơn Tinh - Thủy Tinh rất quái đản, chỉ tạm thuật lại để truyền lại sự nghi ngờ .
== Các vị vua ==
Theo Đại Việt Sử ký Toàn thư, tính từ thời Kinh Dương Vương (2879 TCN) cho đến hết thời Hùng Vương (năm 258 TCN) kéo dài 2.622 năm. Nhà nước Văn Lang tồn tại đến năm 258 TCN thì bị Thục Phán (tức An Dương Vương) thôn tính.
Theo Nguyễn Khắc Thuần trong "Thế thứ các triều vua Việt Nam" thì 18 vị vua Hùng được liệt kê trong danh sách bên dưới. Tuy nhiên, ngay sau danh sách, tác giả cũng đưa ra nhận xét thuộc một trong hai quan điểm đang được các nhà sử học tạm chấp nhận: 18 vị vua Hùng không phải là 18 người cụ thể, mà là 18 chi (nhánh/ngành), mỗi chi này có nhiều vị vua thay phiên nhau trị vì và dùng chung vương hiệu. Thậm chí con số 18 có thể chỉ nên hiểu là con số tượng trưng ước lệ, vì 18 là bội số của 9 - vốn là một số thiêng đối với người Việt.
Kinh Dương Vương (涇陽王): 2879 TCN - ?. Huý là Lộc Tục (祿續).
Hùng Hiền vương (雄賢王), còn được gọi là Lạc Long Quân (駱龍君 hoặc 雒龍君 hoặc 貉龍君). Huý là Sùng Lãm (崇纜).
Hùng Lân vương (雄麟王)
Hùng Diệp vương (雄曄王)
Hùng Hi vương (雄犧王) (phần bên trái chữ "hi" 犧 là bộ "ngưu" 牛)
Hùng Huy vương (雄暉王)
Hùng Chiêu vương (雄昭王)
Hùng Vĩ vương (雄暐王)
Hùng Định vương (雄定王)
Hùng Hi vương (雄曦王) (phần bên trái chữ "hi" 曦 là bộ "nhật" 日)
Hùng Trinh vương (雄楨王)
Hùng Vũ vương (雄武王)
Hùng Việt vương (雄越王)
Hùng Anh vương (雄英王)
Hùng Triêu vương (雄朝王)
Hùng Tạo vương (雄造王)
Hùng Nghị vương (雄毅王)
Hùng Duệ vương (雄睿王): ? - 258 TCN
Chú ý: "雄犧王" và "雄曦王" tuy đều đọc "Hùng Hi Vương" nhưng chữ "hi" trong hai tên gọi này khác nhau về tự dạng và ý nghĩa.
== Di sản và ghi công từ đời sau ==
Ngày Giỗ tổ Hùng Vương hay Lễ hội Đền Hùng là một ngày lễ của Việt Nam. Đây là ngày hội truyền thống của Người Việt tưởng nhớ công lao dựng nước của Hùng Vương. Nghi lễ truyền thống được tổ chức hàng năm vào mồng 10 tháng 3 âm lịch tại Đền Hùng, thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ nhưng được dân Việt trong cũng như ngoài nước đều kỷ niệm.
Năm 1954, Hồ Chí Minh có buổi gặp mặt với binh lính các Trung đoàn Thủ Đô, trung đoàn 36, trung đoàn Tu vũ..., ông nói rằng: "Đền Hùng thờ các vua Hùng. Hùng Vương là người sáng lập ra nước ta, là Tổ tiên của dân tộc ta. Ngày xưa, các vua Hùng đã có công dựng nước, ngày nay Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước."
== Đền thờ và lăng mộ ==
== Thư mục ==
Đại Việt sử ký toàn thư, soạn giả Phan Phu Tiên, Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên,... Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993.
Khâm định Việt sử thông giám cương mục, soạn giả: Quốc sử quán triều Nguyễn, Nhà xuất bản Giáo dục Hà Nội, 1998.
Lịch triều hiến chương loại chí, Tập 1, Soạn giả Phan Huy Chú, Nhà xuất bản giáo dục, 2006.
An Nam chí lược, soạn giả Lê Tắc, Nhà xuất bản: Viện Đại Học Huế; 1961.
Việt Nam văn hóa sử cương, soạn giả Đào Duy Anh, Nhà xuất bản Nhã Nam, 2014.
Lĩnh nam chích quái, soạn giả Trần Thế Pháp, Nhà xuất bản Hồng Bàng.
Việt điện u linh, soạn giả Lý Tế Xuyên, Nhà xuất bản Hồng Bàng.
== Xem thêm ==
Bách Việt
Văn Lang
Âu Lạc
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Giới thiệu các vật dụng, vũ khí, trang sức, trống đồng...tại Dongsondrum.com
Văn minh Đông Sơn
Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động. |
tomonaga shinichirō.txt | Tomonaga Shinichirō (朝永 振一郎, ともなが しんいちろう) (1906-1979) là nhà vật lý người Nhật Bản. Ông giành Giải Nobel Vật lý năm 1965 cùng Julian Schwinger và Richard Feynman nhờ những nghiên cứu cơ bản về điện động học lượng tử và vật lý hạt cơ bản.
== Chú thích == |
giải goethe.txt | Giải Goethe tên chính thức là Giải Goethe của Thành phố Frankfurt (tiếng Đức: Goethepreis der Stadt Frankfurt) là một giải thưởng văn học có uy tín của Đức dành cho những người – không nhất thiết phải là nhà văn - có đóng góp xuất sắc vào việc nghiên cứu và truyền bá tác phẩm và tư tưởng của Goethes. Giải được hội đồng thành phố Frankfurt am Main – thành phố quê hương của Goethe - thiết lập năm 1927 và được trao vào ngày 28 tháng 8, ngày kỷ niệm sinh nhật của Johann Wolfgang von Goethe. Ban đầu giải được trao hàng năm, từ năm 1949 trở đi, giải được trao mỗi 3 năm.
== Lịch sử ==
Ý tưởng thiết lập giải này do nhà nghiên cứu lịch sử văn học Ernst Beutler đề xướng (năm 1960 ông được trao giải này). Ngày 31.8.1926 Hội đồng thành phố Frankfurt quyết định lập giải thưởng và cấp khoản kinh phí 10.000 Reichsmark (đơn vị tiền của đế quốc Đức) làm tiền thưởng cùng 3.000 Reichsmark cho chi phí quản trị giải.
Người đoạt giải đầu tiên, Stefan George, lúc đầu từ chối không chịu nhận giải, nhưng sau đó do áp lực của công chúng, ông đã đồng ý nhận.
Năm 1930 có việc tranh cãi trong xét chọn ứng viên, cuối cùng với 7 phiếu thuận và 5 phiếu chống, giải đã được trao cho nhà phân tâm học Sigmund Freud.
Cho tới năm 1942 (và năm 1960, cho Beutler), lễ trao giải được tổ chức ở Goethe-Haus (nhà của gia đình Goethe) tại Frankfurt.
== Giải Goethe dưới thời Đức Quốc xã ==
Từ năm 1933 tới 1942, dưới thời Đức Quốc xã, các người đoạt giải như Kolbenheyer (năm 1937) và Schäfer (năm 1941) đã công khai tuyên bố trung thành với chế độ Quốc xã.
== Sau năm 1945 ==
Người đoạt giải đầu tiên sau Thế chiến thứ hai là nhà vật lý Max Planck năm 1945. Planck đã được đề nghị từ năm trước, nhưng bị bộ trưởng văn hóa Đức quốc xã bác bỏ vì ông chống chủ nghĩa quốc xã.
Từ năm 1948 trở đi (ngoại trừ năm 1960 và 1988) lễ trao giải diễn ra tại Paulskirche (nhà thờ thánh Phaolô) ở Frankfurt, cũng là nơi trao "Giải Hòa bình của các tiệm buôn sách Đức" (Friedenspreis des Deutschen Buchhandels).
== Những người đoạt giải ==
Hiện nay, người đoạt giải được nhận một bằng chứng nhận trên giấy da và một khoản tiền 50 000 Euro
== Xem thêm ==
Huy chương Goethe
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Goethepreis
Zu Pina Bausch (FR-online) |
henry david thoreau.txt | Henry David Thoreau-tên khai sinh là David Henry Thoreau (12/7/1817-6/5/1862), là nhà văn, nhà thơ, nhà tự nhiên học, nhà sử học, nhà triết học, nhà địa hình học mẫu mực người Mỹ. Ông là một trong những người đi tiên phong theo thuyết Tiên nghiệm và là một nhà hoạt động tích cực tham gia phong trào kháng thuế, bãi nô; ngoài ra ông còn để lại dấu ấn khi chỉ trích mạnh mẽ sự phát triển của công nghệ. Ông được nhiều người biết đến qua tác phẩm nổi tiếng Walden- trong đó ông đề cập đến việc bản thân đã từng sống một cuộc sống đơn giản và gần gũi với thiên nhiên, và bài luận Civil Disobedience (tạm dịch là sự bất tuân dân sự) mà qua đó ông bày tỏ sự ủng hộ đối với việc cá nhân kháng cự lại chính quyền dân sự trên tinh thần phản đối kiểu Nhà nước bất công. Người ta đã tổng hợp các tác phẩm, bài báo, bài luận và những bài thơ của Thoreau thành sách với hơn 20 tập. Một trong số những đóng góp nổi bật của ông chính là các bài viết về lịch sử tự nhiên và triết học, trong đó ông đã tiên liệu về việc sẽ khám phá cũng như cách thức khám phá ra lý luận về sinh thái học và lịch sử biến đổi của môi trường sống-hai nền tảng của ngành môi trường học hiện đại. Phong cách văn chương của ông là sự kết hợp của lối quan sát gần thiên nhiên, những kinh nghiệm cá nhân, tài hùng biện, việc sử dụng thành thạo ngôn từ mang tính hình tượng cao cùng với vốn hiểu biết lịch sử của bản thân; nhờ đó ông mới có thể biểu lộ ra tính nhạy cảm đầy thi vị, sự thông thái giản dị, và tình yêu kiểu "Yankee" đối với sự thực dụng của mình. Ông cũng rất hứng thú với ý tưởng về sự sống sót khi đối mặt với các thế lực thù địch, sự thay đổi mang tính lịch sử và tình trạng suy tàn của tự nhiên. Ông luôn sẵn sàng khẩn cầu một ai đó xóa bỏ những ảo tưởng và ngừng tiêu phí thời gian vào những việc vô bổ để có thể tìm ra những thứ thực sự cần thiết đối với cuộc sống. Ông cống hiện trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng nô lệ; những bãi diễn văn của ông tấn công mạnh mẽ đạo luật Fugitive Slave Law (tạm dịch là luật chống nô lệ bỏ chạy) đồng thời ca ngợi những bài viết bảo vệ nhân quyền của Wendell Phillips cùng lúc bảo vệ nhà hoạt động xã hội John Brown. Triết lý của ông về sự bất tuân dân sự đã ảnh hưởng đến những quan điểm chính trị và hành động của Lev Nikolayevich Tolstoy, Mahatma Gandhi, Martin Luther King. Thoreau thỉnh thoảng được nhắc đến như một người theo chủ nghĩa cá nhân vô chính phủ. Mặc dù tác phẩm Civil Disobedience dường như là dùng để củng cố thêm quyền lực của chính quyền hơn là thủ tiêu nó-như câu "Tôi yêu cầu, không phải cùng một lúc không có chính phủ nào, mà là cùng một lúc có một chính phủ tốt hơn"-hay phần trích dẫn của mục đích nâng cao chủ nghĩa cá nhân "Một chính phủ tốt nhất là một chính phủ không cai trị, và khi loài người đã sẵn sàng cho chuyện đó thì kiểu chính phủ như vậy sẽ ra đời.". Richard Drinnon phần nào đó đã trách Thoreau về sự nhập nhằng của ông, đồng thời lưu ý với mọi người Thoreau là một con người "hay châm biếm sâu cay, rằng sở thích của ông ta là mở rộng các đề tài trong các bài viết của mình, hay là việc ông ưa thích cung cấp "đạn dược" cho việc làm rối rắm thêm ý nghĩa của tác phẩm Civil Disobedience". Drinnon cũng chỉ ra rằng việc Thoreau nói chỉ thích cùng một lúc có một chính phủ tốt hơn không có nghĩa là sau đó ông sẽ không ủng hộ việc không có chính phủ nào cả.
== Thuở niên thiếu ==
Ông được sinh ra dưới cái tên David Henry Thoreau tại hạt Concord, tiểu bang Massachusetts, Hoa Kỳ. Cha ông là John Thoreau-chủ một doanh nghiệp sản xuất bút chì, còn mẹ ông là Cynthia Dunbar. Ông nội của Henry là người Pháp chính gốc, và được sinh ra tại Jersey. Còn ông ngoại-Asa Dunbar, đã từng là thủ lĩnh của phong trào "Butter Rebellion"-tạm dịch là cuộc nổi dậy vì chất lượng bơ, phong trào phản kháng đầu tiên được ghi lại tại Colonies. "David Henry" được đặt lại thành "Henry David" sau khi chú ông là David Thoreau mất. Nhưng ông đã không là Henry David cho tới mãi những năm sau khi học xong đại học, mặc dù vậy ông cũng chưa từng bị kiện vì mang cái tên không hợp pháp. Ông có hai anh chị ruột là Helen and John Jr., và một người em gái tên là Sophia. Ngôi nhà nơi Thoreau được sinh ra vẫn nằm trên đường Virginia tại hạt Concord và hiện vẫn đang được những người dân ở đó bảo quản. Ngôi nhà vẫn như cũ duy chỉ có điều là nó đang ở một nơi cách chỗ cũ hơn 90m. Thầy Amos Bronson Alcott và dì của Thoreau đều nói từ "Thoreau" đọc như "thorough"-nghĩa là tận tâm, trong cách đọc chuẩn của người Mỹ. Edward Emerson cho rằng cái tên đó nên phát âm là Thó-row, nhấn giọng ở âm tiết đầu. Thoreau luôn xuất hiện trước mọi người với phong thái giản dị, với chiếc mũi mà ông gọi đó là điểm nổi bật nhất của mình. Về khuôn mặt của ông, Nathaniel Hawthorne đã từng viết: "[Thoreau] thật xấu xí như thể một tên tội đồ, cái mũi dài, cái miệng khó ưa, và với cái vẻ thô kệch,quê mùa-dù cách cư xử vẫn lịch sự, thật xứng với cái ngoại hình của anh ta. Nhưng sự xấu xí của anh lại mang cái gì đó rất chân thật và không tạo sự khó chịu, và điều đó đã tôn lên vẻ đẹp về tâm hồn hơn là về mặt hình thức." Thoreau luôn đeo cái nơ trên cổ mình, và ông cũng nói rằng đó là điều hấp dẫn phụ nữ. Tuy nhiên nhà văn nữ Louisa May Alcott đã nói với Ralph Waldo Emerson rằng bộ râu quai nón của Thoreau "đã hầu như làm mất đi vẻ phong tình của ông và đã giữ cho những phẩm chất tốt đẹp nơi ông ấy có thể tồn tại vĩnh cửu." Thoreau đã từng học tại Đại học Harvard từ 1833-1837 và từng sống tại ký túc xá Hollis Hall. Tại đây ông học các môn hùng biện, văn hóa Hy Lạp, triết học, toán học và khoa học. Từng có giai thoại kể rằng ông đã từ chối trả 5 đôla tiền phí để lấy bằng tốt nghiệp trường Harvard. Trong thực tế, học vị thạc sĩ của Thoreau mà ông từ chối chi trả tiền, hoàn toàn không có nhiều giá trị học thuật. Cao đẳng Harvard đã đề nghị khóa học này đối với sinh viên tốt nghiệp như là "để chứng minh giá trị bản thân của họ bằng cách đã sống sót trong vòng 3 năm sau khi tốt nghiệp; và trích 5 đôla từ số tiền mà họ đã kiếm được, tiết kiệm được, hay thừa kế được cho các trường đại học, cao đẳng mà họ đã từng học." Thoreau đã đáp lại bằng câu nói: "Let every sheep keep its own skin"-tạm dịch là "Hãy để cho những con cừu được giữ bộ da của nó". Qua câu nói đó ông ngầm phê phán giá trị thực của mảnh bằng được viết trên giấy giả da cừu.
== Quay lại Concord: 1837-1841 ==
Các ngành nghề truyền thống mở rộng cửa cho các sinh viên đã tốt nghiệp như luật, kinh doanh, y, hay làm việc trong nhà thờ không hấp dẫn được Thoreau, nên vào năm 1835 ông xin vắng mặt tại Harvard và đến dạy học tại hạt Canton, tiểu bang Massachusetts. Sau khi ông tốt nghiệp năm 1837, ông tham gia làm giảng viên cho các trường học công, nhưng chỉ sau vài tuần ông đã xin từ chức. Ông và người anh trai John mở một trường dạy ngữ pháp tiếng Anh tại Concord vào năm 1838 với tên là Concord Academy. Họ giới thiệu một số quan niệm dạy học tiến bộ, bao gồm cả việc đi dạo và thăm thú các cửa hàng và xí nghiệp địa phương. Trường học này đóng cửa khi John bị bệnh uốn ván vào năm 1842 do vô ý bị chảy máu khi cạo râu. Ông chết trong tay người em Henry. Sau khi tốt nghiệp, Thoreau về lại Concord, nơi ông gặp Ralph Waldo Emerson. Emerson giống như một người cha khi vừa bảo vệ và khuyên nhủ chàng trai trẻ Thoreau, lại vừa giới thiệu cho Thoreau một nhóm các nhà văn và nhà tư tưởng trong đó có Ellery Channing, Margaret Fuller, Bronson Alcott, Nathaniel Hawthorne và con trai Julian Hawthorne-lúc này còn là một cậu bé. Emerson kêu gọi Thoreau gửi những bài tiểu luận và thơ của mình cho tạp chí quý The Dial, đồng thời vận động tổng biên tập tạp chí này lúc đó là Margaret Fuller cho xuất bản những bài viết của Thoreau. Bài tiểu luận đầu tiên của Thoreau được đăng trên tạp chí The Dial số 3 năm 1840 với nhan đề Aulus Persius Flaccus, trong đó ông đề cập đến những nhà viết kịch cùng tên. Nó bao gồm cả những đoạn đã được sửa đổi dưới sự tiếp thu các ý kiến của Emerson khi đọc tạp chí của Thoreau. Mục tạp chí đầu tiên vào ngày 22/10/1837 có đoạn "Bạn đang làm gì? Bạn có còn đang cầm cuốn tạp chí trên tay không? Nếu còn thì tôi xin viết chuyên mục đầu tiên của tôi vào ngày hôm nay."
Thoreau là một nhà triết học về tự nhiên trong mối quan hệ với đời sống con người. Trong những năm đầu, ông theo thuyết Tiên nghiệm-thứ chủ nghĩa duy tâm chiết trung, đồng nhất được ủng hộ bởi Emerson, Fuller, và Alcott. Họ đã dựng nên một trạng thái tinh thần lý tưởng vượt lên trên, hay chính xác là đi trước cả vật lý học và các ngành thực nghiệm học khác, thứ mà một người có thể có cái nhìn sâu sắc hơn thông qua trực giác cá nhân hơn là thông qua những giáo lý tôn giáo. Họ coi Tự nhiên chẳng qua là cái dấu hiệu bên ngoài phản ánh cái tâm hồn chủ quan, qua đó thể hiện cái gọi là "sự hòa hợp căn bản giữa những thứ nhìn thấy với suy nghĩ của con người" như trong tác phẩm Tự nhiên của Emerson. Ngày 18/4/1841, Thoreau chuyển đến sống cùng với Emerson. Tại đó, từ năm 1841-1844, ông làm gia sư, trợ lý biên tập, kiêm luôn người làm vườn. Năm 1843, Ông đến sống tại nhà của William Emerson tại thành phố Staten Island và ở đây chừng vài tháng. Tại nơi này ông dạy học cho cậu con trai của William trong khi bắt liên hệ với các nhà văn và nhà báo trong thành phố-những người có thể xuất bản các bài viết của ông, trong đó có người đại diện văn học tương lai của ông Horace Greeley. Thoreau trở lại Concord và đến làm việc tại xưởng sản xuất bút chì của một hộ gia đình, nơi mà ông gắn bó cho đến già. Ông tìm thấy cách làm ra loại bút chì tốt thoát khỏi lõi graphite kém chất lượng bằng cách dùng đất sét làm chất kết dính; khám phá này-được biết đến dưới cái tên quy trình Conté, được cấp cho Nicolas-Jacques Conté vào năm 1795 đã giúp nâng sản lượng graphite được tìm thấy tại New Hampshire và được bán cho người anh họ Charles Dunbar. Mỏ cung cấp nguyên liệu cho xưởng của ông nằm ở Tantiusques, Sturbridge, Massachusetts, và được điều hành bởi một người Ấn Độ. Sau này, Thoreau đã biến xưởng sản xuất bút chì thành xưởng sản xuất than chì-nguyên liệu làm mực cho máy đánh chữ. Khi quay lại Concord, Thoreau đã gặp phải một thời kỳ khó khăn khi vào tháng 4 năm 1844, ông và bạn ông Edward Hoar vô tình đốt cháy 300 mẫu Anh (1,2 km2) khu rừng Waldens. Ông thường nói rằng việc tìm một trang trại để bán hoặc cho thuê sẽ cho ông thấy ý nghĩa của việc tự nuôi sống bản thân và đem đến cho ông sự cô đơn vừa đủ để ông hoàn thành cuốn sách đầu tay của mình.
== Những hoạt động từ năm 1845-1849 ==
Trích dẫn: "Tôi xây nhà trong rừng vì tôi muốn sống một cách thật thong thả, khoan thai; đối mặt với những vấn đề thiết yếu của cuộc sống."
== Xem thêm ==
Bất tuân dân sự (Henry David Thoreau)
== Chú thích == |
sân vận động wembley.txt | Sân vận động Wembley là sân vận động tại Wembley thuộc London Borough of Brent, London, Anh. SVĐ này được sở hữu bởi Hiệp hội bóng đá Anh (FA) và được dùng làm sân nhà của Đội tuyển bóng đá quốc gia Anh. Sân vận động Wembley còn là nơi diễn ra các trận chung kết các Cúp FA và Cúp Liên đoàn.
Với 100.000 chỗ ngồi, Wembley là sân vận động có sức chứa lớn thứ 2 tại Châu Âu, (sau sân Camp Nou). Để phân biệt với sân Wembley cũ, người ta thường gọi đây là Sân Wembley mới ("new Wembley Stadium"). Đây cũng là sân vận động có kinh phí xây dựng tốn kém nhất trên thế giới.
Sân Wembley mới bắt đầu được khởi công xây dựng từ năm 2002 với một mức chi phí khổng lồ, lên đến 757 triệu bảng Anh, hay tương đương với 1,2 tỷ USD. Đó là một số tiền không thể tin được bởi Hàn Quốc cũng chỉ chi có 1,6 tỷ USD để xây mới 8 sân vận động mới hoàn toàn cho VCK World Cup 2002.
Tuy vậy, hàng loạt trục trặc trong quá trình xây dựng đã khiến Wembley bị chậm tiến độ hơn 2 năm so với kế hoạch. Thay vì đưa vào sử dụng trong năm 2005, mãi đến tháng 7/2007, sân Wembley mới có thể được hoàn tất và sẵn sàng đưa vào sử dụng.
Có thể nói đội tuyển Đức là một cái tên gắn liền với sân Wembley huyền thoại trước đây. Tại trận Chung Kết World Cup 1966, đội tuyển Anh đã vượt qua đội tuyển Đức để giành Cúp vàng thế giới đầu tiên và duy nhất cho đến thời điểm ngày. Cuộc đối đầu Anh - Đức ngày 07/10/2000 kết thúc với chiến thắng 1-0 nghiêng về phía đội khách với bàn thắng duy nhất của Dietmaar Hamann cũng là trận đấu cuối cùng trước khi Wembley bị phá dỡ để xây mới. Và trong trận mở màn sân Wembley mới Sư tử Anh lại bị người Đức qua mặt với tỉ số 2-1 vào ngày 22/08/2007.
Về CLB, có thể nói Chelsea F.C. là một phần lịch sử của sân Wembley khi The Blues là đội cuối cùng giành Cúp FA trên sân Wembley cũ (2000), đồng thời cũng là đội đầu tiên đoạt được cúp này trên sân Wembley mới (2007)
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Wembley Stadium Tours
Website của Wembley stadium
51°33′21,07″B 0°16′46,54″T |
kinh tế cuba.txt | Kinh tế Cuba phản ánh mối quan hệ sản xuất, cơ cấu kinh tế tại Cộng hòa Cuba. Nền kinh tế Cuba' là một nền kinh tế chủ yếu là quốc doanh, kế hoạch hóa do chính phủ kiểm soát dù vẫn có một số lượng doanh nghiệp đầu từ nước ngoài đáng kể ở Cuba. Phần lớn các phương tiện sản xuất thuộc chính phủ và phần lớn lực lượng lao động làm cho nhà nước. Đầu tư vốn bị hạn chế và cần phải được chính phủ chấp thuận. Chính phủ Cuba quy định phần lớn giá cả các mặt hàng và định mức phân phối hàng cho công dân. Bộ trưởng Kinh tế và Kế hoạch Cuba hiện là José Luis Rodríguez García.
== Quản lý ==
Chính phủ Cuba tuân theo các nguyên tắc xã hội chủ nghĩa trong tổ chức nền kinh tế kế hoạch hóa to lớn do nhà nước kiểm soát của họ. Đa số các phương tiện sản xuất thuộc sở hữu và sự điều hành của chính phủ và đa số lực lượng lao động làm việc cho các công ty nhà nước. Những năm gần đây, đã có xu hướng chuyển dịch lao động sang lĩnh vực tư nhân.
Năm 2000, lĩnh vực công sử dụng 76% lực lượng lao động và lĩnh vực tư nhân sử dụng 23% so với tỷ lệ tương ứng là 91% và 8% năm 1981. Năm 2006, lĩnh vực công cộng sử dụng 78% lực lượng lao động và tư nhân sử dụng 22% so với tỷ lệ này năm 1981 là 91.8% và 8.2%. Đầu tư vốn bị hạn chế và buộc phải được sự đồng ý của chính phủ. Chính phủ Cuba áp đặt hầu hết các loại giá cả và khẩu phần lương thực cho các công dân. Hơn nữa, bất kỳ một công ty nào muốn thuê nhân công Cuba phải trả tiền cho chính phủ Cuba, và chính phủ sẽ trả tiền trực tiếp cho người đó bằng đồng peso Cuba.
Bắt đầu từ cuối thập niên 1980, các khoản viện trợ của Xô viết cho nền kinh tế quản lý nhà nước của Cuba bắt đầu cạn kiệt. Trước khi Liên bang Xô viết sụp đổ, Cuba phụ thuộc vào Moskva về thị trường xuất khẩu và những khoản viện trợ tối cần thiết. Người Xô viết từng trả giá cao cho sản phẩm đường của Cuba trong khi cung cấp dầu mỏ cho nước này với giá thấp hơn thị trường. Sự biến mất của các khoản trợ cấp đó đã khiến nền kinh tế Cuba rơi vào một giai đoạn suy thoái nhanh chóng, được gọi là Giai đoạn Đặc biệt tại Cuba. Có thời điểm, Cuba nhận được các khoản viện trợ lên tới sáu tỷ dollar Mỹ.
Chính phủ Cuba đã phát triển đáng kể khả năng Du lịch y tế của họ, coi đó là một trong những phương tiện quan trọng mang lại thu nhập cho đất nước. Trong nhiều năm, Cuba đã phát triển các bệnh viện đặc biệt điều trị bệnh riêng cho người ngoại quốc và các nhà ngoại giao nước ngoài. Mỗi năm, hàng ngàn người châu Âu, người Mỹ Latinh, người Canada và người Mỹ tới đây để sử dụng các dịch vụ chăm sóc y tế có giá cả thấp hơn tới 80% so với tại Hoa Kỳ.
== Suy thoái (1991-2001) ==
Năm 1992, Hoa Kỳ thắt chặt lệnh cấm vận thương mại. Một số người tin rằng điều này có thể đã tới sự sụt giảm tiêu chuẩn sống tại Cuba và chạm tới điểm khủng hoảng chỉ trong vòng một năm.
Từ sau khi Liên Xô sụp đổ năm 1991, Cuba bị mất đi bạn hàng quan trọng nhất. Tiêu chuẩn sống người dân Cuba bị trượt theo một vòng xoáy đi xuống. Năm 1962, chính phủ đưa ra chính sách phân phối lương thực, càng trở nên gắt gao sau sự sụp đổ của Liên Xô. Ngoài ra, Cuba đã trải qua tình trạng thiếu hụt nhà ở vì chính phủ không thể đáp ứng nổi sự gia tăng nhu cầu. Tới cuối năm 2001, nghiên cứu cho thấy mức sống trung bình tại Cuba thấp hơn giai đoạn Xô viết. Những vấn đề chủ chốt là nhà nước không thể trả lương đáp ứng nhu cầu của người lao động và hệ thống phân phối luôn bị ám ảnh thường xuyên với tình trạng thiếu hụt hàng hóa.
Khi số lượng hàng hóa phân phối giảm suát, người Cuba dần phải quay sang chợ đen để có được những sản phẩm căn bản: quần áo, thực phẩm, đồ dùng gia đình, vật dụng chăm sóc sức khoẻ. Khu vực không chính thức này được nhiều người dân Cuba gọi là sociolismo. Ngoài ra, tình trạng tham nhũng nhỏ trong các ngành công nghiệp nhà nước, như ăn cắp tài sản nhà nước để bán ra chợ đen, cũng thường xảy ra.
== Khả quan ==
Tương tự các quốc gia xã hội chủ nghĩa và có xu hướng xã hội chủ nghĩa sau sự sụp đổ của Liên bang Xô viết, Cuba đưa ra các biện pháp theo định hướng thị trường tự do giới hạn nhằm giải quyết tình trạng khan hiếm nghiêm trọng thực phẩm, hàng hóa tiêu dùng, và dịch vụ xảy ra khi các khoản viện trợ của Liên Xô chấm dứt. Những biện pháp này gồm cho phép một số công ty tư nhân hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ và chế tạo, hợp pháp hóa sự sử dụng đồng dollar Mỹ trong thương mại và khuyến khích du lịch.
Năm 1996 du lịch đã vượt qua ngành công nghiệp mía đường để trở thành nguồn thu ngoại tệ lớn nhất cho Cuba. Cuba đã tăng gấp ba thị phần du lịch của mình tại Caribbean trong thập kỷ qua, với sự đầu tư to lớn vào hạ tầng du lịch, tỷ lệ tăng trưởng này được dự đoán sẽ còn tiếp diễn. 1.9 triệu du khách đã tới Cuba năm 2003 chủ yếu từ Canada và Liên minh châu Âu mang lại khoản tiền 2.1 tỷ dollar cho nước này.
Sự tăng trưởng nhanh chóng của lĩnh vực du lịch trong Giai đoạn Đặc biệt đã tác động mạnh mẽ tới kinh tế xã hội Cuba. Nó đã dẫn tới dự báo về sự xuất hiện của một nền kinh tế hai thành phần và tạo điều kiện thuận lợi cho một kiểu du lịch apartheid nhà nước trên hòn đảo này.
Trong những năm gần đây, sự nổi lên của Venezuela với vị Tổng thống Dân chủ Xã hội Hugo Chávez khiến Cuba có được nhiều khoản viện trợ từ nước này giúp cải thiện nền kinh tế. Viện trợ của Venezuela cho Cuba chủ yếu thông qua khoản cung cấp lên tới 80.000 barrel dầu mỏ mỗi ngày đổi lấy lao động chuyên gia và các mặt hàng nông nghiệp.
Trong nhiều năm qua, Cuba đã thu hồi lại một số biện pháp định hướng kinh tế thị trường đã được đưa ra trong thập kỷ 1990. Năm 2004, các quan chức Cuba đã công khai ủng hộ đồng Euro trở thành "đối trọng toàn cầu với đồng dollar Mỹ", và hạn chế đồng dollar trong dự trữ cũng như trong thanh toán thương mại. Những hạn chế ngày càng tăng của chính phủ Hoa Kỳ về đi lại của những người Mỹ gốc Cuba cũng như khoản tiền họ được phép mang về Cuba càng khiến chính phủ Cuba tăng kiểm soát sự lưu chuyển đồng dollar trong nền kinh tế.
Trong thập kỷ qua, người Cuba nhận được khoảng 600 triệu tới 1 tỷ dollar hàng năm, chủ yếu từ các thành viên gia đình đang sống tại Mỹ. Con số này bị ảnh hưởng bởi thực tế chính phủ Mỹ cấm các công dân của mình gửi quá 1.200 về Cuba.
Năm 2005 Cuba xuất khẩu hàng hóa trị giá 2.4 tỷ dollar, xếp hạng 114 trên 226 quốc gia trên thế giới, và nhập khẩu 6.9 tỷ dollar, xếp hạng 87 trên 226 nước. Các đối tác thương mại chính của nước này là Hà Lan, Canada và Trung Quốc; các đối tác nhập khẩu chính là Venezuela, Tây Ban Nha và Hoa Kỳ. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Cuba là đường, nikel, thuốc lá, cá, sản phẩm y tế, chanh, cà phê và lao động có tay nghề; các mặt hàng nhập khẩu gồm, thực phẩm, nhiên liệu, quần áo và máy móc. Cuba hiện có khoản nợ khoảng 13 tỷ dollar, chiếm xấp xỉ 38% GDP.
Theo Heritage Foundation, Cuba phụ thuộc vào các tài khoản tín dụng luân phiên từ nước này sang nước khác. Con số 35% thị phần đường thế giới trước kia của Cuba đã giảm xuống chỉ còn 10% vì nhiều yếu tố, gồm cả sự sụt giảm giá hàng hóa sử dụng đường Cuba kém tính cạnh tranh hơn trên thị trường thế giới.
Ở một thời điểm, Cuba từng là nước sản xuất và xuất khẩu đường lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, vì tình trạng đầu tư kém và các thảm họa thiên nhiên, sản lượng đường của Cuba đã giảm nghiêm trọng. Năm 2002, hơn một nửa các nhà máy đường ở Cuba phải đóng cửa. Mùa thu hoạch gần đây nhất chỉ đạt 1.1 triệu mét tấn, thấp nhất trong gần một trăm năm qua, chỉ tương đương với sản lượng năm 1903 và 1904. Cuba chiếm 6.4% thị trường thế giới về nickel chiếm khoảng 25% tổng xuất khẩu Cuba. Gần đây, một trữ lượng dầu mỏ lớn đã được tìm thấy tại Châu thổ Bắc Cuba dẫn tới việc các thành viên Jeff Flake và Larry Craig thuộc Quốc hội Hoa Kỳ kêu gọi bãi bỏ lệnh cấm vận với Cuba.
== Tham khảo == |
quần đảo đông sa.txt | Quần đảo Đông Sa (giản thể: 东沙群岛; phồn thể: 東沙群島 theo cách gọi của Đài Loan và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hay quần đảo Pratas, quần đảo Dong-Sha theo cách gọi của tiếng Anh) là một nhóm đảo nằm ở vị trí 20°43′B 116°42′Đ ở đông bắc biển Đông, cách Hồng Kông 340 km, cách Đài Bắc 850 km. Hiện quần đảo này do Đài Loan quản lý, đặt trong thành phố Cao Hùng. Vì Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ lãnh thổ và hải vực do Đài Loan quản lý nên họ cũng tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo Đông Sa và đặt nó vào tỉnh Quảng Đông.
== Địa lý ==
Quần đảo Đông Sa nằm ở bắc bộ biển Đông, cách Đài Bắc 850 km về hướng tây nam, cách cảng Cao Hùng 444 km, cách Hồng Kông 340 km về hướng đông nam, cách đảo Ba Bình ở quần đảo Trường Sa 1.185 km. Gọi là quần đảo nhưng thực ra là gồm ba ám tiêu san hô vòng gồm ám tiêu vòng Đông Sa, ám tiêu vòng Bắc Vệ (còn gọi là bãi Bắc Vệ) và ám tiêu vòng Nam Vệ (còn gọi là bãi Nam Vệ). Trên ám tiêu vòng Đông Sa có một đảo san hô lớn nhất tên là đảo Đông Sa. Đảo có một sân bay với đường băng dài 1.500 mét. Các bãi ngầm Bắc Vệ và Nam Vệ hoàn toàn chìm ngập dưới nước, không có đảo nổi lên. Diện tích vùng biển quần đảo Đông Sa khoảng 5.000 km2.
Quần đảo là một công trình thiên nhiên do san hô tạo rạn mà thành, đặc điểm địa hình tự nhiên đầy đủ đảo, ám tiêu, đầm nước, bãi cát, bãi cạn và thủy đạo. Lúc thủy triều xuống, đại bộ phận phần ám tiêu vòng Đông Sa nổi khỏi mặt biển, ước khi đó dài đến 46 km, rộng 2 km. Đầm nước bên trong ám tiêu vòng chỉ sâu 16 m, có nhiều mỏm san hô, bãi cát và bãi cạn san hô. Bên ngoài ám tiêu vòng, nước sâu 25 m với những sườn dốc gần như đâm thẳng đứng xuống đại dương. Ở tây bắc và tây nam ám tiêu vòng Đông Sa có chỗ khuyết tự nhiên. Đảo Đông Sa nằm giữa chỗ khuyết đó và chia nó thành hai thủy đạo nam-bắc. Đây cũng là các thủy đạo chính để vào đầm nước bên trong ám tiêu vòng.
Đầm nước nằm trong ám tiêu vòng Đông Sa là vùng nước nông, tuy còn tùy thủy triều lên xuống nhưng bình quân sâu 1 m. Nước trong đầm tĩnh lặng khác hẳn với vùng biển bên ngoài ám tiêu, những năm gần đây nước càng ngày cạn vì hiện tượng lắng đọng. Trầm tích trong đầm chủ yếu là bùn và vụn hữu cơ, ngoài ra còn có cát và sỏi. Độ sâu ám tiêu vòng Đông Sa biến thiên từ 0,6 đến 17 m.
Đông Sa chịu ảnh hưởng khí hậu nhiệt đới gió mùa. Thời gian từ tháng 4 đến tháng 11 thường có bão, nhiều nhất là vào các tháng 8 và 9. Mưa nhiều vào mùa hạ và mùa thu; mùa đông ít mưa.
Nhiệt độ nước biển bề mặt vào khoảng 21 đến 30 °C; mùa xuân là 26 °C, mùa hạ là 30 °C, mùa thu là 28 °C và mùa đông là 24 °C. Nhiệt độ không khí bình quân ăm là 25,3 °C. Nhiệt độ trung bình thấp nhất là vào tháng 12, đạt 22,2 °C. Nhiệt độ cao nhất vào tháng 6, trung bình là 29,5 °C. Độ mặn nước biển nhìn chung ít biến đổi trong năm, đạt khoảng 33,4 đến 34,6 phần nghìn. Mùa bão độ mặn nước biển có giảm đi đôi chút, đến mùa đông lại tăng cao hơn một ít.
=== Bảng tên gọi ===
=== Sơ lược đặc điểm ===
Đảo Đông Sa
Đảo san hô hình móng ngựa, tục danh là đảo Nguyệt Nha, dài 2.800 mét, rộng 865 mét, diện tích nổi là 1,74 km2 còn diện tích ngập nước là 0,64 km2. Trên đảo có một đường băng và có quân đội đồn trú.
Đá Đông Sa
Đá Đông Sa là một ám tiêu san hô hình vòng cung giống hình chữ C tạo nên hình dáng quần đảo Đông Sa. Đá dài 16 km, rộng 2 km, bao quanh một đầm nước có đường kính 20–25 km. Đầm nhìn chung sâu không quá 20 m, diện tích khoảng 300 km2. Phần phía tây của ám tiêu có hai chỗ khuyết ở hai bên đảo lớn Đông Sa, hình thành nên hai thủy đạo ở nam - bắc của đảo. Khi thủy triều xuống phần ám tiêu phía bắc, phía đông và phía tây nổi lên khỏi mặt biển.
Bãi Bắc Vệ
Bãi ngầm Bắc Vệ là bãi ngầm san hô nằm cách đảo lớn Đông Sa 44 hải lý về hướng tây bắc. Bãi hình tròn, sâu tối thiểu 60 m.
Bãi Nam Vệ
Bãi ngầm Nam Vệ là bãi ngầm san hô nằm cách đảo lớn Đông Sa 40 hải lý về hướng tây bắc và cách bãi Bắc Vệ khoảng 4 hải lý về hướng nam, sâu tối thiểu 58 m.
Một vài núi ngầm nằm gần quần đảo:
Núi ngầm Tiêm Phong (尖峰海山)
Núi ngầm Mạo Giá (芼架海山)
Núi ngầm Bắc Ba (北波海山)
== Lịch sử ==
Đông Sa vốn là đảo không người và hiện nay vẫn không có dân thường định cư. Thế kỷ 18, nhà Thanh kiểm soát và quy thuộc nó vào châu Huệ, tỉnh Quảng Đông. Năm 1909, nhà Thanh từng thỏa thuận bán đảo Đông Sa cho Nhật Bản với giá 38 vạn yên. Chính phủ Nhật định nhập quần đảo này vào lãnh thổ Đài Loan thuộc Nhật. Tuy nhiên sau đó, thủy sư đề đốc Lý Chuẩn kháng nghị lên triều đình nên nhà Thanh không bán nữa. Trung Quốc bắt đầu xây dựng một số công trình trên đó. Trong Chiến tranh Thái Bình Dương, Hải quân Đế quốc Nhật Bản chiếm đóng quần đảo này. Sau khi chiến tranh kết thúc, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc thu hồi lại. Hiện nay, đảo Đông Sa do Tuần duyên Đài Loan quản lý sau khi nhận bàn giao cơ sở hạ tầng cảng và đường băng từ quân đội vào năm 2002.
== Chú thích ==
Phương tiện liên quan tới Pratas Islands tại Wikimedia Commons |
kinkakuji.txt | Kinkaku-ji (kanji: 金閣寺, phiên âm Hán-Việt: Kim Các Tự, tức chùa Gác Vàng) là tên phổ thông của chùa Rokuon-ji (kanji: 鹿苑寺: Lộc Uyển Tự, chùa Vườn Nai) ở Kyoto, Nhật Bản.
Chùa nằm trong di sản văn hóa cố đô Kyoto.
== Lịch sử ==
Kiến trúc nguyên thủy xây năm 1397 vốn dùng làm nơi an trí cho shogun Ashikaga Yoshimitsu. Con ông cho đổi hành cung làm chùa và thiền viện cho tín đồ Phật giáo phái Lâm Tế. Trong cuộc chiến Onin (1467-1477), chùa bị đốt cháy rụi nhưng rồi được xây lại.
Gần 500 năm sau, vào năm 1950 tòa Gác Vàng bị một vị sư nổi lửa đốt cháy thành tro. Nhà sư sau đó bèn tự tử nhưng bị nhà chức trách bắt được. Mẹ nhà sư cũng bị đem ra tra hỏi. Trên đường về, bà nhảy từ xe lửa, gieo mình xuống sông tự vẫn còn nhà sư sau khi truy tố bị tuyên án bảy năm tù. Trong khi thụ án ông chết bệnh trong ngục năm 1956.
== Cảnh trí ==
Kinkaku (Gác Vàng) trong khuôn viên chùa chỉ là một trong nhiều công trình kiến trúc ở chùa. Ngôi gác có ba tầng soi bóng xuống ao Kyoko-chi (鏡池: Kính Trì, tức "ao Gương"). Vách gác hai tầng trên đều dát vàng lá, ánh lên rực rỡ nên gác mới có tên là Gác Vàng. Cảnh trí gác, ao, vườn và lối đi có tiếng là hài hòa mỹ thuật. Gác này thường được so sánh với Ginkaku (銀閣; Ngân Các tức Gác Bạc) ở chùa Jisho-ji (慈照寺; Từ Chiếu Tự) cũng ở Kyoto.
Phần kiến trúc Kinkaku hiện thấy là do cuộc tái thiết năm 1955. Năm 1987 nhà chùa dát thêm lớp vàng mới cùng sửa chữa nội thất; sang năm 2003 thì phần mái được trùng tu.
== Giá trị văn hóa ==
Câu chuyện ly kỳ về vụ đốt Gác Vàng năm 1950 này đã được nhà văn Mishima Yukio phóng tác trong cuốn tiểu thuyết Kinkaku-ji 金閣寺. Sách này được dịch sang nhiều ngôn ngữ khác. Bản tiếng Việt do Đỗ Khánh Hoan và Nguyễn Tường Minh dịch và xuất bản ở Sài Gòn vào cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970.
Phương tiện liên quan tới Kinkaku-ji tại Wikimedia Commons |
william iii của anh.txt | William III hoặc William xứ Orange (14 tháng 11 năm 1650 – 8 tháng 3 năm 1702) là Hoàng thân xứ Orange, từ năm 1672 là Thống đốc các tỉnh lớn của Cộng hòa Hà Lan, rồi được tôn làm vua Anh, Scotland, và Ireland kể từ năm 1689. Là một thành viên của Nhà Orange-Nassau, William III trị vì Anh, Scotland, và Ireland sau cuộc Cách mạng Vinh Quang, khi nhạc phụ của ông, James II của Anh, bị phế truất. William đồng trị vì với vợ, Mary II, cho đến khi Mary mất ngày 28 tháng 12 năm 1694. Ông là "William II" ở Scotland, và là "William III" ở Anh và Ireland. Tại Bắc Ireland và Scotland, người ta còn gọi ông là "Vua Billy".
Là tín hữu Kháng Cách, William tham gia các cuộc chiến chống Louis XIV của Pháp, một quân vương Công giáo đầy quyền lực, trong bối cảnh châu Âu đang bị chia cắt bởi các thế lực Công giáo và Kháng Cách. Phần lớn là nhờ thanh danh ấy mà William được tôn làm vua nước Anh nơi có nhiều người luôn e sợ một sự phục hồi ảnh hưởng Công giáo do những nỗ lực của James đem cựu giáo trở lại vương quốc này. Chiến thắng của William III tại trận sông Boyne khi ông đánh bại James II năm 1690 vẫn được Hội Orange ở Bắc Ireland kỷ niệm cho đến ngày nay. Thời trị vì của William nổi bật với sự khởi đầu của giai đoạn chuyển đổi quyền lực từ thể chế cai trị độc đoán của dòng họ Stuart sang thể chế tập trung nhiều quyền lực hơn cho Quốc hội dưới triều Hanover.
== Thiếu thời ==
=== Dòng dõi ===
William Henry xứ Orange chào đời tại La Hay (Den Haag trong tiếng Hà Lan) thuộc Cộng hòa Hà Lan ngày 4 tháng 11 năm 1650, là con duy nhất của William II, Hoàng thân xứ Orange, và Mary, Công chúa nước Anh. Cha của William mất vì bệnh đậu mùa chỉ tám ngày trước khi con trai ra đời. Vì vậy, William là Hoàng thân xứ Orange từ lúc mới sinh. Ngay lập tức bùng nổ cuộc tranh chấp giữa Mary và bà của William, Amalia xứ Solms-Braunfels, trong việc giành quyền đặt tên cho cậu bé. Mary muốn con trai mang tên Charles theo tên anh của bà, nhưng bà nội cậu bé muốn cháu có tên William hoặc Willem nhằm củng cố triển vọng của cậu bé trở thành Thống đốc trong tương lai. Trong di chúc, William II đã ủy nhiệm vợ quyền bảo hộ con trai, nhưng vì chưa kịp ký tên trước khi chết nên văn kiện này không được công nhận. Ngày 13 tháng 8 năm 1651 "Hoge Raad" (Hội đồng Tối cao) của Hà Lan ra quyết định giao quyền bảo hộ cho mẹ và bà nội của cậu bé, cùng Tuyển đế hầu Brandenburg (vợ ông, Louise Henriette, là chị cả của William).
=== Học vấn ===
Mẹ của William cũng không mấy quan tâm đến con trai, có khi vắng mặt cả năm, và luôn tìm cách tránh xa xã hội Hà Lan. Ban đầu việc giáo dục dành cho William được ủy thác cho các nữ gia sư người Hà Lan, và một số gia sư gốc Anh, trong đó có Walburg Howard. Từ tháng 4 năm 1656, William tiếp nhận giáo huấn theo đức tin Cải cách từ Cornelis Trigland, nhà thuyết giáo theo Thần học Calvin. Một tiểu luận, có lẽ của một trong những thầy giáo của William, Constantijn Huyens, đã miêu tả chi tiết nền giáo dục hoàn thiện mà William thụ hưởng có tựa đề Discours sur la nourriture de S.H. Monseigneur le Prince d'Orange. William được dạy dỗ rằng Chúa đã chọn cậu để hoàn thành sứ mạng lịch sử của nhà Orange. Từ đầu năm 1659, William dành bảy năm để theo học tại Đại học Leiden, dù không chính thức ghi danh, dưới sự dẫn dắt của Hendrik Bornius, giáo sư môn đạo đức học. William cũng học tiếng Pháp với Samuel Chappuzeau.
Ngày 23 tháng 12 năm 1660, mẹ của William qua đời tại Lâu đài Whitehall, Luân Đôn, khi cậu bé mới 10 tuổi. Bà để lại di chúc yêu cầu anh trai của bà, vua Charles II, chăm sóc quyền lợi của con trai, do đó Charles II yêu cầu Nghị viện Hà Lan (Staten van Holland en Westfriesland) chấm dứt mọi sự can thiệp. Ngoài ra, quyền bảo hộ và giáo dưỡng William còn trở thành mục tiêu tranh chấp giữa phe bảo hoàng với các nhóm đấu tranh cho Hà Lan theo khuynh hướng cộng hòa.
Lúc đầu, giới chức trách Hà Lan tìm mọi cách che giấu những cuộc vận động ngầm này, nhưng sau khi xảy ra chiến tranh Anh–Hà Lan lần thứ hai, một trong những điều kiện vua Charles đưa ra để ký hòa ước là khẳng định địa vị của cháu trai nhà vua. Năm 1666, phản ứng trước áp lực của Charles, Nghị viện Hà Lan chính thức công bố William, khi ấy 16 tuổi, là "Người con của Đất nước". De Witt, chính trị gia hàng đầu của nền cộng hòa, đảm trách việc học tập của William, mỗi tuần chỉ dẫn cậu chuyện quốc sự và cùng chơi quần vợt với cậu.
== Tham chính ==
=== Mất chức Thống đốc ===
Từ lúc cha William qua đời, các tỉnh ở Hà Lan bãi bỏ chức thống đốc. Một trong các điều khoản của Hiệp ước Westminster chấm dứt chiến tranh Anh–Hà Lan lần thứ nhất, theo yêu cầu của Oliver Cromwell, cấm tỉnh Holland bổ nhiệm thành viên nhà Orange làm thống đốc. Sau khi vương quyền Anh được phục hồi, điều khoản này bị thu hồi. Năm 1660, Mary và Amalia cố thuyết phục các tỉnh ở Hà Lan chấp nhận William làm thống đốc tương lai của họ, nhưng bị từ chối.
Năm 1667, khi William mới vừa mười tám, những người trung thành với nhà Orange vận động cho cậu vào các chức vụ thống đốc và thống chế quân đội. Nhằm ngăn chặn sự hồi phục ảnh hưởng của nhà Orange, De Witt cho phép thị trưởng (pensionary) Haarlem, Gaspar Fagel, vận động Nghị viện Holland ban hành sắc lệnh Perpetual (1667), cấm thống chế quân đội hoặc đô đốc hải quân kiêm nhiệm chức vụ thống đốc. Tuy nhiên, đến tháng 9 năm 1668, Nghị viện Zealand nhận William làm "Quý tộc thứ nhất". William phải trốn các gia sư để đến Middlburg để nhận tước vị. Một tháng sau, Amalia tuyên bố William đã đến tuổi trưởng thành.
Tỉnh Holland, trung tâm của khuynh hướng chống nhà Orange, tuyên bố bãi bỏ chức thống đốc. Trong tháng 3 năm 1670, bốn tỉnh khác noi theo, cùng thiết lập một liên minh mang tên "Harmony". De Witt yêu cầu các nghị viên hội đồng thành phố tuyên thệ ủng hộ sắc lệnh. William thấy mình đã thất bại, nhưng trong thực tế, đây là một giải pháp thỏa hiệp: con đường dẫn William tiến đến vị trí tổng tư lệnh ngày càng rõ ràng. Thậm chí De Witt còn chịu nhượng bộ để William nhận ghế thành viên Hội đồng Quốc gia là định chế có quyền quản lý ngân sách quốc phòng.
=== Tranh chấp với phe Cộng hòa ===
Tháng 11 năm 1670, William được phép đến Anh để thuyết phục Charles trả ít nhất là một phần của số tiền 2.797.859 guilder mà nhà Stuart nợ nhà Orange. Charles không có khả năng chi trả nhưng William đồng ý giảm nợ còn 1.800.000 guilder. Khi nhận ra cháu mình là một người Kháng Cách mộ đạo và là một người Hà Lan yêu nước, Charles bỏ ý định tỏ cho William biết hiệp ước bí mật ký kết với Pháp mà chỉ bàn về việc khống chế phe cộng hòa, và thành lập vương quyền ở Hà Lan. Mặt khác, ngoài những khác biệt trong chính kiến, William thấy lối sống của Charles và James là hoàn toàn xa lạ với mình, họ chỉ quan tâm đến rượu, bài bạc, và nô đùa với đám tì thiếp.
Năm sau, nền cộng hòa bị đe dọa nghiêm trọng khi nguy cơ bị liên minh Anh–Pháp tấn công đang đến gần. Dù còn trẻ tuổi và thiếu kinh nghiệm, Nghị viện Tỉnh Gelderland vẫn muốn bổ nhiệm William vào chức Thống chế càng sớm càng tốt. Ngày 15 tháng 12 năm 1671, Nghị viện Tỉnh Utrecht tiếp bước Gelderland. Song Nghị viện Holland hạn chế nhiệm kỳ của William trong một chiến dịch. Ông hoàng từ chối, ngày 25 tháng 2 năm 1672 tiến tới một thỏa hiệp, Quốc hội đồng ý kéo dài nhiệm kỳ của William trong một mùa hè, rồi bổ nhiệm trọn đời khi William đủ 23 tuổi. Tháng 1 năm 1672, William bí mật gởi thư cho Charles đề nghị bác làm áp lực trên Quốc hội bổ nhiệm cậu vào chức vụ thống đốc. Đổi lại, Cộng hòa Hà Lan sẽ là đồng minh với Anh, và phục vụ các quyền lợi của Charles trong mức độ "danh dự và lòng trung thành với tổ quốc cho phép". Charles không quan tâm đến đề nghị của người cháu, tiếp tục tiến hành kế hoạch chiến tranh với sự hỗ trợ của đồng minh Pháp.
== Thống đốc Hà Lan ==
=== Năm thảm họa: 1672 ===
Đối với Cộng hòa Hà Lan, năm 1672 là năm thảm họa (tiếng Hà Lan: rampjaar) do chiến tranh Pháp–Hà Lan và chiến tranh Anh–Hà Lan lần thứ ba khi đất nước này bị Louis XIV của Pháp, Anh, Münster, và Cologne xâm lăng. Dù hạm đội liên quân Anh–Pháp bị đánh bại tại trận thủy chiến Solebay, trong tháng 6 bộ binh Pháp tràn ngập hai tỉnh Gelderland và Utrecht. Ngày 14 tháng 6, William rút quân về tỉnh Holland. Khi quân Pháp cách Amsterdam khoảng 35 km, ngày 8 tháng 6, Nghị viện ra lệnh mở cửa đập xả lũ nhằm bảo vệ phần đất còn lại. Nước biển tràn vào, làm ngập lụt hoa màu và đồng cỏ, nhấn chìm nhà cửa và hoa viên, dìm chết bò và heo, khiến cho công lao khổ nhọc hàng thế kỷ phút chốc phải tiêu tán. Amsterdam trước ở vào vị trí không thể bảo vệ được, giờ trở thành một hòn đảo. Quân Pháp không có tàu thuyền, chỉ đành đứng từ xa mà ngắm nhìn thành phố họ định chiếm đóng. Cùng lúc, William vận động ngoại giao với Habsburg, Brandenburg, Hannover, Đan Mạch và Tây Ban Nha, ông vạch ra rằng sức mạnh và tham vọng của Louis XIV không chỉ là mối đe dọa với Hà Lan, mà còn cả các quốc gia khác. Các nước đều có ấn tượng với lý luận của ông, càng thêm ấn tượng với cuộc kháng chiến dai dẳng của Hà Lan. Louis XIV, tin rằng cuộc chiến đã kết thúc, khởi sự thương thảo để đòi được nhiều tiền càng tốt. Trong khi đó, sự hiện diện của binh lính Pháp ngay tại trung tâm của Cộng hòa Hà Lan làm người dân phẫn nộ, họ quay sang chống đối De Witt và những người ủng hộ ông.
Ngày 4 tháng 7, Nghị viện tỉnh Holland bổ nhiệm William vào chức vụ thống đốc, ông tuyên thệ nhậm chức năm ngày sau đó. Hôm sau, đặc sứ của Charles, Lord Arlington, đến Nieuwerbrug phong William làm Hoàng thân Trị vì Holland, đổi lại là một thỏa ước hàng phục. Khi bị từ chối, Arlington dọa rằng William sẽ chứng kiến sự kết thúc của nền cộng hòa, William khẳng khái đáp trả bằng câu nói trứ danh:
Vào ngày 7 tháng 7, các cơn lũ đã kịp phong tỏa quân đội Pháp. Ngày 16 tháng 7, tỉnh Zealand bổ nhiệm William làm thống đốc. Vào ngày 15 tháng 8, William phổ biến một bức thư của Charles, trong đó vua nước Anh cho biết ông khởi binh là do sự lộng quyền của phe de Witt, khiến dân chúng càng thêm bất bình. Ngày 20 tháng 8, Johan de Witt và em trai, Cornelis, bị một dân quân trung thành với nhà Orange ám sát tại The Hague. Kế đó, William thay thế nhiều quan nhiếp chính người Hà Lan bằng những người ủng hộ ông.
William tiếp tục chiến đấu chống lực lượng ngoại xâm đến từ Anh và Pháp, ông tìm cách liên minh với Tây Ban Nha và lãnh địa Brandenburg. Tháng 11 năm 1672, ông đem quân đến Maastricht đe dọa cắt đường tiếp tế của quân Pháp. Đến năm 1673, tình hình dần sáng sủa. Mặc dù Louis chiếm Maastricht và William thất bại khi tập kích Charleroi, Phó Đô đốc Michiel de Ruyter ba lần đánh bại hạm đội Anh–Pháp, buộc Charles phải rút khỏi Hiệp ước Westminster; kể từ năm 1673, quân Pháp dần dà triệt thoái khỏi lãnh thổ Hà Lan, ngoại trừ Maastricht.
Fagel đề nghị trừng phạt các tỉnh vừa được giải phóng như Utrecht, Gelderland và Overijssel bằng cách xem họ là lãnh thổ bị chiếm đóng, bởi vì trước đó họ đã sớm hàng phục quân thù. William bác bỏ ý kiến của Fagel, và nhận được sự ủy nhiệm đặc biệt Quốc hội để bổ nhiệm toàn bộ thành viên Quốc hội đại diện những tỉnh này. Ngày 26 tháng 4 năm 1674, phe ủng hộ William trong nghị viện Tỉnh Utretcht bổ nhiệm ông làm thống đốc. Ngày 30 tháng 1 năm 1675, Nghị viện Gelderland ban ông tước vị Công tước Guelder và Bá tước Zutphen. Nhưng những phản ứng tiêu cực từ Zealand và thành phố Amsterdam khiến William từ chối các tước vị này, thay vì vậy, ông được chỉ định làm thống đốc Gelderland và Overijssel.
=== Hôn nhân ===
Giữa lúc còn chiến tranh với Pháp, William đã tìm cách nâng cao vị trí đối ngoại của mình bằng cách kết hôn với cô em họ nhỏ hơn mình 11 tuổi, Mary Stuart, con gái của vua James II, nữ Công tước xứ York. William tin rằng cuộc hôn nhân này sẽ mang đến cho ông nhiều cơ hội kế thừa các vương quốc của Charles, và lôi kéo vương quyền Anh khỏi lập trường thân Pháp. James không đồng ý, nhưng Charles gây áp lực trên em trai vì muốn lợi dụng cơ hội để lập thế quân bình trong đàm phán, song William nhấn mạnh rằng cần có sự tách bạch trong vấn đề này. Ngày 4 tháng 11 năm 1677, Giám mục Henry Compton cử hành lễ hôn phối cho hai người. Do một lần sẩy thai và sau đó là bệnh tật, Mary không có con.
=== Hòa bình với Pháp, vận động ở Anh ===
Trong năm 1678, Louis muốn có hòa bình với Cộng hòa Hà Lan. Dù vậy, vẫn còn căng thẳng giữa hai nước: William vẫn nghi ngờ vua Pháp còn nuôi tham vọng về một vương quyền cho toàn thể châu Âu. Louis từng gọi William là "kẻ thâm thù", xem ông là kẻ hiếu chiến đáng tởm. Thêm vào đó là quyết định của Louis thu hồi Chiếu chỉ Nantes dấy lên làn sóng tị nạn của người Huguenot tràn vào Hà Lan. Đó là những lý do thúc đẩy William gia nhập các liên minh chống Pháp như Association League, rồi Liên minh Ausburg (gồm có Đế quốc La Mã Thần thánh, Thụy Điển, Tây Ban Nha, và một số lãnh địa Đức).
Sau khi kết hôn với Mary nhà Stuart, tên William được đưa vào danh sách kế vị trong trường hợp James, nhạc phụ và cũng là cậu của William, bị tước quyền kế vị vì là người Công giáo. Suốt trong lúc xảy ra cuộc khủng hoảng Exclusion Bill năm 1680, lúc đầu Charles mời William đến Anh nhằm củng cố vị thế của vương quyền, nhưng về sau đổi ý. William ngầm thuyết phục Quốc hội Hà Lan thỉnh nguyện vua Anh đừng trao quyền kế vị cho người Công giáo, dù không nhắc đến tên James. Sau những phản ứng giận dữ của Charles và James, William cắt đứt quan hệ với họ.
Năm 1685, James II lên kế vị Charles, William tìm cách hòa giải với James trong khi cố xoa dịu những người Kháng Cách ở Anh. William hi vọng James gia nhập Liên minh Ausburg, nhưng đến năm 1687 đã rõ ràng là James không muốn gia nhập liên minh chống Pháp. Mối quan hệ giữa hai người ngày càng xấu đi. Tháng 11, vợ của James tuyên bố có thai. Trong tháng đó, William gởi dân chúng Anh một bức thư mở chỉ trích chính sách tôn giáo của James. Vốn đã có mối quan hệ thân tình với William từ nhiều năm, đông đảo chính trị gia người Anh bắt đầu đàm phán với William để sắp xếp một cuộc chính biến.
== Cách mạng Vinh quang ==
=== Tiến vào nước Anh ===
Lúc đầu William chống đối kế hoạch, nhưng đến tháng 4 năm 1688, khi nhận thấy do phải đối đầu với Đức và Ý, nước Pháp không thể tấn công Hà Lan nếu William đem quân tiến vào Anh Quốc, ông khởi sự chiêu tập binh mã chuẩn bị cho một cuộc viễn chinh. Tin chắc rằng nhân dân Anh sẽ không phản ứng trước lực lượng ngoại xâm, William viết thư cho Đề đốc Arthur Herbert cho biết hầu hết những nhân vật quan trọng của cộng đồng Kháng Cách tại Anh mời ông đến. Tháng 6, vợ của James sinh con trai, James Francis Edward Stuart, người thế chỗ Mary Stuart, vợ của William, trong cương vị người đứng đầu danh sách kế vị. Trong khi đó, sự phẫn uất của dân chúng gia tăng khi bảy Giám mục phản đối chính sách tôn giáo của James bị truy tố.
Ngày 30 tháng 6 năm 1688 – ngày bảy Giám mục được tòa tha bổng – một nhóm chính trị gia, về sau được mệnh danh là "Bảy người Bất tử", gởi thư mời William đến Anh. Đến tháng 9 năm 1688, kế hoạch của William tiến vào Anh nhận được sự ủng hộ rộng rãi của công chúng. Ngày 5 tháng 11 năm 1688, với sự hộ tống của 11.000 bộ binh và 4.000 kỵ binh, từ chiến thuyền Brill, William đổ bộ xuống Brixham ở đông nam nước Anh với tuyên cáo:
Không còn ai theo James, các sĩ quan bỏ hàng ngũ – đặc biệt là Lord Churchill xứ Eyemouth, tư lệnh quân đội giỏi nhất của James, còn giới quý tộc trên khắp nước tuyên bố ủng hộ William. James cố chống trả William, nhưng khi nhận ra tình trạng tuyệt vọng của mình, ông sai sứ giả đến đàm phán với William, rồi bí mật đào thoát vào ngày 11 tháng 12. Các ngư phủ bắt giữ James và giải giao về Luân Đôn. Ngày 23 tháng 12, ông lại tìm cách đào thoát, lần này thành công.
=== Tôn vương ===
Năm 1689, William triệu tập Quốc hội để thảo luận nhằm tìm ra đối sách thích hợp với tình hình mới. William muốn có thực quyền chứ không đơn thuần là phu quân của nữ hoàng. Các nhà quý tộc thuộc khối Tory muốn tôn Mary làm nữ hoàng nhưng bà từ chối.
Ngày 13 tháng 1 năm 1689, Quốc hội thông qua đạo luật Declaration of Rights, còn gọi là Bill of Rights, tuyên bố ngai vàng bị bỏ trống. Vương miện không được trao cho James Francis Edward mà cho William và Mary.
Ngày 11 tháng 4 năm 1689, Giám mục Luân Đôn, Henry Compton cử hành lễ đăng quang cho William và Mary tại Tu viện Westminster. Thông thường, Tổng Giám mục Canterbury đảm nhận công việc này, nhưng tổng Giám mục đương chức, William Sancroft, không chịu công nhận quyết định phế truất James của Quốc hội. Ngày 11 tháng 5, Quốc hội Scotland tôn William cùng Mary làm vua. Và như vậy, William cũng là William II của Scotland.
=== Ổn định chính sự ===
Năm 1689, với sự thúc giục của William III, Đạo luật Khoan dung được thông qua, bảo đảm quyền tự do cho các tín hữu Kháng Cách ngoài quốc giáo, nhưng trái với sự mong đợi của William, vẫn còn hạn chế đối với tín hữu Công giáo Rôma và các tôn giáo khác.
Tháng 12 năm 1689 chứng kiến sự ra đời của một trong những văn kiện hiến pháp quan trọng nhất trong lịch sử Anh, Đạo luật Declaration of Rights, thường gọi là Bill of Rights. Đạo luật thiết lập những giới hạn đối với quyền lực hoàng gia như không được trì hoãn ban hành các đạo luật đã được Quốc hội thông qua, chỉ đánh thuế khi có sự đồng thuận của Quốc hội, không được vi phạm quyền kiến nghị, không được triệu tập quân đội trong thời bình nếu không có sự đồng thuận của Quốc hội, không được bác bỏ quyền trang bị vũ khí của các công dân Kháng Cách, không được can thiệp vào các cuộc bầu cử Quốc hội, không được trừng phạt các thành viên Quốc hội vì những điều họ phát biểu trong các cuộc tranh luận, không được đòi hỏi tiền bảo lãnh tại ngoại quá cao, không được áp dụng các biện pháp trừng phạt bất thường hoặc tàn bạo. William chống đối những điều khoản này, nhưng vì không muốn đối đầu với Quốc hội, cuối cùng nhà vua đã đồng ý chấp hành. Cùng Magna Carta (1215), và Parliament Acts (1911-1949), Bill of Rights được xem là một trong ba văn kiện chủ chốt cấu thành Hiến pháp bất thành văn của nước Anh.
Đạo luật cũng giải quyết vấn đề chọn người kế vị William và Mary. Nếu một người qua đời, người còn lại sẽ trị vì. Nhưng quyền kế vị sau cùng thuộc về em gái của Mary II, Công chúa Anne, và hậu duệ của bà. Cùng năm đó, đạo luật Toleration 1689 được thông qua, bảo vệ quyền lợi của cả người Kháng Cách biệt giáo lẫn người Công giáo.
== Đồng trị vì với Mary II ==
Mặc dù có được sự ủng hộ của đảng Whig trong Quốc hội, William cố duy trì thế quân bình giữa đảng Whig và đảng Tory. Hầu tước Halifax, nổi tiếng với khả năng hoạch định chính sách trung dung, được William tin cậy trong những năm đầu nhà vua trị vì. Đảng Whig chiếm đa số trong Quốc hội cũng muốn lập thế đa số trong chính phủ, tỏ ra thất vọng vì William không chịu dành cho họ cơ hội này. Tuy nhiên, "thế quân bình" trong chính phủ không thể tồn tại quá năm 1690, sự tranh chấp đảng phái trở nên quyết liệt, William phải cho tổ chức bầu cử sớm trong năm.
Sau cuộc bầu cử, William ngả về đảng Tory dưới quyền lãnh đạo của Danby và Nottingham. Mặc dù chủ trương duy trì quyền lực nhà vua, đảng Tory không đủ sức thuyết phục Quốc hội ủng hộ quyết định của William tiếp tục chiến tranh chống Pháp. William quay sang một nhóm thuộc đảng Whig gọi là Junto. Năm 1694, đồng thuận với chính phủ Whig, William cho phép thành lập Ngân hàng Anh, một định chế tài chính tư, do các nhà ngân hàng thành lập. Động thái này được xem là một trong những di sản quan trọng nhất của William để lại cho nền kinh tế của đất nước, thiết lập nền tảng cho giai đoạn chuyển tiếp khi nước Anh thay thế vai trò trung tâm của Cộng hòa Hà Lan và Ngân hàng Amsterdam trong giao thương toàn cầu thế kỷ 18.
Năm 1695, William giải tán Quốc hội, ngay trong năm Quốc hội mới được triệu tập với thế đa số thuộc về đảng Whig. Sau khi âm mưu ám sát nhà vua của nhóm Jacobite bị lộ, Quốc hội thông qua luật chống lại thủ lĩnh nhóm này, John Fenwick. Năm 1697, Fenwick bị xử chém.
=== Chiến tranh ở châu Âu ===
William thường xuyên vắng mặt tại triều đình vì phải ra trận trong cuộc chiến chống Pháp, từ mùa xuân đến mùa thu mỗi năm. Lúc ấy nước Anh gia nhập Liên minh Augsburg, còn gọi là Đại Liên minh. Trong khi William chinh chiến phương xa, vợ ông, Mary II, trị vì đất nước theo lời cố vấn của ông. Mỗi khi William trở về, Mary trao quyền lại cho chồng, và cứ như thế cho đến khi bà qua đời năm 1694.
=== Bình định trong nước ===
Dù phần lớn dân chúng ở Anh chấp nhận William, nhưng lại có sự chống đối đáng kể ở Scotland và Ireland. Phe Jacobite tại Scotland – họ tin rằng James VII mới là vua hợp pháp – giành được chiến thắng đáng kinh ngạc tại trận Killiecrankie, dù bị đánh bại chỉ trong vòng một tháng sau đó. Thanh danh của William bị tổn hại do cuộc thảm sát Glencoe xảy ra trong năm 1692, khi 78 người Scotland hoặc bị giết hoặc bị để cho chết vì không chịu tuyên thệ trung thành với vua và nữ hoàng. Trước áp lực của công luận, William tìm cách đổ trách nhiệm cho người khác, mặc dù những người này vẫn tiếp tục tại vị, theo lời của sử gia John Dalberg-Action, "một người là đại tá, người kia là hiệp sĩ, người thứ ba là một quý tộc, và người thứ tư là một bá tước."
Tại Ireland, với sự trợ giúp của người Pháp, phe phiến loạn đủ sức kéo dài cuộc tranh chấp, dù James II phải đào thoát khỏi đảo quốc sau chiến thắng của William ở trận sông Boyne năm 1690. Hằng năm, vào ngày 12 tháng 7, người dân Bắc Ireland và người Kháng Cách Scotland vẫn kỷ niệm sự kiện này. Sau khi thủy binh Anh - Hà Lan đánh tan nát thủy quân Pháp trong trận thủy chiến tại La Hogue vào năm 1692, liên quân có lúc làm chủ các bể, và Ireland được bình định với Hiệp định Limerick. Cùng lúc, phe Đại Liên minh bị suy yếu đáng kể khi William thất trận tại Namur ở Hà Lan thuộc Tây Ban Nha vào năm 1692, rồi bị đánh tan tác ở trận Landen năm 1693. Vào năm 1694, vua William III lại thân chinh xuất quân, đoạt lại được thành Huy. Năm sau tức là năm 1695, ông giành được thắng lợi ở Namur. Còn ở ngoài khơi, trước khó khăn về tài chính và quân Đồng minh vẫn liên tiếp đánh thắng thủy binh Pháp, Louis XIV phải cắt bớt chi tiêu cho chiến tranh trên bể.
=== Nghi vấn đồng tính luyến ái ===
Trong thập niên 1690, có những lời đồn đại về nghi vấn William III có thể là người đồng tính luyến ái, từ đó lan truyền những tờ rơi châm biếm nhắm vào nhà vua. William gần gũi với một vài cận thần người Hà Lan được ông ban cho tước vị ở Anh: Hans Willem Bentinck được phong Bá tước Portland, Arnold Joost van Keppel trở thành Bá tước Albemarle. Do không có nhân tình mà lại quan hệ thân thiết với các cận thần nam giới, kẻ thù của William cho rằng ông là người có khuynh hướng đồng tính. Cho đến nay vẫn còn bất đồng về tính chính xác của các cáo buộc này, một số người viết tiểu sử William khẳng quyết chúng chỉ là sự tưởng tượng của những người thù ghét ông, trong khi những người khác tin rằng vẫn có một ít sự thật trong đó.
Sự thân cận giữa Bentinck với vua William III khiến nhiều người ganh tị, nhưng các sử gia đương đại tin rằng khó có yếu tố đồng tính trong mối quan hệ này. Tuy nhiên, có những nghi vấn trong trường hợp của Keppel, một thanh niên rất thanh lịch nhỏ hơn William 20 tuổi, từ danh phận tiểu đồng trở thành bá tước. Năm 1697, Portland viết cho William III "những ưu ái Bệ hạ dành cho chàng trai trẻ… dấy lên những đồn đại mà Hạ thần cảm thấy xấu hổ khi nghe đến." Điều này, ông nói, "làm vấy bẩn thanh danh của Bệ hạ trước đây chưa hề bị đặt dưới những nghi vấn như thế." William III trả lời, "Đối với Trẫm, thật là bất thường và là một tội nếu không thể dành cho một người trẻ tuổi sự trọng vọng xứng đáng."
== Cuối đời ==
Năm 1694, Mary II mất vì bệnh đậu mùa, để lại William III trị vì một mình. Quốc vương William sầu khổ thương tiếc vợ. Và dù đã chấp nhận đức tin Anh giáo, uy tín của nhà vua giảm sút rõ rệt khi không có nữ hoàng bên cạnh.
=== Hòa bình với Pháp ===
Năm 1696, lãnh thổ Drenthe của Hà Lan công nhận William là Thống đốc. Cũng trong năm ấy, phe những người Jacobite, trong nỗ lực phục hồi vương quyền cho James, mưu sát William III nhưng bị bại lộ. Ngày 20 tháng 9 năm 1697, Hiệp ước Rijswijk được ký kết, kết thúc cuộc Chiến tranh Chín năm. Louis XIV công nhận William III là vua nước Anh và ngưng trợ giúp James II.
Giống như các vua chúa ở châu Âu, William III quan tâm đến việc kế vị ngai vàng Tây Ban Nha, ngoài Tây Ban Nha còn có các lãnh thổ rộng lớn ở Ý, Low Countries (gồm Hà Lan thuộc Nhà Burgundy, Hà Lan thuộc Pháp, Hà Lan thuộc Tây Ban Nha, và Hà Lan thuộc Áo), và Tân Thế giới. Do vua Tây Ban Nha, Carlos II, không có con nối ngôi, ngôi báu có thể thuộc về một trong những họ hàng gần nhất, trong đó có Louis XIV của Pháp), và Hoàng đế La Mã Thần thánh Leopold I. William III tìm cách ngăn cản không cho quyền kế vị rơi vào tay họ vì e sợ thế cân bằng quyền lực sẽ bị đảo lộn. Có sự đồng thuận giữa hai vua William III và Louis XIV về Hiệp ước Partition lần thứ nhất, chia cắt Đế quốc Tây Ban Nha: Công tước Joseph Ferdinand xứ Bavaria được Tây Ban Nha, trong khi vua Pháp và Hoàng đế La Mã Thần thánh chia phần với nhau những lãnh thổ nằm giữa hai nước này. Carlos II chấp nhận Joseph Ferdinand là người kế vị, nhờ vậy châu Âu tránh được nguy cơ bùng nổ chiến tranh.
Tuy nhiên, khi Joseph Ferdinand mất vì bệnh đậu mùa, vấn đề lại trở nên nóng bỏng. Năm 1700, William III và Louis XIV đồng ý với Hiệp ước Partition thứ nhì (còn gọi là Hiệp ước Luân Đôn), theo đó nước Ý sẽ vào tay con trai của Vua Pháp, còn những lãnh thổ khác của Tây Ban Nha sẽ thuộc về con trai Hoàng đế La Mã Thần thánh. Thỏa hiệp này gây căm phẫn trong vòng dân chúng Tây Ban Nha – vẫn tìm cách ngăn chặn sự tan rã của đế quốc – lẫn Hoàng đế La Mã Thần thánh, đối với ông các lãnh thổ của Ý có giá trị hơn nhiều so với những vùng đất khác. Hoàn toàn bất ngờ, cuối năm 1700 khi đang hấp hối, Vua Tây Ban Nha, Carlos II, quyết định để tất cả lãnh thổ Tây Ban Nha cho Philippe cháu của Louis XIV. Vua Pháp liền bỏ lơ Hiệp ước Partition thứ nhì để nhận phần đất từ Tây Ban Nha. Kế đó, Louis XIV còn có thái độ thù địch với William III khi chính thức công nhận James Francis Edward Stuart – con trai của cựu vương James II – làm vua nước Anh khi James II mất năm 1701. Cuộc tranh chấp giữa vua Anh và vua Pháp kéo dài đến năm 1713 trong Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha.
=== Kế vị ngôi vua nước Anh ===
Việc kế vị ở Tây Ban Nha không phải là mối bận tâm duy nhất của William. Hôn nhân với Mary II không cho ông đứa con nào, mà ông không có ý định tái hôn sau khi Mary qua đời. Em gái của Mary, Công chúa Anne (kế vị William III năm 1702 và là người cuối cùng của dòng họ Stuart), có nhiều con nhưng tất cả đều chết trẻ. Quốc hội thông qua Đạo luật Settlement 1701, quy định ngai vàng sẽ thuộc về Sophia nhà Hanover.
== Qua đời ==
Ngày 8 tháng 3 năm 1702, William qua đời vì bệnh viêm phổi, biến chứng từ chấn thương gãy xương đòn vì bị ngã khỏi lưng con ngựa Sorrel. Nhà vua được an táng bên cạnh vợ trong Tu viện Westminster.
Cái chết của William cũng là sự kết thúc của nhà Orange. Các thành viên dòng họ này từng nắm giữ chức vụ thống đốc tỉnh Holland và hầu hết các tỉnh khác thuộc Cộng hòa Hà Lan kể từ William the Silent (1533-1584). William là thống đốc của năm tỉnh: Holland, Zealand, Utrecht, Gelderland và Overijssel. Theo di chúc của William, Johan Willem Friso thừa kế lãnh địa Orange và vài vùng đất khác ở Hà Lan. Friso là hậu duệ của William the Silent. Trong khi đó, vua Friedrich I của Phổ cũng giành quyền thừa kế lãnh thổ trong tư cách hậu duệ về họ ngoại. Đến năm 1713, theo Hiệp ước Utrecht, con trai của Friedrich I là Friedrich Wilhelm I nhượng lãnh địa Orange cho vua Pháp Louis XIV. Sau Hiệp ước Phân chia (1732), con trai của Friso, William IV, chia sẻ tước hiệu "Hoàng thân xứ Orange" với vua Friedrich Wilhelm I.
== Di sản ==
Ông là người đã tái gầy dựng quân đội Hà Lan, giúp họ đủ sức chống trả cuộc xâm lăng của Louis XIV. Thành tựu lớn nhất của vua William III là kiềm chế Pháp khi nước này đang ở trong vị thế có thể áp đặt ý muốn của mình trên toàn châu Âu. Cả cuộc đời ông là một cuộc đối đầu dai dẳng với Louis XIV của Pháp. Ngay cả sau khi ông qua đời, nỗ lực này cũng được nối tiếp trong Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha. Một thành quả quan trọng khác của triều đại William III là chấm dứt sự tranh chấp cay đắng giữa Vương quyền và Quốc hội khởi phát từ thời James I (đăng quang năm 1603) - vị vua đầu tiên của Nhà Stuart. Sự tranh chấp quyền lực giữa vương quyền và quốc hội là nguyên nhân dẫn đến cuộc Nội chiến Anh trong thập niên 1640, và cuộc Cách mạng Vinh quang năm 1688. Tình trạng đối đầu này đã kết thúc trong thời trị vì của William III với sự ra đời của Đạo luật Declaration of Rights năm 1689, Triennal Act năm 1694, và Act of Settlement năm 1701, dành cho Quốc hội nhiều quyền lực hơn. Sự chấp nhận hạn chế Vương quyền của William III đã mở ra một cơ cấu chính trị tự do cho Anh Quốc, "đây sẽ là một kỳ công của thế kỷ 18." Các nhà sử học tự do chủ nghĩa thế kỷ 19 như Thomas Babington Macaulay, Nam tước Macaulay thứ nhất coi ông là vị vua vĩ đại nhất trong lịch sử Anh Quốc, với gốc gác Hà Lan được thể hiện qua chính sách tự do tôn giáo của ông.
Đến cuối thế kỷ 17, ông được coi là vượt trội hơn hẳn mọi chính khác châu Âu khác . Năm 1693, William thành lập Đại học William and Mary (nay tại Williamsburg, Virginia). Nassau, thủ đô Bahamas, được đặt tên để vinh danh ông vào năm 1695. Tương tự là Quận Nassau, New York. Long Island từng mang tên Nassau trong thời kỳ cai trị của người Hà Lan.
== Tước hiệu và huy hiệu ==
=== Tước hiệu ===
Từ năm 1672, William là "Thống đốc tỉnh Holland, Hoàng thân xứ Orange và Công tước xứ Nassau-Dillenburg". Khi trị vì Vương quốc Anh, William và Mary sử dụng danh hiệu "Đức Vua và Nữ hoàng Anh, Scotland, Pháp và Ireland; Người Bảo vệ Đức tin…". Ngoài ra, William III cũng mang danh hiệu "Vua nước Pháp" do các vị vua và nữ hoàng Anh truyền lại kể từ Edward III bất chấp việc họ không có chút quyền lực nào trên đất Pháp.
=== Huy hiệu ===
Huy hiệu của Vua và Nữ hoàng là: Quarterly, I and IV Grandquarterly, Azure three fleurs-de-lis Or (cho Pháp) and Gules three lions passant guardant in pale Or (cho Anh); II Or a lion rampant within a tressure flory-counter-flory Gules (cho Scotland); III Azure a harp Or stringed Argent (cho Ireland); overall an escutcheon Azure billetty and a lion rampant Or (cho Nassau).
== Trong văn hóa nghệ thuật ==
Trong điện ảnh, hình tượng vua William III của Anh từng được nhiều diễn viên thể hiện:
Bernard Lee trong The Black Tulip (Hoa tulip đen, 1937), dựa trên tiểu thuyết của Alexandre Dumas
Henry Daniell trong Captain Kidd (1945)
Olaf Hytten trong Against All Flags (1952)
Alan Rowe trong loạt phim kịch của BBC The First Churchills (1969)
Laurence Olivier trong Peter the Great ("Pyotr Đại đế") của NBC (1986)
Thom Hoffman trong Orlando (1992), dựa trên tiểu thuyết của Virginia Woolf
Corin Redgrave trong England, My England (1995), về nhà soạn nhạc Henry Purcell
Jochum ten Haaf trong Charles II: The Power & the Passion của BBC (2003)
Russell Pate trong King Billy Above All của BBC (2008)
The Baroque Cycle (sách nhiều tập) của Neal Stephenson về William of Orange.
== Gia phả ==
== Xem thêm ==
Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha
Louis XIV của Pháp
John Churchill Marlborough
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Baxter, Stephen B., William III and the Defense of European Liberty, 1650-1702 (1966) ASIN: B000OKZST4
Chapman, Hester W., Mary II: Queen of England (1953)
Churchill, Winston. A History of the English-Speaking Peoples: Age of Revolution. Weidenfeld & Nicolson, (2002). ISBN 0-304-36393-6
Claydon, Tony, William III: Profiles in Power (2002) ISBN 0-582-40523-8
Crompton, Louis, Homosexuality and Civilization. Harvard University Press (31-10-2006). ISBN 0-674-02233-5.
Davies, Norman, The Isles: A History (1999) ISBN 0-19-513442-7
Israel, Jonathan I., The Dutch Republic: Its Rise, Greatness, and Fall, 1477-1806 (1995) ISBN 0-19-820734-4
Mijers, Esther & Onnekink, David, eds., Redefining William III. The Impact of the King-Stadholder in International Context (Ashgate, 2007)
Meinel, Freidrich, Samuel Chappuzeau 1625-1701. Dissertation, University of Leipzig, (1908)
Miller, John, James II: A Study in Kingship (1991) ISBN 0-413-65290-4
Robb, Nesca, William of Orange (1962)
Troost, Wout, William III, The Stadholder-king: A Political Biography (2005) (translation by J.C. Grayson) ISBN 0-7546-5071-5
Van der Kiste, John, William and Mary (2003) ISBN 0-7509-3048-9
Van der Zee, Henri and Barbara, William and Mary (1973) ISBN 0-394-48092-9
Waller, Maureen, Sovereign Ladies: Sex, Sacrifice, and Power. The Six Reigning Queens of England. St. Martin's Press, New York (2006) ISBN 0-312-33801-5
== Liên kết ngoài ==
Correspondentie van Willem III en van Hans Willem Bentinck, eersten graaf van Portland
Official House of Orange website
"King Billy", BBC
House of Orange
Het Loo Palace |
đồng hồ đeo tay.txt | Đồng hồ đeo tay (hay còn gọi là đồng hồ cơ thể) hiện thời gian sử dụng các góc. Mặt đồng hồ có những con số từ 1 đến 12 và sử dụng kim để chỉ giờ và cả phút. Từ một số đến một con số kế cận là 5 phút (đối với kim phút), 1 giờ (đối với kim giờ) hay 5 giây (đối với kim giây). Đồng hồ đeo tay được mang trên tay.
== Lịch sử ra đời và phát triển ==
Đồng hồ treo tường đã bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ thứ 13 nhưng lịch sử của chiếc đồng hồ đeo tay lại chỉ mới bắt đầu cách đây 13 thập niên. Có lẽ người đầu tiên sở hữu đồng hồ đeo tay là nữ hoàng Elizabeth đệ nhất của Anh khi bà được tặng một chiếc vòng đeo tay mà trên đó được cột chặt một mặt đồng hồ nhỏ từ năm 1571. Tuy nhiên, phải đến năm 1880 đồng hồ đeo tay thực sự lần đầu tiên mới được hãng Girard-Perregaux của Thụy Sĩ sản xuất với số lượng nhiều, chủ yếu là cho lực lượng hải quân của Đức. Kể từ đó, đồng hồ đeo tay được sử dụng phổ biến trong quân đội và không ngừng được cải tiến.
Chiếc đồng hồ đeo tay có ngày tháng đầu tiên xuất hiện vào năm 1912 và sau đó là đồng hồ không vô nước vào 1915 để đáp ứng nhu cầu của quân đội trong thế chiến thứ nhất. Chính hình ảnh những chiếc xe bọc thép khiến cho hãng Louis Cartier nảy ra sáng kiến thiết kế loại đồng hồ không vô nước mang tên Xe tăng nổi tiếng. Đến 1932, đồng hồ lên dây bắt đầu bị “coi rẻ” với sự xuất hiện của loại lên dây tự động. Còn sự xuất hiện của chiếc đồng hồ điện tử đầu tiên, của Hamilton Ventura, vào năm 1957 thực sự là một bước đột phá lớn.
== Cấu tạo - Chế tác ==
Đồng hồ đeo tay được chế tạo gồm 2 phần chính là phần máy và dây đeo.
Phần máy gồm vỏ máy và ruột máy. Vỏ máy thường được đúc bằng nhựa cứng hoặc bằng kim loại, có thể phủ mạ kim loại quý. Vỏ máy có mặt bảo vệ phần hiển thị bằng kính, nhựa trong (mêca), hoặc đá saphia, Nắp đáy có thể rời hoặc liền, nếu rời có thể thiết gioăng cao su để ngăn nước vào ruột máy. Ruột máy được cấu tạo bằng các chi tiết cơ hoặc điện tử.
Dây đeo có thể là dây vải dày (ví dụ như vải bò), bằng da hoặc giả da, hoặc bằng các mắt kim loại. Dây đeo được thiết kế gồm có 2 đoạn được ghép / móc với nhau, hoặc là 1 đoạn liền có thiết kế co/giãn hoặc gấp khúc để nới rộng khi đeo vào.
== Phân loại ==
=== Theo cấu tạo ===
Tương tự đồng hồ nói chung, đồng hồ đeo tay được phân biệt như sau:
Đồng hồ cơ là loại đồng hồ sử dụng các chi tiết cơ, chuyền động bánh răng. Phần năng lượng dao động của đồng hồ thường là giây cót. Hành động tích trữ năng lượng để duy trì dao động cưỡng bức cho đồng hồ được gọi là "lên giây cót".
Đồng hồ điện tử, là loại đồng hồ sử dụng linh kiện điện tử, với "trái tim" là phần tử dao động thạch anh - được cấp năng lượng điện để duy trì hoạt động liên tục.
=== Theo cách hiển thị ===
Tương tự đồng hồ nói chung, đồng hồ đeo tay được phân biệt như sau:
Đồng hồ kim. Mặt hiển thị có từ 2-3 kim được chế tạo phân biệt theo kích thước chiều dài, chiều rộng (bề ngang thân kim) lần lượt hiển thị các thông số thời gian: Giờ - Phút - Giây. Kim Giờ thường là kim ngắn và rộng (to) ngang nhất. Kim Phút và kim Giây thường là kim dài, kim Giây thường có bề ngang rất nhỏ. Tuỳ theo thiết kế, kim Giây có thể không có. Các kim sử dụng kết nối truyền động bánh răng để quay quanh trục.
Đồng hồ hiển thị số, hay gọi rút gọn là đồng hồ số, là loại đồng hồ có mặt hiển thị là số, dạng GG:PP, trong đó GG là 2 ký tự số hiển thị Giờ, PP là 2 ký tự số hiển thị Phút. Ngoài ra có thể có hiển thị thêm các thông tin như Giây,... Đồng hồ số thường là đồng hồ điện tử, sử dụng LED 7 thanh để hiển thị.
=== Theo cách phân vạch đơn vị ===
Tương tự đồng hồ nói chung, đồng hồ đeo tay được phân biệt như sau:
Phân vạch chia, hiển thị là cái dấu vạch thẳng, ngắn; chia đều mặt đồng hồ như mặt thước.
Phân vạch số, thường được đánh dấu bằng các con số từ 1 đến 12, hoặc bằng ký tự số đếm La Mã từ I đến XII.
Các đồng hồ có thể được thiết kế kết hợp các dạng hiển thị. Một số loại đồng hồ thời trang, nhà thiết kế có thể bỏ đi các phân vạch của đồng hồ.
=== Theo cách cấp năng lượng - phần Nguồn ===
Đồng hồ đeo tay cần được cấp năng lượng thường xuyên để duy trì dao động, Nguồn năng lượng đó có thể là từ pin, từ sự giải phóng thế năng của lò xo bị nén khi lên giây cót, hoặc từ tấm năng lượng Mặt Trời hoặc từ sự chuyển hoá năng lượng từ vận động của cơ thể người sang co giãn của lò xo hoặc tích trữ vào nguồn pin.
=== Theo mục đích sử dụng ===
Đồng hồ thời trang, các đồng hồ này được thiết kế, chế tạo đặc biệt theo xu hướng thời trang, hoặc chất liệu làm vỏ, dây đeo, hoặc khảm - gắn kim cương, đá quý.
Đồng hồ chuyên dụng như Đồng hồ thể thao, đồng hồ máy tính, đồng hồ ABC,... Các loại đồng hồ này thường được thiết kế chống nước, kết hợp thêm các công cụ chức năng như hẹn giờ, đếm giây, máy tính bỏ túi, la bàn,...
=== Theo giới tính ===
Đồng hồ nam và Đồng hồ nữ là cách phân biệt cho đồng hồ đeo tay thời trang, khi đó loại đồng hồ được thiết kế cho nam giới và nữ giới. Đồng hồ cho giới nữ có xu hướng thiết kế phần mặt đồng hồ nhỏ hơn, dây đeo cũng nhỏ và mảnh hơn đồng hồ cho nam, kèm theo đó có thể là sự phân biệt, cách điệu về màu sắc.
Ngoài ra dựa vào cấu tạo, thiết kế, đồng hồ đeo tay còn nhiều cách phân loại khác.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Philadelphia Exhibition 1876 Report to the Federal High Council by Ed. Favre-Perret (1877)
American and Swiss Watchmaking in 1876 by Jacques David
The Watch Factories of America Past and Present by Henry G. Abbott (1888)
Watchmaking and the American System of Manufacturing (2009)
Federation of the Swiss Watch Industry FH
UK patent GB218487, Improvements relating to wrist watches, 1923 patent resulting from John Harwood's invention of a practical self-winding watch mechanism.
The Most Expensive Watches |
ngân hàng trung ương.txt | Ngân hàng trung ương (có khi gọi là ngân hàng dự trữ, hoặc cơ quan hữu trách về tiền tệ) là cơ quan đặc trách quản lý hệ thống tiền tệ của quốc gia/nhóm quốc gia/vùng lãnh thổ và chịu trách nhiệm thi hành chính sách tiền tệ. Mục đích hoạt động của ngân hàng trung ương là ổn định giá trị của tiền tệ, ổn định cung tiền, kiểm soát lãi suất, cứu các ngân hàng thương mại có nguy cơ đổ vỡ. Hầu hết các ngân hàng trung ương thuộc sở hữu của Nhà nước, nhưng vẫn có mức độ độc lập nhất định đối với Chính phủ.
== Sự ra đời của ngân hàng trung ương ==
Ngân hàng trung ương ra đời chính thức đầu tiên ở châu Âu, vào thế kỷ 17. Khi ấy, tiền mặt lưu hành vẫn chủ yếu dưới dạng vàng và bạc, tuy rằng, các tờ cam kết thanh toán (promises to pay) đã được sử dụng rộng rãi như là những biểu hiện của giá trị ở cả Châu Âu và Châu Á. Ngược lại 500 năm trước đấy, Tổ chức Hiệp sĩ dòng Đền (Knight Templar) thời Trung Cổ sử dụng một cơ chế có thể nói là hình mẫu đầu tiên của Ngân hàng trung ương. Các giấy tờ cam kết thanh toán của họ được chấp nhận rộng rãi, và nhiều người cho rằng các hoạt động này đặt nền tảng cơ bản cho hệ thống ngân hàng hiện đại. Cùng thời gian đó, Thành Cát Tư Hãn phát hành tiền giấy ở Trung Hoa, và áp đặt sử dụng loại tiền này bằng bạo lực nhằm thu giữ vàng bạc.
Ngân hàng trung ương đầu tiên là Ngân hàng Thụy Điển (Bank of Sweden) năm 1668 với sự giúp đỡ của các doanh nhân Hà Lan. Ngân hàng Anh (Bank of England) ra đời tiếp sau đó năm 1694 bởi doanh nhân người Scotland là William Paterson tại London theo yêu cầu của chính phủ Anh với mục đích tài trợ cuộc nội chiến lúc đó. Cục Dự trữ Liên bang của Mỹ được thành lập theo yêu cầu của Quốc hội tại đạo luật mang tên hai nghị sĩ đệ trình là Glass và Owen (Glass-Owen Bill). Tổng thống Woodrow Wilson ký đạo luật ngày 23 tháng 12 năm 1913.
Từ đầu thế kỷ XX, các ngân hàng trung ương đã hình thành tuy nhiên các ngân hàng này vẫn thuộc sở hữu tư nhân, sau cuộc khủng hoảng 1929-1933 thì mới trở thành ngân hàng sở hữu của nhà nước.
Ngân hàng Trung ương Trung Quốc (Tiếng Anh là People’s Bank of China – Ngân hàng Nhân dân Trung Hoa) bắt đầu các chức năng ngân hàng trung ương năm 1979 cùng với chính sách cải cách kinh tế. Vai trò ngân hàng trung ương của nó được đẩy mạnh năm 1989 khi đất nước này chuyển đổi sâu sắc hơn sang nền kinh tế hướng xuất khẩu. Tới năm 2000, Ngân hàng Trung ương Trung Quốc đã là một ngân hàng trung ương về mọi mặt, với cơ cấu và hoạt động có tham khảo Ngân hàng Trương ương châu Âu vốn là mô hình ngân hàng trung ương mới nhất, chi phối ngân hàng trung ương của các quốc gia thành viên mà vẫn để quyền quản lý kinh tế quốc gia cho các ngân hàng đó.
== Chức năng của ngân hàng trung ương ==
Ngân hàng trung ương liên quan đến ba chức năng cơ bản, đó là phát hành tiền tệ, ngân hàng của các tổ chức tín dụng, ngân hàng của Chính phủ, quản lý nhà nước về tiền tệ và hoạt động ngân hàng. Tuy nhiên, không phải ngân hàng trung ương nào cũng mang đầy đủ 3 chức năng này.
=== Phát hành tiền tệ ===
Ở phần lớn các nước, ngân hàng trung ương là cơ quan duy nhất có quyền phát hành tiền tệ. Ở một số nước khác, ngân hàng trung ương là cơ quan duy nhất phát hành tiền giấy, còn tiền kim loại với tư cách là tiền bổ trợ thì do Chính phủ phát hành. Cục Dự trữ Liên bang – ngân hàng trung ương của Hoa Kỳ – không có chức năng phát hành tiền, thay vào đó, Bộ Tài chính đảm nhiệm chức năng này. Cũng có thông tin cho rằng Chính phủ Mỹ không có quyền phát hành đồng Đô-la, mà là do Cục Dự trữ Liên bang phát hành. Nhưng hiện nay, đã có rất nhiều cuộc nghiên cứu, và họ đã phát hiện ra, thực chất Cục Dự trữ Liên bang Mỹ mới có quyền phát hành tiền tệ, Chính phủ Mỹ không có quyền này.
=== Ngân hàng của các ngân hàng ===
Ngân hàng trung ương thực hiện công việc tái chiết khấu các hối phiếu đối với các tổ chức tín dụng, cấp vốn thông qua cho vay đối với các tổ chức này (đồng thời qua đây kiểm soát lãi suất). (Xem thêm Chính sách lãi suất ngân hàng)
Ngân hàng trung ương còn mua và bán các giấy tờ có giá, qua đó điều tiết lượng vốn trên thị trường. (Xem thêm Nghiệp vụ thị trường mở)
Ngân hàng trung ương có quyền yêu cầu các ngân hàng thương mại mở tài khoản tại chỗ mình và các ngân hàng phải gửi vào tài khoản của họ 1 lượng tiền nhất định. Thông thường, lượng tiền này được quy định tương đương với 1 tỷ lệ nào đó tiền gửi vào ngân hàng thương mại, gọi là tỷ lệ dự trữ bắt buộc.
Trong trường hợp có tổ chức tín dụng gặp nguy cơ đổ vỡ làm ảnh hưởng đến cả hệ thống tài chính của quốc gia, ngân hàng trung ương sẽ tái cấp vốn cho tổ chức tín dụng đó để cứu nó. Vì thế, ngân hàng trung ương được gọi là người cho vay cuối cùng (hay người cho vay cứu cánh).
=== Ngân hàng của Chính phủ ===
Ở nhiều nước, ngân hàng trung ương là người quản lý tiền nong cho Chính phủ. Chính phủ sẽ mở tài khoản giao dịch không lãi suất tại ngân hàng trung ương. Tuy nhiên, ở một số nước, chẳng hạn như ở Việt Nam, chức năng này do kho bạc đảm nhiệm.
Ngân hàng trung ương còn làm đại diện cho Chính phủ khi can thiệp vào thị trường ngoại hối (xem Can thiệp tỷ giá).
== Tính độc lập của ngân hàng trung ương ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
== Xem thêm == |
robert guérin.txt | Robert Guérin (28 tháng 6 năm 1876 – 1952) là một nhà báo của tờ Le Matin Pháp. Ông là một trong những người sáng lập ra FIFA và là chủ tịch đầu tiên của tổ chức này. Vào ngày 22 tháng 5 năm 1904 khi mới 28 tuổi ông được bầu giữ chức Chủ tịch Liên đoàn bóng đá thế giới, ông giữ chức này đến năm 1906.
== Tham khảo == |
nhà kho.txt | Kho hay nhà kho, kho tàng, kho bãi (chữ Hán: Khố) là một tòa nhà được xây dựng trên một địa điểm đạt các điều kiện nhất định để sử dụng cho việc chứa và lưu trữ hàng hoá. Kho được xây dựng bằng các vật liệu như gỗ, đá (thời cổ) và kim loại (sắt, thép, tôn...) trong thời nay. Kho được sử dụng bởi các nhà sản xuất, nhập khẩu, xuất khẩu, buôn bán, vận chuyển, phân phối, các doanh nghiệp, hải quan, các cơ quan nhà nước cho đến các cá nhân vv. Hàng hóa lưu trữ có thể bao gồm bất kỳ nguyên liệu, vật liệu đóng gói, linh kiện, hoặc hàng hóa thành phẩm liên quan đến nông nghiệp, sản xuất, hoặc thương mại....
== Chức năng ==
- Gom hàng: Khi hàng hoá/nguyên liệu được nhập từ nhiều nguồn nhỏ, lẻ khácnhau thì kho đóng vai trò là điểm tập kết để hợp nhất thành lô hàng lớn, như vậy sẽ cóđược lợi thế nhờ quy mô khi tiếp tục vận chuyển tới nhà máy/thị trường bằng các phươngtiện đầy toa/xe/thuyền
- Phối hợp hàng hoá: Để đáp ứng tốt đơn hàng gồm nhiều mặt hàng đa dạng củakhách hàng, kho bãi có nhiệm vụ tách lô hàng lớn ra, phối hợp và ghép nhiều loại hànghoá khác nhau thành một đơn hàng hoàn chỉnh, đảm bảo hàng hoá sẵn sàng cho quá trình bán hàng. Sau đó từng đơn hàng sẽ được vận chuyển bằng các phương tiện nhỏ tới khách hàng
- Bảo quản và lưu giữ hàng hoá: Đảm bảo hàng hoá nguyên vẹn về số lượng, chấtlượng trong suốt quá trình tác nghiệp; tận dụng tối đa diện tích và dung tích kho; chămsóc giữ gìn hàng hoá trong kho
== Đặc điểm ==
Đối với các nhà kho có chức năng thương mại cung cấp dịch vụ lưu trữ và bảo quản hàng hóa, đồ vật thì thường là các tòa nhà lớn được xây dựng ở các vùng đất rộng rãi, bằng phẵng, có không gian thoán và một số kho tàng thường (nhất là các kho chứa hàng hóa công nghiệp, hóa chất...) được chọn xây dựng đồng bằng ở các thị xã, ngoại ô thành phố. Hệ thống kho bãi được xây dựng theo kiến trúc khép kín để bảo vệ hàng hóa tránh khỏi mất mát, hao hụt
Hệ thống kho bãi thường được kết nối liên hoàn với các cảng biển, sân bay, các đầu mối giao thông để việc lưu thông hàng hóa thuận tiện hơn đặc biệt là ở các bến cảng để tải và dỡ bỏ các hàng hoá từ xe tải. Đôi khi kho được thiết kế để bốc xếp hàng hoá trực tiếp từ nhà ga đường sắt, sân bay, cảng biển. Một số quy định của các nước bắt buộc kho phải đảm bảo các điều kiện về phòng cháy và chữa cháy.
Ngày nay hệ thống kho đông lạnh (hay kho làm lạnh) ngày càng được sử dụng phổ biến để bảo quản sản phẩm nông nghiệp trong một thời gian nhất định (thay đổi từ một vài ngày và có thể kéo dài lên đến vài tháng) ở nhiệt độ thấp lạnh lưu trữ giúp loại bỏ các yếu tố gây ôi thiu, hư hỏng của hàng hóa cũng như duy trì chất lượng của hàng hóa từ sản xuất nông nghiệp. Các sản phẩm ăn được thường không được lưu trữ cho nhiều hơn một năm. Một số kho lạnh lưu trữ dễ hư hỏng sản phẩm đòi hỏi nhiệt độ lưu trữ thấp nhất là -25 độ c.
== Quy trình lưu kho ==
Quá trình lưu kho chủ yếu bao gồm:
Nhận hàng
Kiểm tra/Chấp nhận và cho lưu
Lưu trữ, sắp xếp hàng hóa.
Xuất kho, Gửi/Giao hàng tận nơi
Quản lý tồn kho (Kiểm tra số hàng hóa tại kho so với chứng từ thực tế)
Việc quản lý kho có thể được thực hiện hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng hoặc hàng quý.
== Tham khảo ==
Salima Naji, Les entrepôts de la baraka: du grenier collectif à la zawya: réseaux du sacré et processus de patrimonialisation dans l'Atlas et Maroc présaharien, École des hautes études en sciences sociales, Paris, 2007, 2 vol., 781 p. (thèse de doctorat d'Anthropologie sociale et ethnologie)
Michel Roux, Entrepôts et magasins: tout ce qu'il faut savoir pour concevoir une unité de stockage, Eyrolles, Éditions d'Organisation, Paris, 2008, 427 p. ISBN 978-2-212-54032-1
Cassell giant paperback dictionary, 1994
Effectively Slotting a Warehouse or Distribution Center by By Paul Hansen and Kelvin Gibson. Cygnus Supply and Demand Chain Executive. Truy cập 2010-08-06.
The Story of the Bale. Manchester: Lloyd's Packing Warehouses Ltd, Princess Street, 1926 |
giải bóng đá vô địch quốc gia việt nam.txt | Giải bóng đá vô địch quốc gia, hay còn được gọi là V.League 1 (Tiếng Anh: Vietnamese National Football Champions League), là giải thi đấu bóng đá cao nhất trong hệ thống bóng đá Việt Nam. Giải do Liên đoàn bóng đá Việt Nam tổ chức từ năm 1980. Tính đến mùa giải năm 2015 đã có 32 giải được tổ chức (giải Tập huấn năm 1999 không được tính là giải vô địch quốc gia). Thể Công (tên gọi trước là Câu lạc bộ Quân đội) là đội đoạt chức vô địch nhiều lần nhất (5 lần).
Từ mùa bóng 2000-2001, giải mang cơ chế chuyên nghiệp và cho phép các cầu thủ nước ngoài tham gia thi đấu. Với sự ra đời của Công ty Cổ phần bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam (VPF) vào mùa giải 2012, giải đấu thuộc Các giải bóng đá chuyên nghiệp quốc gia và đổi tên thành Giải bóng đá Ngoại hạng (Super League). Tuy vậy trước sức ép từ VFF và tổng cục thể dục thể thao, sau 5 vòng đấu, giải đã quay trở lại tên gọi cũ. Mùa giải 2013, VPF thay đổi tên viết tắt của giải thành V.League 1 và V.League 2 đối với giải hạng nhất Giải đấu hiện đang được tài trợ bởi hãng xe hơi Toyota nên có tên gọi chính thức là Giải bóng đá vô địch quốc gia - Toyota.
== Lịch sử ==
Giải bóng đá vô địch quốc gia là sân chơi hạng cao nhất trong hệ thống thi đấu của bóng đá Việt Nam, giải do VFF tổ chức từ năm 1980, tính đến năm 2015 đã trải qua 32 mùa giải (năm 1988 không tổ chức thi đấu giải, còn năm 1999 chỉ có giải Tập huấn mùa Xuân và không được tính là giải bóng đá vô địch quốc gia).
Tuy nhiên, giải đấu đã liên tục có những sự thay đổi từ tên gọi cho đến số lượng các đội tham dự, cũng như thể thức thi đấu… Trong thập niên 80 của thế kỷ trước, giải đấu mang tên là giải bóng đá A1 toàn quốc.
Tiếp đó, giải được đổi tên thành giải đội mạnh toàn quốc kể từ năm 1990 và mang tên là giải hạng Nhất quốc gia trong giai đoạn 1996 - 2000. Từ mùa giải 2000-2001 đến 2011, bóng đá Việt Nam chuyển sang cơ chế chuyên nghiệp, giải vô địch quốc gia chính thức mang tên V-League với sự tham dự của các cầu thủ nước ngoài.
Với sự ra đời của VPF, từ năm 2012, giải được đổi tên thành giải bóng đá Ngoại hạng (Super League). Tuy nhiên, đến mùa giải 2013, giải lấy lại tên là giải VĐQG Việt Nam (V-League).
Như vậy cho đến thời điểm này, giải đã có tổng cộng 6 lần đổi tên, trung bình cứ 5 mùa giải lại đổi tên một lần. Không chỉ có vậy, giải đấu cũng đã 3 lần thay đổi về mặt thể thức thi đấu. Trong giai đoạn 1980-1995: Các đội bóng tham dự giải được chia vào các bảng theo khu vực địa lý.
Trong mỗi bảng các đội thi đấu vòng tròn 2 lượt tính điểm. Các đội nằm ở tốp đầu mỗi bảng sẽ tranh tài ở Vòng chung kết để tranh chức vô địch, còn các đội nằm ở tốp cuối mỗi bảng sẽ thi đấu Vòng chung kết ngược để chọn ra các đội xuống hạng.
Tại mùa giải năm 1996, 12 đội tham dự thi đấu vòng tròn 2 lượt. Sau khi kết thúc 2 lượt này, 6 đội đầu bảng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn đội vô địch, 6 đội cuối bảng cũng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn 2 đội xuống hạng Từ năm 1997 đến 2013 (trừ giải Tập huấn mùa Xuân năm 1999), các đội thi đấu vòng tròn 2 lượt tính điểm. Đội giành được nhiều điểm nhất sẽ giành chức vô địch.
Còn các đội đứng cuối bảng (1 hoặc 2 đội tùy năm) sẽ phải xuống hạng. Biến động lớn nhất chính là số lượng các đội tham dự giải. Trước khi bóng đá Việt Nam chuyển sang cơ chế chuyên nghiệp, con số này thay đổi gần như mỗi năm: Lúc thì 16,17, khi thì 18, 19, 20 đội, thậm chí có thời điểm còn tăng lên đến 27 đội (vào năm 1987) và 32 đội (vào năm 1989).
Kể cả khi V-League ra đời, con số này được co lại nhưng cũng không ổn định. Trong 2 mùa giải chuyên nghiệp đầu tiên (2000-2001 và 2001-2002), số lượng các đội bóng tham dự V-League đều là 10 đội. Bước sang mùa giải 2003, số lượng các đội bóng tranh tài ở sân chơi V-League tăng thành 12 đội.
Con số này giữ nguyên đến mùa giải 2005 trước khi tăng lên thành 13 đội ở mùa giải 2006 (lẽ ra đã là 14 đội nếu như Câu lạc bộ Ngân hàng Đông Á không mất quyền tham dự do dính vào vụ hối lộ trọng tài ở giải hạng Nhất 2005). Một năm sau, lần đầu tiên trong lịch sử V-League chứng kiến cuộc tranh tài của 14 đội bóng ở giải đấu hạng cao nhất của bóng đá Việt Nam.
Con số này được giữ nguyên trong vòng 6 năm, trước khi giảm xuống còn 12 đội ở V-League 2013 sau khi hàng loạt đội bóng bị giải thể hoặc chuyển giao. Theo dự kiến ban đầu, số lượng các đội bóng tham dự V-League 2014 sẽ quay trở lại con số 14.
Thế nhưng do Câu lạc bộ bóng đá KienLongBank Kiên Giang không đủ kinh phí để đăng ký tham dự giải nên con số này sẽ chỉ còn lại là 13.
== Thể thức thi đấu ==
Từ 1980 đến 1995: các đội chia thành các bảng theo khu vực địa lý. Trong mỗi bảng các đội thi đấu vòng tròn hai lượt tính điểm. Các đội ở tốp đầu lọt vào vòng chung kết để tranh chức vô địch, Các đội nằm ở tốp cuối mỗi bảng thi đấu vòng chung kết ngược để chọn đội xuống hạng.
Giải năm 1996, tất cả các đội (12 đội) thi đấu vòng tròn hai lượt. Sau khi kết thúc đợt 1, 6 đội đầu bảng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn đội vô địch, 6 đội cuối bảng cũng thi đấu vòng tròn một lượt để chọn 2 đội phải xuống hạng
Từ 1997 đến Mùa giải 2016 (trừ giải tập huấn mùa xuân năm 1999): các đội thi đấu vòng tròn hai lượt tính điểm. Đội nhiều điểm nhất là đội vô địch. Các đội cuối bảng (1 hoặc 2 đội tuỳ năm) phải xuống hạng.
== Cách thức tính điểm và xếp hạng ==
=== Cách thức tính điểm ===
Từ năm 1996 trở về trước hệ thống điểm là 2-1-0.
Từ năm 1997 trở đi hệ thống điểm là 3-1-0.
Riêng 2 mùa giải 1994 và 1995 nếu 2 đội hoà nhau sau 90 phút sẽ đá luân lưu 11m để chọn đội thắng.
=== Cách thức xếp hạng ===
Xếp chung cuộc theo thứ tự sau:
Điểm số các đội (theo thứ tự từ cao đến thấp)
Nếu có 2 hoặc nhiều đội bằng điểm nhau thì xếp theo thứ tự các chỉ số phụ được xét:
Kết quả đối đầu trực tiếp
Hiệu số bàn thắng bàn thua
Tổng số bàn thắng
== Bảng xếp hạng các đội qua các mùa giải ==
== Tổng số lần vô địch ==
== Thành tích các đội từ khi V-League được thành lập (năm 2000) ==
=== Số mùa giải tại V-League (từ khi thành lập năm 2000) ===
Tính đến mùa giải năm 2017:
== Các kỉ lục ==
=== Câu lạc bộ ===
Vô địch nhiều lần nhất: Thể Công, 5
Vô địch liên tiếp: Thể Công (1982, 1983), Sông Lam Nghệ An (2000, 2001), Hoàng Anh Gia Lai (2003, 2004), Gạch Đồng Tâm Long An (2005, 2006), Becamex Bình Dương (2007, 2008) (2014, 2015) - đều vô địch liên tiếp 2 lần.
Vô địch sớm nhất: Becamex Bình Dương (2007), trước 4 vòng đấu.
Giành nhiều điểm nhất trong một mùa giải: Becamex Bình Dương (2007), 55 điểm/26 trận.
Thắng nhiều trận nhất trong một mùa giải: Becamex Bình Dương (2007, 2015), 16/26 trận.
Đội vô địch có số bàn thua ít nhất: Becamex Bình Dương (2007), 22 bàn.
Nhiều trận thắng liên tiếp nhất trong một mùa giải: Hoàng Anh Gia Lai (2004), FLC Thanh Hóa (2014), Hải Phòng (2016), 7 trận.
Ghi 5 bàn nhanh nhất: Hoàng Anh Gia Lai (2016), 16 phút.
=== Cầu thủ ===
==== Từ khi V-League thành lập ====
Ghi nhiều bàn thắng nhất trong một mùa giải: Gaston Merlo (SHB Đà Nẵng), 23 bàn/26 trận, mùa giải 2016.
Cầu thủ đá phản lưới nhà nhiều nhất trong một mùa giải: Lê Đức Tuấn (FLC Thanh Hóa), 3 bàn/26 trận, mùa giải 2015.
Ghi nhiều bàn thắng nhất trong một trận: Nguyễn Đình Việt (Hoàng Anh Gia Lai), 5 bàn, trong trận gặp Hòa Phát Hà Nội, mùa giải 2007.
Cầu thủ trẻ nhất ra sân ở giải V-League: Nguyễn Công Thành sinh ngày 5 tháng 10 năm 1997 khi anh vào sân thay người ở phút 61 trong trận đấu ngày 10 tháng 1 năm 2015 trên sân vận động Cao Lãnh giữa Đồng Tháp và XSKT Cần Thơ. Cầu thủ đứng sau kỷ lục của Nguyễn Công Thành là Nguyễn Lam sinh ngày 26 tháng 12 năm 1997 vào sân ở phút 61 trong trận thua 4-0 của Hoàng Anh Gia Lai trước QNK Quảng Nam trên sân Tam Kỳ ngày 15 tháng 7 năm 2015.
==== Vua phá lưới ====
Kỉ lục
Nguyễn Văn Dũng và Gaston Merlo nắm giữ các kỉ lục là vua phá lưới nhiều lần nhất: 4 lần, với Nguyễn Văn Dũng là các năm 1984, 1985, 1986 và 1998 còn Gaston Merlo là các năm 2009, 2010, 2011 và 2016. Nguyễn Văn Dũng là vua phá lưới nhiều tuổi nhất (35 tuổi năm 1998); đoạt lại được danh hiệu vua phá lưới với khoảng thời gian cách xa nhất (12 năm, từ 1986 tới 1998); chia sẻ kỷ lục vua phá lưới 3 năm liên tiếp (1984–86) với Gaston Merlo (Argentina) (2009–11).
Nguyễn Hồng Sơn là vua phá lưới trẻ nhất (20 tuổi năm 1990).
Hoàng Vũ Samson (Samson Kayode) là chân sút số 1 V-League mọi thời đại với 130 bàn (kỷ lục được lập vào ngày 23/3/2017).
Nguyễn Công Long là vua phá lưới với tỉ lệ cao nhất (1,2 bàn / trận, 12 bàn / 10 trận mùa bóng 1993 - 94). Tuy nhiên nếu xét tới số trận đấu thì các cầu thủ như Nguyễn Cao Cường (22 bàn / 23 trận, 1982–83), Lê Huỳnh Đức (25 bàn / 27 trận, 1996) và Kesley Alves (21 bàn / 22 trận, 2005) mới là thành tích đáng kể.
Kể từ khi các cầu thủ nước ngoài được thi đấu ở Giải bóng đá vô địch quốc gia Việt Nam (2003), vua phá lưới đều là cầu thủ nước ngoài. Almeida (Brasil) là cầu thủ nước ngoài đầu tiên bảo vệ được danh hiệu vua phá lưới.
Về câu lạc bộ, đội bóng Nam Định (trước là Sở Công nghiệp Hà Nam Ninh) và SHB Đà Nẵng (trước là Quảng Nam-Đà Nẵng) dẫn đầu với 6 danh hiệu vua phá lưới (trong đó có 4 của Nguyễn Văn Dũng và 3 của Gaston Merlo).
=== Trận đấu ===
Trận đấu có tổng số bàn thắng nhiều nhất: Vòng 22 giải bóng đá vô địch quốc gia 1996, CA Tp.Hồ Chí Minh (9-4) Câu lạc bộ bóng đá Huế.
== Hệ thống thi đấu hiện tại ==
== Các nhà tài trợ ==
Trong lịch sử V-League đã trải qua khá nhiều nhà tài trợ khác nhau và ít nhiều đều để lại những dấu ấn. Có thể kể ra những cái tên đáng chú ý nhất như Strata, Sting, Kinh Đô, Petro Vietnam Gas hay Eximbank…
Kể từ mùa giải 2000-2001, giải vô địch quốc gia V-League được gắn với tên và logo của nhà tài trợ chính và mở đầu là Công ty Tiếp thị thể thao Strata. Phía Strata đề nghị mua tên giải V-League không có ngực áo, cộng 12 biển quảng cáo trên sân với giá khoảng 400.000 USD và cả Cup quốc gia với giá 100.000 USD. Dù vậy sau hai mùa giải, Strata cũng không còn mặn mà với V-League và rút lui.
Sau Strata, V-League 2002-2003 có tên là Sting V-League. Công ty nước giải khát Pepsi tài trợ tên giải và Công ty Cổ phần Kinh Đô là nhà tài trợ chính thức. "Sting" là tên gọi một sản phẩm mới của Pepsi, sắp được tung ra thị trường Việt Nam trong thời gian đó. Dù vậy mùa giải này tiền thưởng cũng bị cắt giảm khi đội vô địch chỉ nhận được khoản tiền thưởng chỉ bằng một nửa mùa trước là 500 triệu đồng. Cái tên Sting V-League cũng chỉ tồn tại sau một mùa giải và tới mùa giải 2003-2004, Kinh Đô V-League xuất hiện. Giá trị hợp đồng tài trợ mới không được tiết lộ. Nhưng theo một số nguồn tin, Liên đoàn bóng đá Việt Nam sẽ nhận được khoảng 9 tỷ đồng từ Kinh Đô trong mùa giải này. Dù vậy lời hứa từ Kinh Đô sẽ độc quyền tài trợ cho V-League trong 3 mùa không trở thành hiện thực khi ở những mùa giải tiếp theo, V-League gắn với cái tên Number One V-League và Eurowindow V-League.
Sự xuất hiện của tổng Công ty khí thuộc tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam đã giúp V-League có khoảng thời gian dài nhất gắn với tên nhà tài trợ. Tên giải đấu Petro Vietnam Gas V-League kéo dài 4 mùa giải và giúp cho giải đấu có nguồn tài chính ổn định. Đó cũng là một dấu ấn tốt đẹp trước khi Petro Vietnam Gas không còn xuất hiện và được thay thế bằng Eximbank. Từ trước tới nay, Eximbank được coi là đơn vị tài trợ chi nhiều nhất cho V-League. Đến mùa giải 2014, số tiền mà Eximbank tài trợ cho một mùa bóng của V-League đã lên tới hơn 40 tỷ đồng. Tuy nhiên, trường hợp của Eximbank cũng được coi là ngoại lệ bởi gói tài trợ của đơn vị này được sự hậu thuẫn khá nhiều từ Chủ tịch Liên đoàn bóng đá Việt Nam Lê Hùng Dũng, người cũng là Chủ tịch Hội đồng quản trị Eximbank và là Phó Chủ tịch Hội đồng quản trị VPF. Mùa giải 2015, nhà tài trợ chính thức hiện tại cho giải đấu là Toyota.
Danh sách các nhà trài trợ
2000–02: Strata Sport Marketing (Strata V-League)
2003: PepsiCo (Sting V-League)
2004: Kinh Đô (Kinh Đô V-League)
2005: Tan Hiep Phat (Number One V-League)
2006: Eurowindow (Eurowindow V-League)
2007–10: Petro Vietnam Gas (Petro Vietnam Gas V-League)
2011–14: Eximbank (Eximbank V.League 1)[nb 1]
2015–: Toyota (Toyota V.League 1)
== Biểu trưng và các nhà tài trợ ==
== Các cầu thủ nổi tiếng ==
Giải bóng đá vô địch Quốc gia Việt Nam từng đón nhận nhiều cầu thủ nổi tiếng từ cấp độ thế giới cho đến khu vực Đông Nam Á tham gia thi đấu, một số cầu thủ có thể kể đến như:
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Lịch sử bóng đá Việt Nam
Giải bóng đá Cúp Quốc gia
Siêu cúp bóng đá Việt Nam
Giải bóng đá hạng Nhì Quốc gia
Giải bóng đá hạng Ba Quốc gia
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Việt)
Liên đoàn bóng đá Việt Nam
Giải Hạng nhất Quốc gia - Liên đoàn bóng đá Việt Nam
Giải bóng đá Hạng nhất Quốc gia - Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam
Giải bóng đá Cúp Quốc gia - Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam
Siêu Cúp quốc gia - Liên đoàn bóng đá Việt Nam |
kibō.txt | Kibō (Hy vọng) là tên một phòng thí nghiệm của Nhật Bản và là một thành phần của trạm không gian quốc tế ISS. Tên đầy đủ của phòng thí nghiệm này là Module thí nghiệm Nhật Bản (Japanese Experiment Module JEM).
== Các bộ phận ==
KIBO là một hệ thống phức tạp có thể thực hiện nhiều chức năng khác nhau. Một cách tổng quát, các bộ phận của KIBO gồm có: Module điều áp (Pressurized Module PM), tiện ích bên ngoài (Exposed Facility EF), Module hậu cần thực nghiệm - phần điều áp (Experiment Logistics Module - Pressurized Section ELM-PS), Module hậu cần thực nghiệm - phần bên ngoài (Experiment Logistics Module - Exposed Section ELM-ES) và một hệ thống tay máy điều khiển từ xa (Japanese Experiment Module Remote Manipulator System JEMRMS)
=== PM ===
PM có kích cỡ tương tự như một xe du lịch cỡ lớn, là module điều áp lớn nhất trên ISS. Nó có thể chứa được tối đa 23 giá (rack). PM được ghép vào mạn trái của module Harmony. Nó có một CBM (Common Berthing Mechanism - Cơ cấu ghép nối chung) chủ động ở phía trên làm chỗ để ghép ELM-PS, một cơ cấu ghép nối để nối với EF. Nó cũng có một nút không khí (airlock) để vận chuyển giữa bên trong PM và EF bên ngoài.
=== EF ===
EF cung cấp một cơ sở đa chức năng trong đó các trọng tải thí nghiệm và hệ thống có thể được triển khai và hoạt động trong môi trường chân không của không gian. Các trọng tải được gắn lên EF nhờ vào hệ thống JEMRMS. EF được gắn với PM và có một chỗ để ghép với ELM-ES.
=== ELM-PS ===
Được gắn vào PM. Nó đóng vai trò như là gian tích trữ điều áp cho KIBO. Các dụng cụ bảo trì, mẫu thí nghiệm và các món đồ dự trữ khác đều được chứa bên trong bộ phận này. Nó có thể tích bé hơn so với PM và có thể chứa được 8 giá.
=== ELM-EF ===
Được gắn vào bên ngoài EF, ELM-ES cung cấp không gian tích trữ cho các trọng tải và vật mẫu thí nghiệm của EF. ELM-ES có thể chứa tối đa 3 trọng tải thí nghiệm.
=== JEMRMS ===
Đây là một hệ thống cánh tay robot được thiết kế để hỗ trợ và thực hiện các thao tác thí nghiệm cũng như các công việc bảo trì cho phần tiện ích bên ngoài (EF) của KIBO. Nó bao gồm 2 cánh tay, một cánh tay chính dài 10 m dùng để mang các đồ vật lớn và một cánh tay nhỏ dài 2 m dùng cho các đồ vật nhỏ và cần thao tác chính xác hơn. Cả 2 cánh tay đều có 6 khớp nối độc lập tạo ra sự vận động rất uyển chuyển, giống như cánh tay người. Cả hai cánh tay này đều có trang bị camera giúp các phi hành gia dễ dàng hơn khi điều khiển cánh tay từ bên trong trạm. Trạm điều khiển của hệ thống này gọi là bảng điều khiển JEMRMS là một giá riêng bên trong PM của KIBO. Các cánh tay robot này giúp các phi hành gia vận chuyển các đồ vật bên ngoài giữa EF và ELM-ES.
== Lắp ghép vào trạm ISS ==
Do khối lượng và kích thước quá lớn, toàn bộ phòng thí nghiệm KIBO không thể được phóng lên trong một sứ mệnh tàu con thoi mà phải qua ba sứ mệnh con thoi khác nhau. Phần đầu tiên của phòng thí nghiệm được đưa lên quỹ đạo là ELM-PS trong sứ mệnh xây dựng trạm 1J/A hay STS-123 của tàu Endeavour vào tháng 3 năm 2008. Nó được ghép vào một vị trí tạm thời ở phía trên module Harmony. Module điều áp chính PM và hệ thống cánh tay robot JEMRMS được mang lên trạm vào tháng 6 năm 2008 trong sứ mệnh 1J STS-124 của tàu con thoi Discovery. Trong sứ mệnh này, PM được ghép vào phía bên trái của Harmony với JEMRMS được gắn vào phía bên ngoài của PM. Cũng trong sứ mệnh này ELM-PS được chuyển từ vị trí tạm thời ở phía trên Harmony tới vị trí chính thức ở phía trên PM. Các bộ phận còn lại của phòng thí nghiệm là EF và ELM-ES sẽ được đưa lên trạm trong sứ mệnh xây dựng trạm 2J/A STS-127 của tàu con thoi Endeavour dự kiến sẽ diễn ra vào tháng 6 năm 2009.
== Trung tâm điều khiển sứ mệnh KIBO ==
Hoạt động của KIBO được giám sát và điều khiển từ trung tâm xúc tiến và tích hợp trạm không gian (Space Station Integration and Promotion Center) thuộc trung tâm không gian Tsukuba của JAXA tại Tsukuba, Nhật Bản và trung tâm điều khiển sứ mệnh thuộc trung tâm không gian Johnson của NASA ở Houston, Hoa Kỳ. Một đội điều khiển bay của JAXA gồm các nhân viên chỉ huy chuyến bay và 50 nhân viên điều khiển bay sẽ đảm trách 10 lĩnh vực kỹ thuật khác nhau giúp KIBO hoạt động ổn định.
== Xem thêm ==
ISS
JAXA
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Japanese Experiment Module tại Wikimedia Commons
STS-123 Presskit
STS-124 Presskit |
bùi quang huy.txt | Bùi Quang Huy (sinh ngày 24 tháng 7 năm 1982 tại Thái Thuỵ, Thái Bình) là một cựu cầu thủ bóng đá người Việt Nam hiện đã giải nghệ.
== Sự nghiệp ==
=== Câu lạc bộ ===
Quang Huy đến với bóng đá khá muộn và hầu như không qua lớp đào tạo chính quy nào. Đến năm 1998 (năm anh lớp 11), Quang Huy mới đến với bóng đá chuyên nghiệp sau khi gia nhập đội trẻ câu lạc bộ bóng đá Nam Định. Tuy nhiên, với lợi thế thể hình cao cùng những kĩ năng được rèn rũa từ khi còn đá ở quê đã giúp anh nhanh chóng có vị trí trong đội hình chính thức chỉ vài tháng sau đó. Quang Huy là một trong số những cầu thủ đầy tài năng thuộc lứa sinh năm 1980 của Nam Định. Năm 2005, sau khi cùng đội U-23 Việt Nam tham dự Tiger Cup 2004, Huy được trao chiếc băng đội trưởng Câu lạc bộ bóng đá Nam Định, dẫn dắt các cầu thủ thuộc thế hệ kế tiếp trụ lại ở V-League trong 5 mùa giải sau đó. Quang Huy ký hợp đồng có thời hạn 3 năm cùng mức lương 30 triệu đồng một tháng với Vicem Hải Phòng vào giai đoạn trước mùa giải 2009-2010. Cuối năm 2011, Quang Huy chính thức có tên trong danh sách cầu thủ Câu lạc bộ bóng đá Ninh Bình.
=== Đội tuyển quốc gia ===
Quang Huy lần đầu được gọi vào đội U-23 Việt Nam để chuẩn bị cho Tiger Cup 2004. Ở giải đấu này, anh bắt dự bị cho thủ môn Nguyễn Thế Anh. Sau đó, anh được triệu tập vào Việt Nam để chuẩn bị cho Cúp bóng đá châu Á 2007 và AFF Suzuki Cup 2008, nhưng ở cả 2 giải đấu này anh cũng chỉ là dự bị cho thủ môn Dương Hồng Sơn.
== Tham khảo ==
== Thành tích ==
Với đội tuyển Việt Nam
Vô địch AFF Suzuki Cup 2008
Hạng ba giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2007
Với Nam Định
Á quân Việt Nam 2004, hạng ba 2003
Vô địch Cúp bóng đá Việt Nam 2007
Với Xi măng Hải Phòng
Á quân Việt Nam 2010
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
tuổi thọ trung bình.txt | Tuổi thọ trung bình hay kỳ vọng sống (tiếng Anh: Life expectancy) là số năm dự kiến còn lại của cuộc đời ở một độ tuổi nhất định. Nó được ký hiệu là ex, nghĩa là số trung bình các năm tiếp theo của cuộc đời cho một người ở độ tuổi x nào đó, tính theo một tỉ lệ tử cụ thể. Tuổi thọ trung bình phụ thuộc vào các tiêu chuẩn được sử dụng để chọn các nhóm. Tuổi thọ trung bình thường được tính riêng cho nam và nữ. Nữ giới thường sống lâu hơn nam giới ở hầu hết các quốc gia có hệ thống y tế sản khoa tốt.
== Con người ==
Tuổi thọ trung bình của con người tại Swaziland là 45,5 năm và tại Nhật Bản là 81 năm (ước lượng 2008). Cho dù tuổi thọ trung bình được ghi nhận tại Nhật có thể tăng thêm một chút do số tử vong ở trẻ sơ sinh được tính là chết non. Người sống lâu nhất được ghi nhận là 122 tuổi (xem Jeanne Calment).
Theo báo cáo thống kê bảo vệ sức khoẻ thế giới năm 2010 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tuổi thọ trung bình của thế giới hiện là 71 tuổi, tương đương mức của năm 2009.
== Sự dao động về tuổi thọ trung bình theo thời gian ==
Tuổi thọ trung bình của Hoa Kỳ giai đoạn thuộc địa là dưới 25 năm ở Virginia và ở New England 40% trẻ em chưa đạt đến tuổi trường thành. Trong thời kỳ Cách mạng Công nghiệp, độ tuổi trung bình của trẻ em tăng lên đáng kể. Số trẻ em sinh ra ở London chết trước 5 tuổi giảm xuống từ 74.5% giai đoạn 1730-1749 xuống còn 31.8% giai đoạn 1810-1829.
Các phương pháp y tế cộng đồng được cho là có đóng góp cho sự gia tăng về tuổi thọ trung bình. Trong thế kỷ 20, độ tuổi trung bình của Hoa Kỳ đã tăng thêm hơn 30 năm, trong đó 25 năm gia tăng về độ tuổi là nhờ sự phát triển của y tế cộng đồng.
== Sự khác biệt về vùng miền ==
Các vùng trên thế giới có sự khác biệt lớn về tuổi thọ trung bình, phần lớn nguyên nhân là do hệ thống chăm sóc sức khỏe, y tế cộng đồng và chế độ ăn uống. Tỉ lệ tử vong cao ở các quốc gia nghèo phần lớn là do chiến tranh, nghèo đói và bệnh tật (AIDS, sốt rét..). Trong vòng 200 năm qua, các quốc gia có dân số là người da đen thường không có sự tiến bộ về tỉ lệ tử như tại các quốc gia có nguồn gốc dân châu Âu. Thậm chí tại các quốc gia với đa số dân da trắng, như Mỹ, Anh, Ireland, Pháp, thì người da đen cũng thường có tuổi thọ trung bình thấp hơn người da trắng. Ví dụ, tại Mỹ, người da trắng có tuổi thọ trung bình là 78, thì người da đen chỉ có tuổi thọ trung bình là 71. Thời tiết cũng có thể có tác động và cách thức thu thập dữ liệu cũng ảnh hưởng tới các con số. Theo Dữ kiện thế giới của CIA, vùng hành chính đặc biệt của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là Ma Cao có tuổi thọ trung bình 84,4 năm, cao nhất thế giới. Theo WHO năm 2010 Nhật Bản và Cộng hòa San Marino là hai quốc gia có tuổi thọ trung bình của người dân cao nhất thế giới - 83 tuổi.
Giữa nam và nữ có sự khác biệt lớn về tuổi thọ ở hầu hết các quốc gia, phụ nữ thường sống lâu hơn nam giới trung bình khoảng 5 năm. Các hoàn cảnh về kinh tế cũng tác động lên tuổi thọ trung bình. Ví dụ, tại Anh Quốc, tuổi thọ trung bình ở khu vực giàu nhất thường cao hơn vài năm so với những vùng nghèo nhất. Điều này phản ánh các yếu tố như chế độ ăn uống và lối sống cũng như sự tiếp cận với chăm sóc y tế thấp.
== Sự khác biệt về giới ==
Phụ nữ có xu hướng có tỉ lệ tử vong thấp hơn ở mọi lứa tuổi. Trong bụng mẹ, thai nhi nam có tỉ lệ tử vong cao hơn (trẻ được thụ thai ở tỉ lệ là 124 nam so với 100 nữ, nhưng tỉ lệ sống sót đến khi chào đời chỉ là 105 nam so với 100 nữ). Trong số những trẻ sinh non có trọng lượng nhỏ nhất (những người dưới 900 g) nữ cũng vẫn có một tỷ lệ sống sót cao hơn. Ở một thái cực khác, có đến 90% những người sống đến 110 tuổi là nữ giới.
Tuổi thọ trung bình của nữ cao hơn nhiều so với nam. Nguyên nhân cho điều này chưa được lý giải chắc chắn. Các tranh luận trong quá khứ thường nêu ra các yếu tố xã hội môi trường: nam thường sử dụng nhiều rượu, thuốc lá, chất gây nghiện hơn nữ ở các xã hội và thường tử vong vì các bệnh liên quan như ung thư phổi, lao, xơ gan. Nam giới cũng thường tử vong cao hơn nữ do các chấn thương, dù là vô ý (tai nạn giao thông) hay cố ý (tự tử, bạo lực, chiến tranh) hơn nữ giới. Nam giới thường có nguy cơ tử vong từ các nguyên nhân chủ yếu nêu trên cao hơn nữ. Ở Mỹ, tỉ lệ tử vong của nam vì ung thư đường hô hấp, tai nạn giao thông, tự tử, sơ gan, phù thũng, các bệnh tim mạch cao hơn nhiều so với tỉ lệ tử vong của nữ từ các bệnh như ung thư vú hay ung thư cổ tử cung.
Một vài tranh luận lại cho rằng tuổi thọ trung bình thấp hơn của nam là biểu hiện của quy luật chung, được thấy ở các loài động vật có vú, là các cá thể lớn hơn thường độ tuổi trung bình thấp hơn. Sự khác biệt về sinh học thì giải thích rằng phụ nữ có khả năng miễn dịch tốt hơn với các bệnh về lây nhiễm hay thoái hóa.
Theo báo cáo thống kê bảo vệ sức khoẻ thế giới năm 2010 của Tổ chức Y tế Thế giới, nữ giới Nhật Bản có tuổi thọ trung bình cao nhất thế giới với 86 tuổi, vị trí thứ hai thuộc về phụ nữ các nước Pháp, Andorra và Monaco với tuổi thọ trung bình là 85 tuổi.
== Chú thích ==
== Liên kết ==
Calculate your life expectancy online (based on the Austrian generation and annuity valuation life tables)
Rank Order - Life expectancy at birth from the CIA's World Factbook.
CDC year-by-year life expectancy figures for USA from the USA Centers for Disease Controls and Prevention, National Center for Health Statistics.
Life expectancy in Roman times from the University of Texas.
Database of life expectancy from multiple countries from The human Mortality Database.
Animal lifespans: Animal Lifespans from Tesarta Online (Internet Archive); The Life Span of Animals from Dr Bob's All Creatures Site.
Life expectancy among the countries in the European Union (2007)
Scientists Have Found the Gene That Decides How Long We Live
Hans Rosling presents animated data showing global life expectancy from 1820-2020 (video) from TED Conference
Information on life expectancy |
maranta.txt | Maranta là một chi thực vật có hoa trong họ Marantaceae.
== Danh sách loài ==
Maranta amazonica
Maranta amplifolia
Maranta anderssoniana
Maranta arundinacea
Maranta bracteosa
Maranta burchellii
Maranta cordata
Maranta coriacea
Maranta cristata
Maranta cyclophylla
Maranta depressa
Maranta foliosa
Maranta friedrichsthallana
Maranta furcata
Maranta gibba
Maranta hatschbachiana
Maranta humilis
Maranta incrassata
Maranta leuconeura
Maranta lietzei
Maranta lindmanii
Maranta linearis
Maranta longiflora
Maranta longipes
Maranta longiscapa
Maranta noctiflora
Maranta parvifolia
Maranta phrynioides
Maranta pleiostachys
Maranta pluriflora
Maranta pohliana
Maranta protracta
Maranta pulchra
Maranta purpurea
Maranta pycnostachys
Maranta ruiziana
Maranta rupicola
Maranta sobolifera
Maranta subterranea
Maranta tuberculata
Maranta zingiberina
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Maranta tại Wikimedia Commons
Dữ liệu liên quan tới Maranta tại Wikispecies |
nguyễn minh châu (cầu thủ bóng đá).txt | Nguyễn Minh Châu (sinh ngày 9 tháng 1 năm 1985 tại Quảng Yên, Quảng Ninh) là một cầu thủ bóng đá Việt Nam. Anh đang thi đấu cho câu lạc bộ bóng đá Xi măng Hải Phòng và là thành viên của đội tuyển Việt Nam. Vị trí của Nguyễn Minh Châu ở CLB Xi măng Hải Phòng và đội tuyển Quốc gia Việt Nam đều là tiền vệ trụ. Nguyễn Minh Châu được xem như cầu thủ có thể lực tốt nhất tuyển Việt Nam với những pha càn quét giữa sân.
== Cuộc đời ==
Nguyễn Minh Châu sinh trưởng trong một gia đình có 7 chị em. Anh là út, ở trên là 6 chị gái. Nhà của tiền vệ này ở ngay gần sông (Quảng Yên, Quảng Ninh) nên từ nhỏ, Châu đã bơi rất giỏi và ham mê các môn thể thao. Lớn lên một chút, Châu thể hiện tình yêu của mình với trái bóng tròn. Tốt nghiệp lớp 12, Châu rời quê lên Hải Phòng và tập ở đội trẻ U21.
== Sự nghiệp ==
Năm 17 tuổi, Nguyễn Minh Châu rời Quảng Ninh sang Hải Phòng tham gia đội trẻ của câu lạc bộ bóng đá Xi măng Hải Phòng. Sau đó Châu lên đội 1 Xi măng Hải Phòng và tham dự giải vô địch bóng đá Việt Nam. Năm 2008, ông Henrique Calisto gọi Châu vào đội tuyển Việt Nam chuẩn bị cho Cúp AFF 2008. Tại giải đấu này, Châu thi đấu thành công, góp phần cùng đội tuyển Việt Nam đoạt chức vô địch.
Năm 2009, Nguyễn Minh Châu vẫn gắn bó với Xi Măng Hải Phòng và trở thành trụ cột của tuyển quốc gia Việt Nam. Vị trí của anh trên sân là đặc biệt quan trọng trong sơ đồ chiến thuật của huấn luyện viên Calisto. Châu chơi thấp nhất trong hàng tiền vệ để giúp các đồng đội phòng thủ, bao vây tốt nhất có thể hàng tấn công của đối thủ. Tuy vậy Châu vẫn rất nhiệt tình phân phối bóng, điều hoà khu vực giữa sân.
== Thành tích ==
Với đội tuyển Việt Nam
Vô địch giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2008
Với Xi măng Hải Phòng
Hạng ba Việt Nam 2008
== Chú thích == |
france football.txt | France Football là một tạp chí hàng tuần của Pháp chứa đựng những thông tin về bóng đá trên toàn thế giới. Đó là một trong những tờ báo thể thao có uy tín bậc nhất châu Âu, bởi những hình ảnh và thống kê chính xác về các trận đấu ở các cup lớn ở châu Âu hay các giải vô địch các nước ở châu Âu.
Tạp chí này cũng tổ chức trao giải Quả bóng vàng châu Âu cho các cầu thủ có quốc tịch thuộc các nước châu Âu từ năm 1956. Năm 1995 giải này mở rộng ra cho cả các cầu thủ ở châu lục khác nhưng đang chơi bóng tại châu Âu.
== Quả bóng vàng châu Âu ==
Quả bóng vàng châu Âu là giải thưởng cá nhân hàng năm có giá trị nhất trong bóng đá của tạp chí dành cho các cầu thủ châu Âu của tạp chí. Giải này bắt đầu năm 1956 với người nhận giải đầu tiên là cầu thủ bóng đá người Anh lúc đó đang chơi cho câu lạc bộ Blackpool, Stanley Matthews và người nhận giải cuối cùng (trước khi hợp nhất với giải Cầu thủ xuất sắc nhất năm của FIFA thành Quả bóng vàng FIFA năm 2010) là Lionel Messi năm 2009 lúc đó đang chơi cho F.C. Barcelona. Giải được tính căn cứ vào số điểm bình chọn bởi các phóng viên thể thao uy tín châu Âu, trong đó người đạt điểm cao nhất lịch sử giải là Messi với số điểm 473 trên điểm tuyệt đối 480, năm 2009.
== Cầu thủ hay nhất nước Pháp ==
Hàng năm tạp chí này cũng tổ chức bầu chọn cầu thủ hay nhất nước Pháp. Trước năm 1995 giải chỉ được trao cho cầu thủ đang chơi bóng tại Pháp, từ năm 1996 các cầu thủ người Pháp đang chơi bóng tại nước ngoài cũng có thể nhận giải này.
== Huấn luyện viên người Pháp của năm ==
Hàng năm tạp chí này cũng tổ chức bầu chọn huấn luyện viên hay nhất người Pháp.
== Xem thêm ==
World Soccer
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức |
quan hệ quốc tế.txt | Quan hệ quốc tế là một ngành của chính trị học, nghiên cứu về ngoại giao và các vấn đề toàn cầu giữa các nước thông qua những hệ thống quốc tế, bao gồm các quốc gia, tổ chức đa chính phủ (IGO), tổ chức phi chính phủ (NGO), và các công ty đa quốc gia (MNC). Bên cạnh chính trị học, quan hệ quốc tế còn quan tâm đến những lĩnh vực khác nhau như kinh tế, lịch sử, luật, triết học, địa lý, xã hội học, nhân loại học, tâm lý học, và văn hóa học. Ngành này liên quan đến những vấn đề đa dạng như toàn cầu hóa và những tác động đến xã hội và chủ quyền của các quốc gia, bảo vệ sinh thái, tăng trưởng hạt nhân, chủ nghĩa dân tộc, phát triển kinh tế, khủng bố, tội phạm có tổ chức, an ninh nhân loại, và nhân quyền.
== Việt Nam ==
Tại Việt Nam có thể học ngành Quan hệ quốc tế tại các trường đại học, như:
Khoa Quan hệ quốc tế, Đại học Hà Nội
Khoa Quốc tế học, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội.
Học viện Ngoại giao Việt Nam, Hà Nội.
Khoa Quan hệ Quốc tế, Học viện báo chí và tuyên truyền,Hà Nội
Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Thành phố Hồ Chí Minh
Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Sài Gòn (Đào tạo cử nhân ngành Quốc tế học - chuyên ngành Quan hệ Quốc tế)
Khoa Lịch sử, Đại học Sư phạm Tp.HCM (Đào tạo cử nhân ngành Quốc tế học - chuyên ngành Quan hệ Quốc tế)
Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Quốc tế Hồng Bàng, Tp.HCM
Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Đông Đô, Hà Nội
Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Gia Định, Tp.HCM
Khoa Quan hệ Quốc tế, Đại học Ngoại ngữ Tin học Thành phố Hồ Chí Minh
== Tham khảo ==
=== Học thuyết ===
=== Sách ===
== Xem thêm ==
Lê Hồng Hiệp
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web của Học viện Ngoại giao Việt Nam. |
duyên hải nam trung bộ.txt | Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ Việt Nam thuộc Trung Bộ Việt Nam. Vùng này bao gồm 08 tỉnh thành ven biển.
== Vị trí ==
Vùng duyên Hải Nam Trung Bộ tiếp giáp Đông Nam Bộ ở phía nam thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Đông Nam Bộ trong quá trình phát triển giáp với Tây Nguyên và là cửa ngõ ra biển của Tây Nguyên, Campuchia, Thái Lan, thuận lợi giao lưu phát triển kinh tế và hình thành nền kinh tế mở. gòm có 8 tỉhh thành ven biển
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có vị trí địa lý kinh tế rất thuận lợi, nằm trên trục các đường giao thông bộ, sắt, hàng không và biển, gần Thành phố Hồ Chí Minh và khu tam giác kinh tế trọng điểm miền Đông Nam Bộ; cửa ngõ của Tây Nguyên, của đường xuyên Á ra biển nối với đường hàng hải quốc tế.
== Các tỉnh và thành phố ==
Vùng Nam Trung Bộ Việt Nam có 8 tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương theo thứ tự bắc-nam:
Dưới đây là danh sách các tỉnh thành từ Bắc vào Nam điều tra năm 2014
Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam.
Hiện nay, đa số sách báo, trong đó có các sách giáo khoa, Từ điển Bách khoa Việt Nam, Từ điển Bách khoa quân sự Việt Nam đều xếp Bình Thuận và Ninh Thuận vào vùng duyên hải Nam (hoặc cực Nam) Trung Bộ. Riêng Tổng cục Thống kê Việt Nam (và một số tài liệu lấy số liệu của Tổng cục Thống kê) trước đây lại xếp Bình Thuận cùng Ninh Thuận vào Đông Nam Bộ (chẳng hạn, xem [1]). Điều này là thiếu thuyết phục cả về mặt địa lý lẫn lịch sử. Xét về mặt địa lý ranh giới giữa Nam Bộ và Trung Bộ đi theo vệt hướng bắc-nam là hợp lý, nếu ghép Bình Thuận và Ninh Thuận vào Đông Nam Bộ thì sẽ có một vùng ăn sâu về phía đông, rất vô lý. Xét về mặt lịch sử thì tỉnh Bình Thuận (thời đó bao gồm cả phủ Ninh Thuận) chỉ được xếp vào Nam Kỳ trong thời gian khoảng 1 năm (1883-1884) theo hòa ước ký với Pháp, sau đó lại trả về Trung Kỳ cho tới nay. Hiện nay Tổng cục Thống kê đã xếp Bình Thuận cùng Ninh Thuận vào Trung Bộ.
Website trước đây của Bộ Kế hoạch và đầu tư Việt Nam cũng xếp 2 tỉnh Bình Thuận và Ninh Thuận vào Đông Nam Bộ trong số liệu thống kê vùng Đông Nam Bộ (xem [2]), nhưng ở phần khác lại xếp Bình Thuận và Ninh Thuận vào "vùng Duyên hải miền Trung", tách biệt với Đông Nam Bộ (xem [3]). Tuy nhiên các website trên đây đã bị xóa.
Theo cách chia Trung Bộ thành 4 phần Bắc, Trung, Nam và Tây Nguyên thì Duyên hải Nam Trung Bộ gồm 3 tỉnh: Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Các tỉnh Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên cùng với các tỉnh phía bắc Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế hợp thành (Duyên hải) Trung Trung Bộ.
Tuy nhiên, trong Quyết định của Thủ tướng Chính phủ số 97/2002/QĐ-TTg ngày 22/7/2002 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam 2001 - 2010 thì Á vùng du lịch Nam Trung Bộ bao gồm cả Tây Nguyên và các tỉnh Trung Bộ từ Bình Định trở vào, thuộc Vùng du lịch Nam Trung Bộ và Nam Bộ.
== Tài nguyên ==
Địa hình: Các vùng gò, đồi thuận lợi chăn nuôi bò, dê, cừu. Đồng bằng Tuy Hòa màu mỡ thuận lợi sản xuất lương thực thực phẩm.
Tài nguyên lớn nhất của vùng là kinh tế biển. Kinh tế biển nói ở đây bao gồm: Nguồn lợi hải sản (chiếm gần 20% sản lượng đánh bắt của cả nước) và nuôi trồng thủy sản, nhất là các loại đặc sản (tôm, tôm hùm, cá mú, ngọc trai...) với diện tích có thể nuôi trồng là 60.000 ha trên các loại thủy vực: mặn, ngọt, lợ. Vận tải biển trong nước và quốc tế. Chùm cảng nước sâu đảm bảo tàu có trọng tải lớn vào được, có sẵn cơ sở hạ tầng và nhiều đất xây dựng để xây dựng các khu công nghiệp tập trung gắn với các cảng nước sâu và với vị trí địa lý của mình có thể chọn làm cửa ngõ ra biển cho đường "xuyên Á". Có triển vọng về dầu khí ở thềm lục địa.
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ nằm trong khu vực có tiềm năng về khoáng sản của nước ta, đáng chú ý là sa khoáng nặng, cát trắng (cho phép vùng trở thành trung tâm phát triển công nghiệp thuỷ tinh, kính quang học), đá ốp lát, nước khoáng, vàng...
Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ có nhiều sân bay quốc tế và có nhiều cảng biển nước sâu có thể đón được các loại tàu biển có trọng tải lớn như cảng Cam Ranh, Khánh Hòa, một trong những cảng biển nước sâu lớn nhất cả nước. Đồng bằng Quảng Ngãi rộng khoảng 1200 km2 bao gồm cả thung lũng sông Trà Khúc và sông Vệ cũng được cấu tạo tương tự đồng bằng Quảng Nam. Nhưng vào mùa khô sông Trà Khúc và sông Vệ đều cạn nước đến mức người ta có thể lội qua, hiện nay trên sông trà khúc đã có công trình thủy nông Thạch Nham ngăn sông, xây dựng hệ thống kênh mương chuyển nước phục vụ sản xuất cho nhiều huyện.
== Du lịch ==
Du lịch biển, đảo và di tích lịch sử văn hoá dân tộc là nguồn lực quan trọng, là một trong 3 trung tâm du lịch của cả nước (ngoài thủ đô Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh), trong đó nổi bật là dải Đà Nẵng - Hội An và Vân Phong - Quy Nhơn - Nha Trang - Cam Ranh - Ninh Chữ - Mũi Né.
== Kinh Tế Biển Tổng hợp ==
=== Nghề cá ===
Nơi đây thuận lợi vì có nhiều bãi tôm, bãi cá. Đặc biệt ở vùng cực Nam Trung Bộ. Có ngư trường lớn ở Hoàng Sa (TP Đà Nẵng) và Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa).
Sản lượng đánh bắt hải sản năm 2006 đã hơn 624.000 tấn, trong đó sản lượng cá chiếm 420.000 tấn.
Vùng có nhiều vũng, vịnh, đầm phá... thuận lợi cho việc nuôi trồng thủy sản. Nuôi tôm hùm, tôm sú đang phát triển mạnh, nhất là ở Phú Yên và Khánh Hòa.
Tương lai ngành thủy hải sản sẽ giải quyết được vấn đề lương thực của vùng và cung cấp được nhiều sản phẩm giúp chuyển dịch cơ cấu nông thôn ven biển.
Tuy nhiên, việc khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn lợi thủy sản (nhất là Hoàng Sa - Trường Sa) là rất cấp bách.
=== Du lịch hàng hải ===
Duyên Hải Nam Trung Bộ là vùng có nhiều điều kiện thuận lợi nhất để xây dựng các cảng nước sâu bờ vịnh khúc khuỷu nhiều vịnh nước sâu.
Hiện tại có một số cảng lớn do Trung ương quản lý như: Đà Nẵng, Quy Nhơn, Nha Trang...đang xây dựng cảng nước nước sâu Dung Quất. Ở vịnh Vân Phong sẽ hình thành cảng trung chuyển quốc tế lớn nhất nước ta.
Ngành du lịch phát triển mạnh nhờ có nhiều bãi tắm, thắng cảnh đẹp.
Đà Nẵng là một trong những đầu mối giao thông đường biển quan trọng nhất của cả nước.
== Nhân Khẩu Học ==
Vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ có số dân là 8,93 triệu người. Ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định có dân số đông nhất, dân số của riêng ba tỉnh chiếm gần một nửa dân số của vùng (47.7%)
Có 2,82 triệu người (31,6% dân số) sinh sống ở các thành phố và khu dân cư. Đà Nẵng, Khánh Hòa và Bình Thuận là 3 địa phương có đa số dân cư sống ở thành thị. Trong khi đó đa số dân cư Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định lại sống ở nông thôn.
Từ năm 2000 đến 2007, tỉ lệ tăng dân số trung bình hằng năm của vùng là 1,22%. Trong đó Đà Nẵng là địa phương tăng nhanh nhất - 1,95%; Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định tăng chậm nhất - khoảng 1%. Bốn tỉnh còn lại có tốc độ tăng từ 1,26% (Khánh Hòa) đến 1,59% (Ninh Thuận).
Như các vùng khác, dân tộc chiếm đa số của vùng là dân tộc Kinh. Có một vài dân tộc thiểu số, trong đó đáng chú ý là dân tộc Chăm. Họ sống chủ yếu ở xung quanh thành phố Phan Rang Tháp Chàm (tỉnh lị Ninh Thuận) và phía bắc tỉnh Bình Thuận. Họ cũng sống rải rác ở một số nơi khác, như phía nam tỉnh Bình Định. Những dân tộc thiểu số khác sống ở phần đồi núi phía tây của vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ. Vùng sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số chiếm hơn một nửa diện tích của tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi.
== Xem thêm ==
Vùng kinh tế trọng điểm Trung bộ
Vùng Tây Bắc (Việt Nam)
Vùng Đông Bắc (Việt Nam)
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung Bộ (Việt Nam)
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ (Việt Nam)
Đồng bằng sông Cửu Long
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Duyên hải Nam Trung Bộ tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
văn hóa đông sơn.txt | Văn hóa Đông Sơn là một nền văn hóa cổ từng tồn tại ở một số tỉnh miền bắc Việt Nam và bắc trung bộ Việt Nam (Phú Thọ, Yên Bái, Hòa Bình, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh mà trung tâm là khu vực Đền Hùng), và ba con sông lớn và chính của đồng bằng Bắc Bộ (sông Hồng, sông Mã và sông Lam) vào thời kỳ đồ đồng và thời kỳ đồ sắt sớm. Nền văn hóa này được đặt tên theo địa phương nơi các dấu tích đầu tiên của nó được phát hiện, gần sông Mã, Thanh Hóa. Nhiều dấu tích đặc trưng cho văn hóa Đông Sơn cũng được tìm thấy ở một số vùng lân cận Việt Nam như ở Vân Nam, Quảng Tây, Hải Nam của Trung Quốc, ở Lào hay ở Thái Lan...
Có những nghiên cứu cho rằng trên cơ sở văn hóa Đông Sơn nhà nước văn minh đầu tiên của người Việt, nhà nước Văn Lang của các Vua Hùng và nối tiếp là nhà nước Âu Lạc của An Dương Vương đã phát triển, trước khi bị ảnh hưởng của nền văn minh Hán. Theo đánh giá của các nhà khoa học, thì nền Văn hóa Đông Sơn là sự phát triển liên tục và kế thừa từ các thời kỳ tiền Đông Sơn trước đó là Văn hóa Phùng Nguyên đến Văn hóa Đồng Đậu và Văn hóa Gò Mun.
== Lịch sử khám phá ==
Năm 1924, một người câu cá tên Nguyễn Văn Lắm đã ngẫu nhiên tìm được một số đồ đồng ở làng Đông Sơn (thành phố Thanh Hóa) ven sông Mã, thuộc địa phận Thanh Hóa. Tiếp đó là những cuộc khai quật của một viên thuế quan Pháp yêu khảo cổ tên là L. Paijot, người đầu tiên khai quật thấy các hiện vật thuộc một nền văn hóa lớn mà 10 năm sau đó, năm 1934, đã được định danh là Văn hóa Đông Sơn. Tên của ngôi làng nhỏ nhắc tới ở trên đã trở thành tên của cả một nền văn hóa rực rỡ thuộc thời đại kim khí cách đây 2000-3000 năm.
Sau 80 năm kể từ khi được khám phá, đã có hơn 200 di tích và hàng vạn di vật Đông Sơn được phát hiện và nghiên cứu.
Người nói đến danh từ "Văn hóa Đông Sơn" đầu tiên là học giả R. Heine-Geldern. Năm đó là năm 1934.
Tuy nhiên, không như nữ học giả Madelène Colani (người đầu tiên dùng danh từ Văn hóa Hòa Bình), Heine-Geldern đã định nghĩa về nền Văn hóa Đông Sơn như là một nền văn hóa du nhập từ văn hóa Hán và xa nữa từ Tây phương, thường được gọi là nền văn minh Hallstatt hay là nền văn minh La Tène của Châu Âu. Những học giả kế tiếp học giả Geldern, khi nghiên cứu về Văn hóa Đông Sơn cũng có một cái nhìn tương tự giống Geldern—như V. Goloubew, E. Karlgren và nhất là O. Jansé. Những học giả này đều có những tác phẩm lớn; vì vậy không những có ảnh hưởng đến các học giả quốc tế, mà còn ảnh hưởng đến những học giả Việt Nam.
Tuy nhiên tất cả các lập luận đầu tiên đều cho thấy sự đánh giá sai lầm khi mà văn hóa Phùng Nguyên có niên đại sớm hơn 1000 năm hé lộ, văn hóa Đông SƠn là văn hóa bản địa và có sự kế thừa từ Phùng Nguyên.
Tất cả những giả thuyết trên đây đã vô tình đẩy các nhà khoa học đi xa trong các lập luận sau này. Nhưng hiện nay việc nhìn nhận lại nguồn gốc của các cư dân thuộc văn hóa Đông Sơn đã hé mở các khả năng mới: người dân ở Đông Sơn cách ngày nay trên 3.000 năm là thuộc một chủng tộc gọi là Mongoloid mà về mặt nhân chủng học thì họ có một vùng cư trú rộng lớn bao gồm cả miền Nam Trung Quốc - lãnh thổ của nước Nam Việt sau khi Triệu Đà chiến thắng Vương quốc Âu Lạc.
Văn hóa Đông Sơn có mối liên hệ mật thiết với các nền văn hóa phát triển cùng thời ven biển Đông như văn hóa Sa Huỳnh (ở Trung Nam Bộ) và văn hóa Đồng Nai (ở lưu vực sông Đồng Nai).
== Tổng quan ==
Nói chung, đã có chứng cớ rõ rệt là người hiện đại cổ nhất tìm thấy là ở đảo Kalimantan mà đảo đó với đất nay là Việt Nam, thời đó 39.600 năm về trước là một giải đất liền không bị ngăn cách bằng biển cả. Những người gần với người Hiện-đại nhất cũng tìm thấy ở ngay vùng gần biên cương miền Bắc nước Việt hiện nay là làng Mã Bá thuộc tỉnh Quảng Đông.
Hiện nay người ta buớc đầu mới tìm thấy bằng chứng xưa nhất về các cư dân sinh sống ở vùng Bắc Bộ Việt Nam là khoảng 18.000 năm thuộc di chỉ Sơn Vi. Nhưng một thực tế rằng, khu vực Bắc Bộ Việt Nam thuộc khu vực Bắc lục địa Đông Nam Á là một vùng đất trung gian nối liền hai trung tâm là Kalimantan và Mã Bá (Quảng Đông) là những nơi cho đến nay đã tìm thấy Người hiện đại (homo sapiens) có niện đại cách ngày nay trên dưới 40.000 năm.
Tại Hội nghị Quốc tế họp ở Berkeley bàn về nguồn gốc nền văn minh Trung Hoa năm 1978, mà các bản tham luận, sau khi các dữ kiện được kiểm chứng, so sánh với ý kiến của các học giả khác, đã được xuất bản năm 1980. Cho đến lúc này (tức 1980), người ta thấy đồ đồng Đông Sơn có niên đại xưa nhất (đồ đồng tìm thấy được ở Tràng Kênh thuộc Văn hóa Phùng Nguyên có niên đại C14 = 1425 ± 100BC [BLn - 891] so với đồ đồng cổ nhất của Trung Hoa ở Anyang có niên đại C14 = 1300 BC theo Anderson hay 1384 BC theo Lichi); đồ đồng Đông Sơn cũng có kỹ thuật cao nhất vì đã biết pha với chì khiến hợp kim có độ dai bền đặc biệt (hợp kim đồng ở Thái Lan hay nhiều nơi khác có thể pha chế đồng với sắt, thiếc, antimoin như Đông Sơn nhưng không có chì).
Văn hóa Đông Sơn là thời kỳ kế thừa của các nền Văn hóa Phùng Nguyên có niên đại cách ngày nay khoảng 4.000 năm, Văn hóa Đồng Đậu, Văn hóa Gò Mun và có các điểm chính phải nhấn mạnh:
Văn hóa lúa nước phát triển, thực phẩm dồi dào và có dự trữ dẫn đến sự phân cấp xã hội người Việt cổ.
Kỹ thuật đúc đồng mà đỉnh cao là các trống đồng Đông Sơn.
Kỹ thuật về quân sự mà đỉnh cao là thành Cổ Loa (thành, mũi tên đồng và nỏ).
Sự tổ chức cộng đồng hoàn chỉnh theo phương thức xã thôn tự trị mà đỉnh cao là sự thành lập nhà nước Văn Lang.
== Các loại hình văn hóa Đông Sơn ==
=== Loại hình sông Hồng ===
Địa bàn chủ yếu của loại hình này là vùng miền núi phía Bắc, vùng Trung du và đồng bằng Bắc bộ, với trung tâm là làng Cả (nay ở thành phố Việt Trì). Đặc trưng của loại hình là sự phong phú, đa dạng, mang nhiều sắc thái địa phương rõ rệt.
=== Loại hình sông Mã ===
Địa bàn phân bố của loại hình chủ yếu thuộc lưu vực sông Mã, sông Chu, ranh giới phía Bắc của nó tiếp giáp với địa bàn của Văn hóa Đông Sơn loại hình sông Hồng. Trung tâm là làng Đông Sơn.
Đặc trưng của loại hình sông Mã mang đặc trưng của Văn hóa Đông Sơn điển hình. Đặc biệt những đồ đồng thuộc trung tâm Đông Sơn là tiêu chí để nhận biết cho đồ đồng thuộc các loại hình địa phương khác hay để phân biệt giữa Đông Sơn với những nền văn hóa kim khí khác
=== Loại hình sông Cả ===
Loaị hình này được phát hiện lần đầu vào năm 1972. Trung tâm là làng Vạc (Nghĩa Đàn, Nghệ An). Đặc trưng cơ bản của loại hình này là có sự giao lưu mạnh mẽ với văn hóa Sa Huỳnh ở miền Trung và văn hóa Điền (Vân Nam, Trung Quốc), đồng thời cũng mang những nét đặc trưng riêng biệt, nằm trong tổng thể nhất quán của Văn hóa Đông Sơn.
== Luân canh và chăn nuôi trong nông nghiệp ==
Xem bài chính Văn minh lúa nước
Điều kiện đồng bằng sông Hồng là nơi rất thích hợp cho lúa hoang và sau này là lúa trồng. Thật là kỳ lạ, người Việt trong cộng đồng chủng Mongoloid là tổ tiên của văn minh lúa nước.
Trong di chỉ khảo cổ cho thấy một bộ sưu tập các lưỡi cày bằng đồng phong phú, vào giữa và cuối thờ kỳ Đông Sơn đã xuất hiện khá nhiều đồ sắt và đồ đồng đã chuyển sang các loại vật dụng trang trí và tinh xảo hơn.
Lưỡi cày và di cốt trâu, bò nuôi chứng minh một trình độ luân canh định cư của cư dân Đông Sơn dẫn đến có một lượng thặng dư về thực phẩm. Điều này thúc đẩy một bộ phận dân cư chuyển sang làm các ngành nghề như đồ gốm, dệt, đồ trang sức, xây dựng, luyện kim, làm sơn...
== Công nghệ luyện kim và sự hoàn hảo về công nghệ đúc đồng ==
=== Thuật luyện kim ===
Miền Bắc Việt Nam từ nghìn xưa vốn có nhiều mỏ kim loại như các mỏ vàng, bạc, chì, sắt, đồng... Các tỉnh Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái, Thanh Hóa... có hàng chục mỏ đồng. Những mỏ này thường nhỏ, nông và lộ thiên, thuận tiện cho cách khai thác giản đơn. Đó là điều kiện đầu tiên để có thể phát triển một nền văn hóa đồ đồng rực rỡ.
Đến giai đoạn văn hóa Đông Sơn, giai đoạn cực thịnh của thời đại Hùng Vương thì thấy trong thành phần hợp kim đồng, tỷ lệ đồng và thiếc giảm xuống và tỷ lệ chì tăng lên.
Việc sáng tạo ra loại hợp kim mới này không phải là ngẫu nhiên mà là xuất phát từ những yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật của cả một thời kỳ lịch sử. Trong các giai đoạn trước Đông Sơn hợp kim đồng chủ yếu dùng để chế tạo các đồ nghề, đòi hỏi có tính năng kỹ thuật sắc bén, bền chắc. Đến giai đoạn Đông Sơn, đồng chuyển mạnh vào lĩnh vực đồ dùng hằng ngày; các loại thạp, thố, trống đồng đòi hỏi sản xuất nhiều. Những đồ vật này lại cần phải trang trí đẹp, phức tạp và như vậy cần hợp kim có tính năng dễ đúc để dễ dàng tạo nên các chi tiết tinh xảo sắc nét trong khi đúc. Vì vậy mà người Việt cổ sử dụng hợp kim đồng - thiếc - chì.
Mặt khác, hợp kim mới với 3 thành phần chính có nhiệt độ nóng chảy thấp hơn, do đó giảm bớt những khó khăn trong việc nấu và đúc, và như vậy, người Việt cổ lúc đó đã bước đầu biết đến mối quan hệ giữa thành phần và tính chất của hợp kim, mà thuật ngữ khoa học kỹ thuật luyện kim hiện đại gọi là điểm nóng chảy thấp.
Điều nữa, còn nhận thấy rằng ở giai đoạn Đông Sơn, thành phần của các kim loại trong hợp kim đồng - thiếc - chì (hoặc đồng - chì - kẽm) lại thay đổi theo chức năng của từng loại đồ nghề, đồ dùng hay vũ khí.
Ví dụ:
Mũi tên đồng ở Cổ Loa có thành phần: đồng: 95%, chì: 3,4-4,2%, kẽm: 1-1,1%. Tỷ lệ này đảm bảo hợp kim có độ cứng lớn nhất để đảm bảo tính năng xuyên thủng áo giáp.
Lưỡi giáo Thiệu Dương có thành phần: đồng: 73,3%, thiếc: 13,21%, chì:5,95% để đảm bảo cho vũ khí vừa dẻo vừa bền.
Rìu xoè cân Thiệu Dương có thành phần: đồng: 82,2%, thiếc: 10,92%, chì: 0,8% và rìu lưỡi xéo Thiệu Dương có thành phần: đồng: 82,2%, thiếc: 6,8%, chì:1,4%, nhờ vậy vật liệu sẽ có độ cứng nhưng không giòn và có thể chặt, cắt tốt.
Về phương pháp chế tác các công cụ đồng, có thể nhận thấy ngoài một số ít công cụ cỡ nhỏ như lưỡi câu, mũi nhọn... mang dấu vết của kỹ thuật rèn, còn hầu hết các di vật đồng là sản phẩm đúc. Cho đến nay đã tìm thấy hơn 30 loại khuôn đúc giáo, dao găm, rìu, mũi dùi, mũi tên... Những khuôn đúc này hoặc bằng đất hoặc bằng đá và sa thạch.
Khuôn đúc bằng đất tìm thấy ở Đồng Đậu, Cam Thượng, đất sét làm khuôn được phát hiện ở nhiều địa điểm trong các tỉnh Cao Lạng, Vĩnh Phú, Hà Sơn Bình, Hà Nội, Bình Trị Thiên. Các khuôn đá tìm thấy đều là khuôn có hai mảnh (ví dụ các khuôn đúc rìu), mặt giáp hai mảnh rất nhẵn và kín, nếu úp mặt 2 mảnh rồi soi lên, chúng ta không thấy có chút ánh sáng nào lọt qua.
Di vật tìm thấy đã gặp những khuôn đúc đồng thời đúc được nhiều dụng cụ một lúc, ví dụ khuôn đất đúc 3 mũi dùi, khuôn đá đúc 2 mũi tên cùng một lúc ở Đồng Đậu. Việc tìm thấy những chiếc dao găm có chuôi hình người ở Tràng Kênh Hải Phòng với cán dao trang trí đặc trưng hình người có đầy đủ mũ, áo, quần với trang trí tinh xảo.
Công cụ sản xuất nông nghiệp Đông Sơn có các loại: lưỡi cày, thuổng, rìu, cuốc, mai, vời...
Công cụ sản xuất thủ công có các loại đục (đục bẹt, đục vũm, đục một), nạo, dùi, giũa, dao, dao khắc, rìu, kim, dây...
Về mặt kỹ thuật, đặc trưng hợp kim đồng của giai đoạn Đông Sơn là hàm lượng chì cao, có khi đến 20%. Các nhà khảo cổ học cho rằng hợp kim đồng - thiếc - chì là một sáng tạo của kỹ thuật luyện đồng của người Đông Sơn ở Đông Sơn. Vào cuối giai đoạn Đông Sơn, công cụ sắt đã tương đối phổ biến: đó là các loại cuốc, mai, búa, đục, dao, giáo, kiếm...
=== Trống đồng lớn và thẩm mỹ ===
Xem bài chính Trống đồng Đông Sơn
Văn hóa Đông Sơn, kể từ văn hóa Phùng Nguyên tính đến thời điểm này, vẫn có thể coi là nền văn hóa đồ đồng có niên đại xưa nhất so với niên đại văn hóa đồ đồng ở các nơi khác trong vùng Đông Nam Á và Đông Bắc Á.
Bốn nhà nghiên cứu có uy tín khác viết về Văn hóa Đông Sơn đầu tiên ở Việt Nam là V. Gouloubew, R.H. Geldern, B. Karlgren và O. Jansé, đều lầm khi cho nền văn minh độc đáo này có nguồn gốc từ bên ngoài. Người thì cho rằng nó bắt nguồn từ Trung Hoa; người đi xa hơn cho nó bắt nguồn từ văn minh Hallstatt ở Ấu Châu, truyền qua vùng thảo nguyên Ấu-Á, đến Trung Hoa trước khi truyền vào Đông Sơn. Có người lại dựng lên một nguồn gốc xa xôi từ văn minh Mycenae của Hi Lạp và theo một hành trình rất phức tạp qua trung gian các nền văn minh Trung Ấn, rồi Tây Á, đến đây mới chia hai ngả, một theo đường Tế Xuyên, Vân Nam truyền vào Việt Nam, và một theo lưu vực sông Hoàng Hà, sinh ra văn hóa đồ đồng đời nhà Thương ở Trung Hoa.
Nhưng các lập luận của các nhà nghiên cứu trên chỉ đứng vứng khi chưa phát hiện ra văn hóa Phùng Nguyên xưa hơn khoảng 1.000 năm so với những di vật ở Đông Sơn.
=== Thành tựu văn hóa-nghệ thuật ===
Các sinh hoạt văn hóa của cư dân Đông Sơn được mô tả khá phong phú trên các hoa văn rất sắc nét của trống đồng. Thật may mắn cho những trang sử được chạm khắc trên chất liệu đồng đã lưu giữ cho người Việt Đông Sơn một trong những chứng cứ về văn hóa Đông Sơn.
Các yếu tố thuộc về văn hóa ở Đông Sơn không hề có bóng dáng của yếu tố bên ngoài. Bởi vì thời điểm văn hóa Đông Sơn phát triển rực rỡ nhất và thông qua niên đại xác định bằng C14, thì cách ngày nay trên 2.500 năm.
Nghệ thuật Đông Sơn cho ta thấy sự cảm nhận tinh tế của các cư dân thời đó qua khả năng chạm khắc, tạo hình tinh tế và một đời sống ca múa nhạc phong phú. Hình chạm khắc trên tống đồng Đông Sơn cho ta thấy những hình người thổi kèn, các vũ công đầu đội mũ lông chim trĩ, chim công (một loài chim đặc sắc phương Nam nhiệt đới), nhà sàn của cư dân vùng nhiệt đới Đông Nam Á, bộ sưu tập về các loài chim cổ mà ngày nay nhiều trong các số loài đó đã tuyệt chủng.
Đồ dùng Đông Sơn gồm có các loại thạp, có nắp hay không nắp, với những đồ án hoa văn trang trí phức tạp, những thổ hình lẵng hoa có chân đế và vành rộng, các loại gùi, vò, ấm, lọ, chậu. Qua đó làm chứng cứ về một xã hội phức tạp trên cơ sở các đại gia đình, các dòng họ trong cộng đồng làng xã đã định cư ổn định.
Người Đông Sơn trang sức bằng các loại vòng tay, vòng ống ghép, nhãn, hoa tai, móc đai lưng, bao tay, bao chân, ví dụ như bao tay và bao chân tìm thấy ở di tích Làng Vạc, Nghệ An.
Nghệ sĩ tạc tượng Đông Sơn để lại cho chúng ta nhiều loại tượng người, tượng thú vật như cóc, chim, gà, chó, hổ, voi...
Nhạc sĩ Đông Sơn đã diễn tấu các loại chuông nhạc, lục lạc, khèn, trống đồng.
Số lượng trống đồng Đông Sơn tìm được cho đến nay trên vùng đất Việt Nam đã khoảng 140, chiếm già nữa số lượng trống loại này hiện đã biết ở Đông Nam Á.
== Tín ngưỡng - tập tục ==
Tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên và tín ngưỡng sùng bái con người. Con người cần sinh sôi, mùa màng cần tươi tốt để duy trì và phát triển sự sống, nên đã nảy sinh tín ngưỡng phồn thực. Ở Việt Nam, tín ngưỡng đó tồn tại lâu dài, dưới hai dạng biểu hiện: thờ sinh thực khí nam và nữ và thờ cả hành vi giao phối.
Người Việt tôn sùng cây cối, các loại cây lương thực chính. Các sản phẩm làm từ gạo nếp, gạo tẻ đã có lịch sử hàng nghìn năm và còn lưu truyền đến ngày nay. Các loại bánh trái đặc trưng của người Việt đã đi vào huyền thoại bằng văn hóa truyền khẩu.
Trong tín ngưỡng người Việt, việc sùng bái con người, phổ biến nhất là tục thờ cúng tổ tiên, gần như trở thành một thứ tôn giáo của người Việt, mà ngày nay vẫn còn như một thứ tín ngưỡng từ Bắc vào Nam.
Tập tục ăn trầu cũng là đặc trưng chính của người Việt cổ, được thể hiện qua câu chuyện cổ về sự tích trầu cau.
Người Việt cổ biết dùng hóa chất và các loại nhựa, sơn cây dùng để nhuộm răng đen, mà mãi đến giữa thế kỷ 20 cũng vẫn còn khá phổ biến ở đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam.
Ở đây ta cũng nhắc đến vài nét chính của nghệ thuật chôn cất người chết mà các nhà khảo cổ học đã tìm thấy hầu như rải rác trên toàn bộ Bắc Bộ kéo dài đến miền Trung Việt Nam - Mộ thuyền là một cách chôn cất khá độc đáo của người Việt cổ thuộc văn hóa Đông Sơn
Năm 2004 các nhà khảo cổ học tìm thấy thêm một ngôi mộ bên triền sông Cửu An, thuộc thôn Động Xá, xã Lương Bằng, huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên. Đây không chỉ là ngôi mộ có quan tài hình thuyền như những phát hiện trước đó, mà thực sự là một con thuyền độc mộc chở người Đông Sơn vào giấc vĩnh hằng từ 2.500 năm trước. Khi nắp quan tài bật mở, người ta thấy tất cả bùn đất tích tụ từ thiên niên kỷ I TCN phủ kín hiện vật. Khi lớp bùn được gạt ra, nhóm khai quật nhìn thấy người chết đặt nằm ngửa, thân bó vải, hai tay để xuôi, chân duỗi thẳng. Ngoài ra, còn có một số hiện vật đi kèm là đồ gốm, hạt thực vật.
So với các mộ thuyền Đông Sơn được phát hiện từ những năm 1960, 1970 tại Châu Can Hà Tây, Việt Khê Hải Phòng, La Đôi Hải Dương..., đây là mộ duy nhất còn nguyên vẹn xương cốt với quần áo hoàn chỉnh. Phát hiện này khiến các chuyên gia Viện Khảo cổ và Trung tâm nghiên cứu tiền sử Đông Nam Á vô cùng phấn khởi. Bởi tìm hiểu về nguồn gốc cư dân thì cốt sọ giữ vai trò quan trọng nhất, giúp các nhà khảo cổ làm sáng tỏ những người đã sáng tạo ra nền văn hóa Đông Sơn.
== Kỹ thuật quân sự-nghệ thuật chiến tranh ==
=== Vũ khí ===
Vũ khí Đông Sơn rất phổ biến, đa dạng về loại hình, độc đáo về hình dáng và phong phú về số lượng. Điều này gắn liền với các thần thoại và truyền thuyết về truyền thống chống giặc ngoại xâm, giữ nước của dân tộc Việt, ví dụ như câu chuyện nỏ thần của vua Thục Phán An Dương Vương bắn mỗi phát ra hàng loạt mũi tên đồng làm cho tướng xâm lược Triệu Đà phải khiếp vía kinh hồn. Những cuộc khai quật ở thành Cổ Loa (huyện Đông Anh, ngoại thành Hà Nội) đã phát hiện ra kho chứa hàng vạn mũi tên đồng. Mũi tên Cỗ Loa có các loại hình cánh én, hình lao có họng hay có chuôi, loại 3 cánh có chuôi dài. Ngoài ra còn có giáo, lao, dao găm, kiếm, qua, rìu chiến... Rìu chiến có đến gần 10 loại: các loại rìu xéo (hình dao xéo, hình thuyền, hình hia, hình bàn chân) rìu lưỡi xoè cân, rìu hình chữ nhật, rìu hình dao phạng. Dao găm có các loại lưỡi hình lá tre đốc củ hành, đốc bầu dục hay có chuôi là một tượng hình người, có loại dao găm lưỡi hình tam giác, cán dẹt hay tròn. Khải giáp gồm có các tấm che ngực có hình vuông hay hình chữ nhật, áo giáp gồm các vảy đồng buộc lại với nhau, có hoa văn trang trí đúc nổi. Ở Hà Nam Ninh còn tìm thấy cả giáp che ngực và mũ chiến bằng đồng.
Một kỹ thuật đặc biệt cũng cần nhắc đến cho vũ khí Đông Sơn là vừa qua các nhà khảo cổ học Việt Nam đã khám phá ra kho mũi tên đồng Cổ Loa có hàng vạn chiếc ở khu vực thành Cổ Loa (Đông Anh Hà Nội). Mũi tên đồng của vương quốc Âu Lạc có cấu tạo độc đáo ba cạnh. Xét về mặt xuyên thủng thì không phải là yếu tố chính. Nhưng xét về mặt giải phẫu, thì với mũi tên ba cạnh (quả khế) thì vết thương do mũi tên này gây ra có thể nói rằng, rất trầm trọng. Kẻ bị bắn trúng mũi tên này không dám rút mũi tên ra-việc này sẽ gây mất máu và dẫn đến tử vong rất nhanh.
=== Thành quách ===
Xem bài chính Thành Cổ Loa
Địa điểm Cổ Loa chính là Phong Khê, lúc đó là một vùng đồng bằng trù phú có xóm làng, dân chúng đông đúc, sống bằng nghề làm ruộng, đánh cá và thủ công nghiệp. Việc dời đô từ Phong Châu về đây, đánh dấu một giai đoạn phát triển của dân cư Việt cổ, giai đoạn người Việt chuyển trung tâm quyền lực từ vùng Trung du bán sơn địa về định cư tại vùng đồng bằng. Việc định cư tại đồng bằng chứng tỏ một bước tiến lớn trong các lãnh vực xã hội, kinh tế trong giao tiếp, trao đổi con người dễ dàng đi lại bằng đường bộ hay bằng đường thủy; trong nông nghiệp có bước tiến đáng kể về kỹ thuật trồng lúa nước, mức độ dân cư cũng đông đúc hơn.
Trung tâm quyền lực của các cư dân Việt ở trung tâm đồng bằng sông Hồng cũng thể hiện sự phát triển về chiều rộng của Văn hóa Đông Sơn.
== Xã hội phức tạp- hình thành nhà nước ==
=== Kinh tế phát triển-xã hội giàu có ===
Để phục vụ cho trồng trọt, cư dân Đông Sơn bấy giờ đã đẩy mạnh chăn nuôi trâu, bò để lấy sức kéo và phân bón. Nhiều di vật văn hóa Đông Sơn có xương trâu, bò. Các gia súc, gia cầm cũng được cư dân Đông Sơn chăn nuôi rộng rãi, như lợn, gà, chó v.v... Nghề thủ công đạt được bước tiến rất quan trọng từ khi cư dân Phùng Nguyên phát minh ra nghề luyện kim, đúc đồng, tiến lên nghề luyện sắt ở giai đoạn Đông Sơn. Việc phát hiện được những khuôn đúc đồng và xỉ đồng đã khẳng định nghề luyện kim do cư dân Hùng Vương sáng tạo ra.
Với kỹ thuật luyện đồng, cư dân Đông Sơn bầy giờ đã tạo nên bước ngoặt, loại trừ hẳn đồ đá. Trong một số di tích thời Hùng Vương như Tiên Hội, Đường Mây, Gò Chiền Vậy, Đồng Mõm, Vinh Quang tìm thấy các di vật bằng sắt.
Nghề làm đồ gốm của các cư dân Đông Sơn cũng phát triển lên một bước. Nghệ thuật nặn gốm bằng bàn xoay được cải tiến. Người thợ gốm bấy giờ còn biết dùng phương pháp tạo hình bằng cách đổ khuôn và nung trong lò kín chuyên dụng. Chất lượng gốm ngày càng cứng và ít thấm nước hơn, độ mịn ngày càng tăng. Trình độ tạo hình cũng ngày càng cao hơn. Các bình gốm ở phần miệng, rìa miệng, đoạn eo thắt ở cổ đều đặn, song song chạy quanh thân gốm, loại hình sản phẩm gốm phong phú, đa dạng.
Sự phát triển của nền kinh tế trên nhiều mặt là cơ sở cho sự mở rộng trao đổi hàng hóa với nước ngoài. Hiện tượng một số trống đồng loại I Hêgơ của nước Văn Lang ở Thái Lan, Malaixia, Indonesia... cũng như sự có mặt của những lưỡi qua đồng Chiến quốc ở nhiều di tích văn hóa Đông Sơn đã chứng tỏ có sự buôn bán giữa người Việt cổ đương thời với các quốc gia quanh vùng. Một số đồ trang sức và trâu, bò cũng đã trở thành hàng hóa trong việc buôn bán giữa Văn Lang-Âu Lạc với các nước lân bang.
=== Xã hội phức tạp - phân hóa giàu nghèo ===
Về tổ chức xã hội, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, sự phân công lao động xã hội giữa nông nghiệp và thủ công nghiệp, sự trao đổi sản phẩm và các nguyên liệu giữa các địa phương ngày càng mở rộng dưới thời Hùng Vương đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng thêm nguồn của cải xã hội. Sản phẩm thặng dư xuất hiện ngày càng nhiều hơn, đã tạo nên cơ sở cho sự phân hóa xã hội. Những của cải chung của xã hội (do lao động công ích, do thu nhập từ ruộng đất công cộng của chiềng, chạ) dần dần bị một số người tìm cách chiếm đoạt biến thành của riêng. Chế độ tư hữu tài sản ra đời và ngày càng phát triển theo sự phát triển kinh tế xã hội, đồng thời cũng dẫn đến một chuyển biến xã hội quan trọng là xã hội phân hóa thành kẻ giàu, người nghèo. Từ thời Phùng Nguyên, hiện tượng phân hóa xã hội đã xuất hiện, nhưng chưa đáng kể. Trong số 12 ngôi mộ khai quật ở Lũng Hoà Vĩnh Phúc có 2 mộ chỉ có 2 hiện vật chôn theo người chết, 2 mộ có tới 20 hiện vật và 24 hiện vật, phổ biến là số mộ còn lại đều có từ 3 đến 13 hiện vật. Đồ tuỳ táng giống nhau gồm gốm công cụ, đồ dùng bằng đá, gốm. Như vậy là, ở giai đoạn đầu thời Hùng Vương quan hệ cộng đồng nguyên thuỷ mới bước vào quá trình tan rã.
Từ sự phân tích các hiện vật trong các khu mộ táng thời Hùng Vương cho thấy xã hội bấy giờ đã có hiện tượng phân hóa thành các tầng lớp giàu, nghèo khác nhau. Sự phân hóa đó đã diễn ra từ từ, ngày càng rõ nét trải qua một quá trình lâu dài từ Phùng Nguyên đến Đông Sơn. Tuy nhiên, sự phân hóa xã hội bấy giờ thành hai cực chưa sâu sắc. Sự phân hóa tài sản là biểu hiện của sự phân hóa xã hội. Gắn liền với hiện tượng này là sự ra đời của nô lệ gia trưởng, dẫn tới sự hình thành các tầng lớp xã hội khác nhau:
Quý tộc (gồm có các tộc trưởng, tù trưởng bộ lạc, thủ lĩnh liên minh bộ lạc và những người giàu có khác).
Nô tì.
Tầng lớp dân tự do của công xã nông thôn là tầng lớp đông đảo nhất trong xã hội, giữ vai trò là lực lượng sản xuất chủ yếu.
Tầng lớp trên của xã hội ngày càng giàu có và nắm giữ các cương vị quản lý công việc công cộng của chiềng, chạ...
Như vậy, những tiền đề đầu tiên cho sự hình thành quốc gia và nhà nước Văn Lang thời Hùng Vương vào giai đoạn đầu Đông Sơn đã xuất hiện và phát triển qua 18 đời và sau này chuyển tiếp cho vương quốc Âu Lạc của An Dương Vương vào giai đoạn cuối Đông Sơn. (Các chứng cứ đang được khám phá dần)
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Minh Hiên, Di sản văn hóa Đông Sơn mới tìm được, tạp chí Văn hóa Nghệ thuật, (số 34, tháng 10/1973).
Vũ Thế Long và Trịnh Cao Tưởng, Tìm hiểu những di tích động vật và thực vật thuộc thời kỳ Hùng Vương, Hùng Vương dựng nước. (6-1976)
Vũ Thế Long, Hình và tượng động vật trên trống và các đồ đồng Đông Sơn, tạp chí Khảo cổ học, số 14 (1974).
Nguyễn Đổng Chi, Lược khảo về thần thoại Việt Nam, Nhà xuất bản Văn Sử Địa (1957)
Theo Văn hiến thông khảo, Mã Đoan Lâm
Theo sự nghiên cứu của nhà sử học, Trần Quốc Vượng
Trần Quốc Vượng, Trên mảnh đất Cổ Loa lịch sử, sở Văn hóa thông tin Hà Nội xb, (1970).
Tư Mã Thiên, Sử Ký
Hà văn Tấn, Theo dấu các nền văn hóa cổ, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội (1998)
Hà văn Tấn, Văn hóa Đông Sơn ở Việt Nam, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, Hà Nội (1994)
== Liên kết ngoài ==
Giới thiệu hàng trăm vật dụng, vũ khí, trang sức, trống đồng...tại Dongsondrum.com
Bộ sưu tập ảnh văn hóa Đông Sơn
Khảo sát mộ Việt cổ
Giao thoa văn hóa
Di tích Làng Cả, một phát hiện mới
Một phát hiện mới về cư dân thành Cổ Loa
Sự tích trầu cau |
k.txt | K, k là chữ thứ 11 trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh và là chữ thứ 13 trong chữ cái tiếng Việt, có gốc từ chữ kappa thuộc tiếng Hy Lạp, phát triển từ chữ Kap của tiếng Xê-mit và có nghĩa là "bàn tay mở". Âm /k/ của tiếng Xê-mit được giữ trong nhiều thứ tiếng cổ điển và cận đại, tuy nhiên tiếng Latinh đã thay thế chữ K bằng chữ C. Do đó những ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Rôman chỉ có chữ K trong những từ thuộc ngôn ngữ khác.
Trong bảng mã ASCII dùng ở máy tính, chữ K hoa có giá trị 75 và chữ k thường có giá trị 107.
K là tên của một loại vitamin.
Trong hệ đo lường quốc tế:
K là ký hiệu của nhiệt độ kelvin.
k được dùng cho tiền tố kilô – hay 1000.
Trong tin học, K được dùng cho tiền tố kilô và có giá trị là 210.
Trong hoá học, K là ký hiệu cho chất kali.
Trong vật lý học, k là hằng số Boltzmann.
Trong hóa sinh học, K là biểu tượng cho lysine.
Trong y khoa, K là ký hiệu của ung thư.
Trong mô hình màu CMYK, K đại diện cho màu đen.
Trong môn cờ vua, K là ký hiệu để ghi quân Vua (King).
Trong bảng chữ cái âm học quốc tế, [k] là ký hiệu cho âm bật vòm mềm không kêu.
Theo mã số xe quốc tế, K được dùng cho Campuchia (Kampuchea).
K được gọi là Kilo trong bảng chữ cái âm học NATO.
Trong bảng chữ cái Hy Lạp, K tương đương với Κ và k tương đương với κ.
Trong bảng chữ cái Cyrill, K tương đương với К và k tương đương với к.
== Tham khảo == |
sông mississippi.txt | Sông Mississippi là một con sông ở Bắc Mỹ. Theo ngôn ngữ cổ Ojibwe, tên "Mississippi" từ misi-ziibi, có nghĩa là 'sông lớn'. Sông có chiều dài là 3.733 kilômét (2.320 dặm) từ hồ Itasca đến Vịnh Mexico. Một con sông khác ở Bắc Mỹ dài hơn là sông Missouri, với chiều dài 3.767 km (2.341 dặm) từ ngã ba của sông Jefferson, sông Madison và sông Gallatin đến sông Mississippi. Các sông nối tiếp nhau Jefferson, Missouri và Mississippi hình thành nên hệ thống các sông lớn nhất ở Bắc Mỹ.
Nếu đo từ nguồn của sông Jefferson đến Vịnh Mexico, chiều dài của hệ thống sông Mississippi-Missouri-Jefferson là khoảng 6.275 km (3.900 dặm), tạo nên hệ thống sông dài thứ 3 trên thế giới.
== Địa lý ==
Nguồn của nó là Hồ Itasca ở độ cao 450 mét (1.475 foot) trên mặt nước biển. Sông Mississippi dẫn nước đến hầu hết các vùng giữa dãy núi Rocky và dãy núi Appalachian, ngoại trừ các vùng được dẫn từ vịnh Hudson theo đường dẫn của Sông Đỏ, Ngũ Đại Hồ. Nó chạy xuyên qua hai bang — Minnesota và Louisiana — và được sử dụng để phân định biên giới của tám bang — Wisconsin, Iowa, Illinois, Missouri, Kentucky, Arkansas, Tennessee, và Mississippi thuộc Hoa Kỳ.
== Dòng chảy ==
Sông Mississippi được chia thành ba phần: thượng lưu, trung lưu và hạ lưu.
Các phần này được phân chia như sau:
Phần thượng lưu kéo dài từ thượng nguồn của sông Mississippi ở hồ Itasca đến nơi hợp lưu với sông Missouri;
Phần trung lưu kéo dài từ nơi sông Mississippi hợp lưu với sông Missouri đến nơi hợp lưu với sông Ohio;
Phần hạ lưu kéo dài từ nơi sông Mississippi hợp lưu với sông Ohio đến cửa sông ở vịnh Mexico.
=== Thượng lưu ===
Sông Mississippi bắt nguồn từ hồ Itasca. Hồ Itasca là một hồ nhỏ nằm ở độ cao 450 m (1.475 feet) trên mực nước biển trong công viên bang Itasca của hạt Clearwater. Tên hồ được ghép lại từ hai từ "Itas" và "ca". Trong đó "Itas" là bốn chữ cái cuối cùng của từ Latin có nghĩa là sự thật, chân lý (veritas) còn "ca" là hai chữ cái đầu tiên của từ Latin có nghĩa là đầu (Caput). Như vậy tên hồ có nghĩa là "đầu nguồn thật sự", ám chỉ đây chính là đầu nguồn của sông Mississippi. Tuy hồ Itasca được công nhận là đầu nguồn của sông Mississippi nhưng trên thực tế nó cũng được nuôi dưỡng bởi các dòng suối nhỏ.
Sau khi chảy ra khỏi hồ Itasca, sông Mississippi nhanh chóng giảm độ cao xuống còn 220 m trên mực nước biển tại thác Saint Anthony.
Trong đoạn thượng lưu, sông Mississippi hợp lưu với một loạt các phụ lưu của nó như:
== Lưu vực ==
Sông Mississippi có diện tích lưu vực lớn thứ 4 trên thế giới. Lưu vực này rộng hơn 1.245.000 sq mi (3.220.000 km2), bao gồm tất cả các phần của 32 bang Hoa Kỳ và 2 tỉnh của Canada. Lưu vực đổ vào vịnh Mexico, một phần của Đại Tây Dương. Lưu vực Mississippi phủ gần 40% đất liền của Hoa Kỳ lục địa.
Ở Hoa Kỳ, Mississippi thu nước chủ yếu từ các khu vực giữa đỉnh của dãy núi Rocky và đỉnh của dãy núi Appalachia, trừ các khu vực khác nhau chảu vào vịnh Hudson qua sông Đỏ; vào Đại Tây Dương qua Great Lakes và sông Saint Lawrence; và vào vịnh Mexico qua Rio Grande, sông Alabama và sông Tombigbee, sông Chattahoochee và sông Apalachicola, và nhiều nhánh nhỏ khác dọc theo vịnh Mexico.
Sông Mississippi hòa vào vịnh Mexico cách New Orleans khoảng 100 dặm (160 km). Chiều dài của sông Mississippi từ hồ Itasca đến vịnh Mexico có nhiều con số khác nhau, tuy nhiên theo USGS là 2.340 dặm (3.770 km). Thời gian nước chảy từ hồ Itasca đến vịnh khoảng 90 ngày.
== Vai trò ==
== Du lịch ==
Sông Mississippi là mộ trong những dòng sông đẹp nhất nước Mỹ và nó cũng là một điểm đến du lịch.
== Các thành phố lớn dọc theo sông ==
Bemidji, Minnesota
Minneapolis, Minnesota
St. Paul, Minnesota
La Crosse, Wisconsin
Dubuque, Iowa
Bettendorf, Iowa
Davenport, Iowa
Rock Island (Đảo Đá), Illinois
Moline, Illinois
Burlington, Iowa
Quincy, Illinois
Hannibal, Missouri
St. Louis, Missouri
Cairo, Illinois
Memphis, Tennessee
Greenville, Mississippi
Vicksburg, Mississippi
Natchez, Mississippi
Baton Rouge, Louisiana
New Orleans, Louisiana
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Viện bảo tàng và Bể nuôi Quốc gia Sông Mississippi
Thông tin tổng quá về sông Mississippi
Bài viết trong Encyclopædia Britannica năm 1911 |
thời trang.txt | Thời trang là một khái niệm áp dụng cho một người thường mặc những bộ trang phục thịnh hành ở một thời điểm nào đó, nhưng khái niệm này lại thường là chỉ tới một sự biểu hiện cá nhân thông qua trang phục. Những từ như "hợp thời trang" hay "không hợp thời trang" là từ dùng để diễn tả một ai đó hợp hay không hợp với trào lưu biểu hiện thịnh hành. Thời trang là một trong những đại diện cho nền văn minh của nhân loại.
Khái niệm thời trang thường được hiểu theo nghĩa tích cực, dùng để biểu tả vẻ đẹp, sự quyến rũ và phong cách. Đôi khi khái niệm này cũng có nghĩa tiêu cực như để mô tả một trào lưu nhất thời, mang tính kỳ cục.
== Những khuynh hướng thời trang ==
Trang phục ấn tượng
Trang phục theo phong cách truyền thống
Trang phục thiếu nhi
Đồng phục
Trang phục theo mùa: các bộ sưu tập theo mùa như thời trang Thu Đông, thời trang Xuân Hè v.v.
Trang phục dạ hội
Thời trang công sở
Trang phục bảo hộ lao động
Trang phục thể thao
Thời Trang mỹ phẩm
Thời trang áo vẽ
== Trung tâm thời trang ==
Các trung tâm thời trang lớn trên thế giới hiện nay có thể kể đến Thành phố New York, Milano, Tokyo và Paris. Vài thành phổ khác cũng đang nổi lên là trung tâm thời trang mới như Rio, Amsterdam, Antwerp, Los Angeles, London, Roma, Thượng Hải, Hồng Kông. Những thương hiệu thời trang nổi tiếng như: Armani, Gucci, Versace, Calvin Klein, Louis Vuitton,.... Hay những thương hiệu mỹ phẩm như Ami House, Chanel v.v...
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Fashion tại Wikimedia Commons |
pablo picasso.txt | Pablo Ruiz Picasso (sinh ngày 25 tháng 10 năm 1881, mất ngày 8 tháng 4 năm 1973), thường được biết tới với tên Pablo Picasso hay Picasso là một họa sĩ và nhà điêu khắc người Tây Ban Nha. Tên đầy đủ của ông là Pablo Diego José Francisco de Paula Juan Nepomuceno María de los Remedios Cipriano de la Santísima Trinidad Clito Ruiz y Picasso. Picasso được coi là một trong những nghệ sĩ nổi bật nhất của thế kỷ 20, ông cùng với Georges Braque là hai người sáng lập trường phái lập thể trong hội họa và điêu khắc.Ông là một trong 10 họa sĩ vĩ đại nhất trong top 200 nghệ sĩ tạo hình lớn nhất thế giới thế kỷ 20 do tạp chí The Times, Anh, công bố.
== Tiểu sử ==
Pablo Picasso sinh năm 1881 tại Málaga, miền nam Tây Ban Nha. Picasso là con đầu lòng của ông José Ruiz y Blasco và bà María Picasso y López. Ông được đặt tên thánh là Pablo, Diego, José, Francisco de Paula, Juan Nepomuceno, Maria de los Remedios và Cipriano de la Santísima Trinidad.
Ngay từ khi còn nhỏ, Picasso đã bộc lộ sự say mê và năng khiếu trong lĩnh vực hội họa, theo mẹ ông kể lại thì từ đầu tiên mà cậu bé Pablo nói được chính là "piz", cách nói tắt của từ "lápiz", trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là bút chì. Cha của Picasso là một họa sĩ chuyên vẽ chim theo trường phái hiện thực, ông José còn là một giảng viên nghệ thuật và phụ trách bảo tàng địa phương, trường Mỹ thuật công nghệ tạo hình của Barcelona. Vì vậy, Picasso có được những bài học đầu tiên về nghệ thuật chính từ cha mình.
Vào Học viện mỹ thuật (Academia de San Fernando) tại Madrid được chưa đầy một năm, năm 1900 Picasso đã bỏ học để sang Paris, trung tâm nghệ thuật của Châu Âu thời kỳ đó. Tại thủ đô nước Pháp, ông sống cùng Max Jacob, một nhà báo và nhà thơ, người đã giúp Pablo học tiếng Pháp. Đây là giai đoạn khó khăn của người họa sĩ trẻ khi ông phải sống trong cảnh nghèo túng, lạnh lẽo và đôi khi tuyệt vọng, phần lớn tác phẩm của Pablo đã phải đốt để sưởi ấm cho căn phòng nhỏ của hai người. Năm 1901, cùng với người bạn Soler, Picasso đã thành lập tờ tạp chí Arte Joven ở Madrid. Số đầu tiên của tạp chí hoàn toàn do Pablo minh họa.
Trong những năm đầu của thế kỉ 20, Picasso thường xuyên qua lại giữa hai thành phố Barcelona và Paris. Tại Paris, Picasso kết bạn với rất nhiều nghệ sĩ nổi tiếng ở khu Montmartre và Montparnasse, trong đó có người sáng lập trường phái siêu thực André Breton, nhà thơ Guillaume Apollinaire và nhà văn Gertrude Stein. Năm 1911, Picasso và Apollinaire thậm chí đã từng bị bắt giữ vì bị nghi ăn trộm bức tranh Mona Lisa khỏi Bảo tàng Louvre nhưng cuối cùng hai người cũng được tha vì vô tội.
=== Đời tư ===
Năm 1904, ông bắt đầu mối quan hệ lâu dài với Fernande Olivier, người phụ nữ xuất hiện trong rất nhiều tác phẩm Thời kỳ Hồng của họa sĩ. Thời kỳ này được gọi là Thời kỳ Hồng vì đây là thời kỳ ông toàn dùng màu hồng nhạt mềm mại để làm nền tranh cho mình, thời kỳ Hồng của ông được tồn tại trong 3 năm. Sau khi bắt đầu nổi tiếng và trở nên giàu có, Picasso đã bỏ Olivier để quan hệ với Marcelle Humbert mà ông gọi đơn giản là Eva, chủ đề của rất nhiều bức tranh theo trường phái lập thể của ông. Sau đó ông còn đi lại với nhiều người phụ nữ khác mặc dù đã có vợ và con. Picasso đã hai lần làm đám cưới và ông có bốn đứa con với ba người phụ nữ. Năm 1918, họa sĩ cưới cô Olga Khokhlova, một nữ diễn viên ba lê của đoàn ba lê Sergei Diaghilev mà Picasso đã từng nhận trang trí cho họ vở Parade ở Roma. Khokhlova đã giới thiệu Picasso với tầng lớp trên của nước Pháp trong những buổi tiệc tùng và gặp gỡ của những người giàu có ở Paris trong thập niên 1920. Hai người cũng có với nhau một đứa con, Paulo, sau này trở thành một tay đua xe phóng đãng và là tài xế cho chính họa sĩ. Cuộc hôn nhân giữa Picasso và Khokhlova nhanh chóng chấm dứt, tuy vậy trên danh nghĩa hai người chỉ ly thân cho đến tận khi Khokhlova qua đời năm 1955 vì theo luật pháp Pháp, Picasso sẽ phải chia đôi tài sản cho vợ nếu chính thức ly dị. Năm 1927 Picasso gặp cô gái 17 tuổi Marie-Thérèse Walter và bắt đầu đi lại bí mật với cô. Với Marie-Thérèse, Picasso cũng có một người con gái, Maia. Marie-Thérèse luôn sống với hy vọng hão huyền rằng người họa sĩ nổi tiếng sẽ lấy cô làm vợ và cô đã treo cổ tự vẫn bốn năm sau cái chết của Picasso. Nhà nhiếp ảnh và họa sĩ Dora Maar cũng là một người tình lâu năm của Picasso, hai người đặc biệt gắn bó trong giai đoạn cuối thập niên 1930 và đầu thập niên 1940.
Sau khi Paris được giải phóng năm 1944, lúc đó ở tuổi 63, Picasso bắt đầu quan hệ với một sinh viên nghệ thuật trẻ là Françoise Gilot. Françoise và Picasso có chung với nhau hai đứa con, Claude và Paloma. Khác với những người tình khác của họa sĩ, chính Françoise là người rời bỏ Pablo năm 1953. Đây là một cú sốc với Picasso, ông nghĩ rằng mình đã già và trở nên kỳ cục trong mắt phụ nữ, Một vài tác phẩm của ông thời kỳ cuối đã khai thác đề tài này khi miêu tả một người lùn già nua gớm ghiếc đối lập với một cô gái trẻ đẹp. Tuy vậy không lâu sau người họa sĩ cũng tìm được một người tình khác, đó là Jacqueline Roque. Roque làm việc tại xưởng gốm Madoura, nơi Picasso thực hiện các tác phẩm bằng gốm của ông. Hai người duy trì mối quan hệ suốt phần đời còn lại của Picasso, họ cưới nhau năm 1961. Đám cưới này cũng là một sự trả thù của họa sĩ đối với người tình cũ Gilot. Gilot khi đó đang tìm cách hợp pháp hóa quan hệ cha con của Picasso với Claude và Paloma. Được Picasso thúc đẩy, cô đã sắp đặt việc ly dị với chồng là Luc Simon để cưới Picasso, qua đó bảo vệ quyền lợi cho con chung của hai người. Tuy nhiên Picasso đã bí mật làm đám cưới với Roque ngay sau khi Gilot hoàn thành thủ tục ly hôn, họa sĩ coi đây là sự trả thù của ông với việc Gilot đã rời bỏ mình năm 1953.
Pablo Picasso từ trần ngày 8 tháng 4 năm 1973 tại Mougins, Pháp, trong khi ông cùng bà Jacqueline đang chủ trì một buổi tiệc với bạn bè. Tác phẩm ông để lại gồm có 1800 bức tranh sơn dầu, 3 vạn bản tranh, 7000 bức ký họa phác thảo và có khá nhiều tác phẩm khó hiểu. Picasso được an táng tại công viên Vauvenargues ở Vauvenargues, Bouches-du-Rhône. Jacqueline Roque đã ngăn cản hai đứa con của ông là Claude và Paloma tham gia tang lễ cha mình.
=== Xu hướng chính trị ===
Picasso tỏ ra trung lập trong suốt Chiến tranh thế giới thứ nhất, Nội chiến Tây Ban Nha và Chiến tranh thế giới thứ hai, họa sĩ từ chối ủng hộ bất cứ bên tham chiến nào. Trong Nội chiến Tây Ban Nha, tuy thể hiện sự phẫn nộ và phản đối chế độ của tướng Francisco Franco và chủ nghĩa phát xít qua các tác phẩm của mình, Picasso không hề cầm vũ khí chống lại chế độ này.
Năm 1944, Picasso gia nhập Đảng Cộng sản Pháp và tham gia một hội nghị hòa bình quốc tế tổ chức ở Ba Lan. Năm 1950, họa sĩ được nhận Giải thưởng hòa bình Stalin của chính phủ Liên Xô. Năm 1962, ông được nhận một giải thưởng lớn khác của nhà nước Xô viết, đó là Giải thưởng hòa bình Lenin.
== Tác phẩm ==
Các tác phẩm của Picasso thường được phân loại theo các thời kỳ khác nhau. Tuy rằng tên gọi các thời kỳ sáng tác sau này của họa sĩ còn gây nhiều tranh cãi, người ta phần lớn đều chấp nhận cách phân chia thời kỳ đầu sáng tác của Picasso thành Thời kỳ Xanh (1901–1904), Thời kỳ Hồng (1904–1906), Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu - điêu khắc (1908–1909), Thời kỳ Lập thể phân tích (1909–1912) và Thời kỳ Lập thể tổng hợp (1912–1919).
=== Trước 1901 ===
Picasso bắt đầu tập vẽ dưới sự hướng dẫn của cha ông từ năm 1890. Sự tiến bộ trong kỹ thuật của họa sĩ có thể thấy trong bộ sưu tập các tác phẩm thời kì đầu ở Bảo tàng Museu Picasso tại Barcelona. Có thể thấy chủ nghĩa hiện thực hàn lâm trong các tác phẩm thời kì đầu này, tiêu biểu là bức The First Communion (1896). Cũng năm 1896, khi mới 14 tuổi, Picasso đã hoàn thành tác phẩm Portrait of Aunt Pepa (Chân dung dì Pepa), một bức chân dung gây ấn tượng sâu sắc đến mức Juan-Eduardo Cirlot đã đánh giá rằng "không nghi ngờ gì nữa, đây là một trong những tác phẩm lớn nhất trong lịch sử hội họa Tây Ban Nha".
Năm 1897, chủ nghĩa hiện thực của Picasso bắt đầu chịu ảnh hưởng của chủ nghĩa tượng trưng, thể hiện qua một loạt các bức tranh phong cảnh sử dụng tông màu xanh lá cây và tím không tự nhiên.
=== Thời kỳ Xanh (1901–1904) ===
Trong thời kỳ này, tác phẩm của Picasso có tông màu tối hơn với màu chủ đạo là xanh thẫm, đôi khi được làm ấm hơn bởi các màu khác. Mốc bắt đầu của Thời kỳ Xanh không rõ ràng, nó có thể bắt đầu từ mùa xuân năm 1901 ở Tây Ban Nha, hoặc ở Paris nửa cuối năm đó. Có lẽ cách dùng màu của họa sĩ chịu ảnh hưởng từ chuyến đi xuyên Tây Ban Nha và sự tự sát của người bạn Carlos Casagemas.
=== Thời kỳ Hồng (1905–1907) ===
Các tác phẩm của Picasso trong giai đoạn này mang vẻ tươi tắn hơn với việc sử dụng nhiều màu cam và hồng. Năm 1904 tại Paris, Picasso gặp Fernande Olivier, một người mẫu cho các họa sĩ và nhà điêu khắc, rất nhiều tác phẩm của ông trong thời kỳ này chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ nồng ấm giữa hai người.
=== Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu (1908–1909) ===
Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu bắt đầu với tác phẩm nổi tiếng Những cô nàng ở Avignon (Les Demoiselles d'Avignon) lấy cảm hứng từ những đồ tạo tác Phi châu. Ông cho rằng mọi loại nghệ thuật phải tự học được cái hay của nhau. Ông chọn châu Phi làm cản hứng của mình bởi tính Lập thể rõ ràng của nó.
=== Thời kỳ Lập thể phân tích (1909–1912) ===
Chủ nghĩa Lập thể phân tích là phong cách vẽ mà Picasso đã phát triển cùng Georges Braque theo đó sử dụng những màu đơn sắc ngả nâu cho các tác phẩm. Các vật thể sẽ được hai họa sĩ tách thành những bộ phận riêng biệt và "phân tích" chúng theo hình dạng bộ phận này.
=== Thời kỳ Lập thể tổng hợp (1912–1919) ===
Đây là sự phát triển chủ nghĩa lập thể của Picasso với việc sử dụng nghệ thuật cắt dán bằng các chất liệu vải, giấy báo, giấy dán tường để mô tả đề tài tĩnh vật và nhân vật.
=== Chủ nghĩa cổ điển và siêu thực ===
Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Picasso bắt đầu thực hiện các tác phẩm theo trường phái tân cổ điển (neoclassicism). Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của Picasso, bức Guernica đã được sáng tác trong thời kì này. Bức tranh mô tả cuộc ném bom vào Guernica của phát xít Đức trong Nội chiến Tây Ban Nha.
=== Giai đoạn sau ===
Picasso là một trong 250 nhà điêu khắc tham gia Triểm lãm điêu khắc quốc tế lần thứ 3 tổ chức tại Bảo tàng mỹ thuật Philadelphia vào mùa hè năm 1949.
Trong thập niên 1950, họa sĩ một lần nữa thay đổi phong cách sáng tác, ông thực hiện các bức tranh dựa trên phong cách của các bậc thầy cổ điển như Diego Velázquez, Goya, Poussin, Édouard Manet, Courbet và Delacroix.
== Di sản ==
Khi Picasso qua đời, rất nhiều tác phẩm do họa sĩ sáng tác vẫn thuộc quyền sở hữu của ông vì Picasso cảm thấy không cần thiết phải bán chúng. Thêm vào đó, ông còn có một bộ sưu tập rất giá trị các tác phẩm của những họa sĩ yêu thích như Henri Matisse. Vì Picasso không để lại di chúc, một phần bộ sưu tập này được dùng để trả thuế cho chính phủ Pháp và nó được trưng bày tại Bảo tàng Musée Picasso tại Paris. Năm 2003, những người thân của họa sĩ đã cho khánh thành một bảo tàng tại thành phố quê hương ông, Málaga, đó là Bảo tàng Museo Picasso Málaga.
Picasso có vài bức tranh nằm trong danh sách những tác phẩm nghệ thuật đắt giá nhất thế giới:
Bức "Nude in a black armchair" - được bán với giá 45,1 triệu USD năm 1999.
Bức Les Noces de Pierrette - được bán với giá hơn 51 triệu USD năm 1999.
Bức Garçon à la pipe - được bán với giá 104 triệu USD tại nhà đấu giá Sotheby's ngày 4 tháng 5 năm 2004 đã lập kỉ lục thế giới về giá cho một tác phẩm nghệ thuật.
Bức Dora Maar au Chat - được bán với giá 95,2 triệu USD tại nhà đấu giá Sotheby's ngày 3 tháng 5 năm 2006.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Pablo Picasso oil paintings
Trang chủ Pablo Picasso (tiếng Anh, Pháp, Tây Ban Nha)
Pablo Picasso (1881 - 1973) nhà danh họa bậc nhất thế kỷ 20
Musée National Picasso (Paris, France)
Musée Picasso (Antibes, France)
Museo Picasso Málaga (Málaga, Spain)
Museu Picasso (Barcelona, Spain) |
quận lumpkin, georgia.txt | Quận Lumpkin là một quận trong tiểu bang Georgia, Hoa Kỳ. Quận lỵ đóng ở thành phố , Georgia 6. Theo điều tra dân số năm 2000 của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, quận có dân số người 2. Năm 2007, ước tính dân số quận này là người.
== Địa lý ==
Theo Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, quận này có diện tích ki-lô-mét vuông, trong đó có km2 là diện tích đất, km2 là diện tích mặt nước.
=== Các xa lộ ===
=== Các quận giáp ranh ===
== Thông tin nhân khẩu ==
== Tham khảo == |
tôn giáo tại hoa kỳ.txt | Tôn giáo tại Hoa Kỳ đặc trưng bởi sự đa dạng các niềm tin và thực hành tôn giáo. Theo các cuộc thăm dò ý kiến gần đây, 76% tổng số dân Hoa Kỳ nhận họ theo Kitô giáo (trong đó, 52% theo Tin Lành, 24% theo Công giáo Rôma), 1% theo Do Thái giáo và 1% theo Hồi giáo. Theo một cuộc khảo sát khác, 40% nói rằng họ tham dự các buổi lễ gần như mỗi tuần hoặc nhiều hơn, và 58% nói rằng họ cầu nguyện ít nhất mỗi tuần. Đa số người Mỹ cho biết tôn giáo giữ một vai trò "rất quan trọng" trong cuộc sống của mình, một tỷ lệ bất thường tại một nước phát triển. Nhiều tôn giáo đã nở rộ tại Hoa Kỳ, kể cả các tôn giáo được bắt nguồn từ đây và các tôn giáo được các người nhập cư đưa vào sau này; vì thế, Hoa Kỳ là một trong những nước có tôn giáo đa dạng nhất.
Theo cuộc khảo sát "Nhận thức Tôn giáo người Mỹ" thì số người nhận định họ theo Kitô giáo đã giảm từ 86% còn lại 77%, Do Thái giáo giảm số lượng nhỏ, số lượng người theo đạo Hồi tăng gấp đôi, Ấn Độ giáo và Phật giáo cũng gia tăng số lượng Những tôn giáo như Phật giáo, Ấn Độ giáo, Hồi giáo, và Do Thái giáo), gọp lại chiếm khoảng 3,9% đến 5,5% dân số người dân đã trưởng thành. Thêm vào đó, 15% dân số đã trưởng thành tự nhận rằng họ không có tín ngưỡng hay tôn giáo. Khi được hỏi, khoảng 5,2% nói rằng họ không biết, hay không chịu trả lời. Theo Thăm dò Nhận thức Tôn giáo, tín ngưỡng có nhiều sự khác biệt khắp nước: 59% người Mỹ ở các tiểu bang miền Tây cho rằng họ tin vào Thượng đế, trong khi ở miền Nam (mệnh danh là "Vành đai Kinh Thánh"), con số này cao đến 86%.
Tu chính án thứ nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ khẳng định: "Quốc hội sẽ không ban hành một đạo luật nào nhằm thiết lập tôn giáo hoặc ngăn cấm tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, báo chí và quyền của dân chúng được hội họp và kiến nghị Chính phủ sửa chữa những điều gây bất bình." Điều này đảm bảo việc tự do thực hành tôn giáo nhưng đồng thời ngăn chặn việc chính phủ thiết lập tôn giáo quốc gia. Tối cao Pháp viện đã giải thích đây là việc ngăn không cho chính phủ có bất cứ thẩm quyền nào trong tôn giáo.
== Lịch sử ==
Từ lúc Mỹ vẫn còn là thuộc địa, khi người nhập cư từ Anh và Đức đã đến Mỹ để tìm tự do tôn giáo, Mỹ đã chịu ảnh hưởng sâu sắc từ tôn giáo. Sự ảnh hưởng đó vẫn tiếp tục đến ngày nay, và được thể hiện trong văn hóa, cuộc sống xã hội, và chính trị.
Một số trong Mười ba thuộc địa đầu tiên được thành lập bởi những người muốn được hành đạo mà không bị kỳ thị: Thuộc địa Vịnh Masachusetts bởi tín hữu Thanh giáo Anh, Pennsylvania bởi những tín hữu Quaker, Maryland bởi những tín hữu Công giáo, và Virginia bởi những tín hữu Anh giáo.
=== Tự do tôn giáo ===
Mặc dù một số tiểu bang ở vùng New England tiếp tục dùng tiền thuế vào ngân quỹ của các giáo hội cho đến thập niên 1830, Hoa Kỳ là quốc gia đầu tiên không có quốc giáo.
Theo mô hình của Luật Tự do Tôn giáo Virginia, những người viết Hiến pháp đã loại bỏ bất cứ tiêu chuẩn tôn giáo nào cho các chức vụ trong chính quyền, và Tu chính án thứ nhất đã cụ thể cấm Chính phủ liên bang ban hành luật thiết lập tôn giáo hay cấm hành đạo. Vì thế, các tổ chức và cơ quan tôn giáo không bị chính quyền quấy nhiễu. Quyết định này là do sự ảnh hưởng từ các quan niệm Duy lý là Kháng cách từ châu Âu, nhưng một phần là do các nhóm tôn giáo nhỏ và các tiểu bang nhỏ lo ngại rằng họ sẽ bị thống trị bởi một quốc giáo không đại diện họ.
== Các tôn giáo chính ==
Kitô giáo: (59,9% đến 76,0%)
Không tôn giáo, kể cả vô thần hay bất khả tri (15,0% đến 37,3%)
Do Thái giáo (1,2% đến 2,2%)
Hồi giáo (0,6% đến 2,6%)
Phật giáo (0,5% đến 0,9%
Ấn Độ giáo (0,4%)
Khác (1,4%)
=== Kitô giáo ===
Tôn giáo lớn nhất Hoa Kỳ là Kitô giáo, chiếm đại đa số dân số (76% trong năm 2008). Trong số những người được hỏi, 51,3% theo phong trào Kháng Cách (Tin Lành), 25% theo Công giáo, 1,7 là tín hữu Mặc Môn và 1,7% theo các giáo phái khác. Kitô giáo được du nhập theo các đoàn di dân châu Âu đầu tiên.
Theo thống kê năm 2000 của Yearbook of American and Canadian Churches, tính các giáo hội từ Hoa Kỳ và Canada, năm giáo phái lớn nhất là:
Giáo hội Công giáo Rôma, 68.115.001 tín hữu
Liên hiệp Báp-tít Nam Phương (Southern Baptist Convention), 16.228.438 tín hữu
Giáo hội Giám Lý Thống nhất (United Methodist Church), 7.853.987 tín hữu
Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô, 5.974.041 tín hữu
Church of God in Christ (Ngũ Tuần), 5.499.875 tín hữu
Vì dân số đông và lịch sử, Hoa Kỳ có số lượng tín hữu Kitô giáo (và tín hữu Kháng Cách) cao hơn bất cứ quốc gia nào trên thế giới.
Những người nhập cư từ Bắc Âu đã đưa Kháng Cách vào nước Mỹ. Trong các phong trào Kháng Cách, Anh giáo, Báp-tít, Thanh giáo, Trưởng Lão, Lutheran, Quaker, and Moravia là những giáo phái đầu tiên đến Hoa Kỳ và đã phát huy sớm nhất.
Người Tây Ban Nha, Pháp, và Anh đưa Công giáo đến. Những người Công giáo thường là người gốc Tây Ban Nha, Ireland, Scotland, Ý, Hà Lan, Ba Lan, Pháp, Hungary, Đức, và Liban.
Những người nhập cư từ Hy Lạp, Ukraina, Nga, Trung và Đông Âu, Trung Đông, Ethiopia, Nam Ấn Độ đã đem Chính thống giáo Đông phương và Chính thống giáo Cổ Đông phương đến Hoa Kỳ. Các giáo phái này đã vượt ra ngoài ranh giới của cộng đồng di dân và trở thành các cộng đoàn đa sắc tộc.
Một số nhóm Kitô giáo được hình thành tại Hoa Kỳ. Trong các thời Đại Tỉnh thức những phong trào liên môn phái Tin Lành và Ngũ Tuần được thành lập, cùng với những giáo phái mới như Cơ đốc Phục Lâm, trào lưu phi môn phái như Phong trào Khôi phục, Nhân Chứng Giê-hô-va, và Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô, còn gọi là Giáo hội Mạc Môn.
Ngày nay, với 16,6 triệu tín hữu (5,3% dân số), Báp-tít Nam Phương là giáo hội lớn nhất trong hơn 200 giáo phái Kháng Cách khác nhau.
=== Không tôn giáo ===
Trong một cuộc thăm dò ý kiến do Tiến sĩ Ariela Keysar từ Đại học Thành phố New York (City University of New York) cho thấy thể loại "không tôn giáo" có mức độ tăng trưởng cao nhất trong số lượng và tỷ lệ. Trong con số này gồm có những người theo chủ nghĩa vô thần, bất khả thi, nhân văn, và các thuyết khác không tin vào thần thánh. Con số đã tăng lên từ 14,3 triệu năm 1990 đến 34,2 triệu năm 2008, tăng tỷ lệ từ 8% đến 15%. Một cuộc khảo sát toàn quốc khác cho thấy con số người không tôn giáo đã lên đến 16,1%.
Trong một cuộc khảo sát toàn quốc năm 2006, các nhà nghiên cứu từ Đại học Minnesota đã khám phá rằng mặc dù người Mỹ có thái độ chấp nhận hơn đối với sự đa dạng tôn giáo, những người không tôn giáo không được tín nhiệm lắm, và bị xếp thấp hơn cả các tín đồ Hồi giáo, những người nhập cư mới đến và những nhóm thiểu số khác trong việc "chia sẻ cái nhịn của họ về xã hội Mỹ". Người Mỹ cũng liên hệ người không tôn giáo với các tính nết không ưa như các hành đồng tội phạm, tin tưởng vào chủ nghĩa duy vật, và tánh tự cao văn hóa. Tuy nhiên, cuộc nghiên cứu này cũng cho thấy độ chấp nhận hay phản đối những người vô thần biến đổi theo kinh nghiệm, giáo dục, và vị thế chính trị—những người có học thức cao, sinh sống tại vùng ven biển miền Tây hay miền Đông có thái độ chấp nhận hơn là những người sống ở miền Trung Tây.
=== Do Thái giáo ===
Sau Kitô giáo và không tôn giáo, Do Thái giáo là nhóm tín ngưỡng lớn thứ ba tại Hoa Kỳ, mặc dù những người tự xưng là Do Thái không nhất thiết theo các phong tục tập quán của tôn giáo này. Một con số đông người Mỹ tự xưng là người Do Thái căn cứ vào dân tộc hay văn hóa thay vì tôn giáo. Ví dụ, 19% người tự xưng là người Mỹ Do Thái tin rằng Thượng đế không tồn tại. Một cuộc khảo sát năm 2001 dự đoán rằng có khoảng 5,3 triệu người trưởng thành là người Do Thái, trong đó 2,83 triệu là người theo đạo, 1,08 triệu không theo đạo nào, và 1,36 triệu theo đạo khác.
Người Do Thái đã có mặt tại Mỹ từ thế kỷ 17, nhưng họ không nhập cư bằng số đông cho đến thế kỷ 19, do bị đàn áp tại Đông Âu. Khoảng 25% nhóm người này sống tại Thành phố New York.
Theo điều tra dân số năm 2008, tổng số người Do Thái là 6.489.000 [2], tăng lên từ 6.141.325 năm 2000.
=== Hồi giáo ===
Hồi giáo được du nhập vào Hoa Kỳ với các người nô lệ từ châu Phi. Khoảng 10% nô lệ từ châu Phi được đưa vào Hoa Kỳ là tín đồ Hồi giáo. Tuy nhiên, hầu hết đều cải đạo theo Kitô giáo và số tín đồ Hồi giáo không đáng kể đến khi những người nhập cư từ các khu vực Ả Rập và Đông Á đông người theo đạo Hồi. Tổ chức Hồi giáo đầu tiên là Cộng động Hồi giáo Ahmadiyya, thành lập năm 1921. Giữa thế kỷ 20, Hồi giáo được biết đến nhiều hơn qua tổ chức Nation of Islam, một nhóm có đông người da đen theo sau thập niên 1940; những thành viên tổ chức này gồm có Malcolm X và Muhammad Ali.
Nghiên cứu cho thấy những người theo Hồi giáo ở Hoa Kỳ có xu hướng hội nhập và giàu có hơn người Hồi giáo ở châu Âu. Tuy nhiên, các cuộc khảo sát cũng cho thấy rằng mức độ hội nhập của họ thấp hơn các cộng đồng văn hóa và tôn giáo khác, đặc biệt là sau vụ tấn công khủng bố 11 tháng 9.
Theo một số nguồn, Hồi giáo là tôn giáo tăng trưởng nhanh nhất tại Hoa Kỳ. Phần lớn độ tăng trưởng này là nhờ vào số người nhập cư và chỉ số sinh đẻ khá cao. Khoảng một phần tư người Hồi giáo là người cải đạo, hầu hết là người Mỹ gốc Phi. Có nhiều tranh cãi về con số tín đồ Hồi giáo tại Hoa Kỳ. Con số cao nhất được chấp nhận là 2,5 triệu vào năm 2009 (0,8% dân số). Một số ngưồn khác ước tính cao đến 6-7 triệu.
=== Phật giáo ===
Phật giáo được du nhập vào Hoa Kỳ vào thế kỷ 19 cùng với những người nhập cư từ Đông Á. Chùa đầu tiên tại Hoa Kỳ được thành lập tại San Francisco năm 1853 bởi những người Mỹ gốc Hoa.
Cuối thế kỷ 19 những nhà truyền giáo từ Nhật Bản đến Hoa Kỳ, cùng vào thời điểm này, giới trí thức Hoa Kỳ bắt đầu để ý đến Phật giáo.
Người Mỹ nổi tiếng đầu tiên quy y đạo Phật là Henry Steel Olcott. Một sự kiện góp phần tăng trưởng Phật giáo tại Hoa Kỳ là Nghị viện Các Tôn giáo Thế giới diễn ra năm 1893, có sự tham gia của các Phật tử từ Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, và Tích Lan.
Ướt tính số Phật tử tại Hoa Kỳ duy động từ 0,5% đến 0,9%,; con số 0,7% được CIA và PEW công bố.
=== Ấn Độ giáo ===
=== Tôn giáo khác ===
=== Các giáo phái được thành lập tại Hoa Kỳ ===
== Chú thích == |
cộng hòa liên bang.txt | Cộng hòa liên bang (tiếng Anh: federal republic) là một liên bang gồm các bang có thể chế chính phủ cộng hòa. Liên bang là chính phủ trung ương. Việc sử dụng thuật từ cộng hòa có vẽ như không thích hợp nhưng ít nhất nó có ý nghĩa là một bang hay liên bang gồm các bang không có một quốc vương/nữ hoàng.
Trong một cộng hòa liên bang, có sự chia sẻ quyền lực giữa chính phủ "liên bang" quốc gia và chính quyền của các phân cấp hành chính bên dưới. Tuy mọi quốc gia điều hành việc phân chia quyền lực có khác nhau nhưng chính sách về tiền tệ, an ninh quốc phòng, và các vấn đề khác thuộc tầm mức "quốc gia" được tiến hành ở cấp bậc "liên bang" trong khi đó các vấn đề địa phương như đường sá và bảo trì hạ tầng cơ sở và chính sách giáo dục được tiến hành ở cấp bậc địa phương. Nói cách khác, tuy chính phủ liên bang có chủ quyền tối thượng nhưng một số chủ quyền giới hạn được trao cho các cấp bậc hành chính bên dưới nơi mà chính phủ liên bang không có thẩm quyền. Đây là sự tương phản so với một cộng hòa đơn lập nơi mà chính phủ quốc gia có toàn chủ quyền trên tất cả các khía cạnh đời sống chính trị đối với các cấp bậc hành chính bên dưới, và so với một liên hiệp nơi mà các quốc gia cấu thành vẫn giữ được chủ quyền tối thượng. Hình thức chính phủ này được nhiều quốc gia khắp thế giới sử dụng.
== Danh sách các cộng hòa liên bang ==
=== Hiện thời ===
=== Lịch sử ===
Cộng hòa Hòa Lan (1581–1795)
Paraguay (1813-1876)
Đại Colombia (1819-1831)
Hợp chúng Quốc Colombia (cộng hòa liên bang cho đến năm 1886; cộng hòa đơn lập sau năm 1886)
Cộng hòa Liên bang Trung Mỹ (1823–1838)
Cộng hòa Weimar (Đức 1919-1933)
Liên Xô (1922-1991)
Tây Đức (1922-1991)
Nam Tư (1945-1992) Serbia và Montenegro (1992-2006)
Liên bang Burma (1948-1962)
Hợp chúng Quốc Indonesia (chính thức 1949-1950, tuy các bang tồn tại cho đến hiệp ước sau cùng vào năm 1956 theo đó Cộng hòa Nam Maluku và bang Đông Sumatra đồng ý nhập vào Cộng hòa Indonesia.)
Cộng hòa Liên bang Cameroon (1961-1972)
Uganda (1962-1966)
Tiệp Khắc (1969-1992)
== Xem thêm ==
Hình thức chính quyền
Danh sách các nước cộng hòa
== Tham khảo == |
moldova.txt | Moldova /mɒlˈdoʊvə/ , tên chính thức Cộng hoà Moldova (Republica Moldova) là một quốc gia nằm kín trong lục địa ở Đông Âu, giữa România ở phía tây và Ukraina ở phía bắc, đông và nam.
Thời cổ đại, lãnh thổ hiện nay của nước này là một phần của Dacia, sau đó nó rơi vào vùng ảnh hưởng của Đế chế La Mã. Thời Trung Cổ, đa phần lãnh thổ hiện nay của Moldova là một phần của Công quốc Moldavia. Năm 1812, vùng phía đông của công quốc này bị sáp nhập bởi Đế chế Nga và được gọi là Bessarabia. Từ năm 1856 tới năm 1878, hai tỉnh phía nam quay trở lại với Moldavia, và vào năm 1859 chúng thống nhất với Wallachia để trở thành Romania hiện đại.
Ngay khi Đế chế Nga bị giải tán năm 1917, một nhà nước Cộng hoà Dân chủ Moldavia, đầu tiên là tự trị, sau đó là độc lập được thành lập, và gia nhập Romania năm 1918. Năm 1940, Bessarabia sáp nhập vầo Liên Xô (với sự đồng ý của Đức quốc xã theo Nghị định thư Phụ lục Bí mật của Hiệp ước Xô-Đức), và bị phân chia giữa Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Ukraina và nhà nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Moldavia mới thành lập.
Sau khi bị giành giật qua lại trong giai đoạn 1941 và 1944 trong Thế chiến II, lãnh thổ của quốc gia Moldova hiện đại sáp nhập vào Liên Xô cho tới khi nó giành lại độc lập ngày 27 tháng 8 năm 1991. Moldova được chấp nhận vào Liên hiệp quốc tháng 3 năm 1992.
Tháng 9 năm 1990, một chính phủ ly khai được thành lập tại Transnistria, dải lãnh thổ Moldova trên bờ đông sông Dniester. Không quốc gia thành viên Liên hiệp quốc nào công nhận chính quyền này.
Nước này theo chế độ dân chủ nghị viện với một tổng thống là lãnh đạo quốc gia và một thủ tướng là lãnh đạo chính phủ. Moldova là một quốc gia thành viên của Liên hiệp quốc, Hội đồng châu Âu, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), GUAM, Cộng đồng các quốc gia độc lập, Tổ chức Hợp tác Kinh tế biển Đen (BSEC) và các tổ chức quốc tế khác. Moldova hiện mong muốn gia nhập Liên minh châu Âu, và đã thực hiện Kế hoạch Hành động ba năm đầu tiên bên trong khuôn khổ Chính sách Láng giềng châu Âu (ENP).
== Địa lý ==
Phần lớn nhất của đất nước nằm giữa hai con sông, Dniester và Prut. Biên giới phía tây Moldova được hình thành bởi sông Prut, nó nhập vào sông Danube trước khi đổ ra biển Đen. Moldova có đoạn tiếp cận sông Danube chỉ dài khoảng 480m, và Giurgiuleşti là cảng duy nhất của Moldova trên sông Danube. Ở phía đông, Dniester là con sông chính, chảy xuyên quốc gia từ bắc đến nam, nhận nước từ các con sông Răut, Bâc, Ichel, Botna. Ialpug chảy vào một trong các cửa sông của Danube, trong khi Cogâlnic đổ vào dãy cửa sông trên biển Đen.
Moldova là quốc gia nằm kín trong lục địa, thậm chí khi nước này ở rất gần biển Đen. Tuy hầu hết đất nước là đồi núi, độ cao không bao giờ vượt quá 430m — điểm cao nhất là Đồi Bălăneşti. Các ngọn đồi tại Moldova là một phần của Cao nguyên Moldavia, về mặt địa lý bắt nguồn từ dãy Núi Carpathian. Các phần phụ của nó tại Moldova gồm Đồi Dniester (Đồi Bắc Moldavia và Dãy Dniester-Rāut), Đồng bằng Moldavia (Thung lũng Trung Prut và Thảo nguyên Bălţi), và Cao nguyên Trung Moldavia (Đồi Ciuluc-Soloneţ, Đồi Corneşti (Codri Massive) - Codri, có nghĩa "rừng" -, Đồi Hạ Dniester, Thung lũng Hạ Prut, và Đồi Tigheci). Ở phía nam, nước này có một vùng đất phẳng nhỏ, Đồng bằng Bugeac. Lãnh thổ Moldova ở phía đông sông Dniester bị chia tách giữa các phần của Cao nguyên Podolia, và các phần của Thảo nguyên Âu Á.
Các thành phố lớn của nước này là thủ đô Chişinău, ở trung tâm đất nước, Tiraspol (ở vùng phía đông Transnistria), Bălţi (ở phía bắc) và Tighina (ở phía đông nam).
== Tài nguyên ==
Tên Moldova xuất xứ từ tên Sông Moldova; châu thổ của con sông này từng là một trung tâm chính trị khi Công quốc Moldavia được thành lập năm 1359. Nguồn gốc của tên sông vẫn chưa sáng tỏ hoàn toàn. Có một giải thích (một truyền thuyết) về việc hoàng tử Dragoş đặt tên cho con sông sau khi săn một chú bò rừng châu Âu: Sau cuộc đi săn, chú chó ăn Molda đã kiệt sức của ông chết đuối trên sông. Tên của chú chó đã được đặt cho con sông, và cuối cùng là cả Công quốc, theo Dimitrie Cantemir và Grigore Ureche.
== Lịch sử ==
Thời Cổ đại lãnh thổ Moldova là nơi sinh sống của các bộ tộc Dacian. Giữa thế kỷ thứ 1 và thế kỷ thứ 7 trước Công nguyên, vùng phía nam thỉnh thoảng nằm dưới quyền kiểm soát của các Đế chế La Mã và sau đó là Byzantine. Vì vị trí chiến lược của nó là cầu nối giữa châu Á và châu Âu, lãnh thổ Moldova hiện đại nhiều lần trong thời kỳ cuối cổ đại và đầu thời Trung Cổ đã bị người Goths, Huns, Avars, Magyars, Pechenegs, Cumans, và Mông Cổ xâm lược. Những cuộc tấn công của người Tatar tiếp tục sau sự thành lập Công quốc Moldavia năm 1359, với các biên giới là dãy núi Carpathian ở phía tây, sông Dniester ở phía đông và sông Danube và biển Đen ở phía nam. Lãnh thổ của nó gồm lãnh thổ hiện tại của Cộng hoà Moldova, tám trong số 41 tỉnh ở phía đông Romania, và vùng tỉnh Chernivtsi và Budjak của Ukraina. Như nước cộng hoà hiện tại, nó được người địa phương gọi là Moldova. Năm 1538, công quốc trở thành một chư hầu của Đế chế Ottoman, nhưng vẫn giữ được một phần tự trị bên trong và bên ngoài.
Năm 1812, theo Hiệp ước Bucharest giữa Đế chế Ottoman (trong đó Moldavia là một chư hầu) và Đế chế Nga, Đế chế Ottoman nhượng nửa phía đông Công quốc Moldavia, dọc Khotyn và Bessarabia cũ (Budjak hiện đại), dù có nhiều cuộc phản đối của người Moldavia.
Ban đầu, người Nga dùng cái tên "'Oblast' (tỉnh) Moldavia và Bessarabia", cho phép họ có quyền tự trị rộng lớn, nhưng sau này (năm 1828) ngưng chính quyền tự quản và gọi nó là Guberniya của Bessarabia, hay đơn giản Bessarabia, bắt đầu quá trình Nga hoá, một phần của chính sách này tại Bessarabia là bài trừ yếu tố Romania bằng cách cấm giáo dục và lễ hội tôn giáo bằng tiếng România từ sau thập niên 1860; hậu quả là một tỷ lệ biết chữ cực thấp (năm 1897 xấp xỉ 18% nam giới, xấp xỉ 4% nữ giới biết chữ). Phần phía tây Moldavia (không phải là một phần của Moldova hiện nay) vẫn là một công quốc tự trị, và vào năm 1859, thống nhất với Wallachia để hình thành Vương quốc Romania. Năm 1856, Hiệp ước Paris chứng kiến ba tỉnh của Bessarabia - Cahul, Bolgrad và Ismail - quay trở lại với Moldavia, nhưng vào năm 1878, Hiệp ước Berlin chứng kiến Vương quốc Romania trả lại chúng cho Đế chế Nga. Trong thế kỷ 19, chính quyền Nga khuyến khích việc di cư tới các phần của vùng bởi người Ukraina, Lipovan, Cossack, Bulgari, Đức, Gagauz, và cho phép định cư thêm nhiều người Do Thái; tỷ lệ dân cư là người gốc Moldova giảm từ khoảng 86% năm 1816 xuống khoảng 52% năm 1905.
Thế chiến I đã khiến người dân địa phương nhận thức cao hơn về chính trị và văn hoá (quốc gia), có 300,000 người Bessarabian đăng ký gia nhập Hồng Quân Xô Viết được thành lập năm 1917; bên trong các đơn vị lớn hơn nhiều "Hội đồng Binh sĩ Moldavia" được thành lập. Từ tháng 11 năm 1917 đến tháng 1 năm 1918, công nhân và nông dân thành lập chính quyền Xô viết ở Kishinev, Bendery, Tiraspol và các thành phố và phụ cận khác quanh Moldavia. Tuy nhiên chính quyền Xô viết chỉ đứng vững ở phía đông Moldavia (tả ngạn của Dniester). Vùng phía tây của đất nước là Bessarabia vốn nằm giữa Prut và Dniester không nằm trong quyền lực của Xô viết. Tại đây, một nghị viện Bessarabia, Sfatul Ţării, được bầu vào tháng 10 tháng 11 năm 1917 và khai mạc ngày 3 tháng 12 năm 1917 hoặc 21 tháng 11 năm 1917 theo lịch cũ, tuyên bố nhà nước Cộng hoà Dân chủ Moldavia (15 tháng 12, hay 2 tháng 12 năm 1917) bên trong nhà nước liên bang Nga, và thành lập chính phủ của họ (21 tháng 12 hay 8 tháng 12 năm 1917). Bessarabia tuyên bố độc lập khỏi Nga (6 tháng 2 hay 24 tháng 1 năm 1918), vào ngày 9 tháng 4 hay 27 tháng 3 năm 1918. Ngay sau đó, Quân đội Romania tiến vào trong vùng nhằm đối phó với một nỗ lực phản kháng của người dân địa phương với sự lãnh đạo của Bolshevik. Khi đó chính quyền Nga Xô viết đang bận đối phó với các lực lượng Bạch vệ trong Nội chiến Nga nên không thể đem quân bảo vệ Bessarabia. Khi biết sẽ không nhận được sự hỗ trợ, đầu tháng 1, Sfatul Ţării quyết định với 86 phiếu thuận và 3 phiếu chống và 36 phiếu trắng, sáp nhập Bessarabia vào Vương quốc Romania, với điều kiện thực hiện cải ruộng đất, tự trị địa phương, và tôn trọng các quyền tín ngưỡng. Các điều kiện bị huỷ bỏ sau khi Bukovina và Transilvania cũng gia nhập Vương quốc Romania. Liên minh này được các quốc gia Đồng Minh công nhận trong Hiệp ước Paris (1920). Tuy nhiên, nước Nga Xô viết mới được thành lập, không công nhận quyền cai quản của Romania với Bessarabia. Liên Xô coi vùng này là lãnh thổ Liên Xô nằm dưới sự chiếm đóng của Romania.
Sau thất bại của cuộc Nổi dậy Tatarbunary năm 1924, vùng Transnistria láng giềng, một phần của Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Ukraina thời ấy, được thành lập thành CHXHCNXV Moldavia. Tháng 8 năm 1939, Hiệp ước Molotov-Ribbentrop và nghị định bí mật thèm vào của nó được ký kết, theo đó Phát xít Đức công nhận Bessarabia thuộc vùng ảnh hưởng của Liên Xô, điều này giúp Liên Xô mạnh mẽ khôi phục tuyên bố chủ quyền với vùng đất này. Dù Liên Xô và Romania đồng ý nguyên tắc giải pháp phi bạo lực cho những tranh chấp lãnh thổ trong Hiệp ước Kellogg-Briand năm 1928 và Hiệp ước London tháng 7 năm 1933, ngày 28 tháng 6 năm 1940, sau khi ra một tối hậu thư với Romania, Liên Xô, với sự cam kết không can thiệp của Đức, tiến quân vào Bessarabia và phần phía bắc của Bukovina. Hồng quân nhận được sự chào đón của dân địa phương và chỉ gặp ít kháng cự. Họ thành lập Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Moldavia, gồm khoảng 70% của Bessarabia, và 50% của Moldavian ASSR hiện đã giải tán.
Sự kiện này dẫn tới sự thay đổi chính trị lớn tại Romania, nước này huỷ bỏ hiệp ước liên minh với Pháp và Anh và quay sang thân cận với Đức và cuối cùng là sự thành lập các chính phủ ủng hộ Phát xít. Bằng cách tham gia vào cuộc xâm lược của phe Trục vào Liên Xô năm 1941, Romania chiếm lại các lãnh thổ Bessarabia đã mất, và bắc Bukovina, nhưng chính quyền quân sự của nó cũng tiếp tục chiến tranh sâu vào trong lãnh thổ Liên Xô. Tại Transnistria bị chiếm đóng, các lực lượng Romania, cùng với người Đức, đã trục xuất hay tiêu diệt khoảng 300,000 người Do Thái, gồm 147,000 người từ Bessarabia và Bukovina (trong con số sau này, xấp xỉ 90,000 người thiệt mạng). Quân đội Liên Xô tái chiêm vùng này trong thời gian từ tháng 2 tới tháng 4 năm 1944, và tái lập nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Moldavia. Khoảng 150,000 lính Moldova đã thiệt mạng trong Thế chiến II, gồm khoảng 50,000 người thuộc quân đội Romania (gồm cả tù binh chiến tranh), và khoảng 100,000 trong quân đội Liên Xô.
Trong giai đoạn cầm quyền của Stalin (1940-1941, 1944-1953), Tù đày Liên Xô từ Bessarabia và Bắc Bukovina tới Bắc Urals, Siberia, và Bắc Kazakhstan đã diễn ra thường xuyên, những cuộc trục xuất lớn nhất diễn ra ngày 12–13 tháng 6 năm 1941, và 5-6 tháng 7 năm 1949, chỉ riêng tại nhà nước Cộng hoà Xã hộ chủ nghĩa Moldova đã là 18.392 người và 35,796 người. Các hình thức khác gồm 32.433 vụ bắt giữ nghi phạm chính trị, tiếp đó là đưa vào Trại cải tạo lao động (trong 8.360 trường hợp), tập thể hoá, loại bỏ kinh tế tư nhân, và hạ tầng (chủ yếu trong cuộc rút lui năm 1941). Năm 1946, do hậu quả của nhiều cuộc hạn hán nghiêm trọng cộng với những hạn mức đóng góp bắt buộc do chính phủ Liên Xô, vùng tây nam Liên Xô gặp nạn đói nghiêm trọng. Năm 1946-1947, ít nhất 216.000 người chết hoặc bị hư thai, và khoảng 350,000 trường hợp loạn dưỡng đã được các nhà sử học xác minh chỉ riêng tại Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Moldavia. Những sự kiện tương tự diễn ra trong thập niên 1930 tại Moldavian ASSR. Năm 1944-53, có nhiều nhóm vũ trang chống đối Liên Xô tại Moldova; tuy nhiên NKVD và sau này là MGB đã tìm cách bắt giữ, hành quyết hoặc trục xuất các thành viên của chúng.
Giai đoạn hậu chiến chứng kiến sự di cư ở tầm rộng lớn của các sắc tộc Nga, Ukraina, và các nhóm sắc tộc khác vào trong nhà nước cộng hoà Xô viết mới, đặc biệt là vào các vùng đô thị, một phần để bù cho những thiếu hụt nhân khẩu do các cuộc di cư năm 1940 và 1944 gây ra. Chính phủ Liên Xô tiến hành một chiến dịch khuyến khích bản sắc dân tộc Moldova, tách biệt nó khỏi bản sắc Romania, dựa trên một lý thuyết được phát triển trong thời nhà nước Moldavian ASSR (1924-1940) còn tồn tại. Chính sách chính thức của Liên Xô xác nhận rằng ngôn ngữ được người Moldova sử dụng khác biệt với tiếng România (xem Chủ nghĩa Moldova). Để phân biệt hai loại tiếng này, trong thời Liên Xô, tiếng Moldova được viết theo ký tự Kirin, trái với tiếng România, từ năm 1860 đã được viết theo ký tự Latinh.
Hơn nữa, trong thập niên 1970 và 1980, Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Moldavia nhận được các khoản trợ cấp lớn từ ngân sách Liên Xô để phát triển các cơ sở công nghiệp và khoa học cũng như nhà ở. Năm 1971, Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô thông qua một quyết định "Về các biện pháp pháp triển hơn nữa thành phố Kishinev" (Chişinău hiện đại), cung cấp hơn một tỷ ruble từ ngân sách Liên Xô cho các dự án xây dựng; các quyết định sau đó cũng cung cấp các khoản tiền lớn và gửi các chuyên gia từ các vùng khác của Liên Xô tới giúp phát triển ngành công nghiệp Moldova.
Trong các điều kiện chính trị mới được tạo lập sau năm 1985 từ chính sách glasnost do Mikhail Gorbachev đề xướng năm 1986, để hỗ trợ perestroika (tái cơ cấu), một Phong trào Dân chủ Moldova (tiếng România: Mişcarea Democratică din Moldova) được hình thành, và vào năm 1989 bắt đầu được gọi là Mặt trận Nhân dân Moldova (FPM; tiếng România: Frontul Popular din Moldova), tư tưởng của nó dựa trên chủ nghĩa quốc gia lãng mạn. Cùng với nhiều nước cộng hoà thuộc Liên Xô khác, từ năm 1988 trở về sau, Moldova bắt đầu chuyển sang khunh hướng độc lập. Ngày 27 tháng 8 năm 1989, FPM tổ chức một cuộc tuần hành nhân dân lớn tại Chişinău, được gọi là Đại Quốc hội (tiếng România: Marea Adunare Naţională), gây áp lực với chính quyền Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia thông qua một luật ngôn ngữ ngày 31 tháng 8 năm 1989 tuyên bố tiếng Moldova được viết bằng ký tự Latinh là ngôn ngữ của nhà nước. Sự tương đồng của nó với tiếng România cũng được tái lập.
Cuộc bầu cử nghị viện địa phương dân chủ đầu tiên được tổ chức vào tháng 2 và tháng 3 năm 1990. Mircea Snegur được bầu làm Người phát ngôn Nghị viện, và Mircea Druc làm Thủ tướng. Ngày 23 tháng 6 năm 1990, Nghị viện thông qua Tuyên bố về Chủ quyền của "Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết Moldova", tuyên bố, cùng với những thứ khác, quy định sự ưu tiên của luật pháp Moldova so với luật pháp của Liên Xô. Sau thất bại của cuộc đảo chính Liên Xô năm 1991, ngày 27 tháng 8 năm 1991, Moldova tuyên bố độc lập. Ngày 21 tháng 12 cùng năm, Moldova, cùng với hầu hết các nước cộng hoà cũ của Liên Xô, ký đạo luật cơ bản hình thành Cộng đồng các quốc gia độc lập (CIS) hậu Xô viết. Tự tuyên bố mình là một nhà nước trung lập, không gia nhập phái quân sự của CIS. Ba tháng sau, ngày 2 tháng 3 năm 1992, nước này được Liên hiệp quốc công nhận chính thức là một quốc gia độc lập. Năm 1994, Moldova trở thành một Đối tác vì Hoà bình của NATO và cũng là một thành viên của Hội đồng châu Âu ngày 29 tháng 6 năm 1995.
Tại vùng phía đông sông Dniester, Transnistria, gồm một tỷ lệ lớn người sắc tộc Nga và Ukraina ủng hộ Nga (51%, năm 1989, người Moldova chiếm 40%), và là nơi có sở chỉ huy nhiều đơn vị thuộc Quân đoàn Bảo vệ Xô viết số 14 đóng quân, một nhà nước "Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia Pridnestrovia" được tuyên bố thành lập ngày 16 tháng 8 năm 1990, với thủ đô đặt tại Tiraspol. Động cơ phía sau hành động này là mối lo ngại sự trỗi dậy của chủ nghĩa quốc gia tại Moldova và dự định thống nhất với România ngay sau khi ly khai khỏi Liên Xô. Vào mùa đông năm 1991-1992 những cuộc đụng độ đã xảy ra giữa các lực lượng Transnistria, được các lực lượng bên trong Quân đoàn 14 ủng hộ, và cảnh sát Moldova. Từ mùng 2 tháng 3 tới 26 tháng 7 năm 1992, cuộc xung đột leo thang trở thành một cuộc xung đột quân sự.
Ngày 2 tháng 1 năm 1992, Moldova thiết lập một nền kinh tế thị trường, tự do hoá giá cả, dẫn tới tình trạng lạm phát tăng cao. Từ năm 1992 tới năm 2001, đất nước non trẻ phải chịu một cuộc khủng hoảng kinh tế nghiêm trọng, khiến hầu hết dân cư phải sống dưới mức nghèo khổ. Năm 1993, một đồng tiền tệ quốc gia, đông leu Moldova, ra đời để thay thế đồng rúp Liên Xô. Tình hình kinh tế Moldova bắt đầu biến chuyển năm 2001; và tới năm 2008 nước này đã có mức tăng trưởng ổn định hàng năm trong khoảng 5% đến 10%. Đầu thập niên 2000 cũng chứng kiến sự tăng trưởng di cư lớn của những người Moldova tìm kiếm việc làm (chủ yếu bất hợp pháp) vào Nga (đặc biệt là vùng Moskva), Italia, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hy Lạp, Síp, Thổ Nhĩ Kỳ, và các quốc gia khác; các khoản tiền gửi về từ những người Moldova ở nước ngoài chiếm tới 38% GDP quốc gia, tỷ lệ cao thứ hai thế giới vào năm 2008.
Cuộc bầu cử nghị viện năm 1994 chứng kiến thành công của Đảng Dân chủ Ruộng đất Moldova với đa số ghế, tạo ra một điểm thay đổi quan trọng trong chính trị Moldova. Mặt trận Nhân dân quốc gia từ thời điểm đó chỉ còn là nhóm thiểu số trong nghị viện, các biện pháp mới nhằm giảm căng thẳng sắc tộc trong nước có thể được thông qua. Những kế hoạch về một liên minh với Romania đã bị huỷ bỏ, và hiến pháp mới trao quyền tự trị cho hai vùng đất ly khai Transnistria và Gagauzia. Ngày 23 tháng 12 năm 1994, Nghị viện Moldova thông qua một "Luật về Vị thế Pháp lý Đặc biệt của Gagauzia", và vào năm 1995 nó đã được pháp hoá.
Sau khi giành thắng lợi trong cuộc bầu cử tổng thống năm 1996, ngày 15 tháng 1 năm 1997, Petru Lucinschi, cựu Thư ký thứ nhất của Đảng Cộng sản Moldova giai đoạn 1989-91, trở thành tổng thống thứ hai của đất nước (1997-2001), thay thế Mircea Snegur (1991-1996). Năm 2000, Hiến pháp được sửa đổi, đưa Moldova thành một nhà nước cộng hoà nghị viên, với tổng thống được lựa chọn thông qua bầu cử gián tiếp chứ không phải trực tiếp do nhân dân.
Giành 49.9% số phiếu, Đảng Cộng sản Cộng hoà Moldova (tái lập năm 1993 sau khi đã bị đặt ra ngoài vòng pháp luật năm 1991), giành được 71 trên 101 ghế quốc hội, và vào ngày 4 tháng 4 năm 2001, bầu Vladimir Voronin làm tổng thống thứ ba của nước này (tái cử năm 2005, và hiện đang giữ chức). Nước này trở thành nhà nước hậu Xô viết đầu tiên với một Đảng Cộng sản không cải cách quay trở lại nắm quyền. Chính phủ mới được Vasile Tarlev thành lập (19 tháng 4 năm 2001 - 31 tháng 3 năm 2008), và Zinaida Greceanîi (31 tháng 3 năm 2008 - hiện tại). Giai đoạn 2001-2003 quan hệ giữa Moldova và Nga đã được cải thiện, nhưng đã tạm thời sút giảm trong giai đoạn 2003-2006, với sự thất bại của cuộc trưng cầu dân ý Kozak, đỉnh điểm là cuộc khủng hoảng xuất khẩu rượu năm 2006.
Sau cuộc bầu cử nghị viện ngày 5 tháng 4 năm 2009, Đảng Cộng sản giành 49.48% số phiếu, tiếp theo là Đảng Tự do với 13.14% phiếu, Đảng Dân chủ Tự do giành 12.43%, và Liên minh "Moldova Noastră" với 9.77%. Các lãnh đạo đối lập đã tuần hành phản đối kết quả bầu cử gọi nó là gian lận và yêu cầu một cuộc bầu cử thay thế. Ngày 6 thág 4 năm 2009, nhiều tổ chức phi chính phủ và các đảng đối lập đã tổ chức một cuộc tuần hành hoà bình tại Chişinău, với số người tham gia lên tới khoảng 15,000 người cùng sự trợ gikúp của các trang mạng xã hội như Twitter và Facebook. Các biểu ngữ phản đối đảng cộng sản và ủng hộ Romania xuất hiện nhiều. Cuộc tuần hành đã vượt qua tầm kiểm soát ngày 7 tháng 4 và trở thành một cuộc bạo loạn khi một phần đám đông tấn công các văn phòng tổng thống và tràn vào toà nhà nghị viện, cướp phá và châm lửa đốt nhiều tầng nhà. Cảnh sát đã tái lập sự kiểm soát trong đêm ngày 7-8 tháng 4, giam giữ hàng trăm người biểu tình. Nhiều người bị giam giữ đã thông báo bị cảnh sát đánh đập khi được thả. Ba thanh niên đã chết trong ngày diễn ra cuộc bạo loạn. Phe đối lập buộc tội cảnh sát về những cái chết này, trong khi chính phủ tuyên bố rằng họ hoặc không liên quan tới những người biểu tình, hay là do tai nạn. Các quan chức chính phủ, gồm cả Tổng thống Vladimir Voronin, đã gọi cuộc biểu tình là một âm mưu đảo chính và đã buộc tội Romania tổ chức nó. Phe đối lập buộc tội chính phủ tổ chức các cuộc bạo loạn bằng cách đưa nhân viên mật vào trong những người biểu tình.
Sau khi nghị viện không thể bầu ra một tổng thống mới, nó bị giải tán và cuộc bầu cử mới được tổ chức ngày 29 tháng 7 năm 2009, và những người Cộng sản một lần nữa giành được đa số, dù mong manh cả về số phiếu phổ thông cả về số ghế trong nghị viện: 48 trong số 101 ghế cho Đảng Cộng sản, 18 ghế cho Đảng Dân chủ Tự do, 15 ghế cho Đảng Tự do, 13 ghế cho Đảng Dân chủ, và 7 ghế cho Liên minh Moldova của chúng ta.
Bản mẫu:Lịch sử chính trị Moldova
== Chính phủ và chính trị ==
Bản mẫu:Chính trị Moldova
Moldova là một nhà nước đơn nhất nghị viện đại diện dân chủ cộng hoà. hiến pháp Moldova, được thông qua năm 1994, đặt ra khuôn khổ cho chính phủ đất nước. Một nghị viện đa số ít nhất hai phần ba cần thiết để sửa đổi hiến pháp Moldova, hiến pháp không thể được sửa đổi trong thời gian chiến tranh hay tình trạng khẩn cấp quốc gia. Những sửa đổi hiến pháp ảnh hưởng tới chủ quyền, độc lập hay sự thống nhất quốc gia chỉ có thể được thực hiện sau khi đa số người dân đồng ý thông qua trưng cầu dân ý. Hơn nữa, không sửa đổi nào được tiến hành để hạn chế các quyền căn bản của người dân được quy định trong hiến pháp.
Cơ quan lập pháp trung ương của đất nước là một Nghị viện Moldova lưỡng viện (Parlament), với 101 ghế, và các thành viên của nó được dân chúng bầu ra dựa trên các danh sách ứng cử viên của các đảng mỗi bốn năm.
Nguyên thủ quốc gia là Tổng thống Moldova, tổng thống được Nghị viện Moldova bầu, và phải được sự ủng hộ của ba phần năm số đại biểu (ít nhất 61 phiếu). Tổng thống chỉ định thủ tướng người chịu trách nhiệm lãnh đạo chính phủ, và tổ chức một nội các, cả thủ tướng và nội các đều phải được nghị viện phê chuẩn.
Hiến pháp cũng thiết lập một Toà án Hiến pháp độc lập, gồm sáu thẩm phán (hai do Tổng thống chỉ định, hai do Nghị viện, và hai do Hội đồng Tối cao thẩm phán), phục vụ với nhiệm kỳ sáu năm, trong thời hạn đó họ không thể bị thay thế và không nằm dưới sự điều khiển của bất cứ quyền lực nào. Toà án được trao quyền tái xem xét mọi đạo luật của nghị viện, các nghị định của tổng thống, các hiệp ước quốc tế do nhà nước ký kết.
Trong các cuộc bầu cử nghị viện năm 1998, bầu cử nghị viện năm 2001, bầu cử nghị viện năm 2005, bầu cử nghị viện tháng 4 năm 2009, và bầu cử nghị viện tháng 7 năm 2009 Đảng Cộng sản Cộng hoà Moldova đều giành chiến thắng với đa số ghế.
Sau cuộc bầu cử nghị viện năm 2005, các đảng khác có đại diện trong Nghị viện gồm Liên minh Moldova của Chúng ta (13 ghế), Đảng Dân chủ (Moldova) (11 ghế), Đảng Dân chủ Thiên chúa giáo Nhân dân (7 ghế), với 15 thành viên không đảng phái của nghị viện. Tại cuộc bầu cử nghị viện tháng 4 năm 2009, Đảng Cộng sản cũng giành thắng lợi với 60 ghế. Với đa số ghế trong tay Đảng Cộng sản khiến nước này trở thành một trong ba quốc gia duy nhất có các nhà lãnh đạo cộng sản được bầu dân chủ, hai nước kia là Cộng hòa Síp và Nepal. Phe đối lập gồm Đảng Tự do (PL, 15 ghế), Đảng Dân chủ Tự do Moldova (PLDM, 15 ghế) và Đảng Liên minh Moldova của Chúng ta (AMN, 11 ghế).
Tổng thống Moldova là Vladimir Voronin, ông giữ chức vụ này từ năm 2001.
Ngày 8 tháng 8 năm 2009, bốn đảng chính trị Moldova – Đảng Dân chủ Tự do, Đảng Tự do, Đảng Dân chủ, và Liên minh Moldova của Chúng ta – đồng ý thành lập một liên minh(Liên minh vì liên kết châu Âu) sẽ biến Đảng Cộng sản thành đối lập
Ngày 28 tháng 8 năm 2009, liên minh ủng hộ phương Tây của Moldova đã lựa chọn một người phát ngôn mới (tên là Mihai Ghimpu) trong một cuộc bỏ phiếu bị các đại diện Cộng sản tẩy chay.
Bản mẫu:Liên minh và Cộng sản sau cuộc bỏ phiếu tháng 7 năm 2009 tại Moldova
=== Quan hệ nước ngoài ===
Sau khi giành lại độc lập từ Liên bang Xô viết, Moldova đã thiết lập quan hệ với các nước châu Âu khác. Một tiến trình hội nhập Liên minh châu Âu và theo mục tiêu trung lập của chính sách đối ngoại quốc gia. Năm 1995 nước này trở thành nhà nước hậu Xô viết đầu tiên được chấp nhận vào Liên minh châu Âu. Ngoài sự việc tham gia vào chương trình Đối tác vì hoà bình của NATO, Moldova cũng là một nhà nước thành viên Liên hiệp quốc, OSCE, Hội đồng Hợp tác Bắc Đại Tây Dương, Tổ chức Thương mại Thế giới, Quỹ Tiền tệ Quốc tế, Ngân hàng Thế giới, Cộng đồng Pháp ngữ và Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu.
Năm 2005, Moldova và EU thiết lập một kế hoạch hành động nhằm tìm cách cải thiện mối quan hệ giữa hai cơ cấu cạnh nhau. Tháng 6 năm 2007, Phó chủ tịch Nghị viện Moldova Iurie Roşca đã ký một thoả thuận song phương với Nghị viện Quốc tế vì An toàn và Hoà bình, một tổ chức liên chính phủ để thúc đẩy hoà bình thế giới, có trụ sở tại Italia. Sau cuộc Chiến tranh Transnistria, Moldova đã tìm kiếm một giải pháp hoà bình cho cuộc xung đột tại vùng Transnistria bằng cách làm việc với România, Ukraina, và Nga, kêu gọi sự trung gian quốc tế, và hợp tác với các phái bộ quan sát và tìm kiếm sự thật của OSCE và Liên hiệp quốc. Bộ trưởng Ngoại giao Moldova, Andrei Stratan, đãnhiều lần nói rằng quân đội Nga đồn trú tại vùng ly khai đang ở đó trái với nguyện vọng của Chính phủ Moldova và kêu gọi họ rời đi "toàn bộ và vô điều kiện."
=== Quân đội ===
Các lực lượng vũ trang Moldova gồm Các lực lượng lục quân và Các lực lượng không quân. Moldova đã chấp nhận mọi quy định kiểm soát vũ khí có liên quan của Liên Xô cũ. Ngày 30 tháng 10 năm 1992, Moldova đã phê chuẩn Hiệp ước về các Lực lượng Vũ trang Thông thường ở châu Âu, thiết lập các giới hạn toàn diện về các tính chất then chốt của trang bị quân sự thông thường và phá huỷ những vũ khí vượt ngoài các giới hạn. Nước này tán thành các điều khoản của Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạt nhân tháng 10 năm 1994 tại Washington, DC. Moldova không sở hữu các vũ khí hạt nhân, sinh học hay hoá học. Moldova đã tham gia chương trình Đối tác vì hoà bình của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương ngày 16 tháng 3 năm 1994.
== Phân chia hành chính ==
Moldova được chia thành ba hai khu (raioane, số ít raion); ba thành phố tự trị (Bălţi, Chişinău, Bender); và hai vùng tự trị (Găgăuzia và Transnistria). Các thành phố Comrat và Tiraspol, thủ phủ hành chính của hai lãnh thổ tự trị cũng có vị thế đô thị tự trị. 32 khu gồm:
Vị thế cuối cùng của Transnistria vẫn đang bị tranh cãi, bởi chính phủ trung ương không kiểm soát lãnh thổ này.
Moldova có 65 thành phố (thị trấn), gồm 5 thành phố có vị thế đô thị tự trị, và 917 xã. Khoảng 699 làng quá nhỏ để có một bộ máy hành chính riêng biệt, và về mặt hành chính là một phần của các thành phố (40 trong số chúng) hay các làng (659). Điều này khiến có tổng cộng 1,681 địa điểm tại Moldova, tất cả, trừ hai nơi, đều có người ở.
== Kinh tế ==
Moldova có khí hậu thích hợp cho nông nghiệp nhưng không có các trữ lượng khoáng sản chính. Vì thế, nền kinh tế nước này phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp, với các sản phẩm trái cây, rau, rượu, và thuốc lá. Kinh tế Moldova đã sa sút nhiều sau sự sụp đổ của Liên Xô. Hiện tại, Moldova là nước nghèo nhất châu Âu. Tính đến năm 2016, GDP của Moldova đạt 6.650 USD, đứng thứ 145 thế giới và đứng thứ 43 châu Âu.
=== Năng lượng ===
Moldova phải nhập khẩu toàn bộ dầu mỏ, than, và khí tự nhiên, phần lớn từ Nga. Moldova là một quốc gia đối tác của chương trình năng lượng INOGATE EU, với bốn mục tiêu chính: tăng cường an ninh năng lượng, hội tụ các thị trường năng lượng của các quốc gia thành viên trên cơ sở các nguyên tắc của thị trường năng lượng nội bộ EU, hỗ trợ phát triển năng lượng bền vững, và thu hút đầu tư vào các dự án năng lượng vì lợi ích chung và lợi ích khu vực.
=== Cải cách kinh tế ===
Sau sự tan rã của Liên bang Xô viết năm 1991, sự thiếu hụt nhiên liệu đã dẫn tới tình trạng tụt giảm mạnh sản xuất. Như một phần của nỗ lực tự do hoá kinh tế đầy tham vọng, Moldova đã đưa ra một đồng tiền tệ có thể chuyển đổi, tự do hoá giá cả, ngừng các khoản trợ cấp cho các doanh nghiệp nhà nước, hỗ trợ tư nhân hoá đất đai, bãi bỏ các biện pháp quản lý xuất khẩu và tự do hoá lãi suất. Chính phủ đã tham gia các thoả thuận với Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế để khuyến khích tăng trưởng. Những khuynh hướng gần đây cho thấy chính phủ Cộng sản muốn đảo ngược một số chính sách trong số đó, và tái tập thể hoá đất đai trong khi tăng cường giới hạn với lĩnh vực kinh tế tư nhân. Nền kinh tế đã có mức tăng trưởng dương, 2.1% năm 2000 và 6.1% năm 2001. Tăng trưởng vẫn ở mức khá năm 2007 (6%), một phần nhờ những cuộc cải cách và bởi sự bắt đầu từ một cơ sở nhỏ. Nền kinh tế vẫn dễ bị tổn thương bởi giá nhiên liệu cao, thời tiết bất thường, và sự hoài nghi của những nhà đầu tư nước ngoài.
Sau cuộc khủng hoảng tài chính khu vực năm 1998, Moldova đã có bước tiến lớn trong việc thực hiện và duy trì sự ổn định kinh tế vi mô và tài chính. Hơn nữa, họ đã thực hiện nhiều cuộc cải cách cơ cấu và thể chế cần thiết cho sự hoạt động hiệu quả của một nền kinh tế thị trường. Những nỗ lực đó đã giúp duy trì sự ổn định kinh tế vi mô và tài chính dưới các điều kiện khó khăn từ bên ngoài, cho phép tái tăng trưởng kinh tế và đóng góp vào việc tạo dựng một môi trường định hướng cho nền kinh tế trong tương lai và phát triển trong trung hạn. Dù có những nỗ lực đó, và dù kinh tế đã tăng trưởng trở lại, Moldova vẫn xếp hạng thấp về tiêu chuẩn sống và các chỉ số phát triển con người so với các nền kinh tế đang chuyển tiếp khác. Dù nền kinh tế đã tăng trưởng liên tục sau năm 2000: với 2.1%, 6.1%, 7.8% và 6.3% giai đoạn 2000 và 2003 (với mức tăng trưởng dự báo 8% năm 2004), mọi người có thể thấy rằng những con số đó còn lâu mới đạt mức năm 1994, với tăng trưởng gần 40% GDP năm 1990. Vì thế, trong thập kỷ vừa qua ít hành động đã được thực hiện nhằm giảm bớt sự dễ bị tổn thương của nền kinh tế quốc gia, Sau một sự suy giảm kinh tế nghiêm trọng, những thách thức kinh tế và xã hội, sự phụ thuộc vào năng lượng từ bên ngoài, Moldova tiếp tục đứng ở một trong những mức thấp nhất châu Âu về thu nhập trên đầu người.
Năm 2005 (Báo cáo Phát triển Con người 2008), GDP trên đầu người được ghi nhận ở mức US $ 2,100 theo PPP, thấp hơn 4.5 lần so với mức trung bình của thế giới (US $ 9,543). Hơn nữa, GDP trên đầu người cũng ở dưới mức trung bình của vùng (US $ 9,527 PPP). Năm 2005, khoảng 20.8% dân số sống dưới mức nghèo khổ và có mức thu nhập thấp hơn US $ 2.15 (PPP) mỗi ngày. Moldova được xếp hạng trung bình về phát triển con người và ở mức 111 trên 177 nước. Chỉ số Phát triển Con người đạt 0.708 thấp hơn mức trung bình thế giới. Moldova vẫn là nước nghèo nhất châu Âu về GDP trên đầu người chính thức (không tính kinh tế ngầm) hiện ở mức $1,808.729
GDP năm 2007 là $4.104 tỷ. Tăng 3% so với năm 2006.
=== Viễn thông tại Moldova ===
Tháng 9 năm 2005 đã có 1 triệu người sử dụng điện thoại di động tại Moldova. Số người sử dụng điện thoại di động đã tăng 47.3% trong quý đầu năm 2008 so với năm trước và đạt con số 2.886.000.
Cuối năm 2008 có 1.151.000 người sử dụng Internet tại Moldova với số truy cập internet tổng thể đạt 30,1%.
=== Nông nghiệp ===
Đất đai màu mỡ và khí hậu lục địa ôn hoà của Moldova (với mùa hè ấp và mùa đông dịu) khiến nước này là một trong những vùng nông nghiệp trù phú nhất từ thời cổ đại, và là nguồn cung cấp các sản phẩm nông nghiệp chính cho đông nam Âu.
Trong nông nghiệp, cải cách kinh tế bắt đầu với cải cách đất đai.
=== Công nghiệp rượu ===
Moldova nổi tiếng về các sản phẩm rượu. Trong nhiều năm nghề trồng nho và sản xuất rượu tại Moldova là công việc chính của người dân. Bằng chứng về điều này có trong các công trình tưởng niệm lịch sử, tài liệu, văn hoá dân gian và trong ngôn ngữ nói của người dân Moldova.
Nước này có một ngành công nghiệp rượu với cơ sở hạ tầng tốt. Diện tích các vườn nho là 147,000ha, trong số đó 102,500ha hiện được sử dụng cho sản xuất thương mại. Đa phần sản xuất rượu của Moldova dành cho xuất khẩu. Nhiều gia đình có công thức và cách chế biến nho riêng đã được truyền qua nhiều thế hệ.
=== Vận tải ===
Các phương tiện vận tải chính tại Moldova là đường sắt (1,138 km/707 mi) và một hệ thống đường cao tốc (12,730 km/7,910 dặm, gồm 10,973 km/6,818 dặm đã trải nhựa).
== Nhân khẩu ==
=== Văn hoá và thành phần sắc tộc ===
Dữ liệu tham khảo cuối cùng là cuộc Điều tra dân số Moldova năm 2004 (các vùng do chính phủ trung ương quản lý), và cuộc Điều tra dân số tại Transnistria năm 2004 (các vùng do chính quyền ly khai quản lý, gồm Transnistria, Bender/Tighina, và bốn làng lân cận):
1Có một cuộc tranh cãi đang diễn ra về việc liệu người Romania và người Moldova có cùng là một nhóm sắc tộc hay không, nói chính xác là liệu sự tự xác định là người Moldova có tạo nên một nhóm sắc tộc khác biệt với nhóm sắc tộc Romania không hay chỉ là một tập hợp con của nó. Tại cuộc điều tra dân số, các công dân có thể tuyên bố chỉ một quốc tịch. Vì thế, một người không thể tuyên bố mình vừa là người Moldova vừa là người Romania.
2Cộng đồng thiểu số Do thái rất đông đảo trong quá khứ (có 225,637 người Do Thái tại Bessarabia năm 1897, hay 11.65% của tổng dân số).
=== Ngôn ngữ ===
Hiến pháp năm 1994 quy định rằng "ngôn ngữ quốc gia của Cộng hoà Moldova là tiếng Moldava, và nó được viết theo ký tự Latinh," tuy Tuyên ngôn độc lập năm 1991 nói ngôn ngữ chính thứn là tiếng România. Luật Ngôn ngữ Nhà nước năm 1989 có đề cập tới một sự đồng nhất ngôn ngữ Moldova-Romania.
Có một cuộc tranh cãi chính trị về tính cách sắc tộc của Cộng hoà Moldova. Năm 2003, Chính phủ Cộng sản đã thông qua một nguyên tắc chính trị quốc gia cho rằng một trong những ưu tiên của chính trị quốc gia Cộng hoà Moldova là đảm bảo sự tồn tại của một ngôn ngữ Moldova. Các học giả đồng ý rằng tiếng Moldova và tiếng România là một ngôn ngữ, với tên gọi dân cư "Moldovan" được sử dụng trong một số bối cảnh chính trị. Quan điểm này cũng được nhiều chính trị gia Moldova chia sẻ.
Tiếng Nga được coi là một "ngôn ngữ giao tiếp giữa các sắc tộc" (cùng với ngôn ngữ chính thức), và trên thực tế vẫn được sử dụng rộng rãi ở mọi cấp độ xã hội và nhà nước. Ý tưởng chính trị quốc gia được đề cập ở trên cũng nói rằng sự cùng tồn tại tiếng Nga-Moldova là đặc trưng của Moldova.
Tiếng Gagauz và tiếng Ukraina cũng có khá nhiều người sử dụng tại các vùng và cũng được trao vị thế chính thức cùng với tiếng Nga tại Gagauzia và Transnistria respectively.
=== Tôn giáo ===
Trong cuộc điều tra dân số năm 2004, các tín đồ Chính Thống giáo Đông phương chiếm tới hơn 90% dân số Moldova, không bị yêu cầu phải tuyên bố rõ họ thuộc một trong hai nhà thờ chính nào. Nhà thờ Chính thống Moldova, tự trị và trực thuộc Nhà thờ Chính thống Nga, và Nhà thờ Chính thống Bessarabia, tự trị và trực thuộc Nhà thờ Chính thống Romania, cả hai đều tuyên bố mình là nhà thờ quốc gia của đất nước.
=== Giáo dục tại Moldova ===
=== Tội phạm ===
CIA World Factbook liệt kê tình trạng tội phạm lan rộng và hoạt động kinh tế ngầm là một trong những vấn đề lớn về tình trạng tội phạm ở Moldova.
== Văn hoá ==
Về mặt địa lý nằm trên ngã tư đường của Latinh, Slavơ và các nền văn hoá khác, Moldva đã làm giàu thêm nền văn hoá của mình bằng cách chấp nhận và duy trì một số truyền thống của các nước láng giềng và các nguồn ảnh hưởng khác.
Di sản văn hoá của nước này đáng chú ý ở số lượng nhiều nhà thờ và tu viện được nhà cai trị Moldova Ștefan Vĩ đại xây dựng hồi thế kỷ 15, và bởi các tác phẩm của những tác gia thời phục hưng như Varlaam và Dosoftei, và của các học giả sau này như Grigore Ureche, Miron Costin, Nicolae Milescu, Dimitrie Cantemir, Ion Neculce. Ở thế kỷ 19, người Moldavia từ các vùng đất thuộc Công quốc Moldavia thời Trung cổ, sau đó chia rẽ giữa Áo, Nga và một chư hầu Ottoman Moldavia (sau năm 1859, România), tạo ra sự đóng góp lớn nhất vào sự thành lập văn hoá Romania hiện đại. Trong số này có nhiều người Bessarabia, như Alexandru Donici, Alexandru Hâjdeu, Bogdan Petriceicu Hasdeu, Constantin Stamati, Constantin Stamati-Ciurea, Costache Negruzzi, Alecu Russo, Constantin Stere.
Mihai Eminescu, một nhà thơ cuối thời kỳ lãng mạn, và Ion Creangă, một tác gia là những nghệ sĩ có nhiều ảnh hưởng nhất với các sáng tác bằng tiếng România, được coi là các tác gia quốc gia của cả Romania và Moldova.
Sắc tộc Moldova, 78.3% dân số, là những người nói tiếng Romani và có chung văn hoá Romania. Văn hoá của họ đã bị ảnh hưởng (qua Chính thống giáo phía đông) bởi văn hoá Byzantine.
Nước này cũng có các cộng động sắc tộc thiểu số quan trọng. Người Gagauz, 4.4% dân số, là sắc tộc Turkic Thiên chúa giáo duy nhất. Người Hy Lạp, người Armenia, người Ba Lan, người Do Thái, người Ukraina, dù không đông, đã hiện diện ở đây ngay từ thế kỷ 17, và để lại nhiều dấu ấn văn hoá. Thế kỷ 19 chứng kiện sự xuất hiện của nhiều người Ukraina và Do Thái nữa đến từ Podolia và Galicia, cũng như các cộng đồng mới như người Lipovan, người Bulgaria và người Đức.
Nửa sau thế kỷ 20, Moldova chứng kiến một làn sóng nhập cư Xô viết lớn, đưa đến nhiều yếu tố văn hoá Xô viết. Nước này hiện có số dân là người Nga (6%) và người Ukraina (8.4%) khá quan trọng. 50% sắc tộc Ukraina, 27% của Gagauzia, 35% của Bulgari, và 54% các nhóm sắc tộc nhỏ hơn khác nói tiếng Nga như ngôn ngữ đầu tiên. Tổng cộng, có 541,000 người (hay 16% dân số) Moldova sử dụng tiếng Nga như ngôn ngữ đầu tiên, gồm 130,000 người sắc tộc Moldova. Trái lại, chỉ 47,000 người sắc tộc thiểu số sử dụng tiếng România như ngôn ngữ đầu tiên.
Văn hoá Moldova có một số ảnh hưởng từ các cộng đồng thiểu số lịch sử, và ngược lại cũng có ảnh hưởng trên văn hoá của các nhóm sắc tộc nhập cư, như người Đức Bessarabia và người Do Thái Bessarabia.
=== Truyền thông đại chúng ===
Truyền hình tại Moldova xuất hiện năm 1956. Moldova có nhiều kênh truyền hình chung với România.
=== Thức ăn và đồ uống ===
Ẩm thực Moldova gồm chủ yếu các loại thực phẩm truyền thống châu âu, như thịt bò, thịt lợn, khoai tây, cải bắp, và nhiều loại ngũ cố. Các đồ uống có cồn phổ biến là divin (rượu mạnh Moldova), vodka, và đặc biệt là các loại rượu địa phương.
=== Âm nhạc ===
Moldova đã có những nghệ sĩ với các tác phẩm được công nhận trên toàn thế giới: các nhà soạn nhạc (Gavriil Musicescu, Ştefan Neaga, Eugen Doga), sculptors (Alexandru Plămădeală), và các kiến trúc sư (Alexey Shchusev, một kiến trúc sư người Nga sinh tại Moldova).
Trong lĩnh vực âm nhạc đại chúng, Moldova đã có ban nhạc O-Zone, trở nên nổi tiếng năm 2004, với bài hát Dragostea Din Tei, cũng được gọi là "The Numa Numa Song".
=== Thể thao ===
== Xem thêm ==
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
=== Chính phủ ===
Official site
Official governmental site
Official web site of the Parliament
Chief of State and Cabinet Members
The Ministry of Foreign Affairs
Embassy of the Republic of Moldova in the United States of America
=== Thông tin chung ===
Mục “Moldova” trên trang của CIA World Factbook.
Best gateway to discover Moldova
Country information from the United States Department of State
Travel information from the United States Department of State
Portals to the World from the United States Library of Congress
Moldova at UCB Libraries GovPubs
Moldova tại DMOZ
Wikimedia Atlas của Moldova, có một số bản đồ liên quan đến Moldova.
=== Xếp hạng quốc tế ===
Bertelsmann: Bertelsmann Transformation Index 2006, ranked 75th out of 119 countries
Reporters without borders: Annual worldwide press freedom index (2005), ranked 74th out of 167 countries
The Wall Street Journal: 2005 Index of Economic Freedom, ranked 77th out of 155 countries
The Economist: The World in 2005 - Worldwide quality-of-life index, 2005, ranked 99th out of 111 countries
Transparency International: Corruption Perceptions Index 2005, ranked 88th out of 158 countries
United Nations Development Programme: Human Development Index 2005, ranked 116th out of 177 countries
World Economic Forum: Global Competitiveness Report 2005-2006 - Growth Competitiveness Index Ranking, ranked 82nd out of 117 countries
World Bank: Doing Business 2006, ranked 83rd out of 155
World Bank: Ease of Starting a Business 2006, ranked 69th out of 155
United Nations Conference on Trade and Development: Foreign Direct Investment Performance Index 2004, ranked 35th out of 140
=== Tin tức ===
Moldova In The World - online journal
Moldpres - state owned news agency
Stiri.md - News Aggregator for all online news agencies
StireaZilei.md - News in Moldova
=== Khác ===
Tourism in Moldova
Guide to Moldova's Hotels
Travel to Moldova
Sport in Moldova
Igor Pivovar’s Blog: Interethnic relations in Moldova
ECMI Moldova, European Centre for Minority Issues (ECMI) (Information about Minority Issues in Moldova)
Dimitrie Cantemir-Descrierea Moldovei
"Moldova 2006 Investment Climate Statement", Iulian Bogasieru, Business Information Service For The Newly Independent States (BISNIS) Representative (tháng 1 năm 2006).
"Moldova: Young Women From Rural Areas Vulnerable To Human Trafficking", Radio Free Europe/Radio Liberty (6 tháng 10 năm 2004).
Country population portal
OurNet — Moldova Internet Resources
Business.md - National Business Portal
Moldova, allcountries.eu (Information about Moldova)
Various panoramas of Chisinau and Moldova, panorama.md |
pháp gia.txt | Pháp gia là một trường phái tư tưởng có mục đích tiếp cận tới cách phân tích các vấn đề pháp luật đặc trưng ở lý lẽ logic lý thuyết nhắm vào việc đưa ra văn bản pháp luật ứng dụng, ví dụ như một hiến pháp, pháp chế, hay quy tắc dựa theo phong tục tập quán (case law), hơn là nhắm tới xã hội, kinh tế, hay tình huống chính trị.
Nói theo cách khái quát, Pháp gia duy trì quan niệm rằng cơ cấu vốn có của quyền lực hành pháp đã chứa đựng một "câu trả lời" duy nhất và đã được quyết định thích hợp cho mọi vấn đề pháp luật có thể gặp phải; và rằng nhiệm vụ của người phân xử là xác định rõ câu trả lời duy nhất và đã được quyết định trước đó thông qua một quá trình xử lý cần thiết.
Trường phái phương Tây ủng hộ việc áp dụng pháp luật theo kiểu này không có quan hệ gì nhiều với trường phái chính trị Pháp gia Trung Quốc tuy cả hai cùng được đặt một tên và chúng ta sẽ xem xét vấn đề ở dưới đây.
== Pháp gia ở Trung Quốc ==
Trong Lịch sử Trung Quốc, Pháp gia (法家; bính âm Fǎjiā) là một trong bốn trường phái triết lý ở thời Xuân Thu và thời Chiến Quốc (Gần cuối thời nhà Chu từ khoảng thế kỷ thứ 6 TCN cho tới khoảng thế kỷ thứ 3 TCN). Trên thực tế, nó mang nhiều tính cách triết lý chính trị thực tiễn, với châm ngôn kiểu "khi thời đại thay đổi, những đường lối cũng thay đổi" làm nguyên tắc chính của mình, hơn là một triết học về luật. Trong hoàn cảnh đó, "Pháp gia" ở đây có thể mang ý nghĩa "triết lý chính trị tán thành sự cai trị của pháp luật" và vì thế, khác biệt so với ý nghĩa của Pháp gia phương Tây. Hàn Phi Tử tin rằng một nhà cai trị phải cai quản các thần dân của mình theo ba quy tắc sau:
Pháp (法 fǎ): luật hay quy tắc. Luật pháp phải được trình bày rõ ràng và thông báo rộng rãi cho công chúng. Tất cả thần dân của nhà cai trị đều bình đẳng trước pháp luật. Luật pháp phải thưởng cho những người tuân phục và trừng phạt những người bất tuân. Vì thế, nó đảm bảo được rằng mọi phán xét của pháp luật là đều có thể suy luận theo hệ thống để biết trước được (từ khi phát sinh hành động liên quan tới pháp luật, đã có thể đoán trước phán xét của pháp luật cho hành động đó là như thế nào). Hơn nữa, hệ thống luật pháp cai quản đất nước, chứ không phải là nhà vua cai trị. Nếu có thể làm cho pháp luật có hiệu lực, thậm chí một vị vua kém tài cũng trở nên mạnh mẽ.
Thuật (術 shù): phương pháp, thủ đoạn hay nghệ thuật. Những thủ đoạn đặc biệt và "bí mật" được vị vua cai trị dùng để đảm bảo rằng những người khác (quan lại...) không thể chiếm quyền kiểm soát quốc gia. Điều đặc biệt quan trọng là không một ai có thể biết được những động cơ thực sự của những hành động của nhà vua, và vì thế không ai biết được cách đối xử thế nào để có thể tiến thân, ngoại trừ việc tuân theo "pháp" hay các luật lệ.
Thế (勢 shì): tính chính thống, quyền lực hay uy tín. Chính vị trí của nhà vua cai trị, chứ không phải nhà vua, nắm giữ quyền lực. Vì thế việc phân tích khuynh hướng, hoàn cảnh và những yếu tố thực tại là điều căn bản của một vị vua cai trị thực sự.
=== Quyền lực chính trị ===
Pháp gia là tư tưởng trung tâm trong triều đình nhà Tần, lên tới cực điểm của nó khi Trung Quốc thống nhất dưới thời ‘Hoàng đế đầu tiên’ (Tần Thuỷ Hoàng). Vị hoàng đế này là một nhân vật trong bộ phim Anh hùng năm 2002, và nhiều bộ phim khác. Tư tưởng pháp gia thường được đem ra so sánh với công việc của nhà chiến lược người Italia Niccolo Machiavelli và Arthashastra ở Kautilya (theo quan điểm châu Âu).
=== Áp dụng thực tiễn ===
Luật được áp dụng để tạo ra sự nghịch biện, bằng cách ấy các quan lại của Hoàng đế có thể tìm kiếm và lựa chọn ra điều luật để áp dụng. "Thế" chính là mưu mẹo khôn khéo để vượt trên pháp luật, dù xét theo từng điều một thì pháp luật là rõ ràng và đơn giản, nhưng nó vẫn là một cơ cấu mà theo đó một sự vi phạm pháp luật dù là nhỏ nhất, mà bất kỳ ai ở bất kỳ địa vị nào đều có thể phạm phải, cũng không thể bày tỏ được nếu không có khả năng chứng minh. Khi ấy, "những thủ đoạn đặc biệt" bắt đầu mang lại kết quả, bởi vì quyền lựa chọn luật pháp để mang ra thi hành chỉ nằm trong tay Hoàng đế. Sự vượt trên pháp luật vừa diễn ra bằng quy trình tố tụng vừa bằng sự lựa chọn luật tố tụng, và bằng sự vắng mặt hay sự đình chỉ tố tụng bởi một điều luật mâu thuẫn. Lúc ấy tất cả mọi người buộc phải hiểu được tính bí ẩn trong cách hành xử của Hoàng đế. Thậm chí cả những người đại diện cho Hoàng đế nắm quyền lực trong tay cũng chính là những đối tượng của mạng lưới luật pháp phức tạp theo học thuyết này của pháp gia. Rất khó để hiểu được động cơ hành động của Hoàng đế, vì việc áp dụng luật kiểu này này lại dễ dàng khiến nó trở nên xung đột với một kiểu áp dụng khác. Vì thế, chỉ có Hoàng đế là hoàn hảo. Lợi thế kiểm soát luôn nằm trong tay nhà vua, người luôn giám sát việc lựa chọn (hay tạo ra) luật lệ quyết định cuối cùng để áp dụng cho mọi tình huống.
Đa số các nhà triết học và tư tưởng chính trị Trung Quốc có cái nhìn rất tiêu cực đối với Pháp gia, buộc tội nó là một xã hội mà ngày nay chúng ta gọi là xã hội chuyên chế. Nhiều học giả Trung Quốc tin rằng chính một phản ứng chống lại pháp gia đã làm cho chính trị đế quốc Trung Quốc mang nhiều đặc tính cá nhân và đạo đức hơn là sự nhấn mạnh vào sự cai trị của pháp luật. Tuy nhiên, quan điểm này về nhà Tần có thể là có thành kiến, bởi vì đa số các sách sử Trung Quốc đều do các học giả Khổng giáo viết ra, mà những nhà nho Khổng giáo lại bị đàn áp ở thời Tần.
=== Vai trò của Nhà cai trị ===
Ban đầu các thành viên của tầng lớp cai trị, những người theo Pháp gia nhấn mạnh rằng hoàng đế với tư cách người đứng đầu quốc gia luôn gắn liền với "sự bí ẩn của chính quyền", và như thế những quyết định của chính quyền buộc người dân phải kính trọng và tuân thủ. Nhà vua đại diện cho tính chính thống. Khi nhấn mạnh quyền lực của vương quyền, những người pháp gia như Thận Đáo (kh. 350-275 TCN) và Thân Bất Hại tìm cách làm giảm tầm quan trọng của một nhà cai trị có đạo đức (đối với nhân dân). Vì thế, thần dân bắt buộc phải tuân theo những mệnh lệnh dù là đê hèn, tàn nhẫn nhất và/hay những vị vua cai trị dù là bất tài nhất. Những nhà cai trị tài năng được tôn kính, nhà cai trị khôn khéo thì giữ kín mình. Vì vậy, theo lý thuyết, bằng cách che giấu đi những mong ước, những ý định của mình, vị vua của pháp gia biết được kẻ nịnh bợ và buộc quan lại phải lưu ý về tính độc tài của chính quyền. Trong khi Thương Ưởng (Tể tướng của Tần Hiếu Công) vẫn để cho những vị vua cai trị say đắm vào nữ nhạc hơn là chú tâm tới chính sách đối ngoại, Hàn Phi Tử (học giả Pháp gia được Tần Thuỷ Hoàng kính trọng nhất) lại yêu cầu một nhà cai trị khôn ngoan. Một lãnh đạo giỏi, theo các tiêu chuẩn của Hàn Phi Tử, phải biết từ chối chấp nhận lời đề nghị của những vị quan trung thành khi chúng có sai sót, nhưng cũng phải tỏ ra nhã nhặn với những kẻ dưới quyền và không quá tham lam. Vị vua cai trị tài giỏi cũng phải hiểu được tầm quan trọng của sự khắt khe ngay cả khi đang rộng lượng. Mặc dù mong rằng nhà vua cai trị không phải là gia trưởng, pháp gia nhấn mạnh rằng tỏ ra quá nhân đức có thể làm hại đến tính quần chúng và đe doạ trật tự bên trong của quốc gia. Khá ngạc nhiên, là theo nhà sử học vĩ đại thời nhà Hán là Tư Mã Thiên (kh. 145-86 TCN), trong khi vị Hoàng đế đầu tiên nhà Tần giấu mình khỏi thế giới (có lẽ vì muốn đạt tới bất tử) và vì thế ít được biết đến, ông lại không cần phải theo mọi đề xuất của pháp gia trong vai trò của nhà cai trị.
=== Vai trò của Quan lại trong tư tưởng Pháp gia ===
Để giúp đỡ vị vua cai trị và ngăn chặn quản lý kém, Thân Bất Hại – vị tướng quốc nước Hàn – đã lập nên quan niệm những "thuật" cai trị, hay là hình thức quan liêu hành chính có mục đích thúc đẩy sự áp dụng chương trình cai trị của pháp gia. Đối với những nhà pháp gia, vị quan giỏi phải là người hỗ trợ đắc lực nhất cho nhà vua. Trong khi trách nhiệm của quan là phải hiểu được cụ thể từng việc thì trách nhiệm của vua là phải chỉnh lý lại công việc của quan. Nhấn mạnh quan điểm rằng các vị quan và những viên chức khác thường muốn có ảnh hưởng đối với những nước xung quanh bằng cách lạm dụng địa vị của mình, Hàn Phi Tử thúc giục vua cai trị kiểm soát các cá nhân đó bằng hai cách, trừng phạt và khen thưởng. Các vị quan lại bị buộc phải đảm bảo rằng sự thực hiện trách nhiệm của mình không tốt hơn mà cũng không kém hơn công việc đã được giao. Theo nhà Hán học kiệt xuất Robin Yates, những bộ luật mới được tìm thấy của nhà Tần cho thấy các quan lại bị buộc phải tính toán số lượng chính xác nhân công cần thiết cho mọi công việc thủ công; nếu người thợ bị bắt phải thực hiện công việc nhiều hơn hay ít hơn, vị quan đó sẽ có trách nhiệm phải giải thích. Vì thế, theo lý thuyết pháp gia, các quan lại và viên chức bị ngăn chặn không thể thực hiện một số trách nhiệm của người khác và bị trừng phạt nếu họ có ý định che giấu vua bằng lời lẽ hay không thể cảnh báo vua về nguy hiểm. Hệ quả của việc này là vị quan phải luôn giải thích với vua về những nguy cơ có thể gây hại cho vua trong khi đó nhà vua lại không bao giờ phải nhận trách nhiệm cá nhân. Tuy nhiên, bằng cách nhấn mạnh sự thực thi nhiệm vụ thông qua phương pháp nguỵ biện, pháp gia hy vọng hạn chế tham nhũng trong quan lại và mưu đồ bên trong chế độ quan liêu bằng sự đe doạ trừng phạt.
=== Mục đích của Luật lệ ===
Trong khi những luật lệ do phái pháp gia đưa ra bề ngoài có vẻ là để mang lại lợi ích cho người dân thì trên thực tế nó lại có mục đích mang lại lợi ích cho đất nước bằng cách đặt chiến tranh và nông nghiệp lên vị trí những chính sách hàng đầu của đất nước. Đặc biệt, Thương Ưởng nhấn mạnh nông nghiệp và chiến tranh là những nhân tố quan trọng nhất trong cai trị. Luật pháp tốt đảm bảo rằng người dân thường sẽ không được tiếp cận giáo dục và sẽ không hiểu biết chút gì về thuật cai trị, cho phép sử dụng họ làm binh sĩ, và nông dân. Nghệ sĩ, thợ thủ công, và thương nhân đều bị coi là những công dân vô dụng, những người không thể chiến đấu cũng không thể sản xuất ra lúa gạo cho quân đội. Pháp gia nhấn mạnh trên chiến tranh là một công cụ nền tảng quan trọng cho sự sống còn của quốc gia và yêu cầu có một quần chúng hăm hở tham gia chiến tranh. Để tạo ra một quần chúng ham thích chiến tranh, pháp gia nhấn mạnh rằng chính phủ phải tăng cường các biện pháp gây nên sự thù nghịch để làm yếu người dân và sau đó khiến họ trở thành nô lệ vào lợi ích của quốc gia.
Tuy tế, những pháp luật do pháp gia ủng hộ là biện pháp ủng hộ quốc gia, nhà vua, và gia đình hoàng gia, cũng là những biện pháp có tính cải cách và đổi mới. Về lý thuyết, pháp gia tin rằng nếu những sự trừng phạt là nặng nề và pháp luật được áp dụng bình đẳng thì kể cả người có quyền lực và người dân thường đều không thể thoát khỏi sự quản lý của nhà nước. Pháp gia đặc biệt nhấn mạnh tính thực dụng chứ không phải địa vị và phong tục là những nền tảng của pháp luật. Được hướng dẫn theo những tư tưởng pháp gia, Hoàng đế đầu tiên nhà Tần làm yếu đi quyền lực của các lãnh chúa địa phương (mặc dù không hoàn toàn như đã được ghi ở trên), phân chia các đế chế thống nhất thành ba mươi sáu đơn vị hành chính (gọi là quận), và tiêu chuẩn hoá chữ viết. Phản ánh tham vọng của pháp gia về trật tự và cơ cấu, các binh sĩ Tần chỉ được tập trung khi cả hai thành phần (một do vua nắm giữ và một nửa do vị tướng chỉ huy) được tập hợp với nhau. Cũng như vậy, tất cả các tài liệu trong đế chế phải được ghi chép lại năm mà chúng được viết ra, người sao chép chúng, và giờ giao chuyển chính xác. Chấp nhận những sự nhấn mạnh trước kia của Thương Ưởng về tiêu chuẩn hoá đo lường và trọng lượng, Thuỷ Hoàng đế cũng chấp nhận triết lý của Thương Ưởng rằng không một cá nhân nào trong nước có thể đứng trên luật pháp (bằng cách đảm bảo trừng trị nghiêm khắc cho tất cả những trường hợp bất tuân) và rằng các gia đình phải được phân chia thành những hộ nhỏ hơn. Trong khi có lý do để nghi ngờ rằng Tư Mã Thiên đã tuyên bố rằng Hoàng đế đầu tiên trên thực tế đã chia các gia đình thành những nhóm mười nhà, chắc chắn những ví dụ khác về tiêu chuẩn hoá và tổ chức hành chính do Hoàng đế đầu tiên đưa ra có ảnh hưởng quan trọng từ tư tưởng Pháp gia trong luật pháp nhà Tần. Dựa vào việc phát triển các nguồn lợi quốc gia, pháp luật nhà Tần là một công cụ vừa để kiểm soát dân chúng vừa để ngăn ngừa tội phạm.
=== Pháp gia và Quyền cá nhân ===
Các triết gia pháp gia nhấn mạnh tính vượt trội của nhà nước so với quyền cá nhân. Cá nhân cô độc không có các quyền cá nhân hợp pháp và bất kỳ quyền tự do cá nhân nào cũng phải bị hạn chế để tăng cường sức mạnh của vị vua cai trị. Đặc biệt, Hàn Phi Tử, rất nghiêm khắc đối với những khái niệm về quyền cá nhân. Từ một quan điểm nền tảng, phái pháp gia coi những người bình dân và những hành động của họ là có hại và ngu ngốc. Vì thế, theo truyền thuyết đời xưa, con người vốn ít và rải rác nên nói chung là có sự dư dật, pháp gia cho rằng thời của họ quá đông dân và thiếu hụt hàng hoá. Vì thế, theo Thương Ưởng, chính người dân muốn nhà cai trị phải phát hành ra luật lệ. Ổn định xã hội ở đất nước pháp gia có nghĩa rằng người dân không bao giờ thoát khỏi sự trừng phạt. Ví dụ, Nhà Tần đã sử dụng người dân để giám sát lẫn nhau vì nếu một nhà xảy ra chuyện gì thì tất cả các nhà kia đều bị liên quan. Chính sách thực dụng này cuối cùng cũng làm những người pháp gia cắn xé lẫn nhau. Thương Ưởng, khi ủng hộ quyền nhà nước trừng phạt cả thế tử, thì cuối cùng khi thế tử lên ngôi là Huệ công nhà Tần (r. 338-311 BC) đã quay lại chống đối ông. Ông từng có quyền trục xuất những kẻ đối nghịch (và vì thế, ngăn chặn các chỉ trích cá nhân) ra những vùng biên giới, thì cuối cùng ông bị xe ngựa xé ra từng mảnh. Tương tự như thế, Hàn Phi Tử cũng bị đồng môn cũ là Lý Tư ép phải uống thuốc độc, nhưng đến lượt mình Lý Tư cũng bị giết (theo luật mà ông đã đặt ra) bởi Tần Nhị Thế, người mà ông đã đưa lên ngôi.
=== Suy tàn ===
Trong những Triều đại về sau, Pháp gia bị mất uy tín và không còn là một trường phái tư tưởng độc lập nữa. Tuy nhiên, những nhà quan sát chính trị Trung Quốc cả thời trước và hiện nay đều cho rằng một số tư tưởng pháp gia đã trộn lẫn vào xu thế của Khổng giáo và vẫn giữ một vai trò trong chính quyền.
Gần đây hơn, Mao Trạch Đông, người có một số kiến thức về chính trị cổ Trung Quốc, đã so sánh mình với Tần Thuỷ Hoàng và công nhiên ủng hộ một số phương pháp của pháp gia. Tuy nhiên, từ thập kỷ 1990 khái niệm có liên quan về pháp trị đã trở nên khá phổ biến.
=== Những nhân vật liên quan ===
Nhà tư tưởng Khổng giáo Tuân Tử đôi khi được coi là có tiếp thu ảnh hưởng hay đã nuôi dưỡng các tư tưởng pháp gia, chủ yếu vì hai đệ tử của ông là (Lý Tư và Hàn Phi Tử) đều là những nhà pháp gia nghiêm ngặt.
=== Các triết lý liên quan ===
Khổng giáo
Chế độ nhân tài
Mặc học
Chủ nghĩa Platon
Chủ nghĩa hiện thực (Triết lý chính trị)
=== Các triết lý đối nghịch ===
Đạo giáo
Chủ nghĩa khắc kỷ
== Pháp gia Triều Tiên ==
Lịch sử Pháp gia tại Triều Tiên có từ Gyeonggukdaejeon, một cuốn sách luật được biên soạn vào thời nhà Triều Tiên. Có một sự nhận thức pha trộn về pháp gia bên trong xã hội Hàn Quốc, khi mà chế độ quân sự hậu chiến tranh thế giới thứ hai đã sử dụng tư tưởng của pháp gia làm công cụ cai trị của mình. Những tư tưởng đó liên quan tới pháp gia Trung Quốc, nhưng thường có thể phân biệt vì người Hàn Quốc không thích việc sử dụng pháp gia của Trung Quốc để nhằm chính thống hoá tư tưởng đế quốc Hán triều.[1]
== Tham khảo ==
Barbieri-Low, Anthony, trans. "The Standard Measure of Shang Yang (344 B.C.)." 2006.
Creel, H.G. "The Totalitarianism of the Legalists." Chinese Thought from Confucius to Mao Tsê-tung. Chicago: The University of Chicago Press, 1953.
Duyvendak, J.J.L., trans. The Book of Lord Shang: A Classic of the Chinese School of Law. London: Probsthain, 1928.
Graham, A.C., Disputers of the TAO: Philosophical Argument in Ancient China (Open Court 1993). ISBN 0812690877
Pu-hai, Shen. "Appendix C: The Shen Pu-hai Fragments." Shen Pu-hai: A Chinese Political Philosopher of the Fourth Century B.C. Translated by Herrlee G. Creel. Chicago: The University of Chicago Press, 1974.
Qian, Sima. Records of the Grand Historian, Qin Dynasty. Translated by Burton Watson. New York: Columbia University Press, 1993.
Schwartz, Benjamin I. The World of Thought in Ancient China. Cambridge, MA: The Belknap Press of Harvard University Press, 1985.
Watson, Burton, trans. Han Fei Tzu: Basic Writings. New York: Columbia University Press, 1964.
=== Ghi chú ===
^ Song Dae-keun, "Use Legalism to Govern the Nation." Dong-a Ilbo, January 2, 2006 |
16 tháng 2.txt | Ngày 16 tháng 2 là ngày thứ 47 trong lịch Gregory. Còn 318 ngày trong năm (319 ngày trong năm nhuận).
== Sự kiện ==
1862 – Nội chiến Hoa Kỳ: Trận đồn Donelson kết thúc với chiến thắng của Liên bang miền Bắc.
1923 – Nhà khảo cổ học người Anh Howard Carter phát hiện ra mộ thất và quách của Pharaon Tutankhamun.
1945 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân đội Mỹ đổ bộ lên đảo Corregidor tại Philippines và giao chiến với quân đồn trú của Nhật Bản trên đảo.
1959 – Fidel Castro trở thành thủ tướng Cuba sau khi nhà độc tài Fulgencio Batista bị lật đổ ngày 1 tháng 1.
1965 - Thủ tướng Phan Huy Quát lên làm thủ tướng Việt Nam Cộng hòa
1985 – Hezbollah, tổ chức chính trị, vũ trang của người Liban theo đạo Hồi dòng Shi'a, được thành lập.
2005 – Với việc được Nga phê chuẩn, Nghị định thư Kyoto bắt đầu có hiệu lực dưới sự giám sát của UNFCCC.
== Sinh ==
1620 – Friedrich Wilhelm I của Brandenburg, Tuyển hầu Brandenburg và công tước của Phổ (m. 1688).
1831 – Nikolai Semyonovich Leskov, nhà báo, nhà văn Nga (m. 1895).
1834 – Ernst Haeckel, nhà vạn vật học, sinh học, và triết học Đức (m. 1919).
1838 – Ōkuma Shigenobu, thủ tướng Nhật Bản (m. 1922).
1893 – Mikhail Nikolayevich Tukhachevsky, nguyên soái Liên Xô (m. 1937).
1897 – Vệ Lập Hoàng, tướng lĩnh người Trung Quốc, tức 15 tháng 1 năm Đinh Dậu (m. 1960)
1921 – Hoa Quốc Phong, Thủ tướng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (m. 2008).
1929 – Anne Frank, nạn nhân Holocaust, tác giả Nhật ký Anne Frank (m. 1945).
1942 – Kim Chính Nhật, lãnh tụ Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.
1956 – Rina Messinger, Hoa hậu Hoàn vũ năm 1976.
1975 – Aikawa Nanase, ca sĩ Nhật Bản.
1988 – Denílson, cầu thủ bóng đá Brasil.
== Mất ==
705 – Võ Tắc Thiên, Hoàng đế nhà Võ Chu (Trung Quốc) (s. 624)
1906 – Otto Knappe von Knappstädt, tướng lĩnh quân đội Phổ (s. 1815)
1907 – Giosuè Carducci, nhà thơ, nhà văn Ý, người thắng giải Nobel Văn học 1906 (s. 1835).
1977 – Ngô Kiện Hùng, nhà vật lý Mỹ gốc Hoa (s. 1912).
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
richard rogers.txt | Richard George Rogers, hiệu Nam tước Riverside, (sinh ngày 23 tháng 7 năm 1933 tại Florence, Italia) là một kiến trúc sư Hiện đại người Anh. Các công trình của ông đi theo chủ nghĩa công năng với phong cách High-tech. Ông được tặng thưởng giải thưởng Pritzker, giải thưởng cao nhất của kiến trúc thế giới năm 2007
Ông theo học tại trường Kiến trúc London (Anh), sau đó tốt nghiệp khoa kiến trúc Đại học Yale, (Mỹ) năm 1962. Tại đây, Rogers kết bạn với bạn học là Norman Foster. Sau này, hai người cùng hai người vợ (Sue Rogers và Wendy Cheesman) quay về Anh thành lập Team 4. Nhóm thiết kế đã nhanh chóng nổi tiếng với những thiết kế mang tính công nghiệp, kỹ thuật cao.
Năm 1967, Team 4 tan rã, Rogers chuyển sang cộng tác cùng Renzo Piano
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Richard Rogers Partnership Official website
Large list of major Richard Rogers skyscrapers with data and images
Exclusive interview for FX Magazine |
giao chỉ.txt | Giao Chỉ (chữ Hán: 交趾) là tên gọi địa danh một phần lãnh thổ Việt Nam trong lịch sử, từ thời Hùng Vương đến các kỳ thời Bắc thuộc.
== Thời Văn Lang ==
Giao Chỉ nguyên là tên gọi của một bộ trong số 15 bộ của nước Văn Lang thời xưa. Bộ Giao Chỉ thời Hùng Vương tương đương miền Hà Nội ngày nay và miền hữu ngạn sông Hồng.
== Quận Giao Chỉ và bộ Giao Chỉ thời Bắc thuộc ==
Xem thêm thông tin: Bắc thuộc lần 1
Triệu Đà sau khi thôn tính Âu Lạc đã chia Âu Lạc thành 2 quận là Giao Chỉ và Cửu Chân.
Khi nhà Hán đô hộ Nam Việt vào năm 111 trước Công nguyên thì đất Nam Việt cũ bị chia thành 6 quận là Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố, Giao Chỉ và Cửu Chân. Đứng đầu quận là thái thú. Quận Giao Chỉ (Giao Chỉ quận) nằm trong bộ Giao Chỉ (Giao Chỉ bộ). Đứng đầu bộ Giao Chỉ là một thứ sử. Thứ sử đầu tiên là Thạch Đái. Quận trị của quận Giao Chỉ có thể ban đầu đã đặt tại Mê Linh, sau này đặt tại Liên Lâu (nay thuộc huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh). Khi Chu Xưởng làm thái thú quận Giao Chỉ đã dời quận trị đến Long Biên.
Bộ Giao Chỉ là một cấp hành chính của nhà Tây Hán, bao trùm toàn bộ lãnh thổ cũ của nước Nam Việt cộng thêm 3 quận mới lập là Châu Nhai, Đạm Nhĩ và Nhật Nam, được đặt chính thức vào năm 106 TCN, gồm 9 quận là: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam (Nhật Nam được thành lập sau khi nhà Tây Hán chiếm được thêm vùng đất phía nam quận Cửu Chân), Đạm Nhĩ, Châu Nhai (Đạm Nhĩ và Châu Nhai nay thuộc đảo Hải Nam), Nam Hải, Hợp Phố, Uất Lâm và Thương Ngô (nay thuộc Quảng Tây và Quảng Đông). Năm 203 nhà Đông Hán đổi bộ Giao Chỉ thành châu Giao trên cơ sở đề nghị của thứ sử Trương Tân và Sĩ Nhiếp, thái thú quận Giao Chỉ. Tên gọi của bộ Giao Chỉ tồn tại được 300 năm (106 TCN - 203).
Theo sách Tiền Hán thư, địa lý chí thì quận Giao Chỉ gồm có 10 huyện: Luy Lâu, An Định, Cẩu Lậu, Mê Linh, Khúc Dương (Dịch?), Bắc (Thử?) Đái, Kê Từ, Tây Vu, Long Biên và Chu Diên. Thời Tây Hán, trụ sở quận Giao Chỉ đặt tại huyện Luy Lâu, thời Đông Hán đặt tại Long Biên. Theo nhận định của Đào Duy Anh trong Đất nước Việt Nam qua các đời (Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, 2005) dựa vào các sách cổ thì quận Giao Chỉ phủ kín đất Bắc Bộ ngày nay, trừ vùng thượng lưu sông Đà và thượng lưu sông Mã, đồng thời ăn sang cả vùng tây nam Quảng Tây (Trung Quốc) ngày nay. Riêng góc tây nam tỉnh Ninh Bình là địa đầu của quận Cửu Chân (nay thuộc Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh). Sau này nhà Hán đặt thêm quận Nhật Nam ở phía nam quận Cửu Chân (khoảng từ đèo Ngang vào đến Bình Định).
Tích Quang sang làm thái thú quận Giao Chỉ từ đời vua Hán Bình Đế (năm 1 đến năm 5) nhà Tây Hán và Nhâm Diên làm thái thú quận Cửu Chân đời vua Hán Quang Vũ Đế đều là những viên quan cai trị tốt đối với dân chúng nên được nhiều người nể trọng.
Thời Hán mạt và Tam Quốc, nhân dân quận Giao Chỉ đã nhiều lần nổi lên giết chết các thứ sử Giao Châu là Chu Phù rồi Trương Tân. Sau đó nhà Hán đã phong cho thái thú Giao Chỉ là Sĩ Nhiếp làm Tuy Nam Trung lang tướng, tổng đốc 7 quận. Năm 210, Tôn Quyền nước Đông Ngô sai Bộ Chất sang làm thứ sử Giao Châu thì Sĩ Nhiếp tuân phục.
== Người bản xứ đầu tiên làm thứ sử ==
Đời vua Hán Linh Đế (168-189), Lý Tiến là người bản xứ đầu tiên làm thứ sử bộ Giao Chỉ. Lý Tiến dâng sớ xin vua cho người Giao Chỉ được bổ làm quan như người Hán. Nhưng vua Hán chỉ cho những người đỗ Mậu Tài hoặc Hiếu Liêm làm một số chức nhỏ trong xứ Giao Chỉ mà thôi.
Lý Cầm, một lính túc vệ người Giao Chỉ (sau này làm tới chức Tư lệ Hiệu úy) ra sức kêu cầu nên người Giao Chỉ mới được làm quan ở cả nơi khác.
Đại Việt sử ký toàn thư chép:
"Bấy giờ người nước Việt ta là Lý Cầm làm túc vệ ở đài, bèn rủ người đồng hương là bọn Bốc Long 5, 6 người, giữa ngày đầu năm các nước triệu hội, đến quỳ lạy ở sân điện tâu rằng:
"Ơn vua ban không đều".
"Hữu ty hỏi vì cớ gì?"
Cầm nói: "Nước Nam Việt ở xa không được trời che đất chở, cho nên mưa ngọt không xuống, gió mát không đến".
Lời ý khẩn thiết đau đớn. Vua Hán xuống chiếu an ủi, lấy một người đỗ Mậu Tài nước ta đi làm Huyện lệnh huyện Hạ Dương, một người đỗ Hiếu Liêm đi làm Huyện lệnh huyện Lục Hợp. Sau Lý Cầm làm quan đến Tư lệ Hiệu úy, Trương Trọng làm Thái thú Kim Thành. Như thế nhân tài nước Việt ta được cùng tuyển dụng như người Hán là mở đầu từ Lý Cầm, Lý Tiến vậy."
== Cột đồng Mã Viện ==
Năm 40, Trưng Trắc và Trưng Nhị dấy binh đánh đuổi thái thú Tô Định tàn ác và xưng vương. Năm 43, Mã Viện được nhà Hán phái sang đánh bại Hai Bà Trưng, đã cho dựng một trụ đồng có khắc sáu chữ: Đồng trụ chiết, Giao Chỉ diệt, nghĩa là trụ đồng đổ thì Giao Chỉ bị tuyệt diệt. Thấy thế, người Giao Chỉ qua đây, ai cũng bỏ thêm đất đá cho cột đồng càng chắc, nghe nói sau này phủ kín cả cột đồng, không biết nó ở chỗ nào nữa. Còn một cách giải thích khác là ai đi qua nhìn thấy cũng nổi lòng căm ghét, mỗi người ném một hòn đá vào cột, lâu ngày che đi.
== Chia tách Giao Châu ==
Xem thêm thông tin: Bắc thuộc lần 2
Sau khi Sĩ Nhiếp chết, năm 226, Đông Ngô đã chia Giao Châu ra làm 2 châu: Quảng Châu gồm các quận Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô (trị sở tại Phiên Ngung, nay là thành phố Quảng Châu) và Giao Châu (mới) gồm các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố (trị sở tại Long Biên) và cử Sĩ Huy, con Sĩ Nhiếp làm thái thú quận Cửu Chân, nhưng Sĩ Huy không tuân lệnh mà dấy binh chiếm giữ quận Giao Chỉ. Thứ sử Giao Châu (mới) là Đái Lương (戴良) và thứ sử Quảng Châu là Lữ Đại (呂岱) cùng hợp binh tiến đánh, dụ hàng rồi lừa giết chết mấy anh em Sĩ Huy. Khi đó Đông Ngô lại hợp nhất Quảng Châu với Giao Châu như cũ. Năm 264 lại tái lập Quảng Châu.
Năm 265, nhà Tấn cướp ngôi nhà Ngụy, cử Dương Tắc làm thái thú quận Giao Chỉ, Đổng Nguyên làm thái thú quận Cửu Chân. Năm 272, tướng Đông Ngô là Đào Hoàng đánh chiếm lại được Giao Chỉ và Cửu Chân, được làm thứ sử Giao Châu, sau này Tôn Hạo phong cho làm Giao Châu mục.
Quận Giao Chỉ lúc này có 14 huyện: Long Biên, Câu Lậu, Vọng Hải, Liên Lâu, Tây Vu, Vũ Ninh, Chu Diên, Khúc Dương, Ngô Hưng, Bắc Đái, Kê Từ, An Định, Vũ An và Quân Bình với 12.000 hộ.
Thời Lưu Tống, quận Giao Chỉ gồm 12 huyện và 4.233 hộ, là: Long Biên, Câu Lậu, Chu Sĩ, Ngô Hưng, Tây Vu, Định An, Vọng Hải, Hải Bình, Vũ Ninh, Luy Lâu, Khúc Dương, Nam Định (Vũ An cũ).
Thời Nam Tề, quận Giao Chỉ gồm 11 huyện: Long Biên, Vũ Ninh, Vọng Hải, Câu Lậu, Ngô Hưng, Tây Vu, Chu Nhuy, Nam Định, Khúc Dịch (Dương?), Hải Bình, Luy Lâu.
== Quận Giao Chỉ ==
Xem thêm: Bắc thuộc lần 3
Đến đời nhà Tùy, quận Giao Chỉ gồm 9 huyện: Tống Bình, Long Biên, Chu Diên, Long Bình, Bình Đạo, Giao Chỉ, Gia Ninh, Tân Xương và An Nhân.
Nhà Đường sau khi lên thay nhà Tùy, đã đặt ra phủ Giao Châu. Năm 679, Giao Châu đô đốc phủ đổi thành An Nam đô hộ phủ, chia làm 12 châu, trong đó có Giao Châu. Giao Châu mới bao gồm 8 huyện: Tống Bình, Long Biên, Chu Diên, Giao Chỉ, Bình Đạo, Vũ Bình, Nam Định, Thái Bình.
Huyện Giao Chỉ ra đời năm 622 do chia tách đất Tống Châu đặt ra hai huyện Giao Chỉ và Hoài Đức. Đến năm 627, đổi huyện Giao Chỉ thành Nam Từ Châu, nhập 3 huyện Giao Chỉ, Hoài Đức và Hoằng Giáo vào huyện Tống Bình.
== Tỉnh Giao Chỉ ==
Xem thêm: Bắc thuộc lần 4
Nhà Minh vào đầu thế kỷ 15 sau khi xâm chiếm Việt Nam thành lập Giao Chỉ thừa tuyên bố chính sứ ty, hay tỉnh Giao Chỉ. Lúc này tỉnh Giao Chỉ chính là nước Việt Nam thời nhà Hồ và được chia thành 15 phủ (sau tăng lên 17 phủ) và 5 châu lớn (năm 1407):
15 phủ: Giao Châu, Bắc Giang, Lạng Giang, Tam Giang, Kiến Bình (Kiến Hưng thời Hồ), Tân Yên (Tân Hưng thời Hồ), Kiến Xương, Phụng Hóa (Thiên Trường thời Hồ), Thanh Hóa, Trấn Man (Long Hưng thời Hồ), Lạng Sơn, Tân Bình, Diễn Châu, Nghệ An, Thuận Hóa.
5 châu đứng riêng: Thái Nguyên, Tuyên Hóa (Tuyên Quang thời Hồ), Gia Hưng, Quy Hóa, Quảng Oai.
Ngoài ra còn có các châu trực thuộc phủ, tổng cộng có 47 châu lớn nhỏ.
Sang năm 1408, châu Thái Nguyên và châu Tuyên Hóa được thăng làm phủ Thái Nguyên và phủ Tuyên Hóa, nâng tổng số phủ lên 17. Sau này lại bỏ phủ Diễn Châu, còn lại châu Diễn.
Như vậy phủ Giao Châu nằm trong quận Giao Chỉ (lúc này cấp phủ thấp hơn cấp quận).
Sau khi Lê Lợi đánh đuổi quân Minh lên làm vua, ông đã bỏ các đơn vị hành chính cũ và chia cả nước thành 5 đạo. Các tên gọi Giao Châu và Giao Chỉ với tư cách là những đơn vị hành chính chính thức đã chấm dứt từ đó.
== Ý nghĩa tên gọi Giao Chỉ ==
Giao Chỉ còn được dùng để gọi người Việt cổ. Chữ Giao (交) nghĩa là giao nhau, qua lại, kết hợp với nhau. Ý kiến quan trọng khác chữ Giao trong Giao chỉ liên quan đến Giao Long là một linh vật của vùng này mà sau này phổ biến rộng rãi hơn trong vùng được biết như là con Rồng. Riêng chữ Chỉ không được chép và lý giải thống nhất.
Các sách Sử ký Tư Mã Thiên, Hán thư,... viết chữ Chỉ có bộ "phụ" (阯) ở bên. Còn các sách Hậu Hán thư, Từ nguyên, Từ hải,... lại viết có bộ "túc" (趾) ở bên.
Tuy vậy, bộ Từ hải và học giả Nguyễn Văn Tố cho rằng viết chữ Chỉ nào cũng được. Theo Từ hải, chữ 趾 có 4 nghĩa:
Cùng nghĩa với "cước" là chân
Nghĩa là "cước chỉ", tức ngón chân
Nghĩa là "tông tích", tức dấu tích
Thông nghĩa với chữ chỉ có bộ thổ 址, nghĩa là cái nền, nền móng, như "cơ chỉ", "trụ chỉ"
Do vậy chữ Chỉ được hiểu theo nhiều cách, từ đó chữ Giao Chỉ cũng được hiểu theo nhiều cách. Đỗ Hựu trong bộ Thông điển cho rằng: "Giao Chỉ là người Nam di, ngón chân cái toạc ra, đứng thẳng hai bàn chân thì ngón chân cái giao vào nhau, cho nên gọi là Giao Chỉ (chỉ là ngón chân cái)". Ý kiến này được nhiều học giả Trung Hoa và Việt Nam chấp nhận.
Bộ Từ nguyên (quyển Tý, trang 141) bác lại ý kiến trên mà cho rằng: "Theo nghĩa cũ bảo hai ngón chân cái giao nhau là Giao Chỉ, nhưng xét đời cổ bên Hy Lạp, có tiếng "đối trụ", có tiếng "lân trụ" để gọi loài người trên thế giới. "Đối trụ" là phía Nam, phía Bắc đối nhau, "lân trụ" là phía Đông, phía Tây liền nhau. Sở dĩ có tên Giao Chỉ là hợp vào nghĩa "đối trụ", vì dân tộc phương Bắc gọi dân tộc phương Nam, cũng như một chân phía Bắc, một chân phía Nam đối nhau, không phải thực là chân người giao nhau."
Các nhà sử học Việt Nam kể từ Nguyễn Văn Siêu, Đặng Xuân Bảng, Trần Trọng Kim, Đào Duy Anh,... đều theo cách giải thích thứ hai này.
Năm 1868, bác sĩ Clovis Thorel trong đoàn thám hiểm của Ernest Doudart de Lagrée đã nhận xét hiện tượng hai ngón chân cái giao nhau là "một đặc điểm của giống người An Nam". Sau này các học giả Pháp khác cũng ghi nhận điều này.
Hiện tượng hai ngón chân cái trẹo ra ngoài để có tư thế giao nhau khi hai bàn chân đặt song song gần nhau được gặp không chỉ ở các dân tộc Đông Dương mà còn ở các dân tộc khác như người Mã Lai, Xiêm, Trung Hoa, Ả Rập, Melanesia và người Negrito, chỉ khác nhau ở mức độ. Nhưng hiện tượng này rất hiếm gặp ở người châu Âu. Đây không phải là hiện tượng bệnh lý, mà có thể coi là một biến dị lại tổ (variation atavique) do xương mọc không thẳng như bình thường.
== Chỉ dẫn ==
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
Viện sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Viện Sử học (1988), Biên niên lịch sử cổ trung đại Việt Nam
Đào Duy Anh (2005), Đất nước Việt Nam qua các đời, Nhà xuất bản Văn hóa thông tin
== Liên kết ngoài == |
khu vực mậu dịch tự do.txt | Khu vực mậu dịch tự do là một thể loại của khối thương mại, một nhóm các quốc gia được thiết lập mà đã đồng ý để loại trừ thuế quan, hạn ngạch, và ưu đãi trong phần lớn trao đổi thương mại hàng hóa và dịch vụ giữa các quốc gia trong nhóm. Nó có thể được coi là giai đoạn thứ hai của Hội nhập kinh tế. Các nước chọn loại hình hội nhập kinh tế nếu cơ cấu kinh tế của họ được bổ sung.
Khu vực mậu dịch tự do là hình thức liên kết kinh tế quốc tế trong đó các nước thành viên thỏa thuận với nhau về việc giảm hoặc xóa bỏ hàng rào thuế quan và các biện pháp hạn chế về số lượng, tiến tới hình thành một thị trường thống nhất về hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên các nước thành viên vẫn giữ được quyền độc lập tự chủ trong quan hệ buôn bán với các nước ngoài khu vực. Nói cách khác, những thành viên của FTA có thể duy trì những thuế quan riêng và những hàng rào thương mại khác đối với thế giới bên ngoài.
== Xem thêm ==
Khu vực mậu dịch tự do ASEAN
Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Khu vực mậu dịch tự do (FTA) Châu Phi: Cơ hội và thách thức |
châu đốc.txt | Châu Đốc là một thành phố trực thuộc tỉnh An Giang, Việt Nam, nằm ở đồng bằng sông Cửu Long, sát biên giới Việt Nam với Campuchia.
Tuy nhiên, Châu Đốc lại từng là tỉnh lỵ của tỉnh Châu Đốc cũ vào thời Pháp thuộc trước năm 1956 và trong giai đoạn 1964-1975 dưới thời Việt Nam Cộng hòa.
Đặc biệt, Châu Đốc lại là lỵ sở của toàn bộ tỉnh An Giang vào thời nhà Nguyễn độc lập.
Địa bàn tỉnh An Giang khi đó bao gồm tỉnh An Giang, thành phố Cần Thơ, tỉnh Hậu Giang, tỉnh Sóc Trăng, một phần tỉnh Đồng Tháp và một phần tỉnh Bạc Liêu ngày nay.
Hiện thành phố Châu Đốc đang là đô thị loại II.
== Vị trí địa lý ==
Thành phố Châu Đốc nằm trên bờ sông Hậu, cách thành phố Hồ Chí Minh khoảng 245 km về phía tây, nếu chạy xe buýt mất khoảng 6 tiếng.
Phía bắc thành phố giáp huyện An Phú.
Phía đông giáp huyện Phú Tân và thị xã Tân Châu.
Phía nam giáp huyện Châu Phú
Phía tây nam giáp huyện Tịnh Biên và biên giới với Campuchia.
== Phát triển đô thị ==
Ngày 1 tháng 9 năm 2007, thị xã Châu Đốc được Bộ xây dựng công nhận là đô thị loại 3 trực thuộc tỉnh An Giang.
Ngày 19 tháng 7 năm 2013, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ban hành nghị quyết số 86/NQ-CP về việc thành lập phường Vĩnh Ngươn thuộc thị xã Châu Đốc và thành lập thành phố Châu Đốc trực thuộc tỉnh An Giang..
Ngày 2 tháng 9 năm 2013, Thành ủy, Uỷ ban Nhân dân thành phố Châu Đốc đã tổ chức Lễ công bố nghị quyết về việc thành lập thành phố Châu Đốc trực thuộc tỉnh An Giang.
Ngày 15 tháng 4 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam ban hành quyết định số 499/QĐ-TTg, công nhận thành phố Châu Đốc là đô thị loại II trực thuộc tỉnh An Giang.
== Phân chia hành chính ==
Thành phố Châu Đốc có 7 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 5 phường: Châu Phú A,
Châu Phú B,
Núi Sam,
Vĩnh Mỹ,
Vĩnh Ngươn và
2 xã: Vĩnh Châu, Vĩnh Tế.
== Lịch sử ==
=== Thời chúa Nguyễn và nhà Nguyễn độc lập ===
Lãnh thổ Châu Đốc nguyên là đất thuộc nước Chân Lạp, gọi là Tầm Phong Long (Kompong Long). Năm 1757, vua Chân Lạp nhường cho chúa Nguyễn, chúa Nguyễn giao cho Nguyễn Cư Trinh vào và thành lập đạo Châu Đốc cùng với đạo Tân Châu và đạo Đông Khẩu (Sa Đéc).
Sau khi vua Gia Long lên ngôi, năm 1805 niên hiệu Gia Long thứ 3, đã đặt lại địa giới hành chính Châu Đốc thuộc trấn Hà Tiên, Châu Đốc lúc này gọi là Châu Đốc Tân Cương. Năm 1808, Châu Đốc thuộc huyện Vĩnh Định, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh, thuộc Gia Định thành. Năm 1815, triều Nguyễn cho xây thành Châu Đốc. Đến 1825, Châu Đốc tách riêng thành Châu Đốc trấn.
Năm 1832 niên hiệu Minh Mạng 13, vua Minh Mạng đổi trấn thành tỉnh, phủ Gia Định chia thành Nam Kỳ lục tỉnh: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, Hà Tiên và An Giang. Trấn Châu Đốc đổi thành tỉnh An Giang. Thành Châu Đốc, vùng đất mà nay là thành phố Châu Đốc, là tổng Châu Phú thuộc huyện Tây Xuyên và trở thành tỉnh lỵ của tỉnh An Giang nhà Nguyễn (thành Châu Đốc khi đó nằm ở khoảng giữa của huyện Tây Xuyên, huyện này gồm cả phần đất nay thuộc đông nam tỉnh Takeo Campuchia). Đồng thời Minh Mạng cho đặt chức tổng đốc An Hà, lỵ sở tại thành Châu Đốc, cai quản 2 tỉnh An Giang và Hà Tiên (gồm phần lớn đồng bằng sông Cửu Long ngày nay). Để xứng đáng là tỉnh lỵ của một trong sáu tỉnh Nam Kỳ (tỉnh An Giang thời đó bao gồm các phần đất mà nay là các tỉnh thành An Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, một phần của các tỉnh Đồng Tháp, Bạc Liêu của Việt Nam, và một phần của tỉnh Takeo Campuchia), năm 1831 niên hiệu Minh Mạng 12, vua Minh Mạng cho triệt phá thành (đồn) Châu Đốc cũ (1815), xây dựng thành Châu Đốc mới theo hình bát quái, ở phía đông đồn Châu Đốc cũ. Theo Nghiên cứu địa bạ Nam Kỳ Lục tỉnh 1836 của Nguyễn Đình Đầu, tổng Châu Phú khoảng những năm 1836-1839 có các thôn làng sau: Vĩnh Tế Sơn, Vĩnh Ngươi, Vĩnh Phước, Vĩnh Hội, Vĩnh Khánh, Nhơn Hội, Nhơn Hòa, Long Thạnh, Bình Thạnh, An Thạnh, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Thành, An Nông, Hưng An, Khánh An, Phú Cường, Vĩnh Bảo, Vĩnh Thọ, Vĩnh Thông, Vĩnh Lạc, Vĩnh Điều, Vĩnh Trung, Vĩnh Trường, Thới Hưng, Thân Nhơn Lý,...
=== Thời Pháp thuộc ===
Ngày 22 tháng 6 năm 1867, Pháp đem quân đánh chiếm Châu Đốc. Năm 1868, sau khi quân Pháp đánh chiếm 3 tỉnh miền Tây của Nam Kỳ lục tỉnh: (An Giang, Vĩnh Long, Hà Tiên), nhà cầm quyền thực dân chia Nam Kỳ thành 24 hạt Tham biện. Trong đó, hạt Châu Đốc trông coi hạt Long Xuyên (sở lỵ gần chợ Đông Xuyên) và hạt Sa Đéc, thành Châu Đốc bị hạn chế bớt vai trò trung tâm vùng của nó so với thời nhà Nguyễn độc lập (giai đoạn 1832-1867).
Ngày 20 tháng 12 năm 1899, Toàn quyền Đông Dương ra Nghị định đổi hạt Tham biện thành tỉnh; chia phần lớn đất An Giang cũ của nhà Nguyễn thành 5 tỉnh Châu Đốc, Long Xuyên, Sa Đéc, Cần Thơ, Sóc Trăng. Thành Châu Đốc chỉ còn vai trò là thủ phủ của tỉnh Châu Đốc, một trong 21 tỉnh của Nam Kỳ thuộc Pháp. Lúc bấy giờ, tỉnh lỵ Châu Đốc nằm trên địa bàn làng Châu Phú thuộc tổng Châu Phú, quận Châu Thành.(Cochinchine Francaise).
Năm 1919, quận Châu Thành đổi thành quận Châu Phú thuộc tỉnh Châu Đốc. Tuy nhiên năm 1939 lại đổi về tên quận Châu Thành như cũ. Thời Pháp thuộc, làng Châu Phú vừa đóng vai trò là quận lỵ quận Châu Thành và là tỉnh lỵ tỉnh Châu Đốc.
Trong Cách mạng tháng Tám, lực lượng cách mạng khởi nghĩa giành chính quyền ở tỉnh Châu Đốc vào ngày 24 tháng 8 năm 1945. Đến ngày 20 tháng 01 năm 1946, quân Pháp chiếm lại Châu Đốc.
Theo sự phân chia của chính quyền Cách mạng, ngày 06 tháng 3 năm 1948, vùng đất Châu Đốc ngày nay thuộc huyện Châu Phú A của tỉnh Long Châu Hậu. Đến cuối năm 1950, huyện Châu Phú A thuộc tỉnh Long Châu Hà. Năm 1954, vùng đất Châu Đốc lại trở về thuộc huyện Châu Phú, tỉnh Châu Đốc.
=== Thời Việt Nam Cộng hòa ===
Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm quyết định sát nhập tỉnh Châu Đốc với tỉnh Long Xuyên để thành lập tỉnh An Giang. Lúc này ở vùng đất cả hai tỉnh Long Xuyên và Châu Đốc trước đó đều có quận Châu Thành cả. Tuy nhiên, do tỉnh lỵ tỉnh An Giang có tên là "Long Xuyên" và được đặt ở quận Châu Thành thuộc tỉnh Long Xuyên cũ, cho nên quận Châu Thành thuộc tỉnh Châu Đốc cũ được đổi tên là quận Châu Phú như ở giai đoạn 1919-1939. Lúc này, xã Châu Phú chỉ còn đóng vai trò duy nhất là quận lỵ quận Châu Phú. Vai trò tỉnh lỵ của tỉnh An Giang được chuyển từ Châu Đốc sang Long Xuyên, từ đó Châu Đốc không còn là trung tâm tỉnh lỵ của tỉnh An Giang nữa.
Ngày 8 tháng 9 năm 1964, Thủ tướng chính quyền mới của Việt Nam Cộng hòa ký Sắc lệnh số 246/NV quy định kể từ ngày 01 tháng 10 năm 1964 tái lập tỉnh Châu Đốc trên cơ sở các quận Châu Phú, Tân Châu, An Phú, Tri Tôn và Tịnh Biên cùng thuộc tỉnh An Giang trước đó.
Quận Châu Phú trở lại thuộc tỉnh Châu Đốc cho đến năm 1975. Sau năm 1965, tất cả các tổng đều bị giải thể. Lúc bấy giờ, xã Châu Phú thuộc quận Châu Phú vừa đóng vai trò là quận lỵ quận Châu Phú và đồng thời cũng là tỉnh lỵ tỉnh Châu Đốc trong giai đoạn 1964-1975. Tỉnh lỵ tỉnh Châu Đốc khi đó lại có tên là "Châu Phú", do nằm trong khu vực xã Châu Phú, quận Châu Phú.
Năm 1957, chính quyền Cách mạng cũng đặt huyện Châu Phú thuộc tỉnh An Giang, giống như sự phân chia của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Giữa năm 1966, tách xã Châu Phú ra khỏi huyện Châu Phú để thành lập thị xã Châu Đốc trực thuộc tỉnh An Giang.
Trong giai đoạn 1964-1971, địa bàn tỉnh Châu Đốc của chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn do tỉnh An Giang của chính quyền Cách mạng quản lý. Chính vì vậy, trong giai đoạn này chính quyền Cách mạng vẫn đặt huyện Châu Phú và thị xã Châu Đốc cùng thuộc tỉnh An Giang.
Năm 1971, thị xã Châu Đốc vẫn thuộc tỉnh An Giang sau khi tách đất tỉnh An Giang để thành lập tỉnh Châu Hà. Cho đến tháng 5 năm 1974, thị xã Châu Đốc và huyện Châu Phú cùng thuộc tỉnh Long Châu Hà theo Hội nghị thường trực Trung ương Cục cho đến ngày giải phóng.
=== Thời Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam ===
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn đặt thị xã Châu Đốc trực thuộc tỉnh Long Châu Hà.
Tháng 2 năm 1976, thị xã Châu Đốc thuộc tỉnh An Giang, gồm 2 xã ban đầu: Châu Phú A và Châu Phú B.
Ngày 27 tháng 01 năm 1977, thị xã Châu Đốc nhận thêm xã Vĩnh Ngươn của huyện Châu Phú theo Quyết định số 199/TC.UB của Ủy ban nhân dân tỉnh An Giang.
Quyết định 181-CP ngày 25 tháng 04 năm 1979 của Hội đồng Chính phủ:
Chuyển xã Châu Phú A thành phường Châu Phú A.
Chuyển xã Châu Phú B thành phường Châu Phú B.
Sáp nhập 1/2 ấp Châu Thới 1 và 1/2 ấp Châu Thới 2 của phường Châu Phú A vào phường Châu Phú B (theo đường rãnh lòng kinh Vĩnh tế, qua lòng kinh cầu số 4 đến giữa lộ núi Sam – Châu Đốc).
Tách ấp Mỹ Chánh 1, 1/2 ấp Mỹ Hòa (theo kinh đào thẳng ra sông Hậu Giang) của xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú, ấp Châu Long 1, ấp Châu Long 6 của phường Châu Phú B lập thành một xã lấy tên là xã Vĩnh Mỹ.
Quyết định 300-CP ngày 23 tháng 08 năm 1979 của Hội đồng Bộ trưởng, sáp nhập xã Vĩnh Tế của huyện Châu Phú vào Châu Đốc.
Nghị định 29/2002/NĐ-CP ngày 22 tháng 03 năm 2002 của Chính phủ về việc điều chỉnh địa giới hành chính:
Thành lập phường Núi Sam trên cơ sở 1.397 ha diện tích tự nhiên và 21.241 nhân khẩu của xã Vĩnh Tế.
Sau khi thành lập phường Núi Sam, xã Vĩnh Tế còn lại 3.121 ha diện tích tự nhiên và 5.172 nhân khẩu.
Nghị định 53/2003/NĐ-CP ngày 19 tháng 05 năm 2003 của Chính phủ:
Thành lập phường Vĩnh Mỹ trên cơ sở 779,6 ha diện tích tự nhiên và 14.870 nhân khẩu của xã Vĩnh Mỹ.
Đổi tên xã Vĩnh Mỹ thành xã Vĩnh Châu.
Nghị quyết 86/NQ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ về việc thành lập thành phố Châu Đốc.
Thành lập phường Vĩnh Ngươn trên cơ sở toàn bộ 947,30 ha diện tích tự nhiên và 7.489 nhân khẩu của xã Vĩnh Nguơn.
Thành lập thành phố Châu Đốc trên cơ sở toàn bộ 10.529,05 ha diện tích tự nhiên, 157.298 nhân khẩu và 7 đơn vị hành chính cấp xã của thị xã Châu Đốc.
Thành phố Châu Đốc có 10.529,05 ha diện tích tự nhiên, 157.298 nhân khẩu và 7 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 05 phường; Châu Phú A, Châu Phú B, Núi Sam, Vĩnh Mỹ, Vĩnh Nguơn và 02 xã: Vĩnh Châu, Vĩnh Tế.
== Các tuyến đường chính trên địa bàn ==
Tôn Đức Thắng (quốc lộ 91)
Nguyễn Tri Phương (quốc lộ 91)
Hoàng Diệu (quốc lộ 91)
Tân lộ Kiều Hương (quốc lộ 91)
Đường vòng Núi Sam (quốc lộ 91)
Lê Lợi
Nguyễn Văn Thoại
Thủ Khoa Huân
Thủ Khoa Nghĩa
Trưng Nữ Vương
Trần Hưng Đạo
Phan Đình Phùng
== Dân cư, tôn giáo ==
Dân cư
Dân cư thành phố Châu Đốc sinh sống tập trung ở khu vực ven sông Hậu,ven Quốc lộ 91,tại các phường trung tâm thành phố,tại các khu dân cư...với cơ cấu dân số trẻ,dân cư đô thị chiếm gần 80%
Tôn giáo
Gồm có Phật giáo,Công giáo, Đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Tin Lành, Đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Hồi Giáo.
== Giao thông vận tải ==
Thành phố Châu Đốc có hơn 15 km Quốc lộ 91 chạy ngang. Năm 2011, Bộ trưởng Bộ GTVT ký quyết định cho nâng cấp tỉnh lộ 956 tại An Giang (nối Châu Đốc - Long Bình) lên thành quốc lộ 91C . Đây là một thuận lợi để thành phố giao lưu, buôn bán với các địa phương trong tỉnh, trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và nước bạn Campuchia. Ngoài ra, còn có tuyến đường vành đai chạy qua ngoại ô. Khu vực trung tâm thành phố và khu Thương mại Dịch vụ (phường A, phường B,p hường Núi Sam) có hệ thống giao thông nội ô tương đối hoàn thiện.
Thành phố có các tuyến đường nội ô gồm: Lê Lợi, Nguyễn Văn Thoại, Thủ Khoa Nghĩa, Thủ Khoa Huân, Bạch Đằng, Chi Lăng, Trưng Nữ Vương, Phan Văn Vàng, Núi Sam-Châu Đốc, Phan Đình Phùng, Hậu Miếu Bà, Cử Trị, Quang Trung.
Quy hoạch giao thông Thành phố đang tiếp tục hoàn thiện hệ thống giao thông nội ô,nâng cấp, mở rộng, nối dài các tuyến đường trong trung tâm thành phố. Thành phố sẽ nâng cấp Quốc lộ 91 từ 4 làn xe lên 10 làn xe.Quy hoạch tuyến N1 nối kết thành phố với các tỉnh,thành khu vực Nam Bộ. Trong tương lai gần sẽ có tuyến cao tốc Sóc Trăng - Cần Thơ - Khánh Bình đi qua thành phố.
== Kinh tế ==
Kinh tế Châu Đốc tăng trưởng nhanh và mạnh.Năm 2012, tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố Châu Đốc đạt 16,10%, thu nhập bình quân đầu người trên 35,36 triệu đồng, tổng vốn đầu tư phát triển gần 2.720 tỷ đồng, lĩnh vực thương mại - dịch vụ - du lịch tiếp tục phát huy thế mạnh, với mức tăng trưởng đạt 18,01% và chiếm 70,47% tỷ trọng cơ cấu kinh tế địa phương Ngoài ra, thành phố cũng tập trung phát triển công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn phường Vĩnh Mỹ, Vĩnh Châu,...
Thương mại-dịch vụ
Với tiềm năng là một thành phố du lịch nên thương mại-dịch vụ của thành phố là một ngành mũi nhọn trong phát triển kinh tế thành phố. Hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, chợ, các trung tâm mua bán phân bố rộng khắp trên địa bàn thành phố. Hàng hóa phân bố rộng khắp đến các địa bàn trong thành phố. Dịch vụ nhà hàng khách sạn cũng phát triển,với một chuỗi các khách sạn, nhà hàng lớn như Victoria Châu Đốc (4,5 sao), Victoria Núi Sam (3 sao), Châu Phố (3 sao), Bến Đá (3 sao), Đông Nam (2 sao), Song Sao (2 sao), Trung Nguyễn (2 sao), Hải Châu (2 sao)...
Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Đây không phải là một ngành trọng điểm của thành phố nhưng cũng đóng góp một phần vào sự phát triển của thành phố. Các cụm công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được thành phố quan tâm đầu tư và phát triển đã giải quyết một phần cho lao động nhàn rỗi nông thôn.
Nông nghiệp
Đây là một ngành đã hình thành và phát triển từ rất lâu đời ở thành phố. Loại hình nông nghiệp đô thị là một thế mạnh của thành phố. Các cánh đồng đã được cơ giới hóa trong công tác trước, trong và sau thu hoạch do đó năng suất không ngừng tăng và chất lượng nông phẩm cũng tăng lên.
== Di tích lịch sử - Văn hóa ==
Châu Đốc có khu danh thắng Núi Sam, với nhiều lịch sử - Văn hóa được xếp hạng cấp quốc gia, trong đó có Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam. Lễ hội Vía Bà Chúa Xứ được tổ chức hằng năm thu hút đông đảo du khách đến tham quan, cúng bái. Bên cạnh đó, vùng đất giàu truyền thống này cũng từng ghi đậm dấu ấn của các danh tướng, như Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Văn Thoại, Doãn Uẩn,...và những bậc tiền hiền có công khai phá, mở mang bờ cõi, giữ vững biên cương cho Việt Nam.
Các di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia tại Châu Đốc gồm:
Lăng Thoại Ngọc Hầu (Quốc lộ 91, phường Núi Sam)
Miếu Bà Chúa Xứ Núi Sam (Quốc lộ 91, phường Núi Sam)
Chùa Phước Điền (Quốc lộ 91, phường Núi Sam)
Chùa Tây An (Quốc lộ 91, phường Núi Sam)
Đình Châu Phú (đường Trần Hưng Đạo, phường Châu Phú A).
== Giáo dục ==
Một số cơ sở giáo dục tại Châu Đốc
Trung cấp kinh tế kỹ thuật Châu Đốc.
Trường Trung học phổ thông Chuyên Thủ Khoa Nghĩa, Châu Đốc (đường Nguyễn Đình Chiểu, phường A)
Trung học phổ thông Võ Thị Sáu (đường Lê Lợi, phường B)
Trung học phổ thông dân tộc nội trú An Giang.
Trung học cơ sở Nguyễn Trãi (đường Nguyễn Trường Tộ,phường B)
Trung học cơ sở Nguyễn Đình Chiểu (đường Thủ Khoa Nghĩa,phường A)
Trung học cơ sở Trương Gia Mô(đường Công binh,phường Núi Sam)
Trung học cơ sở Thủ Khoa Huân (quốc lộ 91,phường B)
Trung học cơ sở Vĩnh Tế (quốc lộ 91,xã Vĩnh Tế)
Trung học cơ sở Vĩnh Mỹ
Trung học cơ sở Vĩnh Châu
Quy hoạch phát triển giáo dục
Xây dựng Trường Cao đẳng Quốc tế Châu Đốc tại Vĩnh Mỹ
== Y tế ==
Danh sách các cơ sở y tế ở Châu Đốc
Bệnh viện Đa khoa khu vực tỉnh (500 giường). Địa chỉ: 917 Tôn Đức Thắng, phường Vĩnh Mỹ, thành phố Châu Đốc
Bệnh viện Đa khoa Nhật Tân (200 giường). Địa chỉ: đường Phạm Ngọc Thạch, phường B
Bệnh viện thành phố Châu Đốc (150 giường). Địa chỉ: Quốc lộ 91, phường A
Bệnh viện Bình An (150 giường). Địa chỉ: đường Thủ Khoa Nghĩa, phường A
== Những vấn đề về phát triển đô thị. ==
- Hệ thống giao thông lạc hậu so với các đô thị trong vùng. So với các thị trấn ở các tỉnh lân cận, hệ thống giao thông của Châu Đốc tụt hậu rất xa. Các nút giao lớn trên địa bàn TP được phân luồng hết sức đơn giản, không có các vòng xoay nên rất dễ xảy ra tai nạn giao thông.
- Các tuyến đường trong nội ô không có cây xanh hoặc rất ít.
- Các dự án giao thông thi công chậm chạp gây sự bức xúc lớn trong nhân dân.
- Hệ thống dây thông tin, dây điện chằn chịt làm mất mỹ quan đô thị.
- Các tuyến đường ở trung tâm TP nhỏ hẹp nhưng phải lưu thông hai chiều gây nên tình trạng khó khăn trong lưu thông khi TP vào cao điểm du lịch.
== Các dự án phát triển kinh tế - xã hội ở Châu Đốc ==
Dự án nâng cấp, mở rộng Tân Lộ Kiều Lương (trục Châu Đốc - Núi Sam).
Dự án khu đô thị mới Thành phố lễ hội.
Dự án trung tâm văn hóa - thể thao Châu Đốc.
Dự án khu đô thị Ngọc Hầu.
Dự án biệt thự vườn Thoại Ngọc Hầu.
Dự án cầu Châu Đốc (nối Châu Đốc - Tân Châu).
Dự án công viên văn hóa Núi Sam.
Dự án nhà văn hóa - truyền thống khu di tích lịch sử Núi Sam.
Dự án cao tốc Châu Đốc - Tịnh Biên
== Một số hình ảnh tổng hợp về Châu Đốc qua các năm ==
== Chú thích == |
samsung galaxy tab 3 7.0.txt | Samsung Galaxy Tab 3 7.0 là máy tính bảng 7-inch chạy hệ điều hành Android sản xuất và phân phối bởi Samsung Electronics. Nó thuộc thế hệ thứ ba của dòng Samsung Galaxy Tab, nó bao gồm 8-inch Galaxy Tab 3 8.0 và 10.1-inch Galaxy Tab 3 10.1. Nó được công bố vào 24 tháng 6 năm 2013 và được phát hành ở Mỹ vào 7 tháng 7 năm 2013. Nó là kế thừa của Samsung Galaxy Tab 2 7.0.
== Lịch sử ==
Galaxy Tab 3 7.0 được công bố vào 24 tháng 6 năm 2013. Nó được ra mắt cùng với Galaxy Tab 3 10.1 tại 2013 Mobile World Conference. Samsung xác nhận rằng Galaxy Tab 3 7.0 được phát hành vào 7 tháng 7, với giá $199 cho bản 8GB.
== Tính năng ==
Galaxy Tab 3 7.0 được phát hành với Android 4.1.2 Jelly Bean. Samsung tùy biến giao diện với TouchWiz UX. Cùng với ứng dụng của Google, bao gồm Google Play, Gmail và YouTube, nó cho phép truy cập ứng dụng của Samsung như ChatON, S Suggest, Smart Remote, S Voice, Group Play và All Share Play.
Galaxy Tab 3 7.0 có sẵn bản WiFi-only, WiFi với IR Blaster tùy thuộc vào khu vực, biến thể 3G & WiFi, và 4G & LTE (tùy chọn quốc gia) . Dung lượng từ 8 GB đến 32 GB tùy theo mẫu, với khe thẻ nhớ mở rộng microSD. Nó có màn hình 7-inch TFT LCD với độ phân giải 1.024x600 pixel, và hai máy ảnh trước-sau.
== Phiên bản đặc biệt ==
Như phiên bản đặc biệt cho máy tính bảng, Samsung cũng phát hành phiên bản Hello Kitty vào tháng 11 năm 2013.
Một phiên bản khác đó là Samsung Galaxy Tab 3 Kids Edition. Đây là máy tính bảng dành cho trẻ em nó có những tính năng thông thường của máy tính bảng, nhưng có một giao diện người dùng cho trẻ em để tránh gây hư hại cho máy. It will be launched on ngày 10 tháng 11 năm 2013.
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Website chính thức |
30 tháng 6.txt | Ngày 30 tháng 6 là ngày thứ 181 (182 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 184 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1398 – Hoàng tôn Chu Doãn Văn kế vị hoàng đế triều Minh, tức Kiến Văn Đế.
1758 – Chiến tranh bảy năm: Trận Domstadtl giữa Áo và Phổ diễn ra trên khu vực nay thuộc Séc.
1805 – Đạo luật tổ chức Lãnh thổ Michigan của Quốc hội Hoa Kỳ có hiệu lực.
1894 – Cầu Tháp Luân Đôn được khánh thành, cầu bắc qua sông Thames đoạn chảy qua thủ đô của Anh Quốc.
1905 – Bài viết "Zur Elektrodynamik bewegter Körper" của Albert Einstein được tiếp nhận và xuất bản sau đó, trong đó giới thiệu thuyết tương đối hẹp.
1908 – Một vụ nổ lớn xảy ra gần sông Trung Tunguska thuộc khu vực Siberi của Đế quốc Nga, sự kiện có tác động lớn đối với Trái Đất.
1934 – Đảng Quốc xã của Adolf Hitler phát động thanh trừng các đối thủ chính trị tại Đức.
1960 – Cộng hòa Dân chủ Congo giành được độc lập từ Bỉ
1972 – Giây nhuận đầu tiên được thêm vào hệ thống Giờ phối hợp quốc tế (UTC).
1977 – Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) giải thể sau 23 năm tồn tại.
1998 – Joseph Estrada nhậm chức tổng thống của Philippines.
== Sinh ==
1470 - Vua Charles VIII của Pháp
1940 - Phanxicô Xaviê Lê Văn Hồng - giám mục Công giáo Việt Nam, Tổng giám mục Tổng giáo phận Huế
1966 - Mike Tyson, võ sĩ quyền Anh của Mỹ
1983 - Cheryl Cole, ca sĩ Anh, vợ của Ashley Cole
1985 - Michael Phelps, vận động viên bơi lội Mỹ
== Mất ==
1666 - Alexander Brome, nhà thơ Anh (s. 1620)
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
biên niên sử hà nội.txt | Biên niên sử Hà Nội ghi lại các sự kiện của thành phố Hà Nội theo thứ tự thời gian. Xem thêm hai bài Lịch sử Hà Nội và Lịch sử Việt Nam để hiểu rõ các giai đoạn.
== Cổ đại ==
Lịch sử dựng nước và giữ nước bắt đầu từ thời vua Hùng, khi mà vào khoảng năm 1700 TCN đã có Thánh Gióng ở Phù Đổng, huyện Gia Lâm cùng Hùng Linh Công ở Bắc Giang tham gia đánh đuổi giặc Ân
Đời Hùng Vương thứ 18 (cuối cùng) vào khoảng thế kỷ 3 TCN, cuộc chiến Sơn Tinh-Thủy Tinh phản ánh công cuộc xây dựng ngăn lũ lụt của nhân dân vùng Ba Vì, Hà Nội
Vùng đất quanh Hà Nội hiện nay được biết đến từ lâu, đó là thành Cổ Loa được tìm thấy khoảng 200 TCN.
Thế kỷ 3 TCN: An Dương Vương chọn Cổ Loa (thuộc huyện Đông Anh) làm kinh đô.
Thế kỷ đầu Công nguyên (40-43), Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Mê Linh
== Bắc thuộc lần 2 - lần 3 (từ thuộc Hán đến thuộc Đường) ==
Năm 454-456: Huyện Tống Bình (宋平) được thành lập.
545: Lý Nam Đế đóng quân và dựng kè gỗ trên sông Tô Lịch
545: Huyện Tống Bình được nâng cấp lên quận Tống Bình, gồm 3 huyện: Nghĩa Hoài, Tuy Ninh ở bờ nam sông Hồng (đoạn Từ Liêm, Hoài Đức ngày nay), còn Xương Quốc ở bờ bắc (Đông Anh, Gia Lâm ngày nay). Quận trị là vùng nội thành hiện nay.
607: Tống Bình là quận trị quận Giao Chỉ
621: Quận Tống Bình bị hạ cấp xuống thành huyện. Huyện Tống Bình cùng với 2 huyện Hoàng Giáo và Nam Định tạo thành Tống Châu. Đắp tử thành ở bờ nam sông Tô Lịch.
622: Huyện Tống Bình tách 2 huyện Giao Chỉ và Hoài Đức.
627: Hợp nhất các huyện Hoàng Giáo, Giao Chỉ và Hoài Đức thành huyện Tống Bình, đặt trị sở của Giao Châu tại đây.
679: Trở thành phủ trị của An Nam đô hộ phủ.
767: Trương Bá Nghi đắp La Thành.
791: Phùng Hưng tấn công Tống Bình, chiếm lĩnh thành trì và vào phủ Đô hộ, coi chính sự đất nước được 7 năm.
806: Trương Chu đắp An Nam La Thành.
863: Quân Nam Chiếu vây đánh và chiếm Tống Bình
866: Cao Biền xây thành Đại La.
== Thời nhà Hậu Lý ==
1010: Trở thành kinh đô Thăng Long. Khu vực dân ở bao quanh hoàng thành gọi là kinh thành, có tên là phủ Ứng Thiên, gồm 61 phường.
1049: Cho xây Chùa Một Cột
1057: Cho xây Chùa Báo Thiên
1070: Xây Văn Miếu
1076: Quốc Tử Giám bắt đầu mở cửa.
== Thời nhà Trần ==
1230: Thăng Long được chia thành 61 phường
1258: Kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ nhất, quân Nguyên vào kinh thành Thăng Long. Trận Đông Bộ Đầu.
1265: Lập chức Đại An Phủ Sứ trông coi công việc tại kinh thành.
1272: Lần đầu tiên biểu diễn múa rối nước.
1258: Kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ hai, quân Nguyên vào kinh thành Thăng Long. Trận Chương Dương độ và Hàm Tử Quan.
1288: Kháng chiến chống Nguyên Mông lần thứ ba, quân Nguyên lại vào kinh thành Thăng Long.
1341: Lập chức Kinh Sư Đại Doãn. Nguyễn Trung Ngạn là người đầu tiên giữ chức vụ này.
1371, 1377, 1378: Chế Bồng Nga ba lần dẫn quân Chiêm Thành ra cướp phá Thăng Long.
1380: Nguyễn Trãi ra đời.
1389: Nhà sư Phạm Sư Ôn dẫn quân vào Thăng Long.
1397: Hồ Quý Ly rời đô vào Thanh Hóa, Thăng Long đổi tên thành Đông Đô.
== Bắc thuộc lần 4 (thuộc Minh) ==
1407: Đông Đô đổi tên thành Đông Quan.
1426: Lê Lợi đem quân vây đánh Đông Quan. Cho mở khoa thi tại Bồ Đề.
== Thời Hậu Lê và thời kỳ Nam-Bắc triều ==
1428: Thăng Long lại được chọn làm kinh đô. Mang tên chính thức là Đông Kinh.
1466: Mang tên phủ Trung Đô, gồm 2 huyện Vĩnh Xương và Quảng Đức, mỗi huyện có 18 phường, tổng cộng là 36 phường.
1484: Lần đầu tiên cho dựng bia tại Văn Miếu.
1512-1520: Biến loạn liên tiếp ở kinh thành. Cuộc khởi nghĩa của Trần Cảo nhiều lần đánh vào Thăng Long. Chỉ đến năm 1521, Mạc Đặng Dung mới dẹp yên được loạn, 6 năm sau cướp ngôi lập nên nhà Mạc.
1592: Trịnh Tùng vây đánh và chiếm lại Thăng Long.
1599: Chúa Trịnh cho xây dựng vương phủ.
1627: Alexandre de Rhodes có ghé tới Thăng Long.
1631: Xảy ra một vụ hỏa hoạn lớn.
1645-1700: Người Hà Lan có thiết lập một trạm thương mại tại Thăng Long.
1683-1687: Người Anh thiết lập một trạm thương mại tại Thăng Long.
1749: Xây thành Đại Đô là vòng thành ngoài thành Đại La cũ.
1772: Hải Thượng Lãn Ông có trú tại kinh thành.
1782: Loạn kiêu binh phế truất Trịnh Cán, đưa Trịnh Khải lên ngôi chúa, sau đó lộng quyền phá phách kinh thành.
1786: Nguyễn Huệ đem quân ra Thăng Long lần đầu dẹp Trịnh Khải. Nguyễn Hữu Chỉnh đốt phủ chúa.
1788: Nguyễn Huệ đem quân ra Thăng Long lần thứ hai dẹp Vũ Văn Nhậm. Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh. Vua Càn Long sai Tôn Sĩ Nghị đem quân sang. Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế, lấy hiệu là Quang Trung. Thăng Long đổi tên thành Bắc Thành.
1789: Nguyễn Huệ ra Thăng Long lần ba, đánh tan quân Thanh tại trận Ngọc Hồi - Đống Đa. Nhà Hậu Lê chấm dứt.
== Thời nhà Nguyễn ==
1802: Nguyễn Ánh chiếm được Thăng Long. Cho phá bỏ Hoàng thành cũ.
1831: Minh Mạng lập ra tỉnh Hà Nội. Tỉnh Hà Nội lúc đó bao gồm 4 phủ: phủ Hoài Đức (gồm thành Thăng Long, huyện Từ Liêm của trấn Sơn Tây) và ba phủ Ứng Hoà, Thường Tín, Lý Nhân của trấn Sơn Nam[1].
1842: Xây chùa Báo Ân
1865: Xây đền Ngọc Sơn
1873: Francis Garnier chiếm đánh Hà Nội.
1875: Thiết lập khu tô giới của người Pháp.
1882: Henri Riviere chiếm đánh Hà Nội.
== Thời Pháp thuộc ==
1873
20 tháng 11: Francis Garnier mang quân chiếm thành Hà Nội.
21 tháng 12: Francis Garnier bị quân Cờ Đen giết tại cầu Giấy.
1874
Quân Pháp rút khỏi thành Hà Nội.
1875
Lập khu nhượng địa Hà Nội.
1882
25 tháng 4: Henri Rivière mang quân chiếm thành Hà Nội. Tổng đốc Hoàng Diệu tự sát.
1883
19 tháng 5: Henri Rivière bị quân Cờ Đen giết tại cầu Giấy.
Phá hủy chùa Báo Thiên.
1886
Xây dựng nhà tù Hỏa Lò, hoàn thành năm 1889.
1887
Khánh thành nhà thờ Lớn Hà Nội.
1888
19 tháng 7: Thành lập chính quyền thành phố Hà Nội.
1 tháng 10: Vua Đồng Khánh ký chỉ dụ nhượng Hà Nội cho Pháp.
1890
Xây dựng vườn hoa Paul Bert, ngày nay là vườn hoa Lý Thái Tổ.
1891
Thành lập sở cảnh sát.
1896
Chế độ quan lại ở Hà Nội bị bãi bỏ.
1891
Xây dựng nhà thương Lanessan, bệnh viên đầu tiên ở Hà Nội, ngày nay là Bệnh viện Quân đội 108.
1897
Xây dựng Tòa thị chính, hoàn thành năm 1906.
1899
Công ty Thổ địa Đông Dương mở ba tuyến xe điện đầu tiên.
1900
Xây dựng Trường dòng Puginier, ngày nay là Trường Trung học phổ thông Việt Đức.
1901
Xây dựng Dinh Toàn quyền, ngày nay là Phủ Chủ tịch, hoàn thành năm 1906.
Khánh thành khách sạn Métropole, ngày nay là khách sạn Sofitel Metropole.
Xây dựng Nhà hát Lớn Hà Nội, hoàn thành năm 1911.
1902
Hoàn thành tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn.
Xây dựng nhà máy điện bên bờ hồ Hoàn Kiếm.
Thành lập Trường Y khoa Đông Dương, ngày nay là Trường Đại học Y Hà Nội.
15 tháng 11: Khai mạc triển lãm Hà Nội, bế mạc 30 tháng 6 năm 1903.
1903
Nhà ga Hà Nội bắt đầu hoạt động.
1904
Xây dựng nhà thương Bảo Hộ, ngày nay là Bệnh viện Việt Đức.
Xây dựng nhà máy nước Yên Phụ, hoàn thành năm 1906.
1905
Hoàn thành tuyến đường sắt Hà Nội – Vinh.
1907
Thành lập Viện Đại học Đông Dương, tiền thân của Đại học Quốc gia Hà Nội, ngừng hoạt động năm 1908.
Thành lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục.
1908
27 tháng 6: Vụ Hà Thành đầu độc.
1913
Đông Dương tạp chí ra số đầu tiên.
1917
Tái lập Viện Đại học Đông Dương, thành lập nhiều đại học thành viên.
Nam Phong tạp chí ra số đầu tiên.
1921
Dân số Hà Nội 75.000 người, trong đó có 68.600 người Việt.
1923
Thành lập Sở quy hoạch đô thị và kiến trúc.
1924
Luật bảo vệ di tích được áp dụng ở Hà Nội.
Đồ án quy hoạch tổng thể Hà Nội của Ernest Hébrard hoàn thành.
1925
Xây dựng tòa nhà Bộ Tài chính, ngày nay là Trụ sở Bộ Ngoại giao, hoàn thành năm 1927.
Xây dựng Bảo tàng Louis Finot, ngày nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, hoàn thành năm 1932.
Xây dựng Viện Pasteur, ngày nay là Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, hoàn thành năm 1930.
Xây dựng Nhà thờ Cửa Bắc, tòa nhà chính Đại học Tổng hợp Hà Nội.
Thành lập Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, ngày nay là Đại học Mỹ thuật Việt Nam.
1928
Thành lập Nhạc viện Viễn Đông.
1928
Dân số Hà Nội 126.137 người, trong đó có 118.327 người Việt.
==== 1929 ====
cuối tháng 3 năm 1929, tại số nhà 5D phố Hàm Long, chi bộ cộng sản đầu tiên trong cả nước ra đời
ngày 17/3/1930 ban chấp hành lâm thời Đảng bộ Hà Nội được thành lập, đồng chí Đỗ Ngọc Du làm bí thư
ngày 11/10/1930 nhân dân Hà Nội mít tinh chia lửa với Xô Viết Nghệ Tĩnh
1930
tháng 6 năm 1930 thành ủy Hà Nội chính thức thành lập, do đồng chí Nguyễn Ngọc Vũ làm bí thư
Xây dựng nhà máy điện Yên Phụ.
==== 1931 ====
ngày 2/2/1931 nhân dân Hà Nội mít tinh kỉ niệm một năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam
1932
Tờ Phong Hóa của Tự lực văn đoàn ra số đầu tiên.
1934
Thành lập Trường tư thục Thăng Long.
1935
Tiểu thuyết thứ bảy ra số đầu tiên.
==== 1937 ====
ngày 1/5/1937 nhân dân Hà Nội lần đầu tiên kỉ niệm Ngày Quốc tế Lao động tại khu Đấu xảo
1938
Tờ báo trào phúng Vịt Đực ra số đầu tiên.
==== 1939 ====
tháng 10 năm 1939 an toàn khu của Xứ ủy được thành lập ở huyện Hoài Đức
==== 1942 ====
an toàn khu của Xứ ủy được thành lập ở huyện Ứng Hòa
1945
9 tháng 3: Quân đội Nhật tổ chức đảo chính.
20 tháng 7: Trần Văn Lai trở thành thị trưởng người Việt đầu tiên.
15 tháng 8: Xứ ủy Bắc kì họp tại làng Vạn Phúc, Hà Đông quyết định xúc tiến khởi nghĩa
17 tháng 8: Tổng hội viên chức mít tinh hô hào ủng hộ chính phủ bù nhìn Trần Trọng Kim.Ủy ban quân sự cách mạng Hà Nội chiếm diễn đàn để tuyên truyền cách mạng.
18 tháng 8: cờ đỏ sao vàng xuất hiện nhiều tuyến phố ở Hà Nội. các huyện Ứng Hòa, Chương Mỹ, Quốc Oai khởi nghĩa giành chính quyền. Các huyện Thanh Trì, Thạch Thất, Phúc Thọ, Thường Tín khởi nghĩa thắng lợi
19 tháng 8: Quân đội Việt Minh chiếm Hà Nội.
== 1945-1947 ==
19/08/1945: Việt Minh giành chính quyền.
20/8/1945: Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời Hà Nội ra mắt nhân dân
30/8/1945:Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội chính thức thành lập, bác sĩ Trần Duy Hưng được cử làm chủ tịch
2/9/1945: Chính phủ lâm thời ra mắt nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
3/9/1945: phiên họp đầu tiên của Chính phủ Lâm thời tại số nhà 12 phố Ngô Quyền bàn về chống nạn đói và nạn mù chữ, tổ chức tổng tuyển cử...
22/11/1945: Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quy định Hà Nội gồm 5 khu phố nội thành: Lãng Bạc, Đống Đa, Mê Linh, Đại La, Đề Thám và 120 xã ngoại thành.
1945-1946: Chia Hà Nội thành 17 khu phố nội thành (Trúc Bạch, Đồng Xuân, Thăng Long, Đông Thành, Đông Kinh Nghĩa Thục, Hoàn Kiếm, Văn Miếu, Quán Sứ, Đại Học, Bảy Mẫu, Chợ Hôm, Lò Đúc, Hồng Hà, Long Biên, Đồng Nhân, Vạn Thái, Bạch Mai) và 5 khu hành chính ngoại thành (Lãng Bạc, Đại La, Đống Đa, Đề Thám, Mê Linh).
Hiến pháp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 1946 ngày 9/11/1946 tuyên bố Hà Nội là thủ đô của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Mùa đông 1946-đầu 1947: Toàn quốc kháng chiến. Trận Hà Nội 1946.
== 1954 đến nay ==
Năm 1954: Hà Nội khi tiếp quản gồm 4 quận nội thành (34 khu phố, 37.000 dân) và 4 quận ngoại thành (45 xã, 16.000 dân), đánh số từ I đến VIII, với diện tích 152 km². Ngày 13/12/1954, sáp nhập khu vực phố Gia Lâm (gồm phố Gia Lâm, khu nhà ga Gia Lâm, sân bay Gia Lâm, và 4 xã Hồng Tiến, Việt Hưng, Long Biên, Ngọc Thụy) của tỉnh Bắc Ninh vào Hà Nội.
1956-1957: Phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm.
3/1958: Bỏ 4 quận nội thành, thay bằng 12 khu phố: Hoàn Kiếm, Hàng Cỏ, Hai Bà Trưng, Hàng Bông, Cửa Đông, Hàng Đào, Trúc Bạch, Văn Miếu, Ba Đình, Bạch Mai, Bảy Mẫu, Ô Chợ Dừa.
1959: chia lại thành 8 khu phố nội thành: Hoàn Kiếm, Hàng Cỏ, Hai Bà Trưng, Trúc Bạch, Ba Đình, Đồng Xuân, Đống Đa, Bạch Mai và 4 huyện ngoại thành (có 43 xã).
20/4/1961: Tại Kỳ họp khóa II, kỳ 2, Quốc hội đã quyết định mở rộng Hà Nội (lần thứ nhất) với diện tích 584 km², 91.000 dân. Hà Nội sáp nhập 18 xã, 6 thôn và 1 thị trấn (Văn Điển) thuộc các huyện Đan Phượng, Hoài Đức, Thanh Trì (tỉnh Hà Đông); cả huyện Gia Lâm (gồm 15 xã), 14 xã khác và 1 thị trấn (Yên Viên) thuộc các huyện Từ Sơn, Tiên Du, Thuận Thành (tỉnh Bắc Ninh); cả huyện Đông Anh (gồm 16 xã), 1 xã thuộc huyện Yên Lãng và nửa thôn thuộc huyện Kim Anh (tỉnh Vĩnh Phúc); 1 xã thuộc huyện Văn Giang (tỉnh Hưng Yên).
31/5/1961: Thành lập 4 khu phố nội thành (Hoàn Kiếm, Hai Bà Trưng, Ba Đình, Đống Đa) và 4 huyện ngoại thành (Đông Anh, Gia Lâm, Thanh Trì, Từ Liêm).
1966-1968: Không quân Mỹ bắt đầu ném bom. Một phần thành phố đi sơ tán.
21/11/1970, Mỹ cho đổ bộ quân đánh chiếm trại tù Sơn Tây nhằm giải thoát khoảng 65-70 tù binh hiện đang bị giam tại đây nhưng không thành công vì số này trước đó đã được chuyển đi nơi khác.
1972: Chiến dịch Linebacker II, 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không
21/12/1974: Thành lập các tiểu khu ở các khu nội thành, thay thế cho khối dân phố.
12/1978: Sắp xếp lại các tiểu khu: khu Hoàn Kiếm có 18 tiểu khu, khu Ba Đình có 15 tiểu khu, khu Đống Đa có 23 tiểu khu, khu Hai Bà Trưng có 22 tiểu khu, tổng cộng là 78 tiểu khu.
29/12/1978: Quốc hội khóa VI, kỳ họp thứ 4 (tháng 12 năm 1978) đã quyết định mở rộng Thủ đô Hà Nội (lần thứ hai) với diện tích đất tự nhiên là 2136 km², dân số 2,5 triệu người gồm bốn khu phố nội thành, một thị xã và 11 huyện ngoại thành. Hà Nội lấy thêm 5 huyện và 1 thị xã của tỉnh Hà Sơn Bình (Ba Vì, Thạch Thất, Phúc Thọ, Đan Phượng, Hoài Đức, thị xã Sơn Tây), 2 huyện của tỉnh Vĩnh Phú (Mê Linh, Sóc Sơn).
6/1981: Đổi khu phố thành quận và tiểu khu thành phường.
12/8/1991: Tháng 8/1991, Quốc hội khóa VIII, tại kỳ thứ 9, ranh giới Thủ đô Hà Nội được điều chỉnh. Trả 5 huyện và 1 thị xã đã lấy năm 1978 cho tỉnh Hà Tây và 1 huyện (Mê Linh) cho tỉnh Vĩnh Phú, còn bốn quận nội thành và năm huyện ngoại thành, với diện tích đất tự nhiên 924 km².
10/1995: Lập quận Tây Hồ
11/1996: Lập quận Cầu Giấy
1997: Lập quận Thanh Xuân
1997: Tổ chức hội nghị thượng đỉnh các nước nói tiếng Pháp - Francophonie 1997.
1999: Hà Nội được tôn vinh là thành phố vì hòa bình
2003: Tổ chức SEA Games 2003
11/2003: Lập 2 quận Long Biên và Hoàng Mai.
Năm 2005, Hà Nội có gần 3,2 triệu người, vượt 3% so với dự báo, đạt mật độ dân số trên 3450 người/km², gấp trên 100 lần so với mật độ chuẩn thế giới.
08/03/2005: Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội-(HaSTC) chính thức đi vào hoạt động.
2006: Tổ chức hội nghị thượng đỉnh APEC 2006
Năm 2007, dân số Hà Nội tăng thêm 138.100 người đạt 3.398.889 nhân khẩu với 784.881 hộ, tăng 3,5% so với năm 2006.
Ngày 1 tháng 8 năm 2008, tỉnh Hà Tây và huyện Mê Linh, tỉnh Vĩnh Phúc đã chính thức sáp nhập vào Hà Nội. Hà Nội trở thành thủ đô lớn thứ 17 về mặt diện tích trên thế giới.
Cuối tháng 10 năm 2008, mưa lớn gây ra trận lụt lịch sử tại Hà Nội, thành phố chịu thiệt hại tối thiểu là 3.000 tỉ VND (tạm thời) và có ít nhất 21 người thiệt mạng.
Ngày 8 tháng 5 năm 2009: Chính phủ Việt Nam ra Nghị quyết 19/NQ-CP thành lập quận Hà Đông trên cơ sở toàn bộ diện tích, dân số của thành phố Hà Đông trước đây và thành phố Sơn Tây chuyển thành thị xã Sơn Tây.
== Tham khảo ==
Papin, Philippe (2001). Histoire de Hanoi. Fayard. tr. 381–386. ISBN 2 213 60671 4.
Philippe Papin (2010). Lịch sử Hà Nội. Hà Nội: Nhà xuất bản Mỹ thuật.
William S. Logan (2010). Hà Nội: Tiểu sử một đô thị. Hà Nội: Nhà xuất bản Hà Nội.
Georges Boudarel (2002). Hanoi: City of the Rising Dragon. Lanham, Maryland: Rowman & Littlefield.
Trần Huy Liệu (2010). Lịch sử thủ đô Hà Nội. Hà Nội: Nhà xuất bản Thời Đại.
Trần Quốc Vượng (2011). Với Thăng Long – Hà Nội. Hà Nội: Nhà xuất bản Thế giới.
Nguyễn Vinh Phúc (2010). Lịch sử Thăng Long – Hà Nội. Hà Nội: Nhà xuất bản Thời Đại.
Phạm Văn Hà (chủ biên) (2013) Lịch sử Hà Nội. Hà Nội. nhà xuất bản Hà Nội
== Ghi chú ==
Năm tháng và sự kiện |
lập trình máy tính.txt | Lập trình máy tính hay lập chương trình máy tính thường gọi tắt là lập trình (tiếng Anh: Computer programming, thường gọi tắt là programming) là việc lập ra chương trình làm việc cho máy có bộ xử lý, nói riêng là máy tính, để thực thi nhiệm vụ xử lý thông tin nào đó. Chương trình này gồm dãy các chỉ thị (hay lệnh) hợp lý để máy thực hiện theo trình tự thời gian .
Lập trình phải thực hiện cho tất cả các hệ thống xử lý thông tin, từ các dàn máy điện toán lớn, máy tính cá nhân (PC), đến các chip điều khiển lập trình được trong các khối điều khiển thiết bị các loại như trong máy đo đạc phân tích, vũ khí có điều khiển, máy giặt, lò vi sóng,... và trong các thiết bị ngoại vi của máy tính như chip điều khiển ở card màn hình, cổng giao tiếp,...
Dạng chương trình duy nhất mà máy tính có thể thực thi trực tiếp là ngôn ngữ máy hay mã máy, có dạng dãy các số nhị phân. Lập trình trực tiếp ở dạng mã máy là công việc tốn sức, khó kiểm tra và lệ thuộc phần cứng cụ thể. Vì thế giới lập trình phát triển ra các ngôn ngữ lập trình với hệ thống ký hiệu, từ khóa và cú pháp cụ thể để lập trình viên dễ viết mã nguồn ở dạng văn bản mà không quá lệ thuộc vào phần cứng, sau đó dịch (Compile) ra mã máy.
Ngày nay lập trình ứng dụng trên các máy điện toán được hỗ trợ bằng các thư viện, khả năng liên kết mã phát sinh từ các ngôn ngữ khác nhau, và đặc biệt là sử dụng biểu tượng trực quan (visual) cho lập trình. Trong kỹ thuật điện toán việc lập ra bộ chương trình thường được gọi là phát triển phần mềm. Lập trình có các thành tố nghệ thuật, khoa học, toán học, và kỹ nghệ .
== Các ngôn ngữ lập trình ==
Dạng chương trình duy nhất mà máy tính có thể thực thi trực tiếp là ngôn ngữ máy hay mã máy. Nó có dạng dãy các số nhị phân, thường được ghép nhóm thành byte 8 bit cho các hệ xử lý 8/16/32/64 bit . Nội dung byte thường biểu diễn bằng đôi số hex. Để có được bộ mã này ngày nay người ta dùng ngôn ngữ lập trình để viết ra chương trình ở dạng văn bản và dùng trình dịch để chuyển sang mã máy .
=== Mã máy ===
Khi kỹ thuật điện toán ra đời chưa có ngôn ngữ lập trình dạng đại diện nào, thì phải lập trình trực tiếp bằng mã máy. Dãy byte viết ra được đục lỗ lên phiếu đục lỗ (punched card) và nhập qua máy đọc phiếu tới máy tính . Sau đó chương trình có thể được ghi vào băng/đĩa từ để sau này nhập nhanh vào máy tính. Ngôn ngữ máy được gọi là "ngôn ngữ lập trình thế hệ 1" (1GL, first-generation programming languages) . Lúc đó có nhiều hãng sản xuất máy tính và mã máy chưa hoàn toàn thống nhất, nên lập trình gắn liền với máy của hãng.
=== Hợp ngữ ===
Sau đó các mã lệnh được thay thế bằng các tên gợi nhớ và trình được lập ở dạng văn bản (text) rồi dịch sang mã máy. Hợp ngữ (assembly languages) ra đời, là "ngôn ngữ lập trình thế hệ 2" (2GL, second-generation programming languages). Lập trình thuận lợi hơn, khi dịch có thể liên kết với thư viện chương trình con ở cả dạng macro (đoạn chưa dịch) và lẫn mã đã dịch.
Dẫu vậy người lập trình phải nắm chắc về hoạt động của hệ thống xử lý, về các thanh ghi (register), con trỏ (pointer) và vai trò của chúng thì mới tránh đựoc lỗi. Lúc này bắt đầu có sự thống nhất quốc tế về các tập lệnh cần thiết trong kỹ thuật điện toán.
Trong kỹ thuật điện toán hợp ngữ hiện được dùng là ngôn ngữ bậc thấp (low-level programming languages) để tinh chỉnh ngôn ngữ bậc cao thực hiện truy nhập trực tiếp phần cứng cụ thể trong việc lập trình hệ thống, hoặc định tạo các hiệu ứng đặc biệt cho chương trình của mình.
Hợp ngữ hiện là phương tiện lập trình các vi điều khiển trong bảng/khối điều khiển thiết bị điện tử các loại, từ các máy đo, vũ khí, thiết bị dân sinh như máy giặt, lò vi sóng,... Bảng lệnh của vi điều khiển này khác với của máy điện toán, nên hợp ngữ vi điều khiển cũng khác, và đơn giản hơn.
Lập trình mã máy và hợp ngữ cho ra chương trình chạy nhanh nhất trên cùng máy tính, vì nó chứa rất ít chỉ thị thừa hay chỉ thị rác, và giảm lượng mã nhờ việc đặt giá trị các thanh ghi được làm tắt. Các ngôn ngữ bậc cao khi dịch phải bố trí nhiều chỉ thị máy đảm bảo tính khái quát cao nhất, cùng với những câu lệnh thừa của người lập trình mà khi sửa chữa chưa kịp xóa đi.
=== Ngôn ngữ bậc cao ===
Ngôn ngữ bậc cao (high-level programming languages) hay "ngôn ngữ lập trình thế hệ 3" (3GL, third-generation programming languages) ra đời vào những năm 1950. Đây là các ngôn ngữ hình thức, dùng trong lập trình máy điện toán và không lệ thuộc vào hệ máy tính cụ thể nào. Nó giải phóng người lập trình ứng dụng làm việc trong hệ điều hành xác định mà không phải quan tâm đến phần cứng cụ thể. Các ngôn ngữ được phát triển liên tục với các dạng và biến thể mới, theo bước phát triển của kỹ thuật điện toán.
Những ngôn ngữ bậc cao thời kỳ đầu có FORTRAN lập ra năm 1954 , COBOL năm 1959 , BASIC năm 1963 , Pascal năm 1970 , C năm 1970 ,... Chúng có sự khác nhau về từ khóa, ký hiệu, cú pháp, và cả về tổ chức các segment dữ liệu trong bộ nhớ. Sự phát triển lập trình dẫn đến ngôn ngữ C có những ưu việt trong lập trình và quản lý dữ liệu, nên được dùng nhiều, được phát triển tiếp và thành nền ý tưởng cho phát triển nhiều ngôn ngữ mới.
Những ngôn ngữ được dùng phổ biến hiện có ActionScript, C, C++, C#, Haskell, Java, JavaScript, Objective-C, Perl, PHP, Python, Ruby, Smalltalk, SQL, Visual Basic, và nhiều nữa .
Ngày nay các ngôn ngữ lập trình đều cung cấp môi trường soạn thảo mã nguồn, có yểm trợ cao về kiểm tra cú pháp. Một số ngôn ngữ lưu mã nguồn ở dạng văn bản. Song một số khác, thay vì được dịch ra mã máy, lại được lưu ở dạng mã gọi là Bytecode (hoặc Portable code), và có trình thông dịch tương ứng để thực thi dạng mã này. Bytecode được sử dụng trong ngôn ngữ lập trình Java của Sun Microsystems cũng như họ ngôn ngữ lập trình .NET gần đây của Microsoft và Visual Basic trước phiên bản.NET.
Các ngôn ngữ lập trình khác nhau hỗ trợ các phong cách lập trình khác nhau (còn gọi là các phương pháp lập trình). Một phần của công việc lập trình là việc lựa chọn một trong những ngôn ngữ phù hợp nhất với bài toán cần giải quyết. Các ngôn ngữ lập trình khác nhau đòi hỏi lập trình viên phải xử lý các chi tiết ở các mức độ khác nhau khi cài đặt các thuật toán. Thông thường, điều này dẫn tới thỏa hiệp giữa thuận lợi cho việc lập trình và hiệu quả của chương trình, hay thỏa hiệp giữa "thời gian lập trình" và "thời gian tính toán".
== Phát triển phần mềm ==
Phần mềm là danh từ chỉ một gói gồm các chương trình máy tính và dữ liệu. Tài liệu đi kèm và bản quyền phần mềm cũng được coi là một phần quan trọng của phần mềm, mặc dù chúng không liên quan đến việc lập trình.
Quy trình xây dựng phần mềm bao gồm các công việc chính:
Phân tích yêu cầu (requirements analysis)
Đặc tả (specification)
Thiết kế (design and architecture)
Lập trình (coding)
Biên dịch (compilation)
Kiểm thử (testing)
Viết tài liệu (documentation)
Bảo trì (maintenance)
== Chỉ dẫn ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
TechBookReport – reviews of books on computer programming |
quần đảo.txt | Quần đảo là một dãy, chuỗi hoặc một nhóm đảo nằm gần nhau. Điều 46 của Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển định nghĩa: ""Quần đảo" là một tổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau đến mức tạo thành về thực chất một thể thống nhất về địa lý, kinh tế và chính trị, hay được coi như thế về mặt lịch sử."
Các quần đảo thường có ở các biển hở, thông với đại dương. Quần đảo có thể nằm sát đất liền tuy vậy không nhiều bằng các quần đảo ngoài khơi. Các quần đảo hình thành chủ yếu do hoạt động núi lửa, nằm dọc theo các lằn đáy biển trồi lên bởi hoạt động của vỏ Trái Đất hoặc các vùng biển có các dòng nham thạch sát dưới vỏ này. Rất nhiều quần đảo vẫn đang trong quá trình thay đổi do bào mòn hoặc bồi đắp.
Các quốc gia lớn mà lãnh thổ nằm chủ yếu trên các quần đảo là Indonesia, Nhật Bản, Philippines và New Zealand. Trong đó, quần đảo Indonesia là quần đảo lớn nhất thế giới với 17.508 đảo lớn nhỏ nhưng chỉ khoảng 6.000 đảo là có người ở.
== Từ nguyên ==
Trong tiếng Việt, thuật ngữ "quần đảo" là một từ Hán-Việt. Trong tiếng Anh, thuật ngữ "archipelago" có thể bắt nguồn từ: (1) từ cổ "Egeopelago"; (2) từ tiếng Hy Lạp, Ἀγιο πέλαγο, nghĩa là "biển Thánh"; (3) bắt nguồn từ thời Đế chế Latinh, có nghĩa là "Biển của Vương quốc" (Archè); (4) dịch từ tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, Ak Denghiz, Argon Pelagos, "biển Trắng"; (5) từ tiếng Ý, arcipelago, "biển chính".
== Xem thêm ==
Danh sách quần đảo
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
abdul hamid.txt | Abdul Hamid (tiếng Bengal: আব্দুল হামিদ; sinh ngày 1 tháng 1 năm 1944) là chính trị gia Bangladesh, giữ chức Tổng thống Bangladesh. Hamid tuyên thệ nhậm chức Tổng thống vào ngày 22 tháng 4 năm 2013
Hamid đã kết hôn và ông có 3 con trai và 1 con gái
== Chú thích == |
hanja.txt | Hanja (한자 - "Hán tự") là tên gọi trong tiếng Triều Tiên để chỉ chữ Hán. Đặc biệt hơn, nó chỉ những chữ Hán được vay mượn từ tiếng Trung Quốc và được sử dụng rộng rãi trong tiếng Triều Tiên với cách phát âm của người Triều Tiên. Hanja-mal (한자말) hoặc hanja-eo (한자어), hanmun (한문, 漢文) dùng để chỉ những chữ viết được viết theo chữ Hán, mặc dù "hanja" đôi khi được sử dụng với nghĩa đơn giản hơn để chỉ các khái niệm khác. Vì hanja chưa bao giờ có những cải biến lớn, chúng gần như giống hoàn toàn với chữ Hán phồn thể và kyūjitai. Chỉ một số ít hanja được cải biến hoặc hợp nhất với tiếng Triều Tiên. Ngược lại, có nhiều chữ Hán hiện được sử dụng ở Nhật Bản, mà trong tiếng Nhật gọi là kanji và Trung Quốc đại lục đã được cải biến cho đơn giản hơn như chữ Hán giản thể.
== Tham khảo ==
=== Chú thích ===
=== Tài liệu ===
Brown, R.A. (1990). “Korean Sociolinguistic Attitudes in Japanese Comparative Perspective”. Journal of Asia Pacific Communication 1: 117–134.
DeFrancis, John (1990). The Chinese Language: Fact and Fantasy. Honolulu: University of Hawaii Press. ISBN 0-8248-1068-6.
Hannas, William. C. (1997). Asia's Orthographic Dilemma. Honolulu: University of Hawaii Press. ISBN 0-8248-1892-X (paperback); ISBN 0-8248-1842-3 (hardcover) .
Hannas, William. C. (2003). The Writing on the Wall: How Asian Orthography Curbs Creativity. Philadelphia: University of Pennsylvania Press. ISBN 0-8122-3711-0.
Taylor, Insup; Taylor, M. Martin (1983). The psychology of reading. New York: Academic Press. ISBN 0-12-684080-6.
== Liên kết ngoài ==
Hanja, an iOS app with more than 4,000 Sino-Korean characters
open okpyŏn (open-source hanja dictionary)
Hanja Hangul Convert Project
Hanja (Chinese characters)
Hanja Dictionary for learners of Korean
One out of Five Korean Students Couldn't Write Their Own Names (in hanja) |
thiên hoàng jimmu.txt | Thiên hoàng Jimmu (神武天皇 (Thần Vũ Thiên Hoàng), Jinmu-tennō) còn gọi là Kamuyamato Iwarebiko; tên thánh: Wakamikenu no Mikoto hay Sano no Mikoto, sinh ra theo ghi chép mang tính thần thoại trong Cổ Sự Ký vào 1 tháng 1 năm 711 TCN, và mất, cũng theo truyền thuyết, ngày 11 tháng 3, năm 585 TCN (cả hai đều theo âm lịch truyền thống Nhật Bản), là người sáng lập theo truyền thuyết của đất nước Nhật Bản, và là vị Thiên hoàng đầu tiên có tên trong Danh sách Thiên hoàng truyền thống. Hoàng gia Nhật Bản tuyên bố mình là hậu duệ của vua Jimmu. Không thể định rõ được ngày tháng cuộc đời cũng như triều đại của vị Thiên hoàng này. Triều đại của Thiên hoàng Kimmei (509? - 571), Thiên hoàng thứ 29 trong danh sách truyền thống, là triều đầu tiên mà lịch sử đương đại có thể xác định thời gian thẩm tra được.
== Truyện truyền thuyết ==
Thiên hoàng Jimmu được coi là một "Thiên hoàng truyền thuyết" vì có rất ít thông tin về ông, và cũng không nhất thiết ám chỉ rằng không có người nào như thế từng tồn tại. Hơn nữa, các học giả chỉ còn biết than vãn rằng, vào thời điểm này, không có đủ cứ liệu lịch sử để thẩm tra và nghiên cứu thêm.
Theo niềm tin Thần đạo, Jimmu được coi là hậu duệ trực tiếp của nữ thần Mặt trời Amaterasu. Amaterasu có một người con trai gọi là Ame no Oshihomimi no Mikoto rồi có một đứa cháu trai tên là Ninigi-no-Mikoto. Bà cử cháu mình đến quần đảo Nhật Bản, ở đây ông cưới Konohana-Sakuya-hime. Trong số 3 con trai của họ có Hikohohodemi no Mikoto, còn gọi là Yamasachi-hiko, sau này cưới Toyotama-hime. Bà là con gái của Ryūjin, thần biển Nhật Bản. Họ có một người con trai duy nhất tên là Hikonagisa Takeugaya Fukiaezu no Mikoto. Đứa bé bị cha mẹ từ bỏ ngay sau khi sinh và do đó được em gái của mẹ, Tamayori-hime, nuôi nấng. Họ cuối cùng cưới nhau và có 4 con trai. Người con út sau này trở thành Thiên hoàng Jimmu.
Người ta nói rằng ít lâu sau khi Thiên hoàng Jimmu lên nối ngôi, một Trưởng tế được bổ nhiệm (saishu). Cơ quan này thường do một người họ Nakatomi nắm giữ sau thế kỷ 8.
Ngày mừng năm mới của Nhật Bản theo âm lịch được kỷ niệm làm ngày lên ngôi của Thiên hoàng Jimmu.
Năm 1872, triều đình Minh Trị tuyên bố lấy ngày 11 tháng 2 năm 660 TCN theo lịch Gregory làm ngày lập quốc. Ngày lễ bí ẩn này được kỷ niệm là ngày lễ Kigensetsu ("Kỷ nguyên tiết") từ năm 1872 đến năm 1948. Ngày lễ Kigensetsu năm 1940 ngày nay vẫn còn nhiều tranh cãi, nhưng vào đầu thời kỳ Chiêu Hoà, bất kỳ câu hỏi nào cũng bị bỏ qua vì toàn bộ quốc gia đều kỷ niệm năm thứ 2.600 ngày lên ngôi của Thiên hoàng Jimmu.
Ngày lễ này bị đình chỉ sau Chiến tranh Thái Bình Dương, và việc kỷ niệm nó được phục hồi lại năm 1966 với cái tên Kenkoku Kinen no hi ("Kiến quốc kỷ niệm").
=== Thiên hoàng Jimmu di cư ===
Ghi chép truyền thuyết trong Kojiki và Nihon Shoki cho chúng ta biết các anh của Thiên hoàng Jimmu ban đầu sinh ra ở Takachiho, phía Nam đảo Kyūshū (ngày nay là tỉnh Miyazaki), và quyết định đi về phía Đông, vì họ thấy vị trí của mình không thích hợp để trị vì toàn bộ đất nước. Anh trai của Jimmu, Itsuse no Mikoto ban đầu dẫn đầu đoàn di trú, và họ đi về phía Đông qua biển Seto với sự giúp đỡ của tù trưởng địa phương Sao Netsuhiko. Khi họ đến Naniwa (ngày nay là Ōsaka), họ đối mặt với một tù trưởng khác, Nagasunehiko (nghĩa là "người chân dài"), và Itsuse bị giết trong một trận giao tranh sau đó. Thiên hoàng Jimmu nhận ra rằng họ bị đánh bại vì họ đánh về phía Đông, chống lại thần Mặt trời, vì vậy họ quyết định đổ bộ xuống phía Đông bán đảo Kii và đánh về phía Tây. Họ đến Kumano, và với sự hướng dẫn của chim ba chân, Yatagarasu (tạm dịch "quạ 8 cánh"), đến được vùng đất Yamato. Ở đó, họ lại một lần nữa giao chiến với Nagasunehiko và giành chiến thắng.
Ở Yamato, Nigihayahi no Mikoto, người cũng tự xưng là hậu duệ của thần Takamagahara, được Nagasunehiko bảo vệ. Tuy nhiên, khi Nigihayahi gặp Jimmu, chấp nhận tính hợp pháp của Thiên hoàng, và ông lên làm vua.
Lăng mộ (misasagi) chính thức của Thiên hoàng Jimmu, có thể tìm thấy ở Kashibara tại tỉnh Nara. Lăng mộ này nằm không xa đền Kashibara.
Theo Kojiki, Thiên hoàng Jimmu qua đời ở tuổi 126. Thụy hiệu của ông là "Jimmu" (Thần Vũ). Không nghi ngờ gì nữa cái tên này có dạng tiếng Hán và mang nội hàm Phật giáo, nghĩa là nó phải được hợp thức hóa hàng thế kỷ sau thời kỳ vẫn gán cho Thần Vũ, có lẽ là vào thời mà các huyền thoại về nguồn gốc của triều đại Yamato được biên soạn thành biên niên sử ngày nay vẫn gọi là Kojiki.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Aston, William George. (1896). Nihongi: Biên niên sử Nhật Bản từ thời sơ khởi đến năm 697. London: Kegan Paul, Trench, Trubner. [reprinted by Tuttle Publishing, Tokyo, 2007. 10-ISBN 0-8048-0984-4; 13-ISBN 978-0-8048-0984-9 (paper)]
Brown, Delmer M. and Ichirō Ishida, eds. (1979). [ Jien, c. 1220], Gukanshō (Tương lai và quá khứ, bản dịch và nghiên cứu về Gukanshō, lịch sử trình diễn Nhật Bản viets năm 1219). Berkeley: University of California Press. ISBN 0-520-03460-0
Brownlee, John (1997). Các sử gia Nhật Bản và huyền thoại quốc gia, 1600-1945: Thời đại của các vị thần. Vancouver: University of British Columbia Press. ISBN 0-7748-0645-1
Titsingh, Isaac, ed. (1834). [Siyun-sai Rin-siyo/Hayashi Gahō, 1652], Nipon o daï itsi ran; ou, Annales des empereurs du Japon. Paris: Hội nghiên cứu phương Đông Anh và Ireland.vào link để có một bản copy của cuốn sách đã được số hóa (tiếng Pháp)
Varley, H. Paul, ed. (1980). [ Kitabatake Chikafusa, 1359], Jinnō Shōtōki ("Biên niên sử của các vị thần và các vị quốc chủ: Jinnō Shōtōki of Kitabatake Chikafusa" do H. Paul Varley dịch). New York: Nhà xuất bản Đại học Columbia. ISBN 0-231-04940-4
== Xem thêm ==
Thiên hoàng
Danh sách Thiên hoàng
Súng bài Hoàng gia
== Liên kết ngoài ==
Jimmu (Legendary emperor of Japan) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Jimmu Tenno Richard Hooker. World Cultures Title cập nhật 13/9/1997
AOSHIMA JINJA (Aoshima Shinto Shrine) |
khoa học tự nhiên.txt | Khoa học tự nhiên, hay Tự nhiên học, (tiếng Anh:Natural science) là một nhánh của khoa học, có mục đích nhận thức, mô tả, giải thích và tiên đoán về các hiện tượng và quy luật tự nhiên, dựa trên những dấu hiệu được kiểm chứng chắc chắn. Trong khoa học tự nhiên, giả thuyết được sử dụng rộng rãi để xây dựng những lý thuyết khoa học.
== Giải thích ==
Các môn khoa học tự nhiên tạo nên cơ sở cho các khoa học ứng dụng. Các khoa học tự nhiên và ứng dụng lại được phân biệt với các ngành khoa học xã hội, nhân văn, thần học, và nghệ thuật.
Các ngành Toán học, Thống kê và Tin học cung cấp nhiều công cụ và khung làm việc được sử dụng trong các ngành khoa học tự nhiên. Ở Việt Nam, ba ngành này được xếp vào loại khoa học tự nhiên. Tuy nhiên, nhiều nước trên thế giới, đặc biệt là các nước nói tiếng Anh, không có quan điểm như vậy.
Thiên văn học, nghiên cứu về các thiên thể và hiện tượng bên ngoài bầu khí quyển Trái Đất, ví dụ sao, thiên hà, v.v..
Sinh học, nghiên cứu về sự sống.
Sinh thái học và Khoa học môi trường, nghiên cứu mối quan hệ tương hỗ giữa sự sống và môi trường.
Hóa học, nghiên cứu cấu tạo, các phản ứng hóa học, cấu trúc, và các tính chất của vật chất và các biến đổi lý hóa mà chúng trải qua.
Khoa học Trái Đất, nghiên cứu về Trái Đất, các chuyên ngành gồm có:
Địa chất học
Thủy văn (Hydrology)
Khí tượng học
Địa vật lý và Hải dương học
Khoa học đất
Vật lý học, nghiên cứu các thành phần cơ bản của vũ trụ, các lực và tương tác của chúng, và các kết quả của các lực này.
== Lịch sử ==
Từ thời xa xưa cho đến thời Trung cổ, đối tượng nghiên cứu của Khoa học tự nhiên được biết đến như là các triết lý tự nhiên. Đến cuối thời Trung cổ và thời hiện đại, việc giải thích một cách triết học về tự nhiên dần dần được thay thế bởi sự tiếp cận một cách khoa học sử dụng phương pháp luận quy nạp. Các nghiên cứu của Ibn al-Haytham và Sir Francis Bacon phổ biến trong các tiếp cân này, do đó đã giúp cho việc tiến lên cuộc cách mạng khoa học của nhân loại.
Trước thế kỷ 19, việc nghiên cứu khoa học đã trở nên chuyên nghiệp và có các tổ chức, và các tổ chức này dần dần đạt được tiếng tăm trong nghiên cứu khoa học tự nhiên. Nhóm nghiên cứu khoa học được tạo ra bởi William Whewell vào năm 1834 dựa trên tổ chức Mary Somerville's On the Connexion of the Sciences.
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Việt) Mạng thông tin Khoa học và Công nghệ Việt Nam
(tiếng Việt) Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam
(tiếng Anh) Các ngành khoa học tự nhiên tại Đại học Cambridge
(tiếng Anh) Lịch sử khoa học và công nghệ cận đại
(tiếng Anh) Điểm sách về khoa học tự nhiên. Trang này chứa hơn 50 bài nhận xét đản xuất bản về các cuốn sách khoa học tự nhiên, kèm theo nhiều bài luận chọn lọc về các chủ đề hiện hành của khoa học tự nhiên. |
thế vận hội mùa hè 1932.txt | Thế vận hội Mùa hè 1932 hay còn gọi là Thế vận hội thứ X, là một sự kiện đa thể thao quốc tế tổ chức năm 1932 tại thành phố Los Angeles, Hoa Kỳ. Không có thành phố nào ngoài Los Angeles vận động giành quyền đăng cai. Thế vận hội này được tổ chức trong thời kỳ của cuộc Đại khủng hoảng, nhiều quốc gia và vận động viên không có khả năng chi trả cho chuyến đi tới Los Angeles. Chỉ có gần một nửa số vận động viên từng tham dự Thế vận hội Mùa hè 1928 ở Amsterdam tới tham dự Thế vận hội 1932. Tổng thống Mỹ Herbert Hoover không tham dự lễ khai mạc, trở thành vị nguyên thủ quốc gia đầu tiên không tham dự Thế vận hội tổ chức tại quốc gia đó.
Ủy ban tổ chức không thông báo về tình hình tài chính của Thế vận hội này, tuy nhiên một vài tờ báo cho rằng sự kiện đã thu được khoản lợi nhuận 1.000.000 USD.
== Các quốc gia tham dự ==
Tổng cộng 37 quốc gia tham dự Thế vận hội 1932. Colombia và Trung Hoa Dân Quốc (với 1 vận động viên) lần đầu tiên tham dự một Thế vận hội.
== Tổng huy chương ==
10 quốc gia giành được nhiều huy chương nhất.
== Chú thích ==
== Liên kết ==
“Los Angeles 1932”. Olympic.org. Ủy ban Olympic quốc tế. |
16 tháng 8.txt | Ngày 16 tháng 8 là ngày thứ 228 (229 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 137 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
873 – Hoàng thái tử Lý Huân trở thành hoàng đế triều Đường, tức Đường Hy Tông, đế quốc hầu như tan rã trong thời gian ông trị vì.
1762 – Trong Chiến tranh Bảy năm, quân Phổ giành chiến thắng trước quân Áo trong trận Reichenbach.
1930 – Đại hội thể thao Đế quốc Anh lần đầu tiên được khai mạc tại Hamilton, Ontario, Canada.
1945 – Quốc dân đại hội đầu tiên do Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức họp tại Chiến khu Tân Trào thông qua 10 chính sách lớn của Việt Minh, chủ trương tổng khởi nghĩa, quy định Quốc kỳ, Quốc ca Việt Nam.
1945 – Hoàng đế Mãn Châu Quốc Phổ Nghi bị Quân đội Liên Xô bắt trong lúc ông chuẩn bị chạy trốn sang Nhật Bản.
1964 – Nguyễn Khánh ban hành "Hiến chương Vũng Tàu", theo đó ông là Chủ tịch Hội đồng Quân nhân Cách mạng, kiêm Quốc trưởng, kiêm Thủ tướng của Việt Nam Cộng hòa.
== Sinh ==
1563, chúa sãi Nguyễn Phúc Nguyên của Đàng Trong, sau được nhà Nguyễn suy tôn miếu hiệu là Hy Tông hiếu văn hoàng đế
1935 - Nhà văn Duyên Anh, tác giả nhiều truyện thiếu nhi, cùng những bài báo trên các báo chí thịnh hành của Việt Nam Cộng hòa (m. 1997)
1958 - Madonna, nữ ca sĩ Mỹ được mệnh danh là "Nữ hoàng nhạc pop"
1982, Cam Gigandet, diễn viên người Mỹ
== Mất ==
1949 – Margaret Mitchell, nhà văn Mỹ, tác giả Cuốn theo chiều gió (s. 1900)
1977 – Elvis Presley, ca sĩ nhạc rock'n'roll người Mỹ (s. 1935)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
trượt tuyết băng đồng.txt | Trượt tuyết băng đồng là một môn thể thao trượt tuyết mà những người tham gia sử dụng ván trượt và gậy trượt để tự đẩy mình đi băng qua những khu vực địa hình tuyết phủ, thường trên những con đường được ủi ra. Môn thể thao này phổ biến ở những nơi có các cánh đồng tuyết lớn, phần lớn là Bắc Âu, Canada và Alaska.. Đó là một môn thể thao tốt cho sức khỏe, vì sử dụng nhiều bắp thịt khác nhau của cơ thể, nên hay được khuyến khích tập luyện.
Trượt tuyết băng đồng là một phần của một nhóm các môn thể thao trượt tuyết Bắc Âu (Nordic skiing) bao gồm ski jumping, Nordic combined (trượt tuyết băng đồng và ski jumping), hai môn phối hợp (trượt tuyết và bắn súng) và chạy định hướng trên tuyết.
== Lịch sử ==
Việc sử dụng ván trượt tuyết để di động đã có từ nhiều ngàn năm nay. Tuy nhiên là môn thể thao để thi đấu thì mới bắt đầu từ thế kỷ thứ 19 tại Bắc Âu. Cuộc thi đấu quan trọng đầu tiên xảy ra tại Holmenkollen ở Oslo.
Từ thế vận hội mùa Đông 1924 trượt tuyết băng đồng trở thành một môn thể thao chính trong chương trình thi đua của thế vận hội. Từ thế vận hội mùa Đông 1952 cũng có những cuộc thi đấu cho phụ nữ.
Đến cuối thập niên 1970 một kỹ thuật mới được phát triển, gọi là skating. Nhiều nước như Ý, Pháp, Áo hay Thụy Sĩ cho đó là một sáng kiến hay, tiếp nhận nhanh chóng và sửa lại đường trượt tuyết cho thích hợp. Trong khi ở Đức đến giữa thập niên 1990, nhiều vùng trượt tuyết băng đồng vẫn còn treo bảng cấm skating. Ở Bắc Âu thì dân chơi tài tử cũng ít đi theo kiểu này.
== Tham khảo == |
cách mạng cuba.txt | Cách mạng Cuba (1953–1959) là một cuộc nổi dậy vũ trang do Phong trào 26 tháng 7 của Fidel Castro và các đồng minh của họ tiến hành nhằm chống lại chính phủ của Tổng thống Cuba Fulgencio Batista. Cách mạng bắt đầu vào tháng 7 năm 1953, và cuối cùng lật đổ Batista vào ngày 1 tháng 1 năm 1959, lập nên chính phủ xã hội chủ nghĩa cách mạng. Tổ chức phong trào sau đó cải tổ theo đường lối cộng sản chủ nghĩa, và trở thành Đảng Cộng sản vào tháng 10 năm 1965.
Cách mạng Cuba có tác động lớn trong phạm vi quốc nội và quốc tế; đặc biệt, nó tái định hình quan hệ của Cuba với Hoa Kỳ, Hoa Kỳ duy trì cấm vận chống Cuba. Hậu quả trực tiếp của cách mạng là chính phủ của Fidel Castro bắt đầu một chương trình quốc hữu hóa và củng cố chính trị làm biến đổi kinh tế và xã hội dân sự của Cuba. Cách mạng cũng khởi đầu một thời kỳ mà Cuba can thiệp vào các xung đột quân sự tại ngoại quốc, trong đó có Nội chiến Angola và Cách mạng Nicaragua.
== Bối cảnh và nguyên nhân ==
Fulgencio Batista là tổng thống tuyển cử của Cuba từ 1940 đến 1944, ông đoạt quyền trong một cuộc chính biến quân sự và đình chỉ tuyển cử năm 1952, và bắt đầu nhiệm kỳ tổng thống thứ nhì của mình vào tháng 3 năm 1952. Mặc dù Batista là một người tương đối cấp tiến trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của mình, song trong thập niên 1950 ông tỏ ra độc tài hơn nhiều và bàng quan trước những lo lắng của dân chúng. Trong khi Cuba vẫn còn khó khăn do tỷ lệ thất nghiệp cao và hạn chế về cơ sở hạ tầng nước, Batista khiến dân chúng phản đối việc thiết lập các mối quan hệ có lợi với tội phạm có tổ chức và cho phép các công ty Hoa Kỳ chi phối kinh tế Cuba.
Trong nhiệm kỳ tổng thống đầu tiên của mình, Batista được Đảng Cộng sản Cuba ủng hộ, song trong nhiệm kỳ tổng thống thứ nhì ông trở nên chống cộng mãnh liệt, thu được sự ủng hộ chính trị và viện trợ quân sự từ Hoa Kỳ. Batista phát triển một cơ sở an ninh có quyền lực lớn để trấn áp các đối thủ chính trị, Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy mô tả chính phủ Cuba là một "quốc gia cảnh sát toàn trị" vào năm 1960. Trong những tháng sau cuộc đảo chính tháng 3 năm 1952, một luật sư và nhà hoạt động chính trị trẻ tuổi là Fidel Castro kiến nghị lật đổ Batista với cáo buộc tham nhũng và chuyên chế. Tuy nhiên, những tranh luận theo hiến pháp của Fidel Castro bị tòa án Cuba bác bỏ. Sau khi quyết định rằng không thể lật đổ chính phủ Cuba thông qua những phương thức pháp lý, Fidel Castro quyết định phát động một cách mạng vũ trang. Nhằm mục đích này, Fidel Castro cùng em trai là Raúl thành lập một tổ chức bán quân sự gọi là "Phong trào", tàng trữ vũ khí và tuyển mộ khoảng 1.200 người theo từ tầng lớp lao động bất mãn tại La Habana cho đến cuối năm 1952.
== Giai đoạn đầu ==
Fidel Castro và Raúl Castro tập hợp 123 chiến binh Phong trào và lập kế hoạch về một cuộc tấn công vào các căn cứ quân sự. Ngày 26 tháng 7 năm 1953, quân nổi dậy thất bại khi tấn công Doanh trại Moncada tại Santiago và các doanh trại tại Bayamo. Có tranh luận về số liệu chính xác về số quân nổi dậy thiệt mạng trong giao tranh; tuy nhiên, trong tự truyện của mình, Fidel Castro tuyên bố rằng có 9 người thiệt mạng trong giao tranh, và thêm 56 người bị giết sau khi bị chính phủ Batista bắt giữ. Trong số những người thiệt mạng có Abel Santamaría, phó tư lệnh của Fidel Castro, nhân vật này bị hành hình cũng trong ngày 26 tháng 7.
Nhiều người, trong đó có Fidel và Raúl Castro, bị bắt ngay sau đó. Trong một phiên tòa mang tính chính trị cao độ, Fidel Castro nói gần bốn tiếng nhằm bào chữa cho mình, kết thúc bằng câu "Kết án tôi không phải là vấn đề. Lịch sử sẽ giải oan cho tôi." Fidel Castro bị kết án 15 năm trong trại giam Presidio Modelo, nằm trên đảo Thông, trong khi Raúl Castro bị kết án 13 năm. Tuy nhiên, đến năm 1955, trước các áp lực chính trị, chính phủ Batista phóng thích toàn bộ tù nhân chính trị tại Cuba, trong đó có những người tấn công doanh trại Moncada. Giáo viên dòng Tên thời thiếu niên của Fidel Castro thành công trong việc thuyết phục Batista phóng thích cả Fidel và Raúl.
Ngay sau đó, anh em nhà Castro kết giao với những người lưu vong khác tại Mexico nhằm chuẩn bị cho việc lật đổ Batista, tiếp nhận huấn luyện từ Alberto Bayo- một lãnh đạo của phe Cộng hòa trong Nội chiến Tây Ban Nha. Trong tháng 6 năm 1955, Fidel Castro gặp nhà cách mạng người Argentina Ernesto "Che" Guevara, Guevara tham gia đại nghiệp của Fidel Castro. Những nhà cách mạng tự định danh là "Phong trào 26 tháng 7", nhằm ám chỉ ngày họ tấn công doanh trại Moncada vào năm 1953.
== Chiến tranh du kích ==
"Tôi tin tưởng rằng không quốc gia nào trên thế giới, kể cả các quốc gia còn đang nằm trong vòng thuộc địa, phải chịu sự thuộc địa hóa nền kinh tế, sự hổ nhục và bóc lột tệ hại hơn Cuba, phần nào do chính sách của chúng ta trong thời chế độ Batista. Tôi ủng hộ tuyên cáo của Fidel Castro tại Sierra Maestra, khi ông kêu gọi một cách chính đáng, và đặc biệt thống thiết, giải thoát Cuba khỏi sự thối nát. Tôi còn muốn đi xa hơn nữa: trong một chừng mực nào đó, Batista là hiện thân của một số tội lỗi về phía Hoa Kỳ. Giờ đây chúng ta phải trả giá cho những tội lỗi đó. Về phía chính quyền Batista, tôi tán đồng cách mạng Cuba đầu tiên. Một cách rõ ràng."
– Tổng thống Hoa Kỳ John F. Kennedy, trả lời phỏng vấn Jean Daniel, 24 -10 -1963
Thuyền buồm Granma đến Cuba vào ngày 2 tháng 12 năm 1956, chở theo anh em nhà Castro và 80 người khác thuộc Phong trào 26 tháng 7. Họ đổ bộ tại Playa Las Coloradas, thuộc đô thị Niquero, đến chậm hai ngày so với kế hoạch do thuyền chở nặng, không giống như khi chạy thử. Điều này khiến cho hy vọng phối hợp tấn công với cánh llano của phong trào bị thất bại. Sau khi đến và rời khỏi tàu, nhóm quân nổi dậy bắt đầu lập kế hoạch tiến vào dãy núi Sierra Maestra tại miền đông nam Cuba. Ba ngày sau khi cuộc hành quân bắt đầu, quân của Batista tấn công và sát hại hầu hết những người từng đi trên Granma – dù con số tử vong chính xác còn có tranh nghị, song có không hơn 20 trong số 82 người ban đầu còn sống sau cuộc chạm trán ban đầu với quân đội Cuba và thoát được đến dãy Sierra Maestra.
Nhóm những người sống sót gồm có Fidel Castro và Raúl Castro, Che Guevara và Camilo Cienfuegos. Họ phân tán, một mình hoặc trong các nhóm nhỏ, lang thang qua các núi, tìm kiếm lẫn nhau. Cuối cùng, họ lại liên kết lại được với sự trợ giúp của những cảm tình viên nông dân, và sau đó thành lập tập thể lãnh đạo đầu não của quân du kích. Celia Sanchez và Haydée Santamaría (chị của Abel Santamaria) nằm trong số những nhà cách mạng là nữ giới đã hỗ trợ cho Fidel Castro trong núi.
Ngày 13 tháng 3 năm 1957, một nhóm cách mạng riêng biệt là Hội Đổng sự Cách mạng sinh viên (Directorio Revolucionario Estudantil) có tư tưởng chống cộng và hầu hết thành viên là sinh viên tiến hành tấn công Dinh Tổng thống tại La Habana, nỗ lực nhằm ám sát Batista và diệt trừ chính phủ. Cuộc tấn công kết thúc với thất bại hoàn toàn, lãnh đạo của tổ chức là José Antonio Echeverría thiệt mạng trong lúc đấu súng với lực lượng của Batista tại đài phát thanh của La Habana. Một nhóm những người sống sót gồm Humberto Castello, Rolando Cubela và Faure Chomon.
Sau đó, Hoa Kỳ áp đặt cấm vận đối với chính phủ Cuba và triệu hồi đại sứ của mình, làm suy yếu chính phủ hơn nữa. Sự ủng hộ của dân chúng Cuba đối với Batista bắt đầu mất dần, khi những người ủng hộ cũ hoặc gia nhập cách mạng hoặc là tách biệt với Batista. Tuy thế, Mafia và giới doanh nhân Hoa Kỳ duy trì sự ủng hộ của họ.
Chính phủ phải thường xuyên dựa vào những phương pháp tàn bạo để duy trì quyền kiểm soát của chính phủ tại các thành thị của Cuba. Tuy nhiên, trong dãy Sierra Maestra, Fidel Castro với trợ giúp của Frank País, Ramos Latour, Huber Matos, và nhiều người khác, đã tổ chức thành công các cuộc tấn công vào những đồn nhỏ của quân Batista. Che Guevara và Raúl Castro trợ giúp Fidel Castro nhằm thống nhất quyền kiểm soát chính trị của ông trong dãy núi, thường là thông qua hành hình những nhân vật bị nghi ngờ là trung thành với Batista và những đối thủ khác của Castro. Thêm vào đó, lực lượng dân quân gọi là escopeteros cũng quấy phá quân Batista tại những vùng chân núi và đồng bằng thuộc tỉnh Oriente. Lực lượng escopeteros cũng trực tiếp hỗ trợ quân sự cho quân chủ lực của Castro bằng cách bảo vệ đường tiếp tế và chia sẻ thông tin. Kết quả là dãy núi này cuối cùng rơi vào tay lực lượng của Castro.
Ngoài việc đấu tranh vũ trang, quân nổi dậy còn sử dụng biện pháp tuyên truyền để nâng cao uy thế của họ. Một đài phát thanh bí mật, gọi là Radio Rebelde (Đài Phát thanh quân nổi dậy) được thiết lập tháng 2 năm 1958, cho phép Fidel Castro và lực lượng của ông phát các thông điệp của họ ra toàn quốc. Các buổi phát thanh này có lẽ do một người quen cũ của Castro là Carlos Franqui tiến hành, người này cuối cùng lưu vong tại Puerto Rico.
Trong suốt thời gian này, lực lượng của Fidel Castro còn rất nhỏ, có lúc không đầy 200 người, trong khi lực lượng quân đội và cảnh sát Cuba có từ 30.000 tới 40.000 người. Tuy vậy, gần như mỗi khi quân Cuba giao tranh với quân nổi dậy, họ đều phải tháo lui. Lệnh cấm vận vũ khí do Hoa Kỳ áp chế với chính phủ Cuba vào ngày 14 tháng 3 năm 1958 góp phần làm suy yếu nghiêm trọng lực lượng Batista. Không quân Cuba nhanh chóng trở nên rệu rã, họ không có khả năng sửa chữa máy bay một khi không thể nhập phụ tùng từ Hoa Kỳ nữa.
Batista cuối cùng phải mở một chiến dịch tấn công lớn vào dãy núi mang tên Chiến dịch Verano, còn phe quân nổi dậy gọi là la Ofensiva. Quân chính phủ được đưa đến gồm 12.000 binh sĩ, trong số đó phân nửa gồm tân binh chưa được huấn luyện. Trong một loạt các cuộc chạm trán, lực lượng du kích đầy quyết tâm của Fidel Castro đánh bại quân chính phủ. Trong trận La Plata, kéo dài từ 11 tháng 7 tới 21 tháng 7 năm 1958, quân của Fidel Castro đánh bại cả một tiểu đoàn quân chính phủ gồm 500 người, bắt được 240 tù binh, trong khi chỉ mất 3 người. Tuy nhiên, thế trận đảo ngược vào ngày 29 tháng 7 năm 1958, khi quân Batista tiêu diệt gần hết lực lượng nhỏ chỉ gồm 300 người của Castro trong trận Las Mercedes. Với việc lực lượng cách mạng bị khống chế bởi lực lượng đối phương đông áp đảo, Fidel Castro phải đề nghị ngưng bắn tạm thời và được chấp thuận, đình chiến tạm thời bắt đầu vào ngày 1 tháng 8. Trong suốt bảy ngày tiếp đó, khi các cuộc thương thuyết vẫn tiếp diễn mà không mang lại kết quả gì, quân của Castro dần tẩu thoát khỏi vòng vây. Tới ngày 8 tháng 8, toàn bộ lực lượng của Castro đã trốn được vào dãy núi, và như vậy trên thực tế chiến dịch Verano là thất bại đối với chính phủ Batista.
== Tấn công cuối cùng và quân nổi dậy thắng lợi ==
Ngày 21 tháng 8 năm 1958, sau khi đánh bại chiến dịch Ofensiva của Batista, lực lượng của Castro bắt đầu thế tấn công. Trong tỉnh Oriente, Fidel Castro, Raúl Castro và Juan Almeida Bosque chỉ huy tấn công trên bốn mặt trận. Xuống núi với những vũ khí mới lấy được trong chiến dịch Ofensiva và nhờ nhập lậu bằng máy bay, lực lượng của Fidel Castro giành một loại thắng lợi ban đầu. Đại thắng của Fidel Castro tại Guisa, và chiếm được một số thị trấn bao gồm Maffo, Contramaestre, và Central Oriente, nắm quyền kiểm soát đồng bằng Cauto. Cùng lúc đó, ba cánh quân nổi dậy dưới quyền Che Guevara, Camilo Cienfuegos và Jaime Vega, tây tiến về Santa Clara, thủ phủ tỉnh Villa Clara. Lực lượng Batista phục kích và tiêu diệt cánh quân của Jaime Vega, nhưng hai cánh quân còn lại đến được các tỉnh trung tâm, và hợp lực với các lực lượng kháng chiến khác vốn không nằm dưới sự chỉ huy của Fidel Castro. Khi cánh quân của Che Guevara tiến qua tỉnh Las Villas, và đặc biệt là qua dãy núi Escambray – nơi lực lượng chống cộng Hội đổng sự Cách mạng (được biết đến với tên gọi Phong trào 13 tháng 3) tiến hành chiến tranh chống lại quân Batista trong suốt nhiều tháng – va chạm tăng lên giữa hai phe. Dù vậy, lực lượng nổi dậy hợp nhất vẫn tiếp tục chiến dịch, và Cienfuegos giành được một chiến thắng quan trọng trong trận Yaguajay ngày 30 tháng 12 năm 1958, khiến ông được mệnh danh "Người hùng Yaguajay".
Ngày 31 tháng 12 năm 1958, trận Santa Clara diễn tra trong cảnh đại loạn, thành phố Santa Clara thất thủ trước quân nổi dậy hợp nhất của Che Guevara, Cienfuegos, quân nổi dậy Hội đổng sự Cách mạng (RD) dưới quyền Comandantes Rolando Cubela, Juan ("El Mejicano") Abrahantes, và William Alexander Morgan. Tin tức về những thất bại này khiến cho Batista hoảng sợ, ông tẩu thoát đến Cộng hòa Dominica chỉ vài giờ sau đó trong ngày 1 tháng 1 năm 1959. Chỉ huy quân nổi dậy Hội đổng sự Cách mạng là Comandante William Alexander Morgan tiếp tục chiến đấu khi Batista đã rời đi, và chiếm được thành phố Cienfuegos vào ngày 2 tháng 1.
Castro biết tin về chuyến bay của Batista vào buổi sáng và ngay lập tức bắt đầu đàm phán để tiếp quản Santiago de Cuba. Ngày 2 tháng 1, sĩ quan tại thành phố là Đại tá Rubido lệnh cho các binh sĩ của ông ngừng chiến đấu, và quân của Fidel Castro tiếp quản thành phố. Quân của Guevara và Cienfuegos tiến vào La Habana khoảng đồng thời. Họ không gặp kháng cự trên hành trình từ Santa Clara đến thủ đô của Cuba. Fidel Castro đến La Habana vào ngày 8 tháng 1 sau một cuộc diễn hành thắng lợi kéo dài. Ông ban đầu lựa chọn Manuel Urrutia Lleó làm chủ tịch, người này nhậm thức vào ngày 3 tháng 1.
== Chuyến thăm của Chủ tịch Fidel Castro tới Mỹ năm 1959 ==
Ngày 15 tháng 4 năm 1959, hơn 4 tháng sau khi đưa Cách mạng Cuba tới thắng lợi, Fidel Castro tới thăm Hoa Kỳ. Chuyến thăm này được đánh dấu bằng những căng thẳng giữa Castro và chính phủ Mỹ. Ngày mùng 1 tháng 1 năm 1959, cuộc cách mạng của Castro đã lật đổ nhà độc tài Cuba Fulgencio Batista. Từ khi chế độ mới ở Cuba ra đời, giới chức Mỹ đã lo lắng về nhà cách mạng Fidel Castro. Dù khiến giới chính trị gia lo lắng, Castro lại được lòng báo giới Mỹ – câu chuyện về những ngày đấu tranh du kích ở Cuba, bộ quần áo rằn ri và đôi giày cao cổ mà ông ưa chuộng, cùng với bộ râu quai nón, đã tạo nên một hình tượng nổi bật. Tháng 4 năm 1959, nhận lời mời của American Society of Newspaper Editors (Hiệp hội các Nhà biên tập báo chí Hoa Kỳ), Castro sang thăm Mỹ.
Trong chuyến thăm này, Tổng thống Dwight D. Eisenhower tỏ rõ ông không có ý định gặp gỡ Castro khi đã tới sân golf để tránh phải gặp Castro. Castro đã có cuộc nói chuyện tại Hội đồng Quan hệ Đối ngoại (CFR), một viện chính sách có trụ sở ở New York, bao gồm các công dân và cựu quan chức chính phủ quan tâm tới quan hệ quốc tế của Mỹ. Castro khá cứng rắn trong suốt buổi trao đổi, khẳng định rõ Cuba sẽ không cầu xin Hoa Kỳ viện trợ kinh tế.
== Hậu quả ==
Hàng trăm tay sai, cảnh sát và binh sĩ thời Batista bị đưa ra các phiên tòa công khai với các cáo buộc vi phạm nhân quyền, tội ác chiến tranh, sát nhân và tra tấn. Hầu hết những bị cáo bị những tòa án cách mạng kết án, có những phạm nhân bị xử bắn; những người khác nhận án tù dài hạn. Một ví dụ đáng chú ý là sau khi chiếm Santiago, Raul Castro chỉ đạo xử bắn hơn 70 tù binh chiến tranh Batista. Do đóng góp trong việc chiếm La Habana, Che Guevara được bổ nhiệm làm công tố viên tối cao tại pháo đài La Cabaña. Điều này nằm trong một nỗ lực lớn hơn của Fidel Castro nhằm thanh lọc lực lượng an ninh những người trung thành với Batista và các đối thủ tiềm tàng của chính phủ cách mạng mới. Mặc dù có những người bị hành hình hoặc giam cầm, song những người khác chỉ bị sa thải khỏi quân đội và cảnh sát mà không bị truy tố, và một số quan chức cấp cao trong chính phủ Batista bị phái ra nước ngoài với thân phận là tùy viên quân sự.
Trong tháng 7 năm 1961, Tổ chức Cách mạng Tích hợp được thành lập bằng việc hợp nhất Phong trào 26 tháng 7 của Fidel Castro, Đảng Xã hội chủ nghĩa Nhân dân của Blas Roca, và Hội đổng sự Cách mạng ngày 13 tháng 3 của Faure Chomón.
Trong thập niên đầu tiên nắm quyền, chính phủ Fidel Castro tiến hành các cải cách xã hội cấp tiến trên quy mô rộng. Pháp luật được ban hành nhằm cung cấp quyền bình đẳng cho người da đen và cho nữ giới, trong khi có những nỗ lực nhằm cải thiện thông tin, y tế, nhà ở, và giáo dục.
Năm 1959, Fidel Castro công du Hoa Kỳ và giải thích về cách mạng, ông nói, "Tôi biết rằng thế giới nghĩ gì về chúng tôi, rằng chúng tôi là Cộng sản, và tất nhiên chúng tôi đã giải thích rất rõ ràng rằng chúng tôi không phải là cộng sản; rất rõ ràng." Chính phủ Hoa Kỳ mặc dù ban đầu sẵn sàng công nhận chính phủ mới của Fidel Castro, song sau đó trở nên lo ngại rằng các cuộc nổi dậy của những người cộng sản lan khắp Mỹ Latinh giống như đang diễn ra tại Đông Nam Á. Sau khi chính phủ cách mạng quốc hữu hóa toàn bộ tài sản của Hoa Kỳ tại Cuba trong tháng 8 năm 1960, chính phủ của Eisenhower đóng băng toàn bộ tài sản của Cuba trên lãnh thổ Hoa Kỳ, đoạn tuyệt quan hệ ngoại giao, và siết chặt cấm vận chống Cuba.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Castro and the Cuban Revolution, by Thomas M. Leonard, Greenwood Press, 1999, ISBN 0-313-29979-X
Cuban Revolution Reader: A Documentary History of Key Moments in Fidel Castro's Revolution, by Julio García Luis, Ocean Press, 2008, ISBN 1-920888-89-6
Dynamics of the Cuban Revolution: A Marxist Appreciation, by Joseph Hansen, Pathfinder Press, 1994, ISBN 0-87348-559-9
Havana Nocturne: How the Mob Owned Cuba and Then Lost It to the Revolution, by T. J. English, William Morrow, 2008, ISBN 0-06-114771-0
Inside the Cuban Revolution: Fidel Castro and the Urban Underground, by Julia E. Sweig, Harvard University Press, 2004, ISBN 0-674-01612-2
Cuba in Revolution - Escape from a Lost Paradise, by Miguel A. Faria, Hacienda Publishing, 2002, ISBN 0-9641077-3-2 http://www.haciendapublishing.com
Latin America in the Era of the Cuban Revolution, by Thomas C. Wright, Praeger Paperback, 2000, ISBN 0-275-96706-9
The Cuban Revolution: Origins, Course, and Legacy, by Marifeli Perez-Stable, Oxford University Press, 1998, ISBN 0-19-512749-8
The Cuban Revolution: Past, Present and Future Perspectives, by Geraldine Lievesley, Palgrave Macmillan, 2004, ISBN 0-333-96853-0
The Cuban Revolution: Years of Promise, by Teo A. Babun, University Press of Florida, 2005, ISBN 0-8130-2860-4
The Moncada Attack: Birth of the Cuban Revolution, by Antonio Rafael De LA Cova, University of South Carolina Press, 2007, ISBN 1-57003-672-1
The Origins of the Cuban Revolution Reconsidered, by Samuel Farber, The University of North Carolina Press, 2006, ISBN 0-8078-5673-8
The United States and the Origins of the Cuban Revolution, by Jules R. Benjamin, Princeton University Press, 1992, ISBN 0-691-02536-3
== Liên kết ngoài ==
What Cuba's Rebels Want by Fidel Castro, The Nation, ngày 30 tháng 11 năm 1957
The Cuban Revolution (1952–1958) by the Latin American Studies Organization
Reliving Cuba's Revolution by Michael Voss, BBC, ngày 29 tháng 12 năm 2008
The History of Socialist Revolution in Cuba (1953–1959) from the World History Archives
Cuba Celebrates 50 years of Revolution by Christian Gutierrez, The Sun, ngày 5 tháng 3 năm 2009 Issue
Memories of Boyhood in the Heat of the Cuban Revolution by Arthur Brice, CNN
1959 – 2009 Celebrating 50 years of the Cuban Revolution by the Cuba Solidarity Campaign |
3g.txt | 3G, hay 3-G, (viết tắt của third-generation technology) là công nghệ truyền thông thế hệ thứ ba, cho phép truyền cả dữ liệu thoại và dữ liệu ngoài thoại (tải dữ liệu, gửi email, tin nhắn nhanh, hình ảnh...).
Trong số các dịch vụ của 3G, điện thoại video thường được miêu tả như là lá cờ đầu (ứng dụng hủy diệt). Giá tần số cho công nghệ 3G rất đắt tại nhiều nước, nơi mà các cuộc bán đầu giá tần số mang lại hàng tỷ euro cho các chính phủ. Bởi vì chi phí cho bản quyền về các tần số phải trang trải trong nhiều năm trước khi các thu nhập từ mạng 3G đem lại, nên một khối lượng đầu tư khổng lồ là cần thiết để xây dựng mạng 3G. Nhiều nhà cung cấp dịch vụ viễn thông đã rơi vào khó khăn về tài chính và điều này đã làm chậm trễ việc triển khai mạng 3G tại nhiều nước ngoại trừ Nhật Bản và Hàn Quốc, nơi yêu cầu về bản quyền tần số được bỏ qua do phát triển hạ tâng cơ sở IT quốc gia được đặt ưu tiên cao.
Nước đầu tiên đưa 3G vào khai thác thương mại một cách rộng rãi là Nhật Bản. Năm 2005, khoảng 40% các thuê bao tại Nhật Bản là thuê bao 3G, mạng 2G đang dần biến mất tại Nhật Bản. Người ta cho rằng, vào năm 2006, việc chuyển đổi từ 2G sang 3G sẽ hoàn tất tại Nhật Bản và việc tiến lên thế hệ tiếp theo 3.5G với tốc độ truyền dữ liệu lên tới 3 Mbit/s là đang được thực hiện.
Sự thành công của 3G tại Nhật Bản chỉ ra rằng điện thoại video không phải là "ứng dụng hủy diệt". Trong thực tế sử dụng điện thoại video thời gian thực chỉ chiểm một phần nhỏ trong số các dịch vụ của 3G. Mặt khác việc tải về tệp âm nhạc được người dùng sử dụng nhiều nhất.
Thế hệ mạng di động mới (3G) không phải là mạng không dây IEEE 802.11. Các mạng này được ám chỉ cho các thiết bị cá nhân như PDA và điện thoại di động.
== Khái niệm ==
3G là thuật ngữ dùng để chỉ các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 3 (Third Generation). Đã có rất nhiều người nhầm lẫn một cách vô ý hoặc hữu ý giữa hai khái niệm 3G và UMTS (Universal Mobile Telecommunications Systems).
Mạng 3G (Third-generation technology) là thế hệ thứ ba của chuẩn công nghệ điện thoại di động, cho phép truyền cả dữ liệu thoại và dữ liệu ngoài thoại (tải dữ liệu, gửi email, tin nhắn nhanh, hình ảnh...). 3G cung cấp cả hai hệ thống là chuyển mạch gói và chuyển mạch kênh. Hệ thống 3G yêu cầu một mạng truy cập radio hoàn toàn khác so với hệ thống 2G hiện nay. Điểm mạnh của công nghệ này so với công nghệ 2G và 2.5G là cho phép truyền, nhận các dữ liệu, âm thanh, hình ảnh chất lượng cao cho cả thuê bao cố định và thuê bao đang di chuyển ở các tốc độ khác nhau. Với công nghệ 3G, các nhà cung cấp có thể mang đến cho khách hàng các dịch vụ đa phương tiện, như âm nhạc chất lượng cao; hình ảnh video chất lượng và truyền hình số; Các dịch vụ định vị toàn cầu (GPS); E-mail;video streaming; High-ends games;...
Quốc gia đầu tiên đưa mạng 3G vào sử dụng rộng rãi là Nhật Bản. Vào năm 2001, NTT Docomo là công ty đầu tiên ra mắt phiên bản thương mại của mạng W-CDMA. Năm 2003 dịch vụ 3G bắt đầu có mặt tại châu Âu. Tại châu Phi, mạng 3G được giới thiệu đầu tiên ở Maroc vào cuối tháng 3 năm 2007 bởi Công ty Wana.
Để hiểu thế nào là công nghệ 3G, hãy xét qua đôi nét về lịch sử phát triển của các hệ thống điện thoại di động. Mặc dù các hệ thống thông tin di động thử nghiệm đầu tiên được sử dụng vào những năm 1930 - 1940 trong các sở cảnh sát Hoa Kỳ nhưng các hệ thống điện thoại di động thương mại thực sự chỉ ra đời vào khoảng cuối những năm 1970 đầu những năm 1980. Các hệ thống điện thoại thế hệ đầu sử dụng công nghệ tương tự và người ta gọi các hệ thống điện thoại kể trên là các hệ thống 1G.
Khi số lượng các thuê bao trong mạng tăng lên, người ta thấy cần phải có biện pháp nâng cao dung lượng của mạng, chất lượng các cuộc đàm thoại cũng như cung cấp thêm một số dịch vụ bổ sung cho mạng. Để giải quyết vấn đề này người ta đã nghĩ đến việc số hoá các hệ thống điện thoại di động, và điều này dẫn tới sự ra đời của các hệ thống điện thoại di động thế hệ 2.
Ở châu Âu, vào năm 1982 tổ chức các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông châu Âu (CEPT – Conférence Européene de Postes et Telécommunications) đã thống nhất thành lập một nhóm nghiên cứu đặc biệt gọi là Groupe Spéciale Mobile (GSM) có nhiệm vụ xây dựng bộ các chỉ tiêu kỹ thuật cho mạng điện thoại di động toàn châu Âu hoạt động ở dải tần 900 MHz. Nhóm nghiên cứu đã xem xét nhiều giải pháp khác nhau và cuối cùng đi đến thống nhất sử dụng kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo thời gian băng hẹp (Narrow Band TDMA). Năm 1988 phiên bản dự thảo đầu tiên của GSM đã được hoàn thành và hệ thống GSM đầu tiên được triển khai vào khoảng năm 1991. Kể từ khi ra đời, các hệ thống thông tin di động GSM đã phát triển với một tốc độ hết sức nhanh chóng, có mặt ở 140 quốc gia và có số thuê bao lên tới gần 1 tỷ. Lúc này thuật ngữ GSM có một ý nghĩa mới đó là Hệ thống thông tin di động toàn cầu (Global System Mobile).
Cũng trong thời gian kể trên, ở Mỹ các hệ thống điện thoại tương tự thế hệ thứ nhất AMPS được phát triển thành các hệ thống điện thoại di động số thế hệ 2 tuân thủ tiêu chuẩn của hiệp hội viễn thông Mỹ IS-136. Khi công nghệ CDMA (Code Division Multiple Access – IS-95) ra đời, các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động ở Mỹ cung cấp dịch vụ mode song song, cho phép thuê bao có thể truy cập vào cả hai mạng IS-136 và IS-95.
== Công nghệ 3G ==
Do có nhận thức rõ về tầm quan trọng của các hệ thống thông tin di động mà ở châu Âu, ngay khi quá trình tiêu chuẩn hoá GSM chưa kết thúc người ta đã tiến hành dự án nghiên cứu RACE 1043 với mục đích chính là xác định các dịch vụ và công nghệ cho hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 3 cho năm 2000. Hệ thống 3G của châu Âu được gọi là UMTS. Những người thực hiện dự án mong muốn rằng hệ thống UMTS trong tương lai sẽ được phát triển từ các hệ thống GSM hiện tại. Ngoài ra người ta còn có một mong muốn rất lớn là hệ thống UMTS sẽ có khả năng kết hợp nhiều mạng khác nhau như PMR, MSS, WLAN… thành một mạng thống nhất có khả năng hỗ trợ các dịch vụ số liệu tốc độ cao và quan trọng hơn đây sẽ là một mạng hướng dịch vụ.
Song song với châu Âu, Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU – International Telecommunications Union) cũng đã thành lập một nhóm nghiên cứu để nghiên cứu về các hệ thống thông tin di động thế hệ 3, nhóm nghiên cứu TG8/1. Nhóm nghiên cứu đặt tên cho hệ thống thông tin di động thế hệ thứ ba của mình là Hệ thống Thông tin Di động Mặt đất Tương lai (FPLMTS – Future Public Land Mobile Telecommunications System). Sau này, nhóm nghiên cứu đổi tên hệ thống thông tin di động của mình thành Hệ thống Thông tin Di động Toàn cầu cho năm 2000 (IMT-2000 – International Mobile Telecommunications for the year 2000).
Đương nhiên là các nhà phát triển UMTS (châu Âu) mong muốn ITU chấp nhận hệ thống chấp nhận toàn bộ những đề xuất của mình và sử dụng hệ thống UMTS làm cơ sở cho hệ thống IMT-2000. Tuy nhiên vấn đề không phải đơn giản như vậy, đã có tới 16 đề xuất cho hệ thống thông tin di động IMT-2000 (bao gồm 10 đề xuất cho các hệ thống mặt đất và 6 đề xuất cho các hệ thống vệ tinh). Dựa trên đặc điểm của các đề xuất, năm 1999, ITU đã phân các đề xuất thành 5 nhóm chính và xây dựng thành chuẩn IMT-2000. Năm 2007, WiMAX được bổ sung vào IMT-2000:
== Tiêu chuẩn 3G thương mại ==
Công nghệ 3G được nhắc đến như là một chuẩn IMT-2000 của Tổ chức Viễn thông Thế giới (ITU), thống nhất trên thế giới. Tuy nhiên, trên thực tế các nhà sản xuất thiết bị viễn thông lớn trên thế giới đã xây dựng thành 4 chuẩn 3G thương mại chính:
=== W-CDMA ===
Tiêu chuẩn W-CDMA là nền tảng của chuẩn UMTS (Universal Mobile Telecommunication System), dựa trên kỹ thuật CDMA trải phổ dãy trực tiếp, trước đây gọi là UTRA FDD, được xem như là giải pháp thích hợp với các nhà khai thác dịch vụ di động (Mobile network operator) sử dụng GSM, tập trung chủ yếu ở châu Âu và một phần châu Á (trong đó có Việt Nam). UMTS được tiêu chuẩn hóa bởi tổ chức 3GPP, cũng là tổ chức chịu trách nhiệm định nghĩa chuẩn cho GSM, GPRS và EDGE.
FOMA, thực hiện bởi công ty viễn thông NTT DoCoMo Nhật Bản năm 2001, được coi như là một dịch vụ thương mại 3G đầu tiên. Tuy nhiên, tuy là dựa trên công nghệ W-CDMA, công nghệ này vẫn không tương thích với UMTS (mặc dù có các bước tiếp hiện thời để thay đổi lại tình thế này).
=== CDMA 2000 ===
Một chuẩn 3G quan trọng khác là CDMA2000, là thế hệ kế tiếp của các chuẩn 2G CDMA và IS-95. Các đề xuất của CDMA2000 nằm bên ngoài khuôn khổ GSM tại Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc. CDMA2000 được quản lý bởi 3GPP2, là tổ chức độc lập với 3GPP. Có nhiều công nghệ truyền thông khác nhau được sử dụng trong CDMA2000 bao gồm 1xRTT, CDMA2000-1xEV-DO và 1xEV-DV.
CDMA 2000 cung cấp tốc độ dữ liêu từ 144 kbit/s tới trên 3 Mbit/s. Chuẩn này đã được chấp nhận bởi ITU.
Người ta cho rằng sự ra đời thành công nhất của mạng CDMA-2000 là tại KDDI của Nhật Bản, dưới thương hiệu AU với hơn 20 triệu thuê bao 3G. Kể từ năm 2003, KDDI đã nâng cấp từ mạng CDMA2000-1x lên mạng CDMA2000-1xEV-DO (EV-DO) với tốc độ dữ liệu tới 2.4 Mbit/s. Năm 2006, AU dự kiến nâng cấp mạng lên tốc độ Mbit/s. SK Telecom của Hàn Quốc đã đưa ra dịch vụ CDMA2000-1x đầu tiên năm 2000, và sau đó là mạng 1xEV-DO vào tháng 2 năm 2002.
=== TD-CDMA ===
Chuẩn TD-CDMA, viết tắt từ Time-division-CDMA, trước đây gọi là UTRA TDD, là một chuẩn dựa trên kỹ thuật song công phân chia theo thời gian (Time-division duplex). Đây là một chuẩn thương mại áp dụng hỗn hợp của TDMA và CDMA nhằm cung cấp chất lượng dịch vụ tốt hơn cho truyền thông đa phương tiện trong cả truyền dữ liệu lẫn âm thanh, hình ảnh.
Chuẩn TD-CDMA và W-CMDA đều là những nền tảng của UMTS, tiêu chuẩn hóa bởi 3GPP, vì vậy chúng có thể cung cấp cùng loại của các kênh khi có thể. Các giao thức của UMTS là HSDPA/HSUPA cải tiến cũng được thực hiện theo chuẩn TD-CDMA.
=== TD-SCDMA ===
Chuẩn được ít biết đến hơn là TD-SCDMA (Time Division Synchronous Code Division Multiple Access) đang được phát triển tại Trung Quốc bởi các công ty Datang và Siemens, nhằm mục đích như là một giải pháp thay thế cho W-CDMA. Nó thường xuyên bị nhầm lẫn với chuẩn TD-CDMA. Cũng giống như TD-CDMA, chuẩn này dựa trên nền tảng UMTS-TDD hoặc IMT 2000 Time-Division (IMT-TD). Tuy nhiên, nếu như TD-CDMA hình thành từ giao thức mang cũng mang tên TD-CDMA, thì TD-SCDMA phát triển dựa trên giao thức của S-CDMA.
== Danh sách các nước đã có ứng dụng mạng công nghệ 3G ==
Argentina (CDMA2000 1x)
Australia (W-CDMA) (CDMA2000 1x)
Áo (W-CDMA)
Azerbaijan (CDMA2000 1x)
Bahrain (W-CDMA)
Belarus (CDMA2000 1x,W-CDMA)
Bỉ (W-CDMA)
Bermuda (CDMA2000 1x)
Brasil (CDMA2000 1x)
Brunei (W-CDMA offered by b.mobile)
Canada (CDMA2000 1x)
Chile (CDMA2000 1x)
Trung Quốc (CDMA2000 1x)
Colombia (CDMA2000 1x)
Kypros (W-CDMA)
Cộng hoà Séc (CDMA2000 1x EV-DO, W-CDMA)
Đan Mạch (W-CDMA)
Cộng hoà Dominican (CDMA2000 1x)
Ecuador (CDMA2000 1x)
Estonia (W-CDMA by EMT)
Phần Lan (W-CDMA and Flarion-FlashOFDM)
Pháp (W-CDMA offered by Orange và SFR)
Gruzia (CDMA2000 1x)
Đức (W-CDMA)
Hy Lạp (W-CDMA)
Guatemala (CDMA2000 1x)
Hồng Kông (W-CDMA)
Hungary (W-CDMA)
Ấn Độ (CDMA2000 1x)
Indonesia (CDMA2000 1x)
Ireland (W-CDMA)
Israel (W-CDMA, CDMA2000 1x EV-DO)
Ý (W-CDMA)
Jamaica (CDMA2000 1x)
Nhật Bản (W-CDMA, CDMA2000 1x)
Kazakhstan (CDMA2000 1x)
Kyrgyzstan (CDMA2000 1x)
Latvia (W-CDMA by LMT)
Libya (CDMA2000 1x) *Litva (W-CDMA by Omnitel)
Malaysia (W-CDMA deployed by Maxis(+HSDPA) và Celcom)
Mauritius (W-CDMA offered by Emtel)
México (CDMA2000 1x)
Moldova (CDMA2000 1x)
Hà Lan (W-CDMA)
New Zealand (CDMA2000 1xRTT/EvDO by Telecom New Zealand) (W-CDMA/3GSM by Vodafone)
Nicaragua (CDMA2000 1x)
Nigeria (CDMA2000 1x)
Na Uy (W-CDMA)
Pakistan (CDMA2000 1x)
Panama (CDMA2000 1x)
Peru (CDMA2000 1x)
Philippines
Ba Lan (CDMA2000 1x)
Bồ Đào Nha (W-CDMA offered by TMN, Vodafone và Optimus. CDMA2000-1xEV-DO offered by Zapp Radiomovel [1])
România (W-CDMA offered by Connex-Vodafone, CDMA2000 1x offered by Zapp Mobile)
Nga (CDMA2000 1x)
Singapore (W-CDMA offered by SingTel, Starhub, M1)
Slovakia (W-CDMA, Flarion, both offered by T-Mobile)
Slovenia (W-CDMA)
Hàn Quốc (CDMA2000 1x)
Cộng hoà Nam Phi (W-CDMA offered by Vodacom và MTN)
Tây Ban Nha (W-CDMA)
Sri Lanka (W-CDMA by Dialog, CDMA2000 1x by Suntel)
Thụy Điển (W-CDMA)
Thụy Sĩ (W-CDMA, offered by Swisscom and Orange)
Đài Loan (CDMA2000 1x)(W-CDMA)
Tajikistan (W-CDMA)
Thái Lan (CDMA2000 1x)
Ukraina (CDMA2000 1x)
Các Tiểu Vương quốc Ả Rập Thống nhất (W-CDMA)
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (W-CDMA)
Hoa Kỳ (CDMA2000 1xRTT/EvDO) (W-CDMA in testing)
Uzbekistan (CDMA2000 1x)
Venezuela (CDMA2000 1x)
Việt Nam (W-CDMA offered by VinaPhone, MobiFone and Viettel, CDMA2000 1x EV-DO offered by SFone (SPT), EVN Telecom)
== Danh sách các thiết bị sử dụng 3G ==
Nokia:
LG:
Motorola:
O2:
SamSung
Apple
Sony Ericssion
HTC
BlackBerry
...
== Tham khảo ==
CDMA Development Group - CDMA2000 Operator list
UMTS Forum - deployment list (as at January 2004)
3G in Nhật Bản - FAQ
3GToday.com - CDMA2000 and WCDMA operator list with map, printable list
== Xem thêm ==
2G
2.5G
3.5G
3.75G
4G
Evolution to 3G
3rd Generation Partnership Project (3GPP)
IP Multimedia Subsystem
WiBro
WiMAX
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
ĐTDĐ 3G Việt Nam: Một năm nhìn lại 2007 |
đức quốc xã.txt | Đức Quốc xã, còn gọi là Đệ tam Đế chế hay Đế chế Thứ ba (tiếng Đức: Drittes Reich), là nước Đức trong thời kỳ 1933-1945 đặt dưới một chế độ độc tài chịu sự kiểm soát của Adolf Hitler và Đảng Quốc xã (NSDAP). Dưới sự thống trị của Hitler, Đức đã chuyển đổi thành một nhà nước phát xít toàn trị cai quản gần như mọi mặt của đời sống. Tên gọi chính thức của quốc gia này là Deutsches Reich (Đế chế Đức) từ 1933 đến 1945 và Großdeutsches Reich (Đế chế Đại Đức) từ 1943 đến 1945. Đức Quốc xã chấm dứt sự tồn tại của mình vào tháng 5 năm 1945 sau khi bại trận trước quân Đồng Minh, sự kiện đánh dấu hồi kết cho chiến tranh thế giới thứ hai tại châu Âu.
Vào ngày 30 tháng 1 năm 1933 Hitler được Tổng thống Cộng hòa Weimar Paul von Hindenburg bổ nhiệm làm Thủ tướng Đức. Sau đó đảng Quốc xã bắt đầu loại trừ tất cả các đối thủ chính trị và củng cố quyền lực của mình. Với việc Hindenburg qua đời vào ngày 2 tháng 8 năm 1934, Hitler đã trở thành nhà độc tài của nước Đức bằng việc sát nhập chức vụ và những quyền hạn của Thủ tướng và Tổng thống vào với nhau. Kết quả cuộc trưng cầu ý dân tổ chức trên toàn quốc vào ngày 19 tháng 8 năm 1934 đã xác nhận Hitler là Führer (lãnh tụ) duy nhất của nước Đức. Tất cả mọi quyền lực đều tập trung vào tay Hitler, và lời nói của ông ta xếp trên mọi luật lệ. Chính phủ không phải là một cơ quan hợp tác, phối hợp, mà là một tập hợp các bè phái đấu tranh vì quyền lực và lợi ích của Hitler. Trong giai đoạn đỉnh điểm của cuộc Đại Suy thoái, những người Quốc xã đã khôi phục được một nền kinh tế ổn định và chấm dứt nạn thất nghiệp hàng loạt bằng biện pháp chi tiêu mạnh cho quân sự và vận dụng kinh tế hỗn hợp. Các công trình công cộng lớn được tiến hành xây dựng, bao gồm các Autobahn (đường cao tốc). Sự hồi phục của nền kinh tế đã làm tăng thêm lòng yêu mến của nhân dân đối với chế độ.
Một nét đặc trưng nổi bật của Đức Quốc xã là vấn đề phân biệt chủng tộc, đặc biệt là bài Do Thái. Các dân tộc German (chủng tộc Bắc Âu) được cho là chủng tộc Aryan thuần khiết nhất, do đó là chủng tộc thượng đẳng. Hàng triệu người Do Thái và các nạn nhân khác, bất kỳ ai mà Quốc xã cho là "đáng ghét, hạ đẳng, không mong muốn", đã bị khủng bố và tàn sát trong cuộc diệt chủng Holocaust. Những địch thủ đối lập chống lại quy tắc của Hitler đều bị đàn áp một cách tàn nhẫn. Quốc xã đã giam cầm, trục xuất và giết hại những người theo chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Các Giáo hội Cơ đốc cũng bị áp bức, với hàng loạt lãnh đạo bị bắt giam. Nền giáo dục tập trung vào sinh học về chủng tộc, chính sách dân số và rèn luyện thể lực để thực hiện nghĩa vụ quân sự. Nữ giới bị hạn chế về nghề nghiệp và những cơ hội được học tập. Các hoạt động du lịch và giải trí được tổ chức thông qua chương trình Kraft durch Freude, và Thế vận hội mùa hè 1936 là một dịp để Đế chế Thứ ba giới thiệu mình ra với thế giới. Bộ trưởng tuyên truyền Joseph Goebbels đã sử dụng phim ảnh, các cuộc mít tinh lớn, và tài hùng biện của Hitler một cách hiệu quả để khống chế dư luận. Chính quyền kiểm soát biểu hiện nghệ thuật, thúc đẩy các hình thức nghệ thuật cụ thể và ngăn chặn hoặc không khuyến khích các hình thức khác.
Theo thời gian, Đức Quốc xã ngày một đòi hỏi hung hăng về lãnh thổ và đe dọa tiến hành chiến tranh nếu vấn đề này không được đáp ứng. Lần lượt vào các năm 1938 và 1939 Quốc xã xâm chiếm Áo rồi đến Tiệp Khắc. Hitler đã ký với Joseph Stalin một hiệp ước rồi sau đó tiến hành xâm lược Ba Lan vào tháng 9 năm 1939, sự kiện mở màn chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu. Đến năm 1940, Đức Quốc xã trong khối liên minh với các nước Phe trục đã chinh phạt hầu khắp châu Âu và đe dọa xâm lược nước Anh. Song song với đó, Quốc xã đồng thời tiến hành vây bắt, sát hại các chủng tộc "đáng ghét" trong các trại tập trung và trại hủy diệt. Hoạt động thi hành các chính sách phân biệt chủng tộc lên đến đỉnh điểm với cuộc tàn sát trên quy mô lớn người Do Thái và các nhóm dân tộc thiểu số khác trong cuộc diệt chủng Holocaust. Vào năm 1941 Hitler tiến hành chiến dịch xâm lược Liên bang Xô Viết và giành được những thắng lợi đáng kể ban đầu. Tuy nhiên, kể từ năm 1943, Quốc xã bắt đầu phải hứng chịu những thất bại to lớn về mặt quân sự. Sang năm 1944, số lượng các chiến dịch ném bom quy mô lớn của Anh và Mỹ ngày một tăng lên, và Quốc xã đã lần lượt phải thoái lui khỏi Đông và Nam Âu. Theo sau sự kiện Đồng Minh giải phóng Pháp, Đức Quốc xã đã bị Liên Xô đánh bại ở mặt trận phía Đông và những quốc gia Đồng Minh khác ở phía Tây, cuối cùng buộc phải đầu hàng vào tháng 5 năm 1945. Trong những tháng cuối cùng của chiến tranh, Hitler với việc không chấp nhận thất bại đã ra lệnh phá hủy toàn bộ cơ sở hạ tầng của nước Đức, qua đó làm tăng thêm số nạn nhân thiệt mạng liên quan đến cuộc chiến. Phe Đồng Minh chiến thắng đã khởi xướng ra chính sách Entnazifizierung (tiêu diệt, xóa bỏ chủ nghĩa Quốc xã) và đem hàng loạt những cựu lãnh đạo cấp cao còn sống sót của chế độ này ra xét xử tại tòa án Nuremberg.
== Tên gọi ==
Quốc gia này có tên gọi chính thức là Deutsches Reich (Đế chế Đức) từ 1933 đến 1943, và Großdeutsches Reich (Đế chế Đại Đức) từ 1943 đến 1945. Cái tên Deutsches Reich thường được dịch là "Đế chế Đức", hoặc cũng có thể là "Đế quốc Đức". Người Đức hiện nay đề cập đến giai đoạn lịch sử này như là Zeit des Nationalsozialismus (thời kỳ Quốc gia Xã hội chủ nghĩa), Nationalsozialistische Gewaltherrschaft (nền chuyên chế Quốc gia Xã hội chủ nghĩa), hay đơn giản là das Dritte Reich (Đế chế Thứ ba).
Trong tiếng Việt, thuật ngữ thường được sử dụng để chỉ nước Đức trong thời kỳ 1933-1945 là "Đức Quốc xã" hay "Phát xít Đức". Tên gọi được cơ quan tuyên truyền của Đức chấp nhận, "Third Reich" (Đế chế Thứ ba), lần đầu được sử dụng trong một cuốn sách năm 1923 của Arthur Moeller van den Bruck. Quyển sách này tính Đế quốc La Mã Thần thánh (962-1806) là Đế chế Thứ nhất và Đế quốc Đức (1871-1918) là Đế chế Thứ hai. Những người Quốc xã lấy đó để hợp pháp hóa chế độ của họ như một nhà nước kế tục. Sau khi Quốc xã lên nắm quyền, bộ máy tuyên truyền của họ đã đề cập đến thời kỳ Cộng hòa Weimar trước đó như là Zwischenreich ("Đế chế Tạm thời").
Từ những năm 1980, các nhà phê bình ngôn ngữ của Đức đã đặt câu hỏi về việc chấp nhận không phê phán thuật ngữ "Third Reich". Vào năm 1984, nhà luật học người Đức Walter Mallman viết: trong "lịch sử về khái niệm tư tưởng chính trị, hiến pháp, và luật pháp", thuật ngữ này là "không thể bảo vệ". Đến năm 1989, Dieter Gunst lưu ý thêm rằng nhắc đến chế độ Hitler với tên gọi Đế chế Thứ ba là không chỉ "đánh giá lại một cách tích cực Chủ nghĩa Quốc xã" mà còn bóp méo lịch sử, bổ sung thêm Hitler đã không thành lập ra một nhà nước hay bất kỳ "Đế chế riêng biệt" nào cả.
== Lịch sử ==
=== Bối cảnh ===
Sau khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, nền kinh tế Đức đã phải hứng chịu những khủng hoảng nghiêm trọng, một phần là vì khoản bồi thường thiệt hại chiến tranh quy định trong Hòa ước Versailles năm 1919. Chính phủ đã in tiền để trả nợ cho đất nước; hậu quả dẫn tới siêu lạm phát khiến giá cả các mặt hàng tiêu dùng tăng cao, nền kinh tế rơi vào tình trạng hỗn loạn, và các cuộc bạo động liên quan đến vấn đề lương thực diễn ra. Đến tháng 1 năm 1923, khi mà chính quyền thất bại trong việc bồi thường khoản tiền, quân đội Pháp đã chiếm đóng các khu công nghiệp của Đức dọc vùng Ruhr. Theo sau đó là tình trạng bất ổn dân sự lan rộng.
Cùng thời điểm, Đảng Công nhân Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa (NSDAP; hay Đảng Quốc xã) đã trở thành đảng kế tục–thay tên của Đảng Công nhân Đức thành lập hồi năm 1919, một trong số những đảng chính trị cực hữu hoạt động ở Đức vào thời điểm đó. Chính sách của đảng này bao gồm xóa bỏ Cộng hòa Weimar, bác bỏ những điều khoản của Hòa ước Versailles, bài Do Thái triệt để, và chống lại chủ nghĩa Bolsevick. Bọn họ hứa hẹn về một chính quyền trung ương mạnh mẽ, làm tăng thêm Lebensraum (không gian sống) cho dân tộc Đức, thành lập một cộng đồng quốc gia căn cứ vào chủng tộc, và thanh lọc chủng tộc thông qua hoạt động đàn áp người Do Thái–đối tượng sẽ bị tước bỏ quốc tịch và các quyền công dân. Những người Quốc xã đề xuất khôi phục, đổi mới quốc gia và văn hóa dựa trên phong trào Völkisch.
Sự kiện thị trường chứng khoán ở Mỹ sụp đổ vào ngày 24 tháng 10 năm 1929 có tác động hết sức tàn khốc đối với nước Đức. Hàng triệu người bỗng rơi vào cảnh thất nghiệp và hàng loạt ngân hàng lớn phải đóng cửa. Hitler và đảng Quốc xã đã sẵn sàng lợi dụng cuộc khủng hoảng để giành lấy sự ủng hộ về phía mình. Bọn họ hứa sẽ tăng cường sức mạnh cho nền kinh tế và tạo ra việc làm cho người dân. Nhiều cử tri đã lựa chọn đảng Quốc xã với niềm tin rằng họ có khả năng tái lập trật tự, dẹp yên tình trạng bất ổn dân sự, và nâng cao uy tín của Đức trên trường quốc tế. Sau cuộc bầu cử liên bang năm 1932, Quốc xã trở thành đảng chính trị lớn nhất trong Reichstag (Nghị viện), nắm giữ 230 ghế với 37,4% tổng số phiếu phổ thông.
=== Quốc xã lên nắm quyền lực ===
Mặc dù những người Quốc xã có được số phiếu phổ thông cao nhất trong hai cuộc tổng tuyển cử Nghị viện năm 1932, họ không thể trở thành phe đa số, bởi vậy Hitler đã dẫn đầu một chính quyền liên minh tồn tại ngắn ngủi thành lập bởi đảng Quốc xã và Đảng Nhân dân Quốc gia Đức. Dưới áp lực từ các chính trị gia, các nhà tư bản công nghiệp, và cộng đồng doanh nghiệp, Tổng thống Paul von Hindenburg đã bổ nhiệm Hitler làm Thủ tướng Đức vào ngày 30 tháng 1 năm 1933. Sự kiện này được biết đến như Machtergreifung (Quốc xã chiếm quyền lực). Trong những tháng tiếp theo, đảng Quốc xã đã vận dụng một phương pháp gọi là Gleichschaltung (chỉnh đốn, đồng bộ hóa, sắp đặt) để nhanh chóng kiểm soát mọi mặt của đời sống. Mọi tổ chức dân sự, bao gồm các nhóm nông nghiệp, các tổ chức tình nguyện, câu lạc bộ thể thao, đều được thay thế lãnh đạo bằng những đảng viên hoặc người thân Quốc xã. Đến tháng 6 năm 1933, gần như chỉ còn quân đội và các giáo hội là không nằm dưới sự kiểm soát của đảng Quốc xã.
Vào đêm ngày 27 tháng 2 năm 1933, tòa nhà Nghị viện (Reichstag) bốc cháy. Marinus van der Lubbe, một đảng viên cộng sản người Hà Lan, bị cáo buộc là thủ phạm châm lửa. Hitler tuyên bố sự việc này đánh dấu điểm khởi đầu một cuộc nổi dậy của những người cộng sản. Sau đó, đội quân Sturmabteilung (SA) đã tiến hành chiến dịch đàn áp bạo lực trên phạm vi toàn quốc, kết quả là 4.000 đảng viên của Đảng Cộng sản Đức bị bắt. Vào ngày 28 tháng 2 năm 1933, Nghị định Hỏa hoạn Reichstag được thông qua, theo đó bãi bỏ hầu hết các quyền tự do công dân của người Đức, bao gồm cả các quyền hội họp và tự do báo chí. Nghị định còn cho phép cảnh sát bắt giam người dân vô thời hạn mà không cần phải có những cáo buộc hay lệnh của tòa án. Luật này đi kèm với một hoạt động tuyên truyền chớp nhoáng đã dẫn tới sự ủng hộ của quần chúng.
Vào tháng 3 năm 1933, Đạo luật Trao quyền (Ermächtigungsgesetz); một sự sửa đổi, bổ sung của Hiến pháp Weimar, được Nghị viện cho thông qua sau một cuộc bỏ phiếu với kết quả 444 phiếu thuận và 94 phiếu chống. Sửa đổi này cho phép Hitler và nội các của ông ta thông qua các bộ luật—thậm chí cả luật vi phạm Hiến pháp—mà không cần đến sự đồng thuận của tổng thống hay Nghị viện. Khi các dự luật đòi hỏi đa số phiếu là hai phần ba để được thông qua, những người Quốc xã đã dùng các điều khoản của Nghị định Hỏa hoạn Reichstag để ngăn không cho một số đại diện của đảng Dân chủ Xã hội tham dự; trong khi những người Cộng sản đã bị cấm từ trước. Vào ngày 10 tháng 5 chính quyền tịch thu tài sản của những người Dân chủ Xã hội và sang tháng sau họ chính thức bị cấm. Với việc các đảng phái chính trị còn lại giải thể, vào ngày 14 tháng 7 năm 1933, nước Đức trên thực tế đã trở thành một nhà nước độc đảng khi mà việc thành lập các đảng mới sẽ là hành vi phạm pháp. Các cuộc bầu cử tiếp theo vào tháng 11 năm 1933, vào năm 1936, và 1938 hoàn toàn là sự kiểm soát của Quốc xã và chỉ chứng kiến những người Quốc xã cùng một số lượng nhỏ người không đảng phái đi bầu cử. Các nghị viện khu vực và Reichsrat (thượng viện liên bang) chấm dứt tồn tại vào tháng 1 năm 1934.
Chế độ Quốc xã lên nắm quyền đã xóa bỏ những biểu tượng của Cộng hòa Weimar, gồm có lá cờ ba màu đen, đỏ, vàng và chấp thuận làm lại biểu tượng đế quốc. Lá cờ ba màu đen, trắng, đỏ của Đế quốc Đức trước đó được phục hồi làm một trong hai lá cờ chính thức của Đức. Lá cờ còn lại là Cờ chữ Vạn của đảng Quốc xã đã trở thành quốc kỳ duy nhất vào năm 1935. Bài hát của đảng "Horst-Wessel-Lied" (bài ca của Horst Wessel) cũng trở thành quốc ca thứ hai của Đức.
Trong giai đoạn này, nền kinh tế Đức vẫn ở vào tình trạng hết sức tồi tệ, hàng triệu người thất nghiệp và cán cân thương mại thâm hụt đã làm nản lòng bao người. Hitler hiểu rằng phục hồi lại nền kinh tế là vấn đề sống còn. Vào năm 1934, bằng chính sách vay nước ngoài, các dự án công trình công cộng được tiến hành. Chỉ trong năm 1934 đã có tổng cộng 1,7 triệu người Đức được vào làm việc trong các dự án. Mức lương trung bình theo giờ và tuần bắt đầu tăng lên.
Những đòi hỏi về quyền lực quân sự và chính trị của SA đã dấy lên mối lo ngại cho các nhà lãnh đạo của các tổ chức chính trị, quân sự, công nghiệp. Để đối phó với vấn đề này, Hitler đã thanh lọc đội ngũ lãnh đạo của SA trong một cuộc thanh trừng được biết đến với tên gọi đêm của những con dao dài diễn ra từ ngày 30 tháng 6 đến 2 tháng 7 năm 1934. Hitler nhằm vào Ernst Röhm và những lãnh đạo của SA khác— những người đã liên kết với một số địch thủ chính trị của ông ta (như là Gregor Strasser và cựu thủ tướng Kurt von Schleicher). Tất cả bị bao vây, bắt giữ, và bắn chết.
Vào ngày 2 tháng 8 năm 1934, Tổng thống von Hindenburg qua đời. Ngày hôm trước, nội các đã cho ban hành "Luật Liên quan đến Chức vụ Nhà nước Cao nhất của Đế chế", trong đó tuyên bố vào thời điểm Hindenburg chết, chức vụ Tổng thống sẽ bị xóa bỏ và những quyền hạn của nó sẽ được sát nhập vào quyền hạn của Thủ tướng. Nhờ đó Hitler đã trở thành người đứng đầu nhà nước cũng như chính phủ. Ông chính thức được chỉ định làm Führer und Reichskanzler (lãnh tụ và thủ tướng). Nước Đức giờ đây là một quốc gia toàn trị với Hitler là người lãnh đạo. Với tư cách đứng đầu, Hitler cũng trở thành Tư lệnh Tối cao của các lực lượng vũ trang. Luật mới ban hành đã sửa đổi lời tuyên thệ truyền thống của quân nhân trước đây, theo đó giờ họ xác nhận trung thành với cá nhân Hitler hơn mọi lãnh đạo, chỉ huy hàng đầu khác. Vào ngày 19 tháng 8, việc sát nhập chức vụ được phê chuẩn với tỉ lệ 90% ủng hộ của toàn bộ cử tri trong một cuộc trưng cầu.
Sự chấm dứt những cuộc xung đột và bạo lực đường phố thời Cộng hòa Weimar đã làm an lòng đa phần người dân Đức. Giờ họ đang chìm trong những lời lẽ tuyên truyền của Joseph Goebbels, người hứa hẹn về nền hòa bình và sung túc cho tất cả mọi người trong một khối thống nhất, một quốc gia phi-Marxist và không còn những gánh nặng của Hòa ước Versailles. Vào năm 1933, trại tập trung đầu tiên của Đức Quốc xã được mở cửa, địa điểm tại Dachau, ban đầu nó dành cho những tù nhân chính trị. Từ đó cho đến thời điểm chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, đã có hàng trăm khu trại với quy mô và chức năng khác nhau được xây dựng. Sau khi lên nắm quyền, những người Quốc xã đã thực hiện các biện pháp đàn áp chống lại những đối thủ chính trị của họ, đồng thời nhanh chóng cách ly toàn bộ những đối tượng mà họ cho là "không mong muốn của xã hội". Dưới chiêu bài chiến đấu với mối đe dọa từ Cộng sản, những người Quốc xã đã đảm bảo được sức mạnh to lớn, và trên hết, chiến dịch chống lại người Do Thái tại Đức đã đạt được bước đệm ban đầu.
Từ tháng 4 năm 1933, hàng loạt biện pháp nhằm hạn chế địa vị và quyền hạn của người Do Thái bắt đầu được triển khai trên phạm vi từng vùng và quốc gia. Với sự ra đời của các đạo luật Nuremberg (gọi tắt là luật Nuremberg) vào năm 1935, những sáng kiến và mệnh lệnh hợp pháp chống lại người Do Thái lên đến đỉnh điểm, bọn họ sẽ bị tước đoạt các quyền cơ bản. Quốc xã sẽ lấy đi của cải, quyền được kết hôn với người không phải Do Thái, và quyền lựa chọn lĩnh vực lao động (hay nghề nghiệp; ví dụ như luật, y tế, hay sư phạm). Cuối cùng, Quốc xã tuyền bố rằng người Do Thái không được mong muốn ở cùng với nhân dân và xã hội Đức, và dần theo thời gian họ đã không còn được coi là con người; có thể cho rằng, những hành động bài Do Thái làm cho người Đức dần cảm thấy quen thuộc, bình thường tới một mức độ nhất định đã dẫn đến cuộc diệt chủng Holocaust. Những người dân tộc Đức nào từ chối khai trừ người Do Thái, hoặc người nào biểu lộ bất kỳ dấu hiệu phản đối hay không đồng tình với những nội dung tuyên truyền của Quốc xã đều sẽ bị Gestapo giám sát, tước bỏ những quyền hạn, hoặc chuyển đến các trại tập trung. Ở trong chế độ này, tất cả mọi thứ, bao gồm con người, đều bị giám sát. Theo đó quá trình hợp thức hóa quyền lực của những người Quốc xã hoàn tất từ những hoạt động cách mạng ban đầu, tiếp đến trải qua những thao tác và ứng biến với các cơ chế hợp pháp có sẵn, rồi khai thác quyền lực kiểm soát của đảng Quốc xã (cho phép họ thu nhận và loại trừ bất kỳ ai trong xã hội, những người được họ lựa chọn), và cuối cùng bành trướng quyền thế ra mọi tổ chức liên bang và nhà nước.
=== Chính sách ngoại giao quân phiệt ===
Ngay từ tháng 2 năm 1933, Hitler đã thông báo hoạt động tái vũ trang cần phải được tiến hành, mặc dù ban đầu là bí mật, và như vậy là vi phạm Hòa ước Versailles. Một năm sau ông ta nói với các tướng lĩnh quân đội của mình rằng thời điểm để phát động chiến tranh ở mặt trận phía Đông là năm 1942. Trong năm 1933, nước Đức rời Hội Quốc Liên, tuyên bố các điều khoản giải trừ quân bị của tổ chức này là không công bằng khi mà chúng chỉ áp đặt lên nước Đức. Saarland, khu vực đặt dưới sự giám sát của Hội Quốc Liên trong vòng 15 năm kể từ thời điểm thế chiến thứ nhất kết thúc, đã được bầu chọn trở thành một phần của Đức vào tháng 1 năm 1935. Tháng 3 năm đó, Hitler thông báo quy mô của lực lượng Reichswehr sẽ được tăng lên 550.000 lính và rằng ông ta đang xây dựng một lực lượng không quân. Phía Anh nhất trí người Đức sẽ được phép thiết lập một hạm đội hải quân với việc ký kết Hiệp định Hải quân Anglo-German vào ngày 18 tháng 6 năm 1935.
Khi mà cuộc xâm lược Ethiopia của Ý chỉ vấp phải những phản ứng nhẹ nhàng của chính phủ Pháp và Anh, vào ngày 7 tháng 3 năm 1936, Hitler đã lệnh cho 3.000 lính lục quân Wehrmacht Heer hành quân vào khu phi quân sự ở Rhineland trong sự vi phạm Hòa ước Versailles; cùng với đó là 30.000 lính đặt trong tình trạng sẵn sàng. Bởi vùng lãnh thổ này đã là một phần của Đức, chính phủ Anh và Pháp cảm thấy rằng nỗ lực buộc Đức tuân theo Hòa ước là không đáng để mà dẫn đến nguy cơ chiến tranh. Trong cuộc bầu cử độc đảng tổ chức vào ngày 29 tháng 3, Đảng Quốc xã nhận được 98,9% tỉ lệ ủng hộ. Vào năm 1936, Hitler ký Hiệp ước chống Quốc tế cộng sản với Nhật Bản và một hiệp ước không xâm lược với nước Ý phát xít của Benito Mussolini, người mà chẳng bao lâu nữa sẽ đề cập đến một "Trục Rome-Berlin".
Hitler đã gửi những đơn vị không quân và bọc thép đến hỗ trợ cho Francisco Franco và các lực lượng Dân tộc chủ nghĩa trong cuộc Nội chiến Tây Ban Nha bùng phát vào tháng 7 năm 1936. Liên Xô cũng gửi một lực lượng nhỏ đến hỗ trợ chính phủ Cộng hòa. Phe Dân tộc chủ nghĩa của Franco giành chiến thằng vào năm 1939 và trở thành một đồng minh không chính thức của Đức Quốc xã.
=== Áo và Tiệp Khắc ===
Vào tháng 2 năm 1938, Hitler nhấn mạnh với Thủ tướng Áo Kurt Schuschnigg về sự cần thiết của việc để cho quân đội Đức bảo đảm biên giới quốc gia này. Schuschnigg lên kế hoạch tổ chức một cuộc trưng cầu bàn về nền độc lập của Áo trong ngày 13 tháng 3, nhưng Hitler yêu cầu bãi bỏ. Vào ngày 11 tháng 3, Hitler gửi một tối hậu thư đến Schuschnigg đòi ông này phải bàn giao toàn bộ quyền lực cho đảng Quốc xã Áo hoặc đối mặt với một cuộc xâm lăng. Ngày hôm sau, Wehrmacht tiến quân vào Áo và được cư dân địa phương chào đón nhiệt tình.
Cộng hòa Tiệp Khắc là địa bàn cư trú của một cộng đồng người Đức thiểu số quan trọng, họ sống đa phần tại Sudetenland. Dưới áp lực từ các nhóm ly khai thuộc đảng Đức Sudeten, chính phủ Tiệp Khắc đã thi hành những chính sách nhượng bộ về kinh tế đối với khu vực này. Hitler quyết định phải sát nhập không chỉ Sudetenland mà còn là cả Tiệp Khắc vào với Đế chế. Những người Quốc xã tiến hành một chiến dịch tuyên truyền để nổi trống hỗ trợ cho cuộc xâm lược. Tuy vậy, các tướng lĩnh quân đội hàng đầu không ủng hộ kế hoạch khi mà nước Đức chưa sẵn sàng cho một cuộc chiến. Cuộc khủng hoảng đã buộc Tiệp Khắc, Anh và Pháp (những đồng minh của Tiệp Khắc) thực hiện những sự chuẩn bị cho chiến tranh. Với nỗ lực nhằm ngăn chặn nguy cơ này, Thủ tướng Anh Neville Chamberlain đã sắp xếp một loạt các cuộc hội đàm, dẫn tới kết quả là Hiệp định Munich được ký kết vào ngày 29 tháng 9 năm 1938. Chính phủ Tiệp Khắc buộc phải đồng ý để cho Đức sát nhập Sudetenland. Chamberlain được chào đón với những tiếng tung hô khi đặt chân xuống London, ông nói: "hòa bình cho thời đại chúng ta" Hiệp định chỉ tồn tại trong vòng sáu tháng trước khi Hitler xâm chiếm toàn bộ những phần lãnh thổ còn lại của Tiệp Khắc vào tháng 3 năm 1939. Tiếp đó, một quốc gia bù nhìn được thành lập tại địa điểm gần tương tự với Slovakia ngày nay.
Quốc xã ngay lập tức chiếm lấy những nguồn dự trữ ngoại hối của Áo và Séc, các kho dự trữ nguyên liệu thô như kim loại và sản phẩm hoàn thiện như các loại vũ khí và máy bay, tất cả đều được vận chuyển về Đức. Tập đoàn công nghiệp Reichswerke Hermann Göring nắm quyền kiểm soát các cơ sở sản xuất than và thép ở cả hai quốc gia.
=== Ba Lan ===
Vào tháng 3 năm 1939, Hitler đòi trả lại Thành phố Tự do Danzig và khu vực Hành lang Ba Lan, một dải đất ngăn cách Đông Phổ với phần còn lại của nước Đức. Chính phủ Anh thông báo họ sẽ hỗ trợ cho Ba Lan nếu nước này bị tấn công. Hitler với niềm tin rằng người Anh sẽ không thực sự hành động đã ra lệnh chuẩn bị sẵn sàng một kế hoạch xâm lược và thời điểm tiến hành là trong tháng 9 năm 1939. Ngày 23 tháng 5, Hitler mô tả kế hoạch tổng thể với các tướng lĩnh, mục tiêu không chỉ là chiếm lấy vùng Hành lang Ba Lan mà còn mở rộng đáng kể lãnh thổ Đức về phía đông. Ông dự kiến lần này đối phương sẽ đáp trả bằng vũ lực.
Người Đức một lần nữa xác nhận lại mối liên minh với Ý và lần lượt ký những bản hiệp ước không xâm lược với Đan Mạch, Estonia, và Latvia. Họ cũng chính thức hóa quan hệ thương mại với Romania, Na Uy và Thụy Điển. Bộ trưởng Ngoại giao Đức Joachim von Ribbentrop bằng các cuộc đàm phán đã dàn xếp được một hiệp ước không xâm lược với Liên Xô, Hiệp ước Molotov–Ribbentrop ký kết trong tháng 8 năm 1939. Trong bản hiệp ước này có chứa nghị định thư bí mật bàn về việc phân chia Ba Lan và các quốc gia vùng Baltic thành các khu vực thuộc phạm vi ảnh hưởng của Đức và Liên Xô.
=== Thế chiến thứ hai ===
==== Chính sách ngoại giao ====
Chính sách ngoại giao của Đức trong chiến tranh bao gồm việc thành lập các chính phủ đồng minh đặt dưới sự kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp từ Berlin. Mục đích chính là thu thập binh lính từ các nước đồng minh hàng đầu như Ý và Hungary, cùng hàng triệu lao động và nguồn cung lương thực dồi dào từ các nước chư hầu như Pháp Vichy. Đến mùa thu năm 1942, trên mặt trận phía Đông có mặt 24 sư đoàn đến từ Romania, 10 đến từ Ý, và 10 của Hungary. Khi mà một quốc gia trở nên không còn đáng tin cậy, Đức sẽ chiếm quyền kiểm soát toàn bộ, như họ đã làm với Pháp vào năm 1942, Ý năm 1943, và Hungary năm 1944. Mặc dù Nhật Bản là một đồng minh chính thức hùng mạnh, mối quan hệ giữa Đức với quốc gia này là không thân mật, ít có sự phối hợp hay hợp tác. Một ví dụ, Đức đã từ chối chia sẻ công thức tổng hợp dầu từ than đá cho đến giai đoạn cuối của chiến tranh.
==== Chiến tranh bùng nổ ====
Vào ngày 1 tháng 9 năm 1939, Đức tấn công Ba Lan. Hai ngày sau, Anh và Pháp tuyên chiến với Đức. Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ. Ba Lan sụp đổ nhanh chóng khi đồng thời phải chịu sự tấn công của Liên Xô từ phía đông vào ngày 17 tháng 9. Ngày 21 tháng 9, Reinhard Heydrich, thủ lĩnh của Gestapo, ra lệnh vây bắt và dồn tất cả người Do Thái vào trong các thành phố có nhiều tuyến đường ray liên kết. Ban đầu Quốc xã dự định trục xuất người Do Thái đến những địa điểm xa hơn về phía đông, hoặc có thể là tới đảo Madagascar ở Ấn Độ Dương. Đến cuối năm 1939, dựa theo những bản danh sách được chuẩn bị từ trước, Quốc xã đã giết hại khoảng 65.000 tri thức, quý tộc, tăng lữ, và giáo viên Ba Lan trong một nỗ lực nhằm phá hủy bản sắc quốc gia này. Trong khi đó, Liên Xô tiếp tục tấn công và đã tiến quân đến Phần Lan trong Chiến tranh Mùa đông. Các lực lượng của Đức cũng tham chiến trên biển. Tuy nhiên kể từ đó cho đến tháng 5 năm 1940 ít có hoạt động quân sự nào diễn ra, cho nên giai đoạn này còn được biết đến với tên gọi Chiến tranh kỳ quặc.
Ngay khi cuộc chiến bắt đầu, phía Anh đã tiến hành phong tỏa hàng hóa vận chuyển tới Đức. Điều này tác động đến nền kinh tế Đức bởi người Đức vốn phụ thuộc rất nhiều vào nguồn cung dầu, than đá và ngũ cốc từ bên ngoài. Để bảo vệ các chuyến hàng quặng sắt vận chuyển từ Thụy Điển tới Đức, Hitler đã ra lệnh tấn công Na Uy, sự kiện diễn ra vào ngày 9 tháng 4 năm 1940. Kết quả đến cuối tháng 4, phần lớn lãnh thổ quốc gia này đã bị quân Đức chiếm đóng. Cũng trong ngày mùng 9, Quốc xã đã xâm lăng và chiếm đóng Đan Mạch.
==== Chinh phạt châu Âu ====
Bỏ ngoài tai sự phản đối của rất nhiều tướng lĩnh quân đội cấp cao, Hitler vẫn ra lệnh tấn công nước Pháp và các quốc gia thuộc Vùng đất Thấp, chiến dịch bắt đầu vào tháng 5 năm 1940. Đức Quốc xã đã nhanh chóng chinh phạt lần lượt Luxembourg, Hà Lan, và Bỉ; tiếp đến là Pháp đầu hàng vào ngày 22 tháng 6. Việc Pháp bất ngờ bại trận một cách nhanh chóng giúp làm tăng thêm danh tiếng của Hitler và dẫn tới một sự bùng phát mạnh trong cơn sốt chiến tranh.
Bất chấp các điều khoản của Công ước Hague, các hãng công nghiệp tại Hà Lan, Pháp và Bỉ đều bị buộc phải sản xuất trang thiết bị phục vụ chiến tranh cho quân đội Đức chiếm đóng. Giới quan chức của những quốc gia này xem rằng đó sự lựa chọn là phù hợp hơn so với việc để công dân của họ bị trục xuất đến Đức làm lao động khổ sai.
Đức Quốc xã đã chiếm đoạt hàng ngàn đầu máy và toa xe lửa, các kho dự trữ vũ khí và các nguyên liệu thô như đồng, thiếc, dầu, niken. Bên cạnh đó Quốc xã còn thu thuế từ chính phủ của các nước bị chiếm đóng, họ đã nhận được các khoản thanh toán từ Pháp, Bỉ và Na Uy. Những rào cản thương mại dẫn tới sự tích trữ, thị trường chợ đen, và một tương lai không rõ ràng. Nguồn cung lương thực là bấp bênh; sản xuất sụt giảm trên hầu khắp châu Âu, tuy nhiên không nghiêm trọng như trong thế chiến thứ nhất. Hy Lạp đã phải trải qua nạn đói trong năm đầu tiên bị chiếm đóng còn Hà Lan thì là vào năm cuối cùng của chiến tranh.
Hitler đã đưa ra những lời đề nghị hòa bình với vị lãnh đạo mới của nước Anh, Winston Churchill; và khi bị từ chối ông liền ra lệnh tiến hành một loạt các cuộc tấn công từ trên không nhằm vào những trạm rada và căn cứ của Không quân Hoàng gia Anh (RAF). Tuy nhiên, không quân Đức (Luftwaffe) đã không thể đánh bại RAF trong trận chiến trên bầu trời Anh Quốc. Đến cuối tháng 10, Hitler nhận ra rằng yếu tố quan trọng là giành lấy ưu thế trên không cho chiến dịch xâm lược nước Anh có thể sẽ không đạt được, và ông ra lệnh thực hiện các cuộc không kích bất ngờ trong đêm nhằm vào các thành phố của Anh, trong đó có London, Plymouth, và Coventry.
Vào tháng 2 năm 1941, Quân đoàn Phi Châu của Đức Quốc xã (Afrika Korps) đã đến Libya để hỗ trợ quân Ý trong chiến dịch Bắc Phi và cố gắng ngăn chặn lực lượng Thịnh vượng chung Anh ở Ai Cập. Đến ngày 6 tháng 4, Hitler tiến hành xâm lược Yugoslavia (Nam Tư) và Hy Lạp. Những nỗ lực của Quốc xã là nhằm bảo đảm nguồn cung dầu mỏ từ bên ngoài, trong đó có đồng minh mới của họ là Romania, quốc gia đã ký Hiệp ước Ba bên vào tháng 11 năm 1940.
Vào ngày 22 tháng 6 năm 1941, Hitler xé bỏ Hiệp ước Molotov–Ribbentrop và cùng với các đồng minh đem khoảng 5,5 triệu quân tấn công Liên Xô. Bên cạnh mục đích chiếm lấy Lebensraum (không gian sống), chiến dịch quy mô lớn này (mật danh Chiến dịch Barbarossa) còn ý đồ nhằm hủy diệt Liên bang Xô viết và chiếm những nguồn tài nguyên thiên nhiên để phục vụ cho cuộc chiến tiếp theo với phe Đồng Minh. Phản ứng của người dân Đức là bất ngờ và bối rối. Nhiều người lo lắng liệu chiến tranh sẽ kéo dài bao lâu hay tỏ vẻ hoài nghi về khả năng chiến thắng của Đức khi phải tham chiến trên hai mặt trận.
Ban đầu, mọi việc diễn ra rất suôn sẻ, Quốc xã cùng đồng minh đã chinh phạt được các nước cộng hòa vùng Baltic, Belarus, và Tây Ukraina. Sau chiến thắng trong Trận Smolensk, Hitler ra lệnh cho Cụm tập đoàn quân Trung tâm tạm dừng cuộc tiến quân đến Moscow và tạm thời chuyển hướng các đơn vị tăng Panzer để hỗ trợ cuộc phong tỏa Leningrad và Kiev. Sự chần chừ này đã cho Hồng quân Liên Xô cơ hội huy động lực lượng dự bị mới; và cuộc tấn công Moscow được tái tiến hành vào tháng 12 năm 1941 đã kết thúc trong thảm họa. Vào ngày 7 tháng 12 năm 1941, Nhật Bản tấn công Trân Châu Cảng, Hawaii. Bốn ngày sau, Đức tuyên chiến với Mỹ.
Lượng lương thực cung cấp đến những vùng lãnh thổ Liên Xô và Ba Lan bị chinh phục là ít ỏi, với những khẩu phần không đầy đủ, không đáp ứng được nhu cầu dinh dưỡng. Quân địch rút lui đã phá hủy mùa màng, đốt cháy cây trồng; và phần còn lại thì đa số được chuyển về Đức. Ngay tại chính quốc, khẩu phần lương thực cũng bị cắt giảm trong năm 1942. Với vai trò Toàn quyền Kế hoạch Bốn năm, Hermann Göring yêu cầu thúc đẩy số chuyến hàng ngũ cốc vận chuyển từ Pháp và cá từ Na Uy. Vụ mùa năm 1942 là thuận lợi và nguồn cung lương thực vẫn đủ đáp ứng tại Tây Âu.
Lực lượng đặc nhiệm Reichsleiter Rosenberg là một tổ chức được thành lập với nhiệm vụ cướp đoạt các tác phẩm nghệ thuật và văn hóa từ những bộ sưu tập, thư viện và bảo tàng của người Do Thái trên khắp châu Âu. Đã có khoảng 26.000 toa tàu chở đầy các vật phẩm đánh cắp được vận chuyển từ Pháp về Đức. Bên cạnh đó, binh lính cũng ăn cắp hoặc mua những loại hàng hóa mà khó kiếm được ở Đức như quần áo rồi gửi về nhà.
==== Bước ngoặt và sụp đổ ====
Nước Đức cũng như châu Âu nói chung đều phụ thuộc gần như toàn bộ vào hoạt động nhập khẩu dầu mỏ từ bên ngoài. Trong một nỗ lực nhằm giải quyết sự thiếu hụt dai dẳng này, Quốc xã đã khởi động Fall Blau (Chiến dịch Blau) vào tháng 6 năm 1942, một cuộc tấn công nhắm đến những mỏ dầu ở Kavkaz. Ngày 19 tháng 11, Hồng quân Liên xô phát động một cuộc phản công và sau đó vài ngày họ đã bao vây được quân Đức trong thành phố Stalingrad. Göring cam đoan với Hitler rằng Tập đoàn quân số 6, lực lượng đang ở trong vòng vây, sẽ được tiếp tế bằng đường không, nhưng điều này trở nên không khả thi. Việc Hitler không cho phép rút lui dẫn tới hậu quả là 200.000 binh sĩ Đức và Romania thiệt mạng; 91.000 binh sĩ khác đầu hàng vào ngày 31 tháng 1 năm 1943 và chỉ có 6.000 người trong số đó sống sót để quay trở về Đức sau chiến tranh. Sau thắng lợi ở trận chiến lớn tiếp theo, Trận Kursk, Hồng quân Liên Xô tiếp tục tiến quân về phía tây và đến cuối năm 1943 Đức Quốc xã đã đánh mất phần lớn lãnh thổ ở phía đông mà trước đó họ từng xâm chiếm được.
Tại Ai Cập, Quân đoàn Phi Châu Afrika Korps của Thống chế Erwin Rommel đã bị các lực lượng đặt dưới quyền chỉ huy của Thống chế Bernard Montgomery đánh bại vào tháng 10 năm 1942. Tiếp đó, quân Đồng Minh lần lượt đổ bộ vào Sicily trong tháng 7 năm 1943 và Ý trong tháng 9. Cùng thời điểm, các phi đội ném bom của Anh và Mỹ cũng bắt đầu tiến hành chiến dịch tấn công nước Đức. Trong một nỗ lực nhằm đánh tan nhuệ khí của người Đức, nhiều phi vụ đã cố tình nhằm vào mục tiêu là dân thường. Với việc số lượng máy bay sản xuất ra không đủ bù đắp cho số mất mát, nước Đức hoàn toàn đánh mất khả năng kiểm soát bầu trời và phải hứng chịu sự tàn phá ngày càng nặng nề hơn từ chiến dịch ném bom của Đồng Minh. Đến cuối năm 1944, trước những đợt ném bom nhằm vào các nhà máy lọc dầu và các khu công nghiệp, bộ máy chiến tranh của Đức Quốc xã gần như đã hoàn toàn tê liệt.
Vào ngày 6 tháng 6 năm 1944, Đồng Minh Anh, Mỹ và Canada mở mặt trận phía Tây với chiến dịch đổ bộ lên Normandy. Trong ngày 20 tháng 7, Hitler may mắn thoát chết sau một vụ ám sát. Ông ra lệnh trả thù tàn bạo, kết quả là 7.000 người bị bắt và hơn 4.900 người bị hành quyết. Cuộc tấn công Ardennes (16 tháng 12 năm 1944 – 25 tháng 1 năm 1945) là chiến dịch lớn cuối cùng của Đức trong chiến tranh. Hồng quân Liên Xô tiến vào lãnh thổ Đức trong ngày 27 tháng 1. Hitler không chịu thừa nhận thất bại và nhấn mạnh lặp đi lặp lại rằng phải chiến đấu đến người cuối cùng, dẫn tới tổn thất về người và của không đáng có trong những tháng còn lại của cuộc chiến. Thông qua Bộ trưởng Tư pháp Otto Georg Thierack, ông ra lệnh bất kỳ người nào không sẵn sàng chiến đấu sẽ bị đem ra tòa án quân sự ngay tức khắc. Hàng ngàn người đã bị giết. Ở rất nhiều nơi, người dân tìm cách đầu hàng quân Đồng Minh đang tiến đến, mặc cho lời kêu gọi tiếp tục chiến đấu của các lãnh đạo địa phương. Hitler còn ra lệnh phá hủy các cây cầu, nhà máy, hệ thống giao thông vận tải và các cơ sở hạ tầng khác— một sắc lệnh tiêu thổ— nhưng Bộ trưởng Vũ trang Albert Speer có thể đã ngăn không cho mệnh lệnh này được thực thi một cách toàn bộ.
Trong suốt khoảng thời gian diễn ra Trận Berlin (16 tháng 4 năm 1945 – 2 tháng 5 năm 1945), Hitler và những tham mưu của ông sống trong Führerbunker dưới mặt đất. Vào ngày 30 tháng 4, khi Hồng quân Liên Xô đã ở rất gần Phủ Thủ tướng, Hitler và vợ là Eva Braun quyết định tự sát trong Führerbunker. Thủy sư đô đốc Karl Dönitz lên kế nhiệm Hitler với tư cách Tổng thống Đế chế và Goebbels lên làm Thủ tướng Đế chế. Goebbels cùng vợ là Magda cũng đã tự sát trong ngày 1 tháng 5 sau khi tự tay sát hại sáu đứa con của mình. Ngày 2 tháng 5, Tướng Helmuth Weidling đầu hàng vô điều kiện trước Tướng Vasily Chuikov của Liên Xô. Trong khoảng từ ngày 4 đến 8 tháng 5 hầu hết quân lính có vũ trang còn lại của Đức đều đầu hàng vô điều kiện. Văn kiện đầu hàng của Đức được ký vào ngày 7 tháng 5, đánh đấu hồi kết cho chiến tranh thế giới thứ hai ở châu Âu.
Tỉ lệ tự sát tại Đức tăng lên khi đối phương ngày một tiến gần, đặc biệt ở những khu vực tiến quân của Hồng quân. Tại Demin, hơn một ngàn người (trong tổng số khoảng 16.000) đã tự sát trong hoặc trong khoảng ngày 1 tháng 5 năm 1945 khi Tập đoàn quân số 65 của Phương diện quân Belorussia số 2 xông vào một nhà máy chưng cất và càn quét qua thị trấn, thực hiện các hành động như cưỡng hiếp hàng loạt, tự ý sát hại thường dân và châm lửa đốt cháy các tòa nhà. Rất nhiều địa điểm có số lượng người tự sát cao, trong đó có Neubrandenburg (600 người), Słupsk (1.000 người), và Berlin ít nhất 7.057 người.
==== Tổn thất nhân mạng của Đức ====
Tổng số người Đức thiệt mạng liên quan đến cuộc chiến ước tính trong khoảng từ 5,5 đến 6,9 triệu. Theo một nghiên cứu của nhà sử học người Đức Rüdiger Overmans, số binh sĩ Đức thiệt mạng và mất tích là 5,3 triệu, bao gồm 900.000 lính nhập ngũ bắt buộc từ bên ngoài biên giới Đức hồi năm 1937, ở Áo và Đông-Trung Âu. Vào năm 2014, sử gia Overy ước tính tổng cộng có khoảng 353.000 dân thường đã chết vì những đợt ném bom nhằm vào các thành phố Đức của Anh và Mỹ. Bên cạnh đó là 20.000 người chết trong những chiến dịch trên mặt đất. Khoảng 22.000 người dân thiệt mạng trong Trận Berlin. Số thường dân thiệt mạng khác gồm có 300.000 người Đức (bao gồm cả người Do Thái) là nạn nhân của các hoạt động khủng bố về chính trị, tôn giáo, chủng tộc của Quốc xã, và 200.000 người bị sát hại trong chương trình cái chết êm ái. Các tòa án chính trị được gọi là Sondergericht đã kết án tử hình khoảng 12.000 thành viên của Phong trào kháng chiến Đức, bên cạnh đó các tòa dân sự cũng kết án tương tự với khoảng 40.000 người Đức.
Vào thời điểm chiến tranh kết thúc, toàn châu Âu có hơn 40 triệu người tị nạn, nền kinh tế sụp đổ, và 70% cơ sở hạ tầng công nghiệp bị phá hủy. Khoảng 12 đến 14 triệu người dân tộc Đức đã bỏ trốn hoặc bị trục xuất từ Đông-Trung Âu đến Đức. Trong thời kỳ chiến tranh Lạnh, chính phủ Tây Đức ước tính có khoảng 2,2 triệu dân thường đã thiệt mạng vì các hoạt động bỏ trốn, trục xuất và lao động khổ sai tại Liên Xô. Con số này không bị bác bỏ cho đến thập niên 1990, thời điểm mà một số nhà sử học nhận định có khoảng 500.000-600.000 trường hợp thiệt mạng được xác nhận. Vào năm 2006 chính phủ Đức tái khẳng định số nạn nhân là 2 đến 2,5 triệu.
== Địa lý ==
=== Sự thay đổi về lãnh thổ ===
Với thất bại trong thế chiến thứ nhất cùng Hòa ước Versailles được ký kết, nước Đức đã đánh mất Alsace-Lorraine, Bắc Schleswig, và Memel. Saarland tạm thời trở thành một vùng bảo hộ của Pháp và đặt dưới điều kiện là cư dân của nó sau này sẽ tự quyết định việc gia nhập nước nào bằng một cuộc trưng cầu. Ba Lan trở thành một quốc gia riêng biệt và kết nối được ra biển nhờ Hành lang Ba Lan mới thành lập; đây cũng là vùng lãnh thổ ngăn cách Phổ với phần còn lại của nước Đức. Danzig giờ là một thành phố tự do.
Sau một cuộc trưng cầu diễn ra vào năm 1935, Đức đã lấy lại được quyền kiểm soát Saarland; tiếp đó đến năm 1938 họ sát nhập Áo vào với phần lãnh thổ của mình. Hiệp định Munich ký kết năm 1938 giúp Đức có thêm vùng Sudetenland, và sáu tháng sau họ chiếm nốt phần lãnh thổ còn lại của Tiệp Khắc. Tháng 3 năm 1939, trước mối đe dọa bị xâm lăng bằng đường biển, Litva đã phải nhượng lại Memel cho Đức.
Từ năm 1939 đến 1941, Đức Quốc xã lần lượt tiến hành xâm lược Ba Lan, Pháp, Luxembourg, Hà Lan, Bỉ, và Liên Xô. Vào năm 1943 Mussolini nhượng lại Trieste, Nam Tyrol, và Istria cho Đức. Sau đó Quốc xã thành lập nên hai khu hành chính bù nhìn tại các khu vực trên, Operationszone Adriatisches Küstenland và Operationszone Alpenvorland.
=== Những vùng lãnh thổ chiếm đóng ===
Quốc xã đã ngay lập tức hợp nhất một số vùng lãnh thổ chinh phục được vào với chính quốc như một phần mục tiêu dài hạn của Hitler, đó là tạo ra một Đế chế Đại Đức. Vài khu vực như Alsace-Lorraine được đặt dưới sự cai quản của một Gau liền kề. Ngoài các vùng lãnh thổ hợp nhất Reichskommissariat, Quốc xã còn tạo ra một số quốc gia bị chiếm đóng. Các khu vực chịu sự quản lý của Đức bao gồm Vùng bảo hộ Bohemia và Moravia, Reichskommissariat Ostland (trong đó có chứa các quốc gia Baltic và Belarus), và Reichskommissariat Ukraine. Các phần lãnh thổ bị chinh phục của Bỉ và Pháp chịu sự kiểm soát của Chính phủ Quân sự tại Bỉ và Bắc Pháp (Militärverwaltung in Belgien und Nordfrankreich). Một phần Ba Lan ngay lập tức được sát nhập vào Đế chế, và tại trung tâm vùng lãnh thổ Ba Lan chiếm đóng Quốc xã thành lập nên Generalgouvernement. Hitler dự định sẽ sát nhập đa phần những lãnh thổ trên vào với Đế chế.
Các chính phủ Đan Mạch, Na Uy (Reichskommissariat Norwegen), và Hà Lan (Reichskommissariat Niederlande) đặt dưới sự quản lý của thường dân, đa phần là dân địa phương.
=== Sự thay đổi sau chiến tranh ===
Với Tuyên ngôn Berlin ban hành vào ngày 5 tháng 6 năm 1945 và sau này là sự thành lập của Hội đồng Kiểm soát Đồng Minh, bốn cường quốc Đồng Minh hàng đầu tạm thời đảm trách vai trò cai quản nước Đức. Tại Hội nghị Potsdam diễn ra vào tháng 8 năm 1945, phe Đồng Minh đã phân chia các vùng lãnh thổ chiếm đóng và đề ra mục tiêu Entnazifizierung (phi Quốc xã hóa, hay tiêu diệt và xóa bỏ hoàn toàn chủ nghĩa Quốc xã). Đức bị chia cắt thành bốn khu vực, mỗi khu vực sẽ do một quốc gia Đồng Minh chiếm đóng và họ sẽ thu lấy các khoản bồi thường thiệt hại từ khu vực của mình. Vì hầu hết các khu công nghiệp nằm ở vùng phía tây nên Liên Xô sẽ được chuyển cho khoản bồi thường bổ sung. Vào ngày 20 tháng 5 năm 1947 Hội đồng Kiểm soát Đồng Minh xóa bỏ sự tồn tại của Phổ. Nước Đức nhận được sự viện trợ bắt đầu là của Mỹ với Kế hoạch Marshall vào năm 1948. Giai đoạn chiếm đóng kết thúc vào năm 1949 với sự thành lập của Đông Đức và Tây Đức. Biên giới giữa Đức và Ba Lan hoàn thiện sau khi Hiệp ước Warsaw được ký vào năm 1970. Quãng thời gian bị chia cắt kéo dài đến năm 1990, thời điểm mà phe Đồng Minh từ bỏ mọi yêu sách về lãnh thổ của Đức với Hiệp ước 2 + 4 (hay Treaty on the Final Settlement With Respect to Germany, tạm dịch: Hiệp ước về Giải pháp Cuối cùng đối với nước Đức), theo đó Đức cũng từ bỏ các quyền đòi hỏi về lãnh thổ mà họ mất trong thế chiến thứ hai.
== Chính trị ==
=== Ý thức hệ ===
Quốc xã là một đảng chính trị cực hữu hình thành trong giai đoạn tình hình kinh tế và xã hội có những biến đổi, hậu quả điển hình là sự khởi phát mạnh mẽ của cuộc Đại Suy thoái vào năm 1929. Trong quãng thời gian ở tù sau vụ Đảo chính nhà hàng bia thất bại năm 1923, Hitler đã viết một cuốn sách có tựa Mein Kampf, nội dung của nó trình bày về kế hoạch chuyển đổi xã hội Đức thành một xã hội căn cứ vào chủng tộc. Lý tưởng của chủ nghĩa Quốc xã quy tụ các yếu tố bài Do Thái, thanh lọc chủng tộc, thuyết ưu sinh, và kết hợp chúng với chủ nghĩa toàn Đức (pangermanismus) và chủ nghĩa bành trướng lãnh thổ với mục tiêu chiếm được nhiều Lebensraum (không gian sống) cho người dân tộc Đức. Chế độ Quốc xã nỗ lực chiếm đoạt những vùng lãnh thổ mới bằng việc tấn công Ba Lan và Liên Xô, cùng dự định tiếp theo đó là trục xuất hoặc tiêu diệt người Do Thái, người Slav sống ở những khu vực đó, những tộc người được xem là hạ đẳng so với chủng tộc thượng đẳng Aryan và là một phần của âm mưu Do Thái Bolshevik. Những đối tượng khác mà Quốc xã cho là Lebensunwertes Leben (không đáng sống, sống cũng như không) bao gồm những người khuyết tật về tinh thần và thể chất, người Di-gan, người đồng tính, tín hữu Nhân chứng Jehovah, và những người không phù hợp hay không thích nghi được với xã hội.
Dưới ảnh hưởng của phong trào Völkisch, chế độ Quốc xã chống lại chủ nghĩa hiện đại về văn hóa và ủng hộ phát triển quân sự mở rộng bằng trí thức. Nghệ thuật và tư duy sáng tạo bị dập tắt, trừ khi chúng có thể phục vụ như phương tiện tuyên truyền. Đảng Quốc xã sử dụng những biểu tượng như Blutfahne (cờ máu) và những lễ nghi như đại hội đảng để thúc đẩy sự đoàn kết và tính phổ biến của chế độ.
=== Chính quyền ===
Một đạo luật ban hành vào ngày 30 tháng 1 năm 1934 đã xóa bỏ các quốc gia cấu thành (Länder) của Đức và thay mới chúng bằng các đơn vị hành chính của Đức Quốc xã: Gaue, với vị trí đứng đầu thuộc về các lãnh đạo của đảng (Gauleiter), những người mà thực tế trở thành thống đốc các khu vực mà họ phụ trách. Sự thay đổi này không được thực thi một cách toàn bộ, bởi các Länder vẫn được dùng như đơn vị hành chính dành cho một số ban bộ chính phủ, như là bộ giáo dục. Điều này dẫn tới một bộ máy quan liêu hỗn độn, chồng chéo các quyền hạn và trách nhiệm, một nét đặc thù trong cơ cấu hành chính của chế độ Quốc xã.
Vào năm 1933, các công chức người Do Thái bị tước việc làm, trừ những người từng phục vụ cho quân đội trong thế chiến thứ nhất. Các đảng viên hoặc người ủng hộ đảng Quốc xã được bổ nhiệm thay thế vị trí của người Do Thái. Một đạo luật thông qua (Luật Chính quyền Địa phương Đế chế 1935) đã bãi bỏ những cuộc bầu cử cấp địa phương như một phần của phương pháp Gleichschaltung (chỉnh đốn, đồng bộ hóa, sắp xếp). Kể từ đó trở đi, chức danh thị trưởng sẽ do Bộ trưởng Nội vụ bổ nhiệm.
Hitler cai trị nước Đức một cách độc đoán bằng việc xác nhận Führerprinzip (nguyên tắc lãnh đạo), theo đó kêu gọi sự phục tùng tuyệt đối của tất cả các cấp dưới quyền. Ông quan niệm cơ cấu chính quyền như một kim tự tháp, với bản thân mình là người lãnh đạo không thể sai lầm, đứng ở đỉnh. Những chức vụ, cấp bậc trong đảng không xác định theo cách bầu chọn mà bằng sự bổ nhiệm của những người ở vị thế cao hơn. Đảng Quốc xã đã sử dụng biện pháp tuyên truyền để tạo nên một sự sùng bái cá nhân đối với Hitler. Các nhà sử học như Kershaw nhấn mạnh về sự tác động từ những kỹ năng hùng biện của Hitler đến tâm lý. Kressel viết: "Tràn ngập;... người dân Đức nói cùng lời kêu gọi 'thôi miên' bí ẩn của Hitler". Roger Gill thì nhận xét: "Những bài phát biểu xúc cảm của Hitler đã chiếm được trái tim và tâm trí của rất nhiều người Đức: ông ta gần như đã thôi miên những thính giả của mình."
Tuy phải báo cáo thông tin đến Hitler và nghe theo đường lối của ông nhưng những quan chức hàng đầu cũng có quyền tự chủ đáng kể. Họ được dự kiến sẽ "làm việc hướng về lãnh tụ" để có được sự chủ động trong việc thúc đẩy các chính sách và hành động theo ý muốn của Hitler và mục tiêu của đảng mà không cần Hitler phải ngày nào cũng có mặt tham gia điều hành đất nước. Chính phủ không phải một cơ quan hợp tác, phối hợp, mà là một tập hợp vô tổ chức các bè phái dẫn đầu bởi các thành viên ưu tú của đảng; họ đấu tranh với nhau để giành quyền lực và nhằm chiếm được tình cảm của lãnh tụ. Phong cách lãnh đạo của Hitler là đưa ra những mệnh lệnh mâu thuẫn đến cấp dưới và đặt họ vào vị trí mà trách nhiệm và nghĩa vụ của người này chồng lấn lên người kia. Bằng cách đó ông đã nuôi dưỡng sự ngờ vực, cạnh tranh, đấu đá giữa những kẻ dưới quyền để củng cố và phát huy tối đa quyền lực của mình.
=== Luật pháp ===
Vào ngày 20 tháng 8 năm 1934, các công chức bị yêu cầu phải thực hiện một lời tuyên thệ phục tùng Hitler vô điều kiện; vài tuần trước đó, các quân nhân cũng bị yêu cầu phải thực hiện lời thề tương tự. Phép tắc này trở thành nền tảng của Führerprinzip, theo đó lời nói của Hitler xếp trên mọi luật lệ. Bất kỳ hành vi nào mà đã được Hitler phê chuẩn, kể cả tàn sát, thì đều là hợp pháp. Tất cả các nghị định và luật do những bộ trưởng nội các đề xuất đều phải có được sự chấp thuận từ văn phòng của Deputy Führer (phó lãnh tụ) Rudolf Hess, người đồng thời có quyền xem xét những sự bổ nhiệm trong các cơ quan chính phủ hàng đầu (không kể quân đội).
Hầu hết các bộ luật phù hợp và hệ thống tư pháp của Cộng hòa Weimar được giữ lại sử dụng trong và sau thời Quốc xã để đối phó với những loại tội phạm phi chính trị. Các tòa án ban bố và thi hành nhiều bản án tử hình hơn hẳn so với giai đoạn trước khi Quốc xã lên nắm quyền. Những người bị kết án phạm tội ba lần trở lên, kể cả tội nhỏ, đều có thể bị coi là những tên tội phạm thường xuyên và bị bỏ tù vô thời hạn. Gái mại dâm và những kẻ móc túi được đánh giá là tội phạm và là một mối đe dọa đến cộng đồng sắc tộc. Hàng ngàn người đã bị bắt và giam giữ vô thời hạn mà không cần phải qua xét xử.
Mặc dù những tòa án thông thường có xử lý các trường hợp về chính trị và thậm chí ban hành án tử hình cho những trường hợp đó, nhưng vào năm 1934, một loại tòa án mới được thành lập, Volksgerichtshof (Tòa án Nhân dân), để giải quyết những vụ việc quan trọng về chính trị. Từ đó cho đến khi giải thể vào năm 1945, tòa án này đã đưa ra 5.000 án tử hình. Hình phạt này dành cho những loại tội danh như là đi theo Cộng sản, in tờ rơi xúi giục nổi loạn, hoặc thậm chí đem Hitler và các lãnh đạo đảng hàng đầu ra làm trò đùa. Quốc xã áp dụng ba phương pháp tử hình: treo cổ, chém đầu, và xử bắn. Gestapo phụ trách việc điều tra, giám sát để buộc người dân phải tuân theo tư tưởng của đảng. Tổ chức này còn xác định và bắt giam những tội phạm chính trị, người Do Thái, và những đối tượng không mong muốn khác. Tội phạm chính trị vừa được ra khỏi tù thường sẽ ngay lập tức bị Gestapo bắt lại và giam hãm trong trại tập trung.
Vào tháng 9 năm 1935, các đạo luật Nuremberg được ban hành. Những luật này ban đầu có nội dung ngăn cấm việc quan hệ tình dục và kết hôn giữa người Aryan và người Do Thái, sau đó mở rộng thêm các đối tượng "người Di-gan, người da đen và con ngoài giá thú của họ". Luật này còn ngăn cấm việc thuê phụ nữ Đức dưới 45 tuổi vào làm người hầu trong các gia đình Do Thái. Luật tư cách công dân Đế chế tuyên bố rằng chỉ có "người Đức hoặc dòng dõi liên quan" mới đủ điều kiện làm công dân. Cùng thời điểm, những người Quốc xã đã dùng biện pháp tuyên truyền để truyền bá quan niệm Rassenschande (ô uế chủng tộc), qua đó biện minh cho sự cần thiết phải có một đạo luật có tính năng hạn chế. Do vậy, người Do Thái và những người không thuộc dòng dõi Aryan đều bị tước quyền công dân Đức. Nội dung của luật cũng cho phép Quốc xã bác bỏ quyền công dân của bất kỳ ai không ủng hộ chế độ nhiệt thành. Một nghị định bổ sung vào tháng 11 định nghĩa người Do Thái là bất kỳ ai có ba ông bà là người Do Thái, hoặc hai ông bà và theo đức tin Do Thái.
=== Lực lượng quân sự và bán quân sự ===
==== Wehrmacht ====
Lực lượng vũ trang thống nhất của Đức từ năm 1935 đến 1945 được gọi là Wehrmacht, bao gồm Heer (Lục quân), Kriegsmarine (Hải quân), và Luftwaffe (Không quân). Từ ngày 2 tháng 8 năm 1934, các thành viên của lực lượng vũ trang bị yêu cầu phải thực hiện một lời tuyên thệ phục tùng vô điều kiện đối với cá nhân Hitler. Trái ngược với lời tuyên thệ trước, trong đó yêu cầu phải trung thành với hiến pháp của đất nước và những cơ sở hợp pháp, lời tuyên thệ mới đòi hỏi quân nhân phải tuân theo Hitler kể cả khi nhận được lệnh làm điều gì đó phi pháp. Hitler ra lệnh quân đội phải làm ngơ hoặc thậm chí hỗ trợ hậu cần cho Einsatzgruppen — những toán quân tử thần di động chịu trách nhiệm cho hàng triệu cái chết ở Đông Âu — khi có thể. Các thành viên của Wehrmacht cũng tham gia trực tiếp vào cuộc diệt chủng Holocaust với việc bắn chết dân thường hoặc thực hiện những tội ác diệt chủng dưới vỏ bọc các chiến dịch chống du kích, kháng chiến. Kẻ địch bên kia là người Do Thái, những kẻ đầu sỏ của cuộc đấu tranh kháng chiến, và do vậy cần phải bị tiêu diệt. Vào ngày 8 tháng 7 năm 1941, Heydrich thông báo tất cả người Do Thái đều được xem là những kẻ chống đối thuộc phe kháng chiến và ra lệnh hành quyết bằng súng tất cả nam giới Do Thái tuổi từ 15 đến 45.
Bất chấp những nỗ lực chuẩn bị về quân sự, nền kinh tế có thể sẽ không duy trì hỗ trợ được cho một cuộc chiến tranh kéo dài tiêu hao như điều từng xảy ra trong thế chiến thứ nhất. Bởi vậy, một chiến lược được phát triển dựa trên chiến thuật Blitzkrieg (chiến tranh chớp nhoáng), đòi hỏi tiến hành các cuộc tấn công phối hợp mạnh mẽ và tránh đụng phải những điểm mạnh của đối phương. Khởi đầu là pháo binh bắn phá, tiếp đến là ném bom và oanh tạc, sau đó xe tăng tham chiến và cuối cùng bộ binh sẽ di chuyển an toàn vào những vùng đất đã kiểm soát được. Những chiến thắng tiếp tục đến với Quốc xã cho tới giữa năm 1940, và việc không thể đánh bại Anh là một bước ngoặt lớn đầu tiên của cuộc chiến. Quyết định tấn công Liên Xô và thất bại quyết định ở Stalingrad dẫn tới sự thoái lui của quân đội Đức và cuối cùng là kết cục bại trận. Tổng số binh sĩ phục vụ cho Wehrmacht từ 1935 đến 1945 là khoảng 18,2 triệu; và 5,3 triệu trong số đó đã tử trận.
==== SA và SS ====
Sturmabteilung (SA; Biệt đội Bão táp; Quân áo nâu) thành lập vào năm 1921 là lực lượng bán quân sự đầu tiên của đảng Quốc xã. Nhiệm vụ ban đầu của SA là bảo vệ những lãnh đạo đảng tại những kỳ hội họp và đại hội. Tố chức này cũng tham gia vào các cuộc bạo động đường phố chống lại lực lượng của các đảng chính trị đối lập, đồng thời thực thi các hành động bạo lực chống lại người Do Thái và những đối tượng khác. Đến năm 1934, dưới sự lãnh đạo của Ernst Röhm, SA đã có hơn nửa triệu thành viên, 4,5 triệu bao gồm cả quân dự bị, tại thời điểm mà quân đội chính quy vẫn bị hạn chế ở con số 100.000 theo Hòa ước Versailles.
Röhm kỳ vọng có được chức tư lệnh quân đội và sát nhập nó vào hàng ngũ cấp bậc của SA. Tổng thống Hindenburg và Bộ trưởng Quốc phòng Werner von Blomberg đe dọa sẽ áp đặt tình trạng thiết quân luật nếu các hành vi đáng báo động của SA không giảm bớt. Trong khi đó, Hitler cũng ngờ vực rằng Röhm đang có âm mưu lật đổ mình, nên ông đã ra lệnh trừ khử Röhm và những kẻ thù chính trị khác. Trong quãng thời gian từ ngày 30 tháng 6 đến 2 tháng 7 năm 1934 đã có khoảng 200 người bị giết trong một sự kiện được biết đến với tên gọi Đêm của những con dao dài. Sau cuộc thanh trừng này, SA đã không còn là một thế lực lớn nữa.
Từ một đơn vị nhỏ với số lượng thành viên ít ỏi đặt dưới sự bảo trợ của SA ban đầu, Schutzstaffel (SS) đã phát triển thành một trong những lực lượng lớn và hùng mạnh bậc nhất tại Đức Quốc xã. Dưới sự lãnh đạo của Reichsführer-SS (Thống chế SS) Heinrich Himmler từ năm 1929, đến năm 1938 SS đã có hơn 250.000 thành viên và tiếp tục lớn mạnh. Himmler hình dung SS sẽ trở thành một đội quân cận vệ ưu tú, hàng ngũ bảo vệ sau cùng của Hitler. Chi nhánh quân sự của SS, Waffen-SS, trên thực tế đã trở thành nhánh thứ tư của Wehrmacht.
Vào năm 1931 Himmler thiết lập cơ quan tình báo của SS được biết đến như Sicherheitsdienst (SD; Cơ quan An ninh) và giao quyền kiểm soát nó cho phụ tá của mình, Obergruppenführer-SS (Đại tướng SS) Reinhard Heydrich. Nhiệm vụ của tổ chức này là xác định và bắt giam những người Cộng sản và kẻ thù chính trị khác. Himmler kỳ vọng SD sau này sẽ thay thế hoàn toàn hệ thống cảnh sát hiện tại. Ngoài ra Himmler cũng thiết lập bước đầu một nền kinh tế song song đặt dưới sự bảo trợ của Cơ quan Chỉ huy Hành chính và Kinh tế SS. Công ty cổ phần mẹ này sở hữu các tập đoàn nhà đất, nhà máy và các nhà xuất bản.
Kể từ năm 1935 trở về sau SS can dự sâu sắc đến hoạt động khủng bố, vây bắt dồn người Do Thái vào trong các khu Do Thái và các trại tập trung. Với sự bùng nổ của Thế chiến thứ hai, các đơn vị SS được gọi là Einsatzgruppen đã theo chân quân đội tiến vào Ba Lan, Liên Xô và tàn sát hơn hai triệu người, bao gồm cả 1,3 triệu người Do Thái, trong giai đoạn 1941 đến 1945. Lực lượng SS-Totenkopfverbände (đơn vị đầu lâu) phụ trách quản lý các khu trại tập trung và trại hủy diệt, những địa điểm mà đã có hàng triệu người Do Thái bị sát hại.
== Kinh tế ==
=== Nền kinh tế Đế chế ===
Vấn đề kinh tế cấp bách nhất mà những người Quốc xã phải đối mặt ban đầu đó là mức 30% tỉ lệ thất nghiệp trên toàn quốc. Vào tháng 5 năm 1933, Chủ tịch Reichsbank (ngân hàng trung ương) và Bộ trưởng Kinh tế, Tiến sĩ kinh tế Hjalmar Schacht sáng lập ra một đề án tài trợ thâm hụt. Các dự án vốn được thanh toán với việc phát hành lệnh phiếu gọi là Mefo bill. Reichsbank in tiền để thanh toán khi phiếu được trình bày. Trong khi nợ quốc gia đã tăng vọt, Hitler cùng với đội ngũ kinh tế của ông kỳ vọng quá trình mở rộng lãnh thổ sắp tới sẽ giúp cung cấp nguồn lực để trả nợ. Dưới sự quản lý của Schacht, tỉ lệ thất nghiệp đã giảm xuống rất nhanh; nhanh hơn bất kỳ nước nào khác trong cuộc Đại Suy thoái.
Vào ngày 17 tháng 10 năm 1933, người đi tiên phong trong lĩnh vực hàng không Hugo Junkers, chủ sở hữu của Xưởng máy bay Junkers, bị bắt. Trong vòng vài ngày công ty của ông đã bị chính quyền chiếm đoạt. Dưới sự chỉ đạo của Bộ trưởng Hàng không Göring, sản lượng máy bay ngay lập tức tăng mạnh trên toàn ngành công nghiệp. Từ một lực lượng lao động 3.200 người chỉ tạo ra được 100 chiếc mỗi năm vào năm 1932, chưa đầy 10 năm sau ngành công nghiệp này đã tăng trưởng với khoảng 250.000 lao động sản xuất ra hơn 10.000 máy bay tiên tiến về mặt kỹ thuật mỗi năm.
Một bộ máy quan liêu tỉ mỉ được tạo ra để điều tiết hoạt động nhập khẩu nguyên liệu thô và thành phẩm với ý định loại bỏ đối thủ cạnh tranh nước ngoài tại thị trường Đức và củng cố cán cân thanh toán quốc gia. Những người Quốc xã khuyến khích phát triển thay thế phương pháp tổng hợp các nguyên liệu như dầu mỏ và nguyên liệu dệt. Khi mà thị trường ở trong tình trạng thừa thãi sản phẩm và giá cả xăng dầu ở mức thấp, vào năm 1933 chính quyền tiến hành một thỏa thuận phân chia lợi nhuận với IG Farben, bảo đảm cho họ mức 5% trong số vốn đầu tư tại nhà máy dầu tổng hợp ở Leuna. Bất kỳ lợi nhuận vượt quá mức trên sẽ phải chuyển lại cho nhà nước. Đến năm 1936, Farben đã hối hận với thỏa thuận này, bởi khoản lợi nhuận vượt mức sản sinh ra khi đó đã phải trao lại cho chính phủ.
Các dự án công trình công cộng lớn được tài trợ nhờ chính sách vay nước ngoài bao gồm công trình mạng lưới Autobahns (đường cao tốc), bên cạnh đó nhà nước còn cung cấp nguồn kinh phí cho các chương trình do chính quyền cũ khởi xướng là cải cách nông nghiệp và nhà ở. Để kích thích ngành công nghiệp xây dựng, tín dụng được cung cấp cho các doanh nghiệp tư nhân và những khoản trợ cấp được dành sẵn cho việc mua nhà và sửa chữa. Các cặp đôi trẻ người Aryan có dự định kết hôn có thể nhận một khoản vay lên tới 1.000 Reichsmark với điều kiện người vợ sẽ ra khỏi lực lượng lao động. Số tiền phải trả sẽ được giảm xuống 25% cho mỗi đứa con họ sinh ra. Đến năm 1937, những thông báo về việc phụ nữ phải duy trì tình trạng thất nghiệp đã bị rút lại do thiếu hụt lao động có tay nghề.
Hitler mường tượng việc sở hữu xe hơi phổ biến là một phần của nước Đức mới. Ông lựa chọn nhà thiết kế Ferdinand Porsche để phác thảo lên những kế hoạch cho KdF-wagen (Kraft durch Freude wagen, xe KdF), dự định nó sẽ là loại ô tô mà mọi công dân Đức đều có thể sở hữu. Một nguyên mẫu đã được trưng bày tại Triển lãm Ô tô Quốc tế ở Berlin vào ngày 17 tháng 2 năm 1939. Tuy nhiên với sự bùng nổ của Thế chiến thứ hai, nhà máy đã chuyển sang sản xuất các loại xe quân sự. Không có mẫu nào được bán ra cho đến thời điểm sau chiến tranh, khi đó chiếc xe đã được đổi tên thành Volkswagen (xe của nhân dân).
Vào thời điểm Quốc xã lên nắm quyền năm 1933, nước Đức có sáu triệu người thất nghiệp, thì đến năm 1937 con số này giảm xuống chỉ còn dưới một triệu. Kết quả này một phần là nhờ việc khai trừ nữ giới ra khỏi lực lượng lao động. Mức lương thực tế năm 1938 đã giảm 25% so với năm 1933. Các công đoàn bị giải thể vào tháng 5 năm 1933 với việc Quốc xã chiếm đoạt nguồn tài chính và bắt giữ những lãnh đạo của các công đoàn Dân chủ Xã hội. Một tổ chức mới gọi là Mặt trận Lao động Đức (DAF) được sáng lập và đặt dưới sự kiểm soát của công chức đảng Quốc xã Robert Ley. Số giờ lao động trung bình của người Đức đã tăng từ 43 giờ/tuần năm 1933 lên 47 giờ/tuần năm 1939.
Sang đầu năm 1934, Quốc xã từ việc hỗ trợ các kế hoạch tạo ra việc làm đã đổi hướng chú trọng đến hoạt động tái vũ trang. Đến năm 1935, chi phí quân sự đã chiếm tới 73% khoản chi của chính phủ về hàng hóa và dịch vụ. Vào ngày 18 tháng 10 năm 1936 Hitler bổ nhiệm Göring làm Toàn quyền Kế hoạch bốn năm với dự định tăng tốc chương trình tái vũ trang. Bên cạnh việc kêu gọi đẩy nhanh tiến độ thi công các nhà máy thép, nhà máy cao su tổng hợp và các nhà máy khác, Göring còn thiết lập kiểm soát giá cả và tiền lương và hạn chế việc phát hành cổ tức. Các khoản chi lớn được đầu tư cho hoạt động tái vũ trang bất chấp mức thâm hụt ngày càng tăng. Với sự ra đời của luật nghĩa vụ quân sự bắt buộc vào năm 1935, Reichswehr vốn bị giới hạn quân số ở ngưỡng 100.000 bởi những điều khoản của Hòa ước Versailles đã phát triển lên đến 750.000 lính tại ngũ cùng với một triệu quân dự bị ở thời điểm khởi phát Thế chiến thứ hai. Tới tháng 1 năm 1939, số người thất nghiệp đã giảm xuống còn 301.800; và đến tháng 9 con số này chỉ còn là 77.500.
=== Kinh tế thời chiến và lao động khổ sai ===
Kinh tế chiến tranh của Đức Quốc xã là kiểu kinh tế hỗn hợp, có sự kết hợp giữa thị trường tự do và kế hoạch hóa tập trung; nhà sử học Richard Overy đã mô tả nó giống như nằm ở đâu đó giữa kinh tế chỉ huy của Liên Xô và hệ thống tư bản của Hoa Kỳ.
Vào năm 1942, Hitler bổ nhiệm Albert Speer lên làm Bộ trưởng Vũ trang thay cho người tiền nhiệm Fritz Todt vừa qua đời. Speer đã cải thiện tình hình sản xuất thông qua việc tổ chức sắp xếp một cách hợp lý, hợp lý hóa phương pháp sản xuất, các loại máy móc chỉ dùng cho một mục đích và được vận hành bởi những lao động phổ thông không chuyên môn, và sự phối hợp tốt hơn giữa nhiều hãng và công ty khác nhau đã tạo ra hàng chục ngàn bộ phận sản phẩm. Các nhà máy được di dời xa khỏi những bãi đường sắt, địa điểm là mục tiêu bị ném bom. Đến năm 1944, chiến tranh đã làm tiêu tốn 75% tổng sản phẩm quốc nội của Đức, trong khi đó con số này đối với Liên Xô là 60% còn Anh là 55%.
Kinh tế thời chiến dựa chủ yếu vào lực lượng lao động khổ sai trên quy mô lớn. Quốc xã đã nhập khẩu và bắt khoảng 12 triệu người từ 20 quốc gia châu Âu làm nô lệ làm việc trong các nhà máy và trên các nông trường; xấp xỉ 75% trong số đó là tới từ Đông Âu. Rất nhiều người đã là nạn nhân của những đợt ném bom từ quân Đồng Minh, bởi họ ít nhận được sự bảo vệ. Điều kiện sống nghèo nàn dẫn tới tỉ lệ ốm đau, thương tật và tử vong cao, cùng với đó là hành động phá hoại và phạm tội.
Những lao động nước ngoài bị đưa đến Đức được phân làm bốn loại: lao động tạm thời, tù binh quân sự, lao động thường dân, và lao động Đông Âu. Đối với từng loại có các quy định khác nhau được đặt ra cho người lao động. Quốc xã đã ban hành lệnh cấm các mối quan hệ về thể xác giữa lao động là người Đức và lao động nước ngoài.
Vai trò của nữ giới ngày một lớn hơn. Đến năm 1944 đã có hơn nửa triệu người phục vụ như đội quân phụ trong lực lượng vũ trang Đức, đặc biệt là trong các đơn vị chống máy bay của Luftwaffe; nửa triệu người làm việc trong hệ thống phòng không dân sự; và 400.000 người làm y tá tình nguyện. Họ còn thay thế nam giới trong nền kinh tế thời chiến, đặc biệt trên các nông trường và trong các cửa hàng tư nhỏ.
Trong giai đoạn sau của cuộc chiến, phe Đồng Minh đã tiến hành ném bom chiến lược hết sức dữ dội nhằm vào các nhà máy tinh chế sản xuất ra dầu và xăng, cũng như hệ thống giao thông vận tải của Đức, đặc biệt là các bãi đường ray và kênh đào. Đến tháng 9 năm 1944, ngành công nghiệp vũ khí bắt đầu lụi tàn. Hai tháng sau, sản lượng than nhiên liệu không còn đáp ứng được mục tiêu đề ra, và việc sản xuất vũ khí mới không còn có thể thực hiện. Theo sử gia Overy, việc bị quân Đồng Minh ném bom đã làm cho nền kinh tế Đức bị kéo căng, buộc nó phải chuyển một phần tư số nhân lực và công nghệ sang phục vụ cho công tác phòng không, điều này rất có thể đã rút ngắn cuộc chiến.
== Chính sách chủng tộc ==
Phân biệt chủng tộc và bài Do Thái là những giáo lý cơ bản của chế độ Quốc xã. Chính sách chủng tộc của Đức Quốc xã dựa trên niềm tin của họ về sự hiện hữu của một chủng tộc thượng đẳng ưu việt. Những người Quốc xã mặc nhiên công nhận sự tồn tại của cuộc xung đột giữa chủng tộc Aryan thượng đẳng và những chủng tộc hạ đẳng, đặc biệt là người Do Thái, chủng tộc được cho là hỗn tạp đã thâm nhập vào xã hội và bóc lột cũng như đàn áp chủng tộc Aryan.
=== Khủng bổ người Do Thái ===
Ngay lập tức sau khi Quốc xã lên nắm quyền, người Do Thái đã bị phân biệt đối xử, tiếp đến là một loạt vụ tấn công của SA nhằm vào các cửa hàng, giáo đường, và những người làm việc trong ngành pháp lý kéo dài một tháng. Vào ngày 1 tháng 4 năm 1933 Hitler tuyên bố tẩy chay các hoạt động kinh doanh của người Do Thái trên toàn quốc. Một đạo luật (Gesetz zur Wiederherstellung des Berufsbeamtentums, trực dịch: Luật vì sự phục hồi của ngành dân chính chuyên nghiệp) thông qua vào ngày 7 tháng 4 đã buộc tất cả những công chức không là người Aryan phải rời bỏ khỏi ngành pháp lý và dân chính. Sau đó là một luật tương tự tước bỏ quyền hành nghề của người Do Thái đối với những loại nghề nghiệp khác. Vào ngày 11 tháng 4 một nghị định được ban hành trong đó tuyên bố rằng bất kỳ ai có một trong bốn người: cha, mẹ, ông, bà là người Do Thái thì sẽ không thuộc chủng tộc Aryan. Như là một phần của xu thế loại bỏ yếu tố Do Thái ra khỏi đời sống văn hóa, các thành viên của NSDStB (Liên đoàn Sinh viên Quốc gia Xã hội chủ nghĩa) đã vứt bỏ khỏi các thư viện bất kỳ cuốn sách nào được xem là không phù hợp, tiếp theo là một đợt đốt sách trên phạm vi toàn quốc diễn ra vào ngày 10 tháng 5.
Quốc xã đã sử dụng bạo lực và áp lực kinh tế để động viên người Do Thái tình nguyện rời đất nước. Hoạt động kinh doanh của người Do Thái bị cách ly khỏi thị trường, quảng cáo trên báo bị cấm, và họ không được phép quan hệ với chính phủ. Cùng với đó người Do Thái còn phải chịu đựng sự quấy nhiễu và những cuộc tấn công bạo lực. Nhiều khu vực đã đăng biển cấm không cho người Do Thái bước vào.
Vào tháng 11 năm 1938, một người Do Thái trẻ có tên Herschel Grynszpan đề nghị thực hiện một cuộc phỏng vấn với đại sứ Đức ở Paris. Grynszpan gặp và bắn chết một nhân viên của tòa đại sứ, nhà ngoại giao Ernst vom Rath. Sự kiện này đã cho đảng Quốc xã cái cớ để tiến hành một cuộc nổi loạn kích động chống lại người Do Thái vào ngày 9 tháng 11 năm 1938. Các thành viên SA đã đập phá giáo đường và tài sản của người Do Thái trên khắp nước Đức. Ít nhất 91 người Do Thái Đức bị giết trong cuộc bạo động mà sau này được gọi là Kristallnacht (Đêm thủy tinh vỡ). Trong những tháng tiếp theo, chính quyền tiếp tục áp đặt thêm những lệnh trừng phạt đối với người Do Thái, họ bị cấm sở hữu doanh nghiệp hoặc làm việc trong các cửa hàng bán lẻ, không được phép lái xe, đi xem phim, đến thư viện, hay sở hữu vũ khí. Học sinh Do Thái bị đuổi khỏi trường. Cộng đồng người Do Thái bị phạt một triệu mark tiền thanh toán thiệt hại gây ra từ vụ Kristallnacht và bất kỳ khoản tiền nào trả bằng bảo hiểm sẽ bị tịch thu. Đến năm 1939 khoảng 250.000 trong số 437.000 người Do Thái tại Đức đã di cư đến Mỹ, Argentina, Anh, Palestine, và một số nước khác. Nhiều người chọn ở lại lục địa châu Âu. Những người di cư đến Palestine được phép mang theo tài sản dưới các điều khoản của Hiệp ước Haavara, còn đối với các quốc gia khác, họ phải để lại gần như toàn bộ tài sản và chính quyền sẽ chiếm đoạt số tài sản đó.
=== Người Di-gan và các nhóm đối tượng khác ===
Cũng như người Do Thái, người Di-gan đã phải chịu sự khủng bố từ những ngày đầu khi Quốc xã lên nắm quyền. Do không thuộc chủng tộc Aryan, họ bị cấm kết hôn với người thuộc dòng dõi Đức. Bắt đầu từ năm 1935, một số lượng lớn người Di-gan đã bị chuyển đến và sát hại trong các trại tập trung. Quốc xã cho triển khai Aktion T4 (Hành động T4), một chương trình giết người có hệ thống nhằm vào những đối tượng khuyết tật về tinh thần và thể chất, bao gồm những bệnh nhân trong bệnh viện tâm thần. Chương trình được tiến hành chủ yếu trong giai đoạn 1939 đến 1941 tuy nhiên nó vẫn tiếp tục cho đến khi chiến tranh kết thúc. Ban đầu, phương pháp xử lý là dùng súng bắn, đến cuối năm 1941 các phòng hơi ngạt được đưa vào sử dụng. Dưới các điều khoản của một đạo luật ban hành vào ngày 14 tháng 7 năm 1933, chế độ Quốc xã đã tiến hành triệt sản ép buộc đối với hơn 400.000 cá nhân bị gán cho là có khuyết tật về mặt di truyền. Hơn một nửa trong số những người này bị cho là thiếu hụt về trí óc, trong đó bao gồm không chỉ những người đạt điểm số thấp trong các bài kiểm tra trí tuệ, mà còn những người lệch chuẩn mong đợi về tính tiết kiệm, hành vi tình dục, và tình trạng sạch sẽ. Những người ốm yếu về tinh thần và thể trạng cũng là mục tiêu của Quốc xã. Đa phần nạn nhân đến từ các nhóm thành phần thua thiệt trong xã hội như gái mại dâm, người nghèo, người vô gia cư, và tội phạm. Ngoài ra còn có các nhóm đối tượng khác cũng phải chịu sự khủng bố và tàn sát đó là tín hữu Nhân chứng Jehovah, người đồng tính, người không thích nghi được với xã hội, các địch thủ chính trị và tôn giáo.
=== Cuộc tàn sát chủng tộc ===
Căn nguyên cuộc chiến của Đức Quốc xã ở phía đông đến từ quan điểm đã có từ lâu của Hitler rằng người Do Thái là kẻ thù lớn nhất của dân tộc Đức, và để đáp ứng một thứ khác mà ông ta mong muốn đó là Lebensraum (không gian sống). Hitler tập trung sự chú ý vào Đông Âu, nhắm đến mục tiêu đánh bại Ba Lan, Liên Xô, kèm theo đó là xua đuổi hoặc tiêu diệt người Do Thái và người Slav sống ở những khu vực này. Sau khi chiếm được Ba Lan, Quốc xã dồn vây tất cả người Do Thái tại vùng lãnh thổ Generalgouvernement vào trong các khu Do Thái và buộc những người có sức khỏe phải đi lao động. Vào năm 1941 Hitler quyết định hủy diệt hoàn toàn dân tộc Ba Lan. Ông lên kế hoạch trong vòng từ 10 đến 20 năm vùng lãnh thổ Ba Lan do Đức chiếm đóng sẽ sạch bóng sắc tộc Ba Lan và người Đức sẽ tới định cư thay thế. Khoảng 3,8 đến 4 triệu người Ba Lan sẽ được giữ lại làm nô lệ, đây là một phần trong lực lượng lao động 14 triệu người mà Quốc xã dự định tạo nên từ công dân của các quốc gia bị chinh phục ở phía đông.
Quốc xã đề ra Generalplan Ost (Kế hoạch Tổng thể cho phía Đông) với mục tiêu trục xuất cư dân Đông Âu (ở những khu vực chiếm đóng) và Liên Xô đến Siberia để tàn sát hoặc sử dụng làm lao động nô lệ. Nhằm xác định đối tượng tiêu diệt, Himmler thành lập nên Volksliste, một hệ thống phân loại người được xem là có dòng dõi Đức. Himmler ra lệnh những người gốc Đức nào từ chối gia nhập nhóm sắc tộc Đức sẽ bị trục xuất đến các trại tập trung hoặc bị bắt làm lao động khổ sai, và con của họ sẽ bị lấy đi. Kế hoạch này còn bao gồm việc bắt cóc những đứa trẻ có các đặc điểm Aryan-Bắc Âu, đối tượng được cho là có gốc Đức. Quốc xã định triển khai Generalplan Ost sau khi chinh phục được Liên Xô, nhưng khi mà điều này không thể thực hiện, Hitler đã nghĩ đến những giải pháp khác. Một gợi ý là tiến hành trục xuất trên quy mô lớn người Do Thái đến Ba Lan, Palestine, hoặc Madagasca.
Vào khoảng thời gian nào đó gần với thời điểm Quốc xã thất bại trong cuộc tấn công Moscow hồi tháng 12 năm 1941, Hitler đã quyết định rằng người Do Thái ở châu Âu phải bị tận diệt ngay lập tức. Những kế hoạch nhằm xóa sổ toàn bộ số dân Do Thái ở châu Âu — khoảng 11 triệu người — được chính thức hóa tại Hội nghị Wansee diễn ra vào ngày 20 tháng 1 năm 1942. Theo đó, một số sẽ phải làm việc cho đến chết, và số còn lại thì sẽ bị giết trong quá trình thực thi kế hoạch Die Endlösung der Judenfrage (Giải pháp cuối cùng cho vấn đề Do Thái). Ban đầu, Quốc xã hành quyết nạn nhân bằng xe hơi ngạt hoặc bằng súng (thi hành bởi các đội xử bắn Einsatzgruppen), nhưng những phương pháp này đã chứng minh chúng không thể đáp ứng được chiến dịch có quy mô lớn như vậy. Đến năm 1941, những trung tâm giết người tại trại tập trung Auschwitz, Sobibor, Treblinka, và những trại tử thần khác của Đức Quốc xã đã trở thành phương thức chủ đạo thay thế cho Einsatzgruppen. Tổng số người Do Thái bị Đức Quốc xã giết hại trong chiến tranh ước tính từ 5,5 đến 6 triệu người, trong đó có khoảng hơn một triệu trẻ em. Bên cạnh đó là 12 triệu người bị ép làm lao động khổ sai.
Người dân Đức có thể biết về những điều đã xảy ra thông qua binh sĩ trở về từ các vùng lãnh thổ chiếm đóng. Theo nhà sử học Evans, đa phần người Đức phản đối cuộc diệt chủng. Một số người Ba Lan đã cố gắng giải cứu hoặc che giấu những người Do Thái còn lại, và các thành viên của phong trào bí mật Ba Lan cũng thông báo với chính phủ lưu vong của họ tại London về những điều đã xảy ra.
Bên cạnh diệt chủng người Do Thái, Quốc xã còn dự định làm giảm số dân tại những vùng lãnh thổ chinh phục được xuống 30 triệu người bằng cách bỏ đói các nạn nhân thông qua một kế hoạch được gọi là der Hungerplan. Nguồn lương thực sẽ được chuyển cho quân đội và công dân Đức. Các thành phố sẽ bị san bằng và diện tích đất được dành cho rừng hoặc người gốc Đức tái định cư. Kết hợp lại, hai kế hoạch der Hungerplan và Generalplan Ost sẽ khiến khoảng 80 triệu người dân Liên Xô bị chết đói. Tuy nhiên với việc chúng chỉ hoàn thành được một phần, số thường dân và tù binh chiến tranh bỏ mạng ước tính vào khoảng 19,3 triệu người.
=== Đàn áp sắc tộc Ba Lan ===
Trong giai đoạn Ba Lan bị chiếm đóng; Quốc xã đã sát hại khoảng 2,7 triệu người dân tộc Ba Lan. Dân thường Ba Lan bị buộc phải làm lao động khổ sai trong các ngành công nghiệp của Đức, bị bắt giam, hành quyết, hay trục xuất hàng loạt để dọn đường cho người Đức. Giới chức trách Đức tham gia vào nỗ lực hủy diệt nền văn hóa và bản sắc dân tộc Ba Lan. Rất nhiều giảng viên (giáo sư) đại học và những người thuộc giới trí thức Ba Lan đã bị bắt và xử tử, hoặc chuyển đến các trại tập trung với chiến dịch AB-Aktion. Trong chiến tranh, Ba Lan mất đi 39 đến 45% bác sĩ và nha sĩ, 26 đến 57% luật sư, 15 đến 30% giáo viên, 30 đến 40% nhà khoa học và giảng viên đại học, và 18 đến 28% tăng lữ. Thêm vào đó, 43% số cơ quan nghiên cứu và giáo dục cùng 14% số bảo tàng của quốc gia này cũng đã bị phá hủy.
=== Ngược đãi tù binh chiến tranh Liên Xô ===
Ước tính trong giai đoạn từ tháng 6 năm 1941 đến tháng 1 năm 1942, Đức Quốc xã đã sát hại khoảng 2,8 triệu tù binh chiến tranh Liên Xô. Rất nhiều nạn nhân trong số đó chết vì bị bỏ đói trong những bãi giam giữ ngoài trời tại Auschwitz và những nơi khác. Tỉ lệ tù binh thiệt mạng giảm dần khi Quốc xã cần nô lệ để phục vụ cho chiến tranh; đến năm 1943, nửa triệu tù binh đã được sử dụng làm lao động nô lệ. Chiến tranh thế giới thứ hai đã cướp đi của Liên Xô 27 triệu sinh mạng; chưa đến 9 triệu người trong đó chết trên chiến trường.
== Xã hội ==
=== Giáo dục ===
Đạo luật bài Do Thái thông qua năm 1933 đã khai trừ tất cả giáo viên, giảng viên đại học, công viên chức người Do Thái khỏi hệ thống giáo dục. Quốc xã yêu cầu hầu hết giáo viên phải thuộc về Nationalsozialistischer Lehrerbund (Liên đoàn Giáo viên Quốc gia Xã hội chủ nghĩa), và giảng viên đại học bị yêu cầu phải gia nhập Nationalsozialistischer Deutscher Dozentenbund (Liên đoàn Giảng viên Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa). Các giáo viên phải thực hiện một lời tuyên thệ trung thành và phục tùng Hitler, và những ai không thể hiện đủ ra là mình luôn tuân theo những lý tưởng của đảng thường sẽ bị học sinh hoặc đồng nghiệp báo cáo lại rồi bị sa thải. Lương thấp do thiếu kinh phí là nguyên nhân khiến nhiều giáo viên bỏ nghề. Số học sinh trung bình tại một lớp học đã tăng từ 37 người trong năm 1927 lên 43 người năm 1938 do tình trạng thiếu giáo viên.
Bộ trưởng Nội vụ Wilhelm Frick, Bộ trưởng Giáo dục Bernhard Rust, và các cơ quan khác, là những đối tượng liên quan tác động đến nội dung của bài học và sách giáo khoa được chấp thuận dùng trong các trường tiểu học và trung học. Những loại sách mà Quốc xã cho là không phù hợp sẽ bị loại bỏ khỏi thư viện. Việc truyền bá, thấm nhuần tư tưởng Quốc xã trở nên bắt buộc từ tháng 1 năm 1934. Những học sinh nào lựa chọn tương lai làm thành viên ưu tú của đảng sẽ được truyền bá tư tưởng từ năm 12 tuổi tại Trường Adolf Hitler (Adolf-Hitler-Schulen) đối với cấp tiểu học và Học viện Giáo dục Chính trị Quốc gia (Nationalpolitische Erziehungsanstalten) với cấp trung học. Việc truyền dạy tư tưởng Quốc xã cho những người sẽ nắm giữ cấp bậc cao trong quân đội trong tương lai được tiến hành tại NS-Ordensburgen (Thành trì Phẩm cấp).
Giáo dục tiểu học và trung học chú trọng đến sinh học chủng tộc, chính sách dân số, văn hóa, địa lý, và đặc biệt là rèn luyện thể chất. Chương trình học của hầu hết các môn, bao gồm sinh học, địa lý, thậm chí cả số học, đều được sửa lại để tập trung vào chủng tộc. Giáo dục quân sự là phần trung tâm của giáo dục thể chất, và vật lý được định hướng đến những đề tài có ứng dụng trong quân sự, như đạn đạo và khí động học. Học sinh bị yêu cầu phải xem tất cả những phim do bộ phận phụ trách về học đường của Bộ Thông tin Quần chúng và Tuyên truyền chuẩn bị.
Ở bậc đại học, sự bổ nhiệm đến những chức vụ hàng đầu là chủ đề của các cuộc tranh đấu quyền lực giữa Bộ giáo dục, Bộ đại học, và Liên đoàn Sinh viên Đức Quốc gia Xã hội chủ nghĩa. Bất chấp áp lực từ Liên đoàn và các Bộ chính phủ khác nhau, hầu hết giảng viên đại học đều không thay đổi giáo trình hay bài giảng trong thời Quốc xã. Điều này đặc biệt rõ nét tại những trường nằm ở các khu vực mà Công giáo chiếm ưu thế. Đầu vào đại học ở Đức đã giảm từ 104.000 sinh viên năm 1931 xuống 41.000 năm 1939. Tuy nhiên số đầu vào của các trường y khoa tăng mạnh; bởi những bác sĩ người Do Thái đã bị ép phải rời bỏ vị trí, nên sinh viên tốt nghiệp ngành này có triển vọng tìm được việc làm tốt. Bắt đầu từ năm 1934, sinh viên đại học bị yêu cầu phải tham gia những buổi huấn luyện quân sự thường nhật và tốn thời gian do SA thực hiện. Ngoài ra, tân sinh viên còn phải phục vụ sáu tháng trong trại lao động theo yêu cầu của Reichsarbeitsdienst (Ban Lao động Quốc gia), và với sinh viên năm nhất và năm hai quãng thời gian phục vụ là 10 tuần.
=== Áp bức giáo hội ===
Tại thời điểm Quốc xã lên nắm quyền năm 1933, nước Đức có khoảng 65% số dân theo đạo Tin lành. Dưới quá trình Gleichschaltung (chỉnh đốn, đồng bộ hóa, sắp xếp), Hitler nỗ lực tạo ra một Giáo hội Đế chế Quốc gia thống nhất từ 28 giáo hội Tin lành hiện tại, với mục tiêu cuối cùng là xóa bỏ các giáo hội ở Đức. Ludwig Müller, một người thân Quốc xã, được cử làm Giám mục Đế chế; và Kitô hữu Đức, một nhóm lợi ích thân Quốc xã, nắm quyền kiểm soát giáo hội mới. Quốc xã chống lại Cựu Ước vì nó có nguồn gốc Do Thái, và ngăn những người Do Thái cải đạo khỏi giáo hội của họ. Mục sư Martin Niemöller hưởng ứng sự thành lập của Bekennende Kirche (tạm dịch: Giáo hội Xưng tội), từ đó một số giáo sĩ đã chống đối lại chế độ. Vào năm 1935, khi hội nghị Giáo hội Xưng tội phản đối chính sách tôn giáo của Quốc xã, 700 mục sư của giáo hội đã bị bắt giữ. Müller từ chức và Hitler bổ nhiệm Hanns Kerrl làm Bộ trưởng Giáo hội để tiếp tục nỗ lực kiểm soát đạo Tin lành. Năm 1936, một đặc sứ của Giáo hội Xưng tội phản đối Hitler về việc đàn áp tôn giáo và chà đạp nhân quyền, và thêm hàng trăm người nữa đã bị bắt giữ. Dù vậy, giáo hội này vẫn tiếp tục phản kháng, và đến đầu năm 1937 Hitler từ bỏ sự kỳ vọng của mình về một giáo hội thống nhất. Giáo hội Xưng tội bị cấm vào ngày 1 tháng 7 năm 1937. Neimoller bị bắt và giam cầm, lần đầu là tại trại tập trung Sachsenhausen, tiếp đến là ở Dachau. Quốc xã đóng cửa các trường đại học thần học và bắt giữ thêm nhiều nhà thần học và các mục sư.
Giáo hội Công giáo là đối tượng bị áp bức tiếp theo khi Quốc xã lên nắm quyền. Hitler nhanh chóng đi tới xóa bỏ Công giáo Chính trị, vây bắt những công chức có mối liên hệ với Công giáo của Đảng Nhân dân Bavaria và Đảng Công giáo Trung ương. Hai đảng này, cùng với các đảng chính trị phi Quốc xã khác, chấm dứt tồn tại từ tháng 7. Quốc xã đã ký với Tòa thánh Vatican Reichskonkordat (Giáo ước Đế chế) vào năm 1933, trong khi bản thân vẫn đang tiếp tục quấy nhiễu giáo hội tại Đức. Giáo ước này yêu cầu chế độ phải tôn trọng sự tự do của các tổ chức Công giáo và ngăn cấm giáo sĩ tham gia vào hoạt động chính trị. Hitler thường không thèm đếm xỉa đến giáo ước, ông cho đóng cửa tất cả những tổ chức Công giáo không có chức năng tôn giáo nghiêm chỉnh. Giáo sĩ, nữ tu, và những lãnh đạo giáo dân là mục tiêu, với hàng ngàn người bị bắt giữ trong những năm tiếp theo, thường là bị vu về tội buôn lậu ngoại tệ hoặc là phi đạo đức. Một vài lãnh đạo giáo dân tiêu biểu đã là mục tiêu của vụ ám sát Đêm của những con dao dài năm 1934. Hầu hết các đoàn thanh niên Công giáo đều từ chối tự động giải thể và thủ lĩnh của Đoàn Thanh niên Hitler Baldur von Schirach đã khuyến khích đoàn viên của mình tấn công những thanh thiếu niên Công giáo trên đường phố. Các chiến dịch tuyên truyền của Quốc xã cáo buộc giáo hội tham nhũng, hội họp công cộng bị hạn chế, và những ấn phẩm Công giáo phải qua kiểm duyệt. Trường học Công giáo bị yêu cầu bớt giảng dạy về tôn giáo và hình tượng thánh giá bị gỡ bỏ khỏi những tòa nhà quốc gia.
Giáo hoàng Piô VI đã lén gửi thông tri "Mit brennender Sorge" đến Đức cho ngày Chủ nhật thụ hình năm 1937 và nó đã được đọc lên trên mọi tòa giảng. Nội dung thông điệp lên án sự thù địch có hệ thống của chế độ nhằm vào giáo hội. Đáp trả lại, Goebbels tiếp tục đàn áp thẳng tay và tuyên truyền chống lại Công giáo. Đầu vào các trường học của giáo phái giảm mạnh, và đến năm 1939 tất cả những trường này đều bị giải thể hoặc chuyển đổi thành cơ sở công cộng. Một trong những sự phản kháng sau này diễn ra vào ngày 22 tháng 3 năm 1942 khi những giám mục Đức phát đi một bức thư gửi con chiên về "Cuộc đấu tranh chống lại Kitô giáo và Giáo hội". Tỉ lệ linh mục Công giáo bị cảnh sát kỷ luật trong thời Quốc xã là khoảng 30%. Chế độ thiết lập nên một mạng lưới an ninh rộng lớn do thám hoạt động của giáo sĩ, và những linh mục thường xuyên bị tố cáo, bắt giữ, hoặc chuyển đến các trại tập trung – nhiều người bị đưa đến doanh trại dành cho giáo sĩ ở Dachau. Tại vùng lãnh thổ Ba Lan sát nhập năm 1940, Quốc xã phát động một chiến dịch đàn áp tàn bạo và dỡ bỏ có hệ thống Giáo hội Công giáo.
=== Y tế ===
Đức Quốc xã có phong trào chống thuốc lá mạnh. Nghiên cứu tiên phong của Franz H. Müller năm 1939 đã chứng minh mối quan hệ nhân quả giữa hút thuốc lá và ung thư phổi. Cơ quan Y tế Đế chế đã tiến hành các biện pháp nhằm nỗ lực hạn chế vấn đề này. Hút thuốc bị cấm ở nhiều nơi làm việc, trên tàu hỏa, và giữa các thành viên trong quân đội khi đang làm nhiệm vụ. Các cơ quan chính phủ cũng tiến hành kiểm soát những loại chất gây ung thư khác như a-mi-ăng và thuốc diệt hại. Lọc sạch nguồn nước, loại bỏ chì và thủy ngân ra khỏi những sản phẩm tiêu dùng, và kêu gọi nữ giới thường xuyên đi xét nghiệm ung thư vú là một phần trong chiến dịch y tế công cộng tổng quát được Quốc xã thực hiện.
Kể từ năm 1933, người Do Thái không còn là đối tượng được hưởng các chương trình bảo hiểm chăm sóc sức khỏe do chính phủ điều hành. Cũng trong năm 1933, bác sĩ Do Thái bị cấm không được điều trị cho những bệnh nhân có bảo hiểm của chính phủ. Đến năm 1937 bác sĩ Do Thái chỉ còn được chữa trị cho những bệnh nhân là người Do Thái, và sang năm tiếp theo Quốc xã đã tước đoạt toàn bộ quyền hành nghề y của họ.
Các thí nghiệm y khoa, đa phần không có tính khoa học, bắt đầu được tiến hành trên cơ thể của những tù nhân trong trại tập trung từ năm 1941. SS-Hauptsturmführer (Đại úy SS), bác sĩ Josef Mengele là nhân vật khét tiếng nhất về các thí nghiệm y khoa. Trong quãng thời gian phục vụ tại trại tập trung Auschwitz, đã có rất nhiều nạn nhân là vật thí nghiệm của Mengele chết hoặc bị giết một cách có chủ ý. Tù nhân sẵn có còn được dành cho các công ty dược phẩm mua lại để phục vụ mục đích thử nghiệm thuốc và những thí nghiệm khác.
=== Vai trò của phụ nữ và gia đình ===
Nữ giới là nền tảng trong chính sách xã hội của Đức Quốc xã. Những người Quốc xã chống lại bình đẳng giới, khẳng định rằng nó là sự sáng tạo của trí tuệ Do Thái, và thay vào đó họ ủng hộ một xã hội phụ quyền, trong đó phụ nữ Đức sẽ nhận thức rằng "thế giới là chồng, là gia đình, là những đứa con, và là ngôi nhà của mình". Không lâu sau khi lên nắm quyền, Quốc xã đã giải tán hoặc sát nhập các nhóm bình đẳng giới vào với Liên đoàn Phụ nữ Quốc gia Xã hội chủ nghĩa. Tổ chức này kết hợp các hội nhóm trên khắp đất nước để thúc đẩy bổn phận làm mẹ và các hoạt động trong gia đình. Phụ nữ được đề nghị tham gia các khóa học về nuôi con, may vá, nấu ăn. Liên đoàn cho xuất bản NS-Frauen-Warte, tạp chí dành cho phụ nữ duy nhất được đảng Quốc xã phê chuẩn tại Đức. Mặc dù có một vài khía cạnh tuyên truyền, nó chủ yếu vẫn là một tạp chí bình thường cho phụ nữ.
Quốc xã khuyến khích nữ giới rời khỏi lực lượng lao động, đẩy mạnh việc tạo ra những gia đình đông đúc từ người phụ nữ phù hợp về chủng tộc thông qua một chiến dịch tuyên truyền. Người phụ nữ sẽ được tặng một huân chương bằng đồng, biết đến với tên gọi Ehrenkreuz der Deutschen Mutter (Thập tự Danh dự của Người mẹ Đức), nếu sinh được bốn đứa con, bạc với sáu, và vàng nếu sinh được từ tám đứa con trở lên. Chế độ trao những khoản trợ cấp đến các gia đình đông người để giúp họ mua sắm đồ đạc tiện ích, chi tiêu trong gia đình, và đóng học phí cho con. Dù các biện pháp dẫn tới tỉ lệ sinh tăng, số gia đình có từ bốn con trở lên năm 1940 đã giảm 5% so với năm 1935. Việc khai trừ nữ giới ra khỏi lực lượng lao động để giúp nam giới có thêm việc làm không đạt hiệu quả như dự kiến. Nữ giới là thành phần lao động chủ yếu trong các lĩnh vực như người hầu trong gia đình, dệt may, hoặc trong các ngành công nghiệp đồ uống và thực phẩm — những công việc không phù hợp với nam giới. Triết lý của Quốc xã ngăn cấm thuê một số lượng lớn phụ nữ vào làm việc trong các nhà máy đạn dược ở giai đoạn hình thành nên chiến tranh, bởi vị trí đó dành cho những lao động nước ngoài. Sau khi cuộc chiến bùng phát, lao động nô lệ được sử dụng rộng rãi. Vào tháng 1 năm 1943 Hitler ký một nghị định trong đó yêu cầu tất cả nữ giới tuổi dưới 50 đến trình diện để nhận những nhiệm vụ có tính hỗ trợ cho nỗ lực chiến tranh của Quốc xã. Tiếp đó, nữ giới bị đổ vào làm trong lĩnh vực công và nông nghiệp. Đến tháng 9 năm 1944, đã có 14,9 triệu phụ nữ làm việc trong ngành sản xuất đạn dược.
Chế độ Quốc xã không khuyến khích nữ giới theo đuổi giáo dục bậc cao. Những lãnh đạo Quốc xã giữ quan điểm bảo thủ về phụ nữ và tán thành ý niệm rằng công việc có tính lý thuyết và dựa trên lý trí là không quen thuộc với bản chất của người phụ nữ, vì họ được cho là vốn hành động theo cảm xúc và bản năng – như vậy, theo đuổi học tập và danh vọng sẽ chỉ "làm chệch họ khỏi bổn phận làm mẹ". Một đạo luật thông qua vào tháng 4 năm 1933 đã giới hạn tỉ lệ nữ sinh được phép đăng ký vào đại học ở mức tối đa 10% so với số nam tham dự, điều này khiến đầu vào là nữ ở bậc đại học giảm mạnh. Ở cấp trung học, đầu vào nữ đã giảm từ 437.000 năm 1926 xuống 205.000 năm 1937. Số nữ sinh được tuyển vào các trường sau trung học cũng giảm từ 128.000 năm 1933 xuống 51.000 năm 1938. Tuy nhiên, với việc nam giới phải gia nhập các lực lượng vũ trang trong chiến tranh, đến năm 1944 tỉ lệ nữ sinh đã chiếm phân nửa số đầu vào ở các hệ thống sau trung học.
Quốc xã mong đợi phụ nữ sẽ trở nên mạnh mẽ, khỏe khoắn và năng động. Nữ nông dân cường tráng làm công việc đồng áng và những đứa trẻ sinh ra khỏe mạnh được xem là lý tưởng; và nữ vận động viên điền kinh được ca ngợi vì làn da rám nắng do thường xuyên hoạt động ngoài trời. Các tổ chức được thành lập để truyền bá nguyên tắc, tiêu chuẩn của Quốc xã. Từ ngày 25 tháng 3 năm 1939, tất cả trẻ em, thanh thiếu niên trên 10 tuổi đều buộc phải gia nhập Đoàn Thanh niên Hitler. Bộ phận Jungmädelbund (Liên đoàn Thiếu nữ Trẻ) của đoàn dành cho bé gái tuổi từ 10 đến 14, và Bund Deutscher Mädel (BDM; Liên đoàn Thiếu nữ Đức) dành cho các cô gái tuổi từ 14 đến 18. Chương trình của BDM tập trung vào giáo dục thể chất, với các hoạt động như chạy, nhảy xa, nhào lộn, đi trên dây, diễu hành, và bơi lội.
Chế độ Quốc xã xúc tiến một bộ quy tắc đạo đức liên quan đến vấn đề giới tính và không phản đối những người phụ nữ sinh con ngoài giá thú. Tình trạng quan hệ giới tính phức tạp gia tăng trong chiến tranh, với những binh sĩ chưa kết hôn thường dính líu mật thiết với vài người phụ nữ cùng lúc. Điều tương tự cũng xảy ra với những phụ nữ đã kết hôn có mối liên hệ với binh lính, thường dân, và lao động nô lệ. Tình dục đôi khi được sử dụng như một công cụ để giành được thứ gì đó, ví dụ, việc làm tốt hơn từ lao động phổ thông nước ngoài. Quốc xã ra lệnh phụ nữ Đức phải tránh những mối quan hệ thể xác với lao động nước ngoài, điều này được xem là vấn nạn nguy hiểm đối với dòng dõi Đức.
Với sự chấp thuận của Hitler, Himmler mong đợi xã hội mới của chế độ Quốc xã sẽ không có cái nhìn kỳ thị với những trường hợp sinh ra bất hợp pháp, đặc biệt là những đứa trẻ có cha mẹ là thành viên SS, đối tượng đã được thẩm tra kỹ lưỡng về sự thuần khiết chủng tộc. Himmler kỳ vọng mỗi thành viên SS sẽ có từ bốn đến sáu đứa con. Hiệp hội Lebensborn (Nguồn Sống) được Himmler thành lập năm 1935 đã xây dựng nên một loạt nhà hộ sinh, địa điểm mà những bà mẹ đơn thân có thể nhận sự trợ giúp trong quá trình mang thai. Trước khi được chấp nhận, cả hai cha mẹ đều phải trải qua một cuộc kiểm tra tính phù hợp của chủng tộc. Những đứa trẻ sinh ra thường sẽ thuộc về gia đình SS. Các căn nhà này cũng dành cho vợ của đảng viên Quốc xã và thành viên SS, thành phần đã nhanh chóng chiếm lĩnh hơn nửa số vị trí sẵn có.
Chế độ Quốc xã thực thi nghiêm khắc các đạo luật ngăn cấm phá thai, ngoại trừ những lý do về mặt y khoa. Số trường hợp phá thai đã giảm từ 35.000 ca/năm trong giai đoạn đầu thập niên 1930 xuống 2.000 ca/năm trong cuối thập niên. Vào năm 1935 một đạo luật thông qua đã cho phép nạo phá phai đối với những trường hợp có lý do liên quan đến thuyết ưu sinh.
=== Môi trường ===
Xã hội Quốc xã có những thành phần hỗ trợ quyền lợi động vật, ở đó có nhiều người yêu thích vườn thú và các loài hoang dã. Chính quyền đã tiến hành một số biện pháp để bảo vệ môi trường và động vật. Vào năm 1933, những người Quốc xã ban hành một đạo luật bảo vệ động vật khắt khe, nó có tác động đến việc phân loại những loài được phép nghiên cứu y tế. Tuy nhiên luật này chỉ được thực thi một cách lỏng lẻo. Bất chấp lệnh cấm giải phẫu động vật sống, Bộ Nội vụ vẫn sẵn sàng trao giấy phép cho những thí nghiệm trên động vật.
Bộ Lâm nghiệp Đế chế do Göring đứng đầu thi hành những quy tắc trong đó yêu cầu cán bộ lâm nghiệp trồng nhiều loại cây để bảo đảm môi trường sống phù hợp cho động vật hoang dã. Chế độ ban hành Luật Bảo vệ Thiên nhiên Đế chế vào năm 1935 nhằm bảo vệ cảnh quan thiên nhiên trước sự phát triển quá mức của nền kinh tế. Luật này cho phép sung công đất thuộc sở hữu tư để tạo ra những khu bảo tồn thiên nhiên và hỗ trợ cho việc lập các kế hoạch dài hạn. Chính quyền thực thi những nỗ lực một cách hời hợt để hạn chế tình trạng ô nhiễm không khí, và việc thi hành các đạo luật trở nên ít có tính bắt buộc khi chiến tranh nổ ra.
== Văn hóa ==
Chế độ xúc tiến quan niệm Volksgemeinschaft, một cộng đồng dân tộc của nước Đức. Mục tiêu là tạo dựng một xã hội không giai cấp căn cứ vào tính thuần khiết của chủng tộc và sự nhận thức cần thiết để chuẩn bị cho chiến tranh, chinh phục, và một cuộc đấu tranh chống lại chủ nghĩa Marx. Vào năm 1933, Mặt trận Lao động Đức thành lập ra tổ chức Kraft durch Freude (KdF) (tạm dịch: Sức mạnh cho tới Niềm vui). Bên cạnh tiếp quản hàng chục ngàn câu lạc bộ giải trí tư nhân trước đây, tổ chức này còn cung cấp những kỳ nghỉ theo đoàn lớn và trải nghiệm giải trí như đi chơi biển, điểm đến du lịch, và các buổi hòa nhạc.
Vào tháng 9 năm 1933, Quốc xã thành lập Reichskulturkammer (Phòng/Ban Văn hóa Đế chế) và đặt nó dưới sự kiểm soát của Bộ Tuyên truyền. Các phụ ban được thiết lập để kiểm soát những mặt khác nhau của đời sống văn hóa, như phim ảnh, phát thanh, báo chí, mĩ thuật, âm nhạc, kịch nghệ, và văn học. Mọi người dân bị yêu cầu gia nhập phụ ban tương ứng với nghề nghiệp của họ. Người Do Thái và những đối tượng được xem là không đáng tin về mặt chính trị bị cấm làm việc trong ngành nghệ thuật, và nhiều người đã chuyển sang làm lĩnh vực khác. Sách và bản thảo phải được Bộ Tuyên truyền phê duyệt trước khi xuất bản.
Sóng vô tuyến (radio) trở nên rất phổ biến tại Đức trong thập niên 1930, với hơn 70% hộ gia đình sở hữu một máy thu vào năm 1939, nhiều hơn bất kỳ nước nào khác. Quốc xã thanh lọc đội ngũ nhân viên của các trạm phát thanh trong năm 1933, khai trừ những người phe tả và những đối tượng không mong muốn khác. Tuyên truyền và diễn thuyết trở thành nội dung chủ yếu trên sóng phát thanh ngay lập tức sau khi Quốc xã lên nắm quyền, nhưng sau một thời gian Goebbels khẳng định âm nhạc sẽ được phát nhiều hơn để người dân không chuyển sang các chương trình giải trí nước ngoài.
Cũng như các phương tiện truyền thông khác, báo chí bị chính quyền kiểm soát, với việc Ban Báo chí Đế chế dẹp bỏ hoặc mua lại những tòa soạn báo và nhà xuất bản. Đến năm 1939 Bộ Tuyên truyền trực tiếp sở hữu hơn hai phần ba số báo và tạp chí. Tờ báo hàng ngày của đảng Quốc xã, Völkischer Beobachter (Quan sát viên Sắc tộc), do Alfred Rosenberg làm chủ biên. Rosenberg là tác giả cuốn Bí mật Thế kỷ 20, một cuốn sách về học thuyết chủng tộc tán thành tính ưu việt của chủng tộc Bắc Âu. Goebbels kiểm soát các hãng thông tấn và nhấn mạnh rằng báo chí ở Đức chỉ nên xuất bản những nội dung có lợi cho chế độ. Bộ tuyên truyền của Goebbels phát đi khoảng hơn 20 chỉ thị mỗi tuần về việc nên xuất bản những tin tức nào hay quan điểm nào nên được sử dụng; các báo tiêu biểu tuân thủ chỉ thị hết sức chặt chẽ. Số độc giả báo chí giảm mạnh, một phần vì chất lượng nội dung giảm, và một phần vì mức độ phổ biến gia tăng của đài phát thanh.
Các tác giả sách rời bỏ đất nước và một số người đã viết tài liệu phê phán mạnh mẽ chế độ khi đang lưu vong. Goebbels khuyên nhủ các tác giả còn lại nên tập trung vào chủ đề thần thoại Đức và tư tưởng Blut und Boden (máu và đất). Đến cuối năm 1933 chế độ Quốc xã đã cấm lưu truyền hơn một ngàn cuốn sách, đa phần chúng là của các tác giả Do Thái hoặc thể hiện tính chất Do Thái.
Hitler có mối quan tâm đến kiến trúc, ông làm việc gần gũi với hai kiến trúc sư Paul Troost và Albert Speer để tạo ra những tòa nhà công cộng mang phong cách tân cổ điển dựa theo kiến trúc La Mã. Speer đã dựng lên các công trình hoành tráng như Khuôn viên đại hội đảng Quốc xã tại Nuremberg và Phủ Thủ tướng Đế chế mới ở Berlin. Trong kế hoạch tái xây dựng Berlin của Hitler có bao gồm một tòa mái vòm khổng lồ dựa theo mái vòm ở Đền Pantheon tại Rome và một khải hoàn môn cao hơn gấp đôi Arc de Triomphe ở Paris. Cả hai công trình này đều chưa từng được xây dựng.
Hitler cảm thấy rằng nghệ thuật trừu tượng, phong trào Dada, chủ nghĩa biểu hiện và nghệ thuật hiện đại là suy đồi, một quan niệm đã trở thành nền tảng cho chính sách. Rất nhiều giám đốc bảo tàng nghệ thuật bị mất chức trong năm 1933 và thay thế là các đảng viên Quốc xã. Chính quyền gỡ bỏ khoảng 6.500 tác phẩm nghệ thuật hiện đại khỏi các bảo tàng và thay bằng các tác phẩm do hội đồng Quốc xã lựa chọn. Đến năm 1935, những triển lãm trưng bày tác phẩm bị loại bỏ, dưới tên gọi như là "Suy đồi trong Nghệ thuật" đã được tiến hành tại 16 thành phố khác nhau. Triển lãm nghệ thuật suy đồi do Goebbels tổ chức diễn ra từ tháng 7 đến tháng 11 năm 1937 tại Munich tỏ ra rất được ưa chuộng và nó đã thu hút hơn hai triệu lượt khách tham quan.
Quốc xã bổ nhiệm nhà soạn nhạc Richard Strauss làm chủ tịch Reichsmusikkammer (Ban Âm nhạc Đế chế) thành lập tháng 11 năm 1933. Cũng như ở các hình thức nghệ thuật khác, Quốc xã khai trừ những nhạc sĩ không thuộc chủng tộc được chấp nhận, và đa phần không ủng hộ âm nhạc quá hiện đại hay atonal (nhạc không theo điệu thức). Nhạc Jazz được xem là đặc biệt không phù hợp, và những nhạc sĩ nước ngoài của thể loại này đã tự động rời nước Đức hoặc bị trục xuất. Hitler thích nhạc của Richard Wagner, đặc biệt là những phần nhạc dựa trên thần thoại Đức và những câu chuyện anh hùng; ông tham dự Festival Bayreuth hàng năm kể từ năm 1933.
Phim ảnh là phổ biến ở Đức trong thập niên 1930 và 1940. Vào năm 1934 các quy định hạn chế xuất khẩu tiền tệ khiến các nhà làm phim Mỹ không thể chuyển những khoản lợi nhuận về nước, nên rất nhiều hãng phim lớn đã đóng cửa chi nhánh của họ ở Đức. Số lượng phim Đức xuất khẩu giảm mạnh bởi chúng chứa nặng nội dung bài Do Thái. Bộ Tuyên truyền đã mua lại hai hãng phim lớn nhất, Universum Film AG và Tobis, đây là các hãng sản xuất ra phần lớn số lượng phim của Đức. Tính chất tuyên truyền không phải lúc nào cũng công khai trong các bộ phim, nhưng nhìn chung là có ẩn ý chính trị theo sau là các quy tắc của đảng liên quan đến chủ đề và nội dung. Mọi kịch bản đều được qua kiểm duyệt từ trước.
Hai bộ phim Triumph of the Will của Leni Riefenstahl (1935) ghi lại kỳ Đại hội Nuremberg 1934, và Olympia (1938) với chủ đề về Thế vận hội mùa hè 1936 tiên phong áp dụng kỹ thuật chuyển động máy quay và chỉnh sửa, điều này tạo ảnh hưởng lên các phim về sau. Những công nghệ mới như ống kính quay xa và gắn khung camera được sử dụng. Cả hai phim vẫn gây tranh cãi, bởi sự xuất sắc về mặt hình ảnh là không thể tách rời khỏi việc tuyên truyền những lý tưởng Quốc xã của họ.
== Di sản ==
Phe Đồng Minh chiến thắng đã tổ chức các phiên tòa xét xử tội ác chiến tranh, khởi đầu là Nuremberg diễn ra từ tháng 11 năm 1945 đến tháng 10 năm 1946 xét xử 23 thủ lĩnh Quốc xã hàng đầu. Họ bị cáo buộc bốn tội danh: âm mưu tiến hành tội ác, tội ác chống lại hòa bình, tội ác chiến tranh, và tội ác chống lại loài người, trong sự vi phạm luật pháp quốc tế chủ đạo về chiến tranh. Kết quả 12 bị cáo bị kết án tử hình, bảy người nhận án tù (từ 10 năm đến chung thân), ba trắng án, và hai không bị buộc tội. Phe Đồng Minh đã cấm đảng Quốc xã và các tổ chức liên quan. Việc trưng bày hay sử dụng những biểu tượng Quốc xã như cờ, chữ Vạn, hay kiểu chào, là bất hợp pháp tại Đức và Áo.
Ý thức hệ Quốc xã và những điều mà chế độ từng làm, hầu như tất cả mọi người đều cho rằng chúng là cực kỳ vô đạo. Hitler, chủ nghĩa Quốc xã, và cuộc diệt chủng Holocaust trở thành những biểu tượng của quỷ dữ trong thế giới hiện đại. Thời gian trôi qua, đề tài Đức Quốc xã vẫn tiếp tục thu hút mối quan tâm đối với truyền thông đại chúng và giới học thuật. Nhà sử học Richard J. Evans bình luận đó là thời đại "lôi cuốn gần như toàn bộ vì những quan điểm phân biệt chủng tộc và tàn sát của nó như một lời cảnh tỉnh đến toàn thể nhân loại."
Thời đại Quốc xã vẫn tiếp tục gửi thông điệp đến cho người dân Đức về việc họ nhìn nhận bản thân và đất nước của họ như thế nào. Hầu hết mọi gia đình đều chịu tổn thất trong chiến tranh và có một câu chuyện để kể. Trong nhiều năm, người Đức giữ im lặng về những trải nghiệm và cảm thấy tội lỗi, thậm chí cả khi họ không trực tiếp tham gia vào những tội ác. Sau khi đề tài về Đức Quốc xã được giới thiệu trong chương trình giảng dạy từ thập niên 1970, mọi người bắt đầu nghiên cứu trải nghiệm của các thành viên trong gia đình họ. Việc nghiên cứu về thời đại Quốc xã và việc sẵn sàng xem xét phê phán những lỗi lầm của nó đã dẫn tới sự phát triển của một nền dân chủ mạnh ở Đức ngày nay, nhưng đâu đó bên cạnh vẫn là tư tưởng bài Do Thái và tân Quốc xã ngầm còn sót lại.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
=== Thư mục ===
=== Tài liệu lịch sử ===
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Wikimedia Atlas của Germany, có một số bản đồ liên quan đến Germany.
Third Reich in Ruins (Ảnh)
Lebendiges Museum Online (tiếng Đức)
Nazi Propaganda: 1933–1945 (tiếng Anh) |
darmstadti.txt | Darmstadti (phát âm như "đam-xtat-ti"), trước đây được gọi là ununnili, là nguyên tố hoá học tổng hợp với ký hiệu Ds (trước đây Uun) và số nguyên tử 110. Nó nằm ở vị trí nguyên tố nặng nhất trong nhóm 10 nhưng đồng vị bền đầy đủ chưa được biết đến để cho phép tiến hành các thí nghiệm để xác định vị trí của nó. Nguyên tố tổng hợp này là một trong các nguyên tử siêu nặng và được tổng hợp đầu tiên năm 1994. Đồng vị nặng và tồn tại lâu nhất là 281aDs có chu kỳ bán rã ~10 giây mặc dù có thể đây là đồng phân hạt nhân, 281bDs có chu kỳ bán rã chưa được xác nhận là khoảng 4 phút.
== Lịch sử ==
=== Phát hiện ===
Darmstadti được tổng hợp đầu tiên ngày 9 tháng 11 năm 1994 tại Gesellschaft für Schwerionenforschung (GSI) ở Wixhausen, ngoại ô phía bắc của Darmstadt, Đức bởi Peter Armbruster và Gottfried Münzenberg, dưới sự hướng dẫn của giáo sư Sigurd Hofmann. Bốn nguyên tử của nó được phát hiện bằng phản ứng tổng hợp hạt nhân khi bắn phá chì-208 bằng các ion niken-62:
20882Pb + 6228Ni → 269110Ds + 10n
Trong cùng loạt thí nghiệm, chính nhóm này cũng đã tiến hành phản ứng dùng các ion niken-64 nặng hơn. Theo đó, 9 nguyên tử 271Ds được phát hiện bởi sự tương quan với các tính chất phân rã sinh kèm:
20882Pb + 6428Ni → 271110Ds + 10n
IUPAC/IUPAP Joint Working Party (JWP) đã công nhận nhóm GSI phát hiện ra nguyên tố này năm 2001.
=== Đặt tên ===
Nguyên tố 110 đầu tiên được đặt tên tạm thời là ununnilium (/ˌjuːnəˈnɪliəm/ hay /ˌʌnəˈnɪliəm/, ký hiệu Uun). Khi công nhận nhóm những người phát hiện, thì nhóm ở GSI đề nghị đặt tên là darmstadti (Ds) và wixhausi (Wi) cho nguyên tố 110 này. Họ quyết định chọn tên darmstadti, theo tên thành phố gần nơi phát hiện ra nó, Darmstadt, chứ không phải ngoại ô Wixhausen. Tên gọi của nguyên tố mới được chính thức chấp nhận ngày 16 tháng 8 năm 2003.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Darmstadtium.com
WebElements.com: Darmstadtium
IUPAC: Element 110 is named darmstadtium
Apsidium: Darmstadtium 110
[Eric Scerri, The Periodic Table, Its Story and Its Significance, Oxford University Press, 2007] |
âm đạo.txt | Âm đạo (tiếng Latinh: vagina, tiếng Hy Lạp: kolpos) là phần mô cơ và ống của cơ quan sinh dục nữ, đối với con người kéo dài từ âm hộ đến cổ tử cung. Bên ngoài cửa âm đạo có thể được bao phủ một phần bởi một màng được gọi là màng trinh. Tận cùng bên trong là cổ tử cung nối vào âm đạo. Âm đạo cho phép con người quan hệ tình dục và sinh sản, để kinh nguyệt chảy ra định kỳ theo chu kỳ kinh nguyệt.
Âm đạo ở người được nghiên cứu kỹ hơn so với các động vật khác. Vị trí và cấu trúc của âm đạo thay đổi giữa các loài, và có thể thay đổi kích thước trong cùng một loài. Không giống như động vật có vú giống đực với niệu đạo mở ra ngoài đảm nhiệm cả hai chức năng tiểu tiện và sinh sản, động vật có vú giống cái có lỗ niệu đạo để tiểu tiện riêng biệt và cửa âm đạo dành cho đường sinh dục. Đối với con người, cửa âm đạo lớn hơn nhiều so với lỗ niệu đạo gần đó, và cả hai đều được các môi âm hộ bảo vệ. Đối với động vật lưỡng cư, chim, bò sát và động vật đơn huyệt, lỗ huyệt là cửa ra bên ngoài duy nhất cho cả ba đường: tiêu hóa, tiết niệu và sinh sản.
Liên quan đến hoạt động tình dục, độ ẩm âm đạo tăng lên trong quá kích thích tình dục cho cả phụ nữ và động vật có vú giống cái khác. Khi tiết ra chất nhờn bôi trơn, âm đạo đã làm giảm ma sát và cho phép dương vật thâm nhập vào âm đạo dễ dàng khi hoạt động tình dục. Kết cấu của thành âm đạo tạo ra ma sát cho dương vật trong khi giao hợp tình dục và kích thích nó đến khi xuất tinh, cho phép việc thụ tinh xảy ra. Cùng với hạnh phúc và sự gắn kết lứa đôi, hành vi tình dục ở phụ nữ, trong đó có thể bao gồm các hoạt động tình dục dị tính hay đồng tính nữ, cũng có thể đi kèm với nguy cơ nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục, khi đó việc thực hành tình dục an toàn được khuyến khích thực hiện. Một số rối loạn cũng có thể ảnh hưởng đến âm đạo con người.
Nhận thức về văn hóa của âm đạo đã được duy trì trong suốt lịch sử loài người, từ việc xem âm đạo là trọng tâm của ham muốn tình dục, một ẩn dụ cho cuộc sống thông qua việc sinh nở, sự mặc cảm khi so sánh với dương vật, hoặc sự xấu xí trực quan hoặc hàm nghĩa thô tục bậy bạ. Trong văn nói thông thường, từ âm đạo thường dùng để chỉ âm hộ mặc dù không đúng, điều này có thể dẫn đến nhận thức sai về cơ quan sinh dục nữ.
== Cấu tạo ==
=== Phát triển ===
Các lớp âm đạo, tiền thân của phần dưới của âm đạo, là sự phát triển của mô phát sinh sự hình thành của âm đạo; nó nằm ở chỗ các đỉnh rắn của ống paramesonephric (ống Müller) đi vào tường vây lưng của xoang niệu sinh dục. Tăng trưởng của lớp âm đạo không bị cản trở vì nó cách xa cổ tử cung và các xoang niệu sinh dục; sau cùng thì các tế bào trung tâm của lớp phân hủy để tạo thành lớp trong âm đạo. Cho đến tuần thứ 20-24 của thai kỳ, âm đạo không được hình thành hình ống đầy đủ. Nếu nó không phát triển đầy đủ, septae khác nhau có thể hình thành, gây tắc nghẽn kinh nguyệt sau này.
Do không có testosterone trong quá trình phát triển giới tính của sự khác biệt giữa nam và nữ, các xoang niệu sinh dục vẫn tồn tại như mặt trước của âm đạo, hai nếp gấp niệu sinh dục (cơ cấu hình trục được kéo dài ra góp phần vào việc hình thành các rãnh niệu đạo trên bụng dưới của phần sinh dục) hình thành môi nhỏ, và labioscrotal phồng to để tạo thành môi lớn.
Có cuộc tranh luận về việc phần nào của âm đạo được hình thành từ các ống Müller và phần nào của nó được hình thành từ các xoang niệu sinh dục do sự tăng trưởng của các bóng sinovaginal. Sách giáo khoa Sản khoa và Phụ khoa bang Dewhurst ghi lại: "Một số người tin rằng trên 4/5 âm đạo được hình thành bởi các ống Müller và dưới 1/5 là do các xoang niệu sinh dục, trong khi những người khác tin rằng sự phát triển của xoang này kéo dài đến cổ tử cung thay thế hoàn toàn ống Müller, nên âm đạo có được phát triển hoàn toàn từ nội bì của xoang niệu sinh dục". Sách cũng cho biết thêm, "Dường như chắc chắn một phần của âm đạo có nguồn gốc từ các xoang niệu sinh dục, nhưng việc âm đạo có nguồn gốc từ ống Müller hay không thì vẫn chưa xác định rõ."
Âm đạo của con người phát triển thành một ống cơ đàn hồi kéo dài từ âm hộ đến cổ tử cung. Nó có màu hồng đỏ, và nó nối từ âm hộ đến cổ tử cung. Âm đạo nằm phía sau niệu đạo và bàng quang, trên đỉnh đáy chậu và phía sau cổ tử cung; cổ tử cung tạo với âm đạo một góc khoảng 90 độ. Cửa âm đạo và niệu đạo mở được bảo vệ bởi các môi âm hộ.
=== Phân lớp và vùng ===
Thành của âm đạo từ trong ra ngoài bao gồm trước hết là một niêm mạc với biểu mô vảy phân tầng không có keratin hóa với một propria nằm bên dưới phiến lá của mô liên kết, thứ nhì là một lớp cơ trơn với bó sợi tròn nội bộ nằm trong các sợi dọc, và thứ ba là một lớp mô liên kết bên ngoài gọi là adventitia. Một số sách liệt kê bốn lớp bằng cách đếm riêng hai lớp con của niêm mạc (biểu mô và lamina propria) riêng biệt. Các propria lá có rất nhiều mạch máu và các mạch bạch huyết. Lớp cơ gồm các sợi cơ trơn, với một lớp bên ngoài của cơ dọc, một lớp bên trong của cơ tròn, và các sợi cơ xiên giữa. Lớp bên ngoài - các adventitia - là một lớp dày đặc mỏng gồm các mô liên kết, và nó kết hợp với mô có chứa các mạch máu liên kết yếu, mạch bạch huyết và các dây thần kinh, sau này trở thành các cơ quan nằm trong vùng chậu.
Niêm mạc tạo thành nếp gấp rugae, những nếp này nổi bật hơn trong phần thứ ba của âm đạo; chúng xuất hiện như các đường lằn ngang và chức năng của chúng là làm cho âm đạo có khả năng tăng diện tích bề mặt để giãn rộng và kéo dài. Tại vị trí mặt trong âm đạo bao quanh cổ tử cung, nó được chia thành bốn vùng liên tục hoặc fornix âm đạo; các vùng này là những fornix trước, sau, bên phải, và bên trái. Các fornix sau sâu hơn fornix trước. Trong khi các thành trước và sau được xếp cạnh nhau, các thành bên, đặc biệt là vùng ở giữa, tương đối cứng; vì thế nên âm đạo có mặt cắt ngang hình chữ H. Phía sau, một phần tư phía trên của âm đạo được tách biệt khỏi trực tràng bằng túi recto tử cung. Bề ngoài, ở phía trước của xương mu, một lớp mỡ được gọi là mons pubis tạo thành phần trên cùng của âm hộ.
Âm đạo là một ống rỗng, thành ống là niêm mạc, dài 8 - 10 cm ở trạng thái bình thường, có khả năng co giãn rất tốt. Âm đạo nằm bên trong âm hộ, thuộc cơ quan sinh dục ngoài, nằm trong thành môi nhỏ, phía dưới lỗ niệu đạo và phía trên hậu môn.
Phần dưới cửa âm đạo (tiếng Latinh: Ostium vaginae), hướng hậu môn có các tuyến Bartholine (en:Bartholin's gland) tiết ra chất nhờn âm đạo, không màu khi người phụ nữ chịu kích thích tình dục, giúp bạn tình dễ đưa dương vật vào ngưỡng ngoài âm đạo (tiếng Latinh: Vestibulum vaginae). Cuối ống âm đạo bên trong cơ thể là cửa tử cung.
Phần lớn, phụ nữ khi chưa giao hợp có màng trinh (hymen) che âm đạo. Màng trinh không che kín hoàn toàn âm đạo, do nó có các lỗ nhỏ trên màng để thoát kinh nguyệt.
Cửa ngoài của âm đạo gọi là âm hộ. Cơ thành âm hộ có hình lưới, trơn. Phần cuối âm hộ có các sợi cơ nằm ngang, có tác dụng co bóp mạnh. Thành âm hộ được lưu thông nhiều máu, có nhiều nhánh dây thần kinh và dày đặc các mô collagen. Ở vị trí khoảng 1/3 chiều dài âm đạo từ cửa vào, trên thành trước có một vùng có lượng dây thần kinh lớn, gọi là "điểm G". Một số phụ nữ có thể dễ kích thích tình dục tại "điểm G" này, đến mức đạt cực khoái tình dục.
== Nhiệm vụ ==
Âm đạo đón nhận dương vật trong giao hợp, trong thụ tinh tự nhiên, là đường sinh con tự nhiên, đường thoát kinh nguyệt, là nơi bác sĩ phụ khoa khám cơ quan sinh dục trong và ngoài của phụ nữ, nơi có thể tự đo nhiệt độ âm đạo để xác định ngày rụng trứng.
== Tham khảo == |
đế quốc mali.txt | Đế quốc Mali (tiếng Manding: Nyeni; tiếng Anh: Niani), trong lịch sử cũng được đề cập với tên gọi Manden Kurufaba, là một đế chế Mandinka / Bambara ở Tây Phi từ khoảng năm 1230 đến năm 1600. Đế chế này được thành lập bởi Sundiata Keita và trở nên nổi tiếng vì sự giàu có của những người cai trị của nó, đặc biệt là Mansa Musa.
Đế chế Mali là đế chế lớn nhất ở Tây Phi và ảnh hưởng sâu sắc văn hóa của khu vực thông qua sự truyền bá của ngôn ngữ, luật pháp và phong tục cùng vùng đất tiếp giáp với sông Niger của nó, cũng như các khu vực khác bao gồm nhiều vương quốc chư hầu và các tỉnh.
== Đế quốc Mali ==
Tên gọi Mālī (مالي) được Ibn Battuta (năm 1368/9) ghi chép là tên của đế quốc. Theo Chihab al-Umari (năm 1384) cùng thời của Battuta, tên gọi đế quốc là Nyeni (Niani), theo tên thủ đô. Các biến thể khác của tên gọi Mali gồm có Mallel, Mel, và Melit.
Tên bản địa Manden của lãnh thổ à cùng tên của tên của dân tộc, Manden’ka, với tiếp vĩ ngữ ka nghĩa là "người dân của". Từ bằng chứng của Sử thi Sundiata, một ghi chép bán lịch sử về sự thành lập của đế chế đầu thế kỷ 13, lãnh thổ với tên này đã bao gồm phần lớn khu vực ngày nay là bắc Guinea và nam Mali. Đế quốc xuất phát từ một liên bang của các bộ lạc Bambara có tên gọi là Manden Kurufaba (Manden là đất nước, kuru là "tập hợp" và faba nghĩa là "nguyên vẹn vĩ đại"). Các vị vua cai trị của Mali được gọi là mansa, nghĩa là “hoàng đế” hay “chủ nhân.” Mansa Musa là vị hoàng đế được biết đến nhiều nhất của Mali, cai trị từ năm 1312 đến năm 1337. Ông là cháu nội của người anh em cùng cha khác mẹ của Sundiata, và đã cai trị Mali tại thời điểm Đế quốc này thịnh vượng nhất, trong thời kỳ đó mậu dịch tăng gấp ba lần. Dưới thời cai trị của ông, ông đã làm tăng gấp đôi diện tích đất của Mali; nó đã trở thành một vương quốc lớn hơn bất kỳ quốc gia nào ở châu Âu vào thời đó. Các thành phố của Mali đã trở thành các trung tâm thương mại quan trọng cho tất cả khu vực Tây Phi cũng như các trung tâm nổi tiếng về sự giàu có, văn hóa và học thuật. Timbuktu, một thành phố quan trọng ở Mali, đã trở thành một trong những trung tâm văn hóa lớn không chỉ của châu Phi mà của toàn thế giới. Các thư viện rộng lớn và các trường đại học Hồi giáo đã được xây dựng. Những nơi này đã trở thành nơi gặp gỡ của các nhà thơ, học giả, và các nghệ sĩ tốt nhất của châu Phi và Trung Đông. Mansa Musa, người theo Hồi giáo, được nhiều người biết đến nhiều nhất bên ngoài của Mali vì cuộc hành hương của ông đến thánh địa Mecca trong năm 1324. Theo một số ghi chép, 60.000 người cùng đi với ông, cùng với 200 con lạc đà chứa đầy vàng, bạc, thực phẩm, quần áo, và hàng hóa khác. Cuộc hành hương này biểu thị sự giàu có và hào phóng lớn Mansa Musa.
== Chú thích == |
terme.txt | Terme là một huyện thuộc tỉnh Samsun, Thổ Nhĩ Kỳ. Huyện có diện tích 456 km² và dân số thời điểm năm 2007 là 74833 người, mật độ 164 người/km².
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
“Geonames Database”. Cơ quan Tình báo Địa không gian Quốc gia. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011. |
giải trí.txt | Giải trí là hoạt động thẩm mỹ trong thời gian rỗi, nhằm giải tỏa căng thẳng trí não, tạo sự hứng thú cho con người và là điều kiện phát triển con người một cách toàn diện về trí tuệ, thể lực và thẩm mỹ.
== Hoạt động tinh thần ==
Hoạt động giải trí nằm trong hệ thống các loại hoạt động của con người; và là hoạt động duy nhất không gắn với nhu cầu sinh học nào.
Theo tác giả Đoàn Văn Chúc (Đoàn Văn Chúc., Xã hội học văn hóa., H. Nhà xuất bản Văn hóa- Thông tin, 1997, tr. 224-225), có bốn dạng hoạt động mà con người phải thực hiện, đó là:
Hoạt động lao động sản xuất để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của các cá nhân và của cả xã hội, Đó là nghĩa vụ xã hội của mỗi người.
Hoạt động thuộc các quan hệ cá nhân trong xã hội như chăm sóc con cái, chăm sóc gia đình, thăm viếng họ hàng, bạn bè… Đó là nghĩa vụ cá nhân của mỗi người.
Hoạt động thuộc đời sống vật chất của con người như nấu nướng, ăn uống, nghỉ ngơi, vệ sinh cá nhân… Đó là hoạt động thỏa mãn nhu cầu vật chất của mỗi người.
Hoạt động thuộc đời sống tinh thần của mỗi cá nhân như thưởng thức nghệ thuật, chơi các trò chơi, sinh hoạt tôn giáo… Đó là hoạt động thỏa mãn nhu cầu tinh thần của mỗi người.
Giải trí là dạng hoạt động cuối cùng trong số bốn dạng hoạt động trên. Nó mang tính chất tự do hơn các dạng hoạt động còn lại. Vì không gắn với nhu cầu sinh học nào, nó không hề mang tính cưỡng bức; con người có quyền lựa chọn theo sở thích, trong khuôn khổ hệ chuẩn mực của xã hội. Nó là bước chuyển từ những hoạt động nghĩa vụ, bổn phận sang những hoạt động tự nguyện. Nó đồng thời là những hoạt động không mang tính vụ lợi nhằm mục đích giải tỏa sự căng thẳng tinh thần để đạt tới sự thư giãn, thanh thản trong tâm hồn và cao hơn, đó là sự rung cảm về thẩm mĩ. Thời gian dành cho hoạt động này được gọi là thời gian rỗi (X. Đinh Thị Vân Chi., Nhu cầu giải trí của thanh niên., H. Nhà xuất bản Sự thật, 2003).
== Thời gian rỗi ==
Thời gian dành cho hoạt động giải trí, thời gian rỗi, là những khoảng thời gian mà cá nhân không bị bức bách bởi những nhu cầu sinh tồn, không bị chi phối bởi những nghĩa vụ cá nhân hoặc sự đòi hỏi bởi nhu cầu vật chất. Con người hoàn toàn tự do, thoát khỏi những băn khoăn, lo lắng thường nhật. Khi đó, với sự thanh thản về trí óc, sự bay bổng về tâm hồn, họ tìm đến những hoạt động giải trí.
== Nhu cầu giải trí ==
Giải trí cũng là nhu cầu của con người vì nó đáp ứng những đòi hỏi bức thiết từ phía cá nhân. Nhu cầu giải trí là động cơ của hoạt động giải trí. Khi xuất hiện nhu cầu giải trí, con người bị thôi thúc hành động để thỏa mãn nhu cầu đó. Nhu cầu giải trí thuộc các bậc cao của thang nhu cầu con người do không gắn liền với sự tồn tại sinh học mà là sự vươn cao, nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, tự hoàn thiện và tự khẳng định mình. Nhu cầu giải trí cũng là một bộ phận quan trọng cấu thành các nhu cầu tinh thần (Đinh Thị Vân Chi, Nhu cầu giải trí của thanh niên, H. Nhà xuất bản Sự thật, 2003)
== Liên kết ngoài == |
rod laver.txt | Rodney George "Rod" Laver (sinh 9 tháng 8 năm 1938, tại Rockhampton, Australia) là cựu vận động viện quần vợt của Úc. Rod Laver là một trong những tay vợt thành công nhất trong lịch sử quần vợt; ông thường được sắp hạng rất cao mỗi khi người ta nói tới những tay vợt hay nhất trong lịch sử. Ông và Don Budge là hai tay vợt nam duy nhất đã thắng "Grand Slam", nghĩa là thắng cả 4 giải Úc, Pháp, Wimbledon (Anh), và Mỹ cùng một năm. Don Budge thắng Grand Slam năm 1938; Rod Laver thắng Grand Slam 2 lần: lần đầu năm 1962 với tư cách nghiệp dư (tài tử) và năm 1969 với tư cách chuyên nghiệp. Ông có biệt hiệu là "Mũi Tên Lửa" (The Rocket). Không rõ vì sao có tên này, có 2 giả thuyết: vì ông chạy rất nhanh, vì ông có cú rờ ve một tay(one-handed backhand) thần sầu quỷ khốc. Tuy nhiên khi hỏi chính ông thì ông giải thích rằng lúc ông còn nhỏ vì ông lười chạy nên huấn luyện viên nổi tiếng của Úc thời ấy là Harry Hopman đặt tên "Mũi Tên Lửa" để ghẹo ông.
== Sự nghiệp ==
== Thời kỳ nghiệp dư (tài tử) ==
Cho đến trước năm 1963, Laver vẫn còn thi đấu nghịêp dư. lúc đó chỉ các tay vợt nghịêp dư mới được quyền tham dự 4 giải Grand Slam trong năm. Laver giành danh hiệu Grand Slam đầu tiên tại giải Úc mở rộng năm 1960. Năm 1962, ông giành được cả 4 giải Grand Slam trong năm.
== Thời kỳ chuyên nghiệp ==
Lúc mới chuyển sang thi đấu chuyên nghiệp, Laver thua liên tiếp trước các tay vợt hàng đầu thế giới lúc đó. Ông thua Lew Hoad trong cả 8 trận đầu tiên hai tay vợt này gặp nhau, và thua Ken Rosewall 11 trong 13 trận đấu. Tuy nhiên sau đó Laver đã cải thiện khả năng của mình, và gặt hái được thành công.
Năm 1969, Laver giành được cả 4 giải Grand Slam trong năm.
== Tham khảo == |
encarta.txt | Encarta là bộ bách khoa toàn thư số hóa đa phương tiện của hãng phần mềm lớn nhất thế giới, Microsoft. Encarta được cập nhật và phát hành đều đặn hằng năm, được viết bởi nhiều chuyên gia nổi tiếng về chuyên ngành của họ, do vậy mà bài viết trong Encarta rất có chất lượng. Ấn bản Encarta Premium hiện nay có hơn 68.000 mục từ với rất nhiều hình ảnh và các đoạn video. Encarta được phát hành trên CD, DVD và Web online.
Microsoft xuất bản bách khoa toàn thư dưới nhãn hiệu Encarta với nhiều ngôn ngữ khác nhau bao gồm tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Hà Lan, tiếng Ý và tiếng Nhật. Những phiên bản địa phương hóa có thể chứa đựng nội dung được duyệt và những nguồn quốc gia sẵn có nên có thể nhiều hoặc ít hơn nội dung so với phiên bản tiếng Anh.
== Lịch sử ==
Theo bộ bách khoa toàn thư đa phương tiện đầu tiên, Microsoft đề xuất Encarta bằng việc mua quyền sử dụng bộ bách khoa toàn thư Funk & Wagwalls, hợp nhất nó vào phiên bản đầu tiên vào năm 1993. (Funk & Wagwalls vẫn tiếp tục xuất bản phiên bản đã sửa đổi vài năm sau đó độc lập với Encarta, nhưng sau đó đã ngừng xuất bản vào cuối những năm 90). Trước đó Microsoft đã có ý định mua lại bộ bách khoa toàn thư Britannica vào những năm 1980, nhưng Britannica, tin rằng phiên bản in truyền thồng của họ còn có thể trụ vững được, đã từ chối. Bộ bách khoa toàn thư Britannica, tiêu chuẩn vàng của những bộ bách khoa toàn thư trong hơn một thế kỷ, đã phải bán công ty với giá thấp hơn giá trị thực vào năm 1996 khi phiên bản in truyền thống của họ không cạnh tranh được với Encarta và khi kênh phân phối của Microsoft cung cấp những bản copy miễn phí kèm theo những hệ thống máy tính mới. Trong suốt những năm 1990, Encarta được khen ngợi bởi những nội dùng đa phương tiện của nó, ví dụ vào năm 1995, chỉ có 80% dữ liệu chứa trên CD là văn bản, trong khi đó những bộ bách khoa điện tử khác cùng thời không chứa nhiều ảnh, phim hay âm thanh.
Vào cuối những năm 90, Microsoft đã mua Collier’s Encyclopedia và New Merit Scholar’s Encyclopedia của nhà xuất bản Macmilan và hợp nhất nó với Encarta. Vì vậy có thể coi phiên bản Encarta hiện nay của Microsoft là người nối nghiệp của bộ bách khoa Funk and Wagwalls, Collier và New Merit Scholar. Năm 1997, Encarta đã có 30.000 mục từ, nhiều hơn 20% so với phiên bản trước đó. Vào năm 1999, nó đã có khoảng 42.000 mục từ.
Microsoft đã phát hành một vài phiên bản địa phương của Encarta, nhưng một vài trong số chúng không còn tiếp tục phát triển. Ví dụ phiên bản tiếng Brazil đã được phát hành vào năm 1999 nhưng đã ngừng phát triển vào năm 2002. Phiên bản tiếng Tây Ban Nha ít hơn phiên bản tiếng Anh một chút, có khoảng 42.000 mục từ.
Vào tháng 7 năm 2006, Websters Multimedia đã tiếp quản Encarta.
Vào tháng 6 năm 2009, Microsoft đã thông báo rằng sẽ dừng việc bán phiên bản cuối cùng của bộ từ điển Encarta, Encarta Premium 2009. Những người đã mua Encarta Premium 2009 sẽ vẫn được hỗ trợ cho đến hết ngày 10 tháng 1 năm 2012
== Nội dung ==
Phiên bản chuẩn của Encarta có xấp xỉ 50.000 mục từ, cùng với ảnh, video và âm thanh. Phiên bản premium có xấp xỉ 68.000 mục từ và nhiều nội dung đa phương tiện khác, gồm 25.000 bức ảnh và tranh minh họa, trên 300 đoạn video và ảnh động, và những altas tương tác với 1,8 triệu địa danh. Mỗi bài viết của Encarta được tích hợp với những nội dung đa phương tiện và có thể bao gồm cả những đường dẫn tới những website được chọn bởi người chỉnh sửa nó.
== Liên kết ngoài ==
Encarta’s Visual Brower, xuất hiện từ phiên bản 2004, trình diễn người dùng với danh sách những bài viết liên quan.
MSN Encarta Online — with limited free access and features.
Encarta products
History and some other information about Encarta by Microsoft
Official Encarta blog (last posting in tháng 3 năm 2006)
Encarta SupportZone A website run by Stephen Stakey, a Microsoft MVP for MSN Encarta, that gives support and tips for Encarta users.
Review of Microsoft Encarta Africana A review by Dr. Molefi Kete Asante, Professor, Department of African American Studies, Temple University, Philadelphia
== Chú thích == |
các giải thưởng của giải vô địch bóng đá nữ thế giới.txt | Sau khi mỗi kì giải của Giải vô địch bóng đá nữ thế giới kết thúc, Liên đoàn bóng đá thế giới tiến hành trao các giải thưởng cho các cầu thủ và đội bóng nổi bật ở nhiều mặt.
== Các giải thưởng ==
Hiện nay có các giải thưởng sau:
Quả bóng vàng ("Golden Ball" hoặc "adidas Golden Ball" vì lý do thương mại) cho cầu thủ xuất sắc nhất.
Chiếc giày vàng ("Golden Boot" hoặc "Golden Shoe", hay "adidas Golden Shoe" vì lý do thương mại) cho cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất.
Găng tay vàng ("Golden Glove" hay "adidas Golden Glove" vì lý do thương mại) cho thủ môn xuất sắc nhất (được trao từ 2011).
Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất ("Best Young Player Award" hay "Hyundai Best Young Player Award" vì lý do thương mại) cho cầu thủ xuất sắc nhất dưới 21 tuổi (được trao từ 2011)
Giải Fair Play ("FIFA Fair Play Award") cho đội tuyển fair play nhất.
Đội hình tiêu biểu ("All-Star Team" hay "Mastercard All-Star Team" vì lý do thương mại) bao gồm các cầu thủ xuất sắc nhất của giải (được trao từ 1999).
Giải Bàn thắng đẹp nhất ("Goal of the Tournament") và Đội hình trong mơ ("Dream Team") được bầu chọn bởi người hâm mộ sau khi giải đấu kết thúc.
Giải thưởng không còn tồn tại:
Giải Đội tuyển thi đấu cuốn hút nhất ("Most Entertaining Team") dành cho đội có lối chơi hấp dẫn khán giả nhất, xác định bởi cuộc thăm dò chung, và được trao trong hai kì giải 2003 và 2007.
== Quả bóng vàng ==
== Chiếc giày vàng ==
== Găng tay vàng ==
== Cầu thủ trẻ xuất sắc nhất ==
== Đội tuyển thi đấu lôi cuốn nhất ==
=== Giải Fair Play ===
== Đội hình tiêu biểu ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
FIFA Women's World Cup Awards |
claudius.txt | Tiberius Claudius Caesar Augustus Germanicus (Latin: Tiberius Claudius Caesar Augustus Germanicus;1 tháng 8 năm 10 TCN – 13 tháng 10 năm 54) (Tiberius Claudius Drusus Nero Germanicus trước khi lên ngôi) là hoàng đế La Mã của triều đại Julio-Claudia, ông trị vì từ ngày 24 tháng 1 năm 41 cho đến khi băng hà năm 54. Ông sinh ra ở Lugdunum tại Gaule (ngày nay là Lyon, Pháp), trong gia đình cha là Drusus và mẹ là Antonia nhỏ, ông là vị hoàng đế La Mã đầu tiên sinh bên ngoài Đế quốc La Mã.
Dù thiếu kinh nghiệm chính trị, Claudius tỏ ra là một vị hoàng đế tài ba và là một nhà xây dựng các công trình công công cộng vĩ đại. Thời đại trị vì của ông chứng kiến sự bành trướng của đế chế, bao gồm việc chiếm đảo Anh. Bản thân ông quan tâm đến pháp luật, và ông đã làm chủ tọa các cuộc xét xử công cộng và ban hành lên đến 20 chỉ dụ mỗi ngày; tuy nhiên, ông bị cho là dễ bị nguy hại trong suốt thời gian trị vì, đặc biệt là bởi tính quý phái của ông. Claudius đã liên tục bị buộc phải củng cố vị trí của mình, điều này dẫn đến cái chết của nhiều nguyên lão. Claudius cũng phải chịu nhiều sự thất bại cá nhân thảm hại, một trong những sự thất bại đó đã dẫn đến ông bị sát hại. Những sự kiện này đã gây hại danh tiếng của ông đối với những nhà văn cổ đại. Các nhà sử học gần đây đã chỉnh sửa lại ý kiến này.
== Gia đình và thời trai trẻ ==
Claudius đã được sinh ra vào ngày 01 Tháng Tám năm 10 trước Công nguyên ở Lugdunum, là con của Nero Claudius Drusus và Antonia. Ông có hai anh chị tên là Germanicus và Livilla. Antonia có thể có hai người con khác, những người chết trẻ. Ông bà ngoại của ông là Marcus Antonius và Octavia nhỏ, chị gái của Augustus, do đó ông là chút nội của Gaius Julius Caesar. Ông bà nội của ông là Livia, người vợ thứ ba của Augustus, và Tiberius Claudius Nero. Trong triều đại của ông, Claudius đã làm sống lại những tin đồn rằng Drusus cha của mình đã thực sự con trai ngoài giá thú của Augustus, để cho mọi người hiểu sai lầm rằng Augustus là ông nội của Claudius.
Vào năm 9 trước Công nguyên, Drusus bất ngờ qua đời trong chiến dịch ở Germania, có thể do bệnh. Claudius sau đó đã được nuôi nấng bởi mẹ của mình, người không bao giờ tái hôn. Khi mà khuyết tật của Claudius trở nên rõ ràng, mối quan hệ với gia đình của ông trở nên chua chát. Antonia gọi ông ta là một con quái vật, và sử dụng ông như một tiêu chuẩn cho sự ngu dốt. Bà dường như đã bỏ lại con trai của bà cho bà ngoại Livia của ông trong một số năm . Livia thì có ít sự ân cần đối với trẻ nhỏ, và thường đánh đập ông bất chợt, dùng những từ ngữ thậm tệ để khiển trách. Ông đã được đặt dưới sự chăm sóc của một "lái buôn la già"
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Nguồn cổ đại
Suetonius
Life of Claudius
Tacitus
Tacitus on the second half of Claudius' reign, book 11
Tacitus on Claudius' last years, book 12
Dio
Cassius Dio's account of Claudius' reign, part I
Cassius Dio's account, part II
Josephus
The works of Josephus
Seneca
The Apocolocyntosis of the Divine Claudius
Claudius
Claudius' Letter to the Alexandrians
Lyons tablet
Extract from first half of the Lyons Tablet
Second half of the Lyons Tablet
Tacitus' version of the Lyons Tablet speech
Edict confirming the rights of the people of Trent
Nguồn hiện đại
Biography from De Imperatoribus Romanis
Claudius Page
Claudius I at BBC History |
bảo hiểm.txt | Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tập trung - quỹ bảo hiểm - nhằm xử lý các rủi ro, các biến cố. Bảo hiểm bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được diễn ra bình thường.
Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra.
Bảo hiểm là một cách thức trong quản trị rủi ro, thuộc nhóm biện pháp tài trợ rủi ro, được sử dụng để đối phó với những rủi ro có tổn thất, thường là tổn thất về tài chính, nhân mạng,...
Bảo hiểm được xem như là một cách thức chuyển giao rủi ro tiềm năng một cách công bằng từ một cá thể sang cộng đồng thông qua phí bảo hiểm.
== Các vấn đề chung ==
=== Các khái niệm ===
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu xã hội, pháp lý, kinh tế, kĩ thuật, nghiệp vụ...)
Định nghĩa 1: Bảo hiểm là sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít
Định nghĩa 2: Bảo hiểm là một nghiệp vụ qua đó, một bên là người được bảo hiểm cam đoan trả một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm thực hiện mong muốn để cho mình hoặc để cho một người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro sẽ nhận được một khoản đền bù các tổn thất được trả bởi một bên khác: đó là người bảo hiểm. Người bảo hiểm nhận trách nhiệm đối với toàn bộ rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê
Bảo hiểm có thể định nghĩa là một phương sách hạ giảm rủi ro bằng cách kết hợp một số lượng đầy đủ các đơn vị đối tượng để biến tổn thất cá thể thành tổn thất cộng đồng và có thể dự tính được
Các định nghĩa trên thường thiên về một góc độ nghiên cứu nào đó (hoặc thiên về xã hội - định nghĩa 1, hoặc thiên về kinh tế, luật pháp - định nghĩa 2, hoặc thiên về kỹ thuật tính - định nghĩa 3).
Theo các chuyên gia Pháp, một định nghĩa vừa đáp ứng được khía cạnh xã hội (dùng cho bảo hiểm xã hội) vừa đáp ứng được khía cạnh kinh tế (dùng cho bảo hiểm thương mại) và vừa đầy đủ về khía cạnh kỹ thuật và pháp lý có thể phát biểu như sau: Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro. Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê
=== Đặc điểm của bảo hiểm ===
Bảo hiểm là một loại dịch vụ đặc biệt;
Bảo hiểm vừa mang tính bồi hoàn, vừa mang tính không bồi hoàn;
=== Vai trò của bảo hiểm ===
Bảo toàn vốn sản xuất kinh doanh và ổn định đời sống của người tham gia bảo hiểm;
Đề phòng và hạn chế tổn thất;
Bảo hiểm là một công cụ tín dụng;
Góp phần thúc đẩy phát triển quan hệ kinh tế giữa các nước thông qua hoạt động tái bảo hiểm.
== Các Hình thức bảo hiểm ==
=== Bảo hiểm kinh doanh ===
==== Khái niệm bảo hiểm kinh doanh ====
Trên góc độ tài chính, bảo hiểm kinh doanh là một hoạt động dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những tổn thất khi rủi ro xảy ra. Trên góc độ pháp lý, bảo hiểm kinh doanh thực chất là một bản cam kết mà một bên đồng ý bồi thường cho bên kia khi gặp rủi ro nếu bên kia đóng phí bảo hiểm. Do đó, bảo hiểm kinh doanh là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các nguồn tài chính thông qua sự đóng góp của các tổ chức và cá nhân tham gia bảo hiểm.
==== Đặc điểm của bảo hiểm kinh doanh ====
Người tham gia bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm;
Là một biện pháp hiệu quả nhất cho nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và an toàn với đời sống cộng đồng.
==== Nguyên tắc của bảo hiểm kinh doanh ====
Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia bảo hiểm cũng như doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm;
Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động theo nguyên tắc hạch toán kinh doanh;
Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động tuân theo luật pháp quy định cho doanh nghiệp nói chung, và cho doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng;
Doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động theo nguyên tắc lấy số đông bù số ít;
Doanh nghiệp bảo hiểm phải tuân thủ nguyên tắc an toàn tài chính.
==== Hình thức của bảo hiểm kinh doanh ====
Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm
Bảo hiểm tài sản:
Bảo hiểm hàng hóa xuất nhập khẩu;
Bảo hiểm thân tàu, thuyền, ô tô,...;
Bảo hiểm hỏa hoạn.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự;
Bảo hiểm con người:
Bảo hiểm nhân thọ;
Bảo hiểm phi nhân thọ.
Căn cứ vào tính chất hoạt động
Bảo hiểm tự nguyện;
Bảo hiểm bắt buộc.
==== Cơ chế, phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm kinh doanh ====
Cơ chế hình thành quỹ bảo hiểm kinh doanh
Vốn kinh doanh;
Doanh thu và thu nhập.
Phân phối và sử dụng quỹ bảo hiểm kinh doanh
Ký quỹ;
Quỹ dự trữ bắt buộc;
Bồi thường tổn thất và trả tiền bảo hiểm;
Dự phòng nghiệp vụ;
Nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước;
Chế độ phân phối lợi nhuận.
=== Bảo hiểm xã hội ===
==== Khái niệm bảo hiệm xã hội ====
Bảo hiểm xã hội là loại hình bảo hiểm do nhà nước tổ chức và quản lý nhằm thỏa mãn các nhu cầu vật chất ổn định cuộc sống của người lao động và gia đình họ khi gặp những rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động.
==== Hệ thống các chế độ bảo hiểm xã hội ====
Theo khuyến nghị của Tổ chức Lao động Quốc tế ILO tại Công ước Giơnevơ năm 1952
Chăm sóc y tế;
Trợ cấp ốm đau;
Trợ cấp thất nghiệp;
Trợ cấp tuổi già;
Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp;
Trợ cấp gia đình;
Trợ cấp sinh sản;
Trợ cấp tàn phế;
Trợ cấp cho người bị mất người nuôi dưỡng.
Ở Việt Nam, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam thực hiện 6 chế độ
Bảo hiểm thất nghiệp;
Trợ cấp ốm đau;
Trợ cấp thai sản;
Trợ cấp tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp;
Trợ cấp hưu trí;
Trợ cấp tử tuất.
==== Cơ chế hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội ====
Nguồn hình thành quỹ bảo hiểm xã hội
Người sử dụng lao động đóng góp;
Người lao động đóng góp một phần tiền lương của mình;thu từ các đối tượng tham gia BHXH tự nguyện
Nhà nước đóng góp và hỗ trợ.
Sử dụng quỹ bảo hiểm xã hội
Chi các khoản trợ cấp và chi phí cho người tham gia bảo hiểm xã hội trong các trường hợp:
Gặp phải các biến cố đã quy định trong chế độ bảo hiểm xã hội;
Người được bảo hiểm là thành viên của bảo hiểm xã hội;
Đóng bảo hiểm xã hội đều đặn;
Chi khác: chi quản lý, nộp bảo hiểm y tế theo quy định, chi hoa hồng đại lý, v.v...
=== Bảo hiểm thương mại ===
==== Khái niệm Bảo hiểm thương mại ====
Bảo hiểm thương mại hay hoạt động kinh doanh bảo hiểm được thực hiện bởi các tổ chức kinh doanh bảo hiểm trên thị trường bảo hiểm thương mại. Bảo hiểm thương mại chỉ những hoạt động mà ở đó các doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro trên cơ sở người được bảo hiểm đóng một khoản tiền gọi là phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm bồi thường hay trả tiền bảo hiểm khi xảy ra các rủi ro đã thỏa thuận trước trên hợp đồng.
==== Nội dung Bảo hiểm thương mại ====
Nội dung của hoạt động kinh doanh bảo hiểm, ngoài mối quan hệ giữa doanh nghiệp bảo hiểm với khách hàng của mình (gọi là Người mua bảo hiểm) còn được thể hiện trong mối quan hệ giữa người bảo hiểm gốc và người nhận tái bảo hiểm khi thực hiện tái bảo hiểm và bao hàm các hoạt động của trung gian bảo hiểm như: môi giới, đại lý.... Nhà bảo hiểm thương mại hoạt động kinh doanh nhằm mục đích thu lợi nhuận trong việc đảm bảo rủi ro cho khách hàng của mình.
==== Lợi ích của Bảo hiểm thương mại ====
Trong cuộc sống hàng ngày, lúc này hay lúc khác, dù không hề mong muốn và dù khoa học kỹ thuật có tiến bộ đến đâu, người ta vẫn có thể phải gánh chịu những rủi ro tổn thất bất ngờ. Tác động của rủi ro làm cho con người không thu hái được kết quả như đã dự định trước và tạo ra sự ngưng trệ quá trình sản xuất, sinh hoạt của xã hội. Đó chính là tiền đề khách quan cho sự ra đời của các loại quỹ dự trữ bảo hiểm nói chung và hoạt động bảo hiểm thương mại nói riêng. Tồn tại song song với các quỹ dự trữ khác, Bảo hiểm thương mại đóng vai trò như một công cụ an toàn thực hiện chức năng bảo vệ con người, bảo vệ tài sản cho kinh tế và xã hội. Cụ thể là:
Đối với người dân, bảo hiểm đảm bảo cho họ về mặt tài chính nhằm khắc phục hậu quả khi bất ngờ gặp rủi ro tai nạn hay bệnh tật như chi phí điều trị, viện phí, thu nhập mất giảm…Bảo hiểm nhân thọ còn cung cấp những chương trình tiết kiệm và là người đại diện đầu tư mang lại lợi tức cho khách hàng.
Đối với các doanh nghiệp, tham gia bảo hiểm giúp các doanh nghiệp với việc bỏ ra một khoản phí bảo hiểm ổn định và nhỏ có thể hoán chuyển rủi ro - những yếu tố không ổn định và tổn thất không lường trước được sang cho nhà bảo hiểm. Nhờ vậy, các doanh nghiệp an tâm sản xuất và khi có những tổn thất xảy ra, bồi thường bảo hiểm sẽ giúp họ nhanh chóng khôi phục quá trình kinh doanh.
Đối với ngân hàng thương mại, bảo hiểm đảm bảo cho khả năng hoàn trả vốn vay của doanh nghiệp – người đi vay trong những trường hợp gặp rủi ro tổn thất. Mặt khác, các loại hình bảo hiểm nhân thọ còn giúp các ngân hàng an tâm triển khai các loại hình tín dụng tiêu dùng cho người dân.
Hoạt động bảo hiểm phát triển.góp phần cải thiện môi trường đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư tạo ra môi trường thuận lợi cho việc hợp tác kinh tế, kỹ thuật, thương mại và thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Mặt khác hoạt động bảo hiểm còn mang về cho kinh tế quốc dân một khoản ngoại tệ đáng kể.
Bảo hiểm chẳng những có tác dụng bồi thường tổn thất sau khi có rủi ro phát sinh mà còn góp phần rất lớn cho việc đề phòng rủi ro và hạn chế tổn thất. Nhà bảo hiểm thường sử dụng những chuyên gia giỏi, tổ chức các dự án nghiên cứu, tư vấn – tài trợ cho cơ quan quản lý nhà nước áp dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro và hạn chế tổn thất hoặc tư vấn cho khách hàng tăng cường quản trị rủi ro ở đơn vị mình.
Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bảo hiểm với việc nắm giữ quỹ tiền tệ bảo hiểm rất lớn nhưng tạm thời nhàn rỗi đã trở thành những nhà đầu tư lớn. Bảo hiểm vì vậy còn có vai trò trung gian tài chính là một kênh huy động và cấp vốn có hiệu cho nền kinh tế. Đặc biệt, ở nhiều nước phát triển, các nhà bảo hiểm còn bảo hiểm cho trái phiếu nhất là trái phiếu đô thị. Điều nầy làm tăng tính an toàn của trái phiếu đô thi, giúp cho chính quyền trung ương và địa phương thu hút vốn từ dân cư, đầu tư cho các dự án y tế, giáo dục, công trình phúc lợi và cơ sở hạ tầng.
Với những lợi ích nói trên, bảo hiểm đã ra đời từ rất lâu và ngày càng phát triển. Trong những năm gần đây, hàng năm, trên toàn thế giới, số phí bảo hiểm thu được lên đến hàng ngàn tỷ đô la Mỹ (năm 2001: trên 2400 tỷ), trung bình mỗi cư dân trên hành tinh chúng ta mỗi năm bỏ ra 393 USD cho việc tham gia bảo hiểm, trong đó, 235 USD cho BHNT và 158 USD cho BHPNT. Ở nhiều nước, bảo hiểm chiếm tỷ lệ đáng kể trong GDP (Ví dụ, Hàn quốc: 12%, Nhật bản: 11%, Mã lai: 5%). Hàng năm, bảo hiểm cũng đã góp phần đáng kể trong việc khắc phục hậu quả của những tổn thất đặc biệt là các tổn thất thảm họa.
==== Đặc điểm của Bảo hiểm thương mại ====
Nhìn chung, bảo hiểm thương mại có một số đặc điểm cơ bản sau: Trước tiên, hoạt động bảo hiểm thương mại là một hoạt động thỏa thuận (nên còn gọi là bảo hiểm tự nguyện);
Hai là, sự tương hổ trong bảo hiểm thương mại được thực hiện trong một "cộng đồng có giới hạn", một "nhóm đóng";
Ba là, bảo hiểm thương mại cung cấp dịch vụ đảm bảo không chỉ cho các rủi ro bản thân) mà còn cho cả rủi ro tài sản và trách nhiệm dân sự.
==== Nguyên tắc hoạt động cơ bản của Bảo hiểm thương mại ====
Hoạt động bảo hiểm nói chung, hoạt động bảo hiểm thương mại nói riêng tạo ra được một "sự đóng góp của số đông vào sự bất hạnh của số ít" trên cơ sở quy tụ nhiều người có cùng rủi ro thành cộng đồng nhằm phân tán hậu quả tài chính của những vụ tổn thất. Số người tham gia càng đông, tổn thất càng phân tán mỏng, rủi ro càng giảm thiểu ở mức độ thấp nhất thể hiện ở mức phí bảo hiểm phải đóng là nhỏ nhất đủ để mỗi người đó không ảnh hưởng gì quan trọng đến hoạt động sinh hoạt sản xuất của mình. Hoạt động theo quy luật số đông, đó là nguyên tắc cơ bản nhất của bảo hiểm. Bên cạnh đó, đám đông tham gia vào cộng đồng càng lớn thể hiện nhu cầu bảo hiểm càng tăng theo đà phát triển của nền kinh tế - xã hội, những người được bảo hiểm không thể và cũng không cần biết nhau, họ chỉ biết người quản lý cộng đồng (doanh nghiệp bảo hiểm) là người nhận phí bảo hiểm và cam kết sẽ bồi thường cho họ khi có rủi ro tổn thất xảy ra. Hoạt động bảo hiểm thương mại tạo ra được một sự hoán chuyển rủi ro từ những người được bảo hiểm qua người bảo hiểm trên cơ sở một văn bản pháp lý: Hợp đồng bảo hiểm. Điều này đã tạo ra một rủi ro mới đe dọa mối quan hệ giữa 2 bên trên hợp đồng. Dịch vụ bảo hiểm thương mại là một lời cam kết, liệu lúc xảy ra tổn thất, doanh nghiệp bảo hiểm có thực hiện hoặc có khả năng thực hiện cam kết của mình hay không trong khi phí bảo hiểm đã được trả theo "nguyên tắc ứng trước". Ngược lại các rủi ro, tổn thất được bảo hiểm được minh thị rõ ràng trên hợp đồng, liệu có sự man trá của phía người được bảo hiểm hay không để nhận hưởng tiền bảo hiểm. Như vậy, mối quan hệ giữa 2 bên trên hợp đồng bảo hiểm gắn liền với sự tin tưởng lẫn nhau và điều này đòi hỏi phải đảm bảo nguyên tắc cơ bản thứ hai: Nguyên tắc trung thực.
==== Các nét khác nhau cơ bản giữa Bảo hiểm thương mại và Bảo hiểm xã hội ====
a. Bảo hiểm thương mại được thực hiện bởi các doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích cung cấp cho xã hội một loại hàng hóa, dịch vụ "an toàn", trên cơ sở đó, nhà bảo hiểm tìm kiếm một khoản lợi nhuận kinh doanh bảo hiểm. Trong khi đó, Bảo hiểm xã hội được thực hiện bởi cơ quan bảo hiểm xã hội một tổ chức sự nghiệp của nhà nước nhằm chăm lo phúc lợi xã hội. Nói cách khác, Mối quan hệ của Bảo hiểm thương mại nẩy sinh mang tính chất tự nguyện, còn Mối quan hệ của Bảo hiểm xã hội mang tính chất bắt buộc.
b. Nội dung bảo hiểm thương mại rất rộng. Bảo hiểm thương mại không chỉ đảm bảo cho các rủi ro về con người như Bảo hiểm xã hội mà còn đảm bảo các rủi ro của các đối tượng khác như tài sản (công trình, nhà cửa, nhà xưởng, hàng hóa, phương tiện sản xuất kinh doanh và sinh hoạt) và trách nhiệm (trách nhiệm công cộng, trách nhiệm sản phẩm,...);
c. Bảo hiểm thương mại có mức phí, mức chi trả bồi thường phụ thuộc vào thỏa thuận phù hợp theo nhu cầu (xuất phát từ giá trị tài sản được bảo hiểm, số tiền bảo hiểm lựa chọn, mức độ quan trọng của rủi ro,...) và khả năng của Người được bảo hiểm, thông thường nghĩa vụ và quyền lợi trên Hợp đồng bảo hiểm là tương xứng nhau. Ngược lại, phí bảo hiểm của Bảo hiểm xã hội được xác định theo thu nhập của người lao động (theo tỷ lệ phần trăm trên lương) chứ không theo tình trạng sức khỏe, tuổi thọ của họ.
d. Mối quan hệ của Người được bảo hiểm và Người bảo hiểm trong Bảo hiểm thương mại là có thời hạn và thông thường là ngắn hạn (bảo hiểm phi nhân thọ). Ngược lại mối quan hệ giữa Người lao động và cơ quan bảo hiểm xã hội là dài hạn, trọn đời.
e. Cộng đồng Người được bảo hiểm của Bảo hiểm thương mại là một “nhóm đóng” có giới hạn trong một thời kỳ nhất định còn đối với Bảo hiểm xã hội đó lại là một “nhóm mở” có đầu vào và đầu ra là các thế hệ người lao động nối tiếp nhau.
==== Phân loại Bảo hiểm thương mại ====
Phân loại theo đối tượng bảo hiểm: Căn cứ vào đối tượng bảo hiểm thì toàn bộ các loại hình nghiệp vụ bảo hiểm được chia thành ba nhóm: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm con người và bảo hiểm trách nhiệm dân sự:
(1) Bảo hiểm tài sản: là loại bảo hiểm lấy tài sản làm đối tượng bảo hiểm. Khi xảy ra rủi ro tổn thất về tài sản như mất mát, hủy hoại về vật chất, người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho người được bảo hiểm căn cứ vào giá trị thiệt hại thực tế và mức độ đảm bảo thuận tiện hợp đồng;
(2) Bảo hiểm con người: đối tượng của các loại hình này, chính là tính mạng, thân thể, sức khỏe của con người. Người ký kết hợp đồng bảo hiểm, nộp phí bảo hiểm để thực hiện mong muốn nếu như rủi ro xảy ra làm ảnh hưởng tính mạng, sức khỏe của người được bảo hiểm thì họ hoặc một người thụ hưởng hợp pháp khác sẽ nhận được khoản tiền do người bảo hiểm trả. Bảo hiểm con người có thể là bảo hiểm nhân thọ hoặc bảo hiểm tai nạn – bệnh.
(3) Bảo hiểm trách nhiệm dân sự: Đối tượng bảo hiểm là trách nhiệm phát sinh do ràng buộc của các quy định trong luật dân sự, theo đó, người được bảo hiểm phải bồi thường bằng tiền cho người thứ 3 những thiệt hại gây ra do hành vi của mình hoặc do sự vận hành của tài sản thuộc sở hữu của chính mình. Bảo hiểm trách nhiệm dân sự có thể là bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp hoặc bảo hiểm trách nhiệm công cộng. Phân loại theo kỹ thuật bảo hiểm: Theo cách phân loại này các loại hình bảo hiểm được chia ra làm 2 loại: loại dựa trên kỹ thuật "phân bổ" và loại dựa trên kỹ thuật "tồn tích vốn".
(1) Các loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật phân bổ: là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất ổn định (tương đối) theo thời gian và thường độc lập với tuổi thọ con người (nên gọi là bảo hiểm phi nhân thọ). Hợp đồng bảo hiểm loại này thường là ngắn hạn (một năm);
(2) Các loại bảo hiểm dựa trên kỹ thuật tồn tích vốn: là các loại bảo hiểm đảm bảo cho các rủi ro có tính chất thay đổi (rõ rệt) theo thời gian và đối tượng, thường gắn liền với tuổi thọ con người (nên gọi là bảo hiểm nhân thọ). Các hợp đồng loại này thường là trung và dài hạn (10 năm, 20 năm, trọn đời...). Phân loại theo tính chất của tiền bảo hiểm trả:
(1) Các loại bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc bồi thường: Theo nguyên tắc này, số tiền mà người bảo hiểm trả cho người được bảo hiểm không bao giờ vượt quá giá trị thiệt hại thực tế mà anh ta đã phải gánh chịu. Các loại bảo hiểm này gồm có: bảo hiểm tài sản và bảo hiểm trách nhiệm dân sự (gọi chung là bảo hiểm thiệt hại). Với loại bảo hiểm nầy, về nguyên tắc, người mua bảo hiểm không được ký hợp đồng trên giá hoặc bảo hiểm trùng ;
(2) Các loại bảo hiểm có số tiền bảo hiểm trả theo nguyên tắc khoán: Người được bảo hiểm sẽ nhận được số tiền khoán theo đúng mức mà họ đã thỏa thuận trước trên hợp đồng bảo hiểm với người bảo hiểm tùy thuộc và phù hợp với nhu cầu cũng như khả năng đóng phí. Đây chính là các loại bảo hiểm nhân thọ và một số trường hợp của bảo hiểm tai nạn, bệnh tật. Với loại bảo hiểm nầy, về nguyên tắc, người mua bảo hiểm có thể cùng một lúc ký nhiều hợp đồng bảo hiểm cho một đối tương và không bị hạn chế số tiền bảo hiểm
Phân loại theo phương thức quản lý: Với cách phân loại này, các nghiệp vụ bảo hiểm thương mại được chia làm 2 hình thức: bắt buộc và tự nguyện
(1) Bảo hiểm tự nguyện: Là những loại bảo hiểm mà hợp đồng được kết lập dựa hoàn toàn trên sự cân nhắc và nhận thức của người được bảo hiểm. Đây là tính chất vốn có của bảo hiểm thương mại khi nó có vai trò như là một hoạt động dịch vụ cho sản xuất và sinh hoạt con người.
(2) Bảo hiểm bắt buộc: Được hình thành trên cơ sở luật định nhằm bảo vệ lợi ích của nạn nhân trong các vụ tổn thất và bảo vệ lợi ích của toàn bộ nền kinh tế - xã hội. Các hoạt động nguy hiểm có thể dẫn đến tổn thất con người và tài chính trầm trọng gắn liền với trách nhiệm dân sự nghề nghiệp thường là đối tượng của sự bắt buộc này. Ví dụ: bảo hiểm trách nhiện dân sự chủ xe cơ giới, trách nhiệm dân sự của thợ săn... Tuy nhiên, sự bắt buộc chỉ là bắt buộc người có đối tượng mua bảo hiểm chứ không bắt buộc mua bảo hiểm ở đâu. Tính chất tương thuận của hợp đồng bảo hiểm được ký kết vẫn còn nguyên vì người được bảo hiểm vẫn tự do lựa chọn nhà bảo hiểm cho mình.
=== Bảo hiểm y tế ===
==== Khái niệm bảo hiểm y tế ====
Bảo hiểm y tế là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các nguồn tài lực từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm để hình thành quỹ bảo hiểm, và sử dụng quỹ để thanh toán các chi phí khám chữa bệnh cho người được bảo hiểm khi ốm đau.
Đặc điểm của bảo hiểm y tế
Vừa mang tính chất bồi hoàn, vừa mang tính chất không bồi hoàn;
Quá trình phân phối quỹ bảo hiểm y tế gắn chặt với chức năng giám đốc bằng đồng tiền đối với mục đích tạo lập và sử dụng quỹ.
Nguyên tắc hoạt động của bảo hiểm y tế
Vì quyền lợi của người tham gia bảo hiểm và bảo đảm an toàn sức khỏe cho cộng đồng;
Chỉ bảo hiểm cho những rủi ro không lường trước được, không bảo hiểm những rủi ro chắc chắn sẽ xảy ra hoặc đã xảy ra;
Hoạt động dựa trên nguyên tắc số đông bù số ít.
Đối tượng của bảo hiểm y tế
Đối tượng của bảo hiểm y tế là sức khỏe của người được bảo hiểm (rủi ro ốm đau, bệnh tật,...).
Hình thức của bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế bắt buộc;
Bảo hiểm y tế tự nguyện.
Phạm vi của bảo hiểm y tế
Bảo hiểm y tế là một chính sách xã hội của mọi quốc gia trên thế giới do chính phủ tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của mọi tầng lớp trong xã hội để thanh toán chi phí y tế cho người tham gia bảo hiểm;
Người tham gia bảo hiểm y tế khi gặp rủi ro về sức khỏe được thanh toán chi phí khám chữa bệnh với nhiều mức khác nhau tại các cơ sở y tế;
Một số loại bệnh mà người đến khám bệnh được ngân sách nhà nước đài thọ theo quy định; cơ quan bảo hiểm y tế không phải chi trả trong trường hợp này.
==== Cơ chế hình thành và sử dụng quỹ bảo hiểm y tế ====
Hình thành quỹ bảo hiểm y tế
Ngân sách nhà nước cấp;
Tài trợ của các tổ chức xã hội, từ thiện;
Phí bảo hiểm y tế của người tham gia bảo hiểm, đối với người nghỉ hưu, mất sức: do bảo hiểm xã hội đóng góp;
Phí bảo hiểm của tổ chức sử dụng người lao động.
Sử dụng quỹ bảo hiểm y tế
Thanh toán chi phí y tế cho người tham gia bảo hiểm theo định mức;
Chi dự trữ, dự phòng;
Chi cho đề phòng hạn chế tổn thất;
Chi phí quản lý;
Chi trợ giúp cho hoạt động nâng cấp các cơ sở y tế.
== Các cam kết chung trong hợp đồng bảo hiểm ==
== Các điều khoản loại trừ phổ biến ==
Bảo hiểm nhân thọ:
Tử hình
Bị nhiễm HIV
Tự tử trong vòng 24 tháng
Trục lợi bảo hiểm
== Các thuật ngữ bảo hiểm thường gặp trong đơn bảo hiểm ==
Số tiền bảo hiểm
Mức miễn thường/Mức khấu trừ
Hạn mức trách nhiệm
Khấu hao tài sản
Tỉ lệ phí bảo hiểm
== So sánh với cá cược ==
Một số người cho rằng việc tham gia bảo hiểm cũng giống như một loại cá cược. Công ty bảo hiểm sẽ đặt cược rằng bạn hoặc tài sản của bạn sẽ không phải gánh chịu tổn thất trong khi bạn đang sử dụng tiền vào việc khác. Có thể hiểu một cách đại khái rằng: sự chênh lệch giữa phí bảo hiểm và khoản tiền giới hạn trách nhiệm của công ty bảo hiểm được tính theo tỉ lệ ( tương tự như việc chơi cá ngựa với tỉ lệ 10:1). Chính vì lí do này, rất nhiều các nhóm tôn giáo (bao gồm Amish và Hồi giáo) đã không tham gia bảo hiểm, thay vào đó họ trông chờ vào sự hỗ trợ của cộng đồng khi có thảm họa xảy ra. Hay nói cách khác, cộng đồng này sẽ hỗ trợ họ phục hồi lại tổn thất bị mất.
Tuy nhiên, cách thức này không hỗ trợ một cách hiệu quả đối với các rủi ro lớn. Ngay cả các công ty bảo hiểm ở Phương Tây cũng gặp khó khăn khi đối phó với các rủi ro lớn. Ví dụ như lũ lụt xảy ra sẽ làm ảnh hưởng đến gần như toàn bộ thành phố, và công ty bảo hiểm sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi phải thực hiện việc bồi thường. Ví dụ điển hình đó là lũ lụt ở New Orleans, 2005. Tương tự, các tổn thẩt do chiến tranh và động đất cũng bị loại trừ. Tuy nhiên, vẫn có thể bảo hiểm cho những tổn thất lũ lụt và động đất thông qua hình thức tái bảo hiểm.
Trong các trò chơi cá cước, thì mức tỉ lệ đã được xác định ngay từ đầu trò chơi và không chịu tác động bởi người chơi. Còn đối với việc tham gia bảo hiểm, ví dụ như bảo hiểm cháy, người tham gia bảo hiểm được yêu cầu là phải tìm cách giảm thiểu rủi ro: lắp các thiết bị báo cháy và sử dụng các vật liệu chống cháy để giảm thiểu những tổn thất gây ra bởi cháy. Bên cạnh đó, doanh nghiệp bảo hiểm cũng giúp thực hiện việc giảm thiểu tổn thất khi có rủi ro gây nên.
Như vây, bảo hiểm tương tự như cá cược ở góc độ rủi ro, nhưng có sự khác biệt về động cơ (tìm kiếm rủi ro hay tránh né rủi ro). Đối với trò cá cược, bạn không có sự lựa chọn nào khác hoặc thua hoặc thắng. Nhưng đối với bảo hiểm, bạn có thể quản lí rủi ro mà bạn không thể nào tránh được hoặc rủi ro thuần túy mà bạn không đoán trước được khả năng xảy ra. Quản trị rủi ro là việc xác định và kiểm soát rủi ro. Tránh né, giảm thiểu hay chuyển giao rủi ro là cách thức tạo sự dự đoán tốt hơn cho người tiêu dùng hay doanh nghiệp để họ đạt tối đa lợi ích trong các cơ hội của mình.
Cá cược cũng được xem là loại rủi ro không được bảo hiểm.
Sự cần thiết của việc mua Bảo hiểm: Bảo hiểm là hình thức chuyển giao rủi ro. Mua bảo hiểm thực chất là mua sự an tâm, là đổi lấy cái sự không chắc chắn có khả năng xảy ra thiệt hại bằng sự chắc chắn thông qua việc bù đắp bằng tài chính.
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Congressional Research Service (CRS) Reports regarding the U.S. Insurance industry
Federation of European Risk Management Associations
Bảo hiểm tại DMOZ
Insurance Bureau of Canada
Insurance Information Institute
Museum of Insurance - displays thousands of antique insurance policies and ephemera
National Association of Insurance Commissioners
The British Library - finding information on the insurance industry (UK bias) |
tuyến đường châu âu e15.txt | Tuyến đường châu Âu E15 là một phần của Mạng lưới Đường bộ Quốc tế châu Âu. Đây là một đường tham chiếu Bắc-Nam chạy từ Inverness, Scotland xuống phía nam qua Anh và Pháp để tới Algeciras, một thành phố cảng ở miền nam Tây Ban Nha. Hầu hết đoạn giữa Paris và London, tuyến đường chạy song song với tuyến đường sắt cao tốc LGV Nord của Pháp (cao tốc A1 của Pháp) và đường sắt cao tốc 1 của Anh (đường cao tốc M20).
== Hành trình ==
=== Vương quốc Anh (987 km) ===
Giống như tất các tuyến đường khác thuộc mạng lưới, E15 không được đánh số tại Vương quốc Anh. Tuyến đường nay bao gồm các con đường sau đây:
A9, Inverness tới Perth
M90 và A90, Perth tới Edinburgh
A902, A8 và A720 quanh Edinburgh
A68, Edinburgh tới Otterburn
A696, Otterburn tới Newcastle upon Tyne
A1 và A1(M), Newcastle upon Tyne tới London
M25 phía Bắc của sông Thames, A282 (đường hầm Dartford), M25 phía nam sông Thames, passing London to the east. Phần này kết hợp với E30 giữa A1 và Brentwood, Essex.
M20 và A20, London tới thị trấn Dover
E15 bị ngăn cách bởi eo biển Anh từ Dover và Calais, Pháp. Có một phà nối giữa Dover và Calais. Đường hầm eo biển Manche từ thành phố cảng Folkestone là sự gắn kết tuyến đường này.
=== Pháp (1173 km) ===
Tại Pháp, E15 chạy qua các con đường sau:
Đường cao tốc A26 – Calais-Saint-Omer-Béthune-Arras
Đường cao tốc A1 – Arras-Compiègne-Senlis-Sân bay quốc tế CDG
Đường cao tốc A3 – Sân bay quốc tế CDG-Bobigny-Paris Porte de Bagnolet
Boulevard Périphérique – Paris Porte de Bagnolet- Porte d'Italie
Đường cao tốc A6 – Paris Porte d'italie-Évry-Auxerre-Avallon-Beaune-Chalons sur Saône-Mâcon-Lyon
Đường cao tốc A7 – Lyon-Vienne-Valence-Montelimar-Orange
Đường cao tốc A9 – Orange-Nîmes-Montpellier-Béziers-Narbonne-Perpignan-Le Perthus
=== Tây Ban Nha (1273 km) ===
Tại Tây Ban Nha, E15 chạy qua đường cao tốc AP-7 và các con đường N-II, N-332, và N-340 chạy qua các đô thị từ: Girona – Barcelona – Tarragona – Castellón de la Plana – Valencia - Alicante – Elche – Murcia – Almería - Motril – Málaga – Algeciras
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
http://www.elbruz.org/eroads/E15.htm |
nhà lê sơ.txt | Nhà Lê sơ hay Lê sơ triều (chữ Nôm: 家黎初, chữ Hán: 初黎朝), là giai đoạn đầu của triều đại nhà Hậu Lê, một triều đại quân chủ chuyên chế trong lịch sử Việt Nam, được thành lập sau khi Lê Lợi phát động khởi nghĩa Lam Sơn đánh bại quân đội nhà Minh. Ông đổi tên Giao Chỉ (交阯), vốn tồn tại trong thời gian nội thuộc nhà Minh, trở về Đại Việt (大越), quốc hiệu có từ đời Lý Thánh Tông.
Thời đại Lê sơ có 10 vị Hoàng đế thuộc 6 thế hệ, đây là thời kỳ các Hoàng đế nhà Lê nắm trọn được quyền hành, cũng là thời kỳ vĩ đại, hoàng kim của chế độ phong kiến Việt Nam. Đời Lê Thái Tổ (Lê Lợi) và đặc biệt là đời Lê Thái Tông, xã hội được đi vào ổn định, phát triển thịnh vượng một cách mau chóng sau thời kỳ chiến tranh trước đó. Có câu đồng dao sau: "Đời vua Thái Tổ, Thái Tông; Con bế con dắt, con bồng, con mang...Đời vua Thái Tổ, Thái Tông; Thóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn".
Dưới thời Lê Thánh Tông, Đại Việt phát triển cực thịnh về mọi mặt từ kinh tế, văn hóa, xã hội, giáo dục, quân sự. Nước Đại Việt từ trước chưa bao giờ cường thịnh và mạnh mẽ, có sức ảnh hưởng toàn khu vực lớn bằng thời này, thời kỳ này được gọi là Hồng Đức thịnh thế (洪德晟世), tính đến ảnh hưởng các đời sau là Lê Hiến Tông, Lê Túc Tông, là hơn 30 năm.
Lãnh thổ thời đại này tiếp tục được mở rộng ra hơn nữa, cực thịnh gấp mấy lần so với đời nhà Lý và nhà Trần. Cùng với quân sự hùng mạnh, các đời Thái Tông đến Thánh Tông liên tiếp sát nhập lãnh thổ các quốc gia Bồn Man, Chiêm Thành; ngoài việc đối phó với các quốc gia, nền quân sự hùng mạnh khiến triều đình thẳng tay đàn áp các cuộc bạo loạn ở miền thượng, ổn định chính quyền trong thời gian dài. Mặt khác vì để đáp ứng một nền quân sự phát triển mạnh, nền kinh tế được phát triển theo thông qua buôn bán trong nước và thông thương với nước ngoài.
Thời kỳ nhà Hậu Lê bước vào giai đoạn trọng dụng quan lại, khác với nhà Trần bị chi phối bởi người trong hoàng tộc, luôn nắm đại quyền và được kế thừa nhau bằng việc thế tập. Triều đình mở nhiều khoa cử, thay đổi bộ máy chính quyền, không cho hoàng tộc các chức vụ thực quyền mà trọng dụng những người đã đổ khoa để bổ nhiệm, việc hạn chế sự thế tập dòng dõi quan lại giúp chế độ quan liêu hạn chế rất nhiều sự chuyên quyền dòng họ. Văn học Việt Nam được ghi nhận phát triển rực rỡ thời kỳ này, với việc Lê Thánh Tông mở ra Hội Tao Đàn, chính Hoàng đế khuyến khích học thuật trong toàn quốc gia. Danh sử Ngô Sĩ Liên thuộc về triều đại này, đã biên soạn Đại Việt sử ký toàn thư, tiếp tục nối bước Lê Văn Hưu đời Trần ghi chép giai đoạn lịch sử một cách đầy đủ và hoàn thiện. Nhiều công trình sử liệu, văn học, thiên văn, quan chế...được hoàn thiện trong thời Lê Sơ.
Tồn tại từ năm 1428 đến năm 1527, kéo dài đúng 100 năm, triều đại này bị gián đoạn bởi nhà Mạc do quyền thần Mạc Đăng Dung cướp ngôi và tự lập mình làm Hoàng đế, sau 6 năm được tái lập với tên gọi nhà Lê trung hưng.
== Tôn xưng ==
Theo Đại Việt sử ký toàn thư, triều Lê định thiên hạ phải gọi hoàng đế là bệ hạ (陛下) hoặc đôi khi "thánh thượng" (聖上) và "hoàng thượng" (皇上), thái tử là "điện hạ" (殿下). Riêng hoàng đế xưng "trẫm" (朕).
== Lịch sử ==
=== Lê Lợi sáng lập ===
Nhà Hậu Lê được thành lập từ kết quả thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn kéo dài 10 năm chống lại sự đô hộ của nhà Minh do Lê Lợi lãnh đạo.
Khi sang đánh nhà Hồ chiếm nước Đại Ngu (1406), nhà Minh đã nhân danh Phù Trần diệt Hồ, nhưng sau đó lại đánh diệt nhà Hậu Trần (1413). Vào cuối cuộc chiến với Lê Lợi, khi bị quân Lam Sơn vây trong thành Đông Quan (Hà Nội), tướng nhà Minh là Vương Thông đề nghị lập lại con cháu họ Trần làm điều kiện giảng hòa. Lê Lợi đã tìm lập Trần Cảo lập làm vua trên danh nghĩa vào cuối năm 1426.
Năm 1427, quân Minh sau 2 trận thua quyết định ở Chi Lăng và Xương Giang phải rút về nước. Lê Lợi đứng tên Trần Cảo là người đang làm vua trên danh nghĩa, sai sứ dâng biểu cho nhà Minh xin được phong. Minh Tuyên Tông biết Lê Lợi không có ý tôn Cảo nhưng vì bị thua mãi nên đồng ý phong cho Trần Cảo làm An Nam quốc vương (安南國王).
Ít lâu sau Trần Cảo chết. Lê Lợi tự mình lên ngôi, rồi sai sứ sang tâu nhà Minh rằng Trần Cảo bệnh mà chết ngày 10 tháng 1 năm 1428, do đó Lê Lợi có danh chính để làm vua Đại Việt. Minh Tuyên Tông thừa nhận Lê Lợi làm An Nam quốc vương.
Nhà Hậu Lê chính thức thành lập năm 1428, đó là ngày 15 tháng 3. Lê Lợi tự xưng làm Hoàng đế, sử gọi là Lê Thái Tổ. Ông đổi quốc hiệu từ Giao Chỉ (交阯) tồn tại dưới thời nhà Minh trở thành Đại Việt (大越). Ông đóng đô ở Thăng Long, đổi kinh thành Thăng Long trở thành Đông Kinh (東京), Tây Đô thành Tây Kinh (西京), Tây Kinh về sau đều gọi là Lam Kinh (藍京).
Thái Tổ chia nước ra làm 5 đạo: Đông Đạo, Tây Đạo, Nam Đạo, Bắc Đạo và Hải Tây Đạo, trong đó Hải Tây đạo gồm cả Thanh Hóa, Nghệ An, Tân Bình và Thuận Hóa. Mỗi đạo đặt một vệ quân, mỗi Vệ đặt chức Tổng quản, lại có chức Hành khiển để giữ sổ sách về việc quân-dân. Còn như các xã-thôn thì cứ xã nào có hơn 100 người trở lên, gọi là đại xã, đặt ba người xã quan; xã nào có 50 người trở lên, gọi là trung xã, đặt hai xã quan; xã nào có 10 người trở lên gọi là tiểu xã, đặt một người xã quan để coi việc trong xã. Kinh tế nhanh chóng được khôi phục, ông ra Quân điền chế, khiến mọi tầng lớp đều có ruộng, sự phục hưng đồng đều dần đi lên. Dù mới chiến loạn nhưng Thái Tổ hết sức quan tâm ngay đến giáo dục, ông cho mở lại Quốc Tử Giám, cho con cháu các quan viên và những người thường dân có khả năng vào học tập; mở nhà học và đặt thầy dạy nho học ở các phủ và các lộ.
Năm 1432, tù trưởng Đèo Cát Hãn nổi dậy, Thái Tổ sai Quốc vương Lê Tư Tề trấn áp. Tư Tề là con trưởng của Thái Tổ, vốn là người dũng mãnh, thiện chiến, ngay từ khi còn khởi binh lam Sơn đã không ít lần lập được công lao, phong làm Quốc vương (國王). Nay khi cầm binh dẹp loạn, nhanh chóng họ Đèo phải ra hàng. Bấy giờ Thái Tổ hay đau ốm, mọi việc đều do Quốc vương xử lý.
Thái Tổ lên ngôi chưa lâu, nhưng ra tay sát hại những công thần quan trọng như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, những đại tướng quân có công trong việc thành lập nhà Lê. Bấy giờ trong triều chưa định ai làm người kế ngôi, con trai thứ 2 Lê Nguyên Long vốn là Lương quận công (良郡公), được phong làm Hoàng thái tử, Quốc vương Tư Tề lại là người quen việc trị nước. Các đại thần Lê Sát, Lê Ngân, Lê Khôi ủng hộ Lương quận công, trong khi các tướng Phạm Văn Xảo, Trần Nguyên Hãn ủng hộ Quốc vương. Cuối cùng vào năm 1433, Thái Tổ giáng Quốc vương làm Quận vương (郡王), đưa Nguyên Long quyền kế thừa đại thống.
Có thuyết cho rằng: Thái Tổ vốn nghi kị họ Trần, thấy Nguyên Đán là người tôn thất nên diệt trừ đi, lại cho rằng Quốc vương cùng phe với Nguyên Đán nên Quốc vương cũng vì thế mất lòng Thái Tổ. Sau vụ việc giáng Quốc vương, sử thần chỉ ghi ngắn gọn mắc chứng điên cuồng, giết bừa các tỳ thiếp, nên không làm vừa ý Thái Tổ.
Năm 1433, Lê Lợi mất, thọ 49 tuổi, trị vì được 5 năm. Ông được truy thụy hiệu là Cao Hoàng Đế (高皇帝), nên còn được gọi là Thái Tổ Cao hoàng đế (太祖高皇帝), hay Cao Hoàng (高皇).
Thái tử Nguyên Long lên kế vị, tức Lê Thái Tông.
=== Thái Tông chuyên chính và đảng tranh ===
Vì hoàng đế còn nhỏ tuổi, bên cạnh ông có Đại tư đồ Lê Sát (黎察) được ban quyền phụ chính. Lê Sát xuất thân từ võ tướng, là người Lam Sơn, tính tình nóng nảy, nhiều việc xử lý quá khắt khe, làm bừa và không cân nhắc. Quan đồng tri Bắc đạo là Bùi Ư Đài xin chọn những bậc kỳ lão vào cung giúp can gián ấu đế và đặt chức sư phó để chỉ huy trăm quan. Lê Sát thấy ý định đó đụng chạm đến quyền lớn đang trong tay mình, nên sai bắt Ư Đài tống giam, kết tội ly gián vua tôi. Dù Thái Tông không đồng tình nhưng Lê Sát vẫn tâu đi tâu lại 4 lần, ép Thái Tông khép tội Ư Đài. Thái Tông bất đắc dĩ phải lưu đày Ư Đài, nhưng từ đó càng ngày càng ghét Lê Sát.
Năm 1437, Thái Tông ra chiếu chỉ: "Lê Sát tự chuyên giữ quyền bính, ghen người tài, giết Nhân Chú để tự ra oai của mình, truất Trịnh Khả để người ta phục, bãi chức của Ư Đài khiến đình thần không ai dám nói, đuổi Cầm Hổ ra nơi biên thùy để gián quan phải ngậm miệng. Xem những việc làm ấy đều không phải là đạo làm tôi. Nay muốn khép vào luật hình để tỏ rõ phép nước, song vì là đại thần cố mệnh, có công với nhà nước, đặc cách khoan tha, nhưng phải bãi chức tước". Sau đó Thái Tông bắt giam người cùng phe Lê Sát là Đặng Đắc, cho Bùi Ư Đài được phục chức, triệu Bùi Cầm Hổ về kinh, cử Tư khấu Lê Ngân thay Lê Sát chấp chính.
Tháng 7, năm đó, Thái Tông ra lệnh phế truất con gái ông là Nguyên phi Lê Ngọc Dao (黎玉瑤) làm dân thường, rồi ra chiếu kết tội Lê Sát và những người cùng cánh, định xử chém đầu rao ở chợ. Tuy nhiên, do là công thần nên Lê Ngân và Bùi Cầm Hổ khuyên Thái Tông không nên chém, chỉ ban thuốc tự tử, Thái Tông nghe theo.
Trừ được Lê Sát, Thái Tông càng khắt khe trong số các công thần, trong tâm có ý trừ Tư khấu Lê Ngân. Bấy giờ Lê Nhật Lệ (黎日厲), con gái của Lê Ngân được phong làm Huệ phi (惠妃) nhưng không được sủng hạnh, Lê Ngân sai người phù thủy làm lễ ở nhà, đúc tượng vàng Quan Thế Âm để mong con gái được yêu thương. Thái Tông nghe đến, sai người vào nhà ông tra khảo, bắt được bọn phù thủy yếm và tượng vàng. Lê Ngân hoảng hốt vào triều, tâu sớ giải bầy, nhưng Thái Tông quyết xử tử, ban cho ông tự vẫn tại nhà như Lê Sát trước đây. Tuy nhiên cũng như Lê Sát, cả nhà ông chỉ bị lưu đày, con trai Lê Nho Tông bị buộc làm lính giữ cửa, không được trọng dụng.
Dẹp được quyền thần, Thái Tông chuyên tâm vào chính sự. Năm 1438, Thái Tông chỉnh đốn việc thi cử các đạo. Lệ cứ 5 năm một lần thi hương, 6 năm một lần thi hội. Phép thi thì kỳ thứ nhất làm một bài kinh nghĩa, bốn bài tứ thư nghĩa, mỗi bài phải 300 chữ trở lên; kỳ thứ hai làm bài chiếu, bài chế và bài biểu; kỳ thứ ba làm bài thi phú; kỳ thứ tư làm một bài văn sách phải 1.000 chữ trở lên. Lại cho mở khoa cử, chọn tiến sĩ, ai đỗ đều được khắc tên vào bia đá Văn miếu, lệ khắc tên vào bia bắt đầu từ đây.
Năm 1439, Thái Tông thân chinh dẫn quân đi đánh các châu Phục Lễ (Lai Châu ngày nay). Bấy giờ bọn tù trưởng man di họ Cầm quấy nhiễu biên giới, nước Ai Lao nghe theo cũng cử 3 vạn quân theo chúng cướp phá. Thái Tông đích thân dẫn 6 quân đi đánh, thắng lợi rực rỡ. Năm 1441, phản tặc tên Thượng Nghiễm làm loạn ở châu Thuận Mỗi, Nghiễm trước cậy vào Ai Lao nhiều lần làm loạn, Thái Tông đã từng cất binh nhưng do dâng phương vật nên tha về. Đến nay Thái Tông đem quân đến bắt sống được 1 viên tướng Ai Lao và vợ cọn; lại bắt được các con trai của Nghiễm, Nghiễm bèn ra hàng. Thái Tông dâng tú báo thắng trận ở Thái Miếu.
Bấy giờ, sau khi Lê Thái Tổ mất, văn vật, chế độ, sách vở, lễ nhạc đều được khôi phục, điển chương văn vật rực rỡ. Các nước Trảo Oa (Java), Xiêm La, Tam Phật Tề , Chiêm Thành, Mãn Lạt Gia (Malacca) vượt biển sang cống, bên trong bọn phản nghịch đều được dẹp yên, giáng đòn phạt đến nỗi không gượng dậy được. Thái Tông lúc đó chưa đầy 20 tuổi, nếu không phải nói thiên tư trời ban thì còn từ nào đủ hình dung.
Năm 1442, ngày 4 tháng 8, Thái Tông đi thăm trại Vải (Lệ Chi viên, nay thuộc huyện Gia Lương, Hà Bắc), thuộc khu dinh thự của Hành khiển Nguyễn Trãi, bỗng nhiên băng hà, khi đó hoàng đế chỉ tròn 20 tuổi. Việc này dẫn đến vụ án Lệ Chi Viên nổi tiếng trong lịch sử, triều đình kết tội Hành khiển Nguyễn Trãi và thị thiếp là Nguyễn Thị Lộ, vì khi Thái Tông băng Thị Lộ đã luôn hầu bên cạnh, bấy giờ cho rằng Thị Lộ giết hoàng đế. Án đưa ra là tru di tam tộc, giết đến 3 họ của Nguyễn Trãi.
Thái Tông được truy thụy hiệu là Văn Hoàng Đế (文皇帝), về sau đều gọi là Thái Tông Văn hoàng đế (太宗文皇帝).
Ngày 12 tháng 8, Thái tử Lê Bang Cơ (黎邦基) lên kế vị, tức Lê Nhân Tông. Nhân Tông lên ngôi còn nhỏ tuổi, mẹ là Nguyễn Thần phi được tôn làm Hoàng thái hậu, buông rèm nhiếp chính.
=== Sự biến Diên Ninh ===
Lê Nhân Tông lên ngôi còn thơ ấu, Nguyễn Thái hậu cùng các đại thần Nguyễn Xí, Lê Thụ, Trịnh Khả phụ chính cho Tân đế. Lúc này niên hiệu được đổi thành Thái Hòa (大和).
Thái hậu coi việc, dùng phép sẵng từ đời trước, kinh tế, văn hóa tiếp tục được đi lên. Bấy giờ, Chúa Chiêm Thành là Bí Cai hai lần mang quân vây Hóa Châu. Tuy triều đình đã mấy lần phát binh, quân Chiêm vẫn chưa bỏ thói gây hấn. Vào năm 1446, Thái hậu sai Trịnh Khả, Lê Thụ, Lê Khắc Phục đi đánh, Bí Cai ra hàng, các tướng lập cháu Bí Cai là Ma Ha Quý Lai làm chúa Chiêm. Với chiến thắng huy hoàng này, quân Đại Việt tóm gọn được các cung phi của Bí Cai mà đem về kinh thành Đông Kinh.
Vào năm 1448, quốc gia Bồn Man (盆蠻) chịu nội thuộc vào Đại Việt. Thái hậu sáp nhập Bồn Man, trở thành châu Quy Hợp (歸合) của Nhà nước Đại Việt. Ngoài ra, cũng trong những năm tháng Thái hậu chấp chính, Triều đình ban lệnh cho đào sông Bình Lỗ ở Thái Nguyên, mang lại thuận lợi cho việc giao thông vận tải.
Vào năm 1449, Quý Lai bị Quý Do cướp ngôi. Quý Do sai sứ sang triều cống Đại Việt, nhưng Thái hậu từ chối không tiếp nhận lễ vật và phán: "Tôi giết vua, em giết anh là tội đại ác xưa nay, trẫm không nhận đồ dâng". Sau khi buộc sứ phải mang trả lại lễ vật về Chiêm, Thái hậu truyền lệnh cho Đồng tri hữu tri sự Nguyễn Hữu Quang, Điện trung thị ngự sử Trình Ngự đem thư sang Chiêm Thành, với nội dung như sau: "Sự thực của các ngươi như thế nào thì phải sang trình bày cho rõ".
Tháng 11, năm Quý Dậu (1453), Nhân Tông lên 12 tuổi, có thể tự coi chính sự, Thái hậu trả lại quyền chính cho ông rồi lui về ở cung riêng. Khi tự mình ra coi chính sự, Nhân Tông xuống lệnh đại xá, và đổi niên hiệu là Diên Ninh (延寧). Năm 1454 trở thành năm Diên Ninh thứ nhất.
Nhân Tông tỏ ra là người độ lượng với các công thần khai quốc có tội bị xử tử trước đây, từ thời Lê Thái Tổ, Lê Thái Tông đến khi Nguyễn Thái hậu chấp chính. Ngay khi ra cầm chính sự, ông ra nhiều chiếu chỉ biểu dương công lao của họ, hoặc trả lại của cải, ruộng đất cho con cháu họ. Ông khôi phục lại quan tước và ban cho con cháu Trịnh Khả (bị xử tử năm 1451) 100 mẫu ruộng; cấp 100 mẫu ruộng cho con cháu Lê Sát và Lê Ngân (bị xử tử năm 1437); trả lại điền sản trước đây cho con cháu Phạm Văn Xảo (bị xử tử năm 1430) và Trần Nguyên Hãn (bị xử tử năm 1429). Ông biểu dương công lao sự nghiệp của Nguyễn Trãi (bị xử tử năm 1442): Nguyễn Trãi là người trung thành giúp đức Thái Tổ dẹp yên giặc loạn, giúp đức Thái Tông sửa sang thái bình. Văn chương và đức nghiệp của Nguyễn Trãi, các danh tướng của bản triều không ai sánh bằng.
Ân đức của Nhân Tông nổi danh đương thời, ông chủ trương không quá hà khắc hình luật, trọng giáo dục, văn học, chế độ hiến chương triều đình, là người hiền minh sáng suốt, tuổi còn nhỏ mà là vị minh quân khó ai bì. Tuy hiền đức là vậy nhưng ông lại có kết cục bi thảm khi bị chính người anh lớn là Lạng Sơn vương Lê Nghi Dân giết chết.
Lê Nghi Dân (黎宜民) - tước phong bấy giờ là Lạng Sơn vương (諒山王) - con trai trưởng của Lê Thái Tông mẹ là Dương chiêu nghi (楊昭儀). Dương thị vốn là sủng phi của Thái Tông, về sau hành xử lỗ mãn mà bị phế làm thứ nhân. Nghi Dân trước đây mẹ được sủng ái nên được lập làm Hoàng thái tử, sau do mẹ thất sủng nên cũng bị phế, bị biếm đến vùng Lạng Sơn. Nhân Tông vốn nhân từ, đối đãi với anh em rất hậu, nên đối với Nghi Dân không phòng bị gì, đến đây bị Nghi Dân sai người lẻn vào cung và giết chết. Nguyễn Thái hậu cũng bị đem ra xử chết vào ngày hôm sau.
Theo một số nhà sử học, cũng như thần tích và các chuyện chép rải rác trong Đại Việt sử ký toàn thư, Nhân Tông vốn không phải con của Thái Tông Văn hoàng đế. Mẹ ông Nguyễn Thái hậu được cho là đã tư thông với Lê Nguyên Sơn, một người trong tôn thất họ Lê, chi dưới của Tuyên Tổ hoàng đế Lê Khoáng, tức tổ phụ của Thái Tông. Rất có thể trong quá trình trưởng thành, Nghi Dân đã được nghe nói về lời đồn này và quyết tâm đoạt ngôi của Nhân Tông.
Lạng Sơn vương Nghi Dân lên ngôi vào ngày 7 tháng 10, năm 1459, đặt niên hiệu là Thiên Hưng (天興). Tuy giết hại Nhân Tông nhưng Thiên Hưng Đế lại tha cho những người em khác, ông cải phong Lê Khắc Xương (黎克昌) từ Tân Bình vương (賓平王) thành Cung vương (恭王); Lê Tư Thành từ Bình Nguyên vương (平原王) thành Gia vương (嘉王).
Tháng 5, năm 1460, các tể tướng đại thần là Đỗ Bí, Lê Ngang, Lê Thụ, Lê Ê bí mật bàn việc lật đổ Thiên Hưng. Việc đó bị lộ, cả mấy người đều bị bắt giết. Thiên Hưng thay đổi nhiều pháp chế của đời trước, dùng những người thân tín của mình vào triều nên nhiều cựu thần không bằng lòng.
Tháng 6 năm đó, các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Lê Lăng, Lê Niệm, Lê Nhân Quý, Trịnh Văn Sái, Nguyễn Đức Trung...cùng bàn nhau làm binh biến lần nữa. Ngày 6 tháng 6, có buổi chầu sớm. Khi tan chầu, những người định làm binh biến ngồi ngoài cửa Sùng Vũ nơi Nghị sự đường. Nguyễn Xí phát động lệnh dẫn quân vào giết các bề tôi tin cẩn của Thiên Hưng là Phạm Đồn, Phan Ban ở Nghị sự đường. Lê Nhân Thuận chém chết Trần Lăng, giữ chặt quân cấm binh, đóng các cửa thành. Hơn 100 người phe cánh của Thiên Hưng bị giết.
Thiên Hưng Đế bị bắt, truất làm Lệ Đức hầu (厲德侯) và bị thắt cổ chết khi mới 22 tuổi.
Bấy giờ, các đại thần Nguyễn Xí, Đinh Liệt, Nguyễn Đức Trung đều nhất trí đưa Gia vương Tư Thành lên ngôi, kế thừa hoàng vị. Nhưng Nhập nội Thiếu úy Lê Lăng lại mời Cung vương, khi các đại thần đến mời Cung vương thì Vương nhất quyết từ chối, vì vậy Gia vương được tôn lên ngôi vị.
Ngày 26 tháng 6, năm 1460, Gia vương Lê Tư Thành lên ngôi, sử gọi là Lê Thánh Tông, lấy niên hiệu là Quang Thuận (光順). Năm đó, ông chỉ mới 18 tuổi. Ông chỉ định Nguyễn Xí và Đinh Liệt vào các chức quan cao nhất của triều đình, nắm giữ binh quyền. Từ đây, Đại Việt bước vào thời kỳ cực thịnh.
=== Hồng Đức thịnh thế ===
Lê Thánh Tông - có thể nói là vị hoàng đế tài giỏi nhất trong triều đại thời Lê Sơ, cũng như xét toàn bộ lịch sử Việt Nam.
Lên nắm chính quyền, ông chủ trương làm việc siêng năng, làm gương cho các quan lại. ông sửa sang bộ máy chính quyền, chia làm Lục bộ một cách đầy đủ. Về cơ cấu chính quyền các cấp, ông đã tiến hành xóa bỏ hệ thống tổ chức hành chính cũ thời Lê Thái Tổ từ 5 đạo đổi thành 13 đạo (thừa tuyên). Thánh Tông ra chỉ dụ, các quan chỉ được làm việc tối đa đến tuổi 65 và ông bãi bỏ luật cha truyền con nối cho các gia đình có công - công thần. Ông tôn trọng việc chọn quan phải là người có tài và đức.
Về kinh tế, Thánh Tông chủ trương các chính sách: sửa đổi luật thuế khóa, điền địa, khuyến khích nông nghiệp, mở đồn điền,kêu gọi người phiêu tán về quê,đặt ra luật quân điền chia đều ruộng đất cho mọi người. Những nỗ lực nhằm xây dựng phát triển Đại Việt của Thánh Tông đã được kiểm chứng qua các bài chiếu, chỉ dụ do ông trực tiếp chấp bút và ban bố, như Chiếu khuyến nông, Chiếu lập đồn điền, Chiếu định quan chế...và các chiếu thư khác. Các ngành nghề thủ công nghiệp và xây dựng dưới thời trị vì của Lê Thánh Tông cũng phát triển rực rỡ. Nghề in và làm giấy ở Đại Việt đạt một trình độ cao của thế giới thời bấy giờ. Số lượng sách in thời này khá đồ sộ. Đặc biệt nhất thời kỳ này là thành tựu trong công nghệ chế tạo vũ khí và đồ sắt chiếm ưu thế. Đồ gốm, sứ thời Lê Sơ phát triển đạt được độ tinh xảo và hoa văn đẹp, nay càng rực rỡ hơn dưới thời Thánh Tông. Việc giao thương buôn bán đã chắp cánh cho đồ gốm thời này đi xa và hiện nay bộ sư tập về đồ gốm Lê Sơ cũng rất phong phú. Thương mại và giao dịch buôn bán với các lân bang phát triển mạnh, cùng với bước chân viễn chinh xa xôi của đội quân đế chế Đại Việt. Để tạo thuận tiên cho việc mua bán Lê Thánh Tông đã từng khuyến dụ các quan rằng: "Trong dân gian hễ có dân là có chợ để lưu thông hàng hoá, mở đường giao dịch cho dân. Các xã chưa có chợ có thể lập thêm chợ mới. Những ngày họp chợ mới không được trùng hay trước ngày họp chợ cũ để tránh tình trạng tranh giành khách hàng của nhau".
Bên cạnh phát triển kinh tế, về văn hóa, giáo dục cũng được phát triển mạnh. Thánh Tông tiếp tục đẩy cao Nho giáo, hạn chế sự phát triển của Phật giáo như đời nhà Lý, sửa sang nhiều chế độ đãi ngộ hiền tài. Ông cho Ngô Sỹ Liên soạn bộ Đại Việt sử ký toàn thư, góp phần lớn lao trong việc chép sử, ngoài ra còn có Nhà toán học Lương Thế Vinh với Đại thành Toán pháp, Phan Phu Tiên với Việt âm thi tập, Đại Việt sử ký tục biên, Bản thảo thực vật toát yếu (Tóm lược sách bản thảo thực vật), tri thức thời đại này đã lên đến đỉnh cao, rực rỡ hơn các triều đại trước. Thánh Tông bắt đầu cho phép tôn vinh việc học bằng các cuộc lễ xướng danh (lễ đọc tên người thi đậu), lễ vinh quy bái tổ (lễ đón rước người thi đậu về làng) và nhất là lệ khắc tên và lý lịch tiến sĩ vào bia đá Văn Miếu. Vì thế khuyến khích mọi tầng lớp cư dân đua nhau học hành để tên tuổi được ghi vào bảng vàng, để gia môn được vinh dự và để làng quê được vinh hiển. Bên cạnh đó, bản thân Thánh Tông là một người hay chữ, ông tự xưng làm Thiên Nam động chủ (天南洞主), viết nhiều bài thơ, rất nhiều bài được lưu truyền trong dân gian và trong giới tri thức. Đặc biệt tuyển tập Thánh Tông di thảo đã để lại giá trị lớn trong dòng truyện ký. Thánh Tông cho thành lập Tao đàn Nhị thập bát Tú, xưng làm Tao Đàn nguyên súy (騷壇元帥), cùng với Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận, Thái Thuận là những trụ cột văn chương nổi tiếng dưới thời Lê Sơ.
Năm 1470, Thánh Tông đổi niên hiệu thành Hồng Đức (洪德), về sau người ta đều gọi niên hiệu này của ông khi nói về một triều đại đầy thịnh vượng và cực thịnh, gọi là Hồng Đức thịnh thế (洪德晟世). trên thực tế sự cực thịnh này kéo dài cả về đến thời cháu nội ông là Lê Túc Tông. Bản thân Thánh Tông được gọi là Hồng Đức Đế (洪德帝).
Bên cạnh là một nhà văn hóa, Thánh Tông còn chủ trương mở rộng lãnh thổ Đại Việt, ông là vị hoàng đế mở mang bờ cõi nổi tiếng bậc nhất trong lịch sử Việt Nam khi Tây tiến đánh qua các tiểu quốc, cường quốc phía tây như Lan Xang, Bồn Man, những nước giúp đỡ họ Cầm làm loạn ở vùng đất thuộc Lai Châu ngày nay. Bên cạnh đó, sau sự kiện năm 1471, Chiêm Thành vốn là kình địch của Đại Việt, từ một cường quốc trở nên suy yếu trầm trọng, kinh đô Đồ Bàn bị phá hủy, hơn 30.000 người bị bắt, trong đó chúa Chiêm Trà Toàn đã bị tử trận cùng hơn 40.000 quân Chiêm. Sau khi Trà Toàn bị bắt, em là Trà Toại trốn vào núi, sai người sang cầu cứu nhà Minh và xin phong vương. Được tin, Thánh Tông sai Kỳ quận công Lê Niệm đem 3 vạn quân vào đánh, Trà Toại bị bắt giải về kinh. Về sau, Minh Hiến Tông sai sứ sang bảo Thánh Tông phải trả đất cho Chiêm Thành, nhưng ông nhất quyết không chịu. Sau chiến thắng, Thánh Tông thực hiện chính sách mới, bình định và Việt hóa dân chúng người Chiêm Thành và sáp nhập lãnh thổ miền bắc Chiêm Thành (từ đèo Hải Vân tới bắc Phú Yên ngày nay) vào Đại Việt. Tháng 6 năm 1471, lãnh thổ miền bắc Chiêm Thành được lập thành thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa. Tới đây, Thánh Tông đưa thừa tuyên Quảng Nam vào Thiên hạ bản đồ, đất nước Đại Việt tổng cộng 13 thừa tuyên.
Ngày 30 tháng 1, năm 1497, Lê Thánh Tông mất, thọ 55 tuổi, cai trị được 37 năm, thụy hiệu là Thuần Hoàng Đế (淳皇帝), nên được gọi là Thánh Tông Thuần hoàng đế (聖宗淳皇帝). Con trưởng là Lê Tranh (黎鏳) kế vị, sử gọi là Lê Hiến Tông. Ông đổi niên hiệu Cảnh Thống (景統).
Lê Hiến Tông là bậc minh quân như phụ hoàng, tiếp tục đường lối trị vì của Thánh Tông nhưng chủ trương ổn định và phát triển, đẩy mạnh chính quyền sau một thời gian chiến tranh và để dần thu phục những người bản địa của các vùng đất mà Thánh Tông đã chiếm được. Các sử gia đều nhìn nhận Hiến Tông là vị hoàng đế giỏi. Tuy nhiên, ông chỉ cai trị được 7 năm thì qua đời, đó là vào ngày 24 tháng 5, năm 1504. Thái tử Lê Thuần (黎㵮) kế vị, tức Lê Túc Tông. Túc Tông được nhận xét là thông minh hơn người, từ nhỏ được Hiến Tông yêu quý và chọn làm Thái tử dù không phải là con trưởng. Tuy nhiên chưa được 1 năm thì Túc Tông yểu mệnh qua đời vào ngày 30 tháng 12, năm 1504, nối ngôi chỉ vừa 6 tháng.
Trước khi qua đời, Túc Tông nhận thấy trong số hoàng thất, anh trai mình là Lê Tuấn (黎晭) có khả năng nhất, nên chỉ định làm người kế vị. Huy Gia Thái hoàng thái hậu Nguyễn thị, mẹ của Hiến Tông, bà nội của Túc Tông và Lê Tuấn lại phản đối. Bà cho rằng Lê Tuấn là con của hạng tỳ thiếp hèn mọn, nên nhân cách không cao quý, không thể kế thừa ngôi chính thống, bà bèn chọn một tôn thất trong họ là Lã Côi vương (không rõ tên) làm người kế vị. Tuy nhiên, mẹ nuôi của Lê Tuấn là Nguyễn Kính phi và đại thần Nguyễn Nhữ Vy đã mưu kế trong cung, lừa Thái hậu ra khỏi thành đi đón Lã Côi vương, còn bọn họ trong cung mau chóng truyền chỉ lập Lê Tuấn kế vị.
Ngày 18 tháng 12, năm 1505, Lê Tuấn lên ngôi, đặt niên hiệu là Đoan Khánh (端慶), sử gọi là Lê Uy Mục. Từ đây lịch sử nhà Lê Sơ rôi vào một thời kỳ khủng hoàng vì sự man rợ của vị hoàng đế này.
=== Uy Mục bạo đế ===
Lê Uy Mục, tên thật Lê Tuấn (黎濬), con trai thứ hai của Lê Hiến Tông, mẹ là Nguyễn Thị Cận, người làng Phù Chẩn, huyện Đông Ngàn. Ngày 8 tháng 12, năm 1488, Nguyễn Thị Cận sinh ra Lê Tuấn rồi chết do bệnh hậu sản, Nguyễn Kính phi lúc đó là chị em tốt với Hoàng hậu, bèn nhận Tuấn về làm con.
Bấy giờ, Hiến Tông có con trưởng là An vương Lê Tuân (黎洵), con thứ 2 là Uy Mục và con thứ 3 chính là Lê Túc Tông. Mẹ của An vương là Mai chiêu nghi, chỉ là thị thiếp nên dù là con trưởng của Hiến Tông nhưng An vương khó được xét làm người kế thừa, hơn nữa lúc nhỏ An vương phạm tội bất hiếu với mẹ, nên Hiến Tông càng không đoái hoài. Trong khi đó, mẹ của Túc Tông là chính thất, Trang Thuận hoàng hậu Nguyễn Hoàn, bản chất Túc Tông lại là người nhân hiếu, thông minh, ngôi Thái tử sớm thuộc về Túc Tông. Khi Hiến Tông qua đời năm 1504, Nguyễn Kính phi muốn đưa Uy Mục lên ngôi, đem tiền vàng hối lộ cho Thượng thư Đàm Văn Lễ, Văn Lễ không nhận mà quyết lập Túc Tông, Uy Mục từ đấy sinh hận.
Ngày 22 tháng 3, năm đầu niên hiệu Đoan Khánh, Uy Mục cho người trong đêm giết chết bà nội là Thái hoàng thái hậu Nguyễn Thị Hằng, vì Uy Mục căm giận Thái hậu sỉ nhục mẹ của mình và việc bà không chịu lập Uy Mục lên ngôi. Ngày 5 tháng 6, cũng năm ấy, Uy Mục sai cách chức Lễ bộ thượng thư Đàm Văn Lễ và Đô ngự sử Nguyễn Quang Bật, bấy giờ 2 người là những người không thừa nhận ngôi vị của Uy Mục, bị cách chức đày về Thừa tuyên Quảng Nam. Nhưng Uy Mục nghe lời Nguyễn Nhữ Vy, trên đường đi lén sai người giết chết cả 2 người, về sau lại giết Nhữ Vy. Uy Mục còn ra lệnh cho giết hết những người Chiêm Thành bị bắt làm gia nô trong các điền trang của các thế gia, công thần. Ông từ khi lên ngôi, đêm nào cũng cùng với cung nhân uống rượu, rồi đến khi say thì giết đi rất tàn bạo. Phó sứ thần Nhà Minh là Hứa Thiên Tích (許天錫) sang, trông thấy Uy Mục, làm thơ gọi Uy Mục là Quỷ vương (鬼王):
Sự tàn bạo của Uy Mục đã gây nên một làn sóng bất bình trong hàng ngũ quan lại, tông thất. Quyền hành trong triều rơi vào tay họ ngoại của hoàng đế. Bấy giờ, uy quyền thuộc về họ ngoại, phía đông thì làng Hoa Lăng (quê của Nguyễn Kính phi), phía tây thì làng Nhân Mục (quê của Trần hoàng hậu), phía bắc thì làng Phù Chẩn (quê của Chiêu Nhân thái hậu) đều chuyên cậy quyền thế, vùi dập các quan, kẻ thì vì ý riêng mà giết hại sinh dân, kẻ thì dùng ngón kín mà yêu sách tiền của. Muôn dân ta oán mà hoàng đế vẫn không chừa, lại mang lòng ngờ vực, đố kỵ. Các quan người nào ngày trước không lập mình, thì thường giết đi. Lại ngầm sai nội nhân Nguyễn Đình Khoa dò xét cả 26 thân vương là các chú và anh em của ông. Trong đó, Kinh vương Lê Kiện là chú đã chạy trốn không biết đi đâu, chỉ có Giản Tu công Lê Oanh là con của Kiến vương Lê Tân, chú ruột của hoàng đế, thì bị giam vào ngục nhưng trốn thoát được. Do vậy, mọi người đều cảm thấy nguy đến thân mình, càng nghĩ đến việc nổi loạn.
Tháng 11, năm 1509, Giản Tu công giả xưng anh ruột của mình là Cẩm Giang Vương Lê Sùng (黎漴), dựng cờ ở Lam Kinh và đưa quân về Đông Kinh. Uy Mục bèn bắt giết Lê Sùng và mẹ của Lê Oanh là Trịnh Thị Tuyên. Giản Tu công vào chiếm kinh thành bắt được và bức Uy Mục tự tử ngày 1 tháng 12 năm 1510. Giản Tu công hận Uy Mục giết hại gia đình mình, chưa nguôi giận, sai người dùng súng lớn, để xác Uy Mục vào miệng súng, cho nổ tan hết hài cốt, chỉ lấy ít tro tàn về chôn tại An Lăng (安陵) ở quê mẹ ông tại làng Phù Chẩn.
Vì sự tàn bạo độc ác, Uy Mục bị giáng làm Mẫn Lệ công (愍厲公), tuy nhiên về sau Lê Chiêu Tông lên kế vị đã truy phong ông thành thụy hiệu Uy Mục hoàng đế (威穆皇帝), còn được gọi là Uy Mục Bạo Đế (威穆暴帝).
Ngày 4 tháng 12, năm 1509, Giản Tu công lên ngôi, tức Lê Tương Dực.
=== Hồng Thuận trung hưng và sự suy trị ===
Lê Tương Dực, tên thật là Lê Oanh (黎瀠), con trai thứ hai của Kiến vương Lê Tân, là cháu nội của Lê Thánh Tông, dưới thời Lê Hiến Tông được ban phong hiệu Giản Tu công (簡修公). Khi Lê Uy Mục nghi ngờ tôn thất, bắt giam ông trong ngục, ông đã tìm kế thoát ra, gặp được Nghĩa quận công Nguyễn Văn Lang hiện đang ẩn dật tại Lam Kinh. Hai người tập hợp lực lượng, thảo chiếu dấy binh và tiến vào Đông Kinh vào năm 1509. Ông đặt niên hiệu là Hồng Thuận (洪順), bắt đầu thời kỳ trung hưng ngắn ngủi sau sự náo loạn dưới thời Uy Mục.
Trong những năm đầu cầm quyền, Lê Tương Dực cũng có vài đóng góp thể hiện sự cố gắng vực dậy đất nước đã suy tàn, nhất là trong lĩnh vực khoa cử. Năm 1511, ông tổ chức kỳ thi Hội, đến kỳ thi Đình thì ông đích thân ra đề văn hỏi về đạo trị quốc. Ông cho trùng tu Quốc Tử Giám, dựng lại bia tiến sĩ tỏ rõ sự khuyến khích hiền tài. Đông các Đại học sĩ Đỗ Nhạc đã soạn bài ký ở Quốc Tử giám ca ngợi công đức của Lê Tương Dực, đánh giá là người đủ tài đức để tiếp nối cơ nghiệp của Thuần Hoàng khi xưa. Bấy giờ, Lại bộ tả thị lang Lương Đắc Bằng dân kế trị nước, đại ý khuyên rằng sửa sang văn chiếu điển lệ; tỏ lòng hiếu để cho người trong nước thuận theo; rời xa sắc dục; không dùng lời nịnh; không tùy tiện trao thưởng quan tước; cân nhắc bổ nhiệm quan lại chân chính công bằng; tiết kiệm chi tiêu để khuyến khích sự liêm chính; khen người tiết nghĩa để trọng đạo cương thường; cấm hối hộ bỏ trừng thói tham ô; sửa sang võ bị để thủ thế hùng cường; lựa chọn ngôn quan để trọng dụng lời thật; nới nhẹ việc phu để xót thương dân chúng; hiệu lệnh tín thực để nắm ý chí thiên hạ; luật pháp chế độ phải thận trọng để mở nền thịnh trị thái bình. Bấy giờ Tương Dực Đế đều cho là lời hay, luôn nghe theo, chẳng mấy chốc mở ra thời kỳ trung hưng thịnh vượng dưới thời cai trị của ông.
Năm 1510, Tương Dực sai quan Binh bộ Thượng thư là Vũ Quỳnh soạn bộ Đại Việt thông giám thông khảo, gọi tắt là Đại Việt thông giám hay Việt giám thông khảo. Đại Việt thông giám gồm 26 quyển, chia thành Ngoại kỷ chép từ Hồng Bàng đến hết nhà Ngô, Bản kỷ từ Đinh Tiên Hoàng đến đầu thời Lê Thái Tổ. Tương Dực còn sai Lê Tung soạn bài tổng luận về bộ sử ấy. Theo Phan Huy Chú, bộ sách này được Lê Nại đánh giá là quy mô và đúng với kinh, trúng với sử.
Năm 1511, người làng Quang Bị, huyện Bất Bạt là Trần Tuân nổi loại ở vùng Sơn Tây. Bấy giờ, nhân dân các phố xá ở kinh thành náo động, đều đem vợ con về quê quán, đường phố không còn một ai đi lại. Lê Tương Dực sai Mỹ Huệ hầu Trịnh Duy Sản chỉ huy quan quân đi đánh Trần Tuân. Bấy giờ, quân của Tuân đã bức sát đến huyện Từ Liêm (Quốc Oai), quan quân bại trận, lui về đóng ở các xứ Đông Ngạc, Nhật Chiêu. Về sau, Trịnh Duy Sản lập đại công, phá tan được cuộc nổi loạn, được phong tước Nguyên quận công (原郡公).
Năm 1516, Lê Tương Dực cho đắp thành rộng cả ngàn trượng chắn ngang sông Tô Lịch. Để thể hiện uy quyền đế vương, ông sai một người thợ là Vũ Như Tô xây điện 100 nóc, xây Cửu Trùng Đài. Quân dân làm trong mấy năm trời không xong, hao tổn tiền của, chết hại nhiều người. Bỏ bê việc nước, chỉ ngày ngày du ngoạn Tây Hồ, Tương Dực nghĩ ra nhiều trò quái lạ. Bấy giờ, có Trần Cảo thấy lời sấm ở phía Đông có khí thiên tử, bèn gầy dựng thế lực làm phản tại vùng Hải Dương, Đông Triều, Thủy Đường, tự xưng làm Đế Thích, chiêu mộ quân sĩ hơn 1 vạn người. Lê Tương Dực đích thân xuất chinh đi đánh giặc, ngự ở trên điện ra lệnh điều động các tướng. Sau quân triều đình sang đánh, Trần Cảo lui về đóng ở Trâu Sơn, thuộc phủ Từ Sơn. Tương Dực sai An Hòa hầu là Nguyễn Hoằng Dụ sang đóng quân ở Bồ Đề để chống giữ.
Nguyên quận công Trịnh Duy Sản, bấy giờ có công lao dẹp loạn Trần Tuân, đem lòng oán hận Lê Tương Dực đã từng phạt mình bằng roi trước đây. Duy Sản nghe lời Thái sư Lê Quảng Độ và kẻ hầu là Trình Trí Sâm, âm mưu giết Lê Tương Dực và lập người mới, trở thành quyền thần. Ngày 7 tháng 4 năm đó, Duy Sản xông vào cung tìm và giết chết Lê Tương Dực, giết luôn nhiều quan nội thị theo hầu cận. Bấy giờ cho rằng Duy Sản là kẻ đại nghịch, sự đại loạn cuối đời Lê Sơ đều do y bắt đầu mà ra.
Lê Tương Dực bị giáng làm Linh Ẩn vương (靈隱王), về sau được truy phong làm Tương Dực hoàng đế (襄翼皇帝), táng ở Nguyên Lăng (元陵). Bấy giờ Khâm Đức hoàng hậu nghe tin hoàng đế qua đời, bèn than khóc, nhảy vào điện Mục Thanh đang cháy để chết theo. Người quân sĩ cũng đem xác bà an táng cùng Tương Dực trong Nguyên lăng.
=== Chính quyền tàn vong ===
Sau khi giết Tương Dực Đế, Nguyên quận công Trịnh Duy Sản bèn tính lập con trưởng của Mục Ý vương là Lê Quang Trị, nhưng Vũ Tá hầu Phùng Mại lại muốn lập con trưởng của Cẩm Giang vương là Lê Y (黎椅). Bấy giờ Tường quận công Phùng Dĩnh sai lực sĩ giết chết Mại, rồi lập Quang Trị lên. Nhưng chưa được 3 ngày, Trịnh Duy Đại đã đem Quang Trị về Tây Kinh. Bọn đại thần Trịnh Duy Sản bấy giờ lại đón Lê Y lên ngôi, tức Lê Chiêu Tông.
Bấy giờ, An Hoà hầu Nguyễn Hoằng Dụ đóng quân ở Bồ Đề, nghe tin Trịnh Duy Sản làm việc thí nghịch, liền nổi giận đem quân vượt sông, đốt phá phố xá ở kinh thành, bọn Trần Cảo ùa vào thì thành thất thủ, Thái sư Lê Quảng Độ ra hàng. Trịnh Duy Sản cùng triều đình đưa Chiêu Tông về Tây Kinh. Khi cửa thành bỏ hoang, dân chúng vào thành tranh nhau lấy vàng bạc, châu báu, bạch đàn, xạ hương, lụa là tơ gai đầy trong dân gian; sách vở, hồ tiêu, hương liệu các thứ vứt bỏ trên đường phố cao đến 2 tấc, không thể kể xiết. Người mạnh khoẻ tranh cướp vàng bạc, có người lấy được đến 400 trăm lạng, người yếu cũng được đến hơn 200 lạng. Cung khuyết, kho tàng do vậy mà hết sạch.
Chiếm được kinh thành, Trần Cảo xưng làm Thiên Ứng Đế (天應帝), ra cung điện bàn việc triều đình, dùng Lê Quảng Độ coi việc. Lúc này Thiết Sơn bá Trần Chân, con nuôi của Nguyên quận công Trịnh Duy Sản, tập hợp quân sĩ hơn 6000 người ở chợ Hoàng Hoa (chợ Ngọc Hà ngày nay). Cảo xua Phan Ất đi trấn áp, 2 bên đánh nhau quyết liệt, Trần Chân do không có tiếp viện bèn lui về cố thủ. Bấy giờ Chiêu Tông từ Tây Kinh, hiệu triệu quân 3 phủ , sai các Nguyên quận công Trịnh Duy Sản, An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ, Bình Phú hầu Nguyễn Văn Lự (em của Nguyễn Văn Lang), Vĩnh Hưng hầu Trịnh Tuy đem quân thuỷ bộ cùng tiến thẳng đến Đông Kinh. Đồng thời gửi hịch cho các phủ huyện.
Ngày 23 tháng 3, năm 1516, tại Đông Kinh xảy ra trận chiến ác liệt giữa các thế lực phò Chiêu Tông và Trần Cảo. Cảo liên tục dùng súng, hỏa khí bắn ra để chặn quân triều đình, Nguyên quận công Trịnh Duy Sản, An Tín bá Trịnh Hy, Vĩnh Hưng hầu Trịnh Tuy ra sức chống lại, hết sức dũng mãnh, khiến Cảo phải gắng đóng cửa thành cố thủ. Đến khi thế trận nguy khốn, Cảo mở cửa thành chạy qua sông Đuống, chạy lên Lạng Nguyên.
Ngày 27 tháng 3, Chiêu Tông chính thức đặt niên hiệu là Quang Thiệu (光紹). Bấy giờ Trịnh Duy Đại giữ Quang Trị ở Tây Kinh, nghe đến Chiêu Tông đã chiếm được Đông Kinh, bèn giết Quang Trị và những người em để chạy về Chiêu Tông. Tặc thần Lê Quảng Độ do đầu hàng Trần Cảo bị giết, cùng năm Nguyên quận công Trịnh Duy Sản do đánh tàn dư của Trần Cảo bị tử trận.
Năm 1517, An Hoà hầu Nguyễn Hoằng Dụ có hiềm khích với Vĩnh Hưng bá Trịnh Tuy, đóng quân chống nhau. Hoằng Dụ đóng quân ở phường Đông Hà, Tuy đóng quân ở ngoài thành Đại La chống giữ nhau, kinh thành trở thành chiến trường của 2 bên. Bấy giờ tướng Trần Chân có ân tình với họ Trịnh, thấy Nguyễn Hoằng Dụ đánh Trịnh Tuy bèn đem quân định cứu, đợi khi Hoằng Dụ vào chầu Chiêu Tông thì xông ra bắt. Khi ấy Hoằng Dụ đến cửa Đại Hưng, ngờ có quân của Trần Chân bèn đi thuyền chạy ra Thanh Hóa. Trần Chân gửi thư cho Trấn thủ Sơn Nam là Mạc Đăng Dung khuyên bắt Hoằng Dụ, nhưng Đăng Dung không nghe theo. Năm ấy, trong nước đói to, xác người chết đói nằm gối lên nhau. Những nơi trải qua binh lửa như Đông Triều, Giáp Sơn ở Hải Dương; Yên Phong, Tiên Du, Đông Ngàn ở Kinh Bắc là càng đói dữ. Trần Chân sau khi đuổi được Hoằng Dụ, tiện tay chiếm giữ Kinh thành.
Năm 1518, Chiêu Tông ra lệnh giết chết Thiết Sơn bá Trần Chân, cùng bè đảng hơn 6 người. Bấy giờ, quyền thế Trần Chân rất lớn, Vũ Xuyên hầu Mạc Đăng Dung còn phải kết thông gia. Trong kinh sư có kẻ hiếu sự làm câu ca rằng: "Trần hữu nhất nhân, vi thiên hạ quân, thố đầu hổ vĩ, tế thế an dân" (Có một người họ Trần, làm vua thiên hạ, đầu thỏ đuôi hổ, trị nước yên dân); Thọ quốc công Trịnh Hựu cùng với Thuỵ quân công Ngô Bính bàn với nhau rằng: Một người họ Trần tức làm Trần Chân, đầu thỏ đuôi hổ tức là cuối năm Dần đầu năm Mão, sợ rằng vào năm ấy sẽ có biến loạn, họ khuyên Chiêu Tông sớm trừ đi. Trần Chân bị xử trảm, bêu đầu, đệ tử của Chân là Nguyễn Kính, Hoàng Duy Nhạc, Nguyễn Áng, Nguyễn Hiêu, Cao Xuân Thì họp binh với nhau ở chùa Yên Lãng , đánh sát vào kinh thành. Chiêu Tông nghe tin, đành đem trốn vào Gia Lâm. Bấy giờ, Vĩnh Hưng hầu Trịnh Tuy đóng quân ở xứ Sơn Nam có hơn 1 vạn người, nghe tin quan gia chạy ra ngoài, quân lính tan cả. Thế là quân Sơn Tây thả sức cướp phá, trong thành sạch không, Kinh sư thành bãi săn bắn, đánh cá. Chiêu Tông cho gọi Nguyễn Hoằng Dụ ra đánh bọn Nguyễn Kính. Nhưng Hoằng Dụ lưỡng lự không đi.
Để xoa dịu phe cánh Nguyễn Kính, Chiêu Tông sai giết những người gièm pha Trần Chân trước đây, nhưng Kính vẫn tụ tập cướp phá như trước. Mạc Đăng Dung khuyên Chiêu Tông về Bảo Châu (huyện Từ Liêm), nhưng nội thần Đỗ Nhạc và Nguyễn Dư can ngăn, Đăng Dung đem giết cả hai, đưa Chiêu Tông cùng em là Lê Xuân về Bảo Châu. Sau khi Chiêu Tông rời Đông Kinh, Vĩnh Hưng bá Trịnh Tuy cùng bọn giặc Sơn Tây lập Lê Bảng (黎榜), con của Tĩnh Tu công Lê Lộc (静修公黎禄) lên ngôi, đổi thành Đại Đức Đế (大德帝). Được nửa năm lại phế Bảng mà lập Lê Do (黎槱), đổi thành Thiên Hiến Đế (天宪帝). Cả 2 đều là cháu 4 đời của Cung vương Lê Khắc Xương (黎克昌), con thứ hai của Thái Tông Văn Hoàng.
=== Mạc Đăng Dung soán vị ===
Chiêu Tông triệu thông gia của Trần Chân là Vĩnh Xuyên bá Mạc Đăng Dung đang trấn thủ Hải Dương và An Hòa hầu Nguyễn Hoằng Dụ đem quân đánh bọn Nguyễn Kính, Nguyễn Áng. Hoằng Dụ thua to, quân chết rất nhiều. Hoằng Dụ chạy xuống thuyền, tự liệu không đánh được, liền bãi binh lui về, chỉ để một mình Mạc Đăng Dung ở lại cầm cự với bọn Nguyễn Áng.
Năm 1519, Vĩnh Hưng bá Trịnh Tuy đánh úp Chiêu Tông ở dinh Bồ Đề, bị thua, phải đem Lê Do về Yên Lãng, Yên Lạc (Vĩnh Phú ngày nay). Tháng 7 năm ấy, Mạc Đăng Dung dẹp được Lê Do, bắt giết Do và Nguyễn Sư. Trịnh Tuy bỏ chạy về Tây Kinh, Nguyễn Kính đầu hàng. Cấp phong cho Đăng Dung làm Minh quận công (明郡公).
Năm 1521, Mạc Đăng Dung lại được phong làm Nhân quốc công (仁國公), lĩnh quản binh lực thủy bộ của 13 đạo, lại phong làm Thái phó. Tháng 8, Đăng Dung lãnh quân đến vùng Kinh Bắc, dẹp được Trần Cung, con của Trần Cảo. Lúc này quyền thế của Mạc Đăng Dung rất lớn, kiểm soát toàn bộ triều đình. Dung đem con gái nuôi vào cung hầu, tiếng là chầu hầu, thực ra là để dò xét, coi giữ. Lại cho con trưởng là Mạc Đăng Doanh làm Dục Mỹ hầu (煜美侯), trông coi điện Kim Quang. Đăng Dung đi bộ thì lọng phượng giát vàng, đi thuỷ thì thuyền rồng giây kéo, ra vào cung cấm, không kiêng sợ gì. Lại giết bọn thị vệ Nguyễn Cấu, Đô lực sĩ Minh Sơn bá Nguyễn Thọ và Đàm Cử.
Ngày 27 tháng 7, năm Quang Thiệu thứ 7 (1522), Chiêu Tông chạy ra huyện Minh Nghĩa ở Sơn Tây (vùng đất nay thuộc tỉnh Hà Tây), lúc đó ông mưu ngầm với bọn Phạm Hiến, Phạm Thứ, sai người đem mật chiếu vào Tây Kinh bảo Trịnh Tuy nghênh viện. Hôm sau Đăng Dung nghe tin, cho người đuổi theo nhưng Chiêu Tông quyết chống lại, chạy vào thành Tây Kinh. Trong kinh thành, Mạc Đăng Dung cùng Thái sư Lượng quốc công Lê Phụ và các công hầu lập em của Chiêu Tông là Lê Xuân lên ngôi. Ngày 1 tháng 8, Mạc Đăng Dung cùng Lê Phụ tôn Lê Xuân lên, tức Lê Cung Hoàng, tuyên bố phế truất Chiêu Tông, gọi là Quang Thiệu Đế (光紹帝). Cung Hoàng lên ngôi, đặt niên hiệu là Thống Nguyên (統元), trong nước lúc đấy tồn tại 2 vị hoàng đế. Cung Hoàng bị Đăng Dung dời đến Hồng Thị, thuộc Hải Dương tạm trú ẩn; ngay khi nghe tin ấy Chiêu Tông ngự về Đông Kinh, thiết lập lại triều đình.
Bấy giờ các xứ Tây, Nam, Bắc thì Chiêu Tông đều lấy được cả, thanh thế lớn. Sau đó, Trịnh Tuy đem quân phủ Thanh Hóa vào chầu, Chiêu Tông nghe lời nịnh mà chém thuộc tướng của Tuy, nên Tuy sinh lòng hận thù. Ngày 18 tháng 10, Trịnh Tuy bắt Chiêu Tông về Thanh Hóa, Tây Kinh, cả nước đều thất vọng. Ngày 18 tháng 12, Mạc Đăng Dung sau khi dẹp phản loạn Giang Văn Dụ, đuổi khỏi kinh thành, đưa Cung Hoàng từ Hồng Thị về kinh sư.
Năm 1523, sau khi Trịnh Tuy đem Chiêu Tông về Thanh Hóa, quân lực Chiêu Tông bị giảm đáng kể, Đăng Dung liên tiếp sai Sơn Đông hầu Mạc Quyết, Quỳnh Khê hầu Vũ Hộ, Dương Xuyên hầu Vũ Như Quế đi đánh Trịnh Tuy ở Thanh Hoa, phá tan quân Tuy. Tuy liền dời Chiêu Tông lên châu Lang Chánh. Năm đó Đang Dung giáng Chiêu Tông làm Đà Dương vương (陀陽王).
Năm 1525, Cung Hoàng phong Mạc Đăng Dung thêm thành Bình chương quốc trọng sự, đem quân đánh Trịnh Tuy, Tuy thua trận bỏ chạy rồi chết. Đăng Dung bắt được Chiêu Tông ở động An Nhân. Về đến kinh sư, Đăng Dung giam Chiêu Tông ở phường Đông Hà. Nghe tin Chiêu Tông bị bắt, các quần thần Phúc Lương hầu Hà Phi Chuẩn, Nghiêm Bá Kỳ, Đàm Thận Huy đều bị truy lùng và giết chết, bấy giờ triều đình đều nằm trong tay Mạc Đăng Dung. Ngày 18 tháng 12, năm 1526, Đang Dung bí mật sai Bái Khê bá Phạm Kim Bảng giết Chiêu Tông ở nơi bị giam, đem xác về chôn ở Vĩnh Hưng lăng.
Năm 1527, Mạc Đăng Dung bắt Cung Hoàng nhường ngôi, lập ra nhà Mạc. Bấy giờ, thần dân trong Kinh đều theo Mạc Đăng Dung và đều đón Đăng Dung vào Kinh.
=== Nhận định ===
Giống như Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Mai Hắc Đế, Phùng Hưng, nhà Hậu Lê lên cầm quyền ở Việt Nam nhờ công đánh đuổi người phương Bắc để giành lại nước. Nhưng khác với thế hệ trước, nhờ có cơ sở vững chắc 470 năm liên tục (938 - 1407) do các triều đại Ngô - Đinh - Tiền Lê - Lý - Trần trước đó tạo dựng nên thành quả đánh ngoại xâm của nhà Hậu Lê được giữ gìn trong thời gian dài. Nước Đại Việt thời nhà Hậu Lê tồn tại được 360 năm (1428 - 1788).
Tai hoạ người Minh gây ra, từ cổ xưa chưa bao giờ có. Thái Tổ Cao hoàng đế đem quân một lữ diệt được giặc mạnh trăm vạn quân, trong hơn 10 năm mà thiên hạ đại định, việc ấy cũng đã khó rồi. Lại còn đích thân đem sáu quân, đánh dẹp bốn cõi, bình được Mường Lễ, Cẩu Hiểm, dẹp được Thái Nguyên, Tuyên Quang; Chiêm Thành phải phục tùng, Ai Lao phải khiếp sợ. Công đức lớn lao, không ai hơn được. Nhưng làm nhiều chuyện chém giết, có nhiều điều bất nhân. Thái Tông hoàng đế trọng đạo sùng nho, mở khoa thi chọn người tài, dùng người hiền nghe lời can, kính trời, chăm dân, cũng là bậc vua siêng năng. Nhưng say đắm tửu sắc, khi chết không được vẹn toàn. Nhân Tông hoàng đế trong tuổi ấu thơ, giữ vận phong hanh, mẫu hậu nắm quyền, trong cõi yên tĩnh. Nhưng không may gặp biến, rất đáng xót thương. Thánh Tông hoàng đế đương lúc trong nhà có hoạn nạn, mọi người cùng suy tôn lên giữ ngôi cao, sửa làm trăm việc. Lập phủ vệ, định quân chế, chấn hưng lễ nhạc, chọn dùng người liêm khiết tài năng, đánh dẹp Bắc phương, mở mang bờ cõi. Trà Toàn chịu bắt, Lão Qua tan vỡ, nước Lưu Cầu xe thây, giặc Cầm Công chạy chết, bốn rợ thần phục, tám cõi hướng theo, trong khoảng 38 năm, thiên hạ yên trị. Sao mà phồn thịnh vậy! Hiến Tông để lòng mưu trị mà ở ngôi không lâu, Túc Tông tôn sư trọng đạo mà ít tuổi, chết yểu. Nối theo thì Mẫn Lệ bạo ngược vô đạo, Linh Ân cướp nước giết vua, Đà Dương Vương thì nội loạn bị cưỡng bức, Cung Hoàng Đế thì ngôi trời đã chuyển dời, còn làm gì được nữa!
Nhà Lê, kể từ vua Thái-tổ cho đến vua Cung-hoàng vừa một trăm năm (1428-1527), được 10 ông vua. Nhưng trong bấy nhiêu ông, trừ vua Thái-tổ ra, thì chỉ có vua Thánh-tông và vua Hiến-tông là đã lớn tuổi mới lên ngôi, còn thì ông nào lên làm vua cũng còn trẻ tuổi cả. Vì thế cho nên việc triều-chính mỗi ngày một suy-kém, lại có những ông vua hoang-dâm, làm lắm điều tàn-bạo để đến nổi trong nước xảy ra nhiều sự biến loạn. Vậy vận nhà Lê phải lúc trung-suy, nhưng công-đức vua Thái-tổ và vua Thánh-tông làm cho lòng người không quên nhà Lê, cho nên dầu nhà Mạc có cướp ngôi cũng không được lâu bền, và về sau họ Trịnh tuy có chuyên-quyền nhưng cũng chỉ giữ ngôi chúa, chứ không dám cướp ngôi vua.
== Xây dựng quốc gia ==
=== Bộ máy hành chính ===
Lê Thái Tổ chia nước ra làm 5 đạo, đạo mới đặt gọi là Hải Tây đạo, gồm cả Thanh Hóa, Nghệ An, Tân Bình và Thuận Hóa. Trong các đạo, đạo nào cũng có quan Hành khiển để giữ sổ sách về việc quân-dân.
Dưới đạo là phủ huyện (miền núi gọi là châu), xã, thôn. Đến thời vua Lê Thánh Tông đổi chia làm 5 đạo thành 13 đạo thừa tuyên thay chức An phủ sứ đứng đầu ở mỗi đạo bằng 3 ti phụ trách ba mặt hoạt động khác nhau ở mỗi đạo thừa tuyên. Dưới đạo thừa tuyên có phủ, châu, huyện, xã, thôn.
Bộ máy chính quyền phong kiến được hoàn thiện dần và đến thời Lê Thánh Tông thì được các nhà nghiên cứu đánh giá là hoàn chỉnh nhất. Đứng đầu triều đình là Hoàng đế, thứ dưới là hệ thống quan liêu chặt chẽ. Để tập trung quyền lực vào Hoàng đế, Lê Thánh Tông bãi bỏ một số chức vụ cao cấp nhất như Tướng quốc, Đại tổng quản, Đại hành khiển...Hoàng đế trực tiếp nắm mọi quyền hành kể cả chức tổng chỉ huy quân đội.
Đời Lê Thái Tổ chỉ có 3 bộ: Lại, Lễ, Dân (tức Hộ Bộ). Lê Thánh Tông tổ chức thành sáu bộ:
Lại bộ: Trông coi việc tuyển bổ, thăng thưởng và thăng quan tước;
Lễ bộ: Trông coi việc đặt và tiến hành các nghi lễ, tiệc yến, học hành thi cử, đúc ấn tín, cắt giữ người coi giữ đình, chùa, miếu mạo;
Hộ bộ: Trông coi công việc ruộng đất, tài chính, hộ khẩu, tô thuế kho tàng, thóc tiền và lương, bổng của quan, binh;
Binh bộ: Trông coi việc binh chính, đặt quan trấn thủ nơi biên cảnh, tổ chức việc giữ gìn các nơi hiểm yếu và ứng phó các việc khẩn cấp;
Hình bộ: Trông coi việc thi hành luật, lệnh, hành pháp, xét lại các việc tù, đày, kiện cáo;
Công bộ: Trông coi việc xây dựng, sửa chữa cầu đường, cung điện thành trì và quản đốc thợ thuyền.
Dưới thời Lê Thánh Tông, các quan chỉ được làm việc tối đa đến tuổi 65 và ông bãi bỏ luật cha truyền con nối cho các gia đình có công - công thần. Ông tôn trọng việc chọn quan phải là người có tài và đức.
=== Kinh tế ===
==== Nông nghiệp ====
Hai mươi năm dưới ách thống trị của phong kiến nhà Minh, đời sống nhân dân Đại Việt rất cực khổ. Để nhanh chóng phục hồi và phát triển nông nghiệp, Lê Thái Tổ cho 25 vạn lính (trong tổng số 35 vạn) về quê làm ruộng ngay sau chiến tranh. Còn lại 10 vạn người được chia làm 5 phiên thay nhau về quê sản xuất. Nhà Lê kêu gọi dân phiêu tán về quê làm ruộng, đặt ra một số chức quan chuyên lo về nông nghiệp như Khuyến nông sứ, Hà đê sứ, Đồn điền sứ và định lại chính sách chia ruộng đất công làng xã gọi là phép quân điền; cấm giết trâu bò bừa bãi cấm điều động dân phu trong mùa cấy gặt.
Nhà Lê còn đẩy mạnh việc lập đồn điền và khẩn hoang nhằm khai thác những vùng đất mới. Nhờ những chính sách tích cực, nông nghiệp đã đảm bảo tương đối đời sống nhân dân trong nước. Nhân dân thời Lê có câu thơ:
Đời vua Thái Tổ, Thái Tông
Lúa tốt đầy đồng trâu chẳng buồn ăn
==== Thủ công nghiệp ====
Nhờ sự quan tâm đến việc phát triển thương nghiệp nên nền nông nghiệp đã phát triển mạnh mẽ. Các nghề thủ công như: Dệt lụa, ươm tơ, dệt vải, nghề mộc, nghề chạm, nghề đúc đồng cũng phát triển. Kinh đô Đông Kinh sầm uất, nhộn nhịp tồn tại phát triển đến tận ngày nay. Phường Yên Thái làm giấy, phường Nghi Tàm dệt vải lụa, phường Hà Tân nung vôi, phường Hàng Đào nhuộm điều, phường Ngũ Xá đúc đồng, phường gạch và gốm sứ Bát Tràng và nhiều phường khác.
Các ngành nghề thủ công truyền thống ở các làng xã như kéo tơ, dệt lụa, đan lát, làm nón, đúc đồng, rèn sắt, làm đồ gốm v.v... ngày càng phát triển. Nhiều làng thủ công chuyên nghiệp nổi tiếng ra đời. Đông Kinh là nơi tập trung nhiều ngành nghề thủ công nhất.
Các công xưởng do nhà nước quản lý gọi là Cục Bách tác sản xuất đồ dùng cho nhà vua, vũ khí, đóng thuyền, đúc tiền đồng...; các nghề khai mỏ đồng, sắt, vàng được đẩy mạnh.
==== Thương mại ====
Triều đình khuyến khích lập chợ mới họp chợ ban hành những điều luật cụ thể quy định việc thành lập chợ và họp chợ.
Việc buôn bán với nước ngoài được duy trì. Thuyền bè các nước láng giềng qua lại buôn bán ở một số cửa khẩu như Vân Đồn, Vạn Ninh (Quảng Ninh), Hội Thống (Hà Tĩnh) và một số địa điểm ở Lạng Sơn, Tuyên Quang được kiểm soát chặt chẽ. Các sản phẩm sành sứ, vải lụa, lâm sảm quý là những thứ hàng được thương nhân nước ngoài ưa chuộng.
Tuy nhiên, cùng với thủ công nghiệp, thương mại vẫn bị nhà nước ức chế. Thời nhà Lê chính quyền dùng chính sách bế quan tỏa cảng. Nhà Lê hạn chế ngoại thương hơn cả nhà Lý, nhà Trần. Các tàu ngoại quốc tới buôn bán đều phải đậu ở Vân Đồn. Dân buôn muốn đi buôn bán thì phải có giấy phép, về cũng phải có giấy phép. Quan lại vô cớ tới Vân Đồn, dân chúng tự tiện đón tàu vào buôn bán cũng đều bị xử tội.
=== Giáo dục ===
Ngay sau khi lên ngôi, Lê Thái Tổ cho dựng lại Quốc Tử Giám ở Đông Kinh, mở trường học các lộ mở khoa thi và cho phép người nào có học đều được dự thi. Đa số dân đều có thể đi học đi thi trừ những kẻ phạm tội và làm nghề ca hát.
Ở các đạo phủ có trường công. Nhà nước tuyển chọn người giỏi có đạo đức để làm thầy giáo. Nội dung học tập thi cử là sách của nhà Nho. Thời Lê sơ (1428-1527) tổ chức được 26 khoa thi tiến sĩ lấy đỗ 989 tiến sĩ 20 trạng nguyên. Riêng thời Lê Thánh Tông, tổ chức được 12 khoa thi tiến sĩ lấy đỗ 501 tiến sĩ 9 trạng nguyên.
Học chế thời Lê mở rộng hơn các thời trước, không cấm con em nhà thường dân đi học như thời nhà Lý, nhà Trần. Tài liệu học tập thì gồm mấy bộ Tứ Thư, Ngũ Kinh tinh tuý, Bắc sử (Sử Trung Quốc). Phương pháp giáo dục chỉ có 2 nguyên tắc chủ chốt là trừng phạt bằng roi vọt và học thuộc lòng. Ngoài ra còn nguyên tắc lặp lại tư tưởng cổ nhân và biểu diễn bằng những câu sáo rỗng.
Lê Thánh Tông khởi xướng và cho lập bia tiến sĩ lần đầu tiên ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám vào năm 1484, các đời vua sau này tiếp tục bổ sung thêm các tấm bia vinh danh mới. Cùng với việc xây dựng thiết chế mới, Lê Thánh Tông đẩy mạnh phát triển giáo dục, đào tạo nhân tài. Ngoài Hàn lâm viện, Quốc sử viện, nhà Thái học, Quốc Tử Giám là những cơ quan văn hóa, giáo dục lớn, Lê Thánh Tông còn cho xây kho bí thư chứa sách, đặc biệt đã sáng lập Hội Tao Đàn bao gồm những nhà văn hóa có tiếng đương thời mà Lê Thánh Tông là Tao Đàn chủ soái. Việc thi cử và học tập thường xuyên và rất nhiều tiến sĩ và trạng nguyên đỗ đạt và thành danh.
Thời Lê sơ, Nho giáo chiếm vị trí độc tôn; Phật giáo và Đạo giáo bị hạn chế. Phật giáo bị đẩy lui xuống sinh hoạt ở các làng xã, trong khi đó Nho giáo lại được coi trọng và lên ngôi, đặc biệt là khu vực triều đình và giới nho học. Đó là đặc điểm chính của thời kỳ này. Mặt khác do trước đó chịu sự tận diệt của nhà Minh nên nhiều chùa chiền, cung điện và các phật tử phát triển rực rỡ ở các triều đại nhà Lý, nhà Trần đã bị xóa bỏ.
Hệ thống Nho giáo này do phong kiến nhà Lê bắt chước theo nhà Minh của Trung Quốc. Người học tuyệt đối không ai được phát huy ý kiến riêng của mình, cấm chỉ tự do tư tưởng. Nhà nghiên cứu Đào Duy Anh cho rằng kiểu người điển hình do phương pháp giáo dục này đào tạo là người hủ nho hoàn toàn trung thành với chế độ quân chủ nhà Lê.
=== Luật pháp ===
Về luật pháp, Bộ Quốc triều hình luật của nhà Hậu Lê đã được hoàn thiện trong thời Lê Thánh Tông, nên còn được gọi là Luật Hồng Đức. Với bộ luật này, Đại Việt đã hình thành một nhà nước pháp quyền sơ khởi và thuộc loại sớm trên thế giới. Lê Thánh Tông đã lấy những quan điểm của nho giáo làm hệ tư tưởng, chỉ đạo việc biên soạn, ban hành luật pháp, nhằm thể chế hoá một nhà nước phong kiến Đại Việt, với truyền thống nhân nghĩa, lấy dân làm gốc.
Nội dung chính của bộ luật là bảo vệ quyền lợi của vua hoàng tộc; bảo vệ quyền lợi của quan lại và giai cấp thống trị địa chủ phong kiến. Đặc biệt bộ luật có những điều luật bảo vệ chủ quyền quốc gia, khuyến khích phát triển kinh tế, gìn giữ những truyền thống tốt đẹp của dân tộc, bảo vệ một số quyền lợi của phụ nữ.
=== Xã hội ===
Trong xã hội, giai cấp nông dân chiếm tuyệt đại đa số dân cư sống chủ yếu ở nông thôn. Họ có rất ít hoặc không có ruộng đất phải cày ruộng đất công nộp tô thuế đi phục dịch cho nhà nước (đi lính đi phu...) hoặc phải cày cấy ruộng thuê của địa chủ quan lại và phải nộp một phần hoa lợi (gọi là tô) cho chủ ruộng.
Nông dân là giai cấp bị bóc lột nghèo khổ trong xã hội. Tầng lớp thương nhân thợ thủ công ngày càng đông hơn họ phải nộp thuế cho nhà nước và không được xã hội phong kiến coi trọng.
Nô tì là tầng lớp thấp kém nhất trong xã hội bao gồm cả người Việt người Hoa dân tộc ít người. Pháp luật nhà Lê hạn chế nghiêm ngặt việc bàn mình làm nô hoặc bức dân tự do làm nô tì. Nhờ vậy số lượng nô tì giảm dần
Nhờ chính sách khuyến nông, cuộc sống của nhân dân được ổn định dân số ngày càng tăng. Nhiều làng mới được thành lập. Các nhà nghiên cứu Việt Nam tự nhận Đại Việt đã trở thành một quốc gia có uy thế trong khu vực Đông Nam Á..
=== Văn học, khoa học, nghệ thuật ===
Văn học chữ Hán tiếp tục chiếm ưu thế có hàng loạt tập văn thơ nổi tiếng. Văn học chữ Nôm giữ một vị trí quan trọng. Văn thơ chữ Hán có những tác phẩm nổi tiếng như: Quân trung từ mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Quỳnh uyển cửu ca... Văn thơ chữ Nôm có Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm thi tập, Thập giới cô hồn quốc ngữ văn v.v.... Ngoài ra văn học thời Lê Sơ suất hiện một bộ phận tác giả chuyên sử dụng văn học làm công cụ chỉ để ca ngợi nhà vua. Phần lớn các tác phẩm loại này được viết với lời lẽ rất trau chuốt, ý tứ cẩu kỳ và tình cảm giả tạo.
Sử học có tác phẩm: Đại Việt sử ký (10 quyển) của Lê Văn Hưu, Đại Việt sử ký toàn thư (15 quyển) của Ngô Sĩ Liên, Lam Sơn thực lục của Nguyễn Trãi, Đại Việt thông giám của Vũ Quỳnh, Việt giám thông khảo tổng luận của Lê Tung, Hoàng triều quan chế...
Địa lý học có sách Hồng Đức bản đồ Dư địa chí An Nam hình thăng dồ, Dư địa chí của Nguyễn Trãi.
Y học có công trình Bản thảo thực vật toát yếu của Phan Phu Tiên và Bảo anh lương phương của Nguyễn Trực
Toán học có các tác phẩm Đại thành toán pháp của Lương Thế Vinh, Lập thành toán pháp của Vũ Hữu.
Ngoài ra thời Lê Sơ cũng cho biên soạn Điển lệ là loại sách tổng hợp thành tựu của nhiều ngành. Bộ Thiên Nam dư hạ tập gồm 100 quyển của Lê Thánh Tông cũng là 1 ví dụ cụ thể.
Nghệ thuật sân khấu như ca múa nhạc, chèo, tuồng được phục hồi nhanh chóng và phát triển nhất là chèo tuồng. Âm nhạc cung đình được hình thành từ thời Lê Thái Tông.
Nghệ thuật kiến trúc và điêu khắc thời Lê Sơ biểu hiện rõ rệt và đặc sắc ở các công trình lăng tẩm cung điện tại Lam Kinh, những đồ vật còn xót lại cho thấy tay nghề tinh xảo, tư duy quy mô lớn của nghệ nhân đương thời. Hiện nay còn lại một số dấu vết của Lam Kinh ở Thanh Hóa như nền cột bậc thềm một số con vật bằng đá. Cung điện Lam kinh xây dựng trên một khu đất hình chữ nhật dài 314 mét rộng 254 mét, có tường thành bao bọc dày 1m. Trong các bia đá, nổi tiếng nhất là bia Vĩnh Lăng (viết về Lê Thái Tổ).
=== Tổ chức quân đội ===
Hoàng đế Lê Thánh Tông ra sắc chỉ đầu tiên là chỉnh đốn lại quân đội, đôn đốc và thực hiện các bước để tăng cường các khả năng chiến đấu của các vệ quân năm đạo. Việc canh phòng và cảnh giác về vấn đề biên cương rất chặt chẽ và cẩn thận nên triều đình nhà Minh rất tôn trọng và có phần e ngại. Lê Thánh Tông cải tổ quân đội mạnh mẽ về mặt tổ chức, trước đó quân đội chia làm 5 đạo vệ quân, nay đổi làm 5 phủ đô đốc. Mỗi phủ có vệ, sở. Bên cạnh còn có 2 đạo nội, ngoại, gồm nhiều ti, vệ.
Ngoài tổ chức quân thường trực, Lê Thánh Tông còn chú ý lực lượng quân dự bị ở các địa phương gọi là chế độ Ngụ binh ư nông: khi đất nước có giặc ngoại xâm thì tất cả quân lính đều tại ngũ chiến đấu cùng toàn dân; khi hoà bình thì thay phiên nhau về làm ruộng. Ban hành 43 điều quân chính là luật quân đội Lê Thánh Tông ban hành cho thấy kỷ luật quân đội của ông rất nghiêm ngặt, có sức chiến đấu cao.
Quân đội có hai bộ phận chính: quân ở triều đình và quân ở các địa phương; bao gồm bộ binh, thuỷ binh, tượng binh, kỵ binh. Vũ khí quân sự dưới thời Lê Thánh Tông đã có những tiến bộ vượt bậc; gồm súng hỏa mai, đao, kiếm, giáo, mác, cung, tên, hỏa đồng, hỏa pháo. Được trang bị hết sức đầy đủ, hùng mạnh.
Hằng năm quân lính được luyện tập võ nghệ chiến trận. Vùng biên giới đều có bố trí quân đội mạnh canh phòng và bảo vệ không để xâm lấn.
== Mở rộng lãnh thổ ==
=== Đánh Chiêm Thành ===
Chúa Chiêm Thành là Trà Toàn bỏ tiến cống nhà Lê, thường xâm lấn biên giới phía nam Đại Việt. Năm 1470, Trà Toàn sai sứ thần sang cầu viện nhà Minh, thân hành đem 10 vạn quân thủy, bộ cùng voi ngựa đến đánh úp Hóa Châu. Viên tướng trấn giữ Hóa Châu Phạm Văn Hiển chống không nổi, phải đóng cửa thành chống giữ, cho người phi ngựa đem văn thư cáo cấp về Đông Kinh.
Tháng 10 năm ấy, Lê Thánh Tông sai sứ đem việc Chiêm Thành đánh úp biên giới sang báo cáo với nhà Minh, và thân chinh cầm 200.000 quân tiến vào đất Chiêm Thành. Tháng 3 năm 1471, kinh đô Đồ Bàn của Chiêm Thành thất thủ. Theo Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, hơn 30.000 người Chiêm bị bắt, trong đó có chúa Trà Toàn. 40.000 lính Chiêm Thành đã tử trận.
Bấy giờ 1 tướng Chiêm là Bô Trì Trì chạy về đất Phan Lung, cử sứ sang cống và xin xưng thần với Đại Việt. Theo Việt Nam Sử Lược, Thánh Tông có ý muốn làm cho Chiêm Thành yếu đi, mới chia đất Chiêm ra làm 3 nước, phong 3 quốc vương: 1 nước gọi Chiêm Thành, 1 nước nữa là Hóa Anh và 1 nước nữa là Nam Phan.
Sau khi Trà Toàn bị bắt, em là Trà Toại trốn vào núi, sai người sang cầu cứu nhà Minh và xin phong vương. Được tin, Lê Thánh Tông sai Kỳ quận công Lê Niệm đem 3 vạn quân vào đánh, Trà Toại bị bắt giải về kinh. Về sau, Minh Hiến Tông sai sứ sang bảo Thánh Tông phải trả đất cho Chiêm Thành, nhưng ông nhất quyết không chịu.
Sau chiến thắng, Lê Thánh Tông thực hiện chính sách mới, bình định và Việt hóa dân chúng người Chiêm Thành và sát nhập lãnh thổ miền bắc Chiêm Thành (từ đèo Hải Vân tới bắc Phú Yên ngày nay) vào Đại Việt. Tháng 6 năm 1471, lãnh thổ miền bắc Chiêm Thành được lập thành thừa tuyên Quảng Nam và vệ Thăng Hoa.
=== Đánh Bồn Man, dẹp Lão Qua ===
Bồn Man, lãnh thổ gồm miền tây Nghệ An, tỉnh Huaphanh và tỉnh Sơn La ngày nay, trước đây đã xin nội thuộc Đại Việt, đổi thành châu Quy Hợp dưới quyền các tù trưởng họ Cầm, sau đó đổi thành phủ Trấn Ninh, và đặt quan phủ huyện để trị vì. Nay Cầm Công, với sự giúp đỡ của người Lão Qua, bèn đánh đuổi quân Đại Việt, rồi ra quân chống giữ với quan quân.
Năm 1479, có tù trưởng xứ Bồn Man là Cầm Công làm phản, xúi giục người Lão Qua cầm binh quấy nhiễu miền tây Đại Việt..
Lê Thánh Tông sai Thái uý Lê Thọ Vực cùng các tướng Trịnh Công Lộ, Lê Đình Ngạn, Lê Lộng và Lê Nhân Hiếu chia quân làm 5 đạo đi từ Nghệ An, Thanh Hóa và Hưng Hóa đánh đuổi quân Lão Qua tới sông Kim Sa giáp với Miến Điện. Quân Đại Việt toàn thắng..
Lê Thánh Tông bèn ngự giá thân chinh, nhưng khi tới Phù Liệt, được tin quân Đại Việt thắng Lão Qua thì rút về và cử Kỳ quận công Lê Niệm đem quân đi đánh. Kết quả là những người Bồn Man ra hàng, tù trưởng là Cầm Công cũng tử trận.
Sau đó, Thánh Tông phong người họ Cầm Công là Cầm Đông làm Tuyên Úy Đại sứ và đặt lại quan cai trị như trước, đặt vùng đất mới này là xứ Trấn Ninh.
== Ngoại giao ==
=== Với Trung Quốc ===
Đến thời Lê Thánh Tông, quân Đại Việt hùng mạnh, đi đánh Lào, Chiêm nên gây được nhiều thanh thế, nhà Minh cũng phải lấy lễ nghĩa mà đãi Đại Việt, quan hệ giữa hai nước vẫn được hoà bình..
Đại Việt bấy giờ có lệ xưng thần với nhà Minh, nhưng các vua Lê vẫn phòng bị mặt bắc. Thỉnh thoảng hai bên vẫn xảy ra những vụ lấn cướp biên giới qua lại, có những thổ dân sang quấy nhiễu, thì lập tức vua Lê cho quan quân lên dẹp yên và cho sứ sang Trung Quốc để phân giải mọi sự cho minh bạch. Suốt từ thời Lê Thái Tông đến Lê Thánh Tông, trong gần 50 năm liên tục xảy ra những vụ tranh chấp vùng biên giới tây bắc hoặc đông bắc, nhưng cuối cùng không xảy ra chiến tranh.
Lê Thánh Tông thường bảo với triều thần:
=== Với các nước Đông Nam Á ===
Sau khi Đại Việt đánh hạ Chiêm Thành, nhiều vương quốc láng giềng phía Tây bắt đầu cử sứ thần đến thông hiếu. Quan điểm của Vua Lê Thánh Tông là vừa tiếp đãi, vừa dè chừng họ. Năm 1485, nhà vua ra lệnh vệ Cẩm y phải nghiêm ngặt tiếp rước và canh giữ, đề phòng các sứ giả Chiêm Thành, Lão Qua (Lan Xang), Xiêm La (các quốc gia thuộc Thái Lan), Trảo Oa, Lộ Lạc (Malakka) dò xét nội tình Đại Việt.
== Các Hoàng đế nhà Lê sơ ==
=== Danh sách ===
=== Liệt kê ===
Lê Lợi
Lê Nguyên Long
Lê Bang Cơ
Lê Nghi Dân
Lê Tư Thành
Lê Tranh
Lê Thuần
Lê Tuấn
Lê Oanh
Lê Quang Trị
Lê Y
Lê Bảng
Lê Do
Lê Xuân
== Các hoàng hậu ==
Phạm Thị Ngọc Trần (sửa | thảo luận | lịch sử | khóa | xóa | liên kết | theo dõi | nhật trình | số lần xem)
Nguyễn Thị Anh (sửa | thảo luận | lịch sử | khóa | xóa | liên kết | theo dõi | nhật trình | số lần xem)
Ngô Thị Ngọc Dao (sửa | thảo luận | lịch sử | khóa | xóa | liên kết | theo dõi | nhật trình | số lần xem)
Trường Lạc hoàng hậu (sửa | thảo luận | lịch sử | khóa | xóa | liên kết | theo dõi | nhật trình | số lần xem)
Nhu Huy hoàng hậu (sửa | thảo luận | lịch sử | khóa | xóa | liên kết | theo dõi | nhật trình | số lần xem)
Trang Thuận hoàng hậu (sửa | thảo luận | lịch sử | khóa | xóa | liên kết | theo dõi | nhật trình | số lần xem)
Chiêu Nhân hoàng hậu
Từ Trinh Liêm hoàng hậu
Trần Thị Tùng (sửa | thảo luận | lịch sử | khóa | xóa | liên kết | theo dõi | nhật trình | số lần xem)
Khâm Đức hoàng hậu
Gia Khánh hoàng hậu
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Lê Lợi
Lê Thánh Tông
Nhà Mạc
Mạc Đăng Dung
Vua Việt Nam
Vấn đề biên giới Việt-Trung thời Hậu Lê
Thương mại Đại Việt thời Lê Sơ
Hành chính Đại Việt thời Lê sơ
== Tham khảo ==
Đại Việt Sử ký Toàn thư
Đại Việt Thông sử
Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục
Viện sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Đào Duy Anh (2002), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Anh) Annam, thu thập các đoạn tài liệu Minh Thực Lục (明實錄) của nhà Minh về Đại Việt, trong đó có nhiều phần liên quan đến thời kỳ trị vì của nhà Hậu Lê. |
chính quyền minh trị.txt | Chính quyền thời kỳ Minh Trị Nhật Bản (1868-1911) là một sự tiến triển về thể chế và cấu trúc từ trật tự phong kiến của Mạc phủ Tokugawa đến chế độ quân chủ lập hiến bao gồm thể chế dân chủ đại diện.
== Sự phát triển ban đầu ==
Sau cuộc Minh Trị Duy Tân, các lãnh tụ samurai lật đổ Mạc phủ Tokugawa không có một chương trình nghị sự hay kế hoạch phát triển nào cho nước Nhật. Họ có nhiều điểm chung – phần lớn đều ở độ tuổi giữa 30, và phần lớn đều đến từ bốn phiên tozama ở phía Tây Nhật (Chōshū, Satsuma, Tosa và Hizen). Mặc dù xuất thân từ các gia đình samurai cấp thấp, họ đã vươn đến vị trí lãnh đạo quân sự ở phiên mình, và trưởng thành trong bối cảnh nền giáo dục dựa trên Nho giáo vốn nhấn mạnh đến lòng trung thành và phục vụ xã hội. Cuối cùng, phần lớn đều có kinh nghiệm trực tiếp khi ra nước ngoài, hay qua mối qua hệ với các cố vấn nước ngoài tại Nhật Bản. Kết quả là, họ biết được sức mạnh vượt trội của các quốc gia phương Tây và sự cần thiết thống nhất nước Nhật, và tụ cường để tránh khỏi số phận thuộc địa như các láng giềng khác trên lục địa Á châu.
Tuy vậy, năm 1867, đất nước phần lớn chỉ là sự tập hợp các phiên bán độc lập tụ họp lại với nhau bằng sức mạnh quân sự của Liên minh Satchō, và nhờ uy tín của triều đình.
Đầu tháng 3 năm 1868, trong khi kết quả của Chiến tranh Boshin vẫn còn chưa ngã ngũ, chính phủ Minh Trị triệu tập đại biểu từ mọi phiên đến Kyoto để thành lập Hội đồng tư vấn quốc gia lầm thời. Tháng 4 năm 1868, Ngũ cá điều ngự thệ văn được ban bố, theo đó, Thiên hoàng Minh Trị vạch ra những nét chung cho sự phát triển và hiện đại hóa của Nhật Bản.
Hai tháng sau, vào tháng 6 năm 1868, Seitaisho được ban bố thiết lập nền tảng hành chính cho chính phủ Minh Trị. Bộ luật hành chính này được Fukuoka Takachika và Soejima Taneomi phác thảo (cả hai đều đã đi du học và có quan điểm chính trị tự do), và là một sự kết hợp kỳ lạ của các định nghĩa phương Tây ví dụ như tản quyền, và sự phục hồi cấu trúc quan liêu cổ đại của thời Nara Nhật Bản. Một cấu trúc chính quyền trung ương, hay Daijōkan (Thái Chính Quan), được thành lập.
Daijōkan có 7 cơ quan:
Lập pháp (được chia thành Thương viện của các quan chức được bổ nhiệm, và Hạ viện từ đại diện các phiên)
Hành pháp
Thần đạo
Tài chính
Chiến tranh
Ngoại vụ
Nội vụ
Một Bộ Tư pháp riêng được lập ra để tạo ra sự phân tách quyền lực như các nước phương Tây.
Trong lúc đó, hành chính địa phương bao gồm các lãnh thổ tịch thu từ nhà Tokugawa, được chia thành các tỉnh (ken) và các thành phố trực thuộc trung ương (fu) dưới quyền của Bộ Nội vụ, và 273 phiên tự trị. Nhân viên từ chính quyền trung ương được cử đến mỗi phiên để đồng bộ nền hành chính và thích ứng với sự chỉ huy từ chính phủ trung ương.
Đầu năm 1869, Hoàng cung được chuyển từ Kyoto đến Edo, và đổi tên thành Tokyo (Đông Kinh).
== Giải thế các phiên ==
Tháng 3 năm 1869, chính quyền trung ương do Ōkubo Toshimichi từ Satsuma lãnh đạo cảm thấy đủ mạnh để thực hiện việc tập quyền hơn nữa. Sau khi sáp nhập quân đội Satsuma và Chōshū làm một, Ōkubo và Kido Takayoshi thuyết phục daimyō của Satsuma, Chōshū, Hizen và Tosa dâng lãnh địa của mình cho Thiên hoàng. Các daimyō khác bị ép buộc phải làm vậy, và tất cả đều được tái bổ nhiệm làm "thống đốc" phần lãnh địa của mình, nay được đối xử như các đơn vị cấp dưới của chính quyền trung ương.
Mùa xuân năm 1871, Ōkubo, Kido, Inoue Kaoru, Yamagata Aritomo, Saigō Takamori, Ōyama Iwao, Sanjō Sanetomi và Iwakura tổ chức một cuộc gặp gỡ bí mật theo đó quyết định việc tiến lên giải thế triệt để các "han" (phiên). Cuối năm đó, tất cả các cựu daimyō được triệu tập đến trước Thiên hoàng, và ông ban chiếu cải biến các lãnh đại thành các tỉnh đứng đầu bởi một vị quan do chính quyền trung ương bổ nhiệm. Các daimyō được trả tiền lương hưu hào phóng, và lâu đài của họ trở thành trung tâm hành chính địa phương của chính phủ trung ương. Chiếu chỉ dẫn đến 305 đơn vị hành chính địa phương, qua nhiều sự sáp nhập, giảm xuống còn 72 tỉnh và 3 thành phố cho đến cuối năm. Vì vậy, đến cuối năm 1871, Nhật Bản đã trở thành một quốc gia tập quyền hoàn toàn. Sự chuyển đổi này diễn ra dần dần, vì vậy không phá vỡ đời sống của người dân thường, và không làm bùng nổ sự phản kháng hay bạo lực. Chính quyền trung ương nhận về mọi khoản nợ và nghĩa vụ của các phiên, và các cựu viên chức tại các phiên giờ làm việc cho chính phủ trung ương.
Năm 1871, triều đình trung ương ủng hộ việc thành lập các hội đồng tư vấn tại cấp chính quyền thấp nhất, tại các thị trấn, làng mạc và hạt. Thành viên của hội đồng cấp tỉnh được lấy từ các hội đồng địa phương này. Và vì hội đồng địa phương chỉ có quyền tranh luận, không có quyền lập pháp, điều này cung cấp một van an toàn quan trọng, không có khả năng thách thức quyền lực của chính quyền trung ương.
== Tái tổ chức chính quyền trung ương ==
Trong khi các phiên bị giải thể và đường biên hành chính địa phương được thay đổi, vào tháng 8 năm 1869, chính quyền trung ương tự mình trải qua một vài sự tái cơ cấu để củng cố quyền lực tập trung. Tư tưởng tản quyền bị từ bỏ. Chính quyền mới dựa trên Quốc hội (chỉ họp một lần), một Hội đồng Cố vấn (Sangi), và 8 bộ trưởng:
Nội vụ (Nội vụ tỉnh (Nhật Bản) từ 1873)
Ngoại Vụ tỉnh (Nhật Bản)
Tài Vụ tỉnh (Nhật Bản)
Lục Quân tỉnh (Nhật Bản)
Cung nội sảnh
Pháp Vụ tỉnh (Nhật Bản)
Quốc thổ giao thông tỉnh (Nhật Bản)
Văn bộ tỉnh
Việc đưa ra quyết định trong chính quyền bị giới hạn bởi nhóm đầu sỏ chính trị thân cận gồm khoảng 20 cá nhân)từ Satsuma, Choshu, Tosa, Hizen và từ triều đình). Nội vụ tỉnh, vì nó bổ nhiệm tất cả các thống đốc tỉnh, và kiểm soát bộ máy cảnh sát là cơ quan quyền lực nhất chính phủ, và đáng chú ý rằng Okubo rời Tài vụ tỉnh để đứng đầu Nội vụ tỉnh khi nó được thành lập.
== Các sự kiện dẫn đến việc Okuma từ nhiệm ==
Một trong các sức ép với chính phủ Minh Trị non trẻ là sự chia rẽ giữa các thành viên trong nhóm đầu sỏ chính trị ưa thích các loại hình chính phủ đại nghị khác nhau, dựa trên các kiểu mẫu nuowcs ngoài, và phái bỏ thủ ủng hộ sự thống trị độc tài, tập trung.
Một người đề xuất chính cho chính phủ đại nghị là Itagaki Taisuke, một lãnh đạo quyền lực từ Tosa, người đã rời khỏi vị trí ở Hội đồng Quốc gia sau Sự kiện Triều Tiên năm 1873. Itagaki tìm kiếm giải pháp hòa bình thay vì nổi loạn để giành được tiếng nói trong chính quyền. Ông khởi động phong trào với mục đích thiết lập nền quân chủ lập hiến và Quốc hội. Itagaki và những người khác viết Kỷ niệm Tosa năm 1874 chỉ trích quyền lực vô hạn của nhóm phiên phiệt và kêu gọi thành lập ngay lập tức chính phủ đại nghị. Không thỏa mãn với nhịp độ cải cách sau khi tái gia nhập Hội đồng Quốc gia năm 1875, Itagaki tổ chức những người đi theo mình và những người dân chủ khác vào Ái Quốc Công Đảng (Aikokusha) trên toàn quốc để thúc đẩy một chính thể đại nghị. Năm 1881, trong hành động nổi tiếng nhất của mình, Itagakii giúp thành lập Jiyūtō (Đảng Dân chủ), đi theo học thuyết chính trị Pháp. Năm 1882 Ōkuma Shigenobu thành lập Rikken Kaishintō (Lập hiên Cải tiến Đảng), kêu gọi nền dân chủ lập hiến kiểu Anh. Đáp lại, giới chức chính phủ, các viên chức địa phương và những người bảo thủ khác thành lập Rikken Teiseitō (Lập hiến Đế chính đảng), một đảng thân chính phủ, năm 1882. Theo đó là rất nhiều cuộc tuần hành chính trị, một số có cả bạo lực, dẫn đến sự hạn chế hơn nữa từ phía chính quyền. Sự hạn chế cản trờ các đảng chính trị và dẫn đến sự chia rẽ ở trong nội bộ và giữa các đảng. Jiyūtō, đối lập với Kaishintō, giải thế năm 1884, và Ōkuma rút khỏi vị trí Chủ tịch Kaishintō.
== Thành lập quốc hội ==
Các nhà lãnh đạo chính quyền, từ lâu ám ảnh về đe dọa bạo lực với sự ổn định và bị chia rẽ vì vấn đề Triều Tiên, nói chung đồng ý rằng chính thể đại nghị sẽ được thành lập vào một ngày nào đó. Kido Takayoshi ủng hộ thể chế chính quyền lập hiến từ trước năm 1874, và vài lời đề xuất cung cấp sự bảo đảm hiến pháp đã được phác thảo. Nhóm đầu sỏ chính trị, tuy vậy, trong khi nhận thức được áp lực chính trị thực tại, quyết tâm duy trì quyền lực. Hội nghị Osaka năm 1875 dẫn đến việc tái tổ chức chính quyền với bộ máy tư pháp độc lập và bổ nhiệm Viện Nguyên lão có trách nhiệm xem xét các lời đề nghị về Hiến pháp. Thiên hoàng tuyên bố rằng "chính thể đại nghị sẽ được thành lập dần từng bước" khi ông ra lệnh cho Viện Nguyên lão soạn thảo Hiến pháp. Năm 1880, đại biểu từ 24 phiên tổ chức hội nghị toàn quốc để thành lập Kokkai Kisei Dōmei (Liên đoàn thành lập Quốc hội).
Mặc dù chính phủ không phản đối các quy định của nghị viện, đối đầu với việc thúc đẩy "nhân quyền", nó tiếp tục cố kiểm soát tình hình chính trị. Các luật mới năm 1875 cấm báo chí phê phán chính quyền hay thảo luận về các bộ luật quốc gia. Luật hội họp công cộng (1880) hạn chế nghiêm khắc việc tụ tập công cộng bằng cách không cho phép các viên chức nhà nước có mặt và yêu cầu mọi buổi mítting phải có sự cho phép của cảnh sát. Tuy vậy, trong vòng kiềm tỏa của luật pháp, và bất chấp các bước đi mang tính bảo thủ của giới lãnh đạo, Okuma tiếp tục là người đơn độc chủ trương chính thể kiểu Anh, chính thể với các đảng chính trị và một nội các do đảng đa số tổ chức, chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Ông kêu gọi tuyển cử vào năm 1882, triệu tập quốc hội vào năm 1883; trong khi thực hiện việc đó, ông tạo ra một cuộc khủng hoảng chính trị kết thúc năm 1881 với một chiếu chỉ tuyên bố triệu tập quốc hội vào năm 1890 và sa thải Okuma khỏi chính phủ.
Từ bỏ chính thể kiểu Anh, Iwakura Tomomi và những người bảo thủ khác vay mượn chủ yếu từ hệ thống hiến pháp Vương quốc Phổ. Một trong các phiên phiệt, Itō Hirobumi, một người gốc Chōshū từ lâu tham dự vào các sự vụ chính phủ, được giao trách nhiệm soạn thảo hiến pháp Đế quốc Nhật Bản. Ông dẫn đầu phái đoàn học tập hiến pháp ra nước ngoài năm 1882, phần lớn thời gian ở Đức. Ông từ chối Hiến pháp Hoa Kỳ vì "quá tự do" và hệ thống kiểu Anh vì quá dễ dãi và có một quốc hội với nhiều quyền kiểm soát với triều đình; kiểu Pháp và Tây Ban Nha bị từ chối vì hướng đến chế độ chuyên quyền.
== Củng cố quyền lực nhà nước ==
Khi Itō trở về, một trong những hành động đầu tiên của chính phủ là thiết lập hệ thống quý tộc kazoku với các cấp bậc mới cho quý tộc. 500 người từ quý tộc cũ trong triều, cựu daimyō, samurai và dân thường đã có đóng góp có giá trị cho chính phủ được chia thành 5 bậc: công, hầu, bá, tử, và nam.
Itō được giao phụ trách Cơ quan Điều tra hệ thống Hiến pháp năm 1884, và Hội đồng Quốc gia được thay thế năm 1885 bằng nội các, do Itō làm Thủ tướng. Vị trí Chưởng ấn quan, Tả Đại thần, và Hữu Đại thần, đã tồn tại từ thế kỷ 7 như các vị trí cố vấn cho Thiên hoàng, đều bị bãi bỏ. Thay vào đó, Cơ mật viện được thành lập năm 1888 để đánh giá hiến pháp sắp tới và tham mưu cho Thiên hoàng. Để củng cố hơn nữa quyền lực của nhà nước, Hội đồng chiến tranh tối cao được thành lập dưới quyền lãnh đạo của Yamagata Aritomo một người quê Chōshū nổi tiếng về việc thành lập Lục quân Đế quốc Nhật Bản hiện đại và sẽ trở thành người đầu tiên là Thủ tướng theo Hiến pháp. Hội đồng chiến tranh tối cao phát triển một hệ thống bộ tham mưu kiểu Đức với một Tổng tham mưu trưởng báo cáo trực tiếp với Thiên hoàng và có thể bổ nhiệm độc lập Bộ trưởng lục quân và các viên chức dân sự.
== Hiến pháp Minh Trị và bầu cử ==
Khi cuối cùng được Thiên hoàng chấp nhận như là một dấu hiệu về việc chia sẻ quyền lực và trao quyền và sự tự do cho các thần dân của ông, Hiến pháp năm 1889 của Đế chế Nhật Bản (Hiến pháp Minh Trị) cho ra đời một Nghị viên Đế quốc (Teikoku Gikai), bao gồm một Chúng nghị viên bầu cử theo ý thích, với một giới hạn khắt khe cho nam công dân có thể trả ¥15 tiền thuế để đi bầu, khoảng 1% dân số; Quý tộc viện (Kizokuin), bao gồm quý tộc và những người do triều đình bổ nhiệm; và một Nội các chịu trách nhiệm trước Thiên hoàng và độc lập với cơ quan lập pháp. Nghị viện có thể chấp thuận các bộ luật do chính phủ khởi thảo, thay mặt cho chính quyền, và tập hợp các lời thỉnh nguyện lên Thiên hoàng. Tuy nhiên, bất chấp sự thay đổi thể chế, quyền lực tối cao vẫn nằm trong tay Thiên hoàng dựa vào nền tảng là nguồn gốc thần thánh của người. Hiến pháp mới định rõ một thể chế chính quyền vẫn có đặc điểm độc tài, với Thiên hoàng nắm quyền lực tuyệt đối và chỉ nhượng bộ tối thiểu cho dân quyền và cơ cấu nghị viện. Việc tập hợp các đảng phái được nhận ra là một phần của tiến trình chính trị. Hiến pháp Minh Trị sẽ vẫn là bộ luật cơ bản cho đến tận năm 1947.
Cuộc tổng tuyển cử đầu tiên được tổ chức vào năm 1890, và 300 thành viên được bầu vào Hạ nghị viện. Hai đảng Jiyūtō và Kaishintō đã được tái lập để chuẩn bị cho cuộc tuyển cử và cùng nhau giành được hơn một nửa số ghế. Hạ nghị viện sớm trở thành vũ đài tranh cãi giữa các chính trị gia và chính phủ về rất nhiều vấn đề, ví dụ như ngân sách, sự tối nghĩa của hiến pháp về quyền lực của nghị viện, và mong muốn của Nghị viện muốn làm sáng tỏ "ý chí của Thiên hoàng" với vị trí của các đầu sỏ chính trị rằng nội các và chính phủ nên "vượt quá" các lực lượng chính trị xung đột. Đòn bẩy chính của Nghị viện là sự chấp thuận hay bác bỏ ngân sách, và nó đã nắm vững được quyền này từ đó về sau.
Trong những năm đầu của chính phủ lập hiến, điểm mạnh yếu của Hiến pháp Minh Trị đều được bộc lộ. Một nhóm nhỏ "elite" từ Satsuma và Choshu tiếp tục thống trị nước Nhật, được thể chế hóa bằng một thực thể vượt trên hiến của các genrō (nguyên lão). Các genro cùng nhau ra quyết định đã được dành trước cho Thiên hoàng, và các genro, chứ không phải Thiên hoàng, nắm nền chính trị của chính quyền. Tuy nhiên, trong suốt thời này, các vấn đề chính trị thường được giải quyết thông qua thương thảo, và các đảng chính trị dần gia tăng quyền lực của mình với chính phủ và kết quả là, họ giữ những vị trí ngày càng lớn hơn.
== Đấu tranh chính trị ==
Sau những cuộc ganh đua chính trị quyết liệt từ khi thành lập Nghị viện năm 1890 đến năm 1894, khi quốc gia được thống nhất cho nỗ lực chiến tranh trước Trung Quốc, tiếp theo đó là 5 năm thống nhất, hợp tác bất bình thường, và chính phủ liên hiệp. Từ 1900 đến 1912, Nghị viện và nội các hợp tác thậm chí còn trực tiếp hơn, với các đảng chính trị đóng vai trò lớn hơn. Trong suốt thời kỳ này, các phiên phiệt cũ triều Minh Trị vẫn nắm giữ quyền kiểm soát tối cao nhưng dần nhượng lại quyền lực cho các đảng phái đối lập. Hai nhân vật chính của thời kỳ này là Yamagata Aritomo, người nắm giữ rất lâu vị trí lãnh đạo quân sự và dân sự (1868-1922), bao gồm hai nhiệm kỳ thủ tướng, tiêu biểu là sự hăm dọa của ông với các đối thủ và chống lại các thủ tục dân chủ, và Ito Hirobumi, một nhà đàm phán, mặc dù bị các genro bác bỏ, muốn thành lập đảng để kiểm soát Nghị viện trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình. Khi Ito trở lại ghế thủ tướng năm 1898, ông một lần nữa thúc đẩy một đảng chính quyền, nhưng khi Yamagata và những người khác từ chối, Ito từ nhiệm. Không có người nào trong số các genro muốn kế nhiệm, Kenseitō (Hiến chính đảng) được mời thành lập nội các dưới sự lãnh đạo của Okuma và Itagaki, một thành quả lớn của các đảng đối lập trong cuộc cạnh tranh với các genro. Thành công này khá ngắn ngủi: Kenseitō bị chia thành hai đảng, Kenseitō do Itagaki lãnh đạo và Kensei Hontō (Hiến chính thực đảng) do Ōkuma lãnh đạo, và nội các chấm dứt chỉ sau 4 tháng. Yamagata sau đó trở lại ghế thủ tướng với sự hậu thuẫn của giới quân sự và công chức. Bất chấp sự ủng hộ rộng rãi quan điểm hạn chế chính thể hiến pháp của ông, Yamagata lập liên minh với Kenseito. Cải cách của luật bầu cử, mở rộng Hạ viện lên 369 thành viên, và các điều khoản về bỏ phiến kín giành được sự ủng hộ của Nghị viện cho ngân sách và tăng thuế của Yamagata. Tuy vậy, ông tiếp tục sử dụng các sắc lệnh của hoàng gia, để giữ cho các đảng phái khỏi tham dự trực tiếp vào giới công chức và củng cố vị thế độc lập của quân đội. Khi Yamagata không thể thương thảo hơn nữa với Kenseito, liên minh chấm dứt vào năm 1900, bắt đầu một thời kỳ phát triển chính trị mới.
== Itō trở thành Thủ tướng ==
Itō và người được bảo trợ, Saionji Kimmochi cuối cùng thành công trong việc thành lập đảng thân chính quyền—Kensei Seiyūkai (Hiệp hội những người bạn của chính phủ lập hiến) —vào tháng 9 năm 1900, và 1 tháng sau Itō trở thành Thủ tướng của nội các Seiyūkai đầu tiên. Seiyūkai giữ phần lớn ghế trong Hạ viện, nhưng liên minh bảo thủ của Yamagata có ảnh hưởng lớn nhất trong Thượng viện, buộc Ito phải tìm kiếm sự can thiệp của Thiên hoàng. Mệt mỏi vì các cuộc đấu đá chính trị, Ito từ chức năm 1901. Sau đó, vị trí thủ tướng do người được Yamagata bảo trợ, Katsura Tarō và Saionji thay nhau nắm giữ. Sự luân phiên quyền lực chính trị là sự biểu thị khả năng của hai bên hợp tác và chia sẻ quyền lực và giúp cổ vũ sự tiếp tục phát triển nền chính trị đảng phái.
== Kết thúc thời kỳ Minh Trị ==
Thời kỳ Minh Trị kết thúc với cái chết của Thiên hoàng năm 1912 và mở ra thời kỳ Đại Chính (1912-26) với Thái tử Yoshihito lên làm vua, trở thành Thiên hoàng Đại Chính). Sự kết thúc thời kỳ Minh Trị được đánh dấu bằng các chương trình quân sự và đầu tư trong nước và ngoài nước của chính phủ, gần như cạn kiệt tiền mặt, và thiếu giao thương quốc tế để trả nợ. Sự mở đầu của thời kỳ Taisho được đánh dấu bằng cuộc khủng hoảng chính trị phá vỡ nền chính trị thỏa hiệp trước đó. Khi Thủ tướng Saionji cố cắt giảm ngân sách quân sự, Bộ trưởng lục quân từ chức, làm nội các Seiyukai đổ. Cả Yamagata và Saionji từ chối đảm nhiệm vị trí này, và các genro không thể tìm ra giải pháp. Công chúng giận dữ vì sự chi phối của giới quân sự với nội các và việc gọi lại Katsura đảm nhận nhiệm kỳ thứ 3 dẫn đến những yêu cầu khẩn thiết hơn cho việc chấm dứt nền chính trị genro. Bất chấp những đối thủ cũ, các lực lượng bảo thủ thành lập một đảng của riêng mình vào năm 1913, Rikken Dōshikai (Hiến chính Đồng chí hội), và Đảng này giành được đa số trước Seiyūkai trong cuộc tuyển cử cuối năm 1914.
== Tham khảo ==
Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc Library of Congress Country Studies. - Nhật Bản |
vải.txt | Vải là một loại vật liệu linh hoạt bao gồm một mạng lưới các sợi tự nhiên hoặc nhân tạo thường được gọi là sợi chỉ. Sợi chỉ được sản xuất từ sợi len, sợi thô, lanh, cotton, hoặc vật liệu khác bằng một bánh xe quay tròn để sản xuất ra sợi dài hơn và lớn hơn. Vải được dệt, đan, ghép nút (knotting), hoặc nắn các sợi với nhau (kết lại, nỉ).
== Tham khảo ==
== Nguồn ==
Good, Irene. 2006. "Textiles as a Medium of Exchange in Third Millennium B.C.E. Western Asia." In: Contact and Exchange in the Ancient World. Edited by Victor H. Mair. University of Hawai'i Press, Honolulu. Pages 191-214. ISBN 978-0824828844
Fisher, Nora (Curator Emirta, Textiles & Costumes), Museum of International Folk Art. "Rio Grande Textiles." Introduction by Teresa Archuleta-Sagel. 196 pages with 125 black and white as well as color plates, Museum of New Mexico Press, Paperbound. |
dậy thì.txt | Dậy thì là quá trình thay đổi thể chất từ cơ thể một đứa trẻ trở thành cơ thể người lớn có khả năng sinh sản. Dậy thì bắt đầu khi những tín hiệu hormone trong não truyền tới các tuyến sinh dục (buồng trứng hoặc tinh hoàn). Đáp lại, các tuyến này sản sinh ra nhiều loại hormone kích thích sự tăng trưởng, hình thành chức năng và biến đổi não bộ, xương, cơ, da, vú và cơ quan sinh sản. Cơ thể tăng trưởng nhanh trong nửa đầu của giai đoạn dậy thì và dừng lại khi quá trình dậy thì hoàn tất. Trước dậy thì, cơ thể của trẻ trai và trẻ gái hầu như giống nhau trừ bộ phận sinh dục. Trong quá trình dậy thì, có những thay đổi lớn về kích thước, hình dạng, cấu tạo và chức năng của nhiều bộ phận và hệ cơ quan trong cơ thể
Trung bình, con gái dậy thì lúc 10-11; con trai dậy thì lúc 11-12. Con gái thường dậy thì xong lúc 15-17, trong khi con trai thường dậy thì xong lúc 16-17. Bước ngoặt lớn của dậy thì đối với phụ nữ là có kinh nguyệt, bước đầu tiên của hành kinh, trung bình diễn ra vào 12-13; đối với nam, là sự xuất tinh đầu tiên, trung bình diễn ra vào tuổi 13. Trong thế kỉ 21, trung bình tuổi trẻ em, nhất là con gái, tuổi dậy thì diễn ra thấp hơn so với thế kỷ 19, khi con gái 15 tuổi và con trai 16 tuổi. Điều này do nhiều yếu tố, bao gồm cải thiện dinh dưỡng làm cho cơ thể phát triển nhanh chóng, tăng cân và lắng đọng chất béo, hoặc rối loạn nội tiết như là xenoestrogens, cũng có những lúc xảy ra do tiêu thụ thực phẩm hoặc các yếu tố môi trường. Dậy thì diễn ra sớm hơn bình thường gọi là dậy thì sớm. Dậy thì diễn ra chậm hơn so với bình thường gọi là dậy thì muộn.
== Tham khảo == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.