filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
marin čilić.txt | Marin Cilic (sinh ngày 28 tháng 9 năm 1988) là tay vợt chơi quần vợt chuyên nghiệp người Croatia. Thành tích cao nhất của Marin Cilic tính đến thời điểm này là chức vô địch US Open 2014 sau khi đánh bại tay vợt người Nhật Bản Kei Nishikori trong trận chung kết sau 3 set với các tỷ số 6-3, 6-3, 6-3
== Tiểu sử ==
Marin Cilc sinh ra trong một gia đình Croatia và Bosnia và Herzegovina.Anh bắt đầu chơi giải trẻ của ITF từ năm 2004.Vào năm 2005 anh đã vô địch giải trẻ giải Pháp mở rộng sau khi đánh bại Andy Murray tại bán kết và Antal van der Duim tại chung kết. Cho đến nay thành tích đáng tự hào nhất của anh là chức vô địch Giải quần vợt Mỹ mở rộng 2014 và đây cũng là danh hiệu Grand Slam đầu tiên của anh trong sự nghiệp
== Thành tích ==
=== Chung kết ===
==== Singles: 1 (1 title) ====
== Chung kết ==
=== Singles: 22 (13 titles, 9 runners-up) ===
=== Doubles: 1 (1 runner-up) ===
== Tham khảo == |
hội chứng mệt mỏi mạn tính.txt | Hội chứng mệt mỏi kinh niên (tiếng Anh: Chronic fatigue syndrome) cũng được gọi Myalgic Encephalomyelitis hoặc là Myalgisk encefalopati là một dang bệnh lý gây mệt mỏi ở nhiều mức độ khác nhau và kéo dài, đi kèm theo nhiều triệu chứng thực thể hay thần kinh tâm lý khác. Bệnh đã được giới y khoa chú ý và y văn ghi lại với nhiều tên khác nhau như: suy nhược thần kinh, hội chứng mệt mỏi sau nhiễm siêu vi... Hiện nay các chuyên gia đã thống nhất tên gọi là: hội chứng mệt mỏi kinh niên. Trang Sức khỏe Cộng đồng dịch thêm là Hội chứng suy nhược mạn tính.
Các dấu hiệu lâm sàng chính là mệt mỏi, có cảm giác như bất lực hoàn toàn và chán nản vô cùng. Đi kèm theo là triệu chứng bệnh các cơ quan hô hấp, tiêu hóa, tiết niệu, thần kinh cơ và các triệu chứng tâm thần rất đa dạng. Hiện nay, các bác sĩ thường áp dụng tiêu chuẩn chẩn đoán của CDC/NIH (Viện Sức khỏe Quốc gia Hoa Kỳ):
Mệt mỏi kéo dài không giải thích được nguyên nhân, tái phát nhiều lần làm ảnh hưởng đến khả năng làm việc và học hành.
Kèm theo ít nhất là 4 trong các triệu chứng sau (có thời gian kéo dài trên 6 tháng):
Rối loạn trí nhớ và sự tập trung.
Đau họng, loét trong miệng (nhiệt miệng)
Hạch cổ và hạch nách gây đau.
Đau cơ.
Đau nhiều khớp nhưng không sưng, không đỏ.
Nhức đầu.
Ngủ không yên giấc.
Uể oải sau làm việc gắng sức ít nhất 24 giờ.
Nguyên nhân gây bệnh các chuyên gia cho rằng có thể là virus và trầm cảm.
== Liên kết ngoài ==
Hội chứng mệt mỏi kinh niên - Medicine & Modern Life Home
== Chú thích == |
mùa thu.txt | Mùa thu là một trong bốn mùa trên Trái Đất và một số hành tinh. Nó là giai đoạn chuyển tiếp từ mùa hạ sang mùa đông.
== Trên Trái Đất ==
Mùa thu là mùa trong đó phần lớn các loại cây trồng được thu hoạch và các loại cây rụng lá mất lá của chúng. Nó cũng là mùa mà thời gian ban ngày ngắn dần lại và lạnh hơn (đặc biệt rõ nét là ở các vĩ độ lớn). Tại các khu vực ôn đới thì lượng mưa cũng tăng dần lên trong một số khu vực.
Về mặt thiên văn học, mùa thu bắt đầu từ thời điểm thu phân (khoảng 23 tháng 9 ở Bắc bán cầu và 21 tháng 3 ở Nam bán cầu), và kết thúc vào thời điểm đông chí (khoảng 21 tháng 12 ở Bắc bán cầu và 21 tháng 6 ở Nam bán cầu). Tuy nhiên, các nhà khí tượng học tính toàn bộ các tháng Ba, Tư và Năm ở Nam bán cầu cũng như các tháng Chín, Mười và Mười Một ở Bắc bán cầu như là thời gian của mùa thu. Ngoại lệ đối với các định nghĩa này là lịch Ireland trong đó người ta vẫn tuân theo chu kỳ Celt, ở đó mùa thu được tính như là toàn bộ các tháng Tám, Chín và Mười. Ngoài ra, theo lịch Trung Quốc thì mùa thu bắt đầu được tính từ tiết lập thu (khoảng ngày 7 tháng 8 và kết thúc vào tiết lập đông (khoảng ngày 7 tháng 11 dương lịch).
Mặc dù thời gian ban ngày bắt đầu ngắn lại rõ nét từ tháng Bảy hoặc tháng Tám ở Bắc bán cầu và tháng Giêng hay tháng Hai ở Nam bán cầu, nhưng thông thường trong tháng Chín hay tháng Ba thì sự thoái trào mới trở nên rõ ràng hơn và đột ngột hơn trong so sánh với sự kéo dài thời gian ban ngày của mùa hè.
Mùa thu thông thường cũng được định nghĩa như là mùa khai trường ở phần lớn các quốc gia, do chúng thông thường bắt đầu vào đầu tháng Chín hay tháng Ba (phụ thuộc vào từng bán cầu).
Các định nghĩa này, cũng giống như các định nghĩa nói chung của mùa, là không hoàn thiện do chúng đều cho rằng các mùa có độ dài bằng nhau, cũng như bắt đầu và kết thúc vào cùng một thời điểm dọc theo cùng một khu vực của mỗi bán cầu.
== Trên các hành tinh ==
Các hành tinh có trục tự quay không vuông góc với mặt phẳng quỹ đạo đều có hiện tượng mùa, bao gồm mùa thu. Mùa thu ở bắc bán cầu là khoảng thời gian bắt đầu khi hành tinh nằm ở điểm thu phân (Ls = 180°) trên quỹ đạo, và kết thúc khi nó nằm ở điểm đông chí (Ls = 270°). Mùa thu ở bắc bán cầu trùng với mùa xuân ở nam bán cầu, và mùa thu ở nam bán cầu trùng với mùa xuân ở bắc bán cầu.
== Mùa thu trong văn hóa truyền thống ==
Sự gắn liền của mùa thu với giai đoạn chuyển tiếp từ thời tiết nóng ấm sang thời tiết lạnh ở Bắc bán cầu và trạng thái liên quan của nó như là mùa của thu hoạch chủ yếu, đã ngự trị trong các chủ đề liên quan và các hình ảnh thông dụng của nó.
Trong văn hóa phương Tây, người ta nhân cách hóa mùa thu như là một người đàn bà đẹp, khỏe mạnh được trang điểm bằng các loại quả, rau quả và ngũ cốc đã chín vào thời gian này. Phần lớn các nền văn minh cổ đại đều đề cao các lễ hội thu hoạch trong mùa thu, thông thường là quan trọng nhất trong các loại lịch của họ. Vẫn còn tiếng vang trong số các lễ hội này là: Lễ tạ ơn (Thanksgiving) vào cuối mùa thu ở Hoa Kỳ và Canada, lễ hội Sukkot của người Do Thái với nguồn gốc của nó như là lễ hội trăng tròn mùa thu hoạch của "hòm thánh" (trong các túp lều ở đó các sản phẩm đã thu hoạch được chế biến và sau đó có được tầm quan trọng mang tính tôn giáo), nhiều lễ hội của thổ dân Bắc Mỹ gắn liền với các thức ăn từ các loại cây quả đã chín thu hoạch được từ tự nhiên hay Tết Trung thu của người Trung Quốc, Việt Nam v.v và nhiều lễ hội khác. Tâm trạng chủ yếu trong các lễ hội mùa thu này là niềm vui sướng vì một mùa thu hoạch bội thu cũng như phảng phất nỗi buồn vì thời tiết khắc nghiệt sắp đến. Tưởng nhớ tới tổ tiên cũng là một chủ đề phổ biến của các lễ hội này.
Tại Hoa Kỳ ngày nay, bên cạnh sự khởi đầu của một năm học mới thì mùa thu còn gắn liền với ngành công nghiệp điện ảnh như là sự khởi đầu cho các bộ phim thông thường là ít vốn đầu tư nhưng lại có giá trị về mặt nghệ thuật mang tính kinh điển cho các giải thưởng như giải Oscar hay của BAFTA (các lễ trao giải thường được tổ chức vào cuối tháng 2 năm sau). Những bộ phim như thế được coi là không quá sôi nổi, nhưng sâu sắc hơn về nội dung và nghiêm túc hơn so với những bộ phim nhiều vốn đầu tư, chứa đầy các kỹ xảo điện ảnh trong mùa hè. Mùa thu, được bắt đầu vào ngày nghỉ cuối tuần sau ngày lễ Lao động (ngày 1 tháng 9 tại Bắc Mỹ) và kết thúc—trong các năm nhuận—vào ngày nghỉ cuối tuần trước ngày bầu cử Tổng thống Mỹ, là mùa ngắn nhất và ít lợi nhuận nhất của các loại phim.
Mùa thu còn gắn liền với lễ Halloween, và cùng với nó là chiến dịch tiếp thị rộng rãi để cổ động cho nó. Ngành công nghiệp điện ảnh và âm nhạc sử dụng thời gian này của năm để cổ động cho các phim và đĩa hát gắn liền với lễ hội này, chúng được phát hành từ đầu tháng Chín nhưng không muộn hơn ngày 28 tháng 10, do đề tài của chúng nhanh chóng mất đi sức mạnh khi lễ hội qua đi.
Mùa thu, giống như mùa xuân, là rất khó dự đoán và, trong nhiều khu vực, nó rất ngắn ngủi. Nhiệt độ trong tháng Chín có thể cao trên 86 °F (30 °C) và với chỉ số nhiệt thì nó có thể tạo ra nhiều điều kiện nguy hiểm liên quan tới sự cẩu thả của con người trong tương quan với các rủi ro của chứng đột quỵ do nhiệt (cao thân nhiệt). Trong tháng Mười, đặc biệt là ở các vĩ độ cao, có thể có các đợt lạnh bất thần cũng như hỗn hợp của mưa và tuyết rơi, mặc dù tuyết ổn định chỉ che phủ ổn định hơn kể từ giữa tháng Mười Một.
== Mùa thu và du lịch ==
Miền đông của Canada và khu vực New England của Hoa Kỳ nổi tiếng trên thế giới vì sự rực rỡ của "mùa lá rụng" của mình và công nghiệp du lịch theo mùa đã tăng trưởng nhanh chóng trong vài tuần của mùa thu khi các loại lá cây ở thời kỳ đỉnh cao nhất của mình về màu sắc. Một số chương trình dự báo thời tiết trên ti vi và các trang web thậm chí còn thông báo về tình trạng của mùa lá rụng trong cả mùa như là một dịch vụ dành cho du khách.
Hỗn hợp của các loài cây xanh suốt năm và các loại cây rụng lá (đặc biệt là cây phong) trong các cánh rừng ở Canada đã làm cho chúng có một màu sắc hết sức đa dạng. Hình ảnh ở bên phải được chụp tại công viên Algonquin, Ontario, Canada.
== Mùa thu trong văn hóa ==
=== Văn học ===
==== Việt Nam ====
Có rất nhiều nhà thơ văn lấy mùa thu làm chủ đề. Riêng trong kho tàng văn hóa Việt Nam thì mùa thu được nhiều tác giả mượn làm khung cảnh cho sáng tạo và sáng tác.
Bài thơ "Tiếng thu" của Lưu Trọng Lư
Em không nghe mùa thu
Dưới trăng mờ thổn thức?
Em không nghe rạo rực
Hình ảnh kẻ chinh phu
Trong lòng người cô phụ?
Em không nghe rừng thu,
Lá thu kêu xào xạc,
Con nai vàng ngơ ngác
Đạp trên lá vàng khô?
Hay ba bài thơ trong chùm thơ thu "nức danh" của Nguyễn Khuyến sau khi ông đã từ quan về sống ở quê nhà là "Thu điếu", "Thu vịnh" và "Thu ẩm".
"Thu điếu"
Ao thu lạnh lẽo nước trong veo,
Một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.
Sóng biếc theo làn hơi gợn tí,
Lá vàng trước gió khẽ đưa vèo.
Tầng mây lơ lửng trời xanh ngắt,
Ngõ trúc quanh co khách vắng teo.
Tựa gối ôm cần lâu chẳng được,
Cá đâu đớp động dưới chân bèo.
=== Nghệ thuật và âm nhạc ===
==== Việt Nam ====
Hầu hết các nhạc sĩ Việt Nam đều có ít nhiều nhạc phẩm viết về mùa thu trong đó có:
Đặng Thế Phong và Đoàn Chuẩn nổi tiếng với phần lớn nhạc phẩm về mùa thu
Phạm Duy: Thu ca điệu ru đơn, Tình ca mùa thu, Thu chiến trường, Mùa thu chết, Nước mắt mùa thu, Mùa thu Paris
Hoàng Trọng: Ngàn thu áo tím
Trịnh Công Sơn: Nhìn những mùa thu đi, Nhớ mùa thu Hà Nội
== Xem thêm ==
Sự nghiêng trục của Trái Đất
Mùa xuân
Mùa hạ
Mùa đông
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Mùa trong năm tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Autumn tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Mùa lá rụng ở New England, các tua du lịch, báo cáo.
Các loài cây rụng lá Thông tin về các loài cây rụng lá vào mùa thu để làm đẹp phong cảnh, bao gồm cả hình ảnh.
"Ảo ảnh về cây rụng lá" tại trường đại học Wisconsin có các ảnh về mùa thu của khoảng 50 loài cây và 20 loại cây mọc thành bụi.
Thư viện ảnh của Virginia Tech từ khoa thụ mộc học của họ với trên 100 ảnh về các loài cây và cây bụi
Hình ảnh mùa lá rụng Các hình ảnh về mùa lá rụng từ Western Connecticut
Mùa thu của động và thực vật ở Phần Lan của Northern Nature Project |
samsung galaxy s8.txt | Samsung Galaxy S8 và Samsung Galaxy S8+ là điện thoại thông minh Android được sản xuất bởi Samsung Electronics như là một phần của Samsung Galaxy dòng S. Ra mắt vào ngày 29 tháng 3 năm 2017 trong một sự kiện truyền thông tại thành phố New York, nó sẽ được phát hành vào tháng 4 năm 2017, giao hàng tại Hoa Kỳ từ ngày 21 tháng 4 năm 2017.
== Thông số kỹ thuật ==
=== Phần cứng ===
Cả Galaxy S8 và S8+ được trang bị màn hình Super AMOLED 1440p, với tỉ lện màn hình 18½:9 dài hơn tỉ lệ 16:9 vốn được sử dụng bởi đa số các điện thoại thông minh khác; S8 có màn hình 5.8-inch, còn S8+ có màn hình 6.2-inch.
=== Phần mềm ===
Galaxy S8 chạy Android 7.0 "Nougat" giới giao diện người dùng Samsung Experience (trước kia là TouchWiz) và bộ phần mềm.
== Xem thêm ==
So sánh các điện thoại thông minh
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của Samsung Galaxy S8 |
băng cốc.txt | Bangkok, hay Băng Cốc, (tiếng Thái: กรุงเทพมหานคร Krung Thep Maha Nakhon; phiên âm cũ: Vọng Các) là thủ đô và đồng thời là thành phố đông dân nhất của Thái Lan. Bangkok có diện tích 1568,7 km2 và nằm trong châu thổ sông Chao Phraya ở miền Trung Thái Lan với dân số khoảng 8 triệu người. Nếu tính cả vùng đô thị Bangkok thì dân số của thành phố lên đến hơn 14 triệu, chiếm hơn 1/5 dân số cả nước và vượt trội hơn tất cả những vùng đô thị khác ở Thái Lan.
Từ 1 thị trấn nhỏ trong vương quốc Ayutthaya vào thế kỉ 15, Bangkok nhanh chóng mở rộng nhờ thương mại và trở thành nơi tọa lạc của 2 thủ đô là Thonburi vào năm 1768 và Rattanakosin năm 1782. Với vai trò thủ đô vương quốc Xiêm, Bangkok chứng kiến sự hiện đại hóa nhanh chóng của đất nước cùng những biến động chính trị lớn của Thái Lan từ thế kỉ 19 cho đến nay. Thành phố phát triển mạnh mẽ từ những năm 1960 đến 1980 và ngày nay đóng vai trò quan trọng hàng đầu về chính trị, kinh tế, giáo dục và truyền thông của nước Thái Lan hiện đại.
Sự bùng nổ kinh tế của khu vực Đông Nam Á những năm 1980 và 1990 đã thúc đẩy nhiều công ty đa quốc gia đặt trụ sở khu vực tại Bangkok. Bangkok hiện là một trung tâm kinh tế và tài chính trong khu vực. Thành phố đóng vai trò một điểm trung chuyển trong giao thông quốc tế và nổi lên như một đầu tàu trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, nghệ thuật, thời trang và giải trí. Về du lịch, Bangkok nổi tiếng với nhịp sống về đêm sôi động và nhiều di tích lịch sử văn hóa.
== Lịch sử ==
Lúc đầu, Bangkok chỉ là một nơi buôn bán và cộng đồng dân cư cảng nhỏ, gọi là Bang Makok, để từ đó phục vụ cho Ayuttaya, lúc đó là thủ đô của nước Thái (còn gọi là nước Xiêm - Siam), cho tới khi Ayuttaya bị Miến Điện xâm chiếm năm 1767. Một thủ đô mới đã được thiết lập ở Thonburi (hiện nay là một phần của Bangkok) trên bờ tây sông Chao Phraya. Vua Rama I đã xây dựng cung điện trên bờ sông phía đông năm 1782 và đổi tên thành phố thành Krung Thep, nghĩa là "thành phố của các vị thần". Cái tên Bangkok thường chỉ được dùng để chỉ quận Thonburi, nhưng lại được đa số người nước ngoài dùng để chỉ cả thành phố.
Krung Thep, hay Krung Thep Maha Nakhon (กรุงเทพมหานคร), là viết tắt của tên chính rất dài: Krung Thep Maha Nakhon Amon Rattanakosin Mahinthara Ayutthaya Mahadilok Phop Noppharat Ratchathani Burirom Udom Ratchaniwet Mahasathan Amon Phiman Awatan Sathit Sakkathattiya Witsanu Kamprasit (กรุงเทพมหานคร อมรรัตนโกสินทร์ มหินทรายุธยามหาดิลก ภพนพรัตน์ ราชธานีบุรีรมย์ อุดมราชนิเวศน์ มหาสถาน อมรพิมาน อวตารสถิต สักกะทัตติยะ วิษณุกรรมประสิทธิ์), có nghĩa là "Thành phố của các thánh thần, thành phố vĩ đại của những vị thần bất tử, thành phố châu báu tráng lệ của thần Indra, chiếc ngai vàng của đức vua Ayutthaya, thành phố của đền đài tráng lệ, thành phố của cung điện và lãnh địa hoành tráng nhất của Hoàng gia, ngôi nhà của thần Vishnu và tất cả các vị thần." Nếu nguyên văn tên thủ đô, tên Bangkok dài gần 1 trang giấy. Đây được xem là tên thủ đô dài nhất thế giới.
== Phân chia hành chính ==
Bangkok được chia thành các quận (เขต khet). Các quận lại được chia thành 154 phường (แขวง khwaeng).
== Kinh tế ==
Bangkok là trung tâm kinh tế của Thái Lan. Năm 2005, thành phố tạo ra Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo sức mua thực tế (PPP) là 220 tỷ USD vào GDP, chiếm 43% tổng GDP của Thái Lan. GDP danh nghĩa là: 72,5 tỷ USD.
== Dân cư ==
Dân số đăng ký nằm 2005 là 5.658.953 người. Tuy nhiên con số này không bao gồm số dân không đăng ký. Phần lớn dân Bangkok là người Thái. Người Thái gốc Hoa là cộng đồng thiểu số lớn nhất. Gần đây, Bangkok trải qua giai đoạn làn sóng dân nhập cư ngoại quốc, cư trú lâu dài. Cư dân ngoại quốc cư trú lâu dài có người Hoa từ Trung Hoa Đại lục 250.000 người, người Ấn 85.000 người, trong đó hơn 80% có hai quốc tịch Thái và nước ngoài 44.000 người Nhật,, 6.000 người Mỹ, 45.000 người châu Âu (cộng đồng người châu Âu lớn thứ nhì ở châu Á sau Singapore), 15.000 người Đài Loan, 7.000 người Hàn Quốc, 6.000 người Nigeria, 8.000 người ở các quốc gia nói tiếng Ả Rập, 25.000 người Malaysia và 4.000 người Singapore . Có xấp xỉ 400.000-600.000 người nhập cư bất hợp pháp từ Campuchia, Myanma, Nga, Ukraina, Pakistan, Nigeria, Ấn Độ, Bangladesh, Trung Quốc và các quốc gia khác . 92% dân số theo đạo Phật. Các đạo khác là đạo Hồi (6%), Thiên Chúa giáo (1%), Do Thái giáo, đạo Bà La Môn (0,6%) và các tôn giáo khác. Có 400 ngôi chùa, 55 nhà thờ Hồi giáo, 10 nhà thờ Thiên chúa, 2 ngôi đền đạo Bàla môn, 2 giáo đường Do Thái ở Bangkok.
== Giao thông ==
Một hệ thống kênh rạch (khlong) chằng chịt đã làm cho thành phố được gọi là "Venezia phương Đông" vào lúc mà để đi lại người ta toàn phải dùng xuồng. Ngày nay phần lớn các con kênh đều được lấp để biến thành các con đường giao thông lớn. Bangkok là một thành phố nổi tiếng về kẹt xe.
=== Đường sắt ===
Năm 1999, khai trương 2 đường tàu sắt trên không, và hệ thống tàu điện ngầm cũng được đưa vào sử dụng vào tháng 7 năm 2004.
=== Hàng không ===
Sân bay quốc tế Bangkok, thường gọi là "Don Mueang", sân bay bận rộn nhất ở Đông Nam Á, nằm ở phía bắc thành phố. Sân bay này ngày nay chỉ phục vụ các chuyến bay từ Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh tới Bangkok của hai hãng giá rẻ Nok Air và AirAsia và phục vụ các chuyến bay nội địa của Thái Lan, xây từ năm 1919, sân bay quốc tế Suvarnabhumi thay thế Don Mueang trở thành sân bay lớn nhất Thái Lan, và tham vọng vượt qua cả Sân bay Quốc tế Changi Singapore của Singapore.
== Các điểm tham quan chính ==
Hoàng Cung Thái Lan
Cung điện Chitralada
Sân vận động thể thao Quân đội Thái Lan
Tháp Baiyoke II
Trung tâm Hội chợ Triển lãm Quốc tế Bangkok
Tượng đài Dân chủ Bangkok
Tượng đài Chiến thắng Bangkok
Wat Ratchanada
Wat Pho
Chùa Phật ngọc Bangkok
Wat Dhammongkol
Wat Benchamabophit
Wat Rakang
Wat Bowonniwet
Wat Saket
Prasad Phra Thep Bidom
Wat Traimit
Wat Kalayanamitr
Wat Pathum Wanaram
Wat Paknam Bhasicharoen
Wat Yan Nawa
Công viên Chatuchak
Vườn Chuvit
Công viên Lumphini
Công viên Princess Mother Memorial
Công viên Hoàng hậu Sirikit
Sanam Luang
Cung điện Vimanmek
Bangkrak, Silom vaø Patpong
Soi Cowboy
Cung điện hoàng gia Bangkok
Cung điện Huy Hoàng
Suan Pakkad
Erawan Shrine
Đại lộ Bamrung Muang
Wat Suthat
Công viên Du sit
Wat Arun
Viện bảo tàng Quốc gia và sà lan Hoàng Tộc
Vườn thú SafariWorld
Chakri Maha Prasad
Phật đài Dhammakaya
Wat Anongkaram
Wat Bopitpimukh
Wat Boromniwat
Wat Chaiyaprukmala
Wat Chakkrawadrajawas
Wat Chanasongkhram
Wat Chinorasaram
Wat Dusidaram
Wat Hongratanaram
Wat Intharavihara
Wat Kanlayanimitr
Wat Mahathat
Wat Mongkhutkasat
Wat Paknam Bhasicharoen
Wat Phichayayatikaram
Wat Phra Srimahathat
Wat Pichaiyat
Wat Prathoomkongkha
Wat Prayoonwongsawat
Wat Rakhangkhositaram
Wat Ratchabopit
Wat Ratchaburana
Wat Ratchaorotsaram
Wat Ratchapradit
Wat Ratchasitaram
Wat Ratchathiwat
Wat Sommanat
Wat Suwannaram
Wat Thepsirin
Wat Thepthidaram
== Địa lý ==
=== Khí hậu ===
== Hạn chế ==
Thủ đô Bangkok được xem là thủ đô có nạn tắc đường khá phổ biến, tuy có hệ thống giao thông dày đặc và hoàn thiện, thế nhưng thủ đô Bangkok vẫn nhức nhối với nạn tắc đường. Ngoài ra, sự chênh lệch giàu nghèo khá rõ nét, ô nhiễm môi trường và hệ thống cây xanh yếu kém trong nội ô.
== Tham khảo == |
văn hóa quyển tiếng anh.txt | Văn hóa quyển tiếng Anh (tiếng Anh: Anglosphere) là thuật ngữ mới dùng để chỉ các quốc gia mà tiếng Anh là ngôn ngữ thông dụng nhất. Đặc biệt, thuật ngữ này còn dùng để chỉ các nước có đặc trưng văn hóa nào đó dựa trên một di sản ngôn ngữ, thường các nước này từng là thuộc địa của Anh. Cụ thể, các nước này gồm Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, Úc, Canada (trừ Québec), New Zealand, Cộng hòa Ireland, Nam Phi và Hoa Kỳ.
== Định nghĩa ==
Cuốn Từ điển Oxford rút gọn định nghĩa "văn hóa quyển tiếng Anh" (Anglosphere) là "một nhóm các nước mà tiếng Anh là ngôn ngữ bản địa chính". Còn theo Từ điển Webster thì đó là "các nước trên thế giới mà các giá trị văn hóa và ngôn ngữ của Anh chiếm ưu thế".
== Đề nghị ==
Doanh nhân người Mỹ James C. Bennett - một người ủng hộ ý tưởng rằng có một cái gì đó đặc biệt về truyền thống văn hóa và pháp luật của các quốc gia nói tiếng Anh - đã viết trong cuốn sách được xuất bản năm 2004 The Anglosphere Challenge:
The Anglosphere, as a network civilization without a corresponding political form, has necessarily imprecise boundaries. Geographically, the densest nodes of the Anglosphere are found in the United States and the United Kingdom. English-speaking Canada, Australia, New Zealand, Ireland, and English-speaking South Africa (who constitute a very small minority in that country) are also significant populations. The English-speaking Caribbean, English-speaking Oceania, and the English-speaking educated populations in Africa and India constitute other important nodes.
Văn hóa quyển tiếng Anh là một mạng lưới các nền văn minh kết nối với nhau mà không cần một hình thức chính trị tương ứng, tất nhiên không có ranh giới rõ ràng. Về mặt địa lý, các điểm nút đông đúc nhất của văn hóa quyển tiếng Anh được tìm thấy ở Mỹ và Anh. Các nước Canada nói tiếng Anh, Úc, New Zealand, Ireland và Nam Phi nói tiếng Anh (hiện người nói tiếng Anh đang chiếm một tỉ lệ rất nhỏ ở nước này) cũng đóng góp dân số đáng kể. Khu vực Caribbe, châu Đại Dương nói tiếng Anh và những người được giáo dục bằng tiếng Anh ở châu Phi và Ấn Độ tạo thành các điểm nút quan trọng khác.
== Bản đồ thế giới nói tiếng Anh ==
== Xem thêm ==
Văn hóa quyển
Văn hóa quyển chữ Hán
== Tham khảo ==
=== Chú thích ===
=== Sách ===
Bennett, James C. (2004). Nhiệm vụ văn hóa quyển tiếng Anh: tại sao các nước nói tiếng Anh sẽ dẫn đường vào thế kỷ 21 (The anglosphere challenge: why the English-speaking nations will lead the way in the twenty-first century). Rowman & Littlefield. ISBN 0-7425-3332-8.
Brown, Andrew (15 tháng 2003). “Scourge and poet”. The Guardian.
Conquest, Robert; reply by Ignatieff, Michael (ngày 23 tháng 3 năm 2000), The 'Anglosphere', the New York Review of Books, truy cập ngày 24 tháng 7 năm 2007 .
Merriam-Webster Staff (2010). “anglosphere.”. Merriam-Webster Online Dictionary. Truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2010.
Reynolds, Glenn (ngày 28 tháng 10 năm 2004). “Explaining the 'Anglosphere'”. The Guardian.
Roberts, Andrew (2006). A History of the English-Speaking Peoples Since 1900. Weidenfeld & Nicolson. ISBN 0-297-85076-8.
Luca Bellocchio, L'eterna alleanza? La special relationship angloamericana tra continuità e mutamento, Franco Angeli, Milano, 2006 francoangeli.it
Luca Bellocchio, Anglosfera. Forma e forza del nuovo Pan-Anglismo, Il Nuovo Melangolo, Genova, 2006. |
fever (album của kylie minogue).txt | Fever là album phòng thu thứ 8 của nữ ca sĩ người Úc Kylie Minogue, được phát hành cuối năm 2001 tại Châu Âu và Úc, 2002 tại Mỹ bởi Parlophone, Mushroom và Capitol.
== Thông tin album ==
Đĩa đơn dầu tiên, "Can't Get You out of My Head" đã chiếm vị trí số #1 tại nhiều quốc gia. Album khi phát hành cũng chiếm ngôi vị quán quân tại bảng xếp hạng Úc và tất cả các nước châu Âu và bán được 2 triệu bản chỉ riêng tại Anh. Tới nay, Fever đã tiêu thụ hết 9 triệu bản trên toàn thế giới. Nó trở thành album có lượng tiêu thụ cao nhất tại Úc và thành công nhất tại Mỹ và Canada của Minogue.
Có ba phiên bản khác nhau của bìa album. Phiên bản gốc có hình ảnh Minogue mặc bộ đồ trắng và cầm một cái micro. Phiên bản này được phát hành tại Úc, Châu Á, châu Âu, Mỹ Latin và Canada. Khi album được phát hành muộn hơn tại Mỹ và phát hành lại (tại một số nước) ở châu Á, bìa album được thay đổi thành hình chụp khuôn mặt Minogue với một chuỗi hạt. Hình bìa này cũng được phát hành ở Canada. Hình bìa cho phiên bản tặng kèm cũng tương tự như bản gốc, nhưng với Minogue mặc trang phục xanh nước biển.
Album chiếm vị trí quán quân tại 20 quốc gia. Trong đó có cả Anh và Úc, trụ vững trên bảng xếp hạng album của Úc 75 tuần, nơi album được chứng nhận đĩa Bạch Kim 7 lần. Fever cũng leo lên vị trí #3 tại Mỹ, vị trí cao nhất trong các album từ trước tới giờ của Minogue
== Danh sách bài hát ==
"More, More, More" (Tommy D, Liz Winstanley) - 4:42
"Love at First Sight" (Kylie Minogue, Richard Stannard, Julian Gallagher, Roselyn Della Sabina, Ash Howes, Martin Harrington) - 3:59
"Can't Get You out of My Head" Roselyn Della Sabina, Cathy Dennis, Rob Davis- 3:51
"Fever" (Greg Fitzgerald, Tom Nichols) - 3:31
"Give It to Me" (Kylie Minogue, Mark Picchiotti, Steve Anderson) - 2:50
"Fragile" (Rob Davis) - 3:46
"Come into My World" (Cathy Dennis, Rob Davis) - 4:31
"In Your Eyes" (Kylie Minogue, Richard Stannard, Julian Gallagher, Ash Howes) - 3:20
"Dancefloor" (Cathy Dennis, Roselyn Della Sabina, Steve Anderson) - 3:25
"Love Affair" (Kylie Minogue, Richard Stannard, Julian Gallagher) - 3:49
"Your Love" (Kylie Minogue, Pascal Gabriel, Paul Statham) - 3:49
"Burning Up" (Greg Fitzgerald, Tom Nichols) - 4:28
== Bài hát bổ sung ==
"Tightrope" (Kylie Minogue, Pascal Gabriel, Paul Steinberg) - tại Úc
"Good Like That" - tại Nhật
"Baby" (Lars Aass, Botolf Loedemel, Liz Winstanley) - tại Nhật
"Boy" (Kylie Minogue, Richard Stannard, Julian Gallagher) - tại Mỹ
"Butterfly" (bài hát chính thức từ album Light Years) - tại Mỹ
== Đĩa nhạc bổ sung ==
"Can't Get Blue Monday out of My Head"* (Cathy Dennis, Rob Davies, Bernard Sumner, Gillian Gilbert, Roselyn Della Sabina, và Stephen Morris)
"Love at First Sight" (The Scumfrog's Beauty And The Beast Vocal Edit)
"Can't Get You out of My Head" (Deluxe's Dirty Dub)
"In Your Eyes" (Roger Sanchez Release The Dub Mix)
"Love at First Sight" (Ruff & Jam US Radio Mix)
"Come Into My World" (Fischerspooner Mix)
"Whenever You Feel Like It" (Kylie Minogue, Billy Steinberg, Rick Nowels)
"Tightrope" (Kylie Minogue, Pascal Gabriel, Paul Steinberg) - tại Nhật
"Can't Get You out of My Head" (K&M's Mindprint Mix) - tại Nhật
"In Your Eyes" (Jean Jacques Smoothie Mix) - tại Nhật
== Đĩa đơn ==
"Can't Get You out of My Head" được phát hành vào tháng 9, 2001 tại Châu Âu và Úc. Nó lập tức chiếm vị trí #1 tại Úc, Ireland, Anh và ở lại ở đó suốt 4 tuần trong toàn bộ ba nước. Vào 2002, bài hát được ra mắt tại Mỹ và trở thành đĩa đơn Top 10 thứ 2 tại Billboard Hot 100, kể từ khi đĩa đơn "The Loco-Motion đạt được năm 1988. Nó cũng đạt vị trí số 1 tại US Dance.
"In Your Eyes" được ra mắt vào tháng 2 năm 2002. Nó đạt đến vị trí cao nhất ở Úc, đồng thời #3 tại Anh, #6 ở Ireland và #11 ở Canada. Nó không được phát hành tại Mỹ.
"Love at First Sight" được phát hành vào tháng 6 năm 2002. Nó đạt đến vị trí #2 tại Anh và #3 tại Úc. Bài hát được đề cử giải Grammy ở hạng mục "Thu âm nhạc nhảy xuất sắc nhất" năm 2003, sau khi chiếm vị trí số #1 tại US Dance. Nó đạt đến vị trí #23 tại Billboard và #7 tại Ireland.
"Fever" được phát hành vào tháng 7 năm 2002 và chỉ có mặt trên radio của Úc. Mặc dù không có mặt trên bảng xếp hạng của Úc nhưng nó lại trở nên rất phổ biến trên radio. Do không có video để quảng bá cho ca khúc nên kênh âm nhạc "MAX" của Úc phát bản live của Kylie tại tour KYLIEFEVER2002.
"Come into My World" được phát hành trong tháng 11 năm 2002. Nó đạt đến #4 tại Úc, #8 tại Anh và #11 tại Tây Ban Nha và #91 tại Mỹ. Nó cũng giúp Minogue giành được giải Grammy đầu tiên cho sự nghiệp ở hạng mục "Thu âm nhạc nhảy xuất sắc nhất".
== Bảng xếp hạng và chứng nhận ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Fever trên Kylie.com |
haiti.txt | Haiti (phát âm /ˈheɪtiː/; tiếng Pháp Haïti, phát âm: [a.iti]; tiếng Haiti: Ayiti), tên chính thức Cộng hòa Haiti (République d'Haïti; Repiblik Ayiti, Tiếng Việt: Cộng hòa Ha-i-ti), là một quốc gia ở vùng biển Ca-ri-bê nói tiếng Creole Haiti- và tiếng Pháp. Cùng với Cộng hòa Dominicana, quốc gia này nằm ở đảo Hispaniola, trong quần đảo Đại Antilles. Ayiti (vùng đất núi cao) đã là tên Taíno hay Amerindian bản địa của phía tây núi non của hòn đảo. Điểm cao nhất quốc gia này là Pic la Selle, với độ cao 2.680 mét (8.793 ft). Tổng diện tích là 27.750 km² và thủ đô là Port-au-Prince.
Vị trí dân tộc, ngôn ngữ và lịch sử của Haiti độc đáo vì nhiều lý do. Đây là quốc gia độc lập đầu tiên ở Mỹ Latin, quốc gia do người da đen độc lập phi thực dân hóa đầu tiên trên thế giới, là quốc gia duy nhất mà sự độc lập một phần là nhờ cuộc nổi loạn nô lệ. Dù có mối liên hệ văn hóa với các láng giềng Hispano-Caribbe, Haiti là quốc gia độc lập chủ yếu sử dụng Pháp ngữ ở châu Mỹ, và là một trong hai quốc gia (cùng với Canada) với tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức.
== Lịch sử ==
=== Tiền thuộc địa và giai đoạn thực dân Tây Ban Nha ===
Đảo Hispaniola, trong đó Haiti chiếm một phần ba phía tây, là một trong những hòn đảo Caribê có thổ dân Taíno - một nhánh của bộ tộc Nam Mỹ Arawak. Tên Taino cho toàn bộ đảo đã là Kiskeya. Người ta cho ràng người Taínos gọi phía tây hòn đảo là Ayiti, có nghĩa là "đất miền núi", và một phần của Ayiti họ gọi là Bohio, nghĩa là "làng giàu". Trong xã hội Taino ở quần đảo Caribê, các đơn vị lớn nhất của tổ chức chính trị đã được lãnh đạo bởi một Cacique, vì vậy thuật ngữ 'caciquedom' (tù trưởng)(caciquat trong tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha là cacicazgo) cho các xã hội có tổ chức Taino, mà thường được gọi là "thủ lĩnh". Trước khi Christopher Columbus đến đây, đảo Hispaniola được chia cho các năm lãnh thổ của tù trưởng đã hình thành lâu dài: Marien, Xaragua, Maguana, Higuey, và Magua. Haiti ngày nay bao trùm gần như tất cả các lãnh thổ của hai lãnh thổ đầu tiên trong số này.
Haiti được nhà thám hiểm Cristobal Colon phát hiện ra vào năm 1492. Lúc đầu, Tây Ban Nha xâm chiếm phần phía Đông đảo La Espanola. Năm 1697, Tây Ban Nha nhượng lại cho Pháp phần phía Tây với tên gọi là Saint Domingue. Trong thế kỷ 18, Saint Domingue xuất khẩu đường, ca cao, cà phê và là thuộc địa thịnh vượng nhất của Pháp tại châu Mỹ.
Từ 1791 đến 1794, cách mạng giải phóng nô lệ nổ ra, đưa đến xoá bỏ hoàn toàn chế độ nô lệ ở Haiti. Năm 1794, Pháp chiếm lại toàn bộ đảo La Espanola. Từ 1801-1803, nhân dân Haiti nổi dậy dưới sự lãnh đạo lúc đầu của Toussaint Louverture và sau đó của Jacques Dessalines đánh bại đội quân Napoleon. Năm 1804, J. Dessalines lên ngôi Hoàng đế và tuyên bố Haiti độc lập. Từ nửa cuối thế kỷ 19 đến đầu thế kỷ 20, Haiti luôn bất ổn định chính trị, nhiều cuộc đảo chính đã xảy ra. Từ 1915 - 1934, Mỹ chiếm đóng Haiti. Sau khi Mỹ rút đi, Haiti lại rơi vào tình trạng bất ổn định. Năm 1957, Francois Duvalier trúng cử Tổng thống, thiết lập chế độ độc tài. Năm 1964, Duvalier xoá bỏ các đảng phái đối lập và tự xưng Tổng thống suốt đời. Năm 1971, Duvalier chết, con trai là Jean Claude Duvalier lên thay. Năm 1986, giới quân sự được Mỹ hậu thuẫn đảo chính lật đổ Duvalier (con).
Năm 1990, trong cuộc tổng tuyển cử tự do đầu tiên, Jean Bertrand Aristide đắc cử Tổng thống nhưng bị giới quân sự đảo chính lật đổ (tháng 9 năm 1991).Trước đòn trừng phạt bao vây kinh tế của Tổ chức các Quốc gia châu Mỹ (OAS), Liên Hợp Quốc và Mỹ, nhằm đưa Aristide trở lại cầm quyền, tướng Raoul Cedras đã buộc phải ký thoả thuận với Aristide (7/1993), nhưng giới quân sự Haiti chống đối. Tháng 9 năm 1994, Mỹ can thiệp quân sự dưới danh nghĩa LHQ, đưa Tổng thống Aristide trở lại Haiti. Từ 1996 - 2000, Tổng thống René Preval (được Aristide ủng hộ) lên cầm quyền. Tháng 12 năm 2000, Aristide tái đắc cử Tổng thống (nhậm chức 7/2/2001). Đầu năm 2004, Haiti lại rơi vào khủng hoảng chính trị, Tổng thống Aristide một lần nữa bị lật đổ và đi lưu vong nước ngoài.
=== Thập niên 2000 ===
Aristide tái đắc cử năm 2000. Nhiệm kỳ thứ hai của ông đã được đánh dấu bằng các cáo buộc tham nhũng. Năm 2004, một cuộc đảo chính bán quân sự đã lật đổ Aristide lần thứ hai. (Xem cuộc nổi dậy Haiti năm 2004) Aristide đã được Thủy quân lục chiến Hoa Kỳ đưa đi khỏi nhà trong vụ mà ông mô tả là một vụ bắt cóc, và một thời gian ngắn ông được chính phủ Cộng hòa Nam Phi giữ (Mỹ quyết định đưa ông đến đó). Aristide được thả và sống lưu vong ở Nam Phi.
Boniface Alexandre tạm thời nắm quyền. Trong tháng 2 năm 2006, sau cuộc bầu cử đánh dấu bởi sự không chắc chắn và các cuộc biểu tình phổ biến, René Préval được bầu làm tổng thống.
Ủy ban ổn định của Liên Hiệp Quốc ở Haiti (còn gọi là MINUSTAH) đã ở quốc gia này kể từ cuộc nổi loại năm 2004 của Haiti.
== Chính trị ==
Theo chế độ Cộng hoà. Tổng thống là Nguyên thủ quốc gia. Thủ tướng là người đứng đầu Chính phủ. Quốc hội lưỡng viện gồm Thượng viện (27 thượng nghị sĩ được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 6 năm) và Hạ viện (83 hạ nghị sĩ được bầu trực tiếp với nhiệm kỳ 4 năm). Haiti theo chế độ đa đảng. Các đảng phái chính là: Đảng Fanmi Lavalas (FL), Liên minh hội tụ Dân chủ (CD).
== Địa lý ==
Haiti nằm ở phía tây của đảo Hispaniola, hòn đảo lớn thứ nhì trong Đại Antilles. Haiti là quốc gia lớn thứ 3 trong vùng Caribe sau Cuba và Cộng hòa Dominica (Cộng hòa Dominica có cùng 360 km biên giới với Haiti). Điểm gần nhất của Haiti cách Cuba khoảng 80 km và có đường bờ biển dài thứ 2 (1.771 km/1.100 mi) trong Đại Antilles, sau Cuba. Địa hình của Haiti bao gồm chủ yếu là núi non hiểm trở xen với vùng đồng bằng nhỏ ven biển và thung lũng sông.
Vùng phía bắc gồm khối núi phía bắc (Massif du Nord) và đồng bằng phía bắc (Plaine du Nord). Khối núi phía bắc là phần kéo dài của dãy núi trung tâm từ cộng hòa Dominicana. Nó bắt đầu ở biên giới phía đông của Haiti, phía bắc của sông Guayamouc, và kéo dài đến phía tây bắc xuyên qua bán đảo phía bắc. Các vùng đất thấp của Plaine du Nord nằm kéo dài theo ranh giới phía bắc với cộng hòa Dominicana, giữa Massif du Nord và Bắc Đại Tây Dương. Vùng trung tâm gồm hai đồng bằng và hai dãy núi. Cao nguyên trung tâm kéo dài dọc theo cả hai phía của sông Guayamouc, phía nam của Massif du Nord. Nó chạy từ đông nam đến tây bắc. Về phía tây nam của Cao nguyên trung tâm là Montagnes Noires, hầu hết phần phía tây của địa hình này nhập chung với Massif du Nord. Điểm cực tây của nó là mũi Carcasse.
== Trận động đất ==
Vào năm 2010, ở haiti đã có một trận động đất kinh hoàng gây thiệt hại nặng nề cho người dân nơi đây.
== Tôn giáo ==
Tôn giáo hiện nay của Haiti gồm có: Công giáo La Mã 80% dân số, Tin lành 16% (Baptist 10%, Phong trào Ngũ Tuần 4%, Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm 1%, khác 1 %), vô thần 1%, tôn giáo khác 3%.
=== Công giáo Rôma ===
Tương tự như phần còn lại của châu Mỹ La tinh, Haiti bị chiếm làm thuộc địa của cường quốc châu Âu theo Công giáo Rôma nên tôn giáo này cũng được mang đến đây. Hiện nay, đạo Công giáo được ghi nhận trong hiến pháp Haiti là quốc giáo chính thức, và từ 80 đến 85% người dân Haiti là người Công giáo. Giáo hoàng Gioan Phaolô II viếng thăm Haiti vào năm 1983.
Theo Giáo hội Công giáo Haiti, hiện tại nước này có hai Tổng giáo phận, mười giáo phận, 251 giáo xứ và khoảng 1500 giáo hạt. Các giáo sĩ địa phương có 400 linh mục triều và 300 chủng sinh. Ngoài ra còn có 1.300 linh mục thuộc hơn 70 dòng tu và quân đoàn huynh đệ.
Trong trận động đất lịch sử năm 2010, nhà thờ chính tòa Port-au-Prince, một chủng viện, và một số văn phòng của Tổng giáo phận Port-au-Prince bị thiệt hại lớn trong trận động đất này. Trong số rất nhiều nạn nhân của nó có Tổng giám mục Joseph Serge Miot của Tổng giáo phận Port-au-Prince và nhiều chủng sinh cũng như em gái Hồng y Paulo Evaristo Arns của Brazil.
=== Tin Lành ===
Hiện nay, có một số giáo phái Tin Lành đang hoạt động tại Haiti. Giáo phái đông nhất là Anh giáo với 83.698 thành viên năm 2008.
Giáo phái thứ hai là Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giêsu Kitô tuyên bố có hơn 18.000 thành viên và 42 chi hội ở Haiti.
=== Hồi giáo ===
Có một cộng đồng Hồi giáo nhỏ ở Haiti, chủ yếu cư trú tại Port-au-Prince, Cap-Haitien và vùng ngoại ô của nó. Lịch sử của Hồi giáo trên đảo Hispaniola (trong đó có 2 nước là Haiti và Cộng hòa Dominica) bắt đầu với những nô lệ được đem đến Haiti. Năm 2000, Nawoon Marcellus, một tín đồ Hồi giáo ở San Raphael, đã trở thành người Hồi giáo đầu tiên được bầu vào Viện đại biểu (Quốc hội) Haiti.
=== Bahá'í ===
Tôn giáo Bahá'í ở Haiti được truyền đến năm 1916 và là một trong những đảo quốc vùng Caribbean có số lượng đáng kể tín đồ tôn giáo này. Hội đồng tin thần Bahá'í địa phương đầu tiên của Haiti được thành lập vào năm 1942 tại Port-au-Prince. Năm 1961, Hội đồng tin thần Bahá'í quốc gia Haiti được thành lập. Theo ước tính hiện nay, đạo Baha'is có 21.000 tín đồ tại Haiti vào năm 2005.
== Phân chia hành chính ==
Haiti được chia thành 10 tỉnh (department). Các tỉnh được chia như danh sách dưới đây, với tỉnh lỵ trong ngoặc đơn.
Artibonite (Gonaïves)
Centre (Hinche)
Grand'Anse (Jérémie)
Nippes (Miragoâne)
Nord (Cap-Haïtien)
Nord-Est (Fort-Liberté)
Nord-Ouest (Port-de-Paix)
Ouest (Port-au-Prince)
Sud-Est (Jacmel)
Sud (Les Cayes)
Các tỉnh được chia thành 41 huyện (arrondissement) và 133 xã (commune).
== Kinh tế ==
Theo phần lớn cách đánh giá kinh tế, Haiti là nước nghèo nhất ở châu Mỹ. GDP danh nghĩa của nước này đạt 751 tỷ USD trong năm 2016, với GDP bình quân đầu người 8.259 USD, mức khoảng 2 $ / người / ngày, đứng thứ 142 thế giới và đứng thứ 4 khu vực Caribe..
Đây là một nước nghèo khó, một trong những nước nghèo và kém phát triển nhất thế giới. Các chỉ số so sánh xã hội và kinh tế cho thấy Haiti rơi xuống phía dưới mức các nước có thu nhập thấp đang phát triển (đặc biệt là ở bán cầu) kể từ những năm 1980. Haiti bây giờ đứng thứ 149 trên 182 quốc gia trong chỉ số phát triển con người của Liên Hiệp Quốc (2006). Khoảng 80% dân số được ước tính đang sống trong cảnh nghèo đói trong năm 2003.. Hầu hết người dân Haiti sống trên dưới 2 USD mỗi ngày. Haiti có 50% dân số mù chữ,, và hơn 80% sinh viên tốt nghiệp đại học từ Haiti đã di cư, chủ yếu vào Hoa Kỳ.. Cité Soleil được xem là một trong những khu nhà ổ chuột tồi tệ nhất ở châu Mỹ,, [61] nhất của 500.000 cư dân của nó sống trong cảnh nghèo đói cùng cực nghèo đã buộc ít nhất 225.000 trẻ em ở các thành phố của Haiti vào chế độ nô lệ., làm việc như những đầy tớ rong các hộ gia đình mà không được trả lương.
Khoảng 66% của lao động Haiti làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp, bao gồm chủ yếu là nông nghiệp tự túc quy mô nhỏ, nhưng hoạt động này chỉ chiếm 30% GDP. Các quốc gia đã trải qua quá trình ít tạo việc làm chính thức trong thập kỷ qua, mặc dù nền kinh tế không chính thức đang tăng. Xoài và cà phê là hai trong số các mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của Haiti 1% số người giàu nhất Haiti có gần một nửa tài sản của đất nước. Haiti đã luôn được xếp hạng trong số các quốc gia tham nhũng nhiều nhất trên thế giới về Chỉ số nhận thức tham nhũng.Kể từ ngày "Papa Doc" Duvalier, chính phủ Haiti đã nổi tiếng về tham nhũng. Haiti độc tài "Baby Doc" Duvalier, Michelle vợ ông, và ba người khác được cho là đã lấy 504 triệu USD từ ngân quỹ công cộng Haiti giữa năm 1971 và 1986
Viện trợ nước ngoài chiếm khoảng 30-40% ngân sách quốc gia của chính phủ. Các nhà tài trợ lớn nhất là Hoa Kỳ - theo sau là Canada và Liên minh châu Âu cũng góp phần hỗ trợ . Từ năm 1990-2003, Haiti đã nhận được hơn 4 tỷ USD trong viện trợ. Riêng Hoa Kỳ đã cung cấp cho Haiti 1,5 tỷ USD viện trợ Venezuela và Cuba cũng đóng góp nhiều cho nền kinh tế Haiti, đặc biệt là sau khi các thỏa thuận liên minh đã được gia hạn trong năm 2006 và 2007. Trong tháng 1 năm 2010, Trung Quốc đã hứa viện trợ cấp 4,2 triệu USD cho hòn đảo bị động đất này còn Tổng thống Obama cam kết Mỹ hỗ trợ 100 triệu USD . Viện trợ của Mỹ cho chính phủ Haiti đã bị cắt bỏ hoàn toàn trong giai đoạn 2001-2004 sau cuộc bầu cử năm 2000 bị tranh chấp và Tổng thống Aristide bị cáo buộc có các hành động xấu khác nhau . Sau sự ra đi của Aristide của năm 2004, viện trợ đã được phục hồi, và quân đội Brazil đã chỉ huy cấc hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên Hiệp Quốc tạiHaiti. Sau gần 4 năm suy thoái kết thúc vào năm 2004, nền kinh tế tăng 1,5% trong năm 2005 . Năm 2005 tổng nợ nước ngoài của Haiti đã lên đến 1,3 tỷ đô la Mỹ, tương ứng với một món nợ bình quân đầu người là 169 USD, so với mức nợ bình quân đầu người của Hoa Kỳlà 40.000 USD. Trong tháng 9 năm 2009, Haiti đã đáp ứng các điều kiện đặt ra của IMF và chương trình các quốc gia mắc nợ nặng nề của Ngân hàng Thế giới đủ điều kiện để hủy bỏ nợ nước ngoài .
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Sù chôp Haiti |
đi tìm dory.txt | Đi tìm Dory (tựa gốc tiếng Anh: Finding Dory) là một bộ phim hoạt hình máy tính 3D của Mỹ đang được công chiếu sản xuất bởi Pixar Animation Studios và phát hành bởi Walt Disney Pictures. Bộ phim là phần tiếp theo của phim Đi tìm Nemo năm 2003 của Pixar. Andrew Stanton, đạo diễn của phần trước trở lại trong vai trò là đạo diễn và biên kịch cho phần tiếp theo, cùng với Angus MacLane trong vai trò đồng đạo diễn. Phim này từ những nhà tạo ra Đi tìm Nemo (Finding Nemo) và Những mảnh ghép cảm xúc (Inside Out). Bộ phim được lên kế hoạch phát hành vào ngày 17 tháng sáu, 2016. Hãng cũng xác nhận rằng những nhân vật trong bộ phim trước sẽ tái xuất hiện trong phần tiếp theo, bao gồm Dory, Nemo, Marlin và "Hội Bể cá" (Tank Gang).
Đi tìm Dory sẽ tập trung vào chứng hay quên của nhân vật Dory, và khám phá cái ý tưởng đoàn tụ gia đình của cô. Bối cảnh phim diễn ra sáu tháng sau cuộc hành trình Đi tìm Nemo và rời khỏi bờ biển California.
== Cốt truyện ==
Một hôm, trong khi đang ở trường học ở Rặng Đá Ngầm (Coral Reef), Dory đột nhiên nhớ lại những kỷ niệm thời thơ ấu của mình. Cô ra đi và tìm đến một học viện dành cho các loài động vật biển, tại đây, cô trở thành bạn của bạch tuộc Hank, nhân vật sau này trở thành người dẫn đường của cô.
== Phân vai ==
Ellen DeGeneres vai Dory, một con cá đuôi gai xanh Thái Bình Dương.
Albert Brooks vai Marlin, một con cá hề, bố của Nemo và cũng là bạn của Dory.
Hayden Rolence vai Nemo, con trai của cá hề Marlin.
Diane Keaton vai Jenny, mẹ Dory.
Eugene Levy vai Charlie, bố Dory.
Kaitlin Olson vai Destiny, một con cá nhám voi bị cận thị, là bạn thuở nhỏ của Dory.
Dominic West vai Rudder, một con sư tử biển.
Idris Elba vai Fluke, một con sư tử biển.
Ed O'Neill vai Hank, một con bạch tuộc nóng tính có bảy xúc tu.
Ty Burrell vai Bailey, một con cá voi trắng bị tạm thời mất khả năng định vị bằng sóng âm do bị thương.
Bob Peterson vai Mr. Ray, một chú cá đuối đại bàng đốm, là thầy của Nemo.
Andrew Stanton vai Crush, một con rùa biển sống ở dòng Hải lưu phía Đông nước Úc.
Bennett Dammann vai Squirt, con trai của Crush
Willem Dafoe vai Gill, một con cá thù lù và là thủ lĩnh của hội bể cá (Tank gang), bạn trong bể của Nemo trong phim trước
Vicki Lewis vai Deb (và chị gái cô, "Flo", ảnh phản chiếu của Deb), một con cá thia đá bốn sọc, một người bạn trong bể của Nemo trong phim trước.
Brad Garrett vai Bloat, một chú cá nóc, thành viên của hội bể cá.
Allison Janney vai Peach, một chú sao biển màu hồng, thành viên hộ bể cá.
Austin Pendleton vai Gurgle, một chú cá gramma hoàng gia, thành viên hội bể cá.
Stephen Root vai Bubbles, a chú cá đuôi gai vàng, thành viê hội bể cá.
Jerome Ranft vai Jacques, một chú tôm dọn bể, thành viên hội bể cá.
Hãng thông báo rằng Nemo và cả "hội bể cá" sẽ trở lại cũng như những nhân vật được khán giả để ý khác trong phim trước. Tuy nhiên, chưa biết rằng liệu chú tôm Pháp Jacques có xuất hiện trong phần tiếp theo hay không bởi vì diễn viên lồng tiếng của nhân vật này, Joe Ranft, đã qua đời trong một vụ tai nạn xe hơi ngày 16 tháng 8 năm 2005 trong khi đang sản xuất phim Cars. Cũng chưa biết rằng liệu diễn viên lồng tiếng cho nhân vật Nemo, Alexander Gould, có tiếp tục lồng tiếng cho nhân vật này hay không bởi vì cậu chỉ mới 9 tuổi khi đang sản xuất bộ phim trước, và giọng của cậu cũng đã thay dổi nhiều, trầm dần theo thời gian.
== Quá trình sản xuất ==
== Phát hành ==
Đi tìm Dory được lên kế hoạch ra mắt công chúng vào ngày 17 tháng 6, năm 2016.
== Xem thêm ==
Đi tìm Nemo
Pixar Animation Studios
Walt Disney Pictures
== Tham khảo == |
phong kiến.txt | Phong kiến là cấu trúc xã hội xoay quanh những mối quan hệ xuất phát từ việc sở hữu đất đai để đổi lấy lao động. Tại châu Âu, chế độ này là một tổng hợp các tục lệ pháp lý và quân sự nở rộ vào giai đoạn từ thế kỷ 9 tới 15.
== Định nghĩa ==
Về mặt thuật ngữ, chế độ phong kiến (phong tước, kiến địa) là một từ gốc Hán-Việt: 封建, xuất phát từ hệ tư tưởng chính trị thời Tây Chu, Trung Quốc. Vào thời này, vua Chu ra chế độ đem đất đai phong cho bà con để kiến lập các nước chư hầu gọi là "phong kiến thân thích". Do chế độ này giống chế độ phong đất cho bồi thần ở Châu Âu nên người ta đã dùng chữ "phong kiến" để dịch chữ féodalité từ tiếng Pháp. Tuy vậy cả hai chữ này chỉ mới phản ánh hình thức phân phong đất đai chứ chưa phản ánh bản chất của chế độ đó. Trong các ngôn ngữ châu Âu, féodalité bắt nguồn từ chữ feod trong tiếng Latinh nghĩa là "lãnh địa cha truyền con nối".
Phong kiến phản ánh hình thức truyền nối và chiếm hữu đất đai của chế độ quân chủ thời xưa, trong thời quân chủ chuyên chế. Trong nhiều trường hợp, những thời kỳ quân chủ trước kia cũng được gọi là thời kỳ phong kiến. Tuy nhiên, trong thời hiện tại, thể chế về chế độ quân chủ thời nay là chế độ quân chủ lập hiến, cho nên phong kiến chỉ phản ánh một giai đoạn, một thời kỳ hay là một hình thái của chế độ quân chủ.
== Ví dụ về phong kiến ==
=== châu Âu thời Trung cổ ===
Phong kiến Anh
Phong kiến tại Đế quốc La Mã Thần thánh
=== Phong kiến Nhà Chu, Trung Quốc ===
=== Phong kiến Nhật Bản ===
=== Chế độ nông nô tại Nga ===
== Phương Đông và phương Tây ==
Trong từng quốc gia và từng khu vực, chế độ phong kiến mang những đặc điểm riêng của những loại hình khác nhau. Do đó trong vài thập kỷ gần đây, các nhà sử học và các nhà nghiên cứu có những quan niệm rất khác nhau về chế độ phong kiến. Chính vì vậy, đã có những cuộc tranh luận về những đặc điểm cũng như sự tồn tại của chế độ phong kiến ở nhiều nước, nhất là ở phương Đông.
Tại phương Tây (châu Âu), đặc điểm cơ bản của chế độ phong kiến là kinh tế lãnh địa, giai cấp lãnh chúa và nông nô, hệ thống đẳng cấp dựa trên quan hệ lãnh chúa - chư hầu, tình trạng cát cứ kéo dài.
Tại phương Đông, kinh tế Địa chủ và quan hệ địa chủ - nông dân lĩnh canh không phát triển, chế độ địa chủ tập quyền ra đời sớm và tồn tại lâu dài, bên cạnh sở hữu tư nhân còn có sở hữu nhà nước về ruộng đất, kinh tế địa chủ với quan hệ địa chủ - nông dân chiếm ưu thế.
Sự khác biệt giữa phương Tây và phương Đông nhiều đến mức độ làm cho một số nhà sử học tỏ ý nghi ngờ hoặc phủ nhận sự tồn tại của chế độ phong kiến ở phương Đông
Theo ý kiến của nhà nghiên cứu Nguyễn Hiến Lê, phong kiến của phương Đông và "féodalité" của phương Tây thực chất không giống nhau:
Thời Trung cổ, ở phương Tây (như Pháp chẳng hạn) cũng có chế độ féodalité mà ta dịch là phong kiến, nhưng sự thực thì féodalité khác phong kiến Trung Hoa. Thời đó vua chúa của phương Tây suy nhược, các rợ (như Normand, Germain, Visigoth) ở chung quanh thường xâm lấn, cướp phá các thành thị, đôi khi cả kinh đô nữa, rồi rút lui. Các gia đình công hầu thấy sống ở kinh đô không yên ổn, triều đình không che chở được cho mình, phải dắt díu nhau về điền trang của họ, xây dựng những đồn luỹ kiên cố, chung quanh có hào; họ đúc khí giới, tuyển quân lính để chống cự với giặc. Nông dân ở chung quanh đem ruộng đất tặng lãnh chúa hoặc sung vào quân đội của lãnh chúa để được lãnh chúa che chở. Do đó mà một số lãnh chúa khá mạnh, đất rộng, quân đông, họ hợp lực nhau đem quân cứu triều đình, được phong tước cao hơn, có khi lấn áp nhà vua nữa, và sau triều đình phải tốn công dẹp họ để thống nhất quốc gia. Nguyên nhân thành lập chế độ phong kiến ở Đông và Tây khác nhau như vậy nên không thể so sánh với nhau được.
Theo học giả Phan Khôi, lịch sử Việt Nam không có chế độ phong kiến.
== Xem thêm ==
Chế độ trang viên
== Tham khảo ==
Nguyễn Hiến Lê (2006). Sử Trung Quốc. Nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh.
Nguyễn Hiến Lê (1996). Khổng Tử. Nhà xuất bản Văn Hoá.
Nguyễn Anh Thái; Đặng Thanh Tịnh, Ngô Phương Bá (1991). Lịch sử Trung Quốc. Nhà xuất bản Giáo dục.
== Chú thích == |
tết nguyên đán.txt | Tết Nguyên Đán (hay còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền hay chỉ đơn giản còn gọi là Tết) là dịp lễ quan trọng nhất của Việt Nam, cùng với văn hóa Tết Âm lịch của các nước Đông Á. Trước ngày Tết, thường có những ngày khác để sửa soạn như "Tết Táo Quân" (23 tháng chạp âm lịch) và "Tất Niên" (29 hoặc 30 tháng chạp âm lịch)
Vì Tết tính theo nông lịch nên Tết Nguyên Đán của Việt Nam muộn hơn Tết Dương lịch (còn gọi nôm na là Tết Tây). Do quy luật 3 năm nhuận một tháng của nông lịch nên ngày đầu năm của dịp Tết Nguyên đán không bao giờ trước ngày 21 tháng 1 Dương lịch và sau ngày 19 tháng 2 Dương lịch mà thường rơi vào khoảng cuối tháng 1 đến giữa tháng 2 Dương lịch. Toàn bộ dịp Tết Nguyên đán hàng năm thường kéo dài trong khoảng 7 đến 8 ngày cuối năm cũ và 7 ngày đầu năm mới (23 tháng Chạp đến hết ngày 7 tháng Giêng).
Hàng năm, Tết được tổ chức vào ngày mồng 1 tháng 1 nông lịch trên đất nước Việt Nam và ở một vài nước khác có cộng đồng người Việt sinh sống. Trong những ngày Tết, các gia đình sum họp bên nhau, cùng thăm hỏi người thân, mừng tuổi và thờ cúng tổ tiên... Theo phong tục tập quán, Tết thường có những điều kiêng kỵ.
== Từ nguyên ==
Từ tết trong tiếng Việt là âm Hán Việt cổ của chữ “節”. Chữ này có âm Hán Việt là tiết. Tết và tiết đều bắt nguồn từ âm đọc trong tiếng Hán trung cổ của chữ “節”. “Tết” xuất hiện trước “tiết”, vào giai đoạn chữ "tiết" 節 có âm đọc trong tiếng Hán trung cổ là /tset/. “Tiết” xuất hiện sau “tết”, vào giai đoạn âm đọc trong tiếng Hán trung cổ của chữ "tiết" 節 đã biến đổi thành /tsiet/. Ban đầu cả "tết" và "tiết" đều được phát âm giống như âm đọc của chữ "tiết" 節 trong tiếng Hán ở thời điểm chúng được tiếng Việt vay mượn, về sau do sự biến đổi của ngữ âm tiếng Việt cách phát âm của chúng đã thay đổi thành "tết" và "tiết" như hiện nay. Quá trình biến đổi ngữ âm của "tết" và "tiết" đã diễn ra như sau:
/tset/ > /set/ > tết
/tsiet/ > /siet > tiết
Từ “nguyên” 元 trong “nguyên đán” 元旦 có nghĩa là đầu, đầu tiên, còn “đán” 旦 có nghĩa là ngày. Nghĩa gốc của từ “nguyên đán” 元旦 là chỉ ngày đầu tiên (tức ngày mồng một) của một năm nông lịch.
Hiện nay, tại Trung Quốc, tết nguyên đán không còn được gọi là tết nguyên đán nữa. Tại Trung Quốc đại lục, thời Dân quốc, năm thành lập Trung Hoa Dân quốc (năm 1912) được lấy làm mốc khởi thuỷ để định tên năm dương lịch. Năm thành lập Trung Hoa Dân quốc được coi là Trung Hoa Dân quốc năm thứ nhất. Năm sau Dân quốc năm thứ nhất, tức là Công nguyên năm 1913, là Dân quốc năm thứ hai, năm 1914 là Dân quốc năm thứ ba, năm 1915 là Dân quốc năm thứ tư... Lấy số năm Công nguyên trừ cho 1911 thì sẽ ra số năm Dân quốc tương ứng của năm Công nguyên đó. Ngày 27 tháng 9 năm 1949, Hội nghị Toàn thể Khoá I Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc quyết định gọi tên các năm dương lịch theo thứ tự trong kỷ nguyên Công lịch, chính thức quy định ngày 1 tháng 1 dương lịch (tức tết Tây) gọi là “nguyên đán”, ngày mồng một tháng giêng nông lịch gọi là “xuân tiết” 春节 (có nghĩa là tết xuân).
Hai miền Nam Bắc Việt Nam từ sau năm 1975 đều cùng sử dụng múi giờ GMT+7 (trước đó Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sử dụng múi giờ GMT+7, còn Việt Nam Cộng hoà sử dụng múi giờ GMT+8 giống như Trung Quốc), Trung Quốc thì sử dụng múi giờ GMT+8. Do hai nước Việt, Trung sử dụng hai múi giờ khác nhau khi biên soạn lịch nên nông lịch của Việt Nam và Trung Quốc bị lệch thời gian so với nhau, có lúc thì chỉ lệch có một giờ, có lúc thì lệch đến một tháng. Vì vậy mà có năm Việt Nam đón tết cùng ngày với Trung Quốc, có năm lại đón tết trước Trung Quốc.
== Lịch sử ==
=== Nguồn gốc ra đời ===
Văn hóa Đông Á – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã "phân chia" thời gian trong một năm thành 24 tiết khí khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc "giao thừa") trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên Đán sau này được biết đến là Tết Nguyên Đán.
Theo lịch sử Trung Quốc, nguồn gốc Tết Nguyên Đán có từ năm Tam Hoàng Ngũ Đế 2879 TCN thay đổi theo từng thời kỳ. Tuy nhiên, Tam Hoàng Ngũ Đế cũng chỉ là những nhân vật truyền thuyết. Một vài nhà nghiên cứu Việt Nam và phương Tây hiện đại cho rằng trên lãnh thổ Trung Quốc (ngày nay) thời cổ đại có hai chủng tộc sinh sống là người Hán (Mongloid phương Bắc) ở lưu vực Hoàng Hà, người Bách Việt (Mongloid phương Nam) ở nam Dương Tử. Do đặc điểm thời tiết và địa hình, nên kinh tế sơ khai của người Hán là chăn nuôi du mục còn người Bách Việt trồng lúa nước. Vì vậy, các nhà nghiên cứu cho rằng Tết là lễ hội nông nghiệp nên xuất xứ từ các dân tộc Bách Việt phương Nam còn người Hán chỉ tiếp nhận sau này.
Lịch sử Trung Quốc cũng cho rằng Tết được thay đổi qua các thời kỳ. Đời Tam đại, nhà Hạ chuộng màu đen nên chọn tháng giêng, tức tháng Dần. Nhà Thương thích màu trắng nên lấy tháng Sửu, tức tháng chạp, làm tháng đầu năm. Nhà Chu ưa sắc đỏ nên chọn tháng Tý, tức tháng mười một, làm tháng Tết. Các vua chúa nói trên quan niệm về ngày giờ "tạo thiên lập địa" như sau: giờ Tý thì có trời, giờ Sửu thì có đất, giờ Dần sinh loài người nên đặt ra ngày tết khác nhau. Đời Đông Chu, Khổng Tử đổi ngày Tết vào một tháng nhất định là tháng Dần. Đời nhà Tần (thế kỷ 3 TCN), Tần Thủy Hoàng lại đổi qua tháng Hợi, tức tháng mười. Đến thời nhà Hán, Hán Vũ Đế (140 TCN) lại đặt ngày Tết vào tháng Dần, tức tháng giêng. Từ đó về sau, không còn triều đại nào thay đổi về tháng Tết nữa. Song những chi tiết này chỉ tìm thấy trong sách sử Trung Quốc, không có các nguồn tư liệu khác để kiểm chứng. Theo các nghiên cứu gần đây, thực tế cư dân Bách Việt ngày xưa ăn Tết vào tháng Tý (tháng 11 âm lịch ngày nay) đến thời Hán mới chính thức đổi thành tháng Dần (tháng Giêng).
Trước năm 1967, Việt Nam lấy múi giờ Bắc Kinh làm chuẩn cho âm lịch. Ngày 8 tháng 8 năm 1967, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ban hành đổi lịch dùng múi giờ GMT+7 làm chuẩn ở miền Bắc. Vì thế hai miền nam bắc Việt Nam đón Tết Mậu Thân hai ngày khác nhau (miền Bắc ngày 29 tháng một trong khi miền Nam thì ngày 30 tháng 1). Từ năm 1976, cả 2 miền nam bắc mới dùng chung múi giờ GMT+7.
== Các giai đoạn chính trong Tết ==
Người Việt Nam quan niệm rằng ngày Tết thì tất cả mọi thứ đều phải thật sớm và mới. Do đó trước ngày Tết khoảng hơn 2 tuần, các gia đình đã sắm sửa cho ngày Tết. Họ thường quét dọn, trang trí nhà cửa, mua hoa, sắm thức ăn... thật chu đáo cho ngày Tết. Ngoài ra, tất cả những vật dụng không cần thiết hoặc bị cho là đem lại điềm gở cũng bị vứt bỏ.
=== Cuối năm ===
Công việc sửa soạn cho ngày Tết của người Việt thường bắt đầu từ ngày 23 tháng Chạp, là ngày mà người Việt cúng ông Táo (Táo quân). Theo quan điểm của người Việt thì ông Táo vừa là thần bếp trong nhà vừa là người ghi chép tất cả những việc làm tốt xấu mà con người đã làm trong năm cũ và báo cáo với Ngọc Hoàng những vấn đề tốt xấu của gia chủ. Ông Táo được cúng vào trưa hoặc chiều ngày 23 tháng Chạp âm lịch hàng năm. Lễ cúng gồm có hương (nhang), nến, hoa quả, vàng mã và hai mũ đàn ông, một mũ đàn bà kèm theo ba con cá chép (cá chép thật hoặc cá chép làm bằng giấy kèm theo cỗ mũ). Theo sự tích ông Táo, cá chép sẽ đưa ông Táo vượt qua Vũ Môn để lên Thiên đình gặp Ngọc Hoàng. Một số gia đình ở nông thôn vẫn còn gìn giữ phong tục dựng cây nêu, trong khi ở thành phố, phong tục này đã bị lãng quên. Theo phong tục, cây nêu được dựng lên để chống lại quỷ dữ và những điềm gở. Cây nêu thường được treo hoặc trang trí thêm những thứ được coi là để dọa ma quỷ như: tỏi, xương rồng, hình nộm và lá dứa. Trước ngày Tết, người Việt cũng chuẩn bị bánh chưng, bánh giầy còn ở miền nam thì loại bánh phổ biến là bánh tét và các món ăn thịnh soạn để dâng lên ông bà tổ tiên.
=== Tất niên ===
Ngày Tất niên có thể là ngày 30 tháng Chạp (nếu là năm đủ) hoặc 29 tháng Chạp (nếu là năm thiếu). Đây là ngày gia đình sum họp lại với nhau để ăn cơm buổi tất niên. Buổi tối ngày này, người ta làm cỗ cúng tất niên. Giữa ngày 30 (hoặc 29) tháng Chạp và ngày mồng 1 tháng Giêng, giờ Tý (từ 23 giờ hôm trước đến 1 giờ hôm sau), trong đó thời điểm bắt đầu giờ Chính Tý (0 giờ 0 phút 0 giây ngày Mồng 1 tháng Giêng) là thời khắc quan trọng nhất của dịp Tết. Nó đánh dấu sự chuyển giao năm cũ và năm mới, nó được gọi là Giao thừa. Để ghi nhận thời khắc này, người ta thường làm hai mâm cỗ. Một mâm cúng gia tiên tại bàn thờ ở trong nhà mình và một mâm cúng thiên địa ở khoảng sân trước nhà. Một số cộng đồng lấy con hổ là vật thờ thì gọi là cúng Ông Ba Mươi. Một số cộng đồng khác thì có một phần cỗ dành để cúng chúng sinh, cúng những cô hồn lang thang không nơi nương tựa.
Sắp dọn bàn thờ Trong gia đình người Việt thường có một bàn thờ tổ tiên, ông bà (hay còn gọi ông Vãi). Cách trang trí và sắp đặt bàn thờ khác nhau tùy theo từng nhà. Biền, bàn thờ là nơi tưởng nhớ, là thế giới thu nhỏ của người đã khuất. Hai cây đèn tượng trưng cho mặt trời, Mặt Trăng và hương là tinh tú. Hai bát hương để đối xứng. Phía sau hai cây đèn thường có hai cành hoa cúc giấy với nhiều bông nhỏ bao quanh bông lớn. Có nhà cũng cắm "cành vàng lá ngọc" (một thứ hàng mã) với sự cầu mong làm ăn được quả vàng, quả bạc và buôn bán lãi gấp nhiều lần năm trước. Ở giữa có trục "vũ trụ" là khúc trầm hương dưới dạng khúc khủy và vươn lên trong bát hương. Nhiều gia đình đặt xen hai cái đĩa giữa đèn và hương để đặt hoa quả lễ gọi là mâm ngũ quả (tuỳ mỗi miền có sự biến thiên các loại quả, nhưng mỗi loại quả đều có ý nghĩa của nó). Trước bát hương để một bát nước trong để coi như nước thiêng. Hai cây mía đặt ở hai bên bàn thờ là để các cụ chống gậy về với con cháu và dẫn linh hồn tổ tiên từ trên trời về hạ giới.
==== Giao thừa ====
Giao thừa là thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới. Trong thời khắc giao thừa mọi người trong gia đình thường dành cho nhau những lời chúc tốt đẹp nhất. Dịp này, người ta thường bắn pháo hoa ở những địa điểm rộng rãi, thoáng mát.
Cúng Giao thừa là lễ cúng để đem bỏ hết đi những điều xấu của năm cũ sắp qua để đón những điều tốt đẹp của năm mới sắp đến.
==== Cúng Giao thừa ngoài trời ====
Theo tục lệ cổ truyền thì Giao thừa được tổ chức nhằm đón các Thiên binh (chữ Hán: 天兵, tức 12 vị Hành khiển). Lúc đó họ đi thị sát dưới hạ giới, rất vội không kịp vào tận bên trong nhà được, nên bàn cúng thường được đặt ở ngoài cửa chính mỗi nhà. Hết một năm, vị Hành khiển (行遣) cũ đã cai quản Hạ giới trong năm cũ sẽ bàn giao công việc cho vị Hành khiển mới đi xuống sẽ cai quản Hạ giới trong năm mới. Mỗi năm có một vị, sau 12 năm thì các vị Hành khiển sẽ luân phiên trở lại. Mười hai vị Hành khiển và Phán quan (判官) gồm:
Năm Tý: Chu Vương Hành Khiển, Thiên Ôn Hành Binh chi Thần, Lý Tào Phán quan.
Năm Sửu: Triệu Vương Hành Khiển, Tam thập lục phương Hành Binh chi Thần, Khúc Tào Phán quan.
Năm Dần: Ngụy Vương Hành Khiển, Mộc Tinh chi Thần, Tiêu Tào Phán quan.
Năm Mão: Trịnh Vương Hành Khiển, Thạch Tinh chi Thần, Liêu Tào Phán quan.
Năm Thìn: Sở Vương Hành Khiển, Hỏa Tinh chi Thần, Biểu Tào Phán quan.
Năm Tỵ: Ngô Vương Hành Khiển, Thiên Hải chi Thần, Hứa Tào Phán quan.
Năm Ngọ: Tấn Vương Hành Khiển, Thiên Hao chi Thần, Nhân Tào Phán quan.
Năm Mùi: Tống Vương Hành Khiển, Ngũ Đạo chi Thần, Lâm Tào Phán quan.
Năm Thân:Tề Vương Hành Khiển, Ngũ Miếu chi Thần, Tống Tào Phán quan.
Năm Dậu: Lỗ Vương Hành Khiển, Ngũ Nhạc chi Thần, Cự Tào Phán quan.
Năm Tuất: Việt Vương Hành Khiển, Thiên Bá chi Thần, Thành Tào Phán quan.
Năm Hợi: Lưu Vương Hành Khiển, Ngũ Ôn chi Thần, Nguyễn Tào Phán quan.
Mâm lễ được sắp bày với lòng thành kính tiễn đưa người Nhà Trời đã cai quản mình năm cũ trở lại Thiên đình và đón người mới xuống sẽ làm nhiệm vụ cai quản Hạ giới năm tới. Vì việc bàn giao, tiếp quản công việc hết sức khẩn trương nên các vị chỉ có thể ăn vội vàng hoặc mang theo, thậm chí chỉ chứng kiến lòng thành của chủ nhà. Trên chiếc hương án có bình hương, hai ngọn đèn dầu hoặc hai ngọn nến.
Lễ vật gồm các chiếc thủ lợn hoặc con gà, bánh chưng, mứt kẹo, trầu cau, hoa quả, rượu hoặc nước và vàng mã. Các quan mặc dầu phút bàn giao bận rộn khẩn trương nhưng vì là... người nhà trời nên có tài thấu hiểu ngay "Ruột gan" của gia chủ. Nếu có ý cầu lợi, mua chuộc, đút lót, các vị chỉ nhìn dấu hiệu ở khói hương, lửa đèn là biết ngay, và lập tức các vị dông thẳng, không thèm ngó ngàng gì đến vật cúng giao thừa của các nhà cầu lợi ấy. Trái lại, những nhà chân chất, thật thà, sống bằng lao động, ăn ở tử tế thì có khi chỉ cần chén rượu, nén hương (như Thổ công đánh tín hiệu qua hương đèn), các vị có chức trách biết ngay mà vui vẻ thưởng thức, dốc lòng phù hộ.
Lễ trừ tịch còn là lễ để "khu trừ ma quỷ", do đó có từ "trừ tịch". Lễ trừ tịch cử hành vào lúc giao thừa nên còn mang tên là lễ giao thừa.
==== Cúng Giao thừa trong nhà ====
Cúng Giao thừa trong nhà là lễ cúng tổ tiên vào chính thời khắc giao thừa vừa tới nhằm để cầu xin Tổ tiên phù hộ độ trì cho gia đình gặp những điều tốt lành trong năm mới sắp đến. Mâm lễ bao gồm các món ăn mặn ngày Tết được chế biến tinh khiết với phong cách trang nghiêm.
Cỗ mặn gồm có bánh chưng, giò, chả, xôi gấc, thịt gà, xôi các loại, rượu, bia và các loại thức uống khác. Các món ăn mặn khác tùy theo nhu cầu của gia đình. Cỗ ngọt và chay bao gồm Hương, hoa, đèn nến, bánh kẹo, mứt tết.
Khi cúng Giao thừa trong nhà, các thành viên trong gia đình thường đứng trang nghiêm trước bàn thờ (không cần tất cả, chỉ cần gia chủ và vài ba người nữa) để khấn tổ tiên và xin được các cụ phù hộ độ trì trong nhà mới và cầu an khang thịnh vượng, sức khỏe tốt. Trước khi khấn Tổ tiên để mời tiền nhân về ăn Tết cùng với con cháu hậu thế, các gia chủ thường khấn thần Thổ Công để xin phép cho tổ tiên về ăn Tết. Ông là vị thần cai quản trong nhà (thường bàn thờ tổ tiên ở giữa, bàn thờ Thổ Công ở bên trái).
=== Ba ngày đầu năm ===
==== Ba ngày Tân niên ====
"Ngày mồng Một tháng Giêng" là ngày Tân niên đầu tiên và được coi là ngày quan trọng nhất trong toàn bộ dịp Tết. Không kể những người tốt số, hợp tuổi được mời đi xông đất, vào sáng sớm ngày này, người Việt cổ thường không ra khỏi nhà, chỉ bày cỗ cúng Tân niên, ăn tiệc và chúc tụng nhau trong nội bộ gia đình. Đối với những gia đình đã tách khỏi cha mẹ và cha mẹ vẫn còn sống, họ đến chúc tết các ông bố theo tục: Mồng Một Tết cha.
"Ngày mồng Hai tháng Giêng" là ngày có những hoạt động cúng lễ tại gia vào sáng sớm. Sau đó, người ta chúc tết các bà mẹ theo tục Mồng Hai Tết mẹ. Riêng đàn ông chuẩn bị lập gia đình còn phải đến nhà cha mẹ vợ tương lai (nhạc gia) để chúc Tết theo tục Đi sêu.
"Ngày mồng Ba tháng Giêng" là ngày sau khi cúng cơm tại gia theo lệ cúng ít nhất đủ ba ngày Tết, các học trò thường đến chúc Tết thầy dạy học theo tục Mồng Ba Tết thầy. Trong những ngày này người ta thường đi thăm viếng, hỏi thăm nhau những điều đã làm trong năm cũ và những điều sẽ làm trong năm mới.
Đối với cộng đồng người Công giáo Việt Nam, ba ngày đầu năm họ thường tham dự thánh lễ ở nhà thờ với ý cầu nguyện cho từng ngày: mồng Một cầu nguyện bình an cho năm mới, mồng Hai cầu nguyện cho tổ tiên, ông bà, cha mẹ nếu còn sống và tưởng nhớ nếu đã qua đời, mồng Ba cầu nguyện thánh hóa cho công ăn, việc làm trong năm mới được tốt đẹp.
==== Xông đất ====
Xông đất(hay đạp đất, mở hàng) là tục lệ đã có lâu đời ở Việt Nam. Nhiều người quan niệm ngày Mồng Một "khai trương" một năm mới. Họ cho rằng vào ngày này, nếu mọi việc diễn ra suôn sẻ, may mắn, cả năm cũng sẽ được tốt lành, thuận lợi. Ngay sau thời khắc giao thừa, bất cứ người nào bước từ ngoài vào nhà với lời chúc năm mới được coi là đã xông đất cho gia chủ. Người khách đến thăm nhà đầu tiên trong một năm cũng vì thế mà quan trọng. Cho nên cứ cuối năm, mọi người cố ý tìm xem những người trong bà con hay láng giềng có tính vui vẻ, linh hoạt, đạo đức và thành công để nhờ sang thăm. Người đến xông đất thường chỉ đến thăm, chúc tết chừng 5 đến 10 phút chứ không ở lại lâu, cầu cho mọi việc trong năm của chủ nhà cũng được trôi chảy thông suốt.
Cách chọn tuổi xông đất:
Tuổi Giáp hạp với Kỷ mà kỵ với Canh – Mậu.
Tuổi Ất hạp với Canh mà kỵ với Tân – Kỷ.
Tuổi Bính hạp với Tân mà kỵ với Nhâm – Canh.
Tuổi Đinh hạp với Nhâm mà kỵ với Quý – Tân.
Tuổi Mậu hạp với Quý mà kỵ với Giáp – Nhâm.
Tuổi Kỷ hạp với Giáp mà kỵ với Ất – Quý.
Tuổi Canh hạp với Ất mà kỵ với Bính – Giáp.
Tuổi Tân hạp với Bính mà kỵ với Đinh – Ất.
Tuổi Nhâm hạp với Đinh mà kỵ với Mậu – Bính.
Tuổi Quý hạp với Mậu mà kỵ với Kỷ – Đinh.
Người đi xông đất xong có niềm vui vì đã làm được việc phước, người được xông đất cũng sung sướng vì tin tưởng gia đạo mình sẽ may mắn trong suốt năm tới. Thời xưa, chỉ có hai cách chọn người tốt vía xông đất ngày đầu năm. Kẻ làm quan, người có học chọn người xông đất có tuổi hợp tuổi với chủ nhà.
==== Xuất hành và hái lộc ====
Xuất hành là lần đi ra khỏi nhà đầu tiên trong năm, thường được thực hiện vào ngày tốt đầu tiên của năm mới để đi tìm may mắn cho bản thân và gia đình. Trước khi xuất hành, người ta phải chọn ngày Hoàng đạo, giờ Hoàng đạo và các phương hướng tốt để mong gặp được các quý thần, tài thần, hỉ thần... Tại miền Bắc, nếu xuất hành ra chùa hay đền, sau khi lễ bái, người Việt còn có tục bẻ lấy một cành lộc để mang về nhà lấy may, lấy phước. Đó là tục hái lộc. Cành lộc là một cành đa nhỏ hay cành đề, cành si... là những loại cây quanh năm tươi tốt và nảy lộc. Tục hái lộc ở các nơi đền, chùa ngụ ý xin hưởng chút lộc của Thần, Phật ban cho nhân năm mới. Cành lộc thường đem về cắm ở bàn thờ. Khác với miền Bắc, miền Trung không có tục hái lộc đầu năm nhờ thế mà cây cối trong các đền chùa ở miền Trung vẫn giữ nguyên lá xanh biếc suốt cả mùa xuân.
Tuy nhiên việc hái lộc ngày nay đã có những quan niệm trái chiều so với trước đó là: - Việc hái lộc không nên vì có thể có những cành lộc có "Vong" (linh hồn) bám theo. Khi chúng ta hái lộc về vô tình sẽ mang "Vong" về theo, nếu "Vong" tốt thì không sao nhưng nếu "Vong" xấu thì có thể làm cho nhà cửa chúng ta không may mắn... Đây là vấn đề mang tinh Duy tâm tuy nhiên nó cũng có cái lý của nó. - Tiếp theo việc hái lộc đôi khi làm ảnh hưởng đến cây xanh cảnh quan đô thị vì tâm lý mọi người đều muốn đem thật nhiều lộc về nhà cầu may, do vậy đã không ít trường hợp làm hỏng hết cây cối gây ảnh hưởng đến môi trường... - Cuối cùng việc hái lộc đôi khi dẫn đến xô xát do việc tranh cướp hoặc hái "trộm" lộc trong các cơ quan nhạy cảm như Ngân hàng chẳng hạn... Những việc làm này không biết có mang lại may mắn không nhưng nó phản ánh mặt xấu của Văn hóa ứng xử của những người trong cuộc...
Vào những ngày đầu năm, khi mặt trời mọc, người ta đi ra khỏi nhà xem chiều gió thổi và có thể đoán được năm mới hên hay xui chẳng hạn:
Gió Nam: chỉ đại hạn;
Gió Tây: chỉ cướp bóc loạn lạc;
Gió Tây Nam: chỉ bệnh dịch tả;
Gió Bắc: chỉ được mùa vừa phải;
Gió Tây Bắc: chỉ được mùa đỗ, đậu;
Gió Đông: chỉ có lụt lớn.
==== Chúc Tết ====
Sáng mồng Một Tết còn gọi là ngày Chính đán, con cháu tụ họp ở nhà tộc trưởng để lễ Tổ Tiên và chúc tết ông bà, các bậc huynh trưởng. Theo quan niệm, cứ năm mới tới, mỗi người tăng lên một tuổi, bởi vậy ngày mồng Một Tết là ngày con cháu "chúc thọ" ông bà và các bậc cao niên (ngày xưa, các cụ thường không nhớ rõ ngày tháng sinh nên chỉ biết Tết đến là tăng thêm một tuổi).
==== Tục thăm viếng ====
Thăm viếng họ hàng là để gắn kết tình cảm gia đình họ hàng. Lời chúc tết thường là sức khỏe, phát tài phát lộc, gặp nhiều may mắn, mọi ước muốn đều thành công... Những người năm cũ gặp rủi ro thì động viên nhau tai qua nạn khỏi hay của đi thay người nghĩa là trong cái họa cũng tìm thấy cái phúc, hướng về sự tốt lành.
Đến thăm những người hàng xóm của mình và những gia đình sống gần với gia đình mình, chúc họ những câu tốt lành đầu năm mới. Những chuyến thăm hỏi này giúp gắn kết mọi người với nhau, xóa hết những khúc mắc của năm cũ, vui vẻ đón chào năm mới.
Đến thăm những người bạn bè, đồng nghiệp và những người thân thiết với mình để chúc họ những câu tốt lành, giúp tình cảm bạn bè gần gũi hơn.
==== Mừng tuổi ====
Lì xì (压岁钱, phát âm: ya sui qian): người lớn thường tặng trẻ em tiền bỏ trong một bao giấy đỏ, hay "hồng bao", gọi là "lì xì" với những lời chúc mừng ăn no, chóng lớn. Theo cổ tích Trung Quốc thì trong "hồng bao" có 8 đồng tiền (là Bát Tiên hóa thân) được đặt dưới gối đứa trẻ để xua đuổi quỷ đến quấy nhiễu, vì ma sẽ sợ giấy màu đỏ.
Theo truyền thuyết:
Ngày xưa có một con yêu quái thường xuất hiện vào đêm Giao thừa khiến trẻ con giật mình khóc thét lên. Hôm sau đứa trẻ nhức đầu, sốt cao, làm cho bố mẹ không dám ngủ, phải thức canh phòng yêu quái. Có một cặp vợ chồng nọ mới sinh được một mụn con trai kháu khỉnh. Tết năm đó, có 8 vị tiên dạo qua, biết trước cậu bé sẽ gặp nạn liền hóa thành 8 đồng tiền ngày đêm túc trực bên cậu bé. Sau khi cậu bé ngủ say, hai vợ chồng lấy giấy đỏ gói những đồng tiền này lại và đặt lên gối con rồi ngủ. Nửa đêm, con yêu quái xuất hiện định làm hại đứa trẻ thì từ chiếc gối loé lên những tia vàng sáng rực, khiến nó khiếp vía bỏ chạy.
Tiền mừng tuổi nhận được trong ngày Tết gọi là "Tiền mở hàng". Xưa còn có lệ cho tiền phong bao với số tiền lẻ (chứ không phải là tiền chẵn), ngụ ý tiền này sẽ sinh sôi nảy nở thêm nhiều.
==== Hóa vàng ====
Ngày mồng 4 tháng Giêng theo lịch cổ là ngày con nước. Trong ngày này, người Việt làm lễ cúng tổ tiên đã về ăn Tết với con cháu và đốt nhiều vàng mã để tiền nhân về cõi âm có thêm tiền vốn đầu năm, đặng phù hộ độ trì cho con cháu hậu thế làm ăn phát đạt. Tại nhiều vùng ở Đồng bằng Bắc Bộ, người Việt có tục hát chèo đò đưa tổ tiên trở lại thế giới bên kia.
Tục hóa vàng ngày mồng 4 hoặc mồng 5, không ít gia đình vẫn theo truyền thống cũ: làm cơm, đốt vàng mã gửi người thân khuất bóng lời cầu nguyện một năm mới nhiều may mắn. Theo nhà sử học Dương Trung Quốc, tục hoá vàng dựa trên tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, vật hoá vàng thường gắn với đời sống thường nhật, để thấy con người ở thế giới vô hình bên kia sống gần với dương gian. Vào ngày mồng 4 và mồng 5 tháng Giêng, người ta kiêng xuất hành vì đây là ngày không tốt.
==== Khai hạ ====
Ngày mồng 7 tháng Giêng (cũng có thể là mồng 6 tháng Giêng) là ngày cuối cùng của chuỗi lễ hội Tết. Trong ngày này, người Việt làm lễ hạ Cây nêu, gọi là lễ Khai hạ, kết thúc dịp Tết Nguyên đán và bắt đầu bước vào việc làm ăn trong năm mới từ ngày mồng 8 hoặc mồng 9 tháng Giêng.
== Sắm tết ==
Chợ Tết là những phiên chợ có phiên họp chợ vào trước tết từ 25 tháng Chạp cho đến 30 tháng Chạp, bán nhiều mặt hàng, nhưng nhiều nhất là các mặt hàng phục vụ cho tết Nguyên đán, như lá dong để gói bánh chưng, gạo nếp để gói bánh chưng hoặc nấu xôi, gà trống, các loại trái cây dùng thờ cúng (ngũ quả) để cúng tổ tiên,... Vì tất cả những người buôn bán hầu như sẽ nghỉ bán hàng trong những ngày Tết, những ngày đầu năm mới không họp chợ, nên phải mua để dùng cho đến khi họp chợ trở lại đưa đến mức cầu rất cao. Người Việt có câu mồng bốn chợ ma, mồng ba chợ người nên chợ được họp phiên đầu năm là mồng ba tết (ngày 3 tháng 1 âm lịch). Hơn nữa, chợ Tết cũng để thỏa mãn một số nhu cầu mua sắm để thưởng ngoạn, để lễ bái như hoa tết, những loại trái cây, đặc biệt là dưa hấu và những loại trái có tên đem lại may mắn như mãng cầu, dừa, đu đủ, xoài,... Những loại chợ Tết đặc biệt cũng sẽ chấm dứt vào trước giờ Ngọ giao thừa. Vào những ngày này, các chợ sẽ bán suốt cả đêm, và đi chợ Tết đêm là một trong những cái thú đặc biệt. Kèm theo các chợ mua bán ngày giáp tết đông đúc, nhiều nơi còn tổ chức các chợ hoa nhằm vui xuân.
Hiện nay, nhiều chợ Gốm đã được mở vào ngày giáp Tết để phục vụ người dân.
== Dọn dẹp, trang trí ==
=== Mâm ngũ quả ===
Mâm ngũ quả là một mâm trái cây có chừng năm thứ trái cây khác nhau thường có trong ngày Tết Nguyên Đán của người Việt. Các loại trái cây bày lên thể hiện nguyện ước của gia chủ qua tên gọi, màu sắc và cách sắp xếp của chúng.
Chọn 5 thứ quả theo quan niệm người xưa là ngũ hành ứng với mệnh của con người. Chọn số lẻ tượng trưng cho sự phát triển, sinh sôi.
Mâm ngũ quả của người miền Bắc gồm: chuối, bưởi, đào, hồng, quýt hay là chuối, ớt, bưởi, quất, lê. Có thể thay thế bằng cam, lê-ki-ma, táo, mãng cầu. Nói chung, người miền Bắc không có phong tục khắt khe về mâm ngũ quả và hầu như tất cả các loại quả đều có thể bày được, miễn là nhiều màu sắc.
Mâm ngũ quả người miền Nam gồm dừa, đu đủ, mãng cầu Xiêm, xoài, sung, với ngụ ý cầu sung vừa đủ xài. Người miền Nam thường kiêng kỵ chưng trái có tên mang ý nghĩa xấu (kể cả khi đọc trại) như chuối - chúi nhủi, cam - cam chịu, lê - lê lết, sầu riêng, bom (táo), lựu - lựu đạn... và không chọn trái có vị đắng, cay.
=== Cây nêu ===
Cây nêu là một cây tre cao khoảng 5–6 mét. Ở ngọn thường treo nhiều thứ (tùy theo từng địa phương) như vàng mã, bùa trừ tà, cành xương rồng, bầu rượu bện bằng rơm, hình cá chép bằng giấy (để táo quân dùng làm phương tiện về trời), giải cờ vải tây, điều (màu đỏ), đôi khi người ta còn cho treo lủng lẳng những chiếc khánh nhỏ bằng đất nung, mỗi khi gió thổi, những khánh đất va chạm nhau tại thành những tiếng kêu leng keng nghe rất vui tai... Ở Gia Định xưa, sách Gia Định Thành Thông Chí của Trịnh Hoài Đức, Tập Hạ chép rằng: "bữa trừ tịch (tức ngày cuối năm) mọi nhà ở trước cửa lớn đều dựng một cây tre, trên buộc cái giỏ bằng tre, trong giỏ đựng trầu cau vôi, ở bên giỏ có treo giấy vàng bạc, gọi là "lên nêu"... có ý nghĩa là để làm tiêu biểu cho năm mới mà tảo trừ những xấu xa trong năm cũ".
Người ta tin rằng những vật treo ở cây nêu, cộng thêm những tiếng động của những khánh đất, là để báo hiệu cho ma quỷ biết rằng nơiđây là nhà có chủ, không được tới quấy nhiễu... Vào buổi tối, người ta treo một chiếc đèn lồng ở cây nêu để tổ tiên biết đường về nhà ăn Tết với con cháu. Vào đêm trừ tịch còn cho đốt pháo ở cây nêu để mừng năm mới tới, xua đuổi ma quỷ hoặc những điều không maỵ. Cây nêu thường được dựng vào ngày 23 tháng chạp, là ngày Táo quân về trời chính vì từ ngày này cho tới đêm Giao thừa vắng mặt Táo công, ma quỷ thường nhân cơ hội này lẻn về quấy nhiễu, nên phải trồng cây nêu để trừ tà. Ngày 7 tháng Giêng triệt hạ, gọi là "hạ nêu" phàm những khoản vay mượn thiếu thốn trong tiết ấy không được đòi hỏi, đợi ngày hạ nêu rồi mới được đòi hỏi".
=== Tranh tết ===
Phía trên bàn thờ thường treo một tranh dân gian vẽ ngũ quả, chiếc cuốn thư... có khi là một chữ Nho (chữ Tâm, Phúc, Đức...).
Tranh Tết từ lâu đã trở thành một tập quán, một thú chơi của người dân Việt Nam và không chỉ người có tiền mới chơi tranh mà người ít tiền cũng có thể chơi tranh. Nó là một phần không thể thiếu trong không gian của ngày Tết cổ truyền xưa kia. Những màu sắc rực rỡ như khơi gợi nên cảm giác mới mẻ ấm cúng rộn rã sắc xuân trong mỗi gia đình của người Việt.
=== Câu đối Tết ===
Để trang hoàng nhà cửa và để thưởng Xuân, trước đây từ các nho học cho tới những người bình dân "tồn cổ" vẫn còn trọng tục treo "câu đối đỏ" nhân ngày Tết. Những câu đối này được viết bằng chữ Nho (màu đen hay vàng) trên những tấm giấy đỏ hay hồng đào cho nên còn được gọi là câu đối đỏ. Bản thân chữ "câu đối đỏ" cũng xuất hiện trong câu đối Tết sau:
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.
Câu đối thuộc thể loại văn biền ngẫu, gồm hai vế đối nhau nhằm biểu thị một ý chí, quan điểm, tình cảm của tác giả trước một hiện tượng, một sự việc nào đó trong đời sống xã hội. Nên lưu ý là từ đối (對) ở đây có nghĩa là ngang nhau, hợp nhau thành một đôi. Câu đối là một trong những thể loại của Văn học Trung Quốc và Việt Nam.
Ngoài ra, ngày nay vẫn còn tồn tại tục "xin chữ" lấy hên đầu năm, với việc mua những tấm thư pháp viết chữ Hán, chữ Nôm, chữ Việt, với mục đích ấy, nhiều phố ông đồ với những ông đồ viết những tấm thư pháp bằng chữ Hán, chữ Nôm, chữ Việt đã được tái lập tại Sài Gòn và Hà Nội. Những năm gần đây, để chấn chỉnh tình trạng lộn xộn và kinh doanh cẩu thả, tại Văn Miếu, Hà Nội đã có những kỳ thi sát hạch các ông đồ trước Tết.
=== Hoa tết ===
Ngoài hai loại hoa đặc trưng cho Tết là đào và mai, hầu như nhà nào cũng có thêm những loại hoa để thờ cúng và hoa trang trí. Hoa thờ cúng có thể như hoa vạn thọ, cúc, lay ơn, hoa huệ...; hoa để trang trí thì muôn màu sắc như hoa hồng, hoa thủy tiên, hoa lan, hoa thược dược, hoa violet, hoa đồng tiền... Ngoài ra, hoa hồng, cẩm chướng, loa kèn, huệ tây, lá măng, thạch thảo... cắm kèm sẽ tạo sự phong phú và mang ý nghĩa sum họp cho bình hoa ngày tết. Màu sắc tươi vui chủ đạo của bình hoa cũng ngụ ý cầu mong một năm mới làm ăn phát đạt, gia đình an khang và sung túc.
==== Hoa đào ====
Miền Bắc thường chọn cành đào đỏ để cắm trên bàn thờ hoặc cây đào trang trí trong nhà, theo quan niệm người Trung Quốc, đào có quyền lực trừ ma và mọi xấu xa, màu đỏ chứa đựng sinh khí mạnh, màu đào đỏ thắm là lời cầu nguyện và chúc phúc đầu xuân.
Sự tích hoa đào ngày Tết:
Ngày xưa, ở phía Đông núi Sóc Sơn, có một cây hoa đào mọc đã lâu đời. Cành lá đào sum suê, to lớn khác thường, bóng rậm che phủ cả một vùng rộng. Có hai vị thần tên là Trà và Uất Lũy trú ngụ ở trên cây hoa đào khổng lồ này, tỏa rộng uy quyền che chở cho dân chúng khắp vùng. Quỷ dữ hay ma quái nào bén mảng lui đến ắt khó mà tránh khỏi sự trừng phạt của 2 vị thần linh. Ma quỷ rất khiếp sợ uy vũ sấm sét của hai vị thần, đến nỗi sợ luôn cả cây đào. Chỉ cần trông thấy cành hoa đào là bỏ chạy xa bay. Đến ngày cuối năm, cũng như các thần khác, hai thần Trà và Uất Lũy phải lên thiên đình chầu Ngọc Hoàng.
Trong mấy ngày Tết, 2 thần vắng mặt ở trần gian, ma quỷ hoành hành, tác oai tác quái. Để ma quỷ khỏi quấy phá, dân chúng đã đi bẻ cành hoa đào về cắm trong lọ, nhỡ ai không bẻ được cành đào thì lấy giấy hồng điều vẽ hình 2 vị thần linh dán ở cột trước nhà, để xua đuổi ma quỷ.
Từ đó, hàng năm cứ mỗi dịp Tết đến, mọi nhà đều cố gắng đi bẻ cành hoa đào về cắm trong nhà trừ ma quỷ.
==== Hoa mai ====
Hoa Mai, với miền Nam nước Việt, nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới rất thích hợp môi trường cho hoa Mai đơm bông nảy mầm mỗi dịp Xuân về Tết đến. Miền Trung và miền Nam lại hay dùng cành mai vàng hơn miền Bắc, màu vàng tượng trưng cho sự cao thượng vinh hiển cao sang, màu vàng còn tượng trưng cho vua (thời phong kiến). Màu vàng thuộc hành Thổ trong Ngũ hành, theo quan điểm người Việt, Thổ nằm ở vị trí trung tâm và màu vàng được tượng trưng cho sự phát triển nòi giống. Đối với người miền Nam, nếu hoa Mai nở đúng vào lúc đón giao thừa hay nở vào sáng sớm ngày mùng một Tết thì điều đó có nghĩa là sự may mắn, thịnh vượng, và hạnh phúc sẽ đến với cả gia đình trong năm đó.
==== Cây quất ====
Tết đến, cây quất thường được trang trí tại phòng khách. Cây quất Tết ngày càng có nhiều kiểu dáng cầu kỳ nhưng vẫn phải bảo đảm sự xum xuê, lá xanh tốt, quả vàng chi chít thể hiện sự trù phú, hứa hẹn năm mới được mùa, ăn nên làm ra, dồi dào sức sống.
== Ẩm thực ngày Tết ==
Thành ngữ Việt Nam có câu Đói giỗ cha, no ba ngày Tết. Tết đến, dù nghèo khó đến đâu thì người ta cũng cố vay mượn, xoay xở để có đủ ăn trong ba ngày Tết sao cho "già được bát canh, trẻ có manh áo mới". Hơn thế nữa, dù có đói khát quanh năm thì đến Tết, mọi người mà nhất là trẻ em thường được ăn uống no đủ. Bữa ăn ngày Tết thường có nhiều món, đủ chất hơn và sang trọng hơn bữa ăn ngày thường. Vì vậy mà người ta cũng thường gọi là "ăn Tết". Ngoài cơm, ngày Tết còn có:
Bánh truyền thống: bánh chưng, bánh giầy, bánh tét... Đây là các loại bánh đặc trưng cho phong tục ăn uống ngày Tết ở Việt Nam. Bánh chưng và bánh giầy còn được gắn với các sự tích cổ của các vua Hùng, tổ tiên của người Việt.
Mứt Tết và các loại bánh kẹo khác để thờ cúng, sau đó dọn ra để đãi khách. Mứt có rất nhiều loại như: mứt gừng, mứt bí, mứt cà chua, mứt táo, mứt dừa, mứt quất, mứt sầu riêng, mứt mít, mứt khoai, mứt hạt sen, mứt chà-là, mứt lạc, mứt me...
Trái cây, mâm ngũ quả, và đặc biệt là dưa hấu đỏ không thể thiếu trong những gia đình miền Nam. Dưa hấu được chưng cúng nơi bàn thờ Tổ tiên, bên cạnh các loại mứt, mâm ngũ quả, bánh kẹo..., và nhiều quả dưa còn được gắn thêm chữ Phước - Lộc - Thọ. Sáng mồng một Tết, người nhà cử người bổ quả dưa để bói cầu may và lấy hên xui.
Kẹo bánh thì đa dạng hơn như: Kẹo bột, kẹo dồi, kẹo vừng (mè), kẹo thèo lèo, kẹo dừa, kẹo cau, kẹo đậu phụng (kẹo cu-đơ), bánh chè lam... Ngoài ra, Tết còn có hạt dưa, hạt bí, hạt hướng dương, hạt điều, hạt dẻ rang...
Thức uống ngày Tết: Phổ biến nhất vẫn là rượu. Các loại rượu truyền thống của dân tộc như rượu nếp thơm, nếp cái hoa vàng (người Kinh), nếp nương (người Thái), nếp cẩm (người Mường), rượu San lùng, rượu ngô (người H'Mong, người Dao), rượu Mẫu sơn (người Tày, người Nùng), rượu Bàu đá (Trung bộ), rượu đế (Nam Bộ)... thường được dùng. Sau bữa ăn, người ta thường dùng trà xanh. Ngày nay còn có thêm các loại rượu của phương Tây, bia và các loại nước ngọt.
Cỗ Tết: dịp Tết người Việt thường tổ chức ăn uống lớn, gọi là ăn cỗ. Các món cỗ trong nhiều gia đình ở miền Bắc có thể có gà luộc, bóng bì, canh măng, chân giò có nấm hương, miến nấu lòng gà, nem rán, xôi gấc, xôi đỗ, thịt gà, thịt đông, món xào, giò lụa, giò mỡ, nộm, dưa hành muối...; bữa ăn tất niên của người Huế thường có xôi, thịt heo quay, cá rô chiên, canh rau (hoặc canh khổ qua). và mâm cỗ cúng tổ tiên, thường có khoai, sắn, lạc và chè. Ở làng Vũ Đại, Hà Nam phải có món cá kho, ở làng Sơn Vi, Phú Thọ thường có thêm chè lam, người dân Quảng Nam phải có bánh tổ Hội An.
Ngoài ra, các gia đình miền Nam thường có thêm nồi thịt kho nước dừa (thịt kho rệu) và nồi khổ qua hầm và nem bì, dưa giá miền Nam, củ kiệu ngâm, bánh tráng (để quấn) để ăn mấy ngày tết. Miền Bắc có cơm rượu và thịt đông, dưa hành và ngày trước có chè kho, mọc vân ám, thang ngày Tết, hiện nay ít được biết đến. Miền Trung có dưa món và món tré, giống giò thủ của miền Bắc nhưng nhiều vị củ riềng, thịt chua và tai heo, người Huế có thêm món me ngâm đường. Thông thường, người nội trợ miền Nam lục tỉnh nghỉ ngơi, không nấu nướng trong 3 ngày Tết, mà chỉ dùng thức ăn đã được chuẩn bị sẵn trước Tết.
== Những phong tục tập quán và sinh hoạt ngày Tết ==
=== Phong tục ngày Tết ===
==== Phong tục thất truyền ====
Sêu Tết: Ngày xưa các cặp trai gái đang trong thời kỳ hứa hôn, trước Tết người con rể tương lai phải mang lễ đến biếu bố mẹ vợ .
Trồng và hạ nêu: Trên cây treo một số vật tượng trưng gọi là bùa nêu để trừ tà quỷ.
Hát sắc bùa: Sau giao thừa, trẻ em nhà nghèo tụ thành từng nhóm, đến cửa các nhà vừa hát vừa gõ trống. Chủ nhà bao giờ cũng mở cửa ra phát tiền mừng tuổi cho các em để hai bên cùng gặp hên.
Gánh nước: Ngay sau Giao thừa hoặc sáng mồng Một, người nhà mang thùng ra sông hoặc ra giếng làng gánh nước về đổ đầy chum vại, với hy vọng sang năm mới "của cải như nước non".
Chúc Tết theo thứ tự: Chúc theo thứ tự Mồng một nhà trai, mồng hai nhà vợ, mồng ba nhà thầy. Ngày nay tùy theo thời tiết, đường sá, tiện bên nào thì đến bên đó trước.
Lạy sống ông bà: Con cháu đến chúc Tết việc đầu tiên là phải vào quỳ lạy sống các cố và ông bà.
==== Phong tục đại chúng ====
Mua và xin câu đối trước Tết: Nhiều người ta mua một câu đối hay hoặc một vài chữ Nho, chữ Hán-Nôm, thư pháp chữ Việt mang ý nghĩa cầu an, cầu tài lộc cho năm mới.
Mâm ngũ quả và bàn thờ gia tiên: Được bày biện cầu kỳ đầy đủ vật lễ. Người nội trợ có ý thức mua đủ 5 loại quả và trình bày sao cho đẹp mắt và có ý thể hiện vẻ sung túc của gia đình.
Xông nhà: Người ta nhờ người hợp tuổi, hợp mệnh đến xông nhà, cầu mong sang năm lấy được vía tốt của người xông nhà.
Chọn hướng xuất hành: Sau giao thừa, có người xuất hành đi du xuân luôn. Họ chọn một hướng tương hợp tương sinh với mình với con giáp của năm để xuất hành cầu tài đón lộc.
Mừng tuổi: Chúc mừng tuổi người lớn (ông bà, cha mẹ, họ hàng) và lì xì cho trẻ nhỏ.
Lễ chùa: Có người cả năm không đi lễ, nhưng đến Tết nhất thiết phải qua chùa thắp nén hương, dâng tiền giọt dầu hoặc tiền công đức cho chùa. Vào ngày đầu năm, tại chốn linh thiêng, người ta tin rằng điều cầu khấn của mình có nhiều khả năng thành hiện thực.
Mua muối: Đầu năm mọi nhà đều mua muối để cầu may mắn đến. Vẫn có câu là Đầu năm mua muối, cuối năm mua vôi.
Khai ấn và Khai bút: Đầu Xuân, nhằm vào ngày tốt, giờ tốt, người có chức tước khai ấn (đóng con dấu lần đầu tiên trong năm); học trò, sĩ phu khai bút (viết bài hoặc một đoạn văn, một câu thơ... đầu tiên trong năm); nhà nông khai canh, (cày ruộng, làm đất, trồng, cấy lần đầu tiên trong năm); người buôn bán thì "khai thương", (mở hàng lần đầu tiên trong năm)... Sau ngày mùng Một, dù có mải vui cũng chọn ngày để khai nghề, làm lấy ngày. Nếu như mùng Một tốt thì chiều mùng Một bắt đầu. Riêng khai bút thì Giao thừa xong, chọn giờ Hoàng đạo không kể mùng Một là ngày tốt hay xấu. Người thợ thủ công nếu chưa ai thuê mướn đầu năm thì cũng tự làm cho gia đình một sản phẩm, một dụng cụ gì đó. Người buôn bán, vì ai cũng chọn ngày tốt nên phiên chợ đầu xuân vẫn đông, mặc dầu người bán chỉ bán lấy lệ, người ta thường chợ Tết cùng với du xuân (đi chơi Tết).
Đi lễ chùa và xin xăm (miền Bắc gọi là xin thẻ): Không ai biết chắc chắn phong tục này có từ bao giờ và tại sao nhưng trong những ngày đầu năm âm lịch thì rất nhiều người thích đi lễ ở các lăng tẩm, đền chùa để cúng bái và xin xăm nhất là vào buổi sáng mồng một, phong tục này thường được tiến hành chung với tục lệ chọn hướng xuất hành và hái lộc. Xin xăm là một hình thức tin vào các thẻ xăm có ghi lời sấm báo trước điềm lành hay dữ trong năm và thường cần có thầy bàn xăm. Ở miễn Bắc có tục "bốc quẻ thẻ" giống như tục "xin xăm" ở phía Nam. Người xin thẻ dâng một lễ mọn rồi chọn lấy một quẻ thẻ bằng tre viết chữ Hán. Trên quẻ thẻ thường ghi một câu văn ngắn gọn rút từ điển tích Trung Hoa cổ. Căn cứ câu văn ấy, người xin thẻ có thể luận ra "tiền định" cuộc đời mình trong năm đó. Nếu không thông thạo Hán Văn, có thể thuê thầy đồ luận giải giúp. Ngày nay, người ta thường bỏ thẻ tre và thay vào đó bằng những tờ bướm in chữ quốc ngữ với lời giải được soạn sẵn.
=== Sinh hoạt ngày tết ===
Áo quần mới: Ngày xưa, trước Tết một thời gian ngắn, các bà các mẹ trong nhà phải thức khuya quay tơ, dệt vải, may áo quần mới cho cả nhà. Công việc này thường kết thúc vào ngày cuối năm. Đến sáng mùng Một Tết, cả nhà dậy sớm, thay quần áo mới để làm lễ gia tiên. Người ta cho rằng cần phải rũ bỏ những cái cũ, cái không may mắn đi theo quần áo cũ và đón một năm mới với nhiều hi vọng và niềm vui mới từ bộ quần áo mới đó.
Dọn dẹp nhà cửa trước Tết: Do tục kiêng cữ quét nhà trong ngày Tết. Theo quan niệm dân gian, việc quét nhà trong ngày Tết sẽ quét đi theo cả lộc xuân (xác pháo đốt trong đêm giao thừa), người quét nhà sẽ bị "rông" cả năm; (rông: được hiểu như sự xui xẻo).
Trả nợ cũ: Đối với nhiều người Việt, dịp tất niên là dịp trả nợ cũ, xóa bỏ xích mích của năm cũ, để hướng tới năm mới vui vẻ hòa thuận hơn.
Trò chơi dân gian: bịt mắt bắt dê, múa võ, hát bội, hát cải lương, hát chèo, đánh đu, thi leo cột mỡ, đập niêu, chọi gà; bài chòi; chơi tổ tôm điếm; chơi cờ người và nhiều trò dân gian cổ truyền khác.
Cờ bạc: Ngày xưa các gia đình có nề nếp quanh năm cấm đoán con cháu không được cờ bạc rượu chè nhưng trong dịp Tết thì tam cúc, cờ gánh, cờ nhảy, chắn, tổ tôm, lắc bầu cua,... ai thích trò nào chơi trò ấy. Đến lễ khai hạ (hạ nêu) thì xé bộ tam cúc, cất bộ tổ tôm...hoặc đốt các bộ bài trong lễ hóa vàng.
Treo quốc kỳ: Những năm sau ngày thống nhất đất nước, tại Việt Nam, ngày tết cũng như các ngày lễ trong năm, chính phủ đều khuyến khích treo quốc kỳ. Các công sở, công ty, trường học, nơi sinh hoạt công cộng thường treo quốc kỳ kèm bích chương "Chúc mừng năm mới" và các loại cờ ngũ sắc.
Cúng đưa và Hạ nêu: Trong những ngày Tết, người Việt quan niệm rằng có sự hiện diện của Ông Bà tổ tiên nên bàn thờ luôn được thắp hương và cúng cơm mỗi ngày. Thường thì chiều mồng Bốn hay mồng Năm cúng tiễn đưa Ông Bà, chiều mồng Bảy cúng hạ nêu.
Đốt pháo thường hay có trong dịp cúng tất niên hay thời khắc giao thừa ngày Tết cổ truyền. Từ năm 1994, nhà nước Việt Nam đã cấm đốt pháo, buôn bán và nhập khẩu pháo bằng Chỉ thị số 406/CT-TTg ngày 8 tháng 8 vì tính chất nguy hiểm dễ gây sát thương của nó. Thay vào đó, chính quyền tổ chức các đêm bắn pháo hoa cho người dân thưởng thức.
=== Lễ hội Tết ===
Các lễ hội truyền thống khác như thi đấu cờ người; đua thuyền, đấu vật, đánh còn, múa lân, múa rồng, thi thả chim bồ câu... tùy theo bản sắc văn hóa của mình, mỗi địa phương đều tổ chức lễ hội ngày tết với những phần "lễ" và phần "hội" chứa đựng những nét văn hóa khác nhau rất phong phú.
Từ năm 2004, tại Thành phố Hồ Chí Minh có Đường hoa Nguyễn Huệ và Đường sách Tết tại phường Bến Nghé, Quận 1 và Hội hoa Xuân thường niên tại công viên Tao Đàn và từ năm 2009, tại Hà Nội có Lễ hội phố hoa Hà Nội tại phường Tràng Tiền và Lý Thái Tổ thuộc quận Hoàn Kiếm để trang hoàng hoa cho khách thưởng ngoạn, tuy không tổ chức hàng năm và phố Ông đồ ở Văn Miếu. Từ năm 2007, tại phường 7 thuộc địa phận thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang có Đường hoa Hùng Vương tổ chức hàng năm. Ngoài ra còn Đường hoa Bạch Đằng tại Đà Nẵng, Đường hoa Trấn Biên tại Biên Hòa, Đường hoa Bạch Đằng tại Bình Dương, Đường hoa 16/4 tại Ninh Thuận, Đường hoa Phú Mỹ Hưng tại Khu đô thị Phú Mỹ Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngoài hội Tết, nhiều địa phương còn tổ chức các lễ hội mùa Xuân đặc biệt, chẳng hạn như:
Tại Hà Nội, vào ngày mùng 5 Tết, lễ hội Quang Trung được tổ chức ở gò Đống Đa, thuộc địa phận phường Quang Trung, quận Đống Đa và lễ hội Cổ Loa tại xã Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, lễ hội chùa Hương tại xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức ngày mùng 4.
Các nơi khác có Chợ Âm Dương mùng 4 ở phường Võ Cường, thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh và Chợ Viềng mùng 7 tại xã Kim Thái, huyện Vụ Bản và tại thị trấn Nam Giang, huyện Nam Trực thuộc tỉnh Nam Định, Hội xuân Núi Yên Tử ở xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí thuộc tỉnh Quảng Ninh.
Tại làng cổ Vân Luông thuộc phường Vân Phú nằm ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ có hội ném đá, gọi là Ném Chài vào ngày 3 tháng giêng. Từ năm 1946 hội Ném Chài thôi tổ chức vì nguy hiểm tính mạng. Năm 2004 lễ hội được phục hồi nhưng thay ném đá bằng túi vải đựng cát.
Tại xã Đông Hoàng, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa có phiên chợ Chuộng tổ chức vào mùng 6 tết, người dân đến mua bán một số sản vật nông nghiệp để lấy may, còn thanh niên thì đánh nhau để cầu may.
== Tín ngưỡng ngày tết ==
=== Điềm lành ===
Hoa mai: sau Giao thừa, nếu hoa mai (loại 5 cánh) nở thêm nhiều và đầy đặn thì đó là một điềm may. Và may mắn hơn nữa khi có một hoặc vài bông hoa 6 cánh.
Chó lạ vào nhà: Tục ngữ Mèo đến nhà thì khó, Chó đến nhà thì sang.
Cây đào: Nếu có nhiều cánh kép (hoa kép) 3 lớp (hàng) trên đài hoa và có hình dáng như bông hồng thì sẽ có nhiều phúc lộc.
Cây quất: Nếu cây có nhiều chồi xanh mọc thì năm đó sẽ có nhiều lộc. Nếu có đủ Tứ quý: Quả chín, quả xanh, hoa và lộc thì sẽ may mắn và thành đạt cả năm.
=== Kiêng kỵ ===
Theo quan niệm trong ngày đầu năm (Nguyên Đán) mà có nhiều điều tốt đẹp thì cả năm đó chắc chắn sẽ có nhiều điều tốt đẹp đến cho mọi người, có sự giống và khác nhau giữa các miền với niềm tin chính để giữ điều lành trong năm mới. Điển hình, người Việt có một số kiêng kỵ như sau:
==== Miền Bắc ====
Kỵ mai táng: Ngày Tết Nguyên Đán là ngày vui của toàn dân tộc, ngày mở đầu cho vận hội hanh thông của cả một năm, có ý nghĩa rất thiêng liêng. Gia đình phải tạm gác mối sầu riêng để hoà chung với niềm vui toàn dân tộc. Vì vậy có tục lệ cất khăn tang trong ba ngày Tết. Nhà có đại tang kiêng đi chúc Tết, mừng tuổi bà con, xóm giềng, ngược lại bà con xóm giềng lại cần đến chúc Tết và an ủi gia đình bất hạnh. Trường hợp gia đình có người chết vào ngày 30 tháng chạp mà gia đình có thể định liệu được thì nên chôn cất cho kịp trong ngày đó, đa số các gia đình kiêng để sang ngày mùng Một đầu năm. Trường hợp chết đúng ngày mùng Một Tết thì chưa phát tang vội nhưng phải chuẩn bị mọi thứ để sáng mùng Hai làm lễ phát tang.
Ngày mùng Một Tết người ta rất kỵ người khác đến xin lửa nhà mình, vì quan niệm lửa là đỏ là may mắn. Cho người khác cái đỏ trong ngày mùng Một Tết thì cả năm đó trong nhà sẽ gặp nhiều điều không may như làm ăn thua lỗ, trong nhà lủng củng, ra đường hay gặp tai bay vạ gió...
Kiêng cho nước đầu năm vì nước được ví như nguồn tài lộc trong câu chúc tiền vô như nước, nếu cho nước thì coi như mất lộc.
Trong ngày này, người ta kiêng quét nhà vì theo một điển tích của Trung Quốc, nếu quét nhà thì năm đó gia cảnh sẽ nghèo túng, khánh kiệt. Khi hốt rác trong nhà đổ đi thì thần Tài sẽ đi mất.
Ngày đầu năm cũng như ngày đầu tháng, người ta rất kiêng kỵ việc vay mượn hay trả nợ, cho vay. Người xưa quan niệm không nên vay tiền hoặc đồ đạc vào những ngày đầu năm mới, điều đó có thể làm chúng ta rơi vào cảnh túng thiếu cả năm, không may mắn.
Trong ăn uống, người ta kiêng ăn thịt chó, cá mè, thịt vịt... Nếu ăn những thứ này vào dịp đầu năm hay đầu tháng sẽ "xúi quẩy".
Ngoài ra, người già cũng khuyên con cháu trong ngày này không được đánh vỡ bát đĩa, ấm chén, cãi nhau, chửi nhau, kiêng những điều không vui xảy ra với gia đình.
Người ta thường kiêng khóc lóc, buồn tủi hoặc nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa trong dịp Tết.
Kiêng mặc quần áo màu trắng và đen: Theo quan niệm của người xưa, màu trắng và đen là màu của tang lễ, chết chóc, vì vậy những ngày đầu năm thì phải mặc trang phục với những màu sắc sặc sỡ và thu hút sự chú ý, tạo nên sự phấn khởi và vui vẻ để đón chào năm mới, như: màu hồng, đỏ, vàng, xanh...
Kiêng nói to, cãi nhau, nói xấu hay mắng người khác.
Kiêng đi chúc Tết vào sáng Mồng Một Tết nếu không được gia chủ mời vì sợ sẽ mang đến điều không tốt đẹp cho chủ nhà trong năm mới. Theo phong tục xông đất, người đầu tiên bước vào nhà ai trong ngày mùng một Tết chính là người quyết định đem lại sự may mắn hoặc xui xẻo cho gia đình ấy trong cả năm.
Ngày mồng 5 tháng giêng Âm lịch là ngày nguyệt kỵ, người Việt thường tin rằng ngày này không thích hợp cho xuất hành.
==== Miền Trung ====
Kiêng ăn các món chế biến từ tôm vì sợ năm mới đi giật lùi như tôm.
Kiêng ăn trứng vịt lộn, thịt vịt bởi đầu năm mà ăn món này thì sẽ xúi quẩy.
Một số vùng kiêng mặc đồ trắng suốt tháng Giêng vì đó là biểu tượng của tang tóc.
Kiêng quét nhà vì đó là xua đuổi thần Tài Lộc đầu năm.
Tránh nhăn nhó, cau có, khóc lóc và cãi vã trong ngày đầu năm vì quan niệm nó làm cả năm sẽ gặp chuyện không may.
==== Miền Nam ====
Kiêng để cối xay gạo trống vào ngày đầu năm vì đó là tượng trưng cho việc thất bát, mất mùa năm tới. Người ta thường đổ một ít lúa vào cối xay, ngụ ý cầu mong năm mới lúa gạo đầy tràn.
Cũng như trên, kiêng kỵ để thùng gạo, hủ đường muối,... thiếu hụt vì sợ cả năm đều bị thiếu thốn.
Gia chủ hễ có khách đến là dọn cỗ, mời uống rượu, ăn bánh. Khách không được từ chối bữa ăn, dù no cũng phải nhấm nháp chút ít.
Kiêng các việc làm đổ bể hư hỏng, hoặc tranh cãi to tiếng lẫn nhau.
Thường kiêng khóc lóc, buồn tủi hoặc nói tới điều rủi ro hoặc xấu xa trong dịp Tết.
Kiêng cử quét nhà ngày đầu năm vì quan niệm quét tiền tài tốt đẹp ra ngoài. Ngoài ra người dân sẽ tắm gội cơ thể trước ngày đầu năm để tránh phải gột rửa may mắn trong năm mới.
== Tết của người Việt Nam tại nước ngoài (việt kiều) ==
Người Việt sống ở nước ngoài nếu không có điều kiện về Việt Nam trong dịp Tết cũng tổ chức những hoạt động trong dịp Tết Âm lịch mang đậm truyền thống văn hóa Việt. Nhiều nơi có đông người Việt sinh sống như tại Mỹ, Úc, Pháp, Nga, Đức... người Việt sinh sống tại đây ăn Tết với bánh chưng gói và bán sẵn cũng như các món ăn được đưa từ Việt Nam sang như nước mắm Phan Thiết, cho đến củ tỏi, củ hành, rau húng, rau thơm... Nhiều gia đình cũng lập bàn thờ Gia tiên, bàn thờ cũng có mâm ngũ quả, bánh chưng, mứt Tết, hương trầm, rượu, kim ngân..., có gia đình treo cả câu đối, và một lọ hoa tươi giống như đón Tết cổ truyền tại Việt Nam.
Nhiều nơi, cộng đồng và các hội đoàn người Việt, các chùa Phật giáo, các giáo xứ Công giáo có tổ chức Hội tết và ca nhạc văn nghệ Tết. Sứ quán Việt Nam và các lãnh sự quán Việt Nam tại nước ngoài cũng có tổ chức các hoạt động vui Tết đón xuân cho kiều bào như các buổi tiệc nhỏ hay văn nghệ Tết, như tại Thái Lan, Canada .... Các khu thương xá của người Việt, các khu chợ Việt như tại Little Saigon ở tiểu bang California, Hackney (hay được gọi là "khu Việt Nam" tại Luân Đôn), Cabramatta (còn gọi là Saigonmatta) ở Sydney, Úc... cũng có bán các mặt hàng mứt, bánh chưng, hạt sen, lá dong tươi để gói bánh chưng, bánh tét, gạo nếp, xôi gấc, dừa khô, măng khô... được chuyển từ Việt Nam sang. Chợ hoa cũng có bán cành đào, cành mai, dưa hấu nhập từ các nước châu Á sang để trưng bày trong nhà.
Tại Mỹ, trước Tết Nguyên đán, kiều bào và du học sinh thường kết hợp tổ chức lễ hội mừng Tết lớn cho cộng đồng người Việt và cả cộng đồng người bản xứ. Đặc biệt hơn ở Việt Nam là nơi đây, vào ngày Tết được quyền đốt pháo nên các khu chợ Việt như chợ Lion, khu Little Saigon tràn ngập xác pháo giữa đêm giao thừa cho đến trọn ngày mồng 1 Tết. Hàng năm, vào ngày Tết, đều có các cuộc diễn hành tết của cộng đồng người Việt tại khắp nơi, với các xe hoa và đoàn múa, lớn nhất là tại San Jose do Hội Diễn hành Xuân (Vietnamese Spring Festival) tổ chức, với sự kết hợp của nhiều hội đoàn, tổ chức. Hội chợ tết cũng diễn ra khắp nơi với các phần đốt pháo, múa lân, ca nhạc văn nghệ, tái hiện các làng quê Việt xưa, thi đố vui để học, thi hoa hậu áo dài, thi đấu võ, thi thiếu nhi tài năng, thi gói bánh chưng bánh tét,... Như tại Garden Grove, California, công viên Garden Grove Park và trường Bolsa Grande High School hiện nay là địa điểm tổ chức "Hội Tết Sinh viên" hằng năm, với hàng trăm ngàn người tham dự, và do Tổng hội Sinh viên Việt Nam Nam Cali (UVSA) tổ chức liên tục từ năm 1982 đến nay. Hội Tết Sinh viên năm 2013 có chủ đề là "Xuân quê hương - Việt Nam anh hùng" và đã được tổ chức trong 3 ngày 08-09-10 tháng 2 năm 2013. Hội Tết Sinh viên năm 2014 với chủ đề "Mùa Xuân Mới" sẽ được tổ chức trong ba ngày 7 đến 9 tháng 2 năm 2014 tại Orange County Fair & Event Center.
Tại Úc, hàng năm, vào ngày Tết Nguyên Đán, đều có các cuộc diễn hành Tết và Hội Tết của cộng đồng người Việt tại khắp nơi, mang đậm bản sắc văn hóa Việt, như tại Sydney, Melbourne với hàng trăm ngàn người tham dự . Các hội tết cũng có các món ăn Việt, những trò chơi dân gian, những gian hàng chợ tết, bắn pháo hoa, múa lân, tái hiện văn hóa Việt xưa...
== Thi ca ==
Tết, và các tục lệ, được nhắc đến rất nhiều trong ca dao Việt Nam:
Mùng Một thì ở nhà cha,
Mùng Hai nhà vợ, Mùng Ba nhà thầy
Mùng Một tết cha,
Mùng Hai tết mẹ, Mùng Ba tết thầy
Cu kêu ba tiếng cu kêu
Mong cho Tết đến dựng nêu ăn chè
Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ
Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh
Tết cũng là đề tài cho nhiều văn, thi sĩ:
Hay câu đối Tết như:
Chiều ba mươi, nợ hỏi tít mù, co cẳng đạp thằng Bần ra cửa.
Sáng mồng một, rượu say túy lúy, giơ tay bồng ông Phúc vào nhà.
(Nguyễn Công Trứ)
Tối ba mươi, khép cánh càn khôn, ních chặt lại, kẻo ma vương đưa quỷ tới.
Sáng mồng một, lỏng then tạo hóa, mở toang ra, cho thiếu nữ đón xuân vào.
(Lưu truyền là của Hồ Xuân Hương)
Trong bài Những câu hát châm biếm, có nhắc đến ngày 30 Tết:
Số cô chẳng giàu thì nghèo,
Ngày Ba Mươi Tết thịt treo trong nhà.
== Nhạc Tết ==
Dịp tết là dịp vui vẻ nên không thể thiếu âm nhạc. Trong Tân nhạc Việt Nam có rất nhiều ca khúc sáng tác về chủ đề Tết và mùa Xuân. Trước đây có nhiều ca khúc xưa nổi tiếng như Ly rượu mừng, Đón xuân của Phạm Đình Chương, Xuân và tuổi trẻ của La Hối, Xuân họp mặt của Văn Phụng, Xuân đã về của Minh Kỳ, Anh cho em mùa xuân của Nguyễn Hiền,... Trong thời chiến tranh Việt Nam, có những ca khúc hùng ca cho người chiến sĩ, nung đúc tinh thần họ như bài Xuân chiến khu của Xuân Hồng, nhưng cũng có những ca khúc buồn nói về sự xa cách như Xuân này con không về của bộ ba nhạc sĩ Trịnh Lâm Ngân. Gần đây, nhiều ca khúc vui tươi đã được sáng tác như Thì thầm mùa xuân của Ngọc Châu, Hoa cỏ mùa xuân của Bảo Chấn, Ngày tết quê em của Từ Huy, Mùa xuân ơi của Nguyễn Ngọc Thiện, Ngày xuân long phụng sum vầy của Quang Huy, Con bướm xuân (nhạc ngoại lời Việt),... Nhưng từ năm 2000 trở lại đây thiếu vắng những bài nhạc Xuân mới tạo được sự nổi tiếng mà thường là các ca sĩ chỉ hát nhạc cũ và phối âm lại.
Ngoài ra, tết cũng là dịp để các nghệ sĩ thực hiện những show ca múa nhạc tết và hài kịch phục vụ người ái mộ . Các hãng sản xuất phim cũng có phim Tết đặc biệt.
Cụm từ "Tết" được nhắc đến rất nhiều lần trong bài hát "Ngày Tết quê em" của Từ Huy:
Tết Tết Tết Tết đến rồi
Tết Tết Tết Tết đến rồi
Tết Tết Tết Tết đến rồi
Tết đến trong tim mọi người.
Mừng ngày Tết trên khắp quê tôi....
Và bài hát "Mùa xuân ơi" của Nguyễn Ngọc Thiện nhắc nhiều lần cụm từ "Xuân xuân ơi":
Xuân Xuân ơi! Xuân đã về, có nỗi vui nào hơn ngày xuân đến. Xuân Xuân ơi! Xuân đã về, tiếng chúc giao thừa chào đón mùa xuân. Xuân Xuân ơi! Xuân đến rồi, cánh én bay về cho tim mình náo nức. Xuân Xuân ơi! Xuân đến rồi, những đoá mai vàng chào mừng xuân sang. Nghe âm vang bao câu chúc yên lành....
== Những ngày đầu năm theo 12 con giáp ==
Trong bảng này tính các năm từ 1984 đến 2091.
Theo quy luật của bảng trên, cứ 2 hoặc 3 năm thì có một năm Tết rơi vào tháng 1, còn lại là tháng 2.
== Liên quan ==
=== Ý kiến ăn Tết Nguyên Đán theo Dương lịch ===
Năm 2005, Giáo sư Võ Tòng Xuân đã nêu ra đề xuất "Nên ăn Tết Ta theo lịch Tây":
Nên nghỉ Tết dương lịch với thời gian như nghỉ Tết âm lịch hiện nay (từ 26/12 đến 4/1), và nghỉ Tết âm lịch như nghỉ Tết dương lịch hiện nay (khoảng 2 ngày là đủ). Tất cả các hoạt động chào mừng năm mới, lễ họi truyền thống... vẫn tiếp tục gìn giữ và phát huy.
Giáo sư đã nêu lên những bất lợi của Tết Nguyên Đán rằng nó sẽ làm mất cơ hội nắm bắt ngay thời cơ kinh doanh, giao thương với nước ngoài và mất thời giờ của nông dân lo chăm sóc lúa đông-xuân, vụ lúa tiềm năng cao nhất trong năm. Gượng ép thời khóa biểu học tập và thi học kỳ của sinh viên học sinh, làm cho họ mất cả 2 tuần lễ học hành; dân chúng nhậu nhẹt, bài bạc dưới nhiều hình thức, rất tốn kém tiền của và thời gian học tập, tổn hại sức khỏe và tính mạng và lãng phí ngày làm việc trong khi quốc tế nghỉ Tết Tây. Giáo sư cho rằng Việt Nam nên gộp như vậy để bắt kịp thế giới, học tập theo gương của nước Nhật Bản (Tết Nhật Bản), thoát khỏi ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc.
Ngay lập tức, đề xuất này đã gây nên những luồng dư luận trái chiều. Những người ủng hộ cho rằng ăn Tết Ta thì sẽ bị lạc bước, lỡ nhịp với thế giới. Tết Ta ngày càng trở nên nhàm chán. Nếu ăn Tết Nguyên Đán theo Dương lịch thì sẽ hội nhập dễ, tiết kiệm thì giờ dành cho Tết, thuận tiện hơn vì chỉ còn một cái Tết. Bỏ Tết Nguyên Đán thì tránh được những thủ tục phiền hà, tốn kém và sẽ tiện đủ đường.
Trái lại, có rất nhiều ý kiến phản đối gay gắt đề xuất này, bao gồm bạn đọc các báo, nghệ sĩ, nhà khoa học... Những người phản đối đã cho rằng nếu thay đổi như vậy thì sẽ gây nên sự mất mát rất lớn về văn hóa thiêng liêng, cổ truyền của dân tộc bởi Tết Nguyên Đán đã ăn sâu trong tâm thức của người dân. Dịp Tết chính là dịp để người thân sum họp sau một năm xa cách. Dịp Tết là dịp để gìn giữ, phát huy văn hóa cổ truyền của dân tộc. Giáo sư Sử học Lê Văn Lan đã chỉ ra rằng Tết Dương lịch chỉ là "món ăn thêm", còn Tết Âm lịch thì đã đi sâu vào máu thịt. Ca sĩ Mỹ Linh đã nói rằng ăn Tết Ta theo Dương lịch là "thảm họa". Mỹ Linh đã chỉ ra rằng Tết Nguyên đán theo cách tổ chức bao nhiêu đời này là những giây phút thiêng liêng cho sự khởi đầu một năm mới...Chứng tỏ rằng truyền thống dân tộc bao đời vẫn luôn được duy trì trong tâm trí mỗi con người Việt
== Xem thêm ==
Tết Dương lịch
Tết Trung thu
Tết Thanh minh
Tết Đoan ngọ
Tết Trung nguyên
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tết Nguyên Đán tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Lunar New Year (Festival)
==== Tư liệu ====
Tết xưa Sài Gòn, VnExpress, 1/2/2014
Đường hoa Nguyễn Huệ, văn hóa Tết của Sài Gòn, VnExpress, 31/1/2013
==== Tin tức ====
Bác Hồ hóa trang đi chợ Tết
Phục vụ nước sạch Tết Nguyên đán đảm bảo trên 500.000m3/ngày
Ngày xưa... Tết Nguyên đán
Người Việt ở Mỹ thi nấu bánh chưng bánh tét, VnExpress, 21/1/2014
==== Ảnh ====
"Phố ông đồ"- hình ảnh Tết xưa giữa Sài Gòn, 24h, 08/02/2015
==== Video ====
Video Đường hoa Nguyễn Huệ 2014, TP Hồ Chí Minh
Video Đường hoa Nguyễn Huệ 2013, TP Hồ Chí Minh
Video Hội Tết Sinh Viên 2009, Orange County
Diễn hành xuân San Jose 2007
==== Nhạc và thơ ====
Chương trình nhạc Xuân trên đài VOA và Những bài hát về mùa Xuân nhân dịp đầu năm âm lịch, 2010
Tết xưa trong thơ cũ
Cảm hứng Tết của nhà thơ trào phúng Tú Xương |
giải quần vợt wimbledon 2008 - đơn nam.txt | Rafael Nadal đánh bại đương kim vô địch và là nhà vô địch 5 lần liên tiếp giải đấu này Roger Federer
== Hạt giống ==
== Sơ đồ ==
=== Chú giải ===
== Chung kết ==
== Nửa trên ==
==== Nhánh 1 ====
==== Nhánh 2 ====
==== Nhánh 3 ====
==== Nhánh 4 ====
=== Nửa dưới ===
==== Nhánh 5 ====
==== Nhánh 6 ====
==== Nhánh 7 ====
==== Nhánh 8 ====
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Sơ đồ
Sơ đồ vòng loại |
thế vận hội mùa hè 1964.txt | Thế vận hội Mùa hè 1964, gọi chính thức là Thế vận hội lần thứ XVIII (tiếng Anh: Games of the XVIII Olympiad) là một sự kiện thể thao tổng hợp được tổ chức tại Tokyo, Nhật Bản từ ngày 10 đến 24 tháng 10 năm 1964. Tokyo từng được trao quyền tổ chức Thế vận hội Mùa hè 1940, song vinh dự này sau đó bị chuyển sang cho Helsinki do Nhật Bản xâm chiếm Trung Quốc, và cuối cùng bị hủy do Chiến tranh thế giới thứ hai. Đây là kỳ thế vận hội đầu tiên được tổ chức tại châu Á, và là lần đầu tiên Nam Phi bị ngăn cản tham gia do có hệ thống kỳ thị chủng tộc trong thể thao. Tokyo được chọn làm thành phố đăng cai trong phiên họp IOC lần thứ 55 được tổ chức tại Tây Đức vào ngày 26 tháng 5 năm 1959.
Đây là kỳ thế vận hội đầu tiên được phát sóng quốc tế mà không cần gửi băng ra hải ngoại như tại Thế vận hội 1960. Đại hội được phát sóng đến Hoa Kỳ bằng cách sử dụng vệ tinh thông tin địa tĩnh đầu tiên là Syncom 3, và đến châu Âu bằng cách sử dụng Relay 1. Đây cũng là kỳ thế vận hội đầu tiên có phát sóng truyền hình màu (cục bộ). Lịch sử về Thế vận hội 1964 được tường thuật trong phim tài liệu Tokyo Olympiad năm 1965 do Kon Ichikawa làm đạo diễn.
Đại hội được lên kế hoạch tổ chức vào giữa tháng 10 nhằm tránh tình trạng nóng ẩm giữa hè của thành phố và mùa bão vào tháng 9. Thế vận hội Mùa hè tại Roma vào năm 1960 khai mạc vào cuối tháng 8 và phải trải qua thời tiết nóng. Kỳ Thế vận hội Mùa hè 1968 tại thành phố Mexico cũng bắt đầu trong tháng 10.
== Lựa chọn ==
Tokyo giành quyền đăng cai Đại hội vào ngày 26 tháng 5 năm 1959, tại phiên họp IOC lần thứ 55 tại München, Tây Đức, trước hồ sơ ứng cử của Detroit, Bruxelles và Wien.
== Các điểm đáng chú ý ==
Yūji Koseki sáng tác ca khúc chủ đề cho lễ khai mạc.
Yoshinori Sakai thắp sáng ngọn lửa Olympic, anh sinh tại Hiroshima vào ngày 6 tháng 8 năm 1945, tức ngày một quả bom nguyên tử được thả xuống thành phố này.
Kumi-daiko lần đầu tiên được trưng bày với khán giả toàn cầu tại trình diễn Lễ hội Nghệ thuật.
Judo và bóng chuyền nữ đều là môn thể thao phổ biến tại Nhật Bản, chúng được đưa vào chương trình thi đấu của Đại hội. Nhật Bản giành ba huy chương vàng trong ba nội dung của môn judo, và đội tuyển bóng chuyền nữ Nhật Bản giành huy chương vàng với trận chung kết được phát sóng trực tiếp.
Nội dung năm môn phối hợp nữ được đưa vào nội dung môn điền kinh.
Nhà đương kim vô địch thế giới Osamu Watanabe kết thúc sự nghiệp với một huy chương vàng cho Nhật Bản tại nội dung vật tự do, trở thành nhà vô địch bất bại duy nhất trong lịch sử Olympic cho đến đương thời.
Vận động viên thể dục người Liên Xô Larisa Latynina giành hai huy chương vàng, một huy chương bạc và hai huy chương đồng. Cô là người giữ kỷ lục về số huy chương Olympic với 18 (9 vàng, 5 bạc, 4 đồng) cho đến khi Michael Phelps vượt lên vào năm 2012.
Vận động viên thể dục người Tiệp Khắc Věra Čáslavská giành 3 huy chương vàng, vượt qua Larisa Latynina.
Vận động viên bơi người Úc Dawn Fraser chiến thắng nội dung 100 m lần thứ ba liên tiếp tại Thế vận hội, một thành tích tương đương Vyacheslav Ivanov trong nội dung chèo thuyền đơn môn rowing.
Don Schollander (Mỹ) giành bốn huy chương vàng môn bơi.
Abebe Bikila (Ethiopia) trở thành người đầu tiên hai lần chiến thắng nội dung marathon tại Olympic.
Vận động viên người New Zealand Peter Snell giành huy chương vàng trong hai nội dung chạy 800 m và 1500 m.
Vận động viên người Mỹ Billy Mills gây bất ngờ khi giành huy chương vàng nội dung chạy 10.000 m, là người Mỹ đầu tiên đạt được thành tích này.
Vận động viên người Anh Ann Packer lập kỷ lục thế giới khi bất ngờ chiến thắng tại nội dung 800 m nữ; trong khi chưa từng thi đấu nội dung này ở tầm quốc tế trước Đại hội.
Bob Hayes giành chức vô địch nội dung chạy 100 m với thời gian 10,0 giây, ngang với kỷ lục thế giới. Anh đạt thành tích 9,9 giây nhờ sức gió tại vòng bán kết song không được công nhận là kỷ lục thế giới.
Joe Frazier, nhà vô địch quyền Anh hạng nặng tương lai của thế giới, giành một huy chương vàng cho Hoa Kỳ tại nội dung quyền Anh hạng nặng.
Đây là kỳ thế vận hội mùa hè cuối cùng sử dụng một đường chạy xỉ cho các nội dung điền kinh, và là lần đầu tiên sử dụng các cột sợi thủy tinh trong môn nhảy sào.
Trong thời gian diễn ra Thế vận hội, cũng phát sinh các sự kiện quốc tế lớn thu hút chú ý như Nikita Khrushchev đột ngột bị loại bỏ và Trung Quốc lần đầu tiến hành thử nghiệm hạt nhân.
Malaysia, một liên bang hình thành từ một năm trước từ Malaya, Bắc Borneo thuộc Anh và Singapore, lần đầu tham gia Đại hội.
== Môn thi đấu ==
Thế vận hội Mùa hè 1964 có 163 nội dung trong 19 môn thể thao:
Ghi chú: Trong báo cáo của Ủy ban Olympic Nhật Bản, đua thuyền buồm ghi là "yachting".
Môn thể thao trình diễn
Bóng chày
Budō
== Lịch thi đấu ==
Thời gian tính theo giờ chuẩn Nhật Bản (UTC+9)
== Số huy chương ==
Chủ nhà
Theo quy ước, các quốc gia được xếp hạng theo số huy chương vàng mà họ nhận được, tiếp đến là số huy chương bạc, và cuối cùng là huy chương đồng.
== Các Ủy ban Olympic quốc gia tham dự ==
Tổng cộng có 93 quốc gia có đại diện tại Thế vận hội Mùa hè 1964. 16 quốc gia lần đầu tiên tham dự Thế vận hội trong kỳ được tổ chức tại Tokyo: Algeria, Cameroon, Chad, Congo, Côte d'Ivoire (với tên Bờ Biển Ngà), Cộng hòa Dominican, Libya (song không thi đấu), Madagascar, Malaysia, Mali, Mông Cổ, Nepal, Niger, Bắc Rhodesia (giành độc lập hoàn toàn với tên Zambia trùng với ngày bế mạc), Senegal, và Tanzania (với tên Tanganyika). Các vận động viên đến từ Đông Đức và Tây Đức cùng thi đấu trong Đội tuyển Thống nhất Đức từ năm 1956 đến năm 1964. Do hỗ trợ Trung Quốc đại lục, Indonesia bị cấm chỉ tham gia kỳ thế vận hội này, do họ phản đối Đài Loan tham dự Đại hội Thể thao châu Á 1962 dưới tên "Trung Quốc".
Libya tham gia lễ khai mạc, song vận động viên duy nhất rút khỏi thi đấu.
== Địa điểm tổ chức ==
Công viên Asaka Nezu – Năm môn phối hợp hiện đại (cưỡi ngựa)
Trường bắn Asaka – Năm môn phối hợp hiện đại (bắn súng), Bắn súng (súng ngắn/ súng trường)
Thành phố Chofu City – Điền kinh (marathon, đi bộ 50 km)
Enoshima – Thuyền buồm
Thành phố Fuchu – Điền kinh (marathon, đi bộ 50 km)
Thành phố Hachioji – Đua xe đạp (đường phố)
Sân đua Hachioji – Đua xe đạp (đường đua)
Karasuyama-machi – Điền kinh (marathon, đi bộ 50 km)
Karuizawa – Cưỡi ngựa
Kemigawa – Năm môn phối hợp hiện đại (chạy)
Trung tâm Thể dục Komazawa – Vật
Sân khúc côn cầu Komazawa – Khúc côn cầu trên cỏ
Sân vận động Komazawa – Bóng đá
Sân bóng chuyền Komazawa – Bóng chuyền
Cung điện băng Korakuen – Quyền Anh
Hồ Sagami – Canoeing
Sân bóng đá Mitsuzawa – Bóng đá
Sân vận động Nagai – Bóng đá
Trung tâm Thể dục quốc gia – Bóng rổ (chung kết), lặn, năm môn phối hợp hiện đại (bơi), bơi
Sân vận động quốc gia – Điền kinh, cưỡi ngựa (nhảy đồng đội), bóng đá (chung kết)
Nippon Budokan – Judo
Sân vận động thể dục Nishikyogoku – Bóng đá
Sân bóng đá Ōmiya – Bóng đá
Sân bóng đá tưởng niệm Thân vương Chichibu – Bóng đá
Sasazuka-machi – Điền kinh (marathon, đi bộ 50 km)
Công hội đường Shibuya – Cử tạ
Shinjuku – Điền kinh (marathon, đi bộ 50 km)
Sân rowing Toda – Rowing
Trường bắn Tokorozawa – Bắn súng (trap)
Trung tâm thể dục Tokyo – Thể dục
Bể bơi trong nhà Tokyo – Bóng nước
Đại học Waseda – Đấu kiếm, năm môn phối hợp hiện đại (đấu kiếm)
Trung tâm thể dục văn hóa Yokohama – Bóng chuyền
== Giao thông và liên lạc ==
Đây là kỳ thế vận hội đầu tiên được phát sóng quốc tế. Đại hội được phát sóng đến Hoa Kỳ thông qua Syncom 3, vệ tinh thông tin địa tĩnh đầu tiên, và đến châu Âu qua Relay 1, một vệ tinh cũ hơn chỉ cho phép truyền 15–20 phút trong mỗi quỹ đạo của nó. Tổng thời gian phát sóng các chương trình qua vệ tinh là 5 giờ 41 phút tại Hoa Kỳ, 12 giờ 27 phút tại Canada, và 14 giờ 18 phút tại châu Âu. Hình ảnh nhận qua vệ tinh tại Hoa Kỳ, Canada và 21 quốc gia tại châu Âu.
Cáp thông tin xuyên Thái Bình Dương đầu tiên là TRANSPAC-1 nối từ Nhật Bản đến Hawaii cũng được hoàn thành vào tháng 6 năm 1964 nhằm phục vụ đại hội. Trước đó, hầu hết thông tin từ Nhật Bản đến các quốc gia khác truyền qua sóng ngắn.
Thời gian bắt đầu hoạt động tàu cao tốc Tokaido Shinkansen) giữa ga Tokyo và ga Shin-Ōsaka được lên kế hoạch trùng với Thế vận hội. Các chuyến tàu chạy cố định theo lịch trình bắt đầu vào ngày 1 tháng 10 năm 1964, chỉ 9 ngày trước khi Thế vận hội khai mạc, vận chuyển hành khách đi xa 515 kilômét (320 mi) trong khoảng 4 tiếng, liên kết ba khu vực đô thị chính là Tokyo, Nagoya, và Osaka.
Một số kế hoạch nâng cấp xa lộ và đường sắt đô thị được điều chỉnh để hoàn thành vào dịp đại hội. Trong số 8 tuyến cao tốc chính do chính quyền Tokyo phê duyệt vào năm 1959, tuyến số 1, số 4 và một phần tuyến số 2 và số 3 được hoàn thành để phục vụ đại hội. Hai tuyến tàu điện ngầm có tổng chiều dài 22 kilômét (14 mi) cũng hoàn toàn để phục vụ đại hội, và hạ tầng cảng của Tokyo được mở rộng để phục vụ lưu lượng dự kiến.
== Di sản ==
Thế vận hội Mùa hè 1964 tại Tokyo đánh dấu sự tiến bộ và tái xuất của Nhật Bản trên vũ đài thế giới. Nhật Bản mới không còn là một đối thủ thời chiến, mà là một quốc gia hòa bình không đe dọa bất kỳ ai, và hoàn thành biến đổi nàytrong ít hơn 20 năm.
Mặc dù chính sách ngoại giao của Nhật Bản trong Chiến tranh lạnh là liên kết mật thiết với Hoa Kỳ, song Tokyo đăng cai Thế vận hội Mùa hè 1964 trong tinh thần cam kết hòa bình với toàn thể cộng đồng quốc tế, trong đó có các quốc gia Cộng sản. Mục tiêu là để biểu thị với thế giới rằng Nhật Bản đã hoàn toàn khôi phục từ chiến tranh, và đã từ bỏ chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa quân phiệt, hoan nghênh thể thao thành tích cao. Thể thao được duy trì hoàn toàn tách biệt với chính trị. Sự kiện này là một thành công lớn đối với thành phố và cho Nhật Bản nói chung, khi không xảy ra sự cố không hay nào. Chính sách ngoại giao của Nhật Bản được mở rộng bằng việc bao gồm cả chính sách thể thao khi quốc gia này cử đội tuyển đi thi đấu quốc tế trên toàn cầu.
Để tổ chức một sự kiện lớn như vậy, hạ tầng của Tokyo cần phải được hiện đại hóa để phục vụ số lượng lớn du khách theo dự kiến. Sinh lực và chi phí khổng lồ được dành cho việc nâng cấp hạ tầng vật chất của thành phố, với các tòa nhà, xa lộ, sân vận động, khách sạn, cảng hàng không và đường tàu. Nhật Bản có một vệ tinh mới để tạo điều kiện cho phát sóng trực tiếp ra quốc tế. Nhiều tuyến đường tàu và tàu điện ngầm, đường sắt nhanh nhất thế giới đương thời Tokaido Shinkansen được hoàn thành. Cảng hàng không quốc tế Haneda và Cảng Tokyo được hiện đại hóa. Phát sóng quốc tế qua vệ tinh bắt đầu, và Nhật Bản lúc này liên kết với thế giới qua một cáp thông tin mới đi dưới mặt biển. YS-11 là một loại máy bay tuabin cánh quạt thương mại được phát triển tại Nhật Bản, nó được sử dụng để chở ngọn lửa Olympic tại nội địa Nhật Bản. Đối với môn bơi, một hệ thống bấm giờ mới bắt đầu ghi giờ khi có tiếng súng khởi động và dừng bằng touchpad. Chụp ảnh cán đích sử dụng một bức ảnh với các hàng trên đó được bắt đầu sử dụng để xác định kết quả chạy nước rút. Tất cả đều biểu thị rằng Nhật Bản nay là thành viên của thế giới thứ nhất và là một thủ lĩnh công nghệ, và đương thời biểu thị cách thức mà các quốc gia khác có thể hiện đại hóa. Để chuẩn bị cho đại hội, 200.000 mèo và chó hoang bị bắt và tiêu hủy.
Tuy nhiên, các dự án xây dựng dẫn đến một số tổn hại môi trường, buộc một số cư dân phải tái định cư, và thiệt hại trong một số ngành công nghiệp. Ngoài ra, tham nhũng của các chính trị gia và công ty xây dựng khiến chi phí vượt quá mức và một số công trình có chất lượng kém. Giống như nhiều Thế vận hội khác, các nhà quan sát sau đó nói rằng các dự án chuản bị và xây dựng cho Thế vận hội Mùa hè 1964 có một tác độngt iêu cực đến môi trường và người thu nhập thấp.
Mặc dù dư luận quần chúng về Thế vận hội tại Nhật Bản ban đầu bị chia rã, song đến khi đại hội khai mạc thì hầu hết mọi người đều ủng hộ. Có trên 70% khán giả truyền hình xem lễ khai mạc, và có trên 80% xem trận chung kết của đội tuyển bóng chuyền nữ Nhật Bản.
== Tẩy chay ==
Bắc Triều Tiên rút các vận động viên khỏi Nhật Bản ngay trước khi Thế vận hội khai mạc, nguyên nhân là IOC từ chối các vận động viên từng tham dự Đại hội thể thao các lực lượng mới nổi (GANEFO) được tổ chức tại Jakarta, Indonesia.
== Tham khảo ==
Organizing Committee for the Games of the XVIII Olympiad (1964). THE GAMES OF THE XVIII OLYMPIAD TOKYO 1964: The Official Report of the Organizing Committee. Organizing Committee for the Games of the XVIII Olympiad.
Volume 1 part 1 truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009
Volume 1 part 2 truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009
Volume 2 part 1 truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009
Volume 2 part 2 truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2009
== Liên kết ngoài ==
“Tokyo 1964”. Olympic.org. Ủy ban Olympic quốc tế.
JOC – 東京オリンピック 1964 Trang thông tin chính thức của Ủy ban Olympic Nhật Bản. |
trịnh công sơn.txt | Trịnh Công Sơn (28 tháng 2 năm 1939 – 1 tháng 4 năm 2001) được coi là một trong những nhạc sĩ lớn nhất của âm nhạc đại chúng, Tân nhạc Việt Nam với nhiều tác phẩm rất phổ biến. Hiện nay chưa có thống kê chính xác về số tác phẩm để lại của ông (ước đoán con số không dưới 600 ca khúc). Tuy nhiên số ca khúc của ông được biết đến rộng rãi là 236 ca khúc (cả lời và nhạc). Nhạc của Trịnh Công Sơn được nhiều ca sĩ thể hiện, nhưng thành công hơn cả là Khánh Ly. Ngoài ra, ông còn được xem là một nhà thơ, một họa sĩ và một diễn viên không chuyên.
== Tiểu sử ==
=== Thời niên thiếu ===
Ông quê ở làng Minh Hương, tổng Vĩnh Tri, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên - Huế. Ông lớn lên tại Huế. Lúc nhỏ ông theo học các trường Lycée Français và Providence ở Huế, sau vào Sài Gòn theo học triết học trường Tây Lycée Jean Jacques Rousseau Sài Gòn và tốt nghiệp tú tài tại đây.
Năm 1957, khi 18 tuổi, ông bị một tai nạn, khi đang tập judo với người em trai, ông bị thương nặng ở ngực, suýt chết và phải nằm liệt giường gần hai năm tại Huế. Thời gian nằm bệnh, ông đọc nhiều sách về triết học, văn học, tìm hiểu dân ca. Ông từng thổ lộ: "Khi rời khỏi giường bệnh, trong tôi đã có một niềm đam mê khác – âm nhạc. Nói như vậy hình như không chính xác, có thể những điều mơ ước, khát khao đó đã ẩn chứa từ trong phần sâu kín của tiềm thức bỗng được đánh thức, trỗi dậy".
Theo ông cho biết, ông sáng tác bài Sương đêm và Sao chiều vào năm 17 tuổi. Nhưng tác phẩm được công bố đầu tiên của ông là Ướt mi, do nhà xuất bản An Phú in năm 1959 và qua giọng ca Thanh Thúy.
Năm 1961 vì muốn tránh thi hành nghĩa vụ quân sự (trốn lính) nên ông thi và theo học ngành Tâm lý giáo dục trẻ em tại trường Sư phạm Quy Nhơn. Sau khi tốt nghiệp ông dạy tại một trường tiểu học ở Bảo Lộc, Lâm Đồng.
== Sự nghiệp ==
Tên tuổi của Trịnh Công Sơn được nhiều người biết đến hơn, từ khi ông cùng ca sĩ Khánh Ly hát tại Quán Văn, một quán cà phê đơn sơ dựng trên bãi đất cỏ sau Trường Đại học Văn khoa Sài Gòn do nhóm sinh viên mang tên Khai Hóa trong phong trào phục vụ thanh niên xã hội chủ trương, từ cuối năm 1966. Trong những năm sau đó, nhạc của ông được phổ biến và được nhiều ca sĩ trình diễn, đặc biệt là Khánh Ly. Ông kể: "Gặp gỡ ca sĩ Khánh Ly là một may mắn tình cờ, không phải riêng cho tôi mà còn cho cả Khánh Ly. Lúc gặp Khánh Ly đang hát ở Đà Lạt, lúc đó Khánh Ly chưa nổi tiếng nhưng tôi nghe qua giọng hát thấy phù hợp với những bài hát của mình đang viết và lúc đó tôi chưa tìm ra ca sĩ nào ngoài Khánh Ly. Tôi đã mời Khánh Ly hát và rõ ràng giọng hát của Khánh Ly rất hợp với những bài hát của mình. Từ lúc đó Khánh Ly chỉ hát nhạc của tôi mà không hát nhạc người khác nữa. Đó cũng là lý do cho phép mình tập trung viết cho giọng hát đó và từ đó Khánh Ly không thể tách rời những bài hát của tôi cũng như những bài hát của tôi không thể thiếu Khánh Ly", còn Khánh Ly kể lại giai đoạn cơ cực đói khổ nhưng đầy hạnh phúc những năm 1960 ấy: "Thực sự tôi rất mê hát. Không mê hát thì tôi không có đủ can đảm để đi hát với anh Sơn mười năm mà không có đồng xu, cắc bạc nào, phải chịu đói, chịu khổ, chịu nghèo, không cần biết đến ngày mai, không cần biết tới ai cả, mà chỉ cảm thấy mình thực là hạnh phúc, cảm thấy mình sống khi mình được hát những tình khúc của Trịnh Công Sơn".
Một số bài hát của Trịnh Công Sơn đã đến với công chúng Nhật Bản năm 1970 như "Diễm xưa" (do Khánh Ly biểu diễn bằng cả tiếng Nhật và tiếng Việt), "Ca dao Mẹ", "Ngủ đi con". Riêng bài Ngủ đi con đã phát hành trên hai triệu đĩa nhựa. Vì lời lẽ trong nhiều bài hát của ông có tính chất phản chiến, nhà cầm quyền Việt Nam Cộng hòa đã cấm lưu hành vài tác phẩm của ông. Theo tác giả Ban Mai, trong cuốn "Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng", nhiều ca khúc của ông có thông điệp phản chiến bị cả hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa cấm lưu hành Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam cũng không tán thành thái độ phản chiến của ông về chiến tranh, vốn mang tính "chủ hòa, ủy mị", làm nản lòng những người đang đấu tranh chống xâm lược và thống nhất đất nước. Theo tác giả Ban Mai, trong cuốn "Trịnh Công Sơn - vết chân dã tràng", Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thì có những người phê phán ông vì coi ông là "thiếu lập trường chính trị", có những người cực đoan đòi sau khi tiến về Sài Gòn sẽ "xử tử" ông.
Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, ông lên Đài phát thanh Sài Gòn hát bài "Nối vòng tay lớn" (bài hát kêu gọi và nói về ước mơ thống nhất dân tộc hai miền Nam Bắc mà ông viết từ năm 1968 nhưng chưa từng công bố cho tới thời điểm đó, nay được ông công bố để kỷ niệm sự kiện trọng đại mà ông mong chờ đã lâu) Cũng chính ông là người trưa ngày 30/4 đã đứng lên phát biểu trực tiếp trên đài phát thanh Sài Gòn sau lời tuyên bố đầu hàng của Tổng thống Dương Văn Minh. Trong bài phát biểu, ông kêu gọi người dân miền Nam ủng hộ Chính phủ Cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam:
"Hôm nay là ngày mơ ước của tất cả chúng ta... Ngày mà chúng ta giải phóng hoàn toàn đất nước Việt Nam này... Những điều mơ ước của các bạn bấy lâu là độc lập, tự do, và thống nhất thì hôm nay chúng ta đã đạt được tất cả kết quả đó... Hôm nay tôi yêu cầu các văn nghệ sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam, các bạn trẻ và Chính phủ Cách mạng lâm thời xem những kẻ ra đi là những kẻ phản bội đất nước... Chính phủ Cách mạng lâm thời đến đây với thái độ hòa giải, tốt đẹp. Chúng ta không có lý do gì để sợ hãi mà ra đi cả. Đây là cơ hội duy nhất và đẹp đẽ nhất để đất nước Việt Nam được thống nhất và độc lập. Thống nhất và độc lập là những điều chúng ta mơ ước suốt mấy chục năm nay. Tôi xin tất cả các bạn, thân hữu và cũng như những người chưa quen của tôi xin ở lại và kết hợp chặt chẽ với Ủy ban Cách mạng lâm thời để góp tiếng nói xây dựng miền Nam Việt Nam này..."
Theo BBC, sau khi chiến tranh kết thúc, gia đình ông di cư sang Mỹ và ông phải đi học tập cải tạo trong 4 năm. Tuy nhiên, theo tác giả Bùi Đức Lạc (một người bạn thân của Trịnh Công Sơn) thì ông chỉ đi làm kinh tế mới vài năm chứ không hề có cải tạo, nguồn khác thì nói ông đi học tập chính trị 2 năm ở Cồn Tiên. Theo Nguyễn Đắc Xuân, thời gian đầu sau khi kết thúc chiến tranh năm 1975, “Đối với lãnh đạo thì không có vấn đề gì, nhưng có nhiều "anh em phong trào" ở Sài Gòn không thích quan điểm lập trường chung chung của Trịnh Công Sơn trước đây", ông trở về Huế và "thời gian đó một số phần tử quá khích theo phong trào "Hồng vệ binh" của Cộng Hòa Nhân dân Trung Hoa đã kích động sinh viên treo một tấm banderole to tướng mang dòng chữ xanh rờn: "Hạ bệ Phạm Duy - Hoàng Thi Thơ và Trịnh Công Sơn" trước trường Đại học Sư phạm Huế" và "tiếp theo là cuộc tọa đàm luận tội "Trịnh Công Sơn có công hay có tội" tại Hội Văn nghệ Thừa Thiên - Huế. Hôm ấy có cả Trần Hoàn, Tô Nhuận Vỹ, Nguyễn Khoa Điềm, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Đắc Xuân, Trần Viết Ngạc và vài người nữa. Có người lên án, nhưng cũng có người bảo vệ. “Tội” của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn là ông đã làm nhạc phản chiến một cách chung chung, không phân biệt được chiến tranh xâm lược và chiến tranh giải phóng dân tộc trong bài “Gia tài của mẹ” với câu Hai mươi năm nội chiến từng ngày. Thậm chí ông còn làm nhạc ca ngợi địch trong bài “Cho một người nằm” xuống thương tiếc đại tá không quân Sài Gòn Lưu Kim Cương tử trận – người đã từng cưu mang ông. Nhiều người phát biểu biện hộ cho Trịnh Công Sơn: “Đúng là Trịnh Công Sơn đã làm nhiều bản nhạc phản chiến, anh được mệnh danh là người làm nhạc phản chiến số 1 thời ấy giống như Bob Dylan, Joan Baez ở bên Mỹ. Trịnh Công Sơn là một nhạc sĩ tự do, anh theo đuổi chủ nghĩa nhân bản chung chung khác chúng ta. Nhưng anh làm nhạc trong vùng tạm chiếm, người nghe nhạc phản chiến của anh là lính Cộng hòa. Rất nhiều lính của Thiệu đã bỏ ngũ vì nghe bản nhạc Người con gái da vàng của anh. Chẳng có người lính cách mạng nào bỏ ngũ vì nghe nhạc của Trịnh Công Sơn cả. Cũng như ngày xưa bên Trung Quốc, Trương Lương thổi sáo đâu phải để cho quân mình buông kiếm! Đâu phải tự dưng chính quyền Thiệu ra lệnh tịch thu những bài hát của Sơn”. Và chính xấp tài liệu đăng lệnh của cựu Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu cấm phổ biến nhạc Trịnh Công Sơn, lệnh cấm mang số 33 ngày 8.2.1969, đã có sức thuyết phục lớn đối với những người tham dự tọa đàm. Sau cuộc tọa đàm, Trịnh Công Sơn phải viết kiểm điểm. Hồi ấy, những bản kiểm điểm nói không đúng vấn đề thường phải viết lại. Trịnh Công Sơn chưa quen lối sinh hoạt này nên rất chán chường..." Trong thời hậu chiến này, cả nước rất khó khăn và như bao người Việt khác, Trịnh Công Sơn cũng được điều đi lao động sản xuất, khi thì trồng khoai lang, lúc cấy lúa trên những cánh đồng đầy bom đạn chưa tháo gỡ.
Một thời gian dài sau 1975, nhiều bài hát của ông bị cấm lưu hành ở tại Việt Nam hay bị một số người kêu gọi tẩy chay ở hải ngoại. Tuy nhiên, Khánh Ly và nhiều ca sĩ vẫn tiếp tục hát và phát hành những băng đĩa với ca khúc của ông tại hải ngoại.
Những năm sau 1975, sau thời gian học tập chính trị, ông làm việc tại Hội Âm nhạc Thành phố Hồ Chí Minh, tạp chí Sóng nhạc. Từ đầu thập niên 1980, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác lại, lúc đầu một số sáng tác ông gởi qua cho Khánh Ly và chỉ phát hành tại hải ngoại. Khi bắt đầu được phép lưu hành nhạc trong nước, ông có viết một số bài có nội dung ca ngợi những chủ trương của chế độ mới như Thành phố mùa xuân, Ngọn lửa Maxcova, Em ở nông trường em ra biên giới, Huyền thoại Mẹ... Sau đó nhà nước Việt Nam đã nới lỏng quản lý văn nghệ, ông lại tiếp tục đóng góp nhiều bản tình ca có giá trị.
Ông cũng là một diễn viên điện ảnh nghiệp dư, năm 1971 ông thủ vai chính trong phim Đất khổ. Phim hoàn tất năm 1974, nhưng chỉ được chiếu cho công chúng xem 2 lần rồi bị Việt Nam Cộng hòa cấm không được phép trình chiếu ở Miền Nam Việt Nam với lý do "có tính phản chiến". Sau năm 1975, bộ phim không được trình chiếu tại Việt Nam. Cuối cùng, một bản phim đã về tay nhà thơ Đỗ Trung Quân. Bộ phim được chọn là phim Việt Nam chính trong Liên hoan phim Á Mỹ năm 1996.
Cuối đời, ông bị bệnh gan, thận và tiểu đường. Tuy nhiên, ông vẫn cố gắng sáng tác những ca khúc mới trong những năm cuối đời mình.
Ông mất tại Thành phố Hồ Chí Minh vì bệnh tiểu đường lúc 12giờ45 ngày 1 tháng 4 năm 2001 (tức ngày 8 tháng 3 năm Tân Tỵ), hàng ngàn người đã đến viếng tang và "có thể nói, chưa có nhạc sĩ nào mất đi lại được công chúng thương tiếc như Trịnh Công Sơn". Ông được an táng tại Nghĩa trang chùa Quảng Bình (phường Bình Chiểu - quận Thủ Đức. Từ đó hàng năm giới hâm mộ đều lấy ngày này làm ngày tưởng niệm.
=== Sự nghiệp sáng tác ===
Trịnh Công Sơn sáng tác được khoảng hơn 600 ca khúc, những tác phẩm có ca từ độc đáo, mang hơi hướng suy niệm. Theo Trung tâm Bảo vệ tác quyền âm nhạc Việt Nam Chi nhánh phía Nam, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn vẫn là tác giả được trả tác quyền nhiều nhất với hơn 820 triệu đồng trong năm 2015 và luôn trong top 5 nhạc sĩ có tiền trả tác quyền cao nhất. Tuy nhiên, còn một đánh giá khá phổ biến cho rằng phần nhạc của Trịnh Công Sơn quá đơn điệu. Đánh giá này trùng khớp với lời lý giải của ông về sự sáng tác của mình: "Tôi chỉ là 1 tên hát rong đi qua miền đất này để hát lên những linh cảm của mình về những giấc mơ đời hư ảo...". Hai mảng đề tài lớn nhất trong âm nhạc Trịnh Công Sơn là tình yêu và thân phận con người.
=== Nhạc tình ===
Tình yêu là đề tài lớn và ảnh hưởng nhất trong các tác phẩm của Trịnh Công Sơn. Những bản tình ca chiếm đa số trong danh mục nhạc phẩm. Khả năng viết nhạc tình của Trịnh Công Sơn tưởng chừng không biết mai một theo năm tháng, theo thời đại: từ 1958 với "Ướt mi" đã nổi tiếng cho đến thập niên 1990 ông vẫn có những tình ca được nhiều người ưa thích: "Như một lời chia tay", "Xin trả nợ người"...
Nhạc tình của ông đa số là nhạc buồn, thường nói lên tâm trạng buồn bã, cô đơn như trong "Sương đêm", "Ướt mi", những ca khúc nhạc tình vẫn mênh mang nỗi buồn kiếp người như "Diễm xưa", "Biển nhớ", "Tình xa", "Tình sầu", "Tình nhớ", "Em còn nhớ hay em đã quên", "Hoa vàng mấy độ", "Cỏ xót xa đưa", "Gọi tên bốn mùa", "Mưa hồng"...
Những bài hát này thường mang giai điệu nhẹ nhàng, dễ hát, thường được viết với tiết tấu chậm, thích hợp với điệu Slow, Blues hay Boston. Phần lời được đánh giá cao nhờ đậm chất thơ, nhiều chiêm nghiệm nhờ những biên pháp ẩn dụ, hoán dụ... đôi khi pha lẫn hơi hướng siêu thực, trừu tượng.
Nhạc tình của Trịnh Công Sơn rất phổ biến tại Việt Nam và hải ngoại. Tuy rằng không được giới chuyên môn đánh giá cao về phần âm nhạc, nhưng với giai điệu gần gũi và ca từ có màu trừu tượng, ý nghĩa sâu lắng, nhạc của ông dễ dàng đi vào lòng công chúng.
=== Nhạc về thân phận con người ===
Trịnh Công Sơn từng nói từ khi còn trẻ ông đã luôn ám ảnh bởi cái chết nên âm nhạc của ông mang trong đó một sự mất mát của những số phận con người. Ông cũng ảnh hưởng bởi Phật giáo của phương Đông và chủ nghĩa siêu thực của phương Tây, nhạc Trịnh Công Sơn thấm đượm màu sắc hiện sinh, buồn bã của các tác giả văn học phương Tây thập niên 60 như Jean Paul Sartre, Albert Camus,... Tiêu biểu là các ca khúc "Cát bụi", "Đêm thấy ta là thác đổ", "Chiếc lá thu phai", "Một cõi đi về", "Phôi pha",.... Bên cạnh đó, có những bài tuy là nhạc buồn nhưng có gợi nên tư tưởng thiền như "Một cõi đi về", "Giọt nước cành sen".
=== Nhạc phản chiến ===
Khi tên tuổi định hình bằng nhạc tình, thì vai trò xã hội của Trịnh Công Sơn lại gắn liền với một loại nhạc mang tính chất chống lại chiến tranh, kêu gọi hòa bình mà người ta thường gọi là nhạc phản chiến, hay còn gọi là Ca khúc da vàng theo tên các tập nhạc của ông phát hành cuối thập niên 1960. Những "ca khúc da vàng" thường nói lên thân phận của những người dân một nước nhỏ bị lôi kéo vào chiến tranh và nằm trong vòng toan tính, giành giật ảnh hưởng của những nước lớn (thường là khác màu da).
Theo Bửu Chỉ, Trịnh Công Sơn bắt đầu sáng tác dạng nhạc này vào khoảng năm 1965–1966, khi chiến tranh trở nên ác liệt. Năm 1966, ông cho ra đời tập Ca khúc Trịnh Công Sơn, trong đó có manh nha một xu hướng chính trị yếm thế. Đến năm 1967, nhạc Trịnh Công Sơn lên đến đỉnh cao của sự phản chiến bằng tập Ca khúc da vàng. Năm sau, ông cho ra tiếp tập Kinh Việt Nam. Từ năm 1970 tới 1972 ông tự ấn hành được hai tập nhạc phản chiến là Ta phải thấy mặt trời và Phụ khúc da vàng. Trong các băng nhạc Hát cho Quê hương Việt Nam của Khánh Ly, những ca khúc phản chiến được bố trí khéo léo đan xen với các ca khúc trữ tình. Những tập ca khúc vừa kể đều được phát hành hợp pháp tại miền Nam trước 1975. Chính vì thế các ca khúc phản chiến của ông được phổ biến khá rộng rãi, có ảnh hưởng lớn đến công chúng nhất là giới trí thức, học sinh - sinh viên miền Nam.
Nhạc phản chiến của Trịnh Công Sơn phần lớn viết bằng điệu Blues, cộng với lời ca đậm chất hiện thực, rất đơn sơ, trần trụi (khác hẳn với dòng nhạc tình), trở nên những bài hát gây xúc động mạnh mẽ. Những bản nhạc này được ông cùng Khánh Ly đem đi hát ở nhiều nơi tại miền Nam, được nhiều người nhất là giới sinh viên nhiệt tình ủng hộ. Đây cũng là loại nhạc làm cho danh tiếng của Trịnh Công Sơn lan ra thế giới: nhờ nhạc phản chiến ông được một Đĩa Vàng (giải thưởng âm nhạc) tại Nhật và có tên trong tự điển bách khoa Encyclopédie de tous les pays du monde của Pháp.
Nhạc phản chiến Trịnh Công Sơn hay Phạm Duy và các nhạc sĩ khác được cho là có vai trò trong giai đoạn cuối của chiến tranh Việt Nam, bên cạnh phong trào Hát cho dân tôi nghe của Tôn Thất Lập. Cũng vì loại nhạc không rõ nghiêng về phe nào này mà ông đã bị tẩy chay nhiều lần từ cả hai phe đối địch. Nhưng về phía Trịnh Công Sơn, không thể phủ nhận rằng ông đã trở thành một tên tuổi đặc biệt nhờ vào dòng nhạc này.
Cho đến nay, sau hơn 30 năm hòa bình, rất nhiều bài hát "da vàng" của ông chưa được phép lưu hành chính thức tại Việt Nam hiện nay dù đã từng rất phổ biến (và được Khánh Ly phát hành băng nhạc) tại miền Nam trong thời chiến tranh Việt Nam (như bài "Đi tìm quê hương", "Chính chúng ta phải nói hòa bình","Gia tài của mẹ", "Cho một người vừa nằm xuống" "Chưa mất niềm tin", "Chờ nhìn quê hương sáng chói", "Hát trên những xác người", "Ta đi dựng cờ", "Ta quyết phải sống")
=== Nhạc khác ===
Ngoài các bản nhạc tình và nhạc phản chiến, Trịnh Công Sơn còn để lại những tác phẩm viết về quê hương như "Chiều trên quê hương tôi", những tác phẩm thể hiện quan điểm chính trị rõ hơn như "Huế - Sài Gòn - Hà Nội", "Việt Nam ơi hãy vùng lên" (1970), "Nối vòng tay lớn", "Chưa mất niềm tin" (1972)... trong đó có những bài rời được sáng tác ngay trong những cuộc xuống đường biểu tình cùng thanh niên, sinh viên, học sinh.
Từ đầu thập niên 1980, khi bắt đầu được phép lưu hành nhạc trong nước, ông có viết một số bài nhạc cách mạng như "Em ở nông trường em ra biên giới", "Huyền thoại Mẹ", "Ánh sáng Mạc Tư Khoa", "Ra chợ ngày thống nhất"...
Ông cũng viết nhạc cho trẻ em (trong tập nhạc Cho Con, xuất bản năm 1991), nhiều bài rất nổi tiếng như "Em là hoa hồng nhỏ", "Mẹ đi vắng", "Em đến cùng mùa xuân", "Tiếng ve gọi hè", "Tuổi đời mênh mông", "Mùa hè đến", "Tết suối hồng", "Khăn quàng thắp sáng bình minh", "Như hòn bi xanh", "Đời sống không già vì có chúng em".
Hiện nay, bản quyền các tác phẩm của ông thuộc quyền thừa kế và sở hữu bởi Trịnh Vĩnh Trinh (em gái ông, sống tại Việt Nam) và Trịnh Xuân Tịnh (anh trai ông, sống tại Mỹ), mỗi người giữ một nửa quyền sở hữu với các tác phẩm của Trịnh Công Sơn
=== Thơ & vẽ ===
Ông làm thơ ít trong những lúc ngẫu hứng, hiện nay còn để lại một số bài thơ tự sáng tác, và các bản dịch phỏng như trong tập Hán tự hài cú của Ngô Văn Tao, hay các bài thơ vui, thơ chơi.
Bên cạnh âm nhạc, Trịnh Công Sơn để lại khá nhiều tác phẩm hội họa, bút tích. Các tác phẩm hội họa của ông đã được triển lãm tại Nhà Hữu Nghị Tiệp Khắc - Việt Nam, từ 14.01.1989 đến 24.01.1989 cùng với 2 họa sĩ Đinh Cường và Đỗ Quang Em, triển lãm tại nhà khách Ritz, và Trang viên Con Nai Vàng, Thủ Đức, từ 15.12.1990 đến 20.01.1991 cùng với 2 họa sĩ Trịnh Cung và Đỗ Quang Em.
Một số trong đó hiện còn được lưu giữ và trưng bày tại Hội Ngộ Quán.
== Phát ngôn, bút tích ==
Bên cạnh âm nhạc, ông còn để lại khá nhiều phát ngôn về quan điểm chính trị cũng như những dòng văn suy niệm về thân phận, cuộc sống.
== Vinh dự ==
Năm 1972, ông đoạt giải thưởng Đĩa Vàng (phát hành trên 2 triệu đĩa) ở Nhật Bản với bài "Ngủ đi con" (trong Ca khúc da vàng) qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Ly. Năm 1979, hãng đĩa Nippon Columbia mời Khánh Ly thu băng lần thứ hai các nhạc phẩm của ông, cũng vào năm này ca khúc "Ngủ đi con" trở thành 1 hit ở Nhật Bản.
Giải thưởng cho Bài hát hay nhất trong phim "Tội lỗi cuối cùng"
Giải Nhất của cuộc thi "Những bài hát hay nhất sau 10 năm chiến tranh" với bài "Em ở nông trường, em ra biên giới"
Giải Nhất cuộc thi "Hai mươi năm sau" với bài "Hai mươi mùa nắng lạ".
Năm 1997 ông đoạt giải thưởng lớn của Hội Nhạc Sĩ cho một chuỗi bài hát: "Xin trả nợ người", "Sóng về đâu", "Em đi bỏ lại con đường"
Năm 2004, Giải thưởng Âm nhạc hòa bình thế giới được trao cho ông vì "lý tưởng hòa bình mà ông đã đấu tranh không mệt mỏi cho nhân loại".
Trịnh Công Sơn có tên trong tự điển bách khoa Pháp Les Million.
Trong cuộc họp chiều 17 tháng 3 năm 2011, Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế đã chính thức thông qua việc đặt tên của cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cho con đường dài 600 mét, rộng 11 mét lát nhựa mới mở ven sông Hương thuộc phường Phú Cát, thành phố Huế.
== Đời tư ==
Suốt đời, Trịnh Công Sơn yêu nhiều nhưng không chính thức kết hôn với ai, và cũng chưa chính thức công nhận là có con.
Trịnh Công Sơn không có vợ, nhưng ông có những mối tình đẹp và lãng mạn với những phụ nữ ở Việt Nam mà ở cả ngoại quốc. Theo lời của người em gái Hoàng Diệu, lý do lớn nhất ông không kết hôn là: "Anh Sơn luôn ngại làm phiền người sẽ ở cùng phòng với mình, bởi anh cực kỳ ít ăn và ít ngủ và có giờ giấc làm việc chẳng giống ai. Anh thường xuyên thức dậy giữa khuya khi nghĩ ra được ý nào đó và ngồi viết lại hoặc vẽ đến sáng. Bởi vậy mà khi lần đầu tiên có ý định cưới vợ - một Việt kiều Pháp (sáu tháng ở Pháp, sáu tháng ở Việt Nam), anh đã có những dự định rất rõ ràng: Anh và chị sẽ có hai căn phòng nằm cạnh nhau chứ không phải lúc nào cũng ở chung phòng để có thể giữ được sự riêng tư cần thiết." Và rồi, vì nhiều lý do, mối duyên ấy không thành.
Mối tình đầu, thực chất chỉ là 1 tình bạn đẹp của ông là với ca sĩ Khánh Ly, rồi sau đó với một cô gái Nhật Bản làm luận án tiến sĩ về âm nhạc Trịnh Công Sơn. Hai người cũng đã tiến xa đến một kế hoạch đám cưới nhưng rồi cũng không thành vì anh Sơn không chấp nhận một vài nguyên tắc của gia đình người Nhật đưa ra khi anh về làm rể. Và Dao Ánh (người trong mộng của ông từ năm 1964 đến năm 1967); em ruột của bà Ngô Vũ Bích Diễm. Đây chính là "bóng hồng" trong nhạc phẩm "Diễm xưa". Trước khi yêu Dao Ánh, Trịnh Công Sơn từng dành tình cảm với cô chị gái Bích Diễm nhưng tình cảm ấy không thành.
Mối tình thứ tư của ông là với ca sĩ Hồng Nhung, và mối tình thứ năm của ông là với VA..., khi ông mất VA là một trong số các người thân ở bên cạnh ông .
Sau 1975, đã có hai lần ông định lập gia đình nhưng đều không thành. Lần đầu vào năm 1983, với một thiếu phụ tên là C.N.N., sinh năm 1944. Từ quận 18, Paris, bà C.N.N
Những năm cuối cùng của cuộc đời, niềm say mê lớn nhất, Trịnh Công Sơn gần như dành hết cho ca sĩ Hồng Nhung mà theo ông là "Một người quá gần gũi không biết phải gọi là ai!"... Với Hồng Nhung, tâm hồn Trịnh gần như trẻ lại, khiến bước chân ông trở nên bối rối, ngập ngừng với buổi hẹn ban đầu.
Một người khác cũng từ Hà Nội kể lại tình cảm của cô dành cho Trịnh Công Sơn và của Trịnh dành cho cô lần đầu gặp mặt: "Lần đầu tiên đứng trước nhau, cả tôi và anh Sơn đều run. Tôi run vì quá trẻ và Sơn run vì anh quá... già!"
Hoàng Anh, một người được cho là người yêu của Trịnh Công Sơn nói về tình yêu đối với ông: "Hiện tôi vẫn để ảnh tưởng nhớ Trịnh Công Sơn trong phòng ngủ, nhưng chồng tôi không bao giờ thắc mắc, mà luôn tôn trọng thế giới riêng của tôi"'.
Tình yêu của Trịnh Công Sơn dành cho nhiều phụ nữ trẻ, đẹp và nổi tiếng, họ yêu ông say đắm, khi ông mất có người còn xin gia đình cho được để tang ông, nhưng ông không sống khăng khít với một phụ nữ nào. Tài năng của ông luôn liên tục thăng hoa, ngoài âm nhạc ông còn đóng phim, hội họa. Nhưng ông nhìn nhận cuộc đời và dành tình cảm cho đời một cách rất giản đơn với không hề tham vọng, ông nói một cách thản nhiên về cuộc đời: Cái chết chẳng qua cũng chỉ là một sự đùa cợt sau cùng của cuộc sống.
== Ca sĩ thể hiện ==
Tên tuổi gắn nhiều nhất với những bài hát nhạc Trịnh Công Sơn là Khánh Ly. Khánh Ly, ban đầu là một ca sĩ ít tên tuổi tại Đà Lạt, bén duyên với nhạc Trịnh trong một dịp tình cờ, để rồi từ đó về sau đã thể hiện hầu hết những ca khúc của Trịnh Công Sơn, để rồi được cho là người thành công nhất.
Nhưng Khánh Ly không phải người đầu tiên hát nhạc Trịnh, trước đó Trịnh Công Sơn đã mời những tên tuổi lẫy lừng bấy giờ là Thanh Thúy, Hà Thanh, Lệ Thu và cả danh ca Thái Thanh giới thiệu những sáng tác đầu tay của mình ra công chúng, tuy vậy cuối cùng ông lại chọn Khánh Ly, người cũng đã vụt lên thành ngôi sao sáng sau khi thể hiện những bản tình ca buồn bã thâm trầm và dòng nhạc phản chiến mạnh mẽ của Trịnh Công Sơn bằng chất giọng khàn đục lạ lùng.
Ngoài Khánh Ly, nhiều ca sĩ hát nhạc Trịnh Công Sơn cũng được đánh giá cao như Lệ Thu, Thái Thanh, Ngọc Lan, Lan Ngọc. Giọng nam thì có Tuấn Ngọc, và sau này là Quang Dũng. Tuấn Ngọc tuy không chuyên về nhạc Trịnh nhưng được Trịnh Công Sơn đánh giá cao khi hát nhạc của ông. Cuối cùng phải kể đến giọng hát của nhà thơ/nhạc sĩ Nguyễn Đình Toàn khi ông thực hiện album 11 Ca Khúc Trịnh Công Sơn vào năm 1988. Nguyễn Đình Toàn hát nhạc Trịnh bằng giọng nhẹ nhàng, tâm sự và ngón đàn guitar acoustic thổn thức rất được giới mộ điệu ưa thích.
Ở Việt Nam giai đoạn sau 1975 cũng có những người hát nhạc Trịnh Công Sơn thành công như Trịnh Vĩnh Trinh (Em gái nhạc sĩ), Cẩm Vân và đặc biệt phải kể đến Hồng Nhung hát nhạc Trịnh theo phong cách hoàn toàn mới và cũng được khán giả đón nhận.
Cũng nên kể đến những ca sĩ muốn thử nghiệm nhạc Trịnh Công Sơn bằng phong cách "mới" và "lạ", để rồi bị khán giả phản đối nặng nề, tiêu biểu là Thanh Lam, Mỹ Tâm, Đàm Vĩnh Hưng.
Bản thân nhạc sĩ Trịnh Công Sơn cũng tự mình thể hiện và thu âm một số ca khúc và được khán thính giả yêu thích.
== Nhận xét ==
== Đóng góp cho điện ảnh ==
Diễn viên: phim Đất khổ, phim năm 1974 của đạo diễn Hà Thúc Cần
Viết nhạc và bài hát cho phim:
Cánh đồng hoang 1979 của đạo diễn Nguyễn Hồng Sến, kịch bản Nguyễn Quang Sáng
Ngoại ô (1987) (cùng nhạc sĩ Phạm Trọng Cầu)
Nhạc và bài hát được sử dụng trong phim
Tội lỗi cuối cùng, phim chiếu năm 1980 của đạo diễn Trần Phương, nghệ sĩ Phương Thanh đóng vai Hiền cá sấu: bài "Đời gọi em biết bao lần"
Cho cả ngày mai, phim năm 1981 của đạo diễn Long Vân: bài "Em là bông hồng nhỏ"
Bãi biển đời người, phim 1983 của đạo diễn Hải Ninh: bài "Quê hương"
Thị xã trong tầm tay, phim 1983 của đạo diễn Đặng Nhật Minh
Cho đến bao giờ, phim 1985 của đạo diễn Huy Thành
Cầu Rạch Chiếc, phim 1986 của đạo diễn Hoàng Lê
Cô gái trên sông, phim năm 1987 của đạo diễn Đặng Nhật Minh
Mùa hè chiều thẳng đứng, phim năm 2000 của đạo diễn Trần Anh Hùng: "Cuối cùng cho một tình yêu", "Nắng thủy tinh", "Rừng xưa đã khép"
Áo lụa Hà Đông năm 2006 của hàng phim Phước Sang, đạo diễn Lưu Huỳnh: "Bài ca dành cho những xác người"
Công chúa teen và ngũ hổ tướng năm 2010 của đạo diễn Lê Lộc (bài "Để gió cuốn đi")
Em là bà nội của anh, phim năm 2015 bài "Còn tuổi nào cho em"
Phim về Trịnh Công Sơn:
Trịnh Công Sơn - sống và yêu của đạo diễn Lê Dân (Lê Hữu Phước)
Em còn nhớ hay em đã quên: đạo diễn Nguyễn Hữu Phần và Phi Tiến Sơn, với sự tham gia của cố diễn viên Lê Công Tuấn Anh vai Quang Sơn (Trịnh Công Sơn thời trẻ), Hoàng Hồng Nhị vai Huyền My (hình ảnh ca sĩ Khánh Ly), Nguyễn Huỳnh vai chồng Huyền My (hình ảnh Nguyễn Hoàng Đoan, chồng ca sĩ Khánh Ly) và Trương Ngọc Ánh vai Diễm.
== Vinh danh ==
Hiện nay, tên của ông được đặt tên cho một con phố ở Hà Nội, nối từ đường Âu Cơ đến đường vào công viên Hồ Tây. Ngoài ra, ở thành phố Huế, quê hương ông cũng có tên đường Trịnh Công Sơn.
== Đọc thêm ==
Trịnh Công Sơn - Người hát rong qua nhiều thế hệ Nhà xuất bản Trẻ ấn hành năm 2001, sau ngày mất của nhạc sĩ
Trịnh Công Sơn - cuộc đời. âm nhạc. thơ. hội họa & suy tưởng Nhà xuất bản-Văn nghệ TP. Hồ Chí Minh
Trịnh Công Sơn - Rơi lệ ru người - Nhà xuất bản Phụ nữ
Trịnh Công Sơn cát bụi lộng lẫy - Nhà xuất bản Thuận hoá - Tạp chí Sông Hương
Trịnh Công Sơn và cây đàn Lya của Hoàng tử bé - Hoàng Phủ Ngọc Tường - Nhà xuất bản Trẻ
John C. Schafer, "Hiện tượng Trịnh Công Sơn", Journal of Asian Studies 66 (Aug., 2007): 597-643
== Tham khảo ==
Ban Mai, Trịnh Công Sơn - Vết chân dã tràng Nhà xuất bản Lao động 2008
Trái tim cộng sản hay người nghệ sĩ - BBC Tiếng Việt
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trinh Cong Son (Vietnamese singer and songwriter) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Sưu tập
CA KHÚC DA VÀNG trên diễn đàn Phố Xưa, khanhly.net
Danh sách ca khúc và lời nhạc Trịnh Công Sơn
Truyện ngắn Bài hát đầu tiên, bài hát cuối cùng về Xuân Tân Mùi 1991 viết tháng 12/1990 và Chú Lộ của Trịnh Công Sơn
Hội văn hoá Trịnh Công Sơn
Hội Ngộ quán do Trịnh Công Sơn đặt tên bản lưu 19/7/2013
Trịnh Công Sơn tại Internet Movie Database
Đánh giá
Phạm Duy viết về Trịnh Công Sơn, và Chương 20 (bản lưu 30/12/2003) trích Hồi ký tập 3, 1991
John C. Schafer, Hiện tượng Trịnh Công Sơn, Hoài Phi, Vy Huyền dịch, Talawas 2008
Đặng Tiến, Đời và nhạc Trịnh Công Sơn, tạp chí Văn Học, California, tháng 10-11/2001, số 186-187 đặc biệt Trịnh Công Sơn. Bản đọc lại, bổ sung ngày 30 tháng 3 năm 2012
Nhạc Trịnh Công Sơn Tạp chí Da Màu - Văn chương không biên giới cập nhật 15/5/2007. Đinh Từ Bích Thúy dịch bài giới thiệu trên của Đinh Linh (20/3/2007)
Điều thú vị trong 9 bài hát nổi tiếng của Trịnh Công Sơn T. N, báo Giáo dục Việt Nam, 01/04/2013 06:11 |
thế giới phương tây.txt | Thế giới phương Tây là thuật ngữ mô tả những quốc gia khác nhau tùy thuộc vào bối cảnh. Không có một định nghĩa chung nào về đặc điểm chung của những quốc gia này.
Thuật ngữ này trước đây nhằm để chỉ sự khác biệt thuần địa lý, nhằm để chỉ sự đối lập giữa châu Âu với các quốc gia nằm ở phía đông (phương Đông và châu Á), nhưng ngày nay nó không còn có ý nghĩa về địa lý nữa. Những quốc gia được chấp nhận là một phần của thế giới phương Tây ngày nay nằm ở cả hai bán cầu, được phân chia bởi kinh tuyến gốc của Trái Đất nằm ở Greenwich.
Khái niệm về phương Tây có nguồn gốc từ nguồn văn minh Hy Lạp-La Mã ở châu Âu, với sự xuất hiện của Kitô giáo. Trong thời kỳ hiện đại, văn hóa phương Tây bị ảnh hưởng bởi truyền thống bắt nguồn từ thời kỳ Phục Hưng, Cải cách Kháng Cách, thời kỳ Khai sáng và được hình thành bởi sự bành trướng của Chủ nghĩa thực dân phương Tây từ thế kỷ 16 tới thế kỷ 20. Thuật ngữ này trong chính trị được dùng để chỉ sự đối lập với Khối phía Đông trong Chiến tranh Lạnh vào giữa tới cuối thế kỷ 20 (1945–1991).
Theo nghĩa về văn hóa, phương Tây bao gồm các quốc gia châu Âu và các quốc gia có nguồn gốc thuộc địa châu Âu ở châu Mỹ và châu Đại Dương, ví dụ như Hoa Kỳ, Canada, Australia, New Zealand, Argentina, Brazil.
== Chú thích == |
meghalaya.txt | Meghalaya là một bang tại Đông Bắc Ấn Độ. Năm 2011, dân số của bang là 2.964.007, đứng thứ 27 về dân số tại Ấn Độ. Meghalaya có diện tích khoảng 22.430 km², tỷ lệ chiều dài so với chiều rộng là 3:1.
Bangladesh bao quanh Meghalaya ở phía tây và nam, còn bang Assam bao quanh Meghalaya ở phía bắc và đông. Thủ phủ của bang là Shillong, đô thị được mệnh danh là "Scotland của phương Đông". Meghalaya nguyên là bộ phận của Assam, song đến ngày 21 tháng 1 năm 1972 thì các huyện Khasi, Garo và Jaintia hợp thành bang mới mang tên Meghalaya. Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của Meghalaya, các ngôn ngữ chủ yếu khác được nói gồm có Khasi, Pnar và Garo. Không giống như nhiều bang khác tại Ấn Độ, xã hội Meghalaya về mặt lịch sử theo một hệ thống mẫu hệ, theo đó dòng dõi và thừa kế được xác định theo nữ giới; con gái út thừa kế toàn bộ gia sản và sẽ chăm sóc cha mẹ mình.
Meghalaya là khu vực mưa nhiều nhất tại Ấn Độ, với trung bình 1.200 cm mỗi năm. Khoảng 70% diện tích bang có rừng che phủ. Khu vực sinh thái rừng cận nhiệt đới Meghalaya bao phủ bang; những khu rừng núi của bang khác biệt với những khu rừng nhiệt đới đất thấp ở phía bắc và phía nam. Các khu rừng tại Meghalaya có tính đa dạng sinh học cao với các loài thú, chim, và thực vật.
Nông nghiệp chi phối kinh tế Meghalaya, với một ngành lâm nghiệp thương mại đáng kể. Các cây trồng quan trọng là khoai tây, lúa, ngô, dứa, chuối, đu đủ, cây gia vị. Lĩnh vực dịch vụ gồm có bất động sản và bảo hiểm. Về mặt địa chất, Meghalaya giàu khoáng sản, song không có những ngành quan trọng. Meghalaya là một trung tâm hậu cần lớn trong mậu dịch giữa Ấn Độ và Bangladesh.
== Lịch sử ==
Loài người sinh sống tại Meghalaya từ thời đại đồ đá mới. Các di chỉ thời đại đồ đá mới phát hiện được cho đến nay nằm tại các khu vực có cao độ lớn như tại vùng đồi Khasi, vùng đồi Garo và các bang lân cận. Phương thức jhum hay du canh từ thời đại này vẫn được tiến hành cho đến ngày nay. Các cao nguyên có lượng mưa phong phú song an toàn trước nạn lụt và thổ nhưỡng phì nhiêu. Khu vực có khả năng có vai trò trong lịch sử nhân loại thông qua việc thuần hóa lúa, Ian Glover cho rằng Đông Bắc Ấn Độ là khu vực thuận lợi nhất về nguồn gốc của lúa thuần.
Các bộ lạc Khasi, Garo, và Jaintia có những vương quốc riêng của họ cho đến khi nằm dưới quyền cai trị của Anh Quốc trong thế kỷ 19. Sau đó, người Anh hợp nhất Meghalaya vào Assam vào năm 1835. Khu vực được trao tình trạng bán độc lập theo một hiệp định với Vương thất Anh. Khi Bengal bị phân chia vào ngày 16 tháng 10 năm 1905, Meghalaya trở thành một bộ phận của tỉnh Đông Bengal và Assam. Tuy nhiên, khi phân chia bị đảo nghịch vào năm 1912, Meghalaya trở thành một bộ phận của tỉnh Assam. Ngày 3 tháng 1 năm 1921, ngoại trừ các quốc gia của người Khasi thì các khu vực nay thuộc Meghalaya được tuyên bố là "những miền lạc hậu." Đến năm 1935, chính quyền thuộc địa nhóm các miền lạc hậu thành hai hạng: các khu vực "bị loại trừ" và "bị loại trừ một phần".
Thời điểm Ấn Độ được độc lập vào năm 1947, khu vực nay là Meghalaya gồm hai huyện của Assam và được hưởng quyền tự trị hạn chế bên trong bang Assam. Một phong trào yêu cầu lập bang riêng bắt đầu vào năm 1960. Đạo luật Tái tổ chức Assam (Meghalaya) năm 1969 dành một quy chế tự trị cho Meghalaya. Đạo luật có hiệu lực vào ngày 2 tháng 4 năm 1970, bang tự trị Meghalaya hình thành từ Assam.
Năm 1971, Quốc hội Ấn Độ thông qua Đạo luật (Tái tổ chức) các khu vực Đông-Bắc, 1971, trao đầy đủ quy chế bang cho bang tự trị Meghalaya. Meghalaya lập bang vào ngày 21 tháng 1 năm 1972, có một nghị hội riêng.
== Nhân khẩu ==
Đa số dân cư Meghalaya là người thuộc các bộ lạc, người Khasi là nhóm đông nhất, tiếp theo là người Garos và người Jaintia. Họ nằm trong nhóm mà người Anh gọi là "các bộ lạc sơn địa." Các nhóm khác gồm có Koch, Biates và Jowai, Rajbongshi, Boro, Hajong, Dimasa, Hmar, Paite, Kuki, Lakhar, Karbi, Rabha và Nepali.
Theo báo cáo điều tra nhân khẩu tạm thời năm 2011, Meghalaya có tăng trưởng dân số nhanh nhất trong bảy bang Đông Bắc trong một thập niên, với 27,82%. Dân số Meghalaya vào năm 2011 được ước tính là 2.964.007, trong đó có 1.492.668 nữ và 1.471.339 nam. Theo điều tra nhân khẩu Ấn Độ năm 2011, tỷ suất giới tính trong ban là 986 nữ trên 1.000 nam, cao hơn mức trung bình toàn quốc là 940. Tỷ suất giới tính tại đô thị là 985, còn ở nông thôn là 972.
=== Tôn giáo ===
Meghalaya là một trong ba bang tại Ấn Độ có đa số dân cư là tín đồ Cơ Đốc giáo. Khoảng 70% dân số bang tin theo Cơ Đốc giáo, Trưởng Lão và Công giáo La Mã là hai giáo phái phổ biến nhất. Tôn giáo của nhân dân tại Meghalaya có liên hệ chặt chẽ với tính dân tộc của họ. Gần 90% thành viên của bộ lạc Garo và gần 80% thành viên của bộ lạc Khasi là tín đồ Cơ Đốc giáo, trong khi trên 97% người Hajong, 98,53% người Koch là tín đồ Ấn Độ giáo.
Chuyển đối từ các tôn giáo vật linh bộ lạc sang Cơ Đốc giáo bắt đầu vào thế kỷ 19 dưới sự cai trị của người Anh. Ngay từ thập niên 1830, Hội truyền giáo ngoại quốc Baptist Hoa Kỳ hoạt động tại vùng Đông Bắc nhằm cải đạo cho các bộ lạc theo thuyết vật linh sang Cơ Đốc giáo. Sự phát triển của Cơ Đốc giáo một phần bắt nguồn từ việc các Nhà thờ điều hành trên 900 trường tiểu học, trên 200 trường trung học sơ cấp, trên 70 trường trung học cao cấp và 3 trường cao đẳng. Tôn giáo nằm trong chương trình giảng dạy.
Tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức và được nói rộng rãi trong bang. Các ngôn ngữ chính khác tại Meghalaya là Khasi và Garo.
Tiếng Khasi thuộc ngữ hệ Nam Á, có mối liên hệ xa với tiếng Việt và tiếng Khmer theo điều tra nhân khẩu năm 2001, có khoảng 1.128.575 người nói tiếng Khasi cư trú tại Meghalaya. Nhiều từ trong tiếng Khasi được vay mượn từ các ngôn ngữ thuộc ngữ chi Ấn-Arya như tiếng Nepal, tiếng Bengal và tiếng Assam. Tiếng Khasi là một trong số ít ngôn ngữ Nam Á còn lại tại Ấn Độ. Tiếng Garo có quan hệ gần gũi với các ngôn ngữ Koch và Bodo, có nhiều phương ngôn. Một số ngôn ngữ khác cũng được nói tại Meghalaya. Tiếng Nepal được nói rải rác tại hầu như mọi nơi trong bang.
== Tham khảo ==
== Tham khảo == |
chính tả.txt | Trong ngôn ngữ học, chính tả (chữ Hán: 正寫) của một ngôn ngữ là một hệ thống các quy tắc ghi chép lại lời nói được cộng đồng người sử dụng chấp nhận một cách chính thức (qua các thể chế của nhà nước) hoặc rộng rãi.
"Chính tả" là một từ Hán Việt, trong đó "chính" 正 có nghĩa là đúng, "tả" 寫 có nghĩa là viết, "chính tả" 正寫 dịch sát nghĩa từng chữ là "viết đúng".
== Lịch sử ==
== Các đặc tính cơ bản ==
Tính kế thừa
Tính tương đối: sai chính tả, lỗi chính tả dùng để chỉ những cách dùng từ khác biệt với quy tắc chung trong cộng đồng người
Tính thay đổi theo thời gian: trong một giai đoạn cụ thể (đúng ở giai đoạn này sai ở giai đoạn khác). Ví dụ: dùm hay giùm,
Thay đổi theo văn hóa: trong các cộng đồng văn hóa khác nhau. Ví dụ ngào (Nghệ An) hay nhào trộn (phổ biến) trong me ngào muối ớt, té (miền Bắc) hay chuồn, trốn (phổ biến), chế, ché (tiếng Mường) hay chị
Thay đổi theo ngữ cảnh và không gian
== Xem thêm ==
Chính tả tiếng Việt
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
nasdaq-100.txt | NASDAQ-100 (^NDX) là một chỉ số thị trường chứng khoán được tạo ra bởi 107 chứng khoán vốn phát hành bởi 100 công ty phi tài chính lớn nhất niêm yết trên NASDAQ.
== Lịch sử ==
== Hồ sơ ==
== Đầu tư ==
== Tiêu chuẩn ==
== Xếp hạng hàng năm ==
== Khác biệt với chỉ số NASDAQ Composite ==
== Khác biệt với chỉ số chứng khoán khác ==
== Các chỉ số liên quan ==
== Thành phần ==
Đây là danh sách hiện tại vào cuối ngày giao dịch 16 tháng 12 năm 2016. Danh sách cập nhật có sẵn ở phần Liên kết ngoài. Cần lưu ý rằng danh sách theo thứ tự bảng chữ cái chứ không phải là bảng xếp hạng.
=== Thành phần lịch sử ===
== Thay đổi hàng năm ==
=== Thay đổi vào năm 2008 ===
=== Thay đổi vào năm 2009 ===
=== Thay đổi vào năm 2010 ===
=== Thay đổi vào năm 2011 ===
=== Thay đổi vào năm 2012 ===
=== Thay đổi vào năm 2013 ===
=== Thay đổi vào năm 2014 ===
=== Thay đổi vào năm 2015 ===
=== Thay đổi vào năm 2016 ===
=== Thay đổi vào năm 2017 ===
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
NASDAQ Stock Market Indices
US – NASDAQ 100 Index Historical Components/Constituents |
vượn tay trắng.txt | Vượn tay trắng (danh pháp: Hylobates lar) là loài linh trưởng thuộc họ Vượn. Đây được coi là một trong những loài vượn khôn ngoan nhất và thường gặp trong các vườn thú.
== Phân bố ==
Trong lịch sử, vượn tay trắng từng phân bố trong phạm vi từ tây nam Trung Quốc đến Thái Lan và Myanma, gồm cả toàn bộ bán đảo Mã Lai, trong các khu rừng mưa nhiệt đới nguyên sinh và thứ sinh. Loài này cũng xuất hiện ở đông bắc đảo Sumatra. Trong các thập kỉ vừa qua, số lượng và khu vực sinh sống của vượn tay trắng thu hẹp nhanh chóng, loài này có khả năng bị tuyệt chủng tại Trung Quốc.
== Tình trạng ==
Vượn tay trắng gặp phải nhiều mối đe dọa: bị săn bắn để lấy thịt, vượn cha mẹ bị giết để đem vượn con về làm thú nuôi và mối đe dọa lớn nhất là bị mất môi trường sống.
== Các phân loài ==
Có năm phân loài vượn tay trắng:
Vượn tay trắng Malaysia, Hylobates lar lar
Vượn tay trắng Carpenter, Hylobates lar carpenteri
Vượn tay trắng trung tâm, Hylobates lar entelloides
Vượn tay trắng Sumatra, Hylobates lar vestitus
Vượn tay trắng Vân Nam, Hylobates lar yunnanensis (có thể đã tuyệt chủng)
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
ARKive - images and movies of the white-handed gibbon (Hylobates lar)
Lar Gibbon photos
Lar Gibbon songs
Gibbon Conservation Center
Lar Gibbon at Animal Diversity Web
Thomas Geissmann's Gibbon Research Lab and Gibbon Network |
em bé hà nội (phim).txt | Em bé Hà Nội là một bộ phim nhựa do Hãng phim truyện Việt Nam sản xuất năm 1974 và do Hải Ninh làm đạo diễn. Bộ phim khắc họa cuộc sống Hà Nội năm 1972, khi quân đội Hoa Kỳ tiến hành Chiến dịch Linebacker II, ném bom miền Bắc Việt Nam.
Đạo diễn Hải Ninh gặp diễn viên Lan Hương lần đầu tiên khi Lan Hương mới 3, 4 tuổi. Đến năm 1972 khi ông thực hiện bộ phim này, sau khi tìm nhiều người đóng nhân vật em bé Hà Nội không được, ông nhớ lại và tìm đến nhà Lan Hương, xin phép cho cô đi đóng phim. Khi đó Lan Hương mới 12 tuổi và đây cũng là vai diễn đầu tiên của cô. Diễn viên Kim Xuân trong phim vốn là diễn viên cải lương, người từng đóng bộ phim Kiếp hoa nổi tiếng vào năm 1953. Trước đó đạo diễn Hải Ninh và nhà biên kịch Hoàng Tích Chỉ cũng đã hợp tác trong bộ phim Vĩ tuyến 17 ngày và đêm.
== Nội dung ==
Bối cảnh bộ phim là Hà Nội năm 1972, sau Giáng Sinh và đợt dội bom B52 của quân đội Mỹ. Ngọc Hà, một em bé 12 tuổi, phải kiếm bố mẹ và đứa em gái bị mất tích trong sự hoang tàn của thành phố. Cô bé đã được những người lính tốt bụng giúp đỡ và dần dần được hội ngộ em gái của mình.
== Diễn viên ==
Lan Hương: sau khi đóng phim này, diễn viên Lan Hương được nhiều người gọi dưới cái tên "Em bé Hà Nội"
Thế Anh
Trà Giang
Thanh Tú
Kim Xuân
== Vinh danh ==
Em bé Hà Nội cùng Vĩ tuyến 17 ngày và đêm, Người chiến sĩ trẻ, Mối tình đầu và phim tài liệu Thành phố lúc rạng đông đã giúp đạo diễn Hải Ninh giành được Giải thưởng Hồ Chí Minh năm 2007.
Bông sen vàng Liên hoan phim Việt Nam lần III năm 1975
Giải đặc biệt của Ban giám khảo Liên hoan phim Quốc tế Moskva 1975
Giải thưởng của Mặt trận giải phóng Palestine tại Liên hoan phim Quốc tế Syria.
== Xem thêm ==
Chiến dịch Linebacker II
Hà Nội 12 ngày đêm (2002, phim)
Hãng phim truyện Việt Nam
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Em bé Hà Nội tại Internet Movie Database |
cooper's hill cheese-rolling and wake.txt | Cooper's Hill Cheese Rolling and Wake là một hội thi được tổ chức vào tháng 5 hằng năm tại đồi Cooper gần Cheltenham và Gloucester, Anh Quốc.
Đây là một sự kiện thường niên, thu hút được rất đông người tham gia. Đầu tiên chiếc bánh pho mát được đặt trong một thùng gỗ, để trên đỉnh đồi. Khi bắt đầu cuộc thi, người chủ lễ sẽ phá tung chiếc thùng và đẩy Pho mát lăn xuống sườn đồi. Những người tham gia cuộc đua tranh phải làm sao đuổi kịp và bắt lấy miếng Pho mát đó.
Do miếng Pho mát lăn nhanh nên nhiều người phải chạy thật nhanh, lăn, trườn nhanh theo thậm chí là lộn xuống sườn đồi để đuổi theo nó. Ai bắt được miếng Pho mát đầu tiên sẽ nhận được giải thưởng là quà tặng tượng trưng.
Mặc dù do phải lăn lộn theo, nhiều người bị thương nhưng hầu hết mọi người đều cảm thấy vui vẻ.
== Tham khảo == |
j-pop.txt | J-pop là từ viết tắt của Japanese pop (nhạc Pop Nhật Bản), nó cũng là định nghĩa tương đối về một thể loại nhạc đã bùng nổ thị trường âm nhạc Nhật thập niên 1990. Từ này cũng ám chỉ tới những nghệ sĩ âm nhạc nổi tiếng của Nhật và được sử dụng bởi giới truyền thông Nhật để phân biệt những nghệ sĩ âm nhạc Nhật với những nghệ sĩ nước ngoài.
== Lịch sử ==
=== Thập niên 1920 tới 1950: Ryūkōka ===
Âm nhạc đại chúng Nhật, được gọi là ryūkōka, được phân chia làm hai thể loại enka và poppusu, có xuất sứ từ thời kì Minh Trị, nhưng phần lớn các học giả Nhật coi thời kì Taishō mới là điểm khởi đầu của ryūkōka, vì đây mới là thời kì mà dòng nhạc này giành được tiếng vang toàn quốc. Vào thời kì Taisho, các nhạc cụ phương Tây, đã được giới thiệu vào Nhật từ thời Minh Trị, được sử dụng rộng rãi. Chịu ảnh hưởng bởi những dòng nhạc của phương Tây như Jazz và Blues, ryūkōka đã kết hợp với những nhạc cụ phương Tây như violin, harmonica và guitar. Tuy nhiên giai điệu thì vẫn được viết theo thang âm Nhật Bản.
=== Thập niên 1960: Nguồn gốc của phong cách hiện đại ===
Năm 1956, phong trào nhạc Rock and Roll phát triển rầm rộ nhờ những nhóm nhạc nổi tiếng như Kosaka Kazuya và Wagon Masters, việc những nhóm nhạc này biểu diễn ca khúc nổi tiếng của Elvis Presley là Heartbreak Hotel càng làm khuấy động nóng cho phong trào. Thể loại này được giới truyền thông Nhật gọi là "Rokabirī"" (ロカビリー). Những ca sĩ học tập thể loại nhạc này và dịch lời các ca khúc nổi tiếng của Mỹ, dẫn đến phong trào Cover Pops (カヴァーポップス,Kavā poppusu). Phong trào Rokabirī đạt đỉnh cao khi 45,000 khán giả Nhật tới xem buổi biểu diễn của những ca sĩ Nhật tại Carnival phương Tây Nichigeki trong một tuần vào tháng 2 năm 1958.
=== Thập niên 1970: Phát triển ===
Đầu thập niên 1960, âm nhạc Nhật Bản bị ảnh hưởng bởi sự hồi sinh của âm nhạc dân gian Mỹ, điều này được gọi là "fōku" (フォーク), dù cho thể loại nhạc này phần lớn là các bài cover của những ca khúc gốc.
Đầu thập niên 1970, âm nhạc Nhật chuyển từ những ca khúc đơn giản được đệm bởi guitar sang các ca khúc được biên soạn phức tạp hơn được gọi là New Music (ニューミュージック,nyū myūjikku). Thay vào những thông điệp xã hội, các ca khúc thuộc thể loại này tập trung vào các thông điệp cá nhân như tình yêu.
Thể loại nhạc Rock thời kì này chưa thực sự phát triển ở Nhật. Tuy nhiên đến năm 1978, single "Toki yo Tomare" của rocker Eikichi Yazawa trở thành một hit lớn với hơn 639,000 được bán ra. Ông được tôn vinh là người tiên phong cho nhạc rock Nhật Bản. Trong khi đó, Keisuke Kuwata thành lập nhóm nhạc rock Southern All Stars và cho ra mắt năm 1978. Southern All Stars hiện vẫn nổi tiếng cho tới ngày này. Cùng năm đó, Yellow Magic Orchestra cũng ra đời, ban nhạc gồm 4 thành viên này đã phát triển thể loại electropop. Southern All Stars và Yellow Magic Orchestra đã chấm dứt thời kì của New Music.
=== Thập niên 1980 ===
Trong thập niên 1980, từ City Pop được dùng để mô tả thể loại nhạc đại chúng lấy bối cảnh thành phố, trong đó thành phố Tokyo đã trở thành nguồn cảm hứng đề tài cho nhiều nghệ sĩ. Dù City Pop bị ảnh hưởng bởi New Music, ban nhạc rock Happy End được coi là một trong những người khai sinh dòng nhạc này ở Nhật.
Trong thập niên này các nghệ sĩ nhạc rock trở nên rất nổi tiếng như Southern All Stars, Anzen Chitai, The Checkers, The Alfee, Boøwy và TM Network. Alfee trở thành nghệ sĩ đầu tiên thu hút được 100,000 tới concert. Boøwy trở thành ban nhạc rock có ảnh hưởng, 3 album của nhóm đã giành được vị trí quán quân năm 1988, giúp họ trở thành những nghệ sĩ nam đầu tiên giành được kì tích này trong vòng một năm. Cuối thập niên 1980, phong trào visual kei nổi lên trong thể loại rock của Nhật, đây là một phong cách nổi bật với các nhóm nhạc nam, họ trang điểm đậm với những kiểu tóc kì quái và những trang phục lưỡng tính. Những đại diện tiêu biểu là X Japan và Buck-Tick.
Thời kì này cũng đánh dấu sự nổi lên của những ca sĩ nhóm nhạc thần tượng như Mari Amachi, Saori Minami, Momoe Yamaguchi, Candies, Akina Nakamori, Kyōko Koizumi, Yōko Oginome, Miho Nakayama, Minako Honda và Chisato Moritaka. Những ca sĩ nhóm nhạc thần tượng đã giành được những thành công đáng kể và hiện vẫn là những thành phần chính của thị trường âm nhạc Nhật.
=== Thập niên 1990 ===
Đây là giai đoạn mà thị trường âm nhạc Nhật Bản phát triển mạnh mẽ với những chiến lược marketing hiệu quả và tập trung vào việc sản xuất các sản phẩm âm nhạc với số lượng lớn. Thời kì từ 1990 tới 1993 là giai đoạn âm nhạc Nhật bị thống trị bởi những nhóm nhạc ca sĩ được quản lý bởi các công ty, tiêu biểu là các nghệ sĩ như B'z, Tube, T-Bolan, Zard, Wands, Maki Oguro, Deen, Keiko Utokuvà Field of View. Giai đoạn 1994 tới 1997 dòng nhạc dance/techno xâm lấn với sự nổi lên của những nghệ sĩ như TRF, Ryoko Shinohara, Yuki Uchida, Namie Amuro, Hitomi, Globe, Tomomi Kahala và Ami Suzuki.
Trong giai đoạn từ 1997 tới 1999 là giai đoạn đỉnh cao của thị trường thương mại âm nhạc Nhật Bản với hàng loạt ca sĩ đạt được cột mốc hàng triệu bản CD bán ra thị trường. Trong đó nổi bật nhất là việc Hikaru Utada bán được 7.650.000 bản cho album đầu tay First Love sau khi nó được tung ra thị trường tháng 3 năm 1999.
=== Thập niên 2000: Đa dạng hóa ===
Thập niên 2000, những ảnh hưởng của dòng nhạc R&B và Hip Hop tràn tới Nhật. Tháng 11 năm 2000, nhóm nhạc R&B Hóa học bán được 1.14 triệu bản trong tuần đầu tiên The Way We Are.Hay album MusiQ của Orange Range tiêu thụ được 2.5 triệu bản, biến nó trở thành album ăn khách nhất năm 2005.
Đây là giai đoạn nổi lên sự xuất hiện của công ty quản lý nổi tiếng Johnny & Associates, công ty đã đào tào hàng loạt tên tuổi đình đám của âm nhạc Nhật giai đoạn này. Ca sĩ Ayumi Hamasaki tạo nên một cơn chấn động trong lịch sử Giải Thu âm Nhật Bản khi trở thành ca sĩ đầu tiên dành 3 giải grand pix liên tiếp từ 2001 tới 2003.
Khởi đầu là "cuộc chiến" giữa những nhóm nhạc nữ thần tượng như AKB48, Hello! Project (Morning Musume, Cute, Berryz Kobo và S/mileage), Super Girls.
Thời kỳ này cũng đánh dấu sự trở lại của những cựu binh làng nhạc Nhật. Mặc dù tỉ lệ bán album ngày càng sụt giảm nhưng lượng khán giả tới xem các buổi diễn ngày càng gia tăng. Năm 2007, Eikichi Yazawa trở thành nghệ sĩ đầu tiên biểu diễn 100 lần tại Nippon Budokan. Những nghệ sĩ rock như Mr. Children, B'z, Southern All Stars và Glay vẫn giành được vị trí quán quân trong giai đoạn này. Ca khúc "Sign" của Mr. Children đã giành được giải Grand pix tại Giải Thu âm Nhật Bản năm 2004. Album Home năm 2007 của Mr. Children cũng giúp nhóm vượt qua cột mốc 50 triệu đĩa bán ra tại Nhật, giúp nhóm trở thành nghệ sĩ có lượng album bán ra nhiều nhất ở Nhật sau B'z với hơn 75 triệu đĩa.
=== Thập niên 2010 ===
Khởi đầu là "cuộc chiến" giữa những nhóm nhạc nữ thần tượng như Momoiro Clover Z, Tokyo Girls' Style.
== Liên kết ==
Oricon
Thị trường thu âm Nhật Bản
j-pop lyrics tìm kiếm
== Tham khảo == |
biển baltic.txt | Biển Baltic nằm ở Bắc Âu từ 53 đến 66 độ vĩ bắc và 20 đến 26 độ kinh đông, được bao bọc bởi bán đảo Scandinavia, khu vực Trung Âu và Đông Âu và quần đảo Đan Mạch. Biển Baltic nối với biển Trắng bởi kênh đào Biển Trắng và với Biển Bắc bởi kênh đào Kiel.
Adam xứ Bremen (một sử gia người Đức) là người đầu tiên dùng cái tên "Baltic" gọi vùng biển này. Có vẻ như ông lấy cái tên này từ tên một hòn đảo lớn, đảo Baltia, cũng nằm trong khu vực Bắc Âu. Trong tiếng Việt biển này được gọi là Biển Ban Tích.
== Địa lý ==
Biển Baltic là một biển nội địa lớn. Kích thước:
Dài 1610 cây số
Rộng trung bình 193 cây số
Sâu trung bình 55 m
Độ sâu nhất ở vùng trung tâm phía Thụy Điển (459 m)
Diện tích mặt nước: 277000 cây số vuông.
Thể tích: 21000 km khối
Đường bờ biển dài 8000 cây số.
Các nước tiếp giáp với biển Baltic: Đan Mạch, Estonia, Phần Lan, Đức, Latvia, Litva, Ba Lan, Nga, Thụy Điển.
Các đảo và quần đảo thuộc khu vực biển Baltic: Aland (khu tự trị thuộc Phần Lan), đảo Bornholm (Đan Mạch), đảo Gotland (Thụy Điển), đảo Hailuato (Phần Lan), đảo Hiiumaa (Estonia), đảo Kotlin (Nga), đảo Muhu (Estonia), đảo Oland (Thụy Điển), đảo Rugen (Đức), đảo Saaremaa (Estonia), quần đảo Stockholm (Thụy Điển), đảo Usedom hay còn gọi là Uznam (phân chia giữa Ba Lan và Đức), đảo Valassaaret (Phần Lan), đảo Wolin (Ba Lan).
== Đóng băng ==
Tính trung bình nhiều năm, bề mặt biển Baltic bị đóng băng lớn nhất hàng năm là 45%. Khu vực bị đóng băng kiểu này trong suốt mùa đông gồm vịnh Bothnia, vịnh Phần Lan, vịnh Riga, Väinameri thuộc quần đảo Estonia, quần đảo Stockholm và biển Archipelago. Những khu vực còn lại không đóng băng trong suốt mùa đông bình thường, ngoại trừ các vịnh được che chắn và các đầm phá nông như phá Curonia. Bề mặt băng lớn nhất vào tháng 2 hoặc tháng 3; băng đặc biệt dày ở những khu vực tận cùng phía bắc như vịnh Bothnia, bồn trũng phía bắc của vịnh Bothnia, khoảng 70 cm (28 in). Bề dày này giảm dần về phía nam.
Đóng băng bắt đầu diễn ra ở các điểm cực bắc thuộc vịnh Bothnia đặc biệt vào giữa tháng 11, phát triển đến các vùng nước mở thuộc vịnh Bothnia vào đầu tháng 1. Biển Bothnia, nằm phía nam Kvarken, trung bình đóng băng vào cuối tháng 2. Vịnh Phần Lan và vịnh Riga đóng băng vào cuối tháng 1. Năm 2011, vịnh Phần Lan hoàn toàn bị đóng băng vào ngày 15 tháng 2.
Kể từ năm 1720 đến nay, biển Baltic đã từng đóng băng hoàn toàn chỉ 20 lần. Lần gần đây nhất vào đầu năm 1987, là mùa đông khắc nghiệt nhất ở bán đảo Scandinavia từ ngày đó. Băng bao phủ diện tích 400.000 km2. Năm 2007, hầu như không có sự đóng băng trừ một thời gian rất ngắn trong tháng 3.
Trong mùa xuân, vịnh Phần Lan và vịnh Bothnia, băng thường rút vào cuối tháng 4, còn một vài núi băng kéo dài tới tháng 5 ở các điểm cực phía đông của vịnh Phần Lan. Ở cực phía bắc, băng tồn tại đến cưới tháng 5; cho đến đầu tháng 6 nó biến mất.
Lớp phủ băng là môi trường sinh sống chính của 2 loài thú lớn gồm hải cẩu xám (Halichoerus grypus) và Baltic ringed seal (Pusa hispida botnica). Cả hai loài này kiếm ăn dưới lớp băng và sinh sản trên băng. Trong 2 loài này, chỉ có loài hải cẩu P. hispida botnica chịu đựng được điều kiện băng không đủ, nó chỉ chăm con nn chỉ trên băng. Hải cẩu xám thích nghi với việc sinh sản không có băng trên biển. Lớp băng biển này cũng chứa một số loài tảo sống bên dưới và bênt rong các túi nước muối trong băng.
== Thủy văn ==
Nước biển Baltic chảy ra qua eo biển Đan Mạch; tuy nhiên dòng chảy này phức tạp. Lớp nước lợ trên mặt chảy vào biển Bắc 940 km³ mỗi năm. Do khác nhau về độ mặn, nguyên tắc thẩm thấu độ mặn, lớp nước dưới lớp bề mặt mặn hơn lại chảy vào với dung tích 475 km³ mỗi năm. Nó hòa trộn một cách chậm chạp với nước bên trên tạo ra gradient độ mặn từ trên xuống dưới, với hầu hết nước mặn tồn tại ở độ sâu từ 40 đến 70 m. Về tổng thể, dòng hải lưu có chiều kim đồng hồ: chảy về phía bắc theo ranh giới phía đông, và về phía nam theo ranh giới phía tây.
Sự khác biệt vầ dòng chảy ra và vào hoàn toàn do các nguồn cung cấp nước ngọt. Có hơn 25 sông suối chảy vào vùng biển này với tổng diện tích lưu vực khoảng 1,6 triệu km², cung cấp khoảng 660 km³ nước mỗi năm cho biển Baltic. Các công ở Bắc âu gồm Oder, Vistula, Neman, Daugava và Neva. Ngoài ra còn các nguồn nước ngọt có nguồn gốc khí quyển khác nhau ít bị bốc hơi.
Nguồn cung cấp nước mặn quan trọng là dòng nước chảy vào từ Biển Bắc. Các dòng chảy này có vai trò quan trọng đối với hệ sinh thái biển Baltic do chúng vận chuyển ôxy đến các vùng biển sâu của Baltic, thường diễn ra trung bình cứ mỗi 4-5 năm kể từ thập niên 1980. Trong những thập niên gần đây, quá trình này diễn ra ít thường xuyên hơn. Ba lần gần đây nhất diễn ra vào các năm 1983, 1993 và 2003 và dự đoán một chu kỳ mới sẽ diễn ra cách nhau khoảng 10 năm.
Mực nước biển nhìn chung phụ thuộc nhiều vào điều kiện gió trong khu vực hơn là ảnh hưởng của thủy triều. Tuy nhiên, các dòng thủyt riều xuất hiện tại các đoạn hẹp ở những phần phía tây của biển Baltic.
Chiều cao sóng thường thấp hơn nhiều so với sóng trong biển Bắc. Các cơn bão dữ dội và đột ngột, thường xuyên quét qua bề mặt, do sự khác biệt nhiệt độ lớn và thời gian gió tiếp cận lâu dài. Gió mùa cụng cây trên những thay đổi nhỏ về mực nước biển khoảng 0,5 m.
== Sinh học ==
Khoảng 100.000 km2 (38.610 sq mi) diện tích đáy biển Baltic (chiếm 1/4 diện tích đáy biển) là vùng biển chết. Có nhiều nước mặn tồn tại dưới đáy, tách biệt với các nguồn nước mặt và nước khí quyển. Việc ngăn cách này là suy giảm hàm lượng ôxy trong đới biển chết. Trong đới này chủ yếu có vi khuẩn sinh sống, chúng tiêu hóa chất hữu cơ và thảy ra hydro sulfua. Do đới kỵ khí này lớn nên hệ sinh thái đáy biển khác biệt với hệ sinh thái của vùng biển Đại Tây Dương lân cận.
Các kế hoạch tạo ra những khu vực có ôxy nhân tạo bằng hiện tượng phú dưỡng đã được đại học Gothenburg và Inocean AB đề xuất. Đề xuất này dự kiến sẽ dùng bơm điều hướng để thổi không khí vào các vùng nước ở độ sâu khoảng 130m
Vì biển Baltic còn trẻ nên chỉ có vài loài đặc hữu như Parvicardium hauniense và tảo sinh sản vô tính Fucus radicans. Có nhiều loài sinh vật biển thích nghi với độ mặn thấp như herring biển Baltic (nhỏ hơn so với loài trong Đại Tây Dương). Hệ động vật đáy bao gồm chủ yếu là Monoporeia affinis, nguyên thủy chúng là loài nước ngọt. Do thiếu vắng hoạt động thủy triều làm ảnh hưởng đến các loài sinh vật biển so với Đại Tây Dương.
Hệ động vật cá của Baltic gồm các loài nước mặn như cá tuyết, cá trích, cá meluc, cá bơn sao, cá bơn, cá bống biển sừng ngắn và cá bơn turbot, và các loài nước ngọt như cá rô, cá chó, cá ngần và cá rutilus.
Có sự suy giảm số loài động vật từ Belts đến vịnh Bothnia. Độ mặn giảm dọc theo con đường này làm ảnh hưởng đến chức năng sinh lý và môi trường sống.
Các ảnh vệt tinh chụp trong tháng 6 năm 2010 thể hiện hiện tượng nước nở hoa mạnh bao phủ diện tích 377.000 km² trên biển Baltic. Khu vực tảo phát triển khéo dài từ Đức và Ba Lan đến Phần Lan. Các nhà nghiên cứu về hiện tượng này cho biết nước nở hoa đã từng diễn ra trong mỗi mùa hè trong vòng vài thập niên. Phân bón thải ra từ các vùng đất nông nghiệp xung quanh đã làm trầm trọng thêm vấn đề và dẫn đến sự gia tăng phú dưỡng.
== Các thành phố ==
== Tham khảo == |
indi.txt | Indi (tiếng Latinh: Indium) là một nguyên tố hóa học với ký hiệu In và số nguyên tử 49. Nó là một kim loại yếu hiếm, mềm, dễ uốn và dễ dàng nóng chảy, về mặt hóa học là tương tự như nhôm và gali, nhưng tương tự nhiều hơn với kẽm (các quặng kẽm cũng là nguồn chủ yếu chứa kim loại này). Ứng dụng chủ yếu của nó hiện nay là để tạo ra các điện cực trong suốt từ ôxít thiếc indi (tức Indium tin oxide (ITO)) dùng trong các màn hình tinh thể lỏng (LCD). Nó cũng được sử dụng rộng rãi trong các màng mỏng để tạo ra các lớp bôi trơn (trong Đại chiến thế giới lần thứ hai nó được sử dụng nhiều để che phủ các vòng bi trong một số loại tàu bay). Nó cũng được dùng để tạo một số hợp kim cụ thể có nhiệt độ nóng chảy thấp và là thành phần trong một vài dạng thiếc hàn không chứa chì.
== Đặc trưng ==
Indi là một kim loại thật sự, tương đối hiếm, rất mềm, màu trắng hay xám bạc với ánh sáng màu. Khi ở dạng kim loại nguyên chất và bị uốn cong thì nó phát ra các tiếng kêu răng rắc, tựa như thiếc. Cả gali và indi đều có thể làm ướt thủy tinh.
Một tính chất bất thường của indi là phần lớn các đồng vị thông thường của nó đều có tính phóng xạ nhẹ; nó phân rã rất chậm theo bức xạ beta để trở thành thiếc. Tính phóng xạ này không bị coi là nguy hiểm, chủ yếu là do chu kỳ bán rã rất dài của nó (4,41×1014 năm hay 441 nghìn tỷ năm), cao khoảng gấp 10.000 lần tuổi của vũ trụ và gần 50.000 lần lâu dài hơn của thori tự nhiên. Không giống như nguyên tố chu kỳ 5 cận kề là cadmi, indi không phải là chất độc tích lũy nguy hiểm trong cơ thể.
== Ứng dụng ==
Ứng dụng quy mô lớn đầu tiên của indi là làm lớp bôi trơn cho các vòng bi của một số tàu bay trong thời kỳ Đại chiến thế giới lần thứ hai. Sau đó, sản xuất indi dần dần tăng lên các ứng dụng mới được tìm thấy trong các hợp kim dễ nóng chảy, thiếc hàn và trong ngành điện tử. Trong thập niên 1950, các hạt indi nhỏ được dùng làm cực phát và cực thu của các tranzito biên hợp kim kiểu PNP. Vào giữa và cuối thập niên 1980, sự phát triển các chất bán dẫn từ phốtphua indi và các màng mỏng từ ôxít thiếc indi cho LCD đã gây ra nhiều sự chú ý. Vào năm 1992, ứng dụng màng mỏng đã trở thành ứng dụng lớn nhất của indi. Các ứng dụng khác có:
Để sản xuất các hợp kim có điểm nóng chảy thấp. Hợp kim chứa 24% indi và 76% gali là một chất lỏng ở nhiệt độ phòng.
Một số hợp chất của indi như antimonua indi, phốtphua indi, nitrua indi là các chất bán dẫn với các tính chất hữu ích.
Là thành phần bắt buộc trong tổng hợp chất bán dẫn selenua gali indi đồng (CIGS), được sử dụng trong sản xuất các màng mỏng cho các tế bào năng lượng mặt trời.
Sử dụng trong các điốt quang (LED) và các điốt laze (LD) dựa trên các chất bán dẫn phức hợp được sản xuất nhờ công nghệ mọc ghép pha hơi hữu cơ kim loại (MOVPE).
Các chất hữu cơ kim loại siêu tinh khiết của indi, cụ thể là trimethylindi (TMI) độ tinh khiết cao được sử dụng làm tiền chất trong các chất bán dẫn phức hợp nhóm nguyên tố III-V, trong khi nó cũng được sử dụng làm tác nhân kích thích chất bán dẫn trong các chất bán dẫn phức hợp nhóm nguyên tố II-VI.
Có thể được mạ vào các kim loại hay cho bốc hơi vào thủy tinh để tạo ra các gương tốt như như các gương sử dụng bạc nhưng có khả năng chóng ăn mòn tốt hơn.
Ôxít indi (III) (In2O3) được sử dụng như là chất nền thủy tinh dẫn điện trong suốt trong sản xuất các tấm phát quang điện.
Sử dụng làm bộ lọc ánh sáng trong các đèn hơi natri áp suất thấp.
Điểm đông đặc của indi (429,7485 K hay 156,5985 °C) là điểm cố định định nghĩa trên thang nhiệt độ quốc tế ITS-90.
Tiết diện bắt nơtron cao của indi đối với các nơtron nhiệt làm cho nó trở thành phù hợp để sử dụng trong các thanh kiểm soát trong các lò phản ứng hạt nhân, thông thường ở dạng hợp kim chứa 80% bạc, 15% indi và 5% cadmi.
Trong công nghệ hạt nhân, các phản ứng (n,n') của In113 và In115 được sử dụng để xác định thông lượng của luồng nơtron.
In111 bức xạ gama và được sử dụng trong chiếp chụp hạt nhân, một kỹ thuật của chiếu chụp y học. Chiếu chụp hạt nhân có nhiều ứng dụng, bao gồm các pha đầu của phát triển thuốc hay kiểm soát độ hoạt động của các tế bào bạch cầu. Một thử nghiệm máu được thực hiện đối với bệnh nhân, các tế bào bạch cầu được lấy ra và dán nhãn bằng In111 phóng xạ, sau đó truyền trở lại vào bệnh nhân. Hình ảnh gama sẽ phát hiện bất kỳ khu vực nào mà các tế bào bạch cầu có hoạt động cao, như các chỗ bị áp xe.
Một lượng rất nhỏ được dùng trong hợp kim nhôm với anôt mòn dần (trong các ứng dụng môi trường nước mặn) để ngăn chặn thụ động hóa nhôm.
Trong dạng sợi dây, nó được dùng như là xi chân không trong các ứng dụng sinh hàn.
Sử dụng như là vật liệu định cỡ cho các thiết bị phân tích trọng lượng nhiệt.
== Lịch sử ==
Indi (đặt tên theo vạch chàm trong phổ bức xạ nguyên tử của nó, trong tiếng Đức từ indigo là để chỉ màu chàm) được hai nhà hóa học người Đức là Ferdinand Reich và Hieronymous Theodor Richter phát hiện năm 1863 khi họ kiểm tra quặng kẽm bằng quang phổ kế để nghiên cứu tali. Richter cô lập được kim loại này năm 1867.
== Phổ biến và tiêu thụ ==
Indi đứng thứ 61 về độ phổ biến trong lớp vỏ Trái Đất ở hàm lượng khoảng 0,25 ppm , nghĩa là nó có nhiều gấp ba lần bạc (hàm lượng 0,075 ppm). Cho tới năm 1924, chỉ có khoảng 1 gam indi đã cô lập được trên Trái Đất. Indi được sản xuất chủ yếu từ các cặn bã còn lại sau khi tinh chế quặng kẽm, nhưng nó cũng có trong các quặng sắt, chì và đồng.
Canada là nhà sản xuất hàng đầu về indi. Nhà máy tinh chế của Công ty khai thác mỏ Teck Cominco ở Trail (British Columbia) là nơi cung cấp lớn nhất, với sản lượng là 32,5 tấn năm 2005, 41,8 tấn năm 2004 và 36,1 tấn năm 2003.
Lượng indi được tiêu thụ chủ yếu trong sản xuất LCD khắp thế giới. Sản lượng toàn thế giới hiện nay khoảng 476 tấn/năm từ khai thác mỏ và 650 tấn/năm từ tái chế . Nhu cầu sử dụng indi đã gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây với sự phổ biến của màn hình máy tính/ti vi bằng LCD, hiện tại chiếm tới 50% lượng indi được tiêu thụ. Hiệu suất sản xuất tăng lên cùng tái chế (đặc biệt tại Nhật Bản) giúp duy trì sự cân bằng tạm thời giữa cung và cầu. Nhu cầu thì tăng lên do sử dụng trong LCD, còn cung thì giảm do một số công ty khai thác mỏ tại Trung Quốc đã dừng việc chiết tách indi từ căn bã quặng kẽm. Năm 2002, giá của indi trên thị trường là 94 USD mỗi kilôgam, nhưng các thay đổi gần đây trong cung-cầu đã làm giá của indi tăng lên và dao động mạnh, trong giai đoạn từ năm 2005 tới năm 2007 giá của nó nằm trong khoảng 700-1.000 USD/kg. Nhu cầu về indi có thể còn tiếp tục gia tăng với việc sản xuất ở quy mô lớn các màng mỏng dựa trên CIGS trong công nghệ năng lượng mặt trời do một số công ty, như Nanosolar và Miasole, bắt đầu triển khai trong năm 2008.
Dựa trên hàm lượng indi trong các nguồn dự trữ quặng kẽm thì dự trữ toàn thế giới là khoảng 6.000 tấn indi có thể khai thác quy mô thương mại . Điều này cho thấy, với tốc độ tiêu thụ như hiện tại thì chỉ còn đủ indi cho 13 năm . Tuy nhiên, ước tính như vậy thường được coi như là gieo hoang mang hay phao tin đồn nhảm. Indium Corporation, nhà chế biến indi lớn nhất, cho rằng dựa trên cơ sở của hiệu suất phục hồi đang tăng lên trong quá trình chiết tách, sự phục hồi từ khoảng rộng hơn các kim loại cơ sở (như trầm tích thiếc, đồng và các trầm tích đa kim khác) cũng như các đầu tư khai thác mỏ mới, thì cung dài hạn về indi là ổn định, tin cậy và đủ để dáp ứng cho nhu cầu đang gia tăng trong tương lai. Kết luận này dường như là hợp lý với thực tế là bạc, một kim loại ít phổ biến hơn, nhưng hiện tại đang được khai thác ở ngưỡng khoảng 18.300 tấn mỗi năm, gấp khoảng 40 lần so với tốc độ khai thác indi hiện nay.
== Phòng ngừa ==
Indi tinh khiết ở dạng kim loại được nhiều nguồn tài liệu cho là không độc hại. Trong công nghiệp bán dẫn và hàn kim loại, những nơi mà độ phơi nhiễm indi là tương đối cao, vẫn chưa có báo cáo nào cho thấy nó gây ra các hiệu ứng phụ độc hại.
Nhưng điều này có thể không đúng đối với các hợp chất của indi: có một số chứng cứ chưa được xác nhận cho rằng indi có độc tính thấp. Ví dụ, triclorua indi khan (InCl3) là hoàn toàn độc hại, trong khi phốtphua indi (InP) là độc hại và bị nghi ngờ là chất gây ung thư.
== Xem thêm ==
Hợp chất indi
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos – Indi
WebElements.com – Indium
Indium Corporation
Tác nhân khử > Indi hóa trị thấp |
stonehenge.txt | 51°10′44,85″B 1°49′34,13″T
Stonehenge là một công trình tượng đài cự thạch thời kỳ đồ đá mới và thời kỳ đồ đồng gần Amesbury ở Anh, thuộc hạt Wiltshire, 13 km về phía bắc Salisbury. Tọa độ địa lý 51°10′44,85″N, 1°49′35,13″W [1]. Công trình này bao gồm các công sự bằng đất bao quanh một vòng đá, là một trong những địa điểm tiền sử nổi tiếng thế giới. Các nhà khảo cổ cho rằng các cột đá này được dựng lên từ khoảng 2500-2000 trước Công nguyên dù các vòng đất xung quanh được xây dựng sớm hơn, khoảng 3100 năm trước Công nguyên.
Khu vực này và khu vực xung quanh đã được UNESCO công nhận là Di sản thế giới năm 1986.
== Từ nguyên học ==
Từ điển tiếng Anh Oxford trích từ bảng chú giải thuật ngữ cổ của Elfric từ thế kỉ thứ 10, henge-cliff có nghĩa là "vách đứng", một hòn đá treo hoặc hỗ trợ, mặc dù Stanheng (không xa so với Salis bury) được công nhận bởi nhà văn từ thế kỉ 11 là "những hòn đá bổ sung". William Stukeley vào năm 1740 cho biết, "Những tảng đá rủ xuống bây giờ gọi là những khớp nối ở Yorshire...Tôi không nghi ngờ gì, Stonhenge ở Saxon có ý nghĩa là các hòn đá treo." Stonehenge Complete của Christopher Chippindale cho biết sự bắt nguồn của cái tên Stonehenge là từ một từ ngữ tiếng Anh cổ stān có nghĩa là "đá", và henge có nghĩa là "bản lề" (vì các thanh dầm cửa đá bản lề trên đá thẳng đứng) hoặc hen(c)en có nghĩa là "treo" hoặc "giá treo cổ" hoặc "nhạc cụ của tra tấn". Giống kiến trúc gồm các tảng đá dựng đứng của Stonhenge, giá treo cổ thời trung cổ bao gồm 2 trụ đứng với một thanh ngang, thay vì chữ L ngược quen thuộc ngày nay.
Phần chia các "khớp nối" đã cho biết của nó cho một lớp các di tích được biết đến như các khớp nối. Các nhà khảo cổ học xác định các khớp nối như những nền đất bao gồm một hình tròn được rào lại cùng một rãnh bên trong. Như thường có trong thuật ngữ khảo cổ học, đây là một di tích, và Stonehenge không thực sự là một khớp nối như cái đê bên trong cái rãnh của nó. Tuy là đương đại với những khớp nối từ thời đồ đá thật và vòng tròn đá, Stonehenge không điển hình trong nhiều cách - ví dụ, cao hơn 24m,, kiến trúc gồm 2 thanh đá dựng đỡ một thanh đá nằm ngang còn tồn tại của nó hỗ trợ thanh dầm cửa tổ chức tại địa điểm với lỗ mông và khớp, làm cho nó trở nên độc đáo.
== Lịch sử ==
Mike Parker Pearson, lãnh đạo của dự án Riverside Stonehenge, nhấn mạnh rằng Stonehenge dường như đã có liên quan tới các ngôi mộ ngay từ khi nó xuất hiện:
"Stonehenge là nơi chôn cất ngay từ khi xuất hiện cho tới thời kì huy hoàng của nó vào khoảng giữa thiên niên kỉ thứ 3 trước công nguyên. Hoạt động hoả táng bắt đầu từ thời kì khối sa thạch của Stonehenge chỉ là một trong nhiều cách sử dụng của tượng đài giai đoạn sau này và chứng minh rằng nó vẫn là lãnh thổ của người chết."
Sự tiến triển của Stonehenge trong nhiều giai đoạn xây dựng kéo dài trong ít nhất 1500 năm. Có những bằng chứng của việc xây dựng quy mô lớn trong và xung quanh tượng đài rằng có lẽ kéo dài thời gian của khu cảnh quan tới 6500 năm.
Nhiều nhà học giả tin rằng Stonhenge đã từng được hoàn thành như một tượng đài tráng lệ. Điều này không thể được chứng minh bởi một nửa số đá đã bị mất tích, và nhiều lỗ đặt đá chưa bao giờ được tìm thấy. Tìm hiểu và những hiểu biết của các giai đoạn khác nhau của hoạt động phức tạp là do sự xáo trộn của tự nhiên từ ảnh hưởng của thời kì cận băng hà và động vật đào bới. Giai đoạn hiện đại với các nhà khảo cổ thường đồng ý với điều này.
=== Trước khi hoàn thành (trước năm 8000 trước công nguyên) ===
Các nhà khảo cổ học đã tìm thấy bốn, hoặc có thể là 5 lỗ trụ có từ thời kì đồ đá giữa (một cái có thể đã bị một cây che), được cho là vào khoảng năm 8000 trước công nguyên, dưới một nơi đỗ xe du lịch hiện đại. Những cột trụ này được dựng nên quanh một cây thông có đường kính 0,75m được dựng lên và cuối cùng bị mục nát. 3 trong số các cột trụ được xếp theo phía đông-tây mà có thể là có ý nghĩa nghi lễ; không đường song song nào được biết tới ở Anh vào thời điểm đó nhưng cũng giống như ở Scandinavi. Salisbury Plain sau đó vẫn còn rừng nhưng khoảng 4000 năm sau, vào giai đoạn đầu của thời kì đồ đá mới, con người xây một bờ đắp cao ở Robin Hood's Ball và những gò đất là các ngôi mộ dài ở xung quanh. Trong khoảng năm 3500 trước công nguyên, một tượng đài với kiến trúc bằng đất với hai tường thành xung quanh được xây với độ cao 700m về phía bắc như là những người nông dân đầu tiên bắt đầu dọn sạch cây và phát triển khu vực.
=== Stonehenge 1 (khoảng năm 3100 trước công nguyên) ===
Tượng đài đầu tiên bao gồm một ụ đất hình tròn và một rãnh rào xung quanh được làm từ cuối kỉ phấn trắng, có đường kính khoảng 110m, cùng một lối vào rộng theo hướng đông bắc và một cái nhỏ hơn ở phía nam. Nó nằm trên một bãi cỏ rộng và dốc. Những người xây dựng đã đặt xương của bò và hươu ở dưới rãnh này, ũng như một số viên đá lửa để làm việc. Những người chôn chúng đã đôi lúc phải chăm sóc chúng trước khi chôn. Cái rãnh được kéo dài nhưng cũng bị đào ở một số chỗ. Các phần được đào lên từ cái rãnh được chồng lên thành ụ đất. Giai đoạn đầu được dự báo vào khoảng năm 3100 trước công nguyên, sau đó cái rãnh bắt đầu bị chèn lên. Trong cạnh bên ngoài của khu vực bao quanh có một vòng tròn với 56 lỗ, mỗi lỗ có đường kính khoảng 1m, được biết đến là lỗ Aubrey sau khi John Aubrey, sau khi nhà sưu tầm đồ cổ vào thế kỉ 17 này được cho là người đầu tiên phát hiện ra chúng. Các lỗ có thể có chứa các thanh gỗ tạo thành một vòng tròn gỗ, mặc dù chưa có bằng chứng khai quật của chúng. Một cuộc khai quật gần đây cho thấy rằng những chiếc hố Aubrey ban đầu được dùng để dựng nên một vòng tròn đá xanh. Nếu đúng như vậy, nó có thể là nơi sớm nhất được biết đến cấu trúc đá sớm nhất tại nơi này trong khoảng 500 năm. Một ụ đất nhỏ bên ngoài rãnh cũng có thể có trong thời kì này.
=== Stonehenge 2 (khoảng năm 3000 trước công nguyên) ===
Bằng chứng của giai đoạn 2 không còn tồn tại. Những chiếc lỗ trụ có vào đầu thiên niên kỉ thứ 3 trước công nguyên gợi ý rằng một số cấu trúc gỗ đã được xây bao quanh suốt thời kì này. Các thanh gỗ được đặt ở cửa vào phía đông bắc, và một số cột trụ song song hướng vào trong cửa vào phía Nam. Những lỗ trụ nhỏ hơn các lỗ Aubrey, chỉ có đường kính khoảng 0,4m, và ít được đặt hơn nhiều. Các ụ đất được giảm chiều cao một cách có chủ đích và các rãnh tiếp tục bị chèn. Ít nhất 25 lỗ Aubrey được biết là có chứa sau đó, việc xâm nhập và hoả táng bắt đầu diễn ra 2 thể kỉ sau khi kì quan này được dựng nên. Có vẻ như bất kì chức năng ban đầu nào của ác lỗ đều được thay thế để trở thành nơi chôn cất vào giai đoạn 2. Hơn 30 cuộc hoả táng được diễn ra ở rãnh xung quanh và một số khác ở các điểm khác của khu vực, chủ yếu ở nửa phía đông. Stonehenge nên được hiểu là có chức năng như một nơi để hoả táng vào thời kì này, nơi được biết đến hoả táng sớm nhất trong các quần đảo ở Anh. Xương của những người chưa được hoả táng cũng được tìm thấy tại các rãnh bị lấp đầy. Những bằng chứng có được từ các đồ gốm từ cuối thời kì đồ đá đã được tìm thấy đều có sự liên quan với thời kì này.
=== Stonehenge 3 thời kì I (khoảng năm 2600 TCN) ===
Các nhà khảo cổ học đã chỉ ra rằng vào khoảng năm 2600 TCN, các nhà xây dựng đã thích dùng gỗ hơn là đá và đào 2 mảng đồng tâm của lỗ (lỗ Q và lỗ R) ở trung tâm của khu vực. Các lỗ cắm đá chỉ có một phần được biết (vì thế bằng chứng hiện nay đôi khi được miêu tả như hình thành "hình lưỡi liềm"); tuy nhiên, họ có thể vẫn còn một vòng đôi. Các lỗ thể hiện 80 tảng đá đứng (thể hiện màu xanh trên bản đồ), chỉ 43 trong số chúng vẫn còn tới ngày nay. Những tảng đá xanh (một số được làm từ dolerit, một loại đá lửa), được nhiều người nghĩ tới vào thế kỉ 20 là được chuyển bởi con người từ Preseli Hills, cách thành phố ngày nay là Pembrokeshire ở Wales 250 km. Một lý thuyết gần đây cũng được ủng hộ, đó là chúng được mang tới gần khu vực hơn nhiều từ những mảng băng trôi. Những khối đá đứng khác cũng từng là những khối sa thạch nhỏ, về sau được dùng làm rầm đỡ. Những khối đá nặng gần 4 tấn này bao gồm phần lấn là dolerite]] từ kỉ Ordovician nhưng bao gồm những chất khác như là riolit, đá tạo thành từ tro núi lửa và tro tàn đá vôi; tổng cộng có khoảng 20 loại đá khác nhau có ở đây. Mỗi khối đá cao khoảng 2m, sâu từ 1m tới 1,5m và dày khoảng 0,8m. Đây là những thứ được biết đến như đá thời, gần như chắc chắn là bắt nguồn từ hoặc Carmarthenshire hoặc Brecon Beacons và có thể đã đứng như một khối đá đơn lẻ rộng.
Cửa phía Tây Bắc vào lúc này đã được mở rộng, với kết quả là nó kết hợp một cách chính xác hướng của bình minh và những tia nắng vào giữa mùa đông. Giai đoạn này của kì quan bị bỏ dở, tuy nhiên; những khối đá nhỏ dường như bị loại bỏ và lỗi Q và R bị lấp lại một cách có chủ ý. Mặc dù vậy, kì quan này dường như đã bị lu mờ trước sự quan trọng của Avebury vào cuối giai đoạn này.
Khối Heelstone, một loại sa thạch ở kỉ thứ ba, cũng có thể đã được dựng lên bên ngoài lối vào trong giai đoạn này. Nó không có ngày cụ thể và có thể lắp đặt vào bất kì lúc nào ở g iải đoạn 3. Ban đầu nó được đi kèm với một hòn đá thứ hai, không lâu sau hòn đá đó bị mất tích. Hai, hoặc có thể là ba, cổng đá lớn đã được thiết lập ở lối vào phía Tây Nam, trong đó chỉ có một khối đá Slaughter bị đỏ, dài 4.9m, hiện vẫn còn. Điểm đặc biệt khác, được dựng nên một cách lỏng lẻo vào giai đoạn 3, bao gồm bốn Trạm đá (Station Stone), 2 trong số chúng đứng trên đỉnh gò (cái thứ 2 và 3). Những cái gò được biết đến là những "nấm mồ" mặc dù chúng không dùng để chôn. Stonehenge Avenue, một cặp rãnh song song và ụ đất kéo dài 3 km tới sông Avon, cũng được thêm vào. Hai rãnh giống Rãnh Heelstone bao quanh Heelstone (về sau được giảm thành một khối đá đơn lẻ) về sau cũng được đào xung quanh Trạm Đá.
=== Stonehenge 3 giai đoạn II (khoảng năm 2600 đến 2400 TCN) ===
Trong giai đoạn hoạt động tiếp theo, một khối lượng lớn 30 tảng đá sa thạch ở thể Oligocene và Miocene (màu xám trên bản đồ) đã được đem đến đây. Chúng có thể tới từ một mỏ đá, khoảng 40 km về phía bắc của Stonehenge trên Marlborough Downs, hoặc chúng có thể được góp nhặt từ một "bãi rác" sa thạch. Những hòn đá được trang trí với những lỗ mộng và những chiếc mộng nối với nhau trước khi 30 hòn đá được dựng thẳng đứng với đường kính tổng cộng là 33m, với một vòng gồm 30 thanh dầm đá nằm trên đỉnh. Những chiếc dầm được lắp với nhau theo phương pháp gia công gỗ, những cái lưỡi và những cái rãnh được nối với nhau. Mỗi khối đá đứng cao khoảng 4,1m, rộng 2,1m và nặng khoảng 25 tấn. Mỗi khối đá rõ rằng được làm với hiệu ứng thị giác cuối cùng trong tâm trí.
== Tham khảo ==
Stonehenge - Egyptian solar temple. Egyptian hieroglyphs in Stonehenge
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Stonehenge tại Wikimedia Commons |
bán đảo đông dương.txt | Bán đảo Đông Dương là một bán đảo ở Đông Nam Á, giáp Ấn Độ về phía tây và Biển Đông về phía đông.
== Các quốc gia ==
Các lãnh thổ lịch sử thuộc Đông Dương thuộc Pháp
Campuchia
Lào
Việt Nam
Khái niệm rộng hơn về địa lý và văn hóa, còn được biết đến với tên gọi "Đông Nam Á lục địa" thì bao gồm thêm
Myanma (một phần của Ấn Độ thuộc Anh cho đến năm 1937)
Thái Lan (trước là Xiêm)
Malaysia bán đảo
== Các tên gọi ==
Khu vực này ban đầu được người Pháp gọi là Indo-Chine (Ấn Độ - Trung Hoa) để chỉ khu vực nằm phía đông của Ấn Độ và phía nam Trung Quốc, chịu ảnh hưởng văn hóa của hai vùng này. Người Việt dùng tên gọi Đông Dương (Biển Đông), tương tự cách dùng tên gọi Tây Dương cho châu Âu, Tiểu Tây Dương cho bán đảo Ấn Độ, Nam Dương cho quần đảo Indonesia. Sách Giáo khoa sử dụng tên gọi bán đảo Trung-Ấn tương đương với Đông Nam Á lục địa, nhiều tài liệu sử dụng tên bán đảo Ấn-Hoa theo sát nghĩa của Indochine. Người Trung Quốc dịch âm Indo-Chine thành Ấn Độ-Chi Na (印度支那). Người Hoa tại Đông Nam Á, Đài Loan thì gọi là Trung Nam bán đảo (中南半島).
Trong bán đảo Đông Dương đã từng tồn tại Đông Dương thuộc Pháp, là các nước thuộc địa cũ của Pháp, gồm Annam (Trung kỳ), Cochinchine (Nam kỳ), Tonkin (Bắc kỳ) (cả ba nay thuộc Việt Nam), Lào và Campuchia. Thời kỳ là thuộc địa của Anh, Miến Điện được coi là một phần của British India (Ấn Độ thuộc Anh), nhưng đôi khi người ta cũng dùng British Indochina (Indochina thuộc Anh) để chỉ Miến Điện. Theo nghĩa rộng thì Đông Dương có thể được gọi là Đông Nam Á lục địa (Mainland Southeast Asia).
== Lịch sử tên gọi ==
Vào thế kỷ 17-18, khi nói đến vùng Đông Nam Á, người Pháp thường dùng tên gọi Ngoại Ấn (Inde extérieure) hay Ấn Độ bên kia sông Hằng (Inde au-delà du Gange), còn người Anh thì gọi là Ultra-Ganges India.
Tên gọi Đông Dương (Indo-Chine) xuất hiện lần đầu tiên dưới ngòi bút của Conrad Malte Bruun (1775-1826) trong bộ sách Địa lý toán học, hình thể và chính trị của các nơi trên thế giới, xuất bản năm 1804. Trong tập 12 của bộ sách này có nói đến các nước Indo-Chine hay vương quốc Tonquin, Cochinchine, Lào...
Bốn năm sau, tên gọi Indo-Chine lại xuất hiện trong một bài báo của John Leyden (1775-1811) trên tạp chí Nghiên cứu châu Á của Hội châu Á vùng Bengal, xuất bản tại Calcutta năm 1808.
== Tôn giáo ==
Tôn giáo chính trong vùng là Phật giáo nguyên thủy. Phật giáo Đại thừa rất phổ biến ở Việt Nam, trong khi Malaysia có Hồi giáo là tôn giáo chính, tồn tại cùng nhiều tôn giáo khác.
== Xem thêm ==
Liên bang Đông Dương
Bán đảo Mã Lai
Đông Nam Á
Indochine (định hướng)
== Liên kết ngoài ==
Hình ảnh về Đông Dương xưa |
hoa kỳ lục địa.txt | Hoa Kỳ Lục địa (continental United States) là một thuật từ dùng để chỉ phần đất chính của Hoa Kỳ nằm trên lục địa Bắc Mỹ. Tùy theo cách dùng, nó có thể có nghĩa là:
48 tiểu bang dính liền nhau của Hoa Kỳ cộng Đặc khu Columbia; hay là
48 tiểu bang dính liền nhau cộng Đặc khu Columbia và tiểu bang Alaska.
Định nghĩa đầu tiên có tính truyền thống hơn, ngược thời gian trở về thời trước khi Alaska trở thành tiểu bang, và là định nghĩa được sử dụng phổ biến hơn. Định nghĩa thứ hai, về mặt kỹ thuật thì có vẽ chính xác hơn vì Alaska cũng nằm trên lục địa Bắc Mỹ, phía tây bắc của Canada. Trong cả hai ý nghĩa, Hawaii – một chuỗi các đảo nằm ở tây nam Bắc Mỹ trong Thái Bình Dương - không được tính vào.
== Những thuật từ tương tự ==
Để tránh nhầm lẫn, người ta thường dùng thuật từ Continental United States hay Hoa Kỳ Lục địa khi có ý bao gồm luôn tiểu bang Alaska, và dùng những thuật từ sau đây khi không tính tiểu bang Alaska và chỉ ám chỉ đến 48 tiểu bang nằm trong Trung Bắc Mỹ:
contiguous United States (các tiểu bang Hoa Kỳ cận kề nhau)
conterminous United States (các tiểu bang Hoa Kỳ tiếp giáp nhau)
lower 48 states (48 tiểu bang vùng hạ)
CONUS (là chữ viết tắt dùng trong quân đội của chữ Continental United States)
Thuật từ lower 48 states (48 tiểu bang vùng hạ) là để diễn tả những tiểu bang nằm trong Bắc Mỹ nhưng ở phía dưới so với tiểu bang Alaska. Nếu diễn giải đúng văn tự thì tiểu bang Hawaii nằm xa về phía nam hơn so với nhiều tiểu bang khác, và như vậy thì thuật từ này có nghĩa là tất cả các tiểu bang kể cả Hawaii, trừ Alaska và Minnesota vì chúng là hai tiểu bang cận bắc nhất. Tuy nhiên thuật từ này không dùng theo ý nghĩa đó mà được hiểu là để chỉ toàn bộ những tiểu bang kề cận nhau của Hoa Kỳ mà không tính Alaska và Hawaii. 48 tiểu bang kề cận này có tổng diện tích là 7.825.268 km².
Đặc khu Columbia, tuy không phải là một tiểu bang, vẫn được nhìn nhận rộng rãi là một phần của Hoa Kỳ Lục địa hay các tiểu bang Hoa Kỳ kề cận vì nó chính thức được sát nhập hợp nhất vào lãnh thổ quốc gia.
== Cách gọi tại Alaska và Hawaii ==
Một số nơi, vì vị trí địa lý của chúng cách xa Hoa Kỳ Lục địa nên những nơi này có cách gọi Hoa Kỳ Lục địa theo cách gọi riêng của mình:
Tại Hawaii và những lãnh thổ Mỹ hải ngoại, thuật từ "the Mainland" (Chính địa) hay "U.S. Mainland" (Hoa Kỳ Chính địa) được dùng để chỉ Hoa Kỳ Lục địa (có khi bao gồm hoặc không bao gồm Alaska).
Tại Alaska, thuật từ "Lower 48" (Hạ 48) đôi khi được dùng để chỉ 48 tiểu bang Hoa Kỳ kề cận nhau. Đôi khi, thường nghe hơn, những cư dân sống lâu tại Alaska hay gọi 48 tiểu bang lục địa là "Outside" (Bên ngoài), thí dụ như họ nói "Anh trai của tôi đi ra Bên ngoài để mổ tim".[1][2] [3][4].
Tại Alaska, một thuật từ khác thường được dùng để chỉ 48 tiểu bang lục địa là thuật từ "Stateside" (phía bên Mỹ) mà các nhân viên quân sự thường dùng và được đông đảo dân số gọi theo. Đối với nhiều binh chủng quân sự thì các căn cứ quân sự tại Alaska được họ xem như là các căn cứ hải ngoại, vì vậy mới có tên gọi như vậy. Thuật từ "Hoa Kỳ Lục địa" hầu như không được dùng khi chỉ để ám chỉ 48 tiểu bang kề sát nhau, có lẽ vì nhiều người Alaska cho rằng gọi như vậy là tự tách biệt họ ra khỏi lục địa Bắc Mỹ.
== Xem thêm ==
Chính địa
Châu Đại Dương
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Definition of continental.
Definition of contiguous.
Definition of conterminous.
Definitions of continental United States and contiguous United States as used by United Airlines. |
tự đức.txt | Tự Đức (chữ Hán: 嗣德; 22 tháng 9 năm 1829 – 19 tháng 7 năm 1883), tên thật là Nguyễn Phúc Thì (阮福時) hoặc Nguyễn Phúc Hồng Nhậm (阮福洪任), là vị Hoàng đế thứ tư của triều Nguyễn. Ông là vị vua có thời gian trị vì lâu dài nhất của nhà Nguyễn, trị vì từ năm 1847 đến 1883, ông được truy tôn miếu hiệu là Nguyễn Dực Tông (阮翼宗).
Triều đại của ông đánh dấu nhiều biến đổi với vận mệnh Đại Nam. Năm 1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng. Trước tình hình người Pháp xâm lấn trong triều đình đặt ra vấn đề cải cách, liên tiếp các năm từ 1864 đến 1881 các quan là Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ, Nguyễn Trường Tộ, Đinh Văn Điền, Nguyễn Hiệp, Lê Định liên tiếp dâng sớ xin nhà vua cho cải cách toàn diện đất nước nhưng nhà vua không đưa ra được quyết sách vì sự bàn ra của các đình thần. Mãi đến năm 1878, triều đình mới bắt đầu cử người thực hiện các bước đầu tiên trong quá trình cải cách là cho học tiếng nước ngoài, nhưng đình thần vẫn bất đồng và nảy sinh hai phe chủ trương cải cách và bảo thủ, rồi đến khi nước Đại Nam dần rơi vào tay quân Pháp cũng nảy sinh hai phe chủ chiến và chủ hòa.
== Thân thế ==
Nguyễn Phúc Hồng Nhậm sinh ngày 25 tháng 8 năm Kỷ Sửu (tức 22 tháng 9 năm 1829) tại Huế, là con thứ của vua Thiệu Trị và bà Phạm Thị Hằng. Khi còn nhỏ Hồng Nhậm còn có tên khác là Nguyễn Phúc Thì.
Vì anh trai của ông là Nguyễn Phúc Hồng Bảo, một người ham chơi, mê cờ bạc, không chịu học hành, vì vậy, Thiệu Trị trước lúc qua đời, đã để di chiếu truyền ngôi cho ông. Bấy giờ ông mới 19 tuổi, nhưng học hành đã thông thái. Đến tháng 10 năm 1847, ông chính thức lên ngôi hoàng đế ở điện Thái Hòa, đặt niên-hiệu là Tự Đức, bắt đầu từ năm sau là 1848. Khi Tự Đức lên cầm quyền, triều đình vẫn cai trị tuân theo phong cách Nho giáo.
== Cai trị ==
Tự Đức lên ngôi vào tháng 10 năm Đinh Mùi 1847 theo di chiếu của vua cha Thiệu Trị. Bấy giờ ông mới có 19 tuổi, nhưng học hành đã thông thái
=== Quan thần dưới thời Tự Đức ===
Phần lớn triều thần thời Tự Đức là những người có tầm nhìn hủ bại. Họ chỉ nhìn nhận tình hình bằng con mắt của cả ngàn năm trước khi các nước phương Tây đã bỏ xa nước Việt về công nghệ, kỹ thuật. Một số người ở Nghệ An đã xuất ngoại để giao du và học hỏi nhiều thứ mới mẻ, mà điển hình là ông Nguyễn Trường Tộ. Khi về nước, Nguyễn Trường Tộ liền thỉnh cầu Hoàng đế gấp rút cải cách kẻo mất nước. Tiếc thay,quan thần xàm tấu với Hoàng đế và ông cũng từ chối ban hành cải tổ. Cũng không phải tại vua Tự Đức không muốn cải cách đất nước nhưng vì khung cảnh thời gian. Cộng với việc nghe lời gian thần và ngu thần xúi bậy nên mới bị mất nước. Nhiều nhà sử học đã trách việc mất nước lên các quan thần dưới thời Tự Đức. Tuy nhiên dưới thời ông cũng có một số quan thần ưu tú như Tôn Thất Thuyết, Trần Tiễn Thành là những ví dụ điển hình.
=== Thuế má ===
Thuế má trong nước dưới thời Tự Đức đại khái cũng giống như các thời Minh Mạng (Thánh tổ) (1820 - 1841) và Thiệu Trị (Hiến tổ) (1841 - 1847) trước đó, nhưng từ khi liên quân Pháp - Tây Ban Nha chiếm các tỉnh Nam kỳ rồi, lại phải bồi tiền binh phí mất 4 triệu nguyên, triều đình mới tìm cách lấy tiền, bèn phải cho quan Hầu Lợi Trịnh đánh thuế cao trong việc buôn bán thuốc nha phiến từ Quảng Bình đến Bắc kỳ, tuy không nhiều. Sử sách chép rằng mỗi năm nhà vua thu được có 302.200 quan tiền thuế nha phiến.
Nhà vua buộc phải dùng lối đời trước bán quan để lấy tiền, theo hình thức "quyên". Định lệ cho quyên từ 1.000 quan trở lên thì được hàm cửu phẩm, lên đến 10.000 thì được thăng hàm lục phẩm.
=== Quân đội ===
Thời Tự Đức có nhiều giặc giã và là một thời rất là loạn lạc ở Đại Nam. Có nhiều cuộc khởi nghĩa chống lại triều đình cùng với thực dân Pháp âm mưu chiếm hết toàn cõi Đại Nam tuy nhiên theo sách Những vấn đề lịch sử triều Nguyễn, thời Tự Đức, công tác quốc phòng của nhà Nguyễn có sự tương phản rõ rệt với các triều trước. Một trong những lý do khiến cho tình hình quân đội sa sút là vấn đề tài chính. Vũ khí và trang thiết bị làm mới gần như không có. Bộ binh được trang bị rất lạc hậu: 50 người mới có 5 khẩu súng, mỗi năm chỉ tập bắn 1 lần 6 viên đạn. Vũ khí được bảo dưỡng cũng kém. Về thủy binh, không có tàu hơi nước nào được đóng mới, thủy quân thậm chí không đủ khả năng để bảo vệ bờ biển chống hải tặc. Việc giảng dạy binh pháp không còn chú trọng tới sách vở phương Tây nữa mà quay trở lại với Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo triều Trần. Đời sống binh lính không được quan tâm thỏa đáng, lương thực lại còn bị ăn bớt. Do đó tinh thần chiến đấu của binh sĩ không được cao.. Năm 1861, Tự Đức ra lệnh cho các tỉnh thành chọn lấy những thành niên trai tráng khỏe mạnh để đi lính. Đến năm 1865, triều đình Tự Đức tổ chức khoa thi đầu tiên để tuyển chọn Võ tiến sĩ vào thời Nguyễn.
Tuy rằng Đại Nam lúc đó các tướng sĩ tài giỏi không thiếu nhưng thời thế đã khác xưa thế mà vẫn còn dùng gươm giáo. Khi ấy, thực dân Pháp đã có súng ống tân tiến do đó gươm giáo của Đại Nam không thể địch nổi. Tuy Đại Nam có nhân lực dồi dào, vũ khí hiện đại để chiến đấu thì lại thiếu thốn trầm trọng. Trong một đội gồm 10 binh lính thì mới có một khẩu súng cũ, phải châm ngòi bắn mới được. Mà quân sĩ không được tập bắn nhiều do sợ tốn tiền đạn được. Bởi thế khi quân Pháp tới Đại Nam chẳng thể chống nổi.
Quan điểm khoa học quân sự của vua quan triều Nguyễn không hề vượt quá khuôn khổ của khoa quân sự phong kiến. Việc không bắt kịp với thành tựu mới của khoa học phương Tây thời vua Tự Đức khiến cho quân sự Việt Nam bị lạc hậu nhiều. Vì vậy, khi quân Pháp xâm lược Việt Nam năm 1858, khoảng cách về trang thiết bị với quân đội nhà Nguyễn đã khá xa.
=== Các cuộc nổi loạn ===
Tự Đức là một vị vua chăm chỉ về việc trị dân, ngay từ năm Canh Tuất (1850) vua sai Nguyễn Tri Phương làm Kinh lược đại sứ 6 tỉnh Nam kỳ, Phan Thanh Giản làm Kinh lược đại sứ Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Bình Thuận, Nguyễn Đăng Giai làm Kinh lược đại sứ Hà Tĩnh, Nghệ An, Thanh Hóa. Các đại thần này đi khám xét công việc các quan lại và sự làm ăn trong dân gian, có điều gì hay dở phải dâng sớ tâu về kinh đô cho vua biết.
Dù vậy, tại Bắc kỳ có 40 cuộc nổi loạn dưới triều Tự Đức. Chỉ có vài ba năm đầu còn hơi yên trị, từ năm 1851 trở đi, trong nước ngày càng nhiều cuộc nổi loạn. Bắc kỳ là nơi nhiều loạn nhất, bởi vì đây là đất của tiền triều Hậu Lê, nhiều người tưởng nhớ đến tiền triều, nên chỉ những người muốn làm loạn, hoặc tự nhận là hậu duệ triều Hậu Lê, hoặc tìm một người giả nhận dòng dõi nhà Hậu Lê, rồi tôn lên làm minh chủ để lấy cớ mà khởi sự.
Bấy giờ, ở Trung Quốc có quân Thái Bình Thiên Quốc nổi lên đánh nhà Thanh, đến khi tan vỡ thì tàn quân Thái Bình Thiên Quốc tràn sang Việt Nam cướp phá ở miền thượng du, quan quân nhà Nguyễn phải đi đánh dẹp rất phiền phức. Ở trong nước thì thỉnh thoảng lại có tai biến như nước lụt, đê vỡ,... Ở Hưng Yên, đê Văn Giang vỡ 18 năm liền, cả huyện Văn Giang trở thành bãi cát bỏ hoang, nhân dân đói khổ, nghề nghiệp không có, bởi thế nên người đi làm giặc ngày càng nhiều.
==== Quân Tam Đường ====
Năm 1851, có nhóm giặc khách là Quảng Nghĩa Đường, Lục Thắng Đường, Đức Thắng Đường,... tục gọi là giặc Tam đường, quấy nhiễu ở mặt Thái Nguyên. Vua Tự Đức sai Nguyễn Đăng Giai ra kinh lược ở Bắc kỳ. Giai đã dùng cách khôn khéo dụ được quân nổi loạn về hàng. Bởi vậy trong hạt lại được yên một độ. Nhưng đến năm 1854, Nguyễn Đăng Giai qua đời, Bắc kỳ lại có loạn.
==== Quân Châu Chấu ====
Năm 1854, Tự Đức thứ 7, ở tỉnh Sơn Tây có một nhóm người đem Lê Duy Cự là hậu duệ của triều Lê ra lập làm minh chủ để khởi sự đánh Nguyễn. Lúc bấy giờ có Cao Bá Quát, người làng Phú Thụy, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh thi đỗ cử nhân, ra làm quan, được bổ chức giáo thụ phủ Quốc Oai (Sơn Tây). Cao Bá Quát là một nhà văn, nhà thơ lỗi lạc ở Bắc kỳ, mà cứ bị quan trên đè nén, cho nên bức chí, từ quan lui về dạy học, rồi theo nhóm người ấy xưng làm Quốc sư để dấy loạn ở vùng Sơn Tây và Hà Nội.
Lúc đầu nghĩa quân giành được một số thắng lợi ở Sơn Tây, Nam Định nhưng sau đó thì bị quân triều đình đánh tan. Theo Thư mục chính biên thì Cao Bá Quát bị bắn chết trong một trận đánh năm 1855, nhưng theo Việt Nam sử lược Quát bị quan phó Lãnh binh tỉnh Sơn Tây là Lê Thuận đánh bắt được và đem về chém tại làng. Vua Tự Đức ra lệnh cho tru di tam tộc dòng họ Cao.
Bởi vì tháng 5 ấy ở tỉnh Bắc Ninh và Sơn Tây có nhiều châu chấu phá hoại mùa màng, đến cuối năm lại có cuộc khởi nghĩa của Lê Duy Cự, nên tục gọi là giặc Châu Chấu.
Sau khi Cao Bá Quát chết, Lê Duy Cự còn quấy rối đến mấy năm sau mới dẹp yên được.
==== Khởi nghĩa Lê Duy Phụng ====
Khởi nghĩa Lê Duy Phụng là tên gọi của cuộc nổi dậy do Lê Duy Phụng, trước đã từng tham gia trong lực lượng Pháp tiến đánh Nam Kỳ, lãnh đạo chống triều đình nhà Nguyễn ờ vùng ven biển Bắc kỳ từ năm 1861 đến 1865. Cuộc nổi dậy đã được các lực lượng nông dân khởi nghĩa, các nhóm giặc cỏ ở khắp Bắc Kỳ như Hải Dương, Bắc Ninh, Sơn Tây, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Thanh Hoá, Nghệ An cũng như hải tặc ngoài biển ủng hộ nhiệt liệt, lan rộng khắp miền Bắc cho quân Pháp rảnh tay ở Nam Kỳ.
==== Hồng Bảo mưu giành ngôi ====
Theo lẽ thường, sau khi vua Thiệu Trị qua đời, ngôi vua sẽ được truyền cho người con trưởng là Nguyễn Phúc Hồng Bảo (1825 - 1854). Thế nhưng, khi vua Thiệu Trị mất, liền ngày ấy, các hoàng thân và các quan văn võ họp tại điện Cần Chánh để tuyên đọc di chiếu, theo đó hoàng tử thứ hai là Phúc Tuy công Nguyễn Phúc Hồng Nhậm được lập lên ngôi. Hồng Nhậm khóc lạy lãnh mạng. Di chiếu đọc chưa dứt, An Phong công (Hồng Bảo) phẫn uất thổ huyết hơn một đấu, nằm vật ngã giữa điện đình. Lúc làm lễ đăng quang, mấy người phải đỡ ông dậy, nghi lễ mới hoàn tất.
Lý do Hồng Bảo bị phế truất, sử nhà Nguyễn chép lời trăng trối lúc lâm chung của Thiệu Trị nói với các đại thần Trương Đăng Quế, Võ Văn Giải, Nguyễn Tri Phương và Lâm Duy Tiếp:
Dù vậy, Hồng Bảo không tin đây là ý của vua cha mà là do Trương Đăng Quế bày mưu, nên quyết chí báo thù người gây ra. và tìm cách giành lại ngôi báu.
==== Quân Chày Vôi ====
Vào tình hình trước nguy cơ bị thực dân Pháp đô hộ. Đoàn Hữu Trưng, là một người có học thức, tin rằng vua Tự Đức bất tài và nghĩ rằng vua Hồng Bảo nếu được lên ngôi thì sẽ giải quyết được tình hình nguy cấp như hiện giờ. Trưng đứng về phía chủ chiến chống Pháp thay vì hòa. Ông còn phản Tự Đức vì Tự Đức không chịu cải cách đất nước. Do các người dân tham gia cuộc nổi dậy này đa số dùng chày vôi nên họ còn được gọi là quân chày vôi.
==== Giặc Khách ở Bắc kỳ ====
=== Thương mại ===
Tự Đức khước từ mọi giao thiệp với người phương Tây, dầu việc giao thiệp chỉ nhằm phục vụ thương mại. Năm 1850, có tàu của Hoa Kỳ vào cửa Đà Nẵng có quốc thư xin thông thương nhưng nhà vua làm ngơ không thèm tiếp thư.
Từ năm 1855 đến 1877 các nước Anh, Pháp và Tây Ban Nha nhiều lần có tàu vào cửa Đà Nẵng, cửa Thị Nại (Bình Định) và Quảng Yên xin thông thương cũng không được. Mãi đến khi Gia Định bị thực dân Pháp chiếm đóng, việc ngoại giao giữa triều đình với các nước phương Tây khó khăn, Tự Đức mới thay đổi chính sách, đặt ra Bình Chuẩn Ty để lo buôn bán và Thượng Bạc Viện để giao thiệp với người nước ngoài nhưng không có kết quả vì những người được ủy thác vào các việc này không được học hành gì về ngoại giao.
=== Việc cấm đạo Công giáo ===
Sau khi lên ngôi vào năm 1848 thì vua Tự Đức đã có dụ cấm đạo Công giáo, cũng vì sự cấm đạo tàn nhẫn này sẽ dẫn tới thực dân Pháp sau này có cớ mà qua xâm chiếm Việt Nam. Tự Đức nhận xét về Công giáo "Họ bảo Thiên Chúa tức là Thượng đế, Thượng đế là chúa tể của trời, tức là sáng tạo ra trời đất, vạn vật. Họ lại nói Thiên chúa không phải là trời, không phải là đất, không phải là lý, không phải là đạo, không phải là khí, không phải là tính, không phải là người, không phải là vật, không phải là quỉ, không phải là thần, đó là đầu mối của vạn vật, mà chính mình không bắt đầu từ đâu cả… đem so với Lão Tử khi nói “Vô danh là bắt đầu của trời vật, Đạo sinh ra một, một sinh ra hai” mới thấy thuyết của Gia Tô lại càng xuyên tạc thô sơ, họ chỉ biết mượn Thiên Chúa để che giấu cái dấu tích Gia Tô, và để làm văn hoa cho sự lầm lỗi vì đã thờ phụng xằng mà không kể gì đến gốc tích nữa". Một trong những tuyên cáo của Tự Đức có ghi:
Ba năm sau đó, năm 1851, sự khoan dung này dành cho các linh mục bản xứ đột nhiên bị bãi bỏ. Từ đó dụ cấm đạo càng khắt khe hơn trước. Từ đó về sau: "hoặc là họ phải chà đạp lên thánh giá, nếu không sẽ chém làm hai ở ngang lưng." (trảm yêu). Trong năm đó và năm kế tiếp, bốn vị giáo sĩ truyền đạo người Pháp đã bị chém đầu và thi thể bị ném trôi sông hay ra biển. Báo chí Công giáo tại Pháp kêu la trong sự kinh hoàng, và sự khích động đã thu nhận được một cảm tình viên nơi Hoàng Hậu Pháp Eugenie, nhất là khi trong số các nạn nhân sau này có tên một vị tu sĩ Tây Ban Nha mà khi còn là một thiếu nữ, bà ta có quen biết tại Andalusia.
Về việc này, Trần Trọng Kim có lời bình:
Năm 1856, chiến thuyền Catinat vào cửa Đà Nẵng rồi cho người đem thư lên trách triều đình Việt Nam về việc giết giáo sĩ Công giáo. Không được trả lời, quân Pháp bắn phá các đồn lũy rồi bỏ đi. Có Giám mục Pellerin trốn được lên tàu về Pháp, thuật lại cho triều đình Pháp cảnh các giáo sĩ Công giáo bị đàn áp dã man ở Việt Nam. Pellerin nói rằng chỉ cần có loạn là các tín đồ Công giáo sẽ nổi lên đánh giúp. Cùng sự tác động của Hoàng hậu Pháp Eugénie, một người rất sùng đạo, Hoàng đế Pháp Napoléon III (1808 - 1873) quyết ý đánh Việt Nam.
== Cuộc xâm lược của Pháp ==
Năm 1858, trung tướng Pháp là Charles Rigault de Genouilly đem tàu Pháp và tàu Tây Ban Nha gồm 14 chiếc vào cửa Đà Nẵng bắn phá rồi hạ thành An Hải và Tôn Hải.
Dù chỉ đồn trú ở Đà Nẵng, các binh sĩ ngoại quốc đã bị khuất phục với các con số đáng sợ vì mắc bệnh dịch tả, kiết lỵ, và các chứng bệnh nhiệt đới khác, và một cuộc tiến quân trên nội địa bằng đường bộ hoàn toàn là điều không thực hiện được. Dòng sông Hương chảy từ Huế ra biển, nhưng chỉ có những tàu chạy ở tầm nước nông mới lưu thông được, và kém may mắn thay một số tàu chiến loại nhỏ được sản xuất đặc biệt tại Pháp cho chiến dịch Việt Nam lại bị phái sang Hồ Lake Garda để dùng chống lại người Áo trong một cuộc chiến nổ ra tại miền Bắc nước Ý. Hiển nhiên việc chỉ lảng vảng ở Đà Nẵng sớm bị chứng tỏ là không đạt được một mục đích gì cả. Nhưng bọn họ còn có thể đi đâu được nữa. Trung tướng Rigault de Genouilly đổi ý sang đánh Gia Định. Đầu năm 1859, Rigault de Genouilly dẫn quân Pháp và Tây Ban Nha vào cửa Cần Giờ, đánh thành Gia Định. Chỉ trong 2 ngày thì thành vỡ, quan hộ đốc Võ Duy Ninh tự vận. Xong trung tướng Rigault de Genouilly lại đem quân trở ra Đà Nẵng đánh đồn Phúc Ninh, quân của Nguyễn Tri Phương thua phải rút về giữ đồn Nại Hiên và Liên Trì.
Rigault de Genouilly bệnh phải về nước, thiếu tướng Page sang thay. Thiếu tướng Page đề nghị việc giảng hoà, chỉ xin được tự do giảng đạo Công giáo và được buôn bán với Việt Nam nhưng triều đình Huế không đồng ý. Đến năm 1862, quân Pháp chiếm Biên Hoà và Vĩnh Long. Triều đình Huế phái Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp vào Nam giảng hoà với Pháp ngày 9 tháng 5 năm Nhâm Tuất, 1862. Trong bản hoà ước gồm 12 khoản có những khoản như sau:
Việt Nam phải để cho giáo sĩ Công giáo người Pháp và người Tây Ban Nha được tự do giảng đạo và để dân gian được tự do theo đạo.
Việt Nam phải nhượng đứt cho nước Pháp các tỉnh Biên Hoà, Gia Định và Định Tường và phải để cho chiến thuyền của Pháp ra vào tự do ở sông Mê Kông.
Vua Tự Đức bèn nhường ba tỉnh miền Đông Nam kỳ cho Pháp và phái Phan Thanh Giản vào trấn giữ ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ còn lại. Năm 1867, thiếu tướng De la Grandière kéo quân đánh Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Phan Thanh Giản biết thế chống không nổi nên bảo các quan nộp thành trì cho bớt đổ máu rồi uống thuốc độc tự vẫn. Toàn đất Nam Kỳ thuộc về Pháp.
Năm Quý Dậu 1873, thiếu tướng Dupré sai trung úy hải quân Francis Garnier đem quân tấn công thành Hà Nội. Chỉ một giờ thì thành vỡ, tướng Nguyễn Tri Phương bị thương nặng. Bị Pháp bắt, ông không cho băng bó và nhịn ăn đến chết. Trong 20 ngày, Việt Nam mất bốn tỉnh là Hà Nội, Nam Định, Ninh Bình, Hải Dương
Khi ấy có Lưu Vĩnh Phúc là đầu đảng của quân Cờ Đen về hàng triều đình Huế, vua Tự Đức phong cho chức Đề đốc để phụ đánh quân Pháp. Lưu Vĩnh Phúc đem quân ra đánh thành Hà Nội. Francis Garnier đem quân ra nghênh thì bị phục kích chết ở cầu Giấy. Paris biết chuyện nên triệu thiếu tướng Dupré về Pháp. Dupré tìm cách đỡ tội, sai đại úy hải quân Paul-Louis-Félix Philastre ra Hà Nội để trả lại thành và bốn tỉnh bị chiếm. Hai bên ký hoà ước năm Giáp Tuất 1874, trong đó triều đình Huế công nhận cả miền Nam là thuộc về Pháp và Pháp cũng bồi thường lại cho Việt Nam bằng tàu bè và súng ống.
Năm 1882, thống đốc Le Myre de Vilers gởi thư cho triều đình Huế nói rằng vua ngu tối, bất lực, đất nước loạn ly, Pháp phải trấn an miền Bắc để bảo vệ quyền lợi của dân Pháp. Một mặt Le Myre de Vilers gửi đại tá hải quân Henri Rivière ra Hà Nội, đưa tối hậu thư cho quan Tổng đốc Hoàng Diệu bắt phải hàng. Đúng 8 giờ sáng thì quân Pháp tấn công, 11 giờ thành đổ, ông Hoàng Diệu treo cổ tự tử.
Khâm sai Pháp ở Huế là Rheinart sang thương thuyết, trong đó đòi nước Việt Nam phải nhận nước Pháp bảo hộ và nhường thành thị Hà Nội cho Pháp. Triều đình cho người sang cầu cứu Trung Quốc. Triều đình nhà Thanh được dịp bèn gởi quân qua đóng hết các tỉnh Bắc Ninh và Sơn Tây. Quân Pháp và quân Trung Quốc giao tranh. Đại tá Henri Rivière bị quân Cờ Đen giết tại cầu Giấy.
Sau cái chết của vua Tự Đức, các vị vua ít tuổi lần lượt được đưa lên Dục Đức, Hiệp Hòa ngày 20 tháng 08 năm 1883 Pháp tấn công vào cửa biển Thuận An, một hiệp ước được ký kết Hiệp ước Quý Mùi 1883 với nội dung là xác nhận quyền bảo hộ dài của người Pháp lên Trung Kỳ và Bắc Kỳ
== Qua đời ==
Giữa khi đó, ngày 16 tháng 6 năm Quý Mùi, tức ngày 19 tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức qua đời, hưởng thọ 54 tuổi. Bài vị nhà vua được đưa vào thờ trong Thế Miếu và thụy hiệu gọi ông là Tự Đức (翼宗英皇帝). Lăng ông gọi là Khiêm Lăng, tại làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
Một điều rất đáng chú ý ở Khiêm Lăng là tấm bia ở Bi đình nặng trên 20 tấn do Tự Đức tự dựng cho mình. Thông thường, con phải dựng văn bia cho cha nhưng vì Tự Đức không có con ruột nên ông tự dựng.
== Đời tư ==
Tự Đức được đánh giá là một vị vua tốt. Ông chăm chỉ xem xét việc triều chính và không hề trễ nải, được các quan nể phục. Theo Việt Nam sử lược, ông thường hay chít khăn vàng và mặc áo vàng, khi có tuổi thì ông hay mặc quần vàng và đi giày hàng vàng do nội vụ đóng.
=== Văn học ===
Tự Đức là ông vua hay chữ nhất triều Nguyễn, nên ông rất đề cao Nho học. Ông chăm về việc khoa bảng, sửa sang việc thi cử và đặt ra Nhã Sĩ Khoa và Cát Sĩ Khoa, để chọn lấy người có tài văn học ra làm quan.
Tự Đức là người ham học, hiểu biết nhiều và đặc biệt yêu thích thơ văn. Đêm nào ông cũng xem sách đến khuya. Ông làm nhiều thơ băng chữ Hán, trong đó có bộ Ngự Chế Việt sử tổng vịnh, vịnh hàng trăm nhân vật trong lịch sử Việt Nam. Ngoài ra, ông còn làm cả sách bằng chữ Nôm để dạy cho dân dễ hiểu, điển hình như Luận Ngữ diễn ca, Thập điều, Tự học diễn ca... Có rất nhiều giai thoại về Tự Đức, nhất là những chuyện vua giao thiệp với nhà văn, học giả đương thời.
Nhà vua rất thích lịch sử, đã đặt Tập Hiền Viên và Khai Kinh Diên để ông ngự ra cùng với các quan bàn sách vở, thơ phú hoặc nói chuyện chính trị. Ông còn chỉ đạo cho Quốc sử quán soạn bộ sử lớn Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục, từ đời thượng cổ cho tới hết thời nhà Hậu Lê, trong đó ông tự phê nhiều lời bình luận.
Tự Đức cũng rất yêu nghệ thuật, đã tập trung nhiều người soạn kịch bản tuồng về kinh thành Huế, và lệnh cho soạn những vở tuồng lớn Vạn bửu trình tường, Quần phương hiến thụy.
=== Vua có hiếu ===
Tự Đức được người đời ca tụng là một ông vua có hiếu. Lệ thường cứ ngày chẵn thì chầu cung, ngày lẻ thì ngự triều: trong một tháng chầu cung 15 lần và ngự triều cũng 15 lần, trừ khi đi vắng và lâm bệnh. Trong suốt 36 năm thường vẫn như thế, không sai chút nào.
Dù làm vua, Tự Đức luôn kính cẩn vâng lời mẹ dạy. Ông đã ghi chép những lời răn của mẹ vào một cuốn sách, đặt tên là Từ huấn lục. Thậm chí, có lần do mải mê đi săn về cung hơi muộn, thấy mình phạm lỗi nên ông nằm ra, đặt chiếc roi lên mâm son để chờ Hoàng thái hậu Từ Dũ trừng phạt.
=== Vợ ===
Ông không đặt Hoàng hậu, mà chỉ cao nhất là Hoàng quý phi.
Lệ Thiên Anh hoàng hậu húy là Vũ Thị Duyên, con của Thái Tử Thái Bảo, Đông Các Đại Học Sĩ, kiêm quản Quốc Tử Giám sự vụ Vũ Xuân Cẩn. Lăng của bà hiệu Khiêm Thọ Lăng, bên phía tả Khiêm Lăng, tại làng Dương Xuân Thượng, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên.
Ngoài ra ông còn một số bà vợ khác, với danh phận Hoàng phi:
Thiện phi Nguyễn Thị Cẩm (善妃阮氏錦), thứ nữ của Hải An Kinh lược Đại thần kiêm Định An Tổng đốc Nguyễn Đình Tân (1798-1873). Ông người huyện Quảng Điền, đậu Hương tiến (Cử nhân), làm quan từ thời Minh Mạng. Đến thời Tự Đức, dù ông là một đại thần có công, nhưng vì "con ông là Đình Cán cùng công tử Hồng Tập mưu làm trái phép, Đình Tân tri tình mà dung túng ẩn nặc, bị nghĩ tội trượng đồ". Sau được vua gia ân cho khai phục Hồng lô Tự khanh rồi mất, truy tặng Lễ bộ Thượng thư.
Từ Cung tần, bà Nguyễn Thị Cẩm được phong làm Chiêu phi vào năm 1860, thuộc hàng Nhị giai phi. Rồi sau đó được tấn phong làm Thiện phi, thuộc hàng Nhất giai phi. Bà được giao dạy dỗ công tử Nguyễn Phúc Ưng Kỷ, sau này lên ngôi là Đồng Khánh hoàng đế.
Học phi Nguyễn Thị Hương (學妃阮氏香), người gốc tỉnh Vĩnh Long. Năm 1870, theo lệnh vua Tự Đức, bà nhận công tử Nguyễn Phúc Ưng Đăng (con của Kiên Quốc Công Nguyễn Phúc Hồng Cai; 1845-1876) bấy giờ mới 2 tuổi làm con nuôi (cho nhà vua). Về sau, vị Hoàng dưỡng tử này lên ngôi với niên hiệu Kiến Phúc.
Sau khi Dục Đức và Hiệp Hòa bị bức tử, quyền thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường tôn Kiến Phúc lên nhằm muốn điều khiển vua nhỏ theo ý mình; bà Học phi tuy không được tôn làm Hoàng thái hậu nhưng cũng có địa vị danh vọng; chỉ đứng sau bà Từ Dụ và Trang Ý; 3 người họp lại gọi là Tam cung.
Bà và Nguyễn Văn Tường có qua lại với nhau, dựa cậy nhau để thêm quyền trong triều, điều này khiến vua Kiến Phúc chú ý và có ý ghét. Bà Học phi lo sợ, bèn nhân hôm vua đau ốm, bà liền hạ độc vua.
Cung phi Lê thị (恭妃黎氏), thường được gọi là Lê Thị Cung phi. Từ Thận tần, bà được tấn phong làm Cung phi vào tháng 1 năm Tự Đức thứ 13, tức là tháng 1-1860.
Lễ tần Nguyễn Nhược Thị Bích (禮嬪阮若氏碧), nguyên là Lục giai Tiệp dư, khi mất được Thái hoàng thái hậu Từ Dụ truy tặng hiệu Lễ tần. Con gái của Nguyễn Nhược Sơn, quan Bố chính tỉnh Thanh Hóa. Nổi tiếng về tài văn chương và học thức trong triều đại nhà Nguyễn.
=== Con nuôi ===
Vua Tự Đức vì lúc bé bị bệnh đậu mùa nên không có con. Ông nhận ba người cháu làm con nuôi:
Hoàng trưởng tử Nguyễn Phúc Ưng Ái (1869 đổi thành Ưng Chân), tức vua Dục Đức
Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Kỷ, tức vua Đồng Khánh
Hoàng tử Nguyễn Phúc Ưng Đăng, tức vua Kiến Phúc
== Tác phẩm ==
Tự Đức thánh chế tự học giải nghĩa ca (嗣德聖製字學解義歌), gọi tắt Tự học giải nghĩa ca, 13 quyển, do vua Tự Đức biên soạn, được Tu thư cục thuộc Sử quán triều Nguyễn khắc in năm Thành Thái thứ 10 (1898).
Ngự chế Việt sử tổng vịnh tập (御製越史總詠集), tập thơ vịnh về các nhân vật lịch sử.
== Sách tham khảo ==
Bang giao Đại Việt, triều Nguyễn, Nhà xuất bản VHTT 2005
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Lăng Tự Đức
Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa
== Liên kết ngoài ==
Vua Tự Đức (1829–1883)
Tự Đức
Thơ |
tiếng gujarat.txt | Tiếng Gujarat (ગુજરાતી Gujrātī?) là một ngôn ngữ thuộc Ngữ chi Indo-Arya, Ngữ tộc Indo-Iran của Hệ ngôn ngữ Ấn-Âu.
Ngôn ngữ này có nguồn gốc từ một ngôn ngữ được gọi là Tiếng Tây Rajasthan cổ(1100 - 1500 SCN, ngôn ngữ là tổ tiên của tiếng Gujarat hiện đại và tiếng Rajasthan. Tiếng Gujarat là ngôn ngữ bản địa của bang Gujarat tại Ấn Độ, và cũng là ngôn ngữ chính thức của bang, cũng như của các lãnh thổ lân cận là Daman và Diu và Dadra và Nagar Haveli. Có khoảng 46.100.000 người nói tiếng Gujarat trên toàn thế giới, khiến cho đây là ngôn ngữ mẹ đẻ lớn thứ 26 trên thế giới. Cùng với tiếng Romani và tiếng Sindh, ngôn ngữ này là một trong những ngôn ngữ cực tây của nhóm ngôn ngữ Ấn-Aryan. Tiếng Gujarat là ngôn ngữ mẹ để của Mahatma Gandhi, là "Người cha của Ấn Độ ", và Muhammad Ali Jinnah là "Người cha của Pakistan" và Sardar Vallabhbhai Patel là "Người đàn ông thép của Ấn Độ".
== Nhân khẩu và phân bổ ==
Trong số khoảng 46 triệu người nói tiếng Gujarat, khoảng 45.500.000 cư trú ở Ấn Độ, 150.000 ở Uganda, 250.000 ở Tanzania, 50.000 ở Kenya và khoảng 100.000 ở Pakistan. Ngoài ra còn có một cộng đồng lớn nói tiếng Gujarat tại Mumbai, Ấn Độ. Một số lượng người nói tiếng Gujarati đáng kể với gần một triệu, hiện diện tại Bắc Mỹ, chủ yếu là Vùng đô thị thành phố New York và trong khu vực Đại Đô thị Toronto, nhưng cũng có cả ở khu vực đô thị lớn khác của Hoa Kỳ và Canada. Vương quốc Anh có 300.000 người nói ngôn ngữ này, nhiều người trong số họ sống ở khu vực London. Một phần bộ phận người Gujarat ở khu vực Đông Phi, dưới sự gia tăng phân biệt đối xử, chính sách Phi Hóa tại các quốc gia mới độc lập (đặc biệt là Uganda, nơi Idi Amin trục xuất 50.000 người châu Á không chịu theo văn hóa bản địa hoặc cho phép đàn ông Phi kết hôn với phụ nữ Á nhưng không cho đàn ông Á kết hôn với phụ nữ Phi), đã bị trục xuất với sự không chắc chắn về tương lai và quốc tịch. Hầu hết những người có hộ chiếu của Anh Quốc định cư tại nước này.
== Tình trạng ==
Tiếng Gujarat là một trong 22 ngôn ngữ chính thức và 14 ngôn ngữ địa phương của Ấn Độ. Ngôn ngữ này được chính thức công nhận ở bang Gujarat, Ấn Độ. Các phương ngữ chuẩn được chấp nhận là cách phát âm của khu vực từ Baroda đến Ahmedabad và phía bắc.. Danh sách các phương ngữ. [ 1 ]
Gujarat chuẩn
Mehsani
Saurashtra chuẩn
Nagari
Bombay Gujarat
Patnuli
Gamadia
Gramya
Surti
Anavla
Bhathla
Machi
Chỏm Đông Gujarat
Charotari
Patidari
Vadodari
Amdavadi
pathani
Patani
Parsi
Kathiyawadi
Jhalawadi
Sorathi
Holadi
Gohilwadi
Bhavnagari
Mer
Kharva
Khakari
Tarimukhi
Ghisadi
Ghanchi
== Các phương ngữ chính ==
=== Tiếng Hindi Gujarat ===
Tiếng Hindi Gujarati, được Chính phủ coi là tiêu chuẩn, được giảng dạy trong trường học.
=== Tiếng Hỏa giáo Gujarat ===
Tiếng Ba Tư Gujarat là ngôn ngữ như nói và viết của những người theo Hỏa Giaó. Điều này khác với tiếng Gujarat thông thường ở chỗ nó tiếp nhận nhiều từ Ba Tư nguyên bản một cách đáng kể, đặc biệt là liên kết với vấn đề tôn giáo, bên cạnh một loạt các tiếng Ả Rập và các từ khác được lấy từ tiếng Urdu, và ngữ pháp của nó là ở trong tình trạng rất không cố định và không đồng đều.
== Tiếng Hồi giáo Gujarat ==
Giống như tiếng Hỏa giáo Gujarati, phương ngữ này sử dụng một số lượng lớn các từ vay mượn từ tiếng Hindustani (và qua đó mượn từ tiếng Ba Tư và tiếng Ả Rập).
== Ngôn ngữ có quan hệ gần gũi ==
Tiếng Kutchi, còn được gọi là Tiếng Khojki, thường được nói đến như là một phương ngữ của tiếng Gujarat, nhưng hầu hết các nhà ngôn ngữ học coi nó gần gũi hơn với tiếng Sindh. Ngoài ra, một hỗn hợp giữa tiếng Sindh, Gujarat, và Kutchi gọi là Memoni có quan hệ xa với tiếng Gujarat.
== Chỉ dẫn ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói
== Liên kết ngoài ==
UCLA Language Materials Project: Gujarati
Gujarati Wiktionary
Gujarati to Hindi Translator (Online)
Gujarati Video
Bharatiya Bhasha Jyoti: Gujarati —a textbook for learning Gujarati through Hindi from the Central Institute of Indian Languages.
Gujarati language |
curaçao.txt | Lãnh thổ Curaçao (phát âm [ˈkjʊərəsaʊ] / Cu-ra-xao; tiếng Hà Lan: Curaçao, Land Curaçao; tiếng Papiamento: Kòrsou, Pais Kòrsou) là một quốc đảo nằm vào phía nam của biển Caribe, gần bờ biển Venezuela. Nó hình thành một quốc gia cấu thành của Vương quốc Hà Lan. Thủ đô và thành phố lớn nhất là Willemstad.
== Lịch sử ==
Curaçao là đảo lớn nhất và đông người nhất trong nhóm đảo ABC (Aruba, Bonaire, và Curaçao) của Tiểu Antilles, nói riêng Antille Ngược gió. Nó chiếm 444 kilômét vuông (171 dặm vuông Anh) đất. Vào đầu năm 2009, dân số là 141.766 người.
Ngày 10 tháng 10 năm 2010, Antille thuộc Hà Lan được giải tán, và Curaçao trở thành một quốc gia cấu thành của Vương quốc Hà Lan. Trước đó, Curaçao được gọi là Lãnh thổ Đảo Curaçao (tiếng Hà Lan: Eilandgebied Curaçao; Papiamento: Teritorio Insular di Kòrsou), bao gồm đảo lớn cũng như đảo nhỏ Klein Curaçao ("Curaçao nhỏ") không có người ở, và là một trong năm lãnh thổ đảo thuộc cựu Antille thuộc Hà Lan.
== Khí hậu ==
== Xem thêm ==
Antille thuộc Hà Lan
Vương quốc Hà Lan
== Tham khảo ==
Curaçao general information
Mục “Curaçao” trên trang của CIA World Factbook.
Gobiernu.cw Official website of the government of Curaçao
Curaçao Tourism Board
Directory and information guide for Curaçao
First Millenium Development Goals and Report. Curacao and Sint Maarten. 2011
Halman, Johannes and Robert Rojer (2008). Jan Gerard Palm Music Scores: Waltzes, Mazurkas, Danzas, Tumbas, Polkas, Marches, Fantasies, Serenades, a Galop and Music Composed for Services in the Synagogue and the Lodge. Amsterdam: Broekmans en Van Poppel.
Halman, Johannes I.M. and Rojer, Robert A. (2008). Jan Gerard Palm: Life and Work of a Musical Patriarch in Curaçao (In Dutch language). Leiden: KITLV.
Palm, Edgar (1978). Muziek en musici van de Nederlandse Antillen. Curaçao: E. Palm.
Boskaljon, Rudolph (1958). Honderd jaar muziekleven op Curaçao. Anjerpublicaties 3. Assen: Uitg. in samenwerking met het Prins Bernhard fonds Nederlandse Antillen door Van Gorcum. |
đồ rê mí 2012.txt | Đồ Rê Mí 2012 là mùa thi thứ sáu của chương trình truyền hình thực tế Đồ Rê Mí do công ty Multimedia phối hợp với VTV3 sản xuất dưới sự tài trợ của hãng sữa Vinamilk. Đây là mùa thi đánh dấu sự lột xác về format cũng như cách thể hiện ca khúc trong tất cả các mùa thi của Đồ Rê Mí.
Trong đêm chung kết của chương trình được truyền hình trực tiếp, thí sinh Lê Trần Nhật Tiến (8 tuổi) đến từ Hà Tĩnh đã đạt được giải nhất.
== Đối tượng dự thi ==
Đối tượng dự thi của Đồ Rê Mí mùa này là các bé có độ tuổi từ 5 đến 10 có năng khiếu về âm nhạc, không mắc tật nói ngọng, nói lắp và tự tin trên sân khấu.
== Đổi mới format ==
Mùa thi này đánh dấu sự đối mới toàn diện về format từ vòng sơ loại tới tận đêm chung kết.
=== Đồ Rê Mí Marathon ===
Đồ Rê Mí Marathon dài 7 phút phát sóng vào thứ hai, thứ tư và thứ sáu hàng tuần lúc 17h45. Kéo dài từ khi mùa giải cũ kết thúc cho đến khi mua giải mới bắt đầu, mỗi chương trình Đồ Rê Mí Marathon sẽ gồm 2 phần: "Lớp học Đồ Rê Mí" và "Gương mặt Đồ Rê Mí". Phần một có sự hướng dẫn của các thầy cô giúp các bé có kỹ năng trình diễn trên sân khấu. Phần hai sẽ lựa chọn gương mặt tài năng cho chung kết Đồ Rê Mí Marathon 2012 theo thể thức: Các bé sẽ gửi 1 clip phần trình diễn của mình tới ban tổ chức, từ đó ban giám khảo và khán giả sẽ chọn 10 bé tham gia Chung kết Đồ rê mí Marathon. Từ 10 bé này sau khi thi trên sân khấu Đồ rê mí, ban giám khảo sẽ chọn ra 3 bé có phần trình diễn tốt nhất. Lúc này, khán giả truyền hình sẽ nhắn tin bình chọn. Thí sinh có số lượt bình chọn nhiều nhất sẽ được vào thẳng Vòng chung khảo Đồ rê mí 2012.
=== Vòng sơ loại ba miền ===
Vòng sơ loại ba miền năm nay ban giám khảo chính sẽ trực tiếp lựa chọn thí sinh chứ không thông qua ban giám khảo vùng miền.
Số lượng thí sinh lựa chọn mỗi miền cũng được chia đều: mỗi miền 3 thí sinh chứ không còn chênh lệch như các năm trước.
Các vòng thi cũng được thiết kết khác.
Vòng 1: Thí sinh thể hiện ca khúc mình yêu thích trước ban giám khảo. Nếu ban giám khảo chọn thí sinh đó vào vòng 2 thì sẽ tặng thí sinh một nốt nhạc vàng.
Vòng 2: Các thí sinh sẽ luyện tập vũ đạo cùng một chuyên gia. Lúc này, hai giám khảo Châu Anh và Thùy Linh đứng ngoài quan sát và chọn các bé xuất sắc bước vào vòng 3.
Vòng 3: Các thí sinh sẽ phải chọn một trong ba bài hát mà ban giám khảo giao và chỉ được học hát trong một thời gian rất ngắn. Sau đó thí sinh quay trở lại, hát cùng với phần đệm đàn piano.
Kết thúc vòng 3, ở mỗi khu vực sơ loại sẽ chỉ có 3 thí sinh bước vào vòng chung khảo.
=== Vòng chung khảo ===
Ngoài 1 show mở màn giống các năm trước, năm nay, đêm nào các thí sinh cũng được thể hiện mình để chứng tỏ tài năng trước ban giám khảo. Năm nay, các thí sinh sẽ hát live mà không được thu âm trước.
Sẽ có 5 đêm thi chung khảo gồm: Hát mộc, biểu cảm khuôn mặt, hát ru, hát với bạn có hoàn cảnh khó khăn. Sau mỗi đêm thi, 10 bé lần lượt được ban giám khảo nhận xét và tặng nốt nhạc vàng. Chỉ cần nhận được hai nốt nhạc vàng từ hai giám khảo trong một đêm thi, bé đó sẽ được đặc cách lọt thẳng vào vòng chung kết mà không cần thi các đêm còn lại.
Nếu bé đó nhận được hai nốt nhạc vàng từ hai đêm thi khác nhau, bé không được đặc cách vào vòng sau. Kết thúc 5 đêm thi, ngoài các thí sinh được đặc cách, ban giám khảo sẽ lựa chọn các bé còn lại vào vòng chung kết đủ số lượng 6.
=== Vòng chung kết ===
Vòng chung kết gồm 3 show: Show hát với ban nhạc, Show nhạc kịch và Show nhạc quốc tế.
Kết thúc mỗi đêm thi, ban giám khảo nhận xét trao cho các bé nốt nhạc vàng. Trên mỗi nốt nhạc sẽ gắn số sao tương ứng: 1, 2, 3 sao tương đương với màn trình diễn của các bé trên sân khấu.
Sau 3 show diễn, 2 bé có số sao nhiều nhất sẽ được lọt vào đêm chung kết xếp giải. Nếu có nhiều bé cùng được số sao nhiều nhất, các bé đều được vào đêm chung kết.
=== Đêm chung kết - trao giải ===
Mỗi bé sẽ trình bày 2 ca khúc trên sân khấu trong đêm diễn được truyền hình trực tiếp. Ban giám khảo từ đây sẽ trao giải cho các bé ứng với giải nhất, giải nhì, giải ba.
== Tổng hợp diễn biến các vòng thi ==
=== Đồ Rê Mí Maratong ===
Danh sách 10 bé lọt vào chung kết Đồ rê mí Marathon:
Nguyễn Ngọc Trúc Ly
Lê Trần Nhật Tiến
Phạm Nhật Lan Vy
Vũ Chí Thái Dương
Ju Uyên Nhi
Nguyễn Phú Trọng
R'Mah Thanh Xuân
Nguyễn Mai Hoa
Lê Nguyễn Diệp Hằng
Võ Thị Trà Giang
3 bé được ban giám khảo lựa chọn vào vòng bình chọn của khán giả:
Nguyễn Ngọc Trúc Ly
Lê Trần Nhật Tiến
Bé được khán giả bình chọn nhiều nhất:
Nguyễn Ngọc Trúc Ly (7 tuổi – Bình Phước)
=== Vòng sơ loại ba miền ===
Danh sách thí sinh lọt vào chung khảo:
Miền Bắc:
Lê Băng Giang (7 tuổi, từ Hải Phòng)
Nguyễn Bích Hằng (9 tuổi, từ Hà Nam)
Miền Trung:
Lê Trần Nhật Tiến (9 tuổi, từ Hà Tĩnh)‡
Bạch Phúc Nguyên (7 tuổi, từ Thừa Thiên - Huế)
Lê Phạm Như Ngọc (9 tuổi, từ Quảng Ngãi)
Nguyễn Ngọc Trâm (6 tuổi – Thừa Thiên - Huế)
Miền Nam:
Phan Gia Linh (8 tuổi, từ Bình Dương)
Nguyễn Phạm Bảo Trân (6 tuổi, từ TPHCM)
Phạm Nhật Lan Vy (8 tuổi, từ TPHCM)
‡ Nhật Tiến tuy ở miền trung nhưng lại tham gia vòng loại miền bắc.
=== Vòng chung khảo ===
==== Show diễn ra mắt ====
Show diễn ra mắt là show diễn mà các bé sẽ được hát các bài hát dân ca về vùng miền của mình, từ đó giúp khán giả làm quen và nhớ mặt các bé!
Ca khúc mở đầu: Chào người bạn mới đến
Sáng tác: Lương Bằng Vinh
Thể hiện: 10 thí sinh Đồ rê mí
Miền Bắc: Ngày mùa vui
Nhạc: Dân ca dân tộc Thái - Lời mới: Hoàng Lân
Thể hiện: Bích Hằng - Băng Giang
Miền Trung: Bé đi học
Sáng tác: Trương Xuân Mẫn
Thể hiện: Nhật Tiến, Như Ngọc, Phúc Nguyên, Ngọc Trâm
Miền Nam: Lý dĩa bánh bò
Sáng tác: Dân ca Nam Bộ
Thể hiện: Trúc Ly, Lan Vy, Bảo Trân, Gia Linh
==== Show hát mộc ====
Show hát mộc là show diễn chính thức đầu tiên của vòng chung khảo Đồ rê mí 2012. Đây được đánh giá là show diễn rất khó do các thí sinh phải hát trực tiếp trên sân khấu với nhạc cụ duy nhất nhưng các màn trình diễn lại rất xuất sắc và nhận được đánh giá cao từ khán giả.
==== Show biểu cảm khuôn mặt ====
==== Show tự trình diễn ====
==== Show diễn kết hợp múa phụ họa ====
==== Show hát kết hợp với bạn có hoàn cảnh khó khăn ====
==== Kết quả chung vòng chung khảo ====
=== Vòng chung kết ===
=== Đêm chung kết - trao giải ===
== Chú thích == |
chi cam thảo dây.txt | Chi Cam thảo dây hay chi Cườm thảo (danh pháp khoa học: Abrus) là một chi của 13-18 loài trong họ Đậu (Fabaceae) với loài được biết đến nhiều nhất là Abrus precatorius tức cam thảo dây. Hạt của các loài cây này được sử dụng làm chuỗi dây trang sức và có độc tính cao.
== Các loài ==
Abrus aureus - Madagascar.
Abrus baladensis - Somalia.
Abrus bottae - Ả Rập Saudi và Yemen.
Abrus canescens - châu Phi.
Abrus diversifoliatus - Madagascar.
Abrus fruticulosus (cườm thảo chồi, kê cố thảo) - Ấn Độ.
Abrus gawenensis - Somalia.
Abrus laevigatus - Nam Phi.
Abrus longibracteatus (cườm thảo lá bắc dài) - Lào và Việt Nam.
Abrus madagascariensis - Madagascar.
Abrus mollis (cườm thảo mềm, mao tương tư tử).
Abrus parvifolius - Madagascar.
Abrus precatorius (cam thảo dây, dây chi chi) - Khắp vùng nhiệt đới.
Abrus pulchellus - châu Phi.
Abrus sambiranensis - Madagascar.
Abrus schimperi - châu Phi.
Abrus somalensis - Somalia.
Abrus wittei - Zaire.
== Tham khảo ==
Cơ sở dữ liệu về họ Đậu của ILDIS |
all nippon airways.txt | Công ty cổ phần All Nippon Airways (全日本空輸株式会社, Zen-nippon Kūyu Kabushiki-kaisha, TYO: 9202, LSE:ANA), cũng có tên tiếng Nhật Zennikkū (全日空, Zennikkū) (Toàn Nhật Không), viết tắt ANA, là một hãng hàng không có trụ sở ở Tokyo, Nhật Bản. Đây là hãng hàng không quốc tế và nội địa lớn thứ hai của Nhật Bản sau hãng Japan Airlines và là hãng hàng không chính thức của Universal Studios Japan. Hãng có 49 điểm đến ở Nhật Bản và 22 tuyến quốc tế. ANA sử dụng 22.170 người vào tháng 3 nằm 2007.
Trung tâm hoạt động chính của ANA tập trung tại Sân bay quốc tế Narita nằm ngoài Tokyo và Cảng hàng không quốc tế Kansai ở Osaka. Trung tâm nội địa chính của hãng tại Sân bay quốc tế Tokyo, Sân bay quốc tế Osaka, Sân bay quốc tế Chubu (gần Nagoya), và Sân bay Chitose Mới (gần Sapporo).
Cùng với các hoạt động chính của hãng, ANA còn kiểm soát nhiều hãng nhỏ hơn khác:
Air Nippon, hãng hàng không khu vực của ANA
Air Japan, cung cấp các chuyến thuê bao cho ANA
Air Next, một hãng hàng không giá rẻ có căn cứ tại Sân bay Fukuoka
Air Central, hãng hàng không có trụ sở Q400-based hoạt động chính tại Sân bay quốc tế Chubu Centrair
== Tham khảo == |
blog.txt | Blog, gọi tắt của weblog (tiếng Anh, "nhật ký web"), là một dạng nhật ký trực tuyến, bùng nổ từ cuối thập niên 1990. Các blogger (người viết blog), có thể là cá nhân hoặc nhóm, đưa thông tin lên mạng với mọi chủ đề, thông thường có liên quan tới kinh nghiệm hoặc ý kiến cá nhân, chủ yếu cung cấp thông tin đề cập tới những chủ đề chọn lọc, không giống như các báo truyền thống. Được phần mềm hỗ trợ, dễ sử dụng, blog phổ biến rất nhanh và ai cũng có thể dễ dàng tạo ra một blog cho mình.
Một trang blog có thể chứa các siêu liên kết, hình ảnh và liên kết (tới các trang chứa phim và âm nhạc). Văn bản blog dùng phong cách thảo luận. Một blog thường chỉ liên quan đến một chủ đề yêu thích.
Vào tháng 11 năm 2006, trình tìm kiếm blog Technorati đã theo dõi hơn 57 triệu blog.
== Lịch sử ==
Tin thời sự, sổ tay và nhật ký cá nhân có thể được coi là những ông tổ của blog.
Trước khi blog trở nên phổ biến thì các tổ chức xã hội trên mạng mang nhiều hình thức, bao gồm Usenet, các dịch vụ kinh doanh trực tuyến như GEnie, BiX và CompuServe, gồm cả danh sách email và các hệ thống bảng tin nhắn điện tử (BBS). Trong thập niên 1990, các phần mềm diễn đàn Internet như WebEx, tạo ra các luồng trao đổi thông tin (thread). Các luồng thông tin là các kết nối giữa các lời nhắn trao đổi cùng topic trên một bảng trực tuyến. Một số người đã coi blog là phong trào quan sát tập thể của thế kỷ 20.
=== 1994–2001 ===
Blog hiện nay phát triển từ nhật ký trực tuyến, nơi mọi người ghi lại một phần của cuộc sống riêng tư. Hầu hết những người viết tự gọi mình là người viết nhật ký hoặc nhà báo. Trang webring The Open Pages là một trong những cộng đồng viết nhật ký trực tuyến như vậy. Justin Hall bắt đầu viết blog cá nhân từ năm 1994 khi còn là sinh viên tại Swarthmore College, được coi là blogger lâu đời nhất, as is Jerry Pournelle.
Những dạng khác của những bản tin (hay nhật ký) được giữ trực tuyến cũng đã tồn tại. Một ví dụ đáng chú ý là nhật ký được nhiều người đọc rộng rãi của John Carmack's, được phát hành theo hướng finger protocol. Những trang web, bao gồm cả những site của đoàn thể hoặc những trang web cá nhân (personal homepages), đã và vẫn có phần "Có gì mới" hoặc "tin tức", thường trên trang chủ hoặc trang mặc định (index page) và được sắp xếp theo ngày tháng. Một ví dụ về những tin tức dựa trên weblog là Drudge Report được thành lập bởi phóng viên tự xưng và tự do Matt Drudge, dù hình như anh ta không phải loại này. Một trang khác là Institute for Public Accuracy mà đã bắt đầu đưa lên những tin phát hành một vài tin vắn những trích dẫn một đoạn vài lần trong một tuần từ năm 1998. Một tiền thân đáng chú ý của blog là một trang web trào phúng cá nhân thường xuyên được cập nhật bởi huyền thoại của Usenet, Kibo.
== Phân loại ==
Có rất nhiều loại blog, khác nhau từ nội dung bài đến cách truyền tải.
Bằng phương tiện truyền đạt
Một blog có video được gọi là vlog, blog gồm các link gọi là linklog. Một trang gồm những bản phác thảo được gọi là sketchblog hoặc một trang gồm có ảnh được gọi là photoblog. Những blog có bài viết ngắn và gồm nhiều dạng tranh ảnh, video đa dạng được gọi là tumblelog.
Một loại blog ít gặp được để trên Gopher Protocol được biết tới như Phlog.
Bằng phương tiện sáng tác
Blog được viết bằng phương tiện di động ví dụ như điện thoại di động hoặc PDA được gọi là moblog.
Thể loại
Một số blog tập trung vào một vấn đề cụ thể, ví dụ như blog truyện,truyện cười bể bụngblog chính trị, blog du lịch, blog thời trang, blog dự án, hoặc blog pháp luật (tên tiếng Anh là blawg). Một blog không có mục đích chính đáng mà chỉ dành để spam gọi là Splog. Một Slog (Site hoặc website log) là một phần của một website kinh doanh, được hợp nhất trong cả cấu trúc website bình thường, nhưng được viết bởi các phần mềm viết blog.
Tính hợp pháp của người xuất bản
Một blog phần lớn được để cá nhân, hoặc được dùng cho mục đích kinh doanh. Blog công ty, có thể được dùng đối nội để hỗ trợ truyền đạt và văn hóa riêng của tập đoàn hoặc dùng đối ngoại để tiếp thị, tạo dựng thương hiệu hoặc PR.
Công cụ tìm kiếm blog
Một số các công cụ tìm kiếm blog được dùng để tìm nội dung blog (còn được biết với tên blogosphere, ví dụ như blogdigger, Feedster và Technorati. Technorati cung cấp những thông tin cập nhật về những tìm kiếm phổ biết và tag dùng để phân loại bài viết trong blog.
== Sự phổ biến ==
Gần đây, các nhà nghiên cứu đã phân tích nguyên do blog được ưa chuộng. Hai thước đo được sử dụng là: số lần được trích dẫn, và số lần được để link liên kết (i.e. blogroll). Kết luận ban đầu từ các nghiên cứu về kết cấu blog là mặc dù để trở nên nổi tiếng, một blog mất khá nhiều thời gian, nhưng liên kết link vĩnh viễn làm tăng độ nổi tiếng của blog rất nhanh, và có thể chỉ ra độ ảnh hưởng của một blog hơn blogroll, bởi vì chúng cho biết người đọc có thực sự đọc nội dung blog hay không, và đánh giá blog là đáng đọc trong những trường hợp cụ thể.
Dự án blogdex được bắt đầu bởi những nhà nghiên cứu của MIT Media Lab để dò Web và thu thập thông tin từ hàng ngàn blog và nghiên cứu các tính xã hội của chúng. Thông tin được thu thập trong hơn 4 năm trời, và những thông tin nổi bật nhất lan truyền trong cộng đồng blog được tự động thu thập, và đánh giá dựa vào mức độ nóng hổi và nổi tiếng. Do đó dự án này có thể được coi như cố gắng đầu tiên để memetracker. Mặc dù dự án không còn hoạt động, nhưng tailrank.com hiện nay đã cung cấp một dịch vụ tương tự.
Blog được Technoratti xếp thứ hạng dựa vào số link liên kết và được Alexa Internet xếp dựa vào số lần truy cập của người dùng Alexa Toolbar. Tháng 8/2006, Technorati đã liệt kê blog được liên kết nhiều nhất là của cô diễn viên Trung Quốc Xu Jinglei, và blog được viết bởi một nhóm được đọc nhiều nhất là Boing Boing.
Gartner dự đoán hoạt động blog sẽ lên tới đỉnh điểm trong năm 2007, rồi chững lại khi số người viết có duy trì một trang web cá nhân đạt tới con số 100 triệu. Các nhà phân tích Gartner dự tính rằng blog sẽ giảm độ thu hút vì tính mới lạ, bởi vì hầu hết những người chú ý đến hiện tượng này đều đã xem qua blog, và những người viết blog mới sẽ không vượt quá số lượng những người đã bỏ viết blog do nhàm chán. Công ty này ước lượng rằng có hơn 200 triệu người dừng việc viết nhật ký mạng, tạo nên một số lượng các "dotsam" và "netsam", những thứ bị bỏ bê trên web, gia tăng một cách chóng mặt.
Truyền thông Trung Quốc Xinhua đã báo cáo là blog của Từ Tịnh Lôi (Xu Jinglei) là Xu Jinglei's Blog) nhận được hơn 50 triệu lượt xem, là blog nổi tiếng nhất trên toàn thế giới. Giữa năm 2006, blog này có nhiều link dẫn đến nhất trên toàn Internet.
== Mập mờ với phương tiện truyền thông đại chúng ==
Nhiều blogger tự phân biệt mình với các phương tiện truyền thông đại chúng, và một số khác là người làm việc cho các phương tiện truyền thông đại chúng này, đồng thời tham gia một kênh thông tin khác. Một số tổ chức cho rằng viết blog là một phương tiện để tránh bị kiểm duyệt và trực tiếp đưa thông điệp của mình tới công chúng. Một số các nhà phê bình lo rằng blogger không tôn trọng bản quyền và vị trí của phương tiện truyền thông đại chúng trong việc đưa những thông tin đáng tin cậy đến xã hội.
Tuy nhiên, cũng có rất nhiều nhà báo viết blog, theo như danh sách các J-blog của CyberJournalist.net nhiều hơn con số 300 rất nhiều. Lần đầu tiên một blog được sử dụng trên một trang web thông tin là vào tháng 8 năm 1998, khi Jonathan Dube của tờ Charlotte Observer đăng một ký sự về cơn bão Bonnie.
Blog cũng có tầm ảnh hưởng tới những ngôn ngữ thiểu số, góp phần tập hợp những người nói và học những ngôn ngữ này; ví dụ nổi bật là các blog tiếng Gaelic, với những người viết blog ở rất xa khu vực nói tiếng Gaelic thậm chí ở cả Kazakhstan và Alaska. Xuất bản bằng ngôn ngữ thiểu số có thể tìm đường đến tới độc giả bằng cách tạo blog, không tốn kém và khả thi hơn cách thông thường rất nhiều.
== Blogger ==
Những người hoặc nhóm người hoặc tổ chức viết blog được gọi là blogger... Các blogger được xem là những công dân điện tử của một xã hội điện tử. Tuy nhiên, gần đây một số người gọi những người tham gia các mạng xã hội là blogger, vì họ cũng tham gia vào các xã hội điện tử và viết nhật ký của mình lên đó.
== Các dịch vụ blog phổ biến ==
My Opera
Blogger
Wordpress
Yahoo 360
Yahoo 360 Plus
Drupal
Blog City
Live Journal
== Chú thích ==
== Sách đọc thêm ==
Alavi, Nasrin. We Are Iran: The Persian Blogs, Soft Skull Press, New York, 2005. ISBN 1-ngày 95 tháng 5 năm 3368.
Bruns, Axel, and Joanne Jacobs, eds. Uses of Blogs, Peter Lang, New York, 2006. ISBN 0-8204-8124-6.
Kline, David; Burstein, Dan. Blog!: How the Newest Media Revolution is Changing Politics, Business, and Culture, Squibnocket Partners, L.L.C., 2005. ISBN 1-59315-141-1.
Michael Gorman. "Revenge of the Blog People!". Library Journal. |
hưng yên.txt | Hưng Yên là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng Việt Nam. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Hưng Yên nằm cách thủ đô Hà Nội 64 km về phía đông nam, cách thành phố Hải Dương 50 km về phía tây nam. Phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh, phía đông giáp tỉnh Hải Dương, phía tây và tây bắc giáp thủ đô Hà Nội, phía nam giáp tỉnh Thái Bình và phía tây nam giáp tỉnh Hà Nam. Trong quy hoạch xây dựng, tỉnh này thuộc vùng thủ đô Hà Nội
== Hành chính ==
Tỉnh Hưng Yên được phân chia thành 10 đơn vị hành chính bao gồm 1 thành phố và 9 huyện:
Tỉnh Hưng Yên có 161 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 145 xã, 7 phường và 9 thị trấn.
== Lịch sử ==
Tỉnh Hưng Yên nguyên thuộc thừa tuyên Sơn Nam đặt vào năm Quang Thuận thứ 10 đời Lê (1469). Đến năm Cảnh Hưng thứ 2 (1741) thì chia thành Sơn Nam Thượng và Sơn Nam Hạ. Đời nhà Nguyễn năm Minh Mệnh thứ 3 (1822), Sơn Nam Thượng được đổi thành trấn Sơn Nam còn Sơn Nam Hạ thì gọi là trấn Nam Định. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), tỉnh Hưng Yên được thành lập gồm các huyện Đông Yên, Kim Động, Thiên Thi, Tiên Lữ, Phù Dung của trấn Sơn Nam và Thần Khê, Hưng Nhân, Duyên Hà của trấn Nam Định (các huyện Thần Khê, Duyên Hà và Hưng Nhân sau bị cắt vào tỉnh Thái Bình mới thành lập).
Tuy là tỉnh "mới" chỉ non 200 năm, vùng đất Hưng Yên đã nổi danh từ thời kỳ Trịnh - Nguyễn phân tranh trước đó với Phố Hiến, vốn là thương cảng đô hội quan trọng bậc nhất ở Đàng Ngoài. Thuyền bè ngược sông Hồng lên Thăng Long "Kẻ Chợ" đều phải dừng ở Phố Hiến đợi giấy phép nên Phố Hiến trở thành tụ điểm sầm uất. Người Tàu, người Nhật và người Tây phương đều đến đấy buôn bán. Do vậy dân gian đã có câu: "Thứ nhất kinh kỳ, thứ nhì phố Hiến".
Ngày 27 tháng 1 năm 1968, Hưng Yên được hợp nhất với tỉnh Hải Dương thành tỉnh Hải Hưng.
Ngày 11 tháng 3 năm 1977, hợp nhất 2 huyện Phù Cừ và Tiên Lữ thành huyện Phù Tiên; hợp nhất 2 huyện Văn Giang và Yên Mỹ thành huyện Văn Yên; hợp nhất 2 huyện Văn Lâm và Mỹ Hào thành huyện Văn Mỹ.
Ngày 24 tháng 2 năm 1979, hợp nhất 2 huyện Kim Động và Ân Thi thành huyện Kim Thi; hợp nhất huyện Văn Mỹ và một phần huyện Văn Yên thành huyện Mỹ Văn; hợp nhất phần còn lại của huyện Văn Yên và huyện Khoái Châu thành huyện Châu Giang.
Ngày 27 tháng 1 năm 1996, chia huyện Kim Thi thành 2 huyện: Kim Động và Ân Thi.
Ngày 6 tháng 11 năm 1996, tái lập tỉnh Hưng Yên từ tỉnh Hải Hưng. Khi tách ra, tỉnh Hưng Yên có 6 đơn vị hành chính gồm thị xã Hưng Yên và 5 huyện: Ân Thi, Châu Giang, Kim Động, Mỹ Văn, Phù Tiên.
Ngày 24 tháng 2 năm 1997, chia huyện Phù Tiên thành 2 huyện: Phù Cừ và Tiên Lữ.
Ngày 24 tháng 7 năm 1999, chia huyện Châu Giang thành 2 huyện: Khoái Châu và Văn Giang; chia huyện Mỹ Văn thành 3 huyện: Mỹ Hào, Văn Lâm, Yên Mỹ.
Ngày 19 tháng 1 năm 2009, chuyển thị xã Hưng Yên thành thành phố Hưng Yên.
== Điều kiện tự nhiên ==
Hưng Yên nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ giữa ba thành phố lớn: Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, là 1 trong 2 tỉnh Bắc bộ có địa hình hoàn toàn đồng bằng, không có rừng, núi. Hưng Yên không giáp biển. Độ cao đất đai gần như đồng đều, địa hình rất thuận lợi.
Điểm trung tâm của đồng bằng Bắc Bộ nằm ở thôn Dung (Thiên Xuân), xã Hưng Đạo, huyện Tiên Lữ.
Hưng Yên nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông). Mùa mưa kéo dài từ cuối tháng 4 đến tháng 10 hàng năm. Lượng mưa trong mùa mưa chiếm tới 70% tổng lượng mưa cả năm.
Diện tích: 923,09 km² (rộng hơn Hà Nam, Bắc Ninh).
Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.450 – 1.650 mm
Nhiệt độ trung bình: 23,2 °C
Số giờ nắng trong năm: 1.519 giờ
Độ ẩm tương đối trung bình: 85 – 87%
=== Tọa độ ===
Vĩ độ: 20°36′-21°01′ Bắc
Kinh độ: 105°53′-106°17′ Đông
== Dân số ==
Theo điều tra dân số 01/04/2013 Hưng Yên có 1.200.000 người với mật độ dân số 1.296 người/km².
=== Thành phần dân số ===
Tỷ lệ dân số làm nông nghiệp rất cao, ước tính 50-55%. Tuy nhiên, gần đây tỷ lệ này thay đổi một cách nhanh chóng do tốc độ phát triển của công nghiệp, dịch vụ có xu hướng tăng nhanh hơn. Tỷ lệ dân số làm nông nghiệp năm 2008 ước tính còn 40-45%, công nghiệp 45%, dịch vụ 13%.
== Kinh tế ==
Vì có điều kiện địa lý thuận lợi có quốc lộ số 5 chạy qua, nối Hà Nội - Hải Phòng, nằm trong khu vực trọng điểm tam giác kinh tế Bắc bộ nên Hưng Yên có nhiều ưu thế để phát triển kinh tế công nghiệp và dịch vụ. Năm 2009, mặc dù khủng hoảng kinh tế thế giới nhưng GDP của Hưng Yên tăng 7,01%.
Hưng Yên là một tỉnh công nghiệp phát triển nhanh và mạnh của miền Bắc. Hiện nay trên địa bàn tỉnh có rất nhiều các khu công nghiệp lớn như Phố Nối A, Phố Nối B (khu công nghiệp dệt may), khu công nghiệp Thăng Long II (Mitsutomo Nhật Bản), khu công nghiệp Như Quỳnh, khu công nghiệp Minh Đức, khu công nghiệp nhỏ Kim Động, khu công nghiệp Quán Đỏ..... Sản phẩm công nghiệp của tỉnh là dệt may, giày da, ô tô, xe máy, công nghiệp thực phẩm... Cơ cấu theo hướng phát triển kinh tế công nghiệp và dịch vụ đang là chủ đạo.
Nhưng phân hoá kinh tế không đồng đều giữa các khu vực trong tỉnh đang gây khó khăn cho việc thu hút đầu tư và phát triển kinh tế của tỉnh cũng như cho những vùng, khu vực kinh tế còn chậm phát triển trong tỉnh. Tình hình đó sẽ được cải thiện khi quốc lộ 5B (Con đường rộng 8 làn hiện đại bậc nhất Việt Nam, xuất phát từ cầu Thanh Trì đến thành phố cảng Hải Phòng. Nó chạy qua các huyện Văn Giang, Yên Mỹ, Ân Thi với tổng chiều dài 29 km); tỉnh lộ 200 (chạy song song với quốc lộ 39A chạy qua Tiên Lữ, Ân Thi, Yên Mỹ); quốc lộ 38B (nối từ chợ Gạo đi qua Tiên Lữ, Phù Cừ sang Hải Dương); đường chạy theo đê sông Hồng bắt đầu từ thành phố Hưng Yên tới Văn Giang và đường nối cao tốc Hà Nội Hải Phòng với cao tốc Cầu Giẽ-Ninh Bình sẽ làm cân bằng kinh tế giữa các vùng trong tỉnh.
Hiện nay trên địa bàn tỉnh có rất nhiều các khu đô thị mới xây dựng với quy hoạch rất hiện đại và văn minh như: khu đô thị Ecopark (Văn Giang), khu đô thị Phố Nối B, khu Việt kiều, khu đô thị đại học Phố Hiến (thành phố Hưng Yên và huyện Tiên Lữ)...
Khu Phố Nối (Thị trấn Bần Yên Nhân) huyện Mỹ Hào là một khu vực kinh tế phát triển, là trung tâm thương mại tài chính ngân hàng, công nghiệp của tỉnh Hưng Yên. Tại đây các trung tâm thương mại, mua sắm, khu giải trí đang được xây dựng nhiều đang dần biến nơi đây thành trung tâm giải trí chính của vùng. Đây cũng là nơi tập trung một số cơ sở giáo dục lớn như trường đại học như trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên (cơ sở II), trường Đại học Chu Văn An (cơ sở II) (dân lập), trường Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên, trường Cao đẳng Bách Khoa Hưng Yên (dân lập)
== Giao thông ==
=== Các tuyến giao thông ===
Trên địa bàn Hưng Yên có các quốc lộ sau chạy qua:
Quốc lộ 5A: Như Quỳnh - Minh Đức
Cao tốc Hà Nội - Hải Phòng: Dài 29 Km còn gọi là quốc lộ 5B
Quốc lộ 39A: Phố Nối - Triều Dương
Quốc lộ 38: Cống Tranh - Trương Xá, thành phố Hưng Yên - cầu Yên Lệnh. Quốc lộ 38B: Hải Dương - Hưng Yên - Nam Định- Ninh Bình
Tỉnh lộ:
386: Minh Tân - La Tiến (chạy dọc Huyện Phù Cừ qua phà La Tiến sang Tỉnh Thái Bình). Đang có dự án kêu gọi đầu tư cầu La Tiến từ nay đến 2020
200: Triều Dương - Cầu Hầu.
203: Đoàn Đào - Lệ Xá - Trung Dũng - Thụy Lôi - Hải Triều - Cầu Triều Dương (Nối QL 38B với QL 39A)
195: Chạy dọc đê sông Hồng từ thành phố Hưng Yên tới Bát Tràng, Gia Lâm.
Đường nối đường 5B và đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình(điểm đầu tại nút giao thông Lực Điền chạy song song với QL39 qua TP.Hưng Yên, vượt sông Hồng sang Lý Nhân - Hà Nam, giao với đường cao tốc Cầu Giẽ - Ninh Bình tại nút giao Liêm Tuyền). Tỉnh Lộ 396 (điểm đầu ngã tư Trần Cao - ngã tư Nhật Quang qua cầu Dao sang tt Ninh Giang
Đường sắt: tuyến đường sắt Hà Nội-Hải Phòng chạy qua địa phận Hưng Yên 17 km, từ Như Quỳnh tới Lương Tài.
Đường thủy: Sông Hồng là ranh giới của Hưng Yên với các tỉnh, thành phía tây, dài 57 km. Sông Luộc là ranh giới với tỉnh Thái Bình dài 25 km. Sông Luộc và sông Hồng giao nhau tại địa phận thành phố Hưng Yên. Ngoài ra còn các sông nhỏ khác như: sông Sặt (sông Kẻ Sặt), sông Chanh, sông Cửu An (sông Cửu Yên), sông Tam Đô, sông Điện Biên, v.v. Hệ thống đại thủy nông Bắc Hưng Hải chủ yếu phục vụ tưới tiêu cho nông nghiệp tỉnh này.
== Giáo dục - Văn hóa - Xã hội - Du lịch ==
Năm 2003, theo số liệu của Sở Giáo dục và Đào tạo Hưng Yên, Hưng Yên có 95.160 học sinh tiểu học, 98.240 học sinh trung học cơ sở và 39.459 học sinh trung học. Số trường học tương ứng theo ba cấp là 168, 166 và 27.
Danh sách các trường cao đẳng - đại học tại tỉnh Hưng Yên:
1.Đại Học Sư Phạm Kỹ thuật Hưng Yên
2.Đại Học Tài chính QT Kinh doanh
3.Đại Học Chu Văn An
4.Đại Học Y Khoa Tokyo Việt Nam
5.Đại Học Anh Quốc Việt Nam
6.Đại Học Y Khoa Vinmec
7.Đại Học Mở Hà Nội cơ sở 2
8.Đại Học Hải Quan Việt Nam
9.Đại Học Kỹ thuật Hậu cần Công An
10.Đại Học Công Đoàn cơ sở 2
11.Đại học Nội vụ cơ sở 2
12.Đại học Thuỷ Lợi cơ sở 2
13.Đại Học Giao thông vận tải
14.Đại Học Ngoại Thương cơ sở 3
15.Học viện Y dược cơ sở 2
16.Học viện Golf EPGA Việt Nam
17.Cao đẳng ASEAN
18.Cao đẳng Công nghiệp Hưng Yên
19.Cao đẳng Bách Khoa Hưng Yên
20.Cao đẳng Hàng Không
21.Cao đẳng kỹ thuật Lod
22. Cao đẳng kinh tế kỹ thuật Tô Hiệu
23.Cao đẳng Cơ Điện Thuỷ Lợi
24.Cao đẳng Sư Phạm Hưng Yên
25. Cao đẳng giao thông hưng yên
26. Cao đẳng văn hoá nghệ thuật
27. Cao đẳng cảnh sát nhân dân 6
28. Cao đẳng Y tế Hưng Yên
29. Cao đẳng kinh tế kỹ nghệ
Cư dân Hưng Yên chủ yếu là nông dân, lúa nước là cây trồng chính gắn với sự chinh phục châu thổ sông Hồng nên văn minh, văn hóa Hưng Yên là văn minh, văn hóa lúa nước, văn minh, văn hóa sông Hồng.
Về văn học dân gian, ngoài cái chung của văn học dân gian đồng bằng Bắc Bộ, còn có những cái riêng mà chỉ Hưng Yên mới có, chẳng hạn như lời của các bài hát trống quân - một lối hát phổ biến ở Hưng Yên xưa kia, hiện nay vẫn còn giữ được.
Hưng Yên là vùng đất Địa Linh Nhân Kiệt, luôn đóng góp bậc hiền tài cho đất nước ở môi thời đại. Tỉnh có 4 trạng nguyên trên tổng số 53 trạng nguyên của cả nước. Hiện tại Văn miếu Xích Đằng còn lưu trên bia đá tên hàng trăm tiến sĩ khoa bảng của tỉnh trong các thời kỳ phong kiến.
Một số câu ca dao tiêu biểu cho địa phương trong tỉnh:
Thứ nhất Kinh Kỳ, thứ nhì Phố Hiến.
Dù ai buôn bắc bán đông,
Đố ai quên được nhãn lồng Hưng Yên
Oai oái như phủ Khoái xin ăn
Chè Yên Thái, gái Tiên Lữ
Nát như tương Bần
... Ngoài ra còn có các thể loại hát chèo, hát ả đào,....
=== Danh nhân ===
Hưng Yên là vùng đất địa linh nhân kiệt, là nơi sinh ra nhiều người đỗ đạt, nhiều nhân vật tài giỏi được sử sách ca ngợi, nhân dân truyền tụng.
Nhân vật truyền thuyết: Tống Trân Cúc Hoa
Quân sự: hai vị tướng thời An Dương Vương ai?, Triệu Quang Phục, Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Thiện Kế, Hoàng Hoa Thám, Dương Phúc Tư, Nguyễn Bình, Phạm Bạch Hổ, Lã Đường, Lý Khuê, Vũ Duy Chí, Hoàng Nghĩa Kiều, Hoàng Minh Thảo, Dương Trọng Tế, Đặng Vũ Hiệp, Nguyễn Trọng Xuyên, Nguyễn Quyết, Hữu Ước,.Lưu Trọng Lư......
Y học: Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác.
Giáo dục: Dương Quảng Hàm, Nguyễn Lân.
Phật giáo: Thích Thanh Tứ.
Khoa học: Phạm Huy Thông, Nguyễn Công Tiễu, Nguyễn Lân Dũng.
Sử học: Phạm Công Trứ, Nguyễn Vinh Phúc.
Báo chí: Dương Bá Trạc
Âm nhạc:Văn Chung, Hữu Ước, Cao Việt Bách
Văn học: Đoàn Thị Điểm, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Chu Lai, Lê Lựu, Phan Văn Ái.
Sân khấu chèo: Nguyễn Đình Nghị, Phạm Thị Trân, Hoa Tâm.
Nghệ thuật: Nguyễn Thị Hồng Ngát, Học Phi, Lê Mây, Đào Thị Huệ, BTV-MC Diễm Quỳnh
Mỹ thuật: Tô Ngọc Vân, Dương Bích Liên.
Hoạt động chính trị: Trần Đình Hoan, Lê Xuân Hựu, Trần Phương, Nguyễn Trung Ngạn, Đào Công Soạn, Lê Như Hổ, Lê Đình Kiên, Nguyễn Văn Linh, Tô Hiệu, Lê Văn Lương, Bùi Thị Cúc, Phó Đức Chính, Nguyễn khắc Sơn, Trần Văn Phác
Khác: Dương Hữu Miên, Phạm Thanh Ngân, Chử Đồng Tử.
=== Di tích lịch sử ===
Hưng Yên có các di tích lịch sử tiêu biểu sau:
Xã Thuần Hưng huyện Khoái Châu được xác định là địa danh Đại Mang Bộ là địa danh gần sông Hồng thuộc xã Thuần Hưng và các xã xung quanh thuộc tổng Đại Quan theo tên cũ. Nơi đây là linh hồn của cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông là Tổng hành dinh của Vua Trần Nhân Tông và Thượng Hoàng Trần Thánh Tông, từ đây đưa ra những quyết sách quan trọng để Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn lãnh đạo quân và dân Đại Việt Tổng tấn công chiến thắng quân Nguyên Mông giữ yên và mở mang bờ cõi Việt Nam (http://thethaovanhoa.vn/dien-dan-van-hoa/dung-quay-lung-voi-nhung-dong-song-n20170329062828961.htm)
Cây đa Sài Thị thuộc thôn Sài Thị - xã Thuần Hưng là nơi thành lập chi bộ đảng Cộng sản Việt Nam đầu tiên của tỉnh Hưng Yên.http://dangcongsan.vn/xay-dung-dang/hung-yen-giao-luu-nhan-chung-lich-su-chi-bo-dang-dau-tien-cua-tinh-399059.html
Sông Giàn - Thuần Hưng là Đầu nguồn của Sông Cửu An tiếp giáp với Sông Hồng là di tích lịch sử về tinh thần xây dựng và phát triển đất nước của người Việt. Hình ảnh sông Giàn được các vua Nhà Nguyễn khắc vào Cửu Đỉnh đặt tại Cố Đô Huế (http://thethaovanhoa.vn/dien-dan-van-hoa/dung-quay-lung-voi-nhung-dong-song-n20170329062828961.htm).
Quần thể di tích Phố Hiến: Văn Miếu Xích Đằng, đền Trần Hưng Yên, đền Mẫu, đền Thiên Hậu, Đông Đô Quảng Hội, Võ Miếu, chùa Chuông, chùa Phố, chùa Hiến, chùa Nễ Châu, đền Mây, Phố Hiến xưa, hội ả đào. hồ bán nguyệt...
Di tích Chử Đồng Tử - Tiên Dung: (đền Đa Hòa, đền Dạ Trạch, các di tích liên quan đến Triệu Việt Vương)
Khu di tích đình Bến ở Văn Giang thờ sứ quân Lã Đường thời 12 sứ quân.
Làng Nôm là ngôi làng cổ của Hưng yên thuộc xã Đại Đồng huyện Văn Lâm. Đây là ngôi làng cổ đặc trưng có vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Nhà tưởng niệm Hải Thượng Lãn Ông.
Cụm di tích Phù Ủng (Ân Thi) liên quan đến danh tướng Phạm Ngũ Lão, di tích Tống Trân Cúc Hoa (Phù Cừ)
Đền thờ bà Hoàng Thị Loan - Mẹ chủ tịch Hồ Chí Minh.
Khu lưu niệm cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh
Chùa Khúc Lộng - Vĩnh Khúc, Văn Giang
Chùa Ông Khổng hay còn gọi là Chùa Công Luận (Công Luận 1 - TT Văn Giang). Hàng năm vào các ngày từ 4-5 âm lịch diễn ra lễ hội Vật cổ truyền.
Đền Bà (còn gọi là Chùa Bà) tọa lạc tại thôn Tân An, xã Nhật Quang, huyện Phù Cừ, thờ Nguyên Phi Ỷ Lan Hoàng Thái Hậu triều nhà Lý, có phong cảnh đẹp và giá trị kiến trúc nghệ thuật cao,gia trị lịch sử lâu đời, được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia, hàng năm mở hội từ ngày 20-25/7âm lịch)
Đền Vĩnh Phúc hay Đền thờ Bà Chúa Mụa (Trần Thị Ngọc Am, vợ của Chúa Trịnh Tráng hiện đền ở thôn Cộng Vũ, xã Vũ Xá huyện Kim Động. Hiện nay con cháu họ Trần Của Bà Trần Thị Ngọc Am đang thờ phụng. Bà Trần Thị Ngọc Am – Vương phí thứ hai của chúa Trịnh Tráng, sau được ban quốc tính họ Trịnh (Trịnh Thị Ngọc Am). Nhân dân địa phương quen gọi bà là bà chúa Mụa.
Viện Nghiên cứu Hán Nôm là trung tâm tàng trữ thư tịch và tài liệu Hán - Nôm lớn nhất nước ta hiện nay, với 5038 đầu sách và khoảng 30.000 đơn vị tư liệu(1). Kho sách này là nguồn tư liệu quý hiếm, đang được bảo quản đặc biệt. Đây là nguồn thư tịch cổ, chứa đựng lượng thông tin phong phú, đa dạng, rất đáng tin cậy về các vấn đề địa lý, lịch sử, văn hóa, giáo dục, văn học, nghệ thuật của dân tộc trong lịch sử. Tiếp cận nguồn tư liệu này, có thể đáp ứng nhu cầu khai thác tư liệu, thu thập thông tin nhằm phục vụ cho công tác nghiên cứu, sưu tầm và tìm hiểu về các địa phương. Căn cứ vào những thông tin trong sách Di sản Hán Nôm Việt Nam - Thư mục đề yếu (Bổ di I, quyển Thượng)(2) chúng tôi xin cung cấp những tư liệu Hán Nôm thể loại do Viện Nghiên cứu Hán Nôm có liên quan tới Hưng Yên như sau:
1- Thần sắc: Là những đạo sắc do các triều đại nhà nước phong kiến, đứng đầu là vua, ban cấp cho các xã thôn trong việc phụng thờ thần ở địa phương. Mỗi đạo sắc thường ghi các yếu tố như: Nơi thờ thần (làng, xã), tên gọi của thần (thần hiệu, duệ hiệu, mỹ tự), lý do thần được phong hiệu (bao phong) hoặc nâng phẩm trật (hạ, trung, thượng đẳng thần), trách nhiệm của thần đối với nhân dân sở tại (phù hộ, che chở), nhiệm vụ của nhân dân địa phương đối với thần (tôn vinh, thờ tự), ngày ban sắc… Trong số 658 đạo sắc phong thần được chép lại của Hưng Yên còn lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán phân bố như sau: - Văn Giang: 37 đạo - Văn Lâm: 290 đạo - Ân Thi: 08 đạo - Yên Mỹ: 255 đạo - Đông An (Yên): 35 đạo - Kim Động: 33 đạo. Đạo sắc có niên đại cổ nhất của Hưng Yên do Lê Thánh Tông (1460 - 1497) ban sắc cho Đại đô Lỗ Trâu Canh đại vương (xã Cốc Phong, huyện Đông An, phủ Khoái Châu); và đạo sắc của đời vua Lê Anh Tông (1557 - 1573) cho Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn và mẹ là Thiên uy Thái trưởng Công chúa (xã Hoàng Cầu, huyện Đông An). Xã có nhiều sắc phong nhất là xã Tráng Vũ, tổng Đồng Than, huyện Yên Mỹ: tổng cộng có 50 đạo sắc, do nhà vua ban cho Diệu Vận đại vương, Tả Hoàng hậu Thiện Tiên đại vương, Hữu Phi nhân Nội Trạch đại vương (trong đó: đời Vĩnh Tộ 03 đạo, Đức Long 07 đạo, Dương Hòa 09 đạo, Thịnh Đức 02 đạo, Vĩnh Thọ 02 đạo, Cảnh Trị 03 đạo, Dương Đức 03 đạo, Chính Hòa 03 đạo, Vĩnh Thịnh 03 đạo, Vĩnh Khánh 03 đạo, Cảnh Hưng 09 đạo, Chiêu Thống 03 đạo); xã Đại Hạnh, tổng Hòa Bình, huyện Yên Mỹ có 43 đạo sắc phong; tiếp đến là xã Lạc Đạo, huyện Văn Lâm có 41 đạo. Niên hiệu Cảnh Hưng, đời vua Lê Hiển Tông (1740 - 1786) phong sắc nhiều nhất, hầu như làng xã nào của Hưng Yên cũng có sắc phong, trong đó xã Lạc Đạo có 21 lần được vua Cảnh Hưng ban đạo sắc thần.
2- Thần tích: Là những bộ sưu tập về sự tích các thần được thờ ở thôn, xã (từ Nghệ An trở ra Bắc) mà phần lớn đã được triều đình cho người biên chép, chỉnh lý và lưu trữ bản gốc tại bộ Lễ dưới hình thức chung là Ngọc phả. Mỗi bản thần tích được biên soạn theo một mẫu chung: Gốc các vị thần (đời vua, cha mẹ, quê quán), công lao của thần lúc sống cũng như khi mất (cứu dân, cứu nước, hiển linh,…), các danh hiệu được phong tặng, nơi thờ tự… Những vị thần sớm nhất được thờ tự ở Hưng Yên là từ thuở Hùng Vương dựng nước và muộn nhất là thời Nguyễn. Những vị thần, có thể là nhiên thần: tục thờ Tứ Pháp (Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện ở Văn Lâm và Yên Mỹ), thờ Thạch Quang Vương Phật (hòn Đá phát sáng)…; thiên thần (Tiên Thiên, Địa Tiên, Ngũ Lão Tiên Ông, Đế Thích, Ngọc Hoàng…); có thể là các nhân thần như: (Chử Đồng Tử - Nhị vị phu nhân, Lạc Long Quân - Âu Cơ…), (Phạm Ngũ Lão, Phạm Bạch Hổ, Đoàn Thượng…). Hưng Yên còn có những người nước ngoài, được thờ cúng tôn sùng như bà Dương Quý Phi - Dương Thái Hậu (đền Mẫu), thần Hàng hải Lâm Tức Mặc - Thượng Thiên Thánh Mẫu (đền Thiên Hậu), hay Quan Công (đền Võ Miếu)… (gắn bó với người Hoa sinh sống và buôn bán ở Phố Hiến thế kỷ XVI - XVIII). Hiện tại, Viện Nghiên cứu Hán Nôm còn lưu trữ 189 bản thần tích của Hưng Yên, cụ thể: - Ân Thi: 18 bản - Phù Cừ: 11 bản - Văn Giang: 03 bản - Kim Động: 20 bản - Đông Yên: 29 bản - Văn Lâm: 47 bản. - Yên Mỹ có nhiều nhất với 61 bản. Thần tích cổ nhất của Hưng Yên được biết đến là: - Xã Đào Xá, huyện Kim Động, do Lê Văn Bích soạn năm Hồng Đức thứ nhất (1470), chép về sự tích ba vị thần thời nhà Đinh: Đôn Thiện Sùng Tín đại vương, Đông Chinh Thiên Môn đại vương và Tây Chính Địa Phủ đại vương. - Thôn Long Vĩ, xã Đông Xá, tổng Tử Dương, huyện Yên Mỹ: do Lê Tung soạn năm 1470, gồm sự tích về Lý Hải triều nhà Lý, Phục Quý công Hiển Ứng đại vương (Nguyễn Văn Phục thời Lê). Đặc biệt, tại đây còn lưu trữ bản thần tích xã Đằng Man, huyện Kim Động do Hoàng Cao Khải soạn năm 1893, ghi chép về việc Thánh Mẫu đã có công báo mộng âm, phù giúp cho mình thoát hiểm. Đa số những bản thần tích khác đều do Hàn lâm viện, Đông các Đại học sĩ Nguyễn Bính phụng soạn vào năm 1572 hoặc Quản giáp bách thần tri điện, Hùng lĩnh Thiếu khanh Nguyễn Hiền sao y lại vào những năm 1735 - 1736.
3- Tục lệ: Là những bản quy ước của làng xã, bao gồm: Lệ (lệ bạ, điều lệ, thông lệ, điểm lệ, giáp lệ, xóm lệ, hương lệ), tục lệ, khoán (cổ khoán, khoán bạ, khoán từ), khoán lệ, ước (ước từ, giao ước, hương ước), khoán ước… Mỗi bản khoán ước, tục lệ thường có các yếu tố như: các điều khoản phải thi hành, đối tượng thực hiện, ngày lập bản khoán ước…Viện nghiên cứu Hán Nôm mới chỉ thu thập và bảo quản tục lệ của hai huyện Văn Lâm và Yên Mỹ nhưng đã có tới 144 khoán ước, tục lệ, khoán lệ… khác nhau (Văn Lâm có 69 tục lệ, Yên Mỹ có 75 tục lệ). Quy ước cổ nhất của Hưng Yên được biết đến là của thôn Tử Cầu, xã Lạc Cầu, tổng Đồng Than, huyện Yên Mỹ lập năm Đức Nguyên nguyên niên (1674) và tục lệ xã An Xuyên, Ngọ Cầu, tổng Như Quỳnh, huyện Văn Lâm được soạn năm Chính Hòa thứ 5 (1684). Trong những bản tục lệ hay quy ước này chứa đựng rất nhiều thông tin lịch sử - văn hoá phục vụ công tác nghiên cứu, tìm hiểu về một địa phương. Ví dụ bản Hưng Yên tỉnh, Yên Mỹ huyện, Liêu Xá tổng, Liêu Xá xã, Văn Xá - Vũ Xá nhị thôn tục lệ bao gồm các văn bản sau: - Công nhị thôn Tư văn chính hội điều lệ bạ gồm 18 điều, sao ngày 6 tháng 3 năm Thành Thái thứ 3 (1891), có ghi chép tước hiệu, tên thụy, tên hiệu của các bậc tiên hiền hai thôn; - Bản đình đệ niên nhập tịch ước thúc mục lục văn, gồm những bài văn tế dùng khi nhập tịch tại đình và các câu đối trong và ngoài nội điện; các lễ giỗ kỵ từng tháng trong năm; - Bản đình chu niên tự sự các tiết tế văn tả bản, gồm các bài văn tế dùng vào các tiết trong năm tại đình; - Văn Hảo nhị thôn trung hậu tộc phụng sự tiên hiền lệ bạ, gồm 12 điều, lập ngày 21 tháng 1 năm Tự Đức thứ 26 (1873); - Văn Xá thôn Đoài Nhất giáp tục lệ bạ bản, có 21 điều, không ghi ngày tháng lập; - Văn Xá thôn Đông Nhất giáp tục lệ bạ, có 22 điều, lập ngày 4 tháng 1 năm Tự Đức thứ 31 (1878) và 2 điều bổ sung vào ngày 16 tháng 1 năm Tự Đức thứ 34 (1881); - Công xã hương ước khoán điều lệ bạ, gồm 19 điều, lập ngày 15 tháng 12 năm Tự Đức thứ 23 (1870); - Liêu Xá tổng Văn Hội điều bạ, gồm 27 điều, ghi danh các vị tiên hiền của bản tổng; - Văn thôn Họa Tranh thị khoán lệ bạ, gồm 22 điều quy định của chợ Họa Tranh vào ngày 15 tháng 8 năm Tự Đức thứ 32 (1879); - Bản tổng Văn Hội điều lệ sách bạ, có 9 điều, ghi một số bài phụ tế tại hội Tư văn; - Văn Xá thôn Lê tộc điều lệ bạ, có 1 điều của dòng họ Lê, lập năm Tự Đức thứ 19 (1866), kê khai về số ruộng của họ này tại các xứ sở; - Văn Xá thôn Đông Tam giáp điều lệ bạ, gồm 11 điều, lập năm Thành Thái thứ nhất (1889); - Văn Xá thôn Xuân Áng tộc tự tiên hiền lệ bạ, gồm 12 điều, lập ngày 15 tháng 10 năm 1890, quy định về số ruộng, thể thức bài văn khấn và các vị tiên hiền của họ này phụng thờ; - Văn Xá thôn hậu thần tự điển liệt bạ, gồm 7 điều (trích ở từ đường các dòng họ lớn) ghi danh sách các vị hậu thần được phối thờ tại đình; - Công xã Hương lão hội lệ bạ, gồm 2 điều, lập năm Thành Thái thứ 18 (1906). - Công xã hưu ban Tư văn hội lệ khoán bạ, có 17 điều, lập năm Khải Định thứ 2 (1918); - Đông Nhị giáp điều lệ bạ, lập ngày 1 tháng 9 năm Khải Định thứ 4 (1919); - Công xã cải lương tân lệ bạ, có 21 khoản, lập ngày 3 tháng 12 năm Khải Định thứ 4 (1919). - Văn thôn tập thiện hội điều lệ bạ, gồm 3 điều… Đây là nguồn tư liệu rất giá trị và phong phú, bổ sung cho sự thiếu hụt về tư liệu thành văn trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về phong tục tập quán cũng như những sinh hoạt của nhân dân tại các làng xã trong tỉnh.
4- Địa bạ: Là bản kê khai về ruộng đất (địa tịch) của các xã, thôn được thực hiện một phần từ thời nhà Lê và phần lớn dưới thời Nguyễn, với mục đích làm căn cứ để thu thuế nông nghiệp. Mỗi bản kê khai thường cung cấp những thông tin như: Tổng số ruộng đất ở địa phương, số ruộng đất công, tư, ruộng thần từ phật tự, thổ trạch viên trì, tha ma gò đống, quan lộ, quan đê, ruộng học điền… Hiện tại, Viện Nghiên cứu Hán Nôm lưu trữ địa bạ 3 xã; Đồng Xuyên, Mậu Duyệt (tổng Lương Tài), Thanh Khê (tổng Thái Lạc); hai thôn: Đông Nghệ, Xuân Lôi (xã Ngải Dương) của huyện Văn Lâm và 37 xã, 18 thôn của huyện Yên Mỹ. Theo thống kê sơ bộ, bản địa bạ sớm nhất của Hưng Yên được điều tra thời Gia Long thứ 4 (1805); xã có diện tích nhiều nhất là Hoàng Đôi (tổng Đồng Than, huyện Yên Mỹ): 965 mẫu (chia làm 3 hạng ruộng, 3 hạng đất) và xã Đồng Than (tổng Đồng Than): 843 mẫu. Ngoài ra, một số địa bạ còn có bản đồ minh họa, tờ bẩm về tình hình ruộng đất…
5- Cổ chỉ: Là một tập hợp những sách vở, giấy tờ được viết bằng lối chữ cổ (chữ Hán hoặc Nôm, để phân biệt với lối chữ mới, tức chữ cái Latinh) bao gồm: công văn, tài liệu các loại như lệnh chỉ, thượng, dụ, khải tấu, đinh bạ, điền bạ, thuế khóa, gia phả, sách mo, các khoa cúng, bí quyết tu hành của nhà Phật…, sưu tầm được tại một số xã thuộc 5 tỉnh: Hưng Yên, Ninh Bình, Sơn Tây, Lạng Sơn và Phúc Yên. Đối với Hưng Yên, ba tổng còn tài liệu cổ chỉ là Liêu Xá, Yên Phú và Đồng Than của huyện Yên Mỹ. Bản Hưng Yên tỉnh, Yên Mỹ huyện, Liêu Xá tổng, Liêu Trung xã cổ tự chỉ, ghi chép về: + Doãn Thị thực lục, ghi chép về dòng họ Doãn, một dòng họ lớn có nhiều người đỗ đạt, làm quan như Thượng thư bộ Lễ Doãn Thành Huệ và Doãn Mậu Khôi, Doãn Tư… + Lưu gia phát tích phả thuyết, ghi chép về dòng họ Lưu như Lưu Đình Tá và một số người khác được phong thờ tự… + Nguyễn tộc nguyên lưu phả hệ lược thuyết, có liệt kê tên, hiệu, quan tước, ngày kỵ húy, giỗ chạp… của họ Nguyễn. + Lịch đại thiền sư phù luyện bí quyết, do nhà sư trụ trì chùa Liêu Trung là Pháp Chiếu soạn năm Gia Long thứ 6 (1807). + Bản quốc Thiền tông lịch đại tổ sư điển tích ký lục, do sư Pháp Định soạn năm Tự Đức thứ 13 (1860), ghi chép về tên tuổi, quê quán và sự tích của 9 vị tổ sư, từ đệ nhất đến đệ cửu, của bản chùa. Ngoài ra, còn nhiều bài văn bia, như: Trùng tu Pháp Vân tự bi ký (soạn năm Chính Hòa thứ 16 - 1695), Phụng biên bản tộc Lệ Trung hầu tướng công bảo hậu Phật chi văn (soạn năm Cảnh Hưng thứ 17 - 1756), Bản xã tôn trí hậu thần ước văn... - Hưng Yên tỉnh, Yên Mỹ huyện, Yên Phú tổng, Giai Phạm xã, Trung Phú thôn, có: + Lê hoàng ngọc phả do chính vua Lê Hiển Tông ngự chế vào năm Cảnh Hưng thứ 41 (1780), ghi chép về 27 vị hoàng đế, 25 vị Hoàng Thái hậu của Hoàng tộc nhà Lê. + Đoàn thị thực lục ghi chép về gia phả họ Đoàn, di văn của Hồng Hà nữ sĩ - tức Đoàn Thị Điểm (câu đối, tế văn, trướng văn, thi văn…), Hồng Hà phu nhân nghiêm phụ thần đạo bi ký… Ngoài ra, còn có những sách như: Thắng minh tự ngoại tu luyện diện quyết, Lão tẩu dã đàm ca, Thơ chiêm nghiệm…
6- Xã chí: là những bản điều tra về địa chí của một số làng, xã, thôn trong tỉnh do Học viện Viễn đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội tổ chức. Đây là tư liệu ghi bằng chữ Quốc ngữ, chữ Pháp nên rất tiện cho việc tra cứu. Nội dung của những bản điều tra tập trung vào 11 mục chính: bia, thần sắc, thần tích, cổ chỉ, tục lệ, đình chùa, tượng và đồ thờ, lễ hội, cổ tích, địa đồ, công nghệ và thổ sản. Viện Nghiên cứu Hán Nôm đang lưu trữ Xã chí của hai huyện là Phù Cừ và Tiên Lữ. - Huyện Phù Cừ: gồm 52 xã của 6 tổng (Ba Đông, Cát Dương, Kim Phương, Võng Phan, Hoàng Tranh, Viên Quang), điều tra năm 1942. - Huyện Tiên Lữ: gồm 32 xã của 5 tổng (Hải Yến, Tiên Phương, Tiên Châu, Phương Trà, Canh Hoạch), điều tra năm 1943 - 1944. Qua những thống kê trên, chúng tôi nhận thấy: - Đây là một nguồn di sản văn hóa thành văn rất có giá trị. Những tư liệu hiện đang lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm là tài liệu quý giúp ích chúng ta rất nhiều trong việc tìm hiểu, nghiên cứu về Hưng Yên nói riêng, về các địa phương khác trong cả nước nói chung. Chính vì thế, chúng ta phải tiếp cận nguồn tư liệu này. - Các cơ quan chức năng cần tạo điều kiện, cả tiền của lẫn công sức, để sao chép, chụp, dịch thuật nguồn tư liệu trên nhằm lưu trữ tại Thư viện tỉnh, phục vụ cho công tác nghiên cứu, thu thập thông tin, nâng cao hiểu biết về quê hương và nhiều vấn đề trong lịch sử của từng địa phương.
=== Du lịch ===
Cụm di tích Bến Đại Mang Bộ là Tổng hành dinh của Quân đội Nhà Trần trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông lần 2; Cây đa Sài Thị là nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên tại tỉnh Hưng Yên; Sông Giàn - Thuần Hưng là Đầu nguồn của Sông Cửu An tiếp giáp với Sông Hồng là di tích lịch sử về tinh thần xây dựng và phát triển đất nước của người Việt. Hình ảnh sông Giàn được các vua Nhà Nguyễn khắc vào Cửu Đỉnh đặt tại Cố Đô Huế (http://thethaovanhoa.vn/dien-dan-van-hoa/dung-quay-lung-voi-nhung-dong-song-n20170329062828961.htm).
Phố Hiến Bao gồm các di tích ở thành phố Hưng Yên và một phần các huyện Tiên Lữ, Kim Động.Nay đã được xếp hạng là khu di tích cấp quốc gia,một địa danh nổi tiếng của Hưng Yên. Cụm di tích này nằm bên bờ sông Hồng, nơi đây là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của Hưng Yên xưa và nay. Với cảnh quan đẹp, sự đa dạng của các di tích, lịch sử văn hóa Phố Hiến được hình thành bởi sự phong phú về phong tục tập quán của người Hoa, người Nhật và người châu Âu. Phố Hiến xưa đã cổ nay lại càng nổi tiếng hơn khi nhắc đến Văn Miếu, chùa Phố, chùa Chuông, đền Trần, đền Mẫu và đền Mây. Tiêu biểu của kiến trúc đình chùa trong cụm di tích Phố Hiến có thể nhắc đến các chùa:
Chùa Hiến (thời Trần): Tại chùa có cây nhãn tổ, truyền rằng ngày xưa quả của cây nhãn này được hái để dâng Đức Phật, cúng Thần hoàng và để quan lại mang tiến vua chúa, nó cũng được xem như là biểu tượng của đất Hưng Yên.
Toàn cảnh chùa Chuông Chùa Chuông: Nằm tại thôn Nhân Dục, phường Hiến Nam, thành phố Hưng Yên. Di vật đặc biệt của chùa phải kể đến tấm bia đá cao 165 cm, rộng 110 cm dựng vào năm Tân Mão, được trang trí hình rồng chầu mặt trời.
Đền Mẫu: Được coi là một danh lam thắng cảnh đẹp nhất của Phố Hiến, trước đền là hồ Bán Nguyệt cây xanh râm mát, một bên là phố Nguyệt Hồ, một bên là đê Đại Hà không gian thoáng đãng, nó nổi tiếng bởi có cây sanh, si, đa cổ thụ có tuổi thọ ngót 800 năm ở phía trước cửa đền, nơi đây hàng năm thu hút hàng vạn khách tới thăm. user posted image
Văn Miếu Xích Đằng Văn Miếu: Là Văn Miếu hàng tỉnh và còn gọi là Văn Miếu Xích Đằng, toạ trên một khu đất cao, rộng gần 4000m2 thuộc thôn Xích Đằng, phường Lam Sơn. Hiện vật quý nhất của Văn Miếu là 9 tấm bia có ghi danh các nhà khoa bảng. Văn Miếu là di tích minh chứng cho truyền thồng hiếu học của người Hưng Yên.
Trải qua những thăng trầm, biến đổi, Phố Hiến xưa chỉ còn lại trong lưu truyền và một số những di tích. Nếu Phố Hiến được đầu tư, tôn tạo thì nơi đây sẽ trở thành khu du lịch văn hóa lịch sử có sức cuốn hút mạnh mẽ trong và ngoài nước theo các tour du lịch cả bằng đường bộ, đường thủy để tham quan, dự lễ hội và nghiên cứu...
Cụm di tích Đa Hòa - Dạ Trạch, Hàm Tử - Bãi Sậy
Phần lớn các điểm du lịch khu vực này nằm cạnh sông Hồng, có cảnh quan đẹp, khí hậu trong lành.. Gắn liền với cụm di tích này là truyền thuyết và lễ hội Chử Đồng Tử - Tiên Dung đã được nhà nước xếp hạng, là một trong những di tích lịch sử văn hóa quan trọng quốc gia. Từ đây khách du lịch có thể thăm cảnh quan sinh thái đồng quê - bãi sông Hồng, làng vườn, làng nghề gốm sứ Xuân Quan.
Cụm di tích Hải Thượng Lãn Ông - Phố Nối
Điển hình của cụm này là khu di tích đại danh y Lê Hữu Trác và nhiều chùa đình có kiến trúc độc đáo như chùa Lãng (chùa Lạng) thôn Như Lãng, Minh Hải, Văn Lâm; chùa Thái Lạc ở thôn Thái Lạc, Lạc Hồng, huyện Văn Lâm; đền thờ danh tướng Lý Thường Kiệt thuộc huyện Yên Mỹ; đền Ủng huyện Ân Thi; đình Đa Ngưu huyện Văn Giang và khu tưởng niệm cố Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh.
Đây là cụm di tích nằm kề cận với Thủ đô Hà Nội, trên đường quốc lộ 5, nối trung tâm du lịch Hà Nội - Phố Nối - Hải Phòng - Quảng Ninh. Ngoài các sản phẩm du lịch chính của cụm này, tham quan các đình, chùa khách còn được tham quan làng nghề đúc đồng, chạm bạc, cây dược liệu, tương Bần...
Đền Ủng
Đền Ủng tại làng Phù Ủng, xã Phù Ủng, huyện Ân Thi, thờ tướng quân Phạm Ngũ Lão. Ông là một danh tướng của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn, có công lớn trong kháng chiến chống quân Nguyên Mông, chống giặc phương Nam và Ai Lao.
Đền được xây dựng trên nền nhà cũ của gia đình ông. Đáng tiếc ngôi đền đã bị thực dân Pháp phá hoại năm 1948, chỉ còn lại dấu vết nền móng xưa và hai cột đồng trụ ở hai bên. Từ năm 1990, phục hồi lại ngôi đền, kiến trúc gồm năm gian tiền bái, ba gian hậu cung.
Trong quần thể di tích có lăng Phạm Tiên Công (thân sinh Phạm Ngũ Lão), đền Nhũ Mẫu (mẹ nuôi Phạm Ngũ Lão), đền Tĩnh Huệ công chúa (con gái Phạm Ngũ Lão), kiến trúc thời Nguyễn. Ngoài ra còn có lăng Vũ Hồng Lượng (quan dưới triều Lê), kiến trúc nghệ thuật điêu khắc đá thời Hậu Lê (thế kỷ 17).
Các lễ hội truyền thống
Là một tỉnh đồng bằng gắn liền với nền văn minh lúa nước, Hưng Yên có nhiều lễ hội phản ảnh khá rõ nét con người, truyền thống, phong tục mà thông qua đó bày tỏ lời cảm ơn của mình đối với trời đất, thần nước và cầu mong có được cuộc sống ấm no, hạnh phúc, cảm ơn những người có công đức, tưởng nhớ tới các vị anh hùng. Nét độc đáo của nhiều lễ hội truyền thống ở Hưng Yên là các lễ rước thường gắn liền với sông Hồng như lễ hội Đền Mẫu, Đền Dạ Trạch, Đền Đa Hòa...
Lễ hội đền Hóa Dạ Trạch
Lễ hội diễn ra vào ngày 10/2 đến ngày 12/2 âm lịch. Hành trình của đám rước: Bắt đầu đi từ cửa đền Hóa Dạ Trạch đến bờ sông bến Vĩnh, lấy nước giữa dòng, xong quay lại đền. Trong lễ hội còn có rất nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như: Chọi gà, đấu vật, đu bay, bịt mắt bắt dê, cầu kiều, đập liêu... Cùng với các loại hình nghệ thuật cổ truyền như: Ca trù, Ả đào, Hát giao duyên/ Hát đối, Hát văn, Quan họ, đội múa rồng, múa lân..
Hội đền Ủng:
Lễ hội truyền thống đền Phù Ủng đã trở thành một nét đẹp trong đời sống văn hóa tinh thần của người dân xã Phù Ủng (Ân Thi) nói riêng và của người dân xứ nhãn lồng nói chung. Qua bao thăng trầm của lịch sử, đền thờ đã được nhân dân huyện nhà và khách thập phương gìn giữ, tu bổ. Năm 1988, đền Phù Ủng thờ tướng quân Phạm Ngũ Lão được công nhận là di tích lịch sử - văn hóa cấp Quốc gia. Lễ hội truyền thống đền Phù Ủng hàng năm được tổ chức trang trọng, được nhân dân hết sức ngưỡng mộ. Năm 2013, lễ hội được tổ chức để tưởng niệm 738 năm ngày Tướng quân Phạm Ngũ Lão ra quân đánh giặc giữ nước.(http://baohungyen.vn/dat-va-nguoi-xu-nhan/201302/Le-hoi-den-Phu-ung-172065/)
Đặc sản Hưng Yên có những đặc sản nổi tiếng như: Nhãn lồng Phố Hiến, gà Đông Tảo (Đông Cảo) (Đông Tảo-Khoái Châu), sen Nễ Châu, tương Bần, bún thang Thế Kỷ (thành phố Hưng Yên), Bánh Cuốn Nóng làng Sài Thị (Thuần Hưng, Khoái Châu), ếch om Phượng Tường (Tiên Lữ), bánh dày làng Gàu (Cửu Cao - Văn Giang), chả gà Tiểu Quan; Điểm trung tâm của đồng bằng sông Hồng là ở Hưng Yên
-Chả gà Tiểu quan (thuộc huyện Khoái châu) là món ăn rất đặc biệt có từ lâu đời,tuy nhiên từ sau Cải cách ruộng đất,tình hình xã hội biến đổi,kinh tế khó khăn triền miên nên món này gần như đã thất truyền,hơn 60 năm nay hầu như không mấy ai còn để ý nữa.
== Tham khảo ==
http://thethaovanhoa.vn/dien-dan-van-hoa/dung-quay-lung-voi-nhung-dong-song-n20170329062828961.htm
http://dangcongsan.vn/xay-dung-dang/hung-yen-giao-luu-nhan-chung-lich-su-chi-bo-dang-dau-tien-cua-tinh-399059.html
http://www.hungyentv.vn/92/55153/Chinh-tri-xa-hoi/Bi-thu-Tinh-uy-Hung-Yen-dang-hoa-tai-cac-di-tich-lich-su-cach-mang.htm
== Liên kết ngoài ==
Bản đồ Hưng Yên
Website chính thức của tỉnh Hưng Yên |
trống trầm.txt | Trống trầm hay Trống lớn (tiếng Anh: bass drum, tiếng Đức: große Trommel) là nhạc cụ gõ, một loại trống lớn nhất trong một bộ trống nhạc phổ thông hay trong một dàn nhạc cổ điển.
== Lịch sử ==
Thoạt tiên người ta chỉ dùng nó trong loại "nhạc Thổ Nhĩ Kỳ", nhưng từ đầu thế kỷ XIX người ta dùng nó nhiều nhằm những mục đích tạo hình bằng âm thanh, như bắt chước tiếng súng đại bác, tiếng sấm, gây bão táp, góp phần tạo cao trào kịch tính cho các tác phẩm trong nhạc cổ điển, hoặc gây kích động mạnh trong nhạc phổ thông, nhạc Rock.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Bass Drum Pedal Techniques - lesson on Kick pedal set-up and basic playing techniques
Historic Field Drums (including Bass Drums)
How To Record The Perfect Kick Drum Sound - Tips on recording your bass drum
Double Bass Legends: A Short History
Kick pedal trigger
Effective Bass Drum Techniques |
bãi biển việt nam.txt | Bãi biển Việt Nam, hay để liệt kê một cách chính xác hơn là các bãi tắm có thể đã, đang và sẽ phục vụ du lịch dọc bờ biển Việt Nam, là một hệ thống gồm nhiều bãi nằm trải dài từ Bắc vào Nam. Việt Nam có bờ biển dài hơn 3.400 km.
Những bãi biển chính, tính từ Đồ Sơn (Hải Phòng) vào Hà Tiên (Kiên Giang) gồm:
== Miền Bắc ==
== Miền Trung ==
== Miền Nam ==
== Tham khảo == |
samsung sgh-a167.txt | Samsung SGH-A167 là điện thoại di động phát hành bởi Samsung Electronics. A167 được phát hành bởi AT&T vào năm 2009 như điện thoại thuê bao trả trước.
== Đánh giá ==
CNET cho điện thoại 2,5/5 sao (hoặc tổng thể gần bằng 50% đánh giá). Chiếc điện thoại này được đánh giá cao về chất lượng âm thanh khá và giao diện trực quan, nhưng bị chỉ trích thiết kế phím điều hướng, bàn phím, và chất lượng hình ảnh kém.
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Samsung.com A-167 Info
AT&TWireless A-167 Info |
tô ánh nguyệt.txt | Tô Ánh Nguyệt là tác phẩm cải lương nổi tiếng của soạn giả Trần Hữu Trang soạn khoảng năm 1935-1936. Tác phẩm gắn liền với tên tuổi của nghệ sĩ cải lương Lệ Thủy với vai chính là Tô Ánh Nguyệt.
== Nội dung ==
Tô Ánh Nguyệt, cô gái quê lên tỉnh học yêu Minh một chàng trai thành thị. Cô vốn là con gái ông Cả trong làng và vì bị tư tưởng "áo mặc không qua khỏi đầu", Nguyệt bị ép duyên cùng một trai làng khác. Không dám cãi lời cha nhưng vì lỡ mang thai nên Nguyệt bỏ nhà trốn nhà ra đi “đói lạnh giữa chợ đời”, hoàn cảnh neo đơn thân gái một mình... đến khi sanh con trong cảnh cơ hàn nghèo khó. Ở nhà, bà Cả nhớ thương con gái nên lâm bệnh nặng và mong muốn được sống gần con nên ông Cả tìm Nguyệt đem về cho bà. Nguyệt đành đem con trao cho Minh để trở về báo hiếu người mẹ đang bị bệnh nặng, Nguyệt đã đau đớn: “Ba nói ba thương con, sao ba lại không cho con được thương con của con?”.
Mười tám năm sau, cuộc sống tạm ổn, với lòng thương con, Nguyệt tìm cách về ở gần con. Minh biết, tìm đến mong được nàng tha tội và mong nối lại tình xưa. Trước sự ăn năn day dứt khôn nguôi của Minh muốn nối lại duyên xưa để bù đắp cho Nguyệt những tổn thương buồn tủi sau bao năm vò võ, Nguyệt đã thẳng thắn: “Nếu thuận theo ý anh thì lại thêm một người phụ nữ sẽ khổ đau...”. Nguyệt đã an bài cho số phận của mình, chấp nhận thua thiệt như lâu nay đã phải gánh chịu mà bao dung, vị tha, giữ sự ấm êm cho hạnh phúc của Minh được vuông tròn. Bao hy vọng, niềm tin vào cuộc sống Nguyệt chỉ nghĩ cho cậu con trai và gửi tất cả thâm tình vào từng đường kim mũi chỉ thêu cặp gối uyên ương mừng ngày hạnh phúc của con. Bất ngờ, khi Minh ra về cũng là lúc cậu con trai tên Tâm xuất hiện với những lời lẽ miệt khinh Nguyệt vì cho rằng bà đã phá vỡ hạnh phúc gia đình mình mà không hay biết đó lại chính là người mẹ ruột.
Đau đớn tột cùng. Nguyệt vẫn câm nín nghẹn ngào nhìn con mình đã vô tình bất hiếu. Đám cưới chưa đến. Minh lại bệnh nặng. Trước phút lâm chung, Minh kể rõ ngọn ngành cho Dung, vợ chàng và Tâm nghe, vừa hiểu ra sự thật thì Minh trút hơi tàn kịp lúc Nguyệt đến gặp mặt lần sau cuối...
== Tham khảo == |
bệnh viện.txt | Bệnh viện hay nhà thương là cơ sở để khám và chữa trị cho bệnh nhân khi bệnh của họ không thể chữa ở nhà hay nơi nào khác. Đây là nơi tập trung các chuyên viên y tế gồm các bác sĩ nội và ngoại khoa, các y tá, các kỹ thuật viên xét nghiệm cận lâm sàng
== Lịch sử ==
Vào thời cổ, y học và tôn giáo được gắn liền. Như ở Ai Cập người bệnh được đưa vào các nơi thờ cúng để cầu chữa trị. "Thánh sống" Aslepius ở Hy Lạp cho bệnh nhân vào nhà mình và ông ta nằm mộng để gặp Thượng đế lấy chỉ dẫn. Dân La Mã tôn thờ ông này và lập riêng cho ông một nhà thờ tại một hòn đảo trên sông Tiber để ông trị bệnh.
Dân Sinhalese (Sri Lanka) có lẽ là ngươì đầu tiên phát minh ra khái niệm bệnh viện. Theo cổ sử của dân này (Mahavamsa), thì vào thế kỷ 4 trước Tây lịch vua Pandukabhaya cho xây các nhà "nghỉ lại" và bệnh viện (Sivikasotthi-Sala) tại các vùng trong lãnh thổ sau khi ông ta củng cố thủ đô ở Anuradhapura. Đây là chứng tích đầu tiên trong lịch sử thế giới ghi nhận sự thành lập các nơi ăn ngủ dành đặc biệt để chữa trị cho bệnh nhân. Nhà thương Mihintale có lẽ là nhà thương cổ nhất của thế giới.
Tại Ấn Độ, vua Ashoka lập 18 nhà thương vào khoảng năm 230 TCN. Những nơi này có bác sĩ và phụ tá chăm sóc cho người mắc các loại bệnh và mọi chi phí do triều đình đài thọ.
Bệnh viện giáo dục y học đầu tiên thành lập tại Hàn lâm viện Gundishapur Ba Tư. Học sinh được đào tạo chuyên nghiệp về y học và thực hành chẩn đoán lâm sàng với bệnh nhân trong bệnh viện. Một nhà nghiên cứu cho rằng hệ thống giáo dục y học và thiết bị bệnh viện ngày nay khởi thủy từ Ba Tư.
Người La Mã thiết lập các bệnh xá (tiếng Ý: valetudinaria) để chăm sóc bệnh cho nô lệ, võ sĩ giác đấu và binh sĩ khoảng năm 100 TCN. Sau khi chấp nhận Thiên chúa giáo là tôn giáo quốc gia, dân La Mã thành lập những bệnh viện cho công chúng, không chỉ để chăm sóc cho người bệnh mà cả cho người nghèo, khuyết tật, người già, cô quả và cả người khác xứ vô gia cư. Đế quốc La Mã ra lệnh xây nhà thương tại tất cả các tỉnh thành có nhà thờ, tu viện. Một trong các kiến trúc nhà thương đầu tiên được dựng lên là bệnh viện ở Constantinopolis do Saint Sampson xây. Tu viện của giáo hoàng Basil of Caesarea được cải tiến để có thêm khu vực dùng làm nơi nương trú cho bệnh nhân và có khu dành riêng cho bệnh nhân bị phong cùi.
Thời Trung cổ, các bệnh viện ở châu Âu cũng theo hệ thống này, dưới điều hành của các tu sĩ thuộc giáo hội (từ tiếng Pháp hôtel-Dieu mang ý nghĩa "khách sạn của Thượng đế"). Ngoài những bệnh viện nằm trong kiến trúc của nhà thờ, một số được xây riêng biệt. Nhiều bệnh viện tạo tài chính qua viện trợ từ chính phủ hay các đòng góp tùy hỷ. Vài bệnh viện có nhiều dịch vụ khác nhau. Một số chỉ dành cho người bị cùi. Một số khác cho dân tỵ nạn hay nghèo khổ.
Nhà thương của Hồi giáo được thành lập với trình độ cao trong thế kỷ 8 - 12. Bệnh viện tại Bagdad có trên dưới 25 y sĩ và có phòng riêng cho mỗi dạng bệnh, tạo nền tảng cho thiết kế kiến trúc hệ thống nhà thương ngày nay.
Trung Quốc cũng có nhà thương công cộng trong thiên kỷ đầu tiên.
== Phân loại ==
=== Bệnh viện đa khoa ===
Bệnh viện đa khoa là những bệnh viện lớn, có thể xét nghiệm và chữa trị hầu hết các loại chứng bệnh. Tại đây bác sĩ chuyên khoa mỗi ngành làm việc tại một khu riêng của ngành mình nhưng vẫn có thể liên lạc với những bác sĩ của ngành khác để cộng tác chữa trị công hiệu - nhất là nghiên cứu những bệnh khó chẩn đoán hay chữa trị. Các bệnh viện này thường có phòng cấp cứu (tiếng Anh: Emergency Room), phòng xét nghiệm máu (Pathology) và quang tuyến (Medical Imaging) và phòng điều trị tăng cường (Intensive Care Unit).
=== Bệnh viện chuyên khoa ===
Một số bệnh viện được thành lập chuyên ngành vì nhu cầu điều trị đặc biệt. Ví dụ: bệnh viện nhi khoa, bệnh viện mắt, bệnh viện lão.
=== Phòng khám ===
Phòng khám (tiếng Anh: Clinic) là một cơ sở y tế có nhiều phòng để bác sĩ khám bệnh. Khác với phòng mạch là nơi chẩn bịnh riêng của từng bác sĩ, phòng khám mang tính công cộng hơn và thường có nhiều hỗ trợ y tế hơn như y tá, chuyên viên vật lý trị liệu, y sĩ nhãn khoa v.v. Vì phòng khám thường không có phòng và giường cho bệnh nhân ngủ lại, trên lý thuyết không thuộc vào loại bệnh viện.
=== Bệnh xá ===
Bệnh xá hay trạm xá là nơi chẩn đoán và chữa trị tạm thời người bệnh địa phương thường do y tá quản lý. Nếu bệnh trầm trọng sẽ được gửi lên bệnh viện lớn.
=== Bệnh viện cấp 3 ===
Ở Úc, một số bệnh viện rất lớn được sắp hạng cấp 3 (tertiary hopital). Đây là những bệnh viện có khả năng tiếp nhận tất cả những ca bệnh khó chữa, hiểm nghèo trong toàn vùng hay tiểu bang. Bệnh viện cấp 3 có bác sĩ cao cấp, nhiều kinh nghiệm và phòng ốc trang bị máy móc y tế hiện đại. Khi bác sĩ tại các bệnh viện trong vùng gặp khó khăn trong vấn để chẩn đoán hay chữa trị, họ có thể chuyển bệnh nhân lên bệnh viện cấp 3.
=== Viện nghiên cứu y học ===
Sinh viên y khoa học tập và thực tập tại các bệnh viện thường dưới sự giảng dạy của các giáo sư và các nhà nghiên cứu khoa học y khoa. Đa số các bệnh viện lớn có viện nghiên cứu y học nghiên cứu về các ngành chuyên khoa.
=== Tư và công cộng ===
Bệnh nhân vào bệnh viện tư phải đóng lệ phí bằng tiến túi hoặc do hãng bảo hiểm tài trợ. Bệnh viện công do nhà nước quản lý và thường là miễn phí. Ngoài khác biệt về tài chính, tại một số nước, bệnh viện tư có thể có khả năng phục vụ tốt hơn vì nhân viên được tuyển chọn khắt khe hơn; trong khi bệnh viện công phần lớn nhân viên mới ra trường hoặc có tinh thần làm việc kiểu "công chức".
== Tiêu chuẩn ==
Tại Úc, tất cả bệnh viện phải theo định kỳ thông qua tiêu chuẩn của "Australian Council on Healthcare Standards" trước khi tiếp tục phục vụ công chúng. (Xem ví dụ điển hình về tiêu chuẩn của bệnh viện nhi đồng Westmead tại Sydney).
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
ghen.txt | Ghen là một trạng thái cảm xúc tâm lý của con người phản ánh những suy nghĩ mang tính tiêu cực được biểu hiện bằng cảm giác bất an, sợ hãi,bực tức, ích kỷ, cảm thấy mình thua kém và lo lắng về một sự mất mát. Trong đó hai cảm xúc chủ đạo mang tính phổ biến là sự ganh tỵ (hay đố kỵ) thể hiện sự không bằng lòng về một đối tượng hoặc những kết quả, thành tích, hoạt động hoặc sự hạnh phúc, thành công của người khác thể hiện qua thái độ không vui, khó chịu, tức tối, bực bội, hậm hực, bất mãn... và một trạng thái rất phổ biến là sự ghen tuông trong tình yêu và hôn nhân và gia đình.
Ghen tuông bao gồm một chuỗi trạng thái cảm xúc lẫn lộn hay một loạt những cảm xúc đặc biệt mạnh mẽ như giận dữ, oán giận, bất lực và tiêu cực hơn là cảm giác coi khinh và ghê tởm với đối tượng đang hướng đến (người yêu hoặc vợ/chồng) cùng những đối tượng liên quan (tình địch, người tình cũ, bạn tình...). Ghen tuông là một được cho là một trạng thái tâm lý phổ quát trong mọi nền văn hóa biểu hiện qua những mối quan hệ xã hội, quan hệ gia đình, quan hệ tình yêu nam nữ. Nguyên nhân chung được cho là tâm lý thiếu tự tin nên có phản ứng phòng vệ, đồng thời nguyên nhân từ cảm giác lo sợ, tính sở hữu ích kỷ và do quá yêu đến mức mù quáng.
Về bản chất, ghen tuông hay ghen tỵ là một dạng tình cảm ích kỷ xuất hiện khi cảm thấy mình bị người khác bỏ rơi, bị coi thường, phớt lờ, bị đánh giá thấp hơn người khác. Chính vì vậy ghen là yêu chính bản thân mình chứ không phải là yêu người khác. Ghen tỵ cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại bệnh như bệnh tim, tiểu đường, cao huyết áp và u nhọt, ngoài ra nó cũng là nguyên nhân dẫn đến nhiều nghịch cảnh, oái ăm, tan vỡ trong tình yêu, hôn nhân và gia đình và thậm chí là dẫn đến những kết quả thảm khốc, không mong muốn.
Về thuật ngữ, trong tiếng Việt, ghen hay còn biết đến với các thuật ngữ thông dụng, tùy vào từng hoàn cảnh cụ thể mà có những từ ngữ khác nhau. Ví dụ như trong tình yêu, quan hệ vợ chồng thì có ghen tuông, "nổi máu Hoạn Thư", nổi cơn ghen, đánh ghen, nổi máu ghen…. Trong các mối quan hệ khác thì có các từ ngữ như ghen tỵ, ghen ghét, ghen ăn tức ở, ganh tỵ, so kè, đố kỵ, tỵ nạnh, hiềm tỵ…..
== Ghen tuông ==
Ghen tuông là một dạng bản năng của con người không thể loại bỏ mà chỉ có thể kiểm soát bằng lý trí, khả năng tự làm chủ bản thân hoặc thông qua những mối quan hệ xã hội tích cực, thiện chí, là một trạng thái tình cảm bí ẩn ngay cả với chính người trong cuộc, đó là hình thức luôn liên quan tới cảm giác sợ mất mát và luôn có ít nhất 03 đối tượng gồm người ghen, người bị ghen và người liên quan đến người bị ghen (có thể là một hoặc một vài người cụ thể nhưng cũng có khi là những đối tượng chung chung, những đối tượng không tồn tại thật sự ngoài đời hoặc xuất hiện liên quan đến cuộc sống của những đối tượng ghen và đang ghen như các diễn viên điện ảnh, ca sĩ, cầu thủ....). Khi ghen tuông thì trong cơ thể sẽ xảy ra các phản ứng cả về tâm lý và hành động với các biểu hiện đau đớn về tinh thần, tức giận, buồn bã,bi quan, ghen tị, sợ hãi, lo lắng về hình ảnh của mình, tự xót thương mình, cảm thấy bị bẽ mặt (tâm lý), run rẩy, toát mồ hôi, tự trấn an mình, có những hành động hung hăng, thậm chí bạo lực (hành động).
Ghen tuông được cho là khó tránh khỏi trong tình yêu và đôi lúc sự ghen tuông thái quá lại khiến mối quan hệ rạn nứt, khi sự ghen tuông thái quá chủ thể có khả năng sẽ hành động một cách ngớ ngẩn, thể hiện như sự bực bội, khó chịu khi một đối tượng nói chuyện thân mật với người khác giới, người tình cũ và có cảm giác thấy mình đang bị bỏ rơi, bị phản bội và cảm thấy bấp bênh cho tình yêu của chính mình, có những cặp đôi còn ghen tuông nhau ngay trong ngày cưới.
Những biểu hiện của ghen tuông đối với những người có tâm lý hướng ngoại gồm biểu hiện sự giận dữ, ghen tuông ầm ĩ, đối với những người có xu hướng hướng nội thì biểu hiện sự ghen tuông của mình bằng sự xa lánh, lạnh lùng, khinh bỉ, căm thù đối tượng. Cả hai dạng này đều rất nguy hại cho sức khỏe cả thể chất và tinh thần.
Nguyên nhân của loại tâm lý này xuất phát từ sự không tin tưởng vào bản thân, không tin người yêu cũng như mối quan hệ giữa họ, cộng với cảm giác sở hữu khi yêu, hai bên có xu hướng chỉ muốn nửa kia của mình ở bên mình, không muốn chia sẻ cho bất cứ ai, bởi vậy nhiều lúc thấy đối tượng trò chuyện vui vẻ với người khác giới là có cảm giác lo lắng, bấp bênh. Trong khi yêu, những đôi bạn trẻ luôn có cảm giác khó chịu đối với những người khác phái vây quanh hoặc theo đuổi đối tượng của mình. Khi người ta yêu nhau tha thiết hầu như những cặp đôi sẽ không muốn có bất cứ một ai xen ngang vào cuộc tình của họ và khi đã lập gia đình, sự ghen tuông càng thể hiện rõ nét. Thực tế cho thấy, chẳng ông chồng hay bà vợ nào mà không ghen khi một nửa của mình có dấu hiệu ngoại tình hoặc đã ngoại tình.
Ở góc độ tâm lý và y học, ghen tuông có thể ảnh hưởng trực tiếp đến trí não, nó làm giảm trí thông minh, thiếu logic, đánh mất sự tự tin, tiêu tan độ hấp dẫn cũng như nhân cách con người. Tuy nhiên vẫn có ý kiến cho rằng, ghen tuông ở một mức độ nhất định có tính tích cực nhất định vì nó chứng tỏ tình cảm giữa hai bên sâu nặng, và góp phần thắt chặt mối quan hệ giữa hai người và một chút ghen tuông hờn giận sẽ làm cho tình yêu thêm nồng nàn và hiểu nhau hơn, nó cũng là một biểu hiện của tình yêu sâu nặng. Dù vậy nếu không kiểm soát được thì sẽ dẫn đến hậu quả khó lường, sự ghen tuông ở một mức độ vừa phải sẽ làm cho tình yêu bền chặt hơn, nhưng nếu ghen tuông mù quáng dẫn đến có những lời nói, hành vi thiếu kiềm chế sẽ là một trong những nguyên nhân của tội phạm, bi kịch tình yêu, bi kịch gia đình.
Ganh tị cũng là một trong những nguyên nhân gây ra bạo lực gia đình với những loại bạo hành gia đình thường được kết hợp với lý do ngoại tình, nghi ngờ hoặc người phụ nữ đang có ý định thoát khỏi mối quan hệ. Trong một góc độ tâm lý học tiến hóa này đã được giải thích là người đàn ông cố gắng để kiểm soát sinh sản ở nữ và đảm bảo độc quyền tình dục cho chính mình bằng bạo lực hoặc đe dọa bạo lực. Sự nguy hiểm của ngoại tình tình dục, nguyên nhân dẫn đến xung đột không thể hòa giải giữa vợ chồng, có thể dẫn đến bạo lực gia đình, thậm chí giết người.
=== Sự khác biệt giới tính ===
, họ đặc biệt sợ sự phản bội tình cảm và đau khổ hơn là sự không chung thủy về mặt tình dục (sợ bị bỏ rơi). Khi có hiện tượng ghen xuất hiện người ta thường nghĩ đàn ông hay phụ nữ đều giống nhau nhưng có ý kiến cho rằng người đàn ông ghen khi bị đối tác phản bội về tình dục thì phụ nữ lại ghen và đau đớn khi chồng gian dối tình cảm.
Về diễn biến quá trình ngoại tình, thông thường quá trình ngoại tình của đàn ông thường diễn ra nhanh hơn phụ nữ, có khi chỉ vì lý do tình dục. Họ có thể ngẫu hứng rất nhanh, nếu được bên kia chấp thuận và có cơ hội. Họ sẵn sàng quan hệ tình dục không cần đắn đo. Về sinh lý, đàn ông có thể đạt khoái cảm cả với người đàn bà mà họ không yêu, thậm chí không biết tên là gì, hoặc thua kém vợ mình về nhiều phương diện, ngay cả lúc họ đang có hạnh phúc gia đình. Chính vì đặc điểm này mà người phụ nữ luôn lo lắng và ghen tuông vì họ không thể chắc chắn kiểm soát được đối tượng của mình.
Đối với những phụ nữ ngoại tình, một phần lớn nguyên nhân do tình cảm và quá trình ngoại tình của phụ nữ nói chung lâu dài hơn, nhiều công phu hò hẹn, gặp gỡ hơn, do đó có những dấu hiệu dễ bị phát hiện hơn, và khi họ đã ngoại tình với ai thì thường là họ yêu người đó, đa số phụ nữ chỉ ngoại tình khi họ không có tình yêu trong hôn nhân. Vì thế, một khi đàn bà đã ngoại tình, họ đã bị cuốn hút cả về tinh thần lẫn thể xác. Chính vì đặc điểm này, người đàn ông ghen và có cảm giác bất lực khi không thể níu kéo một mối quan hệ đang đổ vỡ không thể ngăn cản.
=== Về phía phụ nữ ===
Về cơ chế tâm lý, người phụ nữ luôn cảm thấy vui sướng và tự hào khi có được một người yêu như ý muốn, tuy nhiên, sau đó, một chút ghen tị sẽ nảy sinh. Dần dần, ghen tị đã trở thành điều không thể thiếu trong các mối quan hệ, và khi ghen tuông trở nên vô lối và không thể chấp nhận được, có những người ngày càng trở nên quá quắt thậm chí còn ghen tuông với cả những người bạn gái thân thiết hay đồng nghiệp của bạn trai mình. Điều này dẫn đến hệ quả là dần dần bị người yêu xa lánh và dẫn đến chia tay.
Khi đã có gia đình, một số phản ứng thường gặp của các bà vợ khi chồng vụng trộm là đánh ghen với tình địch, giận hờn, chì chiết, tuy nhiên họ có thể bỏ qua, tha thứ cho chồng. Phụ nữ hay ghen khi cảm thấy bạn đời hờ hững, lạnh nhạt với mình. Có những phụ nữ ghen tuông kiểu lặng thầm, đó là do họ mất đi sự tự tin vào bản thân, lo sợ mình không còn nắm giữ được trái tim của bạn đời, sợ bị bỏ rơi. Họ càng ghen khi tự mình phóng đại và suy diễn những hành động của nam giới và kết luận rằng anh ta có dấu hiệu phản bội.
Phụ nữ ghen sẽ tìm kiếm những bằng chứng và dấu vết từ người chồng như mùi nước hoa lạ, những tài liệu quên trong túi áo, túi quần, tin nhắn hoặc số điện thoại lạ… Khi phát hiện ra bằng chứng về sự phản bội, lo sợ rằng mình sẽ bị bỏ rơi, phụ nữ sẽ khóc lóc hoặc đe doạ bạn đời và thường sẽ tìm mọi cách gặp trực tiếp tình địch để giải quyết. Nói chung, phụ nữ khi ghen thì mỗi người có một kiểu ghen khác nhau, có cái ghen sáng suốt, minh mẫn, nhưng cũng có cả kiểu ghen mù quáng.
Một số dấu hiệu chứng tỏ phụ nữ ghen như:
Luôn kè kè hoặc gọi điện cho đối tượng nhiều lần trong ngày để biết đang ở đâu, làm gì, với ai. Mỗi khi đối tượng đi đâu ra khỏi nhà, phụ nữ đều muốn bám đuôi hoặc âm thầm lên kế hoạch kiểm soát. Ngoài ra họ luôn nhìn soi xét, nhìn chú ý tới từng ngóc ngách trên quần áo để phát hiện một dấu son môi hay vết bẩn bất thường.
Tức phát điên khi đối tượng nhìn người phụ nữ khác. Đây là dấu hiệu của một người phụ nữ thích sở hữu người yêu.
Không thích đối tượng của mình kết thân với những người độc thân vì tất cả những người con gái độc thân mà họ biết đều có thể là mối nguy hiểm đe dọa tình yêu của hai người.
Sẵn sàng kết tội lừa dối cho người yêu vì trong tâm trí của phụ nữ này, đối tượng luôn là người có tội cho đến khi nào nàng thu thập được hết các bằng chứng ngoại phạm.
Không ngại thể hiện hành động ghen tuông ở nơi công cộng.
Một số dấu hiệu khác của sự ghen tuông thái quá:
Bị đe doạ bằng hành vi bạo lực nếu người nam rời bỏ người yêu.
Từng hành động của đối tượng đều bị theo dõi và tra hỏi.
Mối quan hệ của đối tượng với đồng nghiệp hay người khác giới đều bị nghi ngờ là mờ ám hay lăng nhăng.
Người nam bị chỉ trích trước mặt người khác.
Mọi người quen của đối tượng đều bị nhìn với ánh mắt nghi ngờ.
Người nam bị kiểm soát ngay cả khi ở cơ quan, công ty hoặc nơi làm việc.
Luôn cảm thấy bất an và không được tự do.
Mọi hành động của đối tượng đều bị suy diễn và hiểu sai.
Người yêu của người nam trở nên quá nhạy cảm và hay chỉ trích.
Đối với người vợ trong gia đình, họ có một số dấu hiệu sau:
Giận dữ khi chồng nhìn người phụ nữ khác. Có không ít phụ nữ tức giận không chỉ khi chồng nhìn người phụ nữ khác mà còn có thể giận dữ cả việc có một cô gái xinh đẹp đi ngang qua chồng.
Không muốn chồng đi chơi với bạn bè vì họ sợ rằng khi đàn ông đàn đúm thì sẽ xuất hiện thêm những cô gái quyến rũ và vì thế họ không bao giờ muốn chồng đi chơi với bạn bè.
Bực bội với cả những hành vi hợp lý, một số người thậm chí khó chịu cả với những hành vi của chồng như đi thăm mẹ hay những người thân là phụ nữ khác như chị em gái...
Tra vấn bạn bè của chồng
Thường tình cờ và bất ngờ xuất hiện ở những nơi chồng đang ngồi với bạn bè.
Nghi ngờ chồng dan díu với các đồng nghiệp nữ. Mỗi khi chồng ở lại làm việc muộn là lập tức thấy nghi ngờ.
Tạo ra sự cố trước nơi công cộng
Không thích chồng có những người bạn độc thân.
Dằn vặt chồng mỗi ngày với những nghi ngờ của mình. Người chồng luôn phải chứng minh cho lòng chung thủy của mình mỗi ngày. Ngay cả khi những người vợ đã nhận ra là mình vô lý và xin lỗi thì ngày hôm sau họ vẫn tiếp tục trách móc và tức tối.
Tiếp tục theo dõi chồng khắp nơi.
Tuy vậy, người phụ nữ có thể dễ dàng chấp nhận tha thứ và cho người đàn ông của mình một cơ hội do họ luôn cố gắng làm cho mối quan hệ yêu đương trở nên sâu sắc bằng cách tăng mức độ gắn kết tình cảm. Người phụ nữ không quá lo ngại vì việc phản bội tình dục mà họ đặc biệt lo ngại người đàn ông của họ đang xây dựng sự gắn kết tình cảm với người phụ nữ khác.
=== Về phía đàn ông ===
Trong khi yêu, cơn ghen của người đàn ông thường là biểu hiện của sự sở hữu và tính chiếm hữu, đồng thời sự ghen tuông này cũng thường xuất phát từ việc cảm thấy không chắc chắn, không yên tâm về tình cảm của phụ nữ dành cho mình, nhất là đôi lứa khi chưa phải là vợ chồng chính thức của nhau nên đàn ông thường có tâm lý chưa thật sự tự tin vào bản thân mình và chưa tự tin vào người bạn gái của họ, điều đó dẫn đến nảy sinh từ việc mất niềm tin vào bản thân. Sự ghen tuông mù quáng của người yêu khiến đối tượng trở nên mệt mỏi, tình yêu bị đe dọa và đặc điểm chung là đàn ông khi ghen tuông dễ bạo lực mù quáng, ghen tuông quá mức dễ tạo hành động bạo lực trong nam giới, ho khó kiểm soát sự ghen tỵ của mình và sự thất vọng hay mất tin tưởng lại càng đổ thêm dầu vào lửa, một số biểu hiện như chồng thiêu chết, chém vợ chết, giết cả nhà vợ vì ghen, ném con chết vì ghen vợ, ghen rồi giết vợ vì vợ làm tiếp viên, chặt vợ thành nhiều khúc, thiêu chết vợ...
Xét về tâm lý thì người đàn ông khi thật sự yêu một ai đó hầu hết đều có thể ghen tuông một cách vô cớ, nhất là khi nửa kia của họ đang tỏ ra quan tâm đặc biệt tới một người nào khác ngoài họ, tuy nhiên họ chỉ ghen, khó chịu về nội tâm mà ít khi thực hiện các hành vi thái quá như theo dõi, đánh ghen.... giống như phụ nữ.
Khi đang yêu đương, cưa cẩm và tán tỉnh phụ nữ, đàn ông có một số dấu hiệu biểu hiện ghen là:
Nhóm dấu hiệu về thái độ khó chịu, tâm lý không vui vẻ gồm:
Tỏ vẻ khó chịu khoặc không vui khi người phụ nữ của mình đề cập hoặc nói tốt, có thể người đàn ông ghen vì ghen vì bạn tình của anh ta đã vui vẻ với người đó mà không có anh ta bên cạnh. Một số người còn nhắc đi nhắc lại về một người bạn khác giới, một số người đàn ông khác thì tỏ vẻ không vui vi người phụ nữ của mình đề cập đến một người đàn ông khác hoặc người phụ nữ của mình bị hấp dẫn bởi một người đàn ông khác.
Một số người còn tỏ thái độ khó chịu và ghét những bức ảnh của người yêu mình chụp chung với người yêu cũ, một số người thậm chí còn yêu cầu bạn của mình bỏ những tấm ảnh đó đi. Một số người khác luôn yêu cầu đối tượng của mình phải mang hình của mình, hoặc hình của hai người chụp chung cùng nhau, đây cũng là một biểu hiện của tính sở hữu.
Khi người khác khen đối tượng của mình hấp dẫn thì đàn ông thường cảm thấy buồn thay vì tự hào về điều này, một số người còn khó chịu vì cách ăn mặc của người phụ nữ của mình nếu nó có tính khêu gợi, họ sẽ cấm đoán hoặc im lặng và hậm hực.
Nhóm dấu hiệu về tâm lý sở hữu biểu hiện gồm:
Thái độ muốn sở hữu người phụ nữ anh ta đang đeo đuổi, một hình thức phổ biến nhất là điện thoại liên tục cho người phụ nữ của mình để biết thông tin, một sốn người khác thì muốn biết chi tiết tất cả mọi hoạt động của người phụ nữ, thậm chí một số người đàn ông luôn nhìn một cách có kiểm soát đối với bạn gái hoặc người mình để ý một cách công khai hoặc bất giác, liên tục nhìn vào mắt phụ nữ với cái nhìn có phần nặng nề, căng thẳng hoặc ở mức độ nhẹ hơn là luôn để mắt đến người phụ nữ của mỉnh. Dấu hiệu không muốn người phụ nữ của mình có thêm những người bạn mới.
Nhóm dấu hiệu về những hành động thất thường:
Thay đổi tâm trạng thất thường, dễ nổi cáu, nóng nảy, tức giận và trạng thái dễ bị kích động, một số người đàn ông còn vô cớ gây sự với người phụ nữ. Một số người đàn ông có hành động xa lạ chứng tỏ dấu hiệu rõ ràng của sự tự ái, bất cần với biểu hiện thường thấy là thái độ nhìn thấy bạn gái mà như không chứng tỏ lòng ghen tị lên tới đỉnh điểm.
Một số người khác tỏ ra bí ẩn và im lặng hoặc giả vờ như không quan tâm và hành xử bất thường như phớt lờ người yêu của mình, lờ đi sự hiện diện của người phụ nữ. Đây là một trong những dấu hiệu thể hiện sự bất an và ghen tuông vì sự thay đổi cảm xúc đột ngột cũng là dấu hiệu của ghen tị. Ngoài ra họ còn thường xuyên nói ngược lại với mong muốn của mình. Hoặc một số khác thì luôn tự làm tổn thương bản thân mình.
Khi đã có gia đình thì đàn ông ghen khi người khác động chạm vào người phụ nữ của họ, họ luôn mong muốn bạn đời của mình duyên dáng ở chốn đông người để họ được hãnh diện sánh vai nhưng lại rất ghen khi người phụ nữ nhận được nhiều sự quan tâm hay đùa cợt, các hành vi cợt nhã, thân mật, đụng chạm quá mức từ những người khác phái. Với bản tính hiếu thắng, họ khó có thể chấp nhận việc bạn đời chia tay mình để đến với người khác.
Người đàn ông ghen khi bị đối tác phản bội về tình dục nguyên nhân này có nguồn gốc từ thời thượng cổ, theo đó người đàn ông muốn đảm bảo đối tác phải sinh ra đứa con đích thực là giọt máu của họ, điều này trái ngược với người phụ nữ lại mong họ và con cái sẽ được một người chồng toàn tâm toàn ý với gia đình, không bị chia sẻ tình cảm bởi bất cứ ai.
Một thống kê cho thấy những nguyên nhân khiến đàn ông ghen là:
Khi có một người vợ xinh đẹp, giỏi giang khiến những ông chồng này sợ bị người khác để ý tới, sợ bị người đời so sánh…. hoặc ghen vì người vợ của mình hơn mình về nhiều mặt.
Do tính mặc cảm, thiếu tự tin vào bản thân của mình, thiếu tự tin vào quan hệ của hai người, nhất là những người đàn ông mặc cảm, có hoàn cảnh thì thường hay ghen.
Có tính trăng hoa dẫn đến quy kết xét nét người vợ.
Ghen vì vợ thích, xuất phát từ quan điểm "có yêu mới ghen".
Đàn ông khi ghen thường quan sát vẻ ngoài và thời gian biểu của người phụ nữ và mọi biểu hiện khác với thói quen thông thường đều bị tra hỏi cặn kẽ. Khi phát hiện ra bằng chứng về sự phản bội, họ đôi khi trở nên hung dữ, bạo lực, họ khống chế, chỉ trích người phụ nữ bằng đủ mọi cách nhưng một số không dễ dàng chia tay ngay lập tức.
Mặt khác, đàn ông đôi khi cũng ghen tuông không kém gì phụ nữ. Nguyên nhân xuất phát từ lòng tự ái đàn ông. Một số người căm giận vợ và đổ mọi tội lỗi lên đầu người vợ, không buông tha cho vợ mà tìm cách hạ nhục. Ngoài việc ngoại tình để trả thù một số người thậm chí còn giữ lại bằng chứng ngoại tình của vợ rồi rêu rao với mọi người, từ họ hàng, bạn bè, hàng xóm, thậm chí đến con cái. Có trường hợp cá biệt ở Việt Nam khi anh chồng phát hiện vợ ngoại tình liền chụp ảnh nhà nghỉ nơi vợ gặp gỡ người tình, rồi đóng khung, treo trên giường ngủ hai vợ chồng. Có anh chồng khi bắt quả tang vợ đã bắt tình địch trả tiền. Sau đó, anh ta để số tiền ở một chỗ dễ thấy trong nhà, mỗi khi con cái xin tiền đóng học phí hay mua món gì, anh lại bảo con lấy số tiền mẹ kiếm được để dùng.
Nhưng một diễn tiến khác, nếu vì lý do nào đó mà người đàn ông không thể hỏi thẳng vợ chuyện ngoại tình, vẫn phải xem như không biết gì thì tâm trạng họ sẽ trở nên u uất, có thể sinh nát rượu, tự hủy hoại cuộc đời mình. Cũng có người sẽ dồn hết cả tình thương yêu vào con cái, hay các con vật nuôi trong nhà. Do đặc điểm giới tính, họ không chia sẻ được nỗi đau đớn này với bạn bè. Hầu như không có đàn ông nào khóc lóc trong vòng tay bè bạn như phụ nữ thường làm, bản chất hiếu thắng của đàn ông không cho phép họ bộc lộ cho nên nỗi đau càng chất chứa trong lòng và họ cứ thầm lặng chịu đựng một mình.
=== Người đồng tính ===
Ở những người đồng tính thì cơn ghen đặc biệt hơn, những người đồng tính thường giữ chặt và ghen tuông rất dữ. Nhiều trường hợp bạo hành kinh khủng từ đó mà ra như dọa giết nếu không được yêu, dễ nổi dận do tâm lý bị dồn nén... Các chuyên gia tâm lý cho rằng, việc chịu nhiều sự o ép về tâm lý khiến cho cách hành xử của một số cặp đồng tính trở nên khác người, mức độ bạo hành cũng nặng hơn bình thường. Trong trường hợp họ có người tình vốn không phải là đồng tính, hoặc phải yêu đơn phương, sự ghen tuông thường bùng nổ mãnh liệt hơn, cách giải quyết dễ thiên về bạo lực hơn.
== Ghen tuông bệnh lý ==
Ghen có tính chất bệnh lý là một triệu chứng bệnh lý của một số bệnh khác nhau trong tâm thần học và nó được coi như là hoang tưởng với nội dung ghen tuông. Người bệnh khẳng định rằng bạn tình của mình hoặc vợ của mình không chung thủy mặc dù không có một bằng chứng nào về điều này và không thể giải thích, đả thông cho người bệnh được. Kèm theo hoang tưởng ghen tuông này người bệnh còn có nhiều rối loạn hành vi cũng như là cảm xúc đi kèm. Một bệnh lý phổ biến dẫn đến hoang tưởng ghen tuông là tình trạng loạn thần do rượu. Sử dụng rượu làm giảm khả năng tình dục của nam giới và khi sử dụng rượu lâu ngày sẽ gây biến đổi chức năng của bộ não, biến đổi sinh hóa não dẫn đến hoang tưởng ghen tuông.
=== Tác động của rượu ===
Ban đầu những ý tưởng ghen tuông chỉ có khi bệnh nhân say rượu. Về sau những ý tưởng ghen tuông này trở nên bền vững và xuất hiện cả khi bệnh nhân không uống rượu. Từ chỗ nghi ngờ dần dần khẳng định chắc chắn là vợ mình ngoại tình. Bệnh nhân rình mò, tra khảo vợ, thậm chí thuê cả người theo dõi vợ mình, bắt vợ phải nhận lỗi, phải thừa nhận là có ngoại tình mặc dù trên thực tế hoàn toàn không có như vậy.
Bệnh nhân thường khẳng định người yêu của vợ mình thường là những người quen biết, có thể là người yêu cũ của vợ. Hoang tưởng ghen tuông này còn kéo theo nhiều rối loạn khác do suy luận một cách bệnh lý của bệnh nhân như là vợ lấy tiền của mình cho người yêu, đầu độc bệnh nhân để có thể có tự do với người yêu. Mọi hành vi của bệnh nhân có thể rối loạn nghiêm trọng như là không ăn đồ ăn do vợ nấu, hoặc bắt vợ ăn trước rồi mình mới ăn...
Nói chung, Rượu là một căn nguyên dẫn đến ghen tuông bệnh lý phổ biến nhất, bên cạnh đó nó còn làm yếu chức năng tình dục và gây ra nhiều bệnh lý về gan, dạ dày... vì vậy các đấng mày râu không nên uống quá nhiều rượu dẫn đến tình trạng nghiện rượu là rất có hại cho sức khỏe nói chung là sức khỏe tâm thần nói riêng.
=== Tâm thần phân liệt ===
Một bệnh lý nữa có thể gặp hoang tưởng ghen tuông là bệnh tâm thần phân liệt dẫn đến ghen tuông hoang tưởng hay ghen bóng ghen gió. Trong bệnh này, bệnh nhân cũng có một khẳng định chắc chắn không dựa trên một cơ sở nào là vợ ngoại tình, không thể giải thích, thuyết phục bệnh nhân, hành vi của bệnh nhân bị rối loạn nghiêm trọng, thậm chí có thể tự sát vì buồn chán, thất vọng do sự ngoại tình của vợ.
Hoang tưởng ghen tuông có khi gặp trong bệnh tâm thần phân liệt. Người bệnh có thêm các triệu chứng như tự kỷ, thiếu hòa hợp, khả năng thích nghi, hòa nhập giảm sút, tan rã nhân cách (không còn sinh hoạt cư xử như người bình thường). Hoang tưởng ghen tuông còn gặp ở những người nghiện rượu, động kinh và chấn thương sọ não.
Hầu hết những bệnh nhân có hoang tưởng ghen tưông này đều không thừa nhận rằng đây là bệnh và không bao giờ chịu đi chữa bệnh, không tự giác uống thuốc. Nếu muốn chữa cho bệnh nhân thường phải cưỡng chế trong giai đoạn đầu cho đến khi bệnh nhân ý thức được tình trạng bệnh lý của mình. Tuy nhiên cũng có một số ít trường hợp hoang tưởng ghen tuông gặp ở những trường hợp rối loạn hoang tưởng dai dẳng có thể ý thức được đây là tình trạng bệnh lý và tự giác đi chữa bệnh
== Một số hình thức khác ==
Có rất nhiều loại ghen biểu hiện bởi nhiều hình thức khác nhau mà con người có thể trải nghiệm. Ghen tị có thể được nhận thấy trong hoạt động hàng ngày và các mối quan hệ xã hội, gia đình, bè bạn. Ganh tị là một cảm xúc mãnh liệt đó là liên tưởng đến sự mất mát, thua sút liên quan đến các cá nhân khác. Cảm xúc mãnh liệt này có thể được nhận thấy hoặc trong các tình huống trong gia đình, tại nơi làm việc, trong mối quan hệ tình cảm, lãng mạn và thậm chí giữa những người bạn với nhau.
Hiềm tỵ, tỵ nạnh trong gia đình:
Anh chị em ganh đua cạnh tranh, cành nanh nhau là một hình thức phổ biến của ghen tị gia đình. Ghen tị gia đình có thể ảnh hưởng đến tất cả các lứa tuổi và các thành viên khác nhau của bất cứ gia đình nào. Ghen tỵ, tỵ nạnh này có thể phát sinh từ sự thiếu quan tâm từ một thành viên cụ thể trong gia đình hoặc sự thiếu công bằng, sự thiên vị trong cách đối xử giữa những thành viên trong gia đình như: ghẻ lạnh, lạnh nhạt, ưu ái, cưng chiều có phân biệt một cách quá mức.
Ghen ghét, đố kỵ trong công việc:
Ganh tỵ tại nơi làm việc không phải là hiếm xảy ra. Mọi người có thể trải nghiệm ganh tị của một người khác trong thực tế rằng một trong những người cảm thấy như họ đang mất đi một cái gì đó hoặc một lợi thế, ưu thế cho người khác hoặc ai đó khác. Đây là loại ghen tuông thường thấy giữa các đồng nghiệp ở các vị trí công việc tương tự. Nếu một nhân viên nhận được phản hồi tích cực từ các ông chủ trong khi các nhân viên khác cảm thấy như họ xứng đáng đó, thông tin phản hồi tích cực ghen tị có thể phát sinh, đặc biệt là khi có sự nâng lương, tuyên dương, khen thưởng, đề bạt hoặc thăng chức.
Ghen tị giữa các đồng nghiệp cũng có thể phát sinh nếu các nhân viên đang làm việc cho tăng lương hoặc cố gắng để vượt qua mỗi khác cho các vị trí công việc tương tự để đạt thành tích cao hơn hay chỉ với mục đích là lập công lao với cấp trên để chứng tỏ mình và nhận được sự chú ý từ cấp trên. Một lần nữa, sự quan tâm nhận được đối với một nhân viên và không phải là khác có thể gây ra những cảm xúc mãnh liệt của ganh đua để phát triển.
Kinh nghiệm chung của ganh tỵ, đố kỵ đối với nhiều người có thể liên quan đến:
Nỗi lo sợ mất mát
Nghi ngờ hoặc tức giận về một sự phản bội trong tâm thức hay nhận thức
Tự hạ thấp lòng tự trọng và nỗi buồn mất mát
Sự thiếu chắc chắn, thiếu tự tin và sự cô đơn
Sợ mất đi một người quan trọng khác hoặc một cái gì quan trọng khác
Tâm lý không tin tưởng
Cảm giác mặc cảm tự ti
Khao khát
Sự bất bình đẳng trong hoàn cảnh
Y chí hướng tới người ghen tị thường đi kèm với cảm giác tội lỗi về những cảm xúc
Mong muốn có động lực để cải thiện hoặc phát triển
Mong muốn có phẩm chất hay sự hấp dẫn của đối thủ
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Ghen tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
bóng rugby.txt | Bóng rugby là một bộ môn thể thao đồng đội gồm hai đội thi đấu với một quả bóng hình bầu dục trên sân cỏ được chơi ở các trường học ở Anh trong suốt thế kỷ 19. Bóng bầu dục gồm hai loại là Rugby League và Rugby Union.
Trong Rugby Union, mỗi đội sẽ có 15 người, quả bóng nặng 382 - 425 gam, bằng da và sân bóng có kích thước dài 95 – 100 m và rộng 65 – 68 m. Cuối sân, có một khung thành hình chữ H cao từ 3,5 - 6,1 m, rộng 5,65 m, xà ngang cao 3 m. Mục đích của cuộc chơi là đưa bóng tới phần sân sau vạch khung thành hoặc sút bóng vào khung thành đối phương để ghi điểm. Nếu bóng được đưa đến sau vạch cầu, sẽ được tính 5 điểm và sau đó đội có thêm quyền sút bóng lọt khung thành trên xà để nhận thêm 2 điểm. Nếu đá bóng (đá trực tiếp hoặc đá phạt) bay lọt khung thành phía trên xà sẽ được tính 3 điểm.. Khác với bóng đá, các cầu thủ bóng bầu dục được dùng cả tay và chân. Nếu chuyền bóng bằng tay, cầu thủ chỉ đường chuyền về phía sau. Nếu bằng chân, cầu thủ được chuyền đi mọi hướng.
Trong Rugby League, mỗi đội có 13 người, chơi quả bóng và sân như Union. Tuy nhiên, rugby league chỉ cho phép 6 lần cầu thủ bị vật xuống để ghị điểm. Nếu sau 6 lần đội chưa thực hiện pha ghi điểm nào, bóng được chuyển bên. Ngoài ra, sút trên xà trực tiếp sẽ chỉ được 1 thay vì 3 như Union còn đá phạt sẽ được 2 điểm. Đưa banh xuống cuối sân được 4 và cơ hội 2 điểm thay vì 5 và cơ hội 2 điểm
Bóng rugby ra đời tại thành phố Rugby, Warwickshire, Anh vào năm 1823. Liên đoàn Bóng bầu dục Nghiệp dư Quốc tế (viết tắt FIRA theo tiếng Pháp Fédération Internationale de Rugby Amateur, tên tiếng Anh Association of European Rugby) được thành lập năm 1934. FIRA, giải vô địch thế giới không chính thức, được tổ chức từ 1960.
Rugby được chơi phổ biến ở nhiều nước, trong đó có: Argentina, Australia, Anh, Pháp, Ireland, New Zealand, Scotland, Nam Phi, Wales, Canada, Chile, Colombia, Fiji, Georgia, Nhật, Namibia, Bồ Đào Nha, Romania, Samoa, Tây Ban Nhan, Tonga, Hoa Kỳ và Uruguay. Phổ biến hơn là Rugby Union, được chơi ở tất cả quốc gia nêu trên. Rugby League thì ít phổ biến hơn và chủ yếu được chơi tại Australia, New Zealand cùng với Papua New Guinea.
== Lịch sử ==
Năm 1871, các câu lạc bộ ở Anh đã gặp mặt để thành lập Liên đoàn bóng Rugby (RFU). Năm 1892, sau khi trả phí chuyên nghiệp (đền bù cho các thành viên đội) được thực hiện với các câu lạc bộ để trả tiền cho các cầu thủ vì thiếu việc làm, Giải bóng Rugby hay còn gọi là Liên đoàn phía Bắc (NRFU) được thành lập.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
International Rugby Board
Rugby Data Statistics on International Rugby Union games
The RugbyRugby Guide
The RugbyRugby Guide- Rugby Lingo Page
Rugby union phrase guide
Rugby Union Rules
Virtual Library of Sport - Rugby Union |
lepanthes skeleton.txt | Lepanthes skeleton là một loài thực vật có hoa trong họ Lan. Loài này được Luer & R.Escobar mô tả khoa học đầu tiên năm 1984.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Lepanthes skeleton tại Wikimedia Commons
Dữ liệu liên quan tới Lepanthes skeleton tại Wikispecies
Vườn thực vật hoàng gia Kew; Đại học Harvard; Australian Plant Name Index (biên tập). “Lepanthes skeleton”. International Plant Names Index. Truy cập ngày 7 tháng 6 năm 2013. |
âm tiết.txt | Âm tiết là một đơn vị cấu tạo nên một sự phối hợp trong tiếng nói. Ví dụ, từ Latinh được kết hợp từ hai âm tiết: la và tinh. Một âm tiết điển được cấu tạo từ một nhân âm tiết (thông thường nhất là một nguyên âm) và giới hạn trước và sau không bắc buộc (điển hình là các phụ âm).
Một từ gồm một âm tiết (như nước trong tiếng Việt) được gọi là đơn âm tiết (những từ như vậy được gọi là từ đơn âm tiết), trong khi những từ gồm hai âm tiết trở lên (ví dụ tivi) được gọi là đa âm tiết (từ như vậy được gọi là từ đa âm tiết).
== Tham khảo ==
Bagemihl, Bruce (1991). “Syllable structure in Bella Coola”. Linguistic Inquiry 22: 589–646.
Clements, George N.; Keyser, Samuel J.. (1983). CV phonology: A generative theory of the syllable. Linguistic inquiry monographs (No. 9). Cambridge, MA: MIT Press. ISBN 0-262-53047-3 (pbk); ISBN 0-262-03098-5 (hb)
Dell, François; Elmedlaoui, Mohamed (1985). “Syllabic consonants and syllabification in Imdlawn Tashlhiyt Berber”. Journal of African Languages and Linguistics 7: 105–130. doi:10.1515/jall.1985.7.2.105.
Dell, François; Elmedlaoui, Mohamed (1988). “Syllabic consonants in Berber: Some new evidence”. Journal of African Languages and Linguistics 10: 1–17. doi:10.1515/jall.1988.10.1.1.
Ladefoged, Peter (2001). A course in phonetics (ấn bản 4). Fort Worth: Harcourt College Publishers. ISBN 0-15-507319-2.
== Liên kết ngoài ==
Online Lyric Hyphenator - Separates English text into syllables
What is a syllable? (SIL)
Do syllables have internal structure? What is their status in phonology? CUNY Phonology Forum
What is a syllabic consonant? (SIL)
What is an onset? (SIL)
What is a rime? (SIL)
Syllable (Lexicon of Linguistics)
Onset (Lexicon of Linguistics) |
chất độc da cam.txt | Chất độc da cam (viết tắt: CĐDC, tiếng Anh: Agent Orange - Tác nhân da cam) là tên gọi của một loại chất thuốc diệt cỏ và làm rụng lá cây được quân đội Hoa Kỳ sử dụng tại Việt Nam trong Chiến dịch Ranch Hand, một phần của chiến tranh hóa học của Hoa Kỳ trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam.
Chất này đã được dùng trong những năm từ 1961 đến 1971, các cơ quan y tế ở Việt Nam ước tính khoảng 400.000 người đã bị giết hoặc tàn tật, khoảng 500.000 trẻ em sinh ra bị dị dạng, dị tật bởi chất độc hóa học này. Hội Chữ Thập đỏ Việt Nam ước lượng khoảng 1 triệu nạn nhân Việt Nam đã bị tàn phế hoặc bệnh tật vì chất độc da cam.
Chất độc da cam còn làm tổn thương sức khỏe của những người lính Mỹ cũng như lính Úc, Hàn Quốc, Canada, New Zealand (quân đồng minh của Mỹ tại Việt Nam) mà có tiếp xúc với chất này, cũng như con cháu họ. Nhiều nạn nhân trong số đó đã kiện và được bồi thường.
Trong thời kỳ Chiến tranh Việt Nam, mục đích quân sự chính thức của CĐDC là làm rụng lá cây rừng để quân đội du kích Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam không còn nơi trốn tránh. CĐDC là một chất lỏng trong; tên của nó được lấy từ màu của những sọc được vẽ trên các thùng phuy dùng để vận chuyển nó. Quân đội Hoa Kỳ còn có một số mã danh khác để chỉ đến các chất được dùng trong thời kỳ này: "chất xanh" (Agent Blue, cacodylic acid), "chất trắng" (Agent White, hỗn hợp 4:1 của 2,4-D và picloram), "chất tím" (Agent Purple) và "chất hồng" (Agent Pink).
Đến năm 1971, CĐDC không còn được dùng để làm rụng lá nữa; 2,4-D vẫn còn được sử dụng để làm diệt cỏ. 2,4,5-T đã bị cấm dùng tại Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác.
== Ảnh hưởng đến con người ==
Người ta đã tìm thấy chất độc da cam có chứa chất độc dioxin, nguyên nhân của nhiều bệnh như ung thư, dị dạng và nhiều rối loạn chức năng ở cả người Việt lẫn các cựu quân nhân Hoa Kỳ.
Dioxin tích tụ chủ yếu tại các mô mỡ theo thời gian (tích lũy sinh học), vì vậy ngay cả tiếp xúc nhỏ cũng có thể đạt mức độ nguy hiểm. Trong năm 1994, EPA Hoa Kỳ báo cáo rằng dioxin là một chất gây ung thư, và lưu ý rằng các hậu quả khác (về sinh sản và phát triển tình dục, hệ thống miễn dịch) có thể gây ra một mối đe dọa lớn đối với sức khỏe con người. TCDD, là độc nhất của dibenzodioxins, được phân loại như là một chất gây ung thư nhóm 1 do Cơ quan Nghiên cứu Quốc tế về Ung thư (IARC). TCDD có chu kỳ bán rã khoảng 8 năm ở người, mặc dù ở nồng độ cao, tỷ lệ loại bỏ được tăng cường bởi sự trao đổi chất Các ảnh hưởng sức khỏe của dioxin được trung gian bởi tác động lên thụ thể tế bào, các thụ thể aryl hydrocarbon (AHR) Điều này giúp dioxin xâm nhập, phá thủng hệ thống phòng thủ của tế bào và làm biến dạng ADN. Đó là nguyên nhân tại sao dioxin gây ra quái thai ở động vật.
Các hiệu ứng khác ở người (ở các mức liều cao) có thể bao gồm:
Bất thường phát triển trong men răng của trẻ em.
Bệnh lý tại khu trung ương và ngoại vi của hệ thần kinh
Rối loạn tuyến giáp
Tổn hại cho hệ thống miễn dịch
Lạc nội mạc tử
Bệnh tiểu đường
Dioxin tích lũy trong chuỗi thức ăn trong một thời trang tương tự như các hợp chất clo khác (tích lũy sinh học). Điều này có nghĩa rằng ngay cả nồng độ nhỏ trong nước bị ô nhiễm có thể được tập trung lên một chuỗi thức ăn đến mức nguy hiểm vì chu kỳ phân hủy dài và độ tan trong nước thấp của dioxin. Không chỉ vậy, Dioxin còn có thể đi qua dây rốn hoặc tích tụ trong sữa mẹ, do đó nếu người mẹ nhiễm dioxin thì đứa con cũng sẽ bị nhiễm theo.
Bác sĩ Linda Birnbaum, Giám đốc Viện Khoa học Quốc gia Về Liên Hệ Giữa Môi trường và Sức khỏe, và là một chuyên gia hàng đầu về chất dioxin, nói: “Tôi chưa từng thấy một hệ thống hormone nào mà chất dioxin không thể phá vỡ. Nó có ảnh hưởng lan rộng trong hầu hết các chủng loài có xương sống, trong hầu hết mọi giai đoạn cơ thể phát triển".
Năm 2007, Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam vẫn ra thông cáo báo chí nói rằng "Không có tác hại sinh thái nào được ghi nhận ở động thực vật mặc dù một lượng lớn chất diệt cỏ và dioxin đã được sử dụng", và rằng "thông tin này chưa được xem xét trong các lần đánh giá trước của Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ và Viện Y học thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Quốc gia Hoa Kỳ". Tuy nhiên lưu ý rằng "các chất diệt cỏ đổ thẳng xuống đất và ngấm sâu trước khi thoái biến thì sẽ có tồn dư và vì vậy là một mối lo ngại.". Còn Cựu Đại sứ Mỹ tại VN, ông Michael Marine, vẫn cho rằng mối liên hệ giữa sự phơi nhiễm dioxin và sức khoẻ con người "vẫn chưa được chứng minh". Tuy nhiên ông đã công bố khoản tài trợ trị giá 400 nghìn USD để nghiên cứu ô nhiễm dioxin và tẩy độc tại sân bay Đà Nẵng.
=== Di chứng tới thế hệ sau ===
Dioxin sẽ gây đóng mở một số gene giải độc quan trọng của tế bào như Cyp1A, Cyp1B,... Đồng thời, một số thí nghiệm trên chuột cho thấy dioxin làm tăng nồng độ các gốc ion tự do trong tế bào. Điều này có thể là làm phá huỷ các cấu trúc tế bào, các protein quan trọng và, quan trọng hơn cả, nó có thể gây đột biến trên phân tử DNA (gene), dẫn tới các chứng bệnh liên quan là ung thư, bệnh di truyền và quái thai.
Hiện không có nghiên cứu về quái thai gây ra bởi dioxin trên cơ thể người (do việc thí nghiệm chất độc mạnh như dioxin với người là bị cấm). Tuy nhiên, khi được thí nghiệm trên động vật, có bằng chứng mạnh mẽ cho thấy Dioxin gây quái thai ở các loài gặm nhấm, bao gồm chuột hamster và lợn guinea chim, và cá
Các nghiên cứu động vật cho thấy rằng dioxin có thể ảnh hưởng đến sinh sản bằng cách làm hư hỏng tinh trùng và làm rối loạn hormon điều tiết sự phát triển của bào thai. Ở cấp độ phân tử, dioxin gây đột biến trên chuỗi nhiễm sắc thể, những đột biến này sẽ gây ảnh hưởng đến thông tin di truyền ở tế bào sinh sản (tinh trùng, trứng) do cơ chế sao chép nhân đôi và rồi sẽ truyền sang thế hệ con cháu.
Trong nghiên cứu năm 2012 của Đại học Washington trên chuột cho thấy Dioxin có thể gây dị tật suốt nhiều thế hệ. Chuột thí nghiệm được cho nhiễm 1 liều dioxin rất nhỏ (bằng 1/1000 mức gây chết), với mức rất nhỏ này thì không gây nguy hại tức thì. Nhưng tác hại lâu dài đã phát tác trên thế hệ con cháu của chúng. Cho đến tận thế hệ F3 (tức là đời chắt của những con chuột thí nghiệm ban đầu) những dị tật bẩm sinh vẫn xảy ra. Những đột biến này có lẽ là vĩnh viễn và sẽ tiếp tục truyền tới các thế hệ sau.
Trong thảm họa Sasevo (nơi 30 kg dioxin đã thoát ra môi trường), người dân đã được sơ tán ngay sau khi thảm họa xảy ra, tất cả gia súc gia cầm đã bị thiêu hủy, đất đai và nguồn nước đã được tẩy rửa để ngăn dioxin xâm nhập vào chuỗi thức ăn của con người. Do vậy, tác động của dioxin với dị tật thai nhi tại Sasevo là không có đủ cơ sở để nghiên cứu. Các nghiên cứu về vấn đề này chỉ có thể được tiến hành ở Việt Nam, nơi bị Mỹ rải 370 kg dioxin trong 8 năm chiến tranh. Người dân và binh sĩ ở đây chịu sự phơi nhiễm lâu dài, dioxin đã ngấm sâu vào mọi con đường (không khí, nguồn nước, cây trồng và thực phẩm) mà không hề có sự sơ tán hoặc tẩy độc.
Các khảo sát ở Mỹ trong thập niên 1980-1990 có những kết quả mâu thuẫn nhau (nguồn thì khẳng định dioxin gây dị tật thai nhi, nguồn thì cho rằng chưa đủ cơ sở kết luận) do mẫu khảo sát ở các cựu binh Mỹ có sự khác biệt lớn về độ phơi nhiễm dioxin. Để tìm ra kết luận chung, năm 2006, 4 nhà nghiên cứu (gồm 2 người gốc Việt) đã tiến hành tổng kết tất cả các khảo sát về tác động của dioxin tới dị tật thai nhi. Nghiên cứu sử dụng 13 khảo sát ở những cựu binh Việt Nam (những người phơi nhiễm lâu và nặng nhất) và 9 khảo sát ở cựu binh nước ngoài. Các kết luận rút ra như sau
Sự tranh cãi về mối liên quan giữa chất độc da cam (hay dioxin) và dị tật bẩm sinh là do dữ liệu của các khảo sát không phù hợp với nhau (có sự khác biệt đáng kể về thời gian, lượng phơi nhiễm của các ca nghiên cứu).
Tổng hợp số liệu từ các nghiên cứu cho thấy rằng việc tiếp xúc của cha mẹ với dioxin và chất độc da cam làm tăng nguy cơ dị tật bẩm sinh và quái thai.
Trong khi nguy cơ gia tăng quái thai hiện diện ở cả cựu binh Mỹ và cựu binh Việt Nam, các cựu binh Việt Nam có một sự gia tăng rõ rệt hơn do mức độ phơi nhiễm của họ cao hơn lính Mỹ (lính Mỹ chỉ ở Việt Nam khoảng 1 năm, ít khi đi vào rừng và họ chỉ ăn uống đồ hộp, trong khi lính Việt Nam ở trong rừng suốt nhiều năm và luôn sử dụng lương thực, nước uống lấy tại chỗ bị nhiễm dioxin).
Những ghi chép về việc chất dioxin gây quái thai cho binh lính và thường dân bị phơi nhiễm lâu dài đã được ghi lại bởi những bác sĩ đương thời:
Bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Phượng là một nhân chứng sống. Trong những năm 1960, bà đã hộ sinh cho nhiều trăm đứa trẻ khỏe mạnh ở bệnh viện Từ Dũ, nhà hộ sinh lớn nhất ở Sài Gòn. Rồi đến năm 1968, hai năm sau khi lực lượng Mỹ tăng gia trải chất diệt cỏ lên đến nhiều triệu lít, lần đầu tiên bác sĩ Phượng đã chứng kiến một hài nhi không có óc và xương sống. Trong những tháng tiếp theo, Bác sĩ Phượng liên tục đỡ ra nhiều hài nhi dị dạng, 3 hoặc 4 đứa trong một tuần lễ - những hài nhi sinh ra với những cơ quan ở ngoài thân, không có tay, không có chân, không có mắt. Vấn đề nay đã trở nên rõ ràng là, con người – đặc biệt là phụ nữ - bị nhiễm ngay chỉ một chút chất dioxin, dù chỉ là 1/1 tỷ gram, cũng có khả năng cao là sinh ra những đứa con dị tật bẩm sinh. Từ năm 1968, bác sĩ Phương bắt đầu thu thập hàng chục thai nhi và trẻ sơ sinh bị dị dạng đã chết, lưu trữ ở bệnh viện Từ Dũ trong các lọ lớn chứa chất bảo quản.
Bà Đào Thị Kiều, sinh năm 1952, nông dân ở Biên Hòa, có khu ruộng bị quân đội Mỹ trải thuốc diệt cỏ không lâu sau khi bà kết hôn. Bà có 8 đứa con thì 7 đứa bị dị tật bẩm sinh và 5 đứa đã chết yểu, chồng bà từng là nhân viên trong quân đội Sài Gòn, cũng chết năm 2004 vì ung thư
Stephen Price, nhân viên kỹ thuật tại căn cứ không quân Mỹ tại Đà Nẵng vào năm 1967, nơi Mỹ có kho chứa chất da cam, bị nhiễm dioxin cao gấp 365 lần so với ngưỡng mà Tổ chức Y tế Thế giới cho là an toàn. Ông chết năm 2008 do bệnh bạch cầu và tiểu đường, các con gái ông đều bị dị tật hệ thần kinh do tật nứt đốt sống.
Ted Hutches bị phơi nhiễm chất độc da cam ở Việt Nam vào năm 1965, khi ông làm nhiệm vụ bơm nước vào các bồn hóa chất và dùng làm nước tắm. Một năm sau khi trở về Mỹ, chân Hutches bắt đầu sưng và tê liệt. 2 con gái ông, được sinh ra vào năm 1968 và năm 1970, đều bị dị tật bẩm sinh: dị dạng hông và khớp gối, liệt chân và không có khả năng lao động. Ở tuổi 70, Ted Hutches bị viêm mô tế bào, ung thư và rối loạn thần kinh khiến chân bại liệt. Ông nộp đơn đòi bồi thường từ năm 1978, nhưng phải sau 24 năm mới được xét duyệt và nhận đền bù, nhưng 2 con ông thì không được đền bù (vì chính phủ Mỹ từ chối công nhận dioxin gây dị tật thai nhi)
Mike Ryan, một bác sĩ quân y Mỹ, sau 13 tháng ở Việt Nam đã trở về Mỹ. Con gái ông sinh năm 1971 đã chịu dị tật nghiêm trọng: tim bị hở van, hệ tiêu hóa bị mất phần dưới, thận rối loạn, cánh tay và ngón chân dị dạng... tổng cộng là 22 dị tật. Con gái Mike đã chết khi chỉ 35 tuổi. Suốt đời mình, Mike đã đấu tranh để ông và những cựu binh khác được bồi thường
Tổ chức Pro Publica (nơi hỗ trợ các cựu quân nhân Mỹ) đã ghi lại bằng video nhiều trường hợp lính Mỹ có con bị dị tật sau khi bị nhiễm chất da cam ở Việt Nam. Hiệp hội Trẻ em của Hội cựu chiến binh Việt Nam, gồm gần 4.000 thành viên là các cựu binh Mỹ đã trao đổi những câu chuyện hoặc thông báo với các bác sĩ về hàng loạt những chứng dị tật mà con họ phải gánh chịu: khiếm khuyết ống thần kinh, chân tay ngắn hoặc bị cụt, ngón tay chân dị dạng, thiếu đốt sống, rối loạn miễn dịch.... danh sách các chứng dị tật cứ ngày một dài thêm
Bác sĩ quân y Mỹ, Allen Hassan, ghi lại: "Trong suốt cuộc chiến, các báo cáo về tình trạng trẻ em bị dị dạng bẩm sinh xuất hiện trên báo chí Sài Gòn đều bị gạt bỏ vì liên quân cho rằng điều đó chỉ giúp tuyên truyền cho Cộng sản... Là một bác sĩ, tôi đã nhìn thấy hàng trăm cựu chiến binh Mỹ mắc chứng vô sinh, ung thư, tiểu đường loại 2 và nhiều vấn đề về sức khỏe khác có liên quan đến việc phơi nhiễm chất da cam tại Việt Nam. Tôi từng chứng kiến những người vợ của họ mang thai chết lưu (bào thai bị chết trong bụng mẹ), hoặc sinh con dị dạng. Vợ của một cựu chiến binh tôi từng gặp đã sinh ra một đứa con không có đầu. Tôi tin thảm họa của gia đình này là hệ quả trực tiếp vì sự phơi nhiễm của người cha với chất da cam."
Trẻ em của các cựu binh Mỹ ở Việt Nam được báo cáo đã gặp một loạt các khuyết tật bẩm sinh, kể cả bệnh khớp, rối loạn đường ruột và bàng quang, bất thường về xương, mất thính lực, các vấn đề sinh sản, rối loạn hành vi và điều kiện da bất thường. Betty Mekdeci, giám đốc điều hành của Viện nghiên cứu dị tật trẻ em Florida, nơi lưu giữ dữ liệu về thai nhi từ các cựu binh đến Việt Nam cho biết: trẻ em của các cựu chiến binh tới Việt Nam có tỷ lệ cao hơn bị mắc bệnh ung thư, các bệnh trí tuệ và rối loạn hành vi. Để chứng minh và đòi bồi thường thì sẽ đòi hỏi phải nghiên cứu toàn diện, nhưng từ lâu nay nó đã bị trì hoãn. Betty Mekdeci cho rằng: "Vấn đề này không phải là về khoa học, đó là về kinh tế và chính trị" - nếu được chứng minh dioxin gây dị tật thì khoản đền bù cho trẻ em dị tật sẽ rất lớn, nên chính phủ và các công ty hóa chất không muốn chi tiền cho những nghiên cứu như vậy
Theo tài liệu của hội cựu chiến binh Hoa Kỳ, chính phủ Mỹ chỉ công nhận chất da cam gây ra dị tật nứt đốt sống ở con của các cựu binh Mỹ, còn những người mắc các chứng dị tật khác thì chính phủ Mỹ không công nhận và không bồi thường. Theo đó, những người bị dị tật nứt đốt sống là con đẻ của cựu chiến binh Mỹ sau khi họ từng tiếp xúc với chất diệt cỏ ở Việt Nam trong khoảng thời gian từ 09/1/1962 tới 7/5/1975, hoặc gần khu phi quân sự Triều Tiên từ 1/9/1967 tới 31/8/1971, thì sẽ được nhận bồi thường của chính phủ Mỹ. Hội cựu chiến binh Hoa Kỳ vẫn đang đấu tranh để chính phủ Mỹ chịu bồi thường cho nhiều người con các cựu binh Mỹ bị mắc những chứng dị tật khác.
Theo nghiên cứu của Pro Publica dựa trên dữ liệu của Cơ quan Cựu Chiến binh Hoa Kỳ, các cựu chiến binh Mỹ từng phơi nhiễm chất da cam ở Việt Nam có tỷ lệ sinh con bị dị tật cao gấp gần 6 lần so với tỷ lệ sinh con dị tật trước chiến tranh (13,1% so với 2,8%).
Linda Schwartz, giáo sư điều dưỡng chuyên khoa tại Đại học Yale, đã khám phá ra rằng "có bằng chứng khác biệt" cho thấy những người lính Mỹ bị nhiễm chất da cam có tỷ lệ sinh con bị dị tật bẩm sinh cao hơn. Họ trình bày công trình tại hội nghị về dioxin quốc tế năm 2003, nhưng bản thảo của họ không được chấp nhận để xuất bản trên tạp chí khoa học. Schwartz cho rằng: nếu Hoa Kỳ thừa nhận rằng Chất Da cam gây ra những dị tật trên trẻ em, chính phủ Việt Nam sẽ có đầy đủ lý do để đòi bồi thường cho trẻ em Việt Nam bị tổn hại. Bà nói: "Chúng tôi đã lao phải một bức tường. Mọi người sợ rằng phía Việt Nam sẽ nộp nhiều đơn kiện khủng khiếp chống lại Hoa Kỳ".
Cho tới nay, chính phủ Mỹ và các công ty hóa chất vẫn không công nhận chất dioxin gây dị tật thai nhi với lý do là thiếu bằng chứng thực nghiệm trên người (điều mà sẽ không thể có do dioxin bị cấm thí nghiệm trên người). Chỉ có các cựu binh nữ sinh con dị tật là được bồi thường (nhưng cựu binh nữ chỉ có 10 ngàn người trong tổng số 3 triệu quân nhân Mỹ chiến đấu ở Việt Nam), các cựu binh nam sinh con dị tật thì vẫn không được bồi thường. 30 năm sau cuộc chiến, vẫn không có cuộc điều tra lớn nào với các cựu binh bị nhiễm dioxin. Paul Sutton, cựu chủ tịch của Hội Cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam, cho rằng chính phủ Mỹ muốn trì hoãn các nghiên cứu để ỉm đi chuyện này bởi chi phí đền bù sẽ rất cao, họ chỉ cần chờ tới khi tất cả các cựu binh của cuộc chiến đều đã qua đời thì sẽ chẳng còn bằng chứng để nghiên cứu nữa.
== Các vụ kiện của nạn nhân chất độc da cam ==
Ở miền Nam Việt Nam, chất độc màu da cam và các loại thuốc diệt cỏ khác bắt đầu được thử nghiệm bởi quân đội Hoa Kỳ vào năm 1961. Nåm 1961, tổng thống Mỹ John F. Kennedy đã bật đèn xanh cuộc chiến hóa học này, ban đầu được gọi là "operation Trail Dust" sau đổi thành "chiến dịch Ranch Hand".
Chất da cam được sử dụng rộng rãi với hàm lượng cao trong chiến tranh vào các năm 1967 – 1968, rồi giảm xuống và ngừng sử dụng năm 1971. Các loại hợp chất này được trộn vào dầu hỏa hoặc nhiên liệu diezen rồi rải bằng máy bay hoặc các phương tiện khác. 10% của chất này thì được dùng bằng tay, bằng xe thô sơ và thuyền ở các vùng đầm lầy, đồng bằng và vùng ngâp mặn ven biển, 90% phun bằng máy bay C-123 và máy bay trực thăng. Người Việt Nam bị phơi nhiễm hoàn toàn, họ chỉ có thể ngâm 1 miếng vải nhỏ bịt lên mũi và miệng cho đỡ bị ngất xỉu chứ không có cách nào để tẩy độc.
Theo công bố của một nhóm tác giả trên tạp chí Nature thì có thể nói chiến dịch dùng hóa chất ở Việt Nam là một cuộc chiến tranh hóa học lớn nhất thế giới [3]. Trong thời gian 10 năm đó, quân đội Mỹ và quân đội Nam Việt Nam đã rải 76,9 triệu lít hóa chất xuống rừng núi và đồng ruộng Việt Nam. Trong số này có 64% là chất độc màu da cam, 27% là chất màu trắng, 8,7% chất màu xanh và 0,6% chất màu tím.
Tổng số lượng dioxin Việt Nam hứng chịu là vào khoảng 370 kg. (Trong khi đó vụ nhiễm dioxin ở Seveso, Ý, 1976 chỉ với 30 kg dioxin thải ra môi trường mà tác hại của nó kéo dài hơn 20 năm [1]). Tổng số diện tích đất đai bị ảnh hưởng hóa chất là 2,63 triệu hécta. Có gần 5 triệu người Việt Nam sống trong 25.585 thôn ấp chịu ảnh hưởng độc chất màu da cam. Ngoài ra, hàng trăm ngàn binh lính Mỹ, Hàn Quốc, Úc đóng quân ở gần đó cũng bị nhiễm độc.
Tại Hoa Kỳ, hàm lượng dioxin ở ngưỡng cho phép là 0,0064 Picogram/1 kg cơ thể người (Picogram là đơn vị đo khối lượng rất nhỏ, chỉ bằng 1/1.000.000 gram). Trong khi đó, nếu chia bình quân thì Mỹ đã rải 900 picogram chất dioxin cho mỗi 1 kg trọng lượng cơ thể người Việt Nam.
=== Vụ kiện của cựu binh Mỹ bị nhiễm chất độc da cam ===
Năm 1968, ông Elmo R. Zumwalt Jr., bấy giờ mang hàm phó đô đốc, đến đảm nhiệm chức vụ Tư lệnh Hải quân Mỹ tại Việt Nam. Ngay lập tức, ông đã cho triển khai chiến dịch rải hóa chất làm rụng lá xuống các vùng sông nước ở Việt Nam để bảo vệ hoạt động của Hải quân Mỹ. Đúng 20 năm sau, người con trai Elmo R.Zumwalt III của ông đã qua đời vì bệnh ung thư, hậu quả của phơi nhiễm chất độc da cam thời tham chiến tại Việt Nam. Tác phẩm "Cha con tôi" dựa theo lời thuật của đô đốc Elmo Zumwalt phát hành tháng 11-1996, có đoạn viết:
“Tấn bi kịch của gia đình đô đốc Zumwalt là ở chỗ, chính người cha đã ra lệnh rải chất độc màu da cam lên các cánh rừng và các dòng sông ở vùng Nam Trung Bộ Việt Nam, nơi con trai ông làm nhiệm vụ tuần tra dọc các bờ sông. Mệnh lệnh của đô đốc không những tàn phá nhiều cánh rừng, làm ô nhiễm các dòng sông, gây đau khổ cho biết bao nhiêu người dân Việt Nam vô tội, mà còn làm cho chính con trai và cháu nội ông cũng bị nhiễm chất độc màu da cam”.
Năm 1984, từ phán quyết của quan tòa Jack Weinstein, 7 công ty hóa chất Mỹ đã phải bồi thường 180 triệu đô la cho các cựu chiến binh Mỹ nhưng các công ty này bác bỏ trách nhiệm về tác hại của chất diệt cỏ mà họ đã cung cấp cho quân đội.
Đô đốc Zumwalt, từ năm 1994 đã trở lại Việt Nam, kết hợp với Hội Cựu chiến binh Việt Nam với mong muốn làm một điều gì đó bù đắp lại mất mát cho các nạn nhân của ông. Khi được hỏi cảm nghĩ, đô đốc Zumwalt nói: “Để có thể vĩnh viễn xếp lại quá khứ một cách yên ả, tốt nhất là Chính phủ Mỹ phải có thiện chí hợp tác với Việt Nam, trả lại món nợ lớn lao mà các công ty hóa chất Mỹ đã gây ra. Nhân chứng sống chính là tôi đây. Tôi cũng có bổn phận góp phần bù đắp. Cũng thế, tại Mỹ, quan điểm của đoàn thể lớn nhất nước Mỹ là Hội Cựu binh Mỹ, là vấn đề người Mỹ mất tích (MIA) chỉ là việc của 2.000 gia đình người Mỹ, còn nạn nhân chất độc dioxin là của 3 triệu người Mỹ." Con trai ông, luật sư Jim với nhiều hoạt động yểm trợ tư vấn tố tụng quốc tế cho nhiều nhóm nạn nhân, đã giải thích: “Năm 1984, 68.000 cựu binh Mỹ, Úc và New Zealand đã phát đơn kiện 11 công ty hóa chất Mỹ, nhưng các nhà tài phiệt chiến tranh rất quỷ quyệt, đã khôn khéo dàn xếp, chịu bồi thường một ngân khoản chung là 184 triệu USD, để nguyên đơn ký vào thỏa thuận, từ đấy không còn đi kiện nữa. Việc bồi thường này không nhắc gì tới nạn nhân Việt Nam và Hàn Quốc, đó là một điều phi lý và phi nhân”.
=== Vụ kiện cựu binh Đức ===
=== Vụ kiện cựu binh Úc ===
=== Vụ kiện cựu binh Hàn Quốc ===
Ngày 25 tháng 1 năm 2006, Toà án dân sự cấp cao Seoul đã ra phán quyết buộc hai công ty hoá chất Dow Chemical tại Midland, Michigan và Monsanto tại St. Louis, Missouri phải bồi thường 62 triệu USD phí chăm sóc sức khoẻ cho 6.800 người gồm các cựu binh Hàn Quốc từng tham chiến tại Việt Nam và gia đình của họ. Đây là lần đầu tiên một toà án ở Hàn Quốc ra phán quyết có lợi cho nạn nhân chất độc hoá học da cam.
=== Vụ kiện của các nạn nhân Việt Nam ===
Ngày 31 tháng 1 năm 2004, nhóm bảo vệ quyền lợi nạn nhân CĐDC, Hội Nạn nhân Chất độc da cam/dioxin Việt Nam (The Vietnam Association of Victims of Agent Orange/Dioxin - VAVA) đã kiện hơn 30 công ty Mỹ phải bồi thường do trách nhiệm gây ra thương tích vì đã sản xuất chất hóa học này. Dow Chemical và Monsanto là hai công ty sản xuất CĐDC lớn nhất cho quân đội Hoa Kỳ đã bị nêu tên trong vụ kiện cùng các công ty khác.
Các nạn nhân tham gia kiện gồm có:
Phan Thị Phi Phi
Nguyễn Văn Quý
Dương Quỳnh Hoa (đã mất tháng 2 năm 2006)
Vào ngày 10 tháng 3 năm 2005, quan tòa Jack Weinstein (thuộc Tòa án liên bang tại quận Brooklyn) đã bác đơn kiện, quyết định rằng những đòi hỏi của đơn kiện không có cơ sở pháp luật. Quan tòa kết luận rằng CĐDC đã không được xem là một chất độc dưới luật quốc tế vào lúc Hoa Kỳ dùng nó; rằng Hoa Kỳ không bị cấm dùng nó để diệt cỏ; và những công ty sản xuất chất này không có trách nhiệm về cách sử dụng của chính quyền.
Chính phủ Hoa Kỳ, vốn có quyền miễn tố (sovereign immunity), không phải là một bị cáo trong đơn kiện. Tuy nhiên, vào năm 1984 cũng từ phiên tòa của vị quan tòa này, chính các công ty trên đã chi khoảng 180 triệu USD cho các gia đình người Mỹ là cựu chiến binh Việt Nam mặc dù không thừa nhận có hành động sai trái.
Hai mươi mục trong phán quyết của thẩm phán Jack Weinstein ngày 10 tháng 3 về vụ kiện của các nạn nhân chất độc da cam Việt Nam đối với các công ty hoá chất đã được phân tích của Mandrew Wells-Dang, đại diện Quỹ Hoà giải và Phát triển tiếng Anh (tiếng Việt phần 1, và tập 2).
Ngày 7 tháng 4 năm 2005 các nguyên đơn Việt Nam đã tiếp tục gửi đơn kháng cáo lên Tòa Phúc thẩm của Mỹ đòi lật lại quyết định của tòa sơ thẩm.
Tòa Phúc thẩm Khu vực 2 tại Manhattan bắt đầu xem xét lại vụ kiện vào tháng 6 năm 2006, ra phán quyết vào tháng 2 năm 2007 đồng ý với phán quyết của Tòa sơ thẩm và bác đơn kháng cáo của các nguyên đơn Việt Nam.
Luật sư nguyên đơn Việt Nam tiếp tục gửi đơn kháng cáo lên Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Ngày 2 tháng 3 năm 2009, Tòa án Tối cao Hoa Kỳ từ chối mở phiên tòa xem xét lại kết quả của tòa phúc thẩm.
== Khắc phục hậu quả ==
Chính phủ Hoa Kỳ hiện vẫn từ chối trách nhiệm với những nạn nhân này và cho rằng mối liên hệ giữa các khuyết tật và thuốc diệt cỏ vẫn chưa có đủ bằng chứng khoa học. Tuy nhiên vào tháng 5/2007, Quốc hội Hoa Kỳ đã phân bổ khoản ngân sách 3 triệu USD nhằm khắc phục ảnh hưởng của chất độc da cam và môi trường tại một số điểm nóng nhất và năm 2009 tăng lên 6 triệu USD .
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Hậu quả chất độc da cam tại Việt Nam
Vụ kiện hậu quả chất độc màu da cam trong Chiến tranh Việt Nam
Robert McNamara
Vũ khí hóa học
Tội ác của quân đội Mỹ
Tội ác của Quân đội Hoa Kỳ và đồng minh trong chiến tranh Việt Nam
== Liên kết ngoài ==
Vietnam Agent Orange Campaign
Justice for Victims of Agent Orange
Đánh giá tác hại của dioxin đối với sức khỏe con người, năm 1998 do WHO và IPCS (pdf)
A Culture of Life: Về vụ kiện của nạn nhân CĐDC năm 2005
Tiếng Anh
Vietnam dioxin spray estimate quadruples Nghiên cứu về lượng CĐDC đã được sử dụng trong chiến tranh Việt Nam trên tạp chí Nature.
Đánh giá tác hại của dioxin đối với sức khỏe con người, năm 1998 do WHO và IPCS (pdf)
A Culture of Life: Về vụ kiện của nạn nhân CĐDC năm 2005
Trang tổng kết về dioxin của nhóm GreenFacts
Thông tin từ hội luật sư Hoa Kỳ
Trang ghi danh ủng hộ những nạn nhân chất độc da cam
Toàn văn tuyên cáo của phiên toà 10 tháng 3 năm 2005 của chánh án Jack Weinstein
(tiếng Anh) McNamara and Agent Orange (McNamara và chất độc da cam)
Tiếng Việt
Website chatdocdacam.vn - dioxinvn.info - Website DioxinVn
Vietnam Association of Victims of Agent Orange/Dioxin - Hội nạn nhân Chất độc da cam/dioxin Việt Nam (VAVA)
Hội nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Thái Bình
Loạt bài trên BBC về CĐDC và vụ kiện của các nạn nhân Việt Nam [2], [3], [4]
www.vietnam-dioxin.org Trang thông tin về các hậu quả của CĐDC và dioxin tại Việt Nam, Lào và Campuchia
Trên các báo Việt Nam
Trang thông tin Dioxin Việt Nam |
tōhoku.txt | Vùng Tohoku (hay vùng Đông Bắc) của Nhật Bản (tiếng Nhật: 東北地方 (とうほくちほう, Tōhoku chihō, "Đông Bắc địa phương") là một trong chín vùng địa lý của nước này. Vùng này nằm ở phía Đông Bắc của đảo Honshu.
Cả vùng bao gồm sáu tỉnh là: Akita, Aomori, Fukushima, Iwate, Miyagi và Yamagata.
== Địa lý ==
Tohoku giống như hầu hết các vùng của Nhật Bản, là đồi núi. Với các dãy núi Ou chạy từ bắc xuống nam. Vị trí của nhiều vùng đất thấp của khu vực nội địa đã dẫn đến sự tập trung của phần lớn người dân ở đó. Cùng với đường bờ biển mà không thuận lợi để phát triển cảng biển.
Tohoku được coi là vựa lúa của Nhật Bản bởi vì nó cung cấp gạo và các mặt hàng nông nghiệp cho Sendai và Tokyo - Yokohama.
Tohoku cung cấp 20 % sản lượng gạo của quốc gia. Tuy nhiên khí hậu khắc nghiệt hơn so với nơi khác của đảo Honshū nên ở đây chỉ có một vụ lúa một năm.
Trong những năm 1960 thì sắt, thép, xi măng, hóa chất, bột giấy, và dầu mỏ tinh chế là ngành công nghiệp phát triển.
Trong thế kỷ 20,du lịch đã trở thành một ngành công nghiệp chính trong khu vực Tohoku.
== Tham khảo == |
chữ tạng.txt | Hệ chữ Tạng là một abugida được dùng để viết các ngôn ngữ Tạng như tiếng Tạng, cũng như tiếng Dzongkha, tiếng Sikkim, tiếng Ladakh, và đôi khi tiếng Balti. Dạng chữ Tạng in được gọi là chữ uchen trong khi dạng chữ được sử dụng trong viết tay được gọi là chữ umê.
Hệ chữ này gắn liền với văn hóa người Tạng, và hiện diện tại Tây Tạng, Bhutan, Ấn Độ, Nepal, và Pakistan. Hệ chữ Tạng có nguồn gốc từ chữ Brahmi và là tiền thân của các hệ chữ Limbu, the Lepcha, và 'Phags-pa.
== Chú thích == |
sakoku.txt | Tỏa Quốc (tiếng Nhật: 鎖国, Sakoku; Hán-Việt: Tỏa quốc, nghĩa là "khóa đất nước lại") là chính sách đối ngoại của Nhật Bản theo đó không người nước ngoài nào được vào Nhật Bản hay người Nhật được rời xứ sở; kẻ vi phạm phải chịu án tử hình. Chính sách này được Mạc phủ Tokugawa ban bố dưới thời Tokugawa Iemitsu qua một số chiếu chỉ và chính sách từ năm 1633 đến năm 1639 và vẫn còn hiệu lực cho đến năm 1853 khi phó đề đốc Hải quân Hoa Kỳ Matthew Perry đến Nhật và ép triều đình Nhật phải thông thương trước áp lực quân sự. Cho đến cuộc Minh Trị Duy tân (1868), lệnh cấm dân Nhật ra nước ngoài vẫn hiệu nghiệm.
Thuật ngữ Tỏa Quốc có nguồn gốc từ tác phẩm Tỏa Quốc Luận (鎖国論) (Sakoru-ron) của Shitsuki Tadao (志筑 忠雄) ("Chí Trúc Trung Hùng") soạn năm 1801. Shitsuki nghĩ ra từ ngữ này khi dịch tác phẩm thế kỷ 17 của nhà du hành người Đức Engelbert Kaempfer khi viết về Nhật Bản. Thuật ngữ này từ đó được dùng để chỉ chính sách kaikin (海禁), hay "hải cấm" của triều đình Nhật Bản.
Nhật Bản không hẳn biệt lập dưới chính sách Tỏa Quốc vì vẫn có ít nhiều giao lưu với các nước lân bang. Đúng ra đây là một hệ thống đối ngoại cấm đoán nghiêm ngặt áp dụng với hai ngành ngoại thương và ngoại giao (phiên).
Chính sách nói rõ rằng thế lực phương Tây duy nhất được phép là nhà máy Hà Lan (thương điếm) ở Dejima ở Nagasaki. Buôn bán với Trung Quốc cũng được thực hiện ở Nagasaki. Thêm vào đó, thương mại với nhà Triều Tiên thông qua phiên Tsushima (ngày này là một phần của tỉnh Nagasaki), với người Ainu qua phiên Matsumae ở Hokkaidō, và với Vương quốc Ryūkyū qua phiên bang Satsuma (ngày nay là tỉnh Kagoshima). Ngoài việc giao thương trực tiếp ở các tỉnh vùng biên, tất các nước này đểu thường xuyên gửi các sứ đoàn mang cống phẩm đến trung tâm của Mạc phủ tại Edo. Khi các sứ thần đi dọc Nhật Bản, thần dân Nhật có được chút ý niệm về văn hóa nước ngoài.
== Buôn bán thời Tỏa Quốc ==
Nhật Bản lúc này buôn bán với 5 thực thể khác nhau, thông qua 4 "cửa khẩu". Qua phiên Matsumae ở Hokkaido (sau này gọi là Ezo), họ buôn bán với người Ainu. Qua gia tộc đại danh Sō ở Tsushima (Đối Mã), họ có quan hệ với nhà Triều Tiên. Công ty Đông Ấn Hà Lan được cho phép buôn bán ở Nagasaki, cùng với các thương nhân Trung Quốc, những người cũng buôn bán với Vương quốc Ryukyu (Lưu Cầu), một vương triều bán độc lập trong gần hết thời kỳ Edo, và bị gia tộc Shimazu của phiên bang Satsuma kiểm soát. Tashiro Kazui đã chỉ ra rằng buôn bán giữa Nhật Bản và các thực thể này được chia làm hai loại: Nhóm A gồm Trung Quốc và Nhật Bản, "quan hệ với họ dưới sự giám sát trực tiếp của Mạc phủ ở Nagasaki" và nhóm B, đại diện là Vương quốc Triều Tiên và Vương quốc Ryukyu, "họ buôn bán với phiên Đối Mã (gia tộc Sō) và Satsuma (gia tộc Shimazu)."
Hai nhóm khác nhau này phản ánh về cơ bản kiểu buôn bán nhập khẩu và xuất khẩu. Xuất khẩu từ Nhật Bản đến Triều Tiên và Vương quốc Ryukyu, cuối cùng được mang từ những vùng đất này đến Trung Quốc. Ở quần đảo Ryukyu và Triều Tiên, các gia tộc chịu trách nhiệm buôn bán với Triều Tiên và Vương quốc Ryukyu xây dựng các thương điếm ở bên ngoài lãnh thổ Nhật Bản—nơi thương mại thực sự diễn ra. Vì cần người Nhật đi đến các thương điếm, việc buôn bán này giống như xuất khẩu, với người Nhật có quan hệ thường xuyên với thương nhân nước ngoài ở vùng đất có đặc quyền về cơ bản. Buôn bán với thương nhân Trung Quốc và Hà Lan ở Nagasaki diễn ra trên một hòn đảo gọi là Dejima, tách biệt khỏi thành phố bởi một eo biển nhỏ; người nước ngoài không thể vào nước Nhật từ Dejima, và người Nhật cũng không vào được Dejima mà không có quyền hoặc giấy phép đặc biệt.
== Thuật ngữ ==
Buôn bán thực ra phát đạt trong thời kỳ này, và mặc dù ngoại giao và thương mại bị giới hạn ở một số cảng nào đó, đất nước không hề đóng cửa. Thực tế là, khi Mạc phủ trục xuất người Bồ Đào Nha, họ đồng thời thương thảo với các đại diện người Hà Lan và Triều Tiên để đảm bảo kim ngạch thương mại nói chung không bị ảnh hưởng . Do đó, giới học giả vài thập kỷ gần đây ngày càng thường gọi chính sách đối ngoại thời kỳ này không phải Tỏa Quốc, với ý chỉ đất nước hoàn toàn biệt lập, tách biệt và đóng cửa, mà là thuật ngữ kaikin (海禁, "hải cấm") được sử dụng trong các thư tịch thời kỳ đó, và xuất phát từ định nghĩa Trung Quốc tương đương hai jin.
== Lý do cơ bản ==
Người ta nói chung thường coi rằng Mạc phủ áp đặt và thực thi chính sách Tỏa Quốc để loại bỏ thế lực tôn giáo và thực dân trước hết của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, được cho là tạo ra sự đe dọa với sự ổn định của Mạc phủ và hòa bình của quần đảo. Số lượng người cải đạo Thiên chúa giáo ngày càng tăng ở phía Nam Nhật Bản (chủ yếu là Kyūshū) được nhìn nhận như một mối đe dọa quan trọng.
Thiên hoàng rất lo ngại khi ông biết đến việc người Tây Ban Nhà và Bồ Đào Nha đã bình định Tân Thế giới như thế nào, và nghĩ rằng Nhật Bản sẽ sớm trở thành một trong các thuộc quốc của họ.
Các thương nhân người Anh và Hà Lan theo đạo Tin lành đổ thêm dầu vào lửa khi buộc tội các nhà truyền đạo người Tây Ban Nhà và Bồ Đào Nha truyền giáo một cách có hệ thống, như là một phần của chính sách cai trị về văn hóa và thực dân hóa các nước Á Châu. Số lượng người Thiên Chúa giáo ở Nhật Bản tăng nhanh vì nỗ lực của các nhà truyền giáo, ví dụ như Francis Xavier và các đại danh cải đạo. Lý do trực tiếp dẫn đến việc áp đặt chính sách Tỏa Quốc là cuộc nổi loạn Shimabara năm 1637-1638, một cuộc nổi dậy của 40.000 nông dân phần lớn theo Thiên Chúa giáo. Sau việc này, Mạc phủ buộc tội các nhà truyền đạo xúi giục cuộc nổi loạn, trục xuất họ ra khỏi đất nước, và nghiêm cấm tôn giáo này bằng án tử hình. Những người Thiên Chúa giáo Nhật Bản còn lại, phần lớn ở Nagasaki, tập hợp lại thành một cộng đồng ngầm và được gọi là Kakure Kirishitan. Tất các mối liên hệ với thế giới bên ngoài bị Mạc phủ, và các phiên có nhiệm vụ giao thương (Đối Mã, Matsumae, and Satsuma) hạn chế nghiêm ngặt. Thương nhân Hà Lan được cho phép tiếp tục buôn bán ở Nhật Bản và phải đồng ý không dính líu vào các hoạt động truyền giáo. Ngày nay, tỉ lệ người Thiên Chúa giáo trong dân số Nhật Bản (1%) vẫn ít hơn nhiều so với các nước Đông Á khác như Trung Quốc (5%), Việt Nam (7%), Hàn Quốc (gần một nửa)và Philippines (hơn 90%).
Chính sách Tỏa Quốc cũng là một cách kiểm soát thương mại giữa Nhật Bản và các quốc gia khác, cũng như khẳng định vị thế mới của Nhật trong khu vực – việc giúp Nhật Bản thoát khỏi quan hệ cống nạp đã tồn tại giữa nó và Trung Quốc qua nhiều thế kỷ trước đây. Việc chống lại Tỏa Quốc từ trong nội bộ Nhật Bản trong thế kỷ 18 không mang lại kết quả. Sau đó, chính sách Tỏa Quốc là chính sách bảo vệ chính với việc suy kiệt tài nguyên thiên nhiên Nhật Bản – ví dụ như bạc và đồng – ra thế giới bên ngoài. Tuy vậy, trong khi xuất khẩu bạc qua Nagasaki bị Mạc phủ kiểm soát cho đến khi dừng mọi hoạt động xuất khẩu, việc xuất khẩu bạc qua Triều Tiên vẫn tiếp tục với số lượng lớn.
Cách Nhật Bản bắt kịp kỹ thuật phương Tây thời kỳ này là việc nghiên cứu y học và các tài liệu khác bằng tiếng Hà Lan có được từ Dejima. Quá trình này được gọi là Lan học (Rangaku). Nó trở thành lỗi thời sau khi đất nước mở cửa và chính sách Tỏa Quốc sụp đổ. Sau đó, nhiều sinh viên Nhật Bản (ví dụ như Kikuchi Dairoku) được gửi đi học ở nước ngoài, và nhiều người nước ngoài được thuê đến Nhật Bản (xem o-yatoi gaikokujin).
Chính sách này chấm dứt với Điều ước Kanagawa để đáp lại yêu cầu của Matthew Perry.
== Chống lại bế quan tỏa cảng ==
Nhiễu nỗ lực riêng rẽ đã chấm dứt sự biệt lập của Nhật Bản được các cường quốc phương Tây thực hiện trong thế kỷ 18 và 19. Các tàu Mỹ, Nga và Pháp đều cố gắng tạo dựng mối quan hệ với Nhật Bản, nhưng bị từ chối.
Năm 1778, một thương nhân từ Yakutsk với cái tên Pavel Lebedev-Lastochkin đến Hokkaidō với một đoàn thám hiểm nhỏ. Ông đề nghị tặng quà, và yêu cầu được buôn bán một cách lịch sự, nhưng vô hiệu.
Năm 1787, Jean-François de Galaup, comte de La Pérouse dong buồm đến lãnh hải Nhật Bản. Ông đến thăm quần đảo Ryukyu và eo biển giữa Hokkaidō và Honshū, đặt nó theo tên mình.
Năm 1791, hai tàu của Mỹ do nhà thám hiểm Mỹ John Kendrick chỉ huy dừng lại 11 ngày ở đảo Kii Oshima, phía Nam bán đảo Kii. Ông là người Mỹ đầu tiên đến thăm Nhật Bản. Ông hình như đã cắm cờ Mỹ, và khẳng định chủ quyền với quần đảo nạy, mặc dù ghi chép về chuyến đi của ông ở Nhật không còn.
Từ năm 1797 đến năm 1809, vài tàu Mỹ đến buôn bán ở Nagasaki bằng cờ Hà Lan, theo yêu cầu của người Hà Lan vì họ không gửi được tàu của mình vì giao tranh với Anh trong Chiến tranh Napleon :
Năm 1797 Thuyền trưởng Mỹ William Robert Stewart, được người Hà Lan ủy nhiệm từ Batavia, đưa con tàu Eliza of New York đến Nagasaki, Japan, với hàng hóa của Hà Lan.
Năm 1803, William Robert Stewart trở lại trên con tàu "Hoàng đế Nhật Bản" (chiếc "Eliza of New York" bị đánh cắp và đổi tên), tiến vào cảng Nagasaki và cố gắng vô ích trong việc buôn bán qua người Hà Lan ở Dejima.
Một thuyền trưởng người Mỹ khác, John Derby của Salem, cũng không mở cửa Nhật Bản để buôn bán thuốc phiện được.
Năm 1804, một công sứ Nga tên là Nikolai Rezanov, đến Nagasaki, to yêu cầu trao đổi thương mại. Mạc phủ từ chối lời yêu cầu, và người Nga tấn công Sakhalin và quần đảo Kurol trong 3 năm sau đó, thúc đẩy việc Mạc phủ xây dựng tuyến phòng thủ ở Ezo.
Năm 1808, tàu khu trục nhỏ Anh HMS Phaeton, đột kích tàu Hà Lan ở Thái Bình Dương, đến Nagasaki dưới cờ Hà Lan, yêu cầu và nhận được tiếp viện nhờ đe dọa vũ lực.
Năm 1811, Đại úy Hải quân Nga Vasily Golovnin đặt chân lên đảo Kunashiri, và bị Mạc phủ bắt giữ và bị giam 2 năm.
Năm 1825, theo đề xuất của Takahashi Kageyasu, Mạc phủ ban hành "Lệnh đuổi các thuyền nước ngoài" (Ikokusen uchiharairei, còn được gọi là "Ninen nashi", hay luật "Không suy tính"), ra lệnh cho chính quyền dọc bờ biển bắt giữ hoặc giết người nước ngoài đặt chân lên bờ biển.
Năm 1830, quần đảo Boninư, được Nhật Bản tuyên bố chủ quyền nhưng không có người ở, được người Mỹ Nathaniel Savory đến nghỉ chân, người đặt chân lên đảo Chichijima và thành lập thuộc địa đầu tiên ở đó.
Năm 1837, một thương gia Mỹ từ Quảng Châu, tên là Charles W. King thấy một cơ hội mở cửa buôn bán bằng cách cố đưa về Nhật Bản 2 thủy thủ Nhật (trong số họ có Otokichi), những người đã bị đắm tàu vài năm trước đó và dạt vào bờ biển Oregon. Ông đến thủy đạo Uraga bằng tàu Morrison, một tàu buôn Mỹ không vũ trang. Con tàu bị bắn vài lần, và cuối cùng, không thể dong buồm trở về.
Năm 1842, sau tin Trung Quốc thất trận trong Chiến tranh Nha phiến và sự chỉ trích ở trong nước sau sự kiện Morisson, Bakufu trả lởi thuận ý các yêu cầu của nước ngoài về quyền được tiếp tế ở Nhật Bản bằng cách đình chỉ lệnh xử tử người nước ngoài và áp dụng "Lệnh tiếp tế gỗ và nước" (Shinsui kyuyorei).
Năm 1844, một hải đoàn của Pháp của thuyền trưởng Fornier-Duplan đến Okinawa ngày 28 tháng 4 năm 1844. Thương mại bị từ chối, nhưng Cha Forcade bị bỏ lại cùng một người phiên dịch.
Năm 1845, tàu săn cá voi Manhattan (1843) cứu thoát 22 thủy thủ Nhật Bản bị đắm tàu. Thuyền trưởng Mercator Cooper được cho phép vào cảng Edo, ông ở lại 4 ngày và gặp Thủ hộ Edo và vài quan lớn đại diện cho Thiên hoàng. Họ được tặng vài món quà và được ra đi không bị làm phiền, nhưng được nói rằng không bao giờ được trở lại.
Ngày 20 tháng 7 năm 1846, Trung tá Hải quân James Biddle, được chính phủ Mỹ cử đi mở cửa thương mại, thả neo ở vịnh Tokyo với 2 tàu, bao gồm 1 tàu chiến tranh bị 72 canon, nhưng yêu cầu một hiệp định thương mại vẫn không thành công.
Ngày 24 tháng 7 năm 1846, Đô đốc Pháp Cécille đến Nagasaki, những thất bại trong đàm phán và bị từ chối đổ bộ. Ông đi cùng với hai cha xứ đã học tiếng Nhật ở Okinawa: cha Forcade và cha Ko.
Năm 1848, Người nửa Scotland-nửa Chinook Ranald MacDonald giả vờ bị đắm tàu ở đảo Rishiri để vào được Nhật Bản. Ông được gửi đến Nagasaki, ông ở lại đó 10 tháng và trở thành thầy giáo tiếng Anh đầu tiên ở Nhật Bản. Khi ông trở về Mỹ, MacDonald viết một bản tuyên bố gửi đến Quốc hôi Hoa Kỳ, nói rằng xã hội Nhật Bản có trật tự tốt, và người Nhật ứng xử tốt và có trình độ cao.
Năm 1848, thuyền trưởng James Glynn đến Nagasaki, cuối cùng cũng dẫn đến việc thương thảo thành công đầu tiên một người Mỹ với "đất nước đóng cửa" Nhật Bản. James Glynn đề xuất với Quốc hội Hoa Kỳ rằng đàm phán để mở cửa Nhật Bản nên được hỗ trợ bằng phô trương sức mạnh, do đó dọn đường cho cuộc viễn chinh của Perry.
Năm 1849, Tàu HMS Mariner của Hải quân Hoàng gia Anh tiến vào cảng Uraga để tiến hành đo đạc về địa hình. Trên tàu là người sống sót sau vụ đắm tàu Otokichi, với vai trò thông dịch. Để tránh phiền nhiễu với chính quyền Nhât, ông cải trang làm người Trung Quốc, và nói rằng ông đã học tiếng Nhật từ cha mình, phịa ra rằng ông là một thương nhân đã làm việc ở Nagasaki.
Năm 1853, sứ đoàn Nga của Yevfimy Putyatin đến Nagasaki (12 tháng 8 1853). Sứ đoàn giới thiệu động cơ hơi nước, dẫn đến nỗ lực đầu tiên được ghi lại để sản xuất động cơ hoi nước ở Nhật Bản, của Hisashige Tanaka năm 1853.
Những nỗ lực bất thành này tiếp tục, cho đến khi, vào ngày 8 tháng 7 năm 1853, Phó đề đốc Matthew Perry của Hải quân Hoa Kỳ với 4 tàu chiến: Mississippi, Plymouth, Saratoga, và Susquehanna tiến vào cảng Edo (Tokyo) và thể hiện sức mạnh đầy hăm dọa từ các con tàu của ông từ súng Paixhans. Ông yêu cầu Nhật Bản mở cửa thông thương với phương Tây. Những con tàu này được gọi là kurofune, hay "hắc thuyền".
== Chấm dứt bế quan tỏa cảng ==
Năm sau đó, Hiệp ước Kanagawa (31 tháng 3 năm 1854), Perry trở về với 7 con tàu và ép Shogun ký "Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị", thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức giữa Nhật Bản và Hoa Kỳ.
Từ năm 1852 đến năm 1855, Đô đốc Yevfimy Putyatin của Hải quân Nga đã có vài cố gắng để giành được các điều khoản buôn bán thuận lợi với nước Nga từ Shogun. Tháng 6 năm 1853, ông mang đến vịnh Nagasaki bức thư từ Bộ trưởng Ngoại giao Karl Nesselrode và giới thiệu với Hisashige Tanaka một máy hơi nước, có lẽ là chiếc đầu tiên được thấy ở Nhật Bản. Nỗ lực của ông cao nhất là Điều ước Shimoda tháng 2 năm 1855.
Trong vòng 5 năm, Nhật Bản ký các điều ước tương tự với các nước phương Tây khác. Điều ước Harris ký với Hoa Kỳ ngày 29 tháng 7 năm 1858. Những "Điều ước thời Ansei" được đông đảo giới trí thức Nhật Bản coi là bất bình đẳng, đã bị áp đặt vào Nhật Bản bằng con đường ngoại giao tàu chiến, và là một dấu hiệu của tham vọng của phương Tây sáp nhập Nhật Bản như đã làm với phần lớn lục địa. Trong các giới hạn, họ cho phép các nước phương Tây kiểm soát một cách lập lờ thuế quan nhập khẩu và đặc quyền ngoại giao với mọi người nước ngoài. Chúng sẽ vẫn là điểm mấu chốt trong quan hệ của Nhật Bản với phương Tây cho đến đầu thế kỷ 20.
=== Sứ đoàn đến phương Tây ===
Vài phái bộ được Mạc phủ gửi ra nước ngoài, để học tập nền văn mình phương Tây, đàm phán lại các điều ước, và hoãn việc mở cửa các thành phố và bến cảng cho ngoại thương.
Một phái bộ Nhật Bản đến Hoa Kỳ được cử đi năm 1860, trên tàu Kanrin Maru. Một phái bộ đến châu Âu được cử đi năm 1862, và một phái bộ thứ hai đến châu Âu năm 1863. Nhật Bản cũng cử một đại diện và tham dự Hội chợ Thế giới 1867 ở Paris.
Các phái bộ khác, riêng biệt với các phái bộ do cả Mạc phủ lẫn đích thân Thiên hoàng Hiếu Minh cử sang châu Âu, ví dụ như Chōshū ngũ kiệt của phiên Choshu sang Luân Đôn, và các phái bộ của phiên Satsuma.
== Tham khảo ==
Hall, John Wesley. (1955) Tanuma Okitsugu: Foreruner of Modern Japan. Cambridge: Harvard University Press.
== Liên kết ngoài ==
Numismatist in Commodore Perry's fleet (1853-54) |
2006.txt | 2006 (số La Mã: MMVI) là một năm thường bắt đầu vào chủ nhật trong lịch Gregory. Nó cùng lúc với những năm 5766–5767 trong lịch Do Thái, 5107–5108 (Pārthiva và Vyaya) trong lịch Ấn Độ giáo, 1426–1427 trong lịch Hồi giáo, 1384–1385 trong lịch Ba Tư, 4702–4703 (Bính Tuất) trong lịch Trung Hoa, 2549 trong âm lịch Thái, và 2759 a.u.c.
Nó được chỉ định là:
Năm Sa mạc và Sa mạc hóa quốc tế
Năm Rembrandt, kỷ niệm sinh nhật thứ 400 của họa sĩ Hà Lan Rembrandt Harmenszoon van Rijn
Năm Mozart, kỷ niệm sinh nhật thứ 250 của nhà soạn nhạc Áo Wolfgang Amadeus Mozart
Năm Tesla, kỷ niệm sinh nhật thứ 150 của nhà kỹ thuật điện Nikola Tesla
Năm Asperger quốc tế, kỷ niệm sinh nhật thứ 100 của bác sĩ Hans Asperger, người nhận ra Chứng Asperger
Năm đi Du học (do nghị quyết của Thượng Nghị viện Hoa Kỳ)
Năm Bảo Bình, người chở nước trong chiêm tinh phương Tây
== Sự kiện ==
Tháng 1
20 tháng 1: Tổ chức Cúp bóng đá châu Phi 2006 tại Ai Cập.
Tháng 2
Ủy ban Hành động Hồi giáo (MAC) được thành lập.
Tháng 3
10 tháng 3: Tổ chức giải vô địch điền kinh trong nhà thế giới 2006 tại Moskva (Nga).
Tháng 5
2 tháng 5: Tổ chức Giải vô địch bóng đá trong nhà Đông Nam Á 2006 tại Băng Cốc (Thái Lan).
Tháng 6
9 tháng 6: Tổ chức Cúp bóng đá Thế giới năm 2006 tại Đức.
Tháng 11
4 tháng 11: Tổ chức Giải vô địch bi-a 9 bi thế giới 2006 tại Manila (Philippines).
18 tháng 11 đến 20 tháng 11: Hội nghị lãnh đạo kinh tế APEC diễn ra tại Hà Nội.
Tháng 12
1 tháng 12: ASIAD 2006 được tổ chức tại Doha (Qatar).
10 tháng 12: Tổ chức Giải vô địch bóng đá thế giới các câu lạc bộ 2006 tại Nhật.
30 tháng 12: Tổng thống Iraq Saddam Hussein bị treo cổ tại Baghdad.
== Sinh ==
6 tháng 9 - Hoàng tử Hisahito, đứng thứ 3 trong danh sách kế vị ngai vàng Nhật Bản.
== Mất ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1 – Harry Magdoff, nhà kinh tế học Mỹ (sinh 1913)
4 tháng 1 – Irving Layton, thi sĩ Canada, tác giả (sinh 1912)
4 tháng 1 – Jacques Charby, diễn viên Pháp (sinh 1920)
5 tháng 1 – Lord Merlyn Rees, chính trị gia Anh (sinh 1920)
7 tháng 1 – Gabor Zavadszky, cầu thủ bóng đá Hungary (sinh 1974)
7 tháng 1 – Urano Teixeira da Matta Bacellar, tướng Brasil (sinh 1948)
8 tháng 1 – Tony Banks, chính trị gia Anh (sinh 1943)
8 tháng 1 – Manfred Bofinger, nghệ sĩ tạo hình Đức, họa sĩ biếm họa (sinh 1941)
8 tháng 1 – Elson Becerra, cầu thủ bóng đá (sinh 1978)
9 tháng 1 – Andy Caldecott, người đua mô tô Úc (sinh 1964)
9 tháng 1 – Mimmo Rotella, nghệ nhân Ý (sinh 1918)
11 tháng 1 – Eric Namesnik, vận động viên bơi lội Mỹ (sinh 1970)
12 tháng 1 – Brendan Cauldwell, diễn viên Ireland (sinh 1922)
12 tháng 1 – Günther Landgraf, nhà vật lý học Đức (sinh 1928)
12 tháng 1 – Udo Thomer, diễn viên Đức (sinh 1945)
12 tháng 1 – Meinrad Schütter, nhà soạn nhạc Thụy Sĩ (sinh 1910)
14 tháng 1 – Shelley Winters, nữ diễn viên Mỹ, Giải Oscar (sinh 1920)
14 tháng 1 – Jacques Faizant, họa sĩ biếm họa Pháp (sinh 1918)
14 tháng 1 – Henri Colpi, đạo diễn Thụy Sĩ (sinh 1921)
14 tháng 1 – Rolf von der Laage, nhà báo Đức (sinh 1932)
18 tháng 1 – Jan Twardowski, nhà thơ trữ tình Ba Lan (sinh 1915)
19 tháng 1 – Franz Seitz, đạo diễn phim Đức, nhà sản xuất, tác giả kịch bản (sinh 1921)
19 tháng 1 – Wilson Pickett, ca sĩ nhạc soul Mỹ (sinh 1941)
20 tháng 1 – Pio Taofinu'u, Hồng y Giáo chủ (sinh 1923)
20 tháng 1 – Anthony Franciosa, diễn viên Mỹ (sinh 1928)
21 tháng 1 – Ibrahim Rugova, tổng thống của Kosovo (sinh 1944)
21 tháng 1 – Karlheinz Liefers, đạo diễn phim Đức (sinh 1941)
22 tháng 1 – Gerhard Funke, triết gia Đức (sinh 1914)
22 tháng 1 – Thomas Christian David, nhà soạn nhạc Áo (sinh 1925)
23 tháng 1 – Josef-Severin Ahlmann, nhà phát minh Đức, doanh nhân (sinh 1924)
24 tháng 1 – Chris Penn, diễn viên Mỹ (sinh 1965)
24 tháng 1 – Nicholas Shackleton, nhà khoa học Anh (sinh 1937)
27 tháng 1 – Johannes Rau, chính trị gia Đức, tổng thống Cộng hòa Liên bang Đức 1999–2004 (sinh 1931)
29 tháng 1 – Nam June Paik, nghệ nhân Hàn Quốc (sinh 1932)
30 tháng 1 – Wendy Wasserstein, nữ soạn kịch Mỹ (sinh 1950)
30 tháng 1 – Feng Xiliang, nhà báo Trung Hoa (sinh 1920)
30 tháng 1 – Otto Lang, nhà sản xuất phim Mỹ (sinh 1908)
31 tháng 1 – Moira Shearer, nữ diễn viên Anh, nữ nghệ sĩ múa (sinh 1926)
=== Tháng 2 ===
1 tháng 2 – Jean-Philippe Maitre, chính trị gia Thụy Sĩ (sinh 1949)
1 tháng 2 – Otto Wiesner, nhà văn Đức (sinh 1910)
3 tháng 2 – Romano Mussolini, nhạc sĩ jazz Ý, họa sĩ (sinh 1927)
3 tháng 2 – Tilo Medek, nhà soạn nhạc Đức (sinh 1940)
3 tháng 2 – Reinhart Koselleck, nhà sử học Đức (sinh 1923)
3 tháng 2 – Al Lewis, diễn viên Mỹ (sinh 1910)
4 tháng 2 – Marquard Bohm, diễn viên Đức (sinh 1941)
4 tháng 2 – Betty Friedan, nhà văn nữ Mỹ (sinh 1921)
4 tháng 2 – Ulrich Klöti, nhà chính trị học Thụy Sĩ (sinh 1943)
4 tháng 2 – Hellmut Kalbitzer, chính trị gia Đức (sinh 1913)
6 tháng 2 – Karin Struck, nhà văn nữ Đức (sinh 1947)
8 tháng 2 – Akira Ifukube, nhạc sĩ Nhật Bản (sinh 1914)
8 tháng 2 – Larry Black, vận động viên điền kinh Mỹ (sinh 1951)
9 tháng 2 – Freddie Laker, doanh nhân Anh (sinh 1922)
9 tháng 2 – Ron Greenwood, huấn luyện viên bóng đá Anh (sinh 1921)
9 tháng 2 – Ibolya Csák, nữ vận động viên điền kinh Hungary (sinh 1915)
10 tháng 2 – Phil Brown, diễn viên Mỹ (sinh 1916)
10 tháng 2 – Dionis Bubani, nhà văn Albania (sinh 1926)
11 tháng 2 – Ken Fletcher, vận động viên quần vợt Úc (sinh 1940)
11 tháng 2 – Peter Benchley, tác giả Mỹ (sinh 1940)
12 tháng 2 – Otto Paetz, họa sĩ Đức, nghệ sĩ tạo hình (sinh 1914)
12 tháng 2 – Rudi Geil, chính trị gia Đức (sinh 1937)
12 tháng 2 – Wolfgang Mittmann, tác giả Đức (sinh 1939)
13 tháng 2 – Charles Ortega, họa sĩ Pháp (sinh 1925)
13 tháng 2 – Andreas Katsulas, diễn viên Mỹ (sinh 1946)
15 tháng 2 – Andrei Petrow, nhà soạn nhạc Nga (sinh 1930)
17 tháng 2 – Jorge Pinto Mendonça, cầu thủ bóng đá Brasil (sinh 1954)
17 tháng 2 – William Cowsill, nam ca sĩ Mỹ (sinh 1948)
18 tháng 2 – Richard Bright, diễn viên Mỹ (sinh 1937)
18 tháng 2 – Hans Heinz Hahnl, nhà văn Áo (sinh 1923)
19 tháng 2 – Otto Kery, đạo diễn phim Áo, diễn viên (sinh 1923)
20 tháng 2 – Luca Coscioni, chính trị gia Ý (sinh 1967)
21 tháng 2 – Paul Casimir Marcinkus, tổng giám mục Mỹ (sinh 1922)
21 tháng 2 – Gennadi Ajgi, nhà văn Nga (sinh 1934)
22 tháng 2 – Angelica Adelstein-Rozeanu, nữ vận động viên thể thao Romania (sinh 1921)
22 tháng 2 – Hilde Domin, nhà văn nữ Đức (sinh 1909)
23 tháng 2 – Telmo Zarraonandia, (Zarra), cầu thủ bóng đá Tây Ban Nha (sinh 1921)
23 tháng 2 – Frederick Busch, nhà văn Mỹ (sinh 1941)
23 tháng 2 – Benno Besson, diễn viên Thụy Sĩ, đạo diễn phim (sinh 1922)
24 tháng 2 – Don Knotts, diễn viên Mỹ (sinh 1924)
25 tháng 2 – Darren McGavin, diễn viên Mỹ (sinh 1922)
25 tháng 2 – Robert Royston Amos Coombs, nhà nghiên cứu miễn dịch Anh (sinh 1921)
27 tháng 2 – Octavia E. Butler, nhà văn nữ Mỹ (sinh 1947)
27 tháng 2 – Ferenc Bene, cầu thủ bóng đá Hungary (sinh 1944)
28 tháng 2 – Arno Wallaard, tay đua xe đạp Hà Lan (sinh 1979)
28 tháng 2 – Owen Chamberlain, nhà vật lý học Mỹ (sinh 1920)
=== Tháng 3 ===
1 tháng 3 – Jack Wild, diễn viên Anh (sinh 1952)
1 tháng 3 – Peter Osgood, cầu thủ bóng đá Anh (sinh 1947)
2 tháng 3 – Leopold Gratz, chính trị gia Áo (sinh 1929)
6 tháng 3 – Dana Reeve, nữ diễn viên Mỹ (sinh 1961)
10 tháng 3 – Anna Moffo, nữ ca sĩ opera Mỹ (sinh 1932)
11 tháng 3 – Slobodan Milošević, chính trị gia (sinh 1941)
14 tháng 3 – Eugen Oker, nhà văn Đức (sinh 1919)
17 tháng 3 – Ray Meyer, huấn luyện viên bóng rổ Mỹ (sinh 1913)
18 tháng 3 - Dan Gibson, nhiếp ảnh gia, nhà điện ảnh và nhà ghi âm Canada (sinh 1922)
21 tháng 3 – Bernard Lacoste, nhà thiết kế y phục thời trang Pháp (sinh 1931)
25 tháng 3 – Tom Toelle, đạo diễn phim Đức (sinh 1931)
27 tháng 3 – Paul Dana, đua xe Mỹ (sinh 1975)
27 tháng 3 – Stanisław Lem, nhà văn khoa học giả tưởng Ba Lan (sinh 1921)
28 tháng 3 – Wilfried Baasner, diễn viên Đức (sinh 1940)
=== Tháng 4 ===
12 tháng 4 – William Sloane Coffin, nhà thần học Mỹ (sinh 1924)
12 tháng 4 – Christiane Maybach, nữ diễn viên Đức (sinh 1932)
15 tháng 4 – Schnuckenack Reinhardt, nhà soạn nhạc (sinh 1921)
20 tháng 4 – Albert Scott Crossfield, phi công lái máy bay thử nghiệm Mỹ (sinh 1921)
20 tháng 4 – Maurice de Gandillac, triết gia Pháp (sinh 1906)
20 tháng 4 – Wolfgang Unzicker, người đánh cờ Đức (sinh 1925)
27 tháng 4 – Branko Sbutega, linh mục Công giáo (sinh 1952)
29 tháng 4 – John Kenneth Galbraith, nhà kinh tế học, tác giả, nhà ngoại giao (sinh 1908)
30 tháng 4 – Corinne Rey-Bellet, nữ vận động viên chạy ski Thụy Sĩ (sinh 1972)
25 tháng 4 – Ho Viet Trung, triết gia Viet Nam (sinh 1985)
=== Tháng 5 ===
3 tháng 5 – Karel Appel, họa sĩ Hà Lan (sinh 1921)
3 tháng 5 – Wolfgang Schwenke, nhà động vật học Đức, nhà lâm học (sinh 1921)
5 tháng 5 – Franz-Josef Steffens, diễn viên Đức (sinh 1924)
14 tháng 5 – Stanley Kunitz, nhà thơ trữ tình Mỹ (sinh 1905)
14 tháng 5 – Günther Nenning, nhà báo Áo, tác giả (sinh 1921)
15 tháng 5 – Eberhard Esche, diễn viên Đức (sinh 1933)
15 tháng 5 – Klaus Dahlen, diễn viên Đức (sinh 1938)
17 tháng 5 – Eva-Maria Bauer, nữ diễn viên Đức (sinh 1923)
22 tháng 5 – Balduin Baas, diễn viên Đức (sinh 1922)
22 tháng 5 - Lee Jong-wook, người Hàn Quốc, Tổng giám đốc Tổ chức Y tế thế giới (sinh năm 1945)
23 tháng 5 – Kazimierz Górski, cầu thủ bóng đá Ba Lan, huấn luyện viên (sinh 1921)
25 tháng 5 – Otto Matthäus Zykan, nhà soạn nhạc Áo (sinh 1935)
=== Tháng 6 ===
8 tháng 6 – Mykola Kolessa, nhà soạn nhạc, người điều khiển dàn nhạc (sinh 1903)
9 tháng 6 – Drafi Deutscher, nhà sản xuất, nhà soạn nhạc Đức (sinh 1946)
10 tháng 6 – Hubertus Czernin, nhà báo Áo, nhà xuất bản (sinh 1956)
12 tháng 6 – György Ligeti, nhà soạn nhạc (sinh 1923)
14 tháng 6 – Jean Roba, họa sĩ vẽ tranh cho truyện comic Bỉ (sinh 1930)
18 tháng 6 – Markus Zimmer, nhạc sĩ Đức, nam ca sĩ (sinh 1964)
30 tháng 6 – Robert Gernhardt, họa sĩ Đức, nhà thơ trữ tình (sinh 1937)
=== Tháng 7 ===
1 tháng 7 – Chu Huy Mân Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam (sinh năm 1913)
7 tháng 7 – Syd Barrett, nhạc sĩ nhạc pop Anh (Pink Floyd]])(sinh 1946)
8 tháng 7 – June Allyson, nữ diễn viên Mỹ (sinh 1917)
10 tháng 7 - Shamil Basayev, thủ lĩnh quân chống đối chính phủ Chechnya (sinh năm 1965)
10 tháng 7 – Fred Wander, nhà văn Áo (sinh 1917)
17 tháng 7 – Elfriede Kuzmany, nữ diễn viên Áo (sinh 1915)
20 tháng 7 – Charles Bettelheim, nhà kinh tế học Pháp (sinh 1913)
20 tháng 7 – Philipp von Bismarck, chính trị gia Đức
21 tháng 7 - Ta Mok, thủ lĩnh quân đội Khơme Đỏ (sinh năm 1926)
21 tháng 7 – Makoto Iwamatsu, diễn viên Nhật Bản (sinh 1933)
25 tháng 7 – Karin Hübner, nữ diễn viên Đức (sinh 1936)
26 tháng 7 – Vojtech Zamarovský, nhà sử học Slovakia, nhà văn, dịch giả (sinh 1919)
27 tháng 7 – Elisabeth Volkmann, nữ diễn viên Đức (sinh 1936)
28 tháng 7 – Rut Brandt, vợ thứ nhì của thủ tướng Đức Willy Brandt (sinh 1920)
=== Tháng 8 ===
2 tháng 8 – Holger Börner, chính trị gia Đức, thủ tướng bang Hessen (sinh 1931)
3 tháng 8 – Arthur Lee, nam ca sĩ của ban nhạc rock Love (sinh 1945)
5 tháng 8 – Daniel Schmid, đạo diễn phim Thụy Sĩ (sinh 1941)
5 tháng 8 – Hugo Schiltz, chính trị gia Bỉ (sinh 1927)
9 tháng 8 – James van Allen, nhà vật lý học Mỹ (sinh 1914)
9 tháng 8 – Jenny Gröllmann, nữ diễn viên Đức (sinh 1947)
10 tháng 8 – Yasuo Takei, doanh nhân Nhật Bản (sinh 1930)
10 tháng 8 – Irving São Paulo, diễn viên Brasil (sinh 1964)
13 tháng 8 – Payao Poontarat, võ sĩ quyền Anh người Thái Lan (sinh 1957)
14 tháng 8 – Bruno Kirby, diễn viên Mỹ (sinh 1949)
14 tháng 8 – John Jahr junior, nhà xuất bản Đức (sinh 1933)
16 tháng 8 – Alfredo Stroessner, tổng thống của Paraguay (sinh 1912)
21 tháng 8 – Klaus Höhne, diễn viên Đức (sinh 1927)
24 tháng 8 – Herbert Hupka, nhà báo Đức, chính trị gia (sinh 1915)
24 tháng 8 – John Weinzweig, nhà soạn nhạc Canada (sinh 1913)
26 tháng 8 – Rainer Barzel, chính trị gia Đức (sinh 1924)
30 tháng 8 – Glenn Ford, diễn viên Mỹ (sinh 1916)
=== Tháng 9 ===
2 tháng 9 – Bob Mathias, vận động viên điền kinh Mỹ, huy chương Thế Vận Hội (sinh 1930)
3 tháng 9 – Annemarie Wendl, nữ diễn viên Đức (sinh 1914)
4 tháng 9 – Giacinto Facchetti, cầu thủ bóng đá Ý (sinh 1942)
4 tháng 9 – Steve Irwin ("Kẻ săn cá sấu"), nhà nghiên cứu tự nhiên người Úc (sinh 1962)
9 tháng 9 - Matt Gadsby, cầu thủ bóng đá Anh (sinh 1979)
9 tháng 10 - Paul Hunter, vận động viên snooker người Anh (sinh năm 1978)
11 tháng 9 – Joachim C. Fest, nhà sử học Đức, nhà báo, tác giả (sinh 1926)
12 tháng 9 – Leo Navratil, bác sĩ tâm thần Áo (sinh 1921)
17 tháng 9 – Patricia Kennedy-Lawford, chị em của John F. Kennedy (sinh 1924)
20 tháng 9 – Don Walser, nhạc sĩ country Mỹ (sinh 1934)
27 tháng 9 – Bruni Löbel, nữ diễn viên Đức (sinh 1920)
=== Tháng 10 ===
4 tháng 10 – Oskar Pastior, nhà văn (sinh 1927)
5 tháng 10 – Friedrich Karl Flick, tỉ phú Đức (sinh 1927)
7 tháng 10 – Anna Politkovskaya, nữ nhà báo Nga (sinh 1958)
9 tháng 10 – Klaus Renft, nhạc sĩ Đức (sinh 1942)
15 tháng 10 – Eddy Blay, võ sĩ quyền Anh (sinh 1942)
20 tháng 10 – Maxi Herber, nữ vận động viên trượt băng nghệ thuật Đức (sinh 1920)
26 tháng 10 – Pontus Hultén, sử gia về nghệ thuật Thụy Điển, triết gia, giáo sư đại học (sinh 1924)
27 tháng 10 – Ghulam Ishaq Khan, cựu tổng thống của Pakistan (sinh 1915)
28 tháng 10 – Arnold Jacob Auerbach, huấn luyện viên bóng rổ Mỹ (sinh 1917)
31 tháng 10 – Pieter Willem Botha, tổng thống của Cộng hòa Cộng hòa Nam Phi từ 1984 đến 1989 (sinh 1916)
=== Tháng 11 ===
3 tháng 11 - Paul Mauriat, nhạc sĩ người Pháp (sinh năm 1925)
5 tháng 11 – Bülent Ecevit, chính trị gia Thổ Nhĩ Kỳ (sinh 1925)
6 tháng 11 – Francisco Fernández Ochoa, cựu vận động viên chạy ski Tây Ban Nha (sinh 1950)
7 tháng 11 – Jean-Jacques Servan-Schreiber, nhà báo Pháp, nhà văn tiểu luận, chính trị gia (sinh 1924)
8 tháng 11 – Annette Rogers, nữ vận động viên điền kinh Mỹ, người đoạt huy chương Thế Vận Hội (sinh 1913)
10 tháng 11 – Hans-Peter Minetti diễn viên Đức (sinh 1926)
10 tháng 11 – Willy Knupp, nhà báo về thể thao (sinh 1936)
17 tháng 11 - Ferenc Puskás, cầu thủ bóng đá người Hungary (sinh năm 1927)
19 tháng 11 – Francis Girod, nhà sản xuất Pháp, tác giả kịch bản, diễn viên (sinh 1944)
19 tháng 11 – Horst Michael Neutze, diễn viên Đức (sinh 1923)
20 tháng 11 – Robert Altman, đạo diễn phim Mỹ, nhà sản xuất phim (sinh 1925)
21 tháng 11 – Pierre Amine Gemayel, chính trị gia (sinh 1972)
23 tháng 11 – Philippe Noiret, diễn viên Pháp (sinh 1930)
28 tháng 11 – Max Merkel, cầu thủ bóng đá đội tuyển quốc gia Đức, huấn luyện viên bóng đá (sinh 1918)
29 tháng 11 – Allen Carr, nhà văn Anh (sinh 1934)
29 tháng 11 – Leon Niemczyk, diễn viên Ba Lan (sinh 1923)
30 tháng 11 – Shirley Walker, nhà soạn nhạc Mỹ, nghệ sĩ dương cầm, nhà sản xuất (sinh 1945)
=== Tháng 12 ===
1 tháng 12 – Claude Jade, nữ diễn viên Pháp (sinh 1948)
2 tháng 12 – Mariska Veres, nữ ca sĩ Hà Lan (sinh 1947)
2 tháng 12 – Kurt Wasserfallen, chính trị gia Thụy Sĩ (sinh 1947)
4 tháng 12 – Wolfram Kistner, mục sư Nam Phi, nhà thần học (sinh 1923)
4 tháng 12 – Lenard "Len" Sutton, đua xe Mỹ (sinh 1925)
5 tháng 12 – Peter Blake, kiến trúc sư Mỹ, tác giả (sinh 1920)
6 tháng 12 – Gernot Jurtin, cầu thủ bóng đá Áo (sinh 1955)
7 tháng 12 – Jeane Kirkpatrick, nhà nữ chính trị học Mỹ (sinh 1926)
8 tháng 12 – Heinrich Riethmüller, nhạc sĩ Đức, nhà soạn nhạc (sinh 1921)
10 tháng 12 – Augusto Pinochet (sinh 1915)
10 tháng 12 – Wigand của Salmuth, doanh nhân Đức (sinh 1931)
12 tháng 12 – Peter Boyle, diễn viên Mỹ (sinh 1935)
12 tháng 12 – Oscar Klein, nhạc sĩ nhạc jazz Áo (sinh 1930),khánh thành cầu Thị Nại ở Quy Nhơn
12 tháng 12 – Cor van của Hart, cầu thủ bóng đá Hà Lan, huấn luyện viên (sinh 1928)
13 tháng 12 – Peter Dienel, nhà thần học Đức (sinh 1923)
13 tháng 12 – Loyola de Palacio, nữ chính trị gia Tây Ban Nha (sinh 1950)
13 tháng 12 – Robert Long, nhà soạn nhạc Hà Lan (sinh 1943)
14 tháng 12 – Gerhard Heintze, nhà thần học Đức (sinh 1912)
14 tháng 12 – Sivuca, nhạc sĩ jazz Brasil (sinh 1930)
17 tháng 12 – Albert Hetterle, diễn viên Đức, đạo diễn phim (sinh 1918)
18 tháng 12 – Joseph Barbera, nhà làm phim hoạt hình người Mỹ (sinh năm 1911)
18 tháng 12 – Ruth Bernhard, nữ nhiếp ảnh gia (sinh 1905)
21 tháng 12 – Sydney Wooderson, vận động viên điền kinh Anh (sinh 1914)
25 tháng 12 – James Brown, nam ca sĩ Mỹ (sinh 1933)
26 tháng 12 - Gerald R Ford, tổng thống thứ 38 của Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ (sinh 1913).
26 tháng 12 – Chris Brown, cầu thủ bóng chày Mỹ (sinh 1961)
26 tháng 12 – John Heath-Stubbs, thi sĩ Anh, dịch giả (sinh 1918)
30 tháng 12 – Saddam Hussein (sinh 1937)
31 tháng 12 – Liese Prokop, nữ vận động viên thể thao Áo, nữ bộ trưởng (sinh 1941)
== Giải Nobel ==
Hóa học - Roger D. Kornberg
Hòa bình - Muhammad Yunus và Ngân hàng Grameen
Kinh tế - Edmund Phelps
Văn học - Orhan Pamuk
Vật lý - John C. Mather, George F. Smoot
Y học - Andrew Z. Fire, Craig C. Mello
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
knud đại đế.txt | Knud Đại đế/den Store (tiếng Đan Mạch); biên niên sử Anglo-Saxon ghi là Cnut (tiếng Na Uy:Knut den mektige; tiếng Thụy Điển:Knut den Store; tiếng Anh:Canute the Great), (??? - 12 tháng 11 năm 1035) là một vị vua người Viking của Anh (1016-1035), Đan Mạch (1018-1035) và Na Uy (1028-1035). Knud sinh ra ở Đan Mạch, là con trai của vua Svend Tveskæg. Ông và phụ vương đã đi xâm lược Anh nhưng sau khi Svend chết ông bỏ về Đan Mạch. Năm 1016, Knud lại đem quân đi xâm lược Anglo-Saxon (người Anh lúc bấy giờ) và đã đánh bại vua Anh Edmund Ironside. Sau đó, ông lên ngôi vua Anh, cưới Emma xứ Normandy. Knud tiếp tục cai trị theo luật pháp Anglo-Saxon. Năm 1018 ông lên ngôi vua Đan Mạch. Năm 1028, Knud chiếm được Na Uy và ông lên ngôi ở đây.
Ở bất cứ Anh, Na Uy hay Đan Mạch, triều đại vua Knud là một triều đại tốt, cả ba nước đều giàu mạnh, thịnh vượng.
Ông băng hà năm 1035.
== Tham khảo ==
Sách Lịch sử thế giới, sách nước ngoài do Bùi Đức Tịnh biên dịch. |
joseph boakai.txt | Joseph Nyumah Boakai (sinh ngày 30 tháng 11 năm 1944) là chính trị gia Liberia, giữ chức Phó Tổng thống Liberia từ tháng 1 năm 2006, phục vụ dưới quyền Tổng thống Ellen Johnson Sirleaf. Trước đây, ông là Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp từ năm 1983 đến năm 1985.
== Chú thích == |
buôn ma thuột.txt | Buôn Ma Thuột (hay Ban Mê Thuột) là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Đắk Lắk, đồng thời là thành phố nằm ở trung tâm vùng Tây Nguyên và là một đô thị miền núi có dân số lớn nhất Việt Nam, nằm trong số 14 đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh của Việt Nam.
Buôn Ma Thuột. Trong thời Pháp được gọi là Ban Mê Thuột liên quan đến ngôn ngữ giao tiếp của người Ê Đê, sau sang thời Việt Nam Cộng Hòa được phiên âm lại là quận Ban Mê Thuột - Thị xã Lạc Giao. Sau ngày 30 /4 /1975 thành phố đổi tên lại là Buôn Ma Thuột.
Ngày 27/11/2009 Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã có kết luận số 60-KL/TW về việc xây dựng Buôn Ma Thuột trở thành đô thị trung tâm vùng Tây Nguyên và trực thuộc Trung ương trước năm 2020.
== Vị trí ==
Buôn Ma Thuột ở giữa vùng đông dân nhất Tây Nguyên, độ cao 536 m (1.608 ft). Buôn Ma Thuột cách Hà Nội khoảng 1300 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km. Là một thành phố có vị trí chiến lược, đặc biệt quan trọng về an ninh quốc phòng cấp quốc gia.
== Lịch sử ==
Xưa kia, đây là vùng đất của người Ê Đê, với nhiều nhà dài Ê Đê nằm dọc theo suối Ea Tam,..xuôi theo dòng đổ ra sông (Sêrêpôk). Các buôn được điều hành bởi già làng cho mỗi buôn. Những buôn làng đầu tiên trên địa bàn thành phố là: Buôn Kram, Buôn Alê, Buôn Păn Lăn, Buôn Kosier, Buôn Enao, Buôn Akõ Dhông, Buôn Dung.
Không có buôn nào có tên riêng là Buôn Ma Thuột trong cùng thời kỳ khi người Pháp xây dựng đô thị tại đây, và cũng không có già làng nào tên là ông Ama Thuột trong lịch sử hình thành thành phố. Nhiều người nhầm lẫn và suy diễn Buôn Ma Thuột là buôn do ông Ama Thuột cai quản, nhưng thực tế sử sách và bản đồ thời kỳ đầu do người Pháp ghi nhận, thì không có ghi lại người nào tên Ama Thuột ở khu vực địa phận thành phố Buôn Ma Thuột ngày nay.
Những năm đầu Buôn Ma Thuột được xây dựng tại khu vực Buôn Kram, cạnh buôn Alê-A, Alê-B, ngày nay là thoải triền đồi khu vực ngõ cua đường Đinh Tiên Hoàng về nhánh suối Ea Tam. Thời kỳ Pháp đô hộ được đặt tên đô thị là Ban Mé Thuot, Từ '' Ban'' bao hàm một nghĩa rộng,ví như ''Ban'' là đô thị các buôn, các buôn như khu khu vực nhỏ, ngang phường. Bản đồ thời kỳ 1905-1918-1930, ''Ban'' và ''Buôn'' được phân biệt rõ rệt qua tư liệu bản đồ lịch sử của người Pháp, qua thời Việt Nam Cộng Hòa phiên âm thành Ban Mê Thuột, sau giải phóng gọi thành Buôn Ma Thuột, nên nhiều người suy diễn là có vị tù trưởng ama Thuột, dẫn đến sự nhầm lẫn nghiêm trọng.Ngoài ra còn các cách gọi sai khác như (Bản Mế Thuột - Bản Mế Thuật, Buôn Ma Thuộc - Buôn Ma Thuật, Ban Mê Thuộc - Ban Mê Thuật),đều là cách gọi sai lệch về thông tin của thành phố.
Trước năm 1905, do các thương lái thường xuyên nhũng nhiễu, và bóc lột cạn kiệt vật phẩm của người Thượng dẫn đến người Thượng thường tràn xuống vùng Khánh Hòa ngày nay cướp lương thực. Do vậy người Pháp quyết định thành lập trung tâm hành chính Ban - Mé - Thuôt và tỉnh DarLac ở vùng Tây Nguyên. Công cuộc tiếp cận và khai phá vùng cao nguyên Darlac được tiếp cận theo sông Mê Kông đi vào sông Sê-Rê-Pok, tới Buôn Đôn, nhờ các vị vua săn voi ở Buôn Đôn,người Pháp tìm được nhánh suối Eanao - EaTam, nơi các buôn làng người Eđê sinh sống với mật độ lớn và gần nhau.Dẫn đến việc hình thành một trung tâm hành chính mới là Ban Mé Thuột, với lực lượng lao động là người Ê đê bản địa, trong công cuộc khai thác thuộc địa thời kỳ đầu của người Pháp ở Darlac.
Năm 1905 bản đồ quy hoạch đầu tiên về Ban Mé Thuôt được ấn bản. Tư liệu này ngày nay vẫn còn để đối chiếu. Buôn đầu tiên xuất hiện với đô thị là buôn Kram.Cùng thời kỳ này các đồn điền được lập dựa theo sự phân bố dân cư tự nhiên của các dân tộc nơi đây ở trên toàn tỉnh Darlac. Các thầy giáo người Huế, người Bình Định, các công nhân người Phú Yên, Khánh Hòa, Nha Trang được người Pháp điều động lên Tây Nguyên để hướng dẫn người Eđê các phương thức sản xuất cơ bản, như trồng lúa, trồng cây công - nông nghiệp, khai thác gỗ rừng...
Năm 1918 bản đồ thứ 2 được ấn bản. Xuất hiện ngôi làng An Nam (làng người Trung Kỳ) được bố trí bên cạnh buôn Kram tại Ban Mé Thuôt. Tư liệu hình ảnh ghi nhận đã có các ngôi trường dạy người Ê đê các phương thức sản xuất mới. Thời kỳ này chữ quốc ngữ phiên âm theo tiếng Ê đê được người Pháp phổ biến dần trên Darlac, sử thi Đam San được ghi chép lại bởi vị công sứ Sabatier.Bản đồ 1918 ghi nhận thêm một buôn lớn về phía Tây - Nam thành phố ngày nay là buôn Alê A và Alê B.
Năm 1930 ấn bản tờ bản đồ ghi nhận khu phố An Nam, khu phố của người Trung Kỳ riêng biệt, ngày nay là khu trung tâm của thành phố, nơi tọa lạc đình Lạc Giao, chùa Sắc Tứ Khải Đoan. Và khu phố Tây của người Pháp ở phía Đông thành phố nay là khu vực đường Nguyễn Công Trứ - Đinh Tiên Hoàng - Hùng Vương và khu bảo tàng, khu vực người Êđê cũng được tách riêng biệt không kết hợp vào khu người Trung kỳ.
Thời kỳ người Pháp đô hộ, vua Bảo Đại cùng gia đình cũng xuất hiện nhiều ở Ban Mé Thuôt, các công trình gắn với tên tuổi ông như dinh Bảo Đại, Biệt thự hồ Lăk gắn với tên người vợ ông Nam Phương Hoàng Hậu, chùa Sắc Tứ Khải Đoan gắn với Đan Hy Hoàng Hậu, Bảo Đại xuất hiện ở Đarlac nguyên do là do Nhật đảo chính Đông Dương, Pháp nhượng bộ toàn vùng đồng bằng cho Nhật trong chiến tranh thế giới thứ 2,chỉ giữ lại các vùng núi, lúc này vùng núi lớn nhất Việt Nam mà Pháp còn lại là vùng Tây Nguyên, lúc này được gọi là Hoàng Triều Cương Thổ.
Khi người Pháp chuyển giao miền Nam Việt Nam cho đế quốc Mĩ, với chính quyền Việt Nam Cộng hòa thân Mỹ, cơ cấu hành chính tỉnh Darlac được chia thành các quận, quận Lạc Thiện, quận Phước An, quận Buôn Hồ, quận Ban Mê Thuột, với thị xã là Lạc Giao.Thời kỳ này các thị trấn thị tứ bước đầu được đô thị hóa ở Đarlac, các phương tiện cơ giới ở Darlac tăng vọt, không chỉ cơ giới ở phương tiện giao thông, mà các máy móc phục vụ nông nghiệp cũng xuất hiện, các sân bay được xây dựng, riêng Ban Mê Thuột có đến 2 sân bay trong thời kỳ này, một sân bay cho trực thăng gọi là phi trường Lạc Giao, một sân bay cho các máy bay lớn là phi trường Phụng Dực (phi trường này được xây từ các gói viện trợ của Mỹ cho Pháp trong trước năm 1950,nay là sân bay Buôn Ma Thuột) Cũng trong thời kỳ này tổng thống Ngô Đình Diệm cũng xuất hiện nhiều ở Ban Mê Thuột, ông ăn tết ở Ban Mê Thuột năm 1957 và đồng thời tổ chức lễ hội kinh tế khi ông ăn tết ở đây.
Tết Mậu Thân năm 1969 đánh dấu các cuộc chiến tranh về cách mạng, quyền lợi, dân chủ trong sản xuất, cho người nông dân- công nhân, Ban Mê Thuột cũng chính thức nằm trong các vùng nội chiến. Cuộc nội chiến kéo dài đến ngày 10 tháng 3 năm 1975, Quân đội nhân dân Việt Nam chính thức kết thúc cuộc nội chiến tại Ban Mê Thuột, trong chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng đất nước, đánh bại Quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Sau năm 1975, thị xã đổi tên thành Buôn Ma Thuột có 7 phường: Tân Lập, Tân Thành, Tân Tiến, Thắng Lợi, Thành Công, Thống Nhất, Tự An và 21 xã: Cư ÊBur, Ea Bar, Ea Bông, Ea Kao, Ea Na, Ea Nuôl, Ea Po, Ea Tam, Ea Tiêu, Ea T'ling, Ea Tu, Hòa Đông, Hòa Khánh, Hòa Phú, Hòa Thắng, Hòa Thuận, Hòa Xuân, Nam Dong, Quảng Điền, Tâm Thắng, Trúc Sơn.
Ngày 23 tháng 10 năm 1978, thành lập xã Cuôr Knia tại vùng kinh tế mới Cuôr Knia.
Ngày 19 tháng 9 năm 1981, tách 4 xã: Ea Bông, Ea Na, Quảng Điền, Ea Tiêu để thành lập huyện Krông Ana.
Ngày 19 tháng 6 năm 1990, tách 5 xã: Ea T'ling, Tâm Thắng, Trúc Sơn, Ea Po, Nam Dong để thành lập huyện Cư Jút.
Ngày 21 tháng 1 năm 1995, chuyển thị xã Buôn Ma Thuột thành thành phố Buôn Ma Thuột; chuyển xã Ea Tam thành phường Ea Tam; thành lập phường Khánh Xuân; chuyển 3 xã: Cuôr Knia, Ea Nuôl, Ea Bar về huyện Buôn Đôn quản lý; chuyển 3 xã: Hòa Phú, Hòa Xuân, Hòa Khánh về huyện Cư Jút quản lý; chuyển xã Hòa Đông về huyện Krông Pắk quản lý.
Ngày 18 tháng 11 năm 1996, chia phường Tân Lập thành 3 phường: Tân Lập, Tân Hòa và Tân An; chia phường Thắng Lợi thành 2 phường: Thắng Lợi và Tân Lợi; chia phường Thống Nhất thành 2 phường: Thống Nhất và Thành Nhất.
Ngày 2 tháng 1 năm 2004, chuyển 3 xã: Hòa Phú, Hòa Khánh, Hòa Xuân thuộc huyện Cư Jút của tỉnh Đắk Nông (sau khi chuyển huyện Cư Jút về tỉnh Đắk Nông mới thành lập) về thành phố Buôn Ma Thuột của tỉnh Đắk Lắk mới quản lý.
Ngày 28 tháng 2 năm 2005, thành phố Buôn Ma Thuột được công nhận là đô thị loại 2.
Ngày 9 tháng 2 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định công nhận thành phố Buôn Ma Thuột là đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh Đắk Lắk.
== Diện tích, dân số ==
Diện tích của thành phố khoảng 377 km², trong đó diện tích đã đô thị hóa là 100 km².
Dân số toàn thành phố là 420 000 người, với người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 15%. Gần 80% dân số sống tại khu vực nội thành.
== Hành chính ==
Buôn Ma Thuột là thành phố đô thị loại 1; có 13 phường: Ea Tam, Khánh Xuân, Tân An, Tân Hoà, Tân Lập, Tân Lợi, Tân Thành, Tân Tiến, Thắng Lợi, Thành Công, Thành Nhất, Thống Nhất, Tự An và 8 xã: Cư ÊBur, Ea Kao, Ea Tu, Hoà Khánh, Hoà Phú, Hoà Thắng, Hoà Thuận, Hoà Xuân. Đặc biệt có 7 buôn (làng) nội thành với gần chục nghìn người Êđê, họ vẫn giữ kiến trúc nhà ở và lối sản xuất riêng ngay trong lòng thành phố.
Kết quả phân định 3 khu vực của thành phố Buôn Ma Thuột theo quyết định số 03/2009/QĐ-UBND của UBND Tỉnh Đắc Lắc ngày 13/01/2009 như sau:
Khu trung tâm, gồm các phường: Tân Tiến, Thắng Lợi, Thống Nhất, Thành Công, Tân Lợi, Tự An, Tân Lập, Tân Thành.
Khu cận trung tâm, gồm các phường: Khánh Xuân, Tân Hòa, Thành Nhất, Ea Tam, Tân An;
Khu ven nội, gồm các phường, xã: Cư Êbur, Hòa Thắng, Hòa Khánh, Hòa Thuận, Ea Tu, Ea Kao, Hòa Phú, Hòa Xuân.
== Kinh tế - Xã hội (2015) ==
Buôn Ma Thuột đạt chuẩn một thị xã từ năm 1960 và công bố trên tư liệu bản đồ của lính Mĩ, hơn ba chục con đường nhựa tại khu Ngã 6 trung tâm được ghi chụp lại không ảnh trong những năm 1969.
Chợ được xếp loại chợ trung ương trong thời Việt Nam Cộng Hòa, công nghiệp chưa có, ngành nông nghiệp với các cây công nghiệp, như cao su, cà phê đã phát triển rực rỡ và xuất khẩu đi các thị trường quốc tế từ những năm 1932.
Nay Buôn Ma Thuột đã trở thành thành phố năng động và phát triển nhanh nhất Tây Nguyên, năm 2010 trở thành đô thị loại 1 trực thuộc tỉnh là cơ sở để lập đề án xin ngân sách nhà nước xây dựng, phát triển thành đô thị loại 1 trực thuộc Trung ương vào năm 2020 theo tinh thần kết luận 60 của Bộ Chính trị. Buôn Ma Thuột được chính phủ công nhận là thành phố có quy hoạch tương đối tốt trong một thời gian ngắn .
Cùng với thành phố Bắc Ninh, Đà Lạt, Hòa Bình, Huế, Thái Nguyên, Sơn La, Vinh, Việt Trì, Hà Nội, Buôn Ma Thuột đã được chọn là 10 đô thị sạch trên cả nước và được tuyên dương trong lễ kỷ niệm Ngày đô thị Việt Nam (8/11).
Tốc độ tăng trưởng hàng năm bình quân: 12.41% (2010-2015)
Tổng thu ngân sách nhà nước: gần 2.200 tỷ đồng, trong đó thu ngân sách theo phân cấp: 1.086 tỷ đồng
Huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội: 6.086 tỷ đồng
Giá trị sản xuất công nghiệp - TTCN: 7.624 tỷ đồng
Thu nhập bình quân đầu người: 80 triệu /người/năm.
Tổng mức bán lẻ hàng hóa doanh thu dịch vụ: 29.616 tỷ đồng
Tỷ trọng các ngành: 44.87% công nghiệp-xây dựng, 49.81% thương mại-dịch vụ, 5.32% nông-lâm nghiệp.
Giao thông: 98% đường nội thành được nhựa hóa, là đầu mối giao thông cấp vùng và quốc gia.
Tỷ lệ hộ nghèo: 10.35%
Tỷ lệ cây xanh đô thị: 2m²/người
Cấp điện: 100% đường phố chính và 80% đường hẻm đã được chiếu sáng
Cấp-thoát nước: 80% dân số được dùng nước sạch với định mức 137 lít/người/ngày. Ngoài ra Buôn Ma Thuột có hệ thống xử lý nước thải do Đan Mạch tài trợ được đánh giá tiên tiến nhất Việt Nam hiện nay mà chưa có thành phố nào ở Việt Nam đạt được.
Văn hóa-giáo dục: đã có 21/21 xã, phường hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Bình quân cứ 2,5 người thì có 1 người đi học.Năm 2015 ngành giáo dục của thành phố tiếp tục được đầu tư một cách toàn diện cả về cơ sở vật chất và nguồn lực con người. 100% các trường học trên địa bàn được xây dựng kiên cố khang trang, gần 100 % số giáo viên có trình độ đạt chuẩn trong đó có 56% giáo viên có trình độ trên chuẩn. Chất lượng giáo dục toàn diện không ngừng được nâng lên.Tuy nhiên bạo lực học đường với nam và nữ sinh vẫn sảy ra, tỉ lệ bạo lực ở nữ sinh có xu hướng tăng mạnh. Toàn thành phố có 59 trường được công nhận chuẩn Quốc gia.
Y tế: 21/21 Xã, Phường đều đã có y, bác sĩ túc trực.Tuy nhiên trình độ y, bác sĩ còn kém cỏi, đào tạo qua loa, phần đa là con em trong ngành,thái độ phục vụ thiếu tế nhị, thô lỗ, phán đoán bệnh tình không chuẩn. Năm 2015 do phán đoán sai, một bé gái đã phải cưa chân ở bệnh viện Việt Đức ở huyện cukuin,người dân trong tỉnh đánh giá là '' bác sĩ Rừng " và đều di chuyển đến các trung tâm lớn để yên tâm khám bệnh. Hệ thống mạng lưới y tế từ thành phố xuống cơ sở khiến người dân trong tỉnh lo ngại, thường đi thẳng vào thành phố Hồ Chí Minh mỗi khi bệnh nặng.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên: 1,3%
Thông tin liên lạc: Phần đa dân số đã sử dụng điện thoại cảm ứng.
● Thương mại
- Sàn giao dịch thương mại coffe Buôn ma thuột
- Trung tâm thương mại Buôn ma thuột
- Trung tâm thương mại Coopmart Buôn ma thuột
- Trung tâm thương mại Intimex Fuso Plaza
- Trung tâm thương mại Bitis
- Trung tâm thương mại Vincom Plaza
- Trung tâm thương mại Nguyễn kim
- Trung tâm thương mại METRO Cash & Carry Buôn ma thuột
- Trung tâm thương mại Tân loan
- Trung tâm thương mại Phú xuân
- Siêu thị điện máy xanh
- Siêu thị Văn tứ
- Siêu thị Viễn thông A
- Hệ thống siêu thị thế giới di động
- Hệ thống siêu thị Viettel Store
- FptShop.com.vn
- Trung tâm điện máy VinPro
Hiện nay thành phố đang triển khai xây dựng khu đô thị Bắc Tân Lợi nằm trên địa bàn phường Tân Lợi.
== Văn hóa ==
=== Kho tàng văn hóa phi vật thể Tây Nguyên ===
Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được thể hiện qua ngôn ngữ, phong cách diễn tấu,... riêng biệt và độc đáo, chính vì thế đã được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.
Loại hình văn học dân gian truyền miệng cũng là di sản văn hóa phi vật thể phong phú của các dân tộc Tây Nguyên, trong đó sử thi Đam San.
Tượng gỗ dân gian Tây Nguyên, chủ yếu là tượng nhà mồ một yếu tố không thể thiếu trong đời sống tâm linh của người Ê Đê. Dù mang nhiều dáng vẻ nhưng chúng gặp nhau ở một điểm là đều lấy cảm hứng từ đời sống sinh hoạt, lao động sản xuất và đời sống tâm linh gắn với phong tục tập quán của mỗi tộc người.
Ngoài những giá trị tiêu biểu nêu trên, Tây Nguyên còn có kho tàng di sản văn hóa phi vật thể khác, đó là kiến trúc nhà dài truyền thống... của các dân tộc Bắc Tây Nguyên, kiến trúc nhà dài của dân tộc Êđê; nghề dệt và trang phục. Đồng bào Tây Nguyên có nhiều hình thức lễ hội liên quan đến chu kỳ canh tác nương rẫy; lễ nghi vòng đời người; lễ hội cộng đồng..
== Giáo dục ==
=== Danh sách các Học viện trường Đại học - Cao đẳng tại Buôn Ma Thuột ===
1. Đại học Tây Nguyên
2. Phân hiệu Đại học Đông Á (Đà Nẵng)
3. Cao đẳng sư phạm Đắk Lăk
4. Cao đẳng Văn hoá nghệ thuật Đắk Lăk
5. Cao đẳng nghề Đắk Lăk
6. Cao đẳng nghề thanh niên dân tộc Đắk Lăk
7. FPT Polytechnic Tây Nguyên
8. Đại học Buôn Ma Thuột
9. Học viện hành chính Quốc gia Phân viện Tây nguyên
10.Trường văn hóa Bộ công an
Giai đoạn 2015- 2020 tỉnh Đắk Lắk có 5 trường Cao đẳng Đại học
+ Cao đẳng Sư phạm Đắk Lắk,
+ Cao đẳng Y tế
+ Cao đẳng Kinh tế- Kỹ thuật Đắk Lắk (trên cơ sở nâng cấp trường Trung cấp Kinh tế- Kỹ thuật ĐắkLắk),
+ Cao đẳng Bách khoa Tây Nguyên,
+ Cao đẳng Tây Nguyên (trên cơ sở nâng cấp trường Trung cấp Tây Nguyên).).
Về Đại học (có 7 ĐH):
+ Đại học Tây Nguyên,
+ Đại học Buôn Ma Thuột (khởi công XD 2014-2015)
+ Đại học Y Dược (tách Khoa Y khỏi Đại học Tây Nguyên);
+ Nâng cấp Trường Cao đẳng Văn hóa Nghệ thuật thành Đại học Văn hóa Nghệ thuật Tây Nguyên
+ Phân hiệu Đại học Đông Á.
+ Phân hiệu đại học Bình Dương.
+ Phân hiệu Đại học Luật Hà Nội
=== Ngã 6 Ban Mê ===
Ngã 6 Ban Mê là trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột. Ở đây có Tượng đài chiến thắng Buôn Ma Thuột được coi như biểu tượng của thành phố. Trước đây, khi mới giải phóng nơi đây chỉ là một bùng binh với một cột đèn ba ngọn. Sau này một tượng đài được dựng lên với điểm nhấn chính chiếc xe tăng bằng sắt thép đã mở đầu trận đánh vào Buôn Ma Thuột. Đến những năm cuối thế kỷ trước thì tượng đài chiến thắng đã được xây dựng hoàng tráng như hiện nay. Nơi đây từng có một chiếc xe tăng T-34 của Nga nhưng nó được đưa vào bảo tàng năm 1997 và thay thế vào đó là một chiếc xe mô hình.
=== Cây Kơnia còn sót lại ===
Cây Kơnia, hay còn gọi là Cốc, là một loài cây thân gỗ lớn, cao 15–30 m, đường kính 40–60 cm, tên khoa học là Irvingia malayana, thuộc họ Irvingiaceae. Loài cây này mang ý nghĩa tâm linh rất lớn đối với người đồng bào dân tộc thiểu số, họ coi chúng là nơi trú ngụ của thần thánh, của vong linh những người đã khuất, rất ít khi họ đụng chạm đến chúng, chặt phá chúng; vì vậy trên nương rẫy của đồng bào thường có các cây Kơ nia cổ thụ được sử dụng như cây che mát mỗi lúc nghỉ giải lao, nghỉ trưa. Do bài hát Bóng cây Kơ-nia nổi tiếng vì vậy du khách khi đến Buôn Ma Thuột luôn muốn tìm xem tận mắt cây Kơ Nia. Ở trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột có một cây Kơ nia cổ thụ nằm trong khuôn viên sân sau nhà văn hóa trung tâm tỉnh, cách ngã 6 Ban Mê vài trăm mét.
=== Thủ phủ cà phê - viễn cảnh định hướng ===
Tuy cây cà phê đã được du nhập vào Việt Nam từ rất sớm (1870) nhưng được trồng đại trà ở Đắk Lắk chỉ từ những năm sau 1930 trong những đồn điền của những nhà tư bản Pháp như CADA,... nhưng do vùng đất đất đỏ bazal này đặc biệt phù hợp với việc canh tác cà phê nên việc phát triển diện tích trồng ở đây đã tăng lên; hiện tại, theo số liệu thống kê, Đắk Lắk có đến hơn 175.000 ha cà phê (thực tế có đến trên 200.000 ha vì một số diện tích không được tính do không trong quy hoạch). Đắk Lắk cũng chính là nơi được xem là nơi có năng suất cà phê thu hoạch cao nhất thế giới và góp phần chính trong việc đưa sản lượng cà phê Việt Nam lên vị trí số 2 (riêng cà phê robusta chiếm vị trí số 1) của những quốc gia xuất khẩu cà phê. Ở Đắk Lắk gần như huyện nào cũng có trồng cà phê, nhưng cà phê Buôn Ma Thuột vẫn luôn được đánh giá là có chất lượng cao nhất và có hương vị đặc trưng nhất, chính vì vậy thương hiệu Cà phê Buôn Ma Thuột được thế giới biết đến và địa danh Buôn Ma Thuột được nhiều người ví như "thủ phủ cà phê".
=== Lễ hội Cà phê ===
Lễ hội cà phê Buôn Ma Thuột, hay Buôn Ma Thuột cà phê Festival, là một lễ hội được tổ chức ở thành phố Buôn Ma Thuột của tỉnh Đắk Lắk, đây là một lễ hội lớn ở Tây Nguyên. Nhằm tôn vinh cây cà phê, loài cây chiếm vị trí độc tôn trong cơ cấu cây trồng ở đây và chiếm đến 60& sản lượng cà phê của Việt Nam, loài cây đã đem lại sự ấm no, trù phú cho mảnh đất vùng cao này. Lễ hội mới chỉ bắt đầu được tổ chức từ năm 2005 trong chương trình quảng bá hình ảnh Thủ phủ cà phê Buôn Ma Thuột. Bên cạnh các hoạt động trao đổi về, quy trình, các thức, sản xuất, chế biến cà phê. Các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao diễn ra sôi nổi. Hình thức giao dịch trực tuyến với thị trường thế giới.
=== Buôn AKô Đhông ===
Buôn AKô Đhông hay Buôn Cô Thôn, làng Ma Rin là một buôn làng người Ê Đê ở thành phố Buôn Ma Thuột, Đăk Lăk. AKô Đhông theo tiếng Ê Đê có nghĩa là buôn đầu nguồn vì nó ở đầu nguồn một con suối lớn ở Buôn Ma Thuột là suối Ea Nuôl. Ở đây nguồn suối bắt đầu cũng chính là bến nước cũ của buôn, một bến nước rất đẹp nhưng hiện tại không còn được sử dụng do bị ô nhiễm vì ở ngay trung tâm thành phố.
Buôn nằm ở cuối đường Trần Nhật Duật- thành phố Buôn Ma Thuột. Đây là một buôn được quy hoạch rất đẹp và giữ được nhiều giá trị truyền thống, hiện tại là một điểm du lịch hấp dẫn của thành phố. Nằm trong quy hoạch khu trưng bày lịch sử của Buôn Ma Thuột.
== Giao thông ==
=== Đường bộ ===
Đường bộ toàn tỉnh hiện có 397,5 km đường quốc lộ, trong đó:
Quốc lộ 14 nối về phía phía bắc đi Pleiku (195 km), đi Kon Tum (244 km), nối với Đà Nẵng, về phía nam đi ĐăkNông, Bình Phước, Bình Dương, Tp Hồ Chí Minh (350 km).
Quốc lộ 26 đi Ninh Hòa, Nha Trang (198 km).Hiện tại quốc lộ nhỏ và xuống cấp, tình trạng tai nạn giao thông nhiều và đều.
Quốc lộ 27 đi Đà Lạt (193 km).Hiện tại quốc lộ nhỏ và xuống cấp, tình trạng tai nạn giao thông nhiều và đều.
Quốc lộ 14C: từ ranh giới tỉnh Gia Lai đến ranh giới tỉnh Đăk Nông(68,5 km).
Quốc lộ 29: Bộ GT-VT đã có Quyết định chuyển 2 tuyến đường ĐT645 (Phú Yên) và ĐT633 (Đắk Lắk) thành quốc lộ (QL) 29. Tuyến ĐT645 xuất phát từ QL1A qua các huyện: Đông Hòa, Tây Hòa và Sông Hinh (Phú Yên) lưu thông với ĐT633 (Đắk Lắk). QL 29 là QL thứ 2 nối các tỉnh Tây Nguyên (280 km)
Dự kiến quy hoạch xây dựng trên địa bàn thành phố Buôn Ma Thuột có 3 bến xe khách, 1 bến xe buýt ở trung tâm thành phố, hình thành mạng lưới các điểm đỗ xe buýt nội thị và đến các điểm ven đô, các huyện lân cận, 3 bãi đỗ xe tải các bãi đỗ xe con, xe du lịch ở những nơi tham quan, du lịch, khu vui chơi giải trí, trung tâm thương mại, chợ. Tại ở mỗi thị xã, mỗi huyện có từ 1- 2 bến xe khách
=== Đường hàng không ===
Sân bay Buôn Ma Thuột (mã sân bay IATA: BMV, mã sân bay ICAO: VVBM) là một sân bay hỗn hợp quân sự và dân sự tại thành phố Buôn Ma Thuột. Sân bay có đường băng dài 3000 m, rộng 45 m có thể tiếp nhận những máy bay tầm ngắn như ATR72, F70, tầm trung như A320, A321, B767 và có đèn chiếu sáng phục vụ bay đêm, trong khi đó công suất thiết kế nhà ga 1.900.000 lượt hành khách/năm. Đến năm 2030 phục vụ 3000.000hành khách/năm. Các tuyến bay gồm có:
Buôn Ma Thuột - Sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất, Thành phố Hồ Chí Minh
Buôn Ma Thuột - Sân bay quốc tế Đà Nẵng
Buôn Ma Thuột - Sân bay quốc tế Nội Bài, Hà Nội
Buôn Ma Thuột - Sân bay Vinh, Nghệ An
Buôn Ma Thuột - Sân bay Thanh Hóa, Thanh Hóa
Buôn Ma Thuột - Sân bay Cát Bi, Hải Phòng
Buôn Ma Thuột - Sân bay Chu Lai,Quảng Nam
Với tổng mức đầu tư khoảng 1200 tỷ đồng, nhà ga hành khách Cảng Hàng không Buôn Ma Thuật chính thức được khánh thành 24/12/2012. Nhà ga mới có công suất đáp ứng đến năm 2020 là 1,9 triệu hành khách/năm.Cảng hàng không Buôn Ma Thuột nằm tại địa bàn Thôn 8 xã Hòa Thắng, TP. Buôn Ma Thuột (tỉnh Đắc Lắc) - là một trong 8 cảng hàng không địa phương trực thuộc Tổng công ty Cảng hàng không miền Nam. Việc mở rộng nâng cấp cảng hàng không Buôn Ma Thuột là dự án cần thiết góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng khu vực Tây Nguyên
=== Đường sắt ===
Dự án tuyến đường sắt Tuy Hòa - Buôn Ma Thuột đã được Xí nghiệp Tư vấn thiết kế công trình giao thông sắt bộ thuộc Công ty Tư vấn thiết kế giao thông vận tải phía Nam xây dựng hoàn chỉnh. Toàn tuyến đường sắt có chiều dài 160 km, đi qua 8 ga, xuất phát từ ga Phú Hiệp và điểm cuối là ga Buôn Ma Thuột. Nhưng đối với nền khoa học và kinh tế, cùng quản lý nước nhà thì đây chỉ là viễn cảnh định hướng đề ra không biết khi nào mới thành hiện thực.
Theo quy hoạch, Buôn Ma Thuột là trung tâm của hệ thống đường sắt Tây nguyên trong tương lai; ga đầu mối nối các tuyến đi Gia Lai, Kon Tum, Đắk Nông và Lâm Đồng, phục vụ đắc lực cho công cuộc phát triển kinh tế và quốc phòng khu vực Tây nguyên rộng lớn.
== Danh lam thắng cảnh ==
Do Buôn Ma Thuột là nơi đầu tiên người Kinh lưu lạc đến lập nghiệp để xây dựng Đăk Lăk hôm nay nên ở đây tập trung hầu hết các di tích có ý nghĩa lịch sử của Đăk Lăk như:
Đình Lạc Giao.
Chùa Sắc tứ Khải Đoan.
Nhà đày Buôn Ma Thuột.
Bia Lạc Giao.
Khu Biệt điện Bảo Đại - hiện tại là Bảo tàng các dân tộc Việt Nam tại Đắk Lắk.
Toà Giám mục tại Đắk Lắk.
Du khách cũng có thể đến với làng văn hóa buôn AKô Đhông, ngắm cây Kơnia cổ thụ giữa lòng thành phố sát Ngã 6 Ban Mê, thưởng thức hương vị cà phê Ban Mê...
Với vị trí trung tâm và giao thông thuận tiện Buôn Ma Thuột cũng chính là trung tâm du lịch lớn nhất của Đăk Lăk nối các điểm du lịch quan trọng trong tỉnh như Bản Đôn, Hồ Lắk, cụm thác Đray Sáp...Về cơ bản dịch vụ du lịch còn yếu kém và hạn chế, bên cạnh đó rừng bị tàn phá ồ ạt, phá vỡ cảnh quan chung.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức |
bi-a.txt | Thể thao bi-a (trong tiếng Việt còn gọi là bi da) là một loạt các trò chơi kỹ năng thường chơi với một cây cơ được sử dụng để tác dụng vào các quả bóng bi-a, di chuyển chúng xung quanh một bàn bi-a phủ vải bao quanh bởi các đệm cao su.
Trong lịch sử, tuy thuật ngữ thể thao bi-a quen thuộc vẫn còn được mọi người sử dụng như là một nhãn chung cho tất cả các trò chơi như vậy, việc sử dụng đã tập trung vào các nghĩa hẹp hơn trong các vùng khác nhau của thế giới. Ví dụ, tại Anh và Úc, "bi-a" thường đề cập riêng cho trò chơi bi-a Anh, trong khi tại Mỹ và Canada nó đôi khi được dùng để chỉ một trận đấu đặc biệt hay đẳng cấp cao, hoặc cho tất cả các trò chơi dùng cơ nói chung, phụ thuộc vào phương ngữ và ngữ cảnh.
== Tham khảo ==
== Chú thích == |
sukhoi su-30.txt | Sukhoi Su-30 (tên ký hiệu của NATO: "Flanker-C") là máy bay chiến đấu đa năng được phát triển bởi Công ty hàng không Sukhoi của Nga và đưa vào hoạt động năm 1996. Nó là loại máy bay chiến đấu đa chức năng tốc độ siêu âm có thể đảm nhiệm cả nhiệm vụ chiếm ưu thế trên không và nhiệm vụ cường kích (tấn công mặt đất, mặt biển).
Đây là một phiên bản hiện đại hóa của Su-27UB và có vài phiên bản khác. Seri Su-30K và Su-30MK đều có những thành công trong thương mại. Sự khác nhau về tên gọi là do các phiên bản được sản xuất bởi 2 công ty con đang có sự cạnh tranh - KnAAPO và Irkut, cả 2 đều nằm dưới sự điều khiển của tập đoàn Sukhoi. KnAAPO sản xuất Su-30MKK và Su-30MK2, chúng được thiết kế và bán cho Trung Quốc và Việt Nam. Irkut sản xuất seri Su-30MK tầm xa đa chức năng, mà bao gồm cả Su-30MKI, một mẫu máy bay được phát triển cho Không quân Ấn Độ và những thiết kế từ Su-30MKI, như Su-30MKM, Su-30MKA được xuất khẩu cho riêng Malaysia, Algérie.
== Phát triển ==
=== Mẫu máy bay tiêm kích đánh chặn tầm xa Su-27PU ===
Trong khi nguyên bản gốc Su-27 có tầm hoạt động khá tốt, nó vẫn bị coi là không có đủ tầm hoạt động để thực hiện các nhiệm vụ phòng không của PVO Strany (từ viết ngắn cho "Protivovozdushnaya Oborona" — "Phòng Không"), các hoạt động phòng không bao trùm lên toàn bộ lãnh thổ rộng lớn của Liên Xô. Do đó, việc phát triển bắt đầu vào năm 1986 đối với Su-27PU, một phiên bản cải tiến của Su-27 có khả năng hoạt động như một máy bay tiêm kích đánh chặn tầm xa hay sở chỉ huy trên không. Phiên bản huấn luyện chiến đấu Su-27UB hai chỗ được lựa chọn như một nền tảng cơ sở cho Su-27PU, vì nó có hiệu suất và đặc tính của một chiếc Su-27 một chỗ, và khi thực hiện các nhiêm vụ tầm xa đòi hỏi phải có 2 phi công, điều này giúp cho hiệu suất tác chiến của máy bay tăng lên. Mẫu thuyết trình "chứng minh khái niệm" bay vào ngày 6 tháng 6 năm 1987, và chuyến bay này đã thành công, dẫn đến việc phát triển tiếp theo trên 2 nguyên mẫu Su-27PU. Chiếc Su-27PU đầu tiên bày tại Irkutsk vào ngày 31 tháng 12 năm 1989, và chiếc đầu tiên trong 3 chiếc tiền sản xuất đã bay vào ngày 14 tháng 4 năm 1992.
Để Su-27UB thích nghi trong vai trò mới, máy bay được trang bị hệ thống tiếp nhiên liệu trên không có thể mở ra thu lại, để tăng thêm tầm hoạt động, cần tiếp nhiên liệu nằm ở bên trái mũi máy bay, để lắp thêm hệ thống này thì hệ thống IRST đã phải chuyển sang cạnh phải của máy bay.
Hệ thống điện tử được thay đổi, được điều chỉnh sử dụng thiết bị truyền đạt thông tin riêng và dẫn đường để chỉ huy đội hình bay của máy bay đánh chặn Su-27 một chỗ. Buồng lái phía sau được trang bị màn hình hiển thị CRT khổ lớn, cung cấp thông tin hướng dẫn với các thông tin chiến thuật về mục tiêu và máy bay đang điều khiển. Hệ thống dẫn đường và fly-by-wire đã được nâng cấp. Nó trang bị một radar nâng cấp NIIP N001, cung cấp thông tin cho nhiệm vụ tấn công mặt đất, tìm đường và khả năng theo dõi tấn công nhiều mục tiêu cùng lúc trên không. Su-30 có một phanh hơi đằng sau buồng lái.
Sukhoi đưa ra Su-27PU được sử dụng như một "máy bay chiến đấu kiểm soát trên không", một loại AWACS mini, với người lái sau sẽ sử dụng radar và hệ thống kết nối dữ liệu đẻ kiểm soát những máy bay chiến đấu khác. Tuy nhiên PVO không quan tâm đến việc mua SU-27PU.
5 chiếc Su-27PU đã được chế tạo, với tên gọi mới là "Su-30" cuối cùng được trang bị trong biên chế của PVO với vai trò máy bay huấn luyện. Những máy bay này được chuyển giao cho Trung đoàn không quân tiêm kích đánh chặn số 54 đóng tại căn cứ huấn luyện cao cấp tại Savostleyka bắt đầu vào năm 1996.
Theo một tạp chí nghiên cứu kỹ thuật của Đức, những chiếc Su-30 của Ấn Độ, phiên bản MKI là những máy bay tiêm kích-bom chiến đấu tốt nhất từng được chế tạo trên thế giới trong thập niên 1990-2000, kết hợp rất tốt khả năng thao diễn xuất sắc, tầm bay xa, hệ thống tác chiến hiện đại và tải trọng vũ khí lớn. Máy bay này đã thay đổi mọi sự cân bằng trong bối cảnh Nam Á trong khi giá thành khá rẻ (khoảng 30-45 triệu USD/chiếc, chỉ bằng 40% so với giá một chiếc F-15 của Mỹ), nhiều quốc gia rất quan tâm đến loại máy bay này. Số lượng Su-30 được Nga xuất khẩu tính đến năm 2014 là gần 400 chiếc, đưa loại máy bay này trở thành máy bay chiến đấu được xuất khẩu nhiều nhất của Nga kể từ thời kỳ hậu Xô viết.
== Thiết kế ==
Một phiên bản Su-30M đa chức năng 2 chỗ đã được đề nghị chuyển cho Không quân Nga sử dụng và có thể một vài chiếc khác cũng đã được sản xuất giữa những năm 1990 để đánh giá.
Sukhoi đã được đề nghị một phiên bản xuất khẩu là Su-30MK, "MK" có nghĩa là "Modernizirovannyi Kommercheskiy" (Modernized Commercial - Thương mại hóa). Sukhoi đã mang một chiếc Su-30MK thao diễn đến Triển lãm hàng không Paris vào năm 1993.
Một chiếc Su-30MK tối ưu hóa khả năng thao diễn, cũng đã được sản xuất lại từ chiếc Su-27PU sản xuất trước đó, nó xuất hiện vào năm 1994.
=== Máy bay chiến đấu đa chức năng linh hoạt ===
Su-30MK có khả năng thực hiện các nhiệm vụ đa dạng khác nhau, trong bất kỳ điều kiện thời tiết, môi trường khắc nghiệt, bất kể ngày hay đêm và khoảng cách.
Đây là máy bay đa chức năng được trang bị đầy đủ phù hợp với toàn bộ một chuỗi những kịch bản chiến thuật và hoạt động chiến đấu, nó được thay đổi từ nhiệm vụ không chiến (bao gồm chiếm ưu thế trên không, phòng không, tuần tra trên không và hộ tống), thành tấn công mặt đất, chống hệ thống phòng không của địch (SEAD), ngăn chặn trên không, hỗ trợ mặt đất và tấn công mục tiêu trên biển. Đồng thời, Su-30MK có thể thực hiện chống gây nhiễu điện tử ECCM và cảnh báo sớm trên không, cũng như ra lệnh và điều khiển một nhóm thực hiện nhiệm vụ chung.
=== Góc tấn ===
Hình dạng khí động học của Su-30MK cho phép nó dễ dàng thay đổi các động tác khi bay. Để tăng hiệu suất nâng và khả năng bay thao diễn của máy bay, cánh mũi đã được trang bị. Nó có thể tự động điều chỉnh độ lệch để đảm bảo khả năng kiểm soát bay tại những góc tấn lớn. Tuy nhiên, cánh mũi chỉ được trang bị trên một số phiên bản của Su-30 như Su-30MKI.
=== Động tác bay rắn hổ mang Pugachev ===
Hình dạng khí động học tổng hợp, được kết hợp với khả năng kiểm soát điều chỉnh hướng phụt của động cơ, đã mang đến những khả năng thao diễn bay chưa từng có và những đặc trưng cất cánh và hạ cánh độc nhất vô nhị. Trang bị với hệ thống lái số fly-by-wire, Su-30MK có khả năng thực hiện vài động tác thao diễn mà chỉ có thể thực hiện được trên những máy bay chiến đấu hiện đại của Nga. Bao gồm động tác rắn hổ mang Pugachev và biểu diễn quay tròn, máy bay quay 360° trong khi đang bay lên hoặc lao xuống trên một mặt phẳng mà không bị mất độ cao. Trong động tác thao diễn bay bổ nhào quay tròn có điều khiển, máy bay thực hiện vài vòng quay đầy đủ trong mặt phẳng ngang, với tốc độ gần về không, lúc này động cơ bị tắt, sau đó nó được khởi động lại để lấy lại độ cao cho máy bay.
=== Động cơ ===
Động cơ của máy bay là 2 động cơ phản lực cánh quạt tỷ lệ vòng thấp Saturn AL-31FP. Cung cấp lực đẩy sau khi đốt nhiên liệu lần 2 là 245 kN (25.000 kgf), đạt vận tốc Mach 2, nó có tốc độ 1.350 km/h tại độ cao thấp, và vận tốc leo cao là 230 m/s.
Nó có thể mang thông thường 5.270 kg nhiên liệu trong các thùng chứa (không tính nhiên liệu trong các thùng chứa phụ), Su-30MK có khả năng thực hiện liên tục nhiệm vụ trong 4.5 giờ trong phạm vi 3.000 km. Trong khi bay, nếu được tiếp nhiên liệu trên không thì nó có thể duy trì 10 giờ bay nhiệm vụ với tầm bay là 8.000 km trên độ cao hành trình từ 11 đến 13 km.
Khả năng bay xa đã tăng đáng kể những chọn lựa nhiệm vụ. Những sứ mệnh có thể thay đổi từ tuần tra, hộ tống thành đánh chặn tầm xa và những cuộc tấn công không đối đất.
==== Hệ thống điều khiển hướng phụt động cơ 2D ====
Các miệng ống phụt của động cơ có thể uốn xuống hoặc bẻ lên, thay đổi hướng chênh lệch 15° (với những trục quay được định vị tại vị trí góc 32° ở mỗi động cơ) cho phép điều khiển lực đẩy theo mọi hướng. Phụ thuộc vào động tác thao diễn sẽ được thực hiện, những góc lệch có thể được điều khiển để tạo lực đẩy như ý muốn, những miệng ống động cơ có thể được đồng bộ hóa hoặc khác với những thao tác của cánh đuôi nằm ngang của máy bay. Phiên bản Su-30MKI có hệ thống điều khiển hướng phụt động cơ 2D (2D TVC - 2D Thrust Vectoring Control) đầu tiên.
=== Phi hành đoàn ===
Phi hành đoàn 2 người đã làm tăng đáng kể những khả năng chiến đấu, do phân công hơp lý công việc giữa các phi công. Trong khi phi công đầu tiên lái máy bay, điều khiển vũ khí và thực hiện các động tác thao diễn dogfight, phi công thứ 2 sử dụng các thiết bị điện tử để xác định mục tiêu cho các vũ khí dẫn đường không đối không và không đối đất tầm xa, theo dõi màn hình chiến thuật để đảm bảo nhận thức về vị trí của máy bay, thực hiện lệnh và điều khiển trong khi thực hiện nhiệm vụ theo nhóm.
=== Hệ thống điện tử ===
Radar: nó có thể lựa chọn một trong số các loại radar xung Doppler sau: N001VE, Phazotron N010 Zhuk-27, N011M BARS (radar quét mảng pha điện tử bị động). N011M BARS có khả năng phát hiện và theo dõi mục tiêu mạnh, lên đến 15 mục tiêu trên không, trong khi có thể đồng thời tấn công 4 mục tiêu trong số đó. Radar N011M BARS có thể dò tìm các mục tiêu lớn trên biển trong khoảng cách lên đến 400 km (248.5 mi), máy bay ném bom cỡ lớn ở cự ly 200 km và các mục tiêu là tiêm kích cỡ nhỏ trong khoảng cách 120 km (74.5 mi). Khả năng này vượt trên radar APG-63V(1) trang bị cho F-15C/D Eagle của Mỹ (tầm phát hiện mục tiêu trên không là 110–160 km tùy kích thước mục tiêu, theo dõi 14 mục tiêu và đồng thời tấn công 4 mục tiêu trong số đó).
Hệ thống điện tử khác bao gồm một hệ thống ngắm bắn và dẫn đường tích hợp, với một hệ thống dẫn đường con quay laser; hệ thống hiển thị trên mũ phi công, màn hình hiển thị trước buồng lái HUD, màn hình LCD hiển thị đa chức năng với khả năng hiển thị trộn lẫn hình ảnh; và một hệ thống GPS (tương thích GLONASS/NAVSTAR).
Hệ thống dò tìm tia hồng ngoại và laser để tìm kiếm và điều khiển vũ khí tấn công các mục tiêu kích thước nhỏ. Hệ thống này rất hữu dụng trong việc đối phó với các mục tiêu mà radar khó phát hiện như máy bay tàng hình (máy bay tàng hình được thiết kế để có mức độ bộc lộ trước radar rất thấp, nhưng mức độ phát ra tia hồng ngoại thì vẫn tương tự như máy bay thường do đều phải sử dụng động cơ phản lực tỏa ra nhiều nhiệt).
Máy bay được cung cấp phương tiện chống gây nhiễu điện tử ECCM và đối phó với các thiết bị điện tử quang học của đối phương.
Máy bay có chế độ lái tự động trong mọi giai đoạn bay, gồm bay thấp trong mọi địa hình, bay riêng và theo nhóm chống lại mục tiêu trên không - mặt đất - trên biển. Hệ thống điều khiển tự động được kết nối với hệ thống dẫn đường để đảm bảo máy bay bay đúng đường, tự động tiếp cận địch, tìm được đường về căn cứ và hạ cánh tự động.
== Thàch tích trong các cuộc tập trận ==
Su-30 chưa từng tham gia không chiến trong một cuộc chiến tranh thực sự. Tuy nhiên, nó đã chứng tỏ được khả năng trong các cuộc tập trận với tỷ lệ chiến thắng rất cao, ngay cả trước những loại tiêm kích tiên tiến của phương tây như F-15 Eagle, F-16 Falcon, Eurofighter Typhoon...
Năm 2002, các chuyên gia tạp chí Mỹ Aviation Week&Space Technology là ông David A. Fulghum và Douglas Barrie đã nêu phân tích của mình rằng “Lần nào Su-30MK cũng đánh bại F-15C (Su-30MK Beats F-15C Every Time), trong đó viết rằng, trong các trận tập không chiến diễn ra trên bầu trời St Louis (một cơ sở bay thử nghiệm của công ty Boeing Mỹ), Su-30 đã giành ưu thế trước F-15 nhờ khả năng cơ động cao của mình.
Tại cuộc tập trận Cope India 2004, các tiêm kích Su-30MKI của Không quân Ấn Độ (IAF) đã thực hiện các trận đánh tập kiểm tra chống các tiêm kích F-15C của Không quân Mỹ (USAF). Kết quả đáng kinh ngạc là 9:1 nghiêng về phía các phi công Ấn Độ (1 chiếc Su-30MKI có thể đổi 9 chiếc F-15). Một sĩ quan Không quân Mỹ cho biết: phi công Ấn Độ đã điều khiển chiếc Su-30MKI thực hiện thao tác cơ động “Rắn hổ mang Pugachev”, giảm tốc độ xuống bằng 0 trong khoảng thời gian vài giây khiến radar trên khoang chiến đấu cơ Mỹ bị mất dấu đối thủ, và đó là khoảng thời gian đủ để Su-30 tiêu diệt F-15.
Phía Mỹ lý giải rằng luật chơi hạn chế khả năng thắng của họ. Phía Ấn Độ khi tập trận đã lấy 18 chiếc máy bay (gồm 6 chiếc Su-30MKI và 12 chiếc MiG-21 Bison) để đấu với 6 chiếc F-15C của Mỹ và phía Ấn Độ cũng yêu cầu Mỹ không được dùng radar AESA. Mỹ cũng không được mô phỏng bắn tên lửa ngoài tầm nhìn (BVR) (do yêu cầu của Ấn Độ không sử dụng tên lửa tầm xa AMRAAM) và người Ấn đã gửi các phi công giàu kinh nghiệm nhất của mình để chiến đấu chống lại người Mỹ trong khi phía Mỹ chọn một phi đội tiêu chuẩn có sự kết hợp giữa các phi công có kinh nghiệm và chưa có kinh nghiệm. Phi công Mỹ cũng cho rằng một loại máy bay khác của đối thủ cũng rất ghê gớm với F-15C là MiG-21 Bison, một phiên bản nâng cấp của MiG-21 sản xuất tại Nga, do loại máy bay này có độ bộc lộ radar thấp, vận tốc cao và rất linh hoạt
Cuộc tập trận Cope India 2004 lần 2 thì có sự tham gia của máy bay Su-30K, phiên bản trang bị radar kiểu cũ NIIP N001 dành cho các thế hệ đầu tiên của Su-27/30. Lần này thì cả 2 bên đều được mô phỏng bắn tên lửa ngoài tầm nhìn (BVR) để tận dụng mọi khả năng của radar. Mặc dù Su-30K có thông số kỹ chiến thuật thua sút hẳn so với Su-30MKI, nhưng máy bay vẫn thể hiện khả năng tác chiến hiệu quả so với các máy bay Mỹ F-15C. Su-30 chiếm ưu thế đến 90% trong các trận cận chiến là điều không gây sự bất ngờ lớn, do các tính năng khí động học của Su-30 hơn hẳn F-15. Tuy nhiên, Su-30K đã gây sự ngạc nhiên lớn khi nó cũng chiếm ưu thế trong các trận không chiến tầm trung ngoài tầm nhìn (BVR) trước F-15C. Phi công Ấn Độ, sử dụng tất cả những tính năng kỹ thuật của radar N001, đã dành chiến thắng khi quyết định phóng các tên lửa tầm trung trong chế độ dẫn đường tấn công nhiều mục tiêu cùng một lúc. Thất bại trong cả 2 nội dung (đánh xa và cận chiến) trước Su-30K đã khiến Mỹ phải đẩy nhanh quá trình chế tạo F-22 Raptor
Năm 2005, Su-30K tiếp tục tập trận với các máy bay tiêm kích hỗn hợp của Pháp bao gồm có Mirage 2000C, Mirage 2000-5, Mirage 2000N trong khuôn khổ cuộc diễn tập Garuda-II. Theo các nguồn tin từ Pháp, Su-30K thực hiện nhiệm vụ đánh chặn tốt hơn Mirage-2000С và thua sút hơn so với máy bay Mirage-2000-5 mới hơn có sử dụng radar RDY. Trong các trận không chiến tầm gần, Su-30K giành thắng lợi thuyết phục.
Trong cuộc tập trận Cope India 2005, bản tin Inside Air Force của Không quân Mỹ sau đó đã nêu những số liệu gây kinh ngạc: các máy bay Su-30MKI, MiG-27, MiG-29 và thậm chí cả MiG-21 (bản cải tiến Bison) của không quân Ấn Độ đã thắng lợi với tỷ số cao trước các loại máy bay chủ lực của Không quân Mỹ là F-15C/D Eagle và. Trong đó, Su-30MKI đã giành thắng lợi trong đa số các cuộc giao chiến với cả F-16 và F-15 của Không quân Mỹ. Washington ProFile đã gọi thành công của các máy bay Nga là “điều hoàn toàn bất ngờ” đối với các phi công Mỹ.
Trong cuộc diễn tập không quân Anh - Ấn Indra Dhanush 2006, có sự tham gia của Su-30MKI và máy bay tiêm kích đánh chặn Tornado F3. Cả hai bên đều thống nhất không công bố kết quả của các cuộc không chiến, nhưng theo nhận xét của phi công Hoàng gia Anh, được phía Ấn Độ cho phép bay thử trên Su-30MKI, loại máy bay này hơn hẳn máy bay của Anh về các tính năng kỹ chiến thuật.
Sau cuộc tập trận không quân Red Flag 2008 tại Mỹ, tạp chí hàng không uy tín của Anh Flight đã tổ chức cho các độc giả website của mình bầu chọn loại máy bay tiêm kích tốt nhất thế giới từ một danh sách 3 ứng cử viên hàng đầu là Su-30MKI, F-15 và F-22 Raptor. Kết quả là Su-30MKI đã được bầu chọn là loại máy bay tiêm kích tốt nhất thế giới, hơn cả máy bay tiêm kích thế hệ 4 F-15 và máy bay tiêm kích thế hệ 5 là F-22 khi giành được 59% số phiếu bầu; so với 37% của F-22 và 4% của F-15.
Theo chuyên gia Simha, sự yếu kém của các phi công Mỹ trong tập trận cũng là do các chiến thuật đã cũ kỹ của họ, vốn được sử dụng trong các cuộc không chiến từ thời Chiến tranh Lạnh. Trong cuộc tập trận này, một viên đại tá Mỹ đã nhấn mạnh một vài thiếu sót của Su-30 như các vấn đề hiệu suất kém trong không chiến 1 chọi 1 với F-15 khiến chỉ sau một vài ngày, Ấn Độ không muốn "1 vs 1" nữa. Tuy nhiên, viên đại tá Hoa Kỳ này đã nhầm lẫn về một số tuyên bố của ông, bao gồm cả động cơ của Su-30MKI và radar của Mig-21, có lẽ viên đại tá này đã dựa vào những dữ liệu cũ ở trong thư viện
Tháng 4-2012, trong đợt huấn luyện chiến đấu của không quân đa quốc gia tại Malaysia, Su-30MKM đã giành thắng lợi liên tiếp khi đối đầu với các máy bay khác tham gia huấn luyện không chiến. Trong một tình huống luyện tập, Su-30MKI phải đấu với F-15C của không quân Mỹ cất cánh từ căn cứ Okinawa của Nhật Bản lên đánh chặn. 2 loại máy bay tiến hành không chiến và Su-30MKI đã bắn hạ mục tiêu F-15C. Chỉ huy trưởng của liên đội không quân số 18 của Mỹ đã thán phục Su-30MKI vì đã thể hiện tính năng cơ động và khả năng tác chiến tuyệt vời so với các loại máy bay đồng hạng.
Tháng 7/2015, trong đợt tập trận tại Anh, các tiêm kích Su-30MKI của Không quân Ấn Độ (IAF) đã thực hiện các trận đánh tập kiểm tra chống các tiêm kích Eurofighter Typhoon của Không quân Anh. Tỷ số là 12:0 nghiêng về phía các phi công Ấn Độ (12 chiếc Eurofighter Typhoon đã bị "bắn hạ" trong khi Su-30 MKI không có thiệt hại). Trong 1 tình huống không chiến, 1 chiếc Su-30MKI đã đối đầu với 2 chiếc Eurofighter Typhoon cùng một lúc, và nó đã bắn hạ cả 2 chiếc.
=== Lịch sử chiến đấu ===
Ngày 10-19/11/2014, Không quân Uganda điều 4 máy bay Sukhoi Su-30MK2 sang sân bay quốc tế Juba thuộc Nam Sudan nhằm hỗ trợ cho Quân đội Giải phóng Nhân dân Sudan (SPLA) chống lại lực lượng nổi dậy.
Khoảng 21h07 ngày 17/9/2015, một chiến đấu cơ Su-30 của Không quân Venezuela chở theo hai phi công là Ronald Ramirez và Jackson Garcia đã rơi xuống đất gần biên giới với Colombia trong khi đánh chặn máy bay của bọn buôn lậu ma túy.
Bộ QP Nga xác nhận ngày 1/10/2015 rằng Nga đã điều Hơn 50 chiến đấu cơ và trực thăng của Không quân Nga trong đó có 4 chiếc Sukhoi Su-30SM đến căn cứ ở Latakia, Syria nhằm hỗ trợ quân chính phủ Syria SAA (Syrian Arab Army) chống lại lực lượng Nhà nước Hồi giáo tự xưng ISIS. Những máy bay Su-30SM của Nga sẽ đảm nhận nhiệm vụ không kích các mục tiêu trên mặt đất, bảo vệ trên không cho các cường kích Su-25, Su-24 không kích và ngăn chặn các máy bay nước ngoài xâm phạm không phận Syria trong bối cảnh cuộc nội chiến ở Syria nổ ra từ năm 2011 giữa quân đội của tổng thống Syria Bashar Al-Assad (đồng minh của Nga ở Trung Đông) và các lực lượng nổi dậy gồm Quân đội tự do Syria (FSA), Al-Nursa (một nhánh của Al-Qeada ở Syria) được Mỹ và phương Tây hậu thuẫn vẫn chưa có dấu hiệu kết thúc.
== Sự kiện và tai nạn ==
12 tháng 6 năm 1999: Triển lãm hàng không Paris (Video)
10 tháng 6 năm 2006: Le Bourget, Triển lãm hàng không Paris, Pháp, một chiếc Su-30MK của Nga bị rơi - cả hai phi công đều nhảy dù an toàn, không ai dưới mặt đất bị thương.[3]
14 tháng 6 năm 2016: Một máy bay tiêm kích Su-30MK2V của Không quân Việt Nam xuất phát từ sân bay Sao Vàng (Thọ Xuân - Thanh Hóa) để thực tập huấn luyện, sau đó đã mất liên lạc khi cách đất liền ở Diễn Châu (Nghệ An) khoảng 25 km. Một phi công tử nạn.
Tính từ khi ra đời đến tháng 6/2016, sau 20 năm phục vụ trên khắp thế giới, đã có 17 chiếc Su-30 bị rơi do tai nạn: 6 chiếc của Không quân Ấn Độ, 3 chiếc của Không quân Nga, 2 chiếc của Không quân Trung Quốc, 2 chiếc của Uganda, 1 chiếc của Venezuala, 1 chiếc của Malaysia, 1 chiếc của Bolivia và 1 chiếc của Việt Nam. So với 540 chiếc Su-30 được chế tạo thì tỷ lệ rơi do tai nạn là 3,1%, đây là tỷ lệ rất thấp so với những máy bay cùng thời của phương Tây như F-15 Eagle (tỷ lệ tai nạn là 10,1%), F-16 Fighting Falcon (tỷ lệ tai nạn là 14,4%), F/A-18 Hornet (tỷ lệ tai nạn là 12%).
== Các phiên bản Su-30 ==
Su-27PU
Máy bay tiêm kích đánh chặn tầm xa dựa trên Su-27UB huấn luyện hai chỗ. Sau đổi tên thành Su-30.
Su-30
Máy bay thử nghiệm tĩnh với cánh mũi.
Su-30K
Phiên bản thương mại của Su-30 cơ bản. 50 chiếc đã được bán cho Ấn Độ và sau đó được nâng cấp thành Su-30MKI.
Su-30KI
Một phiên bản đề nghị của Sukhoi nâng cấp máy bay một chỗ Su-27S của Không quân Nga. Cũng có một phiên bản xuất khẩu trong kế hoạch cho Indonesia, 24 chiếc được đặt hàng nhưng sau đó hủy bỏ do khủng hoảng tài chính châu á 1997.
Su-30KN
Phiên bản nâng cấp chiến đấu 2 chỗ của Su-27UB, Su-30 và Su-30K.
Su-30M
Về bản chất là Su-27PU nâng cấp, đây là máy bay đa chức năng đúng nghĩa đầu tiên trong gia đình Su-27.
Su-30MK
Phiên bản thương mại của Su-30M, được xuất hiện vào năm 1993.
Su-30MKI
Hợp tác phát triển với công ty Hindustan Aeronautics Limited của Ấn Độ để sản xuất máy bay Su-30MK cho Không quân Ấn Độ. Nó được trang bị động cơ đẩy vec-tơ (Thrust Vectoring Control (TVC)) và cánh mũi. Trang bị với một hệ thống điện tử phức hợp đa quốc gia từ Israel, Ấn Độ, Nga và Pháp.
Su-30MKK
Phiên bản xuất khẩu cho Trung Quốc.
Su-30MKM
Phiên bản dựa trên MKI, đây là một phiên bản chuyên dụng cho Không quân Hoàng gia Malaysia với một số bộ phận tương tự như MKI, nhưng có hệ thống điện tử kết hợp giữa Pháp, Nam Phi và Nga. Nó có màn hình hiển thị trước mũi (HUD) hiện đại, hệ thống dẫn đường hồng ngoại tiên tiến (NAVFLIR) và thiết bị Damocles Laser Designation (LDP - thiết bị chỉ thị mục tiêu bằng laser) từ Thales Group của Pháp, cảm biến cảnh báo tên lửa MAW-300 (MAWS) và cảm biến cảnh báo laser (LWS) từ SAAB AVITRONICS (Nam Phi)[4], cũng như radar NIIP N011M BARS PESA, hệ thống tác chiến điện tử (EW), và buồng lái kính của Nga.[5]
Su-30MKV
xxxxthumb|Su-30MK2V của Không quân Nhân dân Việt NamPhiển bản xuất khẩu cho Venezuela có nhiều điểm giống với Su-30MK2. Có 2 chiếc được tham gia vào Lễ duyệt binh ở Caracas vào tháng 7-2006, những chiếc máy bay này được KNAAPO sản xuất và có số hiệu là 0460 và 1259. Venezuela xác nhận rằng những chiếc Su-30 được Venuela mua là Su-30MK2
Su-30MK2
Su-30MKK nâng cấp hệ thống điện tử cho phép hỗ trợ tên lửa chống tàu
Su-30MK2V
Phiên bản Su-30MK2 xuất khẩu đặc biệt dành riêng cho Việt Nam với những cải tiến phụ cho phù hợp với nhu cầu tác chiến trên biển nhiệt đới và hệ thống điện tử nội địa của không quân nga không dành cho bản xuất khẩu.
Su-30MK3
Su-30MKK với radar Zhuk MSE và hỗ trợ tên lửa chống tàu Kh-59MK.
Su-30MKA
Phiên bản xuất khẩu cho Algérie có nhiều điểm tương tự như MKI, nhưng phần lớn hệ thống điện tử trang bị của Pháp và Nga. Nó sẽ được trang bị các thiết bị hiển thị phía trước buồng lái và đa chức năng từ Thales Group và Sagem của Pháp.
Su-30M2
Phiên bản nâng cấp từ Su-30MK2 dùng cho không quân Nga do KnAAPO chế tạo. Hoàn thành thử nghiệm cấp nhà nước lần đầu vào năm 2010. Đây được coi là phiên bản Su-30 mạnh nhất hiện nay, trang bị động cơ đẩy vec-tơ (Thrust Vectoring Control (TVC)) giống như Su-30MKI và radar Irbis-E giống như Su-35. Không quân Nga sẽ nhận 16 chiếc nhằm thay thế cho các loại Su-27UB đã cũ, chúng được dùng để huấn luyện phi công Su-35 và Su-30SM.
Su-30SM
Phiên bản nâng cấp từ Su-30MKI do tập đoàn Irkut sản xuất cho Không quân Nga. Một hợp đồng 60 chiếc Su-30SM đã được ký kết vào tháng 3 năm 2012 và dự kiến chúng sẽ được chuyển giao vào năm 2016. Bay lần đầu tiên vào ngày 21 tháng 9 năm 2012. Có hệ thống rađa, liên lạc, phân biệt bạn-thù được cải thiện, ghế phóng thoát hiểm và vũ khí mới. So với Su-30MKI, Su-30SM thay thế hầu hết các linh kiện nước ngoài bằng các sản phẩm nội địa do Nga sản xuất, tuy nhiên nhiều linh kiện như hệ thống định vị và màn hình hiển thị thì vẫn nhập từ Pháp.
== Các quốc gia sử dụng ==
Algérie
Không quân Algérie sử dụng 44 chiếc Su-30MKA.
Trung Quốc
Không quân Quân giải phóng Nhân dân (PLAAF) có 76 chiếc Su-30MKK (tiếng Nga: Modernizirovannyi Kommercheskiy Kitaya; Modernized Commercial China; Phiên bản thương mại hóa dành cho Trung Quốc). PLAAF cũng có các phi đội Su-27. Lô đầu tiên trong 38 chiếc được giao vào 20 tháng 12 năm 2000 và kết thúc vào năm 2001. Lô thứ hai trong 38 chiếc được đặt hàng năm 2001 và bắt đầu giao hàng năm 2003.
Không quân Hải quân Quân giải phóng Nhân dân sử dụng 24 chiếc Su-30MK2. Những máy bay này được đặt mua vào tháng 1 năm 2003 và giao hàng vào tháng 8 năm 2004.
Ấn Độ
Không quân Ấn Độ, sau những năm đàm phán đã quyết định đặt mua 50 máy bay Su-30 và giành được giấy phép từ Sukhoi và Nga để sản xuất thêm 140 chiếc Su-30MKI nữa tại Ấn Độ. Công ty Hindustan Aeronautics Limited (HAL) của Ấn Độ là hãng sản xuất Sukhoi Su-30 với quy mô lớn trên thế giới. Ấn Độ đang mong chờ sẽ có được 230 chiếc Su-30MKI tính đến cuối năm 2015.
Indonesia
Không quân Indonesia có 5 chiếc Su-27SK & 5 chiếc Su-30MK2
Malaysia
Không quân Hoàng gia Malaysia sau chuyến tham quan những chiếc Su-30MKI của Ấn Độ, đã ký một thỏa thuận mua 18 chiếc Sukhoi Su-30MKM (M-Malaysia) vào tháng 5 năm 2003. 2 chiếc Su-30MKM đầu tiên đã được chính thức chấp nhận tại Irkutsk vào 23 tháng 5 2007, sau đó những máy bay này đã đến căn cứ không quân Gong Kedak vào ngày 21 tháng 6. Phi đội đầy đủ gồm 18 máy bay đã hoạt động vào cuối năm 2008. Một phần của thỏa thuận, Nga sẽ gửi một phi hành gia của Malaysia đến ISS.
Uganda
Không quân Ugandan đặt mua 8 chiếc Su-30MK2 với tổng trị giá là 744 triệu USD.
Nga
Không quân Nga có ít nhất 19 chiếc đang phục vụ.
Venezuela
Không quân Venezuela và chính phủ Venezuela vào 14 tháng 6 2006, đã thông báo đặt mua 24 chiếc Su-30MK2. 2 chiếc Su-30MK2 đầu tiên đã được giao vào tháng 12 năm 2006 trong khi 8 chiếc khác được giao trong năm 2007, 10 chiếc khác được giao năm 2008 và 4 chiếc còn lại sẽ theo lịch trình sẽ giao cuối năm 2008.
Việt Nam
Tới năm 2016, Không quân Nhân dân Việt Nam đã có 36 chiếc Su-30MK2V.
== Thông số kỹ thuật (Su-27PU/Su-30) ==
Dữ liệu lấy từ KNAAPO Su-30MK page, Sukhoi Su-30MK page, Gordon and Davidson
=== Đặc điểm riêng ===
Phi hành đoàn: 2
Chiều dài: 21.935 m (72.97 ft)
Sải cánh: 14.7 m (48.2 ft)
Chiều cao: 6.36 m (20.85 ft)
Diện tích cánh: 62.0 m² (667 ft²)
Trọng lượng rỗng: 17.700 kg (39.021 lb)
Trọng lượng cất cánh: 24.900 kg (54.900 lb)
Trọng lượng cất cánh tối đa: 34.500 kg (76.060 lb)
Động cơ: 2× động cơ phản lực cánh quạt đẩy tỷ lệ đường vòng thấp AL-31FL
Lực đẩy: 7.600 kgf (74.5 kN, 16.750 lbf) mỗi chiếc
Lực đẩy khi đốt nhiên liệu phụ trội: 12.500 kgf (122.58 kN, 27.560 lbf) mỗi chiếc
=== Hiệu suất bay ===
Vận tốc cực đại: Mach 2.0 (2.120 km/h, 1.320 mph)
Tầm bay: 3.000 km (1.620 dặm)
Trần bay: 17.300 m (56.800 ft)
Vận tốc bay lên: 230 m/s (45.275 ft/min)
Áp lực lên cánh: 401 kg/m² (82.3 lb/ft²)
Lực đẩy/trọng lượng: 0.89
=== Vũ khí ===
Su-27PU có 8 giá treo vũ khí, trong khi Su-30MK có 12 giá treo vũ khí: 2 giá treo ở đầu cánh 3 giá treo dưới mỗi cánh, dưới mỗi động cơ có 1, và 2 giá treo tại điểm tiếp giáp giữa động cơ và cánh. Mọi phiên bản có thể mang 8 tấn vũ khí (phiên bản Su-30MKK được một số nguồn cho rằng có thể mang 12 tấn vũ khí nhờ sử dụng một số bộ phận làm bằng composite khiến khung thân nhẹ hơn).
1× pháo GSh-30-1 30 mm 150 viên đạn
Tên lửa không đối không: 6× R-27ER1 (AA-10C), 2× R-27ET1 (AA-10D), 6× R-73E (AA-11), 6× RVV-AE (AA-12)
Tên lửa không đối đất: 6× Kh-31P/Kh-31A tên lửa chống radar, 6× Kh-29T/L tên lửa dẫn đường bằng laser, 2× Kh-59ME, 1x Kh-41
Bom: 6× KAB 500KR, 3× KAB-1500KR, 8× FAB-500T, 28× OFAB-250-270
== Tham khảo ==
Gordon, Yefim and Davidson, Peter. Sukhoi Su-27 Flanker, Specialty Press, 2006. ISBN 978-1-58007-091-1.
== Liên kết ngoài ==
[6]
Su-30MK page on Sukhoi.org
Su-30 page on FAS.org
Su-30 page on GlobalSecurity.org
Su-30 page on Milavia.net
Su-30MK page on Airforce-Technology.com
Sukhoi Flankers - The Shifting Balance of Regional Air Power
Su-27 Series at Greg Goebel's AIR VECTORS
Su-30 page on Veniks Aviation
Su-30 page on Fighter Tactics Academy site
Asia's Advanced Flankers on ausairpower.net
Sukhoi Su-30 Videos
Video on YouTube
Su-30 Videos
Malaysian SU-30MKM
Su-30 bay biểu diễn
== Nội dung liên quan ==
=== Máy bay có cùng sự phát triển ===
Sukhoi Su-27
Sukhoi Su-33
Sukhoi Su-34
Sukhoi Su-35
Sukhoi Su-37
Shenyang J-11
=== Máy bay có tính năng tương đương ===
Eurofighter Typhoon
F-15E Strike Eagle
F/A-18E/F Super Hornet
Mikoyan MiG-29M2
=== Danh sách tiếp theo ===
=== Xem thêm ===
Danh sách máy bay chiến đấu
Danh sách các máy bay chiến đấu Liên bang Xô viết và CIS |
cá bố mẹ.txt | Cá bố mẹ hay cá giống (Broodstock) là thuật ngữ về những con cá trưởng thành được sử dụng trong nuôi trồng thủy sản cho mục đích sinh sản, nhân giống. Cá bố mẹ có thể là một số lượng loài động vật duy trì trong điều kiện nuôi nhốt như một nguồn thay thế hoặc nâng cao cho con giống và cá con số. Chúng thường được giữ trong ao hoặc bể trong đó đảm bảo điều kiện môi trường như thời gian chiếu sáng, nhiệt độ và độ pH được kiểm soát. Cá bố mẹ cũng có thể được bắt nguồn từ các quần thể hoang dã, nơi chúng được thu hoạch và nuôi trong các bể trưởng thành trước khi giống của chúng được thu thập cho nuôi thương phẩm với quy mô thị trường.
== Nuôi vỗ ==
Muốn có con giống chất lượng thì phải chăm sóc cá bố mẹ thật tốt ngay từ giai đoạn nuôi vỗ. Tùy thuộc từng loài cá, đặc tính của cá mà có thời gian nuôi vỗ, chế độ nuôi vỗ… khác nhau. Tuy nhiên, có một yêu cầu chung nhất khi nuôi vỗ sinh sản các loài cá là chế độ dinh dưỡng thông qua việc cho ăn. Để cá bố mẹ thành thục tốt, thức ăn cung cấp hằng ngày trong quá trình nuôi vỗ không chỉ đủ về lượng mà phải đủ cả về chất.
Sự phát triển và thành thục sinh dục ở cá bố mẹ đòi hỏi hàm lượng dinh dưỡng rất cao: đủ chất đạm (protein), chất béo, vitamin, khoáng chất… Bên cạnh việc cho cá bố mẹ ăn đủ dinh dưỡng, trong quá trình nuôi vỗ phải chú ý sức khỏe và phòng bệnh cho cá. Theo dõi quản lý các yếu tố môi trường nuôi vỗ, những dấu hiệu bất thường, dấu hiệu dịch bệnh để xử lý và điều trị kịp thời.
== Một số loài ==
Với một số loài cá biển: Thức ăn tốt nhất là cá tạp, mực... tươi, sống. Bổ sung vitamin, khoáng chất hoặc thuốc phòng trị bệnh định kỳ vào cá mồi, sau đó cho cá ăn. Cần vớt bỏ thức ăn thừa trong bể nuôi vỗ hoặc ao, bè, để tránh làm ô nhiễm nước, ảnh hưởng đến sức khỏe cá bố mẹ. Khẩu phần cho ăn bằng 3 - 5% trọng lượng thân. Có thể cho ăn ngày 1 - 2 bữa, vào buổi sáng hoặc chiều mát.
Những loài cá nước ngọt, cá truyền thống: Đối với những loại cá này, nguồn thức ăn khá phong phú (như rau, cỏ, cám, thức ăn tự chế biến…). Tuy nhiên, cần phải phối trộn nhiều loại nguyên liệu để đảm bảo dinh dưỡng cho cá bố mẹ. Các nguyên liệu có thể bổ sung như: bột cá, bột đậu tương, cám gạo, rau xanh… Ngoài những thành phần, loại thức ăn cơ bản, cần bổ sung những loại thức ăn ưa thích, có giá trị dinh dưỡng cao cho cá. Trong nuôi vỗ cá chép bố mẹ, ngoài thức ăn hỗn hợp có hàm lượng protein 25% trở lên, cần bổ sung thóc mầm cho cá ăn. Đây là loại thức ăn cá chép ưa thích, có nhiều dinh dưỡng tốt cho sự thành thục và phát dục của cá.
Riêng với cá trắm cỏ, trong giai đoạn nuôi vỗ thoái hóa phải cho cá nhịn ăn; đến giai đoạn nuôi vỗ tích lũy (tích cực) cho ăn cám gạo, bột ngô, đậu tương và bột cá, đồng thời bổ sung thêm các loại rau, cỏ... Khi chuyển sang giai đoạn nuôi vỗ chuyển hóa (thành thục) thì không cho cá ăn tinh bột mà chỉ cho ăn rau xanh, cỏ và thóc mầm. Đồng thời tăng cường thời gian bơm nước vào ao nuôi.
Đối với cá tra bố mẹ thì khi nuôi vỗ cá bố mẹ thì hàm lượng protein phải đảm bảo từ 30% trở lên thì cá mới thành thục tốt. Nguyên liệu chế biến thức ăn có thể là cá tạp tươi, bột cám cám gạo, rau xanh… Từ những nguyên liệu này phối trộn theo tỷ lệ: cá tạp 60% + cám gạo 9% + rau xanh 30% + vitamin, premix khoáng 1% là có thể tạo ra thức ăn đủ dinh dưỡng cho cá bố mẹ. Khẩu phần cho ăn bằng 4 - 5% trọng lượng thân. Cho ăn 1 - 2 lần/ngày.
== Tham khảo ==
Waples, R.S., and C. Do. 1994. Genetic risk associated with supplementation of Pacific salmonids: Captive broodstock programs. Canadian Journal of Fisheries and Aquatic Science,51(1), 310–329.
Fast, A. W. (1994). Effects of broodstock size and source on ovarian maturation and spawning on Penaeus monodon Fabricius from the Gulf of Thailand. Journal of the World Aquaculture Society, 25(1), 41–49.
Izquierdo, M. S., Fernandez-Palacios, H. And Tacon, A. G. J. (2001). Effect of broodstock nutrition on reproductive performance of fish. Aquaculture, 197, 25–42.
Mylonas, C. C., Fostier, A. And Zanuy, S. (2010). Broodstock management and hormonal manipulations of fish reproduction. General and Comparative Endocrinology, 165(3), 516–534.
Bromage, N., Jones, J., Randall, C., Thrush, M., Davies, B., Springate, J., Duston, J. and Barker, G., (1992), Broodstock management, fecundity, egg quality and the timing of egg production in the rainbow trout (Oncorhynchus mykiss).Aquaculture, 100, 14.
Yousefian, M., Mousavi, S. E.(2011). The mechanism of reproduction and hormonal function in finfish species: A review. Scientific Research and Essays, 6(17), 3561-3570.
Mousavi, S. E. (2013). Hormonal induction and synchronization of ovulation in endangered Caspian brown trout (Salmo trutta caspius Kessler, 1877) and its effect on egg quality.Journal of current research in science, 1(4), 192-198.
Yousefian, M., Mousavi, S. E.(2011). A review of the control of reproduction and hormonal manipulations in finfish species. African Journal of Agricultural Research, 6(7), 1643-1650.
Demoulin, F. (1999). Guidelines for broodstock and hatchery management; Support for technical services. Food and Agriculture Organisation of the United Nations, Bangkok. |
thành phố luân đôn.txt | Thành phố Luân Đôn (tiếng Anh: City of London) là một khu vực nhỏ trong Đại Luân Đôn, Liên hiệp Anh. Đó là khu lõi lịch sử của Luân Đôn mà xung quanh đó là khu vực đô thị hiện đại phát triển ra và đã có tư cách thành phố kể từ thời xa xưa. Các ranh giới của thành phố vẫn gần như không thay đổi kể từ thời Trung cổ, và nó là bây giờ chỉ là một phần nhỏ của thủ đô Luân Đôn, mặc dù vẫn là một phần đáng chú ý của trung tâm Luân Đôn. Nó thường được gọi là thành phố (thường được viết trên các bản đồ là "Thành phố"), hoặc Dặm Vuông, vì nó chỉ có diện tích hơn một dặm vuông (1,12 dặm vuông/2,9 km2). Những thuật ngữ này cũng thường được sử dụng để nói về ngành công nghiệp dịch vụ tài chính của Liên hiệp Anh nổi tiếng trong lịch sử cho đến nay - vốn bắt nguồn từ khu này.
Trong thời kỳ trung cổ, thành phố này đã bao gồm toàn bộ Luân Đôn. Thuật ngữ "Luân Đôn" ngày nay dùng để chỉ một khu vực đô thị lớn hơn nhiều khoảng tương ứng với Đại Luân Đôn, một khu vực chính quyền địa phương bao gồm 32 khu tự quản Luân Đôn và Thành phố Luân Đôn. Chính quyền địa phương của thành phố, Hội đồng Thành phố Luân Đôn, là chính quyền địa phương đặc biệt ở Liên hiệp Anh, và có một số trách nhiệm không thường lệ so với một chính quyền địa phương khác ở Anh, như có cơ quan cảnh sát cho thành phố. Chính quyền này cũng đặc biệt ở chỗ chịu trách nhiệm và quyền sở hữu ngoài ranh giới của thành phố. Hội đồng được điều hành bởi Tổng Thị trưởng Thành phố Luân Đôn (Lord Mayor of the City of London), một chức vụ riêng biệt (và lâu đời hơn) Thị trưởng Luân Đôn (Mayor of London). Lord Mayor hiện tại cho đến tháng 11 năm 2016 là Andrew Parmley.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ
Hội đồng Thành phố Luân Đôn
Du lịch Thành phố
Bảo tàng Luân Đôn |
chú bác.txt | Chú hay bác (tiếng Anh: uncle) là anh hay em trai của cha mình. Em trai của ba thì gọi bằng chú, anh trai là bác. Khi một người cháu xưng hô với chú, bác hay thường kèm theo thứ tự để phân biệt (như bác hai, chú tư). Vợ của chú thì gọi là thím, vợ của bác thì gọi là bác gái.
Chú hay bác của ba (hay mẹ) mình thì gọi là ông chú hay ông bác.
== Thành ngữ ==
Chết cha còn chú, sẩy mẹ bú dì.
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
wikiquote.txt | Wikiquote là một dự án thuộc Quỹ Hỗ trợ Wikimedia, cùng với Wikipedia là nơi sưu tầm các câu thơ, câu ca dao, tục ngữ ở trên mạng. Hiện nay tại đây người dùng có thể đăng lên những câu thơ, câu ca dao nói về một cái gì đó. Dự án này được chính thức thành lập vào năm 2002. Vào năm 2004 hai phiên bản tiếng Pháp và tiếng Ba Lan được mở cửa hoạt động. Phiên bản tiếng Việt chính thức hoạt động vào năm 2005. Dự án nay được mở cửa dựa theo ý tưởng của một người Mỹ tên là Daniel Alston.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Wikiquote
Wikiquote tiếng Việt
Wikiquote tiếng Anh |
tình yêu.txt | Tình yêu là một loạt các cảm xúc, trạng thái tâm lý, và thái độ khác nhau dao động từ tình cảm cá nhân ("Tôi yêu mẹ tôi") đến niềm vui sướng("Tôi thích món ăn"). Tình yêu thường là một cảm xúc thu hút mạnh mẽ và nhu cầu muốn được ràng buộc gắn bó. Nó cũng có thể là một đức tính đại diện cho lòng tốt của con người, sự nhân từ, và sự thông cảm - "mối quan tâm trung thành và vị tha hướng tới người khác". Nó cũng có thể mô tả các hành động nhân văn và thông cảm đối với người khác, chính bản thân mình hoặc các con vật.
Người Hy Lạp cổ đại xác định bốn hình thức của tình yêu: Quan hệ gần gũi của họ hàng hay người thân (trong tiếng Hy Lạp, storge), tình bạn (philia), ham muốn tình dục và/hoặc cảm xúc lãng mạn (eros), và xúc cảm dành cho các giá trị tôn giáo (agape). Các tác giả hiện đại đã phân biệt các biến thể chi tiết hơn nữa của tình yêu lãng mạn. Các nền văn hóa không phải của phương Tây cũng có các biến thể khác nhau cho các trạng thái cảm xúc này. Sự đa dạng của việc sử dụng và ý nghĩa kết hợp với sự phức tạp của những cảm giác của tình yêu làm cho việc thống nhất xác định thế nào là tình yêu trở nên cực kỳ khó khăn khi so với các trạng thái cảm xúc khác.
Tình yêu với các hình thức khác nhau của nó đóng vai trò như một nhân tố chính trong các mối quan hệ giữa các cá nhân, Do nó là đặc biệt quan trọng trong tâm lý, tình yêu đã và luôn là một trong những chủ đề phổ biến nhất trong sáng tạo nghệ thuật.
Tình yêu có thể được hiểu như là một chức năng để giữ cho con người cùng nhau chống lại khó khăn và tạo điều kiện cho sự duy trì nòi giống của con người.
== Định nghĩa ==
Từ "tình yêu" có thể có nhiều ý nghĩa liên quan nhưng khác biệt trong các bối cảnh khác nhau. Nhiều ngôn ngữ khác sử dụng nhiều từ ngữ để diễn tả một số khái niệm khác nhau của "tình yêu"; một ví dụ là có 4 từ Hy Lạp cho "tình yêu" (storge, philia, eros, agape). Khác biệt trong khái niệm tình yêu của các nền văn hóa khác nhau dẫn đến việc thành lập một định nghĩa phổ quát cho tình yêu là rất khó khăn.
Mặc dù bản chất của tình yêu là một đề tài tranh luận thường xuyên, các khía cạnh khác nhau của từ này có thể được làm rõ bằng cách xác định những gì không phải là tình yêu (từ trái nghĩa của nó). Tình yêu như một biểu hiện chung của tâm lý tích cực (một hình thức mạnh mẽ của ưa thích) thường trái ngược với ghét bỏ (hoặc thờ ơ theo nghĩa trung tính); nếu tình yêu như một hình thức tình cảm thân mật bao gồm nhiều cảm xúc lãng mạn và ít cảm xúc tình dục, khi đó thường có nghĩa trái ngược với ham muốn; còn nếu tình yêu như một mối quan hệ giữa các cá nhân với cảm xúc lãng mạn, khi đó tình yêu đôi khi mang nghĩa trái ngược với tình bạn, mặc dù tình yêu thường được áp dụng cho các tình bạn gần gũi. (Nghĩa mơ hồ hơn nữa áp dụng cho các từ như "bạn gái", "bạn trai", hay thành ngữ "chỉ là bạn tốt").
Thảo luận tình yêu một cách trừu tượng thường đề cập đến một trải nghiệm một người cảm thông với một người khác. Tình yêu thường liên quan đến việc chăm sóc cho một người hay một vật (thuyết chăm sóc về tình yêu), bao gồm cả bản thân mình (tự ngưỡng mộ bản thân - narcissism). Ngoài sự khác biệt giữa các văn hóa trong sự hiểu biết về tình yêu, quan điểm về tình yêu cũng đã thay đổi rất nhiều theo thời gian. Một số nhà sử học trong giai đoạn Phục Hưng châu Âu hoặc sau thời Trung Cổ lại có quan niệm hiện đại về tình yêu lãng mạn, mặc dù sự tồn tại các cảm xúc lãng mạn được các bài thơ tình cổ đại ghi nhận.
Tính chất phức tạp và trừu tượng của tình yêu thường tạo ra các thành ngữ về tình yêu ở đó tình yêu vượt trên mọi cảm xúc khác. Dẫn chứng là một số câu tục ngữ thông thường về tình yêu, từ "Tình yêu sẽ chiến thắng tất cả" của Virgil đến "Tất cả thứ bạn cần là tình yêu" của Beatles. Thánh Thomas Aquinas, sau Aristotle, định nghĩa tình yêu là "tạo ra điều tốt lành cho người khác." Bertrand Russell mô tả tình yêu như một điều kiện "có giá trị tuyệt đối", trái ngược với giá trị tương đối. Nhà triết học Gottfried Leibniz nói tình yêu là "vui mừng vì hạnh phúc của người khác." Nhà sinh học Jeremy Griffith định nghĩa tình yêu là "lòng vị tha vô điều kiện".
== Tình yêu nam nữ ==
Tình yêu giữa hai giới tính nam và nữ được định nghĩa là "Hệ quả của sự kết hợp giữa bản năng và trí tuệ của con người".
Định nghĩa trên hình thành từ khái niệm "bản năng con người" và "trí tuệ con người". Theo triết học: tình yêu là một loại tình cảm giữa người và người, hướng con người đến Chân, Thiện, Mỹ.
Bản năng con người được nhìn nhận trong đây là những hành động suy nghĩ sẵn có từ trong tự nhiên trong đó có việc giao cấu để duy trì nòi giống (giữa hai giống đực và cái), việc tụ tập số đông - kết hợp nhiều cá thể để đạt mục đích sinh tồn, v.v...
Trong xã hội loài người phát triển, với bộ óc thông minh, hay trong đây gọi là "trí tuệ" cho phép con người không chỉ dừng lại ở việc kết hợp cá thể hay giao cấu đơn thuần như ở động vật mà còn hình thành vô số những biểu hiện quan tâm, chăm sóc, bảo vệ, tình yêu còn biểu hiện bằng sự nghen tuông sự giận hờn giữa người nam và người nữ...
Từ hai yếu tố trên, tình yêu trở thành điều tất yếu trong xã hội và hơn nữa, sự kết hợp của trí tuệ làm cho những biểu thái của tình yêu đa dạng thậm chí kỳ lạ, khiến nhiều người cảm thấy rất khó để có thể có một cơ sở chắc chắn khi nói về tình yêu giới tính.
So sánh giữa sự kết hợp giới ở động vật, từ những loài có trí não kém phát triển như bò sát, chim,... cho đến thú đặc biệt là khỉ, vượn,... và con người phong kiến, con người hiện đại, đặc biệt là thế hệ những người phát triển trước thế giới cả trăm năm như Hoa Kỳ, Anh,... sẽ tìm thấy những điểm lý thú và vô cùng logic trong tình yêu giới tính.
== Xem thêm ==
Ngày Valentine
Hạnh phúc
Hôn nhân
Tình dục
Người đàn ông tốt
Hận thù
Ghen ghét
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Love tại Wikimedia Commons
A Social Psychological Perspective on Positive Illusions in Romantic Relationships (tiếng Anh)
The Anatomy of Love Explanation of Theories of Love (tiếng Anh) |
phạm tuyên.txt | Phạm Tuyên (sinh năm 1930) là một nhạc sĩ Việt Nam nổi tiếng, cựu Chủ tịch Hội Âm nhạc Hà Nội, tác giả của bài hát "Như có Bác trong ngày đại thắng", một bài hát cộng đồng được nhiều người hát tại Việt Nam.
== Thân thế và sự nghiệp ==
Ông sinh ngày 12 tháng 1 năm 1930, quê ở thôn Lương Ngọc, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang, Hải Hưng (nay là Hải Dương).
Năm 1949, ông công tác tại Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, khóa V. Năm 1950, là Đại đội trưởng tại Trường Thiếu sinh quân Việt Nam. Trong thời gian này, ông đã có những chùm ca khúc về Trường Lục quân Trần Quốc Tuấn, về Thiếu sinh quân Việt Nam.
Năm 1954, ông được cử làm cán bộ phụ trách Văn-Thể-Mỹ tại Khu học xá Trung ương (Nam Ninh, Trung Quốc). Từ năm 1958, ông về nước, công tác tại Đài tiếng nói Việt Nam, đảm nhiệm nhiều chức vụ chỉ đạo về biên tập âm nhạc. Từ đó cho đến năm 1975, ông đã sáng tác nhiều bài hát được nhiều người biết như Bài ca người thợ rừng, Bài ca người thợ mỏ, hợp xướng Miền Nam anh dũng và bất khuất, Bám biển quê hương, Yêu biết mấy những con đường, Chiếc gậy Trường Sơn, Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ, Từ làng Sen, Đêm trên Cha Lo, Từ một ngã tư đường phố.
Bài Như có Bác trong ngày đại thắng được ông sáng tác đêm ngày 28 tháng 4 năm 1975, tập và thu âm ngay trong chiều ngày 30 tháng 4 để phát sóng trong bản tin thời sự đặc biệt 17 giờ cùng ngày của Đài tiếng nói Việt Nam chính thức công bố tin giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam.
Sau 1975, ông có những ca khúc phổ biến như: Gửi nắng cho em, Con kênh ta đào, Màu cờ tôi yêu (thơ Diệp Minh Tuyền), Thành phố mười mùa hoa (1985, thơ Lệ Bình,...).
Ca khúc Chiến đấu vì độc lập tự do được ông sáng tác ngay trong đêm của ngày nổ ra cuộc chiến tranh biên giới Việt-Trung năm 1979. Ca khúc này đã mở đầu cho trào lưu cho dòng nhạc "biên giới phía Bắc" nhưng không còn được lưu hành kể từ khi quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc được cải thiện.
Ông có sáng tác nhiều cho lớp trẻ. Nhiều bài hát thiếu nhi đã trở thành bài truyền thống qua nhiều thế hệ như: Tiến lên đoàn viên, Chiếc đèn ông sao, Hành khúc Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, Hát dưới cờ Hà Nội, Gặp nhau giữa trời thu Hà Nội, Đêm pháo hoa, Cô và mẹ,...
Ông còn viết nhiều bài cho tạp chí, Đài phát thanh và truyền hình giới thiệu về thẩm mỹ âm nhạc, về tác giả và tác phẩm, là người đề xướng và chỉ đạo nhiều cuộc thi mang tính chất toàn quốc như Tiếng hát hoa phượng đỏ, Liên hoan Văn nghệ truyền hình toàn quốc, nhiều năm là Chủ tịch Hội đồng giám khảo của nhiều Hội diễn toàn quốc về văn hoá - văn nghệ của Bộ Văn hóa Thông tin và nhiều ngành khác trong nước.
Ông là Ủy viên Thường vụ Ban Chấp hành Hội nhạc sĩ Việt Nam từ năm 1963 đến năm 1983.
Vào năm 1993, ông phổ lời Việt cho một số ca khúc chủ đề trong phim hoạt hình Nhật Bản Doraemon cho Đội ca thiếu nhi Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện. Sau đó các bài hát được Nhà xuất bản Kim Đồng tập hợp phát hành dưới dạng băng casette gồm 2 vol dưới tên Chúng ta hát cùng Đô rê mon.
Ông hiện đã nghỉ hưu và sống tại Hà Nội. Ngày 18 tháng 8 năm 2011 ban liên lạc họ Phạm tại Tp Hồ Chí Minh và công ty TNHH họ Phạm Phương Nam tổ chức đêm nhạc Họ Phạm với chủ đề: "Mọi trái tim - một tấm lòng" cũng mời ông và nhạc sĩ Phạm Duy tới dự.
Năm 2001, nhạc sĩ Phạm Tuyên được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật cho cụm 5 tác phẩm: Đảng đã cho ta một mùa xuân, Bám biển quê hương, Chiếc gậy Trường Sơn, Gảy đàn lên hỡi người bạn Mỹ, Như có Bác trong ngày đại thắng.
Năm 2005, Phạm Tuyên được đề cử giải thưởng Hồ Chí Minh nhưng không đạt vì ông chưa có cụm công trình nào xuất sắc hơn cụm công trình đã được Giải thưởng Nhà nước.
Năm 2012, ông được Nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt IV về văn học nghệ thuật cho các tác phẩm Những ngôi sao ca đêm, Từ Làng Sen, Đêm trên Cha Lo, Tiến lên Đoàn viên, Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng.
== Gia đình ==
Ông là con thứ 9 của Thượng thư Bộ Lại Phạm Quỳnh (1892-1945) và bà Lê Thị Vân (1892-1953).Vợ ông là là cố PGS-TS Nguyễn Ánh Tuyết (sinh năm 1936) chuyên ngành tâm lý học, chủ nhiệm đầu tiên của khoa GD Mầm non Trường ĐH Sư phạm Hà Nội, tác giả của 18 bộ giáo trình giảng dạy, 40 năm giảng dạy và viết bài cho nhiều tạp chí khoa học, giáo dục,... Ông bà có với nhau 2 cô con gái.
== Các ấn bản ==
Nhạc Lý cơ bản (Khu học xá TW-1956)
Tập ca khúc Chiếc gậy Trường Sơn (Nhà xuất bản Âm nhạc 1973); Tập ca khúc Phạm Tuyên (Nhà xuất bản Văn hoá, 1982); Gửi nắng cho em (Nhà xuất bản Âm nhạc, 1991); Ca khúc Phạm Tuyên (50 bài, Nhà xuất Âm nhạc, 1994);
Băng Audio-cassette Gửi nắng cho em (Saigon Audio, 1992); Lời ru của đêm (Công ty đầu tư phát triển, Bộ Văn hóa Thông tin - 1993);
Sách âm nhạc: Các bạn trẻ hãy đến với âm nhạc (Nhà xuất bản Thanh niên, 1982), Âm nhạc ở quanh ta (Nhà xuất bản Kim Đồng, 1987).Chú voi con ở bản Đôn(Nhà xuất bản Âm nhạc, 1995).Cánh én tuổi thơ (Nhà xuất bản Kim Đồng, 1997)
== Các tác phẩm tiêu biểu ==
Hà Nội Điện Biên Phủ (ca khúc sáng tác trong 12 ngày đêm ngày khói lửa trên bầu trời Hà Nội)
Đảng đã cho ta mùa xuân
Chiếc gậy Trường Sơn
Con kênh ta đào
Gởi nắng cho em
Lời ru của đêm
Màu cờ tôi yêu
Như có Bác trong ngày đại thắng
Đảng đã cho ta sáng mắt sáng lòng
Từ một ngã tư đường phố
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
telua.txt | Telua (tiếng Latinh: Tellurium) là tên một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Te và số nguyên tử bằng 52.
Nó có màu sáng óng ánh bạc của á kim, giòn có độc tính trung bình, trông giống thiếc. Telua có quan hệ hóa học gần gũi với selen và lưu huỳnh. Nó hay được dùng trong pha chế hợp kim và chất bán dẫn.
Nó thường được tìm thấy trong ở dạng tự sinh trong tự nhiên như các tinh thể nguyên tố. Telluri phổ biến trong vũ trụ hơn là trên Trái Đất. Nó là nguyên tố cực kỳ hiếm trong vỏ Trái Đất so với platin, một phần là do số nguyên tử cap. nhưng cũng do sự hình thành của nó trong hydride dễ bay hơi làm cho nguyên tố này bị mất trong không gian ở dạng khí trong quá trình hình thành tinh vân nóng của hành tinh.
Telua không có chức năng sinh học, mặc dù nấm có thể kết hợp nó trong vị trí của lưu huỳnh và selen trong các amino axít như telluro-cysteine và telluro-methionine. Trong cơ thể con người, telua một phần được chuyển hóa thành dimethyl teluarua, (CH3)2Te,
== Thuộc tính ==
Telua là nguyên tố hiếm, có tính chất hóa học giống ôxy, lưu huỳnh, selen và poloni (các nguyên tố của nhóm nguyên tố 16).
Ở dạng tinh thể, telua có màu sáng bạc và khi ở trạng thái nguyên chất, nó có óng ánh kim loại. Nó giòn, dễ vỡ, dễ nghiền thành bột. Telua vô định hình có thể được tạo ra từ kết tủa trong axít chứa telua (Te(OH)6). Tuy nhiên có tranh cãi rằng dạng kết tủa có thể không thực sự vô định hình mà gồm các vi tinh thể.
Telua là một chất bán dẫn loại p, có độ dẫn điện phụ thuộc hướng sắp xếp của các nguyên tử trong tinh thể. Liên hệ hóa học với selen và lưu huỳnh, độ dẫn điện của telua tăng nhẹ khi được chiếu sáng. Chất bán dẫn telua có thể được pha thêm đồng, vàng, bạc hay kim loại khác.
Telua cháy trong không khí tạo lửa xanh lá cây-xanh lam và sinh ra ôxít telua. Khi nóng chảy, telua ăn mòn đồng, sắt và thép không gỉ.
== Ứng dụng ==
Pha chế hợp kim: cho thêm vào chì để tăng độ cứng, độ bền và chống sự ăn mòn của axít sunfuríc. Cho thêm vào đồng và thép không gỉ để dễ chế tạo. Cho thêm vào gang để dễ làm nguội.
Dùng trong đồ sứ.
Hợp chất telua với bitmut (???) được dùng trong các thiết bị nhiệt điện.
Dùng trong ngòi nổ.
Dùng với cadmi (????) để làm pin mặt trời có hiệu suất sinh điện cao.
== Lịch sử ==
Telua (tiếng Latin nghĩa là đất) được khám phá năm 1782 bởi Franz-Joseph Müller von Reichenstein ở Rumani. Năm 1798 nó được đặt tên bởi Martin Heinrich Klaproth người đã chiết tách được chất này.
Những năm 1960, các ứng dụng nhiệt điện và công nghệ chế tạo thép thuận tiện đã nâng nhu cầu sử dụng telua.
== Độ phổ biến ==
Telua thỉnh thoảng có thể tìm thấy nguyên chất, nhưng thường hay thấy trong các hợp chất với vàng, hay các kim loại khác. Do cùng chuỗi hóa học với selen và lưu huỳnh, telua cũng tạo hợp chất tương tự với các kim loại, hiđrô and hay các iôn kiểu này, gọi là teluarít (??). Các teluarít vàng và bạc được coi là các quặng tốt.
Độ phổ biến của Telua trong vỏ Trái Đất có thể so sánh với platin, telua là một trong những nguyên tố rắn bền và hiếm trong vỏ Trái Đất. Nó chiếm khoảng 1 µg/kg, trong khi nguyên tố hiếm nhóm Lantan trong vỏ Trái Đất chiếm 500 µg/kg (see Abundance of the chemical elements).
== Đồng vị ==
Telua có 30 đồng vị đã biết, với khối lượng nguyên tử từ 108 đến 137. Telua là một trong những nguyên tố nhẹ nhất trải qua phân rã anpha, với các đồng vị 106Te đến 110Te được biết là phân rã theo cơ chế này. Trong tự nhiên tồn tại 8 đồng vị telua (bảng bên), 4 122Te, 124Te, 125Te and 126Te là bền, trong khi 4 đồng vị còn lại 120Te, 123Te, 128Te and 130Te có tính phóng xạ.
Các đồng vị bền chỉ chiếm 33,2% trong các telua tự nhiên; điều này có thể do chu kỳ bán rã dài của các đồng vi phóng xạ. Chu kỳ bán rã của chúng dao động từ 1013 đến 2,2 1024 năm (đối với 128Te). Do đó, 128Te là đồng vị có chu kỳ bán rã lâu nhất trong tất cả các hạt nhân phóng xạ, bằng khoảng 160 tỉ (1012) lần tuổi của vũ trụ.
== Sản xuất ==
Nguồn thu telua chủ yếu từ bùn dính tại các điện cực anốt trong lúc điện phân tinh lọc các xốp đồng. Xử lý 500 tấn quặng đồng thu hồi được 0,45 kg telua. Telua được sản xuất chủ yếu ở Hoa Kỳ, Peru, Nhật Bản và Canada. Năm 2009, theo Cục Địa chất Anh, Hoa Kỳ sản xuất 50 tấn, Peru 7 t, Nhật 40 t và Canada 16 t.
== Cảnh báo ==
Nồng độ telua 0,01 mg/m3 hay ít hơn trong không khí gây nên mùi giống mùi tỏi. Telua và các hợp chất của nó được coi là độc và cần phải cẩn trọng khi làm việc với chúng.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Anh)
WebElements.com – Tellurium
EnvironmentalChemistry.com – Tellurium
Los Alamos National Laboratory – Tellurium |
giải thưởng lớn của cộng đồng pháp ngữ.txt | Giải thưởng lớn của Cộng đồng Pháp ngữ (tiếng Pháp: Grand prix de la francophonie) là một giải thưởng do Viện hàn lâm Pháp trao hàng năm cho một tác phẩm của một nhân vật có đóng góp xuất sắc vào việc phát triển ngôn ngữ Pháp trong quốc gia mình hoặc trên toàn thế giới.
Giải này được "Quỹ quốc tế" (Fondation internationale), do chính phủ Canada mở ra năm 1986, được chính phủ Pháp, công quốc Monaco, vương quốc Maroc cùng nhiều khoản tặng dữ tư nhân khác bổ sung.
Có sự khác biệt về khoản tiền thưởng mỗi năm. Ngoài ra Viện hàn lâm Pháp cũng trao thêm huy chương bạc mạ vàng của Viện cho những người khác
== Những người đoạt giải ==
1986
Georges SCHÉHADÉ
Toàn bộ tác phẩm
400.000 Francs Pháp
Jean-Paul CACHERA
La Maladie coronaire
Huy chương bạc mạ vàng
Jean-Paul CACHERA
La Maladie coronaire
Huy chương bạc mạ vàng
Martial BOURASSA
La Maladie coronaire
Huy chương bạc mạ vàng
1987
Yoichi MAEDA
Các tác phẩm tiếng Pháp và tiếng Nhật về Pascal và Descartes
400.000 Francs Pháp
André FERRÉ
Huy chương bạc mạ vàng
1988
Jacques RABEMANANJARA
Toàn bộ tác phẩm littéraire
400.000 Francs Pháp
Jacques LEPRETTE
Huy chương bạc mạ vàng
1989
Hubert REEVES
Tác phẩm khoa học tiếng Pháp
400.000 Francs Pháp
Maurice MORIAU
Plaquettes sanguines (Édition bilingue français-anglais).
Huy chương bạc mạ vàng
Christian VALANTIN
Huy chương bạc mạ vàng
1990
Albert COSSERY
Toàn bộ tác phẩm
400.000 Francs Pháp
Axel KAHN
Huy chương bạc mạ vàng
José Guilherme MERQUIOR
Huy chương bạc mạ vàng
1991
Hồng y Léon-Joseph SUENENS
Toàn bộ tác phẩm thần học và mục vụ bằng tiếng Pháp
400.000 Francs Pháp
Noureddine ABA
Toàn bộ tác phẩm
Huy chương bạc mạ vàng
Junzo KAWADA
Công trình đa môn, do Đại học Tokyo xuất bản bằng tiếng Pháp
Huy chương bạc mạ vàng
1992
Nguyễn Khắc Viện
400.000 Francs Pháp
Maurice MÉTRAL
Huy chương bạc mạ vàng
Stig STRÖMHOLM
Huy chương bạc mạ vàng
1993
Henri LOPES
Le Pleurer-rire, Le chercheur d’Afriques, Sur l’autre rive
400.000 Francs Pháp
Manuela CARNEIRO da CUNHA
Huy chương bạc mạ vàng
Habib EL MALKI
Huy chương bạc mạ vàng
Abdellatif LARAKI
Huy chương bạc mạ vàng
1994
Mohammed DIB
Toàn bộ tác phẩm
400.000 Francs Pháp
Andrew BROWN
Huy chương bạc mạ vàng
Ulla KÖLVING
Huy chương bạc mạ vàng
Liliane LIENERT
Huy chương bạc mạ vàng
Saliou TOURÉ
Huy chương bạc mạ vàng
1995
Salah STÉTIÉ
Toàn bộ tác phẩm
400.000 Francs Pháp
Jacques CAEN
Coopération médicale franco-chinoise
Huy chương bạc mạ vàng
Dr. Stowell GODING
Services rendus à la culture française
Huy chương bạc mạ vàng
1996
Abdou DIOUF
300.000 Francs Pháp
AFAA (Association française d’Action Artistique)
Action dans le monde francophone
Huy chương bạc mạ vàng
Adnan ZMERLI
Huy chương bạc mạ vàng
1997
Abdellatif BERBICH
300.000 Francs Pháp
André BRINCOURT
Terre d’accueil
Huy chương bạc mạ vàng
1998
Jean STAROBINSKI
Tác phẩm phê bình nổi tiếng thế giới
300.000 Francs Pháp
Eduardo VIVEIROS de CASTRO
Huy chương bạc mạ vàng
Jusuf VRIONI
Các bản dịch tác phẩm của Ismaïl Kadaré
Huy chương bạc mạ vàng
1999
Gunnar von PROSCHWITZ
300.000 Francs Pháp
Assia DJEBAR
Huy chương bạc mạ vàng
2000
Giovanni MACCHIA
300.000 Francs Pháp
Andreï MAKINE
Toàn bộ tác phẩm
Huy chương bạc mạ vàng
2001
François CHENG
Toàn bộ tác phẩm
300.000 Francs Pháp
François RICARD
Toàn bộ tác phẩm
Huy chương bạc mạ vàng
2002
Bronislaw GEREMEK
Toàn bộ tác phẩm viết bằng tiếng Pháp
45.000 euros
Cai HUA
Huy chương bạc mạ vàng
Raïssa TELECHOVA]]
Huy chương bạc mạ vàng
[[Marek BIENCZYK
Huy chương bạc mạ vàng
2003
Édouard MAUNICK
Toàn bộ tác phẩm
22.500 euros
Ghassan SALAMÉ
Huy chương bạc mạ vàng
LE THAN KHOI
Huy chương bạc mạ vàng
2004
Albert MEMMI
Toàn bộ tác phẩm viết bằng tiếng Pháp
22.500 euros
Henry CUNY
Huy chương bạc mạ vàng
2005
Jane CONROY
Toàn bộ tác phẩm viết bằng tiếng Pháp 22.500 euros
Elias SANBAR
Toàn bộ tác phẩm viết bằng tiếng Pháp
Huy chương bạc mạ vàng
2006
Roland MORTIER
Toàn bộ tác phẩm
22.500 euros
Alberto ARBASINO
Huy chương bạc mạ vàng
2007
Élie BARNAVI
Toàn bộ tác phẩm
22.500 euros
Nahal TAJADOD
Huy chương bạc mạ vàng
2008
Lide TAN
22.500 euros
imitri ANALIS
Huy chương bạc mạ vàng
2009
Thomas GAEHTGENS
22.500 euros
Nadia BENJELLOUN
Huy chương bạc mạ vàng
2010
Jean MÉTELLUS
Toàn bộ tác phẩm
22.500 euros
Jean-Claude CORBEIL
Huy chương bạc mạ vàng
2011
Abdellatif LAÂBI
22.500 euros
Daryush SHAYEGAN
Huy chương bạc mạ vàng
2012
Daryush SHAYEGAN
22.500 euros
Michèle RAKOTOSON
Huy chương bạc mạ vàng
2013
Boualem SANSAL
20.000 euros
DONG QIANG
Huy chương bạc mạ vàng
2014
Georges BANU
10 000 euros
Fouad LAROUI
Huy chương bạc mạ vàng
2015
Aminata SOW FALL
30 000 euros
Gabriel GARRAN
Huy chương bạc mạ vàng
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
http://www.academie-francaise.fr/grand-prix-de-la-francophonie |
vương miện.txt | Vương miện hay mũ miện là một chiếc mũ đội đầu tượng trưng cho một hình thức hay biểu tượng truyền thống của nhà vua, Hoàng đế, Giáo hoàng hay một vị thần thánh, trong đó vương miện truyền thống đại diện cho quyền lực, tính hợp pháp, sự bất tử, sự công bình, chiến thắng, sự tái sinh, danh dự và vinh quang của người đội nó. Vương miện cùng với ngai vàng và quyền trượng hoặc bảo kiếm là ba bảo vật tượng trưng cho quyền lực tối cao và uy quyền của nhà vua. Trong nghệ thuật, vương miện có thể được miêu tả bằng những vật đội đầu của các thiên thần (vòng nguyệt quế) và ngày nay, vương miện còn được thiết kế để đội cho những hoa hậu đăng quang trong một cuộc thi sắc đẹp.
Vương miện theo truyền thống là một chiếc mũ làm bằng kim loại quý (thường là bằng Vàng) và được khảm những châu báu quý giá như ngọc ngà, kim cương, đá quý, mã nảo...mũ được chế tác hết sức tinh xảo. Ở các nước Đông Á (Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam...) Vương miện không chỉ được làm bằng nguyên liệu là kim loại mà nguyên liệu chính là vải vóc, gấm nhung lụa là, gỗ quý, ngà... Ngoài hình thức truyền thống, vương miện cũng có thể được thể hiện trong hình thức là một vòng hoa và được làm bằng hoa, lá sồi hoặc gai và được đội cho những người đại diện cho phần đăng quang nhằm mục đích để tượng trưng. Trong nghệ thuật tôn giáo, một vương miện của các ngôi sao được sử dụng tương tự như một vầng hào quang. Vương miện của các nhà cầm quyền thường chứa các đồ trang sức. Hình dáng của vương miện ở mỗi quốc gia dân tộc khác nhau nhưng trình tròn, hình vuông, hình ô van hoặc kết hợp giữa các loại hình nêu trên.
== Ở Việt Nam ==
Ở một số nước phương Đông, ngoài những bảo vật tượng trưng cho quyền uy tối thượng của nhà vua, được lưu truyền qua các thời đại như ấn, kiếm (Thượng phương bảo kiếm), chế tác từ các chất liệu quý hiếm như vàng, ngọc, ngà, đồi mồi… thì mũ miện của vua cũng là một yếu tố quan trọng biểu hiện uy quyền của Thiên tử trước trời đất, quần thần và bách gia trăm họ. Ở Việt Nam thời Phong kiến có kiểu mũ lễ bình thiên hay còn gọi là Miện và các loại mũ thượng triều gọi là Xung Thiên hoặc Đường Cân.
Mũ thượng triều được Vua sử dụng thường xuyên, mũ thượng triều tức mũ lên triều hay còn gọi là thiết triều, cũng được trang trí rất cầu kỳ bằng vàng và cẩn ngọc quý. Theo mũ thượng triều hay còn gọi là mũ đại triều được vua sử dụng mỗi khi thiết triều hoặc yến kiến sứ giả các nước bang giao… Mũ có hai cánh chỉ lên trời, nên có tên gọi là mũ Xung thiên (vào thời Nguyễn còn được gọi là mũ Cửu long thông thiên). Mũ được chế tác tinh xảo trên nền sa màu đen đính rồng, hoa cúc bằng vàng và nhụy bằng ngọc. Đặc biệt, chiếc mũ nằng gắn 35 con rồng, trọng lượng 600gr.
Mũ Bình thiên hay tên chính thức là Miện là loại mũ dùng trong lễ tế Giao (hay còn gọi là tế Nam Giao), là nghi thức lễ thể hiện quyền lực tối thượng của Thiên tử, người đứng đầu nhà nước Phong Kiến, thay trời hành đạo, cai trị muôn dân. Trọng dịp đại lễ này, Vua đội mũ bình thiên mặc áo cổn và đích thân làm chủ lễ. Mũ bình thiên thời nhà Nguyễn là loại mũ Miện 12 dải tua trước và 12 dải tua sau, mỗi dải xâu 12 hạt ngọc được dùng cho các bậc đế vương, có khung được dệt bằng những sợi đồng mảnh, bọc nền bằng sa đen, đính 12 con rồng bằng vàng đang trong tư thế bay lên, xung quanh đính những bông hoa cúc cũng bằng vàng mà nhụy là những viên ngọc quý. Phiến mũ (Miện Bản) hình chữ nhật phẳng, trước và sau phiến mũ có trang trí 12 lưu (tua), mỗi lưu có 12 chương là những hạt vàng, ngọc và san hô, rủ cả về hai phía. Mũ có trọng lượng 720gr.
== Chú thích == |
người dẫn chương trình.txt | Người dẫn chương trình (còn gọi là em-xi - MC, do gọi tắt từ tiếng Anh: Master of Ceremonies) theo nghĩa thông thường trong tiếng Việt được hiểu là người hướng dẫn khán thính giả trong một buổi trình diễn và được xem là nghiệp vụ thuộc về nghệ thuật giải trí.
Tuy nhiên, theo nghĩa rộng lớn thì người dẫn chương trình là người nói trước công chúng, lôi cuốn sự chú ý của công chúng hướng về họ để dẫn dắt công chúng tương tác và hòa nhập vào sự kiện, bất kể đó là sự kiện giải trí hay lễ nghi, bất kể đó là trên truyền hình hay ngoài đời thực. Tùy vào vai trò của họ mà có những danh xưng khác nhau, bao gồm: điều phối viên (hướng dẫn các hoạt động thuộc về lễ nghi), hoạt náo viên (dẫn dắt và làm cho không khí sôi động, tưng bừng lên), phát thanh viên hoặc xướng ngôn viên (truyền đạt nội dung của một chương trình đã có kịch bản được biên tập), host (chủ trì một cuộc thi trên truyền hình, trò chơi truyền hình, truyền hình thực tế hay talk show), video jockey hay VeeJay - VJ (người giới thiệu các bài hát, video clip trên kênh truyền hình ca nhạc)...
Biên tập viên (news anchor) và thông tín viên (reporter) tin tức, thời sự trên truyền hình tuy cũng được xếp vào nhóm người dẫn chương trình nhưng họ có nghiệp vụ chuyên môn thuộc về truyền thông báo chí chứ không phải nghệ thuật giải trí. Hướng dẫn viên du lịch, phát ngôn viên của tổ chức, thuyết trình viên và diễn giả mặc dù nói trước công chúng, nhưng họ không được xem là người dẫn chương trình.
== Lịch sử ==
Vào thập niên 1970 và thập niên 1980, thuật ngữ MC có liên hệ với âm nhạc hip-hop, và là từ để chỉ người mà bây giờ thường được gọi là "rapper". Khi ấy, người ta còn coi MC là viết tắt của những cụm từ như: microphone controller, mic checka, music commentator và moves the crowd. Việc không thống nhất trong cách viết tắt này có thể là nguyên nhân khiến người dẫn chương trình ngày nay đảm đương nhiều nhiệm vụ hơn thế, không chỉ là dẫn chương trình mà thôi. Ví dụ: giới thiệu những người biểu diễn, nói và giao lưu với khán thính giả; hướng dẫn một buổi lễ, một cuộc họp... Ở một số quốc gia khác, người dẫn chương trình còn có trách nhiệm biên tập chương trình và chính mình giới thiệu, dẫn dắt cho chương trình đó.
== Hiện nay ==
Những người dẫn chương trình nổi tiếng (người Việt): Nguyễn Ngọc Ngạn, Nguyễn Cao Kỳ Duyên, Minh Châu, Thanh Bạch, Minh Hương, Quỳnh Hương, Quỳnh Hoa, Quỳnh Trâm, Lại Văn Sâm, Diễm Quỳnh... Khi nhắc đến người dẫn chương trình, mọi người thường nghĩ họ là những người có tài hoạt bát, tự tin trước công chúng, có kiến thức rộng, khôi hài, thanh lịch, duyên dáng v.v...
Mỗi người có một giọng nói riêng. Trong thực tế không có những giọng nói hoàn toàn giống nhau. Đa số người dẫn chương trình đều được "trời ban" cho một chất giọng hay (chất giọng thiên phú). Điều quan trọng nhất về giọng nói khi nói trước công chúng là "tròn vành, rõ tiếng" (hoặc "tròn vành, rõ chữ"). Nếu nói không rõ tiếng, rõ lời thì thông tin muốn truyền đạt đến công chúng không được rõ ràng, đôi khi bị hiểu lầm. Hơn nữa nói không rõ chữ, rõ tiếng thì sẽ kém truyền cảm. Một số người tuy không có chất giọng thiên phú, nhưng thông qua quá trình rèn luyện, tiếp xúc nhiều với nghiệp vụ, nhờ vào kinh nghiệm, khi làm việc thì cách nói đúng có thể để lại ấn tượng tốt cho khán, thính giả. Để có thể nói hay, người dẫn chương trình cần có những phương pháp nhất định trong nghệ thuật nói. Để dẫn dắt tốt một chương trình, người dẫn chương trình cần có "kỹ năng dẫn chương trình". Đây chính là nền tảng của nghiệp vụ. Không có kỹ năng dẫn chương trình, người dẫn chương trình sẽ bị áp lực tâm lý đó là không tự tin, luôn có cảm giác mơ hồ tựa như đang đi trong sương mù vì không biết làm như thế đúng hay sai, không biết bắt đầu từ đâu, sáng tạo trên cơ sở nào và trong quá trình tác nghiệp vô tình phạm lỗi.
== Kĩ năng cơ bản ==
Một số kỹ năng cơ bản, tạm liệt kê như sau:
"Tiếng nói sân khấu" giúp người dẫn chương trình phát âm chuẩn.
"Nghệ thuật diễn cảm" giúp người dẫn chương trình tạo được cảm xúc cho khán thính giả bởi sự biến đổi âm điệu trong lúc nói.
"Phong cách sân khấu" giúp người dẫn chương trình hiểu biết về cách phục trang và quan trọng hơn hết là tư thế đúng đắn khi xuất hiện trước công chúng cũng như những cử chỉ diễn đạt bằng tay, bằng mắt mang nét riêng của nghệ thuật dẫn chương trình.nét mạt biểu cảm
"Nghệ thuật biên soạn lời dẫn" giúp người dẫn chương trình biết cách khai thác đề tài, sẽ nói gì trong chương trình và sử dụng ngôn từ.
"Phương pháp phối hợp" hướng dẫn cách phối hợp giữa hai hay nhiều người dẫn chương trình sao cho hoà quyện, nhịp nhàng. Ngoài ra còn một số kỹ năng khác, ví dụ: Giao lưu trên sân khấu, nghệ thuật sử dụng ngôn từ hài hước...
Có 8 chữ vàng trong nghiệp vụ dẫn chương trình: "Chính xác - Linh hoạt - Truyền cảm - Nhiệt tình". Tám chữ vàng này cũng là yêu cầu của nghiệp vụ. Chính xác về thông tin. Linh hoạt về ứng xử tình huống. Truyền cảm về diễn đạt. Nhiệt tình xuất phát từ tinh thần trách nhiệm.
== Xem thêm ==
Người dẫn chương trình truyền hình.
Duyên dáng truyền hình.
Duyên dáng truyền hình Asian.
== Tham khảo == |
golden boy.txt | Golden Boy là một giải thưởng được đưa ra bởi các nhà báo thể thao để một cầu thủ trẻ từ châu Âu nhận thức để có được những ấn tượng nhất trong một mùa giải. Nó được thành lập bởi tờ báo thể thao Italia Tuttosport vào năm 2003.
== Tổng quan ==
Mỗi thành viên được phép đề cử năm người chơi, người bào chữa sẽ phân bổ 10 điểm cho các cầu thủ mà họ cho là ấn tượng nhất, 7 cho thứ hai, 5 cho thứ ba, 3 cho thứ tư và 1 cho thứ năm. Tất cả các ứng cử viên phải dưới 21 tuổi và chơi ở giải cao nhất một quốc gia châu Âu.
Các báo tham gia bao gồm L'Equipe, Marca, một Bola, Bild, The Times, De Telegraaf, Mundo Deportivo, France Football, Blick và Ta Nea.
== Lịch sử ==
== Tham khảo == |
diễn đàn hợp tác kinh tế châu á - thái bình dương.txt | Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (tiếng Anh: Asia-Pacific Economic Cooperation, viết tắt là APEC) là một diễn đàn của 21 nền kinh tế thành viên Vành đai Thái Bình Dương với mục tiêu tăng cường mối quan hệ về kinh tế và chính trị.
Diễn đàn tổ chức các kỳ họp thường niên lần lượt tại mỗi quốc gia thành viên, cũng có những uỷ ban thường trực chuyên trách nhiều lãnh vực khác nhau từ truyền thông đến ngư nghiệp.
Người đứng đầu chính phủ của tất cả thành viên APEC gặp nhau mỗi năm một lần trong một kỳ họp thượng đỉnh được gọi là "Hội nghị Lãnh đạo APEC", được tổ chức lần lượt tại mỗi nền kinh tế thành viên APEC. Vì áp lực của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, nước Trung Hoa Dân Quốc, được biết nhiều hơn với tên Đài Loan, không được phép sử dụng tên "Trung Hoa Dân Quốc" hay "Đài Loan" mà chỉ được gọi là "Trung Hoa Đài Bắc". Tổng thống Đài Loan không được mời đến tham dự hội nghị thượng đỉnh mà chỉ gởi một viên chức cấp bộ trưởng đặc trách kinh tế với tư cách là đặc sứ của tổng thống.
APEC nổi tiếng với truyền thống yêu cầu các nhà lãnh đạo xuất hiện trước công chúng trong quốc phục của nước chủ nhà.
APEC được thành lập vào tháng 11 năm 1989 với 12 thành viên sáng lập: Úc, Nhật Bản, Malaysia, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines, Singapore, Brunei, Indonesia, New Zealand, Canada và Hoa Kỳ.
Hiện nay, APEC gồm 21 thành viên, ngoài 12 thành viên sáng lập, các thành viên khác bao gồm: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Hồng Kông, Đài Loan, México, Papua New Guinea, Chile, Peru, Nga và Việt Nam.
== Cơ cấu tổ chức ==
Cấp chính sách
Hội nghị không chính thức các nhà Lãnh đạo Kinh tế APEC (AELM)
Hội nghị liên Bộ trưởng Ngoại giao - Kinh tế APEC
Cấp làm việc
Hội nghị các Quan chức Cao cấp (SOM)
Uỷ ban Thương mại và Đầu tư (CTI) (1993)
Uỷ ban Ngân sách và Quản lý (BMC) (1993)
Uỷ ban Kinh tế (EC) (1994)
Uỷ ban SOM về Hợp tác Kinh tế-Kỹ thuật (ESC) (1998)
11 nhóm công tác về: Kỹ thuật Nông nghiệp, Năng lượng, Nghề cá, Phát triển Nguồn nhân lực, Khoa học và công nghệ, Bảo vệ tài nguyên biển, Doanh nghiệp vừa và nhỏ, Thông tin và Viễn thông, Du lịch, Xúc tiến thương mại, Vận tải.
3 nhóm đặc trách của SOM về:
Thương mại điện tử (Electronic Commerce Steering Group) (1999)
Mạng các điểm liên hệ về giới (Gender Focal-Points Network) (2003)
Chống khủng bố (Counter-Terrorism Task Force) (2003)
Ban Thư ký APEC (trụ sở ở Singapore) (1992)
== Lịch sử ==
Tháng 1 năm 1989, Thủ tướng Úc Bob Hawke đưa ra lời kêu gọi kiến tạo một sự hợp tác kinh tế hữu hiệu hơn cho toàn vùng châu Á -Thái Bình Dương. Kết quả của lời kêu gọi này là hội nghị đầu tiên của APEC tổ chức tại Canberra, Úc vào tháng 10, hội nghị đặt dưới quyền chủ toạ của bộ trưởng ngoại giao Úc, Gareth Evans. Với sự tham dự của các bộ trưởng đến từ 12 quốc gia, hội nghị kết thúc với lời cam kết sẽ tổ chức hội nghị hàng năm tại Singapore và Hàn Quốc.
Hội nghị Lãnh đạo APEC được tổ chức lần đầu vào năm 1993 khi Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton nhận ra rằng ông có thể sử dụng hội nghị thượng đỉnh này như một công cụ hữu hiệu giúp đem vòng đàm phán Uruguay (của WTO), lúc ấy đang lạc hướng, trở lại với lộ trình ban đầu. Tổng thống quyết định mời các nhà lãnh đạo những nền kinh tế thành viên đến tham dự hội nghị tại đảo Blake, tiểu bang Washington. Tại đây, các nhà lãnh đạo kêu gọi tiếp tục tháo gỡ những rào cản thương mại và đầu tư, với viễn kiến về một "cộng đồng châu Á-Thái Bình Dương" sẽ tiến đến thịnh vượng thông qua hợp tác. Trụ sở của APEC được đặt tại Singapore.
Năm 1994, Bản dự thảo "Mục tiêu Bogor" của APEC được chuẩn thuận bởi hội nghị thượng đỉnh tại Bogor nhắm vào mục tiêu mở rộng và tự do hoá các lãnh vực thương mại và đầu tư bằng cách giảm thiểu rào cản thuế quan trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương đến mức ở giữa số không và năm phần trăm vào khoảng năm 2010 tại các nước đã công nghiệp hoá và năm 2020 tại các nước đang phát triển.
Năm 1995, APEC thiết lập một cơ quan tư vấn doanh nghiệp gọi là Hội đồng Tư vấn Doanh nghiệp APEC (ABAC) với thành phần nhân sự là các nhà lãnh đạo doanh nghiệp đến từ các nền kinh tế thành viên (mỗi nước cử ba người).
Năm 1997 khi hội nghi thượng đỉnh APEC họp ở Vancouver, Canada, một cuộc tranh luận gay gắt đã nổ ra khi các nhà chính trị đã yêu cầu lực lượng Cảnh sát Hoàng gia Canada (Royal Canadian Mounted Police, RCMP) sử dụng hơi cay chống lại những người biểu tình bất bạo động. Đoàn biểu tình phản đối sự hiện diện của một số nhà độc tài như tổng thống Suharto của Indonesia.
APEC đã đẩy mạnh vòng đàm phán thương mại mới và ủng hộ chương trình hỗ trợ kiến tạo năng lực thương mại tại hội nghị thượng đỉnh năm 2001 tại Thượng Hải, dẫn đến sự khởi đầu thành công của Nghị trình Phát triển Doha một vài tuần sau đó. Các nhà lãnh đạo cũng ủng hộ "Thoả hiệp Thượng Hải" do Hoa Kỳ đề xuất, nhấn mạnh đến việc thực thi những cam kết của APEC nhằm mở cửa thị trường, cải cách cơ chế và xây dựng năng lực. Như là một phần của thoả hiệp, các nhà lãnh đạo cũng cam kết phát triển và thực thi những tiêu chuẩn về tính minh bạch (transperancy) của APEC, cắt giảm chi phí giao dịch thương mại trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương khoảng 5% trong vòng 5 năm, và theo đuổi chính sách tự do mậu dịch liên quan đến các sản phẩm kỹ thuật và dịch vụ.
Thủ lĩnh nhóm Hồi giáo cực đoan Jemaah Islamiah, Hambali, âm mưu tấn công hội nghị thượng đỉnh APEC họp vào tháng 10 năm 2003 tại Bangkok. Hambali bị cảnh sát Thái bắt giữ ở thành phố Ayutthaya gần Bangkok ngày 11 tháng 8 năm 2003, trước khi người này có thể hoàn tất kế hoạch tấn công của mình.
Năm 2004, Chile là quốc gia đầu tiên tại Nam Mỹ đứng ra tổ chức hội nghị thượng đỉnh APEC. Nghị trình năm 2004 của APEC tập chú vào các vấn đề khủng bố và thương mại, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ và chuẩn bị cho Thoả ước Tự do Mậu dịch và Thoả ước Thương mại Khu vực.
Năm 2005, hội nghị tổ chức vào tháng 11 tại Busan, Hàn Quốc, tập chú vào vòng đàm phán thương mại Doha dự định được đem ra thảo luận tại hội nghị bộ trưởng WTO họp tại Hồng Kông vào tháng 12 trong năm. Trước đó, các cuộc thương thảo đã được tổ chức tại Paris giữa các quốc gia thành viên WTO, trong đó có Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu (EU), đặt trọng tâm vào việc cắt giảm hàng rào thương mại nông nghiệp. EU phản đối các cắt giảm về thuế quan nông nghiệp vì nguy cơ làm tan rã tiến trình đàm phán, trong khi APEC cố gắng thuyết phục EU đồng ý cắt giảm phụ cấp nông nghiệp. Bên ngoài, các cuộc tụ họp phản kháng cách ôn hoà chống APEC diễn ra ở Busan nhưng không ảnh hưởng gì đến chương trình làm việc của APEC.
== Các nền kinh tế thành viên ==
Cho đến nay, hầu hết các nước nằm bên bờ Thái Bình Dương đều gia nhập tổ chức này, ngoại trừ:
Colombia thuộc khu vực Nam Mỹ;
Guatemala, Salvador, Nicaragua, Honduras, Costa Rica và Panama thuộc khu vực Trung Mỹ;
Campuchia, Bắc Triều Tiên và Timor Leste ở châu Á;
Các đảo quốc Thái Bình Dương Fiji, Tonga và Samoa.
Đảo Guam tích cực đòi hỏi một vị trí thành viên riêng biệt, dẫn chứng các trường hợp của Hồng Kông và Đài Loan, nhưng bị Hoa Kỳ bác bỏ vì nước này đến nay vẫn là đại diện chính thức cho Guam.
== Hội nghị thường niên của APEC ==
== Lãnh đạo hiện tại của các nền kinh tế APEC tính đến 2017 ==
== Xem thêm ==
Tổ chức thương mại thế giới
== Liên kết ngoài ==
Trang tin điện tử chuyên thông tin kinh tế của Việt Nam
Trang chủ của APEC
Trang APEC Việt Nam 2006
== Tham khảo == |
nhà thương.txt | Nhà Thương (tiếng Trung Quốc: 商朝, Thương triều) hay nhà Ân (殷代, Ân đại), Ân Thương (殷商) là triều đại đầu tiên được công nhận về mặt lịch sử là một triều đại Trung Quốc. Theo biên niên sử dựa trên các tính toán của Lưu Hâm thì nhà Thương trị vì từ khoảng năm 1766 TCN tới khoảng năm 1122 TCN, tuy nhiên theo biên niên sử dựa theo Trúc thư kỉ niên thì khoảng thời gian này là 1556 TCN tới 1046 TCN. Các kết quả của Hạ Thương Chu đoạn đại công trình coi khoảng thời gian này là từ 1600 TCN tới 1046 TCN.
== Thành lập ==
Theo truyền thống lịch sử, nhà Thương tiếp nối sau triều đại có tính huyền thoại là nhà Hạ và trước nhà Chu. Triều đại này bắt đầu từ vua Thành Thang và kết thúc ở vua Trụ. Nhà Thương bắt đầu nổi lên từ phía Tây châu thổ sông Vị. Bằng vũ lực, nhà Thương thống nhất vùng đồng bằng phía bắc Trung Quốc, xây dựng một đế chế theo kiểu những kẻ chinh phục khác: để lại phía sau một lực lượng đồn trú để kiểm soát dân chúng địa phương, biến vị vua ở đó trở thành một kẻ đồng minh phụ thuộc, cho phép ông ta kiểm soát công việc ở lãnh địa của mình, đánh thuế những nơi đã bị chinh phục.
== Lãnh thổ ==
Sử Trung Hoa bắt đầu được ghi chép thành văn từ thời nhà Thương, và những điều chép đó đúng với kết quả các công trình khai quật. Tới 1964, người ta đã in và công bố 41.000 hình khắc giáp cốt văn, và 3000 chữ khắc thời đó.
Văn minh đời Thương đã đạt mức cao của thời đại đồ đồng, nhưng nhà Thương thành lập trong hoàn cảnh nào, dân Trung Hoa từ văn minh nhà Hạ chuyển qua văn minh nhà Thương ra sao thì vẫn còn thiếu nhiều tài liệu.
Các bộ sử đời sau chỉ biết đại khái rằng: vua Thành Thang khi diệt vua Kiệt nhà Hạ, khai sáng nhà Thương, quy tụ được nhiều bộ lạc và đất đai nhà Thương gồm các tỉnh Sơn Tây, Sơn Đông, Hà Bắc, Hà Nam ngày nay.
Kinh đô mới đầu ở đất Bạc, sau bị các dân tộc du mục ở phía Tây lấn, phải dời chỗ 7 lần, lần cuối cùng tới Ân Khư (khư nghĩa là đồi) ở phía Đông, gần An Dương, đổi quốc hiệu là Ân.
Nhà Thương gồm tất cả 30 đời vua (theo các giáp cốt), gần đúng với Sử ký Tư Mã Thiên, chỉ khác có 5 ông. Mười ba vua đầu, anh truyền ngôi cho em cùng mẹ, hiếm lắm mới có trường hợp cha truyền cho con. Nhưng đến bốn đời vua cuối thì đều truyền tử và từ đó thành lệ cho tất cả các triều đại sau.
Sử chép thời đó có tới ngàn chư hầu; có lẽ chỉ một số ít ở gần kinh đô mới tùy thuộc nhà Thương, còn ở xa kinh đô thì là những bộ lạc tương đối độc lập. Đó là nguồn gốc của chế độ phong kiến phân quyền sẽ thấy phát triển ở đầu nhà Chu rồi suy tàn ở cuối thời đó.
Thành thị nhà Thương còn kha nhỏ. An Dương, thành lớn nhất đời nhà Thương, tức kinh đô cuối cùng, chu vi chỉ có 800 m. Cung điện của nhà vua hướng về phía Nam, gồm ba điện (minh đường), điện nào cũng cất bằng gỗ, nóc có hai mái. Một điện ở giữa là chỗ họp triều, phía Đông điện đó là nhà thái miếu, thờ tổ tiên nhà vua; phía Tây là nơi thờ thần Xã Tắc. Ở phía Bắc cung điện, dựng một cái chợ; phía Nam dành cho các triều thần, và một số thợ thủ công chế tạo vũ khí, chiến xa, các đồ tự khí bằng đồng... Đồ đồng thời nhà Thương đã đạt độ tinh xảo hạng nhất thế giới khi đó.
== Tôn giáo, thời huy hoàng ==
Kinh đô của nhà Thương lúc đầu đóng ở đất Bạc nay thuộc huyện Thương Khâu, tỉnh Hà Nam của Trung Quốc. Do việc trị thuỷ thời đó còn hạn chế, lũ lụt, thiên tai thường xuyên xảy ra, vì vậy phải thiên đô nhiều lần. Tới đời vua Bàn Canh (1401 - 1374 TCN), khoảng năm 1384 TCN nhà Thương đã chuyển kinh đô về đất Ân và từ đó ổn định ở nơi này. Vì vậy, nhà Thương còn được gọi là nhà Ân.
Hai nét căn bản của xã hội đời Thương là:
Mới đầu theo chế độ mẫu hệ cho nên vua chết thì truyền ngôi cho em cùng mẹ, rồi tới cuối theo chế độ phụ hệ, truyền ngôi cho con.
Tôn giáo đa thần: thần sông, núi, mưa, gió, sấm... nhất là thần sinh sản (fécondité). Cao hơn hết là Thượng đế, hình người, tạo ra người và vạn vật; rồi tới thần Đất, hình một người đàn bà, sinh ra và nuôi vạn vật.
Để cho đất sản xuất được nhiều, mùa màng trúng, người ta tế lễ và giết người, súc vật trong mỗi buổi tế. Các công trình khai quật ở An Dương từ 1950 chứng tỏ rằng số người bị hy sinh rất lớn, nhất là khi chôn cất nhà vua. Có một ngôi mộ, người ta khai quật được ở chung quanh trên 300 bộ xương người, có bộ được toàn vẹn, có bộ bị chặt đầu. Những bộ xương đó có thể là của hoàng hậu, cung phi, các hầu cận vua, vệ binh, đánh xe, một số quan tướng nữa... Tục đó duy trì rất lâu, mãi đến thời nhà Hán mới gần hết; và người ta thay tuẫn táng người bằng những hình nộm đan bằng tre, hay những tượng lớn như người thật, bằng đá, gỗ hay đất nung; sau cùng bằng những hình nhỏ bằng đất nung và những đồ vàng giấy (đồ vàng mã) đốt trong đám táng. Tục đốt hàng mã đó, ngày nay ở các nước Đông Á vẫn còn.
Lúc này bên cạnh các vua nhà Thương có nhiều lãnh chúa và quý tộc. Một trò giải trí thường ngày của họ là tổ chức các cuộc đi săn. Vua và quý tộc ở tại những ngôi nhà lộng lẫy với tường bằng đất nện hay gạch bằng đất nung trong khi những người dân thường tiếp tục sống trong những ngôi nhà hầm như hồi sơ khai. Vị vua nhà Thương là vị chủ tế cao nhất, và ông ta có một bộ máy hành chính quan lại, gồm các vị quan, các vị chủ tế cấp thấp hơn và những người coi việc bói. Cũng giống như những nền văn minh dựa trên chiến tranh khác, họ cũng bắt nô lệ, những người nô lệ phải lao động và trồng cấy. Phụ nữ trong nền văn minh nhà Thương phụ thuộc vào đàn ông, những người phụ nữ quý tộc có nhiều tự do và bình đẳng hơn so với phụ nữ thường dân.
Trong triều đại nhà Thương, nền văn minh dọc sông Hoàng Hà đã đào những con ngòi dẫn nước tưới mùa màng. Các cộng đồng đã có rãnh thoát nước ra ngoài thành phố. Họ biết sản xuất bia từ kê. Họ mở rộng thương mại và sử dụng tiền dưới dạng vỏ ốc. Các thương gia đời Thương buôn bán muối, sắt, đồng, thiếc, chì và antimon, một số thứ trong số chúng được nhập khẩu từ các nước xa xôi. Tới đầu năm 1300 TCN một nền công nghệ đúc đồng đã phát triển. Công nghệ đúc đồng này muộn hơn so với châu Âu và Tây Á nhưng lại phát triển nhất trên thế giới.
== Chữ viết ==
Khoảng năm 1300 trước Công Nguyên chữ viết đầu tiên được biết đã xuất hiện ở nền văn minh nhà Thương - họ đã phát triển chữ viết có hơn ba nghìn ký tự, một phần là tượng hình và một phần là tượng thanh (ngữ âm – phonetic). Loại chữ viết này được thể hiện trên những phần xương phẳng của gia súc hay xương hươu, trên vỏ sò và mai rùa và có lẽ trên cả gỗ. Chúng là những đoạn ghi chép liên quan đến việc bói toán tương lai. Bằng cách chọc một cái que nóng vào một cái xương hay vỏ sò, vật đó sẽ nứt ra, và những đường nứt biểu tượng cho các chữ cái sẽ cho biết câu trả lời cho rất nhiều câu hỏi: thời tiết sẽ thế nào, có xảy ra lũ lụt không, sẽ được mùa hay mất mùa, khi nào là thời gian thích hợp nhất để săn bắn và đánh cá, các câu hỏi về sức khoẻ hay thậm chí về thời điểm thích hợp để xuất hành.
Người dân dưới nền văn minh Thương dường như cùng có sự thúc đẩy tôn giáo giống như những dân tộc khác. Họ coi các hiện tượng thiên nhiên là do nhiều vị thần sử dụng ma lực tạo ra, các vị thần được gọi là quỷ thần (Kuei-shen), một từ miêu tả ma quỷ hay linh hồn. Họ có một vị thần mà họ cho rằng làm ra mưa. Họ có một vị thần sấm và một vị thần cho mỗi quả núi, con sông và cánh rừng. Họ có một vị nữ thần của Mặt Trời, một nữ thần Mặt Trăng và một thần gió. Giống như các dân tộc trồng cấy khác, họ có một vị thần của sự phì nhiêu, màu mỡ. Họ tin rằng một vị thần cao cấp nhất ngự trị ở trung tâm thiên đường và trao thưởng cho những người có đạo đức tốt. Và các vị thần của họ có những khuôn mặt giống người châu Á hơn người châu Âu.
Giống như các thầy tế ở Tây Á, các thầy tế của nhà Thương cũng hiến tế cho các vị thần của họ, đút lót cho họ, tin rằng các vị thần sẽ tạo ra sự rộng lượng, nhân từ hay cái xấu xa phép thuật. Việc lũ lụt xảy ra thường xuyên cũng như những tai ương khác khiến người dân nhà Thương tin rằng một số vị thần là tốt và một số khác làm điều xấu. Và họ tin rằng một vị thần xấu làm người ta đi sai đường và ăn thịt người.
Người dân nhà Thương tin vào một thiên đường không nhìn thấy được mà con người sẽ được lên đó sau khi họ chết. Nhà Thương nói với thần dân của họ rằng thiên đường là nơi mà các vị vua triều đại trước của họ đang trú ngụ. Các nhà quý tộc rất quan tâm đến địa vị của mình và thường kiêu hãnh về nguồn gốc tổ tiên. Họ lưu giữ các bản gia phả dòng họ và coi tổ tiên là thần thánh có nguồn gốc từ một loài vật nào đó – các vị thần trở thành biểu tượng của dòng họ như những vật tổ tương tự với các dân tộc ở châu Mỹ. Người dân thường, trái lại, không có họ và phả hệ và không tham dự vào sự thờ phụng tổ tiên.
Các nhà quý tộc tin rằng con người có một linh hồn được tạo ra từ khi thụ thai. Họ tin rằng linh hồn đó vừa vẫn cư trú trong thân người sau khi chết vừa đi lên một thế giới không nhìn thấy được nơi các linh hồn người chết trú ngụ. Cá nhà quý tộc tinh rằng ở thế giới vô hình đó tổ tiên của họ sống trong triều đình của các vị thần và có quyền lực hướng dẫn và giúp đỡ con cháu trong hiện tại. Quý tộc coi tổ tiên cũng cần được ăn uống. Ở nơi mồ mả họ dâng thức ăn và rượu cho những người thân và tổ tiên đã qua đời - một lễ nghi mà chỉ đàn ông mới được phép tiến hành, điều này khiến họ rất cần sinh con trai trong gia đình. Họ tin rằng nếu việc thờ cúng bị gián đoạn, các linh hồn sẽ biến mất và các linh hồn chết đói, để trả thù, sẽ biến thành quỷ. Khi một vị quý tốc muốn có đặc ân từ tổ tiên, ngoài việc dâng cúng ông ta còn phải hiến tế súc vật. Nếu một vị vua muốn có đặc ân từ chúa trời, ông ta sẽ hiến tế bằng con người.
== Quân sự ==
Phía đông, bắc và nam của nền văn minh Thương bị người Thương coi là mọi rợ, gồm cả các dân tộc nông nghiệp sống dọc sông Dương Tử. Nhà Thương thường phái quân đội đi chiến đấu chống lại những kẻ xâm lăng, và nhà Thương cũng đi ra ngoài lãnh thổ để cướp bóc và bắt những người dân ngoại tộc cần thiết cho sự hiến tế.
Những lăng mộ vua nhà Thương được khai quật cho thấy họ có thể đưa ra trận từ ba đến năm nghìn binh lính. Các đồ vật chôn theo vua được tìm thấy là các đồ trang sức cá nhân và những cái giáo mũi đồng và những phần còn lại của những cái cung và mũi tên. Ngựa và xe ngựa cũng được chôn cùng với vua để chở lính ra trận. Và khi vị vua chết, người đánh xe, chó, người hầu và những nhóm mười người - những người bị chặt đầu trong lễ bái bằng rìu đồng cũng bị chôn cùng với vua.
Khoảng giữa đời Thương, người Trung Hoa bắt đầu nuôi ngựa. Có ngựa rồi thì có chiến xa, chiến thuật đánh trận thay đổi hẳn. Chiến xa của Trung Hoa có nhiều liên quan với chiến xa của các nước Tây Á, có thể của Thổ Nhĩ Kỳ. Không rõ chiến xa cuối nhà Thương ra sao, nhưng chắc cũng không khác mấy so với chiếc xe đời Chu: Xe có hai bánh, một thùng xe hẹp, ngắn, bịt ở phía trước, mở ở phía sau. Phía trước có một cái gọng. Mỗi xa có bốn con ngựa, người đánh xe ngồi ở giữa cầm cương, bên trái là một chiến sĩ cầm cung, bên phải là một chiến sĩ cầm thương. Ngựa và ba người trên chiến xa đều mặc áo giáp bằng da thú. Có ba chiếc mộc bằng gỗ nhẹ đặt ở phía trước xe che chở cho ba người trên xe. Mỗi người còn đeo thêm một chiếc mộc. Thêm một vài khí giới nữa đặt ở tầm tay người cầm thương: vũ khí cán dài có mác, đinh ba bằng kim thuộc để móc, đâm quân địch. Người đánh xe và chiến sĩ đều ở giai cấp thượng lưu. Lính là thường dân, đi bộ, để chiến sĩ sai bảo: đào đất, bắc cầu, chăn ngựa, đốn cây, kiếm củi... Họ không dự chiến, chỉ đứng ở xa hỗ trợ.
== Khí hậu ==
Vào thời nhà Thương vùng Trung Nguyên có khí hậu ấm áp hơn ngày nay, thích hợp cho các loài đồng vật nhiệt đới và á nhiệt đới sinh sống. Người ta đã đào được nhiều xương và văn khắc có nhắc đến các loài động vật nhiệt đới và á nhiệt đới như trâu, voi, tê, báo, linh dương, lợn vòi vân vân cho thấy vào thời nhà Thương chúng đã từng sống tại đây. Nhờ có nguồn cung cấp ngà voi dồi dào nên Trung Quốc thời nhà Thương có nghề chạm khắc ngà voi phát triển. Người ta đã khai quật được nhiều đồ vật làm bằng ngà voi.
== Diệt vong ==
Vua thứ 30 nhà Thương là Trụ Vương bạo ngược tàn ác, mất lòng nhân dân và các chư hầu.
Bộ tộc Chu ở sông Vị muốn nhân cơ hội nhà Thương suy yếu để tiêu diệt và thay thế từ nhiều năm. Trưởng tộc Chu là Tây Bá Cơ Xương chiêu tập lực lượng chống Thương, nhưng chưa kịp khởi sự thì qua đời. Con Cơ Xương là Cơ Phát lên ngôi đã tập hợp chư hầu đi đánh Trụ Vương.
Khoảng năm 1122 TCN, hai bên quyết chiến ở trận Mục Dã. Quân Trụ Vương tuy đông nhưng binh lính không có tinh thần chiến đấu cho bạo chúa nên nhanh chóng tan rã. Trụ Vương chạy lên Lộc Đài tự thiêu mà chết. Nhà Thương diệt vong.
== Hậu duệ ==
Xem chi tiết: Vũ Canh, Tống (nước)
Cơ Phát lên ngôi vua (Chu Vũ Vương), phong cho con Trụ Vương là Vũ Canh ở đất Ân để giữ hương hỏa nhà Thương. Sau khi Vũ Vương chết, con là Thành Vương lên thay còn nhỏ. Vũ Canh thuyết phục được 3 người em Vũ Vương là Quản Thúc, Hoắc Thúc, Sái Thúc nổi loạn chống nhà Chu.
Phụ chính nhà Chu là Chu Công Đán mang quân dẹp loạn, giết Vũ Canh và lập người tông thất khác nhà Thương là Vi Tử Khải làm vua nước Tống. Tống trở thành một chư hầu của nhà Chu, tồn tại đến thời Chiến Quốc, truyền nối được 34 vua thì bị nước Tề diệt (286 TCN).
Một nhánh khác từ nước Tống dời sang nước Lỗ vào đầu thời Xuân Thu đổi làm họ Khổng, cháu 5 đời chính là đức Khổng Phu Tử thủy tổ của Nho giáo. Khổng Phu Tử truyền nối đến ngày nay trực hệ đã đến hơn 80 đời qua 2500 năm có lẻ, con cháu ở rải rác khắp trên thế giới từ Âu sang Á từ Mĩ sang Phi.
== Danh sách thủ lĩnh tộc Thương ==
Tiết (契, con của đế Cốc Cao Tân thị với bà thứ phi Giản Địch, được vua Thuấn phong ở đất Thương)
Chiêu Minh (昭明, con Tiết)
Tướng Thổ (相土, con Chiêu Minh)
Xương Nhược (昌若, con Tướng Sĩ)
Tào Ngữ (曹圉, con Xương Nhược)
Minh (冥, con Tào Ngữ)
Vương Hợi (王亥, con Minh)
Vương Hằng (王恆, em Vương Hợi)
Thượng Giáp Vi (上甲微, con Vương Hợi)
Báo Ất (報乙, con Thượng Giáp Vi)
Báo Bính (報丙, con Báo Ất)
Báo Đinh (報丁, con Báo Bính)
Chủ Nhâm (主壬, con Báo Đinh)
Chủ Quý (主癸, con Chủ Nhâm)
Lý (履, con Chủ Quý - làm vua nước Thương được 17 năm thì khởi binh diệt Hạ rồi được chư hầu tôn làm Thiên Tử, theo văn tự Giáp cốt còn gọi là Cao Tổ Ất, chính là vua Thành Thang)
== Các vị vua nhà Thương ==
== Xem thêm ==
Nhà Hạ
Nhà Chu
Tống (nước)
== Tham khảo ==
http://hyperhistory.com
Các vua nhà Thương
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Bản đồ nhà Thương |
tu viện westminster.txt | Tu viện Westminster (tiếng Anh: Westminster Abbey), có tên chính thức Nhà thờ kinh sĩ đoàn Thánh Peter tại Westminster (Collegiate Church of St Peter at Westminster), là một nhà thờ theo kiến trúc Gothic ở Westminster, Luân Đôn, nhà thờ này nằm ở phía tây của Cung điện Westminster. Tu viện Westminster là nơi tiến hành lễ đăng quang của các vua và nữ hoàng Anh, đây cũng là nơi chôn cất của nhiều người trong Hoàng gia Anh và nhiều nhân vật nổi tiếng khác trong Lịch sử Anh. Cùng với Cung điện Westminster và Nhà thờ Saint Margaret, Tu viện Westminster đã được UNESCO xếp hạng Di sản thế giới vào năm 1987.
== Lễ đăng quang ==
Kể từ lễ đăng quang năm 1066 của Vua Harold và William I của Anh, toàn bộ các vua và nữ hoàng của Anh và Vương quốc Liên hiệp Anh (trừ Edward V và Edward VIII vốn không có lễ đăng quang) đều làm lễ lên ngôi tại Tu viện Westminster. Một trường hợp ngoại lệ khác là Henry III, vị vua này không thể lên ngôi ở Luân Đôn vì khi đó Louis VIII của Pháp đang chiếm giữ thành phố. Henry III làm lễ đăng quang ở Nhà thờ lớn Gloucester, một lễ đăng quang bị Giáo hoàng coi là chưa hợp lệ, vì vậy ngày 17 tháng 5 năm 1220 Henry III đã làm lễ đăng quang bổ sung ở Tu viện. Công nương Jane Grey, người vốn chỉ ngồi trên ngai vàng 9 ngày, cũng chưa từng có lễ đăng quang. Theo thông lệ, người làm lễ đăng quang tại Tu viện là Tổng giám mục Canterbury, Ngai vàng của vua Edward là chiếc ngai đã được sử dụng tại tất cả các buổi lễ kể từ năm 1308.
== Nơi chôn cất ==
Phần lớn các vua và nữ hoàng Anh cùng gia đình được chôn cất tại Tu viện Westminster trừ Henry VIII, Charles I (được chôn cất tại Nhà nguyện St George, Windsor trong Lâu đài Windsor) cùng các thành viên Hoàng gia Anh kể từ sau George II. Bên cạnh đó, nhiều nhà quý tộc Anh và tăng lữ hoặc những người có liên quan tới Tu viện cũng an nghỉ tại đây, trong đó có rất nhiều nhân vật danh tiếng trong lịch sử nước Anh với danh sách cụ thể dưới đây:
=== Hoàng gia ===
=== Nhân vật nổi tiếng ===
==== Gian giữa ====
==== Gian phía Bắc ====
==== Gian phía Nam ====
==== Hành lang ====
==== Hai cánh giàn hợp xướng ====
==== Các nhà nguyện ====
=== Kỷ niệm ===
Christopher Anstey, chôn cất tại Bath, Somerset
Dame Peggy Ashcroft, hỏa táng tại Golders Green Crematorium, Luân Đôn
Jane Austen, chôn cất tại Nhà thờ lớn Winchester
Robert, Lord Baden-Powell, chôn cất tại Nyeri, Kenya và Lady Baden-Powell, hỏa táng tại Nyeri, Kenya
Stanley Baldwin, hỏa táng tại Golders Green Crematorium
Admiral Robert Blake, chôn ở St.Margaret, Westminster
William Booth, chôn cất tại Stoke Newington
Benjamin Britten, Baron Britten of Aldeburgh chôn cất ở nhà thờ xứ Aldeburgh
Charlotte Brontë, Emily Jane Brontë, Anne Brontë; Charlotte và Emily được chôn cất tại Haworth, Anne được chôn cất tại Scarborough
Lord Byron, chôn cất tại Hucknall, Nottinghamshire
Sir Winston Churchill, chôn cất tại Bladon, Oxfordshire
John Clare, chôn cất tại Helpston, Cambridgeshire
William Cowper chôn ở Đông Dereham, Norfolk
Diana, Công nương xứ Wales chôn cất tại Althorp, Northamptonshire
Richard Dimbleby, chôn cất tại Lynchmere, West Sussex
Paul Dirac, chôn cất tại Florida
Benjamin Disraeli, 1st Earl của Beaconsfield, chôn cất tại Hughenden Manor, Buckinghamshire
Francis Drake, chôn cất tại Portobelo, Panama
Edward Elgar, chôn cất tại Little Malvern, Worcestershire
John Franklin, chôn cất tại đảo King William, Canada
Adam Lindsay Gordon, chôn cất tại Úc
John Harrison, chôn cất tại Hampstead
Rev Evelyn Levett Sutton, giáo sĩ Westminster.
Henry Wadsworth Longfellow, chôn cất tại Cambridge, Massachusetts
George Herbert
James Ramsay Macdonald, chôn cất tại Spynie, gần Lossiemouth, Grampian
Louis Mountbatten, 1st Earl Mountbatten của Miến Điện, chôn cất ở tu viện Romsey
William Shakespeare, chôn cất tại Stratford-upon-Avon
Dylan Thomas, chôn cất tại Laugharne
Thomas Totty, chôn cất ở Nhà nguyên Portsmouth Garrison, Portsmouth, Hampshire
Charles Wesley, chôn cất tại Old Marylebone, Luân Đôn
John Wesley, chôn cất tại City Road Chapel, Luân Đôn
Oscar Wilde, chôn cất tại Nghĩa trang Père Lachaise Paris
Gen. James Wolfe, chôn cất tại Greenwich
Mười sáu nhà thơ thời Chiến tranh thế giới thứ nhất:
Richard Aldington, chôn cất tại Pháp
Laurence Binyon, chôn cất tại Reading, Berkshire
Edmund Blunden, chôn cất tại Long Melford, Suffolk
Rupert Brooke, chôn cất tại Skyros, Hy Lạp
Wilfrid Gibson
Robert Graves, chôn cất tại Deià, Mallorca, Tây Ban Nha
Julian Grenfell, chôn cất tại Boulogne-sur-Mer, Pháp
Ivor Gurney, chôn cất tại Twigworth, Gloucestershire
David Jones, chôn cất tại Crofton Park, Lewisham
Robert Nichols
Wilfred Owen, chôn cất tại Ors, Pháp
Herbert Read, chôn cất tại Stonegrave, Bắc Yorkshire
Isaac Rosenberg, chôn cất tại Pas de Calais, Pháp
Siegfried Sassoon, chôn cất tại Mells, Somerset
Charles Sorley
Edward Thomas chôn cất tại Nghĩa trang quân đội Agny, Pháp
Các thánh tử vì đạo thế kỷ 20, có tượng trên cổng lớn phía Tây:
Maximilian Kolbe
Manche Masemola
Janani Luwum
Nữ Đại Công tước Elizabeth Feodorovna của Nga
Martin Luther King, Jr.
Óscar Romero
Dietrich Bonhoeffer
Esther John
Lucian Tapiedi
Wang Zhiming
=== Rút bỏ ===
Những người sau đây từng được chôn cất tại Tu viện Westminster nhưng sau đó đã bị rút bỏ theo lệnh của vua Charles II:
Oliver Cromwell
Robert Blake
John Pym
Tháng 11 năm 1869, theo đề nghị của Trưởng tu viện Westminster và được Nữ hoàng Victoria phê chuẩn, nhà hoạt động từ thiện George Peabody được chôn cất tạm thời tại Tu viện nhưng sau đó hài cốt đã được đưa về chôn cất ở Salem, Massachusetts.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Bradley, S. and Pevsner, N. (2003) The Buildings of England - London 6: Westminster, Yale University Press 2003. ISBN 0-300-09595-3, pp. 105–207
Harvey, B. (1993) Living and Dying in England 1100-1540: The Monastic Experience, Ford Lecture series, Oxford: Clarendon Press, ISBN 0-19-820161-3
Morton, H.V. [1951] (1988) In Search of London, London: Methuen, ISBN 0-413-18470-6
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức
Tọa độ: 51°29′58″B 0°07′39″T |
bảng canada.txt | Bảng Canada hay là pound Canada đã là một loại tiền tệ của Canada cho đến năm 1858. Nó được chia ra thành 20 shilling, mỗi shilling là 12 penny. Ở Lower Canada, từ sou(xu - tiếng Việt) đã được sử dụng, mỗi xu có giá trị ½ penny.
== Lịch sử ==
Mặc dù ban đầu nó dựa vào Bảng Anh, với một số British coins đã được đưa vào lưu thông, nhưng với sự hiếm có của British coins dẫn tới việc sử dụng rộng rãi đồng đô la Tây Ban Nha. Đây là cách thích hợp trong việc thay thế £sd bằng cách thiết lập một giá trị cho những đồng xu. Ở Canada, Halifax rating thống trị, thiết lập giá trị đồng đô la Tây Ban Nha bằng 5 shilling. Như vậy là 6 penny sẽ có nhiều hơn giá trị khi nó làm bằng bạc, đồng bảng Canada đã có giá trị thấp hơn so với giá trị đúng của nó. York rating của 1 đô la Tây Ban Nha = 8 shillings đã được sử dụng ở Upper Canada, chính thức cho đến khi nó nằm ngoài vòng pháp luật trong năm 1796 và không được dùng chính thức cũng vào thế kỷ 19.
Vào năm 1841, tỉnh ở Canada thông qua một điều mới là tiêu chuẩn về vàng. 1 pound bằng 4 đô la Mỹ (92,88 grains vàng), với 1 gold sovereign bằng 1 pound 4 shillings 4 penny. Vì vậy, Bảng Canada đã có giá trị là 16 shillings 5.3 pence sterling. Hệ thống này tồn tại cho đến năm 1858, khi các tỉnh của Canada theo phép thập phân, với đô la Canada bằng đô la Mỹ hoặc 5 shilling của các loại tiền tệ trước đó.
== Tiền xu ==
Cả hai là vùng thượng của Canada (Canada West, Ontario mới) và vùng hạ của Canada (Canada East, Québec mới) phát hành những đồng xu. Giữa những năm 1835 và 1852, Bank of Montreal, Banque de Peuple, City Bank và Quebec Bank ban hành 1 và 2 xu (½ và 1 penny) đưa vào sử dụng ở vùng hạ của Canada. Bank of Upper Canada ban hành ½ và 1 penny đưa vào giữa những năm 1850 và 1857.
== Giấy bạc ==
Giấy bạc được ban hành bởi Ngân hàng ở Canada, có mệnh giá cho cả hai loại là đôla và pounds/shillings, với 1 đô la = 5 shilling. Nhiều ngân hàng đã ban ra giấy bạc, bắt đầu với Bank of Montreal vào năm 1817. Mệnh giá được phát hành gồm 5, 10 và 15 shilling, 1, 1¼, 2½, 5, 12½ và 25 pound. Ngoài ra, giá trị nhỏ, "scrip" giấy bạc đã được phát hành trong năm 1837, bởi ngân hàng Quebec, trong mệnh giá của 6 pence (12 sous), ¼ và ½ đô la, và bởi Arman's Bank, với mệnh giá là 5, 10 và 15 pence (10, 20 và 30 sous).
== Khác ==
== Liên kết ==
== Xem Thêm ==
Canada
Đô la Canada
Bản mẫu:Pound (currency)
== Tham khảo == |
quay.txt | Quay là sự di chuyển tròn của một vật xung quanh một tâm (hay điểm) quay. Một vật thể ba chiều luôn luôn quay quanh một đường tưởng tượng gọi là trục quay. Nếu trục quay đi qua khối tâm của vật, vật đó được nói là quay quanh chính nó, hay spin. Vật quay quanh một điểm bên ngoài, ví dụ Trái Đất quay quanh Mặt Trời, nó được gọi là vòng quay quỹ đạo hoặc sự xoay vòng, đặc biệt khi nó bị ảnh hưởng dưới lực hấp dẫn.
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Hazewinkel, Michiel biên tập (2001), “Rotation”, Encyclopedia of Mathematics, Springer, ISBN 978-1-55608-010-4
Product of Rotations at cut-the-knot. cut-the-knot.org
When a Triangle is Equilateral at cut-the-knot. cut-the-knot.org
Rotate Points Using Polar Coordinates, howtoproperly.com
Rotation in Two Dimensions by Sergio Hannibal Mejia after work by Roger Germundsson and Understanding 3D Rotation by Roger Germundsson, Wolfram Demonstrations Project. demonstrations.wolfram.com |
máy bay tàng hình.txt | Máy bay tàng hình (còn gọi là phi cơ tàng hình hay không hạm tàng hình) là một loại máy bay, hơn hẳn những máy bay thông dụng khác, áp dụng công nghệ tàng hình để chống lại việc bị phát hiện từ ra đa. Máy bay tàng hình đóng vai trò nổi bật nhất trong cuộc Chiến tranh vùng Vịnh.
== Điều kiện tàng hình ==
=== Radar ===
Một nhược điểm lớn của radar đó là nó chỉ phát hiện ra đối phương khi sóng phản xạ (phản xạ lại từ đối phương) cùng phương với sóng tới (là sóng mà radar phát ra) và nếu mặt cát tán xạ trên máy bay càng nhỏ thì khả năng phát hiện ra của radar càng thấp.
== Các phương pháp có thể tàng hình ==
=== Lựa chọn vật liệu ===
Vật liệu làm khung của máy bay tàng hình thì có nhiều, chủ yếu là nguyên liệu phức hợp gồm carbon trộn với nhựa cây. Vật liệu phức hợp kiểu như thế này có đặc điểm là cứng, nhẹ, có thể hấp thụ được sóng của radar.. Còn phải kể thêm rằng máy bay ném bom tàng hình B-2 của Mỹ có cỏ ngoài sử dụng vật liệu kiểu tổ ong làm lớp vải lót để giảm thiểu tối đa khả năng phạn xạ của sóng radar. Để thu được hiệu quả cao nhất, người ta cờn sơn ngoài chiếc máy bay một lớp sơn tàng hình bằng bột mịn niken, coban hoặc kim loại-kim loại đã bị oxy hóa. Lớp sơn này có thể làm tổn thương sóng radar, có tác dụng làm trong sóng. Ngoài ra, cũng phải kể tới một chất liệu của muối kiềm chuyển sóng radar thành nhiệt năng và không thể phản xạ lại.
=== Kết cấu ===
Đây cũng là yếu tố không thể không đề cập đến nếu nói về máy bay tàng hình. Phải nhớ rằng, kết cấu ngoại hình đặc biệt cũng có thể làm máy bay tàng hình được. Thông thường, thân máy bay có hình trụ tròn và thân, cánh, đuôi tạo thành một kết cấu liên kết liên tiếp, đều có thể làm cho sóng radar sinh ra quay trở lại radar và thu sóng phản xạ của anten. Các nhà thiết kế máy bay tàng hình nếu biến đổi hình trụ tròn của máy bay thành hình mặt cắt, hình chóp nhọn, hoặc biến phần nối giữa cánh và thân thành hình ống tròn, tạo nên sự hòa hợp giữa thân và cánh, không bố trí giá thân và cánh theo đạn đạo, bỏ đuôi cánh, sử dụng đuôi chữ V lệch,... thì có thể phá vỡ sự phản hồi sóng radar, làm cho sóng phản xạ yếu đi, thậm chí hầu như không có.
=== Thoát khỏi con mắt khác ngoài radar ===
==== Tia hồng ngoại ====
Để có thể tàng hình với tia hồng ngoại, người ta có trí miệng nhận và thoát khí của động cơ máy bay ở phần đỉnh và tại lỗ thoát khí lại lắp đặt máy thải khí và thiết bị hút nhiệt để thải nguồn nhiệt ở miệng động cơ.
==== Tiếng ồn ====
Để giải quyết vấn đề này, người ta có thể dùng thiết bị hút âm hoặc thiết kế loại động cơ có âm thanh rất nhỏ.
== Lợi ích của những mẫu máy bay tàng hình ==
Một số lượng máy bay tàng hình nhỏ có thể thay thế một toán lớn những phi cơ bình thường mà vẫn có thể tạo được hiệu quả chiến đấu tương đương, có khi còn cao hơn. Biện pháp này đôi khi giúp tiết kiệm đáng kể ngân sách quân đội sau một thời gian dài sử dụng.
Máy bay tàng hình cho phép người ta tấn công vào những điểm mục tiêu quan trọng, trong khi vẫn che giấu được hành vi của mình. Bởi vì không ai có thể phát hiện ra hay ít nhất là biết được kẻ tấn công, những người trong cuộc có thể từ chối bình luận và từ đó tránh được chiến tranh.
Khả năng chiến đấu của máy bay tàng hình có thể làm tê liệt bộ phận chỉ huy và reo rắc hoang mang cho đối phương vì họ không thể biết liệu những đợt không kích khác đã được tiến hành hay chưa; từ đó đưa họ đến việc xem xét giải pháp ngoại giao. Dù vậy, lập luận này được một số người bác bỏ là chưa chắc chắn.
Sự sản xuất và vận hành mẫu chiến đấu cơ tàng hình này có thể gây động lực cho đối thủ trong quyết định của họ về việc tiến hành chạy đua vũ trang với mục đính tạo ra những máy bay tương tự. Điều này có thể làm suy yếu nền kinh tế (có thể giả sử là yếu hơn) của họ, tức là tạo thuận lợi cho kẻ thù. Chương trình Chiến lược phòng ngự kế hoạch ("Chiến tranh giữa các vì sao") của Hoa Kỳ thực hiện năm 1980 cũng để đạt mục đính tương tự nhằm chống lại Liên Xô.
== Hạn chế của các máy bay tàng hình ==
=== Bất ổn của mẫu thiết kế ===
Khi thiết kế các máy bay tàng hình, người ta thường chú tâm vào việc giảm tối thiểu mức độ phản hồi sóng điện từ bất thường của vật thể (Radar Cross Section: mặt cắt ra đa) hơn là hoàn thiện chúng về mặt khí động học. Những máy bay tàng hình cao cấp (như chiếc F-117 và B-2) không ổn định về khí động học trên cả ba trục và đòi hỏi hiệu chỉnh liên tục từ hệ thống điều khiển với giao tiếp được điện tử hóa (fly-by-wire system) để có thể tiếp tục vận hành trên không trung. Phần lớn các máy bay chiến đấu không tàng hình hiện nay (như F-16 Fighting Falcon, Su-27 Flanker, Eurofighter Typhoon, JAS 39 Gripen, Dassault Rafale) chỉ vận hành không ổn định trên một hay hai trục mà thôi. Máy bay tàng hình cần rất nhiều hệ thống điều khiển với giao tiếp được điện tử hóa để đảm bảo an toàn nên thường gây tốn thêm chi phí đồng thời làm mẫu máy bay tăng thêm trọng lượng. Trong trường hợp có xung điện từ mạnh (hiện tượng nổ hạt nhân trong khí quyển), sẽ tác động đến các bộ phận điều khiển và có thể gây những hậu quả rất nghiêm trọng cho các phi cơ tàng hình, như rơi máy bay. Tuy vậy, điều này rất khó có thể xảy ra nhờ vào các thiếc kế chống tác động của các thiết bị điện tử được tiến hành bởi Không quân Hoa Kỳ.
=== Khả năng không chiến ===
Máy bay tàng hình chịu nhiều bất lợi lớn khi bị phát hiện bởi kẻ thù. Các mẫu máy bay tàng hình hoàn toàn hiện nay (F-117 và B-2) thiếu các thùng chất đốt phụ, do nhiệt độ từ khí thải của chúng có thể làm tăng mặt cắt ra đa và các dấu vết nhạy cảm với tia hồng ngoại của máy bay. Vì bất lợi đó mà các phi cơ này không thể vượt qua tốc độ âm thanh mà tẩu thoát một cách nhanh chóng. Điều này khiến chúng dễ bị tấn công bởi các máy bay đánh chặn, loại máy bay có khả năng đạt tới tốc độ Mach 2 (tốc độ siêu thanh 2) hoặc cao hơn nhờ có thùng chất đốt phụ. Hình dạng kỳ dị của các máy bay tàng hình còn làm giảm đi sự nhanh nhẹn của chúng trong các cuộc không không chiến, và do vậy, làm tăng nguy cơ bị tiêu diệt của chúng bởi pháo tự động từ các phản lực cơ truyền thống, cho dù mặt cắt ra đa thấp và lá chắn hồng ngoại có hiệu quả thế nào đi chăng nữa trong việc ngăn chặn khả năng khóa mục tiêu của tên lửa. Về hỏa lực, chiếc F-117 có thể mang theo hai quả tên lửa không-đối-không để tự vệ, nhưng thường không hiệu quả (hệ quả của tính linh hoạt thấp); chiếc B-2 thì không thể mang theo bất kỳ một loại vũ khí không-đối-không nào.
=== Sự rò rỉ sóng điện từ và sóng hồng ngoại ===
Sự điện toán hóa ở mức độ cao cùng một số lượng lớn các thiết bị điện tử được lắp đặt trong máy bay tàng hình làm chúng dễ trở thành mục tiêu bởi các sự phát hiện thụ động. Thiết bị dã chiến di động Tamara được sản xuất bởi Cộng Hòa Séc có thể bắt được những rò rỉ điện từ rất nhỏ, thậm chí là từ các máy bay có lá chắn tốt nhất. Các máy dò Tamara cung cấp cự ly tổng quát / thông tin về khoảng cách cho các radar phòng không, để rồi các radar này sẽ tiến hành khóa mục tiêu bằng cách sử dụng phép quét hội tụ cao.
Máy bay tàng hình được thiết kế để có mức độ bộc lộ trước radar rất thấp, nhưng mức độ phát ra tia hồng ngoại thì vẫn tương tự như máy bay thường do đều phải sử dụng động cơ phản lực tỏa ra nhiều nhiệt. Do vậy, nếu đối phương sử dụng các thiết bị trinh sát, phát hiện tín hiệu hồng ngoại thì vẫn có thể phát hiện máy bay tàng hình (các thiết bị loại này hiện nay đã có thể phát hiện tín hiệu hồng ngoại tỏa ra từ máy bay địch ở cự ly tới vài chục km).
=== Chi phí bảo dưỡng ===
Các máy bay tàng hình là những thiết bị đòi hỏi bảo trì ở mức độ cao. Tính chất của vỏ máy bay quyết định hiệu quả tàng hình của nó, bằng cách làm chệch hướng xung lực radar nhờ vào đặc trưng hình học của khung máy bay và / hoặc vào sự hấp thụ sóng điện từ nhờ lớp sơn bề mặt được cấu tạo từ những vi cầu ferit-than chì. Các cửa sổ buồng lái được dát một lớp kim loại mỏng bằng vàng và idium. Nếu vỏ máy bay bị đâm thủng bởi một viên sỏi bắn lên từ đường băng, hay nếu mưa lớn làm hư hại các lớp sơn trên, mức độ phản hồi sóng điện từ bất thường của máy bay sẽ có thể tăng đột ngột. Các máy bay tàng hình thường được vận hành từ các căn cứ nhà, nơi có những nhà kho được trang bị điều hòa nhiệt độ có khả năng cung cấp những điều kiện bảo trì và cất giữ tối ưu. Dù cho khả năng duy trì và số lượng khung máy bay có phát triển tăng vọt theo chiều tích cực từ những năm cuối thập niên 90, giá thành của máy bay, chi phí của việc thiết lập những thiết bị chất lượng cao ở căn cứ nhà, và của những đợt xuất kích đi xa được thực hiện để chống lại những mục tiêu hải ngoại từ quê nhà vẫn còn là một gánh nặng kinh tế lớn cho những nước đang vận hành máy bay tàng hình.
=== Các mẫu bay dễ bị công kích ===
Các máy bay tàng hình vẫn có nguy cơ bị phát hiện một cách tức thì trước, trong khi và sau khi nó sử dụng vũ khí. Bởi vì các đầu đạn tàng hình (các loại bom có giảm mặt cắt ra đa và tên lửa hành trình) nói chung là vẫn chưa có sẵn, nên tất cả các loại quân trang cho máy bay đều phải được mang ở bên trong thân của máy bay để tránh việc tăng mặt cắt ra đa. Ngay khi cửa chứa bom được mở ra, chỉ số RCS của máy bay sẽ tăng gấp bội và thậm chí một hệ thống radar đời cũ cũng có thể xác định được vị trí của nó. Các phi công điều khiển máy bay tàng hình nhận được một khoá huấn luyện đặc biệt để giảm thiểu sự phản hồi sóng của vũ khí trong vòng 15-25 giây. Đối với các oanh tạc cơ (bán tàng hình) thể hệ thứ 4 và thứ 5, vũ khí không đối đất được mang chủ yếu trên các khoang chứa vũ khí bên ngoài, chấp nhận nguy cơ bị phát hiện cao hơn. Khoang vũ khí bên trong được dành riêng cho các loại tên lửa chống máy bay khác nhau.
=== Giới hạn về sức tải ===
Bởi vì tất cả các máy bay tàng hình hoàn toàn đều mang vũ khí ở bên trong thân nên lượng đầu đạn vũ trang có thể sử dụng được là hạn chế. Chiếc F-117 chỉ mang được hai quả bom laser trên thân, đòi hỏi tin tức tình báo phải ở mức độ tin cậy cao để có thể thực hiện thành công phi vụ. Bên ngoài phạm vi chiến tranh truyền thống, các máy bay này còn có thể thả các lực lượng đặc biệt xuống vùng địch, các đơn vị này sẽ thâm nhập lãnh thổ của địch và nhận diện các mục tiêu có giá trị chiến lược cho việc tấn công bằng bom laser bởi các máy bay tàng hình.
Chiếc B-2 Spirit tải theo một lượng lớn bom, nhưng cũng vì vậy mà nó có tốc độ thấp (gần tốc độ âm thanh), dẫn đến việc kéo dài thời gian thực hiện phi vụ. Ví dụ sẽ là 18 - 24 tiếng đồng hồ nếu nó bay nửa vòng trái đất để tấn công các mục tiêu ở hải ngoại. Bởi vậy việc lên kế hoạch chi tiết và thu thập các thông tin tình báo một cách đúng lúc là tối quan trọng cho sự thành công của mỗi lần xuất kích. Trong trường hợp các mục tiêu di động có thể bị tấn công, chiếc Spirit sẽ phải tin vào các thông tin từ vệ tinh hay làm theo chỉ dẫn của các hoa tiêu để đảm bảo thực hiện thành công hành trình bay.
=== Chi phí ===
Các máy bay tàng hình thường có một khả năng vận hành tối đa hạn chế. Dù chiếc B-2 Spirit có thể năng thả quân khí tiếp tế lên bất kì một dặm vuông nào trên bề mặt địa cầu trong vòng 12 giờ, về phương diện vận hành, nó trở nên bất tiện bởi hai nhân tố: giá cả thay thế quá cao (khoảng 2 tỷ USD/chiếc). Các loại máy bay mới như F-22 Raptor tuy có giá rẻ hơn nhưng vẫn lên tới 400 triệu USD/chiếc, vượt ngoài tầm cho phép của GDP của một số quốc gia, điều này dẫn đến một sự phân tích đầy thách thức về hiểm họa / thuận lợi khi xem xét việc triển khai của nó.
Máy bay tàng hình vẫn có thể được thấy bởi mắt thường, khiến quá trình triển khai của nó phụ thuộc nào thời tiết và thời điểm trong ngày. Những nhiệm vụ tầm xa và đặc tính tránh xa các thiết bị radar làm cho không quỹ đạo, quỹ đạo hạ cánh và cất cánh của nó có thể được dự đoán một cách dễ dàng hơn. Trong khi chiếc máy bay có thể ngụy trang tốt, các vật dụng tiếp tế rất có thể làm lộ sự hiện diện của nó.
== Các biện pháp chống máy bay tàng hình ==
Xét về phương diện lý thuyết, tồn tại một số phương pháp phát hiện máy bay tàng hình từ xa nhưng chưa có cách nào trong số đó từng được áp dụng trong thực tế chiến đấu. Các công ty tuyên bố là đã phát triển được những hệ thống như vậy nhưng chưa thể thử nghiệm sản phẩm của mình trên những chiếc máy bay tàng hình thật sự (hoặc đã thử nghiệm nhưng kết quả được giữ bí mật).
=== Dò tìm xung động trong không khí ===
Úc và Nga tuyên bố rằng họ đã phát triển được một kỹ thuật xử lý cho phép có thể bắt được các chấn động trong không khí phát ra từ máy bay ở một tầm xa tương đối (có thể chống lại công nghệ tàng hình). Ví dụ, Chương trình radar vượt quá đường chân trời Jindalee của Australia được cho là có thể phát hiện ra máy bay tàng hình thông qua sự hỗn loạn không khí yếu do một máy bay tạo ra mà không cần biết tới những công nghệ tàng hình của nó [1].
=== Sóng phản hồi ===
Radar thụ động, radar bán tĩnh và đặc biệt là hệ thống đa tĩnh được tin tưởng là có thể phát hiện máy bay tàng hình tốt hơn so với các radar đơn tĩnh thường, bởi vì công nghệ tàng hình phản hồi năng lượng các bước sóng của máy phát, điều này mặt khác làm tăng mặt cắt ra đa một cách hiệu quả, nó là thứ mà các radar thụ động tìm kiếm. Một hệ thống có thể sử dụng các tín hiệu từ cả sóng TV băng tần thấp và sóng radio FM (các giải tần thấp này có thể gây ra sự cộng hưởng mặt cắt ra đa) hoặc điện thoại di động.
=== Radar bước sóng dài ===
Radar bước sóng dài cỡ mét có khả năng phát hiện máy bay tàng hình tốt hơn nhiều so với radar thường (sử dụng bước sóng cỡ cm). Một hệ thống SA-3 của Nam Tư, dù cũ kỹ nhưng nhờ sử dụng radar loại này đã bắn hạ thành công một chiếc F-117 của Mỹ vào năm 1999.
=== Phát hiện tín hiệu hồng ngoại (IRST) ===
Máy bay tàng hình được thiết kế để có mức độ bộc lộ trước radar rất thấp, nhưng mức độ phát ra tia hồng ngoại thì vẫn tương tự như máy bay thường do đều phải sử dụng động cơ phản lực tỏa ra nhiều nhiệt. Do vậy, nếu sử dụng các thiết Tìm kiếm và theo dõi bằng tia hồng ngoại thì vẫn có thể phát hiện máy bay tàng hình (các thiết bị loại này hiện nay đã có thể phát hiện tín hiệu hồng ngoại tỏa ra từ máy bay địch ở cự ly tới vài chục km).
Những máy bay sử dụng hệ thống IRST hiện đại nhất được biết đến là các phiên bản Sukhoi Su-27 của Nga. Hệ thống OLS-35 trang bị trên Su-35 được tuyên bố có thể phát hiệu tín hiệu hồng ngoại phát ra từ máy bay địch ở cự ly tới 90 km, trong khi những hệ thống mạnh hơn vẫn đang được phát triển liên tục. Với tia hồng ngoại phản hồi cùng tên lửa "bắn và quên", máy bay sử dụng công nghệ này có thể nhắm bắn máy bay tàng hình mà không phải sử dụng tín hiệu radar dò tìm.
=== Tìm kiếm bằng quang học ===
Máy bay tàng hình "biến mất" trước radar nhưng nó không tàng hình về quang học, tức là vẫn quan sát được bằng mắt thường. Do vậy, các máy bay trang bị hệ thống tìm kiếm mục tiêu bằng quang học, các trạm quan sát sử dụng kính viễn vọng vẫn có thể phát hiện ra máy bay tàng hình từ cự ly vài km tới vài chục km (tùy thuộc vào điều kiện thời tiết, ngày hoặc đêm).
== Ứng dụng của không hạm tàng hình ==
== Các mẫu máy bay tàng hình ==
== Tham khảo == |
back to december.txt | "Back to December" là ca khúc khúc do ca sĩ nhạc pop đồng quê người Mỹ, Taylor Swift sáng tác và thu âm, được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ hai từ album phòng thu thứ ba của cô Speak Now vào ngày 15 tháng 11, năm 2010. Theo Swift, "Back to December" là lần đầu tiên cô xin lỗi một người qua bpi hát. Nhiều nhà phân tích cho rằng bài hát nói về Taylor Lautner, bạn trai cũ của Swift, dù cả Swift và Lautner đều phủ nhận điều này. "Back to December" được cho là bản hòa âm pop đồng quê ballad và lời bài hệt như một lời xin lỗi và xin tha thứ vì đã chia tay với tình cũ.
"Back to December" nhận được nhiều lời bình luận tích cực từ phía các nhà đánh giá, nhiều người cho rằng đây là điểm nhấn của album Speak Now. Các nhà phê bình cũng khen bài hát vì lời nhạc ấn tượng, giai điệu mang chút hơi hưởng indie, và giọng của Swift đã có nhiều cải thiện. Bài hát là một thành công lớn về mặt thương mại, đứng thứ sáu trên bnagr xếp hạng Billboard Hot 100 Mỹ, và vị trí thứ bảy tại Canada. Nó cũng đứng thứ ba tại bảng xếp hạng Billboard Hot Country Songs. Bài hát cũng khá thành công trên trường quốc tế, đứng vị trí thứ 24 ở New Zealand, và thứ 26 tại Australia.
Video âm nhạc của bài hát, đạo diễn và biên kịch bởi Yoann Lemoine, như là một lời ca thán vì mối tình kết thúc. Video âm nhạc nhận được lời phê lẫn lộn từ các nhà phê bình âm nhạc; một vài người khen ngợi những cảm giác trực quan tuyệt vời trong việc mô tả tâm trạng ảm đạm trong khi những nhà phê bình khác cho rằng cách dẫn đó là không đủ. Swift đã trình diễn "Back to December" một vài lần, tiêu biểu nhất là tại Lễ trao giải nhạc đồng quê thường niên lần thứ 44 và tại Lễ trao giải âm nhạc Mỹ lần thứ 38.
== Bối cảnh và ra mắt ==
Theo Swift, "Back to December" là lời xin lỗi tới một người yêu cũ dưới dạng bài hát, điều mà cô chưa từng làm trước đó. Cô còn nói thêm: "Trước đây, tôi chưa bao giờ cảm thấy cần phỉa xin lỗi một người bằng bài hát. Nhưng trong hai năm gần đây, tôi đã có thêm nhiều trải nghiệm, [trong đó có cả] nhiều bài học khác nhau.
== Danh sách ca khúc ==
Tải kĩ thuật số ở châu Âu
"Back to December" – 4:54
Tải kỉ thuật số ở Anh
"Back to December" – 4:54
Tải kỉ thuật số ở bản Acoustic ở Mỹ
"Back to December" (Acoustic Version) – 4:52
== Bảng xếp hạng ==
== Chú thích == |
middlesbrough.txt | Middlesbrough là thành phố ở Đông Bắc Anh, kể từ năm 1996 là trung tâm hành chính của Middlesbrough unitary authority. Middlesbrough toạ lạc bên sông Tees ở khu vực đã là khu vực hành chính phía Bắc Yorkshire. Đầu thế kỷ 19, thị trấn Darlington đã được thành lập gần địa điểm Middlesbrough như là một giao lộ đường sắt để vận chuyển than đá từ Nam Durham, và tuyến đường sắt công cộng đầu tiên của thế giới đã được xây giữa Darlington và Stockton gần đấy vào năm 1825. Middlesbrough hiện đại đã được quy hoạch kỹ lưỡng và trung tâm ban đầu được giữ nguyên như một di tích của sự phát triển đô thị Vương quốc Anh. Middlesbrough đã mở rộng nhanh chóng để trở thành trung tâm sắt, và sau này là quận thép của Teesside sau khi lò cao đầu tiên hoàn thành ở Middlesbrough năm 1851. Ngành đóng tàu cũng đã trở thành một ngành công nghiệp quan trọng của Middlesbrough, và các ngành khác như: gạch, xi măng được du nhập vào thành phố thập niên 1930.
== Tham khảo == |
mỏ vàng.txt | Mỏ Vàng là một xã thuộc huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái, Việt Nam.
Xã có diện tích 99,63 km², dân số năm 1999 là 3.171 người, mật độ dân số đạt 32 người/km².
== Chú thích == |
yorkshire.txt | Yorkshire là một hạt lịch sử của miền bắc nước Anh và lớn nhất tại Vương quốc Anh Vì diện tích rộng lớn của nó, chức năng của khu vực này ngày càng được các phân khu của nó đảm nhận, điều này đã dẫn tới các cải cách theo thời gian bằng cách phân khu của mình, điều này là do các cải cách định kỳ. Trong suốt những thay đổi này, Yorkshire đã tiếp tục được công nhận như là một vùng lãnh thổ địa lý và văn hóa . Tên gọi trở nên quen thuộc và được hiểu rõ trên toàn Vương quốc Anh và đang được sử dụng phổ biến trong các phương tiện truyền thông, quân đội và cũng có các tính năng trong các tiêu đề của các khu vực hiện hành của chính quyền dân sự như Yorkshire và Humber và West Yorkshire. Trong biên giới của quận hạt lịch sử của vùng Yorkshire, được nhiều người coi là xanh nhất tại Anh, vì vùng này vừa trải dài rộng lớn của vùng quê hoang sơ ở Dales Yorkshire và North York Moors và những khía cạnh mở của một số thành phố lớn Yorkshire có đôi khi được gọi bằng biệt danh "hạt của riêng Chúa" . Huy hiệu của Yorkshire là hoa hồng trắng của Nhà York hoàng gia Anh, và cờ được sử dụng phổ biến nhất đạt diện cho Yorkshire là hoa hồng trắng trên nền màu xanh đậm mà sau nhiều năm sử dụng, đã được công nhận bởi Viện Cờ vào ngày 29 tháng 7 năm 2008 Ngày của Yorkshire, tổ chức vào ngày 01 tháng 8,. là một kỷ niệm của nền văn hóa chung, nền văn hóa Yorkshire, từ lịch sử cho đến ngôn ngữ riêng của mình .
== Tham khảo == |
bill tilden.txt | William Tatem Tilden II (Big Bill) (10/2/1893-5/6/1953) là 1 tay quần vợt Mỹ. Ông được nhiều người cho là một trong những tay quần vợt hay nhất trong lịch sử. Trong thập niên 1920, Bill Tilden thống trị quần vợt quốc tế. Ông đã là tuyển thủ số một trong bảng xếp hạng quần vợt nam trong 7 năm, lần cuối cùng là lúc ông 38 tuổi. Ông sinh ở Philadelphia, Pennsylvania, Hoa Kỳ trong 1 gia đình giàu có, ông là một "Junior" lúc sinh nhưng đã đổi tên thành "II" khi ông khoảng hai mấy tuổi.
Từ năm 1920 đến năm 1926, Bill Tilden dẫn nước Mỹ thắng 7 giải Cúp Davis liên tục, 1 kỷ lục cho đến nay vẫn chưa ai phá. Ông thắng giải US Open 6 năm liên tục (1920-1925) và thêm lần thứ 7 năm 1929. Ông chỉ sang Anh 3 lần để tranh giải Wimbledon (1920, 1921, 1929) và thắng cả 3.
Trong những năm đầu tranh giải US Open, ông bị thua Bill Johnston ("Little Bill"). Bill Tilden quyết định bỏ 3 tháng mùa đông năm 1919 tập dợt một mình để tìm cách hạ Bill Johnston. Ông sáng chế ra phương cách tay cầm forehand mới gọi là Eastern Grip. Nhờ Eastern grip, ông có thể đánh forehand topspin, thẳng, hoặc chặt (underspin). Từ đó, Bill Tilden thắng Bill Johnston 6 năm liên tục để thắng giải US Open.
Trong những năm cuối cuộc đời, Bill Tilden bị buộc tội về đạo đức. Ông bị vào tù 2 lần (1946, 1949) vì tội dụ dỗ trai trẻ vị thành niên. Từ sau lần vào tù thứ 2, ông bị xã hội xa lánh. Người ta không còn mời ông dạy quần vợt nữa. Có hơn 1 lần ông bị từ chối không cho tranh giải quần vợt. Ông chết trong sự nghèo túng ở Los Angeles, California năm 1953.
== Tham khảo == |
võ quảng.txt | Võ Quảng (1 tháng 3 năm 1920 - 15 tháng 6 năm 2007) là một nhà văn nổi tiếng của Việt Nam. Sự nghiệp văn chương của ông chủ yếu tập trung về đề tài thiếu nhi. Ông cũng là người đầu tiên dịch tác phẩm Đôn Kihôtê sang tiếng Việt dưới bút danh Hoàng Huy từ năm 1959. Ông được nhà nước Việt Nam trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007.
== Cuộc đời và sự nghiệp văn chương ==
Ông sinh ngày 1 tháng 3 năm 1920, tại xã Đại Hòa huyện Đại Lộc tỉnh Quảng Nam. Năm 1935, trong khi đang theo học Tú tài ở Quốc học Huế, ông tham gia tổ chức Thanh niên Dân chủ ở Huế, năm 1939 làm tổ trưởng tổ Thanh niên Phản đế ở Huế. Tháng 9 năm 1941, bị chính quyền Pháp bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ, sau đó bị đưa đi quản thúc vô thời hạn ở quê nhà.
Sau khi Cách mạng tháng Tám 1945 nổ ra, ông được chính quyền Việt Minh cử làm ủy viên Tư pháp thành phố Đà Nẵng. Khi quân Pháp tái chiếm Nam Bộ, ông được cử vào chức vụ Phó chủ tịch Ủy ban Hành chính kháng chiến thành phố Đà Nẵng. Từ năm 1947 đến 1954, làm Hội thẩm chính trị (tức là Phó Chánh án) tòa án quân sự miền Nam Việt Nam. Thời gian này, ông cũng có sáng tác một số tác phẩm thơ dành cho thiêú nhi.
Sau khi tập kết ra Bắc, ông được điều về công tác ở chức vụ Ủy viên Ban nhi đồng Trung ương, phụ trách văn học cho thiếu nhi. Ông là một trong những người tham gia sáng lập và từng giữ chức Giám đốc Nhà xuất bản Kim Đồng, Một thời gian sau đó, ông được cử làm Giám đốc Xưởng phim hoạt hình Việt Nam. Năm 1965, ông được kết nạp làm Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1968, ông về công tác tại Bộ Văn hóa, năm 1971, về Hội Nhà văn Việt Nam, được phân công làm chủ tịch Hội đồng Văn học Thiếu nhi Hội Nhà văn Việt Nam và giữ chức vụ này đến khi về hưu...
Năm 2007, ông được trao tặng Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật.
Ông qua đời lúc 11 giờ 20 phút ngày 15 tháng 6 năm 2007 tại Hà Nội. Mộ phần của ông đặt tại nghĩa trang tỉnh Vĩnh Phúc.
== Tác phẩm ==
Nhà văn Võ Quảng là người viết nhiều truyện và thơ cho thiếu nhi với nhiều tác phẩm được các thế hệ yêu thích như:
Cái Thăng (truyện 1961)
Thấy cái hoa nở (thơ 1962)
Chỗ cây đa làng (1964)
Nắng sớm (thơ, 1965)
Cái Mai (1967)
Những chiếc áo ấm (truyện 1970)
Anh Đom đóm (thơ, 1970)
Măng tre (thơ, 1972)
Quê nội(truyện 1974)
Bài học tốt (truyện, 1975)
Gà mái hoa (thơ 1975)
Quê nội|Tảng sáng (truyện 1976)
Quả đỏ (thơ 1980)
Vượn hú (truyện 1993)
Ánh nắng sớm (thơ 1993)
Kinh tuyến, vĩ tuyến (truyện 1995)
Sơn Tinh Thủy Tinh, Con 2 (kịch bản phim hoạt hình).
Vượt thác
Ngoài ra, ông còn có bài thơ đồng dao "Mời vào" cho trẻ em rất nổi tiếng.
== Chú thích == |
steve jobs.txt | Steven Paul "Steve" Jobs ( /ˈdʒɒbz/; 24 tháng 2 năm 1955 –5 tháng 10 năm 2011) là doanh nhân và nhà sáng chế người Mỹ. Ông là đồng sáng lập viên, chủ tịch, và cựu tổng giám đốc điều hành của hãng Apple, là một trong những người có ảnh hưởng lớn nhất ở ngành công nghiệp vi tính. Trước đây ông từng là tổng giám đốc điều hành của xưởng phim hoạt hình Pixar; sau đó trở thành thành viên trong ban giám đốc của công ty Walt Disney năm 2006, sau khi Disney mua lại Pixar. Ông được công nhận là điều hành sản xuất của bộ phim Toy Story (1995).
Cuối những năm 1970, Steve Jobs cùng nhà đồng sáng lập Apple Steve Wozniak, Mike Markkula, và một số người khác, thiết kế, phát triển và đưa ra thị trường một trong những dòng máy tính cá nhân thành công thương mại đầu tiên, dòng Apple II. Đầu những năm 1980, Jobs là một trong những người đầu tiên nhìn thấy tiềm năng thương mại của giao diện người dùng điều khiển đồ họa bằng cách sử dụng chuột dẫn đến việc ra đời Macintosh. Sau khi thất bại trong một cuộc đấu tranh quyền lực với ban giám đốc vào năm 1984, Jobs rút khỏi Apple và sáng lập NeXT, một công ty phát triển nền tảng máy tính chuyên về giáo dục và kinh doanh cao hơn. Việc Apple mua lại NeXT vào năm 1996 đưa Steve Jobs trở lại công ty mà ông là đồng sáng lập, sau đó làm việc ở đó trong vai trò tổng giám đốc điều hành từ năm 1997 cho đến năm 2011. Năm 1986, ông mua lại bộ phận đồ họa vi tính của công ty Lucasfilm, sau đó tách ra thành hãng phim hoạt hình Pixar. Ông vẫn là tổng giám đốc điều hành và cổ đông lớn nắm 50,1% cổ phần của Pixar cho đến khi hãng Walt Disney mua lại vào năm 2006. Do đó Jobs trở thành cổ đông cá nhân lớn nhất nắm 7% cổ phần và là thành viên của Hội đồng quản trị của Disney.
Quá trình hoạt động kinh doanh của Steve Jobs đã đóng góp nhiều cho các hình ảnh biểu tượng mang phong cách riêng, nhà doanh nghiệp tiêu biểu của Thung lũng Silicon, nhấn mạnh tầm quan trọng của thiết kế và hiểu biết vai trò thiết yếu của tính thẩm mỹ trong việc thu hút công chúng. Công việc của ông thúc đẩy sự phát triển của các sản phẩm mà chức năng và tính thanh lịch của chúng đã thu hút những người ủng hộ hết mình.
Ngày 24 tháng 8 năm 2011, Steve Jobs tuyên bố từ chức tổng giám đốc điều hành của Apple. Trong thư từ chức, Jobs mạnh mẽ gửi gắm rằng Tim Cook là người kế nhiệm ông. Do yêu cầu này, Jobs được bổ nhiệm làm chủ tịch hội đồng quản trị của Apple. Ngày 5 tháng 10 năm 2011, Apple loan tin Steve Jobs đã qua đời ở tuổi 56.
== Tiểu sử ==
Jobs sinh ra tại thành phố San Francisco, tiểu bang California, Hoa Kỳ và được nhận nuôi bởi cặp vợ chồng người Mỹ là Paul Reinhold Jobs (1922–1993) và Clara Jobs (1924–1986).
Paul và Clara sau đó còn nhận nuôi một đứa con gái đặt tên là Patti. Cha ruột của ông là Abdulfattah Jandali, một sinh viên đại học người Syria, sau này là giáo sư khoa học chính trị,. Mẹ ruột của ông là Joanne Simpson, một sinh viên đại học người Mỹ sau này trở thành nhà ngôn ngữ học. Khi đã lập gia đình, bà sinh và nuôi dưỡng đứa em ruột của Jobs, tiểu thuyết gia Mona Simpson.
Jobs theo học trường trung học Cupertino và Homestead tại thành phố Cupertino, tiểu bang California. Sau giờ học, ông thường đến công ty Hewlett-Packard tại Palo Alto, California. Ông nhanh chóng được thuê và làm việc cùng Steve Wozniak trong vai trò là những nhân viên thời vụ mùa hè. Năm 1972, Jobs tốt nghiệp trung học và ghi danh học tại Reed College, một trong số 10 đại học mỹ thuật hàng đầu của Hoa Kỳ ở thành phố Portland, tiểu bang Oregon. Mặc dù Steve Jobs bỏ học sau chỉ một học kì bán niên (semester) vì học phí đại học tư quá cao, ông vẫn tiếp tục dự thính các lớp học tại Reed trong khi phải ngủ dưới sàn nhà của những người bạn, đổi lon nước ngọt để lấy tiền ăn và nhận các suất ăn miễn phí mỗi tuần tại đền Hare Krishna. Sau này Jobs bày tỏ rằng: "Nếu tôi chưa từng dự lớp học thư pháp riêng lẻ đó tại đại học thì Mac sẽ không bao giờ có nhiều kiểu chữ hay phông chữ có tỉ lệ cân xứng như vậy."
Mùa thu năm 1974, Jobs quay trở lại California và bắt đầu tham dự các buổi gặp mặt của câu lạc bộ Homebrewe Computer cùng với Wozniak. Ông làm kĩ sư cho hãng Atari, một nhà sản xuất trò chơi điện tử, đồng thời tích góp tiền bạc cho chuyến đi hành hương tại Ấn Độ.
Sau đó, Jobs đến Ấn Độ cùng với Daniel Kottke, người bạn học tại trường Reed (sau này là nhân viên đầu tiên của Apple), để tìm kiếm sự khai sáng tâm hồn. Ông trở về như một tín đồ Phật giáo, đầu cạo trọc và mặc đồ truyền thống của Ấn Độ. Trong thời gian này, Jobs đã thử nghiệm ma tuý, cho biết rằng trải nghiệm LSD là "một trong số hai hay ba thứ quan trọng nhất từng làm trong đời"". Jobs khẳng định rằng, đối với những người quanh nhưng không muốn chia sẻ những nguồn gốc nền văn hoá của ông, họ sẽ không thể nào hiểu được suy nghĩ của ông.
Jobs quay lại công việc trước đây của mình tại hãng Atari và được giao nhiệm vụ tạo một mạch điện tử cho trò chơi Breakout. Nolan Bushnell, nhà sáng lập Atari, cho biết Atari trả 100 đô la Mỹ cho mỗi con chip được loại ra khỏi chiếc máy. Do không hứng thú và cũng không có nhiều kinh nghiệm về thiết kế mạch điện, Jobs đã thoả thuận với Wozniak chia đôi số tiền thưởng nếu Mozniak có thể giảm đến mức thấp nhất số lượng chip.
Vượt quá sự mong đợi của Atari, Wozniak đã giảm lượng chip xuống còn 50, một thiết kế quá chặt chẽ khiến cho nó không thể tái sản xuất trên một dây chuyền lắp ráp. Vào thời điểm đó, Jobs nói với Wozniak rằng Atari chỉ đưa cho họ 700 USD (thay vì con số thật sự là 5.000 USD) và Wozniak chỉ nhận được con số phân nửa là 350 USD.
== Sự nghiệp ==
=== Khởi nghiệp với công ty máy tính Apple ===
Năm 1976, khi Jobs 21 tuổi và Wozniak 26 tuổi, họ sáng lập công ty Apple Computer trong ga-ra nhà Jobs. Sản phẩm đầu tiên của họ là máy tính cá nhân Apple I. Năm 1977 Apple tung ra sản phẩm tiếp theo, Apple II, một thành quả to lớn đã làm nên tiếng vang cho một công ty còn non trẻ Apple. Năm 1980 Jobs và Wozniak trở thành triệu phú. Họ đã phát triển công ty chỉ 2 người thành một công ty tầm cỡ quốc tế với cả ngàn nhân viên khắp toàn cầu.
Steve Jobs muốn một người cùng quản lý công ty Apple cùng mình nên đã thuyết phục giám đốc điều hành của Pepsi lúc đó là John Sculley: "ông có muốn dùng cả đời mình bán thứ nước có đường đó hay muốn có cơ hội thay đổi thế giới?". Năm 1983, John Sculley thay thế Jobs làm giám đốc điều hành do 2 người có những hướng đi khác nhau trong việc điều hành và Apple đang lâm vào tình cảnh khó khăn và hội đồng quản trị Apple lại đứng về phía John Sculley. Jobs từ bỏ công ty, nhưng trước đó vào năm 1984 Apple đã đưa ra một sản phẩm gây tiếng vang, máy tính cá nhân Macintosh.
=== Công ty máy tính NeXT ===
Trong cùng thời điểm, Jobs thành lập nên một công ty khác mang tên NeXT Computer. Cũng như Apple Lisa, máy trạm NeXT ứng dụng công nghệ kĩ thuật cao. Tuy nhiên phần lớn chúng bị ngành công nghiệp đào thải do chi phí cao không cho phép chúng trở nên phổ biến. Mặc dù trong số những người có đủ khả năng mua được, máy trạm NeXT nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ vì những điểm mạnh kỹ thuật của nó, đứng đầu trong số đó là hệ thống phát triển phần mềm hướng đối tượng được cài đặt bên trong.
Jobs bán ra sản phẩm NeXt cho những người trong lĩnh vực học thuật và khoa học vì tính công nghệ mới sáng tạo và thực nghiệm mà nó tích hợp, bao gồm kernel (phần mềm, ứng dụng ở mức thấp trong hệ thống, có khả năng thay đổi linh hoạt để phù hợp với phần cứng) Mach, chip xử lý tín hiệu kỹ thuật số và cổng Ethernet.
Jobs bày tỏ rằng NeXTcube là một máy tính "tương tác – giao tiếp thông minh", ông tin rằng chiếc máy này là bước tiếp theo sau máy tính "cá nhân". Điều này có nghĩa là, nếu máy tính có thể cho phép con người dễ dàng giao tiếp và cộng tác với nhau, nó sẽ giúp giải quyết nhiều vấn đề mà máy tính "cá nhân" phải đối mặt.
Trong thời kỳ mà thư điện tử mà con người gửi cho nhau thường là những đoạn văn bản đơn thuần, Jobs muốn giới thiệu hệ thống thư điện tử của NeXT, với tên gọi NeXTMail, như một ví dụ cho triết lý "tương tác – giao tiếp thông minh" của ông. NeXTMail là một trong những dịch vụ đầu tiên hỗ trợ đồ hoạ và âm thanh tích hợp mà người dùng có thể nhúng vào trong thư điện tử.
Jobs điều hành NeXT với một nỗi ám ảnh về việc hoàn thiện thẩm mỹ. Điều này đặt ra căng thẳng đáng kể lên bộ phận phần cứng của NeXT. Trong năm 1993, sau khi chỉ bán bán ra được 50.000 máy, NeXT chuyển hoàn toàn sang phát triển phần mềm với việc phát hành NeXTSTEP/Intel.
=== Pixar và Disney ===
Năm 1986, Steve Jobs mua hãng phim đồ họa Lucasfilm (sau là Pixar Studios) với giá 10 triệu đô la, trong đó 5 triệu đô la dùng làm vốn cho hãng. Hãng mới, ban đầu đặt tại xưởng Kerner của Lucasfilm tại San Rafael, California; sau này di dời đến Emeryville, California. Hãng này theo dự định ban đầu được xây dựng để trở thành một nhà phát triển phần cứng đồ hoạ công nghệ cao. Sau hàng năm buôn bán máy tính Pixar Image không thu về lợi nhuận, hãng đã ký hợp đồng với Disney để sản xuất ra những bộ phim hoạt hình đồ hoạ, trong đó Disney sẽ cộng tác tài chính và phân phối.
Bộ phim đầu tiên hợp tác do sản xuất mang tên Câu chuyện đồ chơi đã đem lại danh tiếng và sự khen ngợi đối với xưởng phim khi ra mắt vào năm 1995. Hơn 10 năm sau đó, dưới điều hành của giám đốc sáng tạo John Lasseter của Pixar, hãng phim đã cho ra đời những phim hoạt hình nổi tiếng như A Bug's Life (1998), Câu chuyện đồ chơi 2 (1999), Monsters, Inc. (2001), Đi tìm Nemo (2003), Gia đình siêu nhân (2004), Cars (2006), Chú chuột đầu bếp (2007), WALL-E (2008), Up (2009) và Câu chuyện đồ chơi 3 (2010). Trong số đó, Đi tìm Nemo, Gia đình siêu nhân, Chú chuột đầu bếp, WALL-E, Up và Câu chuyện đồ chơi 3 đều nhận được Giải Oscar dành cho phim hoạt hình hay nhất - giải thưởng được đưa ra vào năm 2001.
Ông đổi tên hãng thành Pixar (sau là Pixar Studios). Pixar sản xuất những bộ phim rất thành công biến Jobs trở thành tỷ phú.
Trong năm 2003 và 2004, vì hợp đồng của Pixar với Disney dần hết hạn, Jobs và giám đốc điều hành Disney là Michael Eisner đã cố gắng nhưng thất bại trong việc thương lượng quan hệ cộng tác mới. Đầu năm 2004, Jobs tuyên bố rằng Pixar sẽ tìm kiếm một đối tác mới để sản xuất phim khi hợp đồng với Disney hết hạn.
Vào tháng 10 năm 2005, Bob Iger lên thay thế Eisner tại Disney, sau đó Iger nhanh chóng nối lại quan hệ với Jobs và Pixar. Ngày 24 tháng 1 năm 2006, Jobs và Iger thông báo Disney đã đồng ý mua Pixar với việc chuyển giao toàn bộ cổ phần trị giá 7,4 tỷ đô la Mỹ. Khi thoả thuận kết thúc, Jobs trở thành cổ đông cá nhân lớn nhất của hãng Walt Disney, nắm trong tay khoảng 7% cổ phần của hãng. Trong khi đó, Eisner chỉ nắm 1,7% và Roy E. Disney, thành viên của gia đình Disney, cho đến khi qua đời chỉ có khoảng 1% cổ phần của hãng. Jobs tham gia vào ban lãnh đạo công ty dựa trên sự hợp nhất hãng Pixar. Ông cũng đảm trách trông nom vấn đề kinh doanh hoạt hình phối hợp giữa Disney và Pixar với một ghế trong hội đồng lãnh đạo gồm 6 người.
=== Trở lại Apple ===
Năm 1996, Apple tuyên bố sẽ mua NeXT với giá 429 triệu đô la Mỹ. Thoả thuận mua bán đạt được vào cuối năm 1996, đưa Jobs trở lại công ty mà ông là đồng sáng lập. Jobs trở thành người đứng đầu trên thực tế, sau đó tổng giám đốc điều hành Gil Amelio bị tước chức vào tháng 7. Ông chính thức mang danh là giám đốc điều hành tạm thời trong tháng 9 năm 1997. Tháng 3 năm 1998, nhằm tập trung cho việc thu lại lợi nhuận cho Apple, Jobs cho ngừng một số dự án như Newton, Cyberdog và OpenDoc. Trong những tháng tiếp theo, nhiều nhân viên có nỗi sợ hãi tăng dần khi gặp Jobs trong thang máy, "lo sợ rằng họ có thể không có một công việc làm khi cánh cửa mở ra. Thực tế là những hành quyết vắn tắt của Jobs hiếm khi xảy ra, nhưng một vài nạn nhân cũng đủ để khủng bố toàn bộ công ty." Jobs cũng thay đổi điều khoản trong bản quyền chế tạo các máy tính dòng Macintosh, khiến chúng trở nên quá tốn kém cho các nhà sản xuất tiếp tục chế tạo.
Qua việc mua lại NeXT, hầu hết công nghệ của công ty được ứng dụng cho các sản phẩm của Apple, nổi bật nhất là NeXTSTEP, sau này đã trở thành hệ điều hành Mac OS X. Dưới sự chỉ huy của Jobs, công ty từng bước tăng doanh thu đáng kể qua việc ra mắt iMac và những sản phẩm mới khác. Kể từ đó, những thiết kế kế đầy sức hút và thương hiệu quyền lực vận hành trôi chảy phục vụ cho sự phát triển của Apple. Tại Triển lãm và Hội thảo Macworld 2000, Jobs chính thức từ bỏ chức vụ mang tính lâm thời và trở thành tổng giám đốc điều hành của Apple.
Trong những năm gần đây, công ty đã mở rộng các chi nhánh, liên tục đưa ra giới thiệu và cải tiến những thiết bị kĩ thuật số tiên tiến. Bằng việc giới thiệu máy nghe nhạc cầm tay iPod, phần mềm nghe nhạc kĩ thuật số iTunes và iTunes Store, công ty đánh mạnh vào nhu cầu âm nhạc và điện tử phổ biến của người tiêu dùng. Năm 2007, Apple gia nhập thị trường điện thoại di động với sản phẩm iPhone, một loại điện thoại di động cảm ứng đa chạm, chứa đựng hầu hết các tính năng của iPod, có trình duyệt riêng dành cho điện thoại và màn hình trình duyệt mang tính cách mạng. Tuy khuyến thích sự đổi mới, Jobs cũng nhắc nhở nhân viên của mình về "con thuyền nghệ thuật" mà ông cho rằng việc tạo ra những sản phẩm vào đúng thời điểm cũng quan trọng ngang với việc phải thiết kế cho nó thật sáng tạo và hấp dẫn.
Jobs vừa nhận được ngưỡng mộ vừa bị phê phán vì kĩ năng thuyết phục và nghệ thuật bán hàng tài ba của ông.
Tháng 4 năm 2005, Jobs trả lời vụ việc Apple bị chỉ trích vì có quy trình tái chế rác thải điện tử kém tại Hoa Kỳ bằng cách mắng mỏ những người ủng hộ môi trường và một số khác tại buổi gặp gỡ hàng năm của Apple tại Cupertino. Tuy nhiên, vài tuần sau, Apple thông báo rằng sẽ nhận lại iPods và trao đổi miễn phí tại các cửa hàng bán lẻ. Chiến dịch thu hồi máy tính phát động bằng cách cho một chiếc máy bay treo băng rôn ngay phía trên địa điểm diễn ra buổi lễ tốt nghiệp của Đại học Stanford, nơi Jobs là phát ngôn cho phần khai mạc. Trên băng rôn ghi "Steve — Don't be a mini-player — recycle all e-waste" (Steve — Đừng là một chiếc máy chơi nhạc nhỏ bé — hãy tái chế tất cả rác thải điện tử). Năm 2006, ông mở rộng chương trình tái chế của Apple đến bất kì khách hàng Mỹ nào mua một chiếc Mac mới. Chương trình này bao gồm phí giao hàng tận nhà và loại bỏ những thành phần không thân thiện với môi trường trong sản phẩm cũ của hãng.
Năm 2005 đánh dấu một cột mốc quan trọng trong lịch sử công ty Apple khi Steve Jobs tuyên bố giã từ IBM sau 10 năm gắn bó để kết hợp với Intel sản xuất chip cho máy Macintosh. 2 chiếc máy đầu tiên được chuyển sang nền Intel là iMac và MacBook Pro, trước đó khi sử dụng chip IBM tên của chúng là iMac G5 và PowerBook G4. Đến hơn giữa năm 2006 tất cả máy tính Apple đều sử dụng chip Intel, đó là các máy Mac Mini, MacBook, Mac Pro. Các máy tính nền Intel này có khả năng chạy được Windows của Microsoft với phần mềm Boot Camp miễn phí của Apple. Steve Jobs cũng đã giới thiệu hệ điều hành tiếp theo Mac OS 10.5 "Leopard" và thiết bị xem phim, hình, nhạc trên TV kết nối không dây với vi tính mang tên iTV, cả iTV lẫn Leopard đều sẽ được tung ra năm 2007.
=== Rút khỏi Apple ===
Tháng 8 năm 2011, Jobs rút khỏi chức vị tổng giám đốc điều hành của Apple, nhưng vẫn hoạt động tại công ty trên danh phận chủ tịch hội đồng quản trị. Vài giờ sau tuyên bố này, giá cổ phiếu của Apple trên thị trường giảm 5% Trước đó, mỗi cổ phiếu của Apple đang ở mức tăng. Sự mất giá nhẹ này là do các nhà đầu tư xem xét tầm quan trọng của Jobs đối với Apple, kết hợp với việc tình hình sức khoẻ của ông luôn trong vòng tin tức trong những năm gần đây; hơn nữa ông đã ngừng điều trị y tế từ tháng 1 năm 2011. Theo Forbes, có thể khẳng định rằng tác động này sẽ dẫn đến một con đường tiêu cực hơn cho Apple, ngay cả tại hãng Pixar nơi Jobs giữ vai trò là giám đốc. Trong những giờ giao dịch sau vài ngày Jobs đưa ra tuyên bố rút khỏi Apple, cổ phiếu của hãng Walt Disney giảm xuống 1,5%.
== Đời sống kinh doanh ==
=== Tài sản ===
Mặc dù Jobs chỉ kiếm được 1 đô la Mỹ mỗi năm trong vai trò tổng giám đốc điều hành của Apple, ông nắm giữ 5,426 triệu cổ phần của Apple, cũng như 138 triệu cổ phần của Disney (mà ông đã nhận được đổi lại với việc Disney mua Pixar). Forbes ước tính toàn bộ tài sản của ông vào khoảng 5,1 tỷ đô la Mỹ vào năm 2009, điều này khiến ông được xếp vào hạng 43 trong những người Mỹ giàu có nhất. Sau khi truyền hình Bloomberg nhầm lẫn tai hại đưa ra cáo phó của ông vào năm 2008, phóng viên Arik Hesseldahl của tạp chí BusinessWeek ghi rằng "Jobs không nổi tiếng nhiều về những việc làm từ thiện của ông", so với những gì mà Bill Gates đạt được. Sau khi trở lại quyền kiểm soát Apple trong năm 1997, Jobs lờ đi tất cả các chương trình từ thiện đoàn thể. Vào tháng 6/2011, ông được xếp vị trí 109 trong bảng xếp hạng những tỷ phú giàu nhất - theo Tạp chí Forbes bình chọn, với giá trị tài sản ròng ước tính lên tới 8,3 tỷ USD.
=== Vụ gian lận cổ phiếu ===
Năm 2001, Steve được Apple ưu tiên quyền mua cổ phần với số lượng lên tới 7,5 triệu cổ phiếu với đơn giá khi mua vào là 18,3 đô la Mỹ một cổ phiếu, dù giá trị thị trường 1 cổ phiếu tại thời điểm đó là 21,1 đô la Mỹ, do đó phát sinh thu nhập chịu thuế từ 20 triệu đô la Mỹ mà ông không báo cáo trong phần thu nhập. Điều này là do việc ghi lùi ngày quyền mua cổ phần. Nếu tìm ra khả năng pháp lý, Jobs có thể đã phải đối mặt với một số trách nhiệm hình sự và tiền phạt dân sự. Apple cho biết rằng quyền chọn mua cổ phần ban đầu chỉ được ưu tiên tại hội nghị ban quản trị đặc biệt mà có thể sẽ không bao giờ diễn ra. Hơn nữa, các điều tra đang tập trung về việc ghi ngày sai lầm về quyền chọn mua dẫn đến việc dư ra 20 triệu đô la Mỹ. Vụ kiện từ phía cổ đông đối với ban lãnh đạo Apple vì sự thiếu minh bạch vụ việc này là đối tượng của các cuộc điều tra hình sự và dân sự của chính phủ. Mặc dù cuộc điều tra nội bộ riêng của Apple hoàn thành vào ngày 29 thấng 12 năm 2006 đưa kết quả rằng Jobs không có ý thức về việc này và quyền chọn mua cổ phiếu từng cấp cho ông được thu hồi lại mà chưa được áp dụng vào năm 2003, đồng thời số tiền thất thoát được trả lại. Ngày 1 tháng 7 năm 2008 diễn ra một vụ kiện về việc thất thu 7 tỷ đô la Mỹ từ phía các cổ đông đối với một vài thành viên ban lãnh đạo Apple vì dính líu vào vụ gian lận chứng khoán này.
=== Tác phong quản lý ===
Phần lớn tác phong quản lý của Jobs dựa trên tính khắt khe và đòi hỏi cao của bản thân ông. Tạp chí Fortune viết rằng ông "được xem là nhà tự cao tự đại hàng đầu của Thung lũng Silicon." Có thể tìm thấy các bình luận về phong cách nóng nảy của ông trong quyển The Little Kingdom (Tiểu vương quốc); một trong những tiểu sử được Jobs ủy quyền; The Second Coming of Steve Jobs (Sự trở lại lần hai của Jobs) của tác giả Alan Deutschman; và iCon: Steve Jobs (Biểu tượng: Steve Jobs) của tác giả Jeffre S. Young và William L.Simon. Năm 1993, Jobs lọt vào danh sách những ông chủ khó tính nhất của tạp chí Fortune trong vấn đề lãnh đạo Next. Tạp chí Fortune trích dẫn lời của nhà đồng sáng lập Dan'l Lewin cho biết thời gian đó, "Lúc cao độ ở mức không thể tin được... nhưng lúc thấp thì lại không thể tưởng tượng nổi", văn phòng của Jobs trả lời rằng tính cách của ông đã thay đổi kể từ đó.
Jef Raskin, bạn học trước đây của Jobs, từng nói rằng Jobs "hẳn sẽ là một vị vua Pháp tuyệt vời", ám chỉ đến đặc trưng con người hơn đời và thuyết phục của Jobs.
Jobs luôn luôn mong muốn vị thế của Apple và các sản phẩm của công ty được đặt ở vị trí hàng đầu của ngành công nghiệp công nghệ thông tin bằng cách dự báo và thiết lập các xu hướng, ít nhất là trong sự đổi mới và phong cách. Ông tổng kết quan điểm bản thân ở cuối bài phát biểu tại Triển lãm và Hội thảo Macworld diễn ra vào tháng 1 năm 2007 bằng cách trích lời huyền thoại hockey trên băng Wayne Gretzky:
Có một câu nói của Wayne Gretzky mà tôi yêu thích. 'Tôi sẽ trượt đến nơi bóng băng sẽ lăn đến, không phải đến nơi bóng đang lăn qua.' Và chúng tôi luôn luôn nỗ lực làm điều đó tại Apple. Ngay từ thuở khởi đầu sơ khai. Và chúng tôi sẽ luôn luôn làm như vậy.
Hoạ sĩ phim hoạt hình Floyd Norman nói rằng tại Pixar, Jobs là một "nhân vật già dặn, chín chắn" và không bao giờ can thiệp vào quá trình sáng tạo của các nhà làm phim.
Năm 2005, Steve Jobs cấm tất cả những quyển sách do công ty John Wiley & Sons xuất bản tại các cửa hàng bán lẻ của Apple để phản ứng lại việc xuất bản tiểu sử trái phép iCon: Steve Jobs (Biểu tượng: Steve Jobs). Trong báo cáo doanh thu hàng năm năm 2010, Wiley cho biết việc này đã "đóng lại một giải pháp... để dùng tên gọi ấy cho iPad."
=== Phát minh ===
Jobs là chủ sở hữu hoặc đồng sở hữu của hơn 230 bằng sáng chế được trao giải hoặc các ứng dụng được cấp bằng sáng chế trong lĩnh vực rộng lớn của công nghệ, từ máy tính cho tới thiết bị di động, giao diện người dùng (bao gồm giao diện dựa trên nền cảm ứng), loa, bàn phím, bộ chuyển năng lượng, cầu thang, móc cài, ống bọc ngoài, dây buộc và bao bì đóng gói sản phẩm.
== Đời sống cá nhân ==
Steve làm đám cưới với Laurene Powell ngày 18 tháng 3 năm 1991, và họ có ba đứa con. Ông cũng có một đứa con gái từ mối quan hệ trước.
=== Sức khoẻ và sự qua đời ===
Vào giữa năm 2004, Jobs thông báo cho nhân viên của mình rằng kết quả chẩn đoán cho biết ông có một khối u ung thư trong tuyến tụy. Các dự đoán về bệnh ung thư tuyến tụy thường không khả quan, tuy nhiên, Jobs tuyên bố rằng ông bị một loại ung thư ít xâm thực hiếm có gọi là u tuỵ nội tiết. Ban đầu ông phản đối việc áp dụng các biện pháp can thiệp y tế thông thường và bắt tay vào một chế độ ăn uống đặc biệt để ngăn chặn căn bệnh. Nhưng sau đó trong tháng 7 năm 2004, Jobs trải qua một dạng phẫu thuật phổ biến nhất trong việc điều trị ung thư tuyến tuỵ gọi là pancreaticoduodenectomy (hay "thủ tục Whipple"), kết quả cho thấy đã thành công việc cắt bỏ khối u. Jobs dường như đã không yêu cầu hay không được trải qua hóa trị hoặc xạ trị. Trong thời gian Jobs vắng mặt, Timothy D. Cook, người chịu trách nhiệm đứng đầu về hoạt động và bán hàng trên toàn thế giới tại Apple điều hành công ty.
Vào đầu tháng 8 năm 2006, Jobs tuyên bố một phát biểu quan trọng trong Hội thảo Phát triển Toàn cầu diễn ra hàng năm của Apple. Vẻ ngoài "ốm, gần như gầy", phát biểu thiếu sức sống bất thường, cùng với tuyên bố quyết định uỷ quyền những phần quan trọng trong vai trò then chốt mà ông vốn đảm đương đã làm dấy lên một làn sóng phương tiện truyền thông và internet xoáy vào vấn đề sức khỏe của ông. Ngược lại, theo tường thuật trên nhật báo Ars Technica, những người có mặt tại Hội thảo các nhà phát triển toàn cầu thấy rằng Jobs "trông có vẻ khoẻ". Người đại diện của Apple cho biết rằng "Sức khoẻ của Steve rất tốt"
Hai năm sau, những nghi vấn tương tự lại diễn ra sau tuyên bố của Jobs tại Hội thảo các nhà phát triển toàn cầu 2008. Apple chính thức tuyên bố rằng Jobs là nạn nhân của một loại vi trùng thông thường và hiện đang dùng thuốc kháng sinh, trong khi những người khác phỏng đoán dấu hiệu về bệnh suy nhược của ông là do các thủ tục Whipple trong điều trị. Tại một cuộc họp tháng 7 thảo luận về doanh thu của Apple, những người tham gia trả lời cho những câu hỏi không ngừng về sức khỏe của Steve Jobs nhấn mạnh rằng đó là một "vấn đề riêng tư". Tuy nhiên, những người khác bày tỏ ý kiến rằng các cổ đông có quyền được biết nhiều hơn, họ muốn biết phương pháp chuyển giao để tiếp tục vận hành công ty của ông. Tờ New York Times xuất bản một bài báo dựa trên một cuộc trò chuyện điện thoại phá kỷ lục với Jobs, cho biết rằng các vấn đề sức khỏe của ông "không đe dọa tính mạng và ông không bị ung thư tái phát".
Ngày 28 tháng 8 năm 2008, truyền hình Bloomberg nhầm lẫn đưa ra bản cáo phó 2500 từ của Jobs trong phần tin tức doanh nghiệp, nhưng không cho biết về độ tuổi và nguyên nhân cái chết (các nhà truyền tin thường lưu trữ các bản cáo phó luôn được cập nhật để dễ dàng đưa tin sự kiện về cái chết không rõ thời điểm của một người nổi tiếng). Mặc dù lỗi được kịp thời sửa chữa, nhiều người đưa tin và các blog đã góp phần thuật lại điều này, tăng cường các tin đồn liên quan đến sức khỏe của Jobs. Jobs phản ứng trong bài tuyên bố tại Let's Rock vào tháng 9 năm 2008 của Apple bằng cách trích dẫn lời của Mark Twain: "Những tin tức về cái chết của tôi bị cường điệu quá mức. " Tại một sự kiện truyền thông tiếp theo, Jobs kết thúc phần trình bày với màn trình chiếu "110/70", đề cập đến huyết áp của ông, khẳng định rằng sẽ không tiếp tục trả lời các câu hỏi về sức khỏe.
Ngày 16 tháng 12 năm 2008, Apple thông báo rằng phó chủ tịch marketing Phil Schiller sẽ chuyển giao những vị trí chủ chốt cuối cùng của công ty tại Triển lãm và Hội thảo Macworld 2009, một lần nữa làm sống lại các câu hỏi về sức khỏe của Jobs. Trong tuyên bố đưa ra vào ngày 5 tháng 1 năm 2009 trên trang Apple.com, Jobs cho biết ông đang bị mất cân bằng hóc môn trong vài tháng. Ngày 14 tháng 1 năm 2009, trong một bản ghi nhớ nội bộ của Apple, Jobs viết rằng vào tuần trước, ông đã "nghiệm ra rằng các vấn đề liên quan đến sức khỏe của tôi phức tạp hơn so với suy nghĩ ban đầu" và tuyên bố nghỉ 6 tháng vắng mặt cho đến khi kết thúc tháng 6 năm 2009 để tập trung chăm sóc tốt hơn cho sức khoẻ. Tim Cook, từng đảm nhiệm vai trò tổng giám đốc điều hành khi Jobs vắng mặt năm 2004, trở thành tổng giám đốc điều hành của Apple, trong khi đó Jobs vẫn còn tham gia vào những quyết định chiến lược chủ chốt.
Trong tháng 4 năm 2009, Jobs trải qua ca cấy ghép gan tại Viện Cấy ghép Bệnh viện Đại học Methodist ở Memphis, Tennessee. Dự báo của Jobs về kết quả của việc này là "tuyệt vời".
Ngày 17 tháng 1 năm 2011, một năm rưỡi sau khi Jobs trở về từ ca ghép gan, Apple thông báo rằng ông đã được cấp giấy nghỉ phép dưỡng bệnh. Jobs tuyên bố việc ra đi của mình trong một lá thư gửi các nhân viên, cho biết quyết định là để ông có thể tập trung vào tình hình sức khoẻ. Trong thời gian nghỉ dưỡng bệnh của ông vào năm 2009, Apple thông báo rằng Tim Cook sẽ điều hành các hoạt động hàng ngày và Jobs sẽ tiếp tục được tham gia vào các quyết định quan trọng chiến lược của công ty. Mặc dù đã rời khỏi, ông vẫn xuất hiện tại sự kiện ra mắt iPad 2 vào ngày 2 tháng 3, tại tuyên bố giới thiệu iCloud trong Hội thảo các nhà phát triển toàn cầu Apple diễn ra vào ngày 6 tháng 6, và tại hội đồng thành phố Cupertino vào ngày 7 tháng 6.
Ngày 24 tháng 8 năm 2011, Jobs tuyên bố từ chức tổng giám đốc điều hành của Apple. Trong thư từ chức, Jobs đã viết rằng ông có thể "không còn đáp ứng các nhiệm vụ và mong đợi trong vai trò CEO của Apple nữa".
Vào ngày 05 tháng 10 năm 2011, trong một tuyên bố của gia đình anh có nói Jobs "đã ra đi thanh thản bên gia đình vào ngày hôm nay..."
Apple đưa ra tuyên bố rằng Jobs đã qua đời. Nội dung như sau: "Chúng tôi vô cùng thương tiếc thông báo rằng Steve Jobs qua đời ngày hôm nay. Nhiệt tình, đam mê và vinh quang của Steve là nguồn gốc cho vô số sáng kiến đã làm giàu và cải thiện đời sống của chúng ta. Thế giới trở nên vô cùng tốt đẹp hơn vì Steve. Tình yêu lớn nhất của ông dành riêng cho người vợ, bà Laurene, và gia đình. Tâm hồn chúng ta hướng đến họ và đến tất những những ai có cùng niềm rung động trước món quà đặc biệt mà ông đã trao trong cuộc đời."
Cũng từ ngày 5 tháng 10 năm 2011, trang chủ Apple chào đón khách ghé thăm bằng một thông điệp đơn giản: bức hình trắng đen của Steve Jobs, tên, năm sinh và mất của ông. Nhấp chuột vào hình ảnh của Jobs sẽ dẫn đến cáo phó với nội dung: "Apple đã mất đi một thiên tài sáng tạo và nhìn xa trông rộng, thế giới đã mất đi một con người tuyệt vời. Chúng tôi, những người đã may mắn quen biết và làm việc với Steve đã mất đi một người bạn thân thiết và người cố vấn đầy cảm hứng. Steve để lại sau lưng một công ty mà chỉ duy nhất ông là người có thể gây dựng nên, và tinh thần của ông mãi mãi sẽ là nền tảng của Apple." Một địa chỉ email cũng được đăng lên công khai để chia sẻ những kỷ niệm, gửi lời chia buồn và cảm nghĩ.
Jobs qua đời để lại người vợ mà ông đã kết hôn hơn 20 năm, bà Laurene, cùng ba đứa con. Ngoài ra còn một đứa con thứ tư, Lisa Brennan-Jobs từ mối quan hệ trước đó.
==== Những phát biểu về việc Steve Jobs qua đời ====
Nhiều người nổi tiếng tại Mỹ đã đưa ra những lời phát biểu về sự ra đi của ông, trong đó bao gồm Bill Gates của Microsoft, Bob Iger của Walt Disney, nhà sáng lập Facebook Mark Zuckerberg và Tổng thống Barack Obama.
Bill Gates nói rằng:
Tôi vô cùng đau buồn khi nghe tin về cái chết của Steve Jobs. Melinda và tôi xin gửi lời chia buồn chân thành đến gia đình và bạn bè của ông, và đến tất cả mọi người có mối liên hệ với Steve trong công việc. Steve và tôi gặp nhau lần đầu tiên cách đây gần 30 năm, và từ lâu đã là cộng sự, người cạnh tranh và bạn bè suốt hơn nửa cuộc đời của chúng tôi. Hiếm ai trên thế giới gây được những tác động sâu sắc như Steve, và những hiệu quả mang lại từ đó sẽ được nhiều thế hệ sau ghi nhận. Đối với những ai trong chúng ta đủ may mắn từng làm việc với ông, đó là một vinh dự tột cùng. Tôi sẽ nhớ Steve rất nhiều.
Chủ tịch Walt Disney, Bob Iger bày tỏ thương tiếc với Jobs:
Steve Jobs là một người bạn tuyệt vời và là một cố vấn đáng tin tưởng. Di sản ông để lại sẽ vượt xa các sản phẩm ông đã tạo ra hoặc các doanh nghiệp ông mà đã xây dựng nên. Hàng triệu người đã được ông truyền cảm hứng, hàng triệu cuộc sống đã thay đổi vì ông và nền văn hóa ông xác lập ra. Steve là một tấm gương xác thực, với tâm trí đầy sáng tạo và trí tưởng tượng đã định một kỷ nguyên mới. Bất chất những gì lớn lao ông đã thực hiện, chúng dường như chỉ mới là sự bắt đầu. Sự qua đời của ông đồng nghĩa với thế giới đã mất đi một tấm gương, Disney đã mất đi một thành viên gia đình, và tôi đã mất một người bạn tuyệt vời. Xin dành những tâm tư và lời cầu nguyện của chúng tôi đến người vợ Laurene và con cái của ông trong thời gian khó khăn này.
Đạo diễn người Mỹ Steven Spielberg cho biết: "Steve Jobs là nhà sáng chế lỗi lạc nhất từ sau Thomas Edison. Ông đưa thế giới đến đầu ngón tay của chúng ta."
=== Vinh danh ===
Ông được Tổng thống Ronald Reagan trao tặng Huân chương Quốc gia về Công nghệ vào năm 1984 cùng với Steve Wozniak (nằm trong số những người đầu tiên từng nhận được vinh dự này), và một Giải thưởng Jefferson cho Dịch vụ công ở hạng mục "Dịch vụ công tuyệt vời nhất do một cá nhân 35 năm tuổi trở xuống" (hay còn gọi là giải thưởng Samuel S. Beard) vào năm 1987.
Ngày 27 tháng 11 năm 2007, Jobs được tạp chí Fortune mệnh danh là người có quyền lực nhất trong giới kinh doanh.
Ngày 5 tháng 12 năm 2007, Thống đốc bang California Arnold Schwarzenegger và Đệ nhất phu nhân Maria Shriver đưa nhân vật Jobs vào California Hall of Fame, tọa lạc tại Bảo tàng California về Lịch sử, Phụ nữ và Nghệ thuật.
Tháng 8 năm 2009, Jobs được bầu là doanh nhân được giới trẻ ngưỡng mộ nhiều nhất theo một cuộc khảo sát của tổ chức thanh thiếu niên phi lợi nhuận Junior Achievement.
Ngày 5 tháng 11 năm 2009, tạp chí Fortune mệnh danh Jobs là tổng giám đốc điều hành của thập kỷ.
Tháng 11 năm 2009, Jobs được xếp hạng thứ 57 tronng danh sách những người quyền lực nhất thế giới của công ty truyền thông và xuất bản Forbes.
Tháng 12 năm 2010, thời báo tài chính Financial Times gọi Jobs là nhân vật tiêu biểu của thời báo này trong năm 2010, phần cuối của bài luận đề cập đến trích dẫn trong tự truyện của John Sculley - cựu giám đốc điều hành PepsiCo, người từng điều hành Apple - như sau: "Apple được dự định sẽ trở thành một công ty sản phẩm tiêu dùng tuyệt vời. Đây quả là một kế hoạch điên cuồng. Công nghệ cao không thể được thiết kế và bán như một sản phẩm tiêu dùng." Bài báo kết luận rằng làm thế nào Sculley có thể sai lầm đến vậy.
== Trong văn hoá đại chúng ==
Dựa vào tuổi trẻ, tài sản lớn uy tín cá nhân, cùng với việc thành lập Apple, Jobs trở thành một biểu tượng của nền công nghiệp và công ty Apple. Khi tạp chí Time vinh danh máy tính là "Cỗ máy của năm", tạp chí này đăng kèm theo một tiểu sử dài về Jobs, đánh giá ông là "nhạc trưởng nổi tiếng nhất về những vật tinh vi ở tỉ lệ siêu nhỏ." Jobs nổi bật đặc trưng trong ba bộ phim về lịch sử của ngành công nghiệp máy tính cá nhân, bao gồm:
Triumph of the Nerds — phim tài liệu 3 phần năm 1996 chiếu trên PBS, nói về sự trỗi dậy của máy tính gia đình/máy tính cá nhân.
Nerds 2.0.1 — phim tài liệu 3 phần 1998 của chiếu trên PBS, (tiếp theo của Triumph of the Nerds) ghi lại sự phát triển của internet.
Pirates of Silicon Valley (Những tên cướp tại thung lũng Silicon) — phim phóng sự dựa trên những sự kiện có thật, sản xuất năm 1999, ghi lại sự phát triển của Apple và Microsoft. Trong phim này, Noah Wyle thủ vai Jobs.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Cuộc đời Steve Jobs
Sự nghiệp của Steve Jobs qua ảnh
'Huyền thoại' Steve Jobs của hãng Apple qua đời
Tiểu sử chính thức của Steve Jobs
Bản tóm tắt công việc của Steve Jobs |
lạm phát.txt | Trong kinh tế vĩ mô (macroeconomics), lạm phát là sự tăng mức giá chung của hàng hóa và dịch vụ theo thời gian. và sự mất giá trị của một loại tiền tệ. Khi so sánh với các nước khác thì lạm phát là sự giảm giá trị tiền tệ của một quốc gia này so với các loại tiền tệ của quốc gia khác. Theo nghĩa đầu tiên thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế một quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu lạm phát của một loại tiền tệ tác động đến phạm vi nền kinh tế sử dụng loại tiền tệ đó. Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này vẫn là một vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì được người ta gọi là sự "ổn định giá cả".
== Lịch sử ==
Các gia tăng số lượng tiền hoặc trong cung tiền tổng thể (hoặc giảm giá tiền của các phương tiện trao đổi) đã xảy ra ở nhiều xã hội khác nhau trong suốt lịch sử, bằng sự thay đổi với các hình thức khác nhau của tiền được sử dụng. Ví dụ, khi vàng được sử dụng như tiền tệ, chính phủ có thể thu thập tiền vàng, làm tan chảy chúng ra, trộn chúng với các kim loại khác như bạc, đồng, chì, và phát hành lại chúng ở cùng một giá trị danh nghĩa. Bằng cách pha loãng vàng với kim loại khác, chính phủ có thể phát hành thêm tiền xu mà không cần phải tăng số lượng vàng được sử dụng để làm ra chúng. Khi chi phí của mỗi đồng xu vàng được hạ xuống theo cách này, lợi nhuận của chính phủ là từ sự gia tăng trong quyền lực lãnh chúa. Thực hành này sẽ làm tăng cung tiền nhưng đồng thời giá trị tương đối của mỗi đồng xu vàng sẽ bị hạ xuống. Vì giá trị tương đối của các đồng tiền trở nên thấp hơn, người tiêu dùng sẽ cần phải cung cấp thêm tiền để đổi lấy hàng hóa và dịch vụ tương tự như trước đây. Những hàng hóa và dịch vụ sẽ trải nghiệm một sự gia tăng giá cả vì giá trị của mỗi đồng tiền bị giảm đi.
Nhà Tống Trung Quốc giới thiệu việc thực hành in tiền giấy để tạo ra sắc lệnh tiền tệ trong thế kỷ 11 và, theo Daniel Headrick, "tiền giấy cho phép các chính phủ chi tiêu nhiều hơn so với họ nhận được trong các loại thuế... trong thời kỳ chiến tranh, và nhà Tống đã thường xuyên có chiến tranh, thâm hụt chi tiêu như vậy đã gây ra lạm phát phi mã." Vấn đề lạm phát tiền giấy vẫn tiếp tục sau triều đại nhà Tống. Peter Bernholz viết rằng "từ đó, hầu hết các triều đại Trung Quốc đến nhà Minh đều bắt đầu bằng cách phát hành một số tiền giấy ổn định, có thể chuyển đổi và kết thúc với lạm phát rõ rệt do lưu thông ngày càng tăng số lượng tiền giấy để tài trợ cho thâm hụt ngân sách."
Dưới triều đại nhà Nguyên Mông Cổ, chính phủ đã chi rất nhiều tiền chống lại các cuộc chiến tranh tốn kém, và đã phản ứng bằng cách in nhiều tiền hơn, dẫn đến lạm phát. Vấn đề lạm phát trở nên nghiêm trọng nên người dân đã ngừng sử dụng tiền giấy, thứ tiền mà họ coi như "giấy vô giá trị." Lo sợ sự lạm phát mà đã cản trở triều đại nhà Nguyên, nhà Minh ban đầu đã từ chối việc sử dụng tiền giấy, chỉ sử dụng đồng tiền xu. Triều đại này đã không phát hành tiền giấy cho đến 1375.
Trong lịch sử, lan truyền vàng hoặc bạc vào một nền kinh tế cũng dẫn đến lạm phát. Từ nửa sau của thế kỷ 15 đến nửa đầu thế kỷ 17, Tây Âu đã trải qua một chu kỳ lạm phát lớn được gọi là "cách mạng giá cả", với giá cả trung bình tăng gấp sáu lần, có lẽ, sau hơn 150 năm. Điều này phần lớn do các dòng đột ngột của vàng và bạc từ Tân thế giới chảy vào Habsburg Tây Ban Nha. Bạc lan rộng trong suốt một Châu Âu đói tiền mặt trước đây và gây ra lạm phát trên diện rộng. Các yếu tố nhân khẩu học cũng góp phần tăng áp lực lên giá cả, với mức tăng trưởng dân số châu Âu sau suy giảm dân số do đại dịch Cái chết đen.
Đến thế kỷ XIX, các nhà kinh tế phân loại ba yếu tố riêng biệt mà gây ra một tăng hoặc giảm giá cả hàng hóa: một sự thay đổi trong giá trị hoặc chi phí sản xuất hàng hóa, một sự thay đổi trong giá tiền mà sau đó là thường biến động trong giá hàng hóa của nội dung kim loại trong tiền tệ, và sự mất giá đồng tiền từ một cung tiền gia tăng liên quan đến số lượng của hỗ trợ cho tiền tệ này bằng kim loại có thể chuộc lại. Theo sự gia tăng của tiền giấy được in trong Nội chiến Hoa Kỳ, thuật ngữ "lạm phát" bắt đầu xuất hiện như một tham chiếu trực tiếp đến mất giá đồng tiền xảy ra khi số lượng tiền giấy có thể chuộc lại vượt xa số lượng kim loại có sẵn để chuộc lại chúng. Tại thời điểm đó, thuật ngữ lạm phát chỉ sự mất giá của đồng tiền, và không chỉ sự tăng giá hàng hoá.
Mối quan hệ này giữa sự dư thừa cung tiền giấy và một mất giá kết quả trong giá trị của chúng đã được ghi nhận bởi các nhà kinh tế cổ điển trước đó như David Hume và David Ricardo, những người sẽ chuyển sang xem xét và tranh luận những tác động của việc mất giá tiền tệ (sau này được gọi là lạm phát tiền tệ) có trên giá hàng hoá (sau này gọi là lạm phát giá cả, và cuối cùng chỉ gọi là lạm phát).
Việc áp dụng sắc lệnh tiền tệ của nhiều quốc gia, từ thế kỷ thứ 18, đã gây ra nhiều biến thể lớn hơn trong việc cung cấp tiền có thể. Kể từ đó, sự gia tăng rất lớn trong việc cung cấp tiền giấy đã diễn ra tại một số quốc gia, tạo ra các siêu lạm phát - các kịch bản của tỷ lệ lạm phát cực cao hơn nhiều so với những tỉ lệ lạm phát được quan sát trong thời gian trước đó của tiền tệ hàng hóa. Siêu lạm phát tại Cộng hòa Vây-ma của Đức là một ví dụ đáng chú ý.
== Các định nghĩa liên quan ==
Thuật ngữ "lạm phát" ban đầu được chỉ các gia tăng trong số lượng tiền trong lưu thông, và một số nhà kinh tế vẫn sử dụng từ này theo cách này. Tuy nhiên, hầu hết các nhà kinh tế hiện nay sử dụng thuật ngữ "lạm phát" để chỉ một sự gia tăng trong mức giá. Sự gia tăng cung tiền có thể được gọi là lạm phát tiền tệ, để phân biệt với sự tăng giá cả, mà cũng có thể được gọi cho rõ ràng là 'lạm phát giá cả'. Các nhà kinh tế nói chung đều đồng ý rằng về lâu dài, lạm phát là do tăng cung tiền.
Các khái niệm kinh tế khác liên quan đến lạm phát bao gồm: giảm phát - một sụt giảm trong mức giá chung; thiểu phát - giảm tỷ lệ lạm phát; siêu lạm phát - một vòng xoáy lạm phát ngoài tầm kiểm soát; tình trạng lạm phát - một sự kết hợp của lạm phát, tăng trưởng kinh tế chậm và thất nghiệp cao, và tái lạm phát - một nỗ lực nâng cao mức giá chung để chống lại áp lực giảm phát.
Vì có thể có nhiều cách đo lường mức giá cả, có thể có nhiều đo lường của lạm phát giá cả. Thường xuyên nhất, thuật ngữ "lạm phát" đề cập đến một sự gia tăng chỉ số giá mở rộng đại diện cho mức giá tổng thể đối với hàng hóa và dịch vụ trong nền kinh tế. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá chi tiêu tiêu dùng cá nhân (PCEPI) và số giảm phát GDP là một số ví dụ về các chỉ số giá mở rộng. Tuy nhiên, "lạm phát" cũng có thể được sử dụng để mô tả một sự tăng mức giá trong một tập hợp hẹp của tài sản, hàng hóa, dịch vụ trong nền kinh tế, chẳng hạn như hàng hóa (bao gồm thực phẩm, nhiên liệu, kim loại), các tài sản hữu hình (như bất động sản), các tài sản tài chính (như cổ phiếu, trái phiếu), dịch vụ (chẳng hạn như giải trí và chăm sóc sức khỏe), hoặc lao động. Chỉ số CRB-Reuters (CCI), Chỉ số giá sản xuất và Chỉ số chi phí nhân công (ECI) là những ví dụ của chỉ số giá hẹp được sử dụng để đo lường lạm phát giá cả trong các lĩnh vực cụ thể của nền kinh tế. Lạm phát cơ bản là một thước đo lạm phát cho một tập hợp con của giá tiêu dùng không bao gồm giá thực phẩm và năng lượng, tăng và giảm hơn so với các giá cả khác trong ngắn hạn. Cục dự trữ liên bang đặc biệt quan tâm đến tỷ lệ lạm phát cơ bản để có được một ước tính tốt hơn về xu hướng lạm phát dài hạn trong tương lai tổng thể.
== Đo lường ==
chỉ số giá tiêu dùng (CPI). đo lường sự tăng hoặc giảm giá của một giỏ cố định hàng hoá và dịch vụ của theo thời gian, được mua bởi một "người tiêu dùng điển hình". CPI đo giá của hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu.
Để minh họa cho phương pháp tính, vào tháng 1 năm 2007, chỉ số giá tiêu dùng của Mỹ là 202,416, và vào tháng 1 năm 2008 là 211,080. Công thức để tính toán tỷ lệ phần trăm lạm phát hàng năm bằng chỉ số CPI trong suốt năm 2007 là
(
211.080
−
202.416
202.416
)
×
100
%
=
4.28
%
{\displaystyle \left({\frac {211.080-202.416}{202.416}}\right)\times 100\%=4.28\%}
Kết quả là tỷ lệ lạm phát đối với CPI trong khoảng thời gian một năm này là 4,28%, có nghĩa là mức giá chung cho người tiêu dùng điển hình của Mỹ đã tăng khoảng bốn phần trăm trong năm 2007.
Chỉ số giá bán lẻ cũng là một thước đo lạm phát được sử dụng trong Vương quốc Anh. Nó là rộng hơn so với chỉ số CPI và chứa một giỏ lớn hơn của hàng hóa và dịch vụ.
Các chỉ số giá khác được sử dụng rộng rãi cho việc tính toán lạm phát giá cả bao gồm:
Chỉ số giá sản xuất (PPI) đo lường sự thay đổi trung bình trong giá nhà sản xuất trong nước nhận được cho đầu ra của họ. Điều này khác với chỉ số CPI trong đó trợ cấp giá, lợi nhuận và thuế có thể làm cho số tiền nhận của nhà sản xuất khác với những gì người tiêu dùng trả. Ngoài ra còn thường có một sự chậm trễ giữa sự gia tăng chỉ số PPI và bất kỳ sự gia tăng cuối cùng nào trong chỉ số CPI. Chỉ số giá sản xuất đo áp lực được đưa vào sản xuất do chi phí nguyên liệu của họ. Điều này có thể được "truyền" cho người tiêu dùng, hoặc nó có thể được hấp thụ bởi lợi nhuận, hoặc được bù đắp bởi năng suất ngày càng tăng. Ở Ấn Độ và Hoa Kỳ, một phiên bản cũ của PPI được gọi là Chỉ số giá bán buôn.
Chỉ số giá hàng hóa, đo lường giá của một lựa chọn các mặt hàng. Hiện nay chỉ số giá hàng hóa được gia quyển bằng tầm quan trọng tương đối của các thành phần đối với chi phí "tất cả trong" một nhân công.
Chỉ số giá cơ bản: vì giá thực phẩm và dầu có thể thay đổi nhanh chóng do sự thay đổi trong điều kiện cung và cầu trong thị trường thực phẩm và dầu, nó có thể khó phát hiện các xu hướng dài hạn trong mức giá khi những giá này được bao gồm. Vì vậy hầu hết cơ quan thống kê cũng báo cáo một đo lường 'lạm phát cơ bản', trong đó loại bỏ các thành phần dễ bay hơi nhất (như thực phẩm và dầu) khỏi một chỉ số giá rộng như chỉ số CPI. Vì lạm phát cơ bản là ít bị ảnh hưởng bởi nguồn cung ngắn hạn và điều kiện nhu cầu tại các thị trường cụ thể, các ngân hàng trung ương dựa vào nó để đo lường tốt hơn các tác động lạm phát của chính sách tiền tệ hiện tại.
Các đo lường lạm phát phổ biến khác là:
Hệ số giảm phát GDP đo sự tăng hoặc giảm giá của tất cả hàng hóa và dịch vụ mà các doanh nghiệp có quốc tịch khác nhau được sản xuất và phục vụ trong lảnh thổ một quốc gia. Bộ Thương mại Mỹ công bố một loạt số giảm phát GDP của Mỹ, được định nghĩa là số đo GDP danh nghĩa chia cho số đo GDP thực tế của nó.
Lạm phát khu vực Cục Thống kê lao động phân các tính toán CPI-U xuống cho các vùng khác nhau của Mỹ.
Lạm phát lịch sử Trước khi thu thập dữ liệu kinh tế phù hợp đã trở thành tiêu chuẩn cho các chính phủ, và với mục đích so sánh tuyệt đối, chứ không phải là tiêu chuẩn tương đối của cuộc sống, nhiều nhà kinh tế đã tính toán con số lạm phát được ban cho. Hầu hết các dữ liệu lạm phát trước đầu thế kỷ 20 được quy gán dựa trên chi phí hàng hóa được biết đến, chứ không phải biên soạn vào thời điểm đó. Nó cũng được sử dụng để điều chỉnh cho sự khác biệt trong tiêu chuẩn thực sự của cuộc sống cho sự hiện diện của công nghệ.
Lạm phát giá tài sản là sự gia tăng quá mức trong giá tài sản thực và tài chính, chẳng hạn như cổ phần (vốn) và bất động sản. Trong khi không có chỉ số chấp nhận rộng rãi của loại hình này, một số ngân hàng trung ương đã cho rằng sẽ là tốt hơn khi nhằm mục đích bình ổn đo lường lạm phát mức giá chung rộng lớn hơn bao gồm một số giá tài sản, thay vì chỉ ổn định CPI và lạm phát cơ bản. Lý do là bằng việc việc tăng các lãi suất khi giá cổ phiếu hoặc giá bất động sản tăng, và làm giảm chúng khi giá tài sản giảm, ngân hàng trung ương có thể thành công hơn trong việc tránh bong bóng và bị treo giá tài sản.
=== Các vấn đề trong đo lường ===
Đo lường lạm phát trong một nền kinh tế đòi hỏi phải có phương tiện. Mục tiêu của việc phân biệt những thay đổi trong giá danh nghĩa trên một tập hợp chung của hàng hoá và dịch vụ, và phân biệt với những thay đổi giá do những thay đổi trong giá trị như khối lượng, chất lượng hay hiệu suất. Ví dụ, nếu giá của 10 pao ngô có thể thay đổi từ 0,90 USD đến 1,00 USD trong suốt một năm, không có thay đổi về chất lượng, thì chênh lệch giá này đại diện cho lạm phát. Tuy nhiên, sự thay đổi mức giá đơn lẻ này sẽ không đại diện cho lạm phát chung trong một nền kinh tế tổng thể. Để đo lường lạm phát tổng thể, sự thay đổi giá của một "giỏ" lớn hàng hóa và dịch vụ đại diện được đo. Đây là mục đích của một chỉ số giá, đó là giá kết hợp của một "rổ" nhiều hàng hóa và dịch vụ. Giá kết hợp là tổng giá cả gia quyền của các mặt hàng trong "rổ". Một giá cả gia quyền được tính bằng cách nhân đơn giá của một mặt hàng với số lần mua tiêu dùng trung bình mặt hàng đó. Giá cả gia quyền là một phương tiện cần thiết để đo lường tác động của các thay đổi đơn giá cụ thể đối với lạm phát tổng thể của nền kinh tế. Chỉ số giá tiêu dùng, ví dụ, sử dụng dữ liệu thu thập bởi các khảo sát hộ gia đình để xác định tỷ lệ của tổng chi tiêu của người tiêu dùng điển hình được chi cho hàng hóa và dịch vụ cụ thể, trọng lượng và giá trung bình của những mặt hàng phù hợp. Những mức giá bình quân gia quyền này được kết hợp để tính toán giá tổng thể. Để liên hệ tốt hơn các thay đổi giá theo thời gian, chỉ số này thường chọn giá một "năm cơ sở" và gán cho nó một giá trị 100. Chỉ số giá trong những năm tiếp theo sau đó được thể hiện trong mối quan hệ với giá năm cơ sở. Trong khi so sánh các đo lường lạm phát đối với các thời gian khác nhau người ta cũng phải đi vào xem xét các hiệu ứng cơ bản của lạm phát.
Các đo lường lạm phát thường được sửa đổi theo thời gian, hoặc là cho gia quyền tương đối của hàng hóa trong giỏ, hoặc trong cách thức mà hàng hóa và dịch vụ từ hiện tại được so sánh với hàng hóa và dịch vụ trong quá khứ. Theo thời gian, điều chỉnh được thực hiện cho các loại hàng hóa và dịch vụ được lựa chọn để phản ánh những thay đổi trong các loại hàng hóa, dịch vụ mua của người tiêu dùng điển hình. Sản phẩm mới có thể được giới thiệu, các sản phẩm cũ biến mất, chất lượng sản phẩm hiện tại có thể thay đổi, và sở thích của người tiêu dùng có thể thay đổi. Cả các loại hàng hóa và dịch vụ được bao gồm trong "rổ" và giá cả gia quyền được sử dụng trong các đo lường lạm phát sẽ được thay đổi theo thời gian để bắt kịp với các thay đổi thị trường.
Các con số lạm phát thường điều chỉnh theo mùa để phân biệt các thay đổi giá cả theo chu kỳ dự kiến. Ví dụ, chi phí sưởi ấm nhà dự kiến sẽ tăng trong những tháng lạnh hơn, và điều chỉnh theo mùa thường được sử dụng khi đo lường lạm phát để bù đắp cho các gai nhọn chu kỳ trong nhu cầu năng lượng, nhiên liệu. Các con số lạm phát có thể được tính trung bình hoặc bị các kỹ thuật thống kê loại bỏ nhiễu thống kê và biến động. của các giá cả cụ thể.
Khi xem xét lạm phát, các tổ chức kinh tế có thể chỉ tập trung vào một số loại giá cả, hoặc chỉ số đặc biệt, chẳng hạn như chỉ số lạm phát cơ bản được sử dụng bởi các ngân hàng trung ương để xây dựng chính sách tiền tệ.
Hầu hết các chỉ số lạm phát được tính từ trung bình gia quyền của các thay đổi giá cả được lựa chọn. Điều này nhất thiết phải giới thiệu biến dạng, và có thể dẫn đến các tranh chấp mang tính hợp pháp về việc tỷ lệ lạm phát thực sự là bao nhiêu. Vấn đề này có thể được khắc phục bằng cách bao gồm tất cả các thay đổi về giá có sẵn trong tính toán, và sau đó chọn giá trị trung bình. Trong một số trường hợp khác, các chính phủ có thể cố ý báo cáo sai tỷ lệ lạm phát, ví dụ, chính phủ Argentina đã bị chỉ trích bởi các thao túng dữ liệu kinh tế, chẳng hạn như số liệu lạm phát và GDP, cho lợi ích chính trị và giảm thanh toán của mình trong nợ quốc gia tính theo chỉ số lạm phát.
== Ảnh hưởng ==
=== Các ảnh hưởng chung ===
Sự gia tăng trong mức giá chung hàm ý giảm sức mua của đồng tiền. Có nghĩa là, khi mức chung của giá cả tăng lên, mỗi đơn vị tiền tệ mua được ít hàng hóa và dịch vụ hơn. Ảnh hưởng của lạm phát được phân bố không đều trong nền kinh tế, và kết quả là có những chi phí ẩn để một số và lợi ích cho người khác điều này làm giảm sức mua của tiền bạc. Ví dụ, với lạm phát, những phân đoạn trong xã hội mà sở hữu tài sản vật chất, chẳng hạn như bất động sản, chứng khoán vv, được hưởng lợi từ giá/giá trị cổ phần của họ đi lên, trong khi những người tìm kiếm để có được chúng sẽ cần phải trả nhiều tiền hơn. Khả năng của họ để làm như vậy sẽ phụ thuộc vào mức độ mà thu nhập của họ là cố định. Ví dụ, sự gia tăng trong thanh toán cho người lao động và người về hưu thường tụt hậu so với lạm phát, và cho một số người có thu nhập cố định. Ngoài ra, các cá nhân hoặc tổ chức có tài sản tiền mặt sẽ phải trải nghiệm một sự suy giảm sức mua của đồng tiền. Tăng mức giá (lạm phát) làm xói mòn giá trị thực của tiền (đồng tiền chức năng) và các mặt hàng khác có tính chất tiền tệ cơ bản. Khách nợ có khoản nợ được với lãi suất danh nghĩa cố định của lãi suất sẽ giảm lãi suất "thực sự" như tỷ lệ lạm phát tăng. Lãi suất thực tế trên một khoản vay là lãi suất danh nghĩa trừ đi tỉ lệ lạm phát. Công thức R = NI xấp xỉ với câu trả lời đúng miễn là cả hai lãi suất danh nghĩa và tỷ lệ lạm phát là nhỏ. Phương trình chính xác là r = n/i khi r, n và i được thể hiện như tỷ lệ (ví dụ như 1.2 cho 20%, 0,8 -20%). Ví dụ, khi tỷ lệ lạm phát là 3%, một khoản vay với lãi suất danh nghĩa 5% sẽ có một tỷ lệ lãi suất thực tế khoảng 2%. Bất kỳ sự gia tăng bất ngờ nào trong tỷ lệ lạm phát sẽ làm giảm lãi suất thực. Các ngân hàng và cho vay khác điều chỉnh cho rủi ro lạm phát này bằng cách bao gồm cả phí bảo hiểm rủi ro lạm phát với các khoản vay lãi suất cố định, hoặc cho vay với tỷ lệ điều chỉnh.
=== Các ảnh hưởng tích cực ===
Điều chỉnh thị trường lao động
tiền lương danh nghĩa là chậm để điều chỉnh. Điều này có thể dẫn đến sự mất cân bằng kéo dài và thất nghiệp cao trong thị trường lao động. Vì lạm phát cho phép tiền lương thực tế giảm ngay cả khi tiền lương danh nghĩa được giữ không đổi, lạm phát vừa phải cho phép thị trường lao động đạt được trạng thái cân bằng nhanh hơn.
Dự phòng cơ động
Các công cụ cơ bản để kiểm soát cung tiền là khả năng thiết lập tỷ lệ chiết khấu, tỷ lệ mà tại đó các ngân hàng có thể vay từ ngân hàng trung ương, và nghiệp vụ thị trường mở, đó là những can thiệp của ngân hàng trung ương vào thị trường trái phiếu với mục đích ảnh hưởng đến lãi suất danh nghĩa. Nếu một nền kinh tế thấy mình trong một cuộc suy thoái với lãi suất đã thấp, hoặc thậm chí, lãi suất danh nghĩa bằng không, thì ngân hàng không thể cắt giảm các tỷ lệ hơn nữa (vì lãi suất danh nghĩa âm là không thể) để kích thích nền kinh tế - tình trạng này được biết đến như một bẫy thanh khoản. Mức độ vừa phải của lạm phát có xu hướng đảm bảo rằng lãi suất danh nghĩa ở trên không đủ để nếu có nhu cầu ngân hàng có thể cắt giảm lãi suất danh nghĩa.
Hiệu ứng Mundell–Tobin
Nhà kinh tế đoạt giải Nobel Robert Mundell lưu ý rằng lạm phát vừa phải sẽ khiến người gửi tiết kiệm thay thế cho vay đối với một số tiền nắm giữ như một phương tiện để tài trợ cho chi tiêu trong tương lai. Thay thế đó có thể làm cho lãi suất thực tế thanh toán bù trừ thị trường giảm. Lãi suất thực thấp hơn có thể sẽ gây ra vay nhiều hơn để đầu tư tài chính. Tương tự, người đoạt giải Nobel James Tobin lưu ý rằng lạm phát như vậy sẽ có thể làm cho các doanh nghiệp đầu tư thay thế trong vốn vật chất (nhà máy, thiết bị, kho tàng) cho số dư tiền trong danh mục đầu tư tài sản của họ. Thay thế đó có nghĩa là sự lựa chọn làm các khoản đầu tư với tỉ lệ lợi nhuận thấp hơn hoàn vốn thực tế. (Tỷ suất hoàn vốn này thấp hơn bởi vì các khoản đầu tư với tỉ lệ hoàn vốn cao hơn đã được thực hiện trước đây.) Hai tác động có liên quan này được gọi là hiệu ứng Mundell-Tobin. Trừ khi nền kinh tế đã đầu tư quá mức theo các mô hình của lý thuyết tăng trưởng kinh tế, mà đầu tư tăng thêm đó do hiệu ứng này có thể sẽ được xem là tích cực.
Bất ổn định với giảm phát
Nhà kinh tế S.C. Tsaing lưu ý rằng một khi giảm phát đáng kể được dự kiến, hai tác động quan trọng sẽ xuất hiện; cả hai có kết quả là việc nắm giữ tiền thay thế cho vay như một phương tiện để tiết kiệm. Tác động đầu tiên là giá cả liên tục giảm và dẫn đến khuyến khích tích trữ tiền sẽ gây ra bất ổn do sự sợ hãi khả năng tăng, trong khi các tích trữ tiền tăng giá trị, mà giá trị của những tích trữ này có rủi ro, vì mọi người nhận ra rằng một phong trào trao đổi các cất giấu tiền này thành hàng hóa và tài sản thực tế sẽ nhanh chóng thúc đẩy giá cả tăng lên. Bất kỳ trào lưu chi tiêu nào cho những tích trữ này "một khi bắt đầu sẽ có thể trở thành một trận tuyết lở rất lớn, mà có thể hung hăng một thời gian dài trước khi nó chi tiêu cho chính mình." Do đó, một chế độ giảm phát lâu dài có thể bị gián đoạn bởi các gai nhọn có tính chu kỳ của lạm phát nhanh chóng và các gián đoạn kinh tế thực sự tiếp theo. Lạm phát trung bình và ổn định sẽ có thể tránh một hình răng cưa của các biến động giá.
Không hiệu quả thị trường tài chính với giảm phát
Tác động thứ hai được lưu ý bởi Tsaing là khi những người tiết kiệm đã thay thế giữ tiền cho vay trên các thị trường tài chính, vai trò của các thị trường này trong việc hướng các tiết kiệm vào kênh đầu tư bị suy yếu. Với lãi suất danh nghĩa định hướng về không, hoặc gần bằng không, từ sự cạnh tranh với một tài sản tiền lợi nhuận cao, sẽ không có cơ chế giá trong bất cứ điều gì còn lại của các thị trường này. Với các thị trường tài chính bị cho chết một cách hiệu quả, giá cả các hàng hóa còn lại và tài sản vật lý sẽ di chuyển theo các hướng ngoan cố. Ví dụ, một mong muốn tăng thêm để tiết kiệm không có thể đẩy lãi suất tiếp tục xuống (và do đó khuyến khích đầu tư) mà thay vào đó sẽ gây ra hiện tượng tích trữ tiền bạc, dẫn dắt giá tiêu dùng tiếp tục đi xuống và làm cho đầu tư sản xuất hàng tiêu dùng do đó kém hấp dẫn. Lạm phát vừa phải, một khi kỳ vọng của nó được kết hợp vào lãi suất danh nghĩa, sẽ cung cấp dự phòng cho các lãi suất này để cả đi lên và đi xuống để đáp ứng với sự thay đổi các cơ hội đầu tư, hoặc các sở thích của người gửi tiết kiệm, và do đó cho phép các thị trường tài chính hoạt động một cách bình thường hơn.
=== Các ảnh hưởng tiêu cực ===
Tỷ lệ lạm phát cao hoặc không thể đoán trước được coi là có hại cho nền kinh tế. Chúng thêm sự thiếu hiệu quả trong thị trường, và làm cho nó khó khăn cho các công ty với ngân sách hoặc kế hoạch dài hạn. Lạm phát có thể hoạt động như một lực cản đối với năng suất do các công ty buộc phải chuyển các nguồn lực từ các sản phẩm và dịch vụ để tập trung vào lợi nhuận và thua lỗ từ lạm phát tiền tệ. Không chắc chắn về sức mua tương lai của tiền không khuyến khích đầu tư và tiết kiệm. Và lạm phát có thể áp đặt tăng thuế ẩn, do thu nhập tăng cao đẩy người nộp thuế vào thuế suất thuế thu nhập cao hơn trừ khi khung thuế được chỉnh theo lạm phát.
Với lạm phát cao, sức mua được phân phối lại từ những người thu nhập danh nghĩa cố định, chẳng hạn như một số người nghỉ hưu có lương hưu không được lập chỉ mục với mức giá, hướng tới những người có thu nhập biến đổi mà thu nhập của họ có thể giữ cho tốc độ tốt hơn với lạm phát. Phân bố lại sức mua này cũng sẽ xảy ra giữa các đối tác thương mại quốc tế. Nơi các tỷ giá cố định được áp dụng, lạm phát cao hơn trong một nền kinh tế hơn một nơi khác sẽ gây ra xuất khẩu của nền kinh tế đầu tiên trở nên đắt hơn và ảnh hưởng đến cán cân thương mại. Cũng có thể có tác động tiêu cực đối với thương mại từ một sự bất ổn gia tăng trong trao đổi tiền tệ do lạm phát không thể đoán trước.
Lạm phát đẩy chi phí
Lạm phát cao có thể nhắc nhở nhân viên yêu cầu tăng lương nhanh chóng, để theo kịp với giá tiêu dùng. Trong lý thuyết lạm phát đẩy chi phí, lương tăng lần lượt có thể giúp lạm phát nhiên liệu. Trong trường hợp thương lượng tập thể, tăng lương sẽ được thiết lập như là một hàm của những kỳ vọng lạm phát, mà sẽ cao hơn khi lạm phát cao. Điều này có thể gây ra một vòng xoáy tiền lương. Trong một nghĩa nào đó, lạm phát đem lại kỳ vọng tiếp tục lạm phát, mà điều này đem lại lạm phát tiếp tục.
Tích trữ
Người ta mua hàng hóa lâu bền và/hoặc không dễ hư hỏng và các hàng hóa khác như các tồn trữ của cải, để tránh những tổn thất dự kiến từ sức mua suy giảm của tiền bạc, tạo ra tình trạng thiếu thốn do hàng hóa bị tích trữ.
Tình trạng bất ổn xã hội và các cuộc khởi nghĩa
Lạm phát có thể dẫn đến các cuộc biểu tình lớn và các cuộc cách mạng. Ví dụ, lạm phát và cụ thể là lạm phát thực phẩm được coi là một trong những lý do chính gây ra cách mạng Tunisia năm 2010-2011 và cách mạng Ai Cập năm 2011, theo một số nhà quan sát bao gồm Robert Zoellick, chủ tịch của Ngân hàng Thế giới. Tổng thống Tunisia Zine El Abidine Ben Ali đã bị lật đổ, Tổng thống Ai Cập Hosni Mubarak cũng bị lật đổ chỉ sau 18 ngày kể từ ngày các cuộc biểu tình, và các cuộc tuần hành nhanh chóng lan rộng ở nhiều nước Bắc Phi và Trung Đông.
Siêu lạm phát
Nếu lạm phát bị hoàn toàn ngoài tầm kiểm soát (trong chiều hướng tăng), nó hết sức có thể cản trở hoạt động bình thường của nền kinh tế, làm tổn thương khả năng cung cấp hàng hóa. Siêu lạm phát có thể dẫn đến việc từ bỏ việc sử dụng đồng tiền của đất nước, dẫn đến thiếu hiệu quả của hàng đổi hàng.
Hiệu quả phân bổ
Một sự thay đổi trong cung cấp hoặc nhu cầu cho một tốt bình thường sẽ gây ra giá tương đối của nó thay đổi, báo hiệu cho người mua và người bán rằng họ nên tái phân bổ nguồn lực để đáp ứng với các điều kiện thị trường mới. Nhưng khi giá thay đổi liên tục do lạm phát, các thay đổi giá cả do các tín hiệu giá tương đối chính hãng rất khó để phân biệt với những thay đổi giá do lạm phát chung, vì vậy các tác nhân chậm để đối phó với chúng. Kết quả là một mất mát hiệu quả phân bổ.
Chi phí da giày
Lạm phát cao làm tăng chi phí cơ hội của việc nắm giữ số dư tiền mặt và có thể gây ra cho người đến một phần lớn tài sản của họ trong các tài khoản thanh toán. Tuy nhiên, vì tiền mặt vẫn cần thiết để thực hiện các giao dịch này có nghĩa là nhiều "chuyến đi đến ngân hàng" hơn là cần thiết để rút tiền, tốn kém nhiều "da giày" với mỗi chuyến đi.
Chi phí Menu
Với lạm phát cao, các doanh nghiệp phải thay đổi giá của họ thường xuyên để theo kịp với những thay đổi nền kinh tế. Nhưng giá thường thay đổi bản thân nó là một hoạt động tốn kém cho dù rõ ràng, cũng như sự cần thiết phải in thực đơn mới, hoặc ngầm, như với thêm thời gian và nỗ lực cần thiết để thay đổi giá liên tục.
Chu kỳ kinh doanh
Theo Lý thuyết Chu kỳ kinh doanh Áo, lạm phát đặt ra chu kỳ kinh doanh. Các nhà kinh tế Áo giữ điều này là ảnh hưởng tác hại nhất của lạm phát. Theo lý thuyết Áo, lãi suất thấp giả tạo và sự gia tăng liên quan đến cung cấp tiền dẫn đến liều lĩnh, vay đầu cơ, dẫn đến các cụm đầu tư hiểm độc, mà cuối cùng phải được thanh lý khi chúng trở nên không bền vững.
== Nguyên nhân ==
Trong lịch sử, rất nhiều tài liệu kinh tế đã quan tâm đến những câu hỏi về hiệu quả những gì gây ra lạm phát và những gì nó có. Có những trường phái khác nhau về tư tưởng như các nguyên nhân của lạm phát. Phần lớn có thể được chia thành hai khu vực chính: lý thuyết chất lượng của lạm phát và lý thuyết số lượng của lạm phát. Lý thuyết chất lượng của lạm phát dựa trên sự mong đợi của một đồng tiền chấp nhận bán để có thể trao đổi tiền tệ sau một thời gian đối với hàng hoá là mong muốn như một người mua. Lý thuyết số lượng của lạm phát dựa trên các phương trình lượng tiền, có liên quan cung tiền, vòng quay của nó, và giá trị danh nghĩa của trao đổi. Adam Smith và David Hume đã đề xuất một lý thuyết số lượng của lạm phát với tiền bỏ ra, và một lý thuyết chất lượng của lạm phát sản xuất. Hiện nay, lý thuyết số lượng tiền tệ được chấp nhận rộng rãi như là một mô hình chính xác của lạm phát trong thời gian dài. Do đó, hiện nay là thỏa thuận rộng rãi giữa các nhà kinh tế rằng về lâu dài, tỉ lệ lạm phát cơ bản phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng cung tiền liên quan đến sự tăng trưởng của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong tình trạng lạm phát ngắn hạn và trung hạn có thể bị ảnh hưởng bởi nguồn cung cấp và nhu cầu áp lực trong nền kinh tế, và chịu ảnh hưởng của độ đàn hồi tương đối của tiền lương, giá cả và lãi suất. Các câu hỏi liệu những tác động ngắn hạn kéo dài đủ lâu là quan trọng là chủ đề trung tâm của cuộc tranh luận giữa người theo chủ nghĩa tiền tệ và các nhà kinh tế học Keynes. Trong chủ nghĩa tiền tệ giá và lương điều chỉnh một cách nhanh chóng đủ để làm cho các yếu tố khác chỉ đơn thuần là hành vi biên trên một chung xu hướng trực tuyến. Trong quan điểm học thuyết Keynes, giá cả và tiền lương điều chỉnh ở mức độ khác nhau, và những khác biệt này có đủ các hiệu ứng trên sản lượng thực tế là "lâu dài" theo quan điểm của những người trong một nền kinh tế.
=== Quan điểm của học thuyết Keynes ===
Kinh tế học Keynes đề xuất rằng những thay đổi trong cung tiền không trực tiếp ảnh hưởng đến giá cả, và rằng lạm phát có thể nhìn thấy là kết quả của các áp lực trong nền kinh tế tự thể hiện mình trong giá.
Có ba loại chính của lạm phát, như một phần của những gì Robert J. Gordon gọi là "mô hình tam giác":
Lạm phát cầu kéo là do lượng cầu lớn hơn lượng cung dẫn đến các doanh nghiệp tăng giá hàng hóa dịch vụ, vv. Lạm phát nhu cầu khuyến khích tăng trưởng kinh tế vì nhu cầu quá mức và các điều kiện thị trường thuận lợi sẽ kích thích đầu tư và mở rộng.
Lạm phát chi phí đẩy,còn gọi là "lạm phát sốc cung," là do khi chính phủ cắt giảm thuế hay tăng chi tiêu dùng thường xuyên dẫn đến thâm hụt ngân sách, phá giá tiền tệ phát sinh thuế lạm phát làm tăng giá nguyên liệu đầu vào dẫn tới sự phá sản doanh nghiệp làm tổng cung sụt giảm (sản lượng tiềm năng). Điều này có thể là do thiên tai. Ví dụ, giảm đột ngột trong việc cung cấp dầu, dẫn đến giá dầu tăng lên, có thể gây ra lạm phát chi phí đẩy. Các nhà sản xuất dầu cho người mà dầu là một phần chi phí của họ sau đó có thể chuyển thông tin này cho người tiêu dùng dưới hình thức giá tăng lên. Một ví dụ khác xuất phát từ tổn thất được bảo hiểm bất ngờ cao, hoặc là hợp pháp (thảm họa) hoặc gian lận (mà có thể là đặc biệt phổ biến trong thời kỳ suy thoái).
Lạm phát vốn có được gây ra bởi kỳ vọng thích nghi, và thường được liên kết với "vòng xoáy giá/lương". Nó liên quan đến công nhân cố gắng giữ tiền lương của họ với giá (trên tỷ lệ lạm phát), và các công ty chuyển những chi phí lao động cao hơn này cho khách hàng của họ như giá cao hơn, dẫn đến một "vòng luẩn quẩn". Lạm phát vốn có phản ánh các sự kiện trong quá khứ, và do đó có thể được xem như lạm phát nôn nao.
Lý thuyết cầu kéo nói rằng lạm phát tăng tốc khi tổng cầu tăng vượt quá khả năng của nền kinh tế để sản xuất (sản lượng tiềm năng của nó). Do đó, bất kỳ yếu tố nào làm tăng tổng cầu đều có thể gây ra lạm phát. Tuy nhiên, về lâu dài, tổng cầu có thể được tổ chức trên năng lực sản xuất chỉ bằng cách tăng lượng tiền trong lưu thông nhanh hơn so với tốc độ tăng trưởng thực của nền kinh tế. Một nguyên nhân khác (mặc dù ít phổ biến) có thể là một sự suy giảm nhanh chóng trong nhu cầu đối với tiền bỏ ra, như đã xảy ra ở châu Âu trong Black Death, hoặc trong vùng lãnh thổ bị Nhật Bản chiếm đóng ngay trước sự thất bại của Nhật Bản trong năm 1945.
Ảnh hưởng của tiền trên lạm phát là rõ ràng nhất khi các chính phủ tài trợ cho chi tiêu trong một cuộc khủng hoảng, chẳng hạn như một cuộc chiến tranh dân sự, bằng cách in tiền quá mức. Điều này đôi khi dẫn đến lạm phát phi mã, một điều kiện mà giá có thể tăng gấp đôi trong một tháng hoặc ít hơn. Cung tiền cũng được cho là đóng một vai trò quan trọng trong việc xác định mức độ vừa phải của lạm phát, mặc dù có sự khác biệt về quan điểm về tầm quan trọng của nó. Ví dụ: các nhà kinh tế theo chủ nghĩa tiền tệ tin rằng liên kết là rất mạnh mẽ, các nhà kinh tế Keynes, ngược lại, thường nhấn mạnh vai trò của tổng cầu trong nền kinh tế chứ không phải là cung tiền trong việc xác định lạm phát. Có nghĩa là, đối với phái Keynes, cung tiền chỉ là một yếu tố quyết định của tổng cầu.
Một số nhà kinh tế phái Keynes cũng không đồng ý với quan điểm cho rằng ngân hàng trung ương hoàn toàn kiểm soát cung tiền, cho rằng ngân hàng trung ương có ít kiểm soát, do cung tiền thích nghi với nhu cầu cho tín dụng ngân hàng được phát hành bởi ngân hàng thương mại. Điều này được gọi là lý thuyết của tiền nội sinh, và đã được ủng hộ mạnh mẽ bởi những người sau Keynes từ những năm 1960. Nó ngày nay đã trở thành một trọng tâm của những người ủng hộ quy tắc Taylor. Vị trí này không được chấp nhận phổ biến - các ngân hàng tạo ra tiền bằng cách làm ra các khoản vay, nhưng tổng khối lượng các khoản vay này giảm đi khi lãi suất thực tăng. Như vậy, các ngân hàng trung ương có thể ảnh hưởng đến việc cung cấp tiền bằng cách làm cho tiền rẻ hơn hoặc đắt hơn, do đó tăng hoặc giảm sản xuất.
Một khái niệm cơ bản trong phân tích lạm phát là mối quan hệ giữa lạm phát và thất nghiệp, được gọi là đường cong Phi-líp. Mô hình này cho thấy rằng có một đánh đổi giữa sự ổn định giá cả và việc làm. Vì vậy, một số mức độ lạm phát có thể được xem là hấp dẫn để giảm thiểu tình trạng thất nghiệp. Mô hình đường cong Phillips mô tả tốt kinh nghiệm của Mỹ vào những năm 1960 nhưng không thành công để mô tả sự kết hợp của lạm phát tăng cao và kinh tế trì trệ (đôi khi được gọi là tình trạng lạm phát) có trải nghiệm trong những năm 1970.
Như vậy, kinh tế vĩ mô hiện đại mô tả lạm phát bằng cách sử dụng đường cong Phillips rằng các thay đổi (nên sự đánh đổi giữa các thay đổi lạm phát và thất nghiệp) vì những vấn đề như các cú sốc cung và lạm phát trở thành xây dựng cho các hoạt động bình thường của nền kinh tế. Các đề cập trước đây đến các sự kiện như cú sốc dầu lửa những năm 1970, trong khi những đề cập sau này đến vòng xoáy giá/lương ốc và các kỳ vọng lạm phát ngụ ý rằng nền kinh tế bị lạm phát "một cách bình thường". Như vậy, đường cong Phi-líp chỉ đại diện cho thành phần cầu kéo của mô hình tam giác.
Một khái niệm khác cần lưu ý là sản lượng tiềm năng (đôi khi được gọi là "tổng sản phẩm quốc nội tự nhiên"), một mức độ của GDP, khi nền kinh tế đang ở mức sản xuất tối ưu của nó được thể chế và tự nhiên. (Mức độ sản lượng này tương ứng với Tỷ lệ thất nghiệp không đẩy mạnh lạm phát, NAIRU, hoặc tỷ lệ thất nghiệp "tự nhiên" hoặc tỷ lệ thất nghiệp đầy đủ việc làm). Nếu GDP vượt quá tiềm năng của nó (và thất nghiệp là dưới NAIRU), lý thuyết này nói rằng lạm phát sẽ tăng tốc do các nhà cung cấp tăng giá của họ và lạm phát tích hợp nặng hơn. Nếu GDP giảm xuống dưới mức tiềm năng của nó (và thất nghiệp là trên NAIRU), lạm phát sẽ giảm tốc do các nhà cung cấp cố gắng để điền vào công suất dư thừa, bằng cách giảm giá và phá hoại lạm phát có sẵn.
Tuy nhiên, một vấn đề với lý thuyết này cho mục đích hoạch định chính sách là mức độ chính xác của sản lượng tiềm năng (và của NAIRU) nói chung là không rõ và có xu hướng thay đổi theo thời gian. Lạm phát cũng có vẻ hành động một cách không đối xứng, tăng nhanh hơn so với giảm. Tệ hơn, nó có thể thay đổi vì chính sách: ví dụ, tỷ lệ thất nghiệp cao dưới thời Thủ tướng Anh Margaret Thatcher có thể đã dẫn đến sự gia tăng trong NAIRU (và giảm tiềm năng) bởi vì nhiều người thất nghiệp tự thấy mình như thất nghiệp cơ cấu (xem thêm thất nghiệp), không thể tìm được việc làm phù hợp với kỹ năng của họ. Một gia tăng trong thất nghiệp cơ cấu ngụ ý rằng một tỷ lệ phần trăm nhỏ của lực lượng lao động có thể tìm việc làm ở NAIRU, nơi nền kinh tế tránh vượt qua ngưỡng vào lĩnh vực thúc đẩy lạm phát.
==== Thất nghiệp ====
Một kết nối giữa lạm phát và thất nghiệp đã được rút ra từ sự xuất hiện của thất nghiệp quy mô lớn trong thế kỷ 19, và các kết nối tiếp tục được rút ra hôm nay. Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp thường chỉ ảnh hưởng đến lạm phát trong ngắn hạn nhưng không lâu dài. Về lâu dài, các vận tốc của tiền các biện pháp cung cấp như vận tốc MZM ("đáo hạn không tiền," đại diện cho tiền mặt và tiền gửi nhu cầu tương đương) là dự đoán lạm phát xa hơn so với tỷ lệ thất nghiệp thấp.
Trong kinh tế học Mác-xít, thất nghiệp phục vụ như một đội quân lao động dự bị, kiềm chế lạm phát tiền lương. Trong thế kỷ 20, các khái niệm tương tự trong Kinh tế học Keynes bao gồm NAIRU (Tỷ lệ thất nghiệp không gia tăng lạm phát) và đường cong Phillips.
=== Quan điểm của Chủ nghĩa tiền tệ ===
Những người theo chủ nghĩa tiền tệ tin rằng yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến lạm phát hay giảm phát là tốc độ cung tiền tăng lên hoặc co lại. Họ coi chính sách tài khóa, hoặc chi tiêu chính phủ và thuế, là không có hiệu quả trong việc kiểm soát lạm phát. Theo nhà kinh tế theo chủ nghĩa tiền tệ nổi tiếng Milton Friedman,"Lạm phát là luôn luôn có và ở khắp mọi nơi là một hiện tượng tiền tệ." Tuy nhiên, một số người theo chủ nghĩa tiền tệ sẽ chấp nhận điều này bằng cách làm một ngoại lệ cho các trường hợp rất ngắn hạn.
Những người theo chủ nghĩa tiền tệ khẳng định rằng các nghiên cứu thực nghiệm lịch sử tiền tệ cho thấy lạm phát luôn luôn là một hiện tượng tiền tệ. Thuyết số lượng tiền tệ, chỉ đơn giản nói rằng bất kỳ thay đổi nào trong số lượng tiền trong một hệ thống sẽ làm thay đổi mức giá. Lý thuyết này bắt đầu với phương trình trao đổi:
M
V
=
P
Q
{\displaystyle MV=PQ}
ở đây
M
{\displaystyle M}
là số lượng tiền danh nghĩa.
V
{\displaystyle V}
là vòng quay tiền tệ trong các tiêu dùng cuối cùng;
P
{\displaystyle P}
là mức giá chung;
Q
{\displaystyle Q}
là một chỉ số của giá trị thực tế của các tiêu dùng cuối cùng;
Trong công thức này, mức giá chung có liên quan đến mức độ hoạt động kinh tế thực (Q), lượng tiền (M) và vòng quay của tiền (V). Công thức này là một đồng nhất thức vì vòng quay của tiền (V) được định nghĩa là tỷ lệ chi tiêu danh nghĩa cuối cùng (
P
Q
{\displaystyle PQ}
) với số lượng tiền (M).
Những người theo chủ nghĩa tiền tệ cho rằng vòng quay của tiền không bị ảnh hưởng bởi chính sách tiền tệ (ít nhất là trong thời gian dài), và giá trị thực của sản lượng được xác định trong thời gian dài bởi năng lực sản xuất của nền kinh tế. Theo các giả định, động lực chính của sự thay đổi trong mức giá chung là thay đổi trong lượng tiền. Với vòng quay ngoại sinh (có nghĩa là, vòng quay được xác định bên ngoài và không bị ảnh hưởng bởi chính sách tiền tệ), cung tiền xác định giá trị sản lượng danh nghĩa (bằng chi phí cuối cùng) trong ngắn hạn. Trong thực tế, vòng quay không phải là ngoại sinh trong ngắn hạn, và do đó, công thức không nhất thiết có nghĩa là một mối quan hệ ngắn hạn ổn định giữa cung tiền và sản lượng không đáng kể. Tuy nhiên, về lâu dài, những thay đổi trong vòng quay được giả định được xác định bởi sự phát triển của các cơ chế thanh toán. Nếu vòng quay tương đối không bị ảnh hưởng bởi chính sách tiền tệ, tỷ giá dài hạn của tăng giá (tỷ lệ lạm phát) bằng với tỷ lệ dài hạn tăng trưởng của cung tiền cộng với lãi dài hạn ngoại sinh của tốc độ phát triển trừ đi thời gian dài tốc độ tăng trưởng của sản lượng thực tế.
=== Quan điểm của Lý thuyết kỳ vọng hợp lý ===
Lý thuyết kỳ vọng hợp lý cho rằng tác nhân kinh tế tìm cách hợp lý trong tương lai khi cố gắng tối đa hóa phúc lợi của họ, và không đáp ứng chỉ với chi phí cơ hội và áp lực trước mắt. Theo quan điểm này, trong khi thường căn cứ vào trọng tiền, kỳ vọng và chiến lược trong tương lai cũng là quan trọng đối với lạm phát.
Một sự khẳng định cốt lõi của lý thuyết kỳ vọng hợp lý là tác nhân kinh tế sẽ tìm cách "đón đầu" các quyết định của ngân hàng trung ương bằng cách hành động bằng cách thực hiện những dự đoán lạm phát cao hơn. Điều này có nghĩa rằng các ngân hàng trung ương phải thiết lập sự tin cậy của họ trong cuộc chiến chống lạm phát, hoặc tác nhân kinh tế sẽ đặt cược rằng các ngân hàng trung ương sẽ mở rộng cung tiền nhanh chóng, đủ để ngăn chặn suy giảm, thậm chí tại các chi phí làm tăng lạm phát. Vì vậy, nếu một ngân hàng trung ương có tiếng là "mềm dẻo" đối với lạm phát, khi công bố một chính sách chống lạm phát mới với các tác nhân kinh tế tăng trưởng tiền tệ hạn chế sẽ không tin rằng chính sách này sẽ vẫn tồn tại; kỳ vọng lạm phát của họ vẫn ở mức cao, và do đó sẽ lạm phát. Mặt khác, nếu các ngân hàng trung ương có tiếng là "cứng rắn" đối với lạm phát, thì một thông báo chính sách như vậy sẽ được tin tưởng và kỳ vọng lạm phát sẽ giảm xuống nhanh chóng, do đó cho phép lạm phát nó đi xuống nhanh chóng với sự gián đoạn kinh tế tối thiểu.
=== Các quan điểm không chính thống ===
Cũng còn có các học thuyết không chính thống khác mà giảm nhẹ hoặc từ chối quan điểm của Keynes và những người theo chủ nghĩa tiền tệ.
==== Quan điểm của trường phái Áo ====
Trường phái Áo khẳng định rằng lạm phát là sự gia tăng cung tiền, giá tăng chỉ là hậu quả và sự khác biệt ngữ nghĩa này là rất quan trọng trong việc xác định lạm phát. Trường phái Áo nhấn mạnh rằng lạm phát ảnh hưởng đến giá mức độ khác nhau (tức là giá tăng mạnh trong một số lĩnh vực hơn trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế). Lý do cho sự chênh lệch là tiền dư thừa sẽ được tập trung vào một số lĩnh vực, chẳng hạn như nhà ở, cổ phiếu hoặc chăm sóc sức khỏe. Bởi vì có sự khác nhau này, trường phái Áo cho rằng mức giá tổng hợp có thể là rất sai lầm khi quan sát những tác động của lạm phát. Các nhà kinh tế Áo đo lường lạm phát bằng cách tính toán sự phát triển của các đơn vị tiền mới có sẵn để sử dụng ngay lập tức trong trao đổi, đã được tạo ra theo thời gian.
Các phê bình quan điểm của trường phái Áo chỉ ra rằng lựa chọn thay thế ưa thích của họ với tiền tệ đại diện nhằm ngăn chặn lạm phát, tiền tệ được bảo đảm hàng hóa, có khả năng tăng cung với tốc độ khác hơn tăng trưởng kinh tế. Do đó nó đã được chứng minh là giảm phát cao và mất ổn định, kể cả trong trường hợp nó gây ra và kéo dài suy thoái.
==== Học thuyết Hóa đơn thực tế ====
Trong bối cảnh của một cơ sở tiền đồng cố định đối với tiền, một trong những tranh cãi quan trọng là giữa lý thuyết số lượng tiền và học thuyết hóa đơn thực tế (RBD). Trong bối cảnh đó, lý thuyết số lượng áp dụng cho mức độ kế toán dự trữ phân đoạn đã cho phép chống lại tiền đồng, vàng nói chung, bị nắm giữ bởi ngân hàng. Các trường phái kinh tế tiền tệ và hoạt động ngân hàng tranh luận RBD, các ngân hàng cũng sẽ có thể phát hành tiền tệ chống lại các hóa đơn trao đổi, đó là các "hóa đơn thực tế" mà họ mua từ các thương gia. Lý thuyết này là quan trọng vào thế kỷ 19 trong cuộc tranh luận giữa các trường phái "hoạt động ngân hàng" và "tiền tệ" về tính đúng đắn của tiền tệ, và trong sự hình thành của Dự trữ Liên bang. Theo sau sự sụp đổ của bản vị vàng quốc tế sau năm 1913, và di chuyển theo hướng thâm hụt tài chính của chính phủ, RBD vẫn là một chủ đề nhỏ, chủ yếu quan tâm trong các bối cảnh hạn chế, chẳng hạn như các vị tiền tệ. Nó được nắm một cách chung trong danh tiếng ốm yếu ngày hôm nay, với Frederic Mishkin, một thống đốc của Dự trữ Liên bang đi xa đến mức nói rằng nó đã bị "hoàn toàn mất uy tín."
Các cuộc tranh luận giữa các trường phái tiền tệ, hoặc lý thuyết số lượng, và hoạt động ngân hàng ở Anh trong thế kỷ 19 tiên báo câu hỏi hiện nay về độ tin cậy của tiền trong hiện tại. Trong thế kỷ 19 trường phái hoạt động ngân hàng có ảnh hưởng lớn hơn trong chính sách của Hoa Kỳ và Anh, trong khi trường phái tiền tệ đã có nhiều ảnh hưởng "ở châu lục", đó là ở các nước ngoài Anh, đặc biệt trong Liên minh tiền tệ Latin và liên minh tiền tệ Scandinavia trước đó.
==== Lý thuyết chống cổ điển hay lý thuyết ủng hộ ====
Một vấn đề khác liên quan đến kinh tế chính trị cổ điển là giả thuyết chống cổ điển của tiền bạc, hay "lý thuyết ủng hộ". Lý thuyết ủng hộ lập luận rằng giá trị của tiền được xác định bởi các tài sản và nợ phải trả của cơ quan phát hành. Không giống như Lý thuyết số lượng của kinh tế chính trị cổ điển, lý thuyết ủng hộ lập luận rằng cơ quan phát hành có thể phát hành tiền mà không gây ra lạm phát, miễn là các tổ chức phát hành tiền có đủ tài sản để chuộc lại. Có rất ít các nhà lý luận ủng hộ, làm cho lý thuyết số lượng trở thành lý thuyết thống trị giải thích lạm phát.
== Kiểm soát lạm phát ==
Có nhiều phương pháp và chính sách đã và đang được sử dụng để kiểm soát lạm phát.
=== Kích thích tăng trưởng kinh tế ===
Nếu tăng trưởng kinh tế phù hợp với sự tăng trưởng của cung tiền, lạm phát sẽ có thể không xảy ra khi các nhân tố khác cũng cân bằng nhau. Một số lượng lớn các yếu tố có thể ảnh hưởng đến tốc độ của cả hai. Ví dụ: đầu tư trong sản xuất thị trường, cơ sở hạ tầng, giáo dục, và chăm sóc y tế dự phòng tất cả có thể tăng trưởng một nền kinh tế với số lượng lớn hơn chi tiêu đầu tư.
=== Chính sách tiền tệ ===
Ngày nay, công cụ chính để kiểm soát lạm phát là chính sách tiền tệ. Hầu hết các ngân hàng trung ương được giao nhiệm vụ giữ lãi suất cho vay liên ngân hàng ở mức thấp, thường là cho một tỷ lệ mục tiêu khoảng 2% đến 3% mỗi năm, và trong một phạm vi lạm phát mục tiêu thấp, ở đâu đó trong khoảng từ 2% đến 6% mỗi năm. Một lạm phát dương thấp thường là mục tiêu, do các điều kiện giảm phát được xem là nguy hiểm cho sức khỏe của nền kinh tế.
Có một số phương pháp đã được đề xuất để kiểm soát lạm phát. Các ngân hàng Trung ương như Cục Dự trữ Liên bang Mỹ có thể ảnh hưởng đến lạm phát ở một mức độ đáng kể thông qua thiết lập lãi suất và thông qua các hoạt động khác. Các lãi suất cao và tốc độ tăng trưởng cung tiền chậm chạp là những cách truyền thống thông qua đó ngân hàng trung ương chống lại hoặc ngăn chặn lạm phát, mặc dù chúng có cách tiếp cận khác nhau. Ví dụ, một số theo một mục tiêu lạm phát đối xứng trong khi những phương pháp khác chỉ kiểm soát lạm phát khi nó lên trên một mục tiêu, cho dù rõ ràng hay ngụ ý.
Những người theo chủ nghĩa tiền tệ nhấn mạnh việc duy trì tốc độ tăng trưởng tiền ổn định, và sử dụng chính sách tiền tệ để kiểm soát lạm phát (tăng lãi suất, làm chậm sự gia tăng cung tiền). Những người theo học thuyết Keynes nhấn mạnh việc giảm tổng cầu trong quá trình mở rộng kinh tế và việc gia tăng nhu cầu trong thời kỳ suy thoái để giữ lạm phát ổn định. Kiểm soát tổng cầu có thể đạt được bằng cách sử dụng cả chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa (tăng thuế hoặc giảm chi tiêu của chính phủ để giảm cầu).
=== Tỷ giá hối đoái cố định ===
Dưới một chế độ tỷ giá hối đoái cố định, đồng tiền của một quốc gia được gắn về giá trị với một đồng tiền khác hoặc một rổ tiền tệ khác (hoặc đôi khi đến một thước đo giá trị, chẳng hạn như vàng). Một tỷ giá hối đoái cố định thường được sử dụng để ổn định giá trị đồng tiền, đối diện đồng tiền mà nó cố định vào. Nó cũng có thể được sử dụng như một phương tiện để kiểm soát lạm phát. Tuy nhiên, vì giá trị của đồng tiền tham chiếu tăng lên và hạ xuống, do đó, đồng tiền không ổn định so với nó. Điều này về cơ bản có nghĩa là tỷ lệ lạm phát của nước có chế độ tỷ giá hối đoái cố định bị xác định bởi tỷ lệ lạm phát của nước mà đồng tiền này cố định vào. Ngoài ra, tỷ giá hối đoái cố định ngăn chặn chính phủ trong việc sử dụng chính sách tiền tệ trong nước để đạt được sự ổn định kinh tế vĩ mô.
Theo thỏa thuận Bretton Woods, hầu hết các nước trên thế giới đã có đồng tiền được cố định với đồng đô-la Mỹ. Lạm phát hạn chế này tại các quốc gia, nhưng cũng đẩy họ đến việc tiếp xúc với nguy cơ của các tấn công đầu cơ. Sau khi thỏa thuận Bretton Woods bị phá vỡ trong những năm 1970, các quốc gia dần dần chuyển sang tỷ giá hối đoái thả nổi. Tuy nhiên, trong phần sau của thế kỷ 20, một số nước trở lại tỷ giá hối đoái cố định như một phần của một nỗ lực để kiềm chế lạm phát. Chính sách sử dụng một tỷ giá hối đoái cố định để kiểm soát lạm phát này đã được sử dụng ở nhiều quốc gia ở Nam Mỹ trong phần sau của thế kỷ 20 (ví dụ: Argentina (1991-2002), Bolivia, Brazil và Chile
=== Bản vị vàng ===
Bản vị vàng là một hệ thống tiền tệ trong đó phương tiện trao đổi phổ biến của một vùng là tiền giấy mà thường có thể chuyển đổi tự do với một lượng cố định được đặt ra từ trước của vàng. Bản vị này quy định cụ thể cách mà sự ủng hộ vàng sẽ được thực hiện, bao gồm cả số lượng tiền vàng trên một đơn vị tiền tệ. Loại tiền tệ chính nó không có giá trị bẩm sinh, nhưng được chấp nhận bởi các thương nhân vì nó có thể được hoàn trả lại cho tiền vàng tương đương. Một Mỹ chứng nhận bạc, ví dụ, có thể được hoàn trả cho một phần bạc thực tế.
Bản vị vàng đã bị bỏ rơi một phần thông qua việc áp dụng quốc tế của Hệ thống Bretton Woods. Theo hệ thống này tất cả các loại tiền tệ chính khác bị buộc ở mức giá cố định với đồng đô-la Mỹ, mà bản thân nó đã gắn liền với vàng ở mức 35 USD một ounce. Hệ thống Bretton Woods bị phá vỡ vào năm 1971, làm cho hầu hết các nước chuyển sang tiền tệ sắc lệnh - tiền tệ được hỗ trợ chỉ bởi luật pháp của đất nước đó.
Theo Lawrence H. White, một Giáo sư Lịch sử kinh tế F.A. Hayek "người làm nên giá trị cho truyền thống Áo", các nền kinh tế dựa trên bản vị vàng hiếm khi gặp lạm phát trên 2 phần trăm mỗi năm. Tuy nhiên, trong lịch sử, Mỹ đã nhìn thấy lạm phát hơn 2% vài lần và đỉnh điểm lạm phát cao hơn theo bản vị vàng khi so sánh với lạm phát sau bản vị vàng. Dưới một bản vị vàng, tỷ lệ lạm phát (hoặc giảm phát) dài hạn sẽ có thể bị xác định bởi tốc độ tăng trưởng của nguồn cung vàng so với tổng sản lượng. Các phê bình cho rằng điều này sẽ gây ra biến động tùy ý trong tỷ lệ lạm phát và chính sách tiền tệ về cơ bản sẽ được xác định bằng việc khai thác vàng.
=== Kiểm soát tiền lương và giá cả ===
Một phương pháp khác đã được thử trong quá khứ là kiểm soát tiền lương và giá cả ("chính sách thu nhập"). Việc kiểm soát tiền lương và giá cả kết hợp với phân phối đã thành công trong môi trường chiến tranh. Tuy nhiên, việc sử dụng chúng trong các bối cảnh khác là hỗn hợp hơn rất nhiều. Thất bại đáng chú ý của việc sử dụng bao gồm áp đặt kiểm soát tiền lương và giá cả năm 1972 bởi Richard Nixon. Ví dụ thành công hơn bao gồm Hòa ước giá cả và thu nhập tại Úc và Thỏa hiệp Wassenaar tại Hà Lan.
Nói chung, kiểm soát tiền lương và giá cả được coi là một biện pháp tạm thời và đặc biệt, chỉ có hiệu quả khi kết hợp với các chính sách được thiết kế để làm giảm những nguyên nhân cơ bản của lạm phát trong chế độ kiểm soát tiền lương và giá cả, ví dụ, chiến thắng cuộc chiến đang chiến đấu. Chúng thường có tác dụng hư hỏng, do các tín hiệu méo mó mà chúng gửi cho thị trường. Giá thấp giả tạo thường gây ra phân phối và sự thiếu hụt và khuyến khích đầu tư trong tương lai, dẫn đến tình trạng thiếu nhưng xa hơn. Phân tích kinh tế thông thường là bất kỳ sản phẩm hoặc dịch vụ mà dưới giá đều được tiêu thụ quá nhiều. Ví dụ, nếu giá chính thức của bánh mì là quá thấp, sẽ có quá ít bánh mì với giá chính thức, và có quá ít đầu tư trong việc làm bánh mì của thị trường để đáp ứng nhu cầu trong tương lai, do đó làm trầm trọng thêm các vấn đề trong lâu dài.
Kiểm soát tạm thời có thể bổ sung cho một cuộc suy thoái như là một cách để chống lạm phát: điều khiển làm cho suy thoái kinh tế hiệu quả hơn như một cách để chống lạm phát (làm giảm sự cần thiết phải tăng tỷ lệ thất nghiệp), trong khi suy thoái kinh tế ngăn chặn các loại biến dạng mà kiểm soát gây ra khi nhu cầu cao. Tuy nhiên, nói chung những lời khuyên của các nhà kinh tế không phải là áp đặt kiểm soát giá cả mà là tự do hóa giá cả bằng cách giả định rằng nền kinh tế sẽ điều chỉnh và từ bỏ hoạt động kinh tế mang lại lợi nhuận. Hoạt động thấp hơn sẽ đặt nhu cầu ít hơn bất cứ điều gì trên mặt hàng được dẫn dắt lạm phát, cho dù lao động, tài nguyên, và lạm phát sẽ giảm với tổng sản lượng kinh tế. Điều này thường tạo ra một cuộc suy thoái nghiêm trọng, như năng lực sản xuất được phân bổ lại và do đó thường rất phổ biến với những người mà sinh kế bị phá hủy (xem phá hủy sáng tạo).
=== Trợ cấp chi phí sinh hoạt ===
Sức mua thực tế của các khoản thanh toán cố định đang bị xói mòn bởi lạm phát trừ khi chúng được điều chỉnh lạm phát để giữ giá trị thực sự không đổi. Ở nhiều nước, hợp đồng lao động, trợ cấp hưu trí, và các quyền lợi của chính phủ (ví dụ như an sinh xã hội) được gắn với một chỉ số chi phí sinh hoạt, thường đến chỉ số giá tiêu dùng. Một trợ cấp chi phí sinh hoạt (COLA) điều chỉnh lương dựa trên những thay đổi trong chỉ số chi phí sinh hoạt. Tiền lương thường được điều chỉnh hàng năm trong nền kinh tế lạm phát thấp. Trong khi lạm phát phi mã nó được điều chỉnh thường xuyên hơn. Chúng cũng có thể được gắn với một chỉ số giá sinh hoạt mà thay đổi theo vị trí địa lý khi di chuyển nhân viên.
Khoản điều chỉnh hàng năm trong hợp đồng lao động có thể chỉ định hồi tố hoặc tăng tỷ lệ phần trăm tương lai trong lương công nhân mà không bị ràng buộc với bất kỳ chỉ số nào. Những gia tăng trả tiền được đàm phán này được gọi một cách thông tục là các điều chỉnh chi phí sinh hoạt ("COLA") hoặc gia tăng chi phí sinh hoạt vì sự tương đồng của chúng với các gia tăng gắn liền với các chỉ số được xác định bên ngoài.
== Xem thêm ==
Giảm phát
Phòng hộ lạm phát
Danh sách các quốc gia theo tỷ lệ lạm phát
Đo lường giá trị kinh tế theo thời gian
Đường cong Phi-líp
Kiểm soát giá cả
Sức mua
Giá trị thực tế và giá trị danh nghĩa
Kinh tế nhà nước ổn định
Chi phí phúc lợi của lạm phát
Danh sách các quốc gia theo tỉ lệ lạm phát 2010
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
hove, antwerp.txt | Hove là một đô thị ở tỉnh Antwerp. Thị trấn này chỉ gồm thị trấn Hove proper. Tại thời điểm ngày 1 tháng 1 năm 2006, Hove có dân số 8.307 người. Tổng diện tích là 5,99 km² với mật độ dân số là 1.388 người trên mỗi km².
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Hà Lan) Hove Trang mạng chính thức |
câu chuyện cảnh sát.txt | Câu chuyện cảnh sát (phồn thể: 警察故事, Ging chaat goo si; bính âm: Jǐngchá Gùshì , tiếng Anh: Police Story) là một bộ phim hành động của điện ảnh Hồng Kông do Thành Long đạo diễn và thủ vai chính, tác phẩm được công chiếu lần đầu năm 1985. Câu chuyện cảnh sát nói về Trần Gia Câu (Thành Long thủ vai), một viên thanh tra cảnh sát tài năng nhưng thường xuyên gặp rắc rối trong công việc và đời tư. Bộ phim sau khi công chiếu đã thành công cả về mặt doanh thu và nghệ thuật, Câu chuyện cảnh sát được trao Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông cho "Phim hay nhất" và mở ra một loạt phim xoay quanh đề tài cảnh sát như Câu chuyện cảnh sát 2, Câu chuyện cảnh sát 3, Câu chuyện cảnh sát 4, Tân câu chuyện cảnh sát, Câu chuyện cảnh sát 2013
== Nội dung ==
Thanh tra cảnh sát Trần Gia Câu được lệnh bảo vệ một nhân chứng quan trọng là Selina, thư ký của tay trùm ma túy Chu Thao, trong một vụ kiện tố cáo y. Tuy nhiên Trần Gia Câu không ngờ rằng anh đã bị Chu Thao gài bẫy vào một vụ giết người. Để giải oan cho mình Trần Gia Câu buộc phải một mình đi tìm bằng chứng và đối đầu với toàn bộ băng đảng của Chu Thao.
== Diễn viên ==
Thành Long trong vai Trần Gia Câu
Trương Mạn Ngọc trong vai A Mỹ, người yêu của Trần Gia Câu
Lâm Thanh Hà trong vai Selina, thư ký của Chu Thao và là nhân chứng được Gia Câu bảo vệ
Sở Nguyên trong vai Chu Thao, trùm băng buôn bán ma túy
Tào Tra Lý trong vai Cao Ước Hàn
Đổng Phiêu trong vai chú Bill
Lâm Quốc Hùng trong vai sếp Lý
Thang Trấn Nghiệp trong vai A Đức
Hỏa Tinh trong vai Kim "đại khẩu"
Phùng Khắc An trong vai Chu Đan Ni
Thái Bảo trong vai Xà Tử Xuân
Lưu Chí Vinh trong vai luật sư Trương
Lâm Quốc Bân trong vai thuộc hạ của Chu Thao
== Sản xuất và đánh giá ==
Điểm nổi bật của Câu chuyện cảnh sát là những pha hành động ngoạn mục do đích thân Thành Long dàn xếp và diễn xuất. Bộ phim sau khi công chiếu đã thành công cả về doanh thu và nghệ thuật, Câu chuyện cảnh sát đã giành Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông năm 1986 cho "Phim hay nhất". Sau thành công của bộ phim, Thành Long còn thủ vai Trần Gia Câu trong 4 phần tiếp theo của Câu chuyện cảnh sát.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Câu chuyện cảnh sát tại Internet Movie Database
Câu chuyện cảnh sát tại Allmovie
Câu chuyện cảnh sát tại Rotten Tomatoes
Câu chuyện cảnh sát tại Hong Kong Movie Database
Danh sách súng trong phim.
Trailer phim. |
target ~akai shougeki~.txt | Target ~Akai Shougeki~ (ターゲット〜赤い衝撃〜, Tāgetto ~Akai Shōgeki~) là đĩa đơn thứ hai của Wada Kouji được phát hành vào ngày 26 tháng 4 năm 2000 tại Nhật Bản dưới dạng đĩa mini CD và tái bản theo định dạng CD Single vào ngày 1 tháng 8 năm 2004. Bài hát này được biết đến với vai trò là bài hát mở đầu anime Digimon Adventure 02.
== Tổng quan ==
Đĩa đơn được sản xuất bởi Oota Michihiko, phát hành vào ngày 28 tháng 4 năm 2000 tại Nhật Bản bởi T.Y.Entertainment và thu âm bởi KING RECORD dưới dạng mini-đĩa đơn CD đường kính 8 cm. Sau đó đĩa đơn được tái bản vào ngày 1 tháng 8 năm 2004 dưới dạng đĩa đơn CD.
Bài Target ~Akai Shougeki~ được đưa vào sử dụng trên truyền hình với các vai trò như:
Bài hát mở đầu anime Digimon Adventure 02 được phát sóng trên Fuji TV, đồng thời còn sử dụng với vai trò là nhạc nền tiến hóa cùng cực và biến đổi hình dạng (Mode Change) cho Imperialdramon là thể cùng cực của V-mon và Wormmon.
Bài hát mở đầu phim điện ảnh Digimon Adventure 02: Digimon Hurricane Touchdown / Supreme Evolution! The Golden Digimentals do Toei Animation sản xuất và khởi chiếu vào tháng 7 năm 2000.
Bài Boku wa Boku Datte được đưa vào sử dụng với vai trò bài hát lồng trong anime Digimon Adventure 02.
== Danh sách bài hát ==
== Từ các album khác ==
Ngoài trong đĩa đơn phiên bản gốc, cả hai bài Target ~Akai Shougeki~ và Boku wa Boku Datte còn xuất hiện trong hai album của Wada Kouji và một số album nhạc phim Digimon.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
utopia.txt | Utopia (tiếng Hy Lạp: οὐτόπος, phiên âm: outópos), là một cộng đồng hoặc xã hội gần lý tưởng hoặc hoàn hảo trên mọi mặt. Thuật ngữ "Utopia" lần đầu tiên được Sir Thomas More sử dụng trong cuốn sách cùng tên "Utopia" của ông (bằng tiếng Latin,) trong đó miêu tả mô hình xã hội trên một hòn đảo giả tưởng ở Đại Tây Dương. "Utopia" thường xuất hiện với một chủ đề tách biệt trong văn học giả tưởng. Một số cộng đồng có ý định kiến tạo xã hội lý tưởng cũng sử dụng thuật ngữ này. Ngoài ra, dựa vào "utopia," người ta còn tạo ra thêm một vài thuật ngữ liên quan, trong đó phổ biến và gần với "utopia" nhất là "dystopia."
Cụm từ này được sử dụng để mô tả về chủ nghĩa bình quân.
== Từ nguyên ==
Thuật ngữ utopia bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp bởi Thomas More trong cuốn sách Utopia năm 1516 của ông ất, mô tả một xã hội hòn đảo viễn tưởng trong Đại Tây Dương.
Từ này đến từ tiếng Hy Lạp: οὐ ("không") và τόπος ("địa điểm") và nghĩa là "không có địa điểm", và miêu tả bất cứ xã hội không tồn tại nào 'được mô tả chi tiết đáng kể'. Tuy nhiên, trong việc sử dụng tiêu chuẩn, ý nghĩa của từ này nghĩa là thu hẹp và bây giờ thường mô tả mội xã hội không tồn tại mà có ý là tốt hơn đáng kể so với xã hội hiện tại. Eutopia, bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp εὖ ("tốt") và τόπος ("địa điểm"), nghĩa là "địa điểm tốt", và nói về một thuật ngữ chính xác để mô tả một utopia tích cực. Trong tiếng Anh, eutopia và utopia là hai từ đồng âm khác nghĩa và cách viết, mà có thể tạo ra nghĩa khác nhau.
== Các chủ đề ==
=== Sinh thái học ===
Sinh thái xã hội utopia miêu tả những cácg mới mà con người liên kết với thiên nhiên. Nó lĩnh hội một khoảng cách ngày càng mở rộng giữa cách sống phá hủy môi trường của phương Tây hiện đại và một cách sống truyền thống hơn trước khi công nghiệp hóa. Hệ sinh thái utopia có thể hỗ trợ một xã hội lâu bền hơn. Theo nhà triết học người Hà Lan Marius de Geus, hệ sinh thái utopia có thể là nguồn cảm hứng cho phong trào liên quan đến chính trị xanh.
=== Kinh tế ===
Đặc biệt vào đầu thế kỉ thứ 19, nhiều ý tưởng về utopia xuất hiện, nhằm để đáp trả lại tình hình trì trệ của xã hội vào thời điểm ấy, nguyên nhân do chủ nghĩa trọng thương và chủ nghĩa tư bản. Những ý tưởng này được gọi chung thành chủ nghĩa xã hội không tưởng do đặc tính chia sẻ trong cộng đồng.
=== Chính trị và Lịch sử ===
=== Tôn giáo utopia ===
==== Liên tôn giáo utopia ====
==== Tôn giáo nội bộ utopia ====
=== Khoa học và công nghệ ===
=== Bình đẳng giới ===
=== Chủ nghĩa không tưởng ===
== Xem thêm ==
Dystopia - phiên bản ngược của Utopia
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
east riding of yorkshire.txt | East Riding of Yorkshire là một hạt của Anh. Hạt có diện tích km², dân số người. Thủ phủ hạt đóng ở.
== Tham khảo == |
hôn nhân đồng giới.txt | Hôn nhân đồng giới là hôn nhân giữa hai người có cùng giới tính sinh học. Hôn nhân đồng giới có khi còn được gọi là "hôn nhân bình đẳng" hay "bình đẳng hôn nhân", thuật ngữ này sử dụng phổ biết nhất từ những người ủng hộ. Việc hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới còn được mô tả bằng thuật ngữ "định nghĩa lại hôn nhân" từ các trường phái có quan điểm đối lập.
Hôn nhân đồng giới là vấn đề còn tồn tại tranh cãi gay gất giữa những người ủng hộ và không ủng hộ. Những người ủng hộ hôn nhân đồng giới cho rằng việc hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới là để đảm bảo nhân quyền (quyền con người), đảm bảo sự bình đẳng và quyền lợi giữa những người thuộc các thiên hướng tình dục khác nhau trong xã hội; các cặp đôi đồng tính thiết lập mối quan hệ bền vững tương đương các cặp đôi khác giới trên tất cả các góc độ tâm lý; sự phân công vai trò giữa các thành viên ở những gia đình đồng tính công bằng hơn; thể chất và tâm lý của con người được tăng cường tốt bởi hôn nhân hợp pháp đồng thời xã hội sẽ được hưởng nhiều lợi ích từ việc công nhận hôn nhân đồng giới, loại bỏ được kỳ thị và phân biệt đối xử. Mặt khác, sự đồng thuận cao của các hiệp hội nghiên cứu khoa học hàng đầu về tâm lý, xã hội, nhân chủng, nhi khoa học rằng trẻ em được nuôi dưỡng và phát triển tốt bởi các cặp cha mẹ đồng tính, sự phát triển tâm sinh lý, giới tính và hạnh phúc của trẻ em không phụ thuộc vào xu hướng tình dục của cha mẹ; con cái của các cặp vợ chồng đồng tính được hưởng lợi khi được nuôi dưỡng bởi cha mẹ có tình trạng hôn nhân hợp pháp và nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức, đoàn thể xã hội. Theo các hiệp hội này, hôn nhân đồng tính không gây ra bất kỳ nguy cơ nào mà chỉ tốt hơn cho xã hội, do đó các Chính phủ cần ban hành đầy đủ các quyền dân sự bình đẳng cho người đồng tính trong Luật pháp. Thế kỷ 21 được xem là thế kỷ của bình đẳng hôn nhân, sau khi đã có quyền bình đẳng của người da màu, quyền bình đẳng của phụ nữ và quyền bình đẳng tôn giáo. Ngược lại, những người khác phản đối hôn nhân đồng giới vì họ cho rằng kiểu gia đình này có những khiếm khuyết (trẻ em được nuôi bởi cặp đồng tính sẽ dễ gặp tổn thương tâm lý và lệch lạc hành vi, hôn nhân đồng tính thường không bền vững, không có khả năng duy trì nòi giống, làm sụt giảm giá trị của hôn nhân trong văn hóa xã hội, thúc đẩy tình trạng làm cha/mẹ đơn thân...), do vậy nếu chấp thuận và để hôn nhân đồng tính nhân rộng thì sẽ gây tác hại cho xã hội và trẻ em. Theo những người phản đối, hôn nhân đồng tính không thể coi là một vấn đề về nhân quyền, mà vấn đề chính là ở những tác động tiêu cực lâu dài của nó với xã hội và trẻ em. Để đảm bảo xã hội và trẻ em phát triển lành mạnh thì Chính phủ không nên công nhận dạng hôn nhân này
Công nhận hôn nhân đồng giới là một vấn đề chính trị, xã hội, nhân quyền và quyền công dân, cũng như vấn đề tôn giáo ở nhiều quốc gia và trên thế giới. Những tranh cãi tiếp tục diễn ra rằng hai người đồng giới có nên được kết hôn, được công nhận một mối quan hệ khác (kết hợp dân sự) hoặc từ chối công nhận những quyền đó. Hôn nhân đồng giới đem đến cho những người LGBT, cũng là những người đóng thuế cho chính phủ, được sử dụng những dịch vụ công và hiện thực nhu cầu tài chính như những cặp khác giới khác. Hôn nhân đồng giới cũng đem đến cho họ sự bảo vệ hợp pháp ví dụ như quyền thừa kế và quyền thăm nuôi. Những lợi ích hoặc tác hại của việc công nhận hôn nhân đồng tính là chủ đề tranh luận của nhiều tổ chức khoa học.
Hôn nhân đồng giới có thể được thực hiện một cách đơn giản hoặc theo nghi thức tôn giáo. Nhiều cộng đồng tín ngưỡng trên thế giới đã cho phép hai người cùng giới kết hôn hoặc thực hiện hôn lễ cùng giới, ví dụ như: Phật giáo ở Đài Loan, Úc, Nhà thờ ở Thụy Điển, Giáo hội Presbyterian, Do Thái giáo bảo thủ, Giáo hội Thống Nhất Canada...
Trước khi công nhận hôn nhân đồng giới, nhiều nước đã có luật cho các cặp đồng tính đăng ký sống chung gọi là kết hợp dân sự, quy định quyền lợi và bổn phận của họ như Đan mạch từ năm 1989,, Na Uy năm 1993.
Hiện tại, đã có 23 quốc gia chính thức công nhận hôn nhân đồng giới. Các quốc gia gần đây nhất hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới là Ireland vào tháng 10 năm 2015 và Colombia vào tháng 04 năm 2016.
== Nghiên cứu ==
=== Tổ chức ủng hộ ===
Từ ngày 26/06/2014, Liên Hợp Quốc đã chính thức công nhận quyền kết hôn đồng tính với hơn 43.000 nhân viên thuộc tổ chức này trên toàn cầu, bao gồm các hình thức "hôn nhân" và "kết hợp dân sự" đồng tính. Trước kia, tình trạng hôn nhân của nhân viên Liên Hiệp quốc được xác định bởi quốc tịch của họ, tuy nhiên kể từ đây, Liên Hiệp quốc sẽ công nhận pháp lý đối tất cả các cặp vợ chồng đồng tính đã thực hiện kết hôn tại nước mà hôn nhân đồng giới là hợp pháp, không phân biệt quốc tịch của họ. Tổng thư ký Liên Hợp Quốc Ban Ki-moon tuyên bố: "Quyền con người là sứ mệnh cốt lõi của Liên Hiệp Quốc. Tôi rất tự hào khi đứng lên vì sự bình đẳng của tất cả nhân viên, và tôi cũng kêu gọi tất cả các quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc hãy đoàn kết lại để loại trừ hội chứng kỳ thị đồng tính và những sự phân biệt đối xử mà chắc chắn nó không thể được chấp nhận tại nơi đây".
.
Ngoài ra, Liên Hiệp Quốc đã có nhiều hành động thúc đẩy việc hợp pháp hoá hôn nhân đồng giới và các quyền đối với người đồng tính, các xu hướng tình dục thiểu số khác tại các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới. Vào tháng 4/2011, Liên Hiệp Quốc đã phối hợp với Tổ chức Y tế thế giới (WHO) xuất bản một tài liệu có tựa đề "Phát ngôn của Liên hiệp quốc về giải quyết vấn đề phân biệt đối xử trên cơ sở thiên hướng tình dục và bản sắc giới". Vào tháng 9/2012, Liên hiệp quốc in một ấn phẩm gồm 60 trang về vấn đề "thiên hướng tình dục và bản sắc giới trong luật nhân quyền quốc tế" như một cẩm nang giúp các quốc gia hiểu rõ hơn bản chất các nghĩa vụ của mình đồng thời hướng dẫn các bước cần thiết để họ thực hiện xây dựng luật và chính sách đảm bảo các quyền cơ bản cho những người đồng tính, song tính và chuyển giới. Vào Ngày quốc tế chống kỳ thị, phân biệt đối xử với người đồng tính, song tính và chuyển giới (ngày 17 tháng 5 hàng năm), hầu hết các cơ quan của Liên Hiệp quốc đều đánh dấu kỷ niệm ngày này với các sự kiện cụ thể.
Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ (American Psychological Association, APA) - tổ chức nghiên cứu chuyên nghiệp về tâm lý học lớn nhất thế giới (với hơn 137.000 chuyên gia ngành tâm lý) đã tuyên bố trong Nghị quyết bình đẳng hôn nhân cho người đồng tính ngày 03 tháng 05 năm 2011:
Đồng tính luyến ái là một biểu hiện bình thường của thiên hướng tình dục con người mà không gây trở ngại cố hữu nào để có thể tạo lập một cuộc sống hạnh phúc, khỏe mạnh và hiệu quả, gồm cả khả năng tạo lập mối quan hệ bền vững với một người cùng giới, cũng như nuôi dạy con cái tốt. Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ ủng hộ bình đẳng hôn nhân đầy đủ cho các cặp vợ chồng đồng tính, phản đối các chính sách, pháp luật phân biệt đối xử với họ. Hiệp hội cũng kêu gọi các chính phủ liên bang mở rộng công nhận đầy đủ hôn nhân đồng giới. Hiệp hội khuyến khích các nhà tâm lý học, khoa học và các chuyên gia khác tiến hành nghiên cứu nhằm nâng cao sự hiểu biết của dân chúng về đồng tính và song tính, cũng như đẩy mạnh các biện pháp can thiệp và giáo dục công chúng nhằm giảm bớt thành kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử. Hiệp hội sẽ tiếp tục làm việc với các cơ quan chính phủ, các tổ chức xã hội để thúc đẩy nghiên cứu và can thiệp để cải thiện sức khỏe và phúc lợi của người đồng tính và song tính
Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ đã ủng hộ mạnh mẽ cho quyền bình đẳng đầy đủ cho những người LGBT trong gần 35 năm, trên cơ sở các nghiên cứu khoa học xã hội về khuynh hướng tình dục. APA đã hỗ trợ lợi ích hợp pháp cho các cặp vợ chồng đồng tính từ năm 1997 và quyền kết hôn đối với các cặp vợ chồng đồng tính từ năm 2004. APA đã thông qua nhiều báo cáo chính sách, vận động sửa đổi Luật hôn nhân liên bang, nộp báo cáo tóm tắt hỗ trợ hôn nhân đồng tính tại nhiều bang của Hoa Kỳ...
Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ (American Psychiatric Association, APA) - tổ chức nghiên cứu chuyên nghiệp về tâm thần học lớn nhất thế giới (với hơn 36.000 bác sĩ tâm thần học) đã nêu trong Tuyên bố về hỗ trợ pháp lý công nhận hôn nhân đồng giới vào tháng 5 năm 2005:
Cam kết hôn nhân bền vững và các mối quan hệ gia đình là nền tảng của xã hội hỗ trợ con người trước những thách thức của cuộc sống, bao gồm cả bệnh tật và mất mát. Các cặp đôi đồng tính trải nghiệm nhiều phân biệt đối xử có thể ảnh hưởng xấu đến sự ổn định của các mối quan hệ và sức khỏe tâm thần của họ. Con cái của các cặp đồng tính chưa được công nhận pháp lý cũng không có sự bảo vệ tương tự như hôn nhân dân sự đã tạo cho con cái của các cặp vợ chồng khác giới. Việc từ chối công nhận pháp lý của hôn nhân dân sự cũng để lại hậu quả ngày càng có nhiều người lớn tuổi trong các mối quan hệ đồng tính đối mặt với các vấn đề sức khỏe liên quan đến tuổi và vấn đề tài chính khi về già... Vì lợi ích của việc duy trì và phát huy sức khỏe tâm thần, Hiệp hội Tâm thần học Hoa Kỳ ủng hộ và hỗ trợ công nhận pháp lý hôn nhân cùng giới với tất cả các quyền, lợi ích và trách nhiệm bằng hôn nhân hợp pháp, và phản đối việc hạn chế các quyền, lợi ích, và trách nhiệm tương đương này.
Hiệp hội Xã hội học Hoa Kỳ (American Sociological Association, ASA) - tổ chức nghiên cứu chuyên nghiệp về xã hội học lớn nhất thế giới (với hơn 14.000 nhà xã hội học) đã tuyên bố trong nghị quyết của mình:
Không có bằng chứng cho thấy con cái của các cha mẹ cùng giới hay khác giới là khác nhau về hạnh phúc. Thật vậy, sự ổn định lớn hơn được cung cấp bởi hôn nhân cho các cặp đồng tính cũng như các bậc cha mẹ khác giới có thể là một tài sản cho các con mình. Sửa đổi hiến pháp định nghĩa hôn nhân là giữa một người nam và một người phụ nữ là cố tình phân biệt đối xử chống lại người đồng tính nữ và đồng tính nam cũng như con cái của họ bằng cách từ chối truy cập đến các biện pháp bảo vệ, quyền lợi và trách nhiệm mở rộng tự động cho các cặp vợ chồng kết hôn... Chúng tôi tin rằng sự biện minh chính thức về việc sửa đổi hiến pháp được đề xuất dựa trên thành kiến hơn là nghiên cứu thực nghiệm. Các nghiên cứu xã hội học đã nhiều lần chỉ ra rằng sự bất bình đẳng gây phương hại đến lợi ích xã hội. Hiệp hội Xã hội học Hoa Kỳ cực lực phản đối việc sửa đổi hiến pháp được đề xuất định nghĩa hôn nhân là giữa một người nam và một người nữ.
Hiệp hội Nhân chủng học Hoa Kỳ (American Anthropological Association, AAA) - tổ chức lớn nhất thế giới của các nhà nghiên cứu nhân chủng học với gần 10.000 thành viên, tuyên bố vào tháng 3 năm 2004:
Những kết quả trong hơn một thế kỷ qua của các nghiên cứu nhân chủng học về mô hình gia đình, các mối quan hệ về gia đình, thân tộc và các nền văn hoá qua các thời kỳ, không cung cấp một hỗ trợ nào cho quan điểm rằng sự văn minh và trật tự xã hội bền vững phụ thuộc vào mô hình hôn nhân là một tổ chức độc quyền dành cho tình dục khác giới. Thay vào đó, các nghiên cứu nhân chủng học đã hỗ trợ kết luận rằng một mô hình đa dạng các kiểu gia định, bao gồm cả gia đình xây dựng dựa trên quan hệ đồng giới, có thể đóng góp cho việc xây dựng xã hội vững mạnh và nhân văn. Hiệp hội Nhân chủng học Hoa Kỳ cực lực phản đối hôn nhân hạn chế chỉ dành cho các cặp dị tính.
Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics, viết tắt: AAP) kết luận vào năm 2006, trong một bản phân tích công bố trên Tạp chí Nhi khoa:
Có nhiều bằng chứng cho thấy không có mối quan hệ giữa thiên hướng tình dục của cha/mẹ với các yếu tố tình cảm, tâm lý và cách cư xử của một đứa trẻ... chứng tỏ không có rủi ro đối với trẻ em lớn lên trong một gia đình với cha/mẹ là đồng tính. Những người lớn tận tâm và biết cách nuôi dạy, cho dù họ là nam hay nữ, đồng tính hay dị tính, đều có thể là những bậc cha mẹ tốt. Quyền lợi và sự bảo vệ của hôn nhân dân sự có thể làm cho những gia đình như vậy thêm vững mạnh.
Học viện trẻ vị thành niên và tâm thần học Hoa Kỳ (American Academy of Child & Adolescent Psychiatry, viết tắt (AACAP) đã nêu trong tuyên bố chính sách của mình::
Không có bằng chứng cho thấy hoặc hỗ trợ rằng cha mẹ là người đồng tính hay là có nguy cơ cao hoặc thiếu kỹ năng làm cha mẹ hơn khi so sánh với các cặp cha mẹ khác giới. Không có bằng chứng nào đáng tin cậy cho thấy rằng thiên hướng tình dục của cha mẹ có ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển của trẻ em. Cá nhân những người đồng tính, song tính hay chuyển giới phải đối mặt với sự giám sát chặt chẽ hơn so với những người dị tính liên quan đến các quyền lợi của họ hoặc trở thành cha mẹ. Các nghiên cứu đã chứng minh trẻ em được nuôi dưỡng bởi các cha mẹ đồng tính không có gì khác biệt so với trẻ em của cha mẹ dị tính về việc phát triển các vấn đề tình cảm hoặc hành vi. Học viện trẻ em và tâm thần học Hoa Kỳ phản đối bất kỳ sự phân biệt nào dựa trên khuynh hướng tình dục hoặc giới tính đối với cá nhân liên quan đến quyền lợi của họ như giám hộ, nuôi dưỡng, hoặc cha mẹ nuôi.
Hiệp hội tâm lý học Canada (Canadian Psychological Association, viết tắt: CPA) khẳng định vào năm 2006:
Các tài liệu (bao gồm tài liệu về những yếu tố cơ sở của hôn nhân đồng giới) chỉ ra rằng tình trạng tài chính, tâm lý và thể chất của các bậc cha mẹ được tăng cường bởi hôn nhân và trẻ em được hưởng lợi từ cha mẹ có hôn nhân được công nhận pháp lý... Như đã nêu trong báo cáo năm 2013 của CPA, các yếu tố gây stress ở các cặp đồng tính nam, người đồng tính nữ và con cái của họ là kết quả của các cách thức mà xã hội đối xử với họ hơn vì bất kỳ thiếu sót nào về mô hình gia đình. CPA quả quyết rằng trẻ em được hưởng lợi khi mối quan hệ của hai người nuôi dạy chúng được công nhận và ủng hộ bởi những tổ chức xã hội. Các nghiên cứu tâm lý của CPA kết luận rằng con cái của cha mẹ đồng tính không khác biệt với con cái cha mẹ khác giới về phát triển tâm lý, phát triển giới tính cũng như giới tính của họ, trẻ em lớn lên từ các cặp cha mẹ đồng tính không thể hiện bất kỳ sự khác biệt đáng kể nào so với các cặp cha mẹ khác giới. CPA tiếp tục khẳng định rằng trẻ em được hưởng lợi từ sự hạnh phúc đó kết quả từ khi mối quan hệ của cha mẹ được công nhận và hỗ trợ của các tổ chức xã hội.
Hiệp hội tâm lý - xã hội học Australia (The Australian Psychological Society, APS) - tổ chức của các nhà tâm lý và xã hội học tại Úc với hơn 20.000 thành viên, trong kiến nghị gửi Thượng viện ban hành Luật Bình đẳng Hôn nhân sửa đổi Bill 2010 đã tuyên bố:
Không có cơ sở khoa học cho một khẳng định rằng đồng tính nữ, đồng tính nam, lưỡng tính, và những người chuyển giới là ít phù hợp để kết hôn hay để trở thành cha mẹ của những trẻ em khỏe mạnh và được nuôi dạy tốt như ở những người dị tính. APS hỗ trợ bình đẳng hôn nhân đầy đủ cho tất cả mọi người, bất kể giới tính và thiên hướng tình dục, về các khía cạnh quyền con người, sức khỏe và an sinh xã hội... APS đã có các kiến nghị: Chính phủ Úc sửa đổi luật để loại bỏ phân biệt đối xử dựa trên khuynh hướng tình dục và giới tính; Các chính quyền bang và lãnh thổ Úc bãi bỏ tất cả các biện pháp phủ nhận cặp vợ chồng đồng tính, bao gồm cả những người chuyển giới và lưỡng tính đồng thời ban hành luật để cung cấp bình đẳng hôn nhân đầy đủ cho các cặp vợ chồng đồng tính; Chính phủ Úc mở rộng công nhận đầy đủ quyền kết hôn hợp pháp cặp vợ chồng đồng tính, tương đương tất cả các quyền, lợi ích và trách nhiệm ở các cặp vợ chồng khác giới kết hôn hợp pháp; Nhà nước và chính quyền lãnh thổ Úc tăng cường ban hành Luật chống phân biệt đối xử để bảo vệ tất cả người dân Úc trước phân biệt đối xử trên cơ sở định hướng tình dục và giới tính.
Đại học Tâm thần Hoàng gia Vương quốc Anh tuyên bố:
Người đồng tính là và nên được xem là những thành viên giá trị của xã hội, những người có chính xác các quyền và nghĩa vụ hoàn toàn tương tự như tất cả những công dân khác. Nó bao gồm quyền bình đẳng trong việc tiếp cận với chăm sóc sức khỏe, các quyền và trách nhiệm tham gia vào một quan hệ đối tác/hôn nhân, quyền và trách nhiệm được sinh đẻ và nuôi dạy con cái...
=== Tổ chức phản đối ===
Nhiều tổ chức khác thì có quan điểm phản đối hôn nhân đồng tính do e ngại các hệ lụy xã hội mà nó gây ra. Ví dụ, như Đảng Cộng hòa (Hoa Kỳ) luôn duy trì lập trường chống lại hôn nhân đồng tính. Năm 2013, Đảng đã bỏ phiếu nhất trí tái khẳng định cam kết sẽ duy trì thể chế hôn nhân giữa một nam và một nữ tại Hoa Kỳ. Tại Nghị quyết năm 2012 của Đảng Cộng hòa khẳng định:
Thể chế hôn nhân là nền tảng của xã hội dân sự, nó sẽ quyết định sự thành công của quốc gia. Kinh nghiệm và nghiên cứu khoa học xã hội luôn cho thấy hôn nhân truyền thống là tốt nhất cho trẻ em: tăng tỷ lệ đỗ đại học, có thể chất và tình cảm lành mạnh, ít nghiện ma túy hoặc rượu, phạm tội hoặc mang thai ngoài hôn nhân. Việc phá vỡ mô hình gia đình sẽ dẫn đến lãng phí tài chính và tăng sự kiểm soát của chính phủ... Chúng tôi tin rằng hôn nhân, sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ phải được tôn trọng như là tiêu chuẩn quốc gia, một mục tiêu để khuyến khích thông qua luật quản lý hôn nhân.
Hội đồng nghiên cứu gia đình, một tổ chức với quan điểm "Tin tưởng Thiên Chúa là tác giả của cuộc sống, của quyền tự do và gia đình" và hoạt động nhằm "thúc đẩy thế giới quan Kitô giáo làm cơ sở cho một xã hội công bằng, tự do và ổn định", tin rằng hôn nhân và gia đình là nền tảng của nền văn minh và đức hạnh xã hội. Hội đồng nghiên cứu gia đình tham gia tranh luận công khai và đưa ra các chính sách công nhằm tôn vinh phẩm giá con người và duy trì các tổ chức hôn nhân và gia đình đã tuyên bố:
Hội đồng nghiên cứu gia đình cho rằng hành vi tình dục đồng giới là có hại cho những người tham gia vào nó và cho xã hội nói chung, và không bao giờ nên được chấp nhận. Đó là một quan niệm phi tự nhiện, và như vậy sẽ liên quan đến các tác động tiêu cực tới sức khỏe thể chất và tâm lý. Trong khi nguyên nhân của hấp dẫn đồng tính là rất phức tạp, hiện không có bằng chứng thuyết phục rằng đồng tính là do di truyền hay bẩm sinh. Chúng tôi phản đối những nỗ lực của các nhà hoạt động đồng tính yêu cầu đồng tính luyến ái được chấp nhận là tương đương với tình dục khác giới trong pháp luật, trong các phương tiện truyền thông, và trong các trường học. Việc chấp nhận "hôn nhân" giữa 2 người cùng giới tính sẽ tạo nên sự định nghĩa lại khái niệm căn bản và làm sai lệch mô hình hôn nhân.
Hiệp hội gia đình Hoa Kỳ, một tổ chức chuyên nghiên cứu các chính sách gia đình, từng tự xác định "Là một tổ chức Cơ đốc giáo thúc đẩy đạo đức Kinh Thánh" đã tuyên bố:
Về phong trào đồng tính, đây chỉ là biểu hiện mới nhất và cơ bản nhất của cuộc cách mạng tình dục trong 40 năm qua và sẽ dẫn đến việc bình thường hóa của nhiều hành vi lệch lạc hơn. Thúc đẩy phong trào hôn nhân đồng tính sẽ làm suy yếu tổ chức gia đình và theo đó là nền tảng của tất cả các xã hội.... Các chương trình đồng tính làm nảy sinh hàng loạt các hệ lụy... AFA phản đối những nỗ lực để đưa phong trào đồng tính hiện diện trong các trường học, chính phủ, doanh nghiệp và nơi làm việc thông qua luật pháp, chính sách công cộng và phương tiện truyền thông."
Năm 2013, tại Đài Loan đã diễn ra cuộc biểu tình của hàng chục ngàn người phản đối hôn nhân đồng giới. Họ cho rằng động thái này sẽ đẩy xã hội rơi vào tình trạng hỗn loạn. Nhóm "Vì hạnh phúc của thế hệ mai sau" - một trong những nhóm tổ chức cuộc biểu tình - tuyên bố rằng việc cho phép đồng tính kết hôn và nhận con nuôi sẽ khuyến khích "tình dục thiếu kiểm soát", làm suy yếu giá trị gia đình truyền thống và gây ra vấn đề dễ nhầm lẫn giới tính ở trẻ em. Nhà lập pháp Lai Shyh-bao của Quốc Dân Đảng nói trước đám đông: "Chúng ta phải đứng lên nói "không" để bảo vệ giá trị gia đình, chính sách này có thể tạo ra một tác động cực kỳ nghiêm trọng, ảnh hưởng đến dân số cũng như công cuộc giáo dục con cái chúng ta." Một đại diện khác cũng của Quốc Dân Đảng là Ting Shou-chung nói rằng ông tôn trọng người đồng tính nhưng "gia đình được xây dựng từ một người nam với một người nữ vẫn là một yếu tố quan trọng cho sự ổn định của xã hội và không nên thay đổi điều này." Nhiều diễn giả tại cuộc biểu tình không ngừng cáo buộc rằng đề xuất hợp thức hóa hôn nhân đồng giới là để mở đường cho tình dục tự do, loạn luân và quan hệ tình dục tập thể.
Năm 2013, Croatia đã thông qua Hiến pháp mới, theo đó quy định cấm hôn nhân đồng tính đã được thông qua với tỷ lệ 65,87% cử tri ủng hộ. Đảng Dân chủ Nhân dân Thiên Chúa giáo Hungary (KDNP) đã hoan nghênh kết quả trên. Theo KDNP, đó là chiến thắng của "giá trị Kitô giáo châu Âu". Vlado Košić đã nhấn mạnh rằng người Croatia là những người Công giáo biết trân quý truyền thống mà họ đã sống trong nhiều thế kỷ.
Tổ chức quốc gia về hôn nhân (Hoa Kỳ) (National Organization for Marriage) đã giúp chính phủ Nga thông qua Đạo luật chống tuyên truyền đồng tính năm 2013. Chủ tịch tổ chức là Brian Brown tin rằng những người LGBT nên dừng ngay việc nhận con nuôi và ngay sau đó, Nga đã ban hành một đạo luật người đồng tính cấm nhận con nuôi. Brian Brown tiết lộ ông đã vận động hành lang chống lại dự luật hôn nhân bình đẳng tại Pháp (nơi các cuộc biểu tình bạo lực nổ ra). Brown gọi Nga là một ví dụ tiên phong, và ông hi vọng phong trào này phát triển trên toàn thế giới. Brown đã gom các lập luận của mình vào một nhu cầu phải bảo vệ trẻ em, và là luật "chống tuyên truyền đồng tính" của Nga cũng được đóng khung theo cách đó, khiến cho bất kỳ ai trao đổi về đồng tính luyến ái với một trẻ vị thành niên cũng trở thành bất hợp pháp. Trước Quốc hội Nga, Brian Brown phát biểu
Ngay bây giờ các bạn đang có cuộc chiến về nhận con nuôi, nhưng vấn đề nhận con nuôi không thể tách rời từ các vấn đề hôn nhân. Nếu các bạn không bảo vệ các giá trị văn hóa của đất nước mình, tôi e rằng chúng ta sẽ nhìn thấy sự phát triển rất tiêu cực trên toàn thế giới. Trong một số trường học Hoa Kỳ, trẻ em đang nói chuyện với nhau về tình dục đồng tính, nhưng trong thực tế, các em không nên tìm hiểu về điều đó cho đến một độ tuổi nhất định. Chúng ta cần đoàn kết với nhau, chúng ta cần bảo vệ con em chúng ta. Mọi trẻ em đều có quyền có cha mẹ bình thường: Một người cha và một người mẹ đúng nghĩa
=== Quan điểm khác của một số cá nhân ===
Việc công nhận hôn nhân đồng tính hay không là chủ đề tranh cãi tại nhiều nơi trên thế giới. Những người ủng hộ cho rằng việc công nhận hôn nhân đồng tính là thể hiện sự bình đẳng và đảm bảo quyền con người, và việc công nhận hôn nhân đồng giới mang lại nhiều lợi ích cho xã hội. Ngược lại, những người phản đối hôn nhân đồng tính thì lo ngại những hệ lụy mà nó gây ra cho xã hội.
==== Ủng hộ ====
Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc Ban ki-moon đã phát biểu: "Văn hóa truyền thống không nên là một trở lực đối với việc thực hiện nhân quyền cho mọi người trên cơ sở xu hướng tình dục. Vì vậy người đồng tính, song tính và chuyển giới cũng nên có quyền được kết hôn như người dị tính và không thể sử dụng văn hóa, truyền thống làm lý do từ chối quyền cơ bản này đối với những người thiểu số tính dục".
Ngày 06/3/2015, Chính Quyền của tổng thống Obama đã chính thức ủng hộ hôn nhân đồng giới bằng việc gửi kiến nghị ủng hộ vấn đề này lên Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ. Luật sư Donald B. Verrilli - đại diện cho chính quyền ông Obama, đã phát biểu việc cấm đoán hôn nhân đồng giới ở một số bang là vi phạm hiến pháp nước Mỹ, và không có lý do thỏa đáng nào để biện minh cho sự phân biệt đó. Bộ trưởng Bộ tư pháp Mỹ cũng cho rằng sự bình đẳng trong vấn đề hôn nhân là ý tưởng đã tới lúc chín muồi. Bản thân Ông Omaba trong cuộc phỏng vấn với ABC News, đã tuyên bố ủng hộ hôn nhân đồng tính: "Tôi cho rằng từ góc độ cá nhân, một việc rất quan trọng với tôi là xúc tiến và khẳng định việc những cặp đôi đồng giới nên được phép kết hôn". Trong một bài diễn văn khác năm 2013, ông khẳng định người đồng giới cũng cần được đối xử giống như những người khác theo pháp luật. Sự vận động để hôn nhân đồng tính được công nhận trên toàn nước Mỹ là một nỗ lực thực hiện trong quá trình kéo dài trong suốt gần 3 thập kỷ, từ năm 1996 của Ông Obama. Bà Hillary Clinton, cựu Ngoại trưởng Hoa Kỳ phát biểu ngày 18/1/2013: Những người Mỹ LGBT là những công dân đầy đủ và bình đẳng, và xứng đáng được hưởng các quyền công dân, bao gồm cả kết hôn. Đó là lý do tại sao tôi ủng hộ hôn nhân cho các cặp vợ chồng đồng tính, nam cũng như nữ. Cá nhân tôi ủng hộ vấn đề này, và như là một vấn đề của chính sách và pháp luật, trong bối cảnh nỗ lực ngày càng rộng rãi để thúc đẩy bình đẳng và cơ hội cho những người Mỹ LGBT và tất cả người Mỹ.
Tiến sĩ Nguyễn Thu Nam (Viện Chiến lược và chính sách y tế) cho rằng hôn nhân đồng giới có tính bình đẳng cao vì hai người ít có sự phân công lao động hay trách nhiệm theo giới. Nghiên cứu trong thời gian ba năm ở Vermont, Mỹ về chất lượng cuộc sống ở các cặp đồng tính sống chung có đăng ký và các cặp kết hôn dị tính cho thấy, các cặp đồng tính sống chung có đăng ký có mối quan hệ hài hòa hơn, gần gũi nhau và ít xảy ra xung đột hơn so với các cặp kết hôn thông thường.
Thị trưởng thành phố New York Michael Bloomberg nhận định: "Bình đẳng Hôn nhân đã làm thành phố của chúng ta cởi mở hơn, toàn diện hơn và tự do hơn. Nó cũng đã giúp tạo ra nhiều công ăn việc làm và hỗ trợ nền kinh tế của chúng ta."
Thị trưởng thành phố San Francisco Gavin Newsom khẳng định: "Bình đẳng hôn nhân là vấn đề về phẩm giá của con người, quyền của con người. Bạn thích hay không thích cũng vậy thôi". "Chúng ta chưa thể dừng lại cho đến khi mọi người Mỹ đều có quyền bình đẳng như nhau và được tôn trọng như nhau."
==== Phản đối ====
[[Thể loại:Trang cần được biên tập lại thuộc chủ đề Lý do: Quá nhiều phát biểu quan điểm thiểu số (POV) trái với quan điểm đồng thuận của hầu hết các tổ chức khoa học lớn nhất được khai triển dài lê thê. Cần được lược bớt hoặc đưa vào bài riêng]]
Tiến sĩ David Blankenhorn cho rằng: để phát triển tốt về tâm lý, trẻ em cần phải có một gia đình với một người mẹ và một người cha. Trong cuốn sách Tương lai của hôn nhân, ông viết:
Luật pháp là một giáo viên tuyệt vời, và nếu những người ủng hộ hôn nhân đồng tính thành công, trẻ em sẽ bị trục xuất khỏi bài học về hôn nhân. Chấp nhận hôn nhân đồng tính sẽ khiến cho các thế hệ tương lai nghĩ rằng hôn nhân không phải là vì trẻ em mà chỉ vì sự gắn kết quan hệ. Khi hôn nhân không còn gì nhiều hơn sự gắn kết quan hệ, ít người sẽ kết hôn để có con... Người dân vẫn sẽ sinh con, tất nhiên, nhưng rất nhiều trong số trẻ em là con ngoài giá thú. Đó là một thảm họa cho tất cả mọi người. Trẻ em bị tổn thương vì thiếu sự nuôi nấng của cha hoặc mẹ. Xã hội bị tổn thương vì sẽ bắt đầu một chuỗi các tác động tiêu cực dẫn đến nghèo đói, tội phạm, các chi phí phúc lợi cao hơn dẫn đến bộ máy nhà nước phình to hơn, thuế cao hơn, và một nền kinh tế trì trệ hơn.
Tiến sĩ Richard Kay dẫn số liệu tại Bắc Âu cho biết:
Hệ quả của hôn nhân đồng tính thể hiện rõ ở các nước Bắc Âu. Ở Na Uy, nơi hợp pháp hôn nhân đồng tính kể từ đầu thập niên 1990. Trên toàn Na Uy, số trẻ em ngoài giá thú đã tăng khoảng 50% trong thập kỷ đầu tiên của hôn nhân đồng tính.
Nhà nhân chủng học Stanley Kurtz viết:
Chấp nhận hôn nhân đồng tính đã làm suy yếu thể chế hôn nhân và dẫn đến tình hình hiện nay tại Bắc Âu: hôn nhân truyền thống hiếm hoi hơn, sinh con ngoài giá thú phổ biến hơn, và tan vỡ gia đình tăng vọt. Trong bối cảnh nước Mỹ, điều này sẽ là một thảm họa. Việc chấp nhận hôn nhân đồng tính và sự xói mòn của hôn nhân truyền thống luôn song hành ở các quốc gia, truyền thống hôn nhân là tàn lụi nhất ở bất cứ nơi nào hôn nhân đồng tính là hợp pháp
Hôn nhân đồng tính không thể đem lại cho trẻ em cả cha lẫn mẹ. Nếu hôn nhân không phải là vì trẻ em, vậy thứ gì là vì trẻ em? Trái ngược với những gì các nhà hoạt động đồng tính hô hào, nhà nước không xác nhận quyền kết hôn chỉ vì mọi người có tình cảm với nhau. Nhà nước công nhận hôn nhân chủ yếu là vì lợi ích của hôn nhân cho trẻ em và xã hội (nếu không, chúng ta sẽ phải công nhận cả hôn nhân cận huyết hoặc chế độ đa thê). Xã hội không nhận được lợi ích gì từ hôn nhân đồng tính. Tương lai của trẻ em và một xã hội văn minh phụ thuộc vào hôn nhân bền vững giữa nam và nữ. Đó là lý do tại sao, bất kể những gì bạn nghĩ về đồng tính luyến ái, hai loại quan hệ không bao giờ nên được coi là tương đương về pháp lý.
Toni Meyer, nhà nghiên cứu cao cấp của Hội đồng Chính sách gia đình bang New Jersey (Mỹ), nhấn mạnh rằng sự bất ổn định gia đình là một "dấu hiệu đặc trưng" của hôn nhân đồng tính. Kết quả là chính phủ cần chi nhiều trợ cấp hơn, chi phí tòa án để xử ly hôn cao hơn, trẻ em phạm tội phổ biến hơn, và ngày càng nhiều thanh niên bị kích thích và chấp nhận thử nghiệm hành vi tình dục đồng tính. Ông cho rằng:
(Hôn nhân đồng tính) sẽ ảnh hưởng lớn nhất lên vai trẻ em. Đó là những nạn nhân vô tội của một thử nghiệm xã hội khiến đạo đức và thậm chí là cả thể chất (của trẻ em) đã bị phá vỡ trong cái gọi là "Tự do, bình đẳng và tiến bộ". Từ năm 1994, số người đồng tính nam đã tăng 18%, và số lượng đồng tính nữ còn tăng tới 157%. Điều này cho thấy những yếu tố văn hóa có tác động mạnh mẽ trong việc khuyến khích các hành vi đồng tính, và ít nhất là gián tiếp, nó làm suy yếu toàn bộ lý thuyết về việc "đồng tính là bẩm sinh"... Với cùng những cách thức, hôn nhân đồng tính không khác hơn chế độ đa thê và không mang lại lợi ích gì cho trẻ em hoặc xã hội giống như hôn nhân truyền thống mang lại.".
Nhà nghiên cứu Dana Mack cho rằng: "Hôn nhân không nên được mở rộng cho các cặp đồng tính bởi quan hệ đồng tính không thể giúp sinh sản. Hôn nhân là cách thức của nhân loại mà mục đích cốt lõi là để đoàn kết các thành phần sinh học, xã hội và pháp lý của cha mẹ vào cam kết lâu dài. Hôn nhân nói với một đứa trẻ rằng: một người đàn ông và một người phụ nữ sẽ ở đó để yêu thương và dạy dỗ bạn. Trong ý nghĩa này, hôn nhân là một món quà mà xã hội ban cho đứa trẻ. Cho phép hôn nhân đồng tính sẽ làm chuyển đổi mục đích của hôn nhân: từ nghĩa vụ sinh đẻ và nuôi dưỡng trẻ em trở thành ham muốn ích kỷ của người lớn."
Thomas Peters, giám đốc văn hóa tại Cơ quan Hôn Nhân Quốc gia Hoa Kỳ, cho rằng công nhận hôn nhân đồng tính sẽ làm hôn nhân suy yếu:
"Khi bạn đã cắt lìa định chế hôn nhân khỏi gốc rễ sinh học của nó, thì chẳng còn gì để chặn đứng việc tái định nghĩa nó cho phù hợp với đòi hỏi của các nhóm quyền lợi khác nhau. Các hậu quả phụ này đã xuất hiện tại nhiều quốc gia đã hợp pháp hôn nhân đồng tính. Tại Brazil và Hà Lan, các quan hệ tay ba (một chồng hai vợ) gần đây đã được hợp thức hóa. Ở Canada, một người đàn ông đa thê đã phát động chiến dịch đòi luật pháp thừa nhận chế độ quần hôn. Ngay ở Mỹ, bang California cũng đã thông qua một dự luật để hợp pháp hóa các gia đình gồm tới ba hay bốn cha mẹ. Sinh sản là lý do chính đòi hôn nhân dân sự phải được giới hạn giữa hai người. Khi tình yêu tính dục thay thế cho trẻ em làm mục đích chính của hôn nhân, thì các giới hạn hôn nhân đâu còn nghĩa lý gì với thế hệ tương lai của loài người nữa.
Nhà đạo đức học Úc, Giáo sư Margaret Somerville quan sát thấy rằng nhu cầu cho hôn nhân đồng tính "buộc chúng ta phải lựa chọn giữa ưu tiên cho quyền của trẻ em hoặc quyền của người lớn đồng tính. Những tuyên bố của người đồng tính luôn được ưu tiên với các phương tiện truyền thông, được tung hô là tiến bộ và vì "quyền bình đẳng" của người lớn. Nhưng sau đó, ai sẽ bảo vệ quan điểm của trẻ em?" Frank Brennan, Chủ tịch của Ủy ban Tư vấn Nhân quyền quốc gia Úc, nói về hôn nhân đồng giới và quyền của trẻ em:
Sự bình đẳng của người lớn không nên khiến trẻ em trong tương lai bị tước đi cơ hội để được sinh ra bởi một người đàn ông và một người phụ nữ. Quyền của các cặp đồng tính bình đẳng không thể lớn hơn quyền của trẻ em trong tương lai. Đây là trung tâm của sự phản đối hôn nhân đồng tính: chấp nhận cha mẹ đồng tính có nghĩa là trẻ em trong tương lai phải mất đi một người mẹ hay một người cha.
Hôn nhân là một kết hợp chất đúng theo Điều 16 của Tuyên Ngôn Quốc tế Nhân quyền: "quyền kết hôn và xây dựng gia đình". Hôn nhân đồng tính bao gồm cả việc công nhận quyền thành lập một gia đình bằng sinh sản nhân tạo - như đẻ thuê - và bất kỳ đứa trẻ được tạo ra trong đó sẽ không có khả năng có cả mẹ và cha.
Tất nhiên, có những đứa trẻ bất hạnh không thể có cả một người mẹ và một người cha, ví như cái chết hay sự ly dị của cha mẹ, nhưng đó không phải là điều chúng ta sẽ mong muốn, và nó không phải là thứ mà chính phủ gây ra cho đứa trẻ. Nhưng nếu Chính phủ chấp nhận hôn nhân đồng tính, đó sẽ là hành vi tước đoạt cha mẹ có chủ ý. Đó là hành vi phạm tội đối với trẻ em, và pháp luật trở thành công cụ buộc một đứa trẻ phải sống mà không có một người mẹ hoặc cha. Tình mẫu tử của con người sâu sắc nhất, nhưng mối quan hệ này sẽ bị bãi bỏ bởi "hôn nhân" của hai người đàn ông. Hôn nhân đồng tính cũng báo hiệu một sự mất phương hướng đau đớn khi những đứa trẻ được tạo ra bởi những người cha hiến tặng tinh trùng vô danh khi được sinh ra từ bà mẹ độc thân.
Ông Ryan Anderson, chuyên viên nghiên cứu về định chế và chính sách công của Mỹ tại Heritage Foundation cho rằng "Định nghĩa lại hôn nhân để trở thành một định chế vô giới tính như thế sẽ thay đổi cơ bản của hôn nhân. Nó làm cho mối quan hệ (hôn nhân) dựa vào những mong muốn của người lớn nhiều hơn là về những nhu cầu và quyền lợi của trẻ em" Người đứng đầu Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ đã đưa ra lời kêu gọi: "Bất kể những gì một đa số sít sao tại Tòa án Tối cao có thể tuyên bố tại thời điểm này trong lịch sử, bản chất của con người và hôn nhân vẫn không thay đổi và không thể thay đổi. Việc bắt buộc định nghĩa lại hôn nhân trên khắp đất nước là một lỗi lầm bi thảm, làm tổn hại đến lợi ích chung và những người dễ bị tổn thương nhất trong chúng ta, đặc biệt là trẻ em."
Trong khi đó, tiến sĩ Trayce Hansen cho biết: "Nghiên cứu từ 4 quốc gia khác nhau cho thấy rằng hành vi đồng giới không phải là cố định về mặt di truyền. Hành vi tình dục là dễ biến đổi, và môi trường xã hội (chuẩn mực văn hóa, pháp luật) có thể tác động vào nó... Khi Hoa Kỳ và các nước phương Tây khác ngày càng ủng hộ người đồng tính - cả về xã hội, chính trị, và luật pháp; thì có xu hướng ngày càng tăng về việc các cá nhân tham gia vào hành vi đồng tính. Xu hướng này sẽ tiếp tục nếu chúng ta chính thức hợp thức hóa hôn nhân đồng tính." Bà cho rằng:
"Hai người phụ nữ có thể là người mẹ tốt nhưng không ai có thể là một người cha hoàn hảo". Cha và mẹ, mỗi người một giới tính sẽ giúp cho trẻ em có cái nhìn toàn diện hơn về giới tính của bản thân, từ đó có suy nghĩ và hành động lành mạnh và cân bằng trong các mối quan hệ sau này, đó là điều được nhân loại đúc rút qua 5.000 năm. Hôn nhân đồng tính sẽ làm cho trẻ em bối rối về biểu hiện giới tính và vô tình khuyến khích những hành vi không đúng về giới tính ở trẻ vị thành niên. Mặc dù đồng cảm với những người đồng tính nhưng không nên vì sự đồng cảm đó mà biến trẻ em thành "chuột bạch" để rồi gây ra những thiệt hại nghiêm trọng cho xã hội.
Theo Kilian Melloy, trợ lý biên tập viên Nghệ thuật của EDGE Media Network, thì Trayce Hansen đã tìm cách bỏ qua những số lượng đảo các bằng chứng cho thấy rằng cha mẹ đồng tính không có ảnh hưởng xấu đến trẻ em, Hansen chỉ đơn giản cho rằng các tác giả của nghiên cứu này đã nói dối. Hansen đã tuyên bố rằng, "Hầu hết các nhà nghiên cứu tham gia vào các nghiên cứu về trẻ em của người đồng tính là tự tuyên bố", trong khi Hansen không đưa ra được bất kỳ một bằng chứng nào cho tuyên bố của mình. Tiến sĩ Thomas Marra đã viết một báo cáo bác bỏ những lập luận của Trayce Hansen trên "bốn điểm cơ bản", và kết luận rằng những lập luận của Hansen không dựa trên khoa học. Tiến sĩ Marra nói: "Bài viết Hansen đã may mắn khi được dán nhãn "quan điểm,' vì không một điều gì trong lập luận của cô ấy dựa trên khoa học tâm lý. Trong thực tế, toàn bộ bài viết đã dựa trên niềm tin và giá trị, rất ít có sự tham gia của kiến thức lý thuyết hoặc nghiên cứu. Tiến sĩ Mara nói thêm ""Không có bằng chứng khoa học rằng cha mẹ đồng tính là có hại. Hansen có thể không chấp thuận cha mẹ đồng tính như không có trong hệ thống niềm tin giá trị của cô ấy, nhưng cô nên đặt ra rõ ràng rằng điều này là dựa trên sở thích cá nhân của mình và thiên vị chứ không phải trên khoa học tâm lý mà cô đã nghiên cứu để có được"..
Nhà nghiên cứu Ryan Normandin của Đại học RMIT cho rằng:
Nếu ai phản đối việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, ý kiến của họ sẽ tự động bị phe đối lập coi là dựa trên cơ sở của sự thù ghét, sợ đồng tính, hoặc động cơ tiêu cực khác. Trên thực tế, có những lý do chính đáng tại sao hôn nhân đồng tính không nên được hợp pháp hóa.
Sự phản đối hôn nhân đồng tính mang một ý nghĩa tiêu cực vì những người ủng hộ đã đóng khung thành công vấn đề này thành một trong những "quyền bình đẳng". Theo logic này, nếu bạn phản đối hôn nhân đồng tính, bạn đang phản đối quyền bình đẳng cho tất cả mọi người. Nhưng có phải tất cả mọi người đều có quyền kết hôn với bất cứ ai mà họ muốn? Không; tiểu bang có luật điều chỉnh kết hôn, cấm anh em họ gần kết hôn, anh chị em ruột kết hôn, cha mẹ kết hôn với con cái, người kết hôn với động vật... và nhiều dạng cấm khác.
Tại sao chính phủ khuyến khích một số loại hôn nhân trong khi cấm loại hôn nhân khác? Lý do là nam và nữ, khi lập gia đình, có nhiều khả năng sinh sản, do đó đảm bảo sự duy trì xã hội. Các loại hôn nhân bị cấm vì lý do tương tự: con cháu của các gia đình này có nhiều khả năng bị còi cọc, do đó không thể tiếp tục sự phát triển của xã hội, hoặc khiến xã hội bị suy thoái.
Rõ ràng là, bởi thời điểm này, hôn nhân đồng tính rơi vào trường hợp này. Cặp đôi đồng tính không thể sinh sản, có nghĩa là không có lợi ích xã hội để công nhận hôn nhân của họ. Nhiều người sẽ cho rằng hạnh phúc của cặp đồng tính sẽ được tăng cường bởi hôn nhân đồng tính, do đó tạo ra một lợi ích xã hội. Điều này, trên thực tế, không phải là lý do. Về gia đình mà thiếu vắng người cha, một nghiên cứu của Đại học Canterbury do giáo sư Bruce J. Ellis tiến hành đã chỉ ra rằng "việc thiếu vắng người cha có liên quan chặt chẽ với nguy cơ quan hệ tình dục sớm và mang thai vị thành niên". Điều này có liên quan đến các cuộc tranh luận xung quanh hôn nhân đồng tính bởi vì, trong các cặp đồng tính nữ, trẻ em chắc chắn sẽ lớn lên mà không có người cha sinh học của trẻ, do đó làm tăng nguy cơ của các tác dụng không may. Các bằng chứng cho thấy rằng các trẻ em lớn lên có đầy đủ cả mẹ và cha là điều kiện thuận lợi nhất.
Hôn nhân đồng tính không phải là một vấn đề quyền công dân; vấn đề chính là có tồn tại lợi ích xã hội đủ để Chính phủ khuyến khích hôn nhân đồng tính hay không? Khi mà các cặp vợ chồng đồng tính không thể sinh sản và, trên thực tế, có tiềm năng gây nguy hiểm cao hơn cho trẻ em, chính phủ cần duy trì lập trường rằng hôn nhân chỉ diễn ra giữa 2 người khác giới.
== Sự phân công vai trò, sự gắn kết các thành viên trong gia đình đồng tính ==
Cục thống kê Austrarlia đã tiến hành một cuộc điều tra, kết quả thống kê cho thấy gia đình đồng tính có nhiều ưu điểm vượt trội hơn::
59% các cặp đồng tính nữ và 57% đôi đồng tính nam biết chia sẻ các công việc chung của gia đình trong khi chỉ có 38% các cặp vợ chồng dị tính làm được điều này.
Hơn 50% các cặp đồng tính có bằng cử nhân và đang làm việc với những chức vụ khá cao như quản lý hoặc chuyên gia trong một số lĩnh vực. Con số này ở những cặp đôi dị tính là 40%.
Về thu nhập, có khoảng 50% các cặp đồng tính ở Australia kiếm được hơn 1.000 USD trong một tuần.
Có khoảng 33.700 các cặp vợ chồng đồng tính và 6.300 đứa trẻ đang được nuôi dưỡng trong những gia đình này.
Các nhà nghiên cứu thuộc trường đại học Melbourne - Australia đã tiến hành khảo sát 500 trẻ em của 315 cặp đôi phụ huynh đồng tính và phát hiện số điểm của họ cao hơn 6% so với gia đình dị tính, trẻ em được nuôi nấng bởi các đôi đồng tính được đánh giá cao hơn về mặt sức khỏe nói chung lẫn sự gắn kết gia đình. Tiến sĩ Simon Crouch - trưởng nhóm nghiên cứu đã lý giải: "Có vẻ như mối quan hệ giữa phụ huynh và con cái trong các gia đình đồng tính thường rất tốt cho nên đã tạo ra những tác động tích cực đối với sức khỏe trẻ em. Cuộc nghiên cứu trước đây cũng cho thấy: Nếu so với các gia đình dị tính thì vai trò của phụ huynh trong những gia đình đồng tính thường bình đẳng hơn. Mỗi người sẽ đảm nhận vai trò phù hợp với kỹ năng của mình chứ không phải rơi vào những định kiến về giới. Ví dụ như mẹ là phải ở nhà và chăm sóc trẻ em trong khi cha đi ra ngoài kiếm tiền. Điều này dẫn đến một đơn vị gia đình hài hòa và kéo theo sức khỏe tốt và hạnh phúc hơn".
Một nghiên cứu gần đây của Đại học Massachusetts Amherst (Hoa Kỳ) đã so sánh 104 gia đình, trong đó gồm 50 gia đình khác giới, 29 gia đình đồng tính nam và 25 gia đình đồng tính nữ. Các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng trong các gia đình đồng tính, các hoạt động chăm sóc trẻ em đã được chia đồng đều hơn giữa hai người so với gia đình dị tính, sự phân công nhiệm vụ đã được chia sẻ nhiều hơn so với vai trò giới truyền thống
Nghiên cứu tiến hành trong ba năm ở bang Vermont - Hoa Kỳ về chất lượng cuộc sống lứa đôi của các cặp đôi đồng tính có đăng ký và các cặp đôi dị tính cho kết quả: các cặp đồng tính sống chung có đăng ký có mối quan hệ hài hòa hơn, gần gũi nhau và ít xảy ra xung đột hơn so với các cặp kết hôn giữa nam và nữ. Thực tế ở các nước Bắc Âu cho thấy, sau khi luật hôn nhân đồng giới được thông qua thì sự gắn bó của các cá nhân có tính lâu dài và giảm lây truyền các bệnh qua đường tình dục. Sau 5 năm từ khi Canada thông qua luật hôn nhân đồng giới, nghiên cứu trên một nhóm quần thể đăng ký kết hôn đầu tiên cho thấy các cặp đôi này có chỉ số thỏa mãn với cuộc sống chung tăng lên, lòng tự tin tăng lên và sự kỳ thị giảm đáng kể. Sự thay đổi này không chỉ diễn ra ở các cặp đăng ký sống chung mà còn cho cả cộng đồng những người đồng giới nói chung.
== Vấn đề bạo lực gia đình ==
Theo điều tra của chính phủ Mỹ, Bạo lực gia đình xuất hiện thường xuyên hơn ở những gia đình đồng tính hơn so với những gia đình thông thường. Điều tra nạn nhân Quốc gia Mỹ giai đoạn 1993-1999 báo cáo rằng 0,24% phụ nữ và 0,035% đàn ông đã lập gia đình là nạn nhân của bạo lực gia đình hàng năm gây ra bởi vợ/chồng họ, so với tỷ lệ 4,6% đàn ông và 5,8% phụ nữ đồng tính bị bạo hành bởi người đồng tính chung sống với họ
Trong năm 2013, CDC công bố kết quả của một nghiên cứu năm 2010 và thừa nhận rằng "ít người được biết về sự phổ biến về bạo lực tâm lý, bạo lực tình dục giữa đồng tính nữ, đồng tính, những người đàn ông và phụ nữ lưỡng tính". Báo cáo cho thấy tỷ lệ phải chịu bạo lực gia đình trong cuộc sống của các nhóm như sau: 46% đối với đồng tính nữ và 43% đối với phụ nữ dị tính, 40% ở nam giới đồng tính và 21% so với nam giới dị tính. CDC nêu số liệu cụ thể như sau:
44% phụ nữ đồng tính, so với 35% phụ nữ dị tính trải qua hiếp dâm, bạo hành thể xác và/hoặc rình rập bởi một bạn tình trong cuộc đời của họ.
26% đàn ông đồng tính so với 29% đàn ông dị tính đã trải qua hiếp dâm, bạo hành thể xác và/hoặc rình rập bởi một đối tác bởi một bạn tình trong cuộc đời của họ.
Waldner-Haugrud và Vaden Gratch báo cáo rằng 50% đồng tính nữ từng bị lạm dụng tình dục bởi bạn tình đồng tính mà họ cùng chung sống Lạm dụng tâm lý được báo cáo đã xảy ra với khoảng 24% đến 90% của đồng tính nữ Trong cuốn sách về Bạo lực gia đình trong gia đình đồng tính, Các tiến sĩ Island và Letellier thông báo rằng "tỷ lệ bạo lực gia đình trong những người đàn ông đồng tính cao gần gấp đôi so với người dị tính."
Các cuộc khảo sát quốc gia về bạo lực gia đình tại Mỹ cho thấy: 21,5% đàn ông và 35,4% phụ nữ chung sống đồng tính đã từng trải qua bạo lực thể chất bởi bạn tình đồng tính mà họ cùng chung sống, so với 7,1% nam giới và 20,4% phụ nữ chỉ chung sống khác giới
Một báo cáo tổng quan đã được công bố ngày 4/9/2014 trên tờ Journal of Sex & Family Therapy. Tác giả đầu tiên là tiến sĩ tâm lý học Colleen Stiles-Shields. Bạo lực gia đình xảy ra ít nhất là thường xuyên, và thậm chí là có khả năng còn nhiều hơn như vậy, giữa các cặp vợ chồng đồng tính so với các cặp vợ chồng khác giới, theo đánh giá của các nhà khoa Northwestern Medicine. Các nghiên cứu trước, khi phân tích với nhau, chỉ ra rằng bạo lực gia đình ảnh hưởng đến 25-75% người đồng tính nữ, đồng tính nam và lưỡng tính. Tuy nhiên, việc thiếu dữ liệu và báo cáo của việc bạo hành khiến việc vẽ ra một bức tranh đầy đủ là khó khăn, nó cho thấy tỷ lệ bạo hành còn cao hơn.
Theo báo cáo tại Úc, Bạo lực gia đình đã trở thành một "đại dịch thầm lặng" trong cộng đồng đồng tính nam và đồng tính nữ dù đã được tăng cường giám sát, theo Hội đồng AIDS của NSW. Khoảng 1/3 số cặp vợ chồng đồng tính nữ, đồng tính nam lưỡng tính, chuyển giới và lưỡng tính đã trải qua bạo lực gia đình
Một nghiên cứu khác chỉ ra rằng 83% người đồng tính cho biết họ đã bị lạm dụng tam lý bởi bạn tình đồng giới Một nghiên cứu trên Tạp chí Interpersonal đã kiểm tra xung đột và bạo lực trong quan hệ đồng tính. Các nhà nghiên cứu tìm thấy rằng 90% số cặp đồng tính nữ được khảo sát đã bị lăng mạ bằng lời nói từ các bạn tình của họ trong năm trước đó, trong khi 31% phải trải qua bạo hành thân thể
Tạp chí Nghiên cứu Dịch vụ Xã hội báo cáo rằng: cuộc khảo sát của 1.099 phụ nữ đồng tính cho thấy khoảng hơn 50% số đồng tính nữ cho biết rằng họ đã bị lạm dụng bởi bạn tình chung sống với họ, các hình thức thường xuyên nhất của sự lạm dụng là bằng lời nói/cảm xúc/lạm dụng tâm lý và lạm dụng thân xác-tâm lý kết hợp" Một nghiên cứu về các cặp vợ chồng đồng tính nữ trong Sổ tay Phát triển gia đình và Can thiệp chỉ ra rằng 54 % người đồng tính đã chịu bạo hành gia đình khoảng 10 lần hoặc hơn, 74% đã trải qua 6 lần hoặc nhiều sự cố, và 71% nói rằng tình trạng bạo hành đang tồi tệ hơn theo thời gian
Về nguyên nhân, người đồng tính thực hiện bạo hành đối với bạn tình của mình để đạt được và duy trì sự kiểm soát. Một động cơ khác là để để khỏa lấp cảm giác mất mát và bị bỏ rơi. Vì vậy, nhiều vụ bạo hành xảy ra trong quá trình rạn nứt quan hệ. Một số người đồng tính khác thì thực hiện bạo hành do bị ảnh hưởng bởi việc lớn lên trong các gia đình thường xuyên xảy ra bạo hành thể chất, tâm lý hoặc tình dục
== Tính bền vững so với hôn nhân thông thường ==
Trong một nghiên cứu năm 2014, Đại học Mở của Anh đã khảo sát 5.000 người để tìm hiểu về tình hình sống chung của các cặp đôi hiện đại và phương thức giữ gìn mối quan hệ. Theo đó, các cặp đôi đồng tính hầu hết đều có mối quan hệ tình cảm hạnh phúc hơn các cặp đôi dị tính. Tuy nhiên, họ lại ít khi bày tỏ những cử chỉ thân mật ở nơi công cộng và ngại công khai mối quan hệ. Tiến sĩ Jacqui Gibb cho biết: "Các cặp đôi đồng tính tham gia luôn có suy nghĩ tích cực và hạnh phúc với mối quan hệ của họ".
Tuy nhiên, về bạo lực gia đình, khảo sát được tiến hành bởi Bộ Tư pháp Mỹ xác nhận rằng người đồng tính và các mối quan hệ đồng tính nữ có một tỷ lệ lớn hơn của bạo lực gia đình so với các mối quan hệ khác giới. Trong cuốn sách vềbạo lực gia đình trong những cặp đồng tính nam, Island và Letellier khẳng định rằng "bạo lực gia đình trong số những người đàn ông đồng tính cao gần gấp đôi so với nam giới dị tính." Khảo sát của Trung tâm quốc gia chống bạo lưc phụ nữ, được tài trợ bởi Viện Tư pháp, cho thấy rằng "chung sống đồng tính có mức bạo lực với bạn tình cao hơn đáng kể so với chung sống khác giới. 39% số cuộc chung sống đồng tính nữ đã xảy ra hãm hiếp, hành hung thể chất, so với 21,7% chung sống khác giới. Đối với đàn ông, các con số tương đương là 23,1% và 7,4%"
Về tính bền vững, Khảo sát năm 2004 ở Na Uy và Thụy Điển đối với các cặp đồng tính đã đăng ký kết hợp dân sự cho thấy: các cặp đồng tính nam có tỷ lệ ly hôn cao hơn 50%, với đồng tính nữ cao hơn 167% so với các cặp vợ chồng nam-nữ thông thường. Đại học Chicago và nhà xã hội học Edward Laumann lập luận rằng "cư dân đồng tính điển hình trong thành phố dành hầu hết cuộc sống trong các mối quan hệ tình cảm mang tính "giao dịch", hoặc chỉ duy trì được quan hệ ngắn hơn sáu tháng".
Một nghiên cứu về đồng tính nam ở Hà Lan được công bố trong tạp chí AIDS phát hiện ra rằng "thời gian có quan hệ ổn định" với mỗi bạn tình chỉ là 1 năm rưỡi, và mỗi đồng tính nam có trung bình 8 đối tác tình dục mỗi năm Điều tra năm 2004 ở Mỹ về lối sống của 7862 người đồng tính cho thấy: chỉ có 15% đã gắn bó với bạn tình đồng giới được 12 năm hoặc lâu hơn, chỉ có 5% kéo dài hơn 20 năm. Trong khi đó, Trung tâm Sức khỏe Quốc gia năm 2001 thống kê rằng 66% các cuộc hôn nhân nam-nữ đã kéo dài được 10 năm hoặc lâu hơn, 50% kéo dài được 20 năm hoặc lâu hơn. Điều này cho thấy rằng chỉ một số ít mối quan hệ đồng tính đạt được tuổi thọ lâu dài về hôn nhân.
Về mức độ chung thủy, nghiên cứu của Sondra E. Solomon và Esther D. Rothblum cho biết: khi được hỏi về thái độ đối với việc quan hệ tình dục với người khác ngoài bạn tình, 40,3% các nam đồng tính (đã đăng ký kết hợp dân sự) đã từng thảo luận và chấp nhận điều đó trong vài hoàn cảnh, so với chỉ 3,5% ở nam giới đã kết hôn với nữ; số nam đồng tính phản đối là 50,4% so với 78,6% ở nam giới kết hôn với nữ. Có 58,3% các cặp nam đồng tính (đã đăng ký kết hợp dân sự) có quan hệ tình dục ngoài bạn tình, so với 15,2% ở nam kết hôn với nữ. Theo Báo cáo Mendola, chỉ 26% người đồng tính tin rằng chung thủy là yếu tố quan trọng nhất trong một cuộc hôn nhân.
Các tổ chức ủng hộ đồng tính vẫn tuyên truyền rằng tình yêu đồng tính không có gì khác biệt so với tình yêu nam-nữ, tuy nhiên thực tế lại rất khác. Chính bản thân "văn hóa đồng tính" luôn thôi thúc người đồng tính liên tục tìm kiếm các bạn tình mới, thay vì tôn trọng chế độ một vợ một chồng như các cặp dị tính. Andrew Sullivan, một tác giả nổi tiếng về đồng tính, cho biết các cặp đồng tính có các tiêu chuẩn đạo đức rất "khác biệt" so với xã hội. Một trong số đó là "sự tồn tại các bạn tình ngoài hôn nhân", họ luôn muốn tìm nhiều bạn tình riêng dù vẫn đang chung sống với nhau. Các cặp đôi đồng tính không xem đó là hành vi ngoại tình mà lại coi đó là điều cần thiết trong lối sống của họ. Một khảo sát của Tạp chí Nghiên cứu Giới tính cho thấy: chỉ có 2,7% số người đồng tính lớn tuổi là chung thủy với duy nhất 1 bạn tình trong suốt cuộc đời của họ, so với tỷ lệ trên 80% ở những người bình thường.
Nhà nghiên cứu Brad Hayton cung cấp cái nhìn sâu sắc thái độ của nhiều người đồng tính đối với cam kết trong hôn nhân:
Người đồng tính có niềm tin rằng mối quan hệ hôn nhân chỉ là tạm thời và chủ yếu là vì bản năng tình dục. Quan hệ tình dục giữa họ chủ yếu vì niềm vui chứ không phải vì sự sinh sản. Họ tin rằng nguyên tắc một vợ một chồng trong hôn nhân không phải là tiêu chuẩn và cũng không cần được khuyến khích.
=== Cặp đồng giới nuôi dạy con ===
Các nghiên cứu khoa học luôn cho thấy rằng cha mẹ đồng tính nam và đồng tính nữ là phù hợp và có khả năng như các bậc cha mẹ khác giới, và con cái của họ có tâm lý khỏe mạnh và cũng được điều chỉnh như những người nuôi bởi cha mẹ khác giới. Kết quả nghiên cứu từ những hiệp hội chủ yếu về sức khỏe tâm thần của các chuyên gia ở Mỹ, Canada, Úc và chưa xác định được nghiên cứu thực nghiệm đáng tin cậy cho kết quả khác.
==== Sự đồng thuận ====
Các nghiên cứu khoa học đã so sánh trực tiếp kết quả đối với trẻ em của cha mẹ đồng tính với cha mẹ dị tính và đã thống nhất trong việc khẳng định cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính nam là phù hợp và có khả năng như các bậc cha mẹ khác giới, đồng thời con cái của họ phát triển tâm lý lành mạnh và tốt như con cái nuôi bởi cha mẹ dị tính. Các nghiên cứu xã hội học chỉ ra rằng các yếu tố tài chính, tâm lý và thể chất hạnh phúc của cha mẹ được tăng cường bởi hôn nhân và rằng trẻ em được hưởng lợi từ việc nuôi dưỡng bởi cha mẹ khi hôn nhân được công nhận về mặt pháp lý., mặc dù trên thực tế sự phân biệt pháp lý và bất bình đẳng vẫn là thách thức đáng kể đối với các gia đình đồng tính. Các hiệp hội chủ yếu của các chuyên gia sức khỏe tâm thần ở Mỹ, Canada, và Australia cho biết chưa xác định được nghiên cứu thực nghiệm nào đáng tin cậy cho kết quả khác. Kết quả các thống kê cho thấy việc chăm sóc trẻ em và những công việc khác trong các gia đình đồng tính được phân chia đồng đều hơn giữa hai người hơn, và rằng không có sự khác biệt về lợi ích và sở thích của trẻ em có cha mẹ đồng tính so với trẻ em có cha mẹ dị tính.
Từ những năm 1970, các kết quả đã ngày càng rõ ràng rằng phương pháp và quá trình phát triển của gia đình (chẳng hạn như "chất lượng" của cha mẹ, trạng thái tâm lý xã hội hạnh phúc của cha mẹ, chất lượng và sự hài lòng với các mối quan hệ trong gia đình, mức độ hợp tác và hòa hợp giữa cha mẹ) góp phần vào việc tạo nên hạnh phúc của trẻ em chứ không phải là cấu trúc gia đình (chẳng hạn như tình trạng số lượng, giới tính hay khuynh hướng tình dục của cha mẹ)..
Giáo sư Judith Stacey thuộc Đại học New York cho biết: "Hiếm khi có càng nhiều sự đồng thuận trong bất kỳ lĩnh vực khoa học xã hội như trong trường hợp của cha mẹ đồng tính, đó là lý do Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ và tất cả các tổ chức nghề nghiệp lớn có chuyên môn liên quan tới phúc lợi xã hội về trẻ em đã ban hành báo cáo và nghị quyết ủng hộ quyền làm cha mẹ của người đồng tính nam và đồng tính nữ ". Các tổ chức này bao gồm Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, Học viện nghiên cứu tâm lý trẻ em và vị thành niên, Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ, các hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ, các hiệp hội vì hôn nhân và gGia đình trị liệu Hoa Kỳ, các hiệp hội phân tâm học Hoa Kỳ, các hiệp hội quốc gia người lao động xã hội, các liên đoàn phúc lợi trẻ em Hoa Kỳ, các Hội đồng về nhận nuôi trẻ em Bắc Mỹ và Hiệp hội tâm lý học Canada. Năm 2006, giáo sư Gregory M. Herek viết trong tạp chí Tâm lý học Mỹ (của hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ): "Nếu đồng tính nam, đồng tính nữ có ít hơn khả năng nếu so sánh với các bậc cha mẹ khác giới thì chúng tôi sẽ phát hiện và chứng minh được vấn đề khi phân biệt các loại mẫu, tuy nhiên mô hình này rõ ràng đã không quan sát được. Các nghiên cứu thực nghiệm cho đến nay dù thực hiện trên các xác suất mẫu cần thiết đã liên tục thất bại trong việc tìm mối liên hệ giữa sự phát triển của trẻ em và định hướng tình dục của cha mẹ. Với sự thất bại nhất quán trong các kết quả nghiên cứu này đã bác bỏ các giả thuyết của những người tranh luận rằng con cái của cha mẹ tình dục thiểu số là tồi tệ hơn so với những con cái của cha mẹ khác giới.
Các nghiên cứu và phân tích bao gồm các phân tích Bridget Fitzgerald năm 1999 về đồng tính và cha mẹ đồng tính nữ được công bố trong Tạp chí Hôn nhân và Gia đình đã chỉ ra rằng "Các nghiên cứu hiện có nói chung kết luận rằng: khuynh hướng tình dục của cha mẹ không phải là một yếu tố dự báo hiệu quả và quan trọng nhất tới sự phát triển thành công ở trẻ em" .
Trong tháng 6 năm 2010, kết quả của 25 năm nghiên cứu đang diễn ra theo chiều dọc của tiến sĩ, bác sĩ, nhà nghiên cứu Nanette Gartrell thuộc Đại học California và Phó giáo sư, tiến sĩ Henny Bos thuộc Đại học Amsterdam đã được phát hành. Gartrell và Bos đã nghiên cứu 78 trẻ em được sinh ra nhờ hỗ trợ thụ tinh nhân tạo và nuôi dưỡng bởi các bà mẹ đồng tính nữ. Các bà mẹ được phỏng vấn và đưa ra câu hỏi lâm sàng trong thời kỳ mang thai và khi con cái của họ được 2, 5, 10, và 17 tuổi. Trong bản tóm tắt của báo cáo, các tác giả cho biết: "Theo báo cáo, các cô con gái và người con trai của bà mẹ đồng tính nữ được đánh giá cao hơn đáng kể trong thành tích học tập ở trường học và trong xã hội cũng như tổng các năng lực nói chung, và thấp hơn đáng kể trong các vấn đề xã hội, sự phá bỏ các quy tắc, sự hung hăng, và biểu lộ các hành vi tiêu cực so với con cái các bà mẹ dị tính tương đương về tuổi."
Tóm tắt nghị quyết chung của các hiệp hội khoa học chuyên nghiệp lớn: Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ, Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, Hiệp hội hôn nhân và gia đình trị liệu Hoa Kỳ, Hiệp hội bác sĩ gia đình Hoa Kỳ, Hiệp hội y khoa hoa kỳ, Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm lý các bang Kentucky và Ohio, Hiệp hội hôn nhân và gia đình trị liệu bang Michigan, Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội các bang Tennessee, Michigan, Kentucky và Ohio đã nêu:
"Nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh rằng các chiều tâm lý và xã hội của mối quan hệ và cam kết giữa các đối tác đồng tính là giống với các đối tác dị tính. Các cặp vợ chồng đồng tính hình thành tình cảm sâu sắc và kèm theo là các mối quan hệ gắn kết, với mức độ hài lòng của mối quan hệ là tương đương hoặc cao hơn so với các cặp vợ chồng dị tính. Họ cũng trải qua các quá trình tương tự như sự thân mật, tình yêu, sự công bằng, và các vấn đề khác của mối quan hệ.
Các nghiên cứu về đồng tính, đồng tính nữ, lưỡng tính làm cha mẹ bao gồm hàng chục nghiên cứu thực nghiệm, các nghiên cứu trước kia sử dụng các mẫu đại diện nhỏ không xác định được, nhưng những nghiên cứu gần đây đã sử dụng các mẫu xác suất quốc gia. Phát hiện của họ được tóm tắt trong ý kiến của nghiên cứu thực nghiệm được công bố trong sự tôn trọng, được các tạp chí đồng đẳng xem xét và đăng tải tại các sách, ấn phẩm khoa học. Phần lớn nghiên cứu khoa học đã trực tiếp so sánh giữa các nhóm và đã phát hiện ra rằng các cặp cha mẹ đồng tính nam và đồng tính nữ cha mẹ là phù hợp và có khả năng giống như các bậc cha mẹ khác giới, và con cái của họ thể hiện sự phát triển tâm lý lành mạnh và cũng được nuôi dạy tương tự. Các công trình nghiên cứu gần đây bao gồm "Cha mẹ đồng tính nam nữ và con cái của họ" (Patterson, AE Goldberg năm 2010), "Cuộc sống gia đình của người đồng tính nam và nữ" của CJ Patterson, "Sổ tay hôn nhân và Gia đình" (GW Peterson & KR Bush eds, 2013), "Trẻ em của cha mẹ Lesbian và Gay" của CJ Patterson (tạp chí Nhà tâm lý học, 2009), "Báo cáo kỹ thuật: Nhận con nuôi của cha mẹ đồng tính" (CJ Patterson), "Mối quan hệ gia đình của người đồng tính nữ và đồng tính nam" (J. Hôn nhân & Fam năm 2000, N. Anderssen), "Kết quả cho trẻ em của các bậc cha mẹ đồng tính" (Scand. J. Psychol), "Viễn cảnh đương đại về Lesbian, Gay", Hội nghị chuyên đề về Động lực phát triển(Nebraska, 2009), "Trẻ vị thành niên của cha mẹ đồng tính nam và nữ" (CJ Telingator & CJ Patterson), "Trẻ em vị thành niên và tâm thần học" (J. Am. Acad, 2008), "Điều chỉnh tâm lý của xã hội, trường học, mối quan hệ của thanh thiếu niên với cha mẹ đồng tính(JL Wainright), "Thiên hướng tình dục ở trẻ em trong gia đình đồng tính và đồng tính nữ"(H. Bos & TGM Sandfort, 2010), "Lesbian & Tình dục khác giới" (H. Bos), "Nuôi dạy và phát triển trẻ em trong các gia đình nhận con nuôi" (J. Child. & Fam. Stud, 2014), "Trẻ em với cha mẹ đồng tính nữ" (S. Golombok, tạp chí Tâm lý học quá trình phá triển 2003), "Chức năng tâm lý xã hội Trong số trẻ em của các cặp vợ chồng đồng tính và dị tính ở Vương quốc Anh (JL Wainright & CJ Patterson, Tạp chí tâm lý học phát triển, 2008), "Tình trạng phạm tội và sử dụng chất cấm trong thanh thiếu niên liên hệ với gia đình đồng tính" (J. Fam. Psychol, 2006)... đã đều kết luận rằng con cái của các bậc cha mẹ đồng tính nam và nữ được điều chỉnh tốt và mặt phát triển tương tự như con cái của các bậc cha mẹ khác giới.
Quan điểm rằng các cặp cha mẹ dị tính là tốt hơn hơn những cặp đồng tính, hoặc là con của cha mẹ đồng tính nữ hay đồng tính nam tồi tệ hơn so với trẻ em của cha mẹ khác giới, không được hỗ trợ bởi các bằng chứng khoa học thực nghiệm được tích lũy".
==== Ý kiến khác ====
Người LGBT làm cha mẹ nói chung và nhận con nuôi nói riêng là vấn đề gây tranh cãi ở nhiều nước phương Tây, ngay cả ở những nước công nhận hôn nhân đồng tính, bởi việc công nhận hôn nhân đồng tính đồng nghĩa với việc công nhận việc nhận con nuôi của các cặp đồng tính. Những lo ngại chủ yếu là về tác động của nó đối với tâm lý trẻ em (nhất là những trẻ lớn lên trong gia đình đồng tính) khi thiếu vắng một người cha/mẹ theo đúng nghĩa, đồng thời với đó là sự sụp đổ các quan niệm về giá trị của hôn nhân trong cách nghĩ của các thế hệ sau.
Tài liệu nghiên cứu chỉ ra rằng hôn nhân sẽ cải thiện tình hình tài chính, tâm lý và thể chất của người cha/mẹ đồng tính và rằng trẻ em được hưởng lợi từ việc được nuôi dạy bởi song thân có kết hôn được pháp luật công nhận (đối với cả song thân là cùng giới hoặc khác giới). Do đó, nhiều hiệp hội khoa học chuyên môn đã tranh luận để yêu cầu hôn nhân đồng giới được công nhận hợp pháp bởi vì nó có lợi cho con cái của người đồng tính. Nhìn chung có những nghiên cứu khoa học chỉ ra kết quả rằng người đồng tính làm cha/mẹ thì cũng phù hợp và có khả năng như người cha/mẹ dị tính và con cái của họ cũng khỏe mạnh về tâm lý và thể chất như con cái của người cha/mẹ dị tính. Theo một số tài liệu nghiên cứu, không có bằng chứng cho thấy những lập luận ngược lại là đúng.
Trong một nghiên cứu, giáo sư Susan Golombok, Đại học Cambridge, đưa ra những kết quả có sự tương đồng lớn với những nghiến cứu trước đó về gia đình của cặp đồng tính nữ. Những nghiên cứu thấy rằng mối quan hệ giữa mẹ và con là tích cực và con cái được điều chỉnh tốt. Không có sự khác nhau đáng kể giữa người mẹ đồng tính và người mẹ dị tính trong hầu hết các khía cạnh nuôi dạy mặc dù có báo cáo rằng người mẹ đồng tính đánh con ít hơn và tham gia nhiều hơn vào những hoạt động vui chơi mang mang tính tưởng tượng và trong gia đình với con cái nhiều hơn người mẹ dị tính.
Một nghiên cứu mới vào năm 2012 của Mark Regnerus, giáo sư tại Đại học Texas được đăng trên Tạp chí nghiên cứu xã hội Hoa Kỳ đã cung cấp thêm nhiều thông tin về vấn đề này. Nghiên cứu khảo sát 15.000 thanh niên, khảo sát kỹ 3.000 thanh niên trong đó 175 được nuôi lớn bởi cặp đồng tính nữ và 73 bởi cặp đồng tính nam. Kết quả cho thấy: trong ngắn hạn, các cặp đồng tính có thể nuôi con tốt như vợ chồng thông thường; nhưng về dài hạn, sự khiếm khuyết về giới tính (thiếu vắng cha hoặc mẹ để nuôi dạy đứa trẻ) là không thể khắc phục được, và con nuôi của họ khi bước vào tuổi thành niên sẽ gặp phải nhiều vấn đề hơn hẳn so với con cái của những gia đình thông thường, cụ thể:
Nghiên cứu trên của Mark Regnerus nhận được sự ủng hộ của Trường Cao đẳng nhi khoa Hoa Kỳ, một tổ chức quốc gia của các bác sĩ nhi khoa và các chuyên gia chăm sóc sức khỏe và giáo dục dành cho trẻ em. Hội đồng Nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ đã có bài phân tích ủng hộ nghiên cứu và cho biết: nhờ mẫu thống kê lớn nên nghiên cứu này có ý nghĩa rất quan trọng cho biết về tình trạng của trẻ em trong gia đình đồng tính về dài hạn, cũng như bản chất "bất ổn định" của cặp đồng tính. Nghiên cứu này đã xóa tan những ngộ nhận về việc "cha mẹ đồng tính không khác cha mẹ thường". Kết quả của nó tương đồng với nghiên cứu của các chuyên gia nghiên cứu chính sách gia đình, và không có gì đáng ngạc nhiên khi nghiên cứu này bị tấn công quyết liệt các nhà hoạt động ủng hộ đồng tính
Mark Regnerus tin rằng còn quá sớm đưa ra các kết luận sâu rộng về ảnh hưởng đối với con cái của các cặp đồng tính, và hiện không có bằng chứng thuyết phục rằng con cái của cặp đồng tính sẽ không khác biệt so với những đứa trẻ có đủ cha mẹ. Trước khi có nhiều bằng chứng hơn, Nhà nước nên thận trọng giữ lại hôn nhân trong phạm vi truyền thống (1 nam và 1 nữ), Regnerus tin rằng đó là điều tốt nhất dành cho trẻ em
Sau khi Mark Regnerus công bố nghiên cứu của mình trên một tạp chí, hơn 200 nhà khoa học đã cùng ký tên và gửi một bức thư cho tạp chí này bày tỏ "những mối lo ngại đáng kể về giá trị của bài báo này". Các nhà nghiên cứu đã cùng chỉ ra nhiều bất ổn, không phù hợp thực tế, không chính xác trong phương pháp luận của Regnerus, cũng như đặt nghi vấn về quá trình mà tạp chí này đã tiếp nhận, xem xét, chấp nhận nghiên cứu của Regnerus và cho phép xuất bản không đảm bảo thời gian yêu cầu. Đại học Texas (nơi Mark Regnerus làm việc) đã đưa ra tuyên bố: "Nghiên cứu này của Mark Regnerus là của riêng ông, không phản ánh quan điểm của Đại học Texas hay Hiệp hội Xã hội học Mỹ", "những kết luận rút ra từ nghiên cứu của ông về người đồng tính làm cha mẹ là cơ bản không hoàn thiện trên cơ sở khái niệm và phương pháp luận", đồng thời các kết quả nghên cứu của Regnerus "đã được trích dẫn trong các nỗ lực không phù hợp nhằm hạn chế các quyền dân sự và chính đáng của các đối tác LBGTQ và gia đình của họ". Đồng thời, Hiệp hội xã hội học Hoa Kỳ (ASA) đã nêu ra 5 sai sót cơ bản không trong phương pháp luận nghiên cứu của Mark Regnerus và kết luận: "Tóm lại, do sự đánh đồng con cái của cha mẹ đồng tính với các cá nhân tự nhận rằng họ có cha hoặc mẹ tham gia vào mối quan hệ yêu đương đồng tính, đánh đồng các cá nhân đó như con cái của người mẹ hay người cha đồng tính, nghiên cứu của Regnerus đã che lấp thực tế là nó đã không kiểm tra và xác thực con cái của hai bố mẹ đồng tính. Theo đó, nó không thể bàn luận về các tác động của kết quả việc nuôi dạy của cha mẹ đồng tính lên con cái"..
Tuy nhiên, 18 nhà khoa học đã ký tên chung vào bài viết ủng hộ nghiên cứu của Mark Regnerus. Những người này cho rằng nghiên cứu này có giá trị dựa trên những điều sau:
Phần lớn các nghiên cứu trước đó đều dựa vào các mẫu nhỏ, không đại diện cho trẻ em trong các gia đình đồng tính. Ngược lại, Regnerus dựa trên một mẫu lớn, ngẫu nhiên, và đại diện của hơn 200 trẻ em nuôi dưỡng bởi cha mẹ có mối quan hệ đồng tính, so sánh chúng với một mẫu ngẫu nhiên của hơn 2.000 trẻ em lớn lên trong gia đình dị tính, để đạt được kết luận của mình. Giáo sư xã hội học Paul Amato, chủ tịch phân viện gia đình của Hiệp hội Xã hội học Mỹ đã viết rằng nghiên cứu Regnerus là "(nghiên cứu) tốt hơn hầu hết các nghiên cứu trước đó trong việc phát hiện sự khác biệt giữa các nhóm đó (nhóm gia đình khác biệt) trong dân số"
Những người đã lên tiếng phê bình Regnerus đã không công khai thừa nhận những hạn chế về phương pháp nghiên cứu trước đây về cha mẹ đồng tính.
Ngay cả Judith Stacey, một người nổi bật trong việc phê bình nghiên cứu của Regnerus, trong các bài viết khác cũng thừa nhận rằng các nghiên cứu cho thấy “Các mối quan hệ (đồng tính) có thể được chứng minh là kém bền vững” hơn hôn nhân dị tính
Những phát hiện liên quan đến sự bất ổn (trong các gia đình đồng tính) của Regnerus phù hợp với các nghiên cứu gần đây của các quốc gia như Anh, Hà Lan, và Thụy Điển dựa trên các mẫu đại diện lớn, ngẫu nhiên, tiêu biểu cho các cặp đồng tính, các nghiên cứu ấy cũng phát hiện ra sự tương đồng lớn về những kiểu bất ổn xuất hiện trong số các cặp đôi đồng giới.
Sự bất ổn này cũng có thể coi là một "kết quả của sự kỳ thị xã hội và tách biệt" mà các cặp vợ chồng đồng tính nam và đồng tính nữ phải đối mặt trong suốt thời gian dài từ khi trẻ đến tuổi trưởng thành. Cũng có thể giải thích những phát hiện Regnerus như là bằng chứng cho sự cần thiết phải hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, để hỗ trợ cho sự ổn định xã hội của các mối quan hệ như vậy. Nghiên cứu của Mark có thể mở ra nhiều nghiên cứu khác lớn và kỹ lưỡng hơn về chủ đề gây nhiều tranh cãi này.
Một đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi 1 cặp đồng tính chắc chắn sẽ phải đối mặt với nhiều vấn đề hơn. Ví dụ: nếu 1 cặp đồng tính nam nhận con gái nuôi hoặc cặp đồng tính nữ nhận con trai nuôi, đứa trẻ sẽ phải lớn lên mà thiếu vắng sự hướng dẫn giới tính từ người có cùng giới tính với nó, nhất là trong gia đoạn dậy thì, từ đó làm tăng nguy cơ về sự lệch lạc hành vi giới tính. Sự dễ chia tay hoặc quan hệ ngoài luồng, vốn phổ biến của các cặp đồng tính, cũng làm tăng nguy cơ chấn thương tâm lý ở đứa trẻ. Tệ hơn, đứa trẻ có thể phải đối mặt với sự kỳ thị, trêu chọc hoặc cô lập từ bạn bè cùng trang lứa, từ đó hình thành tâm lý bất mãn hoặc nổi loạn. Nhà tâm lý Enrique Rojas cho biết: Theo các nghiên cứu từ Hoa Kỳ, Canada, và New Zealand, 70-80% số đứa trẻ được nuôi bởi người đồng tính sẽ phát triển những khuynh hướng đồng tính tương tự.
Mặt khác, trong cuốn sách "Lớn lên trong một gia đình đồng tính nữ: Tác động với sự phát triển trẻ em", 2 tiến sĩ Fiona Tasker và Susan Golombok, quan sát thấy rằng 25% những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính cũng đã tham gia vào một mối quan hệ đồng tính, so với xấp xỉ 0% ở những thanh niên được nuôi bởi các bà mẹ bình thường
Tiến sĩ xã hội học Trayce Hansen cho biết: "Nghiên cứu của các nhà khoa học xã hội, mặc dù không dứt khoát, cho thấy rằng trẻ em nuôi bởi các cặp đồng tính có nhiều khả năng tham gia vào các hành vi đồng tính hơn so với các trẻ em khác. Các nghiên cứu cho đến nay cho thấy khoảng 8% đến 21% con nuôi của các cặp đồng tính cuối cùng cũng sẽ trở thành đồng tính. Để so sánh, tạm cho khoảng 2% dân số nói chung là đồng tính. Do đó, nếu các tỷ lệ này được xác minh kĩ, con nuôi của các cặp đồng tính có khả năng phát triển thành đồng tính cao hơn 4 đến 10 lần so với những đứa trẻ khác."
Phân tích tổng hợp của Stacy và Biblarz (năm 2001) cho thấy rằng: các bà mẹ nuôi là đồng tính nữ có ảnh hưởng lớn, khiến con trai nuôi của họ trở nên nữ tính trong khi con gái nuôi thì lại trở nên nam tính. Họ báo cáo: "...các cô gái vị thành niên được nuôi bởi các bà mẹ đồng tính sẽ có tỷ lệ cao hơn về tình dục bừa bãi... nói cách khác, trẻ em (đặc biệt là trẻ em gái) được nuôi bởi nữ đồng tính có xu hướng đả phá các quan niệm giới tính truyền thống, trong khi trẻ em được nuôi bởi các bà mẹ thông thường sẽ có biểu hiện phù hợp với giới tính của mình". Một nghiên cứu năm 1996 bởi một nhà xã hội học Úc cho thấy: những đứa trẻ của các cặp vợ chồng bình thường là giỏi nhất, trong khi con nuôi của các cặp vợ chồng đồng tính lại học hành kém nhất, điều này đúng tại 9 trên 13 trường học được khảo sát.
Một nghiên cứu lớn tiến hành trên 3.826 cặp sinh đôi cùng giới (7.652 cá nhân) ở Thuỵ Điển đã cho thấy, những yếu tố thuộc về bẩm sinh như yếu tố di truyền và môi trường xung quanh sự hình thành và phát triển của bào thai (môi trường tử cung sớm) trước khi đứa trẻ ra đời (trong đó bao gồm quá trình sinh học như tiếp xúc hormone khác nhau trong bụng mẹ) chiếm chủ yếu trong việc hình thành thiên hướng tình dục đồng giới. Trong khi đó, các tác nhân như môi trường gia đình, xã hội, giáo dục con cái không ảnh hưởng hoặc hoặc ảnh hưởng không đáng kể tới sự hình thành thiên hướng tình dục đồng tính. Nghiên cứu này đưa ra các số liệu: yếu tố gen di truyền có ảnh hưởng khoảng 35% ở nam và 18% ở nữ, yếu tố môi trường phát triển thai nhi trong bụng mẹ (môi trường không chia sẻ) chiếm tỷ lệ chủ yếu tới 64% ở cả nam và nữ. Trong khi đó, yếu tố môi trường gia đình, xã hội, giáo dục (môi trường chia sẻ) chỉ giải thích 16% trong sự hình thành xu hướng tình dục đồng tính nữ và không có ảnh hưởng (phương sai ảnh hưởng 0%) tới sự hình thành xu hướng tình dục đồng tính nam..
Trong tóm tắt nghị quyết chung của các hiệp hội Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ, Viện hàn lâm Nhi khoa Hoa Kỳ, Hiệp hội hôn nhân và gia đình trị liệu Hoa Kỳ, Hiệp hội bác sĩ gia đình Hoa Kỳ, Hiệp hội y khoa hoa kỳ, Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm lý các bang Kentucky và Ohio, Hiệp hội hôn nhân và gia đình trị liệu bang Michigan, Hiệp hội quốc gia người lao động xã hội các bang Tennessee, Michigan, Kentucky và Ohio đã nêu:
Có một số ít các nguồn gợi ý rằng cha mẹ đồng tính có thể có tác động tiêu cực đối với trẻ em thì các nguồn này đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng từ những sai sót về phương pháp luận và không phản ánh tình trạng của kiến thức khoa học hiện tại. Cụ thể, kết luận tiêu cực của ba nhà nghiên cứu thường được trích dẫn bởi các đối thủ của hôn nhân đồng giới là Sarantakos, Regnerus và Allen - đã tạo ra một chấn động lớn khi bị bác bỏ, từ chối bởi các cộng đồng khoa học chính thống. Những sai sót trong phương pháp luận nghiên cứu của Sarantakos, Regnerus và Allen đã làm cho công việc của họ "Không liên quan đến các cuộc thảo luận thực nghiệm về nuôi dạy con và khuynh hướng tình dục. Kiểm toán viên độc lập được bổ nhiệm bởi các tạp chí đó được đăng bài Regnerus của mô tả nó như là "một nghiên cứu không khoa học" và kết luận nó không nên đã được công bố. Những sai sót trong nghiên cứu của Regnerus đã được chỉ ra trong bản kiến nghị của 200 nhà nghiên cứu. MJ Rosenfeld trả lời Allen trong Dân số học năm 2012 rằng phát hiện tồi tệ của Allen về kết quả học tập là do sai sót về phương pháp luận, bao gồm không kiểm soát đối với tác động của ly hôn và các yếu tố khác. Các tài liệu công bố gần đây của Donald Paul Sullins cho thấy tất cả các báo cáo phân tích thứ cấp của dữ liệu từ các cuộc phỏng vấn y tế quốc gia Khảo sát (NHIS) của Sullins - có sai sót về phương pháp luận tương tự...
Trong nghị quyết về "Định hướng tình dục, cha mẹ và trẻ em" thông qua năm 2004, Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ đã phân tích :
"Nhiều người đồng tính nữ và đồng tính nam làm cha mẹ. Có ba mối quan tâm lớn về người đồng tính làm cha mẹ thường được nêu ra. Chúng bao gồm các mối quan ngại rằng đồng tính luyến ái là bị bệnh tâm thần, rằng đồng tính nữ có ít thiên chức làm mẹ hơn so với phụ nữ dị tính, và rằng các cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính nam có rất ít thời gian cho các mối quan hệ của họ với con cái của họ. Nói chung, các nghiên cứu đã không cung cấp một cơ sở nào cho bất kỳ các mối quan tâm trên. Đầu tiên, đồng tính luyến ái không phải là một bệnh hay rối loạn tâm lý, không có bằng chứng đáng tin cậy rằng khuynh hướng đồng tính luyến ái làm suy yếu chức các năng tâm lý. Thứ hai, niềm tin mà người đồng tính nữ và đồng tính nam không phải phù hợp làm cha mẹ phù hợp không có nền tảng nghiên cứu thực nghiệm. Các thành viên trong cặp vợ chồng đồng tính đã được phát hiện sự phân chia các công việc gia đình và chăm sóc con cái một cách đồng đều hơn, và sự hài lòng với mối quan hệ với đối tác của họ. Không có cơ sở khoa học để kết luận rằng các bà mẹ đồng tính nữ hay những người cha đồng tính làm cha mẹ là không thích hợp trên cơ sở định hướng tình dục của họ. Ngược lại, các kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính nam có đầy đủ khả năng làm cha mẹ như các cặp dôi khác giới để cung cấp môi trường hỗ trợ nuôi dưỡng lành mạnh cho con cái của họ.
Có ba mối quan tâm lớn về sự ảnh hưởng của cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính trên trẻ em đã được thường được nêu ra. Một là, con cái của cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính sẽ được trải nghiệm nhiều khó khăn trong lĩnh vực nhận dạng giới tính hơn so với trẻ em của cha mẹ khác giới. Ví dụ, trẻ em được của các cặp đồng tính sẽ hiển thị rối loạn nhận dạng giới tính và/hoặc hành vi-vai trò giới tính. Loại thứ hai của mối quan tâm liên quan đến các khía cạnh của phát triển của trẻ em với bản sắc tính dục bản thân. Ví dụ, một số nhà quan sát đã bày tỏ lo ngại rằng trẻ em dưới sự giám sát của cha mẹ đồng tính dễ bị suy sụp tinh thần, sẽ hiển thị nhiều khó khăn trong việc điều chỉnh các vấn đề hành vi, hoặc sẽ không khỏe mạnh về tâm lý như những đứa trẻ khác. Một loại thứ ba của mối quan tâm là con cái của cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính sẽ gặp khó khăn trong các mối quan hệ xã hội. Ví dụ, một số nhà quan sát đã bày tỏ lo ngại rằng trẻ em sống với bà mẹ đồng tính nữ hay những người cha đồng tính sẽ bị kỳ thị, trêu chọc, hay nói cách khác là nạn nhân của các đồng nghiệp. Một nỗi sợ hãi phổ biến là trẻ em sống chung với cha mẹ đồng tính nam hoặc đồng tính nữ sẽ có nhiều khả năng bị lạm dụng tình dục bởi cha mẹ hoặc bạn bè của cha mẹ hoặc người quen. Kết quả của nghiên cứu khoa học xã hội đã không xác nhận bất kỳ mối quan tâm về con cái của cha mẹ đồng tính nào nêu trên.
Các nghiên cứu đều cho thấy rằng bản sắc tình dục (bao gồm cả bản sắc giới tính, hành vi giới tính, vai trò của xu hướng tình dục) phát triển giống nhau ở con cái các bậc cha mẹ đồng tính và con cái của các bậc cha mẹ khác giới. Các bằng chứng cũng cho thấy rằng trẻ em của cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính nam có mối quan hệ xã hội bình thường với các bạn bè và người lớn. Những lo ngại về con cái của cha mẹ đồng tính nữ hay đồng tính bị lạm dụng tình dục bởi người lớn, bị tẩy chay bởi các đồng nghiệp, hoặc bị cô lập trong cộng đồng... đã không nhận được sự hỗ trợ nào từ khoa học. Nhìn chung, kết quả các nghiên cứu cho thấy sự phát triển, điều chỉnh, và hạnh phúc của con cái của các bậc cha mẹ đồng tính nữ và đồng tính nam không có sự khác biệt so với những trẻ em của cha mẹ khác giới."
Hiệp hội xã hội học Hoa Kỳ - tổ chức nghiên cứu chuyên nghiệp gồm hơn 13.000 thành viên, với một lịch sử lâu dài trong việc trình bày các kết quả nghiên cứu được sự đồng thuận của các nhà xã hội học để các tòa án ở Hoa Kỳ sử dụng trong việc đánh giá chứng cứ và các vấn đề pháp lý, trong Bản tóm tắt gửi Tòa án tối cao đã nói::
"Hiện nay, có hơn 200.000 trẻ em ở Mỹ sống với cha mẹ đồng tính, và gần 72% dân số Mỹ sống ở một nơi mà luật pháp đã bình đẳng hôn nhân. Kết quả các nghiên cứu khoa học xã hội trong nhiều thập kỷ, trong đó có nhiều nghiên cứu quy mô quốc gia và những bằng chứng chuyên gia giới thiệu tại các tòa án trên khắp đất nước, đã khẳng định rằng phúc lợi tích cực của trẻ em là sản phẩm của sự ổn định trong mối quan hệ giữa hai bố mẹ và mối quan hệ giữa cha mẹ với đứa trẻ, và các nguồn lực kinh tế xã hội của cha mẹ. Và các phúc lợi của trẻ em không phụ thuộc vào giới tính hoặc khuynh hướng tình dục của cha mẹ.
Các nhóm phản đối của hôn nhân đồng tính ở Mỹ và trên khắp thế giới thường xuyên hiểu sai hoặc xuyên tạc các nghiên cứu khoa học xã hội, nói rằng trẻ em có cha mẹ đồng tính có kết cục tồi tệ hơn so với trẻ có cha mẹ khác nhau tính. Đặc biệt, đối thủ của hôn nhân đồng tính thường xuyên trích dẫn nghiên cứu sai trái của Mark Regnerus, và gần đây đã bắt đầu hiểu sai công việc của Paul Sullins để thúc đẩy những lập luận chống lại hôn nhân đồng tính...
Chúng tôi đã rất tích cực trong vấn đề này bởi vì lương tâm của chúng ta không thể đứng nhìn và cho phép các đối thủ hôn nhân đồng giới tiến hành những chiến dịch nào đó nhằm bóp méo các kết quả nghiên cứu khoa học xã hội trong một nỗ lực để từ chối quyền kết hôn của người đồng tính. Các bằng chứng khoa học rõ ràng cho thấy rằng cha mẹ đồng tính là bình đẳng cũng như có khả năng nuôi dạy con cái tốt như cha mẹ khác giới, và tòa án cũng như công chúng, nên được hiểu rõ ràng về thực tế này trước khi đưa ra phán quyết hay nhận định về hôn nhân đồng tính.
Những nỗ lực của ASA để làm nổi bật sự đồng thuận của giới khoa học liên quan đến con cái của cha mẹ đồng tính ở các tòa án đã bắt đầu từ tháng 2 năm 2013. Kể từ thời điểm đó, chúng tôi đã nộp tóm tắt của mình ở nhiều Toà án khác nhau của một số tiểu bang còn cấm đoán ở Mỹ để xem xét vấn đề luật pháp liên quan về hôn nhân đồng tính. Với những bằng chứng nghiên cứu khoa học xã hội đã được ASA thực hiện và kiểm tra triệt để, sự thật chứng minh rằng trẻ em chỉ nhận được kết quả tốt khi được nuôi bởi cha mẹ đồng tính giống như khi được nuôi bởi cha mẹ khác giới. Nỗi sợ hãi vô căn cứ về con cái của cha mẹ đồng tính không vượt qua được những kết quả nghiên cứu."
Học viện trẻ vị thành niên và tâm thần học Hoa Kỳ (AACAP), đại diện cho hơn 8.500 bác sĩ tâm thần về trẻ em và thanh thiếu niên đã khẳng định năm 2013:
"Đôi khi mọi người đang lo ngại rằng trẻ em được nuôi dưỡng bởi cha mẹ đồng tính sẽ cần hỗ trợ tinh thần thêm hoặc phải đối mặt với những căng thẳng xã hội. Các nghiên cứu hiện tại cho thấy trẻ em của các cha mẹ đồng tính không khác với trẻ em của cha mẹ khác giới trong việc phát triển tâm lý, tình cảm của họ hoặc các mối quan hệ của họ với những bạn bè đồng lứa và người lớn xung quanh. Nó là quan trọng cho các cha mẹ hiểu rằng, đó là các yếu tố như chất lượng cặp cha mẹ và các mối quan hệ của cha mẹ với con cái chứ không phải thiên hướng tình dục của cha mẹ có ảnh hưởng đến sự phát triển của đứa trẻ. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trái ngược với niềm tin phổ biến thì con cái của các cha mẹ đồng tính nam, đồng tính nữ và người chuyển giới:
•Không có khả năng trở thành đồng tính hơn trẻ em của cha mẹ khác giới.
•Không có nhiều khả năng bị lạm dụng tình dục.
•Không thấy sự khác biệt trong việc họ tự cho rằng mình là nam hay nữ (đồng giới).
•Không thấy sự khác biệt ở các hành vi, vai trò đặc trưng của các giới tính nam và nữ."
Theo Hiệp hội tâm lý học Canada (CPA):
"Vào mùa thu năm 2003, CPA đã ban hành một thông cáo báo chí bác bỏ các tuyên bố về năng lực làm cha mẹ thấp của người đồng tính và những tác động của hôn nhân đồng giới trên trẻ em đã được thực hiện bởi các cá nhân và các nhóm chống đối hôn nhân đồng tính. Các bằng chứng khoa học có sẵn đã chỉ ra rằng trẻ em của cha mẹ đồng tính nam và nữ không có sự khác biệt đáng kể so với con của cha mẹ khác giới đối với sự phát triển tâm lý xã hội cũng như hình thành bản sắc giới tính. Các nghiên cứu đã cho thấy:
•Người đồng tính nam và đồng tính nữ coi trọng mối quan hệ gắn kết.
•Các cặp vợ chồng đồng tính tương đương các cặp khác giới về chất lượng mối quan hệ.
•Cha mẹ đồng tinh nam và nữ có khả năng như cha mẹ khác giới để cung cấp môi trường nuôi dưỡng tốt, hỗ trợ lành mạnh cho con cái của họ.
•Khuynh hướng tình dục, tính cách và các mối quan hệ xã hội ở trẻ em ở các vợ chồng đồng tính phát triển tương tự như trẻ em của các cha mẹ khác giới.
Niềm tin rằng người đồng tính nam và đồng tính nữ người lớn không phù hợp với các bậc cha mẹ, hoặc sự phát triển tâm lý xã hội của trẻ em của các bậc cha mẹ đồng tính bị tổn thương là không có căn cứ khoa học. Tuyên bố của chúng tôi dựa trên việc xem xét đại diện cho khoảng 50 nghiên cứu thực nghiệm và ít nhất thêm 50 bài báo và chương sách và đã thực hiện không ngừng nghỉ trên các kết quả của bất kỳ một nghiên cứu. Những bài viết này xuất hiện trên các tạp chí như: Tạp chí Tâm lý học phát triển, Tạp chí Tâm lý trẻ em và tâm thần học, Tạp chí tâm lý học Mỹ, Tạp chí Hôn nhân và Gia đình, Tạp chí tâm thần học hành vi và các tạp chí về quan hệ gia đình, vai trò giới tính - tình dục và công tác xã hội đã khẳng định:
•Không có bằng chứng trong các tài liệu tâm lý học hỗ trợ rằng người đồng tính nam và đồng tính nữ là ít phù hợp làm cha mẹ hơn các cặp khác giới.
•Không có bằng chứng trong các tài liệu tâm lý học hỗ trợ quan điểm sự phát triển tâm lý xã hội, bản sắc giới của trẻ em bị tổn hại bởi khuynh hướng tình dục của cha mẹ."
Trong một tuyên bố năm 2006, Hiệp hội Tâm lý học Canada phát hành một báo cáo cập nhật về kết luận năm 2003 và 2005 và nói rằng: "Các CPA công nhận và đánh giá cao việc các cá nhân và tổ chức được quyền ý kiến và nêu quan điểm về vấn đề này. Tuy nhiên, CPA lo ngại rằng một số người và các tổ chức là chống đối tiêu cực, đã giải thích sai lệch những phát hiện của nghiên cứu tâm lý để hỗ trợ cho địa vị - vị trí của họ, khi vị trí của họ chính xác hơn là dựa trên hệ thống khác của niềm tin - tín ngưỡng và các giá trị. Các tổ chức khoa học chuyên nghiệp đã lưu ý rằng những nghiên cứu mà các tổ chức chống đối đã sử dụng như bằng chứng rằng các cặp vợ chồng đồng tính làm cha mẹ không thích hợp đã không tiếp cận chính xác vào các cặp cha mẹ đồng tính, và do đó không cho phép bất kỳ kết luận nào được rút ra về những ảnh hưởng của giới tính hoặc khuynh hướng tình dục của cha mẹ lên con cái. Thay vào đó, những nghiên cứu này chỉ lấy mẫu cha mẹ khác giới, thấy rằng nó là tốt hơn cho trẻ em được nuôi dưỡng bởi hai cha mẹ thay vì một, và/hoặc ảnh hưởng của ly hôn hoặc cái chết của cha mẹ có ảnh hưởng tiêu cực đến trẻ em.
Hội đồng nghiên cứu gia đình cho rằng:
Lập luận rằng "trẻ em cần một người mẹ và một người cha" là trung tâm bảo vệ hôn nhân là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ.
Các tổ chức ủng hộ giá trị gia đình (như Hội đồng Nghiên cứu Gia đình) khẳng định "nghiên cứu khoa học xã hội cho thấy rằng trẻ em làm tốt nhất khi được nuôi bởi người mẹ sinh học của riêng mình và cha của những người cam kết với nhau trong một cuộc hôn nhân lâu dài" Tuyên bố này là đúng sự thật, và dựa trên một bộ sưu tập lớn và mạnh mẽ của các nghiên cứu. Những người ủng hộ người đồng tính phản bác "Các nghiên cứu về trẻ em nuôi dưỡng bởi cha mẹ đồng tính cho thấy rằng không có sự khác biệt (hoặc có sự khác biệt nhưng không bất lợi) so với con cái nuôi dưỡng bởi cha mẹ dị tính". Tuy vậy, các nghiên cứu như vậy thường dựa trên những mẫu đại diện quá nhỏ, và thường xuyên được tiến hành bởi các nhà nghiên cứu công khai ủng hộ đồng tính và có một tư tưởng sai lệch về vấn đề đang được nghiên cứu...
Trong thực tế, một bài báo xuất bản bởi tiến sĩ Loren Marks, (Đại học bang Louisiana) đã phân tích 59 nghiên cứu trước đây về cha mẹ đồng tính của Hiệp hội Tâm lý Mỹ (APA). Marks đã bóc trần kết quả sai lệch của APA rằng "con nuôi của cha mẹ đồng tính không bị thiệt thòi hơn so với con cái của các bậc cha mẹ khác giới." Marks cũng chỉ ra rằng chỉ có bốn trong số 59 nghiên cứu được trích dẫn bởi APA thậm chí không đạt tiêu chuẩn của APA về bằng chứng thống kê.
Bế tắc này đã bị phá vỡ bởi những công việc mà Mark Regnerus đã thực hiện. Không giống như các nghiên cứu trước đây thực hiện trên duy nhất trên một cấu trúc gia đình, Regnerus đã so sánh cụ thể với trẻ em lớn lên bởi cha mẹ đồng tính. Ông dựa trên mẫu dân số đại diện là đủ lớn để lập luận một cách khoa học và thống kê các kết luận hợp lệ. Đối với những lý do này, "cấu trúc mới về gia đình học" của ông (NFSS) xứng đáng được coi là "tiêu chuẩn vàng" trong lĩnh vực này... Regnerus, mặt khác, đã khảo sát những người trẻ từ 18 đến 39 về kinh nghiệm sống của họ trong gia đình. Trong khi các báo cáo này không phải là hoàn toàn khách quan, chúng vẫn đáng tin cậy hơn là cha mẹ tự báo cáo, và cho phép đánh giá các tác động lâu dài.
Tất cả những phát hiện trong nghiên cứu này rất quan trọng, đó là điều cái mạnh nhất - hầu như không thể chối cãi. So với trẻ em nuôi dưỡng bởi cha mẹ khác giới, con của cha mẹ đồng tính (LM và GF):
Có trình độ học vấn thấp hơn.
Có nhiều khả năng bị trầm cảm hơn.
Bị bắt giam thường xuyên hơn
Đối với con cái của các bà mẹ đồng tính nữ:
Phải nhận trợ cấp xã hội nhiều gấp 4 lần
Tỷ lệ thất nghiệp cao gấp 3 lần
Tỷ lệ có hành vi đồng tính cao gấp 4 lần
Bị buộc quan hệ tình dục trái với ý muốn cao gấp 4 lần
Sử dụng cần sa, hút thuốc lá thường xuyên hơn
Tỷ lệ phạm tội cao hơn
Tiến sĩ Glenn T. Stanton, giám đốc Tổ chức Family Formation Studies, lập luận:
Trẻ em lớn lên trong gia đình đồng tính có chịu bất lợi hơn so với trẻ em trong gia đình khác giới? Câu trả lời đơn giản là "có", nhưng câu hỏi chính xác hơn là "thiệt thòi về với những điều gì?"
Có rất nhiều nghiên cứu xã hội, y tế và tâm lý vững chắc cho thấy những đứa trẻ lớn lên mà không có cha/mẹ sẽ phải đối mặt với những bất lợi đáng kể trong tất cả các mặt: sức khỏe thể chất và tinh thần, trình độ giáo dục, hạnh phúc, sự tự tin và phát triển sự đồng cảm, cũng như nghèo đói, lạm dụng chất gây nghiện, bạo lực gia đình và lạm dụng tình dục và tránh không kết hôn.
"Chúng ta nên chối bỏ quan điểm cho rằng "người mẹ cũng có thể làm người cha tốt, cũng như chối bỏ quan niệm phổ biến của các nhà nữ quyền cực đoan rằng "các ông bố cũng có thể làm người mẹ tốt"... Hai giới là khác nhau về bản chất, và đều là cần thiết - cả về văn hóa và sinh học - cho sự phát triển tối ưu của một con người"
Các nhóm ủng hộ đồng tính là nhanh chóng giải thích rằng nhiều tổ chức y tế chuyên nghiệp tuyên bố rằng trẻ em trong gia đình đồng tính cũng phát triển tốt như trẻ em trong gia đình khác giới. The American Academy of Pediatrics (AAP), tổ chức y tế hàng đầu đã có một tuyên bố như vậy, và đó hầu hết các tổ chức khác theo sau, chỉ đơn giản là lặp lại. Báo cáo của họ bỏ bê một điểm quan trọng của so sánh. Tuyên bố của AAP hoàn toàn vô nghĩa trong việc cung cấp bất kỳ loại thông tin quyết định nào về cách các gia đình đồng tính là có ích hay có hại với trẻ em.
Đó là hành vi phi đạo đức khi đem trẻ em phục vụ cho một thử nghiệm xã hội chưa được kiểm tra. Không có nền văn hóa nào ở bất cứ đâu, bất cứ lúc nào, đã từng sản sinh ra một thế hệ trẻ em lớn lên trong gia đình đồng tính. Đây là việc biến trẻ em thành vật thử nghiệm để hoàn thành ham muốn của người lớn. Một xã hội khôn ngoan và nhân đạo luôn luôn đi kèm với sự trợ giúp trẻ em mồ côi, và không bao giờ cố ý muốn trẻ phải chịu đựng hoàn cảnh như vậy. Nhưng công nhận gia đình đồng tính sẽ gây ra chính xác điều đó, chỉ vì một số nhỏ người lớn mong muốn như vậy
==== Tranh cãi giữa các tổ chức, cá nhân ====
Theo Trung tâm nghiên cứu Luật người nghèo Miền Nam Hoa Kỳ (The Southern Poverty Law Center, viết tắt: SPLC) (Cùng với Liên đoàn chống phỉ báng Hoa Kỳ ADL - là 2 tổ chức thực hiện phân loại và giám sát các nhóm thù hận ở Mỹ), những tổ chức, cá nhân chống người đồng tính điển hình như Hội đồng nghiên cứu gia đình (FRC), Hiệp hội gia đình Hoa Kỳ (AFA), Viện nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ (FRI), Tổ chức quốc gia về hôn nhân Hoa Kỳ, Trường Cao đẳng nhi khoa Hoa Kỳ... đều là tổ chức của các nhóm Kitô giáo thuộc trường phái bảo thủ xã hội, SPLC xếp họ vào danh sách các "Nhóm thù hận tiêu biểu chống đối người đồng tính và cộng đồng LGBT, là các nhóm có tổ chức thực hiện và thúc đẩy lòng căm ghét, thù hận hoặc bạo lực đối với các thành viên của một chủng tộc, sắc tộc, tôn giáo, giới tính, thiên hướng tình dục...trong xã hội, hoạt động chủ yếu để truyền bá các giáo lý "hôn nhân là sự kết hợp giữa một nam một nữ" của Kito giáo. Theo SPLC, những nhóm thù hận này "Hầu hết số họ là động cơ tôn giáo. Những lời tuyên truyền dối trá ở mức độ cao về người đồng tính, song tính và chuyển giới được lặp đi lặp lại một cách vô căn cứ nhằm triệt hạ uy tín của các tổ chức khoa học''". Những nhóm thù hận LGBT với lập trường hệ tư tưởng tôn giáo, tên gọi và bên ngoài tự cho mình "là tiếng nói cho các gia đình", "thúc đẩy các giá trị đạo đức truyền thống" nhưng thực chất, hoạt động chính là sử dụng những tuyên bố sai trái nhằm chống người đồng tính và phỉ báng cộng đồng LGBT. Những tổ chức này đã có nhiều hoạt động tuyên truyền, vận động hành lang để ngăn cản các chính phủ thực hiện pháp luật bình đẳng hôn nhân và quyền LGBT. SPLC cho biết, việc xếp loại các nhóm thù hận cộng đồng LGBT dựa trên lịch sử lâu dài những tuyên bố, hành động chống người LGBT của các nhóm tôn giáo này..
SPLC cho rằng 10 luận điệu sai trái quen thuộc mà các nhóm này thường dùng để truyền bá như: người đàn ông đồng tính lạm dụng trẻ em nhiều hơn đàn ông dị tính, cha mẹ đồng tính gây hại cho trẻ em, có một sự thiếu hụt trong mô hình gia đình ở cha mẹ đồng tính, đồng tính luyến ái có tâm thần và thể chất kém cỏi so với người dị tính và vì vậy họ không được phép nhận con nuôi, không ai sinh ra là đồng tính và người đồng tính có thể thay đổi bằng liệu pháp dùng ý chí để loại bỏ các "ham muốn tội lỗi" trái ý Chúa..., là những ý kiến phản khoa học đã bị phủ nhận và bác bỏ bởi tất cả các tổ chức khoa học y tế chính thống lớn nhất gồm đông đảo các nhà khoa học như Hiệp hội tâm thần học Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ, Tổ chức y tế thế giới....
SPLC cũng cho biết, phương pháp mà các nhóm này thường dùng để phục vụ cho những tuyên truyền của mình là "dựa vào những nghiên cứu kém uy tín và những kiến thức rác đáng vứt bỏ"; thường xuyên hiểu sai, làm sai lệch hoặc bóp méo các nghiên cứu của các tổ chức và nhà khoa học chính thống (nhiều tác giả, đơn vị nghiên cứu từng lên tiếng yêu cầu các tổ chức này chấm dứt việc xuyên tạc, bóp mép số liệu các tác phẩm của họ). Tuyên truyền, hành động của các nhóm hận thù này nhằm mục đích "bôi nhọ người LGBT" và "biến cộng đồng LGBT trở thành mối đe dọa cho xã hội"...
Nhiều lãnh đạo, phát ngôn viên đứng đầu của các tổ chức này như Bryan Fischer, Paul Cameron, Robert Knight, Tony Perkins, Peter Sprigg... trong suốt quá trình hoạt động đã có nhiều những tuyên bố, phát ngôn, ấn phẩm đăng trên tạp chí các tổ chức này và thực hiện các cuộc tuyên truyền chứa những tuyên bố sai sự thật và phản khoa học như: Người đồng tính là "trung tâm của chủ nghĩa phát xít", "Đội quân của Hitler gồm toàn người đồng tính vì người dị tính không có đủ sự tàn bạo và dã man như người đồng tính", ví "cha mẹ đồng tính nuôi con" như "chế độ nô lệ", những người đồng tính có quan hệ yêu đương tự nguyện là ấu dâm, loạn luân, thú tính, được ví như các hành động giết người, cướp của, kết tội đồng tính luyến ái với "tội phạm lạm dụng tình dục trẻ em", người đồng tính có tuổi thọ kém hơn khoảng 20 năm so với người dị tính.... Những tuyên bố này nhận được sự bác bỏ, phản đối, chỉ trích, mạnh mẽ từ các nhà sử học, y học, xã hội học chính thống. Cựu lãnh đạo AFA California Scott Lively là một đồng tác giả của The Pink Swastika (xuất bản năm 1995), trong đó tuyên bố rằng tất cả các nhà lãnh đạo lớn ở chế độ Đức quốc xã là người đồng tính, dù tuyên bố mà không được chấp thuận rộng rãi bởi hầu hết các nhà sử học. Trong năm 2007, Bryan Fischer khi còn là Giám đốc các vấn đề phân tích và là phát ngôn viên cho Hiệp hội gia đình Hoa Kỳ, đã tổ chức một sự kiện quảng bá thông điệp rằng "đồng tính luyến ái là trung tâm của chủ nghĩa phát xít" Ngoài ra, Fischer còn phát biểu: "Hitler phát hiện ra rằng ông không thể có được đội quân người dị tính là dã man, tàn bạo và đủ xấu xa để thực hiện các âm mưu của mình, nhưng những người lính đồng tính về cơ bản không có giới hạn của sự sự mọi rợ và tàn bạo và họ luôn sẵn sàng để gây ra cho bất cứ ai mà Hitler sẽ chỉ đạo về sau. Vì vậy, Hitler đã tự giấu mình, và hầu như tất cả các binh lính Đế chế Galactic, binh lính của SA, đều là người đồng tính nam". Trong tháng 10 năm 2012, Bryan Fischer trong một cuộc phỏng vấn với Carol Costello CNN tiếp tục lặp lại niềm tin của ông rằng "Hitler tuyển dụng người đồng tính xung quanh mình để tạo nên đội quân của mình" ... Paul Cameron, lãnh đạo của Viện Nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ (một tổ chức Kitô cánh hữu), đã bị Hiệp hội tâm lý học Hoa Kỳ, Hiệp hội xã hội học Hoa Kỳ, Hiệp hội tâm lý học Canada và Hiệp hội tâm lý học Nebraska trục xuất khỏi ngành vì liên tục xuyên tạc các nghiên cứu khoa học xã hội. Cameron thường xuyên sử dụng các kỹ thuật lấy mẫu thống kê kỳ lạ, các trò ảo thuật và thủ đoạn tinh vi và gian lận sử dụng các tài liệu tham khảo bài báo nghiên cứu khác bị tẩy chay của mình trong những năm 1990. Khi danh tiếng trong nước của mình đã xuống cấp, Cameron đã tiếp tục quảng bá một lượng khán giả toàn cầu, và số liệu thống kê không có thật của Cameron đã được sử dụng bởi các nhà hoạt động chống LGBTQ ở Đông Âu, Nga, châu Phi, và các nơi khác.
Cũng theo SPLC, phương pháp luận mà các nhóm này hay sử dụng để ngụy biện cho những phát ngôn của mình là "dựa vào những nghiên cứu không được tín nhiệm và những kiến thức rác đáng vứt bỏ", làm sai lệch, bóp méo các nghiên cứu của các nhà khoa học chính thống (nhiều tác giả, đơn vị nghiên cứu từng lên tiếng yêu cầu các tổ chức này chấm dứt việc xuyên tạc các tác phẩm của họ), nhằm "mục đích bôi nhọ người LGBT" và để "biến cộng đồng LGBT trở thành mối đe dọa cho xã hội"....
Ngược lại, quan điểm của SPLC chịu sự phản đối của các tổ chức mà họ công kích, cũng như nhiều chính khách thuộc Đảng Cộng hòa (Hoa Kỳ). Năm 2010, 22 nhà lập pháp đảng Cộng hòa, trong đó có phát ngôn viên Boehner và người đại diện Bachmann, ba thống đốc bang, và một số tổ chức khác đã ký bản tuyên bố phản đối việc SPLC liệt kê các tổ chức như Hội đồng Nghiên cứu Gia đình là một "nhóm thù hận". Các nhà phê bình bao gồm nhà báo Ken Silverstein và nhà nghiên cứu Laird Wilcox đã cáo buộc SPLC đã không suy nghĩ khi xếp các tổ chức vào danh sách này Nhà bình luận J.M Berger của Foreign Policy tin rằng "danh sách nhóm thù hận" của SPLC mang một động cơ chính trị nhằm phóng đại "sự thù hận trong xã hội Mỹ" Giáo sư luật William Jacobson cho rằng SPLC "đã sử dụng "nhóm thù ghét" để dập tắt các phát biểu mà họ không ưa". Tờ Human Events bình luận: danh sách "nhóm thù hận" của SPLC có sai sót khủng khiếp, rằng nếu bất cứ ai nói "trẻ em lớn lên tốt nhất khi được nuôi bởi một người mẹ và người cha", hoặc nếu đồng ý với nhiều nhà trị liệu tâm lý học rằng sự giáo dục và kinh nghiệm đầu đời (bao gồm cả bị lạm dụng tình dục) đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xu hướng tình dục của trẻ em, thì người đó sẽ bị SPLC coi là "tuyên truyền dối trá", "tạo ra thù hận", và rằng chính SPLC mới xứng đáng được gọi là "nhóm thù hận".
Hiệp hội gia đình Hoa Kỳ (AFA) tuyên bố rằng SPLC đã áp dụng cái nhãn "nhóm thù hận" để tấn công bất cứ ai mà họ muốn, SPLC muốn công chúng nghĩ rằng họ là những nhóm chuyên gây bạo lực và quấy rối, và rằng Morris Dees (giám đốc SPLC) thù hận AFA vì ông ta đã chịu nhiều cáo buộc bê bối tình dục từ người vợ cũ liên quan đến ngoại tình, tham gia thác loạn tập thể, loạn luân, ấu dâm và đồng tính luyến ái, trong khi những giá trị đạo đức mà AFA bảo vệ là sự "châm biếm sâu cay" đối với điều này. Hiệp hội nghiên cứu gia đình Hoa Kỳ (FRC) thì tuyên bố rằng: SPLC đã cố tình đánh đồng các nhóm phân biệt chủng tộc, bạo lực với các tổ chức hợp pháp trong đời sống chính trị, và Mark Potok của SPLC đã thú nhận rằng "có những yếu tố đạo đức giả" trong việc SPLC chuyên tấn công các nhóm mà họ xem là bảo thủ Năm 2012, SPLC đã xếp giáo sư Ben Carson vào "nhóm thù hận" chỉ vì ông đã phát biểu "Hôn nhân giữa một người nam và một phụ nữ là trụ cột vững chắc của xã hội", sau đó SPLC đã phải xin lỗi và kể từ đó, FBI đã ngừng sử dụng "danh sách nhóm thù hận" của SPLC như một tài liệu tham khảo.
Trái với phản biện của Nhóm hận thù khi bị xếp loại, FBI vẫn duy trì quan hệ với SPLC trong việc nắm bắt danh sách các nhóm hận thù để ngăn chặn hành vi của tội ác thù hận. Trên website chính thức hiện tại, FBI cho biết: "FBI đã không ngừng cộng tác trên toàn quốc và tại địa phương với nhiều tổ chức dân quyền để thiết lập mối quan hệ, chia sẻ thông tin, mối quan tâm địa chỉ, và hợp tác trong việc giải quyết vấn đề. Các nhóm này bao gồm các tổ chức như NAACP, Trung tâm Nghiên cứu Luật người nghèo Nam Hoa Kỳ, Liên đoàn chống phỉ báng quốc gia, tổ chức Luật quốc gia châu Á - Thái Bình Dương, Tổ chức Quốc gia về Phụ nữ, Tổ chức về Quyền con người và tổ chức mạng lưới quốc gia về người khuyết tật".. Tuy nhiên, theo tác giả Dustin Siggins, nhiều khả năng là FBI sẽ giữ mối quan hệ với SPLC nhưng không công khai trên Internet, ẩn khỏi sự quan sát của công chúng. Vì vậy, thay vì một sự chấm dứt hợp tác, quan hệ giữa 2 bên đã từ công khai trở nên bí mật. Đây không phải là điều tốt cho sự minh bạch.
=== Biên niên sự kiện trên thế giới ===
Thời điểm các quốc gia hay các bang công nhận hôn nhân đồng giới.
Những tên được tô đậm là quốc gia, những tên không được tô đậm là các tiểu bang/tỉnh của một quốc gia nào đó.
Những điều luật đầu tiên trong thời kỳ hiện đại cho phép hôn nhân đồng giới được thông qua vào thập niên đầu tiên của thế kỷ 21. Kể từ khi Hà Lan là nước đầu tiên hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới vào tháng 01 năm 2001, cho tới nay đã có 21 quốc gia công nhận hôn nhân đồng giới. Quốc gia gần đây nhất công nhận hôn nhân đồng giới trên toàn lãnh thổ là Hoa Kỳ, vào tháng 6 năm 2015.
Cho đến thời điểm hiện tại, trên thế giới có các nước gồm: Luxembourg, Pháp, Đan Mạch, Hà Lan, Bỉ, Iceland, Vương Quốc Anh, Na Uy, Thụy Điển, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, New Zealand, Nam Phi, Argentina, Uruguay, Brazil, Colombia, Canada, Ireland, Mexico, toàn bộ 50/50 bang trên lãnh thổ Hoa Kỳ đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới và luật hóa các quyền của người đồng tính. Nhiều quốc gia tuy chưa cho phép kết hôn đồng tính nhưng đã thông qua luật về quyền của người đồng tính như: Đức (năm 2001), Phần Lan (năm 2002), Cộng hòa Czech (năm 2006), Thụy Sĩ (năm 2007), Colombia và Ireland (năm 2011). Một điều luật đã được Vương quốc Anh thông qua, có hiệu lực ở Anh và xứ Wales, sẽ có hiệu lực vào năm 2014. Hoa Kỳ là quốc gia gần nhất công nhận hôn nhân đồng tính trên toàn lãnh thổ. Vào ngày 19/06/2014, Luxembourg đã chính thức thông qua đạo luật thừa nhận hôn nhân đồng giới và đạo luật này sẽ bắt đầu có hiệu lực vào năm 2015. Ngày 26/10/2014, Chính phủ Hoa Kỳ tuyên bố bổ sung thêm 6 bang hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính và ngày 19/11/2014 thêm một bang nữa (Montana), nâng tổng số bang công nhận hôn nhân đồng tính ở Hoa Kỳ lên thành 34/50 bang (bao gồm thủ đô Washinton D.C. và 33 bang khác). Đến 26/06/2015, hôn nhân đồng tính đã được công nhận trên toàn bộ 50/50 bang ở Hoa Kỳ. Thăm dò ở nhiều quốc gia khác nhau cho thấy sự ủng hộ hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở các chủng tộc, dân tộc, độ tuổi, tôn giáo, tổ chức chính trị và điều kiện kinh tế ngày càng tăng lên. Tuy nhiên, nhiều nước theo đạo Hồi vẫn phản đối người đồng tính và hôn nhân đồng tính. Việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở những nền luật pháp khác nhau trải qua các quá trình khác nhau, một tòa án quyết định dựa trên những đảm bảo hiến pháp hoặc tổ chức bỏ phiếu trực tiếp hoặc trưng cầu dân ý.
Các quốc gia công nhận được liệt kê dưới đây theo thứ tự thời gian.
=== Hà Lan ===
Hà Lan là nước đầu tiên mở rộng luật hôn nhân cho các cặp đồng tính, theo sự đề nghị của một ủy ban đặc biệt được Quốc hội chỉ định để xem xét vấn đề này từ năm 1995. Dự luật Hôn nhân đồng giới năm 2000 trình qua Quốc hội Hà Lan thảo luận, đã được Hạ viện thông qua với 103 phiếu thuận/33 phiếu chống.. Sau đó Dự luật được Thượng viện phê chuẩn với 49 phiếu thuận/26 phiếu chống. Toàn bộ 26 phiếu chống lại dự luật ở thượng viện là của các nghị sĩ Kito giáo, chiếm 26/75 chỗ ngồi tại thời điểm đó.
Luật hôn nhân đồng giới tại Hà Lan chính thức có hiệu lực từ ngày 04 tháng 01 năm 2001.
=== Bỉ ===
Bỉ là nước thứ 2 trên thế giới chính thức công nhận hôn nhân đồng giới, có hiệu lực từ 1 tháng 6 năm 2003. Ban đầu, Bỉ chỉ cho phép đám cưới của các cặp đồng tính ngoại quốc, nếu quốc gia họ cũng chấp nhận hôn thú này. Tuy nhiên luật pháp có hiệu lực vào tháng 10 năm 2004, cho phép bất cứ cặp nào làm đám cưới, nếu một trong 2 người đã sống ở đó ít nhất 3 tháng. Năm 2006, các cặp vợ chồng đồng giới được phép nhận con nuôi.
=== Tây Ban Nha ===
Tây Ban Nha là nước thứ 3 trên thế giới đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới, luật có hiệu lực kể từ ngày 3 tháng 7 năm 2005, được ủng hộ bởi đa số người dân.. Vào năm 2004, khi chính quyền của Đảng công nhân Xã hội chủ nghĩa mới được bầu, đã bắt đầu chiến dịch hợp pháp hóa hôn nhân cùng với quyền được nhận con nuôi của các cặp đồng tính. Sau nhiều cuộc tranh luận, luật cho phép hôn nhân đồng tính đã được quốc hội Tây Ban Nha thông qua ngày 30 tháng 6 năm 2005. Nhà vua Tây Ban Nha Juan Carlos, mặc dù có 30 ngày để quyết định sự chấp thuận của hoàng gia, đã gián tiếp cho thấy sự tán thành bằng cách ký tên vào ngày 1 tháng 7 năm 2005. Luật đã được công bố một ngày sau đó.
=== Canada ===
Ngày 20 tháng 7 năm 2005, Canada trở thành nước thứ 4 trên thế giới, và là nước đầu tiên ngoài Âu Châu, hợp thức hóa toàn quốc. Các quyết định của tòa án, bắt đầu từ năm 2003, đã hợp thức hóa Hôn nhân đồng giới trong 8 của 10 vùng, mà số dân tổng cộng là 90% dân số Canada. Trước khi đạo luật được ra đời, đã có hơn 3.000 cặp đồng tính đã làm hôn thú trong những khu vực này. Những quyền lợi về pháp lý mà có liên quan tới hôn nhân đã được mở rộng ra cho những cặp đồng tính sống chung với nhau từ năm 1999.
=== Nam Phi ===
Cônng nhận chính thức Hôn nhân đồng giới ở Nam Phi là do kết quả của quyết định tòa án hiến pháp vào ngày 1 tháng 12 năm 2005, theo đó luật hôn nhân hiện tại đã vi phạm chương 9 về quyền bình đẳng trong hiến pháp, bởi vì nó phân biệt căn bản về định hướng tình dục. Tòa án đã cho quốc hội một năm để chỉnh sửa sự bất công. Luật mới đã được quốc hội thông qua vào ngày 14 tháng 12 năm 2006, với số phiếu thuận là 230 so với 41. Nó bắt đầu có hiệu luật vào ngày 30 tháng 11 năm 2006. Nam Phi là nước thứ 5, cũng là nước đầu tiên ở Phi Châu, hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới.
=== Na Uy ===
Na Uy trở thành quốc gia thứ 6 công nhận hôn nhân đồng giới. Luật hôn nhân đồng giới hợp pháp có hiệu lực tại Na Uy kể từ ngày 1 tháng 1 năm 2009, khi một Dự luật về "hôn nhân trung tính" được ban hành sau khi được thông qua bởi cơ quan lập pháp Na Uy vào tháng 6 năm 2008.
Luật mới về hôn nhân thay thế cho hình thức quan hệ đối tác đăng ký áp dụng cho các cặp vợ chồng đồng tính đã tồn tại từ năm 1993. Luật mới trao cho các cặp vợ chồng đồng tính có đầy đủ các quyền như người dị tính, bao gồm cả quyền tổ chức tiệc cưới tại nhà thờ, quyền nhận con nuôi và hỗ trợ mang thai. Ngoài ra, luật mới cũng sửa đổi lại định nghĩa của hôn nhân dân sự để nó mang tính "trung lập". Các cặp vợ chồng trong quan hệ đối tác đăng ký có thể giữ lại tình trạng đó hoặc chuyển đổi sang hình thức hôn nhân.
=== Argentina ===
Ngày 15 tháng 7 năm 2010, thượng viện Argentina đã chấp thuận dự luật mở rộng quyền hôn nhân cho các cặp đồng tính, mà được ủng hộ bởi chính quyền của nữ tổng thống Cristina Fernández de Kirchner, tuy nhiên bị chống đối bởi nhà thờ công giáo. Luật mới có hiệu lực từ ngày 22.7.2010. Các cuộc trưng cầu dân ý cho thấy 70% người Argentina ủng hộ cho các cặp đồng tính cùng quyền hôn nhân như các cặp khác giới tính. Argentina là nước đầu tiên ở Châu Mỹ Latin, nước thứ hai ở Châu Mỹ sau Canada, và nước thứ 10 trên thế giới chấp nhận hôn nhân đồng giới.,
=== Ireland ===
Vào tháng 1 năm 2015, chính phủ Ireland đã đưa một dự luật để cải tổ hiến pháp ra quốc hội để biểu quyết. Theo dự luật, câu sau sẽ được thêm vào hiến pháp: "Một cuộc hôn nhân giữa hai người, không phân biệt giới tính, có thể được thực hiện theo quy định của luật pháp." Sau khi hạ viện đã đồng ý vào ngày 11 tháng 3 năm 2015, thượng viện đã thông qua vào ngày 27 tháng 3 năm 2015 với tỉ lệ ủng hộ áp đảo là 29/3. Những cải tổ hiến pháp ngoài sự chấp thuận của quốc hội còn phải được sự đồng ý của người dân. Cuộc trưng cầu dân ý đã được tổ chức tại Ireland vào ngày 22 tháng 5 năm 2015, với 62,1% số phiếu đồng ý việc tổ hiến pháp công nhận hôn nhân đồng giới. Bằng việc sửa đổi hiến pháp, Ireland trở thành nước đầu tiên chấp thuận hôn nhân đồng giới qua một cuộc trưng cầu dân ý.
Ngày 29 tháng 10 năm 2015, Luật hôn nhân đồng giới chính thức có hiệu lực ở Ireland. Ireland cũng là nước có truyền thống Công giáo đầu tiên (với tỷ lệ gần 90% dân số theo đạo Thiên Chúa)thông qua luật về hôn nhân đồng giới bằng hình thức trưng cầu dân ý.
=== Hoa Kỳ ===
Ngày 26 tháng 6 năm 2015, Hoa Kỳ trở thành quốc gia thứ 21 trên thế giới hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới sau phán quyết của Tối cao Pháp viện tuyên bố hôn nhân đồng tính được công nhận ở tất cả 50 bang trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ.
=== Châu Âu ===
Châu Âu là lục địa có nhiều nước công nhận hôn nhân đồng giới sớm nhất (2001) và nhiều nhất (13 nước). Các nước công nhân hôn nhân đồng giới là các nước Tây và Bắc Âu như Hà Lan (2001), Bỉ(2003), Tây Ban Nha (2005), Na Uy (2009), Thụy Điển (2009), Bồ Đào Nha (2010), Iceland(2010), Đan Mạch (2012), Pháp (2013), Vương Quốc Anh (2014), Luxemburg (2015). 2 nước Phần Lan (công nhận 2014) và Ireland (công nhận 2015) chưa có luật chính thức.
=== Châu Mỹ ===
Hiện tại tổng cộng có 5 nước tại châu Mỹ công nhận hôn nhân đồng giới (Canada (2005), Argentina (2010), Brasil (2013) và Uruguay (2013), từ ngày 26.06.2015 theo phán xử của tòa án tối cao tại toàn nước Hoa Kỳ và một số bang tại Mexico.
== Những vấn đề liên quan ==
=== Thăm dò ý kiến ===
Nhiều thăm dò và nghiên cứu được thực hiện, bao gồm những công trình được hoàn tất trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21. Nhiều khảo sát thực hiện ở những nước phát triển trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21 cho thấy việc ủng hộ hôn nhân đồng giới có xu hướng tăng ở mọi lứa tuổi, quan điểm chính trị, tôn giáo, giới tính, chủng tộc và tôn giáo.
Thăm dò dư luận tháng 6/2013 tại 16 nước ở châu Âu, châu Mỹ và châu Á-Thái Bình Dương cho thấy tỉ lệ ủng hộ việc công nhận mối quan hệ của các cặp đồng tính khá cao (73%). Cả 16 nước đều có đa phần người dân ủng hộ việc công nhận này. 72% người được hỏi nói rằng hôn nhân đồng giới không có hại gì cho xã hội, 59% ủng hộ các cặp vợ chồng đồng tính nhận con nuôi và 64% cho rằng những cặp vợ chồng đồng tính cũng có khả năng nuôi dạy con tốt như các cặp vợ chồng khác. Chỉ 14% phản đối việc công nhận mối quan hệ của các cặp đồng giới.
=== Châu Âu ===
Tại Đức, thăm dò dư luận của Ifop tháng 5 năm 2013 cho thấy 74% người Đức ủng hộ các cặp đồng tính được quyền kết hôn và nhận con nuôi.
Tại Pháp, theo khảo sát năm 2015, 56% người dân Pháp phản đối hôn nhân đồng tính bất chấp đạo luật này đã được thông qua vào năm 2013, hầu hết số phản đối là tín đồ Cơ đốc giáo. Theo một cuộc khảo sát vừa được thực hiện bởi Viện Pháp về Ý kiến Cộng đồng, 22% người dân Pháp muốn đạo luật hôn nhân đồng giới bị bãi bỏ và 32% thì cho rằng hôn nhân đồng tính nên được chuyển thành "kết hợp dân sự nhưng không bao gồm việc nhận con nuôi". Tuy nhiên, tạp chí của Times của Ý khẳng định đây là một tỷ lệ cải thiện vì năm 2013, tỷ lệ phản đối là 37% nên đây là một tin tốt.. Các cuộc khảo sát khác thì cho kết quả khác biệt, phần lớn người dân Pháp ủng hộ hôn nhân đồng tính. Theo kết quả của kênh khảo sát uy tín của Ủy ban châu Âu (Eurobarometer), 71% người Pháp nghĩ rằng hôn nhân đồng giới nên được cho phép trên toàn châu Âu, trong khi chỉ có 24% phản đối. Một cuộc thăm dò của BVA vào tháng 6 năm 2015 cho kết quả: 56% người Pháp ủng hộ cho quyền bình đẳng của các cặp vợ chồng đồng tính, 67% ủng hộ hôn nhân đồng tính (tăng 9% so với năm 2013), gần 6 trong số 10 người dân Pháp ủng hộ các quyền được áp dụng cho các cặp vợ chồng đồng tính.
Thăm dò dư luận Ipsos tháng 5/2013 cho thấy 78% người Na Uy ủng hộ hôn nhân đồng tính. Tại Thụy Điển, 81% người dân ủng hộ hôn nhân đồng tính và thêm 9% ủng hộ một hình thức công nhận các cặp đôi đồng tính khác.
Thăm dò dư luận YouGov tháng 1/2013 cho thấy 79% người Đan Mạch ủng hộ hôn nhân đồng tính và 16% phản đối.
Thăm dò dư luận Ifop tháng 5/2013 tại Thụy Sĩ cho thấy 63% người Thụy Sĩ ủng hộ quyền kết hôn và nhận con nuôi chung của người đồng tính.
Tỷ lệ ủng hộ hôn nhân đồng giới tại Phần Lan tăng mạnh trong thập kỷ trước, từ 45% (2006), 54 % (2010), 57% (2013) cho đến 65% vào đầu năm nay.
Thăm dò dư luận tháng 10/2014 tại Italia cho thấy 55% người dân ủng hộ hôn nhân đồng tính.
Thăm dò dư luận tháng 4/2013 tại Luxembourg cho thấy 83% người dân ủng hộ việc công nhận hôn nhân đồng giới. Luật thừa nhân hôn nhân giữa những người cùng giới tính cũng như quyền nhận con nuôi của họ được Quốc hội Luxembourg thông qua ngày 19/06/2014 với tỉ lệ ủng hộ áp đảo 56 phiếu thuận và 4 phiếu chống.
76% người Tây ban Nha ủng hộ việc công nhận hôn nhân đồng giới, 18% phản đối.
Thăm dò dư luận tháng 11/2013 cho thấy 61% người Áo ủng hộ hôn nhân đồng tính. Thăm dò dư luận tháng 5/2014, 73% người Áo ủng hộ hôn nhân đồng giới.
85% người Hà Lan ủng hộ quyền kết hôn và nhận con nuôi của người đồng tính.
Thăm dò dư luận tháng 2/2015 tại Slovenia cho thấy 59% người dân ủng hộ hôn nhân đồng giới.
Thăm dò dư luận tháng 2/2014, 76% người Ireland ủng hộ bình đẳng hôn nhân. Tại Scotland, thăm dò dư luận năm 2010 của The Scottish Social Attitudes Survey cho thấy 61% người dân ủng hộ hôn nhân đồng tính, 19% phản đối. Trong cuộc thăm dò dư luận tháng 6/2012 của Ipsos MORI, 64% người Scotland ủng hộ hôn nhân đồng tính. Thăm dò dư luận vào tháng 12/2014 của The Scottish Social Attitudes Survey cho thấy 68% người Scotland ủng hộ hôn nhân đồng tính, chỉ 17% phản đối. Đa phần người theo các tôn giáo lớn và phần lớn người dân ở các độ tuổi ủng hộ hôn nhân đồng tính.
Năm 2014, Thủ tướng Anh David Cameron gửi lời đến toàn thể người dân nhân sự kiện các cặp đôi đồng tính tại nước này đã có thể kết hôn như những cặp đôi dị tính khác: "Cuối tuần này đánh dấu một thời điểm quan trọng cho đất nước của chúng ta. Lần đầu tiên, các cặp đôi được phép kết hôn sẽ không chỉ bao gồm đàn ông và phụ nữ nữa mà còn là giữa cặp nam-nam và nữ-nữ với nhau. Sau tất cả các cuộc vận động, cuối cùng chúng ta cũng đã đi đến cái đích là hôn nhân bình đẳng. Nói đơn giản hơn, tại Anh, việc bạn là đồng tính hay dị tính sẽ chẳng còn là vấn đề nữa. Nhà nước công nhận mối quan hệ của bạn đều bình đẳng như nhau." Lesley Carig, Đại sứ Anh tại Việt Nam, phát biểu tại 1 lễ cưới đồng tính được tổ chức ở Đại sứ quán Anh: "Thật tuyệt vời khi có thể chứng kiến lễ cưới đồng tính đầu tiên tại Việt Nam. Ngày hôm nay, chúng ta không chỉ ăn mừng cho cặp đôi hạnh phúc này mà còn vì sự bình đẳng cho tất cả mọi người, cho những giá trị mà nước Anh tin tưởng!".
Trong khi đó, tại các quốc gia Đông Âu như Nga, Ucraina, Belarus... tỷ lệ phản đối hôn nhân đồng tính lại rất cao.
Tại Litva và Ucraina, chỉ có 28% người dân chấp nhận sự hiện diện của người đồng tính trong xã hội
Một cuộc khảo sát tiến hành ở Croatia vào năm 2014 cho thấy: 45,4% người được hỏi phản đối mạnh mẽ và 15,5% phản đối vừa phải việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới ở Croatia. Chỉ 10,1% là mạnh mẽ ủng hộ, 6,9% ủng hộ vừa phải, và 21,2% là trung lập
=== Châu Mỹ ===
==== Hoa Kỳ ====
Một thăm dò gần đây ở Hoa Kỳ cho thấy có sự gia tăng trong cộng đồng người Mỹ việc ủng hộ hôn nhân đồng giới. Khi những người lớn tuổi được hỏi vào năm 2005 là họ có nghĩ "hôn nhân giữa cho người đồng tính có nên hoặc không nên được luật pháp công nhận và có quyền lợi như hôn nhân truyền thống khác", 28% đồng ý trong khi 68% không đồng ý (4% còn lại không chắc chắn). Khi được hỏi vào tháng 3 năm 2013, 50% ủng hộ trong khi 41% chống đối và 9% không chắc chắn. Nhiều thăm dò và nghiên cứu ở nhiều nước cho thấy người ủng hộ tăng lên khi có sự gia tăng về trình độ học vấn, người trẻ hơn thường ủng hộ hơn người già hơn.
83% người Do Thái ở Mỹ ủng hộ hôn nhân đồng tính, tỷ lệ cao nhất trong số các nhóm sắc tộc ở Mỹ. Khảo sát những người theo Công giáo ở Mỹ của The Pew Research Centre vào năm 2014 cho thấy tỷ lệ ủng hộ quyền kết hôn của người đồng tính rất cao: 85% người Công giáo từ 18-29 tuổi chấp nhận người đồng tính và 75% ủng hộ hôn nhân đồng tính.
Một điều tra của tờ USA Today và viện Gallup năm 2009 thì có ủng hộ là 40% trong khi vẫn còn 57% phản đối. Con số ủng hộ này ngày càng tăng, thăm dò dư luận tháng 2/2015 cho thấy tỷ lệ người Mỹ ủng hộ việc công nhận hôn nhân đồng giới cao kỷ lục là 60%, 46% người Mỹ có quen biết một cặp đồng tính đã kết hôn. Thế hệ trẻ của Mỹ có tỷ lệ ủng hộ bình đẳng hôn nhân rất cao: Thăm dò dư luận của ABC News/Washington Post cho thấy 81% người Mỹ dưới 30 tuổi ủng hộ hôn nhân đồng tính, 58% người Mỹ nói chung ủng hộ hôn nhân đồng giới. Đây là một sự thay đổi rất lớn so với cuộc thăm dò dư luận cách đây 1 thập kỷ trong đó số người Mỹ phản đối hôn nhân đồng tính là 55%, trong khi số ủng hộ là 37%.
Đại học Quinnipiac đã tiến hành các cuộc điều tra về thái độ dân chúng Mỹ với hôn nhân đồng giới vào cuối năm 2015 . Tất cả các kết quả đều cho thấy tỷ lệ ủng hộ hôn nhân đồng tính tăng đều theo thời gian và hiện chiếm tỷ lệ quá bán:
Bạn có nghĩ rằng người đồng tính kết hôn là hợp pháp hay không hợp pháp? Kết quả: Hợp pháp (56%), không hợp pháp (34%), không chắc chắn (10%).
Bạn có ủng hộ hay phản đối các cặp đồng tính kết hôn? Kết quả: Hỗ trợ (55%), phản đối (38%), không chắc chắn (7%)
Bạn nghĩ rằng quan chức chính phủ nên hay không nên cấp giấy phép kết hôn cho các cặp đồng tính? Kết quả: Nên (62%), không nên (32%), không chắc chắn (6%).
Nếu quan chức chính phủ nói việc cấp giấy phép hôn thú đồng giới vi phạm niềm tin tôn giáo của họ, bạn nghĩ họ nên hay không nên cấp phép? Kết quả: Nên (55%), không nên (39%), không chắc chắn (6%).
Khi có một cuộc xung đột giữa tín ngưỡng tôn giáo với việc đối xử bình đẳng theo pháp luật, bạn nghĩ điều gì quan trọng hon? Kết quả: Niềm tin tôn giáo (19%), quyền bình đẳng theo pháp luật (74%), không chắc chắn (6%).
Sau khi Tòa án Tối cao Hoa Kỳ thông qua luật hôn nhân đồng giới trên toàn liên bang, có một thư ký quận Kentucky đã từ chối cấp giấy phép hôn nhân đồng tính vì niềm tin tôn giáo. Bạn nghĩ rằng cô ấy nên hay không nên cấp giấy hôn thú cho các cặp đồng tính? Kết quả: Nên (63%), không nên (33%), không chắc chắn (4%)...
==== Các nước khác ====
Thăm dò dư luận năm 2012 tại Canada cho thấy 66,4% người dân ủng hộ hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính. Tỷ lệ ủng hộ cao nhất ở Quebec (72%) và British Columbia (70.2%), thấp nhất ở Alberta (45.6%).
Thăm dò dư luận tháng 8 năm 2012 tại Chile cho thấy 54,9% người Chile ủng hộ hôn nhân đồng tính và 40,7% không ủng hộ. Tân Tổng thống Chile Michelle Bachelet từng hứa sẽ công nhận hôn nhân đồng tính trong chiến dịch tranh cử của mình.
Thăm dò dư luận tháng 7 năm 2013 tại Mexico cho thấy 52% người Mexico ủng hộ hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính, trong đó tỷ lệ ủng hộ của người theo đạo Công giáo là 52% và người không theo tôn giáo là 62%.
=== Châu Á ===
Đa số các nước theo đạo Hồi tỉ lệ phản đối hôn nhân đồng tính rất cao. Ở Đông Nam Á, Malaysia và Indonesia có tỉ lệ phản đối hôn nhân đồng tính lần lượt là 86% và 93%. Ở Trung Đông, đa số các nước phản đối hôn nhân đồng tính với tỉ lệ rất cao từ 78% ở Thổ Nhĩ Kỳ cho đến 97% ở Jordan. Tuy nhiên ở một số nước theo đạo Hồi như Albania, Lebanon, và Thổ Nhĩ Kỳ cũng đã có những cuộc tranh luận về việc công nhận hôn nhân đồng giới.
Đài Loan là nước có tỷ lệ ủng hộ hôn nhân đồng tính cao nhất châu Á với 68% người dân ủng hộ.
59% người dân Israel ủng hộ hôn nhân đồng tính. 89% người Do Thái thế tục ủng hộ quyền bình đẳng đầy đủ của người đồng tính. Tổng thống Israel Shimon Peres cũng ủng hộ quyền kết hôn của người đồng tính.
==== Việt Nam ====
Ngày 21/11/2013, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền phát biểu rằng Quốc hội Việt Nam cần sửa đổi Luật Hôn nhân và Gia đình để bảo đảm cho các cặp đồng tính cũng được hưởng đầy đủ tất cả các quyền như mọi cặp vợ chồng khác, trong đó có quyền kết hôn, thủ tục đăng ký và được pháp luật bảo hộ đầy đủ về tài sản và con cái. Ông Brad Adams, Giám đốc phụ trách châu Á của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền nói: "Việt Nam đang tăng cường các quyền cho những cặp đồng tính, nhưng vẫn cần đạt tới bước cuối cùng để đảm bảo công bằng cho tất cả mọi người. Những điều luật có nội dung mập mờ có thể gây kỳ thị đối với những người có quan hệ đồng giới, song giới và chuyển đổi giới. Giới chức chính quyền cần có can đảm xác lập sự công bằng về hôn nhân trong luật pháp Việt Nam."
Đại diện tổ chức Phụ nữ Liên Hợp Quốc, bà Shoko Ishikawa phát biểu: "Việt Nam cũng có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực chính sách và lập pháp. Các khái niệm về bình đẳng, tự do và không phân biệt đối xử được bảo đảm trong bản Hiến pháp sửa đổi... Trong quá trình xem xét sửa đổi luật hôn nhân và gia đình hiện nay, dường như việc cấm hôn nhân đồng giới sẽ được bãi bỏ. Tuy nhiên, chúng ta vẫn mong muốn bộ luật này đi xa hơn nữa để bảo đảm quyền của các cặp đôi đồng giới được tương tự như các cuộc hôn nhân khác."
Theo kết quả điều tra quốc gia về "Quan điểm xã hội với hôn nhân cùng giới" được Viện Xã hội học (Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam) và Viện Nghiên cứu xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSEE) công bố ngày 26 tháng 03 năm 2014, khảo sát tại 8 tỉnh, thành phố tại Việt Nam gồm: Hà Nội, Quảng Ninh, Nghệ An, Đà Nẵng, Đắk Lắk, tp. Hồ Chí Minh, An Giang, Sóc Trăng với sự tham gia của 5.300 người dân, có tới 90% người dân biết về đồng tính và việc sống chung như vợ chồng giữa hai người cùng giới tính (62%). Một tỷ lệ lớn (30%) người dân có quen ai đó là người đồng tính (họ hàng, bạn bè, đồng nghiệp, hàng xóm…), 33,7% ủng hộ việc hợp pháp hóa hôn nhân cùng giới, số còn lại không đồng ý. Về việc công nhận quyền sống chung như vợ chồng giữa những người cùng giới tính, số người ủng hộ là 41,2%. Hình thức sống chung cùng giới nên được hợp pháp hóa theo dạng "kết hợp dân sự" hoặc "đăng ký sống chung như vợ chồng".
Ngày 1 tháng 1 năm 2015, một chỉnh sửa mới từ luật Hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực, trong đó quy định sẽ không cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, coi như hủy bỏ luật cấm năm 2000. Tuy nhiên, theo Điều 8 về "Điều kiện kết hôn" có ghi "Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính". Như vậy, những người đồng giới tính vẫn có thể chung sống, nhưng sẽ không được pháp luật giải quyết nếu có tranh chấp xảy ra khi chung sống
=== Châu Úc ===
Thăm dò dư luận tháng 12 năm 2012 tại New Zealand cho thấy 59% người New Zealand ủng hộ hôn nhân đồng tính.
Thăm dò dư luận tháng 7 năm 2014 tại Australia cho thấy 72% người dân ủng hộ hôn nhân đồng tính, chỉ 21% phản đối. Đa phần người theo các tôn giáo lớn và phần lớn người Úc ở các độ tuổi ủng hộ hôn nhân đồng tính. Tỷ lệ ủng hộ cao nhất là ở những người đã có con cái với 85% ủng hộ.Tất cả các bang đều có phần lớn người dân ủng hộ hôn nhân đồng tính.
=== Nhận con nuôi ===
Hầu hết các quốc gia hoặc tiểu bang cho phép hôn nhân đồng giới thì cũng cho phép cặp đôi đồng giới nhận con nuôi chung(ngoại trừ ngoại lệ đã có từ lâu là Bồ Đào Nha). Hơn nữa, nhiều quốc gia hoặc tiểu bang không cho phép hôn nhân đồng giới nhưng lại cho phép cặp đôi đồng giới (không kết hôn) nhân con nuôi chung như: Vương quốc Anh, tiểu bang Tây Úc, New South Wales và Tasmania ở Úc, tiểu bang Coahuila và Chihuahua ở México, một số tiểu bang của Hoa Kỳ (Colorado, Indiana, Nevada, Oregon) và ít nhất trong một vài trường hợp ở Israel. Nhiều quốc gia hoặc tiểu bang khác cho phép second-parent: người cặp đôi (không kết hôn) với người đồng tính nhận con của người đồng tính mà mình cặp đôi làm con nuôi (xem như cha mẹ kế).
=== Mang thai hộ và thụ tinh trong ống nghiệm ===
Một người đồng tính hoặc song tính nam có thể có con với một người phụ nữ, một quá trình trong đó một người phụ nữ sử dụng tinh trùng của người đồng tính nam hoặc mang thai trứng đã thụ tinh. Một người đồng tính hoặc song tính nữ có thể sinh con nhờ thụ tinh nhân tạo từ tinh trùng được hiến tặng trong ngân hàng tinh trùng.
=== Người hoán tính và lưỡng tính ===
Theo pháp luật, giới tính có thể được xác định dựa trên một trong những đặc điểm: hệ thống xác định giới tính XY, kiểu tuyến sinh dục, kiểu cơ quan sinh dục ngoài hoặc nhận thực xã hội của đối tượng. Vấn đề xác định giới tính dựa vào tuyến sinh dục hoặc đặc điểm sinh dục nào đó thì phức tạp bởi vì có những phương pháp giải phẫu có thể làm thay đổi những đặc điểm này.
=== Ly dị ===
Ở Bỉ, năm 2009, có 158 nam và 213 nữ đồng tính đăng ký ly dị trong khi 1133 nam và 999 nữ đồng tính đăng ký kết hôn.
Ở Đan Mạch, năm 1997, tỉ lệ ly dị ở người đăng ký cặp đôi đồng giới (17%) thấp hơn đáng kể so với tỉ lệ ly dị ở cặp đôi khác giới (43%). Phần đông hôn nhân đồng giới ở Đan Mạch là cặp nam-nam và chỉ 14% trong số này ly dị so với 23% ở cặp đôi nữ-nữ. Tỉ lệ ly dị cao ở người đồng tính nữ phù hợp với dữ liệu cho thấy phụ nữ là bên chủ động ly dị trong hầu hết vụ ly dị của cặp đôi khác giới ở Đan Mạch.
Ở Hà Lan, nữ đồng tính đăng ký kết hôn nhiều hơn nam đồng tính một ít: từ 2006 tới 2011, có trung bình 690 nữ và 610 nam đồng tính đăng ký mỗi năm. Số ly dị đồng giới ở nữ cao hơn ở nam nhiều: trung bình có 100 nữ và 45 nam ly dị đồng giới mỗi năm.
Ở Na Uy và Thụy Điển, một nghiên cứu về đăng ký cặp đôi đồng giới ngắn hạn cho thấy tỉ lệ ly dị đồng giới cao hơn ly dị khác giới là 50-167% và những cặp đôi đồng giới nữ được coi là ít bền vững, hoặc dễ thay đổi, hơn những cặp đôi đồng giới nam.
Ở Vương quốc Anh, tỉ lệ ly dị đồng giới trong 30 tháng đầu tiên của luật đăng ký cặp đôi dân sự thấp hơn 1% một ít.
Ở Hoa Kỳ, năm 2011, đối với những tiểu bang có số liệu, tỉ lệ chia tay ở cặp đôi đồng giới là bằng một nửa tỉ lệ chia tay ở cặp đôi khác giới. Tỉ lệ chia tay ở những cặp đôi đồng giới có đăng ký theo pháp luật là 1,1% trong khi 2% cặp đôi khác giới có kết hôn ly dị mỗi năm.
Nghiên cứu tháng 12 năm 2014 của The Williams Institute cho thấy các cặp đồng tính kết hôn có tỷ lệ ly dị thấp hơn (1%) so với các cặp khác giới (2%).
=== Quan điểm tôn giáo ===
Việc hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới bị một số nhóm tôn giáo phản đối gọi là "tái định nghĩa hôn nhân".
Các tôn giáo chính trên thế giới có quan điểm khác nhau về hôn nhân đồng giới. Chẳng hạn, trong số các hệ phái lớn của Kitô giáo, lập trường chính thức của Giáo hội Công giáo Rôma là chống mọi hình thức kỳ thị người đồng tính nhưng phản đối hôn nhân đồng giới, Giáo hội Chính thống giáo, một số giáo hội Tin Lành, đa số người Hồi giáo, cũng như Do Thái giáo Chính thống có cùng quan điểm như thế. Phật giáo được cho là có quan điểm không nhất quán về vấn đề này theo cách tổng thể.
Giáo hoàng Biển Đức XVI cho rằng hôn nhân đồng tính cấu thành hành vi chống lại sự thật bản chất của con người. Đó là một nỗ lực không mệt mỏi của cả Tòa Thánh Vatican mà người đứng đầu là Giáo hoàng, nhằm cố gắng thức tỉnh Hoa Kỳ và một loạt các nước châu Âu đang đòi hỏi công nhận hôn nhân đồng tính trong thời gian qua. Giáo hoàng Biển Đức XVI đã lên tiếng bày tỏ quan điểm rằng: hôn nhân đồng giới là phi tự nhiên và có thể gây nhiều phẫn nộ ảnh hưởng tới hòa bình và công lý trên thế giới. Giáo hoàng Biển Đức XVI khi còn tại vị từng kêu gọi:
Chúng ta cần phải phổ cập và lan truyền kiến thức về hôn nhân tự nhiên trong sự giao hòa giữa phái nam và phái nữ nhằm gia tăng nỗ lực chống lại mọi sự dị biến hôn nhân. Những dị biến như thế làm mất ổn định tính tự nhiên của hôn nhân, che lấp bản chất vốn có của hôn nhân và làm phai nhạt vai trò quan trọng của nó đối với xã hội. Nguyên tắc hôn nhân này không phải là chân lý đức tin mà đơn giản là hệ quả tất yếu của quyền tự do tôn giáo, thể hiện bản chất của con người và là một thành quả phát triển của nhân loại. [...]
Hãy biết thêm về giá trị của gia đình và hôn nhân. Là tín đồ Kitô, chúng ta có bổn phận bảo vệ nguyên tính và nhất thống của hôn nhân giữa một người nam và một người nữ trước bất kỳ hình thức diễn dịch lệch lạc nào.
Mặt khác, nhiều cộng đồng tôn giáo trên thế giới ủng hộ hoặc cử hành nghi lễ cho các cặp kết hôn đồng giới. Trong số đó có thể kể đến: Phật giáo tại Australia, Giáo hội Giám nhiệm (Hoa Kỳ), Giáo hội Trưởng lão (USA), Giáo hội Đan Mạch, Giáo hội Thụy Điển, Giáo hội Iceland (Lutheran), Metropolitan Community Church, United Church of Christ, Evangelical Lutheran Church in America, một số nhánh Do Thái giáo tại Mỹ, v.v.
Trong Hồi giáo, Luật Sharia coi đồng tính là tội đáng bị trừng phạt. Không có hình phạt cụ thể nào được ghi trong luật này, nhưng một số nước Hồi giáo đã thông qua án tử hình đối với tội danh này.
=== Các phong trào ủng hộ hoặc phản đối ===
Tháng 6/2011, Ủy ban Nhân quyền Liên Hợp Quốc đã thông qua tuyên bố về quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới trên toàn cầu. Tuyên bố khẳng định "mọi người đều sinh ra tự do và bình đẳng về nhân cách và quyền lợi, và mọi người đều xứng đáng có được tự do và quyền lợi mà không bị phân biệt đối xử dưới bất kỳ hình thức nào". 96 nước thành viên của Liên Hợp Quốc đã ký tên ủng hộ nghị quyết công nhân quyền của người đồng tính, 44 nước không ủng hộ cũng không phản đối quyền của người đồng tính, 57 nước ký tên phản đối quyền của người đồng tính (hiện còn 54 nước vì có 3 nước đã chuyển sang ủng hộ quyền của người đồng tính.
Trong ngày 27/1/2013, hàng trăm ngàn người Pháp đã xuống đường ủng hộ hôn nhân đồng giới được Chính phủ thông qua. Chỉ riêng thủ đô Paris, theo số liệu của cảnh sát là 125.000 người còn theo số liệu của các nhà tổ chức là 400.000 người đã xuống đường để hô khẩu hiệu và giương biểu ngữ ủng hộ. Tại các địa phương khác, tổng số người tham gia hoạt động này là khoảng 100.000 người.
Ngày 26/06/2015, Tòa án tối cao Mỹ đã thông qua điều luật hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới trên toàn nước Mỹ. Ngay lập tức, trên các phương tiện truyền thông: báo đài, truyền hình, mạng xã hội... nhiều người dân Mỹ bày tỏ sự ủng hộ với người đồng tính. Nhiều chính khách, nghệ sĩ, doanh nhân cũng thể hiện sự vui mừng trước bước tiến triển mới về những nỗ lực cho cộng đồng LGBT. Mạng xã hội facebook lập ra ứng dụng đổi hình đại diện sang màu cầu vồng sáu sắc mang tên "Celebrate Pride" để thể hiện sự ủng hộ đối với người đồng tính. Sau 4 ngày, gần 30 triệu tài khoản đã thay đổi hình đại diện sang biểu tượng cầu vồng để ủng hộ hôn nhân đồng giới. Thống kê của Facebook cho biết các hình ảnh ủng hộ hôn nhân đồng giới đã nhận được hơn 500 triệu lượt like sau 4 ngày. Nhiều người nổi tiếng trên thế giới và cả ở Việt Nam đã tham gia phong trào này.
Ngày 30/6/2013, sau khi Tòa án Tối cao Mỹ bãi bỏ lệnh cấm hôn nhân đồng giới, nhiều người Mỹ đã ra đường để ủng hộ người đồng tính. Riêng tại thành phố New York, Hãng thông tấn AP ước tính có khoảng hai triệu người tham gia diễu hành vì quyền của người đồng tính. Nhiều cuộc diễu hành cũng được tổ chức tại San Francisco, Chicago, Seattle, Minneapolis,Venezuela, Costa Rica, Colombia và nhiều nơi khác trên khắp Châu Mỹ. Theo tờ Daily Mail ước tính có khoảng 950.000 người đã tham gia vào các sự kiện ủng hộ người đồng tính trong vài tuần trên khắp thế giới. Tại Anh, 30.000 ngàn người đã xuống đường phố London diễu hành ủng hộ hôn nhân đồng giới, lá cờ cầu vồng được treo 1 tuần trên nóc Văn phòng Nội các Westminster (trung tâm London) để chào mừng sự kiện.. Tại Nhật Bản, đã có khoảng 3.000 người tham gia cuộc tuần hành tại thủ đô Tokyo để kêu gọi Chính phủ hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới..
Sau khi Hoa Kỳ hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới, Tim cock - CEO (giám đốc điều hành) của Tập đoàn Apple đã công khai mình là một người đồng tính. Ông đã dẫn đầu đoàn diễu hành gồm 8.000 nhân viên Apple xuống đường tuần hành với cờ lục sắc để ăn mừng sự kiện..
Tại thành phố Toronto, Canada, Pride week là một trong những lễ hội đồng tính lớn nhất trên thế giới diễn ra thường niên và nhận được sự ủng hộ của chính quyền thành phố. Sự kiện thu hút 500000 đến 1 triệu người tham gia mỗi năm và được coi là một trong những lễ hộ văn hóa lớn nhất Bắc Mỹ. Lễ hội năm 2009 đã thu hút 1 triệu người tham dự và đem về cho thành phố 136 triệu đôla Canada. Lễ hội năm 2012 thu hút 1,2 triệu người tham dự. Lễ hội năm 2014 đem về 791 triệu đôla Canada cho thành phố. Pride week đã nhận giải "sự kiện hàng đầu" của giải thưởng Top Choice Award năm 2008.
Lẽ diễu hành đồng tính đầu tiên tại Đài Bắc năm 2003 có 500 người tham dự, nhưng đến năm 2013 đã có 78000 người tham dự, trở thành lễ diễu hành đồng tính lớn nhất Đài Loan từ trước tới nay. Nhiều sự kiện và hội thảo quốc tế về LGBT cũng được tổ chức trong dịp này. Lễ diễu hành đồng tính năm 2007 tại Madrid, Tây Ban Nha có 2,3 triệu người tham dự. Sự kiện nhận được sự ủng hộ của chính quyền thành phố, vùng và nhà nước. Lễ diễu hành đồng tính tại Cologne,Đức năm 2002 có 1,2 triệu người tham dự.
Tháng 11/2015, 10.000 người đã có buổi diễu hành quy mô lớn nhất ở Hồng Kông để ủng hộ hôn nhân đồng tính. Cùng thời điểm, tại Đài Loan cũng có cuộc tuần hành kỷ lục với 78.000 người để ủng hộ hôn nhân đồng giới và cộng đồng LGBT.
Ngược lại cũng diễn ra nhiều cuộc diễu hành phản đối hôn nhân đồng tính:
Năm 2012, trên 100.000 người ở Pháp tham gia biểu tình phản đối việc chính phủ nước này hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính. Ít nhất 70.000 người biểu tình đã tràn ra các đường phố ở thủ đô Paris, số còn lại tập trung tại các thành phố Lyon, Toulouse và Marseille. Năm 2013, khoảng 300.000 người đã tập trung trên các đường phố ở thủ đô Paris để tuần hành phản đối hôn nhân đồng tính
Sau khi tổ chức từ năm 1990, tới năm 2015, diễu hành đồng tính đã bị cấm bởi cảnh sát Hàn Quốc. Sau những phản đối từ các nhóm Thiên Chúa giáo, ngày 30 tháng 5, cảnh sát Hàn Quốc đã đưa ra một thông báo cấm diễu hành đồng tính dựa trên Điều 8 của Luật về hội hopk và biểu tình, theo đó cấm cuộc diễu hành vì bất tiện cho người đi bộ và phương tiện giao thông
Năm 2015, cảnh sát Thổ Nhĩ Kỳ đã dùng hơi cay và vòi rồng để giải tán một đoàn diễu hành đồng tính ở Istabul sau khi có lệnh cấm của thị trưởng được ban bố nhân tháng lễ Ramadan của người Hồi giáo
Tại Úc, những người biểu tình phản đối hôn nhân đồng giới đã tụ tập tại Sydney cho một cuộc biểu tình phản đối.
Tại Mexico, khoảng 5.000 đến 10.000 người đã xuống đường phố Guadalajara, thủ phủ của tiểu bang Mexico tây Jalisco để phản đối hôn nhân đồng tính và việc nhận con nuôi của những người đồng tính.
Tại Italy, khoảng 300.000 tới 1 triệu người đã tuần hành phản đối hôn nhân đồng tính tại Quảng trường San Giovanni ở Rome.
Tại Serbia, năm 2011, chính phủ nước này đã quyết định sử dụng cảnh sát để ngăn chặn một cuộc diễu hành đồng tính được dự kiến tổ chức. Cảnh sát đã bắt giữ sáu người ở Belgrade. Trong khi một số người nói rằng chính quyền Serbia đã cấm diễu hành đồng tính một cách thô bạo, nhiều người Serbia tỏ ra hạnh phúc khi những giá trị truyền thống đã giành chiến thắng.
Tại Singapore, sau khi nhận nhiều khiếu nại từ các phụ huynh theo đạo Thiên Chúa, Cơ quan quản lý văn hóa nước này đã loại bỏ 3 cuốn sách cho trẻ em vì chứa nội dung đồng tính. Cơ quan này cũng cấm nhập nhiều truyện tranh Mỹ vì có chứa nội dung về hôn nhân đồng tính, điều bị coi là đi ngược lại với đạo đức xã hội. Quan hệ đồng tính nam ở Singapore có thể bị phạt 2 năm tù
Nước Nga dưới thời Tổng thống Nga Vladimir Putin đã ra luật cấm mọi hình thức tuyên truyền về hôn nhân đồng giới . Bộ luật cấm những sự kiện cổ vũ cho người đồng tính, quy định việc cung cấp những thông tin “tuyên truyền việc về đồng tính nữ, lưỡng tính và chuyển giới” cho trẻ vị thành niên là phạm pháp, đồng thời các sự kiện cổ vũ cho quyền lợi của người đồng tính cũng bị cấm. Đây là một nỗ lực mới nhằm cổ vũ những giá trị truyền thống của nước Nga và chống lại chủ nghĩa tự do phương Tây, mà Chính phủ và Giáo hội Nga cho rằng đang làm băng hoại giới trẻ cũng như kích động các vụ biểu tình chống lại Tổng thống Putin. Trên thực tế, khi được đưa ra bỏ phiếu, Bộ luật cấm tuyên truyền đồng tính đã được Duma Quốc gia Nga (Hạ viện Nga) thông qua với số phiếu tuyệt đối 436 thuận - 0 phiếu chống, và 88% người dân Nga được phỏng vấn đã bày tỏ ủng hộ đối với lệnh cấm Bên cạnh đó, từ năm 2015, Chính quyền thành phố Moskva và quốc hội Nga đã đề ra Ngày tình yêu gia đình và cho rằng muốn sử dụng ngày này trong chiến dịch bảo vệ các giá trị gia đình truyền thống chống lại sự tuyên truyền của phong trào LGBT.
Đạo luật này đã bị các tổ chức nhân quyền trên thế giới lên án mạnh mẽ khi đã gián tiếp gây ra hàng loạt những vụ tấn công đẫm máu nhắm vào cộng đồng LGBT, như nhiều vụ tra tấn và giết hại người LGBT công khai có sự cấu kết của cảnh sát Mat-xcơ-va, hoặc hành động của nhóm Occupy Pedophilia gồm 9 tên tội phạm chuyên dụ dỗ các thiếu niên đồng tính, lừa cho họ tin rằng đang đến một "buổi hẹn hò" sau đó bắt cóc đưa đến một căn hộ hoặc một khu đất rồi tra tấn và hạ nhục, đồng thời quay chụp lại toàn bộ quá trình cùng hình ảnh các nạn nhân dính đầy máu đăng tải lên mạng Youtube.. Hơn 200 nhà văn, nhà thơ nổi tiếng trên khắp thế giới như danh ca Madonna, Debbie Harry, diễn viên Susan Sarandon, nhà văn Gunter Grass, Orhan Pamuk, đại văn hào Đức Gunter Grass, nhà thơ Ấn Độ Salman Rushdie, thi sĩ nữ Canada Margaret Atwood, tiểu thuyết gia người Mỹ Jonathan Franzen, nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Orhan Pamuk, cùng nhiều nhà văn tên tuổi khác như Neil Gaiman, Wole Soyinka, Elfriede Jelinek, Ian McEwan, Carol Ann Duffy, Julian Barnes… đã cùng ký tên vào một bức thư ngỏ đăng tải trên tờ Guardian (Anh) để phản đối đạo luật này của Nga. Bức thư đã viết: “Chính sách này sẽ bóp chết sự sáng tạo, đẩy giới văn sĩ vào tình trạng rủi ro”.. Các đại diện ngoại giao cấp cao của Đức và Liên minh châu Âu cũng lên tiếng phản đối rằng đạo luật này của Nga đi ngược lại quyền con người và củng cố phân biệt đối xử, kêu gọi Nga tôn trọng các cam kết quốc tế như Công ước châu Âu về nhân quyền mà Nga đã ký.. Uỷ ban nhân quyền Liên hợp quốc đã thông qua một án lệ rằng bộ luật chống "tuyên truyền đồng tính" của Nga là bộ luật kỳ thị, vi phạm các quyền cơ bản về tự do ngôn luận và vi phạm hiến pháp, đồng thời cũng vi phạm Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị mà chính Nga đã ký kết với hai tội: vi phạm "quyền tự do phát biểu" và "phân biệt đối xử".. Văn phòng Cao ủy Nhân quyền Liên Hiệp Quốc đã lên án đạo luật này của Nga là đạo luật phân biệt đối xử và vi phạm nhân quyền, bao gồm cả quyền của trẻ em đồng tính được tiếp cận những thông tin thích hợp, rằng "đạo luật này đã hình thành cơ sở cho hành vi sách nhiễu thường xuyên, thậm chí giam giữ tùy tiện, và giúp tạo ra một không khí sợ hãi cho bất cứ ai hoạt động thúc đẩy quyền của người đồng tính, song tính và chuyển giới".. Một nhóm các chuyên gia của Liên hiệp quốc đã gửi thông báo cho Chính phủ Nga yêu cầu xem xét loại bỏ đạo luật chống "tuyên truyền đồng tính" hình thành trên cơ sở vi phạm nhân quyền. Báo cáo viên đặc biệt của Liên hợp quốc cho biết: "Đạo luật "Cấm tuyên truyền đồng tính luyến ái" của Nga không chỉ trừng phạt những người tăng cường sức khỏe tình dục và sinh sản ở những người LGBT mà còn hủy hoại các quyền của trẻ em trong việc truy cập thông tin sức khỏe liên quan để bảo vệ sức khỏe thể chất và tinh thần.".
Trước những chỉ trích, tổng thống Nga Vladimir Putin trả lời: "Vấn đề của người đồng tính ở Nga đã được cố tình phóng đại từ bên ngoài vì những lý do chính trị, và tôi tin rằng, đó không phải là những mục đích tốt... Tôi không thấy bất cứ điều gì phản dân chủ trong hành vi pháp lý này. Tôi tin rằng chúng ta nên để trẻ em sống trong yên bình. Chúng ta cần phải cung cấp cho trẻ em một cơ hội để phát triển, giúp trẻ em nhận ra mình là ai và có quyền đưa ra quyết định cho mình. Trẻ em muốn sống trong một cuộc hôn nhân tự nhiên bình thường hay là một cuộc hôn nhân phi truyền thống? Đó là điều duy nhất tôi muốn nói" Ông Putin cho biết việc phân biệt đối xử đối với những người đồng tính là vấn đề quan trọng cho việc duy trì dân số đất nước: "người châu Âu đang chết dần (do già hóa dân số)... và hôn nhân đồng tính không thể tạo ra trẻ em", "chúng tôi có sự lựa chọn cho riêng chúng tôi (nước Nga), và chúng tôi đã làm thế vì đất nước của chúng tôi".
=== Văn hóa-Nghệ thuật ===
Nhiều tác phẩm khắc họa tình yêu đồng tính và ủng hộ hôn nhân đồng giới đã được công chúng đón nhận nồng nhiệt và được các nhà chuyên môn đánh giá cao.
Theo công ty thống kê Nielsen, bộ phim đồng tính "Behind the Candelabra" nói về tình yêu của nhạc sĩ dương cầm đồng tính nổi tiếng Liberace và chàng trai Scott Thorson đã được một lượng khán giả lớn 2,4 triệu người xem trên kênh HBO, lập kỷ lục về lượng người xem đối với một bộ phim truyền hình. Ngoài ra, còn có 1,1 triệu người khác xem buổi chiếu lại của bộ phim. Bộ phim được các nhà chuyên môn đánh giá cao. Phim dẫn đầu đề cử giải Quả Cầu Vàng 2014 ở thể loại phim truyền hình với 4 đề cử và giành 2 giải dành cho Phim truyền hình ngắn tập xuất sắc và Nam diễn viên phim truyền hình ngắn tập xuất sắc. Phim cũng giành được 11 giải Primetime Emmy Awards bao gồm giải phim hay nhất và diễn viên chính xuất sắc nhất, giải Critics' Choice Television Award cho phim hay nhất, giải Satellite cho diễn viên chính xuất sắc nhất, 5 đề cử giải BAFTA và nhiều giải thưởng khác.
Bộ phim đồng tính Blue Is The Warmest Colour của đạo diễn người Pháp Abdellatif Kechiche đã giành giải Cành Cọ Vàng cho Phim xuất sắc nhất của LHP Cannes 2013. Đạo diễn Abdellatif Kechiche cho biết bộ phim là “hi vọng về tự do, sống tương thân, được tự do thể hiện bản thân và tự do bày tỏ tình yêu.” Đạo diễn Steven Spielberg, Chủ tịch Ban giám khảo nhận định: “Phim là một chuyện tình lớn khiến tất cả chúng ta cảm thấy vinh hạnh được sống. Đạo diễn đã không đặt nặng vào cốt truyện và cách kể truyện. Ông đã để cho các cảnh phim tự chạy trong đời thực. Bộ phim chứa đựng thông điệp mạnh mẽ và rất tích cực về đồng tính nữ. Tác phẩm này chạm tới tâm hồn của những người đồng tính. Họ cũng có quyền yêu thương và hạnh phúc như bao người bình thường khác nếu không có rào cản của xã hội”. Phim được các nhà phê bình đánh giá cao và giành giải Phim xuất sắc nhất của Hiệp hội Phê bình gia FIPRESCI. Các bài bình luận trên các báo khen ngợi bộ phim, nhiều nhà phê bình đánh giá đây là bộ phim hay nhất năm 2013. Phim giành giải phim nước ngoài hay nhất của Austin Film Critics Association, British Independent Film Awards, Critics' Choice Awards, Dallas–Fort Worth Film Critics Association, Independent Spirit Awards... và rất nhiều giải thưởng quốc tế khác.
Bộ phim đồng tính "Bá Vương Biệt Cơ" của đạo diễn của đạo diễn Trần Khải Ca đã được công chúng Hong Kong bình chọn là phim Trung Quốc được yêu thích nhất mọi thời đại nhân dịp kỷ niệm 100 năm điện ảnh Trung Quốc. Phim đạt giải Quả Cầu Vàng cho phim nước ngoài hay nhất và là phim Trung Quốc duy nhất giành giải Cành Cọ Vàng tại Liên hoan phim Cannes cho tới lúc đó. Phim lọt vào danh sách 100 bộ phim hay nhất mọi thời đại của tạp chí Time, tạp chí Empire... Phim cũng giành giải Phim xuất sắc nhất của Hiệp hội Phê bình gia FIPRESCI, giải BAFTA, giải César, giải Boston Society of Film Critics, Los Angeles Film Critics Association, National Board of Review (USA)...cho phim nước ngoài hay nhất.
Backstreet Boys, nhóm nhạc số một thế giới một thời đã phát hành đĩa đơn "In a world like this" để kỷ niệm 20 năm biểu diễn của ban nhạc và bày tỏ sự ủng hộ đối với hôn nhân đồng giới. "In a world like this" đã mô tả những sự kiện lịch sử đối với nước Mỹ như cuộc đổ bộ đầu tiên của con người lên mặt trăng, vụ khủng bố 11/9 và việc nước Mỹ công nhận hôn nhân đồng giới. Bài hát mang thông điệp: "Một tình yêu thực sự sẽ giúp bạn vượt qua mọi thứ trong thế giới này với tất cả sự điên cuồng và năng lượng tiêu cực xung quanh". Backstreet Boys cho biết "sản phẩm âm nhạc này là món quà tinh thần ý nghĩa với những người đồng tính, việc công nhận hôn nhân đồng giới và những người trong cộng đồng, xã hội cần được tôn trọng". Đây cũng là bài hát chủ đề cho album thứ 8 của nhóm. Bài hát nhận được nhiều sự khen ngợi từ giới phê bình và đạt thứ hạng cao tại nhiều quốc gia. Video của bài hát hiện có hơn 15 triệu lượt xem trên Youtube.
Final Fantasy XIV, tựa game mới nhất của dòng game nhập vai Final Fantasy đã công nhận quyền kết hôn của các game thủ không phân biệt giới tính, chủng tộc và quốc gia từ năm 2014. Ngay sau khi tính năng này được ra mắt, cộng đồng game thủ LGBTA của game nhập vai online này đã tổ chức một cuộc diễu hành đồng tính trong thế giới của game. Nhà sản xuất Naoki Yoshida cho biết " chúng ta không thể ngăn cản tình yêu và tình bạn giữa các game thủ", "những nhân vật tại vùng đất Eorzea (một địa danh trong trò chơi) sẽ được thể hiện tình yêu hoặc tình bạn của họ trong một buổi lễ kết đôi. Sự kiện này sẽ chào đón tất cả mọi người không phân biệt chủng tộc, giới tính và tín ngưỡng. Hai người chơi nếu họ muốn được bên nhau, họ có thể thực hiện nó qua buổi lễ kết đôi ở Eorzea." Square Enix là hãng game rất thân thiện với cộng đồng LGBT. Năm 1997, trò chơi nhập vai Saga Frontier có nhân vật chính Asellus là một cô gái có tình cảm với phụ nữ. Một trong nhưng kết thúc của trò chơi cho phép Asellus lấy 1 cô gái khác làm vợ. Một trong những nhân vật chính của game nhập vai nổi tiếng Final Fantasy IX, Quina thuộc một chủng tộc có giới tính không xác định là chủng tộc Qu và người chơi có thể gọi Quina là 'anh ấy" hoặc 'cô ấy" đều được. Nhiều game khác của hãng cũng có những nhân vật phụ là LGBT như Bahamut Lagoon, Final Fantasy VII, Chrono Trigger, The Last Remnant...
Fallout 2 là trò chơi đầu tiên cho phép kết hôn đồng giới từ năm 1998. Các mối quan hệ đồng tính trong game đã ảnh hưởng sâu tới gameplay và mang tới cho các game thủ một cái nhìn rất khác, đa dạng và sâu sắc hơn về cộng đồng LBGT. Nhiều trò chơi nổi tiếng khác cũng có các nhân vật là người đồng tính và cho phép các game thủ kết hôn đồng giới như Fable, The Sims, Dragon Age, Mass Effect, The Elder Scrolls V: Skyrim, Fire Emblem Fates... Khi thông báo về việc tựa game mới nhất của dòng game nổi tiếng Fire Emblem sẽ cho phép kết hôn đồng giới, đơn vị phát triển Tomodachi Life cho biết họ sẽ "cố gắng thiết kế những trải nghiệm chơi game mới một cách toàn diện và gắn với thực tế hơn. Dẫu rằng trò chơi này thực sự được chú ý, tuy nhiên việc những người làm game đã lắng nghe, vừa sửa đổi sản phẩm của mình cho phù hợp với cộng đồng, luôn là một điều đáng để khen ngợi." Trong tương lai gần, dự kiến sẽ có rất nhiều trò chơi thân thiện với cộng đồng LBGT ra đời hơn nữa.
Tại Việt Nam, nhiều trò chơi trực tuyến cũng đã cho phép các game thủ kết hôn đồng giới như Audition, Cửu Âm Chân Kinh, Liên Minh Huyền Bí, Cửu Dương Thần Công, The Sims... Nhận thấy chuyện kết hôn đồng giới đang nhận được quan tâm từ cộng đồng game thủ quốc tế, tháng 9 năm 2014, BEAT 3D (tựa game thể loại vũ đạo sở hữu một cộng đồng game thủ lớn) trở thành game mobile vũ đạo đầu tiên có tính năng kết hôn đồng giới tại Việt Nam. BEAT 3D cho biết với việc ra mắt phiên bản Big Update “Tình Yêu Màu Nắng”, họ muốn đem hi vọng tới những mối tình đồng giới trên cộng đồng mạng xã hội Việt Nam.
=== Các khía cạnh kinh tế ===
Hôn nhân đồng giới đem đến cho những người LGBT, cũng là những người đóng thuế cho chính phủ, được sử dụng những dịch vụ công và hiện thực nhu cầu tài chính như những cặp khác giới khác. Hôn nhân đồng giới cũng đem đến cho họ sự bảo vệ hợp pháp ví dụ như quyền thừa kế và quyền thăm nuôi. Nhiều nghiên cứu, thống kê và đánh giá đã chỉ ra việc công nhân hôn nhân đồng giới có lợi cho nền kinh tế, thị trường, du lịch và phát triển xã hội.
Theo nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường (iSEE) tại Việt Nam, 29% các cặp đôi đồng tính sở hữu chung các tài sản có giá trị lớn như ô tô, sổ tiết kiệm, 18,4% có vốn đầu tư kinh doanh chung, 16% có nhà đất chung (chỉ đứng tên một trong hai người)… Việc không công nhận hôn nhân đồng giới sẽ gây ra những rắc rối khi phân chia tài sản và gây thiệt thòi về quyền thừa kế khi có một người đột ngột qua đời.
Một nghiên cứu ở Australia năm 2013 cho biết các cặp đồng tính có thu nhập cao hơn 29% so với các cặp khác giới do họ có thể làm toàn thời gian mà không cần lo chăm sóc con cái.
Thống kê của hãng Prudential ở Mỹ năm 2011 với 1.000 người cho thấy người đồng tính kiếm được nhiều tiền hơn và ít nợ nần hơn so với người dị tính, nhưng một cuộc thăm dò quy mô lớn do Viện Gallup với hơn 120.000 người thực sự cho thấy rằng các cá nhân LGBT thường có thu nhập thấp và ít giáo dục so với dân số nói chung. Vào ngày 17/12/2009, Văn phòng Ngân sách Quốc hội Mỹ ước tính rằng chi phí mà chính phủ Mỹ phải trả nếu công nhận bạn tình đồng tính của nhân viên liên bang có quyền lợi giống như vợ chồng khác giới (chưa tính đến chi phí bổ sung như an sinh xã hội và thuế thừa kế) sẽ là 596 triệu USD bắt buộc và 302 triệu USD chi tiêu tùy ý từ năm 2010 tới 2019.
Viện William, một tổ chức ở Mỹ nghiên cứu về tình trạng bất bình đẳng xã hội, phân biệt đối xử và mối quan hệ, tác động của luật pháp, chính sách công tới các nhóm xã hội, trong một cuộc khảo sát vào tháng 6/2013 cho thấy có sự thấp hơn về điều kiện kinh tế giữa các cặp vợ chồng đồng tính so với dị tính nói chung và các chủng tộc khác nhau nói riêng:
7,6% các cặp vợ chồng đồng tính nữ, so với 5,7% của các cặp vợ chồng kết hôn khác giới, đang sống trong cảnh nghèo đói.
Các cặp đồng tính người Mỹ gốc Phi có tỷ lệ nghèo cao hơn gấp đôi tỷ lệ của các cặp vợ chồng gốc Phi khác.
1/3 các cặp vợ chồng đồng tính nữ và 20,1% các cặp nam đồng tính mà không có một bằng tốt nghiệp trung học đang sống nghèo đói, so với tỉ lệ 18,8% của các cặp vợ chồng nói chung.
cặp đồng giới nữ ở khu vực nông thôn đang có nhiều khả năng là người nghèo (14,1%), so với 4,5% của đồng tính nữ cùng ở các thành phố lớn. 10,2% các cặp đồng tính nam đang sống trong khu vực đô thị nhỏ là người nghèo, so với 3,3% của đàn ông đồng tính nam trong khu vực đô thị lớn.
Gần 1/4 trẻ em sống với một cặp đồng tính nam và 19,2% trẻ em sống chung với một nữ cặp đồng tính đang sống trong cảnh nghèo đói, so với 12,1% trẻ em của các cặp vợ chồng khác giới. Trẻ em người Mỹ gốc Phi trong các hộ gia đình đồng tính nam có tỷ lệ nghèo cao nhất (52,3%) của bất kỳ trẻ em trong bất kỳ loại hộ gia đình.
14,1% các cặp đồng tính nữ và 7,7% các cặp đồng tính nam phải nhận trợ cấp thực phẩm, so với 6,5% của các cặp vợ chồng thông thường.
Ngoài ra, viện William cũng nhận xét: "Thống kê cho thấy tỷ lệ nghèo là thấp hơn trong các cặp đồng tính nữ ở các tiểu bang có luật chống phân biệt đối xử. Ngược lại, tỷ lệ nghèo cao hơn ở các bang mà không có luật phân biệt đối xử đối, và khoảng cách giàu nghèo là rõ ràng đối với cặp đồng tính nữ... Chính sách công cộng có tác dụng giảm nghèo là chính sách làm giảm phân biệt đối xử trong việc làm dựa trên khuynh hướng tình dục và giới tính. Hiện nay pháp luật liên bang, cũng như các luật hầu hết các bang, không bảo vệ người LGBT từ kỳ thị việc làm. Việc thực thi pháp luật công bằng, không phân biệt có thể giúp ngăn ngừa nghèo bằng cách giảm nguy cơ thất nghiệp hoặc mất lương".
Một số nghiên cứu cho thấy, tỉ lệ nghèo đói đặc biệt cao ở cộng đồng người đồng tính không phải là người da trắng, già và sinh sống tại các vùng nông thôn.
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Same-sex marriage tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) |
muscat, oman.txt | Muscat (tiếng Ả Rập: مسقط, chuyển tự: masqaṭ) là thành phố lớn nhất, thủ đô của Vương quốc Hồi giáo Oman. Năm 2005, thành phố này có 600.000 dân. Vùng đô thị Đại Muscat, cũng gọi là "Vùng thủ đô", có diện tích khoảng 1500 km². Kể từ khi Qaboos bin Said lên ngôi Sultan của Oman, Muscat đã phát triển hạ tầng và đô thị hóa. Các trung tâm thành phố có thể chia thành 3 nhóm:
Tây Muscat: Al-Seeb, Udhaybah, Bawsher, Al-Ghubbrah và Ghala
Trung Muscat: Al-Khuwair, Madinat Al Sultan Qaboos, Shati-Al Qurm, Qurm và Ras Al Hamra
Đông Muscat: Wuttayah, Ruwi, Matrah, Kalbuh, Old Muscat, Sidab và Al-Bustan
Nhìn chung, thành phố có tầm cao các tòa nhà thập, hiếm khi cao hơn 5 tầng. Thành phố có nhiều con phố có cây xanh, có nhiều công viên cây xanh, các thảm cỏ, vường hoa và nhiều vòng xoay giao thông.
Ngày 6 tháng 6 năm 2007, Muscat bị bão Gonu hoành hành, gây nhiều thiệt hại lớn cho hệ thống hạ tầng như: điện, điện thoại, sân bay. Các khu vực trung tâm thương mại và dân cư tại Qurm, Ghubra và Ghala chịu nhiều thiệt hại nhất.
== Tham khảo == |
8 tháng 9.txt | Ngày 8 tháng 9 là ngày thứ 251 (252 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 114 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
911 – Lưu Thủ Quang lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Yên, chính thức ly khai khỏi Hậu Lương.
712 – Thái tử Lý Long Cơ tiến hành lễ đăng quang hoàng đế triều Đường, tức Đường Huyền Tông, cha ông là Đường Duệ Tông trở thành thái thượng hoàng.
1331 – Stephen Uroš IV Dušan tuyên bố là quốc vương của Serbia.
1504 – Tác phẩm điêu khác David của Michelangelo được khánh thành tại Florence, Ý.
1831 – William IV và Adelheid đăng cơ làm quốc vương và vương hậu của Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland.
1835 – Cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi kết thúc khi quân Nguyễn đánh hạ thành Phiên An sau một thời gian tấn công.
1921 – Cuộc thi Hoa hậu Mỹ đầu tiên được tổ chức tại thành phố Atlantic, đây là cuộc thi sắc đẹp hiện đại đầu tiên trên thế giới.
1941 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân Đức bắt đầu phong tỏa quân sự thành phố lớn thứ nhì của Liên Xô là Leningrad.
1951 – Tại San Francisco, 48 quốc gia ký kết một hiệp ước hòa bình với Nhật Bản, chính thức công nhận kết thúc Chiến tranh Thái Bình Dương.
1954 – Tám quốc gia ký kết Hiệp ước phòng thủ tập thể Đông Nam Á tại Manila, hình thành nên Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO).
== Sinh ==
1902-Vũ Ngọc Phan-nhà văn việt nam (m. 1987)
1906 – Henriette Bùi Quang Chiêu, nữ bác sĩ y khoa người Việt đầu tiên (m. 2012)
1958 - Việt Dzũng, nhạc sĩ (m. 2013)
== Mất ==
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
Ngày lễ kỷ niệm Mẹ Maria theo đức tin Công giáo và Chính thống giáo.
Ngày Lễ Tạ ơn truyền thống của Mỹ và Canada, được tổ chức lần đầu vào ngày 8 tháng 9 năm 1565.
== Tham khảo == |
free state.txt | Free State (tiếng Afrikaans: Vrystaat, tiếng Sotho: Foreistata) - trước năm 1995 còn gọi là Orange Free State - là một tỉnh của Nam Phi. Tỉnh lị là Bloemfontein, và cũng là thủ đô tư pháp của Nam Phi. Lịch sử của tỉnh có nguồn gốc từ Orange Free State, Cộng hòa Boer. Ranh giới hiện nay của tỉnh hình thành từ năm 1994 khi các Bantustans (khu cách li chủng tộc) được bãi bỏ và Nam Phi được chia thành các tỉnh mới. Free State là tỉnh duy nhất của Nam Phi không có ranh giới thay đổi, ngoại trừ khi hợp thành các Bantustans.
== Địa lý ==
Free State nằm trên một vùng bồn địa bằng phẳng và rộng lớn ở trung tâm của Nam Phi. Đất đai màu mỡ và khí hậu thuận lợi đã giúp cho ngành nông nghiệp của tỉnh phát triển thịnh vượng. Với trên 30.000 trang trại, tỉnh cung cấp trên 70% ngũ cốc của đất nước. Tỉnh nằm ở vị trí cao, và hầu hết các khu vực nằm trên 1.000 mét so với mực nước biển. Drakensberg và Dãy núi Maluti có các đỉnh cao trên 2.000 m ở phía đông. Free State nằm ở trung tâm của Khối đá Karoo, bao gồm đá phiến sét, đá bùn, sa thạch và bazan Drakensberg Basalt tạo thành những khối đá trẻ nhất. Trầm tích khoáng sản khá dồi dào, với vàng và kim cương là những loại quan trọng nhất, hầu hết được tìm thấy ở phía bắc và phía tây của tỉnh.
== Hành chính ==
Free State được chia thành 5 quận, và được chia tiếp thành 20 khu tự quản địa phương:
== Đô thị chính ==
Free State có các đô thị chính sau:
Bloemfontein thuộc Motheo
Bethlehem thuộc Thabo Mofutsanyane
Sasolburg, Parys và Kroonstad thuộc Fezile Dabi
Welkom, Odendaalsrus và Virginia thuộc Lejweleputswa
== Kinh tế ==
=== Nông nghiệp ===
Nông nghiệp là phong cảnh chủ yếu tại Free State, với diện tích đất trồng trọt là 32.000 km², và các thảo nguyên và đồng cỏ tự nhiên cho chăn thả gia súc chiếm diện tích 87.000 km² của tỉnh. Free State cũng dẫn đầu Nam Phi về nhiên liệu sinh học, và một số nhà máy sản xuất ethanol đang được xây dựng tập trung ở khu vực miền tây của tỉnh.
Hoa lợi ngũ cốc chiếm tới 2/3 tổng sản phẩm nông nghiệp của tỉnh. Sản phẩm chăn nuôi đóng góp thêm 30%. 90% anh đào được sản xuất tại quận Ficksburg, và cũng là nơi có hai nhà máy đòng hộp măng tây lớn nhất nước. Đỗ tương (đậu nành), lúa miến, hướng dương và lúa mì được trồng ở miền đông Free State, nơi những người nông dân đã được chuyên môn hóa. Khoảng 40% sản lượng khoai tây của Nam Phi đến từ các khu vực cao trong tỉnh.
Rau xanh chính của nông nghiệp Free State là măng tây, cả loại màu trắng và màu lam. Mặc dù nghề làm vườn đang được mở rộng với định hướng xuất khẩu thế nhưng hầu hết các sản phẩm được đem ra khỏi tỉnh mà vẫn chưa được chế biến.
Thuận lợi của Free State trong nghề trồng hoa là sự tương phản giữa khí hậu Bắc và Nam bán cầu. Tỉnh xuất khẩu khoảng 1,2 triệu tấn hoa mỗi năm.
=== Khai mỏ ===
Free State cũng khá giàu khoáng sản và được cho là chiếm 20% sản lượng vàng của cả thế giới. Harmony và Rand là hai nhà máy luyện vàng duy nhất tịa Nam Phi. Các mỏ vàng tại Free State cũng cung cấp một phần đáng kể tổng sản lượng bạc trong nước (hai kim loại này thường lẫn với nhau), ngoài ra cũng có thể khai thác urani tại các cuội kết chứa vàng ở các vỉa vàng.
Than đá có chứa Bitum cũng được khai thác, và được sử dụng trong hóa dầu tại Sasolburg. Free State cũng cung cấp kim cương chất lượng cao từ các khe nứt hay mạch ống quặng, và có trữ lượng bentonit lớn nhất nước là tại quận Koppies.
=== Công nghiệp ===
Từ năm 1989, kinh tế Free State đã chuyển từ phụ thuộc vào các lĩnh vực chính như khai mỏ và nôn nghiệp sang một nền kinh tế hướng đến chế tạo và xuất khẩu. Khoảng 14% sản phẩm chế tọa của tỉnh được phân loại là thuộc công nghệ cao – tỉ lệ cao nhất trong tất cả các tỉnh. Ngành hóa chất ở miền bắc Free State được coi là một trong những ngành hóa chất quan trọng nhất tịa Nam bán cầu. Công ty hóa dầu Sasol, trụ sở tại Sasolburg, dẫn đầu thế giới trong sản xuất nhiên liệu, sáp, hóa chất và nguyên liệu giá thấp từ than đá.
=== Du lịch ===
Ở đông bắc Free State, nép mình trong những đỉnh núi đá của dãy Maluti, Công viên Quốc gia Cao nguyên Golden Gate là nơi thu hút du lịch chủ yếu trong tỉnh. Công viên lấy tên từ những thay đổi ánh sánh lấp lánh của vàng dưới ánh sáng mặt trời trên những vách đá sa thạch hùng vĩ, đặc biệt ấn tượng mạnh là Brandwag hay Đá Sentinel.
== Nhân khẩu ==
Tiếng Sotho là ngôn ngữ chủ yếu được sử dụng tại nhà trên toàn tỉnh. Tiếng Zulu là ngôn ngữ chủ yếu tại khu tự quản cực đông Phumelela. Tiếng Tswana là ngôn ngữ chính tại Tokologo ở tây bắc, và khu vực xung quanh Thaba Nchu. Đây là tỉnh duy nhất tại Nam Phi có đa số cư dân nói tiếng Sotho. Afrikaans được nói rộng rãi khắp tỉnh, là ngôn ngữ thứ nhất của phần lớn người da trắng và da màu và là ngôn ngữ thứ hai hay thứ ba của những người nói tiếng Sotho, Tswana và Zulu. Mặc dù số người sử dụng tiếng Anh như là ngôn ngữ thứ nhất đã giảm tương đối, nó vẫn đang gia tăng tính quan trọng vì là ngôn ngữ của thương mại và hành chính.
=== Dân tộc ===
Mặc dù hiện chỉ còn chiếm 10% dân số, người da trắng tại Free State là dân tộc có ảnh hưởng nhất. Phần lớn người da trắng tại Free State là người nói tiếng Afrikaans. Năm 1880 người da trắng từng chiếm tới 45,7% tổng dân số. Nâm 1904 tỉ lệ này giảm xuống 36,8%. Trong 142.679 cư dân năm 1904, chỉ có 60% được sinh ra tại tỉnh. Trong số 2726 người Âu sinh ngoài Anh Quốc, 1025 đến từ Ba Lan thuộc Nga. Năm 1904 chiếm đa số tại hầu hết các khu định cư, có tên là Ficksburg (52,3%), Wepener (60,2%) Ladybrand (60,0%) và Kroonstad (51,6%), và là thiểu số đáng kể tại Bloemfontein (45,7%) và Winburg (36,3%).
== Giáo dục ==
Đại học
Đại học Free State (Bloemfontein)
Đại học Công nghệ Trung ương (Bloemfontein, Welkom)
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Free State Provincial Government
Free State Tourism Authority |
kỉ niệm chương fifa.txt | Kỉ niệm chương FIFA là giải thưởng cao quý nhất của Liên đoàn bóng đá thế giới (FIFA). Giải thưởng này được FIFA trao hàng năm. Nó thường được trao cho các cá nhân có những đóng góp đặc biệt cho bóng đá.
Tại cuộc họp kỉ niệm 100 năm FIFA (năm 2004), FIFA quyết định mỗi thập kỉ tồn tại của FIFA sẽ trao tặng một giải thưởng. Như vậy có tất cả 10 giải thưởng được trao cho các cổ động viên, tổ chức, câu lạc bộ và một giải cho Bóng đá châu Phi. Các giải thưởng này được gọi là Kỉ niệm chương 100 năm FIFA.
Người được giải không nhất thiết phải có hoạt động trực tiếp tới bóng đá. Một trong những cá nhân nổi tiếng nhận giải là Nelson Mandela, người đã giúp Nam Phi trở lại với bóng đá quốc tế.
== Người nhận giải ==
=== Cầu thủ ===
=== Trọng tài bóng đá ===
=== Quan chức bóng đá ===
=== Cá nhân khác ===
=== Câu lạc bộ ===
=== Tổ chức ===
=== Khác ===
== Tham khảo == |
loạn an sử.txt | Loạn An Sử (chữ Hán: 安史之亂: An Sử chi loạn) là cuộc biến loạn xảy ra giữa thời nhà Đường vào thời Đường Huyền Tông Lý Long Cơ trong lịch sử Trung Quốc, kéo dài từ năm 755 đến năm 763, do An Lộc Sơn và Sử Tư Minh cầm đầu. Cả họ An và họ Sử đều xưng là Yên Đế trong thời gian nổi dậy. Do xảy ra vào niên hiệu Thiên Bảo của Đường Huyền Tông, cuộc phản loạn này còn được gọi là Thiên Bảo chi loạn (天寶之乱).
Đây được xem là một trong những binh loạn lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc, đã làm suy yếu gần như hoàn toàn triều đại nhà Đường hơn 200 năm phồn thịnh.
== Nguyên nhân ==
Sau giai đoạn cực thịnh trong những năm đầu thời Đường Huyền Tông, sự cai trị của nhà Đường nảy sinh những mâu thuẫn trong đời sống xã hội. Cuộc nổi dậy của họ An và họ Sử có thể được lý giải từ nhiều nguyên nhân.
=== Mâu thuẫn giữa chính quyền và người dân ===
Đường Huyền Tông trong cuối những năm Khai Nguyên (713-741) đã say sưa trong phú quý, chểnh mảng chính sự. Sang niên hiệu Thiên Bảo (từ 742), Huyền Tông càng lo hưởng lạc và mất sáng suốt.
Không chỉ riêng vua Huyền Tông, những người trong tông thất và quan lại đều có đời sống xa xỉ. Cùng lúc, nhà Đường vẫn gây những cuộc chiến với các nước xung quanh khiến chi phí của triều đình ngày càng nhiều, sức ép về tài chính ngày càng đè nặng. Để giải quyết sự mất cân đối giữa thu và chi, triều đình tăng mức sưu thuế mà nhân dân phải đóng góp. Nhiều quan lại địa phương nhân lệnh tăng thuế của triều đình trung ương để tăng cường vơ vét của dân làm giàu. Một số người dân không chịu nổi mức thuế cao phải bỏ trốn. Để bù phần thiếu hụt của những người bỏ trốn, triều đình lại bắt chia số thiếu của người bỏ trốn đánh đều vào những người xung quanh. Bị bóc lột nặng nề hơn, những người sống yên lành lúc đó không còn chịu nổi sưu cao thuế nặng cũng buộc phải bỏ trốn theo những người kia.
Thậm chí có viên tướng Vương Hỏng giữ chức Hộ khẩu sắc dịch sứ còn ra lệnh truy thu thuế với những người lính chết trận mà chưa được tướng chỉ huy ngoài vùng biên cương xóa bỏ hộ tịch, trong đó có người bị truy thu thuế tới 30 năm. Ngoài sưu thuế, người dân còn phải chịu chế độ binh dịch rất nặng nề. Điều đó khiến mâu thuẫn giữa chính quyền nhà Đường và nhân dân ngày càng sâu sắc.
=== Mâu thuẫn sắc tộc ===
Từ cuối những năm Khai Nguyên sang đầu những năm Thiên Bảo, Đường Huyền Tông nhiều lần điều quân đi đánh các nước lân cận ở phía tây, tây nam, phía bắc và đông bắc như Thổ Phồn, Nam Chiếu, Khiết Đan, Đại Thực… khiến không chỉ dân trong nước oán hận về binh dịch mà còn gây thù với những dân tộc xung quanh.
Từ thời nhà Tùy, có nhiều người Đột Quyết đã di cư tới phía bắc U châu; tại Liêu Tây có nhiều người Hề và người Khiết Đan đến cư trú. Họ vẫn bảo lưu tập tục truyền thống của mình. Cuối thế kỷ 7 từng xảy ra việc ngược đãi người dị tộc của tướng nhà Đường khiến họ nổi dậy chống lại. Khi mới lên ngôi, Đường Huyền Tông đã dàn xếp được mâu thuẫn tạm thời, nhưng tới những năm Thiên Bảo tình hình lại căng thẳng.
=== Mâu thuẫn trong giới cầm quyền ===
Trong nội bộ giai cấp thống trị nhà Đường, ngày càng nhiều mâu thuẫn nảy sinh giữa các phe phái không chấm dứt. Trong thời hậu kỳ, Đường Huyền Tông ngày càng mê muội, xa lánh những quan lại trung lương nên họ phải rút khỏi chính quyền. Một nhóm gian thần cầm đầu là Lý Lâm Phủ (một người họ xa trong tông thất), một nhóm khác là các hoạn quan đứng đầu là Cao Lực Sĩ cùng trỗi dậy. Bên cạnh đó, lực lượng ngoại thích do Dương Quốc Trung (có cùng cụ nội với Dương Ngọc Hoàn) cũng có quyền thế ngày càng lớn. Các phe phái trong triều đấu tranh khi ngấm ngầm khi công khai đều nhằm mục đích tư lợi không vì lợi ích quốc gia khiến việc chính trị ngày càng rối ren.
=== Sai lầm về chính sách biên cương ===
Một trong những sai lầm lớn của Đường Huyền Tông là áp dụng chính sách "trong nhẹ ngoài nặng" theo tể tướng Lý Lâm Phủ.
Trước đây nhà Đường thịnh hành một nguyên tắc "trong nặng ngoài nhẹ" cho người lính luân phiên chịu binh dịch và làm ruộng; nhưng sau đó áp dụng chế độ mộ binh khiến người lính trở thành những quân nhân chuyên nghiệp. Chế độ này tuy nâng cao tinh thần chiến đấu của binh sĩ, nhưng mặt khác lại khiến người lính phụ thuộc nhiều hơn vào thủ lĩnh chỉ huy chứ không phụ thuộc vào triều đình. Hơn nữa, Đường Huyền Tông ham mở rộng lãnh thổ, cho các tướng tự mình mộ binh và nuôi quân để lập công, nên binh lực các trấn ngoài biên của các tướng địa phương ngày càng mạnh. Theo thống kê những năm đầu niên hiệu Thiên Bảo, binh lực của các trấn vùng biên có tới 49 vạn, trong khi quân triều đình trung ương do nhà Đường trực tiếp quản lý tại kinh thành và các châu chỉ có 8 vạn người. Con số chênh lệch đó phản ánh rõ tình trạng "trong nhẹ ngoài nặng".
Ngoài quân sĩ, Đường Huyền Tông còn nghe theo Lý Lâm Phủ ra quyết sách sai lầm trong chính sách nhân sự với các tướng sĩ. Từ khi nhà Đường khai lập, các tướng trông giữ biên cương đều là những trung thần có đủ tài đức. Do đó sau một thời gian họ lập công ngoài biên ải, triều đình đều triệu về cho giữ chức vụ cao, kể cả Tể tướng, như Lý Tĩnh, Lý Tích, Lưu Nhân Quỹ, Lâu Sư Đức, Tiết Nột, Quách Nguyên Chấn, Trương Gia Trinh, Trương Duyệt, Tiêu Khao… Đối với các Phiên tướng (tướng người thiểu số), dù họ có lòng trung thành, nhà Đường vẫn luôn khống chế chức vụ, dù để họ làm tướng cầm quân nhưng vẫn phân công một đại thần người Hán đi kèm giữ vai trò thống soái nhằm kiềm chế họ.
Chính sách này giúp hạn chế tình trạng cát cứ của các tướng lĩnh địa phương, không ai nắm quyền ngoài biên ải quá lâu; và các tướng người thiểu số có sự giám sát. Nhưng đến khi Lý Lâm Phủ làm Tể tướng sợ các tướng ngoài biên ải về giành mất ngôi đầu triều của mình, nên kiến nghị Huyền Tông áp dụng chính sách dùng các tướng "người Hồ" làm thống soái ngoài biên cương, không khống chế họ ở dưới một đại thần người Hán của triều đình nữa. Lý do Lý Lâm Phủ nêu ra là các tướng người Hồ dũng cảm thiện chiến, không có mối quan hệ xã hội phức tạp ở trung nguyên, không biết chữ Hán, cô lập không có bè cánh, như vậy đáng tin cậy hơn các tướng người Hán. Đường Huyền Tông nghe theo. Các tướng người Hồ dù lập nhiều công nhưng không có cơ hội về triều trở thành Tể tướng do trình độ văn hóa thấp và điều đó khiến Lý Lâm Phủ yên tâm với ngôi vị của mình.
Ngay trước khi Lâm Phủ nêu kiến nghị này, đã xảy ra vụ án tướng Vương Thừa Tự đang làm Tiết độ sứ Hà Tây bị vu cáo muốn dùng binh lực bản bộ giúp Thái tử lên ngôi hoàng đế. Đường Huyền Tông không xét đoán đã ra lệnh bắt ngay Vương Thừa Tự xử tử. Đúng lúc đó nghe kiến nghị của Lý Lâm Phủ, Huyền Tông lập tức chấp nhận, bèn đề bạt các tướng người Hồ như An Lộc Sơn, An Tư Thuận, Kha Thư Hàn, Cao Tiên Chi làm đại tướng. Các tướng người Hồ, điển hình là An Lộc Sơn, có cơ hội phát triển lực lượng riêng vùng biên ải ngày càng trở nên lớn mạnh ngoài sự khống chế của triều đình.
Đương thời 10 trấn nhà Đường năm 742 dưới thời Đường Huyền Tông có thực lực quân sự như sau:
== Sự chuẩn bị của An Lộc Sơn ==
=== Lấy lòng vua Đường ===
Thủ lĩnh cầm đầu cuộc nổi dậy chống nhà Đường là An Lộc Sơn. An Lộc Sơn là người Liễu Thành, tên thật là An Rokhan, người dân tộc Túc Đặc. Lộc Sơn nguyên mang họ Khang, nhưng sau đó bà mẹ cải giá với An Diên Yểm nên lấy họ An. Lộc Sơn là phiên âm tiếng Hán của chữ Lushi, theo tiếng bản tộc có nghĩa là "ánh sáng".
Lộc Sơn đầu quân làm tướng nhà Đường, nhờ chiến đấu dũng cảm và tỏ ra trung thành nên nhanh chóng được thăng tiến. Từ năm 740 đến năm 751, An Lộc Sơn được thăng từ đô đốc Doanh châu lên Tiết độ sứ ba trấn Phạm Dương, Hà Đông và Bình Lư, nắm toàn bộ vùng đông bắc Trung Quốc khi đó.
Tuy có trí thông minh nhưng Lộc Sơn luôn tỏ ra vụng về ngốc nghếch khiến Đường Huyền Tông rất tin tưởng và nhận ông làm con nuôi. Vợ Huyền Tông là Dương Quý Phi trở thành mẹ nuôi của Lộc Sơn, dù kém ông 16 tuổi. Tuy nhiên chính từ lúc ra vào triều kiến vua Đường, Lộc Sơn và Dương Quý Phi bắt đầu có quan hệ lén lút nhưng Huyền Tông không hề nghi ngờ mà càng thêm tín nhiệm Lộc Sơn. An Lộc Sơn to béo bụng phệ, theo sử sách ghi lại thì người nặng tới 330 cân. Huyền Tông thấy vậy hỏi, Lộc Sơn lại mau miệng đáp rằng bụng to vì mang lòng trung với vua Đường. Huyền Tông nghe thế lại càng tin Lộc Sơn.
=== Xây dựng lực lượng ===
Ngay khi Lộc Sơn chưa có thế mạnh thì Tể tướng Trương Cửu Linh, thái tử Lý Hanh… đã không vừa lòng với Lộc Sơn và cảnh báo Huyền Tông rằng Lộc Sơn sẽ làm phản. Huyền Tông không tin, trái lại còn thỏa mãn các yêu cầu của Lộc Sơn như cho bổ sung quân nhu và binh mã. Dựa vào các quan lại có qua lại trong triều, An Lộc Sơn biết được thái độ của thái tử Hanh với mình, nên càng gấp rút chuẩn bị lực lượng để lo cho tương lai sau khi Đường Huyền Tông qua đời.
Để sau này có đường lui, dựa vào sự tín nhiệm hiện tại của Đường Huyền Tông, An Lộc Sơn bắt đầu xây dựng thực lực riêng cho mình. Ông thu dụng những văn sĩ bất mãn người Hán như Nghiêm Trang, Cao Thượng, Trương Thông Nho, Lý Đình Kiên làm mưu sĩ.
Với khả năng biết tới 6 thứ tiếng các tộc thiểu số, ông ra sức chiêu dụ các quân nhân người tộc này. Sau các trận đánh có quân đầu hàng hoặc bị bắt, đích thân ông dùng ngôn ngữ của họ để giao tiếp gây thiện cảm, an ủi họ, lôi kéo trở thành trợ thủ đắc lực. Ông tuyển chọn ra 8000 quân thiện chiến làm lực lượng nòng cốt, nhiều người bộ tộc Đồng La, Hề, Khiết Đan rất dũng mãnh, thiện chiến mà ông nuôi dưỡng, huấn luyện thành lực lượng riêng gọi là Duệ lạc hà (Tiếng bản tộc có nghĩa là tráng sĩ).
Năm 754, An Lộc Sơn tiến thêm một bước để thu phục lòng trung thành của họ, đề bạt 500 người Hề, Khiết Đan, Cửu Tính, Đồng La lên làm tướng quân và 2000 người thăng chức Trung lang tướng. Đầu năm 755 ông lại dùng 32 tướng người Hồ thay các tướng người Hán, từ đó toàn bộ tướng lãnh dưới quyền An Lộc Sơn đều là người Hồ. Ngoài ra, An Lộc Sơn còn ra sức tích lương thảo, nuôi nhiều chiến mã, làm số quân và thực lực mạnh hơn hẳn lực lượng của triều đình trung ương nhà Đường.
Các hành động của An Lộc Sơn khiến nhiều người trong chính quyền trung ương nghi ngờ. Tới giai đoạn sau, khi binh lực của Lộc Sơn đã mạnh, các quyền thần như Lý Lâm Phủ, Dương Quốc Trung đều có những tính toán riêng, nên họ đều có ý định lợi dụng An Lộc Sơn và đề phòng lẫn nhau. An Lộc Sơn đã khôn khéo triệt để lợi dụng mâu thuẫn giữa các đại thần trong chính quyền trung ương để tranh thủ thời gian chuẩn bị thế lực cho mình.
Cho tới năm 755, An Lộc Sơn đã cất nhắc và trọng dụng các tướng văn, võ vào bộ máy dưới quyền mình gồm:
Bên văn có Cao Thượng, Nghiêm Trang, Trương Thông Nho, Lý Đình Kiên, Bình Liệt, Lý Sử Ngư, Độc Cô Vấn Tục
Bên võ có Sử Tư Minh, An Thủ Trung, Lý Quy Nhân, Thái Hy Đức, Ngưu Đình Giới, Hướng Thuận Dung, Lý Đình Vọng, Thôi Càn Hựu, Doãn Tử Kỳ, Hà Thiên Nhiên, Vũ Lệnh Tuần, Hùng Nguyên Hạo, Điền Thừa Tự, Điền Càn Chân, A Sử Na Thừa Khánh
== Chiến tranh bùng phát ==
Năm 752, Lý Lâm Phủ chết, quyền hành trong triều đình Trường An lọt vào tay ngoại thích Dương Quốc Trung - anh họ (cùng cụ nội) của Dương Quý Phi. Quốc Trung trở thành Tể tướng. Dương Quốc Trung và An Lộc Sơn cùng tranh giành sự ân sủng của Đường Huyền Tông nên nảy sinh mâu thuẫn ngày càng gay gắt.
Dương Quốc Trung cảnh báo với Huyền Tông rằng Lộc Sơn sẽ làm phản. Đường Huyền Tông nghi hoặc sai sứ đi dò xét. An Lộc Sơn đều mua chuộc bằng vàng bạc nên các sứ giả ai cũng ca ngợi ông. Nhờ tài năng đánh dẹp, chiêu dụ sự phản loạn của một số bộ tộc người Hề và người Khiết Đan ở biên cương, ông càng được vua Đường xem là bức thành bảo vệ biên giới. Huyền Tông tuổi già, ham hưởng lạc, cho con Lộc Sơn làm quan trong triều, sau đó còn thông gia với Lộc Sơn, gả con gái cho con trai Lộc Sơn là An Khánh Tông.
Nhưng những việc xây dựng lực lượng của An Lộc khiến không chỉ Dương Quốc Trung mà cả các triều thần khác cùng dấy lên dư luận nghi ngại về việc ông sẽ làm phản. Dù đã có ý làm phản nhưng An Lộc Sơn nghĩ tới ân tình của Đường Huyền Tông quá tín nhiệm mình nên còn do dự.
Tuy nhiên, Dương Quốc Trung muốn minh chứng cho lời nhận xét của mình về Lộc Sơn, càng ngày càng tỏ ý định trừ bỏ Lộc Sơn. Thêm vào đó, có lời đề nghị nên quyết đoán hành động của Sử Tư Minh và các mưu sĩ Nghiêm Trang, Cao Thượng đã thúc đẩy Lộc Sơn quyết định dấy binh chống nhà Đường.
Ngày Giáp Tý (16) tháng 11 năm Ất Mùi (tức 16 tháng 12 năm 755), với danh nghĩa "phụng mật chiếu hoàng đế thảo phạt Dương Quốc Trung", An Lộc Sơn khởi binh từ Phạm Dương, chính thức phản lại nhà Đường.
== An Lộc Sơn đánh chiếm hai kinh ==
=== Đánh chiếm Lạc Dương ===
An Lộc Sơn có 15 vạn quân, nói phao lên là 20 vạn, ồ ạt tiến xuống phía nam. Khi tin Lộc Sơn làm phản truyền đến Trường An, ban đầu Đường Huyền Tông không tin, cho là tin đồn thất thiệt. Đến khi tin được xác nhận là đúng, cả Huyền Tông và nhiều quan lại trong triều đều hốt hoảng, mất bình tĩnh.
Dương Quốc Trung tự cho mình là đã dự kiến được điều đó, và tiếp tục dự đoán rằng quân phản sẽ chỉ hoạt động được chục ngày thì sẽ xảy ra chia rẽ nội bộ, Lộc Sơn sẽ bị thủ hạ giết. Đường Huyền Tông và các triều thần quen an nhàn, khi bất ngờ gặp tai biến có tâm lý cầu may, tin vào Dương Quốc Trung.
Nhưng quân An Lộc Sơn mạnh mẽ hơn nhiều so với sự dự liệu của nhà Đường. Trong không đầy 1 tháng, An Lộc Sơn đã kéo tới Linh Xương, vượt qua sông Hoàng Hà, gần như không gặp sự chống đối nào, liên tiếp hạ thành chiếm đất. Sau đó An Lộc Sơn đánh chiếm các trọng điểm Trần Lưu, Vinh Dương và tiến đánh Lạc Dương.
Đường Huyền Tông vội điều binh, cho Phong Thường Thanh làm Tiết độ sứ Phạm Dương (thay An Lộc Sơn), đến Lạc Dương mộ binh chống lại An Lộc Sơn. Mặt khác, Huyền Tông tự mộ thêm 5 vạn người ngựa, giao cho Tiết độ sứ An Tây là Cao Tiên Chi đóng giữ Thiểm châu; lại cử Quách Tử Nghi làm Tiết độ sứ Sóc Phương phòng thủ phía đông nam Hoàng Hà. Triều đình cần một người làm tổng quản quân đội ở Hà Bắc, Sơn Đông, Huyền Tông bèn trưng cầu các tướng đề cử. Quách Tử Nghi tiến cử Lý Quang Bật, Huyền Tông tiếp nhận ngay, phong Quang Bật làm Tiết độ sứ Hà Đông.
Phong Thường Thanh mộ được 6 vạn quân, nhưng họ đều là những người dân ở chợ búa chưa từng luyện tập và chưa quen đánh trận. Thường Thanh mang quân ra cửa Vũ Lao chặn đánh Lộc Sơn, nhưng bị đánh bại phải quay về giữ Lạc Dương. An Lộc Sơn kéo đến vây đánh Lạc Dương. Quân ô hợp của Thường Thanh không địch nổi, nhanh chóng bị đánh bại lần thứ hai. Lộc Sơn chiếm được đông đô Lạc Dương.
Phong Thường Thanh chạy tới Thiểm châu, hội quân với Cao Tiên Chi. An Lộc Sơn tiếp tục tiến quân đánh Thiểm châu, tiếp tục đánh bại hai tướng nhà Đường. Tiên Chi và Thường Thanh thua trận chạy về giữ ải Đồng Quan. Đường Huyền Tông nghe tin Thường Thanh thua trận bèn tước hết quan chức. Cao Tiên Chi lệnh cho Thường Thanh tuần tra giám sát các trại xung quanh.
Đường Huyền Tông sai hoạn quan Biên Lệnh Thành ra làm Giám quân, giám sát quân Cao Tiên Chi. Biên Lệnh Thành thường hạch sách bắt Cao Tiên Chi thỏa mãn yêu cầu cá nhân, nhưng đều bị Tiên Chi từ chối.
Đường Huyền Tông không đánh giá hết thực lực của quân An Lộc Sơn, nghe theo lời gièm của hoạn quan Biên Lệnh Thành rằng Cao Tiên Chi vô cớ bỏ thành giải tán quân và tự ý giảm khẩu phần của binh lính, quy trách nhiệm cho hai tướng để thua trận, hạ lệnh giết cả Phong Thường Thanh và Cao Tiên Chi, cử Kha Thư Hàn đang ốm ra trấn thủ Đồng Quan.
=== Chiến sự ở Hà Bắc ===
==== Các thành nhà Đường bị vây hãm ====
An Lộc Sơn nhanh chóng đánh chiếm hầu hết đất đai Hà Bắc như gió cuốn, nhưng trong địa bàn mới chiếm được vẫn có một số tướng nhà Đường tận lực trung thành, kiên trì giữ thành thế thủ không đầu hàng, như Thái thú Bình Nguyên là Nhan Chân Khanh, Thái thú Thường Sơn là Nhan Cảo Khanh (hai anh em họ). Mười bảy quận Hà Bắc nghe theo các tướng họ Nhan, cùng nhau phản lại Lộc Sơn, trở lại quy thuận nhà Đường. An Lộc Sơn chỉ còn làm chủ các quận Hà Bắc là Ngư Dương, Phạm Dương, Bắc Bình, Mật Vân, Cấp Nghiệp, buộc phải ngưng đánh Đồng Quan, quay trở lại chinh chiến. Ông tự mình đóng quân tại Lạc Dương để điều binh các trấn.
Nhân đó, các tướng ở Hà Nam đang bị quân An Lộc Sơn chiếm như Thái thú Nam Dương là Lỗ Linh, thái thú Tuy Dương là Hứa Viễn, huyện lệnh Chân Nguyên là Trương Tuần cũng khởi binh chống lại An Lộc Sơn, chặn giữ con đường tiến xuống phía nam.
Trong các thành trì chống An Lộc Sơn trong vùng Lộc Sơn quản lý, quận Thường Sơn bị hạ đầu tiên. Thái thú Nhan Cảo Khanh không chống nổi đại quân Sử Tư Minh, bị quân Yên bắt. Quân yên dụ hàng không được bèn giết Cảo Khanh.
An Lộc Sơn nôn nóng muốn làm hoàng đế nên sang tháng 1 năm sau (756), tự xưng là Đại Yên hoàng đế, đặt niên hiệu là Thánh Vũ. Ông phong con thứ là An Khánh Tự làm Tấn vương, Trương Thông Nho làm Trung thư lệnh, Cao Thượng và Nghiêm Trang làm Trung thư thị lang; sai An Khánh Tự làm tiên phong cùng Thôi Càn Hựu mang quân đi đánh Đồng Quan - cửa ngõ kinh thành Trường An. Lộc Sơn giao cho Sử Tư Minh lo việc đánh dẹp các thành trì còn chưa chiếm được ở Hà Bắc và phòng giữ căn cứ Phạm Dương.
==== Mũi ra quân của Quách, Lý từ Trường An ====
Tháng giêng năm 756, Lý Quang Bật mang 5000 quân tiến về phía đông, đánh phá Tỉnh Hình, quận Thường Sơn. Tướng Yên là Sử Tư Minh mang mấy vạn quân đến cứu viện, cắt đứt đường vận lương của quân Đường. Lý Quang Bật mang 500 cỗ xe đến Thạch Ấp lấy lương, cùng 1000 quân đi hộ vệ. Trên đường băng qua vùng kiểm soát của Sử Tư Minh, Quang Bật sai quân xếp theo đội hình vuông, thần tốc hành quân, kết quả vượt qua vùng quân Yên. Khi Sử Tư Minh phát hiện thì Quang Bật đã đi khỏi. Có lương thảo đầy đủ, Lý Quang Bật tập hợp lực lượng đánh bại Tư Minh, giành lại hơn 10 huyện.
Tháng 4 năm 756, tướng Quách Tử Nghi nhà Đường giành lại được 2 quận Vân Trung và Mã Ấp. Sau đó Tử Nghi tiến quân đến Tỉnh Hình, phối hợp với Tiết độ sứ Hà Đông là Lý Quang Bật. Hai tướng cùng nhau đánh chiếm được 2 huyện Cửu Môn và Cảo Thành do tướng của Yên là Sử Tư Minh cố thủ trên 40 ngày. Quân Đường chiếm được 9 huyện của quận Thường Sơn, đường rút lui của quân Yên bị uy hiếp.
Sử Tư Minh tuy thua nhưng có quân đông, khí thế còn mạnh. Khi Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật lui lại Thường Sơn để phòng thủ bèn mang quân đuổi theo. Quách Tử Nghi bèn sai 500 quân giương oai tiến lên phía bắc để đánh lừa Tư Minh. Tư Minh không biết là nghi binh, mang quân cấp tốc đuổi theo trong 3 ngày 3 đêm. Khi quân Yên đuổi tới huyện Hành Đường thì người ngựa đã rất mệt mỏi, lúc đó mới phát hiện ra phía trước chỉ có 500 quân Đường, bèn quay trở lại sông Sa Hà nghỉ ngơi. Quách Tử Nghi thừa lúc quân Yên mệt mỏi bèn mang quân đánh úp, giành thắng lợi lớn.
An Lộc Sơn nghe tin Tư Minh thua trận bèn sai Thái Hy Đức mang 2 vạn bộ binh và kỵ binh tới chi viện, lại sai Ngưu Đình Giới mang 1 vạn quân tới hỗ trợ Tư Minh. Tư Minh có 5 vạn quân trong tay.
Quách Tử Nghi không vội giao chiến, vẫn dùng chiến thuật trì hoãn khiến quân địch nản lòng. Ông mang quân lên phía bắc, dụ Tư Minh đuổi theo. Tư Minh được tăng viện, yên tâm mang quân đuổi. Tử Nghi đến đóng quân ở Hằng Dương, củng cố lại thành trì. Sử Tư Minh mang quân tới đánh thành không được. Hễ Tư Minh có ý định lui thì Quách Tử Nghi mang quân ra truy kích. Tư Minh quay trở lại đánh thì quân Đường lại rút vào thành cố thủ. Sử Tư Minh tiến lui đều không được, rất mệt mỏi. Lúc đó Quách Tử Nghi báo cho Lý Quang Bật tới trợ chiến, quân Đường có tổng cộng 10 vạn người, tổ chức tấn công quy mô vào quân Yên ở Gia Sơn, kết quả diệt hơn 4 vạn quân Yên, bắt sống 1000 người. Sử Tư Minh thua to, bị ngã ngựa, may mắn trốn thoát, chạy về cố thủ ở Bác Lăng. Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật mang quân vây hãm Bác Lăng.
=== Trận Đồng Quan: quân Yên chiếm Trường An ===
==== Tình cảnh quân Yên ====
Trận Gia Sơn đẩy quân Yên vào thế nguy khốn. Cánh quân Yên của An Lộc Sơn đang đánh Trường An bị Kha Thư Hàn án ngữ ở Đồng Quan, dùng chiến thuật phòng thủ không ra khiến quân Yên mắc kẹt không tiến lên được, phía sau thì Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật vây bọc. Nhiều tướng Yên đầu hàng nhà Đường, các trinh thám đi đưa thư cũng đều bị quân Đường bắt được. An Lộc Sơn chán nản định bàn cách bỏ Lạc Dương rút về căn cứ Phạm Dương và Bình Lư. Ông tỏ ra ân hận vì đã dấy binh theo đề nghị của các thủ hạ, trách mắng thậm tệ Nghiêm Trang và Cao Thượng.
Để khắc phục tình hình trước mắt, An Lộc Sơn và Sử Tư Minh buộc phải bố trí lại lực lượng quân Yên ở Hà Bắc: ông đưa quân chủ lực về bảo vệ con đường Hà Nam đến căn cứ Phạm Dương để phòng quân Đường phản kích vào đất căn bản này.
Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật kiến nghị Đường Huyền Tông cố thủ giữ chân An Lộc Sơn ở Đồng Quan, còn hai cánh quân Lý, Quách sẽ tấn công căn cứ Phạm Dương của Lộc Sơn.
==== Mâu thuẫn mới trong nội bộ nhà Đường ====
Cùng lúc đó trong triều nhà Đường tiếp tục phát sinh mâu thuẫn mới. Ngay khi nhận lệnh ra trấn thủ Đồng Quan, Kha Thư Hàn đã vu cáo tướng người Hồ khác là An Tư Thuận tư thông với An Lộc Sơn, khiến Tư Thuận bị giết oan.
Khi hai bên giằng co ở Đồng Quan, tại Trường An và xung quanh kinh thành nổ ra dư luận trong các tướng lĩnh quy trách nhiệm cho Dương Quốc Trung lộng hành và kích động ra cuộc phản loạn của An Lộc Sơn. Các tướng đang trấn giữ Đồng Quan như Kha Thư Hàn, Vương Tư Lễ khuyên có ý mang quân về kinh thanh trừng Dương Quốc Trung.
Cùng lúc Dương Quốc Trung cũng lo sợ Kha Thư Hàn mang đại quân về đối phó với ông, bèn xin Đường Huyền Tông mộ thêm binh lính phòng thủ cho hậu phương kinh thành. Huyền Tông nghe theo, Dương Quốc Trung bèn sai thủ hạ đi mộ 1 vạn quân, cho Đỗ Càn Vận tiếp quản, ra đóng ở Bá Thượng. Đội quân này tuy mang tiếng là bảo vệ kinh thành nhưng thực ra là bảo vệ Dương Quốc Trung khỏi sự thanh trừng của các tướng sĩ không cùng phe phái.
Kha Thư Hàn nghe tin Dương Quốc Trung đề phòng mình, bèn lấy lý do vì mặt trận chống Yên, đề nghị Huyền Tông điều động quân của Đỗ Cát Vận từ Bá Thượng tới nhập vào quân dưới quyền mình. Huyền Tông nghe theo. Kha Thư Hàn lấy quân rồi gọi Cát Vận đến giết chết.
Ngoài Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật ở Hà Bắc kiến nghị Đường Huyền Tông cố thủ giữ chân An Lộc Sơn ở Đồng Quan, bản thân Kha Thư Hàn cũng có chủ trương này. Ông đề nghị Đường Huyền Tông cho cố thủ chờ thời vì "An Lộc Sơn không được lòng dân". Thôi Càn Hựu không thể phát động tấn công, chỉ hằng ngày luyện quân ở ngoài chờ cơ hội.
Tuy nhiên, có người báo về kinh rằng quân Yên ở Đồng Quan không đầy 4000 người, toàn quân già yếu. Dương Quốc Trung cũng tâu Huyền Tông nên thúc quân Thư Hàn ra trận, ngoài mặt là để giành thắng lợi quyết định trước quân Yên, còn trên thực tế là bằng mọi cách tránh mũi dùi của Kha Thư Hàn chĩa vào mình. Đường Huyền Tông nóng lòng muốn thắng lợi, nghe lời Quốc Trung, ép Kha Thư Hàn xuất kích từ Đồng Quan ra đánh quân Yên, tấn công Thiểm châu, Lạc Dương. Quyết sách đó của Đường Huyền Tông được các sử gia đánh giá là sai lầm trí mạng khiến nhà Đường đánh mất cơ hội xoay chuyển cục diện cuộc chiến một cách nhanh chóng.
==== Kha Thư Hàn bại trận ====
Ngày 4 tháng 6 năm 756, Kha Thư Hàn buộc phải mang quân ra đánh. Thôi Càn Hựu vốn đã mang quân trấn giữ hết các nơi hiểm yếu, chỉ để vài ngàn người ra trận. Kha Thư Hàn và Điền Lương Khâu trông thấy quân Yên ít nên yên tâm xuất chiến.
Tuy nhiên khi đại quân Kha Thư Hàn kéo ra thì rơi vào phục kích của Thôi Càn Hựu. Quân yên vùng dậy từ nơi ẩn náu quăng đá tới tấp xuống quân Đường. Quân Đường bị mắc trong chỗ chật hẹp không dùng vũ khí được, bị sát thương rất nhiều. Quân yên lại nhân chiều gió thổi mạnh, đốt mấy chục xe cỏ khô cho gió thổi khói xuống. Quân Đường bị khói mù mịt không quan sát được, tự sát thương lẫn nhau khá nhiều.
Quân yên thừa cơ xông vào tới chém giết. Đội quân phía sau thấy quân phía trước bị thua nặng, xô nhau chạy hỗn loạn, bị chết hàng vạn người. Nhiều người trong quân Đường chen lấn xô xát nhau, bị rơi xuống sông Hoàng Hà. Bị quân Yên truy kích, một số quân sĩ buộc binh khí lại làm bè, dùng thương làm mái chèo, lội qua sông Hoàng Hà thoát thân.
Kết quả trận Đồng Quan, gần như toàn bộ 20 vạn quân Đường bị tiêu diệt, số quân thoát về bờ bắc không đầy 1/10. Quân yên thắng lớn, ngày 8 tháng 6 năm 756, tiến vào chiếm Đồng Quan.
Kha Thư Hàn mang vài trăm quân chạy thoát vượt sông Hoàng Hà đến trạm Quan Tây, thu nhặt tàn quân, định chiếm lại Đồng Quan, nhưng bộ tướng người Phiên là Hỏa Bạt Quy Nhân đã phản Đường hàng Yên, mang quân bản bộ bắt ông đưa đến chỗ An Lộc Sơn.
Quân yên thừa thắng ở Đồng Quan, ồ ạt tiến vào kinh thành Trường An. Đường Huyền Tông mang theo Dương Quý phi và thừa tướng Dương Quốc Trung hốt hoảng bỏ chạy về phía tây vào đất Thục.
== Hai nhà đổi chúa ==
=== Chính biến ở Mã Ngôi ===
Quân yên tiến vào Trường An, thả sức cướp bóc của cải, tàn phá kinh thành.
Tình trạng quân Đường vô cùng hỗn loạn. Khi xa giá Đường Huyền Tông đi đến Mã Ngôi, các tướng sĩ oán hận anh em Dương Quốc Trung và Dương Quý phi nên nổi loạn giết Quốc Trung và ép Huyền Tông xử tử Quý phi, nếu không sẽ không hộ giá nữa. Huyền Tông đành mang Quý phi thắt cổ ở Mã Ngôi.
Thái tử Lý Hanh trên đường chạy theo Huyền Tông, bị nhân dân giữ lại nên đoàn của thái tử phải chuyển hướng chạy sang núi Linh Vũ. Được sự ủng hộ của các đại thần đi theo, tháng 7 năm 756, thái tử Hanh bèn tự lên ngôi ở Linh Vũ, tức là Đường Túc Tông, vọng tôn Huyền Tông làm thái thượng hoàng.
Hoàng đế Túc Tông được binh sĩ đưa lên làm vua ngày 13 tháng 8 năm 756, nhưng Đường Huyền Tông và đoàn tùy tùng chạy tới Tứ Xuyên, chỉ nhận được tin tức vào ngày 10 tháng 9 năm 756, và ngày đó là ngày kết thúc trị vì của Huyền Tông trên thực tế
Lực lượng của Đường Túc Tông mới tập hợp khá nhỏ yếu. Đường Túc Tông triệu tập các tướng sĩ về hộ giá để tổ chức lại lực lượng phản công quân Yên. Một người bạn thân lâu năm của Túc Tông là Lý Bí, thường được gọi là "Tể tướng áo vải", nhận lời đến giúp vua mới. Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật ở Hà Bắc đang vây hãm Sử Tư Minh cũng rút quân về Linh Vũ hộ giá. Từ đó quân Đường bắt đầu được tổ chức lại dưới quyền Đường Túc Tông.
=== Chính biến ở Lạc Dương ===
Kha Thư Hàn bị thủ hạ bắt nộp cho vua Yên An Lộc Sơn, sợ hãi xin hàng và tự nguyện viết thư dụ các tướng nhà Đường đầu hàng. Các tướng nhà Đường nhận thư đều chê trách Kha Thư Hàn không còn khí tiết, và không ai chịu hàng Yên. An Lộc Sơn thấy dùng Kha Thư Hàn không có kết quả bèn giam Thư Hàn lại.
An Lộc Sơn chiếm được 2 kinh Lạc Dương và Trường An, tỏ ra mãn nguyện và xem như đã chiếm được giang sơn nhà Đường, nghĩ đến chuyện hưởng lạc, không tính toán việc lâu dài nữa.
Nội bộ chính quyền Đại Yên tranh giành quyền lợi lẫn nhau. Lộc Sơn lại bị bệnh ở mắt, gần như bị mù, không trông rõ mọi vật. Do bị khối u đau nhức nên tâm tính hung dữ, hay đánh phạt thuộc hạ. Các tướng thân cận như Nghiêm Trang, Lý Trư Nhi cũng thường bị vua Yên đánh đòn.
Ngoài ra, Lộc Sơn còn yêu quý con nhỏ là An Khánh Ân do vợ thứ Đoàn thị sinh ra nên có ý định bỏ ngôi thái tử của An Khánh Tự. An Khánh Tự biết tin bất bình, bèn bàn với Nghiêm Trang và Lý Trư Nhi mưu giết cha giành ngôi vua.
Đầu năm 757, An Khánh Tự sai Nghiêm Trang và Lý Trư Nhi cầm dao vào cung cấm, chém mạnh vào bụng Lộc Sơn. Lộc Sơn vươn tay vớ con dao để dưới gối nhưng không được, ruột đổ ra đầy giường mà chết.
An Khánh Tự và các tướng truyền tin An Lộc Sơn ốm chết và xưng làm vua Yên. Sau đó Khánh Tự giết luôn hàng tướng Kha Thư Hàn.
Nghe theo lời Nghiêm Trang, An Khánh Tự ở trong cung cấm, giao quyền điều hành cho Nghiêm Trang. Mãnh tướng Sử Tư Minh vốn là bạn thân của An Lộc Sơn tỏ ra coi thường An Khánh Tự, thường không nghe lệnh. Để lấy lòng Tư Minh, Tự Khánh cho Tư Minh về Phạm Dương làm Tiết độ sứ, giao toàn quyền cai quản vùng căn bản của chính quyền Đại Yên.
== Nhà Đường thu phục hai kinh ==
=== Chiến sự trong vùng Đại Yên quản lý ===
Trước khi An Lộc Sơn chiếm được Trường An, quận Thường Sơn do Thái thú Nhan Cảo Khanh trấn giữ đã thất thủ. Cảo Khanh bị giết vì không hàng Yên.
Khi quân Yên tràn vào Trường An trong thế đắc thắng, An Lộc Sơn lệnh cho tướng Sử Tư Minh đẩy mạnh việc chinh phục Hà Bắc, Hà Nam. Trong lúc Đường Túc Tông còn đang tập hợp và củng cố lực lượng, chưa thể phản công quân Yên thì Sử Tư Minh được cởi vây từ Bác Lăng, ra sức nhổ nốt các thành trì còn trung thành với nhà Đường.
Sử Tư Minh đánh đâu thắng đó, tới bao vây Bình Nguyên. Tướng giữ Bình Nguyên là Nhan Chân Khanh sau nhiều ngày chống trả liệu thế không thể giữ được Bình Nguyên để chống đạo quân hùng mạnh của Tư Minh, bèn bỏ thành, men theo Giang Hoài – Kinh Tương tới Linh Vũ theo Đường Túc Tông. Túc Tông phong ông làm Thượng thư bộ Hình, Ngự sử đại phu.
Trương Tuần và Hứa Viễn cùng nhau thế thủ ở Tuy Dương, cầm cự trước sức tấn công của 10 vạn quân Yên dưới quyền Doãn Tử Kỳ. Dù quân Đường thắng nhiều trận nhưng do thành bị vây quá lâu nên dần dần suy kiệt. Trong thành Tuy Dương lúc đó có 6 vạn hộc lương nhưng trong tình trạng bị bao vây ngặt nghèo. Giữa lúc đó Quắc vương Lý Cự hạ lệnh điều 3 vạn hộc lương cho Bộc Dương và Tế Âm. Hứa Viễn không đồng ý chuyển lương đi vì cần cho việc phòng thủ. Lý Cự không nghe, ép phải chuyển lương cho Tế Âm. Tướng giữ Tế Âm sau khi được 3 vạn hộc lương lại đầu hàng Doãn Tử Kỳ.
Doãn Tử Kỳ mang đại quân công phá Tuy Dương 3 lần. Trương Tuần cố thủ kiên cường trong thành, nhiều lần đẩy lui được các đợt tấn công của quân Yên. Nhưng sau đó trong thành hết lương. Nhân dân trong thành phải ăn cả vỏ cây, nhiều quân sĩ bị chết đói, chỉ còn lại vài trăm người ốm yếu. Trương Tuần phải giết cả ái thiếp để lấy thịt cho quân sĩ ăn, sau đó luân phiên tới ăn thịt người già, ăn thịt trẻ con; tất cả hơn 2 vạn dân trong thành bị giết làm lương cho quân sĩ.
Trương Tuần phái mãnh tướng Nam Tề Vân cảm tử phá vòng vây ra ngoài cầu viện. Nhưng Hứa Thúc đóng quân ở Tiêu quận, Thượng Hoành đóng quân ở Bành Thành, Hạ Lan Tiến Minh ở Lâm Hoài đều không chịu ra quân cứu Tuy Dương.
Thành Tuy Dương sức cùng lực kiệt, đến tháng 10 năm 757 bị quân Yên hạ. Trương Tuần cùng Hứa Viễn và các tướng sĩ ốm yếu đều bị bắt sống, vì không quy phục nên bị quân Yên giết.
Tuy Dương tuy cuối cùng bị hạ nhưng đã cầm chân hàng chục vạn quân Yên, ngăn chặn không cho tiến xuống phía nam (Giang – Hoài), giữ được con đường cung ứng kinh tế của nhà Đường được thông suốt, tạo điều kiện cho đại quân Đường ở phía tây, phía bắc có thời gian củng cố để phản công. Khi thành Tuy Dương bị quân Yên hạ thì cũng đúng lúc quân Đường phản công mạnh mẽ, giành lại hai kinh.
=== Quân Đường phản công ===
Qua một năm tập hợp và củng cố, quân Đường ở phương bắc mạnh lên nhiều. Trong khi đó nội bộ quân Yên lại chia rẽ. Mãnh tướng Sử Tư Minh mang gần 10 vạn quân ly khai Yên không nghe lệnh An Khánh Tự. Nhân thời cơ đó, Đường Túc Tông hạ lệnh phản công để thu hồi hai kinh (Lạc Dương, Trường An).
Tháng 4 năm 757, theo đề nghị của Lý Tất, Túc Tông phong con là Lý Bảo làm nguyên soái, Quách Tử Nghi làm phó nguyên soái, lãnh trách nhiệm thu hồi hai kinh. Đồng thời, Túc Tông theo đề nghị đã sai sứ giao hảo với Hồi Hột để mượn quân vì quân nước này dũng mãnh, có thể đối địch được với đội quân thiện chiến của Đại Yên. Túc Tông giao hẹn với Hồi Hột: "Sau khi đánh chiếm được thành, đất đai và dân chúng thuộc về nhà Đường, còn của cải vải vóc thuộc về các ông". Hồi Hột nhận lời giúp quân.
Tháng 5 năm 757, Quách Tử Nghi tiến từ Phong Tường về phía đông chuẩn bị đánh Trường An. Lúc đó quân Hồi Hột chưa đến. Đến Thanh Cừ thì quân Đường gặp quân Yên do Lý Quy Nhân, An Thủ Trung chỉ huy. Hai bên giữ nhau 7 ngày không giao chiến. Hai tướng Yên dùng mưu giả thua tháo lui. Quách Tử Nghi mắc mưu đuổi theo, hai tướng Yên dàn 9000 quân thành hình con rắn dài đón đánh. Tử Nghi đánh vào giữa, hai đầu "trường xà" kéo lại vây bọc, đánh quân Đường thua to. Tử Nghi phải lui quân về giữ Vũ Công.
Đường Túc Tông điều thêm quân tiếp viện cho Lý Bảo và Tử Nghi, trong đó có 4000 người Hồi Hột dưới quyền tướng Bộc Cố Hoài Ân. Sang tháng 9 năm đó, Tử Nghi có 15 vạn quân, lại tấn công Trường An lần thứ 2. Ngày 27 tháng 9, Tử Nghi kéo đến phía tây Trường An. An Thủ Trung và Lý Quy Nhân mang 10 vạn quân ra địch. Quách Tử Nghi sai Lý Tự Nghiệp cầm tiền quân, tự mình đi trung quân, sai Vương Âu Lễ làm hậu quân. Lý Tự Nghiệp và Lý Quy Nhân giao tranh giằng co mấy trận không phân thắng bại.
An Thủ Trung điều một cánh quân sang phía đông đánh vây bọc quân Đường. Quách Tử Nghi phát hiện, bèn sai Bộc Cố Hoài Ân (người Thiết Lặc, Hồi Hột) dẫn 4000 quân Hồi Hột ra giao chiến, giết hơn nửa quân Yên. Cánh quân Yên đi tập kích bị đánh bại. Quách Tử Nghi lại sai Hoài Ân vòng ra phía sau đánh úp quân Yên, đồng thời thúc tiền quân và trung quân cùng lúc tấn công ồ ạt. Sau hơn nửa ngày giao chiến, quân Đường giết 6 vạn quân Yên. Quân yên thua chạy vào thành Trường An. Lý Bảo chủ trương cho binh sĩ nghỉ ngơi nên dừng lại không truy kích. An Thủ Trung, Trương Thông Nho và Lý Quy Nhân hoảng sợ, nhân lúc đêm tối bỏ thành rút chạy.
Ba ngày sau, Lý Bảo và Quách Tử Nghi mới mang quân đuổi theo quân Yên. Nhưng quân Đường triển khai chậm nên quân Yên có thời gian chỉnh đốn lại. Vua Yên An Khánh Tự sai Nghiêm Trang mang quân từ Lạc Dương sang phía tây tiếp viện cho Trường An, gặp tàn quân Yên thua chạy về, tập hợp lại được 15 vạn người.
Ngày 15 tháng 10, Quách Tử Nghi đụng độ quân Yên ở Tân Điếm. Quân yên dựa vào núi bày trận, Tử Nghi cho đại quân tấn công chính diện, còn Bộc Cố Hoài Ân mang quân Hồi Hột đánh úp phía sau. Thấy cánh quân chính diện yếu thế, Hoài Ân dẫn quân thần tốc tới Nam Sơn, đánh mạnh vào sườn quân Yên. Quân yên vốn sợ quân Hồi Hột, nên thấy quân Hồi Hột đến đều bỏ chạy. Quách Tử Nghi thừa cơ thúc 2 cánh quân chính diện tấn công ồ ạt. Quân yên thua to, Nghiêm Trang và các tướng dẫn tàn quân chạy về phía đông. Quách Tử Nghi dẫn quân truy sát.
An Khánh Tự được tin cánh quân chủ lực đi cứu Trường An bị đánh bại rất sợ hãi, dẫn 300 kỵ binh và 1000 bộ binh bỏ Lạc Dương chạy về Nghiệp Thành. Ngày 18 tháng 10, quân Đường thừa thắng tiến vào Lạc Dương.
Hai kinh trở lại với nhà Đường.
== Trận Nghiệp Thành ==
=== Sử Tư Minh giữa hai chính quyền ===
Theo kế của Nghiêm Trang, An Khánh Tự gọi Sử Tư Minh về hội quân, với ý định cướp quân của Tư Minh. Tư Minh nhận thấy ý định đó, bèn quyết định quy hàng nhà Đường để tránh việc bị cả quân Đường và quân Khánh Tự truy sát.
Tháng 12 năm 757, Đường Túc Tông trở lại hành cung ở Trường An. Sử Tư Minh mang 8 vạn quân cùng 13 quận Hà Bắc về hàng. Đường Túc Tông thu nhận, phong Tư Minh làm Quy Nghĩa vương, kiêm Tiết độ sứ Phạm Dương. Tuy thu nhận cho Tư Minh hàng nhưng nhà Đường vẫn nghi ngại ông. Năm 758, Đường Túc Tông sai Ô Thừa Ân đến bổ nhiệm ông làm Phó soái, song thực chất là để chờ thời cơ sát hại Tư Minh.
Ý định đó lộ ra, Sử Tư Minh bèn dùng kế lừa bắt sống Ô Thừa Ân. Khám trong người Ân có mật chiếu của Túc Tông và thư của Lý Quang Bật muốn trừ khử mình, Sử Tư Minh vô cùng giận dữ. Trong người Thừa Ân còn có danh sách các tướng đã về hàng cần phải trừ khử. Sử Tư Minh bèn triệu tập các tướng sĩ lại, hạ lệnh giết chết cha con Ô Thừa Ân và các sứ giả đi cùng, và lại dấy quân chống nhà Đường.
=== An Khánh Tự bại trận Vệ châu ===
Tháng 9 năm 758, Đường Túc Tông tổng động viên 9 Tiết độ sứ nhà Đường đi đánh An Khánh Tự ở Nghiệp Thành, tổng cộng 60 vạn người. Các Tiết độ sứ ra quân gồm có:
Quách Tử Nghi - Tiết độ sứ Sóc Phương
Lỗ Linh - Tiết độ sứ Hoài Tây
Lý Hoán - Tiết độ sứ Hưng Bình
Hứa Thúc Dực - Tiết độ sứ Hoạt châu
Lý Tư Nghiệp - Tiết độ sứ Trấn Tây - Bắc Đình
Lý Quản Tông - Tiết độ sứ Trịnh Sát
Thôi Quảng Viễn – Tiết độ sứ Hà Nan
Lý Quang Bật - Tiết độ sứ Hà Đông
Vương Tư Lễ - Tiết độ sứ Quan Nội
Khi ra quân, Đường Túc Tông thấy cả Quách Tử Nghi và Lý Quang Bật đều nhiều công lao, nên không muốn để ai dưới quyền ai, bèn cho hoạn quan Ngư Triều Ân làm Quan quân dung sứ, thống lãnh quyền chỉ huy.
Nghe tin Quách Tử Nghi bao vây tấn công Vệ châu, An Khánh Tự dẫn 7 vạn quân chia làm 3 ngả, tăng viện cho Vệ châu. Tử Nghi dùng kế mai phục, dụ An Khánh Tự mang quân ra đánh. Tử Nghi giả thua chạy, quân Yên đuổi theo. Bất thần các tay nỏ mai phục bắn ra, giết hơn nửa quân Yên. Tử Nghi cũng quay trở lại đánh giết. An Khánh Tự thua lớn, bỏ chạy về Nghiệp Thành.
=== Sử Tư Minh cứu Nghiệp Thành ===
Thấy quân Đường rầm rộ kéo đến, An Khánh Tự liệu thế không chống nổi, phải sai người cầu cứu Sử Tư Minh. An Khánh Tự trong tình cảnh tuyệt vọng phải lấy điều kiện nhường ngôi vua Yên cho Tư Minh để được cứu mạng. Sử Tư Minh nhận lời, từ Phạm Dương mang 5 vạn quân đi cứu vua Yên An Khánh Tự.
Lúc đó quân Đường do Tiết độ sứ 9 phương của nhà Đường chỉ huy, khí thế rất mạnh mẽ. Sử Tư Minh thấy vậy bèn đóng quân từ xa ở Phẫu Dương để tạo thanh thế.
Nghiệp Thành bị vây nhiều tháng, lương đã cạn, quân Đường lại dẫn nước sông Chương làm ngập thành, nhưng An Khánh Tự vẫn cố thủ chờ Sử Tư Minh cứu viện. Hoạn quan Ngư Triều Ân không hiểu việc quân, không hạ lệnh tác chiến nên cho dù thành đã rất nguy vẫn chưa bị hạ.
Nắm được tình hình đó, Sử Tư Minh quyết định tấn công. Ông chia quân, một mặt tiến sát doanh trại quân Đường và ngày đêm quấy rối đánh úp vào trại; mặt khác ông điều binh đi cướp lương thảo tiếp ứng khiến cho quân Đường bị đói.
Quân Đường thiếu ăn, dao động. Tháng 3 năm 759, Sử Tư Minh đích thân dẫn 5 vạn quân đánh thẳng vào doanh trại quân Đường. Quân đội của Tư Minh mạnh mẽ, đánh tan đại quân Tiết độ sứ 9 phương của nhà Đường. Sử sách mô tả trận này nói rằng khi Tư Minh thúc quân tác chiến, "có bão làm gió bụi nổi lên mù mịt khiến cả hai bên cùng thiệt hại", nhưng thực tế quân Đường đã bị đánh tan và thua chạy, Nghiệp Thành được giải vây.
Trong lúc hỗn loạn, nhiều tướng nhà Đường để cho quân sĩ cướp bóc nhà dân, riêng cánh quân của Lý Quang Bật chỉ huy rất nghiêm túc rút lui, trở về Biện châu.
== Chiến sự giằng co ==
=== Đổi ngôi vua Yên ===
Nghiệp Thành qua được cơn hiểm nghèo nhưng An Khánh Tự thế yếu suy kiệt, phải dâng biểu xưng thần với Sử Tư Minh, từ bỏ ngôi vua Yên. Sử Tư Minh lấy lời lẽ dụ Khánh Tự, đề nghị đến doanh trại để kết làm hai nước anh em cùng chống nhà Đường. An Khánh Tự nghe theo, bèn đến doanh trại của Tư Minh. Tư Minh gặp An Khánh Tự bèn bắt giữ, kể tội giết cha, rồi giết chết Khánh Tự.
Tư Minh giao cho con là Sử Triều Nghĩa giữ Nghiệp Thành, còn mình thu hết thủ hạ của An Khánh Tự trở về Phạm Dương. Tháng 4 năm 759, Sử Tư Minh tự xưng là Yên đế, đặt niên hiệu là Thuận Thiên. Sau đó, ông huy động hơn 10 vạn quân tấn công Biện châu, Trịnh châu và tiến tới Lạc Dương.
=== Lý Quang Bật dời Lạc Dương ===
Do sự gièm pha của Ngư Triều Ân, quy hết trách nhiệm thua trận cho Quách Tử Nghi, ông bị bãi chức. Lý Quang Bật được Đường Túc Tông trọng dụng, phong làm Thái úy kiêm trung thư lệnh, thay Tử Nghi làm Tiết độ sứ phương bắc. Khi nhận lệnh, Quang Bật từ Biện châu lên đường tới Lạc Dương ngay trong đêm tiếp quản quân của Tử Nghi. Ông dặn phó tướng Hứa Thúc Ký cố gắng giữ thành trong nửa tháng thì sẽ đến cứu. Đến nơi, ông chỉnh lý lại quân ngũ, siết chặt hiệu lệnh nghiêm ngặt.
Trong khi Quang Bật tiếp quản quân của Tử Nghi thì Sử Tư Minh đánh đến Biện châu. Hứa Thúc Ký không theo lời dặn của Quang Bật, cùng các thuộc hạ Lương Phủ, Lưu Tùng Gián đầu hàng quân Yên. Sử Tư Minh sai các hàng tướng đi đánh Giang, Hoài, còn mình mang quân đánh Lạc Dương, khí thế rất mạnh mẽ.
Trước thế mạnh của quân Yên, Lý Quang Bật liệu thế không chống nổi. Lưu thủ Lạc Dương là Vĩ Trắc muốn về hẳn Đồng Quan nhưng Quang Bật không theo vì như vậy là bỏ hẳn 500 dặm đất cho quân Yên chiếm. Lý Quang Bật chủ trương rút về Hà Dương. Ông lệnh cho toàn dân trong thành cùng quân lính dời đi Hà Dương, để lại thành không cho quân Yên. Ông cho tu bổ 3 tòa thành ở Hà Dương chuẩn bị phòng thủ.
=== Lý Quang Bật cố thủ Hà Dương ===
Sử Tư Minh biết Lý Quang Bật giỏi dùng binh, thấy quân Đường rút đi vẫn thận trọng không đuổi riết mà đợi quân Đường và dân Lạc Dương đi hết mới thúc quân vào chiếm thành. Tháng 10 năm đó, Sử Tư Minh mang đại quân tấn công Hà Dương. Lý Quang Bật bình tĩnh bố trí phòng thủ. Tiên phong quân Yên là Lưu Long Tiên đến đánh thành, giương oai diễu võ. Lý Quang Bật sai Bạch Hiếu Đức ra trận chém chết Long Tiên.
Sử Tư Minh nuôi 1000 con ngựa tốt, bị Lý Quang Bật dùng mẹo lùa về thành mất. Sử Tư Minh đánh Hà Dương lâu ngày không hạ được. Lý Quang Bật tránh địch ở chính diện mà mang một cánh quân đi phản kích ở phía tây thành Trung Đan, đánh bại 5000 quân địch, chém hơn 1000 người.
Tuy giữ được thành nhưng Lý Quang Bật sắp cạn lương trong thành Hà Dương. Ông giao lại thành cho Lý Bão Ngọc, dặn cố thủ trong 2 ngày, còn tự mình ra Hà Thanh trưng thu lương thực. Để đề phòng quân Yên cắt đường vận chuyển, ông chia một cánh quân đóng ở bến Dã Thủy phía bắc Hà Thanh.
Tướng Yên là Lý Nhân Việt vốn nhận lệnh của Sử Tư Minh, phải đi đánh úp bắt cho được Lý Quang Bật nhân cơ hội Quang Bật đã rời thành, nếu không bắt được Quang Bật thì bị tội chết. Vì không gặp Lý Quang Bật, Nhân Việt sợ tội với Tư Minh nên xin hàng. Mấy ngày sau, bạn của Việt là Đình Huy cũng tới hàng, đúng như dự định của Lý Quang Bật.
Trong khi Lý Quang Bật ra ngoài lấy lượng thì Chu Bão Ngọc cũng đánh lui được một đợt tấn công của quân Yên dưới quyền Chu Chí. Chu Chí rút lui, lại mang 5000 quân đến đánh thành Trung Đan. Lý Quang Bật vừa từ bến Dã Thủy trở về Trung Đan, hạ lệnh dựng rào gỗ phòng thủ. Chu Chí mang quân đến nơi, Lý Quang Bật sai bộ tướng Lệ Phi Nguyên Lễ ra đánh bại Chu Chí.
Thấy Chu Chí liên tiếp thất bại, Sử Tư Minh thay đổi chiến thuật, cho thuyền gỗ chở củi tẩm dầu châm lửa, thả trôi từ thượng nguồn xuống để đốt cháy 2 cây cầu nhằm chia cắt sự liên lạc giữa 3 tòa thành Hà Dương. Nhưng Lý Quang Bật phòng bị trước, sai quân dùng sào dài chặn thuyền và lấy đá lớn dìm thuyền lửa xuống sông.
Sử Tư Minh lại sai Chu Chí mang 3 vạn quân đánh Bắc thành, còn tự mình tấn công Nam thành. Quang Bật đoán biết quân Yên chỉ tấn công Bắc thành, bèn giao cho Lý Bão Ngọc trấn thủ Nam thành, còn mình mang quân chủ lực ra Bắc thành. Lý Quang Bật sai 2 bộ tướng Hách Ngọc và Luận Dung Trinh chia đường ra đánh. Quân Đường đại phá quân Yên, giết hơn 1 vạn người, bắt sống 2 tướng Yên là Từ Hoàng Ngọc và Lý Tần Thu cùng 8000 người, thu rất nhiều khí giới.
Sử Tư Minh đang đánh Nam thành, không biết quân đánh Bắc Thành bại trận. Lý Quang Bật sai mang tù binh bắt được đến Nam thành, chém ở bờ sông để uy hiếp quân Yên. Quân yên khiếp sợ, Sử Tư Minh phải lui quân.
Lý Quang Bật thừa thắng mang quân tấn công Hoài châu, bắt sống các tướng Yên là Chu Chí, An Thái Thanh, Dương Hy Văn. Trận Hà Dương, Lý Quang Bật chỉ có 2 vạn quân nhưng đã bại hơn 10 vạn quân Yên của Sử Tư Minh.
=== Trận Mang Sơn ===
Sau trận Hà Dương, hai bên cầm cự nhiều ngày không giao tranh. Lý Quang Bật tuy thắng nhưng quân ít hơn nhiều so với Sử Tư Minh nên không thể tổ chức phản công toàn diện.
Chiến thắng của Lý Quang Bật lại khiến hoạn quan Ngư Triều Ân ghen ghét, tâu với Đường Túc Tông rằng quân Yên ô hợp dễ đánh khiến Túc Tông hoài nghi tài năng của Quang Bật. Ngoài ra, tướng Bộc Cố Hoài Ân cũng gièm pha rằng quân Yên không mạnh nên Quang Bật mới đánh được.
Vì vậy Túc Tông nhất định bắt Lý Quang Bật ra quân thu phục Lạc Dương, trong khi ông nhận định quân địch còn mạnh chưa thể đánh chiếm thành được, nên nhiều lần viết thư về kháng nghị chưa nên ra quân. Nhưng Túc Tông vẫn nóng lòng thắng trận, liên tiếp sai sứ ra thúc giục, lại cử Ngư Triều Ân ra làm chỉ huy.
Vì bị triều đình cưỡng bách, đầu năm 761, Lý Quang Bật đành phải ra quân. Ông chia đường cùng Bộc Cố Hoài Ân đánh thành, nhưng Hoài Ân không đến đúng điểm hẹn như đã định. Lý Quang Bật và Ngư Triều Ân gặp đại quân Yên của Sử Tư Minh ở núi Mang Sơn ở phía tây bắc Lạc Dương. Hai bên giao chiến lâu ngày không phân thắng bại. Sử Tư Minh nghĩ ra một kế, ông sai người trà trộn vào quân Đường, phao tin rằng: "Quân Yên đều là người U châu, nhớ nhà, mong về quê".
Thống soái quân đội nhà Đường là Ngư Triều Ân nghe tin đó, hạ lệnh cho Lý Quang Bật và các Tiết độ sứ khác phải thừa cơ đánh úp quân Yên ngay. Thế là quân Đường rầm rộ tiến công. Quân yên giả thua rút chạy, lại vứt đồ ra đầy đường. Quân Đường tranh nhau nhặt đồ, bị quân Yên quay lại phản kích, đánh tan quân Đường ở phía bắc Mang Sơn.
Lý Quang Bật phải rút quân từ Hà Dương về cố thủ ở Văn Hỷ. Ông dâng biểu xin nhận tội, kết quả bị Đường Túc Tông tước hết binh quyền. Nghe tin quân các Tiết độ sứ bại trận, kinh thành chấn động. Đường Túc Tông lo sợ, phải điều quân Thiểm châu về phòng ngự cho Trường An.
Yên Đế Sử Tư Minh làm chủ một vùng rộng lớn khắp Hà Bắc và Hà Nam.
== Gió lại xoay chiều ==
=== Họa trong nhà Sử Tư Minh ===
Sử Tư Minh thắng lớn, thừa thế mang quân đánh Thiểm châu. Nhưng quân Đường ở Thiểm châu dưới quyền Ngư Triều Ân và Vệ Bá Ngọc phòng thủ khá vững vàng, quân Yên do Khang Văn Cảnh tấn công mấy lần đánh không thắng được. Sử Tư Minh bèn lui về Vĩnh Ninh. Ông sai con lớn là Sử Triều Nghĩa mang quân đi xây một toà thành hình tam giác để trữ lương, hẹn rõ ngày hoàn tất.
Triều Nghĩa xây xong thành nhưng chưa trát bùn, đúng lúc Sử Tư Minh đi kiểm tra, rất giận dữ. Sốt ruột vì chưa làm xong, ông sai mấy chục thủ hạ đi cùng xuống ngựa, lấy bùn trát lên tường, một chốc đã làm xong. Ông giận mắng và dọa trị tội Triều Nghĩa sau khi hạ được Thiểm Châu.
Nguyên Sử Tư Minh ngày thường yêu đứa con nhỏ là Sử Triều Thanh, định lập làm thái tử. Triều Nghĩa dù lớn tuổi nhưng không được cha yêu, nay nhân việc đó, lo sợ bị trị tội, bèn nảy ý giết cha.
Đêm hôm đó Sử Tư Minh trở dậy đi ra nhà tiêu, vừa lúc Sử Triều Nghĩa sai người hành thích. Tư Minh nghe động, bèn trèo tường nhảy ra, lấy được một con ngựa định phóng đi trốn, nhưng quân Triều Nghĩa bắn theo, ông bị trúng một phát tên ngã ngựa. Sau đó quân Triều Nghĩa lao tới chém chết Tư Minh.
=== Thất bại của Sử Triều Nghĩa ===
Sử Triều Nghĩa giết cha, lại giết luôn mẹ con Sử Triều Thanh, tự xưng là Yên Đế. Phạm Dương rơi vào tình trạng tàn sát nội bộ, mấy ngàn người bị giết, không yên ổn trong một thời gian. Các Tiết độ sứ trong chính quyền Yên tự ban hành chính lệnh trong vùng mình quản lý, chỉ còn ràng buộc về danh nghĩa với Sử Triều Nghĩa. Mặc dù chính quyền Yên quản lý khắp Hà Bắc và Hà Nam – cơ nghiệp do Sử Tư Minh để lại – nhưng thực lực ngày càng suy mòn.
Năm 762, Đường Túc Tông và thượng hoàng Huyền Tông đều qua đời. Thái tử Lý Dự lên nối ngôi, tức là Đường Đại Tông.
Năm đó, sau khi củng cố lại lực lượng, Đường Đại Tông quyết định ra quân đánh Yên. Do Đại Tông vẫn không có ý tin tưởng Quách Tử Nghi, còn Lý Quang Bật vừa thua trận bị giáng chức nên Đại Tông không để hai tướng này ra quân. Ông cử Ung vương Lý Thích làm Binh mã đại nguyên soái, Bộc Cố Hoài Ân làm Tiết độ sứ hành doanh phương bắc, cùng Quách Anh Nhân ra trận.
Ngay tháng 6 năm 762, quân của Sử Triều Nghĩa bị Duyện Vận Tiết độ sứ Điền Thần Công đại phá.
Bị thua trận, Sử Triều Nghĩa tìm cách lôi kéo sự ủng hộ của Khả hãn Hồi Hột, vốn là đồng minh của nhà Đường. Đại Tông cũng sai Lưu Thanh Đàm đến thiết lập lại liên minh với Hồi Hột, nhưng bị Đăng Lý Khả hãn hạ nhục. Thanh Đàm từ Hồi Hột gửi thư về báo rằng Hồi Hột đã chuẩn bị 10 vạn quân, nhân lúc Đại Tông mới lên ngôi, chính trị còn chưa ổn mà kéo về Trường An, toàn thành Trường An đều lo sợ. Đại Tông sai Bộc Cố Hoài Ân đến chiêu dụ. Đăng Lý lại là con rể của Hoài Ân, bèn đổi ý, chấp nhận lập lại liên minh với Đường để chống quân Yên. Đáp lại, Đại Tông sai Ung vương Thích đến Thiểm châu định ước với Hồi Hột. Sau đó, Đại Tông lệnh cho Bộc Cố Hoài Ân thống lĩnh các đạo quân phía bắc, Hà Đông, cùng tướng Hồi Hột là Tả Sát được cử làm tiên phong thống lĩnh liên quân hai nước, cùng các tướng là Tiết độ sứ Thiểm Tây Quách Anh Nghệ, Tiết Độ sứ Lộ Trạch Lý Bão Ngọc, hoạn quan Ngư Triều Ân, đưa quân từ các nơi tiến công Lạc Dương của Yên.
Tháng 10 năm 762, quân Đường tiến đánh Lạc Dương. Sử Triều Nghĩa quyết định tử chiến ở Lạc Dương thay vì tạm lui về Hà Dương theo đề nghị của chư tướng. Hơn 60.000 quân Yên bị giết và hơn 20.000 người bị bắt. Thất bại nặng nề, Triều Nghĩa đành phải bỏ trốn khỏi Lạc Dương, chạy về phía đông. Bộc Cố Hoài Ân sai Bộc Cố Sướng cùng Cao Phụ Thành hơn vạn quân mã truy kích, Triều Nghĩa lại chạy sang Bộc châu. Quân Hồi Hột nhân cơ hội vào Lạc Dương đã thẳng tay cướp bóc và chém giết người dân, khiến Đông Đô trở nên hoang tàn.
Sử Triều Nghĩa liên tiếp thất bại, cuối cùng chạy đến Vệ châu, hợp quân với Tiết độ sứ Tuy Dương Điền Thừa Tự, nhưng cũng thua nốt.
Sang tháng 1 năm 763, các Tiết độ sứ nước Yên thấy Triều Nghĩa thất thế nên lần lượt phản Yên, trở lại hàng nhà Đường, như Trương Hiến Thành, Tiết Tung, Trương Trung Chí (sau Đại Tông đổi tên thành Lý Bảo Thần), Điền Thừa Tự, Lý Hoài Tiên, Tiết Bão. Đại Tông theo đề nghị của Bộc Cố Hoài Ân, hạ lệnh giữ nguyên chức vị của các Tiết độ sứ này và vẫn cho họ cai quản các trấn ở phía bắc.
Sử Triều Nghĩa bị quân Đường truy kích, bỏ chạy hết nơi này tới nơi khác nhưng đều bị các thủ hạ phản lại không dung nạp. Triều Nghĩa không còn đường dung thân, định chạy lên phía bắc đầu hàng Khiết Đan. Trong khi chạy, Triều Nghĩa bị thủ hạ cũ là Lý Hoài Tiên mới đầu hàng nhà Đường mang quân đuổi theo.
Triều Nghĩa trốn vào khu rừng rậm ở sách Ôn Tuyền cạnh thành Thạch Đầu, vẫn bị Hoài Tiên truy riết. Triều Nghĩa biết không còn đường thoát, bèn treo cổ tự vẫn trong rừng. Lý Hoài Tiên tìm được xác Sử Triều Nghĩa, chặt đầu nộp Bộc Có Hoài Ân, Hoài Ân mang về kinh đô Trường An dâng Đường Đại Tông.
Triều Đại Yên diệt vong. Loạn An Sử kéo dài 8 năm chấm dứt.
== Đánh giá ==
=== Tính chất của chính quyền Đại Yên ===
Các sử gia Trung Quốc nhìn nhận loạn An Sử là một cuộc phản loạn điển hình, không hề có chút chính nghĩa; kèm theo đó là sự phá hoại ghê gớm.
Loạn An Sử được đánh giá là có độ dã man bậc nhất, riêng việc thay đổi ngôi của 4 ông vua Đại Yên đều lần lượt diễn ra bằng những vụ tàn sát: hai lần con giết cha, một lần bầy tôi giết vua. Điều đó khiến Đại Yên bị đánh giá là tập đoàn mất hết tính người; ngay cả tính người về tối thiểu cũng không có thì không thể lấy được lòng nhân dân để giữ thiên hạ.
=== Chiến lược và chiến thuật hai bên ===
Quân yên nhanh chóng xác lập ưu thế trong thời kỳ đầu, do quân sĩ trong nội địa nhà Đường nhiều năm sống trong thời bình không được củng cố nên sức chiến đấu thấp. Thêm vào đó, nội bộ chính quyền nhà Đường ngay cả khi phải chống phản quân vẫn tiếp tục chia rẽ và mâu thuẫn, nên đã nhiều lần có quyết sách sai lầm, vài lần để lỡ cơ hội sớm chấm dứt loạn lạc.
Lần thứ nhất là trước trận Đồng Quan năm 756. Trong lúc Sử Tư Minh thất thế ở Hà Bắc, An Lộc Sơn bị kẹt ở phía tây, các lộ quân Đường có thể thừa thắng tiến vào căn cứ Phạm Dương của chính quyền Đại Yên theo kế sách mà Quách Tử Nghi, Lý Quang Bật dự định. Nhưng Kha Thư Hàn ngoài mặt trận vẫn tiếp tục tranh chấp với Dương Quốc Trung trong triều, còn Đường Huyền Tông nóng lòng thắng trận đã quyết sách sai lầm. Điều đó tạo điều kiện cho Đại Yên phát triển tới cực thịnh: bao gồm cả Hà Bắc, một phần Hà Nam và vùng Quan Trung.
Điều đó dẫn đến sự chuyển giao quyền lực từ Huyền Tông sang Túc Tông để tổ chức lại lực lượng quân Đường. Khi quân chủ lực chưa kịp tổ chức lại thì đó là thời điểm khó khăn nhất đối với nhà Đường trong cuộc chiến; và vai trò hy sinh của các viên tướng trung thành chiến đấu trong vùng quân Yên chiếm đóng như Nhan Chân Khanh, Trương Tuần, Hứa Viễn có tác động không nhỏ, giúp cầm chân một bộ phận khá lớn quân Yên vào chiến trường phía đông, khiến quân Yên không thể dốc toàn lực vào cuộc chiến tận diệt nhà Đường.
Nhưng khi Đường Huyền Tông tự tìm thất bại thì Đại Yên cũng tự suy yếu bằng việc soán đoạt nội bộ của An Khánh Tự. Đó chính là thời điểm thích hợp cho quân Đường phản công. Khi An Khánh Tự gặp phải sự hồi sinh của nhà Đường và bại trận dưới tay quân chủ lực của Quách Tử Nghi, thì Sử Tư Minh lại dần dần xác lập chỗ đứng vững ở Hà Bắc và Hà Nam qua việc nhổ hết được những chướng ngại do các trung thần nhà Đường cố duy trì tại đây.
Sử Tử Minh tỏ ra là nhà lãnh đạo có năng lực nhất trong 4 người cầm đầu chính quyền Đại Yên. Khi thấy An Khánh Tự sắp tận diệt, ông hàng luôn nhà Đường, giữ một góc đông bắc tự trị như An Lộc Sơn khi còn phục vụ nhà Đường. Nhưng mưu đồ trừ khử Tư Minh bị lộ khiến nhà Đường phải đối mặt với một đối thủ có binh hùng tướng mạnh, thực lực đáng sợ hơn An Lộc Sơn. Bên cạnh đó, chính Đường Túc Tông sau những chiến thắng ban đầu, thu hồi được hai kinh cũng tự tìm đến khó khăn với quyết sách nhân sự trong trận Nghiệp Thành, và điều đó tạo ra cơ hội lớn cho Sử Tư Minh.
Trận Nghiệp Thành là bước ngoặt không chỉ giúp Đại Yên duy trì sự tồn tại trở lại, tiếp tục chỗ đứng ở Hà Bắc, mà thừa thắng xuống Hà Nam lấy được đông kinh Lạc Dương lần thứ hai. Đường Túc Tông vẫn sai lầm trong việc sử dụng hoạn quan Ngư Triều Ân và phải trả giá tới lần thứ hai cho thất bại ở Mang Sơn mà Lý Quang Bật bị quy trách nhiệm. Lúc đó tình cảnh nhà Đường cũng giống như lúc An Lộc Sơn áp sát trước Đồng Quan.
Nhưng lần này Túc Tông không phạm thêm sai lầm, duy trì thế phòng thủ, còn chính quyền Đại Yên tiếp tục tự tàn hại nhau vì định bỏ con lớn lập con nhỏ. Cả An Lộc Sơn và Sử Tư Minh đều vì yêu con nhỏ nên kích động con lớn vùng vẫy mà bị giết. Còn cả An Khánh Tự và Sử Triều Nghĩa tuy "lấy lại được ngôi con trưởng" song đều không đủ tài năng duy trì cục diện mà hai người cha đã gây dựng được.
Chiến sự liên tục xoay chiều, vì những biến cố tự yếu đi của cả hai phía – khi giành được một số ưu thế trên mặt trận lại có sai lầm. Cái chết của Sử Tư Minh là cơ hội thứ ba cho nhà Đường giải quyết loạn An Sử. Tình cảnh của Sử Triều Nghĩa giống như An Khánh Tự, dù lực lượng nhà Đường truy kích Triều Nghĩa không hùng hậu như khi đánh Khánh Tự nhưng đủ kết liễu Đại Yên. Trong các Tiết độ sứ bỏ Đại Yên hàng nhà Đường năm 763 không có ai bị sách động làm theo việc như Sử Tư Minh đã làm (đã hàng Đường lại về theo Yên), và Đại Yên chấm dứt sự tồn tại khi không còn xuất hiện một thủ lĩnh nào khác như An Lộc Sơn và Sử Tư Minh trước đây.
== Hậu quả và ý nghĩa ==
Loạn An Sử chấm dứt nhưng ảnh hưởng với vương triều Đường và xã hội Trung Quốc còn kéo dài rất nhiều năm sau. Loạn An Sử trên thực tế đã vạch đôi hai thời kỳ lớn của nhà Đường, đánh dấu một bước ngoặt lớn, để lại hậu quả lớn lao trong lịch sử Trung Quốc vì nó kéo theo trên mọi lĩnh vực một sự chuyển hướng rõ rệt.
=== Tàn phá ===
Loạn An Sử khiến nền kinh tế Trung Quốc đương thời ở phía bắc bị tàn phá nặng nề. Nhân dân chịu sự cướp bóc của tất cả các lực lượng quân sự đương thời, không chỉ bên Đường, bên Yên mà cả ngoại binh.
Vốn mang bản tính hung hãn của người Hồ, lính kỵ binh và bộ binh Đại Yên tản mát gần như khắp nơi, đánh thành chiếm đất, phá nhà cửa và cướp bóc. Riêng quân Hồi Hột mà nhà Đường mượn sức đánh An - Sử, vì được Đường Túc Tông giao hẹn sẽ cho lấy của cải, nên khi tiến vào Lạc Dương đã thả sức giết người cướp của. Số dân thường bị quân Hồi Hột giết lên tới hàng vạn, lửa cháy 10 hôm chưa tắt.
Ngay cả quân đội nhà Đường, nhất là đạo quân Sóc Phương và Thần Sách, trong khi đánh chiếm Lạc Dương, Trịnh châu, Biện châu, Nhữ châu, họ xem đây là nơi "phản quân" chiếm đóng, cũng tùy tiện cướp phá trong 3 tháng, làm cho nhà cửa những nơi này trống trơn, nhân dân trong thành phải dùng giấy làm áo để mặc. Không chỉ khi thắng trận, ngay cả khi thua ở Nghiệp Thành, quân triều đình trên đường rút chạy cũng thừa cơ cướp của dân, quan lại địa phương không thể ngăn chặn được.
Chỉ có vùng Giang Nam (vốn chỉ có cuộc nổi dậy của Vĩnh vương Lý Lân nhanh chóng bị dẹp) là ít bị tàn phá nhất do quân Yên bị chặn lâu ngày ở Tuy Dương không thể tiến xuống phía nam.
=== Thiệt hại kinh tế ===
Chiến tranh không chỉ khiến người dân mất nhà cửa, ruộng vườn mà còn tàn phá nền kinh tế Đại Đường đang hưng thịnh. Những công trình thủy lợi chung ở miền bắc bị phá hoại nghiêm trọng, phải mất rất nhiều năm mới có thể khôi phục. Ngành thủ công nghiệp, tiêu biểu là nghề dệt miền bắc cũng bị sụp đổ không vươn dậy được, khiến gánh nặng cung ứng tơ lụa cho chính quyền trung ương nhà Đường chuyển xuống phía nam, vùng Giang - Hoài.
Do sự thỏa thuận với người Hồi Hột về việc hợp tác quân sự chống lại quân Đại Yên, sau khi thắng trận, người Hồi Hột đưa cho nhà Đường mấy vạn con ngựa xấu, đổi lại nhà Đường cung cấp nhiều vải lụa và lãnh loại tốt. Chính quyền nhà Đường vơ vét rất nhiều tơ lụa từ phía nam để mang đổi cho Hồi Hột, với giá trao đổi là 1 ngựa = 40-50 xấp lụa.
Nông nghiệp bị tàn phá, kho thóc trống rỗng, việc cung ứng thóc gạo của triều đình trung ương cũng phải trông chờ vào miền Giang Đông.
=== Chết chóc ===
Những trận cướp bóc của cải của quân Đại Yên, quân Đường và quân Hồi Hột đều kèm theo giết chóc. Nhân dân không chỉ chết vì đi lính và lao dịch cho các chính quyền tranh chấp mà còn là nạn nhân của những lần "thắng trận, bại trận" của các bên.
Trước loạn An Sử, triều đình nhà Đường thống kê toàn quốc năm 755 được 8.914.709 hộ với dân số 52.913.309 người; sau chiến loạn, số hộ chỉ còn 1.930.100 và dân số chỉ còn 6.993.860 người, nghĩa là giảm đi tới hơn 7 lần (còn 13%). Theo nguồn tài liệu khác, số dân trước cuộc chiến tương đương với nguồn kể trên, còn số dân sau cuộc chiến cao hơn, là 16,9 triệu người và 2,9 triệu hộ. Dù là con số thống kê nào cũng cho thấy mức độ tổn hại nhân lực vô cùng lớn, nhiều nhất thì dân số Trung Quốc cũng chỉ còn không tới 1/3 so với trước cuộc chiến.
Khu vực chịu tổn thất nhiều nhất là phía bắc, thuộc lưu vực sông Hoàng Hà. Bốn khu vực bị phá hoại nặng nề nhất trong cuộc chiến là Lạc Dương, Trường An, Biện châu và Trịnh châu. Lạc Dương sau cuộc chiến được mô tả như sau:
"Cung điện đều bị thiêu trụi, mười chỉ còn lại 1… dân số chỉ còn lại khoảng 1000 hộ, đường đi đầy cỏ gai, tiếng sài lang tru ghê rợn. Nếu đi tiếp 1000 dặm về phía đông, thì không còn thấy bóng người cũng như khói nấu cơm nữa, hoàn toàn là cảnh tiêu điều…"
Còn khung cảnh kinh đô Trường An sau cuộc chiến:
Xóm làng vắng ngắt, trăm nhà không còn được một
Có tới 70% địa phương trong cả nước bị giảm hộ khẩu đến 90%, điển hình là Dịch châu tại Hà Bắc vốn có 44200 hộ trước loạn, sau chỉ còn 569 hộ (1,2%). Thời Đường Huyền Tông, số phủ châu có 10 vạn hộ trở lên là 10, sau loạn An Sử chỉ còn 2 châu phủ là Kinh Triệu và Thái Nguyên.
Phần lớn dân cư phương bắc ly tán, nhà cửa bị đốt phá, không còn người ở, xương trắng đầy đồng, hàng ngàn dặm tiêu điều. Nhiều người dân còn sống sót cũng phải bỏ nhà cửa quê hương ra đi, nhiều người chết trên đường tha hương.
=== Nạn phiên trấn cát cứ ===
Hậu quả lâu dài về mặt chính trị đối với nhà Đường, chính là nạn cát cứ của các phiên trấn. Tình hình này có liên quan tới chính sách khoan hồng được xem là không hợp lý của Đường Đại Tông.
Năm 763, khi Sử Triều Nghĩa thất thế, các bộ tướng cùng nhau đầu hàng. Trong hoàn cảnh đó, tướng Bộc Cố Hoài Ân sợ nếu dẹp hết các thế lực từng theo Đại Yên trước đây xong xuôi thì triều đình không còn trọng dụng mình nữa, nên đã đề nghị nhà Đường cho giữ lại những bộ tướng cũ của họ An và họ Sử như Tiết Bão, Lý Bảo Thần để họ cai quản mấy trấn vùng Hà Bắc. Đường Đại Tông vì muốn nhanh chóng khôi phục nền thái bình nên chấp nhận kiến nghị đó. Vì vậy tại vùng Hà Sóc về căn bản vẫn do các tướng cũ của Đại Yên chiếm cứ.
Trong khi đó, các Tiết độ sứ của triều đình có công dẹp loạn mới được bổ nhiệm cai trị ở trung nguyên cũng được nhà Đường quá nhân nhượng, với ý định làm đối trọng giữ cân bằng với thế lực của các Tiết độ sứ ở biên trấn, nên dần dần thế lực các Tiết độ sứ này cũng ngày càng lớn, triều đình không thể khống chế được nữa.
Các phiên trấn này chỉ thần phục nhà Đường trên danh nghĩa. Họ nắm thực quyền rất lớn về chính trị, quân sự, kinh tế trong lãnh địa của mình. Hơn nữa, ngôi vị của họ lại được hưởng tập quyền, có thể truyền cho con cháu, anh em. Ngoài ra khi các thủ lĩnh mới có thể được thủ hạ tôn làm "lưu hậu" để cai quản vùng bản địa. Họ cùng nhau ép triều đình trung ương phải nhìn nhận, do đó trên thực tế họ trở thành những vùng lãnh địa của quân phiệt phong kiến có tính độc lập.
Các chính quyền phiên trấn, vì quyền lợi đã xảy ra xung đột liên miên mà chính quyền trung ương không có biện pháp nào ngăn chặn. Vì vậy hoàn cảnh của hoàng đế nhà Đường lúc đó rất giống với thiên tử nhà Chu thời Xuân Thu, bề ngoài được tôn nhưng thực ra không có quyền hành.
Nhà Đường sau loạn lạc không thể khôi phục lại thời hưng thịnh như trước đây nữa. Tình trạng phiên trấn cát cứ khiến đế quốc bị xé lẻ. Thời Đường Huyền Tông chỉ có 10 Tiết độ sứ, sau đó tăng thành trên 40 trấn lớn nhỏ. Tình trạng này kéo dài duy trì hơn 100 năm sau cho tới khi nhà Đường sụp đổ (907).
=== Cương thổ và biên giới ===
Loạn An Sử khiến nhà Đường suy yếu, lùi bước trên khắp các hướng của đế chế Đường. Nhà Đường mất quyền kiểm soát vùng Thông Lĩnh, nước Hồi Hột thừa cơ phát triển trên đất Cam Túc. Thổ Phiên bành trướng ở các ốc đảo Trung Á, Thanh Hải, Cam Túc. Từ năm 790 nhà Đường còn mất hẳn phía tây Vũ Môn quan. Tại phía đông bắc, từ thế kỷ 7, Tân La cường thịnh trên bán đảo Triều Tiên, độc lập với nhà Đường. Phía tây nam, nước Nam Chiếu và các tiểu quốc Tạng - Miến phát triển từ năm 750.
Do chính quyền trung ương suy yếu, không kiểm soát được các trấn, trong đó có các trấn vùng biên, sự cai quản đối với biên giới cũng rất lỏng lẻo. Khu vực quản lý của triều đình ngày càng bị thu hẹp.
Năng lực bảo vệ và quản lý vùng biên cương của nhà Đường ngày càng yếu. Sau loạn An Sử, những người trấn giữ biên giới phần lớn là già yếu, tàn phế. Vì vậy các tộc Thổ Phiên, Nam Chiếu thừa cơ đến lấn cướp nhiều lần.
=== Di chuyển kinh tế và văn hóa ===
Cuộc chiến loạn kéo dài làm cho khu vực sông Hoàng Hà vốn là nơi có nền kinh tế - văn hóa phát triển nhất Trung Quốc trở nên tiêu điều xơ xác, đâu đâu cũng thấy hoang vu. Do vật chất bị phá hoại, vật giá tăng vọt, giá cao lên tới gấp 300 lần, còn giá vải vóc tăng lên gấp 20 lần trước cuộc chiến.
Nhà Đường đổi phép tô dung điệu thành phép lưỡng thuế để thích ứng với tình hình chính trị xã hội và kinh tế mới. Chế độ quân điền sụp đổ dẫn tới sự phá sản của tiểu nông, càng thúc đẩy việc di cư, lưu vong để kiếm sống.
Nhiều người di cư xuống phía nam – khu vực sông Trường Giang và sông Hán Thủy - lánh nạn, trong đó có một bộ phận quan liêu bên cạnh đại đa số là nhân dân lao động. Nhân khẩu dời xuống phía nam nhập chung vào với dân cư di dời từ thời Lưỡng Tấn Nam Bắc triều. Điều đó làm cho trung tâm không chỉ kinh tế mà cả văn hóa từ phương bắc dời xuống phía nam. Từ cuối thế kỷ 8, kinh tế nhà Đường chủ yếu dựa vào miền vựa lúa Giang – Hoài, trung tâm kinh tế di chuyển từ lưu vực sông Vị về mạn Hàng châu. Đây được xem không chỉ là bước ngoặt quan trọng trong lịch sử nhà Đường mà còn là bước ngoặt quan trọng trong xã hội phong kiến Trung Quốc.
== Xem thêm ==
Nhà Đường
Đường Huyền Tông
Dương Quý Phi
An Lộc Sơn
Sử Tư Minh
== Tham khảo ==
Cát Kiếm Hùng chủ biên (2006), Bước thịnh suy của các triều đại phong kiến Trung Quốc, tập 2, Nhà xuất bản Văn hoá thông tin
Học viện quân sự cấp cao, (1992), Lịch sử Trung Quốc
Trịnh Phúc Điền, Khả Vĩnh Quyết, Dương Hiệu Xuân (2002), Tướng soái cổ đại Trung Hoa, tập 2, Nhà xuất bản Thanh niên
Triệu Kiếm Mẫn (2008), Kể chuyện Tùy Đường, Nhà xuất bản Đà Nẵng
Phan Huy Lê, Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Lương Ninh (1991), Lịch sử Việt Nam, tập 1, Nhà xuất bản Đại học và giáo dục chuyên nghiệp
== Chú thích == |
quý châu.txt | (giản thể: 贵州; phồn thể: 貴州; bính âm: Guìzhōu) là một tỉnh nằm ở tây nam của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tỉnh lị của Quý Châu là Quý Dương.
== Lịch sử ==
Vào thời Xuân Thu, trên địa giới của Quý Châu tồn tại nước cổ Tang Kha (牂柯), có sự tiếp xúc với Trung Nguyên. Đến thời Chiến Quốc, Quý Châu thuộc Kiềm Trung quận của nước Sở, địa vực bao quát khu vực Đồng Nhân và một phần của Kiềm Đông Nam hiện nay. Sau khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, phân thuộc sự quản hạt của Ba quận, Thục quận, Kiềm Trung quận và Tượng quận. Đầu thời Tây Hán, Quý Châu thuộc Kiền Vi quận và Tang Ca quận của Ích châu. Kiền Vi quận quản hạt các khu vực nay là bắc bộ Quý Châu, nam bộ Tứ Xuyên, nam bộ Trùng Khánh; Tang Ca quận quản hạt các khu vực nay là nam bộ Tứ Xuyên và các khu vực ngoại vi. Thời giữa và cuối Tây Hán, đại bộ phận khu vực bắc bộ Quy Châu nhập vào khu vực quản hạt của Tang Ca quận, khi đó Tang Ca quận có 14 huyện. Cũng trong thời nhà Hán, trên địa bàn Quý Châu có khả năng là nơi tồn tại một liên minh bộ lạc gọi là nước Dạ Lang (夜郎), tồn tại trong khoảng 200 năm từ thế kỷ 3 TCN cho đến thế kỷ 1 CN. Thời Tam Quốc, Quý Châu thuộc Tang Ca quận của Thục Hán, quận trị là Thả Lan (nay ở tây bắc Khải Lý). Tang Ca quận thời Thục Hán có bảy quận là: Thả Lan, Vô Liễm, Quảng Đàm, Tế, Bình Ấp, Dạ Lang, Đàm Chỉ.
Thời nhà Đường, tại Kiềm Châu đã thiết lập nên Kiềm Trung đạo, đặt Kiềm Châu quận, thiết lập Kiềm Châu đô đốc phủ. Thời Đường, tại Quý Châu xuất hiện các chính quyền thổ ti địa phương có ảnh hưởng sâu rộng về sau này. Trong các thế kỷ 8 và 9 thời Đường, các binh sĩ người Hán đã đến Quý Châu và kết hôn với phụ nữ bản địa, hậu duệ của họ tương phản với những người Hán đã thuộc địa hóa Quý Châu trong thời gian về sau này. Họ vẫn nói một phương ngữ cổ xưa. Nhiều người nhập cư đến Quý Châu cũng là hậu duệ của các binh sĩ người Hán đồn trú với các phụ nữ không thuộc sắc tộc Hán.
Danh xưng "Quý Châu" bắt nguồn từ thời nhà Tống. Năm 974, thủ lĩnh Phổ Quý khống chế Củ Châu đã quy thuận triều đình Bắc Tống. Triều đình Bắc Tống đã ban một sắc thư có đoạn: "duy nhĩ Quý Châu, viễn tại yếu hoang" (惟爾貴州,遠在要荒), đó là lần cái tên "Quý Châu" được ghi lại sớm nhất trong các thư tịch. Năm Vĩnh Lạc thứ 17 thời nhà Minh (1413), triều đình thiết lập Quý Châu bố chánh sử ty, chính thức thiết lập hệ thống tổ chức cấp tỉnh, tên tỉnh là Quý Châu. Triều đình phế Tư Châu tuyên ủy ty và Tư Nam tuyên ủy ty, giữ lại Tủy Đông thổ ty và Thủy Tây thổ ty, cùng thuộc quyền quản hạt của Quý Châu bố chính sử ty. Năm Ung Chính thứ 5 thời nhà Thanh (1727), Quý Châu tiếp nhận quyền quản hạt các khu vực Tuân Nghĩa phủ của Tứ Xuyên; Lệ Ba cùng các khu vực ở phía bắc sông Hồng Thủy và sông Nam Bàn thuộc Quảng Tây; Bình Khê và Thiên Trụ của Hồ Quảng.
Từ thời nhà Minh, đã có các đợt nhập cư lớn của người Hán từ Tứ Xuyên, Hồ Nam và các khu vực xung quanh đến Quý Châu. Người Miêu đã từng tiến hành một vài cuộc nổi dậy chống lại triều đình. Dưới thời nhà Thanh, các binh sĩ người Hán đã đến khu vực Đài Giang, kết hôn với phụ nữ tộc Miêu, và những đứa trẻ ra đời được nuôi dạy như người Miêu. Nhiều cuộc khởi nghĩa của người Miêu cũng xảy ra vào thời nhà Thanh như cuộc nổi loạn vào năm 1735, cuộc khởi nghĩa vào năm 1795-1806 và lâu nhất là cuộc nổi dậy vào năm 1854–1873.
== Địa lý ==
Quý Châu giáp với tỉnh Tứ Xuyên và thành phố Trùng Khánh ở phía bắc, giáp với tỉnh Vân Nam ở phía tây, giáp với Quảng Tây ở phía nam và giáp với tỉnh Hồ Nam ở phía đông. Về tổng thể, Quý Châu là một tỉnh đồi núi song về chi tiết, ở phía đông tỉnh có địa hình địa hình núi non hơn trong khi ở các bộ phận ở phía đông và phía nam tương đối bằng phẳng. Phần phía tây của tỉnh tạo thành một bộ phận của Cao nguyên Vân-Quý. Địa mạo toàn tỉnh có thể phân thành bốn loại hình cơ bản: cao nguyên, núi, gò đồi và bồn địa, trong đó 92,5% diện tích là núi và gò đồi.
Trong địa giới tỉnh có nhiều dãy núi, với các đỉnh núi trùng điệp, dọc ngang, đỉnh cao vực sâu. Phía bắc Quý Châu có Đại Lâu sơn, hướng tây đến đông bắc, cửa ải trọng yếu giữa Quý Châu và Tứ Zuyên-Lâu Sơn quan có độ cao 1444 mét, ở miền trung và phía nam có Miêu Lĩnh chạy qua, đỉnh núi chính là Lôi Công sơn cao 2.178 mét, ở phía đông bắc có Vũ Lăng sơn, quanh co từ Hồ Nam đến Quý Châu, đỉnh núi chính là Phạm Tịnh sơn cao 2.572 mét. Ở phía tây, có Ô Mông sơn cao vút, nằm ở huyện Hách Chương với cao độ đạt 2.900,6 mét trên mực nước biển, là đỉnh cao nhất Quý Châu. Tuy nhiên, ở vùng sông suối tại khu vực ranh giới tỉnh thuộc huyện Lê Bình của châu Kiềm Đông Nam, độ cao tuyệt đối chỉ là 147,8 mét, là điểm thấp nhất của Quý Châu.
Ô Giang, sông Bắc Bàn và sông Nam Bàn và sông Đô Liễu có tiềm năng thủy lực to lớn. Thác Hoàng Quả Thụ trên sông Bách Thủy rất nổi tiếng.
Quý Châu có khí hậu cận nhiệt đới ẩm. Nhiệt độ trung bình dao động khoảng từ 10 đến 20 °C, trong đó nhiệt độ trung bình tháng một dao động từ 1 đến 10 °C còn nhiệt độ trung bình tháng dao động từ 17 đến 28 °C. Lượng mưa bình quân là 1.200 mm
Quý Châu cũng gặp phải những vấn đề nghiêm trọng về môi trường, chẳng hạn như sa mạc hóa và tình trạng thiếu nước kéo dài. Từ ngày 3–5 tháng 4 năm 2010, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã đến thăm Qúy Châu và kêu gọi các nhà khoa học nông nghiệp phát triển các công nghệ chống hạn cho khu vực.
== Hành chính ==
Quý Châu được chia thành 9 đơn vị hành chính cấp địa khu, 88 đơn vị hành chính cấp huyện, và 1543 đơn vị hành chính cấp hương.
Chín đơn vị cấp địa khu là:
== Kinh tế ==
Quý Châu là một tỉnh nghèo và kinh tế chậm phát triển, song lại giàu tài nguyên thiên nhiên, văn hóa và môi trường. GDP danh nghĩa của tỉnh năm 2011 là 570,18 tỉ Nhân dân tệ (khoảng 90,5 tỷ đô la Mỹ). GDP đầu người đạt 16.413 NDT (2.541 USD), xếp hạng thấp nhất tại Trung Quốc.
Ngành công nghiệp dựa vào tự nhiên của tỉnh là lâm nghiệp. Quý Châu cũng là tỉnh sản xuất thuốc lá lớn thứ ba tại Trung Quốc, và là nơi có thương hiệu thuốc lá Quý Châu nổi tiếng. Các ngành công nghiệp quan trọng khác tại Quý Châu bao gồm năng lượng (sản xuất điện năng) - một phần lớn trong đó được đưa đến Quảng Đông và các tỉnh khác - và khai mỏ, đặc biệt là than đá, đá vôi, thạch tín, thạch cao, và đá phiến dầu. Tổng sản lượng than đá của Quý Châu là 118 triệu tấn vào năm 2008, và tăng 7% so với năm trước đó. Lượng điện xuất từ Quý Châu sang Quảng Đông chiếm 12% tổng lượng điện tiêu thụ của tỉnh duyên hải này. Quý Châu hy vọng con số này sẽ lên mức 50%.
== Nhân khẩu ==
Quý Châu là một trong các tỉnh đa dạng về sắc tộc nhất tại Trung Quốc. Các nhóm thiếu số chiếm 37% tổng dân số của tỉnh, bao gồm người Miêu, Dao, Di, Khương, Động, Choang, Bố Y, Bạch, Thổ Gia, Ngật Lão và Thủy. 55,5% diện tích của tỉnh là các khu vực tự trị của các dân tộc thiểu số. Quý Châu là tỉnh có mức sinh cao nhất ở Trung Quốc, vào năm 2000, đứng ở mức 2,19. (đô thị-1,31, nông thôn-2,42) Có hàng chục dân tộc tại Quý Châu đã yêu cầu được công nhận là dân tộc thiểu số một cách chính thức tại Trung Quốc, song bị từ chối
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
China Travel Videos
Travel spots and tips in Guizhou and other provinces
Guizhou's Provincial Government
Bản đồ Quý Châu
Guizhou Moutai
Kinh doanh ở Quý Châu
Guizhou Adoption Page
Guizhou adoptive families eGroup |
giải bóng đá vô địch thế giới 1954.txt | Giải bóng đá vô địch thế giới 1954 (tên chính thức là 1954 Football World Cup - Switzerland / Championnat du Monde de Football 1954) là giải bóng đá vô địch thế giới lần thứ 5 và đã được tổ chức từ ngày 16 tháng 6 đến 4 tháng 7 năm 1954 tại Thụy Sĩ.
Đây là lần đầu tiên giải được chiếu trên truyền hình. Sau 22 trận đấu, Tây Đức đã giành chức vô địch thế giới.
== Vòng loại ==
37 đội bóng tham dự vòng tuyển và được chia vào 13 nhóm để chọn ra 14 đội vào vòng chung kết cùng với nước chủ nhà Thụy Sĩ và đội đương kim vô địch thế giới Uruguay. (Xem Giải vô địch bóng đá thế giới 1954 (vòng loại))
== Các sân vận động ==
== Đội hình ==
== Trọng tài ==
Raymon Wyssling
Benjamin Griffiths
Charlie Faultless
Manuel Asensi
Jose da Costa Vieira
Raymond Vincenti
William Ling
Esteban Marino
Arthur Edward Ellis
Laurent Franken
Vincenzo Orlandini
Vasa Stefanovic
Mario Vianna
Emil Schmetzer
Carl Erich Steiner
István Zsolt
== Phân nhóm ==
== Vòng bảng ==
=== Bảng 1 ===
Brasil xếp trên Nam Tư.
=== Bảng 2 ===
Do bằng điểm nhau nên CHLB Đức và Thổ Nhĩ Kỳ đấu thêm một trận.
==== Play-off ====
=== Bảng 3 ===
Uruguay xếp trên Áo
=== Bảng 4 ===
Do bằng điểm nhau nên Thụy Sĩ và Ý đấu thêm một trận.
==== Play-off ====
== Vòng đấu loại trực tiếp ==
=== Tứ kết ===
=== Bán kết ===
== Tranh hạng ba ==
== Chung kết ==
== Vô địch ==
== Danh sách cầu thủ ghi bàn ==
11 bàn
Sándor Kocsis
6 bàn
Erich Probst
Josef Hügi
Max Morlock
4 bàn
3 bàn
2 bàn
1 bàn
phản lưới nhà
Jimmy Dickinson (trong trận gặp Bỉ)
Raúl Cárdenas (trong trận gặp Pháp)
Luis Cruz (trong trận gặp Áo)
Ivica Horvat (trong trận gặp Tây Đức)
== Bảng xếp hạng giải đấu ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
FIFA World Cup 1954 Switzerland ™, FIFA.com
Chi tiết trên RSSSF |
thừa thiên - huế.txt | Thừa Thiên - Huế là một tỉnh ven biển nằm ở vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam có tọa độ ở 16-16,8 Bắc và 107,8-108,2 Đông. Diện tích của tỉnh là 5.053,990 km², dân số theo kết quả điều tra tính đến năm 2012 là 1.115.523 người .
== Địa lý ==
Thừa Thiên - Huế giáp tỉnh Quảng Trị về phía Bắc, biển Đông về phía Đông, thành phố Đà Nẵng về phía Đông Nam, tỉnh Quảng Nam về phía Nam, dãy Trường Sơn và các tỉnh Saravane và Sekong của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào về phía Tây. Thừa Thiên - Huế cách thủ đô Hà Nội 660 km về phía Bắc, cách Thành phố Đà Nẵng 101 km về phía Đông Nam, cách Nha Trang 612 km và cách Thành phố Hồ Chí Minh 1.050 km về phía Nam theo đường Quốc lộ 1A. Tỉnh lỵ đặt tại thành phố Huế.
Phần lớn núi rừng nằm ở phía tây. Những ngọn núi đáng kể là: núi Động Ngai cao 1.774m, Động Truồi cao 1.154m, Co A Nong cao 1.228m, Bol Droui cao 1.438m, Tro Linh cao 1.207m, Hói cao 1.166m (nằm giữa ranh giới tỉnh Quảng Nam), Cóc Bai cao 787m, Bạch Mã cao 1.444m, Mang cao 1.708m, Động Chúc Mao 514m, Động A Tây 919m.
Sông ngòi thường ngắn nhưng lại lớn về phía hạ lưu. Những sông chính là Ô Lâu, Rào Trang, Rào Lau, Rào Mai, Tả Trạch, Hữu Trạch, An Cựu, Nước Ngọt, Lăng Cô, Bồ, Rau Bình Điền, Đá Bạc, Vân Xá, Sông Truồi,... Đặc biệt có hệ đầm phá Tam Giang - Cầu Hai rộng lớn nhất Đông Nam Á. Và hai cửa biển quan trọng là cửa Thuận An và cửa Tư Hiền.
=== Tọa độ ===
Tỉnh Thừa Thiên - Huế nằm ở duyên hải miền trung Việt Nam bao gồm phần đất liền và phần lãnh hải thuộc thềm lục địa biển Đông. Phần đất liền Thừa Thiên Huế có tọa độ địa lý như sau:
Điểm cực Bắc: 16°44'30 vĩ Bắc và 107°23'48 kinh Đông tại thôn Giáp Tây, xã Điền Hương, huyện Phong Điền.
Điểm cực Nam: 15°59'30 vĩ Bắc và 107°41'52 kinh Đông ở đỉnh núi cực nam, xã Thượng Nhật, huyện Nam Đông.
Điểm cực Tây: 16°22'45 vĩ Bắc và 107°00'56 kinh Đông tại bản Paré, xã Hồng Thủy, huyện A Lưới.
Điểm cực Đông: 16°13'18 vĩ Bắc và 108°12'57 kinh Đông tại bờ phía Đông đảo Sơn Chà, thị trấn Lăng Cô, huyện Phú Lộc.
=== Giới hạn, diện tích ===
Phía Bắc, từ Đông sang Tây, Thừa Thiên Huế trên đường biên dài 111,671 km tiếp giáp với các huyện Hải Lăng, Đakrông, tỉnh Quảng Trị.
Từ mặt Nam, tỉnh có biên giới chung với huyện Hiên, tỉnh Quảng Nam dài 56,66 km, với huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng dài 55,82 km.
Ở phía Tây, ranh giới tỉnh (cũng là biên giới quốc gia) kéo dài từ điểm phía Bắc (ranh giới tỉnh Thừa Thiên Huế với tỉnh Quảng Trị và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) đến điểm phía Nam (ranh giới tỉnh Thừa Thiên Huế với tỉnh Quảng Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào) dài 87,97 km.
Phía Đông, tiếp giáp với biển Đông theo đường bờ biển dài 120 km.
Phần đất liền, Thừa Thiên Huế có diện tích 503.320,52ha (theo niên giám thống kê năm 2010), kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nơi dài nhất 120 km (dọc bờ biển), nơi ngắn nhất 44 km (phần phía Tây); mở rộng chiều ngang theo hướng Đông Bắc - Tây Nam với nơi rộng nhất dọc tuyến cắt từ xã Quảng Công (Quảng Điền), thị trấn Tứ Hạ (Hương Trà) đến xã Sơn Thủy - Ba Lé (A Lưới) 65 km và nơi hẹp nhất là khối đất cực Nam chỉ khoảng 2–3 km.
Vùng nội thủy: rộng 12 hải lý
Vùng đặc quyền kinh tế mở rộng đến 200 hải lý tính từ đường cơ sở.
Trên thềm lục địa biển Đông ở về phía Đông Bắc cách mũi cửa Khém nơi gần nhất khoảng 600m có đảo Sơn Chà. Tuy diện tích đảo không lớn (khoảng 160ha), nhưng có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, bảo vệ an ninh quốc phòng đối với nước ta nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế nói riêng.
Thừa Thiên Huế nằm trên trục giao thông quan trọng xuyên Bắc-Nam, trục hành lang Đông - Tây nối Thái Lan - Lào - Việt Nam theo đường 9. Thừa Thiên Huế ở vào vị trí trung độ của cả nước, nằm giữa thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh là hai trung tâm lớn của hai vùng kinh tế phát triển nhất nước ta. Thừa Thiên Huế cách Hà Nội 660 km, cách thành phố Hồ Chí Minh 1.080 km.
Bờ biển của tỉnh dài 120 km, có cảng Thuận An và vịnh Chân Mây với độ sâu 18 *20m đủ điều kiện xây dựng cảng nước sâu với công suất lớn, có cảng hàng không Phú Bài nằm trên đường quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy dọc theo tỉnh.
== Khí hậu ==
Khí hậu Thừa Thiên-Huế gần giống như Quảng Trị với kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa. Những tháng đầu năm có nắng ấm. Thỉnh thoảng lụt vào tháng 5. Các tháng 6, 7, 8 có gió mạnh. Mưa lũ và có gió đông vào tháng 9, 10. Tháng 11 thường có lụt. Cuối năm mưa kéo dài. Nhưng hiện nay do chịu tác động của biến đổi khí hậu nên từ tháng 3 đến tháng 8 nắng nóng lên đến đỉnh điểm. Các tháng 9, 10, 11 thường xuyên có bão. Từ tháng 12 đến tháng 2 năm sau là giai đoạn gió mùa đông bắc kéo về gây mưa to kèm theo đó lũ trên các sông tăng nhanh
== Giao thông ==
Quốc lộ 1A, 14 và đường sắt Bắc-Nam nối Thừa Thiên-Huế với các tỉnh khác. Phía tây có cửa khẩu Hồng Vân-A Đớt nằm ở huyện A Lưới. Thành phố Huế cách sân bay quốc tế Phú Bài - Thị xã Hương Thuỷ khoảng 15 km, cảng Thuận An 12 km và cảng nước sâu Chân Mây 50 km.
== Hành chính ==
Thừa Thiên-Huế có 06 huyện, 02 thị xã và 01 thành phố, với 152 xã, phường, thị trấn, gồm có 8 thị trấn, 39 phường và 105 xã.
Năm 1989 tái lập tỉnh Thừa Thiên-Huế có thành phố Huế và 4 huyện: A Lưới, Hương Điền, Hương Phú và Phú Lộc.
Năm 1990 huyện Hương Điền chia thành 3 huyện: Hương Trà, Phong Điền và Quảng Điền; huyện Hương Phú chia thành 2 huyện: Hương Thủy và Phú Vang; huyện Phú Lộc chia thành 2 huyện: Phú Lộc (mới) và Nam Đông.
Năm 2010 huyện Hương Thủy được nâng cấp thành thị xã.
Ngày 15/11/2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết 99/NQ-CP thành lập thị xã Hương Trà thuộc tỉnh Thừa Thiên-Huế trên cơ sở toàn bộ huyện Hương Trà.
Hiện nay, Ủy ban nhân dân Tỉnh Thừa Thiên Huế đang lập đề án đưa cả tỉnh thành thành phố trực thuộc trung ương trước năm 2015. Ngày 11 tháng 12 năm 2008, Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên - Huế đã thông qua nghị quyết Quy hoạch xây dựng vùng tỉnh Thừa Thiên - Huế đến năm 2025 với mục tiêu đề ra là xây dựng tỉnh Thừa Thiên - Huế trở thành đô thị loại I trực thuộc trung ương.
== Lịch sử ==
Thừa Thiên Huế, Thuận Hóa - Phú Xuân - Huế là vùng đất có lịch sử lâu đời. Những phát hiện khảo cổ học gần đây cho thấy rõ dấu vết của người xưa trên mảnh đất này. Những di vật như rìu đá, đồ gốm được tìm thấy ở Phụ Ổ, Bàu Ðưng (Hương Chữ, Hương Trà) cho phép khẳng định đây là các di tích có niên đại cách đây trên dưới 4.000 năm. Những chiếc rìu đá được phát hiện trên nhiều địa bàn khác nhau, đặc biệt tại các xã Hồng Bắc, Hồng Vân, Hồng Hạ, Hồng Thủy, Bắc Sơn (A Lưới); Phong Thu (Phong Ðiền) đã chứng minh sự có mặt của con người ở vùng đất này trên dưới 5.000 năm. Di tích khảo cổ quan trọng gắn liền với nền văn hóa Sa Huỳnh được tìm thấy lần đầu tiên tại Thừa Thiên Huế năm 1987 là di tích Cồn Ràng (Phụ Ổ, Hương Chữ, Hương Trà) nói lên rằng chủ nhân của nền văn hóa này đã đạt đến trình độ cao trong đời sống vật chất lẫn tinh thần cách đây trên dưới 2.500 năm. Dấu ấn này còn được tìm thấy ở Cửa Thiềng năm 1988 (Phú Ốc, Tứ Hạ, Hương Trà). Cùng với văn hóa Sa Huỳnh, tại Thừa Thiên Huế còn có sự hiện diện của văn hóa Ðông Sơn. Năm 1994, trống đồng loại một đã được phát hiện ở Phong Mỹ, Phong Ðiền. Ðây là một trong những di vật độc đáo của nền văn hóa Việt cổ.
Các cứ liệu xưa cho biết, từ xa xưa Thừa Thiên Huế từng là địa bàn giao tiếp của những cộng đồng cư dân mang nhiều sắc thái văn hóa khác nhau, cùng cư trú và cùng phát triển... Trong thời kỳ phát triển của Văn Lang - Âu Lạc, tương truyền Thừa Thiên Huế vốn là một vùng đất của bộ Việt Thường. Trong thời kỳ nước Nam Việt lại thuộc về Tượng Quận. Năm 116 trước Công nguyên, quận Nhật Nam ra đời thay thế cho Tượng Quận. Thời kỳ Bắc thuộc, trong suốt thời gian dài gần 12 thế kỷ, vùng đất này là địa đầu phía Bắc của Vương quốc Chămpa độc lập. Sau chiến thắng Bạch Ðằng lịch sử của Ngô Quyền (năm 938), Ðại Việt trở thành quốc gia độc lập và qua nhiều thế kỷ phát triển, biên giới Ðại Việt đã mở rộng dần về phía Nam. Năm 1306, công chúa Huyền Trân em gái vua Trần Anh Tông, "nước non ngàn dặm ra đi" làm dâu vương quốc Chămpa, vua Chế Mân dâng hai châu Ô, Rí (Lý) để làm sính lễ. Năm sau, vua Trần đổi hai châu này thành châu Thuận, châu Hóa và đặt chức quan cai trị. Thừa Thiên Huế trở thành địa bàn giao thoa giữa hai nền văn hóa lớn của phương Ðông với nền văn hóa của các cư dân bản địa.
Từ khi trở thành một phần của Đại Việt, Châu Hóa và vùng đất Thuận Hóa đã từng là nơi ghi dấu những công cuộc khai phá mở làng, lập ấp, nơi Đặng Tất xây dựng đồn lũy chống quân Minh, nơi cung cấp "kho tinh binh" cho Lê Thái Tổ bình định giang sơn. Với lời sấm truyền "Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân" (một dải Hoành sơn, có thể yên thân muôn đời); năm 1558, Nguyễn Hoàng xin vào trấn giữ xứ Thuận Hoá mở đầu cho cơ nghiệp của các chúa Nguyễn. Sự nghiệp mở mang của 9 đời chúa Nguyễn ở Ðàng Trong đã gắn liền với quá trình phát triển của vùng đất Thuận Hóa - Phú Xuân. Hơn ba thế kỷ từ khi trở về với Ðại Việt, Thuận Hóa là vùng đất của trận mạc, ít có thời gian hòa bình nên chưa có điều kiện hình thành được những trung tâm sinh hoạt sầm uất theo kiểu đô thị. Sự ra đời của thành Hóa Châu (khoảng cuối TK XV, đầu TK XVI) có lẽ chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn với tư cách là một tòa thành phòng thủ chứ chưa phải là nơi sinh hoạt đô thị của xứ Thuận Hóa thời ấy. Mãi cho đến năm 1636 chúa Nguyễn Phúc Lan dời phủ đến Kim Long là bước khởi đầu cho quá trình đô thị hóa trong lịch sử hình thành và phát triển của Thành phố Huế sau này.
Hơn nửa thế kỷ sau, năm 1687 chúa Nguyễn Phúc Thái lại dời phủ chính đến làng Thụy Lôi, đổi là Phú Xuân, ở vị trí Tây Nam trong kinh thành Huế hiện nay, tiếp tục xây dựng và phát triển Phú Xuân thành một trung tâm đô thị phát đạt của xứ Ðàng Trong. Chỉ trừ một thời gian ngắn (1712 - 1738) phủ chúa dời ra Bác Vọng, song khi Võ Vương lên ngôi lại cho dời phủ chính vào Phú Xuân nhưng dựng ở "bên tả phủ cũ", tức góc Ðông Nam của Kinh thành Huế hiện nay. Sự nguy nga bề thế của Ðô thành Phú Xuân dưới thời Nguyễn Phúc Khoát đã được Lê Quý Ðôn mô tả trong "Phủ biên tạp lục" năm 1776 và trong Ðại Nam nhất thống chí, với tư cách là một đô thị phát triển thịnh vượng trải dài hai bờ châu thổ Sông Hương, từ Kim Long - Dương Xuân đến Bao Vinh - Thanh Hà. Phú Xuân là thủ phủ của xứ Ðàng Trong (1687-1774); rồi trở thành Kinh đô của nước Ðại Việt thống nhất dưới triều đại Quang Trung (1788 - 1801) và cuối cùng là Kinh đô của nước Việt Nam gần hai thế kỷ dưới triều đại nhà Nguyễn (1802 - 1945). Phú Xuân đã trở thành trung tâm chính trị - kinh tế - văn hóa quan trọng của đất nước từ những thời kỳ đó. Năm 1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha nổ súng tấn công Ðà Nẵng. Năm 1916, Việt Nam Quang phục Hội tổ chức khởi nghĩa trên quy mô nhiều tỉnh, vua Duy Tân cũng hưởng ứng.
== Văn hoá ==
Thừa Thiên Huế là trung tâm văn hoá lớn và đặc sắc của Việt Nam. Thừa Thiên Huế có 5 di sản văn hoá thế giới là:
Quần thể di tích Cố đô Huế.
Nhã nhạc cung đình Huế.
Mộc bản triều Nguyễn.
Châu bản triều Nguyễn.
Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế.
Hiện nay, tỉnh đang xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh, đậm đà bản sắc văn hoá dân tộc và bản sắc văn hoá Huế gắn với bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hoá truyền thống, là khâu đột phá để phát triển du lịch. Nghiên cứu, từng bước hoàn thiện bản sắc văn hoá Huế, đặc trưng văn hoá Huế để xây dựng Huế trở thành trung tâm văn hoá đặc sắc của Việt Nam; xem đây là lợi thế so sánh lâu dài để phát triển Huế, làm cho Huế ngày càng đặc sắc, thúc đẩy các ngành du lịch, dịch vụ phát triển. Trong đó quy hoạch, xây dựng hệ thống công viên, tượng, các công trình văn hoá, trọng tâm là: Trung tâm hội nghị, Bảo tàng Lịch sử Cách mạng, Bảo tàng thiên nhiên các tỉnh Duyên hải miền Trung, Trung tâm Điện ảnh, Địa đạo Khu ủy Trị Thiên. Phối hợp chặt chẽ với Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch tập trung đầu tư hoàn thành cơ bản trùng tu Đại Nội và một số di tích quan trọng để xứng đáng là trung tâm du lịch đặc sắc của Việt Nam. Nâng cao chất lượng và hiệu quả của các kỳ Festival Huế , các hoạt động đối ngoại để tăng cường quảng bá các giá trị văn hóa Việt Nam, văn hoá Huế, nhất là Nhã nhạc cung đình Huế, quần thể di tích Cố đô Huế, Mộc bản triều Nguyễn, Châu bản triều Nguyễn,Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế, vịnh đẹp Lăng Cô.
== Kinh tế ==
Thừa Thiên-Huế là một cực tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm miền trung. Nền kinh tế của tỉnh liên tục tăng trưởng khá với tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hằng năm thời kỳ 2001 - 2008 đạt 11%. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng dịch vụ-công nghiệp-nông nghiệp (năm 2008, tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 36,5%, ngành dịch vụ 45,3%, ngành nông nghiệp giảm còn 18,2%). Thu ngân sách tăng bình quân đạt 18,3%/năm. Tỷ lệ huy động ngân sách từ GDP đạt trên 12%, xếp thứ 20/63 tỉnh, thành cả Việt Nam. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài nằm trong nhóm 20 tỉnh, thành dẫn đầu toàn quốc. Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh từ vị thứ 15 (năm 2007) đã vươn lên đứng thứ 10 toàn quốc trong năm 2008. GDP bình quân đầu người năm 2009 vượt qua 1.000 USD/năm.
Thừa Thiên Huế quan tâm đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá. Thành phố Huế vừa mang dáng dấp hiện đại, vừa mang nét đẹp cổ kính với di sản văn hoá thế giới, đóng vai trò hạt nhân đô thị hoá lan toả và kết nối với các đô thị vệ tinh. Môi trường thu hút đầu tư lành mạnh và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư có năng lực. Hạ tầng giao thông ngày càng hiện đại, chống được chia cắt vùng miền, tạo ra động lực phát triển giữa nông thôn và thành thị. Năng lực sản xuất mới hình thành và mở ra tương lai gần sẽ có bước tăng trưởng đột phá: Phía Bắc có các khu công nghiệp Phong Điền, Tứ Hạ, xi măng Đồng Lâm; phía Nam có khu công nghiệp Phú Bài, khu kinh tế-đô thị Chân Mây-Lăng Cô sôi động; phía Tây đã hình thành mạng lưới công nghiệp thuỷ điện Tả Trạch, Hương Điền, Bình Điền, A Lưới, xi măng Nam Đông; phía Đông phát triển mạnh khai thác và nuôi trồng thuỷ sản và Khu kinh tế tổng hợp Tam Giang-Cầu Hai.
Thừa Thiên Huế được Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam Khoá X ra Kết luận số 48-KL/TW về "Xây dựng, phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2020, trong đó xây dựng Thừa Thiên Huế sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới".
== Y tế ==
Thừa Thiên - Huế là trung tâm y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước với 3 đơn vị đang được nhà nước đầu tư triển khai thực hiện dự án Trung tâm Y tế chuyên sâu khu vực miền Trung - Tây Nguyên và cả nước là: Bệnh viện Trung ương Huế, Trường Đại học Y Dược Huế và Trung tâm Kiểm nghiệm dược phẩm, hóa mỹ phẩm Trung ương.
Trong kết luận 48 của Bộ chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam về phương hướng "Xây dựng, phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2020" có nêu rõ:
Xây dựng, phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế trở thành trung tâm y tế chuyên sâu của khu vực miền Trung - Tây Nguyên, có cơ sở vật chất và trang thiết bị hiện đại, tiên tiến; là trung tâm khoa học, công nghệ cao về y học, ngang tầm các trung tâm y tế lớn của cả nước và khu vực Đông Nam Á.
Giảm các yếu tố nguy cơ gây bệnh, giảm tỷ lệ mắc bệnh và chết, nâng cao thể lực, tăng tuổi thọ của người dân, xây dựng được tập quán tốt về vệ sinh phòng bệnh, mọi người đều được sống trong môi trường và cộng đồng an toàn, phát triển tốt về thể chất và tinh thần.
Xây dựng, phát triển ngành y tế trở thành ngành dịch vụ chất lượng cao, đóng góp lớn vào quá trình phát triển toàn diện con người, nâng cao mức sống, đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội bền vững.
Xây dựng, phát triển hệ thống tổ chức y tế trên địa bàn theo hướng Thừa Thiên Huế là một trong 3 Trung tâm dịch vụ y tế chất lượng cao của cả nước.
=== Các bệnh viện trên địa bàn tỉnh ===
Bệnh viện Trung ương Huế (3000 giường)
Bệnh viện quốc tế Huế (200 giường, sẽ mở rộng lên 500 giường)
Bệnh viện Trường Đại học Y Dược Huế (700 - 800 giường).
Bệnh viện Trung ương Huế cơ sở 2 (tại huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế) (500 giường)
Bệnh viện Đa Khoa Hoàng Viết Thắng (90 giường).
Bệnh viện Ngoại Khoa Nguyễn Văn Thái (30 giường).
Bệnh viện Giao thông vận tải Huế
Bệnh viện y học cổ truyền
Bệnh viện Điều Dưỡng và Phục hồi chức năng
Bệnh viện Răng Hàm Mặt Huế
Bệnh viện Mắt Huế
Bệnh viện Tâm thần
Bệnh viện Đa Khoa Chân Mây
Bệnh viện Bình Điền
Bệnh viện chấn thương chỉnh hình - phẫu thuật tạo hình
Bệnh viện Quân y 268
Bệnh viện chấn thương chỉnh hình - điều dưỡng phục hồi chức năng
Bệnh viện Lao và bệnh phổi Thừa Thiên Huế
Bệnh viện Phong và Da Liễu Huế
== Giáo dục - Đào tạo ==
Thừa Thiên Huế từ lâu đã được biết đến là một trung tâm giáo dục đào tạo lớn của khu vực miền trung và cả nước.
Đại học Huế có bề dày lịch sử trên 50 năm, là một trung tâm đào tạo đại học đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, có quy mô đào tạo lớn nhất khu vực miền Trung và Tây Nguyên. Đại học Huế hiện là đại học vùng và là đại học trọng điểm của cả nước; tỉnh Thừa Thiên Huế đã và đang đầu tư xây dựng Đại học Huế trở thành Đại học Quốc gia trước năm 2015 với các thiết chế của trung tâm đào tạo đa ngành, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu đào tạo đại học và sau đại học cho khu vực miền Trung và cả nước.
Phân viện hành chính quốc gia tại tỉnh Thừa Thiên Huế, Học viện Âm nhạc Huế, Trường Đại học dân lập Phú Xuân và hệ thống các trường Đại học tư thục, quốc tế, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp là trung tâm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cho các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên và cả nước. Đây là một lợi thế rất lớn của Thừa Thiên Huế trong việc cung cấp nguồn nhân lực dồi dào, chất lượng cao.
Mạng lưới trường học từ mầm non đến Trung học phổ thông ở Thừa Thiên Huế rộng khắp trên địa bàn với các loại hình công lập, dân lập, tư thục, quốc tế được phân bố theo điều kiện phù hợp với thành thị, nông thôn, miền núi và gắn với địa bàn dân cư. Trong đó trường THPT Chuyên Quốc Học đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định xây dựng thành một trong ba trường Trung học phổ thông trọng điểm chất lượng cao của cả nước.
Mạng lưới giáo dục thường xuyên với các Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm kỹ thuật thực hành hướng nghiệp và Trung tâm học tập cộng đồng (TTHTCĐ) đang hoạt động ở các xã/phường, thị trấn có hiệu quả, góp phần vào thực hiện mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học, phổ cập giáo dục trung học cơ sở, bồi dưỡng kiến thức, chuyển giao công nghệ và đào tạo nghề cho người lao động, đào tạo tại chức...
Các trường đại học - cao đẳng - trung cấp trên địa bàn:
Đại học Huế
Đại học Y dược Huế
Đại học Sư phạm Huế
Đại học Khoa học Huế
Đại học Nông lâm Huế
Đại học Kinh tế Huế
Đại học Ngoại ngữ Huế
Đại học Nghệ thuật Huế
Đại học Luật Huế
Học viện Âm nhạc Huế
Trường Đại học Phú Xuân
Học viện Phật giáo Huế
Trường Cao đẳng nghề số 23 Bộ Quốc phòng Việt Nam
Trường Cao đẳng Y tế Huế
Trường Cao đẳng Sư phạm Huế
Trường Cao đẳng Công nghiệp Huế (định hướng lên Đại học Công nghiệp thời gian sắp tới)
Trường Cao đẳng nghề Du lịch Huế (chủ trương kết hợp với khoa Du lịch Đại học huế thành trường Đại học Du lịch Huế)
Trường Cao đẳng Nghề Nguyễn Tri Phương
Trường Cao đẳng Nghề Thừa Thiên Huế
Trường Cao đẳng Giao thông Huế
== Thành phố kết nghĩa ==
Qua các kì Festival và nhiều hoạt động hợp tác,ngày càng nhiều thành phố, tỉnh, vùng kết nghĩa với Thừa Thiên-Huế như:
Thành phố Québec, Canada
Gwangju, Hàn Quốc
Honolulu, Hoa Kỳ
Thành phố New York, Hoa Kỳ
Nord Pas de Calais, Pháp
Poitou Charentes, Pháp
Chiết Giang, Trung Quốc
Shizuoka, Nhật Bản
New Haven, Connecticut, Hoa Kỳ
Quảng Châu, Trung Quốc
Rennes, Pháp
Blois, Pháp
Moskva,Nga
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tỉnh Thừa Thiên - Huế
Đại học Huế
Quy hoạch tổng thể Cảng hàng không quốc tế Phú Bài, tỉnh Thừa thiên - Huế. |
tân triều.txt | Tân Triều là một xã thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội.
== Địa giới hành chính ==
Xã Tân Triều nằm ở phía tây bắc huyện Thanh Trì. Ranh giới hành chính như sau:
Phía đông giáp phường Đại Kim, quận Hoàng Mai và xã Thanh Liệt, huyện Thanh Trì;
Phía nam giáp xã Tả Thanh Oai, huyện Thanh Trì và phường Kiến Hưng, quận Hà Đông;
Phía tây giáp các phường Phúc La và Văn Quán, quận Hà Đông;
Phía bắc giáp các phường Thanh Xuân Nam và Hạ Đình, quận Thanh Xuân.
Giao thông thuận lợi. Phía tây là đường Phan Trọng Tuệ, phía bắc là đường Nguyễn Trãi.
== Lịch sử ==
Cuối thời Lê, đầu thời Nguyễn, nơi đây là đất xã Triều Khúc và thôn Yên Xá của xã Trung Thanh Oai, đều thuộc tổng Thượng Thanh Oai, huyện Thanh Oai, phủ ứng Thiên, trấn Sơn Nam Thượng (năm Minh Mạng thứ 12 - 1831 đổi làm tỉnh Hà Nội; năm 1889 thuộc tỉnh Cầu Đơ; năm 1904 đổi làm tỉnh Hà Đông). Trong kháng chiến chống Pháp, thuộc huyện Liên Nam tỉnh Hà Đông. Hòa bình lập lại thuộc huyện Thanh Trì. Từ tháng 6 - 1961, hai làng Triều Khúc và Yên Xá nhập lại thành xã Tân Triều thuộc huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội,.
== Làng Triều Khúc ==
Làng Triều Khúc, tên Nôm là Đơ Thao hay Kẻ Đơ, Tên gọi "Đơ Thao" xuất phát từ việc làng có nghề dẹt quai nón (quai thao) từ lâu đời. Triều Khúc là một làng cổ. Trên gò Cây Táo ở cánh đồng Miễu của làng, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy di chỉ khảo cổ học với 140 hiện vật đá, gốm thuộc Văn hóa Phùng Nguyên cách ngày nay trên dưới 3500 năm.
Làng Triều Khúc nổi tiếng là làng thủ công của đất Thanh Oai (Hà Đông) xưa. Nổi tiếng nhất là nghề dệt theo từ nguyên liệu thô, sần - là những phế liệu từ dệt lĩnh dệt lụa thải ra, được chuốt lọc lại thành những con tơ, cuộn sợi nhuộm đủ màu rồi mới dệt thành vải để làm quai nón. Câu ca "Ai làm ra nón quai thao, để cho anh thấy cô nào cũng xinh" có lẽ bắt nguồn từ làng quê này. Dân làng còn nổi tiếng bởi nghề đi khắp nơi thu lượm lông gà, lông vịt về phân loại, làm sạch, phơi khô. Từ các nguyên liệu này, mọi người trong nhà, mỗi người mỗi việc làm thành khá nhiều sản phẩm. Hiện tại làng còn lưu truyền bài ca Nôm (cả bằng văn bản) do một tác giả ký tên là "ấp tử Giáo Hồng" (ông giáo Hồng là người con của làng) sáng tác năm 1915, chỉ với 36 câu mộc mạc nhưng đã phác họa nghề của dân làng làm ra 34 sản phẩm từ các nguyên liệu này. Nhờ nghề này mà đời sống của dân làng xưa cũng như nay đều ổn định và khá giả hơn các làng quê khác trong vùng. Dân làng tôn thờ tổ nghề là Vũ uý, người làng, sống vào thời Cảnh Hưng (1740 - 1786). Hiện còn nhà thờ và tượng của ông tạc bằng đồng còn để trong đình.
Ngày nay, truyền thống "nhất nghệ tinh, nhất thân vinh" của Triều Khúc vẫn được phát huy và mở rộng thành nhiều nghề khác, có sự "phân công " theo các dòng họ, như họ Hoàng Đình chuyên làm băng hiệu, tua cờ và mũ phục vụ lễ hội và cả quân đội; họ Nguyễn Hữu lại chuyên về dệt thảm, trang trí nội thất vơis những mặt hàng được cả khách hàng ở nhiều nước đến mua.
Làng Triều Khúc có hai ngôi đình thờ Phùng Hưng, được dựng từ thế kỷ XVII với quy mô kiến trúc khá bề thế. Theo thần phả và truyền thuyết thì vào năm 791, trên đường tiến quân vào bao vây thành Tống Bình (nội thành Hà Nội ngày nay), dẹp bỏ ách đô hộ của nhà Đường do Cao Chính Bình cầm đầu, Phùng Hưng đã chọn Triều Khúc làm đại bản doanh, tức khu vực đình hiện nay. Ngoài ra có ngôi đền (dân làng gọi là Đình Sắc), là nơi giữ sắc phong của thần, hàng năm vào dịp hội làng (từ ngày 10 đến 12 tháng Giêng), rước sắc từ đây về đình, tan hội lại rước trả về. Làng cũng có chùa thờ Phật. Cả đình, chùa và đền đã được Bộ Văn hóa thông tin xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa năm 1993.
Làng Triều Khúc có ông Nguyễn Gia Du đỗ Tiến sĩ khoa ất Sửu niên hiệu Đoan Khánh đời Uy Mục đế (năm 1505), làm quan đến chức Phủ doãn Phụng Thiên (như chức Chủ tịch UBND thành phố Hà nội hiện nay).
== Làng Yên Xá ==
Làng Yên Xá, tên cùng có tên Nôm là Kẻ Đơ với làng Triều Khúc, nhưng thường được gọi Đơ Bùi, xuất phát từ việc làng trồng được thứ khoai lang ăn rất bùi và ngọt.
Khác với làng Triều Khúc (Đơ Thao) ở bên cạnh, làng Yên Xá chuyên làm nông nghiệp, cấy trồng nhiều giống lúa, hoa màu trở thành đặc sản có tiếng trong vùng. Dân làng còn có nghề làm bánh đúc, xưa kia, sản phẩm rất được người nội thành Thăng Long - Hà Nội ưa chuộng.
Làng Yên Xá có ngôi đình đã bị bom Mỹ phá hủy gần hết vào năm 1972, chỉ còn hậu cung. Đến nay đình đã được dựng lại khang trang, song trong hậu cung vẫn giữ được đôi câu đối cổ, ca ngợi đất làng là đất thiêng, khí thiêng của hồ Tây, sông Nhuệ :
Mạch dẫn Tây Hồ chung tú khí,
Phái tùng Nhuệ thủy dũng văn lan.
Lược dịch:
Sóng gợn lung linh theo sông Nhuệ,
Khí thiêng hun đúc tự Tây Hồ.
Đình làng thờ Uý Đô Linh Lang, tương truyền là con trai của Vua Trần Thánh Tông và Hoàng hậu Minh Đức. Uý Đô là người không ham cuộc sống quyền chức mà đi tu ở nhiều chùa. Đến khi giặc Nguyên - Mông xâm lược nước ta, Vua Trần Thánh Tông cho gọi Uý Đô về trông coi Kinh thành Thăng Long, sau Uý Đô lại ra trận, tổ chức tuyến phòng thủ ở nhiều làng xã phía Nam Kinh thành Thăng Long, trong đó có làng Yên Xá, làng Lưu Phái (nay thuộc xã Ngũ Hiệp cùng thuộc huyện Thanh Trì) lập công, nên được phong làm Linh Lang đại vương, ban thực ấp ở vùng Dâm Đàm (Hồ Tây). Sau khi ông mất, các làng là nơi ông tổ chức phòng tuyến và làng trong khu thực ấp của ông đều lập đền thờ, đền chính ở phường Nhật Chiêu. Tại làng Yên Xá, lúc đầu, dân làng lập miếu thờ ở mé Tây của làng, nơi đây vài chục năm trước vẫn còn hào lũy um tùm, không ai động đến, hiện nay vẫn còn vết tích.
Làng có ngôi chùa Thanh An, tên chữ là Thanh An thiền tự. Liền sau chùa là ngôi đền Tứ phủ (Mẫu Địa, Mẫu Thủy, Mẫu Thượng Ngàn và Mẫu Liễu Hạnh), tạo thành kiến trúc "tiền Phật, hậu Thánh". Trong chùa hiện còn lưu 21 tấm bia đá, trong đó có 16 tấm bia hậu, đều khắc năm Nhâm Tý thời Lê trung hưng (các năm Nhâm Tý là: 1612, 1672 và 1772), ghi tên những người là quan lại, vương phi... đóng góp tiền của tu bổ chùa và đền. Ngoài ra còn có quả chuông đúc thời Cảnh Thịnh (1793 - 1802). Cả đình, chùa và đền đã được xếp hạng là Di tích lịch sử văn hóa năm 1990.
== Tham khảo == |
oklahoma.txt | Oklahoma (phát âm như Uốc-lơ-hâu-mơ) (tiếng Cherokee: ᎣᎦᎳᎰᎹ òɡàlàhoma, tiếng Pawnee: Uukuhuúwa) là một tiểu bang nằm ở miền nam Hoa Kỳ. Với dân số 3,6 triệu người vào năm 2007 và diện tích 177.847 km², Oklahoma là tiểu bang có dân số đứng hàng thứ 28 và diện tích đứng hàng thứ 20 liên bang.
Tên gọi Oklahoma của tiểu bang bắt nguồn từ hai từ okla và humma của người da đỏ Choctow, có nghĩa là "đất của người da đỏ". Ngoài ra, Oklahoma còn có biệt hiệu là Bang Người đến sớm ("The Sooner State"). Được thành lập từ Vùng lãnh thổ của người da đỏ ("Indian Territory"), Oklahoma chính thức trở thành tiểu bang thứ 46 của nước Mỹ vào ngày 16 tháng 11 năm 1907. Thủ đô và thành phố lớn nhất của tiểu bang là thành phố Oklahoma.
Oklahoma là một tiểu bang sản xuất nhiều dầu mỏ, khí đốt và thực phẩm cho nước Mỹ. Kinh tế của tiểu bang chủ yếu dựa trên các ngành hàng không, năng lượng, viễn thông và công nghệ sinh học. Oklahoma hiện là một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất nước Mỹ, đứng thứ ba liên bang về tốc độ gia tăng thu nhập bình quân đầu người và đứng đầu về tốc độ tăng trưởng kinh tế.
== Tên gọi ==
Tên gọi Oklahoma bắt nguồn từ cụm từ okla humma của người da đỏ Choctow, nghĩa đen có nghĩa là "đất của người da đỏ". Tên gọi này được thủ lĩnh của người Choctow là Allen Wright đưa ra vào năm 1866 trong cuộc đàm phán với chính phủ Mỹ về quyền sử dụng đất đai của người da đỏ tại Oklahoma và việc thành lập một tiểu bang gồm toàn người da đỏ dưới sự giám sát của Bộ Quản lý người da đỏ Hoa Kỳ. Tương tự với từ "Indian" trong tiếng Anh, "okla humma" cũng chỉ toàn bộ người da đỏ nói chung. Oklahoma trở thành tên gọi trên thực tế của Vùng lãnh thổ Oklahoma, rồi chính thức được chấp nhận vào năm 1890, hai năm sau khi vùng này mở cửa cho người da trắng vào định cư.
== Địa lý ==
Oklahoma là tiểu bang có diện tích rộng thứ 20 Hoa Kỳ, tổng diện tích là 69.898 dặm vuông (181.035 km²). Trong đó 68.667 dặm vuông (177.847 km²) là phần đất còn 1231 dặm vuông (2188 km²) là phần nước. Oklahoma là một trong sáu tiểu bang của Frontier Strip, thuộc một phần vùng Great Plains và nằm gần trung tâm địa lý của 48 tiểu bang. Oklahoma giáp với Arkansas và Missouri về phía đông, giáp với Kansas về phía bắc, giáp với Colorado về phía tây bắc, giáp với New Mexico về phía tây và giáp với Texas về phía nam.
=== Địa hình ===
Oklahoma nằm giữa vùng Great Plains và cao nguyên Ozark, có địa hình thoải dần từ tây bắc xuống đông nam. Điểm cao nhất của Oklahoma là núi Black Mesa (cao 1516 m), nằm ở vùng tây bắc thuộc cán chảo Oklahoma. Còn điểm thấp nhất của tiểu bang nằm trên sông Little gần biên giới đông nam với độ cao 88 m.
Oklahoma có 4 dãy núi chính: dãy núi Ouachita, dãy núi Arbuckle, dãy núi Wichita và dãy núi Ozark. Vùng cao nguyên trung tâm nước Mỹ, bao gồm dãy núi Ozark và dãy núi Ouachita là vùng miền núi duy nhất nằm giữa dãy núi Rocky và dãy núi Appalachian. Tại Oklahoma có 500 sông và nhánh sông được đặt tên, và 200 hồ nước được tạo ra bởi các đập. Oklahoma có số lượng hồ chứa nhiều nhất toàn liên bang.
Bên cạnh sự đa dạng về địa hình, Oklahoma có tới 11 vùng sinh thái khác nhau. Do sự khác nhau về địa lý giữa miền tây và miền đông Oklahoma, miền đông có tới 8 vùng sinh thái trong khi miền tây chỉ có 3.
Phần lớn tiểu bang Oklahoma nằm trên hai lưu vực chính của sông Red và sông Arkansas, bên cạnh đó còn có sông Lee và sông Little. Ở góc tây bắc, địa hình chủ yếu là các đồng bằng núi cao bán khô hạn xen lẫn các hẻm và vực. Phía tây nam Oklahoma là các đồng bằng nhỏ xen với các dãy núi nhỏ như Antelope Hills và Wichita. Vùng trung tâm tiểu bang là nơi chuyển tiếp giữa đồng cỏ và rừng cây gỗ. Một phần ba phía đông tiểu bang là hai dãy núi Ouachita và Ozark cao dần từ tây sang đông.
=== Thực vật và động vật ===
Rừng bao phủ 24% diện tích Oklahoma. Miền tây Oklahoma có khí hậu khô hạn hơn nên thực vật chủ yếu ở đây là các đồng cỏ thân thấp và cây bụi, trong khi đó miền đông Oklahoma lại có nhiều đầm lầy và rừng cây thay lá nhờ lượng mưa cao hơn.
Động vật ở Oklahoma khá đa dạng với nhiều loài như hươu, nai sừng tấm, sói xám, linh miêu đuôi cộc, các loài chim như chim cút, chim bồ câu, chim trĩ, chim giáo chủ, đại bàng, diều hâu đuôi đỏ. Ở những vùng đồng cỏ, bò bison tập trung với số lượng khá đông đúc. Tại Cross Timbers, vùng đất chuyển giao giữa đồng cỏ và rừng thân gỗ ở miền trung Oklahoma có tới 351 loài động vật có xương sống. Miền đông nam Oklahoma cũng có tới 328 loài đông vật có xương sống, với vùng núi Ouachita là nơi sinh sống của nhiều loài động vật như gấu đen, cáo đỏ, cáo xám, rái cá.
=== Khí hậu ===
Oklahoma nằm trong đới ôn hòa và chủ yếu là khí hậu lục địa. Phần lớn lãnh thổ bang này nằm trên một vùng gọi là Hành lang Bão tố ("Tornado Alley") kéo dài từ Nam Dakota xuống Texas, nơi thường hay xảy ra những trận lốc xoáy dữ dội. Đây là nơi hội tụ của các luồng không khí khác nhau là luồng không khí lạnh từ phía bắc thổi xuống, luồng không khí ấm và ẩm từ vịnh Mexico thổi lên và luồng không khí khô nóng từ sa mạc phía tây thổi sang, khiến thời tiết Oklahoma luôn biến động và rất khó dự đoán. Lốc xoáy thường xuyên diễn ra và mỗi năm, bình quân Oklahoma phải hứng chịu 54 cơn lốc xoáy, một trong những tỉ lệ cao nhất thế giới. Chính tại thành phố Oklahoma, thủ phủ bang này ngày 3 tháng 5 năm 1999, người ta đã đo được cơn gió có tốc độ mạnh nhất thế giới: 484±32 km/h
Miền đông Oklahoma có khí hậu cận nhiệt đới ẩm nhờ luồng không khí từ vịnh Mexico thổi lên mang theo nhiều hơi nước. Trong khi đó, phía tây Oklahoma lại có khí hậu ôn đới bán khô hạn. Nhiệt độ và lượng mưa giảm dần theo hướng từ đông sang tây. Trong khi miền đông nam Oklahoma có nhiệt độ trung bình năm là 62 °F (17 °C) và lượng mưa là 56 inch (1420 mm) thì vùng cán chảo Oklahoma ở cực tây có nhiệt độ trung bình là 58 °F (14 °C) và lượng mưa là 17 inch (430 mm). Khí hậu Oklahoma tương đối khắc nghiệt, mùa hè nhiệt độ có thể lên đến hơn 100 °F (38 °C) còn mùa đông có thể xuống dưới 0F (-18C). Lượng mưa tuyết giảm dần từ nam lên bắc. Oklahoma là nơi đặt trụ sở Trung tâm Dự báo Bão Quốc gia của Mỹ.
== Lịch sử ==
Những bằng chứng khảo cổ cho thấy những dấu tích của con người ngay từ cuối Thời kỳ Băng hà. Tuy nhiên do khí hậu khắc nghiệt, Oklahoma không có dân cư sinh sống cho đến khi một nhóm người da đỏ đến định cư trong khoảng giữa năm 850 và 1450 sau công nguyên. Năm 1541, nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Francisco Vasquez de Coronado đã đi qua Oklahoma. Nhưng sau đó, vùng này lại thuộc về lãnh thổ Louisiana của Pháp trước khi bán lại cho Mỹ vào năm 1803.
Hàng ngàn người thổ dân da đỏ thuộc "Năm bộ lạc văn minh" (Five Civilized Tribes) ở các bang Mississippi, Florida, Alabama, Georgia và Tennessee đã bị chính phủ Mỹ buộc phải rời bỏ quê hương để đến định cư tại vùng đất cằn cỗi Oklahoma trong Cuộc hành trình Nước mắt ("Trail of Tears") trong thập niên 1830. Nhiều người thổ dân da đỏ đã chết trong chuyến hành trình gian khổ và đầy bất công này. Sau khi đến Oklahoma, họ cùng với các dân tộc da đỏ bản địa Osage và Quapaw tạo nên một vùng đất chỉ dành riêng cho người da đỏ, được gọi là Vùng lãnh thổ Người da đỏ ("Indian Territory"). Vùng lãnh thổ này được chính phủ Mỹ hứa không xâm phạm. Đến năm 1890, đã có 30 bộ tộc da đỏ sinh sống tại đây.
Tuy nhiên sự mở rộng đất đai của người da trắng đã dẫn đến Đạo luật Dawes năm 1887 cho phép người da trắng được vào Oklahoma định cư. Một nửa lãnh thổ của Oklahoma được mở cửa cho những đoàn di dân mới đến hoặc được mua bởi công ty đường sắt. Những cuộc "land run" để người da trắng chạy đua vào chiếm đất được tổ chức, trong đó có cuộc chạy đua chiếm đất năm 1889. Trước giờ khai cuộc, một số người khôn ngoan hơn đã vượt giới tuyến vào cắm mốc trước tại những vùng đất nhiều lợi thế. Do đó, Oklahoma ngày nay có biệt hiệu là Bang Người đến sớm ("Sooner State").
Tiếp theo, Đạo luật Curius đã bãi bỏ hoàn toàn quyền lợi pháp lý của người thổ dân da đỏ. Ngày 16 tháng 11 năm 1907, Oklahoma chính thức trở thành tiểu bang thứ 46 của Hoa Kỳ.
Những mỏ dầu đầu tiên với trữ lượng lớn đã nhanh chóng được khai thác tại Oklahoma, mang lại sự hưng thịnh cho nền kinh tế tiểu bang. Thành phố Tulsa trở thành "thủ đô dầu khí của thế giới". Năm 1927, một thương nhân ở Oklahoma là Cyrus Avery đã phát động việc xây dựng Quốc lộ 66, con đường giao thông huyền thoại xuyên nước Mỹ.
Mặc dù Luật Jim Crow và có sự hiện diện của tổ chức phân biệt chủng tộc Ku Klux Klan, thành phố Tulsa vẫn có một trong những cộng đồng người da đen thịnh vượng nhất nước Mỹ. Thế nhưng vào năm 1921, cuộc Bạo động Chủng tộc Tulsa bùng nổ khiến 300 người chết và gây thiệt hại 1,8 triệu USD. Đến cuối thập niên 1920, các hoạt động của tổ chức phản động 3K phần lớn đã bị hạn chế.
Thập niên 1930, trận Bão Bụi ("Dust Bowl") xảy ra. Suốt nhiều năm liền, trời không có một giọt mưa, thời tiết khô hạn và những trận bão bụi mịt mù đã tàn phá nền nông nghiệp của Oklahoma và một số tiểu bang khác như Kansas, Texas, New Mexico và đẩy hàng ngàn nông dân đến chỗ phá sản, phải tìm đường sang miền tây nước Mỹ lập nghiệp. Trong suốt 20 năm, dân số của Oklahoma sụt giảm liên tục. Cuối cùng thời kỳ đen tối này kết thúc vào thập niên 1950 khi những dự án xây đập nước được tiến hành. Vào thập niên 1960, Oklahoma có 200 hồ nước nhân tạo, nhiều nhất liên bang. Hàng ngàn hồ chứa nước được xây dựng đã giúp phục hồi nền nông nghiệp Oklahoma nói riêng và toàn bộ kinh tế Oklahoma nói chung.
Năm 1995, Oklahoma chứng kiến vụ khủng bố kinh hoàng nhất nước Mỹ trước ngày 11 tháng 9 năm 2001. Cao ốc Alfred P. Murrah tại thành phố Oklahoma bị hai tên khủng bố Timothy McVaigh và Terry Nichols đặt bom đánh sập, khiến 168 người chết, trong đó có 19 trẻ em. McVeigh sau đó đã bị xử tử hình còn Nichols thì nhận án tù chung thân không ân xá.
== Kinh tế ==
Kinh tế Oklahoma chủ yếu dựa trên các ngành hàng không, năng lượng, phương tiện giao thông vận tải, chế biến thực phẩm, điện tử và viễn thông. Bang này sản xuất một lượng lớn dầu khí, máy bay và thực phẩm cho nước Mỹ. Từ năm 2000 đến năm 2006, tổng sản phẩm nội địa của Oklahoma đã tăng gấp rưỡi, mức tăng cao thứ 5 liên bang. Năm 2006, tốc độ tăng trưởng kinh tế của Oklahoma tăng nhanh nhất nước Mỹ, tới 10,8%. Tốc độ tăng thu nhập bình quân đầu người là 9,7% từ 34.305 USD năm 2005 lên 37.620 USD năm 2006.
Một trong những ngành công nghiệp đóng góp nhiều nhất cho kinh tế Oklahoma là ngành hàng không, mang lại 11 tỉ USD mỗi năm. Tulsa là trung tâm sản xuất và bảo trì máy bay của thể giới, trong đó có hãng American Airlines. Ngành hàng không đóng góp khoảng 10% sản lượng công nghiệp của Oklahoma. Bên cạnh đó, các ngành công nghệ sinh học, chế biến thực phẩm, chế tạo máy… cũng đóng góp quan trọng vào nền kinh tế tiểu bang.
Về năng lượng, Oklahoma là nhà sản xuất khí đốt lớn thứ nhì và dầu thô đứng thứ năm nước Mỹ. Bang này cũng đứng thứ năm về trữ lượng dầu thô. Mặc dù có nhiều điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc phát triển các nguồn năng lượng sạch, đặc biệt là năng lượng từ gió nhưng 96% năng lượng của Oklahoma vẫn lấy từ các nguồn năng lượng không tái sinh, trong đó 64% từ than và 32% từ khí đốt. Ngành công nghiệp dầu mỏ đóng góp cho Oklahoma 23 tỉ USD mỗi năm và cung cấp hàng ngàn việc làm thu nhập cao cho người dân.
Oklahoma đứng thứ 27 nước Mỹ về sản lượng nông nghiệp. Bang này đều xếp thứ năm về sản lượng thịt gia súc và lúa mì toàn liên bang. Oklahoma chiếm 5,5% sản lượng thịt bò, 6,1% lúa mì, 4,2% sản lượng thịt lợn, 2,2% các sản phẩm từ sữa của nước Mỹ.
== Văn hóa ==
Theo phân loại của Cục Thống kê Hoa Kỳ, Oklahoma thuộc về miền Nam Hoa Kỳ. Đây là bang có tỉ lệ người gốc Đức và người da đỏ bản địa khá cao, và có tới 25 ngôn ngữ bản địa được nói tại Oklahoma, nhiều hơn bất cư một tiểu bang nào khác. Cư dân Oklahoma nổi tiếng với tinh thần phóng khoáng, hào hiệp.
Tại những vùng đô thị lớn của tiểu bang, nhạc jazz phát triển mạnh mẽ song song với các loại hình âm nhạc đặc sắc của người da đỏ bản địa, người México và người châu Á. Oklahoma Mozart Festival tại Bartesville là một trong những lễ hội âm nhạc cổ điển lớn nhất miền nam nước Mỹ. Tại Oklahoma có tới trên 300 viện bảo tàng với nhiều chủ đề khác nhau, trong đó đáng chú ý nhất là Bảo tàng Philbrook tại Tulsa được xếp hạng trong top 50 bảo tàng mĩ thuật đẹp nhất nước Mỹ.
Ngày 16 tháng 11 năm 2007, lễ hội kỷ niệm 100 năm ngày gia nhập liên bang của Oklahoma được tổ chức với hàng loạt lễ hội đa dạng khác nhau. Những lễ hội và sự kiện lớn được tổ chức hàng năm tại hầu hết các địa phương trên cả bang, bao gồm những lễ hội của người Scotland, người Ý, người Việt Nam, người Ireland, người Czech, người Do Thái và người Mỹ gốc Phi. Oklahoma là nơi tập trung rất đông thổ dân da đỏ tại Mỹ và hàng năm họ có lễ hội "pow-wows" rất nổi tiếng. Năm 2006, lễ hội Oktoberfest tại Tulsa được bình chọn là một trong những lễ hội ẩm thực Đức ẩn tượng nhất cả nước.
== Nhân khẩu ==
Người Mỹ gốc Đức tại Oklahoma tập trung chủ yếu tại vùng tây bắc của tiểu bang, trong khi người gốc Anh và Scotland lại chiếm ưu thế tại thành phố Tulsa. Người da đen tập trung đông tại Lawton và thành phố Oklahoma và có một khu vực lịch sử Greenwood dành cho người da đen tại trung tâm thành phố Tulsa. Trong khi Pittsburg có đông người gốc Ireland và vùng bắc có người gốc Thụy Điển thì phía đông lại là nơi tập trung các cộng đồng người gốc Ý và Slav (Ba Lan, Nga, Ukraina, Séc và Slovakia).
Thành phố Oklahoma là nơi tập trung nhiều người gốc Á nhất tiểu bang, trong đó chủ yếu là người Việt Nam đến định cư vào thập niên 1980. Người Việt Nam chiếm tới 1,6% dân số thành phố Oklahoma, bên cạnh các sắc dân gốc Á khaki như Trung Quốc, Hàn Quốc, Thái Lan, Philippines.
Các hạt miền tây Oklahoma lại có một số lượng lớn người dân gốc México nhập cư làm nhân công và nhóm dân này đang có xu hướng gia tăng nhanh chóng. Người Mỹ gốc Arab chủ yếu đến từ Iran và nhập cư vào Mỹ trong khoảng thập niên 1970, tập trung tại Tulsa và thành phố Oklahoma.
Về tôn giáo, phần lớn người dân Oklahoma theo đạo Tin lành. Phân bố chủng tộc của Oklahoma trong năm 2005 như sau:
Người da trắng: 82,20%
Người da đen: 8,55%
Người da đỏ: 11,31%
Người gốc Á: 1,92%
Người các đảo Thái Bình Dương: 0,16%
Người latinh (Hispanic) thuộc mọi sắc tộc trên: 6,78%
== Chính trị ==
Toàn bộ tiểu bang Oklahoma được chia thành 77 hạt.
Mặc dù có số lượng cử tri thuộc Đảng Dân chủ cao hơn so với Đảng Cộng hòa tới 11,6%, song Oklahoma lại có truyền thống bỏ phiếu cho Đảng Cộng hòa. Bang này đã liên tục bỏ phiếu cho các ứng cử viên Cộng hòa từ năm 1968 đến nay. Trong cuộc bầu cử tổng thống giữa nhiệm kỳ năm 2004, tổng thống George W. Bush đã giành chiến thắng tại Oklahoma với số phiếu áp đảo 65,6%. Một số đảng phái khác cũng có ảnh hưởng mạnh ngoài Đảng Cộng hòa và Đảng Dân chủ là Đảng Tự do Oklahoma, Đảng Xanh Oklahoma và Đảng Hiến pháp Oklahoma.
Theo thống kê nhân khẩu năm 2000, số lượng đại diện của Oklahoma tại Hạ viện Hoa Kỳ giảm từ 6 xuống còn 5 đại biểu, trong đó 4 người thuộc Đảng Cộng hòa còn 1 người thuộc Đảng Dân chủ. Còn tại Thượng viện Hoa Kỳ, hai đại diện của Oklahoma đền thuộc Đảng Cộng hòa.
== Tham khảo == |
bunraku.txt | Bài này về một loại hình kịch rối truyền thống Nhật Bản. Về bộ phim năm 2009, xem Bunraku (phim).
Bunraku (文楽, "Văn lạc"), còn được gọi là Ningyō jōruri (人形浄瑠璃, Nhân hình tịnh lưu ly), là một thể loại kịch rối truyền thống Nhật Bản, khởi phát ở Osaka năm 1684.
Có ba loại người trình diễn trong một vở bunraku:
Ningyōtsukai hay Ningyōzukai - Người điểu khiển rối
Tayū - người lĩnh xướng
Shamisen ("Tam vị tuyến") diễn viên
Thông thường các nhạc cụ khác như trống taiko cũng được dùng.
Thuật ngữ chính xác nhất cho kịch rối truyền thống Nhật Bản là ningyō jōruri. Sự kết hợp của lĩnh xướng và kịch nghệ shamisen được gọi là jōruri và trong tiếng Nhật, con rối được gọi là ningyō.
== Lịch sử ==
Ban đầu, cụm từ "Bunraku" chỉ dùng để chỉ nhà hát đặc biệt thành lập ở Osaka năm 1872, được đặt tên là Bunrakuza theo tên của người điểu khiển rối Uemura Bunrakken vào đầu thế kỷ 19 ở đảo Awaji, người mà với những cố gắng của mình đã phục hồi lại di sản kịch rối truyền thống đang suy tàn vào thế kỷ 19.
Sau này sự nổi trội của Nhà hát Bunraku Quốc gia Nhật Bản, hậu duệ của nhà hát được Bunrakken thành lập, đã làm phổ cập cái tên "Bunraku" trong thế kỷ 20 đến mức mà nhiều người Nhật dùng cụm từ này để chỉ chung mọi loại hình kịch rối truyền thống Nhật Bản.
Tuy vậy, phần lớn các đoàn kịch rối truyền thống đang tồn tại hiện nay ngoài Oska đểu được thành lập và đặt tên rất lâu sau thời Uemura Bunrakukken và nhà hát của ông, vì vậy họ không dùng từ này để chỉ mình. Một số trường hợp ngoại lệ là các đoàn kịch được thành lập từ những người điều khiển rối từ Bunraku-za hay những người học trò rời Osaka và thành lập nhà hát múa rối tại các tỉnh.
== Cơ sở của Bunraku ==
Con rối Bunraku có kích cỡ cao từ 0,75 đến 1,2m hay hơn, dựa trên tuổi tác, giới tính của nhân vật và tục lệ của mỗi đoàn kịch riêng. Trong rất nhiều nhà hát trên khắp Nhật Bản, rối truyền thống Osaka nói chung là nhỏ nhất, trong khi rối truyền thống Awaji, nơi phần lớn các vở kịch ban đầu được diễn ở không gian lớn ngoài trời, là lớn nhất.
Đầu và tay của rối truyền thống được các chuyên gia chạm trổ, trong khi thân mình và trang phục thường được người điểu khiển rối thực hiện. Đầu có thể có nhiều máy móc tinh xảo. Trong các vở kịch để tài siêu nhiên, một cỏn ối có thể được thiết kế sao cho mặt chúng có thể nhanh chóng chuyển thành mặt quỷ. Những chiếc đầu ít phức tạp hơn có thể biết chớp mắt, đảo mắt, nhắm mắt và mũi, mồm, lông mày có thể di.
Việc điều khiển mọi chuyển động của các bộ phận trên đầu được đặt trên một tay cầm gắn vào cổ con rối và được nghệ sĩ rối chính điều khiển bằng cách đưa tay trái vào ngực con rối thông qua một cái lỗ ở sau thân.
Nghệ sĩ rối chính, omozukai, dùng tay phải để điểu khiển tay phải con rối. Nghệ sĩ rối bên trái, được gọi là hidarizukai hay sashizukai, phục thuộc vào truyền thống của đoàn kịch, điều khiển tay trái con rối bằng tay phải của mình qua một cây gậy điểu khiển gắn vào cùi trỏ con rối. Nghệ sĩ rối thứ ba, gọi là ashizukai, điểu khiển cẳng chân và bàn chân.
Tất cả các con rối trừ các con rối rất phụ đều cần ba người điểu khiển, tất cả bọn họ đều được khán giả thấy rõ, và thường mặt áo dài đen. Phong tục một số nơi còn yêu cầu tất cả nghệ sĩ rối đội mũ trùm đen, trong khi một số khác, bao gồm Nhà hát Bunraku Quốc gia, thì nghệ sĩ rối để đầu trần, một phong cách biểu diễn gọi là dezukai.
Thường một người lĩnh xướng thuật lại mọi phần của nhân vật, dùng cao độ giọng khác nhau để chuyển đổi qua các nhân vật. Tuy vậy, đôi khi lại sử dụng nhiều người lĩnh xướng. Người lĩnh xướng ngồi cạnh người chơi shamisen trên một bệ nổi, và mỗi khi bệ này xoay, mang theo nhạc cụ thay thế cho cảnh tiếp.
Shamisen dùng trong bunraku có thanh điêu khác với các shamisen khác. Giọng trầm hơn và tiếng cũng đầy hơn.
Bunraku có chung nhiều chủ đề với kabuki. Thực tế, nhiều vở kịch đều được viết cho cả diễn viên kabuki lẫn các đoàn kịch rối bunraku. Bunraku đặc biệt chú ý đến những vở kịch tự sát của các đôi nhân tình. Câu chuyện 47 Ronin nổi tiếng ở cả bunraku lẫn kabuki.
Bunraku là tác giả của nhà hát, ngườ với kabuki, là người biểu diễn của nhà hát. Trong Bunraku, trước buổi diễn, người lĩnh xướng nêu ra câu chuyện và cúi chào khán giả, hứa sẽ thuật lại một cách trung thực. Ở kabuki, diễn viên thường sử dụng lỗi chơi chữ trong tên mình, ứng khẩu, tham khảo thêm những gì đang diễn ra và một số thứ khác có thể không đúng theo kịch bản.
Nhà viết kịch Bunraku nổi tiếng nhất là Chikamatsu Monzaemon. Với sự nghiệp hơn một trăm vở kịch, đôi khi ông được gọi là Shakespeare của nước Nhật.
Các đoàn kịch, diễn viên, và người làm rối bunraku đã được đưa vào danh sách các "Di sản Quốc gia sống " theo chương trình bảo tồn văn hóa truyền thống của Nhật.
== Ngày nay ==
Osaka là nhà của đoàn kịch do chính phủ tài trợ tại Nhà hát Bunraku Quốc gia. Đoàn kịch thường diễn từ năm vở trở lên mỗi năm, mỗi vở diễn trong vòng từ 2 đến 3 tuần ở Osaka trước khi chuyển đến Tokyo diễn tại Nhà hát Quốc gia. Đoàn kịch Bunraku Quoocsi gia cũng lưu diễn trên toàn nước Nhật và đôi khi cũng ra nước ngoài.
Cho đến cuối những năm 1800, có hàng trăm đoàn kịch chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp và không chuyên trên khắp nước Nhật và trình diễn kịch rối truyền thống.
Kể từ sau thế chiến thứ II, số lượng đoàn kịch chỉ còn dưới 30, phần lớn các đoàn chỉ biểu diễn 1 hay 2 lần một năm, thường kết hợp với các lễ hội địa phương. Tuy vậy, một vài đoàn kịch vùng vẫn tiếp tục biểu diễn hăng hái.
Đoàn kịch rối Awaji, nằm ở đảo Awaji phía Tây Kobe, diễn các vở kịch ngắn hàng này và những vở lớn hơn tại nhà hát của mình. Họ đã lưu diễn tại Mỹ, Nga và nhiều quốc gia khác.
Đoàn kịch Bunraku truyền thống Tonda tại tỉnh Shiga, thành lập trong những năm 1830, đã lưu diễn tại Mỹ và Australia 5 lần và rất tích cực tổ chức các chương trình hàn lâm ở Nhật Bản cho các sinh viên Mỹ muốn theo học kịch rối truyền thống Nhật Bản.
Đoàn kịch rối Imada, đã biểu diễn tại Pháp, Đài Loan, Mỹ, cũng như Đoàn kịch rối Kurroda ở thành phố Ida, tỉnh Nagano. Cả hai đoàn này, với lịch sử hơn 300 năm, biểu diễn đều đặn và cũng tích cực chăm lo cho một thế hệ nghệ sĩ rối mới và khai phá thêm các kiến thức về nghệ thuật rối qua các chương trình đào tạo ở các trường trung học và dạy các sinh viên Mỹ trong các chương trình học thuật mùa hè tại nhà hát của mình.
Sự hâm mộ kịch rối Bunraku ngày càng tăng đã góp phần vào việc thành lập đoàn kịch rối truyền thống Nhật Bản đầu tiên ở Bắc Mỹ. Từ năm 2003, Đoàn kịch rối Bunraku Bay, đặt trụ sở tại Đại học Missouri, Columbia, Missouri, đã diễn tại các nơi gặp mặt vòng quanh nước Mỹ, bao gồm Trung tâm biểu diễn nghệ thuật Kennedy và Viện Smithsonian, cũng như ở Nhật.
== Cụm từ "Bunraku" ở phương Tây ==
Ở châu Âu và châu Mỹ, cụm từ "Bunraku" thường được dùng trong giới nghệ sĩ rối để miêu tả các con rối điều khiển theo lối tương tự với các nhà hát kịch rối Bunraku truyền thống Nhật Bản, ngược lại với rối tay, rối gậy, rối bóng, rối thường. Nét đặc trưng của "bunraku" phương Tây thường bao gồm nhiều nghệ sĩ rối và có thể nhìn thấy họ, trực tiếp điều khiển rối. Các yếu tố khác cạnh tranh với các nhà hát Bunraku truyền thống có lẽ là quà tặng. Việc sử dụng cụm từ này làm một số người theo chủ nghĩa thuần túy quan ngại, nhưng các nghệ sĩ rối phương Tây thấy rằng từ này khá tiện dụng trong việc miêu tả phong cách rối ảnh hưởng từ truyền thống Nhật Bản mà không một cụm từ tiếng Anh súc tích nào có được.
== Tham khảo ==
Trang chủ của kịch rối: giới thiệu ngắn gọn lịch sử Bunraku
Đoàn kịch Bunraku
Nhà hát Bunraku truyền thống Tonda
Thư mục tại Chikamatsu
hội đồng nghệ thuật Nhật Bản giới thiệu về Bunraku
BUNRAKU KYOKAI
== Link liên quan ==
Kiritake Masako's Maiden's Bunraku, bài viết của Darren-Jon Ashmore tại tạp chí điện từ về các nghiên cứu đương thời về Nhật Bản, 17 tháng 6 năm 2005.
Rối Bunraku @ PuppetBuilding.com, thông tin và hướng dẫn làm các con rối Bunraku và phong cách Bunraku.
Đai học Missouri: Chương trình đào tạo kịch rối Bunraku cho các sinh viên không phải người Nhật |
alpes pennines.txt | Dãy núi Alpes pennines (tiếng Pháp: Alpes valaisannes; tiếng Ý: Alpi Pennine) là một rặng núi thuộc phần phía tây dãy núi Alpes. Rặng núi này nằm trên 2 nước Thụy Sĩ (bang Valais) và Ý (vùng Piedmont và Thung lũng Aosta).
Đèo Col Ferret chia cách rặng núi này với khối núi Mont Blanc; Thung lũng Dora Baltea chia cách chúng với rặng Alpes grées; đèo Simplon chia cách chúng với rặng Alpes lépontines; Thung lũng sông Rhône chia cách chúng với rặng Alpes bernoises.
Rặng núi này là đầu nguồn của các sông Dora Baltea, Sesia, Toce, cùng các sông nhánh của sông Po bên phía Ý. và sông Rhône bên phía Thụy Sĩ.
Đường hầm Grand-Saint-Bernard, dưới lòng đèo Grand-Saintt-Bernard, nối giao thông giữa Martigny, (Thụy Sĩ) với Aosta (Ý).
== Hình thể ==
Dãy núi chính (đường phân thủy giữa Địa Trung Hải và Biển Adriatic) chạy từ phía tây sang phía đông trên biên giới giữa Ý (nam) và Thụy Sĩ (bắc). Từ núi Vélan - ngọn cao đầu tiên phía đông đèo St Bernard - dãy núi này hiếm khi dưới 3.000 m và gồm nhiều ngọn cao trên 4.000 m, như ngọn Matterhorn hoặc Dufourspitze. Các Thung lũng ở 2 bên biên giới hoàn toàn giống nhau, thường vuông góc với dãy núi chính và đi xuống dần vào Thung lũng sông Rhône ở phía bắc và Thung lũng Aosta ở phía nam. Không giống nhiều dãy núi khác, các ngọn cao nhất thường nằm bên ngoài dãy chính, ở giữa các Thung lũng phía bắc (núi Grand Combin, Weisshorn, Mischabel, Weissmies).
== Các ngọn núi ==
Các ngọn chính của dãy Alpes pennines là:
== Các sông băng ==
Gorner
Corbassière
Findel
Zmutt
Zinal
Otemma
Allalin
Ferpècle
Fee
Mont Miné
Ried
Turtmann
Moiry
Arolla
Moming
Cheilon
== Các đèo ==
Các đèo chính:
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
trường phái trừu tượng.txt | Nghệ thuật Trừu tượng là trào lưu hội họa đầu thế kỷ 20, vào những năm 1910 đến 1914. Nghệ thuật trừu tượng không thể hiện đối tượng một cách hiện thực như mắt nhìn thấy mà biểu thị những ý nghĩ, cảm xúc của nghệ sĩ về một vài nét nào đó của đối tượng. Trong nghệ thuật tạo hình, trừu tượng là sự phát huy yếu tố biểu đạt của đường nét, hình khối, màu sắc để thể hiện ý tưởng hay cảm xúc. Trừu tượng cũng tồn lại nhiều dạng: trừu tượng hình học, trừu tượng sáng tạo, trừu tượng biểu hiện...
Hội họa trừu tượng giống như sự kết hợp của Lập thể và Dã thú, lập thể về hình khối và dã thú về màu sắc. Trừu tượng có thể xem như hệ quả tất yếu của Lập thể. Khi trường phái Lập thể đi đến thoái trào, nhiều họa sĩ Lập thể chuyển sang vẽ trừu tượng. Trong đó hai họa sĩ chuyển hướng đầu tiên là Robert Delaunay và Frank Kupka.
Nghệ thuật Trừu tượng xuất hiện ban đầu ở nhiều quốc gia châu Âu như Pháp, Đức, Hà Lan, Nga. Về sai nó trở thành một trào lưu quốc tế và đạt đỉnh cao vào giữa thế kỷ 20.
== Khởi Đầu ==
Trường phái Trừu tượng là 1 trào lưu từ nước Mỹ thời Hậu thế chiến thứ 2. Đây chính là trào lưu đầu tiên đặc trưng cho nước Mỹ trong việc đạt được những sự ảnh hưởng mang tầm thế giới và đưa thành phố New York trở thành trung tâm hội hoạ Đông Âu, một vị trí từng dành cho Paris trước đó.
Dù rằng nhà phê bình nghệ thuật Robert Coates là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ "Trường phái trừu tượng" để gọi nền hội hoạ nước Mỹ vào năm 1946, nhưng trước đó thuật ngữ này đã được tạp chí Der Stum (tạm dịch:Cơn bão lớn) của Đức năm 1919 sử dụng để nói về Trào lưu Nghệ thuật Đức. Tại Mỹ, vào năm 1929, Alfred Barr đã dành thuật ngữ này để liên hệ những tác phẩm của danh hoạ Wassily Kandinsky.
== Phong cách ==
Về mặt kỹ thuật, tiền bối của trường phái này chính là Trường phái Siêu thực, nổi bật về sự sáng tạo tự sinh và vô thức hay tiềm thức.Bức vẽ với những chấm màu lem nhem trên vải dầu để giữa sàn nhà của Jackson Pollock đã trở thành 1 phương pháp và là nguồn gốc cho những tác phẩm của André Masson, Max Ernst và David Alfaro Siquerios. Một biểu hiện quan trọng ban đầu khác để hình thành nên một trường phái như vậy là tác phẩm của hoạ sĩ vùng tây bắc nước Mỹ - Mark Tobey, đặc biệt là những bức tranh sơn dầu "white-writing" tuy không có kích thước lớn nhưng đã cho thấy trước được cái nhìn "mọi mặt" từ bản vẽ ướt của Pollock.
Tên gọi của trường phái bắt nguồn từ sự hoà hợp giữa cảm xúc mãnh liệt,sự tiết xác của trường phái nghệ thuật Đức và óc thẩm mỹ chống sự bóng bẩy,hoa văn của những trường phái nghệ thuật trừu tượng phương Tây như chủ nghĩa tương lai,Bauhaus và trường phái Lập thể nhân tạo. Thêm nữa,nó chính là hình ảnh đại diện cho tính cách nổi loạn, vô chính phủ,cực kỳ đặc trưng và đôi khi thật hư vô. Trên thực tế, thuật ngữ này áp dụng cho bất kỳ 1 nhóm nghệ nhân nào làm việc tại New York và có phong cách sáng tác khác lạ, hoặc cho cả những tác phẩm vừa không trừu tượng vừa không biểu hiện. Trường phái "trừu tượng hành động" giàu năng lượng của Pollock khá khác biệt về mặt kỹ thuật lẫn mĩ học so với trường phái chuộng sự bóng bẩy của Willem de Kooning (qua chuỗi tác phẩm Women đầy bạo lực và kệch cỡm) và so với bảng màu trong tranh mảng màu của Mark Rothko (Rothko từ chối gọi pha cuối trong trào lưu tranh Mỹ này là trừu tượng biểu hiện và nó cũng không thường được gọi như thế).Tuy nhiên cả 3 danh hoạ đều được phân loại vào nhóm các nghệ nhân trừu tượng biểu hiện.
Chủ nghĩa trừu tượng biểu hiện mang nhiều điểm tương đồng về văn phong nghệ thuật với các hoạ sĩ Nga giai đoạn đầu thế kỷ 20,có thể kể đến Wassily Kandinsky. Mặc dù tính tự sinh hay những ấn tượng về sự tự sinh tạo nên cá tính cho những tác phẩm thuộc phái trừu tượng biểu hiện nhưng đa số các sáng tạo đều được phác thảo một cách kỹ càng nếu vẽ ở khổ lớn. Với những bậc thầy như Paul Klee, Wassily Kardinsky, Emma Kunz và sau đó là Rothk, Barnett Newman, John McLaughlin và Agne Martin, nghệ thuật trừu tượng, một cách hết sức rõ rang, là sự bao hàm của những ý tưởng liên quan đến tâm linh,sự vô ý thức và trí óc.
Câu hỏi Tại sao phong cách này lại chấp nhận như 1 xu hướng chi phối chủ đạo là chủ đề gây tranh cãi. Chủ nghĩa hiện thực xã hội của Mỹ là 1 xu hướng chính những năm 1930. Điều đó có được từ sự ảnh hưởng của cuộc Đại khủng hoảng và cũng bởi những thợ vẽ tranh tường Mexico như David Alfero Siquerios và Diego Rivera.Giới hạn về chính trị hậu Thế chiến II đã không còn chịu đựng được những cuộc phản đối quy mô xã hội của những hoạ sĩ này. Chủ nghĩa trừu tượng biểu hiện trỗi dậy trong suốt Thế chiến II và bắt đầu được phát hiện vào đầu những năm 40 trong những triển lãm tranh tại New York như triển lãm Nghệ thuật của thế kỷ. Kỷ nguyên Chống Cộng (McCarthy era hay McCarthyism) sau Chiến tranh Thế giới 2 là thời kỳ của cơ quan kiểm duyệt nghệ thuật, những bức tranh có chủ đề trừu tượng hay phi chính trị sẽ được xem là an toàn nhưng nếu chủ đề có liên quan đến chính trị, sự nhận định phần lớn dựa vào người trong cuộc.
Trong khi trào lưu này luôn gắn liền với hội hoạ với các hoạ sĩ như Arshile Gorky, Franz Kline,Clyffort Still, Hans Hofman, Willem de Kooning, Jackson Pollock và những tên tuổi khác,thì nó cũng tích hợp trong mình các khía cạnh nghệ thuật khác như tranh cắt dán có đại diện là Anne Ryan và điêu khắc có các thành viên quan trọng như David Smith cùng vợ Dorothy Dehner, Herbert Ferber, Isamu Noguchi, Ibram Lossaw, Theodore Roszak, Phillip Pavia, Mary Cellary, Richard Stankiewicz, Louise Bourgeois và Louise Nevelson.
== Nguồn gốc lịch sử ==
Trong suốt thời kỳ sơ khởi và Thế chiến 2, những nhà văn,nhà thơ,nghệ sĩ theo chủ nghĩa hiện đại cũng như các tay sưu tầm và con buôn có tiếng đã chạy khỏi châu Âu, và cũng để thoát khỏi cuộc công kích dữ dội của những kẻ theo chủ nghĩa quân phiệt Hitler tìm nơi trú ẩn an toàn. Nhiều người trong số không chọn cách trốn chạy đã tàn lụi. Những nhà sưu tầm và nghệ nhân đã ở lại New York thời chiến tranh đó là Hans Namuth, Yves Tanguy, Kay Sage, Max Ernst, Jimmy Ernst, Peggy Guggenheim, Leo Castelli, Marcel Duchamp, André Masson, Roberto Matta, André Breton, Marc Chagall, Jacques Lipchitz, Fernan Legér và Piet Mondrian. Một vài nghệ sĩ khác,đáng chú ý là Pablo Picasso, Henri Matisse, và Pierre Bonnard vẫn tồn tại được ở Pháp. Giai đoạn hậu chiến tranh đã dấy lên ở nhiều thủ đô của châu Âu 1 sự tái thiết khẩn cấp về kinh tế, cơ sở hạ tầng và tái lập nhóm chính trị. Lúc này New York đã thay thế được Paris và trở thành trung tâm nghệ thuật của thế giới. Một thế hệ nghệ sĩ mới của New York đã bắt đầu nổi lên và thống trị nền nghệ thuật thế giới với danh xưng Những hoạ sĩ phái Biểu hiện trừu tượng.
Những năm 1940 tại thành phố New York, chiến thắng trường phái Biểu hiện trừu tượng đã được báo trước,là chiến thắng của 1 trào lưu theo chủ nghĩa hiện đại cấu thành bởi sự kết hợp giữa những bài học được rút ra từ Henri Matisse, Pablo Picasso, Joan Miró,chủ nghĩa Lập thể, chủ nghĩa Siêu thực, chủ nghĩa Dã thú và chủ nghĩa tiền-Hiện đại thông qua những giáo viên như Hans Hofman và John D.Graham. Ta có thể thấy được sự ảnh hưởng của Graham trong các tác phẩm của Jackson Pollock, Arshile Gorky và Willem de Kooning.
== Liên kết ngoài ==
Scientific inquiry in modern art
American Abstract Artists |
độ sáng.txt | Độ sáng nói chung được hiểu là đại lượng đo độ trắng. Ở mỗi ngành, độ sáng được định nghĩa khác nhau phụ thuộc vào thứ mà người ta cần đo.
Trong thiên văn học, độ sáng đo tổng năng lượng phát ra từ một ngôi sao hoặc một thiên thể, trong đa số trường hợp đó là năng lượng phát ra ở bước sóng khả kiến (ánh sáng). Trong hệ SI nó có đơn vị joule trên giây, hay bằng watt. Một watt là một đơn vị năng lượng, giống như bóng đèn sợi đốt, ví dụ Mặt Trời có tổng năng lượng phát ra bằng &0000084200000000.0000003.846×1026 W. Các nhà thiên văn cũng sử dụng giá trị này làm đơn vị cơ sở trong đo lường, nó bằng 1 độ sáng Mặt Trời, và ký hiệu là
L
⊙
{\displaystyle L_{\odot }}
. Công suất phát xạ không phải là khái niệm hóa duy nhất cho độ trắng, do vậy người ta cũng sử dụng những khái nhiệm khác. Khái niệm hay gặp đó là cấp sao biểu kiến, đó là độ trắng nhận được từ một vật thể đến người quan sát trên Trái Đất ở bước sóng ánh sáng. Những khái niệm khác là cấp sao tuyệt đối, hay độ trắng nội tại của vật thể tại bước sóng khả kiến, và không phụ thuộc vào khoảng cách đến máy thu; trong khi đó phép đo bằng nhiệt lượng kế phát xạ (bolometer) lại đo tổng năng lượng phát ra ở mọi dải sóng điện từ, đặc biệt ở bước sóng hồng ngoại và milimét.
Lĩnh vực đo lường ánh sáng (photometry) sử dụng những định nghĩa khác, bao gồm độ chói (luminance) và độ rọi (illuminance). Trong khi đó, lĩnh vực đo lường bức xạ trong thiên văn (astronomical photometry), lại thực hiện đo thông lượng, hay cường độ của bức xạ điện từ phát ra từ thiên thể trên nhiều bước sóng và đo phổ của chúng.
Trong lĩnh vực đồ họa vi tính, khái niệm độ sáng lại khác hẳn. Theo đó người ta sử dụng khái niệm sáng nhẹ (lightness), hay giá trị hoặc tông màu, trong việc chọn hoặc phối màu sắc.
== Thiên văn học ==
Trong thiên văn học, độ sáng là lượng năng lượng bức xạ điện từ phát ra từ vật thể trong một đơn vị thời gian. Nó thường được đo theo hai dạng: trong miền bước sóng khả kiến và miền bolometric (tổng năng lượng toàn phần), vì độ sáng trong miền các bước sóng khác cũng dần được sử dụng nhiều do đã có nhiều thiết bị chính xác được phát triển để đo chúng. Thiết bị nhiệt lượng kế phát xạ (bolometer) dùng để đo bức xạ nhiệt mà nó hấp thụ trên toàn dải bước sóng điện từ. Khi không nói rõ, thường phép đo độ sáng áp dụng cho miền bước sóng khả kiến, với đơn vị trong hệ SI là watt, hoặc theo độ sáng Mặt Trời. Một ngôi sao cũng phát ra các hạt neutrino mang năng lượng, chúng chiếm khoảng 2% năng lượng phát ra từ Mặt Trời, đi cùng với gió Mặt Trời và đóng góp vào tổng độ sáng của Mặt Trời. Tuy có thể dùng thiết bị bolometer để đo độ sáng, chúng không thể cho độ chính xác ngay cả với độ sáng biểu kiến của một sao bởi vì hoặc là thiết bị không đủ nhạy trên toàn dải bước sóng điện từ hơặc là nhiều bước sóng bị khí quyển Trái Đất ngăn lại không thể truyền tới mặt đất. Trong thực hành, độ sáng bolometric thường đo trên những bước sóng nhất định và các nhà thực nghiệm tạo dựng lên mô hình phổ trên toàn dải bức xạ điện từ sao cho phù hợp nhất với dữ liệu đo. Trong một số trường hợp, quá trình ước lượng rất thiếu chính xác có khi chỉ đo được 1% tổng năng lượng phát ra, như trong trường hợp sao Wolf-Rayet nóng nếu chỉ quan trắc trên bước sóng hồng ngoại.
Độ sáng của ngôi sao có thể suy luận từ hai đặc trưng vật lý của nó: kích thước và nhiệt độ hữu hiệu. Kích thước của một ngôi sao thường biểu diễn theo bán kính của Mặt Trời,
R
⊙
{\displaystyle R_{\odot }}
, trong khi nhiệt độ hữu hiệu có đơn vị kelvin, nhưng cả hai đặc tính này không thể đo trực tiếp được:
Để đo bán kính của ngôi sao, các nhà thiên văn cần có hai tham số nữa: đó là đường kính góc của nó và khoảng cách từ Trái Đất đến ngôi sao, thông thường được tính qua phương pháp thị sai. Cả hai tham số có thể đo chính xác cao trong một số trường hợp, như các sao khổng lồ lạnh và sao có khí quyển mỏng có thể đo được thông qua phương pháp giao thoa vô tuyến VLBI. Tuy nhiên phương pháp thị sai chỉ có thể áp dụng cho những sao ở gần và đòi hỏi công nghệ tiên tiến.
Nhiệt độ hữu hiệu của sao là một giá trị đặc trưng cho nhiệt độ của bức xạ vật đen phù hợp với sao, mà không thể đo trực tiếp do khoảng cách lớn đến nó, nhưng có thể ước lượng thông qua quang phổ của ngôi sao.
Một cách khác để đo độ sáng của thiên thể đó là đo cấp sao biểu kiến và khoảng cách đến nó. Trong phương pháp này cần thêm các tham số nữa đó là mức độ làm tiêu tán ánh sáng do bụi và khí trong môi trường liên sao gây ra, mật độ không khí trong khí quyển Trái Đất, và mật độ vật chất của đĩa bụi tiền hành tinh bao quanh ngôi sao nếu có. Vì thế, một trong những thử thách lớn trong thiên văn học đó là xác định độ sáng của một thiên thể thông qua phép đo chính xác của những tham số này. Sự tiêu tán ánh sáng chỉ có thể đo trực tiếp nếu độ sáng thực và cấp sao biểu kiến đã biết, tuy thế các nhà thiên văn có thể vượt qua trở ngại này bằng cách ước lượng màu của ngôi sao thông qua ba dải đỏ, lục, lam, và sau đó áp dụng các mô hình về cầu trúc sao để tính ra nhiệt độ sao và độ tiêu tán ánh sáng từ môi trường xung quanh.
Trong hệ thống phân loại sao hiện tại, các sao được nhóm lại theo nhiệt độ bề mặt của nó, với những ngôi sao nóng và trẻ loại O có nhiệt độ vượt 30.000K trong khi các sao già loại M có nhiệt độ không lớn hơn 3.500 K. Sự thay đổi nhiệt độ lớn này giữa các sao cũng thể hiện tương ứng với độ sáng của chúng. Bởi vì độ sáng hay nhiệt độ phụ thuộc vào khối lượng của ngôi sao, và những sao khối lượng lớn phát sáng mạnh lại có thời gian tồn tại ngắn. Những sao có độ sáng tuyệt đối lớn nhất luôn luôn là sao trẻ, ít hơn vài triệu năm tuổi. Trong biểu đồ Hertzsprung–Russell, trục x biểu diễn nhiệt độ hay kiểu phổ trong khi trục y biểu diễn độ sáng hay cấp sao. Nhiều ngôi sao được phân vào dải chính với sao xanh loại 0 ở phía trên bên trái biểu đồ và sao lùn đỏ loại M nằm phía dưới bên phải. Những ngôi sao như Deneb và Betelgeuse tương ứng nằm phía trên và bên phải dải chính, và sáng hơn hoặc lạnh hơn so với những sao thuộc dải chính. Nếu các sao có cùng nhiệt độ nhưng sáng hơn hoặc lạnh hơn với cùng một độ sáng, điều này cho thấy chúng là những ngôi sao có đường kính lớn hơn các sao thuộc dải chính và các nhà thiên văn gọi chúng là những sao khổng lồ hoặc siêu khổng lồ.
Những sao khổng lồ xanh và trắng là những sao có độ sáng lớn. Ví dụ, Deneb có độ sáng xấp xỉ 200.000
L
⊙
{\displaystyle L_{\odot }}
, kiểu phổ loại A2, và nhiệt độ hữu hiệu xấp xỉ 8.500 K, và người ta tính ra bán kính của nó xấp xỉ 203
R
⊙
{\displaystyle R_{\odot }}
. Đối với sao siêu khổng lồ đỏ Betelgeuse với độ sáng xung quanh 100.000
L
⊙
{\displaystyle L_{\odot }}
, kiểu phổ M2, và nhiệt độ hữu hiệu 3.500 K, và bán kính tính ra là 1.000
R
⊙
{\displaystyle R_{\odot }}
. Những sao siêu khổng lồ đỏ thuộc về lớp sao có bán kính lớn nhất, nhưng những sao có độ sáng lớn nhất lại có đường kính nhỏ hơn và nhiệt độ lớn hơn, với nhiệt độ lên tới 50.000 K và sáng tới vài triệu
L
⊙
{\displaystyle L_{\odot }}
, và giá trị bán kính tính ra khoảng vài chục lần
R
⊙
{\displaystyle R_{\odot }}
. Ví dụ như sao R136a1, nhiệt độ bề mặt của nó trên 50.000 K và độ sáng hơn 8.000.000
L
⊙
{\displaystyle L_{\odot }}
(chủ yếu trong bước sóng UV), nhưng bán kính của nó chỉ bằng 35
R
⊙
{\displaystyle R_{\odot }}
.
=== Công thức tính độ sáng ===
Theo định luật Stefan–Boltzmann áp dụng cho vật đen có độ sáng là:
L= σAT4.
với A là diện tích và σ là hằng số Stefan–Boltzmann bằng 5,67010 x 10−8 W m−2 K−4 và T là nhiệt độ.
Giả sử có một nguồn sáng điểm với độ sáng
L
{\displaystyle L}
phát đều theo mọi hướng. Một mặt cầu tưởng tượng có tâm trùng với nguồn sáng và do vậy toàn bộ bề mặt bên trong hình cầu được chiếu sáng. Khi bán kính hình cầu tăng lên, diện tích mặt cầu tăng theo, do vậy độ sáng tại bề mặt được chiếu giảm dần theo khoảng cách.
Mật độ thông lượng F chiếu lên bề mặt có diện tích A là:
F
=
L
A
{\displaystyle F={\frac {L}{A}}}
Mặt cầu có bán kính r tương ứng với diện tích
A
=
4
π
r
2
{\displaystyle A=4\pi r^{2}}
, do vậy đối với các sao và những nguồn sáng khác:
F
=
L
4
π
r
2
{\displaystyle F={\frac {L}{4\pi r^{2}}}\,}
ở đây
r
{\displaystyle r}
khoảng cách từ người quan sát đến nguồn sáng.
Người ta chứng minh được rằng độ sáng của một ngôi sao
L
{\displaystyle L}
(giả sử ngôi sao đó là vật đen, mà xấp xỉ khá phù hợp) liên hệ với nhiệt độ hữu hiệu
T
{\displaystyle T}
và bán kính
R
{\displaystyle R}
của ngôi sao theo phương trình:
L
=
4
π
R
2
σ
T
4
{\displaystyle L=4\pi R^{2}\sigma T^{4}\,}
với
σ là hằng số Stefan–Boltzmann 5,67×10−8 W•m−2•K−4.
Chia cho độ sáng của Mặt Trời
L
⊙
{\displaystyle L_{\odot }}
và triệt tiêu hằng số, thu được liên hệ:
L
L
⊙
=
(
R
R
⊙
)
2
(
T
T
⊙
)
4
{\displaystyle {\frac {L}{L_{\odot }}}={\left({\frac {R}{R_{\odot }}}\right)}^{2}{\left({\frac {T}{T_{\odot }}}\right)}^{4}}
Đối với các sao thuộc dải chính, độ sáng liên hệ với khối lượng của sao tuân theo:
L
L
⊙
≈
(
M
M
⊙
)
3.9
{\displaystyle {\frac {L}{L_{\odot }}}\approx {\left({\frac {M}{M_{\odot }}}\right)}^{3.9}}
=== Công thức tính cấp sao ===
==== Biểu kiến ====
Cấp sao là thang đo logarit của độ trắng biểu kiến. Cấp sao biểu kiến là độ sáng của sao hay thiên thể quan sát từ Trái Đất, và cấp sao tuyệt đối là độ sáng biểu kiến của nó ở khoảng cách 10 parsec. Khi có giá trị độ sáng theo bước sóng khả kiến (không phải là độ sáng toàn phần), có thể tính ra cấp sao biểu kiến của sao tại một khoảng cách cho trước (bỏ quan sự cản trở của bụi sao):
m
s
t
a
r
=
m
S
u
n
−
2.5
log
10
(
L
s
a
o
L
⊙
⋅
(
d
S
u
n
d
s
a
o
)
2
)
{\displaystyle m_{\rm {star}}=m_{\rm {Sun}}-2.5\log _{10}\left({L_{\rm {sao}} \over L_{\odot }}\cdot \left({\frac {d_{\rm {Sun}}}{d_{\rm {sao}}}}\right)^{2}\right)}
với
msao là cấp sao biểu kiến của ngôi sao (là một số không có đơn vị)
mSun là cấp sao biểu kiến của Mặt Trời
Lsao là độ sáng trong bước sóng khả kiến của sao
L
⊙
{\displaystyle L_{\odot }}
là độ sáng trong bước sóng khả kiến của Mặt Trời
dsao là khoảng cách đến ngôi sao
dSun là khoảng cách đến Mặt Trời
Đơn giản hóa, với mSun = −26,73 và dSun = 1,58 × 10−5 ly:
msao = − 2,72 − 2,5 · log(Lstar/dsao2).
==== Cấp sáng theo nhiệt lượng bức xạ kế (Bolometric) ====
Hiệu giữa hai cấp bolo được liên hệ với tỉ số độ sáng theo:
M
b
o
l
s
a
o
−
M
b
o
l
S
u
n
=
−
2.5
log
10
L
s
a
o
L
⊙
{\displaystyle M_{bol_{\rm {sao}}}-M_{bol_{\rm {Sun}}}=-2.5\log _{10}{\frac {L_{\rm {sao}}}{L_{\odot }}}}
lấy lũy thừa:
L
s
a
o
L
⊙
=
10
(
(
M
b
o
l
S
u
n
−
M
b
o
l
s
a
o
)
/
2.5
)
{\displaystyle {\frac {L_{\rm {sao}}}{L_{\odot }}}=10^{((Mbol_{\rm {Sun}}-Mbol_{\rm {sao}})/2.5)}}
với
L
⊙
{\displaystyle L_{\odot }}
là độ sáng bolo của Mặt Trời
L
s
a
o
{\displaystyle L_{\rm {sao}}}
là độ sáng bolo của sao
M
b
o
l
S
u
n
{\displaystyle M_{bol_{\rm {Sun}}}}
là cấp bolo của Mặt Trời
M
b
o
l
s
t
a
r
{\displaystyle M_{bol_{\rm {star}}}}
là cấp bolo của sao.
== Đo lường ánh sáng ==
== Đồ họa vi tính ==
== Xem thêm ==
Độ trắng
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
giê-su.txt | Giêsu (có thể viết khác là Giê-su, Giê-xu, Yêsu, Jesus, Gia-tô, Da-tô), cũng được gọi là Giêsu Kitô, Jesus Christ, hay Gia-tô Cơ-đốc, là người sáng lập ra Kitô giáo. Giêsu là người Do Thái có tên là Yehoshua (יהושע - có nghĩa là "Thiên Chúa là Đấng Cứu Độ" trong tiếng Hebrew), thường được gọi vắn tắt là Yeshua (ישוע). Đối với người đương thời, Giêsu còn được biết dưới tên Giêsu thành Nazareth, hoặc Giêsu con ông Giuse. Từ "Kitô" (tiếng Latinh: Christus; tiếng Hy Lạp: Χριστός Khristós hoặc từ "Cơ Đốc", chữ Nho: 基督 Ji-du) là một danh hiệu của Giêsu, có nghĩa là "người được xức dầu", nhằm chỉ ông là một vị lãnh đạo, chính trị cũng như tôn giáo, được chọn bởi Thiên Chúa. Những gì chúng ta biết được về Giêsu là do được ghi chép trong Thánh Kinh Tân Ước, đặc biệt là trong bốn sách Phúc Âm.
Những nguồn thông tin chính về cuộc đời và những lời dạy của Giêsu là bốn sách Phúc Âm quy điển, đặc biệt là trong Phúc âm Nhất lãm, mặc dù nhiều học giả cho rằng những văn bản như Phúc âm Tôma và Phúc âm người Hebrews cũng xác đáng.
Trong Hồi giáo, Giêsu (tiếng Ả Rập: عيسى, chuyển tự là Isa) được xem là một nhà tiên tri quan trọng của Thiên Chúa, người mang lại Injil (Phúc âm), và là người làm những phép lạ. Hồi giáo cũng xưng nhận Giêsu là Đấng Masih (Messiah), nhưng họ không dạy rằng Giêsu mang đặc tính thần linh. Hồi giáo dạy rằng Giêsu đã lên thiên đường cả linh hồn và thể xác nhưng không trải qua việc đóng đinh vào thập tự và phục sinh, khác với niềm tin truyền thống của Kitô giáo về cái chết và sự phục sinh của Giêsu.
== Tên và danh hiệu ==
Người Do Thái đương thời thường thêm tên người cha hoặc tên quê quán vào tên gọi cá nhân. Như vậy, trong Tân Ước, Giêsu cũng được gọi là "Giêsu thành Nazareth" (Matthew 26:71), "con ông Giuse" (Luca 4:22) hoặc đầy đủ nhất là "Giêsu con ông Giuse thành Nazareth" (John 1:45). Tuy nhiên, trong Máccô 6:3 thì lại gọi là "con bà Maria, và anh em của các ông Giacôbê, Giôxết, Giuđa và Simôn". Tên Giêsu ngày nay trong các ngôn ngữ hiện đại có nguồn gốc từ Iesus trong tiếng Latinh, đây là một hình thức chuyển tự của chữ Ἰησοῦς (Iesous) từ tiếng Hi Lạp. Hình thức thể hiện của tiếng Hy Lạp lại bắt nguồn từ chữ ישוע (Yeshua) trong tiếng Aramaic, nhưng tựu chung có nguồn gốc từ chữ יהושע (Yehoshua) của tiếng Do Thái. Tên Yeshua dường như đã được sử dụng trong xứ Judea tại thời điểm Giêsu ra đời. Theo giải thích của Tân Ước, tên gọi này nghĩa là "Giavê là sự cứu rỗi".
Các tín đồ sơ khai đã thường gọi là "Chúa Giêsu Kitô". Chữ "Kitô" hoặc "Cơ Đốc" (tiếng Anh: Christ) không phải là tên nhưng là một danh hiệu. Trong tiếng Hy Lạp Khristos (Χριστός), có nghĩa là "người được xức dầu", được dịch từ tiếng Hebrew Messiah, để ám chỉ vị lãnh đạo được Thiên Chúa sai đến để giải cứu dân Chúa, nhưng trong ngôn ngữ hiện đại được hiểu là "Đấng cứu thế". Chữ Kitô hữu được chỉ những người tin và theo Chúa Kitô.
Theo ký thuật của các sách Phúc Âm, Giêsu xưng mình là Con người (the Son of man - tức "Con của loài người", "Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con người không có chỗ tựa đầu" - Mt 8:20). Danh xưng này thường được cho là để khẳng định Giêsu là một con người trọn vẹn cũng như Giêsu được gọi là Con Thiên Chúa (the Son of God, "Quả thật, người này là Con Thiên Chúa" - Mt 27:54) để khẳng định Giêsu đồng thời cũng là Thiên Chúa cách trọn vẹn..
Ngoài ra, Giêsu còn có một số danh xưng khác như "Đấng Tiên tri", "Chúa". Trong Phúc âm John chương 14 câu 6 chép: "Đức Chúa Giêsu phán rằng: Thầy là đường, là sự thật và là sự sống, không ai đến được với Chúa Cha mà không qua Thầy" (John 14:6). Theo đức tin Kitô giáo, Giê-su là con Đức Chúa Trời, và được sinh ra trên Trái Đất và chịu đóng đinh, để cứu chuộc nhân loại khỏi tội lỗi, nên Giê-su còn được xưng tụng là Đấng Cứu Thế, Đấng Cứu Rỗi, Cứu Chúa -"Nhưng Thiên Chúa tỏ lòng yêu thương của Ngài đối với chúng ta, khi chúng ta còn là người có tội, thì Chúa Cơ Đốc vì chúng ta chịu chết". (Roma 5:8).
== Niên đại ==
Hầu hết các học giả đồng ý rằng Giêsu là một người Do Thái vùng Galilee, sinh vào khoảng đầu thế kỷ thứ nhất và qua đời trong khoảng từ năm 30 đến 36 SCN tại xứ Judea, ông chỉ sống và hoạt động tại Galilê và Giuđêa chứ không ở nơi khác. Các sách Phúc Âm chỉ tập trung vào quãng đời ba năm cuối khi Giêsu sống dưới trần gian, đặc biệt là tuần lễ cuối cùng trước khi bị đóng đinh vào thập giá, nhưng chúng cũng cung cấp một số manh mối liên quan đến năm sinh của Chúa Giêsu. Đoạn Mátthêu 2:1 liên kết sự giáng sinh của Chúa Giêsu với sự cai trị của Herod Đại đế - người đã chết vào khoảng năm thứ 4 trước Công nguyên, và đoạn Luca 1:5 viết rằng Herod đã trị vì trước khi Chúa Giêsu giáng sinh, ngoài ra Phúc Âm này còn đề cập đến cuộc điều tra dân số của chính quyền La Mã diễn ra mười năm sau đó. Luke 3:1-2 và 3:23 viết rằng Chúa Giêsu bắt đầu sứ vụ khi ông khoảng ba mươi tuổi, và đó là năm thứ 15 của triều đại Tiberius triều đại (khoảng năm 28 hoặc 29 Công Nguyên). Qua những chi tiết này và bằng các phương pháp phân tích khác nhau, hầu hết các học giả đi đến đồng thuận rằng Chúa Giêsu sinh trong khoảng từ năm thứ 6 đến 4 trước Công nguyên,
Về thời điểm qua đời, tức là sự kiện ông bị đóng đinh trên cây thập giá, hầu hết các học giả đồng ý rằng sự kiện này xảy ra trong khoảng từ năm 30 đến 33 Công nguyên. Các sách Phúc Âm nói rằng sự kiện này xảy ra trong thành xứ Judea mà Pilate là tổng trấn thuộc quyền La Mã khoảng năm 26-36. Người ta tin rằng ngày mà Phaolô theo Kitô giáo (ước tính khoảng năm 33-36) có mối liên hệ nào đó đến cho ngày Chúa Giêsu bị đóng đinh qua việc phân tích thư của Thánh Phaolô và Sách Công vụ Tông đồ. Các nhà thiên văn từ thời Isaac Newton đã cố gắng ước lượng chính xác ngày Chúa Giêsu bị đóng đinh bằng cách phân tích chuyển động của Mặt Trăng và tính theo lịch sử của lễ Vượt Qua theo lịch của người Do Thái. Và ngày giả thiết được chấp nhận rộng rãi nhất theo phương pháp này là ngày 7 tháng 4, năm 30 AD; và ngày 3 tháng 4 năm 33 (kể cả lịch Julian).
== Cuộc đời và tư tưởng theo Kinh thánh Tân Ước ==
=== Theo các sách phúc âm kinh điển ===
Trong Kinh thánh Tân Ước, Cuộc đời và tư tưởng của chúa Giêsu được giao giảng lại theo các sách Phúc Âm (bao gồm: Phúc Âm Mátthêu, Phúc Âm Máccô, Phúc Âm Luca và Phúc Âm Gioan), ngoài kinh thánh Tân Ước, cuộc đời chúa Giê-su còn có trong thư tín của Thánh Phao Lô được viết trước sách phúc âm nhiều thập kỷ, bao gồm nhiều chi tiết quan trọng như "Bữa ăn tối cuối cùng". Trong Sách Công vụ Tông đồ có đề cập đến các sứ mệnh và các tiên đoán về chúa Giêsu bởi Gioan Tẩy Giả.
=== Gia phả và Chúa giáng sinh ===
Giê-su là một người Do Thái tôn trọng luật pháp Moses (kinh Torah), là nhà thuyết giáo và người chữa bệnh bằng phép mầu, cũng là người thường bất đồng với giáo quyền Do Thái, và cuối cùng, là người bị đóng đinh trên thập tự giá dưới phán quyết của chính quyền Đế quốc La Mã theo ý giáo quyền Do Thái.
Theo đó, Giêsu sinh tại Belem (gần Jerusalem). Mẹ của Giêsu, Maria (Mary), là một phụ nữ đồng trinh đã mang thai bởi quyền năng siêu nhiên của Chúa Thánh Linh. Giuse (Joseph), chồng của Maria, chỉ được nhắc đến trong thời thơ ấu của Giêsu, dẫn đến những suy đoán rằng ông qua đời trước khi Giêsu bắt đầu đi giảng dạy. Theo các sách Phúc Âm, khi Giêsu sinh ra, các mục đồng được thiên sứ báo tin đã đến thờ lạy và mấy nhà thông thái (còn gọi là mấy nhà chiêm tinh hay mấy đạo sĩ, hoặc ba vua) từ phương Đông xa xôi, được dẫn dắt bởi một ngôi sao lạ, đã tìm đến để tôn thờ Giêsu.
Phúc âm Mark 6:3 ký thuật rằng "Giêsu là con của Maria, anh của Giacôbê, Giuse, Giuđa và Simon". Josephus, sử gia Do Thái, và Eusebius, sử gia Kitô giáo, có nhắc đến Người Công chính như là em ruột của Giêsu. Tuy nhiên, Hieronymus cho rằng Giacôbê chỉ là em họ của Giêsu. Cách giải thích này đặt nền tảng cho truyền thống Công giáo Rôma và Chính Thống giáo Đông phương tin rằng Maria đồng trinh trọn đời.
=== Thời niên thiếu ===
Giêsu trải qua thời niên thiếu tại làng Nazareth thuộc xứ Galilee. Chỉ có một sự kiện xảy ra trong thời gian này được ghi lại là khi cậu bé Giêsu theo gia đình lên Jerusalem trong một chuyến hành hương. Bị thất lạc khỏi cha mẹ, cuối cùng cậu bé Giêsu 12 tuổi được tìm thấy trong Đền thờ Jerusalem, đang tranh luận với các học giả Do Thái giáo.
=== Bí tích Thanh tẩy ===
Ngay sau khi chịu lễ Thanh Tẩy (lễ rửa tội) bởi Gioan Baotixita, Giêsu bắt đầu đi rao giảng, khi ấy khoảng ba mươi tuổi. Theo Phúc Âm Lu-ca, Giêsu và Gioan Baotixita là anh em họ vì Maria và Elizabeth, mẹ của Gioan, là hai chị em họ.
=== Sứ Mệnh và Giáo Vụ của Chúa Giêsu ===
Theo Kinh Thánh, Giêsu đã cùng các môn đồ đi khắp xứ Galilea để giảng dạy và chữa bệnh. Cung cách giảng dạy mang thẩm quyền, uy lực cùng với kỹ năng diễn thuyết điêu luyện, Giêsu sử dụng các dụ ngôn để giảng dạy quan điểm về tình yêu thương nên đã thu hút rất nhiều người. Họ tụ họp thành đám đông và tìm đến bất cứ nơi nào Giêsu có mặt. Đôi khi đám đông trở nên mất trật tự và ông buộc phải ngồi trên thuyền mà giảng dạy. Giêsu cũng tìm đến và thuyết giáo tại các hội đường Do Thái giáo (synagogue).
Giêsu áp dụng các phương pháp khác nhau khi giảng dạy, phép nghịch lý, phép ẩn dụ và các truyện dụ ngôn. Ông thường tập trung vào Nước Trời (hay Thiên Quốc). Nổi tiếng nhất là Bài giảng trên núi, trong đó đề cập đến Tám Mối Phúc thật (Beatitudes). Trong số những dụ ngôn của Giêsu, được biết đến nhiều nhất là hai câu chuyện: Người Samaria nhân lành và Người con trai hoang đàng. Giêsu có nhiều môn đồ, thân cận nhất là mười hai sứ đồ (hoặc tông đồ), Phêrô (Peter) được Công giáo Rôma cho là sứ đồ trưởng. Theo Tân Ước, Giêsu làm nhiều phép lạ như chữa bệnh, đuổi tà ma và khiến một người đàn ông tên là Lazarô sống lại khi đã chết.
Giới lãnh đạo Do Thái giáo bao gồm các nhóm quyền lực đối nghịch nhau như nhóm Sadducee và nhóm Pharisêu (Pharisee) thường bất đồng với Giêsu. Ông vẫn thường vạch trần tính chuộng hình thức cũng như tinh thần đạo đức giả của người Pharisêu. Nhiều người xem Giêsu như một nhà cải cách xã hội, những người khác tỏ ra nhiệt tình vì tin rằng ông là vị vua đến để giải phóng dân Do Thái khỏi ách thống trị của Đế quốc La Mã, trong khi giới cầm quyền xem Giêsu như một thế lực mới đang đe dọa những định chế tôn giáo và chính trị đương thời. Nhiều người tin nhận Giêsu là "Đấng Cứu Tinh" (Messie, Messiah) đến để cứu chuộc nhân loại.
=== Bị bắt và bị xét xử ===
Giêsu cùng các môn đồ lên thành Jerusalem vào dịp Lễ Vượt Qua (Passover); ông vào Đền thờ Jerusalem, đánh đuổi những người buôn bán và những kẻ đổi tiền, lật đổ bàn của họ và quở trách họ rằng: "Nhà ta được gọi là nhà cầu nguyện nhưng các ngươi biến thành hang ổ của bọn trộm cướp". Sau đó, Giêsu bị bắt giữ theo lệnh của Toà Công luận (Sanhedrin) bởi viên Thượng tế Joseph Caiaphas. Trong bóng đêm của khu vườn Getsemani ở ngoại ô Jerusalem, lính La Mã nhận diện Giêsu nhờ cái hôn của Judas Iscariot, một môn đồ đã phản ông để nhận được tiền.
Tòa công luận cáo buộc Giêsu tội phạm thượng và giao ông cho các quan chức Đế quốc La Mã để xin y án tử hình, không phải vì tội phạm thượng nhưng vì cáo buộc xúi giục nổi loạn. Dưới áp lực của giới lãnh đạo tôn giáo Do Thái, Tổng đốc Pontius Pilatus (Philatô) miễn cưỡng ra lệnh đóng đinh Giêsu. Tuy nhiên, theo các sách Phúc Âm, một tấm bảng có hàng chữ viết tắt INRI (của câu: "Giêsu người Nazareth, vua dân Do Thái") được treo trên thập tự giá theo lệnh của Pilate.
Sau khi Giêsu chết, Giuse người Arimathea đến gặp Pilate và xin được phép chôn với sự chứng kiến của Maria, Maria Magdalena và những phụ nữ khác.
=== Phục sinh và thăng thiên ===
Các Kitô hữu tin rằng Chúa Giêsu sống lại vào ngày thứ ba sau khi chết trên thập tự giá. Sự kiện này được đề cập đến theo thuật ngữ Kitô giáo là sự Phục sinh của Chúa Giêsu, được cử hành hằng năm vào ngày Lễ Phục sinh.
Maria Madalena và Maria, mẹ của Giacobê, và Salome khi đến thăm mộ với thuốc thơm để xức xác ông (theo tục lệ thời ấy) thì chỉ thấy ngôi mộ trống mà trước đó họ đã an táng ông trong đó [Mác-cô 16:1]. Phúc Âm Gioan (20:12, 20:13, 20:14) thuật rằng khi Maria Madalena đến bên ngôi mộ trống thì thấy hai thiên sứ mặc áo trắng. Hai thiên sứ hỏi: "Hỡi người đàn bà kia, sao ngươi khóc? Người thưa rằng: Vì người ta đă dời Chúa tôi đi, không biết để Ngài ở đâu". Vừa nói xong người đàn bà quay lại, thấy Đức Chúa Jêsus tại đó; nhưng chẳng biết ấy là Đức Chúa Giêsu. Các sách Phúc Âm và Công vụ đều ghi nhận rằng Giêsu đã gặp lại các môn đệ tại các nơi chốn khác nhau trong suốt bốn mươi ngày trước khi về trời. Phúc âm Mác-cô (16:20) chép, về phần các môn đồ, thì họ ra đi giảng đạo khắp mọi nơi, Chúa cùng đi với các môn đồ, và lấy các phép lạ cặp theo lời giảng mà làm cho vững đạo. Và đức Chúa Giêsu luôn ở cùng các môn đồ của Ngài cho đến ngày tận thế [Mat-tê-ô 28:20].
Hầu hết Kitô hữu chấp nhận câu chuyện phục sinh, như được ký thuật trong Tân Ước, là sự kiện lịch sử và xem đây là tâm điểm cho Đức tin Kitô giáo của họ mặc dù theo quan điểm của một số tín hữu thuộc trào lưu tự do (liberalism), đây chỉ là câu chuyện có tính ẩn dụ. Tuy nhiên lịch sử chứng minh đây là niềm tin bất di dịch của Kitô giáo. Tất cả Kitô hữu tin rằng Giêsu đã làm nhiều dấu kỳ phép lạ và các tông đồ được ban cho quyền lực siêu nhiên bởi ơn Chúa Thánh Thần để chữa lành bệnh tật cho nhiều người và nói được nhiều thứ tiếng khác nhau sau khi Chúa Giêsu về trời.
== Bối cảnh: văn hóa và lịch sử ==
Thế giới đương thời mà Giêsu sống luôn biến động, được đánh dấu bởi những bế tắc nối tiếp nhau cả về văn hoá và chính trị. Về văn hoá, vì người Do Thái phải vật lộn với nền triết học và các giá trị của văn minh Hy Lạp và với sự mâu thuẫn nội tại của kinh Torah, vì trong khi kinh Torah mặc khải các chân lý có giá trị cho toàn thể nhân loại thì các luật lệ của nó chỉ áp dụng riêng cho người Do Thái. Tình thế này dẫn dắt họ đến những cách giải kinh mới chịu ảnh hưởng của tư tưởng Hy Lạp và nhằm đáp ứng quyền lợi của người không thuộc chủng tộc Do Thái đã gia nhập Do Thái giáo.
Vào thời điểm Giêsu sinh ra, lãnh thổ Israel thuộc Đế quốc La Mã, nhưng đặt dưới quyền cai trị của Herôđê Đại Đế. Vào năm 4, Hoàng đế La Mã Augustus phế truất Herod Archelaus, con của Herôđê Đại Đế và đặt các xứ Judea, Samaria và Idumea dưới quyền cai trị trực tiếp của chính quyền La Mã, được giám sát bởi một quan tổng đốc, người này có quyền bổ nhiệm chức Thượng tế của Do Thái giáo. Tình trạng này kéo dài cho đến năm 64. Xứ Galilea, nơi Giêsu lớn lên, vẫn dưới quyền cai trị của Herod Antipas (một người con khác của Herôđê Đại Đế). Khi ấy Nazareth là một làng quê nhỏ bé với vài trăm cư dân, không có hội đường Do Thái giáo (synagogue), cũng không có cơ sở công cộng nào. Không có vàng, bạc hay sản phẩm nhập khẩu được tìm thấy ở đây trong cuộc khai quật khảo cổ.
Vài phe nhóm tranh giành ảnh hưởng với nhau trong cộng đồng Do Thái như nhóm Saducee, có quan hệ mật thiết với giới tư tế và Đền thờ, trong khi nhóm Pharisêu có nhiều ảnh hưởng trong vòng các học giả, giáo sư và lãnh đạo các hội đường. Các nhóm này chống đối sự chiếm đóng của Đế quốc La mã nhưng vào thời Giêsu họ vẫn cố kềm chế để không có phản ứng công khai nào.
Nhiều người kỳ vọng vào sự xuất hiện của một vị Cứu Tinh (Messiah), hậu duệ của vua David để giải phóng họ khỏi sự cai trị của người La Mã. Theo đức tin Do Thái, lịch sử được điều khiển bởi Thiên Chúa, có nghĩa là sự chiếm đóng của người La Mã là một phần trong hoạch định của Ngài. Vì vậy đế quyền La Mã cần được thay thế bởi một vị vua Do Thái nhờ sự can thiệp siêu nhiên. Những người thuộc nhóm quá khích tin rằng chẳng bao lâu Vương quốc Do Thái sẽ được phục hồi và họ chuẩn bị các phương tiện để chống người La Mã. Các phản ứng của người La Mã cuối cùng dẫn đến sự phá đổ Đền thờ và sự suy vong của các nhóm kể trên.
== Di sản của Giêsu ==
Theo hầu hết các giải thích Kinh Thánh của Kitô giáo, các chủ đề cơ bản của những lời răn dạy của Giêsu là sự hối cải, tình yêu vô điều kiện, tha thứ tội lỗi và khoan dung và về Thiên đường. Khởi đầu như một giáo phái nhỏ của người Do Thái, nó đã phát triển và trở thành một tôn giáo riêng biệt so với đạo Do Thái vài thập kỷ sau cái chết của Giêsu. Kitô giáo đã lan rộng ra khắp đế chế La Mã dưới dạng được biết đến qua Tín điều Nicea và trở thành quốc giáo dưới thời Theodosius I. Qua hàng thế kỷ, nó lan rộng đến hầu hết châu Âu và trên toàn thế giới. C. S. Lewis và Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã bảo vệ niềm tin vào Chúa Giêsu trước những sự chỉ trích mang tính lịch sử.
== Nhận định từ một số tôn giáo ==
Hầu hết Kitô hữu tin rằng, Giêsu là Thiên Chúa, là Đấng Messiah mà sự xuất hiện đã được tiên báo trong Cựu Ước. Họ tin rằng Giêsu là Thiên Chúa hóa thân thành con người, là Ngôi Hai trong Ba Ngôi; rằng Giêsu nhập thể bởi quyền phép Chúa Thánh Linh, xuống thế gian để cứu nhân loại khỏi tội lỗi và sự chết bởi máu của Giêsu đã đổ ra khi bị đóng đinh trên thập tự giá như là sinh tế chuộc tội cho loài người. Họ cũng tin rằng Giêsu đã sống lại từ cõi chết và sau đó trở lại Thiên Đàng.
Khác với đức tin của người Kitô giáo, tín đồ Hồi giáo tin rằng, Giêsu là một trong những nhà tiên tri (ngôn sứ) đáng được tôn trọng, được Thiên Chúa sai đến và là Đấng Messiah; nhưng họ không tin Giêsu là "Con Thiên Chúa". Họ cũng không tin về sự chết và sự phục sinh của Giêsu, xem đó chỉ là sự hóa phép của Thiên Chúa dành cho tiên tri Giêsu để đánh lừa người đương thời. Sau đó, Giêsu về trời cả hồn lẫn xác.
Do Thái giáo thì cực lực phản đối cả hai niềm tin của hai tôn giáo trên. Họ không xem Giêsu là Thiên Chúa xuống thế làm người cũng không nhận đó là nhà tiên tri, thậm chí coi đó là nhà tiên tri giả hay kẻ xúc phạm đến Thiên Chúa của họ. Họ cho rằng, kể từ sau sự sụp đổ lần thứ hai của Đền thờ Jerusalem, không có một tiên tri nào xuất hiện thêm nữa. Cho đến tận bây giờ, họ vẫn đang hy vọng có một Đấng Messiah từ trời xuống.
Phật giáo hầu như không đưa ra nhận định về vai trò của Giêsu trong tôn giáo họ. Đối với họ, dựa theo lịch sử, Giêsu chỉ là một con người. Tuy nhiên, một số tín đồ thuộc một số phái cho rằng, với những đức tính hiển nhiên của Giêsu, chắc chắn sau đó Giêsu cũng được sinh vào cõi trời dựa theo luật nhân quả. Do đó, những người tu theo Phật giáo cấp tiến, nhất là Tịnh độ tông, có thể tôn kính Giêsu như một vị A-la-hán hay Bồ tát.
Một số Phật tử, trong đó có Tenzin Gyatso, Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 xem Giêsu như một vị Bồ tát, người cống hiến đời mình cho hạnh phúc của nhân loại. Nga Sơn Thiều Thạc ở thế kỷ 14 của Tào Động tông ngụ ý rằng những lời dạy của Giêsu trong Sách Phúc Âm do một người đã được giải thoát viết.
Một người Nhật theo chủ nghĩa vô chính phủ, Kōtoku Shūsui có viết tác phẩm Kirisuto Massatsuron(基督抹殺論, Cơ Đốc Mạt Sát Luận). Trong tác phẩm này, Shūsui cho rằng Chúa Giêsu chỉ là một nhân vật thần thoại và không có thực..
Vì có vai trò đặc biệt trong một số tôn giáo này, Giêsu được nhìn nhận là một trong những nhân vật quan trọng nhất và có ảnh hưởng sâu rộng nhất trong lịch sử nhân loại.
== Xem thêm ==
Cuộc đời Chúa Giê-su theo Tân Ước
Kitô giáo
== Ghi chú ==
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Complete Sayings of Jesus Christ In Parallel Latin & English — The Complete Christ Sayings
Jesus Christ Catholic Encyclopedia article
Christian Foundations: Jesus articles from a Protestant perspective
The Christ of India A Hindu perspective on Jesus
An Islamic perspective on Jesus
Ahmadiyya views on Jesus
Jesus Christ, the Son of God articles from a Mormon perspective
BiblicalStudies.org.uk Offers an extensive bibliography plus numerous full-text articles.
Christ, the Messenger— Swami Vivekananda
Overview of the Life of Jesus A summary of New Testament accounts.
From Jesus to Christ — A Frontline documentary on Jesus and early Christianity.
The Jewish Roman World of Jesus
The Jesus Puzzle — Earl Doherty's website. |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.