filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
calais.txt
Calais là tỉnh lỵ của tỉnh Pas-de-Calais, thuộc vùng hành chính Nord-Pas-de-Calais của nước Pháp, có dân số là 77.333 người (thời điểm 1999). == Các thành phố kết nghĩa == Duisburg (Đức) == Những người con của thành phố == Gerard Debreu, Giải thưởng Nobel về kinh tế Ida Gotkovsky, nhà soạn nhạc, nữ nghệ sĩ dương cầm Didier Lockwood, nhà soạn nhạc Yvonne Vendroux, vợ của Charles de Gaulle == Tham khảo ==
trang phục việt nam.txt
nhỏ|200px|Áo dài ngũ thân Trang phục Việt Nam, hay Y phục Việt Nam, hay Phục sức Việt Nam là tên gọi chung cho lối mặc quần áo của người Việt Nam. == Lịch sử == === Quần áo === Trước thời Bắc thuộc thì có sách ghi người Việt mặc áo cài bên trái, nhưng hình dạng thì không rõ. Kể từ thời tự chủ thế kỷ thứ 10 trở đi thì áo người Việt đại thể có ba loại căn cứ theo cách cắt cổ áo: Áo giao lãnh, phía trước cổ là vạt bên trái buộc chéo sang hông bên phải; Áo trực lĩnh, phía trước cổ để buông thõng thành hai vạt song song; Áo viên lĩnh, hay bàn lĩnh, cổ áo cắt tròn ép sát vòng cổ, cài bên phải. Ba loại áo này cùng có mặt nhưng khác nhau ở mức phổ biến trong dân gian tùy từng thời kỳ. Đàn bà còn dùng yếm một mảnh vải vuông che phần ngực, một góc cắt lẹm đi rồi đính hai dải vải buộc vào sau gáy. Hai góc trái và phải cũng đính hai dải vải, gọi là dải yếm, dài đủ để quành ra sau lưng rồi buộc lại ở trước ngực. Khi ở nhà làm lụng người đàn bà có khi chỉ mặc yếm. Khi ra ngoài giao tiếp mới mặc thêm áo. Ở phía dưới bụng thì ngày xưa đàn ông đóng khố, đàn bà mặc váy. Khố là mảnh vải hẹp mà dài. Người mặc quấn quanh bụng vài vòng rồi chèn từ phía trước bẹn ra sau cài chặt lại. Tích Chử Đồng Tử từ thời Hùng Vương đã nhắc tới việc trang phục dùng khố. Quần thì có lẽ sau khi người Việt tiếp xúc với văn hóa Trung Hoa mới có lệ mặc quần. ==== Thời Lý, Trần ==== Thời Lý, Trần, người Việt mặc loại áo dài cổ tròn (viên lĩnh) 4 vạt. Từ bụng xuống thì đàn bà mặc váy, đàn ông mặc quần hoặc chỉ đóng khố dưới vạt áo. Áo may dài quá đầu gối, không cài khuy mà buộc vạt bên phải. Sứ giả Triệu Nhữ Thích bình rằng lối ăn mặc người Việt thời bấy giờ (1125) không khác người Tống là mấy.. ==== Thời Lê ==== Sang thời nhà Lê thì áo giao lãnh phổ biến hơn, dùng làm thường phục trong dân gian. Màu sắc áo cũng đã thành lệ: đàn ông thường dùng áo màu xanh, khi có việc trọng đại thì dùng màu đen, màu thẫm. Người làm ruộng thì dùng màu nâu. Bông vải là hàng chính. Chỉ người sang trọng mới dùng hàng tơ lụa. Quần thì chỉ có hai màu trắng và nâu. Họa hoằn những người giàu có hay già cả mới dùng quần màu đỏ. Căn cứ theo minh họa trong sách Vạn quốc nhân vật chi đồ của Nhật Bản soạn năm 1645 thì vẽ người đàn bà đội nón rộng, để tóc dài, mặc váy ở dưới, phía trên mặc thứ áo trông như áo giao lĩnh buông thõng hai vạt. Đàn ông thì búi tóc, mặc một loại rộng, cài bên phải. Thời Trịnh Nguyễn phân tranh thế kỷ 18, chúa Nguyễn Võ Vương ở Đàng Trong có sắc quy định y phục trong Nam, nhất là lối ăn mặc của phụ nữ, bỏ váy mà mặc quần, còn áo thì cài khuy, bỏ lối thắt vạt. Đàng Ngoài thuộc chúa Trịnh thì vẫn giữ áo tứ thân buộc vạt. Có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng là "Áo tứ thân" có thể đã ra đời từ thế kỷ 12. Áo tứ thân hình dạng tương đồng với áo Bối Tử thời Tống. ==== Thời Nguyễn ==== Thời Nguyễn thì nam giới cả hai miền Nam Bắc đã quen mặc áo dài, một loại áo viên lĩnh cổ đứng may bằng năm khổ vải, thân áo dài quá đầu gối, tay áo hẹp. Đàn bà từ Hoành Sơn vào Nam cũng mặc áo dài nhưng khác áo đàn ông chút ít với thân áo may dài hơn; gấu áo dài quá bắp chân. Phía dưới mặc quần. Đàn bà từ Hà Tĩnh trở ra vẫn mặc áo tứ thân, một loại áo giao lĩnh xẻ trước ngực và mặc váy. Lễ phục thì còn vẫn dùng áo giao lãnh buộc chéo, nhưng khoác ra bên ngoài cùng khi hành lễ, gọi là áo thụng hay bổ phục. Áo trực lĩnh (xẻ trước ngực) với tay áo thật rộng thì là lễ phục khoác ra ngoài của nữ giới quyền quý trong chốn cung đình, gọi là áo mệnh phụ. Ngoài ra áo viên lĩnh không có cổ đứng gọi là áo bào, dùng làm lễ phục của các quan đại thần, vương tôn. Đến thế kỷ 19 thường phục người Việt đại để mặc một loại áo ngắn, cài giữa ngực. Miền Bắc gọi là áo cánh, miền Nam dùng loại áo tương tự nhưng dài hơn và xẻ ở hai bên hông, gọi là áo bà ba. Áo cánh thì không xẻ ở bên hông. Phía dưới thì đàn ông mặc quần lá tọa. Quần này may sâu đũng để có thể kéo cạp quần lên cao hay xuống thấp để cho ống quần dài hay ngắn tùy ý; cạp quần buông loà xòa, buộc bằng thắt lưng ở bụng. Đàn bà miền Bắc mặc váy, buộc thắt lưng và ruột tượng; miền Nam mặc quần. Đàn bà ở nhà có khi chỉ mặc yếm. Ra ngoài thêm áo cánh, áo tứ thân, hay áo dài. Về mắu sắc thì người dân quê làm ruộng, quần áo hay nhuộm màu nâu hay đen, chỉ những khi nhàn nhã mới mặc màu trắng hay màu tươi như yếm màu hồng, màu đào. === Khăn, tóc === Thời Lý, Trần đàn ông đàn bà đều để tóc ngắn, đầu trần. Đàn bà để tóc dài hơn đàn ông độ 1 tấc . Thời Lê Trung Hưng lại để tóc dài, xõa ra sau lưng. Quấn tóc hoặc búi tóc được coi là kém trang trọng. Đến thời nhà Nguyễn thì đàn ông thường búi tóc. Người nhiều tóc thì búi tó to được cho là đẹp. Đàn bà phía nam sông Gianh cũng búi tóc còn đàn bà phía bắc cuộn tóc vào trong khăn rồi quấn thành một vòng quanh đầu. Hình dáng búi tó thông tục gọi là "búi tó củ hành" hay "búi tó củ kiệu". Phục sức trên đầu thì người Việt dùng khăn. Thời Lý đàn ông dùng khăn vấn quấn đỉnh đầu, nhưng khăn vấn nhỏ và che kín đỉnh đầu chứ không để lộ đỉnh như thời Nguyễn. Thời Trần, Lê không còn thấy người ta vấn khăn. Người lớn tuổi, người quyền quý thì dùng 1 khổ vải vuông phủ lên tóc mà thôi. Vấn khăn như ta thấy ngày nay chỉ xuất hiện vào thời Nguyễn. Khăn là một mảnh vải gồm 12, 13 vuông vải bằng nhiễu hay lượt khâu lại thật dài dùng quấn quanh đầu. Người đội khăn quấn năm hay bảy vòng. Số năm tượng trưng cho ngũ thường và số bảy là bảy vía của người đàn ông. Đột khăn có công dụng giữ búi tóc cho chặt, khỏi tung ra. Sau này sang thế kỷ 20 để thêm tiện, người đàn ông khi mặc áo dài thì dùng khăn đóng sẵn, gọi là khăn đóng không cần quấn. Khăn đàn ông thì chỗ chân tóc trên trán có thể xếp thành dạng chữ "nhất" (chữ Nho: 一) hay chữ "nhân" (人) với nếp trái đè lên nếp phải tạo bằng hai vòng quấn đầu tiên. Đàn bà miền Bắc thì dùng khăn bao lấy tóc rồi quấn vòng chung quanh đầu. Trong Nam thì chỉ búi tóc rồi trùm khăn. Người Việt còn dùng nhiều loại nón như nón lá, nón quai thao. === Giày dép === Người nhà quê thuở trước thường đi chân đất. Khi có việc thì mới xỏ chân đi guốc bằng gỗ hay gộc tre, buộc quai dọc tết bằng dây mây, sau mới dùng quai ngang bằng da. Guốc phụ nữ đẽo thon hơn trong khi guốc đàn ông to bản, tục gọi là guốc xuồng. Gỗ thường để mộc nguyên màu không sơn phết nên gọi là guốc mộc. Người sang hơn thì mới dùng guốc sơn. Không rõ người Việt dùng guốc từ thời nào nhưng sách Giao Châu ký của Trung Hoa thì kể rằng Bà Triệu (thế kỷ thứ 3) chân đi guốc bằng ngà voi. Ở thành thị đàn ông lẫn đàn bà còn dùng dép. Dép một đơn giản nhất chỉ là một lớp da trâu, có khi đan bằng sơ dừa hay bằng cói, không có đế. Người đi xỏ ngón chân vào lỗ khuyết ở đằng mũi. Ở mu bàn chân có thêm một quai thẳng ngang như chữ "nhất" nên gọi là dép một. Sang trọng hơn thì đàn bà đi dép cong đóng bằng bốn năm lớp da trâu. Đầu mũi dép vót nhọn và dùng đanh tre uốn cao vồng lên che hẳn đầu ngón chân. Người đi xỏ ngón chân thứ hai vào vòng bằng da ở đằng mũi. Vì loại dép này nặng nên người đi dép cong không thể đi đứng nhanh nhẹn được. Đàn ông thì đi dép Gia Định, cũng gọi là giày Gia Định. Một đặc danh nữa là dép Chi Long. Dép làm bằng da, gót cao 2–3 cm. Mũi giày bọc da ôm lấy mu bàn chân và chạy bọc quành ra đến gót. Giày sơn đen hoặc đỏ. Vào thế kỷ 19-20 người đàn ông chân đi giầy Chi Long hay Gia Định thì coi là đã ăn bận sang trọng lắm. === Lễ phục === Khi tế lễ trong dân gian thì dùng loại áo rộng, ống tay dài, gọi là áo tế hay áo thụng. Khi có tang thì dùng màu trắng và vải sô, đầu thắt khăn trắng hoặc mũ mấn hình dạng theo tang chế. Vua quan thì có lễ phục riêng, có đai mãng, xiêm, ủng, hia, mũ Đinh Tự, Phốc Đầu, mũ cánh chuồn, mũ trụ. Vua thì dùng màu vàng. Phẩm phục các quan thì tùy theo cấp bậc, dùng màu đỏ hay màu tía. == Thế kỷ 20 == Vào thập niên 1930 họa sĩ Cát Tường trong nhóm Tự lực Văn đoàn đưa áo dài đi một bước dài bằng cách tân kiểu áo cho hợp với thời đại. Áo dài trắng đã trở thành trang phục bắt buộc tại nhiều trường phổ thông cấp III ở Việt Nam. Các giáo viên nữ mặc Áo dài mỗi buổi lên lớp. Một số nữ nhân viên văn phòng như tiếp tân, thư ký, hướng dẫn viên du lịch cũng mặc Áo dài khi làm việc. Ngày nay các Trường Đại học nữ SVHS chỉ mặc vào ngày đầu tuần. Và theo đánh giá của một tờ báo ở Nhật dường như chỉ có dáng của người con gái Việt Nam mặc áo dài đẹp nhất.Ngày nay Hoa hậu trái đất cũng mặc Áo dài khăn đóng Vì sự phổ biến của nó, áo dài đã trở thành biểu tượng quốc gia, đại diện cho các giá trị văn hóa Việt Nam. Trong đời sống thường nhật ngày nay, trang phục đã theo phong cách phương tây. Những bộ quần áo truyền thống chỉ được mặc trong những dịp đặc biệt. Phụ nữ có thể không mặc váy hoặc tùy thích. == Tham khảo == Đào Duy Anh. Việt Nam văn hóa sử cương. Houston, TX: Xuân Thu, ?. trang 172-6. Trần Quang Đức. Ngàn năm áo mũ. Nhã Nam, 2013. == Chú thích ==
phan thanh giản.txt
Phan Thanh Giản (chữ Hán: 潘清簡; 1796 - 1867), tự Tĩnh Bá, Đạm Như (淡如), hiệu Ước Phu, Lương Khê; là một danh sĩ, một đại thần triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam. == Thân thế và sự nghiệp == Phan Thanh Giản xuất thân trong một gia đình nghèo khổ. Tương truyền tổ phụ Phan Thanh Giản là Phan Thanh Tập, hiệu Ngẫu Cừ, sống thời nhà Minh. Sau khi nhà Minh bị nhà Mãn Thanh tiêu diệt, Phan Thanh Tập di cư sang phủ Hoài Nhơn, tỉnh Bình Định (Việt Nam). Nơi đây ông cưới vợ tên Huỳnh Thị Học, sinh được một trai tên là Phan Thanh Ngạn tục gọi là Xán. Năm 1771, gia đình ông Ngạn vào Nam tạm cư ở Thang Trông, thuộc tỉnh Định Tường. Sau đó lại dời về Mân Thít, trấn Vĩnh Thanh (thuộc Vĩnh Long ngày nay), rồi lại dời về ở huyện Bảo An, phủ Hoằng Trị, cũng thuộc tỉnh Vĩnh Long. Cuối cùng ông Ngạn đến lập nghiệp tại thôn An Hòa, làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thạnh (nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Ở đây, ông cưới người vợ tên Lâm Thị Bút. Ngày 11 tháng 11 năm 1796, bà hạ sinh được một trai tên Phan Thanh Giản. Năm Phan Thanh Giản lên 7 (1802), thì mẹ qua đời, cha cưới người vợ nữa tên Trần Thị Dưỡng để có người chăm sóc con. Bà mẹ kế này rất thương yêu con chồng. Đến tuổi đi học, ông theo học với nhà sư Nguyễn Văn Noa ở chùa làng Phú Ngãi. Năm 1815, vì sự cáo gian của kẻ có thù riêng với gia đình , cha Phan Thanh Giản lúc ấy đang làm Thủ hạp (một viên chức nhỏ), phải ngồi tù. Nóng lòng vì cha bị hàm oan, ông đệ đơn lên Hiệp trấn Lương (không rõ họ) ở Vĩnh Long xin được thay cha vào tù. Cảm động trước tấm lòng hiếu thảo, viên quan này đã cho ông ở gần nơi cha bị giam cầm, để vừa trau dồi kinh sử, vừa có cơ hội thăm cha mỗi ngày . Sau khi cha được mãn tù, nghe lời Hiệp trấn Lương, Phan Thanh Giản ở lại Vĩnh Long để tiếp tục học và chờ đợi khoa thi. Tại đây, ông gặp một người đàn bà nhân hậu tên Ân. Bà này đã giúp ông tiền và cơm, áo...để tiếp tục theo đuổi việc đèn sách. === Ra làm quan === Năm 1825, ông đậu Cử nhân khoa Ất Dậu. Sau đó một năm, ông đậu đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Bính Tuất niên hiệu Minh Mạng thứ 7 (1826), vào năm 30 tuổi. Ông là người đậu Tiến sĩ khai khoa ở Nam bộ. Từ đấy, ông làm quan trải ba triều, là Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức. Dưới triều Minh Mạng, ông lần lượt giữ các chức vụ: Hàn lâm viện biên tu, Lang trung bộ Hình (1827), Tham hiệp tỉnh Quảng Bình (1828), Hiệp trấn tỉnh Quảng Nam (1828), Quyền nhiếp Tham hiệp tỉnh Nghệ An (1829), Lễ bộ tả thị lang và tham gia nội các (1830), Hàn lâm viện kiểm thảo sung Nội các hành tẩu và Hộ bộ viên ngoại lang (1832), Đại lý tự khanh sung Cơ mật viện đại thần (1834), Kinh lược trấn Tây (1835), Tuần phủ Quảng Nam (1836), Thống chánh sứ và Phó sứ rồi Hộ bộ thị lang (1839). Dưới triều Minh Mạng, ông đã ba lần bị giáng chức, trong đó có lần ông phải làm "Lục phẩm thuộc viên", tức giữ việc quét dọn, sắp đặt bàn ghế ở chốn công đường (1836). Dưới triều Thiệu Trị, ông làm Phó chủ khảo trường thi Thừa Thiên (1840), Phó đô ngự sử Đô sát viện (1847). Dưới triều Tự Đức, ông phụ trách giảng dạy và điều khiển trường Kinh Diên, Thượng thư bộ Lại, sung Cơ mật viện đại thần (1849). Năm 1850, ông được cử vào trấn nhậm miền Tây Nam Kỳ cùng với tướng Nguyễn Tri Phương. Sau đó, được phong làm Kinh lược sứ Nam Kỳ. Ông được vua Tự Đức giao làm Tổng tài Quốc sử quán coi việc biên soạn bộ Khâm định Việt sử Thông giám cương mục phụ tá có một Phó Tổng tài, 6 Toản tu góp tài liệu, viết lên, 6 Khảo hiệu xét lại và 6 Đằng tả viết chữ ngay ngắn. Sách soạn trong 3 năm 1856-1859, dâng lên Tự Đức coi lại các lần 1871, 1872, 1876, 1878 và có lời phê bên trên. === Thương nghị với người Pháp === Năm 1858, liên quân Pháp-Tây Ban Nha đổ bộ và tấn công tại cửa biển Đà Nẵng rồi lần lượt đánh chiếm các tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Ông Phan Thanh Giản với vai trò là Chánh sứ và Lâm Duy Hiệp là Phó sứ được cử đi điều đình với Pháp, sau đó đại diện cho triều đình Tự Đức ký kết hiệp ước hòa bình và hữu nghị Hòa ước Nhâm Tuất ngày 5 tháng 6 năm 1862 tại Sài Gòn. Hiệp ước gồm 12 khoản, theo đó, ba tỉnh Biên Hòa Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn (Côn Đảo) được nhượng cho Pháp (Khoản 3 Hiệp ước); triều đình phải trả cho Pháp và Tây Ban Nha một khoản bồi thường chiến phí là 4 triệu piastre trong 10 năm, mỗi năm 400.000 đồng (quy ra bạc là 288 nghìn lạng-Khoản 8 hiệp ước); đổi lại, người Pháp sẽ trả lại tỉnh Vĩnh Long cho triều đình Huế, nhưng kèm theo điều kiện là triều đình phải có biện pháp chấm dứt các cuộc khởi nghĩa chống lại người Pháp ở các tỉnh (Khoản 11 hiệp ước). Do hành động này mà dân gian có câu truyền "Phan Lâm mãi quốc, triều đình thí dân" (Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp bán nước; triều đình bỏ dân chúng). Theo nhà sử học Phan Huy Lê, nguồn gốc và xuất xứ của câu này chưa được làm rõ, theo ông câu này không thấy ghi chép lại trong những tác phẩm viết về Trương Định của những tác giả đương thời, như Nguyễn Thông. Tuy việc thương nghị với phía Pháp, vua Tự Đức có cho ông tùy nghi tình thế mà định đoạt nhưng về việc cắt đất, nhà vua có căn dặn Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp ráng sức chuộc lại ba tỉnh với giá 1.300 vạn lạng, còn nếu phía Pháp đòi cắt đất luôn thì kiên quyết không nghe, nhưng Phan Thanh Giản đã phải cắt đất lại còn bồi thường chiến phí. Do đó mà hai ông khi trở về đã bị quở trách nặng nề . Việc chuộc ba tỉnh không thành, Phan Thanh Giản bị cách lưu làm Tổng đốc Vĩnh Long, nhưng rồi lại được cử làm Chánh sứ (Phó sứ là Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản) sang nước Pháp để điều đình một lần nữa về việc chuộc lại ba tỉnh miền Đông (1863), nhưng cũng không đạt được kết quả. Năm 1865, ông được phục chức Hiệp biện đại học sĩ, Hộ bộ thượng thư, sung Kinh lược sứ ba tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên) và được tha tội cách lưu. Ngày 20 tháng 6 năm 1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long (vốn đã được trao trả triều đình Huế ngày 25 tháng 5 năm 1863), yêu cầu ông gửi mật thư cho thủ thành An Giang và Hà Tiên buông súng đầu hàng. Trước sức mạnh áp đảo của Pháp về mặt quân sự, biết thế không thể giữ nổi, nên để tránh đổ máu vô ích, Phan Thanh Giản đã quyết định trao thành, không kháng cự, với yêu cầu người Pháp phải bảo đảm an toàn cho dân chúng. Thế là chỉ trong 5 ngày (20-24 tháng 6 năm 1867), Pháp chiếm gọn ba tỉnh miền Tây không tốn một viên đạn. Sau khi thành mất ông tuyệt thực suốt 17 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử vào ngày 5 Tháng Bảy năm 1867, hưởng thọ 72 tuổi. Soái phủ Pháp là Pierre Paul Marie de La Grandière sai đưa linh cữu ông với đoàn binh hộ tống về Bảo Thạnh an táng. Mộ ông rất khiêm nhường, đề bảy chữ Nho: Lương Khê Phan lão nông chi mộ, giao cho Phan Đôn Hậu và Phan Đôn Khải chăm nom. Đền thờ Phan Thanh Giản hiện ở ấp Thạnh Nghĩa, xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, Bến Tre. Và từ rất lâu, nhân dân ở vùng núi Ba Thê, thuộc huyện Thoại Sơn tỉnh An Giang vẫn coi ông là một vị thần Thành Hoàng. Ngoài ra ông còn được thờ tại Văn Thánh Miếu Vĩnh Long == Nhận định == Phan Thanh Giản được nhiều người kính trọng vì tính cương trực, khẳng khái, hiếu nghĩa, thanh liêm. Tuy nhiên, trong cơn nước biến, thái độ ôn hòa của ông khiến không ít người đã phàn nàn. Tháng 11 năm 1868, vì làm mất Nam Kỳ, triều đình Huế đã xử ông án "trảm quyết" (nhưng vì chết nên được miễn), lột hết chức tước và cho đục bỏ tên ông ở bia tiến sĩ. Mãi đến 19 năm sau (1886) ông mới được vua Đồng Khánh khôi phục nguyên hàm Hiệp tá đại học sĩ và cho khắc lại tên ở bia tiến sĩ.. Ngược lại, cũng có nhiều trí thức đương thời đã tỏ lòng thông cảm cho ông. Như Nguyễn Thông đã từng dâng sớ lên vua Tự Đức để giãi bày nỗi oan cho ông. Và nhà thơ đương thời Nguyễn Đình Chiểu cũng đã tỏ thái độ thương tiếc, trân trọng ông qua bài thơ điếu: Minh tinh chín chữ lòng son tạc, Trời đất từ rày mặc gió thu. Trong bài "Văn tế lục tỉnh sĩ dân trận vong", một lần nữa Nguyễn Đình Chiểu lại nêu cao tinh thần của Phan Thanh Giản: Ý người đặng xem tấm bản phong trần, Phan học sĩ hết lòng cứu nước. Hai con trai của ông, Phan Tôn (1837 - 1893), Phan Liêm (1833 - 1896), nổi lên chống Pháp tại tỉnh Vĩnh Long. Một sĩ quan Pháp là Reunier, người đã từng tham gia chiến tranh ở Trung Quốc và Nam Kỳ, đã nhận xét về ông như sau: Sống trong 4 tháng gần vị lão thành cao thượng ấy, chúng tôi có thể đánh giá các đức tính của ông ta...trong thời gian vượt biển này (chuyến đi sứ sang Pháp) ông không ngớt được khuyến khích bởi lòng nhiệt thành ái quốc của ông, và thúc đẩy bởi nguyện vọng thực hiện được công chuyện hữu ích cho nước nhà... Năm 1963, hành động giao nộp ba tỉnh miền Tây, được Trần Huy Liệu đem ra bàn luận, và đã kết tội ông là kẻ "bán nước" . Sau 1975, nhiều đường phố ở miền Nam Việt Nam mang tên Phan Thanh Giản đã bị đổi thành tên khác. Cho tới những ngày đầu năm 2008, Viện Sử học Việt Nam mới thống nhất kết luận rằng "Phan Thanh Giản là người nổi tiếng về đạo đức, có nhiều đóng góp trong lịch sử dân tộc; nên đề nghị tôn vinh ông, cho khôi phục, tôn tạo những di tích và những gì gắn liền với ông"; và đã được giới có thẩm quyền chấp thuận... Trong sách Đi & ghi nhớ của Sơn Nam (xuất bản năm 2008), một lần nữa, nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản lại được đề cập trong một đoạn viết như sau: Hồi xưa, lúc còn nhỏ, tôi (lời thuật của một giáo viên lớn tuổi đi cùng với Sơn Nam) được dạy cẩn thận, khi đi ngang qua miếu Văn Thánh, học trò phải giở nón, cúi đầu để chào ông Phan. Chào ông Phan, (được xem như) là lời thề rửa hận cho ông, cho chớ không phải để bắt chước ông...Người có công nghiên cứu về Phan Thanh Giản là Lê Thọ Xuân, đăng báo Đồng Nai đâu từ năm 1931...với những chi tiết thú vị. Tuy làm quan to nhưng ông tự xem mình như người dân thường ở nông thôn, đối xử như người bình dân, không bao giờ phô trương quyền lực. Xin đề nghị: Trong chương trình Sử học cho học sinh, nên có một bài nói về ông, đủ lý đủ tình...Ông đã để lại cho đời sau chút gì khó quên, khó xóa nhòa, gọi là tâm linh, phóng khoáng, thơ mộng. == Tác phẩm == Phan Thanh Giản là một nhà văn lớn với nhiều tác phẩm giá trị. Lương Khê thi thảo Lương Khê văn thảo Sứ Thanh thi tập Tây phù nhật ký Ước Phu thi tập Tích Ung canh ca hội tập Sứ trình thi tập Việt sử thông giám cương mục (Chủ biên) Minh Mạng chính yếu (Chủ biên). == Vinh danh == Từ sau năm 1939, tại Sài Gòn đã có một con đường nhỏ mang tên đường Phan Thanh Giản. Đến ngày 22 tháng 3 năm 1955, chính quyền Sài Gòn cho đổi tên thành đường Ngô Tùng Châu. Ngày 4 tháng 4 năm 1985, Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh lại lần nữa quyết định đổi tên thành đường Lê Thị Riêng cho đến ngày nay. Cuối năm 1945, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa của Mặt trận Việt Minh đã cho đổi tên đường mang tên người Pháp trước đây thành đường phố mang tên danh nhân người Việt Nam, trong đó có đường Phan Thanh Giản ở thành phố Hà Nội (nay là đường Lê Phụng Hiểu) và ở thành phố Hải Phòng (nay là đường Ký Con). Tuy nhiên, sau khi thực dân Pháp chiếm lại được các thành phố này vào cuối năm 1946 thì tên đường Phan Thanh Giản cũng bị mất đi và trở lại bằng các tên đường mang tên người Pháp như cũ. Sau đó, chính quyền Quốc gia Việt Nam do Bảo Đại đứng đầu vốn trực thuộc khối Liên hiệp Pháp cũng cho đặt tên đường phố mang tên Phan Thanh Giản tại các thành phố này trên cở sở một lần nữa xóa bỏ tên đường mang tên người Pháp cũ. Cụ thể, từ đầu năm 1951 tại thành phố Hà Nội lại có đại lộ Phan Thanh Giản và đến năm 1954 tới lượt thành phố Hải Phòng cũng có đại lộ Phan Thanh Giản. Tuy nhiên, sau năm 1955 ở Hải Phòng con đường này đã đổi tên thành đường Cù Chính Lan cho đến nay; và tại Hà Nội đến năm 1964 thì đường Phan Thanh Giản cũng đổi tên thành đường Nguyễn Hữu Huân cho đến ngày nay. Ở Thành phố Hồ Chí Minh trước năm 1975 (lúc đó bao gồm Đô thành Sài Gòn và tỉnh Gia Định) có tới 2 con đường mang tên Phan Thanh Giản: Tại Đô thành Sài Gòn cũ, từ ngày 22 tháng 3 năm 1955 đường Phan Thanh Giản chính thức được đặt tên cho một trong những tuyến đường lớn và dài nhất. Ngày 14 tháng 8 năm 1975, đường này bị thay đổi tên thành đường Điện Biên Phủ (đoạn từ vòng xoay cầu Điện Biên Phủ đến vòng xoay Ngã 7) theo Quyết định của Ủy ban Quân quản thành phố Sài Gòn - Gia Định. Tại quận Gò Vấp thuộc tỉnh Gia Định cũ, từ sau năm 1955 đã có một con đường quan trọng mang tên là đường Phan Thanh Giản đi ngang qua khu vực trung tâm quận lỵ Gò Vấp. Mãi cho đến ngày 4 tháng 4 năm 1985, đường Phan Thanh Giản này mới bị thay đổi tên là đường Nguyễn Thái Sơn cho đến ngày nay theo Quyết định của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Còn ở thành phố Cần Thơ trước năm 1975 có ngôi trường trung học Phan Thanh Giản (dành cho nam sinh) tọa lạc ngay trên đường Phan Thanh Giản. Sau năm 1975, trường này bị đổi tên thành trường cấp 3 An Cư và đến năm 1985 lại đổi tên thành trường Trung học phổ thông Châu Văn Liêm; còn tên đường Phan Thanh Giản bị đổi tên thành đường Phan Đăng Lưu và không lâu sau lại đổi thành tên đường Xô Viết Nghệ Tĩnh, giữ nguyên cho đến ngày nay. Tên đường Phan Thanh Giản vốn có từ trước năm 1975 ở nhiều thị xã, đô thị tỉnh lỵ và quận lỵ (hiện nay gọi là thị trấn, thị xã và thành phố) trên toàn miền Nam, tính từ Quảng Trị cho tới Cà Mau hầu hết đều đã bị thay đổi bằng tên đường khác sau năm 1975, cụ thể như sau: Bạc Liêu: nay là đường Phan Ngọc Hiển Sóc Trăng: nay là đường Lê Hồng Phong Vị Thanh: nay là đường Hải Thượng Lãn Ông Rạch Giá: nay là đường Trần Quang Diệu Long Xuyên: nay là đường Sa Đéc: nay là đường Nguyễn Huệ Vĩnh Long: nay là đường 3 tháng 2 Bến Tre: nay là đường Đồng Khởi Trà Vinh: nay là đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa Gò Công: nay là đường Lê Thị Hồng Gấm Tân An: nay là đường Phan Văn Đạt Tây Ninh: nay là đường Cách mạng Tháng 8 Bà Rịa: nay là đường Nguyễn Đình Chiểu Vũng Tàu: nay là đường Lý Tự Trọng Đà Lạt: nay là đường Lê Thị Hồng Gấm Phan Thiết: nay là một đoạn của đường Chu Văn An Nha Trang: nay là đường Pasteur Pleiku: nay là đường Lê Hồng Phong Kontum: nay là đường Trần Phú Đà Nẵng: nay là đường Hoàng Văn Thụ Huế: nay là đường Lê Quý Đôn Quảng Trị: nay là đường Bên cạnh đó, tại một số đô thị ở miền Nam tên đường Phan Thanh Giản vẫn được giữ lại và không bị xóa tên từ trước năm 1975 cho đến ngày nay, cụ thể như tại Mỹ Tho, Lái Thiêu, Trà Ôn, Tân Châu, Giá Rai == Gia thế == Phan Thanh Tập (nội tổ phụ - Ông nội), Huỳnh Thị Học (nội tổ mẫu - Bà nội). Phan Thanh Ngạn (thân phụ - Cha ruột), Lâm Thị Bút (thân mẫu - Mẹ ruột), Trần Thị Dưỡng (kế mẫu - Mẹ kế), Phan Thanh Diệu (bào đệ - em ruột cùng mẹ). Trần Thị Hoạch (phu nhân - vợ), Phan Thanh Liêm (trưởng nam - con thứ 2 (còn 1 người con gái lớn) (tục miền Nam gọi con đầu lòng là thứ hai, nên ông được gọi là cậu ba)), Phan Thanh Tôn (thứ nam - con trai nhỏ). == Ảnh == == Chú thích == == Sách tham khảo == GS. Trịnh Vân Thanh, Thành ngữ điển tích danh nhân từ điển(tập 2). Nhà xuất bản Hồn thiêng, Sài Gòn, 1966. Nguyễn Huệ Chi, trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004. == Liên kết ngoài == Một công trình sử học mới: Phan Thanh Giản với bản án được tuyên sau cái chết Khi viết sai lá minh tinh, Phan Thanh Giản tự kết tội mình?
sân vận động hàng đẫy.txt
Sân vận động Hàng Đẫy là một sân vận động nằm ở đường Trịnh Hoài Đức, Hà Nội, Việt Nam với sức chứa khoảng 22.500 chỗ ngồi. Trước khi có Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, Hàng Đẫy là nơi tổ chức các trận thi đấu của Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam cũng như các đội tuyển nữ, Olympic. Đây cũng là nơi tổ chức nhiều sự kiện thể thao, văn hóa của Hà Nội và Việt Nam. Năm 1998, các trận khai mạc, bảng B và chung kết Cúp Tiger đã diễn ra tại đây. Trong khoảng thời gian từ năm 2000 đến năm 2005, sân vận động Hàng Đẫy được đổi tên thành sân vận động Hà Nội. Sân vận động Hàng Đẫy hiện là sân nhà của Hà Nội, Công an Nhân dân, Viettel == Các sự kiện lớn == Cúp Tiger 1998 Đại hội Thể thao Đông Nam Á 2003 Đại hội Thể thao Sinh viên Đông Nam Á 2006 == Chú thích ==
iso 639-3.txt
ISO 639-3:2007 - Codes for the representation of names of languages — Part 3: Alpha-3 code for comprehensive coverage of languages - là tiêu chuẩn nằm trong chuỗi tiêu chuẩn quốc tế ISO 639 do Tổ chức Tiêu chuẩn hóa Quốc tế ban hành dành cho mã ngôn ngữ. Mỗi mã ISO 639-3 gồm ba chữ cái dùng để nhận diện ngôn ngữ. ISO 639-3 mở rộng các mã alpha-3 của ISO 639-2 nhằm mục đích bao quát toàn bộ các ngôn ngữ tự nhiên đã biết trên thế giới. Tiêu chuẩn này được ban hành vào ngày 5 tháng 2 năm 2007. ISO 639-3 hướng đến nhiều đối tượng sử dụng, cụ thể là các hệ thống máy tính có nhu cầu hỗ trợ nhiều ngôn ngữ. Tiêu chuẩn này cung cấp một bảng liệt kê ngôn ngữ hoàn chỉnh nhất có thể được, bao gồm các ngôn ngữ cả sống lẫn chết, cả cổ lẫn được xây dựng, cả lớn và nhỏ, cả ngôn ngữ có chữ viết lẫn không có chữ viết. Tuy nhiên, nó không bao hàm các ngôn ngữ tái cấu trúc, chẳng hạn ngôn ngữ Tiền Ấn-Âu. ISO 639-3 là một siêu tập hợp (superset) của ISO 639-1 và của các ngôn ngữ đơn lẻ trong ISO 639-2. ISO 639-1 và ISO 639-2 tập trung vào các ngôn ngữ lớn thường xuyên có mặt trong tổng thể kho tài liệu của thế giới. Do ISO 639-2 bao gồm các tập hợp ngôn ngữ trong khi ISO 639-3 lại không có nên ISO 639-3 không phải là một siêu tập hợp của ISO 639-2. Ngoài ra, ISO 639-3 chỉ dùng mã "thuật ngữ" (xem thêm ISO 639-2) so với ISO 639-2 dùng cả mã "thư mục" và mã "thuật ngữ". Tính đến tháng 4 năm 2012, tiêu chuẩn ISO 639-3 có 7.776 mục. Con số này đạt được là nhờ dựa trên nhiều nguồn khác nhau, bao gồm: các ngôn ngữ đơn lẻ trong ISO 639-2, các ngôn ngữ hiện đại trích từ xuất bản phẩm Ethnologue, các biến thể mang tính lịch sử, các ngôn ngữ cổ và các ngôn ngữ được xây dựng rút từ cơ sở dữ liệu Linguist List của nhà ngôn ngữ học Anthony Aristar cũng như các ngôn ngữ do công chúng đề xuất trong các buổi thu thập ý kiến phản hồi. == Không gian mã == Do mã ISO 639-3 gồm ba mẫu tự trong bảng chữ cái tiếng Anh nên tổng số kết hợp khác nhau là 26 × 26 × 26 = 17576. Do ISO 639-2 định nghĩa có bốn mã đặc biệt, 520 mã dự trữ, 23 mã chỉ dành cho mã "thư mục" nên có 4 + 520 + 23 = 547 mã mà ISO 639-3 không được sử dụng. Điều này nghĩa là kho mã của ISO 639-3 chỉ có thể có tối đa gần 17030 mã. Con số này sẽ càng nhỏ đi nếu trừ đi các mã đại diện cho các tập hợp ngôn ngữ mà ISO 639-2 đã định nghĩa và các mã chưa được định nghĩa trong ISO 639-5. == Các Macrolanguage == Có 56 ngôn ngữ trong ISO 639-2 được ISO 639-3 gọi là "macrolanguage". Một số ngôn ngữ chẳng hạn arb (tiếng Ả Rập chuẩn) được ISO 639-2 xem là phương ngữ của một ngôn ngữ (trong trường hợp này ara), nhưng trong một số ngữ cảnh nhất định thì lại được xem là ngôn ngữ riêng theo cách hiểu của ISO 639-3. == Ngôn ngữ tập thể == "Một mã ngôn ngữ tập thể là một định danh đại diện cho một nhóm các ngôn ngữ đơn không được xem là một ngôn ngữ trong bất kỳ ngữ cảnh nào". Các mã này không đại diện một cách chính xác cho một ngôn ngữ hoặc một macrolanguage nhất định. Trong khi ISO 639-2 dùng các định danh ba chữ cái để đại diện cho các ngôn ngữ tập thể thì ISO 639-3 lại bỏ số mã này. == Sử dụng == ISO 639-3 được dùng trong: Ethnologue, Linguist List Thẻ ngôn ngữ IETF Lexical Markup Framework, một tiêu chuẩn đại diện cho các từ điển mà máy đọc được == Mã đặc biệt == Có bốn mã được dùng trong các trường hợp không thể dùng một mã cụ thể nào được. Các mã đặc biệt này là nhằm đáp ứng chủ yếu cho các ứng dụng, chẳng hạn các cơ sở dữ liệu yêu cầu cung cấp mã ngôn ngữ theo ISO mặc cho có tồn tại mã dành cho ngôn ngữ hay là không. mis (viết tắt của từ miscellaneous) nhắm đến các ngôn ngữ (chưa) được đưa vào tiêu chuẩn ISO. mul dùng trong các trường hợp ứng dụng mà trong đó sử dụng từ hai ngôn ngữ trở lên, trong khi lại yêu cầu chỉ cung cấp một mã ngôn ngữ duy nhất. und dùng trong các trường hợp chưa nhận diện được ngôn ngữ, chẳng hạn do nhãn bị ghi sai hoặc chưa bao giờ được đặt nhãn. Chú ý mã này không dùng cho các trường hợp khai báo các ngôn ngữ không được chứng nhận. zxx dùng cho dữ liệu không phải ngôn ngữ [của con người], chẳng hạn tiếng động vật kêu. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Tiếng Anh ISO 639-3 Registration Authority FAQ, Website Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ Linguist List - Danh sách ngôn ngữ cổ và ngôn ngữ tuyệt chủng
đảng bảo thủ (anh).txt
Đảng Bảo Thủ (tiếng Anh:Conservative Party), tên chính thức là Đảng Bảo Thủ và Liên Hiệp (Conservative and Unionist Party) là một đảng chính trị lớn theo đường lối trung hữu ở Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland. == Lịch sử == Đảng Bảo thủ có nguồn gốc xa từ Ðảng Tory, một đảng bảo hoàng vào thế kỷ 17. Vì vậy, Đảng Bảo thủ hiện vẫn còn được biết với cái tên Tory Party và chính trị gia thuộc đảng này và những người ủng hộ vẫn được gọi là những Tories. Tuy nhiên, đảng này cũng như cái tên Bảo Thủ được lập vào đầu thế kỷ 19 từ những thành phần chủ chốt của Đảng Whig mong muốn cải cách và thành lập một liên minh mới. Vào đầu thế kỷ 20, Đảng thành lập một liên minh với phe Liên hiệp của Đảng Tự do (phe Liên hiệp chống lại sự ủng hộ của Đảng Tự Do đối với việc trao quyền tự chủ cho Ireland trong Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland). Từ đó, Đảng có tên Bảo thủ và Liên hiệp như hiện nay. Đảng Bảo thủ nắm chính quyền trong 2 phần 3 thời gian trong thế kỷ 20. Sau thất bại ở kỳ bầu cử năm 1997, trước Công đảng, đảng trở thành đảng đối lập chính trong chính phủ. Hiện Ðảng Bảo thủ là đảng lớn thứ nhì tình theo số ghế đại biểu trong Quốc hội, và là đảng lớn nhất Anh Quốc tính theo số thành viên trong hội đồng chính quyền địa phương, theo số thành viên trong nghị viện châu Âu cũng như trong Nghị viện London. Lãnh đạo đảng hiện nay là Thủ tướng, Theresa May, giữ chức từ ngày 13 tháng 7 năm 2016. == Chú thích == == Tham khảo ==
anime.txt
Anime (Nhật: アニメ, [a.ni.me] ()), là từ mượn của tiếng Anh, từ chữ animation có nghĩa là "phim hoạt hình"), chỉ các bộ phim hoạt hình sản xuất theo vẽ tay hoặc máy tính tại Nhật Bản với phong cách Nhật Bản. Từ này là cách phát âm rút ngắn của "animation" tại Nhật Bản, nơi thuật ngữ này được dùng để nói tới tất cả các bộ phim hoạt hình. Bên ngoài Nhật Bản, anime ám chỉ tính đặc trưng riêng biệt của hoạt hình Nhật Bản, hoặc như một phong cách hoạt hình phổ biến tại Nhật Bản mà thường được mô tả bởi đồ họa tràn đầy màu sắc, các nhân vật sống động và những chủ đề tuyệt vời. Có thể cho rằng, cách tiếp cận cách điệu hóa kết hợp các tầng ý nghĩa có thể mở ra khả năng anime được sản xuất tại các nước bên ngoài Nhật Bản. Một cách căn bản, đa số người phương Tây đã nghiêm túc coi anime như là một sản phẩm hoạt hình đến từ Nhật Bản. Một số học giả đề nghị định nghĩa anime như là nét đặc trưng hoặc sự tinh hoa Nhật Bản mà có thể liên quan đến một hình thái mới của chủ nghĩa Đông phương học. Hoạt hình Nhật Bản giao thương rất sớm từ năm 1917, và quá trình sản xuất các tác phẩm anime tại Nhật Bản kể từ đó vẫn tiếp tục tăng đều đặn. Phong cách nghệ thuật anime đặc trưng được nổi bật trong những năm 1960 với các tác phẩm của Tezuka Osamu, sau đó nhanh chóng lan rộng ra quốc tế trong những năm cuối thế kỷ 20, dần phát triển thành một lượng lớn khán giả người Nhật và quốc tế. Anime được phân phối tại các rạp chiếu phim, phát sóng qua hệ thống đài truyền hình, xem trực tiếp từ phương tiện truyền thông tại nhà và trên internet. Nó được phân loại thành nhiều thể loại hướng đến các mục đích đa dạng và những đối tượng khán giả thích hợp. Theo số liệu của Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản vào tháng 1 năm 2004, anime chiếm khoảng 60% số lượng phim hoạt hình sản xuất trên toàn thế giới. Anime là hình thái nghệ thuật phong phú với các phương pháp sản xuất đặc biệt và nhiều kỹ thuật đã được cải tiến theo thời gian trong việc đáp ứng những công nghệ mới nổi. Nó bao gồm một thủ pháp kể chuyện về ý tưởng, kết hợp với nghệ thuật đồ họa, bản ngã nhân vật, kỹ thuật điện ảnh, các hình thái khác của sự sáng tạo và kỹ thuật mang tính chất chủ nhĩa cá nhân. Quá trình sản xuất anime tập trung ít hơn vào hoạt họa cử động mà quan tâm nhiều hơn đến cách xây dựng chủ nghĩa hiện thực, cũng như các hiệu ứng camera: bao gồm việc đảo máy, cách thu phóng và các góc quay. Khi được vẽ tay, anime được tách rời so với thực tế bởi một sự thu hút chủ yếu từ trí tưởng tượng, cung cấp một hướng đi về ý tưởng cho khuynh hướng thoát ly thực tế mà khán giả có thể dễ dàng chìm đắm bản thân vào bên trong với mối quan hệ không bị ràng buộc. Nhiều phong cách nghệ thuật khác nhau đã được sử dụng cùng với các tỷ lệ nhân vật và những nét nổi bật có thể hoàn toàn được biến đổi, bao gồm các đặc trưng gây nhiều xúc động hoặc đôi mắt có kích thước thực tế. Ngành công nghiệp anime gồm hơn 430 xưởng phim gia công, bao gồm những cái tên chính như Studio Ghibli, Gainax và Toei Animation. Mặc dù chỉ là một phần nhỏ thuộc thị trường phim trong nước tại Nhật Bản nhưng anime lại chiếm một thị phần khá lớn doanh thu từ DVD và Blu-ray Nhật Bản. Nó cũng cho thấy sự thành công trên phương diện quốc tế sau sự trỗi dậy của các chương trình sản xuất tại Nhật Bản được lồng tiếng Anh. Sự gia tăng trên phương diện văn hóa đại chúng quốc tế này dẫn đến nhiều sản phẩm không phải của người Nhật sử dụng phong cách nghệ thuật anime, nhưng những tác phẩm này thường được mô tả như hoạt hình ảnh hưởng từ anime hơn là anime đúng nghĩa. == Định nghĩa và cách dùng == Anime là một hình thái nghệ thuật, đặc trưng bởi hoạt họa; bao gồm tất cả các thể loại được xây dựng trong điện ảnh, nhưng nó cũng có thể bị phân loại gây nhầm lẫn như một thể loại. Trong tiếng Nhật, thuật ngữ anime đề cập đến tất cả các dạng phim hoạt hình trên thế giới. Trong tiếng Anh, anime (/ˈænəˌmeɪ/) hầu như được sử dụng trong phạm vi giới hạn để chỉ một "phim hoạt hình hoặc truyền hình giải trí phong cách Nhật Bản" hoặc như "một phong cách hoạt hình được sáng tạo tại Nhật Bản". Từ nguyên học của từ "anime" đã gây ra tranh luận. Thuật ngữ tiếng Anh "animation" được viết trong katakana tiếng Nhật dưới dạng アニメーション (animēshon, phát âm là [animeːɕoɴ]) và là アニメ (anime) trong cách viết ngắn lại. Một vài nguồn xác nhận rằng anime bắt nguồn từ thuật ngữ tiếng Pháp về hoạt họa là dessin animé, nhưng nhiều nguồn khác tin rằng đó là một câu chuyện thần thoại được bắt nguồn từ sự phổ biến truyền thông đại chúng tại Pháp trong cuối những năm 1970 và 1980. Trong tiếng Anh, anime - khi được sử dụng như một danh từ chung - thì thông thường sẽ có chức năng như một danh từ không đếm được. (Ví dụ: "Do you watch anime? [Bạn đã xem anime chưa?]" hoặc "How much anime have you collected? [Bạn đã sưu tập được bao nhiêu anime?"). Trước khi anime được sử dụng phổ biến, thuật ngữ Japanimation thường được dùng phổ biến trong suốt những năm 1970 và 1980. Khoảng giữa những năm 1980, thuật ngữ anime bắt đầu thay thế Japanimation. Nói chung, thuật ngữ thứ hai hiện tại chỉ xuất hiện trong các tác phẩm thời nay nhằm phân biệt và nhận dạng hoạt hình Nhật Bản. Từ "anime" cũng đã bị bình phẩm; ví dụ vào năm 1987, khi Miyazaki Hayao phát biểu rằng ông xem thường từ bị cắt xén "anime" bởi vì với ông thì nó thể hiện sự hoang tàn của ngành công nghiệp anime. Ông đã đặt ngang hàng sự hoang tàn đó với các họa sĩ hoạt họa thiếu động lực và các sản phẩm thái quá chủ nghĩa biểu hiện được sản xuất hàng loạt, dựa vào một biểu tượng học cố định của biểu cảm khuôn mặt cùng những phân cảnh hành động bị kéo dài và phóng đại nhưng lại thiếu đi chiều sâu và sự tinh tế bên trong do họ không cố gắng truyền đạt cảm xúc hoặc suy nghĩ. == Lịch sử phát triển == === Bước khởi đầu === Hoạt hình Nhật Bản bắt đầu hình thành vào những năm đầu của thế kỷ 20, khi các nhà làm phim Nhật Bản tiến hành thử nghiệm với các kỹ thuật hoạt hình đang được phát triển tiên phong tại Pháp, Đức, Hoa Kỳ và Nga. Một xác nhận cho rằng bộ phim hoạt hình Nhật Bản xuất hiện sớm nhất là Katsudō Shashin, một tác phẩm không công khai và chưa xác định được thời gian ra đời do một tác giả vô danh thực hiện. Năm 1917, các tác phẩm chuyên nghiệp và được trình chiếu công khai bắt đầu xuất hiện. Nhiều họa sĩ hoạt họa như Shimokawa Ōten và Kitayama Seitarō đã tạo ra nhiều tác phẩm; trong đó tác phẩm Namakura Gatana của tác giả Kouchi là bộ phim còn được lưu trữ lâu nhất, đó là một clip dài 2 phút mô tả một samurai đang thử một thanh kiếm mới mua vào các mục tiêu của anh ta nhưng phải chịu thất bại đau đớn. Đại thảm họa động đất Kantō 1923 dẫn đến sự tàn phá trên diện rộng các cơ sở hạ tầng tại Nhật Bản và nhà kho ở Shimokawa cũng đã bị phá hủy; do đó làm hủy hoại hầu hết các tác phẩm đầu tiên này. Hoạt hình những năm 1930 đã được củng cố vững chắc tại Nhật Bản như một hình thức thay thế cho ngành công nghiệp phim người đóng. Nó đã chịu sự cạnh tranh từ các nhà sản xuất và những họa sĩ hoạt họa nước ngoài; Ōfuji Noburō và Murata Yasuji vẫn tiếp tục làm việc trong phần hoạt họa cắt bỏ (cutout) có giá thành rẻ hơn hoạt hình cel. Các tác giả khác như Masaoka Kenzō và Seo Mitsuyo đã tạo ra không ít những bước tiến lớn trong kỹ thuật hoạt hình, họ được hưởng lợi từ sự bảo trợ của chính phủ khi chính các họa sĩ hoạt họa được thuê để sản xuất những bộ phim ngắn mang tính chất giáo dục và tuyên truyền tại Nhật trong chiến tranh thế giới thứ hai. Anime phim nói đầu tiên là Chikara to Onna no Yo no Naka được sản xuất bởi Masaoka vào năm 1933. Năm 1940, các tổ chức của nhiều họa sĩ anime đã tăng lên, bao gồm Shin Mangaha Shudan và Shin Nippon Mangaka. Phim dài hoạt hình đầu tiên là Momotarō: Umi no Shinpei, được Seo đạo diễn vào năm 1944 cùng với sự tài trợ từ Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Sự thành công từ phim dài Nàng Bạch Tuyết và bảy chú lùn (năm 1937) của Công ty Walt Disney đã ảnh hưởng sâu sắc đến nhiều họa sĩ hoạt họa Nhật Bản. Trong những năm 1960, họa sĩ manga kiêm họa sĩ hoạt họa Tezuka Osamu đã mô phỏng lại và giản lược hóa nhiều kỹ thuật hoạt hình của Walt Disney nhằm giảm bớt chi phí và giới hạn số khung hình trong quá trình sản xuất. Tezuka Osamu đã chủ định điều đó như một biện pháp tạm thời cho phép ông sản xuất các bộ phim trên một lịch trình chặt chẽ cùng với đội ngũ hoạt họa còn thiếu kinh nghiệm. Bộ phim Three Tales phát sóng năm 1960, là anime đầu tiên được chiếu trên truyền hình. Loạt anime theo tiêu chuẩn phim truyền hình đầu tiên là Otogi Manga Calendar, phát sóng từ năm 1961 đến năm 1964. Những năm 1970 cho thấy sự phát triển đột biến mang tính đại chúng của manga, tiểu thuyết hình ảnh, sách truyện Nhật Bản; và nhiều trong số đó đã được hoạt họa hóa sau này. Tác phẩm của Tezuka Osamu đã thu hút được sự chú ý: ông đã được gọi là một "huyền thoại" và "cha đẻ của manga". Nhà sáng lập Hiroshi Okawa của Toei Animation đã hợp tác chuyển thể nhiều tác phẩm của Tezuka Osamu, góp phần quan trọng cho sự phát triển ngành công nghiệp anime. Tác phẩm của Tezuka Osamu - và những người tiên phong khác trong lĩnh vực này - đã truyền cảm hứng cho anime những đặc trưng và các thể loại mà vẫn còn ảnh hưởng đến các quy tắc cơ bản của hoạt hình hiện tại. Thể loại robot khổng lồ (hay còn được gọi là "mecha" bên ngoài Nhật Bản) là một ví dụ: căn bản dựa trên hình dáng robot trong tác phẩm của Tezuka Osamu, rồi sau đó được Nagai Go cùng những tác giả khác phát triển thành thành thể loại "Super Robot - Robot siêu cường"; tiếp tục được Tomino Yoshiyuki cách mạng hóa vào cuối thập kỷ khi phát triển thành thể loại "Real Robot - Robot thực tế". Anime robot như loạt phim Gundam và Super Dimension Fortress Macross đã lập tức trở thành kinh điển trong những năm 1980, và thể loại anime robot tiếp tục là một trong những thể loại phổ biến tại Nhật Bản và trên toàn thế giới hiện tại. Những năm 1980, anime đã được đón nhận nhiều hơn trong thị hiếu đại chúng tại Nhật Bản (mặc dù ít hơn manga), và trải qua một thời kỳ phát triển bùng nổ trong việc sản xuất. Sau một vài phiên bản anime chuyển thể thành công tại thị trường nước ngoài trong những năm 1980, anime đã gia tăng được nhiều hơn sự đón nhận tại thị trường nước ngoài những năm 1990 và thậm chí còn nhiều hơn khi bước sang thế kỷ 21. Năm 2002, bộ phim Sen và Chihiro ở thế giới thần bí của Studio Ghibli do Miyazaki Hayao đạo diễn giành được giải thưởng Gấu Vàng tại Liên hoan phim quốc tế Berlin; đồng thời cũng chiến thắng Giải Oscar cho phim hoạt hình hay nhất tại Giải Oscar lần thứ 75 năm 2003. === Cách mạng Anime === ==== Mecha ==== Trong suốt những năm 80 của thế kỷ 20, trào lưu Suparobo anime rất ăn khách và thể loại mecha chiếm đa số những anime được sản xuất. Những anime về "Super Robot" này bắt đầu với Mazinger Z, và sau đó xuất hiện hàng loạt bộ phim khác như Getter Robo, Dancouga. Tổng quan chung là một nhà khoa học chế tạo robot khổng lồ do một số nhân vật tuổi vị thành niên điều khiển, nhằm chống lại người ngoài hành tinh xâm lăng. Ngày nay, những người hâm mộ gọi thể loại này là oldschool. Gần đây, một số nhà sản xuất cố gắng khôi phục thể loại Suparobo với những loạt anime như Gao Gai Gar nhưng thất bại. Tiếp theo, hãng Sunrise cho ra đời loạt phim thể loại mecha về robot Gundam nhưng người lớn hơn, có cốt truyện sâu sắc và mô phỏng theo Chiến tranh thế giới thứ hai. Một bên là anh hùng Amuro Ray của phe Earth Federation (tương tự như phe Đồng Minh), một bên là Char Aznable của Neo Zeon (tương tự như phe Trục). Loạt Gundam cổ điển đã đưa ra những vấn đề lớn và nghiêm túc: như hai phe đều là người, đều theo đuổi lý tưởng riêng, đều có tình cảm chứ không chỉ là những anh hùng bắn người ngoài hành tinh gian ác rồi chiến thắng vui vẻ. Dù một số bộ phim mới như Gundam Seed Destiny bị chỉ trích khá nhiều nhưng loạt anime này đã lấy lại được uy tín với thương hiệu Gundam mới nhất là Gundam 00 - một trong những anime được đón xem nhiều nhất tại Nhật cuối năm 2008. Bộ anime làm thay đổi cả thể loại mecha là Neon Genesis Evangelion (NGE) của hãng GAINAX do Hideaki Anno đạo diễn. Bộ phim ẩn chứa nhiều thông điệp mà các khán giả con nít không thể tiếp thu nổi. Khi mới khởi chiếu lần đầu, NGE không được hâm mộ nhưng sau đó luôn nằm trong 10 anime truyền hình nổi tiếng nhất mọi thời đại. Macross cũng là một bộ thể loại mecha khá nổi tiếng trước đó. Anime dần có xu hướng có nhân vật trẻ con hơn là người lớn, cũng như ít bạo lực đẫm máu hơn. ==== Mahō shōjo ==== ==== Thể loại khác ==== Bộ anime Cowboy Bebop đã đạt được danh tiếng không chỉ trong nước Nhật mà cả thị trường nước ngoài, nhờ phong cách cowboy đặc sắc và nhạc jazz và nhạc blues. Kéo theo đó là hàng loạt phim đột phá như Akira, Ninja Scroll, Ghost in the shell... Các hãng phim thi nhau nhảy vào thị trường và các thể loại anime cũng do đó mà tăng dần. Những anime như Fruits Basket, Tiny Snow Fairy Sugar, Ichigo Mashimaro hoàn toàn không có bạo lực nên chiếm được cảm tình nhiều người hâm mộ, đa phần là nữ. Ngày nay, thay vì các nhân vật được vẽ tối, có gương mặt chi tiết khá giống kiểu hoạt hình của Mỹ; các nhân vật anime thường có tóc và quần áo màu sáng và rực rỡ hơn, khuôn mặt được vẽ đơn giản nhưng moe (xinh) hơn, với đôi mắt lớn hơn, mũi và miệng rất nhỏ, cơ thể trở nên thực tế hơn. Những nhân vật kiểu chibi (nhỏ nhắn) thường được ưa chuộng. Phim hài cũng được ưa thích hơn, và anime thể loại mecha như Full Metal Panic! cũng đã rất thành công khi chuyển thể thành anime hài hước với Full Metal Panic! Fumoffu. Kịch bản anime cũng được chú trọng hơn, và những anime như Ergo Proxy có tính triết lý khá cao, hay Chào mừng đến với N.H.K! đưa ra vấn đề xã hội. Tuy nhiên, không phải mọi chuyện đều tốt đẹp, do có quá nhiều anime được sản xuất hàng năm, kịch bản đa phần là lặp lại các thể loại như harem và có cả những anime sao chép nội dung của phim khác như DearS là phim nhái Chobits. Thêm nữa, một số lượng anime bạo lực nhảm nhí và vô số hentai khiến nhiều người nghĩ xấu về anime, như Microsoft viết "Anime: một phong cách hoạt hình của Nhật Bản, thường dữ dội hoặc bao hàm tính chất giới tính rõ ràng - Japanese style of animated cartoon, often with violent or sexually explicit content" Microsoft® Encarta® 2007. © 1993-2006 Microsoft Corporation. All rights reserved. == Đặc điểm == Anime khác biệt rất nhiều so với các khuôn mẫu hoạt hình khác bởi phong cách nghệ thuật đa dạng của nó, các phương pháp hoạt họa, sự trình bày của nó và quá trình sản xuất. Một cách trực quan, anime là một hình thái nghệ thuật phong phú, bao hàm một sự rộng lớn các phong cách nghệ thuật, có sự khác nhau giữa từng người sáng tạo, từng họa sĩ, xưởng phim. Trong khi chưa có một phong cách nghệ thuật nào chiếm ưu thế vượt trội trong anime hoàn toàn, họ chỉ đóng góp một vài đặc tính giống nhau trong các thuật ngữ của kỹ thuật hoạt hình và thiết kế nhân vật. === Kỹ thuật hoạt hình === Anime tiếp nối quá trình sản xuất đặc trưng của hoạt hình, bao gồm: kịch bản phân cảnh, diễn xuất giọng nói, thiết kế nhân vật, hoạt hình cel (Shirobako là bộ phim nói rất rõ các kỹ thuật hoạt hình, nổi bật nhiều khía cạnh phức tạp trong quá trình sản xuất anime). Từ những năm 1990, họa sĩ hoạt họa đã tăng cường sử dụng hoạt hình máy tính (CGI) để cải thiện hiệu suất quá trình sản xuất. Các họa sĩ giống như Noburō Ōfuji đã đi tiên phong sớm nhất trong các tác phẩm anime, lựa chọn thử nghiệm và có sự phù hợp với những hình ảnh được vẽ trên bảng đen, hoạt hình tĩnh vật từ cắt giấy, hoạt hình rọi bóng. Hoạt hình hoạt hình cel dần dần phổ biến đến cho đến khi chiếm ưu thế các phương tiện truyền đạt. Trong thế kỷ 21, họ sử dụng nhiều kỹ thuật hoạt hình khác mà hầu hết bị giới hạn trong các phim ngắn độc lập, bao gồm tác phẩm hoạt họa dùng con rối được sản xuất bởi Tadahito Mochinaga, Kihachirō Kawamoto và Tomoyasu Murata. Máy tính đã được tích hợp vào quá trình sản xuất phim hoạt hình như Ghost in the Shell và Công Chúa Mononoke được kết hợp giữa hoạt hình cel và những hình ảnh được máy tính tạo ra. Fujifilm, một công ty lớn sản xuất cel hàng đầu, tuyên bố dừng việc sản xuất cel, gây ra sự hoảng loạn cho ngành công nghiệp về việc mua nhập khẩu cel. Trước khi tới thời đại kỹ thuật số, anime được sản xuất với các phương pháp hoạt hình truyền thống sử dụng một phép xấp xỉ tạo dáng gần đúng. Phần lớn xu hướng anime sử dụng một ít các key frame để diễn đạt và nhiều hoạt họa in-between. Chủ tịch Mitsushisa Ishikawa của Production I.G nói rằng phương pháp kết hợp giữa 2D và 3D được áp dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp anime: vẽ trên giấy trước tiên, scan vào máy vi tính, sau đó thêm màu và các hiệu ứng; cơ bản vẫn là vẽ tay, đặc biệt không dùng cel nữa. Workstation là một thiết lập phụ trợ quan trọng cho việc scan các khung hình vào máy tính nhằm gia công phần hoạt họa in-between trong ngành công nghiệp anime. Đặc biệt, khi bộ phim có một phân cảnh hoạt họa gây ấn tượng thị giác mạnh mẽ hoặc sự tinh tế sắc sảo trong cách thể hiện sẽ được gọi là một cảnh sakuga, là một đặc trưng có tính chu kỳ trong anime hiện đại cho phép các họa sĩ hoạt họa Nhật Bản thể hiện phong cách nghệ thuật đặc trưng cá nhân. Một số thuật ngữ sakuga nền tảng ảnh hưởng đến phương pháp hoạt họa tại Nhật Bản và tiếp tục được nhiều họa sĩ sử dụng với nhiều biến đổi khác nhau như: "Itano Circus", "Yutapon Cubes", "Ebata Walk", "Akai Smile". Các xưởng phim hoạt hình Nhật Bản đã đi tiên phong về các kỹ thuật limited animation, và đưa anime một đến một xu hướng các quy ước riêng biệt. Không giống như hoạt hình Disney - nơi nhấn mạnh về cử động, anime nổi bật về chất lượng nghệ thuật và cho phép kỹ thuật limited animation đền bù thiếu sót phần sử dụng thời gian về cử động. Các kỹ thuật như vậy thường được sử dụng không chỉ khi gặp hạn chót dự án, mà còn là những cách thức thuộc tính nghệ thuật. Sự nhấn mạnh vị trí các cảnh quay anime vào việc đạt được góc nhìn 3 chiều, và background (hậu cảnh) góp phần trong cách tạo bầu không khí của tác phẩm. Background (hậu cảnh) không phải lúc nào cũng được sáng tạo ra và đôi khi cũng dựa trên những địa điểm đời thực, như Lâu đài bay của pháp sư Howl hay Suzumiya Haruhi. Oppliger đã phát biểu rằng anime là một trong những phương tiện hiếm có - nơi đặt vào đồng thời một dàn diễn viên có các đặc tính nổi bật, thường lộ ra cái nhìn "gây rất nhiều ấn tượng". Các hiệu ứng điện ảnh của anime đã rất khác biệt với chính bản thân nó từ giai đoạn chuyển mình dựa trên hoạt hình Mỹ. Anime là cảnh phim nghệ thuật điện ảnh gần như do máy ảnh (camera) thực hiện, bao gồm việc đảo máy (panning), cách thu phóng (zooming), cự ly quay và các góc quay để phức hợp tính động lực học trong các cảnh phim mà sẽ khó khăn thực hiện trong đời thực. Trong anime, hoạt họa được thực hiện trước khi diễn xuất âm thanh, trái ngược với hoạt hình Mỹ khi chọn diễn xuất âm thanh trước; điều này có thể gây ra một số lỗi nhép môi trong các phiên bản Nhật Bản. === Ngành công nghiệp anime === ==== Quá trình tăng trưởng ==== Hiệp hội Hoạt hình Nhật Bản (AJA) công bố "bản báo cáo công nghiệp anime năm 2016" theo thống kê số liệu từ năm 2015 cho biết đã thu về 1,8 nghìn tỉ Yên năm 2015 (khoảng $18,1 tỉ USD) tăng trưởng 12% so với năm 2014 (khoảng 1,63 nghìn tỉ yên, tương đương $13,5 tỉ USD); tổng giá trị tiêu thụ của thị trường năm 2014 tăng trưởng 10% so với năm 2013 (khoảng 1,49 nghìn tỉ yên, tương đương khoảng $12,4 tỉ USD). Báo cáo nêu ra việc tăng trưởng năm 2014 là do cấp phép bản quyền phát sóng trực tuyến anime tại thị trường Trung Quốc; năm 2013 là do sự gia tăng các sự kiện và hội chợ triển lãm liên quan đến anime, cũng như các buổi hòa nhạc và những sự kiện nhạc kịch anime. Năm 2009, chủ tịch Hiệp hội Hoạt hình Nhật Bản (AJA) là Yamaguchi Yasuo đã mô tả ngành công nghiệp anime Nhật Bản như "một bong bóng kinh tế mà nhiều năm trước đó đã bị vỡ. Các hội chợ ở trên một đường cong đi xuống do tỷ lệ sinh quốc gia giảm và suy thoái kinh tế toàn cầu (giai đoạn 2008-2009)". Báo cáo của AJA cũng công bố số lượng phim sản xuất tăng từ 124 bộ năm 2000 lên đến 306 bộ năm 2006, sau đó giảm xuống còn 288 bộ năm 2008. Báo cáo của Bộ Nội vụ và Truyền thông Nhật Bản công bố giá trị xuất khẩu các chương trình phát thanh truyền hình Nhật Bản ra thị trường nước ngoài từ năm tài chính 2012 đến 2013 của riêng anime vào khoảng 8,6 tỉ Yên (khoảng $71 triệu USD). Theo thống kê của Viện Nghiên cứu sự phát triển của truyền thông đại chúng, quy mô thị trường anime Nhật Bản năm 2003 đạt 191,2 tỷ yên, bao gồm doanh thu từ các phòng chiếu hoặc cho thuê và bán đĩa Blu-ray; có khoảng 20.659.179 người Nhật (khoảng 1/6 dân số) đến rạp chiếu xem phim hoạt hình mà chưa kể đến số người xem trên các kênh truyền hình. ==== Hệ thống tương hỗ ==== Anime News Network mô tả quá trình sản xuất anime gồm: đơn vị lập kế hoạch (tiếng Nhật: kikaku) có vai trò lên kế hoạch và xúc tiến sản xuất anime, xưởng phim được kikaku thuê để gia công sản xuất anime (đặc biệt xưởng phim có thể là kikaku), đài truyền hình phù hợp với đối tượng người xem, nhà tài trợ kinh doanh sản phẩm đi kèm (các công ty sản xuất mô hình đồ chơi, công ty phát triển trò chơi điện tử, công ty xuất bản âm nhạc, nhà xuất bản manga,...). Hình thức liên kết giữa các xưởng phim hoạt hình Nhật Bản với các quốc gia khác cũng đã hình thành, như Trung Quốc, Hoa Kỳ. Đôi khi vẫn xuất hiện các bộ phim do các xưởng phim hoạt hình tại Nhật Bản tự sáng tạo và gia công sản xuất, thường được gọi là "original anime" (anime nguyên tác). Xưởng phim hoạt hình Nhật Bản tiến hành sản xuất gia công anime thường có: họa sĩ làm tự do, họa sĩ hoạt họa thuê ngoài từ xưởng phim khác, và nhiều khi đội nhóm cốt lõi sản xuất anime cũng có thể không thuộc xưởng phim. Nhiều họa sĩ hoạt họa được thuê ngoài từ các nước châu Á có mức lương thấp, tham gia thực hiện công đoạn gia công trong các bộ phim anime như Hàn Quốc, Hồng Kông, Trung Quốc, Philippines, Việt Nam, Indonesia, Thái Lan; thậm chí có cả họa sĩ đến từ các nước phương Tây. Xưởng phim hoạt hình Nhật Bản thường có một đội nhóm chuyên xem xét từng phân cảnh trong mỗi bộ phim với mục đích phát hiện các thương hiệu nổi tiếng, các áp phích và bản vẽ phần hậu cảnh đã đăng ký bản quyền, hoặc những điều tương tự gây ra vi phạm luật bản quyền; vì vậy giải pháp xin cấp phép bản quyền từ tác giả, nhại hoặc đặt lại tên thương hiệu nổi tiếng thường phổ biến trong ngành công nghiệp anime. Mức lương tăng dần theo thứ tự: họa sĩ làm tự do, đạo diễn tập phim truyền hình, họa sĩ CG, đạo diễn toàn bộ loạt phim truyền hình, giám đốc sản xuất; nhưng nhiều nhất là các diễn viên lồng tiếng Nhật Bản với khoảng hơn nửa triệu USD một năm. Ngành công nghiệp anime chịu ảnh hưởng giữa anime, manga, light novel và visual novel. Khi một manga, light novel,... được khán giả hâm mộ và trở nên ăn khách; ngay lập tức các đối tác tiến hành mua bản quyền (có thể là kikaku, xưởng phim,..) và thực hiện sản xuất anime. Ngược lại, nếu anime có một cốt truyện mới (original anime) trở nên nổi tiếng thì sau đó sẽ có hàng loạt manga được chuyển thể phát hành ăn theo, ví dụ như Haruhi Suzumiya. Ngoài ra, những hãng làm game visual novel như TYPE-MOON hay Aqua Plus đã có nhiều game được chuyển thể sang anime như Tsukihime, FATE/Stay night, Comic Party, To Heart. Một số game như Super Robot Taisen cũng đã rất thành công khi ăn theo những loạt anime về robot. Ngược lại, những anime mới nổi tiếng như Zero no Tsukaima, Strawberry Panic! đã được chuyển thể thành game cho hệ máy PS2 không lâu sau khi chúng được phát trên TV. ==== Phân phối sản phẩm ==== Các xưởng phim hoạt hình Nhật Bản thường phát sóng trực tiếp các bộ phim hoạt hình trên hệ thống đài truyền hình, hoặc chiếu trong hệ thống rạp; thậm chí trên các dịch vụ streaming trực tuyến trả tiền tại Nhật Bản (phổ biến như Nico Nico Douga, Bandai Channel, d-anime store,...); đặc biệt trong thời gian phim đang phát sóng tại Nhật Bản, nhân sự làm phim tổ chức các sự kiện trình chiếu nhằm thảo luận và quảng bá bộ phim với khán giả người Nhật. Sau đó, các xưởng phim hoạt hình đồng thời phát hành anime truyền hình hoặc phim điện ảnh anime ra thị trường Nhật Bản và toàn cầu trên phiên bản DVD hoặc Blu-ray, thông qua hệ thống bán hàng ngay tại xưởng phim hoạt hình hoặc hệ thống thương mại điện tử như amazon.com. Chuỗi hệ thống cửa hàng Animate cũng liên kết với các xưởng phim hoạt hình Nhật Bản để phân phối bán lẻ anime; Animate hiện tại có 117 cửa hàng hoạt động trong phạm vi 47 tỉnh ở Nhật Bản, 2 cửa hàng tại Đài Loan, 1 cửa hàng tại Hồng Kông, 1 cửa hàng tại Thái Lan. Nhật Bản cũng cấp phép bản quyền phát sóng trực tuyến trả tiền cho các sản phẩm tại thị trường nước ngoài với các đối tác như Crunchyroll, Funimation,... Các công ty được cấp phép bản quyền sẽ phân phối theo khu vực với các bản lồng tiếng hoặc phụ đề. Khối các nước nói tiếng Anh thường phát hành các bản lồng tiếng Anh; đặc biệt tại Việt Nam có HTV3, VTV6 thường hay phát sóng anime đã được cấp phép bản quyền trên truyền hình và có thể lồng tiếng Việt cho khán giả. Phim điện ảnh anime đôi khi là một phim rút gọn từ một anime truyền hình (Rahxephon hay Shakugan no Shana có cùng nội dung giống với phiên bản truyền hình nhưng được rút gọn còn 95 phút). Ngoài ra, các anime còn có thể có OVA, thường gồm khoảng 3 hay 4 tập, và được phát hành thẳng ra thị trường trên DVD mà không chiếu trên truyền hình bao giờ. === Thời gian phát sóng === Những bộ anime chiếu trên truyền hình thường được sản xuất theo mùa (season) trong năm, được gọi là TV series; mỗi mùa thường bao gồm 10-13 tập, có những phim chiếu cả hai mùa (khoảng từ 22-26 tập) hay cũng có loại chiếu quanh năm như One Piece, Naruto, Bleach... Anime mùa xuân được tính bắt đầu từ khoảng tháng 4 (mùa hoa anh đào Nhật Bản), vì thế anime mùa đông có thể gọi là mùa anime đầu tiên của năm mới. Anime mùa xuân: được phát sóng từ khoảng tháng 4 đến tháng 6. Anime mùa hạ: được phát sóng từ khoảng tháng 7 đến tháng 9. Anime mùa thu: được phát sóng từ khoảng tháng 10 đến tháng 12. Anime mùa đông: được phát sóng từ khoảng tháng 1 đến tháng 3. Ngoài một số anime được phát sóng vào giờ vàng tại Nhật Bản như One Piece, Naruto,... thì phần lớn "shinya anime" (hay còn gọi là “late night anime - anime đêm khuya”) được chiếu vào khoảng từ 22 giờ đến 4 giờ sáng trên các kênh nổi tiếng như Tokyo TV, TBS. === Diễn viên lồng tiếng === Nói đến anime ngoài phần hình, không thể không nói đến phần tiếng. Đội ngũ diễn viên lồng tiếng (Seiyuu) là một lực lượng không thể thiếu. Họ là những người chuyên nghiệp được đào tạo trường lớp bài bản. Megumi Hayashibara là một diễn viên lồng tiếng cực kỳ nổi tiếng, và cũng là ca sĩ, thường thể hiện luôn các ca khúc trong phim. Cô nổi tiếng với vai Lina Inverse trong phim Slayers, hay Rei Ayanami trong Neon Genesis Evangelion. === Sáng tác nhạc phim === Soundtrack của anime là một công việc có nhiều yêu cầu tại Nhật Bản. Do đó, mỗi một bộ phim anime thường có nhạc phim riêng, được các nhạc sĩ chuyên sáng tác nhạc cho anime viết. Các bài hát chủ đề thường được trình bày bởi các nhạc sĩ nổi tiếng hay các thần tượng ca nhạc Nhật Bản. Những bản nhạc này được dùng riêng cho mỗi anime đó, và sau đó được phát hành album gọi là OST (Original Soundtrack). Một số OSTs rất nổi tiếng là Cowboy Bebop, Vision of Escaflowne, Noir, hay .hack//SIGN. Những nhà soạn nhạc cho anime nổi tiếng có Yoko Kanno, hay Yuki Kajiura. Đặc biệt, một số anime không sử dụng bài hát tiếng Nhật mà là tiếng Anh, đôi khi có tiếng Hàn, và các ban nhạc nổi tiếng trên thế giới như Oasis, Duran Duran, Radiohead, Backstreet Boys. Tại Nhật Bản, Đại học Âm nhạc Senzoku Gakuen đã quyết định mở khóa đào tạo về nhạc phim hoạt hình. === Hệ thống giải thưởng === Ngành công nghiệp anime có nhiều giải thưởng thường niên, nơi vinh danh các giải thưởng tốt nhất của năm. Các giải thưởng lớn thường niên tại Nhật Bản bao gồm: Giải Ōfuji Noburō, Giải phim Mainichi cho Phim hoạt hình Xuất sắc, Giải hoạt hình Kobe, giải thưởng Liên hoan Nghệ thuật truyền thông Nhật Bản, Giải phim hoạt hình Tokyo và Giải Viện Hàn lâm Nhật Bản cho Hoạt hình của năm. Tại Hoa Kỳ, các bộ phim anime cạnh tranh trong giải thưởng Anime ICv2.com. Tại Mỹ cũng có giải thưởng Giải Anime Hoa Kỳ, nơi được thiết kế để công nhận sự vượt trội xuất sắc trong các tựa phim anime đã phát hành bởi ngành công nghiệp điện ảnh, giải thưởng được tổ chức một lần duy nhất vào năm 2006. Các tác phẩm anime cũng được nhận đề cử và chiến thắng trong các giải thưởng không dành riêng cho anime, như giải Oscar cho phim hoạt hình hay nhất hay giải thưởng Gấu Vàng. == Khác biệt giữa anime và cartoon == == Phân loại == Cũng như Manga, Anime cũng được phân loại theo đối tượng người xem, bao gồm Kodomo (thuộc phạm trù trẻ nhỏ), shoujo (thuộc phạm trù thiếu nữ), shounen (phạm trù dành cho chàng trai trẻ tuổi) và một phạm vi đa dạng các thể loại hướng đến khán giả trưởng thành như Seinen (phạm trù cho nam giới trưởng thành) hay Josei (phạm trù cho nữ giới trưởng thành). Anime về shounen và shoujo thỉnh thoảng bao hàm các yếu tố phổ biến với những nhóm người vị thành niên của cả hai giới trong một nỗ lực để đạt được sự tán thưởng. Anime dành cho người trưởng thành có lẽ nổi bật là một nhịp độ chậm hơn hoặc một cốt truyện phức tạp hơn, nơi mà những khán giả trẻ hơn thường cảm thấy không hấp dẫn, cũng như những chủ đề và tình huống bao hàm mang tính trưởng thành. Một nhánh nhỏ trong các tác phẩm anime dành cho người trưởng thành nổi bật với các yếu tố khiêu dâm và được gắn nhãn "R18" tại Nhật Bản, nhưng trên phương diện quốc tế thì những tác phẩm này đã được nhóm lại cùng với nhau dưới một thuật ngữ là hentai (tiếng Nhật ám chỉ "sự lầm lạc"). Ngược lại, một nhánh nữa của thể loại anime trong nhóm độ tuổi những người xem có sự kết hợp chặt chẽ giữa ecchi, các chủ đề giới tính hoặc sắc độ màu da mà không có những miêu tả của quan hệ tình dục, với tư cách được phân loại trong phương diện các thể loại mang tính hài hước hoặc harem; do tính phổ biến của chúng trong lứa tuổi những người trẻ và những người say mê anime trưởng thành, sự sáp nhập của các yếu tố ecchi trong anime được coi như là một khuôn bản của định dạng fan service. Sự phân loại gắn nhãn tiêu đề anime mang tính khác biệt ngay từ các thể loại khác nhau của hoạt hình và không được pha trộn bản thân nó để nhận diện dễ dàng. Gilles Poitras đã so sánh việc gắn nhãn tiêu đề Gundam 0080, cùng sự miêu tả phức tạp của nó trong chiến tranh như là một anime "giant robot" (robot khổng lồ) tương tự đơn giản như việc gắn nhãn tiêu đề Chiến tranh và hòa bình là một "tiểu thuyết chiến tranh". Khoa học viễn tưởng là một thể loại chủ yếu và bao gồm nhiều tác phẩm lịch sử quan trọng giống như Astro Boy của Tezuka và Tetsujin 28-go của Yokoyama. Một thể loại lớn nữa trong khoa học viễn tưởng là mecha, với một loạt thương hiệu Gundam trở thành một khuôn mẫu mang tính biểu tượng. Thể loại kỳ ảo bao gồm nhiều tác phẩm dựa trên truyền thuyết và văn học dân gian của cả phương Đông lẫn phương Tây; nhiều dẫn chứng bao gồm các câu chuyện cổ phong kiến Nhật Bản như InuYasha, hay sự mô tả các vị thần Bắc Âu tới Nhật Bản để bảo vệ một chiếc máy tính được gọi là Cây thế giới Yggdrasil trong Oh My Goddess!. Thể loại bị chồng chéo trong anime cũng khá phổ biến, chẳng hạn như sự pha trộn giữa sự tưởng tượng và tính hài hước trong Dragon Half, hay sự hợp nhất óc hài hước tếu táo như trong anime tội phạm Lâu đài của Cagliostro. Các phân loại khác dựa vào việc trong anime có cô gái phép thuật, harem, thể thao, võ thuật, phim chuyển thể từ văn học, tác phẩm đặc trưng nghiên cứu thời Trung Cổ hoặc chiến tranh. Sự phân loại được nổi bật để thám hiểm chủ nghĩa tình yêu đồng giới. Khi mà nguyên bản gốc tính khiêu dâm trong thuật ngữ ngôn ngữ học gồm yaoi (tình dục đồng giới nam) và yuri (tình dục đồng giới nữ) là thuật ngữ khái quát, được sử dụng trên phương diện quốc tế để mô tả bất kỳ những nổi bật trong các chủ đề hoặc sự phát triển của những mối quan hệ tình dục đồng giới mang thiên hướng lãng mạn. Trước năm 2000, các nhân vật tình dục đồng giới đặc trưng được sử dụng cho hiệu ứng gây hài hước, nhưng một số tác phẩm đã miêu tả sinh động những nhân vật này khá đứng đắn hoặc giàu tình cảm. === Thể loại theo độ tuổi === Kodomo (Nhật: 子供 (Tử cung), ): Phim anime cho trẻ em, khoa học viễn tưởng (như Mái ấm của Chi, Doraemon) Shōjo (Shoujo) (Nhật: 少女 (Thiếu nữ), ): Phim anime dành cho thiếu nữ, thường thiên về tình cảm, câu chuyện tình yêu, tình bạn,... (như Fruits Basket, Kimi ni Todoke, Con đường mùa xuân, Ore Monogatari, Orange). Shōjo-ai (Shoujo ai) (Nhật: 少女爱 (Thiếu nữ ái), ): Phim anime về đồng tính nữ, thường nhẹ nhàng, không nói về quan hệ thể xác mà chỉ có những cảm xúc, tình cảm (như Strawberry Panic!). Shōnen (Shounen) (Nhật: 少年 (Thiếu niên), ): Phim anime dành cho các chàng trai trẻ tuổi, thiên về các loại như khoa học viễn tưởng, thể thao, hành động, kinh dị và thường mang tính chất bạo lực, máu me (như Dragon Ball, One Piece, Naruto). Shōnen-ai (Shounen ai) (Nhật: 少年爱 (Thiếu niên ái), ): Phim anime về tình yêu giữa đồng tính nam, thường nhẹ nhàng, không nói về quan hệ thể xác mà chỉ có những cảm xúc, tình cảm (như Graviation, Super Lovers) Seinen (Nhật: 青年 (Thanh niên), ): Phim anime dành cho lứa tuổi thanh niên, trung niên, cụ thể nhằm vào những đối tượng nam 18 đến 30 tuổi, nhưng người xem có thể lớn tuổi hơn, với một vài bộ truyện nhắm đến các doanh nhân nam quá 40. Thể loại này có nhiều phong cách riêng biệt, nhưng thể loại này có những nét riêng biệt, thường được phân vào những phong cách nghệ thuật rộng hơn và phong phú hơn về chủ đề, có các loại từ mới mẻ tiên tiến đến khiêu dâm (như Akira, Berserk, Vagabond, Metropolis, Solanin, Gantz, Kaiba) Josei (Nhật: 女性 (Nữ tính), ) hoặc Redīsu (レディース, ) hay Redikomi (レディコミ, ): Thể loại của manga hay anime được sáng tác chủ yếu bởi phụ nữ cho những độc giả nữ từ 18 đến 30. Josei manga có thể miêu tả những lãng mạn thực tế, nhưng trái ngược với hầu hết các kiểu lãng mạn lý tưởng của Shoujo manga với cốt truyện rõ ràng, chín chắn. Makoto (Nhật: 誠人 (Thành nhân), ) hay Seijin (Nhật: 成人 (Thành nhân), ): Tương tự Josei nhưng dành cho nam giới. === Thể loại đặc trưng === Action: Phim anime hành động (như One Piece, Naruto, Bleach, Fate/Zero, Black Lagoon, Đại chiến Titan) Adventure: Phim anime phiêu lưu, mạo hiểm (như InuYasha, Tsubasa, Mushishi, Black Lagoon) Anthropomorphism hay "thuyết hình người" là thể loại trong đó những sinh vật không phải là con người, đồ vật vô tri giác, các hiện tượng tự nhiên hay siêu nhiên được gán cho đặc tính của loài người. Nếu bạn coi phim mà bắt gặp một con thú hay đồ vật (không tính trí thông minh nhân tạo) nói chuyện hay làm những việc giống con người thì đó chính là thể loại này. Bishōjo (Bishoujo)/Moe: Phim anime có các nhân vật chính là nữ, xinh đẹp (như Mai-HiME) Bishōnen (Bishounen): Phim anime có các nhân vật chính nam, nhưng thường được vẽ như nữ, hoặc những nhân nữ có nét đẹp nam tính (như Ran The Samurai Girl) Bounty Hunters: Phim anime nói về thợ săn tiền thưởng. (như Cowboy Bebop, Vampire Hunter D, Hunter x Hunter) Clubs: Phim anime xoay quanh các hoạt động trong câu lạc bộ (CLB) ở trường học. Thường một CLB phải có 3 thành viên trở lên. (như Suzumiya Haruhi) Comedy: Phim anime hài (như Lũ ngốc, bài thi và linh thú triệu hồi, School Rumble, Gintama, Nichijou, Golden Boy, Great Teacher Onizuka, Danshi Koukousei no Nichijou) Coming of Age: Phim anime miêu tả quá trình trưởng thành của nhân vật chính. Họ phải đối đầu với thử thách, quyết định quan trọng, chịu trách nhiệm hay rút ra được một bài học bằng cách vượt qua trở ngại để trưởng thành hơn. (như Naruto, Dragon Ball) Daily life: như Slice of life. Demetia: Những phim thuộc thể loại này thường "điên điên" Fooly Coolly, FLCL Detective: Phim anime thám tử (như Thám tử lừng danh Conan, Death Note, Liar Game, Monster, Thám tử Kindaichi, Pluto) Drama: Phim anime kịch tính, có thể tạo cảm giác vui vẻ hay đau buồn, thậm chí phẫn uất (như Metropolis, Colorful) Dystopia: trong tiếng Hy Lạp cổ là: δυσ- "xấu xa, bệnh hoạn" và τόπος, "nơi chốn, địa quan", còn gọi là cacotopia hay "phản không tưởng". Trong văn học, xã hội tương lai suy thoái rơi vào tình trạng bạo lực, chính phủ nắm quyền tất cả và thường dưới chủ nghĩa không tưởng. Dystopia trong văn học lên tiếng cảnh báo về tình trạng vô chính phủ về mặt đạo đức trong một kỷ nguyên khoa học nếu con người cứ sống theo lề lối hiện tại sẽ dẫn tới hậu quả tất yếu. Do đó, dystopia được coi là một loại không tưởng tiêu cực và thường được mô tả như chính phủ chuyên quyền độc đooán. Dystopia thường đặc trưng bởi hệ thống kiểm soát xã hội, ít hoặc hoàn toàn không có quyền tự do cá nhân, ngôn luận và đất nước liên tục trong tình trạng xung đột hay bạo lực (như Psycho-Pass). Family: Phim anime về gia đình. (như Lá thư gửi đến Momo, Ame và Yuki - Những đứa con của Sói, Tokyo Godfathers, Colorful) Fantasy hoặc Fantasy world: Phim anime có bối cảnh tưởng tượng, phép thuật, giả tưởng (như Slayers, Fate/Zero, Re:Zero kara Hajimeru Isekai Seikatsu) Food: Phim về ẩm thực (như Shokugeki no Souma) Game: Phim anime được chuyển thể từ game (như Utawarerumono). Gender bender: Phim anime trong đó giới tính của nhân vật bị lẫn lộn: nam hoá thành nữ, nữ hóa thành nam... (như Hourou Musuko) Girls-with guns: Phim anime có mấy cô bắn súng (như Noir, Gunslinger Girl, Chrono Crusade, Black★Rock Shooter) Gunfights: Phim anime có 2 phe hoặc nhiều hơn đấu súng với nhau. (như Black Lagoon) Harem: Phim thường có nhân vật chính (có thể không có điểm gì đặc biệt) có nhiều nhân vật phụ là nữ xung quanh, hâm mộ (nếu là nam) và nhiều nhân vật phụ nam xung quanh, hâm mộ (nếu là nữ). Những nhân vật nữ và nam phụ thường là bishounen (trai đẹp) hoặc bishoujo (gái xinh) (như Love Hina, Ai Yori Aoshi, Kami nomi zo Shiru Sekai, Date A Live, Chàng quản gia, Nisekoi, HighSchool DxD, Princess Lover!) High school: tương tự School nhưng xoay quanh những nhân vật đang học cấp 3 (như Yahari Ore no Seishun Love Come wa Machigatteiru, Aku no Hana, Colorful, Sakurasou pet na kanojo). Hikikomori (Nhật: 引きこもり, ): Thể loại về hiện tượng những người tự giam mình trong căn phòng đơn lẻ và từ chối tham gia vào đời sống xã hội và gia đình trong thời gian dài hơn sáu tháng, chỉ liên hệ duy nhất với người thân trong gia đình. (như Chào mừng đến với N.H.K!) Historical: Phim anime có liên quan đến thời xa xưa. (như Kingdom, Vinland Saga, Arslan Senki, Berserk) Horror: Phim anime kinh dị (như Another, Nhật ký tương lai, Blood+, Gyo, Shiki, Elfen Lied, Yami Shibai, Jigoku Shoujo, Akira, Corpse Party, Tokyo Ghoul, Asura, Vampire Hunter D, Ghost Hound) Juujin (Nhật: 獣人 (Thú nhân), ): Thể loại những nhân vật tuy là người nhưng mang đặc điểm của loài vật như có tai hoặc đuôi thú. Điển hình như là Horo trong Sói và gia vị với đôi tai và đuôi sói. Live action: Phim anime đã được chuyển thể thành phim người thật đóng (như Yamada kun to 7 nin no Majo (Live-action)) Live show: Phim anime về chương trình biểu diễn trực tiếp Love Polygon: Trên lý thuyết thì là mối quan hệ tình cảm giữa nhiều người (ví dụ A thích B, B thích C và C thích ngược lại A - có thể nhiều hơn 3 người) và không bắt buộc phải khác giới (có thể là đồng giới). Nhưng trong anime thì thường là hai nhân vật nữ thích một chàng - hay con gọi là tình tay ba (Như School Days). Mafia: Phim anime có mafia (như Gungrave, Baccano!, Black Lagoon) Mahō Shōjo (Mahou Shoujo) (Nhật: 魔法少女 (Ma pháp Thiếu nữ), ): Phim anime có các nhân vật chính là nữ, có phép thuật, biến hình, sức mạnh siêu nhiên (như Thủy thủ Mặt trăng, Mahō Shōjo Madoka ☆ Magica) Mahou Shounen (Nhật: 魔法少年 (Ma pháp Thiếu niên), ): Tương tự Mahou Shoujo nhưng dành cho nam Magic: Phim anime giả tưởng có tồn tại những sức mạnh siêu nhiên như thần chú, gây phép, vòng tròn ma thuật...(như Dragon Ball, Fairy Tail, Fate/Zero, Mahouka Koukou no Rettousei) Manga: Phim anime được chuyển thể từ Manga (như Berserk, Sidonia no Kishi, Nana, Metropolis) Martial Arts: Giống với tên gọi, bất cứ gì liên quan đến võ thuật trong truyện từ các trận đánh nhau, tự vệ đến các môn võ thuật như akido, karate, judo hay taekwondo, kendo, các cách né tránh. Mecha hay Meka (Nhật: メカ, ): Còn được biết đến dưới cái tên meka hay mechs, là thể loại nói tới những cỗ máy (tiếng Anh: mechanic, thợ máy) biết đi, robot hoặc máy móc (thường là do phi công cầm lái) (như Gundam) Military: Phim anime có xoay quanh chủ yếu về quân đội (như Sidonia no Kishi) Music: Phim anime kể về cuộc sống hằng ngày của những nhân vật có liên quan tới âm nhạc. Thường là theo một thể loại nhạc nhất định, xoay quanh quá trình luyện tập, khao khát hoàn thiện bản thân của nhân vật và theo đuổi một mục tiêu nào đó. Thể loại này khác với thể loại Sports. (như K-ON!, Beck, Khúc nhạc Nodame, Piano no Mori, Giai điệu trên triền dốc, Hibike! Euphonium, Nana, Kowarekake no Orgel, Love Live!, Lời nói dối tháng Tư) Movie: Phim điện ảnh anime không phải dạng OVA hay TV SERIES (như Pokémon, Metropolis) Mystery: Thể loại thường xuất hiện những điều bí ẩn không thể lý giải được và sau đó là những nỗ lực của nhân vật chính nhằm tìm ra câu trả lời thỏa đáng (như Hắc Quản Gia, Another) Ninja (Nhật: 忍者 (Nhẫn giả), ): Phim anime về một loại điệp viên hoặc sát thủ tồn tại ở Nhật Bản vào đầu thế kỷ 14. Họ thường mặc những bộ trang phục màu đen và ẩn nấp trong bóng tối để thực thi nhiệm vụ. Khả năng của ninja cũng vượt trội con người bình thường (như Ranma ½) Novel: Phim anime được chuyển thể từ tiểu thuyết (như Fate/Zero, Kem đá, Sword Art Online, Colorful) Otaku (Nhật: おたく/ オタク, ): Phim anime chỉ một kiểu người, kì quái (tiếng Anh: geek), làm bạn những người giống như họ hoặc dùng để chỉ một ai đó quá say mê (mọt) một cái gì, đặc biệt là anime (hoạt hình), manga (truyện tranh), hay game (trò chơi điện tử). Chữ này theo thế giới lại được hiểu chung là những người đọc truyện tranh và xem phim hoạt hình. Ở nước ngoài, "otaku" thường được dùng để chỉ những người hâm mộ anime hay manga và gọi một ai đó là "otaku" cũng "không có gì" là xấu hay lăng mạ, chỉ là bất bình thường (như Ore no Imōto ga Konna ni Kawaii Wake ga Nai, No Game No Life, Chào mừng đến với N.H.K!) OVA: Ngoại truyện Parallel universe: Vũ trụ song song (hay còn gọi là thế giới song song) là một thế giới khác riêng biệt tồn tại song song với chúng ta. Thế giới khác đó đôi khi là biến thể của chính thế giới chúng ta, chẳng hạn như thế giới trong gương. Nói tóm lại, thể loại này có nhiều hơn 1 thế giới/ vũ trụ/ hiện thực tồn tại trong anime (như Bleach, Gintama, Higurashi no Naku Koro ni, Re:Zero kara Hajimeru Isekai Seikatsu) Parody: Phim anime hài hước, nhái hay chọc những anime/manga khác (như Excel Saga, Gintama) Proxy battles: Phim anime về những trận chiến mà con người dùng những sinh vật hoặc rô bốt chiến đấu thay thế cho họ, mặc cho họ cho ra lệnh hay chỉ đơn thuần là chuyển chúng sang chế độ chiến đấu. Thường là những vật có thể huấn luyện được (Pokemon), hoặc chỉ là ảnh không gian 3 chiều (như Pokémon, Yu☆Gi☆Oh!) Psychological: Thể loại liên quan đến những vấn đề về tâm lý của nhân vật (tâm thần bất ổn, điên cuồng...) (như Nhật ký tương lai, Higurashi no Naku Koro ni) Romance: Phim anime lãng mạn,cảm động (như Ichigo 100%, Baby love, Vườn ngôn từ, 5 Centimet trên giây, Khúc nhạc Nodame, Koi Kaze, Kaichou wa Maid- sama) Samurai (Nhật: 侍 (Thị), ): Phim anime có samurai (như Rurouni Kenshin, Samurai Champloo, Samurai 7) School: Phim anime trường học (như Nữ sinh Trung học - Azumanga Daioh, Kem đá, Yahari Ore no Seishun Love Come wa Machigatteiru, Danshi Koukousei no Nichijou, Colorful) Sci-Fi: Phim anime khoa học viễn tưởng (như Ong đưa thư, Patema đảo ngược, Serial Experiment Lain, Uchū Kyōdai, SteamBoy, Paprika, Metropolis) Slice of life (SOL): Phim anime trong đó tập trung miêu tả một khía cạnh của cuộc sống đời thường với những nhân vật rất đời thường. Bây giờ tại sao người ta lại muốn xem một bộ phim hoạt hình về những người bình thường làm những việc hoàn toàn bình thường như thế? Khá rõ ràng là bởi cuộc sống của "họ" thường tốt hơn so với của riêng bạn… Nếu bạn đã luôn luôn có các vấn đề phải giải quyết, những phiền hà và rắc rối trong cuộc sống mà bạn phải "căng não" ra để điều chỉnh, Slice of Life sẽ chỉ cho bạn thấy rất rất nhiều cách khác nhau để làm điều đó. Chúng cũng sẽ cho bạn một cái nhìn tươi mới và lạc quan hơn, nâng cao tinh thần cho bạn ở cuộc sống nói chung và thúc đẩy bạn đi ra thế giới bên ngoài và có thể sống với nó một cách đầy đủ hơn… (như Hanasaku Iroha, Non Non Biyori, Gin no Saji, Kokuriko-zaka Kara) Space Travel: Phim anime có liên quan đến vũ trụ (như Dragon Ball GT, Planetes, Sidonia no Kishi, Uchū Kyōdai) Sports: Phim anime thể thao (như Tsubasa Giấc mơ sân cỏ, EyeShield 21, Slam Dunk, Kattobi Itto) Super Hero: Phim về siêu anh hùng (như One-Punch Man) Super Power: Phim anime nhằm hướng đến những bộ anime có những nhân vật có sức mạnh đặc biệt (như Toaru Majutsu no Index, Angel Beats!, Metropolis, Akira) Supernatural: Phim anime thể hiện những sức mạnh đáng kinh ngạc và không thể giải thích được, chúng thường đi kèm với những sự kiện trái ngược hoặc thách thức với những định luật vật lý (như Toaru Majutsu no Index, Fate/Zero) Swordplay: Phim anime có các cảnh hành động trong đó nhân vật sử dụng kiếm hay những thứ vũ khí tương tự như vậy một cách thao luyện (như Gintama, Sword Art Online, Rurouni Kenshin, Bleach, Vagabond, Swords of Stranger) Time Travel: Phim anime về du hành thời gian. Vì một lý do nào đó, nhân vật có thể nhảy về quá khứ hoặc tương lai (như InuYasha, Cô gái đi xuyên thời gian, Mahō Shōjo Madoka ☆ Magica, Boku Dake Ga Inai Machi) Time Loop: Phim anime về vòng lặp thời gian. (Steins;Gate, Yojōhan Shinwa Taikei, Mahō Shōjo Madoka ☆ Magica, All You Need Is Kill, Re:Zero kara Hajimeru Isekai Seikatsu) Tragedy (bi kịch): Phim anime chứa đựng những sự kiện mà dẫn đến kết cục là những mất mát hay sự rủi ro to lớn (như Angel Beats!, Akame ga kill, Lời nói dối tháng Tư, Fate/Zero, Metropolis) Underworld: Thế giới ngầm - thể loại liên quan đến những tổ chức tội phạm. Thế giới trong bóng tối này ít người biết đến nơi xảy ra những chuyện phạm pháp như giết người, buôn lậu, bán thuốc phiện, những cuộc ẩu đả thanh toán lẫn nhau... xảy ra như cơm bữa. Những tổ chức trong thế giới này thường là Mafia hoặc Yakuza (xã hội đen) (như Durarara!!, One Piece, Baccano!, Black Lagoon) Vampire: Phim anime về Ma cà rồng - những sinh vật giống con người nhưng có răng nanh dài để hút máu con người. Trong những bộ anime, chúng sống trong bóng đêm, sợ hãi trước ánh nắng ban ngày và có nhược điểm sợ hành, thánh giá... Ngoài ra, họ còn có tuổi thọ cao hơn con người rất nhiều và trong nhiều tác phẩm còn có siêu năng lực (như Blood Lad, Hellsing, Vampire Hunter D, Strike the Blood) Violence: Phim anime dính dáng tới bạo lực (như Dragon Ball Kai, Black Lagoon) Visual novel: Phim anime được chuyển thể từ những game nhập vai dùng text để điều khiển nhân vật với những hình minh họa tĩnh (như Date A Live, Little Busters!) === Thể loại nhạy cảm === Adult: Phim anime có các cảnh nhạy cảm, chỉ phù hợp với lứa tuổi 17+ (như Seikon no Qwaser) Ecchi: Phim anime thường có những cảnh hở hang gây cười để dụ khán giả, nhưng không có cảnh quan hệ tình dục (như Mahoromatic) Erotic game (Eroge): chỉ video game hay trò chơi máy tính của Nhật Bản có các đặc điểm mang nội dung khiêu dâm, là một dạng trong artwork anime-style. Trong tiếng Anh, eroge được gọi là hentai game dựa theo định nghĩa từ hentai trong tiếng lóng của tiếng Anh, đôi khi được viết ngắn lại thành H games. Ở Nhật Bản, Eroge chỉ tới những game 18+. Đa phần là visual novel hay mô phỏng hẹn hò nhưng không chỉ giới hạn nhiêu đó. Nói tóm lại, miễn game đó có chứa nội dung 18+ mặc cho có cốt truyện thế nào đi nữa thì đều vẫn liệt vào hàng eroge (như Kono Koi, Seishun ni Yori) Hentai: Phim anime bao gồm quan hệ thể xác giữa những người khác giới, chứa nội dung 18+ (cấm trẻ em dưới 18 tuổi) (như Akiba Girls, La Blue Girl, Yosuga no Sora) Mature: Thể loại dành cho lứa tuổi 17+ bao gồm các pha bạo lực, máu me, chém giết, tình dục ở mức độ vừa (như Dakara Boku wa, H ga Dekinai) Soft Yaoi: Nặng hơn Shounen-ai. Yaoi: Phim anime về tình yêu giữa đồng tính nam, có thể có cảnh quan hệ tình dục (như Boku no pico) Yuri: Phim anime về đồng tính nữ, có thể có cảnh quan hệ tình dục (như Kannazuki no Miko) == Tính cách nhân vật == === Tsundere === Một tính cách nhân vật thường nghiêm nghị, lạnh lùng và/ hoặc không thân thiện với người mà họ thích; trong khi thỉnh thoảng vẫn lộ ra cảm giác yêu thương và ấm áp mà họ đang ẩn dấu trong lòng do xấu hổ hoặc lo lắng, cảm xúc thay đổi hoặc chỉ là không thể có những hành động tốt trước mặt người mà họ thích. Nó là một từ kết hợp giữa từ tiếng Nhật tsuntsun (ツンツン?) có nghĩa là nghiêm nghị hoặc không thân thiện, và từ deredere (デレデレ?) có nghĩa là "ủy mị". Classic Tsundere: Bạo lực từ trong ra ngoài, có 2 chế độ nhất định: tsun (mạnh mẽ) và dere (nhút nhát), một khi đã chuyển chế độ rồi thì không có chuyện chuyển lại nữa (trừ lúc ghen). Có thể xem các nhân vật kiểu này là dòng điện một chiều. (như nhân vật Aisaka Taiga trong Toradora). Modern Tsundere: Nhân vật thường thay đổi tính cách cũng như tâm trạng nhanh chóng mặt: có thể vừa đỏ mặt e thẹn đó nhưng chỉ vài giây sau, nhân vật khác có thể ăn nguyên... một quyển từ điển (hay thứ gì đó ném được) mà không được báo trước. Đặc điểm này cũng làm cho những nhân vật trở nên lôi cuốn một cách lạ kì (đó là lý do điện xoay chiều luôn cho công suất cao hơn dòng 1 chiều). (như nhân vật Fujibayashi Kyou trong Clannad). Mayadere: Trái với tsundere, nhân vật bình thường rất hiền, có khi yếu đuối và thường rất chung thủy, nhưng khi phát hiện người yêu đang bị dụ dỗ hay cặp kè với ai đó thì nhân vật sẽ trở nên hoàn toàn khác: biến đổi tâm lý điên loạn và có khi giết cả tình địch. Có thể xem mayadere là khái niệm kết hợp giữa tsundere và yandere, đó là luôn tìm cách lấy mạng của nhân vật khác cho đến khi sự quan tâm đến nhân vật này được chứng thực. === Yandere === Một thuật ngữ tiếng Nhật dành cho một nhân vật lúc đầu yêu thương và chăm sóc một người mà họ thích rất nhiều cho đến khi tình yêu lãng mạn, sự ngưỡng mộ và lòng chung thủy của họ dần trở nên nóng nảy và tinh thần bị tàn phá một cách tự nhiên thông qua sự bảo vệ quá mức cần thiết, bạo lực, tính hung hăng hoặc cả ba. Thuật ngữ này là một từ kết hợp của từ yanderu (病んでる?) nghĩa là một bệnh về tinh thần hoặc cảm xúc, và từ deredere (でれでれ?), nghĩa là thể hiện tình cảm chân thật mạnh mẽ. Nhân vật Yandere có tinh thần không ổn định về suy nghĩ trong lòng, tâm lý bất ổn, sử dụng bạo lực cực đoan hoặc tính hung hăng như một lối thoát cho những cảm xúc của họ. Nhân vật trái ngược hoàn toàn với tsundere, khi tâm lý bất ổn có thể giết cả tình địch; yandere được xem là một trạng thái rối loạn tâm lý bắt nguồn từ ý muốn độc chiếm cho riêng bản thân (như nhân vật Gasai Yuno trong Mirai Nikki). === Coodere (hay Kuudere) === Nhân vật luôn giữ vẻ ngoài lạnh lùng và chỉ nói khi thật sự cần thiết, đến khi tìm hiểu kĩ và tin tưởng một ai đó thì nhân vật mới mở lòng ra với người đó (như nhân vật Saber trong Fate/stay night, Sakagami Tomoyo trong Clannad, Tobiichi trong Date A Live, Vietnam trong Hetalia). === Dandere === Nhân vật gần tương đồng Coodere, nhưng vẻ ngoài lạnh lùng có thể không phải là lớp vỏ bọc mà đơn thuần do ngại ngùng và khó giao tiếp. Nhân vật chỉ cảm thấy thoải mái khi trò chuyện với những người thực sự tin tưởng (như nhân vật Nagato Yuki trong Suzumiya Haruhi no Yūutsu). == Toàn cầu hóa == Anime đã trở thành một ngành thương mại mang lại lợi nhuận cao trong khối các quốc gia phương Tây, điều này đã được khẳng định rõ ràng bằng việc thương mại hóa từ rất sớm các phiên bản chuyển thể của phương Tây từ anime, ví dụ như Astro Boy. Ngay từ thuở sơ khai, các phiên bản chuyển thể của người Mỹ trong những năm 1960 đã giúp Nhật Bản mở rộng vào sâu bên trong thị trường Châu Âu lục địa; đầu tiên là việc các sản phẩm hướng tới đối tượng trẻ em tại Châu Âu và Nhật Bản như Heidi, Vicky the Vicking hay Barbapapa đều được phát sóng ở nhiều nước khác nhau. Đặc biệt tại Ý, Tây Ban Nha và Pháp đã hình thành nên một sự ảnh hưởng tới sản lượng đầu ra của Nhật Bản, do giá thành bản quyền khá rẻ của nó và số lượng sản xuất phong phú. Đặc biệt khi Ý đã nhập khẩu hầu hết thị trường anime bên ngoài của Nhật Bản. Sự ảnh hưởng mang tính đại chúng này đã gây ấn tượng, tạo thành một sự phổ biến của anime trong thị trường các nước Nam Mỹ, Ả Rập và Đức. Bắt đầu từ năm 1980 đã chứng kiến sự xuất hiện của các phim anime Nhật Bản tiến sâu vào bên trong nền văn hóa người Mỹ. Trong những năm 1990, hoạt hình Nhật Bản dần dần đã đạt được tính phổ biến đại chúng tại Hoa Kỳ. Nhiều công ty truyền thông như Viz hay Mixx đã bắt đầu xuất bản và phát hành anime bản quyền bên trong thị trường Hoa Kỳ. Sự phát triển của Internet cung cấp cho khán giả phương Tây cách thức dễ dàng hơn để truy cập tới những nội dung đặc trưng của Nhật Bản. Điều này càng đặc biệt hơn trong trường hợp có các dịch vụ xem phim trực tuyến bản quyền như Netflix và Crunchyroll. Như là một kết quả trực tiếp tất yếu, nhiều ảnh hưởng khác nhau xoay quanh Nhật Bản đã tăng lên. === Phản ứng của người hâm mộ === Các câu lạc bộ anime nhanh chóng phát triển thành các hội chợ anime trong những năm 1990 với tên gọi "anime boom", một thời kỳ được đánh dấu bằng sự gia tăng tính phổ biến đại chúng của anime. Các hội chợ này được dành riêng cho anime, manga và bao gồm nhiều yếu tố giống như các cuộc thi cosplay, đồng thời có những khách mời của ngành công nghiệp anime. Cosplay là một từ lóng kết hợp của "costume play - hóa thân vào trang phục", và nó không chỉ độc nhất trong anime mà đã trở nên phổ biến trong các cuộc thi và các buổi dạ hội giả trang tại các hội chợ anime. Ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản đã đi sâu vào thói quen sử dụng tiếng Anh thông qua tính phổ biến đại chúng của truyền thông, bao hàm cả otaku - một thuật ngữ tiếng Nhật mang hàm ý xúc phạm, nhưng lại được sử dụng bình thường trong tiếng Anh để chỉ một người hâm mộ manga và anime. Một từ khác cũng được sử dụng rộng rãi để mô tả những người hâm mộ tại Hoa Kỳ là "wapanese", có nghĩa là những người da trắng khao khát được trở thành người Nhật; hoặc còn được biết dưới tên gọi "weeaboo" - nghĩa là những người bộc lộ "một sự hứng thú đến cuồng nhiệt" trong nhóm văn hóa anime Nhật Bản, nơi mà thuật ngữ này được hình thành như một sự sỉ nhục, bao hàm các bài viết đã được đăng trên bảng thông báo từ trang website diễn đàn hình ảnh 4chan. Những người yêu thích anime thường tạo ra fan fiction và fan art, bao gồm cả các bản vẽ đồ họa máy tính cùng với anime music video. Người Nhật nói rằng anime lấy chất liệu từ cuộc sống gần gũi với đời thực, một số địa danh được trình chiếu trên anime và bảo tàng Ghibli đã trở thành địa điểm du lịch. Nhật Bản chịu ảnh hưởng của anime vào sâu trong đời sống xã hội như hình thức cà phê manga, ô tô mang phong cách hoạt hình; thiết bị công nghệ cũng được truyền cảm hứng từ anime như máy ảnh và xe mô tô phân khối lớn. Nhiều phim điện ảnh Hollywood bị ảnh hưởng bởi cách xây dựng cốt truyện và kịch bản từ anime. Kết quả điều tra mục đích học tiếng Nhật của sinh viên Trung Quốc năm 2010 tại đại học Phục Đán (một trường ngôn ngữ và văn hóa Nhật Bản) thì 78% học để hiểu phim và phim hoạt hình của Nhật Bản. ==== Đặc điểm của người hâm mộ ==== ===== Độ tuổi ===== Đối tượng người xem anime không chỉ giới hạn, dừng lại ở trẻ em như cartoon của nước ngoài mà ngày càng đa dạng mở rộng từ tuổi mới lớn, tuổi đôi mươi tiến dần đến tận lứa tuổi 30 và người lớn. Chính khách người Nhật Asō Tarō thừa nhận là người rất hâm mộ manga Rozen Maiden. ===== Tâm lý ===== Student.mynavi của Nhật Bản đã thảo luận những tác động của anime/manga đến cuộc sống, tâm lý, suy nghĩ của những người hâm mộ; bài viết lập tức trở thành đề tài được bàn luận trên nhiều website về anime/manga. Student.mynavi đã đánh giá về sự tác động tích cực của anime/manga đến đời sống của một bộ phận người hâm mộ Nhật Bản rất đáng kể. Một trong những nét độc đáo của anime là lấy chất liệu chủ yếu từ cuộc sống nên gần gũi với đời thực. Chính vì vậy, khi chứng kiến nhân vật mình yêu thích cố gắng thực hiện điều gì đó, thì người xem cũng bị thúc đẩy khát khao muốn vượt qua, muốn chiến thắng, giống như thần tượng của mình. Anime có quyền năng riêng đối với khá nhiều người. Cũng giống như bất kỳ phương tiện truyền thông nào khác, những lời nói và thông điệp trong anime có thể tác động đến cảm xúc của người xem, có thể khiến ai đó hạnh phúc hoặc được an ủi. Vì vậy có thể nói rõ ràng nếu tiếp thu và biết thưởng thức có chọn lọc, anime/manga là sản phẩm văn hóa có giá trị rất tích cực đối với những ai đã trót yêu và hâm mộ nó. Tuy nhiên, với một sản phẩm văn hóa rất dễ gây “nghiện” này, việc lãng phí quá nhiều thời gian, tâm trí và để cuộc sống của mình chỉ xoay quanh gói gọn trong bức tường chật hẹp của chúng, sẽ dễ dẫn đến những tác động tiêu cực không đáng có. Mà tiêu cực luôn là yếu tố quan trọng hơn để xã hội nhìn vào và đánh giá một sự vật, một vấn đề. Sau khi đọc bài viết từ trang Student.mynavi, rất nhiều fan của trang báo trực tuyến chuyên về anime/manga đã hào hứng tham gia thảo luận trên diễn đàn của Animenewsnetwork (ANN), có trụ sở tại Mỹ này những ảnh hưởng tốt/xấu mà anime/manga đã ảnh hưởng tới họ. Dường như, so với các fan Nhật bản và châu Á, fans phương Tây cũng có tình yêu dành cho anime/manga không hề kém cạnh. Tuy nhiên, tình cảm mà họ dành cho nét văn hóa Nhật Bản đặc biệt này không quá dữ dội và “cực đoan” như nhiều fan châu Á. Mọi đánh giá, nhận xét về các tác động tích cực của anime đều rất khách quan, chân thực, ít có sự áp đặt thiên kiến cá nhân của mình lên một thành viên khác, dẫu thành viên đó đang nói tiêu cực đến bộ manga/anime mà họ mến mộ. ==== Các ví dụ thực tế ==== ===== Tích cực ===== Một nữ kỹ sư cơ khí 26 tuổi. Cô từng mong muốn tự viết nhạc. Nhưng cô thực sự không biết bắt đầu bằng cách nào nếu không có một ngày cô xem Hatsune Miku, một thần tượng nổi tiếng trong giới Vocaloid. Từ đó cô bắt đầu học sáng tác và viết nhạc. Một phụ nữ 30 tuổi khác kể về việc cô đã gia nhập một câu lạc bộ bóng rổ vì cảm hứng từ bộ truyện tranh Slam Dunk. Cô cũng có nhiều kinh nghiệm hay trong quá trình chơi bóng vì “ngấm” cách chơi của các nhận vật trong bộ truyện. Cũng nhờ Final Fantasy VII, một cô gái 25 tuổi hiểu rằng vị trí của mình chính là làm việc bằng tất cả đam mê trong ngành công nghiệp game. Một anh chàng 25 tuổi, đã được truyền cảm hứng để không bao giờ từ bỏ việc tìm kiếm một công việc tốt nhờ manga Glass Mask. Một phụ nữ 29 tuổi chia sẻ, bất cứ khi nào đang trải qua những giây phút đau đớn trong cuộc đời, cô luôn luôn nhớ những lời của Jinbei, một tên cướp biển trong One Piece: “ Đừng chỉ đếm những điều mà bạn đã bị mất", có nghĩa là người ta phải đếm những điều mà họ đang có. Nói cách khác, người này biết rằng tập trung vào những khoảnh khắc hạnh phúc hơn trong cuộc sống quan trọng hơn là chỉ nghĩ đến những điều xấu ảnh hưởng đến cuộc sống của mình. ===== Tiêu cực ===== Tuy nhiên, không phải tất cả người hâm mộ của anime/manga đều có lối sống và suy nghĩ tích cực như vậy, thậm chí với nhiều người những tác động của anime/manga khiến cuộc sống của họ trở nên tồi tệ hơn. Trong trường hợp của một người đàn ông 23 tuổi, anh trở thành một otaku sau khi xem anime The Melancholy of Haruhi Suzumiya. Tương tự như vậy, một phụ nữ trẻ 26 tuổi cũng đổ lỗi cho tình trạng hiện tại của cô sau khi quá ghiền anime Neon Genesis Evangelion. Trong thế giới của trò chơi trực tuyến có nguồn gốc từ anime, một người đàn ông 39 tuổi đổ lỗi cho game Final Fantasy XI khi anh trở thành con nghiện của trò chơi trực tuyến này và nó hiện chiếm hết tất cả thời gian, tâm trí thậm chí cả sức khỏe mà anh mà không sao dứt ra được. ==== Tác phẩm đóng góp của người hâm mộ ==== Thông thường, cả năm sau khi chiếu ở Nhật thì các anime mới được lồng tiếng Anh xong và phát hành Blu-ray ra thị trường nước ngoài; nhưng hiện nay đã mở rộng hơn khi cấp phép bản quyền trình chiếu đồng thời với thị trường Nhật Bản do sự phát triển của truyền hình internet trả tiền như Funimation, Crunchyroll, Netflix,... Việc chờ đợi cấp phép bản quyền có thể do: người sáng tạo không muốn cấp phép vì chính tác giả không thích nó, hoặc không đạt được đồng thuận với đối tác mua bản quyền; ủy ban sản xuất gặp rắc rối pháp lý bản quyền tác phẩm,... Đối với những người hâm mộ không sống ở Nhật, việc chờ đợi các bộ phim anime mới được phát hành sang Mỹ hay châu Âu hoặc chiếu trên truyền hình là khó khăn. Khi những người hâm mộ bên ngoài Nhật Bản không đủ kinh phí để sử dụng các dịch vụ streaming bản quyền và mua đĩa Blu-ray lồng tiếng, hoặc phải chờ đợi việc cấp phép bản quyền thì Fansub là cứu cánh cho người hâm mộ, mặc dù có thể vi phạm về luật bản quyền. Quá trình thực hiện của một fansub như sau: một người xem ở Nhật sẽ thu lại chương trình anime trên truyền hình, rồi tải lên Internet; hoặc có thể sao chép lại từ đĩa phim DVD, Blu-ray và các dịch vụ streaming trực tuyến được cấp phép bản quyền. Fansub sau đó phải dịch các đoạn đối thoại trong tập phim, rồi đính kèm phụ đề vào phim. Do đa phần những người hâm mộ nghèo, nên họ dùng Torrent để cho những người hâm mộ khác tải xuống. Với cách này, nhiều người hâm mộ ở ngoài nước Nhật có thể xem được phim mới phát sóng chỉ sau một tuần. Tuy nhiên, các nhóm fansub thường ngừng việc làm khi các công ty anime đăng ký bản quyền tại Mỹ. Và những người hâm mộ khi xem các sản phẩm từ fansub không nên bán lại cho người khác để kiếm lời (vi phạm pháp luật về luật bản quyền), cũng như nên mua DVD hoặc Blu-ray chính hãng để ủng hộ các hãng làm anime. === Phản ứng từ truyền thông === Truyền thông Trung Quốc đưa tin Bộ Văn Hóa Trung Quốc đã cấm phát hành một số sản phẩm từ Nhật Bản với lý do nhằm “bảo vệ sự phát triển của tuổi trẻ nước nhà”. Một bài báo tại Việt Nam phản ánh lịch chiếu anime trên truyền hình ảnh hưởng đến trẻ nhỏ, đài truyền hình cần gắn nhãn cảnh báo độ tuổi cho khán giả, phụ huynh cần tra cứu phân loại độ tuổi chương trình trên các trang bách khoa điện ảnh và nêu ra những điểm tích cực mà anime mang lại, nên giải quyết những vấn đề cốt lõi trong xã hội hơn là chối bỏ trách nhiệm và đổ lỗi cho một hình thức văn hóa như anime. Trong cuộc họp của Ủy ban Sở hữu trí tuệ năm 2016, Thủ tướng Nhật Bản Abe Shinzou tuyên bố bảo vệ doujinshi trước luật bản quyền khi Nhật Bản tham gia Hiệp định TPP. Nhật Bản đã tổ chức nhiều sự kiện liên hoan phim hoạt hình Nhật Bản tại Việt Nam. Anime và manga còn là phương tiện truyền bá văn hóa Nhật Bản ra nước ngoài, tạo nên một hình ảnh Cool Japan trong lòng cộng đồng quốc tế. Nghiên cứu năm 2015 được thực hiện bởi Cục văn hóa của chính phủ Nhật Bản cùng Hiệp hội Tác giả hoạt hình Nhật Bản (JAniCA) về các tiêu chí như: điều kiện làm việc, thu nhập trung bình và giờ làm việc của 759 họa sĩ mới trong ngành công nghiệp hoạt hình Nhật Bản. Nghiên cứu chỉ ra cường độ làm việc áp lực cao 11 giờ mỗi ngày với người mới vào nghề, không hề có thời gian nghỉ ngơi, thu nhập kiếm được khoảng 1,1 triệu yên Nhật (khoảng 9.200 USD/năm), thấp hơn cả một nhân viên văn phòng, ngủ lại ở công ty khá phổ biến. Cựu nhà làm phim hoạt hình Kamimura Sachiko (City Hunter, loạt phim điện ảnh Doraemon) đã nhận xét “nhiều nhà làm phim trẻ mới ra trường đột nhiên bị đẩy vào một nghề mà họ thậm chí không thể kiếm ăn”, mức lương khởi điểm gây sốc nhất của ngành công nghiệp anime khoảng 120 yên Nhật (US $1) mỗi giờ. Họa sĩ hoạt họa kỳ cựu Takamatsu Shinji đã viết "Hy vọng làm mà chỉ dựa vào doanh số đĩa Blu-ray là một mô hình kinh doanh thất vọng, nhưng đó gần như là cách của hầu hết anime phát sóng tối muộn". Một thảo luận trên trang Anime News Network nhận xét những người hoạt động trong ngành công nghiệp anime ngồi gò bó nhiều giờ trên bàn làm việc, hầu như không đi lại hay di chuyển, dùng thức ăn nhanh và đồ uống ở tiệm tạp hóa, kéo theo những tổn hại về sức khỏe, một số phải nhập viện vì áp lực. Trên website Mag2 tại Nhật Bản, một người giấu tên có 20 năm kinh nghiệm trong ngành công nghiệp anime chia sẻ: nhiều họa sĩ hoạt họa làm tự do (freelancer) thường làm việc tại nhà, yêu cầu trợ lý chạy việc (animation runner) suốt ngày lái xe qua lại giữa họa sĩ và xưởng làm phim, để thu thập từng khung hình hoàn chỉnh; họ thực hiện nhiều dự án của các xưởng phim khác cùng một lúc, thường xuyên đối mặt với hạn chót hoàn thành dự án; chương trình được lên sóng đúng thời gian là một "điều kỳ diệu". === Hoạt hình phong cách anime === Một trong những điểm quan trọng làm anime khác biệt so với hầu hết hoạt hình phương Tây là sự thỏa mãn cảm xúc. Một khi sự kỳ vọng các khía cạnh của cốt truyện thị giác trực quan hay phần hoạt họa chỉ dành cho trẻ con được đặt qua một bên, khán giả có thể thực sự nhận được nhiều cảm xúc như sự đau đớn hằn sâu bên trong, cái chết, nỗi đau cảm nhận bên ngoài, cuộc tranh đấu khó khăn và niềm vui mà có thể trở thành tất cả yếu tố dẫn dắt câu chuyện - thường được sử dụng trong anime nhiều như các phương tiện truyền thông khác. Tuy nhiên, giống như chính bản thân anime trở lên ngày càng phổ biến, phong cách anime đã chắc chắn là chủ đề của những tác phẩm mang cả sự châm biếm và tính sáng tạo nghiêm túc. Tập phim Chinpokomon và Good Times with Weapons của South Park, Perfect Hair Forever của Adult Swim, Kappa Mikey của Nickelodeon là những ví dụ mang tính châm biếm trào phúng của văn hóa Nhật Bản và anime. Một vài tác phẩm đã làm dấy lên các cuộc tranh luận về sự xóa nhòa ranh giới giữa các tác phẩm "phong cách anime" châm biếm và sự nghiêm túc, như bộ phim hoạt hình Mỹ mang phong cách anime là Avatar: The Last Airbender. Các tác phẩm mang phong cách anime này đã hình thành sự mô tả như hoạt hình ảnh hưởng từ anime trong một nỗ lực để phân loại tất cả các bộ phim không có nguồn gốc từ Nhật Bản mà có phong cách anime. Một số các nhà sáng tạo của những tác phẩm có tham chiếu đến anime như một nguồn gốc cảm hứng và giống như đội nhóm các nhà làm phim người Pháp thực hiện Ōban Star-Racers đã chuyển đến Tokyo để hợp tác với một đội nhóm làm phim người Nhật. Khi anime được định nghĩa như một "phong cách" hơn là một sản phẩm thuộc một quốc gia, nó mở ra khả năng anime sẽ được sản xuất ở các nước khác. Một bộ phim truyền hình được sản xuất giữa Philippines-U.A.E tên là Torkaizer được lồng tiếng như là "bộ phim anime đầu tiên của Trung Đông" và hiện đang trong quá trình sản xuất, đồng thời cũng đang tìm kiếm nguồn tài trợ. Loạt phim RWBY phát hành trên website, sản xuất dựa trên một phong cách nghệ thuật anime và đã được tuyên bố là anime. Trong sự bổ sung, loạt phim sẽ được phát hành tại Nhật Bản, dưới nhãn "anime" theo định nghĩa thuật ngữ ở Nhật Bản và ám chỉ như là một "anime làm bởi người Mỹ". Netflix tuyên bố ý định của công ty là sản xuất anime. Khi làm như vậy, công ty đang cung cấp một kênh phân phối tiếp cận nhiều hơn tới thị trường các nước phương Tây. Việc định nghĩa anime như một phong cách đã gây ra các cuộc tranh luận giữa những người hâm mộ, với Oppliger John thì nêu ra rằng: "Việc nhấn mạnh sự ám chỉ rạch ròi tới nghệ thuật Mỹ nguyên bản cũng giống như 'anime' và 'manga' từ Nhật Bản làm mất đi những tác phẩm mang bản sắc văn hóa của nó". Reddit coi anime như hoạt hình được sản xuất, trình chiếu và định hướng tới khán giả người Nhật; đồng thời cho rằng Shelter của Porter Robinson hợp tác với xưởng phim A-1 Pictures không phải là hoạt hình có nguồn gốc nguyên bản từ Nhật Bản. == Xem thêm == Artbook Cyberpunk Light novel Lịch sử manga Manga Original video animation (OVA) Q-version (anime extras) Drama CD Kính ngữ tiếng Nhật Điện ảnh Nhật Bản == Tham khảo == === Chú thích === === Tài liệu trích dẫn === == Liên kết ngoài == Anime tại DMOZ Japanese Anime Staff Wiki (tiếng Nhật). Danh sách nhà làm phim hoạt hình Nhật Bản. Anime News Network Encyclopedia (tiếng Anh). Bách khoa toàn thư danh sách anime của Anime News Network. Animators Corner (tiếng Anh). Bách khoa từ điển danh sách tra cứu các họa sĩ hoạt họa Nhật Bản. Sakuga Wiki (tiếng Nhật). Bảng tra cứu hoạt họa sakuga tại Nhật Bản. Sakugabooru (tiếng Anh). Bách khoa tra cứu trích đoạn ngắn về kỹ thuật hoạt họa sakuga.
thất quốc triều đại.txt
Thất quốc Triều đại, còn được biết đến với tên tiếng Anh Heptarchy (tiếng Hy Lạp: ἑπτά + ἀρχή, "bảy" + "triều đại"), là một tên chỉ chung các vương quốc Anglo-Saxon cổ ở những khu vực nam, đông, trung bộ thuộc đảo Anh trong khoảng thời gian từ thời kỳ hậu cổ đại đến trung đại trước khi chúng được thống nhất về một nước có tên là "Angle-land" (England, hay Anh) (ở thời kỳ này, những vùng được người bây giờ biết đến như Scotland và Wales đều được chia thành những đơn vị hành chính nhỏ). Thuật ngữ này được chính thức công bố bởi sử gia người Anh Henry của Huntingdon và bắt đầu được sử dụng rộng rãi từ thế kỷ 16. == Thất quốc Triều đại của Anglo-Saxon Anh == Những vương quốc được cho là đã tạo nên Anglo-Saxon Anh là: Vương quốc Kent Vương quốc Sussex Wessex Vương quốc Essex Đông Anglia Mercia Northumbria, bao gồm hai tiểu vương quốc là Bernicia và Deira === Những vương quốc và lãnh thổ nhỏ hơn === Vương quốc Ynys Weith, còn có tên gọi khác là Wihtwara Meonwara Surrey Vương quốc Iclingas, sau này nhập vào Mercia Vương quốc Lindsey Hwicce == Tham khảo == Chuyên chế Anh, Encyclopædia Britannica Westermann Großer Atlas zur Weltgeschichte == Xem thêm == Lịch sử Vương quốc Anh So sánh: Tứ quốc Triều đại
thomas becket.txt
Thomas Becket ( /ˈbɛkɪt/; còn được gọi là Thánh Thomas thành Canterbury, Thomas thành London, và sau này là Thomas à Becket; 21 tháng 12 khoảng năm 1119 (hoặc 1120) - 29 tháng 12 năm 1170) là Tổng giám mục Canterbury từ năm 1162 cho đến khi qua đời năm 1170. Ông được tôn kính như một vị thánh tử vì đạo trong cả Giáo hội Công giáo và Cộng đồng Anh giáo. Ông xung đột với Henry II của Anh về quyền lợi và đặc quyền của Giáo hội và đã bị ám sát bởi những người theo nhà vua trong Nhà thờ chính tòa Canterbury. Chẳng bao lâu sau khi ông qua đời, ông được phong thánh bởi Giáo hoàng Alexander III. Becket sinh ra ở Cheapside, London. Lúc còn nhỏ ông là người thông minh. Ông cũng rất thích chơi thể thao, chẳng hạn như săn bắn. Ở tuổi 16, ông đến Paris để nghiên cứu. Trong năm 1143, Becket gia nhập gia đình của Theobald, làm người bán hàng. Ông trở thành Tổng giám mục Canterbury trong 1162. Ông là một người bạn thân của vua Henry II, nhưng họ tranh cãi về các quyền mà Giáo hội có thể có. Ông đã bị bốn người của vua giết chết vào ngày 29 tháng 12 năm 1170. Tuy nhiên, bằng chứng cho thấy rằng nhà vua không hề biết gì về vụ giết người này. Becket được tuyên thánh vào năm 1173. Rương thánh tích tôn kính ông tại Nguyện đường Ba Ngôi trong Nhà thờ chính tòa Canterbury đã bị phá hủy vào năm 1538 theo các sắc lệnh giải thể tu viện của vua Henry VIII. == Chú thích ==
viện đại học.txt
Viện đại học (tiếng Anh: university; La-tinh: universitas), có khi gọi là đại học, là một cơ sở giáo dục đại học và nghiên cứu, cung cấp giáo dục bậc đại học và sau đại học và có thẩm quyền cấp bằng trong nhiều lĩnh vực học thuật khác nhau. Viện đại học thường bao gồm một trường đại học khai phóng và khoa học và các trường chuyên nghiệp và sau đại học. Một viện đại học khác một trường đại học ở chỗ nó thường lớn hơn, có chương trình học rộng hơn, và ngoài bằng cử nhân ra thì còn trao các văn bằng sau đại học và chuyên nghiệp. University trong tiếng Anh có gốc từ cụm từ La-tinh universitas magistrorum et scholarium (cộng đồng những nhà giáo và học giả). Trong tiếng Việt, viện có nghĩa là nơi, sở. Ở Việt Nam, tên gọi "đại học," với nghĩa cụ thể là một cơ sở hay cơ cấu giáo dục đại học, chỉ được chính quyền Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam sử dụng chính thức từ đầu thập niên 1990 để đặt tên cho một mô hình cơ sở giáo dục đại học mới, gần giống mô hình "viện đại học" thời Việt Nam Cộng hòa hay "university" ở Bắc Mỹ và Tây Âu, trên cơ sở gộp một số trường đại học đơn ngành (theo mô hình phân mảnh ngành học của Liên Xô) lại với nhau. Từ university trong tiếng Anh có khi còn được dịch ra tiếng Việt là "trường đại học" (xem thêm bài Trường đại học). Bài này nói về cơ sở giáo dục đại học theo mô hình viện đại học ở châu Âu thời trung cổ và được các vùng khác trên thế giới đem áp dụng trong thời cận đại. Về các trung tâm học tập bậc cao thời cổ đại, chẳng hạn Học viện Platon do triết gia Platon thành lập khoảng năm 387 trước Tây lịch hay các viện đại học Puspagiri, Nalanda, Vikramshila, và Taxila thuộc Ấn Độ cổ đại, xem bài Các cơ sở học tập bậc cao thời cổ đại. == Tự do học thuật == Một phần quan trọng trong định nghĩa một viện đại học là khái niệm tự do học thuật. Bằng chứng đầu tiên được ghi nhận về quyền tự do học thuật xuất hiện từ thời kỳ đầu của viện đại học đầu tiên - Viện Đại học Bologna. Viện đại học này thông qua một hiến chương gọi là Constitutio Habita, vào năm 1158 hoặc 1155, theo đó bảo đảm quyền đi lại tự do của các học giả vì lợi ích giáo dục. Việc này được xem như là nguồn gốc của tự do học thuật. Ngày này, tự do học thuật được định nghĩa là quyền tự do giảng dạy, học tập, và theo đuổi tri thức và nghiên cứu của giảng viên và sinh viên mà không bị can thiệp một cách vô lý hay bị luật pháp nhà nước, quy định của cơ sở giáo dục, hay áp lực của công chúng giới hạn. Quyền tự do học thuật được thừa nhận rộng rãi trên khắp thế giới. Ngày 18 tháng 9 năm 1988, 388 viện trưởng các viện đại học ký vào Magna Charta Universitatum, một tuyên bố xác lập những quyền và những giá trị căn bản của viện đại học, nhân kỷ niệm 900 năm ngày thành lập Viện Đại học Bologna. Số viện đại học từ khắp nơi trên thế giới ký tên vào Magna Charta Universitatum ngày càng nhiều. == Lịch sử == === Những viện đại học ban đầu === Các viện đại học hiện đại có nguồn gốc từ các trường học thời trung cổ gọi là studium generale (nơi học tập chung), thu nhận sinh viên từ khắp châu Âu. Những trường ra đời sớm nhất vốn được thành lập nhằm đào tạo các giáo sĩ và tu sĩ với chương trình học rộng hơn những gì được dạy trong các trường của tu viện và nhà thờ chính tòa. Việc thu nhận các học giả ngoại quốc vào học khiến cho các studium trở nên khác biệt so với các trường học khai sinh ra nó. Cơ sở giáo dục phương Tây đầu tiên có thể được gọi là viện đại học là một trường y khoa nổi tiếng thành lập ở Salerno, Ý, vào thế kỷ thứ 9. Trường này thu hút sinh viên từ khắp châu Âu. Tuy nhiên, nó vẫn chỉ là một trường y khoa. Viện đại học thực sự đầu tiên là Viện Đại học Bologna thành lập ở Bologna, Ý, cuối thế kỷ 11. Nó trở thành một cơ sở giáo dục được nhiều người kính trọng, nhất là trong lĩnh vực luật tôn giáo và luật dân sự. Viện đại học đầu tiên ra đời ở Bắc Âu là Viện Đại học Paris, thành lập trong khoảng 1150 đến 1170. Viện đại học này nổi tiếng về giảng dạy thần học, và nó trở thành hình mẫu cho các viện đại học khác ở Bắc Âu, chẳng hạn như Viện Đại học Oxford ở Anh thành lập vào cuối thế kỷ 12. Các viện đại học Paris và Oxford bao gồm các trường đại học vốn là nơi ở dành cho các học giả. Những viện đại học ban đầu này là những đoàn thể sinh viên và giảng viên, được các giáo hoàng, hoàng đế, và nhà vua ban quyền. Viện Đại học Napoli, do Hoàng đế Frederick II thành lập vào năm 1224 ở Ý, là cơ sở đầu tiên được thành lập dưới thẩm quyền của một hoàng đế, trong khi Viện Đại học Toulouse, do Giáo hoàng Grêgôriô IX lập ra vào năm 1229 ở Pháp, là cơ sở đầu tiên được thành lập qua một sắc lệnh của giáo hoàng. Những viện đại học này được quyền tự trị, miễn là họ không dạy vô thần và dị giáo. Sinh viên và giảng viên cùng nhau tự bầu ra viện trưởng. Tuy nhiên, như cái giá phải trả cho sự độc lập, họ phải tự lo kinh phí. Do đó mà các giảng viên phải thu học phí, và để đảm bảo cuộc sống, họ phải làm hài lòng sinh viên. Những viện đại học ban đầu này không có những tòa nhà cố định và có rất ít tài sản chung, do đó mà các sinh viên và giảng viên bất mãn có thể chuyển đến nơi khác và thiết lập một nơi học tập mới. Lịch sử Viện Đại học Cambridge bắt đầu như thế vào năm 1209 khi có một số sinh viên bất mãn chuyển từ Oxford đến Cambridge; hai mươi năm sau, Oxford đón nhận những sinh viên từ Viện Đại học Paris chuyển sang. Từ thế kỷ 13 trở đi, các viện đại học được thiết lập ở nhiều thành phố lớn ở châu Âu: Montpellier (đầu thế kỷ 13) và Aix-en-Provence (1409) ở Pháp; Padua (1222), Rome (1303), và Florence (1321) ở Ý; Salamanca (1218) ở Tây Ban Nha; Prague (1348) và Viên (1365) ở Trung Âu; Heidelberg (1386), Leipzig (1409), Freiburg (1457), và Tübingen (1477) ở phần đất nay là nước Đức; Louvain (1425), nay thuộc Bỉ; và Saint Andrews (1411) và Glasgow (1451) ở Scotland. Cho đến cuối thế kỷ 18, hầu hết các viện đại học có chương trình học cốt lõi dựa trên bảy môn khai phóng (tiếng Anh: liberal arts): ngữ pháp, luận lý học, hùng biện, hình học, số học, thiên văn học, và âm nhạc. Sinh viên tốt nghiệp sau đó theo học ở một trong những phân khoa chuyên nghiệp về y khoa, luật, và thần học. Các kỳ thi cuối khóa cực kỳ khắc nghiệt, hầu hết sinh viên thi rớt. === Cải cách Tin Lành và Phản Cải cách ở châu Âu === Phong trào Cải cách Tin Lành ở thế kỷ 16 cùng hệ quả của nó là phong trào Phản Cải cách đã ảnh hưởng đến các viện đại học ở châu Âu theo những cách khác nhau. Ở các bang của nước Đức, các viện đại học mới của những người theo Tin Lành được thành lập, những cơ sở giáo dục cũ cũng bị những người Tin Lành tiếp quản; trong khi nhiều viện đại học của Công giáo Rôma trở thành những người bảo vệ kiên định nền học tập truyền thống gắn liền với Giáo hội Công giáo. Đến thế kỷ 17, cả các viện đại học Công giáo lẫn các viện đại học Tin Lành đều trở nên quá chú tâm đến việc bảo vệ các giáo lý tôn giáo và do đó thiếu quan tâm đến khoa học, một chủ đề bắt đầu phát triển khắp châu Âu. Những môn học mới không được khuyến khích, do vậy nhiều viện đại học trên đà đi xuống. Tuy vậy, những cơ sở giáo dục mới tiếp tục được thiết lập trong khoảng thời gian này, bao gồm những viện đại học ở Edinburgh (1583), Leiden (1575), và Strasbourg (1621). Viện đại học hiện đại đầu tiên ra đời ở Halle, Đức, do những người theo phái Luther thành lập vào năm 1694. Đây là một trong những cơ sở giáo dục đầu tiên từ bỏ mọi giáo điều tôn giáo chính thống, và chỉ chú tâm nghiên cứu tri thức duy lý và khách quan. Đây là viện đại học đầu tiên mà giảng viên giảng bài bằng tiếng Đức (ngôn ngữ bản địa) thay vì tiếng La-tinh. Những đổi mới của Viện Đại học Halle (nay là Viện Đại học Halle-Wittenberg) sau này được Viện Đại học Göttingen (1737) cũng như hầu hết các viện đại học khác ở Đức và nhiều viện đại học ở Hoa Kỳ đón nhận. Vào cuối thế kỷ 18 và thế kỷ 19, tôn giáo dần dà mất đi vị thế thống trị khi các viện đại học châu Âu trở thành các cơ sở học tập và nghiên cứu hiện đại, chương trình giảng dạy và hoạt động quản trị trở nên thế tục hóa. Những xu hướng này tiêu biểu ở Viện Đại học Berlin (1809), nơi mà người ta nghiên cứu trong phòng thí nghiệm thay vì phỏng đoán; những giáo điều thần học và triết học, và những giáo điều truyền thống khác được xem xét dưới cái nhìn khách quan và nghiêm túc. Đây cũng là nơi tiên phong trong việc thiết lập những tiêu chuẩn hiện đại về tự do học thuật. Mô hình viện đại học của Đức như là một phức hợp các trường sau đại học thực hiện nghiên cứu cao cấp đã tạo ảnh hưởng ra khắp thế giới. === Những viện đại học đầu tiên ở Tây Bán Cầu === Những viện đại học đầu tiên ở Tây Bán Cầu do những người Tây Ban Nha thiết lập: Viện Đại học Santo Domingo (1538) ở phần đất nay là Cộng hòa Dominica và Viện Đại học Michoacán (1539) ở México. Những cơ sở giáo dục đại học đầu tiên của Hoa Kỳ là các trường đại học hệ bốn năm: Harvard (1636), William & Mary (1693), Yale (1701), Princeton (1746), và King’s College (1754; nay là Viện Đại học Columbia). Hầu hết những trường đại học Hoa Kỳ đầu tiên do các hội đoàn tôn giáo thành lập, và hầu hết sau đó phát triển lên thành những viện đại học thực sự. Một trong những viện đại học lâu đời nhất ở Canada là Viện Đại học Toronto, được thành lập với tên King’s College vào năm 1827. Khi Hoa Kỳ mở rộng biên cương về phía Tây, hàng trăm trường đại học mới được thành lập. Các trường và viện đại học Hoa Kỳ có xu hướng theo mô hình của Đức, mong muốn kết hợp lý tưởng tự do học thuật với truyền thống bản địa nhấn mạnh đến việc mang lại cơ hội giáo dục cho nhiều người. Những cơ sở giáo dục như vậy ở Hoa Kỳ phát triển nở rộ nhờ Luật Morrill ban hành vào năm 1862, theo đó chính quyền liên bang cấp đất cho các tiểu bang để thành lập mới những cơ sở giáo dục chuyên về cơ khí và nông nghiệp. Nhiều "trường đại học được cấp đất" ra đời từ điều luật này, rồi trong số đó phát triển nên Viện Công nghệ Massachusetts, Viện Đại học Cornell, và các viện đại học công lập ở Illinois, Wisconsin, và Minnesota. === Tái tổ chức, thế tục hóa, và hiện đại hóa === Một số nước châu Âu trong thế kỷ 19 đã tái tổ chức và thế tục hóa các viện đại học của mình, đáng chú ý có các nước Ý (1870), Tây Ban Nha (1876), và Pháp (1896). Các viện đại học ở các quốc gia này và những nước châu Âu khác trở thành những cơ sở nhận kinh phí từ nhà nước là chủ yếu. Phụ nữ bắt đầu được thu nhận vào các viện đại học trong nửa sau thế kỷ 19. Trong khi đó, chương trình học của các viện đại học cũng tiếp tục thay đổi. Ngôn ngữ và văn học hiện đại được thêm vào, và trong nhiều trường hợp hất cẳng, La-tinh, tiếng Hy Lạp, và thần học. Các ngành khoa học như vật lý, hóa học, sinh học, và kỹ thuật cũng được đưa vào chương trình học, và đến đầu thế kỷ 20 thì các ngành học mới như kinh tế học, khoa học chính trị, tâm lý học, và xã hội học cũng được giảng dạy. Vào cuối thế kỷ 19 và thế kỷ 20, Anh và Pháp thiết lập các viện đại học ở nhiều trong số những thuộc địa của mình ở Nam Á, Đông Nam Á, và châu Phi. Hầu hết các quốc gia độc lập khai sinh từ những thuộc địa này giữa thế kỷ 20 mở rộng hệ thống viện đại học của họ theo các mô hình của châu Âu hay Hoa Kỳ, thường với sự trợ giúp kinh tế và kỹ thuật từ những nước trước đây là chủ thuộc địa, các nước công nghiệp, và các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới. Các viện đại học ở Nhật Bản, Trung Quốc, và Nga cũng thay đổi do yêu cầu hiện đại hóa. Ở Ấn Độ, một số viện đại học được ra đời trước khi nước này độc lập, chẳng hạn như Viện Đại học Banaras Hindu (1916) và Viện Đại học Visva-Bharati (do Rabindranath Tagore thành lập năm 1921), được thiết lập như là những mô hình thay thế cho mô hình của phương Tây. Các viện đại học (hay trường đại học tổng hợp) quốc gia ở Moskva (1755) và St. Petersburg (1819) là những cơ sở giáo dục được thiết lập lâu đời và vẫn giữ được vị thế sáng giá của mình ở Nga. Viện Đại học Tokyo (1877) và Viện Đại học Kyōto (1897) là những cơ sở giáo dục danh tiếng ở Nhật; ở Trung Quốc thì có Viện Đại học Bắc Kinh (1898). === Những viện đại học hiện đại === Các viện đại học hiện đại có thể được các chính quyền quốc gia, chính quyền bang, hay chính quyền tỉnh chu cấp tài chính, hoặc phụ thuộc phần lớn vào số tiền học phí do sinh viên đóng. Một viện đại học nội trú hiện đại điển hình có thể có hơn 20.000 sinh viên, gồm các sinh viên bậc đại học và sau đại học trong toàn bộ các ngành nghệ thuật và nhân văn, toán, khoa học xã hội, các ngành khoa học vật lý, sinh học và trái đất, và nhiều lĩnh vực công nghệ. Các viện đại học không phải nội trú, ảo, và mở có thể có nhiều hơn 100.000 sinh viên theo học các khóa học để lấy văn bằng hoặc học mà không lấy bằng. Một số các viện đại học này dựa theo mô hình của Viện Đại học Mở (Open University, 1969) ở Anh. Các viện đại học là nhà cung cấp chính các chương trình đào tạo bậc sau đại học trong hầu hết các lĩnh vực chuyên nghiệp. == Cơ cấu tổ chức == Mặc dù mỗi cơ sở giáo dục được tổ chức theo một cách khác nhau, hầu hết các viện đại học trên thế giới có một hội đồng quản trị (board of trustees), một viện trưởng (president, chancellor, hay rector), ít nhất một phó viện trưởng, và các hiệu trưởng, trưởng phân khoa, hay giám đốc (dean) của các đơn vị thành viên. Viện đại học thường chia thành một số các phân khoa đại học (faculty), trường đại học (college), và/hoặc trường (school); nhỏ hơn các đơn vị vừa kể là khoa (department). == Viện đại học và đại học ở Việt Nam == Viện đại học là tên gọi của hầu hết các cơ sở giáo dục đại học ở Việt Nam dưới chính thể Việt Nam Cộng hòa; ví dụ: Viện Đại học Huế, Viện Đại học Đà Lạt, Viện Đại học Vạn Hạnh. Đây là mô hình tương tự như university của Hoa Kỳ và Tây Âu, cùng với nó là hệ thống đào tạo theo tín chỉ. Mỗi viện đại học bao gồm nhiều phân khoa đại học (thường gọi tắt là phân khoa) hoặc trường hay trường đại học. Trong mỗi phân khoa hay trường có các ngành; mỗi ngành tương ứng với một ban (tương đương với đơn vị khoa hiện nay). Giáo dục Việt Nam thời Liên bang Đông Dương có một cơ sở giáo dục theo mô hình viện đại học là Viện Đại học Đông Dương (Université Indochinoise) thành lập vào năm 1907; sau 1945 đổi tên thành Viện Đại học Hà Nội. Ở Việt Nam hiện có một cơ sở giáo dục có tên bắt đầu bằng cụm từ viện đại học là Viện Đại học Mở Hà Nội. Ở miền Nam Việt Nam trước 1975 còn có mô hình viện đại học bách khoa. Đây là một cơ sở giáo dục đại học đa ngành và đa lĩnh vực tương tự như mô hình viện đại học, nhưng chú trọng hơn đến các ngành thực tiễn. Năm 1973, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức được thành lập dựa theo mô hình polytechnic university ở California, Hoa Kỳ. Đây là viện đại học bách khoa duy nhất từng tồn tại ở Việt Nam. Trong thời gian đầu, Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức có các trường đại học chuyên về nông nghiệp, kỹ thuật, giáo dục kỹ thuật, khoa học tự nhiên và nhân văn, kinh tế và quản trị, và thiết kế đô thị; ngoài ra còn có trường đào tạo sau đại học. Các trường này được gom chung lại trong một khuôn viên rộng lớn, tạo một môi trường gợi hứng cho tri thức suy luận, với một cảnh trí được thiết kế nhằm nâng cao óc sáng tạo; quản lý hành chính tập trung để tăng hiệu năng và giảm chi phí. Từ đầu thập niên 1990, Việt Nam lập ra các đại học quốc gia và đại học cấp vùng bằng cách gộp một số trường đại học đang tồn tại độc lập lại với nhau. Hiện nay Việt Nam có hai đại học quốc gia là Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, và ba đại học vùng là Đại học Huế, Đại học Đà Nẵng và Đại học Thái Nguyên. Các "đại học" này có mô hình gần giống với "viện đại học"; mỗi đại học có vài trường đại học thành viên, và thường áp dụng một phần hay toàn bộ hệ thống học theo tín chỉ. Tuy vậy, các trường đại học thành viên này gần như biệt lập với nhau; sinh viên từ một trường thành viên này thường không học để lấy tín chỉ từ một trường thành viên khác. Có thể nói là mô hình "đại học" là một sự kết hợp giữa mô hình phân mảnh ngành học và phân mảnh cơ sở giáo dục của Liên Xô và mô hình viện đại học, và vẫn mang nặng đặc điểm của mô hình phân mảnh của Liên Xô. Tháng 10 năm 2009, một số đại biểu Quốc hội đưa ra đề nghị gọi tên các đại học cấp quốc gia và cấp vùng là viện đại học. == Phân loại == Ở Hoa Kỳ, không có một định nghĩa tiêu chuẩn mang tính toàn quốc nào cho tên gọi university, mặc dù từ university thường được dùng để chỉ những cơ sở có định hướng nghiên cứu và trước đây dành cho những cơ sở giáo dục và nghiên cứu có cấp bằng tiến sĩ. Một số tiểu bang, chẳng hạn Massachusetts, chỉ cấp tên gọi university cho cơ sở giáo dục đại học nào trao bằng tiến sĩ trong ít nhất hai ngành học. Ở Anh, Privy Council là cơ quan chịu trách nhiệm cho phép hay không cho phép một cơ sở giáo dục sử dụng từ university trong tên gọi của mình, chiếu theo Luật Giáo dục sau trung học 1992 (Further and Higher Education Act 1992). Ở Việt Nam hiện nay, các "đại học" bao gồm các "đại học vùng" và các "đại học quốc gia". Luật Giáo dục Đại học 2012 định nghĩa "đại học là cơ sở giáo dục đại học bao gồm tổ hợp các trường cao đẳng, trường đại học, viện nghiên cứu khoa học thành viên thuộc các lĩnh vực chuyên môn khác nhau, tổ chức theo hai cấp, để đào tạo các trình độ của giáo dục đại học." Các cơ sở giáo dục đại học khác có các tên gọi: trường đại học, học viện, trường cao đẳng, v.v... == Cách dùng thông dụng == Khi nhắc đến một giai đoạn trong đời người, người Việt nói "Thời tôi học đại học..." chứ ít khi nói "Thời tôi học ở viện đại học..." hay "Thời tôi học trường đại học..." Với ý tương tự, trong tiếng Anh Mỹ người ta nói "When I was in college..." chứ ít khi nói "When I was at university..." == Chú thích == == Đọc thêm == == Liên kết ngoài == The Origin of Universities (Nguồn gốc các viện đại học). Bản liệt kê của GS. Jerome Bump ở Viện Đại học Texas-Austin. League of European Research Universities (Liên đoàn các Viện Đại học Nghiên cứu châu Âu). Có các bài viết về giáo dục đại học nói chung, chẳng hạn "What are Universities for?" (09/2008) Giáo dục các nước. Viện Nghiên cứu Phát triển Giáo dục. Có một số chương sách rút từ cuốn Kỷ yếu Đại học Humboldt 200 năm. Ethical Principles in University Teaching. Society for Teaching and Learning in Higher Education (Canada). Bản dịch tiếng Việt: Những nguyên tắc đạo đức trong giảng dạy đại học (Tia Sáng, 01/2009). Top World Universities (Những viện đại học hàng đầu thế giới). U.S. News & World Report. Thông tin giáo dục Pháp, Vương quốc Anh, Đức, và Hoa Kỳ trên trang mạng của cơ quan ngoại giao và văn hóa các nước này tại Việt Nam.
quốc kỳ trung hoa dân quốc.txt
Quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc (phồn thể: 中華民國國旗; giản thể: 中华民国国旗; phồn thể: 中華民國國旗; bính âm: Zhōnghuá Mínguó Guóqí), lần đầu tiên được Quốc Dân đảng sử dụng tại Trung Quốc đại lục vào năm 1917 và trở thành quốc kỳ chính thức của Trung Hoa Dân Quốc từ năm 1928. Điều 6 của Hiến pháp Trung Hoa Dân Quốc đầu tiên vào năm 1947 đã đề cập đến lá cờ này. Từ sau nội chiến Trung Quốc kết thúc vào năm 1949, quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc chủ yếu được sử dụng tại Đài Loan. Trong tiếng Trung, quốc kỳ được gọi là Thanh Thiên, Bạch Nhật, và Mãn Địa Hồng (phồn thể: 青天, 白日, 滿地紅; giản thể: 青天, 白日, 满地红; phồn thể: 青天, 白日, 滿地紅; bính âm: Qīng Tiān, Bái Rì, Mǎn Dì Hóng). Ba màu xanh, trắng và đỏ tượng trưng cho ba nguyên tắc của chủ nghĩa Tam dân là dân tộc độc lập, dân quyền tự do, dân sinh hạnh phúc. Đảng kỳ của Quốc Dân đảng được đặt ở góc phía trên bên trái của quốc kỳ. Tại Việt Nam, việc treo cờ Trung Hoa Dân Quốc là không được phép. == Quốc kỳ tương đồng == Các quốc kỳ sau có nét tương đồng với quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc: Quốc kỳ Myanmar từ 1974–2010 Quốc kỳ Samoa Quốc kỳ Cộng hòa Viễn Đông Hình mặt trời trong quốc kỳ Trung Hoa Dân Quốc cũng tương tự như hình mặt trời trong quốc kỳ Namibia. Có thông tin rằng một khán giả Đài Loan đã cổ vũ đội tuyển bóng chày quốc gia Trung Hoa Đài Bắc và nhiều môn thể thao khác với một lá cờ Myanmar tại Thế vận hội Mùa hè 2008 tại Bắc Kinh, Trung Quốc, nơi mà việc trưng ra lá cờ THDQ thật sự sẽ bị ngăn chặn. == Xem thêm == Vị thế chính trị Đài Loan Trung Quốc Quốc Dân Đảng Cờ Trung Hoa Đài Bắc == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Government Information Office, Republic of China 中 華 民 國 國 徽 國 旗 法
khúc côn cầu trên cỏ tại thế vận hội.txt
Khúc côn cầu, hay cụ thể hơn, khúc côn cầu trên cỏ, được đưa vào chương trình Thế vận hội với tư cách là một cuộc thi đấu của nam giới tại đại hội năm 1908 ở Luân Đôn, với sáu đội tuyển, bao gồm cả bốn đội tới từ Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. == Lịch sử == Khúc côn cầu trên cỏ bị loại khỏi Thế vận hội Mùa hè tại kỳ đại hội Paris năm 1924 vì thiếu một cơ quan quản lý thể thao quốc tế. Liên đoàn khúc côn cầu quốc tế (FIH, Fédération Internationale de Hockey) được thành lập tại Paris năm đó nhằm đáp trả việc loại bỏ khúc côn cầu khỏi danh sách các môn thi đấu. Khúc côn cầu trên cỏ nam sau đó trở thành môn thể thao thường trực kể từ Thế vận hội tiếp theo, năm 1928 tại Amsterdam. Trong một thời gian dài, Ấn Độ chiếm ưu thế tại Thế vận hội khi giành huy chương vàng của nam tại bảy trong số tám kỳ Thế vận hội từ năm 1928 đến năm 1964. Sau đó, Pakistan cũng thể hiện ưu thế khi giành 3 huy chương vàng và 3 huy chương bạc từ năm 1956 tới 1984. Kể từ năm 1968, nhiều đội tuyển khác nhau trên khắp thế giới đã giành về tấm huy chương vàng Thế vận hội. Kể từ năm 1968, một số quốc gia ở Nam bán cầu đã giành được nhiều huy chương khác nhau trong môn khúc côn cầu trên cỏ nam và nữ, bao gồm Úc, New Zealand, Argentina, và Zimbabwe. Một nhóm các đội tuyển hàng đầu tới từ Bắc bán cầu có thể kể tới như Hà Lan và Đức. Tây Ban Nha là đội xuất hiện trong nhiều giải đấu nam Thế vận hội nhất mà không giành được huy chương vàng của nam nào, và chỉ ba lần giành huy chương bạc vào các năm 1980, 1996, 2008 và một huy chương đồng vào năm 1960. Úc đã trải qua 11 kỳ Thế vận hội không giành được tấm huy chương vàng nào trước khi lần đầu đạt được thành tích này vào năm 2004. Giải đấu khúc côn cầu trên cỏ nữ Thế vận hội đầu tiên được tổ chức vào năm 1980 ở Moskva. Môn khúc côn cầu Thế vận hội lần đầu tiên diễn ra trên sân nhân tạo từ Thế vận hội Montréal 1976. Trước năm 1988 các đội tham gia giải hoàn toàn là được ban tổ chức mời. FIH bắt đầu tổ một hệ thống vòng loại kể từ giải đấu năm 1992. == Nam == === Tóm tắt === === Đội tuyển tham dự === # = Các quốc gia hoặc các đội tuyển về sau tách thành hai hoặc nhiều quốc gia độc lập 45 đội tuyển đã thi đấu trong ít nhất một Thế vận hội. === Bảng huy chương (Nam) === * Bao gồm 3 huy chương vàng với tên gọi Ấn Độ thuộc Anh === Các quốc gia === Chỉ có các cầu thủ thi đấu ít nhất một trận được tính. * Bốn đội tuyển thi đua tranh tài: Anh, Ireland, Scotland, và Wales. == Nữ == === Tóm tắt === === Đội tuyển tham dự === # = các quốc gia có kể từ khi chia tách thành hai hay nhiều quốc gia độc lập Úc và Hà Lan là đội tuyển duy nhất đã thi đấu tranh tài tại gần mỗi Thế vận hội, ngoại trừ chỉ có một kỳ; 21 đội tuyển đã thi đấu tranh tài trong ít nhất một Thế vận hội. == Xem thêm == Danh sách các địa điểm Thế vận hội môn khúc côn cầu trên cỏ == Chú thích == Bản mẫu:Khúc côn cầu trên cỏ quốc tế
mạng máy tính.txt
Mạng máy tính hay hệ thống mạng (tiếng Anh: computer network hay network system) là sự kết hợp các máy tính lại với nhau thông qua các thiết bị nối kết mạng và phương tiện truyền thông (giao thức mạng, môi trường truyền dẫn) theo một cấu trúc nào đó và các máy tính này trao đổi thông tin qua lại với nhau. == Lợi ích của mạng máy tính == Nhiều người có thể dùng chung một phần mềm tiện ích. Một nhóm người cùng thực hiện một đề án nếu nối mạng họ sẽ dùng chung dữ liệu của đề án, dùng chung tập tin chính (master file) của đề án, họ trao đổi thông tin với nhau dễ dàng. Dữ liệu được quản lý tập trung nên bảo mật an toàn, trao đổi giữa những người sử dụng thuận lợi, nhanh chóng, backup dữ liệu tốt hơn. Sử dụng chung các thiết bị máy in, máy scanner, đĩa cứng và các thiết bị khác. Người sử dụng và trao đổi thông tin với nhau dễ dàng thông qua dịch vụ thư điện tử (Email), dịch vụ Chat, dịch vụ truyền file (FTP), dịch vụ Web,... Xóa bỏ rào cản về khoảng cách địa lý giữa các máy tính trong hệ thống mạng muốn chia sẻ và trao đổi dữ liệu với nhau. Một số người sử dụng không cần phải trang bị máy tính đắt tiền (chi phí thấp mà chức năng lại mạnh). Cho phép người lập trình ở một trung tâm máy tính này có thể sử dụng các chương trình tiện ích, vùng nhớ của một trung tâm máy tính khác đang rỗi để làm tăng hiệu quả kinh tế của hệ thống. An toàn cho dữ liệu và phần mềm vì nó quản lý quyền truy cập của các tài khoản người dùng (phụ thuộc vào các chuyên gia quản trị mạng). == Lịch sử mạng máy tính == Máy tính của thập niên 1940 là các thiết bị cơ-điện tử lớn và rất dễ hỏng. Sự phát minh ra transitor bán dẫn vào năm 1947 tạo ra cơ hội để làm ra chiếc máy tính nhỏ và đáng tin cậy hơn. Năm 1950, các máy tính lớn mainframe chạy bởi các chương trình ghi trên thẻ đục lỗ (punched card) bắt đầu được dùng trong các học viện lớn. Điều này tuy tạo nhiều thuận lợi với máy tính có khả năng được lập trình nhưng cũng có rất nhiều khó khăn trong việc tạo ra các chương trình dựa trên thẻ đục lỗ này. Vào cuối thập niên 1950, người ta phát minh ra mạch tích hợp (IC) chứa nhiều transitor trên một mẫu bán dẫn nhỏ, tạo ra một bước nhảy vọt trong việc chế tạo các máy tính mạnh hơn, nhanh hơn và nhỏ hơn. Đến nay, IC có thể chứa hàng triệu transistor trên một mạch. Vào cuối thập niên 1960, đầu thập niên 1970, các máy tính nhỏ được gọi là minicomputer bắt đầu xuất hiện. Năm 1977, công ty máy tính Apple Computer giới thiệu máy vi tính cũng được gọi là máy tính cá nhân (personal computer - PC). Năm 1981, IBM đưa ra máy tính cá nhân đầu tiên. Sự thu nhỏ ngày càng tinh vi hơn của các IC đưa đến việc sử dụng rộng rãi máy tính cá nhân tại nhà và trong kinh doanh. Vào giữa thập niên 1980, người sử dụng dùng các máy tính độc lập bắt đầu chia sẻ các tập tin bằng cách dùng modem kết nối với các máy tính khác. Cách thức này được gọi là điểm nối điểm, hay truyền theo kiểu quay số. Khái niệm này được mở rộng bằng cách dùng các máy tính là trung tâm truyền tin trong một kết nối quay số. Các máy tính này được gọi là sàn thông báo (bulletin board). Các người dùng kết nối đến sàn thông báo này, để lại đó hay lấy đi các thông điệp, cũng như gửi lên hay tải về các tập tin. Hạn chế của hệ thống là có rất ít hướng truyền tin, và chỉ với những ai biết về sàn thông báo đó. Ngoài ra, các máy tính tại sàn thông báo cần một modem cho mỗi kết nối, khi số lượng kết nối tăng lên, hệ thống không thề đáp ứng được nhu cầu. Qua các thập niên 1950, 1970, 1980 và 1990, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã phát triển các mạng diện rộng WAN có độ tin cậy cao, nhằm phục vụ các mục đích quân sự và khoa học. Công nghệ này khác truyền tin điểm nối điểm. Nó cho phép nhiều máy tính kết nối lại với nhau bằng các đường dẫn khác nhau. Bản thân mạng sẽ xác định dữ liệu di chuyển từ máy tính này đến máy tính khác như thế nào. Thay vì chỉ có thể thông tin với một máy tính tại một thời điểm, nó có thể thông tin với nhiều máy tính cùng lúc bằng cùng một kết nối. Sau này, WAN của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ đã trở thành Internet. == Các vấn đề xã hội == Quan hệ giữa người với người trở nên nhanh chóng, dễ dàng và gần gũi hơn cũng mang lại nhiều vấn đề xã hội cần giải quyết như: Lạm dụng hệ thống mạng để làm điều phi pháp hay thiếu đạo đức: Các tổ chức buôn người, khiêu dâm, lường gạt, hay tội phạm qua mạng, tổ chức tin tặc để ăn cắp tài sản của công dân và các cơ quan, tổ chức khủng bố. Mạng càng lớn thì nguy cơ lan truyền các phần mềm ác tính càng dễ xảy ra. Hệ thống buôn bán trở nên khó kiểm soát hơn nhưng cũng tạo điều kiện cho cạnh tranh gay gắt hơn. Một vấn đề nảy sinh là xác định biên giới giữa việc kiểm soát nhân viên làm công và quyền tư hữu của họ. (Chủ thì muốn toàn quyền kiểm soát các điện thư hay các cuộc trò chuyện trực tuyến nhưng điều này có thể vi phạm nghiêm trọng quyền cá nhân). Vấn đề giáo dục thanh thiếu niên cũng trở nên khó khăn hơn vì các em có thể tham gia vào các việc trên mạng mà cha mẹ khó kiểm soát nổi. Hơn bao giờ hết với phương tiện thông tin nhanh chóng thì sự tự do ngôn luận hay lạm dụng quyền ngôn luận cũng có thể ảnh hưởng sâu rộng hơn trước đây như là các trường hợp của các phần mềm quảng cáo (adware) và các thư rác (spam mail) == Mô hình tính toán mạng == === Mô hình tính toán tập trung (Centralized computing) === Toàn bộ các tiến trình xử lý diễn ra tại máy tính trung tâm. Các máy trạm cuối (Terminals) được nối mạng với máy tính trung tâm và chỉ hoạt động như những thiết bị nhập xuất dữ liệu cho phép người dùng xem trên màn hình và nhập liệu qua bàn phím. Các máy trạm đầu cuối không lưu trữ và xử lý dữ liệu. Mô hình tính toán mạng trên có thể triển khai trên hệ thống phần cứng hoặc phần mềm được cài đặt trên máy chủ (Server). Ưu điểm: Dữ liệu bảo mật an toàn, dễ sao lưu, dễ diệt virus và chi phí cài đặt thấp. Khuyết điểm: Khó đáp ứng được các yêu cầu của nhiều ứng dụng khác nhau, tốc độ truy xuất chậm. === Mô hình tính toán phân tán (Distributed computing) === Các máy tính có khả năng hoạt động độc lập, các công việc được tách nhỏ và giao cho nhiều máy tính khác nhau trong mạng thay vì tập trung xử lý trên máy trung tâm. Tuy dữ liệu được xử lý và lưu trữ tại máy cục bộ nhưng các máy tính này được nối mạng với nhau nên chúng có thể trao đổi dữ liệu và các dịch vụ. Ưu điểm: Truy xuất nhanh, phần lớn không giới hạn các ứng dụng. Khuyết điểm: Dữ liệu lưu trữ rời rạc khó đồng bộ, sao lưu và rất dễ nhiễm virus. === Mô hình tính toán cộng tác (Collaborative computing) === Mô hình tính toán mạng cộng tác bao gồm nhiều máy tính có thể hợp tác để thực hiện một công việc. Một máy tính này có thể mượn năng lực tính toán, xử lý của máy tính khác bằng cách chạy các chương trình trên các máy tính nằm trong mạng. Ưu điểm: Xử lý rất nhanh và mạnh, có thể dùng để chạy các ứng dụng có các phép toán lớn, xử lý dữ liệu lớn. Ví dụ: bẻ khóa các hệ mã, tính toán ADN,... Khuyết điểm: Các dữ liệu được lưu trữ trên các vị trí khác nhau nên rất khó đồng bộ và sao lưu, khả năng nhiễm virus rất cao. == Phân loại mạng == === LAN === LAN (từ Anh ngữ: local area network), hay còn gọi là "mạng cục bộ", là mạng tư nhân trong một toà nhà, một khu vực (trường học hay cơ quan chẳng hạn) có cỡ chừng vài km. Chúng nối các máy chủ và các máy trạm trong các văn phòng và nhà máy để chia sẻ tài nguyên và trao đổi thông tin. LAN có 3 đặc điểm: Giới hạn về tầm cỡ phạm vi hoạt động từ vài mét cho đến 1 km. Thường dùng kỹ thuật đơn giản chỉ có một đường dây cáp (cable) nối tất cả máy. Vận tốc truyền dữ liệu thông thường là 10 Mbps, 100 Mbps, 1 Gbps, và gần đây là 100 Gbps. Ba kiến trúc mạng kiểu LAN thông dụng bao gồm: Mạng bus hay mạng tuyến tính. Các máy nối nhau một cách liên tục thành một hàng từ máy này sang máy kia. Ví dụ của nó là Ethernet (chuẩn IEEE 802.3). Mạng vòng. Các máy nối nhau như trên và máy cuối lại được nối ngược trở lại với máy đầu tiên tạo thành vòng kín. Thí dụ mạng vòng thẻ bài IBM (IBM token ring). Mạng sao. === MAN === MAN (từ Anh ngữ: metropolitan area network), hay còn gọi là "mạng đô thị", là mạng có cỡ lớn hơn LAN, phạm vi vài km. Nó có thể bao gồm nhóm các văn phòng gần nhau trong thành phố, nó có thể là công cộng hay tư nhân và có đặc điểm: Chỉ có tối đa hai dây cáp nối. Không dùng các kỹ thuật nối chuyển. Có thể hỗ trợ chung vận chuyển dữ liệu và đàm thoại, hay ngay cả truyền hình. Ngày nay người ta có thể dùng kỹ thuật cáp quang (fiber optical) để truyền tín hiệu. Vận tốc có hiện nay thể đạt đến 10 Gbps. Ví dụ của kỹ thuật này là mạng DQDB (Distributed Queue Dual Bus) hay còn gọi là bus kép theo hàng phân phối (tiêu chuẩn IEEE 802.6). === WAN === WAN (wide area network), còn gọi là "mạng diện rộng", dùng trong vùng địa lý lớn thường cho quốc gia hay cả lục địa, phạm vi vài trăm cho đến vài ngàn km. Chúng bao gồm tập hợp các máy nhằm chạy các chương trình cho người dùng. Các máy này thường gọi là máy lưu trữ(host) hay còn có tên là máy chủ, máy đầu cuối (end system). Các máy chính được nối nhau bởi các mạng truyền thông con (communication subnet) hay gọn hơn là mạng con (subnet). Nhiệm vụ của mạng con là chuyển tải các thông điệp (message) từ máy chủ này sang máy chủ khác. Mạng con thường có hai thành phần chính: Các đường dây vận chuyển còn gọi là mạch (circuit), kênh (channel), hay đường trung chuyển (trunk). Các thiết bị nối chuyển. Đây là loại máy tính chuyện biệt hoá dùng để nối hai hay nhiều đường trung chuyển nhằm di chuyển các dữ liệu giữa các máy. Khi dữ liệu đến trong các đường vô, thiết bị nối chuyển này phải chọn (theo thuật toán đã định) một đường dây ra để gửi dữ liệu đó đi. Tên gọi của thiết bị này là nút chuyển gói (packet switching node) hay hệ thống trung chuyển (intermediate system). Máy tính dùng cho việc nối chuyển gọi là "bộ chọn đường" hay "bộ định tuyến" (router). Hầu hết các WAN bao gồm nhiều đường cáp hay là đường dây điện thoại, mỗi đường dây như vậy nối với một cặp bộ định tuyến. Nếu hai bộ định tuyến không nối chung đường dây thì chúng sẽ liên lạc nhau bằng cách gián tiếp qua nhiều bộ định truyến trung gian khác. Khi bộ định tuyến nhận được một gói dữ liệu thì nó sẽ chứa gói này cho đến khi đường dây ra cần cho gói đó được trống thì nó sẽ chuyển gói đó đi. Trường hợp này ta gọi là nguyên lý mạng con điểm nối điểm, hay nguyên lý mạng con lưu trữ và chuyển tiếp (store-and-forward), hay nguyên lý mạng con nối chuyển gói. Có nhiều kiểu cấu hình cho WAN dùng nguyên lý điểm tới điểm như là dạng sao, dạng vòng, dạng cây, dạng hoàn chỉnh, dạng giao vòng, hay bất định. == Mô hình mạng == === Mạng hình sao (Star Network) === Có tất cả các trạm được kết nối với một thiết bị trung tâm có nhiệm vụ nhận tín hiệu từ các trạm và chuyển đến trạm đích. Tùy theo yêu cầu truyền thông trên mạng mà thiết bị trung tâm có thể là hub, switch, router hay máy chủ trung tâm. Vai trò của thiết bị trung tâm là thiết lập các liên kết Point – to – Point. Ưu điểm là thiết lập mạng đơn giản, dễ dàng cấu hình lại mạng (thêm, bớt các trạm), dễ dàng kiểm soát và khắc phục sự cố, tận dụng được tối đa tốc độ truyền của đường truyền vật lý. Khuyết điểm là độ dài đường truyền nối một trạm với thiết bị trung tâm bị hạn chế (bán kính khoảng 100m với công nghệ hiện nay). === Mạng tuyến tính (Bus Network) === Có tất cả các trạm phân chia trên một đường truyền chung (bus). Đường truyền chính được giới hạn hai đầu bằng hai đầu nối đặc biệt gọi là terminator. Mỗi trạm được nối với trục chính qua một đầu nối chữ T (T-connector) hoặc một thiết bị thu phát (transceiver). Mô hình mạng Bus hoạt động theo các liên kết Point–to–Multipoint hay Broadcast. Ưu điểm: Dễ thiết kế và chi phí thấp. Khuyết điểm: Tính ổn định kém, chỉ một nút mạng hỏng là toàn bộ mạng bị ngừng hoạt động. === Mạng hình vòng (Ring Network) === Tín hiệu được truyền đi trên vòng theo một chiều duy nhất. Mỗi trạm của mạng được nối với nhau qua một bộ chuyển tiếp (repeater) có nhiệm vụ nhận tín hiệu rồi chuyển tiếp đến trạm kế tiếp trên vòng. Như vậy tín hiệu được lưu chuyển trên vòng theo một chuỗi liên tiếp các liên kết Point–to–Point giữa các repeater. Ưu điểm: Mạng hình vòng có ưu điểm tương tự như mạng hình sao. Nhược điểm: Một trạm hoặc cáp hỏng là toàn bộ mạng bị ngừng hoạt động, thêm hoặc bớt một trạm khó hơn, giao thức truy nhập mạng phức tạp. === Mạng kết hợp === Kết hợp hình sao và tuyến tính (Star Bus Network): Cấu hình mạng dạng này có bộ phận tách tín hiệu (splitter) giữ vai trò thiết bị trung tâm, hệ thống dây cáp mạng cấu hình là Star Topology và Linear Bus Topology. Lợi điểm của cấu hình này là mạng có thể gồm nhiều nhóm làm việc ở cách xa nhau, ARCNET là mạng dạng kết hợp Star Bus Network. Cấu hình dạng này đưa lại sự uyển chuyển trong việc bố trí đường dây tương thích dễ dàng đối với bất cứ toà nhà nào. Kết hợp hình sao và vòng (Star Ring Network): Cấu hình dạng kết hợp Star Ring Network, có một "thẻ bài" liên lạc (Token) được chuyển vòng quanh một cái HUB trung tâm. Mỗi trạm làm việc được nối với HUB – là cầu nối giữa các trạm làm việc và để tǎng khoảng cách cần thiết. == Các phương pháp truyền tin == === Mạng chuyển mạch kênh (Circuit Switching Network) === Khi có hai trạm cần trao đổi thông tin với nhau thì giữa chúng sẽ được thiết lập một "kênh" cố định và được duy trì cho đến khi một trong hai bên ngắt kết nối. Dữ liệu chỉ được truyền theo con đường cố định này. Kỹ thuật chuyển mạch kênh được sử dụng trong các kết nối ATM (Asynchronous Transfer Mode) và Dial-up ISDN (Integrated Services Digital Networks). Ví dụ về mạng chuyển mạch kênh là mạng điện thoại. Ưu điểm là kênh truyền được dành riêng trong suốt quá trình giao tiếp do đó tốc độ truyền dữ liệu được bảo đảm. Điều này là đặc biệt quan trọng đối với các ứng dụng thời gian thực như audio và video. Nhược điểm là phải tốn thời gian để thiết lập đường truyền cố định giữa hai trạm; hiệu suất sử dụng đường truyền không cao, vì có lúc trên kênh không có dữ liệu truyền của hai trạm kết nối, nhưng các trạm khác không được sử dụng kênh truyền này. === Mạng chuyển mạch thông báo (Message Switching Network) === Không giống chuyển mạch kênh, chuyển mạch thông báo không thiết lập liên kết dành riêng giữa hai trạm giao tiếp mà thay vào đó mỗi thông báo được xem như một khối độc lập bao gồm cả địa chỉ nguồn và địa chỉ đích. Mỗi thông báo sẽ được truyền qua các trạm trong mạng cho đến khi nó đến được địa chỉ đích, mỗi trạm trung gian sẽ nhận và lưu trữ thông báo cho đến khi trạm trung gian kế tiếp sẵn sàng để nhận thông báo sau đó nó chuyển tiếp thông báo đến trạm kế tiếp, chính vì lý do này mà mạng chuyển mạch thông báo còn có thể được gọi là mạng lưu và chuyển tiếp (Store and Forward Network). Một ví dụ điển hình về kỹ thuật này là dịch vụ thư điện tử (e-mail), nó được chuyển tiếp qua các trạm cho đến khi tới được đích cần đến. Ưu điểm là cung cấp một sự quản lý hiệu quả hơn đối với sự lưu thông của mạng, bằng cách gán các thứ tự ưu tiên cho các thông báo và đảm bảo các thông báo có độ ưu tiên cao hơn sẽ được lưu chuyển thay vì bị trễ do quá trình lưu thông trên mạng; giảm sự tắc nghẽn trên mạng, các trạm trung gian có thể lưu giữ các thông báo cho đến khi kênh truyền rảnh mới gửi thông báo đi; tăng hiệu quả sử dụng kênh truyền, với kỹ thuật này các trạm có thể dùng chung kênh truyền. Nhược điểm là độ trễ do việc lưu trữ và chuyển tiếp thông báo là không phù hợp với các ứng dụng thời gian thực, Các trạm trung gian phải có dung lượng bộ nhớ rất lớn để lưu giữ các thông báo trước khi chuyển tiếp nó tới một trạm trung gian khác (kích thước của các thông báo không bị hạn chế). === Mạng chuyển mạch gói (Packet Switching Network) === Kỹ thuật này được đưa ra nhằm tận dụng các ưu điểm và khác phục những nhược điểm của hai kỹ thuật trên, đối với kỹ thuật này các thông báo được chia thành các gói tin (packet) có kích thước thay đổi, mỗi gói tin bao gồm dữ liệu, địa chỉ nguồn, địa chỉ đích và các thông tin về địa chỉ các trạm trung gian. Các gói tin riêng biệt không phải luôn luôn đi theo một con đường duy nhất, điều này được gọi là chọn đường độc lập (independent routing). Ưu điểm là dải thông có thể được quản lý bằng cách chia nhỏ dữ liệu vào các đường khác nhau trong trường hợp kênh truyền bận; nếu một liên kết bị sự cố trong quá trình truyền thông thì các gói tin còn lại có thể được gửi đi theo các con đường khác; điểm khác nhau cơ bản giữa kỹ thuật chuyển mạch thông báo và kỹ thuật chuyển mạch gói là trong kỹ thuật chuyển mạch gói các gói tin được giới hạn về độ dài tối đa điều này cho phép các trạm chuyển mạch có thể lưu giữ các gói tin vào bộ nhớ trong mà không phải đưa ra bộ nhớ ngoài do đó giảm được thời gian truy nhập và tăng hiệu quả truyền tin. Nhược điểm là khó khăn của phương pháp chuyển mạch gói cần giải quyết là tập hợp các gói tin tại nơi nhận để tạo lại thông báo ban đầu cũng như xử lý việc mất các gói tin. == Mô hình ứng dụng mạng == === Mô hình mạng ngang hàng (Peer–to–Peer Network) === Mạng peer–to–peer là một ví dụ rất đơn giản của các mạng LAN. Chúng cho phép mọi nút mạng vừa đóng vai trò là thực thể yêu cầu các dịch vụ mạng (client), vừa là các thực thể cung cấp các dịch vụ mạng (server). Trong môi trường này, người dùng trên từng máy tính chịu trách nhiệm điều hành và chia sẻ tài nguyên của máy tính mình. Mô hình này chỉ phù hợp với các tổ chức nhỏ và không quan tâm đến vấn đề bảo mật. Phần mềm mạng peer–to–peer được thiết kế sao cho các thực thể ngang hàng thực hiện cùng các chức năng tương tự nhau. Các đặc điểm của mạng peer–to–peer là mạng peer–to–peer còn được biết đến như mạng workgroup (nhóm làm việc) và được sử dụng cho các mạng có ≤ 10 người sử dụng (user) làm việc trên mạng đó; không đòi hỏi phải có người quản trị mạng (administrator); trong mạng peer–to–peer mỗ người sử dụng làm việc như người quản trị cho trạm làm việc riêng của họ và chọn tài nguyên hoặc dữ liệu nào mà họ sẽ cho phép chia sẻ trên mạng cũng như quyết định ai có thể truy xuất đến tài nguyên và dữ liệu đó. Ưu điểm là đơn giản cho việc cài đặt và chi phí tương đối rẻ. Nhược điểm là Không quản trị tập trung, đặc biệt trong trường hợp có nhiều tài khoản cho một người sử dụng (user) truy xuất vào các trạm làm việc khác nhau; việc bảo mật mạng có thể bị vi phạm với các người sử dụng có chung tên người dùng, mật khẩu truy xuất tới cùng tài nguyên; không thể sao chép dự phòng (backup) dữ liệu tập trung. Dữ liệu được lưu trữ rải rác trên từng trạm. === Mô hình mạng khách chủ (Client – Server Network / Server Based Network) === Mạng khách chủ liên quan đến việc xác định vai trò của các thực thể truyền thông trong mạng. Mạng này xác định thực thể nào có thể tạo ra các yêu cầu dịch vụ và thực thể nào có thể phục vụ các yêu cầu đó. Các máy được tổ chức thành các miền (domain). An ninh trên các domain được quản lý bởi một số máy chủ đặc biệt gọi là domain controller. Trên domain có một master domain controller được gọi là PDC (Primary Domain Controller) và một BDC (Backup Domain Controller) để đề phòng trường hợp PDC gặp sự cố. == Mô hình quản lý mạng == === Mô hình mạng Workgroup === Mô hình mạng Workgroup là một nhóm máy tính mạng cùng chia sẻ tài nguyên như file dữ liệu, máy in. Nó là một nhóm lôgíc của các máy tính mà tất cả chúng có cùng tên nhóm. Có thể có nhiều nhóm làm việc (workgroups) khác nhau cùng kết nối trên một mạng cục bộ (LAN). Mô hình mạng Workgroup cũng được coi là mạng peer-to-peer bởi vì tất cả các máy trong workgroup có quyền chia sẻ tài nguyên như nhau mà không cần sự chỉ định của Server. Mỗi máy tính trong nhóm tự bảo trì, bảo mật cơ sở dữ liệu cục bộ của nó. Điều này có nghĩa là, tất cả sự quản trị về tài khoản người dùng, bảo mật cho nguồn tài nguyên chia sẻ không được tập trung hóa. Bạn có thể kết nối tới một nhóm đã tồn tại hoặc khởi tạo một nhóm mới. Ưu điểm là Workgroups không yêu cầu máy tính chạy trên hệ điều hành Windows Server để tập trung hóa thông tin bảo mật; workgroups thiết kế và hiện thực đơn giản và không yêu cầu lập kế hoạch có phạm vi rộng và quản trị như domain yêu cầu; workgroups thuận tiện đối với nhóm có số máy tính ít và gần nhau (≤ 10 máy). Nhược điểm là mỗi người dùng phải có một tài khoản người dùng trên mỗi máy tính mà họ muốn đăng nhập; bất kỳ sự thay đổi tài khoản người dùng, như là thay đổi mật khẩu hoặc thêm tài khoản người dùng mới, phải được làm trên tất cả các máy tính trong Workgroup, nếu bạn quên bổ sung tài khoản người dùng mới tới một máy tính trong nhóm thì người dùng mới sẽ không thể đăng nhập vào máy tính đó và không thể truy xuất tới tài nguyên của máy tính đó; việc chia sẻ thiết bị và file được xử lý bởi các máy tính riêng, và chỉ cho người dùng có tài khoản trên máy tính đó được sử dụng. === Mô hình mạng Domain === Mô hình mạng Domain là một nhóm máy tính mạng cùng chia sẻ cơ sở dữ liệu thư mục tập trung (central directory database). Thư mục dữ liệu chứa tài khoản người dùng và thông tin bảo mật cho toàn bộ Domain. Thư mục dữ liệu này được biết như là thư mục hiện hành (Active Directory). Trong một Domain, thư mục chỉ tồn tại trên các máy tính được cấu hình như máy điều khiển miền (domain controller). Một domain controller là một Server quản lý tất cả các khía cạnh bảo mật của Domain. Không giống như mạng Workgroup, bảo mật và quản trị trong domain được tập trung hóa. Để có Domain controller, những máy chủ (server) phải chạy dịch vụ làm Domain controller (dịch vụ được tích hợp sẵn trên các phiên bản Windows Server của Microsoft; hoặc trên Linux, ta cấu hình dịch vụ Samba để làm nhiệm vụ Domain controller,...). Một domain không được xem như một vị trí đơn hoặc cấu hình mạng riêng biệt. Các máy tính trong cùng domain có thể ở trên một mạng LAN hoặc WAN. Chúng có thể giao tiếp với nhau qua bất kỳ kết nối vật lý nào, như: Dial-up, Integrated Services Digital Network (ISDN), Ethernet, Token Ring, Frame Relay, Satellite, Fibre Channel. Ưu điểm là cho phép quản trị tập trung. Nếu người dùng thay đổi mật khẩu của họ, thì sự thay sẽ được cập nhật tự động trên toàn Domain; Domain cung cấp quy trình đăng nhập đơn giản để người dùng truy xuất các tài nguyên mạng mà họ được phép truy cập; Domain cung cấp linh động để người quản trị có thể khởi tạo mạng rất rộng lớn. Các miền điển hình trong Windows Server có thể chứa các kiểu máy tính sau: Máy điều khiển miền (Domain controllers) lưu trữ và bảo trì bản sao thư mục. Trong domain, tài khoản người dùng được tạo một lần, Windows Server ghi nó trong thư mục này. Khi người dùng đăng nhập tới máy tính trong domain, domain controller kiểm tra thư mục nhờ tên người sử dụng, mật khẩu và giới hạn đăng nhập. Khi có nhiều domain controllers, chúng định kỳ tái tạo thông tin thư mục của chúng. Các máy chủ thành viên (Member servers): Một máy member server là một máy chủ mà không được cấu hình như là domain controller. Máy chủ không lưu trữ thông tin thư mục và không thể xác nhận domain người dùng. Các máy chủ có thể cung cấp các tài nguyên chia sẻ như các thư mục dùng chung hay các máy in. Các máy tính trạm (Client computers): Các máy tính trạm chạy một hệ điều hành dùng cho máy trạm của người dùng và cho phép người dùng truy cập tới nguồn tài nguyên trong domain. Không giống như Workgroup, Domain phải tồn tại trước khi người dùng tham gia vào nó. Việc tham gia vào Domain luôn yêu cầu người quản trị Domain cung cấp tài khoản cho máy tính của người dùng tới domain đó. Tuy nhiên, nếu người quản trị cho người dùng đúng đặc quyền, người dùng có thể khởi tạo tài khoản máy tính của mình trong quá trình cài đặt. == Thông số mạng == === Băng thông (Bandwidth - B) === Băng thông là độ rộng dải tần, tức độ chênh lệch giữa tần số cao nhất với tần số thấp nhất trên cùng một kênh truyền thông hay giữa các bước sóng. Trong công nghệ máy tính, bandwidth với ý nghĩa là băng thông thường được dùng để chỉ một khối lượng dữ liệu có thể truyền tải được trong một thời gian nhất định. Đối với các thiết bị kỹ thuật số, băng thông được tính với đơn vị bps (bit mỗi giây) hay Bps (byte mỗi giây). Còn đối với các thiết bị analog, băng thông được thể hiện bằng chu kỳ mỗi giây, hay Hertz (Hz). Băng thông là đo lường mức độ thông tin hay bit có thể chạy từ nơi này sang nơi khác trong một khoảng thời gian cho trước tính theo giây. === Độ trễ (Latency - L) === Độ trễ là khoảng thời gian chuyển một thông điệp từ nút này đến nút khác trong hệ thống mạng. === Thông lượng (Throughput – T) === Thông lượng là lượng dữ liệu đi qua đường truyền trong một đơn vị thời gian. Hay thông lượng là băng thông thực sự mà các ứng dụng mạng được sử dụng trong một thời gian cụ thể (thông lượng có thể được biến đổi theo thời gian). Thông lượng thường nhỏ hơn nhiều so với băng thông tối đa có thể có của môi trường truyền dẫn được sử dụng (Throughput ≤ Bandwidth). Thông lượng của mạng máy tính phụ thuộc vào các yếu tố như khoảng cách liên kết, môi trường truyền dẫn, các công nghệ mạng, dạng dữ liệu được truyền, số lượng người dùng trên mạng, máy tính người dùng, máy chủ, … == Các phương pháp truyền thông dữ liệu == Phương thức unicast: Một nút nguồn muốn gửi một thông điệp đến duy nhất một nút đích trên hệ thống mạng. Phương thức multicast: Một nút nguồn muốn gửi một thông điệp đến một nhóm các nút đích trên hệ thống mạng. Phương thức broadcast: Một nút nguồn muốn gửi một thông điệp đến tất cả các nút đích khác trên hệ thống mạng. == Giao thức mạng == == Các mô hình mạng điển hình == Các mô hình dưới đây, TCP/IP và OSI là các tiêu chuẩn, không phải là các bộ lọc hay phần mềm tạo giao thức. === OSI === OSI, hay còn gọi là "Mô hình tham chiếu kết nối các hệ thống mở", viết ngắn là OSI Model hoặc OSI Reference Model là thiết kế dựa trên sự phát triển của ISO (Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế) và IUT-T. Mô hình bao gồm 7 tầng: Tầng ứng dụng (Tầng 7): cho phép người dùng (con người hay phần mềm) truy cập vào mạng bằng cách cung cấp giao diện người dùng, hỗ trợ các dịch vụ như gửi thư điện tử truy cập và truyền file từ xa, quản lý CSDL dùng chung và một số dịch vụ khác về thông tin. Tầng trình diễn (Tầng 6): thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến cú pháp và nội dung của thông tin gửi đi. Tầng phiên (Tầng 5): đóng vai trò "kiểm soát viên" hội thoại (dialog) của mạng với nhiệm vụ thiết lập, duy trì và đồng bộ hóa tính liên tác giữa hai bên. Tầng giao vận(Tầng 4): nhận dữ liệu từ tầng phiên, cắt chúng thành những đơn vị nhỏ nếu cần, gửi chúng xuống tầng mạng và kiểm tra rằng các đơn vị này đến được đầu nhận. Tầng mạng (Tầng 3): điều khiển vận hành của mạng con. Xác định mở đầu và kết thúc của một cuộc truyền dữ liệu. Tầng liên kết dữ liệu (Tầng 2): nhiệm vụ chính là chuyển dạng của dữ liệu thành các khung dữ liệu (data frames) theo các thuật toán nhằm mục đích phát hiện, điều chỉnh và giải quyết các vấn đề như hư, mất và trùng lập các khung dữ liệu. Tầng vật lý (Tầng 1): Thực hiện các chức năng cần thiết để truyền luồng dữ liệu dưới dạng bit đi qua các môi trường vật lý. === TCP/IP === TCP/IP cũng giống như OSI nhưng kiểu này có ít hơn ba tầng: Tầng ứng dụng: bao gồm nhiều giao thức cấp cao. Trước đây người ta sử dụng các áp dụng đầu cuối ảo như TELNET, FTP, SMTP. Sau đó nhiều giao thức đã được định nghĩa thêm vào như DNS, HTTP... Tầng giao vận: nhiệm vụ giống như phần giao vận của OSI nhưng có hai giao thức được dùng tới là TCP và UDP. Tầng mạng: chịu trách nhiệm chuyển gói dữ liệu từ nơi gửi đến nơi nhận, gói dữ liệu có thể phải đi qua nhiều mạng (các chặng trung gian). Tầng liên kết dữ liệu thực hiện truyền gói dữ liệu giữa hai thiết bị trong cùng một mạng, còn tầng mạng đảm bảo rằng gói dữ liệu sẽ được chuyển từ nơi gửi đến đúng nơi nhận. Tầng này định nghĩa một dạng thức của gói và của giao thức là IP. Tầng liên kết dữ liệu: Sử dụng để truyền gói dữ liệu trên một môi trường vật lý. == Thiết bị mạng == === Thiết bị truyền dẫn === Cáp xoắn đôi (Twisted pair cable): Cáp xoắn đôi gồm nhiều cặp dây đồng xoắn lại với nhau nhằm chống phát xạ nhiễu điện từ. Do giá thành thấp nên cáp xoắn được dùng rất rộng rãi. Có hai loại cáp xoắn đôi được sử dụng rộng rãi trong LAN là loại có vỏ bọc chống nhiễu và loại không có vỏ bọc chống nhiễu. Cáp đồng trục (Coaxial Cable) Cáp sợi quang (Fiber optic cable): là một loại cáp viễn thông làm bằng thủy tinh hoặc nhựa, sử dụng ánh sáng để truyền tín hiệu. Cáp quang dài, mỏng thành phần của thủy tinh trong suốt bằng đường kính của một sợi tóc. Chúng được sắp xếp trong bó được gọi là cáp quang và được sử dụng để truyền tín hiệu trong khoảng cách rất xa. Không giống như cáp đồng truyền tín hiệu bằng điện, cáp quang ít bị nhiễu, tốc độ cao và truyền xa hơn. === Thiết bị kết nối === Wireless Access Point là thiết bị kết nối mạng không dây được thiết kế theo chuẩn IEEE 802.11b, cho phép nối LAN to LAN, dùng cơ chế CSMA/CA để giải quyết tranh chấp, dùng cả hai kiến trúc kết nối mạng là Infrastructure và AdHoc, mã hóa theo 64/128 bit. Nó còn hỗ trợ tốc độ truyền không dây lên tới 11Mbps trên băng tần 2,4 GHz và dùng công nghệ radio DSSS (Direct Sequence Spectrum Spreading). Wireless Ethernet Bridge là thiết bị cho phép các thiết bị Ethernet kết nối vào mạng không dây. Ví dụ như thiết bị Linksys WET54G Wireless-G Ethernet Bridge. Nó hỗ trợ bất kỳ thiết bị Ethernet nào kết nối vào mạng không dây dù thiết bị Ethernet đó có thể là một thiết bị đơn hoặc một router kết nối đến nhiều thiết bị khác. Card mạng là một loại card mở rộng được gắn thêm trên máy tính, cung cấp giao tiếp vật lý và logic giữa máy tính với các thiết bị mạng, hệ thống mạng thông qua phương tiện truyền dẫn. Repeater đơn giản chỉ là một bộ khuếch đại tín hiệu giữa hai cổng của hai phân đoạn mạng. Repeater được dùng trong mô hình mạng Bus nhằm mở rộng khoảng cách tối đa trên một đường cáp. Có hai loại Repeater đang được sử dụng là Repeater điện và Repeater điện quang. Dùng để nối hai mạng có cùng giao thức truyền thông Hub là thiết bị có chức năng giống như Repeater nhưng nhiều cổng giao tiếp hơn cho phép nhiều thiết bị mạng kết nối tập trung với nhau tại một điểm. Hub thông thường có từ 4 đến 24 cổng giao tiếp, thường sử dụng trong những mạng Ethernet 10BaseT. Thật ra, Hub chi là Repeater nhiều cổng. Hub lặp lại bất kỳ tín hiệu nào nhận được từ một cổng bất kỳ và gửi tín hiệu đó đến tất cả các cổng còn lại trên nó. Hub hoạt động ở lớp vật lý của mô hình OSI và cũng không lọc được dữ liệu. Hub thường được dùng để nối mạng, thông qua những đầu cắm của nó người ta liên kết với các máy tính dưới dạng hình sao. Hub được chia làm hai loại chính: Hub thụ động (Passive hub) và Hub chủ động (Active hub). Bridge là thiết bị cho phép nối kết hai nhánh mạng, có chức năng chuyển có chọn lọc các gói tin đến nhánh mạng chứa máy nhận gói tin. Để lọc các gói tin và biết được gói tin nào thuộc nhánh mạng nào thì Bridge phải chứa bảng địa chỉ MAC. Bảng địa chỉ này có thể được khởi tạo tự động hay phải cấu hình bằng tay. Do Bridge hiểu được địa chỉ MAC nên Bridge hoạt động ở tầng hai (tầng data link) trong mô hình OSI. Modem là thiết bị dùng để chuyển đổi dữ liệu định dạng số thành dữ liệu định dạng tương tự cho một quá trình truyền từ môi trường tín hiệu số qua môi trường tín hiệu tương tự và sau đó trở môi trường tín hiệu số ở phía nhận cuối cùng. Tên gọi Modem thật ra là từ viết tắt được ghép bởi những chữ cái đầu tiên của MOdulator/DEModulator – Bộ điều biến/Bộ giải điều biến. Switch là sự kết hợp hài hòa về kỹ thuật giữa Bridge và Hub. Cơ chế hoạt động của Switch rất giống Hub bởi vì là thiết bị tập trung các kết nối mạng lại trên nó. Những cổng giao tiếp trên Switch là những Bridge thu nhỏ được xây dựng trên mỗi cổng giao tiếp tương ứng. Router là bộ định tuyến dùng để nối kết nhiều phân đoạn mạng, hay nhiều kiểu mạng (thường là không đồng nhất về kiến trúc và công nghệ) vào trong cùng một mạng tương tác. Thông thường có một bộ xử lý, bộ nhớ, và hai hay nhiều cổng giao tiếp ra/vào. Brouter Gateway là thiết bị trung gian dùng để nối kết những mạng khác nhau cả về kiến trúc lẫn môi trường mạng. Gateway được hiểu như cổng ra vào chính của một mạng nội bộ bên trong kết nối với mạng khác bên ngoài. Có thể đó là thiết bị phần cứng chuyên dụng nhưng thường là một server cung cấp kết nối cho các máy mà nó quản lý đi ra bên ngoài giao tiếp với một mạng khác. == Các công nghệ mạng == === Point-To-Point === === ETHERNET === === TOKEN RING === === FDDI === Về bản chất FDDI giống như Token Ring, nhưng là double Token Ring. Nghĩa là FDDI có 2 vòng Token Ring, nhưng thật ra chỉ có 1 vòng hoạt động, còn 1 vòng dùng để dự phòng trong trường hợp vòng kia down. FDDI bảo đảm LAN hoạt động hiệu quả, và kô xảy ra tình trạng down, và security cao hơn. === Mạng thuê bao === === Mạng chuyển mạch === ==== ATM ==== ATM(Asynchronous Transfer Mode) là công nghệ chuyển mạch gói tương thích với mọi loại hình dịch vụ hiện nay. Nó được dùng trong cả mạng truy nhập lẫn mạng lõi. Hoạt động ở tầng 2 datalink của OSI -Dữ liệu cần gởi được chia thành các gói có độ dài cố định là 53 bytes, được gọi là một tế bào (cell). ==== X.25 ==== X.25 là một giao thức đã được công nhận bởi CCITT (viết tắt từ tiếng Anh: Consultative Committee for International Telegraph and Telephone, nghĩa là Hội đồng Tham Vấn về Điện Thoại và Điện Tín Quốc tế). Giao thức này là giao thức rất phổ biến được đưa ra nhằm bảo đảm sự nguyên vẹn của dữ liệu khi di chuyển trong mạng. Nó định nghĩa sự kết nối với nhau của nhiều mạng dùng kỹ thuật nối chuyển gói với các máy tính liên hệ hoặc các đầu ra. X.25 cho phép các máy tính của nhiều mạng công cộng khác nhau có thể liên lạc xuyên qua một máy tính trung gian ở tầng network. ==== Frame relay ==== Frame relay là một giao thức về nối chuyển gói dùng cho việc nối các thiết bị trong WAN. Giao thức này được tạo ra để dùng trong môi trường có vận tốc rất nhanh và khả năng bị lỗi ít. Ở Mỹ, nó hỗ trợ vận tốc T-1 (hay DS1) lên đến 1.544 Mbps. Thực ra, frame relay cơ bản dựa trên giao thức cũ là X.25. Sự khác nhau ở đây, frame relay là kỹ thuật "gói nhanh" (fast-packet) và kỹ thuật này sẽ không tiến hành điều chỉnh lỗi. Khi lỗi tìm ra, thì nó chỉ đơn giản huỷ bỏ gói có lỗi đi. Các đầu cuối chịu trách nhiệm cho việc phát hiện lỗi và yêu cầu gửi lại gói đã hủy bỏ. === DSL === === Novell Netware === === Windows NT === === Apple Talk === === ARPANET === ARPANET là mạng kiểu WAN, nse) khởi xướng đầu thập niên 1960 nhằm tạo ra một mạng có thể tồn tại với chiến tranh hạt nhân lúc đó có thể xảy ra giữa Mỹ và Liên Xô. Chữ ARPANET là từ chữ Advance Research Project Agency và chữ NET viết hợp lại. Đây là một trong những mạng đầu tiên dùng kỹ thuật nối chuyển gói, nó bao gồm các mạng con và nhiều máy chính. Các mạng con thì được thiết kế dùng các minicomputer gọi là các IMP, hay Bộ xử lý mẫu tin giao diện, (từ chữ Interface Message Processor) để bảo đảm khả năng truyền thông, mỗi IMP phải nối với ít nhất hai IMP khác và gọi các phần mềm của các mạng con này là giao thức IMP-IMP. Các IMP nối nhau bởi các tuyến điện thoai 56 Kbps sẵn có. ARPANET đã phát triển rất mạnh bởi sự ủng hộ của các đại học. Nhiều giao thức khác đã được thử nghiệm và áp dụng trên mạng này trong đó quan trọng là việc phát minh ra giao thức TCP/IP dùng trong các LAN nối với ARPANET. Đến 1983, ARPANET đã chứng tỏ sự bền bỉ và thành công bao gồm hơn 200 IMP và hàng trăm máy chính. Cũng trong thập niên 1980, nhiều LAN đã nối vào ARPANET và thiết kế DNS, hay hệ thống đặt tên miền, (từ chữ Domain Naming System) cũng ra đời trên mạng này trước tiên. Đến 1990 thì mạng này mới hết được sử dụng. Đây được xem là mạng có tính cách lịch sử là tiền thân của Internet. === NFSNET === Vào 1984 thì tổ chức National Science Foundation của Hoa Kỳ (gọi tắt là NSF) đã thiết kế nhằm phục vụ cho nhu cầu nghiên cứu và thông tin giữa các đại học bao gồm 6 siêu máy tính từ nhiều trung tâm trải rộng trong Hoa Kỳ. Đây là mạng WAN đầu tiên dùng TCP/IP. Cuối thập niên 1990 thì kĩ thuật sợi quang (fiber optics) đã được áp dụng. Tháng 12 năm 1991 thì mạng National Research and Educational Network ra đời để thay cho NSFNET và dùng vận tốc đến hàng giga bit. Đến 1995 thì NSFNET không còn cần thiết nữa. === Internet === Số lượng máy tính nối vào ARPANET tăng nhanh sau khi TCP/IP trở thành giao diện chính thức duy nhất vào ngày 1 tháng 1 năm 1983. Sau khi ARPANET và NSFNET nối nhau thì sự phát triển mạng tăng theo hàm mũ. Nhiều nơi trên thế giới bắt đầu nối vào làm thành các mạng ở Canada, Châu Âu và bên kia Đại Tây Dương đã hình thành Internet. Từ 1990, Internet đã có hơn 300 mạng và 2000 máy tính nối vào. Đến 1995 đã có hàng trăm mạng cỡ trung bình, hàng chục ngàn LAN, hàng triệu máy chính, và hàng chục triệu người dùng Internet. Độ lớn của nó nhân đôi sau mỗi hai năm. Chất liệu chính giữ Internet nối mạng với nhau là giao thức TCP/IP và chồng giao diện TCP/IP. TCP/IP đã làm cho các dịch vụ trở nên phổ dụng. Đến tháng 1 năm 1992, thì sự phát triển tự phát của Internet không còn hữu hiệu nữa. Tổ chức Internet Society ra đời nhằm cổ vũ và để quản lý nó. Internet có các ứng dụng chính sau: Thư điện tử (email): cung cấp khả năng viết, gửi và nhận các thư điện tử. Nhóm tin (newsgroup): các diễn đàn cho người dùng trao đổi thông tin. Có nhiều chục ngàn nhóm như vậy và có kiểu cách, phong thái riêng. Đăng nhập từ xa (remote login): giúp cho người dùng ở bất kì nơì nào có thể dùng Internet để đăng nhập và sử dụng hay điều khiển một máy khác chỗ mà họ có tài khoản. Nổi tiếng là chương trình Telnet. Truyền tập tin (file transfer): dùng chương trình FTP để chuyển các tập tin qua Internet đi khắp nơi. Máy truy tìm (search engine) các chương trình này qua Internet có thể giúp người ta tìm thông tin ở mọi dạng, mọi cấp về mọi thứ. Từ việc tìm các tài liệu nghiên cứu chuyên sâu cho đến tìm người và thông tin về người đó, hay tìm cách thức đi đường bản đồ,... === Mạng không dây === Các thiết bị cầm tay hay bỏ túi thường có thể liên lạc với nhau bằng phương pháp không dây và theo kiểu LAN. Một phương án khác được dùng cho điện thoại cầm tay dựa trên giao thức CDPD (Cellular Digital Packet Data) hay là dữ liệu gói kiểu cellular số. Các thiết bị không dây hoàn toàn có thể nối vào mạng thông thường (có dây) tạo thành mạng hỗn hợp (trang bị trên một số máy bay chở khách. === Liên mạng === Các mạng trên thế giới có thể khác biệt nhau về phần cứng và phần mềm, để chúng liên lạc được với nhau cần phải có thiết bị gọi là cổng nối (gateway) làm nhiệm vụ điều hợp. Một tập hợp các mạng nối kết nhau được gọi là liên mạng. Dạng thông thường nhất của liên mạng là một tập hợp nhiều LAN nối nhau bởi một WAN. === ISDN === ISDN từ chữ Integrated Services Digital Network nghĩa là "mạng kỹ thuật số các dịch vụ tổng hợp". Một cách tổng quát thì ISDN là loại mạng sử dụng kỹ thuật nối chuyển mạch. ISDN là một tiêu chuẩn quốc tế về truyền thông bằng âm thanh, dữ liệu, tín hiệu và hình ảnh kỹ thuật số. Một thí dụ là nó có thể dùng cho các buổi hội thảo truyền hình (videoconference) cùng lúc trao đổi hình ảnh, âm thanh, và chữ giữa các máy cá nhân có nối kết với nhóm các hệ thống hội thảo truyền hình. Hệ thống ISDN sử dụng các nối kết qua đường dây điện thoại số cho phép nhiều kênh truyền hoạt động đồng thời qua cùng một tiêu chuẩn giao diện duy nhất. Người dùng ở nhà và các cơ sở kinh tế muốn có ISDN qua hệ thống dường dây điện thoại số cần phải cài thêm các trang bị đặc biệt về phần cứng gọi là bộ tiếp hợp (adapter). Vận tốc tối đa hiện tại của ISDN lên đến 128 Kbps. Nhiều địa phương không trang bị đưòng dây điện thoại số thì sẽ không cài đặt được kỹ thuật ISDN. == Các tổ chức ảnh hưởng tới quá trình tiêu chuẩn hoá mạng == Các tổ chức ảnh hưởng lớn hay có thẩm quyền đến việc tiêu chuẩn hoá mạng máy tính: ISO "Tổ chức Tiêu chuẩn Quốc tế" ANSI "Viện Tiêu chuẩn Quốc gia Hoa Kỳ" IEEE "Học viện của các Kỹ Sư Điện và Điện Tử" ITU "Liên Minh Viễn thông Quốc tế" == Tham khảo == == Đọc thêm == == Nghiên cứu thêm == == Liên kết ngoài ==
28 tháng 9.txt
Ngày 28 tháng 9 là ngày thứ 271 (272 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 94 ngày trong năm. == Sự kiện == 189 – Đổng Trác phế truất hoàng đế Lưu Biện, lập em của Lưu Biện là Lưu Hiệp lên ngôi, tức Hán Hiến Đế- hoàng đế cuối cùng của triều Đông Hán. 935 – Công tước Bohemia Václav I bị em trai là Boleslav ám sát, Boleslav sau đó trở thành công tước. 1864 – Một đại hội quốc tế gồm các đại biểu cấp tiến diễn ra tại Luân Đôn, hình thành nên Hội liên hiệp công nhân quốc tế, tức Quốc tế thứ nhất. 1928 – Alexander Fleming nhận thấy một loại mốc diệt vi khuẩn phát triển trong phòng thí nghiệm của ông, thứ mà về sau được gọi là penicillin. 1960 – Lãnh tụ Fidel Castro thành lập Ủy ban Bảo vệ Cách mạng nhằm phát hiện và đập tan mọi âm mưu chống phá cách mạng. 1988 – Máy bay tầm xa bốn động cơ thân rộng Ilyushin Il-96 tiến hành chuyến bay đầu tiên. 1986 – Đảng Dân chủ Tiến bộ Đài Loan tuyên bố thành lập tại Đài Bắc, là đảng đối lập đích thực đầu tiên tại Đài Loan. 2006 – Sân bay quốc tế Suvarnabhumi tại tỉnh Samut Prakan, Thái Lan bắt đầu chính thức hoạt động, thay thế cho Sân bay quốc tế Don Mueang. == Sinh == 1926 – Nguyễn Cảnh Toàn, Giáo sư toán học người Việt Nam (m. 2017) == Mất == 2016 - Shimon Peres, cựu Tổng thống Israel, Nobel hòa bình năm 1994. == Những ngày lễ và kỉ niệm == == Tham khảo ==
niigata (thành phố).txt
Thành phố Niigata (tiếng Nhật: 新潟市 Niigata-shi, Tân Tích thị) là thành phố thủ phủ của tỉnh Niigata, Nhật Bản. Đây là thành phố lớn nhất của Nhật Bản bên phía Biển Nhật Bản. Niigata được công nhận là thành phố vào năm 1889. Trước đó, nó chỉ là một thị trấn. Ngày 1 tháng 4 năm 2007, thành phố được công nhận là đô thị quốc gia của Nhật Bản sau một thời gian bốn năm sáp nhập với các thành phố nhỏ xung quanh. Thành phố Niigata, nơi con sông dài nhất Nhật Bản là Shinano đổ ra biển từng là một trong 5 hải cảng tự do mà mạc phủ Tokugawa đã phải mở cho phương Tây vào. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, thành phố Niigata từng được Mỹ chọn làm một trong bốn thành phố để ném bom nguyên tử. Song do thời tiết nơi đây lúc đó không tốt và lại quá xa đối với máy bay Mỹ, nên thành phố đã thoát khỏi thảm họa bom nguyên tử. == Lịch sử == Con người đã định cư ở khu vực Niigata từ thời kỳ Jōmon, mặc dù lúc đó vị trí đất liền hiện tại vẫn nằm dưới biển. Theo Nihonshoki, một pháo đài đã được xây dựng ở đây năm 647. Trong thế kỷ 16, cảng Niigata được xây dựng ở cửa sông Shinano, trong khi thị trấn cảng mang tên Nuttari thì phát triển ở cửa sông Agano. Khu vực này phát triển thịnh vượng dưới quyền cai trị của Uesugi Kenshin, thời kỳ Sengoku. Hệ thống kênh đào cũng đã được xây dựng trên đảo chính của Niigata vào thế kỷ 17. Trong thời gian này, diễn biến lòng dẫn của các sông Shinano và Agano thay đổi một cách từ từ cho đến khi nó đổ vào biển Nhật Bản tại cùng một vị trí. Khi đó, Niigata trở thành thị trấn cảng, phục vụ cho tất cả các tàu thương mại Nhật Bản đi trong vùng biển Nhật Bản. Kênh đào Matsugasaki được xây dựng năm 1730 để làm thoát nước khu vực sông Agano, nhưng vào năm 1731, một trận lụt đã phá hủy kênh đào và làm cho nó trở thành dòng chảy chính của sông Agano hiện nay. Kéo theo đó là lưu lượng nước chảy vào cảng Niigata giảm, làm cho người ta tiến hành san lấp lấn biển và phát triển các khu vực trồng lúa. Năm 1858, Niigata được xác định là một trong 5 cảng thương mại quốc tế theo Japan-U.S. Treaty of Amity and Commerce. Tuy nhiên, mức nước nông trong cảng đã làm trì hoãn việc mở cửa cảng này cho đến năm 1869. Cảng cũng phục vụ nơi neo đậu, buôn bán cho những người đánh cá ở tận phía bắc bán đảo Kamchatka để đánh bắt cá hồi và các loại các khác. Năm 1886, cây cầu đầu tiên cầu Bandai được xây dựng qua sông Shinano nối liền các khu dân cư của Niigata ở phía đông và Nuttari ở phía tây. Niigata sáp nhập thêm Nuttari năm 1914. Trong chiến tranh thế giới thứ 2, vị trí chiến lược của Niigata giữa thủ đô Tokyo và biển Nhật Bản làm cho nó trở thành điểm quan trọng trong việc chuyển tiếp những người đi lập nghiệp ở thuộc địa và quân lính đến châu Á lục địa, bao gồm cả Manchukuo. Năm 1945, khi chiến tranh gần kết thúc, Niigata là một trong bốnt thành phố (gồm Hiroshima, Kokura, và Nagasaki) là địa điểm ném bom nguyên tử nếu Nhật Bản không đầu hàng. Chính quyền tỉnh Niigata đã yêu cầu người dân trốn chạy khi những tin đồn bị ném bom lan rộng, và thành phố trở nên trống vắng chỉ trong vài ngày. == Thành phố kết nghĩa == Niigata kết nghĩa với 6 thành phố: Galveston, Hoa Kỳ (1965) Khabarovsk, Nga (1965) Harbin, Trung Quốc (1979) Vladivostok, Nga (1991) Birobidzhan, Nga (2005) Nantes, Pháp (2009) Thái Bình, Việt Nam (2008) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức bằng tiếng Anh của thành phố Niigata
eo biển manche.txt
Eo biển Manche (tiếng Anh: The English Channel, "eo biển Anh"; tiếng Pháp: La Manche, "tay áo", phiên âm tiếng Việt: eo biển Măng-sơ) là một đoạn eo biển dài thuộc Đại Tây Dương xen giữa đảo Anh và bờ biển phía bắc của Pháp, liền với Bắc Hải. Eo biển này dài 562 km, chỗ rộng nhất 240 km, chỗ hẹp nhất là 34 km (eo biển Dover). Eo biển Manche là biển nông nhỏ nhất xung quanh thềm lục địa châu Âu, chiếm diện tích khoảng 75.000 km². == Chú thích == == Xem thêm == Đường hầm eo biển Manche
edmund halley.txt
Edmond Halley FRS (đôi khi gọi là "Edmund"; IPA: [ˈedmənd ˈhɔːlɪ]) (8 tháng 11 năm 1656 – 14 tháng 1 năm 1742) là một nhà thiên văn địa vật lý, nhà địa vật lý, nhà toán học, nhà khí tượng học, và nhà vật lý học người Anh. == Tiểu sử và nghề nghiệp == Halley được sinh ra ở Haggerston, Luân Đôn, là con trai của một người nấu xà phòng giàu có. Lúc còn trẻ con, Halley rất ưa thích đến toán học. Cậu bé đã học tại St Paul's School, và sau đó, từ năm 1673, học tại The Queen's College, Oxford. Lúc còn là sinh viên, Halley đã được xuất bản các bài về hệ mặt trời và vệt đen mặt trời. Khi rời Oxford năm 1676, Halley đã thăm đảo phía Nam Đại Tây Dương St. Helena với phát minh về việc nghiên cứu các ngôi sao từ Nam Bán Cầu. Ông đã trở về Anh tháng 11 năm 1678. Trong năm sau, ông đã đến Danzig (Gdańsk) và ở lại cùng với nhà thiên văn học Johannes Hevelius, nơi ông quan sát vào kiểm chứng các kết quả của Hevelius. Do Hevelius không sử dụng kính thiên văn, các quan sát của ông đã bị Hooke nghi ngờ. Cùng năm đó, Halley đã xuất bản Catalogus Stellarum Australium bao gồm các chi tiết của 341 ngôi sao phía Nam. Những bổ sung này cho các bản đồ sao ngày nay đã khiến ông được so sánh với Tycho Brahe. Halley được trao bằng thạc sĩ tại Oxford và được bầu làm một hội viên của Hội Hoàng gia. == Tham khảo ==
sông bạch đằng.txt
Sông Bạch Đằng, còn gọi là Bạch Đằng Giang (chữ Nho: 白藤江; tên Nôm: sông Rừng), hiệu là sông Vân Cừ, là một con sông chảy giữa thị xã Quảng Yên (Quảng Ninh) và huyện Thủy Nguyên (Hải Phòng), cách vịnh Hạ Long, cửa Lục khoảng 40 km. Nó nằm trong hệ thống sông Thái Bình. Điểm đầu là phà Rừng - Hải Phòng (ranh giới Hải Phòng và Quảng Ninh). Điểm cuối là cửa Nam Triệu - Hải Phòng. Sông có chiều dài 32 km. Các loại tàu thuyền có tải trọng 300-400 tấn tham gia vận tải được cả 2 mùa. Sông Bạch Đằng là con đường thủy tốt nhất để đi vào Hà Nội (Thăng Long ngày xưa) từ miền nam Trung Quốc, từ cửa sông Nam Triệu các chiến thuyền đi vào sông Kinh Thầy, sông Đuống và cuối cùng là sông Hồng đoạn chảy qua Hà Nội Sông Bạch Đằng nổi tiếng với 3 chiến công của dân tộc Việt Nam: Trận thủy chiến sông Bạch Đằng năm 938: Ngô Quyền đánh thắng quân xâm lược Nam Hán, Trận thủy chiến sông Bạch Đằng năm 981: Hoàng đế Lê Đại Hành phá tan quân Tống xâm lược Trận thủy chiến sông Bạch Đằng năm 1288: Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn đại thắng quân xâm lược Mông Nguyên (trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên lần thứ ba). Hiện ở khu vực cửa sông Bạch Đằng có 3 ngôi đền thờ 3 vị anh hùng trên đó là đình Hàng Kênh (Lê Chân, Hải Phòng) thờ Ngô Quyền, đền Vua Lê Đại Hành ở thị trấn Minh Đức (Thủy Nguyên, Hải Phòng) và đền Trần Hưng Đạo ở phường Yên Giang, (Quảng Yên, Quảng Ninh). == Bãi cọc ngầm trên sông Bạch Đằng == Bãi cọc Bạch Đằng là các bãi cọc trên sông Bạch Đằng được sử dụng làm trận địa chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt, do Ngô Quyền khởi xướng vào năm 938 trong trận đại phá quân Nam Hán. Hiện nay có hai bãi cọc được phát hiện: Một bãi cọc nằm trong một đầm nước giáp đê sông Chanh, thuộc Yên Giang, thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh. Bãi cọc này được phát hiện vào năm 1953 khi người dân trong vùng đào đất đắp đê. Bãi hiện còn hàng trăm cọc, một số cọc được cắm thẳng đứng, đa số cọc nằm chếch theo hướng đông 15°, cắm theo hình chữ "chi" (之). Cọc phần lớn bằng gỗ lim, gỗ táu, đầu dưới vát nhọn, đầu trên đã bị gãy. Độ dài trung bình các cọc từ 2 m đến 2,8 m; có cọc dài tới 3,2 m. Phần cọc được vát nhọn dài từ 0,8 m đến 1 m. Đầu phía trên của cọc nằm dưới mặt đất khoảng 0,5 m đến trên 1,5 m. Toàn bộ bãi cọc đã được xây kè bảo vệ với diện tích 220 m2, trong đó có 42 cọc ở nguyên trạng khi phát hiện, sâu dưới bùn hơn 2 m, nhô cao từ 0,2 đến 2 m. Mật độ cọc ở nửa bãi phía nam là một cây mỗi 0,9 đến 1,2 m, nửa bãi phía bắc có một cây mỗi 1,5 đến 2,2 m. Một bãi cọc phát hiện năm 2005 tại cánh đồng Vạn Muối (thuộc Nam Hòa, thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh), với hàng chục cây cọc trên một khu vực rộng 100 m, dài 300 m. Theo các nhà khoa học, người xưa đã dùng loại cọc đường kính 7 – 10 cm, to nhất là 20 – 22 cm, có cọc dài trên 2 m được cắm theo nhiều thế rất hiểm, thường xiên 45° theo một hướng. Cách đóng cọc hiện nay vẫn là bí ẩn. Tuy nhiên dân gian có truyền là người xưa sử dụng cách như sau: 1. Vót nhọn mũi cọc; 2. Đưa mũi cọc nhọn xuống trước, cọc sẽ cắm xuống sâu một mức nhất định; 3. Dùng dây thừng buộc 2 rọ mây vắt qua đầu trên của cọc; 4. Nhét từng viên đá vào rọ cho đến khi đủ tải trọng để ấn cọc xuống; 5. Khi đầu cọc đạt cao độ, chuyển đá ra khỏi rọ và đẽo nhọn đầu cọc. == Cầu qua sông == Cầu Bạch Đằng, ở cửa sông Cấm đổ ra sông Bạch Đằng, nối Đầm Nhà Mạc, thị xã Quảng Yên, Quảng Ninh với quận Hải An, Hải Phòng, cũng là điểm cuối tuyến cao tốc Hạ Long - Hải Phòng (đang xây dựng). == Liên kết ngoài == Bãi cọc Bạch Đằng Phát hiện thêm một bãi cọc trên sông Bạch Đằng
bộ năng lượng hoa kỳ.txt
Bộ Năng lượng Hoa Kỳ (United States Department of Energy, viết tắt DOE) là một bộ cấp nội các của chính phủ liên bang Hoa Kỳ đặc trách về các chính sách của Hoa Kỳ có liên quan đến năng lượng và sự an toàn trong việc quản lý vật liệu nguyên tử. Trách nhiệm của bộ gồm có các chương trình vũ khí hạt nhân của quốc gia, sản xuất các lò phản ứng hạt nhân cho Hải quân Hoa Kỳ, bảo tồn năng lượng, nghiên cứu có liên quan đến năng lượng, thu hồi tồn chứa chất thải phóng xạ, và sản xuất năng lượng nội địa. Bộ Năng lượng Hoa Kỳ cũng bảo trợ nghiên cứu khoa học ứng dụng và cơ bản hơn bất cứ cơ quan liên bang nào khác của Hoa Kỳ; phần lớn chương trình này được tài trợ qua hệ thống của bộ là Các phòng thí nghiệm Quốc gia Bộ Năng lượng Hoa Kỳ. Bộ trưởng Năng lượng Hoa Kỳ là người lãnh đạo Bộ Năng lượng Hoa Kỳ. Tổng hành dinh của bộ nằm tại khu tây nam của Washington, D.C., trên Đường Independence trong Tòa nhà Forrestal (được đặt tên của James Forrestal) cũng như tại Germantown, Maryland. == Lịch sử == Bộ Năng lượng được thành lập vào ngày 4 tháng 8 năm 1977 sau khi Tổng thống Jimmy Carter ký Đạo luật Tổ chức Bộ Năng lượng năm 1977 thành luậ. Trước đó, lịch sử của bộ có thể truy tìm về thời Chiến tranh thế giới thứ hai. Hoa Kỳ, trong lúc năng nổ nhằm chế tạo một quả bom nguyên tử trước bất cứ nước nào khác, đã khởi động Dự án Manhattan dưới sự chỉ đạo của Công binh Lục quân Hoa Kỳ. Sau chiến tranh, Ủy ban Năng lượng Nguyên tử Hoa Kỳ được thành lập để kiểm soát tương lai của dự án. Năm 1974, Ủy ban Năng lượng Nguyên tử bị bãi bỏ và nhường đường cho Ủy ban Điều tiết Hạt nhân (Nuclear Regulatory Commission) có nhiệm vụ điều tiết ngành công nghiệp năng lượng hạt nhân, và Cơ quan Quản lý Phát triển và Nghiên cứu Năng lượng (Energy Research and Development Administration) có nhiệm vụ trông coi phát triển vũ khí hạt nhân, lò phản ứng nguyên tử cho hải quân và các chương trình phát triển năng lượng. Chỉ một vài năm sau đó, khủng hoảng năng lượng đã làm cho chính phủ chú ý đến việc thống nhất lại hai nhóm này. Đạo luật Tổ chức Bộ Năng lượng năm 1977 mà Tổng thống Carter ký thành luật ngày 4 tháng 8 năm 1977, đã lập nên Bộ Năng lượng Hoa Kỳ, nhận lãnh trách nhiệm của cả hai cơ quan vừa nói ở trên cũng như các chương trình của các cơ quan khác nữa. Bộ bắt đầu hoạt động vào ngày 1 tháng 10 năm 1977. == Các đơn vị hoạt động == Cơ quan Quản lý Thông tin Năng lượng (Energy Information Administration) là một cơ quan độc lập trong Bộ Năng lượng Hoa Kỳ. Cơ quan này là nguồn thống kê năng lượng chính thức từ chính phủ Hoa Kỳ. Cơ quan này thu thập, phân tích và xuất bản các dữ liệu như được luật pháp hướng dẫn để bảo đảm các thị trường hữu hiệu, thông tin về sách lược chính sách và hỗ trợ công chúng hiểu biết về năng lượng. Cơ quan Quản lý An ninh Hạt nhân Quốc gia (National Nuclear Security Administration) là một bộ phận của Bộ Năng lượng Hoa Kỳ. cơ quan có trách nhiệm cải tiến an ninh quốc gia qua việc áp dụng năng lượng hạt nhân vào quân sự. Cơ quan này cũng duy trì và cải tiến an toàn, độ tin cậy, và tính năng của kho vũ khí hạt nhân của Hoa Kỳ trong đó bao gồm khả năng thiết kế, sản xuất và thử nghiệm để đáp ứng các đòi hỏi về an ninh quốc gia. Văn phòng Vận chuyển An toàn (Office of Secure Transportation) có trách nhiệm cung ứng vận chuyển an toàn và chắc chắn các cơ phận và vũ khí hạt nhân cũng như các vật liệu hạt nhận đặc biệt và tiến hành các sứ mệnh hỗ trợ an ninh quốc phòng của Hoa Kỳ. Từ năm 1974, Văn phòng đã được giao cho trách nhiệm phát triển, vận hành và quản lý một hệ thống vận chuyển an toàn và chắc chắn cho tất cả các loại trang thiết bị được thiết kế đặc biệt và hệ thống này được vận chuyển bởi các loại cơ giới chuyên dụng chở vật liệu hạt nhân có nhân viên liên bang bảo vệ. Ủy ban Điều tiết Năng lượng Liên bang (Federal Energy Regulatory Commission) là một cơ quan điều tiết độc lập nằm trong Bộ Năng lượng. Ngoài ra bộ cũng quản lý Kho dự trữ dầu chiến lược. === Văn phòng khoa học === Văn phòng Khoa học là cơ quan hỗ trợ đơn độc lớn nhất về nghiên cứu cơ bản trong lãnh vực khoa học vật lý tại Hoa Kỳ. Văn phòng cung ứng hơn 40 phần trăm tổng ngân quỹ cho lãnh vực quan trọng này của quốc gia.. Văn phòng Khoa học sẽ đầu tư 777 triệu đô la trong 5 năm tới (từ năm 2009) tại 46 trung tâm mới về nghiên cứu tiên phong về năng lượng. Các trung tâm này sẽ được thiết lập tại các viện đại học, các phòng thí nghiệm quốc gia, các tổ chức bất vụ lợi, và các hãng tư nhân khắp đất nước. Hai mươi trong số các trung tâm này sẽ tập trung nghiên cứu về năng lượng tái sinh. == Trách nhiệm về vũ khí hạt nhân == Tại Hoa Kỳ, tất cả các vũ khí hạt nhân do Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ triển khai thật sự đều được mượn từ Cơ quan Quản lý An ninh Hạt nhân Quốc gia thuộc Bộ Năng lượng Hoa Kỳ. Cơ quan này có trách nhiệm thiết kế, thử nghiệm và sản xuất tất cả vũ khí hạt nhân. Đến lượt mình thì Cơ quan Quản lý An ninh Hạt nhân Quốc gia lại sử dụng các nhân viên hợp đồng để thực hiện các trách nhiệm của mình tại các nơi do chính phủ làm chủ sau đây: Thiết kế các bộ phận hạt nhân của vũ khí: Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos và Phòng thí nghiệm Quốc gia Lawrence Livermore Chế tạo các hệ thống vũ khí: Phòng thí nghiệm Quốc gia Sandia Sản xuất các bộ phận chính: Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos, Nhà máy Kansas City, và Tòa nhà phức hợp An ninh Quốc gia Y-12 Thử nghiệm: Khu thử nghiệm Nevada Nơi tháo/ráp đầu đạn/vũ khí hoàn thành: Pantex == Tham khảo == == Liên kết ngoài == “United States Department of Energy Official Website”. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2006. “Energy Information Administration”. Department of Energy. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2006. Loan Guarantee Program “Office of Science”. Department of Energy. Truy cập ngày 7 tháng 8 năm 2006. Các tác phẩm của the United States Department of Energy tại Dự án Gutenberg Advanced Energy Initiative Twenty In Ten. Office of Electricity Delivery and Energy Reliability
new mexico.txt
New Mexico (phiên âm: Niu Mê-hi-cô, tiếng Tây Ban Nha: Nuevo México [ˈnweβo ˈmexiko]; tiếng Navajo: 'Yootó Hahoodzo' [jò:txó hàhò:tsò]) là một tiểu bang tọa lạc ở vùng Tây Nam Hoa Kỳ. New Mexico trở thành bang thứ 47 vào ngày 6 tháng 1 năm 1912. Nó thường được xem là một tiểu bang miền Núi. New Mexico có diện tích lớn thứ năm, dân số lớn thứ 36, và mật độ dân số thấp thứ sáu trong 50 tiểu bang Hoa Kỳ. Đã có người sinh sống từ hàng nghìn năm trước khi người châu Âu đến khai phá, New Mexico trở thành một phần của thuộc địa Tân Tây Ban Nha của đế quốc Tây Ban Nha năm 1598. Sau đó, nó là một phần của nước México độc lập trước khi trở thành một lãnh thổ Hoa Kỳ và cuối cùng thành một tiểu bang Hoa Kỳ do kết quả của cuộc Chiến tranh Hoa Kỳ-México. Trong các tiểu bang, New Mexico có tỉ lệ người Hispano cao nhất, gồm con cháu của thực dân Tây Ban Nha, những người đã sống ở đây hơn 400 năm. Nó cũng có tỉ lệ người bản địa cao thứ nhì sau Alaska, và có tổng số người bản địa cao thứ tư sau California, Oklahoma, và Arizona. Đa số người bản địa thuộc các dân tộc Navajo, Pueblo, và Apache. Nền văn hóa tiểu bang được định hình qua các ảnh hưởng Hispano và người bản địa này và được thể hiện qua bang kỳ. Màu đỏ và vàng được lấy từ hoàng kỳ Tây Ban Nha, với biểu tượng mặt trời cổ xưa của người Zia. Có một niềm tin sai lầm rằng New Mexico, hay Nuevo México trong tiếng Tây Ban Nha, lấy tên theo quốc gia México. Tuy nhiên, khi người Tây Ban Nha khai phá New Mexico năm 1563, và lần nữa năm 1581, họ tin rằng nó cũng có nền văn hóa Mexica tương tự của Đế quốc Aztec. Cái tên này đơn giản là được chấp nhận, dù tiểu bang không có liên hệ gì với các bộ tộc tại México. == Chú thích ==
vùng đô thị đại luân đôn.txt
Vùng Đô thị Đại Luân Đôn (tiếng Anh: Greater London Urban Area) là thuật ngữ của Cơ quan Thống kê Quốc gia Anh dùng để chỉ một chùm đô thị hay một vùng đô thị liên tục gồm Luân Đôn và khu vực bao quanh. Vùng đô thị Đại Luân Đôn bao gồm hầu hết vùng Đại Luân Đôn (trừ đi một số đơn vị hành chính nông thôn) cộng với một số đô thị liền kề Đại Luân Đôn. Vùng đô thị Đại Luân Đôn được giới hạn phía ngoài bởi Vành đai xanh đô thị. == Tham khảo ==
john wesley.txt
John Wesley (29 tháng 6, 1703 – 2 tháng 3, 1791) là Mục sư Anh giáo, nhà thần học, nhà thuyết giáo, và là người khởi phát Phong trào Giám Lý. Có ba thời điểm được xem là những dấu mốc trong thời kỳ tiên khởi của Phong trào Giám Lý: tại Đại học Oxford với sự kiện thành lập "Câu lạc bộ Thánh"; tại Savannah, Georgia, Mỹ, khi John Wesley phục vụ giáo sở ở đó; và tại Luân Đôn sau khi Wesley quay về Anh. Phong trào được định hình trong những năm đầu thập niên 1740 khi Wesley, cùng những đồng sự như George Whitefield, bắt đầu dong ruổi khắp nơi để rao giảng phúc âm với phong cách mới, và thành lập các hội đoàn tôn giáo quy tụ những tân tín hữu. Lần đầu tiên nước Anh chứng kiến sự phát triển nhanh và lan tỏa mạnh của một phong trào tôn giáo có khuynh hướng Tin Lành. Liên hiệp (connection) Giám Lý do Wesley thành lập nối kết các hội đoàn Giám Lý trên khắp xứ Anh, Scotland, Wales, và Ireland trước khi lan tỏa đến các nước nói tiếng Anh khác, rồi phát triển trên khắp thế giới. Những tín hữu Giám Lý, dưới sự lãnh đạo của Wesley, đảm trách vai trò lãnh đạo trong các cuộc vận động cho lý tưởng công bằng xã hội như các phong trào bãi nô, và cải cách nhà tù. Những đóng góp của Wesley trong lĩnh vực thần học tập trung vào việc hòa hợp những khuynh hướng thần học khác nhau. Thành quả lớn nhất của ông là cổ xúy cho điều ông gọi là "Sự Toàn hảo Cơ Đốc", hoặc sự thánh khiết trong tâm hồn và trong đời sống. Ông nhấn mạnh rằng, ngay trong đời này, người tín hữu Cơ Đốc có thể đạt đến sự trưởng thành tâm linh, khi tình yêu của Thiên Chúa, hoặc tình yêu trọn vẹn, chế ngự tâm hồn người ấy. Nền thần học Tin Lành của Wesley, nhất là sự am tường về tình trạng toàn hảo Cơ Đốc, lập nền vững chãi trên nền thần học thánh lễ. Ông tiếp tục nhấn mạnh đến ý nghĩa của các phương tiện ân điển như sự cầu nguyện, Kinh Thánh, tu dưỡng tâm linh, Tiệc Thánh... như là những phương tiện chuyển tải ân điển của Thiên Chúa đến con dân Ngài. Dù vẫn trung thành với Giáo hội Anh đến cuối đời, và thường nhấn mạnh rằng Phong trào Giám Lý chỉ nên phát triển bên trong giáo hội Anh, chính những sáng kiến mang tính đột phá của Wesley về cấu trúc và chính sách của hội thánh đã đặt ông vào thế đối nghịch với giáo hội. Tuy nhiên, suốt đời minh, Wesley vẫn giành được sự tôn trọng rộng rãi trong Giáo hội Anh. Trong danh sách 100 người Anh vĩ đại nhất thuộc mọi thời đại do BBC thực hiện năm 2002, John Wesley được chọn vào vị trí thứ 50. == Tuổi trẻ == Gia đình Wesley thuộc dòng dõi người Saxon cổ, truy nguyên đến thời trị vì của vua Athelstan của Anh (924–939), khi Guy Wesley, hay Wellesley, là một võ quan hầu cận nhà vua. John Wesley là con trai của Samuel Wesley. Samuel tốt nghiệp Đại học Oxford và là mục sư thuộc Giáo hội Anh. Samuel kết hôn năm 1689 với Susannah, con gái thứ hai mươi bốn của Tiến sĩ Samuel Annesley, và chính bà cũng là mẹ của mười chín người con. Năm 1696 Samuel Wesley được bổ nhiệm làm quản nhiệm nhà thờ Epworth, tại đây John Wesley, người con thứ mười lăm của gia đình Wesley chào đời. Ông nhận lễ báp têm với tên John Benjamin Wesley nhưng không hề dùng đến tên lót Benjamin của mình. Ông được cứu sống vào lúc sáu tuổi khi tư thất mục sư bị hoả hoạn. Lần sống sót này đã để lại ấn tượng sâu đậm trong tâm trí ông. John đã miêu tả về mình lúc ấy "như một thanh củi được rút ra khỏi đống lửa". Từ đó, ông kể mình như là đứa con của Ân sủng. Cậu bé John tiếp nhận giáo dục ban đầu từ người mẹ. Đến năm 1713, cậu được gởi đến trường Charterhouse tại Luân Đôn. Tại đó cậu học hành chăm chỉ, có phương pháp và (trong một thời gian) tỏ ra mộ đạo theo như cách cậu đã được dưỡng dục khi còn sống với gia đình. Năm 1720, John theo học tại trường Christ Church thuộc Đại học Oxford. Tại đây ông nhận văn bằng thạc sĩ vào năm 1727. Năm 1725 ông được phong chức chấp sự (một chức vụ trong Anh giáo chuẩn bị cho chức vụ mục sư), năm sau ông được bầu làm ủy viên (fellow) tại trường Lincoln cũng thuộc viện đại học Oxford. Ông đến làm phụ tá tại giáo xứ của cha ông trong hai năm. Sau đó ông trở lại Oxford. == Tại Oxford và Georgia == Thời điểm trở lại Oxford của John Wesley đánh dấu sự khởi đầu của Phong trào Giám Lý (Methodism) vào lúc "câu lạc bộ thánh" nổi tiếng được thành lập bởi Charles Wesley, em trai ông, cùng một vài người bạn. Khi ấy, họ bị mọi người chế giễu bằng cách gọi họ là "Methodists" (Những kẻ chuộng phương pháp) do thói quen sống và làm việc theo phương pháp của họ. Suốt thời thơ ấu, John đã có những trải nghiệm tôn giáo sâu sắc. Theo Tyerman, người viết tiểu sử của ông, Wesley đã đến trường Charterhouse như một ông thánh, nhưng rồi bắt đầu xao lãng các bổn phận tôn giáo và rời trường như một kẻ tội lỗi. Tuy nhiên, trong năm được phong chức, ông đọc các tác phẩm của Thomas a Kempis và Jeremy Taylor, bắt đầu tìm kiếm các chân lý tôn giáo sau này lập nền cho cuộc phục hưng rộng lớn vào thế kỷ 18. Các tác phẩm Christian Perfection (Sự Toàn hảo Cơ Đốc) và Serious Call (Lời Kêu gọi thiết tha) của Law giúp Wesley có nhận thức mới và sâu sắc về luật pháp của Thiên Chúa. Từ đó ông quyết tâm tuân giữ luật pháp của Thiên Chúa, từ tấm lòng đến hành động, hết sức tận tụy và thành kính, tin rằng với lòng thuận phục ông sẽ được cứu rỗi. Ông theo đuổi cuộc sống khắc kỷ được hoạch định chặt chẽ, siêng năng nghiên cứu Kinh Thánh, chuyên cần thực hành các bổn phận tôn giáo và sốt sắng làm các việc lành. Ông hiến mình cho cuộc đời sùng kính. Vào năm 1735, khi Thống đốc James Oglethorpe cần một "mục sư xem thường xa hoa và cuộc sống tiện nghi, quen với sự khổ hạnh và cuộc sống nghiêm túc" đến khu định cư Georgia, Mỹ, Wesley đáp lời và cùng em trai, Charles, đến sống tại đây trong hai năm trước khi trở lại Anh Quốc năm 1738. Trong chuyến đi tới Georgia, Wesley có cơ hội tiếp xúc, và phát triển mối quan hệ với các tín hữu Moravia, một giáo phái có nguồn gốc từ những nỗ lực cải cách của Jan Hus vào thế kỷ 15. Ngay giữa lúc con tàu đang bị vùi dập trong bão tố trên Đại Tây Dương, những người Moravia vẫn giữ được bình tĩnh, và cùng nhau hát thánh ca. Điều này gây ấn tượng mạnh trên Wesley. Chính những điều Wesley học hỏi được khi tiếp xúc với các tín hữu Moravia và với nhà lãnh đạo giáo hội, Zinzendorf, cũng như nền thần học Arminius nói chung, đã ảnh hưởng sâu đậm trên đời sống và quan điểm thần học của Wesley. Tại vùng đất mới, ông trải qua một mối tình bất hạnh và một sứ mạng thất bại (truyền bá Phúc âm cho người bản xứ và sâu nhiệm hoá đời sống tôn giáo cho người định cư). Quan điểm nặng về nghi thức cũng như thái độ nghiêm khắc của ông khi hành xử quyền hạn của một chức sắc giáo hội đã gây phản cảm trong vòng dân định cư. Ông rời khỏi Georgia trong sự chỉ trích cay độc của giáo dân. == Khởi phát cuộc phục hưng == Những trải nghiệm tâm linh của Wesley là yếu tố then chốt quyết định toàn bộ sự nghiệp của ông. Trong suốt mười năm, ông đã tranh chiến với bản thân chống lại các loại cám dỗ, nỗ lực tuân giữ luật của Phúc âm, nhưng, như ông thuật lại, không làm sao thoát khỏi vòng vây của tội lỗi, cũng không tìm thấy được lời chứng của Chúa Thánh Linh, bởi vì ông đã tìm kiếm, không phải bởi đức tin, nhưng bởi nỗ lực bản thân muốn tuân giữ luật pháp. Wesley trở về Anh trong tâm trạng chán chường. Tuy nhiên, mối quan hệ của Wesley với các tín hữu Moravia hình thành từ chuyến đi đến Georgia khiến ông quay trở lại tra vấn mình về những trải nghiệm tâm linh, và tìm kiếm niềm xác tín vững chắc về sự cứu rỗi ông nhận thấy ở những tín hữu Moravia mà bản thân ông chưa hề trải nghiệm. Ông nhận ra rằng đức tin thật phải được gắn kết chặt chẽ với sự cảm nhận chắc chắn đã được tha thứ tội lỗi. Wesley đã trải nghiệm đức tin này vào ngày 24 tháng 5 năm 1738 khi ông đến dự một buổi cầu nguyện với một nhóm tín hữu Moravia tại đường Aldersgate, Luân Đôn. Khi đang lắng nghe một người đọc Lời dẫn nhập giải nghĩa Thư tín La mã của Martin Luther giảng giải về bản chất của đức tin và sự xưng công chính bởi đức tin, ông thuật lại: "Tôi cảm thấy lòng mình nồng ấm lạ thường. Tôi cảm biết mình thật sự tin cậy Chúa Cơ Đốc, chỉ mình Ngài mà thôi, để được cứu rỗi, và nhận biết chắc chắn rằng tôi đã được giải thoát khỏi mọi tội lỗi". Trải nghiệm này đã làm thay đổi triệt để con người và phương pháp truyền bá phúc âm của Wesley. Từ đây, Wesley không ngừng giảng dạy về tầm quan trọng của đức tin để được cứu rỗi, và lời chứng của Chúa Thánh Linh trong lòng tín hữu, xác định rõ ràng rằng họ là con dân Thiên Chúa. Cho đến ngày nay, ngày 24 tháng 5 được kỷ niệm trong cộng đồng Giám Lý là Ngày Aldersgate. Một người bạn của ông khi còn theo học tại Oxford, George Whitefield, từ Mỹ trở về và khi thấy mình bị các nhà thờ tại Bristol tẩy chay, liền tìm đến các thôn xóm lân cận với Kingswood, và khởi sự thuyết giảng ngoài trời cho các công nhân hầm mỏ, một việc chưa ai làm vào thời đó. Vốn quen với các lề thói của truyền thống Anh giáo trọng nghi thức, lúc đầu Wesley tỏ ra e ngại với cung cách thuyết giáo này, Song, các buổi thuyết giáo ngoài trời rất thành công, giúp thuyết phục nhiều người đến với đức tin Cơ Đốc. Wesley quyết định đi theo bước chân của bạn và bắt đầu thuyết giảng tại một địa điểm gần Bristol, một ngày vào tháng 4 năm 1739. Từ đó, ông sẵn lòng thuyết giáo tại bất cứ nơi nào có người muốn nghe Phúc âm. Tuy nhiên, trong suốt năm mươi năm Wesley vẫn kiên trì tìm kiếm cơ hội thuyết giảng tại các nhà thờ Anh giáo trong khi hằng ngày vẫn tiếp tục giảng dạy ngoài đồng ruộng, trong nhà kho, nhà của nông dân, các nhà nguyện khi nhà thờ khước từ ông. Cũng trong năm này, khi số người theo ông trở nên đông đảo, ông buộc phải tổ chức họ vào một hội đoàn độc lập. Ông viết, "Thế đó, không hề có dự tính trước, Hội Giám Lý tại Anh Quốc đã được hình thành". Nhiều hội đoàn tương tự cũng được thành lập tại Bristol và Kingswood. == Bách hại, khuyến khích tín hữu thuyết giảng == Từ đó, chức sắc Giáo hội Anh và viên chức chính quyền bắt đầu gây khó khăn cho Wesley và những người theo phong trào Giám Lý. Họ đả kích các bài giảng của ông, tranh luận về thần học, cáo buộc ông là cuồng tín và dẫn dụ giáo dân vào con đường lầm lạc. Wesley và các bạn hữu vẫn thường bị tấn công bởi những đám đông bị khích động. Ngược lại, Wesley nhận thấy giáo hội thất bại trong sứ mạng kêu gọi tội nhân hối cải, giới tăng lữ trở nên thối nát và nhiều linh hồn bị hư mất vì hội thánh đã đánh mất khả năng dẫn dắt tội nhân đến sự cứu rỗi. Ông nhận biết mình được Thiên Chúa sai đi tìm kiếm và nhắc nhở người khác về tội lỗi, vì vậy, không trở ngại nào có thể thắng hơn sự thôi thúc thần thượng và thẩm quyền của sứ mạng ông nhận lãnh. Nhận biết rằng ông và một số ít mục sư đang cộng tác với ông không thể thuyết giảng cho số đông đang muốn nghe Phúc âm, vào năm 1739 Wesley tin rằng cần phải khuyến khích tín hữu chia sẻ công tác thuyết giáo. Ông khởi sự chọn lựa những người chưa được thụ phong, đào tạo và cử họ đi ra giảng dạy và thi hành mục vụ. Đó là điều hoàn toàn mới vào thời ấy, và cũng là một thành công lớn của Phong trào Giám Lý. == Phong chức == Khi phong trào phát triển, con số các hội đoàn gia tăng và hệ thống tổ chức ngày càng hoàn chỉnh thì sự bất đồng giữa Wesley và Giáo hội Anh cũng lớn dần. Dù bị áp lực từ những người theo ông, Wesley và đặc biệt là em ông, Charles, vẫn không muốn rời bỏ giáo hội. Ông nói "Chúng ta không nên cử hành lễ Báp têm và Tiệc Thánh mà không có sự uỷ nhiệm của một Giám mục được tấn phong theo quyền kế thừa tông đồ". Tuy nhiên, vào năm sau khi nghiên cứu về hội thánh trong thời kỳ sơ khai ông chịu thuyết phục rằng quyền kế thừa tông đồ (apostolic succession) chỉ là một trong những phát kiến sau này, ông cũng nhận thấy rằng Chúa Giê-xu và các tông đồ không hề chỉ định bất kỳ thể chế nào cho việc tổ chức hội thánh. Trong khi đó, Phong trào Giám Lý phát triển mạnh tại Hoa Kỳ và nhu cầu mục sư tại đó trở nên cấp thiết. Khi Giám mục Luân Đôn từ chối phong chức mục sư cho hội thánh tại Mỹ thì Wesley quyết định làm điều này. Ông phong chức cho các mục sư đang hoạt động tại Scotland, Anh và Mỹ. Ông cũng phong chức bằng cách đặt tay cho Thomas Coke và Francis Asbury, hai nhận vật đóng vai trò mấu chốt trong việc thành lập và phát triển Giáo hội Giám Lý tại Mỹ. == Con người và sự nghiệp == Wesley thích tranh luận, ông tiêu tốn nhiều công sức vào các cuộc bút chiến chống Thần học Calvin. Wesley giảng dạy Thần học Arminius đã dung hoà, đôi khi được gọi là thuyết Arminius Tin Lành (Evangelical Arminianism), theo đó con người được dành nhiều chỗ hơn khi chọn lựa sự cứu rỗi ban cho từ Thiên Chúa. Trong các bài giảng và thư tín của mình, Wesley thường tập chú vào ân điển tiên kiến (prevenient grace), trải nghiệm quy đạo của mỗi cá nhân, lời chứng của Chúa Thánh Linh và sự thánh hoá. Ông định nghĩa lời chứng của Chúa Thánh Linh là "ấn tượng sâu kín bên trong linh hồn các tín hữu, bởi đó Linh của Thiên Chúa chứng thực trực tiếp với họ rằng họ là con cái của Thiên Chúa". Về trải nghiệm thánh hoá, ông dạy rằng bởi đức tin có thể nhận lãnh sự thánh hoá, giữa thời điểm được xưng công chính và cái chết. Được thánh hoá không có nghĩa là hoàn toàn không phạm tội, nhưng Wesley tin rằng người có tình yêu thương toàn hảo sẽ thắng hơn tội lỗi. Wesley đi nhiều nơi và đi liên tục, thường là trên lưng ngựa để có thể thuyết giảng mỗi ngày hai hoặc ba lần. Wesley là một nhà thuyết giáo có sức thuyết phục mãnh liệt, các buổi truyền bá phúc âm ngoài trời của ông thường có đông đảo người đến tham dự. Tâm linh của nhiều người trong số họ được đánh thức; trong nước mắt họ nhận thức được số phận khủng khiếp của tội nhân trong cơn thịnh nộ của Thiên Chúa, rồi cảm nhận sự vui mừng và bình an khi tiếp nhận ân điển sau khi trải nghiệm sự ăn năn. Ông thành lập nhiều hội đoàn Giám Lý, khánh thành nhiều nhà nguyện, sát hạnh và bổ chức các truyền đạo tình nguyện, duy trì kỷ luật trong hội thánh, gây quỹ cho trường học, nhà nguyện và các tổ chức từ thiện, thăm người bệnh; ông cũng viết nhiều bài luận giải Kinh Thánh và các loại sách tôn giáo, tranh luận về thần học và trao đổi thư tín với nhiều người. Trong suốt cuộc đời mục vụ, ông đã đi hơn 250.000 dặm và thuyết giảng hơn 40.000 lần. Các tác phẩm ông viết, dịch hay biên tập vượt quá con số 200, bao gồm bài giảng, giải nghĩa Kinh Thánh, các bài thánh ca... Được trả ít nhất là 20.000 bảng Anh cho tiền tác quyền nhưng ông chỉ dùng một ít cho mình, phần còn lại ông sử dụng cho các công việc từ thiện. Ông sống cuộc đời thanh bạch và khi chết không còn tài sản gì để lại. Ông thức dậy vào lúc 4 giờ mỗi sáng và không chịu để thì giờ trôi qua trong nhàn rỗi. Thấp hơn trung bình nhưng cân đối và mạnh mẽ, với đôi mắt sáng và gương mặt trông trí thức và thánh thiện, là những gì chúng ta biết về ngoại hình của ông. Ở tuổi 48, ông kết hôn với bà Mary Vazeille, cả hai đều không hạnh phúc và không có con, bà rời bỏ ông sau mười lăm năm chung sống. John Wesley từ trần trong an bình sau một cơn bạo bệnh. Câu nói sau cùng của ông trước khi lâm chung, "Không có gì quý bằng Thiên Chúa ở cùng chúng ta." == Xem thêm == Phong trào Giám Lý Charles Wesley Susanna Wesley Hầu như là Cơ Đốc nhân == Chú thích == == Liên kết ngoài == John Wesley at the Christian Classics Ethereal Library Sermons by Wesley John Wesley as a British abolitionist John Wesley info from the United Methodist Church John Wesley and the Anglo-Catholic Revival, by G.W. Taylor 1905 article. John Wesley in the Georgia Encyclopedia Wesley's Explanatory Notes on the Whole Bible produced between 1754 and 1765
huân chương độc lập.txt
Huân chương Độc lập là huân chương bậc cao thứ ba của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam), được đặt ra lần đầu tiên theo Sắc lệnh số 58-SL ngày 06 tháng 6 năm 1947 của Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đặt ra lần hai theo Luật Thi đua - Khen thưởng (ban hành ngày 26 tháng 11 năm 2003). Huân chương Độc lập để tặng cho tập thể lập được thành tích xuất sắc, tặng hoặc truy tặng cho cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc ở một trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, văn học, nghệ thuật, khoa học, công nghệ, ngoại giao hoặc các lĩnh vực khác. Huân chương Độc lập có 3 hạng được phân biệt bằng số sao đính trên dải và cuống huân chương: hạng nhất có 3 sao, hạng nhì có 2 sao, hạng ba có 1 sao. Thẩm quyền tặng, truy tặng Huân chương Độc lập do Chủ tịch nước quyết định. == Mô tả == 1. Mẫu cũ (trước khi ban hành Luật Thi đua - Khen thưởng): Huân chương Độc lập gồm có 3 phần: Cuống Huân chương viền ngoài màu vàng, trong bằng tơ Rayon dệt màu đỏ cờ, có bốn vạch trắng hai bên, gắn sao theo hạng Huân chương, cốt bằng đồng đỏ mạ vàng hợp kim Nico dày 3 micron; kích thước 28mm x 14mm. Dải Huân chương hình chữ A cách điệu, bằng tơ Rayon dệt màu đỏ cờ, có bốn vạch trắng hai bên, gắn sao theo hạng Huân chương, cốt bằng đồng đỏ mạ vàng hợp kim Nico dày 3 micron; kích thước 28mm x 51mm x 41mm x 51mm. Thân Huân chương hình tròn đường kính bằng 38mm, viền ngoài màu vàng, viền trong màu trắng, phía trên là dòng chữ "Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam" (màu vàng dập nổi), bên trong màu xanh lam, phía trên có ngôi sao năm cánh (màu vàng dập nổi), chính giữa có dòng chữ "Độc lập" (màu đỏ trên nền trắng) phía dưới có hai cành tùng, hai hàng cờ đỏ cách điệu, chất liệu bằng đồng đỏ mạ vàng hợp kim Nico dày 3 micron. 1. Mẫu mới (sau khi ban hành Luật Thi đua - Khen thưởng): Huân chương Độc lập gồm có 3 phần: Cuống Huân chương viền ngoài màu vàng, trong bằng tơ Rayon dệt màu đỏ cờ, có bốn vạch trắng hai bên, gắn sao theo hạng Huân chương, cốt bằng đồng đỏ mạ vàng hợp kim Nico dày 3 micron; kích thước 28mm x 14mm. Dải Huân chương hình chữ A cách điệu, bằng tơ Rayon dệt màu đỏ cờ, có bốn vạch trắng hai bên, gắn sao theo hạng Huân chương, cốt bằng đồng đỏ mạ vàng hợp kim Nico dày 3 micron; kích thước 28mm x 51mm x 41mm x 51mm. Thân Huân chương hình tròn đường kính bằng 38mm, viền ngoài màu vàng, phía trong màu xanh lam, chính giữa có ngôi sao vàng năm cánh trên nền đỏ, phía trên là dòng chữ "Huân chương Độc lập" (màu đỏ), phía dưới có hai cành tùng, hai hàng cờ đỏ cách điệu và dải lụa đỏ mang dòng chữ "Việt Nam" (màu vàng), chất liệu bằng đồng đỏ mạ vàng hợp kim Nico dày 3 micron. == Đối tượng và tiêu chuẩn khen thưởng == === Huân chương Độc lập hạng nhất === 1. Để tặng hoặc truy tặng cho cá nhân có thành tích đặc biệt xuất sắc, đạt một trong các tiêu chuẩn sau: a) Người tham gia hoạt động cách mạng trước năm 1945, hoạt động liên tục, có thành tích đặc biệt xuất sắc đóng góp cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc, không phạm khuyết điểm lớn, đã đảm nhiệm một trong các trọng trách: Phó trưởng ban Đảng ở Trung ương, Bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc Trung ương, Thứ trưởng hoặc chức vụ tương đương, Trung tướng Lực lượng vũ trang nhân dân; b) Người tham gia hoạt động liên tục trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ (từ 1945 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975), có thành tích đặc biệt xuất sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không phạm khuyết điểm lớn, đã đảm nhiệm một trong các trọng trách: Trưởng các Ban Đảng ở Trung ương, Bộ trưởng và chức vụ tương đương; Khu uỷ viên, Bí thư tỉnh ủy, thành uỷ trực thuộc Trung ương, Thường vụ Quốc hội, Trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội ở Trung ương, liên tục 2 nhiệm kỳ, Thượng tướng Lực lượng vũ trang nhân dân; c) Người tham gia hoạt động liên tục từ kháng chiến chống Mỹ (từ 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975) và thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay), đã có nhiều thành tích đặc biệt xuất sắc, không phạm khuyết điểm lớn, đã đảm nhiệm một trong các trọng trách: Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, liên tục 1 nhiệm kỳ, Đại tướng lực lượng vũ trang nhân dân. Trưởng các Ban Đảng ở Trung ương, Bộ trưởng và chức vụ tương đương, Bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương, Thường vụ Quốc hội, Trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội ở Trung ương, 3 nhiệm kỳ, Thượng tướng Lực lượng vũ trang nhân dân từ 10 năm trở lên. d) Người có thành tích, có công trình, tác phẩm xuất sắc có tác dụng thúc đẩy sự phát triển ở một trong các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, văn học, nghệ thuật, khoa học công nghệ, quốc phòng, an ninh, ngoại giao… được nhà nước thừa nhận, tôn vinh; đ) Người nước ngoài, có thành tích đặc biệt xuất sắc đối với nhà nước Việt Nam được cấp Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công nhận, đề nghị. 2. Để tặng cho tập thể đạt được các tiêu chuẩn sau: a) Đã được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhì; b) Có quá trình xây dựng và phát triển từ 25 năm trở lên (trường hợp chưa được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng nhì thì phải có quá trình xây dựng và phát triển từ 30 năm trở lên); c) Lập được thành tích xuất sắc liên tục từ 5 năm trở lên trước thời điểm được đề nghị, trong thời gian đó đã được 2 lần tặng Cờ thi đua của Chính phủ hoặc Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, nội bộ đoàn kết, tổ chức Đảng, đoàn thể trong sạch, vững mạnh. 3. Để tặng cho tập thể nước ngoài có thành tích xuất sắc đối với Nhà nước Việt Nam, được các Bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công nhận, đề nghị. === Huân chương Độc lập hạng nhì === 1. Để tặng hoặc truy tặng cho cá nhân có nhiều thành tích xuất sắc, đạt một trong các tiêu chuẩn sau: a) Người tham gia hoạt động liên tục trong 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ (từ 1945 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975), có nhiều thành tích xuất sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không phạm khuyết điểm lớn, đã đảm nhiệm một trong các trọng trách: Trưởng các Ban Đảng ở Trung ương, Bộ trưởng và chức vụ tương đương, Bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc Trung ương, Thường vụ Quốc hội, Trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội ở Trung ương, 1 nhiệm kỳ. Phó Trưởng các Ban của Đảng ở Trung ương, Thứ trưởng và chức vụ tương đương, Phó Bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương; Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội ở Trung ương, liên tục 2 nhiệm kỳ. b) Người tham gia hoạt động liên tục từ thời kỳ chống Mỹ (từ 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975) và thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay), đã có nhiều thành tích xuất sắc, không phạm khuyết điểm lớn, đã đảm nhiệm một trong các trọng trách: Trưởng các Ban Đảng ở Trung ương, Bộ trưởng và chức vụ tương đương, Bí thư tỉnh uỷ, thành uỷ trực thuộc Trung ương, Thường vụ Quốc hội, Trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội ở Trung ương, 2 nhiệm kỳ, Thượng tướng Lực lượng vũ trang nhân dân từ 5 năm trở lên. Phó trưởng các Ban của Đảng ở Trung ương, Thứ trưởng và chức vụ tương đương, Phó Bí thư tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội ở Trung ương, 3 nhiệm kỳ. c) Người có thành tích, có công trình, tác phẩm xuất sắc có tác dụng thúc đẩy sự phát triển ở một trong các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, văn học, nghệ thuật, khoa học công nghệ, quốc phòng, an ninh, ngoại giao… được cấp có thẩm quyền công nhận, đề nghị; d) Người nước ngoài có thành tích xuất sắc đối với nhà nước Việt Nam được các Bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công nhận, đề nghị. 2. Để tặng cho tập thể đạt được các tiêu chuẩn sau: a) Đã được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng ba; b) Có quá trình xây dựng và phát triển từ 20 năm trở lên (trường hợp chưa được tặng thưởng Huân chương Độc lập hạng ba phải có quá trình xây dựng và phát triển từ 25 năm trở lên); c) Lập được thành tích xuất sắc liên tục từ 5 năm trở lên trước thời điểm đề nghị, trong thời gian đó 2 lần được tặng Cờ thi đua của Chính phủ hoặc Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, tổ chức Đảng, đoàn thể trong sạch, vững mạnh. 3. Để tặng cho tập thể nước ngoài có thành tích xuất sắc đối với nhà nước Việt Nam, được cấp Bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công nhận, đề nghị. === Huân chương Độc lập hạng ba === 1. Để tặng hoặc truy tặng cho cá nhân có thành tích xuất sắc, đạt một trong các tiêu chuẩn sau: a) Người được công nhận là cán bộ tiền khởi nghĩa, có thành tích xuất sắc, không phạm khuyết điểm lớn, đã giữ một trong các trọng trách: Cục trưởng, Vụ trưởng ở Trung ương, Tỉnh ủy viên, Thành uỷ viên, Trưởng ban ngành cấp tỉnh (và chức vụ tương đương) hoặc người tham gia hoạt động liên tục ở chiến trường miền Nam thời kỳ chống Mỹ từ 1964 đến 1975, đã đảm nhiệm chức vụ Huyện uỷ viên hoặc chức vụ tương đương trước ngày 30 tháng 4 năm 1975; b) Người tham gia 2 cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ (từ 1945 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975), có thành tích xuất sắc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, không phạm khuyết điểm lớn, đã đảm nhiệm một trong các trọng trách: Phó Trưởng ban của Đảng ở Trung ương, Thứ trưởng và chức vụ tương đương, Phó Bí thư tỉnh ủy, thành ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội ở Trung ương 1 nhiệm kỳ; c) Người tham gia từ thời kỳ chống Mỹ (từ 1954 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975) và thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (từ ngày 30 tháng 4 năm 1975 đến nay), có thành tích xuất sắc, không phạm khuyết điểm lớn, đã đảm nhiệm một trong các trọng trách: Trưởng các Ban Đảng ở Trung ương, Bộ trưởng và chức vụ tương đương, Bí thư tỉnh uỷ, thành ủy trực thuộc Trung ương, Thường vụ Quốc hội, Trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội ở Trung ương, 1 nhiệm kỳ, Thượng tướng Lực lượng vũ trang nhân dân. Phó trưởng các Ban Đảng ở Trung ương, Thứ trưởng và chức vụ tương đương, Phó Bí thư tỉnh uỷ, thành ủy trực thuộc Trung ương, Chủ tịch Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Phó Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó trưởng các đoàn thể chính trị - xã hội ở Trung ương, 2 nhiệm kỳ. d) Người có thành tích xuất sắc, có công trình, tác phẩm có tác dụng thúc đẩy sự phát triển ở một trong các lĩnh vực: kinh tế, xã hội, văn học, nghệ thuật, khoa học công nghệ, quốc phòng, an ninh, ngoại giao… được cấp có thẩm quyền công nhận, đề nghị; đ) Người nước ngoài có thành tích xuất sắc đối với nhà nước Việt Nam, được cấp Bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công nhận, đề nghị. 2. Để tặng cho tập thể đạt được các tiêu chuẩn sau: a) Đã được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất; b) Có quá trình xây dựng và phát triển từ 15 năm trở lên (trường hợp chưa được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng nhất phải có quá trình xây dựng và phát triển từ 20 năm trở lên); c) Lập được thành tích xuất sắc liên tục từ 5 năm trở lên trước thời điểm đề nghị, trong thời gian đó được tặng Cờ thi đua của Chính phủ hoặc Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ hoặc 3 lần được tặng Cờ thi đua của Bộ, ngành, đoàn thể Trung ương, tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương. 3. Để tặng cho tập thể nước ngoài có thành tích xuất sắc đối với nhà nước Việt Nam, được cấp Bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương, tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương công nhận, đề nghị. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Luật số 15/2003/QH11 của Quốc hội: Luật Thi đua, khen thưởng 26 tháng 11 năm 2003
in lụa.txt
In lụa là một dạng trong kỹ thuật in ấn. In lụa là tên thông dụng do giới thợ đặt ra xuất phát từ lúc bản lưới của khuôn in làm bằng tơ lụa. Sau đó, khi mà bản lưới lụa có thể thay thế bởi các vật liệu khác như vải bông, vải sợi hóa học, lưới kim loại để làm thì tên gọi được mở rộng như là in lưới. In lụa thực hiện theo nguyên lý giống như in mực dầu trên giấy nến theo nguyên lý chỉ một phần mực in được thấm qua lưới in, in lên vật liệu in bởi trước đó, một số mắt lưới khác đã được bịt kín bởi hóa chất chuyên dùng. Kỹ thuật này có thể áp dụng cho nhiều vật liệu cần in như nilông, vải, thủy tinh, mặt đồng hồ, mạch điện tử, một số sản phẩm kim loại, gỗ, giấy... hoặc sử dụng thay cho phương pháp vẽ dưới men trong sản xuất gạch men. == Lịch sử == Kỹ thuật này được Châu Âu sử dụng vào năm 1925 với việc in trên giấy, bìa, thuỷ tinh, tấm kim loại, vải giả da.... Nhưng, hơn 1000 năm trước "người ta phát minh ra rằng sợi tơ khi kéo căng trên một khung gỗ, với hình ảnh khuôn tô gắn phía dưới khung bằng keo hồ có thể dùng để sao chép các hình ảnh nhiều lần trên nhiều vật liệu khác nhau bằng cách phết mực xuyên qua các lỗ tròn khuôn tụ". Những công trình nghiên cứu sử dụng vải tơ làm lưới in sau đó được tiến hành tại Pháp và Đức trong khoảng thập niên 1870. Sau đó tại Anh Quốc, vào năm 1907, Samuel Simon đã sáng chế ra quá trình làm lưới bằng các sợi tơ. Năm 1914, tại San Francisco, California, phương pháp in lưới nhiều màu được John Pilsworth phát triển. == Phân loại kỹ thuật in lụa == Theo cách thức sử dụng khuôn in, có thể gọi tên in lụa theo các kiểu sau: In lụa trên bàn in thủ công In lụa trên bàn in có cơ khí hóa một số thao tác In lụa trên máy in tự động Theo hình dạng khuôn in, có thể phân làm 2 loại: In dùng khuôn lưới phẳng In dùng khuôn lưới tròn kiểu thùng quay Theo phương pháp in, có tên gọi: In trực tiếp: là kiểu in trên sản phẩm có màu nền trắng hoặc màu nhạt, màu nền không ảnh hưởng đến màu in In phá gắn: là kiểu in trên sản phẩm có nền màu, mực in phải phá được màu của nền và gắn được màu cần in lên sản phẩm, và In dự phòng: là in trên sản phẩm có màu nhưng không thể dùng kiểu in phá gắn được == Kỹ thuật == Cho dù in thủ công, bán thủ công hay thực hiện bằng máy thì kỹ thuật in lụa cũng bao gồm những công đoạn chính như sau: làm khuôn in; chế tạo bàn in, dao gạt; pha chế chất tạo màu, hồ in; và in. === Làm khuôn in === Khuôn in có thể làm bằng gỗ hay kim loại, trên đó được căng tấm lưới đã tạo những lỗ trống để mực in có thể chảy qua trong quá trình in. Quá trình tạo những lỗ trống được gọi là "chuyển hình ảnh cần in" lên khuôn lưới. Thời gian đầu thợ in thường dùng phương pháp chuyển trực tiếp bằng cách vẽ lên lớp nến trắng, vẽ trên lớp đất sét hay vẽ lên lớp dầu bóng nhưng về sau người ta thường dùng hơn với phương pháp gián tiếp như là vẽ trên giấy nến hoặc là ngày nay đa số đều dùng phương pháp cảm quang. Vẽ trên lớp nến trắng là kỹ thuật tạo lỗ trống của lưới in bằng cách dùng bút gỗ hoặc tre khắc hoa văn lên một tấm lưới đã được nhúng vào dung môi nến nóng chảy và làm nguội. Vẽ trên lớp đất sét là kỹ thuật tạo lỗ trống của lưới in bằng cách dùng bút gỗ, tre hoặc kim nhọn khắc, đục lỗ theo hình dạng hoa văn trên một tấm lưới đã được nhúng vào hồ đất sét đã làm khô. Vẽ trên lớp dầu bóng là kỹ thuật tạo lỗ trống của lưới in bằng cách dùng bút lông vẽ hình dạng hoa văn trên một tấm lưới đã được quét một lớp dầu bóng và làm khô. Sau khi vẽ nhiều lần sẽ tạo những lỗ trống cần thiết trên bề mặt lưới. Vẽ trên giấy nên là phương pháp gián tiếp để tạo những lỗ trống trên bề mặt lưới in. Dùng dao "khắc" hình trên giấy nến để tạo những khoảng trống cần thiết, úp mặt giấy nến đã khắc lên lưới và dùng bản ủi làm nóng chảy nến. Sau khi để nguội, những chỗ không cần thiết sẽ được nến bít lại. Ngày nay, phương pháp cảm quang được xem như là phương pháp tiến bộ trong việc chế tạo bản in. Với phương pháp này có thể sao chép lại các tác phẩm nghệ thuật mà vẫn giữ được tính chân thực về đường nét của nó. Những bản in được họa sĩ vẽ mẫu thiết kế, thiết kế trên máy tính hoặc tách màu từ một tấm ảnh trên máy tính rồi in ra trên giấy can, mỗi màu được tách sẽ làm một phim tương ứng, phim sau đó được chuyển tải lên tấm lưới. Thao tác đó gọi là chụp bản. Công đoạn chụp bản được tiến hành trong buồng tối, phim đặt lên bản lưới cùng chiều với mẫu in thật, rọi đèn. Ánh sáng của đèn sẽ xuyên qua phim và đập lên lưới. Vì lưới trước đó đã được quét phủ dung dịch cảm quang nên chỉ những chỗ không bị cản bởi mực sẽ đóng rắn dưới tác dụng ánh sáng. Khi mang bản đi rửa, những chỗ không bị chiếu sáng sẽ bị rửa trôi tạo thành những khoảng trống, khi in mực in sẽ lọt qua những chỗ trống này và bắt vào sản phẩm cần in. Việc lựa chọn lưới in đóng vai trò quyết định đến chất lượng in ấn, nhất là độ mịn độ nét của hình ảnh cần in. Các thông số quan trong của lưới là độ mịn của lưới (ký hiệu N(chỉ số) hay T(chỉ số)) và tỷ lệ đường kính sợi lưới và chiều rộng mắt lưới. Thí dụ lưới ký hiệu T40 hay N40 có nghĩa là lưới này có 40 sợi/cm và 1600lỗ/cm2. Khi in trên giấy, thông thường chọn lưới có ký hiệu T90 - T140; khi in bao bì PVC: T120-T180; khi in vải T30-T100... Những dung dịch cảm quang thường dùng trong in lưới đó là dung dịch keo Crom-Gelatin hoặc dung dịch Crom-PVA: Dung dịch Keo Crom-Gelatin được chế tạo từ NH4)2Cr2O7 (amoni đicromat) hoặc K2Cr2O7 (kali đicromat) nồng độ 3,5% được pha với keo gelatin nồng độ 20% theo tỷ lệ 1:1. Dung dịch Crom-PVA được chế tạo với polyvinyl acetates 12% thêm vào dung dịch bao gồm (NH4)2Cr2O7 hoặc K2Cr2O7 (1,5g); nước (20ml) và C2H5OH:96% (7ml) theo tỷ lệ 1:1. Những dung dịch trên sau khi chế tạo phải được bảo quản ở nơi thích hợp vì nó là chất nhạy sáng. === Bàn in, dao gạt === Bàn in làm từ kim loại hoặc gỗ. Bàn in đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo nét in được in chính xác, đều và đạt độ nét cao. Yêu cầu quan trọng nhất đối với bàn in là phẳng, chắc và có độ đàn hồi nhất định để khuôn in có thể tiếp xúc đều với mặt sản phẩm in. Trong những trường hợp khác nhau, bàn in có thể nằm ngang hay nghiêng góc để người thợ thao tác dễ dàng hơn. Dao gạt hồ in là công cụ dùng để đẩy, phết mực màu khiến mực thấm qua lưới in, chuyển mực lên sản phẩm cần in. Gọi là dao theo thuật ngữ của thợ nhưng nó có thể làm bằng bọt biển, con lăn cao su hay đơn giản là một miếng gạt cao su. === Chất nhuộm màu và hồ in === Những chất nhuộm màu trong in lụa là những hợp chất mà khi tiếp xúc với vật liệu khác thì có khả năng bắt màu và giữ màu trên vật liệu bằng các lực liên kết lý học hay hoá học. In lụa thường sử dụng các chất tạo màu là các hợp chất màu hữu cơ. Có thể phân làm 2 loại tan và không tan trong nước. Chất nhuộm màu trong nước có thể là: thuốc nhuộm trực tiếp, thuốc nhuộm axit, thuốc nhuộm hoạt tính, thuốc nhuôm bazo-cation... Chất nhuộm màu không tan trong nước có thể là: thuốc nhuộm hoàn nguyên không tan, thuốc nhuộm lưu huỳnh, pigmen, thuốc nhuộm azo không tan... Hồ in sau khi pha trộn với thuốc nhuộm được gọi là mực in, sau khi in sẽ được gắn vào sản phẩm cần in. Do đó, tuỳ loại nhóm vật liệu cần in phải có những công thúc pha chế khác nhau. Nhóm vật liệu in được phân các loại sau: vật liệu xenlulo, vật liệu tơ tằm, len; sợi hoá học và xơ tổng hợp; nhựa; gốm sứ; kim loại; thuỷ tinh...Nhung cho dù in trên chất liệu gì, hồ in cũng phải đáp ứng những yêu cầu sau: Phải đồng nhất về thành phần và lượng màu thích hợp để đạt cường độ màu mong muốn Độ đặc, đột nhớt, độ dính phải bảo đảm để dính được vào vật liệu in và cho hoạ tiết sắc nét Hồ phải tương đối bền khi bảo quản Một số hồ in cho vải cần có tính dễ trương nở khi hấp để "nhả" thuốc nhuộm cho vải, và Không chứa các chất có thể làm hại lưới in === In ấn === Sau khi định vị khuôn in lên bàn in, vật liệu cần in đặt dưới lưới in. Cho mực in thích hợp với một lượng cần thiết vào khuôn in, sau đó dùng dao gạt để mực thấm qua lưới và ăn vào sản phẩm cần in. Điều chỉnh lượng mực in, tốc độ gạt để đạt kết quả tốt nhất. Sau khi in, mực in chỉ mới cố định cơ học tạm thời trên vật liệu nên cần có quy trình xử lý để gắn màu cố định cho hình in. Tùy loại mực in, vật liệu in để có những cách xử lý thích hợp, như là: sấy, hấp, gia nhiệt khô, hiện màu ướt (trong dung dịch axit loãng), hay hiện màu theo phương pháp ngâm ép, cuộn ủ lạnh... === Một số kiểu in đặc biệt === Có thể dùng những loại mực in khác nhau, hoặc những nguyên liệu đặc biệt để tạo ra những hiệu ứng khác nhau, ví dụ như in chuyển, tạo chữ nổi, in bắn cắm lông... In chuyển: còn gọi là in nhiệt, in nhiệt khô, in nhiệt chuyển, in chuyển hay là in thăng hoa. Nguyên tắc chung của phương pháp này là không in trực tiếp lên sản phẩm mà in trung gian qua một lớp giấy nền, sau đó ép nóng để thuốc mực in nhả từ giấy nền bắt vào vật liệu in. In nổi: Trong mực in, có các chất gây nở để tạo hình nổi. Sau khi in và sấy, sản phẩm được hấp ở 130-150 °C bằng hơi nước bão hoà. Mực sẽ chuyển thành màng xốp, có hình nổi trên sản phẩm. In bắn cắm lông: Lông nhiều màu có chiều dài 0,3mm được đựng vào những hộp riêng. Lông được bắn qua những lỗ trên lưới in và dính vào vải đã quét nhựa bán đa tụ, quá trình này được thực hiện trong điện trường 6000V và không dùng dao gạt. Kết quả là những tấm vải có nhiều màu bằng lông mịn như tuyết nhung và nổi trên mặt vải. === Văn chương === Парыгин А.Б. Искусство шелкографии. ХХ век (история, феноменология. техники, имена). — СПб, 2010. — 304 с. (nga). Bigeleisen J. I. Screen Printing: A Contemporary Guide. – New-York, 1972. (anh). Caza M. La Sérigraphie – Genève: Bonvent, 1973. (pháp). == Chú thích == == Xem thêm == In thạch bản In phun In offset In màu In laser == Liên kết ngoài == Kỹ thuật in lụa của Quang Bạch, Nhà xuất bản Thanh Niên, 2001. Lịch sử của lụa Искусство шелкографии. ХХ век. (nga). Who’s Who in Screenprinting Máy in lưới tại Từ điển bách khoa Việt Nam
axit nitric.txt
Axit nitric là một hợp chất vô cơ có công thức hóa học HNO3. Axit nitric tinh khiết là chất lỏng không màu, bốc khói mạnh trong không khí ẩm. Trong tự nhiên, axit nitric hình thành trong những cơn mưa giông kèm sấm chớp và hiện nay chúng là một trong những tác nhân gây ra mưa axit. Nó là một chất axit độc và ăn mòn và dễ gây cháy. Axit nitric tinh khiết không màu còn nếu để lâu sẽ có màu hơi vàng do sự tích tụ của các oxit nitơ. Nếu một dung dịch có hơn 86% axit nitric, nó được gọi là axit nitric bốc khói. Axit nitric bốc khói có đặc trưng axit nitric bốc khói trắng và axit nitric bốc khói đỏ, tùy thuộc vào số lượng nitơ đioxit hiện diện. == Lịch sử == Sự tổng hợp axit nitric đã được ghi nhận lần đầu vào khoảng năm 800 AD bởi một nhà giả kim người Ả Rập tên là Jabir ibn Hayyan. [1] == Lý tính == Axit nitric khan tinh khiết (100%) là một chất lỏng với tỷ trọng khoảng 1522 kg/m3, đông đặc ở nhiệt độ –42 °C tạo thành các tinh thể trắng, sôi ở nhiệt độ 83 °C. Khi sôi trong ánh sáng, kể cả tại nhiệt độ trong phòng, sẽ xảy ra một sự phân hủy một phần với sự tạo ra nitơ đioxit theo phản ứng sau: 4HNO3 → 2H2O + 4NO2 + O2 (72 °C) Điều này có nghĩa axit nitric khan nên được cất chứa ở nhiệt độ dưới 0 °C để tránh bị phân hủy. Chất nitơ đioxit (NO2) vẫn hòa tan trong axit nitric tạo cho nó có màu vàng, hoặc đỏ ở nhiệt độ cao hơn. Trong khi axit tinh khiết có xu hướng bốc khói trắng khi để ra không khí, axit với nitơ đioxit bốc khói hơi có màu nâu hơi đỏ cho nên mới có tên axit bốc khói trắng và axit bốc khói đỏ như nêu trên. Axit nitric có thể pha trộn với nước với bất kỳ tỷ lệ nào và khi chưng cất tạo ra một azeotrope một nồng độ 68% HNO3 và có nhiệt độ sôi ở 120,5 °C tại áp suất 1 atm. Có hai chất hydrat được biết đến; monohydrat (HNO3·H2O) và trihydrat (HNO3·3H2O). Ôxít nitơ (NOx) tan được trong axit nitric và đặc điểm này ảnh hưởng ít nhiều đến tất cả các đặc trưng lý tính phụ thuộc vào nồng độ của các oxit này, chủ yếu bao gồm áp suất hơi trên chất lỏng và nhiệt độ sôi cũng như màu sắc được đề cập ở trên. Axit nitric bị phân hủy khi có nhiệt độ cao hoặc ánh sáng với nồng độ tăng lên mà điều này có thể làm tăng lên sự biến đổi tương đối áp suất hơi trên bề mặt chất lỏng do các oxit nitơ tạo ra một phần hoặc toàn bộ trong axit. == Hóa tính == Axit nitric là một monoaxit mạnh, một chất ôxi hóa mạnh có thể nitrat hóa nhiều hợp chất vô cơ và là một axit một nấc vì chỉ có một sự phân ly. === Các tính chất axit === Là một axit điển hình, axit nitric có mọi tính chất của axit như phản ứng với bazơ, oxit bazơ và muối để tạo thành các muối mới, trong số đó quan trọng nhất là muối amoni nitrat. Do tính chất ôxi hóa mạnh của nó, axit nitric không (ngoại trừ một số ngoại lệ) giải phóng hiđrô khi phản ứng với kim loại và tạo ra các muối thường có trạng thái ôxi hóa cao hơn. Vì lý do này, tình trạng ăn mòn nặng có thể xảy ra và cần phải bảo vệ thích hợp bằng cách sử dụng các kim loại hoặc hợp kim chống ăn mòn khi chứa axit này. Axit nitric là một axit mạnh với một hắng số cân bằng axit (pKa) = −2: trong dung dịch nước, nó hoàn toàn điện ly thành các ion nitrat NO3− và một proton hydrat, hay còn gọi là ion hiđrôni, H3O+: HNO3 + H2O → H3O+ + NO3- === Các đặc tính ôxi hóa === ==== Phản ứng với kim loại ==== Là một chất ôxi hóa mạnh, axit nitric phản ứng mãnh liệt với nhiều kim loại và phản ứng có thể gây nổ. Tùy thuộc vào nồng độ axit, nhiệt độ và tác nhân gây liên quan, sản phẩm tạo ra cuối cùng có thể gồm nhiều loại và nhiều sản phẩm khử đa dạng như N2, N2O, NH4NO3. Phản ứng xảy ra với hầu hết các kim loại, ngoại trừ các kim loại quý (Au, Pt) và một số hợp kim. Trong phần lớn các trường hợp, các phản ứng ôxi hóa chủ yếu với axit đặc thường tạo ra đioxit nitơ (NO2). Cu + 4HNO3 → Cu(NO3)2 + 2NO2 + 2H2O Tính chất axit thể hiện rõ đối với axit loãng, thường tạo ra oxit nitơ (NO): 3Cu + 8HNO3 → 3Cu(NO3)2 + 2NO + 4H2O Do axit nitric là một chất ôxi hóa mạnh, H+ thường hiếm khi được tạo ra. Cho nên khi kim loại phản ứng với axit nitric rất loãng (1-2% hay 0,2-0,3 M) và lạnh (gần 0 °C) thì mới giải phóng hiđrô: Mg(rắn) + 2HNO3 (lỏng) → Mg(NO3)2 (lỏng) + H2 (khí) ==== Sự thụ động hóa ==== Dù Crôm (Cr), sắt (Fe), coban (Co), niken (Ni), mangan (Mn) và nhôm (Al) dễ hòa tan trong dung dịch axit nitric loãng, nhưng đối với axit đặc nguội lại tạo một lớp oxit kim loại bảo vệ chúng khỏi bị ôxi hóa thêm, hiện tượng này gọi là sự thụ động hóa. ==== Phản ứng với phi kim ==== Khi phản ứng với các nguyên tố á kim, ngoại trừ silic và halogen, các nguyên tố này thường bị ôxi hóa đến trạng thái ôxi hóa cao nhất và tạo ra đioxit nitơ đối với axit đặc và oxit nitơ đối với axit loãng: C + 4HNO3 → CO2 + 4NO2 + 2H2O hoặc 3C + 4HNO3 → 3CO2 + 4NO + 2H2O P + 5HNO3 → H3PO4 + 5NO2 + H2O ==== Phản ứng với hợp chất ==== 3H2S + 2HNO3 (>5%) → 3S↓ + 2NO↑ + 4H2O PbS + 8HNO3 (đặc) → PbSO4↓ + 8NO2↑ + 4H2O Ag3PO4 tan trong HNO3, HgS không tác dụng với HNO3. ==== Phản ứng với hợp chất hữu cơ ==== Nhiều hợp chất hữu cơ bị phá hủy khi tiếp xúc với axit nitric, nên axit này rất nguy hiểm nếu rơi vào cơ thể người. == Tổng hợp và sản xuất axit nitric == Axit nitric được tạo ra bằng cách pha trộn nitơ đioxit (NO2) và nước với sự có mặt của ôxi hoặc sử dụng không khí để ôxi hóa axit nitrơ cũng tạo ra axit nitric: 4NO2 + O2 + 2H2O → 4HNO3 Axit nitric loãng có thể cô đặc đến 68% với một hỗn hợp azeotropic 32% nước. Việc cô đặc hơn được thực hiện bằng cách chưng cất với axit sulfuric với vai trò là chất khử nước. Trong quy mô phòng thí nghiệm, cách chưng cất như thế phải được tiến hành bằng dụng cụ thủy tinh với áp suất thấp để tránh phân hủy axit này. Các mối nối bằng thủy tinh và nút bần cũng nên tránh dùng do axit nitric tấn công các chất này. Dung dịch axit nitric cấp thương mại thường có nồng độ giữa 52% và 68%. Việc sản xuất axit nitric được thực hiện bằng công nghệ Ostwald do Wilhelm Ostwald phát minh. Trong phòng thí nghiệm, axit nitric có thể điều chế bằng cách cho đồng (II) nitrat hoặc cho phản ứng những khối lượng bằng nhau kali nitrat (KNO3) với axit sulfuric (H2SO4) 96%, và chưng cất hỗn hợp này tại nhiệt độ sôi của axit nitric là 83 °C cho đến khi còn lại chất kết tinh màu trắng, kali hidrosunfat (KHSO4), còn lưu lại trong bình. Axit nitric bốc khói đỏ thu được có thể chuyển thành axit nitric màu trắng. Cần lưu ý khi thí nghiệm thì phải dùng các trang thiết bị bằng thủy tinh, hay nhất là bình cổ cong nguyên khối do axit nitric khan tấn công cả nút bần, cao su và da nên sự rò rỉ có thể cực kỳ nguy hiểm: H2SO4 + KNO3 → KHSO4 + HNO3 Chất NOx hòa tan được loại bỏ bằng cách sử dụng áp suất giảm tại nhiệt độ phòng (10-30 phút với áp suất 200 mmHg hay 27 kPa). Axit nitric bốc khói trắng thu được có tỷ trọng 1.51 g/cm³. Quy trình này cũng được thực hiện dưới áp suất và nhiệt độ giảm trong một bước để tạo ra ít khí nitơ đioxit hơn. Axit này cũng có thể được tổng hợp bằng cách ôxi hóa amoniac, nhưng sản phẩm bị pha loãng bởi nước do phản ứng tạo ra. Tuy nhiên, phương pháp tổng hợp này quan trọng trong việc sản xuất amoni nitrat từ amôniăc theo công nghệ Haber, do sản phẩm cuối cùng có thể sản xuất từ nitơ, hyđrô và ôxi là nguyên liệu đầu vào chính. Axit nitric bốc khói trắng, cũng gọi là axit nitric 100% hay WFNA, rất gần giống với sản phẩm axit nitric khan. Một đặc tính kỹ thuật của axit nitric bốc khói trắng là nó có tối đa 2% nước và tối đa 0,5% NO2 hòa tan. Axit nitric bốc khói đỏ hay RFNA, chứa một lượng đioxit nitơ (NO2) đáng kể thoát khỏi dung dịch với màu nâu đỏ. Một công thức của RFNA thể hiện ít nhất 17% NO2, nhóm khác là 13% NO2. Trong trường hợp, axit nitric bị ức chế bốc khói (hoặc IWFNA, hoặc IRFNA) có thể làm tăng khi cho thêm thêm khoảng 0,6 đến 0,7% hiđro florit, HF. Chất florit này được bổ sung vào để chống ăn mòn trong các bồn chứa kim loại (chất florit tạo ra một lớp florit kim loại bảo vệ kim loại đó). == Sử dụng == Thường được dùng làm thuốc thử trong phòng thí nghiệm, axit nitric được sử dụng để sản xuất thuốc nổ bao gồm nitroglycerin, trinitrotoluen (TNT) và cyclotrimethylenetrinitramin (RDX), cũng như phân bón (như phân đạm một lá nitrat amoni). Axit nitric cũng được sử dụng trong phòng thí nghiệm trường học để tiến hành các thí nghiệm liên quan đến việc thử clorit. Cho axit nitric tác dụng với mẫu thử, sau đó cho dung dịch bạc nitrat vào để tìm kết tủa trắng của bạc clorua. Trong kỹ thuật ICP-MS và ICP-AES, axit nitric (với nồng độ từ 0,5% đến 2,0%) được sử dụng như một hợp chất nền để xác định dấu vết kim loại trong các dung dịch. Trong kỹ thuật này cần phải dùng axit nitric cực tinh khiết vì một số lượng ion kim loại nhỏ có thể gây ảnh hưởng đến kết quả phân tích. Axit này còn được sử dụng trong ngành luyện kim và tinh lọc vì nó phản ứng với phần lớn kim loại và trong các tổng hợp chất hữu cơ. Khi kết hợp với axit clohyđric, nó tạo thành nước cường toan, một trong những chất có thể hòa tan vàng và bạch kim (platinum). Một trong những ứng dụng cho IWFNA là một chất ôxi hóa trong nhiên liệu lỏng tên lửa. Ngoài ra, axit nitric còn được dùng làm chất thử màu (colorometric test) để phân biệt heroin và morphine. == Nguy hiểm == Axit Nitric là một chất ôxi hóa mạnh, và các phản ứng của axit nitric với các hợp chất như cyanit, carbit, và bột kim loại có thể gây nổ. Các phản ứng của axit nitric với nhiều hợp chất vô cơ như turpentine, rất mãnh liệt và tự bốc cháy. Axit đặc làm cho màu da người chuyển qua màu vàng do phản ứng với protein keratin. Vết màu vàng này sẽ chuyển thành màu cam khi được trung hòa. == Tham khảo == Hóa học vô cơ, tập hai, Hoàng Nhâm, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam. Sách giáo khoa Hóa học 11, Nhà xuất bản giáo dục Việt Nam. == Liên kết ngoài == International Chemical Safety Card 0183 NIOSH Pocket Guide to Chemical Hazards Bản mẫu:Ecb National Pollutant Inventory - Nitric Acid Fact Sheet Properties and classification of nitric acid Jabir Ibn Hayyan Biography Bản mẫu:ChemicalSources
móng cái.txt
Móng Cái là một thành phố trực thuộc tỉnh Quảng Ninh (Việt Nam), nằm trong vùng duyên hải Bắc Bộ, bên bờ sông Ka Long, cách thành phố Hạ Long 178 km. Móng Cái giáp với Trung Quốc, có đường biên giới trên biển và đất liền dài hơn 70 km. == Từ nguyên == Tên gọi Móng Cái bắt nguồn từ tiếng Quảng Đông "mong gâi" (âm đọc được ghi bằng Việt bính). "Mong gâi" là tên do người Trung Quốc đặt cho nơi này, viết bằng chữ Hán là 芒街. Hai chữ Hán này có âm Hán Việt là "Mang Nhai". "Nhai" 街 có nghĩa là phố, "mang" 芒 là phiên âm của từ "mường" trong tiếng Tày Nùng, "Mang Nhai" 芒街 dịch sát nghĩa từng chữ là "phố mường", tức con phố nằm trên đất của một mường của người Tày Nùng. == Vị trí địa lý == Thành phố Móng Cái nằm ở phía đông bắc tỉnh Quảng Ninh, với toạ độ địa lý từ 21002' đến 21038' vĩ độ bắc; từ 107009' đến 10807' kinh độ đông. Phía đông và đông nam của Móng Cái giáp với huyện Cô Tô và vịnh Bắc Bộ, ở phía tây và tây bắc giáp huyện Hải Hà, phía đông bắc giáp thành phố Đông Hưng thuộc địa cấp thị Phòng Thành Cảng, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. == Điều kiện tự nhiên == Địa hình thành phố Móng Cái ở phía bắc là đồi núi, địa hình thoải dần ra biển với có 50 km đường bờ biển. Địa hình có dạng đồi núi, trung du và ven biển, bị chia cắt khá phức tạp, hình thành 3 vùng rõ rệt là vùng núi cao phía Bắc, vùng trung du ven biển và vùng hải đảo. Móng Cái có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chịu ảnh hưởng của biển nên nóng ẩm và mưa nhiều. Móng Cái có 3 con sông chính là Sông Ka Long, Sông Tràng Vinh và sông Pạt Cạp. Trong đó, Sông Ka Long bắt nguồn từ Trung Quốc ở độc cao 700 mét, có dộ dài 700 km đổ ra Biển Đông. Sông Tràng Vinh dài trên 20 km, chảy qua Hồ Tràng Vinh rồi đổ ra biển. Móng Cái là thành phố cửa khẩu nằm dọc theo bờ biển, hầu hết dân cư sinh sống dọc theo đới bờ, trên hạ lưu các con sông. Đất đai ở đây được chia thành 10 nhóm đất chính gồm có đất cát, đất mặn, đất phèn, đất phù sa, đất có tầng sét, đất xám, đất nâu tím, đất vàng đỏ, đất tầng mỏng, đất nhân tác. == Hành chính == Thành phố Móng Cái có 17 đơn vị hành chính trực thuộc, trong đó bao gồm 8 phường: Bình Ngọc, Hải Hòa, Hải Yên, Hòa Lạc, Ka Long, Ninh Dương, Trà Cổ, Trần Phú và 9 xã: Bắc Sơn, Hải Đông, Hải Sơn, Hải Tiến, Hải Xuân, Quảng Nghĩa, Vạn Ninh, Vĩnh Thực, Vĩnh Trung. == Lịch sử == Đầu thế kỷ 19, là tổng Vạn Ninh, tổng Bát Tràng và một phần tổng Hà Môn thuộc châu Vạn Ninh, phủ Hải Đông, trấn An Quảng. Từ năm 1906, Móng Cái là tỉnh lỵ của tỉnh Hải Ninh cũ. Vào cuối thời Pháp thuộc, Móng Cái là thủ phủ của Xứ Nùng tự trị từ năm 1947 đến 1954. Ngày 2 tháng 8 năm 1954, Móng Cái hoàn toàn được giải phóng. Ngày 1 tháng 2 năm 1955, thị xã Móng Cái được tái lập và trở thành tỉnh lị của tỉnh Hải Ninh. Nhưng từ ngày 30 tháng 10 năm 1963, sau khi tỉnh Hải Ninh hợp nhất với khu Hồng Quảng thành tỉnh Quảng Ninh, thị xã Móng Cái trở thành thị trấn Móng Cái, là huyện lỵ của huyện Hải Ninh, gồm thị trấn Móng Cái và 19 xã: Bình Ngọc, Hải Đông, Hải Tiến, Hải Yên, Lục Lầm, Lục Phủ, Ninh Dương, Pò Hèn, Thán Phún, Trà Cổ, Tràng Vinh, Vạn Ninh, Vạn Xuân, Vĩnh Thực, Vĩnh Trung, Xuân Hải, Xuân Hòa, Xuân Lan, Xuân Ninh. Tháng 2 năm 1979, quân Trung Quốc tấn công ồ ạt qua biên giới, Móng Cái bị thiệt hại nặng. === Hành chính === Ngày 16 tháng 1 năm 1979, Chính phủ ban hành Quyết định 17-CP hợp nhất các xã thuộc huyện Hải Ninh: hợp nhất 4 xã Pò Hèn, Thán Phún, Lục Phủ và Tràng Vinh thuộc huyện Hải Ninh thành thị trấn nông trường Hải Sơn; hợp nhất 3 xã Xuân Hòa, Xuân Hải, Lục Lầm thuộc huyện Hải Ninh thành xã Hải Hòa; hợp nhất 3 xã Xuân Lan, Xuân Ninh, Vạn Xuân thuộc huyện Hải Ninh thành xã Hải Xuân. Ngày 10 tháng 9 năm 1981, xã Quảng Nghĩa của huyện Quảng Hà được sáp nhập vào huyện Hải Ninh. Từ đó, huyện Hải Ninh có 14 đơn vị hành chính gồm thị trấn Móng Cái, thị trấn Nông trường Hải Sơn và 12 xã: Bình Ngọc, Hải Đông, Hải Hòa, Hải Tiến, Hải Xuân, Hải Yên, Ninh Dương, Quảng Nghĩa, Trà Cổ, Vạn Ninh, Vĩnh Thực, Vĩnh Trung. Từ năm 1991, sau khi quan hệ hai nước Việt - Trung trở lại bình thường thì sự trao đổi buôn bán qua cửa khẩu Bắc Luân ngày càng tăng lên. Ngày 20 tháng 7 năm 1998, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định số 52/1998/NĐ-CP, thành lập lại thị xã Móng Cái trên cơ sở huyện Hải Ninh cũ trực thuộc tỉnh: chia thị trấn Móng Cái thành 3 phường: Ka Long, Trần Phú, Hòa Lạc; chuyển 2 xã Ninh Dương và Trà Cổ thành 2 phường có tên tương ứng; chuyển thị trấn nông trường Hải Sơn thành xã Hải Sơn. Ngày 1 tháng 10 năm 2003, chia xã Hải Sơn thành 2 xã: Hải Sơn và Bắc Sơn. Ngày 6 tháng 4 năm 2007, chuyển 2 xã Hải Hòa và Hải Yên thành 2 phường có tên tương ứng. Ngày 8 tháng 6 năm 2007, Bộ xây dựng ban hành Quyết định số 864/QĐ-BXD, công nhận thị xã Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh là đô thị loại III. Ngày 24 tháng 9 năm 2008, Chính phủ ban hành Nghị định 03/NĐ-CP thành lập thành phố Móng Cái trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Móng Cái. Ngày 5 tháng 2 năm 2010, chuyển xã Bình Ngọc thành phường Bình Ngọc. == Du lịch == Móng Cái có nhiều địa điểm tham quan các di tích danh thắng như bán đảo Trà Cổ, Bình Ngọc, đảo Vĩnh Trung - Vĩnh Thực, các khu rừng ngập mặn như Tràng Vinh, Quất Đông...Ngoài ra, du khách còn có thể thăm cửa khẩu Quốc tế Móng Cái và nhiều di tích khác như đình Trà Cổ, Chùa Linh Khánh, chùa Xuân Lan, mũi Sa Vĩ,.... == Giao thông == Có quốc lộ 18 đi qua đến cửa khẩu quốc tế Móng Cái. Đây cũng là điểm cuối của dự án đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long - Móng Cái. == Các địa danh, đường phố, công trình công cộng tại Móng Cái == == Hình ảnh == == Chú thích ==
lạng sơn (thành phố).txt
Thành phố Lạng Sơn là tỉnh lỵ của tỉnh Lạng Sơn, có diện tích khoảng 79 km². Thành phố nằm bên quốc lộ 1A, cách thủ đô Hà Nội 150 km; cách biên giới Việt Nam - Trung Quốc 18 km; cách Hữu Nghị quan 15 km và Đồng Đăng 13 km về phía đông bắc. Dân số của thành phố năm 2009 là 87.278 người, với nhiều dân tộc khác nhau như: Kinh, Tày, Nùng, Hoa và các nhóm người Dao, Mường, Sán Dìu, Sán Chỉ,... Thành phố nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình hàng năm 21 ⁰C, độ ẩm trung bình 80%, lượng mưa trung bình năm là 1439 mm. Thành phố trước đây có tên là Thị xã Lạng Sơn và trở thành thành phố vào năm 2002, là đô thi loại III. Thành phố có 5 phường trung tâm, và 3 xã ngoại thành. Nhiều cơ sở hạ tầng và các khu đô thị mới đang được chính quyền thành phố xây dựng với mục tiêu trở thành đô thị loại II. Kinh tế của Thành phố Lạng Sơn chủ yếu dựa vào du lịch và dịch vụ mà chủ yếu là buôn bán. GDP bình quân đầu năm 2010 người đạt 2.600 USD/người. Năm 2010 kim ngạch xuất nhập khẩu qua các cửa khẩu của Lạng Sơn đạt gần 1430 triệu USD. == Vị trí địa lý == Thành phố Lạng Sơn nằm giữa một lòng chảo lớn, có dòng sông Kỳ Cùng chảy qua trung tâm Thành phố đây là dòng sông chảy ngược. Nó bắt nguồn từ huyện Đình Lập của Lạng Sơn và chảy theo hướng Nam - Bắc về huyện Quảng Tây - Trung Quốc. Thành phố cách thủ đô Hà Nội 154 km, cách biên giới Việt Trung 18 km. Nằm trên trục đường quốc lộ 1A, đường sắt liên vận quốc tế Việt Nam – Trung Quốc, đường quốc lộ 1B đi Thái Nguyên, đường quốc lộ 4B đi Quảng Ninh, đường quốc Lộ 4A đi Cao Bằng. Thành phố nằm trên nền đá cổ, có độ cao trung bình 250 m so với mực nước biển, gồm các kiểu địa hình: xâm thục bóc mòn, cacxtơ và đá vôi, tích tụ.Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng-Lạng Sơn được quy hoạch thành một nút trên tuyến Hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng, thành một động lực kinh tế của tỉnh Lạng Sơn, vùng Đông Bắc Việt Nam, và sau năm 2010 trở thành một cực của Tứ giác kinh tế trọng điểm Bắc Bộ (Lạng Sơn-Hà Nội-Hải Phòng-Quảng Ninh). Theo Nghị định 82/2002/NĐ-CP, ranh giới thành phố Lạng Sơn được xác định như sau: Phía Bắc giáp xã Thạch Đạn, Thụy Hùng – huyện Cao Lộc. Phía Nam giáp xã Tân Thành, Yên Trạch – huyện Cao Lộc và xã Vân Thủy - huyện Chi Lăng Phía Đông giáp thị trấn Cao Lộc và các xã Gia Cát, Hợp Thành, Tân Liên – huyện Cao Lộc. Phía Tây giáp xã Xuân Long – huyện Cao Lộc và xã Đồng Giáp – huyện Văn Quan. == Lịch sử hình thành == Từ xưa, thành phố Lạng Sơn là trung tâm của một vùng đất biên giới, nằm trên con đường giao thông huyết mạch có từ rất lâu, nối liền từ vùng biên ải đến kinh thành Thăng Long. Đây cũng là con đường giao lưu chính trị - kinh tế - văn hóa - xã hội giữa các triều đại phong kiến Việt Nam với các triều đại phong kiến Trung Quốc. Nơi đây cũng đã từng diễn ra nhiều trận đánh lịch sử để bảo vệ biên cương chống lại kẻ thù từ phương Bắc của nhiều thế hệ quân dân Việt Nam. Theo nhiều tài liệu lịch sử, Lạng Sơn vốn đã trải qua thời kỳ là trấn lỵ, châu lỵ, phủ lỵ - là trung tâm của bộ máy hành chính từ thời phong kiến, từ thời nhà Hán, nhà Đường của Trung Quốc đô hộ, Việt Nam được chia thành 9 quận thì Lạng Sơn thuộc quận Giao Chỉ (châu Giao). Thời nhà Đinh, vùng đất ở khu vực đình Pác Mòng - Tp Lạng Sơn ngày nay từng là nơi Đinh Bộ Lĩnh tiến đến dẹp loạn. Đến thời nhà Lý (thế kỷ 11), Lạng Sơn được gọi là châu Lạng, do dòng họ Thân (Thân Thừa Quý - vốn là phò mã nhà Lý) cai trị. Đời nhà Trần (thế kỷ 13) gọi Lạng Sơn là Lạng châu lộ, năm Quang Thái thứ 10 đổi thành trấn Lạng Sơn và đặt lỵ sở ở khu vực xã Mai Pha Thành phố Lạng Sơn ngày nay và cho xây dựng Đoàn thành. Đến thời nhà Lê (thế kỷ 15), để củng cố quân sự chống quân xâm lược nhà Minh. Lạng Sơn được bố trí nhiều cơ quan hành chính, kinh tế, quân sự gọi là vệ, cục, ty... dưới quyền của Lạng Sơn Thừa chính tư. Năm Hồng Đức thứ 26, Đoàn Thành Lạng Sơn tiếp tục được tu bổ, gia cố lại. Sách Dư Địa Chí của Nguyễn Nghiễm viết: "Xung quanh trấn thành đã hình thành nên rất nhiều "chợ" và "phố" như: phố Kỳ Lừa, phố Trường Thịnh, Đồng Đăng, thu hút thương nhân, lái buôn trong nước và người Trung Quốc đến buôn bán, trao đổi hàng hóa đông vui, tấp nập". Đến triều nhà Nguyễn, Đoàn Thành Lạng Sơn một lần nữa được tu bổ vào năm Minh Mệnh thứ 15 (1835). Năm 1925, thị xã Lạng Sơn được thành lập, và là tỉnh lỵ của tỉnh Lạng Sơn, chia làm hai khu vực tự nhiên, lấy sông Kỳ Cùng làm ranh giới, phía bờ nam gọi là "bên tỉnh", phía bờ bắc gọi là "bên Kỳ Lừa". Bên tỉnh là tập trung các cơ quan công sở hành chính của bộ máy chính quyền tỉnh. Bên Kỳ Lừa là nơi tập trung các phố chợ, diễn ra các hoạt động sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh, buôn bán của người dân. Trong những năm diễn ra cuộc kháng chiến chống Pháp, thị xã Lạng Sơn là nơi diễn ra các chiến dịch nổi tiếng như Thu đông (1947), chiến dịch Biên giới (1950). Từ sau năm 1954, với vị trí địa đầu của đất nước, thị xã Lạng Sơn được coi như một "cảng nổi" - là đầu mối tiếp nhận, lưu trữ hàng hóa viện trợ của các nước Xã hội Chủ nghĩa ủng hộ Việt Nam. Năm 1979, cuộc chiến tranh biên giới phía bắc với Trung Quốc đã diễn ra ác liệt ở khu vực biên giới và tràn xuống gần cả khu vực thị xã Lạng Sơn, khiến thành phố đã bị thiệt hại nặng nề. Ngày 27 tháng 12 năm 1975, hai tỉnh Cao Bằng và Lạng Sơn hợp nhất thành tỉnh Cao Lạng, thị xã Lạng Sơn là một đơn vị hành chính thuộc tỉnh Cao Lạng, gồm 4 phường: Chi Lăng, Hoàng Văn Thụ, Tam Thanh, Vĩnh Trại và xã Đông Kinh. Ngày 30 tháng 8 năm 1977, chuyển 4 xã: Hoàng Đồng, Quảng Lạc, Mai Pha, Hợp Thành thuộc huyện Cao Lộc vào thị xã Lạng Sơn. Nhưng đến ngày 29 tháng 12 năm 1978, tỉnh Cao Lạng tách thành 2 tỉnh như cũ, thị xã trở lại là tỉnh lị tỉnh Lạng Sơn. Ngày 22 tháng 11 năm 1986, chuyển xã Hợp Thành về huyện Cao Lộc quản lý. Ngày 29 tháng 8 năm 1994, chuyển xã Đông Kinh thành phường Đông Kinh. Ngày 18 tháng 7 năm 2000, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 997/QĐ-BXD công nhận thị xã Lạng Sơn là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Lạng Sơn. Ngày 17 tháng 10 năm 2002, Chính phủ đã có nghị định 82/2002/NĐ-CP về việc nâng cấp thị xã Lạng Sơn thành thành phố Lạng Sơn. == Dân số == Năm 2007 dân số của Thành phố là trên 148.000 người, trong đó dân số thành thị chiếm 78%, dân số nông thôn chỉ chiếm 22%, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 0,92%. Cư trú tại Thành phố ngoài 4 dân tộc chủ yếu là Kinh, Tày, Nùng, Hoa còn có các dân tộc Cao Lan, Dao, Sán Dìu, Sán Chỉ, Ngái... Có 89.200 người trong độ tuổi lao động, chiếm 56% dân số, trong đó lao động nông nghiệp chỉ chiếm 26% so với lao động trong độ tuổi. Số lao động có trình độ chuyên môn từ trung cấp trở lên chiếm hơn 10% trong tổng số lao động. == Hành chính == Thành phố Lạng Sơn được chia làm 8 đơn vị hành chính gồm 5 phường: Chi Lăng, Đông Kinh, Hoàng Văn Thụ, Tam Thanh, Vĩnh Trại và 3 xã: Hoàng Đồng, Mai Pha, Quảng Lạc. == Kinh tế == === Tài nguyên thiên nhiên === Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên là 7.918,5 ha, trong đó đất sử dụng cho nông nghiệp là 1.240,56 ha, chiếm 15,66% diện tích đất tự nhiên. Diện tích đất lâm nghiệp đã sử dụng 1.803,7 ha, chiếm 22,78% diện tích đất tự nhiên. Diện tích đất chuyên dùng 631,37 ha, chiếm 7,9% diện tích đất tự nhiên. Tài nguyên nước: Thành phố Lạng Sơn có sông Kỳ Cùng chảy qua địa phận Thành phố dài 19 km, lưu lượng trung bình là 2.300 m³/s, có suối Lao Ly chảy từ thị trấn Cao Lộc qua khu Kỳ Lừa ra sông Kỳ Cùng và suối Quảng Lạc dài 97 km, rộng 6 – 8 m. Ngoài ra, trong vùng còn có một số hồ đập vừa và nhỏ như hồ Nà Tâm, hồ Thẩm Sỉnh, Bó Diêm, Lẩu Xá, Bá Chủng, Pò Luông. Tài nguyên khoáng sản: Khoáng sản ở Lạng Sơn chủ yếu là đá vôi, đất sét, cát, đá cuội, sỏi... Có 2 mỏ đá vôi chưa xác định được trữ lượng, nhưng chất lượng đá vôi có hàm lượng Cacbonac canxi rất cao đủ điều kiện để sản xuất xi măng. Mỏ đất sét có trữ lượng trên 22 triệu tấn, dùng làm nguyên liệu sản xuất vật liệu xây dựng. Ngoài ra còn có một trữ lượng nhỏ vàng sa khoáng, kim loại đen (Mangan), bôxit... === Số liệu kinh tế - xã hội năm 2006 === Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Thành phố: GDP ước tăng 15,2% so với năm 2005. Cơ cấu nhóm ngành trong GDP: Thương mại - dịch vụ chiếm 62,84%; Công nghiệp - xây dựng chiếm 32,71%; Nông nghiệp chiếm 4,45%. GDP bình quân đầu người đạt 1.300USD/người. Thành phố Lạng Sơn là trung tâm thương mại của vùng núi Đông Bắc của Việt Nam. Năm 2006, thành phố đón 1 triệu 180 nghìn lượt khách du lịch, tổng mức lưu chuyển hàng hóa bán lẻ thực hiền được 4.048 tỷ đồng, đạt 99,6% kế hoạch, tăng 21,3%. Giữ tốc độ tăng dân số tự nhiên ở mức 0,9%. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng còn 14,2%, giảm 0,99% so với năm 2005. Triển khai Quyết định số 134/2004/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đã tổ chức xét duyệt, cấp kinh phí hỗ trợ xây dựng, sửa chữa nhà cho 60 hộ, với kinh phí hỗ trợ 300 triệu đồng, bằng 100% kế hoạch. == Cơ sở hạ tầng == Giao thông: Hệ thống giao thông trên địa bàn Thành phố khá hoàn chỉnh, có đường quốc lộ 1A, 4A, 4B, đường sắt liên vận quốc tế... chạy qua. Hiện nay, trên địa bàn Thành phố có khoảng 40 km đường quốc lộ với bề mặt rộng từ 10-20 m, 60 km đường tỉnh lộ với mặt đường rộng từ 5–11 m. Tuyến cao tốc Hà Nội - Hữu Nghị Quan (tức đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn) với 6 làn xe sẽ được xây dựng với tổng vốn đầu tư dự kiến 1,4 tỷ USD vào năm 2010. Việt Nam hợp tác với Trung Quốc xây dựng tuyến đường sắt liên vận quốc tế cho Hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Sẽ được đầu tư xây dựng cảng Phả Lại thành cảng đầu mối quan trọng trong tuyến đường thủy của hành lang. Hiện nay trên địa bàn thành phố đang hình thành khu đô thị Hoàng Đồng nằm trên địa bàn xã Hoàng Đồng. Thủy lợi và cấp nước: Trên địa bàn Thành phố hiện có 8 hồ đập lớn nhỏ, với năng lực thiết kế 600 ha và 20 trạm bơm có khả năng tưới cho 300 ha; 10 giếng khoan với công suất 500-600 m³/h và 50 km đường ống phi 50-300 mm, cung cấp nước cho trên 8.000 hộ và hơn 300 cơ quan, trường học. Hiện nay, Thành phố có khoảng 8 km đường ống thoát nước và hơn 5 km đường mương thoát nước. Hệ thống điện: Hệ thống điện lưới quốc gia trên địa bàn Thành phố có khoảng 15 km đường dây cao thế 10 KV, 70 km đường dây 6 KV, 350 km đường dây 0,4 KV... trên 200 trạm biến áp các loại có dung lượng từ 30-5.600 KVA cung cấp cho hơn 15.00 điểm công tơ. Sản lượng điện thương phẩm trên địa bàn Thành phố ngày càng tăng từ 21 triệu KWh năm 1998 lên 25,8 triệu KWh năm 2002, bình quân hàng năm tăng 5,3%, các trục đường chính, các ngã ba, ngã tư đều đã được trang bị hệ thống đèn báo hiệu. Mạng lưới thông tin - liên lạc: Năm 1997 lắp đặt và đưa vào sử dụng hệ thống truyền dẫn vi ba số từ trung tâm Thành phố đến 11 huyện, các cửa khẩu. Tổng các kênh vi ba số nội Tỉnh là 400 kênh, dung lượng tổng đài TDX - 1B 8.000 số. Hiện nay trên địa bàn Thành phố có 15.000 máy thuê bao và hàng nghìn máy di động,... == Danh nhân == Trong những năm trước cách mạng tháng Tám, Thị xã Lạng Sơn là địa bàn hoạt động chính của nhà cách mạng Hoàng Văn Thụ. Ông là người đã dấy lên phong trào yêu nước Lạng Sơn. Hiện nay trên địa bàn Thành phố còn có khu nhà lưu niệm Hoàng Văn Thụ tại số 8, phố Chính Cai, Kỳ Lừa - đây cũng là nơi ông đã sinh sống, học tập và hoạt động cách mạng trong những năm 20, 30 của thế kỷ trước và khu công viên tượng đài kỷ niệm Hoàng Văn Thụ ở phường Chi Lăng. == Ảnh == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang thông tin điện tử Thành phố Lạng Sơn
nghĩa vụ quân sự.txt
Nghĩa vụ quân sự hay còn gọi là quân dịch, theo định nghĩa đơn giản nhất là nghĩa vụ mà một cá nhân hay một nhóm người thực hiện trong quân đội hoặc lực lượng dân quân, cho dù họ phải thực hiện một công việc đã được sắp xếp trước và không được lựa chọn. Một vài quốc gia (ví dụ México) đòi hỏi mọi công dân đều phải thực hiện nghĩa vụ quân sự (trừ các trường hợp đặc biệt như người bị rối loạn tâm thần hoặc bị thương tật hoặc vì đức tin tôn giáo không thể thực hiện quân dịch). Một quốc gia với chế độ tòng quân tình nguyện thường thì sẽ không yêu cầu nghĩa vụ quân sự bắt buộc với công dân của mình, trừ khi quốc gia đó đối mặt với tình trạng thiếu quân số trong chiến tranh. == Sơ lược một số quốc gia == Bản sơ lược này bao gồm 195 quốc gia. === Các quốc gia không có quân đội === 19 quốc gia sau được xác định là không có quân đội hoặc không có quân thường trực mà chỉ có một lực lượng quân sự rất hạn chế: *Các quốc gia không có quân thường trực mà chỉ có một lực lượng quân sự rất hạn chế. === Các quốc gia có chế độ thực hiện nghĩa vụ quân sự không bắt buộc === Các quốc gia này có chế độ thực hiện nghĩa vụ quân sự không bắt buộc (tuy nhiên nhiều quốc gia vẫn yêu cầu các nam công dân bắt buộc phải trải qua một khóa học quân sự ngắn, phục vụ quân sự bán thời gian hoặc các hoạt động nghĩa vụ thay thế khác, và phải cam kết phục vụ quân đội khi được lệnh nhập ngũ). Ví dụ: Trung Quốc không có nghĩa vụ quân sự bắt buộc, tuy nhiên mọi nam công dân bắt buộc phải trải qua 1 tháng huấn luyện quân sự cơ bản và được xếp vào loại hình quân dự bị loại 2, mọi quân nhân dự bị bắt buộc phải nhập ngũ nếu nhận được lệnh gọi. Hiện quân đội Trung Quốc có hơn 2 triệu quân chủ lực, nhưng nếu có chiến tranh, họ có thể ngay lập tức gọi nhập ngũ bắt buộc đối với 200 triệu quân từ lực lượng dự bị. Có 102 quốc gia nằm trong số này: === Các quốc gia có chế độ quân sự vừa bắt buộc vừa tự nguyện === Có 8 quốc gia trong danh sách này: === Các quốc gia có chế độ nghĩa vụ quân sự bắt buộc và có tuyển chọn === Các quốc gia này có chế độ thực hiện nghĩa vụ quân sự bắt buộc. Tuy nhiên chỉ có một phần nam công dân được gọi nhập ngũ, số còn lại chỉ trải qua một khóa học quân sự ngắn. Ví dụ như các quốc gia: === Các quốc gia có nghĩa vụ quân sự bắt buộc nhưng cho lựa chọn hình thức nghĩa vụ === Các quốc gia này cho phép công dân quyền lựa chọn khi tham gia nghĩa vụ quân sự: dân sự, binh sĩ không vũ trang hoặc có vũ trang: === Thời gian nghĩa vụ quân sự bắt buộc === ==== Các quốc gia có nghĩa vụ quân sự bắt buộc không quá một năm ==== Danh sách gồm có 20 quốc gia: ==== Các quốc gia có nghĩa vụ quân sự bắt buộc tối đa 18 tháng ==== Danh sách này có 9 quốc gia: ==== Các quốc gia có nghĩa vụ quân sự bắt buộc lâu hơn 18 tháng ==== Có 34 quốc gia: === Quốc gia sẽ bãi bỏ chế độ quân dịch cưỡng bức trong tương lai gần === Vào năm 2012, một quốc gia đã tuyên bố bãi bỏ chế độ quân dịch cưỡng bức trong tương lai gần:
cung văn hóa hữu nghị hà nội.txt
Cung Văn hoá Lao động Hữu nghị Việt - Xô nằm tại 91 phố Trần Hưng Đạo, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, Việt Nam là một công trình kiến trúc, văn hóa dành cho các buổi biểu diễn nghệ thuật, các hội nghị khoa học, triển lãm... Công trình được khởi công vào ngày 1 tháng 1 năm 1978 trên nền cũ của nhà Đấu Xảo Hà Nội (bị bom phá hủy trong Thế chiến lần thứ 2), tới ngày 1 tháng 9 năm 1985 thì hoàn thành. Nguồn tài chính xây dựng công trình do Hội đồng Trung ương các Công đoàn Liên Xô trước đây trao tặng nên được đặt tên là Cung Văn hoá Lao động Hữu nghị Việt - Xô. Công trình được kiến trúc sư Liên Xô G. G. Isakovich thiết kế. Cung văn hóa nằm trên một diện tích 3,2 ha, gồm ba khối nhà chính: nhà biểu diễn, nhà học tập, nhà kỹ thuật... với tổng cộng 120 phòng. Trong số này nhà biểu diễn là tòa nhà lớn nhất, cao 4 tầng, cao 33 mét, dài 96 mét, rộng 60 mét. Phía sau là nhà học tập cao 3 tầng, có cả thư viện và các phòng của các câu lạc bộ sinh hoạt thường xuyên theo chủ đề.. == Chú thích ==
miyagi.txt
Miyagi (Nhật: 宮城県 (Cung Thành Huyện), Miyagi-ken) là một tỉnh của Nhật Bản, thuộc vùng Tohoku, phía Đông Bắc đảo Honshu. Trung tâm hành chính là thành phố Sendai. == Địa lý == Miyagi nằm ở trung tâm của vùng Tohoku. phía tây và Đông Bắc là địa hình núi cao. Phía Đông Nam trông ra Thái Bình Dương. Ở trung tâm tỉnh, quanh thành phố Sendai là vùng bình nguyên bằng phẳng. == Lịch sử == Tỉnh Miyagi được thành lập vào năm 1871, ban đầu có tên là tỉnh Sendai. Từ năm 1872, được đổi tên thành tỉnh Miyagi. == Hành chính == Tỉnh Miyagi có 36 đơn vị hành chính cấp hạt gồm 13 thành phố và 23 thị trấn và làng. === Các thành phố === Có 30 thành phố: === Thị trấn và làng === ‡ Dự kiến sẽ được giải thể sau sáp nhập. == Kinh tế == Miyagi phát triển các nghề đánh cá và nông nghiệp. Tỉnh trồng nhiều lúa và nuôi nhiều gia súc. Khu vực chế tạo tập trung quanh thành phố Sendai. == Văn hóa == == Giáo dục == Đại học Tohoku == Thể thao == Các đội thể thao được liệt kê dưới đây có trụ sở ở Miyagi. Bóng đá Vegalta Sendai (Sân vận động Yurtec, Sendai) Sony Sendai FC (Tagajō) Bóng chày Tohoku Rakuten Golden Eagles (Sân bóng chày Miyagi, Sendai) Bóng rổ Sendai 89ERS (Nhà thi đấu Sendai, Sendai) == Du lịch == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức của Cung Thành (tiếng Nhật) Thông tin chính thức sự sáp nhập ở Cung Thành truy cập lần cuối vào 25 tháng 3 năm 2007
cự sam.txt
Sequoiadendron giganteum là loài sống duy nhất trong chi Sequoiadendron, nó được phân loại trong họ Cupressaceae chứa phân họ Sequoioideae, cùng với Sequoia sempervirens (cù tùng) và Metasequoia glyptostroboides (thủy tùng). == Tham khảo ==
silic.txt
Silic là tên một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Si và số nguyên tử bằng 14. Nó là nguyên tố phổ biến sau ôxy trong vỏ Trái Đất (25,7 %), cứng, có màu xám sẫm - ánh xanh kim loại, là á kim có hóa trị +4. == Thuộc tính == Trong dạng tinh thể, silic có màu xám sẫm ánh kim. Mặc dù là một nguyên tố tương đối trơ, silic vẫn có phản ứng với các halogen và các chất kiềm loãng, nhưng phần lớn axít (trừ tổ hợp axít nitric và axit flohiđric) không tác dụng với nó. Silic nguyên tố truyền khoảng hơn 95% các bước sóng hồng ngoại. Tinh thể silic nguyên chất hiếm tìm thấy trong tự nhiên, thông thường nó nằm trong dạng silic dioxit (SiO2). Các tinh thể silic nguyên chất tìm thấy trong tạp chất của vàng hay dung nham núi lửa. Nó có hệ số kháng nhiệt âm. Silic hoạt động hóa học kém hơn cacbon là nguyên tố tương tự nó về mặt hóa học. Nó có trong đất sét, fenspat, granit, thạch anh và cát, chủ yếu trong dạng điôxít silic (hay silica) và các silicat (Các hợp chất chứa silic, ôxy và kim loại trong dạng R-SiO3). == Lịch sử == Silic (tên Latinh: silex, silicis có nghĩa là đá lửa) lần đầu tiên được nhận ra bởi Antoine Lavoisier năm 1787, và sau đó đã bị Humphry Davy vào năm 1800 cho là hợp chất. Năm 1811 Gay Lussac và Thénard có lẽ đã điều chế ra silic vô định hình không nguyên chất khi nung nóng kali với tetraflorua silic SiF4. Năm 1824 Berzelius điều chế silic vô định hình sử dụng phương pháp giống như của Lussac. Berzelius cũng đã làm tinh khiết sản phẩm bằng cách rửa nó nhiều lần. Vì silic là nguyên tố quan trọng trong các thiết bị bán dẫn và công nghệ cao, nên khu vực công nghệ cao ở California được đặt tên là Silicon Valley (Thung lũng Silicon), tức đặt tên theo nguyên tố này. == Ứng dụng == Silic là nguyên tố rất có ích, là cực kỳ cần thiết trong nhiều ngành công nghiệp. Điôxít silic trong dạng cát và đất sét là thành phần quan trọng trong chế tạo bê tông và gạch cũng như trong sản xuất xi măng Portland. Silic là nguyên tố rất quan trọng cho thực vật và động vật. Silica dạng nhị nguyên tử phân lập từ nước để tạo ra lớp vỏ bảo vệ tế bào. Các ứng dụng khác có: Gốm/men sứ - Là vật liệu chịu lửa sử dụng trong sản xuất các vật liệu chịu lửa và các silicat của nó được sử dụng trong sản xuất men sứ và đồ gốm. Thép - Silic là thành phần quan trọng trong một số loại thép. Đồng thau - Phần lớn đồng thau được sản xuất có chứa hợp kim của đồng với silic. Thủy tinh - Silica từ cát là thành phần cơ bản của thủy tinh. Thủy tinh có thể sản xuất thành nhiều chủng loại đồ vật với những thuộc tính lý học khác nhau. Silica được sử dụng như vật liệu cơ bản trong sản xuất kính cửa sổ, đồ chứa (chai lọ), và sứ cách điện cũng như nhiều đồ vật có ích khác. Giấy nhám - Cacbua silic là một trong những vật liệu mài mòn quan trọng nhất. Vật liệu bán dẫn - Silic siêu tinh khiết có thể trộn thêm asen, bo, gali hay phốtpho sđể làm silic dẫn điện tốt hơn trong các transistor, pin mặt trời hay các thiết bị bán dẫn khác được sử dụng trong công nghiệp điện tử và các ứng dụng kỹ thuật cao (hi-tech) khác. Trong các photonic - Silic được sử dụng trong các laser để sản xuất ánh sáng đơn sắc có bước sóng 456 nm. Vật liệu y tế - Silicon là hợp chất dẻo chứa các liên kết silic-ôxy và silic-cacbon; chúng được sử dụng trong các ứng dụng như nâng ngực nhân tạo và lăng kính tiếp giáp (kính úp tròng). LCD và pin mặt trời - Silic ngậm nước vô định hình có hứa hẹn trong các ứng dụng như điện tử chẳng hạn chế tạo màn hình tinh thể lỏng (LCD) với giá thành thấp và màn rộng. Nó cũng được sử dụng để chế tạo pin mặt trời. Xây dựng - Silica là thành phần quan trọng nhất trong gạch vì tính hoạt hóa thấp của nó. == Sự phổ biến == Silic là thành phần cơ bản của các loại aerolit là một loại của các thiên thạch và của các tektit là dạng tự nhiên của thủy tinh. Theo khối lượng, silic chiếm 29,5% vỏ Trái Đất, là nguyên tố phổ biến thứ hai sau ôxy. Silic nguyên tố không tìm thấy trong tự nhiên. Nó thường xuất hiện trong các ôxít và silicat. Cát, amêtít, mã não (agate), thạch anh, đá tinh thể, đá lửa, jatpe, và opan là những dạng tự nhiên của silic dưới dạng ôxít. Granit, amiăng, fenspat, đất sét, hoócblen, mica là những dạng khoáng chất silicat. == Sản xuất == Silic được sản xuất công nghiệp bằng cách nung nóng silica siêu sạch trong lò luyện bằng hồ quang với các điện cực cacbon. Ở nhiệt độ trên 1900 °C, Silic lỏng được thu hồi ở đáy lò, sau đó nó được tháo ra và làm nguội. Silic sản xuất theo công nghệ này gọi là silic loại luyện kim và nó ít nhất đạt 99% tinh khiết. Năm 2000, silic loại này có giá khoảng $ 0,56 trên một pao ($1,23/kg). [1]. == Làm tinh khiết == Việc sử dụng silic trong các thiết bị bán dẫn đòi hỏi phải có độ tinh khiết cao hơn so với sản xuất bằng phương pháp trên. Có một số phương pháp làm tinh khiết silic được sử dụng để sản xuất silic có độ tinh khiết cao. === Phương pháp vật lý === Các kỹ thuật làm tinh khiết silic đầu tiên dựa trên cơ sở thực tế là nếu silic nóng chảy và sau đó đông đặc lại thì những phần cuối khi đông đặc bao giờ cũng chứa nhiều tạp chất. Các phương pháp sớm nhất để làm tinh khiết silic, lần đầu tiên được miêu tả năm 1919 và sử dụng trong một số hữu hạn nền tảng để sản xuất các thành phần của rađa trong Đại chiến thế giới lần thứ hai, bao gồm việc đập vỡ silic phẩm chất công nghiệp và hòa tan từng phần bột silic trong axít. Khi bị đập vỡ, silic bị làm vỡ để những khu vực có nhiều tạp chất yếu hơn sẽ nằm ra phía ngoài của các hạt silic được tạo ra, chúng sẽ bị axít hòa tan, để lại sản phẩm tinh khiết hơn. Trong khu vực nung chảy, phương pháp đầu tiên làm tinh khiết silic được sử dụng rộng rãi trong công nghiệp, các thỏi silic phẩm cấp công nghiệp được nung nóng tại một đầu. Sau đó, nguồn nhiệt chuyển động rất chậm dọc theo chiều dài của thỏi, giữ cho chỉ một đoạn ngắn của thỏi nóng chảy và silic được làm nguội và tái đông đặc ở phía sau nó. Vì phần lớn các tạp chất có xu hướng nằm trong phần nóng chảy hơn là trong phần tái đông đặc, nên khi quá trình này kết thúc, phần lớn tạp chất của thỏi sẽ chuyển về đầu nóng chảy sau cùng. Đầu này sau đó bị cắt bỏ, và quy trình này được lặp lại nếu muốn có silic với phẩm cấp cao hơn. === Phương pháp hóa học === Ngày nay, silic được làm sạch bằng cách chuyển nó thành các hợp chất silic để dễ dàng làm tinh khiết hơn là làm tinh khiết trực tiếp silic, và sau đó chuyển hợp chất của nó trở lại thành silic nguyên chất. Triclorosilan là hợp chất của silic được sử dụng rộng rãi nhất như chất trung gian, mặc dầu tetraclorua silic và silan cũng được sử dụng. Khi các khí này được thổi qua silic ở nhiệt độ cao, chúng phân hủy để tạo ra silic có độ tinh khiết cao. Trong công nghệ Siemens, các thỏi silic có độ tinh khiết cao được đưa vào triclorosilan ở nhiệt độ 1150 °C. Khí triclorosilan phân hủy và lắng đọng silic bổ sung trên thỏi, làm to nó theo phản ứng sau: 2HSiCl3 → Si + 2HCl + SiCl4 Silic sản xuất từ phương pháp này và các công nghệ tương tự gọi là silic đa tinh thể. Silic đa tinh thể thông thường có tạp chất ở mức một phần tỷ hoặc thấp hơn. Cùng thời gian đó, DuPont đã sản xuất silic siêu sạch bằng cách cho tetrachorua silic phản ứng với hơi kẽm nguyên chất ở nhiệt độ 950 °C, theo phản ứng: SiCl4 + 2Zn → Si + 2ZnCl2 Tuy nhiên, kỹ thuật này đã vấp phải những vấn đề thực tế (chẳng hạn như sản phẩm phụ clorua kẽm đông đặc lại và dính vào sản phẩm) và cuối cùng nó đã bị bỏ đi để sử dụng chỉ mỗi công nghệ Siemens. == Tinh thể hóa == Công nghệ Czochralski thông thường được sử dụng để sản xuất các tinh thể silic đơn có độ tinh khiết cao để sử dụng trong các thiết bị bán dẫn bằng silic ở trạng thái rắn. == Đồng vị == Silic có chín đồng vị, với số A từ 25 đến 33. Si28 (đồng vị phổ biến nhất, 92,23%), Si29 (4,67%) và Si30 (3,1%) là ổn định; Si32 là đồng vị phóng xạ sản xuất bằng phân rã agon. Chu kỳ bán rã của nó, được xác định là khoảng 276 năm, và nó phân rã bằng bức xạ beta thành P32 (có cả chu kỳ bán rã 14,28 năm) và sau đó thành Si32. == Cảnh báo == Các bệnh nghiêm trọng về phổi được biết đến như bệnh nhiễm silic (silicosis) thường gặp ở những người thợ mỏ, cắt đá và những người phải làm việc trong môi trường nhiều bụi silic. == Tham khảo == Los Alamos National Laboratory – Silicon == Liên kết ngoài == WebElements.com – Silicon EnvironmentalChemistry.com – Silicon Mineral.Galleries.com – Silicon
lũ lụt miền bắc việt nam năm 2008.txt
Từ đêm ngày 30 tháng 10 năm 2008, tại miền Bắc và các tỉnh phía Bắc miền Trung Việt Nam một trận mưa lớn kỷ lục trong hơn 100 năm gần đây (thời điểm năm 2008) đã diễn ra và kéo dài trong nhiều ngày. Đợt mưa lớn vượt quá mọi dự báo và trái mùa này đã gây ra một trận lụt lịch sử ở Hà Nội; cùng lúc đó, những trận mưa lớn trên các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung bộ đã gây ra lũ lụt trên diện rộng, làm nhiều người chết, gây thiệt hại vật chất đáng kể. Trận mưa này đã rút nước vào ngày 4 tháng 11 năm 2008, tuy nhiên nhiều nơi vẫn ngập rất nặng == Những nhận định và thống kê == Mưa lớn nhất trong vòng 100 năm: Tất cả những từ ngữ dùng để mô tả các cơn mưa lớn, dữ dội nhất đều được dùng để mô tả mưa ở Hà Nội trong đợt mưa này. Ông Bùi Minh Tăng, Giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thuỷ văn Trung ương cho biết: Tính đến chiều 1 tháng 11 năm 2008, tổng lượng mưa ở khu vực Hà Nội phổ biến từ 350 – 550 mm, một số điểm lớn hơn như huyện Ứng Hòa: 603 mm, quận Hà Đông: 707 mm, huyện Thanh Oai: 914 mm. Theo chuỗi số liệu quan trắc ngay khi đang mưa, đợt mưa trong 2 ngày đầu tiên đã được xác định là đợt mưa lớn kỷ lục. Tại khu vực Hà Nội (cũ), đây là đợt mưa lớn nhất kể từ đợt mưa lịch sử tháng 11 năm 1984. Tại tỉnh Hà Tây (cũ), đây là đợt mưa lớn chưa từng xảy ra kể từ khi có quan trắc khí tượng đến nay (khoảng gần 100 năm). Mưa xảy ra trên một diện cực rộng từ phía Bắc đến các tỉnh Bắc Trung bộ như Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh. Mưa cực lớn tại Hà Nội: Tại trung tâm thành phố Hà Nội, lượng mưa cũng xấp xỉ kỷ lục năm 1984. Theo Đài Khí tượng Thủy văn Đồng bằng Bắc Bộ, lượng mưa đo ở khu vực Láng là 340 mm, theo Đài truyền hình Việt Nam là 420 mm, vượt mức kỉ lục 1984. (mức kỷ lục năm 1984 là 394 mm). Tại khu vực nội thành, mưa lớn đã chia cắt nhiều khu dân cư. Ngay sau khi mưa, toàn thành phố đã có 26 điểm bị ngập úng dài từ 100 - 300 mét, sâu trên dưới 1 mét. Mưa lớn đã lập tức gây ngập úng các nhiều trạm biến thế và đường dây, mất điện tại hàng loạt khu phố.. Chỉ qua một đêm đầu tiên, nhiều tuyến đường và nhiều khu vực nội ngoại thành Hà Nội đã chìm sâu trong nước. Đến chiều 1 tháng 11 năm 2008, lượng mưa tại quận Hà Đông đã đạt gần 500 mm, vượt xa mức lịch sử năm 1978. Khu vực thành phố Hà Đông, mưa lớn kéo dài đã khiến toàn thành phố ngập trắng. Lượng mưa đo được là 492 mm (vượt mức kỷ lục năm 1978 là 318 mm). Mưa lớn ở các tỉnh vùng núi phía Bắc: Các tỉnh vùng núi phía Bắc như Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Tuyên Quang, Thái Nguyên, nói chung vùng Việt Bắc nằm trong tâm mưa lớn thứ ba. Trong khi đó, vùng lòng hồ Sông Đà - Hòa Bình) cũng có mưa rất to. Vì vậy, lưu lượng nước về hồ này đã lên nhanh và đạt xấp xỉ 4.000 m3/giây, mực nước hồ dâng vượt mức quy định 117 m. Nhà máy Thủy điện Hòa Bình đã phải lần lượt mở các cửa xả đáy để xả nước. Mưa ở các tỉnh Bắc Trung bộ: Từ đêm 30 tháng 10 năm 2008, không chỉ ở Hà Nội, khắp Bắc Bộ và Thanh Hóa đến Hà Tĩnh đã có đợt mưa lớn trên diện rộng. Theo ghi nhận của Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương, đợt mưa này có tới 3 tâm mưa lớn, trong đó lớn nhất xảy ra ở khu vực Hà Nội. Trung tâm mưa lớn thứ hai xảy ra ở các tỉnh Thanh Hóa, Ninh Bình, Hà Nam, Hòa Bình. Chiều 31/10/2008, lũ tại Bến Đế (Ninh Bình) đã lên mức 3,6 m, và nhiều khả năng sẽ lên mức 4,2 m (trên báo động 3 khoảng 0,2 m). Thống kê lượng mưa: Tính từ 19h ngày 30 tháng 10 năm 2008 đến 19h ngày 2 tháng 11 năm 2008, tổng lượng mưa các khu vực theo báo cáo của Công ty Thoát nước Hà Nội như sau: (Lượng mưa tính theo mm) == Thiệt hại nặng nề tại Hà Nội == Ngập trên diện rộng: Cả Hà Nội chìm trong một biển nước khổng lồ. Đến 6h ngày 3 tháng 11 năm 2008, Hà Nội còn khoảng 63 điểm ngập úng nặng. Theo báo Tuổi trẻ, ước tính năm ngày sau khi tạnh mưa Hà Nội mới thoát ngập. Giao thông hỗn loạn, nhiều xe cộ ngập nước: Khi bắt đầu mưa lớn, giao thông lập tức hỗn loạn, ôtô chết máy la liệt trên đường. Từ sáng ngày 31 tháng 10, toàn bộ dân cư và bảo vệ toà nhà C6, khu đô thị Mỹ Đình I, đã phải chạy nước vì tầng hầm của toà nhà có khoảng 100 chiếc xe máy và gần 20 ô tô bị chìm trong nước. Trong số này, có khoảng 20 ôtô đắt tiền như Mercedes, Lexus, Avalon trị giá hàng tỷ đồng. Tuy nhiên, khắp Hà Nội có hàng ngàn xe các loại đã bị ngập nước, hư hỏng. Xe cứu hộ chạy đêm ngày vẫn không hết việc. Một số xe cứu hộ đã chết máy, ngâm mình trong nước để rồi lại được kéo đi bởi một xe cứu hộ khác. Nhiều người chết: Theo tổng kết sơ bộ, đến tối 1 tháng 11, Hà Nội đã có 17 người thiệt mạng. Đến 13h34' trưa 03/11/08 là 20 người. Thị trường sốt giá: Trận mưa lớn và kéo dài khiến người dân Hà Nội điêu đứng. Nhiều chợ phải đóng cửa; những chợ khác, nếu có mở hàng thì giá cả lại tăng vọt gấp 5, gấp 7 lần ngày thường. Nhiều tiểu thương đã lập chợ cóc bên đường để phục vụ nhu cầu của người dân.. Cá biệt có những mặt hàng đã lên giá gấp 10 - 15 lần. Tuy nhiên, vì bị nước lụt bao vây và không thể đi hay đến được, khá nhiều người dân đã chỉ có thể ăn mì ăn liền. Đại đa số các công sở ngừng hoạt động: Hoạt động của nhiều công sở bị xáo trộn và nhiều công chức, nhân viên văn phòng không thể đến công sở. Nhiều người cố gắng đến công sở lại rất khó khăn để làm việc do nhà cửa bị ngập, máy móc tê liệt hoặc bị cắt điện. Đê phía Bắc có nguy cơ tràn, vỡ, đe doạ Hà Nội: Ban Chỉ đạo Phòng chống lụt bão trung ương cho biết, mưa lớn 3 ngày qua đã làm nhiều đoạn đê bị tràn, một số nơi bị sụt. Đến sáng 2/11, các địa phương đang huy động người dân nỗ lực chống tràn và di dời dân ra khỏi khu vực xung yếu.. Tuyến đê sông Hồng đã bị sạt mái, gần 13.000 hộ dân ven đê ngập nhà cửa, các hồ chứa và sông Tô Lịch đều đã ngập tràn nước mưa. Đối diện nguy cơ bệnh tật bùng phát: Ngành y tế cho hay tại Hà Nội nguy cơ dịch bệnh bùng phát, nhất là tiêu chảy cấp nguy hiểm, đau mắt... trên diện rộng. Trong lụt, vấn đề vệ sinh trở nên khó khăn đối với nhiều hộ gia đình: thiếu nước ăn uống sạch, vệ sinh cá nhân không đảm bảo, các bể phốt dềnh nước, cống rãnh hòa nước ra khắp nơi. Thiệt hại lớn về vật chất: Ước tính thiệt hại ban đầu riêng tại Hà Nột ít nhất là 3.000 tỷ đồng (chưa kể sản xuất công nghiệp, dịch vụ). Tuy nhiên, ngay sau đó con số này đã bị xem là quá khiêm nhường. == Các tỉnh thành phía Bắc khác == Mưa lớn xảy ra trên diện rộng khiến các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung bộ bị ngập lụt khắp nơi. Đài truyền hình Việt Nam (VTV) đã ghi nhận ít nhất 47 người thiệt mạng vì mưa, lũ. Báo Lao động lại xác định: "theo thống kê sơ bộ, tính đến 5 giờ sáng 2-11, mưa lũ đã làm 49 người chết, gây thiệt hại hàng chục nghìn tỷ đồng. Đáng lo ngại là nhiều tuyến đê tại Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Hà Nam đang bị hư hỏng nặng, một số nơi đã bị vỡ." Nghệ An: Ít nhất có 12 người đã thiệt mạng ở Nghệ An, tỉnh bị thiệt hại nặng nề, trong đó, theo hãng tin AP từ Hà Nội, có 4 nạn nhân là trẻ em bị lũ cuốn đi trên đường từ trường học về nhà. Hà Tĩnh: Thống kê có thấy có 17 trường hợp thiệt mạng, khi lũ lụt tấn công hơn 42.000 ngôi nhà. Đến 2/11, khoảng 50.000 người sơ tán ở tỉnh Hà Tĩnh vì bão lụt đã trở lại nhà. Các tỉnh thành khác: mưa lụt còn gây chết người tại các tỉnh Hòa Bình, Vĩnh Phúc, Quảng Bình và Quảng Ngãi. Riêng tại Quảng Bình và Quảng Ngãi, giới chức thống kê được 4 trường hợp thiệt mạng. Số người thiệt mạng ở các tỉnh khác là: Hòa Bình 2, Bắc Giang 3, Ninh Bình 1, Vĩnh Phúc 1, Thái Nguyên 2, Quảng Bình 1, Phú Thọ 1. == Đối diện với lũ lớn và nguy cơ vỡ đê == Ngay khi trong nội thành Hà Nội còn nhiều điểm ngập lụt trên 1 mét, người Hà Nội đã bắt đầu phải đối mặt với khả năng vỡ đê. Từ chiều 4 tháng 11, tin đồn về việc Hà Nội phải di dân đã lan rộng. Tuy nhiên, một quan chức của UBND TP Hà Nội, ông Nguyễn Thịnh Thành, Chánh văn phòng UBND vẫn khẳng định: "Toàn bộ đê xung quanh Hà Nội vẫn an toàn. Không có chủ trương xả lũ tại bất cứ địa phương nào". Chỉ một ngày sau đó, ngày 5 tháng 11 năm 2008, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương cho biết, mưa sẽ bắt đầu từ phía Tây Bắc Bộ và vùng núi phía bắc, sau đó đến đồng bằng trung du Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ. Lượng mưa sẽ dao động 50–200 mm. Theo dự báo, từ khoảng tối ngày 6 tháng 11 đến 8 tháng 11, Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ có mưa to. Lập tức, Phó chủ tịch UBND Hà Nội, ông Trịnh Duy Hùng cho biết: "nếu lượng mưa 200 mm thủ đô sẽ khó giữ được đê". Cùng ngày, ông Nguyễn Thế Thảo, Chủ tịch UBND TP Hà Nội, với gương mặt u sầu đã công khai xuất hiện trên mặt báo, thừa nhận nhiều dữ kiện về nguy cơ vỡ đê của Hà Nội. Có tin được xác tín là "3 ngày nay, lãnh đạo thành phố Hà Nội liên tục đề nghị tỉnh Hà Nam hút bớt nước sông Nhuệ. Và ông Phó giám đốc Sở Nông nghiệp tỉnh Hà Nam cho biết, Hà Nam đang "hy sinh" cho thủ đô." == Nguyên nhân mưa và ngập lụt == === Mưa: nguyên nhân từ thiên tai === Mưa rất lớn trên diện rộng (vào cuối tháng 10 thời gian ít mưa, mưa nhỏ vì cuối thu sang đông), lại chỉ do hội tụ của gió đông nam thuần tuý là hiện tượng khá phổ biến tại miền Bắc Việt Nam. Trong quá khứ cũng đã từng xảy ra các trận mưa lớn như vậy, nhưng ngoài gió đông nam ra còn phải kết hợp với bão hoặc áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Bắc Trung bộ (như năm 1984 và 2007). === Lụt: nguyên nhân là nhân tai === Đợt mưa lớn này được dự báo mở đầu cho không khí lạnh tràn về miền Bắc, Bắc Trung bộ và Hà Nội. Đây được xác định là thiên tai và không dự báo, điều khiển được. Tuy nhiên, trong khi lãnh đạo Hà Nội nhìn thấy vấn đề là do thiên tai và dân ỷ lại thì một số chuyên gia uy tín trong ngành nhìn thấy đây là vấn đề "nhân tai" là chính. Ông Nguyễn Văn Hùng, Hiệu trưởng Trường Đại học Xây dựng Hà Nội cho rằng "quy hoạch của Hà Nội đang thiếu hẳn tầm nhìn, làm theo kiểu "rách đâu vá đấy". Vỉa hè, lòng đường đều bị bê tông hóa, các hồ điều hòa bị thu hẹp" và "Tôi tin rằng các chuyên gia thủy lợi đã cảnh báo rồi nhưng có lẽ tầm nhìn, sự tiếp nhận, khả năng giải quyết... ở lãnh đạo Hà Nội thì chưa có, hoặc là nhiều khi chỉ nhìn gần mà không nhìn xa nên đã dẫn đến tình trạng như bây giờ." Các nguyên nhân cụ thể được nhìn nhận là: Tầm nhìn, trình độ, sự tiếp nhận, khả năng giải quyết... của lãnh đạo Hà Nội còn kém. Quy hoạch Hà Nội kém, có tính đối phó, làm theo kiểu "rách đâu vá đấy". Vỉa hè, lòng đường đều bị bê tông hóa quá nhiều, khắp nơi chỉ thấy nhà, không thấy đường, không thấy diện tích công. Các hồ điều hòa bị lấp rất nhiều, thu hẹp diện tích nên sức chứa nước giảm mạnh trong nhiều năm qua. Nguyên do là để xây nhà. Hệ thống thoát nước không được đầu tư trong nhiều năm. Cách quản lý đô thị kém cỏi, lạc hậu, mang dáng dấp của một tỉnh lẻ. Hà Nội ở trong tình trạng như trận lụt này, chắc chắn do hậu quả của nhiều đời lãnh đạo tiền nhiệm của ông Nguyễn Thế Thảo, đương kim Chủ tịch Thành phố; song các chỉ trích hiện đang có hướng nhằm vào ông này. == Trận mưa bất thường == Trận mưa này được các chuyên gia thống nhất nhận định là "rất bất thường". Trong một bài trả lời phỏng vấn trên báo điện tử VnExpress ngày 3/11/2008, bà Nguyễn Lan Châu, Phó giám đốc Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương đánh giá, trận mưa từ đêm 30/10 ở Hà Nội và các tỉnh miền Bắc là hiện tượng "bất thường nhất được ghi nhận. Sự bất thường thể hiện ở cả thời điểm, cường độ, phạm vi và hậu quả của mưa lũ" và "Theo quy luật, thường đến giữa tháng 10 là kết thúc mùa mưa lũ ở miền Bắc. Nhưng năm nay đến cuối tháng 10 lại có đợt mưa lớn, gây ngập úng và lũ lớn ở khắp các tỉnh miền Bắc. Đó là trận mưa lũ muộn hiếm thấy trong lịch sử. Nguyên nhân có thể là biến đổi khí tượng toàn cầu, trong đó Việt Nam chịu ảnh hưởng", bà Châu nói.. Thống nhất với nhận định của bà Châu, dựa trên số liệu của trận mưa và cũng so sánh với một loạt kết quả còn lưu trữ được, một chuyên gia cao cấp khác trong ngành là ông Bùi Minh Tăng, Giám đốc trung tâm này cho hay "mưa rất lớn trên diện rộng vào cuối tháng 10, lại chỉ do hội tụ của gió đông nam thuần tuý là hiện tượng rất bất thường. Trong quá khứ cũng đã từng xảy ra các trận mưa lớn như vậy, nhưng ngoài gió đông nam ra còn phải kết hợp với bão hoặc áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào Bắc Trung Bộ (như năm 1984 và 2007)". Một trong những hiện tượng thời tiết hiếm hoi đã diễn ra trong nhiều ngày trước và trong mưa ở Hà Nội là cả thành phố bị bao phủ bởi những tầng mây thấp, xuống đến tận đường phố thành sương mù. Những ngày sau đó, có mây mù bao phủ, hạn chế tầm nhìn xa và đó cũng là một bất thường của thời tiết những ngày đầu đông 2008. == Diễn biến của trận mưa lịch sử == Đêm thứ Năm, 30 tháng 10 năm 2008: Mưa rải rác trong đêm và có lúc có mưa lớn. Ngày thứ Sáu, 31 tháng 10 năm 2008: Trong buổi sáng nhiều khu vực đã ngập khá nặng. Trời tiếp tục mưa lớn và mưa liên tiếp cộng với gió lớn thổi mạnh. Nhiều người không thể đến công sở. Theo Công ty Thoát nước Hà Nội mưa lớn bắt đầu từ 1h30 sáng. Tổng lượng mưa đo được là: đường Láng 155,6mm; Hà Đông: 330 mm; nội thành: 58 mm. Mưa tập trung tại khu vực quận Cầu Giấy, Thanh Xuân, Đống Đa, Hoàng Mai và phía nam quận Ba Đình. Mực nước các sông hồ dâng lên nhanh từ 1,5 đến 2 m so với mức nước ban đầu. Ngày thứ Bảy, 1 tháng 11 năm 2008: Mưa nhiều liên tục và có những trận mưa rất nặng hạt, trắng xóa trời đất. Mọi người tiếp tục phải nghỉ làm. Bắt đầu thấy Bí thư Thành ủy Hà Nội, ông Phạm Quang Nghị đi thị sát, cho biết: "Sáng hôm qua (1/11), thành phố họp tổng kết vấn đề tôn giáo, chiều tôi đi ô tô kiểm tra các điểm ngập lụt trong nội thành, hôm nay đi ra ngoại thành. Từ chiều qua lãnh đạo thành phố đều đi kiểm tra hết" và thấy "tôi thấy nhân dân ta bây giờ so với ngày xưa ỷ lại Nhà nước lắm. Cứ chờ trên về, chờ cung cấp cái này, hỗ trợ cái kia chứ không đem hết sức ra tự làm". Sáng Chủ nhật, 2 tháng 11 năm 2008: Trời ngớt mưa và hửng nắng một chút rồi lại tiếp tục mưa vào buổi trưa. Có dự báo sẽ mưa ít nhất 2 ngày nữa. Cũng trong ngày này gió mùa đông bắc về, thổi mạnh và đem theo hơi lạnh làm nhiệt độ từ trên 30 độ C giảm xuống còn trên 20 độ C. Nước trên các triền sông phía Bắc và Bắc Trung bộ lên cao đến mức báo động số 3. Nhiều nơi bắt đầu đe dọa bị vỡ đê. Ngày thứ Hai, 3 tháng 11 năm 2008: Mưa rải rác song chưa dứt vào buổi sáng, đến chiều trời trong hơn. Chủ tịch UBND TP Hà Nội tổ chức họp báo. Bắt đầu thấy Thủ tướng khẳng định không để dân đói. Còn 63 điểm ngập úng và mực nước ngập mới giảm được 4 cm!. Mực nước sông Nhuệ lên trên báo động 3, ngấp nghé tràn bờ. Đê sông Hồng xuất hiện 13 điểm sạt lở, có đoạn dài tới 100 m. nước sông đã cao hơn đập Thịnh Liệt 7 cm. Đê tả sông Nhuệ đang đối mặt với nguy cơ vỡ. Lãnh đạo Hà Nội chỉ đạo, đặt nhiệm vụ hộ đê lên hàng đầu. Bộ trưởng Nông nghiệp Cao Đức Phát bày tỏ quan điểm: "Hà Nội chậm chạp trong giúp dân" và nói thêm: ""Đáng lẽ Hà Nội phải đưa xe cao cầu ra chỗ ngập lụt, chở người dân hoặc xe cứu thương cần đi qua. Vừa qua, nếu ai đó chẳng may nhồi máu cơ tim, chắc là chết" Ngày thứ Ba, 4 tháng 11 năm 2008: Nửa đêm về sáng mưa nhiều và vào lúc gần sáng mưa rất to. Nước lại dâng lên tại các điểm úng ngập. Mọi người đi làm phải mặc áo mưa, lội nước và dầm mình trong cái rét đầu mùa để đến công sở. Từ 9h sáng trở đi đã hết mưa, nước bắt đầu rút rõ ràng từng giờ. Trời tạnh, song có tin xấu là nước dâng cao và có nguy cơ vỡ đê. Dự báo, trong 3 ngày tới, miền Bắc tiếp tục mưa. Như vậy, điều này đồng nghĩa với việc nước trên các sông tiếp tục đổ về Hà Nội. Mực nước sông Hồng đang lên nhanh. Con số thiệt hại do mưa lũ tiếp tục gia tăng, với 75 người chết và 5 người mất tích. Tại các tỉnh Bắc Trung Bộ, Nghệ An có nhiều người thiệt mạng nhất với 22, tiếp theo là Hà Tĩnh 15 người. Ngày thứ Tư, 5 tháng 11 năm 2008: 10.318 hộ dân đã được di dời khỏi khu vực ngập. Mạng lưới đê điều của Hà Nội vẫn đang bị sạt lở nghiêm trọng. Chủ tịch UBND TP Hà Nội đề nghị quân đội ứng trực, sẵn sàng hỗ trợ khi nguy cấp do có tin sắp mưa lớn tiếp và đê Hà Nội khó trụ vững nếu lại mưa lớn. Có nhiều khu vực đông dân cư vẫn bị ngập nặng như Tân Mai, Linh Đàm, Định Công, Nam Đồng. Mực nước sông Hồng tiếp tục lên nhanh. Trong khi đó, mực nước các sông lân cận như sông Cầu, sông Nhuệ, sông Cà Lồ đang xuống chậm, sông Nhuệ chỉ giảm được 50 cm so với đỉnh lũ. 5 trong số 7 hồ chứa lớn của Hà Nội có mức nước vượt ngưỡng tràn từ 10 cm trở lên. Đến hết ngày 4 tháng 11 năm 2008, con số thiệt hại về người và tài sản do mưa ngập trên địa bàn Hà Nội vẫn không ngừng tăng lên. Hiện đã có 22 người chết (4 người ở nội thành), hơn 78.000 hộ dân bị ngập, gần 10.300 hộ phải di dời. Diện tích lúa, rau, cây hoa màu bị ngập lên tới gần 60.000 ha. Báo Lao động đưa ra nguồn tin mới, trong đó cho hay có tới 90 điểm ngập úng trong nội thành Hà Nội, và đến 4 tháng 11 mới giảm xuống còn 44 điểm. Ngày thứ Năm, 6 tháng 11 năm 2008: Nắng to, trời quang, mây tạnh. Nước đã rút ở hầu hết các nơi, song vẫn có bài viết về chuyện chèo xuồng đến công sở, cho hay: "6 ngày sau trận mưa lịch sử trút xuống Hà Nội, toàn bộ khu vực Giáp Bát ngập sâu trong nước. Phương tiện được coi là an toàn nhất đưa nhân viên Trung tâm Thông tin Di động VMS - MobiFone khu vực I có trụ sở tại đây là xe thồ ngựa kéo, thuyền hoặc bè tự tạo. Nhiều công việc kinh doanh tiếp tục bị đình trệ vì cơn mưa lịch sử. Nguy cơ mưa to vẫn treo lơ lửng trên đầu. Nếu tối 4/11 mưa thêm 100 mm, Hà Nội sẽ có thêm chừng 8 triệu m3 nước và nhiều khu vực sẽ ngập trở lại. Ngày thứ Sáu, 7 tháng 11 năm 2008: Đêm gần sáng có một trận mưa to, song kết rất nhanh và cả Hà Nội thở phào vì mưa lớn đã qua và nguy cơ vỡ đê không còn. Một chuyện hiếm có và đang ghi nhận như một trong những hành vi dũng cảm và văn minh nhất có thể có là "Bí thư Hà Nội xin lỗi người dân" vì đã lỡ lời trong một cuộc phỏng vấn trước đó và cho là dân "ỷ lại". Sự kiện mưa, lũ và lụt lớn ở miền Bắc, Bắc Trung bộ, đặc biệt Hà Nội, kết thúc ở đây. == Các kỷ lục ghi nhận == Tổng lượng mưa ở khu vực Hà Nội: phổ biến từ 350 – 550 mm, vượt xa mức kỉ lục mưa 1984 (394 mm). Mưa nặng nhất là các huyện Ứng Hòa: 603 mm, TP Hà Đông: 707 mm, huyện Thanh Oai: 914 mm. Số điểm úng ngập: 63 điểm úng ngập, ít nhất 23 điểm bị ngập úng dài từ 100 - 300 mét, ngập sâu. Đường phố ngập sâu: 63 điểm ngập úng này đều sâu, có ít nhất gần 30 điểm sâu trên dưới 1 mét nước. == Hình ảnh == == Xem thêm: các tư liệu liên quan == == Xem thêm: hình ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Chuyên đề: Toàn cảnh Hà Nội trong trận "đại hồng thuỷ" trên Vietnamnet Vỡ đập, Ninh Bình chìm trong biển nước
bách khoa toàn thư.txt
Bách khoa toàn thư là bộ sách tra cứu về nhiều lĩnh vực kiến thức nhân loại. Bách khoa toàn thư là bộ sách tra cứu kiến thức tổng quát trên nhiều lĩnh vực kiến thức khác nhau (ví dụ bộ Encyclopædia Britannica bằng tiếng Anh và bộ Brockhaus bằng tiếng Đức là những bộ khá nổi tiếng), hoặc có thể là bộ sách tra cứu chuyên sâu về một lĩnh vực nào đó (ví dụ như bách khoa toàn thư về y học, triết học, hoặc luật). Cũng có những bộ bách khoa toàn thư đề cập đến nhiều chủ đề khác nhau trên một góc độ văn hóa, sắc tộc, hay quốc gia nhất định, ví dụ như bộ Đại Bách khoa thư Xô Viết hoặc bộ Bách khoa thư Do thái giáo. Tên gọi của bách khoa toàn thư trong tiếng Anh "encyclopedia" bắt nguồn từ từ tiếng Hy Lạp cổ εγκύκλιος (có nghĩa là "phổ biến rộng rãi") và παιδεία (có nghĩa là "giáo dục"), hàm nghĩa là "kiến thức phổ thông/đại chúng" Có hai phương pháp chính xây dựng bách khoa toàn thư: phương pháp trong đó các mục từ được sắp xếp theo thứ tự trong bảng chữ cái, hoặc phương pháp theo thể loại chủ đề có phân bậc. Phương pháp đầu là phổ biến nhất, đặc biệt đối với những bộ trình bày kiến thức phổ thông. == Những công trình bách khoa thư đầu tiên == Ý tưởng tập hợp mọi kiến thức của thế giới vào trong tầm tay tại một nơi nhất định có từ thời Thư viện Alexandria và Pergamon cổ đại. Nhiều tác giả thời cổ đại (như Aristotle) đã cố gắng tập hợp lại toàn bộ kiến thức của nhân loại. Một trong những soạn giả bách khoa thư cổ đáng chú ý nhất là Pliny già (thế kỷ thứ nhất Công nguyên) đã viết bộ Naturalis historia (Lịch sử tự nhiên), gồm 37 tập về thế giới tự nhiên và trở nên cực kỳ phổ biến ở Tây Âu trong suốt thời kỳ Trung cổ. Hoàng đế Trung Quốc Thành Tổ nhà Minh đã trực tiếp trông coi việc biên soạn bộ Vĩnh Lạc đại điển (永樂大典), là một trong những bộ bách khoa thư lớn nhất trong lịch sử, được hoàn thành vào năm 1408 và bao gồm hơn 11.000 tập viết tay, trong số đó chỉ có 400 tập còn tồn tại đến ngày nay. Trong triều đại tiếp theo, hoàng đế Trung Quốc Càn Long nhà Thanh đã sáng tác 40.000 bài thơ rồi đưa vào trong một thư viện 4 khu với 4,7 triệu trang viết cùng với hàng ngàn bài luận. Bộ Tứ khố toàn thư (四庫全書) có thể sánh với bách khoa thư kiểu phương Tây. Việc biên soạn kiến thức Hồi giáo thời kỳ đầu vào thời Trung cổ đã tạo ra nhiều công trình toàn diện, và có một số đóng góp mà ngày nay chúng ta gọi là phương pháp khoa học, phương pháp lịch sử và phương pháp trích dẫn. Những công trình đáng kể bao gồm bách khoa thư khoa học của Abu Bakr al-Razi, bộ Mutazilite gồm 270 quyển rất phong phú về nội dung của Al-Kindi, và bách khoa thư y học của Ibn Sina là một công trình tham khảo có giá trị hàng thế kỷ. Cũng phải kể tới các tác phẩm về lịch sử vạn vật (hay còn gọi là xã hội học) của Asharites, al-Tabri, al-Masudi, Ibn Rustah, al-Athir và Ibn Khaldun, trong đó bộ Muqadimmah đề cao nguyên tắc mà ngày nay hoàn toàn tiếp tục được áp dụng, đó là phải luôn luôn thận trọng kiểm chứng mọi kết luận trong các bài viết. Những học giả này có một ảnh hưởng đáng kể đối với các phương pháp nghiên cứu và biên soạn, một phần do thông lệ isnad của Hồi giáo nhấn mạnh sự trung thực so với bài viết gốc, cũng như việc kiểm chứng nguồn tham khảo, và việc luôn đặt lại vấn đề khi nghiên cứu. == Bách khoa thư hiện đại == Ý tưởng hiện đại về việc xây dựng các bộ bách khoa thư dưới dạng in, đa dụng và phân phối rộng rãi xuất hiện ngay trước thời Denis Diderot và các soạn giả bách khoa thư thế kỷ thứ 18. Mặc dù John Harris được coi là người đã định khổ sách mà ngày nay đã trở nên phổ biến cho bách khoa thư từ năm 1704 với bộ Lexicon technicum, thực tế ngay từ năm 1646, thầy thuốc và triết gia người Anh Thomas Browne đã đặc biệt dùng từ encyclopaedia trong lời tựa cho tác phẩm của mình là Pseudodoxia Epidemica hay Vulgar Errors (Các lỗi thông thường). Browne đã cấu trúc bách khoa thư của mình dựa trên lược đồ có tiếng một thời của thời kỳ Phục hưng, lược đồ này gọi nôm na là 'nấc sáng tạo' tức là theo như kiểu leo bậc thang từ thế giới khoáng vật đến thế giới thực vật, động vật, con người, hành tinh và cuối cùng là thế giới vũ trụ. Bộ sách tập hợp những lỗi thông thường vào thời đó được Browne liệt kê đã trở thành bách khoa thư gia đình phổ biến đầu tiên ở Anh. Sự phổ biến của nó được khẳng định thông qua việc nó được tái bản ít nhất là năm lần, mỗi lần đều có sửa chữa và bổ sung, lần xuất bản cuối cùng là vào năm 1672. Pseudodoxia Epidemica cũng xuất hiện trong tủ sách của nhiều học giả châu Âu trong suốt cuối thế kỷ 17 và đầu thế kỷ 18. Nó được dịch sang tiếng Pháp, tiếng Hà Lan và tiếng Đức cũng như tiếng La tinh. Vì vậy nó được coi là những cuốn sách hữu dung nhất cho người đọc. Ephraim Chambers xuất bản tác phẩm Cyclopaedia vào năm 1723. Bản dịch tiếng Pháp của nó trở thành nguồn cảm hứng cho việc ra đời bộ Encyclopédie, có lẽ là bách khoa thư sớm đạt được thành công nhất, do Jean le Rond d'Alembert và Denis Diderot biên soạn và hoàn thành vào năm 1772 bao gồm 28 tập, 71.818 đề mục, 2.885 hình minh họa. Bộ Encyclopædia Britannica nổi tiếng xuất hiện một cách khiêm tốn lúc ban đầu ở Scotland: từ năm 1768 đến 1797 chỉ có ba ấn bản. Những năm đầu của thế kỷ 19 chứng kiến sự thăng hoa của các bách khoa thư xuất bản ở Anh, châu Âu và Mỹ. Ở Anh bộ Rees's Cyclopaedia (1802–1819) chứa đựng một lượng thông tin khổng lồ về những cuộc cách mạng khoa học và công nghiệp thời kỳ đó. Điểm nổi bật của những ấn bản này là những hình minh họa chất lượng cao do những nhà chạm khắc như Wilson Lowry tạo ra, và các hình nghệ thuật do những chuyên gia như John Farey, Jr. phác họa. Nhiều bộ bách khoa thư xuất bản ở Scotland, là kết quả của thời kỳ Khai sáng Scotland, do nền giáo dục ở đây có chất lượng trung bình cao hơn hẳn những vùng còn lại ở Anh. Encyclopædia Britannica xuất hiện dưới nhiều ấn bản xuyên suốt thế kỷ, cùng với sự phát triển của giáo dục đại chúng và các học viện Mechanics Institutes ở Anh, Hiệp hội phổ biến kiến thức hữu dụng tiên phong cho ra đời các Penny Cyclopaedia (Bách khoa ba xu), tên này có nghĩa là các số được phát hành hằng tuần và với giá rẻ như báo chí thông thường. Vào thế kỷ thứ 20, Encyclopædia Britannica đạt đến lần tái bản thứ mười lăm, và những bách khoa thư giá rẻ như Bách khoa thư Harmsworth và Everyman's Encyclopaedia (Bách khoa thư cho mọi người) trở nên phổ biến. Gần đây có nhiều bách khoa thư cũng được xuất bản trực tuyến. Bách khoa thư truyền thống thường được soạn bởi các soạn giả có trình độ hàn lâm. Tuy nhiên với Wikipedia thì lại khác, dự án này bắt đầu từ năm 2001 với mục đích là tạo ra một bách khoa thư mở đối với tất cả mọi người. Bất kỳ ai cũng đều có thể sửa chữa, bổ sung văn bản, hình ảnh và âm thanh trên đó. Nội dung của nó tuân theo giấy phép bản quyền công cộng (copyleft) tự do (GFDL). Đến năm 2004 dự án đã có tổng cộng hơn một triệu mục từ với hơn 80 ngôn ngữ khác nhau. == Việc biên soạn bách khoa thư == Cấu trúc phân cấp và bản chất luôn thay đổi của bách khoa thư đặc biệt thích hợp khi lưu trữ trên đĩa máy tính hoặc trực tuyến, và đến cuối thế kỷ thứ 20 phần lớn những bách khoa thư quan trọng đều chuyển sang những phương pháp lưu trữ này. Việc xuất bản trên đĩa (tiêu biểu là đĩa CD-ROM) có lợi thế là chi phí sản xuất rẻ và rất tiện mang đi lại. Ngoài ra, chúng có thể chứa đựng các phương tiện không thể có được trên bản in như hoạt hình, âm thanh, và video. Siêu liên kết giữa các mục có liên quan về mặt nội dung cũng là một lợi thế nữa. Các bách khoa thư trực tuyến có lợi thế ở điểm năng động: các thông tin mới cho vào có thể được xem ngay tức thì, mà không phải chờ đến khi ra ấn bản tĩnh (trong trường hợp in trên giấy hoặc đĩa). Thông tin trên một bách khoa thư in cần có một cấu trúc phân cấp nào đó, và thông thường thì các đề mục được sắp xếp theo thứ tự trong bảng chữ cái. Tuy nhiên với định dạng lưu trữ điện tử động, việc áp đặt một cấu trúc định sẵn là hoàn toàn không cần thiết. Thay vào đó, hầu hết các bách khoa thư điện tử cho phép sắp xếp các đề mục bằng nhiều cách khác nhau, kể cả theo chủ đề lẫn theo thứ tự trong bảng chữ cái. == Danh sách các bách khoa thư == === Những bách khoa thư và soạn giả có tiếng trước năm 1700 === Lịch sử tự nhiên của Pliny, 77. Rất có ảnh hưởng vào thời Trung cổ. Institutiones của Cassiodorus, 560. Bách khoa thư Cơ đốc giáo đầu tiên. Etymologiae của thánh Isidore of Seville, 636. Bách khoa thư Cơ đốc giáo, có ảnh hưởng nhất đầu thời kỳ Trung cổ. Adab al-kātib (Sách kiến thức) của Ibn Qutayba (828-889). Công trình Ả Rập sớm nhất được coi là bách khoa thư. Bibliotheke của Patriarch Photios (thế kỷ thứ 9). Công trình La Mã phương Đông (Byzantine) sớm nhất được gọi là bách khoa thư. Hrabanus Maurus, 842. De rerum naturis (Về bản chất sự vật). Xuất phát từ công trình của Isidore. Suda (thế kỷ thứ 10). Bartholomeus de Glanvilla, De proprietatibus rerum, 1240. Bách khoa thư được đọc và trích dẫn nhiều nhất vào cuối thời Trung cổ. Vincent de Beauvais, Speculum Majus, 1260. Bách khoa thư tham vọng nhất vào cuối thời Trung cổ với 3 triệu từ mục. Vĩnh Lạc đại điển (1403-1408). Bách khoa thư sớm nhất của Trung quốc. Theodor Zwinger (1533-1588), Theatrum Vitae Humanae, 1588. Louis Moréri The Great Historical Dictionary, 1671. Pierre Bayle Historical and Critical Dictionary, 1695. Vincenzo Coronelli xuất bản Biblioteca Universale Sacro-Profana vào đầu thế kỷ thứ 18, bách khoa toàn thư đầu tiên theo phương pháp sắp theo thứ tự trong bảng chữ cái. John Henry Alsted John Jacob Hoffman === Những bách khoa thư xuất bản từ năm 1700-1800 === Lexicon technicum (1704) Cyclopaedia, or Universal Dictionary of Arts and Sciences (1723 và các ấn bản sau; thường được gọi là Chambers's Cyclopaedia) An Universal History of Arts and Sciences (1745) Encyclopædia Britannica (1771, ấn bản lần thứ 2 và 3 năm 1800) Encyclopædia Perthensis (1796-1806, ấn bản lần thứ 2 năm1816) ==== Bách khoa toàn thư tiếng Pháp ==== Encyclopédie (1751–1772) Encyclopédie Méthodique (Bách khoa thư có phương pháp) Grand dictionnaire universel du XIXme siècle (Đại từ điển phổ thông thế kỷ 19) của Pierre Larousse Nouveau Petit Larousse Illustre của Claude Auge ==== Bách khoa thư tiếng Đức ==== Grosses vollständiges Universal-Lexicon (1751-1754) Conversations Lexikon mit vorzüglicher Rücksicht auf die gegenwärtigen Zeiten (1796-1808; xem Brockhaus) === Những bách khoa thư được xuất bản từ năm 1800-1900 === Rees's Cyclopaedia (1802-1819) Encyclopædia Britannica (ấn bản lần 4-9 đến năm 1900) Edinburgh Encyclopaedia (1808) British Encyclopaedia (1809) Encyclopaedia Londinensis (1810) Pantologia (1813) Encyclopaedia Metropolitana (1817-1845) Penny Cyclopaedia (1833-1846) English Encyclopaedia (1854-1862, phụ lục 1869-1873) Chambers's Encyclopaedia (1860-1868; không liên hệ gì với Chambers's Cyclopaedia thế kỷ 18) ==== Những bách khoa thư đặc biệt ==== Engineer's and Mechanic's Encyclopaedia (1836/1837 ấn bản lần 2: 1849; thường được gọi là Bách khoa thư Hebert) Cyclopaedia of Useful Arts and Manufactures (1852; thường được gọi là Bách khoa thư Tomlinson) A Dictionary of Greek and Roman Antiquities (1842) ==== Bách khoa thư của Mỹ ==== New American Encyclopaedia (1858-1863 phụ lục hằng năm đến năm 1902) American Encyclopaededia (1873-1876) New Universal Encyclopaedia (1875-1877) Johnson's Universal Encyclopaedia (1893-1895) Encyclopedia Americana (1839-1847) International Encyclopaedia (1884-1898) ==== Bách khoa thư tiếng Đức ==== Ökonomische Encyklopädie (Hệ thống tổng quan tiểu bang, thành phố, nhà cửa và nông nghiệp) Biên tập viên D. Johann Georg Krünitz (242 tập 1773-1858) Brockhaus (xuất bản lần 1-14 đến năm 1900) Pierers Universal-Lexikon (1824-1836; xuất bản lần 7: 1888-1893) Meyers Konversations-Lexikon (1839-1855; xuất bản lần 5: 1893-1897) Herders Konversations-Lexikon (1854-1857; xuất bản lần 2: 1875-1879) === Những bách khoa thư được xuất bản từ năm 1900-2000 === Encyclopædia Britannica (xuất bản lần 10-16 đến năm 2000) Harmsworth's Encyclopaedia (1905; được biết đến ở Mỹ với tên Nelson's Encyclopaedia) Everyman Encyclopaedia (khoảng 1910) The Children's Encyclopedia (1911) The World Book Encyclopedia (1917) Encyclopedia International (1963) Encarta (1993; lấy nội dung từ Funk and Wagnalls) Encyclopedia of Life Support Systems Funk and Wagnalls (1912-2001?) ==== Bách khoa thư tiếng Anh Mỹ ==== New International Encyclopaedia (1902) Collier's Encyclopedia (1951-1952) The Nuttall Encyclopaedia ==== Bách khoa thư tiếng Đức ==== Meyers Konversations-Lexikon 4.ed. 1885-1892 Brockhaus (xuất bản lần thứ 15-20 đến năm 2000) Meyers Konversations-Lexikon (xuất bản lần thứ 6: 1902-1908; lần thứ 9 (cuối cùng): 1971-1979) Herders Konversations-Lexikon (xuất bản lần thứ 3: 1902-1907; lần thứ 5: 1952-1956) ==== Bách khoa thư tiếng Nga ==== Đại Bách khoa toàn thư Xô viết (Большая советская энциклопедия) (xuất bản lần thứ nhất: 1926-1933), lần thứ 3 (cuối cùng): 1969-1978) ==== Bách khoa thư tôn giáo ==== Jewish Encyclopedia (Bách khoa thư Do thái giáo) (1901-1906) Encyclopedia Judaica (Bách khoa thư Do thái giáo) Catholic Encyclopedia (Bách khoa thư Thiên chúa giáo) (1913) Schaff-Herzog Encyclopedia of Religious Knowledge (Bách khoa thư kiến thức tôn giáo Schaff-Herzog) (1914) Encyclopedia of Mormonism (Bách khoa thư Mormon giáo) (1992) Orthodox Encyclopedia (Bách khoa thư Chính thống giáo) (Serbe) === Những bách khoa thư được xuất bản từ năm 2000 trở đi === Wikipedia (2001 trở đi) Everything2 Open Site (2002 trở đi) Free Encyclopedia of Articles Sorted By Rank! ==== Bách khoa thư tiếng Tây Ban Nha ==== Gran Enciclopedia Planeta (2004, Tây Ban Nha) ==== Bách khoa thư tiếng Nga ==== Đại Bách khoa toàn thư Nga (Большая российская энциклопедия) (tập 1: 2004) ==== Trung Quốc đại bách khoa toàn thư ==== Trung Quốc đại bách khoa toàn thư gồm 80 quyển, mỗi quyển 1.200.000-1.500.000 chữ, phân quyển theo từng ngành khoa học, như "Triết học", "Luật học", "Lực học", "Toán học", "Vật lý học", "Hoá học", "Thiên văn học", vv. == Xem thêm == Từ điển Bách khoa thư Brown Soạn giả bách khoa Lịch sử khoa học và kỹ thuật Thư viện và khoa học về thông tin Danh sách các bách khoa toàn thư Văn học Từ điển học Công trình tham khảo == Tham khảo == Bằng tiếng Việt: Từ điển Bách khoa Việt Nam Bằng tiếng Anh: Robert Collison, Encyclopaedias: Their History Throughout the Ages, xuất bản lần 2 (New York, London: Hafner 1966) == Liên kết ngoài == Bách khoa toàn thư văn hóa Việt Nam Danh sách rất nhiều các liên kết đến các từ điển và bách khoa toàn thư (cập nhật lần cuối tháng 11 năm 1999) Sẽ đưa 4 tập Từ điển Bách khoa Việt Nam lên Internet Xuất bản Bách khoa toàn thư Britannica bằng tiếng Việt
vàng selenat.txt
Vàng selenat có công thức hoá học là Au2(SeO4)3. Tan được trong nước, trong dung dịch vàng selenat có màu vàng cam. Trong vàng selenat, ion vàng có số ôxi hóa là +3. == Tinh chất hoá học == Vàng có tính khử yếu nên dễ bị các kim loại khác đẩy ra khỏi dung dịch muối của nó như natri, canxi, nhôm, sắt,... Au2(SeO4)3 + 6Na → 2Au + 3Na2SeO4 2Au2(SeO4)3 + 3Ca → 6Au + 3CaSeO4 Au2(SeO4)3 + Al → 2Au + Al2(SeO4)3 Au2(SeO4)3 + 3Fe → 2Au + 3FeSeO4 Au2(SeO4)3 + 2Fe → 2Au + Fe2(SeO4)3 Vàng selenat cũng phản ứng được với axit oxalic và axit axetic tạo thành vàng oxalat và vàng axetat: Au2(SeO4)3 + 3C2H2O4 → Au2C2O4 + 3H2SeO4 Au2(SeO4)3 + 6CH3COOH → 2(CH3COO)3Au + 3H2SeO4 == Điều chế == Vàng selenat được điều chế bằng cách cho axit selenic đậm đặc nóng hoà tan với vàng, tạo thành dung dịch màu vàng cam: 2Au + 6H2SeO4 → Au2(SeO4)3 + 3H2SeO3 + 3H2O == Tham khảo ==
1066.txt
Năm 1066 trong lịch Julius. == Sự kiện == Trận Hastings == Sinh == == Mất == Harold Godwinson == Tham khảo ==
windows server 2012.txt
Windows Server 2012, tên mã là "Windows Server 8", là phiên bản phát hành thứ sáu của Windows Server. Nó là phiên bản Windows 8 dành cho máy chủ và là phiên bản tiếp theo của Windows Server 2008 R2. Hai phiên bản tiền phát hành, một bản xem trước cho nhà phát triển và một phiên bản beta, đã được phát hành trong quá trình phát triển. Phiên bản chính thức được phát hành rộng rãi cho các khách hàng bắt đầu từ ngày 4 tháng 9 năm 2012. Không giống phiên bản trước, Windows Server 2012 không hỗ trợ cho các máy tính nền tảng Itanium, và có bốn phiên bản. Nhiều tính năng đã được thêm hoặc cải thiện so với Windows Server 2008 R2 (nhiều tính năng tập trung vào điện toán đám mây), như phiên bản mới cập nhật của Hyper-V, chức năng quản lý địa chỉ IP, một phiên bản mới của Windows Task Manager, và ReFS, hệ thống tập tin mới. Windows Server 2012 đã nhận được nhiều đánh giá tốt mặc dù có cùng giao diện người dùng Metro gây tranh cãi có trên Windows 8. Phiên bản kế tiếp của Windows Server 2012, có tên là Windows Server 2012 R2, được phát hành cùng với Windows 8.1 vào tháng 10 năm 2013. Một gói dịch vụ, trước đó dự định là bản cập nhật Windows Server 2012 R2 Update, được phát hành vào tháng 4 năm 2014. == Lịch sử == Windows Server 2012, có tên mã "Windows Server 8", là phiên bản phát hành thứ sáu của họ hệ điều hành Windows Server được phát triển đồng thời với Windows 8. Chỉ tới ngày 17 tháng 4 năm 2012, Microsoft mới thông báo tên sản phẩm chính thức sẽ là "Windows Server 2012". Microsoft giới thiệu Windows Server 2012 và bản xem trước cho nhà phát triển tại hội nghị BUILD 2011 vào ngày 9 tháng 9 năm 2011. Tuy nhiên, không giống Windows 8, phiên bản xem trước cho nhà phát triển của Windows Server 2012 chỉ dành cho những người đăng ký của MSDN. Nó bao gồm một giao diện đồ họa người dùng (GUI) dựa trên ngôn ngữ thiết kế Metro và Trình quản lý máy chủ mới, một ứng dụng đồ họa dùng để quản lý máy chủ. Vào 16 tháng 2 năm 2012, Microsoft phát hành một bản cập nhật cho bản xem trước để kéo dài ngày hết hạn từ 8 tháng 4 năm 2012 tới 15 tháng 1 năm 2013. Trước khi Windows Server 2012 được hoàn thiện, hai bản dựng thử nghiệm đã được phát hành công khai. Một phiên bản beta công khai của Windows Server 2012 đã được phát hành cùng với Windows 8 Consumer Preview vào ngày 29 tháng 2 năm 2012. Phiên bản Release Candidate (RC) của Windows Server 2012 được phát hành ngày 31 tháng 5 năm 2012, cùng với Windows 8 Release Preview. Windows Sever 2012 được phát hành cho nhà sản xuất vào 1 tháng 8 năm 2012 và được phát hành rộng rãi vào ngày 4 tháng 9 năm 2012. Tuy nhiên, không phải tất cả các phiên bản của Windows Server 2012 đều được phát hành cùng một thời điểm. Windows Server 2012 Essentials được phát hành cho nhà sản xuất vào 9 tháng 10 năm 2012 và được phát hành rộng rãi vào 1 tháng 11 năm 2012. Cho đến 23 tháng 9 năm 2012, tất cả các sinh viên đăng ký chương trình DreamSpark có thể tải về Windows Server 2012 Standard hoặc Datacenter miễn phí. == Các tính năng == Windows Server 8 bao gồm một số các tính năng thay đổi. === Giao diện người dùng === Quản lý Server (Server Manager) được thiết kế lại để nhấn mạnh việc dễ sử dụng cho nhiều máy chủ khác nhau. Trong hệ điều hành, giống Windows 8, sử dụng Modern UI khi không được cài đặt trong chế độ Lõi Server (Server Core). Windows PowerShell trong phiên bản này có 2300 commandlets, so với khoảng 200 trong Windows Server 2008 R2. Phiên bản cũng hỗ trợ lệnh tự động hoàn thành nhiệm vụ. === Quản lý tác vụ === Windows 8 và Windows Server 8 đều bao gồm phiên bản Windows Task Manager mới so với các phiên bản Windows trước đây. Ở phiên bản mới, các tab được ẩn mặc định, khi đang hiển thị các ứng dụng. Trong tab Process, các tiến trình được hiển thị trong các độ màu vàng khác nhau, các dạng sẫm màu thể hiện việc đang sử dụng nhiều nguồn tài nguyên máy. Windows Task Manager liệt kê tên ứng dụng, trạng thái ứng dụng và tổng dữ liệu tiện ích cho CPU, bộ nhớ, ổ cứng và các tài nguyên mạng, chuyển các thông tin tiến trình được tìm thấy trong phiên bản cũ sang tab Detail. Tab Performance được chia thành CPU, bộ nhớ (RAM), ổ cứng, ethernet và các phần mạng wireless với biểu đồ cho từng phần. Tab CPU không hiển thị theo từng đồ thị riêng cho từng tiến trình trên hệ thống theo mặc định; thay vì vậy, nó có thể hiển thị dữ liệu cho mỗi nút NUMA. Khi hiển thị dữ liệu cho mỗi tiến trình riêng rẽ cho từng máy với lớn hơn 64 tiến trình, tab CPU hiển thị phần trăm sử dụng một cách đơn giản trên các biểu đồ gạch nhiệt. Màu được dùng cho các biểu đồ gạch nhiệt là màu xanh, với xanh sẫm hơn để chỉ sử dụng nhiều. Di chuyển con trỏ chuột lên bất kỳ tiến trình đều hiển thị nút NUMA của các vi xử lý và chỉ số ID. Ngoài ra, tab Setup được thêm vào để liệt kê các chương trình chạy kèm theo lúc khởi động máy. Phiên bản mới nhận dạng một ứng dụng WinRT có trạng thái "Ngưng sử dụng". === Các tùy chọn cài đặt === Không giống các vi xử lý trước, Windows Server 8 có thể chuyển đổi giữa Server Core và GUI (đầy đủ) các tùy chọn cài đặt mà không cần một quá trình cài lại hệ thống. Cũng có tùy chọn cài đặt tại bên thứ 3 cho phép MMC và Server Manager hoạt động, nhưng thiếu Windows Explorer hoặc các phần khác của GUI shell. === Quản lý địa chỉ IP (IPAM) === Windows Server 8 có một vai trò IPAM dùng để khám phá, điều chỉnh, kiểm tra và quản lý không gian địa chỉ IP được sử dụng trên mạng chung. IPAM cung cấp các server quản trị và điều chỉnh dùng giao thức Cấu hình Host động (DHCP) và Dịch vụ tên miền (DNS). IPAM bao gồm các thành phần: Địa chỉ IP tự động cho việc khám phá hạ tầng: IPAM khám phá các điều khiển tên miền, máy chủ DHCP, và máy chủ DNS trong vùng tên miền lựa chọn. Có thể bật và tắt việc quản lý các server này bởi IPAM. Quản lý, báo cáo và hiển thị không gian địa chỉ IP tùy biến: Việc hiển thị các địa chỉ IP có tùy biến cao, truy vết chi tiết và tối ưu dữ liệu được có sẵn. Không gian địa chỉ IPv4 và IPv6 được tổ chức thành các khối địa chỉ IP, vùng địa chỉ IP, và các địa chỉ IP riêng. Địa chỉ IP được tích hợp hay vùng người dùng định nghĩa có thể dùng cho việc tổ chức không gian địa chỉ IP thành mô hình phân cấp, các nhóm lôgíc. Kiểm tra thay đổi cấu hình server và truy vết các địa chỉ IP được sử dụng: Các sự kiện hoạt động được hiển thị trên IPAM server và các máy chủ quản lý DHCP. IPAM cũng cho phép truy vết địa chỉ IP dùng các sự kiện DHCP và người dùng đăng nhập thu thập từ máy chủ chính sách mạng (NPS), các điều khiển tên miền và server DHCP. Việc truy vết có sẵn dành cho địa chỉ IP, chỉ số ID khách, tên máy chủ hay tên người dùng. Điều chỉnh và quản lý DHCP và các dịch vụ DNS: IPAM cho phép các dịch vụ tự động quản lý các server DHCP và DNS băng qua vùng. Vùng DNS ở trạng thái tốt được hiển thị, và chi tiết máy chủ DHCP và vùng quản lý có sẵn được sử dụng điều khiển dòng lệnh IPAM. Cả IPv4 và IPv6 đều được hỗ trợ. === Active Directory === Windows Server 8 có một số thay đổi trong Active Directory từ phiên bản ra đời với Windows Server 2008 R2. Dịch vụ cài tự động được thay thế bằng phần mới trong Server Manager, và Trung tâm Quản trị Active Directory được nâng cấp. === Hyper-V === Windows Server 8, cùng với Windows 8, chứa phiên bản Hyper-V mới, khi giới thiệu tại sự kiện Microsoft BUILD. Nhiều tính năng được thêm vào Hyper-V, bao gồm ảo hóa mạng, multi-tenancy, vùng tài nguyên lưu trữ, kết nối tiền đề chéo và lưu trữ đám mây. Thêm nữa, nhiều hạn chế trước đây trong việc tiêu thụ tài nguyên đã được nâng cấp. Mỗi máy ảo trong phiên bản Hyper-V mới có thể truy cập tới 32 tiến trình, dùng 512 gigabytes bộ nhớ ngẫu nhiên, và 16 terabytes dung lượng đĩa ảo mỗi ổ cứng ảo (dùng chuẩn mới.vhdx). Dùng 1024 máy ảo trên 1 host, và có thể là 4000 có thể kích hoạt trên mỗi failover cluster. Phiên bản Hyper-V đi kèm với phiên bản máy khách của Windows 8 cần tiến trình hỗ trợ SLAT và cho SLAT có thể được bật, trong phiên bản của Windows Server 8 chỉ cần nếu quyền RemoteFX được cài đặt. === ReFS === Resilient File System (ReFS), tên mã là "Protogon", là một hệ thống tập tin mới trong Windows Server 2012 ban đầu dành cho các máy chủ tập tin với các cải thiện so với NTFS. Các tính năng lớn mới của ReFS bao gồm: Cải thiện độ tin cậy cho các cấu trúc ổ đĩa ReFS sử dụng các cây B+ cho tất các các cấu trúc ổ đĩa bao gồm các dữ liệu metadata và dữ liệu tập tin. Các dữ liệu metadata và dữ liệu tập tin được sắp xếp vào các bảng tương tự như một cơ sở dữ liệu quan hệ. Dung lượng tập tin, số các tập tin trong một thư mục, tổng kích thước phân vùng và số các thư mục trong một ổ đĩa được giới hạn bởi các số 64-bit; chính vì vậy ReFS hỗ trợ tối đa một tập tin có kích thước là 16 Exabyte, tối đa 18.4 × 1018 thư mục và tối đa một phân vùng có kích thước 1 Yottabyte (với các cluster 64 KB) cho phép khả năng mở rộng lớn mà không có giới hạn thực tế nào trên kích thước tập tin và thư mục (vẫn áp dụng giới hạn phần cứng). Dung lượng trống sẽ được tính bởi một bộ cấp phát theo thứ bậc bao gồm ba bảng dành cho các khối lớn, trung và nhỏ. Các tên tập tin và đường dẫn tập tin đều bị giới hạn trong một chuỗi ký tự 32 KB Unicode. Tích hợp khả năng phục hồi Tương thích với các API và công nghệ hiện tại === IIS 8.0 === Windows Server 2012 đi kèm phiên bản 8.0 của Internet Information Services (IIS). Phiên bản mới đi kèm với nhiều tính năng như SNI, thông tin sử dụng CPU cho từng trang web cụ thể, quản lý tập trung chứng chỉ SSL, hỗ trợ WebSocket và cải thiện hỗ trợ NUMA, nhưng còn một vài thay đổi nhỏ nữa. === Phần cứng === Windows Server 2012 hỗ trợ các thông số phần cứng tối đa sau đây. Windows Server 2012 đã có những cải tiến so với phiên bản trước Windows Server 2008 R2: == Yêu cầu hệ thống == Windows Server 2012 chỉ chạy trên các vi xử lý x64. Không giống phiên bản trước, Windows Server 2012 không hỗ trợ Itanium. Việc nâng cấp từ các phiên bản Windows Server 2008 và Windows Server 2008 R2 ađược hỗ trợ, mặc dù các nâng cấp khác từ các phiên bản tiếp theo sẽ không được hỗ trợ. == Các phiên bản == Windows Server 2012 có bốn phiên bản: Foundation, Essentials, Standard và Datacenter. == Windows Server 2012 R2 == Windows Server 2012 R2 được phát hành vào ngày 18 tháng 10 năm 2013. Nó đã được giới thiệu vào ngày 3 tháng 6 năm 2013 tại TechEd Bắc Mỹ. Theo bảng dữ liệu của Windows Server 2012 R2 được xuất bản ngày 31 tháng 5 năm 2013, có bốn phiên bản của hệ điều hành này: Foundation, Essentials, Standard và Datacenter. Với Windows Server 2012, hai phiên bản Datacenter và Standard đều có tính năng giống nhau, chỉ khác nhau ở giấy phép. Phiên bản Essentials có cùng tính năng với các sản phẩm Datacenter và Standard, cùng với một vài giới hạn. Một bản cập nhật tiếp theo, ban đầu được gọi là Windows Server 2012 R2 Update, được phát hành vào tháng 4 năm 2014. Windows Server 2012 R2 được kế nhiệm bởi Windows Server 2016. == Tham khảo == == Đọc thêm == Stanek, William (2013). Windows Server 2012 Inside Out. Microsoft Press. ISBN 978-0-7356-6631-3. Stanek, William (2014). Windows Server 2012 R2 Inside Out Volume 1: Configuration, Storage, & Essentials. Microsoft Press. ISBN 978-0-7356-8267-2. Stanek, William (2014). Windows Server 2012 R2 Inside Out Volume 2: Services, Security, & Infrastructure. Microsoft Press. ISBN 978-0-7356-8255-9. == Liên kết ngoài == Website chính thức Windows Server 2012 R2 and Windows Server 2012 on TechNet Windows Server 2012 R2 on MSDN Windows Server 2012 on MSDN
bishkek.txt
Bishkek (phiên âm: Bi-sơ-kếch; tiếng Nga và tiếng Kyrgyz: Бишкек) là thủ đô và là thành phố lớn nhất của Kyrgyzstan (dân số khoảng 900.000 (2005)). Bishkek cũng là trung tâm hành chính của tỉnh Chuy, một tỉnh bao quanh thành phố này, dù thành phố này không thuộc tỉnh này mà là một đơn vị cấo tỉnh của Kyrgyzstan. Được thành lập năm 1878 làm pháo đài Nga Pishpek (Пишпек), giữa thời kỳ 1926 và 1991 nó được gọi là Frunze (Фрунзе), theo tên lãnh đạo quân sự Bolshevik Mikhail Frunze. Người ta cho rằng tên gọi được lây từ một từ Kyrgyz có nghĩa là thùng đựng làm sữa ngựa cái lên men (kumis), thức uống quốc hồn quốc túy của Kyrgyzstan. Bishkek, tọa độ 42°52′29″B 74°36′44″Đ, cao độ khoảng 800 m ở rìa bắc của dãy núi Ala-Too, một đoạn kéo dài của dãy núi Thiên Sơn. == Khí hậu == == Tham khảo ==
lực đàn hồi.txt
Lực đàn hồi là lực sinh ra khi vật đàn hồi bị biến dạng. Chẳng hạn, lực gây ra bởi một lò xo khi nó bị nén lại hoặc kéo giãn ra. Lực đàn hồi có xu hướng chống lại nguyên nhân sinh ra nó. Tức là nó có xu hướng đưa vật trở lại trạng thái ban đầu khi chưa bị biến dạng. Độ lớn của lực đàn hồi, khi biến dạng trong giới hạn đàn hồi, có thể được xác định gần đúng theo định luật Hooke: F = − k x {\displaystyle F=-kx} trong đó x là độ biến dạng và k là hệ số đàn hồi (hay độ cứng) của vật. Định luật này chính xác với những vật như lò xo. Với những vật thể như miếng cao su hay chất dẻo thì sự phụ thuộc giữa lực đàn hồi vào biến dạng có thể phức tạp hơn. Lực đàn hồi là tương tác giữa các phân tử hay nguyên tử, tức là lực điện từ giữa các electron và proton bên trong vật đàn hồi. == Giới hạn đàn hồi == Khi độ biến dạng lớn đến một giá trị nào đó thì lực đàn hồi không xuất hiện nữa và ta gọi giá trị này là giới hạn đàn hồi,nếu vượt quá giới hạn đàn hồi lúc đó vật bị biến dạng sẽ không thể trở về được hình dạng ban đầu, sau khi không chịu tác động làm biến dạng. == Ứng dụng của lực đàn hồi == Lực đàn hồi là cơ sở để tạo ra lực kế và các cân lò xo. Nó còn được ứng dụng để xác định khối lượng ở trạng thái không trọng lượng. == Xem Thêm == Lực == Tham khảo ==
hoang mạc atacama.txt
Hoang mạc Atacama là một sa mạc nằm ở phía bắc Chile và một phần nhỏ ở phía nam Peru. Hoang mạc Atacama nằm giữa Thái Bình Dương và dãy núi Andes, cách chí tuyến Nam 960 km. Những địa hình ở nơi đây hoàn toàn tương phản với nhau: những ngọn đồi toàn đá, đá núi lửa và những cồn cát trải dài. So với mặt biển, hoang mạc này cao 3.200 m và rộng 181.300 km2. Hoang mạc Atacama nằm giữa các vĩ tuyến 22 - 27 độ nam, dọc theo bờ Thái Bình Dương. Khu vực này có diện tích rộng lớn, và rất ít khi có mưa. == Sự khô cằn == Atacama là một trong những khu vực khô cằn nhất Trái Đất. Bằng chứng cho thấy từ năm 1570 đến 1971, sa mạc Atacama không có lượng mưa đáng kể nào. Atacama được cuốn sách Kỷ lục Thế giới Guinness ghi nhận là sa mạc "khô cằn nhất thế giới". Atacama cũng được xem là hoang mạc khô cằn nhất thế giới bởi NASA, Hội địa lý Quốc gia Hoa Kỳ và nhiều sách báo khác. Hoang mạc này có lượng mưa trung bình ít hơn 50 mm trong một năm. Hàng năm, Atacama chỉ có mực nước mưa trung bình là 25 mm. Ít nhất là kể từ khi Atacama được con người chú ý đến - một khoảng thời gian cách đây đã rất lâu - tại một số khu vực nằm giữa hoang mạc này, mưa chưa bao giờ rơi. Hoang mạc Atacama còn có tám hồ nước nóng với nhiệt độ trung bình là 33 độ C. Tám hồ nước nóng này có màu nước đặc biệt xanh và mùi vị có lợi cho sự thư giãn. Cả tám hồ nước nòng này được khu resort Explora Atacama quản lý, quanh năm tám hồ này mở cửa đón du khách đến thăm. Tuy nhiên, khoảng từ tháng Mười đến tháng 6 là thời điểm có thời tiết thuận lợi nhất để du khách đến những hồ nước nóng này. Không những thế, trên sa mạc này cây xương rồng cũng không thể mọc lên được. Vì không khí quá khô, ôxi hóa không xảy ra ở những vật liệu bằng kim loại, và - không cần một phương pháp ướp xác nào - các miếng thịt cũng có thể được giữ nguyên mãi mãi. Tóm lại, sự mục rữa không có thể xảy ra đối với bất cứ một thứ gì ở hoang mạc không có hơi nước này. Dù hoang mạc Atacama có những ngọn núi không hề thấp, chiều cao 6.885 m, nhưng những ngọn núi này không có băng tuyết. Ngoài ra, trong suốt thời kỳ băng hà, băng tuyết không hề tồn tại ở khu vực phía nam từ 25oN cho tới 27oN. Tại hoang mạc Atacama, mùa hè vô cùng khắc nghiệt. Người đến đây vào mùa hè có thể gặp nhiều hậu quả: gãy vụn tóc và râu và nứt mẻ móng tay, móng chân. == Tuổi thọ lâu đời == Là một sa mạc khô cằn, tại Atacama, từ ít nhất 25 triệu năm trước nước đã không chảy. Từ 120.000 năm, các trầm tích nằm dưới lòng một con sông cổ ở sa mạc Atacama chưa được phát hiện. Tiến sĩ Tibor Dunai và những cộng sự thuộc Trường Đại học Vrije tại thành phố Amsterdam của Hà Lan đã cho biết hoang mạc Atacama "là vùng sa mạc cổ nhất hành tinh". Trong hội nghị thuộc Hiệp hội Địa vật lý Hoa Kỳ ở San Francisco, tiến sĩ Tibor Dunai cũng cho biết: trong ít nhất là 25 triệu năm, tại hoang mạc Atacama đã có những điều kiện hết sức khô cằn. Như vậy, sa mạc Namibia ở châu Phi hoặc các thung lũng hoang mạc của vùng Nam cực có tuổi thọ kém hơn hẳn hoang mạc Atacama (khoảng 10 triệu năm). Tên gọi của hoang mạc này - Atacama - dường như bắt nguồn từ một bộ lạc cùng tên - bộ lạc người Anh-điêng Atacama. Hiện nay, bộ lạc Atacama vẫn còn định cư tại đây. Nhà khoa học Dunai cùng nhóm nghiên cứu đã đo một chất đồng vị của neon để tìm hiểu rằng các trầm tích của hoang mạc này đã bao giờ bị xói mòn chưa. Kết quả là các trầm tích trên hoang mạc Atacama đã được họ định tuổi. Theo khám phá của các nhà địa lý học/vật lý học tại một số nơi khác, trong gần bốn mươi triệu năm những trầm tích vẫn còn nguyên vẹn. Từ 120.000 năm, các trầm tích và nước đã không tiếp xúc với nhau dưới lòng một dòng sông. Các nhà nghiên cứu đã cho hay: đôi khi, đúng vào lúc khí hậu thay đổi, các trầm tích này trở nên ẩm ướt. == Dân cư, khoáng sản, du lịch và liên quan tới khoa học == Ở hoang mạc Atacama, có khoảng 1 triệu người cư ngụ tại những thành phố ven biển, các làng chài cũng như các thành phố trên ốc đảo. Ngoài ra nghề nông cũng hiện hữu ở hoang mạc Atacama, nước ở các tầng ngầm nước do tuyết tan chảy ở trên dãy núi Andes được những người làm nông nghiệp ở Atacama sử dụng. Loại muối "diêm tiêu Chile" được xem là thứ duy nhất dồi dào tại đây. Hoang mạc Atacama có những khoáng sản như: Các mỏ đồng lớn Diêm tiêu Muối ăn Hoang mạc Atacama, được xem như là "Sao Hỏa trên Trái Đất", là một trong năm địa điểm nổi tiếng ở Chile. Vì Atacama là khu vực có bầu trời trong nhất trên Trái Đất, đài quan sát thiên văn lớn nhất thế giới là Very Large Telescope được đặt tại hoang mạc Atacama. Đặt đài thiên văn ở đây sẽ khiến nhà khoa học không gặp khó khăn khi quan sát các vì sao. Ngoài ra, người ta còn sử dụng đất đai tại hoang mạc Atacama cho việc thử nghiệm những robot sau này được dùng đến trên sao Hoả. Khu vực Atacama cùng với vùng Patagonia ở phía nam và đảo Phục Sinh là những nơi hoàn toàn không chịu ảnh hưởng bởi cuộc Động đất Chile 2010. == Hình ảnh == == Chú thích & tham khảo == == Liên kết ngoài == SanPedrodeAtacama.Net & Org News article on "Mars-like Soils in the Atacama Desert, Chile, and the Dry Limit of Microbial Life" National Geographic feature about Atacama Autonomous Robot Finds Life in Atacama Desert Atacama's Super-Dry History
kinh tuyến gốc (greenwich).txt
Kinh tuyến gốc, còn gọi là kinh tuyến số không là kinh tuyến có kinh độ bằng 0°, đi ngang qua đài thiên văn Hoàng gia Greenwich, Luân Đôn, nước Anh. Trong nhiều thế kỉ trước, El Hierro (còn được gọi là "Đảo Kinh tuyến") của Tây Ban Nha vẫn được coi là điểm mà "kinh tuyến số 0" chạy qua. Ngay từ thế kỉ 2 chính Ptôlêmê đã vận dụng điểm "cực viễn Tây" của lục địa châu Âu để đặt kinh tuyến "mốc 0", nhờ đó mà tất cả mọi điểm trên thế giới, đã được biết đến, đều có tọa độ (kinh độ) Đông và theo quy ước này thì đều dương. Người ta dùng "kinh tuyến số 0" làm mốc để vẽ bản đồ và để tính toán tọa độ địa lý, nhất là đối với các nhà hàng hải và địa lý của Anh. == Kinh tuyến Greenich ngày nay == Tính đến năm 2017 kinh tuyến Greenwich đi qua: Vương quốc Anh, Pháp, Tây Ban Nha, Algeria, Mali, Burkina Faso, Togo, Ghana, Bán đảo Ashantiland, Queen Maud Land ở Châu Nam Cực. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == ảnh
chiến tranh nha phiến.txt
Chiến tranh Nha phiến (giản thể: 鸦片战争, phồn thể: 鴉片戰爭; bính âm: Yāpiàn Zhànzhēng), hay Các cuộc chiến Anh-Trung là hai cuộc chiến xảy ra giữa thế kỷ 19 (1840 – 1843 và 1856 – 1860) gây nên xung đột kéo dài giữa Trung Quốc dưới triều Mãn Thanh và đế quốc Anh. Trong cuộc chiến lần thứ hai, Pháp, Nga và Hoa Kỳ đã kề vai sát cánh cùng Anh để đánh Trung Quốc. Nguyên do cuộc chiến tựu quanh việc chính phủ Anh đòi quyền tự do buôn bán nha phiến từ Ấn Độ thuộc Anh sang Trung Quốc trong khi nhà Mãn Thanh có lệnh nghiêm cấm. Trung Quốc hoàn toàn thất bại trong hai cuộc chiến với hậu quả phải công nhận thương quyền buôn nha phiến của ngoại quốc. Hơn nữa triều đình Mãn Thanh phải ký các hiệp ước bất bình đẳng, chịu mở nhiều cảng cho các nước ngoài vào thông thương. Hồng Kông thì bị cắt làm nhượng địa cho đế quốc Anh. Nhiều nước đế quốc (Đức, Pháp, Nhật, Nga,...) khác theo chân nước Anh và đã buộc Trung Quốc phải chấp nhận nhiều điều kiện bất bình đẳng ngay trên đất Trung Quốc. Mối nhục này của triều đình Mãn Thanh trước các cường quốc Tây phương là ngòi lửa góp phần cho cuộc khởi nghĩa Thái Bình Thiên Quốc (1850 - 1864), rồi Nghĩa Hòa Đoàn (1899 - 1901) và cuối cùng là Cách mạng Tân Hợi, kết thúc thời đại phong kiến Mãn Thanh (1911). == Đề tài phim ảnh == Năm 1997 bộ phim The Opium War (Yapian Zhanzheng) lấy đề tài chiến tranh nha phiến này làm bối cảnh qua sự hợp tác giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ đã được một số giải thưởng tại LHP Kim Kê và LHP Montréal. == Tham khảo ==
rừng mưa nhiệt đới.txt
Rừng mưa nhiệt đới là một kiểu của hệ sinh thái xuất hiện nhiều tại vĩ độ 28 độ Bắc hay Nam của đường xích đạo (trong khu vực xích đạo giữa chí tuyến Bắc và chí tuyến Nam). Hệ sinh thái này tồn tại nhiệt độ trung bình khá cao và lượng mưa đáng kể. Rừng mưa có thể được tìm thấy ở Châu Á, Châu Úc, Châu Phi, Nam Mỹ, Trung Mỹ và trên nhiều hòn đảo ở Thái Bình Dương, vùng Caribe, Ấn Độ Dương. Theo như bảng phân loại quần xã sinh vật của Quỹ Quốc tế Bảo vệ Thiên nhiên, rừng mưa nhiệt đới được cho là một dạng rừng ẩm ướt nhiệt đới (hay rừng lá rộng ẩm ướt nhiệt đới) và cũng có thể được xem là rừng thường xanh đồng bằng tại xích đạo. == Tổng quan == Rừng mưa nhiệt đới có thể được mô tả bằng hai chữ: nóng và ẩm. Có nghĩa là nhiệt độ hàng tháng đều vượt quá 18 độ C (64 độ F) trong cả năm. Lượng mưa trung bình hàng năm không thấp hơn 168 cm (66 inch) và có thể vượt hơn 1000 cm (390 inch) dù rằng nó thường nằm giữa khoảng 175 cm (69 inch) và 200 cm (79 inch). Lượng mưa cao như thế này thường làm cho đất nghèo chất dinh dưỡng do các chất dinh dưỡng dễ tan thường bị rửa trôi đi. Rừng mưa nhiệt đới thể hiện các mức độ đa dạng sinh học rất cao. Khoảng 40% đến 75% trong tất cả các loài sinh vật đều là bản địa. Rừng mưa còn là nhà của một nửa các sinh vật sống và các loài thực thật của cả hành tinh. Hai phần ba trong tất cả các loài thực vật có hoa có thể được tìm thấy trong các rừng mưa. Một hecta rừng mưa có thể có 42000 loài côn trùng khác nhau, khoảng 807 cây trong 313 loài và 1500 loài thực vật mọc cao hơn. Rừng mưa nhiệt đới còn được gọi là “kho thuốc lớn nhất thế giới”, bởi vì hơn một phần tư các loại thuốc tự nhiên đã được tìm thấy tại đó. Có vẻ như là còn hàng triệu loài thực vật, côn trùng và vi sinh vật vẫn chưa được phát hiện trong các rừng mưa nhiệt đới. Rừng mưa nhiệt đới nằm trong những hệ sinh thái bị đe dọa nhất trên toàn thế giới do sự chia cắt quy mô lớn bởi hoạt động của con người. Sự chia cắt môi trường sống gây ra bởi các quá trình địa lý chẳng hạn như hoạt động núi lửa và sự biến đổi khí hậu xảy ra trong quá khứ, và đã được nhận biết là những nguyên nhân quan trọng của sự hình thành loài. Tuy nhiên, sự hủy diệt môi trường sống gây ra nhanh chóng bởi con người bị nghi ngờ là một trong những nguyên nhân chính của sự tuyệt chủng các loài. Rừng mưa nhiệt đới đã là mục tiêu cho việc khai thác gỗ và phá rừng làm đất nông nghiệp quy mô lớn trong suốt thế kỷ 20, và những khu vực được bao phủ bởi rừng mưa trên toàn thế giới đang bị thu nhỏ nhanh chóng. === Lịch sử === Rừng mưa nhiệt đới đã tồn tại trên Trái đất hàng trăm triệu năm. Hầu hết rừng mưa nhiệt đới ngày nay nằm trên các mảng của siêu lục địa Gondwana, Đại Trung sinh. Sự chia cắt đại lục đã gây ra mất mát rất lớn ở các loài lưỡng cư, cùng lúc đó khí hậu khô hơn đã thúc đẩy sự đa dạng hóa của các loài bò sát. Sự phân chia đã để lại rừng mưa nhiệt đới tại năm vùng đất chính của thế giới: Châu Mỹ, Châu Phi, Đông Nam Á, Madagascar, và New Guinea, với một phần nhỏ hơn nằm ở rìa ngoài của Châu Úc. Tuy nhiên, những chi tiết về nguồn gốc của rừng mưa vẫn còn chưa chắc chắn bởi vì các di chỉ hóa thạch không đầy đủ. === Các kiểu rừng mưa nhiệt đới === Vài kiểu rừng có quần xã sinh vật của rừng mưa nhiệt đới: 'Rừng mưa thường xanh đồng bằng tại xích đạo là các khu rừng nhận lượng mưa cao (hơn 2000 mm, hay 80 inch hàng năm) trong cả năm. Những khu rừng này xuất hiện trong một vành đai xung quanh đường xích đạo, với những khu vực lớn nhất tại lưu vực Amazon ở Nam Mỹ, lưu vực Congo ở Trung Phi, Indonesia, và New Guinea. Rừng theo mùa ẩm ướt bán thường xanh và rụng lá, nhận lượng mưa cao với một mùa hạ có mưa ấm áp và một mùa đông khô ráo và mát hơn. Một số cây trong những khu rừng này rụng một phần hoặc toàn bộ lá trong mùa đông. Những khu rừng này được tìm thấy ở các vùng thuộc Nam Mỹ, Trung Mỹ và xung quanh Caribê, vùng duyên hải Tây Phi, các vùng của tiểu lục địa Ấn Độ, và băng ngang hầu hết bán đảo Đông Dương. Rừng mưa vùng núi, một số được biết đến với tên gọi “rừng mây” (rừng sương mù), được tìm thấy ở các khu vực trên núi với khí hậu mát hơn. Tùy thuộc vào vĩ độ, phần giới hạn bên dưới của rừng mưa vùng núi trên các dãy núi lớn thường là giữa 1500m và 2500m, còn phần giới hạn bên trên thì thường là từ 2400m đến 3300m. Rừng nước ngọt, gồm 7 loại được biết đến tại khu bảo tồn Tambopata, Peru, Amazon.Rừng đầm lầy úng nước lâu dài – Trước đây là hồ móng ngựa, vẫn còn ngập nước nhưng được bao phủ bởi rừng. Rừng đầm lầy úng nước theo mùa – Các hồ móng ngựa đang trong quá trình thêm nước. Rừng bãi bồi đồng bằng – Các vị trí bãi bồi thấp nhất với khu rừng dễ nhận thấy. Rừng bãi bồi đất trung – Rừng cao, thỉnh thoảng ngập nước. Rừng bãi bồi đất cao – Rừng cao, hiếm khi ngập nước. Rừng bãi bồi cũ – Là nơi được để ngập trong khoảng 200 năm trước. Khu bãi bồi cũ – Hiện giờ là bãi đất khô (terra firme), nhưng theo lịch sử thì đã từng là bãi bồi của sông Tambopata. == Cấu trúc rừng == Rừng mưa nhiệt đới được chia làm các tầng khác nhau, hay còn gọi là lớp, với thảm thực vật được cấu tạo thành một mô hình chiều dọc từ mặt đất đến tán rừng. Mỗi tầng là một quần thể sinh vật duy nhất bao gồm các loại động thực vật khác nhau, thích nghi với điều kiện sống ở riêng tầng đó. Chỉ có tầng trội (tầng vượt tán) là độc nhất ở rừng mưa nhiệt đới, trong khi các tầng khác cũng được tìm thấy ở rừng mưa ôn đới. === Tầng thảm tươi === Là tầng thấp nhất, chỉ nhận được 2% lượng ánh sáng mặt trời. Chỉ có những thực vật nào thích nghi được với ánh nắng ít mới có thể phát triển được dưới này. Cách xa khỏi các bờ sông, đầm lầy và các khoảng rừng thưa, nơi mà các cây tầng thấp rậm rạp được tìm thấy, thì tầng thảm tươi lại tương đối ít các loài thực vật bởi vì ít ánh sáng mặt trời đến được. Điều này cho phép các loài động vật lớn có thể di chuyển dễ dàng hơn, chẳng hạn như: các loài có móng guốc như hươu đùi vằn (Okapia johnstoni), heo vòi (tapirus sp.), tê giác Sumatra (Dicerorhinus sumatrensis), và các loài khỉ không đuôi giồng như khỉ đột đồng bằng phía Tây (Gorilla gorilla), cũng như nhiều loài bò sát, lưỡng cư, và côn trùng. Tầng thảm tươi cũng có các phần thực vật và động vật đang trong trạng thái phân hủy, mà sẽ biến mất nhanh chóng, bởi vì điều kiện ấm, ẩm ướt sẽ đẩy nhanh quá trình phân hủy. Nhiều loại nấm phát triển ở đây cũng giúp phân hủy xác động vật và thực vật. === Tầng dưới tán === Tầng dưới tán nằm giữa tầng tán chính và tầng thảm tươi. Tầng dưới tán là nhà của nhiều loài chim, động vật có vú nhỏ, côn trùng, bò sát, và thú săn mồi. Bao gồm báo (Panthera pardus), ếch phi tiêu độc (Dendrobates sp.), Nasua nasua (họ Gấu mèo Bắc Mỹ), trăn Mỹ nhiệt đới (Boa constrictor), và nhiều loại bọ cánh cứng. Thảm thực vật tại tầng này thường bao gồm các cây bụi chịu bóng, thảo mộc, cây gỗ nhỏ, và các loại dây leo thân gỗ lớn mà hay bò lên các cây gỗ để đón ánh sáng mặt trời. Chỉ có khoảng 5% ánh sáng mặt trời xuyên qua được tầng tán chính để đến được tần dưới tán, làm cho thực vật tần dưới tán ít khi phát triển lên đến 3 m (10 feet). Để thích nghi với mức độ ánh sáng thấp như thế này, các thực vật ở đây thường tiến hóa với lá to hơn. Nhiều cây con mà sẽ phát triển đến tầng tán chính đều nằm ở tầng dưới tán. === Tầng tán chính === Tầng tán chính là tầng quan trọng nhất của một khu rừng, tạo thành phần mái che cho hai tầng còn lại. Nó bao gồm phần lớn các cây gỗ to nhất, thường là cao từ 30–45 m. Các cây thường xanh cao, lá rộng là các cây chiếm ưu thế. Những khu vực có quần thể sinh vật rậm rạp nhất thường được tìm thấy tại tầng tán chính của rừng, vì nó thường hỗ trợ nhiều quần thể thực vật biểu sinh bao gồm lan, cây họ dứa, rêu và địa y. Những thực vật biểu sinh này bám vào các thân và cành, nhánh của cây để lấy nước và khoáng chất từ mưa và các mảng vật chất thu được từ các cây hỗ trợ. Quần thể động vật ở đây cũng tương tự như trên tầng trội, nhưng đa dạng hơn. Người ta cho là tổng tất cả các loài chân khớp của tầng tán chính nhiệt đới có thể lên đến 20 triệu loài. Những loài khác sống ở tầng này bao gồm nhiều loài chim, chẳng hạn như Ceratogymna elata, Hedydipna collaris, vẹt xám châu Phi, Ramphastos sulfuratus, vẹt hồng cũng như các loài động vật khác như Ateles, Papilio antimachus, Bradypus, Potos flavus, Tamandua. === Tầng trội (Tầng vượt tán) === Tầng trội có ít các cây gỗ lớn, mọc cao hơn tầng tán chính, vươn đến độ cao 45 – 55 m, dù rằng thỉnh thoảng một vài loài sẽ mọc cao đến 70 – 80 m. Ví dụ như cây Lecythis ampla. Những cây này cần phải có khả năng chịu được nhiệt độ cao và gió mạnh mà hay xuất hiện ở trên tầng tán chính tại một số vùng. Vài loài động vật đặc biệt sống tại tầng này chẳng hạn như đại bàng rừng châu Phi, Colobus polykomos, dơi quạ lớn. Tuy nhiên, sự phân tầng không phải luôn luôn rõ ràng. Các khu rừng mưa luôn thay đổi không ngừng và nhiều thay đổi ảnh hưởng đến cấu trúc của rừng. Ví dụ, khi các cây tầng trội và tầng tán chính bị đổ, chúng sẽ tạo ra các khoảng hở. Những khoảng hở trên tầng tán chính của rừng được biết đến là rất quan trọng đối với việc trồng và phát triển của cây ở rừng mưa. Người ta đánh giá rằng khoảng 75% các loài cây tại La Selva Biological Station, Costa Rica đều phụ thuộc vào các khoảng hở tại tầng tán chính để nảy mầm hạt giống hay để phát triển qua khỏi giai đoạn cây con. == Sinh thái học == === Khí hậu === Hầu hết rừng mưa nhiệt đới đều nằm xung quanh hoặc gần đường xích đạo, do đó tồn tại cái gọi là khí hậu xích đạo, đặc trưng bởi ba thông số khí hậu chính: nhiệt độ, lượng mưa, và cường độ mùa khô. Các thông số khác ảnh hưởng đến rừng mưa nhiệt đới là nồng độ cacbon điôxít, bức xạ mặt trời, và sự hiện hữu của nitơ. Nói chung, các kiểu khí hậu đều bao gồm nhiệt độ ấm và lượng mưa hàng năm cao. Tuy nhiên, lượng mưa phong phú thay đổi xuyên suốt cả năm tạo nên các mùa khô và mưa riêng biệt. Rừng mưa được phân loại bởi lượng mưa nhận được hàng năm, mà cho phép các nhà sinh thái học xác định được sự khác biệt trong các khu rừng mà có cấu trúc tương tự nhau này. Theo như sự phân loại của Holdridge về hệ sinh thái nhiệt đới, rừng mưa nhiệt đới thật sự có lượng mưa hàng năm cao hơn 800 cm và nhiệt độ hàng năm cao hơn 24 độ C. Tuy nhiên, hầu hết rừng mưa nhiệt đới đồng bằng có thể được phân loại là rừng mưa nhiệt đới ẩm ướt, mà khác nhau về lượng mưa. Sinh thái học rừng mưa nhiệt đới – động học, kết cấu và chức năng – rất nhạy cảm với các thay đổi về khí hậu, đặc biệt là lượng mưa. Khí hậu của những khu rừng này bị ảnh hưởng bởi một dải mây gọi là Đới hội tụ liên chí tuyến (Intertropical Convergence Zone) nằm gần được xích đạo và được tạo nên bởi những cơn gió mậu dịch từ Bắc và Nam bán cầu. Vị trí của dải mây này thay đổi theo mùa, di chuyển về phía Bắc vào mùa hạ ở hướng Bắc và về phía Nam vào đông của hướng Bắc, kết quả là nó sẽ ảnh hưởng đến các mùa mưa và khô tại các vùng nhiệt đới. Những vùng này đã trải qua sự ấm lên mạnh với một tốc độ khoảng 0.26 độ C mỗi thập kỷ, trùng khớp với hiện tượng ấm lên toàn cầu do khí thải nhà kính từ các hoạt động của con người vào bầu khí quyển. Các nghiên cứu cũng tìm thấy rằng lượng mưa hàng năm đã giảm bớt và vùng nhiệt đới châu Á đã trải qua sự tăng cường độ mùa khô trong khi vùng Amazon lại không có thay đổi đáng kể nào về lượng mưa hay mùa khô. Ngoài ra, hiện tượng dao động thời tiết phương Nam – El Nino (El Nino – Southern Oscillation, ENSO) làm tăng sự biến đổi khí hậu, thay đổi lượng mưa và nhiệt độ, hậu quả là hạn hán và cường độ mùa khô tăng lên. Vì sự tăng nhiệt độ do các hoạt động của con người làm tăng cường độ và tần suất của ENSO, làm cho các khu rừng mưa nhiệt đới dễ bị ảnh hưởng bởi áp lực và tăng số lượng thực vật bị chết. === Đất rừng === ==== Các loại đất ==== Các loại đất trong vùng nhiệt đới có tính đa dạng cao và là kết quả của sự kết hợp những thay đổi, chẳng hạn như khí hậu, thảm thực vật, vị trí địa hình, vật chất gốc, và tuổi của đất. Hầu hết các loại đất rừng nhiệt đới đều đặc trưng bởi tính rửa trôi và nghèo chất dinh dưỡng; tuy nhiên vẫn có một số vùng có đất màu mỡ. Các loại đất ở khắp nơi trong rừng mưa nhiệt đới được phân loại làm hai dạng, là: đất sét đỏ (ultisol) và đất đỏ vàng (oxisol). Đất sét đỏ là loại đất bị ảnh hưởng mạnh bởi thời tiết, có tính axit, thiếu hụt các chất dinh dưỡng chính chẳng hạn như canxi và kali. Tương tự, đất đỏ vàng cũng có tính axit, lâu đời, thường có màu hơi đỏ, bị ảnh hưởng mạnh bởi thời tiết và có tính lọc bỏ cao, tuy nhiên dễ rút nước hơn so với đất sét đỏ. Do hàm lượng sét trong đất sét đỏ khá cao, nên nước khó thấm vào và chảy ra được. Màu đỏ hung của hai loại đất là kết quả của nhiệt độ và độ ẩm cao tạo thành oxit sắt và nhôm, không tan được trong nước và cũng khó được các loài thực vật chấp nhận. Hóa tính và lý tính của đất có liên quan chặt chẽ với năng suất trên mặt đất và cấu trúc, động lực học của rừng. Các tính chất vật lý của đất ảnh hưởng đến tốc độ thay thế cây trong khi tính chất hóa học chẳng hạn như lượng nitơ và phốtpho ảnh hưởng đến tốc độ phát triển của rừng. Các loại đất ở Đông và trung tâm Amazon cũng như tại rừng mưa Đông Nam Á là loại lâu đời, nghèo khoáng chất trong khi loại đất ở Tây Amazon (Ecuador và Peru) và vùng núi lửa của Costa Rica là loại đất mới và giàu khoáng chất. Năng suất chính hay việc sản xuất gỗ là cao nhất ở Tây Amazon và thấp nhất ở Đông Amazon, nơi mà có loại đất bị ảnh hưởng mạnh bởi thời tiết và được phân loại là đất đỏ vàng. Ngoài ra, đất ở Amazon do bị ảnh hưởng mạnh bởi thời tiết, làm chúng bị thiếu các khoáng chất như Phốtpho, Kali, Canxi, và Magiê, mà thường là từ các nguồn đá tảng. Tuy nhiên, không phải tất cả rừng mưa nhiệt đới đều được tìm thấy trên đất nghèo dinh dưỡng, mà còn trên cả các bãi bồi và vùng núi lửa giàu chất dinh dưỡng nằm tại vùng đồi Andean, và vùng núi lửa ở Đông Nam Á, châu Phi, và Trung Mỹ. Đất đỏ vàng, cằn cỗi, bị ảnh hưởng mạnh bởi thời tiết và có tính lọc bỏ mạnh, đã phát triển trên các nền Gondwanan cổ đại. Sự phân hủy nhanh chóng bởi vi khuẩn ngăn cản sự tích lũy chất mùn. Nồng độ oxít sắt và nhôm bởi quá trình đá ong hóa đã tạo cho đất đỏ vàng một màu đỏ chói và đôi khi sinh ra lớp chất khoáng đọng (ví dụ như Bô-xít). Trên các nền đất mới, đặc biệt là các nền có nguồn gốc từ núi lửa, các loại đất nhiệt đới có thể khá màu mỡ. ==== Tuần hoàn chất dinh dưỡng ==== Tốc độ phân hủy cao này là kết quả của lượng nitơ trong đất, lượng mưa, nhiệt độ cao và quần thể vi sinh vật rộng lớn. Ngoài vi khuẩn và các vi sinh vật khác ra, có rất nhiều các yếu tố phân hủy khác chẳng hạn như nấm và mối mà cũng hỗ trợ quá trình này. Sự tuần hoàn chất dinh dưỡng rất quan trọng bởi vì nguồn tài nguyên bên dưới lòng đất ảnh hưởng đến sinh khối ở lớp đất trên và cấu trúc quần thể của rừng mưa nhiệt đới. Những loại đất này đặc trưng bởi lượng phốtpho giới hạn, mà sẽ kiềm chế năng suất chung hay sự hấp thụ cacbon. Đất có chứa các vi sinh vật hữu cơ chẳng hạn như vi khuẩn, mà sẽ phân giải xác thực vật và các vật chất hữu cơ khác thành các dạng cacbon vô cơ được sử dụng bởi thực vật, được gọi là sự phân hủy. Trong suốt quá trình phân hủy, quần thể vi sinh vật hô hấp, hấp thu khí oxy và thải ra khí cacbon. Tốc độ phân hủy có thể được đánh giá bằng cách đo lượng oxy hấp thu. Nhiệt đô và lượng mưa cao làm tăng tốc độ phân hủy, cho phép xác thực vật phân rã nhanh chóng ở các vùng nhiệt đới, tạo ra chất dinh dưỡng mà sẽ được thực vật hấp thụ ngay lập tức thông qua nước ở bề mặt hay dưới lòng đất. Các kiểu hô hấp theo mùa bị ảnh hưởng bởi xác thực vật và lượng mưa, lực đẩy cacbon phân hủy từ các chất trên vào đất. Tốc độ hô hấp là cao nhất vào đầu mùa mưa bởi vì mùa khô trước đó làm tăng lượng xác thực vật và do đó tăng tỉ lệ chất hữu cơ bị rửa trôi vào đất. ==== Rễ cạn ==== Một điểm nổi bật thường thấy ở nhiều rừng mưa nhiệt đới là bộ rễ cạn khác biệt của cây. Thay vì đâm xuyên vào lớp đất sâu hơn, rẽ cạn tạo thành một mạng lưới rễ lan rộng trên mặt đất để hấp thu chất dinh dưỡng hiệu quả hơn trong một môi trường nghèo chất dinh dưỡng và rất cạnh tranh. Hầu hết các chất dinh dưỡng trong đất ở rừng mưa nhiệt đới thì tập trung ở gần bề mặt vì thời gian thay thế và sự phân hủy các chất hữu cơ, lá khá nhanh. Vì vậy, rễ cạn xuất hiện tại mặt đất để cây có thể tối đa hóa việc hấp thu chất dinh dưỡng và cạnh tranh một cách chủ động với các cây khác. Chúng cũng hỗ trợ sự hút nước và trữ nước, tăng diện tích bề mặt để trao đổi khí, tích góp xác thực vật để bổ sung dưỡng chất. Ngoài ra, những rễ này còn giảm sự xói mòn đất và tối đa hóa sự hấp thu dưỡng chất trong suốt những cơn mưa lớn bằng cách chuyển hướng dòng nước giàu dưỡng chất xuống thân cây thành các dòng nhỏ hơn, cùng lúc đó hoạt động như một lá chắn bảo vệ cây khỏi các dòng chảy trên mặt đất. Diện tích bề mặt lớn do những rễ này tạo ra cũng giúp tạo sự chống đỡ và độ ổn định cho cây trong rừng mưa, mà thường phát triển lên đến độ cao đáng kể. Độ ổn định bổ sung này cho phép cây chịu đựng được những tác động của các cơn bão khắc nghiệt, do đó làm giảm sự gãy đổ cây. === Sự nối tiếp trong rừng === Sự nối tiếp là một quá trình sinh thái thay đổi cấu trúc quần thể sinh vật theo thời gian để hướng tới một cấu trúc quần thể ổn định, đa dạng hơn sau một sự xáo trộn ban đầu. Sự xáo trộn ban đầu thì thường là một hiện tượng tự nhiên hoặc sự kiện do con người gây ra. Những sự xáo trộn tự nhiên bao gồm: bão, núi lửa phun trào, sự di chuyển của sông ngòi hoặc chỉ đơn giản như cây gãy tạo nên khoảng hỡ trong rừng. Trong rừng mưa nhiệt đới, những sự xáo trộn tự nhiên giống nhau này đã được lưu rõ trong các di chỉ hóa thạch, và được tin là có ảnh hưởng tích cực đến sự hình thành loài và sự đặc hữu. == Địa lý == === Nam và Trung Mỹ === Rừng mưa Amazon Các rừng nhiệt đới bờ biển Đại Tây Dương === Châu Phi === Rừng mưa Congo Rừng mưa Ituri Rừng Kilum – Ijim Rừng đồng bằng Madagascar === Châu Á === Rừng mưa Harapan === Châu Úc và châu Đại Dương === Rừng mưa Daintree Rừng mưa nhiệt đới Hawai == Đa dạng sinh học và sự hình thành loài == Rừng mưa nhiệt đới cho thấy sự đa dạng lớn về các chủng loài động thực vật. Nguồn gốc của sự hình thành loài đáng nhớ này vẫn còn là một thắc mắc trong giới khoa học và sinh thái học nhiều năm liền. Nhiều thuyết đã được phát triển nhằm giải thích tại sao và như thế nào mà các khu rừng nhiệt đới lại có thể đa dạng đến thế. === Sự cạnh tranh giữa các loài === Sự cạnh tranh giữa các loài là kết quả từ mật độ cao của các chủng loài với môi trường sống giống nhau trong vùng nhiệt đới và nguồn sống bị giới hạn. Loài nào “thua” khi cạnh tranh có thể trở nên tuyệt chủng hoặc phải tìm môi trường sống khác. Cạnh tranh trực tiếp thường sẽ dẫn đến việc một loài chiếm ưu thế một loài khác nhờ vài thuận lợi, cuối cùng đẩy loài kia vào chỗ tuyệt chủng. Sự ngăn cách môi trường sống là một lựa chọn khác. Đây là ngăn cách và hạn chế nguồn sống cần thiết bằng cách tận dụng các nơi ở, nguồn thực phẩm, bụi rậm khác nhau hay sự khác nhau về hành vi nói chung. Một loài với cùng một loại thực phẩm nhưng số lần ăn khác hẳn cũng là một ví dụ của sự ngăn cách môi trường sống. === Vùng trú ẩn kỷ Pleistocene === Thuyết về vùng trú ẩn kỷ Pleistocene được phát triển bởi Jurgen Haffer vào năm 1969 với bài báo Sự hình thành loài chim rừng Amazon. Haffer đề xuất giải thích cho sự hình thành loài là sản phẩm của các mảng rừng mưa bị chia cắt bởi sự co giãn của các thảm thực vật không phải rừng trong suốt kỷ băng hà cuối cùng. Ông gọi khu vực những mảng rừng mưa này là nơi trú ẩn và bên trong những mảng này, sự hình thành loài tách biệt xảy ra. Với sự chấm dứt của kỷ băng hà và độ ẩm khí quyển tăng lên, rừng mưa bắt đầu mở rộng và những nơi trú ẩn liên kết lại với nhau. Thuyết này là mục tiêu của những cuộc trnh cãi. Các nhà khoa học vẫn còn hoài nghi rằng thuyết này có xác thực hay không. Cá bằng chứng di truyền đề xuất rằng sự hình thành loài đã xảy ra trong sự sắp xếp nhóm nhất định từ 1 – 2 triệu năm trước, sớm hơn kỷ Pleistocene. == Không gian của con người == === Nơi sinh sống === Rừng mưa nhiệt đới đã che chở cho con người trong nhiều thiên niên kỷ, như các bộ tộc da đỏ ở Nam Mỹ và Trung Mỹ, những người mà thuộc về Thổ dân châu Mỹ, người Pygmy Congo ở Trung Phi, và vài bộ tộc ở Đông Nam Á như người Dayak và Penan ở Borneo.[30] Nguồn thực phẩm trong rừng phân tán nhiều do sự đa dạng sinh học cao và những chỗ mà có thực phẩm lại thường nằm ở tầng tán chính, đòi hỏi năng lượng đáng kể để có thể lấy được. Vài nhóm người săn bắt – hái lượm khai thác rừng mưa theo mùa nhưng sống chủ yếu ở vùng xa-van kế cận và môi trường rừng thoáng ở ngoài, nơi mà nguồn thực phẩm phong phú hơn. Những bộ tộc khác được mô tả là những người sống trong rừng mưa, săn bắn hái lượm và vẫn tiếp tục sống theo nhóm lớn, trao đổi các vật phẩm có giá trị cao từ rừng chẳng hạn như da thú, lông vũ, và mật ong với những nông dân sống bên ngoài rừng. === Thổ dân === Rất nhiều thổ dân sống bên trong rừng mưa và săn bắn hái lượm, hoặc tiếp tục sống kiểu làm nông quy mô nhỏ bán thời gian, phụ thêm vào các nhóm lớn bằng cách trao đổi đổi các vật phẩm có giá trị cao từ rừng chẳng hạn như da thú, lông vũ, và mật ong với những nông dân sống bên ngoài rừng. Họ đã sống trong rừng mưa hơn mười nghìn năm và vẫn hay lẩn tránh nên gần đây mới có vài bộ tộc được phát hiện. Những thổ dân này đang bị đe dọa nghiêm trọng bởi những người đốn gỗ để tìm các loại gỗ cứng nhiệt đới lâu năm như Ipe, Cumaru và Wenge, hay bởi những nông dân mà muốn mở rộng đất đai để nuôi gia súc lấy thịt và trồng đậu nành xuất khẩu làm thức ăn gia súc sang Châu Âu và Trung Quốc. Ngày 18 tháng 1 năm 2007, quỹ FUNAI báo cáo rằng họ đã xác nhận sự hiện diện của 67 bộ tộc sống tách biệt ở Brazil, tăng lên từ 40 vào năm 2005. Với việc bổ sung này, Brazil đã bắt kịp đảo New Guinea, trở thành quốc gia có số bộ tộc sống cách biệt lớn nhất. Tỉnh Irian Jaya hay Tây Papua tại đảo New Guinea là nhà của khoảng 44 nhóm bộ tộc sống cách biệt. Người Pygmy là những nhóm người săn bắn – hái lượm sống ở các rừng mưa tại xích đạo, nổi bật bởi chiều cao cơ thể thấp (trung bình là dưới 1m50, hay 59 inch). Trong các nhóm người này có người Efe, Aka, Twa, Baka và người Mbuti ở Trung Phi. Tuy nhiên, từ pygmy được xem là có hàm ý xấu khi nói chung hết các bộ tộc mà không có tên riêng. Một vài nhóm thổ dân châu Mỹ đáng chú ý, hay còn gọi là Amerindian, bao gồm người Huaorani, Yanomamo, và Kayapo ở lưu vực Amazon. Hệ thống nông nghiệp truyền thống của các bộ tộc ở Amazon thường là du canh du cư (cũng được biết là chặt-và-đốt hay luân phiên) và được xem là tác động vô hại. Thật sự, khi nhìn vào mức độ của các mảnh đất trồng luân phiên cá nhân thì vài kiểu canh tác lại được xem là có lợi. Ví dụ, việc sử dụng các cây chịu bóng và đất bỏ hoang đều giúp bảo tồn các chất hữu cơ trong đất, là một nhân tố then chốt trong việc duy trì sự màu mỡ của đất trồng ở những nơi mà đất bị ảnh hưởng mạnh bởi thời tiết và có tính rửa trôi cao tại Amazon. Có sự đa dạng về người sống trong rừng tại châu Á, bao gồm người Lumad ở Philippnes và người Penan, Dayak ở Borneo. Những người Dayak là nhóm người đặc biệt đáng chú ý vì họ nổi tiếng bởi truyền thống săn đầu người. Đầu người sống được yêu cầu để thực hiện các nghi lễ nhất định chẳng hạn như Iban “kenyalang” và Kenyah “mamat”. Những người Pygmy sống ở Đông Nam Á, nằm trong số những bộ tộc khác, cũng được gọi là “Negrito”. === Các nguồn tài nguyên === ==== Nông sản và gia vị trồng trọt ==== Khoai, cà phê, cacao, chuối, xoài, đu đủ, mắc-ca, bơ, và mía đều bắt nguồn từ rừng mưa nhiệt đới và vẫn được trồng chủ yếu tại các đồn điền trên những vùng mà trước đó là rừng mưa nhiệt đới. Vào giữa những năm 1980 và 1990, 40 triệu tấn chuối đã được tiêu thụ trên toàn thế giới mỗi năm, cùng với 13 triệu tấn xoài. Cà phê xuất khẩu từ Trung Mỹ đáng giá 3 triệu USD vào năm 1970. Rất nhiều cây biến đổi di truyền đã được sử dụng để tránh thiệt hại bởi các loài gây hại vẫn được chuyển hóa từ các nguồn có sẵn tính đề kháng trong tự nhiên. Rừng mưa nhiệt đới đã cung cấp 250 loại quả trồng được, so với chỉ 20 giống từ rừng ôn đới. Chỉ riêng các khu rừng ở New Guinea đã có 251 loài cây với quả ăn được, mà chỉ mới có 43 loài được trồng rộng rãi trước năm 1985. === Dịch vụ sinh thái === Ngoài các hình thức sử dụng khai thác rừng mưa ra, cũng có các hình thức sử dụng không khai thác mà thường được tóm tắt là dịch vụ sinh thái. Rừng mưa đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự đa dạng sinh học, cô lập là trữ cac bon, điều hòa khí hậu toàn cầu, kiểm soát dịch bệnh, và sự thụ phấn. === Du lịch === Dù rằng có những tác động tiêu cực của du lịch trong rừng mưa nhiệt đới, vẫn có một vài tác động tích cực quan trọng Trong những năm gần đây du lịch sinh thái ở các vùng nhiệt đới đã tăng lên. Trong khi rừng mưa đang trở nên hiếm dần, mọi người tìm đến các quốc gia mà vẫn còn môi trường sống đa dạng này. Người dân địa phương được hưởng lợi từ những nguồn thu nhập thêm bởi các du khách, cũng như những khu vực mà cho thấy được sự thú vị đến khách du lịch cũng thường được bảo tồn. Du lịch sinh thí có thể là một sự khuyến khích cho việc bảo tồn, đặc biệt là nó sẽ kích hoạt thay đổi kinh tế một cách tích cực. Du lịch sinh thái có thể bao gồm rất nhiều hoạt động như các tour ngắm động vật, quang cảnh rừng và kể cả các hoạt động văn hóa và làng mạc của người bản xứ. Nếu những hoạt động này được thực hiện hợp lý thì có thể làm lợi cho cả người dân địa phương và quần xã động thực vật hiện tại. Phát triển du lịch giúp phát triển kinh tế, lợi nhuận sẽ tập trung vào việc bảo vệ môi trường sống. Du lịch có thể đóng góp trực tiếp vào việc bảo tồn các khu vực và môi trường sống nhạy cảm. Lợi nhuận từ tiền thu phí vào công viên và các nguồn tương tụ có thể được sử dụng đặc biệt nhằm chi trả cho việc bảo vệ và quản lý các khu vực nhạy cảm về môi trường. Lợi nhuận từ tiền thuế và du lịch có thể là sự động viên chính quyền đóng góp cho việc bảo vệ rừng. Du lịch cũng có tiềm năng tăng thêm sự quan tâm của cộng đồng về môi trường và nhận thức về các vấn đề môi trường khi mà nó đưa mọi người đến gần với môi trường hơn. Những sự quan tâm đặc biệt này có thể đem lại các hành vi có ý thức về môi trường. Du lịch cũng có ảnh hưởng tích cực với các nỗ lực bảo tồn và bảo vệ động vật hoang dã, đáng chú ý là ở châu Phi và cũng ở Nam Mỹ, châu Á, châu Úc, và Nam Thái Bình Dương. == Bảo tồn == === Các mối đe dọa === ==== Sự phá rừng ==== ===== Khai thác mỏ quặng ===== Các mỏ quặng kim loại quý hiếm (vàng, bạc, coltan) và nhiên liệu hóa thạch (dầu và khí thiên nhiên) xuất hiện bên dưới rừng mưa trên toàn cầu. Những nguồn tài nguyên này rất quan trọng đối với sự phát triển của quốc gia và việc khai thác chùng thường ưu tiên để khuyến khích tăng trưởng kinh tế. Khai thác mỏ quặng có thể cần mở rộng đất rất lớn, trực tiếp gây ra sự phá rừng. Tại Ghana, một quốc gia ở Tây Phi, sự phá rừng vì hoạt động khai thác mỏ quặng trong hàng thập kỷ đã phá hủy và chỉ còn để lại khoảng 12% diện tích rừng mưa nguyên sinh. ===== Chuyển hóa thành đất nông nghiệp ===== Với sự phát triển của nông nghiệp, con người đã có thể dọn quang các mảng rừng mưa để sản xuất mùa màng, chuyển thành đất nông trại mở. Tuy nhiên, những người này vẫn tìm thực phẩm từ các mảnh đất trồng trong rừng là chính, săn bắn và nuôi gia súc trong rừng để bổ sung thêm. Vấn đề phát sinh là nhu cầu của những người nông dân độc lập cần nuôi sống gia đình và những nhu cầu của cả thế giới. Chuyện này vẫn chưa tiến triển mấy vì không có kế hoạch nào được đề ra nhằm hỗ trợ các bên. Làm nông trên đất đã từng là rừng trước đó cũng không phải là không có khó khăn. Các loại đất rừng mưa thường mỏng và dễ bị rửa trôi đi nhiều loại khoáng chất, và những cơn mưa lớn có thể nhanh chóng làm trôi đi từ những vùng mà được dọn quang để trồng trọt. Những bộ tộc chẳng hạn Yanomamo ở Amazon tận dụng phương pháp chặt-và-đốt nhằm vượt qua giới hạn này và giúp họ tiến sâu hơn vào những chỗ mà trước đó là môi trường rừng mưa. Tuy nhiên, họ không phải là những người sống trong rừng mưa, mà thường sống trên đất trồng lấn vào rừng mưa. Khoảng 90% khẩu phần ăn tiêu biểu của người Yanomamo là từ các cây trồng được. Một số hoạt động đã được thực hiện bằng cách để đất trống cho rừng thứ cấp phát triển và phục hồi đất. Những hoạt động có lợi như phục hồi đất và bảo tồn có thể có ích cho những nông dân và cho phép sản xuất tốt hơn trên các mảnh đất trồng nhỏ. === Biến đổi khí hậu === Các vùng nhiệt đới đóng vai trò quan trọng trong việc giảm cacbon điôxít khí quyển. Các vùng nhiệt đới (nổi bật nhất là rừng mưa Amazon) được gọi là các “bồn chứa cacbon”. Vì là tác nhân làm giảm cacbon và là nơi trữ cacbon, khí metan từ đất, nên khi rừng bị phá hủy sẽ làm tăng sự giữ bức xạ năng lượng trên trái đất và các loại khí ở khí quyển. Sự thay đổi khí hậu tăng lên đáng kể là do sự hủy diệt các khu rừng mưa. Một sự mô phỏng đã được thực hiện khi mà toàn bộ rừng mưa ở châu Phi bị xóa sạch. Kết quả là nhiệt độ khí quyển tăng lên từ 2.5 đến 5 độ C. === Bảo vệ === Các nỗ lực nhằm bảo vệ và bảo tồn môi trường sống trong rừng mưa nhiệt đới rất đa dạng và lan rộng nhanh. Việc bảo tồn rừng mưa nhiệt đới bao gồm từ việc bảo tồn môi trường sống chặt chẽ đến việc tìm kiếm những phương pháp quản lý hiệu qua cho những người sống trong các rừng mưa nhiệt đới. Chính sách thế giới cũng đưa vào một chương trình hỗ trợ thị trường gọi là “Reducing Emissions from Deforestation và Forest Degradation” (REDD) cho các công ty và chính quyền để giảm lượng cacbon thải ra thông qua sự đầu tư tài chính và việc bảo tồn rừng mưa. == Tham khảo == == Xem thêm == Rừng mưa Rừng Amazon Phá rừng == Liên kết ngoài == Rainforest Action Network Info on Amazon Rainforest, the largest rainforest in the world Rain Forest Info from Blue Planet Biomes Passport to Knowledge Rainforests
gen.txt
Gen, gien, hay di tố là một đoạn DNA mang một chức năng nhất định trong quá trình truyền thông tin di truyền. Trên nhiễm sắc thể, một gen thường có một vị trí xác định và liên kết với các vùng điều hòa phiên mã và các vùng chức năng khác để bảo đảm và điều khiển hoạt động của gen. Thông thường, người ta nói đến gen hàm ý là gen cấu trúc. Gen cấu trúc là đoạn DNA mang thông tin cần thiết mã hóa một chuỗi polypeptide. Trong đó, các polypeptide là thành phần cấu trúc tạo nên các protein. Đây là nhóm phân tử đóng vai trò quan trọng (nhưng không phải là hoàn toàn) quy định kiểu hình của sinh vật. Khi một gen cấu trúc được kích hoạt, vùng mã hóa này sẽ tiến hành phiên mã (tạo thành dạng mRNA chứa thông tin của gen). RNA này sau đó sẽ hướng dẫn cho quá trình tổng hợp protein thông qua mã di truyền. Ngoài ra, các gen loại khác có thể mã hoá cho những RNA không tổng hợp protein, ví dụ tRNA vận chuyển các amino acid, rRNA là thành phần của ribosome hoặc các RNA điều khiển như miRNA, siRNA.snARN Ở các loài sinh vật nhân chuẩn (eukaryote), các gen cấu trúc còn chứa vùng không có mã hóa (gọi là intron) nằm xen kẽ với các vùng mã hóa (gọi là exon). Sau khi phiên mã, những vùng intron này sẽ được loại bỏ trong một quá trình chế biến RNA thông tin (mRNA) gọi là splicing. Trong một số trường hợp, không phải mọi exon đều có thể được giữ lại trên trình tự mRNA trưởng thành (mature RNA). Nhờ vậy, một gen có thể tạo ra nhiều sản phẩm thông qua sự sắp xếp khác nhau các đoạn exon. Quá trình này gọi là alternative splicing.
mirza ghulam ahmad.txt
Bản mẫu:Ahmadiyya Mirzā Ghulām Ahmad (tiếng Urdu: مرزا غلام احمد; 13 tháng 2 năm 1835 - 26 tháng 5 năm 1908) là một nhà lãnh đạo tôn giáo Ấn Độ và là người sáng lập Phong trào Ahmadiyya trong đạo Hồi. Ông tuyên bố đã được Thánh Allah được mệnh danh là Đấng Mết-si-a và Mahdi hứa, giống như Chúa Jêsus (mathīl-iʿIsā), để thực hiện các tiên tri cánh chung của Hồi giáo, cũng như Mujaddid (nhân kỷ niệm trăm năm) Thế kỷ Hồi giáo. Sinh năm 1835 trong một gia đình nổi tiếng ở Qadian, Ghulam Ahmad nổi lên như một nhà văn và là người tranh luận cho Hồi giáo. Khi ông mới tròn 40 tuổi, cha ông qua đời và khoảng thời gian đó ông tin rằng Thánh Allah bắt đầu giao tiếp với ông. Năm 1889, ông đã cam kết trung thành với bốn mươi người ủng hộ ông tại Ludhiana và thành lập một cộng đồng tín đồ theo những gì ông tuyên bố là giáo huấn thiêng liêng, quy định 10 điều kiện bắt đầu. Một sự kiện đánh dấu việc thành lập phong trào Ahmadiyya. Nhiệm vụ của phong trào, theo ông, là khôi phục lại sự hiệp nhất tuyệt đối của Thiên Chúa, sự phục hưng của đạo Hồi thông qua việc cải cách đạo đức xã hội theo các lý tưởng Hồi giáo, và sự tuyên truyền toàn cầu về Hồi giáo ở dạng nguyên sơ. Ngược lại với quan điểm Hồi giáo và đạo Hồi chủ đạo của Chúa Jesus (hay Isa), sống trên thiên đường để trở lại vào cuối thời gian, Ghulam Ahmad khẳng định rằng ông thực tế đã sống sót qua sự đóng đinh và chết vì cái chết tự nhiên. Ông đã đi khắp Punjab giảng thuyết những ý tưởng tôn giáo của mình và ủng hộ sự hỗ trợ bằng cách kết hợp một chương trình cải cách với những phát hiện cá nhân mà ông tuyên bố nhận được từ Thiên Chúa, thu hút được những điều sau đây trong cuộc đời của ông cũng như sự thù địch đáng kể đặc biệt là từ Ulema Hồi giáo. Ông được biết là đã tham gia nhiều cuộc tranh luận và đối thoại công khai với các nhà truyền giáo Cơ Đốc giáo, các học giả Hồi giáo và các nhà hồi sinh Hindu. Ghulam Ahmad là một tác giả viết nhiều và đã viết hơn chín mươi cuốn sách về các chủ đề tôn giáo, thần học và đạo đức khác nhau giữa xuất bản cuốn Barahin-i-Ahmadiyya đầu tiên vào năm 1880 và đến khi ông qua đời trong tháng 5 năm 1908. Nhiều bài viết của ông mang một giọng điệu mâu thuẫn và xin lỗi để ủng hộ Hồi giáo, tìm cách thiết lập tính ưu việt của nó như là một tôn giáo thông qua tranh luận hợp lý, thường là bằng cách diễn đạt cách giải thích của ông về các giáo lý Hồi giáo. Ông ủng hộ một cuộc truyền giáo Hồi giáo hòa bình và lập luận dứt khoát chống lại sự cho phép của Jihad quân sự trong những tình huống phổ biến hiện nay. Vào thời điểm ông qua đời, ông đã thu thập được khoảng 400.000 người theo dõi, đặc biệt là ở các tỉnh thuộc Hoa Kỳ, Punjab và Sindh và đã xây dựng một tổ chức tôn giáo năng động với cơ quan điều hành và báo in riêng của mình. Sau khi chết, ông được thành công bởi người bạn thân Hakīm Noor-ud-Dīn, người thừa nhận danh hiệu Khalīfatul Masīh (người kế nhiệm Đấng Mết-si-a). Mặc dù Ghulam Ahmad được các tín đồ Hồi giáo Ahmadi tôn kính như Đấng Mết-si-a đã hứa và Imam Mahdi, nhưng Muhammad vẫn giữ vai trò trung tâm trong Ahmadiyya Hồi giáo. Lời tuyên bố của Ghulam Ahmad là một tiên tri cấp dưới (ummati) trong Hồi giáo vẫn là một điểm tranh cãi giữa các người theo ông và người Hồi giáo dòng chính, những người tin rằng Muhammad là vị tiên tri cuối cùng và chờ đợi sự trở lại của Chúa Giêsu. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Official Website of the Ahmadiyya Muslim Community Official Website of the Lahore Ahmadiyya Movement Complete List of the Works of Mirza Ghulam Ahmad Islam-Ahmadiyya specifically caters to an Arabic-speaking audience. Like Al Islam itself, Islam-Ahmadiyya is home to a wide variety of content including books, articles and multimedia content How To Distinguish Between A True Prophet And A False Prophet
cao biền.txt
Cao Biền (giản thể: 高骈; phồn thể: 高駢; bính âm: Gāo Pián) (821 - 24 tháng 9 năm 887), tên tự Thiên Lý (千里), là một tướng lĩnh triều Đường. Thoạt đầu, ông trở thành danh tướng khi đánh bại các cuộc xâm nhập của Nam Chiếu, song sau đó ông đã thất bại trong việc đẩy lui cuộc nổi dậy của Hoàng Sào, quản lý yếu kém Hoài Nam quân. Năm 887, một cuộc nổi dậy chống lại ông đã dẫn đến cảnh giao chiến khốc liệt tại Hoài Nam quân, kết quả là ông bị Tần Ngạn giam cầm rồi sát hại. == Thân thế == Cao Biền là người U châu (Bắc Kinh ngày nay), ông là cháu nội của danh tướng Cao Sùng Văn,- là người đã trấn áp cuộc nổi dậy của Lưu Tịch dưới triều đại của Đường Hiến Tông. Cha của Cao Biền là Cao Thừa Minh (高承明), là ngu hậu trong Thần Sách quân. Mặc dù gia tộc của Cao Biền đã vài đời làm quan trong cấm quân, song khi còn nhỏ Cao Biền là người giỏi văn, và thường thảo luận về chuyện lý đạo với các nho sĩ. Ông có địa vị cao trong lưỡng quân của Thần Sách quân, được thăng dần đến chức Hữu Thần Sách đô ngu hậu. Khi đang phụng sự trong Thần Sách quân, Cao Biền đã kết nghĩa huynh đệ với Chu Bảo. Đầu triều đại của Đường Ý Tông, có một cuộc nổi dậy của người Đảng Hạng. Cao Biền xuất một vạn cấm binh đến đóng quân tại Trường Vũ thành. Khi đấy, từng có một vài tướng chống lại người Đảng Hạng song không có kết quả, duy có Cao Biền biết nắm bắt cơ hội mà dụng binh và giành được thắng lợi, được Đường Ý Tông khen ngợi. Sau đó, để đối phó với các cuộc tập kích của ngoại tộc ở phía tây, ông được chuyển đến canh giữ Tần châu, giữ chức Tần châu thứ sử, Tần châu kinh lược sứ, tiếp tục lập công. == Chống Nam Chiếu tại An Nam == Năm Hàm Thông thứ 5 (863), quân Nam Chiếu (lúc này có quốc hiệu "Đại Lễ") chiếm được An Nam từ tay quân Đường; các chiến dịch sau đó của quân Đường nhằm đẩy lui quân Đại Lễ đều thất bại. Năm 864, Đồng bình chương sự Hạ Hầu Tư tiến cử kiêu vệ tướng quân Cao Biền tiếp quản quân lính dưới quyền Lĩnh Nam Tây đạo tiết độ sứ Trương Nhân (張茵) để tiến công An Nam. Cao Biền được giữ chức An Nam đô hộ, kinh lược chiêu thảo sứ. Mùa thu năm 865, Cao Biền vẫn đang trị 25.000 binh tại Hải Môn và chưa tiến công thủ phủ Giao Chỉ của An Nam. Giám quân Lý Duy Chu (李維周) vốn không ưa Cao Biền và muốn ông bị trừ khử, vì thế đã nhiều lần thúc giục Cao Biền tiến quân. Cao Biền do đó chấp thuận đem 5.000 binh tiến trước về phía tây và hẹn Lý Duy Chu phát binh ứng viện, song sau khi Cao Biền dời đi, Lý Duy Chu kiểm soát các binh lính còn lại và không phát bất cứ viện trợ nào. Khi hay tin Cao Biền tiến quân đến, hoàng đế Đại Lễ là Thế Long khiển tướng Dương Tập Tư (楊緝思) đến cứu viện tướng trấn thủ An Nam là Đoàn Tù Thiên (段酋遷). Trong khi đó, Vi Trọng Tể (韋仲宰) đem 7.000 quân đến Phong châu hợp binh với Cao Biền đánh bại quân Đại Lễ. Tuy nhiên, khi sớ tấu chiến thắng đến Hải Môn, Lý Duy Chu đều ngăn lại và từ chối chuyển tiếp chúng đến Trường An. Đường Ý Tông thấy lạ vì không nhận được tin tức gì, khi hỏi Lý Duy Chu thì Duy Chu tấu rằng Cao Biền trú quân ở Phong châu, không tiến. Đường Ý Tông tức giận, và đến mùa hè năm 866, Hoàng đế cho hữu vũ vệ tướng quân Vương Yến Quyền (王晏權) thay thế Cao Biền trấn An Nam, triệu Cao Biền về Trường An để trách tội. Khi nhận được lệnh phải giao quyền lại cho Vương Yến Quyền, Cao Biền đang bao vây thành Giao Chỉ, ông giao lại binh sĩ cho Vi Trọng Tể và trở về Hải Môn để gặp Vương Yến Quyền chuyển giao quyền hành. Tuy nhiên, Cao Biền đã phái tiểu hiệu Tăng Cổn (曾袞) còn Vi Trọng Tể phái tiểu sứ Vương Huệ Tán (王惠贊) đi trước để báo tin chiến thắng tại Giao Chỉ, họ cho rằng Lý Duy Chu sẽ lại ngăn cản nên đi đường vòng để tránh doanh trại của Lý Duy Chu và Vương Yến Quyền, sau đó tiến về Trường An. Khi Tăng Cổn và Vương Huệ Tán đến Trường An và dâng tấu, Đường Ý Tông hài lòng và ban chỉ thăng chức cho Cao Biền là kiểm hiệu công bộ thượng thư, phục quyền trấn thủ An Nam. Sau khi giao lại binh quyền, Cao Biền cùng 100 thủ túc lên đường, đến Hải Môn thì nhận được chiếu chỉ và trở lại chiến trường thành Giao Chỉ- nơi Lý Duy Chu và Vương Yến Quyền tiếp quản song đã chấm dứt bao vây. Cao Biền tiếp tục bao vây thành, đến tháng thứ 4 năm Hàm Thông thứ 7 (866) thì hạ được thành, giết chết Đoàn Tù Thiên và tù trưởng bản địa Chu Đạo Cổ (朱道古)- người liên minh với quân Đại Lễ. Khi hay tin Cao Biền chiếm được thành Giao Chỉ, Đường Ý Tông đổi An Nam đô hộ phủ thành Tĩnh Hải quân, bổ nhiệm Cao Biền là tiết độ sứ. Cao Biền cho xây thành chu vi 3000 bộ, hơn 40 vạn gian phòng ốc, từ đó quân Đại Lễ không còn xâm phạm. Sau đó, ông cũng tiến hành một dự án lớn để loại bỏ những trở ngại tự nhiên trên thủy lộ giữa Tĩnh Hải quân và Lĩnh Nam Đông đạo, khó khăn về giao thông của Giao Chỉ được loại bỏ. == Thiên Bình tiết độ sứ == Năm 868, Cao Biền được triệu hồi về Trường An giữ chức hữu kim ngô đại tướng quân. Cao Biền thỉnh triều đình để tụng tôn Cao Tầm (高潯), người đã lập được nhiều công lao trong chiến dịch chống Đại Lễ, được kế nhiệm ông trấn giữ Giao Chỉ- giữ chức Tĩnh Hải tiết độ sứ, và được chấp thuận. Thiên tử khen ngợi tài năng của Cao Biền, lần lượt đổi chức quan của ông thành kiểm hiệu công bộ thượng thư, Vận châu thứ sử, rồi Thiên Bình tiết độ sứ, ông cai trị có phép tắc khiến dân lại ngợi ca. Năm 873, khi Đường Ý Tông qua đời và Đường Hy Tông lên kế vị, Cao Biền mặc dù tại nhiệm ở Thiên Bình, song vẫn được ban chức Đồng bình chương sự. == Tây Xuyên tiết độ sứ == Năm 874, Đại Lễ tiến công vào Tây Xuyên của Đường, Tây Xuyên tiết độ sứ Ngưu Tùng (牛叢) không kháng cự nổi. Quân Đại Lễ tiến đến thủ phủ Thành Đô rồi triệt thoái, song Ngưu Tùng sợ Đại Lễ sẽ lại tiến công nên đã tập hợp người dân khu vực xung quanh vào trong thành Thành Đô. Đường Hy Tông lệnh cho các quân xung quanh: Hà Đông, Sơn Nam Tây đạo, Đông Xuyên phát binh cứu viện Tây Xuyên, trong khi lệnh cho Cao Biền tiến đến Tây Xuyên để giải quyết "man sự". Sau đó 875, Cao Biền được bổ nhiệm là Tây Xuyên tiết độ sứ, cũng như Thành Đô doãn. Cao Biền nhận thấy sẽ phát sinh đại dịch nếu người dân đều tụ tập bên trong tường thành Thành Đô, vì thế ông đã hạ lệnh mở cổng thành cho người dân ra ngoài ngay cả trước khi ông đến thành này, người dân Thục bước đầu rất hài lòng về ông. Khi đến nơi vào mùa xuân năm 875, Cao Biền tiến hành một số cuộc tiến công nhỏ nhằm trừng phạt Đại Lễ, sau đó cho xây dựng một số thành lũy trọng yếu trên biên giới với Đại Lễ. Theo mô tả, do ông tăng cường phòng thủ, Đại Lễ không tiếp tục tiến hành các cuộc tiến công vào Tây Xuyên, song thỉnh cầu tổng tiến công Đại Lễ của Cao Biền thì bị Đường Hy Tông từ chối. Trong cuộc tiến công năm 870 của Đại Lễ vào Thành Đô, một quan lại là Dương Khánh Phục (楊慶復) mộ được một đội quân gọi là "Đột Tương" (突將) đến tăng viện trấn thủ Thành Đô. Khi Cao Biền đến, ông đã hạ lệnh hủy bỏ nhiệm vụ của Đột Tương và thậm chí còn dừng cung cấp lương thực cho họ. Cao Biền là một tín đồ Đạo giáo mộ đạo, ông càng khiến các binh sĩ tức giận khi làm phép trước các trận chiến và tuyên bố việc này là cần thiết do binh sĩ Thục hèn yếu và sợ sệt. Ông cũng tước bỏ nhiệm vụ của các quan mà ban đầu là kẻ lại cấp thấp, lệnh dân gian đều phải dùng tiền túc mạch (mỗi xâu tiền đủ 10 đồng), nếu thiếu sẽ bị hặc tội hành lộ và mất mạng. Ông thực hiện các hình phạt nghiêm khắc, người Thục đều không ưa. Vào mùa hè năm 875, Đột Tương nổi dậy, tiến công vào phủ đình của Cao Biền, Cao Biền chạy trốn và không bị quân Đột Tương bắt được. Đô tướng Trương Kiệt suất 100 lính vào phủ đánh Đột Tương, Đột Tương triệt thoái khỏi nha môn. Sau đó, Cao Biền công khai tạ lỗi và phục chức danh và lương cho Đột Tương. Tuy nhiên, vào một đêm tháng sau đó, Cao Biền đã hạ lệnh bắt giữ và giết chết các binh sĩ Đột Tương và gia quyến của họ. Một phụ nữ trước khi lâm hình được ghi chép là mắng chửi Cao Biền: Cao Biền, ngươi vô cớ tước bỏ chức danh, y lương của các tướng sĩ có công lao, khiến dân chúng trong thành phẫn nộ. Nhà ngươi may mắn được miễn, song không tự kiểm điểm lại tội lỗi, lại trá sát vạn người vô tội. Thiên địa quỷ thần, sao có thể cho phép người làm như vậy! Ta tất sẽ tố ngươi với Thượng đế, có ngày gia đình ngươi sẽ đều bị diệt như nhà ta hôm nay, oan ức ô nhục như ta hôm nay, sẽ phải lo sợ và đau khổ như ta hôm nay! Cao Biền thậm chí còn muốn hành hình các binh sĩ Đột Tương không có mặt tại Thành Đô vào thời điểm xảy ra binh biến, và chỉ dừng lại khi thân lại Vương Ân (王殷) can gián, và nói rằng ông là người phụng Đạo thì cần hiếu sinh ác sát. Năm 876, Đại Lễ khiển sứ giả đến chỗ Cao Biền cầu hòa, song lại tập kích qua biên giới không ngừng, Cao Biền xử trảm vị sứ giả này. Sau đó, Đại Lễ lại gửi "mộc giáp thư" cho Cao Biền, yêu cầu được mượn Cẩm Giang cho ngựa uống nước. Cao Biền cho xây dựng phủ thành Thành Đô, tăng cường công sự phòng ngự. Cao Biền cũng phái hòa thượng Cảnh Tiên (景先) đến Đại Lễ, đảm bảo hòa bình và nói rằng triều đình Đường sẽ gả một công chúa cho hoàng đế Thế Long. Do các hành động của ông, Đại Lễ sau đó không còn quấy nhiễu. == Kinh Nam tiết độ sứ == Năm 878, Cao Biền được bổ nhiệm làm Kinh Nam tiết độ sứ, kiêm Diêm-thiết chuyển vận sứ, tức quản lý độc quyền muối và sắt cũng như cung cấp thực phẩm cho Trường An và Lạc Dương. == Trấn Hải tiết độ sứ == Năm 878, sau khi Chiêu thảo phó sứ Tăng Nguyên Dụ (曾元裕) đánh bại và giết chết thủ lĩnh nổi dậy Vương Tiên Chi, các tướng sĩ của Vương Tiên Chi tan rã, một phần dư đảng cướp phá Trấn Hải. Do nhiều tướng sĩ của Vương Tiên Chi xuất thân từ Thiên Bình, còn Cao Biền lại có uy danh tại Thiên Bình, Đường Hy Tông đã chuyển Cao Biền đến Trấn Hải làm tiết độ sứ, cũng như Nhuận châu thứ sử. Ông được tiến vị là kiểm hiệu tư không, tiến phong là Yên quốc công, mục đích là khiến dư đảng của Vương Tiên Chi quy phục ông, tuy nhiên sau đó hầu hết dư đảng của Vương Tiên Chi đã gia nhập vào đội quân nổi dậy của Hoàng Sào. Năm 879, Cao Biền khiển bộ tướng Trương Lân (張璘) và Lương Toản (梁纘) phân đạo tiến đánh Hoàng Sào, kết quả giành được thắng lợi, một số tướng của Hoàng Sào đầu hàng, trong đó có Tần Ngạn (秦彥), Tất Sư Đạc (畢師鐸), và Lý Hãn Chi (李罕之). Sau thất bại này, Hoàng Sào phải tiến về phía nam, hướng đến Lĩnh Nam Đông đạo. Khi Hoàng Sào tiến đến gần thủ phủ Quảng châu của Lĩnh Nam Đông đạo, Cao Biền đã thượng tấu cho Đường Hy Tông, thỉnh cầu được suất quân đánh Hoàng Sào, theo đó đô tri binh mã sứ Trương Lân đem 5.000 binh thủ Sâm châu, binh mã lưu hậu Vương Trọng Nhâm (王重任) đem 8.000 lính đến chặn tại Tuần châu và Triều châu, và Cao Biền đem một vạn lính tiến thẳng đến Quảng châu đánh Hoàng Sào. Cao Biền cho rằng Hoàng Sào nghe thấy ông tiến quân đến thì tất sẽ chạy trốn, vì thế xin đô thống Vương Đạc đem ba vạn bộ binh đến thủ tại Ngô châu, Quế châu, Chiêu châu, và Vĩnh châu nhằm đánh chặn Hoàng Sào. Tuy nhiên, Đường Hy Tông từ chối đề xuất của Cao Biền. Hoàng Sào sau đó chiếm giữ Quảng châu một thời gian, trong khi Đường Hy Tông chuyển Cao Biền sang Hoài Nam làm tiết độ sứ; tiếp tục đảm nhiệm chức Diêm-thiết chuyển vận sứ, Chu Bảo kế nhiệm Cao Biền tại Trấn Hải. == Hoài Nam tiết độ sứ == === Chiến dịch chống Hoàng Sào === Sau khi Cao Biền chuyển đến Hoài Nam, Trương Lân tiếp tục giành được thắng lợi trước Hoàng Sào. Lô Huề do từng tiến cử Cao Biền làm đô thống, nay được phục chức Đồng bình chương sự. Lô Huề tiếp tục tiến cử Cao Biền là Chư đạo hành doanh binh mã đô thống, Đường Hy Tông chấp thuận. Trong khi đó, Cao Biền truyền hịch chinh Thiên hạ, mộ thêm 7 vạn quân, uy vọng đại chấn triều đình. Năm 880, quốc khố hao mòn do các chiến dịch trấn áp nổi dậy, có tấu trình đề xuất buộc các phú hộ và hồ thương phải cho triều đình vay một nửa tài sản của họ. Cao Biền thượng ngôn rằng nay toàn đế chế bị ảnh hưởng bởi nạn đói lan rộng và người dân lũ lượt tham gia nổi dậy, chỉ còn các phú hộ và hồ thương là còn ủng hộ triều đình, đề xuất này có thể khiến họ cũng quay sang làm phản. Đường Hy Tông do đó hủy bỏ kế hoạch. Vào mùa hè năm 880, Hoàng Sào trong khi Bắc phạt bị sa lầy tại Tín châu, còn quân lính bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh từ khi còn ở Lĩnh Nam. Đương thời, khi Trương Lân chuẩn bị tiến công, Hoàng Sào thấy sẽ không chống nổi nên đã hối lộ cho Trương Lân, và viết thư cho Cao Biền thỉnh hàng. Cao Biền muốn tiếp nhận sự đầu hàng của Hoàng Sào nhằm lập công, đã thượng tấu thỉnh cầu triều đình phong cho Hoàng Sào làm tiết độ sứ. Hơn nữa, mặc dù quân tiếp viện từ các quân Chiêu Nghĩa, Cảm Hóa, và Nghĩa Vũ đang tiến đến Hoài Nam, do không muốn công lao bị chia sẻ nên Cao Biền đã thượng tấu nói rằng ông không còn cần trợ giúp và xin trả lại quân tiếp viện. Khi nhận thấy các đội quân tiếp viện rời khỏi Hoài Nam, Hoàng Sào đã cắt đứt quan hệ với Cao Biền, Cao Biền tức giận và hạ lệnh cho Trương Lân tiến công, song lúc này Hoàng Sào lại chiếm ưu thế trên chiến trường, Trương Lân tử trận. Vào mùa thu năm 880, Hoàng Sào vượt Trường Giang tại Thái Thạch và tiến vào lãnh địa thuộc Hoài Nam. Mặc dù được Tất Sư Đạc thúc giục giao chiến, song Cao Biền trở nên lo sợ từ sau khi Trương Lân qua đời và từ chối tiến công quân Hoàng Sào. Thay vào đó, Cao Biền thỉnh cầu triều đình cứu viện khẩn cấp, khiến cho triều đình thất vọng vì họ từng tin tưởng rằng Cao Biền có thể tự thân tiêu diệt Hoàng Sào. Đường Hy Tông ban một chiếu chỉ khiển trách Cao Biền vì đã trả lại quân tiếp viện, Cao Biền thượng tấu có ý châm biến Đường Hy Tông vì Hoàng đế từng chấp thuận đề xuất trả lại quân tiếp viện của ông. Sau đó, Cao Biền xưng bệnh và từ chối giao chiến với Hoàng Sào, mối quan hệ giữa ông và triều đình từ đó lạnh nhạt đi đáng kể. Khoảng tết năm 881, khi Hoàng Sào tiến gần đến Trường An, Đường Hy Tông đã quyết định từ bỏ kinh thành và chạy đến Tây Xuyên. Cho đến mùa xuân năm 881, Đường Hy Tông vẫn hy vọng rằng Cao Biền sẽ dẫn quân tái chiếm đông đô và kinh thành, do đó đã ban một chiếu chỉ cho phép Cao Biền bổ nhiệm các tướng lĩnh và quan lại mà ông nhận thấy phù hợp, song Cao Biền vẫn không suất quân. Trong khi đó, khi hai con trĩ bay vào trong Quảng Lăng phủ, có thầy bói nói rằng đây là một điềm xấu, thành ấp sẽ trống rỗng. Do đó, Cao Biền đã cố gắng tránh điềm xấu bằng cách di hịch tứ phương hợp binh thảo Hoàng Sào. Ông dời khỏi thành với 8 vạn binh lính và đóng quân tại Đông Đường (東塘), ngay phía đông thành, song từ chối tiếp tục tiến quân. Cao Biền cũng lệnh cho các quân lân cận đến hợp binh, song Chu Bảo phát hiện ra rằng Cao Biền không thực tâm muốn tiến công Hoàng Sào, vì thế người này đã từ chối huy động binh sĩ Trấn Hải hợp binh với Cao Biền, cho rằng Cao Biền đang có ý muốn chống mình. Hai bên trao đổi thư tín với ngôn từ gay gắt, và sau đó, tình bằng hữu giữa họ hoàn toàn chấm dứt. Sau đó, Cao Biền dùng sự thù địch của Chu Bảo làm nguyên cớ để giải tán binh sĩ. === Suy sụp và qua đời === Cao Biền trên danh nghĩa là đô thống trấn áp Hoàng Sào, song ông từ chối tiến hành các hành động chống lại Đại Tề của Hoàng Sào. Tại Tây Xuyên, thị trung Vương Đạc đề xuất được giao quyền thống lĩnh các chiến dịch chống Đại Tề, và đến mùa xuân năm 882 thì Đường Hy Tông bổ nhiệm Vương Đạc là Chư đạo hành doanh đô thống, song Cao Biền vẫn được giữ chức Hoài Nam tiết độ sứ và Diêm-thiết chuyển vận sứ. Vào thời điểm này, Cao Biền ngày càng trở nên rất tin tưởng vào phương sĩ Lã Dụng Chi (呂用之), cùng kì đảng là Trương Thủ Nhất (張守一) và Gia Cát Ân (諸葛殷), đến nỗi Lã Dụng Chi nắm quyền kiểm soát quân trên thực tế, bất cứ ai dám lên tiếng chống lại Lã Dụng Chi đều phải chết. Vào mùa hè năm 882, Đường Hy Tông ban cho ông chức Thị trung song bãi chức Diêm-thiết chuyển vận sứ. Cao Biền thấy vừa mất quyền và vừa mất lợi thì cảm thấy tức giận, sai người thảo biểu tự tố với lời lẽ bất kính, trong đó phàn nàn rằng ông không được trao đủ quyền, rằng Vương Đạc và Thôi An Tiềm (崔安潛) bất tài, so sánh Đường Hy Tông với các vị hoàng đế vong quốc Tần Tử Anh và Hán Canh Thủy Đế. Đường Hy Tông sai Trịnh Điền thảo chiếu trách cứ Cao Biền, dùng lời lẽ gay gắt, và sau đó, Cao Biền từ chối nộp bất kỳ khoản thuế nào cho triều đình. Năm 885, Hoàng Sào bị đánh bại và Đường Hy Tông trở về Trường An, Tả Thần Sách trung úy Điền Lệnh Tư sau đó lại xung đột với Hà Trung tiết độ sứ Vương Trọng Vinh. Trước tình hình rối loạn, Tĩnh Nan tiết độ sứ Chu Mai đã lập một thành viên trong tông thất triều Đường là Lý Uân làm nhiếp chính. Chu Mai hy vọng liên minh với Cao Biền nên đã yêu cầu Lý Uân ban một chiếu chỉ bổ nhiệm Cao Biền giữ chức Trung thư lệnh, Giang Hoài diêm thiết chuyển vận đẳng sứ, Chư đạo hành doanh binh mã đô thống. Đáp lại, Cao Biền thượng tấu thỉnh Lý Uyên tức vị. Trong khi đó, Cao Biền bắt đầu nhận ra rằng Lã Dụng Chi trên thực tế là người cai quản Hoài Nam, và bản thân ông không còn có thể độc lập thi hành quyền lực. Cao Biền cố gắng kiềm chế quyền lực của Lã Dụng Chi, Lã Dụng Chi do đó bắt đầu lên kế hoạch loại bỏ Cao Biền. Đương thời, theo ghi chép thì tại Dương châu xuất hiện nhiều điềm gở, song khi Chu Bảo buộc phải chạy trốn khỏi Nhuận châu sau một cuộc binh biến vào năm 887, Cao Biền tin rằng các điềm gở này là ám chỉ đến Chu Bảo, nghĩ rằng bản thân sẽ an toàn. Đến mùa hè năm 887, phản tướng Tần Tông Quyền chuẩn bị tiến công vào Hoài Nam, Cao Biền chuẩn bị phòng thủ. Đương thời, Tất Sư Đạc tin rằng Lã Dụng Chi tiếp theo sẽ có hành động chống lại mình, vì thế đã tập hợp binh lính cùng với Trịnh Hán Chương (鄭漢章) và Trương Thần Kiếm (張神劍) nổi dậy, bao vây Dương châu. Cao Biền bố trí phòng thủ tại quân phủ, giao cho cháu là Cao Kiệt (高傑) chỉ huy, chống lại Lã Dụng Chi. Cao Biền khiển thuộc hạ là Thạch Ngạc (石鍔) cùng ấu tử của Tất Sư Đạc đến gặp Tất Sư Đạc. Tất Sư Đạc lệnh cho ấu tử của mình về chỗ Cao Biền truyền đạt lại: "Hễ Lệnh công trảm Lã và Trương (tức Trương Thủ Nhất) để thể hiện với Sư Đạc, Sư Đạc sẽ không dám phụ ân, nguyện cho thê tử đến làm tin." Cao Biền lo sợ rằng Lã Dụng Chi có thể ra tay đồ sát gia quyến của Tất Sư Đạc, vì thế đem gia quyến của Tất Sư Đạc đến viện để bảo vệ. Từ thời điểm này, cuộc chiến tại Dương châu diễn ra giữa ba bên: Tất Sư Đạc, Cao Biền và Lã Dụng Chi. Do không thể nhanh chóng chiếm được Dương châu, Tất Sư Đạc cầu viện Tuyên Thiệp quan sát sứ Tần Ngạn (秦彥), Tần Ngạn khiển Tần Trù (秦稠) đến tiếp viện cho Tất Sư Đạc. Ngày 17 tháng 5, Tất Sư Đạc tiến công dữ dội vào Dương châu, song bị Lã Dụng Chi phản công đánh bại. Tuy nhiên, vào thời điểm này, Cao Kiệt phát động tiến công từ quân phủ của Cao Biền, mục đích là để bắt Lã Dụng Chi và giải đến cho Tất Sư Đạc. Lã Dụng Chi biết tin thì từ bỏ Dương châu và chạy trốn. Cao Biền buộc phải gặp Tất Sư Đạc và cho người này giữ chức tiết độ phó sứ, sau đó chuyển giao toàn bộ quyền lực của Hoài Nam cho Tất Sư Đạc. Tất Sư Đạc kiểm soát được quân phủ, rồi giao nó lại cho Tần Ngạn như hứa hẹn. Tần Ngạn và Tất Sư Đạc quản thúc Cao Biền cùng gia quyến của ông tại một đạo viện. Trong khi đó, Lã Dụng Chi đã ban một sắc lệnh nhân danh Cao Biền để lệnh cho Lư châu thứ sử Dương Hành Mật đem binh đến tăng viện cho mình. Dương Hành Mật tập hợp binh lính Lư châu và Hòa châu và tiến về Dương châu. Liên quân Dương Hành Mật và Lã Dụng Chi sau đó hợp binh với một vài đội quân khác, bao gồm quân của Trương Thần Kiếm. Mặc dù không thể nhanh chóng chiếm được Dương châu, Dương Hành Mật đã đánh bại các cuộc tiến công của Tần Ngạn và Tất Sư Đạc, Tần Ngạn và Tất Sư Đạc bắt đầu tin rằng Cao Biền dùng ma thuật để chống lại họ. Một yêu ni là Vương Phụng Tiên (王奉仙) Báo với Tần Ngạn rằng một đại nhân cần phải chết để chấm dứt cực tai của Dương châu, do đó Tần Ngạn đã quyết tâm giết chết Cao Biền. Ngày 24 tháng 9, Tần Ngạn phái tướng Lưu Khuông Thì (劉匡時) đi giết chết Cao Biền, cùng các thân thích là nam giới. Thi thể của họ đều bị ném xuống một hố duy nhất. Sau khi Dương Hành Mật chiếm được Dương châu vào cuối năm đó, ông ta bổ nhiệm tụng tôn của Cao Biền là Cao Dũ (高愈) là phó sứ, sai đó cải táng Cao Biền và thân tộc. Tuy nhiên, trước khi Cao Biền được cải táng, Cao Dũ đã qua đời, sau đó, thuộc hạ cũ của Cao Biền là Quảng Sư Kiền (鄺師虔) đã thu táng Cao Biền. == Thành Đại La == Thành Đại La ban đầu do Trương Bá Nghi cho đắp từ năm Đại Lịch thứ 2 đời Đường Đại Tông (767), năm Trinh Nguyên thứ 7 đời Đường Đức Tông (791), Triệu Xương đắp thêm. Đến năm Nguyên Hòa thứ 3 đời Đường Hiến Tông (808), Trương Chu lại sửa đắp lại, năm Trường Khánh thứ 4 đời Đường Mục Tông (824), Lý Nguyên Gia dời phủ trị tới bên sông Tô Lịch, đắp một cái thành nhỏ, gọi là La Thành, sau đó Cao Biền cho đắp lại to lớn hơn. Theo sử cũ thì La Thành do Cao Biền cho đắp có chu vi 1.982,5 trượng (≈6,6 km); thành cao 2,6 trượng (≈8,67 m), chân thành rộng 2,5 trượng (≈8,33 m), nữ tường bốn mặt cao 5,5 thước (≈1,83 m), với 55 lầu vọng địch, 6 nơi úng môn, 3 hào nước, 34 đường đi. Ông còn cho đắp đê vòng quanh ngoài thành dài 2.125,8 trượng (≈7,09 km), đê cao 1,5 trượng (≈5,00 m), chân đê rộng 2 trượng (≈6,66 m) và làm hơn 400.000 gian nhà. Theo truyền thuyết, do thành xây đi xây lại vẫn bị sụt ở vùng sông Tô Lịch, Cao Biền đã cho trấn yểm tại đây để làm cho đất vững và chặn dòng long mạch của vùng đất này. Các di chỉ tìm được trong lòng sông tháng 9 năm 2001 được một số nhà nghiên cứu cho là di tích của bùa yểm này (xem Thánh vật ở sông Tô Lịch). === Người vợ === Theo thần phả ở Hà Đông, Cao Biền có một người vợ là Lã Thị Nga (Lã Đê nương), theo ông từ phương bắc sang Việt Nam. Bà không ở cùng Cao Biền trong thành mà ra ở bên ngoài, khu vực ngày nay là quận Hà Đông. Bà đã truyền nghề dệt lụa cho dân ở đây và trở thành bà tổ nghề dệt lụa Hà Đông. Sau khi Cao Biền về bắc, bà ở lại Tĩnh Hải quân. Sau nghe tin Cao Biền mất ở Trung Quốc, bà gieo mình xuống sông tự vẫn. Dân lập đền thờ bà ở bờ sông. == Các truyền thuyết == Với Cao Biền, ngày nay ở dân gian Việt Nam vẫn còn những truyền thuyết hoang đường, như cho rằng Cao Biền thấy ở đất Giao Châu có nhiều kiểu đất đế vương, nên thường cưỡi diều giấy bay đi xem xét, rồi dùng phép thuật phá những nơi có hình thế sơn thuỷ đẹp, và chặn những đất có long mạch bằng cách đào những giếng khơi rất sâu. Mỗi khi thấy người nào sức yếu, tay chân cử động run rẩy, người ta hay sử dụng câu gần như đã là thành ngữ: Lẩy bẩy như Cao Biền dậy non. Người ta giải thích là Cao Biền có phép thuật "tản đậu thành binh", nghĩa là mỗi khi cần có quân lính đi đánh dẹp, không cần mộ người chỉ cần rắc đậu vào một bãi đất, rồi ủ kín, đọc thần chú rồi mở ra, mỗi hạt đậu hóa thành một người lính. Có lần Cao Biền đọc thần chú còn thiếu, khi mở ra những hạt đậu đã thành lính nhưng đều còn non chưa đủ sức, đứng lên không vững. Một thuyết khác giải thích về Cao Biền dậy non là khi Cao Biền sang nước Nam với mục đích yểm bùa và triệt hạ long mạch thì ông có nuôi 100 âm binh để phục vụ mục đích này. Để nuôi đủ 100 âm binh Cao Biền nhờ một bà hàng nước mỗi ngày thắp một nén hương để gọi dậy một âm binh. Khi thắp đủ 100 nén hương trong vòng 100 ngày sẽ gọi dậy được đủ 100 âm binh. Nhưng bà lão nước Nam đã phá âm mưu của Cao Biền bằng cách thắp cả một lượt 100 nén hương trong vòng 1 ngày. Kết quả là âm binh của Cao Biền đã dậy đủ 100. Nhưng vì không đủ ngày, dậy non nên không có tác dụng. Truyền thuyết dân gian kể rằng khi sang Giao Châu, Cao Biền thấy long mạch rất vượng, nên muốn phá đi, thường mặc áo phù thủy, cưỡi diều giấy đi khắp nơi để xem địa thế, hoặc giả tảng lập đàn cúng tế để lừa thần bản địa đến rồi dùng kiếm báu chém đầu, xong đào hào, chôn kim khí để triệt long mạch. Cao Biền có lần đến núi Tản, định dùng chước này, nhưng Tản Viên sơn thánh biết được, liền mắng Cao Biền rồi đi. Truyền thuyết núi Cánh Diều ở thành phố Ninh Bình kể rằng Cao Biền thường cưỡi diều giấy đi dò phá long mạch nước Nam, khi bay đến đất Hoa Lư đã bị một đạo sĩ cùng nhân dân ở đây dùng tên bắn, Cao Biền bị trọng thương, diều gãy cánh rơi xuống một hòn núi, từ đó hòn núi mang tên là núi Cánh Diều. Xét ra, theo sử Trung Quốc, chính Cao Biền khi về bắc bị cấp dưới là Lã Dụng Chi cuốn vào những trò ma thuật phong thủy và trở thành nạn nhân của những trò pháp thuật đó. Nếu là thầy phong thủy cao tay, ông phải là người đi mê hoặc người khác, không thể bị mê hoặc và bị chết bởi thuật này. Chuyện kể rằng Cao Biền đắp La Thành, mấy lần bắt đầu đều bị sụt lở. Một đêm, Cao Biền đứng trên vọng lâu nhìn ra, thấy một vị thần cưỡi ngựa trắng chạy đi, chạy lại như bay, rồi bảo Cao Biền cứ theo vết chân ngựa chạy mà đắp thành. Vì vậy, sau khi đắp thành xong, Cao Biền cho lập đền thờ vị thần ấy ở ngay nơi hiển hiện, gọi là đền Bạch Mã. Đền thờ này ngày nay vẫn còn ở phố Hàng Buồm, Hà Nội. Chuyện này còn có dị bản khác nói rằng Cao Biền đã cho đắp thành Đại La. Một hôm, Cao Biền ra chơi ngoài cửa đông của thành, chợt thấy trong chỗ mây mù tối tăm, có bóng người kì dị, mặc áo hoa, cưỡi rồng đỏ, tay cầm thẻ bài màu vàng, bay lượn mãi theo mây. Cao Biền kinh sợ, định lấy bùa để trấn yểm. Bỗng đêm hôm ấy thấy thần báo mộng rằng: Ta là tinh anh ở Long Đỗ, nghe tin ông đắp thành nên đến để hội ngộ, việc gì mà phải trấn yểm? Cao Biền lấy làm kỳ lạ, bèn lấy vàng, đồng và bùa chôn xuống để trấn yểm. Chẳng dè, ngay đêm đó mưa gió sấm sét nổi lên dữ dội, sáng ra xem, thấy vàng, đồng và bùa trấn yểm đều đã tan thành cát bụi. Cao Biền sợ hãi, bèn lập đền thờ ở ngay chỗ ấy và phong cho thần là thần Long Đỗ. Sau này Lý Thái Tổ dời kinh đô đến đất này, đổi gọi Đại La là Thăng Long. Nhà vua sai đắp lại thành, nhưng hễ thành đắp xong lại lở, bèn sai người đến cầu đảo thần Long Đỗ. Chợt người cầu đảo thấy có con ngựa trắng từ trong đền đi ra, dạo quanh thành một vòng, đi tới đâu, để vết chân rõ ràng tại đó và cuối cùng vào đền rồi biến mất. Sau nhà vua cứ theo vết chân ngựa mà đắp thành thì thành không lở nữa, bèn nhân đó, phong làm thành hoàng của Thăng Long. Các vua đời sau cũng theo đó mà phong tới Bạch Mã Quảng Lợi Tối Linh Thượng Đẳng Thần == Xem thêm == Tả Ao == Chú thích == == Tham khảo ==
lễ hội hoa đăng thái lan.txt
Lễ hội hoa đăng Thái Lan là một lễ hội truyền thống, có từ rất lâu đời được bắt nguồn từ đất nước Thái Lan. Hàng năm lễ hội được tổ chức vào đêm rằm tháng 12 theo lịch Thái (vào khoảng tháng 11 Dương lịch) trên khắp Thái Lan và ở một số vùng của Lào và Myanma (ở bang Shan). Tên chữ La-tinh của lễ hội là Loy Krathong hay Loi Krathong (tiếng Thái: ลอยกระทง). Sau lễ hội Songkran vào dịp Tết truyền thống, Lễ hội Loy Krathong là lễ hội lớn thứ 2 trong năm, và cũng là một trong những lễ hội đẹp nhất, màu sắc nhất và cổ nhất của vương quốc Thái Lan mang nhiều ý nghĩa và chứa đựng nhiều yếu tố thần thoại nhất của người Thái. == Lịch sử lễ hội == Trong tiếng Thái, Loy có nghĩa là "trôi", còn krathong là muốn nói tới chiếc bè nổi trên nước có hình hoa sen. Theo truyền thống, krathong được làm từ lá chuối hoặc các lớp thân cây chuối hoặc các tua của cây hoa huệ nhện (spider lillies). Một krathong gồm có thức ăn, trầu cau, hoa, nhang, nến và tiền xu. Dù làm bằng chất liệu gì, các chiếc krathong đều được trang trí các lá chuối được gấp xếp tỉ mẩn, hoa, nến và nhang. Một vài đồng bạc lẻ thỉnh thoảng cũng được đặt vào để dâng lên các thần sông. Suốt đêm trăng tròn, người Thái thả các krathong này xuống sông, kênh rạch hoặc ao hồ. Nhiều người tin là lễ hội này bắt nguồn từ một tập tục cổ xưa là thể hiện sự tôn kính đối với các thần sông. Ngày nay, lễ hội này đơn giản là một dịp để vui chơi. === Giả thiết về nguồn gốc === Nguồn gốc về Lễ hội hoa đăng của Thái Lan, có nhiều sự tích khác nhau. Một câu truyện được dân gian được kể lại là vào triều đại đầu tiên của Thái Lan cách đây 800 năm - thời kỳ Sukhothai ở thế kỷ XIII, bằng sự khéo léo của mình, các nàng công chúa của vị vua đương triều đã ghép tàu lá chuối, đặt lên đó một cái đèn hình hoa sen, sắp hoa và nến thơm thả trôi trên mặt nước để tỏ lòng biết ơn của họ với Đức Phật và dòng sông. Nhà vua đã rất vui mừng, và ra lệnh mỗi năm vào ngày 15 tháng 12 (lịch Thái Lan) trăng tròn mùa Loy Krathong nhân dân làm đèn thả nước theo mô hình trên. Đèn nước để bày tỏ lòng biết ơn đối với thiên nhiên, mà còn cầu cho một năm nhiều may mắn. Theo các ghi chép khác trong "Mongkut" của vua Rama IV năm 1863, nguyên thủy là lễ hội này bắt nguồn từ lễ hội của Ấn Giáo Phệ đà (Vedic Brahmanism) được các sư Thái Lan biến đổi thành một nghi lễ vinh danh đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Bên cạnh việc tôn kính Phật bằng cách sử dụng ánh sáng (nến trên chiếc hoa đăng), việc thả trôi đèn nến còn là một hành động biểu trưng cho việc xóa đi mọi sân hận, giận dữ và những thứ ô uế để mọi người có thể bắt đầu lại từ đầu với tâm thế tốt hơn. Mọi người cũng cắt tóc và móng tay rồi đặt lên hoa đăng như là một hành động bỏ đi tất cả các phần xấu xa của mình. Một cách giải thích đơn giản hơn về lễ hội đã có lịch sử hơn 700 năm, nhiều người Thái tin rằng thả trôi một chiếc hoa đăng sẽ mang lại may mắn tốt lành, và họ làm điều này để tỏ lòng tôn kính với Nữ thần Nước Phra Mae Khongkha (tiếng Thái: พระแม่คงคา) và cầu xin thần tha thứ cho những hành động của con người trong cuộc sống hàng ngày đã làm ô nhiễm nguồn nước của người. === Sự tích khác === Cuộc thi sắc đẹp gắn liền với lễ hội được gọi là cuộc thi "Tuyển chọn nữ hoàng Nopphamat". Theo truyền thuyết, Nang Nopphamat (tiếng Thái: นางนพมาศ; có thể phát âm là "Noppamas" hoặc "Nopamas") là vợ của vua Loethai của vương quốc Sukhothai thế kỷ 14 và bà chính là người đầu tiên thả trôi một chiếc hoa đăng. Tuy vậy, câu chuyện này chỉ mới được kể vào đầu thế kỷ 19. Không có bằng chứng cho thấy bà Nang Nopphamat có tồn tại hay không. Thay vào đó, có một sự thật rằng một người đàn bà với tên gọi này là nhân vật chính của một tiểu thuyết ra đời vào thời vua Rama III- khoảng năm 1850. Nhân vật này được xây dựng như là một phụ nữ hướng dẫn các phụ nữ muốn trở thành các công chức. == Hoạt động lễ hội == Lễ hội Loy Krathong được tổ chức khắp đất nước Thái Lan, nhưng lớn nhất là tại 4 tỉnh Sukhothai, Chiang Mai, Ayutthaya và Bangkok. Ở những nơi này, ngoài hoạt động thả đèn krathong, thành phố còn tổ chức bắn pháo hoa, diễu hành có trống chiêng; đua thuyền hay đua thả đèn hoa đăng, thi kết hoa đăng; cuộc thi sắc đẹp Miss Nopphamat; thưởng thức ẩm thực Thái và các tiết mục biểu diễn văn nghệ, âm nhạc truyền thống của Thái. Tại Sukhothai, quê hương của lễ Loy Krathong, lễ hội kéo dài 3 ngày. Những chiếc đền lồng được thả dọc các dòng sông và soi sáng những khu di tích khảo cổ đẹp nhất Thái Lan tại Sukhodai, cố đô của vương quốc Xiêm. Tại thủ đô Bangkok, bên cạnh các hoạt động truyền thống như bắn pháo hoa, rước tàu, một vài khách sạn bên bờ sông Chao Phraya bật đèn sáng gần như cả đêm và một vài bể bơi trong khách sạn cũng cho phép khách thả đèn vào đêm hội. Tại cố đô Ayutthaya là chợ nổi, lễ rước đèn, thi hoa hậu, liên hoan ẩm thực Thái Lan, đua thuyền... Các văn phòng Chính phủ, các doanh nghiệp và các tổ chức khác thường kết các hoa đăng lớn được trang trí đẹp đẽ. Ngoài ra còn có nhiều cuộc thi kết hoa đăng ở địa phương và cấp Trung ương, người ta thi thố nhau về độ đẹp và độ tài khéo của nghệ nhân. Thêm vào đó, còn có bắn pháo hoa và thi hoa khôi suốt thời gian lễ hội. == Khác biệt của lễ hội tại các vùng miền == Lễ hội Loy Krathong tổ chức cũng có màu sắc riêng tại một số địa phương. Ví dụ, ở tỉnh Tak (phía Tây Thái Lan giáp với Myanma) có truyền thống Loy Krathong độc đáo: hoa đăng được kết bằng những tán lá dừa, thay vì lá chuối như phần lớn những nơi tổ chức Loy Krathong ở Thái Lan; từng lễ vật riêng được kết vào nhau thành bè và thả cùng lúc để một chuỗi ánh sáng lấp lánh dọc con sông Ping (con sông nối từ Tak đến trung tâm Thái Lan). Vùng Kelantan ở Malaysia cũng tổ chức một kiểu lễ hội giống như lễ hội này, đặc biệt là tại khu vực Tumpat. Bộ trưởng phụ trách du lịch của Malaysia đã công nhận lễ hội này là một nét hấp dẫn đối với du khách. Hằng năm, có rất nhiều người đã tham dự lễ hội này. Hoặc như ở thành phố Chiang Mai phía Bắc Thái Lan nơi cố đô của vương quốc Lan Na, Loy Krathong ở đây có nghi thức khác thường là thả đèn trời kiểu Lanna (cũng hình hoa sen) bay lên bằng hơi nóng với niềm tin rằng khi những chiếc đèn lồng bồng bềnh trên không sẽ mang theo những phiền não của cư dân trong cộng đồng bay mất. Loy krathong ở Lanna, có tên là lễ hội "Yi Peng" (tiếng Thái: ยี่เป็ง). Do sự khác biệt giữa lịch Lanna cổ và lịch Thái mà thời gian Yi Peng được tổ chức lại là ngày rằm tháng 2 theo lịch cổ Lanna ("Yi" có nghĩa là "thứ hai" và "Peng" nghĩa là "tháng" theo tiếng Lanna). Vô số các loại đèn trời theo phong cách Lanna (gọi là khom loi (tiếng Thái: โคมลอย), nghĩa đen: lồng đèn thả trôi) được thả lên trời tạo ra một hình ảnh rất giống một đàn lớn các con sứa khổng lồ phát sáng, đang trôi nổi rất duyên dáng trên bầu trời. Lễ hội là thời gian để tham bun (tiếng Thái: ทำบุญ), để tích đức. Người ta tạo ra khom loi từ một mảnh vải mỏng, hoặc từ bánh tráng và gắn vào đó nến hoặc pin nhiên liệu. Khi pin nhiên liệu được đốt cháy, sẽ tạo ra một lượng khí nóng bị bẫy bên trong chiếc đèn trời, tạo ra đủ lực để nâng khom loi bay lên trời. Ngoài ra, người dân cũng trang hoàng nhà cửa, vườn tược và đình chùa với khom fai (tiếng Thái: โคมไฟ): một loại đèn giấy có nhiều hình thù tinh tế. Khom thue (tiếng Thái: โคมถือ) là các loại lồng đèn để cầm trực tiếp trên tay hay treo vào một cái que nhỏ, khom khwaen (tiếng Thái: โคมแขวน) là các loại đèn treo, còn khom pariwat (tiếng Thái: โคมปริวรรต) là các loại đèn quay (do sức nóng của các ngọn nến bên trong) ở đình chùa. Vào dịp lễ hội, ánh sáng rực rỡ thắp sáng cả khắp mặt nước sông, lấp lánh trên các cành cây, mái nhà, bờ tường và tỏa sáng cả trời cao. Truyền thống Yi Peng cũng được du nhập vào một số vùng của Lào vào thế kỷ 16. == Hình ảnh lễ hội == == Xem thêm == Lễ hội Thái Lan Diwali- lễ hội ánh sáng Ấn Độ == Liên kết ngoài == Website quảng bá du lịch lễ hội Loi krathong của Thái Lan (hình ảnh, đồ họa và tài liệu khác) (tiếng Anh) & (tiếng Thái) == Tham khảo == (tiếng Anh) Suttinee Yavaprapas; Chaleo Manilerd; (Thái Lan) Krasūang Watthanatham - phòng Quan hệ đối ngoại; Thái Lan. Krasūang Watthanatham. Văn phòng Thư ký thường trực (2004). Loy krathong Festival. phòng Quan hệ đối ngoại, Bộ Văn hóa Thái Lan. ISBN 978-974-9681-22-0. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2011. Donald K. Swearer (1 tháng 2 năm 2010). Thế giới Phật giáo của khu vực Đông Nam Á. SUNY Press. tr. 49–. ISBN 978-1-4384-3251-9. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2011. (tiếng Anh) Anuman Rajadhon (Phrayā) (1956). Lễ hội Loy krathong & Songkran. Viện Văn hóa quốc gia. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2011. The Kingdom of the Yellow Robe. Forgotten Books. tr. 358–367. ISBN 978-1-4400-9096-7. Truy cập ngày 5 tháng 10 năm 2011. (tiếng Anh) == Chú thích ==
liên kết cộng hóa trị phối hợp.txt
Liên kết cộng hóa trị phối trí (còn được biết đến như là Liên kết cộng hóa trị cho - nhận hay Liên kết phối trí) là một dạng đặc biệt của liên kết cộng hóa trị, trong đó các điện tử chia sẻ chỉ đến từ một nguyên tử duy nhất. Khi liên kết được tạo thành, độ bền của nó không khác gì so với liên kết cộng hóa trị. Các liên kết cộng hóa trị phối trí được tạo thành khi một bazơ Lewis (chất cung cấp điện tử) cung cấp một cặp điện tử cho axít Lewis (chất nhận điện tử) và hợp chất tạo thành sau đó được gọi là adduct. Các liên kết phối trí có thể tìm thấy trong nhiều chất khác nhau, chẳng hạn như trong các phân tử đơn giản như mônôxít cacbon (CO), trong đó có một liên kết phối hợp và hai liên kết cộng hóa trị thông thường giữa nguyên tử cacbon và nguyên tử ôxy, hay trong ion amôni (NH4+), trong đó liên kết phối hợp được tạo thành giữa prôton (ion H+) và nguyên tử nitơ. Các liên kết phối hợp cũng được tạo ra trong các hợp chất thiếu điện tử, chẳng hạn như trong clorua berili rắn (BeCl2), trong đó mỗi nguyên tử berili được liên kết tới bốn nguyên tử clo, hai với liên kết cộng hóa trị thông thường và hai với liên kết phối hợp, điều này sẽ tạo cho nó một cặp tám (octet) ổn định của các điện tử. Các liên kết phối trí cũng có thể tìm thấy trong các phức chất có sự tham gia của các ion kim loại, đặc biệt nếu chúng là các ion kim loại chuyển tiếp. Trong các phức chất này, các chất trong dung dịch hoạt động như các bazơ Lewis và cung cấp các cặp điện tử tự do của chúng cho ion kim loại, trong lượt nó hoạt động như các axít Lewis và nhận các điện tử. Các liên kết phối hợp tạo ra các hợp chất gọi là phức chất, trong khi chất cung cấp điện tử được gọi là các phối tử (ligand). Có rất nhiều hóa chất với các nguyên tử có các cặp điện tử độc thân, chẳng hạn ôxy, lưu huỳnh, nitơ và các halôgen hay các ion halogenua, mà trong dung dịch có thể cung cấp các cặp điện tử để trở thành các phối tử. Một phối tử thông thường là nước (H2O), nó sẽ tạo thành các phức chất với bất kỳ ion kim loại ngậm nước nào, chẳng hạn Cu2+, để tạo ra [Cu(H2O)4]2+ trong dung dịch nước. Các phối tử đơn giản khác là amôniắc (NH3), các ion florua (F-), clorua (Cl-) và xyanua (CN-). == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Chemguide
cảng tiên sa.txt
Cảng Tiên Sa là một cảng biển tại thành phố Đà Nẵng. Cảng này là một trong những cảng quan trọng nhất khu vực Trung Bộ Việt Nam. Năm 2007, cảng đã bốc dỡ tổng cộng 2,7 triệu tấn hàng hóa.[1] Đây là đầu mối giao thông quan trọng của Hành lang kinh tế Đông - Tây. Nằm trong Vịnh Đà Nẵng, với vị trí vô cùng thuận lợi, Cảng Đà Nẵng là cảng biển nước sâu mang tầm vóc là một cảng biển lớn nhất khu vực miền Trung Việt Nam, đã đóng vai trò phát triển kinh tế khu vực cùng thành phố Đà Nẵng năng động và xinh đẹp. Cảng ĐN có hệ thống giao thông đường bộ nối liền thông suốt giữa cảng với Sân bay quốc tế Đà nẵng và Ga đường sắt; cách Quốc lộ 1A khoảng 12 km và gần đường hàng hải quốc tế. Cảng ĐN hiện là một khâu quan trọng trong chuỗi dịch vụ Logistics của Miền Trung Việt Nam và Hành lang Kinh tế Đông Tây, có vai trò quan trọng như một cửa ngõ chính ra biển Đông cho cả một khu vực. Sản lượng hàng hóa qua Cảng Đà Nẵng luôn có tốc độ tăng trưởng cao đặc biệt là lượng hàng container. Ngoài ra, Cảng ĐN còn là điểm đến lý tưởng cho các tàu Du lịch. Cảng ĐN bao gồm hai khu cảng chính là Xí nghiêp Cảng Tiên sa và Cảng Sơn Trà, sở hữu 1.400m cầu bến cùng các thiết bị xếp dỡ và các kho bãi hiện đại, có năng lực khai thác lên đến 6 triệu tấn hàng mỗi năm. Cảng Tiên Sa có khu bến container với hệ thống kho bãi, đê chắn sóng, thiết bị chuyên dụng hiện đại, phục vụ giao thương hàng hóa và phát triển kinh tế, du lịch cho vùng hậu phương gồm các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Thái Lan thông qua tuyến hàng lang kinh tế Đông Tây. Cảng Tiên Sa có khả năng tiếp nhận tàu hàng tổng hợp đến 45.000 DWT, tàu container đến 2.000 teus và cả tàu khách đến 75.000 GRT. Cảng Đà Nẵng luôn được sự quan tâm sâu sắc của Chính phủ, lãnh đạo Thành phố các cấp đối với sự trưởng thành và phát triển của Cảng. Năm 2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng đoàn công tác Trung ương và các đồng chí lãnh đạo Thành phố Đà Nẵng đã đến thăm và làm việc tại Cảng. Với phương châm xem khách hàng là người quyết định sự tồn tại và phát triển của mình, cảng ĐN đã không ngừng nâng cao sự thỏa mãn của khách hàng bằng cách cung cấp dịch vụ ngày càng tốt hơn với thủ tục đơn giản, định hướng vào chính lợi ích thiết thực của khách hàng, theo đúng tiêu chuẩn ISO 9001: 2008 của hệ thống Khai thác và quản lý cảng do đơn vị BV - Vương quốc Anh công nhận. Cảng Đà Nẵng đã định hướng, thực hiện các kế hoạch phát triển và mở rộng dự kiến từ 2015 đến 2018, bao gồm lập các khu kho Logistic, bãi trung chuyển, mở rộng Cảng Tiên Sa giai đoạn 2 và Cảng Sơn Trà; phát triển Cảng ĐN trở thành một trong những cảng biển hàng đầu Việt Nam bằng việc hiện đại hóa Cảng theo hướng container và là điểm đến cho các tàu Du lịch. Cảng ĐN quyết tâm phấn đấu thực hiện theo phương châm "Năng suất - Chất lượng – Hiệu quả" và chia sẻ lợi ích với khách hàng./. == Tham khảo ==
xóm.txt
Xóm, hay còn gọi là liên gia dưới thời Việt Nam Cộng hòa, là tụ quần 1 tập thể hộ gia đình sinh sống gần nhau và có thể có mối quan hệ họ hàng với nhau tại các vùng nông thôn. Ngày nay trong nhiều thôn ấp được chia một các truyền thống về mặt văn hoá xã hội thành các xóm, thông thường những khu dân cư sinh sống ven đình được gọi là xóm đình dù xóm có thể bao gồm 2 ấp. Những tên xóm thông thường được dùng như xóm gò, xóm vịt, xóm ngoài, xóm trong, xóm bún,... tuỳ theo đặc điểm chung của xóm. Tại Việt Nam, xóm là cấp đơn vị hành chính dưới cấp thôn (mặc dù không được thừa nhận là một cấp đơn vị hành chính nhà nước). Xóm cùng với thôn được sử dụng chủ yếu ở nông thôn, trong cộng đồng dân tộc Kinh và Mường. == Tham khảo ==
ngân hàng grameen.txt
Ngân hàng Grameen (tiếng Bengali: গ্রামীণ ব্যাংক) là một tổ chức tài chính vi mô (tiếng Anh: microfinance) khởi đầu tại Bangladesh với mục đích cho vay vốn nhỏ (được gọi tín dụng vi mô; tiếng Anh: microcredit) cho người nghèo mà không cần điều kiện bảo đảm. Hệ thống dựa trên ý tưởng người nghèo có các kỹ năng mà không được tận dụng hết. Ngân hàng cũng nhận ký quỹ, cung cấp các dịch vụ khác và kinh doanh trên các lĩnh vực hướng-phát triển bao gồm các công ty sản xuất, điện thoại và năng lượng. Tổ chức này và người thành lập, Muhammad Yunus, được nhận giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2006. == Lịch sử == Muhammad Yunus, nhà sáng lập ngân hàng, đạt học vị Tiến sĩ ngành Kinh tế học tại trường Đại học Vanderbilt, Hoa Kỳ. Qua nạn đói khủng khiếp tại Bangladesh năm 1977 ông được tiếp cảm hứng cho vay một khoản nhỏ 27 đôla Mỹ cho một nhốm 43 hộ gia đình để họ có thể tạo các đồ vật nhỏ đem bán mà không đòi hỏi thế chấp Yunus tin rằng việc cho vay các khoản nhỏ như vậy nếu được đem áp dụng rộng rãi cho cộng đồng thì có thể làm cải thiện đói nghèo tại làng quê phổ biến tại Bangladesh. Ngân hàng Grameen (tiếng Bangla nghĩa là "Ngân hàng của làng quê") bắt nguồn từ ý tưởng của Muhammad Yunus. Ngân hàng bắt đầu với một dự án nghiên cứu của Yunus và dự án kinh tế nông thôn tại trường đại học Chittagong, Bangladesh để kiểm tra phương pháp của ông trong việc cho vay tín dụng và các dịch vụ ngân hàng cho người nghèo nông thôn. Vào năm 1976, làng Jobra và các làng quê khác xung quanh trường đại học Chittagong trở thành khu vực đầu tiên đạt điều kiện tiếp nhận dịch vụ từ ngân hàng Grameen. Ngân hàng thành công vang dội và dự án, được chính phủ hỗ trợ, được giới thiệu vào năm 1979 cho quận Tangail (phía bắc thủ đô Dhaka). Sự thành công của ngân hàng tiếp tục và nó nhanh chóng trải rộng đến các quận các của Bangladesh và vào năm 1983 nó chuyển thành một ngân hàng độc lập dưới quyết định của cơ quan lập pháp Bangladesh. Tỷ lệ hoàn vốn bị ảnh hưởng mạnh bởi trận lụt năm 1998 nhưng lại phục hồi một vài năm sau. Ngân hàng ngày nay tiếp tục mở rộng phạm vi biên giới và vẫn cung cấp tín dụng cho người nghèo nông thôn. Vào giữa năm 2006, số lượng chi nhánh ngân hàng Grameen Bank vượt qua con số 2.100. Thành công của nó truyền cảm hứng cho các dự án tương tự trên thế giới. === Việc áp dụng tín dụng vi mô === Hệ thống kết hợp chặt chẽ một tập hợp các giá trị vào hệ thống ngân hàng, nòng cốt tại Bangladesh bởi Mười sáu quyết định. Hệ thống là cơ sở cho hệ thống tín dụng vi mô và các nhóm tự giúp (self-help group) hiện hoạt động trên 43 quốc gia. Mỗi nhóm gồm năm cá thể được vay một khoản tiền, nhưng cả nhóm sẽ bị từ chối nhận tín dụng tiếp nếu một cá thể vỡ nợ. Việc này tạo động lực kinh tế cho nhóm hoạt động có trách nhiệm, và làm tăng tính khả thi kinh tế của Grameen. Tại một quốc gia trong đó ít phụ nữ có khả năng vay vốn từ các ngân hàng thương mại lớn có một thực tế đáng ngạc nhiên là phần lớn (96%) người vay vốn là phụ nữ. Tại các khu vực khác, kỷ lục đáng ngạc nhiên của Grameen là tỷ lệ hoàn vốn đạt đến trên 98 phần trăm. Hơn một nửa những người vay vốn của Grameen tại Bangladesh (gần tới 50 triệu) đã thoát khỏi nghèo đối nhờ khoản vay của ngân hàng, được đánh giá bằng các tiêu chuẩn như có tất cả con trong tuổi đến trường được đi học, tất các thành viên gia đình được ăn ba bữa một ngày, một nhà vệ sinh, một nhà có mái tránh dột, nước uống sạch và khả năng hoàn vốn một khoản 300 taka (8 USD) một tuần. === Quyền sở hữu và các thông tin khác === Một đặc điểm đáng ngạc nhiên của Ngân hàng Grameen là ngân hàng được sở hữu bởi những người nghèo vay vốn từ ngân hàng mà phần lớn trong số họ là phụ nữ. Trong tổng số cổ phiếu của ngân hàng, người vay sở hữu 94%, và 6% còn lại thuộc sở hữu của Chính phủ Bangladesh. Một số thông tin khác về ngân hàng, vào tháng 8 năm 2006: Tổng số người vay là 6.61 triệu, và 97% trong số này là phụ nữ (3.123.802 thành viên vào năm 2003 ) Ngân hàng có 2.226 chi nhánh, bao phủ 71.371 thôn bản, với tổng số nhân viên là 18.795. (43.681 thôn bản vào năm 2003 ) Tỷ lệ hoàn vốn là 98.85% (tỷ lệ hoàn vốn là 95% vào năm 1998) Tính từ khi bắt đầu tổng số vốn được phân bổ cho vay là Tk 290.03 tỷ (tương đương US$ 5.72 tỷ). Trong số này, Tk 258.16 tỷ (tương đương US$ 5.07 tỷ) đã được hoàn trả. === Giải thưởng Nobel Hòa bình === Ngày 13 tháng 10 năm 2006 Ủy ban Nobel đã trao cho Ngân hàng Grameen Bank và người sáng lập Muhammad Yunus Giải thưởng Hòa bình Nobel năm 2006, "vì những nỗ lực của họ trong việc tạo ra sự phát triển kinh tế và xã hội từ dưới lên." == Các doanh nghiệp liên quan == Ngân hàng Grameen đã phát triển sang hơn hai tá các doanh nghiệp do Nhóm Doanh nghiệp Grameen đại diện bao gồm: Grameen Trust Grameen Fund Grameen Communications Grameen Shakti/Energy Grameen Shikkha/Education Grameen Telecom Grameen Knitwear Ltd Grameen Cybernet Ltd. Đến tháng 11 năm 2004 Ngân hàng đã vượt qua con số cho vay trên 4,4 tỷ dollar Mỹ cho người nghèo. Cùng với việc mang năng lượng đến cho cư dân nông thôn và mở rộng việc làm, nhóm doanh nghiệp Grameen còn mở rộng sang cả việc quản lý các ao hồ nông thôn thông qua Grameen Motsho hay Hiệp hội Nghề cá, tìm kiếm giải pháp bảo vệ tính đa dạng của các loài cá trong các ao hồ đánh bắt cá của Bangladesh . Ngày 11 tháng 7 năm 2005, Quỹ Grameen Mutual Fund One đã được Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái (SEC) Bangladesh cho phép phát hành chứng khoán ra công chúng lần đầu. Là một trong những quỹ hỗ tương đầu tiên trong số những quỹ tương tự, GMFO sẽ cho phép hơn 4 triệu thành viên của Grameen cũng như những người chưa phải thành viên tham gia thị trường vốn của Bangladesh. Ngân hàng và các công ty con của nó ngân hàng hiện có trị giá trên 7 tỷ dollar Mỹ . == Các chương trình cải thiện xã hội == Bên cạnh việc mở rộng vốn tín dụng vi mô cho người nghèo, Ngân hàng Grameen đã có nhiều chương trình xóa đói giảm nghèo. === Chương trình các thành viên xóa đói giảm nghèo === Chương trình này tập trung phân bổ vốn nhỏ cho người ăn xin. Các quy định hiện hành của ngân không được áp dụng ở đây như: Vốn vay hoàn toàn không có lãi suất. Kỳ hoàn vốn có thể kéo dài, ví dụ, một người ăn xin có thể nhận một khoản vay nhỏ khoảng 100 taka (tương đương US $1.50) có thể trả chỉ 2.00 taka (tương đương 3.4 US cents) một tuần. Người vay được hưởng bảo hiểm tính mệnh hoàn toàn miễn phí. Ngân hàng không áp buộc người vay phải ngừng ăn xin; thay vì đó ngân hàng khuyến khích họ sử dụng vốn để tạo thu nhập từ việc bán các vật phẩm giá hạ. Vào năm 2005, khoảng 45.000 người ăn xin đã nhận khoảng Tk 28.7 triệu (tức khoảng US$441.538) và đã hoàn trả Tk. 13.66 triệu (tức US$210.154). === Chương trình điện thoại nông thôn === Bangladesh có mật độ điện thoại thấp nhất thế giới. Trên tổng số hơn 85.000 thôn bản phần lớn đều không có mạng điện thoại kéo dây của các công ty viễn thông thuộc sở hữu nhà nước. Để phá bỏ tình trạng này, Ngân hàng Grameen đã có chương trình mang điện thoại tới các thôn bản xa xôi. Grameen Phone, một công ty chị em với ngân hàng, hiện đã là nhà cung cấp điện thoại di động lớn nhất nước. Sử dụng mạng lưới trên toàn quốc của mình, Grameen Telecom, và các công ty chị em khác của Ngân hàng Grameen, đã mang điện thoại di động và vô tuyến đế gần một nửa thôn bản tại Bangladesh. Ngân hàng đồng thời cũng phân bổ vốn vay đến khoảng 139.000 phụ nữ nghèo tại nông thôn để họ mua điện thoại. Những người phụ nữ này thiết lập tại nhà mình trung tâm liên lạc nơi những người dân làng có thể đến và trả một khoản phí nhỏ để sử dụng điện thoại. Chương trình này thường được gọi là Polli Phone (Điện thoại thôn bản) tại Bangladesh. == Xem thêm == Grameen Foundation, nhân rộng mô hình Ngân hàng Grameen trên thế giới Vikram Akula, thể chế tín dụng vi mô theo mô hình Ngân hàng Grameen == Tham khảo == Bornstein, David. The Price of a Dream: The Story of the Grameen Bank. Oxford University Press, NY: 2005, ISBN 0-19-518749-0 Counts, Alex, Give Us Credit, Crown, 1996, ISBN 0-8129-2464-9 Yunus, Muhammad (with Alan Jolis), Banker to the Poor: The Autobiography of Muhammad Yunus, Founder of Grameen Bank, Oxford University Press: USA, ISBN 0-19-579537-7 "Micro Loans for the Very Poor", New York Times, February 16, 1997 === Chú thích === == Liên kết ngoài == Big banks find little loans a Nobel winner, too The Christian Science Monitor Official Grameen Bank Site Grameen Foundation Australia, replicating the Grameen Bank model within South East Asia gramBangla, Australian Bangladeshi Community Grameen Support Group One World, author Paul Sinclair Grameen Bank: Taking Capitalism to the Poor, a study by members of the Columbia Business School A video by Muhammad Yunus talking about Grameen Bank [1] Measuring the Impact of Microfinance: Taking Stock of What We Know; Nathanael Goldberg, December 2005. Business-Social Ventures: Reaching for Major Impact; changemakers.net, Nov 2003 Grameen II: The First Five Years, 2001-2006; Stuart Rutherford et al for MicroSave, February 2006. Criticism: The Miles Institute
thực vật một lá mầm.txt
Thực vật một lá mầm là một nhóm các thực vật có hoa có tầm quan trọng bậc nhất, chiếm phần lớn trên Trái Đất. Tầm quan trọng kinh tế của chúng không phải là sự đánh giá quá cao. Hiện nay, người ta ước tính có khoảng 50.000-60.000 loài trong nhóm này. Họ lớn nhất trong nhóm này cũng là họ lớn nhất trong thực vật có hoa là họ Lan (Orchidaceae), nhưng họ này đôi khi được coi như một bộ, với khoảng trên 20.000 loài. Chúng có hoa rất phức tạp (và nổi bật), đặc biệt thích hợp với việc thụ phấn nhờ côn trùng. Họ có tầm quan trọng kinh tế lớn nhất trong nhóm này (và trong thực vật có hoa) là họ Hòa thảo (hay họ Cỏ, họ Lúa), với danh pháp khoa học là Gramineae hay Poaceae. Họ này bao gồm các loại ngũ cốc (lúa, lúa mì, ngô v.v.), các loài cỏ trên các bãi chăn thả gia súc cũng như các loại tre, nứa, trúc, giang, luồng v.v. Họ cỏ (thật sự) này đã tiến hóa theo hướng khác và trở thành đặc biệt thích nghi với phương thức thụ phấn nhờ gió. Các loài cỏ sinh ra nhiều hoa nhỏ và các hoa này tập hợp lại với nhau thành bông rất dễ thấy (cụm hoa). Một họ khác cũng đáng chú ý về mặt kinh tế là họ Cau (hay Cọ) với danh pháp khoa học là Palmae hay Arecaceae. == Tên gọi, đặc điểm == Tên gọi khoa học của thực vật một lá mầm là monocotyledons có nguồn gốc từ tên gọi thực vật học truyền thống Monocotyledones (mono = một, cotyledon = lá mầm), do thực tế là phần lớn các thành viên của nhóm này có một lá mầm, hay lá phôi mầm trong hạt của chúng. Nó là đối lập với thực vật hai lá mầm (truyền thống) thông thường có hai lá mầm. Tuy nhiên, việc xem xét số lượng lá mầm không phải là đặc điểm đáng tin cậy. Thực vật một lá mầm là một nhóm riêng biệt. Một trong các đặc điểm đáng tin cậy nhất là hoa của thực vật một lá mầm thuộc mẫu 3, với các phần hoa được chia thành 3 hay bội số của 3. Ví dụ, hoa của thực vật một lá mầm có thể có 3, 6 hay 9 cánh hoa. Rất nhiều thực vật một lá mầm có lá với các gân lá song song. == Hình thái học, so sánh với thực vật hai lá mầm (cũ) == Các sách giáo khoa liệt kê các khác biệt giữa thực vật một lá mầm và thực vật hai lá mầm như sau. Nói chung thì điều này chỉ là mô hình tổng quát mà thôi chứ không phải lúc nào cũng luôn đúng và có rất nhiều ngoại lệ. Các khác biệt này là đúng nhiều hơn cho thực vật một lá mầm chứ không phải là dành cho thực vật hai lá mầm và nó dựa trên APG: Hoa: Ở thực vật một lá mầm, hoa là mẫu 3 (số lượng các bộ phận của hoa trên một vòng là 3) trong khi ở thực vật hai lá mầm thì hoa là mẫu 4 hay 5 (các bộ phận của hoa là 4 hay 5 trên một vòng). Phấn hoa: Ở thực vật một lá mầm, phấn hoa có một rãnh cắt hay một lỗ trong khi ở thực vật hai lá mầm là ba rãnh. Hạt: Ở thực vật một lá mầm, phôi có một lá mầm trong khi phôi của thực vật hai lá mầm có hai lá mầm. Thân cây: Ở thực vật một lá mầm, các bó mạch trong thân cây là phân tán, trong khi ở thực vật hai lá mầm thì chúng phân bổ thành vòng. Rễ: Ở thực vật một lá mầm là rễ chùm trong khi ở thực vật hai lá mầm các rễ phát triển từ rễ mầm. Lá: Ở thực vật một lá mầm, Các gân lá chính là song song, trong khi ở thực vật hai lá mầm thì chúng có dạng mắt lưới. Tuy nhiên, các khác biệt này không phải là chính xác và không đổi: Ở một số loài thực vật một lá mầm vẫn có những đặc trưng điển hình của thực vật hai lá mầm hay ngược lại. Có điều này là do "thực vật hai lá mầm" là một nhóm đa ngành đối với thực vật một lá mầm, và một số loài thực vật hai lá mầm có thể có quan hệ họ hàng gần với thực vật một lá mầm hơn là với các loài thực vật hai lá mầm khác. Cụ thể, một vài dòng dõi phân nhánh sớm của "thực vật hai lá mầm" chia sẻ các đặc trưng của "thực vật một lá mầm", cho thấy các đặc điểm đó không phải là đặc điểm chỉ của thực vật một lá mầm. Khi thực vật một lá mầm được so sánh với thực vật hai lá mầm thật sự thì các khác biệt sẽ cụ thể hơn. == Phân loại học == Thực vật một lá mầm được coi là tạo ra một nhóm đơn ngành phát sinh sớm trong lịch sử tiến hóa của thực vật có hoa. Các mẫu hóa thạch sớm nhất cho thấy các tàn tích của thực vật một lá mầm có niên đại từ đầu kỷ Phấn Trắng. Về danh pháp khoa học, các nhà phân loại học có sự lựa chọn rộng rãi trong việc đặt tên cho nhóm này, do thực vật một lá mầm là nhóm có bậc cao hơn mức họ. Điều 16 của ICBN cho phép hoặc là đặt tên theo kiểu tên gọi miêu tả hoặc là theo kiểu tên gọi được tạo ra từ tên gọi của họ được đưa vào trong đó (tên phát sinh loài). Trong lịch sử, thực vật một lá mầm đã từng có các danh pháp khoa học như: Monocotyledoneae trong hệ thống de Candolle và hệ thống Engler Monocotyledones trong hệ thống Bentham & Hooker và hệ thống Wettstein Lớp Liliopsida trong hệ thống Takhtajan và hệ thống Cronquist (và trong hệ thống Reveal) Phân lớp Liliidae trong hệ thống Dahlgren và hệ thống Thorne (1992) Nhánh đơn ngành monocots trong hệ thống APG, hệ thống APG II và hệ thống APG III. Mọi hệ thống nói trên đều sử dụng nguyên tắc phân loại nội bộ của chính mình cho nhóm này. Thực vật một lá mầm đáng chú ý như là một nhóm có ranh giới ngoài cực kỳ ổn định (nó là một nhóm chặt chẽ và được định nghĩa tốt), trong khi các nguyên tắc phân loại nội bộ lại cực kỳ thiếu ổn định (theo dòng lịch sử, chưa khi nào có hai hệ thống chính thức phù hợp với nhau về việc các thực vật một lá mầm có quan hệ với nhau như thế nào). == Tên gọi monocots trong APG == Dưới đây là cách hiểu tên gọi monocots theo định nghĩa của hệ thống APG II. Trong phân loại thực vật tên gọi monocots (một lá mầm) được áp dụng cho một nhánh đơn ngành trong thực vật hạt kín. Nó được sử dụng trong các hệ thống APG và APG II, và có lẽ đây là các hệ thống được chấp nhận rộng rãi nhất. Các đơn vị phân loại thuộc về nhánh đơn ngành monocots này là các thực vật được biết đến như là "một lá mầm". Trong phạm vi của thực vật một lá mầm, hệ thống APG II công nhận 10 bộ và 2 họ (Dasypogonaceae và Petrosaviaceae chưa được xếp vào trong bộ nào). Một số trong chúng được thừa nhận như là nhánh đơn ngành commelinids (nhánh Thài lài), phần còn lại (đơn vị cận ngành) đôi khi được nói đến như là "thực vật một lá mầm cơ sở". Tuy nhiên, theo phiên bản cập nhật trên website của APG được tra cứu vào ngày 10 tháng 4 năm 2007 thì bộ Petrosaviales chứa một họ (Petrosaviaceae) cũng đã được công nhận. Nhánh monocots cơ sở (một lá mầm cơ sở): Bộ Acorales - bộ Xương bồ Bộ Alismatales - bộ Trạch tả Bộ Asparagales - bộ Măng tây Bộ Dioscoreales - bộ Củ nâu Bộ Liliales - bộ Loa kèn Bộ Pandanales - bộ Dứa gai Bộ Petrosaviales - bộ Vô diệp liên Nhánh commelinids (nhánh Thài lài): Bộ Arecales - bộ Cau Bộ Commelinales - bộ Thài lài Bộ Poales - bộ Hòa thảo Bộ Zingiberales - bộ Gừng Họ Dasypogonaceae - họ Đa tu thảo === Phát sinh chủng loài === Dưới đây là minh họa về phát sinh loài trong thực vật một lá mầm theo đề xuất của APG. Họ Hydatellaceae, được hệ thống APG II gán vào bộ Poales, nhưng sau đó đã được phát hiện là bị đặt sai chỗ trong nhóm monocots, và thay vì thế nó có quan hệ gần gũi nhất với họ Súng (Nymphaeaceae) nên đã bị loại ra khỏi bộ Poales. == Tên gọi Liliopsida == Liliopsida là danh pháp thực vật cho một lớp. Sự công bố tên gọi này được cho là do Scopoli (năm 1760). Tên gọi này được tạo ra bằng cách thay thế hậu tố -aceae trong tên gọi của Liliaceae bằng hậu tố -opsida (Điều 16 ICBN). Mặc dù về nguyên tắc thì giới hạn của lớp này sẽ thay đổi theo hệ thống phân loại được sử dụng, nhưng trong thực tế thì tên gọi này có lẽ có mối liên kết chặt chẽ với hệ thống Cronquist cũng như hệ thống Takhtadjan tương tự như hệ thống đầu. Cả hai hệ thống này là các hệ thống lớn duy nhất sử dụng tên gọi này và trong cả hai hệ thống nó đều được dùng với ý nghĩa dành cho nhóm được biết đến như là "thực vật một lá mầm". Các hệ thống cũ hơn dùng tên gọi Monocotyledones, với Monocotyledoneae là cách gọi cũ hơn (các tên gọi này có thể sử dụng ở cấp độ bất kỳ). Các hệ thống như hệ thống Dahlgren và hệ thống Thorne (ra đời muộn hơn so với các hệ thống Takhtadjan và Cronquist) nhắc đến nhóm này theo tên gọi Liliidae (tên gọi ở cấp phân lớp). Các hệ thống mới hơn, như hệ thống APG và hệ thống APG II nhắc đến nhóm này theo tên gọi monocots (tên gọi cho một nhánh đơn ngành). Vì thế, trong thực tế có thể coi như tên gọi Liliopsida được sử dụng gần như chủ yếu trong phân loại theo hệ thống Cronquist. === Trong hệ thống Takhtadjan === Hệ thống Takhtadjan sử dụng phép phân loại nội bộ như sau: Lớp Liliopsida [= thực vật một lá mầm] Phân lớp Liliidae Siêu bộ Lilianae Siêu bộ Dioscoreanae Phân lớp Commelinidae Siêu bộ Bromelianae Siêu bộ Pontederianae Siêu bộ Zingiberanae Siêu bộ Commelinanae Siêu bộ Hydatellanae Siêu bộ Juncanae Siêu bộ Poanae Phân lớp Arecidae Siêu bộ Arecanae Phân lớp Alismatidae Siêu bộ Alismatanae Phân lớp Triurididae Siêu bộ Triuridanae Phân lớp Aridae Siêu bộ Aranae Siêu bộ Cyclanthanae Siêu bộ Pandananae Siêu bộ Typhanae === Trong hệ thống Cronquist === Phân loại nội bộ trong hệ thống Cronquist là: Lớp Liliopsida [= thực vật một lá mầm] Phân lớp Alismatidae Bộ Alismatales Bộ Hydrocharitales Bộ Najadales Bộ Triuridales Phân lớp Arecidae Bộ Arecales Bộ Cyclanthales Bộ Pandanales Bộ Arales Phân lớp Commelinidae Bộ Commelinales Bộ Eriocaulales Bộ Restionales Bộ Juncales Bộ Cyperales Bộ Hydatellales Bộ Typhales Phân lớp Zingiberidae Bộ Bromeliales Bộ Zingiberales Bộ Liliidae Bộ Liliales Bộ Orchidales === Trong hệ thống Reveal === Phân loại nội bộ trong hệ thống Reveal là: Lớp 3. Liliopsida Phân lớp 1. Alismatidae Siêu bộ 1. Butomanae Siêu bộ 2. Alismatanae Phân lớp 2. Triurididae Phân lớp 3. Aridae Siêu bộ 1. Acoranae Siêu bộ 2. Aranae Siêu bộ 3. Cyclanthanae Siêu bộ 4. Pandananae Phân lớp 4. Liliidae Phân lớp 5. Arecidae Siêu bộ 1. Arecanae Phân lớp 6. Commelinidae Siêu bộ 1. Bromelianae Siêu bộ 2. Pontederianae Siêu bộ 3. Commelinanae Siêu bộ 4. Hydatellanae Siêu bộ 5. Typhanae Siêu bộ 6. Juncanae Phân lớp 7. Zingiberidae Siêu bộ 1. Zingiberanae == Tham khảo và liên kết ngoài == Chase M. W., Soltis D. E., Soltis P. S., Rudall P. J., Fay M. F., Hahn W. J., Sullivan S., Joseph J., Molvray M., Kores P. J., Givnish T. J., Sytsma K. J., Pires J. C. (2000). Higher-level systematics of the monocotyledons: An assessment of current knowledge and a new classification. Trong: Wilson K. L., Morrison D. A. (chủ biên). Monocots: Systematics and Evolution.. CSIRO, Melbourne. 3-16. ISBN 0-643-06437-0 Dự án Web Tree of Life: Monocotyledons
bom hạt nhân b61.txt
B61 bom hạt nhân là loại vũ khí nhiệt hạch trong kho dự trữ dài hạn của Hoa Kỳ sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh. Hiện nay loại vũ khí này vẫn đang trong trang bị chiến đấu của Hoa Kỳ và là loại vũ khí hạt nhân chiến lược đã được phát triển, nó gọn nhẹ nhưng có sức công phá rất lớn, có thể tương đương hàng nghìn tấn thuốc nổ. == Sự phát triển == Trước năm 1968, loại phiên bản đầu tiên của B61, được biết đến với tên gọi là TX-61, thiết kế vào năm 1963. Nó được thiết kế và chế tạo bởi Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos ở New Mexico. Nó được bắt đầu từ một chương trình phát triển loại vũ khí nhẹ và có hình dạng thuôn. Việc chế tạo đã bắt đầu từ năm 1965, các mẫu sản phẩm hoàn chỉnh được bắt đầu từ năm 1968 sau một loạt các vấn đề về phát triển đã được giải quyết. Tổng số sản phẩm trong tất cả các dạng vào khoảng 3.155 quả, trong đó có khoảng 1.925 đã được sử dụng vào trong trang bị năm 2002, và khoảng 1.265 quả được đưa vào trang bị sẵn sàng chiến đấu. Phần chiến đấu của bom đã được thay đổi một chút qua các năm. Biến thể mới nhất là B61 Mod 11, được triển khai vào năm 1997, là loại bom có khả năng xuyên rất cao, phá các boongke. B61 được thả bởi nhiều loại máy bay quân sự khác nhau của Hoa Kỳ. Các máy có thể ném bom gồm: B-1, B-2, B-52, và FB-111 máy bay ném bom chiến thuật; F-100 Super Sabre, F-104 Starfighter, F-105 Thunderchief, F-111 và F-4 Phantom II; the A-4 Skyhawk, A-6 Intruder, và A-7 Corsair II; F-15 Eagle, F-15E Strike Eagle, F-16, F/A-18 Hornet và Super Hornet, F-117. Có khoảng 480 quả đã được triển khai cho các đơn vị của Không lực Hoa Kỳ ở Vương quốc Anh, Đức, và Thổ Nhĩ Kỳ == Thiết kế == Bom B61 được thiết kế để các máy bay có tốc độ cao có thể vận chuyển và ném bom. Nó có vỏ thuôn, phù hợp với việc bay ở tốc độ siêu thanh. Loại bom này có chiều dài 3,58 m và đường kính bom là 33 cm. Trọng lượng chuẩn của bom vào khoảng 320 kg (700 lb), mặc dù trọng lượng cụ thể của từng quả có thể thay đổi tùy thuộc vào loại ngòi. Mẫu mới nhất B61 Mod 11 là loại bom xuyên các vật cứng được thả từ độ cao rất lớn, có vỏ bền (theo một số nguồn, vỏ của bom có chứa uranium nghèo) và một ngòi giữ chậm cho phép nó xuyên sâu vài mét vào trong lòng đất trước khi nổ, cụ thể là 6 mét, phá hủy được các công sự kiên cố, nằm sâu trong lòng đất [1]. B61 Mod 11 có khối lượng 540 kg. Được triển khai từ năm 1994, B61 Mod 11 đã được đưa vào trang bị từ năm 1997 thay thế cho loại bom B53. Khoảng 50 quả B61 Mod 11 đã được chế tạo, phần chiến đấu của bom được cải tiến từ các bom B61 Mod 7. Hiện nay, loại máy bay chính sử dụng cho việc chở bom B61 Mod 11 là B-2 Spirit. Nó còn có biệt danh là mininuke (tiểu bom hạt nhân) vì sức công phá thua xa nhiều loại bom hạt nhân khác lieu/2001/11/3B9B689B. Hầu hết các bom B61 có trang bị dù để giữ chậm và ổn định cho bom, để thuận lợi cho máy bay ném bom có thời gian thoát khỏi ảnh hưởng từ vụ nổ (cũng để tạo cho bom còn giữ được nguyên vẹn do va chạm mạnh với mặt đất trước khi nổ). B61 là loại vũ khí có sức phá tương đương với hàng nghìn tấn thuốc nổ. Các loại bom B61 thuộc loại vũ khí chiến lược (Mods 3, 4, và 10) có thể đạt được sức công phá tương với 0.3, 1.5, 5, 10, 60, 80, hay 170 nghìn tấn thuốc nổ. == Xem thêm == Họ vũ khí B61 W80 W81 B83 W84 W85 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == B61 Video B61 information at Carey Sublette's NuclearWeaponArchive.org B61 information at GlobalSecurity.org B61-11 Concerns and Background from the Los Alamos Study Group, an anti-nuclear weapons organization The B61 family of bombs article by Robert S. Norris, Hans M. Kristensen, and Joshua Handler, in the Bulletin of the Atomic Scientists (2003) Low-Yield Earth-Penetrating Nuclear Weapons by Robert W. Nelson, Federation of American Scientists, January/tháng 2 năm 2001, Volume 54, Number 1
vịnh guinea.txt
Vịnh Guinea là một vịnh thuộc Đại Tây Dương ở phía tây nam châu Phi. Giao điểm giữa xích đạo và kinh tuyến gốc nằm ở vịnh này. Theo Tổ chức Thủy văn học Quốc tế, biên giới đại dương của vịnh là đường tà hành chạy từ mũi Palmas ở Liberia tới mũi Lopez ở Gabon. Tên của vịnh này bắt nguồn từ tên các bờ biển ở châu Phi. Bờ biển phía nam của Tây Phi, bắc của vịnh Guinea, từng được gọi là "Thượng Guinea." Bờ biển phía tây của Nam Phi, cho tới phía đông, từng được gọi là "Hạ Guinea". Cái tên "Guinea" vẫn gắn liền với tên của ba quốc gia ở châu Phi là Guinea, Guinea-Bissau, và Guinea Xích Đạo, cũng như New Guinea ở Melanesia. Có hai con sông chảy ra vịnh Guinea là sông Niger và sông Volta. == Tham khảo ==
iso 3166-2
người la chí.txt
Dân tộc La Chí là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. == Tên gọi khác == Cù Tê, La Quả == Nhóm ngôn ngữ == Tiếng La Chí thuộc hệ ngôn ngữ Tai-Kadai. == Dân số và địa bàn cư trú == Cư trú chủ yếu ở các huyện Xín Mần, Hoàng Su Phì (tỉnh Hà Giang), huyện Mường Khương và Bắc Hà (tỉnh Lào Cai). Theo điều tra dân số 1999 thì người La Chí có tổng cộng khoảng 10.765 người. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người La Chí ở Việt Nam có dân số 13.158 người, cư trú tại 38 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người La Chí cư trú tập trung tại tỉnh Hà Giang (12.072 người, chiếm 91,7% tổng số người La Chí tại Việt Nam), ngoài ra còn có tại Lào Cai (619 người), thành phố Hồ Chí Minh (152 người), Tuyên Quang (100 người). == Đặc điểm kinh tế == Người La Chí làm ruộng bậc thang trồng lúa nước. Các gia đình thường nuôi trâu, ngựa, dê, lợn, gà, vịt, cá, nhưng theo nếp cũ thì không nuôi bò. Nghề dệt vải bông và nhuộm chàm của phụ nữ La Chí có truyền thống lâu đời. == Tổ chức cộng đồng == Mỗi dòng họ người La Chí có riêng trống và chiêng dùng vào việc cúng bái, có ông trưởng họ là người biết cúng. Con cái đều lấy theo họ cha. == Hôn nhân gia đình == Trong cưới xin, nhà trai phải nộp khoản "tiền công nuôi con gái". == Văn hóa == Người La Chí có nhiều truyện cổ, kể về ông tổ tiên của dân tộc là Hoàng Vần Thùng, về Pủ Lô Tô sinh ra các giống các loài và dạy họ mọi phong tục tập quán, về sự xuất hiện các hiện tượng tự nhiên, v.v... Trai gái La Chí thường hát ni ca. Nhạc cụ có trống, chiêng, đàn tính 3 dây, đàn môi bằng lá cây... Dịp lễ hội thường tổ chức các trò chơi ném còn, đánh quay, đu quay, đu dây, v.v... nơi bãi rộng cho đông người tham gia. == Nhà cửa == Người La Chí đã sống định canh định cư thành từng bản. Mỗi gia đình có nhà sàn để ở và nhà đất liền kề để làm bếp. Nhà sàn gồm 3 gian, chỉ có một cầu thang lên xuống ở gần đầu hồi phía giáp nhà đất, bàn thờ tổ tiên đặt tại gian nhà sàn to nhất. == Trang phục == Trang phục của người La Chí đơn giản, không cầu kỳ. Đàn ông mặc áo 5 thân dài tới ngang bắp chân (ngày nay áo ngắn hơn), quần lá tọa, đầu quấn khăn. Phụ nữ mặc áo dài tứ thân, có dây thắt lưng, yếm, đội khăn dài, mặc quần hay váy tùy người. Đồ trang sức của nam chỉ có vòng tay, còn nữ có thêm vòng tai. Phụ nữ La Chí thường quen đeo địu qua trán, dù địu làm bằng vải hay đan bằng giang cũng vậy. Nam giới lại đeo gùi qua hai vai. == Chỉ dẫn == == Tham khảo == == Xem thêm == Danh sách ngôn ngữ Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói == Liên kết ngoài ==
holmi.txt
Holmium là tên nguyên tố hoá học có ký hiệu Ho và số nguyên tử 67 trong bảng tuần hoàn. Là một thành viên trong nhóm lantan, holmi là một nguyên tố đất hiến. Holmi được nhà hóa học Thụy Điển, Per Theodor Cleve, phát hiện. Ôxít của nó được cô lập đầu tiên từ các quặng đất hiếm năm 1878 và lúc đó nguyên tố này được đặt theo tên của thành phố Stockholm. Nguyên tố holmi có màu trắng bạc, tương đối mềm và dễ uốn. Nó có tính phản ứng mạnh nên không thể tìm thấy nó ở dạng kim loại trong tự nhiên, nhưng khi bị cô lập, thì tương đối bền trong không khí khô ở nhiệt độ phòng. Tuy vậy, nó dễ dàng phản ứng với nước và tạo gỉ, và cũng sẽ cháy trong không khí khi nung. Holmi được tìm thấy trong các khoáng monazit và gadolinit, và thường được chiết tách thương mại từ monazit dùng công nghệ trao đổi ion. Các hợp chất của nó trong tự nhiên, và hầu hết trong phòng thí nghiệm là các chất ôxi hóa hóa trị 3, chứa các ion Ho(III). Các ion Ho hóa trị 3 có tính huỳnh quang giống như các ion đất hiếm khác, và các ion Ho này cũng được sử dụng giống như những ion đất hiếm khác trong các ứng dụng tạo màu thủy tinh và laser. Holmium có độ từ tính cao nhất so với bất kỳ nguyên tố nào và do đó nó được dử dụng làm các miếng nam châm mạnh. Do holmi có khả năng hấp thụ nơtron mạnh, nên nó cũng được sử dụng trong các cần điều khiển hạt nhân. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Holmium tại Wikimedia Commons
hiến pháp đế quốc nhật bản.txt
Hiến pháp Đế quốc Nhật Bản (Kyūjitai: 大日本帝國憲法 Shinjitai: 大日本帝国憲法 (Đại Nhật Bản Đế quốc Hiến pháp), Dai-Nippon Teikoku Kenpō), cũng được gọi là Hiến pháp Đế quốc, Hiến pháp Minh Trị hay Hiến pháp Đại Nhật Bản là bản Hiến pháp đầu tiên trong lịch sử Nhật Bản, do Thiên hoàng Minh Trị chủ trì dự thảo và ban hành vào ngày 11 tháng 2 năm 1889. Đây là Hiến pháp đầu tiên của châu Á. Để soạn thảo bản Hiến pháp này, năm 1882 Thiên hoàng Minh Trị đã gửi một phái đoàn do Itō Hirobumi (Y Đằng Bác Văn) đến các quốc gia ở châu Âu để tham khảo pháp luật của các quốc gia này. Cuối cùng nhóm khảo sát quyết định chọn hiến pháp của Phổ để làm khuôn mẫu cho hiến pháp tương lai của Nhật Bản. Bản Hiến pháp Đế quốc Nhật Bản quy định rõ giới hạn của quyền hành pháp của Thiên hoàng Nhật Bản, đồng thời quy định cơ quan tư pháp độc lập với cơ quan hành pháp và lập pháp. Tuy nhiên nhiều điều khoản khá ư là mập mờ và mâu thuẫn với nhau. Chính vì vậy, những quan đại thần của triều đình và các thủ lĩnh đảng phái chính trị có thể hiểu và giải thích ý nghĩa của Hiến pháp theo hướng quân chủ toàn trị hay dân chủ tự do. Và chính cái mâu thuẫn giữa các thế lực tự do cùng các thế lực quân chủ đã thống trị chính trường của Đế quốc Nhật Bản. Hiến pháp Đế quốc Nhật Bản được sử dụng làm kiểu mẫu cho Hiến pháp Ethiopia 1931 do Tekle Hawariat Tekle Mariyam soạn thảo. Cũng chính vì vậy mà những trí thức theo phái cấp tiến của Tekle Hawariat mang biệt danh là "trí thức Nhật học" (Japanizers). Sau khi Nhật Bản bại trận trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Hiến pháp Đế quốc Nhật Bản được thay thế bằng một Hiến pháp Nhật Bản mới dân chủ hơn do phái đoàn của Douglas MacArthur soạn thảo. == Nội dung == Theo bản Hiến pháp này, Nhật Bản là quốc gia theo thể chế quân chủ lập hiến. Thiên hoàng và thế lực quân phiệt Nhật nằm giữ mọi quyền hành. Vai trò của Thiên hoàng được quy định trong Chương I của Hiến pháp. Theo Điều 1, Chương I, chỉ có 1 dòng Thiên hoàng liên tục trị vì nước Nhật từ trước đến nay. Hiến pháp cũng quy định chỉ có nam giới trong Hoàng gia mới được thừa kế ngai vàng, Thiên hoàng có quyền hành "thiêng liêng bất khả xâm phạm" (theo Điều 2), là nguyên thủ quốc gia, nắm trọn quyền thống trị (theo Điều 4). Về mặt đối nội, Thiên hoàng có thể dựa vào hiến pháp để triệu tập hoặc giải tán nghị hội, bổ nhiệm hoặc bãi miễn quan lại và là chỉ huy tối cao của Quân đội và Hải quân. Về mặt đối ngoại, Thiên hoàng có quyền tuyên chiến, giảng hòa, ký kết hòa ước (theo Điều 13 trong Chương I). Các cơ cấu của quốc gia được hành xử chức năng và quyền hạn bên dưới Thiên hoàng: nghị hội trợ giúp Thiên hoàng thẩm nghị chính vụ của quốc gia, tòa án lấy danh nghĩa của Thiên hoàng để xét xử, Viện khu mật là cơ quan tư vấn của Thiên hoàng. Đồng thời, theo Hiến pháp, nhân dân Nhật Bản là "thần dân" của Thiên hoàng, phải thi hành nghĩa vụ của thần dân và không được cản trở quyền hành sự đại quyền của Thiên hoàng. Nói chung Hiến pháp đã xác lập quyền uy tuyệt đối của Thiên hoàng tại Nhật Bản, duy trì tính "thiêng liêng bất khả xâm phạm" của Thiên hoàng như thời đại quân chủ chuyên chế, và giúp cho Thiên hoàng tập trung toàn bộ quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp - tức toàn bộ đại quyền của quốc gia - vào bàn tay sắt của mình. Tuy nhiên, Thiên hoàng buộc phải dựa vào các điều luật ghi trong Hiến pháp để thực thi đại quyền của mình, và khi Thiên hoàng lấy danh nghĩa của mình để ban bố các sắc lệnh về pháp luật, quốc vụ thì "phải được quốc vụ đại thần cùng ký tên". Như vậy bản Hiến pháp cũng đã hạn chế ảnh hưởng của Thiên hoàng trong việc triều chính, góp phần giúp Nhật Bản chuyển dần từ chế độ quân chủ chuyên chế sang chế độ quân chủ lập hiến, chính trị đảng phái của giai cấp tư sản. == Xem thêm == Thiên hoàng Minh Trị Chính quyền Minh Trị Itō Hirobumi Hiến pháp Nhật Bản == Chú thích == == Tham khảo == Hai chữ Thịnh - Suy UNESCO Việt Nam - Tạp chí ngày nay - Cơ quan ngôn luận của Hiệp Hội UNESCO Việt Nam - Triều đại hoàng đế minh trị (Mutsuhitô) Viếng điện thờ Thiên hoàng Thẩm Kiên (chủ biên); Dịch giả: Phong Đảo (2003). Thập đại tùng thư: 10 Đại hoàng đế thế giới. Thành phố Hồ Chí Minh: Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin. ISBN 8-935073-0023 . == Liên kết ngoài == Meiji Constitution National Archives of Japan: Digital Archive
nguyễn nghiêm (phường).txt
Nguyễn Nghiêm là một phường thuộc thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam. Phường Nguyễn Nghiêm có diện tích 0,51 km², dân số năm 1999 là 11391 người, mật độ dân số đạt 22335 người/km². == Chú thích == == Tham khảo ==
danh sách thành phố theo dân số.txt
Đây là danh sách 66 thành phố đông dân nhất trên thế giới được tính theo khái niệm về địa giới thành phố (city limits). Danh sách này xếp các đơn vị đô thị tự quản của thế giới theo dân số. Chú ý là dân số ở đây là dân số trong phạm vi địa giới của thành phố (thuộc thẩm quyền quản lý của vị thị trưởng thành phố hoặc chức vụ tương đương), không phải dân số của khu đô thị và cũng không phải là dân số của vùng đô thị. Có một ngoại lệ áp dụng đối với các thành phố của Trung Quốc, do tai quốc gia này địa giới hành chính của các thành phố rất rộng, nhưng phần lớn là khu vực nông thôn, nên thống kê dưới đây chỉ tính các khu vực "đô thị hóa" của từng thành phố cùng phần dân số tương ứng của các khu vực này. Ý nghĩa và vai trò của các đơn vị hành chính được dùng cho danh sách này (tạm gọi là địa giới thành phố hay trong tiếng Anh là city proper) thì không và không thể giống nhau hoàn toàn vì các hệ thống chính quyền địa phương khác nhau khắp thế giới. Các định nghĩa thống kê cho mỗi thành phố gồm có diện tích ước đoán và mật độ dân số. == Danh sách các thành phố lớn == == Xem thêm == Danh sách các vùng đô thị xếp theo dân số Danh sách các khu đô thị xếp theo dân số Các thành phố lớn nhất thế giới (giải thích theo nhiều khía cạnh khác nhau) Danh sách các thành phố xếp theo mật độ dân số == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Các thành phố lớn nhất thế giới (tiếng Anh) Siêu đô thị (tiếng Anh)
danh sách công trình kiến trúc hà nội thời pháp thuộc.txt
Năm 1897, sau khi trở thành kiến trúc sư trưởng Hà Nội, kiến trúc sư Henri Vildieu bắt đầu quy hoạch lại Hà Nội theo phong cách quy hoạch đô thị phương Tây bằng việc xây dựng khu vực hành chính với hàng loạt trụ sở hành chính của Đông Dương và Bắc Kỳ, ông cũng đưa nhà tù (Maison centrale) vào trung tâm khu phố Pháp (tương tự kiểu quy hoạch của nhiều thành phố Pháp thời đó). Năm 1924, Ernest Hébrard bắt đầu thực hiện kế hoạch đô thị hóa Hà Nội lần 1 gồm quy hoạch lại khu vực hành chính vào trung tâm Hà Nội (khu quảng trường Ba Đình hiện nay); tập trung các cơ sở công nghiệp vào khu vực Gia Lâm bên bờ trái sông Hồng; dự định di dời cảng sông Hồng sang địa điểm mới rộng rãi hơn và phát triển ga đường sắt phụ tại Gia Lâm; phát triển các đường nhánh từ đại lộ có sẵn; dự định quy hoạch xung quanh khu vực hồ phía Tây thành phố một không gian xanh dạng Bois de Boulogne ở Paris. 10 năm sau, người kế nhiệm Hébrand trong vai trò kiến trúc sư trưởng Hà Nội là Louis-Georges Pineau đưa ra kế hoạch đô thị hóa Hà Nội lần 2 với quy mô nhỏ hơn gồm kè bờ hồ Gươm; xây dựng quảng trường Ernest-Hébrard (1937); lập quy hoạch về hồ Bảy Mẫu và khu phố Sinh Từ bên cạnh ga Hà Nội. Năm 1943, kế hoạch đô thị hóa cuối cùng của người Pháp với Hà Nội được Henri Cerutti, kiến trúc sư trưởng thành phố, đề xuất gồm phát triển tuyến đường sắt về phía Nam; xây dựng khu phố-vườn dành cho nhân viên ngành đường sắt; quy hoạch và nắn thẳng lại hệ thống đường nhánh; phát triển thành phố về phía Nam theo hướng bệnh viện René Robin (bệnh viện Bạch Mai ngày nay) và khu cư xá sinh viên (Đại học Bách khoa ngày nay). == Tham khảo == 7 phong cách chính trong kiến trúc Hà Nội thời Pháp thuộc Kiến trúc thời kỳ thuộc địa ở Hà Nội == Chú thích == Arnauld Le Brusq và Léonard de Selva (1999). Vietnam, à travers l'architecture coloniale. Patrimoines et Médias / Édition de l'Amateur. ISBN 2 85917 274 2.
shizuoka.txt
Shizuoka (Nhật: 静岡県 (Tĩnh Cương Huyện), Shizuoka-ken) là một tỉnh nằm ở vùng Chubu trên đảo Honshu. Trung tâm hành chính là thành phố Shizuoka. Tỉnh này nổi tiếng với Núi Phú Sĩ. == Địa lý == === Các thành phố === Có 23 thành phố ở tỉnh này: == Lịch sử == == Hành chính == Thành phố lớn nhất trong tỉnh là Hamamatsu. Ngoài ra ở Shizuoka còn 21 thành phố nữa. == Kinh tế == == Văn hóa == == Giáo dục == Đại học Shizuoka == Thể thao == == Du lịch == Núi Phú Sĩ == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức của tỉnh Shizuoka (tiếng Nhật)
the firebird.txt
The Firebird (tiếng Pháp: L'oiseau de feu, tiếng Nga: Жар-птица, đọc là Zhar-ptitsa, tiếng Việt: Chim lửa) là vở ballet 1 màn 3 cảnh của nhà soạn nhạc người Nga Igor Stravinsky. Tác phẩm được sáng tác trong các năm 1909-1910. Phiên bản đầu tiên do Michel Fokine dàn dựng, các phiên bản sau là sự dàn dựng của Adolph Bolm, George Balanchine, Serge Lifar, John Cranko và Maurice Béjart. Vở ballet được trình diễn lần đầu tiên vào năm 1910 tại thủ đô Paris của Pháp. Âm nhạc gồm 19 phân đoạn. Tổ khúc của tác phẩm được viết vào năm 1911 dành cho dàn nhạc giao hưởng cũng như cho vở ballet gồm 5 chương, đến năm 1945 được sửa thành 10 chương. == Chú thích ==
h'mông.txt
Người H'Mông (RPA: Hmoob/Moob; phát âm: m̥ɔ̃ŋ hay Mông), là một nhóm dân tộc có địa bàn cư trú truyền thống là Trung Quốc và các nước lân cận thuộc tiểu vùng Đông Nam Á là Lào, Việt Nam, Thái Lan và Myanmar. Người H'Mông nói tiếng H'Mông, một ngôn ngữ chính trong hệ ngôn ngữ H'Mông-Miền. Tiếng H'Mông vốn chưa có chữ viết, hiện dùng phổ biến là chữ Hmông Latin hóa (RPA) được lập từ năm 1953 . Tại Trung Quốc người H'Mông bao gồm các phân nhóm: H'Mông, Hmu, Hmao và Ghao Xong. Bên ngoài Trung Quốc thì chủ yếu thuộc phân nhóm H'Mông. Tại Việt Nam người H'Mông là một trong các dân tộc thiểu số có dân số đáng kể trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Tại Lào họ được gọi là người Mẹo hay Lào Sủng. Tại Thái Lan theo tiếng Thái là แม้ว Maew hay ม้ง Mông. Tại Trung Quốc, họ được gọi là Miêu (tiếng Trung: 苗; bính âm: Miáo), và tên gọi này được dùng trong văn liệu quốc tế là Miao, như trong tiếng Anh Miao people. Người Miêu được chính phủ Trung Quốc công nhận là một trong 55 dân tộc thiểu số tại Trung Quốc. Người Miêu tạo thành nhóm dân tộc lớn thứ 5 tại Trung Quốc. == Danh pháp: Miêu và H'Mông == Thuật ngữ "Miêu" và "H'Mông" hiện thời đều được sử dụng để chỉ nhóm dân tộc thiểu số ở Trung Quốc. Họ sống chủ yếu ở miền nam Trung Quốc, trong các tỉnh Quý Châu, Hồ Nam, Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây và Hồ Bắc. Theo điều tra dân số năm 2000, số lượng người Miêu ở Trung Quốc khoảng 9,6 triệu. Ngoài phạm vi Trung Quốc họ còn sống ở Thái Lan, Lào (ở đó gọi là Lào Sủng), Việt Nam và Myanmar do di cư bắt đầu vào khoảng thế kỷ 18, cũng như tới Hoa Kỳ, Guyana thuộc Pháp, Pháp và Úc như là kết quả của các cuộc di cư gần đây sau khi kết thúc chiến tranh Việt Nam. Tất cả các nhóm này cộng lại xấp xỉ 8 triệu người nói tiếng H'Mông. Tại Việt Nam, có khoảng trên 780.000 người H'Mông. Tiếng H'Mông bao gồm 3 phương ngữ, với 30-40 thổ ngữ có thể hiểu lẫn nhau được, cùng với tiếng Bunu, thuộc về nhóm H'Mông trong hệ ngôn ngữ H'Mông-Miền (hay hệ Miêu-Dao theo văn liệu Trung Quốc). Các nhà nghiên cứu phương Tây xử lý vấn đề thuật ngữ này không thống nhất. Những người đầu tiên sử dụng tên gọi theo kiểu Trung Hoa trong một loạt các phiên âm: Miao, Meau, Meo, Mo, Miao-tse, Miao-tsze, Miao-tseu (Miêu tộc) v.v. Tuy nhiên, do ảnh hưởng của người H'Mông ở Lào, các nhà nghiên cứu đương đại chấp nhận thuật ngữ khác là "H'Mông". Bản thân người H'Mông thì sử dụng hàng loạt các tên tự gọi khác nhau. Tại Trung Quốc thông thường phân loại họ theo màu sắc chủ yếu đặc trưng nhất của phụ nữ Miêu. Danh sách dưới đây liệt kê các tên tự gọi, tên gọi màu sắc và khu vực chính mà 4 nhóm chính của người Miêu sinh sống tại Trung Quốc: Ghao Xong; Miêu đỏ; tây Hồ Nam. Hmu, Gha Ne (Ka Nao); Miêu đen; đông nam Quý Châu. Hmao; Miêu hoa lớn; tây bắc Quý Châu và đông bắc Vân Nam. Hmong; Miêu trắng, Miêu xanh, Miêu hoa nhỏ; nam Tứ Xuyên, tây Quý Châu và nam Vân Nam. Chỉ có nhóm thứ tư sử dụng thuật ngữ "H'Mông" (hay "Hmông"). Ngoài ra, chỉ có người Hmông (và một số Hmu) có người sinh sống ngoài phạm vi Trung Quốc. Những người Hmông phi Trung Quốc này cho rằng thuật ngữ "Hmông" không chỉ để nói tới nhóm thổ ngữ của họ, mà còn là để chỉ các nhóm khác sống tại Trung Quốc. Nói chung, họ cho rằng thuật ngữ "Miao" (hay "Miêu") là một thuật ngữ xúc phạm và không nên sử dụng nó. Thay vì điều này thuật ngữ "Hmông" được sử dụng để chỉ mọi nhóm người thuộc dân tộc này. Tuy nhiên, điều này có thể là kết quả của sự nhầm lẫn biểu hiện và ý nghĩa của từ. Các nhà thám hiểm và xâm lược Trung Hoa đặt cho người Hmông tên gọi "Miao" (hay "Miêu"), sau đó trở thành "Meo" (Mèo) và "Man" (Mán). Thuật ngữ sau để chỉ những kẻ "man di, mọi rợ ở miền nam". Từ "Miêu" cũng được sử dụng trong các ngôn ngữ khác của khu vực Đông Nam Á như tiếng Việt, Lào, Thái v.v. trong dạng "Meo" (tức là "Mèo"). Mặc dù rất nhiều người nói các thứ tiếng này (và cả người Trung Quốc) không nghi ngờ gì khi cho rằng "Miêu" là những kẻ man di , nhưng điều này không có cách gì để chứng minh từ này có nghĩa như vậy. Có thể những người nói tiếng Việt, Lào, Thái đã lấy từ "miao" (miêu) từ tiếng Trung Hoa, nhưng đã bỏ mất ý nghĩa nguyên thủy của nó là "cây giống" và sử dụng nó chỉ để gọi những người mà họ cho là man rợ. Nó được phát âm với giọng sai trong tiếng Thái hay với giọng cao trong tiếng Hán Quảng Đông thì có ý nghĩa là "Mèo" (đây là khả năng của nguồn gốc tượng thanh). Trong cách dịch của người Việt các từ Hán-Việt thì "miêu" cũng là "mèo". Điều này giải thích tại sao lại có sự phản đối quyết liệt như vậy chống lại thuật ngữ "miêu" trong các nhóm người H'Mông tại khu vực Đông Nam Á. Tại Trung Quốc, tình hình lại khác hẳn vì hai nguyên nhân chính. Các nhóm người Miêu có các tên tự gọi khác hẳn và chỉ một số rất ít sử dụng từ "Hmông". Những người còn lại thì không có ý kiến gì khi cho rằng "Hmông" là thích hợp hơn so với "Miêu" trong vai trò của tên gọi chung. Kể từ khi có phân loại chính thức các dân tộc thiểu số trong thập niên 1950 một số dân tộc thiểu số đã khiếu nại về từ ngữ được sử dụng ở Trung Quốc để gọi tên dân tộc họ và đã đề nghị chính quyền thay đổi cách sử dụng chính thức. Nhóm người Miêu ở Trung Quốc, theo bài báo năm 1992 trong Dự án bản tin Thái-Vân Nam [TYPN 1992], đã không có khiếu nại gì. Lý do thứ hai thuần túy là thực dụng: không có khả năng đưa từ "hmong" vào trong tiếng Trung do âm tiết của nó không tồn tại trong tiếng Trung. (Cũng giống như trong tiếng Anh là có rất ít người có khả năng phát âm các âm điếc giọng mũi). Tuy nhiên, trong tiếng Anh, không giống như tiếng Trung, người ta có khả năng viết được từ "Hmong". Người Hmông viết tên gọi của dân tộc mình giống như "Hmoob" . Hai nguyên âm chỉ ra rằng nó được phát âm giống như âm mũi, và một số phụ âm được sử dụng ở cuối của âm tiết để biểu thị giọng đọc. Vì thế từ America được viết giống như là Asmeslivkas trong tiếng Hmông. Thuật ngữ "Hmông" được đề nghị như là tên gọi của các nhóm người Miêu nói thổ ngữ Hmông ở Trung Quốc và người H'Mông ngoài Trung Quốc. Việc sử dụng từ này ngày nay đã được thiết lập vững chắc trong sách vở phương Tây. Nó dẫn đến nhiều người đã nhầm lẫn với tình trạng của các thuật ngữ hiện tại và không nhìn thấy mối liên quan giữa người Miêu và H'Mông. == Ngôn ngữ == Tiếng H'Mông là một ngôn ngữ nằm trong hệ ngôn ngữ H'Mông-Miền (hay Miêu-Dao). Trên thực tế vấn đề phân loại theo quan hệ họ hàng của ngôn ngữ này đã từng có nhiều ý kiến khá khác nhau. Một số nhà ngôn ngữ học xếp tiếng H'Mông thuộc nhánh Miêu-Dao trong ngữ hệ Hán-Tạng , trong đó phải kể đến các nhà khoa học Trung Quốc. Trong những ý kiến đáng chú ý ta còn phải kể đến Paul K. Benedict với quan điểm quy các ngôn ngữ trong khu vực thành 2 hệ cơ bản: Hán-Tạng và Nam Thái (Austro-Thai). Trong đó vị trí các ngôn ngữ H'Mông-Miền được định vị trong hệ Nam Thái. Còn André G. Haudricourt từng bước đem so sánh cả hệ thống thanh điệu và cả lớp từ vựng cơ bản giữa các ngôn ngữ H'Mông-Miền với các ngôn ngữ của ngữ hệ Hán-Tạng và hệ Nam Á. Ông đã cho rằng "các ngôn ngữ Miao-Yao hình như tạo nên mối liên hệ giữa các ngôn ngữ Nam Á và các ngôn ngữ Tạng-Miến". Đây cũng chính là cơ sở để một hướng các nhà ngôn ngữ sau này không xếp các ngôn ngữ H'Mông-Miền vào Nam Á hay Hán-Tạng mà là một họ ngôn ngữ độc lập vì những kiến giải của Haudricourt "không thuần tuý là sự so sánh từ vựng mà là sự phục nguyên, một thao tác thể hiện tính quy luật của những chuyển đổi âm thanh". Kế thừa những nghiên cứu đi trước, Martha Ratliff đã đưa ra một bảng phân loại các ngôn ngữ H'Mông-Miền khá chi tiết trong đó tác giả đã định vị ngành H'Mông trắng (Mông Đơư) như sau: Hệ ngôn ngữ (language family): H'Mông-Miền (Hmong-Mien) Nhóm ngôn ngữ: H'Mông (Hmongic) Nhánh: thuộc các phương ngôn Tứ Xuyên - Quý Châu - Vân Nam, còn gọi là nhánh H'Mông phía Tây (West Hmongic branch) Tiểu nhánh: Tứ Xuyên - Quý Châu - Vân Nam Phương ngữ: H'Mông trắng (White Hmong) Trong cuốn từ điển Bách khoa thư ngôn ngữ đã phân các ngôn ngữ H'Mông-Miền thành hai nhánh chính: H'Mông - gồm có: Dananshan Hmong, Hmong Đông, Hmong Bắc, Hmong Tây, Hmong Daw, Hmong Njua, Miao Đỏ, Pa Heng, Punu Miền (hay Dao) - gồm có: Ba Pai, Mien, Biao Mien, Iu mien, Mun, She Tại đây H'Mông Leng (H'Mông Lềnh) được xác định như một tên gọi khác của ngành H'Mông Njua (H'Mông Xanh) nằm trong nhánh H'Mông. == Chữ Hmông == Tiếng H'Mông là một ngôn ngữ vốn chưa có chữ viết. Những nỗ lực lập ra bộ chữ để ghi tiếng H'Mông xuất hiện vào giữa thế kỷ 20. === Chữ Hmông Latin hóa === Tại Lào, nỗ lực lập ra bộ chữ Hmông Latin hóa RPA (theo tiếng Anh: Romanized Popular Alphabet) được nhà truyền giáo Tin Lành G. Linwood Barney ở tỉnh Xiengkhuang bắt đầu vào năm 1951 . Ông lập dựa trên thổ ngữ Hmông Lềnh (Mong Leng), với các cố vấn người H'Mông là Geu Yang và Tua Xiong. Ông tham khảo ý kiến với William A. Smalley, một nhà truyền giáo học tiếng Khmu tại tỉnh Luang Prabang vào thời điểm đó. Cùng lúc đó Yves Bertrais, một nhà truyền giáo Công giáo La Mã ở Kiu Katiam, Luang Prabang, đã tiến hành một dự án tương tự với Chong Yeng Yang và Chue Her Thao. Hai nhóm làm việc đã gặp nhau trong năm 1952 và hóa giải mọi sự khác biệt. Năm 1953 cho ra phiên bản RPA thống nhất. RPA đã trở thành hệ thống phổ biến nhất để viết tiếng Hmông ở phương Tây . Hiện tại chữ Hmông Latin hóa được sử dụng trong khu vực Đông Nam Á và Trung Quốc, cùng với các hệ thống văn bản khác. === Chữ Pahawh Hmông === Năm 1959 thủ lĩnh tinh thần người H'Mông tại Lào là Yang Shong Lue (RPA: Yaj Soob Lwj; 1929 – 1971) lập ra bộ chữ Pahawh Hmông với hệ ký tự riêng (không phải Latin). Bộ chữ dựa nhiều vào thổ ngữ ngành H'Mông Đơư (Hmông trắng; Hmong Daw; RPA: Hmoob Dawb) và H'Mông Lềnh (Hmông Xanh; Hmong Leng; RPA: Moob Leeg). Bộ chữ Pahawh hiện có mã unicode là U+16B00–U+16B8F . === Chữ Hmông tại Việt Nam === Tại Việt Nam năm 1961 phương án chữ H'Mông theo ký tự Latin đã được chính phủ Việt Nam phê chuẩn (cụ thể bộ chữ được xây dựng theo ngữ âm ngành H'Mông Lềnh Sa Pa - Lào Cai) có bổ sung thêm một số âm vị của các ngành H'Mông khác, gồm 59 phụ âm (có 3 âm vị phụ âm của ngành H'Mông Đơư và H'Mông Sua), 28 vần và 8 thanh. Vào thập niên 1970, phong trào học chữ H'Mông phát triển khá mạnh ở hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc của Việt Nam, nơi có nhiều người H'Mông sinh sống . Nhưng đến nay với nhiều nguyên nhân khác nhau mà tình hình học chữ H'Mông đã không còn phát triển như trước kia nữa. == Lịch sử == Lịch sử sơ kỳ của người H'Mông có thể lần theo dấu vết của các câu truyện truyền khẩu và các lễ nghi an táng của họ, và có lịch sử có lẽ từ cuối thời kỳ băng hà . Trong truyện truyền khẩu, truyền thuyết của người H'Mông nói rằng họ đã đến từ những vùng đất cực kỳ lạnh lẽo, ở nơi đó bóng tối kéo dài 6 tháng và ánh sáng cũng kéo dài 6 tháng. Từ nơi này, họ đã đến Trung Quốc theo những chuyến đi săn. Một người thợ săn và con chó của ông đã theo đuổi con mồi trong một số ngày trong tuyết. Người thợ săn hết lương thực và phải quay về để chuẩn bị tiếp tục đi săn mà không có con chó của mình. Khi người thợ săn bắt đầu lên đường trở lại thì con chó đã ở phía sau lưng ông. Người thợ săn hôn hít con chó của mình và phát hiện thấy có những hạt cây lạ dính trên lông của nó. Lúc đó, tuy người H'Mông cho rằng toàn thể thế giới đã được thám hiểm hết, nhưng những hạt lạ đã dẫn dắt họ tới Trung Hoa. Nơi thứ hai trong đó miêu tả người H'Mông từ nơi nào đến diễn ra trong nghi thức an táng "chỉ đường" của họ. Trong nghi thức này, người đã chết được chỉ dẫn cho về với tổ tiên. Người ta tin rằng người đã chết rời bỏ thế giới này để trở về với cội nguồn của họ, là một nơi cực kỳ lạnh lẽo. Thời kỳ băng hà cuối cùng đã kết thúc cách đây khoảng 10.000 năm và nó xảy ra cùng thời điểm với sự ra đời của người hiện đại. Các điều kiện được miêu tả trong truyện truyền khẩu và nghi thức an táng của người H'Mông chắc chắn nói đến một thế giới chỉ có toàn tuyết và băng giá, là những thứ thấy được cho đến khi kết thúc thời kỳ băng hà gần đây nhất. === Tiếp xúc với người Hán === Tại Trung Quốc, vương quốc Miêu đầu tiên được ghi chép có tên gọi là Cửu Lê và những người cai trị nó có tước hiệu là Chiyou (Xi Vưu trong tiếng Hoa) hay Txiv Yawg (trong tiếng H'Mông) . "Trí Zờ" có nghĩa là "ông-cha", và là tước hiệu tương đương nhưng không ít quyền lực hơn hoàng đế. Các tổ tiên "Xi Vưu" được coi là dân tộc Liangzhu. Cửu Lê được cho là có quyền lực đối với 9 bộ tộc và 81 thị tộc. === Lịch sử theo truyền thuyết Trung Quốc === Theo truyền thuyết Trung Hoa, bộ tộc của Xi Vưu đã bị đánh bại ở Trác Lộc (涿鹿, một địa danh cổ trên ranh giới tỉnh Hồ Bắc và Liêu Ninh ngày nay) bởi liên minh quân sự của Hoàng Đế và Viêm Đế, các thủ lĩnh của bộ tộc Hoa Hạ (華夏) khi họ tranh giành quyền làm chủ lưu vực sông Hoàng Hà. La bàn được cho là lý do quyết định trong chiến thắng của người Hoa Hạ. Trận đánh này, được cho là diễn ra vào thế kỷ 26 TCN, đã diễn ra dưới điều kiện thời tiết mù sương và người Hoa Hạ đã có thể chiến thắng tổ tiên của người H'Mông là nhờ có la bàn. Sau thất bại, bộ tộc ban đầu của người H'Mông được chia ra thành hai nhóm bộ tộc nhỏ, là Miêu và Lê (黎). Người Miêu tiếp tục di chuyển về phía tây nam còn người Lê về phía đông nam giống như bộ tộc Hoa Hạ (ngày nay là người Hán) mở rộng xuống phía nam. Trong suốt chiều dài lịch sử Trung Hoa, họ được nói đến như những kẻ "man di" do sự chênh lệch ngày càng tăng trong văn hóa và kỹ thuật so với người Hán. Một bộ phận các bộ tộc này đã bị đồng hóa thành người Hán trong thời kỳ nhà Chu (1122 TCN-256 TCN). Có một phiên bản khác của thời kỳ hậu-Cửu Lê, người dân của Cửu Lê chia thành 3 nhóm đi theo 3 hướng khác nhau. Người ta nói rằng Xi Vưu có 3 con trai, và sau khi Cửu Lê thất thủ thì con trai cả của ông dẫn một số người về phía nam, con trai thứ dẫn một số người về phía bắc còn người con trai út ở lại Trác Lộc và đã bị đồng hóa theo văn hóa Hoa Hạ. Những người đi về phía nam thành lập ra nhà nước San-Miêu. Có lẽ vì sự phân chia thành nhiều nhóm nhỏ nên rất nhiều dân tộc ở Viễn Đông coi Xi Vưu là tổ tiên của mình, và vì thế nhiều câu hỏi được đặt ra về bộ tộc thực sự của Xi Vưu cũng giống như của người Miêu hay các dân tộc khác. Ví dụ, người Triều Tiên cũng cho Xi Vưu là tổ tiên của mình . Ngoài ra, theo chính sách hợp nhất các bộ tộc hiện nay của Trung Quốc, Xi Vưu được nhắc đến như là một trong những tổ tiên của người Trung Hoa cùng với các tổ tiên của người Hán là Hoàng Đế và Viêm Đế . ==== Ghi chú ==== Có tài liệu cho rằng không phải là Viêm Đế (Thần Nông) mà là Đế Du Võng (cháu 6 đời của Viêm Đế mới lập liên minh với Hiên Viên (sau này là Hoàng Đế) để chống lại Xi Vưu). Cụ thể như sau: Viêm Đế (Thần Nông)->??->Đế Minh->Đế Nghi->Đế Lai->Đế Du Võng, như vậy theo Lĩnh Nam chích quái thì Đế Du Võng là cháu gọi Lạc Long Quân là chú do Đế Minh còn sinh ra Lộc Tục và Lộc Tục sinh ra Lạc Long Quân. === Các thời kỳ nhà Tần/Hán === Thuật ngữ "Miêu" lần đầu tiên được sử dụng bởi người Hoa vào thời kỳ tiền Tần, tức là trước năm 221 TCN, để chỉ các nhóm bộ tộc không phải là người Hoa ở phương nam . Nó thông thường được sử dụng trong các tổ hợp như "nanmiao", "miaomin", "youmiao" và "sanmiao" (三苗 Sānmiáo). Vào thời kỳ đó, những bộ tộc này sống ở phía nam sông Trường Giang, nhưng sau đó đã bị người Hoa đẩy lui xa hơn nữa về phía nam. Do phần lớn lãnh thổ của sáu triều vua (Đông Ngô, Đông Tấn, tiền Tống, Tề, Lương, Trần) nằm ở phía nam sông này, việc khuất phục người Miêu đã là mối quan tâm chính để đảm bảo sự ổn định của các triều đại này. Với sự cướp bóc của Ngũ Hồ ở các khu vực phía bắc con sông này, nhiều người Hán đã di cư xuống phía nam càng tăng cường thêm việc đồng hóa người Miêu thành người Hán. === Thời nhà Đường === Vào thời kỳ nhà Đường, người Miêu đã không còn là bộ tộc người chính không phải gốc Hán, ngoại trừ tại khu vực tỉnh Vân Nam ngày nay, ở đó 6 chiếu (詔 có nghĩa là "vương quốc") của người Miêu. Một số học giả cho rằng 6 chiếu là các nhóm người Di (Yi) hay người Bạch (Bai). Vương quốc nằm phía nam nhất là Mông Xá Chiếu (蒙舍詔) hay Nam Chiếu thống nhất cả 6 chiếu để thành lập quốc gia độc lập vào đầu thế kỷ 8 với sự hỗ trợ từ phía nhà Đường. Tước hiệu của người đứng đầu nhà nước này là Nam Chiếu Vương (南詔王), có nghĩa là Vua của Nam Chiếu. Lo ngại về sự đe dọa ngày càng tăng từ phía Thổ Phồn (ngày nay là Tây Tạng) đã thúc đẩy triều đình Trung Quốc thiết lập một quan hệ hữu nghị với cả hai nước này. Nhà Đường cũng triển khai một khu vực quân sự, là Kiến Nam tiết sứ (劍南節度 Jiànnán Jiédǔ) nằm ở khu vực ngày nay là phía nam tỉnh Tứ Xuyên và giáp biên giới với Nam Chiếu. ==== Nam Chiếu ==== Trong khoảng vài chục năm hòa bình đầu tiên ở thế kỷ 8, Nam Chiếu thường xuyên cống nộp thông qua người đứng đầu quân sự trong khu vực quân sự này, Kiến Nam tiết độ sứ (劍南節度使 Jiànnán Jiédǔshǐ), tới triều đình của người Hán. Khi nhà Đường suy yếu trong thời gian giữa thế kỷ 8, khu này đã có nhiều quyền tự do hơn. Họ đã yêu cầu các bộ tộc sống ở Nam Chiếu phát triển lực lượng quân sự để chống lại nhà Đường. Những người cai trị Nam Chiếu là những người nói tiếng trong nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến, nhưng dân chúng thì có thể có cả tổ tiên của dân tộc Hmông ngày nay . Các thủ lĩnh quân sự Trung Hoa có những sự hăm dọa và yêu sách quá đáng. Một ví dụ là sự từ chối yêu cầu cho ngủ một đêm với hoàng hậu, vợ duy nhất của vua Nam Chiếu . Tất cả những yêu sách quá đáng đó cũng như đồ cống nộp nặng nề đã làm nổ ra cuộc nổi loạn của người Nam Chiếu trong niên biểu Thiên Bảo (742-756) của Đường Huyền Tông (hay Đường Minh Hoàng). Trước khi hành quân chống lại thủ lĩnh khu quân sự, vua Nam Chiếu đã cho khắc lý do của việc nổi dậy vào đá. Bia đá này ngày nay vẫn còn và có thể nhìn thấy (khu vực?) . Nhà Đường lẽ ra có thể dễ dàng đánh bại quân Nam Chiếu nhưng sự tranh giành quyền lực trong các chỉ huy quân sự của khu này đã giúp cho quân Nam Chiếu tiến sâu vào lãnh thổ nhà Đường, gần như đã tới Thành Đô, thủ phủ của khu Kiến Nam. Việc bổ nhiệm các chức vụ cầm quyền bất tài cũng là một yếu tố. Nổi tiếng nhất là trường hợp của Dương Quốc Trung, anh trai của Dương Quý Phi (thiếp yêu của vua Đường). Mặc dù cuối cùng thì cuộc nổi loạn đã bị dẹp tan, nhưng nhà Đường cũng đã hoang phí những nguồn lực quý báu lẽ ra có thể sử dụng để bảo vệ biên giới phía bắc, điều đã dẫn tới cuộc nổi loạn của An Lộc Sơn gây ra nhiều thảm họa hơn. Trong những năm sau đó, Nam Chiếu luôn có ưu thế trong quan hệ với nhà Đường và Thổ Phồn do cả hai nước này đều muốn liên minh với họ để cô lập kẻ thù của mình. Nam Chiếu đã tận dụng được cơ hội này và nhanh chóng phát triển thành một thế lực ở khu vực đông nam châu Á. Trong thời kỳ đỉnh cao của nó, các phần phía bắc của Việt Nam, Lào, Thái Lan và Miến Điện, Quảng Tây và phần phía đông của Quảng Đông, tây nam của Tứ Xuyên, Quý Châu và toàn bộ tỉnh Vân Nam ngày nay đều nằm dưới sự kiểm soát của họ. Thành Đô và Đại La (Hà Nội ngày nay) đều bị cướp phá hai lần. Nam Chiếu dưới ảnh hưởng của nhà Đường trong các thế kỷ 8-9 đã dần dần chấp nhận văn hóa Trung Hoa cũng như trong thời gian đó đã xuất hiện mâu thuẫn nội bộ giữa các thị tộc đối địch. Cuối cùng họ Đoàn (段 duan4) đã thắng và thành lập Vương quốc Đại Lý. Trong thời nhà Đường và nhà Tống (960-1279) thuật ngữ "nam man" (南蠻 Nánmán, có nghĩa là "những kẻ man di phương nam không phải người Hán") đã được sử dụng. Tuy nhiên, tên gọi "miêu" vẫn được dùng để miêu tả một số dân tộc ở phương nam trong các sách của Phàn Xước (Fan Chuo) về các bộ tộc miền nam là Manshu (tức Man thư - viết năm 862). === Thời nhà Minh và nhà Thanh === Trong thời nhà Minh và nhà Thanh (1368-1911) "miao" và "man" (mán) đã được sử dụng đồng thời, từ thứ hai có lẽ là để gọi dân tộc Dao (傜 Yáo). Nhà Nguyên, Minh và Thanh chưa bao giờ đồng hóa hay kiểm soát chặt chẽ được các bộ tộc thiểu số . Kết quả là chính sách "dùng người man quản lý người man" (yiyi zhiyi) đã được thực thi. Ngoài ra, bức tường bản sao của Vạn Lý Trường Thành ở miền nam đã được dựng lên để bảo vệ và phân chia người Hán với những kẻ "man rợ miền nam" . Về mặt chính trị và quân sự thì người Miêu vẫn tiếp tục là viên sỏi trong chiếc giày của đế chế Trung Hoa. Người Miêu đã có nhiều trận chiến chống lại người Hán. Người Hán đã sử dụng các biện pháp chính trị để lừa gạt người Miêu, họ tạo ra nhiều chức vụ với quyền lực thực sự cho người Miêu để lôi cuốn và đồng hóa người Miêu vào hệ thống chính quyền Trung Hoa. Trong thời nhà Minh và Thanh, các chức vụ chính thức như Kaitong (cai tổng) đã được tạo ra tại khu vực Đông Dương. Người Hmông có thể tham gia vào các chức vụ này cho đến những năm thập niên 1900, khi họ phải tham dự vào hệ thống chính trị thuộc địa của Pháp tại Đông Dương. == Dân số và địa bàn cư trú == Người H'Mông sống chủ yếu ở Trung Quốc. Ngoài ra còn có khoảng 2.000.000 người H'Mông sống ở các nước khác như Việt Nam, Lào, Myanma cũng như các quốc gia khác. Có khoảng 124.000 người sống ở Thái Lan, ở đây họ là một trong số 6 dân tộc chính sinh sống trên núi. Sau năm 1975 cộng đồng người H'Mông di cư sang sinh sống ở các nước như Mỹ, Pháp, Úc con số lên tới hàng 100.000 người (chủ yếu di cư từ Lào). === Người Miêu ở Trung Quốc === Lưu ý: Khu vực người Miêu ở tỉnh Tứ Xuyên đã trở thành một phần của thành phố trực thuộc trung ương Trùng Khánh mới thành lập năm 1997. Trung Quốc có số lượng người Miêu đông đảo hơn cả với hơn 7 triệu người (số liệu thống kê 1990) phân bố ở các tỉnh Quý Châu, Hồ Nam, Vân Nam, Tứ Xuyên, Quảng Tây, Hải Nam và Hồ Bắc. Trong 56 dân tộc ở Trung Quốc, dân tộc H'Mông (Miêu) chỉ đứng sau các dân tộc Hán, Choang, Mãn, Hồi. Số liệu về người Miêu ở Trung Quốc như sau : 1953: 2.510.000 1964: 2.780.000 1982: 5.030.000 1990: 7.390.000 3.600.000 người Miêu, khoảng một nửa số người Miêu Trung Quốc sống tại Quý Châu vào năm 1990. Người Miêu Quý Châu và những người sống ở sáu tỉnh sau chiếm trên 98% người Miêu Trung Quốc: Hồ Nam: 1.550.000 Vân Nam: 890.000 Tứ Xuyên: 530.000 Quảng Tây: 420.000 Hồ Bắc: 200.000 Hải Nam: 50.000 Trong các tỉnh trên, có 6 khu tự trị của người Miêu (chia sẻ một cách chính thức cùng với các dân tộc thiểu số khác): Khu tự trị Kiềm Đông Nam người Miêu và Đồng (黔东南 Qiándōngnán), Quý Châu Khu tự trị Kiềm Nam người Bố Y và Miêu (黔南 Qiánnán), Quý Châu Khu tự trị Kiềm Tây Nam người Bố Y và Miêu (黔西南 Qiánxīnán), Quý Châu Khu tự trị Tương Tây người Thổ Gia và Miêu (湘西 Xiāngxī), Hồ Nam Khu tự trị Văn Sơn người Choang và Miêu (文山 Wénshān), Vân Nam Khu tự trị Ân Thi người Thổ Gia và Miêu, Hồ Bắc Ngoài ra còn có thêm 23 huyện tự trị của người Miêu: Hồ Nam: Ma Dương (麻阳 Máyáng), Tĩnh Châu (靖州 Jīngzhōu) và Thành Bộ (城步 Chéngbù) Quý Châu: Tùng Đào (松桃 Sōngtáo), Ấn Giang (印江 Yìnjiāng), Vụ Xuyên (务川 Wùchuān), Đạo Chân (道真 Dǎozhēn), Trấn Ninh (镇宁 Zhènníng), Tử Vân (紫云 Zǐyún), Quan Lĩnh (关岭 Guānlíng) và Uy Ninh (威宁 Wēiníng) Vân Nam: Bình Biên (屏边 Píngbiān), Kim Bình (金平 Jīnpíng) và Lộc Khuyến (禄劝 Lùquàn) Tứ Xuyên: Tú Sơn (秀山 Xiùshān), Dậu Dương (酉阳 Yǒuyáng), Kiềm Giang (黔江 Qiánjiāng) và Bành Thủy (彭水 Péngshuǐ) Quảng Tây: Dung Thủy (融水 Róngshuǐ), Long Thắng (龙胜 Lóngshēng) và Long Lâm (隆林 Lōnglín) Hải Nam: Quỳnh Trung (琼中 Qióngzhōng) và Bảo Đình (保亭 Bǎotíng) Phần lớn người Miêu sinh sống trên các dãy núi hay ngọn đồi, chẳng hạn Núi Vũ Lăng (武陵 Wǔlíng) cạnh sông Tương Kiềm (湘黔川边的武陵山 Xiāngqián Chuān Biān Dí Wǔlíng Shān) Núi Miêu (苗岭 Miáo Líng), Kiềm Đông Nam Núi Nguyệt Lượng (月亮山 Yuèliàng Shān), Kiềm Đông Nam Đại Tiểu Ma Sơn (大小麻山 Dà Xiǎo Má Shān), Kiềm Nam Đại Miêu Sơn (大苗山 Dà Miáo Shān), Quảng Tây Núi Ô Mông cạnh sông Điền Kiềm (滇黔川边的乌蒙山 Tiánqián Chuān Biān Dí Wūmēng Shān) Vài nghìn người Miêu đã rời bỏ quê hương để chuyển sang sinh sống ở các thành phố lớn như Quảng Châu hay Bắc Kinh. === Người H'Mông ở Lào === Trong năm 1960, nhiều người Hmông tại Lào được Cục Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA) tuyển dụng như là một phần của kế hoạch để chiến đấu và bảo vệ Lào chống lại Quân đội Bắc Việt có số lượng đông và kỷ luật chặt chẽ hơn so với những người cộng sản của phong trào Pathet Lào tại nước này. Trên thực tế, quân đội Hoàng gia Lào và quân của Pathet Lào chỉ tham gia có giới hạn trong các cuộc giao tranh. Phần lớn các cuộc chiến diễn ra giữa người Hmông có sự hậu thuẫn của CIA với Quân đội Bắc Việt. Một đội quân tương đương về số lượng người Hmông cũng đã được Pathet Lào tuyển dụng để chống lại chính quyền hoàng gia Lào và CIA. Tướng Vàng Pao là một thủ lĩnh người Hmông được CIA nâng đỡ để chỉ huy Quân khu II ở miền bắc (MR2) chống lại sự xâm nhập của Quân đội Bắc Việt. Chỉ huy sở của Vàng Pao nằm ở Long Chẹng, còn được biết trong tiếng Anh như là Lima Site 20 Alternate (LS 20A). Do các hoạt động quân sự tích cực ở đây, Long Chẹng đã trở thành thành phố lớn thứ hai tại Lào, với dân số lên tới 40.000 người (trong đó có 20.000 người Hmông ?). Long Chẹng khi đó có thể coi như là một tiểu quốc gia do nó có hệ thống ngân hàng, sân bay, trường học, quân đội, viên chức riêng cũng như nhiều cơ sở hạ tầng và dịch vụ khác nữa. Trước khi kết thúc cuộc chiến bí mật, Long Chẹng nằm trong tầm kiểm soát của Vàng Pao. Cuộc chiến bí mật đã diễn ra trùng với thời gian mà Mỹ chính thức tham gia vào chiến tranh Việt Nam. Cuối cùng khi Mỹ rút khỏi Việt Nam thì tướng Vàng Pao cũng di tản sang Thái Lan. Nhiều người đã hỗ trợ Mỹ trong cuộc chiến bí mật đã cảm thấy không an toàn trong môi trường mới.. Khoảng 300.000 người Hmông đã chạy sang Thái Lan, tạo ra các trại tị nạn. Đối với những người Hmông còn ở lại thì các cuộc chiến dữ dội vẫn còn tiếp diễn dưới sự chỉ huy của nhóm Chao Fa. Nhóm này có tham vọng lớn, bao gồm cả việc thiết lập một quốc gia có chủ quyền cho người Hmông. Tuy nhiên, do không có sự hỗ trợ về tài chính và quân đội, Chao Fa đã phải từ bỏ tham vọng của mình. Trong những năm 1990, Liên Hiệp Quốc, với sự hỗ trợ từ phía chính quyền Clinton, bắt đầu công việc đưa người Hmông tị nạn trở lại Lào một cách bắt buộc. Quyết định này gây ra nhiều tranh cãi, do nhiều người Hmông nói rằng họ đã bị ngược đãi bởi chính quyền Lào khi họ trở về . Tuy nhiên, điều này cần kiểm chứng lại. Việc đưa người Hmông tị nạn trở lại Lào đã bị chống đối ác liệt từ phía những người Mỹ bảo thủ và những người hoạt động nhân quyền. Năm 1995, tạp chí National Review có bài báo, ví dụ của Michael Johns cho rằng quyết định này là một sự "phản bội"[1]. Áp lực lên chính quyền Clinton đã làm thay đổi chính sách hồi hương của họ, là một thắng lợi chính trị đáng kể của người Hmông, phần lớn người Hmông tị nạn cuối cùng đã được định cư ở các nước khác, nhiều người trong số họ đã đến Mỹ. Cuộc định cư lớn cuối cùng khoảng 15.000 người Hmông từ trại Wat Tham Krabok diễn ra năm 2004. Một số người theo học thuyết sáng tạo tin rằng người Miautso (Hmông) là hậu duệ của các giáo trưởng trong kinh thánh, vì tên gọi của các vị vua của người Miautso theo dòng dõi nghe tương tự như tên của các vị chúa trong kinh thánh, và cũng theo đúng trật tự đó. Ví dụ: Se-teh = Seth, Lama = Lamech, Nuah = Noah, v.v. === Người H'mông ở Việt Nam === Nằm trong một quốc gia đa dân tộc, dân tộc H'Mông được coi là một thành viên quan trọng trong cộng đồng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Dân tộc H'Mông cư trú thường ở độ cao từ 800 đến 1500 m so với mực nước biển gồm hầu hết các tỉnh miền núi phía Bắc trong một địa bàn khá rộng lớn, dọc theo biên giới Việt - Trung và Việt - Lào từ Lạng Sơn đến Nghệ An, trong đó tập trung chủ yếu ở các tỉnh thuộc Đông và Tây bắc Việt Nam như: Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu, Sơn La... Do tập quán du mục nên một số người H'Mông trong những năm 1980, 1990 đã di dân vào tận Tây Nguyên, sống rải rác ở một số nơi thuộc Gia Lai và Kon Tum. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người H’Mông ở Việt Nam có dân số 1.068.189 người, đứng hàng thứ 8 trong bảng danh sách các dân tộc ở Việt Nam, cư trú tại 62 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người H’Mông cư trú tập trung tại các tỉnh: Hà Giang (231.464 người, chiếm 31,9% dân số toàn tỉnh và 21,7% tổng số người H’Mông tại Việt Nam), Điện Biên (170.648 người, chiếm 34,8% dân số toàn tỉnh và 16,0% tổng số người H’Mông tại Việt Nam), Sơn La (157.253 người, chiếm 14,6% dân số toàn tỉnh và 14,7% tổng số người H’Mông tại Việt Nam), Lào Cai (146.147 người, chiếm 23,8% dân số toàn tỉnh và 13,7% tổng số người H’Mông tại Việt Nam), Lai Châu (83.324 người), Yên Bái (81.921 người), Cao Bằng (51.373 người), Nghệ An (28.992 người), Đăk Lăk (22.760 người), Đăk Nông (21.952 người), Bắc Kạn (17.470 người), Tuyên Quang (16.974 người), Thanh Hóa (14.799 người). Trên thực tế cho thấy các cư dân H'Mông ở Việt Nam vẫn có quan hệ với các cư dân đồng tộc ở các nước khác, đặc biệt là những địa bàn sát biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc và Lào. Một bộ phận đáng kể người Hmông vẫn còn theo các lối sống truyền thống ở miền tây bắc Việt Nam. Với sự gia tăng của du lịch vào các khu vực này trong những năm 1990 đã giới thiệu cho nhiều người H'mông lối sống phương Tây, và trang phục truyền thống của người H'Mông đang dần dần biến mất. Các tài liệu khoa học , cũng như các truyền thuyết đều cho biết rằng người H'Mông là tộc người di cư vào Việt Nam sớm nhất khoảng 300 năm và muộn nhất là 100 năm về trước. H'Mông là tên tự gọi có nghĩa là người (Môngz). Còn các dân tộc khác còn gọi dân tộc này với các tên Miêu, Mèo, Mẹo. Căn cứ vào đặc điểm về dân tộc học và ngôn ngữ học, người ta chia tộc H'Mông ra làm các ngành: H'Mông Trắng (Môngz Đơư), H'Mông Hoa (Môngz Lênhs), H'Mông Đỏ (Môngz Si), H'Mông Đen (Môngz Đuz), H'Mông Xanh (Môngz Dua), Na Miểu (Mèo nước). Trong đó, cũng có ý kiến cho rằng H'Mông Hoa và H'Mông Đỏ là một . === Người H'Mông ở Mỹ === Tại Hoa Kỳ, nhiều người H'Mông là những người tị nạn từ Lào cũng như ra đi sau chiến tranh Việt Nam tới Mỹ. Bắt đầu vào năm 1976, những người H'Mông tị nạn đầu tiên đã tới Mỹ, chủ yếu từ các trại tị nạn nằm trên đất Thái Lan. Ngày nay, phần chủ yếu của người H'Mông ở Mỹ (khoảng 270.000) sống ở California, Minnesota và Wisconsin. Fresno, Minneapolis-St. Paul, Madison và Milwaukee có mật độ tập trung cao của người Hmông. Điều tra dân số Mỹ năm 2000 cho thấy chỉ có 40% người H'Mông trên 24 tuổi đã từng học trung học. Khoảng 7% người Hmông có bằng cử nhân hoặc cao hơn. Tỷ lệ cao của thất học là do nhiều người Hmông chủ yếu có nguồn gốc là nông dân, họ ít có cơ hội tiếp thụ nền giáo dục tại Lào khi sinh sống trên núi đồi. Ngoài ra, khoảng 40% các gia đình Hmông nằm dưới mức nghèo khổ. Mặc dù họ vẫn là một trong số những dân tộc châu Á nghèo khổ nhất tại Mỹ, rất nhiều trẻ em thế hệ hai đã chiếm các vị trí cao trong nhiều trường học khi so sánh với các nhóm thiểu số thu nhập thấp khác. Trẻ em Mỹ gốc Hmông sinh ra tại Mỹ thông thường có nhiều cơ hội tiếp thu giáo dục hơn so với cha mẹ của chúng và vì thế có nhiều cơ hội kinh tế hơn so với cha mẹ chúng có thể có được ở Lào. Mặc dù người Hmông thông thường có xu hướng làm những công việc có thu nhập thấp, nhiều người trong số họ là rất chuyên nghiệp. Tại nhiều thành phố lớn ở đó người Mỹ gốc Hmông sống và làm việc thì các bất hòa đã diễn ra giữa người Hmông và các nhóm thiểu số khác. Người Hmông thông thường là mục tiêu của sự phân biệt chủng tộc, chủ yếu là do sự cạnh tranh trong công việc và bản chất của người Hmông như là những người phụ thuộc vào trợ cấp . Nhiều kẻ ngược đãi họ bào chữa cho hành động của mình là do người Hmông đã lấy mất công việc, trợ cấp và các dịch vụ khác của những người định cư lâu đời ở đó. [2] Mặc dù nhiều gia đình Hmông nói bằng ngôn ngữ không phải là tiếng Anh tại nhà họ, nhưng nhiều người Mỹ gốc Hmông đã nhanh chóng thích nghi với xã hội Mỹ và rất nhiều người trẻ tuổi đã đánh mất các bản sắc văn hóa truyền thống của mình rất nhanh. Vì điều này, cộng đồng Hmông đã thành lập hiệp hội và phương tiện thông tin riêng để cổ vũ người Hmông giữ gìn văn hóa và ngôn ngữ của họ. == Văn hóa ẩm thực == ==== Ẩm thực ==== Mèn mén, chế biến từ ngô hạt đem xay nhỏ, phải xay bằng cối đá và xay hai lần mới nhỏ mịn và khi đồ mới ngon. Đêm bột ngô vẩy nước vào đảo đều với độ ẩm vừa phải, khi cầm nắm ngô bột không bị dính, cũng không bị bở ra là được. Tiếp đó cho vào chõ đồ lần 1, đến khi hơi bốc lên thơm thì đổ ra mẹt vẩy thêm một ít nước rồi đảo đều cho tơi ra, sau đó lại cho vào chõ đồ lần 2; khi có mùi thơm lừng bốc lên, khi đó mèn mén đã chín, bưng ra chỗ cao ráo để ăn trong cả ngày. ==== Tục cưới hỏi ==== Nếu người bạn gái đồng ý thì hẹn bạn trai làm một thủ tục Bắt vợ. Theo tục bắt vợ của người H'Mông, sau ba ngày bắt được vợ, người con trai phải cùng bố mẹ đẻ đem lễ vật gồm thịt lợn, thịt gà, rượu sang nhà gái để tạ ơn và làm vía thành hôn đồng ý cho hai người lấy nhau. Sau khi làm vía, người con trai phải cùng vợ ngủ lại nhà gái một đêm rồi sáng mai mới được về sớm. Bắt được vợ rồi thì hai người có thể về chung sống với nhau đến lúc nào có điều kiện kinh tế khá giả thì mới tổ chức đám cưới, thậm chí có những đôi ở với nhau có con rồi cưới cũng chẳng sao. Ngày nay thủ tục này có phần thay đổi khác tiến bộ hơn, tại Việt Nam thì biến đổi giống với người Kinh. Người con gái tìm hiểu kỹ hơn, tự do lựa chọn người bạn đời. Hầu như hiện tại tất cả dân tộc H'Mông đặc biệt là giới trẻ đều sử dụng chung ngôn ngữ viết Hmông để giao tiếp trong nước cũng như nước ngoài để thống nhất ngôn ngữ chung cho dân tộc mông "hmoob" == Tham chiếu == Fadiman, Anne (1997). The Spirit Catches You and You Fall Down: a Hmong Child, Her American Doctors, and the Collision of Two Cultures. Farrar, Straus và Giroux. ISBN 0-374-26781-2. [TYPN 1992] The section on nomenclature draws heavily on Thai-Yunnan Project Newsletter, Number 17, tháng 6 năm 1992, Department of Anthropology, Australian National University. Material from that newsletter may be freely reproduced with due acknowledgement. W.R. Geddes. Migrants of the Mountains: The Cultural Ecology of the Blue Miao (Hmong Njua) of Thailand. Oxford. The Clarendon Press. 1976. Khắc khoải tục bắt vợ trong đêm == Chỉ dẫn == == Tham khảo == == Xem thêm == Hệ ngôn ngữ H'Mông-Miền Vua Mèo Các dân tộc trong lịch sử Trung Quốc Lịch sử Trung Quốc Các ngôn ngữ ở Trung Quốc Người Mỹ gốc Hmông == Liên kết ngoài == The Virtual Hilltribe Museum Hmong Studies Internet Resource Center Minority Policies and the Hmong in Laos Hmongs in America The Hmong Times Hmong American Partnership The Hmong in French Guiana Traditional Hmong religion Hmong-English dictionary (tiếng Việt)
foxconn.txt
Foxconn (富士康) là thương hiệu của công ty Đài Loan Hon Hai Precision Industry Co. (Ltd.) . Foxconn là một trong những hãng chế tạo linh kiện điện tử và máy tính lớn nhất thế giới, và chủ yếu chế tạo theo hợp đồng với các đơn vị khác. Năm 2007, hãng này có các công ty con có các nhà máy tại Cộng hòa Séc, Hungary, México, Brasil, Ấn Độ và Việt Nam. Tại Việt Nam, tháng 3 năm 2007, Foxconn bắt đầu xây dựng nhà xưởng tại Bắc Ninh (Khu công nghiệp Quế Võ), Bắc Giang (Khu công nghiệp Đình Trám), và một số tỉnh của Việt Nam. == Sản xuất điện tử == Foxconn sản xuất những sản phẩm như mô-đun bluetooth,... và đặc biệt nhất là sản xuất iPhone cho Apple. Hợp tác với Nokia Chiếc máy tính bảng mới nhất được Nokia tung ra là Nokia N1 do Foxconn sản xuất và Nokia thiết kế. Theo hợp đồng với Nokia, Foxconn chịu trách nhiệm phân phối sản phẩm, hỗ trợ sản phẩm,.... Tháng 5 năm 2016, công ty con của Foxconn là FIH (Foxconn International Holdings) chính thức đàm phán thành công thương vụ mua lại nhà máy Nokia Việt Nam thuộc sở hữu của Microsoft được đặt tại khu công nghiệp Việt Nam - Singapore (VSIP, Bắc Ninh), nằm trên diện tích rộng 65.400m2 với tổng vốn đầu tư 302 triệu USD. == Tham khảo ==
tàu sân bay.txt
Tàu sân bay, hay hàng không mẫu hạm, là một loại tàu chiến được thiết kế để triển khai và thu hồi lại máy bay—trên thực tế hoạt động như một căn cứ không quân trên biển. Vì vậy các tàu sân bay cho phép lực lượng hải quân triển khai không lực ở các khoảng cách lớn không phụ thuộc vào các căn cứ ở gần đó để làm căn cứ trên mặt đất cho máy bay. Các lực lượng hải quân hiện đại với những con tàu như vậy coi chúng là trung tâm của hạm đội, vai trò trước đó do thiết giáp hạm đảm nhận. Sự thay đổi này, một phần vì sự phát triển của chiến tranh trên không thành một phần quan trọng trong chiến tranh, đã diễn ra trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Các tàu sân bay không có hộ tống được coi là dễ bị các tàu khác, máy bay, tàu ngầm hay phi đạn tấn công và vì thế phải di chuyển trong một đội tàu sân bay. Trong lực lượng hải quân của nhiều nước, đặc biệt là Hải quân Hoa Kỳ, một tàu sân bay được coi là tàu chủ lực. == Hình dạng sàn bay == Các tàu sân bay hiện đại có sàn bay phẳng, sàn bay được dùng làm nơi cất cánh và hạ cánh cho các máy bay. Máy bay cất cánh lên phía trước, ngược chiều gió, và hạ cánh từ phía sau. Các tàu sân bay có thể chạy với tốc độ, ví dụ lên tới 35 knot (65 km/h), ngược chiều gió khi máy bay cất cánh để tăng tốc độ gió biểu kiến, nhờ vậy giảm được tốc độ cần thiết của máy bay so với con tàu. Trên một số chiếc, một hệ thống phóng máy bay hoạt động bằng hơi nước được sử dụng nhằm đẩy máy bay về phía trước trợ giúp thêm vào sức mạnh của động cơ máy bay, cho phép máy bay cất cánh ở một khoảng cách ngắn hơn bình thường, thậm chí với hiệu ứng của gió ngược chiều từ phía trước tới. Trên các tàu sân bay khác, máy bay không cần trợ giúp để cất cánh – yêu cầu trợ giúp cất cánh liên quan tới thiết kế máy bay và đặc điểm của nó. Ngược lại, khi hạ cánh trên một tàu sân bay, một số máy bay chỉ dựa vào một móc đuôi để ngoắc vào các dây hãm chạy ngang sàn bay của tàu để giữ chúng dừng lại trong một khoảng cách ngắn hơn bình thường. Một số loại khác dùng khả năng lơ lửng của nó để hạ thẳng đứng và vì thế cần phải giảm tốc độ khi hạ cánh. Từ cuối Chiến tranh thế giới thứ hai việc hướng đường băng hạ cánh chéo một góc so với trục chính của con tàu đã trở nên phổ thông. Chức năng đầu tiên của kiểu đường băng chéo là cho phép máy bay nào không móc được dây hãm, gọi là "bolter" (chú ngựa bất kham), tiếp tục cất cánh mà không gặp phải nguy cơ lao vào các máy bay đang đỗ ở khu vực phía trước sàn bay. Đường băng chéo cũng cho phép hạ cánh một máy bay cùng lúc với việc phóng một máy bay khác ở đường băng trước. Các vùng sàn bay bên hông của tàu chiến (đài chỉ huy, tháp kiểm soát bay, hệ thống thoát khí của động cơ và các thứ khác) được tập trung ở một vùng khá nhỏ được gọi là một "đảo". Rất hiếm tàu sân bay được thiết kế hay được chế tạo mà không có một đảo và kiểu thiết kế như vậy chưa từng được thấy trên bất kỳ một tàu sân bay cỡ hạm đội nào. Một hình dạng gần đây hơn, gọi là kiểu nhảy cầu (ski jump), được Hải quân Hoàng gia Anh sử dụng, có một đầu dốc lên ở phía trước đường băng. Nó được phát triển để có thể phóng được các máy bay VTOL (máy bay cất cánh và hạ cánh thẳng đứng) hay STOVL (máy bay cất cánh đường băng ngắn và hạ cánh thẳng đứng) như kiểu Sea Harrier hay F-35. Mặc dù máy bay có thể bay lên thẳng đứng ở trên boong, nhưng việc sử dụng bờ dốc sẽ tiết kiệm nhiên liệu. Vì sẽ không cần tới các máy phóng và dây hãm nữa, các tàu sân bay kiểu này sẽ giảm được trọng lượng, tính phức tạp, và khoảng không cần thiết để bố trí thiết bị. == Các kiểu thông thường == Trong thế kỷ vừa qua, đã có nhiều kiểu tàu sân bay được thiết kế, một số chúng hiện đã lỗi thời. Nói chung, chúng có thể được phân loại như sau: === Các thiết kế ban đầu và những phát triển giữa hai cuộc chiến === Những chiếc Tàu tiếp liệu thủy phi cơ, như HMS Engadine, đã bị loại không được sử dụng trên chiến trường sau thập niên 1920 khi những tàu sân bay có thể chứa các máy bay quy ước được biên chế vào các hạm đội và ưu thế của các loại máy bay trên mặt đất so với các loại thủy phi cơ trong các chiến dịch hải quân đã rõ ràng. Những tàu sân bay tiêu chuẩn, như HMS Ark Royal, đặc trưng 20.000 đến 65.000 tấn. Thường được gọi là "những tàu sân bay hạm đội" Tàu sân bay chở máy bay; tàu sân bay có thể mang mọi loại máy bay. Gồm cả USS Akron và USS Macon === Những phát triển trong Chiến tranh thế giới thứ hai === Các tàu sân bay hộ tống, như USS Barnes, chỉ được chế tạo trong Chiến tranh thế giới thứ hai, và được Hải quân hoàng gia Anh và Hải quân Hoa Kỳ sử dụng. Các tàu sân bay hạng nhẹ, như USS Independence, được thiết kế để chỉ chở các máy bay chiến đấu. Các tàu chở máy bay cải tiến từ tàu hàng, như SS Michael E, tàu chở hàng, có thể phóng máy bay chiến đấu nhưng không thu hồi được. Những tàu này được dùng lúc khẩn cấp trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Các tàu chở máy bay cải tiến từ tàu buôn (MACs), như MV Empire MacAlpine, một biện pháp khi khẩn cấp khác, lắp thêm đường băng vào các tàu buôn chở hàng. Các Tàu chiến chở máy bay được sáng tạo bởi Hải quân Đế quốc Nhật để bù lại một phần tổn thất về hàng không mẫu hạm sau Trận chiến Midway. Hai chiếc trong số chúng được làm từ Thiết giáp hạm lớp Ise vào cuối năm 1943. Những tháp nhỏ ở đuôi tàu bị dời đi và được thay thế bằng một kho chứa máy bay, sàn bay và máy phóng. Tàu tuần dương hạng nặng Mogami cũng được cải tạo kiểu như vậy. Các Tàu ngầm chở máy bay, như kiểu Surcouf của Pháp, hay tàu ngầm lớp I-400 của Nhật có thể mang 3 máy bay Aichi M6A Seiran. Chiếc đầu tiên trong số chúng được chế tạo vào thập niên 1920. Một số tuần dương hạm và tàu chỉ huy thời giữa hai cuộc chiến thường có máy phóng dành cho máy bay trên biển để trinh sát và phát hiện điểm rơi của các loại súng. Nó được phóng bằng một máy phóng và thu hồi bằng cần cẩu từ trên mặt nước sau khi hạ cánh. Đa số chúng đã bị bỏ đi trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhưng chúng cũng có một số thành công trong thời gian đầu cuộc chiến như chiếc Walrus của HMS Warspite trong các chiến dịch ở vịnh Fio năm 1940. === Những phát triển thời hậu chiến === Tàu sân bay tấn công đổ bộ, như USS Tarawa, thường được dùng cho mục đích chở quân đổ bộ và điều khiển một liên đội máy bay trực thăng lớn cho mục đích đó. Chúng cũng được gọi là "tàu chở lính đặc công" hay "tàu chở máy bay trực thăng". Các tàu sân bay chống tàu ngầm, như HMS Ocean, cũng được gọi là "tàu chở máy bay trực thăng." Các Siêu hàng không mẫu hạm, như USS Nimitz, đặc trưng 75.000 tấn hay lớn hơn. Được trang bị động cơ bằng các lò phản ứng hạt nhân và là trung tâm của một hạm đội được thiết kế hoạt động xa nhà. Nhiều tàu chiến hiện đại có khả năng đỗ máy bay trực thăng và các tàu chở máy bay trực thăng là một loại tàu sân bay tấn công đổ bộ kiểu mới. == Lịch sử và cuộc chạy đua == === Nguồn gốc === Khi máy bay nặng hơn không khí được phát triển vào đầu thế kỷ 20, nhiều lực lượng hải quân bắt đầu chú ý tới tiềm năng sử dụng chúng để trinh sát những tàu chiến lớn. Nhiều chuyến bay thử nghiệm đã được tiến hành để kiểm tra ý tưởng này. Eugene Ely là phi công đầu tiên được phóng từ một tàu đứng yên vào tháng 10 năm 1910. Ông đã cất cánh từ một kết cấu được gắn chặt vào phần sàn ở mũi tàu chiếc tuần dương hạm bọc thép của Mỹ, USS Birmingham tại Hampton Roads, Virginia và hạ cánh ở gần đó trên Mũi đất Willoughby sau vài phút bay trên không. Vào ngày 18 tháng 1 năm 1911 ông trở thành phi công đầu tiên cất cánh trên một tàu đứng yên. Ông cất cánh từ đường đua Tanforan và hạ cánh trên một kết cấu tạm khác trên đuôi chiếc USS Pennsylvania bỏ neo tại San Francisco bến cảng – hệ thống phanh ngẫu tác gồm các bao cát và những sợi dây dẫn thẳng tới mũi hãm và những sợi dây được miêu tả bên trên. Máy bay của ông sau đó quay tròn và ông không thể cất cánh lại. Sĩ quan chỉ huy Charles Samson, RN, trở thành người đầu tiên cất cánh từ một tàu chiến đang chạy vào ngày 2 tháng 5 năm 1912. Ông cất cánh trong một Short S27 từ tàu chiến HMS Hibernia khi nó đang chạy với tốc độ 10,5 knots (19 km/h) trong cuộc Thao diễn hạm đội hoàng gia ở Weymouth. Tàu HMS Ark Royal được xem là chiếc tàu sân bay đầu tiên. Ban đầu nó là một chiếc tàu buôn, nhưng được hoán cải lại để trở thành một tàu sân bay chở máy bay trên biển. Được đưa vào sử dụng năm 1914, nó phục vụ trong chiến dịch Dardanelles đến hết Chiến tranh thế giới thứ nhất. Cuộc tấn công đầu tiên từ một tàu sân bay là tấn công một mục tiêu trên đất liền diễn ra ngày 19 tháng 7 năm 1918. Bảy chiếc Sopwith Camel được phóng từ HMS Furious đã tấn công căn cứ zeppelin của Đức tại Tondern, với hai quả bom 50 lb mỗi quả. Nhiều khí cầu và bóng khí bị phá huỷ, nhưng vì tàu sân bay không có cách nào để thu hồi máy bay một cách an toàn, hai phi công đã bỏ máy bay trên biển cạnh tàu trong khi những người khác bay tới nước Đan Mạch trung lập. === Những năm giữa hai cuộc chiến === Hiệp ước Hải quân Washington năm 1922 đã đặt ra những giới hạn chặt chẽ về sức mạnh hải quân sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, các giới hạn không chỉ về tổng kích thước của các tàu sân bay, mà còn về giới hạn tối đa là 27.000 tấn cho mỗi chiếc. Mặc dù đã có một số sửa đổi về tổng kích thước (chỉ tính những chiếc trong hạm đội, không tính những chiếc thử nghiệm), không được vượt quá tổng kích thước. Tuy nhiên, trong khi các cường quốc hải quân lớn vượt quá kích thước đối với những chiếc tàu chiến, thì họ không vượt kích thước đối với các tàu sân bay. Vì thế, nhiều tàu chiến và tuần dương hạm đang được chế tạo (hay đang được sử dụng) đã được chuyển đổi thành tàu sân bay. Chiếc tàu đầu tiên có sàn phẳng trên toàn bộ chiều dài là chiếc HMS Argus, việc hoán cải nó hoàn thành vào tháng 9 năm 1918, Hải quân Hoa Kỳ nối gót vào năm 1920, khi việc hoán cải chiếc USS Langley hoàn thành. Hạm đội tàu sân bay đầu tiên của Mỹ chỉ được đưa vào phục vụ năm 1928 (USS Lexington và Saratoga). Chiếc tàu sân bay thực sự đầu tiên được phát triển là chiếc HMS Hermes, mặc dầu chiếc đầu tiên được biên chế vào hạm đội là chiếc Hosho của Nhật Bản (được biên chế vào tháng 12 năm 1922, tiếp đó là chiếc HMS Hermes vào tháng 7 năm 1923). Thiết kế của chiếc Hermes tiếp nối và có ảnh hưởng từ chiếc Hosho, và việc chế tạo nó trên thực tế được bắt đầu sớm hơn, nhưng nhiều cuộc kiểm tra, thực nghiệm và ngân sách đã làm chậm thời gian hoàn thành nó. Tới cuối thập niên 1930, các tàu sân bay trên thế giới thường mang ba kiểu máy bay: máy bay phóng ngư lôi, cũng được sử dụng cho những vụ ném bom quy ước trinh sát; máy bay ném bom bổ nhào, cũng được sử dụng vào trinh sát (trong Hải quân Hoa Kỳ, kiểu máy bay này được gọi là "máy bay ném bom trinh sát"); và máy bay chiến đấu để bảo vệ hạm đội và hộ tống các máy bay ném bom đi làm nhiệm vụ. Bởi vì khoảng không trên tàu sân bay rất hạn chế, tất cả các máy bay đó đều nhỏ, có một động cơ, và thường có cánh gấp lại để dễ xếp cất. === Chiến tranh thế giới thứ hai === Các tàu sân bay đóng một vai trò quan trọng trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Với 7 tàu hoạt động, Hải quân Hoàng gia Anh có một ưu thế về số lượng to lớn ở đầu cuộc chiến khi cả Đức và Ý đều không có tàu sân bay. Tuy nhiên, điểm yếu dễ bị tấn công cả các tàu sân bay trước các tàu chiến truyền thống đã nhanh chóng lộ ra khi tàu HMS Glorious bị tuần dương hạm Đức đánh đắm trong chiến dịch Na Uy năm 1940. Tới Chiến tranh thế giới thứ hai, các tàu chở thủy phi cơ không con được coi là ngang sức với những tàu sân bay mang máy bay quy ước, bởi vì các máy bay quy ước có tầm bay xa hơn, nhanh hơn, với trọng lượng vũ khí đem theo lớn hơn và tính năng tốt hơn; sau cuộc chiến, những chiếc máy bay trực thăng đầu tiên đã thay thế nhiều nhiệm vụ của những máy bay trên biển. Sự yếu kém rõ ràng này trước các tàu chiến đã thay đổi vào tháng 10 năm 1940 khi chiếc tàu sân bay HMS Illustrious tung ra một cuộc tấn công tầm xa vào hạm đội Ý trong Trận Taranto. Chiến dịch này đã làm mất khả năng chiến đấu của 3 trong 6 tàu chiến tại cảng và chỉ mất 2 chiếc trong số 21 chiếc máy bay tấn công Fairey Swordfish torpedo bombers. Các tàu sân bay cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc củng cố cho đảo Malta, cả bằng cách vận chuyển máy bay và bảo vệ các đoàn tàu tiếp tế cho hòn đảo đang bị phong tỏa này. Việc sử dụng các tàu sân bay đã làm cho hải quân của Ý và Đức vốn chỉ có căn cứ sân bay trên đất liền không thể thống trị trên vùng Địa Trung Hải. Ở Đại Tây Dương, các máy bay từ tàu sân bay HMS Ark Royal và HMS Victorious chịu trách nhiệm làm giảm bước tiến của Tàu chiến Bismarck Đức trong tháng 5 năm 1941. Sau đó, các tàu sân bay hộ tống đã chứng minh giá trị của mình trong vai trò bảo vệ các đoàn tàu vận tải trong Trận chiến Đại Tây Dương thứ hai và ở các vùng biển Bắc Cực. Nhiều trận chiến lớn ở Thái Bình Dương cũng có sự tham gia của các tàu sân bay. Nhật Bản bắt đầu cuộc chiến với 10 chiếc, hạm đội lớn nhất và hiện đại nhất trên thế giới ở thời điểm đó. Mỹ có 6 chiếc tàu sân bay vào lúc bắt đầu cuộc chiến cho dù chỉ có 3 trong số chúng hoạt động ở Thái Bình Dương. Việc phát triển những ngư lôi lặn ở độ sâu thấp của Nhật Bản năm 1939, vụ tấn công năm 1940 của Không quân Hoàng gia Anh vào hạm đội Ý ở Taranto, vụ tấn công bất ngờ của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng là một minh chứng rõ ràng của sức mạnh có được khi sở hữu một lực lượng lớn những tàu sân bay hiện đại. Đồng thời, người Nhật bắt đầu tiến ra khắp Đông Nam Á và vụ đánh chìm Prince of Wales và Repulse của các máy bay có căn cứ trên mặt đất của Nhật Bản khiến cho nảy sinh nhu cầu về những chiếc tàu bảo vệ hạm đội khỏi những cuộc tấn công không quân. Tháng 4 năm 1942, Lực lượng tàu sân bay tấn công nhanh của Nhật Bản chạy vào Ấn Độ Dương và đánh chìm các tàu, gồm cả chiếc tàu sân bay đang được sửa chữa và không được bảo vệ HMS Hermes. Các hạm đội nhỏ hơn của Đồng Minh không được bảo vệ đúng mức đã bị buộc phải rút lui hay bị phá huỷ. Trong Trận chiến biển San Hô, các hạm đội Mỹ và hạm đội Nhật Bản lần đầu tiên trao đổi những trận tấn công bằng máy bay lẫn nhau mà không tàu bên nào nhìn thấy nhau. Trong Trận Midway, 4 tàu sân bay Nhật bị đánh chìm trong một cuộc tấn công bất ngờ bởi những chiếc máy bay từ 3 tàu sân bay của Hoa Kỳ lúc ấy đang được cho là ở Thái Bình Dương. Sau đó người Mỹ có thể chế tạo được số lượng lớn máy bay trang bị trên hạm đội hỗn hợp gồm nhiều loại tàu: tàu sân bay hạng nhẹ, tàu sân bay hộ tống, và quan trọng nhất là lớp tàu Essex mới được đưa vào sử dụng năm 1943. Những chiếc tàu sân bay này là hạt nhân tạo nên lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay nhanh của Hạm đội 3 và Hạm đội 5, đóng một vai trò quan trọng trong chiến thắng ở mặt trận Thái Bình Dương. Sự lu mờ của thiết giáp hạm như là một thành phần hàng đầu trong hạm đội đã được minh chứng rõ ràng với việc đánh đắm chiếc thiết giáp hạm lớn nhất từng được chế tạo, chiếc Yamato, bởi máy bay từ tàu sân bay năm 1945. Nhật cũng chế tạo tàu sân bay lớn nhất của cuộc chiến, chiếc Shinano, nguyên là một chiếc thiết giáp hạm lớpYamato, được thay đổi chức năng trong quá trình đóng sau thảm họa mất 4 chiếc tàu sân bay trong trận Midway. Nó bị một tàu ngầm Mỹ tuần tiễu đánh đắm tháng 11 năm 1944, khi đang vận chuyển sau khi vừa được hạ thủy, nhưng trước khi được trang bị hoàn chỉnh hay hoạt động. == Những cải tiến thời chiến == Kinh nghiệm chiến đấu đã cho thấy phát minh "mũi tàu chống bão" của Anh là cách sử dụng mũi tàu hữu hiệu nhất, hơn cả súng máy hay một tầng thứ nhì. Loại mũi tàu này đã được sử dụng rộng rãi cho các tàu sân bay Anh và Mỹ. Tàu sân bay Nhật Taiho là tàu đầu tiên của Nhật sử dụng phát minh này. Bắt đầu muộn trong cuộc chiến với lớp tàu sân bay Midway, các tàu sân bay của Hoa Kỳ đã trở nên to lớn tới mức thực tế việc áp dụng khái niệm thiết kế sàn chứa máy bay (hangar deck) trở thành sàn chắc (strength deck) không còn thích hợp nữa, và mọi tàu sân bay của Hoa Kỳ sau này đều có sàn cất cánh là sàn chắc, khiến đảo trở thành siêu cấu trúc duy nhất. === Những tàu sân bay loại nhỏ === Sự thiệt hại 3 tàu sân bay chính liên tiếp ở Thái Bình Dương buộc Hải quân Hoa Kỳ phải phát triển tàu sân bay hạng nhẹ (CVL) từ những thân tàu tuần dương hạm hạng nhẹ vốn đã được chế tạo. Chúng được dùng để hỗ trợ thêm các phi đội máy bay chiến đấu cho lực lượng tấn công, và đã chỉ được sử dụng trong Hải quân Hoa Kỳ trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Hải quân Hoàng gia Anh cũng đưa ra một thiết kế tương tự cho họ và các nước thuộc Khối thịnh vượng chung Anh sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Một trong những chiếc tàu sân bay đó, chiếc INS Viraat của Ấn Độ, ban đầu là HMS Hermes, hiện vẫn đang được sử dụng. === Những tàu sân bay hộ tống và tàu sân bay kiểu tàu buôn === Để bảo vệ các đoàn tàu trên biển Đại Tây Dương, người Anh đã phát triển một kiểu tàu được gọi là tàu sân bay kiểu tàu buôn, chúng vốn là những tàu buôn được trang bị một sàn phẳng cho khoảng sáu chiếc máy bay. Chúng được vận hành bởi những đoàn thủy thủ dân sự, treo cờ thương mại và mang hàng hóa thông thường tuy nhiên vẫn có hỗ trợ bảo vệ bằng không quân. Bởi vì những tàu đó không có thang máy hay chỗ đỗ cho máy bay, việc bảo dưỡng máy bay bị hạn chế và trong suốt cuộc hành trình, máy bay phải đỗ trên boong. Chúng được dùng tạm thời cho tới khi tàu sân bay hộ tống chuyên dụng được chế tạo ở Hoa Kỳ (Xếp hạng ở Hoa Kỳ CVE). Khoảng một phần ba kích thước của một tàu sân bay hạm đội, nó mang khoảng hai tá máy bay với nhiệm vụ chống tàu ngầm. Hơn một trăm chiếc đã được chế tạo hay được hoán cải từ các tàu buôn. Các tàu sân bay hộ tống sản xuất tại Hoa Kỳ thường từ hai kiểu thiết kế thân căn bản: một từ tàu buôn, và một từ tàu chở dầu hơi lớn và tốc độ hơi cao. Bên cạnh việc bảo vệ hộ tống, chúng được sử dụng để vận chuyển máy bay qua biển. Tuy nhiên, một số cũng tham gia vào các trận đánh giải phóng Philippines, nổi tiếng là trận chiến ngoài khơi Samar trong đó 6 chiếc tàu sân bay hộ tống và các tàu khu trục đã nhanh chóng tiếp chiến 5 tàu chiến hạng nặng Nhật Bản và buộc chúng phải rút lui. === Tàu buôn có hệ thống phóng === Là một thứ tàu dùng tạm trong lúc khẩn cấp trước khi các tàu sân bay kiểu tàu buôn được đem ra sử dụng, người Anh đã bảo vệ trên không cho các đoàn hộ tống bằng cách sử dụng "Tàu buôn có hệ thống phóng" (CAM ships) và các tàu sân bay kiểu tàu buôn. Các tàu buôn có hệ thống phóng vốn là các tàu buôn được trang bị một máy bay, thường là một chiếc Hawker Hurricane đã qua sử dụng trong chiến đấu, được phóng bằng một máy phóng. Một khi đã được phóng đi, máy bay không thể đỗ trở lại trên bong và phải hạ cánh xuống biển nếu không thể bay tới đất liền. Trong 2 năm, chỉ chưa tới mười vụ phóng kiểu này được thực hiện, tuy thế những chuyến bay đó cũng mang lại một số thành công: hạ 6 máy bay ném bom trong khi chỉ mất một phi công. === Đường băng chéo === Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, máy bay phải hạ cánh trên một đường băng song song với trục dài của thân tàu. Máy bay nào đã đỗ trên sàn được cho đỗ ở mũi tàu, chỗ cuối đường băng. Một thanh ngăn va chạm được dựng lên phía sau chúng để ngăn máy bay đang hạ cánh khỏi lao vào khu vực đó bởi vì móc giữ của nó móc trượt vào các dây giảm tốc. Nếu điều này xảy ra, thường gây ra thiệt hại nghiêm trọng, thương vong hay thậm chí, nếu thanh chắn không đủ chắc, còn phá hủy các máy bay đã đỗ. Một phát triển quan trọng trong thập niên 1940 khi người Anh phát minh ra đường băng chéo, nơi đường băng được đặt chéo vài độ so với trục thân tàu. Nếu một máy bay không móc được cáp giảm tốc, phi công chỉ cần tăng sức động cơ lên tối đa rồi lại cất cánh lại và sẽ không đâm phải các máy bay đã đỗ bởi vì đường băng chéo góc hướng ra ngoài biển. === Những phát triển thời hậu chiến === Hệ thống phóng thủy lực hiện đại, được cung cấp sức mạnh thủy lực từ các nồi hơi hay các lò phản ứng, được Trung tá Anh C.C. Mitchell phát minh ra. Nó đã được ứng dụng rộng rãi sau khi được thử nghiệm nhiều lần trên chiếc HMS Perseus từ giữa 1950 và 1952 nó cho thấy sức mạnh lớn hơn và độ tin cậy cao hơn những hệ thống phóng dùng khí nén vốn từng được đưa vào sử dụng từ thập niên 1930. Hiện tại, chỉ các tàu sân bay dùng năng lượng hạt nhân là có các nồi hơi như một phần trong hệ thống sức mạnh chuyển động của nó, đa phần các tàu sân bay hiện nay được trang bị thiết bị phát hơi chỉ dùng để cung cấp năng lượng cho các máy phóng. Một sáng chế khác của người Anh là bộ phận chỉ thị độ dốc trượt (glide-slope indicator) (cũng được gọi là "thịt viên"). Đó là một cái đèn được điều khiển kiểu con quay hồi chuyển (gyroscopically-controlled lamp) ở phía hạ cánh của boong, và được phi công đang sắp hạ cánh quan sát thấy, chỉ thị cho anh ta thấy anh ta đang ở quá cao hay quá thấp so với đường lượn xuống chính xác. Nó cũng tính toán sẵn ảnh hưởng của sóng đối với boong. Thiết bị này đã trở nên cần thiết khi tốc độ hạ cánh của máy bay ngày càng tăng lên. Hải quân Hoa Kỳ từ sớm đã cố gắng để trở thành một lực lượng hạt nhân chiến lược với kế hoạch chế tạo chiếc USS United States (CVA-58), ký hiệu CVA, với chữ "A" để biểu thị "hạt nhân". Chiếc tàu này mang các máy ném bom cánh quạt đôi, mỗi chiếc có thể mang một quả bom hạt nhân. Dự án này đã bị hủy bỏ dưới sức ép của lực lượng mới được thành lập gần đây là Không lực Hoa Kỳ, và chữ "A" được dùng lại với ý nghĩa "tấn công". Nhưng điều này chỉ làm chậm sự lớn mạnh của các siêu hàng không mẫu hạm. Các vũ khí hạt nhân sẽ được mang ra biển bất chấp sự phản đối của Không quân năm 1955 trên chiếc USS Forrestal, và tới cuối thập niên 1950 Hải quân đã có nhiều máy bay tấn công trang bị vũ khí hạt nhân. Hải quân Hoa Kỳ mang vũ khí hạt nhân trên biển theo cách khác bằng cách chế tạo các tàu sân bay có trang bị các lò phản ứng hạt nhân. Chiếc USS Enterprise là chiếc tàu sân bay đầu tiên được cung cấp năng lượng theo kiểu này và những chiếc siêu hàng không mẫu hạm này có ưu thế vì kiểu công nghệ đó cho phép chúng hoạt động lâu dài trên biển. Một quốc gia khác duy nhất theo gót Hoa Kỳ là Pháp với chiếc Charles de Gaulle. Những năm hậu chiến cũng chứng kiến sự phát triển của máy bay trực thăng với nhiều khả năng khác biệt so với máy bay chiến đấu. Trong khi các máy bay có cánh cố định thường có nhiệm vụ chiến đấu không đối không và không đối đất thì các máy bay trực thăng được sử dụng để vận chuyển trang thiết bị và con người và có thể được sử dụng trong vai trò chiến tranh chống tàu ngầm với thiết bị siêu âm thả xuống nước và các tên lửa. Vào cuối thập niên 1950 đầu thập niên 1960, Anh Quốc đã hoán cải một số tàu sân bay cũ của họ thành các tàu sân bay chở quân biệt kích, và những chiếc máy bay trên biển kiểu HMS Bulwark. Để chiến đấu chống lại những ý nghĩa đắt giá của thuật ngữ "hàng không mẫu hạm", chiếc tàu loại mới lớp Invincible ban đầu được chỉ định "thông qua sàn các tuần dương hạm" và chở các máy bay trực thăng với nhiệm vụ hộ tống. Khi loại máy bay Sea Harrier xuất hiện, chúng đã có thể mang cả máy bay cánh cố định cho dù có đường băng ngắn. == Tàu sân bay trong Chiến tranh Triều Tiên == Liên Hiệp Quốc (chủ yếu là Mỹ) đã thực hiện các chiến dịch tàu sân bay chống lại Quân đội Nhân dân Triều Tiên ngày 3 tháng 7 năm 1950 để đáp trả lại việc họ tấn công Nam Triều Tiên. Lực lượng tấn công 77 lúc đó gồm các tàu sân bay Valley Forge và HMS Triumph. Trước cuộc đình chiến vào ngày 27 tháng 7 năm 1953, 12 tàu sân bay Mỹ đã 27 lần tuần tiễu trong vùng biển Nhật Bản như một phần thuộc lực lượng tấn công 77. Một đơn vị thứ hai, Lực lượng tấn công 95, được dùng làm lực lượng phong tỏa ở Hoàng Hải ngoài khơi Bắc Triều Tiên. Lực lượng này gồm một tàu sân bay hạng nhẹ của các nước Khối thịnh vượng chung Anh (Triumph, Theseus, Glory, Ocean, HMAS Sydney) và một tàu hộ tống của Mỹ (Badoeng Strait, Bairoko, Point Cruz, Rendova và Sicily). Hơn 301.000 cuộc tấn công từ các tàu sân bay đã được tung ra trong Chiến tranh Triều Tiên: 255.545 vụ bởi các máy bay của Lực lượng đặc nhiệm 77, và 20.375 vụ bởi các tàu sân bay hộ tống của Lực lượng đặc nhiệm 95. Lực lượng của Hải quân Hoa Kỳ và Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đặt trên tàu sân bay bị thiệt hại 541 máy bay. Không lực hạm đội Anh thiệt hại 86 máy bay trong chiến đấu, và Không lực hạm đội Úc thiệt hại 15 chiếc. == Các chiến dịch tàu sân bay Mỹ ở Việt Nam == Hải quân Hoa Kỳ đã tiến hành "một cuộc chiến kéo dài nhất, cay đắng nhất, và đắt giá nhất" (René Francillon) trong lịch sử hàng không hàng hải từ ngày 2 tháng 8 năm 1964 đến 15 tháng 8 năm 1973 trên vùng Biển Đông. Xuất phát từ hai cứ điểm là Yankee Station và Dixie Station, các tàu sân bay đã hỗ trợ các chiến dịch tấn công của quân đội Mỹ ở Nam Việt Nam và tiến hành các chiến dịch ném bom chung với Không quân Hoa Kỳ ở Bắc Việt Nam trong các Chiến dịch Flaming Dart, Chiến dịch Rolling Thunder và Chiến dịch Linebacker. 21 tàu sân bay (tất cả các hàng không mẫu hạm tấn công đang hoạt động trong giai đoạn đó trừ John F. Kennedy) được bố trí vào Lực lượng đặc nhiệm 77 của Hạm đội số 7 của Mỹ, tiến hành 86 cuộc tuần tra và hoạt động tổng cộng 9.178 lần trên giới tuyến tại Vịnh Bắc Bộ. 530 máy bay bị thiệt hại trong chiến đấu và 329 chiếc nữa vì tai nạn khi hoạt động, làm thiệt mạng 377 phi công của hải quân, cùng 64 người bị coi là mất tích và 179 người bị bắt làm tù binh chiến tranh. 205 sĩ quan và binh lính trên ba tàu sân bay (Forrestal, Enterprise và Oriskany) tử trận trong các tai nạn. Bất chấp những tổn thất đó, lực lượng không quân trên các tàu sân bay Mỹ đã không thể nào đảo ngược kết cục thất bại của Mỹ trong cuộc chiến Việt Nam. == Tàu sân bay được sử dụng hiện nay == Các siêu hàng không mẫu hạm thường là những tàu lớn nhất được điều hành bởi các lực lượng hải quân; một chiếc thuộc lớp Nimitz được lắp hai lò phản ứng hạt nhân và bốn turbine hơi dài 1092 ft (333 m) và có giá khoảng 4.5 tỷ US dollar. Hoa Kỳ sở hữu nhiều tàu sân bay nhất với khoảng hơn mười chiếc đang hoạt động, và các tàu sân bay của họ là nền tảng để phô trương khả năng quyền lực Hoa Kỳ. Mười nước hiện có sở hữu các tàu sân bay cho phép máy bay cánh cố định hoạt động là: Hoa Kỳ, Anh, Pháp, Nga, Tây Ban Nha, Brasil, Ý, Ấn Độ, Trung Quốc và Thái Lan. Một số quốc gia khác như Canada, Nhật Bản, Pakistan, Úc, Chile, New Zealand và Singapore cũng đang sở hữu các tàu sân bay cho phép trực thăng và máy bay cất hạ cánh thẳng đứng hoạt động. Thông thường các tàu sân bay được hộ tống theo bởi nhiều tàu khác trong một hạm đội nhằm bảo vệ chiếc tàu to lớn đó, cung cấp hậu cần, và tăng khả năng phòng thủ, tấn công. Những nhóm này thường được gọi bằng thuật ngữ nhóm chiến đấu, biên đội tàu sân bay, hay nhóm tàu sân bay, thỉnh thoảng là một nhóm tàu sân bay chiến đấu. Việc sử dụng hàng không mẫu hạm gần đây gồm trong Chiến tranh Falklands, khi Anh đã có thể chiến thắng trong một cuộc xung đột cách nước họ 8.000 dặm (13.000 km) phần lớn nhờ ở việc sử dụng chiếc tàu sân bay cỡ lớn HMS Hermes và chiếc nhỏ hơn HMS Invincible. Chiến tranh Falklands cho thấy giá trị của những chiếc máy bay kiểu VSTOL – chiếc Hawker-Siddeley Harrier (loại RN Sea Harrier) trong việc bảo vệ hạm đội và lực lượng tấn công khỏi sự tấn công của các máy bay từ trên bờ và trong tấn công đối phương. Các máy bay trực thăng từ các tàu sân bay được sử dụng để triển khai quân và thu hồi quân lính bị thương. Người Mỹ cũng đã sử dụng các tàu sân bay ở Vịnh Ba Tư, Afghanistan và để bảo vệ các quyền lợi của họ ở Thái Bình Dương. Gần đây nhất, trong cuộc tấn công Iraq năm 2003 đã đề cao khả năng của các tàu sân bay trong vai trò căn cứ hàng đầu của Không lực Hoa Kỳ. Dù không có nhiều căn cứ không quân ở Trung Đông, Hoa Kỳ vẫn có thể tung ra những cuộc tấn công đáng kể từ các phi đội xuất phát từ các tàu sân bay. Đầu thế kỷ 21, các tàu sân bay trên khắp thế giới đã có khả năng mang khoảng 1250 máy bay. Hoa Kỳ chiếm hơn 1.000 chiếc trong số đó; nước đứng thứ hai là Anh với hơn 50 chiếc. Anh và Pháp cả hai đều đang tiến hành mở rộng khả năng về tàu sân bay của họ (với một lớp tàu thông thường), nhưng Hoa Kỳ vẫn giữ vị trí đầu bảng của mình với khoảng cách khá xa. == Các quốc gia sở hữu tàu sân bay == Nhiều quốc gia hiện đang sở hữu các hàng không mẫu hạm đang trong tiến trình đặt kế hoạch cho những lớp tàu mới, để thay thế những chiếc hiện tại. Hải quân Pháp đã đưa ra các kế hoạch cho một tàu sân bay thứ hai để bổ sung thêm cho chiếc Charles de Gaulle. Thiết kế chiếc này lớn hơn, với phạm vi chiếm nước 50.000–60.000 tấn và không sử dụng động cơ năng lượng hạt nhân như chiếc Charles de Gaulle. Đã có kế hoạch để biến Thiết kế hải quân Hoàng gia cho các chiến dịch CATOBAR (thiết kế Thales/BAE Systems cho hải quân hoàng gia là cho hàng không mẫu hạm STOVL có thể cải tổ cấu hình cho các chiến dịch CATOBAR). Hải quân Ấn Độ đã bắt đầu chế tạo một chiếc tàu sân bay 37.500 tấn, dài 252 mét vào tháng 4 năm 2005. Chiếc tàu sân bay mới sẽ có giá 762 triệu US dollar và sẽ mang theo các máy bay MiG 29K 'Fulcrum' và Sea Harrier cùng với các máy bay trực thăng do Ấn Độ và Nga cùng chế tạo. Chiếc tàu này sẽ có bốn động cơ turbine và khi hoàn thành sẽ có tầm hoạt động 7.500 dặm biển, mang theo 160 sĩ quan, 1400 binh lính và 30 máy bay. Chiếc tàu đang được đóng tại một xưởng đóng tàu nhà nước ở phía nam Ấn Độ. Năm 2004, Ấn Độ cũng mua chiếc Admiral Gorshkov từ Nga với giá 1,5 tỷ US dollar; nó đang sắp được biên chế vào Hải quân Ấn Độ vào năm 2008 sau khi được sửa chữa. Việc chế tạo các tàu sân bay kiểu V/STOL cho Hải quân Ý (Marina Militare) Cavour có động cơ quy ước đã bắt đầu năm 2001. Nó đang được Fincantieri của Ý đóng. Sau nhiều lần trì hoãn, Cavour được chờ đợi sẽ đưa vào phục vụ năm 2008 để hỗ trợ thêm cho những chiếc tàu sân bay trong lực lượng Hải quân Ý hiện nay Giuseppe Garibaldi. Một chiếc thứ hai với phạm vi chiếm nước 25.000-30.000 tấn đang được Hải quân Ý trông đợi, để thay thế chiếc tàu đã bị loại bỏ Vittorio Veneto, nhưng vì các lý do tài chính, phát triển thêm nữa vẫn còn đang đứng im. Hải quân Hoàng gia Anh hiện có kế hoạch cho hai chiếc tàu sân bay mới (hiện nay mới chỉ biết là CVF) để thay thế ba chiếc tàu sân bay lớp Invincible hiện đang hoạt động. Hai chiếc này sẽ được đặt tên là HMS Queen Elizabeth và HMS Prince of Wales. Chúng sẽ có khả năng mang khoảng 50 máy bay và sẽ có trọng lượng rẽ nước khoảng 60.000 tấn. Hai chiếc tàu này sẽ được đưa vào phục vụ vào năm 2012 và 2015. Những chiếc máy bay được được bố trí đầu tiên trên chúng là F-35 Joint Strike Fighter, và số lượng tàu cùng đoàn với chúng khoảng 1000. Hai chiếc tàu này sẽ là những chiếc tàu chiến lớn nhất từng được chế tạo cho Hải quân Hoàng gia. Ban đầu chúng được định dạng cho các chiến dịch STOVL, những chiếc tàu sân bay có thể được điều chỉnh cho thích ứng với mọi kiểu thế hệ máy bay tương lai được bố trí trên chúng. Hải quân Hoàng gia Úc hiện đang đầu tư vào hai chiếc tàu "đa chức năng", với thiết kế theo kiểu lớp Mistral của Pháp hay Buque de Proyección Estratégica của Tây Ban Nha. Người ta tin rằng nhiều thành viên bên trong Hải quân Hoàng gia Úc và trong chính phủ Úc thích mua thêm F-35B JSF để trang bị cùng với nó, biến chúng thành những tàu sân bay. Điều này sẽ cho phép Hải quân Hoàng gia Úc có khả năng sở hữu tàu sân bay lần đầu tiên kể từ thập niên 1980. Dự án cho chiếc tàu dài 231 và lượng rẽ nước 25.000–30.000 tấn dùng động cơ quy ước Buque de Proyección Estratégica (tàu dự án chiến lược) cho Hải quân Tây Ban Nha được thông qua năm 2003, và việc chế tạo nó đã bắt đầu vào tháng 8 năm 2005, công ty đóng tàu Navantia chịu trách nhiệm dự án. Chiếc Buque de proyección estratégica là một chiếc tàu được thiết kế để hoạt động như tàu tấn công đổ bộ và tàu sân bay kiểu VSTOL, phụ thuộc vào nhiệm vụ được giao. Thiết kế nó dành cho những cuộc xung đột ở tầm thấp mà có thể Hải quân Tây Ban Nha sẽ phải đối mặt trong tương lai. Khi hoạt động như một tàu sân bay kiểu VSTOL, tầm điều hành của nó sẽ khoảng 25.000 tấn, và nó sẽ mang tối đa 30 Matador AV-8B+, F-35 hay một nhóm hỗn hợp cả hai loại máy bay trên. Chiếc tàu này có một Sky-Jump và một hệ thống chiến đấu dựa trên radar ba chiều, và nó sẽ là chiếc tàu sân bay thứ hai của hải quân Tây Ban Nha sau chiếc Príncipe de Asturias. Tháng 3/1992, chính phủ Thái Lan và Tây Ban Nha ký kết thỏa thuận đóng mới tàu sân bay hạng nhẹ dựa trên thiết kế lớp tàu Principe de Asturias cho Hải quân Hoàng gia Thái Lan. Chi phí đóng tàu này khoảng 336 triệu USD. Tàu sân bay Chakri Naruebet của có thiết kế gần giống với loại tàu sân bay Principe de Asturias với cầu trượt dốc 12 độ phù hợp cho quá trình cất cánh của loại chiến đấu cơ phản lực có khả năng cất, hạ cánh thẳng đứng trên đường băng ngắn như phản lực chiến đấu AV-8 Harrier II của Không quân Hoàng gia Anh. Tàu có lượng giãn nước 11.486 tấn, chiều dài tổng thể 182,65m, chiều dài boong phóng máy bay 174,1m. === Hải quân Nga === Nga có một tàu sân bay đang hoạt động, hàng không mẫu hạm Admiral Kuznetsov. Nga đã không đóng loại hạm này kể từ đó vì thiếu kinh phí, thay vào đó họ tập trung đóng tàu ngầm tấn công mang tên lửa chống hạm tầm xa để khắc chế ưu thế của lực lượng tàu sân bay Mỹ. Tàu sân bay Đô đốc Kuznetsov được đóng tại xưởng đóng tàu Nikolayev South trên bờ Biển Đen thuộc Ukraine. Việc này được khởi động vào 1985 nhưng phải đến 10 năm, tàu sân bay Kuznetsov sau mới chính thức đi vào hoạt động Chiếc Kuznetsov hạ thủy từ đầu những năm 1990, hiện được triển khai trong Hạm đội Biển Bắc. Chiếc Kuznetsov có chiều dài 300m, chở được 26 chiến đấu cơ và 24 trực thăng, ít hơn các tàu sân bay của Mỹ. Tàu này chạy bằng động cơ hơi nước, trong khi các tàu hiện đại chạy của Mỹ đều chạy bằng năng lượng hạt nhân. Khu vực boong tàu có diện tích 14.700 m2, được trang bị hai thang máy đẩy giúp nâng máy bay từ khoang chứa máy bay lên boong tàu. Khác với các tàu sân bay khác của phương Tây, Kuznetsov không có hệ thống máy phóng máy bay. Nó hoạt động dựa trên một đường dốc có góc nghiêng 12 độ ở phía cuối boong tàu để tạo đà cho máy bay cất cánh. Việc thiếu hệ thống máy phóng máy bay đã hạn chế khá nhiều trọng lượng của các loại máy bay trên tàu bởi một chiến đấu cơ nếu mang đầy đủ tải trọng sẽ không đạt được vận tốc vượt qua tốc độ thất tốc. Trên tàu có 17 máy bay (12 chiếc Su-33 và 5 chiếc Su-25), 24 trực thăng (4 Kamov Ka-27LD32, 18 Kamov Ka-27PLO và 2 Kamov Ka-27S). Tàu có tốc độ 32 hải lý/h với thời gian hoạt động chỉ giới hạn trong 45 ngày. Chiếc Kuznetsov có 8 động cơ hơi nước (nồi hơi áp lực), 4 trục truyền động 200.000 mã lực; 2 động cơ tuabin 50.000 hp; 9 động cơ tuabin phát điện 2.011 mã lực; 6 động cơ diesel 2.011 mã lực. Phạm vi hoạt động của tàu là 7.130 km với tốc độ 59 km mỗi giờ. Hệ thống động lực tàu chiến của các nước trên thế giới đã không còn sử dụng nồi hơi mà sử dụng tua-bin điện và các thiết bị động lực hiện đại khác nên thiết bị nồi hơi của tàu sân bay Kuznetsov được nhận xét về cơ bản đã bị lạc hậu trong ngành động cơ tàu chiến. Các tàu sân bay của Hải quân Mỹ tối thiểu cứ mỗi 3 năm phải trải qua ít nhất 8 tháng hoạt động trên biển còn từ năm 1991 tàu sân bay Kuznetsov chỉ có thể thực hiện 4 chuyến đi biển ở phạm vi hẹp và phải có tàu kéo đi theo để đề phòng sự cố nồi hơi. Tháng 1 năm 2009, một đám cháy đã bùng phát trên tàu sân bay duy nhất của Hải quân Nga mang tên "Đô đốc Kuznetsov" khi tàu này đang thả neo ngoài khơi Thổ Nhĩ Kỳ, làm 1 thuỷ thủ thiệt mạng. === Hải quân Hoa Kỳ === Hiện nay Hải quân Hoa Kỳ có 11 tàu sân bay đang hoạt động. Hoa Kỳ sẽ tiếp tục được sử dụng (và trong một số trường hợp được thay thế) bởi lớp tàu sân bay Gerald Ford. Họ hy vọng rằng những chiếc tàu này sẽ lớn hơn và sẽ mang hơn 80 máy bay hay nhiều hơn nữa so với lớp Nimitz, và cũng sẽ được thiết kế để khó bị radar phát hiện. Mỹ đang giữ vị trí đầu trong danh sách những nước sở hữu tàu sân bay. Đáng kể nhất là 10 chiếc tàu sân bay hạt nhân lớp Nimitz là những tàu quân sự lớn nhất trên thế giới, có giá trung bình 4,5 tỉ USD. Chiếc George H.W. Bush trị giá 6,2 tỷ USD với boong tàu có thể chứa 90 máy bay và trực thăng chiến đấu. Chiếc USS George Washington dài 332 m, nặng 97.000 tấn, có sức chứa hơn 5.500 người và 70 máy bay và trực thăng rất hiện đại, trang bị hai lò phản ứng hạt nhân cho phép tàu hoạt động trong 18 năm mà không cần tiếp tế nhiên liệu. USS Ronald Reagan có tốc độ cao nhất là hơn 30 hải lý, chạy bằng năng lượng hạt nhân và có thể chạy liên tục trong suốt 20 năm mới phải nạp năng lượng. USS Theodore Roosevelt rộng 1,8 hecta, với trọng tải 88.000 tấn, chở gần 5.000 thủy thủ, được trang bị 90 trực thăng và máy bay chiến đấu. Chiếc USS John C. Stennis được ví như khách sạn nổi, một thành phố thu nhỏ của nước Mỹ. Tàu có tổng cộng 19 tầng, với đầy đủ các dịch vụ thiết yếu, phòng phẫu thuật, đầu bếp chuyên nghiệp. USS John C. Stennis được đưa vào trang bị ngày 9/12/1995 tại căn cứ Hải quân Bremerton, đã từng thực hiện nhiệm vụ trong cuộc chiến chống khủng bố ở Afghanistan ngày 23/2/2002. Neo đậu và hoạt động ở biển North Arabian, USS John C.Stennis Group là căn cứ xuất kích của các máy bay chiến đấu siêu hiện đại F/A-18C. Lực lượng không quân ở đây được trang bị các máy bay chiến đấu hiện đại F/A-18, F/A-18E, EA-6B Prowler, S-3 Viking, E-2C Hawkeye và SH-60 Seehawk. USS John C. Stennis có trọng tải lên tới 97.000 tấn, tàu có chiều dài 333m và bề ngang 78m. Tàu USS Stennis hiện đang giữ kỷ lục là tàu chiến cao nhất trên thế giới với độ cao từ đáy đến đỉnh cao nhất của rađa lên tới 74m (tương đương một tòa nhà 24 tầng). Trong khi các tàu sân bay truyền thống tiêu thụ trung bình 2 triệu lít xăng cho mỗi 3 ngày hoạt động, tàu USS Stennis (bằng công nghệ hạt nhân) thường cần 20-25 năm mới tái nạp nhiên liệu một lần. USS John C.Stennis Group được lắp 2 động cơ nguyên tử, có tầm hoạt động xuyên đại dương thế giới và chạy với tốc độ gần 60km/h, có thể mang được 3 triệu thùng nhiên liệu để tiếp dầu cho máy bay và số lượng vũ khí đủ để thực hiện các chiến dịch quân sự dài ngày mà không cần phải tăng cường thêm. USS John C. Stennis còn được trang bị các hệ thống tên lửa phòng không tầm gần, tầm xa và hệ thống tác chiến điện tử để đối phó với các đòn tiến công từ trên không, trên biển và trên đất liền. === Hải quân Giải phóng quân Nhân dân Trung Quốc === Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc sở hữu chiếc tàu sân bay cũ chưa hoàn thiện từ thời Liên Xô, mua lại từ Ukraina năm 1998 là chiếc Varyag, sau đó được đem về xưởng đóng tàu Đại Liên để tiếp tục tiến hành hoàn thiện giai đoạn cuối. Ban đầu, tàu dự định đặt tên là Thi Lang, nhưng sau đó tàu được đặt tên chính thức là Liêu Ninh và đánh số hiệu 16. Đa số các nhà phân tích hải quân tin rằng Trung Quốc chủ yếu dùng Liêu Ninh để học cách sử dụng các tàu sân bay Trung Quốc trong tương lai. Hiện tại thì Liêu Ninh nêu ra có 5 điểm yếu nguy hiểm là dựa trên công nghệ của Nga giới hạn phạm vi hoạt động của con tàu và tính hữu dụng trên biển. Thứ hai là khả năng của nó các thiết bị điện tử và hệ thống vũ khí của Liêu Ninh, máy bay J-15 còn kém, không thể sử dụng máy bay cảnh báo sớm và chưa có một đội hộ tống đủ mạnh và trưởng thành để bảo vệ Liêu Ninh. Còn các báo nước ngoài miêu tả với sơn màu trắng rất dễ bộc lộ trên nền nước biển xanh thẩm cùng hệ thống đèn màu sặc sỡ về đêm, Liêu Ninh trông giống như một khu vui chơi giải trí hơn là một tàu sân bay. == Những cách tiêu diệt tàu sân bay == Tàu sân bay là chủ lực của hạm đội, xung quanh nó luôn được bố trí nhiều tàu khu trục, tàu hộ tống để bảo vệ nó. Do vậy, đánh chìm hoặc đánh trọng thương tàu sân bay là rất khó với những nước có tiềm lực quân sự nhỏ bé. Tuy nhiên, với những cường quốc có vũ khí hiện đại như Nga, Mỹ, Trung Quốc, Anh... thì việc đánh chìm tàu sân bay đối phương không phải là quá khó. Họ có những vũ khí chuyên dụng có thể dùng để đánh chìm tàu sân bay. === Người nhái đặt mìn === Khi tàu sân bay neo đậu tại một cảng biển nào đó, có thể dùng người nhái lặn tới đặt mìn để đánh chìm tàu. Ngày 2 tháng 5 năm 1964, trong khi neo đậu tại Sài Gòn để bốc dỡ máy bay phục vụ chiến tranh, tàu sân bay hạng nhẹ USS Card (CVE-11) đã bị đánh chìm theo cách này. Chiến sĩ đặc công của Quân Giải phóng Miền Nam là Lâm Sơn Náo thuộc lực lượng đặc công Sài Gòn-Gia Định đã bí mật lặn tới tàu, đặt 2 khối chất nổ, mỗi khối gồm 40 kg TNT và 2 kg C4. Hai khối thuốc nổ được đặt cách nhau 10m, áp chặt lườn tàu làm nổ tung một lỗ bên hông tàu. USS Card bị đắm ở độ sâu 6 m (20 ft) nước (độ sâu sông Sài Gòn tại cầu cảng). === Ngư lôi phóng từ tàu ngầm === Trong Thế chiến thứ 2, hải quân Mỹ đánh chìm tổng cộng 17 tàu sân bay của Nhật, trong đó 9 do trúng bom từ máy bay, và 8 là do ngư lôi phóng từ tàu ngầm. Hải quân Đức cũng đã dùng ngư lôi đánh chìm nhiều tàu sân bay của Mỹ, Anh. Đổi lại, hải quân Mỹ cũng mất 11 tàu sân bay, trong đó 7 do trúng bom từ máy bay, và 4 là do ngư lôi phóng từ tàu ngầm Nhật. Hải quân Anh cũng mất 5 tàu sân bay do tàu ngầm Đức. Tổng cộng trong Thế chiến thứ 2, 17 tàu sân bay đã bị tàu ngầm bắn chìm (9 tàu sân tàu hạm đội, 8 tàu sân bay hộ tống) khiến 12.500 thủy thủ thiệt mạng. Ngư lôi kiểu cũ thời thế chiến 2 dùng cơ chế chạm nổ để xuyên thủng thân tàu và cho nước tràn vào qua lỗ thủng đó. Trong khi đó, ngư lôi hiện đại phát nổ bên dưới đáy tàu, cách con tàu vài mét, và bẻ gãy con tàu làm đôi nên có thể tạo ra sức tàn phá lớn hơn nhiều. Hải quân Mỹ từng thực hiện nhiều mô phỏng để xem cần bao nhiêu ngư lôi để đánh chìm 1 tàu sân bay cỡ lớn, như Tàu sân bay lớp Nimitz của Mỹ. Họ ước tính sẽ cần khoảng 6 ngư lôi cỡ 533mm, ví dụ như loại Mk-48 với đầu đạn nặng 300 kg, để đánh chìm một tàu sân bay hạng nặng. Để đánh chìm một tàu sân bay hạng trung như chiếc Liêu Ninh của Trung Quốc, có thể sẽ cần khoảng từ 3 đến 4 ngư lôi cỡ 533mm. Các tàu ngầm hiện đại đều trang bị 6 (thậm chí 10) ống phóng ngư lôi 533mm với dự trữ 18-24 quả, nên hoàn toàn đủ khả năng đánh chìm tàu sân bay nếu có thể tiếp cận đủ gần mục tiêu. Một số loại tàu ngầm cỡ lớn của Liên Xô/Nga còn được trang bị loại ngư lôi hạng nặng cỡ 650mm với đầu đạn nặng 570 kg, có thể đánh chìm 1 tàu sân bay cỡ lớn chỉ với 2-3 quả trúng đích. Từ sau Thế chiến thứ 2 đến nay, không một tàu sân bay nào bị đắm trong các hoạt động tác chiến, đơn giản chỉ là vì từ đó đến nay không có một cuộc xung đột trên biển cỡ lớn nào giữa các cường quốc hải quân. Tuy nhiên, các cuộc tập trận hoặc các sự kiện chạm trán cho thấy những tàu ngầm hiện đại có thể trở thành những sát thủ thực sự của tàu sân bay khi áp dụng chiến thuật phục kích, ẩn nấp: Năm 1956, chiếc tàu ngầm C-360 Xô Viết (Lớp Whiskey theo phân loại của NATO) cũng từng cho nhô kính tiềm vọng ngay trước mũi tàu USS Des Moines của Mỹ. Trong những năm Chiến tranh lạnh, Tàu ngầm K-10 (Liên Xô) đã bám ngay dưới đáy tàu sân bay USS Enterprise của Mỹ suốt 13 tiếng đồng hồ mà tàu Mỹ không hề hay biết. Nếu đây là trận đánh thực sự, Tàu ngầm K-10 đã có thể phóng ngư lôi dễ dàng hạ gục chiếc tàu sân bay Mỹ. Tháng 12/2005, đã diễn ra cuộc tập trận mang tên “Joint Task Force Exercise 06-2” với sự tham gia của chiếc tàu ngầm Thụy Điển “Gotland” được biệt phái đến Thái Bình Dương. Sau cuộc tập trận, Thụy Điển công bố những bức ảnh chụp tất cả các tàu trong cụm tàu sân bay tấn công của Mỹ, trong đó có tàu sân bay USS Ronald Reagan dẫn đầu đội hình. Con tàu ngầm Thụy Điển này đã lặn xuyên qua đội hình cụm tàu sân bay và chụp ảnh từng con tàu Mỹ ở cự ly gần mà các tàu chiến Mỹ không hề phát hiện ra. Năm 2007, 1 tàu ngầm điện – diesel của Hải quân Canada mang tên HMCS Corner Brook đã "đánh chìm" một tàu sân bay Illustrious trong diễn tập mô phỏng trên Đại Tây Dương. Đầu năm 2015, tàu ngầm hạt nhân tấn công SNA Saphir của Hải quân Pháp mang số hiệu S602, thuộc lớp tàu ngầm tấn công hạt nhân Rubis đã tham gia diễn tập chung với Cụm tác chiến tàu sân bay số 12 của hải quân Mỹ, gồm tàu sân bay USS Theodore Roosevelt (CVN-71), cùng nhiều tàu tuần dương lớp Ticonderoga và tàu khu trục Aegis lớp Arleigh Burke và một tàu ngầm hạt nhân tấn công lớp Los Angeles. Tàu ngầm SNA Saphir đã đóng vai một tàu ngầm của đối phương, nó đã mất nhiều ngày rình rập và đã thành công trong việc vượt qua vòng bảo vệ bên ngoài dưới sự đe dọa liên tục từ máy bay tuần tiễu chống ngầm P-3C Orion và P-8A Poseidon của Hải quân Mỹ, các khu trục hạm lớp Arleigh Burke và các tàu hộ vệ chống ngầm khác. Tàu ngầm Saphir đã tránh né được sự phát hiện của lực lượng chống tàu ngầm, lặng lẽ áp sát chiếc tàu sân bay của Hải quân Mỹ và thực hiện phóng ngư lôi giả định. Nếu là một trận đánh thực sự, tàu ngầm Saphir sẽ đánh chìm tàu sân bay USS Theodore Roosevelt và phần lớn các tàu hộ tống của nó. === Bom và tên lửa chống hạm === Trong Thế chiến thứ 2, nhiều tàu sân bay đã bị đánh chìm bằng bom ném từ máy bay. Ở thời kỳ này, để ném bom chính xác thì máy bay phải áp sát tàu sân bay địch, do đó cần hàng chục máy bay tấn công cùng lúc để có thể vượt qua hàng phòng thủ từ chiến đấu cơ và pháo phòng không trên đội tàu hộ tống đối phương. Do đó, ở thời kỳ này, việc tiêu diệt một tàu sân bay bằng không quân là khá khó khăn, lực lượng tấn công thường phải chịu thiệt hại lớn về máy bay. Hiện nay, vai trò của bom đã được tên lửa chống hạm thay thế, nó đã trở thành loại vũ khí chính cho tác chiến trên biển. Tên lửa diệt hạm hiện đại có tầm bắn xa, có thể lên đến cả ngàn km, thời gian di chuyển đến mục tiêu ngắn nhờ vào tốc độ cao, có thể đạt vận tốc siêu thanh (Supersonic). Tên lửa cũng bay rất thấp, gần sát mặt biển (để tránh bị radar tàu chiến phát hiện từ xa). Do vậy, việc đánh chặn tên lửa diệt hạm là một nhiệm vụ khó, ngay cả với tàu chiến có hệ thống phòng không hiện đại. Ngoài ra vận tốc cao giúp tăng thêm sức tàn phá của tên lửa khi va chạm vào mục tiêu. Đa số các tên lửa diệt hạm sử dụng cơ chế xuyên phá và nổ chậm để tối đa hoá mức độ thiệt hại, nghĩa là nó dùng động năng của mình để xuyên thủng lớp vỏ ngoài của tàu, và phát nổ khi tên lửa đã ở bên trong con tàu. Với tên lửa diệt hạm hiện đại, một phi đội gồm khoảng 10-20 máy bay (mỗi chiếc mang theo 2-3 tên lửa) có thể tiêu diệt cả 1 nhóm tàu sân bay đối phương một cách không quá khó khăn. Một đợt tấn công gồm hàng chục tên lửa chống hạm phóng cùng lúc có thể chọc thủng hệ thống phòng không của các tàu hộ tống và đánh chìm tàu sân bay. Số lượng các quốc gia có thể thực hiện điều này ngày càng tăng, do đó nhiều chuyên gia quân sự cho rằng tàu sân bay sẽ trở nên lỗi thời trong chiến tranh hiện đại vào khoảng giữa thế kỷ 21, giống như số phận của các thiết giáp hạm trong Thế chiến thứ hai. Với mục tiêu đánh bại Hải quân Mỹ trong trường hợp nổ ra chiến tranh, Liên Xô và Nga đã phát triển nhiều loại tên lửa chống hạm hạng nặng siêu thanh chuyên diệt tàu sân bay, với mục tiêu giả định là cụm tàu sân bay Mỹ. Ví dụ như tên lửa Raduga Kh-22 (tiếng Nga: Х-22; AS-4 'Kitchen') là một loại tên lửa chống hạm cỡ lớn, tầm xa được Liên Xô phát triển trong thập niên 1960. Loại tên lửa này được coi là một vũ khí rất mạnh với tầm bắn rất xa (600–700 km), tốc độ gấp 4 lần vận tốc âm thanh, và một đầu đạn nặng gần 1 tấn. Tạp chí Australian Air Power miêu tả Kh-22 là "một vũ khí khủng khiếp ở mọi giới hạn". Máy bay được sử dụng chính để mang tên lửa là Tu-22M 'Backfire',. nhưng Nga cũng sử dụng Тu-22К 'Blinder-B' và Tupolev Tu-95К22 'Bear-G' để mang Kh-22. Trong thập niên 1970-1980, Liên Xô duy trì trong biên chế 10 sư đoàn không quân chiến lược, mỗi sư đoàn trang bị 20 chiếc máy bay ném bom hạng nặng tầm xa Tu-22. Trong trường hợp xảy ra chiến tranh với Mỹ, cứ mỗi nhóm tàu sân bay của Mỹ, Liên Xô/Nga sẽ huy động 1 sư đoàn không quân chiến lược với 20 chiếc Tu-22 (mỗi chiếc mang 3 tên lửa Kh-22) để tấn công. Mỗi tên lửa Kh-22 có vận tốc nhanh gấp 4 lần vận tốc âm thanh, giai đoạn cuối tên lửa bay rất sát mặt biển nên rất khó đánh chặn. Với 60 tên lửa phóng tới gần như cùng lúc, dù hệ thống phòng không của các tàu hộ tống Mỹ rất mạnh nhưng cũng không thể đánh chặn hết cả 60 tên lửa được, chỉ cần 2-3 tên lửa lọt qua hệ thống phòng thủ và đánh trúng đích (mỗi tên lửa có đầu đạn 1.000 kg) là đủ để hạ gục chiếc tàu sân bay Mỹ. Tên lửa phòng không trên tàu chiến Mỹ thời kỳ đó có tầm bắn tối đa khoảng 100 km, trong khi những chiếc F/A-18 Hornet của tàu sân bay Mỹ chỉ có bán kính tác chiến khoảng 600 km, do vậy Tu-22 có thể tấn công tàu sân bay Mỹ từ ngoài tầm mà máy bay hoặc tên lửa phòng không Mỹ có thể bắn trả. Ngoài ra, Liên Xô còn đưa vào trang bị tên lửa P-700 Granit để trang bị cho các tàu nổi và tàu ngầm. Loại tê lửa này có tầm bắn, vận tốc và sức công phá tương đương với Kh-22. Mỗi chiếc tàu ngầm tấn công lớp Oscar II có thể mang 24 quả P-700, một đội 3 tàu Oscar II có thể tấn công đội tàu sân bay Mỹ với 72 quả P-700 phóng cùng lúc từ cách xa 600 km, tương tự như kịch bản với Tu-22. Ở cự ly rất xa này, khả năng những chiếc Oscar II bị Mỹ phát hiện là khá thấp, chúng có thể phóng tên lửa rồi rút lui an toàn mà không sợ bị quân Mỹ đánh trả. Đến đầu thế kỷ 21, Nga tiếp tục cải tiến những loại tên lửa chống hạm từ thời Liên Xô và cho ra đời những tên lửa mới có tốc độ và tầm bắn còn cao hơn nữa, tăng thêm khả năng chọc thủng hệ thống phòng ngự của tàu sân bay. Năm 2016, Nga đã cho ra đời tên lửa diệt hạm bội siêu thanh (Hypersonic) 3M22 Zircon trang bị cho tàu chiến hải quân Nga. Về tầm bắn, tên lửa Zircon có thể lên tới khoảng 1.000 km, vượt xa tầm bắn của các loại tên lửa phòng không và máy bay đánh chặn của Hải quân Mỹ. Về tốc độ, Zircon có vận tốc cực nhanh, gấp 6-8 lần vận tốc âm thanh, với tốc độ cực lớn này, việc đánh chặn Zircon là gần như không thể với các công nghệ phòng không hiện nay. Với tầm bắn 1.000 km, tàu chiến Nga có thể tấn công cụm tàu sân bay Mỹ từ cự ly mà máy bay đối phương không thể bắn trả. Theo tính toán của các chuyên gia, chỉ cần 2 quả tên lửa Zircon tấn công một cụm gồm 1 tàu sân bay cùng 2 chiếc khu trục hạm hiện đại của Mỹ cũng có thể đánh hỏng nặng hoặc đánh chìm ít nhất 1 tàu trong đội hình với xác suất 70 - 80%, một loạt phóng 4 tên lửa thì đảm bảo đánh trúng cả 2 tàu. Nếu cụm tàu tấn công Nga phóng cả một loạt 16 quả tên lửa 3M22 Zircon thì đảm bảo tiêu diệt tàu sân bay đối phương với xác suất 80 - 85%, và cùng với nó là từ 2 đến 3 chiếc tàu hộ tống cũng bị tiêu diệt. Cũng trong năm 2016, Nga đưa vào trang bị tên lửa Raduga Kh-32 trang bị cho lực lượng không quân. Kh-32 là phiên bản hiện đại hóa của Kh-22 với tầm bắn được nâng cao, đạt tới 1.000 km. Nó có thể đạt đến trần bay là 40.000 m (88,580 ft), tức là đạt tới độ cao tầng bình lưu và trong giai đoạn cuối nó sẽ bổ nhào xuống mục tiêu với tốc độ bội siêu thanh, đạt tới Mach 5 (hơn 5.000 km/h). VỚi tốc độ này, hệ thống phòng không tên tàu chiến đối phương rất khó có thể đánh chặn Kh-32 Với sự tiến bộ của công nghệ, không chỉ Liên Xô/Nga mà ngày nay nhiều nước như Iran, Trung Quốc, Ấn Độ... cũng có trong biên chế nhiều loại tên lửa chống hạm siêu thanh, tính năng khá mạnh như Moskit, BrahMos, YJ-62, 3M-54 Klub... Tuy tính năng chưa đạt đến mức độ của Kh-22 hoặc 3M22 Zircon, nhưng cũng đủ khả năng bắn hạ tàu sân bay nếu được phóng đồng loạt với số lượng lớn. == Chú thích == == Xem thêm == Danh sách các tàu sân bay Danh sách các tàu sân bay theo quốc gia Danh sách các tàu sân bay theo lớp Danh sách các lớp tàu sân bay của Hải quân Hoa Kỳ Danh sách các cuộc triển khai tàu sân bay Danh sách các tàu chiến đổ bộ Dự án Habbakuk CATOBAR STOL STOBAR STOVL VSTOL == Tham khảo == Francillon, René J, Tonkin Gulf Yacht Club US Carrier Operations off Vietnam, (1988) ISBN 0-87021-696-1 Nordeen, Lon, Air Warfare in the Missile Age, (1985) ISBN 1-58834-083-X == Liên kết ngoài == Haze Gray & Underway, World Aircraft Carrier Lists comprehensive and detailed listings of all the world's aircraft carriers and seaplane tenders from 1913-2001, with photo gallery. Aircraft carriers of the USN New UK and French Aircraft Carriers (don't know if info is integrated into main article yet)
iphone 6 plus.txt
iPhone 6 Plus là chiếc điện thoại thông minh chạy hệ điều hành iOS được thiết kế và sản xuất bởi Apple Inc.. Chiếc điện thoại được công bố tại Apple Live vào 9 tháng 9 năm 2014 cùng với iPhone 6, là sản phẩm kế nhiệm của iPhone 5S. Sản phẩm đánh dấu sự gia tăng kích cỡ của màn hình lần đầu tiên cho các dòng iPhone bắt đầu từ iPhone 5, 5.5 inches. == Sự phát triển == Dòng điện thoại iPhone thường giữ kích thước màn hình nhỏ, 3,5 inch-thay đổi lớn nhất về màn hình bắt đầu từ iPhone 5, chuyển sang một màn hình có cùng chiều rộng, nhưng cao hơn một chút so với các mẫu tiền nhiệm, 4 inch. Vì vậy mà Apple đã mất một phần thị trường điện thoại thông minh vào tay của những đối thủ sản xuất điện thoại màn hình lớn (ví dụ như Samsung, nổi tiếng với chiếc Galaxy S4 với màn hình 5 inch), báo cáo vào đầu tháng 1 năm 2014 cho rằng iPhone tiếp theo sẽ đến với phiên bản màn hình lớn hơn với 4,7 inch và 5,5-inch để cạnh tranh. Báo cáo trước khi ra mắt của nó cũng suy đoán về khả năng Apple sẽ sử dụng mẫu iPhone mới giới thiệu nền tảng thanh toán di động sử dụng NFC-một công nghệ đã được đưa vào những điện thoại Android. IPhone 6 Plus có màn hình 5,5 inch với hơn một triệu điểm ảnh. == Tính năng cụ thể == Các ứng dụng sẽ có lợi thế từ việc tăng kích cỡ màn hình để hiển thị nhiều thông tin hơn; ví dụ, ứng dụng Mail sử dụng nhiều cửa sổ hiển thị hơn giống iPad khi thiết bị được xoay ngang và hiển thị các hình ảnh danh bạ trong ứng dụng Nhắn tin. Tính năng này chỉ có trên iPhone 6 Plus. Để cải thiện khả năng sử dụng trên màn hình lớn, tuỳ chọn "Reachability" được thêm vào; chạm 2 lần vào nút Home, phần nội dung phía trên của màn hình sẽ trượt xuống nên người dùng sẽ không phải với tới phần trên cùng của màn hình, ví dụ như để chạm nút Quay lại ở góc trái bên trên cùng màn hình. Tính năng này được áp dụng trên iPhone 6 Plus và iPhone 6. iPhone 6 Plus còn thêm tính năng chống rung quang học, trong khi iPhone 6 chỉ có chống rung điện tử. == Dòng sản phẩm == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
samsung gear s.txt
Samsung Gear S là đồng hồ thông minh chạy Tizen công bố bởi Samsung. == Phần cứng == Gear S tương tự như Samsung Galaxy Gear mặc dù nó không đi kèm một số bổ sung mới. Samsung Gear S có màn hình cong 2.0 inch Super AMOLED với 360×480 pixel. Nó có vi xử lý lõi kép 1.0 GHz và chạy hệ điều hành Tizen. Như Galaxy Gear 2, Gear S bao gồm 512 MB RAM và bộ nhớ trong 4 GB, pin 300 mAh Li-ion. Sử dụng 3G tích hợp có thể kết nối đến internet, gọi điện và gửi tin nhắn mà không cần điện thoại. Nó là thiết bị đeo tay đầu tiên có Wi-Fi, Bluetooth và kết nối 3G. == Xem thêm == Samsung Gear Samsung Gear Fit Samsung Gear Live == Tham khảo == == Liên kết == BMW ConnectedDrive cho Samsung Gear S
amman.txt
Amman (phát âm: [ɑˈmɑːn]), đôi khi được viết là Ammann (tiếng Ả Rập عمان ʿAmmān), là thủ đô và cũng là thành phố lớn nhất của vương quốc Hashemite Jordan. Với dân số 2.125.400 người (ước tính 2005), Amman là trung tâm hành chính và thương mại của Jordan. Amman cũng là thủ phủ của Amman Governorate. Amman có Sân bay quốc tế Queen Alia == Lịch sử == Trong lịch sử, Amman đã là nơi có nhiều nền văn minh. Nền văn minh thứ nhất được ghi nhận đã có mặt trong thời kỳ Đồ đá mới, vào khoảng năm 8500 trước Công Nguyên. Các phát hiện khảo cổ ở 'Ain Ghazal, nằm ở phía đông Amman đã cho thấy bằng chứng rằng nền văn minh khu vực này đã tạo ra các tác phẩm nghệ thuật. Vào thế kỷ 13 trước Công Nguyên, Amman có tên gọi là Rabbath Ammon hay Rabat Amon theo cách gọi của người Ammon (רַבַּת עַמּוֹן, tiếng Hebrew chuẩn Rabbat ʿAmmon, theo cách đọc Tiberia là Rabbaṯ ʿAmmôn). Khu vực này bị lần lượt bị những người Assyria chiếm, sau đó bị người Ba Tư, và người Hy Lạp chiếm đoạt. Ptolemy II của Philadelphus, người cai trị Ai Cập, đã đổi tên đô thị này thành Philadelphia. Thành phố này đã trở thành một phần của vương quốc Nabataean cho đến năm 106 khi Philadelphia nằm dưới quyền kiểm soát của La Mã và gia nhập vào Decapolis. Năm 326, Thiên Chúa giáo đã trở thành tôn giáo của đế chế La Mã và Philadelphia trở thành nơi đóng trụ sở của một giáo phận vào thời điểm bắt đầu thời kỳ Byzantine. Philadelphia đã được đổi tên thành Amman trong thời kỳ Ghassan, và thịnh vượng dưới thời Caliphate (với kinh đô gần đó là Umayyad ở Damascus và Abbasid ở Baghdad). Thành phố này bị nhiều trận động đất và thiên tai và còn lại một làng nhỏ với một loạt các phế tích cho đến khi có khu định cư người Circassia năm 1887. Thành phố đã thay đổi khi vua Hồi giáo của Ottoman quyết định cho xây tuyến đường sắt Hejaz nối Damascus với Medina, để tạo điều kiện đi lại thuận lợi cho người hành hương và thương mại. Tuyến đường này đã giúp Amman phát triển trở lại. Năm 1921, Abdullah I chọn Amman làm nơi đóng chính phủ của quốc gia mới thành lập Vương quốc Ả Rập Transjordan, và sau đó là thủ đô của Vương quốc Hashemite Jordan. Do lúc đó Amman chưa có tòa nhà chính phủ, ông đã bắt đầu cai trị đất nước từ một nhà ga tàu lửa, với văn phòng của ông trên một toa tàu. Amman vẫn là một thành phố nhỏ cho đến năm 1948, khi dân số tăng nhanh chóng do những người tị nạn Palistine từ khu vực ngày nay là Israel đến đây. Amman đã trải qua một thời kỳ phát triển phi thường từ năm 1952 dưới thời các vua Hashemite, Hussein của Jordan và Abdullah II của Jordan. Năm 1970, Amman là nơi diễn ra các xung đột lớn giữa Tổ chức Giải phóng Palestine (PLO) và quân đội Jordan. Thành phố tiếp tục mở rộng nhanh chóng với làn sóng dân nhập cư từ các cuộc chiến tranh, thậm chí có cả dân tị nạn trong cuộc chiến tranh Iraq. Làn sóng dân cư thứ ba là dân lao động đến từ Đông Nam Á. Ngày 9 tháng 11 năm 2005, các vụ đánh bom nhằm vào ba khách sạn ở Amman làm xáo trộn thành phố. Tổ chức Hồi giáo al-Qaeda đã đứng ra nhận trách nhiệm. == Các thành phố kết nghĩa == Các thành phố kết nghĩa với Amman gồm: Jeddah, Ả Rập Saudi (23 tháng 6 năm 1988) Cairo, Ai Cập (31 tháng 3 năm 1988) Rabat, Maroc (9 tháng 4 năm 1988) Montreal, Canada, (1988) Baghdad, Iraq (2 tháng 9 năm 1989) San‘a’, Yemen (4 tháng 9 năm 1989) Islamabad, Pakistan (19 tháng 3 năm 1989) Khartoum, Sudan (2 tháng 1 năm 1993) Nalchik, Nga (19 tháng 8 năm 1994) Miami, Hoa Kỳ (11 tháng 6 năm 1995) Doha, Qatar (18 tháng 6 1995) Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ (28 tháng 11 năm 1997) São Paulo, Brasil, (1997) Algiers, Algérie (9 tháng 3 năm 1998) Bucharest, România (22 tháng 6 năm 1999) Tunis, Tunisia (16 tháng 9 năm 1999) Nouakchott, Mauritanie (27 tháng 12 năm 1999) Beirut, Liban (7 tháng 11 năm 2000) Chicago, Hoa Kỳ (2004) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == New Projects in Amman 360 degrees panorama from the Citadel Hill in central Amman Amman Map (Interactive). Amman Photo Gallery Amman Photo Slideshow
sông cửu long.txt
Sông Cửu Long, hay Cửu Long Giang (chữ Hán: 九龍江), là tên gọi chung cho các phân lưu của sông Mê Kông chảy trên lãnh thổ của Việt Nam. Bắt đầu từ Phnom Penh, nó chia thành 2 nhánh theo dòng chảy từ Bắc xuống Nam: bên phải (hữu ngạn) là sông Bassac (sang Việt Nam gọi là Hậu Giang hay sông Hậu) và bên trái (tả ngạn) là Mê Kông (sang Việt Nam gọi là Tiền Giang hay sông Tiền), cả hai đều chảy vào khu vực đồng bằng châu thổ rộng lớn ở Nam Bộ Việt Nam, dài chừng 220–250 km mỗi sông. Tại Việt Nam, sông Mê Kông còn có tên gọi là sông Lớn, sông Cái, hay sông Cửu Long. Lưu lượng hai sông này rất lớn, khoảng 6.000 m³/s về mùa khô, lên đến 120.000 m³/s vào mùa mưa, và chuyên chở rất nhiều phù sa bồi đắp đồng bằng Nam Bộ. == Các con sông chính == Sông Hậu chảy qua Châu Đốc, Long Xuyên (An Giang), Vĩnh Long, Thành phố Cần Thơ, Châu Thành (Hậu Giang), Sóc Trăng và đổ ra biển trước kia bằng ba cửa: cửa Định An, cửa Ba Thắc (Bassac), cửa Tranh Đề. Sông Tiền có lòng sông rộng với nhiều cù lao ở giữa dòng, chảy qua Tân Châu (An Giang), Hồng Ngự và Cao Lãnh (Đồng Tháp), Vĩnh Long đến Cai Lậy (Tiền Giang) thì chia làm bốn sông đổ ra biển bằng sáu cửa: Sông Mỹ Tho, chảy qua tỉnh lỵ tỉnh Tiền Giang là thành phố Mỹ Tho và phía nam Gò Công, ra biển bằng cửa Đại và cửa Tiểu qua đường sông Cửa Tiểu Sông Hàm Luông, chảy qua phía nam tỉnh Bến Tre, ra cửa Hàm Luông Sông Cổ Chiên, làm thành ranh giới tỉnh Bến Tre - Trà Vinh (tên cũ Vĩnh Bình), đổ ra biển bằng cửa Cổ Chiên và cửa Cung Hầu. Sông Ba Lai chảy qua phía bắc tỉnh Bến Tre (tên cũ Kiến Hòa), ra cửa Ba Lai. Hiện nay, cửa Ba Lai đã bị hệ thống cống đập Ba Lai ngăn lại. Hệ thống này nằm trong dự án ngọt hóa vùng ven biển của tỉnh Bến Tre. Do chín cửa sông nguyên thủy này (nay chỉ còn tám cửa sông. Cửa Ba Thắc khoảng thập niên 1960 đã bị bồi lấp nên sông Hậu chỉ còn hai cửa biển ngày nay) mà sông Mê Kông đoạn qua Việt Nam còn được gọi là sông Cửu Long, tức "sông chín rồng". Hiện có khoảng 17 triệu người dân Việt Nam đang sinh sống tại lưu vực của hệ thống sông Cửu Long, còn được gọi là đồng bằng sông Cửu Long == Lịch sử == Sự khó khăn về giao thông thủy của con sông này làm chia cắt con người sống hai bên bờ hơn là liên kết họ. Nền văn minh được biết sớm nhất là nền văn hóa Mã Lai, Ấn Độ hóa hồi thế kỷ 1, của Vương quốc Phù Nam, trong lưu vực sông Mê Kông. Sự khai quật ở Óc Eo, gần Rạch Giá ngày nay, đã tìm thấy những đồng tiền khác xa với Đế chế La Mã. Vương quốc Phù Nam được nối tiếp bởi quốc gia Khmer Chân Lạp (Chenla) cho đến thế kỷ 5. Đế chế Khmer Angkor là quốc gia chịu ảnh hưởng của văn hóa Ấn Độ cuối cùng trong khu vực. Sau khi quốc gia này bị tiêu diệt sông Mê Kông đã là đường biên giới của các quốc gia đối đầu nhau như Xiêm và Việt Nam, với Lào và Campuchia nằm trong tầm ảnh hưởng của họ. == Con người == Ở khu vực đồng bằng sông Cửu Long (tổng diện tích khoảng 3,3 triệu hecta đất nông nghiệp) khi chảy vào Việt Nam, có khoảng 17 triệu người đang sinh sống vào thời điểm đầu 2006, tăng 5 triệu so với 16 năm trước đó. Trong số họ, có khoảng 9,5 triệu người trong độ tuổi lao động (trên 15 tuổi), hay 55%. == Ảnh hưởng của môi trường và con người == Hai trong số chín cửa sông Cửu Long là Ba Lai và Bát Sắc đã bị nghẽn và nước đã không còn lưu thông được nữa. Nguyên nhân bị nghẽn của sông Bát Sắc do các cồn cát ở hai cửa sông này phát triển mạnh tạo nên rào chắn lớn làm nghẽn đường chảy của cửa sông. Còn nguyên nhân nghẽn sông trên của sông Ba Lai là do tác động của con người, do xây dựng hệ thống cống đập. Việc hai cửa sông đã chết đã gây ra ảnh hưởng lớn như làm tăng tình trạng sạt lở đất và vận tải giảm sút. Sông Cửu Long đem lại nhiều lợi ích cho trồng trọt và thủy sản, nhất là trong mùa lũ. Nguồn cung cấp nước tưới, phù sa và rửa phèn cho đất lúa, cùng với lượng tôm cá dồi dào đã khiến cư dân nơi đây chấp nhận sống chung cùng lũ hơn là đắp đê như ở đồng bằng châu thổ sông Hồng. Nhưng dòng sông cũng gây ra nhiều mặt bất lợi, điển hình là úng ngập thường xuyên trong các tháng mùa mưa, hoặc tình trạng xâm nhập mặn vào mùa khô. == Các cây cầu == Sông Tiền Cầu Hồng Ngự - Tân Châu, nối Đồng Tháp- An Giang (dự án) Cầu Cao Lãnh, nối thành phố Cao Lãnh với huyện Lấp Vò, Đồng Tháp (đã khởi công) Cầu Mỹ Thuận, Tiền Giang - Vĩnh Long Cầu Mỹ Thuận 2, Tiền Giang - Vĩnh Long (dự án) Cầu Rạch Miễu, Tiền Giang - Bến Tre Cầu Rạch Miễu 2, Tiền Giang - Bến Tre (dự án) Cầu Ba Lai, Bến Tre Cầu Ba Lai mới, Bến Tre Cầu Hàm Luông, nối thành phố Bến Tre, huyện Mỏ Cày, Bến Tre Cầu Cổ Chiên, Bến Tre - Trà Vinh (đã khánh thành) Sông Hậu Cầu Vĩnh Trường, nối thị trấn An Phú với xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, An Giang Cầu Châu Đốc, nối thành phố Châu Đốc và thị xã Tân Châu, An Giang (đã khởi công) Cầu Vàm Cống, nối huyện Lấp Vò, Đồng Tháp với quận Thốt Nốt, Cần Thơ (đã khởi công) Cầu Cần Thơ, Cần Thơ- Vĩnh Long Cầu Đại Ngãi, nối huyện Trà Cú, Trà Vinh - huyện Cù Lao Dung, huyện Long Phú, Sóc Trăng (đã khởi công) == Chú thích ==
bosna và hercegovina.txt
Bosnia và Hercegovina (phát âm /ˈbɒzni.ə ænd hɜrtsɨˈɡoʊvɨnə/ ( phát) hay /ˈbɑzni.ə ænd hɛrtsəgoʊˈvinə/ (tiếng Bosnia, tiếng Croatia, tiếng Serbia Latinh: Bosna i Hercegovina; tiếng Serbia Cyrillic: Босна и Херцеговина, Tiếng Việt: Bô-xni-a Héc-xê-gô-vi-na) là một quốc gia tại Đông Nam Âu, trên Bán đảo Balkan. Nước này giáp biên giới với Croatia ở phía bắc, tây và nam, Serbia ở phía đông, và Montenegro ở phía nam, Bosnia và Herzegovina là một quốc gia hầu như nằm kín trong lục địa, ngoại trừ 26 kilômét bờ Biển Adriatic, tại trên thị trấn Neum. Vùng nội địa là núi non ở trung tâm và phía nam, đồi ở phía tây bắc và bằng phẳng ở phía đông bắc. Bosnia là vùng địa lý lớn nhất của nhà nước hiện đại với khí hậu lục địa ôn hoà, với mùa hè nóng và mùa đông lạnh, có tuyết. Herzegovina nhỏ hơn ở mũi cực nam đất nước, với khí hậu và địa hình Địa Trung Hải. Các nguồn tài nguyên thiên nhiên của Bosnia và Herzegovina rất phong phú. Nước này là quê hương của ba sắc tộc "hợp thành": người Bosnia, nhóm dân số đông nhất, với người Serb đứng thứ hai và người Croat đứng thứ ba. Nếu không tính đến sắc tộc, một công dân Bosnia và Herzegovina thường được gọi trong tiếng Việt là một người Bosnia. Tại Bosnia và Herzegovina, sự phân biệt giữa một người Bosnia và một người Herzegovina chỉ được duy trì như sự phân biệt theo vùng, chứ không phải theo sắc tộc. Về chính trị đây là nhà nước phi tập trung và gồm hai thực thể hành chính, Liên bang Bosnia và Herzegovina và Republika Srpska, với Quận Brčko như một thực thể de facto thứ ba. Trước kia là một trong sáu đơn vị liên bao tạo nên Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Nam Tư, Bosnia và Herzegovina đã giành được độc lập trong những cuộc chiến tranh Nam Tư hồi thập niên 1990. Bosnia và Herzegovina có thể được miêu tả như một nhà nước Liên bang Dân chủ Cộng hoà đang chuyển tiếp nền kinh tế sang hệ thống định hướng thị trường, và là một ứng cử viên tiềm năng để trở thành thành viên trong Liên minh châu Âu và NATO. Ngoài ra, Bosnia và Herzegovina đã là một thành viên của Hội đồng châu Âu từ ngày 24 tháng 4 năm 2002 và là một thành viên sáng lập của Liên minh Địa Trung Hải khi liên minh này được thành lập ngày 13 tháng 7 năm 2008. == Lịch sử == === Thời kỳ Tiền Slavơ (đến năm 958) === Bosnia đã có người ở ít nhất từ thời đồ đá mới. Đầu thời đồ đồng, dân cư dồ đá mới bị thay thế bởi sắc tộc hiếu chiến hơn có thể có nguồn gốc Indo-European, người Illyre hay Illyrian. Những người Celtic nhập cư ở thế kỷ thứ 4 và thế kỷ thứ 3 trước Công Nguyên đã thay thế người Illyrian trên những mảnh đất của họ, đặc biệt là người Ardiaei và Autariatae, nhưng một số người Celtic và Illyrian đã hòa trộn lẫn nhau, như Latobici, Scordisci, và có thể người Japodes. Bằng chứng lịch sử xác đáng về thời kỳ này khá hiếm, nhưng có lẽ vùng này đã được ở bởi một số bộ tộc khác nhau và nói những thứ tiếng khác nhau. Sự xung đột giữa người Illyrian và La Mã bắt đầu năm 229 TCN, nhưng La Mã chỉ hoàn thành việc sáp nhập vùng này vào năm 9 Công Nguyên. Trong thời Roma, những người định cư nói tiếng La tinh từ khắp Đế chế Roma đã sống cùng với người Illyrian và các chiến binh Roma được khuyến khích ở lại trong vùng. Vùng đất ban đầu là một phần của Illyria cho tới sự chiếm đóng Roma. Sau sự chia rẽ của Đế chế Roma giai đoạn 337 và 395, Dalmatia và Pannonia trở thành những phần của Đế chế Tây Roma. Một số người cho rằng vùng này đã bị những người Ostrogoth chinh phục năm 455. Sau đó nó thay đổi chủ giữa những người Alan và người Huns. Tới thế kỷ thứ 6, Hoàng đế Justinian đã chinh phục vùng này cho Đế chế Byzantine. Người Slavơ, một bộ tộc từ Đông Âu (hiện là lãnh thổ Ukraina), đã bị chinh phục bởi người Avars ở thế kỷ thứ 6. === Bosnia thời Trung Cổ (958–1463) === Hiểu biết hiện nay về tình hình chính trị ở tây Balkan Đầu Thời Trung Cổ không nhiều và mâu thuẫn. Ngay khi tới nơi, người Slavơ đã mang cùng với họ một cấu trúc xã hội bộ tộc, và nó có thể đã tan rã nhường chỗ cho chế độ phong kiến khi người Frankish tới vùng này hồi cuối thế kỷ thứ 9. Cũng vào khoảng thời gian này người Nam Slavơ đã bị Thiên chúa giáo hoá. Bosnia và Herzegovina, vì vị trí địa lý và đất đai, có thể là một trong những vùng cuối cùng trải qua quá trình này, được cho là khởi đầu từ các vùng đô thị dọc theo bờ biển Dalmatia. Các đô thị của Serbia và Croatia chia nhau quyền kiểm soát Bosnia và Herzegovina ở thế kỷ thứ 9 và thế kỷ thứ 10, nhưng tới Đỉnh cao Thời Trung Cổ tình thế chính trị đã khiến vùng này bị rơi vào tranh chấp giữa Vương quốc Hungary và Đế chế Byzantine. Sau một sự thay đổi quyền lực nữa giữa hai thực thể này hồi đầu thế kỷ 12, Bosnia rơi ra ngoài vòng kiểm soát của cả hai và nổi lên thành một nhà nước độc lập dưới sự cai trị của các ban địa phương. Vương triều đáng chú ý đầu tiên của Bosnia, Ban Kulin, đã có hoà bình và ổn định trong gần ba thập kỷ và tăng cường phát triển kinh tế quốc gia thông qua các hiệp ước với Dubrovnik và Venice. Sự cầm quyền của ông cũng đánh dấu sự khởi đầu một cuộc tranh cãi với Nhà thờ Bosnia, một giáo phái Thiên chúa bản xá bị cả các nhà thờ Cơ đốc giáo La Mã và Chính thống giáo Serbia coi là dị giáo. Đối đầu với những nỗ lực của người Hungary nhằm sử dụng chính trị nhà thờ trước vấn đề này như một cách thức để tuyên bố chủ quyền với Bosnia, Kulin đã tổ chức một hội đồng các lãnh đạo nhà thờ địa phương để bác bỏ sự dị giáo và đi theo Cơ đốc giáo năm 1203. Dù vậy, những tham vọng của Hungary vẫn không thay đổi trong một thời gian dài sau khi Kulin chết năm 1204, chỉ ngừng lại sau cuộc xâm lược bất thành năm 1254. Lịch sử Bosnia từ đó cho tới đầu thế kỷ 14 được ghi dấu bởi sự cạnh tranh quyền lực giữa các gia đình Šubić và Kotromanić. Cuộc xung đột này kết thúc năm 1322, khi Stjepan II Kotromanić trở thành ban. Tới khi ông chết năm 1353, ông đã thành công trong việc sáp nhập các lãnh tổ phía bắc và phía tây, cùng như Zahumlje và nhiều phần của Dalmatia. Ông được kế tục bởi người cháu họ Tvrtko, người, sau một cuộc đấu tranh dài với giới quý tộc và những bất hoà giữa các gia đình, đã giành được toàn bộ quyền kiểm soát đất nước năm 1367. Tvrtko tự phong mình làm vua ngày 26 tháng 10 năm 1377 với danh hiệu Stefan Tvrtko I Vua của Rascia, Bosnia, Dalmatia, Croatia, Bờ biển. Các nhà sử học cho rằng ông đã làm lễ lên ngôi trong một Nhà thờ Chính thống Serbia Tu viện Mileševa. Một khả năng khác, do P. Anđelić đưa ra và dựa trên bằng chứng khảo cổ học, rằng ông đã lên ngôi tại Mile gần Visoko trong nhà thờ được xây dựng trong thời cai trị của Stephen II Kotromanić, nơi ông được chôn cất cùng người chú/bác Stjepan II. Tuy nhiên, sau khi ông qua đời năm 1391, Bosnia rơi vào một giai đoạn suy tàn kéo dài. Đế chế Ottoman đã khởi động cuộc chinh phục châu Âu của họ và đặt ra mối đe doạ với vùng Balkan trong suốt nửa sau thế kỷ 15. Cuối cùng, sau nhiều thập kỷ bất ổn kinh tế và chính trị, Bosnia chính thức sụp đổ năm 1463. Herzegovina tiếp theo năm 1482, với một "Vương quốc Bosnia" do Hungary đỡ lưng đầu hàng năm 1527. === Thời kỳ Ottoman (1463–1878) === Cuộc chinh phục Bosnia của Ottoman đã đánh dấu một thời kỳ mới trong lịch sử đất nước và đưa lại những thay đổi lớn trong bối cảnh chính trị và văn hoá trong vùng. Dù vương quốc đã bị đập tan và giới quý tộc cao cấp của nó đã bị hành quyết, những người Ottoman quả thực đã cho phép duy trì thực thể Bosnia bằng cách sáp nhập nó trở thành một tỉnh hợp thành của Đế chế Ottoman với tên gọi lịch sử và tính toàn vẹn — một trường hợp duy nhất trong số các quốc gia bị nô dịch ở vùng Balkan. Bên trong sandžak (và cuối cùng là vilayet) này của Bosnia, những người Ottoman đã thực hiện một số thay đổi quan trọng về cơ quan hành chính chính trị xã hội; gồm một hệ thống sở hữu đất đai mới, tái cơ cấu các đơn vị hành chính, và hệ thống phân biệt xã hội phức tạp theo tầng lớp và tôn giáo. Bốn thập kỷ cai trị của Ottoman đã để lại dấu ấn mạnh trong thành phần dân số Bosnia, nó đã thay đổi nhiều lần sau những cuộc chinh phục của đế quốc, những cuộc chiến tranh thường xuyên với các cường quốc châu Âu, những đợt di cư, những lần bệnh dịch. Một cộng đồng Hồi giáo bản xứ nói tiếng Slavơ đã xuất hiện và cuối cùng trở thành nhóm tôn giáo-sắc tộc lớn nhất (chủ yếu như một kết quả của sự dần gia tăng số lượng người cải đạo theo Hồi giáo), trong khi một số lượng đáng kể người Do thái Sephardi tới đây sau khi họ bị trục xuất khỏi Tây Ban Nha hồi cuối thế kỷ. Các cộng đồng Thiên chúa giáo Bosnia cũng trải qua những thay đổi lớn. Các tín đồ Franciscan Bosnia (và tổng thể tín đồ Cơ đốc giáo nói chung) được bảo vệ bởi nghị định chính thức của đế chế. Cộng đồng Chính thống tại Bosnia, ban đầu bị hạn chế tại Herzegovina và Podrinje, đã phát triển trong cả nước ở giai đoạn này và có sự thịnh vượng khá cao cho tới thế kỷ 19. Tuy nhiên, Nhà thờ ly giáo Bosnia đã hoàn toàn biến mất. Khi Đế chế Ottoman thịnh vượng và mở rộng vào Trung Âu, Bosnia thoát khỏi sức ép trở thành tỉnh biên giới và có một giai đoạn bình ổn và thịnh vượng khá dài. Một số thành phố, như Sarajevo và Mostar, được thành lập và phát triển trở thành các trung tâm thương mại và văn hoá lớn của vùng. Bên trong những thành phố đó, nhiều Sultan và các thống đốc cung cấp tài chính cho việc xây dựng nhiều công trình quan trọng của kiến trúc Bosnia (như Stari Most và Nhà thờ Hồi giáo Gazi Husrev-beg). Hơn nữa, số lượng người Bosnia có ảnh hưởng quan trọng trong văn hoá và chính trị trong thời gian này khá lớn. Các binh sĩ Bosnia chiếm một thành phần lớn trong mọi cấp bậc chỉ huy quân sự của Ottoman trong Trận Mohács và chiến trường Krbava, hai thắng lợi quyết định về quân sự, trong khi nhiều người Bosnia khác thăng tiến qua các cấp bậc quân sự Ottoman để nắm giữ những vị trí quyền lực cao nhất nhất trong Đế chế, gồm các đô đốc, tướng lĩnh, và đại tư tế. Nhiều người Bosnia cũng để lại dấu ấn vĩnh cửu trong văn hoá Ottoman, trở thành các nhân vật thần bí, các học giả, và những nhà thơ nổi tiếng bằng tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Ả Rập, và các ngôn ngữ Ba Tư. Tuy nhiên, tới cuối thế kỷ 17 sự rủi ro quân sự của Đế chế đã gây ảnh hưởng tới đất nước, và sự chấm dứt của cuộc Đại chiến Thổ Nhĩ Kỳ với hiệp ước Karlowitz năm 1699 một lần nữa khiến Bosnia trở thành tỉnh cực tây của Đế chế. Một trăm năm sau đó là khoảng thời gian của những thất bại quân sự khác, nhiều cuộc nổi dậy bên trong Bosnia, và nhiều vụ bùng phát bệnh dịch. Những nỗ lực của Porte nhằm hiện đại hoá nhà nước Ottoman gặp phải sự chống đối mạnh mẽ tại Bosnia, nơi giới quý tộc địa phương khiến hầu hết các biện pháp cải cách không thể được thực hiện đầy đủ. Điều này, cộng với sự rút lui chính trị trước các nhà nước Thiên chúa giáo mới xuất hiện ở phía đông, dẫn tới một cuộc nổi dậy nổi tiếng (dù không thành công) của Husein Gradaščević năm 1831. Những cuộc khởi nghĩa liên quan bị dập tắt năm 1850, nhưng tình hình tiếp tục xấu đi. Những cuộc nổi dậy nông dân sau này cuối cùng dẫn đến cuộc nổi loạn Herzegovinian, một cuộc khởi nghĩa nông dân trên diện rộng năm 1875. Nó nhanh chóng lan ra và liên quan tới nhiều nhà nước vùng Balkan cũng như các Cường quốc, cuối cùng buộc Đế chế Ottoman phải nhường quyền hành chính của Bosnia cho Áo–Hung qua hiệp ước Berlin năm 1878. === Cai trị Áo-Hung (1878–1918) === Việc liên kết với Áo-Hung nhanh chóng dẫn đến một thoả thuận với người Bosnia mặc dù những cẳng thẳng vẫn còn lại ở một số vùng thuộc đất nước (đặc biệt là Herzegovina) và một cuộc di cư quy mô lớn của đa số là người Slavơ bất đồng diễn ra. Tuy nhiên, một nhà nước với sự ổn định khá tốt đã nhanh chóng xuất hiện và các chính quyền Áo-Hung đã có thể tiến hành một số cải cách hành chính và xã hội để biến Bosnia và Herzegovina trở thành một "thuộc địa kiểu mẫu". Với mục tiêu thiết lập một tỉnh như một mô hình chính trị ổn định sẽ giúp xua tan đi chủ nghĩa quốc gia Nam Slavơ đang xuất hiện, sự cai trị Habsburg giúp rất nhiều vào sự hệ thống hoá luật lệ, để đưa ra các cơ chế chính trị mới, và nói chung cung cấp cơ sở cho sự hiện đại hoá. Đế chế Áo-Hung đã xây dựng ba các nhà thờ Cơ đốc giáo tại Sarajevo và ba nhà thờ này nằm trong 20 nhà thờ Cơ đốc giáo duy nhất trong nhà nước Bosnia. Dù có thành công về mặt kinh tế, chính sách Áo-Hung - tập trung trên việc ủng hộ ý tưởng một quốc gia đa nguyên và đa giáo Bosnia (được phần lớn người Hồi giáo ưa thích) - đã không thành công khi giải quyết những làn sóng chủ nghĩa quốc gia đang nổi lên. Ý tưởng quốc gia Croat và Serbia đã lan tới các cộng đồng Cơ đốc giáo và Chính thống ở Bosnia và Herzegovina từ nước Croatia và Serbia láng giềng hồi giữa thế kỷ 19, và quá mạnh mẽ để cho phép sẹ chấp nhận một ý tưởng song song của quốc gia Bosnia. Tới nửa sau những năm 1910, chủ nghĩa quốc gia là một phần không thể tách rời của chính trị Bosnia, với các đảng chính trị quốc gia đại diện cho ba nhóm bầu cử lớn. Ý tưởng về một nhà nước Nam Slavơ thống nhất (typically expected to be spear-headed by independent Serbia) đã trở nên một tư tưởng chính trị phổ biến trong vùng thời gian đó, gồm cả Bosnia và Herzegovina. Quyết định chính thức sáp nhập Bosnia và Herzegovina của chính phủ Áo-Hung năm 1908 (xem Khủng hoảng Bosnia) càng tạo ra cảm giác khẩn trương trong những người theo chủ nghĩa quốc gia. Nga phản đối sự sáp nhập này. Cuối cùng Nga công nhận chủ quyền của Áo-Hung với Bosnia để đối lấy lời hứa của Áo-Hung rằng họ sẽ công nhân quyền của Nga với Eo Dardanelles tại Đế chế Ottoman. Không giống như Nga, Áo-Hung không giữ lời hứa và không làm gì để hỗ trợ việc công nhận chủ quyền Nga với eo biển. Căng thẳng chính trị gây ra bởi sự kiện này lên tới đỉnh điểm ngày 28 tháng 6 năm 1914, khi thanh niên người Serb theo chủ nghĩa quốc gia Gavrilo Princip ám sát người kế vị ngôi báu Áo-Hung, Thế tử Franz Ferdinand, tại Sarajevo; một sự kiện dẫn tới Thế chiến I. Dù một số người Bosnia đã hy sinh khi phục vụ trong quân đội của nhiều nước tham gia chiến tranh, Bosnia và Herzegovina vẫn tìm cách tránh được cuộc chiến với thiệt hại khá nhỏ. === Nam Tư đầu tiên (1918–1941) === Sau cuộc chiến tranh, Bosnia và Herzegovina gia nhập Vương quốc của người Serb, người Croat và người Slovene (nhanh chóng được đổi tên thành Nam Tư) Nam Slavơ. Đời sống chính trị tại Serbia ở thời gian này được ghi dấu bởi hai khuynh hướng chính: bất ổn kinh tế và xã hội về tái phân phối tài sản, và việc thành lập nhiều đảng chính trị thường thay đổi giữa các liên minh và các phe phái với các đảng ở các vùng khác thuộc Nam Tư. Tư tưởng xung đột thống trị của nhà nước Nam Tư, giữa chủ nghĩa khu vực Croatia và sự tập trung hoá Serbia, là tiếp cận một cách khác biệt bởi các nhóm sắc tộc đa số của Bosnia và phụ thuộc vào không khí chính trị chung. Thậm chí có hơn 3 triệu người Bosnia ở Nam Tư, vượt quá số người Slovene và Montenegro cộng lại, tinh thần quốc gia Bosnia bị ngăn cấm bởi Vương quốc mới. Dù sự chia rẽ ban đầu của đất nước trở thành 33 oblast đã xoá bỏ sự hiện diện của các thực thể địa lý truyền thống khỏi bản đồ, các nỗ lực của những chính trị gia Serbia như Mehmed Spaho đã đảm bảo rằng 6 oblast được chia cắt khỏi Bosnia và Herzegovina tương ứng với 6 sanjaks từ thời Ottoman, và vì thế, thích ứng với biên giới truyền thống quốc gia như một tổng thể. Tuy nhiên, vệc thành lập Vương quốc Nam Tư năm 1929, đã dẫn tới việc vẽ lại các vùng hành chính vào trong các nhóm có mục đích tránh mọi đường ranh giới lịch sử và sắc tộc, bỏ đi bất kỳ dấu vết nào của một thực thể Bosnia. Căng thẳng Serbia-Croatia về cấu trúc nhà nước Nam Tư vẫn tiếp tục, với ý tưởng về một sự phân chia Bosnia tách biệt ít được hay không được chú ý. Thoả thuận Cvetković-Maček tạo lập nên nhóm Croatia năm 1939 khuyến khích cái là một sự chia rẽ Bosnia giữa Croatia và Serbia. Tuy nhiên, bên ngoài các hoàn cảnh chính trị buộc các chính trị gia Nam Tư phải thay đổi sự quan tâm tới sự đe doạ ngày càng lớn của Phát xít Đức của Adolf Hitler. Sau một giai đoạn với những nỗ lực xoa dịu, việc ký kết Hiệp ước Ba Bên, và một cuộc đảo chính, Nam Tư cuối cùng bị Đức xâm lược ngày 6 tháng 4 năm 1941. === Thế chiến II (1941–45) === Khi vương quốc Nam Tư đã bị các lực lượng Phát xít chinh phục trong Thế chiến II, toàn bộ Bosnia bị nhượng lại cho Nhà nước Croatia Độc lập. Các lãnh đạo người Croat cùng với người Hồi giáo địa phương tiến hành một chiến dịch tiêu diệt người Serb, người Do Thái, Roma, đảng viên cộng sản và một số lượng lớn lực lượng du kích của Tito bằng cách lập ra một số trại giết người. Khoảng 80,000 đã bị giết hại tại trại Jasenovac gồm 7,000 trẻ em. Nhiều người Serb trong vùng cầm vũ khí và gia nhập Chetniks; một phong trào kháng chiến quốc gia và bảo hoàng tiến hành chiến tranh du kích chống lại cả Ustashe phát xít và du kích cộng sản. Dù ban đầu chiến đấu chống Phát xít, giới lãnh đạo Chetnik được nhà vua lưu vong ra lệnh chiến đấu chống du kích. Chetniks ban đầu nhận được sự hỗ trợ của Hoa Kỳ và Anh Quốc. Đa số thành viên Chetniks là người Serb và người Montenegro, dù đội quân cũng bao gồm một số người Slovene và người Hồi giáo theo quốc tịch. Bắt đầu từ năm 1941, những người cộng sản Nam Tư dưới sự lãnh đạo của Josip Broz Tito người Croatia đã tổ chức nhóm kháng chiến đa sắc tộc đầu tiên, Du kích, họ chiến đấu chống lại cả Phe trục và các lực lượng Chetnik. Ngày 25 tháng 11 năm 1943 Hội đồng Chống Phát xít của Quốc gia Nam Tư Tự do với Tito là người lãnh đạo tổ chức một hội nghị tại Jajce theo đó Bosnia và Herzegovina được tái lập như một nước cộng hoà bên trong liên bang Nam Tư trong các biên giới Habsburg của nó. Thắng lợi quân sự cuối cùng đã khiến Đồng Minh ủng hộ Du kích, nhưng Josip Broz Tito từ chối đề nghị giúp đỡ của họ và thay vào đó dựa vào chính các lực lượng của mình. Tất cả các cuộc tấn công quân sự lớn của phong trào chống phát xít của Nam Tư chống lại Phát xít và những người địa phương ủng hộ chúng được tiến hành tại Bosnia-Herzegovina và người dân ở đây cũng là lực lượng chiến đấu chính. Cuối cùng sự chấm dứt chiến tranh cũng dẫn đến sự thành lập nhà nước Liên bang Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Nam Tư, với hiến pháp năm 1946 chính thức biến Bosnia và Herzegovina trở thành một trong sáu nhà nước cộng hoà hợp thành của quốc gia mới. === Nam Tư xã hội chủ nghĩa (1945–1992) === Vì vị trí địa lý ở trung tâm bên trong liên bang Nam Tư, Bosnia thời hậu chiến được lựa chọn một cách chiến lược như một cơ sở cho sự phát triển ngành công nghiệp quốc phòng. Điều này góp phần vào sự tập trung lớn về vũ khí và trang bị tại Bosnia; một yếu tố quan trọng trong cuộc chiến diễn ra sau sự tan rã của Nam Tư thập kỷ 1990. Tuy nhiên, sự tồn tại của Bosnia bên trong Nam Tư, phần lớn, là hoà bình và thịnh vượng. Dù được coi là một nơi tù túng chính trị của liên bang trong hầu hết thập niên 50 và 60, thập kỷ 70 chứng kiến sự thăng tiến mạnh của tầng lớp tinh hoa chính trị Bosnia mạnh một phần nhờ vị thế lãnh đạo của Tito trong Phong trào không liên kết và những người Bosnia làm việc trong các cơ quan ngoại giao của Nam Tư. Tuy làm việc bên trong hệ thống cộng sản, các chính trị gia như Džemal Bijedić, Branko Mikulić và Hamdija Pozderac đã củng cố và bảo vệ chủ quyền của Bosnia và Herzegovina Những nỗ lực của họ đã được minh chứng tầm quan trọng trong giai đoạn hỗn loạn sau cái chết của Tito năm 1980, và hiện được một số người coi là những bước đầu tiên hướng tới sự độc lập của Bosnia. Tuy nhiên, nước cộng hoà đã thoát khỏi không khí chủ nghĩa quốc gia ngày càng gia tăng một cách ít bị ảnh hưởng nhất. Với sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản và sự tan rã của Nam Tư, học thuyết cộng sản cũ về sự khoan dung bắt đầu mất dần hiệu lực, tạo ra một cơ hội cho những yếu tố quốc gia trong xã hội mở rộng ảnh hưởng của họ. === Chiến tranh Bosnia và Herzegovinia (1992–95) === Cuộc bầu cử nghị viện năm 1990 đã dẫn tới một quốc hội bị thống trị bởi ba đảng dựa trên sắc tộc, đã thành lập liên minh lỏng lẻo với nhau để loại bỏ những người cộng sản khỏi quyền lực. Tuyên bố độc lập sau đó của Croatia và Slovenia và cuộc chiến tranh nối tiếp đặt Bosnia và Herzegovina cùng ba sắc tộc hợp thành của nó trước tình thế khó khăn. Một sự chia rẽ mạnh ngay lập tức nảy sinh về vấn đề tiếp tục ở lại trong liên bang Nam Tư (mà đại đa số người Serb mong muốn) hay tìm kiếm độc lập (được đại đa số người Bosnia và người Croat ủng hộ). Các thành viên nghị viện người Serb, chủ yếu trong Đảng Dân chủ Serbia, đã rời bỏ nghị viện trung ương tại Sarajevo, và thành lập Quốc hội Người Serb của Bosnia và Herzegovina ngày 24 tháng 10 năm 1991, đánh dấu sự chấm dứt của liên minh ba sắc tộc cầm quyền sau cuộc bầu cử năm 1990. Quốc hội này thành lập Cộng hoà Serbia của Bosnia và Herzegovina ngày 9 tháng 1 năm 1992, trở thành Republika Srpska tháng 8 năm 1992. Ngày 18 tháng 11 năm 1991, chi nhánh đảng tại Bosnia và Herzegovina của đảng cầm quyền tại Cộng hoà Croatia, Liên minh Dân chủ Croatia (HDZ), tuyên bố sự tồn tại của Cộng đồng Croatia của Herzeg-Bosnia, như một "tổng thể chính trị, văn hoá, kinh tế và lãnh thổ," trên lãnh thổ Bosnia và Herzegovina, với Hội đồng Quốc phòng Croatia (HVO) là thành phần quân sự của nó. Chính phủ Bosnia không công nhận nó. Toà án Hiến pháp của Bosnia và Herzegovina tuyên bố Herzeg-Bosnia là bất hợp pháp ngày 14 tháng 9 năm 1992 và một lần nữa ngày 20 tháng 1 năm 1994. Một tuyên bố về chủ quyền của Bosnia và Herzegovina vào tháng 10 năm 1991 được tiếp nối bởi một cuộc trưng cầu dân ý về độc lập khỏi Nam Tư vào tháng 2 và tháng 3 năm 1992 bị đại đa số người Serb tẩy chay. Kết quả của cuộc trưng cầu dân ý là 63.7% và 92.7% ủng hộ độc lập. Bosnia và Herzegovina tuyên bố độc lập một thời gian ngắn sau đó. Sau một giai đoạn căng thẳng leo thang và những vụ xung đột quân sự lẻ tẻ, chiến tranh công khai bắt đầu tại Sarajevo ngày 6 tháng 4. Những cuộc đàm phán bí mật giữa Franjo Tuđman và Slobodan Milošević về sự phân chia Bosnia và Herzegovina giữa Serbia và Croatia đã được tổ chức ngay từ tháng 3 năm 1991 được gọi là thoả thuận Karađorđevo. Sau tuyên bố độc lập của Cộng hoà Bosnia và Herzegovina, người Serb đã tấn công nhiều vùng khác nhau của đất nước. Bộ máy hành chính nhà nước của Bosnia và Herzegovina đã hoàn toàn ngừng hoạt động khi mất đi quyền kiểm soát toàn bộ lãnh thổ. Người Serb muốn toàn bộ đất đai nơi người Serb chiếm đa số, vùng phía đông và tây Bosnia. Người Croat cùng lãnh đạo của họ Franjo Tuđman cũng có mục tiêu chiếm nhiều phần của Bosnia và Herzegovina thành của Croatia. Các chính sách của Cộng hoà Croatia và lãnh đạo của họ Franjo Tuđman về Bosnia và Herzegovina không bao giờ rõ ràng và luôn gồm mục tiêu tối thượng của Franjo Tuđman mở rộng các biên giới của Croatia. Người Hồi giáo Bosnia, nhóm sắc tộc duy nhất trung thành với chính phủ Bosnia, là một mục tiêu dễ dàng, bởi các lực lượng của chính phủ Bosnia được trang bị kém và không hề được chuẩn bị cho cuộc chiến. Sự công nhận quốc tế với Bosnia và Herzegovina đã làm gia tăng sức ép ngoại giao với Quân đội Nhân dân Nam Tư (JNA) rút quân khỏi lãnh thổ của nước cộng hoà và họ đã chính thức thực hiện điều này. Tuy nhiên, trên thực tế, các thành viên người Serb Bosnia của JNA đơn giản chỉ đổi phù hiệu, hình thành nên Quân đội Republika Srpska, và tiếp tục chiến đấu. Được trang bị và vũ trang từ các kho quân dụng của JNA tại Bosnia, được ủng hộ bởi những người tình nguyện và nhiều lực lượng bán vũ trang từ Serbia, và nhận được sự hỗ trợ lớn về trợ giúp nhân đạo, hậu cầu và tài chính từ Cộng hoà Liên bang Nam Tư, những cuộc tấn công của Republika Srpska năm 1992 đã giúp đặt hầu hết đất nước dưới quyền kiểm soát của họ. Ban đầu, các lực lượng Serb tấn công dân cư không phải người Serb ở Đông Bosnia. Khi các thị trấn và làng mạc đã ở trong tay họ, các lực lượng Serb, quân đội, cảnh sát, bán vũ trang, và thỉnh thoảng, cả những người dân làng là người Serb - đều có hành động giống nhau: các ngôi nhà và căn hộ của người Bosnia bị cướp bóc hay đốt phá một cách có hệ thống, thường dân Bosnia bị bao vây hay bắt giữ, và thỉnh thoảng bị đánh hay bị giết trong quá trình này. 2.2 triệu người tị nạn đã phải dời bỏ nhà cửa sau khi chiến tranh chấm dứt (cả ba sắc tộc). Đàn ông và phụ nữ bị cách ly, nhiều người đàn ông bị giam giữ trong các trại. Phụ nữ bị giữ ở nhiều trung tâm giam giữ nơi họ phải sống trong các điều kiện mất vệ sinh, bị đối xử tàn nhẫn theo nhiều cách, gồm cả việc bị cưỡng hiếp nhiều lần. Các binh lính hay cảnh sát người Serb có thể tới các trung tâm giam giữ đó, lựa chọn một hay nhiều người phụ nữ, lôi họ ra và hiếp dân. Tháng 6 năm 1992 sự tập trung chú ý chuyển sang Novi Travnik và Gornji Vakuf nơi những nỗ lực giành thêm lãnh thổ của Hội đồng Quốc phòng Croat (HVO) gặp sự kháng cự. Ngày 18 tháng 6 năm 1992 Lực lượng phòng vệ Lãnh thổ Bosnia tại Novi Travnik nhận được một tối hậu thư từ HVO gồm những yêu cầu xoá bỏ các định chế đang tồn tại của Bosnia và Herzegovina, thành lập chính quyền của Cộng đồng Croatia của Herzeg-Bosnia và tuyên bố trung thành với nó, hạ tầm của Lực lượng Phòng vệ Lãnh thổ phụ thuộc vào HVO và trục xuất những người tị nạn Hồi giáo, tất cả phải diễn ra trong 24 giờ. Cuộc tấn công được tung ra ngày 19 tháng 6. Trường tiểu học và bưu điện bị tấn công và phá hoại. Gornji Vakuf ban đầu bị tấn công bởi người Croat ngày 20 tháng 6 năm 1992, nhưng cuộc tấn công thất bại. Thoả thuận Graz đã gây ra sự chia rẽ lớn bên trong cộng đồng Croat và tăng cường sức mạnh cho nhóm ly khai, dẫn tới sự xung đột với người Bosnia. Một trong những lãnh đạo Croat đầu tiên ủng hộ liên minh, Blaž Kraljević (lãnh đạo của nhóm vũ trang HOS) bị giết hại bởi các binh sĩ HVO trong tháng 8 năm 1992, làm suy yếu mạnh nhóm ôn hoà đang hy vọng giữ liên minh Bosnia Croat tiếp tục. Tình hình trở nên nghiêm trọng hơn vào tháng 10 năm 1992 khi các lực lượng Croat tấn công dân cư Bosnia tại Prozor. Theo bản cáo trạng Jadranko Prlić, các lực lượng HVO đã quét sạch hầu hết người Hồi giáo khỏi thị trấn Prozor và nhiều làng mạc xung quanh. Cùng lúc ấy, người Croat từ các thị trấn Konjic và Bugojno bị buộc phải rời bọ nhà cửa, trong khi nhiều ngoời bị giết hại hay bị giữ trong các trại tập trung. Liên minh giữa người Croat và người Hồi giáo tan vỡ và hầu hết người Croat bị buộc phải rời bỏ các thành phố có đa số người Hồi giáo (Sarajevo, Zenica). Tới năm 1993, khi một cuộc xung đột vũ trang diễn ra giữa chính phủ chủ yếu của người Bosnia tại Sarajevo và Cộng hoà Croatia của Herzeg-Bosnia, khoảng 70% đất nước nằm dưới quyền kiểm soát của Republika Srpska. Thanh lọc sắc tộc và vi phạm nhân quyền chống lại người không phải người Serb phát triển trong những khu vực này. Các đội DNA đã được sử dụng để thu thập bằng chứng về những hành động tàn bạo của các lực lượng Serbia trong những chiến dịch đó. Một ví dụ đáng chú ý nhất là cuộc thảm sát Srebrenica, bị Toà án Hình sự Quốc tế cho Nam Tư cũ coi là diệt chủng. Ước tính 200,000 Bosnia đã bị giết hại bởi chính quyền chính trị Serbia. Tháng 3 năm 1994, việc ký kết Hiệp định Washington giữa các lãnh đạo của chính phủ cộng hoà và Herzeg-Bosnia đã dẫn tới việc thành lập một Liên bang Bosnia và Herzegovina chung giữa người Croat và người Bosnia, gồm cả lãnh thổ của Cộng hoà Croatia của Herzeg-Bosnia và lãnh thổ do Quân đội Cộng hoà Bosnia và Herzegovina nắm giữ. Liên bang nhanh chóng chinh phục Tỉnh tự trị Tây Bosnia nhỏ bé. Một chiến dịch ném bom của NATO bắt đầu vào tháng 8 năm 1995, chống lại Quân đội Republika Srpska, sau cuộc thảm sát Srebrenica. Tháng 12 năm 1995, việc ký kết Thoả thuận Dayton tại Dayton, Ohio bởi các tổng thống của Bosnia và Herzegovina (Alija Izetbegović), Croatia (Franjo Tuđman), và Serbia (Slobodan Milošević) đã dẫn tới sự ngừng chiến, tạm thời thành lập cơ sở căn bản cho nhà nước hiện tại. Số lượng nạn nhân được xác định hiện là 97,207, và những ước tính của những cuộc nghiên cứu gần đây cho rằng tổng số chưa tới 110,000 người bị giết hại (thường dân và quân đội), và 1.8 triệu người phải rời bỏ nhà cửa. Vấn đề này đang được Uỷ ban Quốc tế về Người Mất tích xem xét. Theo nhiều phán quyết của ICTY cuộc xung đột liên quan tới Bosnia và Cộng hoà Liên bang Nam Tư (sau này là Serbia và Montenegro) as well as Croatia. Chính phủ Bosnia đã buộc tội Serbia đồng loã trong vụ diệt chủng tại Bosnia trong cuộc chiến tại Toà án Công lý Quốc tế (ICJ). Toà án Công lý Quốc tế (ICJ) xét xử ngày 26 tháng 2 năm 2007 xác nhận tình trạng cuộc chiến ở tầm mức quốc tế, dù loại bỏ trách nhiệm trực tiếp của Serbia cho hành động diệt chủng của các lực lượng Serb thuộc Republika Srpska. Tuy nhiên ICJ kết luận rằng Serbia đã không ngăn chăn được việc diệt chủng do các lực lượng Serb tiến hành và không trừng phạt được những kẻ đã tiến hành cuộc diệt chủng, đặc biệt là tướng Ratko Mladić, và đưa chúng ra trước công lý. Các thẩm phán phán quyết rằng tiêu chí về diệt chủng với ý nghĩa đặc biệt (dolus specialis) để tiêu diệt người Hồi giáo Bosnia là đầy đủ chỉ tại Srebrenica hay Đông Bosnia năm 1995. Toà kết luận rằng các tội ác diễn ra trong cuộc chiến năm 1992–1995, có thể là các tội ác chống nhân loại theo luật quốc tế, nhưng các hành động đó không, tự thân, tạo nên cuộc diệt chủng. Toà còn quyết định thêm rằng, sau khi Montenegro tuyên bố độc lập tháng 5 năm 2006, Serbia là bên bị duy nhất của vụ án, nhưng "bất kỳ trách nhiệm cho các sự kiện quá khứ trước đó sẽ liên quan tới Nhà nước Serbia và Montenegro". == Địa lý == Bosnia nằm ở phía tây Balkan, giáp biên giới với Croatia (932 km) ở phía bắc và tây nam, Serbia (302 km) ở phía đông, và Montenegro (225 km) ở phía đông nam. Đất nước này hầu hết là đồi núi, gồm trung Dinaric Alps. Các vùng đông bắc giáp với châu thổ Pannonian, trong khi phía nam giáp với Adriatic. Nước này chỉ có 20 kilômét (12 mi) đường bờ biển, quanh thị trấn Neum tại Tổng Herzegovina-Neretva. Dù thành phố bị bao quanh bởi các bán đảo Croatia, theo luật của Liên hiệp quốc, Bosnia có quyền đi ra đại dương. Neum có nhiều khách sạn và là một địa điểm du lịch quan trọng. Cái tên nước này bắt nguồn từ hai vùng Bosnia và Herzegovina, và có biên giới rất mơ hỗ giữa chúng. Bosnia chiếm các vùng phía bắc với diện tích khoảng bốn phần năm toàn bộ lãnh thổ, trong khi Herzegovina chiếm phần còn lại ở phía nam đất nước. Các thành phố lớn là thủ đô Sarajevo, Banja Luka ở vùng tây bắc được gọi là Bosanska Krajina, Bijeljina và Tuzla ở phía đông bắc, Zenica và Doboj ở vùng trung tâm Bosnia và Mostar, thủ phủ của Herzegovina. Phần phía nam Bosnia có khí hậu Địa Trung Hải rất thuận lợi cho nông nghiệp. Trung Bosnia là vùng nhiều đồi núi nhất của Bosnia với những dãy núi Vlašić, Čvrsnica, và Prenj. Đông Bosnia cũng có nhiều núi non với Trebević, Jahorina, Igman, Bjelašnica và Treskavica. Olympics mùa đông năm 1984 được tổ chức tại đây. Đông Bosnia có nhiều rừng dọc theo sông Drina, và tới 50% tổng diện tích Bosnia và Herzegovina là rừng. Hầu hết các khu rừng nằm ở các phần Trung, Đông và Tây của Bosnia. Bắc Bosnia có vùng đất nông nghiệp màu mỡ dọc sông Sava và vùng này được canh tác rộng. Đất canh tác là một phần của Đồng bằng Parapannonian kéo dài vào trong nước láng giềng Croatia và Serbia. Sông Sava và Posavina châu thổ sông là nơi có các thành phố Brčko, Bosanski Šamac, Bosanski Brod và Bosanska Gradiška. Phần tây bắc của Bosnia được gọi là Bosanska Krajina và có các thành phố Banja Luka, Prijedor, Sanski Most, Cazin, Velika Kladuša và Bihać. Vườn quốc gia Kozara nằm ở trong vùng rừng này. Có bảy con sông lớn tại Bosnia và Herzegovina Sava là sông lớn nhất nước, nhưng nó chỉ hình thành biên giới tự nhiên phía bắc với Croatia. Nó thoát nước từ 76% lãnh thổ quốc gia vào sông Danube và Biển Đen. Una, Sana và Vrbas là các hữu phụ lưu của sông Sava. Chúng nằm ở vùng tây bắc của Bosanska Krajina. Sông Bosna là nguồn gốc tên gọi quốc gia, và là con sông dài nhất hoàn toàn ở bên trong nước này. Nó kéo dài suốt trung Bosnia, từ nguồn gần Sarajevo tới Sava ở phía bắc. Drina chảy xuyên phần phía đông của Bosnia, và hầu hết các phần của nó là biên giới tự nhiên với Serbia. Neretva là con sông lớn của Herzegovina và là con sông lớn duy nhất chảy về phía nam, đổ vào Biển Adriatic. Về địa lý thực vật, Bosnia và Herzegovina thuộc Giới Boreal và thuộc sở hữu chung giữa tỉnh Illyrian của Vùng Circumboreal và tỉnh Adriatic của Vùng Địa Trung Hải. Theo WWF, lãnh thổ Bosnia và Herzegovina có thể chia nhỏ tiếp thành ba vùng sinh thái: các khu rừng hỗn hợp Pannonian, các khu rừng hỗn hợp Núi Dinaric và các khu rừng sớm rụng Illyrian. == Chính phủ và chính trị == Bosnia và Herzegovina có nhiều cấp độ cơ cấu chính trị dưới cơ cấu chính phủ liên bang. Cấp độ quan trọng nhất trong số đó là sự phân chia quốc gia thành hai thực thể: Cộng hòa Srpska và Liên bang Bosnia và Herzegovina. Liên bang Bosnia và Herzegovina chiếm hơn 51% tổng diện tích Bosnia và Herzegovina, trong khi cộng hòa Srpska chiếm khoảng 49%. Các thực thể, phần lớn dựa trên lãnh thổ được nắm giữ bởi hai bên mâu thuẫn ở thời điểm trước, đã được chính thức thành lập theo thoả thuận hoà bình Dayton năm 1995 vì những thay đổi to lớn trong cơ cấu sắc tộc tại Bosnia và Herzegovina. Từ năm 1996 quyền lực của các thực thể so với chính phủ liên bang đã suy giảm mạnh. Tuy thế, các thực thể vẫn có nhiều quyền lực của riêng mình. Quận Brcko ở phía bắc đất nước được thành lập năm 2000 với đất đai lấy từ cả hai thực thể. Nó chính thức thuộc về cả hai, nhưng không nằm dưới sự quản lý của bên nào, và hoạt động dưới một hệ thống chính phủ địa phương phi tập trung. Quận Brčko đã được ca ngợi vì duy trì được một dân số đa sắc tộc ở mức độ thịnh vượng cao trên mức trung bình của quốc gia. Cấp độ phân chia chính trị thứ ba của Bosnia và Herzegovina là các tổng. Chúng chỉ riêng có tại thực thể Liên bang Bosna và Hercegovina, với tổng số mười tổng. Tất cả các tổng đều có chính phủ riêng của mình, và nằm dưới pháp luật liên bang như một tổng thể. Một số tổng có dân chúng đa sắc tộc và có những điều luật đặc biệt được áp dụng để đảm bảo sự bình đẳng của mọi sắc tộc. Cấp độ phân chia chính trị thứ tư của Bosnia và Herzegovina là các đô thị. Liên bang Bosnia và Herzegovina được chia thành 74 khu đô thị và cộng hòa Srpska thành 63. Các khu đô thị có chính quyền địa phương riêng của mình, và nói chung dựa trên thành phố hay địa điểm quan trọng nhất của lãnh địa của mình. Như vậy, nhiều khu đô thị có truyền thống và lịch sử lâu dài với các biên giới hiện tại của họ. Tuy nhiên, một số khác chỉ mới được thành lập sau cuộc chiến tranh gần đây sau khi những khu đô thị cũ bị chia cắt bởi Đường Biên giới Liên Thực thể. Mỗi tổng tại Liên bang Bosnia và Herzegovina gồm nhiều khu đô thị, và chúng lại được chia thành các cộng đồng địa phương. Bên cạnh các thực thể, tổng, khu đô thị, Bosnia và Herzegovina cũng có bốn thành phố "chính thức". Chúng là: Banja Luka, Mostar, Sarajevo, và Đông Sarajevo. Lãnh địa và chính quyền của các thành phố Banja Luka và Mostar tương ứng với các khu đô thị cùng tên, trong khi các thành phố Sarajevo và Đông Sarajevo chính thức gồm nhiều khu đô thị. Các thành phố có chính quyền của riêng mình và có quyền lực nằm trong mức giữa quyền lực của các khu đô thị và các tổng (hay thực thể, trong trường hợp cộng hòa Srpska). Như một kết quả của Hiệp định Dayton, sự hoà bình dân sự được giám sát bởi Cao uỷ về Bosnia và Herzegovina được lựa chọn bởi Hội đồng Thực thi Hoà bình. Cao uỷ có nhiều quyền lực chính phủ và lập pháp, gồm bãi chức các quan chức lên giữ chức qua bầu cử và không qua bầu cử. Gần đây hơn, nhiều thể chế trung tâm đã được thành lập (như bộ quốc phòng, bộ an ninh, toà án nhà nước, sở thuế gián thu,..) trong quá trình chuyển tiếp một phần quyền tài phán từ các thực thể cho nhà nước. Đại diện chính phủ Bosnia và Herzegovina đại diện bởi giới tinh hoa của ba nhóm chính trong nước, mỗi nhóm đều được đảm bảo một phần quyền lực. Chức Tổng thống Bosnia và Herzegovina được luân phiên giữa ba thành viên (người Bosnia, người Serb, người Croat), mỗi người giữ chức trong nhiệm kỳ tám tháng trong nhiệm kỳ bốn năm của họ. Ba thành viên của chức vụ Tổng thống được dân chúng bầu trực tiếp (Liên bang bầu cho người Bosnia/Croat, cộng hòa Srpska cho người Serb). Chức Hội đồng bộ trưởng được Tổng thống chỉ định và được Hạ viện thông qua. Ông hay bà ta sau đó chịu trách nhiệm chỉ định một Bộ trưởng ngoại giao, Bộ trưởng ngoại thương, và những chức vụ khác theo nhu cầu. Nghị viện là cơ quan lập pháp tại Bosnia và Herzegovina. Nó gồm hai viện: Viện Nhân dân và Viện Đại biểu. Viện Nhân dân gồm 15 đại biểu, hai phần ba đại biểu từ Liên bang (5 người Croat và 5 người Bosnia) và một phần ba từ cộng hòa Srpska (5 người Serb). Viện Đại biểu gồm 42 thành viên, hai phần ba được bầu từ Liên bang và một phần ba từ cộng hòa Srpska. Toà án Hiến pháp Bosnia và Herzegovina là cơ quan trọng tài tối cao về các vấn đề pháp lý. Nó gồm chín thành viên: bốn thành viên được lựa chọn bởi Viện Đại biểu của Liên bang, hai bởi Quốc hội cộng hòa Srpska, và ba bởi Chủ tịch Toà án Nhân quyền châu Âu sau khi tư vấn Tổng thống. Tuy nhiên, quyền lực chính trị cao nhất nước là Đại diện cấp Cao tại Bosnia và Herzegovina, lãnh đạo quan chức hành pháp cho sự hiện diện nhân quyền quốc tế tại quốc gia. Từ năm 1995, Đại diện cao Cấp đã có thể bỏ qua nghị viện được bầu, và từ năm 1997 đã có thể loại bỏ các quan chức được bầu. Các biện pháp được Đại diện cao Cấp lựa chọn đã bị chỉ trích là phi dân chủ. Sự giám sát quốc tế sẽ chấm dứt khi đất nước này ổn định về chính trị và dân chủ và có khả năng tự duy trì. == Ngoại giao == Tham gia Liên minh châu Âu là một trong những mục tiêu chính trị chính của Bosnia và Herzegovina, họ đã khởi động Quá trình Ổn định và Liên kết năm 2007. Những nước tham gia vào quá trình này đã có cơ hội được trở thành thành viên của EU và một khi họ đáp ứng đủ các điều kiện để trở thành thành viên của Liên minh châu Âu. Vì thế,Bosnia và Herzegovina là một ứng cử viên có tiềm năng trở thành thành viên EU. Việc thực hiện Hiệp định Dayton năm 1995 đã tập trung vào các nỗ lực của những người tạo lập chính sách tại Bosna và Hercegovina, cũng như cộng đồng quốc tế, về ổn định vùng tại các quốc gia kế tục của Nam Tư cũ. Mối quan hệ của quốc gia này đối với các nước láng giềng như Croatia, Serbia và Montenegro đã đi vào ổn định từ khi Thoả thuận Dayton được ký kết năm 1995. == Nhân khẩu == Xem thêm thông tin: Các nhóm sắc tổ tại Bosnia và Herzegovina và Tôn giáo tại Bosnia và Herzegovina Bosnia là nơi cư trú của ba "dân tộc hợp thành": người Bosnia, người Serb và người Croat. Căng thẳng giữa ba nhóm sắc tộc này vẫn còn lớn và thường gây ra những sự bất đồng chính trị. Một cuộc nghiên cứu các nhóm đơn bội nhiếm sắc thể Y được xuất bản năm 2005 cho thấy ba nhóm chính của Bosnia-Herzegovina, dù có một số khác biệt về số lượng, có cùng một phần lớn của cùng kiểu nhóm gene riêng biệt của vùng Balkan". Theo cuộc điều tra dân số năm 1991, Bosnia và Herzegovina có dân số 4.377.033 người. Theo sắc tộc, 1.902.956 (43%) là người Bosnia, 1.366.104 (31%) người Serb, và 760,852 (17%) người Croat, với 242,682 (6%) người Nam Tư. 2% dân số còn lại - số lượng 104,439 người – gồm nhiều sắc tộc khác. Theo dữ liệu năm 2000 từ CIA World Factbook, các nhóm sắc tộ lớn nhất Bosnia là người Bosnia (48%), người Serb (37%) và người Croat (14%). Có một sự tương quan lớn giữa bản sắc sắc tộc và tôn giáo tại Bosnia và Herzegovina: Hồi giáo chiếm 45% dân số, Chính thống giáo Serbia 36%, Cơ đốc giáo La Mã 15%, và các nhóm khác, gồm Do Thái và Tin lành, 4%. Những cuộc di cư lớn trong thời các cuộc chiến tranh Nam Tư thập niên 1990 đã gây ra sự thay đổi nhân khẩu lớn trong nước. Từ năm 1991 không một cuộc điều tra dân số nào được tiến hành, và những sự bất đồng chính trị đã khiến việc tổ chức một cuộc điều tra không thể diễn ra. Tuy vậy, một cuộc điều tra dân số đã được lập kế hoạch cho năm 2011. Bởi các cuộc điều tra dân số chỉ mang tính thống kê, bao hàm, và là một cách để phân tích nhân khẩu, hầu như mọi dữ liệu thời hậu chiến chỉ đơn giản là một ước tính. Tuy nhiên, hầu hết các nguồn, ước tính dân số khoảng bốn triệu người, giảm 350,000 từ năm 1991. == Kinh tế == Bosnia đối mặt với vấn đề kép xây dựng lại đất nước đã bị tàn phá bởi chiến tranh và thực hiện nhữn cải cách thị trường cho nền kinh tế tập trung hế hoạch hoá trước đây của họ. Một di sản của thời trước là ngành công nghiệp quân sự với quá nhiều nhân công; dưới thời lãnh đạo cũ Josip Broz Tito, các ngành công nghiệp quân sự được khuyến khích bên trong nhà nước cộng hoà, dẫn tới sự phát triển một phần lớn các nhà máy quốc phòng Nam Tư tại đây nhưng lại ít những nhà máy thương mại. Trong hầu hết lịch sử Bosnia, nông nghiệp dựa trên các trang trại nhỏ và kém hiệu quả của tư nhân; thực phẩm thường được nhập khẩu. Cuộc chiến hồi những năm 1990 đã gây ra một sự thay đổi lớn trong nền kinh tế Bosnia. GDP giảm 75% và việc phá huỷ cơ sở hạ tầng cũng tàn phá nền kinh tế. Tuy hầu hết năng lực sản xuất đã được khôi phục, kinh tế Bosnia vẫn đối mặt với những khó khăn to lớn. Những con số GDP và thu nhập trên đầu người đã tăng 10% từ năm 2003 tới năm 2004; điều này và khoản nợ quốc gia đang giảm xuống của Bosnia là những khuynh hướng tích cực, nhưng tỷ lệ thất nghiệp cao và thâm hụt thương mại lớn vẫn là một vấn đề đáng lo ngại. Đồng tiền tệ quốc gia là Mark chuyển đổi (KM) gắn với đồng Euro, được kiểm soát bởi một uỷ ban tiền tệ. Lạm phát hàng năm đang ở mức thấp nhất so với các quốc gia trong vùng với 1.9% năm 2004. Nợ nước ngoài là $3.1 tỷ (ước tính 2005) - số nợ nhỏ nhất của một nước cộng hoà thuộc Nam Tư cũ. GDP thực tăng trưởng với tỷ lệ 5% cho năm 2004 theo Ngân hàng trung ương Bosnia của BiH và Văn phòng Thống kê của Bosnia và Herzegovina. Bosnia và Herzegovina có một trong những mức xếp hạng bình đẳng thu nhập cao nhất thế giới, hạng 8 trong số 193 quốc gia. Tính đến năm 2016, GDP của Bosnia và Herzegovina đạt 16.532 USD, đứng thứ 115 thế giới và đứng thứ 37 châu Âu. Theo dữ liệu của Eurostat, GDP theo sức mua tương đương trên đầu người của Bosnia và Hercegovina đứng ở mức 30% trung bình của EU năm 2008. Số liệu chung của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) (1999-2008): 1999: €166 triệu 2000: €159 triệu 2001: €133 triệu 2002: €282 triệu 2003: €338 triệu 2004: €534 triệu 2005: €421 triệu 2006: €556 triệu 2007: €1.628 tỷ 2008: €1.083 tỷ Từ năm 1994 đến năm 2008, €5.3 tỷ đã được đầu tư vào nước này. Các quốc gia đầu tư lớn nhất (1994 - 2007): Áo (€1,294 triệu) Serbia (€773 triệu) Croatia (€434 triệu) Slovenia (€427 triệu) Thuỵ Sĩ (€337 triệu) Đức (€270 triệu) Italia (€94.29 triệu) Hà Lan (€63.52 triệu) Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (€56.70 triệu) Thổ Nhĩ Kỳ (€54.81 triệu) Tất cả các quốc gia khác (€892.54 triệu) Đầu tư nước ngoài theo lĩnh vực năm (1994-2007): 37.7% Chế tạo 21% Ngân hàng 4.9% Dịch vụ 9.6% Thương mại 0.30% Vận tải 1% Du lịch === Viễn thông === Thị trường viễn thông Bosnia đã được tự do hoá hoàn toàn năm 2006. Có ba nhà cung cấp dịch vụ điện thoại trên đất liền, dù mỗi công ty chủ yếu hoạt động ở một vùng riêng biệt. Tỷ lệ truy cập Internet đang tăng, với các dịch vụ Internet băng rộng gồm Internet cable và ADSL ngày càng phổ thông. Các dịch vụ điện thoại di động được cung cấp bởi ba nhà cung cấp. Các dịch vụ dữ liệu di động cũng có mặt, gồm EDGE và 3G tốc độ cao. === Du lịch === Theo một ước tính của Tổ chức Du lịch Quốc tế, Bosnia và Herzegovina sẽ có tỷ lệ tăng trưởng du lịch cao nhất thế giới trong giai đoạn 1995 và 2020. Lonely Planet, khi xếp hạng các thành phố tốt nhất thế giới, đã xếp hạng Sarajevo, thủ phủ và là nơi tổ chức 1984 Winter Olympic Games, thứ #43, trước Dubrovnik thứ #59, Ljubljana thứ #84, Bled thứ #90, Belgrade thứ #113, và Zagreb thứ #135. Du lịch tại Sarajevo chủ yếu chú trọng trên các mặt lịch sử, tôn giáo và văn hoá. Bosnia cũng trở thành một địa điểm trượt tuyết và du lịch sinh thái ngày càng được ưa chuộng. Bosnia và Herzegovina là một trong những vùng cuối cùng chưa được khám phá tại southern Alps, với nhiều địa điểm tự nhiên và hoang dã chưa bị khai thác thu hút những người yêu thiên nhiên. Trung Dinaric Alps là nơi được những người ưa du lịch khám phá yêu thích, gồm cả khí hậu Địa Trung Hải và Alpine. Whitewater rafting là thứ giống với một môn thể thao quốc gia, với 3 con sông gồm hẻm sông sâu nhất ở châu Âu, Sông Tara. ==== Hấp dẫn du lịch ==== Một số điểm thu hút du lịch tại Bosnia và Herzegovina: Sarajevo "Thành phố Olympic" một Thành phố Khoa học, Vũ trụ; Banja Luka, "Thành phố Xanh"; thành phố nghệ thuật, thành phố thể thao, thành phố 3 quốc gia và văn hoá, thành phố thủ phủ của Srpska. Bihać và sông Una với các thác nước và Sông Una, bên trong Vườn Quốc gia Una; Doboj và pháo đài thế kỷ 13 của nó; Jajce và thác nước của nó; Sông Neretva và các khe sông Rakitnica tại Thượng Neretva; Sông Trebižat và các thác nước của nó Kravice và Kočuša; Buna và con suối Vrelo Bune với thị trấn lịch sử Blagaj; Khe sông Lower Tara; Perućica rừng nguyên sinh, một trong hai khu rừng nguyên sinh cuối cùng ở châu Âu, và khe sông Sutjeska, cả hai nằm trong Vườn Quốc gia Sutjeska; Ngôi làng lịch sử Počitelj; Mostar, địa điểm của Stari Most; Shrine of Međugorje, địa điểm nơi Marian apparition nổi tiếng; Núi Bjelašnica và Jahorina, các địa điểm của XIV Olympic Winter Games; Neum trên bờ biển; Stolac, ngoại ô Begovina và khu mộ Radimlja; Višegrad, địa điểm của Cầu Mehmed Paša Sokolović; Visoko, địa điểm của cái gọi là các kim tự tháp Bosnia; Tešanj, một trong những thành phố cổ nhất tại Bosnia với thị trấn cổ của nó; Tuzla, thành phố Muối, thành phố của Tình yêu. == Giáo dục == Giáo dục phổ thông dài chín năm. Giáo dục cấp hai được cung cấp bởi các trường cấp hai và trường kỹ thuật và kéo dài bốn năm. Mọi hình thức giáo dục cấp hai gồm một khó dạy nghề. Học sinh tốt nghiệp từ các trường cấp hai có Matura có thể đăng ký vào bất kỳ khoa hay trường nào nếu trải qua một cuộc thi đầu vào do trường đó tổ chức. Các sinh viên tốt nghiệp khoa kỹ thuật đường nhận bằng Diploma. == Văn hoá == === Kiến trúc === Kiến trúc Bosnia và Herzegovina phần lớn bị ảnh hưởng bởi bốn giai đoạn thay đổi chính trị và xã hội lớn tạo ra sự khác biệt văn hoá và kiến trúc của dân cư. Mỗi giai đoạn để lại ảnh hưởng và góp phần vào sự đa dạng văn hoá và ngôn ngữ kiến trúc trong vùng. === Văn học === Bosnia và Herzegovina có nền văn học phong phú, với các nhà thơ như Antun Branko Šimić, Aleksa Šantić, Jovan Dučić và Mak Dizdar và các tác gia như Ivo Andrić, Meša Selimović, Branko Ćopić, Miljenko Jergović, Isak Samokovlija, Abdulah Sidran, Petar Kočić và Nedžad Ibrišimović. Nhà hát quốc gia được thành lập năm 1919 tại Sarajevo và giám đốc đầu tiên của nó là nhà viết kịch nổi tiếng Branislav Nušić. Các tờ tạp chí như Novi Plamen, Most và Sarajevske biljeznice là một trong những tờ báo nổi tiếng nhất viết về các chủ đề văn hoá và văn học. === Nghệ thuật === Nghệ thuật Bosnia và Herzegovina luôn phát triển và đa dạng từ các hầm mộ đá thời trung cổ được gọi là Stećci tới những bức hoạ tại triều đình Kotromanić. Tuy nhiên, chỉ khi Áo-Hung xuất hiện hội hoạ nước này mới thực sự phục hưng và phát triển. Những nghệ sĩ đầu tiên được đào tạo tại các viện hàn lâm châu Âu bắt đầu xuất hiện từ thế kỷ 20. Trong số đó có: Gabrijel Jurkić, Petar Tiješić, Karlo Mijić, Špiro Bocarić, Petar Šain, Đoko Mazalić, Roman Petrović và Lazar Drljača. Sau này, các nghệ sĩ như: Ismet Mujezinović, Vojo Dimitrijević, Ivo Šeremet, và Mica Todorović cùng những người khác bắt đầu nổi lên. Sau Thế chiến II các nghệ sĩ như: Virgilije Nevjestić, Bekir Misirlić, Ljubo Lah, Meha Sefić, Franjo Likar, Mersad Berber, Ibrahim Ljubović, Dževad Hozo, Affan Ramić, Safet Zec, Ismar Mujezinović, và Mehmed Zaimović trở nên nổi tiếng. Ars Aevi một bảo tàng nghệ thuật đương đại với các tác phẩm của các nghệ sĩ nổi tiếng thế giới đã được thành lập ở Sarajevo. === Âm nhạc === Các bài hát truyền thống Bosnian và Herzogovinian song là ganga, rera, và từ thời Ottoman bài phổ biến nhất là sevdalinka. Nhạc Pop và nhạc Rock cũng có truyền thống tại đây, với những nghệ sĩ nổi tiếng nhất là Goran Bregović, Davorin Popović, Kemal Monteno, Zdravko Čolić, Edo Maajka, Dino Merlin và Tomo Miličević. Tương tự, sẽ không đầy đủ nếu không đề cập tới một số nhà soạn nhạc tài danh như Đorđe Novković, Esad Arnautalić, Kornelije Kovač, và nhiều ban nhạc pop và ban nhạc rock, ví dụ Bijelo Dugme, Indexi, Plavi Orkestar, Zabranjeno Pušenje, là một trong những người nổi bật nhất tại Nam Tư cũ. Bosnia là quê hương của nhà soạn nhạc Dušan Šestić, người viết bản quốc ca hiện nay của Bosnia và Herzegovina và là cha của ca sĩ Marija Šestić, nhà soạn nhạc Sasa Losic và nghệ sĩ piano Sasha Toperich. Là một trong số ít quốc gia phát sóng 2008 Eurovision Dance Contest, mọi người cho rằng Bosnia và Herzegovina sẽ là một trong số nước tham gia vào cuộc thi đầu tiên được tổ chức bên ngoài nước Anh năm 2010. === Điện ảnh === Các nhà làm phim nổi tiếng người Serbia gồm Mirza Idrizović, Aleksandar Jevđević, Ivica Matić, Danis Tanović (nổi tiếng về bộ phim giành Academy Award- và giành giải Golden Globe No Man's Land, Ademir Kenović, Benjamin Filipović, Jasmin Dizdar, Pjer Žalica, Jasmila Žbanić, Dino Mustafić, Srđan Vuletić, và nhiều người khác. === Thể thao === Sự kiện thể thao quốc tế quan trọng nhất trong lịch sử Bosnia và Herzegovina là việc đăng cai tổ chức Olympics mùa đông lần thứ 14, diến ra tại Sarajevo từ ngày 7 đến 19 tháng 2 năm 1984. Bosnia và Herzegovina cũng có nhiều vận động viên điền kinh. NHiều người trong số họ nổi tiếng trong các đội tuyển quốc gia Nam Tư trước khi Bosnia và Herzegovina giành độc lập. Một số vận động viên Olympics đáng chú ý là: Roma, 1960: Tomislav Knez và Velimir Sombolac (bóng đá), Tokyo, 1964: Mirsad Fazlagić (bóng đá), Munich, 1972: Abaz Arslanagić, Milorad Karalić, Nebojša Popović, Đorđe Lavrinić, Dobrivoje Seleć (bóng ném) Moscow, 1980: Mirza Delibašić và Ratko Radovanović (bóng rổ) Los Angeles, 1984: Zdravko Rađenović, Zlatan Arnautović (handball) và Anto Josipović (đấm bốc). Câu lạc bộ bóng ném Borac đã giành bảy chức vô địch quốc gia Nam Tư, cũng như Cúp vô địch châu Âu năm 1976 và Cup Liên đoàn Bóng ném Quốc tế năm 1991. Câu lạc bộ bóng rổ Bosna của Sarajevo là đội vô địch châu Âu năm 1979. Đội tuyển bóng rổ quốc gia Nam Tư, giành huy chương trong mọi giải đấu từ năm 1963 đến năm 1990, gồm những vận động viên người Bosnia như Dražen Dalipagić và Mirza Delibašić. Bosnia và Herzegovina thường được tham gia European Championship in Basketball. Câu lạc bộ bóng rổ nữ Jedinstvo, tại Tuzla, đã giành chức Vô địch châu Âu năm 1989 tại Florence. Câu lạc bộ karate Tuzla-Sinalco của Tuzla giành nhiều chức vô địch Nam Tư nhất, cũng như bốn lần đoạt chức vô địch châu Âu và một lần vô địch Thế giới. Đội tuyển cờ vua Bosnia đã bảy lần giành chức vô địch Nam Tư, ngoài ra họ bốn lành giành chức vô địch châu Âu: 1994 tại Lyon, 1999 tại Bugojno, 2000 tại Neum, và 2001 tại Kalitea. Câu lạc bộ cờ Borki Predojević (từ Teslić) đã hai lần giành chức vô địch châu Âu: Litohoreu (Hy Lạp) năm 1999, và Kalitei (Hy Lạp) năm 2001. Vận động viên đấm bốc hạng trung Marjan Beneš đã giành nhiều chức vô địch quốc gia, vô địch Nam Tư và vô địch châu Âu. Năm 1978 ông giành danh hiệu thế giới trước vận động viên Elish Obeda người Bahamas. Một vận động viên đấm bốc hạng trung khác Anton Josipović đã giành huy chương vàng Olympics tại Los Angeles, 1984. Ông cũng giành chức vô địch Nam Tư năm 1982, Vô địch vùng Balkan năm 1983, và Beograd Trophy năm 1985. Bóng đá là môn thể thao được ưa chuộng nhất bại Bosnia và Herzergovina. Nó xuất hiện từ năm 1903, nhưng nó chỉ trở nên nổi tiếng sau Thế chiến II. Ở mức độ quốc gia, Sarajevo (1967 và 1984), Željezničar (1972) là hai đội bóng đã từng giành chức vô địch Nam Tư. Đội tuyển bóng đá quốc gia Nam Tư cũ có một số cầu thủ là người Bosnia, như Josip Katalinski, Dušan Bajević, Miroslav Blažević, Ivica Osim, Safet Sušić, và Mirsad Fazlagić. Trong bóng đá, đội tuyển bóng đá quốc gia Bosnia và Herzegovina thời độc lập chưa từng giành vé tham gia Giải vô địch châu Âu nhưng từng một lần tham dự Giải vô địch bóng đá thế giới vào năm 2014. Bóng đá Bosnia từng sản sinh ra những cầu thủ tài năng như thủ môn Asmir Begovic hay tiền đạo đội trưởng Edin Dzeko. Dzeko hiện đang là tay săn bàn số một lịch sử đội tuyển quốc gia với 50 bàn thắng. Các đội tuyển quốc gia Bosnia đã cạnh tranh để có được vận động viên xuất sắc nhất năm. Nhiều cầu thủ sinh tại Bosnia và Herzegovina lựa chọn chơi cho các quốc gia khác theo xác định sắc tộc của họ bởi được đề xuất mức lương cao hơn từ các đội khác. Ví dụ Mario Stanić và Mile Mitić đều sinh tại Bosnia, nhưng chơi cho Croatia và Serbia. Những cầu thủ quốc tế nổi tiếng khác của Bosnia và Herzegovina từng có lựa chọn tương tự là Zoran Savić, Vladimir Radmanović, Zoran Planinić, Aleksandar Nikolić, Savo Milošević, Darijo Srna, Vedran Ćorluka. Bosnia và Herzegovina là nhà vô địch thế giới môn bóng chuyền tại Paralympics mùa hè năm 2004. Nhiều người trong số thành viên đội tuyển đã mất chân trong cuộc Chiến tranh Bosnia. === Ẩm thực === Ẩm thực Bosnia sử dụng nhiều gia vị, nhưng thường với số lượng vừa phải. Nhiều món nhẹ, bởi chúng được nấu với rất nhiều nước, các loại nước chấm hoàn toàn tự nhiên, với số lượng ít hơn các loại nước rau quả trong món. Các nguyên liệu thông thường gồm cà chua, khoai tây, hành, tỏi, hạt tiêu, dưa chuột, cà rốt, bắp cải, nấm, rau bina, zucchini, đậu khô, đậu tươi, mận, sữa, cháo đặc và kem được gọi là Pavlaka. Ẩm thực Bosnian cân bằng giữa các ảnh hưởng phương Tây và phương Đông. Hậu quả của gần 500 năm cai trị của Ottoman, thực phẩm Bosnia liên quan chặt chẽ tới ẩm thực Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, và các nền ẩm thực của Đế chế Ottoman và Địa Trung Hải. Tuy nhiên, vì những năm cai trị của Áo, có nhiều ảnh hưởng từ Trung Âu. Các món thịt thông thường gồm chủ yếu là thịt bò và thịt cừu. Một số món đặc sản địa phương là ćevapi, burek, dolma, sarma, pilaf, goulash, ajvar và toàn bộ các loại đồ ăn ngọt phương Đông. Các loại rượu ngon nhất địa phương có từ Herzegovina nơi có khí hậu thích hợp cho việc trồng nho. Herzegovinian loza (tương tự như Italian Grappa nhưng ít ngọt hơn) rất phổ biến. Mận (sljiva/rakija) hay táo (jabukovaca (jabuka = táo)) được sản xuất tại Bosnia. Các nhà máy rượu Herzegovinian sản xuất rất nhiều rượu mạnh và cung cấp cho toàn bộ các nhà máy rượu của Nam Tư cũ (rượu mạnh là cơ sở của hầu hết các loại đồ uống có cồn). == Xem thêm == Danh mục bài viết liên quan tới Bosnia và Herzegovina Danh sách nhân vật Bosnia và Herzegovina Danh sách khu định cư tại Bosnia và Herzegovina Viện phương Đông tại Sarajevo == Gallery == == Tham khảo == == Đọc thêm == Phillips, Douglas A. Bosnia and Herzegovina. Philadelphia: Chelsea House Publishers, 2004. ISBN 0-7910-7911-2 Norway - A Triumph in Bigotry by Frederick Delaware which compares the bigotry and hatred of establishment Norway towards Muslims with that of Serbia and Croatia in 1990's Yugoslavia. == Liên kết ngoài == Government of the Federation of Bosnia and Herzegovina Chief of State and Cabinet Members Mục “Bosnia and Herzegovina” trên trang của CIA World Factbook. Global Integrity Report: BiH has details of anti-corruption efforts Bosnia and Herzegovina from UCB Libraries GovPubs Bosna và Hercegovina tại DMOZ Wikimedia Atlas của Bosnia and Herzegovina, có một số bản đồ liên quan đến Bosnia and Herzegovina. FAO Country Profiles: Bosnia and Herzegovina
kì tích sông hán.txt
Hán giang kỳ tích (Hangul: 한강의 기적 Hangangeui Kijeok), nhiều báo chí ở Việt Nam thường gọi là Kỳ tích sông Hàn hay Huyền thoại sông Hàn, là cụm từ đề cập tới thời kỳ tăng trưởng kinh tế do xuất khẩu mang lại, công nghiệp hóa và hiện đại hóa nhanh chóng, thành tự công nghệ to lớn, sự phát triển nhanh chóng về chất lượng giáo dục, sự tăng lên nhanh chóng của mức sống và quá trình đô thị hóa nhanh, bùng nổ xây dựng cao ốc, tiến trình dân chủ hóa và toàn cầu hóa nhanh đã chuyển Hàn Quốc từ đống tro tàn của cuộc Chiến tranh Triều Tiên thành một quốc gia phát triển và thịnh vượng với tổng sản phẩm nội địa (GDP) cán mốc 1.000 tỷ USD cũng như nhiều tập đoàn lớn nổi tiếng như Samsung, LG và Hyundai cũng như việc chủ trì Olympic Mùa hè 1988 và FIFA World Cup 2002. Đặc thù hơn, cụm từ này dùng để đề cập sự phát triển của thủ đô Seoul, thành phố có sông Hán chảy qua. Cụm từ này có nguồn gốc từ "Kỳ tích sông Rhine" dùng để mô tả sự hồi sinh kinh tế của Tây Đức sau thế chiến 2, có được một phần nhờ kế hoạch Marshall. Cụm từ "kỳ tích" được sử dụng để mô tả sự tăng trưởng của Hàn Quốc hậu chiến tranh thành quốc gia có GDP danh nghĩa lớn thứ 13 thế giới và một hình mẫu cho nhiều nước đang phát triển, điều mà nhiều người coi là không thể thực hiện vào thời điểm đó. Hạ tầng của Seoul đã bị cuộc chiến tranh Triều Tiên phá hủy và hàng triệu người phải sống trong nghèo khó vào thời điểm đó. Chưa tới 4 thập niên sau, thành phố "vô vọng" này đã hoàn toàn chuyển thành một thành phố toàn cầu, một trung tâm kinh doanh và thương mại lớn ở châu Á có hạ tầng công nghệ thuộc hàng tiên tiến nhất trên thế giới. == Bối cảnh == Khi Tướng Park Chung Hee nắm quyền vào năm 1961, Hàn Quốc đã có một thu nhập bình quân đầu người ít hơn $ 80 USD mỗi năm. Trong thời gian đó, Hàn Quốc chủ yếu là phụ thuộc vào viện trợ nước ngoài, chủ yếu là từ Mỹ để đổi lấy sự tham gia của Hàn Quốc trong chiến tranh Việt Nam. Phong trào Saemaeul (còn gọi là Phong trào cộng đồng cư dân mới) của Chính phủ tập trung vào phát triển nông thôn Hàn Quốc. Các nhà lãnh đạo quyết đoán và các kế sách mạnh mẽ của Chính phủ, mặc dù bị chỉ trích là sử dụng áp đặt và nặng tay, và hiệu quả của lao động giá rẻ, phục vụ như là một chất xúc tác cho nền kinh tế Hàn Quốc. Trong vòng chưa đầy bốn thập kỷ, Seoul đã trở thành một thành phố toàn cầu, một trung tâm kinh doanh và thương mại ở Đông Bắc Á và một trung tâm kinh tế phát triển cao, tạo nền móng cho các cơ sở hạ tầng công nghệ và thông tin liên lạc tiên tiến. Hàn Quốc xem xét tăng trưởng nhanh chóng này là biểu tượng của niềm tự hào quốc gia và tự lập. Bên cạnh phong trào Saemaeul, chính phủ Hàn Quốc thực hiện một kế hoạch phát triển kinh tế hiệu quả được gọi là Kế hoạch năm năm. Có hơn 5 kế hoạch được tạo ra, và chúng được thiết kế để vực dậy nền kinh tế. Mỗi kế hoạch trong số đó đã góp phần vào công nghiệp hóa và mở rộng các thị trường Hàn Quốc. == Sự phát triển dưới thời Park Chung Hee (1961–1979) == Một trong những nhân vật quan trọng nhất với "Kỳ tích sông Hán" là Park Chung Hee, tổng thống thứ ba của Đại Hàn Dân Quốc. Dưới chính quyền của Park Chung Hee, Hàn Quốc nhanh chóng phục hồi kinh tế thành công. Park Chung Hee đề ra Kế hoạch Phát triển Kinh tế 5 năm nhằm thúc đẩy phát triển tài nguyên quốc gia để biến Hàn Quốc thành một nước công nghiệp tự cung. Điều này đã giúp người dân Nam Hàn động lực tiến tới những thành công kinh tế sau này. Khẩu hiệu mới của Tổng thống Park, "Đối xử với công nhân như gia đình", được cho là giúp công nhân lao động Hàn Quốc làm việc với năng suất gấp 2,5 lần so với công nhân của Hoa Kỳ, mặc dù mức lương của công nhân Nam Hàn chỉ bằng một phần mười của công nhân Hoa Kỳ. Mặc dù nhiều người dân Nam Hàn ca ngợi Park Chung Hee như người đã có công với nền kinh tế nước nhà, một số khác chỉ tích ông vì những chế độ độc tài quân sự dưới thời ông nắm quyền. Sau cuộc đảo chính những năm 1960, Park Chung Hee là thiết lập nên một chế độ chuyên chế và độc đảng, chỉ duy nhất một đảng nắm quyền. Những người bị cho là "chống chế độ" bị kết án tù và bị đàn áp dã man. Sau này đến cuối những năm 1980, Hàn Quốc mới áp dụng chế độ dân chủ. == Các tập đoàn đa quốc gia == Các tập đoàn đa quốc gia tại Hàn Quốc (gọi là chaebol) có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Hàn Quốc. Các chaebol lớn ở Hàn Quốc hiện nay bao gồm Samsung, Daewoo, Hyundai, LG, SK và Lotte. Chỉ tính riêng năm 2003, tổng kim ngạch xuất khẩu của bốn tập đoàn lớn là Daewoo, Huyndai, LG và SK lên tới 111,7 tỷ USD, tương đương 58% tổng giá trị xuất khẩu của Hàn Quốc, chiếm một phần ba tổng giá trị tư bản của thị trường. Nhờ những tập đoàn trên, Hàn Quốc lột xác từ một nước nghèo đói, lạc hậu trở thành một quốc gia công nghiệp phát triển. Đến thập niên 1990, Hàn Quốc trở thành một trong những nước công nghiệp mới lớn nhất, kéo theo sự phát triển của chất lượng sống, y tế, giáo dục... vượt trội hơn hẳn so với các quốc gia phát triển châu Âu. Hiện nay, Hàn Quốc cùng với ba vùng lãnh thổ khác là Hồng Kông, Đài Loan và Singapore trở thành Bốn con hổ châu Á với tổng sản phẩm nội địa (GDP) và tốc độ tăng trưởng kinh tế cao. Mẫu hình phát triển kinh tế của Hàn Quốc cũng được coi là một mô hình đáng học hỏi cho các quốc gia đang phát triển. == Xem thêm == Kinh tế Hàn Quốc Bốn con hổ châu Á Làn sóng Hàn Quốc Đổi mới (Cải cách kinh tế Việt Nam) Cải cách kinh tế Trung Quốc == Tham khảo ==
công viên hoàng gia studley.txt
Công viên Hoàng gia Studley bao gồm cả các phế tích của Tu viện Fountains là một di sản thế giới của UNESCO nằm ở Bắc Yorkshire, Anh. Khu vực có diện tích 323 hécta (800 mẫu Anh) là cảnh quan vườn thế kỷ 18, một số phế tích dòng Xitô lớn nhất châu Âu, lâu đài Jacobean và một nhà thờ thời đại Victoria được thiết kế bởi William Burges. Tổ hợp cảnh quan này bao quanh những tàn tích tu viện Fountains của dòng Xitô. == Lịch sử == === Hội trường và tu viện Fountains === Tu viện Fountains được thành lập vào năm 1132 bởi tu sĩ dòng Biển Đức đã rời khỏi Tu viện St Mary, York để theo dòng Xitô. Sau khi tu viện bị giải thể vào năm 1539 bởi Henry VIII, các tòa nhà của tu viện cùng với hơn 500 mẫu Anh (200 ha) đất được bán cho Richard Gresham, một thương gia tơ lụa. Tài sản sau đó được lưu truyền qua nhiều thế hệ của gia đình Richard trước khi bán cho Stephen Proctor, người được cho là đã xây dựng Hội trường Fountains, có thể là khoảng giữa năm 1598 đến 1604. Hội trường chính là một lâu đài thời kỳ Jacobean, được xây dựng từ một phần những tàn tích đá của tu viện. Tu viện cũng có một xưởng xay có cối xay Xitô thế kỷ 12 còn lại ở Vương quốc Anh, và chúng cũng là tòa nhà lâu đời nhất còn nguyên vẹn. === Di sản Studley === Từ năm 1452, đất đai hoàng gia Studley là nơi sinh sống của các gia đình Mallory, đáng chú ý là nghị sĩ John Mallory và William Mallory. Chính trị gia nổi tiếng John Aislabie sau đó đã thừa kế phần bất động sản trên từ người anh trai của ông vào năm 1693. Ông là thành viên của Quốc hội Ripon từ năm 1695, và Bộ trưởng Bộ Tài chính năm 1718. Sau khi thất bại trong một đề án hoạt động tài chính sụp đổ năm 1820 (đề án Công ty biển Nam), ông bị trục xuất khỏi quốc hội Anh và nghiêm cấm xuất hiện trước đám đông. Aislabie trở lại Yorkshire và cống hiến sức lực mình cho việc tạo ra các khu vườn mà ông đã bắt đầu từ năm 1718. Sau khi ông qua đời vào năm 1742, con trai ông William mở rộng khu vườn bằng cách mua phần còn lại của Tu viện và hội trường Fountains. Ngoài ra, ông cũng mở rộng các khu vực cảnh quan theo phong cách lãng mạn đẹp như tranh vẽ, tương phản với công việc của cha ông. Nhưng cả hai đã tạo ra những gì được cho là khu vườn thủy sinh quan trọng nhất thế kỷ 18 của nước Anh. Sau cái chết của William, phần đất đai lần lượt thuộc sở hữu của con gái ông là Elizabeth Allanson và sau đó là cô cháu gái, bà Elizabeth Sophie Lawrence, người đã sống ở đó từ năm 1808 đến khi qua đời vào năm 1845. Sau đó nó phân cấp cho Thomas de Grey, Bá tước thứ hai của Grey, một người họ hàng xa sau khi qua đời vào năm 1859, nó thuộc về người cháu trai của mình George Robinson, Bá tước thứ nhất của Ripon, tổng đốc Ấn Độ, người đã xây dựng nhà thờ St Mary trong công viên. Và sau cái chết của Frederick Robinson, Bá tước thứ hai của Ripon vào năm 1923, phần đất đã được mua lại bởi người anh em họ của ông Clare George Vyner. Năm 1966, Hội đồng hạt West Riding đã mua lại phần đất đai trên và năm 1983, nó trở thành tài sản của National Trust. === Nhà Hoàng gia Studley === Nhà (hay Hội trường) Hoàng gia Studley nằm ở góc phía tây bắc của công viên. Ban đầu nó là một trang viên thời Trung cổ, nhưng đã bị đốt cháy vào năm 1716 trước khi được xây dựng lại bởi John Aislabie. == Tính năng == Kết hợp với hội trường và tu viện Fountains, công viên có những tính năng đáng chú ý. Vườn thủy sinh Hoàng gia Studley: Những khu vườn thủy sinh ở Studley được tạo ra bởi John Aislabie vào năm 1718. Đây là một trong những ví dụ sống động nhất của vườn thủy sinh Georgian ở Anh. Chúng đã được mở rộng bởi con trai của ông, William đã mua phần đất đai của tu viện và hội trường Fountains liền kề. Hồ được trang trí thanh lịch kết hợp với kênh rạch, đền và thác nước tạo ra một khung cảnh bắt mắt ấn tượng. Một vài tòa nhà phá cách cũng được xây dựng bao gồm một lâu đài theo phong cách Gothic mới và một Palladian nhà tiệc mang phong cách kiến trúc Palladian (phong cách kiến trúc lấy cảm hứng của kiến trúc sư Andrea Palladio). Nhà thờ St Mary: Là một trong hai công trình thời đại Victoria ở Studley, một nhà thờ tưởng niệm muộn ở Yorkshire được xây dựng bởi George Robinson, Bá tước thứ nhất của Ripon như là một nhà thờ tưởng niệm Frederick Grantham Vyner. Nhà thờ có nội thất vô cùng ngoạn mục và uy nghi, được coi là Kiệt tác giáo hội của Burges. Vườn hươu: Là một công viên hươu thời Trung cổ ở Anh, là mơi sinh sống của 300-350 con hươu cùng vô số các loài động thực vật khác. Tại Studley có ba loài hươu là Hươu đỏ, hươu hoang và hươu sao. == Hình ảnh == == Tham khảo == “My turbulent life as an aristocrat” (Web and Print). The Northern Echo. Newsquest Media Group. 28 tháng 2 năm 2005. Truy cập ngày 4 tháng 2 năm 2007. Crook, J. Mordaunt (1981). William Burges and the High Victorian Dream. London: John Murray. tr. 454. ISBN 0-7195-3822-X. == Liên kết ngoài == Tu viện Fountains UNESCO công nhận di sản Công viên Hoàng gia Studley Sổ tay trực tuyến National Trust Công viên Hoàng gia Studley và Tu viện Fountains Abbey
họ gà tây.txt
Gà tây hay còn gọi là gà lôi là tên gọi của một trong hai loài chim lớn thuộc chi Meleagris, có nguồn gốc từ những khu rừng hay cánh đồng của Bắc Mỹ. Gà tây được xếp vào bộ Galliformes (bộ Gà). Chúng thường được coi là một họ độc lập với danh pháp khoa học Meleagrididae, tuy nhiên gần đây một số nhà điểu học, như Hiệp hội điểu học Bắc Mỹ, lại xếp chúng như là phân họ Meleagridinae cũng như gà lôi và các phân họ liên quan trong họ Trĩ (Phasianidae), tuy nhiên điều này chưa được công nhận rộng khắp. == Các loài == Có hai loài là gà tây hoang Bắc Mỹ (M. gallopavo) và gà tây mắt đơn Trung Mỹ (M. ocellata). Ngoài ra gà tây đã được thuần hóa thành loại gia cầm là gà tây nhà. == Tại Việt Nam == Trong tiếng Việt, chúng được gọi là gà tây hay gà lôi vì chúng được du nhập vào Việt Nam từ các nước phương Tây. Gà tây trống có thân hình lớn hơn gà mái. Khi con người đem về thuần hóa để cho chúng trở thành loài gia cầm thì trọng lượng của gà tây trống có thể đạt từ 7,8 kg cho đến 11 hay 12 kg. Trong khi đó, gà tây mái thì có thể trọng nhỏ hơn, chỉ khoảng 3 cho đến 4 kg. Ngoài thiên nhiên, gà tây có thể bay như thiên nga hay ngỗng trời, nhưng khi được thuần hóa, chúng có thân hình quá nặng nề nên không thể bay dù chỉ một đoạn ngắn. Và ngoài thiên nhiên, gà tây chỉ có một loại là màu đen, nhưng sau khi được thuần chủng và lai tạp, chúng có thêm một loại trắng và bông. Gà tây trống khi đạt đến tuổi trưởng thành là khoảng 10 tháng, vì chúng có thể trọng lớn. Còn gà tây mái trưởng thành sớm hơn, khoảng 8 tháng tuổi. Gà tây con rất khó nuôi, nhưng khi chúng được 2 tháng tuổi, chúng sẽ lớn rất nhanh. Gà tây trống khi trưởng thành, có thể xòe đuôi ra, trong giống như một con công vậy, gà tây mái cũng có thể làm được, nhưng rất hiếm thấy. Khi trời vừa sáng, gà tây trống thường xòe đuôi, ve vãn gà mái, để đáp lại, gà mái cũng xòe đuôi, nhưng nhỏ hơn gà trống. Thịt gà tây thường được người Mỹ và người các nước Phương Tây dùng cho các món nướng và ngày nay, chúng được dùng nhiều cho lễ Tạ ơn hay những buổi tiệc gia đình. == Chú thích == == Liên kết ngoài == 5 điều thú vị về gà tây
tiếng lào.txt
Tiếng Lào (tên gốc: ພາສາລາວ; phát âm: phasa lao [pʰaːsaː laːw]) là ngôn ngữ chính thức của Lào. Tiếng Lào là một ngôn ngữ thuộc Ngữ chi Thái trong hệ ngôn ngữ Tai-Kadai. Tiếng Lào chịu những ảnh hưởng của tiếng Phạn. Tiếng Lào cũng là ngôn ngữ truyền thống của hoàng gia Lào, truyền đạt tư tưởng Ấn Độ giáo và Phật giáo. Theo Điều 89 của Hiến pháp sửa đổi năm 2003 của nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, bảng chữ cái Lào là bản chính thức cho ngôn ngữ chính thức, và cũng được sử dụng để ghi lại ngôn ngữ dân tộc thiểu số trong cả nước, trong khi những dân tộc có chữ riêng như Hmông vẫn có thể sử dụng chữ của mình. Bộ chữ Lào hiện có mã unicode (The Unicode Standard, Version 9.0, 2016) là dải 0E80–0EFF . == Phân bố == Tiếng Lào có ảnh hưởng ít nhiều đến những ngôn ngữ khác trong vùng đối với các lân bang như tiếng Thái, tiếng Khmer, tiếng Việt. Lào ngữ được coi là một ngôn ngữ hỗn hợp ở bán đảo Đông Nam Á. Tiếng Lào có những thanh điệu và phát âm giống tiếng Thái, phần tương đồng lên đến hơn 80%. Vì vậy trong đối thoại giữa người Lào và người Thái Lan có thể hiểu nhau được. Tại vùng Đông Bắc Thái Lan hay thường gọi là vùng Isan, dân địa phương và người Lào có thể dễ dàng nói chuyện với nhau. Trong lịch sử phần lớn dân Isan có liên hệ với người Lào, hoặc được coi là người Lào. Nhưng nay vì lý do chính trị ngôn ngữ ở đây được nhà nước Thái Lan gọi chính thức là tiếng Isan, với cỡ 20 triệu người nói. Dẫu vậy một số văn liệu quốc tế vẫn coi vùng phân bố của tiếng Lào là "nước Lào và Đông Bắc Thái Lan với 20-25 triệu người sử dụng". Ở Việt Nam, tiếng Lào không được công nhận là ngôn ngữ thiểu số, tuy nhiên tiếng Lào được nói tại một số vùng núi gần biên giới Việt-Lào và người dân ở đó xem tiếng Lào là ngôn ngữ thương mại ở khu vực này. == Phiên âm Latin == Phiên âm tiếng Lào ra ký tự Latin, đặc biệt là tên riêng, hiện thiếu nhất quán. Các nỗ lực thống nhất cách phiên âm gần đây đã được đưa ra, trong đó có phiên âm nhắm đến phục vụ cho viễn thông, như cho mạng di động bằng thiết bị chưa hiện được chữ Lào. Trong các văn liệu đã có thì phiên âm mỗi nơi một vẻ tùy theo đã tiếp cận nguồn nào, trong đó một số người nước ngoài đến và tự ghi tiếng Lào theo tiếp xúc của mình. Trước đây địa danh đến với thế giới chủ yếu thông qua các bản đồ do người Pháp lập, từ cuối thế kỷ 19 đến những năm 1940. Ban đầu chỉ có người Pháp làm và các địa danh được ghi thuần theo chữ Pháp, như mouang (muang), Louang Prabang (Luang Prabang), Sépon (sông Xê Pôn), Nam Gnouang (Nậm Nhoàng), Nam Hou (Nam Ou, Nậm U),... Về sau có các viên chức người Việt tham gia, đã dùng các dấu kiểu chữ Việt để ghi âm và thanh vốn không có trong tiếng Pháp. Tuy nhiên các tờ bản đồ được các nhóm khác nhau lập vào thời gian khác nhau nên cách ghi không nhất quán, và nhiều tên đã có ở các bản xuất trước đó thường không sửa lại. Vì thế sự lộn xộn dường như tăng thêm, như "Xê Pôn" còn được ghi là Tchepone, Sepone, Sepon, Sépon, Xépôn, Xêpôn,... Khoảng năm 1960 Ủy ban Quốc gia Lào về Địa danh (Lao Commission Nationale de Toponymie) đưa ra quy cách phiên âm, một bản mang dấu ấn tiếng Pháp và tồn tại đến nay, như trong làm bản đồ. Năm 1966 những cơ quan Ban địa danh Hoa Kỳ (BGN, United States Board on Geographic Names) và Ủy ban thường trực về Địa danh cho sử dụng chính thức ở nước Anh (PCGN, Permanent Committee on Geographical Names for British Official Use) theo và dùng vào lập bản đồ, trong đó có bản đồ quân sự, và tên thường tham chiếu là "BGN/PCGN 1966 System" . Hiệp hội Thư viện Mỹ (ALA, American Library Association) và Thư viện Quốc hội Hoa Kỳ (LC, Library of Congress) dựa theo chuẩn Latin hóa ALA-LC đã lập ra phiên âm Latin cho tiếng Lào . Bản này thể hiện cách phiên âm của người nói tiếng Anh, bỏ qua các dấu ấn Pháp trong BGN/PCGN, song không phải là bản được chấp nhận rộng rãi. Cơ quan Liên Hiệp Quốc là Nhóm chuyên viên về Địa danh Liên Hiệp Quốc hiện đề xuất sử dụng BGN/PCGN 1966 System cho tiếng Lào . == Phiên âm sang tiếng Việt == Hiện nay tiếng Lào được 2 'trường phái' khác nhau phiên âm, một là do các Hiệp hội Văn hóa Hữu nghị Lào - Việt thực hiện thì họ phiên sang âm tiếng Việt vì tiếng Việt gần như có khá đầy đủ các bộ âm chuẩn mà không thể phát âm sai được. Một trường phái khác là phiên âm sang hệ ngữ Latinh nhưng rất lung tung, cũng giống như tiếng Thái khi phiên âm sang hệ ngữ Latinh thì người ta dễ nhầm lẫn giữa các Phụ âm như 'p' có thể bị đọc thành 'f' mà cũng có thể bị đọc thành 'ph', 't' thì cũng có thể bị đọc thành 't' mà cũng có thể thành 'th'... ngoài ra sự hợp ngữ giữa các Nguyên âm cũng bị phiên rất lung tung nên khó mà đọc chuẩn xác nếu căn cứ theo phiên âm Quốc tế. Vì vậy, phiên âm theo tiếng Việt là cách phiên âm chuẩn nhất đối với tiếng Lào và tiếng Thái nói chung (mặc dù có nhiều bộ âm của Lào và Thái không thể phiên âm sang tiếng Việt được nhưng vẫn đạt được khoảng 85-90% so với tiếng Lào và khoảng 70-75% so với tiếng Thái thì dù sao vẫn tin cậy hơn là phiên sang các Hệ ngữ Quốc tế khác). Chính vì vậy, nếu học tiếng Lào và tiếng Thái qua các Ngôn ngữ khác thì sẽ cực kỳ khó khăn bởi các Ngôn ngữ khác không có thanh điệu và âm ngữ của các nước khác thường bị biến đổi khó phù hợp với các Quy tắc của tiếng Thái và tiếng Lào. == Phiên âm trong Wikipedia == Trong Wikipedia, đặc biệt là vi-Wikipedia, thì viết tên riêng tiếng Lào không thống nhất, do mỗi biên tập viên có cách nhìn nhận khác nhau và dựa vào nguồn khác nhau. Nó dẫn đến một lượng lớn tên không thể tìm thấy trong các văn liệu tiếng Việt thông thường, và/hoặc trong văn liệu chữ Latin có tính chính thức xuất bản ở Lào. Ví dụ địa danh có tên "Hin Bun" ở tỉnh Khăm Muộn, theo "BGN/PCGN 1966 System", các báo tiếng Anh ở Lào, và một số bản đồ xuất bản ở Việt Nam (ví dụ bản địa hình), thì được viết là Hinboun và Khammouan. Trang "Đập Theun Hinboun" dựa theo tư liệu có gốc gác là tài liệu của dự án mà sau này là Công ty Điện lực Theun Hinboun quản lý nên đã viết đúng . Tuy nhiên tên trang "huyện Hin Bun" viết là Hinboon, và "tỉnh Khăm Muộn" là Khammuane, là cách viết không phải là chính thức ở Lào hay Việt Nam. == Chỉ dẫn == == Tham khảo == == Xem thêm == Bảng chữ cái Lào Chữ Lào Latin hóa Địa lý Lào Danh sách ngôn ngữ Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói == Liên kết ngoài == Font tiếng Lào chuẩn Unicode dùng cho máy tính với hệ điều hành Windows. (tự do) Tiếng Lào Báo Ảnh Việt Nam
flo rida.txt
Tramar Dillard (sinh ngày 16 tháng 9 năm 1979), hay còn được biết đến với nghệ danh Flo Rida, là một rapper người Mỹ. Lúc thiếu niên, anh đã tham gia lưu diễn cùng với nhóm rap địa phương 2 Live Crew. Sau đó, anh xuất hiện trong nhiều bài rap mixtape nổi tiếng và những album phòng thu, đáng chú ý là We the Best vào năm 2006. Mail on Sunday là album solo đầu tay của Flo Rida; đĩa đơn đầu tiên của nó "Low", hợp tác với T-Pain đã trở thành hit #1 trong 10 tuần đầu của năm 2008. Hai đĩa đơn khác từ Mail on Sunday: "Elevator" và "In the Ayer". Năm 2009, album phòng thu thứ hai của anh R.O.O.T.S. đã được ra mắt; đĩa đơn của nó "Right Round" đã chiếm 6 tuần liên tiếp trên đầu bảng xếp hạng Hot 100. == Danh sách đĩa nhạc == Album phòng thu: 2008: Mail on Sunday 2009: R.O.O.T.S. 2010: Only One Flo (Part 1) 2012: Wild Ones == Giải thưởng và đề cử == American Music Awards2008: Breakthrough Performer (Đề cử) 2008: Favorite Male Hip-Hop Artist (Đề cử) MuchMusic Video Awards2008: Best International Video - Artist "Low" (Đề cử) BET Awards2008: Best New Artist (Đề cử) 2008: Best Collaboration: "Low" with T-Pain (Đề cử) BET Hip Hop Awards2008: Ringtone of the Year: "Low" hợp tác với T-Pain (Đề cử) 2008: Best Hip Hop Collabo: "Low" hợp tác với T-Pain (Đề cử) 2008: Rookie of the Year (Đề cử) Teen Choice Awards2008: Choice Music: Hook-Up - "Low" hợp tác với T-Pain (Đề cử) 2008: Choice Music: Rap Artist (Đề cử) 2008: Choice Music: Breakout Artist (Đề cử) 2008: Choice Music: "In the Ayer" hợp tác với will.i.am(Đề cử) MTV Video Music Awards2008: Best Male Video - "Low" hợp tác với T-Pain (Đề cử) 2008: Best Hip Hop Video - "Low" hợp tác với T-Pain (Đề cử) Grammy Awards2009: Best Rap/Sung Collaboration - "Low" hợp tác với T-Pain (Đề cử) 2009: Best Rap Song - "Low" hợp tác với T-Pain (Đề cử) 2009: Best Rap Album - R.O.O.T.S. (Đề cử) People's Choice Awards2009: Favorite Hip Hop Song - "Low" hợp tác với T-Pain (Nhận giải) MTV Australia Awards2009: Best Video - "Low" hợp tác với T-Pain (Đề cử) 2009: Best Collaboration - "Running Back" by Jessica Mauboy hợp tác với Flo Rida (Đề cử) MOBO Awards2009: Best Song - "Low" hợp tác với T-Pain (Đề cử) == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chính thức Phỏng vấn với illRoots PP2G.TV Video phỏng vấn Flo Rida (Tháng 5, 2009)
west virginia.txt
Tây Virginia (phát âm là: Tây Vơ-gin-ni-a) là một tiểu bang Hoa Kỳ trong vùng Appalachia, nói chung được biết đến như là The Mountain State. Tây Virginia ly khai khỏi Khối thịnh vượng chung Virginia trong suốt Nội chiến Hoa Kỳ và được chấp nhận vào Liên Bang như là một bang tách biệt ngày 20 tháng 6 năm 1863 (ngày kỉ niệm West Virginia Day ở tiểu bang này). Nó là bang duy nhất được thành lập do kết quả trực tiếp của nội chiến Mỹ. == Tham khảo ==
quốc kỳ nhật bản.txt
Quốc kỳ Nhật Bản là một hiệu kỳ hình chữ nhật màu trắng với một đĩa tròn màu đỏ lớn (đại diện cho mặt trời) tại trung tâm. Quốc kỳ được gọi chính thức là Nisshōki (日章旗, Nhật chương kỳ) trong tiếng Nhật, song được gọi thông tục hơn là Hinomaru (日の丸, Nhật chi hoàn). Nisshōki được chỉ định làm quốc kỳ theo Pháp luật về quốc kỳ và quốc ca được công bố và có hiệu lực vào ngày 13 tháng 8 năm 1999. Mặc dù trước đó không có pháp luật chỉ định về quốc kỳ, song hiệu kỳ mặt trời vẫn là quốc kỳ trên thực tế của Nhật Bản. Thái chính quan ban hành hai quy tắc vào năm 1870, mỗi quy tắc có một điều khoản về thiết kế của quốc kỳ. Cũng trong năm 1870, hiệu kỳ mặt trời được thông qua làm quốc kỳ sử dụng trên thương thuyền, và là quốc kỳ sử dụng trong Hải quân. Việc sử dụng Hinomaru bị hạn chế nghiêm ngặt trong những năm đầu Hoa Kỳ chiếm đóng sau Chiến tranh thế giới thứ hai; những hạn chế này sau đó được nới lỏng. Trong lịch sử ban đầu của Nhật Bản, chủ đề Hinomaru được sử dụng trên các hiệu kỳ của những daimyo và samurai. "Tục Nhật Bản kỷ" ghi rằng Văn Vũ thiên hoàng sử dụng một hiệu kỳ tượng trưng cho mặt trời trong triều đình của ông vào năm 701, và đây là ghi chép sớm nhất về việc sử dụng hiệu kỳ chủ đề mặt trời tại Nhật Bản. Trong Minh Trị Duy tân, vòng mặt trời và Húc Nhật kỳ của Hải quân Đế quốc Nhật Bản trở thành những phù hiệu chính của Đế quốc Đại Nhật Bản đang tân hưng. Trong các hộ gia đình tại Nhật Bản, công dân được yêu cầu treo quốc kỳ trong những ngày quốc lễ, và những dịp khác theo quy định của chính phủ. Việc sử dụng quốc kỳ Hinomaru và quốc ca Kimigayo trở thành một vấn đề gây tranh luận đối với các trường công của Nhật Bản kể từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai. Đối với người Okinawa, quốc kỳ tượng trưng cho các sự kiện trong Đại chiến và sự hiện diện quân sự của Hoa Kỳ sau đó. Đối với một vài quốc gia từng bị Nhật Bản chiếm đóng, quốc kỳ Hinomaru là một phù hiệu của xâm lược và chủ nghĩa đế quốc. Một số quân kỳ tại Nhật Bản dựa trên Hinomaru, trong đó có quân kỳ của hải quân. == Lịch sử == === Trước 1900 === Chưa biết về nguồn gốc chính xác của Hinomaru, song mặt trời mọc dường như đã có một số ý nghĩ tượng trưng kể từ đầu thế kỷ 7. Năm 607, một quốc thư bắt đầu bằng "nhật xuất xứ thiên tử" (thiên tử xứ mặt trời mọc) được gửi cho Tùy Dạng Đế. Nhật Bản thường được gọi là "xứ mặt trời mọc". Trong Bình gia vật ngữ (平家物語) từ thế kỷ 12 có chép rằng những samurai có những hình vẽ mặt trời trên quạt của họ. Theo một truyền thuyết, khi người Mông Cổ xâm chiếm Nhật Bản trong thế kỷ 13, hòa thượng Nhật Liên (日蓮) trao một hiệu kỳ mặt trời cho Tướng quân để đem ra chiến trường. Mặt trời cũng có liên hệ chặt chẽ với hoàng thất, do truyền thuyết kể rằng các thiên hoàng là hậu duệ của Amaterasu. Một trong những hiệu kỳ cổ nhất của Nhật Bản là tại chùa Unpo thuộc tỉnh Yamanashi. Theo truyền thuyết thì Thiên hoàng Go-Reizei trao nó cho Minamoto no Yoshimitsu và được xem là một bảo vật của gia tộc Takeda trong 1000 năm qua, Các hiệu kỳ được ghi nhận sớm nhất tại Nhật Bản có niên đại từ thời kỳ thống nhất vào cuối thế kỷ 16. Các hiệu kỳ thuộc về mỗi Daimyo và được sử dụng chủ yếu trên chiến trường. Hầu hết hiệu kỳ là các dải dài thường mang gia văn của Daimyo. Các thành viên trong cùng một gia tộc có những hiệu kỳ khác nhau để mang ra chiến trường. Các tướng lĩnh cũng có hiệu kỳ riêng của mình, hầu hết trong số đó khác biệt với hiệu kỳ của binh sĩ do chúng có hình vuông. Năm 1854, thời Mạc phủ Tokugawa, các thuyền của Nhật Bản được lệnh kéo Hinomaru nhằm phân biệt chúng với thuyền của ngoại quốc. Trước đó, các kiểu khác nhau của Hinomaru được sử dụng trên những thuyền giao dịch với người Mỹ và người Nga. Hinomaru được quy định là hiệu kỳ thương nghiệp của Nhật Bản vào năm 1870 và là quốc kỳ theo pháp luật từ năm 1870 đến năm 1885, đây là quốc kỳ đầu tiên được Nhật Bản thông qua. Mặc dù khái niệm về phù hiệu quốc gia còn xa lạ với người Nhật Bản, song chính phủ Minh Trị cần chúng để giao thiệp với thế giới bên ngoài. Điều này trở nên đặc biệt quan trọng sau khi Phó đề đốc Hoa Kỳ Matthew C. Perry đổ bộ lên vịnh Yokohama. Chính phủ Minh Trị còn quy định thêm những biểu tượng nhận dạng cho Nhật Bản, trong đó có quốc ca Kimigayo và quốc huy. Năm 1885, toàn bộ các pháp luật trước đó không được ban hành trong Công báo chính thức của Nhật Bản đều bị bãi bỏ. Do quy định này, Hinomaru là quốc kỳ trên thực tế do không có pháp luật nào quy định về nó sau Minh Trị Duy tân. === Những xung đột ban đầu và Chiến tranh Thái Bình Dương === Việc sử dụng quốc kỳ tăng lên khi Nhật Bản mưu cầu phát triển một đế quốc, và Hinomaru hiện diện tại lễ sau những chiến thắng trong Chiến tranh Thanh-Nhật và Chiến tranh Nga-Nhật. Quốc kỳ cũng được sử dụng trong những nỗ lực chiến tranh trên toàn quốc. Một phim tuyên truyền của Nhật Bản trong năm 1934 phác hoạ những quốc kỳ ngoại quốc là có thiết kế không hoàn chỉnh hoặc có khuyết điểm, còn quốc kỳ Nhật Bản thì hoàn toàn hoàn hảo. Năm 1937, một nhóm thiếu nữ từ tỉnh Hiroshima thể hiện tình đoàn kết với những binh sĩ Nhật Bản chiến đấu tại Trung Quốc trong Chiến tranh Trung-Nhật bằng cách ăn "bữa cơm quốc kỳ" gồm có một umeboshi tại trung tâm của một nền bằng cơm. Hinomaru bento trở thành biểu tượng chính của động viên và đoàn kết chiến tranh của Nhật Bản với những binh sĩ cho đến thập niên 1940. Hinomaru lại được sử dụng trong các lễ kỷ niệm khi Nhật Bản giành được những thắng lợi ban đầu trong Chiến tranh Trung-Nhật. Các binh sĩ Nhật Bản đều cầm quốc kỳ khi diễu hành. Sách giáo khoa trong thời kỳ này cũng in Hinomaru cùng những khẩu hiệu khác nhau nhằm biểu đạt trung thành với Thiên hoàng và quốc gia. Lòng ái quốc được dạy như một đức tính cho thiếu nhi Nhật Bản. Những biểu hiện của lòng ái quốc, như trưng quốc kỳ hoặc kính bái Thiên hoàng thường nhật, đều là một phần của một "người Nhật tốt." Hơn nữa,người Nhật rất coi trọng phép lịch sự. Quốc kỳ là một công cụ của chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản tại các khu vực Đông Nam Á bị chiếm đóng trong Chiến tranh thế giới thứ hai: nhân dân bản địa phải sử dụng quốc kỳ Nhật Bản, và học sinh phải hát Kimigayo trong lễ thượng kỳ vào buổi sáng. Các hiệu kỳ địa phương được phép sử dụng tại một số khu vực như Philippines, Indonesia, và Mãn Châu Quốc. Trong một số thuộc địa như Triều Tiên, Hinomaru và những phù hiệu khác được sử dụng nhằm giáng người Triều Tiên xuống vị thế hạng hai trong đế quốc. Đối với người Nhật, Hinomaru là "Nhật xuất kỳ sẽ soi sáng bóng tối của toàn thế giới." === Thời Hoa Kỳ chiếm đóng === Hinomaru là quốc kỳ Nhật Bản trên thực tế trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai và trong thời kỳ bị chiếm đóng. Trong thời gian Hoa Kỳ chiếm đóng Nhật Bản sau chiến tranh, cần phải có sự chấp thuận từ Tư lệnh Tối cao của Đồng Minh tại Nhật Bản là Douglas MacArthur để được treo Hinomaru. Ban đầu có những hạn chế nghiêm ngặt về việc treo Hinomaru, song không đến mức độ cấm hoàn toàn. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, các thuyền dân sự của Nhật Bản sử dụng một thuyền kỳ do Hoa Kỳ cấp. Thuyền kỳ này được sửa đổi từ mã dấu hiệu "E", được sử dụng từ tháng 9 năm 1945 cho đến khi thời kỳ chiếm đóng kết thúc. Thuyền của Hoa Kỳ hoạt động tại vùng biển Nhật Bản sử dụng hiệu kỳ dấu hiệu "O" sửa đổi làm thuyền kỳ. Ngày 2 tháng 5 năm 1947, Tướng Douglas MacArthur bãi bỏ việc cấm treo Hinomaru trong khu đất của Tòa Quốc hội Nhật Bản, tại Hoàng cư, tại dinh Thủ tướng và tại Tòa án Tối cao cùng với việc phê chuẩn Hiến pháp Nhật Bản mới. Những hạn chế này được nới lỏng hơn nữa vào năm 1948, khi nhân dân được cho phép treo quốc kỳ trong những dịp quốc lễ. Đến tháng 1 năm 1949, những hạn chế bị bãi bỏ và bất cứ ai cũng có thể treo Hinomaru vào bất kỳ thời gian nào mà không cần sự cho phép. Kết quả là, các trường học và hộ gia đình được khuyến khích treo Hinomaru cho đến đầu thập niên 1950. === Sau chiếm đóng đến nay === Kể từ Chiến tranh thế giới thứ hai, quốc kỳ Nhật Bản bị phê phán do có liên hệ với quá khứ quân phiệt của quốc gia. Sự phản đối tương tự cũng dành cho quốc ca hiện nay của Nhật Bản là Kimigayo. Cảm nghĩ về tính tượng trưng của Hinomaru và Kimigayo nhìn chung biến đổi từ một cảm giác ái quốc về "Đại Nhật Bản" sang Nhật Bản hòa bình và chống quân phiệt. Do biến đổi về tư tưởng này, quốc kỳ được sử dụng ít thường xuyên tại Nhật Bản ngay sau chiến tranh mặc dù những hạn chế bị bãi bỏ vào năm 1949. Do Nhật Bản bắt đầu tái lập vị thế bản thân về mặt ngoại giao, Hinomaru được sử dụng như một vũ khí chính trị tại hải ngoại. Trong một chuyến công du của Thiên hoàng Hirohito và Hoàng hậu Kōjun đến Hà Lan, một số công dân Hà Lan đốt Hinomaru với yêu cầu Thiên hoàng hồi quốc hoặc phải xét xử về việc những tù binh chiến tranh người Hà Lan thiệt mạng trong đại chiến. Tại quốc nội, Hinomaru còn không được sử dụng trong hoạt động kháng nghị một hiệp định địa vị quân đồn trú mới được Hoa Kỳ và Nhật Bản đàm phán. Hiệu kỳ được những công đoàn và những người kháng nghị khác sử dụng phổ biến nhất là cờ đỏ cách mạng. Hinomaru và quốc ca lại gặp phải vấn đề khi Tokyo đăng cai Thế vận hội Mùa hè 1964. Trước Thế vận hội, kích cỡ của hình mặt trời của quốc kỳ được cải biến một phần là do vòng mặt trời không được cho là nổi bật khi trưng cùng những quốc kỳ khác. Chuyên gia về màu sắc Tadamasa Fukiura lựa chọn đặt vòng tròn mặt trời chiếm 2/3 chiều cao của quốc kỳ. Fukiura cũng lựa chọn màu sắc cho thiết kế quốc kỳ năm 1964 cũng như trong Thế vận hội Mùa đông 1998 tại Nagano. Năm 1989, Thiên hoàng Hirohito băng hà, sự kiện này lại làm nổi lên vấn đề tinh thần của quốc kỳ. Phe bảo thủ cho rằng nếu quốc kỳ có thể được sử dụng trong tang lễ mà không cần khơi lại nỗi đau thương cũ, họ có thể có cơ hội đề đề xuất rằng Hinomaru trở thành quốc kỳ mà không bị thách thức về ý nghĩa của nó. Trong tang kỳ chính thức kéo dài sáu ngày, các lá quốc kỳ được treo rủ hoặc bọc trong dải màu đen trên toàn Nhật Bản. Mặc dù có những báo cáo về việc những người kháng nghị phá hoại Hinomaru trong ngày an táng Thiên hoàng, song việc các trường học có quyền treo Hinomaru rủ mà không có hạn chế giúp đem đến thắng lợi cho phe bảo thủ. Pháp luật về quốc kỳ và quốc ca được thông qua vào năm 1999, lựa chọn Hinomaru và Kimigayo làm những phù hiệu quốc gia của Nhật Bản. Đạo luật là một trong những pháp luật gây tranh luận nhiều nhất trong Quốc hội kể từ khi thông qua "Pháp luật về hiệp lực với các hoạt động duy trì hòa bình Liên Hiệp Quốc" vào năm 1992. == Thiết kế == Quy tắc số 57 năm 1870 có hai điều khoản liên quan đến quốc kỳ, điều khoản đầu tiên quy định về người treo và cách treo, điều khoản thứ hai quy định về cách sản xuất quốc kỳ. Tỷ lệ giữa chiều cao và chiều rộng là 7:10. Hình tròn màu đỏ tượng trưng cho mặt trời và có đường kính bằng ba phần năm tổng chiều dài đứng. Luật chế định hình tròn nằm tại trung tâm, song thường được đặt lệch một phần trăm hướng về phía vận thăng. Ngày 3 tháng 10 cùng năm, các quy định về thiết kế thương thuyền kỳ và các hải quân kỳ khác được thông qua. Đối với thương thuyền kỳ, tỷ lệ giữa chiều cao và chiều rộng là 2:3. Kích cỡ hình tròn trong vẫn giữ nguyên, song hình tròn được đặt lệch 1/20 hướng về phía vận thăng. Khi Pháp luật về quốc kỳ và quốc ca được thông qua, kích thước của quốc kỳ có biến đổi nhỏ. Tỷ lệ tổng thể của quốc kỳ chuyển thành chiều cao bằng 3:5 chiều rộng. Hình tròn đỏ chuyển dịch về chính tâm, song kích cỡ tổng thể của hình tròn vẫn không đổi. Nền của quốc kỳ là màu trắng (白色, bạch sắc) và hình tròn mặt trời là màu đỏ (紅色, hồng sắc), song sắc độ chính xác không được định rõ trong pháp luật năm 1999. Cục Phòng vệ Nhật Bản (nay là Bộ Phòng vệ) vào năm 1973 định rõ đặc điểm kỹ thuật của màu đỏ trên quốc kỳ là 5R 4/12 và của màu trắng là N9 trong hệ màu Munsell. Văn kiện này được thay đổi vào ngày 21 tháng 3 năm 2008 nhằm tương phối dựng hình của quốc kỳ với pháp luật hiện hành và hệ màu Munsell cập nhật. Văn kiện này quy định sợi acrylic và ni lông được sử dụng để sản xuất quốc kỳ sử dụng trong quân sự. Đối với acrylic, sắc độ màu đỏ là 5.7R 3.7/15.5 và màu trắng là N9.4; đối với ni lông sắc độ màu đỏ là 6.2R 4/15.2 và sắc độ màu trắng là N9.2. Trong một văn kiện do Cơ quan viện trợ phát triển chính phủ (Nhật Bản) công bố, sắc độ màu đỏ của Hinomaru và biểu trưng của Cơ quan là DIC 156 và CMYK 0-100-90-0. Trong những thẩm nghị về Pháp luật về quốc kỳ và quốc ca, có đề nghị sử dụng sắc độ đỏ nhạt (赤色, xích sắc) hoặc hệ màu của quy cách công nghiệp Nhật Bản. == Sử dụng và phong tục == Thời Chiến tranh thế giới thứ hai, có một phong tục phổ biến là bạn bè, bạn học, và thân nhân của một quân nhân được triển khai sẽ viết vào một Hinomaru và tặng nó cho anh ta. Quốc kỳ cũng được sử dụng như một bùa vận khí tốt và một vật cầu nguyện quân nhân bình an trở về từ chiến trường. Một thuật ngữ về loại bùa này là Hinomaru Yosegaki (日の丸寄せ書き, Hinomaru Yosegaki). Một truyền thống là các chữ viết không chạm vào hình mặt trời. Sau những trận chiến, những quốc kỳ này thường bị đối phương đoạt lấy, hoặc sau đó được tìm thấy trên mình những quân nhân Nhật Bản tử chiến. Những quốc kỳ này trở thành vật kỷ niệm, song ngày càng có nhiều quốc kỳ được gửi trả lại cho hậu duệ của những quân nhân Nhật Bản tử trận. Truyền thống viết vào Hinomaru như một bùa vận khí tốt vẫn tiếp tục, song có giới hạn. Hinomaru Yosegaki có thể xuất hiện trong những sự kiện thể thao nhằm thể hiện ủng hộ với đội tuyển quốc gia Nhật Bản. Một thí dụ khác là dải buộc đầu hachimaki, vốn có nền trắng và một hình mặt trời đỏ tại trung tâm. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, cụm từ "Tất thắng" (必勝, Hisshō) hoặc "Thất sinh báo quốc" (七生報國) được viết trên hachimaki và được những phi công thần phong đeo. Điều này biểu thị rằng phi công nguyện hy sinh vì quốc gia. Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, toàn bộ các hộ gia đình được yêu cầu treo Hinomaru vào những ngày quốc lễ. Sau chiến tranh, việc treo quốc kỳ Nhật Bản hầu hết bị hạn chế trong các tòa nhà liên hệ với chính phủ quốc gia và địa phương như tòa thị chính; quốc kỳ hiếm khi xuất hiện tại các hộ gia đình hoặc tòa nhà thương mại, song một số cá nhân và công ty chủ trương treo quốc kỳ trong những ngày lễ. Mặc dù chính phủ Nhật Bản khuyến khích công dân và dân cư treo Hinomaru trong những dịp quốc lễ, song việc này không mang tính pháp lý. Theo thăm dò ý kiến của truyền thông dòng chính, hầu hết nhân dân Nhật Bản cảm giác Hinomaru là quốc kỳ ngay cả trước khi thông qua Pháp luật quốc kỳ và quốc ca vào năm 1999. Nhật Bản không có luật hình sự hóa việc đốt Hinomaru, song đốt quốc kỳ ngoại quốc tại Nhật Bản là điều bất hợp pháp. == Lễ nghi == Theo lế nghi, quốc kỳ có thể treo từ bình minh cho đến hoàng hôn; các doanh nghiệp và trường học được phép treo quốc kỳ từ khi mở cửa đến khi đóng cửa. Khi treo quốc kỳ Nhật Bản cùng quốc kỳ khác đồng thời, quốc kỳ Nhật Bản được đặt ở vị trí vinh dự và quốc kỳ ngoại quốc nằm ở bên phải, cả hai có kích cỡ bình đẳng. Khi treo cùng từ hai quốc kỳ khác trở lên, quốc kỳ Nhật Bản được xếp theo thứ thự của bảng chữ cái theo quy định của Liên Hiệp Quốc. Khi các lá quốc kỳ không còn thích hợp để sử dụng, nó thường được đốt một cách kín đáo. Pháp luật về quốc kỳ và quốc ca không định rõ cách sử dụng quốc kỳ, song các tỉnh khác nhau lại ban hành các quy định riêng về việc sử dụng Hinomaru và các huyện kỳ của họ. Hinomaru có hai kiểu treo để tang, một là treo theo kiểu bán kỳ (半旗, Han-ki) giống như tại nhiều quốc gia khác. Những Cơ quan của Bộ Ngoại giao treo bán kỳ trong thời gian tang lễ của một nguyên thủ quốc gia ngoại quốc. Một kiểu treo rủ thay thế là điếu kỳ (弔旗, Chō-ki), gắn thêm một dải băng màu đen ở phía trên lá quốc kỳ, kiểu này truy nguyên từ ngày 30 tháng 7 năm, 1912, khi Thiên hoàng Minh Trị băng hà và Nội các quyết định ban một sắc lệnh rằng quốc kỳ cần phải được treo để tang khi Thiên hoàng băng hà. Nội các có thẩm quyền trong việc công bố treo quốc kỳ nhằm để tang. == Hiệu kỳ có liên quan == === Quân kỳ === Đội tự vệ Nhật Bản và Đội tự vệ trên bộ Nhật Bản sử dụng một phiên bản có thiết kế mặt trời với tám tia màu đỏ hướng ra ngoài, gọi là Hachijō-Kyokujitsuki (八条旭日旗, Hachijō-Kyokujitsuki). Một viền màu vàng nằm cục bộ quanh rìa. Một biến thể nổi tiếng của thiết kế nhật chương là nhật chương với 16 tia đỏ, từng được quân đội Nhật Bản sử dụng, đặc biệt là Lục quân Đế quốc Nhật Bản và Hải quân Đế quốc Nhật Bản. Thuyền kỳ Jyūrokujō-Kyokujitsu-ki (十六条旭日旗, Jyūrokujō-Kyokujitsu-ki) được thông qua làm quân kỳ lần đầu tiên vào ngày 15 tháng 5 năm 1870, và được sử dụng đến khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ hai vào năm 1945. Thuyền kỳ được tái thông qua vào ngày 30 tháng 6 năm 1954 và nay được sử dụng làm quân kỳ của Đội tự vệ trên bộ Nhật Bản (JGSDF) và Đội tự vệ trên biển Nhật Bản (JMSDF). Tại các quốc gia châu Á từng bị Nhật Bản chiếm đóng, hiệu kỳ này vẫn mang ý nghĩa tiêu cực. == Chú thích == === Thư mục ===
nhóm lie.txt
Trong toán học, một nhóm Lie, được đặt tên theo nhà toán học người Na Uy là Sophus Lie (IPA pronunciation: [liː], đọc như là "Lee"), là một nhóm (group) cũng là một đa tạp khả vi (trơn) (differentiable manifold), với tính chất là phép toán nhóm tương thích với cấu trúc khả vi. Nhóm Lie đại diện cho lý thuyết phát triển nhất của các đối xứng liên tục. Điều này đã làm nhóm Lie trở thành một công cụ gần như cho tất cả các ngành toán học hiện đại, và vật lý lý thuyết hiện đại, đặc biệt là trong lý thuyết hạt cơ bản. Vì nhóm Lie là một đa tạp khả vi, nó có thể được nghiên cứu bằng cách sử dụng giải tích vi phân (differential calculus), điều này không làm được với các nhóm topo tổng quát hơn. Một trong những ý tưởng chính trong lý thuyết về nhóm Lie, đề xuất bởi Sophus Lie, là thay thế cấu trúc toàn cục, nhóm, bằng một phiên bản mang tính địa phương của nó hay còn gọi là phiên bản đã được làm tuyến tính hóa, mà Lie gọi là một nhóm cực nhỏ. Phiên bản này bây giờ được biết đến như là đại số Lie. Nhóm Lie đã cung cấp một phương tiện tự nhiên để phân tích các đối xứng liên tục của các phương trình vi phân (lý thuyết Picard-Vessiot), trong một cách thức như các nhóm hoán vị (permutation group) được sử dụng trong lý thuyết Galois để phân tích các đối xứng rời rạc của các phương trình đại số. == Lịch sử ban đầu == Theo Hawkins, một sử gia toán học, Sophus Lie tự cho là mùa đông năm 1873–1874 là năm khai sinh lý thuyết nhóm liên tục của ông. Một số ý tưởng ban đầu của Lie được phát triển khi hợp tác chặt chẽ với Felix Klein. Lie khẳng định rằng các kết quả chính đã được chứng minh vào năm 1884. Tuy nhiên, trong suốt những năm 1870 tất cả các bài báo của ông (ngoại trừ các bài đầu tiên) được xuất bản trong các tạp chí bằng tiếng Na Uy, đã làm chậm đi sự công nhận của các công trình của ông trên toàn bộ châu Âu. Vào năm 1884 một nhà toán học trẻ người Đức, Friedrich Engel, đến làm việc với Lie để viết nên một luận án có hệ thống về lý thuyết nhóm liên tục của ông. Từ cố gắng này đã phát sinh ra bộ sách ba tập Theorie der Transformationsgruppen (Lý thuyết của các nhóm biến đổi), xuất bản năm 1888, 1890, và 1893. Các ý tưởng của Lie không phải là đứng đơn độc so với phần còn lại của toán học. Thật ra, những nghiên cứu của ông về hình học của các phương trình vi phân được khởi nguồn từ các tác phẩm của Carl Gustav Jacobi, về lý thuyết phương trình vi phân riêng phần bậc 1 và các phương trình của cơ học cổ điển. Đa số các tác phẩm của Jacobi được xuất bản sau khi ông qua đời vào những năm 1860, đã được rất nhiều người chú ý ở Pháp và Đức. Ý tưởng ban đầu của Lie là phát triển một lý thuyết về các đối xứng của các phương trình vi phân để đạt đến những điều mà Evarist Galois đã làm được cho các phương trình đại số: nghĩa là, phân loại chúng theo lý thuyết nhóm. Các nguyên nhân khác để nghiên cứu các nhóm liên tục đến từ các ý tưởng của Bernhard Riemann, trên nền tảng của hình học, và các phát triển thêm của Klein. Do đó ba ý tưởng lớn của toán học trong thế kỉ 19 đã được tổng hợp lại bởi Lie để tạo ra lý thuyết mới của ông: ý tưởng của sự đối xứng, đã được làm mẫu bởi Galois thông qua khái niệm đại số của một nhóm; lý thuyết hình học và các lời giải tường minh (explicit) của các phương trình vi phân của cơ học, được tính ra bởi Poisson và Jacobi; các hiểu biết mới về hình học phát triển lên từ các công trình của Plücker, Möbius, Grassmann và những người khác, được dồn lại trong các tầm nhìn mang tính cách mạng của Riemann trong ngành này. Mặc dù ngày nay Sophus Lie được công nhận một cách đúng đắn là người sáng lập ra lý thuyết về các nhóm liên tục, một bước phát triển lớn trong sự phát triển của lý thuyết cấu trúc, mà có nhiều ảnh hưởng lớn đến các phát triển sau này của toán học, được tạo ra bởi Wilhelm Killing, người vào năm 1888 xuất bản bài báo đầu tiên trong chuỗi bài báo nhan đề Die Zusammensetzung der stetigen endlichen Transformationsgruppen (The composition of continuous finite transformation groups). Các công trình của Killing, sau này được tu chỉnh lại và tổng quát hóa bởi Elie Cartan, dẫn đến việc phân loại đại số Lie nửa đơn, lý thuyết của Cartan về các không gian đối xứng, và miêu tả của Hermann Weyl về biểu diễn của nhóm Lie compact và nửa đơn sử dụng highest weights. == Khái niệm về một nhóm Lie, và các khả năng phân loại == Các nhóm Lie có thể được xem như là họ của các phép đối xứng biến đổi một cách trơn tru. Ví dụ như là các phép quay xung quanh một trục cho trước. Điều cần phải được hiểu là bản chất của các phép biến đổi 'nhỏ' này, ở đây là các phép quay với các góc cực nhỏ, nối kết các phép biến đổi lân cận nhau. Cấu trúc toán học nắm bắt cấu trúc này được gọi là một đại số Lie (màLie gọi là "những nhóm cực nhỏ" ("infinitesimal groups"). Nó có thể được định nghĩa bởi vì các nhóm Lie là các đa tạp (manifold), và các không gian tiếp tuyến (tangent space)tại từng điểm cũng định nghĩa được. Đại số Lie của bất kì một nhóm Lie compact nào (very roughly: one for which the symmetries form a bounded set) cũng có thể được phân tích ra được thành một tổng trực tiếp (direct sum) của một đại số Lie giao hoán và một số nhóm Lie đơn (simple Lie group) khác. Cấu trúc của một đại số Lie abelian là không có gì đáng nói; cái đáng để ý là tổng của các nhóm đơn. Do đó câu hỏi đặt ra là: Các đại số Lie đơn của một nhóm compact là gì? Câu trả lời là hầu hết nó thuộc về 4 gia đình vô hạn, các "đại số Lie cổ điển" An, Bn, Cn và Dn, và chúng có những mô tả khá đơn giản dưới dạng các phép đối xứng trong không gian Euclid. Nhưng cũng có chỉ 5 "đại số Lie ngoại lệ" không rơi vào bất kì các gia đình này. E8 là gia đình lớn nhất trong các gia đình này. == Ví dụ == Ví dụ, các ma trận khả nghịch 2×2 định nghĩa trên toàn trường số thực, [ a b c d ] , a d − b c ≠ 0 , {\displaystyle {\begin{bmatrix}a&b\\c&d\end{bmatrix}},\qquad ad-bc\neq 0,} tạo thành một nhóm với phép nhân, được ký hiệu bởi GL2(R), là một ví dụ cổ điển của một nhóm Lie; nó là một đa tạp trong không gian 4-chiều. Các giới hạn thêm trên các ma trận 2×2 biểu diễn các phép quay cho chúng ta một nhóm con, được ký hiệu là SO2(R), cũng là một nhóm Lie; mặt đa tạp của đó là 1-chiều, vòng tròn đơn vị, với góc quay là tham số. Trong ví dụ thứ 2 này chúng ta có thể viết một phần tử của nhóm như là [ cos ⁡ λ − sin ⁡ λ sin ⁡ λ cos ⁡ λ ] , {\displaystyle {\begin{bmatrix}\cos \lambda &-\sin \lambda \\\sin \lambda &\cos \lambda \end{bmatrix}},} và quan sát rằng phần tử nghịch đảo của phần tử với tham số λ chỉ đơn giản là phần tử với tham số −λ, trong khi phần tử tích của hai phần tử với tham số λ và μ được cho bởi λ+μ; và do đó 2 toán tử của nhóm đều liên tục, như là được yêu cầu. == Định nghĩa == Một nhóm Lie thực là một nhóm mà cũng là một đa tạp trơn (smooth manifold) hữu hạn chiều, mà trong đó các phép toán nhân và phép nghịch đảo là các biến đổi trơn. Có một số khái niệm liên quan khá gần với khái niệm này. Một nhóm Lie phức được định nghĩa một cách tương tự sử dụng đa tạp phức hơn là các đa tạp thực (ví dụ: SL2(C)), và tương tự người ta có thể định nghĩa được một nhóm Lie p-adic trên các số p-adic. Một nhóm Lie vô hạn chiều được định nghĩa với một cách tương tự với việc cho phép đa tạp ẩn bên dưới định nghĩa được phép vô hạn chiều. Các nhóm ma trận hoặc là nhóm đại số nói một cách nôm na là các nhóm của các ma trận, (ví dụ, nhóm trực giao và nhóm symplectic) đưa ra các ví dụ thường gặp nhất của nhóm Lie. Có thể định nghĩa tương tự nhiều nhóm Lie trên các trường hữu hạn, và những nhóm này đưa ra các ví dụ của các nhóm đơn hữu hạn. Người ta có thể thay đổi định nghĩa bằng cách sử dụng các đa tạp tô pô hay đa tạp giải tích (topological or analytic manifolds) thay vì các đa tạp trơn, nhưng hóa ra là các định nghĩa này không đưa ra thêm điều gì mới: Gleason, Montgomery và Zippin chứng minh trong những năm của thập kỉ 1950 rằng nếu G {\displaystyle G} là một đa tạp topo với các phép toán trên nhóm liên tục, thì tồn tại chính xác một cấu trúc giải tích trên G để biến đổi nó thành một nhóm Lie (xem bài toán thứ năm của Hilbert và phỏng đoán Hilbert-Smith). Ngôn ngữ của lý thuyết phạm trù cung cấp định nghĩa rõ ràng cho nhóm Lie: nhóm Lie là một đối tượng nhóm trong phạm trù các đa tạp trơn. Đây là tính chất quan trọng, do nó cho phép các nhà toán học tổng quát hóa khái niệm nhóm Lie thành siêu nhóm Lie. == Các ví dụ của các nhóm Lie == Sau đây là một ví dụ của các nhóm Lie và mối quan hệ của chúng đến các ngành khác của toán học và vật lý học. Không gian Euclid Rn là một nhóm Lie abelian (với phép cộng vectơ như là phép toán trên nhóm đó). Nhóm GLn(R) của các ma trận khả nghịch (dưới phép nhân ma trận) là một nhóm Lie với số chiều là n2, được gọii là nhóm tuyến tính tổng quát. Nó có nhóm con là SLn(R) của các ma trận với định thức bằng 1 cũng là một nhóm Lie, được gọi là nhóm tuyến tính đặc biệt. Nhóm trực giao On(R) là một nhóm Lie được biểu diễn bởi các ma trận trực giao. Nó bao gồm các phép quay và các phép phản xạ của một không gian vectơ n-chiều. Nó có một nhóm con SOn(R) của các ma trận với định thức 1, được gọi là nhóm trực giao đặc biệt hay là nhóm quay. Nhóm unitary U(n) là một nhóm compact với số chiều n2 biểu diễn bởi các ma trận unitary. Nó có một nhóm con SU(n) với các phần tử với định thức bằng 1, được gọi là nhóm unitary đặc biệt. Nhóm spin là các phủ kép (double cover) của nhóm trực giao đặc biệt (special orthogonal group), sử dụng trong việc nghiên cứu fermion trong lý thuyết trường lượng tử (quantum field theory) Nhóm Sp2n(R) của tất cả các ma trận bảo toàn một dạng symplectic là một nhóm Lie gọi là nhóm symplectic. Các mặt cầu S0, S1, và S3 có thể được làm thành nhóm Lie bằng cách xác định chúng với số thực, số phức, hay quaternion với giá trị 1. Không có mặt cầu nào khác là nhóm Lie. Nhóm Lie S1 đôi khi được gọi là nhóm hình tròn (circle group). Nhóm của các ma trận n nhân n tam giác góc trên (upper triangular n by n matrices) là một nhóm Lie giải được với số chiều bằng n(n + 1)/2. Nhóm Lorentz và nhóm Poincare, các isometries của không thời gian, là các nhóm Lie 6 và 10 chiều được sử dụng trong thuyết tương đối hẹp. Nhóm Heisenberg là một nhóm Lie 3 chiều, sử dụng trong cơ học lượng tử. Nhóm U(1)×SU(2)×SU(3) là một nhóm Lie có 1+3+8=12 chiều là một nhóm chuẩn (gauge group) của mô hình tiêu chuẩn (standard mode)l, với số chiều tương ứng với 1 photon + 3 vector boson + 8 gluoncủa mô hình tiêu chuẩn (standard model). Nhóm metaplectic là một nhóm Lie 3 chiều là phủ kép của SL2(R) và được sử dụng trong lý thuyết modular form. Nó không thể được biểu diễn như các ma trận hữu hạn. Nhóm Lie ngoại lệ của kiểu G2, F4, E6, E7, E8 có số chiều 14, 52, 78, 133, và 248. Cũng có nhóm E7½ với số chiều 190. Nhiều ví dụ khác trong bảng các nhóm Lie và danh sách các nhóm Lie đơn và nhóm ma trận. Có vài cách tiêu chuẩn để tạo thành các nhóm Lie mới dựa trên các nhóm cũ: Tích của hai nhóm Lie là một nhóm Lie. Any closed subgroup of a Lie group is a Lie group. The quotient of a Lie group by a closed normal subgroup is a Lie group. The universal cover of a connected Lie group is a Lie group. For example, the group R is the universal cover of the circle group S1. Vài ví dụ các nhóm không phải là nhóm Lie: Nhóm vô hạn chiều, ví dụ như là nhóm dưới phép cộng của một không gian vector vô hạn chiều. Chúng không phải là các nhóm Lie bởi vì chúng không phải là các đa tạp hữu hạn chiều. Một số nhóm hoàn toàn rời rạc (totally disconnected), như là nhóm Galois của một mởi rộng vô hạn của các trường, or the additive group of the số p-adic. These are not Lie groups because their underlying spaces are not real manifolds. (Some of these groups are "p-adic Lie groups".) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Lie group (mathematics) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Bài này có sử dụng tài liệu từ Lie group tại PlanetMath, với giấy phép sử dụng GFDL. Adams, John Frank (1969), Lectures on Lie Groups, Chicago Lectures in Mathematics, Chicago: Univ. of Chicago Press, ISBN 0-226-00527-5 . Borel, Armand (2001), Essays in the history of Lie groups and algebraic groups, History of Mathematics 21, Providence, R.I.: American Mathematical Society, ISBN 978-0-8218-0288-5, MR 1847105 Bourbaki, Nicolas, Elements of mathematics: Lie groups and Lie algebras . Chapters 1–3 ISBN 3-540-64242-0, Chapters 4–6 ISBN 3-540-42650-7, Chapters 7–9 ISBN 3-540-43405-4 Chevalley, Claude (1946), Theory of Lie groups, Princeton: Princeton University Press, ISBN 0-691-04990-4 . P. M. Cohn (1957) Lie Groups, Cambridge Tracts in Mathematical Physics. J. L. Coolidge (1940) A History of Geometrical Methods, pp 304–17, Oxford University Press (Dover Publications 2003). Bản mẫu:Fulton-Harris Robert Gilmore (2008) Lie groups, physics, and geometry: an introduction for physicists, engineers and chemists, Cambridge University Press ISBN 9780521884006. Hall, Brian C. (2003), Lie Groups, Lie Algebras, and Representations: An Elementary Introduction, Springer, ISBN 0-387-40122-9 . F. Reese Harvey (1990) Spinors and calibrations, Academic Press, ISBN 0-12-329650-1. Hawkins, Thomas (2000), Emergence of the theory of Lie groups, Sources and Studies in the History of Mathematics and Physical Sciences, Berlin, New York: Springer-Verlag, ISBN 978-0-387-98963-1, MR 1771134 Borel's review Helgason, Sigurdur (2001), Differential geometry, Lie groups, and symmetric spaces, Graduate Studies in Mathematics 34, Providence, R.I.: American Mathematical Society, ISBN 978-0-8218-2848-9, MR 1834454 Knapp, Anthony W. (2002), Lie Groups Beyond an Introduction, Progress in Mathematics 140 (ấn bản 2), Boston: Birkhäuser, ISBN 0-8176-4259-5 . Nijenhuis, Albert (1959). “Review: Lie groups, by P. M. Cohn”. Bulletin of the American Mathematical Society 65 (6): 338–341. doi:10.1090/s0002-9904-1959-10358-x. Rossmann, Wulf (2001), Lie Groups: An Introduction Through Linear Groups, Oxford Graduate Texts in Mathematics, Oxford University Press, ISBN 978-0-19-859683-7 . The 2003 reprint corrects several typographical mistakes. Sattinger, David H.; Weaver, O. L. (1986). Lie groups and algebras with applications to physics, geometry, and mechanics. Springer-Verlag. ISBN 3-540-96240-9. Serre, Jean-Pierre (1965), Lie Algebras and Lie Groups: 1964 Lectures given at Harvard University, Lecture notes in mathematics 1500, Springer, ISBN 3-540-55008-9 . Stillwell, John (2008). Naive Lie Theory. Springer. ISBN 0-387-98289-2. Heldermann Verlag Journal of Lie Theory Warner, Frank W. (1983), Foundations of differentiable manifolds and Lie groups, Graduate Texts in Mathematics 94, New York Berlin Heidelberg: Springer-Verlag, ISBN 978-0-387-90894-6, MR 0722297 Steeb, Willi-Hans (2007), Continuous Symmetries, Lie algebras, Differential Equations and Computer Algebra: second edition, World Scientific Publishing, ISBN 981-270-809-X . Lie Groups. Representation Theory and Symmetric Spaces Wolfgang Ziller, Vorlesung 2010
1791.txt
Năm 1791 (MDCCXCI) là một năm thường bắt đầu vào thứ bảy theo lịch Gregory (hoặc năm thường bắt đầu vào thứ tư theo lịch Julius chậm hơn 11 ngày). == Sự kiện == === Tháng 6 === Trần Quang Diệu tấn công Trấn Ninh tiêu diệt tù trưởng Thiệu Kiểu, thiệu Đế. === Tháng 8 === Trần Quang Diệu đánh bại Quy Hợp. === Tháng 10 === Trần Quang Diệu tấn công Vạn Tượng, vua Vạn Tượng Chao Nan trốn sang Xiêm. == Tham khảo ==
ngày tự do phần mềm.txt
Software Freedom Day (SFD) là một lễ kỷ niệm hàng năm trên toàn thế giới của phần mềm tự do mã nguồn mở. SFD là một nỗ lực giáo dục công cộng, không chỉ để tôn vinh các chuẩn mực của phần mềm tự do mã nguồn mở, mà còn khuyến khích việc sử dụng nó vì lợi ích chung. Software Freedom Day được thành lập năm 2004 và lần đầu tiên được tổ chức ngày 28 tháng 8/2004 với 70 tổ chức tham gia. Kể từ thời gian đó nó đã phát triển phổ biến với hơn 300 đội đến từ hơn 60 quốc gia trong ngày lễ lần 2, tổ chức vào ngày 10 tháng 9 năm 2005. Trong năm 2008, hơn 500 đội của hơn 90 quốc gia trên toàn thế giới tổ chức kỷ niệm SFD. Nhà tài trợ chính cho 2005-2006 là Canonical Ltd, công ty phát triển dự án Ubuntu, một bản phân phối Linux. Từ năm 2006 trở đi, nó đã được quyết định sẽ được tổ chức vào ngày thứ bảy thứ ba của mỗi tháng chín: 15 tháng 9 năm 2007, 20 tháng 9 năm 2008, ngày 19 tháng 9 năm 2009, v.v... Do đó, đôi khi trùng với ngày Tọa đàm Quốc tế Talk Like a Pirate Day. == Software Freedom Quốc tế == "Software Freedom Quốc tế" là một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động như tổ chức chính thức của sự kiện, và cho phép tổ chức quyên góp và giao kết hợp đồng tài trợ và đặt hàng và vận chuyển vật liệu qua tài khoản chính thức. Họ đã thông báo kế hoạch xin miễn thuế, để các đóng góp được khấu trừ. Để phân biệt nó với các sự kiện riêng của mình, các tổ chức đỡ đầu đã gọi nó là "Phần mềm Tự do Quốc tế (SFI). Quyết định chính liên quan đến SFD được thực hiện do Ban giám đốc SFI: Pia Waugh (Chủ tịch) - Linux Australia Henrik Nilsen Omma - dự án TheOpenCD Matt Oquist (Treasurer), tốt nghiệp ĐH Tufts University, nhân viên Exeter, NH School DistrictPhil Harper - dự án TheOpenCD Benjamin Mako Hill, tổ chức Free Software Foundation Sidsel Jensen, DKUUG Frederick Noronha, Goa SFD Team Joe Olutuase, of Knowledge House Africa == Tham khảo ==
họ cá nheo.txt
Họ Cá nheo (danh pháp khoa học: Siluridae) là một họ cá da trơn trong bộ Siluriformes. Họ Cá nheo thực thụ này chứa 12 chi và khoảng 100 loài cá sinh sống trong môi trường nước ngọt ở khu vực miền đông châu Âu và gần như toàn bộ châu Á, ngoại trừ khu vực Siberi và bán đảo Ả Rập. Cá nheo có lớp da trơn, không có vảy. Đầu của chúng hơi bẹp, miệng rộng và có hai râu dài ở hàm trên, bốn râu ngắn ở hàm dưới. Vây lưng nhỏ còn vây hậu môn thì dài. Phụ thuộc vào từng chi, chúng có thể dài từ 8 cm đến 3 mét. Một số loài đáng chú ý như cá nheo châu Âu (Silurus glanis), cá nheo Aristotle (Silurus aristotelis) ở Hy Lạp, cá nheo sông Amur hiện đã sinh sống trong các con sông ở châu Âu (Silurus asotus) và cá nheo Ấn Độ (Kryptopterus bicirrhis)- một loại cá cảnh khá phổ biến. == Các chi == Belodontichthys Ceratoglanis Hemisilurus Hito Kryptopterus Micronema Ompok Parasilurus Pterocryptis Silurichthys Silurus Wallago == Hình ảnh == == Tham khảo ==
ß.txt
ß (Unicode U+00DF), là ký tự thứ 22 trong bảng chữ cái tiếng Đức. Nó được đọc là Eszett (IPA: [ʔɛsˈt͡sɛt], lexicalized expression for sz) hoặc scharfes S (IPA: [ˈʃaʁfəs ˈʔɛs, ˈʃaːɐ̯fəs ˈʔɛs], S mạnh) trong tiếng Đức. ß thường bị nhầm với β (beta), В (ký tự kirin) và B (ký tự latin). Tuy nhiên ß không bao giờ đứng đầu câu, còn 3 chữ kia đều có thể đứng đầu câu. Ký tự ß còn được dùng trong tiếng Sumer, với nghĩa là sh. Nó còn được dùng để Đức hóa chữ š trong tiếng Litva. == Cách dùng == - ß sử dụng sau âm đôi, ví dụ beißen (cắn) - ß sử dụng sau nguyên âm dài, ví dụ dreißig (ba mươi) - Trong cái nguyên âm ngắn, sử dụng ss, ví dụ küssen (hôn) - ß viết hoa là ẞ nhưng ß không bao giờ đứng đầu câu. Nếu đứng đầu thì được viết là Ss hoặc Sz. Hiện nay một số khu vực không còn dùng ß mà thay bằng sz hoặc ss như ở Thụy Sĩ. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == James Mosley: Eszett or ß 31 tháng 1 năm 2008, typefoundry.blogspot.com Mark Jamra: The Eszett
1740.txt
Năm 1740 (số La Mã: MDCCXL) là một năm nhuận bắt đầu từ ngày thứ Sáu trong lịch Gregory (hoặc một năm nhuận bắt đầu từ ngày thứ ba của lịch Julius chậm hơn 11 ngày). == Sự kiện == === Tháng 1 === Lê Duy Mật xuất quân đánh Phúc Lộc và Tiên Phong == Sinh == 4 tháng 2 - Carl Michael Bellman, nhà thơ, nhà soạn nhạc Thụy Điển (mất 1795) 16 tháng 2 - Giambattista Bodoni, nhà xuất bản và khắc Ý (mất 1813) Tháng 2 - Johann van Beethoven, nhạc sĩ người Đức và người cha của Ludwig van Beethoven (mất 1792) 7 tháng 5 - Nikolai Arkharov, cảnh sát trưởng Nga (mất 1814) 2 tháng 6 - Marquis de Sade, người Pháp (mất 1814) 6 Tháng 6 - Victor Di Lạc, quý tộc Pháp (mất 1796) 14 tháng 8 - Đức Giáo hoàng Pius VII (mất 1823) 23 tháng tám - Hoàng đế Ivan VI của Nga (mất 1764) 29 Tháng 9 - hoàng Go-Sakuramachi của Nhật Bản (mất 1813) 29 tháng 10 - James Boswell, người Scotland (mất 1795) Ngày chưa biết' Juan Andrés, dòng Tên Tây Ban Nha (mất 1817) Johann Jacob Schweppe, nhà phát minh và sáng lập Công ty Schweppes (mất 1821) == Mất == == Tham khảo ==
thượng viện hoa kỳ.txt
Thượng viện Hoa Kỳ (tiếng Anh: United States Senate) là một trong hai viện của Quốc hội Hoa Kỳ, viện kia là Hạ viện Hoa Kỳ. Thành phần và quyền lực của Thượng viện và Hạ viện Hoa Kỳ được thiết lập trong Điều I Hiến pháp Hoa Kỳ. Mỗi tiểu bang Hoa Kỳ được đại diện với hai thượng nghị sĩ bất kể dân số nhiều ít. Điều này nhằm bảo đảm sự đại diện đồng đều cho mỗi tiểu bang trong Thượng viện. Các thượng nghị sĩ Hoa Kỳ phục vụ nhiệm kỳ 6 năm. Thượng viện Hoa Kỳ họp ở cánh bắc của Tòa Quốc hội Hoa Kỳ tại Washington, D.C., thủ đô quốc gia. Hạ viện Hoa Kỳ họp ở cánh nam của cùng tòa nhà. Thượng viện Hoa Kỳ có một số quyền lực đặc biệt mà Hạ viện không có trong đó gồm có việc tán thành các hiệp ước như là điều kiện tiên khởi trước khi chúng được phê chuẩn, việc tán thành hoặc phê chuẩn về việc bổ nhiệm các bộ trưởng nội các, thẩm phán liên bang, và các giới chức hành chánh liên bang khác, các giới chức quân sự và những giới chức đồng phục liên bang khác. Thượng viện là một bộ phận thiên về hội thảo hơn so với Hạ viện vì Thượng viện nhỏ hơn và thành viên của Thượng viện phục vụ nhiệm kỳ lâu hơn nên bầu không khí tại Thượng viện ít đảng phái hơn và hợp tác hơn Hạ viện. Thượng nghị sĩ có thế lực hơn Hạ nghị sĩ vì nhiệm kỳ lâu hơn, thành viên ít hơn và đại diện cho cộng đồng to lớn hơn. == Lịch sử == Hiến pháp Hoa Kỳ tạo ra một quốc hội lưỡng viện với ý muốn có hai viện lập pháp để trông coi lẫn nhau. Một viện lập pháp được lập nên có chủ đích là một "viện của nhân dân" phản ánh các ý kiến của công chúng. Viện lập pháp kia có chủ đích đại diện các tiểu bang. Viện lập pháp này là một diễn đàn thông thái ưu tú có tính cách bàn luận hơn, mà nơi đó các thượng nghị sĩ với nhiệm kỳ sáu năm sẽ không bị chi phối bởi ý kiến của công chúng. Hiến pháp có nói rằng việc chấp thuận của cả hai viện lập pháp là cần thiết để phê chuẩn luật. Thượng viện Hoa Kỳ được thành lập theo mẫu Thượng viện La Mã cổ đại. Thuật từ Thượng viện trong tiếng Anh là "Senate" được lấy từ thuật từ "senatus" trong tiếng Latin có nghĩa là hội đồng trưởng lão (từ senex có nghĩa người già trong tiếng Latin). Hiến pháp Hoa Kỳ quy định rằng không có một tu chính án hiến pháp nào có thể được tạo ra để từ chối một tiểu bang về quyền đầu phiếu công bằng tại Thượng viện mà không có sự đồng ý của tiểu bang đó. Đặc khu Columbia và các vùng lãnh thổ không được bao gồm trong quy định có đại diện trong Thượng viện. Với 50 tiểu bang trong liên bang kể từ năm 1959, Thượng viện Hoa Kỳ hiện tại có 100 ghế. Tuy nhiên, vào lúc khởi đầu phiên họp đầu tiên của Quốc hội Hoa Kỳ lần thứ 111, chỉ có 98 ghế có chủ vì xảy ra vụ tham nhũng của Rod Blagojevich tại Illinois (nghi ngờ bán ghế thượng nghị sĩ của Barack Obama khi Obama đắc cử tổng thống) và vụ tranh chấp bầu cử tại Minnesota. == Thành viên == === Tiêu chuẩn === Điều I, Phần III, Hiến pháp Hoa Kỳ tạo ra ba tiêu chuẩn dành cho các thượng nghị sĩ: Mỗi thượng nghị sĩ phải ít nhất là 30 tuổi Phải là công dân Hoa Kỳ ít nhất trong 9 năm qua Phải là (vào thời gian bầu cử) một cư dân của tiểu bang mà họ ra tranh cử. Tuổi và tư cách công dân bắt buộc đối với thượng nghị sĩ thì nghiêm khắc hơn đối với dân biểu. Thượng viện (không phải ngành tư pháp) là thẩm phán duy nhất xem xét tiêu chuẩn của một thượng nghị sĩ. Tuy nhiên vào những năm đầu tiên trong lịch sử, Thượng viện gần như đã không thực hiện nhiệm vụ xem xét về tiêu chuẩn thành viên của mình. Kết quả là có ba thượng nghị sĩ, theo hiến pháp quy định là không đủ tiêu chuẩn vì tuổi tác, vẫn được nhậm chức tại Thượng viện: Henry Clay (29 tuổi vào năm 1806), Armistead Thomson Mason (28 tuổi vào năm 1816) và John Eaton (28 tuổi vào năm 1818). Tuy nhiên những trường hợp như vậy đã không xảy ra kể từ đó trở đi. Năm 1934, Rush D. Holt, Sr. được bầu vào Thượng viện lúc 29 tuổi; ông phải đợi đến khi được 30 tuổi để tuyên thệ nhậm chức. Tương tự như vậy, Joe Biden được bầu vào Thượng viện ngay trước sinh nhật 30 tuổi vào năm 1972; ông qua sinh nhật 30 tuổi vào thời gian Thượng viện làm lễ tuyên thệ cho các ứng viên trúng cử vào tháng 1 năm 1973. Tu chính án 14 Hiến pháp Hoa Kỳ loại bỏ khỏi Thượng viện bất cứ viên chức nào đã từng tuyên thệ ủng hộ Hiến pháp Hoa Kỳ nhưng sau đó tham dự vào các hành động phản loạn hay giúp đỡ kẻ thù của Hoa Kỳ. Tu chính án này, trở thành có hiệu lực chẳng bao lâu sau khi kết thúc Nội chiến Hoa Kỳ, có ý định ngăn cản không cho những ai từng sát cánh bên Liên hiệp các tiểu bang miền nam Hoa Kỳ phục vụ trong chính phủ. Tuy nhiên, Tu chính án này cho phép một người bị loại có thể phục vụ nếu như họ giành được sự ủng hộ của 2/3 thành viên Quốc hội Hoa Kỳ ở cả hai viện. === Bầu cử và nhiệm kỳ === Ban đầu, các thượng nghị sĩ được bầu lên bởi các nghị viện tiểu bang, không phải bởi các cuộc bầu cử phổ thông. Vào những năm đầu của thế kỷ 20, có đến 29 tiểu bang đã tổ chức bầu các thượng nghị sĩ của họ bằng phương pháp trưng cầu dân ý mà được lập pháp tiểu bang phê chuẩn. Bầu cử phổ thông để chọn thượng nghị sĩ được tiêu chuẩn hóa toàn quốc vào năm 1913 bằng việc phê chuẩn Tu chính án 17 Hiến pháp Hoa Kỳ. Mỗi thượng nghị sĩ phục vụ nhiệm kỳ sáu năm; các nhiệm kỳ được phân chia sao cho khoảng 1/3 số ghế sẽ bị trống để được đưa ra cho bầu cử cứ hai năm một lần. Bầu cử vào Thượng viện được tổ chức vào ngày thứ ba đầu tiên sau thứ hai đầu tiên trong tháng 11 của năm chẳng, được gọi là Ngày Bầu cử, và xảy ra cùng lúc với các cuộc bầu cử Hạ viện Hoa Kỳ. Mỗi thượng nghị sĩ được bầu bởi toàn thể người dân trong tiểu bang của người họ. Thông thường, một cuộc bầu cử sơ bộ được tổ chức cho các đảng Cộng hòa và Dân chủ trước tiên, theo sau là tổng tuyển cử vài tháng sau đó. Luật lệ bầu cử dành cho các ứng cử viên độc lập và các đảng thiểu số thì khác nhau theo từng tiểu bang. Người đắc cử là ứng cử viên nhận được đa số phiếu phổ thông. Tại một số tiểu bang, bầu cử lần hai được tổ chức nếu như không có ứng cử viên nào giành được đa số phiếu. Một khi trúng cử, một thượng nghị sĩ tiếp tục phụ phục vụ cho đến khi nhiệm kỳ của mình kết thúc, mất, từ chức hay bị trục xuất khỏi Thượng viện. Một thành viên trúng cử nhưng đang chờ đợi để nhậm chức thì được gọi là "thượng nghị sĩ tân cử" (senator-elect); một thành viên được bổ nhiệm (không phải được bầu) vào một ghế Thượng viện nhưng chưa nhậm chức thì được gọi là "thượng nghị sĩ mới bổ nhiệm" (senator-designate) === Tuyên thệ === Hiến pháp Hoa Kỳ đòi hỏi rằng các thượng nghị sĩ phải tuyên thệ ủng hộ Hiến pháp Hoa Kỳ. Quốc hội đã chọn ra lời tuyên thệ như sau cho các tân thượng nghị sĩ: Tạm dịch: Tôi trịnh trọng tuyên thệ (hoặc xác nhận) rằng tôi sẽ ủng hộ và bảo vệ Hiến pháp Hoa Kỳ chống lại tất cả mọi kẻ thù, bên ngoài và bên trong nước; rằng tôi sẽ tin tưởng và trung thành với Hiến pháp Hoa Kỳ, rằng tôi nhận bổn phận này một cách tự nguyện mà không có bất cứ biểu lộ ngầm nào về việc hạn chế tán thành hoặc có mục đích trốn tránh; và rằng tôi sẽ hoàn thành tốt và trung thành với các trách vụ văn phòng mà tôi sắp vào làm việc. Vì vậy xin Thượng đế giúp tôi. == Đảng đa số và đảng thiểu số == "Đảng đa số" là đảng chính trị hoặc là chiếm đa số ghế hoặc có thể thành lập một liên minh để có đa số ghế; nếu hai hoặc nhiều đảng bằng nhau về số ghế thì Phó Tổng thống sẽ quyết định đảng nào sẽ là đảng đa số. Đảng lớn nhất đứng kế tiếp được gọi là đảng thiểu số. Chủ tịch Thượng viện tạm quyền (president pro tempore), các chủ tịch ủy ban, và một số viên chức khác thường là từ đảng đa số; họ có đồng nhiệm (thí dụ, "các thành viên có chức quyền" trong các ủy ban) trong đảng thiểu số. Các thượng nghị sĩ độc lập và thành viên đảng thứ ba thì không được xét để quyết định đảng nào sẽ là đảng đa số. == Chức năng của Thượng viện Hoa Kỳ == === Chức năng lập pháp === Các dự luật có thể được giới thiệu cả tại Thượng hay Hạ viện. Tuy nhiên, Hiến pháp Hoa Kỳ nói rằng "Tất cả các dự luật nhằm tăng tiền thuế thu nhập phải bắt đầu từ Hạ viện." Kết quả là Thượng viện không có quyền đưa ra sáng kiến về các dự luật ấn định mức thuế. Hơn nữa, Hạ viện cũng muốn bảo đảm rằng Thượng viện không có quyền khởi sự các dự luật về chi tiêu của chính phủ hay các dự luật cho phép chi tiêu ngân quỹ liên bang. Trong lịch sử, Thượng viện đã từng tranh chấp sự dẫn giải mà Hạ viện chủ trương. Tuy nhiên, bất cứ khi nào Thượng viện khởi sự một dự luật về chi tiêu thì Hạ viện từ chối xem xét nó ngay, qua đó giải quyết được sự tranh chấp trong thực tế. Luật định của Hiến pháp ngăn cản Thượng viện giới thiệu các dự luật thu thuế là dựa theo Quốc hội Vương quốc Anh, theo đó Hạ viện Vương quốc Anh mới có thể khởi sự những dự luật như vậy. Mặc dù Hiến pháp cho Hạ viện quyền khởi sự các dự luật thu thuế nhưng trong thực tế Thượng viện ngang bằng Hạ viện trong các mối quan tâm về thuế và chi tiêu. Như Woodrow Wilson có viết: Việc chấp thuận của cả Hạ viện và Thượng viện là bắt buộc đối với bất cứ dự luật nào, bao gồm dự luật về thu thuế, để chúng trở thành luật. Cả hai viện phải thông qua cùng phiên bản giống như của dự luật; nếu có khác biệt, chúng có thể được giải quyết bởi một ủy ban hội nghị mà trong đó có cả thành viên của hai viện. Tổng thống có thể phủ quyết bất cứ dự luật nào mà cả Hạ viện và Thượng viện thông qua; nếu Tổng thống làm vậy thì dự luật không thể thành luật cho đến khi cả hai viện xem xét lại và với 2/3 đa số phiếu tại mỗi viện để giúp thông qua dự luật đó bất chấp sự phản đối của Tổng thống. === Kiểm tra và cân bằng quyền lực === Hiến pháp cho Thượng viện một số chức năng có một không hai là khả năng "kiểm tra và cân bằng" quyền lực của các thành phần khác trong chính phủ liên bang. Khả năng này gồm có quy định bắt buộc rằng Thượng viện có quyền tư vấn và Thượng viện phải ưng thuận đối với một số bổ nhiệm viên chức chính phủ của Tổng thống Hoa Kỳ; cũng như Thượng viện phải phê chuẩn tất cả các hiệp ước với các chính quyền ngoại quốc; xét xử tất cả các vụ luận tội, và bầu Phó Tổng thống Hoa Kỳ trong trường hợp không có ai nhận đa số phiếu đại cử tri. Tổng thống có thể thực hiện một số bổ nhiệm mà chỉ cần có sự tư vấn và ưng thuận của Thượng viện. Các viên chức được bổ nhiệm cần phải có sự chấp thuận của Thượng viện gồm có thành viên nội các, lãnh đạo của đa số các cục hành pháp liên bang, đại sứ, thẩm pháp Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ, và các thẩm phán liên bang khác. Theo Điều II, Phần 2 Hiến pháp Hoa Kỳ, một số lớn các vụ bổ nhiệm của chính phủ đều lệ thuộc vào sự phê chuẩn tiềm tàng; tuy nhiên, Quốc hội Hoa Kỳ đã thông qua luật cho phép bổ nhiệm nhiều viên chức mà không cần phải có sự ưng thuận của Thượng viện (thường thường, các quy định đòi hỏi sự phê chuẩn chỉ dành cho các viên chức có thẩm quyền ra quyết định tối hậu quan trọng). Thông thường, một ứng viên trước tiên được giới thiệu trước một ủy ban Thượng viện trong một cuộc điều trần. Sau đó, ứng viên này sẽ được xem xét bởi cả Thượng viện. Đa số ứng viên được phê chuẩn, ngoài một số nhỏ trường hợp hàng năm các Ủy ban Thượng viện cố tình không xem xét để ngăn cản sự bổ nhiệm. Cũng đôi khi Tổng thống Hoa Kỳ tự rút lại các ứng viên khi họ trông có vẽ khó được phê chuẩn. Vì lý do này, việc bác bỏ thẳng thừng các ứng viên tại Thượng viện rất hiếm khi thấy (có chỉ 9 ứng viên nội các bị bác bỏ thẳng thừng trong lịch sử Hoa Kỳ). Tuy nhiên quyền lực của Thượng viện đối với các ứng viên cũng bị một số hạn chế. Thí dụ, Hiến pháp cho phép Tổng thống Hoa Kỳ có thể bổ nhiệm viên chức mà không cần phải có sự tư vấn hay ưng thuận của Thượng viện trong lúc Quốc hội Hoa Kỳ không nhóm họp. Việc bổ nhiệm lúc Quốc hội không nhóm họp chỉ có giá trị tạm thời; văn phòng này lại bị bỏ trống vào cuối kỳ họp tới của Quốc hội. Tuy vậy, các Tổng thống Hoa Kỳ vẫn thường hay dùng cách bổ nhiệm này để đối phó với việc Thượng viện có thể bác bỏ ứng viên. Hơn nữa, như vụ Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ xử vụ Myers đối đầu với Hoa Kỳ, mặc dù việc tư vấn và ưng thuận của Thượng viên là bắt buộc đối với việc bổ nhiệm một số viên chức ngành hành pháp nhưng tước chức vụ của họ là không cần thiết. Thượng viện cũng có một vai trò trong tiến trình phê chuẩn của hiệp ước. Hiến pháp có nói rằng Thổng thống Hoa Kỳ có thể chỉ phê chuẩn một hiệp ước nếu 2/3 số thượng nghị sĩ biểu quyết tán thành. Tuy nhiên, không phải tất cả các thỏa thuận quốc tế được xem là hiệp ước, và vì vậy không cẩn đến sự chấp thuận của Thượng viện. Quốc hội đã thông qua luật cho phép Tổng thống quyền quyết định các thỏa ước hành chính mà không cần hành động của Thượng viện. Tương tự, Tổng thống có thể thực hiện những thỏa thuận liên quan đến chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ nếu được chấp thuận với một đa số đơn giản tại mỗi viện của Quốc hội, hơn là phải cần đến 2/3 đa số phiếu tại Thượng viện. Cả những thỏa thuận hành chính và thỏa thuận liên quan đến chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ đều không được nhắc đến trong Hiến pháp Hoa Kỳ, dẫn đến việc người ta nghi ngờ rằng chúng bất hợp hiến làm hỏng tiến trình phê chuẩn hiệp ước. Tuy nhiên, giá trị của các thỏa thuận như vậy đã đứng vững tại các tòa án. Hiến pháp cho quyền Hạ viện Hoa Kỳ luận tội các viên chức liên bang vì lý do "phản quốc, hối lộ, hoặc các tội đại hình và tội phi pháp khác" và cho phép Thượng viện quyền xử những vụ luận tội như thế. Nếu Tổng thống Hoa Kỳ hiện thời bị xét xử, Thẩm phán trưởng Hoa Kỳ chủ tọa phiên xử. Trong bất cứ vụ xử luận tội nào, các thượng nghị sĩ được hiến pháp yêu cầu đến chứng kiến lời thề hoặc xác nhận lời khai. Để kết án trong một vụ luận tội cần phải có 2/3 đa số các thượng nghị sĩ có mặt. Viên chức bị kết án sẽ tự động bị sa thải khỏi chức vụ đang giữ; ngoài ra, Thượng viện có thể quy định rằng bị cáo đó sẽ bị cấm giữ chức vụ trong tương lại. Không có hình phạt nào khác nữa được phép đưa ra trong suốt thời gian tiến hành luận tội; tuy nhiên, bị cáo có thể đối diện với các hình phạt khác tại một tòa án luật pháp bình thường. Trong lịch sử Hoa Kỳ, Hạ viện đã luận tội 16 viên chức trong đó 6 viên chức bị kết tội (một từ chức trước khi Thượng viện có thể tiến hành xử tội.) Chỉ có hai Tổng thống Hoa Kỳ từng bị luận tội: Andrew Johnson năm 1868 và Bill Clinton năm 1998. Cả hai vụ xử kết thúc bằng việc tha bổng; trong trường hợp của Tổng thống Johnson, Thượng viện thiếu một phiếu để được 2/3 đa số để kết tội. Theo Tu chính án 12 Hiến pháp Hoa Kỳ, Thượng viện có quyền bầu Phó Tổng thống Hoa Kỳ nếu như không có ứng cử viên Phó Tổng thống nào nhận được đa số phiếu đại cử tri. Tu chính án 12 đòi hỏi Thượng viện chọn lựa từ hai ứng cử viên có số phiếu đại cử tri cao nhất. Sự bế tắc không thể quyết định được đối với đại cử tri đoàn thì rất hiếm; trong lịch sử Hoa Kỳ, Thượng viện phải giải quyết sự bế tắc như thế chỉ có một lần vào năm 1837 khi Thượng viện bầu cho Richard Mentor Johnson. Quyền bầu Tổng thống Hoa Kỳ trong trường hợp bế tắc của đại cử tri đoàn thuộc trách nhiệm của Hạ viện. == Thành phần Thượng viện hiện tại == Thành phần đảng phái hiện tại trong Thượng viện Hoa Kỳ sau ngày 3 tháng 1 năm 2011: == Tham khảo == == Thư mục == === Lịch sử chính thức của Thượng viện Hoa Kỳ === Những xuất bản dưới đây do Văn phòng Lịch sử Thượng viện Hoa Kỳ phát hành. Biographical Directory of the United States Congress, 1774–1989 Robert C. Byrd. The Senate, 1789–1989. Four volumes. Vol. I, a chronological series of addresses on the history of the Senate Vol. II, a topical series of addresses on various aspects of the Senate's operation and powers Vol. III, Classic Speeches, 1830–1993 Vol. IV, Historical Statistics, 1789–1992 Bob Dole|Dole, Bob. Historical Almanac of the United States Senate Mark Hatfield|Hatfield, Mark O., with the Senate Historical Office. Vice Presidents of the United States, 1789–1993 (essays reprinted online) Frumin, Alan S. Riddick's Senate Procedure. Washington, D.C.: Government Printing Office, 1992. === Linh tinh === Barone, Michael, and Grant Ujifusa, The Almanac of American Politics 1976: The Senators, the Representatives and the Governors: Their Records and Election Results, Their States and Districts (1975); new edition every 2 years Davidson, Roger H., and Walter J. Oleszek, eds. (1998). Congress and Its Members, 6th ed. Washington DC: Congressional Quarterly. (Legislative procedure, informal practices, and member information) Congressional Quarterly Congress and the Nation: 2001–2004: A Review of Government and Politics: 107th and 108th Congresses (2005); massive, highly detailed summary of Congressional activity, as well as major executive and judicial decisions; based on Congressional Quarterly Weekly Report and the annual CQ almanac. Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1997–2001 (2002) Congressional Quarterly. Congress and the Nation: 1993–1996 (1998) Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1989–1992 (1993) Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1985–1988 (1989) Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1981–1984 (1985) Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1977–1980 (1981) Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1973–1976 (1977) Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1969–1972 (1973) Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1965–1968 (1969) Congressional Quarterly, Congress and the Nation: 1945–1964 (1965), the first of the series Baker, Richard A. The Senate of the United States: A Bicentennial History Krieger, 1988. Baker, Richard A., ed., First Among Equals: Outstanding Senate Leaders of the Twentieth Century Congressional Quarterly, 1991. David W. Brady and Mathew D. McCubbins. Party, Process, and Political Change in Congress: New Perspectives on the History of Congress (2002) Caro, Robert A. The Years of Lyndon Johnson. Vol. 3: Master of the Senate. Knopf, 2002. Comiskey, Michael. Seeking Justices: The Judging of Supreme Court Nominees U. Press of Kansas, 2004. Cooper, John Milton, Jr. Breaking the Heart of the World: Woodrow Wilson and the Fight for the League of Nations. Cambridge U. Press, 2001. Gould, Lewis L. The Most Exclusive Club: A History Of The Modern United States Senate (2005) Hernon, Joseph Martin. Profiles in Character: Hubris and Heroism in the U.S. Senate, 1789–1990 Sharpe, 1997. Hoebeke, C. H. The Road to Mass Democracy: Original Intent and the Seventeenth Amendment. Transaction Books, 1995.(popular elections of Senators) Lee, Frances E. and Oppenheimer, Bruce I. Sizing Up the Senate: The Unequal Consequences of Equal Representation. U. of Chicago Press 1999. 304 pp. McFarland, Ernest W. The Ernest W. McFarland Papers: The United States Senate Years, 1940–1952. Prescott, Ariz.: Sharlot Hall Museum, 1995 (Democratic majority leader 1950–52) Malsberger, John W. From Obstruction to Moderation: The Transformation of Senate Conservatism, 1938–1952. Susquehanna U. Press 2000 Mann, Robert. The Walls of Jericho: Lyndon Johnson, Hubert Humphrey, Richard Russell and the Struggle for Civil Rights. Harcourt Brace, 1996 Ritchie, Donald A. Press Gallery: Congress and the Washington Correspondents. Harvard University Press, 1991. Ritchie, Donald A. The Congress of the United States: A Student Companion Oxford University Press, 2001 (2nd edition). Ritchie, Donald A. Reporting from Washington: The History of the Washington Press Corps Oxford University Press, 2005. Rothman, David. Politics and Power the United States Senate 1869–1901 (1966) Swift, Elaine K. The Making of an American Senate: Reconstitutive Change in Congress, 1787–1841. U. of Michigan Press, 1996 Valeo, Frank. Mike Mansfield, Majority Leader: A Different Kind of Senate, 1961–1976 Sharpe, 1999 (Senate Democratic leader) VanBeek, Stephen D. Post-Passage Politics: Bicameral Resolution in Congress. U. of Pittsburgh Press 1995 Weller, Cecil Edward, Jr. Joe T. Robinson: Always a Loyal Democrat. U. of Arkansas Press, 1998. (Arkansas Democrat who was Majority leader in 1930s) Wilson, Woodrow. Congressional Government. New York: Houghton Mifflin, 1885; also 15th ed. 1900, repr. by photoreprint, Transaction books, 2002. Wirls, Daniel and Wirls, Stephen. The Invention of the United States Senate Johns Hopkins U. Press, 2004. (Early history) Zelizer, Julian E. On Capitol Hill: The Struggle to Reform Congress and its Consequences, 1948–2000 (2006) Zelizer, Julian E., ed. The American Congress: The Building of Democracy (2004) (overview) == Liên kết ngoài == The United States Senate Official Website. Congressional Research Service (CRS) Reports regarding the Senate Biographical Directory of the United States Congress, 1774 to Present. Standing Rules of the Senate Chart of all U.S. Senate seat-holders, by state, 1978-nay A New Nation Votes: American Election Returns 1787–1825 Complete Downloadable List of U.S. Senator Contact Information Senate Chamber Map
yandex.txt
Yandex (tiếng Nga: Яндекс) là công ty web của Nga với hơn 60% người dùng web nước Nga sử dụng nó. Yandex là công ty tìm kiếm lớn thứ 4 trên thế giới (theo Comscore) với hơn 150 triệu lượt tìm kiếm mỗi ngày và khoảng 50 triệu người dùng thường xuyên. Phương châm của công ty là người dùng có thể tìm kiếm tất cả câu trả lời mà mọi người muốn hỏi. Yandex cũng có thị phần lớn ở Ukraina và Kazakhstan cùng với 43% thị phần ở Belarus. Yandex được thành lập bởi Arkady Volozh, Arkady Borkovsky và Ilya Segalovich. Yandex.ru được đánh giá là trang web có nhiều lượt xem nhất. Nó được tập trung phát triển ở bốn nước ngoài Nga: Ukraine, Belarus, Kazakhstan và Thổ Nhĩ Kỳ. Một công ty khác là Yandex Lab có trụ sở ở San Francisco. Yandex cùng với Naver của Hàn Quốc, Baidu của Trung Quốc, seznam.cz của Séc là những trang tìm kiếm địa phương được sử dụng nhiều nhất. Một số trình duyệt web hiện nay cài mặc định Yandex là trang tìm kiếm mặc định của phiên bản tiếng Nga. Hãng có thông báo không thấy trang (error 404) tương đối đẹp. Các sản phẩm khác của công ty là trình duyệt web (Yandex Browser, tương tự như Google Chrome) Yandex Direct (tạm dịch: Yandex trực tiếp), lưu trữ thông tin đám mây (Yandex Disk) và Yandex Blog cùng với các chức năng tương tự với Google (tìm kiếm, mail, bản đồ,... ngoài ra hãng còn có các cửa hàng mua bán trực tiếp giống như Amazon.com). == Tham khảo ==
anh em nhà wright.txt
Anh em nhà Wright là hai anh em người Mỹ gồm Orville Wright (19 tháng 8 năm 1871 - 30 tháng 1 năm 1948) và Wilbur Wright (16 tháng 4 năm 1867 - 30 tháng 5 năm 1912), là những người đầu tiên thử nghiệm thành công cho máy bay bay được. Chuyến bay đấu tiên trong lịch sử nhân loại được thực hiện vào ngày 17 tháng 12 năm 1903 tại đồi Kill Devil, Kitty Hawk, bang Bắc Carolina, Mỹ. Mỗi anh em thực hiện hai chuyến bay vào ngày hôm đó. Lần bay đầu tiên, do Orville thực hiện kéo dài 12 giây và bay được khoảng 36.5 mét(120 ft). Lần bay cuối cùng, do Wilbur thực hiện kéo dài 59 giây và đi được 296 mét. Chiếc máy bay lúc đó được gọi là Flyer I. Nó có sải cánh khoảng 12 mét và nặng khoảng hơn 300 kg, với động cơ xăng 12 mã lực. Hiện nay nó đang được đặt tại Viện bảo tàng Hàng không và Không gian Quốc gia Hoa Kỳ tại Washington, D. C.. Tuy chiếc máy bay chưa thể tự cất cánh mà phải nhờ một thiết bị phóng bằng vật nặng cho thả rơi và khi cất cánh, hạ cánh phải lựa theo chiều gió, nhưng sự kiện này đã gây ra được tiếng vang dư luận rất lớn. Thiên tài của hai anh em nhà Wright đã biến giấc mơ từ ngàn xưa của loài người thành sự thật. Hai anh em nhà Wright đã thành lập một hãng máy bay. Nhưng sau đó do bị cạnh tranh khốc liệt với các nhà kinh doanh máy bay khác, cộng thêm Wilbur bị mắc bệnh và qua đời nên Orville đã bán hãng sản xuất máy bay Wright với giá ít ỏi. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Wright brothers tại Wikimedia Commons (tiếng Anh) Kitty Hawk - Kill Devil Hills Wright Brothers Photographs 1900-1911 - Library of Congress (tiếng Anh) Plane truth: list of greatest technical breakthroughs in manned flight (tiếng Anh) Wilbur Wright Birthplace Museum (tiếng Anh) Wright Brothers Aeroplane Company (tiếng Anh) Some Aeronautical Experiments by Wilbur Wright, to Western Society of Engineers Sept. 18, 1901 (tiếng Anh) Wright Aeronautical Engineering Collection (tiếng Anh) FirstFlight - flight simulation, videos and experiments (tiếng Anh) Analysis of Wright Brothers' work (tiếng Anh) AeroSpace Show - RTP-TV 2003 Video Tour of Wright Brothers Monument at Kill Devil Hills (tiếng Anh) PBS Nova: The Wright Brothers' Flying Machines (tiếng Anh) National Park Service, Wright Brothers' Memorial (tiếng Anh) Smithsonian Stories of the Wright flights (tiếng Anh) Scientific American Magazine (tháng 12 năm 2003 Issue) The Equivocal Success of the Wright Brothers
cách mạng vinh quang.txt
Cuộc Cách mạng Vinh Quang, cũng gọi là Cách mạng năm 1688, là sự kiện vua James II của Anh (VII của Scotland và II của Ireland) bị lật đổ vào năm 1688 bởi liên minh giữa các thành viên Quốc hội và đội quân viễn chinh do quan Tổng đốc Hà Lan là William III của Orange-Nassau (William của Orange), với kết cả là William lên ngôi báu nước Anh (tức vua William III của Anh) đồng trị vì với vợ là Nữ hoàng Mary II của Anh. Cuộc khủng hoảng vây quang Quốc vương James II đã lên tới đỉnh điểm vào năm 1688, khi Hoàng hậu sinh hạ một hoàng tử là James Francis Edward Stuart vào ngày 10 tháng 6 (theo lịch Julian). Cho đến lúc đó, ngai vàng có khả năng được trao cha con gái của ông là Mary - một tín đồ Kháng Cách, vợ của William xứ Orange. Với việc hoàng tử James Francis Edward Stuart ra đời thì càng có khả năng một Vương triều Giáo hội Công giáo Rôma lên ngôi ở các Vương quốc Anh, Ireland, và Scotland. Vốn đã phẫn nộ vì nhà vua sùng Công giáo và thân Pháp, những lãnh đạo chủ chốt của phái Tory liên minh với các thành viên của phái Wig và mời William xứ Orange đến Anh, để giải quyết cuộc khủng hoảng. Từ "Cách mạng Vinh Quang" (Glorious Revolution) được John Hampden sử dụng lần đầu tiên vào cuối năma 1689, và cho đến nay, từ này vẫn được sử dụng bởi Quốc hội Anh. Có khi cuộc Cách mạng Vinh Quang cũng được gọi là Cách mạng không đổ máu, dù bảo vậy là sai. Tại Anh Quốc, có hai cuộc chạm trán lớn giữa hai đội quan, và những cuộc nổi dậy chống Công giáo ở vài thị trấn. Cũng có cuộc Chiến tranh Williamite tại Ireland và cuộc giao chiến ác liệt tại Scotland (nổi bật với các trận đánh tại Killicrankie và Dunkeld). Cuộc Cách mạng cũng dẫn tới việc xóa bỏ thuộc địa New England và sự sụp đổ của chính quyền Maryland. Cuộc Cách mạng gắn liền với các sự kiện của cuộc Chiến tranh Đại Liên minh tại lục địa châu Âu, và có thể được xem là cuộc viễn chinh nước Anh cuối cùng giành thắng lợi. Có thể kết luận rằng việc lật đổ James đã mở đầu cho chế độ dân chủ Quốc hội của nước Anh cận hiện đại: từ đây, không một Quân vương nào nắm giữ đại quyền, và Luật về các Quyền trở thành một trong những văn kiện quan trọng trong lịch sử chính trị của nước Anh. Việc phế truất ông vua Giáo hội Công giáo Rôma James II đã xóa bỏ bất kỳ một cơ hội lập lại Công giáo nào tại Anh Quốc, và dẫn tới sự tự do hạn chế đối với các tín đồ Kháng Cách ly khai; sẽ còn có một khoảng thời gian ngắn trước khi họ có đầy đủ quyền lợi chính trị. Tuy nhiên, đối với các tín đồ Công giáo, cuộc Cách mạng là một thảm họa về mặt chính trị và xã hội. Họ bị mất quyền bầu cử và ngồi trên nghế Quốc hội Westminster trong suốt hơn 100 năm sau đó. Họ cũng không có được các nghĩa vụ trong Quân đội; và một Quân vương bị cấm làm người Công giáo hoặc cưới một người Công giáo, từ đó đem lại quyền kế vị cho người Kháng Cách. Cuộc viễn chinh đã chấm dứt tất cả những nỗ lực của Anh, trong các cuộc Chiến tranh Anh-Hà Lan vào thế kỷ 17, để khuất phục Cộng hòa Hà Lan bằng lực lượng quân sự. Tuy nhiên, liên minh cá nhân và sự hợp tác giữa Hải quân Anh và Hải quân Hà Lan làm thay đổi tình hình nền thương mại thế giới từ Cộng hòa Hà Lan tới Anh Quốc. == Xem thêm == Danh sách người bỏ James II, theo William xứ Orange == Chú giải == Ghi chú Chú thích == Tham khảo == Baxter, Stephen B (1966). William III. Longmans. Beddard, Robert (1988). A Kingdom without a King: The Journal of the Provisional Government in the Revolution of 1688. Phaidon. Black, Donald M.; MacRaid (2000). Studying History (ấn bản 2). Palgrave. ISBN 0333801830. Carpenter, Edward (1956). The Protestant Bishop. Being the Life of Henry Compton, 1632–1713. Bishop of London. London: Longmans, Green and Co. Childs, John (1980). The Army, James II, and the Glorious Revolution. Manchester University Press. ISBN ???? . Coward, Barry (1980). The Stuart Age. ISBN ???? . Dalrymple, John (1790). Memoirs of Great Britain and Ireland; from the Dissolution of the last Parliament of Charles II till the Capture of the French and Spanish Fleets at Vigo. London. Dekrey, Gary S. (2008), “3”, Between Revolutions: Re-appraising the Restoration in Britain 6, tr. 738–773 Davies, D. (1989). “James II, William of Orange and the admirals”. Trong Cruickshanks, E. By force or default? The revolution of 1688–1689. Edinburgh. Engels, Friedrich (1997). “Introduction to Socialism: Utopian and Scientific”. Trong Engles, F. German Socialist Philosophy. Continuum International Publishing Group. ISBN 082640748X. Goodlad, Graham (2007), “Before the Glorious Revolution: The Making of Absolute Monarchy? Graham Goodlad Examines the Controversies Surrounding the Development of Royal Power under Charles II and James II”, History Review Hoak, D. (year?). The Anglo-Dutch revolution of 1688–89. publisher?. ISBN ???? . Horwitz, Henry (1977). Parliament, Policy and Politics in the Reign of William III. Manchester University Press. Information Services, “William of Orange's Itinerary”, [http://www.nottingham.ac.uk/ManuscriptsandSpecialCollections/index.aspx Manuscripts and Special Collections], University of Nottingham, truy cập ngày 5 tháng 8 năm 2010 Israel, Jonathan I. (1991). “The Dutch role in the Glorious Revolution”. Trong Israel, J.I. The Anglo-Dutch Moment. Essays on the Glorious Revolution and its world impact. Cambridge University Press. ISBN 0-521-39075-3. Israel, Jonathan I.; Parker, Geoffrey (1991). “Of Providence and Protestant Winds: the Spanish Armada of 1588 and the Dutch armada of 1688”. Trong Israel, J.I. The Anglo-Dutch Moment. Essays on the Glorious Revolution and its world impact. Cambridge University Press. ISBN 0-521-39075-3. Israel, Jonathan I (2003). The Anglo-Dutch Moment: Essays on the Glorious Revolution and its World Impact. Cambridge University Press. ISBN 0-521-54406-8. Jardine, Lisa (2008). Going Dutch: How England Plundered Holland's Glory. Harper. ISBN 978-0-00-719734-7. one of the few scholarly studies that sides with James II and denounces the episode as a Dutch invasion and British defeat Jones, C (1973), “The Protestant Wind of 1688: Myth and Reality”, European Studies Review III: 201–221 Jones, J. R. (1988). The Revolution of 1688 in England. Weidenfeld and Nicolson. ISBN ???? . Macaulay, Thomas Babington (1889). The History of England from the Accession of James the Second. Popular Edition in Two Volumes. Volume I. London: Longmans. Mitchell, Leslie (2009) [1790]. “Introduction”. Trong first=Edmund. Reflections on the Revolution in France. Oxford University Press. ISBN 9780199539024. Pincus, Steve (2009). 1688: The First Modern Revolution. Yale University Press. ISBN 978-0-300-17143-3. Prud'homme van Reine, Ronald (2009). Opkomst en Ondergang van Nederlands Gouden Vloot — Door de ogen van de zeeschilders Willem van de Velde de Oude en de Jonge. Amsterdam: De Arbeiderspers. ISBN ???? . Rodger, N.A.M (2004). The Command of the Ocean: A Naval History of Britain 1649—1815. Penguin Group. ISBN ???? . Schuchard, Keith (2002). Restoring the Temple of Vision: Cabalistic Freemasonry and Stuart. Brill. ISBN 9004124896. Schwoerer, L.G. (2004). The Revolution of 1688–89: Changing Perspectives. Cambridge University Press. ISBN 0521526140. Speck, W. A. (1989). Reluctant Revolutionaries. Englishmen and the Revolution of 1688. Oxford University Press. Swetschinsky, D.; Schönduve, L. (1988). De familie Lopes Suasso: financiers van Willem III. Zwolle. ISBN ???? . Troost, Wout (2001). Stadhouder-koning Willem III: Een politieke biografie. Uitgeverij Verloren, Hilversum. ISBN ???? . Vallance, Edward (2007). “The Glorious Revolution”. BBC History. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2010. Van der Kuijl, Arjen (1988). De glorieuze overtocht: De expeditie van Willem III naar Engeland in 1688. Amsterdam. Williams, E. N. (1960). The Eighteenth-Century Constitution. 1688–1815. Cambridge University Press. Western, J. R. (1972). Monarchy and Revolution. The English State in the 1680s. London: Blandford Press. Windeyer, W. J. Victor (1938). “Essays”. Trong Windeyer, W.J.V. Lectures on Legal History. Law Book Co. of Australasia. == Đọc thêm == Ashley, Maurice (1966). The Glorious Revolution of 1688. Hodder & Stoughton. Also published by Panther History (1968). Cruickshanks, Eveline (2000). The Glorious Revolution (British History in Perspective). Palgrave Macmillan. ISBN 0312230095. DeKrey, Gary S. (2007). Restoration and Revolution in Britain: A Political History of the Era of Charles II and the Glorious Revolution. ISBN ???? . A scholarly history of the era. Glassey, Lionel K. J. biên tập (1997). The Reigns of Charles II and James VII and II. Articles by scholars. MacCubbin, R. P.; Hamilton-Phillips, M. biên tập (1988). The Age of William III and Mary II. ISBN ???? . McCaffrey, Carmel (2006). In Search of Ireland's Heroes. Ivan R Dee. ISBN 9781566636155. Miller, John (1997). The Glorious Revolution (ấn bản 2). ISBN 0582292220. Ogg, David (1956). William III. A brief scholarly biography. Onnekink, David (2007). The Anglo-Dutch Favourite: The Career of Hans Willem Bentinck, 1st Earl of Portland (1649–1709). Ashgate Publishing. ISBN 0-754-65545-8. Pincus, Steven C. A. (2005). England's Glorious Revolution 1688–89: A Brief History with Documents. Bedford/St. Martin's. ISBN 0312167148. Prall, Stuart (1972). The Bloodless Revolution: England, 1688. Anchor Books. Vallance, Edward (2006). The Glorious Revolution: 1688 — Britain's Fight for Liberty. Brown Little. ISBN 1933648244. == Liên kết ngoài == BBC staff. “Charles II (1630 - 1685)”. BBC. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2010. Catholic Encyclopedia editors. “English Revolution of 1688”. [[Catholic Encyclopedia]]. The Civil War team, presented by Tristram Hunt (ngày 7 tháng 1 năm 2001), Aftershocks - The Glorious Revolution, open2.net (BBC & Open University) Hallas, Duncan, “The Decisive Settlement”, trong O’Callaghan, Einde, [http://www.marxists.org/admin/intro/index.htm Marxists’ Internet Archive] transcribed from the Socialist Worker Review (113): 17–20. Tháng 10 năm 1988. Prince of Orange (ngày 20 tháng 11 năm 2001) [1688], “Declaration of the Prince of Orange, ngày 10 tháng 10 năm 1688”, trong McFerran, Noel S., [http://www.jacobite.ca/index.htm The Jacobite Heritage] Cites Beddard, Robert biên tập (1988), “A Kingdom without a King”, The Journal of the Provisional Government in the Revolution of 1688 (Oxford: Phaidon Press): 124–128, 145–149 Quinn, Stephen (ngày 17 tháng 4 năm 2003), “The Glorious Revolution of 1688”, trong Whaples, Robert, [http://eh.net/about EH.Net Encyclopedia] Royal Household at Buckingham Palace biên tập (2008/09). “History of the Monarchy >United Kingdom Monarchs (1603 - present) >The Stuarts >Mary II, William III and The Act of Settlement > William III (r. 1689-1702) and Mary II (r. 1689-1694)”. official web site of the British Monarchy. Wilkes Jr., Donald E.; Kramer, Matthew. “The Glorious Revolution of 1688”. Truy cập ngày 15 tháng 8 năm 2010. "This site is an ever-growing compendium of information related to the events and people of the Glorious Revolution of 1688".
giải vô địch bóng đá nữ u-20 thế giới.txt
Giải vô địch bóng đá nữ U-20 thế giới (tiếng Anh: FIFA U-20 Women's World Cup) là giải đấu bóng đá nữ quốc tế được tổ chức bởi FIFA dành cho các đội tuyển nữ quốc gia dưới 20 tuổi. Giải đấu được tổ chức 2 năm 1 lần và là giải đấu lớn nhất dành cho các cầu thủ nữ trẻ trên thế giới. Giải được tổ chức lần đầu vào năm 2002 với giới hạn độ tuổi là 19 tuổi. Từ năm 2006, giải đấu được tổ chức dành cho các nữ tuyển thủ quốc gia dưới 20 tuổi. Kể từ năm 2010, quyền đăng cai các giải đấu U-20 nữ tổ chức vào năm liền trước năm tổ chức Giải vô địch bóng đá nữ thế giới sẽ được trao cho quốc gia chủ nhà của cúp thế giới nữ năm đó. Lúc này giải bóng đá nữ U-20 thế giới sẽ là giải đấu tập dượt cho vòng chung kết World Cup nữ, giống vai trò của Cúp Liên đoàn các châu lục đối với World Cup nam. == Vòng loại == Mỗi liên đoàn thành viên sẽ tổ chức vòng loại riêng (thường lấy giải vô địch châu lục là vòng loại). == Các trận chung kết và tranh hạng ba == Chú thích: h.p – sau khi thời gian hiệp phụ kết thúc b.t.v – sau khi bàn thắng vàng được ghi pen – sau khi loạt luân lưu kết thúc == Giải thưởng == Nguồn: FIFA === Quả bóng vàng === Quả bóng vàng (Adidas Golden Ball) là giải thưởng dành cho cầu thủ xuất sắc nhất. === Chiếc giày vàng === Chiếc giày vàng được trao cho cầu thủ ghi nhiều bàn thắng nhất === Găng tay vàng === Chiếc găng tay vàng là giải thưởng dành cho thủ môn xuất sắc nhất. === Giải Fair Play === == Các đội đạt thành tích cao == == Thành tích từng đội tuyển == Chú giải VĐ — Vô địch H2 — Á quân H3 — Thứ ba H4 — Thứ tư TK — Tứ kết V1 — Vòng 1 hoặc Vòng bảng • — Không vượt qua vòng loại — Không tham dự / Bỏ cuộc XX — Quốc gia không tồn tại hoặc đội tuyển không thường xuyên thi đấu tại thời điểm đó — Chủ nhà q — Có mặt tại giải đấu sắp diễn ra == Xem thêm == Giải vô địch bóng đá nữ thế giới Giải vô địch bóng đá nữ U-17 thế giới Giải vô địch bóng đá U-20 nam thế giới == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức (tiếng Anh)
bị cáo.txt
Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử == Quyền của Bị cáo: == - Được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định đình chỉ vụ án; bản án, quyết định của Tòa án; các quyết định tố tụng khác theo quy định. - Tham gia phiên toà. - Được giải thích về quyền và nghĩa vụ. - Đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định. - Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu. - Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. - Trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa. - Nói lời sau cùng trước khi nghị án. - Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án. - Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. == Nghĩa vụ của Bị cáo: == Phải có mặt theo giấy triệu tập của Toà án; trong trường hợp vắng mặt không có lý do chính đáng thì có thể bị áp giải; nếu bỏ trốn thì bị truy nã. == Tham khảo == Thuật ngữ pháp lý B ộ luật Tố tụng Hình sự 2003 Phân biệt nghi can, nghi phạm, bị can, bị cáo
cỏ mực.txt
Cỏ mực hay cỏ nhọ nồi, hàn liên thảo (danh pháp hai phần: Eclipta alba Hassk., đồng nghĩa: Eclipta prostrata L.) là một loài thực vật có hoa thuộc Họ Cúc (Asteraceae). == Mô tả == Cây cỏ, sống một hay nhiều năm, mọc đứng hay mọc bò, cao 30–40 cm. Thân màu lục hoặc đỏ tía, phình lên ở những mấu, có lông cứng. Lá mọc đối, gần như không cuống, mép khía răng rất nhỏ; hai mặt lá có lông. Hoa hình đầu, màu trắng, mọc ở kẽ lá hoặc ngọn thân, gồm hoa cái ở ngoài và hoa lưỡng tính ở giữa. Quả bế dài 3mm, có 2-3 vảy nhỏ, có 3 cạnh, hơi dẹt. == Thành phần hóa học == Trong cây chứa alcaloid: ecliptin, nicotin và coumarin lacton là wedelolacton. == Bộ phận dùng == Cả cây. Thu hái quanh năm. Dùng tươi hay phơi, sấy khô. Khi dùng để nguyên hoặc sao đen. == Công dụng == Chữa chảy máu bên trong và bên ngoài, rong kinh, băng huyết, chảy máu cam, trĩ, đại tiểu tiện ra máu, nôn và ho ra máu, chảy máu dưới da; còn chữa ban sởi, ho, hen, viêm họng, bỏng, nấm da, tưa lưỡi. Ngày 12-20g cây khô sắc hoặc 30-50g cây tươi ép nước uống. Dùng ngoài để cầm máu và trị những bệnh ghẻ lác. Cây cỏ mực cũng còn được sử dụng để xăm mình. Ngoài những tác dụng trên cây cỏ mực còn được dùng để trị bệnh viêm xoang rất hiệu quả. == Hình ảnh == == Hình ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
cộng hòa xã hội chủ nghĩa xô viết moldavia pridnestrovia.txt
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia Pridnestrovia (Transnistria) là một thực thể chính trị nằm giữa hai quốc gia Moldova và Ukraina. Đây là thực thể chính trị Xã hội chủ nghĩa duy nhất còn tồn tại ở châu Âu. == Chú thích ==
kinh tế malaysia.txt
Kinh tế Malaysia là một nền kinh tế mở. Năm 2016, quốc gia này có GDP xếp thứ 38 thế giới theo PPP. GDP tính theo PPP năm 2016 ước tính 302.748 tỷ USD. == Bối cảnh == === Lịch sử ban đầu và thuộc địa === Bán đảo Mã Lai và Đông Nam Á thực sự đã là một trung tâm thương mại trong nhiều thế kỷ. Nhiều mặt hàng như gốm sứ và gia vị đã được mua bán sôi động thậm chí trước khi Malacca và Singapore nổi lên chiếm vị trí ưu thế. Vào thế kỷ 17, trữ lượng thiếc lớn đã được phát hiện ở nhiều quốc gia Mã Lai. Sau này, Anh bắt đầu cai trị Malaya và cây cao su và cây cọ dầu đã được du nhập vào đây để trồng cho mục đích thương mại. Ban mặt hàng này cũng với các nguyên liệu thô khác thiết lập vững chắc nhịp độ kinh tế của Malaysia cho đễn giữa thế kỷ 20. === Sau độc lập === Trong thập niên 1970, đã theo bước của bốn con hổ châu Á ban đầu và đã cam kết sự chuyển đổi từ một nền kinh tế dựa vào khai khoáng và nông nghiệp sang ngành chế tạo. Với sự trợ giúp của Nhật Bản và phương Tây, các ngành công nghiệp nặng đã phát triển phồn thịnh và trong một vài năm, xuất khẩu đã trở thành cỗ máy tăng trưởng hàng đầu của Malaysia. Malaysia đã kiên định đạt được mức tăng trưởng GDP hơn 7% cùng với mức lạm phát thấp trong thập niên 1980 và thập niên 1990. GDP đầu tăng với mức 31% trong thập niên 1960 và một tỷ lệ tăng đáng kinh ngạc 358% trong thập niên 1970 nhưng mức tăng đã chứng tỏ không bền vững và giảm mạnh chỉ còn đạt mức 36% thập niên 1980 và tăng lại với mức 59% vào thập niên 1990 chủ yếu do các ngành có định hướng xuất khẩu dẫn đầu. Tỷ lệ nghèo khổ ở Malaysia cũng giảm mạnh trong những năm qua. Tuy nhiên sự sụt giảm tỷ lệ nghèo quá nhanh chóng này đã bị chỉ trích bởi những người cho rằng mức nghèo khổ này đã được người ta kéo xuống một mức thấp vô lý. Sự quy hoạch của trung ương là một nhân tố chủ yếu trong nền kinh tế Malaysia do sự chi tiêu của chính phủ thường được sử dụng để kích thích nền kinh tế. Kể từ năm 1955, với sự khởi đầu của Kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Malaysia, chính phủ đã sử dụng các kế hoạch này để can thiệp vào nền kinh tế để đạt được các mục tiêu như phân phối lại của cải và đầu tư, ví dụ như trong các dự án hạ tầng. Một di sản để lại của chế độ thực dân Anh là sự phân chia Malaysia thành 3 nhóm theo dân tộc. Người Mã Lai sống tập trung trong các ngôi làng truyền thống, sống chủ yếu bằng nghề nông còn người Hoa thì chiếm lĩnh lĩnh vực thương mại. Những người Ấn Độ có học vấn thì làm các công việc chuyên nghiệp như: bác sĩ hoặc luật sư còn những người kém giàu có hơn thì làm việc ở các đồn điền. Ủy ban Reid, cơ quan soạn thảo Hiến pháp Malaysia soạn ra một quy định affirmative action hạn chế thông qua Điều 153, ban đặc quyền cho người Mã Lai, như 60% số lượng sinh viên vào đại học (hạn ngạch). Tuy nhiên, sau sự kiện 13 tháng 5 bạo động chủng tộc ở thủ đô liên bang Kuala Lumpur, chính phủ đã đề xướng các chương trình gây hấn hơn với mục đích thiết lập một cách tích cực tầng lớn doanh nhân thông qua sự can thiệp trực tiếp vào nền kinh tế. Kế hoạch năm năm lần đầu thi hành các mục tiêu này là Kế hoạch 5 năm Malaysia lần thứ 2; kế hoạch này đã lĩnh hội được sự độc đoán đã dẫn tới một sự Kế hoạch Malaysia lần thứ 3]] nhấn mạnh vào sự hỗn độn kinh tế đang gia tăng, nhằm tránh lấy chỗ này đắp vào chỗ kia. Đến năm 2006, kế hoạch 5 năm gần đây nhất là Kế hoạch Malaysia lần thứ 9. Kê hoạch 5 năm này đã bị chỉ trích là giống với đường lối kế hoạch hóa tập trung của chủ nghĩa Cộng sản Xô Viết; khung thờigian 5 năm đã bị công kích vì không đủ để giải quyết các cuộc khủng hoảng ngắn hạn và các xu thế dài hạn. The effectiveness of the plans has also been disputed; at the beginning of 2005, the last year of the Eighth Malaysia Plan, almost 80% of the funds allocated under the plan had not been disbursed. Cũng có một cu thế theo hướng sự can dự của chính quyền vào nền kinh tế thông qua các công ty có liên hệ với chính phủ (tiếng Anh viết tắt:GLCs). Mục đích của các công ty này là "[làm bình đẳng] sân chơi kinh tế" và "làm phương tiện cho sự gia nhập lĩnh vực tư nhân của Mã Lai" theo một nhà bình luận. Tuy nhiên, nhiều GLCs theo như tin đưa đã bị tiếp quản bởi Tổ chức Dân tộc Mã Lai Thống nhất (UMNO), đảng cầm quyền, thông qua những người được chỉ định, dẫn đến chỉ trích rằng chúng là các phương tiện cho tham nhũng. == Nền kinh tế con Hổ == === Xu hướng kinh tế vĩ mô === Đây là một bảng xu thế của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) theo thời giá thị trường ước tính bởi Quỹ tiền tệ Quốc tế với con số triệu Ringgit Malaysia. Để so sánh sức mua tương đương (PPP), tỷ giá USD/Ringgit chỉ được tính 1,7. Từ năm 1988 đến năm 1997, nền kinh tế Malaysia đã trải qua một giai đoạn đa dạng hóa rộng rãi và đã duy trì được một tỷ lệ tăng trưởng 9% mỗi năm. Đến năm 1999, GDP danh nghĩa đầu người đã đạt mức 3238 USD. Các khoản đầu tư trong và ngoài nước đã đóng một vai trò đáng kể trong sự chuyển đổi nền kinh tế Malaysia. Ngành chế tạo tăng từ tỷ lệ 13,9% GDP năm 1970 lên 30% năm 1999 còn ngành nông nghiệp và khai thác khoáng sản đã cùng chiếm 42,7% GDP năm 1970, giảm 9,3% và 7,3% lần lượt cho mỗu ngành năm 1999. Ngành chế tạo chiếm 30% GDP năm 1999. Các sản phẩm chính bao gồm: Linh kiện điện tử - Malaysia là một trong những quốc gia xuất khẩu các thiết bị bán dẫn lớn nhất thế giới, các mặt hàng dụng cụ điện. == Tham khảo ==
thần nông giá.txt
Thần Nông Giá (giản thể: 神农架林区; phồn thể: 神農架林區; bính âm: Shénnóngjià Línqū) là Lâm khu (tương đương với cấp huyện) duy nhất tại Trung Quốc và trực thuộc tỉnh Hồ Bắc. Lâm khu không trực thuộc địa cấp thị nào của tỉnh. Dân cư trong lâm khu chủ yếu là người Hán (95%), 5% còn lại chủ yếu là người Thổ Gia. Lâm khu được thành lập năm 1970 từ những diện tích các huyện lân cận là Ba Đông, Hưng Sơn và Phòng huyện. == Địa lý == Lâm khu Thần Nông Giá được lấy tên theo khối núi Thần Nông Giá, thường được coi là đoạn phía đông và cao nhất của Dãy núi Đại Ba và nằm trong khu bảo tồn của dãy núi này. Một số ngọn núi cao nhất tại Hồ Bắc cũng nằm trên dãy núi Đại Ba đều nằm ở lâm khu. Khối núi Thần Nông Giá chia lâm khu thành hai phần: phần trung tâm và phía bắc thuộc lưu vực của Hán Thủy (một phụ lưu của Trường Giang và nhập vào dòng chính ở Vũ Hán), trong khi phần phía nam chảy ra Trường Giang một cách trực tiếp hơn qua những con suối nhỏ như suối Thần Nông. === Trấn === Tùng Bách (松柏镇) Dương Nhật (阳日镇) Hồng Bình (红坪镇) Mộc Ngư (木鱼镇) Tân Hoa (新华镇) === Hương === Tóng Lạc (宋洛乡) Cửu Hồ (九湖乡) === Hương dân tộc === Hương dân tộc Thổ Gia Hạ Cốc Bình (下谷坪土家族乡) == Tham khảo ==
võ văn hạnh.txt
Võ Văn Hạnh (sinh năm 1974 tại Phú Yên, quê gốc Nghệ An) là một cựu cầu thủ bóng đá người Việt Nam. Anh thi đấu ở vị trí Thủ môn và là Thủ môn đầu tiên đoạt được Quả bóng vàng Việt Nam vào năm 2001. Anh là một người sùng đạo Phật. Từ thời còn thi đấu ở SLNA, đã trở thành thói quen, đúng 5h sáng, Võ Văn Hạnh thức dậy, mặc áo nâu và tung kinh, gõ mõ cho tới giờ đi tập. == Chú thích ==
mật độ dân số.txt
Mật độ dân số là một phép đo dân số trên đơn vị diện tích hay đơn vị thể tích. Nó thường được áp dụng cho các sinh vật sống nói chung, con người nói riêng. == Mật độ dân số sinh học == Mật đô dân số là một phép đo sinh học thông thường và thường được những người bảo vệ môi trường sử dụng hơn những con số tuyệt đối. Mật độ dân số thấp có thể gây tuyệt chủng, bởi vì mật độ thấp làm giảm khả năng sinh sản. Điều này thường được gọi là Hiệu ứng Allee, đặt theo tên W. C. Allee, người đầu tiên phát hiện ra nó. Các ví dụ về hiệu ứng này gồm: Gặp khó khăn khi định vị đồng loại trong một diện tích có mật độ thấp. Tăng nguy cơ giao phối cận huyết trong một diện tích có mật độ thấp. Tăng tính nhạy cảm với các hiện tượng thảm hoạ khi có mật độ dân số thấp. Các loài khác nhau có mật độ chuẩn khác nhau. Ví dụ các loài R-selected thường có mật độ dân số cao, trong khi các loài K-selected có mật độ thấp hơn. Mật độ dân số thấp có thể dẫn tới tình trạng thay đổi chuyên biệt hoá trong định vị đồng loại như chuyên biệt hoá thụ phấn; như ở họ lan (Orchidaceae). == Mật độ dân số loài người == Đối với con người, mật độ dân số là số người trên đơn vị diện tích (có thể gồm hay không gồm các vùng canh tác hay các vùng có tiềm năng sản xuất). Thông thường nó có thể được tính cho một vùng, thành phố, quốc gia, một đơn vị lãnh thổ, hay toàn bộ thế giới. Ví dụ, dân số thế giới hiện có 6.5 tỷ người và diện tích Trái Đất là 510 triệu km² (200 triệu dặm vuông). Vì thế mật độ dân số trên toàn thế giới bằng 6500 triệu / 510 triệu = 13 trên km² (33 trên mi²), hay 43 trên km² (112 trên mi²) nếu coi như con người sống trên lục địa, với diện tích 150 triệu km² trên Trái Đất. Mật độ này tăng khi dân số thế giới tăng, và một số người cho rằng Trái Đất chỉ có thể chịu được tới một mật độ tới hạn nào đó. Nhiều trong số những vùng đất có mật độ dân số cao nhất thế giới là những thành phố-quốc gia, tiểu quốc hay quốc gia lệ thuộc rất nhỏ. Các lãnh thổ đó đều có diện tích nhỏ với mức độ đô thị hoá ở mức rất cao, và một dân số thành thị chuyên biệt hoá trong một lĩnh vực kinh tế, tiêu thụ các nguồn tài nguyên nông nghiệp từ bên ngoài, phản ánh sự khác biệt giữa mật độ dân số cao và nạn nhân mãn. Các thành phố có mật độ dân số rất cao thường được coi cũng có tình trạng nhân mãn, dù nghĩa rộng của thuật ngữ này tuỳ trường hợp dựa trên các yếu tố như chất lượng nhà ở và hạ tầng hay khả năng tiếp cận nguồn tài nguyên. Đa số các thành phố có mật độ dân số lớn nhất nằm ở phía nam và đông Á, dù Cairo và Lagos ở Châu Phi cũng thuộc số này. Tuy nhiên, dân số thành thị phụ thuộc nhiều vào định nghĩa sử dụng tại vùng đô thị: các mật độ sẽ cao hơn khi tính riêng trung tâm đô thị như cách thường tính toán hiện nay so với khi cộng cả dân số các vùng ngoại ô, theo khái niệm cộng dồn hay vùng thành thị, thỉnh thoảng định nghĩa vùng thành thị bao gồm cả các thành phố bên cạnh. == Các biện pháp tính mật độ dân số khác == Trong khi cách tính mật độ số học là phương pháp thông thường nhất để tính toán mật độ dân số, nhiều phương pháp khác cũng đã được phát triển với mục tiêu đưa ra một cách tính toán chính xác hơn về mật độ dân số trên một diện tích nhất định. Mật độ số học – Tổng số dân /diện tích đất theo km². Mật độ sinh lý – Tổng số dân chia theo diện tích đất canh tác. Mật độ nông nghiệp – Tổng số dân nông thôn trên tổng diện tích đất nông nghiệp. Mật độ dân cư – Số người sống trong một vùng đô thị theo diện tích đất ở. Điều kiện sinh thái học thuận lợi nhất – Mật độ dân số mà các nguồn tài nguyên thiên nhiên trên một diện tích có thể đủ cung cấp. == Xem thêm == Danh sách các quốc gia theo mật độ dân số Danh sách quốc gia theo dân số Danh sách dân số theo tôn giáo Danh sách các thành phố theo mật độ dân số Địa lý loài người Dân số lý tưởng Dân số ở mức độ tốt nhất Dân số đình trệ Đánh mã dân số Phát sinh dân số Sức khoẻ nhân dân Xung lượng dân số Kim tự tháp dân số Dân số số lượng nhỏ == Tham khảo == == Liên kết ngoài == CityRanks.com combines Google Maps and 2000 Census data to show the population densities of U.S. zip codes on an interactive map. Selected Current and Historic City, Ward & Neighborhood Densities Population density world-map
hertfordshire.txt
Hertfordshire ( /ˈhɑrtfərdʃɪər/ hoặc /ˈhɑrfərdʃər/; abbreviated Herts)Hertfordshire là một hạt nghi lễ của Anh không giáp biển, giáp vùng đô thị Đại Luân Đôn ở phía nam, Buckinghamshire (phía tây), Bedfordshire (bao gồm cả các cơ quan đơn nhất của Luton, Trung Bedfordshire ở phía bắc), Cambridgeshire (ở phía bắc phía đông) và Essex (phía đông). Hạt có diện tích km2, dân số người. Thủ phủ hạt đóng ở Hertford. == Tham khảo ==
áp suất hơi.txt
Áp suất hơi hay áp suất hơi cân bằng được định nghịa là áp suất gây ra bởi hơi trong điều kiện cân bằng nhiệt động với các pha ngưng tụ (rắn hay lỏng) ở một nhiệt độ cho trước trong một hệ kín. Áp suất hơi cân bằng là một chỉ số của tốc độ bốc hơi của chất lỏng. Nó liên quan đến khuynh hước các hạt thoát ra từ chất lỏng (hay chất rắn). Một chất có áp suất hơi cao ở nhiệt độ bình thường thường được xem là chất dễ bay hơi. Áp suất được thể hiện qua sự hiện diện của hơi bên bề mặt chất lỏng được gọi là áp suất hơi. Khi tăng nhiệt độ, động năng của các phân tử tăng lên, vì thế có nhiều phân tử chuyển thành pha hơi, tiếp theo đó làm tăng áp suất hơi. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Fluid Characteristics Chart Hyperphysics MSDS Vapor Pressure Online vapor pressure calculation tool (Requires Registration) Prediction of Vapor Pressures of Pure Liquid Organic Compounds
samsung galaxy note (nguyên bản).txt
Samsung Galaxy Note là smartphone/máy tính bảng hybrid ("phablet" - (Ph)one T(ablet) hoặc "tablet phone") chạy hệ điều hành Android, giới thiệu vào tháng 10 năm 2011 và được chú ý vì màn hình kích thước 5.3-inch —giữa các thiết bị thông thường, và tablet màn hình lớn—và nó bao gồm stylus. == Lịch sử == Galaxy Note công bố bởi Samsung during IFA 2011 ở Berlin. Nó được phát hành tại Đức vào cuối tháng 10 năm 2011, và một số quốc gia khác sau đó. Vào cuối tháng 11, nó có mặt hầu hết các thị trường chính, bao gồm khu vực Đông Á, châu Âu và Ấn Độ. Vào tháng 12 năm 2011, Samsung công bố 1 triệu chiếc Galaxy Notes được xuất ra trong vòng chưa đầy hai tháng, và một biến thể Bắc Mỹ được phát hành vào tháng 2 năm 2012. Vào tháng 1 năm 2012, phiên bản Mỹ của Galaxy Note được trưng bày tại 2012 CES ở Las Vegas, cho phép báo chí có cái nhìn đầu tiên về thiết bị mới. Tính đến quý I 2012 từ tháng 1 đến tháng 3, 5 triệu chiếc đã được bán ra. Tính đến 1 tháng 6 năm 2012, Samsung công bố rằng 7 triệu chiếc đã được xuất xưởng. Tính đến 15 tháng 8 năm 2012, Samsung công bố rằng 10 triệu thiết bị đã được bán. == Phần cứng và phần mềm == Thông số phần cứng của thiết bị bao gồm: Một vi xử lý lõi-kép 1.4 GHz ARM Cortex A9 Exynos 4210 SoC hoặc 1.5 GHz Qualcomm MSM8660 Snapdragon SoC S3 (AT&T, SK Telecom, KT, LG U+, docomo) Mali 400MP GPU (Exynos)/Adreno 220 (Snapdragon) Màn hình 5.29" HD Super AMOLED với RGBG-Matrix (Pentile) và độ phân giải WXGA (1.280 x 800) Máy ảnh chính 8-megapixel có thể quay video 1080p, và máy ảnh trước 2-megapixel 802.11 a/b/g/n (2.4/5 GHz) hỗ trợ cho Wi-Fi Quad-band HSPA+ 21Mbit/s 850/900/1900/2100 hỗ trợ mạng, hỗ trợ LTE cho Hàn Quốc, Nhật Bản, và biến thể Bắc Mỹ Định vị toàn cầu sử dụng cả hai hệ thống a-GPS và GLONASS. === Nhập văn bản === Văn bản có thể được nhập bằng cách sử dụng các giao thức như: một bàn phím trên màn hình, với nhận dạng chữ viết sử dụng bút stylus, và sử dụng bàn phím Swype, thay kế trực tiếp một từ với sự di chuyển ngón tay hoặc lướt bút stylus và giữ phím cứng. === Máy ảnh === Thiết bị có máy ảnh chính 8-megapixel (2.448 x 3.264 pixel) với flash ở mặt sau, và máy ảnh trước 2-megapixel (1.200 x 1.600 pixels), chủ yếu dùng để gọi video. Máy ảnh chính có thể quay video 1080p ("Full HD") với 30 khung/giây. Ứng dụng sửa chữa hình ảnh và video được cài đặt sẵn trên thiết bị. == Biến thể == Galaxy Note được chủ yếu với phần thân màu đen (Samsung gọi là "xanh carbon"), nhưng màu khác của phần thân cũng được làm sẵn, bao gồm màu trắng and pink. Các biến thể sau đây của Galaxy Note đã sản xuất là: GT-N7000 — Nguyên bản, với vi xử lý lõi-kép 1.4 GHz Cortex A9 GT-N7000B — Chỉ bán ở Australia và Thái Lan, phiên bản này được tối ưu hóa cho 850 MHz 3G band. GT-N7005 — Chỉ bán ở Hồng Kông và Singapore, phiên bản này trông giống như SGH-i717, nhưng với 1800/2600 MHz LTE thay vì 700/1700 của AT&T. SHV-E160K, SHV-E160L, SHV-E160S — phiên bản LTE với khả năng kết nối tốc độ cao, độc quyền ở Hàn Quốc. Thông số kỹ thuật tương tự như phiên bản AT&T của Mỹ. Nó được trang bị vi xử lý lõi-kép Qualcomm Snapdragon S3 (APQ8060 1.5 GHz), Adreno 220 GPU và hỗ trợ TV bao gồm FM radio. Thiết kế bên ngoài tương tự như bản N7000 ở mặt trước (nó có các phím vật lý thay vì phím cảm ứng điện dung). SGH-I717 — Phiên bản LTE phát hành độc quyền tại Mỹ và Canada. SC-05D — Phiên bản LTE phát hành bởi NTT DoCoMo, Nhật Bản. Nó trang bị vi xử lý lõi-kép Qualcomm Snapdragon S3 (APQ8060 1.5 GHz) và Adreno 220 GPU. Thông số kỹ thuật và thiết kế khác tương tự như phiên bản quốc tế N7000. SGH-T879 — phiên bản T-Mobile USA của Galaxy Note đã phát hành 6 tháng trước bản AT&T vào tháng 8 năm 2012, nó có thông số kỹ thuật tương tự SGH-I717 nhưng không hỗ trợ LTE. Phiên bản này được cài đặt sẵn Android 4.0 khi vẫn còn trong hộp. GT-I9220 — phiên bản WCDMA phát hành độc quyền cho China Unicom. GT-I9228 — phiên bản TD-SCDMA phát hành độc quyền cho China Mobile. SCH-I889 — phiên bản CDMA2000 phát hành độc quyền cho China Telecom. == Galaxy Note II == Kế thừa cho Galaxy Note là Galaxy Note II, đã chính thức được công bố tại một sự kiện "Samsung Unpacked" ở Berlin vào 29 tháng 8 năm 2012. Chiếc điện thoại mới có vi xử lý lõi-tứ 1.6 GHz Exynos 4412, 2 GB RAM (không điện thoại Samsung nào trước đó có 2GB, ngoại trừ i9305 Hàn Quốc) và dung lượng pin 3.100 mAh. Tên mã sản phẩm của thiết bị này là GT-N7100. Sự khác biệt lớn nhất so với Note nguyên bản bao gồm: màn hình 5.55 inch với độ phân giải 1.280x720 (được cải thiện với thiết kế ma trận PenTile và tỉ lệ màn hình 16:9 chứ không phải 16:10 của Note nguyên bản), Bluetooth Low Energy, tuổi thọ pin kéo dài hơn, và thêm một số tính năng mới cho S Pen. Bộ nhớ trong là 16, 32 hoặc 64 GB. Màu gồm Cẩm thạch trắng hoặc xám titan. Note II chạy hệ điều hành Android 4.1.1 Jelly Bean của Google. == Dòng sản phẩm Galaxy Note == Samsung Galaxy Note 10.1 không phải là một biến thể, nhưng là một sản phẩm khác trùng với dòng Galaxy Note. Samsung Galaxy Note 8.0, tên mã Kona, là 8-inch Samsung Galaxy Note đã được khẳng định bởi người đứng đầu bộ phân di động tại Samsung sẽ xuất hiện lần đầu tiên tại Mobile World Congress 2013. == Tham khảo == == Liên kết == Website chính thức
hiến pháp.txt
Hiến pháp là một hệ thống quy định những nguyên tắc chính trị căn bản và thiết lập kiến trúc, thủ tục, quyền hạn và trách nhiệm của một chính quyền. Nhiều hiến pháp cũng bảo đảm các quyền nhất định của nhân dân. Trong bài viết này, ngoài Hiến pháp được hiểu như hiến pháp chính quyền còn có một số hình thức khác mang nghĩa rộng hơn như là hiến chương, luật lệ, nguyên tắc giữa các tổ chức chính trị. Các thực thể phi chính trị, dù hợp thể hay không, cũng có hiến pháp. Các thực thể này gồm các đoàn thể và các hội tình nguyện. Hiến pháp là đạo luật cơ bản nhất của một nhà nước,nó thể hiện ý chí và nguyện vọng của tuyệt đại đa số nhân dân tồn tại ở trong hoặc ngoài nhà nước đó, nhưng vẫn là nhân dân thuộc nhà nước đó. == Lịch sử và sự phát triển == Những khai quật ở Iraq đương đại do Ernest de Sarzec tiến hành vào năm 1877 đã tìm thấy bằng chứng của bộ luật pháp lý sớm nhất được biết đến do vua Urukagina ở thành phố Lagash, nước Sumer ban hành khoảng năm 2300 TCN. Có lẽ là nguyên mẫu luật chính phủ sớm nhất. Bản thân tài liệu này chưa được khám phá hết nhưng nó cho người dân nước đó một số quyền, chẳng hạn, việc giảm thuế cho các quả phụ, trẻ mồ côi và bảo vệ người nghèo khỏi bị người giàu cho vay nặng lãi. Sau đó, nhiều chính quyền trị vì với các bộ luật bằng văn bản đặc biệt. Một tài liệu như vậy cổ nhất vẫn tồn tại có lẽ là của vua Ur-Nammu thành phố Ur (khoảng 2050 TCN). Một số Bộ luật nổi tiếng trong tài liệu đó là Bộ luật Hammurabi của Đế quốc Babylon xưa, Bộ luật Hittite, Bộ luật Assyria, Bộ luật Moses, và Trụ Cyrus chứa đựng những lời răn dạy của Hoàng đế Cyrus Đại Đế của Đế quốc Ba Tư cổ đại. Aristotle (khoảng 350 TCN) là một trong những người đầu tiên chính thức phân biệt giữa luật thông thường và (luật) hiến pháp được ghi lại trong lịch sử. Ông ta đã thiết lập những ý tưởng về hiến pháp và chủ nghĩa hợp hiến, và cố gắng phân loại các hình thức khác nhau của chính phủ lập hiến. Khái niệm căn bản nhất mà ông ta thường dùng để miểu tả hiến pháp trong những thuật ngữ tổng quát là "sự sắp xếp các chức vụ trong một quốc gia". Trong tác phẩm của mình Constitution of Athens, Politics và Nicomachean Ethics, ông ta khảo sát tỉ mỉ các hình thức khác nhau của hiến pháp, đặc biệt là Athena và Sparta. Ông ta phân loại những hiến pháp ông cho là tốt và xấu, và ông đi đến kết luận hiến pháp tốt nhất là một hình thức pha trộn giữa những yếu tố quân chủ, quý tộc và dân chủ. Ông ta cũng phân biệt giữa công dân có những cơ hội riêng để tham gia trong nước và những người không phải công dân, nô lệ không có cơ hội đó. Người La Mã lần đầu tiên soạn thảo hiến pháp Mười hai Điều (Twelve Tables) của họ vào năm 449 TCN. Chúng được thi hành dưới dạng một chuỗi các luật thỉnh thoảng được thêm vào, nhưng luật La Mã không được tổ chức lại thành một bộ luật riêng rẽ cho đến khi bộ luật Theodosianus ra đời năm 438. Sau này, bộ luật Justinianus ở Đế chế Byzantine Đông có ảnh hưởng lớn cả Châu Âu. Điều khoản thứ mười bảy của Hiến pháp Nhật Bản được soạn năm 604, được cho là của hoàng tử Shotoku, là một hiến pháp điển hình trong lịch sử chính trị châu Á. Ảnh hưởng của triết lý Phật giáo, hiến pháp chú trọng hơn vào đạo đức xã hội hơn là thể chế của chính chính phủ đó. Hiến pháp Gayanashagowa (Great Law of Peace) được xem là hiến pháp khẩu truyền của dân tộc Iroquois ra đời khoảng 1090 và 1150 đã được cân nhắc và đã truyền một phần cảm hứng cho Hiến pháp Hoa Kỳ. Hiến pháp thành văn sớm nhất vẫn còn dùng ở một nước có chủ quyền đến nay là của San Marino. Hiến pháp San Marino được viết bằng tiếng Latin vào năm 1300 bao gồm sáu quyển. Quyển đầu tiên có 62 điều, nói về việc thiết lập các hội đồng, tòa án, các viên chức hành pháp và quyền hành của họ. Các quyển còn lại nói về tội phạm và luật dân sự và các thủ tục tòa án. Khối thịnh vượng chung Massachusetts thông qua hiến pháp năm 1780, trước việc thông qua Điều ước Liên bang và Hiến pháp Hoa Kỳ. Đây có lẽ là hiến pháp "có tên" vẫn được dùng cũ nhất vì văn kiện này tuyên bố rõ ràng rằng bản thân nó là một hiến pháp. Hiến pháp Hoa Kỳ được thông qua năm 1789 chịu ảnh hưởng của hệ thống hiến pháp Anh. Văn kiện đó trở thành cơ sở cho nền cộng hòa và hiến pháp được soạn ra sau đó. Nó cũng thường được cho rằng là hiến pháp được biên soạn có tính quốc gia hiện đại lâu đời nhất trên thế giới. == Hiến pháp chính quyền == Thường thấy nhất, thuật ngữ "hiến pháp" đề cập đến tập hợp các quy tắc và nguyên tắc quy định bản chất và phạm vi của chính quyền. Hầu hết các chính hiến pháp tìm cách điều chỉnh quan hệ giữa các cơ quan của nhà nước, quan hệ giữa ba bộ phận hành pháp, lập pháp và tư pháp ở mức độ cơ bản và mối quan hệ giữa các cơ quan thuộc ba bộ phận đó. === Các đặc điểm chính === Các đặc điểm sau đây là đặc điểm của hiến pháp dân chủ đã được các khoa học gia chính trị xác định cho hiến pháp ở phạm vi quốc gia. ==== Việc soạn thảo ==== Sự phân loại cơ bản là hiến pháp đã được điều lệ hóa hay không. Một hiến pháp đã được điều lệ hóa là một văn kiện riêng rẽ và là nguồn gốc của luật hiến pháp trong một quốc gia. Một ví dụ thường dùng cho loại này là Hiến pháp Hoa Kỳ. Ngược lại, hiến pháp không được điều lệ hóa là hiến pháp không được chứa đựng trong một văn kiện riêng rẽ và bao gồm nhiều nguồn gốc khác nhau có thể là thành văn hay bất thành văn. Hiến pháp Úc, Hiến pháp Anh là hai ví dụ điển hình của loại này. Hiến pháp Ấn Độ được cho là hiến pháp được điều lệ hóa dài nhất trên thế giới. ===== Hiến pháp được điều lệ hóa ===== Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có một hiến pháp được điều lệ hóa trừ ba quốc gia Israel, New Zealand và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Hiến pháp được điều lệ hóa thường là sản phẩm của sự thay đổi chính trị lớn như một cuộc cách mạng. Chẳng hạn như hiến pháp của Hoa Kỳ được viết ra và được thông qua không quá 25 năm sau cuộc Cách mạng Hoa Kỳ. Tiến trình một quốc gia thông qua hiến pháp có quan hệ mật thiết với hoàn cảnh chính trị và lịch sử dẫn đến các thay đổi căn bản. Lợi ích rõ ràng nhất của hiến pháp được điều lệ hóa là có các điều mạch lạc và dễ hiểu. Hiến pháp được điều lệ hóa ít nhất thì cũng dễ đọc và là một văn kiện riêng lẻ. Mặc dầu nó tương đối rõ ràng nhưng hiến pháp được điều lệ hóa vẫn để lại một phạm vi giải thích rộng lớn cho tòa án hiến pháp. Các quốc gia có hiến pháp được điều lệ hóa thường gán cho nó uy quyền tối cao so với các đạo luật thông thường khác. Đó là, nếu có xung đột xảy ra giữa một đạo luật và hiến pháp thì tất cả hay một phần của đạo luật đó có thể bị tòa án tuyên bố là vượt quyền (ultra vires) và bị cho là vi hiến. Ngoài ra, một thủ tục đặc biệt được yêu cầu để sửa đổi hiến pháp có liên quan đến ⅔ đa số trong cơ quan lập pháp quốc gia, sự đồng ý của các cơ quan lập pháp địa phương, cuộc trưng cầu dân ý hoặc một số thủ tục khác. Điều này làm cho việc sửa đổi hiến pháp khó hơn việc thông qua một luật nào khác. ===== Hiến pháp không được điều lệ hóa ===== Chỉ có ba quốc gia là Israel, New Zealand và Anh dùng hiến pháp không được điều lệ hóa (tính đến tháng 10 năm 2006). Ở những quốc gia sử dụng hiến pháp không được điều lệ hóa, không có sự khác biệt giữa (luật) hiến pháp và các đạo luật (như luật áp dụng cho các khu vực cai quản) trong thuật ngữ pháp lý. Cả hai có thể bị thay thế hoặc loại bỏ bởi đa số trong nghị viện. Trên thực tế, các chính phủ dân chủ không dùng cơ hội này để bãi bỏ tất cả các quyền công dân mà trên lý thuyết họ có thể làm như vậy. Xem thêm: Các luật chính của Anh ==== Sự phân bổ quyền lực ==== Hiến pháp cũng thiết lập quyền lực trong một nước. Có hai loại phân bổ quyền lực cơ bản là: liên bang và nhất thể. Hệ thống chính quyền liên bang có hiến pháp công nhận sự phân chia quyền lực giữa trung ương và địa phương trong một quốc gia. Hiến pháp Canada là một ví dụ điển hình, đó là sự phân chia quyền lực giữa chính phủ liên bang và các tỉnh bang. Hiến pháp nhất thể công nhận quyền lực chỉ tồn tại ở trung ương. Anh là một trong những nước sử dụng loại hình này. ==== Sự phân tách quyền lực ==== Hiến pháp thường biến đổi lớn theo mức độ phân tách quyền lực, thông thường là sự phân tách của các bộ phận hành pháp, lập pháp và tư pháp của chính quyền. Hiến pháp Hoa Kỳ có sự phân tách quyền lực đầy đủ vì với mỗi bộ phận đều có quyền được giao cụ thể. Ví dụ, Quốc hội, cơ quan lập pháp Hoa Kỳ có quyền buộc tội (các quan chức) mà các bộ phận khác không có quyền. ==== Giới hạn trách nhiệm ==== Giới hạn trách nhiệm là một đặc điểm chung của tất cả các hiến pháp dân chủ. Ở hệ thống chính phủ tổng thống, như Hoa Kỳ và hệ thống bán tổng thống, như Pháp, các bộ trưởng có trách nhiệm với tổng thổng, người có quyền bảo trợ để chỉ định hay sa thải bộ trưởng. Tổng thống có trách nhiệm với nhân dân trong một cuộc bầu cử. Trong hệ thống nghị viện, như Anh và Úc, các bộ trưởng có trách nhiệm với nghị viện nhưng thủ tướng lại bổ nhiệm hay sa thải họ (ở hệ thống Westminster, quyền này xuất phát từ quốc vương, thành viên của nghị viện). Cũng có khái niệm về việc bỏ phiếu bất tín nhiệm ở nhiều nước theo chế độ nghị viện, điều này có nghĩa là nếu đa số trong bộ phận lập pháp bỏ phiếu cho cuộc vận động bất tín nhiệm thì chính phủ phải từ chức, và một chính phủ mới sẽ được thành lập hoặc nghị viện sẽ bị giải tán và cuộc tổng tuyển cử sẽ diễn ra. ==== Hiến pháp hình thức ==== Nhà lý luận chính trị Ý Giovanni Sartori cho rằng sự tồn tại của hiến pháp là vẻ ngoài của nguồn quyền hành độc đoán. Trong khi các tài liệu như vậy diễn tả sự tôn trọng nhân quyền hay thiết lập một bộ máy tư pháp độc lập, thì trong thực tế chúng có thể bị làm ngơ một khi nhà cầm quyền cảm thấy bị đe dọa hay hoàn toàn bị sỉ nhục. Một ví dụ điển hình là Hiến pháp Liên Xô, trên văn bản thì đảm bảo quyền tự do lập hội hay quyền tự do ngôn luận nhưng trên thực tế, công dân nếu làm như vậy thì họ sẽ bị bỏ tù (tù nhân chính trị). Ví dụ đó cho thấy rằng sự bảo vệ và lợi ích mà hiến pháp đem lại ít hơn thông qua những điều khoản được thảo ra, nhưng đem lại nhiều cho chính quyền theo nguyên tắc của họ. == Tòa án hiến pháp == Hiến pháp thường được bảo vệ ở mỗi quốc gia bằng "tòa án hiến pháp"("tòa bảo hiến") hoặc "tòa án tối cao". Tòa án này phân xử sự tương thích của các điều khoản pháp luật với các nguyên tắc của hiến pháp. Đặc biệt quan trọng là trách nhiệm của tòa này là bảo vệ các quyền và tự do do hiến pháp quy định. Sự vi phạm hiến pháp, hay vi hiến, là một hành động hay hành động luật trái với hiến pháp được tòa án phân xử. Ví dụ về sự vi phạm hiến pháp ở bộ phận hành pháp có thể là một chính trị gia lạm dụng quyền hành của mình hay bộ phận lập pháp cố thông qua luật trái với hiến pháp mà không thông qua quá trình tu chính hiến pháp trước. Tòa hiến pháp thường gọi là tòa phương án cuối cùng, một thực thể pháp luật cao nhất trong chính phủ. Quá trình thẩm định pháp lý thường được tích hợp vào hệ thống tòa phúc thẩm. Đây là một vụ kiện như với Tòa án Tối cao Hoa Kỳ. Các vụ kiện thường được xét xử ở một tòa án thấp hơn trước khi mang ra trước tòa án tối cao, ngoại trừ các vụ kiện mà tòa tối cao có quyền xét xử trước. Một số quốc gia khác lập ra một tòa đặc biệt chỉ để bảo vệ hiến pháp như ở Tòa án Hiến pháp Đức. Hầu hết các tòa hiến pháp là công cụ quyền lực của quá trình cân nhắc luật có quyền tuyên bố luật "vi hiến", không hợp với hiến pháp. Hiệu lực của việc quyết định này thay đổi tùy theo chính phủ nhưng đều phổ biến cho các hoạt động của tòa án để quyết định một luật nào đó không thể đưa vào cuộc sống, như trường hợp của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, nhiều tòa bị rắc rối khi dựa vào sự hợp tác của hai bộ phận hành pháp và lập pháp để thi hành quyết định của họ một cách thích hợp. Ở quyết định của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đảo lộn chủ thuyết "độc lập nhưng bình đẳng" trong thập niên 1950 dựa vào sự hợp tác của từng tiểu bang để thi hành luật. Một số không thực hiện được, phải nhờ đến sự can thiệp của chính phủ. Các quốc gia khác, như Pháp, có Hội đồng hiến pháp Pháp chỉ phân xử tính hợp hiến của luật trước quá trình phê chuẩn. Một số quốc gia, chủ yếu là những quốc gia có hiến pháp không được điều lệ hóa, không có những tòa án như vậy - ví dụ như Anh, theo truyền thống các chức năng dưới nguyên tắc của quyền tối cao nghị viện là cơ quan lập pháp có quyền ban hành bất cứ luật mà cơ quan đó muốn. Tuy nhiên, vì là thành viên của Liên minh châu Âu, Anh phải tuân theo quyền hạn của luật Cộng đồng châu Âu và Tòa án châu Âu. Tương tự như vậy, bằng việc thừa nhận Ủy ban Nhân quyền châu Âu của Hội đồng châu Âu, nó phải tuân thủ Tòa án Nhân quyền châu Âu. Kết quả là, những cơ quan này là các tòa án hiến pháp có thể vô hiệu hóa hoặc giải thích pháp luật Anh, được thiết lập trước tiên có nguồn gốc từ vụ Factortame. == Liên kết ngoài == International Constitutional Law: English translations of various national constitutions The Constitution Society Research and public education on the principles of constitutional republican government Dictionary of the History of Ideas: Constitutionalism Constitutional Law "Constitutions, bibliography, links" U.S. National Center for Constitutional Studies Democratic Constitution Making U.S. Institute of Peace Report, tháng 7 năm 2003 Images of the Constitution and downloadable high-resolution images from the National Archives. === Hiến pháp Việt Nam === Hiến pháp CHXHCNVN 1992 (bản sửa đổi 2001) Hiến pháp CHXHCNVN 1992 Hiến pháp CHXHCNVN 1980 Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967 Hiến pháp VNDCCH 1960 Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa 1956 Hiến pháp VNDCCH 1946 === Hiến pháp một số quốc gia === (Đa số bằng Tiếng Anh) List of National Constitutions Constitution Finder == Chú thích ==