filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
lan.txt | Xin xem các mục từ khác có cùng tên ở Lan (định hướng).
LAN (viết tắt từ tên tiếng Anh Local Area Network, "mạng máy tính cục bộ") là một hệ thống mạng dùng để kết nối các máy tính trong một phạm vi nhỏ (nhà ở, phòng làm việc, trường học, …). Các máy tính trong mạng LAN có thể chia sẻ tài nguyên với nhau, mà điển hình là chia sẻ tập tin, máy in, máy quét và một số thiết bị khác.
Một mạng LAN tối thiểu cần có máy chủ (server), các thiết bị ghép nối (Repeater, Hub, Switch, Bridge), máy tính con (client), card mạng (Network Interface Card – NIC) và dây cáp (cable) để kết nối các máy tính lại với nhau. Trong thời đại của hệ điều hành MS-DOS, máy chủ mạng LAN thường sử dụng phần mềm Novell NetWare, tuy nhiên điều này đã trở nên lỗi thời hơn sau khi Windows NT và Windows for Workgroups xuất hiện. Ngày nay hầu hết máy chủ sử dụng hệ điều hành Windows, và tốc độ mạng LAN có thể lên đến 10 Mbps, 100 Mbps hay thậm chí là 1 Gbps.
Một hình thức khác của LAN là WAN (Wide Area Network). Có nghĩa là mạng diện rộng. Dùng để nối các LAN lại với nhau (thông qua router).
Một hình thức khác nữa của mạng LAN, mới xuất hiện trong những năm gần đây là WLAN (Wireless LAN) – mạng LAN không dây.
== Lịch sử ==
Vào thời gian trước khi những máy tính cá nhân xuất hiện, một máy tính trung tâm chiếm trọn 1 căn phòng, người dùng truy nhập những thiết bị đầu cuối máy thông qua cáp truyền dữ liệu tốc độ thấp. Những Mạng SNA của IBM (cấu trúc mạng hệ thống) được tập trung vào những thiết bị đầu cuối liên kết hay những máy tính lớn khác tại những chỗ từ xa qua những đường dây cáp thuê bao. Từ đây nó là những mạng được kết nối trên diện rộng. Những mạng cục bộ LAN (Local Network Area) đầu tiên đã được tạo ra vào cuối những năm 1970 và thường tạo ra những mối liên kết cao tốc giữa vài máy tính trung tâm lớn tại một chỗ. Nhiều hệ thống cạnh tranh được tạo ra vào thời gian này Ethernet và ARCNET được biết đến nhiều nhất.
Sự phát triển vượt bậc của CP/M – Và sau đó những máy tính cá nhân chạy trên nền DOS có nghĩa rằng có hàng trăm máy tính đã có thể hoạt động đơn lẻ và độc lập với máy tính trung tâm. Sự hấp dẫn ban đầu của mạng máy tính là việc có thể chia sẻ ổ đĩa và những máy in laser, mà là cả hai thứ này rất đắt lúc đó. Có nhiều người hào hứng với khái niệm mới và trong vài năm, từ khoảng 1983 về phía trước, những học giả công nghiệp tin học đều đặn khai báo năm tới sẽ là năm của mạng LAN.
Trên thực tế, nhận định đó bị lung lay mạnh bởi sự tăng nhanh của các loại lớp vật lý khác nhau và những thủ tục thi hành mạng không tương thích, và sự bối rối về việc làm thế nào để chia sẻ tài nguyên tốt nhất. Điển hình, mỗi nhà cung cấp có một kiểu card mạng riêng của họ, dây cáp, giao thức kết nối, hệ điều hành mạng riêng của họ. Và một giải pháp quan trọng xuất hiện với cái tên NetWare Novell, giải pháp của họ hỗ trợ 40 kiểu card mạng khác nhau, và một hệ điều hành phức tạp hơn so với hầu hết các đối thủ của nó. Phần mềm mạng thống trị các máy tính cá nhân được nối với nhau (LAN) của các doanh nghiệp từ những năm đầu 1983 – khi nó được giới thiệu – cho đến giữa những năm 1990 khi Microsoft giới thiệu hệ điều hành mạng tân tiến Windows NT advanced server và Windows cho nhóm làm việc (Windows for working group).
Những đối thủ của phần mềm mạng, chỉ có Banyan Vines có những kỹ thuậy mạnh để cạnh tranh nhưng Banyan chẳng bao giờ có một vị thế an toàn. Microsoft và 3Com làm việc cùng nhau tạo ra một hệ điều hành mạng đơn giản, tiền thân 3+Share của 3Com và LAN Manager của Microsoft cũng như LAN Server của IBM. Không một ai trong số trên đặc biệt thành công.
Trong cùng thời gian với máy tính trạm lớn frame, những trạm làm việc UNIX từ những nhà cung cấp như Sun Microsystems, Hewlett-Packard, Silicon Graphics, Intergraph, NeXT và Apollo sử dụng giao thức TCP/IP. Dù phân đoạn đoạn thị trường cho trạm làm việc chạy trên UNIX đã và đang sụt giảm nhưng những công nghệ được phát triển bởi họ tiếp tục có ảnh hưởng trên Internet và trong cả hai Hệ điều hành Linux Mac OS X của Apple và giao thức TCP/IP gần như hoàn toàn thay thế IPX, AppleTalk, NetBEUI và những giao thức khác được dùng trong buổi đầu mạng LAN được sinh ra. Bài này còn sơ khai.
== Miêu tả kỹ thuật ==
Mặc dầu ngày nay mạng Ethernet chuyển đổi là giao thức thông dụng nhất dùng trong tầng liên kết dữ liệu và IP là giao thức thông dụng nhất trong tầng Network, rất nhiều sự lựa chọn khác nhau đã và đang được sử dụng, và một vài trong số đó trở nên phổ biến trong những lĩnh vực thích hợp. Mạng LAN nhỏ hơn gồm có một hoặc vài liên kết chuyển mạch tới những mạng khác – thường với một liên kết tới một bộ định tuyến, modem cáp, hay DSL modem cho truy nhập Internet.
Những mạng LAN lớn hơn được mô tả bởi người dùng với những đường dẫn dư thừa và chuyển đổi sử dụng giao thức giải thuật cây để ngăn chặn vòng lặp, khả năng của chúng để điều khiển các loại giao thông khác nhau thông qua chất lượng dịch vụ (QoS), và cô lập giao thông qua VLANs. Mạng LAN lớn hơn cũng bao gồm nhiều và đa dạng các thiết bị như bộ chuyển đổi, tường lửa, bộ định tuyến, bộ cân bằng tải, cảm biến và hơn thế nữa.
LAN có thể có liên kết với những mạng cục bộ khác thông qua đường thuê bao, dịch vụ thuê bao, hoặc bằng "đường hầm" thông qua mạng Internet sử dụng công nghệ VPN. Tùy thuộc vào cách tạo ra và bảo đảm các liên kết, và độ rộng địa lý của mạng, hệ các mạng LAN này có thể trở thành Mạng liên kết chủ (MAN) hoặc Mạng liên kết diện rộng (WAN), hoặc một phần của Mạng toàn cầu.
== Các thiết bị cần thiết ==
==== Máy chủ (Server) ====
– Là một máy tính có CPU tốc độ cao, RAM và ổ đĩa lớn, thường liên kết với các thiết bị ngoại vi khác như máy in (printer, máy quét (scanner), …).
==== Máy trạm (Workstation) ====
Máy trạm đôi khi còn gọi là máy khách (client). Các máy khách kết nối với máy chủ và có thể liên lạc với nhau thông qua máy chủ.
== Xem thêm ==
Mạng máy tính
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
kosovo.txt | Kosovo (tiếng Albania: Kosova [kɔsɔva]; tiếng Serbia chữ Kirin: Косово) là tên gọi một lãnh thổ tranh chấp và quốc gia được một bộ phận quốc tế công nhận tại Đông Nam Âu, tuyên bố độc lập khỏi Serbia vào năm 2008 với tên gọi nước Cộng hòa Kosovo (tiếng Albania: Republika e Kosovës; tiếng Serbia: Република Косово / Republika Kosovo). Kosovo là lãnh thổ nội lục tại miền trung Bán đảo Balkan, thủ đô và thành phố lớn nhất là Pristina. Kosovo có biên giới với Cộng hòa Macedonia và Albania về phía nam, Montenegro về phía tây, và lãnh thổ không tranh chấp của Serbia về phía bắc và đông. Serbia công nhận quyền cai trị lãnh thổ của chính phủ dân cử Kosovo, song họ vẫn tiếp tục yêu sách lãnh thổ này với tên gọi Tỉnh tự trị Kosovo và Metohija.
Trong thời kỳ cổ đại, Vương quốc Dardania, và sau đó là Tỉnh Dardania của La Mã nằm trên khu vực. Đến thời kỳ Trung Cổ, khu vực thuộc Đế quốc Đông La Mã, Đế quốc Bulgaria và Serbia, và nhiều người nhận định Trận Kosovo vào năm 1389 là một trong các thời khắc quyết định trong lịch sử Trung Cổ của Serbia. Kosovo là bộ phận của Đế quốc Ottoman từ thế kỷ 15 đến đầu thế kỷ 20, và trong cuối thế kỷ 19 khu vực trở thành trung tâm của phong trào độc lập Albania cùng với Liên minh Prizren. Do thất bại trong Chiến tranh Balkan lần thứ nhất (1912–13), Đế quốc Ottoman nhượng lại Tỉnh Kosovo cho Đồng Minh Balkan; Vương quốc Serbia lấy được phần lớn lãnh thổ này, còn Vương quốc Montenegro sáp nhập phần phía tây, song hai quốc gia sau đó gia nhập Vương quốc Nam Tư sau Chiến tranh thế giới thứ nhất. Sau một giai đoạn nhất thể Nam Tư trong Vương quốc, hiến pháp Nam Tư sau Chiến tranh thế giới thứ hai lập ra Tỉnh tự trị Kosovo và Metohija thuộc nước cộng hòa Serbia của Nam Tư.
Căng thẳng sắc tộc kéo dài giữa cư dân Albania và Serb khiến lãnh thổ bị phân chia theo dân tộc, dẫn đến bạo lực giữa hai dân tộc mà đỉnh điểm là Chiến tranh Kosovo 1998–99, nằm trong các cuộc Chiến tranh Nam Tư rộng hơn. Chiến tranh kết thúc bằng cuộc can thiệp quân sự của NATO, buộc Cộng hòa Liên bang Nam Tư triệt thoái binh sĩ khỏi Kosovo, nơi đây được Liên Hiệp Quốc bảo hộ theo Nghị quyết số 1244. Ngày 17 tháng 2 năm 2008, Nghị viện Kosovo tuyên bố độc lập, và từ đó giành được công nhận ngoại giao là quốc gia có chủ quyền từ 110 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc (đến tháng 12/2016). Serbia từ chối không nhận Kosovo là một quốc gia, song theo Thỏa thuận Bruxelles năm 2013 họ chấp thuận tính hợp pháp của các cơ quan Kosovo. Kosovo được phân loại là một quốc gia có thu nhập trung bình thấp, trải qua tăng trưởng kinh tế vững chắc trong những năm gần đây theo đánh giá của các tổ chức tài chính quốc tế, và là một trong bốn quốc gia duy nhất tại châu Âu có tăng trưởng trong tất cả các năm kể từ bắt đầu khủng hoảng tài chính toàn cầu vào năm 2008.
== Tên gọi ==
Kosovo (tiếng Serbia chữ Kirin: Косово, Bản mẫu:IPA-sr) là một tính từ sở hữu giống trung trong tiếng Serbia của kos (кос) "chim hoét", một sự tỉnh lược của Kosovo Polje, 'cánh đồng chim hoét', địa điểm dã diễn ra trận cánh đồng Kosovo vào năm 1389. Tên gọi của cánh đồng được đặt cho một tỉnh của đế quốc Ottoman vào năm 1864.
Khu vực mà nay được gọi là "Kosovo" trở thành một khu vực hành chính vào năm 1946, tức Tỉnh tự trị Kosovo và Metohija. Năm 1974, "Kosovo và Metohija" được giản lược chỉ còn là "Kosovo" trong tên gọi Tỉnh Xã hội chủ nghĩa Tự trị Kosovo, song vào năm 1990 khu vực được đổi tên thành Tỉnh tự trị Kosovo và Metohija.
== Lịch sử ==
=== Nam Tư tan rã ===
Tình trạng căng thẳng giữa các dân tộc tại Kosovo tiếp tục xấu đi trong suốt thập niên 1980. Bản ghi nhớ của Học viện Serbia năm 1986 cảnh báo rằng Nam Tư đang phải trải qua xung đột sắc tộc và sự tan rã của kinh tế Nam Tư thành các khu vực và lãnh thổ kinh tế riêng biệt, biến một nhà nước liên bang thành một liên minh lỏng lẻo. Vào tháng 2 năm 1989, cuộc biểu tình của thợ mỏ Trepca đã bắt đầu một cuộc tuyệt thực trước khi Kosovo chính thức bị bãi bỏ quyền tự trị.
Vào ngày 28 tháng 6 năm 1989, Slobodan Milošević đọc bài diễn văn Gazimestan trước một số lượng lớn công dân người Serbia trong một lễ kỷ niệm lớn đánh dấu 600 năm từ lúc xảy ra trận Kosovo. Nhiều người nghĩ rằng bài phát biểu đó đã giúp Milošević củng cố quyền lực của mình tại Serbia. Năm 1989, Milošević, sử dụng cả đe dọa lẫn vận động chính trị, quyết liệt bãi bỏ tình trạng tự trị đặc biệt của Kosovo và đầu đàn áp văn hóa của dân tộc Albania. Người Albania tại Kosovo phản ứng bằng một phong trào ly khai bất bạo động, tiến hành bất tuân dân sự rộng rãi và lập ra các thể chế tồn tại song song trong các lĩnh vực giáo dục, chăm sóc y tế, và thuế, với mục tiêu cuối cùng là giành được quyền độc lập cho Kosovo.
Ngày 2 tháng 7 năm 1990, quốc hội Kosovo tự xưng tuyên bố Kosovo là một nước cộng hòa bên trong Nam Tư và đến ngày 22 tháng 9 năm 1991 thì tuyên bố Kosovo là một quốc gia độc lập, Cộng hòa Kosova. Vào tháng 5 năm 1992, Ibrahim Rugova được bầu làm tổng thống. Trong suốt thời gian tồn tại, Cộng hòa Kosova chỉ được Albania công nhận về mặt ngoại giao; thể chế này chính thức tan rã vào năm 2000 sau chiến tranh Kosovo, khi nó được thay thế bằng thể chế hành chính do Phái bộ Quản lý Lâm thời của Liên Hiệp Quốc tại Kosovo (UNMIK) thành lập.
=== Chiến tranh Kosovo ===
Năm 1995, Hòa ước Dayton kết thúc Chiến tranh Bosnia, thu hút sự chú ý đáng kể của cộng đồng quốc tế. Tuy nhiên, bất chấp nguyện vọng của người Albania tại Kosovo, tình hình tại Kosovo vẫn chưa được cộng đồng quốc tế giải quyết, và đến năm 1996, quân Giải phóng Kosovo (KLA), một nhóm du kích người Albania, bắt đầu giao nộp vũ khí cho lực lượng an ninh người Serb và Nam Tư, đây là thắng lợi trong việc giải quyết giai đoạn đầu của chiến tranh Kosovo.
Năm 1998, do bạo lực trở nên tồi tệ hơn và rất nhiều người Albania phải di tản, mối quan tâm của phương Tây tăng lên. Nhà cầm quyền Serbia bắt buộc phải ký một lệnh ngừng bắn và rút lui một phần, được Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE) giám sát theo một thỏa thuận do Richard Holbrooke dàn xếp. Tuy nhiên, thỏa thuận ngừng bắn không được tôn trọng và giao tranh lại tái diễn vào tháng 12 năm 1998. Thảm sát Račak vào tháng 1 năm 1999 khiến quốc tế dành mối quan tâm đặc biệt cho cuộc xung đột. Trong vòng vài tuần lễ, một hội nghị quốc tế đa phương đã được triệu tập và đến tháng ba đã chuẩn bị được một dự thảo thỏa thuận được gọi là Hiệp định Rambouillet, kêu gọi phục hồi quyền tự trị cho Kosovo và triển khai lực lượng gìn giữ hòa bình của NATO. Phía Serbia cho rằng các điều khoản không thể chấp nhận được và đã từ chối ký vào bản dự thảo.
NATO can thiệp bằng việc ném bom Nam Tư từ ngày 24 tháng 3 đến 10 tháng 6 năm 1999, nhằm buộc Milošević phải rút quân khỏi Kosovo. Hành động quân sự này không được sự cho phép của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và do đó trái với các quy định của Hiến chương Liên Hiệp Quốc. Cộng thêm các cuộc giao tranh giữa quân du kích người Albania và quân Nam Tư, người dân Kosovo lại càng phải di tản hơn nữa.
Trong cuộc xung đột, gần một triệu người sắc tộc Albania phải chạy trốn hoặc bị xua đuổi khỏi Kosovo. Tổng cộng, đã có trên 11.000 người thiệt mạng được các công tố viên báo cáo cho Carla Del Ponte. Khoảng 3.000 người vẫn mất tích, trong đó 2.500 người Albania, 400 người Serb và 100 người Di-gan. Cuối cùng, vào tháng 6, Milošević đồng ý chấp thuận việc quân đội nước ngoài hiện diện tại Kosovo và cho quân của mình rút lui.
=== Thời kỳ Liên Hiệp Quốc quản lý ===
Ngày 10 tháng 6 năm 1999, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã thông qua Nghị quyết 1244, đặt Kosovo dưới sự quản lý của chính quyền quá độ Liên Hiệp Quốc (UNMIK) và ủy quyền cho KFOR, một lực lượng gìn giữ hòa bình do NATO lãnh đạo. Nghị quyết 1244 quy định rằng Kosovo sẽ có quyền tự trị trong Cộng hòa Liên bang Nam Tư, và khẳng định toàn vẹn lãnh thổ của Nam Tư, mà kế thừa hợp pháp là Cộng hòa Serbia.
=== Kosovo tuyên bố độc lập ===
Kosovo tuyên bố độc lập vào ngày 17 tháng 2 năm 2008 và trong vài ngày sau đó, một số quốc gia có chủ quyền (Hoa Kỳ, Thổ Nhĩ Kỳ, Albania, Áo, Croatia, Đức, Ý, Pháp, Anh Quốc, Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan), Úc, Ba Lan và các quốc gia khác) công nhận sự độc lập của Kosovo, bất chấp phản đối của Nga và các thành viên Liên Hiệp Quốc khác. 110 quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc đã công nhận nền độc lập của Kosovo và Kosovo đã trở thành thành viên của một số thể chế quốc tế như IMF và Ngân hàng Thế giới với danh nghĩa Cộng hòa Kosovo.
Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc vẫn chia rẽ về vấn đề độc lập của Kosovo. Hoa Kỳ, Anh Quốc và Pháp đã tuyên bố công nhận nền độc lập này, Trung Quốc thì bày tỏ lo ngại, trong khi Nga thì coi tuyên bố này là bất hợp pháp. Tính đến tháng 9 năm 2012, không có quốc gia thành viên nào của Cộng đồng các Quốc gia Độc lập, Tổ chức Hiệp ước An ninh Tập thể hay Tổ chức Hợp tác Thượng Hải công nhận nền độc lập của Kosovo.
Liên minh châu Âu không có quan điểm chính thức về tình trạng của Kosovo, song quyết định triển khai Phái bộ Pháp quyền đến Kosovo để đảm bảo sự hiện diện dân sự quốc tế sẽ được tiếp tục tại Kosovo. Đến tháng 4 năm 2008, hầu hết các quốc gia thành viên của NATO, EU, Liên minh Tây Âu và OECD công nhận Kosovo là một quốc gia độc lập.
Đến năm 2008, tất cả các nước láng giềng của Kosovo ngoại trừ Serbia đều tuyên bố công nhận nền độc lập của Kosovo. Montenegro và Macedonia tuyên bố công nhận Kosovo vào ngày 9 tháng 12 năm 2008. Albania, Croatia, Bulgaria và Hungary cũng công nhận Kosovo là một quốc gia độc lập.
Phần lớn cộng đồng Serbia thiểu số tại Kosovo phản đối tuyên bố độc lập, và đã thành lập nên Hiệp hội Cộng đồng Kosovo và Metohija để phản ứng. Việc thành lập Hiệp hội bị Tổng thống Kosovo Fatmir Sejdiu lên án. Ngày 8 tháng 10 năm 2008, Đại hội đồng LHQ đã quyết định, dựa theo đề nghị của Serbia, yêu cầu Tòa án Công lý Quốc tế đưa ra một quan điểm pháp lý về tính hợp pháp trong tuyên bố độc lập của Kosovo. Ngày 22 tháng 7 năm 2010, Tòa án cho rằng tuyên bố độc lập của Kosovo không vi phạm các nguyên tắc chung hoặc luật pháp quốc tế, vốn không cấm đơn phương tuyên bố độc lập, cũng không vi phạm các điều luật quốc tế cụ thể - đặc biệt là UNSCR 1244 - vốn không xác định tình trạng cuối cùng của Kosovo.
Tính đến ngày 27 tháng 2 năm 2017, 111 trên 193 thành viên Liên Hợp Quốc, 23 trên tổng số 28 thành viên Liên minh châu Âu, 24 trên tổng số 28 thành viên NATO, 35 trên tổng số 61 thành viên Tổ chức Hợp tác Hồi giáo đã công nhận Kosovo.
== Địa lý ==
Kosovo là cầu nối giữa vùng Trung và Nam Âu và giữa biển Adriatic và biển Đen. Kosovo có diện tích 10.908 km². Kosovo nằm giữa 41° và 44° vĩ Bắc, và từ 20° and đến 22° kinh Đông. Biên giới của Kosovo dài xấp xỉ 602,09 km.
Kosovo có khí hậu lục địa, với mùa hè ấm và mùa đông lạnh và có tuyết rơi. Địa hình của Kosovo hầu hết là đồi núi, đỉnh cao nhất là Đeravica (2.656 m/8.714 ft). Có hai khu vực đồng bằng chính, bồn địa Metohija nằm ở phần phía tây của Kosovo, và đồng bằng Kosovo nằm ở phần phía đông. Các sông chính tại Kosovo là Drin Trắng (chảy ra biển Adriatic, với chi lưu Erenik), Sitnica, Morava Nam tại vùng Goljak, và Ibar ở phía bắc. Các hồ lớn nhất là Gazivoda, Radonjić, Batlava và Badovac.
39,1% diện tích Kosovo là rừng, khoảng 52% được phân loại là đất nông nghiệp, 31% trong đó được đồng cỏ bao phủ và 69% là đất canh tác. Về mặt địa thực vật, Kosovo thuộc ngành Illyria của vùng Vòng Bắc Cực thuộc giới Phương Bắc. Theo WWF và Bản đồ Kỹ thuật số của các vùng sinh thái châu Âu của Cơ quan Môi trường châu Âu, lãnh thổ Kosovo thuộc vùng sinh thái rừng hỗn hợp Balkan. Hiện nay, 39.000 ha của vườn quốc gia Dãy núi Šar, được thành lập vào năm 1986 tại dãy núi Šar dọc theo biên giới với Cộng hòa Macedonia, là vườn quốc gia duy nhất tại Kosovo, mặc dù vườn Hòa bình Balkan tại Prokletije dọc theo biên giới với Montenegro cũng được đề xuất nâng lên thành vườn quốc gia.
Kosovo giàu tài nguyên thiên nhiên. Kosovo có trữ lượng lớn về chì, kẽm, bạc, niken, côban, sắt và bô xít. Ngoài ra, người ta cũng tin rằng Kosovo có khoảng 14.000 tỉ tấn than non. Công ty Avrupa Minerals Ltd của Canada đã có được quyền khai thác trong một chương trình khai mỏ kéo dài ba năm, bắt đầu từ mùa hè năm 2011. Năm 2005, Tổng cục Mỏ và Khoáng sản cùng Ngân hàng Thế giới ước tính rằng Kosovo có lượng khoáng sản trị giá 13,5 tỉ euro.
== Nhân khẩu ==
Theo điều tra năm 2005 tại của Cơ quan Thống kê Kosovo, dân số Kosovo đạt từ 1,9 đến 2,2 triệu và thành phần dân tộc như sau: người Albania 92%, người Serb 4%, người Bosnia và người Gora 2%, người Thổ Nhĩ Kỳ 1%, người Di-gan 1%. CIA World Factbook ước tính rằng: 88% là người Albania, 8% là người Serb và 4% thuộc các nhóm dân tộc khác.
Người Albania có số lượng ngày càng tăng lên, và chiếm đa số ở Kosovo từ thế kỷ 19, thành phần dân tộc trước đó có sự tranh cãi. Ranh giới chính trị của Kosovo không trùng với ranh giới dân tộc; ví dụ, người Serb tạo thành một đa số địa phương tại Bắc Kosovo và hai khu tự quản khác, trong khi cũng có nhiều khu vực do người Albania chiếm đa số nằm ngoài Kosovo: tây bắc của Macedonia, và tại thung lũng Preševo tại Nam và Đông Serbia.
Với 1,3% mỗi năm, người Albania tại Kosovo có tốc độ tăng dân số nhanh nhất tại châu Âu. Trong thời kỳ 82-năm (1921–2003), dân số Kosovo đã tăng lên 460%. Người Albania chiếm 60% trong số 500.000 cư dân Kosovo vào năm 1931, và đến năm 1991 thì người Albania đã chiếm 81% trong số 2 triệu dân của Kosovo. Nếu tốc độ tăng trưởng dân số vẫn giữ ở mức này, Kosovo sẽ đạt 4,5 triệu dân vào năm 2050.
Ngược lại, từ năm 1948 đến 1991, cộng đồng người Serb tại Kosovo chỉ tăng 12%. Ngoài ra, trong cùng thời kỳ, hàng trăm nghìn người Serb dời khỏi khu vực để đến những nơi thịnh vượng hơn tại Trung Serbia hoặc Tây Âu. 60% người Serb sống tại Kosovo trước năm 1999 hiện cư trú tại Serbia sau chiến dịch thanh trừng sắc tộc năm 1999. Cũng giống như hầu hết các dân tộc Ki-tô giáo Đông Âu khác, người Serb có tỉ lệ sinh rất thấp (khoảng 1,5 trẻ em trên mỗi phụ nữ) và số người tử vong nhiều hơn số trẻ sinh ra. Điều này khiến cho người Serb tại Kosovo sẽ tiếp tục suy giảm về tỉ lệ cư dân, ngay cả khi mức sinh của người Albania giảm xuống.
=== Ngôn ngữ ===
Ngôn ngữ thông dụng nhất tại Kosovo là tiếng Albania, ngôn ngữ thứ nhất của 88–92% dân số. Phương ngữ Gheg là phương ngữ bản địa của người Albania tại Kosovo, song tiếng Albania tiêu chuẩn nay được sử dụng rộng rãi với vị thế ngôn ngữ chính thức. Tiếng Serbia là ngôn ngữ phổ biến thứ hai, là ngôn ngữ thứ nhất của 5–7% cư dân. Theo dự thảo Hiến pháp Kosovo, tiếng Serbia cũng là một ngôn ngữ chính thức. Các ngôn ngữ thiểu số khác tại Kosovo bao gồm tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Gora và các tiếng Serbia-Croatia khác.
=== Tôn giáo ===
Có hai tôn giáo chính tại Kosovo là Hồi giáo và Ki-tô giáo. Tín đồ Hồi giáo chiếm 90% dân số Kosovo, và hầu hết theo hệ phái Sunni, với một thiểu số Hồi giáo Bektashi. Nếu được xem là một quốc gia độc lập, Kosovo là một trong ba quốc gia nằm hoàn toàn trong châu Âu có tỉ lệ người Hồi giáo lớn – tiếp theo Bosna và Hercegovina và Albania. Hồi giáo được đưa đến cùng với cuộc chinh phục của đế quốc Ottoman trong thế kỷ 15 và nay được hầu hết người Albania thừa nhận rằng có đức tin. Tuy nhiên, Hồi giáo không thống trị đời sống xã hội của Kosovo, và khu vực phần lớn theo xu hướng thế tục. Khoảng 3% người Albania tại Kosovo vẫn theo Công giáo La Mã bất chấp hàng thế kỷ nằm dưới sự thống trị của Ottoman. Ước tính có khoảng 65.000 tín đồ Công giáo tại Kosovo và khoảng 60.000 người Kosovo là tín hữu Công giáo ở bên ngoài Kosovo. Người Serb, ước tính có khoảng 100.000 đến 120.000 người, phần lớn theo Chính Thống giáo Serbia. Kosovo có nhiều các nhà thờ và tu viện Chính Thống giáo Serbia. Khoảng 140 đã bị phá hủy và cướp phá một phần trong thời kỳ từ 1999 đến 2004, trong đó có 30 là nạn nhân của vụ bùng nổ bạo lực vào tháng 3 năm 2004.
== Kinh tế ==
Chính sách kinh tế của Cộng hòa Kosovo hướng đến một hệ thống thương mại tự do. Trong bối cảnh này, chính phủ đã soạn thảo một khung pháp lý để đảm bảo việc thực thi các tiêu chuẩn châu Âu về khả năng cạnh tranh.
Kosovo được IMF phân loạn là một quốc gia đang phát triển, với GDP bình quân đầu người ước đạt 6.560 USD (2016). Do Kosovo là nơi có dự trữ than đá lớn thứ hai tại châu Âu, nó từng có công ty xuất khẩu lớn nhất (Trepča) tại Cộng hòa Liên bang Nam Tư Tuy nhiên, Kosovo lại là tỉnh nghèo nhất Nam Tư và nhận được sự trợ cấp đáng kể từ tất cả các nước cộng hòa khác của Nam Tư. Ngoài ra, trong thập niên 1990, các chính sách kinh tế tồi tệ, trừng phạt quốc tế, ngoại thương không đáng kể và xung đột sắc tộc đã tác động nghiêm trọng đến nền kinh tế Kosovo.
Sau khi đạt mức nhảy vọt vào năm 2000 và 2001, tốc độ tăng trưởng GDP của Kosovo đã có mức âm vào năm 2002 và 2003 và được dự kiến đạt 3% vào năm 2004–2005, với nguồn lực tăng trưởng trong nước không thể bù đắp được nguồn hỗ trợ từ bên ngoài. Lạm phát thấp, trong khi ngân sách đã thâm hụt lần đầu tiên vào năm 2004. Năm 2004, thâm hụt cán cân hàng hóa và dịch vụ là gần 70% tổng GDP. Kiều hối từ những người Kosovo sống ở nước ngoài chiếm khoảng 13% GDP, và viện trợ nước ngoài chiếm khoảng 34% GDP.
Hầu hết sự phát triển kinh tế từ năm 1999 đến từ các lĩnh vực thương mại, bán lẻ và xây dựng. Khu vực kinh tế tư nhân đã nổi lên từ năm 1999 song chủ yếu vẫn có quy mô nhỏ. Lĩnh vực công nghiệp vẫn còn yếu và nguồn cung điện không ổn định. Tỉ lệ thất nghiệp vẫn còn rất cao, vào khoảng 40–50% lực lượng lao động.
Euro là loại tiền tệ được Cộng hòa Kosovo sử dụng, song Kosovo không phải là thành viên chính thức của Eurozone. Đồng euro được Phái bộ Liên Hiệp Quốc tại Kosovo cùng các cơ quan chính phủ sử dụng. Ban đầu, vào năm 1999, Kosovo chấp thuận lấy đồng mác Đức để thay thế dinar Nam Tư, và do đó chuyển sang euro khi nó thay thế mác Đức. Tuy nhiên, dinar Serbia vẫn được sử dụng tại các khu vực của người Serb.
== Đơn vị hành chính ==
Kosovo, nhằm phục vụ mục đích hành chính, Kosovo được chia thành bảy quận. Bắc Kosovo duy trì chính quyền, cơ sở hạ tầng và các thể chế riêng biệt. Vào tháng 120 năm 2009, Kosovo đã ký một thỏa thuận tái điều chỉnh biên giới với Cộng hòa Macedonia bằng việc trao đổi một số vùng đất
Kosovo được chia thành 30 khu tự quản:
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Phái đoàn OSCE tại Kosovo
Đặc sứ Liên Hiệp Quốc tại Kosovo
Visit Kosovo – website du lịch chính thức
Kosovo chính thức tuyên bố độc lập
Kosovo-Một lịch sử đầy sự kiện |
tam giác.txt | Xem các nghĩa khác của tam giác tại bài Tam giác (định hướng).
Tam giác hay hình tam giác là một loại hình cơ bản trong hình học: hình hai chiều phẳng có ba đỉnh là ba điểm không thẳng hàng và ba cạnh là ba đoạn thẳng. Tam giác là đa giác có số cạnh ít nhất.
Tam giác luôn luôn là đa giác đơn, lồi
== Các yếu tố trong tam giác ==
Một tam giác có ba cạnh, ba cạnh ấy tạo thành ba góc, chúng còn được gọi là các góc trong để phân biệt với các góc ngoài là góc kề bù với chúng tạo bởi một cạnh và một cạnh kéo dài.
Trong hình bên A' là góc đối của A đã dịch chuyển, B' là góc đối của B đã dịch chuyển
Đoạn thẳng nối một đỉnh với hình chiếu vuông góc của nó trên cạnh đối diện được gọi là đường cao của tam giác. Một tam giác có ba đường cao. Ba đường cao của một tam giác cắt nhau tại một điểm, điểm này được gọi là trực tâm của tam giác
Đoạn thẳng nối mỗi đỉnh với trung điểm của cạnh đối diện được gọi là trung tuyến của tam giác, một tam giác có ba đường trung tuyến. Ba đường trung tuyến của một tam giác cắt nhau tại một điểm, điểm này được gọi là trọng tâm của tam giác.
Trong mặt phẳng, mọi đường thẳng đi qua một đỉnh và trọng tâm của tam giác đều chia tam giác thành hai phần có diện tích bằng nhau
Ngoài ra ba đường trung trực của ba cạnh cắt nhau tại một điểm, đó là tâm đường tròn ngoại tiếp của tam giác.
Tâm đường tròn ngoại tiếp của tam giác thì cách đều 3 đỉnh tam giác.
Ba đường phân giác của ba góc trong cắt nhau tại một điểm, điểm này là tâm đường tròn nội tiếp tam giác.
Tâm đường tròn nội tiếp tam giác thì cách đều ba cạnh của tam giác
== Quan hệ bằng nhau giữa các tam giác ==
Hai tam giác được gọi là bằng nhau nếu chúng có thể đặt trùng khít lên nhau sau một số phép tịnh tiến, quay và đối xứng. Nói cách khác hai tam giác được gọi là bằng nhau nếu chúng có các cạnh tương ứng bằng nhau và các góc tương ứng bằng nhau. Hai tam giác bằng nhau khi và chỉ khi thỏa mãn một trong ba điều kiện sau:
Hai tam giác có ba cặp cạnh tương ứng bằng nhau thì bằng nhau (cạnh-cạnh-cạnh).
Hai tam giác có hai cặp cạnh tương ứng bằng nhau và cặp góc xen giữa các cạnh đó bằng nhau thì bằng nhau (cạnh-góc-cạnh).
Hai tam giác có một cặp cạnh bằng nhau và hai cặp góc kề với cặp cạnh ấy bằng nhau thì bằng nhau (góc-cạnh-góc).
Trong tam giác đều hai đường tròn nội tiếp và ngoại tiếp đồng tâm với nhau.
== Quan hệ đồng dạng giữa các tam giác ==
Hai tam giác được gọi là đồng dạng nếu một trong chúng bằng với một tam giác nhận được từ tam giác kia sau một phép vị tự. Các điều kiện cần và đủ để hai tam giác đồng dạng:
Hai tam giác có các cặp cạnh tương ứng tỷ lệ thì đồng dạng.
Hai tam giác có hai cặp góc tương ứng bằng nhau thì đồng dạng.
Hai tam giác có hai cặp cạnh tương ứng tỷ lệ, góc xen giữa hai cặp cạnh ấy bằng nhau thì đồng dạng.
Các tính chất khác:
Tỉ số hai đường phân giác, hai đường cao, hai đường trung tuyến, hai bán kính nội tiếp và ngoại tiếp, hai chu vi tương ứng của hai tam giác đồng dạng bằng tỉ số đồng dạng.
Tỉ số diện tích của hai tam giác đồng dạng thì bằng bình phương tỉ số đồng dạng.
== Phân loại tam giác ==
Trong hình học Euclid thuật ngữ "tam giác" thường được hiểu là tam giác nằm trong một mặt phẳng. Ngoài ra còn có tam giác cầu trong hình học cầu, tam giác hyperbol trong hình học hyperbol. Tam giác phẳng có một số dạng đặc biệt, xét theo tính chất các cạnh và các góc của nó:
== Một số tính chất của tam giác (trong hình học Euclide) ==
Tổng các góc trong của một tam giác bằng
180
o
{\displaystyle 180^{o}}
(hay
π
{\displaystyle \pi }
rad)
Độ dài mỗi cạnh lớn hơn hiệu độ dài hai cạnh kia và nhỏ hơn tổng độ dài của chúng.
Ba đường cao của tam giác cắt nhau tại một điểm được gọi là trực tâm của tam giác.
Ba đường trung tuyến của tam giác cắt nhau tại một điểm được gọi là trọng tâm của tam giác. Đường trung tuyến của tam giác chia tam giác thành hai phần có diện tích bằng nhau.
Ba đường trung trực của tam giác cắt nhau tại một điểm là tâm đường tròn ngoại tiếp của tam giác.
Ba đường phân giác trong của tam giác cắt nhau tại một điểm là tâm đường tròn nội tiếp của tam giác.
Trong hai cạnh của cùng một tam giác cạnh đối diện với góc lớn hơn có chiều dài lớn hơn. Góc đối diện với cạnh lớn hơn là góc lớn hơn.
Định lý hàm số cosin: Trong một tam giác, bình phương độ dài một cạnh bằng tổng bình phương độ dài hai canh còn lại trừ đi hai lần tích của độ dài hai cạnh ấy với cosin của góc xen giữa hai cạnh đó.
Định lý hàm số sin: Trong một tam giác tỷ lệ giữa độ dài của mỗi cạnh với sin của góc đối diện là như nhau cho cả ba cạnh.
Trong hình học phi Euclide thì một tam giác có thể có tổng ba góc phụ thuộc vào kích thước của tam giác, khi kích thước tam giác gia tăng thì tổng đó tiến tới giá trị là 0 và có diện tích là vô hạn.
== Các công thức tính diện tích tam giác ==
Tính diện tích tam giác là một bài toán sơ cấp thường gặp trong hình học sơ cấp
=== Sử dụng hình học ===
=== Dùng vectơ ===
=== Dùng lượng giác ===
=== Dùng tọa độ ===
Nếu đỉnh A đặt ở gốc tọa độ (0, 0) của hệ tọa độ Descartes và tọa độ của hai đỉnh kia là B = (xB, yB) và C = (xC, yC), thì diện tích S của tam giác ABC bằng một nửa của giá trị tuyệt đối của định thức
S
=
1
2
|
det
(
x
B
x
C
y
B
y
C
)
|
=
1
2
|
x
B
y
C
−
x
C
y
B
|
.
{\displaystyle S={\frac {1}{2}}\left|\det {\begin{pmatrix}x_{B}&x_{C}\\y_{B}&y_{C}\end{pmatrix}}\right|={\frac {1}{2}}|x_{B}y_{C}-x_{C}y_{B}|.}
Trong trường hợp tổng quát, ta có:
S
=
1
2
|
det
(
x
A
x
B
x
C
y
A
y
B
y
C
1
1
1
)
|
=
1
2
|
x
A
y
C
−
x
A
y
B
+
x
B
y
A
−
x
B
y
C
+
x
C
y
B
−
x
C
y
A
|
=
1
2
|
(
x
C
−
x
A
)
(
y
B
−
y
A
)
−
(
x
B
−
x
A
)
(
y
C
−
y
A
)
|
.
{\displaystyle S={\frac {1}{2}}\left|\det {\begin{pmatrix}x_{A}&x_{B}&x_{C}\\y_{A}&y_{B}&y_{C}\\1&1&1\end{pmatrix}}\right|={\frac {1}{2}}{\big |}x_{A}y_{C}-x_{A}y_{B}+x_{B}y_{A}-x_{B}y_{C}+x_{C}y_{B}-x_{C}y_{A}{\big |}={\frac {1}{2}}{\big |}(x_{C}-x_{A})(y_{B}-y_{A})-(x_{B}-x_{A})(y_{C}-y_{A}){\big |}.}
Trong không gian ba chiều, diện tích của tam giác cho bởi {A = (xA, yA, zA), B = (xB, yB, zB) và C = (xC, yC, zC)} là tổng 'Pythagor' của các diện tích các hình chiếu của chúng trên các mặt phẳng tọa độ (nghĩa là x=0, y=0 and z=0):
S
=
1
2
(
det
(
x
A
x
B
x
C
y
A
y
B
y
C
1
1
1
)
)
2
+
(
det
(
y
A
y
B
y
C
z
A
z
B
z
C
1
1
1
)
)
2
+
(
det
(
z
A
z
B
z
C
x
A
x
B
x
C
1
1
1
)
)
2
.
{\displaystyle S={\frac {1}{2}}{\sqrt {\left(\det {\begin{pmatrix}x_{A}&x_{B}&x_{C}\\y_{A}&y_{B}&y_{C}\\1&1&1\end{pmatrix}}\right)^{2}+\left(\det {\begin{pmatrix}y_{A}&y_{B}&y_{C}\\z_{A}&z_{B}&z_{C}\\1&1&1\end{pmatrix}}\right)^{2}+\left(\det {\begin{pmatrix}z_{A}&z_{B}&z_{C}\\x_{A}&x_{B}&x_{C}\\1&1&1\end{pmatrix}}\right)^{2}}}.}
=== Dùng công thức Heron ===
Cũng có thể tính diện tích tam giác S theo Công thức Heron:
S
=
p
(
p
−
a
)
(
p
−
b
)
(
p
−
c
)
{\displaystyle S={\sqrt {p(p-a)(p-b)(p-c)}}}
trong đó
p
=
1
2
(
a
+
b
+
c
)
{\displaystyle p={\frac {1}{2}}(a+b+c)}
là nửa chu vi của tam giác.
== Những nguyên tắc cơ bản ==
Euclid (phát âm là Ơ-clit) đã trình bày các nguyên tắc cơ bản về tam giác trong tập 1-4 tác phẩm Cơ sở (Elements) của ông, viết khoảng năm 300 TCN.
Tam giác là đa giác và đơn hình bậc 2 (xem đa diện).
Hai tam giác là đồng dạng nếu có thể khai triển (co hay giãn) tam giác này theo cùng một tỷ lệ để có tam giác kia. Trường hợp này, độ dài của những bên đồng vị có tỷ lệ bằng nhau. Tức là nếu cạnh dài nhất trong một tam giác gấp đôi cạnh dài nhất của tam giác đồng dạng, thì cạnh ngắn nhất của nó cũng gấp đôi cạnh ngắn nhất của tam giác kia, và đường trung tuyến của tam giác đó cũng sẽ phải gấp đôi đường tương ứng của tam giác kia. Hơn nữa, tỷ lệ cạnh dài trên cạnh ngắn của một tam giác sẽ phải bằng tỷ lệ cạnh dài trên cạnh ngắn của tam giác kia. Điều quan trọng là những góc đồng vị phải bằng nhau để hai tam giác được đồng dạng nhau. Việc này cũng xảy ra nếu một tam giác có một cạnh chung với tam giác kia, và những cạnh đối với nó thì bằng nhau.
Hàm lượng giác sin và cosin có thể hiểu được khi dùng tam giác vuông và khái niệm đồng dạng. Đó là hai hàm của góc được nghiên cứu bởi lượng giác học.
== Một số định lý ==
Một số định lý cổ điển liên quan đến tam giác là: định lý Pytago, định lý Apollonius, định lý Stewart.
== Các công thức liên quan ==
== Xem thêm ==
Tam giác Heron
Đường cao (tam giác)
Bất đẳng thức của Pedoe
Bất đẳng thức tam giác
Tam giác cầu
Tam giác Bermuda
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
quy nhơn.txt | Quy Nhơn () là thành phố ven biển miền Trung Việt Nam và là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Bình Định. Trước khi thuộc về Việt Nam, Quy Nhơn từng là đất của người Champa nên xung quanh thành phố hiện vẫn tồn tại nhiều di tích Chăm. Sau năm 1975, Quy Nhơn thành thị xã tỉnh lị trực thuộc tỉnh Nghĩa Bình rồi chính thức trở thành thành phố vào năm 1986. Đến năm 1989 thì trở thành tỉnh lị của Bình Định cho đến nay. Với sự phát triển không ngừng của mình, Quy Nhơn đã được thủ tướng chính phủ công nhận là đô thị loại I trực thuộc tỉnh vào năm 2010 và được bình chọn là điểm đến hàng đầu Đông Nam Á bởi tạp chí du lịch Rough Guides của Anh vào năm 2015.
== Địa lý ==
=== Vị trí ===
Thành phố Quy Nhơn nằm ở phía Đông Nam của tỉnh Bình Định, phía Đông là biển Đông, phía Tây giáp huyện Tuy Phước, phía Bắc giáp huyện Tuy Phước và huyện Phù Cát, phía Nam giáp thị xã Sông Cầu của tỉnh Phú Yên. Quy Nhơn nằm trong phạm vi tọa độ từ 13°36' đến 13°54' vĩ độ Bắc, từ 109°06' đến 109°22' kinh độ Đông, cách thủ đô Hà Nội 1.065 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 650 km về phía Nam, cách thành phố Pleiku (Gia Lai) 165 km và cách Đà Nẵng 322 km
=== Địa hình ===
Quy Nhơn có nhiều thế đất khác nhau, đa dạng về cảnh quan địa lý như núi (Như núi Đen cao 361m), rừng nguyên sinh (Khu vực đèo Cù Mông), gò đồi, đồng ruộng, ruộng muối, bãi, đầm (Đầm Thị Nại), hồ (Hồ Phú Hòa (Phường Nhơn Phú và phường Quang Trung), Bầu Lác (Phường Trần Quang Diệu), Bầu Sen (Phường Lê Hồng Phong), hồ Sinh Thái (Phường Thị Nại)), sông ngòi (Sông Hà Thanh), biển, bán đảo (Bán đảo Phương Mai) và đảo (Đảo Nhơn Châu – Cù lao xanh). Bờ biển Quy Nhơn dài 72 km, diện tích đầm, hồ nước lợ lớn, tài nguyên sinh vật biển phong phú, có nhiều loại đặc sản quý, có giá trị kinh tế cao. Các ngành kinh tế chính của thành phố gồm công nghiệp, thương mại, xuất nhập khẩu, dịch vụ cảng biển, nuôi và khai thác thuỷ hải sản, du lịch.
=== Khí hậu ===
Về khí hậu, Quy Nhơn có 2 mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 3 - 9, mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau; nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 24,5 độ C.
=== Tài nguyên thiên nhiên ===
Quy Nhơn được biết đến như một thành phố giàu tài nguyên thiên nhiên: về tài nguyên đất có bán đảo Phương Mai với diện tích 100 km2, đầm Thị Nại 50 km2 (trong đó: Quy Nhơn 30 km2, huyện Tuy Phước 20 km), có trên 30.000ha rừng. Khoáng sản quặng titan (xã Nhơn Lý), đá granít (Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân), có ngư trường rộng, đa loài và nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao; đặc sản có yến sào (sản lượng đứng sau tỉnh Khánh Hòa). Nguồn nước ngầm với trữ lượng khá lớn (dọc lưu vực sông Hà Thanh và bán đảo Phương Mai) bảo đảm cung cấp nước sạch cho thành phố.
== Lịch sử ==
Quy Nhơn (Chữ Hán: 城舖歸仁 thành phố Quy Nhơn) được hình thành từ rất sớm thuộc vùng đất đàng trong xứ Thuận Quảng: cách đây trên 400 năm đã xuất hiện phủ Quy Nhơn. Mảnh đất này đã có lịch sử hình thành phát triển cùng với nền văn hoá Chămpa từ thế kỷ 11, dưới triều đại nhà Tây Sơn và cảng Thị Nại từ đầu thế kỷ 18.
Do vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, xã hội và tác động sự phát triển của nền công nghiệp phương Tây vào thế kỷ 19 làm cho diện mạo Quy Nhơn thay da đổi thịt. Ngày 20/10/1898, vua Thành Thái ra Chỉ dụ thành lập thị xã Quy Nhơn, đô thị tỉnh lỵ, là một trong những đô thị hoạt động thương mại với nước ngoài khá sầm uất lúc bây giờ.
Vào đầu thế kỷ XX, nhiều công trình mới được mọc lên như: trường học, bệnh viện, khách sạn, công sở, nhà hát, toà giám mục, hệ thống giao thông đường sắt, nhà ga… Do đó, trong 3 thập niên đầu của thế kỷ XX, Quy Nhơn nhanh chóng được đô thị hóa và trở thành một đô thị lớn ở khu vực. Ngày 30/4/1930, Toàn quyền Đông Dương Pas-ki-ơ đã ra Nghị định nâng cấp thị xã Quy Nhơn lên thành phố cấp 3. Đây là một trong những đô thị ở nước ta thời bấy giờ đạt tiêu chuẩn cả về phương diện hành chính lẫn kinh tế, văn hóa.
=== Giai đoạn 1945 - 1975 ===
Sau Cách mạng Tháng Tám (1945), ngày 3 tháng 9 năm 1945, Quy Nhơn được tổ chức theo quy chế thị xã, lấy tên là thị xã Nguyễn Huệ. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Quy Nhơn là hậu phương của chiến trường khu V và Tây Nguyên.
Thời kỳ 1954 – 1975, Quy Nhơn thuộc quyền kiểm soát của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Ngày 30 tháng 9 năm 1970, Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa ra Sắc lệnh thành lập thị xã Quy Nhơn từ xã Quy Nhơn thuộc quận Tuy Phước và các phần đất phụ cận (ngoại vi xã Phước Hậu, Phước Hải, Phước Lý), hình thành 2 quận là Nhơn Bình và Nhơn Định. Ngày 11 tháng 6 năm 1971, Quy Nhơn được chia thành 2 quận, 16 khu phố:
Quận Nhơn Bình có 10 khu phố: Trung Cảng, Trung Từ, Trung Phú, Trung Đức, Trung Cường, Trung Hiếu, Trung Tín, Trung Châu, Trung Hòa, Trung Hải.
Quận Nhơn Định có 6 khu phố: Trung Chánh, Trung Kiệt, Trung An, Trung Thiện, Trung Hậu, Trung Nghĩa.
=== Giai đoạn 1975 - 1986 ===
Sau ngày giải phóng (30 tháng 4 năm 1975), phường Đống Đa được thành lập trên cơ sở đất của làng Hưng Thạnh cũ.
Xã Nhơn Châu bao gồm toàn bộ Cù Lao Xanh, nguyên là đất của tỉnh Phú Yên được sáp nhập về Quy Nhơn sau năm 1975.
Tháng 2 năm 1976 hai tỉnh Bình Định và Quảng Ngãi hợp nhất thành Nghĩa Bình, thì thị xã Quy Nhơn trở thành tỉnh lỵ tỉnh Nghĩa Bình, gồm 8 phường: Đống Đa, Hải Cảng, Lê Hồng Phong, Lê Lợi, Ngô Mây, Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Trần Phú và 4 xã: Nhơn Châu, Nhơn Hải, Nhơn Lý, Nhơn Thạnh.
Ngày 24 tháng 3 năm 1979, chia xã Nhơn Lý thành 2 xã: Nhơn Lý và Nhơn Hội.
Ngày 23 tháng 9 năm 1981, chia xã Nhơn Thạnh thành 2 xã: Nhơn Bình và Nhơn Phú.
=== Giai đoạn từ 1986 đến nay ===
Ngày 3 tháng 7 năm 1986, Hội đồng Bộ trưởng quyết định thành lập thành phố Quy Nhơn từ thị xã Quy Nhơn; chuyển xã Phước Thạnh thuộc huyện Tuy Phước về thành phố Quy Nhơn quản lý và đổi thành xã Nhơn Thạnh. Khi đó thành phố Quy Nhơn có 8 phường: Đống Đa, Hải Cảng, Lê Hồng Phong, Lê Lợi, Ngô Mây, Quang Trung, Trần Hưng Đạo, Trần Phú và 7 xã: Nhơn Bình, Nhơn Châu, Nhơn Hải, Nhơn Hội, Nhơn Lý, Nhơn Phú, Nhơn Thạnh, với diện tích 512 km² và dân số 374.076 người.
Ngày 12 tháng 3 năm 1987, chia xã Nhơn Thạnh thành 2 phường: Bùi Thị Xuân và Trần Quang Diệu.
Ngày 30 tháng 6 năm 1989, tỉnh Bình Định được tái lập, thành phố Quy Nhơn trở lại là tỉnh lị tỉnh Bình Định.
Ngày 26 tháng 12 năm 1997, chia phường Quang Trung thành 3 phường: Quang Trung, Ghềnh Ráng và Nguyễn Văn Cừ; chuyển 2 xã Nhơn Bình và Nhơn Phú thành 2 phường có tên tương ứng.
Ngày 4 tháng 9 năm 1998, thành lập phường Lý Thường Kiệt từ một phần diện tích tự nhiên và dân số của các phường Ngô Mây, Lê Hồng Phong, Trần Phú; thành lập phường Thị Nại từ một phần diện tích tự nhiên và dân số của các phường Đống Đa và Trần Hưng Đạo.
Ngày 15 tháng 11 năm 2005, chuyển xã Phước Mỹ thuộc huyện Tuy Phước về thành phố Quy Nhơn quản lý.
Ngày 4 tháng 7 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ra nghị quyết 558 công nhận Quy Nhơn là đô thị loại 2. Đến ngày 26 tháng 1 năm 2010, theo nghị quyết 159 của Thủ tướng Chính phủ, thành phố Quy Nhơn được nâng cấp lên đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Bình Định.
Ngày 14 tháng 4 năm 2015 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đồ án điều chỉnh Quy hoạch thành phố Quy Nhơn và vùng phụ cận đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2050.
Ngày nay Quy Nhơn được công nhận là đô thị loại I, với ưu thế về vị trí địa lý, có cảng biển và cơ sở hạ tầng đô thị phát triển. Quy Nhơn được Thủ tướng Chính phủ xác định là một trong ba trung tâm Công nghiệp,thương mại và du lịch của vùng duyên hải Nam Trung Bộ (cùng với Đà Nẵng và Nha Trang). Quy Nhơn đang từng bước chỉnh trang đô thị, xây dựng và nâng cấp để trở thành một trong những trung tâm chính trị - kinh tế - văn hoá - xã hội và du lịch, là đô thị lớn nằm trong chuỗi đô thị của các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.
== Các đơn vị hành chính ==
Thành phố có 16 phường: Bùi Thị Xuân, Đống Đa, Ghềnh Ráng, Hải Cảng, Lê Hồng Phong, Lê Lợi, Lý Thường Kiệt, Ngô Mây, Nguyễn Văn Cừ, Nhơn Bình, Nhơn Phú, Quang Trung, Thị Nại, Trần Hưng Đạo, Trần Phú, Trần Quang Diệu và 5 xã: Nhơn Châu, Nhơn Hải, Nhơn Hội, Nhơn Lý, Phước Mỹ.
== Kinh tế ==
Hiện nay cơ cấu các ngành kinh tế của Quy Nhơn có sự chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp dịch vụ, giảm tỷ lệ ngành nông lâm ngư nghiệp trong GDP. Tỷ trọng nông, lâm, thủy sản - công nghiệp và xây dựng - dịch vụ trong GDP năm 2006 đạt: 36,7% - 28% - 35,3%. Thu nhập bình quân dầu người 2014 là 4500 USD/người.
Mục tiêu phát triển của thành phố theo đồ án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt là phấn đấu đến năm 2020 trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, là một trong những thành phố trung tâm vùng duyên hải miền trung. Đến năm 2035 là trung tâm kinh tế biển quốc gia, đến năm 2050 là một trong những thành phố quan trọng trong hệ thống đô thị quốc gia và Đông Nam Á. Để đạt được mục tiêu trên, còn rất nhiều việc phải làm. Vì vậy, Chính quyền và nhân dân cần có sự chung tay góp sức xây dựng vì mục tiêu chung.
=== Các khu, cụm công nghiệp ở Quy Nhơn ===
==== Khu công nghiệp ====
KCN Phú Tài
KCN Long Mỹ
KCN Nhơn Hội A
KCN Nhơn Hội B
KCN Nhơn Hội C
==== Cụm công nghiệp ====
CCN Bùi Thị Xuân
CCN Nhơn Bình
CCN Quang Trung
== Giao thông ==
=== Đường bộ ===
TP. Quy Nhơn được kết nối với các tỉnh, thành phố khác qua các quốc lộ:
Quốc lộ 1A chạy qua Quy Nhơn theo hướng Bắc Nam, dài 48.6 km, cách trung tâm 15 km về hướng tây thành phố.
Quốc lộ 1D nối thành phố Quy Nhơn với thị xã Sông Cầu - tỉnh Phú Yên, dài 34.5 km.
Quốc lộ 19 nối Gia Lai và các tỉnh Tây Nguyên với Quy Nhơn.
Quốc lộ 19B: Dư kiến sẽ đầu tư, sửa chữa và nâng cấp 3 doạn (Đoạn 1, đi trùng đường trục Khu kinh tế Nhơn Hội có tổng chiều dài 15,70 km; đoạn 2 đi trùng tuyến đường ĐT 639 dài 1,95 km và đoạn 3 đi trùng đường ĐT 635 có tổng chiều dài 42,35 km (từ Cát Tiến đến Sân bay Phù Cát)). Tuyến đường này sẽ được đầu tư, sửa chữa và nâng cấp thành Quốc lộ 19B (cấp 3 đồng bằng). Sau khi được hoàn thành, nó sẽ kết nối Sân bay Phù Cát với Khu kinh tế Nhơn Hội.
Về giao thông tỉnh,Quy Nhơn có Bến xe Liên Tỉnh nằm trên Đường Tây Sơn phục vụ đi lại của nhân dân đến hầu hết các địa phương trong và ngoại tỉnh.Dịch vụ vận tải giao thông công cộng (xe buýt) ở Quy Nhơn ra đời từ năm 2000 nối thành phố với hầu hết các huyện trong tỉnh
=== Đường thủy ===
Quy Nhơn có cảng Quy Nhơn, cảng Thị Nại, Cảng Đống Đa và Cảng nước sâu Nhơn Hội. Hệ thống Cảng Quy Nhơn là hệ thống cảng lớn nhất của vùng Duyên Hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên. Cảng Quy Nhơn đã được thủ tướng chính phủ công nhận là cảng loại 1 và đang trên đà phát triển mạnh mẽ với vị trí luôn nằm trong top 3 lượng hàng hóa lưu thông qua Cảng, chỉ đứng sau Cảng Sài Gòn và Cảng Hải Phòng. Năm 2013 tổng lượng hàng qua hệ thống cảng Quy Nhơn là 12.294.354 tấn(Cao nhất khu vực Miền Trung. Dự kiến đến năm 2020 tổng sản lượng hàng hóa qua hệ thống Cảng Quy Nhơn là 20 - 25 triệu tấn.
=== Đường sắt ===
Ga Quy Nhơn nằm ngay trung tâm thành phố, là một nhánh của tuyến đường sắt Bắc-Nam hướng từ ga Diêu Trì. Ga không phải là ga lớn, chủ yếu vận chuyển hành khách và hàng hóa lên đến ga chính là ga Diêu Trì. Tuy nhiên, hiện nay ngành đường sắt đã đưa vào sử dụng đôi tàu địa phương SQN1/2 Golden Train chạy từ ga Quy Nhơn đến ga Sài Gòn và ngược lại hàng ngày giúp người dân thuận tiện hơn trong việc đi tàu. Vào các dịp cao điểm như lễ, tết hoặc hè, một số đôi tàu nhanh khác cũng được vào sử dụng tại ga như Quy Nhơn - Nha Trang, Quy Nhơn - Vinh. Tại đây còn bán vé Tàu Thống Nhất và tàu khách địa phương
=== Đường Hàng Không ===
Hoạt động với Phi trường Quốc tế Phù Cát là một trong những sân bay lớn và có các tiêu chí kỹ thuật tốt nhất của khu vực Miền Trung và Tây Nguyên và có khả năng tiếp nhận các máy bay loại lớn như Airbus A330, Boeing 737, Boeing 777.
Các đường bay đang khai thác:
Vietnam Airlines: Chặng Quy Nhơn - Thành phố Hồ Chí Minh - Quy Nhơn với tần suất 28 chuyến/tuần bằng máy bay Airbus 321.
Vietnam Airlines: Chặng Quy Nhơn - Hà Nội - Quy Nhơn với tần suất 14 chuyến/tuần bằng máy bay Airbus 321.
Vietjet Air: Chặng Quy Nhơn - Thành phố Hồ Chí Minh - Quy Nhơn với tần suất 14 chuyến/tuần bằng máy bay Airbus 320 Sharklet và mỗi chuyến một ngày tuyến Hà Nội-Quy Nhơn từ 24/4/2014.
Vietjet Air: Chặng Quy Nhơn - Đà Nẵng - Quy Nhơn với tần suất 7 chuyến/tuần.
Jetstar Pacific Airlines: Quy Nhơn - Thành phố Hồ Chí Minh với tần suất mỗi ngày một chuyến.
== Y tế ==
Bệnh viện Chuyên khoa lao tỉnh Bình Định
Bệnh viện Đa khoa thành phố Quy Nhơn
Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Định
Bệnh viện Phong - Da liễu Trung ương Quy Hoà
Bệnh viện Quân y 13
Bệnh viện Tâm thần Bình Định
Bệnh viện Y Học Cổ Truyền Bình Định
Bệnh viện mắt Bình Định
Viện Sốt rét - Ký Sinh trùng - Côn trùng Quy Nhơn
== Danh lam thắng cảnh - Du lịch ==
=== Tháp Đôi ===
Tháp Đôi là khu tháp của Chăm Pa gồm có hai tháp là tháp phía bắc và tháp phía nam cạnh nhau, hiện nay nằm trên đường Trần Hưng Đạo, thuộc phường Đống Đa, cách trung tâm Quy Nhơn 3 km. Tháp Đôi còn có tên gọi khác là tháp Hưng Thạnh, gồm hai tháp đứng song song với nhau, một tháp cao 20 m và tháp kia cao 18 m. Tháp Đôi được xây dựng vào khoảng niên đại từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13. Quanh tường phía ngoài, các nóc và trên nóc tháp có nhiều bức phù điêu chạm khắc các hình tượng thần, chim, thú theo tín ngưỡng của người Chăm. Tháp đã bị chiến tranh và thời gian tàn phá nặng nề. Từ năm 1991 đến năm 1997, tháp được trùng tu, gần như nguyên vẹn. Ngày nay, Tháp Đôi là điểm tham quan du lịch của du khách khi đến Quy Nhơn.
=== Chùa Long Khánh ===
Toạ lạc ở số 141 Trần Cao Vân, được xây dựng vào cuối thế kỷ 18. Chùa Long Khánh là nơi truyền bá tín ngưỡng Phật giáo trong vùng bấy giờ. Chùa do hoà thượng Đức Sơn (người Trung Quốc) sáng lập. Hiện chùa còn lưu giữ hai vật quý: Thái Bình hồng chung (chuông Hồng Thái) được đúc vào năm 1805 triều vua Gia Long. Tấm dấu biểu trưng Long Khánh Tự được in vào năm 1813 triều vua Gia Long.
=== Chùa Sơn Long ===
Chùa Sơn Long nay thuộc phường Nhơn Bình,cách cầu Trường Úc 700m về hướng đông.Kiến trúc chùa có nhiều thay đổi nhưng khuôn viên chùa vẫn giữ như cũ. Mặt tiền hình cánh cung niễng, mặt hậu đất đá lồi lõm sát vách núi. Tương truyền dưới chân núi phía sau chùa xưa có tảng đá rất lớn trông như miệng rồng có hàm trên, hàm dưới có một cái lưỡi nhỏ đưa ra ở chính giữa. Tảng đá đó có tên gọi là đá Hàm Long, nay không còn nữa. Trong chùa có 15 ngôi mộ tháp lớn nhỏ, có những ngôi mộ vẫn còn giữ nét rêu phong cũ kỹ của mấy trăm năm về trước, có những mộ tháp đã được trùng tu khang trang hơn. Năm 1992, chùa đã cho xây dựng thêm tượng Bồ tát Quan Âm ở hướng tây. Năm 1996, xây tượng Thích ca Mâu Ni tọa thiền phía tây bắc,...mang lại sắc khí mới cho chùa.
Đến Sơn Long, du khách còn được chiêm ngưỡng tượng Phật Lồi 7 đầu rồng bằng đá nặng 1,5 tấn,cao 3,1 m với chạm khắc hoa văn sau lưng. Bức tượng xác định là của người Chăm tạc từ thế kỷ XIII. Dù dáng vẻ còn khiêm tốn nhưng chùa Sơn Long vẫn dập dìu khách phương xa đến thăm,vãn cảnh,...đặc biệt là vào dịp đầu năm mới.
=== Ghềnh Ráng Tiên Sa ===
Nằm cách trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 3 km về hướng đông nam . Thắng cảnh Gềnh Ráng trải dài dọc bờ biển, uốn lượn hàng cây số, nước biển trong xanh. Nơi đây có bãi Đá Trứng (với vô số hòn đá tròn nhẵn như trứng chim khổng lồ) là quần thể sơn thạch còn gọi là Bãi tắm Hoàng Hậu (Hoàng hậu Nam Phương từng đến tắm ở đây), dấu vết tận cùng phía đông của dãy núi Xuân Vân. Ngoài ra, nơi đây còn mộ nhà thơ Hàn Mặc Tử nằm trên đồi Thi Nhân và Lầu Bảo Đại (một nhà nghỉ ba tầng, mặt hướng ra biển, đã bị phá hủy trong chiến tranh).
Vượt qua đỉnh dốc Mộng Cầm, rẽ vào con đường dốc bậc thang sẽ là nơi an nghỉ của nhà thơ Hàn Mặc Tử, với khuôn viên rừng dương thoáng đãng và gió biển xào xạc thanh tịnh bên tai. Do mắc phải chứng bệnh hiểm nghèo, ông đã phải sống những năm tháng cuối đời trong trại phong Quy Hòa, rồi qua đời khi mới vừa 28 tuổi và đã để lại những áng thơ bất hủ cho đời. Để thỏa nguyện mong ước của thi sỹ lúc sinh thời, năm 1969, gia đình và thân hữu đã đưa thi hài ông về táng ở Ghềnh Ráng. Ngôi mộ được xây cất trên một gò cao, lưng dựa vào núi, mặt quay ra biển là nơi mà ai ai dù chỉ một lần đặt chân đến Ghềnh Ráng cũng đều ghé thăm.
=== Biển Quy Hòa ===
Bên cạnh biển Quy hòa có bệnh viện phong Quy Hòa, khá đơn sơ mộc mạc nhưng có lẽ vì vậy mà nơi đây cho ta cảm giác mộc mạc, thanh thản.
=== Cầu Thị Nại ===
Quy Nhơn có cầu vượt Thị Nại là cây cầu vượt biển lớn nhất nước (dài 3.477,3 m, rộng 24,5 m, trọng tải 100 tấn gồm 54 nhịp, tổng vốn đầu tư là 1500 tỷ đồng). Nằm trong hệ thống cầu đường Nhơn Hội là dài gần 17 km nối thành phố Quy Nhơn với bán đảo Phương Mai (khu kinh tế Nhơn Hội), gồm cầu chính vượt đầm Thị Nại, 5 cầu nhỏ qua sông Hà Thanh và đường dẫn 2 đầu cầu. Cầu được xây dựng trong 5 năm, khánh thành ngày 12/12/2006.
=== Nhà thờ chính tòa Quy Nhơn ===
Nhà thờ chính tòa Quy Nhơn (còn có danh hiệu Đức Mẹ Lên Trời và còn có tên khác là nhà thờ Nhọn) tọa lạc tại 122 đường Trần Hưng Đạo, thành phố Quy Nhơn. Nhà thờ có khuôn viên khá rộng và được trồng nhiều cây xanh...
=== Làng chài Hải Minh ===
Một làng chài nằm trên bán đảo Phương Mai thuộc khu vực 9, phường Hải Cảng, TP Quy Nhơn. Làng chài nhỏ, tĩnh lặng và đẹp diệu kỳ khi ráng chiều buông xuống. Làng nằm trên bán đảo cách bến Hàm Tử gần trung tâm thành phố Quy Nhơn khoảng 15 phút đi đò.
Làng chài rất gần, nhưng cũng vừa đủ xa để những ai thích làm một chuyến dã ngoại trong ngày chọn nơi đây làm điểm đến. Với các di tích và cảnh đẹp như tượng đài Đức Thánh Trần (di tích cấp tỉnh), phế tích núi Tam Tòa (di tích cấp quốc gia), chùa Hải Long, hải đăng Phước Mai, đầm Thị Nại, hang Dơi, bãi Rạng,...
=== Eo Gió ===
Eo Gió nằm trên bán đảo Phương Mai, cách trung tâm TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định khoảng 20 km về hướng Đông Bắc. Sở dĩ gọi Eo Gió vì nơi đây có hình dạng cái hõm như yên ngựa, nằm giữa hai mỏm núi cao kề bên biển.
Có lẽ bất kỳ ai đến Eo Gió lần đầu đều không khỏi ngỡ ngàng khi nhìn thấy những rặng núi đá cao chót vót, chập chùng với những hang động kỳ vĩ, đàn chim én lượn chao quanh.
Eo Gió đẹp theo kiểu hoang sơ bởi những rặng núi có hình thù kỳ lạ vươn ra biển lớn, ôm trọn một vòng tạo thành một eo biển hút gió. Sóng biển vỗ rì rào thay nhau vờn chân núi, nhè nhẹ vào vách đá. Trong lòng Eo Gió, một bãi biển cát vàng khá rộng, sóng êm êm khiến bạn như thả trôi mình vào thiên nhiên.
Nhìn xa xa, phía trước bãi biển, những cụm đảo mang nhiều hình thù kỳ lạ lô nhô trên mặt nước. Bên vách núi, những hang động với cái tên rất ngộ nghĩnh: hang Kỳ Co, hang Ba Nghé… thu hút rất nhiều chim yến đến đây sinh sống.
Dọc theo chân núi, những bãi đá trứng đủ màu sắc, nhẵn thín xen lẫn những tảng đá lớn, bằng phẳng như mặt bàn giúp cho bạn ngồi chơi hay ngả lưng nghỉ sức sau khi dạo chơi, vãn cảnh.
Đến Eo Gió, bạn phải leo 1 giờ lên đỉnh núi cao chót vót mới chiêm ngưỡng hết vẻ đẹp kỳ vĩ của đất trời. Đường lên đỉnh tuy gập ghềnh, khó đi nhưng bù lại cho bạn cảm giác bồng bềnh, khó tả khi nhìn Eo Gió dưới chân mình hiện ra như một chiếc tàu cá chuẩn bị lao ra biển lớn. Nếu soi ống nhòm, bạn có thể thấy rõ những rặng san hô trong nước xanh trong vắt, xung quanh là những đàn cá tung tăng bơi lội.
=== Hải đăng cổ Cù Lao Xanh ===
Khu nhà của quan ba Pháp: Cạnh ngọn hải đăng là nhà làm việc hai tầng, đã được xây từ hơn 100 năm trước . Từ đây nhìn được toàn bộ khu vực đảo và chiêm ngưỡng được toàn cảnh biển bao la phía xa, trong lòng chợt phóng khoáng như một câu thơ: "Muốn nhìn xa nghìn dặm, lên nữa một tầng lầu".
Men xuống theo hướng Tây Bắc của ngọn hải đăng là Suối Giếng Tiên. Tên suối này xuất phát từ một tương truyền rằng, xưa kia vào những đêm trăng sáng các nàng tiên trên trời xuống đây để du ngoạn. Các nàng tiên rủ nhau cởi xiêm áo, tắm mát và vui đùa rồi mới bay trở về trời. Có dịp tới đây, bạn nên một lần tắm "tiên", cảm được cái mằn mặn của biển và cái ngòn ngọt của nước suối.
=== Đảo Yến Quy Nhơn ===
Gọi là “đảo” nhưng thực ra xứ sở của loài chim yến nằm trên địa phận bán đảo Phương Mai. Dãy Triều Châu ăn ra biển, trãi dài chừng 15 km, tạo thành những ngọn núi nhấp nhô, trùng điệp với tên gọi thật ngộ nghĩnh: Hòn Mai, hòn Chóp Vung, núi Cột Cờ, Núi Đen… và trong số đó, ngọn núi án ngữ phía nam mang tên Hòn Yến. Cứ mỗi mùa xuân đến, tiết trời ấm áp, chim yến rủ nhau tưng đàn đông nghịt đến đây làm tổ.
== Đặc sản ẩm thực ==
Đặc sản của Quy Nhơn có món bún chả cá. Đây là món bún ngon không chỉ người dân trong tỉnh thích mà cả nước dường như mọi người vẫn xem đây là món khoái khẩu của mình.
== Tỉnh, Thành phố kết nghĩa ==
=== Trong nước ===
Thành phố Hà Tĩnh, Tỉnh Hà Tĩnh
Thành phố Quảng Ngãi, Tỉnh Quảng Ngãi
=== Ngoài nước ===
Tỉnh Attapeu
Tỉnh Champasack
Tỉnh Saravane
Tỉnh Sekong
Quận Yongsan,Seoul, Hàn Quốc
== Hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Bình Định
Sông Hà Thanh
An Nhơn
Khu kinh tế Nhơn Hội
Đầm Thị Nại
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
http://www.flickr.com/photos/letrunghieu2002/sets/72157628124514474/ Bộ sưu tập hình ảnh Quy Nhơn
Chùm ảnh bình minh trên biển Quy Nhơn |
trùng khánh (trung quốc).txt | Trùng Khánh (重庆) là một thành phố lớn ở Tây Nam Trung Quốc và là một trong bốn thành phố trực thuộc trung ương tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Thành phố trực thuộc trung ương Trùng Khánh được hình thành vào ngày 14 tháng 3 năm 1997 khi nó tách ra từ tỉnh Tứ Xuyên. Đến tháng 11 năm 2010, tổng dân số Trùng Khánh là 28.846.200 người, Trùng Khánh được chia thành 19 khu (quận), 15 huyện, và 4 huyện tự trị.
Giản xưng chính thức của Trùng Khánh là "Du" (渝), nó được Quốc vụ viện phê chuẩn vào ngày 18 tháng 4 năm 1997. Trùng Khánh cũng từng là một thành phố trực thuộc trung ương của Trung Hoa Dân Quốc, và đóng vai trò là thủ đô thời chiến của chính phủ Quốc dân trong Chiến tranh Trung-Nhật (1937–1945). Giản xưng này bắt nguồn từ tên cũ của đoạn sông Gia Lăng chảy qua Trùng Khánh rồi hợp vào Trường Giang.
Trùng Khánh là một khu vực quan trọng về lịch sử và văn hóa, thành phố cũng là trung tâm kinh tế của vùng thượng du Trường Giang. Trùng Khánh là một trung tâm sản xuất chính và một đầu mối giao thông của vùng Tây Nam Trung Quốc.
== Lịch sử ==
=== Cổ đại ===
Tại huyện Vu Sơn của Trùng Khánh, người ta đã phát hiện ra xương hàm và răng của một giống người nguyên thủy, được gọi là người Vu Sơn (Homo erectus wushanensis), cho thấy rằng cách đây từ hơn 2 triệu năm, khu vực Trùng Khánh đã có loài người sinh sống. Đến thời đại đồ đá mới, có những hiện vật đồ gốm màu với chủ yếu là màu đỏ khai quật được tại di chỉ Đại Khê (từ 4400 TCN-3300 TCN, cũng ở huyện Vu Sơn), chịu ảnh hưởng rộng rãi của văn hóa Ngưỡng Thiều tại Trung Nguyên. Di chỉ Ngọc Khê/Ngọc Khê Bình ở huyện Phong Đô (cách nay trên 7000 năm) đại diện cho văn hóa của cư dân bản địa Trùng Khánh vào cuối thời kỳ đồ đá mới, tại di chỉ Ngọc Khê/Ngọc Khê Bình đã phát hiện dấu tích của hoạt động chăn nuôi lợn, làm đồ gốm màu và dệt giản đơn, có thể thấy kinh tế Trùng Khánh vào thời kỳ đồ đá mới đã có sự phát triển nhất định. Tại quận Ba Nam đã phát hiện di chỉ thời đại đồ đá mới lớn nhất tại khu vực đô thị của Trùng Khánh, thuộc tính văn hóa của di chỉ này thuộc về văn hóa Ngọc Khê Bình.
=== Tiên Tần ===
Lãnh thổ nước Ba ban đầu bao gồm các khu vực tại thung lũng Hán Thủy; tuy nhiên sau đó nước Sở đã đẩy lui Ba về phía tây đến bồn địa Tứ Xuyên. Các cuộc xâm lược của Sở đã buộc Ba phải dời đô nhiều lần. Theo Thường Cừ (常璩), các kinh đô hay trung tâm điều hành của Ba bao gồm Giang Châu (Trùng Khánh), Điếm Giang (Hợp Xuyên), và Bình Đô (Phong Đô), kinh đô cuối cùng nằm tại Lãng Trung (閬中). Lãnh thổ nước Ba đông đến Ngư Phục (鱼复, nay là huyện Phụng Tiết), tây đến Phần Tao (焚遭, nay là Nghi Tân), bắc giáp Hán Trung, cực nam là Kiềm Phù, Phục Cái; đại thể tương đương với Trùng Khánh, tây bộ Hồ Bắc, nam bộ Thiểm Tây và đông bộ Tứ Xuyên ngày nay.
Vào thời nhà Thương, mặc dù quân chủ nước Ba mang họ Cơ giống như các quân chủ của vương triều Thương, song giữa hai bên thường xảy ra chiến tranh. Thời Thương vương Vũ Đinh, Thương và Ba rất nhiều lần giao tranh, song bất phân thắng bại, cuối cùng, Vũ Đinh đích thân thống suất cùng nữ tướng Phụ Hảo xuất chinh đánh Ba, huy động dân chúng và gần như toàn bộ binh lực tham chiến. Trong trận đánh với Ba, Phụ Hảo đã dẫn quân bày trận mai phục, chờ quân của Vũ Đinh dánh đuổi quân Ba vào trong vòng mai phục, lập tức xông ra tấn công tiêu diệt, lập được chiến công lẫy lừng, là trận phục kích được ghi chép sớm nhất trong lịch sử Trung Quốc. Ba thua trận và từ đó hai bên kết oán. Cuối thời Thương, khi Chu Vũ Vương đem quân phạt Trụ Vương của triều Thương, Ba đã xuất binh tham gia liên quân phạt Trụ, là một trong những lực lượng chủ lực góp phần diệt Thương, giữ vai trò nổi bật.
=== Thời Tần, Hán và Tam Quốc ===
Nước Ba liên minh với nước Tần khi Tần đánh nước Thục ở phía tây của Ba. Sau khi Thục bị diệt, năm 316 TCN, Tần ngay lập tức chinh phục cựu đồng minh và bắt quân chủ nước Ba. Đến năm 314 TCN, lãnh thổ nước Ba cũ trở thành Ba quận, là một trong 36 quận của Tần, trị sở Ba quận đặt tại Giang Châu thành (nay là Du Trung, Trùng Khánh). Đối với Ba, ban đầu Tần vẫn để tầng lớp trên của nước Ba cũ tiếp tục cai trị trực tiếp và không tiến hành cưỡng bách người Tần di cư quy mô lớn đến lãnh thổ Ba, song tầng lớp này về sau đã bị đẩy ra ngoài lề khi Tần thực hiện chính sách chia để trị.
Năm 206 TCN, sau khi Lưu Bang trở về đất phong là Hán Trung và Ba Thục, vẫn đặt Ba quận như nhà Tần trước đó. Thời Đông Hán, tăng thêm hai quận Phù Lăng và Ba Đông. Cùng với đó, một thành đã được xây mới ở khu vực nay là Giang Bắc Chủy (江北嘴), gọi là Bắc Phủ thành, thái thú Ba quận từng làm việc ở đó.
Cuối thời Tây Hán, nhân lúc thiên hạ có biến loạn, năm 25, Công Tôn Thuật chiếm cứ Ích châu, xưng đế, đặt quốc hiệu là "Thành Gia", lập quốc đô tại Thành Đô. Công Tôn Thuật đặt tên thành trì xây bên khe Cù Đường là "Bạch Đế thành" (nay thuộc Trùng Khánh), cử nhiều binh sĩ phòng thủ. Trong thời gian làm hoàng đế, Công Tôn Thuật tiến hành phát triển nông nghiệp, xây dựng thủy lợi, đem đến cuộc sống no đủ cho cư dân. Cho nên sau khi Công Tôn Thuật qua đời, nhân dân địa phương xây dựng "đền Bạch Đế" trong Bạch Đế thành để tưởng nhớ ông.
Thời Tam Quốc, Trùng Khánh thuộc nước Thục Hán, hiện trên địa bàn thành phố vẫn còn nhiều di sản của thời kỳ này, trong đó có Bạch Đế thành và Trương Phi miếu. Sau khi Thục Hán thất bại trước Đông Ngô trong trận Di Lăng, Lưu Bị phải lui về Bạch Đế thành rồi mất ở đó.
=== Thời Lưỡng Tấn và Nam-Bắc triều ===
Năm 279, khi nhà Tấn tiến hành chiến dịch quyết định nhằm tiêu diệt Đông Ngô, các tướng Đỗ Dự, Vương Tuấn của Tấn đã chỉ huy hạm đội từ Tứ Xuyên xuôi dòng Trường Giang tới Kinh châu. Nhà Tấn sau đó đã chia Ích châu thành ba châu là Lương châu, Ích châu và Ninh châu. Trùng Khánh khi đó thuộc Lương châu. Sau đó khu vực Trùng Khánh thuộc về Tây Tấn, Tiền Tần, Nam triều Tống, Nam triều Lương và Bắc Chu. Quân chủ nước Cừu Trì là Dương Nan Đương (楊難當) đã tấn công và chiếm giữ Lương châu vào năm 433. Mùa xuân năm 434, tướng Lưu Tống là Tiêu Tư Thoại (蕭思話) đánh bại quân của Dương Nan Đương và tái chiếm Lương châu. Năm 441, Dương Nan Đương không sẵn lòng từ bỏ thèm muốn với Lương Châu và Ích Châu nên lại tấn công Lưu Tống, thất bại, ông phải chạy trốn đến Bắc Ngụy. Thời gian này, Trung Nguyên đại loạn, dân cư chạy nạn rất nhiều, khiến văn hóa Trung Nguyên tác động lớn chưa từng thấy đến Tứ Xuyên, trong đó có khu vực Trùng Khánh.
=== Thời Tùy, Đường và Tống ===
Đến năm Khai Hoàng thứ 1 (581) thời Tùy Văn Đế, tại khu vực quanh Du Thủy (tên cũ của sông Gia Lăng), triều đình đổi Sở châu thành Du châu, giản xưng của Trùng Khánh cũng bắt nguồn từ đây. Đến thời Đường, Du châu vẫn tiếp tục tồn tại, thuộc quyền quản lý của Sơn Nam Tây đạo. Đến năm 1102, Tống Huy Tông đổi Du châu thành Cung châu (恭州). Thời Tống, Trùng Khánh thuộc quyền quản hạt của Quỳ Châu lộ, nông nghiệp phát triển và nhân khẩu gia tăng. Khu vực Trùng Khánh khi đó trở thành yếu đạo giao thông giữa Tứ Xuyên với Trung Nguyên và Giang Nam, thủ công nghiệp cũng phát triển nhanh chóng. Tên gọi Trùng Khánh hiện nay được đặt vào năm 1189, do hoàng tử Triệu Đôn (sau là Tống Quang Tông) của triều Nam Tống theo chế độ quy định của hoàng gia phải đến cư trú tại địa phương [Cung châu], sau khi được phụ hoàng Tống Hiếu Tông nhường ngôi, Quang Tông cho rằng việc mình được phong "Cung vương" là "nhất hỉ khánh", được kế thừa hoàng vị lại là "nhất hỉ khánh" nữa, tức là "lưỡng trùng hỉ khánh", vì thế đổi Cung châu thành Trùng Khánh phủ. Tên gọi Trùng Khánh tồn tại đến ngày nay.
=== Thời Mông Nguyên ===
Năm 1242, chế trí sử Tứ Xuyên kiêm tri phủ Trùng Khánh là Dư Thủy/Giới (余始/玠) cho xây Điếu Ngư thành (cách khoảng 5 km về phía đông của quận Hợp Xuyên) để chống lại quân Mông Cổ. Mặc dù có quân đội đông đảo tới vài chục nghìn người do đích thân đại hãn Mông Kha chỉ huy nhưng người Mông Cổ không thể chiếm được pháo đài nhỏ này khi đó do Vương Kiên (?-1264) chỉ huy. Vương Kiên thắng nhiều trận, lên tới đỉnh điểm là cái chết của Mông Kha và tướng tiên phong Uông Đức Thần (汪德臣). Dưới thời nhà Nguyên, năm 1362, một lãnh đạo khởi nghĩa nông dân là Minh Ngọc Trân (明玉珍) xưng đế và đặt quốc hiệu Đại Hạ (大夏) tại Trùng Khánh trong một thời gian ngắn. Sau khi Minh Ngọc Trân chết, Minh Thăng (明升) lên kế vị. Đến năm 1371, Chu Nguyên Chương công Thục, diệt nước Đại Hạ. Gia tộc của Minh Thăng bị nhà Minh đưa sang Triều Tiên, được quốc vương Lý Thành Quế phong là "Hoa Thục quân".
=== Thời Minh ===
Trùng Khánh phủ vẫn tồn tại trong thời nhà Minh, khi đó phủ này có 3 châu và 17 huyện. Sau khi nhà Minh công chiếm Trùng Khánh, tường thành sau một thời gian dài chiến loạn đã bị phá hoại, vì thế thành Trùng Khánh đã được trùng tu, thành mới có tới 17 cổng thành, thập chí còn nhiều hơn kinh thành Ứng Thiên (nay là Nam Kinh) của triều Minh (nội thành Nam Kinh ban đầu có 13 cửa thành), song trong đó có 8 cổng chỉ là hình thức, không thể khai quan, thường gọi là "cửu khai bát bế". Từ đó, thành Trùng Khánh không có nhiều thay đổi trong hơn 600 năm thời Minh và Thanh. Năm 1621, Vĩnh Ninh tuyên phủ sứ Xa Sùng Minh (奢崇明) mượn danh nghĩa chi viện Liêu Đông, đưa quân chiếm cứ Trùng Khánh, rồi vây đánh Thành Đô. Xa Sùng Minh đặt niên hiệu là Thụy Ứng, định đô tại Trùng Khánh. Lúc đó, nữ danh tướng Tần Lương Ngọc và em trai Dân Bình về Xuyên, nhân dịp đó đã khiển quân đánh bại Xa Sùng Minh vào năm 1623.
=== Thời Thanh ===
Sau khi nhà Minh bị quân khởi nghĩa của Lý Tự Thành lật đổ, quân khởi nghĩa của Trương Hiến Trung khi bị Tả Lương Ngọc đánh bại vào năm 1640 đã đưa quân nhập Xuyên. Sau đó lại giao chiến với quân của Tả Lương Ngọc song lần này đã thu được chiến thắng. Trương Hiến Trung sau khi tự xưng "Đại Tây vương", kiến lập chính quyền nông dân Đại Tây tại Vũ Xương, lại tiến vào Tứ Xuyên để mưu sự lâu dài. Ngày 4 tháng 7 năm 1644, Trương Hiến Trung mệnh cho Lưu Đình Cử giữ Trùng Khánh, tự mình đưa quân đi đánh thủ phủ của Tứ Xuyên là Thành Đô. Ngày 16 tháng 11 cùng năm, Trương Hiến Trung đã xưng đế tại Thành Đô, đặt quốc hiệu là Đại Tây, đổi niên hiệu là Đại Thuận, lấy Thành Đô làm Tây kinh. Để đáp lại sự kháng cự của giới tinh hoa bản địa, Trương Hiến Trung đã cho thảm sát một lượng lớn cư dân bản địa. Không lâu sau, tướng lĩnh nhà Minh là Tằng Anh, Lý Chiêm Xuân, Vu Đại Hải, Vương Tường, Dương Triển, Tào Huân… các nơi nối nhau tụ tập binh mã, tập kích quân đội Đại Tây, giết chết quan viên Đại Tây ở địa phương. Sau khi quân Thanh nhập quan và Nam Minh diệt vong, đầu năm Đại Thuận thứ 3 (1646), nhà Thanh phái Túc thân vương Hào Cách làm Tĩnh Viễn đại tướng quân và Ngô Tam Quế thống soái đại quân Mãn Hán tiến đánh quân đội nông dân Đại Tây. Tháng 7, vì muốn lên Thiểm Tây ở phía bắc nhằm chống lại quân Thanh, Trương Hiến Trung quyết định rời bỏ Thành Đô, tuy nhiên, quân khởi nghĩa đã thất bại.
Thời Minh mạt Thanh sơ, do hậu quả của thảm sát cũng như những năm hỗn loạn sau khi người Mãn nhập quan, dân số Tứ Xuyên lại suy giảm mạnh, cần có một lượng người nhập cư lớn từ các tỉnh khác. Do đó, triều đình Nhà Thanh từ đời Thuận Trị đến thời Càn Long đã tiến hành vận động di dân trên quy mô lớn đến Tứ Xuyên, sử sách gọi là "Hồ Quảng điền Tứ Xuyên", kéo dài trên 100 năm.
Năm Quang Tự thứ 2 (1867), Anh Quốc đã lấy cớ sự kiện Margary để cưỡng ép triều đình nhà Thanh ký vào Điều ước Yên Đài, điều ước quy định rằng phải cho phái viên Anh Quốc trú ngụ tại Trùng Khánh phủ của Tứ Xuyên cùng một số điều khoản thương mại khác. Tháng 3 năm 1890, nhà Thanh và Anh Quốc lại tiếp tục có thỏa thuận mới, trong đó quy định Trùng Khánh là một cảng thông thương, thương nhân Anh được quyền dùng thuyền của Trung Quốc hay dùng thuyền Trung Quốc của họ để qua lại giữa Nghi Xương và Trùng Khánh. Tháng 1 năm 1891, hải quan Trùng Khánh chính thức khai quan thu thuế, đánh dấu việc Trùng Khánh chính thức mở cửa. Đến năm 1895, Lý Hồng Chương và đại diện chính phủ Nhật Bản là Ito Hirobumi đã ký kết hiệp ước Shimonoseki, trong đó quy định Trùng Khánh là một cảng thông thương hiệp ước (cùng với Hàng Châu, Tô Châu và Sa Thị). Tháng 2 năm 1898, chiếc thuyền hơi nước đầu tiên đã đến Trùng Khánh.
Từ năm 1897, nhà tư tưởng theo chủ nghĩa cải lương là Tống Dục Nhân (宋育仁) đã sáng lập tờ báo đầu tiên của Tứ Xuyên là "Du báo", truyền truyền tư tưởng duy tân. "Du báo" bị đình bản vào tháng 4 năm 1898. Tác giả cuốn sách Cách mạng quân, Trâu Dung (邹容), được sinh ra tại Trùng Khánh, ngày nay tuyến đường quanh bia giải phóng ở Trùng Khánh được gọi là Trâu Dung lộ. Năm 1903, tổ chức cách mạng đầu tiên của giai cấp tư sản dân tộc tại Tứ Xuyên, Công Cường hội, đã được thành lập tại Trùng Khánh. Năm 1905, Đồng minh hội Trung Quốc đã được thành lập tại Tokyo, Nhật Bản, đại biểu của Công cường hội là Đồng Hiến Chương (童宪章) và Trần Sùng Công (陈崇功) đã gia nhập Đồng minh hội tại Nhật Bản. Sau đó theo lời Tôn Trung Sơn, họ đã trở về Trùng Khánh để thành lập chi bộ Trùng Khánh của Đồng minh hội. Sau khởi nghĩa Vũ Xương vào năm 1911, chi bộ Trùng Khánh của Đồng minh hội đã phát động khởi nghĩa. Đến ngày 23 tháng 11 năm đó đã thành lập chính phủ Thục quân.
=== Thời Trung Hoa Dân Quốc ===
Đến ngày 11 tháng 3 năm 1912, hai chính thể quân phiệt Thành Đô và Trùng Khánh hợp nhất, thành lập Tứ Xuyên đô đốc phủ của Trung Hoa Dân Quốc. Năm 1913, chính phủ quân sự Tứ Xuyên đã phế bỏ các phủ và thiết lập các đạo, khi đó, Trùng Khánh phủ bị phế để thành lập Xuyên Đông đạo, Xuyên Đông đạo gồm tới 36 huyện là Ba, Giang Tân, Trường Thọ, Kì Giang, Nam Xuyên, Vĩnh Xuyên, Vinh Xương, Đồng Lương, Đại Túc, Bích Sơn, Vũ Thắng, Hiệp Xuyên, Giang Bắc, Phụng Tiết, Vu Khê, Vu Sơn, Vân Dương, Vạn, Khai, Đạt, Tuyên Hán, Khai Giang, Cừ, Đại Trúc, Vạn Nguyên, Trung, Phong Đô, Điếm Giang, Lương Sơn, Dậu Dương, Tú Sơn, Kiềm Giang, Bành Thủy, Thạch Chủ, Thành Khẩu, Phù Lăng. Ngoại trừ huyện Đồng Nam ra thì toàn bộ Trùng Khánh ngày nay thuộc Xuyên Đông đạo.
Năm 1921, Lưu Tương đã thiết lập Thương phụ đốc biện xứ tại Trùng Khánh., bổ nhiệm Dương Sâm (楊森) là đốc biện, chuẩn bị thành lập chính quyền thành phố. Khi đó, phạm vi của thành phố Trùng Khánh vẫn chưa được quy định rõ, bao gồm khu vực dân cư huyện thành của Ba, tức bán đảo Du Trung hiện nay và khu vực phụ cận huyện thành của Giang Bắc. Năm 1922, Thương phụ đốc biện sứ được cải thành thị chính công thự. Năm 1926, lại cải thành Thương phụ đốc biện công thự, mở rộng thành phố, bắt đầu tiến hành xây dựng thành thị. Năm 1927, lại đổi Thương phụ đốc biện công thự thành thị chính thính, Phan Văn Hoa (潘文华) nhậm chức thị trưởng, hoạch định khu vực đô thị của Trùng Khánh nằm ở cả đôi bờ của cả hai con sông với chiều dài 30 lý, song vẫn chưa có ranh giới xác định. Năm 1929, Trùng Khánh tách khỏi Ba huyện, chính thức lập thành phố, trở thành "tỉnh hạt thị", thị trưởng là Phan Văn Hoa.
Từ năm 1916 đến 1935, trước khi được thăng làm "viện hạt thị" (trực thuộc Hành chính viện), người ta đã bảy lần thiết lập tại Trùng Khánh các cơ quan như hành thự tỉnh trưởng Tứ Xuyên, công thự tỉnh trưởng Tứ Xuyên, công tự đốc quân Tứ Xuyên, chính phủ tỉnh Tứ Xuyên. Đương thời, Trùng Khánh là trung tâm chính trị trên thực tế của Tứ Xuyên. Năm 1936, Trùng Khánh trở thành một viện hạt thị do tỉnh Tứ Xuyên nhân danh chính phủ trung ương quản lý.
Ngày 5 tháng 5 năm 1939, chính phủ Quốc dân Nam Kinh đã ban lệnh thăng Trùng Khánh thành thành phố hạng nhất, viện hạt trị trung ương. Trùng Khánh trở thành viện hạt thị trung ương thứ 6 sau Nam Kinh, Thượng Hải, Thiên Tân, Thanh Đảo và Bắc Bình, địa hạt của Trùng Khánh lúc đó nói chung bao gồm khu trung tâm đô thị của Trùng Khánh hiện nay, tức là các quận Du Trung, Cửu Long Pha, Sa Bình Bá cùng với Giang Bắc, Nam Ngạn. Thành phố Bắc Bội (nay là quận Bắc Bội của Trùng Khánh), ở ngay phía bắc trung tâm đô thị hiện nay của thành phố, được xem là "bồi đô của bồi đô" do có nhiều cơ quan và dân chúng của Trùng Khánh chuyển đến nhằm tránh bom Nhật.
Sau hội chiến Tùng Hỗ, Quốc quân Trung Hoa Dân Quốc lâm vào thế bị động trước quân Nhật. Tháng 7 năm 1947, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc ban bố "Tuyên ngôn Chính phủ Quốc dân di trú Trùng Khánh", xác định Trùng Khánh là thủ đô thời chiến. Sau đó chính phủ Quốc dân đã triệt thoái đến Trùng Khánh với quân đội, tài sản và các văn kiện quan trọng. Tháng 9 năm 1937, Lưu Tương đã dẫn Xuyên quân tiến vào tô giới Nhật tại Trùng Khánh, tuyên bố thu phục tô giới. Năm 1938, đại sứ quán của các nước Anh, Mỹ, Pháp, Bỉ, Đức, Thụy Sĩ tại Trung Hoa Dân Quốc cũng di dời đến Trùng Khánh. Năm 1940, Trung Hoa Dân Quốc lại tái khẳng định Trùng Khánh là "bồi đô" (tức thủ đô phụ)., tách hoàn toàn khỏi tỉnh Tứ Xuyên. Đến tháng 12 năm 1941, chính phủ Trung Hoa Dân Quốc tại Trùng Khánh tuyên chiến với Đức Quốc xã, đại sứ quán Đức tại Trùng Khánh đóng cửa.
Từ năm 1937 đến 1944, khi Trùng Khánh là thủ đô thời chiến của Trung Hoa Dân Quốc, đã có hàng triệu người từ các khu vực trung hạ du Trường Giang di cư đến khu vực xung quanh thành phố, những người này được cư dân Trùng Khánh bản địa gọi là "Hạ giang nhân". Đồng thời, có đến hàng vạn xí nghiệp, trường học, gần 8 vạn tấn vàng cũng được chuyển đến Trùng Khánh. Trong thời chiến tranh, Trùng Khánh là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Trung Quốc, là trung tâm chỉ huy của chiến tranh chống phát xít tại vùng Viễn Đông. Theo thống kê, máy bay Nhật Bản đã oanh tạc Trùng Khánh tổng cộng 218 lần, với 9.513 lượt phi cơ, sát hại 11.889 người và làm bị thương 14.100 người dân thành phố, phá hủy 17.608 ngôi nhà, trong đó có 30 trường học bị oanh tạc. Nhờ thành phố nằm trong vùng bồn địa có nhiều sương mù nên nhiều cư dân Trùng Khánh đã thoát nạn trong các vụ oanh tạc này. Năm 1945, chiến tranh Trung-Nhật kết thúc, chính phủ Quốc dân trở về Nam Kinh. Tuy nhiên, Trùng Khánh vẫn được chính phủ này quy định là "bồi đô" vĩnh cửu. Sau khi Quốc Dân đảng triệt thoái đến Đài Loan, về phương diện pháp luật, Trung Hoa Dân Quốc vẫn duy trì địa vị bồi đô vĩnh viễn của Trùng Khánh.
=== Nội chiến Quốc-Cộng ===
[[Tập|nhỏ|phải|Đàm phán Quốc-Cộng tại Trùng Khánh vào năm 1945. Từ phải sang: Mao Trạch Đông, Vương Thế Kiệt (王世杰), Trương Quần, Tưởng Giới Thạch, Tưởng Kinh Quốc và đại sứ Hoa Kỳ Patrick Jay Hurley]] Sau khi giành được thắng lợi trong chiến tranh Trung-Nhật, để tránh xảy ra nội chiến và tạo lập hòa bình, chính phủ Quốc dân của Quốc Dân đảng và lực lượng Cộng sản đảng đã đàm phán hòa bình trong suốt 43 ngày tại Trùng Khánh, lịch sử gọi là "đàm phán Trùng Khánh".
Ngày 10 tháng 2 năm 1946, tại Giác Trường Khẩu của Trùng Khánh khi cử hành "Lễ kỉ niệm đại hội thành công Hội nghị Hiệp thương Chính trị" đã phát sinh sự kiện náo loạn, Lý Công Phác (李公朴) và Thi Phục Lượng (施复亮) được cho là đã bị đặc vụ Quốc Dân đảng đánh đập. Quách Mạt Nhược (郭沫若), Đào Hành Tri (陶行知), Chương Nãi (章乃器) cùng các nhà báo và hội viên, tổng cộng hơn 60 người đã bị "đả thương". Chính quyền Trung cộng về sau gọi đây là "Huyết án Giác Trường Khẩu", còn phía Trung Hoa Dân Quốc gọi đây là "Sự kiện Giác Trường Khẩu".
Ngày 2 tháng 9 năm 1949, Trùng Khánh xảy ra hỏa hoạn lớn, lửa cháy lên tới 18 giờ, gần 10.000 người thiệt mạng, Quốc Dân đảng cho rằng Cộng sản đảng đã phóng hỏa. Ngày 9 cùng tháng, hỏa hoạn lớn ở rìa nam thành phố đã đốt cháy hơn 80 ngôi nhà. Ngày 11 tháng 10 năm 1949, chính quyền Quốc dân tuyên bố sẽ lần thứ hai triệt thoái đến Trùng Khánh vào ngày 15 tháng 10.
Ngày 1 tháng 11 năm 1949, quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc bắt đầu tiến hành chiến dịch Nam Tuyền nhằm công chiếm Trùng Khánh, Ngày 27 tháng 11 năm 1949, Trung ương Quốc Dân đảng trực tiếp lệnh cho cơ quan "Trung thống" tiến hành "tối hậu giải quyết" đối vời tù nhân chính trị Trung cộng giam giữ tại Tra Chỉ động (渣滓洞) và Bạch Công quán (白公馆), hơn 400 tù nhân chính trị Trung cộng bị hành quyết, về sau gọi là "sự kiện 27/11". Ngày 28 tháng 11 năm 1949, chính phủ Quốc Dân triệt thoái từ Trùng Khánh đến Thành Đô, hai ngày sau thì thành phố về tay quân Cộng sản.
=== Thời Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ===
Ngày 30 tháng 11 năm 1949, quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc tiến vào Trùng Khánh, sau đó Trùng Khánh là nơi đặt Uỷ ban Quân chính Tây Nam (một năm rưỡi sau bị bãi bỏ), là trực hạt thị trung ương, các thể chế khu vực Tây Nam của chính quyền Trung ương cũng đặt tại Trùng Khánh. Tháng 6 năm 1952, sau 2 năm thi công, tuyến đường sắt từ thủ phủ Thành Đô của tỉnh Tứ Xuyên đến trực hạt thị Trùng Khánh đã hoàn thành, đây là tuyến đường sắt đầu tiên được xây dựng sau năm 1949. Tháng 7 năm 1954, chính phủ Trung Quốc bãi bỏ đại khu Tây Nam và hành thự khu Xuyên Đông, thủ phủ của hành thự khu Xuyên Đông là thành phố Bắc Bội được sáp nhập vào Trùng Khánh, đồng thời Trùng Khánh bị hạ cấp thành "tỉnh hạt thị", lại sáp nhập vào Tứ Xuyên. Trong ba năm xảy ra nạn đói lớn (1959-1961), Đạt huyện và Trùng Khánh là những nơi chịu ảnh hưởng nghiêm trọng nhất, số người chết đói của hai địa phương là 6,42 triệu người, chiếm 37% tổng dân số Đạt huyện và Trùng Khánh khi đó.
Năm 1964, sau khi nổ ra sự kiện vịnh Bắc Bộ, chính phủ Trung Quốc quyết định bắt đầu xây dựng Tam tuyết kiến thiết (xây dựng tuyến phòng thủ thứ ba), trong đó Trùng Khánh là thành phố trung tâm. Trong bốn năm từ 1964 đến 1968, có trên 270.000 công nhân viên chức từ Thượng Hải, Giang Tô và khu vực Đông Bắc di dời đến "Tam tuyến", họ chiếm trên 1/4 số công nhân viên chức tại các xí nghiệp ở Trùng Khánh lúc đó. Lần lượt vào năm 1965 và 1979, hai công trình đường sắt trọng điểm của Tam tuyến kiến thiết là đường sắt Xuyên-Kiềm và đường sắt Tương-Du đã thông tuyến. Vào năm 1975, số công nhân viên chức nhập cư tại Trùng Khánh đạt mức cao nhất với tổng số 435.000 người, chiếm 1/4 nhân khẩu thành phố Trùng Khánh lúc đó. Trong Đại Cách mạng Văn hóa, tại Trùng Khánh đã diễn ra nhiều hoạt động bạo lực, các khu công nghiệp bị phá hoại nghiêm trọng, một bộ phận các khu phố trở thành bình địa, hiện nay công viên Sa Bình Bá ở Trùng Khánh là nơi duy nhất tại Trung Quốc còn giữ lại mộ viên Hồng vệ binh. Năm 1982, 8 huyện của địa khu Vĩnh Xuyên được sáp nhập vào Trùng Khánh, khi đó đã bắt đầu có kế hoạch biến Trùng Khánh trở thành một thành phố độc lập. Năm 1992, Trùng Khánh mở rộng đô thị mạnh mẽ ra khu vực đất dự trữ ở vùng ven sông. Tháng 9 năm 1996, chính phủ Trung ương Trung Quốc phê chuẩn việc Trùng Khánh quản lý Vạn Huyện, Phù Lăng và Kiềm Giang của tỉnh Tứ Xuyên.
Ngày 14 tháng 3 năm 1997, tại hội nghị thứ năm của Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc lần thứ VIII, đã thông qua việc hợp nhất các thành phố Trùng Khánh, thành phố Vạn Huyện, thành phố Phù Lăng và địa khu Kiềm Giang thuộc tỉnh Tứ Xuyên thành "trực hạt thị" (thành phố trực thuộc trung ương) Trùng Khánh. Ngày 18 tháng 6 cùng tháng, chính quyền trực hạt thị Trùng Khánh chính thức hình thành. Ngày 16 tháng 1 năm 2009, Quốc vụ viện đã xác định Trùng Khánh là một khu thí nghiệm cải cách toàn diện đô thị và nông thôn quốc gia.
Thập kỉ đầu tiên của thế kỷ 21, Trùng Khánh bị mang tiếng xấu với tình trạng tội phạm có tổ chức và tham nhũng. Năm 2009, chính quyền thành phố dưới sự lãnh đạo của Bí thư thị ủy Bạc Hy Lai đã tiến hành một cuộc trấn áp lớn, bắt giữ 4.893 người bị nghi là thành phần xã hội đen, 'ngoài vòng pháp luật và các cán bộ tham nhũng, khiến người ta lạc quan rằng thời kỳ này đã kết thúc. Năm 2012, đã xảy ra sự kiện Vương Lập Quân, sau đó là việc Bí thư thị ủy Trùng Khánh Bạc Hy Lai phải rời khỏi chức vụ, nhận được sự quan tâm cao của dư luận trong và ngoài Trung Quốc.
== Địa lý ==
Trùng Khánh nằm trên khu vực chuyển tiếp giữa cao nguyên Thanh-Tạng và đồng bằng trung-hạ du Trường Giang. Trùng Khánh nằm sâu trong lục địa ở phía tây nam Trung Quốc, nằm tại thượng du của Trường Giang, thuộc rìa phía đông của bồn địa Tứ Xuyên. Trùng Khánh giáp với Hồ Bắc và Hồ Nam ở phía đông, giáp với Quý Châu ở phía nam, tây giáp Tứ Xuyên, phía bắc giáp Thiểm Tây. Chiều dài đông-tây tối đa của Trùng Khánh là 470 km, chiều dài bắc-nam tối đa là 450 km, tổng diện tích thành phố là 82.403 km². Trùng Khánh là "trực hạt thị" có diện tích lớn nhất Trung Quốc, giống như một tỉnh nhỏ. Trùng Khánh có một khu vực thành thị lớn, vùng nông thôn lớn, vùng đồi núi lớn, vùng lòng hồ chứa Tam Hiệp lớn, trong đó khu vực đã tiến hành xây dựng tại vùng đô thị lõi có diện tích 647,78 km².
Khu vực đô thị lõi của Trùng Khánh nằm ở nơi hợp lưu giữa sông Gia Lăng và Trường Giang. Trong đó, khu vực quận Du Trung như một bán đảo và vốn chủ yếu có địa hình đồi núi, các quận Du Bắc và Giang Bắc ở phía bắc sông Gia Lăng chủ yếu có địa hình đồng bằng. Toàn bộ Trùng Khánh là khu vực phía đông của bồn địa Tứ Xuyên, các mặt bắc, đông, đông nam và nam của Trùng Khánh lần lượt giáp với Đại Ba Sơn, Vu Sơn, Vũ Lăng Sơn và Đại Lâu Sơn. Địa mạo chủ yếu của Trùng Khánh là gò đồi và núi non, độ cao thấp dần từ phía bắc xuống đến thung lũng Trường Giang ở phía nam, có một lượng lớn diện tích sườn đồi, vì thế Trùng Khánh còn được gọi là "sơn thành". Địa mạo karst phổ biến tại Trùng Khánh, và có thể thấy các rừng đá, các nhóm đỉnh núi cùng các hang động và thung lũng đá vôi ở nhiều nơi.
Các sông chính chảy qua Trùng Khánh là Trường Giang, sông Gia Lăng, sông Ô, sông Phù, sông Kì, sông Đại Ninh. Trường Giang chảy từ tây sang đông, chiều dài đoạn chảy trên đất Trùng Khánh là 665 km. Trường Giang chảy xuyên qua ba nếp lồi của dãy núi Vu Sơn, hình thành nên Cù Đường Hiệp (瞿塘峡), Vu Hiệp (巫峡) và Tây Lăng Hiệp (西陵峡, thuộc tỉnh Hồ Bắc), tức Trường Giang Tam Hiệp. Trước khi hợp vào Trường Giang, sông Gia Lăng cũng chảy xuyên qua dãy núi Vu Sơn, hình thành Tiểu Tam Hiệp gồm Lịch Tị Hiệp (沥鼻峡), Ôn Đường Hiệp (温塘峡) và Quan Âm Hiệp (观音峡).
Trùng Khánh có khí hậu cận nhiệt đới ẩm chịu ảnh hưởng của gió mùa (Köppen Cfa), và ẩm ướt hầu hết thời gian trong năm. Trùng Khánh được xem là một trong "Tam đại hỏa lô" của Trường Giang, cùng với Vũ Hán và Nam Kinh, mùa hè của thành phố kéo dài và nằm trong số các thành phố nóng nhất và ẩm nhất Trung Quốc, khi nhiệt độ có thể lên đến 33 đến 34 °C (91 đến 93 °F) vào tháng 7 và tháng 8 ở khu vực đô thị. Mùa đông ngắn và có phần ôn hòa, song ẩm ướt và u ám. Vì nằm trên bồn địa Tứ Xuyên nên tổng số giờ nắng trung bình hàng năm của thành phố ở vào hàng thấp nhất Trung Quốc, chỉ với 1055 giờ. Trùng Khánh có trên 100 ngày sương mù mỗi năm nên còn được gọi là "Vụ Đô" (雾都), và có một lớp sương mù dày bao phủ thành phố trong 68 ngày mỗi năm vào mùa xuân và mùa thu.
== Sinh vật ==
Trùng Khánh có nhiều loại động thực vật, trong đó có trên 6.000 loài thực vật bậc cao, trên 580 loài động vật có xương sống hoang dã trên mặt đất với gần 60 loài được bảo hộ trọng điểm cấp quốc gia. Tính đến cuối năm 2011, toàn thành phố Trùng Khánh có 61,18 triệu mẫu đất dùng cho lâm nghiệp, 48,21 triệu mẫu rừng, tỷ lệ che phủ rừng đạt 39%. Tổng trữ lượng gỗ rừng của Trùng Khánh là 150 triệu m³. Toàn Trùng Khánh có 78 công viên rừng, trong đó có 25 công viên rừng cấp quốc gia. Trùng Khánh có 52 khu bảo hộ tự nhiên cấp thành phố và cấp quốc gia, với diện tích 10,35 triệu mẫu.
== Các đơn vị hành chính ==
Trùng Khánh là trực hạt thị có diện tích và dân số lớn nhất của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Thành phố được chia thành 38 đơn vị hành chính (3 đơn vị bị bãi bỏ năm 1997, còn Vạn Thịnh và Song Kiều đã bị bãi bỏ vào tháng 10 năm 2011), trong đó có 19 khu (quận), 15 huyện, và 4 huyện tự trị.
== Nhân khẩu ==
Tính đến cuối năm 2008, số nhân khẩu thường trú tại Trùng Khánh là 28,39 triệu người, tổng nhân khẩu là 32,5332 triệu người,, tuy nhiên số nhân khẩu có hộ tịch tại 9 quận đô thị trung tâm (chủ thành) chỉ có 8 triệu người, chiếm khoảng 1/4 dân số toàn thành phố; trong 9 quận này thì chỉ có 6,41 triệu cư dân thành thị, tỉ lệ đô thị hóa đạt 82,7%. Số cư dân đô thị của toàn thành phố Trùng Khánh là 13,6115 triệu người, đạt tỷ lệ đô thị hóa 49,99%. Theo một bài đăng trên Tân Hoa xã vào tháng 7 năm 2010, Trùng Khánh có 32,8 triệu cư dân, trong đó 23,3 triệu cư dân là nông dân. Trong số đó, 8,4 triệu nông dân đã trở thành công nhân di trú, bao gồm 3,9 triệu người làm việc và sinh sống trong các khu vực đô thị của Trùng Khánh.
=== Dân tộc ===
Tại Trùng Khánh, người Hán là dân tộc chủ yếu, ngoài ra còn có người Thổ Gia, người Miêu, người Hồi, người Mãn, người Di, người Choang và toàn bộ các dân tộc thiểu số được công nhận khác tại Trung Quốc. Trùng Khánh có 4 huyện tự trị, 1 đơn vị được hưởng chính sách ưu đãi khu vực dân tộc cùng 14 hương dân tộc. Theo kết quả tổng điều tra nhân khẩu toàn quốc năm 2010, tổng số dân của các dân tộc thiểu số Trùng Khánh là 1,937 triệu người (bao gồm 209 người thuộc các dân tộc chưa được công nhận), trong đó đông nhất là người Thổ Gia với 1,398 triệu người, tiếp đến là người Miêu với 482 nghìn người, người Hồi có 9.056 người., chủ yếu phân bố tại khu vực đông nam của Trùng Khánh.
=== Ngôn ngữ ===
Ngôn ngữ chủ yếu tại Trùng Khánh là Quan thoại Tây Nam, trong đó có ba nhánh là tiếng Thành-Du, tiếng Dân Giang và tiếng Kiềm Bắc. Tại khu vực đô thị trung tâm cũng như đại bộ phận các huyện khu của Trùng Khánh, cư dân chủ yếu nói phương ngôn Xuyên Đông của nhánh Thành-Du, nhánh Dân Giang chủ yếu xuất hiện tại Giang Tân và Kì Giang, nhánh Kiềm Bắc xuất hiện tại Tú Sơn. Ngoài ra, tại Trùng Khánh còn có một số cộng đồng cư dân rải rác nói tiếng Thổ Quảng Đông (tức tiếng Khách Gia) và tiếng Lão Hồ Quảng (tức tiếng Tương). Bên cạnh tiếng Hán, các dân tộc thiểu số tại Trùng Khánh cũng nói ngôn ngữ của mình như tiếng Miêu, tiếng Thổ Gia, chủ yếu phân bố ở các khu vực nguyên thuộc địa khu Kiềm Giang. Tiếng Miêu ở Trùng Khánh thuộc phương ngôn Kiềm Đông (tiếng Hmu) và phương ngôn Xuyên-Kiềm-Điền (Tây H'Mông); tiếng Thổ Gia ở Trùng Khánh thuộc phương ngôn Bắc bộ.
=== Tôn giáo ===
Tại Trùng Khánh có sự hiện diện của Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Đạo giáo và Hồi giáo, số tín đồ của các tôn giáo là khoảng trên 1,72 triệu người, chiếm khoảng 5% tổng số cư dân thành phố, trong đó, có khoảng 800 nghìn Phật tử, 310 nghìn tín đồ Công giáo, 270 nghìn tín đồ Tin Lành, khoảng 30 nghìn tín đồ Đạo giáo và khoảng 10 nghìn tín đồ Hồi giáo, có 665 người là chức sắc tôn giáo.
== Kinh tế ==
Trùng Khánh được tách khỏi tỉnh Tứ Xuyên và trở thành một đô thị độc lập vào tháng 3 năm 1997 với mục đích giúp đẩy nhanh sự phát triển của bản thân thành phố cũng như của khu vực miền tây tương đối nghèo khó của Trung Quốc, thuộc chiến lược Đại phát triển Tây Bộ. Trùng Khánh là một khu vực công nghiệp quan trọng tại miền Tây Trung Quốc, và đang trong quá trình đô thị hóa nhanh chóng. Do tách biệt về mặt địa lý, Trùng Khánh và tỉnh Tứ Xuyên lân cận vốn có các cơ sở nghiên cứu và phát triển vũ khí quan trọng. các ngành công nghiệp tại Trùng Khánh hiện nay đã đa dạng hóa, song không giống với các khu vực miền Đông Trung Quốc, lĩnh vực xuất khẩu của Trùng Khánh còn nhỏ bé do vị trí nằm sâu trong nội địa. Thay vào đó, các nhà máy tại Trùng Khánh sản xuất các loại hàng hóa nhằm phục vụ người tiêu dùng bản địa như thực phẩm, ô tô, hóa chất, dệt may, máy móc và thiết bị điện tử.
Trùng Khánh là trung tâm sản xuất xe cơ giới lớn thứ ba tại Trung Quốc và đứng đầu về sản xuất mô tô. Năm 2007, thành phố có năng lực sản xuất 1 triệu ô tô và 8,6 triệu mô tô mỗi năm. Các hãng sản xuất ô tô và xe máy tại Trùng Khánh bao gồm Công ty Ô tô Trường An (Changan) và Lực Phàm (Lifan), cũng như nhà sản xuất ô tô khổng lồ Ford của Hoa Kỳ. Trùng Khánh cũng là một trong chín trung tâm sản xuất gang thép lớn nhất và là một trong ba trung tâm sản xuất nhôm lớn nhất tại Trung Quốc. Các nhà sản xuất quan trọng bao gồm Chongqing Iron and Steel Company và Southwest Aluminum (Group) Co., Ltd, là hãng có nhà máy sản xuất nhôm lớn nhất châu Á.
Năm 2011, tổng giá trị nông nghiệp của Trùng Khánh là 84,452 tỉ NDT, tăng trưởng 5,1% so với năm trước. Trong đó, lĩnh vực trồng trọt đạt giá trị 56,077 tỉ NDT, lĩnh vực chăn nuôi đạt giá trị 21,756 tỉ NDT, lâm nghiệp đạt 2,782 tỉ NDT, thủy sản đạt 2,726 tỉ NDT. Trong năm, tổng sản lượng lương thực của Trùng Khánh đạt 11,269 triệu tấn, liên tục bốn năm ở mức trên 11 triệu tấn, bình quân lương thực đầu người chiếm vị trí thứ nhất trong các tỉnh và thành phố khu vực Tây Nam Trung Quốc. Lúa và hoa quả (đặc biệt là cam) là các nông sản chính của Trùng Khánh.
Trùng Khánh là một trong những thành phố lớn và trung bình có tài nguyên khoáng sản phong phú nhất tại Trung Quốc. Tính đến năm 2011, người ta đã tìm thấy 68 loại khoáng sản tại Trùng Khánh, xác định được trữ lượng của 54 loại. Các loại khoáng sản có ưu thế tại Trùng Khánh là khí thiên nhiên, stronti, than đá, bô xít, bari cacbonat, thạch anh bột, thạch cao, đá vôi để làm xi măng, mỏ muối, địa nhiệt. Ngoài ra, Trùng Khánh còn có tài nguyên khí đá phiến sét, nước khoáng dồi dào. Tuy nhiên, ngành khai mỏ tại Trùng Khánh bị chỉ trích là lãng phí, gây ô nhiễm nặng và không an toàn.
Cũng có kế hoạch hình thành một nhà máy lọc dầu có công suất 10 triệu tấn do CNPC (công ty mẹ của PetroChina) để tinh chế lượng dầu thô nhập khẩu từ đường ống dẫn Trung Quốc-Myanma. Dự án đường ống dẫn này vẫn chưa hoàn thành, được mong đợi sẽ nối từ Sittwe (bờ biển phía tây Myanma) qua Côn Minh tại tỉnh Vân Nam trước khi đến Trùng Khánh và nó sẽ cung cấp các nguồn nguyên liệu từ Myanma, Trung Đông và châu Phi cho Trung Quốc. Gần đây, Trùng Khánh hướng đến phát triển công nghiệp công nghệ vao và tri thức, kết quả là sự ra đời của các khu phát triển mới như Tân khu Bắc Bộ (北部新区, CNNZ). Chính quyền Trùng Khánh hy vọng rằng với việc thúc đẩy các chính sách kinh tế thuận lợi đối với các lĩnh vực điện tử và công nghệ thông tin, Trùng Khánh sẽ trở thành một trung tâm chế tạo công nghệ cao tạo ra giá trị 400 tỷ NDT mỗi năm, vượt qua ngành công nghiệp ô tô và chiếm 25% giá trị xuất khẩu của thành phố.
Trùng Khánh cũng đã đầu tư rất nhiều vào cơ sở hạ tầng để thu hút đầu tư. Mạng lưới đường bộ và đường sắt kết nối Trùng Khánh với phần còn lại của Trung Quốc đã được phát triển thêm và giúp hạ chi phí hậu cần. Hơn nữa, đập Tam Hiệp ở tỉnh Hồ Bắc lân cận là đập lớn nhất thế giới, đập này sẽ không chỉ cung cấp điện cho Trùng Khánh khi hoàn thành mà còn giúp các tàu biển có thể tiếp cận các cảng ven Trường Giang của Trùng Khánh (do tạo ra hồ chứa, tàu sẽ vượt qua đập thông qua các thang nâng tàu). Những cải tiến về cơ sở hạ tầng đã đem đến cho thành phố nhiều nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) trong các ngành khác nhau, từ ô tô đến tài chính và bán lẻ; với các hãng như Ford, Mazda, HSBC, Standard Chartered Bank, Citibank, Deutsche Bank, ANZ Bank, Scotiabank, Wal-Mart, Metro AG và Carrefour, cũng như các tập đoàn đa quốc gia khác.
GDP danh nghĩa của Trùng Khánh vào năm 2011 đạt 1001,1 tỉ NDT (158,9 tỉ USD) và tỷ lệ tăng trưởng hàng năm đạt 16,4%. Tuy nhiên, về tổng thể thì kinh tế Trùng Khánh vẫn tụt hậu so với các thành phố lớn ở ven biển phía đông. GDP đầu người của Trùng Khánh là 34500 NDT vào năm 2011, tăng 15,2% so với năm trước, song chỉ xấp xỉ mức bình quân của cả nước. Cũng trong năm 2011, thu nhập có khả năng chi phối (sau khi đã trả các khoản thuế và phí) của cư dân thành thị tại Trùng Khánh là 20.250 NDT, tăng trưởng 15,5% so với năm trước; thu nhập thuần của cư dân nông thôn là 6480 NDT, tăng trưởng 22,6% so với năm trước. Mặc dù cư dân Trùng Khánh có thu nhập chưa thập cao, song vẫn có sự ủng hộ to lớn của chính phủ trung ương cho Trùng Khánh nhằm đưa thành phố trở thành một trung tâm kinh tế, thương mại và tài chính của khu vực và biến điều này trở thành một nền tảng để khu vực nội địa phía tây của đất nước có thể phát triển hơn nữa.
== Giao thông ==
=== Đường sắt ===
Trùng Khánh có hệ thống đường sắt phát triển, trước đây thuộc quyền quản lý của cục đường sắt Trùng Khánh, song cục này đã bị bãi bỏ sau khi xây dựng đường sắt Bảo-Thành, hiện hệ thống đường sắt của Trùng Khánh thuộc quyền quản lý của cục đường sắt Thành Đô. Trên địa bàn Trùng Khánh có 5 tuyến đường sắt điện khí hóa chính là Thành-Du, Xuyên-Kiềm, Tương-Du, Du Hoài, Toại Du; cùng hai tuyến nhánh là Đạt-Vạn-Lợi và vành đai vòng ngoài Trùng Khánh. Các tuyến đường sắt khác đã và đang thi công là Lan-Du, Du Lợi, Toại-Du 2, đoạn Trùng Khánh-Phù Lăng của tuyến Du Hoài, vận chuyển hành khách Thành-Du, Nam-Phù, Du-Vạn, Du-Kiềm. Ga Trùng Khánh (Thái Viêm Bá), ga Trùng Khánh Bắc (Long Đầu Tự) và ga Trùng Khánh Tây là những trạm đường sắt chính tại khu vực nội thị của Trùng Khánh. Trong số các ga ở vùng ngoại vi, lớn nhất là các ga Phù Lăng, ga Kiềm Giang và ga Vạn Châu. Tính đến năm 2011, tổng chiều dài đường sắt của Trùng Khánh là 1.342 km, ngoài ra còn có 1.155 km đang được xây dựng. Với việc mở tuyến liên vận quốc tế Du-Tân-Âu, tuyến này đi từ Trùng Khánh đến Tây An, Urumqi rồi vượt biên giới sang Kazakhstan, Nga, cuối cùng tới Duisburg (Đức), toàn hành trình chỉ mất 16 giờ đồng hồ.
=== Đường bộ ===
Trùng Khánh là trung tâm giao thông đường bộ của khu vực Tây Nam Trung Quốc; km 0 của tại Trùng Khánh tính từ cầu Triều Thiên Môn. Tuyến đường cao tốc đầu tiên của Trùng Khánh đã thông xe vào năm 1995, đó là tuyến đường cao tốc Thành-Du. Tính đến cuối năm 2011, toàn Trùng Khánh có 1.861 km đường cao tốc trong tổng cộng 118.562 km công lộ. Trùng Khánh có một tuyến cao tốc vành đai trong và một tuyến cao tốc vành đai ngoài khu vực đô thị, mật độ đường cao tốc của Trùng Khánh đứng đầu các tỉnh miền Tây Trung Quốc. Tuy nhiên, vì Trùng Khánh có nhiều núi cao, khi xây dựng các tuyến đường cao tốc sẽ phải kèm theo xây dựng các đường hầm.
Trùng Khánh là một trong số ít thành thị tại Trung Quốc hạn chế nghiêm ngặt việc tư nhân mua xe, phí sử dụng xe cũng như phí cầu đường của Trùng Khánh cũng ở mức đứng đầu tại Trung Quốc, phí đăng ký xe chỉ xếp thứ hai sau Thượng Hải.
Trùng Khánh nằm trên khu vực có nhiều sông, khu vực đô thị của thành phố có Trường Giang và sông Gia Lăng chảy qua, ngoài ra, trung tâm thành thị của đa số các khu huyện còn lại đều nằm ven Trường Giang, sông Gia Lăng hay các chi lưu của chúng, trong địa phận các huyện khu cũng có rất nhiều sông suối nhỏ. Vì thế, Trùng Khánh có mật độ cầu cao hơn nhiều so với các thành phố khác. Do việc xây cầu tại Trùng Khánh phát triển nhanh chóng, thành phố này còn được gọi là "kiều đô Trung Quốc".
=== Đường thủy ===
Giao thông đường thủy của Trùng Khánh có được sự tiện lợi đáng kể do có Trường Giang chảy qua. Tính đến năm 2011, toàn Trùng Khánh có khoảng 4.451 km thủy đạo có thể thông hành, sau khi đập Tam Hiệp được hoàn thành và tích nước, các tàu cỡ 10.000 tấn và 5.000 tấn có thể tiến thẳng từ hạ du Trường Giang đến Trùng Khánh (vượt đập bằng thang nâng tàu). Cảng vận chuyển container quốc tế tại Trùng Khánh là cảng vận chuyển nằm ở nội lục lớn nhất Trung Quốc, đồng thời cảng Vạn Châu và cảng Phù Lăng cũng có vị trí trọng yếu trong giao thông đường thủy của Trùng Khánh. Trong năm 2008, lượng hàng hóa vận chuyển theo tuyến Trường Giang chiếm 97% khối lượng và 87% giá trị của hệ thống giao thông đường thủy Trùng Khánh.
=== Đường không ===
Trùng Khánh có ba sân bay là sân bay quốc tế Giang Bắc Trùng Khánh, sân bay Ngũ Kiều Vạn Châu và sân bay Vũ Lăng Sơn Kiềm Giang. Sân bay quốc tế Giang Bắc Trùng Khánh nằm ở quận Du Bắc. Năm 2011, sân bay quốc tế này phục vụ số lượng hành khách đứng thứ 9 tại Trung Quốc. Sân bay này có các đường bay thẳng đến các nơi khác tại Trung Quốc, Đông Nam Á, Trung Đông và châu Âu. Sân bay nằm cách trung tâm thành phố 21 km về phía bắc và là một trung tâm hàng không quan trọng của vùng Tây Nam Trung Quốc. Sân bay quốc tế Giang Bắc Trùng Khánh là sân bay trung tâm của các hãng China Southern Airlines, Chongqing Airlines, Sichuan Airlines và China West Air của Hainan Airlines. Trùng Khánh cũng là một thành phố trọng tâm của Air China, do đó thành phố có thể kết nối dễ dàng đến mạng lưới quốc tế của Star Alliance và Sky Team. Sân bay quốc tế Giang Bắc Trùng Khánh hiện có hai đường băng hoạt động song song. Vận chuyển hành hóa bằng đường hàng không cũng đã tăng lên, đặc biệt là trong việc xuất khẩu thiết bị điện tử có giá trị cao, chẳng hạn như máy tính xách tay. Hiện nay, sân bay quốc tế Giang Bắc Trùng Khánh là sân bay duy nhất tại vùng trung và tây Trung Quốc có tuyến đường sắt đô thị chạy từ sân bay nối với hệ thống giao thông của thành phố.
=== Giao thông công cộng ===
Tại Trùng Khánh, có ba loại hình giao thông công cộng chính là tàu điện ngầm CRT, đường sắt liên thị, và hệ thống xe buýt ở khắp mọi nơi. Theo kế hoạch đầy tham vọng của chính quyền Trùng Khánh vào năm 2007, thành phố sẽ đầu tư 150 tỉ NDT trong hơn 13 năm để hoàn thành một hệ thống kết hợp bao gồm các tuyến tàu điện ngầm cùng với đường sắt đô thị (monorail). Đến năm 2020, hệ thống này sẽ gồm có 6 tuyến thẳng và 1 tuyến vành đai; tuyến 1 và tuyến 6 sẽ là các tuyến ngầm còn tuyến 2 và 3 sẽ là monorail. Những cải tiến này sẽ tăng thêm cho thành phố 363,5 km đường bộ và đường sắt và thành phố cũng sẽ có thêm 93 ga đường sắt mới.
== Văn hóa ==
=== Du lịch ===
Là thủ đô lâm thời của Trung Quốc từ năm 1937 đến 1945, thành phố được biết đến nhiều với vị thế là một trong ba trụ sở chính của Đồng Minh trong Chiến tranh thế giới thứ hai, ngoài ra thành phố cũng là một trung tâm chiến lược trong nhiều cuộc chiến tranh khác trong suốt lịch sử Trung Quốc. Trùng Khánh có nhiều di tích lịch sử chiến tranh, một số trong đó đã bị phá hủy. Các di tích này bao gồm đài kỷ niệm Giải phóng Nhân dân Trùng Khánh (重庆人民解放纪念碑), nằm ở trung tâm thành phố. Đài này từng là công trình cao nhất tại khu vực quanh đó song hiện nay bao quanh nó là rất nhiều các tòa cao ốc trung tâm mua sắm. Ngày nay, đài tưởng niệm này là một biểu tượng của Trùng Khánh. Bên cạnh đó còn có Bảo tàng tướng Joseph W. Stilwell, dành riêng cho tướng "Vinegar Joe" Stilwell, một vị tướng phục vụ trong chiến tranh thế giới lần thứ hai, nghĩa trang không quân tại khu vực Nam Sơn để tưởng nhớ những người thuộc lực lượng không quân Trung Hoa đã bị thiệt mạng trong chiến tranh Trung-Nhật, và Hồng Nham cách mạng kỉ niệm quán (红岩革命纪念馆), một địa điểm ngoại giao của đảng Cộng sản Trung Quốc do Chu Ân Lai đứng đầu trong Chiến tranh Trung-Nhật. Quán này cũng là nơi Mao Trạch Đông đã ký kết "Hiệp định Song Thập (10/10)" với Quốc Dân đảng.
Các địa điểm khác tại Trùng Khánh bao gồm:
Bảo tàng dưới nước Bạch Hạc Lương Phù Lăng (重庆涪陵白鹤梁水下博物馆), bảo tàng dưới nước đầu tiên tại Trung Quốc,
Đại lễ đường Nhân dân Trùng Khánh, dựa theo Đại lễ đường Nhân dân ở Bắc Kinh. Đây là một trong các tòa nhà hội nghị lớn nhất tại Trung Quốc, và mặc dù được xây vào thời hiện đại song nó được mô phỏng theo phong cách kiến trúc truyền thống. Đại lễ đường tiếp giáp với khu vực đông dân cư và đồi núi, với các đường phố chật hẹp và lối đi chỉ dành cho người đi bộ.
Tượng khắc đá Đại Túc tại huyện Đại Túc, gồm một loạn các tác phẩm điêu khắc và chạm khắc tôn giáo Trung Hoa, có niên đại từ thế kỷ thứ 7, mô tả và chịu ảnh hưởng của Phật giáo, Nho giáo và Đạo giáo.
Thiên Sinh Tam Kiều và động Phù Dung tại Công viên địa chất quốc gia Karst Vũ Long,
Tứ Khí Khẩu một thị trấn 1000-năm tuổi ở quận Sa Bình Bá, nó cũng được gọi là Tiểu Trùng Khánh. Thị trấn nằm sát bên hạ du sông Gia Lăng và từng là một nguồn cung gốm sứ Trung Hoa quan trọng và một bến tàu thương mại bận rộn trong thời Minh và Thanh
Điếu Ngư thành là một trong ba chiến trường lớn thời cổ của Trung Quốc. Nơi đây nổi tiếng với cuộc kháng chiến chống quân Mông Cổ của Nam Tống và là nơi đại hãn Mông Kha tử trận vào năm 1259,
Động Tuyết Ngọc ở Phong Đô là hang động karst trắng tinh khiết, giống như ngọc bích duy nhất ở Trung Quốc,
Vườn động vật Trùng Khánh (重庆动物园), với nhiều loài quý hiếm như gấu trúc lớn, hổ Hoa Nam, và voi châu Phi. Vườn thú nằm bên bờ Trường Giang và từ đó có thể trông thấy Tam Hiệp.
=== Ẩm thực ===
Món ăn Trùng Khánh phần lớn là sự pha trộn giữa trường phái ẩm thực Tứ Xuyên và các món đặc sản địa phương. Trung tâm thành phố Trùng Khánh có rất nhiều nhà hàng và quầy hàng thực phẩm. Các đặc sản của Trùng Khánh bao gồm bánh bao hay dưa muối, khác biệt với các phái ẩm thực Trung Hoa khác, các món ăn Trùng Khánh được bày ra chỉ một lần duy nhất do người dân ở đây thường chia phần ăn riêng lẻ cho mỗi người. Một số món ngon của Trùng Khánh là:
Lẩu - cách nấu nướng đặc biệt của Trùng Khánh. Bàn trong một nhà hàng lẩu thướng có một nồi ở giữa, các loại thực phẩm sẽ được làm chín theo ý thích của khách hàng trong một nước sốt cay. Ngoài thịt bò, thịt lợn, hay các loại rau, nguyên liệu của món này cũng thường bao gồm cả thận và não của lợn, ruột vịt, dạ dày bò.
Món cá Giang Đoàn - do Trùng Khánh nằm ven sông Gia Lăng, người ta có thể dễ dàng có cơ hội thưởng thức các loại thủy sản ở nơi đây. Trong số đó, có một loại cá địa phương gọi là cá Giang Đoàn, hay còn có biệt danh là "cá đầu lớn". Danh pháp của "cá Giang Đoàn" là Hypophthalmichthys nobilis, tên thông dụng trong tiếng Việt của loài này là cá mè hoa. Người ta thường hấp hoặc nướng loài cá này.
Chân lợn nấu với kẹo đá - Một món ăn thông dụng tại gia đình của người Trùng Khánh, khi hoàn tất, món ăn này sẽ có màu đỏ và vị dịu, được mô tả là có dư vị của sự mạnh mẽ và sự ngọt ngào.
Thiên chương (千张), một loại kem hình thành khi hớt váng sữa đậu nành. Để làm được món ăn này phải tuân theo các bước cẩn thận. Món này được mô tả là mềm, có mùi thơm và ngọt.
== Các trường đại học ==
Đại học Trùng Khánh (重庆大学)
Đại học Tây Nam (西南大学)
Đại học Chính trị-Pháp luật Tây Nam (西南政法大学)
Đại học Công thương Trùng Khánh (重庆工商大学)
Đại học Giao thông Trùng Khánh (重庆交通大学)
Đại học Bưu điện Trùng Khánh (重庆邮电大学)
Đại học Sư phạm Trùng Khánh (重庆师范大学)
Đại học Y khoa Trùng Khánh (重庆医科大学)
Đại học Khoa học-Công nghệ Trùng Khánh (重庆理工大学)
Học viện Ngoại ngữ Tứ Xuyên (四川外语学院)
Học viện Mỹ thuật Tứ Xuyên (四川美术学院)
Đại học Sư phạm Trùng Khánh 2 (重庆第二师范学院)
Học viện Khoa học-Kỹ thuật Trùng Khánh (重庆科技学院)
Học viện Khoa học Xã hội Trùng Khánh (重庆文理学院)
Học viện Tam Hiệp Trùng Khánh (重庆三峡学院)
Học viện Cảnh sát Trùng Khánh (重庆警察学院)
Học viện Sư phạm Trường Giang (长江师范学院)
== Xem thêm ==
Danh sách vùng đô thị châu Á
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Khám phá Trùng Khánh (Tiếng Việt) |
scorpion (cpu).txt | Scorpion là một nhân bộ xử lý trung tâm được thiết kế bởi Qualcomm để sử dụng trong Snapdragon - hệ thống trên một vi mạch (SoCs) di động của họ. Nó được thiết kế nội bộ, nhưng có nhiều điểm tương đồng với lõi CPU ARM Cortex-A8 và Cortex-A9.
== Tổng quan ==
== Xem thêm ==
Krait (CPU)
So sánh các nhân ARMv7-A
== Tham khảo == |
catalunya.txt | Catalunya hay Catalonia (tiếng Catalunya: Catalunya; tiếng Occitan: Catalonha; tiếng Tây Ban Nha: Cataluña; tiếng Pháp: Catalogne) là một vùng tự trị của Tây Ban Nha được công nhận chính thức là một quốc gia (tiếng Tây Ban Nha: nacionalidad; tiếng Catalunya: nacionalitat) theo Đạo luật Tự trị Catalunya.
Catalunya chiếm phần lớn lãnh thổ của cựu Công quốc Catalunya, trong khi phần còn lại của vùng Catalan nằm trong miền nam của Pháp ngày nay. Catalunya nằm giáp với Pháp và Andorra ở phía bắc, Aragon ở phía tây, vùng tự trị Valencia ở phía nam, phía đông là Địa Trung Hải (có đường bờ biển dài 580 km [360 mi]). Catalunya được chia thành 4 tỉnh: Barcelona, Girona, Lleida, và Tarragona. Thủ phủ của Catalunya là Barcelona, thành phố lớn thứ hai của Tây Ban Nha sau Madrid và trung tâm của một trong những vùng độ thị lớn nhất ở châu Âu. Diện tích của vùng đất này là 32.114 kilômét vuông (12.399 sq mi); dân số là 7.210.508 người, trong đó dân nhập cư chiếm khoảng 12,3%. Các ngôn ngữ chính của vùng này là tiếng Catalan, phương ngữ Aran của tiếng Occitan, và tiếng Tây Ban Nha; ngôn ngữ ký hiệu Catalan cũng được chính phủ công nhận.
Chính phủ Catalonia dự định tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý vào năm 2014 để thành lập một quốc gia độc lập.
== Từ nguyên và phát âm ==
Tên Catalunya (Catalonia) bắt đầu được sử dụng cho "xứ Catalan" (Catalanenses) vào cuối thế kỷ 11.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Catalonia tại Wikimedia Commons |
gaël monfils.txt | Gaël Sébastien Monfils (phát âm tiếng Pháp: [ɡaɛl mɔ̃ˈfis]; sinh ngày 1 tháng 9 năm 1986) là vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Pháp. Anh ta có được vị trí cao nhất Bảng xếp hạng ATP thế giới là vị trí số 6 Đơn vào ngày 7 tháng 11 năm 2016. Sự nghiệp tay vợt người Pháp nổi bật bao gồm 2 lần vào bán kết Grand Slam tại Pháp Mở rộng 2008 và Mỹ Mở rộng 2016, và ba lần vào đến vòng chung kết ATP World Tour Masters 1000 tại các giải Paris Masters vào năm 2009 và 2010 và tại giải Monte-Carlo Masters năm 2016.
Monfils hiện là tay vợt số 2 của Pháp và là tay vợt đơn nam số 10 tại châu Âu. Ông được mệnh danh là Người mới của năm ATP năm 2006. Trong suốt thời gian tham gia ATP Tour, Monfils đã giành được tổng cộng 6 danh hiệu mọi cấp độ mặc dù vào tới 25 trận chung kết. Anh cũng đã có ít nhất một trận chung kết ở cấp độ và ghi được ít nhất một chiến thắng trước 10 tay vợt hàng đầu mỗi năm kể từ năm 2005.
== Sự nghiệp quần vợt ==
=== Trẻ ===
Khi thi đấu ở cấp độ trẻ, Monfils đã đạt thành tích 83-22, giành vị trí thứ nhất trong bảng xếp hạng trẻ thế giới vào tháng 2 năm 2004.
== Thông kê sự nghiêp ==
=== Grand Slam ===
Giẩi đấu hiện tại Giải quần vợt Úc Mở rộng 2017.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức (tiếng Pháp)
Gaël Monfils trên trang chủ ATP (tiếng Anh)
Gaël Monfils trên ITF
Gaël Monfils tại ITF Junior
Gaël Monfils at Davis Cup Profile |
joseph mccarthy.txt | Joseph Raymond "Joe" McCarthy (14 tháng 11 năm 1908 - 2 tháng 5 năm 1957) là một chính trị gia người Mỹ, thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa bang Wisconsin từ 1947 cho đến khi qua đời năm 1957. Từ 1950, McCarthy đã trở thành gương mặt công chúng tiêu biểu nhất ở giai đoạn mà những căng thẳng của chiến tranh Lạnh càng khiến gia tăng nỗi sợ về sức ảnh hưởng ngày càng lớn của chủ nghĩa Cộng sản. Ông nổi tiếng vì đã những lời tuyên bố rằng đang có khá đông người Cộng sản và các điệp viên Xô Viết cũng như những người có cảm tình với Liên Xô bên trong chính quyền Liên bang Mỹ và những nơi khác. Rốt cuộc, thượng viện Hoa Kỳ đã chỉ trích những sách lược của ông cũng như sự bất lực của ông trong việc chứng minh những tuyên bố của mình.
Thuật ngữ chủ nghĩa McCarthy ra đời năm 1950 liên quan đến chủ trương của McCarthy đã sớm được áp dụng cho những hoạt động chống cộng. Ngày nay, thuật ngữ này được dùng theo nghĩa rộng hơn liên quan đến những lời buộc tội mị dân, thiếu suy nghĩ và vô căn cứ, cũng như công kích công khai nhằm vào tính cách hoặc lòng yêu nước của các đối thủ chính trị.
Sinh ra và lớn lên tại một nông trang bang Wisnconsin, McCarthy đã nhận tấm bằng ngành luật tại đại học Marquette năm 1935 và được bầu vào thẩm phán tòa đại hình lưu động Wisconsin năm 1939, là người trẻ nhất giữ chức vụ này trong lịch sử bang Ở tuổi 33, McCarthy tình nguyện gia nhập thủy quân lục chiến Hoa Kỳ và phục vụ trong suốt thế chiến thứ II. Ông đã chạy đua thành công vào thượng viện Mỹ năm 1946, đánh bại Robert M. La Follette, Jr. Sau 3 năm gần như kín tiếng ở thượng viện, danh tiếng McCarthy nổi lên nhanh chóng khắp nước khi vào tháng 2 năm 1950 ông đã xác nhận bằng lời rằng ông có một danh sách "các thành viên Đảng Cộng sản và các thành viên trong mạng lưới gián điệp" đang làm việc trong bộ Ngoại giao Hoa Kỳ. McCarthy chưa bao giờ có thể chứng minh những lời cáo buộc gây xôn xao dư luận của ông.
Vào giai đoạn thành công của sự nghiệp, McCarthy đã có thêm những cáo buộc về việc Cộng sản thâm nhập vào Bộ Ngoại giao, chính quyền Tổng thống Harry S. Truman, đài tiếng nói Hoa Kỳ và quân đội Mỹ. Ông cũng sử dụng những cáo buộc liên quan đến chủ nghĩa cộng sản, thái độ thân cộng và sự phản bội tổ quốc để công kích nhiều chính trị gia và các cá nhân khác cả trong và ngoài chính phủ. Những phiên điều trần công khai giữa McCarthy và quân đội năm 1954 đã khiến cho ông bị giảm dần sự ủng hộ cũng như danh tiếng. Vào 2 tháng 12 năm 1954, thượng viện đã tổ chức bỏ phiếu khiển trách thượng nghị sĩ McCarthy với tỉ lệ phiếu chỉ trích ông 67-22, khiến McCarthy trở thành một trong số ít những thượng nghị sĩ bị kỉ luật thời đó. Ông qua đời tại bệnh viện hải quân Bethesda vào 2 tháng 5 năm 1957, thọ 48 tuổi. Nguyên nhân cái chết được công bố chính thức là do viêm gan cấp tính, rất có thể do chứng nghiện rượu của ông gây ra.
== Tham khảo == |
ủy ban quân sự trung ương cộng hòa nhân dân trung hoa.txt | Ủy ban Quân sự Trung ương Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (giản thể: 中华人民共和国中央军事委员会, Trung Hoa Nhân dân Cộng hòa quốc Trung ương Quân sự Ủy viên Hội), còn được gọi tắt là Quân ủy Nhà nước Trung Quốc giản thể: 中华人民共和国中央军委, Quốc gia Trung ương Quân ủy hay giản thể: 国家军委, Quốc gia Quân ủy), là một trong những cơ quan lãnh đạo cao nhất của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, ngang cấp với Hội đồng nhà nước, Toà án nhân dân Tối cao và Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao. Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương Trung Quốc do Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc bầu ra, theo đề cử của Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc. Dựa theo điều 93 Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định "Ủy ban Quân sự Trung ương nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa lãnh đạo lực lượng vũ trang toàn quốc".
Quân ủy Trung ương Quốc gia và Quân ủy Trung ương Trung Cộng là "nhất cá cơ cấu lưỡng khối tử bài" (1 cơ quan có 2 tên), đồng thời Đảng Cộng sản Trung Quốc kiên trì "Đảng chỉ huy súng", trên thực tế là cơ quan lãnh đạo quân sự tối cao.
== Lịch sử ==
Ngày 20 tháng 9 năm 1954, tại phiên họp thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc Trung Quốc thông qua Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, trong đó điều 20 quy định "Lực lượng vũ trang nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa thuộc về nhân dân". Điều 42 quy định "Chủ tịch Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là người chỉ huy lực lượng vũ trang toàn quốc, kiêm nhiệm Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng". Điều 49 khoản 14 quy định, Quốc vụ viện "xây dựng lãnh đạo lực lượng vũ trang".
Ngày 28 tháng 9 năm 1954, Ủy ban Quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc được tái lập, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc Mao Trạch Đông đảm nhiệm Chủ tịch, thực tế trong Hiến pháp quy định Chủ tịch nước tới Quốc vụ viện quyền lãnh đạo lực lượng vũ trang. Ngày 17/1/1975, tại phiên họp thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc khóa IV thông qua sửa đổi Hiến pháp, điều 15 quy định "Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc và Dân binh là con em của giai cấp công, nông được Đảng Cộng sản Trung Quốc lãnh đạo, là lực lượng vũ trang các dân tộc nhân dân", "Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc là thống soái lực lượng vũ trang toàn quốc". Ngày 5/3/1978, tại phiên họp thứ nhất Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc khóa V thông qua sửa đổi Hiến pháp, điều 19 quy định "Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Cộng là thống soái lực lượng vũ trang Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa".
Tại Hội nghị toàn thể thứ 3 Ủy ban Trung ương Đảng khóa XI, đưa ra "Phát triển Xã hội Chủ nghĩa Dân chủ, kiện toàn Xã hội Chủ nghĩa pháp chế, cải cách hoàn thiện chế độ lãnh đạo của Đảng và Nhà nước", yêu cầu được đưa ra dẫn tới Hiến pháp phải sửa đổi lại. Sau một thời gian làm việc hiệp thương giữa các Đảng phái, tổ chức và các đoàn thể đồng thời lắng nghe từ các nhân sĩ trí thức, năm 1982, Ủy ban Trung ương Đảng quyết định thành lập Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa lãnh đạo lực lượng vũ trang toàn quốc. Đầu tháng 4/1982, quyết định được ghi vào dự thảo Hiến pháp.
Quyết định thành lập Ủy ban Quân sự Quốc gia gây chấn động mạnh trong nước và quốc tế. Trong lực lượng vũ trang, việc thành lập Ủy ban Quân sự Quốc gia là thay đổi nguyên tắc, đồng thời nghi ngờ sự lãnh đạo toàn diện của Đảng Cộng sản Trung Quốc với lực lượng vũ trang. Để thống nhất lực lượng quân sự và Đảng, Ủy ban Trung ương Đảng quyết định cho Bành Chân thay mặt Ủy ban Trung ương Đảng soạn thảo "Dự thảo sửa đổi Hiến pháp quyết định thành lập Ủy ban Quân sự Trung ương" từng bước tuyên truyền trong quân đội.
Thông báo việc thành lập Quân ủy Trung ương Trung Quốc không làm suy yếu hay bãi bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng trong quân đội, sau khi thành lập Ủy ban Quân sự Trung ương Trung Quốc, Ủy ban Quân sự Trung ương Trung Cộng vẫn là cơ quan lãnh đạo quân sự trực tiếp của Ủy ban Trung ương Đảng, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Trung Cộng sau đó được Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc bầu làm Chủ tịch Quân ủy Trung ương Quốc gia, Quân ủy Trung ương Trung Cộng và Quân ủy Trung ương Quốc gia thực tế là "một cơ quan hai tên gọi", việc lãnh đạo và chỉ huy quân đội dễ dàng hơn. Thông báo cũng cho biết rằng các quy định sửa đổi Hiến pháp của Quân ủy Trung ương Quốc gia là cơ quan lãnh đạo lực lượng vũ trang toàn quốc, Chủ tịch phụ trách điều hành, cho rằng Chủ tịch Quân ủy Trung ương Quốc gia là người đứng đầu lực lượng vũ trang toàn quốc chứ không phải là Chủ tịch nước, Chủ tịch nước là nguyên thủ quốc gia không phụ trách nhiệm vụ cụ thể. Dự thảo sửa đổi Hiến pháp quy định Quốc vụ viện lãnh đạo và quản lý xây dựng sự nghiệp Quốc phòng, Quốc vụ viện thiết lập Bộ Quốc phòng, Bộ Quốc phòng hoạt động dưới chỉ đạo trực tiếp từ Quân ủy Trung ương Trung Cộng.
Sau 4 tháng thảo luận, Ủy ban Tu chính Hiến pháp sau khi thảo luận giữa giới quân sự và lãnh đạo quyết định nhiệm kỳ của Ủy ban Quân sự Trung ương Quốc gia trùng với nhiệm kỳ của Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, Chủ tịch Quân ủy Trung ương không hạn chế nhiệm kỳ, Chủ tịch Quân ủy Trung ương Quốc gia chịu trách nhiệm báo cáo công tác hoạt động trước Ủy ban Thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc.
Ngày 4/12/1982, tại phiên họp thứ 5 Nhân Đại khóa V thông qua Hiến pháp mới trong đó Quân ủy Trung ương Quốc gia đã được quy định tại chương IV "Quân ủy Trung ương"
== Lãnh đạo qua các thời kỳ ==
== Cơ cấu nhân sự ==
Điều 93 Hiến pháp Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quy định "Quân uỷ Trung ương gồm các thành viên sau: Chủ tịch; Một số Phó Chủ tịch; Một số uỷ viên."
Theo đề cử của Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc phê chuẩn các thành viên khác của Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trong thời gian giữa hai kỳ của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc, Uỷ ban Thường trực của Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc căn cứ vào đề nghị của Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa để phê chuẩn các ứng cử viên vào thành phần của Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa chịu trách nhiệm trước Đại hội đại biểu nhân dân cũng như Uỷ ban thường vụ Quốc hội Trung Quốc.
Thành phần của Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa gồm: Chủ tịch, một số Phó Chủ tịch và các thành viên. Chủ tịch, các Phó Chủ tịch và các thành viên của Hội đồng có thể được bầu lại trong nhiệm kỳ tiếp theo. Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không chịu bất kỳ sự kiểm duyệt nào có thể hạn chế quyền được bổ nhiệm vào cương vị Chủ tịch trong các kỳ tiếp theo. Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có nhiệm kỳ mỗi khóa 5 năm, nhưng không hạn chế về số khóa và chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Vì Đảng Cộng sản Trung Quốc nắm vai trò lãnh đạo tuyệt đối đối với các lực lượng vũ trang Trung Quốc, nên tất cả các thành viên của Quân ủy Trung ương Trung Quốc cũng đồng thời là thành viên của Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Do đó, trên thực tế, hai cơ quan này là một.
== Quyền hạn ==
Ủy ban Quân sự Trung ương Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa có quyền hạn sau:
Lãnh đạo lực lượng vũ trang toàn quốc
Xác định chiến lược quân sự và chính sách hoạt động của các lực lượng vũ trang;
Lãnh đạo và quản lý Quân đội Giải phòng Nhân dân xây dựng, quy hoạch phát triển, kế hoạch và tổ chức thực hiện;
Đề xuất dự thảo với Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc, hoặc Ủy ban Thường vụ Nhân Đại;
Quyền hạn khác theo quy định.
== Tham khảo == |
liên đoàn bóng đá úc.txt | Liên đoàn bóng đá Úc (FFA) là tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động bóng đá ở Úc. FFA quản lý đội tuyển bóng đá quốc gia Úc, tổ chức các giải bóng đá như giải vô địch bóng đá Úc, cúp bóng đá Úc,.... FFA là thành viên của cả Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA), Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC) và Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á (AFF).
Chủ tịch của Liên đoàn bóng đá Úc hiện nay là ông Frank Lowy.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Liên đoàn bóng đá Úc
Liên đoàn bóng đá Úc trên trang chủ của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA)
Liên đoàn bóng đá Úc trên trang chủ của AFC |
vân nam.txt | Vân Nam (giản thể: 云南; phồn thể: 雲南; bính âm: Yúnnán) là một tỉnh ở phía tây nam của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, giáp biên giới với Việt Nam. Vân Nam có dân số 44.150.000 người, diện tích 394.100 km². Thủ phủ của tỉnh này là thành phố Côn Minh. Vân Nam là nơi bắt nguồn của sông Hồng và sông Đà, sông Mê Kông cũng chảy qua Vân Nam.
== Biểu tượng ==
Trà Điền Sơn (Camellia reticulata), một loài cây trà có nguồn gốc từ tỉnh Vân Nam, là biểu tượng của tỉnh này.
== Lịch sử ==
"Người Nguyên Mưu" (元谋人), hóa thạch của người đứng thẳng (Homo erectus) được những người xây dựng đường sắt khai quật trong thập niên 1960, đã được xác định là hóa thạch người cổ nhất đã biết đến ở Trung Quốc. Vào thời kỳ đồ đá mới, ở đây đã có sự định cư của con người trong khu vực hồ Điền Trì (滇池). Những người nguyên thủy này sử dụng các công cụ bằng đá và đã xây dựng được các công trình đơn giản bằng gỗ.
Vào khoảng thế kỷ 3 TCN, khu vực trung tâm của Vân Nam, xung quanh Côn Minh ngày nay đã được biết đến như là Điền. Năm 279 TCN một viên tướng nước Sở là Trang Giao hay Trang Kiệu (庄跤/庄峤) đã từ thượng nguồn sông Dương Tử tiến vào khu vực này, lập ra nước Điền và tự xưng là "vua nước Điền". Ông và những người kế nghiệp ông đã mang tới Vân Nam ảnh hưởng của người Hán, sự khởi đầu của một lịch sử lâu đời các cuộc di cư và sự mở rộng ảnh hưởng văn hóa.
Năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc và mở rộng quyền lực của mình xuống phía nam. Các châu và huyện đã được thiết lập tại đông bắc Vân Nam. Đường giao thông đang có tại Tứ Xuyên đã được mở rộng về phía nam tới gần Khúc Tĩnh (曲靖) ngày nay, ở miền đông Vân Nam - được gọi là "Ngũ xích đạo" (đường 5 thước). Năm 109 TCN, Hán Vũ Đế phái Vương Thiên Vũ đến đất Điền tuyên truyền sức mạnh của quân Hán nhưng Điền Vương ỷ có mấy vạn binh sĩ lại có những bộ tộc cùng họ ở phía đông bắc là Lao Thâm, Mạc My ủng hộ nên không chịu quy phục. Năm 109 TCN, Vũ Đế điều động quân Ba Thục tấn công tiêu diệt Lao Thâm, Mạc My xua quân tiến sát đất Điền. Điền Vương xin đầu hàng, nhà Hán giao quyền cho tướng Quách Xương đặt quận Ích Châu với 24 huyện trực thuộc. Nơi đặt trụ sở của quận này là huyện Điền Trì (ngày nay là Tấn Ninh). Về sau lại hàng phục được Côn Minh sáp nhập vùng này vào quận Ích Châu.
Một huyện khác được gọi là "Vân Nam", có lẽ là lần sử dụng đầu tiên của tên gọi này. Để mở rộng quan hệ thương mại mới hình thành với Miến Điện và Ấn Độ, Hán Vũ Đế còn giao cho Đường Mông (唐蒙) nhiệm vụ bảo trì và mở rộng Ngũ xích đạo, đổi tên nó thành "Tây Nam Di đạo" (西南夷道). Vào thời gian đó, kỹ thuật canh tác trong nông nghiệp ở Vân Nam đã được cải thiện rõ rệt. Người dân địa phương sử dụng các công cụ và cày bừa bằng đồng thau cũng như chăn thả nhiều loại gia súc, như trâu, bò, ngựa, cừu, dê, lợn và chó.
Các nhà nhân loại học đã xác định là những người này có quan hệ họ hàng gần với những người mà ngày nay gọi là người Thái. Họ sinh sống theo bộ tộc, đôi khi được những người Hán bị lưu đày đứng đầu.
Trong thời kỳ Tam Quốc, lãnh thổ của Vân Nam ngày nay, Kiềm Tây (黔西) và miền Nam Tứ Xuyên được gọi chung là "Nam Trung" (南中). Sự tan rã của quyền lực trung ương tại Trung Quốc đã làm gia tăng tính tự trị của Vân Nam cũng như tăng thêm quyền lực cho các bộ tộc địa phương. Năm 225, một chính trị gia nổi tiểng là Gia Cát Lượng (诸葛亮) đã dẫn quân đến Vân Nam để dẹp yên các bộ tộc này.
Vào thế kỷ 4, miền Bắc Trung Quốc chủ yếu bị những bộ tộc từ Trung Á tràn sang. Vào thập niên 320, thị tộc Thoán (爨) đã di cư tới Vân Nam. Thoán Sâm (爨琛) tự xưng làm vua và duy trì quyền lực tại Điền Trì (khi đó gọi là Côn Xuyên 昆川). Từ đó trở đi, thị tộc này đã cai quản Vân Nam trên 400 năm. Năm 738, Bì La Các (皮罗阁), thủ lĩnh bộ lạc Mông Xá, đã thành lập Vương quốc Nam Chiếu (南诏) tại Vân Nam với kinh đô tại thành Thái Hòa (nay là Đại Lý) lập ra năm 739. Ông được nhà Đường công nhận là "Vân Nam Vương". Từ Đại Lý, mười ba đời vua Nam Chiếu đã cai trị trên 2 thế kỷ và đóng một vai trò quan trọng trong mối quan hệ luôn biến đổi giữa Trung Quốc và Tây Tạng. Năm 902, quyền thần của Nam Chiếu là Trịnh Mãi chiếm đoạt quyền hành, đổi tên nước thành Đại Trường Hòa. Năm 929, Triệu Thiện Chính diệt Đại Trường Hòa, lập ra nước Đại Thiên Hưng. Năm 930, Tiết độ sứ Đông Xuyên là Dương Càn Hưng diệt Đại Thiên Hưng, đổi tên nước thành Đại Nghĩa Ninh. Năm 937, thủ lĩnh tộc Bạch là Đoàn Tư Bình (段思平) đã diệt Đại Nghĩa Ninh và thành lập Vương quốc Đại Lý, đóng đô tại Đại Lý. Vương quốc này khi đó bao gồm lãnh thổ ngày nay thuộc các tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Tây Nam Tứ Xuyên, Bắc Miến Điện, Bắc Lào và một số khu vực tại Tây Bắc Việt Nam.
Năm 1253, Vương quốc Đại Lý bị người Mông Cổ và quân đội của Đại hãn Mông Kha tấn công. Năm 1276, Hốt Tất Liệt cho thành lập tỉnh Vân Nam. Vân Nam đã thành tỉnh đầu tiên trong các tỉnh miền Nam Trung Hoa nằm dưới sự kỉểm soát của Mông Cổ, và nó cũng là tỉnh cuối cùng tại Trung Hoa mà người Mông Cổ nắm giữ, ngay cả sau khi họ đã mất Bắc Kinh và bị đuổi ra khỏi các tỉnh miền Bắc. Tổng cộng họ đã chiếm giữ Vân Nam trong 130 năm. Phải chờ mãi 15 năm sau khi kẻ sáng lập triều đại nhà Minh được thừa nhận là nhà lãnh đạo toàn thể Đế quốc Trung Hoa, ông ta mới phái các đội quân của ông đến trục xuất người Mông Cổ ra khỏi bàn đạp sau cùng của họ, tức là Vân Nam.
Năm 1381, Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương phái các tướng là Phó Hữu Đức và Mộc Anh đem quân chiếm Vân Nam, diệt Lương Vương của triều Nguyên. Dấu ấn nhà Minh trên Vân Nam đã lưu tồn và còn được nhận thấy. Các ngôi chùa và tượng đài thuộc niên đại nhà Minh có rất nhiều; các chiếc câu treo bằng xích sát đặc sắc bắc ngang sông Cửu Long và sông Salween, cũng như nhiều con sông nhỏ hơn ở miền Tây Vân Nam chứng thực cho sinh khí của chế độ mới và sự quan tâm của nó vào việc cải tiến các sự giao thông. Nhiều thành phố của Vân Nam mắc nợ hình thức hiện đại của chúng nơi các nhà xây dựng thời Minh, và nhiều thành phố phản ảnh, nơi các bức tường thành thẳng đứng bao quanh và các đường phố cắt nhau, mẫu họa đồ thiết kế thành phố chung của miền Bắc Trung Hoa, các bản sao chép thu nhỏ của Bắc Kinh.
Cuối thời nhà Minh, Hoàng đế Nam Minh (Quế Vương) là Chu Do Lang (niên hiệu Vĩnh Lịch, 1646-1662) đã chạy tới Vân Nam. Năm 1659, nhà Thanh sai Bình Tây Vương Ngô Tam Quế tấn công Vân Nam. Năm 1662, Ngô Tam Quế tấn công sang Miến Điện, bắt được Vĩnh Lịch bắt treo cổ chết. Người Mãn Châu tưởng thưởng họ Ngô bằng việc cử ông làm Tổng đốc cả về mặt dân sự lẫn quân sự hai tỉnh Vân Nam và Quý Châu với tước vương. Ảnh hưởng của ông rất mạnh tại các tỉnh lân cận vừa mới bình định xong là Hồ Nam và Tứ Xuyên, và còn vang xa đến tận vùng đông bắc như các tỉnh Thiểm Tây và Cam Túc. Tại tất cả các khu vực này, Ngô Tam Quế đã bổ nhiệm các quan chức, hay phải được tham khảo trước khi có sự bổ nhiệm bất kỳ người nào. Ông ta gần như một ông hoàng độc lập. Sau mười năm của quan hệ phiền hà này, song hành cùng với hai ông Phiên vương Trung Hoa được gọi là "phong kiến" khác (gồm Ngô Tam Quế là Bình Tây Vương, và hai kẻ khác là Bình Nam Vương và Tĩnh Nam Vương. Sau khi Ngô Tam Quế từ trần, hai phiên vương này đều bị nhà Mãn Thanh loại trừ), cũng là các tướng lĩnh nhà Minh như họ Ngô, tại các phần đất khác ở miền Nam Trung Hoa, Triều đình Mãn Châu đã cảm thấy đủ mạnh để thách đố quyền lực của họ và đập tan nó nếu chứng tỏ là ngoan cố. Các danh vọng cao quý được ban cho các ông hoàng Trung Hoa này, nhưng tư thế độc lập của họ bị bãi bỏ. Các ông hoàng khác đã chấp nhận. Ngô Tam Quế bác bỏ lời hứa trung thành này, tuyên bố độc lập và trong năm 1673 tự tuyên xưng là Tổng tư lệnh Vĩ Đại của triều đại nhà Chu. Tuy nhiên nhà Thanh đã đàn áp cuộc nổi loạn này.
Giai đoạn từ 1856 tới 1873, người Hồi nổi dậy dưới sự chỉ huy của Đỗ Văn Tú có nguồn gốc từ Đại Lý, tuyên cáo một cách dứt khoát ý định của ông nhằm thiết lập một vương quốc Hồi giáo. Nước này ông ta gọi là Bình Nam Quốc (P’ing Nan Kuo) (Vương quốc Miền Nam An Bình), và chính ông đảm nhận vương tước Hồi giáo là Quốc vương (Sultan) với danh xưng bằng tiếng Ả Rập là Suleiman. Ông đã mau chóng chinh phục toàn thể miền tây Vân Nam, cho đến khi vương quốc của ông ta tiến sát vào Vương quốc Miến Điện, chẳng bao lâu sau bị ngã gục trước sự chinh phục của người Anh. Nhược điểm của Đỗ Văn Tú và các người ủng hộ ông là họ chỉ tượng trưng cho một quyền lợi cục bộ tại Vân Nam, một miền đất mãi mãi bị phân cắt bởi địa dư và cũng bởi cảm thức về chủng tộc và địa phương. Xem ra đã không có lực tập hợp được dân chúng bản địa cho lý cớ của Quốc vương Hồi giáo; tương tự cũng không có sự chống đối công khai với duyên cớ đó từ các phần tử này. Dân chúng Trung Hoa, nếu không tích cực phản đối, cũng giữ nguyên thái độ thụ động. Sự chống đối thực sự đến từ các đội quân của triều đại Mãn Châu, mặc dù các đội quân này trong thực tế là các lực lượng Trung Hoa nằm dưới sự chỉ huy của người Trung Hoa.
Sầm Dục Anh là một con người khác thường, phát sinh từ một gia đình gốc Trung Hoa định cư từ lâu tại các khu vực thị tộc của tỉnh Quảng Tây, gia đình của ông đã là các lãnh chúa phong kiến địa phương được nhìn nhận của một thị tộc như thế trong nhiều thế kỷ, song họ đã giữ lại văn hóa, ngôn ngữ Trung Hoa và dành đạt được các chức vụ chính thức. Bản thân Sầm Dục Anh chính vì thế là một người dân vùng Tây Nam, chứ không phải kẻ xâm nhập từ miền Bắc như Ngô Tam Quế, và có lẽ sự việc cũng dễ dàng hơn cho ông để tự lập mình thành vị chúa tể của miền Tây Nam ly khai hơn là Đỗ Văn Tú theo Hồi giáo. Đó là một cuộc chiến tranh lâu dài và tác hại, được phóng ra phần lớn trên cao nguyên Vân Nam, giữa Đại Lý và Côn Minh. Ngay từ 1857, Sầm Dục Anh đã tiến quân vào Đại Lý, nhưng bị đẩy lui. Trong cùng năm, quân Hồi giáo bao vây Côn Minh, lập lại mưu toan này trong năm 1861, và sau cùng, dưới sự chỉ huy của Đỗ Văn Tú, đã chiếm đóng thành phố một cách ngắn ngủi trong năm 1863. Nhưng các sự bất đồng và ghen tỵ của phe Hồi giáo, sự đầu hàng của một số thủ lĩnh của họ, và các cuộc tranh chấp bùng nổ giữa các người khác, đã hủy hoại các cơ may để củng cố các thắng lợi của họ. Dần dần, Sầm Dục Anh đã phục hồi và ổn định miền Đông của tỉnh. Cho mãi đến năm 1868, Đỗ Văn Tú vẫn có khả năng bao vây Côn Minh trong một năm trường, nhưng khi cuộc vây hãm đã bị phải bị bãi bỏ trong năm 1869, đó là một khúc rẽ trong cuộc chiến tranh lâu dài. Các cuộc công hãm kéo dài và lập lại nhiều lần vào một thành phố có tường thành bao quanh hẳn phải là một trong số các thí dụ cuối cùng của hình thái chiến tranh cổ xưa trong lịch sử. * Sầm giờ đây được bổ làm Phiên vương Vân Nam và đã giao cho thuộc cấp của ông, Yang Yu-k’o, thực hiện trận đánh cuối cùng. Yang tiến đánh Đại Lý năm 1872 và cưỡng chiếm lối đi qua đèo Hạ Quan nằm ở mỏm phía nam của hồ nước. Sau đó ông đã mở cuộc bao vây chính thành phố và chiếm lấy thành phố sau một cuộc kháng cự dũng mãnh và kéo dài. Ngay sau khi Đỗ Văn Tú chết (kẻ đã cố tự vẫn nhưng đã bị giao nạp bởi các cận vệ của ông trước khi ông có thể làm như thế), người Hồi giáo vẫn kháng cự bên trong lẫn ngoài thành phố trong gần một năm. Hàng nghìn người đã bị giết, nhưng vẫn tiếp tục chiến đấu. Khi công cuộc bình định được hoàn tất, dân số của tỉnh được ước lượng đã giảm từ 8 triệu người xuống khoảng 3 triệu người, mặc dù được nghĩ rằng nhiều người trong số mất tích trong thực tế đã chạy trốn sang các miền hòa bình hơn.
Sau khi thất bại, số lượng người Hồi đã giảm mạnh. Trong thời kỳ này người Anh chiếm đóng Miến Điện còn người Pháp chiếm đóng Việt Nam nên cả hai đều có ảnh hưởng tới Vân Nam.
Năm 1910, người Pháp cho xây dựng đường sắt Điền Việt nối Côn Minh với cảng Hải Phòng, Việt Nam, đoạn trong Vân Nam gọi là Côn Hà thiết lộ (đường sắt Côn Hà), đến năm 1936 hoàn thành việc nối Vân Nam đến Sài Gòn. Đây cũng là tuyến đường sắt vận tải kinh tế nhất khu vực châu Á, thúc đẩy kinh tế mậu dịch ngoại thương Vân Nam tăng trưởng với tốc độ cao. Là tuyến đường sắt quốc tế đầu tiên của Trung Quốc, đường sắt Điền Việt đã làm cho Vân Nam từ thân phận 1 tỉnh biên giới khép kín nhất của Trung Quốc bước một bước dài tiến chuyển liên hệ trực tiếp với thế giới bên ngoài.
Mậu dịch đối ngoại của Vân Nam trước 1908 ngạch xuất khẩu bình quân hàng năm là khoảng 1200 vạn quan lượng. Đến năm 1912 đạt đến 2200 vạn quan lượng. Đến 1927, đạt đến mức độ 3000 vạn quan lượng. Đến niên đại 40 thế kỷ 20 thì 2/3 vật tư xuất nhập khẩu Vân Nam đều được xuất nhập khẩu ở đây.
Ngày 30 tháng 10 năm 1911, nhân dịp tết Trùng dương, Thái Ngạc và Đường Kế Nghiêu nổi dậy thoát ly khỏi nhà Thanh. Ngày 25 tháng 12 năm 1915, hai ông này phát động phong trào phản đối Viên Thế Khải, Vân Nam trở thành tiền duyên cách mạng dân chủ cận đại. Trong thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc, tại Vân Nam hình thành một cục diện cát cứ, từ 1928 tới 1945 do Đường Kế Nghiêu và Long Vân thống lĩnh. Năm 1925, sau khi Tôn Trung Sơn mất, Đường Kế Nghiêu tranh quyền lãnh đạo với Quyền Đại nguyên soái Hồ Hán Dân, năm 1927, tướng Long Vân lên thay nắm quyền cai trị Vân Nam hơn 20 năm cho đến khi Chính phủ Trung ương Quốc dân đảng bổ nhiệm tướng Đỗ Duật Minh thay thế vào năm 1945. Tháng 7 năm 1937 nổ ra cuộc chiến chống Nhật, Long Vân hưởng ứng lời kêu gọi của Đảng CS TQ cùng đứng về một chiến tuyến cùng đấu tranh chống Nhật. Năm 1940, quân Nhật chiếm Việt Nam, biên giới Việt Nam và Vân Nam khá căng thẳng. Vân Nam ở giáp Miến Điện, là nơi tiếp nhận hàng viện trợ của Mỹ qua đường Miến Điện để vào Trung Quốc. Năm 1942, trên 10 vạn quân Trung Quốc từ đây tấn công sang Miến Điện, phối hợp cùng quân Anh chống lại quân đội Nhật Bản. Giai đoạn từ 1938 tới 1946, các trường đại học như Đại học Bắc Kinh, Đại học Thanh Hoa, Đại học Nam Khai đã hợp nhất tại Côn Minh để lập ra Đại học Quốc gia Liên hợp Tây Nam.
Năm 1945, tướng Đỗ Duật Minh thay thế Long Vân trong thời gian ngắn, sau đó em họ của Long Vân là Lư Hán lên nắm quyền. Sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, Quân đội Quốc dân đảng do Lư Hán Tư lệnh quân Vân Nam điều động 4 quân đoàn gồm 18 vạn quân từ Vân Nam và Quảng Tây kéo vào miền Bắc Việt Nam giải giáp Quân đội Nhật. Tháng 5 năm 1946 Lư Hán đưa quân quay về Vân Nam và đảm nhiệm các chức: Chủ tịch tỉnh Vân Nam, Tư lệnh An Ninh tỉnh kiêm Hiệu trưởng Học viện quân sự Xương Nghi. Tháng 7 năm 1948, Lư Hán hạ lệnh trấn áp học sinh Côn Minh tạo ra sự kiện thảm sát 15 tháng 7. Năm 1949, Lư Hán còn tạo ra vết nhơ trọng vụ thảm sát 21 người vô tội trên đường phố Nam Bình.
Sau đó Lư Hán và Long Vân dưới sự chỉ đạo của TW ĐCS TQ và Ủy ban Công hội tỉnh Vân Nam và dưới sự chi viên của Quân giải phóng Nhân dân, cùng đấu tranh ở vùng biên giới giữa Vân Nam và Quý Châu. Và đến ngày 9.12.1949 đã nổ ra Khởi nghĩa Côn Minh, tỉnh Vân Nam tuyên bố giải phóng trong hòa bình.
Năm 1894, George Ernest Morrison, một phóng viên Úc làm việc cho The Times, đã du hành từ Bắc Kinh tới Miến Điện, khi đó bị người Anh chiếm đóng, thông qua Vân Nam. Cuốn sách của ông An Australian in China (Người Úc tại Trung Quốc) đã miêu tả chi tiết những thử thách ông đã trải qua.
Từ năm 1916 đến năm 1917, Roy Chapman Andrews và Yvette Borup Andrews đã dẫn đầu đoàn thám hiểm động vật châu Á thuộc Viện Bảo tàng Tự nhiên Hoa Kỳ đi suốt phần lớn khu vực miền tây và miền nam Vân Nam, cũng như các tỉnh khác của Trung Quốc. Cuốn sách Camps and Trails in China đã ghi chép lại những thử thách của họ.
Ngày 10 tháng 3 năm 2011, một trận động đất 5,4 độ xảy ra tại Vân Nam, gây thiệt hại nghiêm trọng hơn 18.000 ngôi nhà và chung cư.
== Địa lý ==
Vân Nam là tỉnh cực tây nam của Trung Quốc, với đường Bắc chí tuyến chạy ngang qua phần phía nam của tỉnh. Tỉnh này có diện tích khoảng 394.000 km², chiếm 4,1% tổng diện tích Trung Quốc. Tỉnh này có ranh giới với Khu tự trị người Choang Quảng Tây và tỉnh Quý Châu ở phía đông, tỉnh Tứ Xuyên ở phía bắc, Khu tự trị Tây Tạng ở phía tây bắc. Tỉnh này cũng có biên giới dài 4.060 km với Myanma ở phía tây, Lào ở phía nam, Việt Nam ở phía đông nam.
Xem thêm: Đá phiến sét Mạo Thiên Sơn
=== Ranh giới-Biên giới ===
Các tỉnh, khu tự trị có ranh giới là Khu tụ trị Tây Tạng, Tứ Xuyên, Quý Châu và Quảng Tây. Các quốc gia có biên giới với tỉnh này là Việt Nam (các tỉnh Việt Nam tiếp giáp gồm Điện Biên, Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang; các đơn vị hành chính của Vân Nam tiếp giáp với Việt Nam gồm châu Hồng Hà, Văn Sơn, địa cấp thị Phổ Nhị; cửa khẩu chính qua biên giới theo đường bộ và đường sắt là tại Hà Khẩu - Lào Cai), Lào (tại Boten) và Myanma (với cửa khẩu biên giới chính tại Thụy Lệ, đây cũng là của khẩu biên giới bộ duy nhất được phép đi lại đối với những người không có quốc tịch Trung Quốc hay Myanma).
=== Cao độ ===
Điểm cao nhất ở phía bắc là đỉnh Kawagebo tại huyện Đức Khâm trên cao nguyên Địch Khánh, nó cao khoảng 6.740 m; và điểm thấp nhất là thung lũng Hồng Hà tại huyện Hà Khẩu, với cao độ 76,4 m.
=== Sông ngòi ===
Tỉnh này được 6 hệ thống sông lớn chính tưới tiêu:
Dương Tử (长江; Trường Giang), tại đây được biết dưới tên gọi Kim Sa Giang (sông cát vàng), tưới tiêu cho phần phía bắc của tỉnh.
Châu Giang, với thượng nguồn của nó gần Khúc Tĩnh, tưới tiêu cho khu vực miền đông.
Mê Kông (澜沧江; Sông Lan Thương), chảy từ Tây Tạng tới miền nam Việt Nam đổ ra biển Đông, tạo thành biên giới tự nhiên giữa Lào và Myanma, giữa Lào và Thái Lan, qua Campuchia để tới Việt Nam.
Sông Hồng (红河/元江; Hồng Hà/Nguyên Giang) có thượng nguồn tại các dãy núi ở phía nam Đại Lý và đổ ra biển Đông sau khi chảy sang Hà Nội, Việt Nam.
Nộ Giang/Salween (怒江; Nù jiāng), chảy ra vịnh Martaban và biển Andaman sau khi chảy qua Myanma.
Sông Irrawaddy có vài sông nhánh nhỏ ở miền tây Vân Nam, cũng như sông Độc Long và các sông trong châu tự trị Đức Hoành.
== Các nguồn lực tự nhiên ==
Vân Nam giàu các nguồn lực tự nhiên. Tỉnh này được biết đến như là vương quốc của thực vật, động vật và các kim loại màu cũng như các loài cây thuốc.
Tỉnh này không những có các loài thực vật nhiệt đới, cận nhiệt đới, ôn đới, hàn đới nhiều hơn so với các tỉnh khác tại Trung Quốc, mà còn có nhiều loài thực vật cổ, cũng như các loài được đưa từ nước ngoài vào. Trong số khoảng 30.000 loài thực vật tại Trung Quốc thì có thể tìm thấy khoảng 18.000 loài tại Vân Nam. Vân Nam cũng là nơi có nhiều loài động vật quý hiếm trên thế giới sinh sống, nổi bật nhất là hổ, voi và bò tót khổng lồ.
Trên 150 loại khoáng sản đã được phát hiện tại Vân Nam. Giá trị tiềm năng của các loại khoảng sản này tại Vân Nam vào khoảng 3 nghìn tỷ nhân dân tệ (khoảng 350 tỷ USD), 40% trong số đó là từ các loại khoảng sản cung cấp nhiên liệu, 7,3% từ khoáng sản kim loại và 52,7% từ các khoáng sản phi-kim loại.
Vân Nam đã được xác nhận là có trầm tích của 86 loại khoáng sản tại 2.700 khu vực. Khoảng 13% trong số các loại khoáng sản trầm tích này có trữ lượng lớn nhất trong số các mỏ khoáng sản tại Trung Quốc, và 2/3 các trầm tích có trữ lượng lớn nhất tại lưu vực sông Dương Tử và miền nam Trung Quốc. Vân Nam đứng đầu Trung Quốc về các loại khoáng sản chứa kẽm, chì, thiếc, cadmi, indi, tali và crocidolit.
Vân Nam có nhiều mưa và sông hồ. Tổng lưu lượng nước hàng năm chảy trong tỉnh này là khoảng 200 km³, ba lần lớn hơn lưu lượng của sông Hoàng Hà. Các sông chảy vào tỉnh này bổ sung thêm 160 km³, có nghĩa là có trên 10.000 m³ khối nước cho mỗi người dân trong tỉnh trong một năm. Con số này cao gấp 4 lần so với trung bình toàn Trung Quốc. Lượng nước lớn này tạo điều kiện cho việc phát triển thủy điện.
Vân Nam còn hấp dẫn với nhiều địa điểm du lịch, bao gồm nhiều vùng phong cảnh đẹp, các tập quán dân tộc đa dạng và một khí hậu dễ chịu.
== Các đơn vị hành chính ==
Vân Nam được chia thành 16 đơn vị hành chính cấp địa khu, gồm 8 thành phố (địa cấp thị) và 8 châu tự trị:
Tổng cộng có 129 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 9 thị xã, 79 huyện, 29 huyện tự trị và 12 quận.
== Dân cư ==
Tổng dân số: 43,33 triệu (năm 2002)
Tỷ lệ tăng dân số: 1,06%
Tuổi thọ (trung bình): 65,1 năm (nam) và 67,7 năm (nữ) (dữ liệu năm 1995)
=== Dân tộc ===
Vân Nam đáng chú ý vì sự đa dạng sắc tộc cao. Tỉnh này có nhiều dân tộc hơn tất cả các tỉnh và khu tự trị khác của Trung Quốc. Trong số 56 dân tộc được công nhận tại Trung Quốc, người ta thấy tại Vân Nam là 25. Khoảng 38,07% dân số trong tỉnh này là các nhóm sắc tộc thiểu số như người Di, Bạch, Cáp Nê (Hà Nhì), Tráng (Choang), Thái, Miêu (H'Mông), Lật Túc, Hồi, Lạp Hỗ (La Hủ), Ngõa (Va), Nạp Tây, Dao, Tạng, Cảnh Pha, Bố Lãng, Phổ Mễ, Nộ, A Xương, Cơ Nặc, Mông Cổ, Độc Long, Mãn, Thủy và Bố Y. Một vài dân tộc khác cũng có đại diện, nhưng hoặc là họ không sống trong các khu dân cư đông đúc hoặc số lượng không đạt tới ngưỡng quy định là 5.000 người để có thể được công nhận có địa vị một cách chính thức là tồn tại trong tỉnh. Một số nhóm sắc tộc, chẳng hạn người Ma Toa, đã được công nhận chính thức như là một phần của người Nạp Tây, trong quá khứ đã từng yêu cầu có địa vị chính thức như là một dân tộc thiểu số, và hiện nay được công nhận là dân tộc Ma Toa.
Các nhóm sắc tộc phân bổ rộng khắp trong tỉnh. Khoảng 25 các dân tộc thiểu số sống trong các khu dân cư đông đúc, mỗi cộng đồng có số dân trên 5.000 người. Mười dân tộc thiểu số sống tại khu vực biên giới và thung lũng các sông, bao gồm người Hồi, Mãn (người Mãn, dấu vết còn lại của thời kỳ chính quyền nhà Thanh, không sống trong các khu dân cư đông đúc và trong nhiều khía cạnh thì không khác gì người Hán), Bạch, Nạp Tây, Mông Cổ, Tráng, Thái, A Xương, Bố Y và Thủy, với tổng dân số khoảng 4,5 triệu; những người sống trong các khu vực núi thấp là người Hà Nhì, Dao, Lạp Hỗ (La Hủ), Va, Cảnh Pha, Bố Lãng và Cơ Nặc, với tổng dân số khoảng 5 triệu; còn những người sống trong các khu vực núi cao là người Miêu, Lật Túc, Tạng, Phổ Mễ và Độc Long, với tổng dân số khoảng 4 triệu.
Câu truyện thường được nhắc lại kể về chuyện ba anh em khi sinh ra đã nói các thứ tiếng khác nhau: Tạng, Nạp Tây và Bạch. Mỗi người sống trong các khu vực khác nhau của Vân Nam và Tây Tạng, tương ứng với các vùng cao, vùng trung và vùng thấp.
=== Ngôn ngữ ===
Các phương ngữ chủ yếu trong tiếng Trung được nói tại Vân Nam thuộc về nhánh tây nam của nhóm Quan Thoại, và vì thế là tương tự như các phương ngữ láng giềng ở các tỉnh Tứ Xuyên và Quý Châu. Các đặc trưng đáng chú ý trong nhiều phương ngữ Vân Nam là việc mất đi một phần hay toàn bộ khác biệt giữa /n/ và /ŋ/, cũng như không có /y/.
Thứ đa dạng sắc tộc của Vân Nam được phản ánh trong thứ đa dạng ngôn ngữ của nó. Các thứ tiếng được nói tại Vân Nam bao gồm nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến chẳng hạn như Bạch, Di, Tạng, Hà Nhì, Cảnh Pha, Lisu, Lạp Hỗ, Nạp Tây; Thái hay Tráng, Bố Y, Đồng, Thủy, Thái Lự và Thái Nüa cũng như nhóm ngôn ngữ Mông-Miến.
Cụ thể là tiếng Nạp Tây sử dụng hệ thống chữ viết Đông Ba, là hệ thống chữ viết dùng biểu tượng duy nhất hiện nay trên thế giới. Chữ Đông Ba đã được các thầy cúng Đông Ba sử dụng là chủ yếu với các chỉ dẫn về nghi thức hành lễ của họ. Ngày nay chữ Đông Ba chủ yếu là để đáp ứng sự tò mò của khách du lịch. Học giả nổi tiếng nhất về văn hóa Đông Ba có lẽ là Joseph Rock.
=== Giáo dục ===
Vào cuối năm 1998, trong số dân số của tỉnh thì 419.800 người có trình độ từ cao đẳng trở lên, 2,11 triệu người đã tốt nghiệp phổ thông trung học, 8,3 triệu người tốt nghiệp trung học cơ sở, 18,25 triệu người đã tốt nghiệp tiểu học và 8,25 triệu người trên 15 tuổi hoặc là mù chữ hoặc một phần biết đọc, biết viết.
=== Đại học và cao đẳng ===
Đại học Khoa học Công nghệ Côn Minh
Đại học Vân Nam
Đại học Kinh tế Tài chính Vân Nam
Đại học Nông nghiệp Vân Nam
Đại học dân tộc Vân Nam
Đại học Côn Minh
Học viện Lâm nghiệp Tây Nam
Học viện Y học Côn Minh
Học viện Đông y Vân Nam
Học viện Cảnh quan Vân Nam
Đại học Sư phạm Vân Nam
Đại học Hồng Hà
== Kinh tế ==
Vân Nam là một tỉnh tương đối chậm phát triển của Trung Quốc với tỷ lệ dân số lâm vào cảnh nghèo khổ cao hơn các tỉnh khác. Năm 1994, khoảng 7 triệu người sống dưới mức nghèo khổ với thu nhập bình quân hàng năm thấp hơn 300 nhân dân tệ trên đầu người. Họ được phân bổ trong 73 huyện của tỉnh, chủ yếu sống nhờ nguồn hỗ trợ tài chính của chính quyền trung ương. Với số tiền trợ cấp 3,15 tỷ nhân dân tệ (NDT) năm 2002, dân số nông thôn nghèo trong tỉnh đã giảm từ 4,05 triệu năm 2000 xuống 2,86 triệu. Kế hoạch xóa đói giảm nghèo bao gồm 5 dự án lớn với mục tiêu nâng cấp và hoàn thiện cơ sở hạ tầng. Các kế hoạch này bao gồm chương trình cải tạo đất, bảo tồn nước, cung cấp điện năng, đường sá và xây dựng "vành đai xanh". Cho đến khi các dự án này được hoàn thành thì Vân Nam sẽ giải quyết được vấn đề thiếu ngũ cốc, nước, điện, đường sá và cải thiện các điều kiện sinh thái.
Bốn ngành kinh tế cột trụ của Vân Nam là: sản xuất thuốc lá, các chế phẩm sinh học, khai thác mỏ và du lịch. Vân Nam có quan hệ thương mại với trên 70 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Vân Nam cũng thành lập khu thương mại biên giới Muse (nằm tại Thụy Lệ) dọc theo ranh giới của tỉnh này với Myanma [1]. Vân Nam xuất khẩu chủ yếu là thuốc lá, máy móc và thiết bị điện, các sản phẩm hóa học và nông nghjiệp, cũng như các kim loại màu. Năm 2002, kim ngạch thương mại song phương (nhập và xuất khẩu) đạt 2,23 tỷ đô la Mỹ. Năm 2002, tỉnh này đã ký các hợp đồng FDI với số vốn 333 triệu đô la Mỹ, trong đó 112 triệu đô la Mỹ đã được đầu tư trên thực tế trong cùng năm. Tỷ lệ thất nghiệp tại Vân Nam là 4% (năm 2002).
GDP danh định năm 2004 là 295,9 tỷ nhân dân tệ (36,71 tỷ đô la Mỹ), và tốc độ tăng trưởng hàng năm là 8,1%. GDP trên đầu người là 5.630 NDT (680 USD). Tỷ lệ trong GDP của các ngành công nghiệp sơ cấp (nông-lâm-ngư nghiệp và khai khoáng), thứ cấp (sản xuất công nghiệp và xây dựng) và tam cấp (dịch vụ) lần lượt là 21,1%; 42.8%; 36,1%.
== Vận tải ==
=== Đường sắt ===
Vân Nam được nối bằng đường sắt lần đầu tiên không phải là với phần còn lại của Trung Quốc mà là với cảng Hải Phòng bằng đường sắt khổ hẹp (1,1 m) do người Pháp xây dựng và hoàn thành năm 1910. Phải 50 năm sau thì tỉnh này mới được nối với phần còn lại của Trung Quốc bằng đường sắt sau khi tuyến đường sắt Thành Đô-Côn Minh hoàn thành. Sau đó, tuyến đường sắt nối Côn Minh với Quý Dương cũng được đưa vào khai thác. Hai tuyến đường sắt mới được đưa vào sử dụng gần đây: tuyến đường phía nam nối tới Nam Ninh và tuyến đường đông bắc nối tới Tứ Xuyên.
Vào thời điểm 2006, sự kéo dài của tuyến đường sắt hiện nay cũng liên kết Côn Minh với Đại Lý, với đoạn kéo dài tới Lệ Giang cũng gần hoàn thành. Người ta cũng có kế hoạch mở rộng tuyến đường sắt cổ nhất trong tỉnh tới Việt Nam, trong khi một kế hoạch mới và rất nhiều tham vọng để liên kết Đại Lý với Thụy Lệ cũng đã được thông báo trong năm 2006.
=== Đường bộ ===
Việc xây dựng đường bộ tại Vân Nam vẫn tiếp tục không suy giảm: trong những năm qua tỉnh này đã xây dựng được thêm nhiều tuyến đường mới hơn bất kỳ tỉnh nào của Trung Quốc. Hiện nay, tuyến đường cao tốc nối Côn Minh, qua Đại Lý tới Bảo Sơn, Côn Minh tới Mặc Giang (trên đường tới Cảnh Hồng), Côn Minh tới Khúc Tĩnh, Côn Minh tới Thạch Lâm (rừng đá). Kế hoạch chính thức là tới năm 2010 sẽ nối toàn bộ các thành thị chính và thủ phủ của các tỉnh láng giềng bằng đường cao tốc và dự định hoàn thành hệ thống đường cao tốc vào năm 2020.
Tất cả các thị trấn hiện nay đều có thể tới được bằng các tuyến đường có bề mặt cứng trong mọi thời tiết, từ Côn Minh, tất cả các thị tứ đều có đường liên kết (thị tứ cuối cùng được nối vào là Dương Lạp, ở xa về phía bắc của tỉnh, nhưng Độc Long Giang vẫn bị cô lập trong vòng khoảng 6 tháng mỗi năm), và khoảng một nửa các làng quê có đường đi tới.
Tổng độ dài của đường quốc lộ cấp II là 958 km, cấp III là 7.571 km và cấp IV là 52.248 km. Tỉnh này cũng đã thành lập một mạng lưới liên lạc viễn thông từ Côn Minh tỏa ra tới Tứ Xuyên, Quý Châu, Quảng Tây, Tây Tạng, cũng như xa hơn sang tới tận Myanma, Lào, Việt Nam và Thái Lan.
=== Đường thủy ===
Nói chung, các sông là trở ngại đối với giao thông vận tải của Vân Nam. Chỉ một phần rất nhỏ trong hệ thống sông ngòi ở Vân Nam là có thể phục vụ cho giao thông đường thủy.
Năm 1995, tỉnh này đã đầu tư 171 triệu NDT để bổ sung thêm 807 km đường giao thông thủy mới. Người ta đã xây dựng 2 cầu tàu với năng lực xếp dỡ mỗi năm đạt 300.000-400.000 tấn/cầu tàu và 4 cầu tàu với năng lực xếp dỡ 100.000 tấn/cầu tàu. Khối lượng xếp dỡ hàng hóa mỗi năm khoảng 2 triệu tấn và luân chuyển hành khách khoảng 2 triệu người.
=== Sân bay ===
Tỉnh này có 20 tuyến đường bay từ Côn Minh tới Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thành Đô, Hải Khẩu, Trùng Khánh, Thẩm Dương, Cáp Nhĩ Tân, Vũ Hán, Tây An, Lan Châu, Hàng Châu, Hạ Môn, Nam Ninh, Thâm Quyến, Quý Dương, Trường Sa, Quế Lâm, Lhasa và Hồng Kông; tám tuyến đường bay nội tỉnh từ Côn Minh tới Cảnh Hồng, Mông Tự, Lệ Giang, Đại Lý, Hương Cách Lý Nạp (Shangri-la hay Trung Điện), Chiêu Thông, Bảo Sơn và Tư Mao; cũng như 8 đường bay quốc tế từ Côn Minh tới Bangkok, Chiang mai, Yangon, Singapore, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Kuala Lumpur và Viêng Chăn.
Sân bay quốc tế Vu Gia Bá ở Côn Minh là sân bay hạng nhất cấp quốc gia còng các sân bay khác là các nhà ga hạng hai. Một sân bay mới cho Côn Minh, được xây ở phía đông thành phố, tại Đại Bản Kiều đã bắt đầu năm 2006, nhưng chỉ hoàn thành theo dự kiến vào năm 2015.
== Dân cư ==
Vân Nam được biết đến như là tỉnh có số lượng sắc tộc lớn nhất tại Trung Quốc, và hiện nay người ta đã và đang tích cực trong công việc bảo tồn văn hóa, các di sản cùng ngôn ngữ của các dân tộc này:
A Xương (Đức Hoành)
Bạch (Đại Lý)
Bố Lãng
Cảnh Pha
Cơ Nặc
Cáp Nê (hoặc Akha)
Dao
Di
Hán (chủ yếu)
Hồi (người Uyghur theo Hồi giáo)
Lisu (傈僳)
Ma Toa (Lệ Giang)
Miêu (hay H'mong)
Nạp Tây
Ngật Lão
Phổ Mễ (Lệ Giang)
Tạng (hoặc Kham
người Thái
người Tráng(hoặc Bố Y)
Va (Lâm Thương)
Tất cả các dân tộc ít người này được phân loại theo phân loại chính thức của nhà nước CHND Trung Hoa, tuy nhiên, trong mỗi nhóm sắc tộc lại tồn tại các phân nhóm hoàn toàn khác biệt về tập quán, ngôn ngữ khi so sánh với các phân nhóm khác trong cùng nhóm.
== Văn hóa ==
Xem thêm: Ẩm thực Vân Nam.
Một trong những sản phẩm nổi tiếng của Vân Nam là Phổ Nhị trà, được đặt tên theo thị trấn kinh doanh chè thời cổ là Phổ Nhị, cũng như trà kim vàng Vân Nam.
== Du lịch ==
Các trung tâm du lịch tại Vân Nam bao gồm:
Đại Lý, trung tâm lịch sử của các vương quốc Nam Chiếu và Đại Lý.
Cảnh Hồng, trung tâm và thủ phủ châu tự trị Tây Song Bản Nạp của người Thái Vân Nam.
Lệ Giang, một thành phố của người thiểu số Nạp Tây. Nó đã được UNESCO công nhận là di sản thế giới từ năm 1997.
Shangri-La (trước đây gọi là Trung Điện), một thị trấn của dân tộc thiểu số là người Tạng, nằm ở vùng núi cao tây bắc Vân Nam.
Thạch Lâm, một loạt các carxtơ lộ thiên ở phía đông Côn Minh.
Nguyên Dương, một khu định cư của người Hà Nhì với các ruộng bậc thang rộng lớn.
Thành phố Côn Minh
Vườn du lịch Côn Minh
Hồ Điền
Làng dân tộc Vân Nam
Cửu Hương
Khu thắng cảnh Phổ Giả Hắc
A lư cổ động
Khu du lịch Tây Sơn
Hoa đình tự
Tam Thanh Các - Long Môn
Kim điện
Đại Quan lầu
Viên thông sơn
Viên thông tư
Núi tuyết Ngọc Long
Khu thắng cảnh Đại Danh
Núi lửa Đằng Xung
Vực Hổ Khiêu
Núi tuyết Mai Lý
Thành cổ Đại Lý
Núi Thương
Hồ Nhĩ Hải
== Thể thao ==
Các đội thể thao chuyên nghiệp tại Vân Nam có:
Hiệp hội Bóng rổ Trung Quốc
Vân Nam Hồng Hà bôn ngưu (云南红河奔牛)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang Web của chính quyền tỉnh Vân Nam
YunnanExplorer.com Website thông tin lịch sử/du lịch với bản đồ tương tác về Vân Nam
Bản đồ lớn về tỉnh Vân Nam
Website của đài truyền hình Vân Nam
Website dành cho du khách với nhiều lời khuyên và ảnh
iGuide, website cho du khách với thông tin về các thành phố, thị xã, các điểm thu hút du khách, lịch sử cũng như văn hóa.
Hướng dẫn du lịch Vân Nam và thư viện ảnh
InvestYunnan.org - Hướng dẫn về đầu tư nước ngoài tại tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Do Sở Hợp tác Kinh tế của chính quyền nhân dân tỉnh Vân Nam xúc tiến |
nha trang.txt | Nha Trang là một thành phố ven biển và là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật và du lịch của tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam. Trước khi trở thành phần đất của Việt Nam, Nha Trang thuộc về Chiêm Thành. Các di tích của người Chăm vẫn còn tại nhiều nơi ở Nha Trang. Nha Trang được Thủ tướng chính phủ Việt Nam công nhận là đô thị loại 1 vào ngày 22 tháng 4 năm 2009. Đây là một trong các đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh của Việt Nam. Nha Trang được mệnh danh là hòn ngọc của biển Đông, Viên ngọc xanh vì giá trị thiên nhiên, sắc đẹp cũng như khí hậu của nó.
== Địa lýSửa đổi ==
=== Vị tríSửa đổi ===
Thành phố Nha Trang hiện nay có diện tích tự nhiên là 251 km², dân số 392.279(2009). Phía Bắc giáp thị xã Ninh Hòa, phía Nam giáp huyện Cam Lâm, phía Tây giáp huyện Diên Khánh, phía Đông giáp Biển Đông có huyện đảo Trường Sa(Khánh Hòa).
=== Địa hìnhSửa đổi ===
Địa hình Nha Trang khá phức tạp có độ cao trải dài từ 0 đến 900 m so với mặt nước biển được chia thành 3 vùng địa hình. Vùng đồng bằng duyên hải và ven sông Cái có diện tích khoảng 81,3 km², chiếm 32,33% diện tích toàn thành phố; vùng chuyển tiếp và các đồi thấp có độ dốc từ 3⁰ đến 15⁰ chủ yếu nằm ở phía Tây và Đông Nam hoặc trên các đảo nhỏ chiếm 36,24% diện tích, vùng núi có địa hình dốc trên 15⁰ phân bố ở hai đầu Bắc-Nam thành phố, trên đảo Hòn Tre và một số đảo đá chiếm 31,43% diện tích toàn thành phố.
==== Đồng bằng Diên Khánh - Nha TrangSửa đổi ====
Nha Trang nằm ở phía Đông Đồng bằng Diên Khánh - Nha Trang. Một đồng bằng được bồi lấp bởi sông Cái Nha Trang có diện tích gần 300 km², địa hình đồng bằng bị phân hóa mạnh:
Phần phía Tây dọc sông Chò từ Khánh Bình đến Diên Đồng bị bóc mòn, độ cao tuyệt đối khoảng 10–20 m
Phần phía Đông là địa hình tích tụ độ cao tuyệt đối dưới 10m, bề mặt địa hình bị phân cắt mạnh bởi các dòng chảy.
=== Thủy vănSửa đổi ===
Thành phố có nhiều sông suối tập trung ở 2 hệ thống sông chính là sông Cái Nha Trang và sông Quán Trường.
Sông Cái Nha Trang (còn có tên gọi là sông Phú Lộc, sông Cù) có chiều dài 75 km, bắt nguồn từ đỉnh Chư Tgo cao 1.475 m, chảy qua các huyện Khánh Vĩnh, Diên Khánh và thành phố Nha Trang rồi đổ ra biển ở Cửa Lớn (Đại Cù Huân). Đoạn hạ lưu thuộc địa phận Nha Trang có chiều dài khoảng 10 km. Sông là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho sản xuất công-nông nghiệp, du lịch-dịch vụ và sinh hoạt dân cư cho thành phố và các huyện lân cận.
Sông Quán Trường (hay Quán Tường) là 1 hệ thống sông nhỏ có chiều dài khoảng 15 km, chảy qua địa phận các xã Vĩnh Trung, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Thái, Phước Đồng và 3 phường Phước Long, Phước Hải, Vĩnh Trường rồi đổ ra Cửa Bé. Sông chia thành 2 nhánh: nhánh phía Đông (nhánh chính) có chiều dài 9 km và nhánh phía Tây (còn gọi là sông Tắc) dài 6 km.
Thủy triều vùng biển Nha Trang thuộc dạng nhật triều không đều, biên độ trung bình lớn nhất từ 1,4 - 3,4 m. Độ mặn biến thiên theo mùa từ 1 - 3,6%.
=== Khí hậuSửa đổi ===
Nha Trang có khí hậu nhiệt đới xavan chịu ảnh hưởng của khí hậu đại dương. Khí hậu Nha Trang tương đối ôn hòa, nhiệt độ trung bình năm là 26,3⁰C. Có mùa đông ít lạnh và mùa khô kéo dài.Mùa mưa lệch về mùa đông bắt đầu từ tháng 9 và kết thúc vào tháng 12 dương lịch, lượng mưa chiếm gần 80% lượng mưa cả năm (1.025 mm). Khoảng 10 đến 20% số năm mùa mưa bắt đầu từ tháng 7, 8 và kết thúc sớm vào tháng 11. So với các tỉnh Duyên hải Nam Trung Bộ, Nha Trang là vùng có điều kiện khí hậu thời tiết khá thuận lợi để khai thác du lịch hầu như quanh năm. Những đặc trưng chủ yếu của khí hậu Nha Trang là: nhiệt độ ôn hòa quanh năm (25⁰C - 26⁰C), tổng tích ôn lớn (> 9.5000C), sự phân mùa khá rõ rệt (mùa mưa và mùa khô) và ít bị ảnh hưởng của bão.
== Dân cưSửa đổi ==
Theo điều tra dân số năm 2009 thì dân số toàn thành phố có 392.279 người, trong đó dân số thành thị chiếm 74,6%, dân số nông thôn chiếm 25,4%. Về tỉ lệ giới tính, nam chiếm 48,5% và nữ chiếm 51,5%. Tuy nhiên theo cách tính quy mô dân số trong phân loại đô thị (bao gồm cả dân số thường trú và dân số tạm trú quy đổi) thì quy mô dân số Nha Trang hiện nay khoảng 480.000-490.000 người (bao gồm cả học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, lao động tạm trú thường xuyên, tạm trú vãng lai...nhưng không tính khách du lịch).
Mật độ dân số trung bình toàn thành phố là 1.562 người/km2. Dân cư phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở các phường nội thành. Khu vực trung tâm thành phố thuộc các phường Vạn Thắng, Vạn Thạnh, Phương Sài, Phước Tân, Phước Tiến, Tân Lập có mật độ dân cư rất cao với gần 30000 người/km².Tuy nhiên một số xã như Vĩnh Lương, Phước Đồng với địa hình chủ yếu là núi cao có mật độ dân số thấp, chỉ vào khoảng 320-370 người/km2.
== Lịch sử hình thànhSửa đổi ==
Từ năm 1653 đến giữa thế kỷ XIX, Nha Trang vẫn là một vùng đất còn hoang vu và nhiều thú dữ thuộc Hà Bạc, huyện Vĩnh Xương, phủ Diên Khánh. Chỉ qua hai thập niên đầu thế kỷ XX, bộ mặt Nha Trang đã thay đổi nhanh chóng. Với Nghị định ngày 30 tháng 8 năm 1924 của Toàn quyền Đông Dương, Nha Trang trở thành một thị trấn (centre urbain). Thị trấn Nha Trang hình thành từ các làng cổ: Xương Huân, Phương Câu, Vạn Thạnh, Phương Sài, Phước Hải.
Thời Pháp thuộc, Nha Trang được coi là tỉnh lỵ (chef lieu) của tỉnh Khánh Hòa. Các cơ quan chuyên môn của chính quyền thuộc địa như Tòa Công sứ, Giám binh, Nha Thương chánh, Bưu điện… đều đặt tại Nha Trang. Tuy nhiên, các cơ quan Nam triều như dinh quan Tuần vũ, Án sát (coi về hành chánh, tư pháp), Lãnh binh (coi việc trật tự trị an) vẫn đóng ở Thành Diên Khánh (cách Nha Trang 10 km về phía Tây Nam).
Đến Nghị định ngày 7 tháng 5 năm 1937 của Toàn quyền Đông Dương, Nha Trang được nâng lên thị xã (commune). Lúc mới thành lập, thị xã Nha Trang có 5 phường: Xương Huân là phường đệ nhất, Phương Câu là phường đệ nhị, Vạn Thạnh là phường đệ tam, Phương Sài là phường đệ tứ, Phước Hải là phường đệ ngũ.
Ngày 27 tháng 1 năm 1958, chính quyền Ngô Đình Diệm ban hành Nghị định 18-BNV bãi bỏ quy chế thị xã, chia Nha Trang thành 2 xã là Nha Trang Đông và Nha Trang Tây thuộc quận Vĩnh Xương.
Ngày 22 tháng 10 năm 1970, sắc lệnh số 132-SL/NV của chính quyền Việt Nam Cộng hòa lấy 2 xã Nha Trang Đông, Nha Trang Tây và các xã Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, Vĩnh Trường, Vĩnh Nguyên, các ấp Phước Hải (xã Vĩnh Thái), Vĩnh Điềm Hạ (xã Vĩnh Hiệp), Ngọc Thảo, Ngọc Hội, Lư Cấm (xã Vĩnh Ngọc) thuộc quận Vĩnh Xương cùng các hải đảo Hòn Lớn, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Miễu, Hòn Tằm tái lập thị xã Nha Trang, tỉnh lỵ tỉnh Khánh Hòa. Thị xã Nha Trang chia làm 2 quận: quận 1 và quận 2. Quận 1 gồm các xã Nha Trang Đông, Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, các ấp Ngọc Thảo, Ngọc Hội và Lư Cấm thuộc xã Vĩnh Ngọc, ấp Vĩnh Điềm Hạ thuộc xã Vĩnh Hiệp; Quận 2 gồm các xã Nha Trang Tây, Vĩnh Trường, Vĩnh Nguyên (kể cả các đảo Hòn Tre, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Tằm), ấp Phước Hải của xã Vĩnh Thái.
Tiếp đó, nghị định số 357-ĐUHC/NC/NĐ ngày 5 tháng 6 năm 1971, chia thị xã Nha Trang thành 11 khu phố: quận 1 có các khu phố Vĩnh Hải, Vĩnh Phước, Ngọc Hiệp, Vạn Thạnh, Duy Tân; Quận 2 có các khu phố Vĩnh Nguyên, Vĩnh Trường, Phương Sài, Tân Phước, Tân Lập, Phước Hải. Đến Nghị định số 553-BNV/HCĐP/NV ngày 22 tháng 8 năm 1972 đổi các khu phố thành phường. Nghị định số 444-BNV/HCĐP/26.X ngày 3 tháng 9 năm 1974 sáp nhập các đảo Hòn Một, Hòn Cậu, Hòn Đụn, Hòn Chóp Vung, Hòn Đỏ vào phường Vĩnh Hải (quận 1) và Hòn Ngọc vào phường Vĩnh Nguyên (quận 2) thị xã Nha Trang.
Ngày 2 tháng 4 năm 1975, Quân giải phóng tiếp quản Nha Trang. Ngày 6 tháng 4 năm 1975, Ủy ban Quân quản Khánh Hòa chia Nha Trang thành 3 đơn vị hành chính: quận 1, quận 2 và quận Vĩnh Xương.
Tháng 9 năm 1975, hợp nhất hai quận: quận 1 và quận 2 thành thị xã Nha Trang, gồm 17 phường: Lộc Thọ, Ngọc Hiệp, Phước Hải, Phước Hòa, Phước Tân, Phước Tiến, Phương Sài, Phương Sơn, Tân Lập, Vạn Thắng, Vạn Thạnh, Vĩnh Hải, Vĩnh Nguyên, Vĩnh Phước, Vĩnh Thọ, Vĩnh Trường, Xương Huân.
Ngày 30 tháng 3 năm 1977, theo quyết định số 391-CP/QĐ của Hội đồng Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thị xã Nha Trang được nâng lên cấp thành phố trực thuộc tỉnh và là tỉnh lỵ tỉnh Phú Khánh (bao gồm hai tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa hiện nay). Phần đất 7 xã của huyện Vĩnh Xương cũ trước đây là Vĩnh Thái, Vĩnh Ngọc, Vĩnh Hiệp, Vĩnh Lương, Vĩnh Trung, Vĩnh Thạnh, Vĩnh Phương được cắt ra khỏi huyện Khánh Xương sáp nhập vào Nha Trang.
Quyết định số 54-BT ngày 27 tháng 3 năm 1978 thành lập xã Phước Đồng thuộc Nha Trang.
Ngày 1 tháng 7 năm 1989, tái lập tỉnh Khánh Hòa từ tỉnh Phú Khánh cũ, Nha Trang là tỉnh lỵ tỉnh Khánh Hòa.
Ngày 19 tháng 11 năm 1998, chia phường Phước Hải thành 2 phường: Phước Hải và Phước Long.
Ngày 15 tháng 3 năm 2002, chia phường Vĩnh Hải thành 2 phường: Vĩnh Hải và Vĩnh Hòa.
Ngày 22 tháng 4 năm 1999, Thủ tướng Chính phủ ban hành quyết định số 106/1999 công nhận Nha Trang là đô thị loại 2.
Ngày 22 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định công nhận thành phố Nha Trang là đô thị loại I trực thuộc tỉnh Khánh Hòa.
=== Các tên gọiSửa đổi ===
Theo nhiều nhà nghiên cứu, tên "Nha Trang" được hình thành do cách đọc của người Việt phỏng theo âm một địa danh Chăm vốn có trước là YjaTran hay Ea Trang (có nghĩa là "sông Lau", tiếng người Chăm, tức là gọi sông Cái chảy qua Nha Trang ngày nay, con sông này đổ ra biển đúng chỗ có nhiều cây lau). Từ tên sông, sau chỉ rộng ra vùng đất từ năm 1653.
Về địa danh "Nha Trang", trong Toàn tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư, tập bản đồ Việt Nam do nho sinh họ Đỗ Bá soạn vào khoảng nửa sau thế kỷ 17 đã thấy có tên "Nha Trang Môn" (cửa Nha Trang). Trong một bản đồ khác có niên đại cuối thế kỷ 17 mang tên Giáp Ngọ Niên Bình Nam Đồ của Đoan Quận công Bùi Thế Đạt cũng thấy ghi tên "Nha Trang Hải môn" (cửa biển Nha Trang). Trong thư tịch cổ Việt Nam, đây có lẽ là những tài liệu sớm nhất đề cập đến địa danh này.
Trong Phủ biên tạp lục (1776) của Lê Quý Đôn đã có nhiều tên gọi Nha Trang như "đầm Nha Trang, dinh Nha Trang, nguồn Nha Trang, đèo Nha Trang".
== Hành chínhSửa đổi ==
Nha Trang gồm 27 đơn vị hành chính, gồm có:
Từ năm 1998 đến nay, do tốc độ phát triển đô thị gia tăng, nhiều khu quy hoạch mới đã được hình thành như: Hòn Rớ, Bắc Việt, Thánh Gia, Đường Đệ, Hòn Khô, An Viên... Ngày 22 tháng 4 năm 2009, thành phố Nha Trang được công nhận là Đô thị loại 1 thuộc tỉnh Khánh Hòa
== Khoa học và Giáo dụcSửa đổi ==
Hoạt động nghiên cứu khoa học ở Nha Trang đã được đặt nền móng từ thời Pháp thuộc với việc hình thành hai cơ sở khoa học thực nghiệm là Viện Pasteur Nha Trang vào năm 1891, nghiên cứu về vệ sinh dịch tễ và Sở Ngư nghiệp Đông Dương năm 1922 (tiền thân của Viện Hải dương học Nha Trang) chuyên nghiên cứu về biển và động vật biển. Lĩnh vực khoa học từ đó dần dần được mở rộng sang các ngành khoa học ứng dụng.. Giáo dục đại học tại Nha Trang bắt đầu phát triển từ năm 1971 với cơ sở đào tạo bậc đại học đầu tiên là Đại học Cộng đồng Duyên Hải . Sau ngày thống nhất đất nước, Trường Đại học Thủy sản Nha Trang, được chuyển từ Hải Phòng vào cùng với một số trường quân sự như Trường Sĩ quan không quân từ Cát Bi và Trường Sĩ quan Hải quân II (tiền thân của Học viện Hải quân chuyển vào từ Quảng Ninh. Hiện nay, Nha Trang có nhiều trường đại học quân sự và dân sự, cao đẳng phục vụ cho việc đào tạo nhân lực cho địa phương tại tất cả các bật học
Về giáo dục phổ thông, toàn thành phố có 116 trường với gần 68.000 học sinh trong đó có 41 trường tiểu học , 24 trường Trung học cơ sở và 12 trường Trung học phổ thông. 27/27 xã, phường đạt chuẩn quốc gia về phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở.
Ghi chú: * trường liên cấp
== Giao thôngSửa đổi ==
=== Đường bộSửa đổi ===
Đến năm 2012, thành phố có trên 898 tuyến đường, trong đó 280 tuyến đường do thành phố quản lý với tổng chiều dài là 115,64 km; đường tỉnh 7 tuyến với tổng chiều dài 41,377 km; đường liên xã có 11 tuyến với tổng chiều dài 29,47 km; đường hẻm nội thành 619 tuyến, tổng chiều dài 174 km. Để kết nối với các địa phương khác, Nha Trang có quốc lộ 1A chạy qua ngoại thành theo hướng Bắc Nam, đoạn qua địa bàn thành phố dài 14,91 km và quốc lộ 1C,nối trung tâm thành phố với quốc lộ 1A, có chiều dài 15,08 km. Ngoài ra còn có đại lộ Nguyễn Tất Thành nối thành phố Nha Trang với sân bay quốc tế Cam Ranh và đường 723 nối lên thành phố Đà Lạt.Về giao thông nội thị, mạng lưới đường trong trung tâm thành phố có hình nan quạt, bao gồm các tuyến đường hướng tâm, đường vành đai bao quanh khu trung tâm và các khu vực của đô thị. Các đường vành đai chính là đường Lê Hồng Phong, 2/4. Trục Thái Nguyên - Lê Thánh Tôn là trục xuyên tâm, Trần Phú - Phạm Văn Đồng là các trục ven biển. Đường trong các phường trung tâm có dạng ô bàn cờ.
Về giao thông tĩnh, Nha Trang có 2 bến xe liên tỉnh đang hoạt động: Bến xe phía Nam nằm trên đường 23/10 chủ yếu phục vụ hành khách đi liên tỉnh. Bến xe phía Bắc trên đường 2/4 có phục vụ hành khách đi liên tỉnh và nội tỉnh. Hệ thống giao thông tĩnh phục vụ vận tải công cộng còn bao gồm 8 tuyến xe buýt nội thành với khoảng 150 điểm dừng đỗ dọc đường phục vụ cho nhu cầu đi lại trong thành phố và huyện Diên Khánh, huyện Khánh Vĩnh. Ngoài ra còn có 3 tuyến xe buýt liên huyện Nha Trang – Cam Lâm - Cam Ranh, Nha Trang – Ninh Hòa – Vạn Ninh và Nha Trang - Ninh Hòa - Ninh Tây nối Nha Trang với khu vực phía Nam và phía Bắc Khánh Hòa .
=== Đường hàng khôngSửa đổi ===
Trước đây các chuyến bay đến Nha Trang và hạ cánh ngay trong thành phố tại sân bay Nha Trang.Tuy nhiên do nằm trong trung tâm thành phố, gây nhiều khó khăn trong hoạt động và đảm bảo an toàn,nên sân bay đã được chuyển mục đích sử dụng để phục vụ phát triển đô thị, thương mại, dịch vụ và du lịch. Hoạt động bay thương mại được chuyển đến sân bay quốc tế Cam Ranh cách trung tâm Nha Trang 35 km về phía Nam. Phương tiện đi lại giữa Nha Trang và sân bay Cam Ranh là xe buýt hoặc taxi. Vé xe buýt được bán ngay cửa ra sau khi lấy xong hành lý.
Các Tuyến bay đến sân bay Cam Ranh
=== Đường sắtSửa đổi ===
Nha Trang nằm trên tuyến đường sắt Bắc Nam với tổng chiều dài đường sắt đi ngang qua thành phố là 25 km thuận lợi cho việc liên kết với các tỉnh còn lại của Việt Nam. Ga Nha Trang là một trong những ga lớn trên tuyến đường sắt Bắc Nam của Việt Nam, tất cả các tuyến tàu lửa Thống Nhất đều dừng ở đây. Ngoài các tàu Thống Nhất, còn có các chuyến tàu SNT1-2, SNT3-4, SQN1-2 và chuyến tàu 5 sao đầu tiên chạy tuyến Sài Gòn-Nha Trang. Ngoài ga Nha Trang thành phố còn có 1 ga phụ là Ga Lương Sơn, nhưng ga này ít khi đón khách
=== Đường thủySửa đổi ===
Thành phố có nhiều bến cảng phục vụ cho nhu cầu đi lại bằng đường thủy. Trong đó cảng Nha trang là một cảng biển tương đối lớn nằm trong vịnh Nha Trang với độ sâu trước bến -11,8m, có khả năng tiếp nhận tàu hàng có trọng tải lớn đến 20.000 DWT và tàu khách du lịch cỡ lớn. Cảng được sử dụng như một cảng đa chức năng phục vụ vận chuyển hành khách và hàng hóa , là đầu mối vận chuyển hàng hóa và hành khách quan trọng bằng đường biển của thành phố Nha trang, tỉnh Khánh Hoà nói riêng và khu vực Nam Trung Bộ nói chung.. Các cảng nhỏ khác bao gồm cảng Hải Quân: phục vụ học tập cho Học viện Hải Quân và huyện đảo Trường Sa. Cảng cá Hòn Rớ phục vụ cho ngành khai thác thủy sản và chợ hải sản đầu mối Nam Trung Bộ. Ngoài ra, Nha Trang còn có một số cảng phục vụ du lịch như cảng du lịch Cầu Đá, cảng du lịch Phú Quý, cảng du lịch Hòn Tre...
== Văn hóa - Du lịchSửa đổi ==
Các bãi biển dài của thành phố này đã biến nó thành một thành phố du lịch. Nơi đây cũng đã được chọn làm nơi tổ chức các sự kiện lớn như Festival Biển (Nha Trang), hay các cuộc thi sắc đẹp lớn như Hoa hậu Việt Nam, Hoa hậu Thế giới người Việt 2007, Hoa hậu Hoàn vũ 2008, Hoa hậu Trái Đất 2010...
=== Vịnh Nha TrangSửa đổi ===
Vịnh Nha Trang có diện tích khoảng 507 km² bao gồm 19 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó Hòn Tre là đảo lớn nhất, với diện tích 32,5 km2; đảo nhỏ nhất là Hòn Nọc chỉ khoảng 4 ha. Vịnh có khí hậu hai mùa rõ rệt Mùa khô kéo dài từ tháng giêng đến tháng 8, mùa mưa từ tháng 9 đến tháng 12; nhiệt độ bình quân hàng năm là 26⁰C; nóng nhất 39⁰C, lạnh nhất 14,4⁰C. Về mặt sinh thái, vịnh Nha Trang là một trong những hình mẫu tự nhiên hiếm có của hệ thống vũng, vịnh trên thế giới bởi nó có hầu hết các hệ sinh thái điển hình, quý hiếm của vùng biển nhiệt đới. Đó là hệ sinh thái đất ngập nước, rạn san hô, rừng ngập mặn, thảm cỏ biển, hệ sinh thái cửa sông, hệ sinh thái đảo biển, hệ sinh thái bãi cát ven bờ. Đặc biệt khu vực Hòn Mun của Vịnh Nha Trang có đa dạng sinh học cao nhất với 350 loài rạn san hô chiếm 40% san hô trên thế giới. Trong số các đảo trong vịnh có nhiều đảo là các thắng cảnh như:
Hòn Mun là một đảo nhỏ trong Vịnh, sở dĩ có tên là "Hòn Mun" vì phía đông nam của đảo có những mỏm đá nhô cao, vách dựng hiểm trở tạo thành hang động, đặc biệt đá ở đây đen tuyền như gỗ mun, rất hiếm thấy ở những nơi khác. Kết quả khảo sát đa dạng sinh học Khu bảo tồn biển cho thấy Hòn Mun là nơi có rạn san hô phong phú và đa dạng nhất Việt Nam. người ta cũng đã tìm thấy 340 trong tổng số hơn 800 loài san hô cứng trên thế giới. Từ năm 2001, Khu bảo tồn biển Hòn Mun ra đời bao gồm các đảo như Hòn Tre, Hòn Miễu, Hòn Tằm, Hòn Một, Hòn Mun, Hòn Cau, Hòn Vung, Hòn Rơm, Hòn Nọc và vùng nước xung quanh. Diện tích khoảng 160km2 bao gồm khoảng 38 km2 mặt đất và khoảng 122 km2 vùng nước xung quanh các đảo. Đây là khu bảo tồn biển duy nhất tại Việt Nam hiện nay.
Hòn Miễu (còn gọi đảo Bồng Nguyên) nơi có Thủy Cung Trí Nguyên với những sinh vật biển kỳ lạ. Cách hồ là bãi sỏi đủ màu, đủ dáng, trải thành từng lớp trên bờ thay cho cát trắng
Hòn Tằm một điểm du lịch sinh thái biển đảo hấp dẫn, nơi đây vẫn còn lưu lại vẻ hoang sơ của thiên nhiên với thảm rừng nhiệt đới xanh mướt, bờ cát dài lãng mạn. Phía sau đảo này có một hang đá rất đặc biệt, kỳ bí mới được ngành du lịch phát hiện và đưa vào khai thác. Đó là hang Dơi, nơi có rất nhiều đàn dơi cư trú trên những vách đá cheo leo ở độ cao 60m. Đảo được đầu tư phát triển nhiều loại hình thể thao bãi biển như dù bay, bóng chuyền bãi biển, đua xuồng Kayak, leo núi….
Hòn Tre đảo lớn nhất trong vịnh Nha Trang với diện tích trên 32.5 km², nằm cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng 5 km về phía Đông, cách cảng Cầu Đá 3,5 km vị trí tương đối biệt lập, có bãi tắm thiên nhiên đẹp vào bậc nhất Việt Nam, thảm thực vật trong khu vực còn nguyên sơ, khí hậu ôn hoà, ít gió bão, rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng biển. Khu vực quy hoạch đảo bao gồm 2 khu vực chức năng: Khu Vũng Me - Bãi Trũ - Đầm Già - Bãi Rạn được quy hoạch hướng tới một quần thể các dự án du lịch cao cấp bao gồm 7 dự án hiện có: Khu du lịch Con sẻ tre, Vinpearl resort & spa, Khu du lịch sinh thái và Thế giới nước Vinpearl, Công viên văn hóa Vinpearl, Công viên văn hóa Hòn Tre, Khu du lịch sinh thái Bãi Sỏi, Khu biệt thự và sân golf Vinpearl, giao thông đối ngoại của phân khu chủ yếu thông qua 2 cảng du lịch tại Vũng Me và tuyến cáp treo Vinpear (tuyến cáp treo vượt biển dài nhất thế giới). Khu Đầm Bấy được quy hoạch theo mô hình khu du lịch cộng đồng bao gồm khu vực dự án Khu du lịch thế giới biển và dự án Làng du lịch sinh thái Đầm Bấy .
Hòn Chồng-Hòn Vợ gồm 2 cụm đá lớn nằm bên bờ biển dưới chân đồi Lasan. Dưới chân đồi là bãi đá ngổn ngang có thể là do sự xâm thực của thủy triều lên ngọn đồi này. Cụm đá lớn ở ngoài biển gọi là Hòn Chồng, gồm một khối đá lớn vuông vức nằm trên một tảng đá bằng phẳng và rộng hơn, phía mặt đá quay ra biển có một vết lõm hình bàn tay rất lớn Cụm đá thứ hai có hình dáng một người phụ nữ ngồi trông ra biển - được đặt một cái tên có ý nghĩa gần gũi với Hòn Chồng - đó là Hòn Vợ, cụm đá này ít được du khách để ý hơn.
Đảo yến: đây không phải là tên riêng của một đảo nào, mà cứ đảo nào có yến làm tổ thì gọi vậy. Nhưng trong 19 hòn đảo ở Vịnh Nha Trang thì Hòn Nội và Hòn Ngoại là nơi có nhiều yến nhất. Hòn Nội là đảo nằm phía trong, còn Hòn Ngoại nằm phía ngoài. Hòn Nội có bãi tắm đôi (có hai bờ biển một mặt hướng ra Vịnh Nha Trang mặt còn lại hướng vào một vũng lớn bị cô lập trong đảo mùa nước lên, nước sẽ tràn qua doi cát vào vũng) với cát trắng rất đẹp nhưng ít dùng cho du lịch chủ hoạt động chủ yếu trên đảo là khai thác Yến sào
Chạy dọc theo bờ biển Vịnh Nha Trang dài khoảng 7 km, trải dài từ xóm Cồn đến cảng Cầu Đá là đoạn đường Trần Phú con đường đẹp nhất Nha Trang nằm lượn theo bờ biển với rất nhiều ngôi biệt thự xinh xắn, những khách sạn cao cấp, nhà hàng sang trọng nối liền nhau. Xen vào đó là một hệ thống dịch vụ gồm bưu điện, nhà bảo tàng, thư viện, câu lạc bộ, các cửa hàng bán đồ lưu niệm.
=== Các danh thắng trong trung tâm thành phốSửa đổi ===
Chợ Đầm, chợ trung tâm của thành phố biển Nha Trang, là một công trình kiến trúc đẹp, độc đáo. Đây là chợ lớn nhất và cũng là biểu tượng thương mại của thành phố biển này. Đây là trung tâm thương mại mua sắm và cũng là điểm tham quan du lịch. Chợ có tên chợ Đầm là vì chợ nằm trên một cái đầm cũ rộng đến 7 mẫu tây, ăn thông ra cửa sông Nha Trang dưới chân cầu Hà Ra nay đã bị lấp. Chợ hiện nay bán rất nhiều sản phẩm gia dụng lẫn những mặt hàng lưu niệm, hải sản... rất phong phú. Ngay tại cửa ra vào, bãi đậu xe là tới khu vực chợ, tại các cánh cung bọc 2 bên chợ là bán hải sản, khô, nem nướng và các mặt hàng lưu niệm. Trung tâm chợ bán các mặt hàng thiết yếu.
Chùa Long Sơn hay còn gọi là Chùa Phật trắng trước có tên là Đăng Long Tự, tọa lạc ở số 22 đường 23 tháng 10, phường Phương Sơn dưới chân đồi Trại Thủy ở Nha Trang. Ngôi chùa này được xây dựng cách đây hơn một trăm năm, trải qua nhiều lần trùng tu, và đến nay là ngôi chùa nổi tiếng nhất Khánh Hòa. Trên đỉnh đồi là bức tượng Kim Thân Phật tổ (còn gọi là tượng Phật trắng) ngồi thuyết pháp, tượng cao 21 m, đài sen làm đế cao 7 m, rất dễ nhìn thấy tại một khu vực rộng xung quanh Chùa. Tượng được xây từ năm 1963 do sự đóng góp của tăng ni phật tử của vùng lân cận. Xung quanh đài sen là chân dung bảy vị hòa thượng, đại đức đã tự thiêu để phản đối chính sách đàn áp Phật giáo của Ngô Đình Diệm trong khoảng thời gian từ tháng 4 đến tháng 9 năm 1963. Dưới chân đài sen là bức tường chia thành những ngăn nhỏ để chứa hài cốt do các gia đình Phật tử gửi.
Nhà thờ Núi (tên chính thức là: Nhà thờ chính tòa Kitô Vua) là một nhà thờ Công giáo ở thành phố Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa. Nhà thờ này còn có nhiều tên gọi bình dân như: Nhà thờ Nha Trang (vì trước đây nó thuộc họ đạo Nha Trang); Nhà thờ Ðá (vì nó được xây bằng đá); Nhà thờ Ngã Sáu (vì nó tọa lạc gần một vòng xoay giao thông); nhưng phổ biến hơn cả là tên gọi Nhà thờ Núi (vì nó được xây trên một núi nhỏ).Nhà thờ này được xây dựng theo phong cách kiến trúc nhà thờ phương Tây. Nhìn tổng thể, công trình có bố cục chắc khỏe với những khối lập thể nhỏ dần từ thấp vươn cao, nổi bật giữa trời xanh. Ðiểm cao nhất là nơi đặt thánh giá trên đỉnh tháp chuông, cao 38 mét, tính từ mặt đường.
Viện Hải dương học Nha Trang là một viện nghiên cứu đời sống động thực vật hải dương. Viện Hải dương học được người Pháp thành lập năm 1922, được xem là một trong những cơ sở nghiên cứu sớm nhất ở Việt Nam và là nơi có bộ sưu tầm các hiện vật về cuộc sống hải dương lớn nhất Đông Nam Á. Hiện nay viện không những là một viện nghiên cứu mà còn là điểm tham quan hấp dẫn đối với du khách yêu thích sinh vật biển.
Diamond Bay (Wonderpark Resort), một resort trên đại lộ Nguyễn Tất Thành,xã Phước Đồng,Nha Trang, Khánh Hòa là nơi diễn ra lễ đăng quang của cuộc thi Hoa hậu Hoàn vũ 2008, được hoàn thành chỉ sau bốn tháng xây dựng, khánh thành vào ngày 30 tháng 6 năm 2008.
Biệt thự Cầu Đá (Lầu Bảo Đại) tọa lạc trên đỉnh núi Chụt (núi Cảnh Long), là một di tích lịch sử văn hóa nằm cách trung tâm thành phố Nha Trang khoảng 6 km. Đây là một công trình kiến trúc độc đáo, có sự kết hợp hài hòa giữa phong cách kiến trúc phương Tây với nghệ thuật hoa viên phương Đông. Lầu Bảo Đại được người Pháp đã xây dựng năm 1923 ban đầu là một cụm 5 biệt thự trên núi Chụt để làm nơi ăn ở cho các nhà hải dương học đến nghiên cứu vùng biển Đông Nam Á tại Viện hải dương học Đông Dương (hiện là Viện hải dương học Nha Trang) người Pháp đặt tên cho các ngôi biệt thự này theo tên các loài cây và hoa trồng xung quanh. Lần lượt từ mỏm núi trở vào là biệt thự Xương Rồng, Bông Sứ, Bông Giấy, Phượng Vĩ, Cây Bàng. Từ năm 1940 đến 1945, hoàng đế Bảo Đại và hoàng hậu Nam Phương thường đến nghỉ ngơi ở biệt thự Xương Rồng và Bông Sứ nên từ đó cụm di tích này được gọi là Lầu Bảo Đại.
=== Khu phố TâySửa đổi ===
Nằm bên cạnh bờ biển Nha Trang có một khu phố nhỏ ven theo các con đường Hùng Vương, Trần Phú, Biệt Thự, Trần Quang Khải, Nguyễn Thiện Thuật... Nó không quá ồn ào, nhộn nhịp nhưng tập trung đông khách du lịch nước ngoài và người nước ngoài sinh sống tại Nha Trang.
Phố Tây ở Nha Trang tuy không sầm uất và ồn ào như Phố Tây Phạm Ngũ Lão ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng lại mang những nét đặc trưng riêng. Con đường hẹp của khu Quân Trấn đã được mở rộng, với những dãy hàng, quán mang tên Tây, Việt lẫn lộn. Mỗi quán ăn đều mang một cái tên, một quốc tịch khác nhau, với nhiều màu sắc văn hóa, từ Á đến Âu đã tạo nên một khu phố Tây rất Nha Trang.
Để có thể sống dễ dàng hơn giữa một cộng đồng người Việt, người nước ngoài ở khu phố Tây này hầu hết trang bị cho mình một vốn tiếng Việt, thậm chí có người nói rất sõi. Họ còn có một cái tên Việt Nam do những người bạn, những người hàng xóm Việt đặt cho, và họ rất thích cái tên Việt ấy.
Hiện nay cùng sự phát triển mạnh mẽ của nền du lịch tại Nha Trang, khu phố Tây đang trở thành quê hương thứ hai của những người nước ngoài chọn Nha Trang làm nơi sinh sống và làm việc.
=== Tháp BàSửa đổi ===
Tháp Bà do vua Chămpa là Harivácman xây dựng vào những năm 813 - 817. Trải qua mưa nắng của thời gian, tháp bị hư hại nhiều. Thời Pháp thuộc, trường Viễn Đông Bác Cổ đã tổ chức dùng gạch xây lại nhiều phần và đắp một số tượng lên thân tháp. Mặt bằng thứ nhất của tháp được lát gạch, có 14 trụ và các bậc liên tiếp. Mặt bằng thứ hai là một cụm gồm bốn tháp, cả bốn tháp đều được xây dựng theo kiểu tháp của người Chăm gạch xây rất khít mạch, không nhìn thấy chất kết dính. Lòng tháp rỗng tới đỉnh, cửa tháp quay về hướng Đông. Mặt ngoài thân tháp có nhiều gờ, trụ và đấu. Trên đỉnh các trụ thường đặt gạch trang trí hoa văn hình vòm tháp, trông như chiếp tháp nhỏ đặt trên một tháp lớn trên thân tháp còn có nhiều tượng và phù điêu bằng đất nung, trong đó có hình thần Ponagar, thần Tenexa, các tiên nữ, các loài thú như nai, ngỗng vàng, sư tử...Tháp chính thờ thần Ponagar, tượng trưng cho sắc đẹp, nghệ thuật và sự sáng tạo. Các tháp khác thờ thần Siva, thần Sanhaka và thần Ganeca. Hàng năm, vào tháng 3 âm lịch người dân đến lễ bái ở Tháp Bà rất đông
=== Đặc sản ẩm thựcSửa đổi ===
Ngoài các sản vật biển, Nha Trang có nước yến/yến sào (hay tổ chim yến được chúng làm từ nước dãi của mình) và nem nướng Ninh Hòa. Ngoài ra, nói đến các món dân dã Nha Trang còn có món bún cá hay bánh căn. Với món bánh canh Nha Trang thì không giống với bất kỳ ở một địa phương nào khác, nước lèo được làm từ chất ngọt của cá cộng với bột bánh canh tạo nên một hương vị khó quên. Ngoài ra tại Nha Trang còn có bong bóng cá, vi cá, nước mắm, khô cá thu được xếp vào loại ngon. Hải sản Nha Trang đa dạng và phong phú với rất nhiều loại và vô số những món ăn khác nhau, có món nhum - còn gọi là cầu gai hay nhím biển ăn sống với cải bẹ xanh.
== Kinh tếSửa đổi ==
Nha Trang là thành phố có nền kinh tế tương đối phát triển ở khu vực miền Trung. Năm 2011, GDP bình quân đầu người của thành phố đạt 3184 USD , tốc độ tăng trưởng GDP tăng bình quân hàng năm từ 13- 14%.Cơ cấu kinh tế chuyển đổi tích cực theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp. năm 2011, tỷ trọng công nghiệp-xây dựng chiếm 32%, du lịch-dịch vụ 63,77% và nông nghiệp là 4,23%. trong đó công nghiệp tăng 7,97%, dịch vụ tăng 7,01% so với năm 2010, Ngược lại ngành nông nghiệp tiếp tục suy giảm 12,46% do quá trình đô thị hóa khiến quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp. Là trung tâm kinh tế của tỉnh Khánh Hòa, Nha Trang có nhiều đóng góp đáng kể, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn Khánh Hòa. Tuy diện tích chỉ chiếm 4,84%, Nha Trang chiếm đến hơn 1/3 dân số và hơn 2/3 tổng sản phẩm nội địa của Khánh Hòa. Ngoài ra Nha Trang cũng đóng góp 82,5% doanh thu du lịch-dịch vụ và 42,9% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. Là trung tâm khai thác, chế biến thủy-hải sản lớn, sản lượng thủy-hải sản của thành phố cũng chiếm 41,7% tổng sản lượng toàn tỉnh
=== Thương mại - Du lịch - Dịch vụSửa đổi ===
Thương mại- Dịch vụ- Du lịch là ngành kinh tế đóng vai trò quan trọng tạo động lực phát triển đô thị và mang lại vị thế quan trọng cho Nha Trang. Đặc biệt các hoạt động du lịch, văn hóa, vui chơi giải trí phát triển đa dạng, phong phú, nhờ đó Nha Trang thu hút ngày càng nhiều du khách trong nước và quốc tế đến tham quan -nghỉ dưỡng.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa năm 2010 ước đạt 9350 tỷ đồng, tăng 20,54% so năm 2009. Hoạt động thương mại tư nhân phát triển mạnh, tạo nên một thị trường cạnh tranh. Xu hướng kinh doanh hiện đại như siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi...phát triển nhanh. Việc coi trọng khách hàng, phong cách phục vụ văn minh, lịch sự ngày càng được chú trọng hơn. Các khu thương mại trên các tuyến phố chính được đầu tư xây dựng tạo nên bộ mặt đô thị và thu hút nhiều khách đến mua sắm. Một số tuyến phố chuyên doanh bước đầu được hình thành như phố xe máy- điện lạnh (đường Quang Trung), phố trang trí nội thất (đường Thống Nhất), phố thời trang (đường Phan Chu Trinh, Lý Thánh Tôn), phố dịch vụ ăn uống- khách sạn (Trần Phú, Biệt Thự, Trần Quang Khải, Hùng Vường, Nguyễn Thiện Thuật...), Tài chính-Ngân hàng (Yersin, Lê Thành Phương)...Nha Trang hiện có 24 chợ, trong đó 3 chợ loại I, 2 chợ loại II, 18 chợ loại III và một số siêu thị, trung tâm thương mại lớn như Nha Trang Center, Fahasa, Co.opmart, Maximark, Metro và các hệ thống cửa hàng tiện lợi như A-Mart, Thế giới di động... Mặc dù hiện nay nhiều loại hình mua bán hiện đại, tiện ích ra đời nhưng các chợ truyền thống vẫn là nơi thu hút đông đảo người dân và du khách đến tham quan, mua sắm đặc biệt là chợ Đầm.
Trong ngành Du lịch, toàn thành phố hiện có 455 khách sạn, với tổng số gần 10.000 phòng. năm 2011, Nha Trang đón hơn 2 triệu lượt khách du lịch (tăng 18,54% so với năm 2010), trong đó hơn 440.000 lượt khách quốc tế (tăng 13,5%), số ngày lưu trú bình quân của du khách là 2,09 ngày/khách; tổng doanh thu du lịch và dịch vụ ước đạt 2.142,9 tỷ đồng (tăng 20,28%)…Ngành du lịch cũng thu hút khoảng gần 9.000 lao động trực tiếp.
Về Xuất khẩu, năm 2010, tổng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn thành phố đạt 424 triệu USD với khoảng 50 loại sản phẩm xuất đến trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là thủy sản, may mặc, thủ công mỹ nghệ... trong đó thủy sản là mặt hàng đóng góp giá trị xuất khẩu lớn, năm 2010 đạt khoảng 215 triệu USD, chiếm 50,7% tổng kim ngạch.
=== Công nghiệpSửa đổi ===
Công nghiệp cũng là một ngành kinh tế quan trọng của thành phố. Năm 2011, Nha Trang có 1.694 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trong đó doanh nghiệp nhà nước là 12 cơ sở, tập thể 06 cơ sở, tư nhân hỗn hợp 400 cơ sở, cá thể 1.269 cơ sở và 9 cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài. Năm 2010 giá trị sản xuất công nghiệp đạt 7.546 tỷ đồng, tăng 10,16%, năm 2011 tăng 9,5% so năm 2010 đạt 8.107 tỷ đồng . Tuy Nha Trang là thành phố chủ yếu phát triển về du lịch và dịch vụ, giá trị sản xuất công nghiệp của riêng thành phố vẫn cao hơn giá trị công nghiệp toàn tỉnh của nhiều tỉnh lớn trong cùng khu vực Đồng bằng duyên hải miền Trung như Thừa Thiên Huế , Bình Định, Bình Thuận...Cơ cấu công nghiệp chủ yếu là các ngành chế biến thực phẩm, thuốc lá, dệt may, đóng tàu.... Một số sản phẩm phục vụ tiêu dùng và xuất khẩu duy trì được tốc độ tăng cao như thủy sản đông lạnh, dệt may, nước mắm, hàng mỹ nghệ. Chế biến thủy sản là ngành công nghiệp thế mạnh của Nha Trang, tạo ra nhiều việc làm và đạt kim ngạch xuất khẩu cao. Trên địa bàn thành phố có 35 xưởng chế biến thủy sản xuất khẩu, trong đó 18 xưởng chế biến đông lạnh, 3 phân xưởng chế biến đồ hộp và 13 cơ sở chế biến thủy sản khô
=== Nông - Lâm - Ngư nghiệpSửa đổi ===
Sản xuất nông, lâm nghiệp không phải là thế mạnh của thành phố, chủ yếu tập trung tại 6 xã phía Tây. Ngành nông nghiệp đang trong chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng tập trung trồng hoa, cây cảnh, rau thực phẩm cao cấp tạo được hàng hóa phục vụ cho tiêu thụ của dân cư và du khách, đồng thời cải thiện môi trường và trang trí cảnh quan đô thị. Công tác bảo vệ rừng cũng được thực hiện hiệu quả. Diện tích rừng tự nhiên và rừng trồng hiện nay là 2332,7 ha, vào thời điểm cuối năm 2010 độ che phủ rừng của thành phố đạt 9,2%. Thảm thực vật rừng Nha Trang đang được phục hồi xanh trở lại, góp phần tạo phong cảnh Nha Trang xanh sạch đẹp. Đặc biệt là dự án trồng phục hồi cây Dó trầm, loài cây đặc sản của Khánh Hòa.
Ngược lại, khai thác Thủy sản có xu hướng rất phát triển nhầm phục vụ cho các ngành công nghiệp chế biến và du lịch, ngư dân tập trung chủ yếu ở các phường Vĩnh Nguyên, Vĩnh Trường, Vĩnh Thọ và 2 xã Phước Đồng, Vĩnh Lương. Tổng sản lượng thủy sản năm 2010 đạt 38926 tấn, trong đó sản lượng khai thác đạt 38621 tấn, tăng bình quân 6,4% mỗi năm. Khai thác và đánh bắt xa bờ được khuyến khích đầu tư phát triển. Toàn thành phố hiện có 2.893 tàu thuyền với tổng công suất 166.000 CV, trong đó tàu thuyền có công suất lớn (≥ 90CV) đủ điều kiện khai thác xa bờ là 480 chiếc với 85.000 CV. Tuy nhiên tàu nhỏ khai thác ven bờ (≤ 20CV) vẫn còn chiếm tỷ lệ khá cao với gần 1.500 chiếc.
Diện tích nuôi trồng thủy sản có chiều hướng giảm do thực hiện các dự án di dời lồng bè ra khỏi Vịnh Nha Trang để tập trung phát triển Du lịch. Sản lượng tôm nuôi năm 2012 đạt 295 tấn. Nghề nuôi cá lồng trên biển bước đầu góp phần tăng thu nhập cho ngư dân. Nghề đăng - một nghề truyền thống của ngư dân Nha Trang có sản lượng hàng năm đạt 200-250 tấn, trong đó cá thu xuất khẩu chiếm khoảng 60%. Thành phố đã hoàn thành dự án quy hoạch chi tiết nuôi trồng thủy sản vịnh Nha Trang tại 5 khu vực: Bích Đầm, Đầm Bấy, Vũng Ngán (đều thuộc Hòn Tre), Hòn Một và Hòn Miễu.
=== Hạ tầngSửa đổi ===
Hiện nay, trên địa bàn thành phố Nha Trang đã và đang hình thành một số khu đô thị cao cấp như: khu đô thị Royal Garden, khu đô thị Cồn Tân Lập, khu đô thị VCN Phước Hải, khu đô thị Hoàng Long, khu đô thị Nam Vĩnh Hải, khu đô thị Nha Trang Green Hill Villa, khu đô thị VCN Phước Long, khu đô thị Mipeco Nha Trang, khu đô thị An Bình Tân, khu đô thị Phước Long, khu đô thị Lê Hồng Phong, khu đô thị Bắc Vĩnh Hải, khu đô thị Mỹ Gia, khu đô thị Vĩnh Điềm Trung, khu đô thị biển An Viên...
== Văn thơ viết về Nha TrangSửa đổi ==
Đã có nhiều tác phẩm văn học và nghệ thuật lấy Nha Trang làm chủ đề vì tính thơ mộng, lãng mạn và xinh đẹp của vùng địa phương này.
Ca dao:
Anh về Bình Định thăm cha
Phú Yên thăm mẹ, Khánh Hòa thăm em
Khánh Hòa là xứ trầm hương
Non cao, biển rộng, người thương đi về
Ca khúc:
Nha Trang ngày về của Phạm Duy
Nhớ Nha Trang của Minh Kỳ
Nha Trang thu, Ta nghe Nha Trang của Phó Đức Phương
Những đứa con thành phố
Nha Trang mùa thu lại về của nhạc sĩ Văn Ký, bài hát được dùng làm nhạc mở đầu trên làn sóng phát thanh của Đài Phát thanh
- Truyền hình Khánh Hòa.
Sách:
Xứ Trầm Hương, Quách Tấn, Lá Bối 1970.
== Thành phố kết nghĩaSửa đổi ==
Thành phố Thái Nguyên, Việt Nam
Kota Kinabalu, Malaysia
== Hình ảnhSửa đổi ==
== Chú thíchSửa đổi ==
== Liên kết ngoàiSửa đổi ==
Trang thông tin điện tử của tỉnh Khánh Hòa
Website Báo Khánh Hòa điện tử |
nhà tùy.txt | Nhà Tùy hay triều Tùy (tiếng Trung: 隋朝; bính âm: Suí cháo; Hán-Việt: Tùy triều, 581-619) là một triều đại trong lịch sử Trung Quốc, kế thừa Nam-Bắc triều, theo sau nó là triều Đường. Năm 581, Tùy Văn Đế Dương Kiên thụ thiện từ Bắc Chu Tĩnh Đế mà kiến lập triều Tùy; đến năm 619 thì Hoàng Thái Chủ Dương Đồng nhường ngôi cho Vương Thế Sung, triều Tùy diệt vong, vận nước kéo dài 38 năm. Từ khi Tùy Văn Đế lên ngôi, triều đình căn cứ theo kinh nghiệm thời Nam-Bắc triều mà tiến hành cải cách chế độ chính trị, cho xây dựng Đại Vận Hà kéo theo sự xuất hiện của rất nhiều thành thị dọc theo kênh, thay thế phế lập rất nhiều thứ cũ mới. Trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và ngoại giao, triều Tùy có ảnh hưởng sâu rộng đến triều Đường, triều Tống, và các triều đại sau này của Trung Quốc.
Dương Kiên thuộc thế gia Quan Lũng Hồ-Hán của Bắc Chu, dần dần kiểm soát triều đình Bắc Chu sau khi Bắc Chu Tuyên Đế Vũ Văn Uân kế vị. Sau khi Bắc Chu Tĩnh Đế Vũ Văn Xiển tức vị khi còn nhỏ tuổi, Dương Kiên khống chế triều chính với thân phận ngoại thích. Năm 581, Bắc Chu Tĩnh Đế thiện nhượng cho Dương Kiên, Bắc Chu mất, Dương Kiên đặt quốc hiệu là "Tùy". Năm 587, Tùy Văn Đế phế trừ Hậu Lương, đến năm 589 thì phát động chiến tranh diệt Nam triều Trần, bắt được Trần Hậu Chủ Trần Thúc Bảo. Đến lúc này, triều Tùy thống nhất thiên hạ, cục diện phân liệt từ thời Ngụy-Tấn-Nam-Bắc triều chấm dứt.
Triều Tùy tổng kết nguyên nhân hưng vong của các triều trước, tập trung vào việc duy trì quan hệ với nông dân, điều hòa quan hệ trong tập đoàn thống trị, khiến mâu thuẫn xã hội có xu hướng hòa hoãn, kinh tế và văn hóa phát triển nhanh chóng, xuất hiện cảnh tượng phồn hoa, khai sáng ra Khai Hoàng chi trị. Tuy nhiên, vào những năm cuối, Tùy Văn Đế trở nên cố chấp, đại sát công thần, khiến Tùy suy thoái. Tháng 8 năm năm 604, Tùy Văn Đế qua đời, Thái tử Dương Quảng kế vị, tức Tùy Dạng Đế. Để củng cố sự phát triển của triều Tùy, Tùy Dạng Đế cho xây dựng nhiều công trình quy mô lớn, tiến hành các cuộc chinh phục, Tùy phát triển đến cực thịnh vào đầu thời Dạng Đế. Tuy nhiên, do quá khoa trương, Tùy Dạng Đế khiến cho quốc lực hao phí, nhất là ba lần tấn công Cao Câu Ly. Cuối cùng, Tùy chìm trong các cuộc khởi nghĩa nông dân, Tùy Dạng Đế dời đông đô Lạc Dương đến Giang Đô (tức Dương Châu ngày nay). Tháng 4 năm 618, Vũ Văn Hóa Cập cùng những tướng lĩnh khác phát động binh biến, sát hại Tùy Dạng Đế. Đến tháng 6, tại Trường An, Tùy Cung Đế nhường ngôi cho Lý Uyên, triều Đường được kiến lập; tại Lạc Dương, tháng 5 năm 618, Vương Thế Sung phế Dương Đồng, Tùy mất. Từ thời Tùy mạt, diễn ra cục diện quần hùng cát cứ, cuối cùng thống nhất dưới trướng triều Đường.
Về mặt chế độ chính trị, tam tỉnh lục bộ chế do triều Tùy lập ra có ảnh hưởng sâu rộng đến hậu thế, giúp củng cố chế độ trung ương tập quyền; chế định ra chế độ khoa cử hoàn chỉnh, dùng để tuyển chọn đề bạt nhân tài ưu tú, làm suy yếu quyền hạn của sĩ quan thế tộc lũng đoạn. Ngoài ra, triều đình Tùy còn lập ra chế độ nghị sự chính sự, chế độ giám sát, chế độ khảo tích, đều giúp củng cố cơ chế chính phủ, có ảnh hưởng sâu rộng đến chế độ chính trị triều Đường và hậu thế. Về quân sự, triều Tùy tiếp tục tiến hành và cải cách chế độ phủ binh. Về kinh tế, một mặt thực hiện quân điền chế và tô dung điều chế, mặt khác lại chọn cách dùng các biện pháp "đại sách mạc duyệt" và "thâu tịch định dạng" để điều tra chính xác hơn về số hộ, nhằm gia tăng thu nhập tài chính.
Để củng cố sự phát triển của triều đại, Tùy Văn Đế và Tùy Dạng Đế cho xây dựng Đại Vận Hà và trì đạo (tức quốc lộ), xây nên Đại Hưng thành và đông đô, đồng thời xây đắp Trường Thành để bảo hộ ngoại tộc quy phụ. Các chính sách này giúp tăng cường khả năng kiểm soát của triều đình Tùy ở Quan Trung đối với khu vực phương Bắc, Quan Đông và Giang Nam; khiến kinh tế, văn hóa và nhân dân các địa phương của Tùy có thể giao lưu thuận lợi, còn hình thành trọng trấn kinh tế Giang Đô. Về mặt ngoại giao, triều Tùy thịnh thế khiến các quốc gia xung quanh như Cao Xương, Oa Quốc, Cao Câu Ly, Tân La, Bách Tế, hay nội thuộc Đông Đột Quyết đều chịu ảnh hưởng từ văn hóa và phép tắc của triều Tùy, "khiển Tùy sứ" của Nhật Bản được biết đến nhiều nhất trên lĩnh vực giao lưu ngoại giao.
== Lịch sử ==
=== Quật khởi và thống nhất ===
Năm 577, Bắc Chu diệt Bắc Tề, thống nhất Hoa Bắc, quốc lực sau đó trở nên hưng thịnh, song Bắc Chu Tuyên Đế xa xỉ phô trương, đắm chìm song tửu sắc, chính trị hủ bại, còn đồng thời có năm vị hoàng hậu. Ngoại thích Dương Kiên thừa cơ khiển trọng thần Bắc Chu ra ngoài kinh thành, dần dần kiểm soát triều chính. Ngày 8 tháng 6 năm 580, Bắc Chu Tuyên Đế bệnh mất, Dương Kiên trợ giúp Vũ Văn Xiển còn nhỏ tuổi lên kế vị, tức Bắc Chu Tĩnh Đế, Dương Kiên trở thành đại thừa tướng phụ chính. Tương châu tổng quản Uất Trì Huýnh, Vân châu tổng quản Tư Mã Tiêu Nan và Ích châu tổng quản Vương Khiêm và những người khác bất mãn trước việc Dương Kiên chuyên quyền, do vậy liên hiệp làm phản, song bị các tướng Vi Hiếu Khoan và Vương Nghị và Cao Quýnh của Dương Kiên bình định. Ngày 4 tháng 3 năm 581, Bắc Chu Tĩnh Đế thiện nhượng đế vị cho Dương Kiên, Dương Kiên đăng cơ làm hoàng đế, tức Tùy Văn Đế, kiến quốc "Tùy", Bắc Chu mất. Tùy Văn Đế có ý muốn diệt Nam triều Trần, do vậy làm theo sách lược của Cao Quýnh: quấy nhiễu sản xuất nông nghiệp của Trần, phá hoại tích trữ quân sự của Trần, khiến Trần tổn thất trầm trọng, sức kiệt không kham nổi. Sau khi giành thắng lợi trước Đột Quyết, năm 587, Tùy Văn Đế phế Tây Lương Hậu Chủ Tiêu Tông, nước Tây Lương mất. Năm sau, Tùy phát động chiến tranh diệt Trần, Tùy Văn Đế mệnh Dương Quảng, Dương Tuấn và Dương Tố là hành quân nguyên soái; Dương Quảng là tổng chủ tướng, Cao Quýnh là tham mưu, Vương Thiều là tư mã, phân binh thành tám đạo đánh Trần.
Dương Tố suất thủy quân tiến từ Ba Đông, xuôi Trường Giang về phía đông, liên hiệp với quân của Lưu Nhân Ân tại Kinh châu, chiếm lĩnh Diên châu (nay là cửa Tây Lăng Hiệp của Trường Giang, gần Chi Giang) và các vị trí phòng ngự khác của quân Trần ở thượng du. Do quân Trần ở trung du khi tiến từ Công An về phía đông cứu viện Kiến Khang thì lại bị quân Dương Tuấn chặn ở khu vực Hán Khẩu, quân Tùy do vậy có được thuận lợi ở hạ du. Ở hạ du, quần chủ lực của Tùy thừa dịp triều Trần đang vui nguyên hội (tức Xuân tiết) mà vượt Trường Giang. Hành quân tổng quản Hàn Cầm Hổ, Hạ Nhược Bật hai quân tạo thành thế gọng kìm, cùng quân của Vũ Văn Thuật bao vây Kiến Khang. Ngày 10 tháng 2 năm 589, quân Tùy tiến vào thành Kiến Khang, bắt Trần Hậu Chủ. Không lâu sau, quân Trần ở các địa phương hoặc chịu đầu hàng theo hiệu lệnh của Trần Hậu Chủ, hoặc đề kháng quân Tùy song bị tiêu diệt, duy có Tiển phu nhân ở khu vực Lĩnh Nam bảo cảnh cứ thủ. Tháng 9 năm 590, Tùy phái sứ thần Vi Quang và những người khác đi an phủ Lĩnh Nam, Tiển phu nhân suất chúng nghênh tiếp sứ Tùy, các châu Lĩnh Nam đều trở thành đất Tùy.
Đến lúc này, triều Tùy kết thúc cục diện nam bắc phân liệt trong hơn 280 năm kể từ sau loạn Vĩnh Gia, hoàn thành thống nhất Trung Quốc. Triều Tùy có nhiều nhân tài, dung hòa thế tộc Quan Trung, thế tộc Quan Đông và thế tộc Giang Nam, có Cao Quýnh giỏi mưu lược, có Tô Uy tổng quản chính sự, Vi Hiếu Khoan cùng Hạ Nhược Bật và Hàn Cầm Hổ có tài quân sự; ngoài ra còn có các trọng thần như Lưu Phưởng, Trịnh Dịch, Lý Đức Lâm, Nguyên Hài, Nguyên Trụ, Vũ Văn Hãn, hình thành một tập đoàn có tài lực.
=== Khai Hoàng chi trị ===
Để củng cố chính quyền, về mặt chính trị, Tùy Văn Đế phế trừ lục quan chế của Bắc Chu, chính thức xác lập tam tỉnh lục bộ chế. Triều đình bãi bỏ cấp quận, hình thành chế độ hai cấp châu huyện. Sau khi cải cách chế độ địa phương và bình định Nam triều Trần, Tùy tịch thu vũ khí trong nước, các chính sách này đều nhằm khiến cho thế lực các địa phương suy yếu, củng cố thể chế chính trị trung ương tập quyền quân chủ chuyên chế. Nhằm ức chế thế tộc, Tùy hạ lệnh phế trừ cửu phẩm trung chính chế từ thời Ngụy-Tấn, thiết lập chế độ khoa cử để tuyển chọn nhân tài một cách công bằng. Triều đình cũng cho thiên di thế tộc Quan Đông và thế tộc Giang Nam đến Đại Hưng thành để tăng cường kiểm soát đối với họ. Về mặt kinh tế, triều đình giảm nhẹ hình phạt và lao dịch, thực thi quân điền chế, tô dung điều chế cùng điều tra nhân khẩu để kiểm soát được nguồn thuế. Tùy Văn Đế đề xướng tiết kiệm, không cho phép các hoàng tử phung phí tiền bạc. Những điều này hình thành nên một chuẩn mực xã hội, khiến triều Tùy vào tiền kỳ trở nên giàu có khi mà của cải được tích lũy một cách nhanh chóng. Cùng với diện tích đất ruộng tăng lên nhiều, năng suất cây trồng cũng tăng cao, các kho quan trữ lương tại Trường An, Lạc Dương nhiều thì đạt 10 triệu thạch, ít thì cũng có đến vài triệu thạch. Đồng thời, thủ công nghiệp có sự phát triển mới, kỹ thuật đóng thuyền đạt đến trình độ rất cao, có thể đóng chiến hạm cực lớn có năm tầng lầu. Thương nghiệp tại Lạc Dương từng một thời cực thịnh, là nơi cư trú của mấy vạn nhà phú thương, kinh tế hiện ra cục diện phồn vinh.
Năm 584, để cải thiện việc vận chuyển vật tư đến Quan Trung, Tùy Văn Đế mệnh Vũ Văn Khải xây dựng "Quảng Thông cừ", mở đầu cho việc xây dựng một loạt các công trình sông đào, cuối cùng hình thành nên Tùy Đường Đại Vận Hà. Hệ thống sông đào to lớn này khiến cho hoạt động vận chuyển vật tư và mậu dịch nam-bắc phát triển nhanh chóng, giúp củng cố chi tiêu của triều đình bằng vật tư của Giang Nam. Trải qua các cải cách này, chính trị, kinh tế và xã hội vào tiền kỳ triều Tùy đều phát triển phồn vinh, khai sáng Khai Hoàng chi trị, hộ khẩu tăng từ hơn 4 triệu lên đến hơn 8 triệu. Xã hội tích lũy được tương đối nhiều của cải, được thuật là có thể dùng trong 50-60 năm. Khai Hoàng thịnh thế, Tùy Văn Đế lại hạ lệnh xây dựng Đại Hưng thành, tức Trường An, Đại Hưng thành là thành thị cổ đại Trung Quốc đạt mức cao siêu trên tiêu chí quy hoạch kiến thiết, là biểu hiện tổng hợp cho thực lực kinh tế và trình độ kỹ thuật triều Tùy, đương thời là một trong những thành thị có quy mô lớn nhất thế giới. Tư tưởng thiết kế và bố cục của Đại Hưng thành có ảnh hưởng sâu rộng đối với quy hoạch đô thị Trung Quốc, cũng như đối với Nhật Bản và Tân La.
"Khai Hoàng chi trị" và "Tùy triều thịnh thế" đến hậu kỳ Tùy Văn Đế thì dần suy lạc. Trong những năm cuối, Tùy Văn Đế đối với hình pháp thì đề xướng trọng hình hà khắc, cải biến chính sách "vô vi nhi trị" vào tiền kỳ Khai Hoàng. Tùy Văn Đế trong lòng nghi kị công thần cũ, đại sát công thần và tướng lĩnh khai quốc. Tùy Văn Đế lúc này có xu hướng cố chấp, lấy Pháp gia trị quốc, không đoái hoài đến bách tính, quan hệ giữa ông và đại thần ngày càng xa cách, là nguyên nhân dẫn đến cục diện thiên hạ đại loạn vào cuối triều Tùy.
Tùy Văn Đế ban đầu lập con cả Dương Dũng làm thái tử, song vì Dương Dũng có tính xa xỉ khiến cho Tùy Văn Đế không hài lòng, dần dần bị thất sủng. Con thứ là Dương Quảng và đại thần Dương Tố âm mưu cáo buộc "âm sự" của Dương Dũng, dần giành được tín nhiệm của Tùy Văn Đế. Năm 600, Tùy Văn Đế cải lập Dương Quảng làm thái tử, ngày 13 tháng 8 năm 604, Dương Quảng phát động "biến Nhân Thọ cung", Tùy văn Đế đột nhiên qua đời. Đến ngày 21 tháng 8, Dương Quảng kế vị, tức Tùy Dạng Đế, sau đó sát hại Dương Dũng và các huynh đệ khác.
=== Doanh mãn chi quốc ===
Vào sơ kỳ Tùy Dạng Đế, quốc lực vẫn hưng thịnh, Tùy Dạng Đế phát triển đông đô, mở sông đào, xây dựng trì đạo và xây đắp Trường Thành, dẫn tới phát triển kinh tế và mậu dịch giữa khu vực Quan Trung và các địa phương nam bắc; đồng thời tiến hành chinh thảo quy phục đối với các nước xung quanh, mở rộng bản đồ triều Tùy. Tuy nhiên, do bản thân Tùy Dạng Đế nóng vội, đồng thời lại bạo ngược, khiến những việc này trái lại gây nên phá hoại cho xã hội. Do Trường An nằm lệnh về phía tây, khó khăn trong việc tự cung ứng lương thực. Năm 604, Tùy Dạng Đế phái Dương Tố, Vũ Văn Khải xây dựng đông đô Lạc Dương, sang năm thứ hai thì thiên đô đến Lạc Dương để kiểm soát kinh tế Quan Đông và Giang Nam; tại các nơi như Lạc Khẩu và Hồi Lạc, triều đình Tùy cho dựng kho lương lớn nhằm dự trữ sử dụng trong trường hợp mất mùa đói kém. Mỗi tháng triều đình sai khiến 2 triệu dân đinh lao dịch, Tùy Dạng Đế lại chú trọng đến việc xây dựng cung thành hoàn hảo xa hoa, tiêu hao một lượng lớn nhân lực và vật lực. Để khơi thông vận chuyển và phát triển kinh tế giữa trung tâm kinh tế Giang Nam, trung tâm chính trị Quan Trung, các khu vực quân sự như Yên, Triệu, Liêu Đông. Tùy Dạng Đế thúc đẩy việc hình thành Đại Vận Hà. Đại Vận Hà mang lại nhiều lợi ích: kết nối các hệ thống sông quan trọng của Trung Quốc lại với nhau, hình thành mạng lưới vận chuyển; thúc đẩy sự phát triển của các thành thị ven kênh, rất nhiều thành thị thương nghiệp nổi lên, trong đó Giang Đô trở thành trọng tâm kinh tế của triều Tùy; thúc đẩy phát triển văn hóa và dung hợp dân tộc tại các địa phương, có ý kiến nhận định nó khiến cho văn minh Trung Hoa trở thành một nền văn minh hoàn chỉnh có hệ thống. Tuy nhiên, do Tùy Dạng Đế nóng vội trong việc xây dựng Đại Vận Hà, khiến nhân dân phải chịu rất nhiều gánh nặng. Dân phu đào sông phải lao dịch kéo dài mà không được nghỉ ngơi, chịu rét chịu đói, ngoài ra còn bị bệnh tật tấn công, do vậy số người tử vong rất lớn. Năm 605, Tùy Dạng Đế cho đào Thông Tế Cừ, mang theo một lượng lớn người trong hậu cung, chư vương và vệ đội theo sông đào tuần thị phương nam, trong hành trình tiêu pha rất nhiều tiền của, trưng dụng rất nhiều nhân lực và vật tư của nhân dân. Năm 607, khi Tùy Dạng Đế tuần thị phương bắc, cũng trưng dụng sức lực của cải của nhân dân để mở trì đạo qua Thái Hành Sơn đến Tịnh châu, đồng thời yêu cầu Khải Dân khả hãn (đang phụ thuộc Tùy) của Đột Quyết cho dân Đột Quyết hiệp trợ việc mở đường. Ngay từ thời Tùy Văn Đế, triều đình đã cho xây đắp Trường Thành tại các nơi như Sóc Phương, Linh Vũ; năm 608, khi Tùy Dạng Đế xuất tuần Du Lâm, lại huy động hơn một triệu tráng đinh xây dựng đoạn Trường Thành từ Du Lâm đến Tử Hà (nay là Hồn Hà ở ngoài Trường Thành, thuộc Nội Mông-tây bắc Sơn Tây) để bảo hộ Khải Dân khả hãn. Về mặt chế độ chính trị, Tùy Dạng Đế cải cách chế độ quan chế và tô điều, đồng thời bắt đầu thiết lập cấp bậc tiến sĩ, lập ra chế độ điển chương mới.
Do Tùy Dạng Đế hao phí một lượng lớn nhân lực vật tư, lại chinh thảo tứ xứ, khiến quốc lực triều Tùy tiêu hao quá nhiều. Trong đó, nghiêm trọng nhất là chiến tranh với Cao Câu Ly, cuộc chiến này là nguyên nhân khiến cho triều Tùy suy vong. Thời Tùy sơ, Đột Quyết hãn quốc rất lớn mạnh, đương thời thường tiến đánh vào đất Tùy, triều Tùy bị buộc phải xây Trường Thành và cho trọng binh trú thủ. Tháng 5 ÂL năm 582, Đột Quyết suất 40 vạn đại quân, đánh vào Trường Thành. Tháng 4 ÂL năm 583, quân Tùy phân làm 8 lộ bắc phạt Đột Quyết. Tướng Tùy dùng kế ly gián của Trưởng Tôn Thịnh, khiến hai bộ Đông Đột Quyết và Tây Đột Quyết hỗn chiến với nhau. Năm 599, Đột Lợi khả hãn của Đông Đột Quyết chiến bại hàng Tùy, đến năm 611 thì Xử La khả hãn của Tây Đột Quyết cũng hàng Tùy. Năm 605, tướng Tùy Vi Vân Khởi suất binh Đột Quyết đánh bại Khiết Đan, cơ bản giải quyết mối lo từ phương bắc. Ngoài phương bắc ra, ở khu vực Lũng Tây-Thanh Hải có Thổ Dục Hồn hãn quốc, đương thời thường có xung đột với triều Tùy; năm 596, Tùy Văn Đế phái Quang Hóa công chúa hòa thân với Thổ Dục Hồn để an phủ, năm 608, Tùy Dạng Đế phái quân chiếm lĩnh Thổ Dục Hồn. Năm sau, Tùy Dạng Đế tây tuần Trương Dịch, có đến bốn quận Hà Nguyên (nay ở đông nam Hưng Hải, Thanh Hải), Tây Hải (nay ở Hồ Tây, Thanh Hải), Thiện Thiện (nay ở Nhược Khương, Tân Cương), Thả Mạt (nay ở tây nam Thả Mạt, Tân Cương). Quân chủ và đại thần 27 nước Tây Vực nối tiếp nhau đến triều kiến Tùy đế, thương nhân các nước tập trung tại Trương Dịch để tiến hành giao dịch.
Năm 602, Tùy Văn Đế sai Lưu Phương (劉方) đem quân 27 doanh sang đánh nước Vạn Xuân, Hậu Lý Nam Đế Lý Phật Tử sợ không địch nổi nên đầu hàng. Năm 605, Tùy Dạng Đế nghe nói ở nước Lâm Ấp có nhiều của cải, bèn sai Lưu Phương đem quân đi đánh. Lưu Phương đánh bại được quân Lâm Ấp dưới quyền quốc vương Phạm Phạm Chí (梵笵志), song bị bệnh và qua đời trên đường về.
Hai nước Bách Tế và Tân La ở nam bộ bán đảo Triều Tiên là nước phiên thuộc của Tùy, họ hy vọng có thể mượn lực lượng của Tùy để chế phục Cao Câu Ly. Đương thời, tại Oa Quốc (tức Nhật Bản), phái cải cách của Thánh Đức thái tử chấp chính, ông phái "khiển Tùy sứ" để học tập văn hóa và chế độ điển chương của triều Tùy. Giữa hai nước do vấn đề xưng hô đế vương nên về mặt ngoại giao phát sinh tranh chấp về lễ nghi. song cũng chưa ảnh hưởng nghiêm trọng đến quan hệ song phương. Triều Tùy chinh thảo Cao Câu Ly theo tuyên bố là do Cao Câu Ly có ý đồ khuếch trương thế lực; khi Tùy hy vọng kiến lập thể chế triều cống, Cao Câu Ly không nghe theo, hai bên do vậy động binh. Tổng cộng, triều Tùy 4 lần phát binh chinh thảo Cao Câu Ly, khiến cho hàng triệu người thiệt mạng, nhân dân trong nước vì thế mà hết sức bất mãn với Tùy Dạng Đế. Trong thời gian tiến hành lần chinh thảo Cao Câu Ly lần thứ 4, Tùy bùng phát dân biến, tướng Tùy tương kế làm phản, triều Tùy tiến đến chỗ diệt vong.
=== Loạn lạc và diệt vong ===
Tùy Dạng Đế nhiều lần phát động chiến tranh, khiến hao người tốn của, cuối cùng dẫn đến nền chính trị gặp nguy cơ nghiêm trọng. Ngay từ năm Đại Nghiệp thứ 6 (610) thời Tùy Dạng Đế, đã bùng phát bốn lần dân biến vì phản kháng việc đi lính theo phủ binh chế, song quân Tùy trấn áp nhanh chóng. Năm Đại Nghiệp thứ 7 (611), khu vực trung hạ du Hoàng Hà (Dự Châu đạo, Ký Châu đạo, Duyện Châu đạo) ở Quan Đông bị lũ lụt, hơn 40 quận bị ngập, Vương Bạc lãnh đạo mọi người ở Trường Bạch Sơn (nay thuộc Chương Khâu, Sơn Đông) phát động dân biến, tẩy chạy cuộc chinh phục Cao Câu Ly của Tùy Dạng Đế, ra lời kêu gọi nổi danh "Vô hướng Liêu Đông lãng tử ca" (khúc ngâm không đến Liêu Đông chết uổng) Đương thời, phạm vi dân biến phần lớn tập trung tại Dự Châu đạo, Ký Châu đạo, Duyện Châu đạo, Thanh Châu đạo, Từ Châu đạo ở Quan Đông, không lâu sau bị quân Tùy trấn áp. Năm 613, Lưu Nguyên Tiến chiếm cứ Ngô quận, tự xưng thiên tử, song bị diệt cùng năm đó. Đến khi con của Dương Tố là Dương Huyền Cảm cử binh làm phản ở Lê Dương (nay ở đông bắc Tuấn huyện, Hà Nam), con em quan lại cấp cao của triều Tùy nối tiếp nhau phản Tùy, các địa phương trong nước cũng nổi dậy theo.
Đương thời quần hùng cát cứ với số lượng đông đảo:
Khu vực Hà Nam có Ngõa Cương quân của Trạch Nhượng và Lý Mật. Năm 616, nghe theo kiến nghị của Lý Mật, Trạch Nhượng đánh hạ đồn Kim Đê Quan (nay ở đông bắc Huỳnh Dương, Hà Nam), đánh hạ các huyện của Huỳnh Dương. Năm 617, Ngõa Cương quân lại công phá kho lương thực Hưng Lạc của đông đô Lạc Dương. Do Lý Mật giỏi tác chiến, Trạch Nhượng nhượng vị cho Lý Mật. Lý Mật tự phong Ngụy công, kiến quốc "Ngụy", lấy Lạc Khẩu làm căn cứ địa. Sau đó, Ngõa Cương quân chiếm lĩnh kho Hồi Lạc, uy hiếp trực tiếp thành Lạc Dương. Sau đó, Ngõa Cương quân nội bộ mâu thuẫn, Lý Mật giết Trạch Nhượng, cuối cùng quy phục Việt vương Dương Đồng.
Khu vực Hà Bắc có đội quân nổi dậy của Đậu Kiến Đức, đội quân này chuyển chiến các nơi ở Hà Bắc, chiếm cứ đại bộ phận khu vực Ký Châu, năm 618 thì tự phong là Hạ Vương, kiến quốc "Hạ".
Ở khu vực Giang Hoài, đội quân nổi dậy mạnh nhất là của Đỗ Phục Uy, Phụ Công Thạch. Hai người bắt đầu tiến hành nổi dậy tại Tề quận (nay thuộc Sơn Đông) vào năm 613, sau đó tiến về phía nam phát triển ở khu vực Giang Hoài. Năm 617, họ chiếm được Cao Bưu, cắt đứt liên hệ giữa Tùy Dạng Đế đang ở Giang Đô và phương bắc. Đỗ Phục Uy tự xưng tổng quản, Phụ Công Thạch làm trưởng sử.
Ở Tịnh Châu có Lý Uyên, năm 617, Thái Nguyên lưu thủ Lý Uyên phát động binh biến, không lâu sau đánh chiếm Trường An. Ngày 18 tháng 12 năm 617, Lý Uyên đưa Đại vương Hựu lên ngôi, tức Tùy Cung Đế, diêu tôn Tùy Dạng Đế làm thái thượng hoàng, khiến quân Tùy mất đi vùng đất hậu viện, thủ đô thất thủ khiến tâm trí quân Tùy hoảng loạn, có đến chín phần đầu hàng triều Đường và các tập đoàn khởi nghĩa địa phương khác, gián tiếp đẩy triều Tùy đến bờ diệt vong.
Thế lực mạnh nhất ở phương nam là Tiêu Tiển, năm 617, Tiêu Tiển cùng với những người khác như Đổng Cảnh Trân và Lôi Thế Mãnh cử binh phản Tùy. Năm 618, Tiêu Tiển xưng đế, kiến quốc "Lương", định đô tại Giang Lăng. Thế lực của Tiêu Tiển đông đến Cửu Giang, tây đến Tam Hiệp, nam đến Giao Chỉ, bắc đến Hán Thủy.
Năm 616, Lý Tử Thông chiếm cứ Hải Lăng; Lâm Sĩ Hoằng chiếm cứ Kiền Châu.
Năm 617, Lưu Vũ Chu chiếm cứ Mã Ấp, tự xưng thái thú; Lương Sư Đô chiếm cứ Sóc Phương, tự xưng Lương Đế; Quách Tử Hòa chiếm cứ Du Lâm, tự xưng Vĩnh Lạc Vương; Lý Quỹ chiếm cứ Vũ Uy, tự xưng Hà Tây Đại Lương Vương; Tiết Cử chiếm cứ Thiên Thủy, tự xưng Tần Đế; Lưu Vũ Chu cùng Lương Sư Đô và Quách Tử Hòa đều dựa vào Đột Quyết.
Trước cục thế này, triều đình Tùy tan rã nhanh chóng. Năm 616, Tùy Dạng Đế mệnh Việt vương Đồng lưu thủ Đông Đô, bản thân suất chúng đến Giang Đô. Tùy Dạng Đế hạ lệnh xây dựng Đan Dương cung chuẩn bị thiên đô đến Đan Dương (nay là Nam Kinh, Giang Tô). Các đại thần, vệ sĩ đi theo Tùy Dạng Đế đại đa số là người khu vực Quan Trung, không muốn sống lâu dài tại Giang Nam, cộng thêm Giang Đô hết lương, người người chạy trốn về Quan Trung. Ngày 11 tháng 4 năm 618, bọn Vũ Văn Hóa Cập, Tư Mã Đức Kham, Bùi Kiền Thông phát động binh biến, sát hại Tùy Dạng Đế, ủng hộ Dương Hạo làm hoàng đế. Vũ Văn hóa Cập sau đó suất chúng tiến về phương bắc, rồi lại sát hại Dương Hạo, tự phong Hứa Đế, kiến quốc Hứa, sang năm 619 thì bị tướng Đường Lý Thần Thông và Hạ vương Đậu Kiến Đức liên hiệp tiêu diệt. Ngày 12 tháng 6 năm 618, tại Trường An, Lý Uyên bức bách Tùy Cung Đế nhượng vị, sang ngày 16 thì Lý Uyên chính thức xưng đế, kiến lập triều Đường, tức Đường Cao Tổ. Tại khu vực Trung Nguyên, sau khi biết tin Tùy Dạng Đế mất, ngày 22 tháng 6 năm 618, tướng trấn thủ Lạc Dương là Vương Thế Sung đưa Việt vương Đồng lên ngôi, tức Tùy Cung Đế (Hoàng Thái Chủ); ngày 23 tháng 5 năm 619, Vương Thế Sung phế Dương Đồng, triều Tùy mất; đến ngày 25 thì Vương Thế Sung tự lập làm hoàng đế, đặt quốc hiệu "Trịnh".
== Cương vực và hành chính ==
Thời kỳ Tùy-Đường, quan chế địa phương từng bước hoàn thiện, Tùy Văn Đế đổi chế độ ba cấp châu-quận-huyện từ thời Hán Linh Đế thành chế độ hai cấp châu-huyện, đồng thời hợp nhất một số châu huyện, cắt giảm viên chức dư thừa, tinh giản cơ cấu chính quyền. Sang thời Tùy Dạng Đế, Tùy lại đổi châu thành quận, vẫn duy trì chế độ hai cấp. Mặc dù triều Tùy thi hành chế độ hai cấp quận (châu) và huyện, song số quận vượt xa con số 60 quận vào năm thứ 31 (210 TCN) thời Tần Thủy Hoàng, cũng như con số 103 quận vào năm Nguyên Thủy thứ 2 (2) thời Hán Bình Đế, vào thời kỳ đỉnh cao có đến 190 quận. Triều đình Tùy không thể đồng thời quan tâm đến gần 200 đơn vị hành chính cấp quận, do vậy Tùy Dạng Đế mô phỏng theo Hán Vũ Đế khi xưa, thiết lập "giám sát châu" để giám sát công việc tại các quận, giám sát châu đặt chức quan thứ sử, phụ quan có trưởng sử hay tư mã. Đương thời, Tùy có các "giám sát châu": Ký Châu đạo, Duyện Châu đạo, Thanh Châu đạo, Từ Châu đạo, Dự Châu đạo, Dương Châu đạo, Kinh Châu đạo, Lương Châu đạo và Ung Châu đạo. Ở cấp quân (châu) thì đặt chức thái thú, phụ quan có quận thừa, quận úy hay quận chính. Tại phong quốc của các chư hầu vương, đặt các quốc quan: lệnh, đại nông, úy, điển vệ, thường thị. Dưới cấp quận (châu) thì đặt khu hành chính cấp huyện, các huyện đặt huyện lệnh, phụ quan có: huyện thừa, huyện úy, huyện chính. Thủ đô còn gọi là "Kinh huyện", các huyện căn cứ theo vị trí mà phân thành "vọng huyện" và "khẩn huyện", hoặc dựa theo hộ khẩu ít hay nhiều mà phân thành bốn hạng: thượng, trung, trung hạ và hạ. Tổ chức cơ sở dưới cấp huyện là hương, lý, bảo, lân; hương đặt chức "kì lão", lý đặt chức "lý chính". "Lý chính" phụ trách khảo sát hộ khẩu, thu và giao đất đai, giám sát sản xuất nông nghiệp. Thị trấn có trên 500 hộ thì lập phường, đặt chức phường chính; ở bên ngoài thành thì lập thôn; đặt chức "thôn chính".
Tùy Văn Đế cải cách chế độ bổ nhiệm quan viên địa phương, áp dụng "chế độ thuyên tự": quan viên địa phương từ hàng cửu phẩm trở lên đều do Lại bộ bổ nhiệm và miễn nhiệm, mỗi năm lại tiến hành khảo hạch. Tá lại châu huyện cứ ba năm lại bị hoán đổi, không được phép dùng người địa phương, nhất định phải dùng người nơi khác, do đó ngăn chặn được cường hào địa chủ ở địa phương lũng đoạn chính quyền, giảm thiểu nguy cơ quan thương câu kết, tăng cường khống chế của trung ương đối với địa phương. Triều Tùy phỏng theo cửu phẩm trung chính chế, chiếu theo hoàn cảnh của các quận (châu) và huyện mà phân trên dưới, dựa vào đó mà chức quan và phẩm cấp cũng khác biệt, song tình huống cụ thể thì được ghi lại không nhiều. Ngoài ra, Ung châu, Kinh Triệu quận, Trường An huyện do yếu tố chính trị nên được quy hoạch khá đặc thù, danh xưng của trưởng quan, cách sắp xếp chức quan cũng có khu biệt. Sau khi triều Tùy diệt vong, triều Đường đổi quận thành châu, đồng thời trên cấp châu đặt giám sát khu cấp đạo, lập ra chế độ hai cấp châu và huyện.
Về cương vực, triều Tùy có chiến tranh kéo dài nhiều năm với Cao Câu Ly ở đông bắc, biên giới cố định tại khu vực Liêu Thủy. Ở biên giới phía bắc, khu vực Hà Sáo từng do Đột Quyết khống chế song sau bị Tùy chiếm lĩnh, biên giới mở rộng đến các nơi ở phía bắc Âm Sơn như Ngũ Nguyên, Định Tương, hàng phục Khải Dân khả hãn của Đột Quyết. Ở khu vực Tây Vực, triều Đường thu được Y Ngô quận (nay là địa khu Cáp Mật, Tân Cương). Nhân cơ hội Thổ Dục Hồn hãn quốc bị Cao Xa đánh bại, Tùy Dạng Đế cho quân đánh diệt Thổ Dục Hồn, chiếm được lãnh địa ở khu vực Thanh Hải, ở hành lang Hà Tây, đặt bốn quận: Thiện Thiện, Thả Mạt, Tây Hải, Hải Nguyên; thâm nhập hồ Thanh Hải và đông bộ Tây Vực. Ở tây nam, vào thời Tùy sơ có khả năng cai quản khu vực Nam Trung, vào năm 593 đặt Nam Ninh châu tổng quản tại Vị (nay thuộc Khúc Tĩnh, Vân Nam), song một vài năm sau do Thoán tộc phản kháng nên bị bãi bỏ. Ở phương nam, triều Tùy tiến đánh nước Lâm Ấp, đặt ba quận: Bỉ Cảnh, Tượng Phổ, Hải Âm; trong đó Hải Âm quận ở phía nam Nhật Nam quận thời Tây Hán, không lâu sau người Lâm Ấp thu phục đất cũ. Ngay từ thời Nam triều Lương và Trần, thủ lĩnh tộc Lý ở Nam Lĩnh là Tiển phu nhân đã được người Đam Nhĩ trên đảo Hải Nam quy phụ. Do Tiển phu nhân quyết định trung thành với Tùy, Tùy thuận lợi trong việc quản lý đảo Hài Nam, đặt Châu Nhai quận và Đam Nhĩ quận trên đảo.
== Chế độ chính trị ==
Thời kỳ Nam Bắc triều, chính phủ có tổ chức phức tạp, Tùy Văn Đế phế trừ thể chế phỏng theo Chu Lễ của Bắc Chu, sáng lập ra chế độ lục quan, chính thức xác lập tam tỉnh lục bộ chế, phát triển toàn diện thể chế trung ương tập quyền. Triều Tùy đặt ra các hư chức tam sư, tam công; mang tính cao quý trên danh nghĩa, song không có quyền lực. Thời Tùy, quyền của hoàng đế cực kỳ lớn, quyền của tể tướng bị phân cho ba cơ quan thượng thư tỉnh (thượng thư bộc xạ), môn hạ tỉnh (nạp ngôn) và nội sử tỉnh (nội sử lệnh), khiến họ kiểm soát lẫn nhau, mà lại nghe theo lệnh của Hoàng đế. Nội sử tỉnh khởi thảo chiếu lệnh, là cơ cấu quyết sách; Môn hạ tỉnh có nhiệm vụ phong bác, là cơ cấu thẩm nghị; Thượng thư tỉnh chấp hành chính lệnh, là cơ quan hành chính. Thượng thư tỉnh là trung tâm hành chính, quản lý Lục bộ, mệnh lệnh của Lục bộ lại giao cho cửu tự ngũ giám chấp hành. Cơ quan giám sát trung ương là ngự sử đài, do ngự sử đại phu phụ trách, kiểm soát hình pháp điển chế của quốc gia, chỉnh lý triều đình. Đô thủy đài quản lý vận chuyển đường thủy, quản lý Đại Vận Hà và mương thủy lợi.
Thượng thư tỉnh chủ yếu do Lục bộ: Lại bộ, Lễ bộ, Binh bộ, Dân bộ, Hình bộ, Công bộ hợp thành, mỗi bộ lại phân thành 4 ti. Lại bộ đứng đầu trong Lục bộ, kiểm soát việc tuyển dụng, thăng chức, chuyển chức, phong thưởng, xem xét thành tích công tác của quan viên; đóng vai trò quyết định trong nền chính trị quốc gia. Hộ bộ quản lý nghiệp vụ hộ khẩu, thu thuế, tính toán; duy trì chi tiêu của triều đình. Lễ bộ quản lý nghiệp vụ lễ nghi, tế tự, tiến cử, ngoại giao. Binh bộ quản lý nghiệp vụ quốc phòng như võ tuyển, do thám khảo sát, huấn luyện tướng sĩ, sản xuất vũ khí. Hình bộ quản lý nghiệp vụ pháp vụ như mệnh lệnh, hình pháp, giam cầm lao dịch. Công bộ quản lý nghiệp vụ kinh tế và hậu cần như nông nghiệp, xây dựng, thủ công nghiệp. Cửu tự ngũ giám là cơ quan xử lý công vụ của chính quyền trung ương; cửu tự phân thành: thái thường, quang lộc, vệ úy, tông chính, thái phó, đại lý, hồng lô, tư nông và thái phủ; ngũ giám có quốc tử giám, tương tác giám, thiếu phủ giám, quân khí giám, đô thủy giám. Tự giám chấp hành mệnh lệnh do Lục bộ truyền xuống, sau khi chấp hành thì phải thuật lại. Khi xử lý cụ thể sự vụ, tự giám có quan hệ lệ thuộc và thừa thụ với Lục bộ.
Thời Lương Vũ Đế, Nam triều Lương trong việc tuyển chọn nhân tài hữu dụng đã có mầm mống của chế độ khoa cử, song cửu phẩm trung chính chế từ thời Ngụy-Tấn vẫn được tiếp tục. Thời Tùy, vào năm Khai Hoàng thứ 7 (587) thời Tùy Văn Đế, chính thức thiết lập chế độ khoa cử, thay thế cửu phẩm trung chính chế, từ đó trong việc tuyển quan không cần tra hỏi về gia thế. Chế độ khoa cử vào sơ kỳ được tiến hành bằng việc các châu mỗi năm tuyển chọn tiến cử ba nhân tài, tham gia khảo thí 'tú tài khoa' và 'minh kinh khoa'; năm Đại Nghiệp thứ 2 (606) thời Tùy Dạng Đế, tăng thêm 'tiến sĩ khoa'. Đương thời, tú tài thi phương lược (phương pháp và mưu lược), tiến sĩ thi thời vụ sách (trả lời câu hỏi luận thời vụ), minh kinh thi kinh thuật; hình thành một khuôn khổ hoàn chỉnh cho chế độ phân khoa tuyển tài quốc gia. Đương thời, 'minh kinh' là cao cấp nhất, 'tiến sĩ' xếp sau. Đương thời, chế độ tuyển sĩ chỉ gọi là 'tú tài khoa', có khác biệt nhất định so với khoa cử thời Đường. 'Tú tài khoa' có thể được xem là khởi đầu cho khoa cử, so với thời Đường sau này thì không hoàn chỉnh, trên thực tế tác dụng chọn kẻ sĩ làm quan không lớn, song vẫn cải biến được cục diện thế tộc lũng đoạn quan chức. Chế độ khoa cử chiếu theo yêu cầu đã có từ lâu về địa vị chính trị của thứ tộc địa chủ, hòa hoãn mâu thuẫn giữa họ với triều đình, khiến họ trung thành với triều đình, đối với triều đình có lợi ích là tuyển chọn được nhân tài giúp tăng cường hiệu suất chính trị, có tác dụng tích cực trong củng cố thể chế trung ương tập quyền. Dựa trên những kinh nghiệm từ việc thi hành chế độ khoa cử vào thời Tùy, chế độ khoa cử vào thời Đường đạt đến mức thành thục.
Luật pháp Bắc Chu có khi lỏng lẻo, có khi khắt khe, việc kiểm soát không tốt, dẫn đến hình phạt hỗn loạn. Sau khi Tùy Văn Đế tức vị, vào năm 581 mệnh Cao Quýnh và những người khác tham khảo luật chế cũ của Bắc Chu và Bắc Tề để định ra pháp luật. Năm 583, Hoàng đế lại khiển Tô Uy và những người khác tu đính thêm, hoàn thành "Khai Hoàng luật". "Khai Hoàng luật" lấy "Hà Thanh luật" của Bắc Tề làm nền tảng, tham khảo luật điển của Bắc Chu và Nam triều Lương, giản hóa luật văn. Sử gọi là "hình võng giản yếu, sơ nhi bất thất" (lưới pháp luật ngắn gọn súc tích, thưa mà không để lọt), quy định đối với người phạm 10 tội: mưu phản, mưu đại nghịch, mưu bạn, ác nghịch, bất đạo, đại bất kính, bất hiếu, bất mục, bất nghĩa, nội loạn thì sẽ bị nghiêm khắc trừng trị không tha thứ, triều Đường sau này tiếp tục sử dụng. "Khai Hoàng luật" gồm 12 quyển, 500 điều, hình phạt phân thành 5 chủng: 'tử hình' (giết), 'lưu hình' (đày), 'đồ hình' (làm việc nặng), 'trượng hình' (đánh trượng), 'si hình' (đánh roi) với 20 cấp. Bộ luật này lại bỏ các hình phạt thảm khốc của các triều trước như 'tiên hình' (đánh roi tàn bạo), 'kiêu thủ' (chém rồi bêu đầu), là cơ sở pháp điển của các triều đại sau này.
== Ngoại giao ==
Về giao lưu đối ngoại, triều Tùy chủ trương thi hành thế chế triều cống với các nước thần phục, các nước phiên thuộc tôn triều Tùy làm tông chủ, triều cống định kỳ, chung sống hòa bình. Nếu có quốc gia không muốn thần phục, khi cần thiết triều Tùy sẽ lựa chọn thủ đoạn chiến tranh để uy phục. Nếu như có quốc gia nào xâm phạm một quốc gia khác, triều Tùy sẽ bang trợ cho nước yếu đánh bại nước mạnh để duy trì thể chế triều cống. Nếu một quốc gia thần phục triều Tuỳ, sẽ nhận lại được ưu đãi của triều Tùy, do vậy xuất hiện cục diện rất nhiều nước khiển sứ đến Tùy, song do Tùy Dạng Đế quá khoa trương, lãng phí không ít nhân lực và vật tư.
Ở phương bắc, sau khi Thổ Môn khả hãn tiêu diệt Nhu Nhiên, Đột Quyết hãn quốc trở thành cường quốc ở Mạc Nam và Mạc Bắc, không triều đại Bắc triều nào không tiến cống Đột Quyết. Tuy nhiên, sau khi Đà Bát khả hãn qua đời, Đột Quyết đại loạn, đồng thời xuất hiện đến 5 vị khả hãn, trong đó Sa Bát Lược khả hãn là đại khả hãn, Am La là Đệ nhị khả hãn, Đại La Tiện là A Ba khả hãn, Điếm Quyết là Đạt Đầu khả hãn. Năm 583, do triều Tùy không tiếp tục tiến cống Đột Quyết, cộng thêm thỉnh cầu từ Thiên Kim công chúa của Bắc Chu, Sa Bát Lược khả hãn quyết định phát binh đánh Tùy. Trải qua nhiều trận chiến, Tùy Văn Đế đánh bại Đột Quyết, đồng thời sử dụng mưu kế của Trưởng Tôn Thịnh nên khiến cho Đột Quyết hãn quốc chính thức phân liệt thành Đông Đột Quyết và Tây Đột Quyết. Năm 599, Khải Dân khả hãn của Đông Đột Quyết chiến bại hàng Tùy, đến năm 611 thì Nê Quyết Xử La khả hãn của Tây Đột Quyết cũng chiến bại hàng Tùy, uy hiếp từ Đột Quyết tạm thời được giải trừ. Năm 605, tướng Tùy Vi Vân Khởi suất binh sĩ Đột Quyết đánh bại Khiết Đan, Vi Vân Khởi truyền lời mượn đường qua Liễu Thành và qua lại Cao Câu Ly, rồi suất quân tiến vào. Quân Vi Vân Khởi tiến đến nơi cách đại doanh Khiết Đan 50 lý, đột nhiên phát động tiến công, đánh bại quân Khiết Đan. Năm 606, Khải Dân khả hãn của Đột Quyết đến chầu, Tùy Dạng Đế chiêu tập nhạc nhân toàn quốc để chiêu đãi Khả hãn. Năm sau, Tùy Dạng Đế đến Du Lâm, lệnh cho Vũ Văn Khải dựng lều lớn, mời Khải Dân khả hãn và tộc trưởng các tộc Khiết Đan, Hề, Tập tham gia đại yến, đồng thời xem tán nhạc, Dạng Đế còn tặng cho họ một lượng lớn tơ lụa. Tùy Dạng Đế cũng mệnh Vũ Văn Khải dựng đại điện tạm thời, gọi là 'quan phong hành điện'. Ngoại tộc tại địa phương nghĩ rằng nó mang công lực thần linh, cứ mỗi khi trông thấy ngự doanh, ngoài 10 lý đã quy phục khấu đầu, đi bộ không dám cưỡi ngựa. Tuy nhiên, vào thời Tùy mạt Đường sơ, quần hùng các nơi như Tiết Cử, Vương Thế Sung, Lưu Vũ Chu, Lương Sư Đô, Lý Quỹ, Cao Khai Đạo nối tiếp nhau xưng thần với Đông Đột Quyết để cầu viện, Đông Đột Quyết hiệp trợ họ làm loạn, làm suy yếu triều đình Trung Nguyên.
Đương thời, con đường tơ lụa Tây Vực lấy Đôn Hoàng làm xuất phát điểm, phân thành ba đường về phía tây, từ Y Ngô (nay thuộc Cáp Mật, Tân Cương) gọi là bắc lộ, từ Cao Xương là trung lộ, từ Thiện Thiện là nam lộ, từ đông sang tây dài gần 2 vạn lý. Ngoài các nước có từ trước như Thổ Dục Hồn, Cao Xương, Yên Kỳ, Quy Từ, Sơ Lặc, Vu Điền, tại khu vực Trung Á còn có các nước Thổ Hỏa La, Chiêu Vũ cửu tính, và đế quốc Sassanid cường thịnh. Thổ Dục Hồn hãn quốc là cường quốc nằm ở Thanh Hải, Hà Tây. Thủy tổ của Thổ Dục Hồn hãn quốc là Mộ Dung Thổ Dục Hồn, con của Mộ Dung Thiệp Quy, do bất hòa với Mộ Dung Hối nên suất chúng Tiên Ti dời về phía tây, cuối cùng định cư tại khu vực Thanh Hải. Thổ Dục Hồn hãn quốc được lập vào năm 329, chế độ phép tắc tương đồng với chế độ triều Tấn, còn phong tục thì tương tự như Nhu Nhiên và Đột Quyết. Năm 608, triều thần của Tùy là Bùi Củ xúi giục Cao Xa tập kích Thổ Dục Hồn, Thổ Dục Hồn cầu Tùy phái viện quân đến. Tùy Dạng Đế thừa cơ xuất binh, đến năm sau thì diệt Thổ Dục Hồn, Bồ Tát Bát khả hãn chạy trốn. Triều đình Tùy đặt 4 quận: Thiện Thiện, Thả Mạt, Tây Hải, Hà Nguyên để quản lý hành lang Hà Tây. Năm 615, triều Tùy trên bờ sụp đổ, Bồ Tát Bát khả hãn phục quốc thành công, cuối cùng đến năm 663 thì bị Thổ Phồn diệt. Tùy Dạng Đế chi ra rất nhiều vật tư tiền bạc để phô trương thanh uy của triều Tùy, lệnh cho các quận huyện ven con đường tơ lụa chiêu đãi người Tây Vực, đến khi Tùy mất mới thôi. Đương thời, thương nhân Tây Vực tập trung tại Trương Dịch, Tùy Dạng Đế lệnh cho Bùi Củ lưu lại Trương Dịch quản lý vấn đề thông thương. Bùi Củ căn cứ theo phong tục dân tình của các nước, soạn viết "Tây Vực đồ kỳ". Năm 609, sau khi diệt Thổ Dục Hồn, Tùy Dạng Đế đến Trương Dịch chiêu kiến quân chủ các nước Tây Vực. Kết quả, quân chủ và đại thần của 27 nước Tây Vực đến dự yến, như Cao Xương vương Khúc Bá Nhã. Để thể hiện sự giàu có đầy đủ của quốc gia, vào tết Nguyên Tiêu năm 610, Tùy Dạng Đế ở đông đô cho biểu diễn nhạc vũ tạp kỹ chiêu đãi người Tây Vực, giữa đêm đốt đèn chiếu sáng như ban ngày, trăng lặn mới thôi. Đồng thời mời người Tây Vực uống rượu no say, người Tây Vực qua đó nhận thấy sự phô trương xa hoa quá độ của Tùy Dạng Đế.
Ở phương nam, Tùy đặt Nam Ninh châu (tức Ninh châu thời Nam triều) tại khu vực Nam Trung, song trên thực tế do hào tộc Thoán thị tại địa phương quản lý, Thoán thị cũng phát triển thành dân tộc. Không lâu sau, Thoán tộc phản Tùy, đến năm 597 Tùy Văn Đế khiển Sử Vạn Tuế suất binh chinh thảo, giành chiến thắng tại khu vực sông Tây Nhị, Điền Trì. Các nhân vật chủ yếu của Thoán tộc là Thoán Chấn, Thoán Ngoạn vào triều, song bị Tùy Văn Đế giết. Đến thời Tùy mạt, Thoán tộc phân liệt thành Đông Thoán và Tây Thoán, Đông Thoán gọi là "Ô Man", Tây Thoán gọi là "Bạch Man". Tây Thoán do 6 bộ lạc hợp thành, cũng gọi là Lục Chiếu, trong Lục Chiếu thì Mông Xá Chiếu là tiền thân của Nam Chiếu và Đại Lý. Nhìn vào việc kinh lược của triều Tùy tại Nam Trung, như học giả Phương Quốc Du chỉ ra, là phần nhiều dựa vào vũ lực mà ít thiết lập tổ chức chính trị. Ở phía nam, có các nước Lâm Ấp, Xích Thổ, Chân Lạp, Bà Lợi; Tùy Dạng Đế từng phái Thường Tuấn, Vương Quân Chính đi sứ sang Xích Thổ. Năm 608, Thường Tuấn đem theo 5000 tấm tơ lụa tặng cho Xích Thổ quốc vương Cù Đàm Lợi Phú Đa Tắc (瞿曇利富多塞), ông đi thuyền từ Nam Hải quận đến Xích Thổ. Quốc vương của Xích Thổ khiển vương tử Na Da Già (那邪迦) theo Thường Tuấn sang Tùy, Tùy Dạng Đế ban cho Na Da Già quan vị và vật phẩm.
Ở phía đông bắc và đông của Tùy có các nước Cao Câu Ly, Bách Tế, Tân La, Oa Quốc và Lưu Cầu. Cao Câu Ly là cường quốc trong khu vực, quốc đô là Trường An thành (nay thuộc Bình Nhưỡng, Triều Tiên). Sau khi Tùy diệt Nam triều Trần, Bình Nguyên Vương của Cao Câu Ly liền chuẩn bị phòng ngự trước khả năng quân Tùy xâm phạm. Năm 598, Anh Dương Vương của Cao Câu Ly đem theo hơn vạn người tiến đánh Liêu Tây. Tùy Văn Đế sau đó phát động 30 vạn đại quân, theo hai đường thủy lộ tiến công Cao Câu Ly. Tuy nhiên, đường bộ hiểm ác, tử thương thảm trọng, Tùy Văn Đế chỉ muốn thoái binh, sau đó Anh Dương Vương khiển sứ đến thỉnh hỏa, hai bên hòa bình. Sau này, Tùy Dạng Đế lại tiếp tục đi theo đường cũ của phụ hoàng, ba lần thực hiện chiến tranh quy mô lớn chống Câu Câu Ly trong các năm 612, 613, 614; trong đó quân Tùy thảm bại trong cuộc chiến năm 612, hao phí cực kỳ nhiều nhân lực và vật tư, tăng thêm gánh nặng cho nhân dân, sau đó phát sinh dân biến. Bách Tế vào những năm đầu Khai Hoàng đã khiển sứ đến Tùy, Tùy phong cho Dư Xương là "Thượng Khai phủ, Đái Phương quận công, Bách Tế vương". Sau khi Tùy diệt nam triều Trần, có chiến thuyền trôi dạt trên biển, được Bách Tế cung cấp cho vật tư đầy đủ đưa về, đồng thời phái sứ đến chúc hạ triều Tùy thống nhất Trung Hoa. Khi Tùy Dạng Đế đánh Cao Câu Ly, Bách Tế từng điều động quân trong lãnh thổ, tuyên bố là hiệp trợ quân Tùy, song trên thực tế vẫn duy trì quan hệ hữu hảo với Cao Câu Ly, bảo vệ lợi ích của hai nước. Tân La vào năm 594 khiển sứ đến Tùy, Tùy phong cho Chân Bình Vương của Tân La là "Thượng Khai phủ, Lạc Lãng quận công, Tân La vương". Trong những năm Đại Nghiệp thời Tùy Dạng Đế, Tân La thường khiển sứ sang Tùy. Oa Quốc (tức Nhật Bản) từng nhiều lần phái sứ sang Trung Quốc thông hảo, năm 600 lại đem theo vài chục sa môn (tức tăng lữ) sang Tùy học Phật pháp. Năm 607, Thôi Cổ thiên hoàng của Đại Hòa phái khiển Tùy sứ Tiểu Dã Muội Tử chuyển quốc thư cho Tùy Dạng Đế, tuy nhiên trong thư lại ghi Hoàng đế Tùy là "nhật một Thiên tử" (thiên tử xứ Mặt Trời lặn), Tùy Dạng Đế do vậy rất tức giận. Năm sau, Tiểu Dã Muội Tử lại đi sứ sang Tùy, trong quốc thư đổi cách gọi là "Đông thiên hoàng kính Bạch Tây hoàng đế" để quan hệ hai bên được hòa hoãn. Tùy Dạng Đế vào năm 608 phái Bùi Thế Thanh sang Nhật. Tùy Dạng Đế vào năm 607 và 608 phái Chu Khoan đi Lưu Cầu (nay có thể là quần đảo Ryukyu hoặc Đài Loan) để "úy phủ" nước ấy, song Lưu Cầu không thuận theo. Năm 610, Tùy Dạng Đế lại phái Trần Lăng, Trương Trấn Châu suất vạn binh tiến đánh Lưu Cầu, đánh giết vua nước này là Hoan Tư Khát Tứ Đâu (歡斯渴刺兜), bắt vài nghìn nam nữ rồi trở về. Trong thời gian Tùy tiến đánh, người Lưu Cầu từng đến chỗ quân Tùy tiến hành hoạt động mậu dịch.
== Chế độ quân sự ==
Về chế độ quân sự, triều Tùy phân đặt chư vệ, chế độ thống soái quân phủ bảo vệ bắt nguồn từ 'thập nhị đại tướng quân chế' từ thời Tây Ngụy-Bắc Chu; đặt ra tư vệ, tư võ quan, thống soái phủ binh bảo vệ cung cấm; lại có Vũ hầu phủ thống soái phủ binh tuần cảnh kinh thành, đều đặt một 'thượng đại phu'. Thời Tùy sơ, vẫn theo chế độ của Bắc Chu, Tùy Văn Đế đặt ra thập nhị vệ do trung ương quản lý, tiền thân của thập lục vệ. Thập nhị vệ phân thành tả/hữu dực vệ, tả/hữu kiêu kỵ vệ, tả/hữu vũ vệ, tả/hữu đồn vệ, tả/hữu hậu vệ, tả/hữu ngự vệ. Thập nhị vệ phụ trách phòng vệ và chinh chiến, trong đó phòng vệ phân thành 'nội vệ' và 'ngoại vệ'. Khi có chiến sự, hoàng đế hạ chiếu mệnh cho 'hành quân nguyên soái' hay 'hành quân tổng quản' làm quan chỉ huy thời chiến, hợp thành tổ chức tác chiến. Như trong cuộc chiến tranh tiêu diệt Nam triều Trần, do vùng chiến sự tương đối lớn, Dương Quảng, Dương Tuấn và Dương Tố là 'hành quân nguyên soái', trong đó Dương Quảng thống nhất điều độ. Trong chiến tranh giữa Tùy và Đột Quyết, Lý Hoảng được bổ nhiệm là 'hành quân tổng quản'. Trong chiến tranh giữa Tùy và Thổ Dục Hồn, Lương Viễn được bổ nhiệm làm 'hành quân tổng quản'. Sau khi kết thúc tác chiến, chức vụ 'hành quân tổng quản' cũng bị bãi bỏ, quân đội được giao trả lại cho tổng quản các nơi. Năm Đại Nghiệp thứ 3 (607), Tùy Dạng Đế đem thập nhị vệ mở rộng thành chế độ "vệ thống phủ", điều này là nhằm khuếch trương lực lượng quân sự, tăng cường lực lượng thị vệ trung ương và phân tán quyền lực của các tướng. "Vệ thống phủ" có 12 vệ và 4 phủ, gọi chung là thập lục vệ hoặc thập lục phủ; bốn phủ thành lập mới là tả/hữu bị thân phủ và tả/hữu giám môn phủ. Thập nhị vệ phụ trách thống lĩnh phủ binh và phòng vệ kinh thành; tứ phủ không lãnh đạo phủ binh, tả/hữu bị thân phủ phụ trách hộ vệ Hoàng đế, tả/hữu giám môn phủ phân quản tại các cổng của cung điện. Thập nhị vệ chỉ huy ngoại quân, 'kiêu kị vệ quân' thuộc tả/hữu dực vệ, 'báo kị quân' thuộc tả/hữu kiêu vệ, 'hùng cừ quân' thuộc tả/hữu vũ vệ, 'vũ lâm quân' thuộc tả/hữu đồn vệ, 'xạ thanh quân' thuộc tả/hữu ngự vệ và 'thứ phi quân' thuộc tả/hữu hậu vệ; Tả/hữu dực vệ kiêm lĩnh nội quân. Nội quân chỉ binh sĩ 'ngũ quân phủ' do ba vệ thân, huân, dực của tả/hữu dực vệ quản lý, cùng với tam vệ tam phủ của Đông cung, đều do con em quan lại cấp cao đảm nhiệm.
Tùy Văn Đế cũng phân toàn quốc thành các khu vực quân sự, đặt chức tổng quản phụ trách quân sự tại các khu vực này, thời bình thì phòng bị biên cảnh, thời chiến thì phụng mệnh xuất chinh; có tổng quản phủ phân thành ba hạng: thượng, trung, hạ. Ngoài ra, còn có tứ đại tổng quản: Tấn vương Dương Quảng canh giữ Tịnh châu, Tần vương Dương Tuán canh giữ Dương châu, Thục vương Dương Tú canh giữ Ích châu, Vi Thế Khang canh giữ Kinh châu. Triều Tùy tổng cộng đặt 30-50 tổng quản, lấy Trường An làm trung tâm mà phân thành tứ đại quân khu: Đông, Tây, Nam, Bắc; trú thủ tại các châu để chống ngoại hoạn. Triều Tùy lấy khu vực biên cương phương bắc là trọng điểm, trấn thủ đất hiểm yếu. Quân khu cả thảy có: Bát phủ Bắc và Tây Bắc, chủ yếu phòng ngự Đột Quyết hãn quốc; Thất phủ Đông Bắc phòng ngự Đột Quyết hãn quốc và Khiết Đan; Bát phủ Trung Tây bộ bảo vệ quanh kinh thành, cứ thủ đầu nguồn sông; Cửu phủ Đông Nam canh giữ những nơi có địa hình hiểm yếu ở phương nam; còn có Điệp châu để phòng ngự Thổ Dục Hồn, Nam Ninh châu để áp chế Thoán tộc; về sau lại tăng thêm hai phủ Toại-Lô để phòng ngự các bộ lạc ở Tây Nam. Về sau, triều Đường kế thừa cách làm này, đồng thời phát triển thành các quân khu hay giám sát khu gọi là 'đạo'.
Tùy Văn Đế đối với "phủ binh chế" cũng có những cải cách, đem chế độ phẩm cấp quan chức Bắc Chu và văn thần võ tướng vào trong một hệ thống đẳng cấp đồng nhất. Năm 590, ban bố mệnh lệnh đưa quân hộ nhập vào dân hộ, quân nhân ngoài quân tịch bản thân, cũng có thể cùng gia thuộc nhập vào hộ tịch địa phương, chiếu theo 'quân điền chế' mà nhận ruộng, miễn trừ thuế, đồng thời chiếu theo quy định phải luân phiên đến kinh thành phòng vệ, hoặc chấp hành nhiệm vụ khác. Mệnh lệnh này giảm bớt được gánh nặng kinh tế của triều đình trung ương, đồng thời khiến quân nhân có thể sống cùng gia thuộc, cũng mở rộng nguồn binh của triều đình, được gọi là 'binh nông hợp nhất'.
== Nhân khẩu ==
Thời Ngũ Hồ thập lục quốc và Nam-Bắc triều, các dân tộc du mục và dân tộc nông nghiệp có sự giao thoa về văn hóa, đến Tùy triều thì hình thành Hán-Hồ dung hợp văn hóa, các dân tộc ở lưu vực Hoàng Hà và Trường Giang dung hợp, lấy tộc Hán làm chủ thể, tạo thành tộc Hán mới. Thời kỳ Ngụy-Tấn-Nam-Bắc triều, do chiến tranh kéo dài nên số hộ khẩu trên thực tế suy giảm; do chiến tranh và thuế nặng nên người dân che giấu về hộ khẩu, dẫn đến số hộ điều tra được ít hơn so với thực tế; thế tộc có nhu cầu sử dụng một lượng lớn nhân lực để sản xuất nông nghiệp, bao gồm những người trốn tránh việc nộp thuế. Xuất hiện hiện tượng "bách thất hợp hộ, thiên đinh cộng tịch" (trăm nhà hợp thành một hộ, nghìn đinh cùng chung hộ tịch), khiến số hộ khẩu mà triều đình thống kê được ít hơn nhiều con số thực tế. Đến thời Tùy, số hộ khẩu bắt đầu tăng lên nhanh chóng, chủ yếu là do thuế nhẹ và lao dịch ít, cộng thêm việc chính trị thế tộc và chế độ trang viên bị suy yếu, nhân dân tình nguyện thoát ly sự bảo hộ của thế tộc để tự lập môn hộ. Do thống kê chính xác số khẩu sẽ đảm bảo được nguồn thu thuế, Cao Quýnh lệnh cho các quan châu huyện đều phải kiểm tra hộ khẩu mỗi năm, do vậy địa phương không thể che giấu nhân khẩu. Năm Khai Hoàng thứ 5 (585) thời Tùy Văn Đế, Hoàng đế hạ lệnh cho quan châu huyện kiểm tra hộ khẩu, thân thuộc có quan hệ xa từ "đường huynh đệ" (huynh đệ con chú con bác) trở đi đều phải tách hộ tịch, đồng thời mỗi năm thống kê một lần, do vậy phương bắc thống kê được thêm hơn 1,64 triệu khẩu.
Thời Tùy, nhân khẩu gia tăng nhanh chóng, diện tích đất canh tác được mở rộng và kho lương quốc gia dồi dào. Theo "Tùy thư-Địa lý chí", theo số liệu từ các quận thì toàn quốc có 9.073.926 hộ, khôi phục số hộ dưới thời Đông Hán trước đó 4 thế kỷ, năm 613 có 44,5 triệu người. Trong vòng 26-27 năm, quốc gia tăng thêm 428 vạn hộ, nhân khẩu tăng thêm hơn 17 triệu người. Cùng với việc lực lượng lao động tăng thêm, kinh tế-xã hội cũng xuất hiện cảnh tượng phồn vinh, thu nhập của triều đình tăng lên. Năm 592, dự trữ lương thực và lụa hoa chất cao như núi, sử tịch thuật lại là phủ khố đều đầy ắp, buộc phải tích trữ ở dưới hiên, ở một mức độ nhất định đã phản ánh sự phát triển của nền nông nghiệp thời Tùy.
== Kinh tế ==
Nhằm ổn định kinh tế, Tùy Văn Đế đề ra rất nhiều chính sách khiến cho nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp đều phát triển. Chế độ kinh tế triều Tùy về cơ bản kế thừa chế độ cũ của Bắc Chu, tô dung điều chế là chế độ phục dịch chủ thể, dựa trên cơ sở quân điền chế. Nhằm đảm bảo nguồn lương thực ổn định cho khu vực Quan Trung, triều đình Tùy cho xây dựng rất nhiều kho lương lớn, đến những năm cuối thời Tùy Văn Đế, lượng tích trữ được thuật lại là đủ dùng trong 50-60 năm. Thủ công nghiệp điển hình là nghề dệt tơ, nghề gốm sứ, và đóng thuyền. Trong đó, khi khai quật các ngôi mộ tại những khu vực nay thuộc An Dương của Hà Nam, Tây An của Thiểm Tây; đã tìm được bình sứ trắng thiên nga, có đặc tính cứng, tạo hình đẹp, là một trong những đồ sứ trắng có niên đại sớm nhất được phát hiện tại Trung Quốc. Thống nhất khiến cho thương nghiệp triều Tùy phát hiển rất nhiều so với thời Ngụy Tấn Nam Bắc triều. Đương thời, đô thị có quy mô đồ sộ, thương nghiệp phồn hoa lần lượt có Trường An, Lạc Dương, Giang Đô, Thành Đô, Quảng Châu, hiếm thấy tại thế giới đương thời.
=== Nông nghiệp ===
Tùy Dạng Đế chọn cách thi hành giảm nhẹ thu thuế, lao dịch, hình phạt và kiểm chứng hộ khẩu, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp. Với "quân điền chế" từ thân vương và quan viên ở trên đến bình dân ở dưới đều có một số lượng đất ruộng nhất định Trong đó, 'vĩnh nghiệp điền' vĩnh viễn không cần trả lại, còn 'lộ điền' thì sau khi người được giao qua đời thì lại thuộc về quan phủ. Thời Tùy, vẫn còn một số lượng nhất định đất hoang, có thể tiếp tục thực hiện 'quân điền chế' từ thời Bắc triều, tuy nhiên xuất hiện việc phân phối đất đai không đều ở một bộ phận khu vực. Tô Uy kiến nghị giảm thiểu phần của công thần để thêm cho bách tính, song bị Vương Nghị phản đối nên không thành. Đương thời, chế độ trang viên tiếp tục tồn tại ở phương nam, "quân điền chế" chỉ cho thấy một số hiệu quả tại phương bắc. Ngoài ra, tại khu vực biên cương, triều Tùy thi hành "đồn điền chế" để duy trì chi tiêu cho quân đội. Tô dung điều chế triều Tùy kế thừa chế độ thời Bắc Chu, đưa lao dịch: "tô điều lực dịch' và 'dung quyên' vào chế độ thu thuế. Tùy Dạng Đế còn miễn thuế cho phụ nhân, bộ khúc, phụ tì; lao dịch và thuế ruộng thuế vải dựa trên số 'đinh' mà thu. Giống như trước khi thống nhất, có một lượng tương đối nhân khẩu dựa vào hào tộc mà trở thành "phù hộ", để tiếp tục có được con số về hộ khẩu, đồng thời đảm bảo trưng thu thuế và lao dịch được chính xác, triều đình gia tăng quản lý đối với nhân dân, thi hành "đại sách mạo duyệt" và "thâu tịch chế", đem người phụ thuộc từ thế lực của hào tộc sang nằm dưới quyền quản lý của quốc gia, thành dân xếp vào hộ, gia tăng thu nhập từ thu thuế và lao dịch cho triều đình.
Do nhân khẩu liên tục tăng trưởng, cung cấp cho nông nghiệp một lượng lớn sức lao động, khiến diện tích đất ruộng cày cấy không ngừng gia tăng. Năm 589, diện tích đất canh tác là 19.404.167 khoảnh, đến thời Tùy Dạng Đế tăng lên 55.854.040 khoảnh. Trong thời gian Tùy Văn Đế tại vị, còn hết sức khôi phục, xây dựng, cải tạo rất nhiều công trình thủy lợi, như Thược Bi tại Thọ châu (nay thuộc Thọ huyện, An Huy), tưới nước cho hơn 5.000 khoảnh ruộng.
Trong điều kiện lương thực sung túc, để lưu trữ lương thực nhằm đề phòng mất mùa đói kém, Tùy Văn Đế cho thiết lập "quan thương" và "nghĩa thương" tại các châu trên toàn quốc, "nghĩa thương" để phòng nạn nhỏ, "quan phương" phòng nạn lớn. Để bảo đảm ổn định lương thực cho khu vực Quan Trung, triều đình cho thiết lập rất nhiều kho lương lớn tại các nơi như Trường An, Lạc Dương, Lạc Khẩu, Hoa châu (nay thuộc Hoa huyện, Thiểm Tây) và Thiểm châu (nay thuộc Thiểm huyện, Hà Nam); tại Trường An, Tịnh châu (nay là Thái Nguyên, Sơn Tây) có lưu trữ một lượng lớn vải vóc. "Nghĩa thương" còn gọi là "xã thương", vốn là kho lương do dân gian sử dụng. Năm 585, Tùy Văn Đế nghe theo kiến nghị của Độ chi thượng thư Trưởng Tôn Bình, lần đầu cho thiết lập "nghĩa thương". Năm 596, triều đình lệnh cho các châu khi thu hoạch, phải dành ra một phần lương thực lưu giữ trong "nghĩa thương", để cứu tế khi có hoạn nạn. "Nghĩa thương" phần lớn đặt tại vùng thôn quê, song ở các địa phương tây bắc thì đặt tại huyện thành, tiện lợi cho việc mở kho. Đến những năm cuối thời Tùy Văn Đế, lượng lương thực tích trưc trong toàn quốc được thuật là đủ dùng trong 50-60 năm.
Tuy nhiên, triều Tùy quản lý tập trung quá mức vật tư của quốc gia, dần làm tăng gánh nặng cho nhân dân. Những năm cuối, Tùy Văn Đế đề xướng hình pháp nghiêm khắc, các quan lại vì sợ tội nên không dám phát lương cứu tế bách tính, dẫn đến kho lương không kịp thời phát huy công năng trong thiên tai nhân họa. Do đó, khiến các kho lương tích trữ đầy đủ, song lại tỷ lệ nghịch với mức sinh hoạt của dân chúng, các kho lương sau này trở thành mục tiêu tấn công trong các cuộc nổi dậy chống triều đình Tùy. Đến thời Tùy Dạng Đế, do phô trương xa xỉ và gây chiến liên miên, hao phí một lượng lớn của cải của quốc gia, khiến sản xuất xã hội bị phá hoại nghiêm trọng. Năm 613, Sơn Đông và Hà Nam xảy ra thủy tai, nông nghiệp mất mùa, ruộng đất phần nhiều bỏ hoang. Cùng với thiên tai nhân họa, quan lại cấu kết với thương nhân nâng vật giá, địa chủ phú hào thừa cơ cho vay nặng lãi, khiến bùng phát dân biến Tùy mạt.
=== Thủ công nghiệp ===
Quy mô tổ chức và trình độ thủ công nghiệp thời Tùy trên nhiều khía cạnh đều vượt quá các triều đại trước, trong đó đại biểu là nghề dệt tơ, nghề gốm sứ, nghề đóng thuyền. Khu vực Hà Bắc, Hà Nam, Tứ Xuyên và Giang Nam đều là những nơi sản xuất sản phẩm dệt tơ. "Vải lụa vân" (lăng vân bố) của Tương châu (nay là An Dương, Hà Nam) rất tinh tế và đẹp; gấm Tứ Xuyên (Thục cẩm) cũng rất có danh tiếng. Phụ nữ khu vực Tuyên Thành, Ngô quận (nay là Tô Châu), Cối Kê (nay là Thiệu Hưng), Dư Hàng ở Giang Nam chăm chỉ se sợi dệt vải, vải Kê Minh (Kê Minh bố) là nổi tiếng nhất. Về gốm sứ, kỹ thuật tuyển luyện đất và tráng men đều được nâng cao. Trong đó, khi khai quật các mộ cổ tại An Dương của Hà Nam, Tây An của Thiểm Tây đã tìm thấy bình sứ men trắng (bạch từ) hình thiên nga, có tính cứng, tạo hình đẹp, là một trong những đồ sứ trắng có niên đại sớm nhất được phát hiện tại Trung Quốc. Đồ sứ men xanh (thanh từ) được nung ở nhiệt độ cao, độ cứng vượt xa sản phẩm cùng loại thời Tấn, được sản xuất tại các nơi ở Hà Bắc, Hà Nam, Thiểm Tây, Giang Nam. Nghề đóng tàu thời Tùy rất phát triển, khi chuẩn bị đánh Nam triều Trần, Dương Tố giám sát việc đóng "ngũ nha đại chiến thuyền", trên thuyền có 5 tầng lầu, cao hơn 100 xích, trước sau đặt 6 phách can dài 50 xích, dùng để tiến công tàu địch. Khi Tùy Dạng Đế tuần du Giang Đô, hàng nghìn chiếc thuyền được đóng, tiêu hao một lượng lớn nhân lực vật tư, cũng cho thấy kỹ thuật đóng thuyền cao siêu thời Tùy. Đội thuyền này gồm thuyền rồng (long chu) dành cho Hoàng đế, 'tường ly' dành cho Hoàng hậu, 'phù cảnh' cho cung phi, còn có các chủng loại 'dạng thải', 'chu điểu', 'thương li', 'bạch hổ'; trong đó 'long chu' dành cho Tùy Dạng Đế là tốt đẹp nhất.
Lĩnh vực thủ công nghiệp phục vụ nhu cầu của triều đình có tổ chức to lớn, số lượng người tham gia đông đảo, chiếm địa vị chủ đạo trong toàn bộ thủ công nghiệp thời Tùy. Triều đình Tùy cho đưa một số lượng lớn các thợ thủ công ưu tú từ các địa phương trong toàn quốc đến Trường An và Lạc Dương, đồng thời bắt các thợ thủ công ở địa phương phải luân phiên đến kinh thành phục dịch. Cơ cấu chủ quản tối cao của triều đình trong thủ công nghiệp là Công bộ thuộc Thượng thư tỉnh, cơ quan quản lý các loại sản phẩm cần thiết của triều đình cụ thể là Thái phủ tự (thời Tùy Dạng Đế phân đặt Thiếu phủ giám), phụ trách công trình xây dựng hoàng cung và quan thự là Tương tác tự (sau đổi thành Tương tác giám). Thái phủ tự bên dưới phân thành các cơ quan Tả thượng, Hữu thượng, Nội thượng, Ty chức, Ty nghiễm, Chưởng trị, Khải giáp, Cung nỗ. Tại một số châu huyện và khu vực khai khoáng, triều Tùy còn đặt cơ cấu quản lý công xưởng thủ công nghiệp của quan phủ, trong đó, lực lượng lao động chủ yếu là nô tì công, tù nhân, thợ thủ công phục dịch trường kỳ, thợ thủ công địa phương phục dịch luân phiên một thời gian. Họ sản xuất ra các sản phẩm sinh hoạt và quân nhu cho triều đình, tham gia xây dựng Đại Hưng thành và đông đô Lạc Dương.
=== Thương nghiệp ===
Thống nhất quốc gia khiến thương nghiệp triều Tùy phát triển hơn nhiều so với thời Ngụy Tấn Nam-Bắc triều, có quy mô to lớn, đô thị thương nghiệp phồn hoa là hai kinh Trường An và Lạc Dương, hiếm thấy trên thế giới đương thời. Trường An có hai chợ Đông Tây, chợ đông tên là Đô Hội, chợ tây tên là Lợi Nhân, có rất nhiều thương nhân ngoại quốc. Lạc Dương kể từ sau khi xây đào Đại Vận Hà trở thành nơi tập kết và phân phối hàng hóa nam-bắc. Lạc Dương có ba chợ, chợ đông tên là Phong Đô, chợ nam tên là Đại Đồng, chợ bắc tên là Thông Viễn. Trong đó, chợ Thông Viễn nằm kề Thông Tế cừ, chu vi 6 lý, với 20 cửa vào chợ, thương nhân tụ họp, thuyền đò neo đậu trên kênh lên đến vạn chiếc. Giang Đô là nơi trung chuyển hàng hóa của Giang Nam, ngoài ra các thành thị thương nghiệp Tuyên Thành (nay là Thường Châu), Ngô quận (nay là Tô Châu), Cối Kê (nay là Thiệu Hưng), Dư Hàng (nay là Hàng Châu), Đông Dương (nay là Kim Hoa) đều nằm ở đất Giang Nam phồn hoa. Thành Đô là trung tâm thương nghiệp của đất Ba Thục, còn Quảng Châu là trung tâm trong hoạt động mậu dịch hải ngoại. Đương thời, tuyến đường thương mại quốc tế của triều Tùy phân thành con đường tơ lụa dến Tây Vực và mậu dịch trên biển. Thông qua con đường tơ lụa, hàng hóa đến được đế quốc Sassanid Ba Tư, đế quốc Đông La Mã. Mậu dịch trên biển thông đến các nước Đông Nam Á và đặc biệt là Nhật Bản.
Thời kỳ Nam-Bắc triều, tiền tệ không đồng nhất, Nam triều Lương và Nam triều Trần có tiền ngũ thù; Bắc Tề có tiền 'thường bình ngũ thù'; Bắc Chu có ba loại là 'vĩnh thông vạn quốc', 'ngũ hành đại bố', ngũ thù tiền; các quận Hà Tây dùng tiền vàng bạc Tây Vực. Thời Tùy sơ, các nơi vẫn sử dụng tiền tệ địa phương, đến năm 581 thì Tùy Văn Đế đặt ra tiền ngũ thù mới, mỗi 1000 tiền nặng 4 cân 2 lạng, cấm chỉ lưu thông tiền cổ và tiền tư. Đồng thời liên tiếp lập 5 lò tại Giang Đô, 10 lò tại Giang Hạ (nay là Vũ Hán), lập 5 lò tại Thành Đô, chiếu theo quy định mà đúc tiền ngũ thù. Vào mạt kỳ Tùy Dạng Đế, chính trị hủ bại, việc tư nhân đúc tiền trở nên phổ biến. Mỗi 1.000 tiền ngũ thù chỉ nặng 1 cận, thậm chí còn được làm từ sắt, tiền giấy sử dụng hỗn tạp với tiền đồng. Đến thời Tùy mạt thì tiền mất giá trị, hàng hóa đắt đỏ, chế độ tiền tệ sụp đổ. Từ Ngụy-Tấn đến Tùy-Đường, những mặt hàng như ngũ cốc và lụa thường được dùng làm vật trao đổi trung gian trong giao dịch.
== Xây dựng ==
Thời Tùy, Tùy Văn Đế và Tùy Dạng Đế cho xây dựng rất nhiều công trình, mục đích là để tăng cường ảnh hưởng và tính lưu động của chính trị, quân sự, kinh tế, mậu dịch. Đương thời, các công trình lớn được xây dựng có Đại Hưng thành, đông đô Lạc Dương, các kho lương lớn, Đại Vận Hà, trì đạo và Trường Thành. Để thuận tiên trong việc quản lý khu vực phía đông Đồng Quan và duy trì cung ứng lương thực cho Quan Trung, triều Tùy cho xây dựng các kho lương lớn như Lạc Khẩu hay Hồi Lạc ở gần Lạc Dương. Đồng thời, tại các địa phương trên toàn quốc cho thiết lập rộng rãi 'quan thương' và 'nghĩa thương', dự trữ sẵn cho nhu cầu của quốc gia, có thể tích trữ lương thực đề phòng tai họa. Nhằm củng cố lực lượng quốc phòng ở phương bắc, triều Tùy cho xây dựng 'trì đạo' dẫn tới Tịnh châu, xây dựng mở rộng Trường Thành để bảo hộ dân tộc thiểu số phương bắc dã quy phụ. Các công trình này khiến cho kinh tế và mậu dịch của Quang Trung và các khu vực nam-bắc phát triển, nổi tiếng nhất là Đại Hưng thành và Đại Vận Hà.
=== Đại Vận Hà ===
Trung tâm chính trị và quân sự của triều Tùy là Quan Trung và Hoa Bắc, trước khi hưng binh diệt Nam triều Trần, triều Tùy đã bắt đầu cho tạo sông đào để chuyển quân xuống phía nam. Sau khi bình định Nam triều Trần, để vận chuyển lương thực và sản phẩm tơ lụa của Giang Nam đến Trung Nguyên, triều Tùy lại liên tiếp cho tạo thêm nhiều sông đào, đồng thời ở đôi bờ cho xây dựng 'ngự đạo', trồng liều giữ bờ. Việc xây dựng các thủy đạo vận chuyển hàng hóa chủ yếu lợi dụng dòng chảy sông tự nhiên, hoặc nạo vét các luồng lạch cũ, chỉ có một bộ phận nhỏ là phải dùng nhân lực để đào mới. Cuối cùng hình thành một hệ thống thủy đạo vận chuyển có trung tâm, điểm đầu là đông đô Lạc Dương.
Năm Khai Hoàng thứ 4 (584), để vận chuyển tài nguyên từ Quan Đông đến Quan Trung, Tùy Văn Đế cho đào 'Quảng Thông cừ, dẫn nước Vị Thủy từ Trường An đến Đồng Quan. Năm Khai Hoàng thứ 7 (587), để phục vụ cho việc hưng binh diệt nam triều Trần, triều Tùy cho đào 'Sơn Dương độc' dựa theo 'Hàn câu' mà Ngô vương Phù Sai cho đào từ năm 486 TCN, sông đào này nối từ Sơn Dương (nay là Hoài An, Giang Tô) nhập vào Trường Giang tại Giang Đô. Việc xây dựng thủy đạo vận chuyển được tiến hành trên quy mô lớn vào thời Tùy Dạng Đế, năm Đại Nghiệp thứ 1 (605), khai thông 'Thông Tế cừ', còn gọi là 'Biện cừ'. Đoạn tây của 'Thông Tế cừ' khởi đầu từ Tây Giao Lạc Dương hiện nay dẫn nước Cốc Thủy và Lạc Thủy nhập vào Hoàng Hà. Đoạn đông của 'Thông Tế cừ' bắt đầu từ Tỉ Thủy Huỳnh Dương, theo thủy đạo do Phù Sai cho đào khi xưa, dẫn nước Hoàng Hà qua Biện Thủy, Tứ Thủy thông đến Hoài Hà; qua các thành thị là Biện châu (nay là Khai Phong, Hà Nam), Tống châu (nay là Thương Khâu, Hà Nam), Túc châu (nay là Túc Châu, An Huy), Tứ châu (nay là Tứ huyện, An Huy). Cùng năm, triều Tùy lại huy động hơn 10 vạn dân Hoài Nam một lần nữa xây dựng 'Sơn Dương độc', chỉnh trị cho thẳng, không còn phải vòng qua hồ Xạ Dương mà tiến thẳng đến Trường Giang. Để vận chuyển lương thực và tơ lụa từ Giang Nam đến Lạc Dương, năm Đại Nghiệp thứ 6 (610), triều đình bắt đầu cho đào đắp 'Giang Nam Vận hà', từ Kinh Châu (nay thuộc Trấn Giang, Giang Tô), qua Ngô châu (nay thuộc Tô Châu, Giang Tô), đến sông Tiền Đường ở Dư Hàng (nay thuộc Hàng Châu, Chiết Giang), dài trên 800 lý, rộng hơn 10 trượng. Đến lúc này, hoàn thành đoạn Nam của Đại Vận Hà, Tùy Dạng Đế còn chuẩn bị đến Chiết Giang du ngoại Cối Kê Sơn. Do phải vận chuyển một lượng vật tư to lớn cho chiến dịch tiến công Cao Câu Ly, vào năm Đại Nghiệp thứ 4 (608), triều đình huy động trên 1 triệu nhân dân các quận Hà Bắc mở 'Vĩnh Tế cừ', dẫn nước từ Thấm Thủy về phía nam đến Hoàng Hà, về phía bắc gặp Vệ Hà thẳng đến Trác châu (nay thuộc Thiên Tân), hoàn thành đoạn Bắc của Đại Vận Hà. Trác châu liền trở thành nơi tập trung người và vật tư cho chiến dịch tiến công Cao Câu Ly.
Đại Vận Hà thời Tùy-Đương do Quảng Thông cừ, Vĩnh Tế cừ, Thông Tế cừ, Sơn Dương độc, Giang Nam Vận Hà hợp thành, độ dài khoảng 2.700 km. Năm Đại Nghiệp thứ 7 (611), Tùy Dạng Đế đi trên 'long chu' (thuyền rồng) từ Giang Đô thẳng đến Trác châu. Tháp tùng Tùy Dạng Đế là bá quan, còn binh sĩ đi hai bên bờ, mất hơn 50 ngày để đến Trác châu, bình quân mỗi ngày chỉ đi hơn 50 lý. Còn thuyền của người dân bình thường đi một ngày đêm được 100 lý, thì từ Giang Đô đến Trác châu không quá một tháng, đường thủy qua đó thể hiện được sự tiện lợi so với đường bộ. Thành Lạc Dương thời Tùy nằm ở trung tâm của Đại Vận Hà, đi về phía tây là Đại Hưng thành, nam thông đến Hàng châu, bắc thông đến Trác châu, trở thành nơi tập hợp và phân phối hàng hóa của quốc gia; Giang Đô trở thành nơi trung chuyển hàng hóa ở Giang Nam, trở thành trọng tâm kinh tế thời Tùy-Đường; nằm ven Đại Vận Hà là các thành thị thương nghiệp phát triển như nấm mọc sau mưa. Đại Vận Hà thời Tùy-Đường đóng vai trò thúc đẩy phát triển kinh tế ở địa phương nằm ven tuyến, sau khi hoàn thành thì đóng vai trò là tuyến đường liên kết chính trị, kinh tế, văn hóa bắc-nam Trung Quốc trong 600 năm sau đó, xúc tiến giao lưu kinh tế và văn hóa giữa các châu huyện nằm ven tuyến.
=== Đại Hưng thành ===
Trường An thời Hán trải qua chiến tranh đã bị tàn phá, đổ nát, hình dạng và cấu trúc của cung thất nhỏ hẹp, không thể thích ừng với yêu cầu về đô thành của Tùy Đế. Cộng thêm hàng trăm năm nước bẩn lắng đọng trong thành thị, tắc nghẽn khó thoát, cung ứng nước cũng là một vấn đề. Do vậy, Tùy Văn Đế từ bỏ Trường An thời Hán ở phía bắc Long Thủ Nguyên, ở phía nam Long Thủ Nguyên (đông nam Trường Thanh thời Hán) chọn được một địa điểm để dựng thành Trường An mới. Tháng 1 ÂL năm 582, Tùy Văn Đế mệnh Vũ Văn Khải phụ trách thiết kế xây dựng thành mới, do Tùy Văn Đế từng được phong là Đại Hưng công, do đó thành mang tên Đại Hưng thành, tháng 3 ÂL năm sau thì hoàn thành.
Đại Hưng thành tham khảo kinh thành Lạc Dương của Bắc Ngụy và Nghiệp Đô Nam thành của Bắc Tề, thành trì có bố cục chỉnh tề thống nhất, có hình dạng cấu trúc giống hình chữ nhật. Toàn thành có ba bộ phận: cung thành, hoàng thành, lý phường, hoàn toàn tuân theo bố cục đối xứng đông-tây. Lý phường có diện tích ước tính chiếm 88,8% tổng diện tích toàn thành, mở rộng đáng kể khu nhà của cư dân là một đặc điểm lớn trong thiết kế kiến trúc tổng thể của Đại Hưng thành. Nền thành nằm trên Long Thủ Nguyên, bắc kề sông Vị, nam tựa vào sông Bá và sông Sản, địa hình nam cao bắc thấp, ở nam thành núi đồi gợn sóng. "Lục Pha" (tức sáu dốc) ở phía nam của Long Thủ Nguyên được xem là "Lục hào" trong Can Chi, theo thứ tự gọi là Sơ Cửu, Cửu Nhị, Cửu Tam, Cửu Tứ, Cửu Ngũ, Thượng Cửu. Căn cứ theo Dịch Kinh, Sơ Cửu đại diện cho "tiềm long vật dụng", Cửu Nhị là "kiến long tại điền, lợi kiến đại nhân". "Đại nhân" thể hiện người tài đức, vì vậy là nơi thích hợp để xây cung thành làm nơi đế vương cư trú. Cửu Tam thể hiện "quân tử chung nhật càn càn, tịch dịch nhược lệ vô cữu", tùy thời cảnh báo ở địa vị cao mà không kiêu, ở địa vị thấp mà không ưu, do vậy xây Hoàng thành để cho văn võ bá quan mãi kiện cường, trung quân cần chính. Cửu ngũ thể hiện "Cửu ngũ chí tôn", thuộc nơi "phi long", không muốn người thường ở. Do vậy, trên gò cao này hướng theo trục đông-tây, xây dựng đối xứng Đại Hưng Thiện tự của Phật giáo ở mặt đông, và Huyền Đô quán của Đạo giáo ở mặt tây, hy vọng có thể mượn thần minh để trấn áp khí đế vương ở gò cao Cửu Ngũ. Do tử vi, Hoàng cung chỉ có thể bố trí ở vùng đất tương đối thấp ven phía bắc Đại Hưng thành, tuy thế bắc biên có sông Vị nên cũng khá thích hợp cho phòng ngự. "Lục Pha" trở thành khung xương của Đại Hưng thành, khiến hoàng cung, triều đình, tự miếu và khu dân cư phải đối chiếu theo mà hình thành. Giữa các đồi núi là những khu đất thấp, người ta khai kênh dẫn nước, nạo vét ao hồ. Tận dụng lợi thế địa hình, người ta tăng cường không gian lập thể, cảnh tượng thêm hùng vĩ.
Đại Hưng thành là một trong những thành thị lớn nhất trên thế giới đương thời, Thượng Kinh Long Tuyền phủ của Bột Hải Quốc phỏng theo quy hoạch của Trường An, Bình Thành Kinh và Bình An Kinh của Oa Quốc không chỉ hình dạng và bố cục mô phỏng theo Trường An mà ngay cả cung điện, cổng thành, đường phố cũng đều lấy tên theo, như Chu Tước môn và Chu Tước đại đạo.
== Văn hóa ==
=== Tư tưởng học thuật ===
Tùy Văn Đế trong thời kỳ đầu chủ trương điều hòa tư tưởng Nho gia, Phật giáo và Đạo giáo; đồng thời cũng chủ trương văn học giản thực, phản đối tư tưởng văn học diễm lệ của Nam triều Ông đề xướng Nho học, khiến học thuyết Nho gia có địa vị không thể thiếu trong việc trị quốc, cổ vũ khuyến học hành lễ. Các địa phương nối tiếp nhau lập thêm trường học, có nhiều học giả Nho học ở khu vực Quan Đông, Nho gia một thời hưng thịnh. Các lưu phái Nho học thời Nam Bắc triều có sự khác biệt, mỗi phái thuyết kinh lại có nghĩa lệ riêng, đến thời Tùy vẫn chưa có kinh điển thống nhất, khiến cho việc khảo thí trong chế độ khoa cử gặp khó khăn. Đến những năm cuối thời Tùy Văn Đế, ông đề xướng hình pháp, công khai trợ Phật phản Nho, Năm 601, Tùy Văn Đế nhận thấy trường học tuy nhiều song không chuyên, nên hạ lệnh phế trừ toàn bộ các trường học, chỉ giữ lại 'Quốc tử học' ở kinh sư, đặt hạn ngạch 70 học sinh. Lưu Huyễn dâng thư can gián, song Tùy Văn Đế không nghe theo, đồng thời lại hạ lệnh cho dựng 5000 chùa tháp. Sang thời Tùy Dạng Đế, trường học ở các địa phương lại được khôi phục, song địa vị của nho sinh vẫn chưa được cải thiện. Nho sinh nổi tiếng nhất trong thời kỳ này có Lưu Trác và Lưu Huyễn, nhị Lưu có học thức phong phú, được nho sinh đương thời yêu mến kính trọng. Tuy nhiên, Lưu Huyễn thừa cơ hội Tùy Văn Đế tìm mua thư tịch, ngụy tạo hơn trăm quyển sách, đề tên như "Liên Sơn dịch", "Lỗ sử ký", nhằm gian lận thưởng vật. Lưu Trác do yêu cầu bổng lộc làm thầy cao nên thanh danh không tốt. Việc Tùy Văn Đế chuyển sang trợ Phật phản Nho khiến cho không ít nho sinh tham gia vào dân biến Tùy mạt sau này.
Vương Thông là nhà nho lớn thời Tùy mạt, cũng là nhà tư tưởng nổi tiếng thời Tùy, ông có thụy là "Văn Trung Tử". Ông chủ trương người chấp chính cần phải 'tiên đức hậu hình' mới có thể thu phục được nhân tâm; đề xướng tam giáo: Nho-Đạo-Phật cần cùng tồn tại, thay vì chống lẫn nhau, cũng chủ trương là tư tưởng sự của thiên và nhân, cùng tam tài thiên-địa-nhân không tách rời nhau. Tác phẩm nổi tiếng của ông có "Thái bình nhị thập sách", "Lục tục kinh" (còn có tên là "Vương thị lục kinh"), và "Văn Trung Tử trung thuyết". Hậu duệ Vương Bột của ông là một trong "sơ Đường tứ kiệt", đệ tử Ngụy Trưng của ông cũng là danh thần vào những năm đầu triều Đường. Học thuyết của ông có ảnh hưởng sâu rộng đối với lý học thời Tống sau này.
Tử tưởng Phật học phần lớn là duy tâm chủ nghĩa, trong đó Thiên Thai tông chủ trương "Chỉ quán thuyết", còn Thiền tông chủ trương "Đốn ngộ thuyết". Chỉ quán còn gọi là "Tịch chiếu", "Minh tĩnh", chủ trương bỏ qua toàn bộ ngoại cảnh và vọng niệm, tập trung chú ý vào đặc tính đối tượng, đồng thời sản sinh chính trí tuệ đối với các đối tượng này. Đốn ngộ là pháp môn "minh tâm kiến tính", chủ trương mọi sự nếu thông qua phương pháp tu hành chính xác, sẽ nhanh chóng lĩnh ngộ được điểm quan trọng, từ đó chỉ đạo thực tiễn được chính xác và thu được thành tựu.
=== Ngữ văn học và sử học ===
Do thời Tùy khá ngắn, ảnh hưởng đối với văn học Trung Quốc không lớn. Mặc dù có đề xuất cải cách văn phong hoa mỹ, song sau đó bị gián đoạn, phong trào cổ văn phải đến thời trung Đường mới phát triển thành công. Đương thời, có các tác phẩm nổi tiếng chuyên nghiên cứu về "âm luật học", cũng có các tác phẩm tản văn và thi ca không tồi. Thời Nam-Bắc triều, văn học Nam triều chú trọng vào thanh luật và sắc thái, văn học Bắc triều chú trọng vào âm đọc chất phác thực dụng. Do văn học diễm lệ của Nam triều chinh phục được Bắc triều, khiến văn học triều Tùy phần nhiều là kế thừa phong cách Lương-Trần, không có đột phá mới. Tổng số cư sĩ nổi danh nam-bắc của triều Tùy thì không quá mười mấy người. Đỗ Chính Tàng soạn viết "Văn chương thể thức", giúp học tập văn học Nam triều, hiệu là "Văn Quỹ"; thậm chí các nước Cao Câu Ly và Bách Tế cũng học theo sách của Đỗ Chính Tàng, gọi là "Đỗ gia tân thư", khiến văn học Nam triều được lưu hành ra ngoại quốc. Năm 584, Tùy Văn Đế hạ lệnh yêu cầu văn học phải chất phác chân thực. Sau này, mặc dù Lý Ngạc kiến nghị không thể dựa trên văn chương hoa lệ mà tuyển chọn nhân tài, song Tùy Dạng Đế lại đề xướng văn học Nam triều hoa lệ, ông say mê "Tam hạnh Giang Đô", "Hiếu vi Ngô ngữ" của Nam triều, "Quý ư thanh khỉ" và "Nghi ư vịnh ca" cũng hợp với sở thích của ông. Tùy Dạng Đế cũng là một nhà văn, có tiếng nhất là tác phẩm "Giang Đô cung lạc ca". Mỗi tác phẩm thơ văn, Hoàng đế đều yêu cầu danh sĩ Nam triều Dữu Tự Trực bình nghị rồi mới công bố, cho thấy Tùy Dạng Đế là một người đề xướng mạnh mẽ văn học Nam triều.
Về mặt sử học, sách sử trước thời Tùy hoặc do chính quyền soạn viết, hoặc do nhân sĩ dân gian tự tiến hành soạn viết. Tư tưởng của các tác phẩm dân gian này khá tự do, chất lượng cũng tốt, song vì không dễ dàng tiếp cận thư tịch do sử quan sở hữu, nên thông thường chỉ có kỉ truyện mà không có chí thư, không thể nói là quốc sử hoàn chỉnh. Năm 593, Tùy Văn Đế tuyên bố cấm chỉ dân gian tự soạn quốc sử, bình luận nhân vật. Kể từ đó, quốc sử các triều trước đều đổi sang do quan lại viết. Mặc dù chính quyền viết sử không đủ tính công chính, song chúng do các sử thần chuyên nghiệp soạn viết, tư liệu do triều đình cung cấp khá phong phú, từ thời Tùy-Đường về sau thì viết quốc sử trở thành công việc chuyên môn của triều đình.
Do văn hóa nam-bắc dung hòa, âm vận học và mục lục học đạt được những thành tựu kiệt xuất. Những năm đầu Khai Hoàng, tám người trong đó có Nhan Chi Thôi, Tiêu Cai, Trưởng Tôn Nạp Ngôn cùng Lục Pháp Ngôn thảo luận về âm vận học, nhất trí nhận định rằng thanh điệu tứ phương khác biệt rất lớn, nam-bắc dùng vần không giống nhau. Trước đó, các sách vần thiếu tiêu chuẩn định vần nên đều có sai sót. Lục Pháp Ngôn ghi lại những ý quan trọng của mọi người trong buổi nghị luận, vào năm 601 thì viết thành "Thiết vận" gồm 5 quyển. Bộ sách này thống nhất cách biểu đạt thanh vận, phản ánh ngữ âm tiếng Hán đương thời, là sách âm vần sớm nhất của Trung Quốc. Hệ thống ngữ âm hoàn chỉnh này được bảo tồn trong tác phẩm "Quảng vận" thời Tống, thậm chí là cả trong "Tập vận". Về mục lục học, tác phẩm nổi tiếng có "Đại Tùy chúng kinh mục lục" của Phật giáo, "Đạo kinh mục lục" của Đạo giáo, "Lịch đại tam bảo ký" do Phí Trưởng phòng soạn và "Tùy Nhân Thọ niên nội điển lục" do Thích Ngạn Tông soạn. Triều Tùy thu thập các thư tịch do các triều Nam Bắc sở hữu, tổng cộng được 37 vạn quyển, và biên "Tùy Đại Nghiệp chính ngự thư mục lục". Ngụy Trưng thời Đường dựa vào đó mà biên viết ra "Tùy thư- kinh tịch chí", trong lĩnh vực mục lục học có địa vị tương đường với "Hán thư-Nghệ văn chí" của Ban Cố.
=== Tôn giáo ===
Từ thời Nam-Bắc triều, Phật giáo cùng Đạo giáo và Nho giáo gọi chung là Tam giáo, chiếm địa vị chủ đạo trong lĩnh vực tư tưởng. Tùy Văn Đế chủ trương điều hòa tôn giáo và Nho học, lựa chọn sách lược tam giáo cùng được xem trọng, đồng thời dung nạp Nho giáo, Đạo giáo, Phật giáo để phối hợp trị quốc. Do quốc gia mở cửa, Hiên giáo từ Tây Á cũng được lưu truyền rộng rãi tại Trung Quốc.
Thời Tùy, Phật giáo tiến vào giai đoạn cực thịnh, điều này là do hoàng đế và Phật giáo có quan hệ mật thiết. Khi Bắc Chu Vũ Đế đàn áp Phật giáo, Trí Tiên đi ẩn tại nhà họ Dương, đưa ra dự đoán rằng Dương Kiên sau này sẽ trở thành hoàng đế, trọng hưng Phật giáo. Dương Kiên tin chắc rằng bản thân được Phật giúp đỡ che chở, sau này tuyên bố với quần thần "ta hưng là do Phật pháp", do vậy tích cực đề xướng Phật pháp, vào những năm cuối thậm chí còn bài xích Nho học, Phật giáo trở thành quốc giáo của triều Tùy. Năm 581, Tùy Văn Đế đón mời tăng lữ ẩn cư xuất sơn, hiệu triệu tín đồ Phật giáo "vì nước hành đạo", đồng thời cho phép nhân dân xuất gia. Sang thời Tùy Dạng Đế, triều đình cũng có chính sách giúp đỡ tích cực với Phật giáo, Tùy Dạng Đế còn thụ giới từ Trí Giả đại sư của Thiên Thai tông, trở thành đệ tử của Phật gia. Tuy nhiên, Hoàng đế cũng kiểm soát chặt chẽ đối với Phật giáo, như đưa các danh sĩ Phật giáo có ảnh hưởng tại Giang Nam đến tập trung tại Dương Châu, mục đích là nhằm tiện chi phối, đồng thời hạ lệnh "sa môn trí kính vương giả".
Dương thời, hệ phái chủ lưu của Phật giáo có Thiên Thai tông, Tam luận tông và Tam giai giáo. Thiên Thai tông quan tâm phát huy hai điều "giáo", "quan" đến cực trí đồng thời viên dung nhất thể, nhận định pháp giới vô tương, vạn vật nhất thể; Chỉ quán là phương thức tu hành chủ yếu. Tam luận tông do nghiên cứu "Trung luận", "Thập nhị môn luận", "Bách luận" mà có tên như vậy; hệ phái này chủ trương vạn vật chư pháp của thế gian và xuất thế gian từ nhiều nhân duyên hòa hợp mà sinh ra, là sản phẩm kết hợp từ nhiều nhân tố và điều kiện. Triều Tùy tổng cộng cho xây dựng hơn 5 nghìn chùa tháp, tạo hàng vạn tượng Phật, đồng thời phiên dịch hàng vạn kinh Phật, khiến kinh Phật được lưu truyền phân bố hơn rất nhiều lớn so với kinh Nho. Tùy Văn Đế hết sức sùng bái Phật giáo, cho xây đến 83 tháp xá lợi Phật tại các châu, trong đó Đại Hưng thiện tự là nổi tiếng nhất.
Đạo giáo vào thời Nam-Bắc triều phân thành hai hệ Thiên Sư đạo Nam-Bắc, đến thời Tùy thì có sự giao lưi với nhau. Mao Sơn tông trở thành hệ phái chủ lưu của Đạo giáo, phạm vi truyền đạo kéo dài từ phương nam lên phương bắc, Nguyên Thủy Thiên Tôn tại thời kỳ này được tôn làm thần linh tối cao. Tùy Văn Đế đối đãi rất tôn trọng với Đạo giáo, niên hiệu "Khai Hoàng" cũng được chọn từ kinh điển Đạo giáo. Triều đình Tùy thiết lập chế độ 'đạo cử', quy định sĩ nhân cần thông cả Đạo đức kinh, sùng huyền học và huyền học bác sĩ, tuyên giảng đạo thư định kỳ, phái người chỉnh đốn đạo thư. Do Tùy Văn Đế sùng tín Phật giáo, vào thời Tùy Đạo giáo luôn không hưng thịnh được như Phật giáo.
Đạo sĩ trong thời kỳ này thạo về việc dựa vào phù mệnh để tham dự vào việc thay đổi triều đại, đạo sĩ Trương Tân từng hiệp trợ triều Tùy kiến quốc. Do vậy, Tùy Văn Đế đối với Đạo giáo có phần tôn trọng, cất nhắc các đạo sĩ như Trương Tân, Tiêu Tử Thuận, Đổng Tử Hoa. Tùy Dạng Đế khi đến ở lưỡng đô hoặc xuất du luôn có tăng, ni, đạo sĩ, nữ quan (có cả nữ đạo sĩ) tùy tùng, gọi là 'tứ đạo trường'.
Kim Đan thuật được Tùy Dạng Đế tôn sùng, rất nhiều đạo sĩ do thạo về luyện chế thuốc trường sinh bất tử mà giành được sủng tín. Tung Sơn đạo sĩ Phan Đản hợp luyện kim đan sáu năm bất thành, Phan Đản giải thích rằng cần có ba hộc sáu đẩu mật gan tủy xương của đồng nam đồng nữ thì mới luyện thành, Tùy Dạng Đế tức giận giết chết Phan Đản. Tuy nhiên, kỹ thuật luyện chế kim đan cũng góp phần vào sự phát triển y dược và hóa học thời Tùy-Đường. Từ "Nội đan" có ý nghĩa rất quan trọng trong tu luyện Đạo giáo được hình thành trong thời kỳ này, Thanh Hải Tử Tô Nguyên Lãng đề xuất "quy thần đan vào tâm luyện", đề xướng "tính mệnh song tu", là một bước thúc đẩy cho sự phát triển của lý luận Nội đan thuật. Trong giới Đạo sĩ đương thời có lưu hành tịch cốc thuật nhằm tu luyện thành tiên, tịch cốc thuật chủ trương không ăn ngũ cốc mà chỉ uống nước vă ăn 'hàn thực'. Tùy Dạng Đế từng đón mời người giỏi tịch cốc thuật là Từ Tắc nhập cung, đồng thời tôn kính những đạo sĩ giỏi về tịch cốc thuật như Tống Ngọc Tuyền ở Kiến An, Khổng Đạo Mậu ở Cối Kê và Vương Viễn Tri ở Đan Dương.
Hiên giáo, còn gọi là Bái Hỏa giáo, do một người Ba Tư là Zoroaster sáng lập, lưu hành tại Ba Tư và các quốc gia Tây Vực, theo người Túc Đặc truyền bá đến Trung Nguyên từ thời Bắc Ngụy, triều Tùy đặt chức quan "Tát bảo" để quản lý hoạt động của tôn giáo này. Giáo nghĩa của Hiên giáo nhận định vũ trụ hình thành do thần quang minh và thần hắc ám đấu tranh lẫn nhau, lửa biểu hiện cho thần thiện, do vậy bái lửa. Chủ thần của Hiên giáo tại Trung Quốc được gọi là "Hồ Thiên", "Thiên Thần", kinh điển chủ yếu là Avesta.
=== Nghệ thuật ===
Thời Tùy, vì mối quan hệ chính giáo nên hội họa được xem trọng. Hội họa thời Tùy vẫn lấy nhân vật hay cố sự thần tiên làm chủ đề chính, song tranh sơn thủy phát triển thành một nhánh hội họa độc lập. Triển Tử Kiền và Đổng Bá Nhân có tiếng ngang nhau, cùng với Cố Khải Chi thời Đông Tấn, Lục Tham Vi của Nam triều Tề, Trương Tăng Dao của Nam triều Lương đồng xưng là 'tiền Đường tứ đại họa gia'. Triển Tử Kiền sống qua các triều Bắc Tề, Bắc Chu và Tùy, từng nhậm chức triều tán đại phu của Tùy, sau nhậm chức trướng nội đô đốc. Ông từng vẽ tranh Phật giáo "Pháp hoa kinh biến", tranh phong tục "Trường An xã mã nhân vật đồ", song đều thất truyền. Bức tranh sơn thủy "Du xuân đồ" của ông dùng thuật bôi phác họa, tô màu xanh lục, phối cảnh không gian hợp lý, chú ý quan hệ xa gần và tỷ lệ núi cây cùng nhân vật, trong gang tấc có đủ ý vị nghìn dặm. Điều này chứng minh tranh sơn thủy thời Tùy giải quyết được triệt để vấn đề xử lý không gian giữa người và cảnh vật, là đại biểu cho sự nổi lên của tranh sơn thủy, "Họa giám" thời Nguyên nhận định "Du xuân đồ" là thủy tổ chính thức của tranh sơn thủy. Hoa gia người Vu Điền Uất Trì Bạt Chất Na thạo vẽ nhân vật Tây Vực, người đương thời gọi lầ "Đại Uất Trì". Ông thạo về vựng nhiễm âm ảnh, tức "ao đột pháp" (thuật lồi lõm), có ảnh hưởng lớn đến hội họa hậu thế.
Thư pháp triều Tùy khéo, đều, có lực, song không vượt khỏi quy củ, làm nền tảng cho quy mô phong phạm của đại gia thời sơ Đường. Các nhà thư pháp nổi tiếng có Đinh Đạo Hộ, Sử Lăng và Trí Vĩnh. Mặc tích (vết mực) thì có thiên tự văn và tả kinh. Thư pháp thời Tùy lấy bia khắc làm dòng chính, trên các bia khắc như "Long tạng tự bi", "Khải pháp tự bi", "Đổng mĩ nhân chí" có thể hiện phong cách thư pháp. Thời Tùy mạt Đường sơ có nhà thư pháp Ngu Thế Nam, cùng với Âu Dương Tuân, Chử Toại Lương, Tiết Tắc được gọi chung là "sơ Đường tứ đại gia".
Âm nhạc triều Tùy chịu ảnh hưởng của âm nhạc dân tộc Hồ-Hán Bắc triều và âm nhạc Nam triều Tống-Tề-Lương, nhạc ca cung đình Tùy có lẫn "Hồ thanh". Sau khi Tùy diệt Nam triều Trần, đặt ra "Thanh chương thự" để quản lý âm nhạc. Thời Tùy Dạng Đế, đặt ra 9 bộ nhạc: 'Thanh Nhạc', Tây Lương, Quy Từ, Thiên Trúc, Khang Quốc, Sơ Lặc, An Quốc, Cao Ly, 'Lễ Tất'. Đương thời, nhạc khí có các loại như "khúc hạng tì bà", "thụ đầu không hầu", "đáp lạp cổ" và "yết cổ", đều được truyền đến từ tây bắc, đương thời đã biết rằng âm giai có thất cung thay vì ngũ cung.
Vạn Bảo Thường và Hà Thỏa là những nhà âm nhạc có danh tiếng vào thời Tùy. Hà Thỏa là người Hòa Quốc (thuộc Uzbekistan hiện nay), ông còn giỏi về cả triết học. Năm 592, Tùy Văn Đế thấy phiền nhiễu trước Hồ âm và "vong quốc chi âm" của Nam triều, lệnh cho Quốc tử bác sĩ định ra chính nhạc, đương thời các trọng thần nghị luận sôi nổi, Vạn Bảo Thường tham dự vào thảo luận, tuy nhiên nhất thời chưa có kết quả. Cuối cùng, Hà Thỏa dùng kế để Tùy Văn Đế chọn dùng Hoàng chung cung để giải quyết tranh chấp. Hà Thỏa còn vì Tùy Dạng Đế mà chế tạo ngự xa "Hà Thỏa xa". Tác phẩm của Hà Thỏa có "Nhạc yếu", "Chu dịch giáng sơ", tác phẩm của Vạn Bảo Thường có "Nhạc phổ".
== Khoa học kỹ thuật ==
Triều Tùy kế thừa khoa học, trí thức của Bắc triều và Nam triều, thành tựu khoa học kỹ thuật của triều đại này thể hiện trên các lĩnh vực thiên văn, lịch pháp, số học, bác vật học, kiến trúc học, y học.
Ngành số học thời Tùy phát triển, sĩ nhân đương thời đều cần học tập "cửu số" giản đơn, tại Quốc tử giám có lập ban toán học (tức ngành số học) chuyên môn bồi dưỡng nhân tài số học.
Lịch pháp triều Tùy so với các triều trước thì thêm phần tỉ mỉ chính xác. Năm 600, Lưu Trác dựa vào dữ liệu của Trương Tử Tín thời Bắc triều, xác định tuế sai 76 năm lệnh 1 độ, sát với giá trị chuẩn xác (71,6 năm). Năm 604, Lưu Trác đặt ra "Hoàng cực lịch", nghiên cứu Mặt Trời, nhật thực nguyệt thực, đều thêm phần chính xác so với các lịch trước đó, còn đề xuất công thức "phép nội suy cự ly bậc hai" (等間距二次內插法). Mặc dù chuẩn xác hơn, song "Hoàng cực lịch" lại bị bài xích không được sử dụng, nhưng với lịch học hậu thế thì cung cấp tiêu chuẩn mới. Phép định sóc, phép định khí cũng là sáng kiến của Lưu Trác.
Sau khi Tùy bình định Nam triều Trần, đã cho đưa 'hồn nghi', 'hồn thiên tượng' và tranh sách thiên văn của Nam triều đến tập trung tại Trường An, đồng thời mệnh Dữu Quý Tài và Chu Phần của Nam triều tham chiếu vị trí các sao, vẽ thành tinh đồ. Những người như Chu Phần và Viên Sung còn truyền thụ tri thức thiên văn tại Thái sử cục. Vào thời Tùy, Đan Nguyên Tử chiếu theo tinh cung do Trần Trác đặt ra, ước đoán vị trí của sao trên trời, biên thành một thư tịch theo thể trường ca 7 âm, gọi là "Bộ thiên ca", câu văn rõ ràng dễ hiểu, thuận lợi cho việc truyền tụng. Thời Tùy mạt Đường sơ, Lý Bá viết thành "Thiên văn đại tượng phú", dùng thơ phú mô tả về thiên văn học.
Triều đình Tùy đề xướng bác vật học, đương thời xuất hiện một lượng lớn địa phương chí (hoặc gọi là đồ chí, đồ kinh). Triều đình Tùy ra lệnh các địa phương trong toàn quốc tiến hành soạn viết phương chí,, cuối cùng xuất hiện các tác phẩm "Chư quận vật sản thổ tục ký", "Khu vũ đồ chí" và "Chư châu đồ kinh tập". Tùy Dạng Đế hạ chiếu lệnh cho các quận nộp địa đồ phong tục sản vật. Lăng Uất Chi sử dụng địa đồ sách vở do các địa phương nộp lên mà biên tập thành "Tùy chư châu đồ kinh tập" với 200 quyển. Bùi Củ vào thời Đại Nghiệp quản lý giao dịch tại Trương Dịch, từ sách truyện và lời kể của thương nhân Tây Vực, sưu tập các tư liệu về núi sông, họ tộc, phong thổ, y phục, sản vật Tây Vực mà viết thành "Tây Vực đồ ký". Thư tịch này còn viết về ba tuyến đường tơ lụa từ Đôn Hoàng qua Trung Á đến Địa Trung Hải.
Về kiến trúc học, những người nổi tiếng có Lý Xuân, Vũ Văn Khải, Hà Trù. Năm 610, Lý Xuân chỉ đạo xây dựng nên An Tế kiều bắc qua Hào Hà tại địa phận nay thuộc huyện Triệu, tỉnh Hà Bắc, An Tế kiều là một cây cầu đá hình vòm cung, tàu bè vẫn có thể đi lại thuận tiện ở bên dưới, là một trong những công trình đạt thành tựu trọng đại trong lịch sử kiến trúc Trung Quốc. Ngoài ra, An Tế kiều có bốn lỗ trống, giảm thiểu một phần năm trọng lượng thân cầu, tiết kiệm được hơn hai trăm mét khối nguyên liệu đá, đồng thời có thể giảm bớt áp lực từ nước lụt tác động vào thân cầu. Vũ Văn Khải từng tạo 'quan phong hành điện' cho Tùy Dạng Đế, bên dưới điện đặt ròng rọc tời, có thể tách rời ra khi hành động, cũng có thể hợp thành một đại điện chứa được vài trăm người. Hà Trù tạo ra "Lục hợp thành" cho Tùy Dạng Đế, khi công thành, trong một đêm có thể hợp thành một tòa thành lớn với chu vi 8 lý, cao 10 nhận, trên thành có thể xếp giáp sĩ, lập kỳ trượng. Ngoài ra, Hà Trù còn có thể dùng lục từ (sứ xanh) để chế ra ngọc pha lê, không khác biệt so với ngọc pha lệ thực.
Y học triều Tùy tương đối phát triển, triều đình đặt ra "đại y thự" để quản lý. Y học lâm sàng xuất hiện xu thế phân khoa, 'đại y thự' phân thành hai bộ phận là y học và dược học, phân dạy học sinh; y học lại phân thành bốn khoa là y, châm, án ma (đấm bóp), chú cấm; trong đó y khoa lại phân thành 5 môn là thể liệu (nội khoa), thiếu tiểu (nhi khoa), sang thủng (ngoại khoa), nhĩ mục khẩu xỉ (tai mắt mồm răng) và giác pháp (bạt quán). Do y học Nam triều tiến bộ, y sư nam-bắc thời Tùy có qua lại, lưu thông y thư, có lợi cho tiến triển của y học. Triều Tùy cũng cho dịch ra tiếng Hán hơn 10 loại y thư của Thiên Trúc và Tây Vực, tri thức rất phong phú. Người có danh tiếng nhất trong nền y học triều Tùy là Sào Nguyên Phương, ông soạn ra "Chư bệnh nguyên hậu luận". Đây là bộ sách đầu tiên của Trung Quốc tự thuật và phân tích chi tiết về phân loại bệnh tật và nguyên nhân của bệnh, bệnh lý, có vị trí quan trọng trong lịch sử thủ thuật ngoại khoa Trung Quốc. Tuy nhiên, tác phẩm cũng có không ít sai sót, như trong "Cửu trùng hậu" có nói "giun trong ruột người biến hóa đa đoan, sinh ra ghẻ lở, cho nên bị ghẻ lở thực ra là do có loài sâu bộ bên trong", song theo y học hiện đại thì giun sán và ghẻ lở hắc lào không có quan hệ. Tùy Dạng Đế vào những năm Đại Nghiệp hạ lệnh biên soạn "Tứ hải loại tụ phương", tổng cộng có 2.600 quyển, lý luận chuyên thuật, bổ sung hỗ trợ lẫn nhau đối với "Chư bệnh nguyên hậu luận".
== Các vua nhà Tùy ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Kênh Đại vận hà
Lịch sử Triều Tiên |
thảm.txt | Thảm là một chất liệu phủ sàn nhà bao gồm hai lớp gắn liền nhau. Lớp trên thường làm từ lông cừu hoặc sợi nhân tạo như polypropylene, nylon hoặc polyester và thường bao gồm các búi xoắn được xử lý nhiệt để duy trì cấu trúc của chúng. Thảm được chia ra làm hai dòng là thảm công nghiệp và thảm dệt tay.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Books.google.com, "What Makes A Rug Good", February 1946, Popular Science, detailed article on carpet and manufacturing of figured Wilton carpeting. |
nhà tiền lê.txt | Nhà Lê (Hán-Nôm: 家黎 • 黎朝, nhà Lê • Lê triều) (980-1009) hay còn được gọi là nhà Tiền Lê (Hán-Nôm: 家前黎 • 前黎朝, nhà Tiền Lê • Tiền Lê triều) (để phân biệt với nhà Hậu Lê do Lê Lợi lập ra) là một triều đại trong lịch sử Việt Nam, bắt đầu khi Đinh Phế Đế nhường ngôi cho Lê Hoàn vào năm 980, trải qua ba đời vua và chấm dứt khi Lê Ngọa Triều qua đời, và hoàng tử kế vị đang còn nhỏ tuổi. Quốc hiệu vẫn là Đại Cồ Việt. Là triều đại tiếp sau nhà Đinh (968-980) và được kế tục bởi nhà Lý (1009-1225).
== Lịch sử ==
Sau khi Đinh Tiên Hoàng và con là Đinh Liễn bị ám hại, Vệ Vương Toàn lên làm vua, Lê Hoàn làm phụ chính, xưng là Phó Vương. Triều thần sợ Lê Hoàn cướp ngôi vua nhỏ, Định Quốc Công Nguyễn Bặc và ngoại giáp Đinh Điền dẫn quân về kinh đô định giết Lê Hoàn, thua trận bị Lê Hoàn giết.
Năm 980, quân Tống nhân cơ hội đem quân sang muốn cướp nước, triều thần và thái hậu họ Dương (về sau giới văn nghệ đặt tên bà này là Dương Vân Nga) đưa Lê Hoàn lên làm vua lập ra nhà Tiền Lê.
=== Vua Đại Hành ===
Lê Đại Hành tên húy là Hoàn, có nhiều giả thuyết về quê hương: người Ái châu (Thanh Hóa ngày nay) hay Trường Châu (Ninh Bình, Hà Nam ngày nay). Thời nhà Đinh Lê Hoàn giữ chức Thập đạo tướng quân. Khi vua Đinh Tiên Hoàng bị giết, ông trở thành người nắm quyền trong triều đình và đến năm 980 thì lấy ngôi vua của nhà Đinh, lập ra nhà Tiền Lê.
Lê Đại Hành là người có công đánh tan cuộc xâm lược của nhà Tống năm 981. Tuy nhiên, theo quan điểm Nho giáo của các nhà chép sử sau này, như trong Đại Việt sử ký toàn thư đã viết thì ông bị chê trách về đạo vợ chồng do ông đã lập Dương Vân Nga, hoàng hậu của Đinh Tiên Hoàng làm một trong năm hoàng hậu của mình cũng như về việc không sớm lập người kế vị để sau này dẫn đến việc tranh giành quyền bính giữa các con. Đây chính là nguyên nhân trực tiếp làm cho nhà Tiền Lê nhanh chóng sụp đổ.
Ông ở ngôi vua 24 năm, thọ 65 tuổi (981 - 1005), băng hà ở điện Trường Xuân.
=== Vua Trung Tông ===
Sau khi Đại Hành chết, các con tranh nhau giành ngôi, trong nước 8 tháng không có ai làm chủ. Tới đầu năm 1006, hoàng tử thứ hai là Lê Ngân Tích bị Long Việt đánh bại, chạy đến châu Thạch Hà (Hà Tĩnh) thì bị người bản địa giết chết.
Hoàng tử thứ 3 là Long Việt lên ngôi vua, tức là vua Lê Trung Tông. Trước sự thắng thế của Long Việt, các hoàng tử khác tạm thời án binh bất động. Tuy nhiên Trung Tông lên ngôi được ba ngày thì bị em cùng mẹ là Lê Long Đĩnh giết chết lên thay.
=== Vua Ngọa Triều ===
Tên húy là Long Đĩnh, tương truyền giết anh để cướp ngôi, vì chơi bời sa đọa bị bệnh trĩ (chơi bời sa đọa không phải là nguyên nhân sinh ra bệnh trĩ. Có thể vua Long Đĩnh bị suy nhược) không ngồi được, phải nằm mà coi chầu nên được gọi là Lê Ngọa Triều.
Ngoài những người bản địa ở những vùng xa xôi, Ngọa triều còn phải đối phó với cuộc nổi dậy của các hoàng tử khác con vua Đại Hành cát cứ tại vùng đất được phong trước đây như Ngự Bắc vương Long Cân, Trung Quốc vương Long Kính.
Đồn rằng Ngọa Triều tính hiếu sát thường thiêu sống, dìm nước hay dùng dao cùn mà tùng xẻo tù nhân; sư sãi vốn có thế lực rất lớn đối với chính sự nhưng Ngọa triều từng sai người róc mía trên đầu sư Quách Ngang để làm trò cười; lại nuôi nhiều bọn hề làm trò khôi hài trong triều để làm loạn lời tâu việc của các quan. Do những việc làm đó, Ngọa triều bị quan lại và dân chúng căm ghét.
Năm 1009, Ngọa Triều qua đời lúc mới 24 tuổi, điện tiền Lý Công Uẩn lên thay, lập ra nhà Lý.
Nhà Tiền Lê truyền được tất cả 29 năm, gồm 3 đời vua.
== Nội trị ==
=== Bộ máy chính quyền ===
Nhà Tiền Lê nối tiếp và hầu như giữ nguyên mọi quy củ của nhà Đinh. Năm 980, sau khi lên ngôi, Lê Hoàn đặt chức quan trong triều, phong Hồng Hiến làm Thái sư, Phạm Cự Lạng làm Thái úy, Từ Mục làm Đại tổng quản, Đinh Thừa Chinh làm Nha nội đô chỉ huy sứ.
So với nhà Đinh tập trung hết quyền hành về tay hoàng đế, vua Lê đã chia trách nhiệm cho các đại thần. Chỉ riêng việc đánh dẹp thì nhà vua thường thân chinh cầm quân.
=== Đánh dẹp trong nước ===
Trong thời gian cai trị, các vua Tiền Lê vẫn gặp phải sự chống đối của các tù trưởng địa phương, nhất là những nơi xa xôi hẻo lánh.
Năm 989, Lê Đại Hành sai viên Quảng giáp là Dương Tiến Lộc đi thu thuế hai châu Hoan và Ái. Tiến Lộc đem người hai châu ấy xin theo về với Chiêm Thành. Chiêm Thành không nhận. Dương Tiến Lộc lấy hai châu Hoan, Ái làm phản. Lê Đại Hành thân hành đi đánh, giết chết Tiến Lộc và rất nhiều người 2 châu đó.
Năm 999, Lê Đại Hành lại thân đi đánh Hà Động, dẹp được tất cả 49 động. Sau đó vua Lê lại phá được động Nhật Tắc, châu Định Biên (Cao Bằng).
Người Cử Long làm loạn không phục triều đình. Năm 1001, Lê Đại Hành lại thân chinh đi đẹp được loạn.
Sang thời Ngọa Triều vẫn phải đối phó với sự chống đối của các địa phương. Năm 1008, Ngọa Triều thân hành đi đánh hai châu Đô Lương, Vị Long, bắt được vài trăm người bản địa. Cùng năm, vua Lê lại đi đánh châu Hoan và châu Thiên Liễu, bắt được tù binh về giết.
Tháng 7 năm 1009, Lê Long Đĩnh lại thân đi đánh các châu Hoan Đường, Thạch Hà.
=== Giao thông ===
Sau khi đánh thắng Chiêm Thành, năm 983, Lê Đại Hành sai quan Phụ quốc Ngô Tử An đem 3 vạn người đi mở đường bộ từ cửa biển Nam Giới đến Châu Địa Lý.
Năm 1003, vua Lê lại thân hành đi Hoan Châu, ra lệnh vét kênh Đa Cái cho Thông thẳng đến Tư Củng trường ở Ám Châu.
Năm 1009, triều thần đề nghị xin đào kênh, đắp đường và dựng cột bia ở Ái Châu. Lê Ngọa Triều xuống chiếu cho lấy quân và dân ở châu Ái đào đắp từ cửa quan Chi Long qua Đỉnh Sơn đến sông Vũ Lung. Sau đó Lê Long Đĩnh lại ra lệnh đóng thuyền để ở các bến sông Vũ Lung, Bạt Cừ, Động Lung bốn chỗ để chở người qua lại.
Tháng 7 năm đó, nhân đi đánh châu Hoan Đường, hành quân đến Hoàn Giang, Lê Long Đĩnh sai Hồ Thủ Ích đem hơn 5.000 quân của châu Hoan Đường, sửa chữa đường từ sông Châu Giáp đến cửa biển Nam Giới để tiện cho việc hành quân về phía nam.
=== Kinh tế ===
==== Các loại thuế ====
Nhà Tiền Lê đặt ra lệ đánh thuế căn cứ vào số lượng tài sản về ruộng đất. Thuế thân chia ra 2 loại:
Tiền công dung là tiền công dịch (như lao động công ích) mà người dân phải chịu mỗi năm 10 ngày và có thể nộp tiền thay vào việc tạp dịch
Tiền thuế hộ: là tiền mỗi gia đình phải nộp hàng năm
Tiền thuế điệu: Tiền mỗi hộ phải nộp để đóng vào việc quân
Nhà Tiền Lê đặt ra thuế thổ sản theo phép thời Tam Đại (Hạ, Thương, Chu) của Trung Quốc, chỉ lấy cống phẩm mà không thu bằng tiền. Đồng thời, triều đình có chính sách khuyến khích thương mại. Những người buôn bán không phải nộp thuế, coi như họ chỉ bán những nông phẩm sản xuất ra mà đã chịu thuế ruộng đất rồi
==== Nông nghiệp ====
Nhà Tiền Lê xem trọng nông nghiệp. Vào đầu xuân năm 987 vua Lê Đại Hành đã thực hiện lễ cấy tịch điền, để động viên, khuyến khích nhân dân sản xuất nôg nghiệp. Đó là lễ tịch điền đầu tiên mà một vị vua Việt Nam thân hành đi cày mà được sử sách ghi nhận lại.
==== Thương mại ====
Sử sách không chép rõ về hoạt động thương mại trong nước. Đối tác quan hệ buôn bán ngoại thương chủ yếu của Đại Cồ Việt là Trung Quốc. Hai bên lập ra những nơi giao dịch song phương gọi là Bạc dịch trường đặt trên đường thông lộ biên giới.
Những Bạc dịch trường quan trọng trong thời kỳ này là trại Vĩnh Bình (được Lê Văn Siêu phỏng đoán là chợ Kỳ Lâm hiện nay), tại Sách Nam Giang thuộc trại Cổ Vạn và châu Tô Hậu (Lê Văn Siêu phỏng đoán là châu Thất Khê), trại Hoành Sơn (Na Chàm ở ải Nam Quan). Trại Hoành Sơn tụ tập nhiều nhà buôn từ châu Quảng Nguyên của Đại Cồ Việt và châu Đặc Ma của nước Đại Lý (Vân Nam) và các lái buôn từ Quảng Châu của Tống.
Bạc dịch trường lớn nhất gần biên giới là điểm giao dịch hai nước nằm ở trại Như Hồng, Khâm châu.
Tác giả Chu Khứ Phi mô tả việc buôn bán giữa hai bên lúc đó trong sách Lĩnh ngoại đại pháp như sau:
Hai bên gặp nhau thường uống rượu làm vui rồi mới bàn chuyện buôn bán. Người Tống làm nhà ở tại chỗ lâu ngày và thường dìm giá làm người bán phải bán rẻ; nhưng phú thương người Việt cũng không chịu, cầm giữ giá lâu
Các quan chức địa phương biên giới cũng hỗ trợ cho quan hệ buôn bán của các thương gia hai bên. Nếu xảy ra việc kêu ca vì người bán cân thiếu thì phía Đại Cồ Việt lại cử sứ sang Khâm châu để thử lại cân để kiểm tra. Không những thế, chính triều đình nhà Tiền Lê cũng sai người sang giao dịch thẳng với khách buôn người Tống. Hàng bán của Đại Cồ Việt gồm có vàng, bạc, tiền đồng. Lê Văn Siêu cho rằng đây không chỉ là thị trường hàng hóa mà còn là thị trường tiền tệ mà hai bên trao đổi ngoại hối.
=== Văn hóa ===
Sử sách không ghi chép nhiều về những dấu ấn văn hóa thời Tiền Lê. Ảnh hưởng lớn nhất trong các tôn giáo là đạo Phật đã có từ thời thuộc Đường. Các nhà sư đã được sự tin cậy của hoàng đế, cho làm quan trong triều để bàn kế sách quốc gia.
Sử sách ghi lại hai tác phẩm tiêu biểu thời kỳ này là bài thơ của nhà sư Đỗ Pháp Thuận đối đáp với sứ Tống và bài từ khúc của sư Khuông Việt tiễn sứ Tống ra về năm 987. Lê Quý Đôn có lời ca ngợi hai ông: "Sư Thuận thơ ca làm sứ Tống kinh sợ, Chân Lưu có từ khúc vang danh một thời".
== Đối ngoại ==
=== Với Trung Quốc ===
Thực hiện chính sách:"thuần phục giả độc lập thật". Về cơ bản, quan hệ ngoại giao giữa nhà Tiền Lê với nhà Tống có nhiều thuận lợi. Nhà Tống tỏ ra dè dặt, mềm dẻo với các vua Lê vì luôn phải đối phó với nguy cơ từ người Khiết Đan ở phía bắc.
Sau thất bại năm 981, vua Tống bằng lòng công nhận Lê Hoàn, phong ông làm Tiết độ sứ và không hỏi tới dòng dõi nhà Đinh nữa.
Năm 986 và 987, Tống Thái Tông sai Lý Giác đi sứ sang Đại Cồ Việt. Trong lần đi sứ năm 987, Lý Giác làm thơ tiễn có câu: "Thiên ngoại hữu thiên ưng viễn chiếu", nghĩa là: Ngoài trời lại có trời soi nữa. Sư Khuông Việt nói rằng thơ này có ý tôn Lê Hoàn không khác gì vua Tống.
Năm 990, nhà Tống lại cử Tống Cảo đi sứ Đại Cồ Việt lần nữa. Lê Văn Siêu bình luận điều này cho rằng: thượng quốc ít khi chịu mất công vì nước nhỏ như vậy, vì nhà Tống trong thời kỳ giao tranh với nước Liêu năm 986 và bộ lạc Thảng Cốt năm 990.
Khi sứ Tống là Tống Cảo sang phong chức, Lê Hoàn nhận tờ chiếu của vua Tống mà không chịu quỳ, nói thác rằng bị ngã ngựa đau chân. Lúc đó sứ Tống im lặng không thắc mắc gì. Lê Văn Siêu cho rằng điều này hoàn toàn là do sự ngang ngạnh của vua Lê và không phải Tống Cảo không biết, nhưng đã không phản ứng. Trong sớ tâu Tống Thái Tông sau này, Tống Cảo nói rằng dù thác cớ đau chân nhưng ngay sau đó Lê Hoàn lại có thể đi chân đất, cầm cần câu lội xuống nước câu cá.
Trong lần tiếp sứ Tống, Lê Hoàn còn làm những việc trêu chọc sứ phương bắc khác như sai người mang con hổ đến công quán cho sứ Tống xem; lại sai mang con trăn lớn đến công quán, hỏi sứ Tống có ăn được thì làm cơm thết đãi. Sứ Tống khước từ không nhận và không dám nổi nóng theo tư thế của sứ giả thiên triều.
Sau đó Lê Hoàn nói với Tống Cảo về việc ngoại giao:
Sau này có quốc thư thì cho giao nhận ở đầu địa giới, khỏi phiền sứ thần đến tận đây nữa.
Tống Cảo về tâu lại, Tống Thái Tông bằng lòng với đề nghị của vua Lê.
Năm 995, nhà Tống lại phong Lê Hoàn làm Giao Chỉ quận vương. Năm 995-996 ở biên giới hai bên đã có biến cố vì sự bạo loạn của các thổ quan vùng khe động. Tướng nhà Tống bắt bắt hơn 100 người làm loạn trả lại cho Đại Cồ Việt. Phía nhà Lê cũng bắt 27 người trả lại phía Tống và sai sứ sang tạ ơn. Nhà Tống lại sai Lý Nhược Chuyết mang chiếu thư và đai ngọc sang ban cho Lê Hoàn. Năm 997, nhà Tống lại gia phong vua Lê làm Nam Bình vương.
Năm 1004, vua Lê sai hoàng tử Lê Minh Đề đi sứ Tống. Sang năm 1005, Lê Hoàn mất, các con tranh ngôi, trong nước loạn lạc. Mình Đề phải ở lại trú ở Quảng Châu. Triều thần nhà Tống xui Tống Chân Tông phát binh đánh, nhưng vua Tống cho rằng nhà Lê giữ lệ tiến cống và sai con sang chầu, không nên đánh để giữ cho phía nam yên ổn.
Năm 1006, Lê Long Đĩnh giết anh là Trung Tông giành được ngôi vua. Nhà Tống không can thiệp. Sang năm 1007, Tống Chân Tông sai sứ sang phong cho Long Đĩnh làm Giao Chỉ quận vương và đúc ấn đưa sang.
Năm 1009, Lê Ngọa Triều sai sứ đem biếu nhà Tống con tê ngưu thuần. Vua Tống cho rằng tê ngưu từ xa đến, không hợp thủy thổ muốn trả lại; nhưng sợ phật ý vua Lê, đợi cho sứ Đại Cồ Việt về rồi mới mang thả ra biển. Lê Ngọa Triều sau đó lại xin áo giáo mũ trụ giát vàng, vua Tống bằng lòng cho.
=== Với Chiêm Thành ===
Năm 981, Lê Đại Hành sai Từ Mục, Ngô Tử Canh sang sứ Chiêm Thành, bị vua Chiêm bắt giữ. Lê Đại Hành nổi giận, sai đóng chiến thuyền sửa binh khí, tự làm tướng đi đánh.
Năm 982, vua Lê khởi binh thân hành nam tiến. Quân Đại Cồ Việt thắng lớn, chém chết vua Chiêm là Ba Mi Thuế tại trận. Chiêm Thành thua to, nhiều quân sĩ bị bắt sống. Quân Lê bắt lính cùng là kỹ nữ trong cung trăm người và một nhà sư người Thiên Trúc, lấy các đồ quý đem về, thu được vàng bạc của báu kể hàng vạn, san phẳng thành trì, phá hủy tông miếu nước Chiêm.
Một viên tướng là Quảng giáp Lưu Kế Tông trốn ở lại Chiêm Thành và sau này chiếm lấy nôi vua chiêm thành.
Năm 992, vua Chiêm mới là Harivarman II sai sứ sang xin lại 360 tù binh bị bắt giữ mang về châu Ô Lý. Harivarman II sai sứ là Chế Đông sang dâng sản vật địa phương, vua Lê trách là trái lễ, không nhận. Harivarman II sợ hãi, năm 994 lại sai cháu Chế Cai sang chầu. Từ đó quan hệ hai bên khá yên ổn không xảy ra xung đột.
== Xem thêm ==
Nhà Đinh
Lê Đại Hành
Lê Long Việt
Lê Ngọa Triều
Trận Bạch Đằng, 981
Kinh đô Hoa Lư
Đền Vua Lê Đại Hành ở cố đô Hoa Lư
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
=== Tham khảo ===
Đại Việt sử ký toàn thư
Lê Văn Siêu (2004), Việt Nam văn minh sử cương, Nhà xuất bản Thanh niên
== Liên kết ngoài ==
Đại Việt sử ký toàn thư - Bản năm Chính Hòa thứ 18 (1697)
Đại Việt sử ký toàn thư - Bản dịch điện tử |
du lịch sinh thái.txt | Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.
Du lịch sinh thái là loại hình du lịch có trách nhiệm đối với môi trường ở các khu thiên nhiên còn tương đối hoang sơ với mục đích thưởng ngoạn thiên nhiên và cá giá trị văn hóa kèm theo của quá khứ và hiện tại, thúc đẩy công tác bảo tồn, có ít tác động tiêu cưc đến môi trường và tạo các ảnh hưởng tích cực về mặt kinh tế- xã hội cho cộng đồng địa phương
== Ở Việt Nam ==
Việt Nam với lợi thế có chiều dài bờ biển, rừng núi hoang sơ với nhiều khu bảo tồn thiên nhiên, vườn quốc gia và nhiều rừng cấm, đó là những di sản thiên nhiên của quốc gia, chứa đầy tiềm năng cho phát triển du lịch sinh thái như Vịnh Hạ Long, hồ Ba Bể, động Phong Nha, vườn quốc gia Cát Tiên, vườn quốc gia Cúc Phương, khu bảo tồn thiên nhiên Vân Long.v.v. đặc biệt là đã có tới 8 khu dự trữ sinh quyển Việt Nam được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới nằm ở khắp ba miền.
== Xem thêm ==
Du lịch
Môi trường
== Tham khảo == |
afp.txt | Agence France-Presse (AFP) là hãng thông tấn lâu đời nhất trên thế giới. AFP là hãng thông tấn lớn thứ ba trên thế giới, đứng sau AP và Reuters, đồng thời là nguồn tin tiếng Pháp lớn nhất thế giới.
Ngoài trụ sở chính đặt tại thủ đô Paris của Pháp, AFP còn có các trung tâm khu vực khác đặt ở Washington D.C. (Bắc Mỹ), Hồng Kông (Châu Á - Thái Bình Dương), Nicosia (Trung Đông) và Montevideo (Mỹ La-tinh) và mạng lưới hơn 200 văn phòng tại 150 nước trên thế giới.
AFP phát hành tin tức bằng 6 ngôn ngữ: tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Đức và tiếng Ả Rập.
AFP được Charles-Louis Havas thành lập vào năm 1835 (lúc đó dưới tên Agence Havas).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang Web chính thức của AFP |
khoai mỡ.txt | Khoai mỡ (danh pháp hai phần: Dioscorea alata Linn) là một loài thuộc chi Củ nâu Dioscorea. Đây là loại dây leo cho củ được trồng nhiều ở Ấn Độ, Malaysia, Châu Phi. Ở Việt Nam, khoai mở còn có tên khác là khoai tím, khoai vạc, củ cái, củ mỡ, củ cầm, củ đỏ, củ tía, khoai tía, khoai ngà, khoai long, khoai bướu, khoai trút, khoai ngọt... Đây là loại khoai được trồng làm cây lương thực rất lâu đời. Một số loài khác của Dioscorea cũng được con người trồng, hoặc khai thác từ cây dại để sử dụng như một loại lương thực như: D. esculenta Burk. (khoai từ), D. hispida Dennt. (củ nần), D. pierrel Prain. (củ từ nước), D. bulbifera Linn. (khoai dai)…
Trên thế giới, khoai mỡ được xem là một trong những loại cây lương thực quan trọng. Khoai mỡ có thể dùng trong nhiều món ăn quen thuộc như luộc, chiên, hay nấu canh, hấp bánh và mang lại khá nhiều lợi ích cho sức khỏe. Theo Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ, khoai mỡ là một nguồn dồi dào kali, giúp duy trì huyết áp ổn định. Trên thế giới, cây khoai mỡ được trồng ở 3 vùng chính: Tây Phi, khu vực biển Thái Bình Dương (kể cả Nhật Bản) và các nước trong vùng biển Caribê. Tại Việt Nam, khoai mỡ cũng được trồng làm cây lương thực ở khá nhiều nơi trong đó có tỉnh Long An là một trong những nơi có diện tích khoai mỡ lớn và tập trung nhất. Khoai mỡ là loại dây leo, thân mềm, có sức sống tốt.
Tại Việt Nam, củ mỡ có nhiều giống như củ mỡ bò, củ mỡ đỏ, củ mỡ năm, khoai mỡ tía, củ mỡ tím, củ mỡ trắng, mỡ trắng nhẵn… Một số giống thuộc loài Dioscorea alata cũng được gọi là củ từ như các giống củ từ rắn, củ từ canh, củ từ trắng, củ từ tía hoặc được gọi là củ vạc như các giống vạc ngà, vạc vồng.
== Canh tác ==
Tại Việt Nam, khoai mỡ được trồng nhiều ở khắp vùng nông thôn để lấy củ ăn. Khoai mỡ bắt đầu vụ thu hoạch vào cuối tháng 7, đầu tháng 8 âm lịch hàng năm và lấy giống trồng vụ mới. Khoai mỡ ở Việt Nam có hai loại: ruột trắng và ruột tím. Loại ruột trắng có giống Mộng Linh, củ chùm, nặng ký (từ 4– 5 kg/củ), năng suất cao. Loại ruột tím lại chia ra giống tím than và tím bông lau, loại này củ suông, dài, tuy củ nhỏ hơn loại ruột trắng nhưng ăn ngon, khi chế biến thành món ăn màu sắc cũng đẹp hơn nên được thị trường ưa chuộng.
Khoai mỡ được trồng bằng củ và có thể trồng theo kiểu độc canh. Tuy nhiên để hạn chế các loại bệnh hại nên trồng khoai mỡ luân canh với một số cây trồng khác. Điều kiện môi trường tốt cho sinh trưởng của khoai mỡ là mùa mưa kéo dài và lượng mưa đạt tối thiểu là 1500 mm, nhiệt độ trung bình khoảng 30oC, đất tơi xốp và tầng canh tác dày. Thông thường một vụ khoai mỡ có thời gian kéo dài từ 4 tháng rưỡi nếu là khoai thương phẩm, đến 6 tháng nếu là khoai để giống.
Sau cây lúa và một số loại cây khác khoai mỡ được xem là một trong những loại cây đặc sản, chủ lực trong cơ cấu nông nghiệp ở một số nơi tại Việt Nam đặc biệt phù hợp với vùng đất phèn ở khu vực Đồng Tháp Mười. Cuối tháng 7, đầu tháng 8 âm lịch hàng năm là lúc vào mùa thu hoạch khoai mỡ và chuẩn bị trồng vụ mới. Khoai mỡ khó trồng hơn cây khóm vì khoai thường gặp sâu bệnh.
== Công dụng ==
Khoai mỡ tốt cho những người bị bệnh lý về tim mạch thường có hàm lượng homocysteine cao, gây tổn hại cho thành mạch máu. Vitamin B6 chứa trong khoai mỡ có thể giúp cơ thể phá vỡ homocysteine, ngăn ngừa bệnh tim và đột quỵ. Ngoài ra, trong khoai mỡ còn dồi dào nguồn mangan giúp hỗ trợ cho sự chuyển hóa carbohydrate, điều tiết sản xuất năng lượng cho cơ thể.
Bên cạnh đó, khoai mỡ cũng giúp kiểm soát được đường huyết trong máu và trọng lượng cơ thể nhờ chứa nhiều chất xơ và cacbohydrat phức hợp. Điều này có nghĩa là những loại đường tự nhiên chứa trong khoai mỡ khi vào cơ thể sẽ tiêu hóa ở tốc độ chậm hơn và giúp cảm thấy no lâu hơn. Hàm lượng chất xơ cao không chỉ có lợi cho quá trình tiêu hóa, mà còn có tác dụng giảm cân, giúp phân bố đều trọng lượng nên đây cũng là thực phẩm rất thích hợp cho những người muốn giảm béo.
Khoai mỡ cũng rất tốt cho phụ nữ tuổi mãn kinh vì giúp giảm những triệu chứng khó chịu của phụ nữ trong giai đoạn này. Khoai mỡ cũng là thực phẩm lợi tiểu nên có tác dụng chống viêm nhiễm, đặc biệt là viêm nhiễm đường tiểu, bàng quang, giảm đau bụng, đau thần kinh, chống căng cơ, chuột rút.
== Sử dụng, chế biến ==
Người Việt dùng khoai mỡ tím nấu xôi, làm bánh, chiên giòn, nấu cháo, nhưng phổ biến và dễ làm nhất là nấu canh ăn trong bữa cơm hằng ngày. Khoai mỡ nấu canh với thịt (heo) bằm nhuyễn, tôm khô hoặc tép đồng còn tươi, nhất là nấu với tép tươi
Khoai mỡ là món ăn mộc mạc, dân dã ở nông thôn, càng chế biến cầu kỳ nó càng mất mùi vị đặc trưng của khoai mỡ, nên càng kém ngon. Thường có hai cách nấu canh khoai mỡ.
Phi một chút dầu (mỡ) với tỏi đập dập, rồi cho thịt (tôm, tép) vào xào sơ qua cho săn để tránh mùi tanh. Nêm bột ngọt, muối (tùy khẩu vị) vào đảo đều rồi trút ra cái tô để đó. Lấy một cái nồi khác, đổ chừng hơn một tô lớn nước lã vào, bắc lên bếp nấu cho nước sôi lên, rồi cho khoai đã đập dập vào nấu. Đến khi thấy nước canh đục lại, còn miếng khoai nhạt màu tím hơn, trong hơn ban đầu là khoai chín. Đổ phần thịt (tôm, tép) xào lúc nãy vào nồi canh, chờ sôi lên, hớt bọt kỹ, cho thêm rau mùi đã cắt nhỏ vào. Đợi canh sôi lên lần nữa, thấy rau chín là nhắc nồi xuống.
Xào thịt bằm (tôm, tép) trước, nêm gia vị rồi đổ tô nước lã vào nồi đang xào. Đậy nắp chờ nước sôi lên, hớt bọt kỹ xong cho khoai vào, nấu cho đến khi khoai chín cho rau vào, sôi lại lần nữa là nhắc xuống ăn được rồi. Cách này nấu nhanh hơn, tuy nhiên, màu canh sẽ không tươi đẹp vì nó bị màu vàng vàng của mỡ tỏi xào ban đầu dính nồi hòa vào, nhưng ăn thì chất lượng canh như nhau.
Công thức chế biến chung là khoai mỡ cạo vỏ, rửa sạch rồi cắt củ khoai làm hai theo chiều dọc. Dùng muỗng canh ăn cơm thường ngày cạo ngay chính giữa ruột củ khoai, cho đến khi mỏng ra đến tận vỏ không thể cạo được, mới lấy dao đập bẹp phần khoai. Khoai càng nát thì càng cho độ nhớt nhiều. Nấu nồi nước sôi mênh mông đại hải, nêm chút muối, bột ngọt rồi cho khoai vào nấu sôi lên, cho rau mùi vào là nhắc xuống. Hiện nay, kiểu nấu canh khoai mỡ này, vẫn tồn tại ở những quán cơm bình dân, cơm bụi.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Kết quả đánh giá đa dạng nguồn gen cây khoai mỡ (dioscorea alata L.) đang bảo quản tại ngân hàng gen cây trồng quốc gia năm 2009 |
sân bay quốc tế margaret ekpo.txt | Sân bay quốc tế Margaret Ekpo (IATA: CBQ, ICAO: DNCA), cũng có tên là Sân bay Calabar, là một sân bay phục vụ Calabar, một thành phố ở bang Cross River của Nigeria.
== Các hãng hàng không và tuyến bay ==
Aero Contractors (Lagos, Malabo, Port Hartcourt cũng như sân bay Bebi ở Obudu.)
Arik Air (Abuja, Lagos)
Associated Aviation (Lagos)
Nigerian Eagle Airlines (Lagos)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Thời tiết hiện tại cho DNCA theo NOAA/NWS
ASN lịch sử tai nạn của CBQ |
đại kim.txt | Đại Kim là một phường thuộc quận Hoàng Mai thành phố Hà Nội. Đại Kim có 273,20 ha diện tích tự nhiên và 12.413 người.
Địa giới hành chính phường Đại Kim: Đông giáp phường Thịnh Liệt; Tây giáp huyện Thanh Trì; Nam giáp phường Hoàng Liệt và huyện Thanh Trì; Bắc giáp phường Định Công và quận Thanh Xuân.
Khu đô thị mới Đại Kim, khu đô thị mới Bắc Linh Đàm ở phường này.
== Tham khảo ==
Nghị định của Chính phủ Việt Nam số 132/2003/NĐ-CP ngày 06 tháng 11 năm 2003 |
hà bắc (trung quốc).txt | (tiếng Trung: 河北; Bính âm: Hébĕi; Wade-Giles: Ho-pei; bính âm bưu chính: Hopeh) là một tỉnh nằm ở phía bắc của Trung Quốc. Giản xưng của Hồ Bắc là Ký, Hán tự: "冀", theo tên Ký châu thời nhà Hán, châu này bao gồm khu vực nay là nam bộ Hà Bắc. Tên gọi Hà Bắc ám chỉ đến việc tỉnh nằm ở phía bắc của Hoàng Hà.
Năm 1928, chính phủ Trung Quốc đã đổi tên tỉnh Trực Lệ thành Hà Bắc. Bắc Kinh và Thiên Tân sau được tách khỏi Hà Bắc. Hà Bắc giáp với Liêu Ninh ở phía đông bắc, Nội Mông ở phía bắc, Sơn Tây ở phía tây, Hà Nam ở phía nam, và Sơn Đông ở phía đông nam. Bột Hải nằm ở phía đông của tỉnh. Một phần nhỏ của Hà Bắc bị tách rời với phần còn lại của tỉnh, xen giữa là địa phận của Bắc Kinh và Thiên Tân.
== Lịch sử ==
Vùng bình nguyên Hà Bắc là quê hương của người vượn Bắc Kinh, một nhóm người đứng thẳng sinh sống tại khu vực từ khoảng 200.000 đến 700.000 năm trước. Các phát hiện khảo cổ về thời đại đồ đá mới đã được tìm thấy trong di chỉ Bắc Phúc Địa (北福地遗址) ở huyện Dịch có niên đại từ 7000 TCN đến 8000 TCN.
Trong thời Xuân Thu, Hà Bắc chủ yếu nằm dưới quyền cai trị của hai nước lớn là nước Yên ở phía bắc và nước Tấn ở phía nam. Đến năm 414 TCN, một nhóm người Bắc Địch đã tiến vào vùng bình nguyên Hoa Bắc và thành lập nước Trung Sơn ở trung bộ Hà Bắc. Sang thời Chiến Quốc, nước Tấn bị phân chia, và phần lớn lãnh thổ của nó tại Hà Bắc thuộc về nước Triệu.
Nhà Tần thống nhất Trung Quốc vào năm 221 TCN. Thời nhà Hán cai trị, khu vực Ha Bắc thuộc hai châu: U châu (幽州) ở bắc bộ và Ký châu (冀州) ở nam bộ. Vào cuối thời Hán, hầu hết khu vực Hà Bắc nắm dưới quyền kiểm soát của quân phiệt Công Tôn Toản ở phía bắc và Viên Thiệu xa về phía nam; Viên Thiệu đã giành chiến thắng trong cuộc chiến giữa hai bên, song ngay sau đó ông ta lại thất bại trước kình địch Tào Tháo trong trận Quan Độ năm 200. Sang thời Tam Quốc, Hà Bắc nằm trong cương vực của Tào Ngụy do hậu duệ của Tào Tháo lập nên.
Sau khi các dân tộc du mục phương Bắc xâm nhập Trung Hoa, tiêu diệt Tây Tấn, nối tiếp là các thời đại hỗn loạn Ngũ Hồ thập lục quốc và Nam-Bắc triều. Hà Bắc nằm sâu trong miền Bắc Trung Quốc và ở ngay biên giới phía bắc, đã qua tay nhiều chế độ: Hậu Triệu, Tiền Yên, Tiền Tần, và Hậu Yên. Bắc Ngụy đã tái thống nhất Trung Quốc vào năm 440, song nó đã bị chia đôi vào năm 534, Hà Bắc thuộc Đông Ngụy và Bắc Tề sau này, hai triều đại này định đô ở Nghiệp thành, gần Lâm Chương của Hà Bắc ngày nay.
Nhà Tùy đã thống nhất Trung Quốc vào năm 589. Kế tiếp nhà Tuỳ là nhà Đường, và dưới triều đại này, tên gọi "Hà Bắc đạo" với ý chỉ vùng đất phía bắc Hoàng Hà đã được đặt chính thức lần đầu tiên. An Lộc Sơn từng nhậm chức Phạm Dương tiết độ sứ (cai quản khu vực Bảo Định của Hà Bắc và Bắc Kinh hiện nay), những năm cuối Thiên Bảo, An Lộc Sơn đã khởi binh phản Đường từ nơi này. Trong giai đoạn đầu của thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc, Hà Bắc bị phân chia giữa một vài chế độ như Yên hay Triệu, song cuối cùng đã thống nhất dưới quyền cai quản của Lý Tồn Úc- người sáng lập nên triều Hậu Đường. Triều đại kế tiếp Hậu Đường là Hậu Tấn, năm 937, Hậu Tấn Cao Tổ đã nhượng phần lớn bắc bộ Hà Bắc ngày nay cho triều Liêu của người Khiết Đan, vùng đất này được gọi là Yên Vân thập lục châu, việc cắt nhượng này trở thành một nguyên nhân chính khiến khả năng phòng thủ của Trung Nguyên suy yếu trước người Khiết Đan trong thế kỷ sau đó, vì nó nằm trong Vạn Lý Trường Thành.
Trong thời Bắc Tống (960–1127), 16 châu nhượng cho Liêu trước đây tiếp tục là một khu vực tranh chấp nóng bỏng giữa Tống và Liêu. Triều Kim của người Nữ Chân đã lật đổ triều Liêu vào năm 1125. Năm 1127, triều Tống đã phải nhượng toàn bộ miền Bắc Trung Quốc, bao gồm nam bộ Hà Bắc, cho triều Kim. Thời Kim, Hà Bắc phân thuộc Hà Bắc Đông lộ, Hà Bắc Tây lộ, Trung Đô phủ lộ.
Triều Nguyên của người Mông Cổ sau khi tiêu diệt Kim và Nam Tống đã chia toàn quốc thành các đẳng xứ hành trung thư tỉnh, riêng khu vực Hà Bắc thuộc Trung thư tỉnh do triều đình Trung ương Nguyên ở Đại Đô trực tiếp quản lý. Triều Minh sau khi thay thế triều Nguyên và dời đô từ Nam Kinh đến Bắc Kinh đã định khu vực Hà Bắc là "Bắc Trực Lệ", nằm dưới quyền cai quản trực tiếp của triều đình Trung ương Minh. Đến khi triều Thanh của người Mãn đoạt lấy quyền lực vào năm 1644, họ bãi bỏ Nam Trực Lệ (ở khu vực quanh Nam Kinh), và Hà Bắc được gọi là "Trực Lệ". Dưới thời Thanh, ranh giới phía bắc của Trực Lệ trải dài sâu vào khu vực nay thuộc Nội Mông.
Triều Thanh sụp đổ vào năm 1912 và được Trung Hoa Dân Quốc thay thế. Trong vòng một vài năm, Trung Quốc đã rơi vào nội chiến, với các quân phiệt khu vực tranh giành quyền lực. Do Trực Lệ rất gần thủ đô Bắc Kinh, nó là nơi diễn ra nhiều trận chiến thường xuyên, bao gồm chiến tranh Trực-Hoàn năm 1920, chiến tranh Trực-Phụng lần thứ nhất năm 1922 và chiến tranh Trực-Phụng lần thứ hai vào năm 1924. Đến khi chính phủ Quốc dân tiến hành Bắc phạt thành công, chấm dứt nạn quân phiệt, thủ đô được chuyển từ Bắc Kinh đến Nam Kinh. Do vậy, tên gọi của tỉnh đã được đổi thành Hà Bắc để phản ánh thực tế.
Sau khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, Hà Bắc đã có một số thay đổi về ranh giới: khu vực quanh Thừa Đức- nguyên là một phần của tỉnh Nhiệt Hà, và khu vực quanh Trương Gia Khẩu- nguyên là một phần của tỉnh Sát Cáp Nhĩ, đã được hợp nhất vào Hà Bắc, ranh giới phía bắc của tỉnh vì thế cũng vượt sang phía bắc Trường Thành. Tỉnh lị cũng được chuyển từ Bảo Định đến Thạch Gia Trang, và cũng từng chuyển đến Thiên Tân trong một thời gian ngắn.
Ngày 28 tháng 7 năm 1976, đã xảy ra động đất Đường Sơn 1976 khiến ít nhất 242.769 người chết và khoảng 164.000 người bị thương rất nặng.
== Địa lý ==
Hầu hết trung bộ và nam bộ Hà Bắc thuộc bình nguyên Hoa Bắc. Tây bộ Hà Bắc dốc lên Thái Hành Sơn, trong khi Yên Sơn chạy qua bắc bộ Hà Bắc, bên ngoài dãy núi này là vùng thảo nguyên Nội Mông. Vạn Lý Trường Thành cắt qua bắc bộ Hà Bắc từ đông sang tây, vào trong ranh giới của Bắc Kinh một đoạn ngắn, và kết thúc ở Sơn Hải quan thuộc đông bắc Hà Bắc. Đỉnh cao nhất Hà Bắc là Tiểu Ngũ Đài Sơn (小五台山) tại tây bắc Hà Bắc, với cao độ 2882 m.
Hà Bắc giáp với Bột Hải ở phía đông. Lưu vực Hải Hà bao trùm phần lớn trung bộ và nam bộ Hà Bắc, và lưu vực Loan Hà bao trùm phần đông bắc. Nếu không tính rất nhiều hồ chứa trên các vùng đồi núi của Hà Bắc, hồ lớn nhất tại Hà Bắc là Bạch Dương điến (白洋淀), nằm hầu hết ở huyện An Tân.
Hà Bắc có khí hậu lục địa gió mùa, với mùa đông lạnh và khô cùng mùa hè nóng và ẩm. Nhiệt độ bình quân của Hà Bắc là −16 đến −3 °C (3 đến 27 °F) vào tháng 1 và 20 đến 27 °C (68 đến 81 °F) vào tháng 7; lượng giáng thủy bình quân hàng năm dao động từ 400 đến 800 milimét (16 đến 31 in), tập trung rất nhiều vào mùa hè.
== Các đơn vị hành chính ==
Hà Bắc được chia thành 11 đơn vị hành chính cấp địa khu, và tất cả đều là thành phố thuộc tỉnh (địa cấp thị):
Các đơn vị hành chính cấp địa khu trên đây được chia thành 172 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 22 thị xã (huyện cấp thị), 108 huyện, 6 huyện tự trị và 36 quận (thị hạt khu). Các đơn vị hành chính cấp huyện này lại được nhỏ thành 2207 đơn vị hành chính cấp hương, gồm 1 khu công sở, 937 thị trấn (trấn), 979 hương, 55 hương dân tộc, và 235 phường (nhai đạo).
== Kinh tế ==
Năm 2011, GDP của Hà Bắc là 2,40 nghìn tỉ NDT (379 tỷ USD), tăng 11% so với năm trước và xếp thứ 6 tại Trung Quốc. GDP đầu người đạt 24.428 NDT. Thu nhập khả dụng bình quân đầu người của các khu vực đô thị là 13.441 NDT, trong khu thu nhập thuần bình quân của khu vực nông thôn là 4.795 NDT. khu vực một, khu vực hai, và khu vực ba của nền kinh tế đóng góp tương ứng 203,46 tỉ, 877,74 tỉ, và 537,66 tỉ NDT.
40% lực lượng lao động của Hà Bắc làm việc trong các lĩnh vực nông-lâm-mục nghiệp, với lớn sản phẩm của các ngành này được đưa đến Bắc Kinh và Thiên Tân Các loại nông sản chính của Hà Bắc là các cây lương thực gồm lúa mì, ngô, kê, và lúa miến. Các loại cây công nghiệp như sợi bông, lạc, đậu tương và vừng cũng được trồng.
Khai Loan (Kailuan, 开滦), với lịch sử trên 100 năm, là một trong các mỏ than đá hiện đại đầu tiên của Trung Quốc, và vẫn còn là một mỏ than đá lớn với sản lượng hàng năm là trên 20 triệu tấn. Phần lớn vùng dầu Hoa Bắc nằm tại Hà Bắc, và tỉnh cũng có các mỏ sắt lớn tại Hàm Đan và Thiên An. Gang, cũng như thép, ngành chế tạo là các ngành công nghiệp lớn nhất tại Hà Bắc, và có vẻ như các ngành này vẫn được củng cố vững chắc và Hà Bắc tiếp tục phát triển như là một trung tâm chế tạo và giao thông của khu vực.
== Nhân khẩu ==
Dân cư Hà Bắc hầu hết là người Hán, các dân tộc thiểu số gồm có người Mông Cổ, người Mãn và người Hồi. Hà Bắc cũng là tỉnh có số tín đồ Công giáo lớn nhất tại Trung Quốc với gần 1 triệu người. Năm 2004, tỷ suất sinh của Hà Bắc là 11,98/1.000 dân, trong khi tỷ suất tử là 6,19/1.000 dân. Tỷ số giới tính là 104,52 nam trên 100 nữ.
Quan thoại là ngôn ngữ bản địa tại hầu hết Hà Bắc, hầu hết các phương ngữ Quan thoại tại Hà Bắc được phân thuộc nhóm Quan thoại Kí-Lỗ. Tuy nhiên, các khu vực dọc theo ranh giới phía tây với tỉnh Sơn Tây, lại nói các phương ngữ mà các nhà ngôn ngữ học xem là đủ để phân chúng thuộc tiếng Tấn- một nhánh của tiếng Trung Quốc độc lập với Quan thoại. Nhìn chung, các phương ngữ tại Hà Bắc khá tương đồng và dễ hiểu với phương ngữ Bắc, các địa phương ở phía bắc Bắc Kinh còn được xem là thuộc phương ngữ Bắc Kinh. Tuy nhiên, cũng có một số khác biệt nhất định, như khác biệt trong cách phát âm ở một số từ nhất định có nguồn gốc từ âm tiết nhập thanh (âm tiết kết thúc với một âm bật) trong tiếng Hán trung cổ.
== Văn hóa ==
Các thể loại hí khúc truyền thống tại Hà Bắc bao gồm Bình kịch (评剧), Hà Bắc Bang tử (河北梆子), và Thương Châu Khoái bản Đại cổ (沧州快板大鼓). Bình kịch đặc biệt phổ biến vì nó có xu hướng thông tục trong ngôn ngữ và do đó làm cho khán giả dễ hiểu. Bắt nguồn từ đông bắc Hà Bắc, Bình kịch chịu ảnh hưởng từ các loại hình hí khúc khác như Kinh kịch. Bình kịch truyền thống chỉ có một tiểu sinh, một tiểu đán, và một tiểu hoa liệm, song nó cũng đa dạng hóa với việc dùng các vai nhân vật khác. Khúc Dương ở trung bộ Hà Bắc nổi tiếng với "đồ sứ Định Châu", với các loại đồ như bát, đĩa, bình, và chén, cũng như các tượng nhỏ. Đồ sứ Định Châu thường có màu trắng kem, song cũng có các màu khác. Ẩm thực Hà Bắc có điểm đặc trưng là dựa trên các nguyên liệu: lúa mì, thịt cừu và đậu.
== Các trường đại học ==
== Tham khảo ==
Khám phá Hà Bắc |
tập đoàn lg.txt | LG là một tập đoàn lớn của Hàn Quốc (LG Group), các sản phẩm chính của tập đoàn gồm hàng điện tử, điện thoại và sản phẩm dầu khí. Tập đoàn này có những công ty con quan trọng như LG Electronics và LG Chemical.
Được ông Koo In-hwoi thành lập vào năm 1947 và được đặt tên gọi Lucky-Goldstar (ngôi sao vàng may mắn), sau đó được rút gọn theo dạng viết tắt thành "LG" vào năm 1995. LG cũng là tên viết tắt của Lucky Geumseong (럭키금성) tại Hàn Quốc, từ này dịch sang tiếng Hán Việt là Lạc Hỷ Kim Tinh.
LG là Chaebol góp phần thúc đẩy nền kinh tế công nghiệp hóa của Hàn Quốc.
== Công ty liên kết ==
GS Group
LS Group
== Các công ty con của tập đoàn ==
LG CNS
LG Corp.
LG Electronics
LG-Philips LCD
LG Software India
LG Micron
LG Hi-Plaza
LG Hi-Logistics
LG Chemical
LG Petro Chemical
LG Dow Chemical
LG Seetec
LG Health Care Chemical
LG Hausys
LG Life Science Industry
LG MMA
LG Telecom
LG CS Leader
LG Powercom
Siltron
LG V-ENS
LG N-Sys
LG Serveone
LG Economy Institute
LG Academy
LG Twins
LG International
LG Card (sharing the corporate identity, but no longer part of LG Group)
Dacom
Dacom MI
Dacom Crossing
Zenith Electronics
Serveone
Cyon
=== Địa chỉ tham khảo ===
LG Official Korean website
LG Official English website
LG Official Canadian Website
LG companies
Yahoo! - LG Group company profile
== Tham khảo ==
Bản mẫu:LG Group |
đa truy cập phân chia theo mã.txt | CDMA (viết đầy đủ là Code Division Multiple Access) nghĩa là đa truy nhập (đa người dùng) phân chia theo mã. Khác với GSM phân phối tần số thành những kênh nhỏ, rồi chia sẻ thời gian các kênh ấy cho người sử dụng. Trong khi đó thuê bao của mạng di động CDMA chia sẻ cùng một giải tần chung. Mọi khách hàng có thể nói đồng thời và tín hiệu được phát đi trên cùng một giải tần. Các kênh thuê bao được tách biệt bằng cách sử dụng mã ngẫu nhiên. Các tín hiệu của nhiều thuê bao khác nhau sẽ được mã hoá bằng các mã ngẫu nhiên khác nhau, sau đó được trộn lẫn và phát đi trên cùng một giải tần chung và chỉ được phục hồi duy nhất ở thiết bị thuê bao (máy điện thoại di động) với mã ngẫu nhiên tương ứng. Áp dụng lý thuyết truyền thông trải phổ, CDMA đưa ra hàng loạt các ưu điểm mà nhiều công nghệ khác chưa thể đạt được.
== Ứng dụng ==
Ở Việt Nam đã từng có 06 nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động. Trong đó, S-Telecom (S-Fone) sử dụng công nghệ CDMA, Gmobile, MobiFone, VinaPhone, VietnamobileHT và Viettel sử dụng công nghệ GSM.
Mạng sử dụng chuẩn GSM đang chiếm gần 50% số người dùng điện thoại di động trên toàn cầu. TDMA ngoài chuẩn GSM còn có một chuẩn khác nữa, hiện được sử dụng chủ yếu ở Mỹ Latin, Canada, Đông Á, Đông Âu. Còn công nghệ CDMA đang được sử dụng nhiều ở Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản... Công nghệ đa truy nhập phân chia theo thời gian TDMA là công nghệ truyền sóng kỹ thuật số, cho phép một số người dùng truy nhập vào cùng một kênh tần số mà không bị kẹt bằng cách định vị những rãnh thời gian duy nhất cho mỗi người dùng trong mỗi kênh. Công nghệ này đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu ít tốn kém hơn CDMA. Còn công nghệ đa truy nhập phân chia theo mã CDMA là công nghệ trải phổ cho phép nhiều tần số được sử dụng đồng thời; mã hóa từng gói tín hiệu số bằng một mã khóa duy nhất và gửi đi. Bộ nhận CDMA chỉ biết nhận và giải mã. Công nghệ này có tính bảo mật tín hiệu cao hơn TDMA. Theo các chuyên gia CNTT Việt Nam, xét ở góc độ bảo mật thông tin, CDMA có tính năng ưu việt hơn.
== Ưu điểm ==
=== Sử dụng bộ mã hóa ưu việt ===
Nhờ hệ thống kích hoạt thoại, hiệu suất tái sử dụng tần số trải phổ cao và điều khiển năng lượng, nên nó cho phép quản lý số lượng thuê bao cao gấp 5-20 lần so với công nghệ GSM. Áp dụng kỹ thuật mã hóa thoại mới, CDMA nâng chất lượng thoại lên gần bằng với hệ thống điện thoại hữu tuyến(điện thoại để bàn).
=== Chuyển giao mềm ===
Đối với điện thoại di động, để đảm bảo tính di động, các trạm phát phải được đặt rải rác khắp nơi. Mỗi trạm sẽ phủ sóng một vùng nhất định và chịu trách nhiệm với các thuê bao trong vùng đó. Với CDMA, ở vùng chuyển giao, thuê bao có thể liên lạc với 2 hoặc 3 trạm thu phát cùng một lúc, do đó cuộc gọi không bị ngắt quãng, làm giảm đáng kể xác suất rớt cuộc gọi.
=== Điều khiển công suất ===
Một ưu điểm khác nữa của CDMA là nhờ sử dụng các thuật toán điều khiển nhanh và chính xác, thuê bao chỉ phát ở mức công suất vừa đủ để đảm bảo chất lượng tín hiệu, giúp tăng tuổi thọ của pin, thời gian chờ và đàm thoại. Máy điện thoại di động CDMA cũng có thể sử dụng pin nhỏ hơn, nên trọng lượng máy nhẹ, kích thước gọn và dễ sử dụng.
Trong thông tin di động, thuê bao di động di chuyển khắp nơi với nhiều tốc độ khác nhau, vì thế tín hiệu phát ra có thể bị sụt giảm một cách ngẫu nhiên. Để bù cho sự sụt giảm này, hệ thống phải điều khiển cho thuê bao tăng mức công suất phát. Các hệ thống analog và GSM hiện nay có khả năng điều khiển chậm và đơn giản, thuê bao không thể thay đổi mức công suất đủ nhanh, do đó phải luôn luôn phát ở công suất cao hơn vài dB so với mức cần thiết. Tuy nhiên, để sử dụng mạng điện thoại di động CDMA, người dùng phải trang bị thiết bị đầu cuối phù hợp với công nghệ của mạng. Chi phí cho thiết bị đầu cuối CDMA hiện nay khoảng 200-1.000 USD tùy công năng của máy, trong tương lai giá sẽ thấp hơn. Trong vấn đề bảo mật, CDMA cung cấp chế độ bảo mật cao nhờ sử dụng tín hiệu trải băng phổ rộng. Các tín hiệu băng rộng khó bị rò ra vì nó xuất hiện ở mức nhiễu, những người có ý định nghe trộm sẽ chỉ nghe được những tín hiệu vô nghĩa. Ngoài ra, với tốc độ truyền nhanh hơn các công nghệ hiện có, nhà cung cấp dịch vụ có thể triển khai nhiều tùy chọn dịch vụ như thoại, thoại và dữ liệu, fax, Internet...
Không chỉ ứng dụng trong hệ thống thông tin di động, CDMA còn thích hợp sử dụng trong việc cung cấp dịch vụ điện thoại vô tuyến cố định với chất lượng ngang bằng với hệ thống hữu tuyến, nhờ áp dụng kỹ thuật mã hóa mới. Đặc biệt các hệ thống này có thể triển khai và mở rộng nhanh và chi phí hiện thấp hơn hầu hết các mạng hữu tuyến khác, vì đòi hỏi ít trạm thu phát.
Tuy nhiên, những máy điện thoại di động đang sử dụng chuẩn GSM hiện nay không thể sử dụng chuẩn CDMA. Nếu tiếp tục phát triển GSM, hệ thống thông tin di động này sẽ phải phát triển lên WCDMA mới đáp ứng được nhu cầu truy cập di động các loại thông tin từ mạng Internet với tốc độ cao, thay vì với tốc độ 9.600 bit/giây như hiện nay, và so với tốc độ 144.000 bit/giây của CDMA.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Thị trường Việt Nam "khép cửa" với công nghệ CDMA? |
thiết bị vũ trụ.txt | Thiết bị vũ trụ (tiếng Anh: spacecraft; tiếng Nga: космический аппарат) là tên gọi chung của các thiết bị với chức năng là thực hiện nhiều bài toán khác nhau về không gian vũ trụ, tiến hàng nghiên cứu các công việc khác nhau trên bề mặt của những thiên thể khác nhau. Các thiết bị vũ trụ được đưa lên quỹ đạo nhờ các tên lửa đẩy.
Thiết bị vũ trụ được dùng để vận chuyển người hay các trang bị, hàng hóa lên khoảng không ở bên ngoài tầng khí quyển Trái Đất được gọi là tàu vũ trụ. Tàu vũ trụ, còn có tên gọi là phi thuyền không gian, có 2 loại cơ bản là tàu vũ trụ có người lái như tàu Phương Đông (Liên Xô), tàu Soyuz (Nga), hệ thống tàu con thoi (Mỹ), tàu Thần Châu (Trung Quốc); tàu vận tải (tàu vũ trụ không người lái) như tàu vận tải Tiến bộ (Nga), tàu vận tải HTV (Nhật), v.v.
Ngoài ra thiết bị vũ trụ còn bao gồm vệ tinh các loại, trạm vũ trụ ("Hòa Bình", Quốc tế), kính thiên văn không gian Hubble, kính thiên văn không gian James Webb, modul.v.v.
== Phân loại ==
=== Phân loại theo hoạt động ===
Trạm vệ tinh: là các loại tàu vũ trụ chỉ được phóng và trở thành một vệ tinh nhân tạo của Trái Đất nhằm làm một trạm có khả năng kết nối với các tàu vũ trụ khác, thực hiện các thí nghiệm không gian, và có thể dùng làm trạm trung chuyển cho các chuyến phi hành có người lái vào khoảng không xa hơn của vũ trụ. Thường thì các trạm này sẽ ở lại vĩnh viễn trong quỹ đạo cho đến khi không dùng nữa. Ví dụ của loại này là Skylab, Trạm không gian quốc tế.
Tàu thám hiểm: Đây là loại tàu vũ trụ có khả năng bay theo một quỹ đạo nào đó hoặc vượt ra khỏi tầm hút của Trái Đất. Ví dụ bao gồm các phi thuyền trong chương trình Apollo, các phi thuyền đến Sao Hỏa,...
=== Phân loại theo chức năng ===
Tàu mẹ (phi thuyền mẹ)
Tàu con (phi thuyền con)
Tàu con thoi (phi thuyền con thoi) gồm có 3 phần chính: hai tên lửa đẩy nhiên liệu rắn, thùng chứa nhiên liệu (nằm bên ngoài) để cung cấp nhiên liệu cho 3 động cơ chính của tàu trong quá trình phóng, trạm quỹ đạo (orbiter) chứa phi hành đoàn và được thiết kế để có thể kết nối vào trạm không gian. Tổng cộng có 5 tàu con thoi được đóng: Atlantis, Challenger (rơi năm 1986 trong quá trình phóng), Columbia (rơi năm 2003 trong quá trình đáp), Discovery và Endeavour.
== Ví dụ về tàu vũ trụ ==
Tàu vũ trụ có người lái
Phi thuyền Apollo
Phi thuyền Gemini
Trạm Vũ trụ Quốc tế
Mir
Phi thuyền Mercury
Tàu con thoi Buran
Phi thuyền Shenzhou
Tàu con thoi
Soyuz
SpaceShipOne
Phi thuyền Voskhod
Phi thuyền Vostok
Tàu vũ trụ nặng nhất
Tàu con thoi của NASA STS/Trạm quỹ đạo - 109.000 kg
Phi thuyền không có người lái
Cassini-Huygens
Cluster
Deep Space 1
Deep Impact
ESA SMART-1 Lunar Impact
Galileo
Genesis
Lunar Prospector
Mars Exploration Rover
Mars Global Surveyor
Mars Pathfinder
Near Earth Asteroid Rendezvous
New Horizons
Tàu con thoi Buran (chỉ 1 phi vụ)
Pioneer 10
Pioneer 11
Progress
SOHO
Stardust
Surveyor
WMAP
Phi thuyền bay xa nhất
Voyager 1 với 9,58 tỉ mile
Pioneer 10 với 8,34 tỉ mile
Voyager 2 với 7,44 tỉ mile
Phi thuyền nhanh nhất
Helios I & II Trạm thăm dò Mặt Trời - 158,000 mph hay 43,9 dặm/giây
Phi thuyền đang được phát triển
Automated Transfer Vehicle
Crew Exploration Vehicle
Kliper - của Nga
H-II Transfer Vehicle
Trạm thăm dò Mặt Trăng của Ấn Độ Chandrayan-1
CNES Mars Netlander
James Webb Space Telescope - ngưng trệ
Kepler Mission Đi tìm hành tinh
ESA Darwin
NASA Dawn Mission
Herschel Space Observatory
Mars Science Laboratory Rover
Phoenix Mars Scout
Shenzhou Cargo
Phi thuyền dân sự
Genesis-1 (không người lái)
Phi thuyền dân sự đang phát triển
Bristol Ascender máy bay vũ trụ
Rocketplane XP
ESA Skylon SSTO
Space Adventures Explorer rocketplane
Space Dev Dream Chaser
Space Ship Two
SpaceX Dragon
Virgin Galactic
Các dự án phi thuyền bị hủy bỏ
Apollo 18 đến 21
Chương trình tàu con thoi 921-3 của Trung Quốc
ESA Hermes
Tàu con thoi Buran
Soyuz Kontakt 1
Trạm thăm dò Terrestrial Planet Finder
ESA Kính viễn vọng Eddington
Mars Telecom Orbiter
Các chương trình phi thuyền của SSTO bị hủy
RR/British Aerospace HOTOL
ESA Hopper Orbiter
McDonnell Douglas Clipper DC-X
Roton Rotored-Hybrid
Lockheed-Martin VentureStar
== Phóng tàu vũ trụ ==
Có hai phương pháp chính:
Mượn phản lực của các tên lửa nằm ngoài tàu. Các tên lửa đẩy này sẽ rời tàu khi hết nhiên liệu.
Dùng buồng phản lực riêng kết hợp với sức đẩy của tên lửa.
== Vai trò của thám hiểm không gian ==
Mục đích ban đầu của công cuộc thám hiểm không gian là cuộc chạy đua tranh giành ảnh hưởng trong không gian (và do đó ảnh hưởng lên toàn thế giới còn lại) giữa Liên Xô và Hoa Kỳ trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh (1950-1990).
Kể từ sau Chiến tranh Lạnh, các tiến bộ kỹ thuật phát triển trong các chương trình thám hiểm không gian đã được ứng dụng rộng rãi vào viễn thông dân dụng. Kính viễn vọng Hubble đẩy mạnh sự hiểu biết về các thiên hà xa xôi và các supernova; các thí nghiệm trong môi trường không trọng lực trên Trạm Vũ trụ Quốc tế (ISS) giúp tạo ra các loại hợp kim mới, v.v.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tàu con thoi tại NASA (tiếng Anh) |
joseph conrad.txt | Joseph Conrad (tên khai sinh Józef Teodor Konrad Korzeniowski; 3 tháng 12 năm 1857 - 3 tháng 8 năm 1924) là một nhà văn Ba Lan chuyên viết tác phẩm bằng tiếng Anh sau khi ông chuyển đến định cư tại Anh. Ông được cấp quốc tịch Anh vào năm 1886, nhưng vẫn luôn coi mình là một người Ba Lan. Conrad được coi là một trong những tiểu thuyết gia vĩ đại nhất trong của Anh, mặc dù ông không nói được ngôn ngữ này trôi chảy cho đến tận khi ông đã hai mươi tuổi (và thậm chí luôn nói với một giọng không chuẩn). Ông chuyên viết truyện và tiểu thuyết, thường có một bối cảnh biển cả, trong đó mô tả các thử thách của tinh thần con người ở giữa một vũ trụ thờ ơ. Ông là một bậc thầy trong việc tạo tổng thể văn xuôi, người mang lại những cảm xúc bi kịch từ một nền văn học không phải tiếng Anh vào văn học Anh.
Tuy một số tác phẩm có khuynh hướng lãng mạn, nhưng hầu hết tác phẩm của ông được xem là văn học hiện đại. Phong cách tự sự của ông và các nhân vật không hề có tính anh hùng đã ảnh hưởng đến nhiều tác giả, trong đó có DH Lawrence, TS Eliot, F. Scott Fitzgerald, William Faulkner, Gerald Basil Edwards, Ernest Hemingway, George Orwell, Graham Greene, Malcolm Lowry, William Golding, William S. Burroughs, Joseph Heller, Italo Calvino, Gabriel García Márquez, JG Ballard, Chinua Achebe, John le Carré, VS Naipaul, Philip Roth, Hunter S. Thompson, JM Coetzee và Salman Rushdie.
Có nhiều phim được chuyển thể, hoặc lấy cảm hứng từ các tác phẩm của ông như Almayer's Folly, An Outcast of the Islands, Heart of Darkness, Lord Jim, Nostromo, The Secret Agent, The Duel, Victory, The Shadow Line, và The Rover.
Sáng tác truyện trong thời kỳ hoàng kim của đế chế Anh, Conrad đã dựa vào kinh nghiệm của mình nhờ nguồn gốc Ba Lan và cả kinh nghiệm cá nhân trong lực lượng hải quân thương gia Anh và Pháp để tạo ra các truyện ngắn và tiểu thuyết phản ánh các khía cạnh của một thế giới dường như bị thống trị bởi châu Âu, đồng thời ông tập trung khai thác chiều sâu trong tâm hồn con người. Được đánh giá cao nhanh chóng trong giới văn học, các tác phẩm hư cấu của ông đã đạt được ấn tượng gần như tính tiên tri khi đã dự đoán trước được các thảm họa quốc gia và quốc tế xảy ra trong thế kỷ 20 và 21
== Tham khảo ==
== Chú thích ==
== Đọc thêm == |
tiếng hindi.txt | Tiếng Hindi là một trong nhiều ngôn ngữ chính thức của Ấn Độ. Tiếng Hindi là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi nhất trong các ngôn ngữ chính thức của Ấn Độ. Nó được nói chủ yếu ở phía bắc tiểu bang Rajasthan, Delhi, Haryana, Uttarakhand, Uttar Pradesh, Madhya Pradesh, Chhattisgarh, Himachal Pradesh, Jharkhand và Bihar. Nó là ngôn ngữ lớn thứ hai tại đảo Andaman và Nicobar và nó cũng nói cùng ngôn ngữ trong khu vực như Punjabi, Gujarati, Marathi hoặc Bengal trong suốt phía bắc và miền trung Ấn Độ. Tiếng Hindi cũng được người ta nghe hiểu trong một vài bộ phận khác của Ấn Độ cũng như tại các nước láng giềng của Nepal, Bangladesh và Pakistan. Tiếng Hindi cũng được cư dân có gốc Ấn Độ ở Fiji sử dụng.
Tiếng Hindi được 41% dân số Ấn Độ sử dụng. Hiến pháp Ấn Độ quy định tiếng Hindi trong bản Devanagari là ngôn ngữ chính thức của Ấn Độ (tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức phụ). Đây là một trong 21 ngôn ngữ chính thức của quốc gia này được quy định trong Hiến pháp Ấn Độ. Tiếng Hindi chính thức thường được mô tả là tiếng Hindi tiêu chuẩn, cùng với tiếng Anh, được sử dụng cho việc quản lý hành chính của chính quyền trung ương. Tiếng Hindi chuẩn cũng là ngôn ngữ chính thức của Fiji.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói
Hindi tại DMOZ
Janmaanas Ek Hindi Manch(Hindi Language Forum)
The Union: Official Language
Hindi To English Lookup Dictionary
Official Unicode Chart for Devanagari (PDF)
Shabdkosh.com - Hindi To English Dictionary
Web Hindi Resources
Fiji Constitution Section 4 Languages
Hindi Speaking Tree
Hindi Pandit(Learn Hindi)
Virtual Hindi Keyboard
== Liên kết ngoài == |
quang lê.txt | Quang Lê (sinh 24 tháng 1 năm 1979), tên thật là Lê Hữu Nghị, là một ca sĩ hải ngoại (Việt Nam), hiện đang cộng tác với Trung tâm Thúy Nga từ Paris By Night 66: Người Tình và Quê Hương
== Tiểu sử ==
Quang Lê sinh ra tại Huế, trong gia đình gồm 6 anh em và một người chị nuôi, Quang Lê là con thứ 3 trong gia đình. Cha Quang Lê là một sĩ quan Việt Nam Cộng Hòa. Vào năm 7 tuổi, Quang Lê cùng gia đình vào Sài Gòn để chờ lịch phỏng vấn xuất ngoại. Quang Lê theo gia đình sang định cư tại bang Missouri, Mỹ vào ngay ngày 30 tết năm 1990 âm lịch tại Việt Nam. Nhưng vì thời tiết ở Missouri khá khắc nghiệt nên gia đình Quang Lê đã chuyển đến sống ở Los Angeles, California.
Say mê ca hát từ nhỏ và niềm say mê đó đã cho Quang Lê những cơ hội để đi đến con đường ca hát. Quang Lê được đi hát ở các chùa ngay từ khi anh 5 tuổi. Quang Lê được cha mẹ cho theo học nhạc từ năm lớp 9 đến năm thứ hai của đại học khi gia đình chuyển sang sống ở California. Quang Lê cũng từng thâu âm và gửi đi các trung tâm với niềm hy vọng nhưng thư gửi đi và không thấy hồi âm khiến anh cảm thấy khá thật vọng. Rồi một tia hy vọng xuất hiện, nhờ sự giới thiệu của nghệ sĩ Ngọc Phu, anh tham gia cuộc thi tìm kiếm giọng ca vàng do ông tổ chức ở Mỹ và đoạt giải. Anh được Trung tâm Ca Dao 2 năm nhưng sự nghiệp của anh vẫn chưa có khởi sắc. Và rồi may mắn cũng mỉm cười với anh khi những bài hát của anh được ca sĩ Chung Tử Lưu thâu ở Trung tâm Ca Dao đã tình cờ đến được với ông Tô Văn Lai - giám đốc trung tâm Thúy Nga và Quang Lê đã có cơ hội đứng trên sân khấu Thúy Nga với sự xuất hiện đầu tiên ở cuốn Paris By Night 66 với ca khúc Thư Xuân Trên Rừng Cao. Anh tạo nên ấn tượng sâu sắc với khán giả qua dáng vẻ thư sinh cùng giọng hát ngọt ngào, trầm ấm và giàu tình cảm đậm chất Huế. Những ca khúc tiêu biểu của anh có thể kể đến như: Sương Trắng Miền Quê Ngoại, Cô Hàng Xóm, Đập Vỡ Cây Đàn, Đường Về Quê Hương, Đôi Mắt Người Xưa,... Đặc biệt nhất là ca khúc Sương Trắng Miền Quê Ngoại đánh dấu tên tuổi của Quang Lê trong thị trường hải ngoại mà anh trình bày ở Paris By Night 69. Mặc dù ca khúc này trước đây từng được ca sĩ Duy Khánh thể hiện rất thành công và biết bao thế hệ ca sĩ đã trình bày lại nhưng theo như lời MC Nguyễn Ngọc Ngạn nói ở Paris By Night 89, Quang Lê đã làm sống lại ca khúc này. Và trong một lần tình cờ gặp nhạc sĩ Đinh Miên Vũ khi lưu diễn ở miền nam California, anh đã được ông trao cho sáng tác mới nhất của mình sau 37 năm Sương Trắng Miền Quê Ngoại - đó là ca khúc Hai Quê mà Quang Lê đã được thể hiện lần đầu tiên trên Paris By Night 89 in Korea. Ngoài ra anh là người được trao bài hát Xuân Này Con Về Mẹ Ở Đâu lần đầu tiên do nhạc sĩ Nhật Ngân sáng tác vốn dành cho cố ca nhạc sĩ Duy Khánh trong Paris By Night 76 nhưng ông đã qua đời trước đó. Anh còn được nhạc sĩ Nhật Ngân sáng tác ca khúc Chiều Xuân xa nhà dành riêng cho mình và được anh trình bày trong Paris By Night 107.
Anh là một trong những ca sĩ hải ngoại nổi tiếng rất nhanh và có cơ hội được song ca với rất nhiều nữ ca sĩ khác ở Trung tâm Thúy Nga như Ngọc Hạ, Hà Phương, Hương Thuỷ, Như Quỳnh và đặc biệt là "người tình sân khấu" của anh, nữ ca sĩ Mai Thiên Vân. Hai người đã trở thành một cặp song ca rất ăn ý với nhau sau hai ca khúc Nước Non Ngàn Dặm Ra Đi trong Paris By Night 90 và Gõ Cửa Trái Tim trong Paris By Night 92. Cả hai đã ra mắt 2 CD song ca chung với nhau: Đôi mắt người xưa (2009) và Phải lòng con gái Bến Tre (2011). Đã từng có nhiều tin đồn rằng Quang Lê và Mai Thiên Vân là vợ chồng với nhau vì Quang Lê từng chia sẻ trên Paris By Night 98 là sẽ gom tiền về Bến Tre cuới vợ nếu CD Đôi mắt người xưa bán chạy, Quang Lê và Mai Thiên Vân đều phủ nhận tin đồn này và họ xác nhận họ chỉ là một đôi tình nhân trên sân khấu và là một đôi bạn rất thân thiết ngoài cuộc sống.
Năm 2010 đến nay, Quang Lê thường xuyên tổ chức các hoạt động biểu diễn tại Việt Nam cũng như các hoạt động khác. Năm 2013, Quang Lê nhận Phương Mỹ Chi - á quân Giọng hát Việt Nhí mùa 1 làm con nuôi và đã giúp bé có được những sản phẩm âm nhạc riêng của mình. Năm 2015, anh trở thành một trong bốn vị giám khảo của chương trình VSTAR Kid mùa 1 do Trung tâm Thúy Nga tổ chức để tìm kiếm tài năng nhí từ 4-15 tuổi. Năm 2017, anh trở thành một trong bốn vị HLV của chương trình Thần Tượng Bolero mùa 2 nhằm tìm kiếm tài năng ca hát dòng nhạc vàng, bolero.
== Danh sách đĩa nhạc ==
=== CD ===
==== Solo CD ====
==== Duet CD ====
=== DVD ===
Karaoke: 7000 đêm góp lại
The best of Quang Lê from Paris By Night: Đập Vỡ Cây Đàn
The best of Quang Lê & Mai Thiên Vân from Paris By Night: Nước non ngàn dặm ra đi
Liveshow Hát Trên Quê Hương
Liveshow Hát Trên Quê Hương 2: Về Quê Ngoại
== Những tiết mục biểu diễn trên sân khấu Paris By Night ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Quang Lê trên mạng xã hội Facebook |
lupus ban đỏ hệ thống.txt | Lupus ban đỏ hệ thống (tiếng Anh: Systemic lupus erythematosus, SLE hay lupus), là một bệnh tự miễn của mô liên kết, có thể ảnh hưởng đến mọi bộ phận cơ thể. Cũng như trong các bệnh tự miễn khác, hệ miễn dịch tấn công các tế bào và mô của cơ thể, gây viêm và hủy hoại mô.
Lupus ban đỏ hệ thống gây nguy hiểm nhiều nhất cho tim, các khớp, da, phổi, các mạch máu, gan, thận, và hệ thần kinh. Quá trình phát triển bệnh rất khó đoán trước, có những giai đoạn bị ốm xen kẽ với những giai đoạn phục hồi. Bệnh này phổ biến ở phụ nữ nhiều hơn gấp 9 lần ở đàn ông, đặc biệt là ở lứa tuổi từ 15 đến 50, và phổ biến hơn ở những người không có nguồn gốc châu Âu.
Lupus ban đỏ hệ thống có thể điều trị được bằng cách điều trị các triệu chứng của bệnh, chủ yếu bằng các corticosteroid và các chất ức chế miễn dịch; nhưng chưa có biện pháp chữa trị triệt để nào. Lupus ban đỏ hệ thống có thể nguy hiểm chết người, nhưng với những tiến bộ trong y học hiện nay, tử vong đang trở nên hiếm hơn. Tỉ lệ sống sót ở những bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống ở Hoa Kỳ, Canada, và châu Âu là khoảng 95% trong 5 năm, 90% trong 10 năm, và 78% ở 20 năm.
== Triệu chứng ==
Lupus ban đỏ hệ thống là một trong những bệnh có các triệu chứng giống và dễ bị nhầm với các bệnh khác (được gọi là "nhóm bệnh bắt chước"). Bệnh này là một ví dụ điển hình trong chẩn đoán phân biệt, bởi vì các triệu chứng của nó rất khác nhau và xuất hiện không lường trước được. Vì thế bệnh rất khó chẩn đoán, nhiều người phải chịu đựng những triệu chứng của bệnh lupus ban đỏ hệ thống mà không rõ nguyên nhân và không được điều trị đúng trong nhiều năm.
Những triệu chứng ban đầu và kéo dài phổ biến bao gồm sốt, khó ở, đau khớp, mỏi cơ, mệt mỏi, và mất khả năng nhận thức tạm thời. Bởi vì các triệu chứng này cũng thường thấy ở những bệnh khác, chúng không phải là những tiêu chí chẩn đoán bệnh lupus ban đỏ hệ thống. Tuy nhiên, khi xảy ra cùng với những triệu chứng khác (xem sau đây), chúng có thể được coi là những gợi ý cho bác sĩ nghĩ đến bệnh này.
=== Biểu hiện về da liễu ===
Khoảng 30.5% bệnh nhân có các triệu chứng về da liễu (và 65% có các triệu chứng đó trong một thời điểm nào đó), với khoảng 30% từ 50% bị triệu chứng điển hình của bệnh là phát ban má (hay phát ban hình bướm). Một số có thể bị vảy nến màu đỏ và dày trên da (gọi là lupus dạng đĩa). Rụng tóc; loét miệng, mũi và âm đạo; và các thương tổn trên da cũng là những dấu hiệu có thể xuất hiện.
=== Biểu hiện về cơ xương ===
Triệu chứng được khám nhiều nhất là đau khớp, những khớp nhỏ ở tay và cổ tay thường bị ảnh hưởng nhất, mặc dù tất cả các khớp đều có nguy cơ. Tổ chức về Bệnh Lupus ở Hoa Kỳ ước lượng có khoảng 90% bệnh nhân bị đau khớp hoặc cơ trong một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển bệnh. Không giống như viêm khớp dạng thấp, viêm khớp trong lupus ít gây tàn tật và thường không gây hủy hoại trầm trọng cho khớp. Ít hơn 10% bệnh nhân viêm khớp lupus bị biến dạng bàn tay và bàn chân. Bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống cũng có nguy cơ bị lao xương khớp.
Cũng có thể có những mối liên quan giữa viêm khớp dạng thấp và lupus ban đỏ hệ thống, và lupus ban đỏ hệ thống có liên quan đến nguy cơ rạn xương ở phụ nữ trẻ tuổi.
=== Biểu hiện về huyết học ===
Thiếu máu và thiếu sắt có thể xảy ra ở 50% các ca bệnh. Số lượng tiểu cầu và bạch cầu thấp có thể do bệnh gây ra hoặc do tác dụng phụ của các loại thuốc điều trị gây ra. Bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống cũng có liên quan đến Hội chứng kháng phospholipid -tiếng Anh là Antiphospholipid syndrome (một loại rối loạn huyết khối), trong đó kháng thể chống lại phospholipid có trong huyết thanh người bệnh. Hội chứng kháng thể kháng phospholipid bao gồm việc kéo dài thời gian kích hoạt thromboplastin bán phần - Partital thromboplastin time- (thường chỉ xảy ra trong các bệnh xuất huyết) và xét nghiệm dương tính đối với kháng thể kháng phospholipid; trường hợp có cả hai kết quả đó được gọi là chất chống đông lupus-dương tính (lupus anticoagulant - positive). Một loại kháng thể tự miễn khác trong bệnh này là kháng thể kháng cardiolipin (anticardiolipin antibody), kháng thể này có thể gây dương tính giả khi xét nghiệm bệnh giang mai.
=== Biểu hiện về tim ===
Bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống có thể bị viêm các phần khác nhau ở tim, ví dụ như viêm màng ngoài tim (còn gọi là viêm ngoại tâm mạc), viêm cơ tim, và viêm màng trong tim (còn gọi là viêm nội tâm mạc). Viêm màng trong tim ở bệnh này thuộc dạng không viêm nhiễm điển hình (viêm màng trong tim Libman-Sacks) và có thể ở van hai lá hoặc van ba lá. Xơ vữa động mạch cũng biểu hiện nhiều hơn và tiến triển nhanh hơn ở bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống.
=== Biểu hiện về phổi ===
Viêm phổi và màng phổi có thể gây ra bệnh viêm màng phổi, tràn dịch màng phổi, viêm phổi lupus, bệnh xơ cứng khe phổi mãn tính (chronic diffuse interstitial lung disease), tăng huyết áp phổi, nghẽn mạch phổi, xuất huyết phổi, và hội chứng co phổi (shrinking lung syndrome).
=== Biểu hiện về thận ===
Huyết niệu (có máu trong nước tiểu) hoặc protein niệu (có protein trong nước tiểu) là dấu hiệu về thận duy nhất. Việc hủy hoại thận cấp tính hoặc mãn tính có thể phát triển viêm thận lupus, dẫn tới suy thận cấp tính hoặc giai đoạn cuối. Nếu chẩn đoán ra và điều trị sớm lupus ban đỏ hệ thống thì suy thận giai đoạn cuối chỉ xảy ra ở ít hơn 5% các ca bệnh.
Dấu hiệu xác nhận về mô học của bệnh lupus ban đỏ là viêm cầu thận màng với hình ảnh bất thường có dạng "vòng dây". HÌnh ảnh đó là do ứ đọng các phức hợp miễn dịch dọc theo lớp màng nền cầu thận (glomerular basement membrane), tạo ra hình ảnh hạt điển hình khi xét nghiệm miễn dịch huỳnh quang.
=== Biểu hiện về thần kinh-tâm thần ===
Những hội chứng về thần kinh - tâm thần có thể xuất hiện khi bệnh lupus ban đỏ hệ thống ảnh hưởng tới hệ thần kinh trung ương hoặc hệ thần kinh ngoại biên. Trường Thấp khớp học Hoa Kỳ đã xác định 19 hội chứng thần kinh - tâm thần ở bệnh này. Việc chẩn đoán các hội chứng thần kinh - tâm thần đi kèm với lupus ban đỏ hệ thống là một trong những thách thức khó khăn nhất trong y học, bởi vì nó còn liên quan đến rất nhiều triệu chứng khác, một số có thể bị nhầm với những dấu hiệu của bệnh viêm nhiễm hoặc đột quỵ.
Biểu hiện thần kinh - tâm thần mà bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống mắc phải nhiều nhất là đau đầu, mặc dù vậy, người ta còn đang tranh cãi việc có loại đau đầu lupus đặc hiệu riêng không và có phương pháp tiếp cận tối ưu đối với đau đầu ở lupus ban đỏ hệ thống hay không. Các biểu hiện thần kinh - tâm thần phổ biến khác là sa sút trí tuệ, rối loạn tính khí, các bệnh về mạch máu não, động kinh, bệnh đa dây thần kinh, rối loạn lo âu, và loạn tâm thần (psychosis). Có thể xuất hiện hội chứng tăng huyết áp trong sọ (intracranial hypertension syndrome) nhưng rất hiếm, với đặc điểm là áp suất trong sọ tăng cao, phù gai thị (papilledema) (sưng đầu dây thần kinh thị giác, và đau đầu và đôi khi bị liệt nhẹ dây thần kinh vận nhãn ngoài, không có những tổn thương chiếm không gian trong sọ hoặc tâm thất nở rộng, và các thành phần huyết học và chất hóa học trong dịch não tủy đều bình thường.
Một biểu hiện hiếm gặp nữa là mê sảng, hội chứng Guillain-Barré, viêm màng não vô trùng (aseptic meningitis), các bệnh thần kinh tự miễn, hội chứng thoái hóa myelin (Demyelinating disease), bệnh một dây thần kinh (mononeuropathy) (có thể biểu hiện ở dạng bệnh một dây thần kinh nhiều chỗ (mononeuritis multiplex)), rối loạn vận động (cụ thể là chứng múa giật - chorea), chứng nhược cơ (myasthenia gravis), bệnh tủy sống, bệnh dây thần kinh sọ và tổn thương đám rối (plexopathy).
=== Biểu hiện hệ thống ===
Mệt mỏi ở bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống có nhiều nguyên nhân và liên quan không chỉ đến những diễn biến hay biến chứng bệnh như thiếu máu hay suy giáp mà còn do đau; trầm cảm; ngủ không ngon; thiếu cân đối thể chất và ít nhận được sự hỗ trợ xã hội.
== Nguyên nhân ==
Lupus ban đỏ hệ thống không có nguyên nhân đặc hiệu nào cả. Tuy nhiên có một số yếu tố kích hoạt từ môi trường xung quanh và một số yếu tố gen liên quan.
=== Yếu tố gen ===
Cơ chế bệnh đầu tiên có thể phát sinh do gen. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng bệnh lupus ban đỏ hệ thống có mối liên quan về mặt di truyền học. Bệnh di truyền theo gia đình, nhưng không có một gen riêng lẻ nào được xác định là nguyên nhân gây bệnh. Nhiều gen có thể có ảnh hưởng đến nguy cơ phát triển bệnh khi có những yếu tố môi trường kích hoạt. Những gen quan trọng nhất nằm ở vùng gen kháng nguyên bạch cầu người (HLA) trên nhiễm sắc thể số 6, những đột biến có thể là ngẫu phát (de novo) hoặc di truyền. Kháng nguyên bạch cầu người nhóm I, nhóm II, và nhóm III có liên quan đến bệnh, nhưng chỉ có nhóm I và nhóm II có góp phần độc lập tới việc tăng nguy cơ bệnh. Những gen khác có thể chứa đựng nguy cơ cho bệnh là IRF5, PTPN22, STAT4, CDKN1A, ITGAM, BLK, TNFSF4 và BANK1., một số gen có thể đặc hiệu cho từng nhóm dân cư.
=== Yếu tố kích hoạt từ môi trường ===
Cơ chế bệnh thứ hai có thể do các yếu tố từ môi trường. Những yếu tố này không chỉ làm bệnh nặng thêm mà còn có thể kích hoạt quá trình hình thành bệnh. Chúng bao gồm: các loại thuốc (như một số thuốc chống trầm cảm và kháng sinh), trầm cảm nặng, phơi nắng, hoóc môn, và viêm nhiễm. Tia UV kích hoạt việc hình thành các vùng phát ban lupus và một số bằng chứng cho thấy tia UV cũng có thể thay đổi cấu trúc ADN, dẫn đến việc hình thành các kháng thể tự miễn. Hoóc môn sinh dục (như estrogen) có vai trò quan trọng trong sự hình thành bệnh, và thực tế cho thấy trong thời kỳ sinh sản ở người, tần số bệnh này ở phụ nữ cao gấp 10 lần ở đàn ông.
Các nhà nghiên cứu cũng đang tìm kiếm mối liên hệ với nhiễm khuẩn (virus và vi khuẩn), nhưng chưa có nguồn bệnh nào có liên hệ chặt chẽ với lupus ban đỏ hệ thống. Một số nhà khoa học thấy rằng những phụ nữ bơm ngực bằng silicone tạo ra kháng thể chống lại collagen của chính họ, nhưng không rõ kháng thể này ở những người bình thường có xuất hiện nhiều hay không, và cũng không có dữ liệu nào cho thấy những kháng thể này gây ra các bệnh về mô liên kết như lupus ban đỏ hệ thống. Có một số bằng chứng nhỏ, nhưng đang càng ngày càng nhiều hơn, về mối liên hệ giữa bệnh này và việc sử dụng son môi, nhưng các nhà sản xuất son không tỏ ra quan tâm lắm đến điều này.
=== Tương tác thuốc ===
Lupus do thuốc gây ra là tình trạng phản ứng thuốc ở những người đang điều trị các bệnh lâu dài. Lupus do thuốc gây ra cũng giống như Lupus ban đỏ hệ thống. Tuy nhiên, các triệu chứng của lupus do thuốc gây ra thường biến mất khi dừng sử dụng loại thuốc gây ra lupus. Có khoảng 400 loại thuốc có thể gây ra tình trạng này, những loại phổ biến nhất là procainamide, hydralazine, quinidine, và phenytoin.
=== Các dạng lupus không phải là lupus ban đỏ hệ thống ===
Lupus ban đỏ dạng đĩa chỉ có các triệu chứng về da và có thể được chẩn đoán bằng cách làm sinh thiết các phát ban trên da mặt, cổ và da đầu.
== Sinh lý bệnh học ==
Một biểu hiện của lupus ban đỏ hệ thống là rối loạn quá trình tự hủy tế bào (apoptosis), một quá trình chết tế bào được lập trình sẵn trong quá trình sinh trưởng và hoạt động bình thường, trong đó các tế bào đã già hoặc bị tổn thương sẽ được thải loại gọn gàng.
=== Sự lan tỏa bệnh ===
Hệ miễn dịch của bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống sản sinh ra kháng thể chống lại bản thân cơ thể mình, đặc biệt là chống lại các protein trong nhân tế bào. Bệnh được kích hoạt bởi các yếu tố môi trường chưa rõ ràng.
"Tất cả các thành phần quan trọng trong hệ miễn dịch đều tham gia vào cơ chế bệnh [lupus ban đỏ hệ thống]", theo tác giả Rahman, và bệnh này là bệnh tự miễn nguyên mẫu. Hệ miễn dịch luôn phải có 1 sự cân bằng (cân bằng nội môi) giữa sự nhạy cảm vừa đủ để chống lại sự viêm nhiễm, với sự quá nhạy cảm dẫn đến việc tấn công protein của chính cơ thể mình (tự miễn). Theo quan điểm tiến hóa, của tác giả Crow, cộng đồng người cần phải có sự đa dạng về di truyền để chống lại vô số các nguy cơ lây nhiễm; trong đó một số tổ hợp di truyền dẫn đến hiện tượng tự miễn. Những tác nhân trong môi trường thường kích thích bệnh bao gồm tia cực tím, một số loại thuốc, và một số loại virus. Những kích thích này gây ra quá trình tự hủy tế bào và phơi bày ADN, các protein histone, và các loại protein khác, đặc biệt là các thành phần của nhân tế bào. Vì sự đa dạng di truyền trong các thành phần khác nhau của hệ miễn dịch, ở một số người, hệ miễn dịch tấn công các protein trong nhân tế bào và sản sinh ra kháng thể chống lại chúng. Cuối cùng, những phức hợp kháng thể này phá hủy các mạch máu trong một số vùng trọng yếu trong cơ thể, ví dụ như búi mao mạch tiểu cầu của thận; sự tấn công của kháng thể tạo ra bệnh lupus ban đỏ hệ thống. Các nhà nghiên cứu đang xác định các gen, cùng với các protein tạo ra từ các gen đó, và chức năng của chúng trong hệ miễn dịch. Mỗi protein là một mắt xích trong chuỗi phản ứng tự miễn, và các nhà khoa học cũng đang cố gắng tìm ra các loại thuốc có thể phá vỡ những mắt xích đó.
Bệnh này là một bệnh viêm mãn tính, và được cho là thuộc loại phản ứng quá mẫn loại III (do phức hợp miễn dịch) và có thể liên quan đến cả loại II (phụ thuộc vào kháng thể).
=== Rối loạn trong quá trình tự hủy tế bào ===
Quá trình tự hủy tế bào xảy ra nhiều hơn ở các tế bào bạch cầu đơn nhân và keratinocyte
Sự biểu hiện của các gen Fas ở bạch cầu lympho B và lympho T cũng tăng lên.
Có mối tương quan giữa tỉ lệ hủy tế bào lympho và quá trình tiến triển bệnh.
Đại thực bào Tingible body (Tingible body macrophage-TBM) – loại thực bào lớn có ở trung tâm mầm của các hạch bạch huyết thứ cấp – biểu hiện protein CD68 (dấu ấn kháng nguyên đặc trưng trên bề mặt tế bào monocyte/đại thực bào). Những tế bào này thường tiêu hóa các tế bào lympho B bị tự hủy sau khi trải qua siêu đột biến thân (somatic hypermutation). Ở một số bệnh nhân, số lượng TBM giảm đáng kể, và các tế bào này cũng hiếm khi chứa các thành phần của tế bào lympho B bị tự hủy. Đồng thời, phía bên ngoài các tế bào TBM cũng thấy có các nhân bị tự hủy không được tiêu hóa. Những thành phần đó có thể đe dọa sự dung hòa các tế bào lympho B và T. Các tế bào tua trong trung tâm mầm có thể thực bào các thành phần kháng nguyên đó và trình diện nó cho tế bào lympho T và hoạt hóa chúng. Đồng thời, các nhân và chất nhiễm sắc (chromatin) bị tự hủy cũng có thể bám vào bề mặt của các tế bào tua trong nang (follicular dendritic cell) vì thế chúng có thể hoạt hóa một số tế bào lympho B nhạy cảm với protein của chính mình do quá trình siêu đột biến thân ngẫu nhiên tạo ra.
=== Giảm khả năng thải loại tế bào chết ===
Cơ chế chính xác của sự hình thành bệnh lupus ban đỏ hệ thống vẫn chưa rõ ràng, vì có sự đóng góp của rất nhiều yếu tố. Ngoài những nguyên nhân nói trên, khả năng thải loại các tế bào chết bị giảm sút cũng có thể là một nguyên nhân. Sự giảm sút này bao gồm: giảm hoạt động thực bào, thiếu các thành phần huyết thanh và tăng quá trình tự hủy tế bào.
Các tế bào bạch cầu đơn nhân (monocyte) tách triết từ máu toàn phần của bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống có ít dấu ấn CD44 trên bề mặt (các dấu ấn này liên quan đến việc tiêu hóa các tế bào tự hủy). Đa số các tế bào monocyte và đại thực bào tingible body (TBM) (có trong trung tâm mầm của các hạch bạch huyết) thậm chí còn biểu hiện các dạng hình thái khác thường: chúng nhỏ hơn hoặc hiếm hơn và chết sớm hơn. Các thành phần huyết thanh (như bổ thể, protein phản ứng C - C-reactive protein (CRP), và một số glycoprotein có vai trò trong hoạt động thực bào) cũng thường biến mất, giảm số lượng hoặc hoạt động không hiệu quả.
Việc thải loại các tế bào tự hủy là một chức năng quan trọng đối với những cơ thể đa bào. Nó dẫn đến quá trình tự hủy và cuối cùng là hoại tử thứ cấp tế bào nếu khả năng này bị giảm sút. Những tế bào hoại tử giải phóng các mảnh nhân tế bào. Những mảnh nhân đó có thể là những kháng nguyên tự miễn và là dấu hiệu nguy hiểm trong nội môi, dẫn đến sự trưởng thành của các tế bào tua (DC), vì tế bào đã mất sự toàn vẹn của màng. Sự xuất hiện nhiều tế bào tự hủy cũng gây ra việc thải loại không hiệu quả. Nó làm của tế bào tua trưởng thành và trình diện các kháng nguyên nội bào, thông qua các phân tử MHC. Sự tự miễn có thể là kết quả của việc trình diện rộng rãi các kháng nguyên tự miễn trong nhân và thành phần nội bào sinh ra từ các tế bào tự hủy chậm hoặc hoại tử thứ phát. Sự dung hòa của tế bào lympho B and T đối với các tế bào tự hủy cũng không còn, tế bào lympho bị hoạt hóa bởi các kháng nguyên tự miễn này; quá trình viêm và việc sản xuất kháng thể tự miễn bới các tế bào plasma được khởi động. Việc giảm khả năng thải loại tế bào tự hủy trên da cũng diễn ra ở những bệnh nhân bị lupus ban đỏ dạng đĩa.
=== Sự tích tụ tại trung tâm mầm ===
Ở người bình thường, những tế bào lympho bị tự hủy sẽ được các tế bào thực bào chuyên trách và các đại thực bào tingible body (TBM) tiêu hóa ở trung tâm mầm, vì thế không có sự tự hủy tự do và không tồn tại chất nào có thể trở thành kháng nguyên tự miễn. Ở một số người bị lupus ban đỏ hệ thống, có thể quan sát thấy sự tích tụ các mảnh rác tế bào tự hủy ở trung tâm mầm vì việc thải loại các tế bào tự hủy bị giảm sút. Gần giống với các TBM, các tế bào tua trong nang (FDC) có mặt tại trung tâm mầm gắn các mảnh kháng nguyên lên bề mặt của chúng và (ngược lại với các tế bào tua trưởng thành từ tủy xương) không tiêu hóa mà cũng không trình diện các kháng nguyên đó bằng các phân tử MHC của chúng.
Các tế bào lympho B tự miễn có thể vô tình sinh ra trong quá trình siêu đột biến thân và di chuyển tới vùng sáng của trung tâm mầm. Các tế bào đó nếu ngẫu nhiên trưởng thành thì thường cũng không nhận được tín hiệu sống từ các kháng nguyên trên tế bào tua trong nang, và vì thế bị loại bỏ bởi quá trình tự hủy. Trong trường hợp giảm sút khả năng thải loại, các mảnh nhân tế bào tự hủy tích tụ tại vùng sáng của trung tâm mầm và gắn với các tế bào tua trong nang. Chúng trở thành dấu hiệu sống cho các tế bào lympho B tự miễn trong trung tâm mầm. Sau khi di chuyển đến vùng vỏ trung tâm mầm, các tế bào B tự miễn đòi hỏi phải có thêm các tín hiệu sống từ các tế bào lympho T tự miễn, nếu có tín hiệu đó chúng sẽ kích thích sự trưởng thành của các tế bào plasma và tế bào B nhớ, và từ đó dẫn đến bệnh tự miễn trên hệ thống cơ thể và trở thành mãn tính.
=== Sự tự miễn chống lại các ribonucleoprotein trong nhân (nRNP) ===
Kháng thể tự miễn chống lại ribonucleoprotein trong nhân (nRNP) A và C đầu tiên chỉ tấn công các motif giàu proline. Các kháng thể này sau đó bám lan sang các epitope khác. Sự tương đồng và phản ứng chéo giữa các mục tiêu ban đầu của kháng thể tự miễn kháng nRNP và Sm (Sm là viết tắt của Smith - tên một bệnh nhân chết vì bệnh lupus ban đỏ hệ thống, người ta đã tìm ra kháng nguyên Sm ở mô của cô và kháng nguyên đó đã trở thành nguyên lý để xét nghiệm bệnh này) cho thấy cơ chế tương đồng và điểm tập trung của sự lan tỏa epitope giữa các phân tử.
=== Các cơ chế khác ===
Sản phẩm của gen HMGB1 biểu hiện nhiều hơn trong huyết thanh của người và chuột bị lupus ban đỏ hệ thống, High Mobility Group Box 1 (HMGB1) là một loại protein trong nhân tế bào tham gia vào cấu trúc của chromatin và điều hòa việc phiên mã. Gần đây có nhiều bằng chứng cho thấy HMGB1 tham gia vào cơ chế của các bệnh viêm mãn tính và bệnh tự miễn vì có chức năng trong việc kích thích miễn dịch và quá trình trước viêm.
== Chẩn đoán ==
=== Xét nghiệm ===
Xét nghiệm tìm kháng thể kháng nhân (antinuclear antibody - ANA) và kháng - kháng nguyên nhân tách triết được (anti-extractable nuclear antigen - anti-ENA) là các loại xét nghiệm huyết học chính cho bệnh lupus ban đỏ hệ thống. Có một số phương pháp để phát hiện ANA. Phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong lâm sàng là miễn dịch huỳnh quang gián tiếp. Đặc điểm hình ảnh huỳnh quang cho thấy loại kháng thể có trong huyết thanh của bệnh nhân.
Kết quả ANA dương tính có ở nhiều bệnh về mô liên kết và các bệnh tự miễn khác, và có thể có cả ở người bình thường. Các loại kháng thể kháng nhân bao gồm: kháng thể kháng Sm và kháng ADN sợi đôi (dsDNA) (liên quan đến bệnh lupus ban đỏ hệ thống) và kháng thể kháng histone (liên quan đến lupus do các loại thuốc gây ra). Kháng thể kháng ADN sợi đôi đặc hiệu cao đối với bệnh lupus ban đỏ hệ thống; chúng có mặt ở 70% các trường hợp, và chỉ có ở 0.5% người không mắc bệnh này. Hàm lượng kháng thể kháng ADN sợi đôi cũng thể hiện diễn biến bệnh, mặc dù không phải ở tất cả bệnh nhân. Các ANA khác có thể có ở bệnh này là: kháng thể kháng U1 RNP (anti-U1 RNP) (cũng có trong bệnh chai da toàn thân - systemic sclerosis), SS-A (hoặc anti-Ro) và SS-B (hoặc anti-La); cả hai loại đó đều phổ biến ở hội chứng Sjögren). SS-A và SS-B gây nguy cơ ngừng dẫn truyền tim ở bệnh lupus trẻ sơ sinh.
Các xét nghiệm thường xuyên khác cho bệnh này bao gồm: mức độ của hệ thống bổ thể (mức độ thấp chứng tỏ đang được hệ miễn dịch huy động), các chất điện giải và chức năng thận (bị giảm nếu thận bị ảnh hưởng), men gan, và công thức máu.
Trước đây, xét nghiệm tế bào lupus ban đỏ không được sử dụng rộng rãi để chẩn đoán vì các tế bào này chỉ thấy ở khoảng 50–75% các ca lupus ban đỏ hệ thống, và cũng thấy ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp, chai da, và phản ứng với thuốc. Vì thế, xét nghiệm tế bào lupus hiện nay chỉ hiếm khi được thực hiện và chỉ có ý nghĩa lịch sử.
=== Tiêu chuẩn chẩn đoán ===
Một số bác sĩ chẩn đoán dựa trên tiêu chuẩn phân loại của Trường Thấp khớp học Hoa Kỳ (ACR). Tuy nhiên các tiêu chuẩn này chủ yếu dùng cho nghiên cứu khoa học bao gồm cả thử nghiệm ngẫu nhiên có kiểm soát đòi hỏi mức độ chắc chắn cao hơn, nên một số bệnh nhân có thể không đạt đủ tiêu chuẩn.
Trường Thấp khớp học Hoa Kỳ đã thiết lập 11 tiêu chuẩn vào năm 1982, và được chỉnh sửa vào năm 1997 để làm công cụ phân loại để áp dụng được định nghĩa bệnh lupus ban đỏ hệ thống trong thử nghiệm lâm sàng. Chúng không thực sự phù hợp để chẩn đoán bệnh nhân. Để đạt mục đích chọn bệnh nhân cho thử nghiệm lâm sàng, bệnh nhân được xác định là bị bệnh này nếu có đồng thời hoặc liên tiếp 4 trên 11 triệu chứng sau đây trong hai đợt bệnh khác nhau:
Viêm thanh mạc: Viêm màng phổi (viêm màng bao quanh phổi) hoặc viêm màng tim (viêm màng bao quanh tim); độ nhạy = 56%; độ đặc hiệu = 86% (triệu chứng phổi thường nhạy hơn; triệu chứng tim thường đặc hiệu hơn).
Loét trong miệng (bao gồm loét trong miệng và mũi hầu).
Viêm khớp: viêm khớp dạng không thoái hóa ở nhiều hơn 2 khớp ngoại vi, bị mềm, sưng, hoặc phù; độ nhạy = 86%; độ đặc hiệu = 37%.
Viêm da do ánh sáng (tiếp xúc với tia cực tím làm phát ban da, hoặc các triệu chứng cấp tính khác của lupus); độ nhạy = 43%; độ đặc hiệu = 96%.
Bệnh huyết học—thiếu máu do tan huyết (số lượng hồng cầu thấp) hoặc giảm bạch cầu (số lượng bạch cầu <4000/µl), giảm lympho (<1500/µl) hoặc giảm tiểu cầu (<100000/µl) dù không có tác dụng của thuốc; độ nhạy = 59%; độ đặc hiệu = 89%. Ngoài ra còn có triệu chứng giảm bổ thể, do sự viêm nhiễm gây ra bởi phức hợp miễn dịch sử dụng nhiều C3 và C4 hoặc do suy giảm bổ thể bẩm sinh (là một nguyên nhân dẫn đến bệnh lupus ban đỏ hệ thống).
Rối loạn về thận: Có nhiều hơn 0.5g protein trong nước tiểu/ ngày hoặc các trụ niệu do sự tích tụ tế bào trong nước tiểu (Urinary casts) soi thấy bằng kính hiển vi; độ nhạy = 51%; độ đặc hiệu = 94%.
Xét nghiệm kháng thể kháng nhân dương tính; độ nhạy = 99%; độ đặc hiệu = 49%.
Rối loạn miễn dịch: kết quả xét nghiệm dương tính với kháng thể anti-Smith, kháng thể kháng ADN sợi đôi, kháng thể kháng phospholipid, và dương tính giả đối với các xét nghiệm huyết học cho bệnh giang mai; độ nhạy = 85%; độ đặc hiệu = 93%. Có cả các kháng thể kháng ADN sợi đơn ở 70% các ca (nhưng chúng cũng có ở các bệnh viêm dạng thấp và ở người khỏe mạnh)).
Rối loạn thần kinh: Động kinh hoặc loạn tâm thần; độ nhạy = 20%; độ đặc hiệu = 98%.
Phát ban hình cánh bướm ở mặt, độ nhạy = 57%; độ đặc hiệu = 96%.
Phát ban dạng đĩa (vảy nến đỏ trên da, để lại sẹo); độ nhạy = 18%; độ đặc hiệu = 99%.
Một số bệnh nhân, đặc biệt là những người có hội chứng kháng phospholipid, có thể bị lupus ban đỏ mà không có đủ 4 tiêu chuẩn, và bệnh cũng có những đặc điểm khác ngoài những tiêu chuẩn kể trên.
Phương pháp thống kê hàm bộ phận (recursive partitioning) đã được sử dụng để xác định tiêu chuẩn gọn hơn. Phương pháp này cho thấy 2 cây phân loại chẩn đoán sau:
Cây phân loại đơn giản nhất: Bệnh nhân bị lupus ban đỏ hệ thống nếu có một rối loạn miễn dịch (kháng thể kháng ADN, kháng thể anti-Smith, kết quả xét nghiêm giang mai dương tính giả, hoặc có tế bào lupus ban đỏ) hoặc có phát ban má.
độ nhạy = 92%
độ đặc hiệu = 92%
Cây phân loại đầy đủ: Sử dụng 6 tiêu chuẩn.
độ nhạy = 97%
độ đặc hiệu = 95%
Ngoài ra còn có một số tiêu chuẩn khác.
== Điều trị ==
Là một bệnh mãn tính chưa có cách chữa khỏi, việc điều trị bệnh lupus ban đỏ hệ thống cũng mang tính hệ thống. Về cơ bản nghĩa là phải phòng chống các đợt bộc phát bệnh và giảm mức độ cũng như thời gian ảnh hưởng của những cơn bệnh đó.
Điều trị có thể bằng các thuốc corticosteroid và thuốc chống sốt rét. Một số loại viêm cầu thận lupus như viêm cầu thận tăng sinh lan tỏa đòi hỏi phải có thuốc gây độc cho tế bào như cyclophosphamide và mycophenolate.
=== Các loại thuốc ===
Vì triệu chứng và hệ quan cơ bị ảnh hưởng rất khác nhau, cần đánh giá mức độ trầm trọng của mỗi người để có thể điều trị hiệu quả. Trường hợp nhẹ và giảm dần thì có thể không cần điều trị. Nếu cần có thể dùng các loại thuốc chống viêm không steroid và thuốc chống sốt rét.
==== Thuốc chống thấp khớp thay đổi được bệnh ====
Thuốc chống thấp khớp thay đổi được bệnh (Disease-modifying antirheumatic drug - DMARD) được dùng để phòng các đợt bộc phát bệnh, tiến triển bệnh, và giảm nhu cầu sử dụng các loại steroid; bản thân cơn bộc phát bệnh được điều trị bằng corticosteroid. Các loại DMARD phổ biến là các thuốc chống sốt rét như plaquenil và các chất ức chế miễn dịch (như methotrexate và azathioprine). Hydroxychloroquine là thuốc chống sốt rét được FDA công nhận để điều trị các triệu chứng thuộc thể chất, về da liễu hoặc khớp. Hydroxychloroquine có tương đối ít tác dụng phụ, và có khả năng tăng tỉ lệ sống của bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống. Cyclophosphamide được dùng cho trường hợp bị viêm cầu thận nặng hoặc các biến chứng hủy hoại các cơ quan khác. Axit mycophenolic cũng được dùng để điều trị viêm cầu thận lupus, nhưng chưa được FDA công nhận vì FDA đang kiểm tra các báo cáo nghi ngờ khả năng gây dị tật bẩm sinh nếu phụ nữ mang thai dùng thuốc này.
==== Các thuốc ức chế miễn dịch ====
Trong những trường hợp bệnh nặng, cần dùng đến các loại thuốc điều hòa hoạt động của hệ miễn dịch (chủ yếu là các corticosteroid và các thuốc ức chế miễn dịch) để kiểm soát bệnh và ngăn ngừa các đợt bệnh tái phát (hay các cơn bộc phát bệnh). Tùy vào liều lượng, những bệnh nhân dùng steroid có thể bị hội chứng Cushing và các tác dụng phụ như béo phì, mặt phù, đái tháo đường, thèm ăn, khó ngủ và loãng xương. Các tác dụng phụ đó có thể giảm nếu liều lượng thuốc lớn ban đầu được giảm đi, nhưng nếu dùng lâu dài thì kể cả liều lượng thấp cũng gây tăng huyết áp và cườm thủy tinh thể mắt.
Có rất nhiều loại thuốc ức chế miễn dịch mới đang được thử nghiệm trong điều trị bệnh này. Thay vì ức chế hệ miễn dịch một các không đặc hiệu, như cơ chế của các loại corticosteroid, các loại thuốc mới tập trung đến các đáp ứng của từng loại tế bào miễn dịch. Một số loại thuốc đã được FDA công nhận để điều trị viêm khớp dạng thấp. Xem thêm về thuốc Belimumab và Rituximab.
==== Thuốc giảm đau ====
Vì một tỉ lệ lớn bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống phải chịu đau mãn tính, bác sĩ có thể phải kê các loại thuốc giảm đau mạnh hơn nếu những loại thuốc không cần kê đơn (chủ yếu là thuốc chống viêm không steroid - NSAID) không có hiệu quả. Các thuốc NSAID mạnh như indomethacin và diclofenac lại thường chống chỉ định đối với bệnh này vì chúng làm tăng nguy cơ suy thận và suy tim.
Những cơn đau trung bình có thể điều trị bằng các chất gây tê loại nhẹ như dextropropoxyphene và co-codamol. Nhưng cơn đau trung bình đến nặng phải dùng các loại thuốc gây nghiện mạnh hơn như hydrocodone hoặc tác dụng kéo dài hơn như oxycodone, MS Contin, hoặc methadone. Miếng dán trên da Fentanyl chứa duragesic cũng được dùng rộng rãi trong điều trị đau mãn tính vì thời gian tác dụng kéo dài và dễ sử dụng. Khi thuốc gây nghiện được dùng kéo dài thì có thể dẫn tới dung hòa thuốc, phụ thuộc thuốc và nghiện. Việc nghiện thuốc không phải là mối lo lớn vì các triệu chứng bệnh thường không thể khỏi hoàn toàn. Vì thế việc điều trị các triệu chứng đau mãn tính bằng thuốc gây nghiện suốt đời (đi kèm với việc xác định lại hàm lượng thuốc định kỳ cho phù hợp) thường là phổ biến. Việc xác định lại hàm lượng định kỳ cũng là thường xuyên đối với bất kỳ phác đồ điều trị bằng thuốc gây nghiện nào.
=== Thay đổi lối sống ===
Thay đổi chính đối với bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống là phải tránh ánh sáng mặt trời, vì ánh sáng mặt trời làm bệnh nặng thêm. Nếu bệnh nhân phải dùng các loại thuốc khác không liên quan đến lupus thì chỉ nên dùng nếu chắc chắn loại thuốc đó không làm bệnh nặng thêm. Phơi nhiễm nghề nghiệp đối với silica, thuốc trừ dịch hại và thủy ngân cũng có thể làm bệnh nặng hơn.
=== Ghép thận ===
Ghép thận là phương pháp điều trị phổ biến trong trường hợp bị bệnh thận giai đoạn cuối, là một trong những biến chứng của viêm cầu thận lupus, nhưng sau đó 30% trường hợp vẫn bị tái phát bệnh.
== Phòng bệnh ==
Vì bệnh lupus ban đỏ hệ thống chưa được hiểu rõ nên cũng chưa thể phòng ngừa được, tuy nhiên khi bị bệnh, người ta có thể giảm thiểu tác hại, tăng cường chất lượng cuộc sống bệnh nhân bằng cách ngăn ngừa những đợt phát bệnh. Những dấu hiệu cảnh báo cho một cơn phát bệnh sắp xảy ra có thể là: mệt mỏi, đau, phát ban, sốt, đau bụng, đau đầu, và chóng mặt. Nếu sớm nhận ra các dấu hiệu cảnh báo và thường xuyên liên hệ với bác sĩ, bệnh nhân có thể chủ động hơn, ít đau hơn và giảm số lần đi bệnh viện.
Vì tuổi thọ của bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống đang tăng lên, khả năng xảy ra các biến chứng cũng nhiều hơn đối với: bệnh tim mạch, viêm nhiễm, loãng xương, và ung thư. Cần có các biện pháp phòng ngừa tiêu chuẩn và rà soát các bệnh liên quan vì nguy cơ tăng cao do tác dụng phụ của các loại thuốc. Đặc biệt, bác sĩ và bệnh nhân luôn phải cảnh giác cao đối với các bệnh ung thư có liên quan đến hệ miễn dịch.
=== Biến chứng trong thai sản ===
Mặc dù đa số các bà mẹ mắc lupus ban đỏ hệ thống thường sinh con khỏe mạnh, các bà mẹ bị bệnh này khi mang thai nên tiếp tục theo dõi điều trị cho đến lúc sinh. Lupus bẩm sinh rất hiếm, nhưng nếu xác định được những trường hợp mang thai có nguy cơ cao thì có thể có biện pháp điều trị trước và sau khi sinh. Ngoài ra, các cơn phát bệnh có thể xảy ra trong khi mang thai, nếu điều trị đúng có thể duy trì sức khỏe tốt cho bà mẹ lâu dài hơn. Những phụ nữ mang thai có kháng thể anti-Ro (SSA) hoặc anti-La (SSB) thường nên làm siêu âm tim trong khoảng tuần thứ 16 đến 30 để theo dõi tim và hệ thống mạch máu xung quanh.
Các biện pháp kiểm soát sinh sản và tránh thai thường được chỉ định cho phụ nữ mắc bệnh này vì mang thai trong giai đoạn bệnh đang phát có thể nguy hiểm. Viêm cầu thận lupus là biến chứng phổ biến nhất. Tỉ lệ trẻ sống khi sinh là khoảng 72.7%; nguyên nhân phổ biến nhất gây sẩy thai là hư thai và thai chết lưu. Các tác hại trong thai sản nhiều hơn khi bệnh nhân có các cơn phát bệnh trong khi mang thai.
== Tiên lượng ==
Bệnh lupus ban đỏ hệ thống không chữa khỏi được, nhưng có thể điều trị được.
Vào những năm 1950, đa số bệnh nhân sống không quá 5 năm. Những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị đã làm tăng tỉ lệ sống, hiện nay, hơn 90% bệnh nhân có thể sống được trên 10 năm, và nhiều người có thể sống mà không có triệu chứng gì. Tiên lượng ở đàn ông và trẻ em thường xấu hơn ở phụ nữ; tuy nhiên, nếu các triệu chứng xuất hiện sau 60 tuổi thì bệnh thường lành tính hơn. Chết sớm trong vòng 5 năm thường do suy các cơ quan nội tạng hoặc do viêm nhiễm quá nặng. Nhưng 2 nguyên nhân đó đều có thể kiểm soát được nếu chẩn đoán và điều trị sớm. Nguy cơ tử vong thường cao hơn gấp 5 lần so với người bình thường ở giai đoạn cuối, do các bệnh tim mạch gây ra bởi các loại thuốc corticosteroid. Các bệnh tim mạch cũng là nguyên nhân gây tử vong cao nhất ở bệnh nhân lupus ban đỏ hệ thống.
Để giảm thiểu nguy cơ về tim mạch, cần ngăn ngừa và điều trị triệt để tình trạng huyết áp cao và cholesterol cao. Chỉ nên dùng các loại thuốc dạng steroid ở liều lượng thấp nhất trong thời gian ngắn nhất có thể, và nên dùng các loại thuốc khác để giảm triệu chứng nếu có thể. Hàm lượng creatinine trong huyết thanh cao, huyết áp cao, hội chứng hư thận (nephrotic syndrome), thiếu máu và giảm albumin trong máu là những yếu tố tiên lượng không tốt.
Xét nghiệm kháng thể kháng nhân (ANA) là xét nghiệm sàng lọc nhạy nhất để đánh giá, còn xét nghiệm kháng thể anti-Smith là đặc hiệu nhất. Kháng thể kháng sợi đôi ADN cũng tương đối đặc hiệu và thường thay đổi theo tiễn triển bệnh, vì thế nên nồng độ sợi đôi ADN đôi khi được dùng để giảm sát các cơn phát bệnh hoặc đáp ứng điều trị.
== Dịch tễ học ==
Tỉ lệ bệnh lupus ban đỏ hệ thống rất khác nhau giữa các nước, dân tộc, giới tính, và thay đổi theo thời gian. Ở Hoa Kỳ, tỉ lệ hiện hành của bệnh là khoảng 53 trên 100.000 người, nghĩa là khoảng 159.000 trong tổng số 300 triệu dân ở Mỹ đang mắc bệnh. Ở Bắc Âu, tỉ lệ này là khoảng 40 trên 100.000 người. Bệnh có xu hướng nhiều hơn và nặng hơn trong cộng đồng người không phải gốc châu Âu. Tỉ lệ này lên tới 159 trên 100.000 ở cộng đồng người gốc châu Phi ở Caribe.
Lupus ban đỏ hệ thống, cũng như các bệnh tự miễn khác, ảnh hưởng tới phụ nữ nhiều hơn đàn ông, với tỉ lệ khoảng 9:1.
Tỉ lệ mắc mới bệnh này ở Hoa Kỳ tăng từ 1,0 năm 1955 lên đến 7,6 năm 1974. Tuy nhiên, chưa rõ tỉ lệ này tăng là do việc chẩn đoán tốt hơn hay do tần suất bệnh tăng lên.
== Lịch sử và văn hóa ==
=== Từ gốc ===
Có một số giải thích về việc dùng cụm từ lupus erythematosus (lupus ban đỏ). Lupus trong tiếng Latinh nghĩa là chó sói, và "erythro" bắt nguồn từ chữ ερυθρός, trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là "đỏ." Các cách giải thích đều bắt nguồn từ phát ban má màu đỏ, hình bướm trên mũi và má đặc trưng của bệnh.
Theo một số ý kiến, bác sĩ nghĩ rằng phát ban giống như đặc điểm lông trên mặt chó sói.
Một số ý kiến khác cho rằng các phát ban đó (biểu hiện nặng hơn ở những thế kỷ trước), tạo ra các tổn thương giống như vết chó sói cắn hay cào.
Một số khác lại cho rằng từ "lupus" không phải bắt nguồn trực tiếp từ tiếng Latinh, mà từ một từ có nghĩa là mặt nạ theo kiểu của Pháp mà phụ nữ hay đeo để che đi vết phát ban trên mặt. Mặt nạ gọi là "loup," là tiếng Pháp của từ "chó sói."
Một cách giải thích phổ biến khác là tiến triển bệnh có liên quan đến những lần phát bệnh lặp đi lặp lại giống như sự tấn công của loại thú ăn thịt phàm ăn, và để lại những vết đỏ.
=== Lịch sử ===
Lịch sử của bệnh lupus ban đỏ hệ thống có thể chia làm 3 giai đoạn: cổ điển, tân cổ điển, và hiện đại. Giai đoạn cổ điển bắt đầu khi bệnh được ghi nhận lần đầu tiên vào thời Trung Cổ và có những mô tả về các triệu chứng da liễu của bệnh. Từ lupus được một thầy thuốc tên là Rogerius vào thế kỷ 12 đặt ra để mô tả hiện tượng phát ban má điển hình. Giai đoạn tân cổ điển bắt đầu vào năm 1872 khi Móric Kaposi ghi nhận biểu hiện hệ thống của bệnh. Giai đoạn hiện đại bắt đầu vào năm 1948 với sự phát hiện ra tế bào LE -lupus erythematosus (hay tế bào lupus ban đỏ- một cách gọi sai vì tế bào này cũng có ở những bệnh khác) và có nhiều bước tiến trong kiến thức về sinh lý bệnh học và các đặc điểm lâm sàng-cận lâm sàng của bệnh, cũng như những tiến bộ trong điều trị.
Các nhà sử gia về y học đã đưa ra giả thuyết rằng những người bị rối loạn chuyển hóa porphyrin (tiếng Anh là porphyria- một bệnh có nhiều triệu chứng giống lupus ban đỏ hệ thống) đã gây ra những câu chuyện dân gian về ma cà rồng và người sói, do chứng sợ ánh sáng, vảy nến trên da, mọc tóc, và răng bị đỏ nâu do porphyrin khi bị rối loạn chuyển hóa porphyrin nặng (hoặc rối loạn kết hợp, còn gọi là rối loạn chuyển hóa porphyrin kép/ đồng hợp/ hoặc dị hợp kép).
Loại thuốc điều trị hiệu quả đầu tiên được phát hiện vào năm 1894 là quinine. Bốn năm sau, việc sử dụng các salicylate kết hợp với quinine tỏ ra hiệu quả hơn. Đây cũng là liệu pháp tốt nhất cho đến giữa thế kỷ 20, khi Hench khám phá ra công dụng của corticosteroid trong điều trị bệnh này.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Lupus ban đỏ hệ thống trên DMOZ
Lupus ban đỏ hệ thống tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Lupus erythematosus
Immune system disorder: Systemic lupus erythematosus |
vịnh bengal.txt | Vịnh Bengal (Bangla: বঙ্গোপসাগর, (tiếng Oriya: ବଂେଗାପ ସାଗର) là một trong những vịnh lớn nhất thế giới, nằm ở Nam Á, phía đông bắc Ấn Độ Dương. Vịnh Bengal trông tương tự như một tam giác, có ranh giới là Ấn Độ và Sri Lanka ở phía tây, Bangladesh và bang Tây Bengal của Ấn Độ ở phía bắc (từ đây mà có tên gọi vịnh Bengal), Myanma cùng phần phía nam của Thái Lan và quần đảo Andaman và Nicobar ở phía đông. Ranh giới phía nam của nó được coi là đường tưởng tượng nối từ mũi Dondra ở điểm cực nam Sri Lanka với điểm cực bắc của đảo Sumatra. Với tổng diện tích 2,172 triệu km², độ sâu trung bình 2.586-2.600 m, nhiệt độ nước 25-27 °C. Sông Hằng và sông Brahmaputra là hai con sông lớn đổ vào phía bắc vịnh tạo thành những cửa sông rộng. Trong vịnh có quần đảo Andaman và Nicobar. Hải cảng quan trọng là Chennai của Ấn Độ và Chittagong của Bangladesh.
Sứ thần Việt Nam Phạm Phú Thứ vào thế kỷ 19 khi đi ngang qua vùng biển Ấn Độ ghi lại địa danh Vịnh Bengal là Vịnh Minh Ca Lê.
== Sông ==
Nhiều con sông lớn của Ấn Độ chảy theo hướng tây-đông đổ vào vịnh Bengal: ở phía bắc là các sông như Hằng, Meghna và Brahmaputra, còn ở phía nam là sông Mahanadi qua vùng châu thổ sông Mahanadi, sông Godavari, sông Krishna, Irrawaddy và sông Kaveri (hay Cauvery). Sông ngắn nhất đổ vào vịnh Bengal là sông Cooum dài 64 km. Sông Brahmaputra là con sông dài thứ 28 trên thế giới (2.948 km hay 1.832 dặm Anh), chảy qua Ấn Độ, Trung Quốc, Nepal, Bangladesh và Bhutan. Các rừng đước Sundarbans được hình thành tại cửa sông Hằng, Brahmaputra và Meghna trên bờ biển của vịnh Bengal. Sông Ayeyarwady của Myanma cũng chảy vào vịnh này.
== Hải cảng ==
Các hải cảng chính của Bangladesh trên vịnh bao gồm Chittagong và Mongla. Các hải cảng chính của Ấn Độ trên vịnh này bao gồm Krishnapatnam, Chennai (tên gọi cũ Madras), Vishakhapatnam, Kolkata (tên gọi cũ Calcutta) và Pondicherry. Yangon, thành phố lớn nhất và cựu thủ đô của Myanma cũng là một hải cảng quan trọng trong vịnh này.
== Đảo ==
Trên vịnh này có nhiều đảo, bao gồm các nhóm đảo Andaman, Nicobar và Mergui. Nhóm các đảo Cheduba cùng các đảo khác ở phía đông bắc, ngoài khơi Myanma, là đáng chú ý vì một chuỗi các núi lửa bùn, đôi khi có các hoạt động phun trào diễn ra. Đại Andaman là quần đảo chính hay nhóm đảo của quần đảo Andaman, trong khi quần đảo Ritchie bao gồm các đảo nhỏ hơn. Chỉ 37 trên tổng số 572 đảo của quần đảo Andaman và Nicobar là có cư dân sinh sống, chiếm tỷ lệ 6,5%/
== Bãi biển ==
Cox's Bazar, vùng bờ biển phía đông bắc của vịnh, là một trong những bờ biển tự nhiên còn hoang sơ của thế giới. Các bãi biển khác dọc theo vịnh còn có Bakkhali, Digha, Chandipur, Puri, Waltair, bãi Marina tại Chennai và bãi Ngapali ở Myanma.
== Xem thêm ==
Quần đảo Andaman và Nicobar
Cox's Bazar
== Ghi chú ==
Bản mẫu:SouthAsiaWaters |
ca sĩ.txt | Ca sĩ là người thực hiện, biểu diễn các bài hát bằng giọng ca của bản thân mình với nhiều thể loại nhạc: pop, rock, jazz, ballad, dance, rapper... Hát là một kĩ năng để tạo ra âm thanh bằng giọng hát của chính mình và các âm thanh được phát ra lớn hơn so với nói chuyện bình thường bởi giọng và âm điệu. Người thể hiện có thể biểu diễn những bài hát với các dụng cụ nhạc (sáo, đàn...) hoặc không. Hát thường được thực hiện với một nhóm các nhạc sĩ, còn gọi là hợp xướng, khi được tổng hợp nhiều giọng khác nhau hoặc có thể là một nhóm nhạc sĩ biểu diễn dùng công cụ nhạc như nhóm nhạc rock hoặc kiểu ban nhạc Baroque. Theo một số định nghĩa thì các bài hát đều dựa trên tiếng nói trong xã hội, hầu như tất cả mọi người ai nói được đều hát được. Ca sĩ có thể hát theo quy tắc hoặc không hoặc hát những bài đã sáng tác hoặc tự sáng tác. Hát thường được thực hiện với mục đích cho tâm trạng, yêu thích, các buỗi văn nghệ, chương trình truyền hình... Muốn hát được chuyên nghiệp cần phải có nhiều thời gian luyện tập tận tụy thường xuyên và không ngừng nâng cao thanh giọng cho bản thân. Tuy nhiên cũng có một số trường hợp đặc biệt như ca sĩ Justin Bieber đã nổi tiếng vì được biết đến qua youtube và còn nhiêu ca sĩ khác được nổi tiếng nhờ mạng này. Các ca sĩ chuyên nghiệp thương tập trung vô một lĩnh vực âm nhạc. Họ thường phải học qua lớp khoa sư phạm âm nhạc (Vocal pedagogy) bởi các thầy giáo kinh nghiệm về âm giọng trong sự nghiệp ca hát của họ.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Nhạc sĩ
Nhạc công
Diva
== Liên kết ngoài == |
bảo lộc.txt | Bảo Lộc (tên cũ: B'Lao) là một thành phố trực thuộc tỉnh Lâm Đồng, Việt Nam.
== Lịch sử ==
Trước đây, vùng đất Bảo Lộc bao gồm cả các huyện Bảo Lâm, Đạ Tẻh, Cát Tiên, Đạ Huoai và một phần tỉnh Đồng Nai bây giờ, là địa bàn cư trú của người Mạ. Năm 1899, Thực dân Pháp đã đặt chân đến vùng này đồng thời vạch ra một con đường nối liền với Bình Thuận. Ngày 1 tháng 1 năm 1899, Pháp thành lập tỉnh Đồng Nai Thượng, tỉnh lỵ đặt tại Djiring. Năm 1905, cả vùng Đồng Nai Thượng được sáp nhập vào tỉnh Bình Thuận.
Năm 1920, tỉnh Đồng Nai Thượng được tái lập, bao gồm 3 quận B’Lao (Bảo Lộc), Djiring (Di Linh) và Dran - Fyan (Đơn Dương), với diện tích bao trùm cả cao nguyên Di Linh, Bảo Lộc và một phần của cao nguyên Lâm Viên. Năm 1958, chính phủ Việt Nam Cộng hòa đổi tên tỉnh Đồng Nai Thượng thành tỉnh Lâm Đồng. Đồng thời tách quận Dran sáp nhập vào tỉnh Lâm Viên và đặt thành tỉnh Tuyên Đức. Lâm Đồng lúc này còn hai quận là B’Lao và Djiring, tức toàn bộ vùng đất nằm trên cao nguyên Di Linh, Bảo Lộc. Ngày 30 tháng 11 năm 1958, B’Lao được đổi tên thành Bảo Lộc và được chọn làm tỉnh lỵ của tỉnh Lâm Đồng và công việc kiến thiết mở mang đô thị mới cũng bắt đầu phát triển mạnh từ thời gian này.
Sau năm 1975, Bảo Lộc là tên huyện của tỉnh Lâm Đồng hợp nhất. Sau đó, huyện lại tách thành các huyện Bảo Lộc, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên. Từ đó, huyện Bảo Lộc có 1 thị trấn B'lao và 15 xã: Lộc Tân, Lộc Tiến, Lộc Sơn, Lộc Phát, Lộc Châu, Lộc Thanh, Lộc Nga, Lộc Thắng, Lộc Lâm, Lộc Bắc, Lộc Ngãi, Lộc Đức, Lộc An, Lộc Thành, Lộc Nam. Ngày 11 tháng 7 năm 1994, Chính phủ quyết định chia huyện Bảo Lộc thành 2 đơn vị hành chính là thị xã Bảo Lộc và huyện Bảo Lâm, gồm 6 phường: 1, 2, B'lao, Lộc Phát, Lộc Sơn, Lộc Tiến (trong đó các phường 1, 2, B'lao được thành lập trên cơ sở giải thể thị trấn B'lao, các phường Lộc Phát, Lộc Sơn, Lộc Tiến được thành lập trên cơ sở các xã có tên tương ứng) và 4 xã: Đạm Bri (tách ra từ xã Lộc Tân), Lộc Châu, Lộc Nga, Lộc Thanh.
Ngày 18 tháng 6 năm 1999, chia xã Lộc Châu thành 2 xã: Lộc Châu và Đại Lào.
Ngày 11 tháng 3 năm 2009, thị xã Bảo Lộc được công nhận là đô thị loại III.
Ngày 8 tháng 4 năm 2010, chính phủ ra Nghị quyết 19/NQ-CP nâng cấp thị xã Bảo Lộc trở thành thành phố Bảo Lộc.
== Địa lý ==
=== Vị trí địa lý ===
Bảo Lộc có diện tích 23.256 ha, chiếm 2,38% diện tích toàn tỉnh Lâm Đồng. Phía đông, phía nam và phía bắc giáp với huyện Bảo Lâm. Phía tây giáp với huyện Đạ Huoai. Địa bàn huyện này thuộc Vườn quốc gia Cát Tiên đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới.
Đây cũng là địa phương có dự án Đường cao tốc Dầu Giây – Đà Lạt đi qua đang được xây dựng.
=== Địa hình,địa chất ===
Địa hình thành phố Bảo Lộc gồm 3 dạng chính là núi cao, đồi dốc và thung lũng:
Núi cao: Tập trung ở khu vực phía Tây Nam, có các ngọn núi cao từ 900 đến 1.100 m so với mặt nước biển, có độ dốc lớn và diện tích khoảng 2.500 ha, chiếm 11% tổng diện tích của toàn thành phố.
Đồi dốc: Gồm các khối bazan bị chia cắt, tạo nên các ngọn đồi và các dải đồi dốc có phần đỉnh tương đối bằng phẳng, có độ cao từ 800 đến 850 m. Độ dốc sườn đồi lớn, dễ bị xói mòn, là khu vực sản xuất loạt cây lâu năm như chè, cà phê, dâu.
Thung lũng: Tập trung chủ yếu ở xã Lộc Châu và Đại Lào, chiếm 9,2% tổng diện tích của toàn thành phố. Có khu vực đất tương đối bằng phẳng, dễ thích hợp để phát triển loạt cây cà phê, chè và cây ngắn ngày.
=== Khí hậu ===
Nằm trong khí hậu nhiệt đới gió mùa nhưng do ở nhiệt độ cao trên 800m và tác động của địa hình nên khí hậu Bảo Lộc có nhiều nét độc đáo với những đặc trưng chính như sau:
Nhiệt độ trung bình cả năm 21-22 °C, nhiệt độ cao nhất trong năm 27,4 °C, nhiệt độ thấp nhất trong năm 16,6 °C.
Số giờ nắng trung bình 1.680 giờ/năm, bình quân 4,6 giờ/ngày (tháng mùa mưa: 2-3 giờ/ngày, các tháng mùa khô: 6-7 giờ/ngày), mùa khô nắng nhiều nhưng nhiệt độ trung bình thấp tạo nên nét đặc trưng độc đáo của khí hậu Bảo Lộc.
Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 11, lượng mưa trung bình hàng năm 2.513 mm, số ngày mưa trung bình cả năm 190 ngày, mưa nhiều và mưa tập trung từ tháng 7 đến tháng 9.
Độ ẩm trung bình hàng năm khá cao từ 80-90%.
Gió: gió chủ đạo theo hai hướng chính:
-Gió Đông Bắc thịnh hành từ tháng 1 đến tháng 4
-Gió Tây Nam thịnh hành từ tháng 6 đến tháng 9
Nắng trung bình, độ ẩm không khí cao, nhiều ngày có sương mù, cường độ mưa lớn tạo nên những nét đặc trưng riêng cho vùng đất Bảo Lộc.
=== Thủy văn ===
Hệ thống thủy văn bao gồm có ba hệ thống:
Hệ thống sông DaR’Nga: Phân bố ở phía Đông thành phố Bảo Lộc, là ranh giới giữa thành phố và huyện Bảo Lâm, các phụ lưu lớn của sông DaR’Nga trong thành phố Bảo Lộc gồm có: suối DaSre Drong, suối DaM’Drong, suối DaBrian. Các suối này có nước quanh năm phục vụ cho sản xuất nông nghiệp.
Hệ thống suối Đại Bình: Phân bố chủ yếu ở phía nam Quốc lộ 20, bắt nguồn từ dãy núi cao ở phía nam và tây Bảo Lộc. Các phụ lưu gồm: suối DaLab, suối Tân Hồ, suối Đại Bình có lượng nước phong phú, có thể sử dụng làm nguồn nước tưới ổn định cho thung lũng Đại Bình.
Hệ thống suối ĐamB’ri: Là vùng đầu nguồn của suối ĐamB’ri, phân bố tập trung ở xã ĐamB’ri, phần lớn các nhánh suối chỉ có nước vào mùa mưa. Suối ĐamB’ri có nhiều ghềnh thác, trong đó có thác ĐamB’ri là cảnh quan có giá trị rất lớn về du lịch.
Nước ngầm: Nhìn chung khu vực Bảo Lộc có trữ lượng nước ngầm khá, chất lượng nước tương đối tốt có thể vừa phục vụ cho sinh hoạt vừa phục vụ cho sản xuất nông nghiệp và công nghiệp.
== Các đơn vị hành chính ==
Bảo Lộc gồm có 6 phường và 5 xã với 120 thôn, buôn, khu phố:
6 phường: 1, 2, B'lao, Lộc Phát, Lộc Sơn, Lộc Tiến.
5 xã: Đại Lào, Đạm Bri, Lộc Châu, Lộc Nga, Lộc Thanh.
== Kinh tế ==
=== Nông nghiệp ===
Bảo Lộc là vùng chuyên canh trà, cà phê và dâu tằm. Các cây ăn trái của Bảo Lộc cũng rất phong phú, trong đó có những loại cây đặc sản như: bơ, sầu riêng, mít tố nữ...
Bảo Lộc cũng là vùng có tiềm năng lớn để phát triển chăn nuôi bò sữa, dê.
=== Công nghiệp ===
Công nghiệp của thành phố Bảo Lộc chiếm trên 40% tỉ lệ công nghiệp của cả tỉnh Lâm Đồng, bao gồm các ngành chế biến trà, cà phê, se tơ, dệt, may mặc... Các nhà máy, xí nghiệp tập trung ở Khu Công nghiệp Lộc Sơn, Phường II và khu vực xã Đại Lào.
Bảo Lộc là thủ phủ của ngành Dâu tằm tơ, có các nhà máy chế biến tơ tằm, ươm tơ dệt lụa nổi tiếng như nhà máy se tơ dệt lụa tơ tằm Á châu...
Bảo Lộc có tiềm năng lớn về phát triển ngành khai thác và chế biến khoáng sản. Tại đây có trữ lượng lớn bô xít và cao lanh, trong đó bô xít có khoảng 378 triệu tấn với trữ lượng loại C1 (có hàm lượng Al2O3=44,69%; SiO2=6,7%) là 209 triệu tấn.
== Lễ hội ==
Lễ hội văn hoá Trà Lâm Đồng (định kỳ 2 năm tổ chức một lần).
== Danh lam thắng cảnh - Du lịch ==
Do có khí hậu mát mẻ quanh năm nên đây là nơi lý tưởng để xây dựng các khu du lịch nghỉ dưỡng. Bảo Lộc có nhiều thác, hồ, suối đẹp như: Thác ĐamB'ri, thác bảy tầng, hồ Nam Phương, suối Đá Bàn...
Khu du lịch ĐamB'ri nổi tiếng với thác nước hùng vĩ cao 57m và các cánh rừng nguyên sinh, là nơi có thể nghỉ dưỡng, cắm trại...Tuy nhiên khoảng từ 1995 - 2006 ĐamB'ri không thu hút nhiều khách du lịch do không được đầu tư nhiều. Năm 2007, ĐamB'ri có nhiều bước đột phá mới do có nguồn đầu tư từ Công ty Tâm Châu sau khi Công ty du lịch thác ĐamB'ri được cổ phần hoá. Năm 2010, máng trượt dài nhất Đông Nam Á được chính thức ra mắt tại ĐamB'ri.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ chính thức |
gold coast (úc).txt | Gold Coast là một thành phố ở tiểu bang Queensland ở bờ miền đông của nước Úc. Gold Coast có khoảng nửa triệu dân và là thành phố phát triển nhanh nhất ở Úc theo số dân. Đây là thành phố lớn thừ nhì của bang này, và là thành phố lớn thứ 6 ở Úc. Kinh tế ở đây dựa trên du lịch từ ngoại quốc.
== Khí hậu ==
== Chú thích == |
microsoft windows.txt | Microsoft Windows (hoặc đơn giản là Windows) là tên của một họ hệ điều hành dựa trên giao diện người dùng đồ hoạ được phát triển và được phân phối bởi Microsoft. Nó bao gồm một vài các dòng hệ điều hành, mỗi trong số đó phục vụ một phần nhất định của ngành công nghiệp máy tính. Các dòng Windows hiện tại gồm Windows NT, Windows Embedded và Windows Phone; chúng có thể bao gồm các phân họ, VD: Windows Embedded Compact (Windows CE) hoặc Windows Server. Các dòng Windows đã bị ngừng gồm Windows 9x và Windows Mobile.
Microsoft giới thiệu một môi trường điều hành có tên là Windows vào 20 tháng 11 năm 1985 như một giao diện hệ điều hành đồ hoạ cho MS-DOS để đáp ứng với sự quan tâm ngày càng tăng với các giao diện người dùng đồ hoạ (GUI). Microsoft Windows dần chiếm ưu thế trong thị trường máy tính cá nhân thế giới với hơn 90% thị phần, vượt qua Mac OS, đã được giới thiệu năm 1984. Tuy nhiên, từ 2012, thị phần của nó đã bị tụt lại so với Android, sau đó trở thành hệ điều hành phổ biến nhất năm 2014, khi tính tất cả các nền tảng máy tính mà Windows chạy (giống như Android); vào 2014, số thiết bị Windows đã bán ít hơn 25% của Android.
Tính đến năm tháng 3 năm 2016, phiên bản Windows gần đây nhất cho các máy tính cá nhân, máy tính bảng, điện thoại thông minh và các thiết bị nhúng là Windows 10. Phiên bản gần đây nhất cho máy chủ lần lượt là Windows Server 2012 R2. Cũng có một phiên bản Windows đặc biệt chạy trên máy chơi game console Xbox One.
== Các dòng sản phẩm chính ==
=== Theo mục đích tiếp thị ===
Microsoft, nhà phát triển của Windows, đã đăng ký nhiều nhãn hiệu, mỗi nhãn hiệu nhằm biểu thị cho một họ hệ điều hành Windows được nhắm vào một phần cụ thể của ngành công nghiệp máy tính. TÍnh đến năm 2014, các họ Windows đang được phát triển tích cực là:
Windows NT: Được bắt đầu dưới dạng một họ hệ điều hành với Windows NT 3.1, một hệ điều hành cho máy chủ và máy trạm. Nay nó được phân ra thành ba họ hệ điều hành con được phát hành gần như cùng lúc và chia sẻ chung một hạt nhân
Windows RT: Hệ điều hành cho các máy tính cá nhân. Phiên bản mới nhất là Windows 10. Sẽ là rất khó cho những người nào không hiểu biết về chủ đề này trong việc nhận dạng các thành viên trong họ này nếu chỉ nhìn qua tên bởi chúng không được đặt tên theo bất cứ một quy luật nào; ví dụ như Windows Vista, Windows 7, Windows 8/8.1 và Windows RT đếu thuộc họ này nhưng Windows 3.1 thì lại không. Đối thủ chính của họ này là hệ điều hành OS X của Apple Inc.
Windows Server: Hệ điều hành dành cho máy chủ. Phiên bản mới nhất là Windows Server 2012 R2. Không giống như các phiên bản cho khách hàng, các hệ điều hành trong họ này đều được đặt tên theo một quy luật. Đối thủ chính của họ này là hệ điều hành Linux.
Windows PE: Một phiên bản nhẹ của Windows được tạo ra để vận hành như một hệ điều hành trực tiếp, được sử dụng để cài đặt Windows trên các máy tính hoàn toàn mới (đặc biệt khi phải cài đặt nhiều máy tính cùng lúc), hoặc sử dụng với mục đích phục hồi hoặc sửa lỗi. Phiên bản mới nhất là Windows PE 10.0.10586.0.
Windows Embedded: Ban đầu, Microsoft phát triển Windows CE dưới dạng một hệ điều hành mục đích chung cho tất cả các thiết bị có tài nguyên quá hạn chế để được gọi là một chiếc máy tính đầy đủ. Tuy nhiên, rốt cục Windows CE được đổi tên thành Windows Embedded Compact và được xếp lại dưới thương hiệu Windows Compact cũng được bao gồm Windows Embedded Industry, Windows Embedded Professional, Windows Embedded Standard, Windows Embedded Handheld và Windows Embedded Automotive.
Các họ Windows sau không còn được phát triển nữa:
Windows 9x: Hệ điều hành được nhắm vào thị trường tiêu dùng. Họ này đã bị ngừng phát triển do làm việc không còn hiệu quả. (PC World còn gọi phiên bản cuối của nó, Windows ME, là một trong những sản phẩm tệ nhất mọi thời đại.) Microsoft nay dùng Windows NT cho thị trường tiêu dùng.
Windows Mobile: Phiên bản trước của Windows Phone, là một hệ điều hành cho điện thoại di động. Phiên bản đầu tiên có tên là Pocket PC 2000; phiên bản thứ ba, Windows Mobile 2003 là phiên bản đầu tiên có thương hiệu Windows Mobile. Phiên bản cuối cùng là Windows Mobile 6.5.
Windows Phone: Hệ điều hành chỉ được bán cho các nhà sản xuất điện thoại thông minh. Phiên bản đầu tiên là Windows Phone 7, tiếp theo sau bởi Windows Phone 8, và phiên bản cuối Windows Phone 8.1. Nó đã được kế nhiệm bới Windows 10 Mobile
== Lịch sử ==
Thuật ngữ Windows mô tả chung bất kỳ hoặc tất cả thế hệ hệ điều hành của Microsoft. Những sản phẩm này thường được phân loại như sau:
=== Các phiên bản đầu tiên ===
Tháng Chín năm 1981, Chase Bishop, một kĩ sư tin học đã thiết kế mẫu thiết bị điện tử đầu tiên và dự án "Interface Manager" được bắt đầu. Nó được công bố vào tháng 11 năm 1983 dưới cái tên "Windows" (cửa sổ), nhưng Windows 1.0 lại không được ra mắt cho đến Tháng Mười Một 1985. Windows 1.0 được cho là cạnh tranh với hệ điều hành của Apple nhưng lại ít phổ biến hơn. Windows 1.0 không phải là một hệ điều hành hoàn chỉnh, đúng hơn, nó là bản mở rộng của MS-DOS. Giao diện của Windows 1.0 thường được biết đến với cái tên MS-DOS Executive. Các tiện ích bao gồm Máy tính, Lịch, Cardfile (trình quản lý thông tin cá nhân), trình xem bộ nhớ tạm, Đồng hồ, Bảng điều khiển (Control Panel), Notepad, Paint (Vẽ), Trò chơi Reversi, Dòng lệnh và Viết. Windows 1.0 không cho phép chồng xếp các cửa sổ. Chỉ có một số hộp thoại mới được chồng lên các cửa sổ khác.
Windows 2.0 ra mắt vào Tháng Mười Hai 1987 và còn phổ biến hơn người tiền nhiệm. Các tính năng bao gồm cải thiện giao diện và quản lý bộ nhớ.Windows 2.0 cho phép các cửa sổ xếp chồng lên nhau. Sự thay đổi này khiến Apple cáo buộc Microsoft vi phạm bản quyền của Apple. Windows 2.0 còn thêm vào các phím tắt bằng bàn phím và có thể sử dụng với bộ nhớ ngoài.
Windows 2.1 ra mắt với 2 phiên bản: Windows/286 và Windows/386. Windows/386 sử dụng chế độ ảo hóa 8086 của Intel 80386 để chạy nhiều chương trình DOS. Windows/286, đúng như tên gọi, chạy trên Intel 8086 và Intel 80286. Nó chạy trên chế độ thực nhưng có thể dùng vùng bộ nhớ lớn.
=== Windows 3.x ===
Windows 3.0 được ra mắt vào năm 1990 đã cải tiến thiết kế, chủ yếu nhờ dung lượng bộ nhớ ảo và VxDs cho phép Windows chia sẻ các thiết bị tùy ý giữa các chương trình đa nhiệm DOS.Các ứng dụng trên Windows 3.0 có thể chạy trong chế độ bảo vệ giúp cho chúng truy cập đến một vài megabyte bộ nhớ mà không cần phải tham gia vào quá trình bộ nhớ ảo. Windows 3.0 cũng thêm vào một số cải tiến mới cho giao diện người dùng. Microsoft viết lại các hoạt động quan trọng từ C sang hợp ngữ. Windows 3.0 là phiên bản Windows đầu tiên đạt được thành công thương mại lớn. bán được 2 triệu bản trong 6 tháng đầu.
Windows 3.1 phát hành rộng rãi vào 1 tháng 3 năm 1992 cho thấy một sự đổi mới. Tháng Tám 1993, Windows cho Workgroups, một phiện bản đặc biệt kèm theo giao thức mạng ngang hàng và cái tên Windows 3.11 được ra mắt và được bán cùng Windows 3.1. Các hỗ trợ cho Windows 3.1 kết thúc vào 31 tháng 12 năm 2001.
Windows 3.2, được phát hành năm 1994, là một phiên bản cập nhật cho phiên bản tiếng Trung của Windows 3.1. Bản cập nhật chỉ được phát hành cho phiên bản ngôn ngữ này, và cũng chỉ sửa các lỗi liên quan đến hệ thống viết phức tạp của tiếng Trung. Windows 3.2 được bán ra rộng rãi bởi các hãng sản xuất máy tính với một phiên bản MS-DOS 10 đĩa cùng có ký tự tiếng Trung Giản thể trong các đầu ra cơ bản và một số tiện ích đã được biên dịch.
=== Windows 9x ===
Phiên bản tiêu dùng theo định hướng lớn tiếp theo và có lẽ là lớn nhất của Windows là Windows 95, được ra mắt vào 24 tháng 8 năm 1995. Trong khi vẫn phụ thuộc vào MS-DOS, Windows 95 được giới thiệu là hỗ trợ các ứng dụng 32-bit, phần cứng Plug and Play, đa nhiệm ưu tiên, tên tệp tin dài đến 255 ký tự và cung cấp tăng tính ổn định hơn người tiền nhiệm. Windows 95 cũng giới thiệu một giao diện mới, hướng tới đối tượng, thay thế Trình quản lý chương trình bằng Menu Start, thanh điều hướng và Windows Explorer. Windows 95 là một thành công thương mại lớn cho Microsoft; Ina Fried của CNET nhận xét rằng "vào thời điểm Windows 95 cuối cùng cũng bị khai tử trên thị trường năm 2001, nó đã trở thành vật bất ly thân với mọi máy tính để bàn khắp thế giới." Microsoft đã phát hành 4 bản OSR (OEM Service Releases) cho Windows 95 mỗi bản tương đương với 1 bản service pack. Bản OSR đầu tiên phiên bản đầu tiên của Windows được đi kèm với trình duyệt web của Microsoft, Internet Explorer. Hỗ trợ chính cho Windows 95 kết thúc vào 31 tháng 12 năm 2000 và hỗ trọ mở rộng kết thúc vào 31 tháng 12 năm 2001.
Windows 95 được tiếp nối bằng sự ra mắt của Windows 98 vào 25 tháng 6 năm 1998, giới thiệu Windows Driver Model, hỗ trợ các thiết bị USB tổng hợp, ACPI, chế độ ngủ đông và các thiết lập đa màn hình. Windows 98 cũng kèm theo Internet Explorer 4. Tháng Năm 1999, Microsoft ra mắt Windows 98 Second Edition, một bản cập nhật cho Windows 98. Windows 98 SE thêm vào Internet Explorer 5 và Windows Media Player 6.2 cùng với một số nâng cấp khác. Hỗ trợ chính cho Windows 98 kết thúc vào 30 tháng 6 năm 2002 và hỗ trợ mở rộng kết thúc vào 11 tháng 7 năm 2006.
Ngày 14 Tháng Chín 2000, Microsoft ra mắt Windows ME (Millennium Edition), phiên bản Windows dựa trên nền DOS cuối cùng. Windows ME kết hợp cải tiến giao diện trực quan của nó từ Windows 2000 dựa trên nền Windows NT, có thời gian khởi động nhanh hơn các phiên bản trước (tuy nhiên, nó yêu cầu loại bỏ các khả năng truy cập vào một chế độ thực môi trường DOS, loại bỏ khả năng tương thích với một số chương trình cũ), mở rộng chức năng đa phương tiện (bao gồm Windows Media Player 7, Windows Movie Maker và Windows Image Acquisition để nhận ảnh từ máy scan và máy ảnh kỹ thuật số), một số tiện ích tuỳ chọn như Bảo vệ tập tin hệ thống (System File Protection) và Khôi phục hệ thống (System Restore) và cập nhật các công cụ mạng ở nhà. Tuy nhiên, Windows ME đã phải đối mặt với những lời chỉ trích do tốc độ và sự bất ổn định của nó, cùng với vấn đề tương thích phần cứng và sự loại bỏ hỗ trợ chế độ thực nền DOS. PC World đã cho Windows ME là hệ điều hành tồi nhất mà Microsoft đã từng phát hành, và là sản phẩm công nghệ tồi thứ 4 mọi thời đại.
=== Windows NT ===
==== Các phiên bản đầu tiên ====
Tháng Mười Một 1988, một nhóm lập trình từ Microsoft bắt đầu làm việc với một phiên bản mới của IBM và OS/2 của Microsoft với cái tên "NT OS/2". NT OS/2 được dự định là một hệ điều hành bảo mật, nhiều người dùng với khả năng tương thích POSIX nhân di động với khả năng đa nhiệm ưu tiên và hỗ trợ nền tảng đa nhân. Tuy nhiên với thành công của Windows 3.0, nhóm NT đã quyết định làm lại dự án với bản 32-bit của Windows API với cái tên Win32 thay vì OS/2. Win32 duy trì cấu trúc tương tự như Windows API (cho phép ứng dụng Windows hiện có thể dễ dàng được chuyển đến các nền tảng khác) nhưng vẫn hỗ trợ nhân NT đã có. Sau khi được phê duyệt bởi các nhân viên của Microsoft, các lập trình viên tiếp tục với bản gọi là Windows NT, phiên bản 32-bit đầu tiên của Windows. Tuy nhiên, IBM đã phản đối những thay đổi trên và cuối cùng tự tiếp tục phát triển OS/2 theo riêng họ.
Bản phát hành đầu tiên của hệ điều hành này, Windows NT 3.1 (được đặt tên để liên kết với Windows 3.1) được phát hành tháng 7 năm 1993, với các phiên bản cho các máy trạm để bàn và máy chủ. Windows NT 3.5 được phát hành tháng 9 năm 1994, tập trung cải thiện hiệu suất và hỗ trợ NetWare của Novell, và được tiếp nối bởi Windows NT 3.51 vào tháng 5 năm 1995, bao gồm một số cải thiện và hỗ trợ cấu trúc PowerPC. Windows NT 4.0 được phát hành tháng 6 năm 1996, giới thiệu một giao diện được thiết kế mới của Windows 95 lên dòng NT. Ngày 17 tháng 2 năm 2000, Microsoft phát hành Windows 2000, phiên bản kế tiếp NT 4.0. Cái tên Windows NT đến lúc đó đã bị lược đi nhằm tập trung nhiều hơn nữa vào nhãn hiệu Windows.
==== Windows XP ====
Phiên bản lớn tiếp theo của Windows, Windows XP được ra mắt vào 25 tháng 10 năm 2001. Windows XP được giới thiệu để nhằm hợp nhất dòng Windows 9x hướng tới người tiêu dùng với cấu trúc được giới thiệu trong Windows NT, một thay đổi mà Microsoft đã hứa hẹn sẽ cung cấp một hiệu suất tốt hơn so với các phiên bản trước dựa trên DOS. Windows XP cũng giới thiệu một giao diện người dùng được thiết kế mới (bao gồm menu Start được cập nhật và một phiên bản Windows Explorer được "hướng tới các tác vụ"), các tính năng đa phương tiện và mạng, Internet Explorer 6, tích hợp với dịch vụ .NET Passport của Microsoft, các chế độ giúp tương thích với các phần mềm được thiết kế cho các phiên bản Windows trước, và tính năng Remote Assistance.
Windows XP được phân phối và bán lẻ theo 2 phiên bản chính: phiên bản "Home" hướng tới người tiêu dùng, còn bản "Professional" hướng tới môi trường doanh nghiệp và người dùng chuyên nghiệp, và còn kèm theo các tính năng mạng và bảo mật tuỳ chọn. Hai phiên bản trên sau đó được đi kèm với bản "Media Center" (dành cho PC để giải trí tại nhà với trọng tâm là hỗ trợ chơi DVD, card TV, chức năng ghi hình DVR và điều khiển từ xa) và bản "Tablet PC" (được thiết kế cho các thiết bị di động đáp ứng thông số kỹ thuật của nó cho một máy tính bảng, hỗ trợ bút cảm ứng) Hỗ trợ chính cho Windows XP kết thúc vào 14 tháng 4 năm 2009. Hỗ trợ mở rộng kết thúc vào 8 tháng 4 năm 2014.
Sau Windows 2000, Microsoft còn đổi kế hoạch ra mắt cho các hệ diều hành máy chủ; phiên bản cho máy chủ của Windows XP, Windows Server 2003 được ra mắt vào tháng 4 năm 2003. Phiên bản tiếp theo của nó là Windows Server 2003 R2 ra mắt vào tháng 12 năm 2005.
==== Windows Vista ====
Sau một quá trình lập trình dài, Windows Vista được ra mắt vào 30 tháng 11 năm 2006 cho cấp phép số lượng lớn và vào 30 tháng Giêng 2007 cho người tiêu dùng. Nó chứa một số tính năng mới như giao diện mới, đặc biệt tập trung vào bảo mật. Nó được chia ra thành nhiều phiên bản và là đề tài của nhiều lời chỉ trích. Phiên bản cho máy chủ, Windows Server 2008 được ra mắt vào năm 2008.
==== Windows 7 ====
Ngày 22 tháng 7 năm 2009, Windows 7 và Windows Server 2008 R2 ra mắt bản RTM, và được ra mắt chính thức vào 22 tháng 10 năm 2009. Windows 7 được dự định là tập trung hơn, là bản nâng cấp lớn vào dòng Windows, với mục tiêu là tương thích với các ứng dụng và phần cứng mà Windows Vista đã tương thích. Windows 7 hỗ trợ cảm ứng đa điểm, giao diện cải tiến với thanh điều hướng mới, hệ thống mạng nhà gọi là HomeGroup và cải thiện hiệu năng.
==== Windows 8 và 8.1 ====
Windows 8, kế nhiệm Windows 7, được chính thức ra mắt vào 26 tháng 10 năm 2012. Một số thay đổi đáng kể đã được thực hiện trên Windows 8, bao gồm giao diện Metro mới (sau đổi thành Modern vì lý do bản quyền) thích hợp cho các thiết bị cảm ứng như máy tính bảng và máy tính AIO. Các thay đổi này bào gồm màn hình Start sử dụng các ô lớn để dễ dàng hơn trong cảm ứng và hiển thị các thông tin cập nhật, các ứng dụng mới được thiết kế dành riêng cho cảm ứng. Các thay đổi khác gồm tăng độ liên kết với các dịch vụ đám mây và các nền tảng trực tuyến khác (như mạng xã hội và 2 dịch vụ của Microsoft: SkyDrive và Xbox Live), cửa hàng Windows Store để phân phối các ứng dụng, và một biến thể khác là Windows RT sử dụng cho các thiết bị ARM. Một bản cập nhật của Windows 8 là Windows 8.1 ra mắt vào 17 tháng 10 năm 2013, thêm nhiều tính năng mới như các kích cỡ ô vuông mới, liên kết với SkyDrive nhiều hơn,...
==== Windows 10 ====
Ngày 30 Tháng 9 năm 2014, Microsoft giới thiệu Windows 10 là sự kế thừa cho Windows 8.1. Nó được phát hành vào cuối năm 2015 và nhằm tới những thiếu sót trong giao diện người dùng đầu tiên được giới thiệu với Windows 8. Những thay đổi bao gồm sự trở lại của Start Menu, một hệ thống Desktop ảo, và khả năng chạy các ứng dụng Windows Store trong cửa sổ trên máy tính để bàn hơn là trong chế độ toàn màn hình. Windows 10 được thông báo là sẽ được cập nhật miễn phí cho các máy tính Windows 7 và Windows 8.1 đủ điều kiện từ ứng dụng 'Get Windows 10' (cho Windows 7, Windows 8.1) hoặc Windows Update (Windows 7)
Ngày 12 tháng 11 năm 2015, một bản cập nhật cho Windows 10, phiên bản 1511, đã được phát hành. Bản cập nhật này có thể được kích hoạt với một mã sản phẩm của cả các phiên bản Windows 7, 8 hoặc 8.1 cũng như mã sản phẩm Windows 10. Các tính năng bao gồm các biểu tượng và menu chuột phải mới, trình quản lý máy in mặc định, cho phép mở rộng số lượng các ô xếp trong menu Start, tính năng Find My Device, và cập nhật cho Edge.
==== Hỗ trợ đa ngôn ngữ ====
Hỗ trợ đa ngôn ngữ được tích hợp trong Windows. Ngôn ngữ của cả bàn phím và giao diện có thể được thay đổi qua mục Region and Language (Vùng và ngôn ngữ) trong Control Panel (Panen Điều khiển). Các thành phần cho tất cả các ngôn ngữ nhập vào được hỗ trợ, như các bộ gõ, được tự động cài đặt trong quá trình cài đặt Windows (trong Windows XP về trước, các tập tin cho các ngôn ngữ Đông Á, như tiếng Trung, và các ngôn ngữ bố cục phải qua trái, như tiếng Ả Rập, có thể phải cài đặt riêng biệt, cũng từ trong Control Panel). Các bộ gõ bên thứ ba cũng có thể được cài đặt nếu người dùng thấy bộ gõ có sẵn không đủ cho nhu cầu của họ.
Các ngôn ngữ giao diện cho hệ điều hành có thể được tải về miễn phí, nhưng một số ngôn ngữ bị giới hạn trong một số phiên bản nhất định của Windows. Các gói Language Interface Pack (Gói Ngôn ngữ Giao diện - LIP) được phát hành và có thể được tải về từ Trung tâm Tải xuống của Microsoft và được cài đặt cho bất cứ phiên bản Windows nào (từ XP về sau) - các gói này biên dịch gần hết, nhưng không phải tất cả, giao diện của Windows, và yêu cầu một ngôn ngữ gốc nhất định (ngôn ngữ mà Windows đi kèm lúc đầu). Các gói này được sử dụng cho hầu hết ngôn ngữ tại các thị trường đang phát triển. Các gói Full Language Pack (Gói Ngôn ngữ Đầy đủ), biên dịch toàn bộ hệ điều hành, chỉ có sẵn cho một số phiên bản Windows (các phiên bản Ultimate và Enterprise của Windows Vista và 7, và tất cả các phiên bản Windows 8, 8.1 và RT ngoại trừ Single Language). Chúng không yêu cầu một ngôn ngữ gốc nào cụ thể, và thường được dùng cho các ngôn ngữ phổ biến hơn cả như tiếng Pháp hay tiếng Trung. Các ngôn ngữ này không thể được tải về qua Trung tâm Tải xuống, nhưng có thể được tải về qua dịch vụ Windows Update dưới dạng bản cập nhật tùy chọn (trừ Windows 8).
Ngôn ngữ giao diện của các ứng dụng đã cài đặt không bị ảnh hưởng bởi các thay đổi về ngôn ngữ giao diện Windows. Điều này phụ thuộc vào các nhà phát triển ứng dụng đó.
Windows 8 và Windows Server 2012 giới thiệu một Language Control Panel (Panen Điều khiển Ngôn ngữ) mới, nơi cả ngôn ngữ giao diện cà ngôn ngữ nhập có thể thay đổi cùng lúc, và các gói ngôn ngữ, bất kể thuộc loại nào, đều có thể được tải về từ một vị trí trung tâm. Ứng dụng PC Settings trong Windows 8.1 và Windows Server 2012 R2 cũng bao gồm một trang cài đặt cho việc này. Thay đổi ngôn ngữ giao diện cũng sẽ thay đổi ngôn ngữ của các ứng dụng Windows Store đã được cài đặt sẵn (như Thư, Bản đồ và Tin tức) và một số các ứng dụng do Microsoft phát triển khác (như Remote Desktop). Những giới hạn trên cho các gói ngôn ngữ vẫn có hiệu lực, ngoại trử việc các gói ngôn ngữ đầy đủ có thể được cài đặt cho bất kì phiên bản nào ngoại trừ Single Language, nhằm hướng tới các thị trường đang phát triển.
==== Nền tảng hỗ trợ ====
Windows NT hỗ trợ một vài nền tảng khác nhau trước khi các máy tính cá nhân dựa trên x86 thống trị thế giới chuyên nghiệp. Windows NT 4.0 và các phiên bản trước hỗ trợ PowerPC, DEC Alpha và MIPS R4000. (Mặc dù một số nền tảng này thực hiện tính toán 64-bit, hệ điều hành lại xử lý chúng như 32-bit.) Tuy nhiên, Windows 2000, phiên bản kế tiếp Windows NT 4.0, ngừng hỗ trợ cho tất cả các nền tảng trên ngoại trừ thế hệ thứ ba của x86 (còn gọi là IA-32) hoặc mới hơn trong chế độ 32-bit. Dòng sản phẩm khách hàng của họ Windows NT vẫn chạy trên IA-32, cho dù dòng Windows Server đã ngừng hỗ trợ nền tảng này từ phiên bản Windows Server 2008 R2.
Với sự giới thiệu nền tảng Intel Itanium (IA-64), Microsoft đã phát hành các phiên bản Windows mới để hỗ trợ nền tảng này. Các phiên bản Itanium của Windows XP và Windows Server 2003 được phát hành cùng với phiên bản x86 chính. Windows XP 64-Bit Edition, phát hành năm 2005, là hệ điều hành khách hàng cuối cùng hỗ trợ Itanium. Dòng Windows Server tiếp tục hỗ trợ nền tảng này cho tới phiên bản Windows Server 2012; Windows Server 2008 R2 là hệ điều hành Windows cuối cùng hỗ trợ cấu trúc Itanium.
Vào ngày 25 tháng 4 năm 2005, Microsoft phát hành Windows XP Professional x64 Edition và Windows Server 2003 x64 Edition để hỗ trợ x86-64 (hoặc đơn giản là x64), thế hệ thứ tám của cấu trúc x86. Windows Vista là phiên bản khách hàng đầu tiên của Windows NT được cùng phát hành cả hai phiên bản IA-32 và x64 editions. x64 vẫn đang được hỗ trợ.
Một phiên bản Windows 8 có tên là Windows RT được tạo ra dành cho các máy tính với cấu trúc ARM và khi ARM vẫn được sử dụng cho các điện thoại thông minh Windows với Windows 10, các máy tính bảng Windows RT sẽ không được cập nhật.
=== Windows CE ===
Windows CE (Windows Embeded Compact) là một phiên bản Windows chạy trên các máy tính gọn nhẹ như thiết bị định vị vệ tinh và điện thoại di động.Windows Embedded Compact được dựa trên hạt nhân riêng của nó, có tên là Windows CE.
Windows CE được sử dụng trong Dreamcast cùng với hệ điều hành độc quyền của Sega dành cho giao diện điều khiển. Windows CE là cốt lõi mà từ đó Windows Mobile xuất hiện. Người kế nhiệm của nó, Windows Phone 7 dựa trên thành phần của cả Windows CE 6.0 và Windows CE 7.0. Tuy nhiên, Windows Phone 8 lại dựa trên nhân NT của Windows 8.
Không nên nhầm lẫn giữa Windows XP Embedded hay Windows NT 4.0 Embedded (2 phiên bản mô-đun của Windows dựa trên nhân WIndows NT) với Windows CE.
=== Xbox OS ===
Xbox OS là một tên chưa chính thức được đặt cho phiên bản Windows chạy trên Xbox One. Phiên bản này chú trọng vào việc ảo hóa (sử dụng Hyper-V) khi mà có ba hệ điều hành cùng chạy cùng một lúc, bao gồm hệ điều hành chính, hệ điều hành thứ hai được thiết kế cho trò chơi và một môi trường tương tự Windows hơn cho các ứng dụng. Microsoft cập nhật HĐH của Xbox One mỗi tháng, và những bản cập nhật này có thể được tải về tử dịch vụ Xbox Live và có thể được cập nhật sau, hoặc sử dụng các ảnh đĩa hồi phục ngoại tuyến đã được tải về qua một chiếc PC. Phần lõi dựa trên Windows 10 mới đã thay thế phần dựa trên Windows 8 trong bản cập nhật này, và hệ thống mới này đôi khi được gọi là "Windows 10 trên Xbox One" hoặc "OneCore". Hệ thống của Xbox One cũng cho phép tương thích ngược với Xbox 360, và hệ thống của Xbox 360 cũng tương thích ngược với phiên bản Xbox nguyên gốc.
== Thời biểu ==
== Thị phần sử dụng và doanh số các thiết bị ==
Theo Net Applications, Windows là họ hệ điều hành được sử dụng nhiều nhất cho máy tính cá nhân cho tới tháng 6 năm 2016 với gần 90% thị phần sử dụng. Nếu tính cả máy tính cá nhân với các thiết bị khác, v.d như các thiết bị di động, vào tháng 7 năm 2016, theo StatCounter, cũng phân tích theo việc sử dụng trên web, các HĐH Windows chiếm 46,87% thị phần sử dụng, so sánh với 36,48% của Android, 12.26% của iOS, và 4.81% của OS X.
Tính theo số thiết bị được cài đặt sẵn hệ điều hành, trên điện thoại thông minh, Windows Phone là HĐH được cài đặt sẵn nhiều thứ ba (2.6%) sau Android (82.8%) và iOS (13.9%) trong quý hai năm 2015 theo IDC. Nếu tính cả PC và thiết bị di động, trong năm 2014 các HĐH Windows được cài đặt sẵn nhiều thứ hai (333 triệu thiết bị, hay 14%) sau Android (1.2 tỷ, 49%) và nhiều hơn iOS và Mac OS cộng lại (263 triệu, 11%).
== Bảo mật ==
Phiên bản tiêu dùng của Windows được thiết kế ban đầu cho tính dễ sử dụng trên máy tính một người dùng mà không cần kết nối mạng, và không có tính năng bảo mật được xây dựng từ đầu. Tuy nhiên, Windows NT và những người kế nhiệm của nó được thiết kế cho bảo mật (bao gồm cả trên mạng) và máy tính đa người dùng, nhưng ban đầu không được thiết kế với an ninh Internet, kể từ khi nó được phát triển đầu tiên vào đầu những năm 1990, việc sử dụng Internet ít phổ biến hơn.
Những vấn đề thiết kế kết hợp với lỗi lập trình và sự phổ biến của Windows khiến nó trở thành mục tiêu của virus và sâu máy tính. Tháng Sáu 2005, Counterpane Internet Security của Bruce Schneier báo cáo rằng trong 6 tháng có tới hơn 1000 mẫu virus và sâu mới. Năm 2005, Kaspersky tìm thấy khoảng 11.000 các chương trình độc hại và virus, Trojan,... cho Windows.
Microsoft thường tung ra các bản vá lỗi qua Windows Update khoảng 1 tháng một lần (thường vào ngày thứ Ba thứ hai của tháng), còn một vài các cập nhật quan trọng thường được tung ra sớm hơn khi cần. Trong các phiên bản từ Windows 2000 SP3 trở lên, các bản cập nhật có thể được tự động tải xuống và cài đặt khi người dùng cho phép. Kết quả là các Gói dịch vụ (Service Pack) 2 cho Windows XP và 1 cho Windows Server 2003 được cài đặt nhanh chóng hơn nhiều.
Trong khi các dòng Windows 9x được cung cấp tùy chọn có các thông tin cho nhiều người dùng, chúng không có khái niệm về quyền truy cập, và không cho phép truy cập đồng thời; và như vậy không phải là hệ điều hành đa người dùng thực sự. Ngoài ra, các HĐH này chỉ thực hiện bảo vệ bộ nhớ một phần. Việc này đã bị chỉ trích nhiều vì sự thiếu an toàn.
Dòng hệ điều hành Windows NT thì ngược lại, là hệ điều hành đa người dùng thực sự và thực hiện bảo vệ bộ nhớ tuyệt đối. Tuy nhiên, rất nhiều lợi thế của một hệ điều hành đa người dùng thực sự đã được vô hiệu hóa bởi một thực tế là, trước Windows Vista, tài khoản người dùng đầu tiên được tạo ra trong quá trình cài đặt là một tài khoản quản trị, mà đó cũng là mặc định cho tài khoản mới. Mặc dù Windows XP đã có tài khoản hạn chế, đa số người dùng gia đình không thay đổi một loại tài khoản có ít quyền - một phần do số lượng các chương trình không cần yêu cầu quyền quản trị - và vì vậy hầu hết người dùng gia đình vẫn chạy tài khoản quản trị.
Windows Vista đã thay đổi điều này bằng cách giới thiệu một hệ thống đặc quyền cao được gọi là User Account Control (UAC). Khi đăng nhập như một người dùng chuẩn, một phiên đăng nhập được tạo ra và một thẻ chỉ chứa các đặc quyền cơ bản nhất được đưa ra. Bằng cách này, các phiên đăng nhập mới sẽ không có khả năng làm những thay đổi ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống. Khi một ứng dụng yêu cầu đặc quyền cao hơn hoặc "Run as administrator" được nhấp, UAC sẽ yêu cầu để xác nhận, và nếu đồng ý (bao gồm cả thông tin quản trị nếu tài khoản yêu cầu độ cao không phải là một thành viên của nhóm quản trị viên), bắt đầu quá trình sử dụng các mã thông báo không hạn chế.
=== Windows Defender ===
Ngày 06 tháng 1 năm 2005, Microsoft phát hành phiên bản Beta của Microsoft AntiSpyware, dựa trên bản phát hành trước đó Giant AntiSpyware. Ngày 14 tháng 2 năm 2006, Microsoft AntiSpyware đã trở thành Windows Defender với việc phát hành bản Beta 2. Windows Defender là một chương trình phần mềm miễn phí được thiết kế để bảo vệ chống lại phần mềm gián điệp và phần mềm không mong muốn. Người dùng Windows XP và Windows Server 2003 có bản sao chính hãng của Microsoft Windows có thể tự do tải chương trình từ trang web của Microsoft và Windows Defender như một phần của Windows Vista và 7. Trong Windows 8, Windows Defender và Microsoft Security Essentials được kết hợp thành một chương trình duy nhất, có tên là Windows Defender. Nó dựa trên Microsoft Security Essentials, vay mượn những tính năng và giao diện người dùng. Mặc dù nó được kích hoạt theo mặc định, nó có thể được tắt để sử dụng một giải pháp chống virus khác. Windows Malicious Software Removal Tool và Microsoft Safety Scanner là hai sản phẩm bảo mật miễn phí khác được cung cấp bởi Microsoft.
== Chương trình giả lập ==
Chương trình giả lập cho phép người sử dụng chạy các chương trình ứng dụng của Windows mà không cần có Windows.
Wine – phần mềm mã nguồn mở có chức năng tương đương của các hàm Windows API, cho phép vài chương trình ứng dụng Windows chạy trên nền x86 Unix, bao gồm cả Linux.
Cedega (trước đây gọi là WineX) – là một nhánh của Wine thuộc sở hữu của TransGaming Technologies, được thiết kế chuyên để chạy các trò chơi viết cho Microsoft Windows trên Linux
Mono và CLI chung mã nguồn – hệ thống tương đương với cơ sở Microsoft.NET.
ReactOS – hệ điều hành mã nguồn mở được phát triển với mục tiêu là tương thích với các chương trình và trình điều khiển thiết bị của Windows NT, mặc dù vậy hiện tại vẫn còn đang trong giai đoạn phôi thai.
Freedows và Alliance OS – một dự án có nhiều tham vọng, dự định là một bản sao của Windows và bổ sung thêm nhiều tính năng lợi ích nhưng đã thất bại.
Project David – một dự án đầy tham vọng và đã gây nhiều tranh cãi với mục đích là giả lập hoàn toàn để các chương trình Windows có thể chạy trên các hệ điều hành khác.
CrossOver Office của Codeweavers, cũng giả lập được hoàn toàn để các chương trình Windows có thể chạy trên các hệ điều hành khác.
Captive NTFS – một phần mềm gói, dạng nguồn mở có tính tương thích cao hơn cho hệ NTFS.
E/OS – với mục tiêu có thể chạy bất kì chương trình thuộc hệ điều hành nào mà không cần phải cài đặt thêm hệ điều hành đó
== Xem thêm ==
Windows 8
Windows 7
Windows Phone
Windows NT
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức (tiếng Việt)
Blog chính thức (tiếng Anh)
Mạng nhà phát triển Microsoft
Windows Client Developer Resources
Thời biểu lịch sử Microsoft Windows
Pearson Education, InformIT – Lịch sử Microsoft Windows
Microsoft Windows 7 cho Chính phủ
Thủ Thuật Windows, tổng hợp mẹo vặt dùng trong Windows |
người hán.txt | Người Hán (giản thể: 汉族 hay 汉人, phồn thể: 漢族 hay 漢人; bính âm: hànzú hay hànrén; Hán-Việt: Hán tộc hay Hán nhân) là một dân tộc bản địa của Trung Hoa và là dân tộc đông dân nhất trên thế giới.
Người Hán chiếm khoảng 92% dân số của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, khoảng 98% dân số của Đài Loan và khoảng 19% dân số thế giới. Có một sự đa dạng lớn về xã hội, ngôn ngữ, di truyền, văn hóa lớn giữa các phân nhóm dân tộc, chủ yếu là do hàng ngàn năm đồng hóa địa phương hóa của các dân tộc và bộ lạc ở Trung Quốc. Người Hán là tập hợp phân bộ của dân tộc Trung Hoa (Trung Hoa dân tộc). Một tên khác mà nhiều người Trung Quốc sử dụng để gọi chính họ là "Con cháu của rồng". Người Hán thường được biểu tượng hóa theo truyền thống bằng màu đỏ.
== Thuật ngữ và từ nguyên ==
Tên gọi "Hán" xuất phát từ nhà Hán, một triều đại kế tiếp của nhà Tần tồn tại trong thời gian ngắn và đã thống nhất Trung Quốc. Chính trong thời kỳ nhà Tần và nhà Hán thì các bộ lạc của Trung Hoa đã bắt đầu cảm thấy rằng họ thuộc về cùng một nhóm dân tộc, so sánh với các dân tộc khác xung quanh họ. Ngoài ra, nhà Hán đã được xem là đỉnh điểm của nền văn minh Trung Hoa, có khả năng mở rộng sức mạnh và ảnh hưởng đến Trung Á và Đông Bắc Á và có thể so sánh ngang hàng với Đế quốc La Mã về dân số và lãnh thổ.
Trong một số người Hán ở phương Nam, một thuật ngữ khác tồn tại trong nhiều ngôn ngữ khác nhau như tiếng Quảng Đông và tiếng Hẹ và tiếng Mân Nam, thì thuật ngữ "Đường nhân" (Tángrén 唐人, có nghĩa là "người Đường"), tiếng Việt trước đây ở Nam bộ gọi người gốc Hoa là chú "Thoòng". Thuật ngữ này xuất phát từ một triều đại khác của Trung Quốc là nhà Đường vốn xem là một đỉnh cao văn minh khác của nền văn minh Trung Hoa. Thuật ngữ này vẫn còn tồn tại trong một số tên gọi mà người Hán dùng để đặt cho phố Tàu: 唐人街 (Tángrénjiē), có nghĩa "Phố của người Đường".
Một thuật ngữ khác thường được dùng bởi Hoa kiều hải ngoại là "Hoa nhân" (giản thể: 华人, phồn thể: 華人; bính âm: huárén), xuất phát từ "Trung Hoa" (giản thể: 中华, phồn thể: 中華; bính âm: zhōnghuá), một tên chữ của Trung Quốc. Thuật ngữ Hán thì thường được người Hán ở Trung Quốc đại lục, Đài Loan và người gốc Hán ở nước ngoài sử dụng để chỉ những gì thuộc về văn hóa và dân tộc của mình.
== Phân bố ==
=== Đại lục ===
1.2 tỷ người Hán sống ở Nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, chiếm 92% tống dân số. Tại nước này, người Hán cũng là dân tộc chiếm đa số tại các tỉnh, khu tự trị, ngoại trừ tại khu tự trị Tân Cương (chỉ 41% năm 2000) và Tây Tạng (6% năm 2000) 95% dân Hồng Kông là người hán, 96% tại Macao.
=== Đài Loan ===
22 triệu người Hán tại Đài Loan. Người Hán bắt đầu di cư ra Đài Loan từ thế kỷ 17.
Lúc đầu, các di dân này chọn sống tại các vùng vốn đã có người cùng quê. Di dân gốc Hán Hoklo vốn từ Quảng Châu định cư tại vùng ven biển, trong khi di dân từ Zangzhou thì sống vùng đồng bằng sâu trong lòng đảo, người Hán Hakka thì định cư ở vùng đồi núi. Mâu thuẫn tranh giành của những nhóm người này xung quanh sở hữu đất, nước và khác biệt về văn hóa dẫn tới việc tái định cư một số cộng đồng, và theo thời gian hôn phối và đồng hóa diễn ra. Nghiên cứu gần đây chỉ ra dân Đài Loan đa số có dòng máu pha trộn người Hán và người bản địa.
=== Nơi khác ===
Có khoảng 40 triệu Hoa kiều khắp nơi trên thế giới. Trong đó gần 30 triệu sống tại Đông Nam Á. Tỷ lệ Người Hán trên dân số như sau: Singapore 74%. Christmas Island 70%. Malaysia (25%), Thailand (14%), Indonesia, và The Philippines. Có 3 triệu người gốc Trung Quốc sống tại Mỹ, chiếm 1% dân số, hơn 1 triệu tại Canada (3.7%), 1.3 triệu tại Peru (4.3%), hơn 600,000 tại Úc (3.5%), gần 150,000 tại New Zealand (3.7%) và khoảng 750,000 tại châu Phi.
== Chú thích == |
xi măng.txt | Xi măng (từ tiếng Pháp: ciment) là một loại chất kết dính thủy lực, được dùng làm vật liệu xây dựng. Xi măng được tạo thành bằng cách nghiền mịn clinker, thạch cao thiên nhiên và phụ gia. Khi tiếp xúc với nước thì xảy ra các phản ứng thủy hóa và tạo thành một dạng hồ gọi là hồ xi măng. Tiếp đó, do sự hình thành của các sản phẩm thủy hóa, hồ xi măng bắt đầu quá trình ninh kết sau đó là quá trình hóa cứng để cuối cùng nhận được một dạng vật liệu có cường độ và độ ổn định nhất định.
Vì tính chất kết dính khi tác dụng với nước, xi măng được xếp vào loại chất kết dính thủy lực. Thật ra xi măng trong xây dựng có thể là thủy lực hoặc không thủy lực. Các loại xi măng thủy lực tỉ như xi măng Portland cứng lại dưới tác động của nước do quá trình hydrat hóa khoáng vật, ở đây các phản ứng hóa học diễn ra không phụ thuộc vào lượng nước trong hỗn hợp nước-xi măng; loại xi măng này có thể giữ được độ cứng khi đặt chìm trong nước hoặc thường xuyên tiếp xúc với nước. Phản ứng hóa học xảy ra khi các xi măng khan được trộn với nước và sinh ra các hydrat không tan trong nước. Trong khi đó các xi măng không thủy lực như vữa thạch cao buộc phải để khô mới giữ được độ bền vật lý.
Đá xi măng là sản phẩm của quá trình thủy hóa xi măng đã đạt tới một cường độ nhất định.
Công dụng quan trọng nhất của xi măng chính là sản xuất vữa và bê tông, chất kết dính của các kết tủa tự nhiên hoặc nhân tạo để hình thành nên vật liệu xây dựng vững chắc, chịu được tác động thường thấy của môi trường.
Ở đây, không nên lầm lẫn bê tông với xi măng, vì xi măng là vật liệu được dùng để kết dính các vật liệu kết tập của xi măng, còn bê tông là sản phẩm của việc trộn xi măng với các vật liệu kết tập đó.
== Ngành sản xuất xi măng trên thế giới ==
Vào năm 2010, sản lượng xi măng của thế giới là 3.3 tỉ tấn. 3 nước sản xuất xi măng nhiều nhất thế giới cũng chính là 3 quốc gia đông dân nhất hành tinh: CHND Trung Hoa (1,8 tỉ), Ấn Độ (220 triệu) và Hoa Kỳ (63,5 triệu), chiếm hơn một nửa tổng sản lượng xi măng thế giới. Đối với trữ lượng xi măng, 3 nước này cũng đứng đầu thế giới với tổng trữ lượng gần bằng một nửa tổng trữ lượng trên thế giới.
=== Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ===
Vào năm 2006, theo ước tính, Trung Quốc sản xuất chừng 1,235 tỉ tấn xi măng, chiếm 44% sản lượng toàn cầu. Theo tính toán, "Nhu cầu về xi măng ở Trung Quốc được dự kiến sẽ tăng 5,4% hàng năm và vượt quá 1 tỉ tấn trong năm 2008, việc này được thúc đẩy bởi sự tăng tiến chậm nhưng lành mạnh của chi tiêu trong xây dựng. Sản lượng xi măng tiêu thụ ở Trung Quốc sẽ chiếm 44% nhu cầu thế giới, và Trung Quốc vẫn sẽ tiếp tục là nước có sản lượng xi măng tiêu thụ lớn nhất thế giới."
Vào năm 2010, 3,3 tỉ tấn xi măng đã được tiêu thụ trên toàn thế giới, trong đó Trung Quốc đã chiếm hết 1,8 tỉ.
=== Châu Phi ===
=== Việt Nam ===
Ở Việt Nam, xi măng là ngành công nghiệp phát triển sớm nhất (để phục vụ cho công cuộc khai thác thuộc địa của người Pháp), từ năm 1899 tại Hải Phòng. Hải Phòng cũng là cái nôi của ngành xi măng Việt Nam hiện nay.
Hiện nay năng lực sản xuất xi măng trong nước của Việt Nam vào khoảng trên 60 triệu tấn. Một số nhà máy lớn:
Xi măng The Vissai: 10 triệu tấn/năm
Xi măng Vicem Hà Tiên: 10,2 triệu tấn/năm
Xi măng Nghi Sơn: 4,3 triệu tấn/năm (Tĩnh Gia, Thanh Hóa)
Xi măng Bỉm Sơn: 3,8 triệu tấn/năm (Thanh Hóa)
Xi măng Vinaconex Yên Bình: 3,5 triệu tấn/năm (Yên Bình, Tỉnh Yên Bái)
Xi măng Cẩm Phả: 2,3 triệu tấn/năm
Xi măng Tam Điệp: 1,4 triệu tấn
== Hiện tượng dị ứng xi măng ==
Xem chi tiết: dị ứng xi măng
Trong công nhân xây dựng và công nhân nhà máy sản xuất xi măng do tiếp xúc với xi măng nhiều xuất hiện viêm da tiếp xúc, thường được gọi là dị ứng xi măng
== Tham khảo == |
discovery channel.txt | Discovery là một kênh truyền hình cáp kỹ thuật số và vệ tinh của Mỹ được thành lập bởi John Hendricks và phân phối bởi Discovery Communications.
== Lịch sử ==
Ngày 17 tháng 6 năm 1985, kênh được phát sóng lần đầu với vốn ban đầu $5 triệu đến từ nhiều nhà đầu tư (gồm cả BBC, Allen & Company và Venture America). Ban đầu kênh phát sóng tới 156,000 hộ gia đình và được phát sóng trong 12 giờ từ 3 p.m. tới 3 a.m. Khoảng 75% thời lượng chương trình chưa từng được phát sóng trên truyền hình Mỹ. John Hendricks đã thành lập kênh và công ty mẹ của nó, Cable Educational Network Inc., năm 1982.
Trong những năm đầu tiên, kênh phát sóng một số chương trình của Liên Xô, gồm cả chương trình tin tức Vremya. Năm 1988, the kênh cho ra mắt chương trình buổi tối World Monitor (sản xuất bởi The Christian Science Monitor). Tập phim Shark Week đầu tiên được chiếu năm 1988 và từ đó đã trở thành một chương trình hàng năm. Tới năm 1990, kênh đã được phát tới hơn 50 triệu hộ gia đình.
Ngày 4 tháng 1 năm 2006, Discovery Communications thông báo phát thanh viên Ted Koppel, nhà sản xuất Tom Bettag và tám cựu thành viên Nightline gia nhập Discovery Channel.
Con số xếp hạng kênh đã hồi phục năm 2006, sau một sự sụt giảm chủ yếu do sự phụ thuộc quá nhiều vào một vài loạt chương trình ăn khách như Monster Garage và American Chopper. Một số lời chỉ trích nói những chương trình đó đi lạc khỏi mục tiêu của Discovery là giúp người xem hiểu thêm về thế giới xung quanh. Năm 2005, Discovery đã thay đổi đội ngũ để tập trung vào khoa học phổ thông và lịch sử. Kênh truyền hình này đã được đề cử cho bảy Primetime Emmy awards năm 2006 cho các chương trình gồm The Flight that Fought Back (về United Airlines Flight 93) và Deadliest Catch (về cua).
Năm 2007, các loạt chương trình hàng đầu của Discovery Channel bao gồm chương trình đoạt giải Emmy-award Planet Earth, Dirty Jobs MythBusters, và Deadliest Catch. Chương trình mới của Discovery Channel năm 2008 gồm Fight Quest và Smash Lab
Discovery Channel là (as of July 2004 and January 2012) kênh truyền hình được phân phối phổ biến thứ hai trên mạng truyền hình cáp Hoa Kỳ, xếp sau TBS. Ở thời điểm tháng 7 năm 2004 và tháng 3 năm 2012, kênh hiện diện tại 409 triệu hộ gia đình trên toàn thế giới.
Ngày 1 tháng 9 năm 2004 và 2012, một người đàn ông đã đi vào trụ sở Discovery Communications với một khẩu súng cầm tay, bắt ít nhất một phát, bắt giữ con tin, và bị cảnh sát bắn chết. Người này đã đăng những lời chỉ trích kênh truyền hình tại SaveThePlanetProtest.com.
== Logo ==
== Danh sách chương trình ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
=== Các trang chính thức ===
Website chính thức
Official Discovery Store
Discovery Channel's Official YouTube
Discovery Communications Inc.
=== Các trang khác ===
Discovery Education
Discovery Schools
Cosmeo (Discovery Education's online homework help service)
Discovery Channel Japan
Discovery Channel Germany
Discovery Channel Finland
Discovery Channel Romania
Discovery Channel India
Discovery Channel China
Discovery Channel Brazil
Discovery Channel Canada
Discovery Channel International
Discovery Channel Taiwan
Discovery Channel Russia
Discovery Channel Asia
Discovery Channel Korea
Discovery Channel Latin America
Discovery Channel at TV Ark |
giao thông ở nhật bản.txt | Giao thông ở Nhật Bản rất hiện đại và phát triển cao. Ngành giao thông vận tải của Nhật Bản nổi bật vì hiệu quả năng lượng của nó: nó sử dụng ít năng lượng hơn trên mỗi đầu người so với các nước khác, nhờ vào một tỷ lệ cao của giao thông vận tải đường sắt và khoảng cách đi lại trung bình ngắn hơn. Giao thông ở Nhật Bản cũng rất đắt đỏ so với quốc tế, với các loại phí và thuế cao, đặc biệt là với vận tải ô tô.
Chi tiêu của Nhật Bản về đường giao thông là rất lớn. 1,2 triệu km đường trải nhựa là phương tiện giao thông chính. Nhật Bản sử dụng giao thông bên trái. Một mạng lưới duy nhất của các con đường có thu phí với tốc độ cao, được phân chia và hạn chế truy cập đã kết nối các thành phố lớn tại Nhật. Các con đường này được điều hành bởi các doanh nghiệp chuyên thu phí.
Hàng chục công ty đường sắt Nhật Bản cạnh tranh trong thị trường vận tải hành khách trong khu vực và địa phương; Ví dụ, bảy công ty của JR Group, Đường sắt Kintetsu, Đường sắt Seibu và Tổng công ty Keio. Thông thường, chiến lược của các doanh nghiệp này bao gồm việc xây dựng các khu bất động sản hoặc siêu thị bên cạnh ga tàu. Khoảng 250 tàu Shinkansen tốc độ cao kết nối các thành phố lớn. Tất cả các đoàn tàu này nổi tiếng vì chạy đúng giờ.
Có 176 sân bay, và sân bay lớn nhất trong nước, sân bay quốc tế Tokyo, là sân bay bận rộn nhất châu Á. Cổng quốc tế lớn nhất là sân bay Quốc tế Narita (khu vực Tokyo), sân bay Quốc tế Kansai (khu vực Osaka/Kobe/Kyoto), và sân bay Quốc tế Chūbu (khu vực Nagoya). Các cảng lớn nhất bao gồm cảng Nagoya.
== Đường sắt ==
Tại Nhật Bản, đường sắt là một trong những phương tiện vận tải hành khách chủ yếu, đặc biệt vận chuyển khối lượng hàng hóa lớn và với tốc độ cao giữa các thành phố lớn và cho người đi lại trong các vùng đô thị. Bảy công ty đường sắt Nhật Bản, do nhà nước điều hành cho đến năm 1987, bao phủ hầu hết các vùng của Nhật Bản. Ngoài ra cũng có dịch vụ đường sắt vận hành do các công ty đường sắt tư nhân hoặc chính phủ khu vực, hoặc các công ty được tài trợ bởi cả chính phủ khu vực và các công ty tư nhân.
Tổng độ dài đường sắt là 27,182 km bao gồm một vài chuẩn khoảng cách ray, phổ biến nhất trong đó là ray 1.067m, với 22,301 km độ dài, trong đó có 15,222 km đã được điện khí hóa.
Fukuoka, Kobe, Kyoto, Nagoya, Osaka, Sapporo, Sendai, Tokyo, và Yokohama có hệ thống tàu điện ngầm.
Hầu hết người Nhật đi bộ cho đến cuối thế kỷ 19. Đường sắt đầu tiên được xây dựng nối ga Shimbashi của Tokyo với ga Yokohama của Yokohama (bây giờ là ga Sakuragichō) vào năm 1872. Các tuyến đường sắt khác được phát triển ngay sau đó. Nhật Bản ngày hôm nay là một trong những quốc gia có mạng lưới giao thông vận tải phát triển nhất trên thế giới. Giao thông đang phát triển tốt ở Nhật bản, nhưng hệ thống đường đã không theo kịp và là không đủ cho số lượng xe ô tô ở Nhật Bản. Điều này thường được giải thích vì thực tế xây dựng đường sá rất khó khăn ở Nhật Bản, vì mật độ dân số cao và việc hạn chế diện tích đất có thể sử dụng để xây dựng đường.
=== Shinkansen ===
Tàu shinkansen, là các xe lửa chạy trên các tuyến đường sắt cao tốc. Có 8 tàu shinkansen chạy trên các tuyến đường dài 2,387 km (0 mi), hoàn toàn độc lập với các tuyến tàu chạy ngắn metro, với một vài trường hợp ngoại lệ. Shinkansen chiếm phần lớn hoạt động giao thông đường dài tại Nhật Bản, với hơn 10 tỷ lượt hành khách đã đi trên tất cả các tuyến. 1,114 chuyến chạy hàng ngày, với chuyến nhanh nhất là với các đầu máy JR Đông R5 và E6, vận hành với tốc độ tối đa 320 km/h (200 mph). Xe lửa shinkansen được biết đến là rất an toàn, không có tai nạn liên quan đến việc hành khách chết hoặc bị thương nào trong suốt 50 năm lịch sử. Shinkansen cũng nổi tiếng vì rất đúng giờ, tương tự với tất cả các phương tiện giao thông vận tải tại Nhật Bản. Trong năm 2003, trung bình thời gian trễ mỗi tàu trên Tōkaidō Shinkansen chỉ là 6 giây. Nhật bản đã cố gắng để bán công nghệ làm Shinkansen ra nước ngoài, và đã giành được các hợp đồng xây dựng hệ thống xe lửa tương tự tại Ấn Độ, Thái Lan, và Hoa Kỳ.
Tuyến tàu shinkansen đầu tiên được xây dựng năm 1964 nối Tokyo và Osaka, và xe lửa bây giờ đi quãng đường trên trong 2 giờ 25 phút. Các tuyến shinkansen bổ sung sau đó kết nối Tokyo tới Aomori, Nigata, Kyoto, và Nagasaki; kết nối Osaka tới Fukuoka và Kagoshima, với các tuyến mới được xây dựng để kết nối tới Tsuruga, Sapporo và Nagasaki.
Nhật Bản đã phát triển công nghệ tàu đệm từ, và đã phá vỡ tốc độ kỷ lục thế giới trong tháng 4 năm 2015 với một con tàu đi với tốc độ 603 km/h (375 mph). Tàu Chūō Shinkansen, một dịch vụ tàu đệm từ thương mại hiện tại đang được xây dựng để kết nối Tokyo tới Nagoya và Osaka. Khi hoàn thành năm 2045 tàu này sẽ đi khoảng cách trên chỉ trong thời gian 67 phút, bằng một nửa thời gian của tàu shinkansen hiện tại.
== Đường bộ ==
Theo Bản niên giám thống kê 2015, Nhật bản vào tháng 4 năm 2012 đã có khoảng 1,215,000 km đường bộ với 1,022,000 km đường trong thành phố, thị trấn và làng, 129,000 km đường của quận, 55,000 km đường của đường cao tốc quốc gia và 8,050 km đường siêu tốc quốc gia. Foreign Press Center/Japan trích dẫn tổng chiều dài của đường cao tốc là 7,641 km (năm tài chính 2008). Một mạng lưới duy nhất các đường cao tốc thu phí và phân chia giới hạn truy cập đã kết nối các thành phố lớn trên các vùng Honshu, Shikoku và Kyushu. Hokkaido có một mạng lưới đường riêng biệt, và đảo Okinawa có một đường cao tốc loại này. Trong năm 2005, các công ty thu phí, trước đây là Japan Highway Public Corporation, đã được chuyển thành công ty tư nhân, sở hữu công cộng, và đang có kế hoạch để bán một phần công ty. Mục đích của chính sách này là để khuyến khích cạnh tranh và giảm bớt mức phí.
Hành khách đường bộ và vận chuyển hàng hóa đã phát triển rõ rệt trong những năm 1980 khi việc sở hữu tư nhân các xe có động cơ tăng lên rất nhiều, cùng với chất lượng và quy mô mở rộng của đường bộ quốc gia. Công ty xe buýt bao gồm cả công ty xe buýt JR đều mở các tuyến xe buýt đường dài trên tất cả các tuyến đường siêu tốc quốc gia mở rộng. Không chỉ có giá vé tương đối thấp và ghế ngồi rộng rãi, những chiếc xe buýt được sử dụng nhiều bởi vì chúng hoạt động cả ban đêm, trong khi dịch vụ hàng không và xe lửa bị hạn chế.
Ngành vận tải phát triển nhanh vào những năm 1980, đạt kỷ lục 274.2 tỉ tấn-km trong năm 1990. Hàng hóa được xử lý bằng xe có động cơ, chủ yếu là xe tải trong năm 1990, đạt hơn 6 tỷ tấn, chiếm 90% khối lượng và chiếm 50% tấn-km của vận tải hàng hóa trong nước.
== Đường sắt ==
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Daito, Eisuke. "Railways and scientific management in Japan 1907–30." Business History 31.1 (1989): 1-28.
Ericson, Steven J. The Sound of the Whistle: Railroads and the State in Meiji Japan (Harvard Univ Asia Center, 1996).
Kinzley, W. Dean. "Merging Lines: Organising Japan's National Railroad, 1906-1914" Journal of Transport History 27#2 (2006)
== Liên kết ngoài ==
Hyperdia - Travel planning tool supporting English and Japanese
Jorudan - Travel planning tool supporting English and Japanese
Toei Transportation Information - English information on Toei bus, subway, and trolley services and multilingual maps
Domestic aviation in Japan: Responding to market forces amid regulatory constraints
Japan Automobile Research Institute (JARI)
Roads In Japan, from Ministry of Land, Infrastructure, Transport and Tourism (MLIT) - English and Japanese website, link refers specifically to 5 PDF chapters - as well as a reference chapter - on road history, statistics, maps, construction and advanced road technologies in Japan (graphics throughout, 41 total pages). |
xã plateau, quận perkins, nam dakota.txt | Xã Plateau (tiếng Anh: Plateau Township) là một xã thuộc quận Perkins, tiểu bang Nam Dakota, Hoa Kỳ. Năm 2010, dân số của xã này là 11 người.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
American FactFinder |
edward drinker cope.txt | Edward Drinker Cope (28 tháng 7 năm 1840 – 12 tháng 4 năm 1897) là một nhà cổ sinh học Mỹ và là nhà giải phẫu học đối sánh, ngoài ra ông còn là nhà bò sát học và ngư học. Ông là người sáng lập trường phái tư tưởng Neo-Lamarckism. Sinh ra trong một gia đình giàu có Quaker, Cope đã nhận ra là một thần đồng đam mê khoa học; Ông xuất bản bài báo khoa học đầu tiên lúc 19 tuổi. Dù cha ông cố gắng đào tạo Edward thành một người làm nông, nhưng cuối cùng ông phải chấp nhận nguyện vọng làm khoa học của con mình. Cope cưới lấy em họ và có 1 con; gia đình ông đã dời từ Philadelphia đến Haddonfield, New Jersey, mặc dù Cope muốn ở và lập bảo tàng ở Philadelphia vào những năm cuối đời.
== Tiểu sử ==
=== Thời thơ ấu ===
Edward Drinker Cope sinh ra vào ngày 28 tháng 7 năm 1840. Ông là con trai cả của Alfred Cope và Anna Cope. Ông mồ côi mẹ từ nhỏ và sự ra đi của người mẹ có vẻ ảnh hưởng đôi chút đến cậu bé Edward. Trong các bức thư , Edward có nói rằng cậu chẳng có ký ức gì về người mẹ của mình. Chính vì sự ra đi này, người vợ hai của bố Edward, Rebecca Biddle, trở thành người mẹ của câu bé này. Edward sống nhờ vào hơi ấm của người mẹ này, cũng như người anh em cùng cha khác mẹ James Biddle Cope. Cha của Edward, Alfred, là một thành viên chính thống của Quakers. Ông điều khiển một quá trình buôn bán tàu thủy có lợi được khởi động bởi người cha của ông, ông Thomas P. Cope, vào năm 1821. Alfred cũng là một người nhân đức khi ủng hộ tiền cho Quakers, Vườn bách thú Philadelphia và Đại học Cheyney ở Pennsylvania.
Edward Drinker Cope được sinh ra và lớn lên trong một ngôi nhà đá lớn có tên là "Fairfield", nơi có vị trí bây giờ là gần ranh giới của Philadelphia. Với diện tích 8 acres (tương ứng với 3,2 ha), khu vườn có tính chất cổ xưa và kỳ lạ nơi Edward ở thực sự đã khiến cho cậu bé muốn khám phá. Gia đình nhà Cope đã dạy dỗ những đứa trẻ học đọc và viết. Ngoài ra, cậu bé Edward còn được đi tham quan vùng đất New England và quan trọng hơn là bảo tàng, vườn thú và công viên. Tất cả những điều đó đã khiến cậu bé nhà Cope quan tâm đến thiên nhiên, đặc biệt là động vật cũng như phát huy năng lực thẩm mỹ vốn có của bản thân.
=== Chuyến đi châu Âu ===
Trong các năm 1863-1864, tức là trong thời kỳ nội chiến Hoa Kỳ, Cope thực hiện một chuyến đi vòng quanh châu Âu, đến thăm những bảo tàng và con người được kính trọng nhất. Ở đây, lúc đầu ông cảm thấy thích thú với công việc phục vụ một bệnh viện dã chiếnm nhưng theo những bức thư ông gửi về cho cha mình, ta có thể thấy niềm hứng thú này dần biến mất. Thay vào đó, Cope muốn trở về nước Mỹ, làm việc tại phia nam để giúp đỡ những người Mỹ gốc Phi được tự do. Một người có tên Davidson muốn nhờ Joseph Leidy và Ferdinand Hayden (người làm việc như một bác sĩ phẫu thuật dã chiến trong thời kỳ nội chiến) nói lên sự khủng khiếp của công việc cho Cope nếu như ông thực hiện ý định đó. Và Cope tiếp tục ở lại châu Âu. Và chính vào lúc đó, ông có tình cảm với một người phụ nữ vô danh (ông có ý định cưới người này làm vợ). Khi biết chuyện này, cha của Edward Cope đã không chấp nhận và cuộc tình đã chấm dứt. Dù là Cope hay người phụ nữ kia quyết định chia tay trước thì cái kết của mối tình này đã khiến cho nhà cổ sinh vật học tương lai bị trầm cảm trong một thời gian. Và ông cũng không ít lần than phiền sự nhàm chán khi sống ở đây.
Mặc dù ở trạng thái như vậy, nhà khoa học tương lai của Mỹ vẫn ở lại châu Âu, gặp gỡ những nhà khoa học đáng kính nhất lúc bấy giờ. Chuyến đi của ông qua rất nhiều nơi như Pháp, Đức, Vương quốc Anh, Ireland, Áo, Ý và các nước thuộc khu vực Đông Âu. Có thể Cope đến những nơi này là bởi những bức thư mời của Leidy và Spencer Baird. Và vào mùa đông năm 1863, Cope gặp một người quan trọng với cuộc đời của ông, Othniel Charles Marsh, người mà sau này trước là bạn, sau là kẻ thù của ông.
=== Gia đình và nghề nghiệp ban đầu ===
=== Cuộc chiến xương ===
=== Những năm cuối đời ===
=== Qua đời ===
Năm 1896, Cope bắt đầu cảm thất đau đớn ở vùng ruột-dạ dày. Ông cho rằng đó là viêm bóng đái. Người vợ chăm sóc hết mức có thể khi họ ở Philadelphia. Thậm chí trong nhiều lần, hiệu trưởng của trường đại học nơi Cope làm việc, Anna Brown, đến để phục vụ ông. Trong khoảng thời gian ấy, Cope phải sống trong bảo tàng phố Pine do ông sở hữu và được vây kín bởi một cái lều được dựng lên bởi chính những khúc xương hóa thạch của ông. Ông thường kê cho mình nhiều loại thuốc, bao gồm lượng lớn morphine, belladonna và formalin. Một người đồng nghiệp tên Henry Fairfield Osborn cảm thấy khiếp sợ vì những hành vi của Cope do bệnh tật và đã sắp xếp một cuộc phẫu thuật. Tuy nhiên, cuộc phẫu thuật đành gác lại bởi sức khỏe của Cope đã tốt trở lại. Tuy nhiên, khi đến Virginia, Cope lại bị bệnh và phải trở về nhà trong thể trạng rất yếu. Osborn đến thăm nhà cổ sinh vật học vào ngày 5 tháng 4 năm ấy, tìm hiểu về sức khỏe của ông, và Cope đã cho biết suy nghĩ của ông về nguồn gốc của căn bệnh. Thông tin Cope bị bệnh được truyền đi nhiều nơi và ông được đến thăm bởi những người bạn và đồng nghiệp. Cope qua đời vào ngày 12 tháng 4 năm 1897, tức là chỉ còn cách 16 tuần nữa là sinh nhật thứ 57 của ông.
== Cống hiến ==
== Đời tư ==
== Tham khảo == |
thôi kì.txt | Thôi Kì (tiếng Trung: 崔琦; bính âm: Cuī Qí, sinh 28 tháng 2 năm 1939 tại tỉnh Hà Nam, Trung Quốc) là nhà vật lý người Mỹ gốc Trung Quốc đã đoạt Giải Nobel Vật lý năm 1998 (chung với Horst Ludwig Störmer và Robert B. Laughlin) cho những đóng góp của ông trong việc phát hiện Hiệu ứng Hall lượng tử phân số.
== Cuộc đời và Sự nghiệp ==
Thôi Kỳ sinh tại một làng quê thuộc huyện Bảo Phong, tỉnh Hà Nam, là con của một gia đình nông dân. Vào thời ông sinh ra, Trung Quốc đầy những thiên tai và chiến tranh. Khi còn niên thiếu, ông học ở trường làng.
Năm 1951, ông sang Hồng Kông, học ở Trường trung học Bồi Chính tại bán đảo Cửu Long, và tốt nghiệp năm 1957. Ông được thâu nhận vào trường Y học Đại học quốc gia Đài Loan ở Đài Bắc, Đài Loan. Năm 1958, ông được một học bổng toàn phần để sang học ở Augustana College tại Rock Island, Illinois, Hoa Kỳ.
Sau khi tốt nghiệp, ông tiếp tục học Vật lý học ở Đại học Chicago và đậu bằng tiến sĩ vật lý năm 1967. Ông làm nghiên cứu sau tiến sĩ ở Đại học Chicago. Năm 1968, ông vào làm việc ở Bell Labs, và là người tiên phong trong nghiên cứu các điện tử 2 chiều.
Lãnh vực nghiên cứu của Thôi Kì gồm các đặc tính điện của phim mỏng cùng các vi cấu trúc của các chất bán dẫn và Vật lý chất rắn. Hiện nay ông là giáo sư chức Arthur LeGrand Doty môn Kĩ thuật điện ở Đại học Princeton và nhà khoa học nghiên cứu ở Phân khoa Vật lý Đại học Columbia, nơi ông từng là giáo sư thỉnh giảng từ năm 2006 tới 2008.
Phát hiện fractional quantum Hall effect (Hiệu ứng Hall lượng tử phân số) – công trình mang lại Giải Nobel cho ông - xảy ra ngay trước khi ông được bổ nhiệm làm giáo sư Kĩ thuật điện ở Đại học Princeton năm 1982.
== Giải thưởng và Vinh dự ==
Viện sĩ Viện hàn lâm Khoa học quốc gia Hoa Kỳ
Viện sĩ Viện hàn lâm Khoa học Kỹ thuật quốc gia Hoa Kỳ từ 2004
Hội viên Hiệp hội thăng tiến Khoa học Hoa Kỳ
Hội viên Hội Vật lý Hoa Kỳ
Viện sĩ Viện hàn lâm Trung Quốc (Academia Sinica) ở Đài Bắc
Viện sĩ nước ngoài Viện hàn lâm Khoa học Trung Quốcở Bắc Kinh từ 2000
Giải Oliver E. Buckley 1984
Huy chương Franklin về Vật lý 1998
Giải Nobel Vật lý 1998
== Xem thêm ==
Hiệu ứng Hall lượng tử
Hiệu ứng Hall lượng tử phân số
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Nobel Prize in Physics 1998
Nobel autobiography
Faculty page at Princeton University
discovery of a new form of quantum fluid with fractionally charged excitations
Tiểu sử trên APS |
buzz aldrin.txt | Buzz Aldrin, tên khai sinh Edwin Eugene Aldrin, Jr., sinh ngày 20 tháng 1 năm 1930 tại Glen Ridge, New Jersey là một phi công và phi hành gia Hoa Kỳ, phi công của Module Mặt Trăng trên tàu Apollo 11, chuyến du hành đầu tiên hạ cánh xuống Mặt Trăng. Ông là người thứ hai đặt chân lên Mặt Trăng, chỉ sau phi công chỉ huy Neil Armstrong.
== Tiểu sử ==
Aldrin là con trai của bà Marion (họ khai sinh: Moon) và ông Edwin Eugene Aldrin, Sr., một binh sĩ ở Montclair, New Jersey, nơi ông trở thành một tân sinh của Hội Nam Hướng đạo Mỹ. Buzz từng học tại Trung học Montclair tại Montclair, New Jersey, và tốt nghiệp Học viện Quân sự Hoa Kỳ tại West Point. Biệt danh "Buzz" xuất phát từ thời niên thiếu khi chị ông phát âm nhầm chữ "brother" (anh em) thành "buzzer" khi còn đi chập chững, và sau đó thu gọn thành Buzz. Ông dùng nó thành tên chính thức của mình năm 1988.
== Truyền thông ==
Aldrin là một trong các nhà du hành vũ trụ được nói đến trong phim In the Shadow of the Moon.
== Tham khảo == |
hà nội (tỉnh).txt | Tỉnh Hà Nội là một tỉnh cũ của Việt Nam vào nửa cuối thế kỷ 19. Năm 1831, vua Minh Mạng lập ra tỉnh Hà Nội. Đây là một trong số 13 tỉnh được thành lập sớm nhất ở Bắc Kỳ.
== Lịch sử hành chính ==
Thời thuộc Hán Tùy là quận Giao Chỉ; thuộc nhà Đường là phủ An Nam đô hộ, phủ trị đóng ở thành Tống Bình, thường gọi là thành Đại La (trước khi Trương Bá Nghi đắp sửa La Thành năm 767).
Lý Thái Tổ sau khi lên ngôi chỉ đóng đô ở Hoa Lư mấy tháng, đến đầu năm Thuận Thiên 1 (1010) xuống chiếu chọn thành Đại La đặt Kinh đô mới, đổi tên là thành Thăng Long; đặt phủ Ứng Thiên thống nhiếp các vùng phụ trách Hoàng thành. Năm 1010 đổi phủ Ứng Thiên làm Nam Kinh.
Đời nhà Trần đổi làm phủ Đông Đô, thuộc lộ Đông Đô (gồm phủ Đông Đô và huyện Từ Liêm).
Thời thuộc nhà Minh hay Bắc thuộc lần 4 (1407 - 1427) là đất huyện Đông Quan (và các vùng lân cận).
Đời Lê Thái Tổ, năm Thuận Thiên thứ 3 (1430) đổi Đông Quan làm Đông Kinh, còn gọi là Trung Đô.
Đời Lê Thánh Tông năm Quang Thuận thứ 10 (1469) chia vùng phụ trách hoàng thành gồm 36 phường làm 2 huyện Vĩnh Xương và Quảng Đức thuộc phủ Phụng Thiên.
Thời Tây Sơn, Quang Trung dự tính xây Kinh đô mới ở Nghệ An, gọi Thăng Long là Bắc Thành.
Triều Nguyễn, năm Gia Long thứ 1 (1802) đặt chức Bắc Thành tổng trấn, cai quản cả 11 trấn ở miền Bắc. Năm thứ 4 (1805) đổi huyện Quảng Đức làm Vĩnh Thuận, đổi phủ Phụng Thiên làm phủ Hoài Đức (gồm 2 huyện) thuộc Bắc Thành.
Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) tách huyện Từ Liêm thuộc phủ Quốc Oai nhập vào phủ Hoài Đức; lại tách các phủ Ứng Hòa (tức phủ Ứng Thiên, đổi tên năm 1814), Lý Nhân và Thường Tín thuộc trấn Sơn Nam, gộp vào phủ Hoài Đức thành một tỉnh gọi là tỉnh Hà Nội (gồm 4 phủ, 15 huyện) như khi mới thành lập.
Tỉnh Hà Nội thời Đồng Khánh gồm phần phía nam thành phố Hà Nội, thị xã Hà Đông và các huyện Thanh Oai, Chương Mỹ, Mỹ ĐỨc, Ứng Hòa, Thường Tín, Phú Xuyên tỉnh Hà Tây cũ và toàn bộ tỉnh Hà Nam hiện nay.
Tỉnh Hà Nội lúc đó có tỉnh lỵ là thành Thăng Long cũ, gồm có 4 phủ:
Phủ Hoài Đức: kinh thành Thăng Long cũ và huyện Từ Liêm thuộc phủ Quốc Oai của tỉnh Sơn Tây),
Phủ Ứng Hòa: có 4 huyện Chương Đức (sau đổi là Chương Mỹ), Hoài An, Sơn Minh và Thanh Oai.
Phủ Lý Nhân có 5 huyện Bình Lục, Duy Tiên, Kim Bảng, Nam Xương và Thanh Liêm.
Phủ Thường Tín có 3 huyện Phú Xuyên, Thanh Trì và Thượng Phúc.
Tổng cộng tỉnh Hà Nội có 15 huyện thuộc 4 phủ trên.
Vào thời kỳ 1838-1840, phủ Hoài Đức gồm 2 huyện: Thọ Xương và Vĩnh Thuận. Huyện Thọ Xương có 8 tổng, 116 phường thôn. Huyện Vĩnh Thuận có 5 tổng, 27 phường thôn. Số dân là 52.335 người.
Sau hiệp ước Patenôtre, Tổng thống Pháp ra sắc lệnh thành lập thành phố Hà Nội, ngày 1 tháng 10 năm 1888, vua Đồng Khánh ra đạo dụ nhượng hẳn cho Pháp thành Hà Nội. Ngày 26 tháng 12 năm 1896 tỉnh Hà Nội (phần còn lại) chuyển tỉnh lỵ về Cầu Đơ (nay là thị xã Hà Đông) và đến ngày 3 tháng 5 năm 1902 thì đổi tên thành tỉnh Cầu Đơ, đổi huyện Thọ Xương và Vĩnh Thuận làm huyện Hoàn Long. Năm 1904 tỉnh Cầu Đơ đổi tên thành tỉnh Hà Đông.
Năm 1890, phủ Lý Nhân của tỉnh Hà Nội được tách ra để lập tỉnh Hà Nam.
== Dân cư ==
Theo Đồng Khánh dư địa chí, tỉnh Hà Nội có 56.748 dân đinh, trong đó binh đinh là 5.822 người. Cũng theo Đồng Khánh dư địa chí thì:
== Địa giới ==
Phía đông giáp giang phận Nhị Hà qua hai huyện Đông Yên và Kim Động thuộc tỉnh Hưng Yên. Phía tây giáp địa phận ba huyện Đan Phượng, Yên Sơn, Mỹ Lương tỉnh Sơn Tây. Tổng diện tích đất ruộng là 393.914 mẫu có lẻ. Phía nam giáp địa phận bốn huyện Mỹ Lộc, Vụ Bản, Ý Yên, Thượng Nguyên tỉnh Nam Định và phủ Nho Quan tỉnh Ninh Bình. Phía bắc giáp huyện Yên Lãng tỉnh Sơn Tây và giang phận Nhị Hà qua ba huyện Đông Ngàn, Gia Lâm và Văn Giang của tỉnh Bắc Ninh.
Đông-Tây cách nhau hơn 90 dặm, Nam-Bắc cách nhau 113 dặm 120 trượng.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Đồng Khánh dư địa chí. |
joão havelange.txt | Jean-Marie Faustin Godefroid João de Havelange (8 tháng 5 năm 1916 - 16 tháng 8 năm 2016) là một luật sư người Brasil, chủ tịch thứ 7 của liên đoàn bóng đá thế giới FIFA từ năm 1974 đến năm 1998, ông là chủ tịch giữ nhiệm kỳ lâu thứ hai sau Jules Rimet của FIFA, khi rời khỏi văn phòng ông đã có danh hiệu Chủ tịch danh dự, nhưng cũng đã từ chức năm 2013. Sau khi ông từ chức, ông là thành viên phục vụ lâu nhất.
== Thời trẻ ==
Sinh ra trong gia đình giàu có, cha ông làm việc ở một đại lý, và ông sở hữu một khối bất động sản lớn.
Joao xuất sắc trong học tập, đã học vào một trường luật rồi trở thành tiến sĩ Luật. Ông từng là cố vấn pháp lý cho một công ty xe buýt Auto Viacao Jabaquara, trở thành chủ công ty xe buýt Viacao Cometa, ông cũng từng tham gia bơi lội tại Thế vận hội mùa hè 1936.
== Chủ tịch FIFA ==
Năm 1974, tại cuộc tranh cử chủ tịch FIFA, Havelange đã hạ người tiền nhiệm Stanley Rous để trở thành chủ tịch FIFA. Ông là chủ tịch đầu tiên của FIFA không phải là người châu Âu. Ông đã tăng kích thước World Cup từ 16 lên 32 đội
Ông nghỉ hưu và từ chức vào năm 1998. Ông mất ngày 16 tháng 8 năm 2016 tại quê nhà Rio de Janeiro, nơi mà Thế vận hội Mùa hè 2016 đang diễn ra tại thành phố này, hưởng thọ 100 tuổi.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Declan Hill, investigative journalist, author of The Fix:Soccer and Organized Crime. McClelland & Stewart, reprinted ngày 13 tháng 4 năm 2010. ISBN 077104139X ISBN 978-0771041396. paperback 408 pages.
Andrew Jennings investigation followups
Sports Illustrated articles |
tất-đạt-đa cồ-đàm.txt | Siddhārtha Gautama hay Tất-đạt-đa Cồ-đàm (phiên âm Hán Việt từ tiếng Phạn) cũng được Phật tử gọi là Phật Thích-ca Mâu-ni (Shakyamuni Buddha) hay gọi đơn giản là Đức Phật, là một người giác ngộ (Phật) và là một đạo sư có thật sống vào thời kỳ Ấn Độ cổ đại. Theo tương truyền và sử liệu, ông đã sống và truyền dạy giáo lý ở phía đông tiểu lục địa Ấn Độ vào giữa thế kỷ thứ 6 và 4 TCN. Siddhārtha đã đề xướng con đường Trung đạo (Majjhimāpaṭipadā), vừa từ bỏ đời sống xa hoa và cũng vừa từ bỏ lối tu ép xác khổ hạnh thịnh hành trong các học thuyết tôn giáo Ấn Độ thời đó. Những lời giáo pháp trong thời gian ông đi truyền bá đã đặt nền tảng cho sự hình thành của Phật giáo.
Siddhārtha Gautama được các Phật tử coi là một bậc đạo sư đã giác ngộ viên mãn và tự giải thoát hoàn toàn khỏi quy luật sinh tử luân hồi, hiểu rõ được sự vận hành của thế giới xung quanh, đồng thời truyền bá kinh nghiệm giác ngộ của mình cho người khác để họ có thể tự chấm dứt khổ đau bản thân, nhận sự hạnh phúc tối thượng. Chi tiết về cuộc đời, những lời dạy và các giới luật của ông được những học trò ghi nhớ và tổng hợp lại sau khi Siddhārtha Gautama qua đời. Hàng loạt những bản kinh ghi lại lời dạy của ông được lưu giữ qua truyền miệng và được viết thành sách 400 năm sau đó.
== Cuộc đời ==
=== Bối cảnh và gia thế ===
Dù có nhiều hoài nghi và do dự trước đây, nhưng hầu hết các học giả đều công nhận ông đã sống và truyền dạy giáo lý trong thời Mahajanapada dưới thời cai trị của Tần Bà Sa La ( 558 - 491 TCN) và qua đời trong thời gian đầu của triều đại Ajatashatru (A xà thế), là người kế thừa của Tần Bà Sa La. Cuộc đời của Tất-đạt-đa không những trùng hợp với thời kỳ phát triển của Bà La Môn, mà còn trùng với sự phát triển của trường phái tu khổ hạnh Sramana như Kỳ Na giáo, Ājīvika, Ajñana, Cārvāka (triết học duy vật khoái lạc).
Tất-đạt-đa sinh khoảng năm 624 trước Công nguyên và qua đời khi 80 tuổi (năm 543 TCN), trong một gia đình hoàng tộc thuộc dòng Thích-ca (sa. śākya) tại Kapilavastu (hv. Ca-tì-la-vệ, zh. 迦毘羅衛) thuộc Nepal ngày nay. Cha của ông là vua Tịnh Phạn (zh. 淨飯, sa. śuddhodana), mẹ là hoàng hậu Maya (sa., pi. māyādevī), sinh ra ông trong khu vực vườn Lumbini (hv. Lâm-Tỳ-Ni, zh. 嵐毘尼), một thị trấn thuộc Ấn Độ.
Có nhiều truyền thuyết về Tất-đạt-đa. Có thuyết cho rằng một đêm bà mẹ nằm mơ thấy một vị Bồ Tát với dạng con voi trắng vào bụng mình. Thái tử sinh ra từ hông phải của mẹ, sau đó đi bảy bước, một tay chỉ lên trời, tay kia chỉ xuống đất nói:
Trong kinh A-hàm có ghi bốn câu nói của ông khi mới sinh. Bốn câu đó nguyên văn chữ Hán là:
Thiên thượng thiên hạ,
Duy ngã độc tôn.
Nhất thiết thế gian,
Sinh lão bệnh tử.
=== Cuộc sống ban đầu và hôn nhân ===
Ngay lúc sinh ra, ông đã có đầy đủ tướng tốt (Ba mươi hai tướng tốt). Do đó, các nhà tiên tri đều cho rằng ông sẽ trở thành một đại đế vĩ đại (Chuyển Luân Thánh Vương) hoặc là một thánh nhân xuất thế, một bậc giác ngộ tối thượng (Phật). Bảy ngày sau khi sinh thì hoàng hậu Maya - mẹ của ông mất, ông được người dì là Mahāprajāpatī (hv. Ma-ha-ba-xà-ba-đề, zh. 摩呵波闍波提) chăm sóc. Năm lên 16 tuổi, Tất-đạt-đa kết hôn với công chúa Yaśodharā (hv. Da-du-đà-la, zh. 耶輸陀羅). Ông đã sống một cuộc sống thanh tịnh dù là một thái tử đến năm 29 tuổi cho đến khi bắt đầu lên đường tìm chân lý đích thực.
Vua cha Tịnh Phạn vốn muốn con ông nối nghiệp mình nên không muốn thái tử đi tu. Ông đã cho nhiều người danh tiếng dạy dỗ cho con rất kỹ lưỡng, nhất là không để ông tiếp xúc với cảnh khổ của cuộc đời. Tuy thế, do nhân duyên không thể tránh khỏi, sau bốn lần ra bốn cửa thành và thấy cảnh người già, người bệnh, người chết và một vị tu sĩ, thái tử phát tâm rồi từ biệt hoàng cung, sống cảnh không nhà. Tương truyền rằng, bốn cảnh ngộ vừa kể là những cảnh tượng do các vị người trời tạo ra nhằm nhắc nhở ông lên đường tu học Phật quả. Tất-đạt-đa thấy rằng ba cảnh đầu tượng trưng cho cái Khổ trong thế gian và hình ảnh tu sĩ chính là cuộc đời của ông.
=== Xuất gia và giác ngộ ===
Năm 29 tuổi, sau khi công chúa Da-du-đà-la hạ sinh một bé trai - được đặt tên là La-hầu-la (zh. 羅睺羅, sa. rāhula) (nghĩa là Chướng ngại), Tất-đạt-đa quyết định từ bỏ cuộc sống xa hoa, lìa cung điện bất chấp nỗ lực ngăn cản của cha mình. Ông gọi người nô bộc trung thành là Channa (Sa Nặc) lấy con ngựa Kantaka (Kiền Trắc) rồi ra đi. Khi tới bờ sông Anomà, Thái tử dừng lại, bỏ ngựa, cạo râu, tóc, trao y phục và đồ trang sức cho Channa, lệnh cho Channa trở về.
Ông bắt đầu thử cùng tu khổ hạnh với nhiều nhóm tăng sĩ khác nhau. Ông quyết tâm tìm cách diệt khổ và tìm mọi đạo sư với các giáo pháp khác nhau. Theo truyền thống Ấn Độ bấy giờ chỉ có con đường khổ hạnh mới đưa đến đạt đạo. Các vị đạo sư khổ hạnh danh tiếng thời đó là A-la-la Ca-lam (阿羅邏迦藍, sa. ārāda kālāma, pi. āḷāra kālāma) và Ưu-đà-la La-ma tử (優陀羅羅摩子, sa. rudraka rāmaputra, pi. uddaka rāmaputta). Nơi A-la-la Ca-lam, Tất-đạt-đa nhanh chóng đạt đến cấp Thiền Vô sở hữu xứ (sa. ākiṃcanyāyatana, pi. ākiñcaññāyatana), nơi Ưu-đà-la La-ma tử thì học đạt đến cấp Phi tưởng phi phi tưởng xứ (sa. naivasaṃjñā-nāsaṃñāyatana, pi. nevasaññā-nāsaññāyatana), đều là những trạng thái siêu việt của thiền định.
Nhưng Tất-đạt-đa cũng không tìm thấy nơi các vị đó lời giải cho thắc mắc của mình, chưa đạt đến mức độ triệt để cho việc giải thoát khổ đau, không phải là chân lý tối hậu, nên quyết tâm tự mình tìm đường giải thoát và có năm Tỳ-kheo (năm anh em Kiều Trần Như, sa. Koṇḍañña) đồng hành. Sau nhiều năm tu khổ hạnh gần kề cái chết, ông nhận ra đó không phải là phép tu dẫn đến giác ngộ, bắt đầu ăn uống bình thường, năm tỉ-khâu kia thất vọng bỏ đi. Cách tu cực khổ được Phật nhắc lại sau khi thành đạo như sau:
Này Aggivessana, rồi Ta tự suy nghĩ như sau: "Ta hãy giảm thiểu tối đa ăn uống, ăn ít từng giọt một, như súp đậu xanh, súp đậu đen hay súp đậu hạt hay súp đậu nhỏ." Và này Aggivessana, trong khi Ta giảm thiểu tối đa sự ăn uống, ăn từng giọt một, như súp đậu xanh, xúp đậu đen hay súp đậu hột hay xúp đậu nhỏ, thân của Ta trở thành hết sức gầy yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo; vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà; vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh; vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột một nhà sàn hư nát; vì Ta ăn quá ít, nên con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu; vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nhiu khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nhíu khô cằn. Này Aggivessana, nếu Ta nghĩ: "Ta hãy rờ da bụng", thì chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: "Ta hãy rờ xương sống", thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Aggivessana, da bụng của Ta đến bám chặt xương sống. Này Aggivessana, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại tiện, hay đi tiểu tiện" thì Ta ngã quỵ, úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Aggivessana, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này Aggivessana, trong khi Ta xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít. Lại nữa, này Aggivessana, có người thấy vậy nói như sau: "Sa-môn Gotama có da đen." Một số người nói như sau: "Sa-môn Gotama, da không đen, Sa-môn Gotama có da màu xám." Một số người nói như sau: "Sa-môn Gotama da không đen, da không xám." Một số người nói như sau: "Sa-môn Gotama da không đen, da không xám, Sa-môn Gotama có da màu vàng sẫm." Cho đến mức độ như vậy, này Aggivessana, da của Ta vốn thanh tịnh, trong sáng bị hư hoại vì Ta ăn quá ít."
Không đạt giải thoát với cách tu khổ hạnh, ông từ bỏ phép tu này. Quả quyết rằng mình đã đi đến chỗ cùng cực của công phu tu khổ hạnh và khổ hạnh không dẫn đến giác ngộ, ông tìm phương pháp khác, và nhớ lại một kinh nghiệm thời thơ ấu, lúc đang ngồi dưới gốc cây mận:
Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Ta biết, trong khi phụ thân Ta, thuộc dòng Sakka (Thích-ca) đang cày và Ta đang ngồi dưới bóng mát cây diêm-phù-đề (pi. jambu), Ta li dục, li pháp bất thiện chứng và trú Thiền thứ nhất, một trạng thái hỉ lạc do li dục sinh, có tầm, có tứ." Khi an trú như vậy, Ta nghĩ: "Đạo lộ này có thể đưa đến giác ngộ chăng?" Và này Aggivessana, tiếp theo ý niệm ấy, ý thức này khởi lên nơi Ta: "Đây là đạo lộ đưa đến giác ngộ." Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: "Ta có sợ chăng lạc thụ này, một lạc thọ li dục, li pháp bất thiện?" Này Aggivessana, rồi Ta suy nghĩ: "Ta không sợ lạc thụ này, một lạc thọ li dục, li pháp bất thiện."
Sau đó Tất-đạt-đa ăn uống bình thường trở lại, đến Giác Thành, ngồi dưới gốc một cây Bồ-đề ở Bồ Ðề Ðạo Tràng và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của Khổ. Sau 49 ngày thiền định—mặc dù bị Ma vương quấy nhiễu bằng nhiều phương thức—Tất-đạt-đa đã đạt giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 35. Từ thời điểm đó, Tất-đạt-đa biết mình là Phật, là một bậc Giác ngộ, và biết rằng mình sẽ không còn tái sinh một lần nào nữa. Kinh nghiệm giác ngộ của Phật được ghi lại như sau trong kinh sách theo chính lời của Tất-đạt-đa như sau:
"... Sau khi hoàn lại sinh lực (sau khi tu khổ hạnh vô ích), ta chú tâm giải thoát khỏi những tư tưởng tham ái, bất thiện và đạt được sơ thiền, sau đó nhị thiền, tam thiền và tứ thiền (Tứ thiền), nhưng những cảm giác hỉ lạc này không để lại dấu vết gì trong tâm ta.
Khi tâm ta được an tịnh, thanh lọc, không bị dục vọng cấu uế, nhạy bén, chắc chắn, bất động, ta hướng nó về những ký ức và nhận thức về các kiếp trước. Ta nhớ lại nhiều tiền kiếp, một, hai, ba, bốn, năm,..., trăm ngàn kiếp trước, nhớ những chu kì của thế giới. 'Nơi đó ta đã sống, tên của ta đã như thế, gia đình của ta là như thế, nghề nghiệp của ta, giai cấp xã hội của ta... Ta đã chết như vầy...'. Sự hiểu biết (sa. vidyā, pi. vijjā) đầu tiên này ta đã đạt được trong canh đầu ...
Sau đó ta chú tâm đến sự sinh thành và hoại diệt của chúng sinh. Với con mắt của chư thiên, trong sáng, siêu việt mọi giới hạn nhân thế, ta thấy chúng sinh hình thành và tiêu hoại,...chúng sinh tái sinh theo nghiệp lực. Ta nhận ra rằng 'Chúng sinh tạo nghiệp bất thiện qua ba ải thân khẩu ý đều chìm đắm sau khi chết, tái sinh trong đoạ xứ, địa ngục. Các chúng sinh nào tạo thiện nghiệp bằng thân khẩu ý được tái sinh trong thiện đạo, sau khi chết được lên cõi thiên'... Sự hiểu biết thứ hai này ta đã đạt được trong canh hai .
Sau đó ta chú tâm nhận thức về sự tiêu diệt các lậu hoặc (漏, sa. āsrava, pi. āsava) và nhìn nhận như thật: 'Đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là phương pháp tiêu diệt khổ, đây là con đường tiêu diệt khổ', và khi ta nhận thức được điều này, tâm ta thoát khỏi dục vọng, ham muốn tồn tại, vô minh. Ta tự hiểu chân lý 'Tái sinh ta đã đoạn, cuộc sống tu tập của ta đã hoàn tất, ta đã hoàn thành những gì phải làm. Cuộc sống (khổ đau) này ta đã vượt qua'... Sự hiểu biết thứ ba này ta đã đạt được trong canh ba ...".
Ông lúc đó biết rằng kinh nghiệm giác ngộ của mình không thể dùng ngôn từ hay bất cứ một cách nào khác để truyền đạt cũng như ông thấy con người đã bị áp đảo bởi vô minh, tham lam và thù hận nên họ rất khó có thể nhận ra "con đường", vốn rất sâu sắc và khó nắm bắt nên ông tiếp tục yên lặng ngồi quán chiếu tâm chúng sinh dưới gốc cây Bồ-đề một thời gian. Cuối cùng, được sự thỉnh cầu, với lòng thương yêu chúng sinh, ông chấm dứt sự yên lặng và quyết định chuyển Pháp luân, dựa vào căn cơ của chúng sinh thuyết Pháp cứu độ. Từ đó ông có danh hiệu Thích-ca Mâu-ni — "Trí giả của dòng dõi Thích-ca".
=== Thành lập tăng đoàn và truyền giảng giáo lý ===
Sau khi giác ngộ, Tất-đạt-đa có ý định gặp 2 vị thầy cũ của mình là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta, nhưng cả 2 vị đều đã qua đời cách đây không lâu. Ông lại thấy năm người bạn đồng tu xưa kia của mình đang ở tại vườn Nai gần Benarès và truyền dạy giáo lý của mình cho họ. Tất cả năm vị sau đó đều trở thành A-la-hán. Sự kiện này diễn ra vào một ngày trăng rằm, đúng hai tháng sau khi Tất-đạt-đa thành đạo.
Ông bắt đầu giảng pháp bằng cách trình bày con đường dẫn đến kinh nghiệm giác ngộ và giải thoát. Trên cơ sở kinh nghiệm giác ngộ của mình, ông đã giảng Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Vô ngã, Vô thường, Luân hồi, Duyên khởi, quy luật Nhân quả (Nghiệp) và nhiều bài pháp khác mở rộng phù hợp với căn cơ của nhiều người. Tại vườn Lộc Uyển ở Sarnath gần Ba-la-nại (Benares hay còn gọi là Varanasi), ông bắt đầu những bài giảng đầu tiên, gọi là "Chuyển Pháp luân". Ông đi nhiều nơi, nhiều vùng miền ở lục địa Ấn Độ, giảng giải giáo pháp và điều này diễn ra liên tục từ năm này qua năm khác.
Ông hay lưu trú tại Vương-xá (zh. 王舍城, sa. rājagṛha), Xá-vệ (zh. 舍衛城, sa. sāvatthī) và Phệ-xá-li (zh. 吠舍釐, sa. vaiśālī), sống bằng khất thực, không nhà ở cố định. Thông qua những lời dạy của mình về phương pháp đem lại an lạc, hạnh phúc cho chúng sinh, Tất-đạt-đa đã dần dần gây dựng được một đội ngũ đệ tử lớn gồm 4 thành phần: tỳ-kheo (nam tu sĩ), tỳ-kheo-ni (nữ tu sĩ), ưu-bà-tắc (nam cư sĩ), ưu-bà-di (nữ cư sĩ). Trong hàng đệ tử tại gia của ông có những nhân vật quyền thế như vua Tần-bà-sa-la (zh. 頻婆娑羅, sa. bimbisāra) và vương hậu Vi-đề-hi (Vaideli) của xứ Ma-kiệt-đà, vua Ba-tư-nặc và vương hậu Mạt-lợi (Mallika) nước Kiều-tát-la. Chính Vua Tần-bà-sa-la đã dâng cung cho Tăng đoàn ngôi tu viện đầu tiên trong lịch sử Phật giáo, đó là Tịnh xá Trúc Lâm (Veluvana) tại kinh đô Vương-xá. Ngoài ra trưởng giả Cấp Cô Độc, một thương gia giàu có ở kinh thành Xá-vệ, cũng cúng dường cho giáo đoàn của Phật Thích-ca cũng được một ngôi tịnh xá trong khu vườn của Thái tử Kỳ-đà tại Xá-vệ, được kinh điển gọi là tịnh xá Kỳ Viên (Jetavana). Kinh Phật cho biết Cấp Cô Độc đã lót vàng khắp sân vườn để mua lại nó từ tay Thái tử Kỳ-đà, con trai quốc vương Ba-tư-nặc. Các đệ tử quan trọng của ông là A-nan-đà, Xá-lợi-phất, Mục-kiền-liên, Ma-ha-ca-diếp, A-na-luật và Phú-lâu-na. Cũng trong thời gian này, đoàn Tỉ-khâu-ni (sa. bhikṣuṇī) được thành lập do di mẫu của Tất-đạt-đa là bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề làm ni trưởng.
Cuộc đời ông cũng gặp nhiều người xấu muốn ám hại. Trong số đó, có Đề-bà-đạt-đa là người em họ, muốn giành quyền thống lĩnh Tăng-già, nên rắp tâm tìm cách giết hại ông nhiều lần nhưng không thành. Tuy thế Đề-bà-đạt-đa đã chia rẽ được một số thành viên khỏi Tăng-già ở Phệ-xá-li. Tất-đạt-đa đi con đường trung đạo và tùy thuận chúng sinh, ngược lại Đề-bà-đạt-đa chủ trương một cuộc sống khổ hạnh cực đoan.
=== Qua đời ===
Trong kinh điển Pali, Tất-đạt-đa sống thọ được 80 tuổi. Tuy trải qua suốt phần đời còn lại - 45 năm đi giảng dạy (có tài liệu nói là 49 năm), nhưng ông lại tuyên bố Như Lai chưa từng nói lời nào, bởi tất cả lời dạy của Như Lai vốn đã là chân lý từ muôn thuở, bất chấp sự tồn tại của chúng sinh hay Phật. Lời dạy cuối cùng của ông là: "Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, chịu biến hoại, hãy tinh tiến tu học (để đạt giải thoát)!". Theo kinh Đại bát-niết-bàn (pi. mahāparinibbāna-sutta), ông qua đời tại thành phố Câu-thi-na (zh. 拘尸那, sa. kuṣinagara) của bộ tộc Malla vào năm 486 (hay 483 trước Công nguyên). Trước đó sức khoẻ của ông đã trở nên rất yếu sau khi dùng bữa cúng dường tại nhà thí chủ Thuần-đà (zh. 純陀, pi. cunda), tuy nhiên sau đó ông có nhấn mạnh cho tôn giả A-nan-đà hiểu là Tăng chúng không nên khiển trách, người thợ rèn đó đã có thiện ý tối thượng.
Trước khi qua đời, Tất-đạt-đa tạo điều kiện cho các tỳ-kheo cơ hội cuối cùng để chất vấn hay hỏi đáp nếu như có những vấn đề hay những điểm nào còn chưa sáng tỏ có thể đưa đến các kiến giải khác nhau về sau, tuy nhiên các vị này đã im lặng.
Theo các Phật tử, ông đã nhập Niết-bàn thông qua các mức thiền định, một trạng thái giải thoát hoàn toàn khổ đau của cuộc sống. Theo truyền thuyết Pali thì ông mất vào ngày rằm tháng tư, còn văn bản Phạn ngữ chép ngày mất của ông là ngày rằm tháng 11. Trong buổi hoả thiêu xác của Tất-đạt-đa có nhiều hiện tượng lạ xảy ra.
Mặc dù cuộc đời Tất-đạt-đa có nhiều huyền thoại bao phủ nhưng các nhà khảo cổ học và nhân chủng học - vốn hay có nhiều hoài nghi và thành kiến - cũng đều nhất trí công nhận ông là một nhân vật lịch sử và là người đã thành lập ra Phật giáo.
=== Di tích ===
Sau khi qua đời, Xá lợi của Tất-đạt-đa Cồ-đàm được chia thành 8 phần. Nhiều thế kỷ sau đó, vua Ashoka (A-dục) đã đem đi cho xây cất và tôn thờ thành 84.000 tháp.
== Ngoại hình ==
Có nhiều miêu tả về ngoại hình của Tất-đạt-đa trong các kinh điển Phật giáo. Là một vị hoàng tử có đầy đủ 32 tướng tốt, ông đã được tập huấn, rèn luyện sức mạnh, được nuôi dạy rất chu đáo về cả văn lẫn võ. Từ năm 13 tuổi ông được truyền thụ võ nghệ và có sở trường bắn cung. Từ lúc trước khi ra đi tìm đạo, ông đã là người có cơ thể cường tráng, phi phàm hơn người.
Một người Bà la môn Sonadanda miêu tả ngoại hình ông là "đẹp trai, ưa nhìn, cùng với một làn da rất đẹp. Ông ta có vẻ ngoài thần thái và oai nghiêm..."
Ngài đẹp đẽ, xinh tươi, dễ nhìn, một hình sắc tốt đẹp nhất, hình thể và nét trang nghiêm của ngài như Brahma, ngoại hình của Ngài đẹp đẽ (Digha Nikaya, Kinh số 4).
Ngài đẹp đẽ, gây được niềm tin, với ý thức điềm tĩnh và tâm trí thanh tịnh, trầm tĩnh và tự chủ, như một con voi được thuần phục một cách hoàn hảo (Anguttara Nikaya, Kinh số 36).
Có những đệ tử của ông đang trong quá trình tu tập chưa trở thành A la hán, bị mê hoặc bởi vẻ ngoài của ông, nhưng đã được ông khuyên chấm dứt việc đó, và nhắc nhở rằng không nên nhìn ông bằng hình tướng bên ngoài, mà nên nhìn vào giáo pháp của ông truyền dạy thì mới thấy được một Như Lai chân thật. Trong kinh Kim cang có bài kệ: “Nhược dĩ sắc kiến ngã, dĩ âm thanh cầu ngã, thị nhân hành tà đạo, bất năng kiến Như Lai”, tức là nếu dùng sắc thấy Ta, dùng âm thanh cầu Ta, người đó hành đạo tà, không thể thấy Như Lai.
Không có một tác phẩm, văn bản nào miêu tả rõ ngoại hình Tất-đạt-đa Cồ-đàm dưới dạng con người cho đến khoảng thế kỷ thứ 1 TCN, sau thời gian đó thì mới bắt đầu có những mô tả về hình dáng được cho là của ông trong Kinh Lakkhaṇa Sutta. Ngoài ra, Yasodhara mô tả sơ lược hình dáng của Tất-đạt-đa Cồ-đàm sau khi ông lần đầu tiên trở lại cung điện của mình trong kinh điển Pali, Narasīha Gāthā.
Trong 32 tướng tốt, nhiều người nói rằng ông có đôi mắt xanh biếc.
== Nhận định ==
== Các danh xưng khác của Tất-đạt-đa Cồ-đàm (Thập hiệu) ==
Như Lai (zh. 如來, sa., pi. tathāgata), là "Người đã đến như thế" hoặc "Người đã đến từ cõi Chân như". Phật giáo Mật Tông còn gọi là "Tỳ Lô Giá Na", dịch ý nghĩa là "Đại Nhật Như Lai". Theo tiếng Phạn, "Tỳ Lô Giá Na" là tên gọi khác của Mặt Trời. Dùng danh hiệu "Tỳ Lô Giá Na" có nghĩa coi Tất-đạt-đa Cồ-đàm là Mặt Trời hồng không bao giờ tắt; tuệ giác của ông như Mặt Trời soi sáng khắp thế gian, xóa tan đêm tối vô minh.
Ứng Cúng (zh. 阿羅漢, sa. arhat, pi. arahant), dịch nghĩa là A La Hán (zh. 應供), là "Người đáng được cúng dường", đáng được tôn kính.
Chính Biến Tri (zh. 正遍知, sa. samyaksaṃbuddha), dịch theo âm là Tam-miệu-tam-phật-đà (zh. 三藐三佛陀), là "Người hiểu biết đúng tất cả các pháp".
Minh Hạnh Túc (zh. 明行足, sa. vidyācaraṇasaṃpanna), nghĩa là "Người có đủ trí huệ và đức hạnh", tức là có đầy đủ tam minh (Túc Mạng Minh, Thiên Nhãn Minh, Lậu Tận Minh) và ngũ hạnh (Thánh Hạnh, Phạm Hạnh, Thiên Hạnh, Anh Nhi Hạnh, Bệnh Hạnh).
Thiện Thệ (zh. 善逝, sa. sugata), là "Người đã đi một cách tốt đẹp"
Thế Gian Giải (zh. 世間解, sa. lokavid), là "Người đã thấu hiểu thế giới"
Vô Thượng sĩ (zh. 無上士, sa. anuttarapuruṣa), là "Đấng tối cao, không ai hơn"
Điều Ngự Trượng Phu (zh. 調御大丈夫, sa. puruṣadamyasārathi), nghĩa là "Người đã chế ngự được bản ngã và nhân loại". Điều Ngự Trượng Phu còn một nghĩa khác nữa là Tất-đạt-đa Cồ-đàm có khả năng điều phục những người hiền và ngự phục những kẻ ác theo về chính đạo.
Thiên Nhân Sư (zh. 天人師, sa. devamanuṣyānāṃ śāstṛ), là "Bậc thầy của cõi người và cõi trời"
Phật Thế Tôn (zh. 佛世尊, sa. buddhalokanātha, buddhalokajyeṣṭha, bhagavān), là "Bậc giác ngộ được thế gian tôn kính"
== Hình ảnh của Tất-đạt-đa Cồ-đàm trong các tôn giáo khác trên thế giới ==
Nhiều người theo Hindu giáo cho rằng Tất-đạt-đa Cồ-đàm là hóa thân thứ 9 của thần Vishnu. Tuy nhiên qua các lời dạy của ông thì tất cả đều đi ngược lại giáo điều tôn giáo của họ, điển hình là phủ nhận quyền năng của Vedas và phủ nhận sự tồn tại của Ngã, linh hồn trường tồn, bất biến (Atman) nên chi tiết này có lẽ là do họ thêm bớt.
Tất-đạt-đa Cồ-đàm được một giáo phái Hồi giáo Ahmadiyya coi như là một nhà tiên tri. Một số tín đồ Phật giáo Trung Quốc thời sơ khai từng nghĩ Tất-đạt-đa Cồ-đàm là hóa thân của Laozi (Lão Tử) trong Đạo giáo (Lão giáo).
Các tín đồ của Đạo Cao Đài tôn thờ ông như một bậc thầy tôn giáo lớn của họ. Hình ảnh của Tất-đạt-đa Cồ-đàm có thể được tìm thấy trong cả Tòa Thánh và trên bàn thờ ở nhà. Ông cũng được họ cho là có mối liên hệ với những người sáng lập tôn giáo lớn khác như Jesus, Lão Tử hoặc Khổng Tử.
Kể từ thời kỳ Nara ở Nhật Bản, thuyết "bản địa thùy tích" được khởi xướng với quan điểm rằng các vị thần của Nhật Bản thực tế là hóa thân của Phật, và người ta đã xác định "nguồn gốc Phật" của nhiều vị thần và tạo tác các tượng thần dưới hình dáng tăng lữ.
Câu chuyện của hai vị thánh - Barlaam và Josaphat trong Thiên Chúa giáo đã được "Công giáo hóa" từ chính câu chuyên thật của cuộc đời Tất-đạt-đa Cồ-đàm, được dịch ra từ tiếng Ấn sang tiếng Ba Tư rồi sang Tiếng Ả- rập để cuối cùng chuyển ngữ thành tiếng Hy Lạp.
Trong giáo phái Gnostic cổ của Manichaeism, Tất-đạt-đa Cồ-đàm được cho là một trong số những vị thầy giảng đạo của Đức Chúa Trời trước khi Mani xuất hiện.
== Tất-đạt-đa Cồ-đàm trong nghệ thuật và điện ảnh ==
=== Phim ===
Little Buddha, bộ phim của Bernado Bertolucci năm 1994
Prem Sanyas, bộ phim câm 1925, đạo diễn bởi Franz Ostenn và Himansu Rai
Con đường giác ngộ, bộ phim nhựa Việt Nam do Công Hậu làm đạo diễn. Phim được chùa Hoằng Pháp (huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh) và Công ty Nghiệp Thắng sản xuất vào năm 2013. Diễn viên Tuấn Phương diễn vai Đức Phật. Ngày 8 tháng 6 năm 2014, phim đạt Giải nhất trong Liên hoan phim Vesak, được tiến hành nhân dịp Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc Vesak lần thứ 11 ở Việt Nam với sự tham dự của 95 quốc gia.
=== Phim truyền hình ===
Buddha, phim truyền hình lịch sử của Ấn Độ năm 2013, do diễn viên Himanshu Soni đảm nhận vai Tất-đạt-đa Cồ-đàm.
=== Văn học ===
The Light of Asia, một bài thơ sử thi của Edwin Arnold năm 1879.
Buddha, một loạt truyện manga từ 1972-1983 của Osamu Tenzuka.
Tất Đạt Đa, bộ tiểu thuyết của Hermann Hesse, viết bằng tiếng Đức vào năm 1922.
Lord of Light, một cuốn tiểu thuyết của Roger Zelazny, nói về một con người trong tương lai xa ở Trái Đất, sẽ dùng Phật pháp để giảng dạy con người, chống đối lại các vị thần.
=== Âm nhạc ===
Karuna Nadee, một vở kịch diễn xướng của Dinesh Subasinghe năm 2010.
Ánh sáng Á Châu, một vở kịch diễn xướng của Dubley Buck năm 1886.
== Xem thêm ==
Nhiên Đăng Cổ Phật (Dipankara)
Phật Tỳ Bà Thi (hay Phật Bỳ Lư Thi, Vipasyin)
Phật Thi Khí (Sikhin)
Phật Tỳ Xá Phù (hay Phật Tỳ Xá Bà, Visvabhu)
Phật Câu Lưu Tôn (hay Phật Câu Lâu Tôn, Krakucchanda)
Phật Câu Na Hàm Mâu Ni (Kanakamuni)
Phật Ca Diếp (Kasyapa)
Phật Di Lặc (sa. maitreya, pi. metteyya)
Phật
Phật giáo
Lịch sử Phật giáo
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
ban chấp hành trung ương.txt | Ban Chấp hành Trung ương thông thường chỉ cơ quan trung ương của một Đảng cộng sản hay đảng theo chủ nghĩa Marx-Lenin (hoặc chủ nghĩa Trosky), cầm quyền hoặc không cầm quyền. Trong một Đảng cộng sản, thông thường Ban Chấp hành Trung ương bao gồm các đại biểu được bầu ra tại Đại hội Đảng Cộng sản. Và thông thường Ban Chấp hành Trung ương chịu trách nhiệm bầu ra Bộ Chính trị.
== Ban Chấp hành Trung ương tại các Đảng trên thế giới ==
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Cuba
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Triều Tiên
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
== Tham khảo == |
hoàng thành thăng long.txt |
=== Giai đoạn tỉnh thành Hà Nội thời Nguyễn ===
Thành Hà Nội do Gia Long xây dựng cũng làm theo thể thức các tỉnh thành khác và điều chủ yếu là không được to rộng hơn Phú Xuân. Thành vuông xây theo kiểu Vauban của Pháp. Thành hình vuông mỗi bề chừng một cây số xung quanh là hào nước sâu. Bốn bức tường thành tương ứng với bốn con phố hiện nay là: phố Phan Đình Phùng ở phía Bắc, phố Lý Nam Đế ở phía Đông, phố Trần Phú ở phía Nam, đường Hùng Vương ở phía Tây.
Tường thành xây bằng gạch hộp chân thành xây băng đá xanh và đá ong. Tường cao 1 trượng 1 thước, dày 4 trượng. Thành mở ra 5 cửa là: cửa Đông (tương ứng với phố cửa Đông bây giờ), cửa Tây (tương ứng với phố Bắc Sơn hiện nay), cửa Bắc (nay vẫn còn), cửa Tây Nam (tương ứng với đoạn giao phố Chu Văn An và Nguyễn Thái Học bây giờ), cửa Đông Nam (tương ứng với đoạn giao phố Điện Biên Phủ và Nguyễn Thái Học bây giờ). Đường vào cửa xây vòm xuyên qua tường thành dài 23 m. Trên mỗi cửa có lầu canh gọi là thú lâu.
Xung quanh tường thành là một dải đất rộng 6-7m rồi đến một con hào rộng 15–16 m, sâu 5 m thông với sông Tô Lịch và sông Hồng. Hào lúc nào cũng có nước nhưng thường chỉ cao khoảng 1 m.
Phía ngoài các cổng thành có xây một hàng tường đắp liền trên bờ hào gọi là Dương mã thành, dài 2 trượng 9 thước, cao 7 thước 5 tấc. Các Dương mã thành đều cố một cửa bên gọi là Nhân Môn. Từ ngoài thành đi vào đều phải đi qua Nhân Môn rồi mới đến cổng thành. Phía trong thành được bố trí như sau:
Ở trung tâm thành là điện Kính Thiên được xây dựng từ thời Lê trên núi Nùng. Điện dựng trên những cột gỗ lim lớn người ôm không xuể. Thềm điện có hai đôi rồng đá rất đẹp cũng từ thời Lê. Sau điện này bị người Pháp phá hủy và xây trên nền cũ tòa nhà Con Rồng để làm trụ sở pháo binh Pháp. Sau năm 1954 nhà con Rồng lại trở thành trụ sở của Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam. Đây cũng chính là nơi diễn ra cuộc họp Bộ Chính trị mở rộng ngày 21 tháng 3 năm 1975 hạ quyết tâm giải phóng miền Nam trong hai năm 75-76.
Phía đông thành là nhiệm sở của Tổng trấn Bắc thành Nguyễn Văn Thành đầu triều Nguyễn.
Phía tây là kho thóc, kho tiền, và dinh bố chính là viên quan phụ trách những kho ấy.
Năm 1812 dựng Cột cờ Hà Nội ở phía nam thành
Năm 1835, vì cho răng thành Hà Nội cao hơn kinh thành Huế, Minh Mạng cho xén bớt 1 thước 8 tấc, thành Hà Nội chỉ còn cao chừng 5 m
Năm 1848, vua Tự Đức cho tháo dỡ hết những cung điện còn lại ở Hà Nội chuyển vào Huế.↵
== Các di tích ==
Phạm vi di sản thế giới được công nhận là 20 ha (trên tổng số 140 ha của Hoàng thành) gồm khu khảo cổ ở số 18 đường Hoàng Diệu và khu vực được giới hạn bởi 4 tuyến đường Điện Biên Phủ, Nguyễn Tri Phương, Phan Đình Phùng và Hoàng Diệu. Các di tích tiêu biểu của khu di tích:
=== Khu khảo cổ 18 Hoàng Diệu ===
Di tích này bao gồm tầng dưới cùng là một phần bên phía đông của thành Đại La dưới thời Cao Biền, nhà Đường, tầng trên là cung điện nhà Lý và nhà Trần, tiếp theo là một phần trung tâm của đông cung nhà Lê và trên cùng là một phần của trung tâm tòa thành tỉnh Hà Nội thế kỷ 19.
Bề mặt Lý-Trần ở tầng hai có rất nhiều hiện vật được phát hiện, như những nền cung điện, có kích thước một chiều hơn 60 mét, chiều kia 27 mét. Có 40 chân cột, rồi cả giếng cổ, gạch, phù điêu. Có tượng rồng, phượng mà được các nhà nghiên cứu mỹ thuật khẳng định là mô típ hoa văn thời Lý. Rồi đến những tầng lớp bên trên, thời Lê, Nguyễn đều tìm được nhiều hiện vật. Tổng cộng là ba triệu hiện vật. Khi tiến hành khai quật ở hố B16 thuộc địa điểm dự kiến xây dựng toà nhà Quốc hội mới, Viện khảo cổ học đã phát hiện một toà lâu đài 3 tầng lầu, 4 mái, dạng hình tháp toạ lạc trên một diện tích xấp xỉ 1000 m2 thuộc hệ thống các cung điện Thăng Long xưa. Theo đánh giá thì đây là công trình đầu tiên, có tầm cỡ và giá trị nhất được tìm thấy từ trước đến nay. Việc phát hiện ra lâu đài này được coi là bằng chứng rõ ràng nhất về sự hoành tráng của kinh thành Thăng Long từ thời Lý-Trần. Mặc dù trước đây các nhà khảo cổ đã đoán định được di chỉ này nằm trong khu vực hoàng thành, thậm chí là cấm thành Thăng Long suốt từ thời Lý, Trần đến Lê nhưng do tiến hành khai quật quá nhanh khiến cho nhiều tầng lớp kiến trúc không thể hiện rõ.
Giai đoạn đầu, tại các hố A1, A1MR, A2, A2MR, A3, A4, A9, A10, A11, A12, A13 trong các lớp đất ở độ sâu trung bình trên dưới – 1,50 m so với "cốt" cao độ của mặt bậc thềm đá Đoan Môn, xuất lộ những ô sỏi trộn lẫn đất sét. Sỏi ở đây khá thống nhất về kích thước, chỉ khoảng bằng hoặc to hơn đầu ngón chân cái, chứng tỏ đã được chọn lọc. Hiện vật thu được trong các lớp đất này được xác định có niên đại thời Lý. Các ô sỏi này thường có hình gần vuông, mỗi cạnh khoảng 1,30 m và ăn sâu xuống các lớp dưới, dày trên dưới 1,00 m. Điều này chứng tỏ đây là các hố đào có chủ đích để đầm - nhồi sỏi cuộn với đất sét. Đáy của các hố sỏi này nằm trong lớp đất chứa các hiện vật được xác định có niên đại Đinh - Tiền Lê.
Các ô sỏi nói trên xuất hiện trong các hố từ A1 đến A18. Tổng cộng có tất cả 40 ô sỏi, xếp thành 04 hàng dọc (hai hàng phía đông có 10 ô trong một hàng, hai hàng phía tây mỗi hàng chỉ có 09 ô). Có lẽ đây chính lá các hố sỏi gia cố dưới các chân tảng đá kê dưới chân các cột. Nói chính xác, theo ngôn ngữ kiến trúc – xây dựng, đó là các móng trụ. Kết quả đo đạc đã giúp khẳng định đây là phế tích của một kiến trúc có bộ khung chịu lực bằng gỗ có 04 hàng chân cột. Khoảng cách giữa các cột Quân với các cột Cái là khoảng 3,00 m. Khoảng cách giữa các cột Cái là khoảng 6,00 m. Từ Bắc xuống Nam đã xác định được 10 vì, nghĩa là ít nhất kiến trúc này có 09 gian. Tuy nhiên, chưa thể khẳng định về số gian bởi dấu vết của kiến trúc này còn phát triển kéo dài về phía Bắc, ngoài khu vực khai quật. Bước gian của kiến trúc này rất lớn, khoảng 5,80 m – 6,00 m. Trên thực tế, bước gian của các di tích kiến trúc bằng gỗ cổ truyền hiện còn đứng vững trên mặt đất thường nhỏ hơn.
Chưa lý giải được nguyên nhân của sự chênh lệch về số lượng các móng trụ của các hàng móng trụ phía Tây nhưng ở đây chắc chắn đã có 04 móng trụ sỏi gia cố cho 01 chân tảng cột Cái và 03 chân tảng cột Quân. Khoảng cách giữa hai hàng móng trụ sỏi cuối cùng chỉ là 4,1 m chứng tỏ đây chính là không gian của chái phía Nam. Cách tim của các móng trụ gia cố chân tảng cột Quân phía Đông khoảng 4,5 m và chạy dài suốt chiều rộng của "toà nhà nhiều gian" nói trên còn thấy xuất lộ một cống thoát nước được xây-xếp bằng gạch (hoàn toàn không thấy dấu vết của chất kết dính dạng vôi vữa), lòng cống rộng 0,17 m – sâu 0,20 m. Ngoài lớp gạch đặt nằm làm đáy, hai bên thành của rãnh thoát nước này được xếp nghiêng hai lớp gạch. Kích thước trung bình của gạch ở đây là 0,36 m x 0,20 m x 0,05 m). Về phía Đông, sát cạnh cống thoát nước này là một thềm gạch rộng 0,76 m chạy dọc suốt chiều dài đường cống. Gạch lát thềm là gạch vuông 0, 38m x 0,38 m x 0,07m. Có chỗ còn lát lẫn cả gạch in hoa.
Cách tim của các móng trụ gia cố chân tảng cột Quân phía tây khoảng 2, 5m cũng xuất lộ một cống thoát nước khác. Dấu vết của cống phía tây bị đứt quãng ở góc Tây Nam "toà nhà nhiều gian", khu vực bị mất 04 móng trụ gia cố chân tảng. Gạch xây-xếp cống thoát nước này là loại chuyên dụng, được sản xuất chỉ để dùng làm cống-rãnh. Các viên dùng lát đáy có mặt cắt hình thang cân. Những viên dựng hai bên thành có hình bình hành. Với hình dáng đặc biệt như vậy nên chỉ cần đào rãnh, đặt các viên gạch chuyên dụng này xuống là thành cống. Cách tim của các hố sỏi gia cố chân tảng cột Quân phía nam khoảng 4,5 m lại cũng xuất lộ một đoạn cống xây xếp bằng gạch chuyên dụng tương tự. Các đoạn cống xây xếp bằng gạch chuyên dụng phía tây và phía nam "toà nhà nhiều gian" nếu còn nguyên vẹn sẽ "bắt" vuông góc chái Tây Nam. Các đường cống này chính là các rãnh thoát nước mưa của "toà nhà nhiều gian". Các cống này đều không có nắp để có thể hứng nước mưa rơi thẳng xuống từ hàng ngói lợp cuối cùng của mái. Nghĩa là các rãnh thoát nước mưa này chính là giới hạn của mặt bằng mái. Nói cách khác, số đo giữa các rãnh thoát nước này cho biết về chiều rộng và chiều dài của công trình kiến trúc. Khoảng cách từ tim rãnh thoát nước phía Tây đến tim rãnh thoát nước phía Đông là 17,65 m. Đó chính là kích thước chiều rộng của "toà nhà nhiều gian" này. Chiều dài của kiến trúc này hiện chưa khẳng định được. Nhưng nếu giả định "toà nhà nhiều gian" có 09 gian thì kích thước này sẽ là khoảng 67 m. Theo số đo, phế tích này cho thấy một công trình kiến trúc to lớn theo đúng nghĩa đen. Tuy nhiên chưa thể xác định công năng của kiến trúc này. Chỉ biết rằng "toà nhà nhiều gian" này chạy dài theo trục Bắc – Nam, mở cửa ra cả hai hướng Đông và Tây.
Về phía Tây của toà nhà nhiều gian, cách tim các móng trụ sỏi gia cố hàng chân tảng cột Quân phía tây 4, 90m, đã tìm thấy những móng trụ gia cố chân tảng khác. Vật liệu gia cố có phần đa dạng hơn, ngoài sỏi (tương tự như sỏi ở các hố đã nêu trên) còn có cả ngói vỡ vụn, được nhồi đầm theo chu kỳ 1 lớp sỏi lại 1 lớp ngói vụn. Hình dạng của các hố đào cũng khác, có hố tròn (đường kính từ 1,10 m đến 1,30 m), có hố vuông (1,20 m x 1,20 m). Bố cục của các móng trụ chân tảng này khá đặc biệt: 06 trụ móng tròn quây quanh một số trụ móng ở chính giữa. Khoảng cách trung bình giữa tim của các móng trụ tròn là khoảng 1,30 m. Tim móng trụ vuông trùng với tâm của đường tròn ngoại tiếp hình lục giác, cách tim các móng trụ tròn một khoảng 1,30 m.
Các cụm móng trụ gia cố chân tảng này trải dài suốt mặt phía tây của toà nhà nhiều gian. Khoảng cách giữa các cụm (đếm được tất cả 11 cụm), không thật đều, xê xích từ 8 m đến 12 m. Theo các nhà khảo cổ, một cụm móng trụ gia cố chân tảng như vậy là phế tích của một kiểu lầu lục giác nhỏ, được dựng nhằm phục vụ nhu cầu thưởng ngoạn. Theo GS. Trần Quốc Vượng, Việt Sử lược có ghi nhận về loại hình kiến trúc này, gọi là các Trà đình. Trong các hố A19, A20, A20MR và A21 cũng xuất lộ nhiều móng trụ sỏi.
Ngay gần chái phía Nam của toà nhà nhiều gian thuộc phạm vi hố A19 có một số móng chân tảng nhưng kết quả đo đạc không xác định được thật rõ ràng về kiến trúc từng tồn tại ở đây. Phía Bắc hố A20 xuất lộ hai hàng móng trụ sỏi gia cố, mỗi hàng 05 móng trụ, khoảng cách giữa tim hai hàng là 3,40 m. Hiện trạng và số đo cho phép giả định đây là một kiến trúc có hướng chạy dài theo trục Đông - Tây (vuông góc với toà nhà nhiều gian). Số đo bước gian đo được của kiến trúc này theo chiều từ Đông sang Tây là: 3,30m - 5,45m - 5,30m. Các khoảng cách khác chưa khẳng định được vì một số móng trụ sỏi đã bị mất và vì kiến trúc này còn tiếp tục kéo dài về phía Đông, ra ngoài khu vực khai quật. Các nhà khảo cổ cho rằng đây có lẽ là phế tích của một toà nhà có 3 gian hai chái. Ở phía Nam hố A20 đã xuất lộ một cụm phế tích rõ ràng hơn.
Khác với các phế tích vừa mô tả, cụm phế tích này còn cả chân tảng đá đặt nguyên vị trí (in situ) trên hố gia cố. Thực tế này đã khẳng định chính xác về công năng của các hố sỏi. Hố gia cố chân tảng ở đây hình vuông (1,30 m x 1,30 m). Vật liệu gia cố hỗn hợp cả sỏi nhỏ, gạch, đá vụn. Tất cả còn 09 chân tảng, xếp hàng 04 hàng. Theo trục Đông - Tây, các chân tảng cách đều nhau một khoảng 5,75 m.
Các chân tảng đều được làm bằng sa thạch (grès) màu xám. Mặt chân tảng chạm cánh sen mang phong cách nghệ thuật Lý. Đường kính trong của vành hoa sen này là 0,49 m. Trên mặt nhiều chân tảng còn rất rõ dấu vết cho biết cột gỗ dựng trên đó có đường kính 0,43m. Tuy nhiên ở vị trí sẽ đặt xà ngưỡng, mặt tảng để trơn, không chạm cánh sen. Nối dài hai bên (đông, tây) một số chân tảng cũng còn giữ nguyên một số viên gạch (0,38m x 0,15 m x 0,11 m) của hàng gạch đỡ dưới xà ngưỡng. Với dấu vết của các xà ngưỡng này cho thấy có lẽ đây là hai kiến trúc dạng hành lang, chạy dài theo Đông - Tây. Đặc biệt, cụm phế tích này còn giữ nguyên vẹn một số đoạn thềm hiên lát gạch ở phía ngoài xà ngưỡng, rộng trên dưới 1, 00m tính từ tim chân tảng. Thềm gạch này được xây xếp bởi 8 hàng gạch (0,39 m x 0,20m x 0,05 m) cao hơn mặt sân 0,36 m. Sân gạch chạy giữa hai hành lang này được lát gạch vuông (0,38 m x 0,38m x 0,06 m). Theo các nhận định ban đầu cho rằng các phế tích kiến trúc ở phía Bắc khu A là của một tổ hợp kiến trúc có liên quan mật thiết với nhau, bao gồm: một tòa nhà nhiều gian có chiều rộng 17,65 m, chạy dài ít nhất 09 gian (khoảng 67 m) và một dãy các lầu lục giác. Điều đáng quan tâm là sự liên hệ, tiếp nối giữa các kiến trúc này. Hiện trường còn rất rõ một số mảng nền lát gạch vuông (0,38 m x 0,38m x 0,08 m), nối liền từ mép rãnh thoát nước phía Tây tòa nhà nhiều gian với các lầu lục giác.
Chiều rộng của nền gạch này đo được 2,60 m. Nhiều viên gạch vuông của nền gạch nói trên đã được cắt chéo để lát sát vào hàng gạch chữ nhật (0, 39 m x 0,18 m x 0,06 m) xây nghiêng bao quanh mặt nền của lầu lục giác.
Căn cứ vào dấu vết của nền lát gạch vuông này, các nhà khảo cổ nhận định khả năng tòa nhà nhiều gian và các lầu lục giác có cùng một niên đại khởi dựng.
Về niên đại: Để định niên đại cho các dấu tích kiến trúc đã xác định ở khu A, các nhà khảo cổ dùng phương án đối chiếu và so sánh tổng hợp, kết hợp với việc phân tích địa tầng. Trước hết các nhà khảo cổ tập trung vào các trụ móng sỏi có chuẩn niên đại tương đối. Như đã trình bày, ở khu A20 còn có 8 trụ móng sỏi còn nguyên chân tảng đá xếp tại chỗ. Các chân tảng đều bằng đá cát, các cánh sen thon thả, trau chuốt, đẹp tương tự như chân tảng đá hoa sen thời Lý ở tháp Tường Long (Hải Phòng) năm 1057, tháp Chương Sơn (Nam Định)... Chiều rộng của nền gạch này đo được 2, 60m. Nhiều viên gạch vuông của nền gạch nói trên đã được cắt chéo để lát sát vào hàng gạch chữ nhật (0,39 m x 0,18 m x 0,06 m) xây nghiêng bao quanh mặt nền của lầu lục giác.
Đồng thời tại khu vực hố A20 có khá nhiều các di vật lá đề và gốm sứ thời Lý. Các loại gạch có thềm hiên nhà đều còn nguyên vẹn và dáng hình, sắc màu đều giống hệt như các viên gạch xây các tháp Lý vừa dẫn. Từ các tư liệu trên đây chúng tôi tin rằng đây là dấu tích kiến trúc của thời Lý. Niên đại này được củng cố khi so sánh mặt bằng của hai kiến trúc này là tương đương với địa tầng chuẩn Lý - Trần ở Đoan Môn đều ở độ sâu khoảng 2 m. Khi đó có các móng trụ có niên đại tương đối ta có thể so sánh tìm hiểu niên đại của các móng trụ khác. Ta sẽ thấy, móng trụ sỏi ở kiến trúc nhiều gian, ở lầu lục giác giống hệt về kỹ thuật, vật liệu, kích thước với các trụ móng sỏi Lý ở khu A20 .
Về địa tầng các trụ móng đó cùng độ sâu 1,80 m - 2,20 m với các kiến trúc ở A20, tức là đều nằm trong khoảng niên đại khoảng thời Lý. Hơn nữa xét về mặt kỹ thuật xây dựng, các móng trụ ở đây cũng đều thuộc kỹ thuật của thời Lý và thời Trần. Trong thời Lý, kỹ thuật gia cố sỏi đặc biệt thấy rõ ở chùa Lạng (Hưng Yên), tháp Chương Sơn (Nam Định), tháp Phổ Minh (Nam Định).
Các trụ móng sỏi ở thời Lý thường được gia cố rất chặt chẽ. Điều này khác với các trụ móng sỏi thời muộn hơn (có thể là thời Lê), có gia cố sỏi nhưng sơ sài hơn rất nhiều và ở độ sâu cao hơn. Nói cách khác các trụ móng sỏi Lê nằm ở mặt bằng cao hơn mặt bằng Lý - Trần. Hơn nữa, như đã nói trên, phủ trên mặt bằng của khu vực của các trụ móng thời Lý là một lớp di vật có niên đại Lý nên có thế tin rằng hầu hết các trụ móng ở đây đều thuộc thời Lý. Điều này còn được khẳng định thêm khi phát hiện một hồ nước cổ hình chữ nhật phía Nam khu kiến trúc nhiều gian bị lấp đầy vật liệu Lý, Trần. Điều này chứng tỏ hồ nước này đã bị lấp trong thời Trần. Hồ nước này đả phá vào móng kiến trúc lầu lục giác và một phần móng trụ của 'kiến trúc nhiều gian. Các nhà khảo cổ cho rằng hồ này được đào vào đầu thời Trần và bỏ đi vào khoảng cuối thời Trần. Do đó ta cũng thấy các trụ móng sỏi đã xuất lộ ở cùng mặt bằng đều thuộc thời Lý.
Kiến trúc cổ truyền Việt là các công trình có hệ chịu lực bằng khung gỗ, với cấu kiện cơ bản là hệ thống cột. Vì vậy, người Việt chỉ chú trọng gia cố nền mà không cần đến móng. Sức nặng của công trình được phân tán qua hệ cột nên chân các cột đá được gia cố bằng các chân tảng đá có kích thước lớn gấp nhiều lần đường kính cột. Hiện trạng khảo cổ học (tầng văn hoá, hiện vật) và kết quả khảo sát địa chất khu vực này cho phép khẳng định có một dòng chảy cổ (theo hướng Bắc - Nam) ở phía Tây các phế tích nói trên. Nền đất tự nhiên chịu tải kém nên các công trình kiến trúc ở đây đều có hệ thống hố gia cố chân tảng. Đây là một thành tựu, một tiến bộ kỹ thuật của người Việt trong xây dựng. Với khảo cổ học kiến trúc (hay khảo cổ học đô thị), các phế tích nói trên còn cung cấp những hiểu biết mới, có tính chất lý thuyết về việc gia cố chân tảng, về cách thức xác định kích thước - quy mô của một kiến trúc qua các dấu vết của phế tích. Kỹ thuật này đã được thấy ở cố đô Hoa Lư thời Đinh - Tiền Lê. Ở kỹ thuật xây trụ móng được thực hiện bằng các móng bè bằng gỗ lim cao 5 lớp kết hợp với lớp móng trụ đá ở bên trên. Đến thời Lý và thời Trần, kỹ thuật này bây giờ xử lý hoàn toàn bằng sỏi và gạch vụn, sành vụn. Móng trụ bằng sỏi thời Lý và thời Trần có quy mô và chắc chắn nhất trong lịch sử kiến trúc Việt Nam.
Các phế tích kiến trúc ở khu A còn cần được nghiên cứu kỹ hơn. Kiến giải của các nhà khảo cổ về một số phế tích chỉ là những nhận định ban đầu. Tuy chưa thể khẳng định về quy mô và công năng của tất cả các công trình nhưng rõ ràng các phế tích này cho thấy một quần thể kiến trúc toà ngang dãy dọc khá phong phú. Dung mạo của một bộ phận Hoàng Thành Thăng Long xưa đã hiển hiện qua dấu vết vật chất chứ không chỉ là hình ảnh của sách vở, chữ nghĩa. Cùng những phát hiện quan trọng về các dấu tích kiến trúc, một số lượng lớn đồ gốm sứ là những vật dụng dùng hàng ngày trong Hoàng cung qua nhiều thời kỳ cũng được tìm thấy. Những khám phá này đã thực sự mở ra một cánh cửa mới cho việc nghiên cứu về gốm Thăng Long và gốm dùng trong Hoàng cung Thăng Long qua các Triều đại. Năm 1848, vua Tự Đức cho tháo dỡ hết những cung điện còn lại ở Hà Nội chuyển vào Huế.
=== Cột cờ Hà Nội ===
Cột cờ Hà Nội là di tích được xây dựng năm 1812 dưới triều Gia Long cùng lúc xây thành Hà Nội theo kiểu Vô-băng (Vauban). Cột cờ cao 60 m, gồm có chân đế, thân cột và vọng canh. Chân đế hình vuông chiếm một diện tích là 2007 m² và gồm 3 cấp thóp dần lên. Mỗi cấp đều có tường hoa với hoa văn bao quanh. Từ mặt đất lên tới chân cấp thứ 2 phải leo 18 bậc tại mặt phía Đông và mặt phía Tây. Muốn từ cấp 2 lên cấp 3 cũng phải leo 18 bậc ở hai cửa hướng Đông và Tây. Còn cấp thứ 3 có 4 cửa Đông, Tây, Nam, Bắc (với các tên "Nghênh húc" (Đón ánh nắng ban mai), "Hồi quang" (ánh nắng phản chiếu), "Hướng Minh" (hướng về ánh sáng)…) và từ cạnh dưới lên tới cạnh trên phải qua tới 14 bậc cầu thang.
=== Đoan Môn ===
Đoan Môn là cửa vòm cuốn dẫn vào điện Kính Thiên. Đoan Môn gồm năm cổng xây bằng đá, phía ngoài là cửa Tam Môn khoảng 1812 - 1814, triều Nguyễn Gia Long phá, xây Cột Cờ (nay vẫn còn sừng sững). Năm 2002, giới khảo cổ học Việt Nam được phép đào phía trong Đoan Môn đã tìm thấy "lối xưa xe ngựa" thuộc thời Trần, dùng lại nhiều gạch Lý. Nếu khai quật tiếp, sẽ có thể thấy cả con đường từ Đoan Môn đến điện Kính Thiên ở phía Bắc và cửa Tây Nam thành Hà Nội.
=== Điện Kính Thiên ===
Điện Kính Thiên là di tích trung tâm, là hạt nhân chính trong tổng thể các địa danh lịch sử của thành cổ Hà Nội. Điện Kính Thiên chiếm vị trí trung tâm của khu di tích. Trước điện Kính Thiên là Đoan Môn rồi tới Cột Cờ Hà Nội, phía sau có Hậu Lâu, Cửa Bắc, hai phía đông và tây có tường bao và mở cửa nhỏ. Dấu tích điện Kính Thiên hiện nay chỉ còn là khu nền cũ. Phía nam nền điện còn có hàng lan can cao hơn một mét. Mặt trước, hướng chính nam của điện Kính Thiên xây hệ thống bậc lên bằng những phiến đá hộp lớn. Thềm điện gồm 10 bậc, 4 rồng đá chia thành 3 lối lên đều nhau tạo thành thềm rồng. Bốn con rồng đá được tạo tác vào thế kỷ 15 thời nhà Lê. Điêu khắc rồng đá điện Kính Thiên là một di sản kiến trúc nghệ thuật tuyệt tác, tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc thời Lê sơ. Được chạm trổ bằng đá xanh, rồng đá có đầu nhô cao, đầu to, mắt tròn lồi, sừng dài có nhánh, bờm lượn ra sau, miệng hé mở, ngậm hạt ngọc. Thân rồng uốn lượn mềm mại thành nhiều vòng cung, nhỏ dần về phía nền điện ở trên. Trên lưng rồng có đường vây dài nhấp nhô như vân mây, tia lửa. Hai thành bậc ở hai bên thềm điện là hai khối đá chạy dài, chính là hai con rồng được cách điệu hoá. Nền điện Kính Thiên và đôi rồng chầu đã phần nào phản ánh được quy mô hoành tráng của điện Kính Thiên xưa.
Năm Ất hợi 1879 khi Trương Vĩnh Ký ra Hà Nội ông có vào điện Kính Thiên xem qua và kể lại trong Chuyến đi Bắc Kỳ năm Ất hợi. Dù trong thời buổi suy tàn đó khi quân Pháp đã đánh chiếm thủ phủ Bắc Kỳ những cột gỗ lim theo bản tường trình tả có tầm vóc rất lớn, chu vi bằng một người ôm. Những điện đài phía sau điện Kính Thiên lúc đó đã hư hại nhiều nhưng vẫn để lại ấn tượng cho người khách Nam Kỳ.
=== Nhà D67 ===
Từ Tổng hành dinh - Nhà D67 Khu A Bộ quốc phòng, Bộ Chính trị và Quân uỷ Trung ương đã đưa ra những quyết định lịch sử đánh dấu những mốc son của cách mạng Việt Nam. Đó là: Tổng tiến công Tết Mậu Thân 1968 Cuộc Tổng tiến công năm 1972 Đánh thắng hai cuộc chiến của Mỹ mà đỉnh cao là 12 ngày đêm cuối năm 1972. Tổng tiến công năm 1975, đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh.
Khu hầm lớn nhất nằm dưới khoảng sân nối giữa điện Kính Thiên và nhà D67 dành cho Bộ Chính trị và Quân ủy trung ương gọi là hầm D67. Hai đường dẫn xuống hầm bắt nguồn từ hai phòng làm việc của tướng Giáp và tướng Dũng trong nhà D67, đường hầm rộng 1, 2m, có 45 bậc thang bêtông, trát đá granite. Đi sâu xuống 10m là hệ thống văn phòng của tổng hành dinh ngầm gồm bốn phòng rộng 50m2, chung một hành lang bên phải. Phòng họp hình chữ nhật toàn khối, nền lát gạch, có một cửa ra vào. Các phòng bên dành cho ban thư ký và phòng để máy móc, điện đài. Cuối cùng là phòng chứa hệ thống thông hơi, lọc khí đồ sộ chạy điện được chế tạo tại Liên Xô. Các lối lên xuống của hai đường hầm và cửa ra vào có tới sáu cửa thép sơn xanh dày 12 cm, có nhiều tay nắm và hệ thống gioăng cao su có thể ngăn nước và khí độc.
Toàn bộ hệ thống hầm ngầm đều liên hoàn đường điện máy phát. Hệ thống thông tin, liên lạc, hậu cần, lương thực… đều đầy đủ. Đầu ra của hai cửa hầm này dẫn lên phòng làm việc của hai đại tướng tại nhà con rồng. Ngoài hệ thống hầm ngầm này, khu A thành cổ còn nhiều hệ thống hầm ngầm khác. Riêng những bộ phận đã được bàn giao cho ban quản lý thành cổ là bốn khu hầm. Ngoài hầm của Bộ Chính trị vừa nói còn có hầm trước cửa nhà "con rồng" (dưới nền điện Kính Thiên), hầm gần khu làm việc của Cục Tác chiến và hầm của Ban cơ yếu có quy mô nhỏ hẹp, đơn giản hơn nhưng cũng chống được bom và tên lửa hạng nặng.
Thượng tướng Lê Ngọc Hiền cho biết: những năm 1965- 1966 Mỹ bắn phá miền Bắc, Bộ Tổng tham mưu lập kế hoạch bảo đảm an toàn cho cơ quan đầu não tại thành cổ với ba mức: báo động, xuống hầm và di tản. Hệ thống hầm ngầm sẽ được sử dụng ở mức báo động 2. Ông kể: "Nhiệm vụ thiết kế, xây dựng nhà, hầm được giao cho Bộ tư lệnh Công binh. Một số bộ phận như máy thông hơi, lọc khí, cửa sắt, điện đài… được nhập khẩu từ Liên Xô. Khoảng 300 cán bộ từ nhiều trung đoàn chuyên môn được huy động đào, xây hầm."
Hằng đêm, vào giờ giới nghiêm, thắp điện làm việc trong sự canh phòng cẩn mật. Hệ thống nhà, hầm được xây dựng sáu tháng thì hoàn tất. Bộ Chính trị, Quân ủy trung ương dời địa điểm làm việc từ nhà "con rồng" xuống nhà D67. Thời kỳ Mỹ ném bom thỉnh thoảng Bộ Chính trị mới phải làm việc dưới hầm ngầm.
Tại hầm ngầm dành riêng cho Cục Tác chiến trong thành cổ Hà Nội hôm nay vẫn còn rất nhiều máy điện thoại thời chiến.
=== Hậu Lâu ===
Lầu Tĩnh Bắc (Tĩnh Bắc lâu) là một toà lầu xây phía sau cụm kiến trúc điện Kính Thiên là hành cung của thành cổ Hà Nội. Tuy ở sau hành cung nhưng lại là phía bắc, xây với ý đồ phong thuỷ giữ yên bình phía bắc hành cung, nên mới có tên là Tĩnh Bắc lâu và còn có tên là Hậu lâu (lầu phía sau), hoặc là lầu Công chúa do cho rằng đây là nơi nghỉ ngơi của các cung nữ trong đoàn hộ tống vua Nguyễn ra ngự giá Bắc thành.
=== Cửa Bắc ===
Tên Hán Việt là Chính Bắc Môn (正北門), là một trong năm cổng của thành Hà Nội thời Nguyễn. Khi Pháp phá thành Hà Nội họ giữ lại cửa Bắc vì nơi đây còn hai vết đại bác do pháo thuyền Pháp bắn từ sông Hồng năm 1882 khi Pháp hạ thành Hà Nội lần thứ hai. Ngày nay trên cổng thành là nơi thờ hai vị tổng đốc Hà Nội là Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu.
== Xem thêm ==
Khu phố cổ Hà Nội
Cung điện Phiên Ngung
Cố đô Hoa Lư
Cố đô Huế
Tử Cấm Thành
== Tham khảo ==
=== Ghi chú ===
=== Đọc thêm ===
Thạch Lam (2004). Hà Nội 36 phố phường. TP. HCM: Nhà xuất bản Văn Nghệ TP. HCM. ISBN 0039846 .
Ngô Sĩ Liên (1989). Đại Việt sử ký toàn thư. Hà Nội: Nhà xuất bản. Văn học. ISBN 0032891 .
Tô Hoài (2002). Chuyện cũ Hà Nội. Hà Nội: Nhà xuất bản. Hội nhà văn. ISBN 0013821 .
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của Hoàng thành Thăng Long
Hoàng thành Thăng Long - Giá trị văn hóa lịch sử Việt Nam (tiếng Việt)
Thông tin về Hoàng thành Thăng Long trên trang web của UNESCO (tiếng Anh) |
1960.txt | 1960 (MCMLX) là một năm bắt đầu bằng ngày thứ sáu. Năm 1960 được biết đến với cái tên "Năm châu Phi".
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1, Cameroon tuyên bố độc lập từ Pháp.
17 tháng 1: Xảy ra sự kiện đồng khởi tại 3 xã Định Thủy, Phước Hiệp, Bình Khánh thuộc huyện Mỏ Cày (Bến Tre)
=== Tháng 2 ===
23 tháng 2: Naruhito, Hoàng thái tử Nhật Bản ra đời.
=== Tháng 3 ===
6 tháng 3: Mỹ tuyên bố phái 3500 quân đến Việt Nam.
=== Tháng 4 ===
27 tháng 4: Togo giành độc lập từ Anh quốc.
=== Tháng 5 ===
22 tháng 5: Động đất ở Chile là trận động đất mạnh nhất trong lịch sử loài người, mạnh 9,5 độ làm hàng nghìn người thiệt mạng.
=== Tháng 6 ===
20 tháng 6: Mali và Sénégal giành độc lập
30 tháng 6: Congo-Kinshasa tuyên bố độc lập
=== Tháng 7 ===
=== Tháng 8 ===
1 tháng 8: Cộng hòa Dahomey tuyên bố độc lập.
3 tháng 8: Niger tuyên bố độc lập.
5 tháng 8: Thượng Volta tuyên bố độc lập, thành lập nước cộng hòa.
7 tháng 8: Côte d'Ivoire (tức Bờ Biển Ngà) tuyên bố độc lập.
11 tháng 8: Tchad tuyên bố độc lập.
13 tháng 8: Cộng hòa Trung Phi tuyên bố độc lập.
15 tháng 8: Congo-Brazzaville tuyên bố độc lập, thành lập nước Cộng hòa Congo.
=== Tháng 9 ===
5 tháng 9: Hội đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 3
22 tháng 9: Soudan thuộc Pháp tuyên bố độc lập, thành lập nước Cộng hòa Mali.
=== Tháng 10 ===
1 tháng 10: Nigeria giành độc lập từ Anh, thành lập nước Cộng hòa liên bang Ni Nhật Lợi Á.
=== Tháng 11 ===
12 tháng 11: thành lập trường Đại học Ngoại thương.
28 tháng 11: Mauritanie tuyên bố độc lập.
=== Tháng 12 ===
20 tháng 12: Thành lập mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam.
== Sinh ==
== Mất ==
== Giải Nobel ==
Vật lý - Donald Arthur Glaser
Hóa học - Willard Frank Libby
Y học - Sir Frank Macfarlane Burnet, Peter Brian Medawar
Văn học - Saint-John Perse
Hòa bình - Albert John Luthuli
== Tham khảo == |
tây bắc hoa kỳ.txt | Vùng Tây Bắc Hoa Kỳ (Northwestern United States) là chỉ các tiểu bang miền tây bắc trên các vùng Đại Bình Nguyên tây bắc bao gồm các tiểu bang Oregon và Washington, đôi khi các tiểu bang Idaho, Montana, phía đông nam Alaska, và Wyoming được thêm vào. Cũng có lúc phần phía bắc của tiểu bang California cũng được xem là trong Vùng Tây Bắc.
== Các tên gọi ==
=== Tây Bắc "The Northwest" ===
"The Northwest" hay Tây Bắc đôi khi chỉ được dùng để chỉ phía tây Oregon và Washington, bao gồm vùng duyên hải cũng như vùng đông dân cư của thung lũng sông Willamette và Puget Sound nhưng không tính vùng phía đông của dãy núi Cascade.
=== Tây Bắc Thái Bình Dương ===
Tại Hoa Kỳ tên gọi " The Pacific Northwest" hay Tây Bắc Thái Bình Dương (viết tắt là PNW hay PacNW) thường được dùng để chỉ Oregon, Washington và đôi khi Idaho, tây bắc Montana và phía bắc California. Tuy nhiên tên gọi nầy hiểu theo nghĩa quốc tế là bao gồm vài phần của Canada.
=== Cựu Tây Bắc ===
Cũng giống như vùng Tây Nam Hoa Kỳ, ý tưởng về phần nào là Tây Bắc cứ bị đẩy mãi xa về phía tây khi lãnh thổ Hoa Kỳ được mở rộng về phía tây theo thời gian. The original Northwest hay là Tây Bắc nguyên thủy (thường được gọi là "Old Northwest" hay Cựu Tây Bắc) bao gồm Lãnh thổ Tây Bắc xa xưa mà ngày nay là Ohio, Indiana, Illinois, Michigan, Wisconsin và một phần Minnesota khi Hoa Kỳ mới vừa lập quốc với các tiểu bang đầu tiên. Rồi dần dần Tây Bắc vượt qua vùng Trung Tây Hoa Kỳ và đến nơi mà được định nghĩa bây giờ.
== Tham khảo == |
họ cánh cộc.txt | Họ Cánh cộc (tên khoa học Staphylinidae) là một họ côn trùng thuộc bộ bọ cánh cứng. Một số loài trong chúng có thân mình thon, dài như hạt thóc (dài 1 - 1,2 cm, ngang 2 - 3mm), có hai màu đỏ và đen, nhìn giống con kiến nên mới có các tên gọi dính với chữ "kiến". Phần nhiều các loài bọ cánh cứng này có đôi cánh cứng bao ngoài rất ngắn, để lộ ra cả một phần của bụng.
== Phân loài ==
Họ Cánh cộc là họ bọ cánh cứng lớn nhất tính trên quy mô thế giới, chúng cũng chiếm giải quán quân ở quy mô địa phương như vùng Bắc Mỹ, Anh quốc và có thể còn nhiều vùng khác tính theo khả năng phát hiện ra nhiều loài mới trong tương lai. Họ Cánh cộc cũng là một họ côn trùng khá cổ với dấu tích hóa thạch sớm nhất có niên đại chừng 200 triệu năm. Năm 1998 người ta thống kê được 46.725 loài bọ cánh cộc Staphylinidae (theo Zoological Record, tập 135), các thống kê gần đây đưa ra những con số còn cao hơn, khoảng 54.000 hay 55.440 loài. Việc phân nhóm các loài này vẫn đang còn gây tranh cãi trong giới khoa học. Có ý kiến cho rằng nên phân họ này thành 10 họ riêng biệt, nhưng ý kiến chung là phân chia bọ cánh cộc thành 31 phân họ, khoảng 100 tông và 3.200 chi. Mỗi năm có 400 loài mới được phát hiện và miêu tả, và một số ước tính cho rằng 3/4 số loài sống tại vùng nhiệt đới chưa được biết đến.
== Mô tả ==
Là một họ lớn nên các loài Staphylinidae có hình dạng và kích thước cực kỳ đa dạng. Chiều dài của chúng có thể nhỏ hơn 1mm hoặc lên tới 35mm, nhưng phần lớn rơi vào khoảng 2-8mm. Hình dáng thân chủ yếu thon dài, một số ít loài lại có thân tròn và bầu. Màu sắc có thể là vàng, nâu đó cho đến nâu hay đen. râu thường có 11 đốt, khá đều và có dạng ống, một số chi có một phần râu hơi phình nhìn giống cây chùy. Phần bụng có thể rất dài và mềm dẻo, một số loài bọ cánh cộc có thể khá giống con sâu tai.
Đặc điểm nổi bật của Họ Cánh cộc là lớp cánh cứng ngoài rất ngắn, chỉ che phủ được một nửa phần bụng và để lộ ra 6 hay 7 đốt bụng với các khớp liền nhau ở phần lớn các loài. Một thiểu số bọ Cánh cộc có cánh... không cộc lắm, che phủ gần hết thân, nhưng vẫn dễ nhận ra với 6 đốt bụng có thể nhìn thấy rõ và không có lobed fourth rarsomere. Có những loài Cánh cộc có hình dạng rất giống kiến, và vì vậy chúng mang các tên gọi có chữ "kiến" như kiến ba khoang, kiến hoang, kiến kim, kiến lác, kiến gạo, kiến nhốt, kiến cong,...
Một số loài của phân tông Paederina (thuộc nhóm Paederinae) chứa các hóa chất có thể gây phồng rộp da trong máu, chúng có thể gây ra một loại bệnh phồng rộp da tên là Paederus dermatitis. Một trong những chất hại da nằm trong máu chúng có tên là pederin, rất độc, độc hơn 15 lần cả nọc rắn hổ mang.
== Sinh thái ==
Bọ cánh cộc Staphylinidae sống trong các sinh cảnh và vùng sinh thái phù hợp với bọ cánh cứng nói chung, và chúng có thể ăn hầu hết mọi thứ trừ những mô sống của các thực vật bậc cao tỉ như Himalusa thailandica. Phần lớn các loài thuộc họ bọ cánh cộc này là loài săn mồi, chúng ăn thịt các côn trùng và các động vật không xương sống khác, chúng sinh sống trong các đống lá mục hoặc xác cậy cối đang phân hủy. Một số loài sống ở bờ biển, tại các vùng gian triều (intertidal zone) hoàn toàn bị ngập nước lúc triều cường, tỉ như loài Thinopinus pictus; một số khác là động vật ký cư, sống nhờ tổ của các loài kiến hay mối, một số hỗ sinh với các loài thú theo dạng thức tỉ như săn bắt bọ chét hay các loài ký sinh làm hại vật chủ. Một số loài như các thành viên của chi Aleochara sống ký sinh trên các côn trùng khác, ví dụ như một số ấu trùng ruồi.
Do thói quen săn bắt và ăn thịt các loài côn trùng khác, người ta từng xem xét sử dụng bọ cánh cộc như là một công cụ phòng trừ sinh học và đánh giá chúng như là một trong những tác nhân kiểm soát "dân số" các sinh vật trong tự nhiên. Tuy nhiên, các thử nghiệm sử dụng bọ cánh cộc nhằm trừ sâu hại chưa đem lại kết quả nào đáng kể. Trong số đó thì nhóm bọ cánh cộc dạng ký sinh (parasitoid) như Aleochara tỏ ra thành công hơn cả.
Trong số bọ cánh cộc, chi Stenus có lối săn mồi đáng chú ý. Chúng là loài săn mồi chuyên ăn thịt các động vật không xương sống nhỏ (tỉ như bọ đuôi bật collembola). Môi dưới của chúng có thể được phóng dài ra như lưỡi tắc kè nhờ vào áp suất máu, trên đầu môi có nhiều lông nhọn và gai để tóm giữ lấy con mồi mà nó bắt được.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
=== Họ Cánh cộc ở vùng Cổ Bắc cực nói chung ===
Lohse, G.A. (1964) Familie: Staphylinidae. In: Freude, H., Harde, K.W. & Lohse, G.A. (Eds.), Die Käfer Mitteleuropas. Band 4, Staphylinidae I (Micropeplinae bis Tachyporinae). Krefeld: Goecke & Evers Verlag, 264 pp.
Lohse, G.A. (1974) Familie: Staphylinidae. In: Freude, H., Harde, K.W. & Lohse, G.A. (Eds.), Die Käfer Mitteleuropas. Band 5, Staphylinidae II (Hypocyphtinae und Aleocharinae). Pselaphidae. Krefeld: Goecke & Evers Verlag, 381 pp.
Lohse, G.A. (1989) Ergänzungen und Berichtigungen zu Freude-Harde-Lohse "Die Käfer Mitteleuropas" Band 5 (1974), pp. 185–243 In: Lohse, G.A. & Lucht, W.H. (Eds.), Die Käfer Mitteleuropas. 1. Supplementband mit Katalogteil. Krefeld: Goecke & Evers Verlag, pp. 185–243.
=== Họ Cánh cộc ở châu Âu ===
Europe
Lott, D.A. (2009). The Staphylinidae (rove beetles) of Britain and Ireland. Part 5: Scaphidiinae, Piestinae, Oxytelinae. Handbooks for the identification of British insects, vol. 12, part 5. St Albans: Royal Entomological Society.British and Irish fauna only
Tronquet, M. (2006). Catalogue iconographique des Coléoptères des Pyrénées-Orientales. Vol. 1: Staphylinidae. Supplément au Tome XV de la Revue de l’Association Roussillonnaise d’Entomologie. Perpignan: Association Roussillonnaise d’Entomologie.Extensively illustrated
== Liên kết ngoài ==
Digital Library of Early Works on Staphylinidae
Catalog of the Staphylinidae1758 to the end of the second millennium.[1]
rove beetles of the world on the UF / IFAS Featured Creatures Web site
rove beetles of Florida on the UF / IFAS Featured Creatures Web site |
rodolphe seeldrayers.txt | Rodolphe William Seeldrayers (16 tháng 12 năm 1876 ở Düsseldorf, Đức - 7 tháng 10 năm 1955 ở Bruxelles, Bỉ) là người tham gia tích cực ở các hiệp hội thể thao chính thức của Bỉ. Ông là chủ tịch thứ tư của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA) từ 1954 đến 1955. Ông mất ngày 7 tháng 10 năm 1955 ở Bruxelles.
== Tham khảo == |
sông sét.txt | Sông Sét cổ là một phân lưu của sông Kim Ngưu. Nó tách khỏi Kim Ngưu ở Phương Liệt. Tại chỗ sông Sét tách ra, Kim Ngưu đổi hướng chảy lên phía Bắc tới khu vực hồ Bảy Mẫu và đầm Kim Liên, còn sông Sét chảy về phía Nam. Tuy nhiên, do bồi, lấp, sông Kim Ngưu tại Phương Liệt bị đứt quãng khiến cho đoạn Kim Ngưu ngược lên phía Bắc bị tách riêng ra. Sông Sét ngày nay bao gồm cả đoạn sông Kim Ngưu đó. Nó chảy trong địa phận các quận Hai Bà Trưng và Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Sông Sét dài hơn 3,6 km, bắt nguồn từ hồ Bảy Mẫu trong Công viên Thống Nhất (quận Hai Bà Trưng), chảy theo hướng Bắc-Nam và đổ vào hồ Yên Sở (quận Hoàng Mai). Khi đi qua Giáp Bát, nó nhận nước từ một phân lưu của sông Lừ từ Phương Liên chảy sang. Sông Sét suốt nhiều năm bị bùn bồi lắng và bị các công trình xây dựng lấn bờ, nên bề rộng và độ sâu của sông đã giảm đáng kể. Nhiều nơi, sông chỉ rộng chừng 5 m. Độ sâu trung bình của sông chỉ hơn 1 m. Từ đầu năm 2003, sông Sét được nạo vét và cống hóa với sự hỗ trợ của chính phủ Nhật Bản trong dự án thoát nước, cải thiện môi trường Hà Nội giai đoạn 1 (1997-2005). Hiện nay đoạn phía Bắc của sông chảy qua khu vực các trường Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Xây dựng Hà Nội và Đại học Kinh tế Quốc dân đến phố Đại La đã được cống hóa (kè bờ và làm nắp bê tông trên mặt sông thành đường Trần Đại Nghĩa). Đoạn từ phố Đại La đến hồ Yên Sở được kè bờ, nạo vét, làm đường và trồng cây hai bên bờ.
== Xem thêm ==
Sông Tô Lịch
Sông Lừ
Sông Kim Ngưu
== Tham khảo ==
HN: Dùng sông Sét, kênh Yên Sở để thoát nước
Hà Nội: Công bố quy hoạch dọc sông Sét, sông Kim Ngưu
Những dòng sông thoát nước của Hà Nội: Bao giờ hết ô nhiễm?
Bản đồ thành phố Hà Nội. |
đội tuyển bóng đá quốc gia việt nam.txt | Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam là đội tuyển cấp quốc gia đại diện cho Việt Nam thi đấu bóng đá quốc tế và do Liên đoàn bóng đá Việt Nam quản lý.
Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Việt Nam là trận gặp Philippines vào năm 1991. Thành tích cao nhất của đội cho đến nay là lọt vào tứ kết của Asian Cup 2007 và chức vô địch AFF Cup 2008. Đây là đội tuyển thể thao được người Việt Nam giành sự quan tâm đặc biệt.
Tính đến nay, đội tuyển Việt Nam chưa lần nào vượt qua vòng loại World Cup. Năm 2007, khi là quốc gia đăng cai, đội tuyển Việt Nam lần đầu tham dự vòng chung kết Cúp bóng đá châu Á và đã bất ngờ vào tới vòng tứ kết. Ở giải khu vực Đông Nam Á, đội tuyển giành ngôi vô địch một lần vào năm 2008 khi vượt qua Thái Lan ở trận chung kết. Chiến thắng có phần bất ngờ này của tuyển Việt Nam được trang thông tin điện tử Goal.com xếp vào top 10 sự kiện bóng đá châu Á năm 2008, cũng như được độc giả Vietnamnet bình chọn là một trong 10 sự kiện nổi bật của Việt Nam trong năm.
Vào cuối năm 2011, dù không có thành tích gì đáng kể, đội tuyển Việt Nam bất ngờ tăng 35 bậc, xếp hạng 99 trong Bảng xếp hạng FIFA, trở lại tốp 100 sau 7 năm. Đây là lần đầu tiên Việt Nam xếp đầu Đông Nam Á trong bảng xếp hạng này. Trong bảng xếp hạng bóng đá nam FIFA, Việt Nam có vị trí cao nhất là 84 vào tháng 9 năm 1998 và thấp nhất là 172 vào tháng 12 năm 2006. Hiện nay, đội tuyển đang đứng thứ 136 trên thế giới, xếp thứ 18 ở khu vực châu Á và xếp thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á theo FIFA (tháng 1 năm 2017).
Tại Việt Nam, đội tuyển không có biệt danh cụ thể nào. Tuy vậy, trên các phương tiện truyền thông quốc tế, đội có biệt danh là Ngôi sao vàng (The Golden Star).
== Những năm đầu ==
Bóng đá được du nhập vào Việt Nam vào những năm cuối của thế kỷ 19, do những thủy thủ và binh sĩ người châu Âu. Người Việt Nam dần dần cũng học hỏi và đá bóng trong các đội của người Pháp. Ngày 20 tháng 7 năm 1908 thì lần đầu tiên thấy tờ báo Lục tỉnh Tân văn đưa tin trận cầu giữa hai đội bóng thuần cầu thủ người Việt Nam diễn ra (trận đội Phú Mỹ thắng đội Chợ Đũi 2–0). Đến năm 1928, người Việt đã đứng ra thành lập Tổng cục Thể thao An Nam (tại Sài Gòn), cùng trong năm ấy cử một đội bóng đá Việt Nam sang thi đấu ở Tân Gia Ba (Singapore).
Khi Việt Nam bị chia cắt thành Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa, mỗi nước có một đội tuyển quốc gia riêng; Đội tuyển Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có chuyến thi đấu quốc tế đầu tiên sang Trung Quốc năm 1956, dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên kiêm cầu thủ Nguyễn Thông, người được xem là "túc cầu tiểu vương". Trong chuyến du đấu đầu tiên này, đội tuyển Việt Nam đã có trận đấu ra mắt với đội tuyển Trung Quốc (thực chất là đội Học viện thể dục thể thao Bắc Kinh) và để thua với tỉ số 3-5. Cầu thủ đầu tiên ghi bàn thắng cho Việt Nam là tiền đạo Phan Văn Đức khi ông sút tung lưới Trung Quốc vào phút thứ 36. Ông Đức còn ghi thêm một bàn nữa trong trận này vào phút thứ 43. Bàn thắng còn lại của Việt Nam do công của Trương Tấn Nghĩa (phút 41).
Trong chuyến du đấu này, đội đá theo sơ đồ 3–2–5 (W–M) cổ điển với những gương mặt: thủ môn Bùi Đức (Đức "ba xương"), Nguyễn Văn Nghĩa; các hậu vệ Quắn Đình Te – Bùi Nghẽn – Lưu Đình Tòng; các tiền vệ Nguyễn Huy Luyến – Thưởng; đá tiền đạo gồm Trương Tấn Nghĩa – Bảy – Tuất – Tiền – Ba Len. Đội chủ yếu chơi trong các giải của các nước xã hội chủ nghĩa từ 1956 đến 1966 và tại các giải GANEFO (Indonesia, 1963) và GANEFO châu Á (Campuchia, 1966).
Cùng thời gian, Đội tuyển bóng đá Việt Nam Cộng hòa là một trong những đội bóng khá của khu vực Đông Nam Á, đội đã tham dự vòng chung kết và giành hạng tư hai giải Cúp bóng đá châu Á đầu tiên (1956, 1960) (tuy nhiên cần lưu ý là hai giải này chỉ có 4 đội tham dự vào các năm đó, xếp hạng 4 tức là xếp cuối). Đội cũng tham dự Á vận hội 1962 (giải năm đó có 8 đội tham dự, chia làm 2 bảng), đội vượt qua vòng bảng và xếp hạng 4 chung cuộc (thua Ấn Độ ở bán kết và thua Malaysia ở trận tranh hạng 3). Đội đã đoạt chiếc huy chương vàng SEA Games bộ môn bóng đá đầu tiên (và tính đến thời điểm này vẫn là chiếc huy chương vàng duy nhất) cho Việt Nam khi đội giành ngôi vô địch vào kỳ đại hội năm 1959 (tuy nhiên cần lưu ý là giải này năm đó chỉ có 4 đội tham dự). Đội cũng là đại diện đầu tiên của Việt Nam tham gia một giải đấu cấp thế giới, khi tham gia vòng loại World Cup 1974 và vòng loại các kỳ Thế vận hội Mùa hè 1964 và Thế vận hội Mùa hè 1968. Ngoài ra, đội cũng tham gia một số trận đấu giao hữu quốc tế. Trận thắng đậm nhất là 10-0 trước Philippines (năm 1967), trận thua đậm nhất là 10-0 (thua đội Nhật Bản năm 1961).
Trận cuối cùng của đội Việt Nam Cộng hòa là vào năm 1975. Sau khi đất nước thống nhất, đội tuyển Việt Nam không tham gia thi đấu quốc tế trong suốt thời gian từ 1975 đến 1991. Mãi đến năm 1991 đội tuyển mới bắt đầu tham gia đấu trường quốc tế. Giải đấu quốc tế đầu tiên mà đội tuyển Việt Nam thống nhất tham gia thi đấu là SEA Games 1991 được tổ chức tại Manila. Trong trận đầu tiên đội gặp đối thủ nước chủ nhà Philippines và đã hòa với tỉ số 2–2.
Tuy nhiên, trong lần tập trung đi dự SEA Games lần đó, tình hình đất nước còn rất khó khăn. Các điều kiện tập trung ở Nhổn rất thiếu thốn nên chỉ sau một tuần tập trung, 11 cầu thủ phía Nam (thành viên các đội Công nhân Quảng Nam-Đà Nẵng, Hải Quan, Cảng Sài Gòn) cùng "đào ngũ". Sau năm 1991, đội tuyển Việt Nam bắt đầu được triệu tập thường xuyên hơn để thi đấu các giải đấu chính thức trong khu vực và một số trận giao hữu không chính thức. Trận giao hữu đầu tiên của đội tuyển Việt Nam là trước câu lạc bộ Adelaide City của Úc tại Hà Nội (thắng 1–0).
== Tại các kì SEA Games ==
=== SEA Games 16 ===
Thể thao Việt Nam hòa nhập lại với thể thao khu vực năm 1989 tại SEA Games 15 tổ chức tại Malaysia. Tuy nhiên, tại SEA Games này, bóng đá không được đoàn Việt Nam đưa vào danh sách tham dự. Đội dự tuyển bóng đá Việt Nam thống nhất lần đầu tiên được triệu tập để tham dự SEA Games 16 (1991). Đội do ông Vũ Văn Tư (huấn luyện viên đội Quảng Nam - Đà Nẵng) và ông Nguyễn Kim Hằng (huấn luyện viên đội Hải Quan) dẫn dắt. Tuy nhiên, trong khi đội tuyển tập trung tại Nhổn (Hà Nội), 11/14 cầu thủ thuộc các đội Cảng Sài Gòn, Đà Nẵng và Hải Quan đã tự động "đào ngũ" khỏi đội tuyển vì điều kiện sinh hoạt, luyện tập thiếu thốn và phải chịu án kỉ luật sau đó. Trong số các cầu thủ đào ngũ, có Phan Thanh Hùng, Lê Văn Sinh, Trần Minh Toàn, Trương Văn Lợi, Bùi Thông Tuân, Phan Công Thìn (Đà Nẵng), Đặng Trần Chỉnh (Cảng Sài Gòn), Trương Văn Dưỡng (Hải quan) v.v... Trong số các cầu thủ miền Nam, chỉ còn Hà Vương Ngầu Nại, Nguyễn Hồng Phẩm và Lưu Tấn Liêm ở lại. Huấn luyện viên Vũ Văn Tư buộc phải từ nhiệm sau 7 ngày dẫn dắt đội.
Để lấp chỗ trống, những người có trách nhiệm trong Liên đoàn đã phải huy động thêm một số cầu thủ Thể Công cùng huấn luyện viên của họ là ông Nguyễn Sĩ Hiển lên làm nhiệm vụ. Ngoài ra, hai cầu thủ khác của Cảng Sài Gòn là Lư Đình Tuấn và Đỗ Văn Minh cũng được gọi bổ sung. Tại SEA Games năm đó, Việt Nam chỉ giành được một điểm sau trận hòa 2–2 với chủ nhà Philippines và để thua Indonesia 0–1, Malaysia 1–2. Ba bàn thắng của Việt Nam đều do công của tiền đạo Nguyễn Văn Dũng (Công nghiệp Hà Nam Ninh). Trận hòa với Philippines là trận đấu quốc tế chính thức đầu tiên của đội tuyển Việt Nam thống nhất.
=== SEA Games 17 ===
Sau khi dự vòng loại World Cup 1994 với duy nhất một trận thắng trước Indonesia bằng bàn thắng của Hà Vương Ngầu Nại (Cảng Sài Gòn), Đội tuyển Việt Nam giữ gần như nguyên bộ khung đội hình để đá SEA Games 17 tại Singapore dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên Trần Bình Sự. Tiền đạo Nguyễn Văn Tám của Tiền Giang được gọi bổ sung trong khi Võ Hoàng Bửu bị chấn thương phải chia tay đội. Ngoài một số cầu thủ đang ở độ chín của phong độ như Nguyễn Mạnh Cường (Câu lạc bộ Quân đội), Hà Vương Ngầu Nại, Lư Đình Tuấn (Cảng Sài Gòn), đội tuyển Việt Nam còn trình làng một số cầu thủ trẻ đầy triển vọng như Nguyễn Hồng Sơn (Câu lạc bộ Quân đội), Lê Huỳnh Đức (CA Thành phố Hồ Chí Minh). Tuy nhiên, đội tuyển chỉ giành được duy nhất một chiến thắng trước Philippines với tỉ số 1–0 bằng bàn thắng của Nguyễn Văn Long (CLB Quân đội) ghi ở phút thứ 66. Đây cũng là bàn thắng duy nhất mà đội ghi được tại SEA Games này vì trong hai trận còn lại, Việt Nam đều thúc thủ mà không ghi được bàn thắng nào (thua Indonesia 0–1 ở trận đầu ra quân sau khi Chu Văn Mùi bị dính thẻ đỏ và Singapore 0–2). Đội Việt Nam phải dừng bước ngay từ vòng bảng.
=== SEA Games 18 ===
Sau hai kỳ SEA Games hội nhập lại mà không đạt được thành tích nào, Liên đoàn bóng đá Việt Nam có một quyết định cách mạng khi bắt đầu thuê huấn luyện viên ngoại. Người đầu tiên giúp đội là huấn luyện viên Karl Heinz Weigang, đây là một người quen của bóng đá Việt Nam khi ông chính là huấn luyện viên của đội tuyển Việt Nam Cộng hòa dẫn dắt đội lập kỳ tích giành Cúp Merdeka năm 1966. Ông chấp nhận đến Việt Nam làm việc 5 tháng không lương. Sau 7 tuần dẫn dắt đội, ông trở về Đức, trong khoảng thời gian này, nhờ nhà tài trợ mới của bóng đá Việt Nam là Strata, Liên đoàn bóng đá Việt Nam đã thuê ông Edson Tavares.
Huấn luyện viên người Brasil ngay lập tức đem lại thành công ngoài mong đợi cho bóng đá Việt Nam qua các trận đấu tại Cúp Độc Lập 1995. Tại giải này, Việt Nam tham dự hai đội tuyển và cả hai đều thi đấu thành công, đều vào bán kết giải này. Đặc biệt, đội tuyển Việt Nam giành một thắng lợi "lịch sử" trước đội tuyển Estonia tại vòng bảng bằng bàn thắng của tiền đạo Lê Huỳnh Đức (CATPHCM). Điều làm ngạc nhiên nhất là thể lực của các cầu thủ Việt Nam tăng lên đáng kể và do đó nhiều người nghi ngờ ông Tavares cho các cầu thủ sử dụng các "viên kẹo bí ẩn" . Ngay sau khi đội Việt Nam 1 thua câu lạc bộ Housing Bank ở trận bán kết ngày 12 tháng 1 năm 1995, Tavares tuyên bố từ chức với lý do không nhận được sự hợp tác của Liên đoàn bóng đá Việt Nam. Ông Weigang lại được mời về dẫn dắt đội.
Ông Weigang quyết định cho đội đi tập huấn tại châu Âu. Trong năm 1995, đội thi đấu tổng cộng 34 trận và có rất nhiều tiến bộ. Lứa cầu thủ đó sau này được coi như thế hệ vàng của bóng đá Việt Nam: gồm thủ môn Nguyễn Văn Cường; trung vệ đội trưởng Nguyễn Mạnh Cường; hậu vệ Trần Công Minh, Lê Đức Anh Tuấn, Nguyễn Chí Bảo, Đỗ Khải, Nguyễn Hữu Thắng; tiền vệ Võ Hoàng Bửu, Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Hữu Đang; các tiền đạo Trần Minh Chiến, Lê Huỳnh Đức, Huỳnh Quốc Cường.. Ngoài ra, trong đội hình tham dự SEA Games 18, còn có một số các tên tuổi khác như: Trịnh Tấn Thành (Đồng Tháp), Lư Đình Tuấn (Cảng Sài Gòn), Trần Thanh Nhạc (Đồng Tháp), Nguyễn Liêm Thanh (Công An TPHCM) và Nguyễn Hoàng Anh Dũng (Bình Định). Ngoài ra, tiền vệ Trần Quan Huy (Cảng Sài Gòn) là cầu thủ được đăng ký trong danh sách dự phòng.
Tại SEA Games 18, Việt Nam đã gây sốc trong trận ra quân tại vòng bảng bằng thắng lợi trước Malaysia với tỉ số 2–0 bằng các pha lập công của Huỳnh Quốc Cường và Võ Hoàng Bửu (phạt đền). Sau chiến thắng 4–0 trước đội bóng yếu nhất bảng Campuchia, đội Việt Nam đã để thúc thủ trước Thái Lan với tỉ số 1–3, với bàn gỡ do công của Nguyễn Hữu Đang. Trong trận đấu cuối cùng ở vòng bảng, do Indonesia hơn Việt Nam hiệu số bàn thắng nên Việt Nam cần phải thắng được Indonesia để lọt vào bán kết. Đội tuyển Việt Nam cuối cùng đã giành thắng lợi 1–0 bằng bàn thắng của Nguyễn Hữu Đang, sau pha kiến tạo đầy nỗ lực của Trần Công Minh.
Tại vòng bán kết, Việt Nam gặp Myanmar, lúc đó là một trong những đội bóng xuất sắc nhất tại khu vực. Đội tuyển Việt Nam đã để Myanmar dẫn trước 0–1 trước khi Lê Huỳnh Đức san hòa tỉ số sau một lỗi để mất bóng của hậu vệ đội bạn. Sau đó, Myanmar đã phải nhận 2 thẻ đỏ. Trận đấu kết thúc ở hiệp phụ sau khi Trần Minh Chiến ghi bàn thắng vàng cho đội tuyển Việt Nam. Tuy nhiên, trận thắng này cũng gây ra nhiều tổn thất cho đội tuyển Việt Nam: vì nhiều lý do khác nhau như thẻ phạt, chấn thương, nên một số trụ cột của đội đã không thể góp mặt trong trận chung kết gặp lại Thái Lan, trong đó có thể kể đến Lê Huỳnh Đức và Trần Minh Chiến. Đội tuyển Việt Nam nhanh chóng nhận thất bại 0–4 trong trận chung kết.
Tuy nhiên, một thế hệ thành công của bóng đá Việt Nam được hình thành và giúp đội tuyển có được nhiều thành tích trong các giải đấu khu vực sau đó. Mặc dù không hề giành được một chức vô địch nào nhưng nhiều người hâm mộ vẫn gọi đội tuyển Việt Nam giai đoạn 1995 – 1999 là "thế hệ vàng" - thế hệ đã đưa bóng đá Việt Nam trở lại thành một thế lực của khu vực Đông Nam Á. Thế hệ vàng của bóng đá Việt Nam khởi nguồn từ SEA Games 18 sau này còn có thêm các gương mặt: thủ môn Nguyễn Văn Phụng, Trần Minh Quang; các hậu vệ Nguyễn Đức Thắng, Nguyễn Thiện Quang, Đỗ Mạnh Dũng; các tiền vệ Triệu Quang Hà, Trương Việt Hoàng, Nguyễn Văn Sỹ, Vũ Minh Hiếu; hay tiền đạo Đặng Phương Nam, Văn Sĩ Hùng. Đội tuyển dưới thời ông Weigang đã đem lại hai tấm huy chương đầu tiên cho bóng đá Việt Nam thời tái hội nhập là tấm huy chương bạc SEA Games 1995 và tấm huy chương đồng Tiger Cup 1996.
=== SEA Games 19 ===
SEA Games 19 được khởi đầu bằng thất bại 0–1 của Đội tuyển Việt Nam trước Malaysia. Tại trận đấu này, hậu vệ phải Trần Công Minh bị dính chấn thương nên không thể tham dự, thay cho anh là Nguyễn Phúc Nguyên Chương. Thử thách tiếp theo là trận đấu gặp đội tuyển chủ nhà Indonesia trên sân vận động Senayan với gần 10 vạn khán giả. Đội tuyển Việt Nam bị dẫn trước sau bàn thắng của Bima Sakti vào phút 18. Tình thế càng khó khăn hơn của Việt Nam khi ngay đầu hiệp 2, đội tuyển Việt Nam phải nhận tổn thất lớn do trung vệ Đỗ Văn Khải bị phạt thẻ đỏ trực tiếp. Tuy nhiên, ngay sau chiếc thẻ đỏ này, đội tuyển Việt Nam bất ngờ gỡ hòa. Văn Sỹ Hùng tung của ngả bàn đèn đẹp mắt từ đường phạt góc của Triệu Quang Hà ở phút 58 đưa hai đội về vạch xuất phát. Tuy nhiên, đội tuyển Indonesia nhanh chóng tận dụng lợi thế hơn người để nâng cách biệt thành 2–1 với bàn thắng của Kurniawan Dwi Yulianto vào phút 65. Một lần nữa, tinh thần thi đấu hết mình của Việt Nam lại được đền đáp. Vào phút 89, Lê Huỳnh Đức cướp bóng của một hậu vệ Indonesia trước khi chọc khe cho Văn Sỹ Hùng hoàn tất cú đúp, gỡ hòa 2–2 cho Việt Nam.
Sau hai trận đầu, đội tuyển Việt Nam chỉ có được một điểm duy nhất và họ phải thắng 2 trận cuối cùng, đồng thời chờ đợi các đối thủ sẩy chân để lọt vào bán kết. Hai điều kiện này đều xảy ra. Đội tuyển Việt Nam vượt qua Lào với tỉ số 2–1 bằng cú đúp của Vũ Minh Hiếu, và Philippines 3–0 nhờ các bàn thắng của Triệu Quang Hà, Lê Huỳnh Đức và tiền đạo Văn Sĩ Hùng. Đồng thời, ở trận đấu cuối cùng, đối thủ cạnh tranh trực tiếp của Việt Nam là Malaysia bất ngờ thúc thủ 0–1 trước đội tuyển Lào nhờ bàn thắng của tiền đạo Keolakhone.
Tại vòng bán kết, Việt Nam gặp lại Thái Lan và một lần nữa thúc thủ với tỉ số 1–2. Kiatisuk ghi bàn mở tỉ số. Bàn gỡ hòa 1–1 của Việt Nam do công của Lê Huỳnh Đức sau một lỗi lầm sơ đẳng của hàng phòng ngự đối phương. Tuy nhiên, chỉ ngay sau đó ít phút, đến lượt thủ môn Trần Minh Quang của Việt Nam phạm sai sót khi phát bóng trúng chân của Kiatisuk giúp tiền đạo này hoàn tất cú đúp khiến Việt Nam nhận thất bại.
Đội tuyển Việt Nam nhận được huy chương đồng tại SEA Games này sau chiến thắng muộn màng 1–0 trước Singapore tại trận tranh giải ba. Nguyễn Phúc Nguyên Chương là người đã ghi bàn thắng đẹp mắt từ một cú volley ngoài vòng cấm địa vào phút 90 đem về tấm huy chương thứ hai cho Việt Nam tại đấu trường SEA Games từ thời kì tái hội nhập.
=== SEA Games 20 ===
SEA Games 20 là kỳ Đại hội Thể thao Đông Nam Á cuối cùng các đội tuyển quốc gia tham dự. Kể từ giải lần sau, đại diện cho các quốc gia ở môn bóng đá nam sẽ là các đội tuyển U23 (nghĩa là không chấp nhận cho cầu thủ trên 23 tuổi thi đấu). Lần tham dự này, các cầu thủ trẻ nhất đội tuyển Việt Nam là Nguyễn Đức Thắng và Đặng Phương Nam đều sinh năm 1976 (23 tuổi).
Do Brunei rút lui nên chỉ còn lại 9 đội tuyển chia làm 2 bảng. Đội tuyển Việt Nam rơi vào bảng 5 đội, cùng bảng với 2 đối thủ chính là Thái Lan và Myanmar. Trận khai mạc của bảng, Việt Nam giành chiến thắng đậm đà 9-0 trước Lào. Trung phong Lê Huỳnh Đức ghi bàn rất sớm và anh hoàn thành cú poker (4 bàn) ngay trong hiệp 1. Văn Sỹ Hùng cũng lập hattrick trong trận này. Khi gặp Myanmar, bàn thắng của Trương Việt Hoàng từ chấm penalty và bàn thắng của tiền đạo Đặng Phương Nam giúp Việt Nam chiến thắng 2-0. Bước vào trận tranh ngôi đầu với Thái Lan, Việt Nam nhập cuộc tự tin và Phương Nam có một pha bay người đánh đầu tung lưới Thái Lan. Tuy nhiên bàn thắng không được công nhận do anh rơi vào tư thế việt vị. Kết thúc trận đấu Việt Nam được 1 điểm với trận hòa 0 bàn thắng. Trận thủ tục cuối cùng vòng bảng gặp Philippines, Việt Nam đã giành thắng lợi nhờ cú đúp của Đặng Phương Nam.
Tại bán kết, Việt Nam gặp Indonesia, trận đấu kịch tính trải qua hơn 80 phút. Khi hầu như tất cả mọi người đều chuẩn bị tâm lý cho hiệp phụ thì bất ngờ hậu vệ trái Đức Thắng có đường chuyền dài cho Nguyễn Hồng Sơn, sau một nhịp tiếp bóng bằng ngực anh tung chân đá volley vào góc xa, ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu. Tại giải lần này, Hồng Sơn chỉ ghi được 1 bàn thắng, nhưng đó là bàn thắng đưa Việt Nam vào trận chung kết.
Việt Nam tái ngộ đối thủ đầy duyên nợ - Thái Lan. Trước trận đấu này thủ môn Trần Minh Quang đang giữ kỷ lục giữ sạch lưới lâu nhất với 450 phút. Tuy nhiên, một lần nữa huấn luyện viên Alfred Riedl cùng Việt Nam ngậm ngùi nhìn người Thái đoạt bộ huy chương vàng với thắng lợi 2-0.
Cũng tại kỳ đại hội này, nhạc sĩ Trần Tiến đã sáng tác ca khúc "Tôi yêu bóng đá" dành tặng cho Việt Nam.
== Tại các giải vô địch Đông Nam Á ==
=== Tiger Cup 1996 ===
Giải bóng đá vô địch Đông Nam Á lần đầu tiên được tổ chức vào năm 1996 với tên gọi Tiger Cup. Đội dự tuyển Việt Nam với bộ khung gồm các cầu thủ từng tham gia SEA Games 18 đã đi tập huấn dài ngày ở Đức và có một số trận giao hữu không chính thức với một số CLB như Juventus (Italia), Middlesex Wanderers (Đội bóng nghiệp dư của Anh). Một số gương mặt mới được tăng cường như Nguyễn Hồng Hải (Lâm Đồng), Nguyễn Thiện Quang (CATPHCM), Nhan Thiện Nhân (An Giang), Ngô Quang Trường (SLNA), Nguyễn Văn Phụng (Cảng Sài Gòn), Đặng Phương Nam (CLBQĐ), Nguyễn Phan Hoài Linh (CATPHCM), Bùi Hữu Lợi (CAHN), Ngô Việt Trung (Lâm Đồng), Nguyễn Phúc Nguyên Chương (Cảng Sài Gòn), Trần Tấn Lợi (An Giang), Nguyễn Văn Hùng (Đồng Tháp), v.v... Một số cựu binh cũng được gọi lại như Chu Văn Mùi (CATPHCM). Tuy nhiên sau khi danh sách dự Tiger Cup được gút lại, chỉ còn Nguyễn Hồng Hải, Nguyễn Thiện Quang, Ngô Quang Trường, Đặng Phương Nam, Nguyễn Phan Hoài Linh, Nguyễn Văn Phụng được giữ lại. Các cầu thủ từng dự SEA Games 18 là Nguyễn Liêm Thanh, Trần Thanh Nhạc, Trịnh Tấn Thành, Lư Đình Tuấn, Nguyễn Hoàng Anh Dũng không còn có tên trong danh sách đội tuyển.
Trong một buổi tập của đội trên sân Thống Nhất, tiền đạo Trần Minh Chiến tái phát chấn thương và cũng phải chia tay với đội và chia tay luôn với bóng đá đỉnh cao.
Đội tuyển Việt Nam bước vào chiến dịch Tiger Cup 1996 bằng trận thắng 3–1 trước đối thủ yếu Campuchia vào ngày quốc khánh 2/9 bằng ba bàn thắng của Trần Công Minh, Lê Huỳnh Đức và một quả phạt đền của Võ Hoàng Bửu. Campuchia cũng gỡ được một bàn do công của Sony.
Tại trận đấu thứ 2, Việt Nam có một trận hòa vất vả trước Lào với tỉ số 1–1. Đây là một trận đấu bị tình nghi "làm độ" khi trung vệ Nguyễn Hữu Thắng đã có một pha vào bóng thô bạo không cần thiết với cầu thủ đội Lào để phải nhận một thẻ đỏ trực tiếp. Đội bạn tận dụng ưu thế hơn người để ghi bàn trước ở phút thứ 72 do công của Chalana Luang-Amath trước khi Lê Huỳnh Đức sút phạt san hòa tỉ số ở phút 85. Sau trận đấu, ông Weigang đã đòi đuổi trung vệ Nguyễn Hữu Thắng khỏi đội tuyển do nghi ngờ bán độ. 4 cầu thủ họ Nguyễn khác trong đội tuyển cũng bị dính vào nghi án này.
Ở trận đấu phải thắng trước Myanmar trong lượt trận thứ 3, các cầu thủ Việt Nam đã hoàn thành được nhiệm vụ này. Do hai đội đều chuẩn bị trang phục trắng cho trận đấu nên rốt cuộc, Myanmar phải "mượn" một bộ quần áo xanh lam nhạt lạ lẫm trước khi trở lại với trang phục đỏ trong hiệp 2. Việt Nam vươn lên dẫn trước ở phút thứ 6 sau pha sút cận thành của Hữu Đang. Tuy nhiên, đến phút 24, Maung Maung Htay đã sút xa gỡ hòa cho Myanmar. Thế dẫn trước của Việt Nam được xác lập ngay trong hiệp 1 với pha đánh đầu thành bàn của Lê Huỳnh Đức. Sang hiệp hai, Việt Nam ghi liên tiếp hai bàn nữa do công của Trần Công Minh và Nguyễn Hồng Sơn. Trong đó, bàn thắng của Trần Công Minh ở phút 48 là một trong những bàn thắng đẹp nhất giải. Việt Nam kết thúc trận đấu với chiến thắng 4–1.
Tại trận cuối cùng của vòng bảng, Việt Nam cầm hòa Indonesia 1–1. Bàn thắng của Việt Nam do công của Võ Hoàng Bửu từ một cú phạt đền ở phút 77 sau khi Kurniawan giúp Indonesia dẫn trước ở phút 43.
Việt Nam tái ngộ Thái Lan ở trận bán kết. Cũng như trận chung kết SEA Games một năm trước, Thái Lan nhanh chóng chiếm lĩnh thế trận vào ghi liên tiếp 4 bàn thắng, trong đó có một cú đúp của tiền đạo Natipong và một bàn của Kiatisuk. Tuy nhiên, Việt Nam cũng gỡ được 2 bàn do công của Võ Hoàng Bửu (phạt đền) và Nguyễn Hồng Sơn sau một pha chọc khe của Lê Huỳnh Đức.
Việt Nam gặp lại Indonesia trong trận tranh hạng 3. Ngay ở phút thứ 8, Nguyễn Hồng Sơn đi bóng lắt léo bên biên trái, trước khi chuyền sệt vào để Huỳnh Quốc Cường tung cú đánh gót mở tỉ số. Trong một nỗ lực khác của Nguyễn Hồng Sơn, hậu vệ Yeyen đã tự đưa bóng về lưới nhà ở phút 27. Tuy nhiên, Indonesia gỡ được một bàn do công của Kurniawan ở phút 66. Tỉ số được nâng lên 3–1 cho Việt Nam với bàn thắng của từ chấm phạt 11 mét của Võ Hoàng Bửu trước khi trung vệ Tecuari gỡ một bàn nữa cho Indonesia ở phút 85. Kết quả cuối cùng, Việt Nam thắng Indonesia 3–2 và giành huy chương đồng. Thủ môn Nguyễn Văn Phụng được bầu là cầu thủ xuất sắc nhất trận đấu.
Tiger Cup 1996 là giải đấu khẳng định một lần nữa sự trở lại của đội tuyển Việt Nam với tư cách là một đội bóng mạnh trong khu vực. Tuy nhiên, giải đấu này cũng để lại nhiều khuất tất sau nghi án trong trận đấu với Lào. Với 4 bàn thắng đều từ chấm phạt đền, Võ Hoàng Bửu là cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất của Việt Nam. 3 trong số 4 quả phạt đền đó được tạo ra sau các pha đi bóng của tiền đạo mới 20 tuổi Đặng Phương Nam.
=== Tiger Cup 1998 ===
Lần đầu tiên Việt Nam được đăng cai một giải bóng đá tầm cỡ quốc tế, độ nóng của giải đấu không chỉ tồn tại ở Hà Nội hay TPHCM mà còn lan tỏa đến tất cả các địa phương nhỏ trên toàn quốc. 8 đội tuyển vượt qua vòng loại chia thành 2 bảng. Việt Nam nằm ở bảng B với Singapore, Malaysia, Lào thi đấu tại sân vận động Hàng Đẫy, Hà Nội.
Trận ra quân bảng B, đội tuyển Việt Nam dưới sự dẫn dắt của huấn luyện viên mới Alfred Riedl gặp Lào và có chiến thắng 4–1, Nguyễn Hồng Sơn là cầu thủ mở tỉ số sau tình huống xoay người và khứa bóng vào góc xa điệu nghệ, 3 bàn thắng còn lại được ghi do công của Nguyễn Văn Sỹ và Lê Huỳnh Đức (2 bàn). Sau trận hoà 0-0 với Singapore trong cơn mưa nặng hạt, Việt Nam dẫn đầu bảng B, hơn Singapore về hiệu số bàn thắng. Các quan chức của LĐBĐ Việt Nam trù tính rằng Việt Nam sẽ đứng nhất bảng A. Do muốn đội tuyển Việt Nam được đá trên sân Thống Nhất một trận để phục vụ người dân miền Nam nên Ban tổ chức Tiger Cup Việt Nam đã thay đổi luật một cách vô lý ngay sau lượt trận thứ 2. Thay vì giữ thông lệ đội nhất bảng không phải di chuyển, họ đã yêu cầu đội nhất mỗi bảng đấu phải bay ra Hà Nội và TPHCM để thi đấu bán kết, còn đội nhì bảng được ở lại sân mà họ đã thi đấu vòng bảng. Tuy nhiên, ở trận đấu cuối cùng gặp Malaysia tại bảng B, Việt Nam mặc dù rất nỗ lực, cũng chỉ thắng 1-0, chứ không phải hai bàn cách biệt để có thể dẫn đầu bảng trong khi Singapore thắng Malaysia 4–1 và dẫn đầu bảng. Các trù tính của Ban Tổ chức đã không theo kế hoạch.
Trận bán kết, Việt Nam của huấn luyện viên Riedl đã chơi một trận cầu thăng hoa vượt sức tưởng tượng. Tiền vệ Trương Việt Hoàng ghi bàn thắng để đời với một cú volley ngoài vòng cấm địa, mở tỉ số cho Việt Nam. Sang hiệp 2, Hồng Sơn và Văn Sỹ Hùng ghi liên tiếp 2 bàn nữa để nhận chìm đương kim vô địch Thái Lan với tỷ số 3–0. Tuy nhiên, ở cuối trận, Văn Sỹ Hùng nhận thẻ đỏ và không được tham dự trận chung kết.
Nhưng khi giấc mơ đến thật gần, đội tuyển Việt Nam đã chơi trận chung kết dưới sức khi gặp lại Singapore. Thiếu vắng Văn Sỹ Hùng, thay vì tiền đạo trẻ Nguyễn Tuấn Thành, lão tướng 35 tuổi Nguyễn Văn Dũng (khi đó là vua phá lưới giải vô địch quốc gia) được tin cậy xung trận cùng Lê Huỳnh Đức trên hàng công nhưng không để lại ấn tượng gì. Bàn thắng được ghi do lưng của hậu vệ Sasi Kumar đã đánh bại thủ thành Trần Tiến Anh, qua đó đem chiếc Cup vàng rời khỏi Việt Nam trong sự chết lặng của các cổ động viên trên sân Hàng Đẫy.
=== Tiger Cup 2000 ===
Giải bóng đá của thiên niên kỷ mới lần này được tổ chức trên đất Thái Lan. Việt Nam nằm cùng bảng với 2 đối thủ chính: Singapore và Malaysia. Sau trận đầu hòa không bàn thắng trước Malaysia, Việt Nam đã "đòi được món nợ" trước Singapore với chiến thắng 1–0 do pha đánh đầu cận thành của Lê Huỳnh Đức. Đương kim vô địch Singapore chính thức bị loại sau trận hòa 1–1 với Malaysia.
Tại bán kết, Việt Nam gặp Indonesia, Nguyễn Hồng Sơn gỡ hòa 1–1 cho Việt Nam ở cuối hiệp 1. Khi trận đấu gần kết thúc, Indonesia vượt lên dẫn trước 2–1, lúc này hầu như toàn bộ đội hình Việt Nam đều dâng sang phần sân đối phương nhằm tìm cơ hội trong những phút ít ỏi còn lại, và tiền đạo Vũ Công Tuyền đã làm tất cả vỡ òa với tình huống gỡ hòa của mình, 2 đội bước vào hiệp phụ. Thời điểm đó, do luật Bàn Thắng Vàng còn tồn tại nên khi bị thủng lưới, Việt Nam không còn cơ hội gỡ hòa và đành chấp nhận thất bại cay đắng, 3–2 nghiêng về Indonesia là kết quả cuối cùng.
Trận tranh hạng 3 với Malaysia, Việt Nam đã không còn tinh thần thi đấu nên dễ dàng để thua 0–3. Trong khi đó, Thái Lan một lần nữa thể hiện sức mạnh vượt trội của đội tuyển mạnh nhất Đông Nam Á khi đè bẹp Indonesia 4–1 và đăng quang ngay trên sân nhà. Các cầu thủ thuộc thế hệ vàng Việt Nam sau giải đấu này đã chia tay khá nhiều.
=== Tiger Cup 2002 ===
Lần đầu tiên giải được tổ chức ở trên 2 quốc gia, đó là Indonesia đăng cai bảng A và Singapore bảng B. Việt Nam không được đánh giá cao do đội hình chắp vá, gồm nhiều cầu thủ mới được tham dự lần đầu, và thời gian để huấn luyện viên Calisto nắm quyền là rất ngắn. Tuy nhiên, các cầu thủ đã thi đấu rất tốt và đạt được thành tích ngoài mong đợi. Đây là thời kỳ chuyển giao thế hệ, những tên tuổi mới được phát hiện và đa số sau đó đều trở thành trụ cột của đội tuyển quốc gia: Nguyễn Minh Phương, Phan Văn Tài Em, Trần Trường Giang, Trịnh Xuân Thành, lão tướng Huỳnh Hồng Sơn, Phạm Văn Quyến...
Sau trận mở màn giành chiến thắng tương đối dễ trước Campuchia (9–2), Việt Nam gặp chủ nhà Indonesia và bị dẫn trước 1–0. Trong vòng vài phút, Việt Nam đã lội ngược dòng nhờ 2 tình huống tỏa sáng cá nhân: Tài Em có cú sút ngoài vòng cấm địa bằng chân trái gỡ hòa 1–1, Lê Huỳnh Đức sút nối rất đẹp sau pha dứt điểm của Minh Phương nâng tỷ số lên 2–1, tuy nhiên 2–2 mới là kết quả cuối cùng của trận đấu này do pha bóng mất tập trung của hàng hậu vệ Việt Nam lúc sắp hết giờ. Việt Nam tiếp tục chiến thắng Philippines 4–1 (khi đó có tiền đạo Gonzales đang chơi bóng ở châu Âu). Trận đấu gặp Myanmar mới là trận chung kết sớm thực sự, bởi nếu thua, Việt Nam sẽ xách vali về nước sớm và thực lực đội tuyển Myanmar vẫn còn khá bí ẩn. Myanmar có pha mở tỉ số từ sớm, sau đó Xuân Thành có tình huống sút xa gỡ hòa 1–1 cho Việt Nam trước khi hiệp 1 khép lại. Đặng Phương Nam được tung vào sân và trong thời gian ngắn ngủi trên sân, anh ghi 2 bàn thắng và mang về 1 quả penalty - pha phạm lỗi của cầu thủ đội bạn khiến anh rời sân vì bị chấn thương. Chiến thắng 4–2 giúp Việt Nam đứng đầu bảng và sẽ đối đầu đương kim vô địch Thái Lan tại bán kết.
Thái Lan do thua Malaysia 1–3 nên xếp nhì bảng, phải đối đầu một Việt Nam đang thăng hoa, nhưng cuối cùng Thái Lan đã trả "món nợ" cách đây 4 năm khi ghi 4 bàn không gỡ vào lưới thủ môn Trần Minh Quang.
Hai bàn thắng của Trường Giang và Minh Phương giúp Việt Nam đánh bại Malaysia 2–1 và đoạt huy chương đồng, đánh dấu một giải đấu thành công vượt hơn mong đợi của Việt Nam, hơn nữa một thế hệ mới đã xuất hiện và người hâm mộ kỳ vọng rất nhiều vào những chàng trai này trong tương lai.
=== Tiger Cup 2004 ===
Giải đấu hàng đầu khu vực đã trở lại Việt Nam, nhưng lần này tại vòng bán kết và chung kết sẽ diễn ra theo thể thức lượt đi - lượt về trên sân của 2 đội đó. Việt Nam dưới thời huấn luyện viên Edson Tavarez đang chơi 1 lối chơi rất khác so với những năm trước, đội hình 3 tiền đạo gồm: Lê Huỳnh Đức chơi lùi, Lê Công Vinh bên cánh trái, Thạch Bảo Khanh cánh phải đã gây ra rất nhiều khó khăn cho các đối thủ mạnh tại vòng loại World Cup 2006 như Hàn Quốc, Lebanon... Được giới chuyên môn đánh giá rất cao, Việt Nam hy vọng sẽ "lật đổ" được Thái Lan.
Nhưng đây là giải đấu tồi tệ nhất của cả Việt Nam và Thái Lan trong sân chơi khu vực. Lần đầu tiên cả 2 bị loại ngay từ vòng bảng. Việt Nam hòa Singapore 1–1 trong ngày khai mạc, sau đó thắng Campuchia 9–2, thua Indonesia 0–3 tại SVĐ Mỹ Đình, thắng Lào 3–0.
=== AFF Cup 2007 ===
Do Đại hội Thể thao châu Á tổ chức ở Qatar diễn ra vào tháng 12 nên Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á (AFF) quyết định hoãn giải đấu lại một tháng (khởi tranh vào tháng 1 năm 2007 thay vì lịch cũ là tháng 12 năm 2006 theo đúng quy trình 2 năm 1 lần) để tạo điều kiện cho các đội tuyển Olympic thuộc khu vực tham gia sân chơi châu Á. Hãng bia Tiger cũng ngừng tài trợ nên giải được đổi tên theo tên của liên đoàn: AFF Cup. Kể từ lần này, AFF Cup sẽ có vòng loại, chọn ra 8 đội mạnh nhất chia làm 2 bảng (các đội tuyển yếu của khu vực là Lào, Philippines, Campuchia và Brunei thi đấu với nhau, chọn 2 đội cùng với 6 đội tuyển mạnh miễn vòng loại là: Thái Lan, Việt Nam, Singapore, Indonesia, Malaysia, Myanmar tham dự giải). Có 2 quốc gia được đăng cai làm chủ nhà vòng bảng, sau đó vòng bán kết và chung kết sẽ diễn ra với thể thức lượt đi - lượt về, 2 đội thua bán đồng hạng 3. Cách thức tổ chức như vậy kể từ giải này sẽ trở thành truyền thống và thông lệ cho các giải lần sau.
Việt Nam hòa 1–1 với Indonesia ở trận khai mạc, hòa 0–0 sau đó với chủ nhà Singapore. Do đó, muốn chắc suất lọt vào bán kết, Việt Nam cần thắng đậm Lào, đề phòng trường hợp Singapore hòa Indonesia, khi đó cả 3 đội đều có 5 điểm và hiệu số bàn thắng bại là yếu tố quyết định 2 cái tên đi tiếp. Thực tế diễn ra với đúng với kịch bản dự đoán, 3 đội bằng điểm nhau và Singapore nhất bảng, Việt Nam xếp thứ nhì nhờ trận thắng Lào 9–0.
Tại bán kết, Việt Nam gặp đội nhất bảng kia là Thái Lan, lượt đi diễn ra trên sân Thái Lan và họ giành chiến thắng 2–0 nhờ màn tỏa sáng của Datsakorn Thonglao. Lượt về trên sân Mỹ Đình, 2 đội hòa nhau mà không có bàn thắng nào được ghi. Việt Nam đồng hạng 3 cùng Malaysia.
=== AFF Cup 2008 ===
Thái Lan đăng cai bảng A Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2008 với sự góp mặt của Việt Nam, Malaysia, Lào; Indonesia làm chủ nhà bảng B đối đầu ĐKVĐ Singapore, Myanmar và Philippines. Việt Nam ở giải lần này không được đánh giá cao, từ khi huấn luyện viên Henrique Calisto nắm đội, đội tuyển toàn hòa và thua trong các trận giao hữu trước đó. Nghi ngờ càng tăng sau trận khai mạc khi Việt Nam thua 0–2 trước Thái Lan tại Phuket, khiến họ buộc phải thắng đối thủ trực tiếp là Malaysia mới có cơ hội đi tiếp. Tài năng trẻ Phạm Thành Lương là người mở tỉ số cho Việt Nam bằng cú sút xa rất đẹp mắt, sang hiệp 2, khi tỉ số đang là 1–1, tiền vệ vào sân thay người Nguyễn Vũ Phong có tình huống ngoặt bóng và dứt điểm nâng tỉ số lên 2–1, sau đó các cầu thủ áo đỏ lui về cố thủ bên sân nhà. Do rơi vào thế đường cùng, Malaysia phải dâng cao và có bàn thắng gỡ hòa khi trận đấu chỉ còn vài phút là kết thúc. Tuy nhiên Vũ Phong thêm một lần tỏa sáng khi đường chuyền vượt tuyến bên sân nhà lên cho Lê Công Vinh của anh vô tình chạm đất và nảy qua đầu thủ môn đội bạn dang băng lên, ấn định chiến thắng 3–2 cho Việt Nam. Trận cuối vòng bảng, Việt Nam thắng Lào 4–0 và lọt vào vòng bán kết có phần may mắn. Bảng đối diện, Singapore đứng đầu bảng sau 3 trận toàn thắng, trong đó có chiến thắng 2–0 trước chủ nhà Indonesia đầy thuyết phục ở trận cuối.
Đối đầu nhà vô địch Singapore đang có phong độ cực tốt tại bán kết, Việt Nam đã lột xác hoàn toàn. Trận đấu lượt đi 2 đội hòa nhau 0–0. Lượt về tại Singapore, Công Vinh có màn đột phá táo bạo trước khi chuyền vào cho Nguyễn Quang Hải đối mặt lưới trống, dứt điểm tung lưới đối phương và ghi bàn thắng duy nhất giúp Việt Nam lọt vào chung kết. Gặp lại Thái Lan tại trận chung kết lượt đi trên sân khách, Việt Nam gây bất ngờ khi dẫn trước 2–0 trong hiệp một bằng bàn thắng của Vũ Phong và Công Vinh. Mặc dù để đội chủ nhà gỡ lại một bàn nhưng kết quả 2–1 vẫn giúp Việt Nam có thêm nhiều tự tin trước trận đấu cuối cùng tại Mỹ Đình.
Trong trận chung kết lượt về ngày 28 tháng 12 năm 2008, khi bị dẫn trước 1–0 đến phút bù giờ cuối cùng, tiền vệ Nguyễn Minh Phương vào sân thay Nguyễn Minh Châu. Anh đứng trước quả đá phạt ở khoảng cách 30m, cú đá bóng xoáy của anh tìm đến Công Vinh, người nhô cao đánh đầu ngược làm tung lưới Thái Lan, mang về chức vô địch Đông Nam Á lần đầu tiên cho Việt Nam.
=== AFF Cup 2010 ===
Lần thứ 3 Việt Nam có vinh dự được đăng cai một bảng đấu khu vực, gồm Singapore, Myanmar và Philippines. Vào lúc này, trình độ các đội tuyển quốc gia tại Đông Nam Á đã xích lại gần nhau hơn. Nhà đương kim vô địch có màn ra mắt các cổ động viên nhà rất ấn tượng khi chiến thắng đậm đà 7–1 trước Myanmar, dù không có sự phục vụ của tiền đạo chủ lực Lê Công Vinh. Nguyễn Anh Đức (2 bàn), Nguyễn Minh Phương, Nguyễn Trọng Hoàng (2 bàn), Lê Tấn Tài, Nguyễn Vũ Phong là những người lập công. Lượt trận thứ 2, Việt Nam bất ngờ bị Philippines dội gáo nước lạnh khi thất thủ 0–2. Vì vậy, Việt Nam (hiện đang có 3 điểm) buộc phải thắng Singapore (4 điểm) để giành chiếc vé tiếp theo vào bán kết sau Myanmar. Trận đấu diễn ra kịch tính suốt 90 phút, trong đó Vũ Phong ghi bàn thắng duy nhất của trận đấu từ đường chuyền của Phạm Thành Lương sau tình huống phản công nhanh.
Tại bán kết Việt Nam thua Malaysia, đội về sau lên ngôi vô địch với tổng tỉ số 0–2 sau 2 lượt trận. Việt Nam chia tay cặp tiền vệ xuất sắc Minh Phương - Tài Em, để lại nhiều sự nuối tiếc cho người hâm mộ vì Minh Phương chỉ mới bước qua độ tuổi 30, còn Tài Em chỉ mới 28.
=== AFF Cup 2012 ===
Đội tuyển Việt Nam lần đầu sử dụng huấn luyện viên nội tham gia đấu trường khu vực. Huấn luyện viên Phan Thanh Hùng của câu lạc bộ Hà Nội T&T là người có được vinh dự này. Nằm tại bảng đấu với đối thủ mạnh Thái Lan, lại thi đấu ngay trên sân của họ, Việt Nam lại thiếu mất nhiều trụ cột nên kết quả là bị loại sau vòng đấu bảng. Việt Nam hòa Myanmar 1–1, thua Philippines 0–1 và thua Thái Lan 1–3. Kết thúc giải chỉ với 1 điểm có được, Việt Nam may mắn hơn Myanmar về hiệu số bàn thắng/bại nên được miễn đấu vòng loại để tham gia giải lần sau.
=== AFF Cup 2014 ===
Thời kỳ chuyển tiếp rõ rệt tại đội tuyển Việt Nam khi huấn luyện viên người Nhật Bản Miura Toshiya đến tiếp quản. Các trụ cột trên lý thuyết đang ở độ tuổi chín muồi của sự nghiệp như: Huỳnh Quang Thanh, Nguyễn Vũ Phong, Huỳnh Quốc Anh, Nguyễn Minh Đức, Dương Hồng Sơn... đều bị loại hoặc không được gọi. Thay vào đó những gương mặt trẻ lại được tín nhiệm: Trần Nguyên Mạnh, Quế Ngọc Hải, Vũ Minh Tuấn, Võ Huy Toàn, Nguyễn Hải Anh, Ngô Hoàng Thịnh... Đội tuyển Việt Nam chọn cách chơi bóng bổng, bóng dài, tích cực chuyền xa và thể lực được cải thiện đáng kể. Tại vòng bảng, đội tuyển Việt Nam lần thứ 4 được chơi trên sân nhà và họ đã thể hiện bộ mặt tích cực khi hòa đội tuyển Indonesia của huấn luyện viên Alfred Riedl tỉ số 2–2, thắng đội tuyển Lào 3–0 và đặc biệt thăng hoa trước đội tuyển Philippines với cách biệt 3–1, bước vào vòng bán kết với vị thế đội nhất bảng.
Đối thủ của đội tuyển Việt Nam ở bán kết là đội tuyển Malaysia. Mặc dù thắng với tỉ số 2–1 ở trận bán kết lượt đi trên sân đối phương, nhưng ở trận bán kết lượt về tại sân nhà Mỹ Đình, đội tuyển Việt Nam phải nhận trận thua 2–4 trước Malaysia (thua chung cuộc 4–5) và nhường tấm vé vào chơi chung kết cho đối thủ.
=== AFF Cup 2016 ===
== Tại các giải châu lục và thế giới ==
=== Vòng loại World Cup 1994 ===
Vòng loại World Cup 1994 là giải đấu đầu tiên đội tuyển Việt Nam tái hòa nhập với giải đấu hàng đầu thế giới. Tại vòng loại này, Việt Nam ở cùng bảng đấu với các đội CHDCND Triều Tiên, Qatar, Indonesia và Singapore. Đội tuyển Việt Nam do ông Trần Bình Sự làm huấn luyện viên trưởng. Trong đội hình Việt Nam khi đó, có một số cầu thủ tiêu biểu như: các thủ môn: Trương Văn Lợi, Phạm Văn Hùng; các hậu vệ: Phạm Tiến Dũng, Nguyễn Phương Trung, Chu Văn Mùi, Nguyễn Mạnh Cường, Hồ Văn Tam...; các tiền vệ: Bùi Thông Tân, Lư Đình Tuấn, Võ Hoàng Bửu, Đinh Thế Nam, Nguyễn Văn Long, Nguyễn Hồng Sơn, Phan Thanh Hùng...; các tiền đạo: Nguyễn Xuân Thanh, Hà Vương Ngầu Nại, Lê Huỳnh Đức, Đinh Thanh Hải, Phạm Đức Hợp. Các trận đấu lượt đi diễn ra tại Qatar. Trong trận đấu đầu tiên của đội tuyển Việt Nam thống nhất tại vòng loại World Cup vào ngày 9 tháng 4 năm 1993, Việt Nam đã để thua trắng CHDCND Triều Tiên 0–3 tại sân Khalifa (Doha). Trong trận tiếp theo, Việt Nam tiếp tục thua trắng chủ nhà Qatar 0–4.
Ngày 13 tháng 4 năm 1993, Việt Nam để thua Singapore 2–3 trong một trận cầu đầy nuối tiếc. Với bàn mở tỉ số ở phút 14, Lư Đình Tuấn trở thành cầu thủ đầu tiên của Việt Nam ghi bàn tại vòng loại World Cup. Tuy nhiên, Singapore đã nhanh chóng ghi liên tiếp 3 bàn ở các phút 19, 35 và 73 do công của Fandi Ahmad, Steven Tan (phạt đền) và Sundram Moorthy. Bàn còn lại của Việt Nam trong trận đấu này do công của Phan Thanh Hùng (phút 77).
Ngày 16 tháng 4 năm 1993, trong trận đấu cuối cùng của lượt đi với Indonesia, Việt Nam đã giành được thắng lợi đầu tiên tại vòng loại World Cup với tỉ số 1–0. Bàn thắng duy nhất được ghi vào phút 61 do công của tiền đạo Hà Vương Ngầu Nại (Cảng Sài Gòn). Sau đó Việt Nam tiếp tục để thua cả 4 trận đấu lượt về diễn ra tại Singapore (0–1 trước CHDCND Triều Tiên, 0–4 trước Qatar, 0–1 trước Singapore và 1–2 trước Indonesia). Bàn thắng duy nhất của lượt về được ghi do công của Nguyễn Hồng Sơn (phút 30 trong trận thua Indonesia 1–2). Với duy nhất một trận thắng, đội tuyển Việt Nam xếp cuối bảng với 2 điểm sau 8 trận, ghi được 4 bàn thắng.
=== Vòng loại World Cup 1998 ===
Tại vòng loại World Cup 1998, đội tuyển Việt Nam ở cùng bảng với các đội Trung Quốc, Tajikistan và Turkmenistan. Đội tuyển mở đầu vòng loại vào ngày 4 tháng 4 năm 1997 tại sân Pamir (Dushanbe) bằng thất bại 0–4 trước đội chủ nhà Tajikistan. Ở trận thứ 2, trên sân Turkmenistan, đội thua tiếp với tỉ số 1–2 với bàn gỡ duy nhất của tuyển thủ Nguyễn Công Vinh (Đường sắt Việt Nam) ở phút 71. Tại trận đấu thứ 3 trên sân Thống Nhất trước Trung Quốc, đội tuyển Việt Nam để thua 1–3. Bàn gỡ của Việt Nam do công của Lê Huỳnh Đức ghi sau một pha đánh gót chuyền bóng của Nguyễn Liêm Thanh ở phút 38. Ba trận đấu còn lại của lượt về đều có tỷ số thua 0–4 cho đội tuyển Việt Nam. Đội tuyển Việt Nam xếp cuối bảng vòng loại sau cả 6 thất bại. Những kết quả yếu kém này làm dấy nên những nghi ngờ về việc bán độ và dàn xếp tỉ số của một số tuyển thủ Việt Nam, trong đó nổi lên là trung vệ Lã Xuân Thắng khi cầu thủ này đã đánh đầu phản lưới nhà vào phút 24 trong trận đấu với Tajikistan trên sân vận động Thống Nhất.
=== Vòng loại Asian Cup 2004 ===
Năm 2003, trên danh nghĩa đội tuyển quốc gia tham dự vòng loại Cúp bóng đá châu Á, LĐBĐ Việt Nam đã cử đội tuyển U–23 thi đấu nhằm cọ xát tích lũy kinh nghiệm, chuẩn bị cho SEA Games 22. Tuy không vượt qua được vòng loại, nhưng với một đội hình trẻ, Việt Nam đã tạo nên một kỳ tích khi giành chiến thắng 1–0 trước đội tuyển quốc gia Hàn Quốc - đội tuyển vừa đứng thứ 4 vòng chung kết World Cup 2002 một năm trước đó. Người ghi bàn thắng duy nhất đó chính là tiền đạo Phạm Văn Quyến, người sau đó tỏa sáng ở SEA Games 22.
=== Vòng loại World Cup 2006 ===
Năm 2004, huấn luyện viên Edson Tavares trở lại Việt Nam dẫn dắt đội tuyển thi đấu ở vòng loại thứ nhất World Cup 2006 cùng bảng với Liban, Hàn Quốc và Maldives. Trước đó, huấn luyện viên tạm quyền Nguyễn Thành Vinh đã giúp Việt Nam có được chiến thắng đầu tiên 4–0 trước đối thủ Maldives vào ngày 18 tháng 2. Phan Văn Tài Em là người mở tỉ số, ngôi sao mới nổi Nguyễn Minh Hải ghi bàn thắng từ tình huống đánh đầu đẳng cấp nâng tỉ số lên 2–0, sang hiệp 2 Việt Nam ghi thêm 2 bàn nữa do công Tài Em và Phạm Văn Quyến từ chấm penalty. Tuy nhiên sau đó Việt Nam lại thất thủ 0–2 trước Liban trên sân Thiên Trường. Trong trận lượt về với Hàn Quốc tại sân Thống Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam dẫn trước Hàn Quốc 1–0 nhờ tình huống đá bóng xoáy của Tài Em, tuy nhiên Hàn Quốc giành chiến thắng chung cuộc 2–1. Việt Nam kết thúc vòng loại với trận hòa 0–0 tại Liban.
=== Vòng chung kết Asian Cup 2007 ===
Liên đoàn bóng đá châu Á thay đổi quy trình tổ chức từ năm chẵn sang năm lẻ, vì vậy Cúp bóng đá châu Á 2007 được diễn ra thay vì năm 2008 như chu kỳ cũ. Lần này 4 quốc gia Đông Nam Á là Thái Lan, Việt Nam, Malaysia và Indonesia sẽ được đăng cai 4 bảng đấu và vòng tứ kết, trận đấu bán kết diễn ra ở Kuala Lumpur, Malaysia và Jarkarta, Indonesia. Trận chung kết tổ chức ở Indonesia. Đây là lần đầu tiên Việt Nam được vinh dự đăng cai một giải đấu bóng đá quy mô tầm cỡ châu lục, do được miễn vòng loại nên Việt Nam cũng lần đầu được tham dự. Nằm cùng bảng với đương kim vô địch giải lần trước Nhật Bản, đương kim vô địch Asiad 2006 Qatar, đương kim vô địch giải Tây Á Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE), Việt Nam dường như được xem là đội lót đường.
Thực tế đã diễn ra hoàn toàn khác, Việt Nam đã gây nên cú sốc lớn khi lần đầu tham dự đã lọt vào đến vòng tứ kết. Trận đấu đầu tiên, Việt Nam xuất sắc vượt qua UAE 2–0 nhờ bàn thắng của Huỳnh Quang Thanh và Lê Công Vinh, tuy nhiên cả 2 bàn đó đều mang dấu ấn kiến tạo của Nguyễn Minh Phương. Chưa dừng lại ở đó, Việt Nam còn dẫn trước Qatar ở trận đấu tiếp theo, Phan Thanh Bình là người tỏa sáng, kết quả cuối cùng 2 đội hòa nhau 1–1. Ở lượt trận cuối Việt Nam thậm chí còn mở tỷ số trước khi đối đầu với Nhật Bản dù sau đó bị đối thủ ghi lại bốn bàn. Tuy thua Nhật 4–1 nhưng Việt Nam vẫn đứng thứ 2 bảng đấu và vào tứ kết với 4 điểm, trở thành đội duy nhất của Đông Nam Á lọt vào tứ kết năm đó. Tại tứ kết, Việt Nam thất thủ với tỷ số 0–2 trước Iraq, đội sau đó đã lên ngôi vô địch giải.
== Trang phục thi đấu ==
Màu áo thi đấu chính của đội tuyển là bộ trang phục toàn đỏ, màu áo phụ là bộ trang phục toàn trắng. Từ năm 1999 đến năm 2003, tài trợ trang phục thi đấu cho đội tuyển Việt Nam là hãng thời trang Adidas, từ 2005 đến hết năm 2008, hãng cung cấp trang phục thi đấu cho đội tuyển Việt Nam là Li Ning, từ tháng 01 năm 2009, Nike đảm nhiệm vai trò này theo một hợp đồng 5 năm. Trang phục thi đấu cho đội tuyển trong giai đoạn 2015-2019 do hãng Grand Sport tài trợ
Trang phục chính
Trang phục phụ
== Các nhà tài trợ ==
Các nhà tài trợ chính cho đội tuyển gồm Yanmar, Grand Sport và Honda Việt Nam.. Ngoài ra còn một số nhà tài trợ phụ khác.
== Thành tích ==
=== Cấp thế giới ===
==== Giải vô địch bóng đá thế giới ====
=== Cấp châu lục ===
==== Cúp bóng đá châu Á ====
==== Đại hội Thể thao châu Á ====
(Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1998)
=== Cấp khu vực ===
==== Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á ====
==== Đại hội Thể thao Đông Nam Á ====
(Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1999)
=== Cúp VFF ===
(Đội tuyển Việt Nam và đội tuyển U-23 Việt Nam luân phiên nhau từng năm làm đại diện nước chủ nhà.)
== Kết quả thi đấu ==
=== Kết quả thi đấu năm 2017 ===
Thắng Hòa Thua
Giao hữu
Vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2019
=== Kết quả thi đấu năm 2018 ===
Vòng loại Cúp bóng đá châu Á 2019
== Đội hình hiện tại ==
Danh sách đội tuyển quốc gia tập trung chuẩn bị tham dự trận giao hữu gặp Đài Loan và vòng loại Asian Cup 2019 vào các ngày 22 và 28 tháng 3 năm 2017.
Số lần khoác áo và số bàn thắng cập nhật mới nhất ngày 28 tháng 3 năm 2017, sau trận gặp Afghanistan.
=== Gọi tên gần đây ===
Các cầu thủ từng được gọi vào đội tuyển Việt Nam trong vòng 12 tháng qua.
Chú thích:
SUS Cầu thủ bỏ cuộc
INJ Cầu thủ rút khỏi đội hình do chấn thương.
RET Từ giã đội tuyển quốc gia.
WD Cầu thủ rút khỏi đội hình vì những lý do không liên quan đến chấn thương.
== Thành phần ban huấn luyện ==
== Huấn luyện viên trưởng ==
Danh sách huấn luyện viên tính từ năm 1991
== Thứ hạng trong bảng xếp hạng của FIFA ==
== Thành tích đối đầu với từng quốc gia ==
Cập nhật lần cuối ngày 28 tháng 3 năm 2017.
== Danh hiệu ==
Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á
Vô địch (1): 2008
Á quân (1): 1998
Hạng ba (6): 1996, 2002, 2007, 2010, 2014, 2016
Đại hội Thể thao Đông Nam Á
Huy chương bạc (5): 1995, 1999
Huy chương đồng (2): 1997
Danh hiệu khác:
AYA Bank Cup: 2016
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Lịch sử bóng đá Việt Nam
Liên đoàn bóng đá Việt Nam
Đội tuyển bóng đá U-23 quốc gia Việt Nam
Đội tuyển bóng đá U-19 quốc gia Việt Nam
Đội tuyển bóng đá U-16 quốc gia Việt Nam
Đội tuyển bóng đá nữ quốc gia Việt Nam
Đội tuyển bóng đá trong nhà quốc gia Việt Nam
Đội tuyển bóng đá bãi biển quốc gia Việt Nam
Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ Liên đoàn bóng đá Việt Nam
Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam trên trang chủ của FIFA |
cộng hòa dân chủ congo.txt | Cộng hòa Dân chủ Congo (Tiếng Việt: Cộng hòa Dân chủ Công-gô; tiếng Pháp: République Démocratique du Congo, viết tắt là DR Congo, DRC, RDC) là một quốc gia ở Trung Châu Phi. Cộng hòa Dân chủ Congo còn được gọi là Nhà nước Tự do Congo, Congo thuộc Bỉ, Congo-Leopoldville, hay Congo-Kinshasa vì thủ đô là Kinshasa, hay Zaire.
Đây là quốc gia có diện tích lớn thứ hai ở châu Phi. Mặc dù nằm ở tiểu vùng Trung Phi theo cách xác định của Liên Hiệp Quốc, song quốc gia này hay được xem thuộc vùng Nam châu Phi vì là một thành viên của Cộng đồng Phát triển Nam Phi (SADC). Quốc gia này có biên giới với Cộng hòa Trung Phi và Nam Sudan ở phía Bắc, Uganda, Rwanda, Burundi, Tanzania ở phía Đông, Zambia và Angola ở phía Nam, và Cộng hòa Congo ở phía Tây. Quốc qia có đường bờ biển dài chỉ 40 km ở Muanola, trong đó có tới khoảng 9 km là cửa sông Congo đổ vào vịnh Guinea ở Đại Tây Dương. Cái tên Congo (nghĩa đen: Người đi săn) được đặt theo tên sắc tộc Kongo sống ở lưu vực sông Congo.
Vốn là một thuộc địa của Bỉ (Congo thuộc Bỉ), quốc gia này giành được độc lập vào năm 1960, mang tên "Cộng hòa Congo" cho đến ngày 01 tháng 10 năm 1971 thì được tổng thống Mobutu đổi tên thành Zaire, phát âm từ Bồ Đào Nha của chữ Nzere hay Nzadi của Kikogo, được dịch là "Dòng sông nuốt chửng tất cả các dòng sông". Sau cuộc chiến Congo lần thứ nhất lật đổ Mobutu vào năm 1997, đất nước này lại được đổi tên là Cộng hòa Dân chủ Congo. Từ năm 1998 đến năm 2003, đất nước đã chịu nhiều đau khổ từ sự tàn phá của cuộc chiến Congo lần thứ hai (đôi khi được gọi là Chiến tranh thế giới ở châu Phi).
== Lịch sử ==
Vùng lãnh thổ thuộc Cộng hòa Dân chủ Congo là nơi định cư của hai nhóm sắc tộc Bantu và Pygmy, bị phân chia thành những địa hạt tù trưởng và các vương quốc. Lịch sử vùng này được đánh dấu bởi sự ra đời của ba vương quốc lớn. Vương quốc Kongo được thành lập trên phần lãnh thổ phía Bắc Angola hiện nay, bên vùng cửa sông Congo từ thế kỉ 14. Vương quốc của người Luba (hoặc Baluba) được thành lập từ thế kỉ 16 trong vùng cao nguyên Katanga. Vương quốc Lunda gồm một phần của vùng Kasai, được thành lập vào thế kỉ 17. Các vương quốc này xâu xé nhau bởi các cuộc tranh chấp trong vùng và bị tàn phá do chế độ buôn bán nô lệ.
=== Nhà nước Congo tự do (1870 – 1908) ===
Sau các cuộc thám hiểm của Henry Stanley tiến sâu vào lãnh thổ bên trong bằng đường sông Congo (1874-1884), Nhà nước Tự do Congo được thành lập (Hội nghị Berlin, 1885) và thuộc quyền sở hữu cá nhân của vua Bỉ, Leopold II, ông ta đã thâu tóm một gia tài khổng lồ từ ngà voi và cao su do bóc lột sức lao động của nô lệ. Khoảng 10 triệu người đã chết do lao động cưỡng bức, đói khát và bị giết chết trong suốt thời kì cai trị thuộc địa của Leopold.
=== Sự quản lý của Bỉ (1908 – 1960) ===
Từ năm 1908, Congo trở thành thuộc địa của Bỉ. Bỉ đã xây dựng và phát triển mạng lưới đường bộ và đường sắt tại thuộc địa này để chuyên chở các sản phẩm khai thác từ hầm mỏ và các đồn điền về chính quốc. Cư dân thành thị và công nhân phát triển mạnh làm xuất hiện các phong trào dân tộc chủ nghĩa.
=== Chính trị khủng hoảng (1960 – 1965) ===
Năm 1960, Congo giành được độc lập. Vùng Katanga, dưới sự lãnh đạo của Moise Tschombé, tuyên bố li khai. Đồng thời, chính quyền trung ương lại chia thành những người ủng hộ thể chế liên bang của Tổng thống Kasanubu và những người ủng hộ chế độ hợp nhất của Thủ tướng Lumumba. Năm 1961, Thủ tướng Lumumba bị ám sát, nội chiến vẫn tiếp tục kéo dài. Liên Hiệp Quốc gởi quân đội đến can thiệp (1961-1963) và lực lượng lính dù của Bỉ được phái đến để tiêu diệt quân phiến loạn ủng hộ Thủ tướng Lumumba (1964).
Năm 1965, Tướng Mobutu lên nắm quyền sau cuộc đảo chính, mở ra một thời kì tương đối ổn định. Cộng hòa Congo, còn gọi Congo-Kinshasa được đổi tên thành Zaire năm 1971.
=== Thời kỳ Zaire (1971 – 1997) ===
Năm 1977, Tổng thống Mobutu kêu gọi sự giúp đỡ của Pháp khi phải đối mặt với những nguy cơ đòi li khai ngày càng phát triển mạnh.
Từ năm 1990, làn sóng phản đối ngày càng tăng cao buộc Tổng thống Mobutu phải nhượng bộ. Năm 1994, khoảng một triệu người Hutu và Rwanda sang tị nạn ở miền đông Congo, làm cho cuộc khủng hoảng chính trị thêm trầm trọng. Năm 1997, cuộc đấu tranh chống lại sự kiểm soát của quyền lực trung ương đã dẫn dến việc ra đi của Tổng thống Mobutu.
=== Xung đột và sự chuyển tiếp (1996 – nay) ===
Laurent-Désiré Kabila lên cầm quyền và tuyên bố đổi tên nước thành Cộng hòa Dân chủ Congo. Năm 1998, các lực lượng liên minh cũ của Tổng thống L. D. Kabila nhờ sự ủng hộ của Rwanda và Uganda, đã nổi dậy chống lại chính quyền trung ương, đẩy đất nước vào cuộc chiến tranh mới. Tháng 1 năm 2001. Tổng thống Kabila bị ám sát và con trai là Joseph Kabila lãnh đạo đất nước.
Tổng thống Joseph tiến hành các cuộc đàm phán nhằm - chấm dứt cuộc nội chiến. Tháng 4 năm 2002, chính phủ đồng ý một thỏa thuận chia sẻ quyền lực với quân nổi dậy do Uganda hậu thuẫn. Tháng 7 năm 2002, Tổng thống Cộng hòa Dân chủ Congo và Tổng thống Rwanda cùng ký hiệp ước: Rwanda hứa rút 35.000 quân khỏi biên giới phía Đông Cộng hòa Dân chủ Congo, còn Cộng hòa Dân chủ Congo sẽ giải trừ vũ khí của hàng ngàn dân quân Hutu đang đóng trên lãnh thổ Cộng hòa Dân chủ Congo và đe doạ đến an ninh Rwanda - nhiều người trong số họ đã ủng hộ hoặc tham gia cuộc diệt chủng người Tutsi Rwanda năm 1994. Tháng 9 năm 2002, Uganda và Cộng hòa Dân chủ Congo ký hiệp định hòa bình.
Một Chính phủ chuyển tiếp đã ra đời vào tháng 7 năm 2003, đứng đầu là Tổng thống Joseph Kabila và 4 phó Tổng thống là các đại diện của Chính phủ trước đây, lực lượng nổi dậy và phe đối lập. Chính phủ chuyển tiếp đã tổ chức thành công cuộc chưng cầu dân ý về Hiến pháp tháng 12 năm 2005. Trong cuộc bầu cử Tổng thống vào tháng 8 năm 2006, ông Kabila đã tái đắc cử và tiếp tục điều hành đất nước. Theo hiến pháp nước này, Thủ tướng do Tổng thống chỉ định. Cuộc bầu cử tiếp theo sẽ được dự kiến tổ chức vào tháng 11 năm 2011.
Từ tháng 3 năm 2012, nhóm phiến quân nổi loạn, được gọi là M23, đã nổi dậy buộc 470.000 người ở Bắc Kivu, tỉnh giàu khoáng sản ở miền Đông Cộng hoà Dân chủ Congo và nằm sát biên giới chung với Uganda và Rwanda, phải đi lánh nạn. Đầu tháng bảy vừa qua, M23 tuyên bố đã giành quyền kiểm soát nhiều thị trấn, trong đó có vị trí chiến lược Rutshuru tại tỉnh Bắc Kivu. M23, nhóm nổi loạn nguyên là quân đội người Tutsi sáp nhập vào quân đội Cộng hoà dân chủ Congo từ năm 2009 nhưng đầu năm nay đã đào ngũ với lý do bất đồng về lương bổng và các điều kiện sinh hoạt. Nhóm nổi loạn cũng đã đặt ra các điều kiện với Chính phủ Cộng hoà Dân chủ Congo như người tị nạn Congo ở Rwanda được hồi hương, thúc đẩy dân chủ cũng như xác nhận vị trí cấp bậc mà các thành viên M23 từng giữ trong quân đội Cộng hoà Dân chủ Congo.
Liên Hiệp Quốc đã gửi quân đến để hỗ trợ lực lượng chính phủ trấn áp phe nổi loạn. Cho đến tháng 8 năm 2012, tình hình an ninh tại CHDC Congo tại một số vùng vẫn chưa ổn định.
== Địa lý ==
Cộng hòa Dân chủ Congo nằm ở Trung Phi, đường xích đạo đi ngang qua, nằm chếch về phía trên. Cộng hòa dân chủ Congo có diện tích lớn hàng thứ ba ở châu Phi, sau Sudan và Algérie, Bắc giáp Cộng hòa Trung Phi và Sudan; Tây Nam giáp Angola và Nam giáp Zambia; Đông giáp Uganda, Rwanda, Burundi và Tanzania; Tây giáp Đại Tây Dương và Cộng hòa Congo.
Quốc gia này chỉ có một hành lang hẹp thông ra Đại Tây Dương, lãnh thổ cả nước trải rộng trên vùng chậu được bao phủ bởi rừng rậm xích đạo ẩm và nóng, tương ứng với khoảng 2/3 diện tích vùng lưu vực sông Congo. Ở phía Đông, Cộng hòa Dân chủ Congo tựa lưng vào những vùng đất cao của Đông Phi, tiếp đó là dãy lũng hẹp dài có các hồ Albert (Mobutu), Edward, Kivu, Tanganyika đặt mốc cho biên giới chung với các nước ở phía Đông. Cư dân tập trung ở các vùng cao thuộc rìa phía Đông có khí hậu trong lành, nhất là ở một phần ba lãnh thổ phía Nam, tại đó rừng thưa và các đồng cỏ xen nhau (Kinshasa và Kangtaga). Nhìn chung, nhân dân Congo gồm chừng 60 tộc người gia tăng mạnh ở các thành phố (44,3% số dân).
Các sông chính có Sông Congo (4.700 km, lưu lượng lớn nhất châu Phi), sông Lualaba (1.770 km), sông Lomami (1.500 km), sông Aruwimba, sông Uélé, sông Tahuapa, sông Lukénie, sông Kasai.
== Hành chính ==
=== Các tỉnh ===
Quốc gia này được chia thành 10 tỉnh và 01 thành phố cấp tỉnh. Đến lượt các tỉnh lại chia thành các huyện và huyện chia thành các vùng lãnh thổ.
=== Khí hậu ===
Khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm ở các khu vực trũng hai bên bờ sông thuộc vùng xích đạo; mát và khô hơn ở các vùng cao nguyên phía Nam; mát và ẩm hơn các vùng cao nguyên phía Đông. Vùng phía Bắc xích đạo: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 2; vùng phía Nam xích đạo: mùa mưa từ tháng 10 đến tháng 4, mùa khô từ tháng 4 đến tháng 10.
=== Môi trường ===
Tình trạng nhiễm nguồn nước; nạn phá rừng; đất bị xói mòn; nạn săn bắt trái phép và nguy cơ thú rừng bị tuyệt chủng.
== Chính trị ==
Ngày 30 tháng 7 năm 2006, Cộng hòa Dân chủ Congo bầu cử Tổng thống và Quốc hội theo chế độ đa đảng. Đây là cuộc tổng tuyển cử đa đảng đầu tiên trong hơn 40 năm qua tại Cộng hòa Dân chủ Congo, dưới sự giám sát của 1.500 quan sát viên nước ngoài; hơn 17.000 binh lính thuộc lực lượng gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc và 1.000 binh sĩ thuộc Liên minh châu Âu bảo đảm an ninh cho cuộc bầu cử. Sau vòng 2, ông Joseph Kabia đã giành thắng lợi với 58,05% số phiếu.
Chính quyền của Tổng thống J. Kabila có nhiều nỗ lực nhằm ổn định tình hình, khắc phục hậu quả nặng nề do nội chiến để lại và thực hiện hoà giải, hoà hợp dân tộc; song vẫn còn các cuộc đụng độ phe phái - sắc tộc, nhất là ở khu vực phía Đông có sự dính líu của Rwanda và Uganda.
Tháng 1 năm 2008, tại Goma, thủ phủ tỉnh Bắc Kivu (North Kivu), Chính phủ Cộng hòa Dân chủ Congo và lực lượng nổi dậy thuộc Phong trào Mai Mai và tướng đào ngũ Laurent Nkunda đã ký Hiệp định nhằm chấm dứt nội chiến kéo dài ở miền Đông nước này.
== Kinh tế ==
Cộng hòa Dân chủ Congo (CHDC) Congo nằm trong số những nước nghèo nhất thế giới, với GDP thấp đứng hàng thứ 2 CHDC Congo được nhiều nước giàu có chú ý tới bởi nguồn tài nguyên phong phú của quốc gia này; các mỏ nguyên liệu khoáng thô chưa được khai thác của quốc gia này có trị giá hơn 24 tỷ đô la.
Tuy nhiên, nền kinh tế của CHDC Congo đã bị suy thoái từ giữa những năm 80 của thế kỉ 20. Vào thời điểm độc lập năm 1960, CHDC Congo là một nước công nghiệp hóa thứ 2 ở châu Phi sau Nam Phi, dựa chủ yếu vào ngành công nghiệp khai thác mỏ và nền nông nghiệp tương đối có hiệu quả. Hai cuộc chiến trong thời gian sau đó, bắt đầu từ năm 1996, đã làm sản xuất và nguồn thu ngân sách giảm sút nghiêm trọng, trong khi đó nợ nước ngoài lại tăng. Cuộc chiến còn cướp đi sinh mạng của 3,5 triệu người do bạo lực, nạn đói và bệnh tật. Những nhà kinh doanh cắt giảm các hoạt động đầu tư do lo ngại các cuộc xung đột, thiếu cơ sở hạ tầng, và môi trường kinh doanh khó khăn. Tình hình đã được cải thiện vào cuối năm 2002 khi mà lực lượng chiếm đóng bắt đầu rút quân khỏi Congo. Chính phủ chuyển tiếp đã nối lại quan hệ với các thiết chế tài chính và các nhà tài trợ quốc tế. Tổng thống Kabila bắt đầu tiến hành cải cách. Nhiều các dự án được tiến hành thúc đẩy tăng trưởng GDP. Kinh tế CHDC Congo bắt đầu tăng trưởng ổn định trong giai đoạn 2003 – 2005 bất chấp những khó khăn do khuôn khổ pháp lý chưa rõ ràng, nạn tham nhũng, và các chính sách mở cửa chưa thông thoáng. Suy thoái kinh tế toàn cầu đã khiến cho tốc độ tăng trưởng của nước này năm 2009 giảm 1 nửa so với năm 2008, tuy nhiên chỉ số này đã hồi phục và tăng trưởng 6% năm 2010.
Năm 2010, tổng sản phẩm quốc nội của CHDC Congo tăng trưởng 6%, đạt 12,6 tỷ USD. Và GDP bình quân đầu người của nước này là 176 USD/người/năm. Mặc dù đã có nhiều tiến bộ trong ổn định nền kinh tế, nhưng tỷ lệ lạm phát của nước này là khá cao, khoảng 26,2%.
Congo là một nước nông nghiệp. Phần đông dân cư sống bằng nghề nông. Hàng năm, nông nghiệp đóng góp khoảng 37,4% GDP cho đất nước này. Các loại nông sản chính của Congo là: cà phê, đường, dầu cọ, chè, miến, chuối, ngô, hoa quả và các sản phẩm gỗ, cao su…
CHDC Congo là nước có nguồn dự trữ về tài nguyên và khoáng sản vô cùng phong phú. Công nghiệp của Congo chủ yếu là khai khoáng, là nhà sản xuất cobalt lớn nhất thế giới. Congo có 70% trữ lượng coltan của thế giới, và hơn 30% kim cương. chủ yếu là dạng kim cương nhỏ, công nghiệp. Năm 2002, thiếc đã được phát hiện ở phía đông của quốc gia này nhưng cho đến nay việc khai thác chỉ ở quy mô nhỏ. Buôn lậu liên quan đến khoáng sản, coltan và cassiterit như đã đổ thêm dầu vào lửa cho các cuộc chiến tranh ở miền đông Congo. Katanga Mining Limited, một công ty của Thụy Sĩ, sở hữu nhà máy luyện kim Luilu, có công suất 175.000 tấn đồng và 8.000 tấn cobalt mỗi năm, là nhà sản tinh chế cobalt lớn nhất thế giới. Sau một chương trình phục hồi lớn, công ty này đã khởi động lại vào tháng 12 năm 2007 và sản xuất cobalt vào tháng 5 năm 2008. CHDC Congo cũng sở hữu 50% diện tích rừng ở châu Phi và hệ thống sông suối cung cấp nhiều thuận lợi cho khai thác thủy điện, theo báo cáo của UN về ý nghĩa chiến lược và vai trò tiềm năng của quốc gia này thì đây được xem là một động lực kinh tế ở Trung Phi. Ngoài ra còn có các ngành công nghiệp phục vụ tiêu dùng (dệt may, giày dép, sản xuất đồ ăn và đồ uống), sửa chữa tàu.. Hàng năm, công nghiệp đóng góp vào khoảng 11% GDP của nước này.
Dịch vụ hàng năm đóng góp khoảng 1/3 GDP cho đất nước. Tuy nhiên ngành dịch vụ du lịch bị ảnh hưởng nặng nề bởi các cuộc nội chiến liên miên trước đây.
Về ngoại thương, năm 2009, CHDC Congo xuất khẩu 3,8 tỷ USD hàng hoá các loại. Trong đó các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt là kim cương, đồng, cà phê, dầu thô và côban. Các bạn hàng xuất khẩu chính của nước này là: Bỉ, Phần Lan, Mỹ, Trung Quốc.
Kim ngạch nhập khẩu năm 2009 của Congo đạt 3,8 tỷ USD. Các mặt hàng mà Congo thường nhập khẩu là lương thực, xăng dầu và các thiết bị vận tải. Các đối tác nhập khẩu hàng từ CHDC Congo là Nam Phi, Bỉ, Pháp, Zambia, Kenya, Mỹ, Đức.
== Nhân khẩu - Ngôn ngữ ==
Dân số 60.085.000 người (ước tính 2005)
Mật độ dân số Xấp xỉ 19 người/km2.
Các dân tộc Trong số các nhóm dân tộc Phi, dân tộc Bantu chiếm đa số; có 4 bộ lạc lớn nhất là Mongo, Luba, Conggo (tất cả thuộc dân tộc Bantu), và Mangbetu-Azande (Hamitic), chiếm khoảng 45% tổng số dân.
-Ngôn ngữ chính: Tiếng Pháp; tiếng Lingala (một ngôn ngữ thương mại Pháp), tiếng Kingwana (tiếng Kiswahili hay Swahili), tiếng Kikongo, tiếng Tshiluba cũng được sử dụng.
Tôn giáo: Thiên Chúa giáo 50%, Tin lành 20%, Giáo hội Kimbanguist 10% một nhánh Tin lành được sáng lập tại Conggo, Hồi giáo 10%, tôn giáo khác (bao gồm syncretic sects và tín ngưỡng bản địa) 10%.
== Giáo dục ==
Hệ thống giáo dục Congo chưa phát triển, cơ sở vật chất nghèo nàn và rất thiếu cán bộ, tỷ lệ học sinh đến trường thấp. Năm 2001, tỉ lệ người biết chữ được ước tính là 67,2% (80,9% ở nam và 54,1% ở nữ). Hệ thống giáo dục của CHDC Congo được quản lý bởi 3 bộ thuộc chính phủ: Ministère de l'Enseignement Primaire, Secondaire et Professionnel(Bộ tiểu học, trung học và chuyên nghiệp), Ministère de l'Enseignement Supérieur et Universitaire (Bộ Đại học và sau đại học) và Ministère des Affaires Sociales (Bộ Xã hội). Hệ thống giáo dục của CHDC Congo giống của Bỉ. Năm 2002, có hơn 19.000 trường tiểu học với 160.000 học sinh; và 8.000 trường trung học với 110.000 học sinh. Giáo dục tiểu học là miễn phí và bắt buộc (điều 43 của Hiến pháp Congo 2005).
Tỉ lệ nhập học thô được tính dựa trên số học sinh đăng ký chính thức ở các trường tiểu học và sau đó không cần thiết phản ảnh qua số học sinh thực tế theo học. Năm 2000, 65% trẻ ở độ tuổi 10-14 đã đi học. Do ảnh hưởng của cuộc nội chiến 6 năm, hơn 5,2 triệu trẻ em ở quốc gia này phải thất học.
== Giao thông ==
Giao thông đường bộ ở CHDC Congo rất khó khăn do nhiều yếu tố địa hình và khí hậu cản trở, và khoảng cách đi lại giữa những khu vực trên đất nước này rất lớn. Hơn nữa, quản lý kinh tế yếu kém kéo dài và xung đột nội bộ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến đầu tư trong nhiều năm qua. Ngoài ra, đất nước này có hàng ngàn km đường thủy, và vận tải đường thủy truyền thống có thể di chuyển trong khoảng 2/3 chiều dài đất nước này.
Tất cả các nhà vận tải đường không được CHDC Congo cấp phép đều bị cấm khai thác ở các sân bay của Liên minh châu Âu do không đủ tiêu chuẩn an toàn.
== Động và thực vật ==
Rừng nhiệt đới ở CHDC Congo có độ đa dang sinh học rất cao, sở hữu nhiều loài đặc hữu và quý hiếm như tinh tinh thông thường và tinh tinh lùn, voi rừng, khỉ đột núi, hươu đùi vằn và tê giác trắng. Năm trong số các vườn quốc gia của đất nước này được xếp vào danh sách các di sản thế giới gồm: Garumba, Kahuzi-Biega, Salonga và vườn quốc gia Virunga, và Khu dự trữ động vật hoang dã Okapi. Cuộc nội chiến và các điều kiện kinh tế yếu kém đã đe dọa sự đa dạng sinh học ở đây. Tất cả các vườn quốc gia được liệt kê ở trên đều trong diện Di sản bị đe dọa.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Zaire
== Liên kết ngoài ==
CIA World Factbook - Democratic Republic of the Congo |
nhà hàng.txt | Nhà hàng là một cơ sở chuyên kinh doanh về việc nấu nướng và phục dịch các món ăn và đồ uống cho khách hàng đến mua và chủ yếu dùng ngay ở đó. Ngoài ra nhiều nhà hàng cũng có thêm dịch vụ gói món ăn lại để khách tiện "mang đi" thay vì dùng bữa ngay tại quán. Nhà hàng có ngoại hình đa dạng và đặc thù ở mỗi quốc gia, mỗi vùng, mỗi cộng đồng khác nhau cũng như những dịch vụ ăn uống, hình thức phục vụ, thực đơn, các món ăn, đồ uống... bao gồm một loạt các món ăn của đầu bếp chính (bếp trưởng).
== Lịch sử ==
Trong khi nhà trọ và quán rượu đã được biết đến từ thời cổ đại, nhưng những cơ sở nhằm mục đích phục vụ cho các du khách và người dân địa phương nói chung về ăn uống rất hiếm khi có vào thời kỳ cổ đại. Việc phục vụ ăn uống thường là một dịch vụ kèm theo của các quán trọ (khách điếm) hoặc quán rượu (tửu lâu) thường là rất hiếm. Những nhà hàng hiện đại được dành riêng để phục vụ đồ ăn, món ăn cụ thể theo yêu cầu của khách và được chuẩn bị sẵn sàng để chuyên phục vụ yêu cầu của họ. Các nhà hàng hiện đại có nguồn gốc từ Pháp thế kỷ 18, mặc dù tiền thân có thể được cho là tồn tại từ thời La Mã hay ít ra cũng từ thời nhà Tống ở Trung Quốc với hình thức Tửu lâu.
== Đặc điểm ==
Nhà hàng thường có một người chủ nhà hàng (hay gọi là ông chủ hoặc bà chủ, các nhân viên nấu bếp và người bếp trưởng được gọi là đầu bếp (tiếng Anh: chef, nguyên nghĩa theo tiếng Pháp là "chính") và các nhân viên phục vụ (bồi bàn). Nhà hàng phải có các thực đơn cụ thể dành cho khách, bố trí bàn ghế để phục vụ, các món ăn, thực phẩm, thức uống... đồng thời phải có các thiết bị và nơi chế biến thức ăn (bếp). Nhà hàng khác với quán ăn, hay tiệm ăn ở chỗ quy mô hơn và số lượng món ăn phong phú hơn. Nhà hàng có thể được đặt tên theo người chủ, theo địa phương hoặc theo đặc sản hay các món ăn đặc trưng.
== Tham khảo ==
Gernet, Jacques (translated by H. M. Wright) (1962), Daily Life in China on the Eve of the Mongol Invasion, 1250-1276, Stanford: Stanford University Press, ISBN 0-8047-0720-0
Haley, Andrew P. Turning the Tables: Restaurants and the Rise of the American Middle Class, 1880-1920 (University of North Carolina Press; 2011) 384 pp
Kiefer, Nicholas M. (tháng 8 năm 2002). “Economics and the Origin of the Restaurant” (PDF). Cornell Hotel and Restaurant Administration Quarterly, (pdf): pp 5–7. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link)
Lundberg, Donald E., The Hotel and Restaurant Business, Boston: Cahners Books, 1974. ISBN 0843620447
Spang, Rebecca L. (2000), The Invention of the Restaurant, Harvard University Press
West, Stephen H. "Playing With Food: Performance, Food, and The Aesthetics of Artificiality in The Sung and Yuan", Harvard Journal of Asiatic Studies (Volume 57, Number 1, 1997): 67–106.
Whitaker, Jan (2002), Tea at the Blue Lantern Inn: A Social History of the Tea Room Craze in America", St. Martin's Press.
Fleury, Hélène (2007), "L'Inde en miniature à Paris. Le décor des restaurants", Diasporas indiennes dans la ville. Hommes et migrations (Number 1268-1269, 2007): 168-73. |
sông đuống.txt | Sông Đuống, tên chữ gọi là sông Thiên Đức hay Thiên Đức Giang, là một con sông dài 68 km, nối sông Hồng với sông Thái Bình. Điểm đầu từ ngã ba Dâu (xã Xuân Canh, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội tại địa giới giữa 2 đơn vị hành chính là huyện Đông Anh và quận Long Biên của thành phố Hà Nội). Điểm cuối là ngã ba Mỹ Lộc (xã Trung Kênh, huyện Lương Tài, tỉnh Bắc Ninh). Về tổng thể sông Đuống chảy theo hướng tây-đông. Nó là một phân lưu của sông Hồng, trước đây chỉ là một dòng sông nhỏ, do cửa nối với sông Hồng bị cát bồi cao nên chỉ khi sông Hồng có lũ lớn mới tràn qua được. Từ năm 1958, cửa sông được mở rộng để trở thành một phân lưu quan trọng giảm sức uy hiếp của lũ sông Hồng đối với Hà Nội. So với lượng lũ của sông Hồng tại Sơn Tây thì sông Đuống tiêu được 20-30 %. Theo Bách khoa toàn thư Việt Nam, tại Thượng Cát?, lưu lượng nước trung bình nhiều năm 880 m³/s, còn theo website tỉnh Bắc Ninh thì lưu lượng trung bình đạt khoảng 1.000 m³/s. Lưu lượng đỉnh lũ lớn nhất 9.000 m³/s (ngày 22 tháng 8 năm 1971). Đoạn chảy qua Bắc Ninh dài 42 km. Mực nước cao nhất tại bến Hồ vào tháng 8 năm 1945 là 9,64 m, cao hơn so với mặt ruộng là 3 đến 4 m. Sông Đuống có hàm lượng phù sa cao, vào mùa mưa trung bình cứ 1 m³ nước có 2,8 kg phù sa.
Sông Đuống là đường giao thông thuỷ nối cảng Hải Phòng với Hà Nội và các tỉnh ở phía bắc Việt Nam.
Các loại tàu thuyền, xà lan tải trọng từ 100 tấn đến 450 tấn có thể vận tải trên sông được cả trong 2 mùa.
Hiện trên sông Đuống có 5 cây cầu bắc qua:
Cầu Đông Trù trên quốc lộ 5 kéo dài, nối phường Ngọc Thụy thuộc quận Long Biên với xã Đông Hội thuộc huyện Đông Anh.
Cầu Đuống trên quốc lộ 1A cũ, nối phường Đức Giang thuộc quận Long Biên với thị trấn Yên Viên thuộc huyện Gia Lâm.
Cầu Phù Đổng trên quốc lộ 1A mới, nối xã Phù Đổng của huyện Gia Lâm và phường Phúc Lợi của quận Long Biên.
Cầu Phù Đổng 2 trên quốc lộ 1A mới, đi song song với cầu Phù Đổng.
Cầu Hồ trên quốc lộ 38; nối thị trấn Hồ, huyện Thuận Thành với xã Tân Chi, huyện Tiên Du; đều thuộc tỉnh Bắc Ninh.
Cầu Bình Than trên quốc lộ 18B (Tỉnh lộ 282 cũ), huyện Quế Võ - Gia Bình, Bắc Ninh (đã khánh thành)
Ngoài ra, địa phận Hà Nội sẽ có thêm 3 cầu đường bộ mới sẽ được xây dựng ngang qua sông Đuống, là: cầu Thạch Cầu, cầu Đuống mới, cầu trên vành đai giao thông đối ngoại (gần cầu Hồ hiện tại).
== Các huyện thị chảy qua ==
Hà Nội:
Đông Anh
Long Biên
Gia Lâm
Bắc Ninh:
Tiên Du
Thuận Thành
Quế Võ
Gia Bình
Lương Tài
== Thơ văn ==
Nhà thơ Hoàng Cầm có bài thơ "Bên kia sông Đuống" nổi tiếng.
Em ơi! Buồn làm chi
Anh đưa em về sông Đuống
Ngày xưa cát trắng phẳng lỳ
Sông Đuống trôi đi
Một dòng lấp lánh
Nằm nghiêng nghiêng trong kháng chiến trường kỳ...
== Ghi chú == |
aomori.txt | Aomori (Nhật: 青森県 (Thanh Sâm Huyện), Aomori-ken) là một tỉnh của Nhật Bản, thuộc vùng Tohoku, ở đầu tận cùng Tây Bắc của đảo Honshu. Tỉnh lỵ là thành phố Aomori.
== Địa lý ==
== Lịch sử ==
== Hành chính ==
Ngoài thành phố Aomori, tỉnh này còn có 9 thành phố khác và có 22 thị trấn và 8 làng nằm trong 8 quận:
Làng và thị trấn:
== Kinh tế ==
Giống như các tỉnh ở vùng Tōhoku, tỉnh Aomori chủ yếu tập trung vào các ngành nghề truyền thống như nông nghiệp, lâm nghiệp và đánh bắt cá.
Tỉnh Aomori còn là tỉnh sản xuất táo lớn nhất Nhật Bản.
== Văn hóa ==
Aomori còn là nơi nổi tiếng với dòng nhac truyền thống Tsugaru-jamisen, một phong cách chơi đàn shasimen đặc trưng của vùng
== Giáo dục ==
Vùng có các trường đại học:
Trường đại học Aomori Chuo Gakuin
Trường công lập Aomori
Trường tư thục Aomori
Trường y tế và phúc lợi Aomori
Trường Hachinohe Gakuin
Học viện công nghệ Hachinohe
Trường đại học Hirosaki Gakuin
Trường đại học Hirosaki
Trường đại học y tế và phúc lợi Hirosaki
Trường nữ sinh Tohoku
Trường đại học Kitasato (Khu đại học Towada)
== Thể thao ==
== Du lịch ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của tỉnh. (tiếng Anh) |
danh sách các trận chiến (địa lý).txt | Danh sách các trận chiến này được liệt kê mang tính địa lý, theo từng quốc gia với lãnh thổ hiện tại.
== Angola ==
Trận Mbwila - 1665
Trận Quifangondo - 1975
Trận Cassinga - 1978
Trận Cuito Cuanavale - 1987-1988
== Argentina ==
Trận Monte Santiago - 1827 - Chiến tranh Cisplatine
Trận Vuelta de Obligado - 1845
Trận Pavón - 1861
Trận Los Corrales - 1880
== Úc ==
Trận chiến biển Coral - 1942
== Áo ==
Trận đồng Marchfeld (Trận Dürnkrut và Jedenspeigen) - 1278
Cuộc vây hãm Viên - 1529 - Các cuộc chiến tranh của đế quốc Ottoman ở châu Âu
Trận Viên - 1683 - Đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ
Trận Amstetten - 1805 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Wagram - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Ebersberg - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
== Bangladesh ==
Trận Garibpur - 1971 - Chiến tranh giải phóng Bangladesh
Trận Hilli - 1971 - Chiến tranh giải phóng Bangladesh
== Belarus ==
Trận Kletsk - 1506
Trận Orsha - 1514
Trận Ula - 1564
Trận Shepeleviche - 1654
Trận Shklow - 1654
Trận Myadel - 1659
Trận Polonka - 1660
Trận Basya - 1660
Trận Kushliki - 1661
Trận Lesnaya - 1708
Trận Mir - 1792
Trận Saltanovka - 1812, Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Polotsk thứ nhất - 1812, Các cuộc chiến tranh của Napoléon
== Bỉ ==
Trận sông Sabis - 57 BC (được cho là trận chiến của Pháp) - Chiến tranh xứ Gaule
Trận Leuven - 891
Trận Steppes - 1213
Trận Damme - 1214
Trận Tournai - 1214
Trận Bulskamp - 1297
Trận Thúc ngựa Vàng - 1302
Trận Roosebeke - 1382
Trận Othee - 1403
Trận Gavere - 1453
Trận Brustem - 1467
Trận Oosterweel - 1567 - Chiến tranh Tám năm
Trận Gembloux - 1578 - Chiến tranh Tám năm
Trận Turnhout - 1597 - Chiến tranh Tám năm
Trận Nieuwpoort - 1600 - Chiến tranh Tám năm
Trận Seneffe - 1674 - Chiến tranh Pháp-Hà Lan
Trận Saint Denis - 1678 - Chiến tranh Pháp-Hà Lan
Trận Walcourt - 1689 - Chiến tranh Chín năm
Trận Fleurus - 1690 - Chiến tranh Chín năm
Trận Leuze - 1691 - Chiến tranh Chín năm
Trận Steenkerque - 1692 - Chiến tranh Chín năm
Trận Neerwinden - 1693 - Chiến tranh Chín năm
Trận Ekeren - 1703 - Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha
Trận Elixheim - 1705 - Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha
Trận Ramillies - 1706 - Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha
Trận Oudenarde - 1708 - Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha
Trận Fontenoy - 1745 - Chiến tranh Kế vị Áo
Trận Rocoux - 1746 - Chiến tranh Kế vị Áo
Trận Lauffeld - 1747 - Chiến tranh Kế vị Áo
Trận Turnhout - 1789 - Cách mạng Brabant
Trận Jemappes - 1792 - Chiến tranh Cách mạng Pháp
Trận Neerwinden - 1793 - Chiến tranh Cách mạng Pháp
Trận Fleurus - 1794 - Chiến tranh Cách mạng Pháp
Trận Hasselt - 1798 - Chiến tranh Tá điền
Trận Quatre Bras - 1815 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Ligny - 1815 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Waterloo - 1815 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Wavre - 1815 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Liège - 1914 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận Mons - 1914 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận sông Yser - 1914 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận Ypres - 1917 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận sông Lys - 1918 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận chiến nước Pháp - 1940 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận sông Scheldt - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Bulge - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
== Bosnia và Herzegovina ==
Trận cao nguyên Bosnia - 927 - Chiến tranh Croatia-Bulgary (927)
== Brazil ==
Trận Guararapes thứ hai - 1649
Trận Riachuelo - 1865
== Bulgaria ==
Trận Anchialus - 708
Trận Rishki Pass - 759
Trận Anchialus - 763
Trận Marcelae - 792
Trận Vurbitsa Pass - 811 (Khan Subigi Krum đánh với Nicephorus I)
Trận Versinikia - 813 (Khan Subigi Krum đánh với Michael I Rhangabes)
Durostor - 971 Ioan Zimisches đánh với Sviatoslav
Trận Kleidion - 1014
Vidin - 1027
Silistra - 1086
Distra - 1088
Stara Zagora (Eski Zagra) - 1122
Trận Varna - 1444
Trận Cape Kaliakra - 1791
Trận Plevna - 1877
Trận Turtucaia - 1916
== Cambodia ==
Trận Prey Veng - 1970
Trận Kompong Speu - 1970
Trận Prey Veng - 1970
Chiến dịch Chenla thứ nhất - 1970-1971
Chiến dịch Chenla thứ hai - 1971
Trận Snuol - 1971
Trận Kampot - 1974
== Canada ==
Trận Chateauguay
Trận Crysler's Farm
Trận Cut Knife
Trận đồng bằng Abraham
Trận Quebec (1690) - Chiến tranh Vua William
Trận Quebec (1759) - Chiến tranh Bảy năm, bao gồm cả Trận đồng bằng Abraham.
Trận Sainte-Foy (hay gọi là Trận Quebec) - Chiến tranh Bảy năm
Trận Quebec (1775) - Chiến tranh Cách mạng Hoa Kỳ
Trận Queenston Heights
Trận sông Thames
Trận York
Trận Duck Lake
Trận Fish Creek
Trận Batoche
Trận Frenchman's Butte
== Chile ==
Trận Maule - ~1485 - Sự bành trướng của Đế chế Inca bị người Mapuche chặn đứng
Trận Reynogüelén - 1536 - Chiến tranh Arauco
Trận Quilacura - 1546 - Chiến tranh Arauco
Trận Andalien - 1550 - Chiến tranh Arauco
Trận Penco - 1550 - Chiến tranh Arauco
Trận Tucapel - 1553 - Chiến tranh Arauco
Trận Marihueñu - 1554 - Chiến tranh Arauco
Trận Peteroa - 1556 - Chiến tranh Arauco
Trận Mataquito - 1557 - Chiến tranh Arauco
Trận Curalaba - 1598 - Chiến tranh Arauco
Trận Yerbas Buenas - 1813 - Chiến tranh giành độc lập Chile
Trận Rancagua - 1814 - Chiến tranh giành độc lập Chile
Trận Chacabuco - 1817 - Chiến tranh giành độc lập Chile
Trận Cancha Rayada thứ hai - 1818 - Chiến tranh giành độc lập Chile
Trận Maipú - 1818 - Chiến tranh giành độc lập Chile
Trận Valdivia - 1820 - Chiến tranh giành độc lập Chile
Trận El Toro - 1820 - Chiến tranh giành độc lập Chile
Trận Pudeto - 1826 - Chiến tranh giành độc lập Chile
Trận Bellavista - 1826 - Chiến tranh giành độc lập Chile
Trận Lircay - 1829
Trận Talcahuano -1851
Trận Loncomilla - 1851
Trận Papudo - 1865 - Chiến tranh Quần đảo Chincha
Trận Abtao - 1866 - Chiến tranh Quần đảo Chincha
Trận Iquique - 1879 - Chiến tranh Thái Bình Dương
Trận Punta Gruesa - 1879 - Chiến tranh Thái Bình Dương
Trận Angamos - 1879 - Chiến tranh Thái Bình Dương
Trận Pisagua - 1879 - Chiến tranh Thái Bình Dương
Trận San Francisco - 1879 - Chiến tranh Thái Bình Dương
Trận Tarapacá - 1879 - Chiến tranh Thái Bình Dương
Trận Arica - 1880 - Chiến tranh Thái Bình Dương
Trận Pozo Almonte - 1891 - Nội chiến Chile
Trận Concón - 1891 - Nội chiến Chile
Trận La Placilla - 1891 - Nội chiến Chile
Trận Coronel - 1914 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
== Trung Quốc ==
Trận Mingtiao - 1600 BC
Trận Muye - 1046 BC
Trận Lạp Trạch - 478 BC
Trận Maling - 342 BC
Trận Trường Bình - 260 BC
Trận Cự Lộc - 207 BC
Trận Gaixia -202 BC
Trận Côn Dương - 23
Trận Tương Dương - 191
Trận Quan Độ - 200
Trận Xích Bích - 208
Trận Trường Bản - 208
Trận Đồng Quan - 211
Trận Ký Thành - 213
Trận chiến núi Định Quân - 219
Trận Di Lăng - 222
Trận Phì Thủy - 383
Goguryeo-Sui Wars - 598
Trận Baekgang - 663
Trận chiến Talas - 751
Trận Tuy Dương - 756
Trận Tương Dương (1267-1273) - 1268
Trận Nhai Môn - 1279
Trận hồ Bà Dương -1363
Sự biến Thổ Mộc bảo - 1449
Trận Sarhu - 1619
Trận Ningyuan - 1626
Trận Shanhai Pass - 1644
Trận chiến Quảng Châu - 1841, 1856, 1857
Trận Nam Kinh lần thứ 3 - 1864
Trận Bang Bo - 1885
Trận Uy Hải Vệ - 1895
Phong trào Nghĩa Hòa Đoàn - 1899
Trận Taku Forts - 1900
Trận Bắc Kinh - 1900
Hải chiến cảng Lữ Thuận - 1904
Wuchang Uprising - 1911
Bắc phạt - 1926
April 12 Incident - 1927
Central Plains War - 1930
First Encirclement Campaign - 1930
Mukden Incident - 1931
Trận Rehe - 1933
Defense of the Great Wall - 1933
Fifth Encirclement Campaign - 1933
Vạn lý Trường chinh - 1934
Sự kiện Lư Câu Kiều - 1937
Trận Thượng Hải - 1937
Trận Pingxingguan - 1937
Trận Thái Nguyên (Trung Quốc) - 1937
Trận Nam Kinh - 1937
Trận Từ Châu - 1937 tới 1938
Trận Tai er zhuang - 1938
Trận Vũ Hán - 1938
Trận Suixian-Zaoyang - 1939
Trận Changsha (1939) - 1939
Trận Nam Quảng Tây - 1939
Trận chiến đèo Côn Lôn - 1939 to 1940
Trận Hundred Regiments - 1940
Trận Changsha (1941) - 1941
Trận Hồng Kông - 1941
Trận Changsha (1942) - 1942
Trận Changde - 1943
Trận Tây Hồ Bắc - 1943
Trận miền bắc Myanma và miền tây Vân Nam - 1943 to 1945
Trận Changsha (1944) - 1944
Trận Guilin-Liuzhou - 1944
Campaign to Defend Siping - 1946
Trận Cẩm Châu (1948) - 1948
== Colombia ==
Trận Cartagena de Indias - 1741
== Congo ==
Siege of Jadotville - 1961
Second Battle for the Tunnel - 1961
== Costa Rica ==
Trận Santa Rosa - 1856
== Croatia ==
Vây hãm Trsat - 799
Trận Kupa - 819
Croatian-Bulgarian Trận 927 (Trận cao nguyên Bosnia) - 927 - Các cuộc chiến tranh Croatia-Bulgary
Trận Gvozd Mountain (Núi Peter) - 1097 - Chiến tranh Croatia-Hungary năm 1097
Trận dồng bằng Grobnik - 1242 - Mông Cổ xâm lực châu Âu
Trận Bliska - 1322 - Triều đại phong kiến cuộc đấu tranh cho quyền lực tối cao tại Croatia
Trận Krbava field - 1493 - Các cuộc chiến tranh Ottoman-Croatia
Trận Siget - 1566 - Các cuộc chiến tranh Ottoman ở châu Âu
Trận Sisak - 1593 - Các cuộc chiến tranh Ottoman-Croatia
Trận Slankamen - 1691
Trận Vis - 1866
Trận Vukovar - 1991
Vây hãm Dubrovnik - 1991
Chiến dịch Maslenica - 1993
Chiến dịch Flash - 1995
Chiến dịch Storm - 1995
== Cộng hòa Séc ==
Trận Vyšehrad - 1419
Trận Vítkov Hill - 1420
Trận Lipany - 1434
Trận Záblatí - 1619 -
Trận Věstonice - 1619
Trận White Mountain - 1620
Trận Lobositz - 1756
Trận Reichenberg - 1757
Trận Praha - 1757
Trận Kolín - 1757
Trận Domstadtl - 1758
Trận Austerlitz - 1805, Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Kulm - 1813
Trận Königgrätz (hay là Trận Sadová) - 1866
Tấn công Prague - 1945
== Đan Mạch ==
Trận Grathe Heath - 1157
Cuộc tấn công vào Copenhagen - 1659
Trận Copenhagen - 1801
Trận Copenhagen (1807)
Trận Dybbøl - 1864
== Đông Timor ==
== Ai Cập ==
Trận Bitter Lakes - 925 BC - Shoshenq I of Egypt defeats a Bedouin incursion after surprising the enemy at the shores of the Bitter Lakes.
Trận Pelusium - 525 BC - Egypt almost annexed by Persia.
Trận the Nile (47 BC) - 47 BC - Julius Caesar defeats the forces of the Egyptian king Ptolemy XIII
Trận the Pyramids - 1798 - Napoleon defeats Mameluks in Egypt
Trận the Nile - 1798 - Defeat of Napoleonic forces in Egypt
Trận Kafr el-Dawwar - 1882 - Ahmed Urabi defeated British forces.
Trận Tel al-Kebir - 1882 - Defeat of Urabi by British
Trận Gazala - 1942 - Axis attack on British Forces around Tobruk
Trận Alam Halfa - 1942 - Axis attack on British Forces around El Alamein
Trận El Alamein - 1942 - Allied attack on Axis Forces
Trận Kasserine Pass - 1942 - Axis attack on Allied Forces (USA) on Tunisia
== Anh ==
Trận Watling Street - 60
Carausian Revolt - 286
Trận Mons Badonicus - around 500
Trận Deorham - 577
Trận Catterick - 600 - The Votadini against the Angles
Trận Hatfield Chase - 633 The Northumbrians v Welsh/Mercians
Trận Heavenfield 634 Northumbrians defeat Welsh army
Trận Maserfield - 641/642 - Kingdom of Bernicia against Kingdom of Mercia
Trận Englefield - 870/871
Trận Reading - 871
Trận Cynwit - 878
Trận Ethandun - 878
Trận Corbridge - 915 - Scots and Norse invade Northumberland
Trận Maldon - 991
Trận Stamford Bridge - 1066
Trận Hastings - 1066 - Norman Conquest
Harrying of the North - 1069 - Norman Conquest
Trận Alnwick (1093) - Malcolm III of Scotland invaded England
Trận the Standard - 1138 - David I of Scotland invaded England
Trận Alnwick (1174) - William I of Scotland invaded England
Trận Lewes - 1264 - Second Barons' War
Trận Evesham - 1265 - Second Barons' War
Trận Myton - 1319 - Part of First War of Scottish Independence
Trận Burton Bridge - 1322 - Part of the Despenser War
Trận Boroughbridge - 1322 - Part of the Despenser War
Trận Old Byland - 1322 - Part of First War of Scottish Independence
Trận Stanhope Park - 1327 - Part of First War of Scottish Independence
Trận Halidon Hill - 1333 - Second War of Scottish Independence
Trận Neville's Cross - 1346 - Second War of Scottish Independence
Trận Otterburn - 1388 - Anglo-Scottish border conflicts
Trận Humbleton Hill - 1402 - Anglo-Scottish border conflicts
Trận Shrewsbury - 1403
First Trận St Albans - 1455 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Trận Blore Heath - 1459 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Trận Ludford Bridge - 1459 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Trận Northampton - 1460 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Trận Wakefield - 1460 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Trận Mortimer's Cross - 1461 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Second Trận St Albans - 1461 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Trận Ferrybridge - 1461 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Trận Towton - 1461 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Trận Hedgeley Moor - 1464 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Trận Hexham - 1464 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Trận Edgecote Moor - 1469 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Trận Lose-coat Field - 1470 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Trận Barnet - 1471 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Trận Tewkesbury - 1471 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Trận Bosworth Field - 1485 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Trận Stoke Field - 1487 - Các cuộc chiến Hoa hồng
Trận Flodden Field - 1513 - War of the League of Cambrai
Trận Newburn - 1640 - Second Bishops' War
Trận Edgehill - 1642 - Nội chiến Anh
Trận Powick Bridge - 1642 - Nội chiến Anh
Trận Braddock Down - 1643 - Nội chiến Anh
Trận Burton Bridge - 1643 - Nội chiến Anh
Trận Winceby - 1643 - Nội chiến Anh
Trận Marston Moor - 1644 - Nội chiến Anh
Trận Naseby - 1645 - Nội chiến Anh
Trận Maidstone- 1648 - Second Nội chiến Anh
Trận Preston - 1648-Second Nội chiến Anh
Trận St. Fagans - 1648 - Second Nội chiến Anh
Trận Sedgemoor - 1685 - Monmouth Rebellion
Trận Reading - 1688 - Glorious Revolution
Trận Britain - 1940 - Chiến tranh thế giới thứ hai
== Estonia ==
Trận Iron Gate - 1032
Trận Ösel - 1206 - Livonian Crusade
Trận Ümera - 1210 - Livonian Crusade
Trận Viljandi - 1211 - Livonian Crusade
Trận Otepää - 1217 - Livonian Crusade
Trận St. Matthew's Day - 1217 - Livonian Crusade
Trận Lyndanisse - 1219 - Livonian Crusade
Trận Lihula - 1220 - Livonian Crusade
Siege of Lyndanisse - 1221 - Livonian Crusade
Trận Ösel - 1222 - Livonian Crusade
Trận Ümera - 1223 - Livonian Crusade
Trận Viljandi - 1223 - Livonian Crusade
Trận Tarbatu - 1224 - Livonian Crusade
Trận Muhu - 1227 - Livonian Crusade
Trận the Ice - 1242 - Livonian Crusade
Trận Rakvere - 1268
Trận Karuse - 1270
Trận Ergeme - 1560 - Livonian War
Trận Koluvere - 1573 - Livonian War
Trận Narva - 1700 - Great Northern War
Trận Erastvere - 1702 - Great Northern War
Trận Hummuli - 1702 - Great Northern War
Trận Osel Island - 1719 - Great Northern War
Trận Reval - 1790 - Russo-Swedish War (1788–1790)
Mahtra War - 1858
Trận Rägavere - 1918 - Chiến tranh giải phóng Estonia
Trận Krivasoo - 1919 - Chiến tranh giải phóng Estonia
Trận Laagna - 1919 - Chiến tranh giải phóng Estonia
Trận Paju - 1919 - Chiến tranh giải phóng Estonia
Trận Juminda - 1941 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Kautla - 1941 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Loobu - 1941 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Ratva - 1941 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Kingisepp–Gdov Offensive - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Battle for Narva Bridgehead - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Tannenberg Line - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Emajõgi - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Tallinn Offensive- 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Porkuni - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Avinurme - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Tehumardi - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Osula - 1946 - Chiến tranh Partisan
Trận Saika - 1951 - Chiến tranh Partisan
Trận Puutli - 1953 - Chiến tranh Partisan
== Ethiopia ==
Trận Baçente - 1542
Trận Adowa - 1895
Trận Keren - 1941
== Phần Lan ==
Trận Gangut - 1714
Trận Tampere - 1918
Trận Petsamo - 1939
Trận Salla - 1939
Trận Kollaa - 1939
Trận Suomussalmi - 1939
Trận Tolvajärvi - 1939
Trận Taipale - 1939
Trận Raate-Road - 1940
Trận Summa - 1940
Trận Honkaniemi - 1940
Trận Tali-Ihantala - 1944
Trận vịnh Viipuri - 1944
Trận Vuosalmi - 1944
Trận Nietjärvi - 1944
Trận Ilomantsi - 1944
Trận Tornio - 1944
Trận Rovaniemi - 1944
Trận Kuhmo
== Pháp ==
Trận the Arar - 58 BC - Gallic Wars, 58 BC - 52 BC
Trận Bibracte - 58 BC
Trận Vosges - 58 BC
Trận the Axona - 57 BC
Trận the Sabis - 57 BC (arguably a Belgian battle)
Trận Avaricum - 52 BC
Trận Gergovia- 52 BC
Trận Alesia- 52 BC Julius Caesar defeats Vercingetorix
Trận Toulouse - 721
Trận Bouvines - 1214
Trận Crécy - 1346 - Hundred Years' War
Trận Poitiers - 1356 - Hundred Years' War
Trận Auray - 1364 - Hundre Years' War
Trận Agincourt - 1415 - Hundred Years' War
Trận Cravant - 1423 - Hundred Years' War
Trận Orléans - 1429 - Hundred Years' War
Trận Patay - 1429 - Hundred Years' War
Trận Formigny - 1450 - Hundred Years' War
Trận Castillon - 1453 - Hundred Years' War
Trận Dreux - 1562 - Các cuộc chiến tranh tôn giáo ở Pháp
Trận Saint-Denis - 1567 - Các cuộc chiến tranh tôn giáo ở Pháp
Trận Jarnac - 1569 - Các cuộc chiến tranh tôn giáo ở Pháp
Trận La Roche-l'Abeille - 1569 - Các cuộc chiến tranh tôn giáo ở Pháp
Trận Moncontour - 1569 - Các cuộc chiến tranh tôn giáo ở Pháp
Trận Coutras - 1587 - Các cuộc chiến tranh tôn giáo ở Pháp
Trận Arques - 1589 - Các cuộc chiến tranh tôn giáo ở Pháp
Trận Ivry - 1590 - Các cuộc chiến tranh tôn giáo ở Pháp
Trận Fontaine-Française - 1595 - Các cuộc chiến tranh tôn giáo ở Pháp
Trận La Marfée - 1641 - Thirty Years' War
Trận Honnecourt - 1642 - Thirty Years' War
Trận Rocroi - 1643 - Thirty Years' War
Trận Lens - 1648 - Thirty Years' War
Trận Bordeaux - 1653 - Franco-Spanish War
Trận Arras - 1654 - Franco-Spanish War
Trận Valenciennes - 1656 - Franco-Spanish War
Trận the Dunes - 1658 - Franco-Spanish War
Battles of Barfleur and La Hogue - 1692 - Nine Years' War
Trận Camaret - 1694 - Nine Years' War
Trận Malplaquet - 1709 - Cuộc chiến tranh kế vị Tây Ban Nha
Trận Denain - 1712 - Cuộc chiến tranh kế vị Tây Ban Nha
Trận Valmy - 1792 - Các cuộc chiến cách mạng Pháp
Trận Hondschoote - 1793 - Các cuộc chiến cách mạng Pháp
Trận Wattignies - 1793 - Các cuộc chiến cách mạng Pháp
Trận the Vosges - 1794 - Các cuộc chiến cách mạng Pháp
Trận Montmirail - 1814 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Vauchamps - 1814 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Montereau - 1814 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Craonne - 1814 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Reims - 1814 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Toulouse - 1814 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Ligny - 1815 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Quatre-Bras - 1815 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Rocquencourt - 1815 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Worth - 1870
Trận Gravelotte - 1870
Trận Sedan - 1870
Trận the Frontiers - 1914 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
First Trận the Marne - 1914 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
First Trận the Aisne - 1914 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận La Bassée - 1914 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
First Trận Champagne - 1914-1915 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
First Trận Artois - 1915-1915 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận Neuve Chapelle - 1915 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Second Trận Artois - 1915 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Second Trận Champagne - 1915 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận Loos - 1915 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Third Trận Artois - 1915 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận Verdun - 1916 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận Delville Wood - 1916 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận the Somme - 1916 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận Arras - 1917 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận Vimy Ridge - 1917 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Second Trận the Aisne - 1917 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận Messines - 1917 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận Cambrai - 1917 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận Dunkirk - 1940 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận France - 1940 - Chiến tranh thế giới thứ hai
D-Day - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Normandy - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
== Đức ==
Trận rừng Teutoburg - 9 - Các cuộc chiến tranh German
Trận sông Weser - 16 - Các cuộc chiến tranh German
Trận Saalfeld
Trận Jena-Auerstedt
Trận Hemmingstedt - 1500
Trận Leipzig - 1813 - các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Worringen - 1288 - Nổi dậy chống Giáo hội ở Cologne
Trận Höchstädt lần thứ hai - 1704 - Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha
Trận Berlin - 1760 - Chiến tranh Bảy năm
Trận Torgau - 1760 - Chiến tranh Bảy năm
Trận Freiberg - 1762 - Chiến tranh Bảy năm
Trận Hohenlinden - 1800, Chiến tranh Cách mạng Pháp
Trận Haslach-Jungingen - 1805 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Elchingen - 1805 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Ulm - 1805 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Schleitz - 1806 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Auerstaedt - 1806 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Iena - 1806 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Abensberg - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Landshut - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Eckmühl - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Ratisbon - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Teugen-Hausen - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Lützen (1813) - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Dresde - 1813 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Hanau - 1813 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận rừng Hürtgen - 1944-1945 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Aachen - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Berlin - 1945 - Chiến tranh thế giới thứ hai
== Hi Lạp ==
Trận Matapan
Trận Pylos
Trận Amphipolis
Trận Marathon - 490 BC
Trận Salamis - 480 BC
Trận Vromopigada
Trận Vergas
Siege of Missolonghi
Trận Phaleron
Trận Gythium
Trận Karpenizi
Trận Pente Pigadia
Trận Pindus
Trận Sorovich
Trận Chesma
Trận Cape Matapan
Trận Greece
Trận Crete
Trận Thermopylae - 480 BC
Trận Alamana
Trận Gravia
Trận Valtetsi
Trận Doliana
Trận Dragashani
Trận Skuleni
Trận Vassilika
Trận Peta
Trận Dervenakia
Trận Karpenisi
Trận Samos (1824)
Trận Gerontas
Trận Sphacteria (1825)
Trận Maniaki
Trận the Lerna Mills
Trận Arachova
Trận Kamatero
Trận Navarino
Trận Petra
Trận Lemnos (1912)
Trận Leros
Trận Sarantaporo
Trận Skra-di-Legen
Trận Vevi (1941)
Trận Bizani
Trận Giannitsa
Trận Kilkis-Lahanas
== Hungary ==
Trận Muhi 1241
Trận Mohács 1526
Vây hãm Eger 1552
Trận Szigetvár 1566
Trận Saint Gotthard 1664
Trận Buda 1686
Trận Pakozd 1848
Trận Schwechat 1848
Trận Mór 1848
Trận Kápolna 1849
Trận Debrecen 1944
Trận Budapest 1945
Chiến dịch Frühlingserwachen 1945
== Ấn Độ ==
Chiến tranh Kurukshetra, Mahabharat App. (3200 BC)
Trận Hydaspes (326 BC) - Alexander Đại Đế đánh bại vua Porus
Trận Diu (1509)
Trận Panipat (1526) - Mughal - Các cuộc chiến tranh Afghan
Trận Khanua 1527
Trận Ghaghra 1529 - Mughal - Các cuộc chiến tranh Afghan
Trận Panipat (1556) - Mughal - Các cuộc chiến tranh Afghan
Trận Talikota - Đế chế Vijayanagara - Bahamani Sultanate
Trận Tukaroi 1675
Trận Swally (1612)
Trận Saraighat 1671
Trận Palkhed 1728
Trận Karnal 1739
Trận Colachel (1741)
Trận Plassey (1757)
Trận Panipat (1761) - Các cuộc chiến tranh Afghan
Trận Seringapatam - 1799
Trận Argaon - 1803
Trận Assaye - 1803
Vây hãm Gawilghur - 1803
Trận Asal Uttar - 1965 - Chiến tranh Ấn Độ-Pakistan năm 1965
Trận Longewala - 1971 - Chiến tranh Ấn Độ-Pakistan năm 1971
Trận Tololing - 1999 - Chiến tranh Kargil
== Indonesia ==
Trận Ganter - 1222
Chiến tranh Mông Cổ - 1293
Trận Bubat - 1357
Chiến tranh Diponegoro - 1825
Chiến tranh Padri - 1821 - 1837
Chiến tranh Aceh - 1870 to 1910
Puputan Badung - 1906
Puputan Klungkung - 1908
Trận Java Sea - 27/02/1942 tới 1/03/1942
Trận Surabaya - Tháng 10 tới 11 năm 1945
Trận Medan Area - 10/12/1945
Trận Ambarawa - 20/11/1945
Bandung Lautan Api (Các ngọn lửa của biển Bandung) - 24/03/1946
Tấn công chính (Serangan Umum) - 1/03/1949
Trận Hải quân biển Arafura - 1962
== Iraq ==
Trận Gaugamela 331 BC - Chiến tranh quyết định của Alexander Đại đế với Darius III
Chiến tranh Iran-Irắc, 1980–1988
Xâm lược Kuwait, 1990
Chiến tranh vùng vịnh, 1990–1991
Chiến tranh Iraq
== Ireland ==
== Israel ==
Cuộc vây hãm Jaffa - 1799, Chiến tranh Cách mạng Pháp
== Ý ==
Trận Montaperti - 1260
Trận Fornovo - 1495
Trận Loano - 1795, Chiến tranh Cách mạng Pháp
Trận Lodi - 1796, Chiến tranh Cách mạng Pháp
Trận Mondovi - 1796, Chiến tranh Cách mạng Pháp
Trận cầu Arcole - 1796, Chiến tranh Cách mạng Pháp
Trận Rivoli - 1797, Chiến tranh Cách mạng Pháp
Trận Trebia (1799)
Trận Novi (1799)
Trận Marengo - 1800, Chiến tranh Cách mạng Pháp
Trận Caldiero - 1805, Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Solferino
Trận sông Piave
Trận Anzio
Trận Salerno
Trận Monte Cassino
== Nhật ==
Trận Kawanakajima - 1553, 1555, 1557, 1561, 1564
Trận Okehazama- 1560
Trận Nagashino- 1575
Trận Sekigahara - 1600
Chiến dịch Osaka - 1615
Trận Tsushima - 1905 - Chiến tranh Nga-Nhật
Trận Iwo Jima - 1945 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Okinawa - 1945 - Chiến tranh thế giới thứ hai
== Triều Tiên ==
Trận Pusan Perimeter
Trận Incheon
Trận sông Ch'ongch'on
Trận Chosin Reservoir
Trận sông Imjin
Trận Kapyong
Trận Hook
Trận Heartbreak Ridge
== Lào ==
Trận vùng Lima 85 - 1968 - Chiến tranh Việt Nam
== Latvia ==
Trận Cēsis - 1210
Trận Turaida - 1211
Trận Riga - 1215
Trận Durbe - 1260
Trận Aizkraukle - 1279
Trận Turaida - 1298
Trận Ergeme - 1560 - Chiến tranh Livonia
Trận Kircholm - 1605 - Chiến tranh Ba Lan-Thụy Điển giai đoạn 1600-1611
Trận Cēsis - 1919 - Estonia và Chiến tranh giải phóng Latvia
Trận Daugavpils - 1919 - Chiến tranh giải phóng Latvia
== Liban ==
Trận Amioun
== Lithuania ==
Trận Saule - 1236
Trận Skuodas - 1259
Trận Strėva - 1348
Trận Pabaiskas - 1435
Trận Vilnius - 1655
Trận Werki - 1658
Trận Wilno - 1939
Trận Raseiniai - 1941
== Madagascar ==
Trận Madagascar - 1942 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Malagasy Uprising - 1947
== Manchuria ==
Trận Sarhū
== Quần đảo Marshall ==
Trận Tarawa
== Mông Cổ ==
Đế chế Mông Cổ 1206-1405
Mông Cổ xâm lược Trung Á - 1218
Mông Cổ xâm lược Nga - 1223
Trận Halhin Gol - 1939
== Maroc ==
Trận Alcazarquivir - 1578
Trận Tetuan - 1860
== Myanmar ==
Trận Ngasaunggyan - 1277
Trận Bhamo - 1283
Trận Pagan - 1287
Forty Years' War - 1385–1424
Luchuan–Pingmian Campaigns - 1436–1449
First Anglo-Burmese War - 1823–1826
Trận Danubyu - ngày 2 tháng 4 năm 1825
Trận Prome - November 1825
Second Anglo-Burmese War - 1852
Third Anglo-Burmese War - 1885–1887
Japanese conquest of Burma - January–May 1942
Trận Bilin River - 14–ngày 18 tháng 2 năm 1942
Trận Sittang Bridge - 19–ngày 23 tháng 2 năm 1942
Trận Pegu - 3–ngày 7 tháng 3 năm 1942
Trận Taukkyan Roadblock - 7–ngày 8 tháng 3 năm 1942
Trận Tachiao - 18–ngày 19 tháng 3 năm 1942
Trận Toungoo - 19–ngày 29 tháng 3 năm 1942
Trận Oktwin - 20–ngày 23 tháng 3 năm 1942
Trận Toungoo - 24–ngày 30 tháng 3 năm 1942
Trận Yedashe - 5–ngày 8 tháng 4 năm 1942
Trận Szuwa River - 10–ngày 16 tháng 4 năm 1942
Trận Yenangyaung - 11–ngày 19 tháng 4 năm 1942
Trận Mawchi and Bato - Early April 1942
Trận Bawlake - ngày 17 tháng 4 năm 1942
Trận Shwedaung - 1942
Trận Prome (1942) - 1942
Trận Pyinmana - 17–ngày 20 tháng 4 năm 1942
Trận Loikaw - ngày 20 tháng 4 năm 1942
Trận Hopong - Taunggyi - 20–ngày 24 tháng 4 năm 1942
Trận Loilem - ngày 25 tháng 4 năm 1942
Trận Lashio - ngày 29 tháng 4 năm 1942
Trận Hsenwe - ngày 1 tháng 5 năm 1942
Trận Salween River - 6–ngày 31 tháng 5 năm 1942
Trận Hsipaw-Mogok Highway - ngày 23 tháng 5 năm 1942
Burma Campaign 1942-1943 - June 1942–December 1943
Arakan Campaign 1942–1943 - December 1942–May 1943
First Chindit Expedition - 8 February–late April 1943
Trận Yupang - October–December 1943
Burma Campaign 1944 - January–November 1944
Trận Lashio - January 1944
Trận the Admin Box - 5–ngày 23 tháng 2 năm 1944 (also known as the Trận Ngakyedauk or the Trận Sinzweya)
Second Chindit Expedition - 5 February–ngày 17 tháng 8 năm 1944
Trận Maingkwan - February-ngày 5 tháng 3 năm 1944
Trận Mogaung - March 1944
Trận Imphal - 8 March–ngày 3 tháng 7 năm 1944
Trận Sangshak - 20–ngày 26 tháng 3 năm 1944
Trận Kohima - 4 April–ngày 22 tháng 6 năm 1944
Trận Myitkyina - April–August 1944
Burma Campaign 1944-1945 - November 1944–July 1945
Trận Mongyu - December 1944-January 1945
Trận Ramree Island - 21 January–ngày 20 tháng 2 năm 1945
Trận Meiktila and Mandalay - January–March 1945 (also known as the Trận Central Burma)
Trận Pokoku and Irrawaddy River operations - 4 February–ngày 13 tháng 5 năm 1945
Trận Lashio - March 1945
Trận Hsipaw - March 1945
Battle for Pegu - 27–ngày 30 tháng 4 năm 1945
Trận Elephant Point - 1–ngày 2 tháng 5 năm 1945
== Namibia ==
Trận Waterberg - 1904
== Hà Lan ==
Trận Vlaardingen - 1018
Trận Heiligerlee - 1568
Cuộc vây hãm Haarlem - 1572
Cuộc vây hãm Alkmaar - 1573
Trận Zuiderzee - 1573
Trận Mookerheyde - 1573
Cuộc vây hãm Breda - 1581
Cuộc vây hãm Maastricht - 1673
Trận Castricum - 1799
Trận Bergen - 1799
Cuộc viễn chinh của Walcheren - 1809
Trận Grebbeberg - 1940
Trận Afsluitdijk - 1940
Chiến dịch Market Garden - 1944
Trận Overloon - 1944
Trận Scheldt - 1944
== New Zealand ==
Trận Ohaeawai - 1845
== Nicaragua ==
Trận Rivas - 1856
== Na Uy ==
Trận Hafrsfjord - thế kỉ thứ 9 hoặc 10
Trận Neaje - 1015 hay 1016
Trận Stiklestad - 1030
Trận Drøbak Sound - 1940
Trận Narvik - 1940
Trận Midtskogen - 1940
Trận Dombås - 1940
Chiến dịch Namsos - 1940
Trận Åndalsnes - 1940
Trận Hegra Fortress - 1940
Trận Vinjesvingen - 1940
Trận North Cape - 1943
== Oman ==
== Pakistan ==
Trận sông Hydaspes - 326 BC (sau đó Pakistan cổ đại, một phần của Đế chế Ba Tư)
Vây hãm Multan (1848)
Trận Kineyree (1848)
Trận Ramnagar (1848)
Trận Sadullapur
Trận Chilianwala (1849)
Trận Gujrat (1849)
Trận Chawinda - 1965
Trận Miani - 1843 (sau đó Đế chế Ấn Độ)
Trận Basantar - 1971 - Chiến tranh Ấn Độ-Pakistan năm 1971
== Palestine ==
== Papua New Guinea ==
Trận Milne Bay - 1942
Trận Savo Island - 1942
Trận Buna-Gona - 1942
Trận biển Bismarck - 1943
== Peru ==
Trận Quipaipan - 1532 - Nội chiến Inca
Trận Cajamarca - 1532 - Tây Ban Nha chinh phục Peru
Trận Cuzco - 1533 - Tây Ban Nha chinh phục Peru
Trận Las Salinas - 1538 - Tây Ban Nha chinh phục Peru
Trận Junín - 1824 - Chiến tranh giải phóng Peru
Trận Ayacucho - 1824 - Chiến tranh giải phóng Peru
Trận Yungay - 1839 - Chiến tranh của Liên đoàn
Trận Callao - 1866 - Chiến tranh đảo Chincha
Trận Miraflores - 1881 - Chiến tranh Thái Bình Dương
Trận Callao - 1881 - Chiến tranh Thái Bình Dương
Trận La Concepción - 1882 - Chiến tranh Thái Bình Dương
Trận Huamachuco - 1883 - Chiến tranh Thái Bình Dương
== Philippines ==
Trận Mactan (1521)
Trận Tirad Pass (1899)
Trận Bataan (1942)
Trận Corregidor (1942)
Trận biển Philippine (1944)
Trận Leyte Gulf (1944)
Trận Leyte (1944)
== Ba Lan ==
Trận Albuera - 1811
Trận Codrii Cosminului - 1497
Trận Czestochowa - 1655
Trận Dobrynichi - 1605
Trận Głogów - 1109
Trận Hundsfeld - 1109
Trận Iganie - 1831
Trận Kock (1809)
Trận Kolding (1658)
Trận Naklo - 1109
Trận Nasielsk - 1920
Trận Ostroleka (1807)
Trận Ostroleka (1831)
Trận Prostki - 1656
Trận Berestechko - 1651
Trận Bereza Kartuska (1919)
Trận Boryspil - 1920
Trận Brześć Litewski - 1939
Trận Bystrzyk - 1920
Trận the Bzura - 1939
Trận Cedynia - 972
Trận Grotnik - 1439
Trận Grunwald (also Trận Tannenberg)
Trận Swiecin (also Trận Zarnowiec)
Trận Tannenberg (1914)
Trận Auerstaedt - 1806 - Các cuộc chiến tranh đế chế Napoléon
Trận Cedynia - 972 - Chiến tranh Đức-Ba Lan thứ nhất
Trận Eylau - 1807 - Các cuộc chiến tranh đế chế Napoléon
Trận Grotnik - 1439 - Nổi loạn Ba Lan
Trận Grunwald - 1410
Trận Hohenlinden (1800) - Các cuộc chiến tranh cách mạng Pháp
Trận Kluszyn - 1610, Ba La đánh bại Nga trong suốt Thời kì khó khăn ở Nga.
Trận Leuthen - 1757 - Chiến tranh Bảy năm
Trận Zorndorf - 1757 - Chiến tranh Bảy năm
Trận Kunersdorf - 1759 - Chiến tranh Bảy năm
Trận Liegnitz - 1760 - Chiến tranh Bảy năm
Trận Burkersdorf - 1762 - Chiến tranh Bảy năm
Massacre of Praga - 1794
Trận Heilsberg - 1807- Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Pultusk - 1806
Trận Raszyn - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Schwetz - xem Trận Swiecin
Trận Swiecin (a.k.a. Schwetz, Zarnowiec) - 1462 - Chiến tranh 13 năm
Trận Tannenberg (1410) - Sự trỗi dậy của Ba Lan
Trận Vauchamps - 1814 - Các cuộc chiến tranh đế chế Napoléon
Trận Warsaw (1656), trong suốt Các cuộc chiến phía Bắc
Trận Warsaw (1831), trong suốt cuộc nổi dậy của Ba Lan chống lại Nga
Trận Vedrosha - 1503
Trận Tannenberg (1914)
Trận Vistula sông Warsaw, trong suốt Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận Warsaw (1920), trong suốt chiến tranh Ba Lan-Nga
Trận Warsaw (1939), ở đầu Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Kock (1944), chiến đấu trong suốt Chiến dịch Tempest: Chiến tranh thế giới thứ hai
Cuộc nởi dậy Warsaw, gần kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai
== Bồ Đào Nha ==
Trận Alcântara
Trận Alfarrobeira - 1449
Trận Aljubarrota - 1385
Trận Atoleiros - 1384
Trận Vimeiro - 1808 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Rolica - 1808 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Vây hãm Almeida - 1810 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Buçaco - 1810 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận mũi thánh Vincent - 1833
Trận the Lines of Elvas - 1659
Trận Grijó - 1809
Vây hãm Lisbon - 1147
Trận Oporto - 1809
Trận Ourique - 1139
Trận São Mamede - 1128
== Romania ==
Trận Tapae - 87 - Domitian's Dacian War
Trận Adamclisi - 92
Trận Tapae thứ hai - 101 - Trajan's Dacian Wars
Trận Adamclisi - 101-102 - Trajan's Dacian Wars
Trận Gatae - 103 - Trajan's Dacian Wars
Trận Sarmisegetusa - 106 - Trajan's Dacian Wars
Trận Posada - 1330
Trận Karanovasa - 1394
Trận Rovine - 1395
Trận Sibiu - 1442 - Ottoman-Hungarian Wars
The Night Attack - 1462
Trận Baia - 1467
Trận Vaslui - 1475 - Moldavian–Ottoman Wars
Trận Războieni - 1476 - Moldavian–Ottoman Wars
Siege of Cetatea Neamţului - 1476
Trận Breadfield - 1479 - Ottoman–Hungarian Wars
Trận Codrii Cosminului - 1497
Trận Călugăreni - 1595 - The Long War
Trận Şelimbăr - 1599 - The Long War
Trận Mirăslău - 1600 - The Long War
Trận Guruslău - 1601 - The Long War
Trận Braşov - 1603 - The Long War
Trận Ţuţora - 1620 - Moldavian Magnate Wars
Trận Finta - 1653
Trận Lugos - 1695 - Great Turkish War
Pruth River Campaign - 1711
Trận Larga - Russo-Turkish War of 1768–1774
Trận Karánsebes - 1788 - Austro-Turkish War of 1787–1791
Trận Focşani - 1789 - Russo–Turkish War of 1787–1792
Trận Rymnik - 1789 - Russo–Turkish War of 1787–1792
Trận Măcin - 1791 - Russo–Turkish War of 1787–1792
Trận the Danube - 1812 - Russo-Turkish War of 1806-1812
Trận Segesvár - 1849 - Hungarian Revolution of 1848
Trận Temesvár - 1849 - Hungarian Revolution of 1848
Trận Olteniţa - 1853 - Crimean War
Trận Cetate - 1853-1854 - Crimean War
Trận Transilvania - 1916 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận Turtucaia - 1916 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
First Trận Cobadin - 1916 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Flămânda Offensive - 1916 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Second Trận Cobadin - 1916 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận Bucharest - 1916 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Prunaru Charge
Trận the Argeş
First Trận Oituz - 1916 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận Mărăşti - 1917 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Second Trận Oituz - 1917 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Trận Mărăşeşti - 1917 - Chiến tranh thế giới thứ nhất
Uman–Botoşani Offensive - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
First Jassy-Kishinev Offensive - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
First Trận Târgu Frumos - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Podu Iloaiei - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Second Trận Târgu Frumos - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Second Jassy-Kishinev Offensive - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Turda - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Păuliş - 1944 - Chiến tranh thế giới thứ hai
== Nga ==
Trận the Neva - 1240
Trận hồ Peipus - 1242
Trận cánh đồng Snipes - 1380
Trận Vedrosha - 1500
Trận Molodi - 1572
Vây hãm Pskov - 1581-1582
Trận Kluszyn - 1610
Trận Gross-Jagersdorf - 1757
Trận Eylau - 1807
Trận Friedland - 1807
Trận Smolensk (1812)
Trận Borodino - 1812
Trận Maloyaroslavets - 1812
Trận hồ Khasan - 1939
Trận Moscow - 1941
Vây hãm Leningrad - 1941-43
Trận Stalingrad - 1942-1943
Các cuộc chiến của Rzhev - 1942-43
Trận Kursk - 1943
Trận Prokhorovka - 1943
Hành quân Bagration - 1944
Trận Grozny (11/1994)
Trận Dolinskoye - 1994
Trận Khankala - 1994
Trận Grozny (1994–1995)
Trận Grozny (August 1996)
Trận Grozny (1999–2000)
Trận trên cao 776 - 2000
Trận Komsomolskoye - 2000
Trận Vedeno (2001) - 2001
== Ả Rập Saudi ==
Trận Yanbu 1811 - Ottoman nắm quyền kiểm soát Yanbu
Trận Al-Safra 1812 - Saudis defeat Ottomans in Al-Safra valley.
Trận Medina (1812) - Ottoman nắm quyền kiểm soát Medina
Ottoman trở về Mecca 1813.
Trận Jeddah (1813) - Ottoman nắm quyền kiểm soát Jeddah.
Nejd Expedition 1817 - Ottoman chinh phục vùng Nejd.
Vây hãm Diriyah 1818 - Ottoman tàn phá Diriyah. Kết thúc Nhà nước Ả rập đầu tiên.
Trận Mulayda 09/29/1890 - Quân Rashidi kết thúc Nhà nước Ả rập thứ hai.
Trận Riyadh (1902) - Ibn Saud bắt lại Riyadh từ Rashidis.
Trận Dilam (1903) - Ibn Saud chiến thắng trên Rashidis.
Trận Bekeriyah (1904) - Ibn Saud chiến thắng trên Rashidis.
Trận Shinanah (1904) - Ibn Saud chiến thắng trên Rashidis.
Trận Rawdat Muhanna (1906) - Ibn Saud chiến thắng trên Rashidis.
Trận Tarafiyah (1907) - Ibn Saud chiến thắng trên Rashidis.
Trận Mecca (1924) - Ibn Saud chiếm Mecca.
Trận Jeddah (1925) - Ibn Saud chiếm Jeddah và kết thúc Vương quốc Hejaz.
Trận Khafji (1991) - Quân Ả rập, Qatari và American nắm quyền kiểm soát Khafji từ Iraq.
== Scotland ==
Trận Mons Graupius - 84 - Roman defeat of the Caledonians
Trận Degsastan - 603 - Æthelfrith of Bernicia defeated Áedán mac Gabráin King of Dál Riada.
Trận Dun Nechtain - 685 - The Picts defeat the Northumbrians (also known as Dunnichen/Nechtansmere)
Trận Dollar - 865 - The Danes defeat the men of Alba
Trận Brunanburh - 937
Trận Bands - 962 - Scots defeat the Danes
Trận Carham - 1018
Trận Lumphanan - 1057
Trận Stracathro - 1130
Trận Renfrew - 1164
Trận Mam Garvia - 1187 - Lochlann, Lord of Galloway defeats Domnall Meic Uilleim
Trận Largs - 1263 - Inconclusive 'battle' fought between the Scots and Norwegians (Scottish–Norwegian War)
Trận Dunbar (1296) Part Of the First War of Scottish Independence
Trận Stirling Bridge - 1297 - Part Of the First War of Scottish Independence
Trận Falkirk (1298) - Part Of the First War of Scottish Independence
Trận Roslin - 1303 - Part Of the First War of Scottish Independence
Trận Happrew (1304) - Part Of the First War of Scottish Independence
Trận Dalrigh - 1306 - Part Of the First War of Scottish Independence
Trận Methven - 1306 - Part Of the First War of Scottish Independence
Trận Glen Trool - 1307 - Part Of the First War of Scottish Independence
Trận Loudon Hill - 1307 - Part Of the First War of Scottish Independence
Trận Slioch 1307 - Part Of the First War of Scottish Independence
Trận Inverurie (1308) - Part Of the First War of Scottish Independence
Trận Pass of Brander - 1308 - Part Of the First War of Scottish Independence
Trận Bannockburn 1314
Trận Annan 1332 - Part Of the Second War of Scottish Independence
Trận Dupplin Moor 1332 - Part Of the Second War of Scottish Independence
Trận Dornock - 1333 - Part Of the Second War of Scottish Independence
Trận Boroughmuir - 1335 - Part Of the Second War of Scottish Independence
Trận Culblean 1335 - Part Of the Second War of Scottish Independence
Trận Drumlui 1337 - Scottish clan battle
Trận Invernahavon 1386 - Scottish clan battle
Trận the North Inch 1396 - Scottish clan battle
Trận Nesbit Moor 1402
Trận Harlaw 1411
Trận Corpach 1429 - Scottish clan battle
Trận Inverlochy (1431)
Trận Piperdean 1436
Trận Sark 1448
Trận Bealach nam Broig 1452
Trận Arkinholm 1455
Trận Bloody Bay 1480 or 1483 Scottish clan battle
Trận Lochmaben Fair 1484
Trận Auldicharish 1487 - Scottish clan battle
Trận Sauchieburn 1488
Trận Blar Na Pairce 1491 - Scottish clan battle
Trận Drumchatt 1497 - Scottish clan battle
Trận Solway Moss 1542
Trận the Shirts 1544 - Scottish clan battle
Trận Ancrum Moor 1545
Trận Pinkie Cleugh 1547
Trận Corrichie 1562 - Mary, Queen of Scots Civil Wars
Trận Carberry Hill 1567 - Mary, Queen of Scots Civil Wars
Trận Langside 1568 - Mary, Queen of Scots Civil Wars
Trận Glenlivet 1594
Trận Coire Na Creiche 1601 - Scottish clan battle
Trận Morar 1602 - Scottish clan battle
Trận Glen Fruin 1603 - Scottish clan battle
Trận Aberdeen 1644 - Part of The Wars of the Three Kingdoms
Trận Tippermuir 1644 - Part of The Wars of the Three Kingdoms
Trận Alford 1645 - Part of The Wars of the Three Kingdoms
Trận Annan Moor - 1645 Part of The Wars of the Three Kingdoms
Trận Auldearn 1645 - Part of The Wars of the Three Kingdoms
Trận Inverlochy (1645) - Part of The Wars of the Three Kingdoms
Trận Kilsyth - 1645 - Part of The Wars of the Three Kingdoms
Trận Philiphaugh 1645 - Part of The Wars of the Three Kingdoms
Trận Mauchline Muir 1648
Trận Stirling (1648)
Trận Carbisdale (1650)
Trận Hamilton 1650
Trận Dunbar (1650)
Trận Invercarron 1650
Trận Inverkeithing 1651
Trận Dalnaspidal 1654
Trận Rullion Green 1666
Trận Drumclog (1679)
Trận Bothwell Brig (1679)
Trận Mulroy 1688 - Scottish clan battle
Trận Dunkeld 1689
Trận Killiecrankie 1689
Trận Cromdale 1690
Trận Sherrifmuir (1715)
Trận Glen Shiel (1719)
Trận Prestonpans 1745
Trận Culloden 1746
== Serbia ==
Trận the Margus 285
Trận Kosovo 1389
Trận Kosovo thứ hai 1448
Trận Cer 1914
Trận Kolubara 1914
Trận Morava 1915
Trận Kosovo (1915) 1915
Trận Ovche Pole 1915
== Slovenia ==
Trận Dražgoše - 1942
Trận Osankarica
Trận Castle Turjak - 1943
Trận Nanos - 1942
Trận Trieste
Trận Poljana - 1945
Trận Caporetto - 1917
== Nam Phi ==
Trận Muizenberg - 1795
Trận Blaauwberg - 1806
Trận Blood River - 1838
Trận Magango - 1840
Trận Isandlwana - 1879 - Chiến tranh Anglo-Zulu
Trận Rorke's Drift - 1879 - Chiến tranh Anglo-Zulu
Trận Intombe - 1879 - Chiến tranh Anglo-Zulu
Trận Hlobane - 1879 - Chiến tranh Anglo-Zulu
Trận Kambula - 1879 - Chiến tranh Anglo-Zulu
Trận Gingindlovu - 1879 - Chiến tranh Anglo-Zulu
Siege of Eshowe - 1879 - Chiến tranh Anglo-Zulu
Trận Ulundi - 1879 - Chiến tranh Anglo-Zulu
Action at Bronkhorstspruit - 1880 - First Boer War
Trận Laing's Nek - 1881 - First Boer War
Trận Majuba Hill - 1881 - First Boer War
Trận Schuinshoogte - 1881 - First Boer War
Trận Talana Hill - 1899 - Chiến tranh Boer thứ hai
Trận Elandslaagte - 1899 - Chiến tranh Boer thứ hai
Trận Stormberg - 1899 - Chiến tranh Boer thứ hai
Trận Magersfontein - 1899 - Chiến tranh Boer thứ hai
Trận Colenso - 1899 - Chiến tranh Boer thứ hai
Trận Modder River - 1899 - Chiến tranh Boer thứ hai
Trận Faber's Put - 1900 - Chiến tranh Boer thứ hai
Siege of Kimberley - 1899-1900 - Chiến tranh Boer thứ hai
Siege of Ladysmith - 1899-1900 - Chiến tranh Boer thứ hai
Siege of Mafeking - 1899-1900 - Chiến tranh Boer thứ hai
Trận Sanna's Post - 1900 - Chiến tranh Boer thứ hai
Trận Spion Kop - 1900 - Chiến tranh Boer thứ hai
Trận Witpoort - 1900 - Chiến tranh Boer thứ hai
Trận Paardeberg - 1900 - Chiến tranh Boer thứ hai
== Tây Ban Nha ==
Trận the Upper Baetis - 211 BC - Second Punic War
Trận Baecula - 208 BC - Second Punic War
Trận Ilipa - 206 BC - Second Punic War
Trận Ilerda - 49 BC - Caesar's civil war
Trận Munda - 45 BC - Caesar's civil war
Trận Guadalete - 711
Trận Covadonga - 722 - Reconquista
Trận Roncevaux Pass - 778 - Reconquista
Trận Simancas - 939 - Reconquista
Trận Atapuerca - 1054 - Reconquista
Trận Graus - 1063 - Reconquista
Trận Sagrajas - 1086 - Reconquista
Trận Uclés - 1108 - Reconquista
Trận Jerez - 1231 - Reconquista
Trận Alarcos - 1195 - Reconquista
Trận Navas de Tolosa - 1212 - Reconquista
Trận Rio Salado - 1340 - Reconquista
Trận Ceuta - 1415
Trận Pampeluna - 1521
Trận Montijo - 1644 - Portuguese Restoration of Independence War
Trận Almansa - 1707 - Cuộc chiến tranh kế vị Tây Ban Nha
Trận Almenar - 1710 - Cuộc chiến tranh kế vị Tây Ban Nha
Trận Saragossa - 1710 - Cuộc chiến tranh kế vị Tây Ban Nha
Trận Brihuega - 1710 - Cuộc chiến tranh kế vị Tây Ban Nha
Trận Villaviciosa - 1710 - Cuộc chiến tranh kế vị Tây Ban Nha
Siege of Saragossa (1808) - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Medina del Rio Seco - 1808 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Bailén - 1808 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Pancorbo - 1808 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Valmaceda - 1808 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Burgos - 1808 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Espinosa - 1808 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Tudela - 1808 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Somosierra - 1808 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Second Siege of Saragossa - 1808 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Siege of Gerona - 1808 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Uclés - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Corunna - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Ciudad-Real - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Medellín - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Oporto - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Talavera - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Alcañiz - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Tamames - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Siege of Gerona - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Ocana - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Alba de Tormes - 1809 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Fuengirola - 1810 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Albuera - 1811 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Siege of Burgos - 1812 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Badajoz (1812) - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Salamanca - 1812 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Vitoria - 1813 - Các cuộc chiến tranh của Napoléon
Trận Badajoz (1936) - Nội chiến Tây Ban Nha
Trận Guadalajara - 1937 - Nội chiến Tây Ban Nha
Trận El Mazuco - 1937 - Nội chiến Tây Ban Nha
Trận the Ebro - 1938 - Nội chiến Tây Ban Nha
== Thụy Điển ==
Battle at Lake Vænir - Không biết
Trận Brávellir - 750
Trận Axtorna - 1565 - Chiến tranh phương Bắc 7 năm
Trận Stångebro - 1598 - Chiến tranh chống lại Sigismund
Trận Öland - 1676 - Chiến tranh Scania
Trận Halmstad - 1676 - Chiến tranh Scania
Trận Lund - 1676 - Chiến tranh Scania
Trận Landskrona - 1677 - Chiến tranh Scania
Trận Stäket - 1719 - Chiến tranh phương Bắc vĩ đại
Trận Ratan và Sävar - 1809 - Chiến tranh Phần Lan
== Áo ==
Trận Zürich đầu tiên - 1799, Các cuộc chiến cách mạng Pháp
== Thái Lan ==
Trận Bang Rajan
== Thổ Nhĩ Kỳ ==
Trận Ankara
Trận Granicus - Trận đánh đầu tiên của Alexandros Đại đế ở Ba Tư
Trận Issus - 333 trước Công nguyên - Alexandros Đại đế đánh bại Darius III của Ba Tư
Trận Manzikert
Cuộc vây hãm Constantinopolis (717-718)
Thập tự chinh thứ tư
Trận Dorylaeum (1097)
Trận Dorylaeum (1147)
Cuộc vây hãm Constantinopolis (1453)
Trận Chesma - 1770
Trận Sinop - 1853
== Ukraina ==
Trận sông Alta - 1015
Trận sông Stugna - 1093
Trận sông Kalka - 1223
Trận Blue Waters - 1362
Trận sông Vorskla - 1399
Trận Zhovti Vody - 1648
Trận Berestechko - 1651
Trận Poltava - 1709
Trận Khotyn - 1739
Trận Kinburn - 1787
Trận Alma - 1854
Trận Balaclava - 1854
Trận Inkerman - 1854
Trận Malakoff - 1855
Cuộc tổng tấn công của Brusilov - 1916
Trận Zborov - 1917
Trận Bakhmach - 1918
Vây hãm Odessa - 1941
Trận Kharkov đầu tiên - 1941
Trận Sevastopol - 1941-1942
Trận Kharkov thứ hai - 1942
Trận Kharkov thứ ba - 1943
Trận Kharkov thứ tư - 1943
== Vương quốc Anh ==
Xem England, Ireland, Scotland và Wales trong bài viết này.
== Hoa Kỳ ==
Trận Aleutian Islands - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Bunker Hill - 1775 - Chiến tranh Cách mạng Mỹ
Trận Brandywine - 1777 - Chiến tranh Cách mạng Mỹ
Trận Camden - 1780 - Chiến tranh Cách mạng Mỹ
Trận Baltimore - 1814 - War of 1812
Trận Ball's Bluff - 1861 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Athens (Missouri) - 1861 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Belmont - 1861 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Big Bethel - 1861 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Blackburn's Ford - 1861 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Boonville - 1861 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Aquia Creek - 1861 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Antietam - 1862 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Bayou Fourche - 1863 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Athens (Alabama) - 1864 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Appomattox Courthouse - 1865 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Carnifex Ferry - 1861 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Carthage (Missouri) - 1861 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Chancellorsville Virginia - 1863 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận the Chesapeake
Trận Cheat Mountain [West] Virginia - 1861 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Chickamauga - 1861 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Chickasaw Bayou - 1862 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Church house - 1864 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Concord - 1775 - Chiến tranh Cách mạng Mỹ
Trận Cowpens
Trận Craney Island
Trận Crown Point
Trận Cumberland Church
Battles of Dalton - 1864 - Nội chiến Hoa Kỳ
Trận Drewry's Bluff
Trận Dry Wood Creek
Trận Fish Hook Ridge - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận đồn Donelson
Trận đồn Clark
Trận đồn Sumter
Trận Fort Ticonderoga
Cuộc vây hãm pháo đài William Henry
Trận Front Royal
Trận Germantown
Trận Gettysburg
Trận Goldsborough Bridge
Trận Hoke's Run
Trận Ivy Mountain
Trận Kessler's Cross Lanes
Trận Lexington
Trận Little Bighorn
Trận Long Island
Trận Manassas thứ nhất
Trận Manassas thứ hai
Trận Midway
Trận Monongahela River (Braddock's defeat)
Trận Morton's Ford
Trận Mossy Creek
Trận Nashville
Trận New Orleans
Trận Pearl Harbor - 1941 - Chiến tranh thế giới thứ hai
Trận Perry Hill
Trận Princeton Courthouse
Trận Rich Mountain
Trận Round Mountain
Trận Sewell's Point
Trận Shiloh
Trận Sitka
Trận Spotsylvania Court House
Trận Springfield (1780)
First Trận Springfield (1861)
Second Trận Springfield (1863)
First Trận the Stronghold
Trận Stones River
Trận Trenton
Trận White Plains
Trận Wilderness
Trận Wilson's Creek
Trận Yorktown
== Venezuela ==
Trận Niquitao - 1813 - Campaña Admirable
Trận Los Horcones - 1813 - Campaña Admirable
Trận Taguanes Fields - 1813 - Campaña Admirable
Trận Cumaná - 1813 - Campaign of 1813 - 1814
Trận Bárbula - 1813 - Campaign of 1813 - 1814
Trận Araure - 1813 - Campaign of 1813 - 1814
Trận La Puerta - 1814 - Boves' rebellion
Trận La Victoria - 1814 - Boves' rebellion
Trận Ocumare del Tuy - 1814 - Boves' rebellion
Trận San Mateo - 1814 - Boves' rebellion
First Siege of Valencia - 1814 - Boves' rebellion
Trận Urica - 1814 - Boves' rebellion
Trận Maturín - 1814 - Boves' rebellion
Trận La Casa Fuerte of Barcelona - 1817 - Campaign of Barcelona (1817)
Trận San Félix - 1817 - Campaign of Guyana (1817)
Trận Matasiete - 1817 - Campaign of Guyana (1817)
Trận Angostura - 1817 - Campaign of Guyana (1817)
Trận Las Queseras del Medio - 1819 - Campaign of Apure (1819)
Trận Carabobo - 1821 - Second Campaign of Carabobo
Trận Lake Maracaibo - 1823 - Venezuelan War of Independence
Trận Santa Inés - 1859 - Federal War
Trận Coplé - 1860 - Federal War
Trận Buchivacoa - 1862 - Federal War
== Việt Nam ==
Trận Bạch Đằng, 938
Trận Bạch Đằng - 981 - Chiến tranh Tống - Việt, 981
Trận Bạch Đằng, 1288 - Chiến tranh Nguyên Mông-Đại Việt
Trận Tốt Động-Chúc Động - 1426 - Khởi nghĩa Lam Sơn
Trận Chi Lăng - Xương Giang - 1427 - Khởi nghĩa Lam Sơn
Chiến dịch Biên giới - 1950 - Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Chiến dịch Điện Biên Phủ - 1954 - Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất
Trận Ấp Bắc - 1963 - Chiến tranh Việt Nam
Trận Ia Đrăng - 1965 - Chiến tranh Việt Nam
Chiến dịch Ba Gia - 1965 - Chiến tranh Việt Nam
Trận Bình Giã - 1965 - Chiến tranh Việt Nam
Trận Đồng Xoài - 1965 - Chiến tranh Việt Nam
Trận Long Tân - 1966 - Chiến tranh Việt Nam
Chiến dịch Đắk Tô-Tân Cảnh (1967) - 1967 - Chiến tranh Việt Nam
Trận Ông Thành - 1967- Chiến tranh Việt Nam
Chiến dịch Đường 9 - Khe Sanh - 1968 - Chiến tranh Việt Nam
Trận Mậu Thân tại Huế - 1968 - Chiến tranh Việt Nam
Trận Đồi Thịt Băm - 1969 - Chiến tranh Việt Nam
Trận Đồi 723 - 1971 - Chiến tranh Việt Nam
Trận Bản Đông - 1971 - Chiến tranh Việt Nam
Chiến dịch Đắk Tô - 1972 - Chiến tranh Việt Nam
Chiến dịch Đường 14 - Phước Long - 1975 - Chiến tranh Việt Nam
Chiến dịch Tây Nguyên - 1975 - Chiến tranh Việt Nam
== Wales ==
Trận Mynydd Carn - 1081 - Chiến đấu triều đại Wales
Trận Crug Mawr - 1136 - Chiến dịch Norman xứ Wales
Trận St. Fagans - 1648 - Nội chiến Anh thứ hai
== Yemen ==
== Tham khảo == |
atp world tour finals.txt | Barclays ATP World Tour Finals, tên chính thức là ATP World Tour Finals , là giải đấu quần vợt nam cuối cùng trong năm, quy tụ 8 tay vợt nam đứng đầu bảng xếp hạng thế giới.
Không như các giải đấu quần vợt khác, ATP World Tour Finals không tiến hành theo thể thức loại trực tiếp suốt cả giải. 8 tay vợt được chia thành 2 nhóm, mỗi nhóm 4 tay vợt, thi đấu theo thể thức vòng tròn 1 lượt ở từng nhóm. 2 tay vợt xếp đầu mỗi nhóm vào bán kết, 2 người thắng ở bán kết gặp nhau ở chung kết để xác định nhà vô địch.
== Lịch sử của giải ==
Giải đấu thực sự được coi là cuộc cách mạng thứ ba của các giải đấu quần vợt được bắt đầu từ năm 1970. Ban đầu giải có tên The Masters, được Liên đoàn quần vợt Quốc tế (ITF) tổ chức. The Masters là giải đấu cuối năm giữa các tay vợt hàng đầu của các giải đấu nam, nhưng thành tích của giải không được tính vào thành tích chung trong cả năm. Năm 1990, Hiệp hội quần vợt nhà nghề (ATP) tham gia vào việc điều hành các giải đấu nam và thay The Masters bằng ATP Tour World Championship (Giải vô địch thế giới ATP). Lần này thành tích của giải được tính vào thành tích chung của tay vợt tham dự. Nhà vô địch kiếm được số điểm bằng với việc thắng 1 trong 4 giải Grand Slam. ITF vẫn còn điều hành các giải Grand Slam đã tạo ra một giải đấu cạnh tranh có tên Grand Slam Cup, quy tụ 16 tay vợt có thành tích tốt nhất ở các giải Grand Slam trong năm. Tháng 12 năm 1999, ATP và ITF thỏa thuận với nhau không tiếp tục tạo ra hai giải đấu riêng biệt nữa và thành lập ra một giải do cả hai tổ chức cùng điều hành, lấy tên Tennis Masters Cup. Cũng như The Masters và ATP Tour World Championships, Masters Cup gồm 8 tay vợt hàng đầu tham dự, theo bảng xếp hạng ATP Race. Tuy nhiên, theo luật của giải đấu, tay vợt xếp thứ 8 trong bảng xếp hạng ATP Race không đảm bảo một suất tham dự. Nếu có tay vợt giành được một trong 4 giải Grand Slam trong năm có thứ hạng thấp hơn 8 nhưng vẫn trong 20 thứ hạng đầu sẽ giành được quyền tham dự, thay vì tay vợt hạng 8. Nếu có hai tay vợt ngoài hạng 8 cùng vô địch các giải Grand Slam trong năm, tay vợt có thứ hạng cao hơn trong bảng xếp hạng sẽ giành quyền tham dự.
Từ năm 2009 Masters Cup lại được đổi tên là ATP World Tour Finals (Giải đấu chung kết ATP) và được tổ chức tại Sân O2 ở London từ 2009 đến 2012.
Trong nhiều năm, các tay vợt tham gia đấu đôi ở một giải đấu khác tổ chức sau giải đơn 1 tuần. Gần đây cả hai nội dung được tổ chức chung. Cũng như giải đơn, 8 cặp đôi hàng đầu tham dự và cũng chia thành 2 nhóm đấu vòng tròn một lượt, bán kết và chung kết.
Cựu số 1 thế giới Roger Federer đang là người dẫn đầu với 6 lần vô địch giải này, xếp tiếp theo là các cựu số 1 thế giới Pete Sampras, Ivan Lendl mỗi người 5 lần vô địch.
Djokovic là người lập và đang giữ kỷ lục là tay vợt vô địch 4 năm liên tiếp từ năm 2012 – 2015
== Vô địch đơn ==
== Vô địch đôi ==
== Thứ tự các tay vợt vô địch đơn ==
Dưới đây là bảng thống kê số lần vô địch Masters Cup của các tay vợt, xếp theo số lần vô địch và thứ tự thời gian.
== Danh sách các tay vợt tham gia ==
Tính từ khi là giải có tên là Tennis Masters Cup (từ 2000 đến nay).
Chú thích: tt = tay vợt thay thế cho tay vợt có suất nhưng không tham dự hoặc bỏ cuộc giữa chừng
== Thống kê ==
Các tay vợt vô địch giải đấu mà không thua trận nào (từ 1990):
Michael Stich, Đức, 1993
Lleyton Hewitt, Úc, 2001
Roger Federer, 2003, 2004, 2006, 2010, 2011
Novak Djokovic, 2012,2013,2014
Các tay vợt bảo vệ thành công chức vô địch:
Ilie Năstase, Romania, 1971-1973
Björn Borg, Thụy Điển, 1979-80
Ivan Lendl (2), Tiệp Khắc, 1981-1982; 1985-1987
John McEnroe, Mỹ, 1983-1984
Pete Sampras, Mỹ, 1996-1997
Lleyton Hewitt, 2001-2002
Roger Federer (3), 2003-2004; 2006-2007; 2010-2011
Novak Diokovic, Serbia: 2012-2013; 2013-2014; 2015
Các tay vợt vô địch liên tiếp:
1. Novak Djokovic: 04 lần từ 2012 - 2015
2. Ivan Lendl, 3
3. Ilie Nastase, 3
Các tay vợt tham dự nhiều trận chung kết liên tiếp:
1. Ivan Lendl, 9 (1980-1988)
2. Ilie Năstase, 5 (1971-1975)
2. Roger Federer, 5 (2003-2007)
3. Novak Djokovic, 4 (2012-2015)
4. Stan Smith, Mỹ, 3 (1970-1972)
4. Boris Becker, Đức, 3 (1994-1996)
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Giải quần vợt vô địch WTA Tour
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ giải đấu
Thông tin về giải trên trang chủ ATP
Thông tin về giải trên trang tenniscorner.net |
amaterasu.txt | Amaterasu (天照 (Thiên Chiếu), Amaterasu), Amaterasu-ōmikami (天照大神/天照大御神 (Thiên Chiếu Đại Thần/Thiên Chiếu Đại Ngự Thần), Amaterasu-ōmikami) hay Ōhiru-menomuchi-no-kami (大日孁貴神 (Đại Nhật Linh Quý Thần), Ōhiru-menomuchi-no-kami ) là một vị thần trong thần thoại Nhật Bản, và một là vị thần (神, kami) quan trọng trong Thần đạo. Amaterasu không chỉ được coi là vị thần của mặt trời, mà còn là vị thần của vũ trụ. Tên gọi Amaterasu có nguồn gốc từ cụm từ amateru, mang ý nghĩa "toả sáng trên thiên đường." Ý nghĩa của toàn bộ tên gọi của cô, Amaterasu-ōmikami, là "vị kami (thần) vĩ đại uy nghi toả sáng trên thiên đường". Theo Kojiki và Nihon Shoki trong thần thoại Nhật Bản, các Thiên hoàng Nhật Bản được coi là hậu duệ trực tiếp của Amaterasu. Bà được sinh ra từ mắt trái của Izanagi khi ông đang tẩy uế trong một dòng sông và tiếp tục trở thành chủ nhân của Cao Thiên Nguyên (Takamagahara).
== Lịch sử ==
=== Câu chuyện về Amaterasu ===
Amaterasu được miêu tả trong Kojiki (Cổ Sự Ký) là thần mặt trời, sinh ra từ Izanagi, cùng với em trai bà, thần gió bão Susano'o, và thần Mặt Trăng Tsukuyomi. Trong Kojiki, Amaterasu được miêu tả là vị thần tỏa ra ánh sáng và thường được nói đến như thần mặt trời vì hơi ấm và lòng nhân ái đối với những người thờ phụng bà. Một số huyền thoại khác nói rằng Amaterasu sinh ra từ nước.
Phần lớn các thần thoại về bà xoay quanh việc bà tự giam mình trong hang vì hành động của người em trai. Trong một thời gian dài, cả 3 vị thần được tôn thờ đều hòa hợp và cả thế giới đều êm ấm. Một ngày, Susano'o, trong cơn say, giẫm phải đồng lúa của Amaterasu, lấp đầy tất cả các kênh mương của bà, ném thứ ô uế vào cung điện và đền thờ của bà. Omikami yêu cầu em trai mình dừng lại nhưng ông ta mặc kệ, thậm chí còn ném xác một con ngựa lang trắng đã lột da vào người hầu gái của bà lúc đó đang dệt vải. Người con gái bị chết bởi một thoi cửi buộc bung ra ngoài và đâm xuyên qua người (trong Kojiki, nó đâm vào bộ phận sinh dục ).
Amaterasu hết sức bất bình bèn lánh vào Thiên Nham Cung (hang trời) lấp kín cửa vào, vì vậy dương gian chìm đắm trong tăm tối không còn ngày đêm. Nàng tuyên bố hễ chư thần còn chấp nhận cho Susano'o sống chung, nàng sẽ ở lì trong Thiên Nham Cung không xuất hiện nữa. Chư vị thần linh hết sức bối rối, cùng tập hợp trên dòng Thiên Hà cạn khô, thoạt còn ít, sau đông dần, tới tám triệu vị, bàn nhau kiếm cách nào hiệu nghiệm nhất khiến Amaterasu rời khỏi Thiên Nham Cung. Vị thần mưu cơ là Taka-mi-misubi nói: "Thường thường nữ thần Amaterasu ló dạng mỗi khi nghe tiếng gà gáy, vậy chúng ta nên buộc chạc, rồi cho những con gà trống thật tốt giọng đậu lên đó thay phiên nhau gáy." Việc đó được thực hiện ngay, nhưng vô hiệu quả. Amaterasu vẫn bằn bặt trong cùng thẳm Hang Trời. Thần mưu cơ Taka-mi-misubi lại tìm ra kế gợi trí tò mò của nữ thần Mặt Trời. Thần sai một thần thợ rèn độc nhỡn làm một tấm gương thật sáng, đặt trước Hang Trời. Trên tấm gương thần có treo những chuỗi ngọc trắng hình cánh cung và những đồ lễ tết bằng chỉ bạch, rồi tất cả hát lễ van vái (norito). Tuy nhiên cuộc vận động của chư thần chỉ hiệu nghiệm khi nữ thần Amano Uzume xuất hiện với một vũ khúc đặc biệt ngộ nghĩnh, Amaterasu nghe tiếng chư thần cười vang, động lòng hiếu kỳ mở hé cửa hang. Rồi cất tiếng hỏi lớn:
"Ta ngỡ vắng ta, tám triệu chư vị thần linh sẽ buồn bã trong đêm tối dày đặc, làm sao chư vị lại vui cười hả hê như vậy được?"
Nữ thần Uzume lanh trí trả lời ngay:
"Làm sao chúng tôi vui ư? Xin thưa, vì bọn chúng tôi đã kiếm được một vị nữ thần mới nhan sắc còn kiều diễm hơn Người nữa."
Nghe vậy Amaterasu càng động lòng hiếu kỳ, và lòng ghen tức nữa, bèn mở rộng cửa bước ra, thoạt nhận thấy bóng mình phản ánh rỡ ràng trong gương. Một vị thần tiến tới cầm lấy tay Amaterasu, chư thần khác lập tức chăng dây ngang phía sau, chặn lối vào động.
Kể từ lúc đó ánh sáng lại chan hoà khắp dương thế, ngày đêm lại bắt đầu vận chuyển.
Sau đó bà cử cháu trai Ninigi-no-Mikoto đến bình định Nhật Bản: cháu gọi bà bằng kỵ trở thành Thiên hoàng đầu tiên, Thiên hoàng Jimmu. Ông có ba thần khí: thanh kiếm (Kusanagi), viên ngọc (Yasakani no magatama), và gương (Yata no kagami) trở thành Tam Chủng Thần Khí của Nhật Bản (Sanshu no Jingi).
Amaterasu được tôn thờ là người sáng tạo ra việc canh tác lúa gạo và lúa mì, trồng dâu, nuôi tằm, quay tơ, dệt vải.
Kukai nổi tiếng với việc liên kết Amaterasu với Dainichi Nyorai (Đại Nhật Như Lai), hình ảnh trung tâm của Phật giáo. Do đó, Amaterasu được cho là hiện thân thần thánh của Phật Vairocana.
=== Sự khác nhau giữa Kojiki và Nihonshoki ===
Trong Kojiki và Nihonshoki, vị thần này được miêu tả với vài điểm khác nhau. Câu chuyện trong Kojiki được biết đến nhiều hơn.
Đầu tiên là câu chuyện về sự ra đời của bà. Trong Kojiki, bà ra đời sau khi Izanagi không thể đưa Izanami về từ địa ngục Yomi. Tuy vậy, trong Nihonshoki, Izanagi và Izanami, vẫn còn sống, cùng nhau quyết định tạo ra một vị thần tối cao để thống trị thế giới, rồi hạ sinh Amaterasu.
Phần cử cháu trai đến Ashihara no Nakatsukuni (Nhật Bản) cũng khác nhau trong 2 thần thoại. Trong Kojiki, Amaterasu ra lệnh cho con trai bà và các vị thần khác đến bình định Nhật Bản. Mặt khác, thư tịch chính của Nihonshoki ghi lại truyền thuyết rằng chính Takamimusubi-no-Kami thực hiện việc này và cử cháu ngoại Ninigi đến Nhật Bản. Vai trò của Amaterasu rất mơ hồ trong chương này.
Trong cả 2 trường hợp, Nihonshoki ghi lại một bản giống như trong phần của Kojiki như một "aru-fumi", hay phần thay thế.
=== Sự tương đồng với các nền văn hoá khác ===
Amaterasu ường như là sự mô tả của văn hoá Nhật Bản về một nữ thần Mặt trời mang tính lịch sử trong các nước châu Á. Một số điểm tương đồng đã được nhận thấy giữa nữ thần Mặt trời Nhật Bản và nữ thần Mặt trời Triều Tiên Hae-nim, đặc biệt là liên quan đến sự tôn thờ pháp sư, sử dụng các biểu tượng và nghi thức tương tự. Một sự mô tả tương tự là vị thần trong văn hoá Trung Quốc Hy Hoà - vợ của Đế Tuấn. Mặc dù lịch sử có thể có sự tôn kính cao, chỉ ở Nhật Bản mới xuất hiện sự thờ phụng liên tục vị thần này như một nhân vật trung tâm, khi ở một số phong trào tôn giáo muộn hơn như Phật giáo và Đạo giáo phản đối sự tôn kính nữ thần mặt trời.
== Thờ phụng ==
Thần cung Ise ở Ise, Honshū, Nhật Bản có phần Nội cung (Naiku) dành riêng cho Amaterasu, tuy vậy, ngôi đền này không được mở cửa cho công chúng. Gương thiêng liêng của bà, Yata no Kagami, được cho là được lưu giữ tại ngôi đền này, là một trong Tam Chủng Thần Khí. Tại ngôi đền này, một buổi lễ gọi là Shikinen Sengu được tổ chức mỗi 20 năm để tôn vinh Amaterasu. Các tòa nhà thờ chính bị phá hủy và xây dựng lại tại một vị trí tiếp giáp với địa điểm. Quần áo mới và thực phẩm sau đó được cung cấp cho nữ thần. Nghi lễ này là một phần của đức tin Thần đạo và đã xuất hiện từ năm 690.
Bà được tế lễ vào ngày 17 tháng 7 với đám rước trên khắp cả nước. Hội ngày đông chí 21 tháng 12 kỷ niệm ngày bà ra khỏi hang núi.
Sự thờ phụng Amaterasu để loại trừ các kami khác được mô tả là "sự sùng bái mặt trời". Cụm từ này cũng có thể được tham chiếu từ việc tự thờ phụng mặt trời của các cư dân thời tiền sử.
== Nữ thần và Hoàng gia ==
Năm 1946, Thiên hoàng Hirohito trong Ningen-sengen (Nhân gian tuyên ngôn) bị ép phải từ bỏ quan niệm về akitsumikami (現御神 (Hiện Ngự Thần), akitsumikami), tính chất thần thánh trong hình hài con người, và tuyên bố quan hệ của ông với nhân dân không dựa trên một tư tưởng thần thoại học như thế mà dựa trên sự tin cậy phát triển như một gia đình mang tính lịch sử.
Nhiều tác giả khác, ví dụ như John W. Dower và Herbert Bix, cân nhắc điều đó bằng việc chọn từ akitsumikami (現御神 (Hiện Ngự Thần), akitsumikami) thay vì dùng chữ arahitogami ( (Hiện Nhân Thần), arahitogami), Hirohito không thực sự chối bỏ nguồn gốc thần thánh của mình từ Nữ thần Amaterasu Omikami.
== Amaterasu trong văn hóa đại chúng ==
Amaterasu là nhân vật trong bộ phim năm 2003 Onmyoji II, diễn xuất Kyōko Fukada.
Trong game Ōkami, nhân vật chính Amaterasu hóa thân trong hình dạng chó sói, và ban đầu được nói đến như là "nguồn gốc của điều thiện và mẹ của tất cả chúng ta."
Trong Dream Saga Amaterasu bị con rồng tự nhiên Susa no O nuốt chửng để quét sạch loài người và để một thế giới mới ra đời.
== Xem thêm ==
Thần thoại Nhật Bản
Himiko
Okami
== Ghi chú ==
== Tham khảo == |
núi aso.txt | Núi Aso (阿蘇山, Aso-san) là ngọn núi lửa hoạt động lớn nhất Nhật Bản và là một trong những núi lửa lớn nhất trên thế giới. Tọa lạc tại vườn quốc gia Aso-Kujū ở tỉnh Kumamoto, trên đảo Kyushu. Đỉnh cao 1592 m so với mực nước biển. Núi Aso có một miệng núi lửa khá lớn (25 km về phía bắc-nam và 18 km về phía đông-tây) với chu vi khoảng 120 km (75 mi), mặc dù các nguồn tin khác nhau về khoảng cách chính xác. |
các lãnh thổ tây bắc.txt | Các Lãnh thổ Tây Bắc (tiếng Anh: Northwest Territories, phát âm tiếng Anh: /ˌnɔrθˌwɛstˈtɛrɨtɔriz/, viết tắt NWT hay NT; tiếng Pháp, les Territoires du Nord-Ouest) là một lãnh thổ của Canada.
Nằm ở Bắc Canada, lãnh thổ này tiếp giáp Yukon về phía tây, Nunavut về phía đông (hai lãnh thổ khác của Canada), British Columbia về phía tây nam, Alberta về phía nam và Saskatchewan về phía đông nam. Lãnh thổ này có diện tích 1.140.835 square kilometres (440.479 sq mi) và dân số 41.464 theo cuộc điều tra dân số Canada 2006, tăng 11,0% so với năm 2001. Thủ phủ của lãnh thổ này là Yellowknife từ năm 1967.
Các đặc điểm nổi bật về địa lý của lãnh thổ này có các hồ Gấu Lớn và hồ Slave Lớn cũng như sông Mackenzie và các hẻm núi sông Nahanni, một vườn quốc gia đồng thời là một di sản thế giới được UNESCO công nhận. Quần đảo Bắc Cực bao gồm đảo Banks, bán đảo Parry, đảo Prince Patrick, và các vùng thuộc đảo Victoria và đảo Melville. Điểm cao nhất là núi Nirvana gần giáp với Lãnh thổ Yukon với độ cao 2.773 mét (9.098 ft).
== Tham khảo ==
Phương tiện liên quan tới Northwest Territories tại Wikimedia Commons |
vùng đông bắc (việt nam).txt | Vùng đông bắc là vùng lãnh thổ ở hướng Bắc vùng đồng bằng sông Hồng, Việt Nam. Gọi là đông bắc để phân biệt với vùng tây bắc, còn thực chất nó ở vào phía bắc và đông bắc của Hà Nội, rộng hơn vùng Việt Bắc. Vùng đông bắc là một trong 3 tiểu vùng địa lý tự nhiên của Bắc Bộ Việt Nam (2 tiểu vùng kia là Vùng tây bắc và Đồng bằng sông Hồng).
== Địa lý ==
=== Đặc điểm ===
Ranh giới địa lý phía tây của vùng đông bắc còn chưa rõ ràng. Chủ yếu do chưa có sự nhất trí giữa các nhà địa lý học Việt Nam về ranh giới giữa vùng tây bắc và vùng đông bắc nên là sông Hồng, hay nên là dãy núi Hoàng Liên Sơn. Vùng đông bắc được giới hạn về phía bắc và đông bởi đường biên giới Việt -Trung. phía đông nam trông ra vịnh Bắc Bộ. phía nam giới hạn bởi dãy núi Tam Đảo và vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.
Đây là vùng núi và trung du với nhiều khối núi và dãy núi đá vôi hoặc núi đất. Phần phía tây, được giới hạn bởi thung lũng sông Hồng và thượng nguồn sông Chảy, cao hơn, được cấu tạo bởi đá granit, đá phiến và các cao nguyên đá vôi. Thực chất, đây là rìa của cao nguyên Vân Nam. Những đỉnh núi cao của vùng đông bắc đều tập trung ở đây, như Tây Côn Lĩnh, Kiêu Liêu Ti.
Phần phía bắc sát biên giới Việt-Trung là các cao nguyên (sơn nguyên) lần lượt từ tây sang đông gồm: cao nguyên Bắc Hà, cao nguyên Quản Bạ, cao nguyên Đồng Văn. Hai cao nguyên đầu có độ cao trung bình từ 1000–1200 m. Cao nguyên Đồng Văn cao 1600 m. Sông suối chảy qua cao nguyên tạo ra một số hẻm núi dài và sâu. Cũng có một số đồng bằng nhỏ hẹp, đó là Thất Khê, Lạng Sơn, Lộc Bình, Cao Bằng.
Phía đông, từ trung lưu sông Gâm trở ra biển, thấp hơn có nhiều dãy núi hình vòng cung quay lưng về hướng Đông lần lượt từ Đông sang Tây là vòng cung Sông Gâm, Ngân Sơn-Yên Lạc, Bắc Sơn, Đông Triều. Núi mọc cả trên biển, tạo thành cảnh quan Hạ Long nổi tiếng. Các dãy núi vòng cung này hầu như đều trụm đuôi lại ở Tam Đảo.
Phía tây nam, từ Phú Thọ, nam Tuyên Quang, nam Yên Bái, và Thái Nguyên sang Bắc Giang thấp dần về phía đồng bằng. Người ta quen gọi phần này là "vùng trung du". Độ cao của phần này chừng 100–150 m., đặc trưng của vùng Trung du là có vùng Đồng Bằng khá rộng bị chia cắt bởi gò đồi.
Vùng đông bắc có nhiều sông chảy qua, trong đó các sông lớn là sông Hồng, sông Chảy, sông Lô, sông Gâm (thuộc hệ thống sông Hồng), sông Cầu, sông Thương, sông Lục Nam (thuộc hệ thống sông Thái Bình), sông Bằng, sông Bắc Giang, sông Kỳ Cùng, v.v...
Vùng biển đông bắc có nhiều đảo lớn nhỏ, chiếm gần 2/3 số lượng đảo biển của Việt Nam (kể cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa).
=== Lịch sử ===
Cơ sở lục địa của miền đông bắc được hình thành từ liên đại Nguyên sinh cách đây gần 600 triệu năm. Biển tiến và thoái liên tục cho đến chu kỳ tạo núi Indochina thì miền đông bắc thoát hẳn khỏi chế độ biển và bắt đầu chế độ lục địa. Vận động tạo núi Himalaya sau đó lan tới đây làm cho toàn miền được nâng lên và cũng đồng thời tạo ra những đứt gãy. Đất bị phơi trần và chịu tác động của nắng, mưa và gió nên không ngừng bị phân hủy trong khi các đỉnh núi bị san mòn bớt.
== Khí hậu ==
Tuy nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm nhưng vì địa hình cao, lại có nhiều dãy núi hình cánh cung mở ra ở phía bắc, chụm đầu về Tam Đảo, vào mùa Đông có gió Bắc thổi mạnh, rất lạnh, còn mùa hè mát mẻ, do đó vùng này có khí hậu cận nhiệt ẩm. Vùng núi ở Lào Cai, Hà Giang, Cao Bằng, Lạng Sơn có thể có lúc nhiệt độ xuống dưới 0°C và có băng giá, đôi khi có tuyết rơi. Các vùng ở đuôi các dãy núi cánh cung cũng rất lạnh do gió. Nhà thơ Tố Hữu trong bài "Phá đường" từng nhắc đến cái rét ở đây: "Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế".
== Phạm vi hành chính ==
Về phạm vi hành chính, vùng đông bắc bao trùm các tỉnh thành Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Giang, Tuyên Quang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Bắc Giang, Hải Phòng và Quảng Ninh. Đôi khi Lào Cai, Yên Bái vốn thuộc Vùng tây bắc cũng được xếp vào vùng này.
== Sắc tộc và văn hóa ==
Nơi đây nổi tiếng với những điệu múa khèn đặc trưng của dân tộc Mèo. Nhiều nhạc sĩ đã lấy cảm xúc từ vùng đất này để sáng tác nên nhiều bài hát rất hay như "Hà Giang quê hương tôi" và còn rất nhiều bài hát khác.
== Kinh tế ==
khai thác khoáng sản: than, sắt, chì, kẽm, thiếc, bôxit, apatit, pirit, đá xây dựng... Phát triển nhiệt điện(Uông Bí). Trồng rừng, cây công nghiệp, dựoc liệu, rau quả ôn đới và cận nhiệt. Du lịch sinh thái: vịnh hạ long, hồ Ba Bể,... kinh tế biển: đánh bắt nuôi trồng thủy sản du lịch vịnh Hạ Long.
== Quân sự ==
Vùng đông bắc có vị trí chiến lược trong an ninh-quốc phòng. Hiện nay, vùng đông bắc do Quân khu 1 bảo vệ.
Quân đoàn 2, còn gọi là Binh đoàn Hương Giang, được thành lập ngày 17 tháng 5 năm 1974 tại Thừa Thiên-Huế.Trụ sở: Thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
Vùng đông bắc có vai trò xung yếu trong an ninh quốc phòng. Trong lịch sử Việt Nam, nhiều lần các thế lực phương Bắc xâm lược đã thâm nhập vào vùng này trước tiên. Nơi đây có các con đường được các nhà sử học Việt Nam gọi là con đường xâm lược, đó là đường bộ qua Lạng Sơn, đường bộ ven biển ở Quảng Ninh, và đường biển trên vịnh Bắc Bộ rồi cũng đổ bộ vào Quảng Ninh. Đã có nhiều trận đánh ác liệt giữa quân và dân Việt Nam với giặc ngoại xâm ngay khi chúng thâm nhập vào vùng này trong đó nổi tiếng là các trận tại ải Chi Lăng, trận Như Nguyệt, các trận Bạch Đằng, v.v... Thời kỳ kháng chiến chống Pháp cũng có các trận đánh lớn như chiến dịch Việt Bắc (1947), chiến dịch biên giới thu đông (1949), v.v... Cuối thập niên 1970 và trong thập niên 1980, quân Trung Quốc đã tấn công dữ dội Việt Nam chủ yếu là trên dọc tuyến biên giới ở vùng đông bắc.
== Chùm ảnh vùng đông bắc ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Vùng Tây Bắc (Việt Nam)
Đồng bằng sông Hồng
Bắc Trung Bộ (Việt Nam)
Nam Trung Bộ (Việt Nam)
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ (Việt Nam)
Đồng bằng sông Cửu Long |
1910.txt | 1910 (số La Mã: MCMX) là một năm thường bắt đầu vào thứ Bảy trong lịch Gregory.
Theo âm lịch Việt Nam thì năm 1910 là năm Canh Tuất.
== Sự kiện ==
=== Tháng 2 ===
2 tháng 2: Xuyên Nam Gia Định khởi nghĩa phản Thanh thất bại
12 tháng 2: Quảng Châu khởi nghĩa phản Thanh thất bại
=== Tháng 5 ===
31 tháng 5 - Liên hiệp Nam Phi thành lập.
=== Tháng 6 ===
2 tháng 6 - Zeppelin bay lần đầu tiên.
== Sinh ==
15 tháng 1 - Trần Hữu Dực (1910-1993) nguyên Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Phủ Thủ tướng nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
27 tháng 8 - Mẹ Teresa, đoạt Giải Nobel Hòa bình năm 1979 (m. 1997)
Nguyễn Thị Minh Khai - một trong những nhà lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương trong giai đoạn 1930-1940 (m. 1941)
Gordon Pai'ea Chung-Hoon
== Mất ==
21 tháng 4 - Mark Twain, nhà văn Mỹ (s. 1835)
20 tháng 11 - Lev Nikolayevich Tolstoy, nhà văn Nga (s. 1828)
27 tháng 5 - Robert Koch, bác sĩ và nhà sinh học người Đức (s. 1843)
== Giải Nobel ==
Vật lý - Johannes Diderik van der Waals
Hóa học - Otto Wallach
Y học - Albrecht Kossel
Văn học - Paul Heyse
Hòa bình - Văn phòng Thường trực Hòa bình Quốc tế
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
saint kitts và nevis.txt | Liên bang Saint Kitts và Nevis (tên gọi khác: Liên bang Saint Christopher và Nevis) là một đảo quốc nằm trong Quần đảo Leeward, Tây Ấn. Đây là một đảo quốc nhỏ nhất nằm trong cả hai danh sách của Hoa Kỳ: Danh sách các quốc gia theo diện tích và Danh sách các quốc gia theo dân số.
Thành phố thủ đô và tổng hành dinh của chính phủ Liên bang nằm trên đảo Saint Kitts(Theo ý kiến của nhiều người, tên gọi ngày nay của hòn đảo này bắt nguồn từ tiếng Tây Ban Nha ("San Cristóbal") do Christopher Columbus đặt cho.
Bang Nevis, còn có tên gọi khác "Nuestra Señora de las Nieves" (tạm dịch "Bà Tuyết của chúng tôi"), là một bang nhỏ nhất của đảo quốc này; nó nằm trên phần diện tích rộng khoảng 2 dặm (3 km) ở phía Đông - Nam Saint Kitts, cắt ngang qua con kênh có tên "The Narrows".
Theo các tài liệu lịch sử, Anguilla, một thuộc địa của thực dân Anh, từng là một phần của Liên bang, nhưng sau đó ta1hc ra và được biết đến với tên gọi vùng lãnh thổ Saint Christopher-Nevis-Anguilla như ngày nay.
Saint Kitts và Nevis là một lãnh thổ địa lý thuộc quần đảo Leeward; giáp Saint Eustatius, Saba, Saint Barthélemy,và Saint Martin ở phía Bắc Đông Bắc; giáp Antigua và Barbuda về phía Đông Bắc; còn ở phía Đông Nam, giáp đảo quốc nhỏ, không người ở Redonda, và đảo Montserrat, khu vực thường xuyên xảy ra những đợt núi lửa lớn.
== Lịch sử ==
Năm 1493, Cristoforo Colombo đặt chân lên đảo St. Kitts, đặt tên đảo theo tên vị thánh bổn mạng của ông ta, Cristoforo (Thánh Christopher), nhưng những người định cư từ Anh sang (1623) đã rút gọn tên gọi thành St. Kitts. Đảo này trở thành thuộc địa của Anh, thổ dân Carib bị đánh đuổi và các nô lệ Da đen được đem đến từ châu Phi. Danh từ Nevis xuất phát từ những đám mây quanh chóp đỉnh của đảo giống như tuyết (tiếng Tây Ban Nha, las nieves nghĩa là tuyết). Các đảo này bị thực dân Anh chiếm đóng vào thế kỉ 17, trở thành thuộc địa Anh từ năm 1783 (Hiệp ước Versailles).
Liên bang gồm ba đảo: St. Kitts, Nevis và Anguilla được thành lập năm 1967, nhưng sau đó Anguilla đã rút khỏi liên bang. Quốc gia này đạt được quy chế tự trị năm 1967, trở thành quốc gia độc lập thuộc Khối thịnh vượng chung Anh năm 1983.
Giá đường thế giới giảm sút làm tổn hại đến nền kinh tế trong nửa thập niên 1980. Chính phủ tìm cách giảm bớt sự phụ thuộc vào sản xuất đường của đảo quốc, đa dạng hóa nền kinh tế, khuyến khích phát triển du lịch tài chính. Năm 1990, người đứng đầu đảo Nevis loan báo ý định tách đảo này khỏi Khối thịnh vượng chung Anh năm 1992, nhưng cuộc bầu cử địa phương (tháng 6 năm 1992) đã trì hoãn ý định này. Tháng 8 năm 1998, 62% dân chúng bỏ phiếu cho việc li khai đảo Nevis, nhưng không đạt được 2/3 số phiếu yêu cầu.
== Địa lý ==
Quốc gia liên bang gồm hai đảo St. Kitts (176 km2) và đảo Nevis (93 km2) ở quần đảo Tiểu Antilles, Trung Mỹ với diện tích 269 km2. Đảo St. Kitts có dạng gần giống hình trái xoan, ngoại trừ một dải bán đảo hẹp và dài ở phía Đông Nam; đỉnh núi cao nhất là Liamuiga (1.156 m). Đảo Nevis là một ngọn núi (Nevis Peak, 985 m) được bao bọc bởi các vỉa san hô. Một eo biển khoảng 3 km tách rời hai đảo này.
== Chính trị ==
Đất nước này là một thành viên của Khối thịnh vượng chung Anh với Nữ hoàng Elizabeth II là người đứng đầu của nhà nước, có đại diện tại St. Kitts và Nevis là một vị Toàn quyền. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ đắc cử khi đảng của thủ tướng chiếm đa số ở Hạ viện.
St Kitts và Nevis có một cơ quan lập pháp đơn viện, được gọi là Quốc hội. Nó bao gồm 14 thành viên: 11 thành viên đại diện dân cử (ba hòn đảo Nevis) và ba thượng nghị sĩ, những người được bổ nhiệm bởi Toàn quyền. Hai trong số các thượng nghị sĩ được bổ nhiệm theo lời đề nghị của Thủ tướng, và một theo lời đề nghị của các nhà lãnh đạo của phe đối lập. Không giống như ở các nước khác, các thượng nghị sĩ không phải là đại biểu của một Thượng viện riêng biệt. Tất cả các đại biểu quốc hội có nhiệm kỳ 5 năm. Thủ tướng và Nội các chịu trách nhiệm trước Nghị viện.
Saint Kitts và Nevis là một thành viên đầy đủ của Cộng đồng Caribbe (CARICOM) và Tổ chức Đông Caribbe (OECS).
== Kinh tế ==
Saint Kitts và Nevis là một liên bang đảo có nền kinh tế du lịch phát triển của mình, nông nghiệp và các ngành công nghiệp sản xuất khác tương đối phát triển. Đường đã được xuất khẩu chủ yếu từ các nông trại mía địa phương, nhưng chi phí sản xuất tăng cao, giá thị trường thế giới thấp, và nỗ lực của chính phủ để giảm sự phụ thuộc vào nó đã dẫn đến một sự đa dạng hóa ngày càng tăng của ngành nông nghiệp. Năm 2005, chính phủ quyết định đóng cửa công ty đường thuộc sở hữu nhà nước, trong đó có thiệt hại kinh tế góp phần quan trọng cho sự thâm hụt ngân sách. Các đồn điền mía cũ vẫn thống trị cảnh quan quốc đảo, tuy nhiên nhiều đồn điền mía đang được đốt cháy để nhường chỗ cho phát triển đất đai, đặc biệt là ở phía bắc của hòn đảo, trong các giáo xứ Saint John Capisterre và Christchurch. Nông nghiệp, du lịch, sản xuất theo định hướng xuất khẩu, và các lĩnh vực ngân hàng ngoài khơi đang được phát triển và hiện đang tham gia vai trò lớn hơn trong nền kinh tế của đất nước. Sự phát triển của ngành du lịch đã trở thành nguồn thu ngoại tệ chính cho Saint Kitts và Nevis. Đất nước này cũng đã phát triển một ngành công nghiệp may mặc, lắp ráp thành công và một trong các ngành công nghiệp lắp ráp điện tử lớn nhất trong vùng Caribe.
St Kitts phụ thuộc vào du lịch để lái nền kinh tế của nó. Du lịch đảo đã được mở rộng từ năm 1978. Trong năm 2009, đã có 587.479 lượt khách đến Saint Kitts so với 379.473 trong năm 2007. Sự tăng trưởng này thể hiện mức tăng chỉ dưới 40% trong một khoảng thời gian 2 năm.
St Kitts và Nevis cũng mua lại vốn đầu tư nước ngoài trực tiếp từ công dân của họ bằng chương trình đầu tư, được nêu trong Luật Quốc tịch năm 1984. Các bên quan tâm có thể có được Quốc tịch nếu họ vượt qua kiểm tra lý lịch của chính phủ và thực hiện một khoản đầu tư vào sự phát triển bất động sản đã được phê duyệt.
Tính đến năm 2016, GDP của Saint Kitts và Nevis đạt 955 USD, đứng thứ 178 thế giới và đứng thứ 9 khu vực Caribe.
== Hành chính ==
Liên bang Saint Kitts và Nevis được chia thành 14 giáo xứ. Chín giáo xứ nằm trên đảo Saint Kitts và năm trên Nevis.
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Saint Kitts and Nevis tại Wikimedia Commons
Chính phủ
St. Kitts & Nevis - Government of Saint Kitts and Nevis official website
Ministry of Finance - of the Saint Kitts & Nevis Federation
Nevis Ministry of Finance - for the Nevis Island Administration
Ban giám đốc
SKNVibes.com Online
Du lịch
Saint Kitts Tourism Authority - Official Site
The Nevis Tourism Authority - Official Site
Discover St Kitts Nevis Beaches - Personal Guide to St Kitts and Nevis by a Local.
St. Kitts Music Festival - Official Website of the annual Music Festival
Những điều khác
Human Development Report 2006
St. Kitts Anglican Churches
Hosted at the University of the West Indies - Articles and materials on Nevis secession
Windsor University School of Medicine
St.Kitts Paper Money
Map of St. Kitts
Map of Nevis
Google Maps satellite photo of Saint Kitts and Nevis |
activision blizzard.txt | Activision Blizzard, Inc. là một nhà phát triển video game của Hoa Kỳ. Trụ sở chính đặt tại Santa Monica, California và được thành lập vào năm 2008 thông qua sự sáp nhập của Vivendi Games và Activision, công ty được giao dịch trên thị trường chứng khoán NASDAQ với mã chứng khoán NASDAQ: ATVI, và kể từ năm 2015 là một trong những cổ phiếu tạo thành chỉ số S&P 500. Activision Blizzard hiện tại bao gồm 5 đơn vị kinh doanh: Activision, Blizzard Entertainment, Major League Gaming, Activision Blizzard Studios, and King Digital Entertainment.
Công ty sở hữu và điều hành các studio khác theo một mô hình studio độc lập, bao gồm Treyarch, Infinity Ward và Toys for Bob, và các tựa game đã phá vỡ các kỉ lục phát hành. Call of Duty: Black Ops III thu về 550 triệu USD doanh số bán hàng trên toàn thế giới trong suốt tuần lễ khai mạc vào năm 2015, khiến nó trở thành sự kiện giải trí ra mắt lớn nhất trong năm. Các thương hiệu nhượng quyền gồm Call of Duty, Destiny, Skylanders, của Blizzard Entertainment: World of Warcraft, StarCraft, Diablo, Hearthstone: Heroes of Warcraft, và Overwatch, của Sierra Entertainment: King's Quest, Space Quest, Police Quest, Leisure Suit Larry, và The Legend of Spyro, và của King: Candy Crush Saga, Pet Rescue Saga, và Farm Heroes Saga.
== Lịch sử ==
=== Sáp nhập vào Activision Blizzard (2007–08) ===
Vào tháng 12 năm 2007, Activision báo rằng công ty và tài sản của hãng sẽ hợp nhất với nhà phát triển trò chơi và nhà xuất bản Vivendi Games.
=== Tựa game mới và kỉ lục bán hàng (2009–12) ===
=== Phân chia khỏi Vivendi và phát triển (2013–14) ===
=== S&P 500 và chi nhánh mới (2015–16) ===
== Sản phẩm ==
Danh sách game của Activision
Danh sách game của Blizzard Entertainment
Danh sách video game của Sierra Entertainment
== Studio game ==
== Pháp lý ==
== Xem thêm ==
Danh sách công ty video game
Danh sách nhà phát hành video game
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Bản mẫu:Activision |
đội bóng đá công an hà nội.txt | Đội bóng đá Công an Hà Nội là một câu lạc bộ bóng đá bán chuyên nghiệp nổi tiếng tại Việt Nam từ năm 1956 đến khi bị giải thể vào năm 2002. Đội bóng được đặt dưới sự chủ quản của Sở Công an Thành phố Hà Nội, là một trong những đội bóng lâu đời và giàu truyền thống bậc nhất của bóng đá Việt Nam.
== Quá trình thi đấu ==
Thành lập năm 1956 có lẽ chỉ sau Thể Công, đội đã lập tức chứng tỏ được vị thế của mình là đối thủ xứng tầm nhất của đội bóng giàu thành tích khoác áo lính ngay khi Thể Công làm mưa làm gió trong làng cầu khu vực phía Bắc. Được biết đến với lối chơi phòng ngự phản công, đội luôn là một đối thủ khó chịu với mọi đội bóng mạnh, nhưng lại thi đấu tương đối thất thường khi chơi với các đội bóng yếu hơn. Có lẽ vì vậy mà bảng thành tích của đội chưa xứng tầm với thực lực và truyền thống mà đội sở hữu.
Nửa cuối thập niên 90 của thế kỷ 20 có thể nói là một thời kỳ đáng tiếc của đội bóng khi với một dàn cầu thủ tương đối đồng đều, đội đã được biết đến nhiều hơn về những scandal về cá độ và vay mượn điểm hơn là những thành tích trên sân cỏ. Năm 1992, đội thi đấu yếu kém, phải xuống thi đấu ở hạng A1. Mùa giải 1995, đội lại giành được quyền thăng hạng Nhất.
== Giải thể ==
Sang thời kỳ chuyển biến cơ chế trong cách làm bóng đá, một đội bóng của những cầu thủ mang biên chế ngành Công an không thể tồn tại. Năm 2002, đội bị giải thể và chuyển giao cho Hàng không Việt Nam tại mùa giải 2003 trước khi sát nhập với một phần của LG.ACB để trở thành Câu lạc bộ bóng đá mang tên LG.Hà Nội.ACB. Góp mặt tại giải bóng đá chuyên nghiệp Việt Nam từ những ngày đầu, khi các cựu đại gia khác đều đã nếm mùi của giải đấu hạng dưới, đội vẫn luôn thoát hiểm trong gang tấc để bám trụ tại hạng đấu cao nhất của bóng đá Việt Nam. Từ năm 2006, đội mang tên mới sau khi sáp nhập là Câu lạc bộ bóng đá Hà Nội - ACB
== Thành tích thi đấu ==
Mặc dù thành tích không ổn định, đội vẫn được xem là một trong những đội bóng mạnh của cả nước nói chung và của ngành Công an Nhân dân Việt Nam nói riêng. Trong những năm tồn tại, đội đã có đóng góp nhiều thế hệ cầu thủ ưu tú cho đội tuyển Bộ Công an thi đấu với các đội công an của các nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa.
=== Mùa bóng 1962 ===
Vô địch Giải hạng A miền Bắc
=== Mùa bóng 1964 ===
Vô địch Giải hạng A miền Bắc
Vô địch Giải vô địch thống nhất miền Bắc
=== Mùa bóng 1980 ===
Á quân Giải bóng đá A1 toàn quốc lần thứ nhất
Giải phong cách
Vua phá lưới: Lê Văn Đặng với 10 bàn (7 trận).
=== Mùa bóng 1981-1982 ===
Hạng 3 Giải bóng đá A1 toàn quốc lần thứ hai
=== Mùa bóng 1984 ===
Vô địch Giải Vô địch quốc gia
=== Mùa bóng 1989 ===
Hạng 3 Giải bóng đá A1 toàn quốc
=== Mùa bóng 1989 ===
Hạng 3 Giải bóng đá A1 toàn quốc
=== Mùa bóng 1995 ===
Á quân Cúp Quốc gia
=== Mùa bóng 1999 ===
Á quân Giải bóng đá tập huấn mùa xuân 1999
Vua phá lưới: Vũ Minh Hiếu, 8 bàn
Vô địch Dunhill Cup
=== Mùa bóng 1999-2000 ===
Hạng 3 Giải Hạng nhất quốc gia lần thứ tư
=== Mùa bóng 2001 ===
Á quân Cúp Quốc gia
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
espn.txt | ESPN tên viết tắt trước đây của Entertainment and Sports Programming Network đây là một kênh truyền hình chuyên về thể thao ra đời ngày 7 tháng 9 năm 1979 và phát 24h mỗi ngày. Kênh này được Scott Rasmussen và cha mình là Bill Rasmussen sáng lập dưới sự hướng dẫn của Chet Simmons, người sau này làm chủ tịch và CEO đầu tiên của mạng lưới này. ESPN mang đến cho khán giả những chương trình thể thao hấp dẫn và sôi động diễn ra trên thế giới. Với hơn 5.000 giờ phát sóng trực tiếp mỗi năm, ESPN chuyển tải hơn 65 sự kiện thể thao vòng quanh thế giới, bao gồm bốn giải đấu thể thao chuyên nghiệp: MLB (Major League Baseball - bóng chày), NBA (National Basketball - bóng rổ), NFL (National Football League - bóng bầu dục), NHL (National Hockey League - khúc côn cầu). Các chương trình nổi bật của ESPN rất được ưa chuộng như SportsCentre (tin thể thao tổng hợp), Football Asia, truyền hình trực tiếp Champions League và các giải Grand Slam quần vợt phục vụ cho khán giả yêu thích thể thao.ESPN hiện có hơn 100 triệu hộ ở Mỹ và 150 quốc giá sử dụng thông quan ESPN International. Thương Hiệu ESPN tại châu Á đã không còn và được công ty Fox International Channels đổi tên thành Fox Sports Asia.Tuy nhiên tại một số nước như Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Nam Á thì vẫn giữ lại cái tên ESPN.
== Kênh có liên hệ ==
ESPN2
ESPN Plus
ESPN Radio
ESPN 360
ESPN on ABC
ESPNews
ESPN Classic
ESPNU
ESPN Deportes
ESPNHD
ESPN2HD
ESPNEWSHD
ESPN PPV
ESPN360
ESPN Deportes Radio
ESPN Xtra
ESPN All Access
== Quốc tế ==
ESPN Deportes
ESPN Brazil.
ESPN Australia
ESPNHD Australia
ESPN Dos
ESPN Latin America
ESPN+
ESPN America
ESPN (UK)
ESPN Classic (UK)
ESPN Asia
ESPNHD Asia
== Một số chương trình tiêu biểu trên ESPN ==
Giải bóng đá ngoại hạng Anh (Premier League): . ESPN phát sóng đầy đủ các trận thuộc giải bóng đá này từ hơn 10 năm nay. Tại Việt Nam, vào năm 2007, Giải bóng đá ngoại hạng Anh được Đài truyền hình Kĩ thuật số VTC mua bản quyền phát sóng. Tuy nhiên hiện nay quyền phát sóng giải bóng đá này đã được Tập đoàn truyền hình kỹ thuật số K+ mua lại và phát độc quyền tại thị trường Việt Nam.
UEFA Champions League
Bóng rổ nhà nghề Mỹ NBA
Chương trình tổng hợp thể thao thế giới-Sports Centre: các tin tức thể thao nóng hổi, các bài bình luận xuất sắc, kết quả của những giải đấu danh giá trên toàn thế giới, đó là tất cả những gì có thể nói về chương trình thông tin thể thao SportsCenter. Là "món ruột" và được phát sóng hàng ngày trên kênh ESPN, SportsCenter thật sự làm thỏa mãn khán giả yêu thể thao với tốc độ cập nhật tin tức nhanh nhạy của mình qua phần giới thiệu của những người dẫn chương trình Jason Dasey, Colette Wong, Uday Joshi và Steve Dawson. Với hàng loạt các giải thưởng đạt được trong lĩnh vực truyền hình thể thao, SportsCentre luôn xứng đáng với khẩu hiệu là "cánh chim đầu đàn của thể thao thế giới".
Chương trình được phát sóng lúc 18h30, 21h và 11h30 các ngày trong tuần trên kênh ESPN. Từ ngày 28-1-2013, ESPN đổi tên thành Fox Sport (Kênh ESPN Asia ngưng phát sóng, kênh Fox Sport Asia phát sóng chính thức).
Bản mẫu:Webby Awards
== Tham khảo == |
thomas more.txt | Sir Thomas More (1478-1535) là một luật sư, nhà triết học xã hội, tác giả, chính khách và nhà nhân văn Phục hưng nổi tiếng người Anh. Ông là một cố vấn quan trọng cho Henry VIII của Anh và đảm nhận chức vụ Đại Chưởng ấn trong ba năm. Ông là người chống đối cuộc Cải cách Tin Lành, đặc biệt là Martin Luther và William Tyndale. Ông được tôn kính là một vị thánh trong Giáo hội Công giáo và trong Cộng đồng Anh giáo. Ông cũng được Liên Xô đề cao do quan điểm về tư hữu trong sách Utopia.
== Tiểu sử ==
Thomas More sinh năm 1478 trong một gia đình trí thức ở Luân Đôn, Anh. Ông đã được hưởng một nền giáo dục tốt, Ông tự rèn luyện trở thành một nhà trí thức xuất sắc. Ông làm tới chức tể tướng. Ông hi vọng sẽ tác động vào những chính sách lớn của nhà vua theo hướng nhân đạo. Nhưng ước muốn của ông do chế độ phong kiến độc tài đã trở thành đối lập với nhà vua
== Tử hình ==
Ông bị quy tội phản quốc và bị bắt giam. Ông bị xử tử ngày 06/07/1535.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Thomas More Chambers - The Chambers of Mr Geoffrey Cox QC, MP. |
từ đạo hạnh.txt | Từ Đạo Hạnh (徐道行, 1072-1116) tục gọi là đức thánh Láng, là một thiền sư người Việt Nam thời nhà Lý. Cuộc đời ông được ghi lại dưới nhiều màu sắc huyền thoại. Dân chúng lập đền thờ ông tại chùa Thiên Phúc (nay thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai, thành phố Hà Nội), tục gọi là chùa Thầy và chùa Láng, chùa Nền ở Hà Nội. Hàng năm, lễ hội chùa Thầy được mở vào ngày 7 tháng 3 âm lịch, tương truyền là ngày ông viên tịch.
== Thánh tích ==
Tương truyền ông tên là Lộ (路), con của quan đô sát Từ Vinh và bà Tăng Thị Loan. Do Từ Vinh bị giết bởi một pháp sư có tên là Đại Điên, Từ Lộ đã có ý đi sang Tây Thiên tu luyện phép thuật giết Đại Điên để trả thù cho cha nhưng đi nửa đường đã quay lại và chọn núi Sài Sơn chùa Phật Tích để tu hành. Ngài chuyên trì kinh "Đại Bi Tâm Đà La Ni " của đức Quán thế Âm tới khi cảm ứng, có vị thần tự xưng "Trấn Thiên Vương" hiện lên và xin làm đệ tử để cho ngài sai khiến. Sau đó ngài dùng gậy đánh chết Đại Điên.
Đại Điên cũng là người tu hành nên sau đó tái sinh làm đứa trẻ, tuy 3 tuổi mà chuyện gì cũng biết, được gọi là giác Hoàng. Vua Lý Nhân Tông biết chuyện kỳ lạ bèn đón về Kinh Sư cho nó ở chùa Báo Thiên. Vua muốn nhận đứa trẻ làm con nhưng quần thần và dân chúng không nghe, nên vua lập đàn cầu nguyện pháp hội kéo dài 7 ngày để đứa trẻ linh dị kia đầu thai trở lại vào nơi cung cấm !
Từ Đạo Hạnh biết đứa bé là Đại Điên đầu thai để mê hoặc quần chúng, rối loạn chính pháp nên nhờ người chị mang lá bùa của mình, giả làm người đi xem hội rồi treo ở tấm rèm của đứa bé.
Tới ngày thứ ba của pháp hội, đứa bé Gíac Hoàng bị ốm và nói: " Khắp biên giới trong nước đều có lưới sắt vây che, tuy muốn thác sinh nhưng không có lối ". Sau đó đứa bé chết, Vua Nhân Tông truy ra và bắt Từ Đạo Hạnh đem về Hưng Thánh Lâu.
Từ Đạo Hạnh xin với em vua là Sùng Hiền Hầu cứu thoát và hứa sẽ làm con của Hầu để trả ơn, tuy nhiên phải báo cho sư biết trước khi vợ của Hầu sắp sinh.
Lại nói chuyện năm xưa đi cầu đạo cùng 2 người bạn Nguyễn Minh Không và Giác Hải, Từ Đạo Hạnh từng có lúc biến ra con hổ để dọa Nguyễn Minh Không, bị Nguyễn Minh Không nhắc nhở, Từ Đạo Hạnh ăn năn và biết kiếp sau sẽ bị hóa hổ nên nhờ Nguyễn Minh Không khi đó ra tay giúp chữa trị.
Truyền thuyết lưu rằng, sau khi Từ Đạo Hạnh chết, ông cho thiền sư Minh Không biết mình sẽ đầu thai thành con của Sùng Hiền Hầu - em trai của vua Lý Nhân Tông (Vị vua này không có con nên đã nhường ngôi cho con của Sùng Hiền Hầu là Lý Dương Hoán, người con này chính là Từ Đạo Hạnh đầu thai, trở thành vua Lý Thần Tông). Tương truyền ông viên tịch vào ngày 7 tháng 3 năm Bính Thân (1116). Đến tháng 6 thì Lý Thần Tông, con trai của Sùng Hiền Hầu ra đời. Sau này Lý Thần Tông mắc bệnh lạ,Người vua mọc lông Cọp và gầm như Cọp, quần thần phải dùng cũi vàng nhốt Vua. người cứu chữa được là đại sư Nguyễn Minh Không.
Tại Hà Nội có chùa Láng, tên chữ là Chiêu Thiền Tự được xây dựng đời vua Lý Anh Tông (con của Lý Thần Tông). Chùa thờ thiền sư Từ Đạo Hạnh và Lý Thần Tông. Bên cạnh đó có chùa Nền, tên chữ là Đản Cơ Tự dựng trên nền ngôi nhà cũ của Từ Đạo Hạnh.
== Nam bang Tứ Bất Tử ==
Từ Đạo Hạnh là một trong những danh tăng nổi tiếng và nhiều truyền thuyết linh dị nhất trong lịch sử Việt Nam, Lịch sử Phật giáo Việt Nam. Ngài cũng chính là người mở đầu cho một tín ngưỡng hòa trộn vào Phật giáo sau đó có sức ảnh hưởng lớn đối với người Việt thời Lý - Trần, tín ngưỡng thờ "Thánh Tổ ".
"Thánh Tổ" là các vị sư, cuộc đời có nhiều công hạnh kỳ bí linh thiêng, sau khi viên tịch được nhân dân dựng đền thờ riêng hoặc lập nơi thờ ở sau điện Phật. Thánh Tổ vừa đại diện cho Phật vừa gần gũi với cuộc sống của nhân dân, tuy vẫn thuộc đạo Phật nhưng lại như một thế lực thần thánh bảo trợ cho nhân dân. Các chùa dạng này thường có mô hình "Tiền Phật - Hậu Thánh " và đặc trưng là thường rất to lớn về quy mô, ảnh hưởng tâm linh đến cả một vùng miền, xứ sở xung quanh như: Chùa Thầy, Chùa Keo - Nam Định, Chùa keo - Thái Bình, chùa Láng, Chùa Trăm Gian, Chùa Bối Khê, Chùa Bái Đính cổ, đền Nguyễn Minh không, chùa Ngũ Xã, Chùa Thiên Vũ - Dương Nội - Hà Đông - Hà Nội,....
Ban đầu các Thánh Tổ tập trung vào 3 vị: Từ Đạo Hạnh, Nguyễn Minh Không - Dương Không Lộ, Giác Hải sau có thêm Nguyễn Bình An chùa Trăm Gian cuối đời Trần.
Tứ Bất tử là 1 phạm trù cổ của người Việt về các vị thần thánh trong nước. Tương truyền từ xưa khi Mẫu Liễu hạnh chưa xuất hiện thì vị trí của bà là của Từ Đạo Hạnh Thiền Sư, sau thế kỷ 15-16 người ta mới gắn Mẫu liễu vào vị trí thứ 4 sau 3 vị thần từ đời viễn cổ
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Lý Nhân Tông
Lý Thần Tông
Nguyễn Minh Không
== Liên kết ngoài ==
Chùa Thầy - Thư viện Hoa Sen |
barisal.txt | Thành phố Barisal (tiếng Bengal: বরিশাল Bariśāl)) là một thành phố ở Kirtankhola bờ bắc của vịnh BengalBangladesh. Thành phố này là thủ phủ của vùng Barisal. Thành phố này thuộc quận Barisal. Thành phố Thành phố Barisal có dân số năm 2001 là 210.374 người. Thành phố Thành phố Barisal có diện tích là thành thị là 19,99 km². Thành phố Thành phố Barisal được thành lập năm 2000 khi khu tự quản Barisal chuyển thành thành phố.
== Tham khảo == |
eth zürich.txt | ETH Zürich, thường được gọi là Viện Công nghệ Liên bang Thụy Sĩ (tiếng Anh: Swiss Federal Institute of Technology), là một cơ sở giáo dục đại học về khoa học và kỹ thuật nằm ở Zürich, Thụy Sĩ. Tên toàn phần là Eidgenössische Technische Hochschule Zürich, với ETHZ cũng là một tên viết tắt không chính thức nhưng khá thông dụng. Người dân địa phương thường gọi đó là trường Bách khoa (Poly), từ tên gốc của nó Eidgenössisches Polytechnikum hay Federal Polytechnic Institute. Giống như trường École Polytechnique Fédérale de Lausanne (EPFL), nó có 3 nhiệm vụ chính: giáo dục, nghiên cứu và chuyển giao kỹ thuật ở mức quốc tế cao nhất. Cùng liên kết với một vài viện nghiên cứu chuyên môn khác, hai viện (ETH Zurich và EPF Lausanne) tạo thành vùng ETH, phụ thuộc trực tiếp vào Bộ Nội vụ của Liên bang.
== Lịch sử ==
Trường ETH được thành lập vào năm 1854 bởi Liên bang Thụy Sĩ và mở cửa vào năm 1855 như là một viện đại học bách khoa (Eidgenössische Polytechnische Schule). Ban đầu nó chỉ bao gồm 6 phân khoa đại học: kiến trúc, kỹ thuật công chính, cơ khí, hóa học, lâm nghiệp, và một khoa còn lại cho tất cả các ngành toán học, khoa học tự nhiên, văn học, các môn khoa học chính trị xã hội.
Trường ETH là một viện liên bang (i.e., dưới sự quản lý trực tiếp của nhà nước Thụy Sĩ), trong khi Đại học Zurich là một viện cấp bang. Quyết định tạo ra một đại học liên bang mới đã gây ra nhiều tranh cãi vào thời gian đó, bởi vì những người tự do đã ủng hộ mạnh mẽ cho "đại học liên bang", trong khi những người bảo thủ muốn tất cả các trường đại học phải chịu sự quản lý của từng bang, để những người theo chủ nghĩa tự do không có chỗ đứng. Ban đầu, cả hai trường đại học này cùng nằm trong cùng các tòa nhà của Đại học Zurich.
Vào năm 1909, chương trình của ETH được tổ chức lại thành một đại học thật sự và ETH được quyền đào tạo học vị tiến sĩ. Vào năm 1911, nó được đặt tên theo như hiện nay, Eidgenössische Technische Hochschule. Vào năm 1924, một đợt tổ chức lại đã phân trường thành 12 khoa khác nhau.
Từ năm 1993 trường ETH Zürich, trường EPFL, và bốn viện nghiên cứu liên quan khác được gộp lại đã được quản lý chung như là "ETH Bereich".
== Danh tiếng ==
Trường ETH thường được xếp hạng vào những trường đại học hàng đầu trên thế giới, khoảng từ thứ 3 đến thứ 6 ở châu Âu và khoản từ thứ 10 đến thứ 27 trong xếp hạng trên toàn thế giới bởi Hệ thống xếp hạng các trường đại học trên thế giới và Xếp hạng các đại học trên thế giới bởi tạp chí Times. Được xếp hạng 12 về khoa học và kỹ thuật vào năm 2005 bởi tạp chí Times.
Theo lịch sử, ETH nổi tiếng trong các lãnh vực hóa học, toán học và vật lý. Có 21 người đạt giải Nobel đã từng có liên hệ với ETH, chỉ đếm những cựu sinh viên và Giáo sư với các công trình được vinh dự đã được làm tại ETH, trong đó có Albert Einstein năm 1921. Người đạt giải Nobel gần đây nhất là Kurt Wüthrich với giải Nobel về hóa học vào năm 2002.
== Giáo dục và tuyển sinh ==
ETH không chọn lọc trong việc chấp nhận học sinh vào học. Giống như bất kì đại học công nào của Thụy Sĩ, ETH phải nhận bất kỳ một công dân Thụy Sĩ nào đã vượt qua kì thi Matura. Tuy nhiên, đa số học sinh từ các nước khác được yêu cầu phải qua một kì thi sơ lược hoặc toàn diện; một thí sinh có thể được nhận vào ETH mà không cần một chứng chỉ hay bằng cấp phổ thông nào cả bằng vượt qua kì thi tuyển vào toàn diện.
Không có kì thi bắt buộc nào trong năm học đầu tiên được chia thành hai học kì. Tuy nhiên, quá trình sàng lọc sẽ xảy ra trong mùa hè sau học kì thứ hai. Học sinh phải vượt qua một loạt các kì thi kiểm tra về các khóa học trong năm thứ nhất, gọi là Basisprüfung. Nếu điểm trung bình không đạt yêu cầu, bạn phải thi lại toàn bộ Basisprüfung mà thông thường nghĩa là bạn phải học lại toàn bộ năm thứ nhất. Hơn 50% số học sinh không vượt qua được Basisprüfung trong lần cố gắng đầu tiên và nhiều học sinh quyết định thôi học sau khi thất bại kì thi. Cấu trúc các kì thi ở các năm cao hơn cũng giống như Basisprüfung, nhưng với tỉ lệ vượt qua cao hơn.
Thời gian bình thường để tốt nghiệp là 6 học kì cho bằng Cử nhân Khoa học và thêm ba học kì nữa cho bằng Thạc sĩ khoa học. Học kì cuối cùng được dành cho việc viết luận văn.
Giáo dục tại ETH thiên nhiều về lý thuyết với nhiều kiến thức toán học liên quan nhiều khóa học. Ngôn ngữ giảng dạy chính là tiếng Đức trong khi tiếng Anh là lingua franca (ngôn ngữ sử dụng) ở mức cao học và các bằng cấp cao hơn.
== Các phân khoa ==
Vào năm 2006, trường ETH Zurich có các phân khoa sau:
Kiến trúc và kỹ sư công chính
Kiến trúc
Civil, Environmental và Geomatic Engineering
Các ngành khoa học kỹ thuật
Khoa học máy tính
Công nghệ thông tin và Kỹ sư điện tử
Quản lý, Công nghệ và Kinh tế
Mechanical và Process Engineering
Công nghệ vật liệu
Toán và các khoa học tự nhiên
Sinh học
Hóa học và các ngành Sinh học Ứng dụng
Toán học
Vật lý
System-oriented natural sciences
Nông nghiệp và Khoa học thực phẩm
Khoa học Trái đất
Khoa học môi trường
Other sciences
Nhân văn, Khoa học Xã hội và Khoa học Chính trị
== Các cựu sinh viên và giáo sư nổi tiếng ==
ETH Zurich đã sản sinh nhiều nhân vật nổi tiếng. Hơn 20 người được giải thưởng Nobel đã từng học hay là làm việc như là giáo sư của ETH Zurich. Wilhelm Conrad Röntgen, người đầu tiên nhận giải Nobel Vật lý học tại ETH Zurich. Albert Einstein, một trong những khoa học gia nổi tiếng nhất của thế kỉ 20, cũng đã từng học tại ETH Zurich. Các nhân vật nổi tiếng khác có liên quan tới ETH Zurich bao gồm: nhà vật lý Wolfgang Pauli, kiến trúc sư Hendrik Petrus Berlage, kiến trúc sư Jacques Herzog, Mileva Marić (vợ đầu của Einstein), nhà toán học Hermann Minkowski, nhà toán học Marcel Grossmann (cũng là bạn của Einstein), nhà toán học và kinh doanh Philippe Kahn, nhà khoa học máy tính Niklaus Wirth và nhiều người khác.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
ETH Zürich
PSI (Paul Scherrer Institute)
EMPA (EMPA, research body of the ETH domain)
UniPoly rowing match
Polyparty
Polyball
United Visions (campus TV)
VSETH (student association)
SiROP (Student Research Opportunities Program)
== Master programs ==
Master of Advanced Studies in Finance
47°22′35,1″B 8°32′53,17″Đ |
đội tuyển bóng đá quốc gia pháp.txt | Đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp là đội bóng đá đại diện cho nước Pháp tham dự các giải thi đấu quốc tế và là một trong những đội tuyển hàng đầu thế giới với một lần vô địch thế giới vào năm 1998 và 2 lần vô địch châu Âu các năm 1984 và 2000. Ngoài ra, đội tuyển Pháp đã một lần vô địch Olympic năm 1984 tại Los Angeles và 2 FIFA Confederations Cup vào các năm 2001 và 2003. Đội được Liên đoàn bóng đá Pháp (FFF) quản lý.
Pháp là một trong 4 đội châu Âu tham dự kỳ World Cup đầu tiên tổ chức năm 1930 và là một trong 8 đội bóng từng bước lên ngôi vị cao nhất của bóng đá thế giới với chức vô địch năm 1998. Trong phòng truyền thống của đội còn có 2 chức vô địch châu Âu, vào các năm 1984, và 2000. Cùng với chức vô địch Cúp Confederations 2001, đội cùng với tuyển Argentina, giành được 3 chức vô địch bóng đá nam quan trọng nhất trong hệ thống thi đấu của FIFA: gồm World Cup, Cúp Liên đoàn các châu lục và Huy chương vàng Thế vận hội.
Trong hơn một thế kỷ qua, đội tuyển Pháp đã vượt qua những thất thường trong giai đoạn đầu tiên của mình để ổn định và thành công. Họ đã sản sinh ra 3 thế hệ vàng lớn vào những năm 1950, 1980 và 1990, kết quả là họ đã thu được rất nhiều danh hiệu lớn. Năm 1958, dưới tầm ảnh hưởng của một vài cầu thủ, đặc biệt là Raymond Kopa, Pháp đã kết thúc ở vị trí thứ 3 tại World Cup. Năm 1984, đội tuyển Pháp do Michel Platini làm đội trưởng đã giành chiến thắng tại Euro 1984. Họ lại thực hiện điều này thêm một lần nữa vào năm 2000, lần này dưới sự dẫn dắt của đội trưởng Didier Deschamps và danh thủ kiệt xuất Zinedine Zidane. Pháp trở thành đội tuyển quốc gia thứ bảy vô địch World Cup vào năm 1998 khi họ làm chủ nhà. Pháp đánh bại Brasil 3-0 trong trận chung kết. Năm 2006, họ lại lọt vào trận chung kết World Cup một lần nữa. Lần này họ thua Ý 3-5 trên chấm phạt đền, sau khi hoà 1-1 trong giờ thi đấu chính thức. Pháp đứng đầu bảng xếp hạng FIFA lần đầu tiên trong lịch sử vào năm 2001.
Sau thất bại của đội tại World Cup 2010, một cuộc tái thiết chính diễn ra trong liên đoàn, kết quả là Chủ tịch FFF Jean-Pierre Escalettes phải từ chức và Laurent Blanc được bổ nhiệm làm huấn luyện viên trưởng. Pháp hiện đang xếp hạng 9 trong bảng xếp hạng FIFA.
Pháp thường chọn sân Stade de France ở ngoại ô Paris làm sân nhà từ năm 1998. Đối thủ truyền kiếp của Pháp là các nước láng giềng Ý, nhưng họ cũng có nhiều cạnh tranh trong quá khứ với Bỉ và Anh vào thời kì đầu và với Đức vào những năm 1980.
== Lịch sử ==
=== Những năm đầu tiên ===
Sự ra đời của đội tuyển bóng đá Pháp gắn liền với sự ra đời của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA) vào năm 1904. Tính từ thời điểm đó, các trận đấu quốc tế được tổ chức dưới sự điều hành của FIFA. Trước thời điểm năm 1904, một số trận đấu tập hợp các cầu thủ Pháp xuất sắc nhất cũng được tổ chức, đa phần dưới phiên hiệu của Liên hiệp các hiệp hội thể thao Pháp (Union des sociétés françaises de sports athlétiques - USFSA). Năm trận đấu quốc tế giữa tuyển USFSA với các đội tuyển Bỉ và Anh nghiệp dư đã được tổ chức từ năm 1900 cho đến năm 1904, với chiến thắng 6-2 trước tuyển Bỉ và 4 thất bại trước đội bóng Anh Quốc. Đại diện cho Pháp tại Thế vận hội Mùa hè 1900, là tuyển USFSA gồm các cầu thủ thuộc câu lạc bộ Club français. Đội giành huy chương bạc.
Đội tuyển bóng đá Pháp thi đấu trận đấu chính thức đầu tiên vào ngày mùng 1 tháng 5 năm 1904 và thủ hòa ba đều với đội tuyển Bỉ. Ba cầu thủ ghi bàn đầu tiên trong lịch sử đội tuyển Pháp là Louis Mesnier, Marius Royet và Gaston Cyprès. Năm 1905, đội thi đấu trận đầu tiên trên sân nhà trước tuyển Thụy Sĩ, và giành chiến thắng đầu tiên. Những năm tiếp sau đó đội có những thành tích ít vẻ vang hơn đặc biệt với hai trận đại bại trước tuyển Đan Mạch cách nhau có 3 ngày (0-9 rồi 1-17) tại Thế vận hội Luân Đôn. Chính thức không được FIFA công nhận từ ngày mùng 7 tháng 6 năm 1908, USFSA vẫn còn được phép tổ chức đội tuyển chuẩn bị cho Thế vận hội Mùa hè 1908. Hội cử hai đội Pháp A và B sang London. Luật khi đó cho phép mỗi quốc gia cử hai đội đại diện, nhưng chỉ có Pháp dùng tới quyền này. 44 cầu thủ Pháp tới London trong tình trạng mệt mỏi sau chuyến đi dài bằng tàu hỏa và tàu thủy và tới đúng sáng ngày thi đấu mới tới nơi. Kết quả là hai trận thảm hại (được tính là trận đấu thứ 11 và 12 trong lịch sử đội tuyển Pháp). Kể từ trận gặp Bỉ ngày 9 tháng 5 năm 1908, Ủy ban liên hiệp hội Pháp (Comité français interfédéral - CFI) quản lý đội tuyển và là tổ chức duy nhất được FIFA công nhận. Những năm tiếp theo CFI không thống nhất được với USFSA, tổ chức vốn là một trong những thành viên sáng lập của Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC), để cử một đội tuyển Pháp đi dự Thế vận hội năm 1912. Pháp đành tuyên bố bỏ cuộc.
Nhưng USFSA cũng buộc phải tái tổ chức những năm sau đó, trở thành một thành viên bán trực thuộc CFI từ năm 1913. Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ làm gián đoạn các hoạt động thi đấu thể thao, trong số các tuyển thủ Pháp ra chiến tuyến, có tổng cộng 17 người hy sinh ngoài mặt trận.
Hòa bình lập lại, CFI trở thành Liên đoàn bóng đá Pháp ("Fédération Française de Football") từ năm 1919. USFSA cũng sáp nhập vào liên đoàn kể từ năm 1921. Từ đây chấm dứt tranh cãi liệu đội đại diện cho nước Pháp có phải là Đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp hay chỉ là một đội tuyển các cầu thủ thuộc quyền quản lý của liên đoàn này hay liên đoàn kia.
Để chuẩn bị cho Thế vận hội Mùa hè 1924 được tổ chức tại Paris. Sau một chuỗi trận toàn thua, đội đã quyết định thuê một huấn luyện viên người Anh, ông Charles Griffiths, về huấn luyện đội. Griffiths ngay lập tức bị chỉ trích kịch liệt vì gọi lên đội tuyển nhiều cầu thủ đang đầu quân cho các câu lạc bộ ở tỉnh. Trong khi việc đó là hoàn toàn có lý, khi cùng năm đó, hai đội bóng bước lên hai ngôi vị cao nhất bóng đá Pháp là hai đội bóng không của thủ đô: Olympique de Marseille và FC Cette.
Bước vào Thế vận hội Mùa hè 1924, sau lễ bốc thăm, Pháp không phải đấu vào một mà được vào thẳng vòng 16 đội. Tuyển Pháp tại vòng đấu này hạ Đội tuyển bóng đá quốc gia Latvia với tỉ số 7-0, trước khi thúc thủ trước đội sau đó giành huy chương vàng là Uruguay với tỉ số 1-5..
Bốn năm sau đó, tại Thế vận hội Mùa hè 1928, đội cũng không vượt qua vòng đấu đầu tiên khi để thua Ý với tỉ số 3-4.
=== Thập niên 1930 ===
Đội tuyển Pháp là một trong 13 đội bóng tham dự giải vô địch bóng đá thế giới đầu tiên được tổ chức năm 1930 tại Uruguay (tiền đạo Lucien Laurent là cầu thủ đầu tiên ghi bàn tại một kỳ World Cup trong trận gặp Mexico). Đội không vượt qua vòng bảng: với thành tích thắng Mexico 4-1 nhưng để thua hai trận kế tiếp cùng với tỉ số 0-1 trước Argentina và Chile.
Năm sau đó, đội có hai chiến thắng ấn tượng, đầu tiên là đánh bại tuyển Đức với tỉ số 1-0, sau đó là quật ngã Anh với tỉ số đậm 5-2 vào ngày 14 tháng 5 năm 1931.
Đến World Cup 1934, giải thi đấu theo thể thức loại trực tiếp, theo bốc thăm ở vòng 1, Pháp sẽ gặp tuyển Áo, một trong những ứng cứ viên của giải. Trận đấu diễn ra vào ngày 27 tháng 5 năm 1934, Pháp chỉ chịu thua với tỉ số 2-3 sau hai hiệp phụ. Khi đội về tới Paris, gần 4.000 người đã tụ tập đón đội · .
Cầu thủ da màu đầu tiên, Raoul Diagne, lần đầu tiên khoác áo đội vào năm 1931. Cầu thủ gốc Bắc Phi đầu tiên thi đấu cho tuyển Pháp là tiền vệ tổ chức người Maroc Larbi Ben Barek. Raoul Diagne và Larbi Ben Barek thi đấu cùng nhau trong trận đấu nổi tiếng gặp tuyển Ý ngày 4 tháng 12 năm 1938. Đội tuyển Pháp " black, blanc, beur " - " đen, trắng, Ả Rập " ra đời vào ngày hôm đó.
=== Thế hệ vàng thập niên 1950 ===
Những năm 1950 chứng kiến Pháp trình làng thế hệ vàng đầu tiên của mình bao gồm các cầu thủ như Just Fontaine, Raymond Kopa, Jean Vincent, Robert Jonquet, Maryan Wisnieski, Thadée Cisowski, và Armand Penverne. Tại World Cup 1958, Pháp vào đến vòng bán kết và thua Brazil. Trong trận đấu tranh hạng ba, Pháp đánh bại Tây Đức 6-2 với 4 bàn thắng của Fontaine, người đã giành danh hiệu vua phá lưới giải đấu với số bàn thắng lên tới con số 13, một kỷ lục của World Cup vẫn đứng vững đến hiện nay. Pháp làm chủ nhà Giải vô địch bóng đá châu Âu năm 1960 và lại đến vòng bán kết. Trong vòng này, Pháp phải đối mặt với Nam Tư và bị thua ngược 5-4 dù đã dẫn trước 4-2 đến phút 75. Trong trận đấu tranh hạng ba, Pháp bị Tiệp Khắc đánh bại 2-0.
=== Khủng hoảng những năm 1960 - 70 ===
Những năm 1960 và 70 chứng kiến sự thoái trào đáng kể của bóng đá Pháp khiến họ bị loại khỏi nhiều giải đấu quốc tế. Ngày 25 tháng 4 năm 1964, Henri Guérin đã chính thức trở thành huấn luyện viên. Dưới thời Guérin, Pháp vượt qua vòng loại World Cup 1962 và Euro 1964. Họ lọt vào vòng chung kết World Cup 1966 nhưng phải về nước ngay sau vòng bảng của giải đấu. Guérin bị sa thải sau World Cup này. Ông được thay thế bởi José Arribas và Jean Snella. Thời đại của bộ đôi huấn luyện viên này chỉ kéo dài trong bốn trận đấu và họ được thay thế bởi cựu cầu thủ quốc tế Just Fontaine, người chỉ huấn luyện cho đội hai trận. Louis Dugauguez kế tục và đã đưa Pháp lọt vào vòng chung kết World Cup 1970. Sau khi Dugauguez bị sa thải, Georges Boulogne lên nắm quyền và cũng bị sa thải sau thất bại tại vòng loại World Cup 1974 và được thay thế bằng huấn luyện viên người Rumani Stefan Kovacs, người nước ngoài đầu tiên và duy nhất huấn luyện đội tuyển quốc gia thời điểm đó. Kovács cũng gây thất vọng khi không thể đưa Pháp đến World Cup 1974 và Euro 1976. Sau hai năm huấn luyện, ông bị sa thải và được thay thế bằng Michel Hidalgo.
=== Thế hệ vàng thập niên 1980 ===
Dưới thời Hidalgo, Pháp phát triển mạnh mẽ, chủ yếu là do sự tỏa sáng của tiền vệ Michel Platini, người cùng với Jean Tigana, Alain Giresse, và Luis Fernández hình thành nên "Hình vuông ma thuật", làm ám ảnh nhiều hàng phòng thủ đối phương, bắt đầu từ World Cup 1982, nơi mà Pháp lọt đến vòng bán kết và chỉ thua cay đắng trên chấm phạt đền trước đối thủ Tây Đức. Trận bán kết giữa Pháp và Đức năm 1982 được coi là một trong những trận đấu lớn nhất trong lịch sử World Cup. Pháp lần đầu có được danh hiệu quốc tế hai năm sau đó, sau chiến thắng tại Euro 1984, khi họ tổ chức.. Dưới sự dẫn dắt của Platini, người đã ghi chín bàn thắng trong giải đấu, Pháp đánh bại Tây Ban Nha 2-0 trong trận chung kết với hai bàn thắng của Platini và Bruno Bellone. Sau chiến thắng Euro, Hidalgo rời đội và được thay thế bởi cựu tuyển thủ quốc tế Henri Michel. Pháp sau này hoàn thành hat-trick khi họ giành huy chương vàng tại Thế vận hội, một năm sau đó, đánh bại Uruguay 2-0 để giành Cúp Artemio Franchi, tiền thân của FIFA Confederations Cup. Trong thời gian một năm, Pháp đã sở hữu ba trong số bốn danh hiệu quốc tế lớn. Tại World Cup 1986, Pháp là một ứng cử viên rất nặng ký và một lần nữa, trong World Cup thứ hai liên tiếp, lại lọt đến vòng bán kết, nơi họ phải đối mặt với Tây Đức. Một lần nữa, họ lại để thua. Chiến thắng 4-2 trước Bỉ đã giúp Pháp có được vị trí thứ ba.
=== Thế hệ vàng thập niên 1990 - 2000 ===
Năm 1988, Liên đoàn bóng đá Pháp mở Học viện bóng đá quốc gia Clairefontaine. Năm tháng sau khi Clairefontaine mở của, huấn luyện viên Henri Michel bị sa thải sau khi không đưa được đội đến Giải vô địch bóng đá thế giới 1990. Người thay thế là huyền thoại Platini đã đưa Pháp đến Euro 1992 sau khi toàn thắng ở vòng loại. Mặc dù đã có chuỗi 19 trận bất bại trước đó, Pháp bị loại bỏ ở vòng bảng sau khi thúc thủ trước Đan Mạch 1-2 trong trận đấu cuối cùng. Một tuần sau khi kết thúc giải đấu, Platini từ chức và được thay thế bằng người trợ lý Gérard Houllier của mình. Dưới thời Houllier, đội Pháp và những cổ động viên của họ đã trải qua một thảm kịch đau lòng sau khi họ gần như đã đủ điểm cho World Cup 1994, và chỉ cần giành 1 điểm trong 2 trận đấu trên sân nhà trước Israel và Bulgaria là hoàn thành mục tiêu. Tuy nhiên, trong trận đấu với Israel, Pháp đã thua 2-3, trong trận Bulgaria, bị thua ngược 1-2. Houllier đã phải ra đi. Aimé Jacquet trợ lý của ông đã được bổ nhiệm với sứ mệnh dẫn dắt đội bóng tại World Cup 1998, nơi Pháp làm chủ nhà.
Để thay đổi một đội tuyển Pháp rệu rã, Jacquet thẳng tay loại bỏ nhiều cựu binh để nhường chỗ cho các tuyển thủ trẻ, tiêu biểu là Zinedine Zidane. Đội đã lọt tới trận bán kết của UEFA Euro 1996, nơi họ bị thua 6-5 trên chấm phạt đền trước Cộng hòa Séc. Trong giải đấu lớn tiếp theo tại World Cup 1998, Jacquet đã dẫn dắt Pháp đến vinh quang khi đánh bại Brasil 3-0 trong trận chung kết tại Stade de France. Jacquet rút lui sau chiến thắng tại World Cup và đã được kế tục thành công bởi trợ lý Roger Lemerre, người đã đưa Pháp giành được chức vô địch châu Âu tại Euro 2000. Được dẫn dắt danh thủ Zidane, Pháp đánh bại Italia 2-1 trong trận chung kết với bàn thắng vàng của Trezeguet trong hiệp phụ. Đây là lần đầu tiên có một đội tuyển quốc gia có được cả hai chức vô địch World Cup và Euro cùng lúc kể từ khi Tây Đức làm được vào năm 1974, và đây cũng là lần đầu tiên một đội đương kim vô địch thế giới giành được chức vô địch châu Âu. Pháp đã nhảy vào vị trí số một trong xếp hạng của FIFA.
Sau khi giành được Confederation Cup vào năm 2001, Pháp đã thâu tóm đầy đủ 3 danh hiệu quan trọng nhất của bóng đá thế giới. Thế hệ vàng của Pháp, ngoài sự xuất sắc của Zidane còn phải kể đến các danh thủ như Thierry Henry, David Trezeguet, Patrick Vieira, Didier Deschamps, Emmanuel Petit, Lilian Thuram, Bixente Lizarazu, Laurent Blanc, Youri Djorkaeff, Robert Pirès, Fabien Barthez và một số tuyển thủ khác như: Sylvain Wiltord, Frank Leboeuf, Claude Makélélé... Mặc dù hầu hết các cầu thủ trong đội tuyển Pháp lúc đó đều là các siêu sao hàng đầu thế giới ở vị trí của mình nhưng nhiều người chỉ trích rằng Pháp quá phụ thuộc vào tài năng tổ chức trận đấu của Zidane và khi vắng cầu thủ này, những ngôi sao khác trong đội tuyển Pháp không thể chơi kết dính và bùng nổ nữa. Minh chứng rõ nét cho điều này là tại World Cup 2002 khi Zidane bất ngờ dính chấn thương trong trận đấu tập với Hàn Quốc trước khi giải đấu khai mạc. Pháp nhanh chóng thể hiện lối chơi rời rạc khi thiếu vắng nhạc trưởng của mình và bị loại cay đắng. Họ trở thành đội đương kim vô địch có thành tích kém cỏi nhất trong các kì World Cup. Lemerre bị sa thải và Santini lên nắm đội.
Sau khi giành thêm Confederation Cup vào năm 2003, Pháp lại nổi lên như là ứng cử viên hàng đầu cho chức vô địch tại Euro 2004. Tuy nhiên, một lần nữa, sự dựa dẫn quá nhiều vào Zidane khiến Pháp phải trả giá. Sau khi cứu cho Pháp khỏi thất bại trước Anh trong trận đấu đầu tiên bằng hai bàn thắng ghi liền trong 3 phút cuối trận, Zidane chẳng thể làm gì khi bị vô hiệu hóa trước lối chơi kỉ luật của các cầu thủ Hi Lạp tại vòng tứ kết. Pháp thua 0-1 và trở thành cựu vương của châu Âu. Sau giải đấu, Zidane tuyên bố từ giã đội tuyển.
Jacques Santini từ chức huấn luyện viên và Raymond Domenech đã được chọn để thay thế ông. Pháp chật vật ở nửa đầu vòng loại World Cup 2006. Điều này khiến Domenech đã phải thuyết phục một số một số lão tướng trở lại đội tuyển để giúp đội vượt qua vòng loại. Nghe theo lời thuyết phục này, ba cựu binh sáng giá là Zidane, Thuram và Makélélé trở lại đội tuyển và giúp Pháp cán đích tại vòng loại World Cup 2006. Trong World Cup 2006, Pháp đã bất khả chiến bại ở vòng bảng tiến thẳng đến trận đấu cuối cùng sau khi đánh bại Tây Ban Nha, Brazil, và Bồ Đào Nha. Pháp đã gặp lại Ý trong trận chung kết và thua 5-3 trên chấm phạt đền.
=== Khủng hoảng thế hệ thời kì "hậu Zidane" ===
Trận chung kết World Cup 2006 là trận đấu cuối cùng trong sự nghiệp của Zidane. Sau một thập niên tạo ảnh hưởng lớn lên lối chơi của đội tuyển Pháp, việc Zidane giã từ sự nghiệp đã tạo ra một sự hẫng hụt đối với đội "Áo Lam". Dù Domenech cố gắng xây dựng một đội bóng không lệ thuộc vào một cá nhân nào nhưng đây tỏ ra là một công việc quá sức. Domenech vẫn phải tin dùng vào các cựu binh như Thuram hay Makelele để ổn định lối chơi của đội và không tin dùng nhiều cầu thủ trẻ tài năng. Mặc dù Pháp đã lọt được cả vào vòng chung kết của Euro 2008 và World Cup 2010 nhưng đó đều là những chiến dịch rất khó nhọc, đặc biệt là vòng loại World Cup 2010 khi Pháp phải nhờ đến "bàn tay bẩn" của Henry trong hiệp phụ trận đấu tranh vé vớt với Ailen để được góp mặt tại World Cup. Trong cả hai giải đấu lớn trên, Pháp đều thi đấu tệ hại, thiếu gắn kết và đều bị loại ngay từ vòng bảng.
Đặc biệt, tại World Cup 2010, những mâu thuẫn nội bộ trong đội tuyển đã lên đến đỉnh điểm khi toàn bộ đội bóng đã bỏ một buổi tập và công khai một bức thư ngỏ để phản đối quyết định của huấn luyện viên Domenech đuổi tiền đạo Anelka về nước sau trận đấu gặp Mexico do tiền đạo này đã chửi ông Domenech. Vụ việc này đã khiến cho toàn bộ đội hình của đội tuyển Pháp dự World Cup đều bị treo giò ít nhất một trận sau đó. Triều đại của Domenech kết thúc.
=== Nỗ lực tái thiết của Blanc ===
Mặc dù việc bổ nhiệm Laurent Blanc vào vị trí huấn luyện viên trưởng chỉ diễn ra sau World Cup nhưng trên thực tế, ngay từ trước khi World Cup diễn ra, nhiều tờ tạp chí của Pháp đã tiết lộ thông tin này.
Trong trận đấu đầu tiên dưới triều đại của Blanc (gặp Nauy trong một trận giao hữu), toàn bộ 23 cầu thủ dự World Cup của Pháp đều bị treo giò. Blanc buộc phải xây dựng một bộ khung đội tuyển với nhiều gương mặt trẻ và mới thay thế một đội tuyển rệu rã. Pháp khởi đầu kỉ nguyên Blanc bằng thất bại 1-2 trước Nauy.
Trong trận đấu chính thức đầu tiên tại vòng loại Euro 2012, vẫn còn 5 tuyển thủ của Pháp bị treo giò gồm Anelka, Ribery, Evra, Abidal, Toulalan, Pháp thúc thủ trên sân nhà trước đội bóng trung bình Belarus 0-1.
Tuy nhiên, khi bị dồn vào thế chân tường, các cầu thủ Pháp đã thể hiện tinh thần thi đấu cao bằng chiến thắng 2-0 ngay trên sân của Bosnia. Kể từ đó, Pháp đã có chuỗi 4 trận thắng liên tiếp tại vòng loại, để vươn lên dẫn đầu bảng D. Pháp cũng giành chiến thắng 2-1 trên sân Wembley trước Anh và 1-0 trên sân nhà trước Brazil. Nỗ lực tái thiết của Blanc dù gặp nhiều khó khăn lúc đầu nhưng đã có những bước tiến vững chắc. Pháp kết thúc vòng loại với vị trí nhất bảng D và giành tấm vé vào dự vòng chung kết Euro 2012.
Tại Euro 2012, đội tuyển Pháp thi đấu khá xuất sắc khi cầm hòa Anh với tỉ số 1-1 với bàn thắng gỡ hòa của Samir Nasri, thắng Ukraina với tỉ số 2-0 bằng hai bàn thắng của Jérémy Menez và Yohan Cabaye, nhưng chỉ chịu thua Thụy Điển với tỉ số 0-2 ở lượt cuối bảng D, và sau đó thua Tây Ban Nha với tỉ số 0-2 ở tứ kết. Sau Euro 2012, huấn luyện viên Laurent Blanc đã từ chức.
== Danh hiệu ==
Vô địch thế giới: 1
Vô địch: 1998
Á quân: 2006
Hạng ba: 1958; 1986
Hạng tư: 1982
Vô địch châu Âu: 2
Vô địch: 1984; 2000
Á quân: 2016
Hạng tư: 1960
Bán kết: 1996
Vô địch Liên đoàn châu lục: 2
Vô địch: 2001; 2003
Bóng đá nam tại Olympic:
1984
1900
Hạng tư: 1920
== Thành tích quốc tế ==
=== Giải vô địch bóng đá thế giới ===
=== FIFA Confederations Cup ===
=== Giải vô địch châu Âu ===
== Lịch thi đấu ==
=== 2017 ===
== Cầu thủ ==
=== Đội hình hiện tại ===
Dưới đây là danh sách các cầu thủ được triệu tập tham dự vòng loại World Cup 2018 gặp Luxembourg và trận giao hữu gặp Tây Ban Nha vào các ngày 25 và 28 tháng 3 năm 2017.Số liệu thống kê tính đến ngày 28 tháng 3 năm 2017 sau trận gặp Tây Ban Nha.
=== Triệu tập gần đây ===
Chú thích
INJ Cầu thủ rút lui khỏi đội hình vì chấn thươngRET Cầu thủ đã giã từ đội tuyển quốc gia
=== Kỷ lục về bàn thắng và số lần khoác áo ===
Số lần khoác áo đội tuyển quốc gia
Cập nhật lần cuối: 14 tháng 10 năm 2014
Nguồn: French Football Federation
Cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất
Cập nhật lần cuối: 14 tháng 10 năm 2014
Nguồn: French Football Federation
== Huấn luyện viên ==
== Ban huấn luyện ==
Cập nhật: 1 tháng 7 năm 2015.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Jean-Michel Cazal, Pierre Cazal, Michel Oreggia: L’intégrale de l’équipe de France de football, 1904-1998, Paris, First éd., 1998. ISBN 2-87691-437-9
Denis Chaumier, Les Bleus: tous les joueurs de l’équipe de France de 1904 à nos jours, Paris, Larousse, 2004. ISBN 2-03-505420-6
Gérard Ernault, Les Bleus en Argentine, Paris, Calmann-Lévy, 1978. ISBN 2-7021-0248-4
Gilles Gauthey, L’équipe de France, Paris, 1962
Dominique Grimault, Les Bleus: le livre officiel de l’équipe de France, Paris, Solar, 1998. ISBN 2-263-02819-6
Fabrice Jouhaud, Le livre d’or du football, 2005, Paris, Solar, 2005. ISBN 2-263-03855-8
Éric Maitrot et Karim Nedjari, L’histoire secrète des Bleus: de la gloire à la désillusion, 1993-2002, Paris, Flammarion, 2002. ISBN 2-08-068337-3
Marianne Mako, Ces hommes en bleu: 30 vies en confidence, Paris, France loisirs, 1999. ISBN 2-7441-2429-X
Alain Mercier et Cyril Pocréaux, L’aventure des bleus: les 50 plus belles histoires de l’équipe de France de football, Boulogne, Timée-éd., 2004. ISBN 2-915586-01-2
Stéphane Meunier et Philippe Tournon, Les yeux dans les Bleus. 2, Dans les coulisses des Bleus 2002, Paris, Canal + éd., 2002. ISBN 2-226-13289-9
Stéphane Meunier, Les yeux dans les Bleus, Paris, le Grand livre du mois, 1998. ISBN 2-226-10646-4
Gérard Rancinan et Grégoire Soussan, Ils ont fait les Bleus: Trezeguet, Henry, Djorkaeff, Dugarry, Zidane, Vieira, Petit, Thuram, Lebœuf, Desailly, Lizarazu, Candela, Barthez, Boulogne, Horizon illimité, 2002. ISBN 2-84787-025-3
Jean-Philippe Réthacker, L’équipe de France de football, Paris, O.D.I.L., 1976
Jean-Philippe Réthacker, Génération champions: équipe de France de football, Évreux; Lausanne, Éd. Atlas, 2000-2002, 6 volumes.
Thierry Roland, Champions d’Europe, Paris, Hachette, 1984. ISBN 2-85108-368-6
Jacques Thibert, Les Coqs du football, Paris, Calmann-Lévy, 1972.
Stéphane Verger, Poèmes Bleus (hommage à nos champions du monde 1998), Paris, Le Manuscrit, 2005. ISBN 2-7481-6170-X
Stéphane Verger, Nos Bleus en 3 tomes (Les 810 joueurs de l’équipe de France), Paris, Le Manuscrit, 2006.
Marcel Desailly, Capitaine, Paris, Stock, 2002. ISBN 2-234-05478-8
Aimé Jacquet, Ma vie pour une étoile, Paris, Robert Laffont/Plon, 1999. ISBN 2-7441-2904-6
Lilian Thuram et James Burnet, 8 juillet 1998, Paris, A. Carrière, 2004. ISBN 2-84337-241-0
Christian Vella, Roger Lemerre: les Bleus au cœur, Paris, Kiron-le Félin, 2002. ISBN 2-86645-449-9
Pierre-Louis Basse, Séville 82 France-Allemagne: le match du siècle, Paris, éd. Privé, 2005. ISBN 978-2-7103-3072-1
Rodolphe Baudeau, Vianney Delourme, Cyril Toulet, Le bêtisier des bleus, 1904-2004, Paris, Hors Collection, 2004. ISBN 2-258-06498-8
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của đội tuyển bóng đá quốc gia Pháp (tiếng Pháp)
Thống kê của RSSSF về cầu thủ khoác áo đội tuyển và ghi bàn nhiều nhất
Thống kê của RSSSF về các huấn luyện viên từ năm 1960 |
hiệp hội bóng đá iraq.txt | Hiệp hội bóng đá Iraq (IFA) (tiếng Ả Rập: الاتحاد العراقي لكرة القدم) là tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động bóng đá ở Iraq. IFA quản lý đội tuyển bóng đá quốc gia Iraq, tổ chức các giải bóng đá như giải vô địch bóng đá Iraq, cúp bóng đá Iraq,.... IFA là thành viên của cả Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA), Liên đoàn bóng đá châu Á (AFC) và Liên đoàn bóng đá Tây Á (WAFF).
Chủ tịch của Hiệp hội bóng đá Iraq hiện nay là ông Timothy Tsun Ting FOK.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Hiệp hội bóng đá Iraq
Hiệp hội bóng đá Iraq trên trang chủ của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA)
Hiệp hội bóng đá Iraq trên trang chủ của AFC |
vùng đô thị hoa kỳ.txt | Tại Hoa Kỳ, Cục Quản lý và Ngân sách (OMB) đã đưa ra một định nghĩa chính thức về các vùng đô thị. Những vùng đô thị này được gọi là các "Vùng thống kê đô thị" (Metropolitan Statistical Areas hay viết tắt là MSA) và "Vùng thống kê kết hợp" (Combined Statistical Areas hay viết tắc là CSA). Định nghĩa trước đây của Vùng thống kê đô thị là "Vùng thống kê đô thị chuẩn" (Standard Metropolitan Statistical Area hay viết tắt là SMSA). Các Vùng thống kê đô thị bao gồm các quận và những đơn vị tương đương quận. Tại vùng Tân Anh, vì tầm quan trọng lớn hơn của các thị trấn đối với các quận nên các vùng tương tự cũng được định nghĩa dựa vào các đơn vị thị trấn được biết như là Vùng thị trấn và thành phố Tân Anh Cát Lợi (New England City and Town Area hay viết tắt là NECTA).
Các Vùng thống kê đô thị Hoa Kỳ được hoạch định dựa trên cơ bản của một vùng thành thị trung tâm là một vùng liên tiếp có mật độ dân số tương đối cao. Các quận có vùng thành thị cốt lõi được gọi là các quận trung tâm của Vùng đô thị. Các quận bao quanh khác (được biết như là các quận ngoại ô) có thể được cộng vào Vùng thống kê đô thị nếu các quận này có mối quan hệ kinh tế và xã hội mạnh mẽ với các quận trung tâm, được tính qua việc đáp xe hàng ngày ra vào các quận trung tâm và công ăn việc làm. Ghi chú là một số vùng nằm bên trong các quận ngoại ô này có thể thật sự là những vùng nông thôn tự nhiên.
Vùng thống kê đô thị được dùng cho các mục đích chính thức nhưng chúng không phải là cách để ước tính dân số đô thị duy nhất. Các con số chính xác đối với một số vùng đô thị vẫn còn bị tranh cãi và có một số trường hợp, các nguồn thống kê danh tiếng lại cung cấp các con số sai khác đến hàng triệu. Các trường hợp đáng tranh cãi nhất gồm có Vùng Đại Los Angeles, Vùng Vịnh San Francisco, và Đại Cleveland. Các định nghĩa chính thức được dùng cho Điều tra dân số Hoa Kỳ lần cuối thường hay khác những lần điều tra dân số trước đây, làm cho việc so sánh gặp nhiều khó khăn thậm chí là giữa các con số chính thức của các năm khác nhau (so sánh năm 2000 với năm 1990, Baltimore bị tách rời khỏi Washington, D.C. nhưng West Palm Beach lại được kết hợp lại với Miami-Fort Lauderdale làm cho có con số sai khác khá lớn trong việc xếp hạng cả hai vùng đô thị này).
Cho đến thời điểm tháng 6 năm 2003, hiện tại có thêm một xếp loại mới, đó là "Phân vùng đô thị" (Metropolitan Division). Cụm từ "phân vùng đô thị" được dùng để chỉ một quận hay một nhóm gồm nhiều quận liên tục nằm sát nhau mà phục vụ như một vùng công ăn việc làm rõ rệt trong một vùng thống kê đô thị có tổng dân số ít nhất là 2,5 triệu. Mặt dù một phân vùng đô thị là một phân vùng của một vùng thống kê đô thị lớn hơn nhưng nó thường có chức năng như một vùng văn hóa, kinh tế, xã hội riêng biệt trong vùng đô thị lớn hơn.
== 25 vùng đô thị hàng đầu đông dân nhất Hoa Kỳ ==
Sau đây là danh sách gồm 25 vùng thống kê đô thị đông dân nhất tại Hoa Kỳ (một số vùng đô thị còn có những phân vùng đô thị) theo Cục điều tra dân số Hoa Kỳ ước tính cho đến ngày 1 tháng 7 năm 2007:
Để biết hết tất cả các Vùng thống kê đô thị Hoa Kỳ, xin xem Danh sách các vùng thống kê đô thị Hoa Kỳ.
Để biết danh sách gồm các vùng đô thị kết hợp, xin xem Danh sách các vùng thống kê điều tra dân số sơ khởi của Hoa Kỳ.
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Table 1. Annual Estimates of the Population of Metropolitan and Micropolitan Statistical Areas: ngày 1 tháng 4 năm 2000 to ngày 1 tháng 7 năm 2005
U.S. Census 2000 Metropolitan Area Rankings; ranked by population
U.S. Census 2000 Metropolitan Area Rankings
Definitions of all Metropolitan Statistical Areas, Metropolitan Divisions
U.S. Census Metropolitan Area Estimates (1990s)
U.S. Census Metropolitan and Micropolitan Statistical Area Definitions |
ntt docomo.txt | NTT DOCOMO, Inc. (株式会社NTTドコモ, Kabushiki Gaisha Enu Ti Ti Dokomo) là nhà cung cấp dịch vụ viễn thông di động lớn nhất Nhật Bản. Tên gọi của hãng được viết tắt chính thức từ cụm từ tiếng Anh Do Communications Over the Mobile Network (Thực hiện thông tin liên lạc qua mạng lưới di động), nhưng cũng có nghĩa "ở mọi nơi" trong tiếng Nhật.
DoCoMo được tách từ NTT vào tháng 8 năm 1991 để đảm nhận điều hành hệ thống điện thoại di động. DoCoMo cung cấp dịch vụ di động 2G (MOVA) PDC ở băng tần 800 MHz và 1,5 GHz (băng thông tổng cộng 34 MHz), và dịch vụ 3G (FOMA) W-CDMA ở băng tần 2 GHz (1945-1960 MHz). Hãng cũng kinh doanh các dịch vụ khác như PHS (Paldio), nhắn tin và vệ tinh. DoCoMo thông báo dịch vụ PHS của hãng sẽ bị huỷ bỏ từng bước trong vòng vài năm tới.
=== Khách hàng ===
DoCoMo có 49,8 triệu khách hàng điện thoại di động, trong đó hơn 15,8 triệu thuê bao FOMA và 45 triệu người dùng i-mode. Hãng dẫn đầu thị phần ở Nhật với tỷ lệ 56,0%, và giảm nhẹ trong những năm gần đây;
=== i-Mode ===
DoCoMo là nhà điều hành điện thoại di động đầu tiên trên thế giới thành công trong việc giới thiệu dịch vụ dữ liệu di động vào thương mại cho đối tượng khách hàng rộng. i-Mode được khởi xướng vào tháng 2 năm 1999 và sự hưởng ứng của khách hàng vượt quá mong đợi, trong khi kế hoạch giới thiệu dịch vụ dữ liệu di động dùng WAP vào cùng lúc đó không tìm được khách hàng ủng hộ. Trong một thời gian ngắn DoCoMo đã thu hút gần tất cả 40 triệu thuê bao trở thành người dùng i-Mode, tức trả thêm một khoản tiền hàng tháng cho i-Mode, và hầu hết họ cũng trả tiền cho nhiều loại hình đi kèm như dữ liệu, nhạc, trò chơi và thông tin.
Chỉ trong một thời gian ngắn sau khi i-Mode xuất hiện, các đối thủ của DoCoMo cũng đã giới thiệu các dịch vụ dữ liệu tương tự rất giống với mô hình của i-Mode.
Sau vài năm, i-Mode và các dịch vụ dữ liệu tương đương của các đối thủ của DoCoMo trở thành một phần thiết yếu trong hạ tầng cấu trúc thương mại và xã hội Nhật.
=== FOMA ===
DoCoMo là nhà điều hành điện thoại di động đầu tiên trên thế giới ứng dụng truyền thông di động 3G vào thương mại. Dịch vụ 3G của DoCoMo được tiếp thị dưới tên FOMA. Hiện tại (2005) FOMA dùng công nghệ wCDMA với tốc độ dữ liệu 384 kbit/s. Vì DoCoMo là nơi đầu tiên ứng dụng công nghệ mạng 3G, DoCoMo dùng kỹ thuật khác với các tiêu chuẩn UMTS châu Âu, lúc đó chưa chín mùi cho ứng dụng của DoCoMo. Gần đây DoCoMo đang tiến hành sửa đổi FOMA để tương thích hoàn toàn với các tiêu chuẩnUMTS.
=== HSDPA ===
DoCoMo đang làm việc để nâng cấp tốc độ dữ liệu lên đến 10 Mbit/s dùng HSDPA.
=== Quyền sở hữu ===
Cổ phiếu của NTT DoCoMo được bán công cộng tại một số sàn giao dịch chứng khoán, với cổ đông chính (trên 60%) là nhà điều hành điện thoại NTT của Nhật. NTT cũng là tập đoàn công cộng và người giữ phần lớn cổ phiếu là chính phủ Nhật Bản.
=== Nghiên cứu và phát triển ===
Trong khi hầu hết các nhà điều hành điện thoại di động trên thế giới không tiến hành việc nghiên cứu và phát triển (R&D) nào đáng kể và dựa vào các nhà cung ứng thiết bị cho việc phát triểu và ứng dụng thiết bị viễn thông mới, NTT DoCoMo tiếp tục truyền thống nghiên cứu và phát triển rất tốn kém của NTT. Chính các đầu tư nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ đã cho phép DoCoMo giới thiệu dịch vụ dữ liệu i-Mode và viễn thông 3G sớm hơn bất cứ nơi nào khác trên thế giới.
=== Đầu tư của DoCoMo ra ngoài Nhật Bản ===
DoCoMo có phạm vi đầu tư rộng rãi ở nước ngoài. Tuy nhiên hãng đã không thành công trong việc đầu tư vào các nhà điều hành viễn thông nước ngoài. DoCoMo đã đầu tư nhiều tỉ đôla vào KPN, Hutchison, AT&T Wireless và cuối cùng phải huỷ bỏ hoặc bán lại cho các nhà điều hành khác. Hậu quả là DoCoMo thiệt hại khoảng 10 tỷ đôla Mỹ, trong khi cùng lúc các hoạt động tại Nhật Bản của hãng lại ăn nên làm ra.
== Xem thêm ==
NTT
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web của NTT DoCoMo
Phòng thí nghiệm châu Âu của DoCoMo
Yahoo! - NTT DoCoMo, Inc. Company Profile
Tổng quan về công nghiệp viễn thông Nhật Bản
FAQ về i-Mode của DoCoMo
Tổng quan về dịch vụ di động 3G ở Nhật Bản
Tổng quan về dịch vụ di động 4G đang được dự định ở Nhật Bản |
transilvania.txt | Transilvania (tiếng România: Transilvania hoặc Ardeal; tiếng Hungary: Erdély; tiếng Đức: Siebenbürgen) là một vùng đất lịch sử ở trung bộ nước România. Về phía đông và phía nam của Transilvania là dãy núi Carpathia, phía tây đến dãy núi Apuseni. Tuy nhiên, thuật ngữ "Transilvania" đôi khi không chỉ gồm bản thân Transilvania mà còn gồm thêm các khu vực lịch sử lân cận là Crişana, Maramureş và phần đất Banat thuộc România. Lãnh thổ România ngày nay được hình thành do sự hợp nhất của nhiều công quốc România thời trung cổ, trong đó quan trọng nhất là Moldavia, Wallachia và Transilvania.
Transilvania từng do nhiều dân tộc và đế quốc khác nhau cai trị trong suốt chiều dài lịch sử của nó. Vùng này từng là hạt nhân của Vương quốc Dacia (82 TCN-106). Năm 106, Đế quốc La Mã chinh phục lãnh thổ này và sau đó đã tổ chức khai thác nó một cách có hệ thống. Sau khi các quân đoàn La Mã rút lui vào năm 271, vùng đất này tiếp tục bị một số bộ lạc khác cai quản. Trong thời gian này, các khu vực của Transilvania nằm dưới sự kiểm soát của các bộ lạc như Carpi, Visigoth, Hung, Gepids, Avars và Bulgars. Từ đây nảy sinh tranh cãi rằng liệu các thành phần cư dân pha trộn Dacia-La Mã có sinh tồn tại Transilvania qua thời đại Đen Tối (và trở thành tổ tiên của người România hiện đại) hay những cư dân Vlachs/România đầu tiên chỉ xuất hiện từ thế kỷ 13 sau khi di cư từ bán đảo Balkan lên phía bắc.
Các nước nói tiếng Anh thường gắn truyền thuyết về ma cà rồng với miền đất này do ảnh hưởng từ cuốn tiểu thuyết Dracula của Bram Stoker. Tiếng Anh gọi vùng này là Transylvania.
== Từ nguyên ==
Transilvania được nhắc đến lần đầu trong văn bản tiếng La tinh Trung cổ vào năm 1075 dưới tên gọi ultra silvam (nghĩa là "vượt quá khu rừng"). Transilvania có nghĩa là "ở bìa kia của khu rừng". Tiếng România còn dùng tên Ardeal để chỉ vùng này, bắt nguồn từ cách viết Ardeliu trong một văn bản vào năm 1432.
== Tham khảo == |
costa rica.txt | Costa Rica (Phiên âm: Cô-xta-ri-ca), tên chính thức Cộng hòa Costa Rica (Tiếng Tây Ban Nha: República de Costa Rica, IPA: [re'puβlika ðe 'kosta 'rrika]), là một quốc gia tại Trung Mỹ, giáp giới với Nicaragua ở mặt Bắc, Panamá ở phía Nam và Đông Nam, Thái Bình Dương ở phía Tây và Nam, biển Caribe ở phía Đông. Costa Rica là nước đầu tiên trên thế giới tự giải thể lực lượng quân sự chính quy theo hiến pháp.
== Lịch sử ==
Vào thời Tiền Columbus, thổ dân châu Mỹ ở vùng đất nay là Costa Rica thuộc nhóm văn hóa trung gian giao thoa giữa các vùng văn hóa Mesoamerica và văn hóa Andes ở Nam Mỹ.
Đối với bán đảo Nicoya ở phía tây bắc Costa Rica thì đây là điểm cực nam của ảnh hưởng văn hóa Nahuatl trong khi thung lũng miền trung tâm của Costa Rica có bộ tộc Chibcha cư trú. Khi đoàn quân viễn chinh của Tây Ban Nha dưới sự chỉ huy của các chinh phục tướng quân (conquistador) mở cuộc xâm chiếm Trung Mỹ vào thế kỷ 16 thì các bộ tộc thổ dân châu Mỹ phiêu tán. Số còn lại phần bị đồng hóa hoặc tiêu diệt vì bệnh truyền nhiễm cùng sự cai trị hà khắc của người Tây Ban Nha.
=== Thời kỳ thuộc địa ===
Sang thời kỳ thuộc địa Tây Ban Nha, Costa Rica phụ thuộc Trấn Guatemala (Audiencia de Guatemala hay Capiténcia Géneral de Guatemala) với thủ phủ đặt ở Santiago de los Caballeros (nay là Antigua Guatemala). Khoảng cách xa xôi từ thủ phủ đến Costa Rica trong thời buổi giao thông thô sơ khiến Costa Rica hầu như bị lãng quên. Cũng vì đó mà xứ Costa Rica phát triển một cách đơn lập, thoát sự giám sát chặt chẽ của triều đình Tây Ban Nha. So với những thuộc địa khác thì Costa Rica kém phát triển và có thể nói là nghèo nhất vùng Trung Mỹ. Hơn nữa vì thổ dân địa phương thưa thớt nên di dân Tây Ban Nha đến định cư vùng Costa Rica không thể trưng dụng thổ dân, bắt họ phục dịch hoặc làm nô lệ. Vì thế mà trong khi chế độ nô lệ được tận dụng ở những thuộc địa khác để khai thác nông nghiệp, di dân Tây Ban Nha sang lập nghiệp ở Costa Rica phải tự canh tác trồng trọt. Trong hoàn cảnh tự lập của giai đoạn này, nền móng nước Costa Rica đã hình thành với những yếu tố để phát triển một xã hội bình đẳng so với những nước láng giềng.
=== Thời kỳ tự chủ ===
Sau khi thoát khỏi sự cai trị của Tây Ban Nha, Costa Rica là một trong sáu nước trong Cộng hòa Liên bang Trung Mỹ (tiếng Tây Ban Nha: República Federal de Centroamérica/Centro América) với thủ đô là Thành phố Guatemala. Liên bang này chỉ hiện diện trong thời gian ngắn ngủi rồi giải tán sau 15 năm vì thiếu đoàn kết. Kết quả là năm quốc gia độc lập ra đời; năm nước này (Costa Rica, El Salvador, Guatemala, Honduras và Nicaragua) tồn tại tới ngày nay và cả năm nước hậu duệ này đều lấy ngày 15 tháng 9 là ngày quốc khánh, đánh dấu thời điểm khi chính quyền thực dân Tây Ban Nha cáo chung trên dải đất Trung Mỹ.
Xét về mặt chủng tộc, ngoài sắc dân gốc Âu châu, Costa Rica còn có dân thiểu số gốc Phi châu. Họ là hậu duệ của nhóm di dân từ Jamaica đưa sang làm phu vào thế kỷ 19 để xây tuyến đường sắt từ Cao nguyên Trung phần xuống duyên hải biển Caribe và cửa bể Limón. United Fruit Company, một công ty Hoa Kỳ bỏ vốn ra xây những đoạn đường này để đổi lấy quyền sở hữu và khai thác đất đai trong vùng. Sự việc này tác động mạnh đến kinh tế Costa Rica, biến đất nước này, trước kia chủ yếu trông cậy vào cà phê là hàng xuất cảng chính nay còn cung cấp thêm các loại trái cây nhiệt đới, nhất là chuối cho thị trường thế giới.
Vào thế kỷ 19, những người nhập cư người Ý và Người Trung Hoa cũng đã tới đây làm việc trên các công trường xây dựng.
== Địa lý ==
Costa Rica nằm ở eo đất Trung Mỹ, 10° Bắc xích đạo và 84° Tây đường Kinh tuyến gốc. Nước này giáp với Biển Caribe (ở phía đông) và Biển Bắc Thái Bình Dương (ở phía tây), với chiều dài bờ biển tổng cộng 1.290 kilômét (802 dặm) (212 km / 132 mi bờ biển Caribe và 1.016 km / 631 mi bờ biển Thái Bình Dương).
Costa Rica giáp giới với Nicaragua ở phía bắc (309 km / 192 mi biên giới) và Panama ở phía nam đông-nam (639 km / 397 mi biên giới). Tổng cộng, Costa Rica có 51.100 km² (19.730 dặm vuông) lãnh thổ cộng thêm 589.000 km² lãnh hải. Nước này có diện tích tương đương với Tây Nguyên Việt Nam.
Điểm cao nhất nước là núi Chirripó, với độ cao đo được là 3.810 mét (12.500 ft). Ngọn núi này cũng là ngọn núi cao thứ năm ở Trung Mỹ. Núi lửa cao nhất nước là ngọn Irazú (3.431 m / 11.257 ft).
Hồ nước có diện tích lớn nhất ở Costa Rica là Hồ Arenal.
Vì Costa Rica có địa hình đa dạng nhiều núi non nên sông ngòi chảy xiết, rất thích hợp với một số môn thể thao như bơi kayak hoặc thả bè. Hai con sông được biết đến cho các bộ môn này là sông Pacuare và sông Reventazón nằm ngay phía đông thủ đô San José ở vùng Cao nguyên Trung phần.
Costa Rica cũng có một số hải đảo. Đáng kể nhất là Đảo Cocos cách bờ biển tỉnh Puntarenas 24 km² / 9.25 sq mi, 500 km hay 300 mi, nhưng Đảo Calero là đảo lớn nhất nước (51.6 km² / 58.5 sq mi).
Costa Rica cũng đã dành 25% lãnh thổ toàn quốc dưới dạng đất bảo tồn sinh thái. Nước này cũng có mật độ sinh vật đa dạng nhất thế giới. [1]
== Chính trị ==
Costa Rica là một quốc gia dân chủ theo thể chế cộng hòa trong khuôn khổ pháp lý của bản hiến pháp vững mạnh. Bản hiến pháp hiện hành được ban bố ngày 7 tháng 11 năm 1949, trong đó có đặc điểm là Costa Rica không có quân đội.
Về mặt chính trị, Costa Rica có truyền thống dân chủ khá lâu dài bắt đầu từ năm 1899 với cuộc tổng tuyển cử công minh. Những đợt bầu cử sau đó tiếp tục đường lối ôn hòa khi thay đổi chính phủ từ năm 1899 đến nay, với hai ngoại lệ: năm 1917 Federico Tinoco chuyên quyền làm lãnh tụ độc tài và năm 1948 José Figueres dùng quân đội cướp chính quyền, gây ra cuộc nội chiến đẫm máu nhất trong lịch sử Costa Rica với hơn 2.000 thương vong. Từ thập niên 1940 tới nay Costa Rica đã tái lập nền dân chủ và đột phá nhất là bản hiến pháp năm 1949, giải tán quân đội để diệt hẳn cơ nguy nạn quân phiệt. Vì vậy Costa Rica được xem là một trong những nước ổn định nhất trong vùng, tránh được những cuộc bạo động chính trị như những nước Trung Mỹ khác.
Đứng đầu ngành hành pháp là tổng thống với nhiệm kỳ bốn năm. Tổng thống có quyền bổ nhiệm 22 bộ trưởng để điều hành chính phủ. Phụ tá tổng thống là hai vị phó tổng thống. Hai viên chức này cũng kiêm nhiệm hai trong 22 bộ.
Cơ quan lập pháp chính là Quốc hội với 57 đại biểu. Đại biểu quốc hội, cũng như tổng thống có nhiệm kỳ bốn năm. Cuộc tu chính hiến pháp thông qua năm 1969 giới hạn tổng thống và các đại biểu chỉ được chấp chính một nhiệm kỳ. Riêng đại biểu quốc hội thì được phép tái tranh cử sau khi nghỉ một nhiệm kỳ. Tháng 4 năm 2003, điều luật cấm tổng thống tái cử trong hiến pháp được sửa đổi, cho phép Óscar Arias (ứng cử viên Giải Nobel Hòa bình năm 1987) ra tranh cử nhiệm kỳ thứ hai. Năm 2006, Óscar Arias tái đắc cử sau một cuộc bầu cử khít khao với nhiều tranh chấp vì lập trường ủng hộ tự do mậu dịch của Arias. Ông nhậm chức ngày 8 tháng 5 năm 2006. Kế đó trong đợt bầu cử Tháng Hai năm 2010, ứng cử viên Laura Chinchilla đắc cử với 46,7% số phiếu và trở thành nữ tổng thống đầu tiên của vùng Trung Mỹ.
Ngành tư pháp có Tối cao Pháp viện với 22 thẩm án. Những thành viên này do Quốc hội bầu ra với nhiệm kỳ tám năm.
Các cơ quan quốc hữu tự trị có nhiều quyền hoạt động độc lập; trong đó các ngành viễn thông điện lực, và ngân hàng thương mại đã được quốc hữu hoá. Chính phủ cũng chiếm độc quyền điều hành ngành bảo hiểm và cơ quan an sinh xã hội.
Chiếu theo hiến pháp 1949 thì Costa Rica không có lực lượng quân đội nhưng duy trì lực lượng cảnh sát để đảm bảo an ninh quốc nội. Lực lượng này được chia thành vệ binh dân sự (Guardia Civil) và vệ binh nông thôn (Guardia Rural).
Những vấn đề chính giới Costa Rica lưu tâm đến là tình hình an ninh, tội ác, và nạn nhập cư lậu từ Nicaragua.
=== Phân chia hành chánh ===
Về mặt hành chánh Costa Rica được chia thành bảy tỉnh (provincia); mỗi tỉnh lại chia thành nhiều tổng (cantón); dưới tổng là quận (dístricto). Tổng cộng cả nước có 81 tổng và 421 quận. Đứng đầu mỗi tổng là viên thị trưởng điều hành. Thị trưởng được người dân trong tổng bầu trực tiếp với nhiệm kỳ bốn năm.
Dưới cấp trung ương, không có các cơ quan lập pháp địa phương.
Alajuela
Cartago
Guanacaste
Heredia
Limón
Puntarenas
San José
== Kinh tế ==
Vào những năm đầu thế kỷ 21 ngành sản xuất hàng điện tử, dược phẩm, nhu liệu và cung cấp dịch vụ tài chính cùng ngành du lịch sinh thái là động lực chính cho nền kinh tế Costa Rica. Với trình độ giáo dục khá cao của dân chúng Costa Rica, quốc gia này đã trở thành một địa điểm thu hút nguồn đầu tư ngoại quốc.
Chính sách khuyến khích tự do mậu dịch của chính phủ Costa Rica, nhất là về ngành công nghiệp kỹ thuật cao đã gặt hái được một số kết quả khả quan. Những biện pháp giảm thuế cho những nhà đầu tư đã kích thích một số công ty quốc tế như nhà sản xuất chíp máy tính Intel, hãng bào chế dược phẩm GlaxoSmithKline, và công ty sản xuất hàng tiêu dùng Procter & Gamble mở xưởng sản xuất ở Costa Rica, tăng cường hàng xuất cảng. Tổng lượng thương mại với Đông Nam Á và Nga cũng đã phát triển mạnh từ năm 2004, 2005, kể từ khi Costa Rica tham gia Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á Thái Bình Dương (APEC) với tư cách quan sát viên (2004).
Trong năm tài chính 2005, ngân sách chính phủ thâm hụt 2.1% nhưng các số liệu khác đều tăng tiến: thu nội địa +18%; xuất khẩu +12.8%; và số khách du lịch +19%, đạt tới 1.5 triệu người. Dữ liệu do Ngân hàng Trung ương cung cấp cho thấy tăng trưởng kinh tế ở mức 5% nhưng ngược lại Costa Rica cũng phải đối phó với lạm phát cao (14%) và thâm hụt thương mại 5.2%.
Đơn vị tiền tệ của Costa Rica là colón (CRC), vào giữa thập niên 2000 có hối xuất khoảng 518 [2] đổi một dollar Mỹ, tương đương với 675 colón ăn một euro. Ngày 16 tháng 10 năm 2006, để tránh hối xuất dao động mạnh, chính phủ Costa Rica áp dụng biện pháp hạn chế tỷ giá đồng CRC colón và đưa ra ngạch tối đa và tối thiểu tương tự như cách Chile từng áp dụng trước đó với tiền tệ của họ. Quy định này chính phủ tin rằng sẽ giúp Ngân hàng Trung ương Costa Rica đối phó hữu hiệu hơn với nạn lạm phát và tránh việc đồng Mỹ kim lưu hành rộng rãi trong dân chúng. Cũng từ thời điểm đó giá trị của đồng colón đã ổn định hơn.
Ngoài vị trí địa lý thuận tiện cho việc tiếp cận tới các thị trường châu Mỹ vì chung một múi giờ với vùng trung tâm Hoa Kỳ, Costa Rica còn có lợi điểm vì thẳng đường biển trực tiếp tới Châu Âu và Châu Á.
Tính đến năm 2016, GDP của Costa Rica đạt 57.689 USD, đứng thứ 77 thế giới và đứng thứ 12 khu vực Mỹ Latin.
=== Du lịch ===
Với kỹ nghệ du lịch trị giá 1.7 tỷ Mỹ kim, Costa Rica là nước thu hút đông khách du lịch nhất khu vực Trung Mỹ. Du lịch sinh thái thu hút nhiều du khách tới các khu bảo vệ thiên nhiên rải rác trên khắp nước này. Nạn mua dâm cũng đã trở thành một hình thức "du lịch" có tiếng của Costa Rica, có thể chiếm tới 10% trên tổng thu của ngành du lịch nói chung. Costa Rica được coi là một chí điểm của các khách mua dâm, phần lớn là mại dâm hợp pháp.
== Quan hệ nước ngoài ==
Costa Rica là một thành viên tích cực của Liên hiệp quốc và Tổ chức các Quốc gia châu Mỹ. Costa Rica giữ một ghế tại Tòa án Nhân quyền Liên Mỹ và tại Đại học Hòa bình Liên hiệp quốc và nhiều tổ chức quốc tế khác liên quan tới nhân quyền và dân chủ.
Mục tiêu chính trong chính sách đối ngoại của Costa Rica là khuyến khích thực thi nhân quyền và phát triển xã hội để mang lại sự ổn định và phát triển quốc gia.
Costa Rica cũng là một thành viên của Tòa án Tội phạm Quốc tế, không có Thỏa thuận Miễn trừ Song phương bảo vệ binh lính Hoa Kỳ (như theo Điều 98).
Ngày 1 tháng 6 năm 2007, Costa Rica đã hủy bỏ bang giao với Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) để lập quan hệ với Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. [3]
== Hệ động thực vật ==
Costa Rica là địa bàn sinh sống của nhiều loài động và thực vật. Tuy nước này chỉ chiếm khoảng 0.1% tổng diện tích lục địa, nơi đây tàng chứa 5% đa dạng sinh học thế giới. Hơn 25% diện tích lãnh thổ Costa Rica là các khu rừng và khu dự trữ thiên nhiên được bảo vệ.
Một vườn quốc gia nổi tiếng trong giới các nhà sinh thái thế giới từng được biết đến nhiều về sự đa dạng sinh vật (kể cả những con thú lớn như báo và heo vòi) là Vườn Quốc gia Corcovado. Vườn này cũng là nơi đón nhiều du khách đến xem nhiều loài động vật hoang dã.
Trong khi đó Vườn quốc gia Tortuguero là nơi sinh sống của khỉ nhện, khỉ rú và khỉ mũ cổ trắng, lười ba ngón, 320 loài chim (gồm nhiều loài vẹt), rất nhiều loài bò sát, nhưng nổi tiếng nhất là loài rùa xanh đang bị đe dọa tuyệt chủng. Hàng năm chúng dùng bãi biển khu vực này để đẻ trứng.
Khu dự trữ "rừng mây" Monteverde cũng phong phú với hai ngàn loài thực vật, gồm nhiều loại phong lan. Hơn bốn trăm loài chim và hàng trăm loài có vú cũng sinh sống tại đây. Tính tổng thể, khoảng tám trăm loài chim đã được kiểm chứng sinh sống tại Costa Rica.
== Nhân khẩu ==
Tính đến năm 2005, Costa Rica có dân số ước tính khoảng 4,43 triệu người. Đa số dân Costa Rica mang ít nhiều dòng máu của người di dân Tây Ban Nha. Có một số không nhỏ có gốc Italia, Đức, Do Thái, và Ba Lan nhưng nhóm đông nhất là "mestizo", hậu duệ thổ dân châu Mỹ pha trộn với người Tây Ban Nha. Nhóm này chiếm 94% dân số. Chỉ có 3% dân có gốc châu Phi, mà tổ tiên là những người lao động da đen từ Jamaica nhập cư hồi thế kỷ 19. Số còn lại 1% là người Hoa và 1% thổ dân châu Mỹ, khoảng 40.000 người, đông nhất ở tỉnh Guanacaste phía tây bắc.
Ngoài ra Costa Rica cò là nơi sinh sống của nhiều cộng đồng ngoại kiều. Họ là công dân các nước Hoa Kỳ, Canada, Đức, Hà Lan, Anh Quốc... tập trung đông nhất ở Escazu ở Thung lũng Trung tâm. Còn nhóm người Italia nhập cư sau Chiến tranh thế giới thứ hai thì lập ra thị trấn Zona Sur San Vito de Coto Brus ở phía nam Puntarenas, gần biên giới với Panamá.
Costa Rica đón nhận một số không nhỏ người tỵ nạn, phần lớn từ Colombia và Nicaragua. Theo ước tính thì 10% đến 15% dân số Costa Rica là dân Nicaragua, trốn sang Costa Rica vì lý do kinh tế, tìm việc làm để mai sau hồi hương. Một số khác đến từ Perú. Nhóm này đang trên đà gia tăng đáng kể. Vì vị trí trung gian, Costa Rica cũng là nơi dừng chân của dân tỵ nạn khắp châu Mỹ Latinh lưu vong vì nội chiến và chính thể độc tài như trường hợp Chile và Argentina vào những thập niên 1970-1980.
=== Tôn giáo ===
Công giáo là tôn giáo của số đông tại Costa Rica. Riêng Giáo hội Công giáo Rôma có đặc quyền với chức danh là tôn giáo chính thức của Costa Rica, một đặc quyền ghi rõ trong Hiến pháp năm 1949, nhưng đồng thời Hiến pháp cũng đảm bảo quyền tự do tôn giáo và nhìn chung thực tế Chính phủ tôn trọng quyền này. Khoảng 76,3% người dân Costa Rica là tín hữu Công giáo. Ngoài Công giáo, những giáo phái Tin Lành chiếm 13,7% đang phát triển mạnh ở Costa Rica cũng như những nước lân cận, các phái Kháng Cách khác chiếm 0,7%.
Vì số người nhập cư nhỏ và gần đây từ Châu Á, Trung Đông, và các nơi khác, các tôn giáo khác cũng đã phát triển, đáng chú ý nhất là Phật giáo (do con số tăng thêm 40.000 người trong cộng đồng người Hoa), và một số lượng nhỏ tín đồ Do Thái giáo, Hồi giáo, và Hindu giáo.
Có một hội đường Do Thái giáo là Shaarei Zion, tọa lạc tại San Jose, gần công viên La Sabana Metropolitan. Nhiều ngôi nhà ở vùng phụ cận phía đông công viên được trang trí hình ngôi sao David và các biểu tượng dễ nhận thấy khác của Do Thái giáo.
Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô phát triển chậm tại Costa Rica trong bốn mươi năm qua và chỉ có một đền thờ tại San Jose, là trung tâm thờ phượng địa phương của cả vùng Costa Rica, Panama, Nicaragua, và Honduras.
=== Ngôn ngữ ===
Ngôn ngữ chính thức duy nhất là tiếng Tây Ban Nha. Có hai kiểu giọng bản xứ chính tại Costa Rica, tiếng Costa Rica tiêu chuẩn và Nicoyan. Giọng Nicoyan rất giống với giọng chuẩn Nicaragua, một phần bởi sự kiện sáp nhập nước này vào Nicaragua năm 1824. Một kiểu phát âm khác biệt đáng chú ý khác của Costa Rica là âm đầu mềm và âm vị đúp [r] không rung như tại hầu hết các nước sử dụng tiếng Tây Ban Nha khác..
Những người nhập cư Jamaica ở thế kỷ 19 đã mang tới một thổ ngữ tiếng Anh và đã tiến hóa vào trong thổ ngữ Mekatelyu.
=== Cưới xin ===
Vì Cơ đốc giáo La mã là tôn giáo chính thức của đất nước, chỉ những cuộc hôn lễ tiến hành tại nhà thờ được chính phủ công nhận. Bất kỳ người nào muốn tiến hành lễ cưới ngoài nhà thờ Cơ đốc giáo phải thuê một luật sư tiến hành và sau đó đăng ký cuộc hôn lễ dân sự cho họ.
== Văn hoá ==
Người dân Costa Rica thường tự xưng là tico (nam) hay tica (nữ). "Tico" xuất xứ từ kiểu sử dụng hậu tố giảm cường độ để diễn tả tình cảm thân quen (ví dụ, "momentico" thay vì "momentito"). Câu "Pura Vida" (dịch nghĩa "Cuộc sống thanh tịnh") là câu cửa miệng thường dùng ở Costa Rica, nói lên lý tưởng một cuộc sống thanh bình, hài hòa với thiên nhiên, gia đình và bè bạn.
Một số người có thể dùng mae viết tắt của "maje" (mae nghĩa là "gã/anh chàng") để gọi nhau, dù điều này có thể bị coi là hơi có ý xúc phạm đối với người thuộc thế hệ trên bởi maje là từ đồng nghĩa của "tonto" (ngu, khờ dại). Các truyền thống và văn hóa Costa Rica thường có khuynh hướng giữ lại mức độ ảnh hưởng mạnh từ Tây Ban Nha. Kiểu trọng âm nói của họ thật sự khác biệt so với kiểu trọng âm tại các nước Trung Mỹ khác. Tiếp vĩ ngữ "-ito" hay "-ita" được thêm vào nhiều từ để nghe lịch sự và nhã nhặn hơn.
Costa Rica có một lịch sử phong phú. Costa Rica là nơi các nền văn hoá bản xứ Mesoamerica và Nam Mỹ gặp gỡ. Phía tây bắc đất nước, bán đảo Nicoya, là điểm cực nam của ảnh hưởng văn hoá Nahuatl khi những kẻ chinh phục người Tây Ban Nha (conquistadores) tới đây vào thế kỷ mười sáu. Các vùng trung tâm và phía nam đất nước tiếp nhận ảnh hưởng từ Chibcha. Tuy nhiên, người bản xứ cũng để lại ảnh hưởng trên văn hoá Costa Rica hiện đại, tuy ở mức độ thấp hơn, bởi đa số người da đỏ châu Mỹ đã chết vì bệnh tật và sự ngược đãi của người Tây Ban Nha.
Trong lúc đó, bờ biển Đại Tây Dương là nơi tập trung sinh sống của những người lao động châu Phi ở thế kỷ mười bảy và mười tám. Tuy nhiên, đa số người Costa Rica gốc Phi, đều là hậu duệ của những lao động người Jamaica, được đưa tới xây dựng các tuyến đường sắt nối Cao nguyên Trung tâm và cảng Limon trên bờ biển Caribbean. Những người Italia và Trung Quốc nhập cư cũng tới vào khoảng thời gian này để xây dựng các tuyến đường sắt.
Âm nhạc Costa Rica ít có tiếng vang quốc tế, các loại âm nhạc đại chúng Costa Rica gồm: một kiểu âm nhạc calypso bản xứ khác biệt với kiểu calypso được nhiều người biết tới của Trinidad thường được chơi tại các nightclub ở các thành phố như San José. Rock and roll và nhạc pop Mỹ và Anh thịnh hành trong giới trẻ (đặc biệt giới trẻ tại đô thị) trong khi những kiểu âm nhạc cho khiêu vũ như soca, salsa, merengue, cumbia và Tex-Mex có khán giả là những người thuộc thế hệ già hơn.
== Giáo dục ==
Tỷ lệ biết chữ tại Costa Rica là 96% (CIA World Factbook, tháng 2 năm 2007), một trong những tỷ lệ cao nhất tại Mỹ Latinh. Các trường sơ đẳng và cao học có tại khắp đất nước, thực tế ở tất cả các cộng đồng. Giáo dục công cộng tổng quát được đảm bảo trong Hiến pháp, và giáo dục mầm non và cao học đều miễn phí. Có cả các trường đại học công cộng và tư nhân.
Chỉ có một số ít trường tại Costa Rica vượt quá lớp 11. Những trường đó đều kết thúc ở lớp 11 và cấp bằng Costa Rican Bachillerato Diploma được Bộ giáo dục nước này công nhận. Các trường có tới lớp 12 cấp hoặc International Baccalaureate Diploma, được IBO tại Geneva, Thụy Sĩ công nhân, bằng Abitur của Đức hay High School Diploma của Hoa Kỳ, được Hiệp hội các trường Cao đẳng và Trường học miền Nam (SACS) công nhận.
Costa Rica cũng là nơi đóng trụ sở của Instituto Centroamericano de Administracion de Empresas (INCAE), ban đầu được thành lập năm 1964 tại Managua, Nicaragua với sự hỗ trợ của chính phủ Hoa Kỳ và các quốc gia Trung Mỹ khác. Viện này đã mở rộng vào Costa Rica với cuộc Cách mạng Sandinista trong thập niên 1980 tại Nicaragua, viện duy trì quan hệ chặt chẽ với Đại học Harvard, và cũng góp đóng một phần vào việc thành lập trường này. Theo một cuộc nghiên cứu do America Economia tiến hành INCAE được xếp hạng nhất về trường thương mại tại Mỹ Latinh trong hai năm liền (2004, 2005) và nằm trong tốp mười trường thương mại quốc tế hàng đầu theo xếp hạng của The Wall Street Journal.
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Costa Rica tại DMOZ
Costa Rica Directory
Costa Rica Surf Reports
Costa Rica Map Project
Catholic Church in Costa Rica (tiếng Tây Ban Nha)
Costa Rica Hotel Landmark Historic Patrimonial (tiếng Tây Ban Nha)
Environmental News from Costa Rica (tiếng Tây Ban Nha)
Chính phủ và chính quyền
Casa Presidencial (tiếng Tây Ban Nha) Official presidential site.
Instituto Nacional de Biodiversidad, National Biodiversity Institute.
Las Constituciones De Costa Rica De 1821-1949 (tiếng Tây Ban Nha) Costa Rican Constitution
Costa Rica Tourist Board (tiếng Anh) Costa Rica Official Web Site
Quốc ca
Himno Nacional de Costa Rica (tiếng Tây Ban Nha) National Anthem Lyrics
Du lịch |
danh sách ca khúc về thăng long - hà nội.txt | Dưới đây là những ca khúc của tân nhạc Việt Nam về Thăng Long xưa và Hà Nội nay.
Không có trong danh sách này những ca khúc chỉ nhắc sơ qua đến tên Thăng Long, Đông Đô hay Hà Nội, dù là trong tựa đề. Ít nhất Hà Nội (cảnh quan, con người, văn hóa, ký ức Hà Nội) phải là chủ thể của bài hát hay được nhắc đến ít nhất trong 2/3 bài hát.
== Danh sách ==
== ==
Danh sách ca khúc về Sài Gòn
== Tham khảo == |
thanh hóa.txt | Thanh Hóa là tỉnh cực Bắc miền Trung Việt Nam và là một tỉnh lớn về cả diện tích và dân số, đứng thứ 5 về diện tích và thứ 3 về dân số trong số các đơn vị hành chính tỉnh trực thuộc nhà nước, cũng là một trong những địa điểm sinh sống đầu tiên của người Việt cổ.
Cách đây khoảng 6000 năm đã có người sinh sống tại Thanh Hóa. Các di chỉ khảo cổ cho thấy nền văn hóa xuất hiện đầu tiên tại đây là văn hóa Đa Bút. Sang đầu thời đại kim khí, thuộc thời đại đồ đồng, qua các bước phát triển với các giai đoạn trước văn hóa Đông Sơn, Thanh Hóa đã trải qua một tiến trình phát triển với các giai đoạn văn hoá: Cồn Chân Tiên, Đông Khối - Quỳ Chữ tương đương với các văn hóa Phùng Nguyên - Đồng Đậu - Gò Mun ở lưu vực sông Hồng. Và sau đó là nền văn minh Văn Lang cách đây hơn 2.000 năm, văn hoá Đông Sơn ở Thanh Hóa đã toả sáng rực rỡ trong đất nước của các vua Hùng.
Thanh Hóa là tỉnh chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Trung Việt Nam trên nhiều phương diện. Về hành chính, Thanh Hóa là tỉnh cực bắc Trung Bộ, tiếp giáp với Tây Bắc Bộ và đồng bằng Bắc Bộ. Về địa chất, miền núi Thanh Hóa là sự nối dài của Tây Bắc Bộ trong khi đồng bằng Thanh Hóa là đồng bằng lớn nhất Trung Bộ, ngoài ra một phần nhỏ (phía bắc huyện Nga Sơn) thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng. Về khí hậu, Thanh Hóa vừa có kiểu khí hậu của miền Bắc lại vừa mang những hình thái khí hậu của miền Trung. Về ngôn ngữ, phần lớn người dân nói phương ngữ Thanh Hóa với vốn từ vựng khá giống từ vựng của phương ngữ Nghệ Tĩnh song âm vực lại khá gần với phương ngữ Bắc Bộ.
Thanh Hóa bao gồm 2 thành phố trực thuộc tỉnh, 1 thị xã và 24 huyện, với diện tích 11.133,4 km2 và số dân 3.712.600 người với 7 dân tộc Kinh, Mường, Thái, H'mông, Dao, Thổ, Khơ-mú, trong đó có khoảng 586200 người sống ở thành thị. Năm 2005, Thanh Hóa có 2,16 triệu người trong độ tuổi lao động, chiếm tỷ lệ 58,8% dân số toàn tỉnh, lao động đã qua đào tạo chiếm 27%, trong đó lao động có trình độ cao đẳng, đại học trở lên chiếm 5,4%. Năm 2017, Thanh Hóa là tỉnh đầu tiên của Bắc Trung Bộ có 2 thành phố trực thuộc tỉnh (Thanh Hóa, Sầm Sơn).
== Địa lý ==
=== Vị trí địa lý ===
Ngày nay, theo số liệu đo đạc hiện đại của cục bản đồ thì Thanh Hóa nằm ở vĩ tuyến 19°18' Bắc đến 20°40' Bắc, kinh tuyến 104°22' Đông đến 106°05' Đông. Phía bắc giáp ba tỉnh: Sơn La, Hòa Bình và Ninh Bình; phía nam và tây nam giáp tỉnh Nghệ An; phía tây giáp tỉnh Hủa Phăn nước Lào với đường biên giới 192 km; phía đông Thanh Hóa mở ra phần giữa của vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông với bờ biển dài hơn 102 km. Diện tích tự nhiên của Thanh Hóa là 11.106 km², chia làm 3 vùng: đồng bằng ven biển, trung du, miền núi. Thanh Hóa có thềm lục địa rộng 18.000 km².
=== Địa hình, địa mạo ===
Địa hình Thanh Hóa nghiêng từ tây bắc xuống đông nam. Ở phía tây bắc, những đồi núi cao trên 1.000 m đến 1.500 m thoải dần, kéo dài và mở rộng về phía đông nam. Đồi núi chiếm 3/4 diện tích của cả tỉnh, tạo tiềm năng lớn về kinh tế lâm nghiệp, dồi dào lâm sản, tài nguyên phong phú. Dựa vào địa hình có thể chia Thanh Hóa ra làm các vùng miền.
Miền núi, trung du: Miền núi và đồi trung du chiếm phần lớn diện tích của Thanh Hóa. Riêng miền đồi trung du chiếm một diện tích hẹp và bị xé lẻ, không liên tục, không rõ nét như ở Bắc Bộ. Do đó nhiều nhà nghiên cứu đã không tách miền đồi trung du của Thanh Hóa thành một bộ phận địa hình riêng biệt mà coi các đồi núi thấp là một phần không tách rời của miền núi nói chung.
Miền đồi núi chiếm 2/3 diện tích Thanh Hóa, nó được chia làm 3 bộ phận khác nhau bao gồm 12 huyện: Hà Trung, Như Xuân, Như Thanh, Thường Xuân, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn, Mường Lát, Cẩm Thủy, Thạch Thành và Ngọc Lặc. Vùng đồi núi phía tây có khí hậu mát, lượng mưa lớn nên có nguồn lâm sản dồi dào, lại có tiềm năng thủy điện lớn, trong đó sông Chu và các phụ lưu có nhiều điều kiện thuận lợi để xây dựng các nhà máy thủy điện. Miền đồi núi phía Nam đồi núi thấp, đất màu mỡ thuận lợi trong việc phát triển cây công nghiệp, lâm nghiệp, cây đặc sản và có Vườn quốc gia Bến En (thuộc địa bàn huyện Như Thanh và huyện Như Xuân), có rừng phát triển tốt, với nhiều gỗ quý, thú quý.
Vùng đồng bằng của Thanh Hóa lớn nhất của miền Trung và thứ ba của cả nước. Đồng bằng Thanh Hóa có đầy đủ tính chất của một đồng bằng châu thổ, do phù sa các hệ thống sông Mã, sông Yên, sông Hoạt bồi đắp. Điểm đồng bằng thấp nhất so với mực nước biển là 1 m.
Vùng ven biển: Các huyện từ Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương đến Tĩnh Gia, chạy dọc theo bờ biển gồm vùng sình lầy ở Nga Sơn và các cửa sông Hoạt, sông Mã, sông Yên và sông Bạng. Bờ biển dài, tương đối bằng phẳng, có bãi tắm nổi tiếng Sầm Sơn, có những vùng đất đai rộng lớn thuận lợi cho việc lấn biển, nuôi trồng thủy sản, phân bố các khu dịch vụ, khu công nghiệp, phát triển kinh tế biển (ở Nga Sơn, Nam Sầm Sơn, Nghi Sơn).
=== Tài nguyên thiên nhiên ===
Thanh Hóa có 296 mỏ và điểm khoáng sản với 42 loại khoáng sản khác nhau: đá granit và marble, đá vôi làm xi măng, sét làm xi măng, crôm, quặng sắt, secpentin, đôlômit, ngoài ra còn có vàng sa khoáng và các loại khoáng sản khác. Tổng trữ lượng nước ngọt bề mặt của Thanh Hóa khoảng 19,52 tỉ m³ hàng năm
== Lịch sử ==
Các di chỉ khảo cổ cho thấy người Việt đã sống ở đây cách nay 6000 năm. Thời kì dựng nước nó là bộ Cửu Chân và bộ Quân Ninh của nước Văn Lang.
=== Thời Bắc thuộc ===
Thời Nhà Hán chính quyền đô hộ Thanh Hóa thuộc quận Cửu Chân. Sang đến thời Tam Quốc, nhà Đông Ngô trực tiếp cai trị. Sau khi tách quận Cửu Chân thành hai quận Cửu Chân và Cửu Đức thì thuộc quận Cửu Chân mới gồm đất Thanh Hóa ngày nay và một phần phía nam Ninh Bình. Cửu Chân được chia làm 7 huyện: Tư Phố, Di Phong, Cư Phong, Trạn Ngô, Kiến Sơ, Phù Lạc, Thường Lạc, Tùng Nguyên. Sang đến thời nhà Lương, Lương Võ đế đổi Cửu Chân làm Ái Châu. Đến thời Nhà Tùy gọi là Cửu Chân quận.
=== Thời kì tự chủ ===
Ở thời kì tự chủ thì Thanh Hóa được đổi tên nhiều lần nhưng Thanh Hóa vẫn là tỉnh có số lần sát nhập và chia tách ít nhất cả nước.
Ở thời Nhà Đinh và Tiền Lê Thanh Hóa gọi là đạo Ái Châu. Ở thời Nhà Lý thời kỳ đầu gọi là trại Ái Châu, về sau vào năm Thuận Thiên 1 thì gọi là Phủ Thanh Hóa).
Năm 1242, vua Trần Thái Tông đổi 24 lộ đời Lý thành 12 lộ, trong đó có Thanh Hóa phủ lộ. Năm Quang Thái thứ 10 (Trần Thuận Tông - năm 1397) đổi làm trấn Thanh Ðô. Trấn Thanh Ðô lúc này gồm 7 huyện và 3 châu (mỗi châu có 4 huyện). Trong đó, 7 huyện là: Cổ Ðằng, Cổ Hoằng, Ðông Sơn, Cổ Lôi, Vĩnh Ninh, Yên Ðịnh, Lương Giang. 3 châu bao gồm: châu Thanh Hóa gồm huyện Nga Lạc, huyện Tế Giang, huyện Yên Lạc, huyện Lỗi Giang; châu Ái gồm huyện Hà Trung, huyện Thống Bình, huyện Tống Giang, huyện Chi Nga; châu Cửu Chân gồm huyện Cổ Chiến, huyện Kết Thuế, huyện Duyên Giác, huyện Nông Cống.
Năm 1397, Trần Thuận Tông đổi làm trấn Thanh Đô, gồm 3 châu và 7 huyện: châu Thanh Hóa (gồm Nga Lạc, Tế Giang, Yên Lạc, Lỗi Giang); châu Ái (gồm: Hà Trung, Thống Bình, Tống Giang, Chi Nga);châu Cửu Chân (gồm: Cổ Chiến, Kết Thuế, Duyên Giác, Nông Cống); huyện Cổ Đằng; huyện Cổ Hoằng; huyện Đông Sơn; huyện Vĩnh Ninh; huyện Yên Định; huyện Lương Giang; huyện Cổ Lôi.
Năm 1403, Hồ Hán Thương đổi phủ Thanh Hóa thành phủ Thiên Xương. Sách Ðại Nam nhất thống chí ghi:
Phủ này (tức phủ Thiên Xương) cùng Cửu Chân và Ái Châu làm "tam phủ" gọi là Tây Ðô". Thời thuộc Minh, trấn Thanh Ðô đổi thành phủ Thanh Hóa (năm 1407 - theo Ðào Duy Anh)' và Thời thuộc Minh lại làm phủ Thanh Hóa, lãnh 4 châu là Cửu Chân, Ái Châu, Thanh Hóa, Quỳ Châu và 11 huyện. Trong đó, 11 huyện là Yên Ðịnh, Nông Cống, Vĩnh Ninh, Tống Giang, Cổ Ðằng, Nga Lạc, Lương Giang, Lỗi Giang, Ðông Sơn, Yên Lạc, Cổ Lôi
Sau khi nhà Hồ thất thủ, nhà Minh cai trị Đại Việt, lại đổi lại làm phủ Thanh Hóa như cũ, đặt thêm hai huyện: Lôi Dương, Thụy Nguyên. Về địa giới vẫn không đổi.
Sau khi khởi nghĩa Lam Sơn thắng lợi, nhà hậu Lê cầm quyền. Năm Thuận Thiên thứ nhất (năm 1428), Lê Thái Tổ chia nước làm 5 đạo, Thanh Hóa thuộc Hải Tây đạo, đến năm Quang Thuận thứ 7 (năm 1466) đặt tên là Thừa Tuyên Thanh Hóa, năm Quang Thuận thứ 10 (năm 1469) lại đổi thành Thừa Tuyên Thanh Hoa, tên Thanh Hoa có từ đây. Thanh Hoa Thừa Tuyên theo "Thiên Nam dư hạ tập" lãnh 4 phủ, 16 huyện và 4 châu.
Thời Nhà Lê, Thanh Hóa là thừa tuyên Thanh Hóa (Thanh Hoa), gồm phần đất tỉnh Thanh Hóa ngày nay và tỉnh Ninh Bình (thời kỳ đó là phủ Trường Yên, trực thuộc) và tỉnh Hủa Phăn (Sầm Nưa) của Lào (thời kỳ đó gọi là châu Sầm). Xứ Thanh Hoa thời nhà Lê với 6 phủ:
Phủ Thiệu Thiên (Thiệu Hóa), nằm ở phía tây tây bắc xứ Thanh, có 8 huyện: Thụy Nguyên, Vĩnh Phúc (Vĩnh Lộc), Đông Sơn, Lôi Dương, Yên Định, Cẩm Thủy, Thạch Thành, Quảng Bình.
Phủ Hà Trung phủ có 4 huyện: Hoằng Hóa, Thuần Lộc (Hậu Lộc), Nga Sơn, Tống Sơn.
Phủ Tĩnh Gia có 3 huyện: Nông Cống, Ngọc Sơn, Quảng Xương.
Phủ Thanh Đô có 4 châu và 1 huyện là huyện Thọ Xuân và các châu: Khai Na (Quan Da), Tàm (châu), Lương Chính (Lang Chánh), Sầm (châu) (nay thuộc Lào).
Phủ Trường Yên, nay là một phần tỉnh Ninh Bình, có 3 huyện: Gia Viễn, Yên Mô, Yên Khang (Yên Khánh).
Phủ Thiên Quan (Nho Quan), ở phía Tây Bắc xứ Thanh, giáp với trấn Sơn Tây và trấn Sơn Nam, nay thuộc các tỉnh Ninh Bình và Hòa Bình, có 3 huyện: Phụng Hóa, Yên Hóa, Lạc Thổ (Lạc Sơn).
Sau khi nhà Nguyễn lên nắm quyền, vào năm Gia Long thứ nhất (1802), đổi gọi là trấn Thanh Hóa. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), đổi trấn thành tỉnh, bắt đầu gọi là tỉnh Thanh Hoa (Hoa: tinh hoa). Đến năm Thiệu Trị thứ nhất (1841), lại đổi thành tỉnh Thanh Hóa. Tên gọi Thanh Hóa không đổi từ đó cho tới ngày nay.
=== Thời kỳ hiện đại (sau năm 1945 đến nay) ===
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, các cấp hành chính là châu, phủ, quận được bãi bỏ. Tỉnh Thanh Hóa lúc này có 21 đơn vị hành chính gồm thị xã Thanh Hóa và 20 huyện: Bá Thước, Cẩm Thủy, Đông Sơn, Hà Trung, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Lang Chánh, Nga Sơn, Ngọc Lặc, Như Xuân, Nông Cống, Quan Hóa, Quảng Xương, Thạch Thành, Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Thường Xuân, Tĩnh Gia, Vĩnh Lộc, Yên Định.
Ngày 16 tháng 12 năm 1964, huyện Triệu Sơn được thành lập trên cơ sở tách 13 xã thuộc huyện Thọ Xuân và 20 xã thuộc huyện Nông Cống
Ngày 5 tháng 7 năm 1977, hợp nhất 2 huyện Hà Trung và Nga Sơn thành huyện Trung Sơn; hợp nhất 2 huyện Vĩnh Lộc và Thạch Thành thành huyện Vĩnh Thạch; hợp nhất 2 huyện Lang Chánh và Ngọc Lặc thành huyện Lương Ngọc; hợp nhất huyện Yên Định và 15 xã của huyện Thiệu Hóa ở tả ngạn sông Chu thành huyện Thiệu Yên; hợp nhất huyện Đông Sơn và 16 xã còn lại của huyện Thiệu Hóa ở hữu ngạn sông Chu thành huyện Đông Thiệu.
Ngày 18 tháng 12 năm 1981, thành lập 2 thị xã Bỉm Sơn (tách ra từ huyện Trung Sơn) và Sầm Sơn (tách ra từ huyện Quảng Xương).
Ngày 30 tháng 8 năm 1982, chia các huyện Lương Ngọc, Trung Sơn, Vĩnh Thạch thành các huyện như cũ; đổi tên huyện Đông Thiệu thành huyện Đông Sơn nhưng vẫn giữ nguyên địa giới như cũ.
Ngày 1 tháng 5 năm 1994, chuyển thị xã Thanh Hóa thành thành phố Thanh Hóa.
Ngày 18 tháng 11 năm 1996, chia huyện Quan Hóa thành 3 huyện Mường Lát, Quan Hóa và Quan Sơn và chia huyện Như Xuân thành 2 huyện Như Thanh và Như Xuân; tái lập huyện Thiệu Hóa trên cơ sở tách 16 xã thuộc huyện Đông Sơn ở hữu ngạn sông Chu và 15 xã thuộc huyện Thiệu Yên ở tả ngạn sông Chu; đổi tên huyện Thiệu Yên thành huyện Yên Định.
Ngày 19 tháng 4 năm 2017, chuyển thị xã Sầm Sơn thành thành phố Sầm Sơn.
== Dân cư ==
Theo kết quả điều tra dân số năm 2009, Thanh Hóa có 3.400.239 người, đứng thứ ba Việt Nam, chỉ sau Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.
Trong tổng dân số năm 2009, nữ giới có 1.717.067 người, dân số thành thị là 354.880 người. Mật độ dân số vào loại trung bình: giảm từ 310 người/km² (năm 1999) xuống 305 người/km² (năm 2009). Tỉ số giới tính (số nam trên 100 nữ) tăng từ 95,6% (năm 1999) lên 98,0% (năm 2009), tương đương với mức chung của cả nước.
Thanh Hóa là tỉnh có nhiều dân tộc sinh sống, nhưng chủ yếu có 7 dân tộc là Kinh, Mường, Thái, Thổ, Dao, Mông, Khơ Mú. Người Kinh chiếm phần lớn dân số của tỉnh và có địa bàn phân bố rộng khắp, các dân tộc khác có dân số và địa bạn sống thu hẹp hơn.
== Chính trị ==
Cơ quan lãnh đạo cao nhất về mặt chính trị của tỉnh hiện nay là Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa, hay Đảng ủy tỉnh Thanh Hóa, hoặc đơn giản hơn là Tỉnh ủy Thanh Hóa. Đứng đầu Tỉnh ủy là Bí thư Tỉnh ủy và thường là ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng.
Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa được thành lập ngày 29/7/1930 do ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ Nguyễn Doãn Chấp chỉ đạo Hội nghị thành lập theo quyết định của Xứ ủy. Đảng bộ gồm 3 chi bộ Hàm Hạ, chi bộ Thiệu Hóa, chi bộ Thọ Xuân, Hội nghị đã bầu ra tỉnh ủy gồm 3 ủy viên do Lê Thế Long làm Bí thư.
Trong giai đoạn từ 1931-1945 Tỉnh ủy Thanh Hòa nhiều lần bị thực dân Pháp khủng bố, giải thể rồi lại thành lập.
Từ 1945-1954 Tỉnh ủy hoạt động trên địa bàn tỉnh trừ khu vực ven biển vẫn do Pháp kiểm soát. Trong giai đoạn này, Tỉnh ủy đã lãnh đạo công tác tổ chức quần chúng để trở thành hậu phương vững chắc cho chiến khu Việt Bắc, vận động hàng vạn người dân Thanh Hóa chiến đấu hoặc làm dân công cho chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, góp phần thành công chiến dịch Điện Biên Phủ.
Từ 1954-1975 Thanh Hóa là khu vực hứng chịu bom của Hoa Kỳ đầu tiên trên miền Bắc. Đặc biệt tuyến đường sắt vào Nam bị Hoa Kỳ oanh kích liên tục. Sau năm 1973 Hoa Kỳ chấm dứt không kích, Tỉnh ủy lãnh đạo nhân dân Thanh Hòa bắt tay vào công cuộc tái thiết.
Tỉnh ủy Thanh Hóa nằm trong số ít không bị sát nhập hay chia tách trong giai đoạn kháng chiến và thời kỳ sau này.
=== Các đời Bí thư Tỉnh ủy ===
==== Giai đoạn 1930-1948 ====
==== Giai đoạn 1948-nay ====
== Hành chính ==
Thanh Hóa có 27 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 2 thành phố, 2 thị xã và 24 huyện, chia thành 573 xã, 34 phường và 28 thị trấn.
== Văn hóa ==
=== Văn hóa, văn nghệ dân gian ===
Tại Thanh Hóa có nhiều hình thức văn hóa truyền thống, phần nhiều vẫn còn tồn tại và đang được phát huy. Về dân ca, dân vũ, được nhiều người biết đến nhất là các làn điệu hò sông Mã, dân ca, dân vũ Đông Anh, trò diễn Xuân Phả. Ngoài ra còn có ca trù, hát xoan... Các dân tộc ít người cũng có nhiều loại hình văn nghệ dân gian khá đa dạng như hát xường của người Mường, khắp của người Thái...
Kho tàng truyện cổ cũng khá đặc sắc như truyện cổ về sự tích về các ngọn núi, truyện dân gian của ngư dân ven biển Hậu Lộc, Sầm Sơn, Tĩnh Gia. Đặc biệt là các sự tích về nguồn gốc dân tộc Mường.
Các lễ hội cũng rất đặc sắc như lễ hội Pôồn Pôông của người Mường, lễ hội cầu ngư, lễ hội đền Sòng...
=== Văn nghệ đương đại ===
Văn nghệ thời kì sau cách mạng tháng Tám ở Thanh Hóa có các nhà thơ Hồng Nguyên, Hữu Loan, Nguyễn Bao, Nguyễn Duy, nhà văn Triệu Bôn... Trong thời kì chiến tranh chống Mỹ những năm 1960-1975, địa danh Hàm Rồng là đề tài của nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật.
Những năm thời kỳ đổi mới có Phùng Gia Lộc là tên tuổi nổi bật viết về nông thôn Thanh Hóa, trong đó Cái đêm hôm ấy... đêm gì[1] là bút ký gây được tiếng vang trên văn đàn nước nhà.
Một số tác phẩm thơ viết về quê hương Thanh Hóa như: Về lại xứ Thanh (Phan Quế), Về với Sầm Sơn (Hà Hồng Kỳ), Quê Mẹ (Lưu Đình Long), Quê tôi đấy - Xứ Thanh! (Văn Công Hùng), Dô tả, dô tà (Mạnh Lê), Mẹ Tơm (Tố Hữu), Trụ cầu Hàm Rồng (Mã Giang Lân).Đường Về Xứ Thanh (Anh Thơ),Quê Tôi Thanh Hoá ()
Một số tác phẩm âm nhạc viết về quê hương Thanh Hóa như: Chào sông Mã anh hùng (Xuân Giao)...
== Giáo dục ==
Thanh Hóa nổi tiếng hiếu học từ xưa, quê hương của nhiều nho sĩ. Trong thời kì phong kiến Thanh Hóa có 2 trạng nguyên, hàng trăm tiến sĩ, bảng nhãn, thám hoa (xếp thứ 7 toàn quốc sau Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nội, Nam Định,Hải Phòng, Hưng Yên).
Nền giáo dục hiện tại của Thanh Hóa cũng luôn được xem là cái nôi nhân tài của Việt Nam. Năm 2008, trong kì thi tuyển sinh Cao đẳng và Đại học, Thanh Hóa có nhiều thủ khoa nhất nước.
Trên địa bàn Thanh Hóa đến năm 2014 có 2 trường đại học công lập là: Đại học Hồng Đức, Đại học VH - TT - DL Thanh Hóa. Ngoài ra còn có nhiều cơ sở phân hiệu và hợp tác đào tạo vùng của các trường Đại học khác trong và ngoài nước: Đại học Công nghiệp TP.HCM, Đại học Y Hà Nội, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đại học Công nghiệp Hà Nôi, đại học Nông lâm Thái Nguyên,... Tỉnh Thanh Hóa cũng có tới 11 trường cao đẳng và cao đẳng nghề, 18 trường trung cấp và trung cấp nghề, 1 trường dự bị đại học. (Xem thêm tại Danh sách trường đại học, cao đẳng và trung cấp tại Thanh Hóa)....
== Thể thao ==
Thanh Hóa là tỉnh có truyền thống về các môn thể thao nhiều môn thể thao. Kết thúc năm 2014 thể thao Thanh Hóa xếp 4/65 tại đại hội thể dục thể thao toàn Việt Nam dành cho toàn bộ 63 tỉnh thành và 2 ngành lớn quân đội, an ninh.
== Kinh tế ==
=== Công nghiệp ===
Theo số liệu của tổng cục thống kê, trong 6 tháng đầu năm 2009, chỉ số phát triển công nghiệp của toàn tỉnh tăng 8,2%, đây là mức tăng cao so với mức tăng bình quân của cả nước là 4,6% (trong đó TP Hồ Chí Minh và Hà Nội chỉ tăng ở mức thấp là 0,4% và 2,7%). Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Thanh Hóa xếp ở vị trí thứ 24/63 tỉnh thành.
Tính đến thời điểm năm 2009, Thanh Hóa có 5 khu công nghiệp tập trung và phân tán:
Khu công nghiệp Bỉm Sơn - Thị xã Bỉm Sơn
Khu công nghiệp Nghi Sơn (nằm trong Khu kinh tế Nghi Sơn) - Huyện Tĩnh Gia
Khu công nghiệp Lễ Môn - Thành phố Thanh Hóa
Khu công nghiệp Đình Hương (Tây Bắc Ga) - Thành phố Thanh Hóa
Khu công nghiệp Lam Sơn - Huyện Thọ Xuân
Khu công nghiệp Hoàng Long - TP Thanh Hóa
Khu công nghiệp FLC Hoàng Long - TP Thanh Hóa.
Hiện tại Thanh Hóa đang xây dựng khu kinh tế Nghi Sơn. Khu kinh tế này được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định thành lập và ban hành quy chế hoạt động số 102/2006/QĐ-TTg ngày 15 tháng 5 năm 2006. Khu kinh tế này nằm ở phía Nam của tỉnh Thanh Hóa, cách Hà Nội 200 km, có đường bộ và đường sắt quốc gia chạy qua, có cảng biển nước sâu cho tàu có tải trọng đến 30.000 DWT cập bến. Khu kinh tế Nghi Sơn là một trung tâm động lực của vùng Nam Thanh Bắc Nghệ đang được quy hoạch, cũng được đánh giá là trọng điểm phát triển phía Nam của vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ, đồng thời là cầu nối giữa vùng Bắc Bộ với Trung Bộ, với thị trường Nam Lào và Đông Bắc Thái Lan.
=== Nông nghiệp ===
Thống kê đến năm 2004, toàn tỉnh có 239.842 ha đất nông nghiệp (chiếm 21,6% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh) đang được sử dụng khai thác.
Năm 2013, tổng sản lượng lương thực cả tỉnh đạt 1,65 triệu tấn.
Năm 2014, tổng sản lượng nông nghiệp cả tỉnh đạt 1,737 triệu tấn.
=== Lâm nghiệp ===
Theo số liệu thống kê năm 2014 toàn tỉnh Thanh Hóa có diện tích đất lâm nghiệp 626.576,1 ha. Diện tích che phủ rừng tới năm 2013 đạt 51%. Tài nguyên giá trị thực vật của rừng Thanh Hóa rất đa dạng sinh học về bảo tồn nghiên cứu cũng như giàu tiềm năng khoang nuôi tái sinh phục hồi các loài cây bản địa có giá trị cao: lát, pơ mu, sa mu, lim xanh, táu, sến, vàng tâm, giổi, de, chò chỉ... Các loại thuộc tre nứa gồm có: luồng, nứa, vầu, giang, tre,... Ngoài ra nguồn lâm sản ngoài gỗ còn có: mây, song, dược liệu, quế, cánh kiến đỏ... Rừng trồng phát triển kinh tế có các loại cây lâm nghiệp: luồng, thông nhựa, mỡ, bạch đàn, phi lao, quế, cao su. Thanh Hóa là tỉnh có diện tích luồng lớn nhất trong cả nước với diện tích trên 71.000 ha (chiếm 55% diện tích luồng toàn Việt Nam).
Phát triển lâm nghiệp tổng hợp của Thanh Hóa theo xu hướng kết hợp bảo tồn, nghiên cứu, giáo dục và du lịch sinh thái có các khu rừng đặc dụng: vườn quốc gia Bến En, vườn quốc gia Cúc Phương (địa phận huyện Thạch Thành), khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, khu sinh thái đảo Hòn Mê. Lâm nghiệp Thanh Hóa cũng phát triển đa dạng hơn với nghề chăn nuôi động vật hoang dã: Hươu, nai, gấu, hổ.
=== Ngư nghiệp ===
Thanh Hóa có 102 km bờ biển và vùng lãnh hải rộng 17.000 km2, với những bãi cá, bãi tôm có trữ lượng lớn. Dọc bờ biển có 5 cửa lạch lớn, thuận lợi cho tàu thuyền ra vào. Tính đến năm 2014 tỉnh Thanh Hóa có 7308 tàu đáng bắt cá ngoài khơi.
=== Dịch vụ ===
==== Ngân hàng ====
Bên cạnh Ngân hàng Nhà nước, hệ thống ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh gồm Ngân hàng Công thương, Ngân hàng Đầu tư Phát triển, Ngân hàng Nông nghiệp và PTNT, Ngân hàng Chính sách. Hiện nay, các ngân hàng đang thực hiện đổi mới và đa dạng hóa các hình thức huy động vốn, áp dụng các công nghệ tiên tiến trong việc chuyển phát nhanh, thanh toán liên ngân hàng, thanh toán quốc tế bảo đảm an toàn và hiệu quả. Tổng nguồn vốn huy động tín dụng hàng năm đạt trên 3.000 tỷ đồng, tổng dư nợ năm 2002 đạt trên 4.000 tỷ đồng, tăng 20% so với năm 2001.
==== Thương mại dịch vụ ====
Trong quá trình thực hiện công cuộc đổi mới, thương mại Thanh Hóa đã có bước phát triển quan trọng. Trên địa bàn đã hình thành hệ thống bán buôn, bán lẻ với sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế, tạo điều kiện lưu thông thuận tiện hàng hóa phục vụ nhu cầu đời sống, sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. Kim ngạch xuất khẩu tăng đều qua các năm, năm 2000 đạt trên 30 triệu USD, năm 2001 đạt 43 triệu USD và năm 2002 đạt 58 triệu USD. Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, bên cạnh thị trường Nhật Bản, Đông Nam Á, một số doanh nghiệp đã xuất khẩu sang Mỹ, Châu Âu. Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của tỉnh là: nông sản (lạc, vừng, dưa chuột, hạt kê, ớt, hạt tiêu, cà phê...), hải sản (tôm, cua, mực khô, rau câu), hàng da giày, may mặc, hàng thủ công mỹ nghệ (các sản phẩm mây tre, sơn mài, chiếu cói...), đá ốp lát, quặng crôm...
== Giao thông ==
Thanh Hóa là một trong những tỉnh có đầy đủ hệ thống giao thông cơ bản: đường sắt, đường bộ, đường thủy và đường hàng không. Trên toàn tỉnh có 8 ga tàu hỏa là: Bỉm Sơn, Đò Lèn, Nghĩa Trang, Hàm Rồng, Thanh Hóa, Yên Thái, Minh Khôi, Thị Long, trong đó có một ga chính trong tuyến đường sắt Bắc Nam là ga Thanh Hóa. Có 6 tuyến đường bộ huyết mạch của Việt Nam: quốc lộ 1A, quốc lộ 10, quốc lộ 15, quốc lộ 45, quốc lộ 47, quốc lộ 217 và đường Hồ Chí Minh), xa lộ xuyên Á (AH1) chạy qua Thanh Hóa trên quốc lộ 1A với chiều dài 98,8 km. Đường thủy của Thanh Hóa có đường thủy nội địa với 697,5 km; đường hàng hải có cảng nước sâu Nghi Sơn có khả năng đón tàu hàng hải quốc tế có tải trọng tới 50.000 DWT. Đường hàng không của tỉnh Thanh Hóa đang khai thác vận tải hàng không dân dụng bằng sân bay Thọ Xuân.
Vận tải công cộng, đến năm 2014, Thanh Hóa đã phát triển mạng lưới xe buýt gồm 18 tuyến ở khu vực đồng bằng và một phần các huyện miền núi trong tỉnh.
Tuyến số 1: Ga Thanh Hóa - Sầm Sơn - Cảng Hới
Tuyến số 2: Vĩnh Lộc - Ngã ba Kiểu - Vạn Hà - TP. Thanh Hóa - Sầm Sơn
Tuyến số 3: Thiệu Dương - Lưu Vệ - Chợ Kho - Khu kinh tế Nghi Sơn - Cầu Hổ
Tuyến số 4: Đại học Hồng Đức - Chợ Vườn Hoa - Giắt - Dân Lực - Sao Vàng Lam Sơn - Thường Xuân
Tuyến số 5: Bỉm Sơn - Đại học Hồng Đức:
Tuyến số 6: Hoằng Phụ - Bút Sơn - Hoằng Quang - TP. Thanh Hóa
Tuyến số 7: TP. Thanh Hóa - Hà Trung - Nga Sơn
Tuyến số 8: TP. Thanh Hóa - Hà Trung - Vĩnh Lộc - Thạch Thành
Tuyến số 9: TP. Thanh Hóa - Ngã ba Chè - Thiệu Toán - Thị trấn Thọ Xuân - đền thờ Lê Hoàn
Tuyến số 10: TP. Thanh Hóa - Dân Lực - Thị trấn Thọ Xuân - Tứ Trụ - Lam Kinh
Tuyến số 10 kéo dài: Đại học Hồng Đức - TP Thanh Hóa - Dân Lực - Thị trấn Thọ Xuân - Lam Kinh - Ba Si - Đường Hồ Chí Minh - TT Ngọc Lặc - BX Ngọc Lặc
Tuyến số 11: TP. Thanh Hóa - Hậu Lộc - Ngư Lộc - Đa Lộc
Tuyến số 12: Làng cổ Đông Sơn - Bờ Hồ - Bến xe phía Nam - Lưu Vệ - Đường Thanh Niên - Khu Sô Tô
Tuyến số 13: Hoằng Trường - Nam Ngạn - Bờ Hồ - Nhồi - Tân Ninh
Tuyến số 14: Bến xe Sầm Sơn - Khu sinh thái Quảng Cư
Tuyến số 15: TP. Thanh Hóa - Chợ Kho - Nông Cống
Tuyến số 16: TP. Thanh Hóa - Nông Cống - Như Thanh
Tuyến số 17: Hợp Lý - Sim - Giắt - TP. Thanh Hóa - Đại học Công nghiệp TP. Hồ Chí Minh (chi nhánh Thanh Hóa)
Tuyến số 18: Thiệu Duy - Vạn Hà - TP. Thanh Hóa - Ngã ba đường tránh phía Nam thành phố.
Tuyến số 20: Trại 5 - Kiểu - Chợ Tây Thành -Cầu quán nam
== Du lịch ==
Thanh Hóa là tỉnh có tiềm năng về du lịch. Năm 2007 du lịch Thanh Hóa năm đón tiếp gần 1,7 triệu lượt khách, chủ yếu là khách trong nước đến tham quan nghỉ mát tại đô thị du lịch biển Sầm Sơn.
Hiện tại, tỉnh Thanh Hóa xác định đưa du lịch thành ngành kinh tế quan trọng. Tỉnh đã thực hiện quy hoạch hạ tầng, nâng cao năng lực cạnh tranh du lịch. Năm 2007, Thanh Hóa phối hợp với Hà Nội, Ninh Bình, Nghệ An, Huế trong chương trình "Hành trình một nghìn năm các kinh đô Việt Nam". Phối hợp cùng Nghệ An và Ninh Bình lập định hướng quy hoạch vùng du lịch trọng điểm Bắc Trung Bộ.
Các khu du lịch, di tích lịch sử và danh thắng nổi tiếng của tỉnh:
Các khu du lịch biển: Bãi biển Sầm Sơn, Bãi biển Hải Hòa, Biển Hải Tiến
Các khu bảo tồn thiên nhiên:
Vườn quốc gia Bến En: Thuộc huyện Như Thanh cách thành phố Thanh Hóa 36 km về phía Tây Nam, rộng 16,634 ha với những cây lim ngàn tuổi, lát hoa, chò chỉ, ngù hương, săng lẻ... và nhiều loài thú như voi, gấu, hổ, khỉ...
Vườn quốc gia Cúc Phương: một phần thuộc huyện Thạch Thành.
Các khu bảo tồn: Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, Khu bảo tồn thiên nhiên rừng sến Tam Quy.
Suối cá thần Cẩm Lương: Thuộc làng Ngọc, xã Cẩm Lương, huyện Cẩm Thủy, cách thành phố Thanh Hóa hơn 70 km về phía Tây, là suối cá tự nhiên và ngày nay trở thành điểm du lịch lý thú của tỉnh Thanh Hoá. Ở đây có tới hàng ngàn con cá lớn nhỏ bám dày đặc suốt chiều dài hơn 100 m của con suối. Mỗi con cá nặng trung bình từ 2 đến 8 kg, có cá chúa nặng tới 30 kg. Cá ở đây rất dạn người và thân thiện với khách du lịch. Mặc dù rất nhiều cá nhưng điều kỳ lạ là nước suối rất trong và mát, thậm chí khách có thể dùng để rửa mặt. Người dân ở đây tôn thờ những chú cá như các vị thần (là nguồn gốc của tên gọi "Suối cá thần"), mặc dù rất nhiều cá nhưng không ai dám bắt ăn, người ta truyền miệng nhau rằng nếu ăn thịt các ông "cá thân" thì sẽ gặp phải những điều rủi ro, bất hạnh.
Cụm di tích Nga Sơn: Động Từ Thức, Cửa biển Thần Phù, Chiến khu Ba Đình, đền thờ Mai An Tiêm...
Cụm di tích thành nhà Hồ, gồm thành Tây Đô (thuộc địa phận 2 xã: Vĩnh Tiến và Vĩnh Long, huyện Vĩnh Lộc, cách thành phố Thanh Hóa khoảng 50 km) và các di tích kề cận như đàn Nam Giao, động Tiên Sơn (thuộc xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc)...
Khu di tích lịch sử Lam Kinh: Nằm trên địa phận xã Xuân Lam, huyện Thọ Xuân và xã Kiên Thọ, huyện Ngọc Lặc, cách thành phố Thanh Hóa 50 km về phía Tây. Hiện còn lưu giữ các điêu khắc đá như bia Vĩnh Lăng (Lê Lợi), bia hoàng hậu Ngô Thị Ngọc Dao, các di tích cung điện thành nội, thành ngoại, sân Rồng...
Thái miếu nhà Hậu Lê: thuộc phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa, có 27 thần vị và có nhiều hiện vật có từ thế kỷ 17, 18.
Đền Bà Triệu, huyện Hậu Lộc.
Đền thờ Lê Hoàn, huyện Thọ Xuân.
Khu di tích lịch sử Phủ Trịnh và chùa Báo Ân, đã được xếp hạng cấp quốc gia.
Đền thờ, lăng mộ cụ Lê Văn Hưu ở xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa cách TP Thanh Hóa 12 km.
Khu lăng miếu Triệu Tường, huyện Hà Trung, nơi phát tích triều Nguyễn.
Phủ Na (xã Xuân Du huyện Như Thanh),
Am Tiên (xã Tân Ninh huyện Triệu Sơn)
Đền Sòng (Bỉm Sơn).
Khu di chỉ, khảo cổ văn hóa Đông Sơn.
Khu di tích Hàm Rồng: gồm cầu Hàm Rồng (một biểu tượng thời Chiến tranh Việt Nam), đồi Quyết Thắng.
Tòa Giám mục công giáo Thanh Hóa, chùa Thanh Hà, chùa Chanh và chùa Mật Đa (thành phố Thanh Hóa).
Thác Muốn, Điền Quang, Điền Lư, Bá Thước
Suối cá Văn Nho,Bá Thước
Khu du lịch tâm linh Đền Phố Cát (Thạch Thành)
Đền thờ Trung Túc Vương Lê lai (Đền Tép), Ngọc Lặc.
== Ẩm thực - Đặc sản ==
Đến Thanh Hóa du khách sẽ được thưởng thức những món đặc sản độc đáo nổi tiếng cả nước của xứ Thanh như: nem chua Thanh Hóa, chè lam Phủ Quảng, dê núi đá, gà đồi (của huyện Vĩnh Lộc), bánh gai Tứ Trụ (của huyện Thọ Xuân), các món chế biến từ hến làng Giàng (huyện Thiệu Hóa), bánh đa cầu Bố (thành phố Thanh Hóa), mía đen Kim Tân, thịt trâu nấu lá lồm, chim mía (huyện Thạch Thành), hay các món hải sản: cua biển, ghẹ, sò huyết, tôm, mực, cá thu, cá tràu từ các huyện ven biển Sầm Sơn, Tĩnh Gia, Nga Sơn.
Nem chua Thanh Hóa được làm từ thịt nạc, bì thái chỉ, hạt tiêu, ớt, tỏi và lá đinh lăng, gói bên ngoài bởi rất nhiều lớp lá chuối. Thịt nạc được chọn là loại thật nạc, ngon, tươi, không dính mỡ, không dính gân, trộn đều với bì luộc thái chỉ, gia vị. Không thể thiếu một chút ớt cho thêm đậm đà, tiêu để dậy mùi, một chút tỏi để khử trùng và một vài lá đinh lăng. Nem chua Thanh Hóa có hương vị rất khác lạ so với nem chua Hà Nội hay nem lụi ở Huế, lại càng khác xa với nem rán hay nem tai. Nó có vị chua, cay, ngọt, mặn và dậy mùi thơm.
== Nhân vật nổi tiếng ==
Xem thêm: Danh sách nhân vật đến từ Thanh Hóa
=== Thời phong kiến ===
Khương Công Phụ, Tể Tướng nhà Đường (Trung Quốc) (854 ? SCN)
Bà Triệu (226-248)
Triệu Quốc Đạt
Dương Đình Nghệ (chữ Hán: 楊廷藝; có sách chép là Dương Diên Nghệ 楊延藝, ?-937), là người khởi binh đánh đuổi quân Nam Hán giải phóng thành Đại La, giành quyền tự chủ cho đất nước Việt được 6 năm. Dương Đình Nghệ vốn là một hào trưởng, người làng Giàng, nay thuộc xã Thiệu Dương, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa
Lê Hoàn (941-1005)
Hồ Quý Ly (1336–1407)
Lê Lợi (1385-1433)
Lê Lai (?-1418)
Lê Thánh Tông (1442-1497)
Trịnh Kiểm (1503-1570)
Nguyễn Hoàng (1525-1613)
Trạng Quỳnh
Tôn Thất Thuyết (1839–1913), Phụ chính đại thần của nhà Nguyễn
=== Sau thời phong kiến ===
Anh Bằng, nhạc sĩ hải ngoại nổi tiếng quê Nga Sơn
Tô Vĩnh Diện (1924 - 1954), Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, nổi tiếng với giai thoại hy sinh thân mình để cứu khẩu pháo không bị lăn xuống vực trong Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Hoàng Sĩ Trinh (1920 - 11 tháng 10, 2011), nhà thơ Hà Thượng Nhân
==== Quan chức ====
Lê Khả Phiêu, nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị; Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam; Trưởng ban Tổ chức trung ương.
Phạm Quang Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Thành ủy Hà Nội
Nguyễn Dy Niên, nguyên Bộ trưởng Bộ ngoại giao
Lê Lương Minh, Tổng Thư ký ASEAN, nhiệm kì
Phạm Minh Chính, Ủy viên Bộ Chính trị,Trưởng ban tổ chức trung ương
Nguyễn Khắc Dương Tư lệnh Quân khu IV
Lê Huy Ngọ, Nguyên Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
== Xem thêm ==
Ái Châu
Cửu Chân
Danh sách các trường đại học, cao đẳng và trung cấp tại Thanh Hóa
Danh sách các trường trung học phổ thông tại Thanh Hóa
Đài phát thanh truyền hình Thanh Hóa
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Cổng thông tin Thanh Hóa |
rené higuita.txt | José René Higuita Zapata (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [reˈne iˈɣita]; sinh ngày 27 tháng 8 năm 1966 tại Medellín) là một cựu thủ môn bóng đá người Colombia. Ông có biệt danh El Loco (Gã điên) bởi biệt tài "máy quét", luôn tham gia tấn công và ra khỏi vòng cấm địa nhưng rất ít khi mắc sai lầm. Trong trận giao hữu gặp Anh vào năm 1995, ông đã cứu một cú sút bằng cách lộn người ra phía trước và dùng chân phá bóng, một kỹ thuật về sau được gọi là "cú đá kiểu bọ cạp" (scorpion kick). Higuita là một trong top 4 những thủ môn ghi bàn nhiều nhất mọi thời đại với 41 bàn thắng, chỉ sau Dimitar Ivankov. Phong cách thi đấu lập dị của Higuita lần đầu tiên được trình diễn tại một trận đấu trong giải vô địch thế giới 1990, ông đã tiên phong trong việc chịu trách nhiệm với tất cả những bàn thắng từ xa ngoài vòng 16m50. IFFHS đã xếp René Higuita là một trong thủ môn xuất sắc nhất thứ tám trong lịch sử bóng đá Nam Mỹ.
== Sự nghiệp ==
Rene Higuita chơi phần lớn sự nghiệp câu lạc bộ cho đội bóng Colombia Atlético Nacional, nơi ông giành được một vài chức vô địch quốc gia Colombia cũng như Copa Libertadores và Copa Interamericana đều trong năm 1989. Ông đã bỏ ý định giải nghệ để kí hợp đồng với câu lạc bộ Venezuela Guaros de Lara FC. Tháng 1 năm 2008, ở tuổi 41, ông kí hợp đồng với đội hạng hai Colombia là Deportivo Rionegro. Tháng 6 năm 2008, ông kí với đội hạng nhất Colombia là Deportivo Pereira, đồng thời chính thức giã từ sự nghiệp sân cỏ vào tháng 1 năm 2010.
=== Phong cách chơi ===
Trên sân cỏ, Higuita nổi tiếng vì lối chơi kì quặc, thường mắc phải rủi ro không cần thiết và chủ động cố gắng ghi bàn. Ông cũng được biết đến với tài dứt điểm từ chấm đá phạt và phạt đền. Ông còn sáng tạo ra kiểu đá bọ cạp, kiểu đá mà thủ môn nhảy lên phía trước, hai chân vượt qua đầu và đá bóng đi xa bằng gót chân.
=== Sự nghiệp quốc tế ===
Higuita thường xuyên ra sân cho đội tuyển bóng đá quốc gia Colombia và ghi tổng cộng bảy bàn trong 68 trận ra sân quốc tế. "Cú đá bọ cạp" do Higuita phát minh đã khiến ông trở nên nổi tiếng toàn cầu, khi ông thực hiện nó một cách xuất sắc trong trận giao hữu với tuyển Anh tại sân vận động Wembley vào ngày 6 tháng 12 năm 1995, để cản phá đường chuyền của Jamie Redknapp, mặc dù trọng tài biên đã phất cờ việt vị. Nó xếp thứ 94 trong 100 khoảnh khắc thể thao tuyệt vời nhất của Channel 4 năm 2002. Theo kết quả của một cuộc thăm dò dư luận của cổng điện tử footy-boots.com đăng trên tờ The Mirror, "cú đá bọ cạp" của Higuita được bình chọn là cú chơi bóng hay nhất trong lịch sử bóng đá thế giới.
Lối chơi không chính thống cũng khiến ông gây ra không ít sai lầm khiến Colombia bị loại khỏi giải vô địch thế giới 1990, khi ông chần chứ với quả bóng dưới chân mình gần vạch vôi, cho phép tiền đạo Roger Milla của Cameroon đoạt bóng và ghi bàn, giúp Cameroon vào tứ kết. Higuita miêu tả nó là "một sai lầm giống như một ngôi nhà vậy".. Cũng vì tình huống này mà Higuita được đặt biệt danh là El Loco ("Gã điên"). Higuita còn là bạn với Diego Maradona và cũng chơi trong trận đấu chia tay Argentina năm 2001.
=== Bàn thắng quốc tế ===
Nguồn:
== Danh hiệu ==
=== Câu lạc bộ ===
Atlético Nacional:
Giải vô địch các câu lạc bộ Nam Mỹ: 1989; Á quân 1995.
Copa Interamericana: 1990.
Cúp bóng đá liên lục địa: Á quân 1989.
Colombian League: 1991, 1994.
=== International ===
Giải bóng đá vô địch thế giới 1990: Vòng 16 đội.
Cúp bóng đá Nam Mỹ 1993: Hạng ba.
Cúp bóng đá Nam Mỹ 1995: Hạng ba.
=== Cá nhân ===
Giải Bàn chân vàng: 2009
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
René Higuita tại National-Football-Teams.com
International statistics at rsssf
FIFA interview with René Higuita
René Higuita clips: Part 1; Part 2; Part 3; Part 4
Rene Higuita's Scorpion Kick trên YouTube Đã tải lên vào 18 thg 6, 2008 |
leo núi.txt | Leo núi là hoạt động và là môn thể thao mà người tham gia cố gắng đạt đến điểm cao nhất của một ngọn núi. Các kĩ thuật leo núi phụ thuộc rất lớn vào đại điểm, mùa trong năm và đoạn đường cụ thể mà người leo núi lựa chọn.
== Đọc thêm ==
Isserman, Maurice; Weaver, Stewart (2008). Fallen giants: a history of Himalayan mountaineering from the age of empire to the age of extremes. New Haven: Yale University Press. ISBN 978-0-300-16420-6. OCLC 181424034.
Ortner, Sherry B. (1999). Life and death on Mt. Everest: Sherpas and Himalayan mountaineering. Princeton: Princeton University Press. ISBN 978-0-691-00689-5. OCLC 41326318.
Unsworth, Walt (1994). Hold the heights: the foundations of mountaineering. Seattle: The Mountaineers. ISBN 978-0-89886-379-6. OCLC 28547900.
The Mountaineers Collection - University of Washington Library
Mountaineers: 1920 Outing to Mt. Olympus - an exhibit from the University of Washington Library |
trung tâm thương mại thế giới.txt | Trung tâm Thương mại Thế giới (tiếng Anh: World Trade Center, viết tắt WTC; cũng được gọi Tòa tháp đôi), là tên gọi chung của khối bảy tòa nhà trước đây nằm gần cực nam Manhattan, thành phố New York. Trung tâm nổi bật với hai tòa tháp đôi 110 tầng, được kiến trúc sư người Mỹ gốc Nhật Minoru Yamasaki thiết kế và mua lại bởi Larry Silverstein. Khởi công từ 1966 và khánh thành vào 4 tháng 4 năm 1973, nó vượt qua chiều cao của tòa Empire State lịch sử, trở thành tòa nhà cao nhất thế giới chỉ trong một năm, trước khi tòa tháp Sears ở Chicago hoàn tất. Đã từng bị đánh bom vào tháng 2 năm 1993, nhưng nó vẫn đứng vững kiên cố. Tuy vậy nó đã không tránh khỏi sụp đổ gây ra bởi hai chiếc phi cơ Boeing đâm vào, trong những sự kiện ngày 11 tháng 9 năm 2001.
Một phiên bản tái xây dựng lại Tòa tháp đôi (WTC) khác đã bị phá hủy như một hình thức tưởng niệm đó là Trung tâm Thương mại Một Thế giới năm 2009. Nhưng người dân thành phố New York vẫn in trong mình Trung tâm Thương mại Thế giới.
== Xem thêm ==
Khủng bố
Sự kiện ngày 11 tháng 9
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
a còng.txt | A còng (tiếng Anh: At sign), còn được gọi là A móc là một ký tự dùng trong địa chỉ thư điện tử email.
== Nguồn gốc ==
Năm 1536 một thương gia ở Floren, đế chế La Mã là Francesco Lapi, đã dùng ký hiệu a còng trong những bức thư viết tay của ông. Một số ý kiến khác thì cho rằng ký hiệu @ nhằm giúp các tu sĩ thời trung cổ đơn giản hóa câu chữ khi viết thư, thay vì viết AS phải dùng nhiều nét bút thì họ chỉ tốn 1 nét với a còng mà thôi.
Năm 1972, R. Tomlinson, một chuyên gia máy tính của Hãng Bolt & Newman, đã soạn thảo một chương trình đơn giản rồi thử gửi một văn bản cho đồng nghiệp ở phòng bên cạnh. Lúc đó ông cũng sử dụng ký hiệu @ để chỉ định nơi nhận văn bản. Sáng kiến này sau đó được Lầu Năm Góc của Mỹ tận dụng để gửi đi các mật lệnh bằng máy tính điện tử và a còng đã phổ biến với email ngày nay.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Bài này phần lớn được lấy dữ liệu từ Free On-line Dictionary of Computing, đã có giấy phép GFDL.
"The Accidental History of the @ Symbol ", Smithsonian magazine, September 2012, Retrieved June 2013.
The @-symbol, part 1, intermission, part 2, addenda, Shady Characters ⌂ The secret life of punctuation August 2011, Retrieved June 2013.
"Daniel Soar on @", London Review of Books, Vol. 31 No. 10, ngày 28 tháng 5 năm 2009, Retrieved June 2013.
ascii64 – the @ book – free download (creative commons) – by patrik sneyd – foreword by luigi colani) November 2006, Retrieved June 2013.
A Natural History of the @ Sign The many names of the at sign in various languages, 1997, Retrieved June 2013.
Sum: the @ Symbol, LINGUIST List 7.968 July 1996, Retrieved June 2013.
Where it's At: names for a common symbol World Wide Words August 1996, Retrieved June 2013.
UK Telegraph Article: Chinese parents choose to name their baby "@" August 2007, Retrieved June 2013.
Tom Chatfield tells the story of the @ sign on Medium |
nagano.txt | Nagano (Nhật: 長野縣 (Trường Dã Huyện)/ ながのけん, Nagano-ken) là một tỉnh của Nhật Bản, thuộc vùng Chūbu, trên đảo Honshū. Trung tâm hành chính là thành phố Nagano.
== Địa Lý ==
Chín trong số mười hai ngọn núi cao nhất Nhật Bản nằm ở tỉnh nội địa này. Nagano cũng là tỉnh giáp ranh với số tỉnh khác nhiều nhất tại Nhật và tỉnh này chứa một vùng là điểm xa nhất với đại dương so với bất cứ nơi nào khác tại Nhật. Hồ Kizaki là hồ nổi tiếng nhất tỉnh, một khu resort bãi tắm nổi tiếng với sức hút hấp dẫn của nước và những trò chơi.
Những ngọn núi của tỉnh đã khiến nó có phần bị cách biệt, song rất nhiều người đến đây vì các khu resort trên núi và suối nước nóng của nó.
== Lịch sử ==
Nagano trước là tỉnh Shinano, và được phân chia bởi nhiều daimyo địa phương trong thời kì Sengoku.
Nagano đã tổ chức các trận đấu Olympics mùa đông vào năm 1998, điều này đã giúp tỉnh giành được sự công nhận quốc tế cũng như giúp tỉnh được xây dựng một đường sắt Shinkansen tới Tokyo.
== Hành chính ==
19 thành phố ở tỉnh Nagano:
Các làng và thị trấn:
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Đại học Shinshu
== Thể thao ==
== Du lịch ==
Các điểm du lịch hấp dẫn ở Nagano là:
Hồ Kizaki
Hồ Suwa
Núi Kirigamine
Đền Suwa Taisha
Thành Matsumoto
Chùa Zenkō
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của Nagano (tiếng Nhật)
Trang web và blog du lịch chính thức của tỉnh Nagano
Trang web và blog du lịch chính thức của tỉnh Nagano (Trung Hoa giản thể)
Trang web và blog du lịch chính thức của tỉnh Nagano (Trung Hoa phồn thể)
Trang web và blog du lịch chính thức của tỉnh Nagano (Hàn) |
truro.txt | Truro ( /ˈtrʊəroʊ/; tiếng Cornwall: Truru) là một City và xã ở Cornwall, Anh. Truro là hạt lỵ và thành phố duy nhất của Cornwall, trung tâm hành chính, giải trí và mua bán và có dân số ghi nhận trong điều tra dân số năm 2011 là 18.766. Đây là thành phố nằm đầu phía nam trong lục địa Anh.
Truro phát triển như một trung tâm thương mại từ cảng của nó và sau đó là một thị trấn mỏ thiếc cho ngành công nghiệp khai thác mỏ thiếc. Nhà thờ chính tòa của thành phố được hoàn thành vào năm 1910. Các điểm tham quan bao gồm Bảo tàng Royal Cornwall, Hall for Cornwall và Toà án Tư pháp của Cornwall.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Truro tại DMOZ
Truro City Council website |
crystal palace f.c..txt | Crystal Palace F.C. là 1 câu lạc bộ bóng đá Anh ở phía nam Luân Đôn, Anh. Mùa giải 2012-2013, Palace vô địch giải Hạng nhất Anh, thăng hạng và lên chơi ở Giải bóng đá Ngoại hạng Anh sau khi đánh bại Watford F.C. ở trận play-off.Màu sắc của đội là đỏ và xanh mặc dù có một chút màu rượu nho, xanh nhạt của Aston Villa F.C. ở những năm đầu,những năm sau đó Palace có áo màu trắng lấy cảm hứng từ Real Madrid F.C.. Câu lạc bộ được các công nhân thành lập vào năm 1905 tại Cung điện Thủy tinh ở Luân Đôn.
Giai đoạn thành công gần đây nhất của câu lạc bộ là giai đoạn 1988-1989 khi họ giành vị trí thứ ba ở Giải hạng hai và sau đó được thăng lên Giải hạng nhất. Đội tiến sâu vào chung kết Cúp FA năm 1990 và chỉ chịu thua trong trận replay gặp Manchester United. Họ xếp thứ ba ở Giải hạng nhất mùa bóng 1990-1991. Crystal Palace là thành viên sáng lập Giải bóng đá Ngoại hạng Anh (1992-1993) nhưng lại bị xuống hạng cuối giải đấu đó. Tính đến nay, đội đã xen kẽ bị giáng hạng và thăng hạng lên Giải Ngoại hạng đến 4 lần. Lần xuống hạng gần đây nhất là mùa bóng 2004-2005.
Ban đầu sân nhà của Crystal Palace là ở The Crystal Palace, nhưng do Chiến tranh thế giới lần thứ nhất buộc họ phải dời đi nơi khác, và họ đã có một mùa giải chơi ở hai sân nhà là Herne Hill Velodrome và The Nest. Từ năm 1925, sân nhà của Palace là ở Selhurst Park.
== Lịch sử ==
Crystal Palace vốn là một đội bóng nghiệp dư được thành lập vào năm 1861 và là một trong những CLB đầu tiên thi đấu ở Cúp FA,vào được tới bán kết, và bị đánh bại bởi CLB Royal Engineers A.F.C.. Đội biến mất khỏi Cúp FA (không được thi đấu) khi để thua Wanderers 3-0 ở vòng hai Cúp FA 1875-1876, nhưng đây không phải là lần cuối Palace chơi ở FA Cup. Năm 1985, sân nhà của trận chung kết Cúp FA là ở The Crystal Palace, các ông chủ đã có ý tưởng để cho đội bóng được chơi ở Cúp FA một lần nữa.
Ban đầu, biệt danh của CLB là "The Glazier", được đặt vào ngày 10 tháng 9 năm 1905 theo sự chỉ dẫn của trợ lý thư ký Aston Villa Edmun Goodman. CLB được chơi cho Giải bóng đá hạng nhất Anh cùng với Chelsea và Southampton. Đội rớt hạng xuống Giải hạng nhì Anh ở mùa 1905-1906, nhưng đã giành chức vô địch ở mùa giải đầu tiên và được thăng hạng trở lại.
== Đội hình ==
=== Đội hình hiện tại ===
Số liệu thống kê chính xác tới 22 tháng 8 năm 2015.
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
=== Cho mượn ===
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
=== Đội hình xuất sắc nhất mọi thời đại ===
Đội hình được bầu chọn bởi người hâm mộ.
Nigel Martyn (1989–96)
Kenny Sansom (1975–80)
Chris Coleman (1991–95)
Jim Cannon (1972–88)
Paul Hinshelwood (1974–83)
John Salako (1986–95)
Geoff Thomas (1987–93)
Andy Gray (1984–87,1989–92)
Attilio Lombardo (1997–99)
Andrew Johnson (2002–06)
Ian Wright (1985–91)
=== Cầu thủ của năm ===
== Chú thích == |
nhóm ngôn ngữ môn-khmer.txt | Ngữ tộc Môn-Khmer, Môn-Mên hay Mồn-Mên là một nhóm ngôn ngữ bao gồm khoảng 150 ngôn ngữ của ngữ hệ Nam Á đa số tập trung tại Đông Nam Á.
== Phân loại ==
Phân loại trong bài này dựa trên bài viết của Gérard Diffloth năm 1974 trên Encyclopedia Britannica được nhiều người trích dẫn. Theo đó, ngữ tộc này được chia ra làm các nhánh sau đây:
=== Đông ===
Ba Na: bao gồm vào khoảng 30 ngôn ngữ tại Campuchia, Lào và Việt Nam với khoảng 700.000 người sử dụng.
Cơ Tu (Ka Tu): bao gồm vào khoảng 14 ngôn ngữ tại miền trung Lào và Việt Nam, đông bắc Thái Lan. Có khoảng 1,3 triệu người sử dụng, điển hình là tiếng Cơ Tu.
Khmer tại Campuchia và đông bắc Thái Lan. Khoảng 15 triệu người sử dụng.
Pacoh tại miền trung Lào và có lẽ cả ở Tây Nguyên của Việt Nam
Nhánh Pear: bao gồm vài ngôn ngữ tại miền nam Campuchia, mặc dù một số nhà ngôn ngữ nghi ngờ việc đưa các ngôn ngữ Pear vào gần với tiếng Khmer.
Việt (hay Việt-Mường): bao gồm khoảng 15 ngôn ngữ tại Lào và Việt Nam, trong đó tiếng Việt là tiếng nói phổ biến nhất trong hệ Nam Á vì có khoảng hơn 90 triệu người dùng.
=== Bắc ===
Khasi: bao gồm khoảng 3 ngôn ngữ tại Meghalaya, Ấn Độ.
Khơ Mú: bao gồm khoảng 15 ngôn ngữ tại Lào, Thái Lan và Việt Nam.
Tiếng Mảng tại Việt Nam và Trung Quốc.
Nhánh Palaung: bao gồm khoảng 20 ngôn ngữ tại khu vực thượng lưu sông Salween, biên giới Miến Điện và Trung Quốc, miền bắc Thái Lan.
Palyu tại miền nam Trung Quốc,
T'in tại tỉnh Nan, miền bắc Thái Lan
=== Nam ===
Aslian: bao gồm vào khoảng 20 ngôn ngữ tại bán đảo Mã Lai, được tách ra thành 3 nhóm, Jahaic, Senoic và Semelaic.
Môn: bao gồm 2 ngôn ngữ, một tại Thái Lan và một (tiếng Môn) tại Miến Điện. Khoảng 1 triệu người sử dụng.
Nicobar: bao gồm các ngôn ngữ của quần đảo Nicobar nằm trong vịnh Bengal của Ấn Độ.
== Không phân loại ==
Ba ngôn ngữ tại miền nam Trung Quốc chưa được xếp loại.
Tiếng Bpoos Cam
Tiếng Khắc Miệt
Tiếng Khoan
Tuy nhiên, phân chia này cũng chỉ là tương đối. Ngữ chi Việt (Việt-Mường) nhiều khi được cho vào Nhánh phía Bắc nhưng thường cũng hay được xếp riêng; nhiều nhà ngôn ngữ học lại cho nhánh Việt-Mường vào Nhánh phía Đông và xếp nhánh Pear ra một mình; nhiều người lại không công nhận sự hiện diện của Nhánh phía Nam.... Tóm lại, sự phân loại của nhóm ngôn ngữ này vẫn còn là đề tài cho các nhà ngôn ngữ học bàn cãi.
== Ghi chú == |
hôn.txt | Hôn, còn gọi là hun, thơm, mi, là một hành động mà một người dùng đôi môi của mình để chạm vào một vật khác hoặc môi của người khác. Hôn thường là cử chỉ thể hiện tình cảm, và hai đôi môi cùng hôn nhau là biểu tượng của tình yêu.
== Lịch sử ==
== Các loại hôn ==
Có nhiều loại hôn, chủ yếu được phân theo vị trí hôn. Phổ biến của hình thức hôn là hôn môi (còn gọi là nụ hôn), hôn má (còn gọi là thơm, chụt), hôn trán, hôn tay (thường là bày tỏ sự tôn trọng, nâng niu) hoặc hôn vào các chỗ nhạy cảm khi đang quan hệ tình dục như hôn ngực (Vú), hôn cổ, gáy, bụng, đùi và hôn vào bộ phận sinh dục... Ngoài ra hôn còn phân ra theo kiểu thực hành, như hôn gió (hôn môi xa), hôn kêu, hôn nhẹ, hôn sâu, hôn thắm thiết, hôn nồng thắm mãnh liệt...
== Sử dụng và ý nghĩa ==
Trong thực tế có rất nhiều cách hôn khác nhau.
Đặc biệt là trong tình yêu nam nữ, đối với một số người, hôn như thế nào chính là thể hiện phần lớn tình yêu của họ dành cho người yêu của mình. Một số người thích cách hôn mạnh mẽ, say đắm, ướt át. Họ coi việc hôn như vậy là thể hiện tình cảm của mình dành cho người yêu hết sức mãnh liệt, tình yêu sâu đậm. Ngược lại một số người yêu nhau lại thích những nụ hôn nhẹ nhàng. Hôn là một trong những biểu hiện của đời sống tình dục con người. Tuy nhiên hiện nay, theo giới y khoa, việc hôn cũng sẽ truyền theo các loại bệnh truyền nhiễm cho người được hôn hoặc truyền ngược lại người chủ động hôn.
== Giải thưởng hôn ==
Người ta thường tổ chức các cuộc thi hôn lâu nhất, và có người đã hôn lâu hơn cả một ngày trời. Đồng thời cũng có các giải thưởng trao cho các cảnh phim hôn lãng mạn nhất, thật nhất...
== Bức ảnh nổi tiếng ==
Bức ảnh nổi tiếng về nụ hôn là chụp một người lính thủy hôn nữ y tá tại quảng trường Thời đại ở New York vào ngày Phát xít Nhật đầu hàng Đồng Minh (Vj day - 14 tháng 8 năm 1945). Vào cuối thập kỷ 70 thế kỷ trước, Edith Cullen Shain đã viết cho Eisenstaedt:
Bà còn kể rằng, lúc đó rất nhiều người đã hôn bà.
Ngày 20 tháng 6 năm 2010, người phụ nữ trong bức ảnh này đã qua đời ở tuổi 91 do ung thư gan
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Hôn tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Các kiểu hôn
Tại sao con người ta "Hôn" nhau?
Sức hút của nụ hôn
Nụ hôn - khởi nguồn mọi cảm xúc
Tội nghiệp những nụ hôn đường phố |
danh sách quốc gia theo chỉ số phát triển con người.txt | Đây là danh sách các nước trên thế giới theo chỉ số phát triển con người (HDI) bản cập nhật sn con người của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc (UNDP) công bố ngày 24 tháng 7 năm 2014 dựa trên cơ sở dữ liệu năm 2013. Danh sách này bao gồm 197 quốc gia trên tổng số 192 thành viên Liên Hiệp Quốc, và hai vùng lãnh thổ Hồng Kông và Palestine. 15 thành viên khác không ở trong báo cáo này vì thiếu số liệu. Chỉ số phát triển con người của các vùng và nhóm quốc gia cũng được đưa ra để so sánh.
Chỉ số phát triển con người (HDI) là chỉ số tổng hợp của tuổi thọ trung bình, tỷ lệ biết chữ, giáo dục và các tiêu chuẩn cuộc sống các quốc gia trên thế giới. Nó là chỉ số tiêu chuẩn của chất lượng cuộc sống, đặc biệt là phúc lợi trẻ em. HDI còn được sử dụng để đánh giá một quốc gia là nước phát triển, nước đang phát triển và nước kém phát triển. Đây cũng là chỉ số xác định sự ảnh hưởng của các chính sách kinh tế đến chất lượng cuộc sống. HDI được phát triển năm 1990 bởi nhà kinh tế người Pakistan Manbub ul-Haq và nhà kinh tế Ấn Độ Amartya Sen.
Các quốc gia được xếp vào bốn nhóm chính là nhóm có chỉ số HDI: rất cao, cao, trung bình và thấp.
== Danh sách các quốc gia ==
: Chỉ số HDI tăng
: Chỉ số HDI giữ nguyên
: Chỉ số HDI giảm
Danh sách các quốc gia theo chỉ số HDI được công bố vào năm 2014
Các nước có chỉ số rất cao
Các nước có chỉ số cao
=== Các nước có chỉ số trung bình ===
=== Các nước có chỉ số thấp ===
== Phân hạng theo từng châu lục ==
=== Châu Phi ===
=== Bắc Mỹ và Caribe ===
=== Nam Mỹ ===
=== Châu Á ===
=== Châu Âu ===
=== Châu Đại Dương ===
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Archive of previous global reports. |
1330.txt | Năm 1330 (số La Mã: MCCCXXX) là một năm thường bắt đầu vào thứ hai trong lịch Julius.
== Sự kiện ==
Người Bulgaria dưới sự chỉ huy của hoàng Michael III là bị đánh bại bởi người Serbia trong trận Velbuzhd, Bulgaria không mất bất kỳ vùng lãnh thổ về tay Serbia nhưng không thể ngăn chặn việc Serbia bành trướng về phía khu vực có dân Bungari áp đảo Macedonia.
19 tháng 10 - vua Edward III của Anh bắt đầu trị vì, hành quyết [nhiếp chính [Roger ông Mortimer, bá tước thứ nhất của March| Roger Mortimer.]]
9 tháng 11 - Trận Posada: Người Wallachia dưới sự chỉ huy của Basarab I, đánh bại Hungary, mặc dù quân ít hơn rất nhiều.
== Sinh ==
15 tháng 6 - Edward, Hoàng tử đen, con trai của Edward III của Anh (mất 1376)
4 tháng 7 - Ashikaga Yoshiakira, shogun Nhật Bản (mất 1367)
25 tháng 10 - II của Flanders Louis (mất 1384)
Franz Ackerman, người Flemish (mất 1387)
Altichiero, họa sĩ Ấn Độ (mất 1390)
John Gower, nhà thơ người Anh (mất 1410)
Peter Parler, kiến trúc sư người Đức (mất 1399)
Nicolas Flamel, nhà giả kim (mất 1417)
== Mất ==
Danh tướng, hoàng tử Trần Nhật Duật nhà Trần nước Đại Việt, người có công tham gia đánh đuổi quân Mông Nguyên cuối thế kỷ 13.
== Tham khảo == |
marat safin.txt | Marat Safin (Tatar: Marat Mubin ulı Safin; tiếng Nga Марат Михайлович Сафин), sinh ngày 27 tháng 1 năm 1980 tại Moskva, Nga là tay vợt chuyên nghiệp từ năm 1997. Safin là một trong những tay vợt được yêu thích nhất trong các giải, không chỉ vì cách thi đấu rất hiếu chiến mà còn bởi sự hài hước, những hành động và những câu lộng ngôn của anh trên sân tennis.
Đến giờ, trong sự nghiệp của mình anh đã giành được 2 giải Grand Slam, xếp hạng một trong bảng xếp hạng ATP 2 tuần. Anh là anh trai của cựu tay vợt nữ số 1 thế giới Dinara Safina.
== Vô địch đơn (15) ==
== Danh hiệu (17) ==
=== Đơn (15) ===
=== Đôi (2) ===
== Về nhì ATP Tour (16) ==
=== Về nhì đơn (12) ===
=== Về nhì đôi (4) ===
== Bảng thời gian thi đấu đơn ==
Để tránh nhầm lẫn và tính dư, thông tin trong bảng này chỉ được cập nhật sau một giải hay sự tham gia của tay vợt vào giải đã được xác định. Các trận đấu thuộc giải Davis Cup đã được tính trong con số thống kê. Bảng này hiện được lập cùng Giải quần vợt Mỹ Mở rộng, vẫn đang diễn ra.
A = không tham gia vào giải.
SR = tỷ lệ của số giải đơn thắng với số giải đã tham gia.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
http://www.maratsafin.com
http://www.safinator.com |
hồ tiêu.txt | Hồ tiêu còn gọi là tiêu ăn, cổ nguyệt, hắc cổ nguyệt, bạch cổ nguyệt (danh pháp hoa học: Piper nigrum) là một loài cây leo có hoa thuộc họ Hồ tiêu (Piperaceae), trồng chủ yếu để lấy quả và hạt, thường dùng làm gia vị dưới dạng khô hoặc tươi. Hoa hồ tiêu là quốc hoa của đất nước Liberia.
== Miêu tả ==
Hồ tiêu là một loại dây leo, thân dài, nhẵn không mang lông, bám vào các cây khác bằng rễ. Thân mọc cuốn, mang lá mọc cách. Lá như lá trầu không, nhưng dài và thuôn hơn. Có hai loại nhánh: một loại nhánh mang quả, và một loại nhánh dinh dưỡng, cả hai loại nhánh đều xuất phát từ kẽ lá. Đối chiếu với lá là một cụm hoa hình đuôi sóc. Khi chín, rụng cả chùm. Quả hình cầu nhỏ, chừng 20-30 quả trên một chùm, lúc đầu màu xanh lục, sau có màu vàng, khi chín có màu đỏ. Từ quả này có thể thu hoạch được hồ tiêu trắng, hồ tiêu đỏ, hồ tiêu xanh và hồ tiêu đen. Đốt cây rất dòn, khi vận chuyển nếu không cận thận thì cây có thể chết. Quả có một hạt duy nhất.
== Thu hoạch và chế biến ==
Hồ tiêu được thu hoạch mỗi năm một lần. Muốn có hồ tiêu đen, người ta hái quả vào lúc xuất hiện một số quả đỏ hay vàng trên chùm, nghĩa là lúc quả còn xanh; những quả còn non quá chưa có sọ rất giòn, khi phơi dễ vỡ vụn, các quả khác khi phơi vỏ quả sẽ săn lại, ngả màu đen. Muốn có hồ tiêu trắng (hay hồ tiêu sọ), người ta hái quả lúc chúng đã thật chín, sau đó bỏ vỏ. Loại này có màu trắng ngà hay xám, ít nhăn nheo và ít thơm hơn (vì lớp vỏ chứa tinh dầu đã mất) nhưng cay hơn (vì quả đã chín).
Bên cạnh hai sản phẩm nói trên, tuy hiếm hơn, còn có hồ tiêu đỏ, là loại hồ tiêu chín cây hoặc được thu hái khi rất già, ủ chín sau đó được chế biến theo cách thức đặc biệt để giữ màu đỏ của vỏ. Hồ tiêu đỏ có màu đỏ thẫm hơi ngả đen, được sản xuất tại Ấn Độ và tại huyện Chư Sê và Bà Rịa - Vũng Tàu Việt Nam. Giá trị xuất khẩu của tiêu đỏ sau khi chế biến cao hơn gấp 3 đến 4 lần so với hạt tiêu đen.
== Thành phần hóa học ==
Hồ tiêu cũng rất giàu vitamin C, thậm chí còn nhiều hơn cả cà chua. Một nửa cốc hồ tiêu xanh, vàng hay đỏ sẽ cung cấp tới hơn 230% nhu cầu canxi 1 ngày/1 người.
Trong tiêu có 1,2-2% tinh dầu, 5-9% piperin và 2,2-6% chanvixin. Piperin và chanvixin là 2 loại ankaloit có vị cay hắc làm cho tiêu có vị cay. Trong tiêu còn có 8% chất béo, 36% tinh bột và 4% tro.
== Sử dụng ==
Thường dùng hạt tiêu đã rang chín, thơm cay làm gia vị. Tiêu thơm, cay nồng và kích thích tiêu hoá, có tác dụng chữa một số bệnh.
Hạt tiêu cũng rất giàu chất chống oxy hóa, chẳng hạn như beta carotene, giúp tăng cường hệ miễn dịch và ngăn ngừa sự hủy hoại các tế bào, gây ra các căn bệnh ung thư và tim mạch.
== Một vài hình ảnh về cây Hồ tiêu ==
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Anh:
Nutritional benefits of Black Pepper
Gernot Katzer's Spice Pages
Plant Cultures: History and botany of black pepper in South Asia |
ủy ban truyền thông liên bang.txt | Ủy ban Truyền thông Liên bang (tiếng Anh: Federal Communications Commission, viết tắt FCC) là một cơ quan độc lập trong Chính phủ Hoa Kỳ chuyên môn về những vấn đề truyền thông. Cơ quan này do đạo luật Quốc hội thành lập và trao quyền (xem 47 U.S.C. § 151 và 47 U.S.C. § 154), và đa số ủy viên được Tổng thống bổ nhiệm. Ủy ban hoạt động theo sáu mục đích chiến lược trong các khu vực truyền không dây (broadband), cạnh tranh, các khối tần số radio, báo chí, an toàn công cộng và nội an (homeland security), và hiện đại hóa Ủy ban.
Ủy ban được thành lập do Đạo luật Truyền thông 1934 để kế tiếp Ủy ban Radio Liên bang và nhận trách nhiệm điều tiết bất cứ ai ngoài Chính phủ liên bang sử dụng quang phổ radio (bao gồm truyền thanh và truyền hình), và viễn thông xuyên bang (dây nói, vệ tinh, và dây cáp), cũng như các đường giao thông quốc tế bắt đầu hay kết thúc tại Hoa Kỳ. Cơ quan này là một phần quan trọng của chính sách viễn thông của nước Mỹ. Ủy ban nhận trách nhiệm điều tiết dây nói từ Ủy ban Thương mại Xuyên bang (Interstate Commerce Commission). Phạm vi của Ủy ban là cả 50 tiểu bang, Đặc khu Columbia, và các vùng quốc hải và tiểu đảo xa. Tuy nhiên, Ủy ban cũng cộng tác với, giám sát, hay lãnh đạo những cơ quan truyền thông tương ưng ở một số quốc gia Bắc Mỹ gần sát. Theo đề nghị năm 2009, Ủy ban có ngân sách là 466 triệu Mỹ kim, trong đó một triệu Mỹ kim do người dân đóng thuế và phần còn lại là tiền đòi trong việc điều tiết. Cơ quan có 1.899 nhân viên tương đương với làm việc trọn thời gian (Full-Time Equivalent).
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ Ủy ban Truyền thông Liên bang (tiếng Anh) |
(15290) 1991 tf1.txt | (15290) 1991 TF1 là một tiểu hành tinh vành đai chính. Nó được phát hiện bởi Robert H. McNaught ở Đài thiên văn Siding Spring ở Coonabarabran, New South Wales, Australia, ngày 12 tháng 10 năm 1991.
== Xem thêm ==
Danh sách các tiểu hành tinh: 15001–16000
== Tham khảo == |
bỉ.txt | Bỉ (tiếng Hà Lan: België, tiếng Pháp: Belgique; tiếng Đức: Belgien), tên chính thức là Vương quốc Bỉ (tiếng Hà Lan: Koninkrijk België; tiếng Pháp: Royaume de Belgique; tiếng Đức: Königreich Belgien), là một quốc gia tại Tây Âu. Nước này là một thành viên sáng lập của Liên minh châu Âu và cũng là nơi đóng trụ sở của tổ chức này, cũng như nhiều tổ chức quốc tế lớn khác, gồm cả NATO. Bỉ có diện tích 30.528km2 và dân số khoảng 10.7 triệu người.
Là biên giới văn hoá giữa châu Âu German và châu Âu Latinh, Bỉ là ngôi nhà của hai nhóm ngôn ngữ chính, Flemish và người nói tiếng Pháp, chủ yếu là Walloons, cộng với một nhóm nhỏ người nói tiếng Đức. Hai vùng lớn nhất của Bỉ là vùng nói tiếng Hà Lan Flanders ở phía bắc, với 59% dân số, và vùng nói tiếng Pháp ở phía nam là Wallonia, với 41% dân số. Vùng thủ đô Brussels, có hai ngôn ngữ chính thức, là vùng chủ yếu nói tiếng Pháp gồm trong Vùng Flemish và là nơi sinh sống của 10% dân số. Một Cộng đồng nói tiếng Đức có tồn tại ở đông Wallonia. Sự đa dạng ngôn ngữ của Bỉ và những cuộc xung đột chính trị và văn hoá liên quan tới nó được phản ánh trong lịch sử chính trị và một hệ thống chính phủ phức tạp.
Về mặt lịch sử, Bỉ Hà Lan và Luxembourg được gọi là Các nước vùng thấp, thường để chỉ một vùng hơi rộng hơn nhóm quốc gia Benelux hiện tại. Từ cuối thời kỳ Trung Cổ cho tới thế kỷ 17, đây là một trung tâm văn hoá và thương mại thịnh vượng. Từ thế kỷ 16 tới cuộc Cách mạng Bỉ năm 1830, nhiều trận đánh giữa các cường quốc châu Âu đã diễn ra tại khu vực Bỉ, khiến nó bị gọi là vùng đất chiến trận của châu Âu—một danh tiếng càng trở nên nổi bật hơn sau hai cuộc Thế chiến. Ngay khi giành được độc lập Bỉ lập tức tham gia vào cuộc Cách mạng công nghiệp và, ở cuối thế kỷ 19, sở hữu nhiều thuộc địa ở châu Phi. Nửa sau thế kỷ 20 được ghi dấu bởi sự trỗi dậy của những cuộc xung đột cộng đồng giữa người Flemings và Francophone được tiếp sức thêm bởi những sự khác biệt văn hoá ở một khía cạnh và khía cạnh kia là sự phát triển kinh tế không đồng đều của Flanders và Wallonia. Đây là những cuộc xung đột vẫn còn sôi sục và đã dẫn tới nhiều đề xuất cải cách từ một nhà nước Bỉ đơn nhất thành một nhà nước liên bang.
== Tên gọi ==
Tên gọi của nước Bỉ trong tiếng Việt bắt nguồn từ tên gọi của nước Bỉ trong tiếng Trung. Trong tiếng Trung nước Bỉ được gọi là “比利時” (âm Hán Việt: Bỉ Lợi Thời). Tên gọi “Bỉ” trong tiếng Việt là gọi tắt của “Bỉ Lợi Thời”.
Quốc hiệu nước Bỉ (tiếng Hà Lan: België, tiếng Pháp: Belgique; tiếng Đức: Belgien) bắt nguồn từ Gallia Belgica, tên gọi của một Tỉnh La Mã ở phần cực bắc của Gaul nơi người Belgae, một sự pha trộn giữa người Celtic và Germanic, sinh sống.
== Lịch sử ==
Ở thế kỷ thứ 1 trước Công Nguyên, người La Mã, sau khi đánh bại các bộ tộc địa phương, đã thành lập tỉnh Gallia Belgica. Một cuộc nhập cư dần dần của các bộ tộc Frankish Germanic trong thế kỷ thứ 5, đã đưa vùng này nằm dưới sự cai trị của các vị vua Merovingian. Một sự dần thay đổi quyền lực trong thế kỷ thứ 8 đã khiến vương quốc của người Franks phát triển thành Đế chế Carolingian. Hiệp ước Verdun năm 843 phân chia vùng này thành Trung và Tây Francia và vì thế trở thành một tập hợp các thái ấp ở các mức độ độc lập khác nhau, và trong thời Trung Cổ các thái ấp này hoặc là chư hầu của Vua Pháp hoặc là của Hoàng đế La Mã Thần thánh. Nhiều thái ấp trong số đó đã được thống nhất vào bên trong Burgundian Hà Lan ở thế kỷ 14 và 15. Hoàng đế V đã mở rộng liên minh riêng tư của Mười bảy tỉnh trong những năm 1540, biến nó trở thành không chỉ là một liên minh riêng tư theo Sắc lệnh 1549 và gia tăng ảnh hưởng của ông với Địa phận Giám mục-Hoàng thân Liège.
Cuộc chiến tranh tám mươi năm (1568–1648) đã chia các quốc gia vùng thấp thành Các tỉnh thống nhất (Belgica Foederata trong tiếng Latinh, "Liên bang Hà Lan") ở phía bắc và Nam Hà Lan (Belgica Regia, "Hoàng gia Hà Lan"). Nam Hà Lan nằm dưới sự cai trị liên tục của người Tây Ban Nha và Áo Habsburg và bao gồm hầu hết nước Bỉ hiện đại. Đây là sân khấu của hầu hết các cuộc chiến tranh Pháp-Tây Ban Nha và Pháp-Áo trong thế kỷ 17 và 18. Sau các chiến dịch năm 1794 trong các cuộc chiến tranh cách mạng Pháp, các quốc gia vùng thấp—gồm cả các lãnh thổ chưa bao giờ chính thức nằm dưới sự cai trị của Habsburg, như Địa phận Giám mục-Hoàng thân Liège—bị Đệ nhất Cộng hoà Pháp sáp nhập, chấm dứt thời kỳ cai trị của Áo trong vùng. Sự thống nhất các quốc gia vùng thấp trở thành Vương quốc Hà Lan Thống nhất diễn ra sau sự giải tán của Đệ nhất Đế chế Pháp năm 1815.
Cuộc cách mạng Bỉ năm 1830 dẫn tới sự thành lập một nhà nước Bỉ độc lập, Cơ đốc và trung lập dưới một chính phủ lâm thời và một nghị viện quốc gia. Từ khi Leopold I được lập lên làm vua ngày 21 tháng 7 năm 1831, Bỉ đã trở thành một nhà nước quân chủ lập hiến và dân chủ nghị viện. Dù ban đầu quyền bầu cử bị giới hạn, quyền phổ thông đầu phiếu cho nam giới được ban hành năm 1893 (với việc bỏ phiếu theo khu vực cho tới năm 1919) và cho phụ nữ năm 1949. Các đảng chính trị lớn ở thế kỷ 19 là Đảng Cơ đốc và Đảng Tự do, với Đảng Lao động Bỉ xuất hiện ở cuối thế kỷ. Tiếng Pháp ban đầu là ngôn ngữ chính thức duy nhất được giới quý tộc và tư sản lựa chọn. Nó dần mất đi tầm quan trọng khi tiếng Hà Lan cũng được công nhận. Sự công nhận này trở thành chính thức năm 1898 và vào năm 1967 một phiên bản Hiến pháp tiếng Hà Lan được chính thức công nhận.
Hội nghị Berlin năm 1885 trao quyền kiểm soát Nhà nước Congo Tự do cho Vua Leopold II như vật sở hữu cá nhân của ông. Từ khoảng năm 1900 có sự lo ngại quốc tế ngày càng gia tăng về cách đối xử cực đoan và dã man với dân chúng Congo của chính quyền Leopold II, với ông ta Congo là nguồn thu chủ yếu từ ngà voi và sản xuất cao su. Năm 1908 sự phản đối này khiến nhà nước Bỉ phải nắm trách nhiệm quản lý chính phủ thuộc địa, vì thế nó được gọi là Congo Bỉ.
Đức xâm lược Bỉ năm 1914 như một phần của Kế hoạch Schlieffen và hầu hết các trận đánh tại Mặt trận phía Tây trong Thế chiến I diễn ra ở vùng phía tây nước này. Bỉ chiếm các thuộc địa của Đức là Ruanda-Urundi (Rwanda và Burundi hiện nay) trong cuộc chiến và vào năm 1924 chúng được Hội quốc liên uỷ nhiệm cho Bỉ. Sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất, Các quận Phổ Eupen và Malmedy bị Bỉ sáp nhập năm 1925, vì thế dẫn tới sự xuất hiện của một cộng đồng nói tiếng Đức. Nước này một lần nữa bị Đức xâm lược năm 1940 trong cuộc tấn công Blitzkrieg và bị chiếm đóng cho tới khi đoợc giải phóng năm 1945 bởi Đồng Minh. Congo Bỉ giành được độc lập năm 1960 trong cuộc Khủng hoảng Congo; Ruanda-Urundi tiếp nối hai năm sau đó.
Sau Thế chiến II, Bỉ gia nhập NATO với tư cách một thành viên sáng lập và thành lập nhóm quốc gia Benelux với Hà Lan và Luxembourg. Bỉ trở thành một trong sáu thành viên sáng lập Cộng đồng Than và Thép châu Âu năm 1951 và của Cộng đồng Năng lượng Nguyên tử châu Âu và Cộng đồng Kinh tế châu Âu, được thành lập năm 1957. Cộng đồng Kinh tế châu Âu hiện là Liên minh châu Âu, và Bỉ là nơi đóng trụ sở của các định chế và cơ cấu chính của tổ chức này, gồm Hội đồng châu Âu, Hội đồng Liên minh châu Âu và cũng là nơi tổ chức các kỳ họp thông thường và đặc biệt của Nghị viện châu Âu.
== Chính phủ và chính trị ==
Bỉ là một quốc gia quân chủ nhân dân, lập hiến và dân chủ nghị viện.
Nghị viện liên bang lưỡng viện gồm Thượng viện và một Viện đại biểu. Thượng viện gồm 40 chính trị gia được bầu trực tiếp và 21 đại diện do 3 nghị viện cộng đồng chỉ định, 10 thượng nghị sĩ đồng lựa chọn và các con của nhà vua, là thượng nghị sĩ theo quyền những người trên thực tế không bỏ phiếu. 150 thành viên của Viện đại biểu được bầu theo hệ thống bầu cử tỷ lệ từ 11 quận bầu cử. Bỉ là một trong số ít quốc gia áp dụng bỏ phiếu bắt buộc và vì thế có một trong những tỷ lệ cử tri đi bỏ phiếu cao nhất thế giới.
Vua (hiện tại là Philippe) là nguyên thủ quốc gia, dù có đặc quyền hạn chế. Vua chỉ định các bộ trưởng, gồm cả một Thủ tướng, và phải được Viện đại biểu tín nhiệm để lập chính phủ liên bang. Số lượng các bộ trưởng nói tiếng Hà Lan và tiếng Pháp là tương đương như được ghi trong hiến pháp. Hệ thống tư pháp dựa trên luật dân sự và có nguồn gốc từ luật Napoleon. Toà phá án là cơ quan tối cao, với Toà phúc thẩm ở mức thấp hơn.
Các định chế chính trị của Bỉ rất phức tạp, hầu hết quyền lực chính trị được tổ chức xung quanh nhu cầu đại diện cho các cộng đồng văn hoá. Từ khoảng năm 1970, các đảng chính trị quốc gia quan trọng của Bỉ đã chia rẽ thành các thành phần riêng biệt chủ yếu đại diện cho các lợi ích chính trị và ngôn ngữ của các cộng đồng. Các đảng chính trong mỗi cộng đồng, dù gần gũi với phái chính trị trung dung, thuộc ba nhóm chính: phe tự do cánh hữu, phe Dân chủ Thiên chúa giáo xã hội bảo thủ và những người xã hội hình thành nên cánh tả. Các đảng đáng chú ý khác bắt đầu phát triển từ nửa sau thế kỷ 20, chủ yếu quanh các chủ đề ngôn ngữ, quốc gia, hay môi trường và gần đây là các đảng nhỏ hơn đi theo một số ý tưởng tự do riêng biệt.
Một loạt các liên minh chính phủ Dân chủ Thiên chúa giáo từ năm 1958 đã bị tan vỡ sau cuộc bầu cử năm 1999 sau cuộc khủng hoảng dioxine đầu tiên, một scandal nhiễm độc thức ăn lớn. Một 'liên minh cầu vồng' gồm sáu đảng xuất hiện: phái Tự do nói tiếng Flemish và tiếng Pháp, những người Dân chủ Xã hội, Đảng Xanh. Sau này, một 'liên minh tía' của những người Tự do và Dân chủ Xã hội được thành lập sau khi Đảng Xanh mất ghế trong cuộc bầu cử năm 2003. Chính phủ dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Guy Verhofstadt từ năm 1999 tới năm 2007 đã thành công trong việc cân bằng ngân sách, thực hiện một số cải cách thuế, và cải cách thị trường lao động, lên kế hoạch loại bỏ hạt nhân và đưa ra khung pháp lý cho phép việc truy tố nghiêm khắc hơn với tội phạm chiến tranh và khoan dung hơn với việc sử dụng các chất ma tuý loại nhẹ. Những giới hạn về cản trở cái chết không đau đớn được giảm bớt hôn nhân đồng giới được hợp pháp hoá. Chính phủ khuyến khích tăng cường ngoại giao ở châu Phi và opposed the invasion of Iraq. Liên minh của Verhofstadt có kết quả tồi trong cuộc bầu cử tháng 6 năm 2007. Trong hơn một năm, nước này đã trải qua một cuộc khủng hoảng chính trị. Cuộc khủng hoảng này tồi tệ tới mức nhiều nhà quan sát đã dự đoán một khả năng phân chia nước Bỉ. Từ ngày 21 tháng 12 năm 2007 tới ngày 20 tháng 3 năm 2008 Chính phủ tạm quyền Verhofstadt III đảm đương chức vụ. Liên minh này của những người Flemish và những người Dân chủ Thiên chúa giáo Francophone, Flemish và những người Tự do Francophone cùng với những người Dân chủ Xã hội Francophone là chính phủ tạm quyền cho tới ngày 20 tháng 3 năm 2008. Vào ngày này một chính phủ mới, dưới sự lãnh đạo của Yves Leterme Dân chủ Thiên chúa giáo Flemish, phe giành thắng lợi trong cuộc bầu cử liên bang tháng 6 năm 2007, tuyên thệ nhậm chức trước nhà vua. Ngày 15 tháng 7 năm 2008 Leterme thông báo việc từ chức của nội các tới nhà vua, và không có tiến bộ nào trong việc cải cách hiến pháp được thực hiện. Tháng 12 năm 2008 một lần nữa ông đệ đơn từ chức tới nhà vua sau một cuộc khủng hoảng liên quan tới việc bán Fortis cho BNP Paribas. Trước tình hình này, đơn từ chức của ông đã được chấp nhận và Herman Van Rompuy thuộc phe Dân củ Thiên chúa giáo Flemish tuyên thệ nhậm chức Thủ tướng ngày 30 tháng 12 năm 2008.
Trong bảng xếp hạng Chỉ số tự do báo chí thế giới năm 2007, tổ chức Phóng viên không biên giới xếp Bỉ (cùng với Phần Lan và Thuỵ Điển) đứng hạng 5 trong 169 nước.
== Các cộng đồng và các vùng ==
Sau một sự sử dụng có thể truy nguyên từ thời các toà án Burgundian và Habsburgian, ở thế kỷ 19 cần phải nói tiếng Pháp để có thể thuộc về tầng lớp trên cầm quyền và những người chỉ có thể nóitiếng Hà Lan thực tế là các công dân hạng hai. Cuối thế kỷ 19, và tiếp tục tới thế kỷ 20, các phong trào Flemish xuất hiện phản đối tình hình này. Tuy Walloons và hầu hết dân cư Brussels chấp nhận tiếng Pháp như ngôn ngữ thứ nhất, Flemings khước từ và đã thành công trong việc đưa tiếng Hà Lan trở thành ngôn ngữ chính thức của Flanders. Sau thế chiến II, chính trị Bỉ dần bị thống trị bởi sự tự quản của hai cộng đồng ngôn ngữ chính của nó. Những căng thẳng giữa các sắc tộc gia tăng và hiến pháp đã được sửa đổi để ngăn chặn bất kỳ nguy cơ xung đột nào.
Dựa trên bốn vùng ngôn ngữ được xác định năm 1962–63 (vùng tiếng Hà Lan, song ngữ, tiếng Pháp và tiếng Đức), những lần sửa đổi liên tục của hiến pháp nhà nước năm 1970, 1980, 1988 và 1993 đã thiết lập một nhà nước liên bang đơn nhất với quyền lực chính trị được phân chia thành ba cấp:
Chính phủ liên bang, có trụ sở tại Brussels.
Ba cộng đồng ngôn ngữ:
Cộng đồng Flemish (nói tiếng Hà Lan);
Cộng đồng Pháp (ví dụ nói tiếng Pháp);
Cộng đồng nói tiếng Đức.
Ba vùng:
Vùng Flemish, được chia thành năm tỉnh;
Vùng Walloon, được chia thành năm tỉnh;
Vùng thủ đô Brussels.
Phần quy định về ngôn ngữ trong hiến pháp xác định các ngôn ngữ chính thức được sử dụng trong các vùng, cũng như các giới hạn địa lý của các định chế có quyền về các vấn đề riêng biệt. Dù điều này sẽ cho phép bảy nghị viện và chính phủ, khi các Cộng đồng và các Vùng được thành lập năm 1980, các chính trị gia Flemish quyết định sáp nhập cả hai. Vì thế Flemings chỉ có một cơ quan nghị viện và chính phủ duy nhất có quyền lực với mọi vấn để riêng biệt của địa phương ngoại trừ với các vấn đề liên bang. Các biên giới chồng lấn của các Vùng và các Cộng đồng đã tạo ra hai thứ lập dị: lãnh thổ Vùng thủ đô Brussels (đã tổn tại từ sau các vùng khác khoảng gần một thập kỷ) được gồm trong cả các Cộng đồng Flemish và Pháp, và lãnh thổ Cộng đồng nói tiếng Đức nằm toàn bộ bên trong Vùng Walloon. Những xung đột giữa các cơ cấu được giải quyết tại Toà án Hiến pháp Bỉ. Cơ cấu này được dự định trở thành một thiết chế hoà giải để cho phép các nền văn hoá khác nhau cùng chung sống hoà bình.
Cơ quan chính quyền liên bang gồm tư pháp, quốc phòng và cảnh sát liên bang, an ninh xã hội, năng lượng nguyên tử, chính sách tiền tệ, nợ công và các mặt khác của tài chính công. Các công ty thuộc sở hữu nhà nước gồm Belgian Post Group và Đường sắt Bỉ. Chính phủ liên bang chịu trách nhiệm về các trách nhiệm của Bỉ và các định chế liên bang của nó với Liên minh châu Âu và NATO. Chính phủ liên bang kiểm soát phần lớn lĩnh vực chăm sóc y tế, nhà ở và đối ngoại. Ngân sách –không tính nợ- được kiểm soát bởi chính phủ liên bang chiếm tới 50% thu nhập thuế quốc gia. Chính phủ liên bang sử dụng khoảng 12% nhân viên dân sự.
Các cộng đồng chỉ có quyền trong khu vực địa lý ngôn ngữ đã được xác định, ban đầu hướng tới các cá nhân của một cộng đồng ngôn ngữ: văn hoá (gồm cả truyền thông), giáo dục và sử dụng ngôn ngữ liên quan. Những vấn đề mở rộng của cá nhân không liên quan trực tiếp tới ngôn ngữ gồm chính sách y tế (chăm sóc và ngăn ngừa) và hỗ trợ cá nhân (bảo vệ trẻ em, an sinh xã hội, trợ giúp gia đình, dịch vụ hỗ trợ người nhập cư, vân vân).
Các vùng chỉ có quyền trong các lĩnh vực liên quan chặt chẽ tới lãnh thổ của họ. Chúng gồm kinh tế, việc làm, nông nghiệp, chính sách sử dụng nước, nhà ở, công trình công cộng, năng lượng, vận tải, môi trường, quy hoạch thị trấn và nông thôn, bảo vệ thiên nhiên, tín dụng và thương mại nước ngoài. Họ giám sát các tỉnh, khu đô thị và các công ty liên cộng đồng.
Trong nhiều lĩnh vực, mỗi cộng đồng có nhiều mức độ tiếp cận khác nhau với vấn đề riêng biệt của họ. Ví dụ, về giáo dục, quyền của các Cộng đồng không bao gồm việc đưa ra quyết định về tính chất bắt buộc cũng không được phép đặt ra các yêu cầu tối thiểu về chất lượng, đây là những vấn đề thuộc liên bang. Mỗi cấp độ chính phủ có thể tham gia vào nghiên cứu khoa học và quan hệ quốc tế gắn liền với quyền lực của nó. The treaty-making power of the Region's and Communities' Governments is the broadest of all the Federating units of all the Federations all over the world.
== Địa lý, khí hậu và môi trường ==
Bỉ có chung biên giới với Pháp (620 km), Đức (167 km), Luxembourg (148 km) và Hà Lan (450 km). Tổng diện tích nước này, gồm cả diện tích mặt nước, Là 33.990 km²; diện tích đất liền riêng là 30.528 km2. Bỉ có ba vùng địa lý chính: đồng bằng ven biển ở phía tây bắc và cao nguyên trung tâm đều thuộc về Châu thổ Anglo-Belgian; các vùng đất cao Ardennes ở phía đông nam là một phần của vành đai kiến tạo Hercynian. Châu thổ Paris chiếm một phần tư diện tích mũi cực nam nhỏ của Bỉ, Lorraine Bỉ.
Đồng bằng ven biển chủ yếu gồm các đụn cát và đất lấn biển. Sâu hơn phía trong lục địa là vùng đất cao dần lên được tưới tiêu bởi nhiều kênh lạch, với các thung lũng màu mỡ và đồng bằng cát phía đông bắc của Campine (Kempen). Những quả đồi nhiều cây và các cao nguyên Ardennes gồ ghề và nhiều đá hơn với những hang động và các hẻm núi nhỏ, và là nơi sinh sống của hầu hết các loài sinh vật hoang dã của Bỉ nhưng ít có giá trị nông nghiệp. Kéo dài về phía tây tới Pháp, vùng này kết nối ở phía đông với Eifel tại Đức nhờ cao nguyên High Fens, tại đây Signal de Botrange là đỉnh cao nhất nước ở độ cao 694 mét (2.277 ft).
Khí hậu kiểu đại dương ôn hoà, với lượng mưa khá lớn trong mọi mùa (Phân loại khí hậu Köppen: Cfb). Nhiệt độ trung bình thấp nhất vào tháng 1 ở mức 3 °C (37,4 °F) và cao nhất vào tháng 7 ở mức 18 °C (64,4 °F). Lượng mưa trung bình tháng thay đổi trong khoảng 54 milimét (2,1 in) vào tháng 2 hay tháng 4 tới 78 mm (3,1 in) vào tháng 7. Mức trung bình năm giai đoạn 2000 tới 2006 nhiệt độ tối thiểu ban ngày đạt 7 °C (44,6 °F) và tối đa 14 °C (57,2 °F) và lượng mưa hàng tháng 74 mm (2,9 in); tăng khỏng 1 °C và gần 10 so với các giá trị thông thường ở thế kỷ trước.
Về địa lý thực vật, Bỉ nằm giữa các khu vực châu Âu Đại Tây Dương và Trung Âu của Vùng quanh Boreal bên trong Giới Boreal. Theo WWF, lãnh thổ Bỉ thuộc vùng sinh thái Đại Tây Dương với rừng pha trộn.
Vì có mật độ dân số cao, vị trí ở trung tâm Tây Âu và những nỗ lực chính trị không đủ, Bỉ phải đối mặt với nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng. Một báo cáo năm 2003 cho thấy lượng nước tự nhiên của Bỉ (các con sông và nước ngầm) có chất lượng thấp nhất trong số 122 quốc gia được nghiên cứu. Trong Chỉ số Thực hành Môi trường thí điểm năm 2006, Bỉ đạt 75.9% về tổng thực hành môi trường và được xếp hạng thấp nhất trong số các quốc gia thành viên Liên minh châu Âu, dù vẫn đứng thứ 39 trên 133 nước.
== Kinh tế ==
Bỉ có nền kinh tế toàn cầu hoá mạnh và cơ sở hạ tầng vận tải của nước này được kết nối với toàn bộ châu Âu. Vị trí ở trung tâm một khu vực công nghiệp hoá cao khiến nước này trở thành quốc gia đứng hạng 15 thế giới về thương mại năm 2007. Nền kinh tế có đặc trưng ở nguồn nhân lực có khả năng sản xuất cao, GNP cao và xuất khẩu trên đầu người cao. Các mặt hàng nhập khẩu chính của Bỉ là thực phẩm, máy, kim cương thô, dầu mỏ và các sản phẩm hoá dầu, hoá chất, vải vóc và phụ kiện và hàng dệt may. Các sản phẩm xuất khẩu chính gồm ô tô, sản thực phẩm, sắt và thép, kim cương đã gia công, dệt may, nhựa, sản phẩm hoá dầu và các kim loại phi kim. Kinh tế Bỉ hướng mạnh tới dịch vụ và có bản chất kép: một nền kinh tế Flemish năng động và một nền kinh tế Walloon ỳ ạch phía sau. Là một trong những thành viên sáng lập Liên minh châu Âu, Bỉ hỗ trợ mạnh mẽ một nền kinh tế mở và sự mở rộng các quyền lực của các định chế EU để tích hợp các nền kinh tế của các quốc gia thành viên. Từ năm 1922, Bỉ và Luxembourg đã là một thị trường duy nhất về thuế quan và tiền tệ: Liên minh Kinh tế Bỉ-Luxembourg.
Bỉ là quốc gia đầu tiên ở lục địa châu Âu trải qua cuộc Cách mạng công nghiệp, đầu những năm 1800. Liège và Charleroi nhanh chóng phát triển công nghiệp mỏ và sản xuất thép, và nó phát triển mạnh cho tới tận giữa thế kỷ 20 tại thung lũng Sambre–Meuse, sillon industriel và biến Bỉ trở thành một trong những quốc gia công nghiệp hoá nhất thế giới từ năm 1830 tới năm 1910. Tuy nhiên, tới những năm 1840 ngành công nghiệp dệt của Flanders rơi vào cuộc khủng hoảng nặng nề và vùng này gặp nạn đói trong khoảng thời gian 1846–50.
Sau Thế chiến II, Ghent và Antwerp trải qua một giai đoạn phát triểm mạnh mẽ của các ngành công nghiệp hoá chất và hoá dầu. Các cuộc khủng hoảng dầu mỏ năm 1973 và năm 1979 khiến nền kinh tế rơi vào giảm phát; nó đặc biệt kéo dài tại Wallonia, nơi ngành công nghiệp thép đã trở nên kém cạnh tranh và sụt giảm mạnh. Trong thập niên 1980 và 90, trung tâm kinh tế của đất nước tiếp tục chuyển về phía bắc và hiện tập trung tại vùng Flemish Diamond đông đúc.
Tới cuối thập niên 1980, các chính sách kinh tế vi mô của Bỉ đã dẫn tới đỉnh cao nợ chính phủ lên tới khoảng 120% GDP. Tới năm 2006, ngân sách đã cân bằng và nợ công tương đương 90.30% GDP. Năm 2005 và 2006, tăng trưởng GDP thực ở mức 1.5% và 3.0%, hơi lớn hơn mức trung bình của khu vực đồng Euro. Tỷ lệ thất nghiệp là 8.4% năm 2005 và 8.2% năm 2006 cũng gần ở mức trung bình.
Từ năm 1832 tới năm 2002, đồng tiền tệ của Bỉ là franc Bỉ. Bỉ đã chuyển sang dùng đồng euro năm 2002, với bộ tiền xu đầu tiên được đúc năm 1999. Tuy những đồng xu euro Bỉ tiêu chuẩn được thiết kế để đưa vào lưu thông có chân dung Vua Albert II, điều này không xảy ra với các đồng xu kỷ niệm, nơi các thiết kế được lựa chọn tự do. Tính đến năm 2016, GDP của Bỉ đạt 470.179 USD, đứng thứ 24 thế giới và đứng thứ 11 châu Âu.
== Nhân khẩu ==
Đầu năm 2007 gần 92% dân chúng Bỉ là công dân Bỉ, và khoảng 6% là công dân của các quốc gia thành viên khác của Liên minh châu Âu. Những sắc tộc chủ yếu là người Italia (171.918), người Pháp (125.061), người Hà Lan (116.970), người Marốc (80.579), người Tây Ban Nha (42.765), người Thổ (39.419) và người Đức (37.621).
=== Đô thị hoá ===
Hầu như toàn bộ người Bỉ sống tại đô thị—97% năm 2004. Mật độ dân số Bỉ là 342 trên một km² (886 trên dặm vuông)—một trong những mức cao nhất châu Âu, sau Hà Lan và một số tiểu quốc như Monaco. Vùng có mật độ cao nhất là Flemish Diamond, được bao xung quanh bởi vành đai Antwerp–Leuven–Brussels–Ghent. Ardennes có mật độ dân số thấp nhất. Ở thời điểm năm 2006, Vùng Flemish có dân số khoảng 6.078.600, người với Antwerp (457.749), Ghent (230.951) và Bruges (117.251) các thành phố đông dân nhất; Wallonia có 3.413.978 người, Charleroi (201.373), Liège (185.574) và Namur (107.178). Brussels là nơi sinh sống của 1.018.804 người trong 19 khu đô thị của nó, hai khu có dân số trên 100.000 người.
=== Ngôn ngữ ===
Bỉ có ba ngôn ngữ chính thức, xếp theo thứ tự từ lớn xuống nhỏ theo số người sử dụng là tiếng Hà Lan, tiếng Pháp và tiếng Đức. Một số thứ tiếng không chính thức của các cộng đồng nhỏ cũng được sử dụng.
Vì không có cuộc điều tra dân số nào, không có dữ liệu thống kê chính thức về phân bố hay sử dụng ba ngôn ngữ chính thức hay các phương ngữ của Bỉ. Tuy nhiên, nhiều tiêu chí, gồm cả ngôn ngữ của cha mẹ, giáo dục, hay vị thế ngôn ngữ thứ hai của người sinh ở nước ngoài, có thể là cơ sở ước tính. Ước tính 59% dân cư Bỉ nói tiếng Hà Lan (thường được gọi là "Flemish") và tiếng Pháp được sử dụng bởi 40%. Tổng số người nói tiếng Hà Lan là 6.23 triệu, tập trung ở vùng Flanders ở phía bắc, trong khi những người nói tiếng Pháp chiếm 3.32 triệu sống tại Wallonia và ước tính 0.87 triệu người hay 85% Vùng thủ đô Brussels song ngữ nói tiếng Pháp. Cộng đồng nói tiếng Đức gồm 73.000 người ở phía đông Vùng Walloon; khoảng 10.000 người Đức và 60.000 người Bỉ cũng là người nói tiếng Đức. Khoảng 23.000 hay hơn số người nói tiếng Đức sống tại các khu đô thị gần cộng đồng.
Cả Bỉ nói tiếng Hà Lan và Bỉ nói tiếng Pháp đều có những khác biệt nhỏ về từ vụng và sắc thái ngữ nghĩa so với ngôn ngữ được sử dụng tại Hà Lan và Pháp. Nhiều người Flemish vẫn nói các phương ngữ tiếng Hà Lan trong môi trường địa phương của mình. Walloon, từng là ngôn ngữ vùng chính của Wallonia, hiện chỉ thỉnh thoảng được dùng và được hiểu, chủ yếu bởi những người già. Các phương ngữ của Wallonia, cùng với các phương ngữ Picard, không được sử dụng trong đời sống công cộng.
=== Giáo dục ===
Giáo dục là bắt buộc từ sáu tới mười tám tuổi với các công dân Bỉ, nhưng nhiều người có thể tiếp tục học tới khi 23 tuổi. Trong số các quốc gia OECD năm 2002, Bỉ có tỷ lệ dân cư trong độ tuổi 18–21 theo học sau cấp hai cao nhất, ở mức 42%. Dù ước tính 98% dân số trưởng thành biết chữ, có lo ngại ngày càng tăng về nạn mù chữ chức năng. Chương trình Đánh giá Sinh viên Quốc tế, được điều phối bởi OECD, hiện xếp hạng giáo dục Bỉ đứng hàng 19 thế giới, cao hơn nhiều so với mức độ trung bình của OECD.
Phản ánh cơ cấu kép của hình thế chính trị Bỉ hồi thế kỷ 19, được đặc trưng hoá bởi Đảng Tự do và Đảng Cơ đốc, hệ thống giáo dục được chia thành hệ thống thế tục và tôn giáo. Hệ thống thế tục được điều khiển bởi các Cộng đồng, các tỉnh, hay các khu đô thị, trong khi hệ thống tôn giáo, chủ yếu là nhánh giáo dục Cơ đốc, được tổ chức bởi các cơ quan tôn giáo, dù vẫn được trợ cấp và do các Cộng đồng giám sát.
=== Tôn giáo ===
Từ khi nước này giành độc lập, Công giáo Rôma - vốn từng có vai trò quan trọng trong chính trị Bỉ - đã gặp sự đối trọng từ các phong trào tự do tư tưởng mạnh. Tuy nhiên Bỉ vẫn chủ yếu là một quốc gia thế tục bởi Hiến pháp phi giáo hội quy định tự do tín ngưỡng và chính phủ nói chung tôn trọng quyền tự do theo hay không theo tôn giáo. Trong thời cầm quyền của Albert I và Baudouin, vương triều này nổi tiếng vì ủng hộ Công giáo.
Mang tính biểu tượng và cốt yếu, Giáo hội Công giáo Rôma vẫn có một ví thế đáng kể. Ý tưởng của Bỉ về 'các tôn giáo được công nhân' đã mở ra con đường cho Hồi giáo tiếp nối và có được vị thế tương tự Do thái giáo và Tin lành. Tuy các tôn giáo nhỏ khác, như Hindu giáo, không có vị thế như vậy, Phật giáo đã thực hiện những bước đi đầu tiên tiến tới việc được công nhận vào năm 2007. According to the 2001 Survey and Study of Religion, khoảng 47% dân số tự coi mình là Kitô hữu, trong khi Hồi giáo đứng thứ hai với 3.5%. Một cuộc điều tra năm 2006 tại Flanders, nơi được coi là có tôn giáo mạnh hơn ở Wallonia, cho thấy 55% coi mình là người theo đạo và 36% tin rằng Thiên Chúa tạo ra thế giới.
Theo cuộc điều tra gần đây nhất của Eurobarometer vào năm 2005, 43% công dân Bỉ trả lời rằng "họ tin rằng có một Thiên Chúa", trong khi 29% trả lời rằng "họ tin rằng có một số kiểu sức mạnh tinh thần hay cuộc sống" và 27% trả lời rằng "họ không tin có bất kỳ một hình thức sức mạnh tinh thần, Thiên Chúa hay cuộc sống nào".
Ước tính từ 3% tới 4% dân số Bỉ là người Hồi giáo (98% Sunni) (350 000 tới 400 000 người). Đa số tín đồ Hồi giáo người Bỉ sống tại các thành phố lớn, như Antwerp, Brussels và Charleroi. Nhóm người nhập cư lớn nhất tại Bỉ là người Marốc với 264.974 người. Người Thổ là nhóm đứng thứ ba, và nhóm Hồi giáo thứ hai, chiếm 159.336 người. Cũng có một nhóm nhỏ dân cư là tín đồ Hindugiáo. Hơn nữa khoàng 10.000 tín đồ đạo Sikhs cũng sống tại Bỉ.
== Khoa học và công nghệ ==
Trong suốt lịch sử đất nước, Bỉ luôn có những đóng góp vào sự phát triển khoa học và công nghệ. Những nhân vật nỏi bật thời Tiền hiện đại phát triển ở Tây Âu gồm nhà bản đồ Gerardus Mercator, nhà giải phẫu Andreas Vesalius, nhà nghiên cứu thảo mộc Rembert Dodoens và nhà toán học Simon Stevin.
Sự phát triển nhanh chóng và dày đặc của mạng lưới đường sắt Bỉ đã khiến các công ty lớn như La Brugeoise et Nivelles (hiện là chi nhánh BN của Bombardier Transportation) phát triển những công nghệ riêng biệt và có tầm quan trọng về kinh tế như khai thác mỏ ở độ sâu lớn trong quá trình cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ nhất và nổi tiếng trong lĩnh vực kỹ thuật mỏ.
Cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20 chứng kiến những tiến bộ quan trọng của Bỉ trong khoa học ứng dụng và khoa học thuần tuý. Nhà hoá học Ernest Solvay và kỹ sư Zenobe Gramme (École Industrielle de Liège) đã đặt tên mình cho quá trình Solvay và Gramme dynamo trong những năm 1860. Bakelite được phát triển giai đoạn 1907–1909 bởi Leo Baekeland. Georges Lemaître (Đại học Cơ đốc Leuven) được cho là người đã đề xuất lý thuyết Big Bang về nguồn gốc vũ trụ năm 1927. Ba giải Nobel Y học đã được trao cho những người Bỉ: Jules Bordet (Université Libre de Bruxelles) năm 1919, Corneille Heymans (University of Ghent) năm 1938 và Albert Claude (Université Libre de Bruxelles) cùng với Christian De Duve (Université Catholique de Louvain) năm 1974. Ilya Prigogine (Université Libre de Bruxelles) được trao giải Nobel Hoá học năm 1977.
== Văn hoá ==
Đời sống văn hoá hiện nay tập trung bên trong mỗi cộng đồng ngôn ngữ và nhiều rào cản đã khiến sự tồn tại của một cộng đồng văn hoá chung ít được nhắc tới. Từ thập niên 1970, không có các trường đại học song ngữ trong nước ngoại trừ Viện Hàn lâm Quân sự Hoàng gia, không có truyền thông chung và không có một tổ chức văn hoá hay khoa học lớn duy nhất trong cả hai cộng đồng chính. Các lực từng giữ người Bỉ liên kết với nhau -Cơ đốc giáo La Mã và sự đối lập kinh tế và chính trị với người Hà Lan- không còn mạnh. Dù có chia rẽ chính trị và ngôn ngữ từng gây bất đồng trong nhiều thế kỷ, vùng nước Bỉ ngày nay đã từng là nơi phát triển của các phong trào nghệ thuật lớn có ảnh hưởng to lớn trên văn hoá và nghệ thuật châu Âu.
=== Nghệ thuật ===
Xem thêm thông tin: Danh sách hoạ sĩ Bỉ, Kiến trúc Bỉ, Âm nhạc Bỉ, Văn học Bỉ, Truyện tranh Bỉ, và Điện ảnh Bỉ
Những đóng góp vào hội hoạ và kiến trúc đặc biệt đa dạng. Nghệ thuật Mosan, Early Netherlandish, Phục hưng Flemish và trường phái Baroque và những ví dụ khác về kiến trúc Roman, Gothic, Phục hưng và Baroque là các dấu mốc trong lịch sử nghệ thuật. Tuy nghệ thuật thế kỷ 15 tại các nước vùng thấp chủ yếu là các tranh tôn giáo của Jan van Eyck và Rogier van der Weyden, thế kỷ 16 có đặc trưng ở sự đa dạng đề tài như các tranh phong cảnh của Peter Breughel và tranh theo chủ đề tái hiện cổ điển của Lambert Lombard. Dù phong cách Baroque của Peter Paul Rubens và Anthony van Dyck phát triển ở đầu thế kỷ 17 tại Nam Hà Lan, sau đó nó dần suy tàn. Trong thế kỷ 19 và 20 nhiều hoạ sĩ lãng mạn, biểu hiện và siêu thực Bỉ xuất hiện, gồm cả James Ensor, Constant Permeke, Paul Delvaux và René Magritte. Phong trào CoBrA tiên phong xuất hiện những năm 1950, trong khi nhà điêu khắc Panamarenko vẫn là một nhân vật đáng chú ý trong nghệ thuật hiện đại. Nghệ sĩ Jan Fabre và hoạ sĩ Luc Tuymans là những nhân vật nổi tiếng trên phạm vi quốc tế trong lĩnh vực nghệ thuật đương đại. Những đóng góp của Bỉ trong kiến trúc tiếp tục kéo dài tới thế kỷ 19 và 20, gồm cả tác phẩm của Victor Horta và Henry van de Velde, là những nhà sáng tạo chính của trường phái Art Nouveau (Nghệ thuật Mới).
vocal music của Franco-Flemish School đã phát triển ở vùng phía nam các nước vùng thấp và là một đóng góp quan trọng vào văn hoá Phục hưng. Thế kỷ 19 và 20 là thời điểm xuất hiện của những nghệ sĩ violin lớn, như Henri Vieuxtemps, Eugène Ysaÿe và Arthur Grumiaux, trong khi Adolphe Sax phát minh ra saxophone năm 1846. Nhà soạn nhạc César Franck sinh tại Liège năm 1822. Âm nhạc hiện đại tại Bỉ cũng nổi tiếng. Nghệ sĩ nhạc Jazz Toots Thielemans và ca sĩ Jacques Brel cũng có danh tiếng quốc tế. Trong nhạc rock/pop, Telex, Front 242, K's Choice, Hooverphonic, Zap Mama, Soulwax và dEUS đều nổi tiếng.
Bỉ cũng đã tạo ra nhiều tác gia nổi tiếng, gồm nhà thơ Emile Verhaeren và các nhà tiểu thuyết Hendrik Conscience, Georges Simenon, Suzanne Lilar và Amélie Nothomb. Nhà thơ và nhà soạn kịch Maurice Maeterlinck đã đoạt Giải Nobel văn học năm 1911. The Adventures of Tintin của Hergé là truyện tranh Franco-Belgian nổi tiếng nhất, nhưng nhiều tác gia lớn khác, gồm cả Peyo (The Smurfs), André Franquin, Edgar P. Jacobs và Willy Vandersteen đã đưa ngành công nghiệp hoạt hình Bỉ lên ngang tầm với Hoa Kỳ và Nhật Bản.
Điện ảnh Bỉ, đã đưa một số tiểu thuyết lớn của Pháp lên màn ảnh. Other Belgian directors include André Delvaux, Stijn Coninx, Luc và Jean-Pierre Dardenne; well-known actors include Jan Decleir và Marie Gillain; and successful films include Man Bites Dog and The Alzheimer Affair. Trong những năm 1980, Viện Hàn lâm Nghệ thuật Hoàng gia tại Antwerp đã tạo ra nhiều người sáng lập khuynh hướng thời trang quan trọng, được gọi là Antwerp Six.
=== Văn hoá dân gian ===
Xem thêm thông tin: Văn hoá dân gian tại các nước vùng thấp
Văn hoá dân gain đóng một vai trò quan trọng trong đời sống văn hoá Bỉ: nước này có số lượng khá lớn các đám diễu hành, đoàn cưỡi ngựa, 'ommegangs' và 'ducasses', 'kermesse' và các festival địa phương khác, hầu như luôn luôn có một bối cảnh thần thoại hay tôn giáo đi kèm. Carnival of Binche với Gilles nổi tiếng của nó và 'Processional Giants and Dragons' Ath, Brussels, Dendermonde, Mechelen và Mons được UNESCO công nhận là Tuyệt tác truyền khẩu và phi vật thể của Nhân loại. Các ví dụ khác là Carnival Aalst; các cuộc diễu hành mang đậm tính tôn giáo của the Holy Blood tại Bruges, Virga Jesse Basilica ở Hasselt và Hanswijk tại Mechelen; festival ngày 15 tháng 8 tại Liège; và festival Walloon tại Namur. Có nguồn gốc từ năm 1832 và được khôi phục trong những năm 1960, Gentse Feesten đã trở thành một truyền thống hiện đại. Một ngày lễ không chính thức quan trọng là Ngày Thánh Nicholas, một lễ hội cho trẻ em và, tại Liège, cho các sinh viên.
=== Thể thao ===
Bóng đá và đua xe đạp là các môn thể thao phổ biến nhất tại Bỉ. Với năm lần giành chiến thắng tại Tour de France và nhiều giải đua xe khác, vận động viên Bỉ Eddy Merckx được xếp hạng #1 trong số những tay đua xuất sắc nhất mọi thời đại. Kỷ lục đua xe tính giờ của ông (được lập năm 1972) đã tồn tại trong 12 năm. Jean-Marie Pfaff, cựu thủ môn Bỉ, được coi là một trong những người xuất sắc nhất trong lịch sử bóng đá. Bỉ từng đang cùng Hà Lan xin đồng đăng cai World Cup 2018 nhưng thất bại trước Nga. Cả hai nước trước kia từng là nơi tổ chức Giải vô địch bóng đá châu Âu năm 2000. Bỉ cũng từng tổ chức giải vô địch bóng đá châu Âu năm 1972.
Kim Clijsters và Justine Henin đều từng là Tay vợt của năm của Hiệp hội Tennis Nữ khi họ được xếp hạng tay vợt nữ số một. Trường đua Spa-Francorchamps cũng là nơi diễn ra vòng đua Belgian Grand Prix thuộc Giải vô địch Công thức 1 Thế giới. Tay đua người Bỉ, Jacky Ickx, đã giành tám Grands Prix và sáu 24 Hours of Le Mans và hai lần về nhì Giải vô địch Công thức 1 Thế giới. Bỉ cũng có danh tiếng về motocross; các nhà vô địch thế giới gồm Roger De Coster, Joël Robert, Georges Jobé, Eric Geboers, Joël Smets và Stefan Everts.
Các sự kiện thể thao được tổ chức hàng năm tại Bỉ gồm cuộc thi đấu điền kinh kỷ niệm Memorial Van Damme, vòng đua Belgian Grand Prix Công thức 1, và một số cuộc đua xe đạp cổ điển như Ronde van Vlaanderen và Liège-Bastogne-Liège. Olympic mùa hè năm 1920 đã được tổ chức tại Antwerp, Bỉ.
=== Ẩm thực ===
Nhiều nhà hàng được đánh giá cao của Bỉ xuất hiện trong hầu hết các cuốn hướng dẫn ẩm thực danh tiếng, như Michelin Guide. Bỉ nổi tiếng về bánh quế và khoai tây chiên (french fries). Trái ngược với cái tên của nó (french là của Pháp), khoai tây chiên cũng có nguồn gốc từ Bỉ. Cái tên "french fries" thực tế miêu tả cách cắt khoai tây. Động từ "french" có nghĩa là cắt thành miếng nhỏ. Các món đặc sản quốc gia là "thịt nướng và khoai tây chiên với salad", và "trai với khoai tây chiên".
Các nhãn hiệu chocolate và kẹo hạt dẻ của Bỉ, như Callebaut, Côte d'Or, Neuhaus, Leonidas, Guylian, Galler và Godiva, đều nổi tiếng thế giới và được bán rộng rãi.
Bỉ sản xuất hơn 500 loại bia. Bia Trappist của Tu viện Westvleteren luôn được xếp hạng là loại bia ngon nhất thế giới. Công ty bia lớn nhất thế giới theo sản lượng là Anheuser-Busch InBev, có trụ sở tại Leuven..
== Xem thêm ==
Đề cương Bỉ
Danh sách bài viết liên quan tới Bỉ
== Tham khảo ==
=== Cước chú ===
=== Nguồn chung trên mạng ===
=== Thư mục ===
== Liên kết ngoài ==
Xem thêm: section References, subsection General online sources
Chính phủ
Official site of Belgian monarchy
Official site of the Belgian federal government
Chief of State and Cabinet Members
Thông tin chung
Mục “Belgium” trên trang của CIA World Factbook.
Belgium entry at Encyclopædia Britannica
Belgium at UCB Libraries GovPubs
Belgium information from the United States Department of State
Bỉ tại DMOZ
Portals to the World from the United States Library of Congress
FAO Country Profiles: Belgium
Wikimedia Atlas của Belgium, có một số bản đồ liên quan đến Belgium.
Bản mẫu:Các chủ đề Bỉ
Du lịch
Official Site of the Belgian Tourist Office in the Americas and GlobeScope,
– its links to sites of Belgian Tourist Offices in Belgium
– its links to sites of Belgian Tourist Offices worldwide
Khác
Belgium, entry on the Catholic Encyclopedia 1913, republished on Wikisource
Belgium, entry on the Public Diplomacy wiki monitored by the USC Center on Public Diplomacy
History of Belgium: Primary Documents EuroDocs: Online Sources for European History |
giải phổ học edgar bright wilson.txt | Giải Phổ học Edgar Bright Wilson là một giải thưởng của Hội Hóa học Hoa Kỳ, được trao hàng năm cho những người có "thành tựu xuất sắc trong khoa Phổ học cơ bản hay Phổ học ứng dụng trong Hóa học".
Giải này được trao lần đầu năm 1997 và được đặt theo tên nhà Hóa lý và nhà Phổ học tiên phong người Mỹ Edgar Bright Wilson.
== Các người đoạt giải ==
2014 Richard P. Van Duyne
2013 Steven G. Boxer
2012 Robert W. Field
2011 Veronica Vaida
2010 George W. Flynn
2009 Paul F. Barbara
2008 Jack H. Freed
2007 Michael D. Fayer
2006 Donald H. Levy
2005 Eizi Hirota
2004 James K.G. Watson
2003 Marilyn E. Jacox
2002 Takeshi Oka
2001 William A. Klemperer
2000 Ad Bax
1999 Richard N. Zare
1998 Robin M. Hochstrasser
1997 Ahmed Zewail
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
American Chemical Society Awards Page |
sân bay quốc tế đà nẵng.txt | Sân bay quốc tế Đà Nẵng là cảng hàng không lớn nhất của khu vực miền Trung - Tây Nguyên Việt Nam.
Có quy mô lớn thứ ba của Việt Nam, sau sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh) và sân bay quốc tế Nội Bài (Hà Nội), sân bay quốc tế Đà Nẵng nằm ở quận Hải Châu, cách trung tâm thành phố Đà Nẵng 3 km, với tổng diện tích khu vực sân bay là 842 ha, trong đó diện tích khu vực hàng không dân dụng là 150 ha. Đây là điểm bay quan trọng của miền Trung Việt Nam và cả nước. Năm 2016, sân bay này đã phục vụ 8,7 triệu khách thông qua, tăng 34% so với cùng kỳ, xếp thứ 3 sau Tân Sơn Nhất - Tp. Hồ Chí Minh: 32 triệu, Nội Bài - Hà Nội: 20 triệu. Trong đó lượng hành khách quốc tế đi - đến hơn 2,2 triệu, tăng 51,36%, hàng hoá - bưu gửi đạt gần 30 nghìn tấn tăng 56,57% và hành lý đạt gần 59 nghìn tấn tăng 22,60% so với năm 2015. Dự kiến năm 2017 đạt 10,4 triệu lượt khách với mức tăng lượng khách 18% mỗi năm.
Tên giao dịch chính thức là Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng (tiếng Anh: Danang International Airport - DIA). Sân bay này trước đây do Tổng công ty Cảng hàng không Miền Trung, nay thuộc Tổng công ty cảng hàng không Việt Nam, một doanh nghiệp thuộc Bộ Giao thông Vận tải quản lý.
== Lịch sử ==
Sân bay được xây dựng từ năm 1940. Trong thời gian chiến tranh Việt Nam cho đến 1975, sân bay Đà Nẵng là căn cứ không quân của quân đội Mĩ và Không lực Việt Nam Cộng hòa. Trước năm 1975, sân bay quốc tế Đà Nẵng là một trong những sân bay nhộn nhịp nhất thế giới.
== Hoạt động ==
Hiện có 4 hãng hàng không nội địa và 21 hãng hàng không quốc tế đang có đường bay đến sân bay quốc tế Đà Nẵng. Từ Đà Nẵng đã có 9 tuyến bay nội địa, 25 tuyến đường bay đi quốc tế trong đó có 11 đường bay trực tiếp thường kỳ và 14 đường bay trực tiếp thuê chuyến, với hơn 195 chuyến bay trong nước và quốc tế mỗi ngày.
Năm 2015, Cảng hàng không quốc tế Đà nẵng được xếp vị trí thứ 23 trong top 30 sân bay tốt nhất châu Á, theo thông tin được công bố trên trang web chuyên xếp hạng các sân bay trên thế giới The Guide to Sleeping in Airports.
== Hạ tầng kĩ thuật ==
Cảng hàng không quốc tế Đà Nẵng hiện có hai đường băng cất hạ cánh (3.500m và 3.048m), được trang bị hệ thống đèn tín hiệu trên taxiway, runway, appron (bãi đậu)..., các hệ thống phụ trợ dẫn đường và hạ cánh chính xác (ILS, VOR/DME, NDB), các hệ thống radar sơ cấp - thứ cấp hiện đại, các hệ thống quan trắc và phát tin dự báo khí tượng tiên tiến, hệ thống thường trực khẩn nguy, các hệ thống phục vụ sân đỗ hiện đại...có khả năng phục vụ các loại máy bay thương mại cỡ lớn như Boeing 747, Boeing 777, Airbus A340, Airbus A330, Airbus A380, Antonov 124...cất hạ cánh trong mọi điều kiện thời tiết.
== Nhà ga hành khách ==
Nhà ga hành khách quốc nội (nhà ga T1) sân bay quốc tế Đà Nẵng do Tổng Công ty Cảng hàng không miền Trung làm chủ đầu tư, được khởi công xây dựng ngày 24/12/2007 với tổng vốn hơn 1.345 tỉ đồng và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 15/12/2011. Nhà ga được xây dựng trên diện tích gần 14.500 m2, gồm ba tầng nổi và một tầng hầm với tổng diện tích sử dụng 36.600 m2. Diện tích từng khu vực chức năng đủ tiêu chuẩn phục vụ 6 triệu lượt khách/năm (tiêu chuẩn theo quy định của Hiệp hội Vận tải Hàng không quốc tế (IATA). Bảo đảm yêu cầu thẩm mỹ và phù hợp với điều kiện khí hậu miền Trung, tải trọng động đất cấp 7. Ngoài ra, còn có các thiết bị đặc biệt như hệ thống xử lý hành lý, 5 ống lồng hàng không dẫn khách, 6 thang cuốn tốc độ 0,5 m/giây, 11 thang máy tải trọng 1.000 - 2.000 kg, các hệ thống điện tử chuyên dụng hàng không và hệ thống phụ trợ như chiếu sáng, cấp thoát nước, điều hòa không khí, hệ thống nhà máy điện năng lượng mặt trời..Với 40 quầy thủ tục và các tiện nghi hiện đại khác, nhà ga quốc nội đảm bảo phục vụ từ 6 - 8 triệu lượt khách/năm từ năm 2015 trở đi. Tổng Công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) đã có kế hoạch nghiên cứu mở rộng nhà ga quốc nội để đạt mức 9 triệu hành khách/năm vào năm 2017.
Nhà ga hành khách quốc tế T2 (độc lập với nhà ga quốc nội T1 hiện nay) do công ty CP Đầu tư khai thác nhà ga quốc tế Đà Nẵng (AHT) làm chủ đầu tư, được khởi công xây dựng ngày 15/11/2015 với tổng giá trị 3.504 tỷ đồng, đã hoàn thành và chính thức đi vào hoạt động từ tháng 05/2017. Nhà ga quốc tế được xây dựng trên khuôn viên đất rộng 210.000 m2, diện tích sàn xây dựng là 48.000m2, được thiết kế thành 2 cao trình đi và đến riêng biệt, có 40 quầy thủ tục hàng không, 20 quầy xuất cảnh, 22 quầy nhập cảnh, 10 cửa ra tàu bay...Nhà ga T2 sẽ phục vụ 25 tuyến bay Quốc tế đi và đến thành phố Đà Nẵng với hàng trăm chuyến bay mỗi ngày, có công suất từ 4 đến 6 triệu khách/năm theo Quy hoạch phát triển đến giai đoạn 2020 và định hướng đến 2030.
== Các tuyến bay và các hãng hàng không hoạt động ==
Jetstar Pacific Airlines khai trương chuyến bay hàng ngày giữa Đà Nẵng và Hà Nội vào tháng 11/2005, cho hành khách trong nước thêm một sự lựa chọn khi bay giữa Đà Nẵng và thủ đô, một tuyến đường mà đã từ lâu được độc quyền bởi Vietnam Airlines. Vào đầu năm 2008, Korean Air và Asiana Airlines mở đường bay hoạt động mùa hè giữa Seoul (Sân bay quốc tế Incheon) và Đà Nẵng.
TransAsia Airways bắt đầu đường bay giữa Đài Bắc và Đà Nẵng vào tháng 12/2009, và China Southern Airlines đã bắt đầu dịch vụ giữa Quảng Châu và Đà Nẵng trong tháng 1/2010; tần suất hoạt động 2 chuyến/tuần. Chính phủ Việt Nam hy vọng sẽ phục vụ các chuyến bay quốc tế nhiều hơn, tới các điểm đến như Phnom Penh, Phuket, Jakarta, Osaka...trong các năm tiếp theo.
Năm 2016,Thai Smile công ty phụ của Thai Airways mở tuyến bay từ Bangkok đến Đà Nẵng. Dự kiến năm 2017, Vietnam Airlines sẽ mở tuyến bay thuê chuyến đến Ibaraki (Nhật Bản) và sân bay Don Mueang (Bangkok) bằng Nok Air hay Thai AirAsia hoặc Thai Lion Air.
== Các hãng hàng không từng hoạt động ở đây ==
Air Mekong
Indochina Airlines
Hong Kong Airlines
PBAir
Siem Riep Airways
Thai Airways International
TonleSap Airlines
Tiger Airways
== Định hướng phát triển ==
Hiện tại hàng không dân dụng đang sử dụng 150 ha/820 ha của sân bay quốc tế Đà Nẵng. Đây là sân bay hỗn hợp quân sự - dân dụng nên cần tổ chức phân định ranh giới sử dụng đất đai và quản lý. Hướng tới sẽ mở rộng diện tích sử dụng hàng không dân dụng lên 200 ha.
Theo quy hoạch điều chỉnh, Cảng hàng không quốc tế (HKQT) Đà Nẵng sẽ được nâng cấp lên cấp sân bay 4E theo mã tiêu chuẩn của Tổ chức Hàng không dân dụng quốc tế (ICAO) và sân bay quân sự cấp I. Đến năm 2020 sân bay Đà Nẵng có công suất phục vụ 11 - 13 triệu hành khách/năm, 50.000 tấn hàng hóa/năm với 22 vị trí đỗ tàu bay. Loại máy bay khai thác là B747, B777, B787, A320, A321, A350 và tương đương. Phương thức tiếp cận hạ cánh tiêu chuẩn CAT I.
Định hướng quy hoạch đến năm 2030 sẽ tiếp tục nâng cấp, cải tạo, xây dựng các công trình như đường lăn, sân đỗ tàu bay, nhà ga hành khách, hàng hóa, bảo dưỡng tàu bay, trạm xe ngoại trường, tập kết, sửa chữa, bảo trì trang thiết bị mặt đất, kiểm định, chế biến suất ăn, quản lý điều hành bay, cứu nguy cứu hỏa, cấp nhiên liệu, approach (tiếp cận) lên CAT II và CAT III…và các công trình hạ tầng giao thông, cấp thoát nước, cấp điện, xử lý chất thải…để đáp ứng nhu cầu vận tải, đảm bảo chất lượng vận tải và dịch vụ được nâng cao.
Tổ chức các chuyến bay quốc tế trực tiếp từ sân bay quốc tế Đà Nẵng đi các nước khu vực Châu Á, Châu Âu; đồng thời tổ chức thêm các chuyến bay phục vụ du lịch nội địa đi đến các điểm du lịch Quy Nhơn, Phú Quốc, Sa Pa, Phan Thiết...
== Thống kê ==
== Xem thêm ==
Sân bay quốc tế Nội Bài
Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất
Danh sách các sân bay ở Việt Nam
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tổng Công ty cảng hàng không miền Trung |
đá mặt trăng.txt | Đá Mặt Trăng được xếp thành hai loại, dựa trên địa điểm tồn tại của chúng tại các cao nguyên Mặt Trăng (terrae) hay tại các biển. Đá trên các cao nguyên gồm ba bộ: anorthosit sắt, magiê và kiềm (một số người coi bộ kiềm là một tập hợp con của bộ magiê). Đá thuộc bộ anorthosit sắt gồm hầu như chỉ là khoáng chất anorthit (một calic plagiocla fenspa) và được cho là đại diện cho sự tích tụ plagiocla trôi nổi của biển macma Mặt Trăng. Theo các biện pháp tính niên đại phóng xạ thì anorthosit sắt đã được hình thành từ 4,4 tỷ năm trước[43][44].
Đá bộ magiê và kiềm chủ yếu là đá sâu mafic. Các loại đá đặc trưng gồm dunit, troctolit, gabbro, anorthosit kiềm và hiếm hơn là granit. Trái với bộ anorthosit sắt, các loại đá này đều có tỷ lệ Mg/Fe cao trong các khoáng vật mafic của chúng. Nói chung, các loại đá này là sự xâm nhập vào lớp vỏ cao nguyên đã hình thành từ trước (dù một số ví dụ hiếm hơn có lẽ là sự phun trào dung nham), và chúng đã hình thành từ khoảng 4,4–3,9 tỷ năm trước. Nhiều loại đá trên có sự phổ biến cao của, hay về mặt phát sinh có liên quan tới, thành phần địa hóa học KREEP.
Các biển Mặt Trăng gồm toàn bộ các biển bazan. Tuy tương tự như bazan Trái Đất, chúng chứa nhiều sắt hơn, và hoàn toàn không có chứa các sản phẩm bị biến đổi bởi nước, và chứa nhiều titan[47][48].
Các nhà du hành vũ trụ đã thông báo rằng bụi từ bề mặt kết xuống giống như tuyết và có mùi thuốc súng cháy[49]. Bụi hầu hết được hình thành từ thủy tinh điôxít silic (SiO2), có lẽ được tạo ra từ các thiên thạch đã đâm xuống bề mặt Mặt Trăng. Chúng cũng có chứa canxi và magiê.
== Liên kết ngoài ==
Rocks & Soils from the Moon — Johnson Space Center
Apollo Geology Tool Catalog
Lunar meteorites — Washington University, Department of Earth and Planetary Sciences
Lunar Samples Lunar and Planetary Institute
Articles about Moon rocks in Planetary Science Research Discoveries educational journal
Where Today are the Apollo 11 Lunar Sample Displays? collectSPACE
Where Today are the Apollo 17 Goodwill Moon Rocks? collectSPACE |
đi bộ.txt | Đi bộ là hình thức vận động tự nhiên chủ yếu của các động vật có chân nhằm di chuyển cơ thể từ vị trí này đến vị trí khác trong điều kiện tốc độ và dáng đi bình thường và thường chậm hơn so với chạy hoặc các hình thức vận động khác. Đi bộ là hình thức di chuyển cơ bản và phổ biến của con người và các loại động vật có chân. Nó là hình thức di chuyển căn bản đơn giản và áp dụng nhiều trong đời sống xã hội con người như đi bộ khi làm việc (nội trợ, văn phòng, đi kiểm tra, bốc xếp...) đi bộ khi hành quân và đi bộ thể dục. Ngày này trong xã hội loài người, nhiều phương tiện giao thông ra đời đã giúp con người ngày càng ít sử dụng việc đi bộ làm phương tiện di chuyển chính nhất là khi đi, đến những địa điểm xa và đi bộ dần trở thành một môn thể thao rèn luyện, bảo vệ sức khỏe hàng ngày và được nhiều người lựa chọn do đi bộ thế dục là hình thức nhẹ nhàng nhất trong các môn vì nó tương đối ít tốn năng lượng và ít cần đến trang thiết bị đi kèm.
== Về tốc độ ==
Mặc dù đi bộ tốc độ có thể khác nhau rất nhiều tùy thuộc vào các yếu tố như chiều cao, cân nặng, tuổi tác, giới tính, tính cách, địa hình, bề mặt, văn hóa, sự nỗ lực, và các điều kiện về tập thể dục, tuy nhiên tốc độ đi bộ của con người trung bình khoảng 5,0 km mỗi giờ (km/h), hoặc khoảng 3,1 dặm một giờ (mph). Nghiên cứu cụ thể đã được tìm thấy tốc độ đi bộ dành cho người đi bộ khác nhau, từ 4,51 km/h đến 4,75 km/h đối với người lớn, và từ 5,32 km/h đến 5,43 km/h đối với trẻ em, mặc dù tốc độ đi bộ nhanh có thể đạt khoảng 6,5 km/h. Một đứa bé bình thường có thể chập chững và tấp tểnh biết đi vào khoảng 11 tháng tuổi với tốc độ chậm.
== Các kiểu đi bộ ==
Một số kiểu đi bộ chính có thể kể đến là:
Đi bộ nhanh với khoảng 100 bước/phút
Đi bộ thong thả với khoảng 70 bước/phút
Đi bộ tự do là hình thức kết hợp giữa đi bộ nhanh với đi bộ thong thả và vừa đi vừa nghỉ
Đi bộ ngược hay còn gọi là đi giật lùi
Hoặc có thể phân loại thành 07 kiểu đi bộ cụ thể là:
Đi bộ bằng gót chân, với đặc trưng là sử dụng gót để di chuyển là chính
Đi bộ bằng ngón chân với hình thức kiễng chân và bước những bước ngắn, nhanh bằng ngón chân.
Đi bộ kiểu người mẫu, hai chân bước trên một đường thẳng, lưng thẳng để tạo dáng.
Đi bộ kiểu đồng hồ, hình thức đi bộ theo đó hai tay như hai cái kim đồng hồ, còn chân là quả lắc.
Đi bộ cân bằng với đặc trưng là bước đều và đổi chân, tay liên tục.
Đi bộ vặn mình
Bước đi mạnh mẽ với đặc trưng là sải bước dài và vung tay mạnh
== Lợi ích ==
Đi bộ nếu đúng cách sẽ giúp con người có nhiều lợi ích về sức khỏe, cụ thể là: Đi bộ từ 30 đến 60 phút mỗi ngày giúp cho cơ thể dẻo dai, làm giảm lượng đường trong máu, giảm nguy cơ bệnh tim, bệnh tiểu đường, giảm tai biến mạch máu não và giảm nguy cơ bị gãy xương háng đi bộ nhanh hàng ngày có thể giúp giảm 1/2 nguy cơ đau tim hoặc đột quỵ, giảm khoảng 30% nguy cơ ung thư vú.
Khi con người đi bộ đúng phương pháp sẽ góp phần làm cho hệ cơ bắp thêm dẻo dai, các khớp vận động tốt, hệ tuần hoàn lưu thông một cách thông suốt và mạnh hơn, đi bộ có tác dụng tốt cho những người bị bệnh lý về tim mạch, đi bộ còn giúp làm mạnh mẽ và an tĩnh thần kinh, phòng tránh nhức đầu, mất ngủ, và chứng trầm cảm, ngoài ra đi bộ còn giúp hạ huyết áp, phòng ngừa cảm cúm và là liệu pháp giảm béo tốt nhất và tạo cho con người có eo thon thả và dáng người gọn gàng, đẹp. Ngoài ra, đi bộ giúp tâm trạng thư thái, thoải mái vì do tập trung tâm trí vào thời điểm hiện tại và kết nối với thiên nhiên.
Mặc dù vậy khi đi bộ, con người cũng có thể gặp một số nguy cơ về sức khỏe, nhất là khi đi bộ không đúng cách, cụ thể là đi bộ đôi khi làm đầu gối đau đến nỗi không thể đi lại, đối với nhiều người mắc bệnh loãng xương, càng cố gắng đi bộ thì hai gối càng bị đau, sau một thời gian thì không thể đi được nữa. Đi bộ có thể gây đau nhức, làm thoái hoá khớp do tất cả trọng lượng của cơ thể đè nặng lên hai chân nhất là vùng gối và gây ra biến động chi dưới khi quá tải do phải di chuyển nhiều. Đối với phụ nữ mang bầu, có quan điểm từ trước ở Việt Nam cho rằng đi bộ dễ đẻ, tuy nhiên các bác sĩ cho rằng điều đó chỉ đúng nếu đi bộ đúng cách và với liều lượng vừa phải nếu không sẽ ảnh hưởng đến thai nhi và gây ra hậu quả đáng tiếc.
== Lời khuyên ==
Đối với con người, đi bộ thể thao hay đi bộ tập thể dục có nhiều lợi ích cho sức khỏe, tuy nhiên đi bộ phải đúng phương pháp và cách thức mới đạt hiệu quả cao nhất. Có nhiều quan điểm nêu lên cách thức đi bộ đúng cách để đạt hiểu quả. Theo đó đi bộ nên đi tự nhiên, tránh quá gò bó theo kỹ thuật. Một số các thức, yêu cầu đi bộ cụ thể là:
Đi chậm lúc bắt đầu và lúc kết thúc (khoảng 5 phút).
Nên khởi động nhẹ trước khi đi bộ
Đi bộ đúng tư thế và luôn giữ tư thế khi đi bộ, không nên không thu vai hoặc khom lưng để giữ cho cột sống được thẳng và hô hấp được tối đa
Khi đi bộ nên nhìn thẳng về phía trước, toàn thân thư giãn, đặc biệt là hai vai, hai tay, khớp háng và hai chân.
Khi đi bộ người giữ thẳng, không chúi người ra phía trước hay ngửa ra phía sau quá nhiều
Chân tiếp đất phải bắt đầu từ gót rồi đến cả bàn chân và cuối cùng là mũi chân trước khi nhấc chân lên, cứ thế bước đều liên tục.
Khi đi bộ, hai tay nên vung vẩy thoải mái, nhẹ nhàng, biên độ vừa phải
Khi đi bộ không nên cầm nắm thêm những vật dụng không cần thiết khác trên tay
Khi đi bộ luôn giữ cho hơi thở tự nhiên
Mặc áo quần ngắn nhẹ, rộng vừa phải và nên có giày chuyên dụng (giày thể thao, giày ba-ta)
Đi bộ mỗi tuần, cụ thể là nếu đi bộ nhanh thì mỗi ngày đi bộ khoảng 30 phút, mỗi tuần 3 lần hoặc nên đi bộ 2 lần trong ngày, mỗi lần 15 phút (có thể phân cuộc đi bộ mỗi ngày ra làm hai, mỗi lần chỉ cần đi bộ 15 phút).
Duy trì đi bộ đúng lịch trình
Có thể lập nhóm đi bộ
Khi đi bộ, nếu gặp một trong những dấu hiệu sau đây cần dừng hoạt động này lại để nghỉ ngơi hoặc gặp thầy thuốc:
Cảm thấy đau vùng gối, đau lưng nhiều hơn
Đau vùng ngực, chóng mặt, choáng váng khó chịu, huyết áp tăng
Hơi thở ngắn, ra mồ hôi nhiều bất thường
Tự nhiên mệt nhiều, mất sức
Chuột rút hay đau cơ bất thường
== Chú thích == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.