filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
2 tháng 9.txt | Ngày 2 tháng 9 là ngày thứ 245 trong mỗi năm thường (ngày thứ 246 trong mỗi năm nhuận). Còn 120 ngày nữa trong năm.
== Sự kiện ==
47 TCN – Pharaoh Cleopatra VII tuyên bố con trai bà, Caesarion, là đồng quân chủ của triều đại Ptolemaios
31 TCN – Quân lính ủng hộ Octavianus đánh bại lực lượng của Marcus Antonius và Cleopatra trong Hải chiến Actium trên vùng biển Ionia ngoài khơi Hy Lạp.
1192 – Quốc vương Richard I của Anh và Sultan Ayyub Saladin ký kết hiệp ước Jaffa, kết thúc Cuộc thập tự chinh thứ ba.
1666 – Một ngọn lửa bắt đầu từ đường Pudding Lane ở Luân Đôn gây ra trận đại hỏa hoạn, đốt cháy thành phố trong ba ngày.
1752 – Anh Quốc chấp thuận sử dụng Lịch Gregory, tại đây sau ngày 2 tháng 9 là ngày 14 tháng 9.
1864 – Nội chiến Mỹ: Quân đội Liên bang tiến vào Atlanta, một ngày sau khi quân Liên minh chạy khỏi thành phố, kết thúc Chiến dịch Atlanta.
1870 – Chiến tranh Pháp-Phổ: Quân Phổ bắt giữ Napoléon III và 100.000 binh sĩ làm tù binh trong Trận Sedan.
1939 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Sau khi bắt đầu tiến công Ba Lan vào hôm trước, Đức Quốc xã sáp nhập Thành phố tự do Danzig (nay là Gdańsk, Ba Lan).
1945 – Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Mamoru Shigemitsu ký vào văn kiện thư đầu hàng Đồng Minh trên boong tàu USS Missouri đậu trên Vịnh Tokyo, kết thúc chiến tranh thế giới thứ hai.
1945 – Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập tại quảng trưởng Ba Đình tại Hà Nội, tuyên bố nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời.
1957 – Ngô Đình Diệm thăm chính thức Australia, chuyến thăm kéo dài đến ngày 9/9/1957. Đây là một phần chuyến công du đến các nước chống Cộng sản của ông Diệm.
1958 – Đài truyền hình Bắc Kinh chính thức bắt đầu phát sóng, tiền thân của Đài truyền hình trung ương Trung Quốc (CCTV).
1990 – Transnistria đơn phương tuyên bố là một nước cộng hòa thuộc Liên Xô; Tổng thống Liên Xô Mikhail Gorbachyov tuyên bố rằng quyết định này vô hiệu.
1990 – Công ước về Quyền trẻ em có hiệu lực.
1998 – Chuyến bay 111 của hãng Swissair, trên đường từ Thành phố New York đến Genève, rơi xuống Đại Tây Dương, khiến 229 người trên máy bay thiệt mạng.
2008 – Trình duyệt web miễn phí Google Chrome được phát hành lần đầu tiên.
== Sinh ==
1853 – Wilhelm Ostwald, nhà hóa học người Nga-Đức, đoạt giải Nobel (m. 1932)
1877 – Frederick Soddy, nhá hóa học người Anh Quốc, đoạt giải Nobel (m. 1956)
1878 – Werner von Blomberg, nguyên soái người Đức (m. 1946)
1879 – An Jung-geun, nhà hoạt động, sát thủ người Đại Hàn (m. 1910)
1892 – Tô Bính Văn, tướng lĩnh người Trung Quốc (m. 1975)
1912 – Xuân Thủy, chính trị gia người Việt Nam (m. 1985)
1913 – Bill Shankly, cầu thủ bóng đá và nhà quản lý người Anh Quốc (m. 1981)
1913 – Chu Thiên, nhà văn, nhà phê bình người Việt Nam (m. 1992)
1924 – Daniel arap Moi, nhà sư phạm và chính trị gia người Kenya, Tổng thống Kenya
1931 – Đặng Xuân Kỳ, triết gia người Việt Nam (m. 2010)
1933 – Nguyễn Khánh Dư, đạo diễn, nhà quay phim người Việt Nam (m. 2007)
1946 – Billy Preston, ca sĩ, nghệ sĩ dương cầm, diễn viên người Mỹ (m. 2006)
1949 – Phạm Quang Nghị, chính trị gia người Việt Nam
1950 – Nguyên Hoa, diễn viên, võ sư người Trung Quốc
1952 – Lê Công, võ sư người Việt Nam.
1952 – Jimmy Connors, vận động viên và huấn luyện viên quần vợt, bình luận viên người Mỹ
1953 – Ahmed Shah Masoud, sĩ quan và chính trị gia người Afghanistan (m. 2001)
1961 – Hoàng Thu Sinh, diễn viên người Hồng Kông
1961 – Carlos Valderrama, vận động viên bóng đá người Colombia
1964 – Keanu Reeves, diễn viên người Liban-Canada
1966 – Salma Hayek, diễn viên, đạo diễn, nhà sản xuất người Mexico-Mỹ
1977 – Frédéric Kanouté, cầu thủ bóng đá người Mali
1979 – Ngô Trác Hi, diễn viên và ca sĩ người Hồng Kông
1988 – Javi Martínez, cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha
1989 – Zedd, DJ và nhà sản xuất âm nhạc người Nga-Đức
1989 – Alexandre Pato, cầu thủ bóng đá người Brasil
1996 – Jeong Seongha, nghệ sĩ guitar người Hàn Quốc
== Mất ==
421 – Constantius III, hoàng đế của đế quốc La Mã
1332 – Đồ Thiếp Mục Nhĩ, tức Văn Tông, hoàng đế triều Nguyên, đại khả hãn của đế quốc Mông Cổ, tức ngày Kỉ Dậu (12) tháng 8 năm Nhâm Thân (s. 1304)
1820 – Ái Tân Giác La Ngung Diễm, tức Gia Khánh Đế, hoàng đế của triều Thanh, tức ngày Kỉ Mão (15) tháng 7 năm Canh Thìn (s. 1760)
1834 – Thomas Telford, kỹ sư và kiến trúc sư người Anh Quốc (s. 1757)
1865 – William Rowan Hamilton, nhà vật lý học, thiên văn họa và toán học người Anh Quốc (s. 1805)
1969 − Hồ Chí Minh, chính trị gia người Việt Nam, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (s. 1890)
1937 – Pierre de Coubertin, sử gia và nhà sư phạm người Pháp, thành lập Ủy ban Olympic Quốc tế (s. 1863)
1973 – J. R. R. Tolkien, nhà ngữ văn và thi nhân người Nam Phi-Anh Quốc (s. 1892)
1991 – Alfonso García Robles, chính trị gia người Mexico, đoạt giải Nobel (s. 1911)
1992 – Barbara McClintock, nhà di truyền học người Mỹ, đoạt giải Nobel (s. 1902)
1998 – Vinh Sơn Phạm Văn Dụ, giám mục người Việt Nam (s. 1922)
2013 – Ronald Coase, nhà kinh tế học người Anh Quốc-Mỹ, đoạt giải Nobel (s. 1910)
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
Việt Nam − Ngày Quốc Khánh
== Tham khảo == |
cộng hòa congo.txt | Cộng hòa Congo (tiếng Pháp: République du Congo), cũng được gọi là Congo-Brazzaville hay đơn giản là Congo, là một quốc gia có chủ quyền nằm ở Trung Phi. Nó giáp ranh với năm quốc gia: Gabon và Đại Tây Dương về phía tây; Cameroon về phía tây bắc; Cộng hòa Trung Phi về phía đông bắc; Cộng hòa Dân chủ Congo về phía đông và nam; và tỉnh Cabinda thuộc Angola ở phía tây nam.
Congo-Brazzaville từng là một phần của thuộc địa châu Phi Xích Đạo của Pháp. Sau khi giành được độc lập năm 1960, cựu thuộc địa Congo thuộc Pháp trở Cộng hòa Congo. Cộng hòa Nhân dân Congo là một nhà nước đơn đảng theo chủ nghĩa Marx-Lenin tồn tại từ 1970 tới 1991. Sau đó, các cuộc bầu cử đa đảng đã được tổ chức từ năm 1992, dù chính quyền dân cử đã bị trục xuất năm 1997 trong cuộc Nội chiến Cộng hòa Congo và Denis Sassou Nguesso đã giữ chức tổng thống từ năm đó.
== Lịch sử ==
=== Thời kỳ tiền thuộc địa ===
Những nhóm người Bantu đã lập nên các bộ lạc tại khu vực này từ 1500 trước công nguyên. Nhiều vương quốc Bantu—đáng chú ý là đế quốc Kongo, vương quốc Loango, và vương quốc Anziku (Teke)—đã xây dựng những còn đường thương mại dẫn vào vùng lưu vực sông Congo.
Nhà thám hiểm người Bồ Đào Nha Diogo Cão đến cửa sông Congo năm 1484. Mối quan hệ thương mại nhanh chóng phát triển giữa các vương quốc Bantu trong nội địa và các nhà buôn châu Âu, trao đổi nhau nhiều loại hàng hóa, sản phẩm và cả nô lệ. Sau nhiều thế kỷ làm trung tâm giao thương lớn, thực dân châu Âu bắt đầu biến vùng lưu vực sông Congo thành thuộc địa của mình vào cuối thế kỷ 19.
Năm 1910, Congo bị sáp nhập vào thuộc địa châu Phi Xích đạo thuộc Pháp và Brazzaville trở thành thủ đô. Việc lạm dụng sức lao động của những người làm công dẫn đến sự phản đối công khai chống lại thực dân Pháp.
Năm 1956, tu sĩ Fulbert Youlou thành lập Liên minh dân chủ bảo vệ quyền lợi châu Phi. Năm 1960, Cộng hòa Congo, còn gọi là "Congo-Brazzaville" tuyên bố độc lập. Tu sĩ F. Youlou trở thành Tổng thống và từ chức sau cuộc nổi dậy của nhân dân năm 1963. Alphonse Massamba Débat lên nắm quyền.
Năm 1968, Marien Ngouabi tiến hành cuộc đảo chính quân sự và tuyên bố nền Cộng hòa nhân dân (1970). Năm 1977, M. Ngouabi bị ám sát và Denis Sassou Nguesso trở thành Tổng thống (1979).
Từ năm 1990, thể chế đa đảng được thông qua. Năm 1992, lãnh đạo đảng Dân chủ đối lập, Pascal Lissouba, đắc cứ Tổng thống. Tháng 6 năm 1997, xảy ra các cuộc xung đột đẫm máu giữa phe ủng hộ cựu Tổng thống S. Nguesso và phe ủng hộ Tổng thống đương nhiệm P. Lissouba. Sau khi đánh bại Tổng thống Lissouba, S. Nguesso tuyên bố trở thành Tổng thống. Tuy nhiên, các cuộc xung đột tiếp tục xâu xé đất nước.
Cuối năm 1999, một hiệp định hòa bình được ký kết giữa Sasou Nguesso và nhóm nổi dậy ở miền Nam. Tình trạng thời kì hậu chiến cũng không kém phần bi đát: căn bệnh buồn ngủ và một số bệnh dịch khác tràn lan khắp đất nước. Tháng 3 năm 2002, Tổng thống Denis Sassou Ngueso tái đắc cử với 89,4% số phiếu. Các đối thủ của ông hoặc bị ngăn chặn không thể về nước hoặc rút lui khỏi cuộc bầu cử. Quân đội nổi dậy tiếp tục các cuộc chiến chống lại lực lượng Chính phủ.
== Chính trị ==
Congo-Brazzaville theo thể chế chính trị đa đảng từ đầu thập niên 1990, mặc dù vậy tổng thống Denis Sassou Nguesso vẫn nắm trong tay rất nhiều quyền lực và gần như không có đối thủ trong các cuộc bầu cử.
== Địa lý ==
Quốc gia ở Trung Phi, Bắc giáp Cameroon và Cộng hòa Trung Phi, Nam và Đông giáp Cộng hòa Dân chủ Congo, Tây giáp Gabon, Tây Nam giáp Angola và Đại Tây Dương.
Ngoại trừ dải đồng bằng hẹp ven biển, địa hình phần lớn là cao nguyên và đồi. Sông Oubangi và sông Congo tạo thành biên giới tự nhiên với Cộng hòa Dân chủ Congo. Vùng rừng rậm bao phủ ở phía Bắc đường xích đạo và chuyển dần thành các đồng cỏ ở vùng nhiệt đới phía Nam.
== Kinh tế ==
Cuối những năm 1970, Congo tìm ra dầu lửa. Năm 1987 khai thác 6,3 triệu tấn, chiếm 60% thu nhập quốc dân và hơn 85% thu nhập xuất khẩu.
Nền kinh tế Cộng hoà Congo pha trộn giữa nông nghiệp làng xã và các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp; khu vực công nghiệp chủ yếu dựa vào dầu mỏ, trụ cột của nền kinh tế, cung cấp nguồn thu và nguồn xuất khẩu chủ yếu cho chính phủ. Sau cuộc nội chiến, tháng 10 năm 1997, chính phủ đã công khai thể hiện mối quan tâm của mình trong việc tiếp tục đẩy mạnh cải cách kinh tế, tư nhân hoá và đổi mới sự hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế.
Nhưng những tiến bộ của nền kinh tế đã nhanh chóng bị ảnh hưởng bởi biến động của giá dầu và những cuộc xung đột vũ trang trong nước vào tháng 12 năm 1998 và gây ra sự thâm hụt ngân sách nghiêm trọng và gây khó khăn cho nền kinh tế. Nhưng việc giá dầu hồi phục trong thời gian gần đây đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, năm 2010, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này đạt 10,5%. Trong khi đó tỷ lệ lạm phát giữ ở mức độ ổn định, khoảng 5,2%.
Năm 2010, GDP của Congo đạt 11,88 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 3000 USD/người/năm. Tuy nhiên, phân phối thu nhập là không đồng đều chỉ tập trung vào một nhóm người và phần đông dân số vẫn sống dưới mức nghèo khổ.
Nông nghiệp chỉ đóng góp vào 4,4% GDP. Các nông sản chủ yếu là: gạo, đường, ngô, rau, cà phê, ca cao, sắn, đậu phộng, lâm sản.
Công nghiệp của Congo đóng góp vào 63,7% GDP của nước này. Công nghiệp dựa chủ yếu vào dầu mỏ với sản lượng 274,4 nghìn thùng/ngày (năm 2009). Ngoài ra còn có các ngành công nghiệp khác như xi măng, xà phòng, công nghiệp làm gỗ, thuốc lá… Về ngoại thương, năm 2010, Congo xuất khẩu 9,2 tỷ USD. Sản phẩm xuất khẩu chủ yếu là dầu mỏ, xi măng, gỗ xẻ, gỗ dán, đường, ca cao, cà phê, kim cương. Các bạn hàng xuất khẩu của Congo là Mỹ (23%), Belarus(14%), Đức, Ý, Đài Loan, Trung Quốc.
Năm 2010, Congo nhập khẩu khoảng 3,6 tỷ USD, trong đó các mặt hàng mà nước này nhập nhiều là trang thiết bị, vật liệu xây dựng và lương thực. Các bạn hàng nhập khẩu của Congo là Pháp, Mỹ, Đức, Trung Quốc và Hà Lan.
Cơ cấu kinh tế: nông nghiệp 10%, công nghiệp 48%, dịch vụ 42%. Congo phải nhập phần lớn lương thực. Hiện nay kinh tế Congo đang suy thoái nghiêm trọng do hậu quả của nội chiến. Từ sau khi xảy ra xung đột tháng 5 năm 1997, cơ sở vật chất bị tàn phá nặng nề, tài chính kệt quệ, hệ thống giáo dục, y tế xuống cấp nghiêm trọng, thất nghiệp tăng nhanh.
Xuất nhập khẩu: năm 2007, Congo xuất khẩu dầu lửa (chiếm 50%), gỗ, gỗ dán, đường, dừa, cà phê, kim cương chủ yếu sang các nước: Mỹ (35,9%), Trung Quốc (31,4%), Đài Loan(9,9%), Hàn Quốc (8%); nhập sản phẩm dầu lửa, thiết bị, vật liệu xây dựng và thực phẩm chủ yếu từ Pháp (23%), Trung Quốc (13,2%), Mỹ (7,6%), Ấn Độ(7%).
Ngành nông nghiệp trồng trọt cây lương thực là cơ sở của nền kinh tế. Dầu mỏ là sản phẩm xuất khẩu chính và đóng góp 60% vào ngân sách quốc gia. Ngành đánh bắt cá biển và khai thác gỗ cũng mang lại nguồn lợi đáng kể.
Brazzaville và Pointe-Noire là hai trung tâm kinh tế chính của Cộng hòa Congo. Tình trạng nợ nước ngoài chồng chất, Chính phủ thực hiện các biện pháp tự do hóa nhằm khôi phục lại đầu tư của khu vực tư nhân.
Cộng hòa Congo là một trong những quốc gia có diện tích rừng lớn nhất tại châu Phi (ước khoảng 25 triệu ha rừng), do đó quốc gia Trung Phi này đang tìm kiếm đầu tư của các công ty nước ngoài vào ngành công nghiệp sản xuất, chế biến gỗ - lĩnh vực kinh tế quan trọng chỉ đứng thứ hai sau dầu mỏ.
Với 250 triệu ha rừng trong đó 57% nằm ở CH Dân chủ Congo và 10% thuộc CH Congo (hay Congo Brazzaville), khu vực lưu vực sông Congo là lá phổi sinh học lớn thứ hai thế giới sau vùng rừng Amazone. Lưu vực này bao trùm lên lãnh thổ của các nước Angola, Burundi, Cameroun, Congo-Brazzaville, Gabon, Guinea Xích đạo, Cộng hòa Trung Phi, CH Tchad, Cộng hòa Dân chủ Congo]], Rwanda và São Tomé và Principe.
So với các khu vực rừng nhiệt đới khác, rừng ở lưu vực sông Congo còn tương đối nguyên vẹn. Tuy nhiên, nếu tình trạng phá rừng còn tiếp tục diễn ra với nhịp độ như hiện nay (30.000-40.000ha/năm) thì những khu rừng ở đây sẽ bị phá hủy giống như tại khu vực Đông và Tây Nam Á.
Trong một nghiên cứu mới đây của Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc (FAO) về tình trạng tài nguyên rừng thế giới, năm 2011, khu vực Trung Phi chiếm 37% tổng diện tích rừng trên Trái Đất. Tại CH Congo, rừng bao phủ 25 triệu ha, tương đương khoảng 70% lãnh thổ quốc gia. Đây là nước có diện tích rừng lớn thứ hai ở châu Phi sau Cộng hòa Dân chủ Congo. Ngoài rừng tự nhiên, Congo còn trồng mới 86.000 ha chủ yếu là bạch đàn (73.000 ha), limba (7.500 ha), thông (4.500 ha), các loại cây khác (1000 ha).
Tiềm năng khai thác gỗ ước đạt 2 triệu m3/năm, tuy nhiên nước này chưa bao giờ đạt sản lượng trên con số 850.000 m3. Những cây gỗ chính gồm có cây trám hồng, gỗ tếch, gụ, bạch đàn, gỗ limba, gỗ xoan đào (sapelli).
Ngành lâm nghiệp của Cộng hòa Congo vẫn bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tuy nhiên đã bắt đầu có dấu hiệu phục hồi. Đóng góp vào GDP là rất nhỏ (3%). Sản xuất gỗ tròn, gỗ xẻ giảm từ 77.109 m3 trong năm 2009 xuống còn 14.662 m3 trong năm 2010 do giá gỗ xẻ trên thị trường quốc tế vẫn thấp. Tuy nhiên, sự gia tăng nhu cầu từ các nước châu Á đặc biệt là từ Trung Quốc (70% gỗ của Congo được xuất sang Trung Quốc), Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha đang mở ra triển vọng mới cho ngành khai thác gỗ của nước này. Ở Congo hiện có 2 công ty chi phối ngành sản xuất gỗ là Olam - tập đoàn có trụ sở tại Singapore và công ty gỗ CIB của Congo, chi nhánh của tập đoàn Đan Mạch Dalhoff Larsen & Horneman.
Năm 2011, Congo tiếp tục duy trì các biện pháp nhằm giảm những tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng đối với ngành gỗ như xuất khẩu đến 30% gỗ tươi và tạo điều kiện thuận lợi cho việc thanh toán thuế đốn cây. Việc chế biến gỗ vẫn là một lựa chọn ưu tiên của Congo với việc chú trọng đào tạo nguồn nhân lực. Hơn nữa, việc áp dụng giấy phép chứng nhận gỗ sẽ giúp nước này thu được nhiều lợi ích.
Mục tiêu của chính sách lâm nghiệp Cộng hòa Congo là bảo đảm phát triển kinh tế, xã hội và sinh thái của đất nước trên cơ sở quản lý bền vững các nguồn tài nguyên rừng và hệ động vật trong đó:
Về mặt công nghiệp, Congo chủ trương chế biến gần như toàn bộ gỗ sản xuất trong nước. Phát triển một ngành công nghiệp gỗ tích hợp có năng suất cao và về trung hạn, cơ cấu lại các nhà máy chế biến gỗ hiện nay; Nâng cao hiệu quả của các đơn vị công nghiệp phụ trách những rừng trồng bạch đàn và thông. Ứng dụng những thành tựu khoa học, kỹ thuật cho ngành công nghiệp gỗ. Về mặt xuất khẩu, cho phép xuất khẩu có thời hạn các loại gỗ có giá trị gia tăng cao hơn giá trị mà ngành công nghiệp chế biến gỗ địa phương mang lại. Tuy nhiên, những giao dịch này không được vượt quá một số mức trần quy định đối với các loại gỗ tươi. Thiết lập một loại phí đối với gỗ xuất khẩu thu theo hướng giảm dần tùy theo mức độ chế biến xuống còn 0% đối với hàng thành phẩm. Tăng cường việc kiểm soát gỗ xuất khẩu và theo dõi các thị trường xuất khẩu nhằm tối ưu hóa các nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.
Về mặt thuế, dành cho các công ty lâm nghiệp những ưu đãi thuế quan bằng cách áp dụng bộ luật đầu tư sửa đổi. Áp dụng hệ thống thuế lâm nghiệp linh hoạt có tính đến những vùng sản xuất gỗ khó tiếp cận. Nâng cao giá trị gia tăng của gỗ ngay tại địa phương.
Ông Henri Djombo, Bộ trưởng Môi trường và Lâm nghiệp Cộng hòa Congo cho biết Congo mong muốn phát huy thế mạnh của ngành công nghiệp gỗ bằng cách kêu gọi doanh nghiệp của những nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Ấn Độ, Brasil... hợp tác, đầu tư vào lĩnh vực này.
== Đối ngoại ==
Cộng hòa Congo thành viên của Liên hợp quốc, Tổ chức Pháp ngữ, Phong trào KLK, IMF, WTO... Nước này đang triển khai đường lối đối ngoại mở cửa, tranh thủ vốn và kỹ thuật của Mỹ, phương Tây (chủ yếu là Pháp) và các tổ chức quốc tế (như World Bank và IMF) nhằm khôi phục hạ tầng cơ sở, cải thiện mức sống của nhân dân, đưa Congo, một nước dầu mỏ trở lại con đường phát triển kinh tế sau nhiều năm nội chiến.
Congo cắt quan hệ ngoại giao với Sahraoui Dân chủ sau chuyến thăm của Charles Ganao sang Maroc (tháng 9 năm 1996). Ngày 26 tháng 12 năm 1998, Congo ký Hiệp ước không xâm lược với Cộng hòa Dân chủ Congo (Congo K) của chính quyền Kabila.
== Hành chính ==
Cộng hòa Congo được chia thành 12 bang. Các bang được chia thành xã và huyện. Đó là:
Bouenza
Cuvette
Cuvette-Ouest
Kouilou
Lékoumou
Brazzaville
Likouala
Niari
Plateaux
Pool
Sangha
Pointe Noire
== Dân cư ==
Cộng hòa Congo có số lượng dân cư thưa thớt, phần lớn dân số tập trung ở phần phía Tây Nam của đất nước, để lại những khu vực rộng lớn của khu rừng nhiệt đới ở miền Bắc hầu như không có người ở. Do đó, Congo là một trong những nước có mức đô thị hóa cao nhất ở châu Phi, với 70% tổng dân số sống ở khu vực đô thị, cụ thể là tại Brazzaville, Pointe-Noire hoặc một trong những thành phố nhỏ, làng dọc theo chiều dài 534 km đường sắt nối liền hai thành phố lớn này. Trong khu vực nông thôn, hoạt động công nghiệp và thương mại đã giảm nhanh chóng trong những năm gần đây, để lại nền kinh tế nông thôn phụ thuộc vào sự hỗ trợ của chính phủ và tự cung tự cấp.
Dân tộc và ngôn ngữ của Cộng hòa Congo là đa dạng. Nước này công nhận 62 ngôn ngữ được nói trong nước, nhưng cia thành ba loại ngôn ngữ chính. Các bộ tộc thuộc sắc tộc Kongo là nhóm dân tộc lớn nhất chiếm khoảng một nửa dân số. Các nhóm đáng chú ý nhất của Kongo là Laari sống tại tại Brazzaville, Pool, Vili và xung quanh Pointe-Noire và dọc theo bờ biển Đại Tây Dương. Nhóm lớn thứ hai là người Teke sống ở phía bắc Brazzaville chiếm 17% dân số. Người Boulangui (M'Boshi) sống ở phía tây bắc và ở Brazzaville chiếm 12% dân số.Người Pygmy chiếm 2% dân số Congo.
Trước khi cuộc chiến tranh năm 1997, có khoảng 9.000 người châu Âu và các quốc gia châu Phi sống ở Congo, nhất là những người Pháp, hiện giờ chỉ có một phần nhỏ của con số này vẫn còn ở lại. Khoảng 300 người Mỹ cư trú tại Congo.
Người dân Cộng hòa Congo phần lớn theo Công giáo và Tin Lành, khoảng 50,5% và 40,2% dân số. Phần lớn các Kitô hữu trong nước là Công giáo Rôma, trong khi số còn lại bao gồm nhiều giáo phái Kitô giáo khác. Tín đồ Hồi giáo chiếm 1,3% dân số, chủ yếu là do một làn sóng lao động nước ngoài sang ở tại các trung tâm đô thị.
== Giáo dục ==
Giáo dục công về mặt lý thuyết là miễn phí và bắt buộc cho trẻ dưới 16 tuổi, nhưng trong thực tế, chi phí cho việc học tập vẫn tồn tại. Tỷ lệ học sinh tiểu học là 44% trong năm 2005, ít hơn nhiều so với 79% vào năm 1991.
Giáo dục ở độ tuổi từ sáu đến mười sáu là bắt buộc. Sinh viên hoàn thành sáu năm học tiểu học, bảy năm trung học cơ sở mới có được bằng tú tài. Ở trường đại học, sinh viên học cử nhân trong ba năm và thạc sĩ là bốn năm. Đại học Marien Ngouabi cung cấp các khóa học trong y học, pháp luật và một số các lĩnh vực khác, đây là đại học công lập duy nhất của đất nước.
Hệ thống giáo dục ở Cộng hòa Công gần như hoàn toàn theo mô hình hệ thống giáo dục của Pháp. Cơ sở hạ tầng giáo dục đã xuống cấp nghiêm trọng do hậu quả của cuộc khủng hoảng chính trị và kinh tế. Không có ghế trong hầu hết các lớp học, buộc trẻ em ngồi trên sàn nhà.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
CIA World Factbook - Congo, Republic of the |
ca trù.txt | Ca trù (Nôm: 歌籌; hát cô đầu, hát ả đào, hát nhà tơ, hát nhà trò) là một loại hình diễn xướng bằng âm giai rất thịnh hành tại khu vực Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Việt Nam. Ca trù thịnh hành từ thế kỷ 15, từng là một loại ca trong cung đình và được giới quý tộc và trí thức yêu thích. Ca trù là một sự phối hợp nhuần nhuyễn và đỉnh cao giữa thi ca và âm nhạc.
Ngày 1 tháng 10 năm 2009, tại kỳ họp lần thứ tư của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28 tháng 9 tới ngày 2 tháng 10 năm 2009), ca trù đã được công nhận là di sản phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp. Đây là một Danh hiệu UNESCO ở Việt Nam có vùng ảnh hưởng lớn, với phạm vi tới 16 tỉnh, thành phố ở nửa phía Bắc Việt Nam. Hồ sơ đề cử Ca trù là di sản văn hóa thế giới với không gian văn hóa Ca trù trải dài khắp 16 tỉnh phía Bắc gồm: Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Phòng, Hải Dương, Hưng Yên, Hà Nam, Nam Định, Thái Bình, Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và Quảng Bình.
== Nguồn gốc ==
Các chuyên gia nghiên cứu đến nay, đa số đã đồng ý cho rằng Ca trù dưới hình thức ngày nay đã bắt đầu có từ thời nhà Lê (thế kỷ XV) sau khi cây đàn đáy do Đinh Lễ (hay Đinh Dự theo một số Giáo phường) sáng chế ra.
Ca trù là dạng nghệ thuật biểu diễn dùng nhiều thể văn chương như thể phú, thể truyện, thể ngâm, nhưng thể văn chương phổ biến nhất là hát nói.
Hát nói xuất hiện sớm nhưng phải đợi đến đầu thế kỷ thứ 19 mới có những tác phẩm lưu truyền đến nay như các tác phẩm của Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát... Nguồn gốc của thể Hát nói trong văn chương Việt Nam được giải thích bằng những nguyên nhân và các sự việc sau đây:
Hát nói là sự phàm tục hoá những thể thánh ca. Trước khi có Hát nói, ở Việt Nam đã có những bài hát xoan, hát cửa đền, cửa chùa, những bài thét nhạc. Những thể ca trong các dịp tế lễ đó chuyển dần công dụng và được các tao nhân, mặc khách tổ chức ngay trong những cuộc giải trí riêng của họ. Các bài hát ả đào bắt đầu từ đó.
Hát nói là sự cụ thể hoá ảnh hưởng của tư tưởng Lão-Trang. Xưa kia văn chương Việt Nam về nội dung phải gò bó trong những tư tưởng Khổng Mạnh, về hình thức phải đem theo những quy luật khắt khe, những lối diễn tả nhất định. Cuối thế kỷ thứ 18, do hoàn cảnh rối ren trong xã hội, tư tưởng Lão-Trang có cơ hội bành trướng và hát nói chính là sáng tạo của các nhà nho phóng khoáng, thích tự do, ở đấy họ có thể gửi gấm những tư tưởng, cảm xúc vượt ra ngoài khuôn phép với cách diễn đạt cởi mở, rộng rãi hơn.
Hát nói là biến thể của song thất lục bát. Các nhà viết sách thời xưa cho rằng Hát nói là một hình thức biến đổi của thể ngâm Song thất lục bát: Trong hát nói có Mưỡu là những câu thơ lục bát, nhiều câu 7 chữ có vần bằng, vần trắc, có cước vận, yêu vận. Nhưng khi đã phát triển, Hát nói là một thể tài hỗn hợp gồm: thơ, phú, lục bát, song thất, tứ tự, nói lối... # # # Trong lối Hát ả đào có nhiều loại như: Dâng hương, Giáo trống, Gủi thư, Thét nhạc thì Hát nói là lối thông dụng và có tính văn chương lý thú nhất.
== Thành phần trình diễn ==
Một chầu hát cần có ba thành phần chính:
Một nữ ca sĩ (gọi là "đào" hay "ca nương") sử dụng bộ phách gõ lấy nhịp,
Một nhạc công nam giới (gọi là "kép") chơi đàn đáy phụ họa theo tiếng hát
Người thưởng ngoạn (gọi là "quan viên", thường là tác giả bài hát) đánh trống chầu chấm câu và biểu lộ chỗ đắc ý bằng tiếng trống.
Vì là nghệ thuật âm nhạc thính phòng, không gian trình diễn ca trù có phạm vi tương đối nhỏ. Đào hát ngồi trên chiếu ở giữa. Kép và quan viên ngồi chếch sang hai bên. Khi bài hát được sáng tác và trình diễn ngay tại chỗ thì gọi là "tức tịch," nghĩa là "ngay ở chiếu."
== Âm nhạc ==
Ca trù vừa là một loại thanh nhạc (vocal music), vừa là một loại khí nhạc (instrumental music). Có một ngôn ngữ âm nhạc tế nhị, tinh vi.
Thanh nhạc: Ca nương phải có một giọng thanh - cao - vang, khi hát phải biết ém hơi, nhả chữ và hát tròn vành rõ chữ, biết nảy hạt (đổ hột), đổ con kiến. Ca nương vừa hát, vừa gõ phách. Phải biết rành 5 khổ phách cơ bản, đánh lưu không, tiếng phách phải chắc và giòn, lời ca và tiếng phách phải ăn khớp với nhau.
Khí nhạc: Kép đàn dùng đàn đáy phụ họa. Bản đàn không nhất thiết phải đi theo bài hát, vì phải theo khổ đàn, nhưng khổ đàn – khổ phách – tiếng ca hợp nhau, hài hòa nhuần nhuyễn. Có những cách đàn ca chân phương- theo lề lối hay hàng hoa- sáng tạo và bay bướm.
Quan viên là người cầm chầu, tiếng trống chầu vừa chấm câu khi tham gia vào cuộc diễn tấu, nhưng có tính chất phê phán, khen chê đúng chỗ, để khích lệ ca nương – kép đàn, giúp cho thính giả biết được đoạn nào hay - thật hay và như thế được giáo dục âm nhạc trong cách nghe.
== Một số tác phẩm nổi tiếng ==
Bài bản ca trù có nhiều loại. Phổ thông nhất là hát nói, một thể văn vần có tính cách văn học cao. Những bài hát nói nổi tiếng phải kể đến:
Cao Bá Quát với "Tự tình", "Hơn nhau một chữ thì", "Phận hồng nhan có mong manh", "Nhân sinh thấm thoắt"...
Nguyễn Công Trứ với "Ngày tháng thanh nhàn", "Kiếp nhân sinh", "Chơi xuân kẻo hết xuân đi", "Trần ai ai dễ biết ai"...
Dương Khuê với "Hồng hồng, tuyết tuyết" tức "Gặp đào Hồng đào Tuyết".
Chu Mạnh Trinh với Hương Sơn phong cảnh.
Tản Đà với "Gặp xuân","Xuân tình", "Chưa say"
Nguyễn Khuyến với "Hỏi phỗng đá", "Duyên nợ"
Nguyễn Thượng Hiền với "Chơi chùa Thầy";
Trần Tế Xương với "Hát cô đầu"
... Ngoài ra còn có những làn điệu cổ điển khác như "Tỳ bà hành" (bản diễn Nôm của Phan Huy Vịnh theo cổ bản của Bạch Cư Dị). Những điệu huê tình, gửi thư, bắc phản, hát giai... cũng thuộc thể ca trù.
== Ca trù ngày nay ==
Sau Cách mạng Tháng 8, ca trù bị xem là "trò chơi hư hỏng, trụy lạc" và bị cấm đoán vì bị xem là liên quan đến mại dâm. Mãi đến những thập niên gần đây ca trù mới được cho phép hát trở lại.
Nghệ thuật ca trù được khai thác trong nhiều bộ phim cũng như trong các chủ đề âm nhạc Việt Nam. Có thể bắt gặp ca trù trong phim Mê Thảo thời vang bóng hay trong bài hát "Một nét ca trù ngày xuân" của nhạc sĩ Nguyễn Cường...
Theo thống kê của các nhà nghiên cứu, năm 2010 có 63 câu lạc bộ ở 15 tỉnh, thành phố trên cả Việt Nam có hoạt động thường xuyên và có kế hoạch luyện tập truyền nghề ca trù. Một số tỉnh thành phía Bắc, điển hình là các tỉnh có nhiều câu lạc bộ ca trù như:
Hà Nội: Câu lạc bộ Ca trù Lỗ Khê, CLB Ca trù Thăng Long, CLB Ca trù thôn Chanh (Phú Xuyên), CLB Ca trù Hà Nội.
Ninh Bình: Câu lạc bộ Ca trù đền thờ Nguyễn Công Trứ, CLB Ca trù Cố Viên Lầu
Hà Tĩnh: Câu lạc bộ Ca trù Nguyễn Công Trứ, CLB Ca trù Cổ Đạm
Bắc Ninh: CLB Ca trù Thanh Khương (Thuận Thành), CLB Ca trù Tiểu Than (Gia Bình) và CLB Ca trù Đông Tiến (Yên Phong).
=== Nghệ nhân Dân gian ===
Nghệ nhân Quách Thị Hồ
Nghệ nhân Nguyễn Thị Thiệp (Bắc Ninh)
Nghệ nhân Nguyễn Văn Khôi (Hà Nội)
Nghệ nhân Phạm Thị Mùi (Lỗ Khê, Đông Anh, Hà Nội)
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Ả đào Việt Nam và ả đào và Geisha Nhật Bản, Nguyễn Hoàng Anh Tuấn, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 331, tháng 1-2012
người giữ lửa Ca trù cổ Đạm
Ca trù - một di sản văn hóa cần được bảo tồn
Đêm ca trù tưởng nhớ Nghệ sĩ Nhân dân Quách Thị Hồ
Các câu lạc bộ nghệ thuật ca trù
Nghe hát ca trù trực tuyến
Thử bàn về ca trù
Nghệ thuật ca trù
Sức sống của nghệ thuật ca trù
Sống dậy ca trù Thăng Long
NGƯỜI CÓ CÔNG DÀN DỰNG ĐIỆU MÚA CỔ CA TRÙ CỔ ĐAM
Ca trù Thăng Long - 12 tối thứ 7 và 365 ngày |
niên biểu lịch sử anh (1600-1699).txt | Dưới đây là niên biểu các sự kiện trong lịch sử Anh từ năm 1600 1699.
Niên biểu lịch sử ở Anh (1500-1599) Niên biểu lịch sử ở Anh (1700-1799)
== 1600 - 1699 ==
1603 England - Nữ hoàng Elizabeth I mất 24 tháng 3
1603 England - James VI xứ Scotland lên ngôi vua England (với tên James I xứ England)
1603 England - Bệnh dịch
1605 England và Scotland - 5 tháng 11, âm mưu của Gunpowder bị phát hiện
1618 England - Hành hình Walter Raleigh
1625 England và Scotland - James VI và I mất 27 tháng 3
1639 England và Scotland - Chiến tranh Bishops kéo dài cho đến 1644
1640 England - Long Parliament được triệu tập.
1642 England - Nội chiến Anh bắt đầu (xem Niên biểu Nội chiến Anh)
1666 England - Đại hoả hoạn ở London tàn phá thành phố từ 2 tháng 9 - 6 tháng 9.
1688 England - Cuộc cách mạng Glorious thay thế James II bằng William III
== Xem thêm ==
Niên biểu lịch sử ở Anh
Anh đầu thời Hiện đại
Lịch sử quần đảo Anh
Lịch sử England
Lịch sử Ireland
Lịch sử Bắc Ireland
Lịch sử Scotland
Lịch sử Wales
Lịch sử Vương quốc Liên hiệp Anh
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
lợi tức.txt | Lợi tức là một khái niệm trong kinh tế học dùng để chỉ chung về những khoản lợi nhuận (lãi, lời) thu được khi đầu tư, kinh doanh hay tiền lãi thu được do cho vay hoặc gửi tiết kiệm tai ngân hàng. Trong các trường hợp khác nhau, thì lợi tức có tên gọi khác nhau, trong đầu tư chứng khoán, lợi tức có thể gọi là cổ tức, trong tiền gửi tiết kiệm, tiền gửi kỳ hạn, nó gọi là lãi hay tiền lãi, còn trong các hoạt động đầu tư kinh doanh khác, lợi tức có thể gọi là lợi nhuận, lời...
== Thuật ngữ ==
Lợi tức là một khái niệm được xem xét dưới hai góc độ khác nhau gồm góc độ của người cho vay và của người đi vay.
Ở góc độ người cho vay hay nhà đầu tư vốn, lợi tức là số tiền tăng thêm trên số vốn đầu tư ban đầu trong một khoảng thời gian nhất định. Khi nhà đầu tư đem đầu tư một khoản vốn, nhà đầu tư sẽ thu được một giá trị trong tương lai lớn hơn giá trị đã bỏ ra ban đầu và khoản chênh lệch này được gọi là lợi tức.
Ở góc độ người đi vay hay người sử dụng vốn, lợi tức là số tiền mà người đi vay phải trả cho người cho vay (là người chủ sở hữu vốn) để được sử dụng vốn trong một thời gian nhất định. Trong thời gian cho vay, người cho vay có thể gặp phải những rủi ro như: người vay không trả lãi hoặc không hoàn trả vốn vay. Những rủi ro này sẽ ảnh hưởng đến mức lợi tức mà người cho vay dự kiến trong tương lai. Khoản tiền đi vay (hay bỏ ra để cho vay) ban đầu gọi là vốn gốc. Số tiền nhận được từ khoản vốn gốc sau một khoản thời gian nhất định gọi là giá trị tích luỹ. Tỷ suất lợi tức (lãi suất) là tỷ số giữa lợi tức thu được (phải trả) so với vốn đầu tư (vốn vay) trong một đơn vị thời gian. Đơn vị thời gian là năm (trừ trường hợp cụ thể khác).
== Kinh tế chính trị Marx-Lenin ==
Trong kinh tế chính trị Marx-Lenin, lợi tức là một thuật ngữ dùng để chỉ một phần của lợi nhuận bình quân mà tư bản đi vay trả cho tư bản cho vay về quyền sở hữu tư bản để được quyền sử dụng tư bản trong một thời gian nhất định. Lợi tức được Marx ký hiệu là z. Người cho vay và người đi vay thỏa thuận với nhau về tỷ suất lợi tức (là tỷ lệ phần trăm giữa tổng số lợi tức và số tư bản tiền tệ cho vay trong một thời gian nhất định, ký hiệu là z'). z' = %100.CVKz. trong đó: KCV là số tư bản cho vay. Tỷ suất lợi tức phụ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận bình quân và quan hệ cung - cầu về tư bản cho vay. Giới hạn vận động của tỷ suất lợi tức là: 0 < z' < p'.
== Trong hoạt động kinh doanh ==
Lợi tức thực hiện cả năm là kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, bao gồm lợi tức hoạt động kinh doanh và hoạt động khác. Lợi tức hoạt động kinh doanh là khoản chênh lệch giữa tổng doanh thu bán sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trừ đi giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đã tiêu thụ và thuế theo quy định của pháp luật (trừ thuế lợi tức).
Lợi tức hoạt động khác bao gồm:
Lợi tức hoạt động tài chính là số thu lớn hơn chi của các hoạt động tài chính, bao gồm các hoạt động cho thuê tài sản, mua, bán trái phiếu, chứng khoán, mua bán ngoại tệ, lãi tiền gửi ngân hàng thuộc vốn kinh doanh, lãi cho vay thuộc các nguồn vốn và quỹ, lãi cổ phần và lãi do góp vốn liên doanh, hoàn nhập số dư khoản dự phòng giảm giá đầu tư chứng khoán ngắn hạn, dài hạn.
Lợi tức của hoạt động bất thường là khoản thu nhập bất thường lớn hơn các chi phí bất thường, bao gồm các khoản phải trả không có chủ nợ, thu hồi lại các khoản nợ khó đòi đã được duyệt bỏ (đang theo dõi ngoài bảng cân đối kế toán, các khoản vật tự, tài sản thừa sau khi đã bù trừ hao hụt mất mát các vật tư cùng loại, chênh lệch thanh lý, nhượng bán tài sản (là số thu về nhượng bán trừ giá trị còn lại trên sổ sách kế toán của tài sản và các chi phí thanh lý, nhượng bán), các khoản lợi tức các năm trước phát hiện năm nay, số dư hoàn nhập các khoản dự phòng giảm giá hàng tồn kho, phải thu khó đòi, khoản tiền trích bảo hành sản phẩm còn thừa khi hết hạn bảo hành.
== Tham khảo ==
Giáo trình Kinh tế học Chính trị Mác – Lê nin (tái bản), Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình Quốc gia các bộ môn khoa học Mác – Lê nin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, năm 2005
Kinh tế Chính trị Mác – Lênin (in lần thứ 2 có sửa chữa, bổ sung), Vũ Anh Tuấn, Phạm Quang Phân, Tô Đức Hạnh, Nhà xuất bản Tổng hợp, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2007
100 câu hỏi và bài tập kinh tế chính trị Mác – Lênin (tái bản lần thứ 5), An Như Hải, Nhà xuất bản Lý luận chính trị, Hà Nội, năm 2008
Chính trị, Bộ Giáo dục và Đào tạo – Chủ biên: Lê Thế Lạng, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, năm 2004 (tái bản có bổ sung, sửa chữa)
== Xem thêm ==
Lợi nhuận |
apple pay.txt | Apple Pay là dịch vụ thanh toán di động và ví số được Apple Inc. cung cấp trên các thiết bị di động iPhone 6, iPhone 6 Plus và Apple Watch - các thiết bị tương thích (iPhone 5 và các model sau này), iPad Air 2 và iPad Mini 3. Apple Pay sẽ làm việc với Visa PayWave, PayPass của MasterCard và American Express ExpressPay.
Dịch vụ thanh toán trực tiếp này thực hiện ở máy thanh toán của các cửa hàng thông qua giao tiếp NFC, các thông tin về thẻ sẽ được lưu và bảo quản trong chiếc iPhone 6 hoặc iPhone 6 Plus, người dùng khi thanh toán đưa iPhone qua vùng NFC trên máy thanh toán, chạm vân tay vào TouchID và giao dịch đã kết thúc, không thông tin nào của thẻ bị lộ ra ngoài. Người dùng có thể thêm tùy thích thông tin của rất nhiều thông tin thẻ tín dụng, tất cả được lưu trong một ứng dụng trên iPhone có tên là Passbook. Mỗi lần giao dịch, máy chủ của Apple sẽ cho ra những dãy mã dùng một lần cho cuộc giao dịch thanh toán, Apple sẽ không lưu và sử dụng trực tiếp thông tin từ thẻ của khách hàng nên không xảy ra các hiện tượng rò rỉ hay đánh cắp thông tin thẻ hay mã PIN. Bên cạnh đó cũng có thể dùng dịch vụ Apple Pay để thanh toán các giao dịch diễn ra trong các ứng dụng như mua trò chơi, nhạc.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Apple Pay - trang chủ chính thức |
barcelona open banco sabadell 2017 - đôi.txt | Bob và Mike Bryan là đương kim vô địch giải đấu, nhưng không tham gia giải để bảo vệ chức vô địch họ đã giành được.
Florin Mergea và Aisam-ul-Haq Qureshi dành danh hiệu, đánh bại Philipp Petzschner và Alexander Peya ở trận chung kết, với tỷ số là 6–4, 6–3.
== Hạt giống ==
== Draw ==
=== Chú giải ===
=== Lịch ===
== Vòng loại ==
=== Hạt giống ===
=== Vượt qua vòng loại ===
Marcus Daniell / Marcelo Demoliner
== Kết quả vòng loại ==
== Tham khảo ==
Main Draw
Qualifying Draw |
đại học liên hiệp quốc.txt | Trường Đại học Liên Hiệp Quốc (tiếng Nhật: 国際連合大学 Kokusai Rengō Daigaku; Hán-Việt: Quốc tế Liên hiệp Đại học) là một cơ quan Liên Hiệp Quốc được thành lập tại Tokyo năm 1973 để "nghiên cứu về những vấn đề toàn cầu quan trọng về sự sống sót, phát triển, và hạnh phúc của con người là sự quan tâm của Liên Hiệp Quốc và các cơ quan". Tổng Thư ký U Thant là người kêu gọi cho học viện này năm 1969.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ Đại học Liên Hiệp Quốc (tiếng Anh, Nhật)
UNU Update – tin tức Đại học Liên Hiệp Quốc (tiếng Anh) |
samsung galaxy pocket.txt | Samsung Galaxy Pocket (GT-S5300) là một điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Android do Samsung sản xuất, được phát hành vào tháng 3 năm 2012. Nó vẫn hướng đến phân khúc giá rẻ, với màn hình LCD 2.8-inch tương đối nhỏ. Thông số kĩ thuật của nó tương tự như Samsung Galaxy Y. Pocket được trang bị bộ xử lý 832 MHz và các tùy chọn kết nối gồm 3G, Wi-Fi và Bluetooth 3.0. Nó có bộ nhớ trong 3 GB và có thể nâng cấp lên 32 GB thông qua thẻ nhớ microSD, cùng với pin Li-ion 1200 mAh.
== Tính năng ==
== Bán ra ==
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy Pocket 2, với kết nối 3G
Samsung Galaxy Pocket Neo, phát hành vào tháng 6 năm 2013
Samsung Galaxy Pocket Duos, có 2 SIM
Samsung Galaxy Y
Samsung Galaxy Mini
Samsung i5500 (Galaxy 5)
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài == |
khổng tử.txt | Khổng phu tử (tiếng Trung: 孔夫子) hoặc Khổng tử (tiếng Trung: 孔子) là danh hiệu tôn kính của hậu thế cho Khổng Khâu (chữ Hán: 孔丘; 27 tháng 8, 551 TCN - 11 tháng 4, 479 TCN) tự Trọng Ni (chữ Hán: 仲尼). Ông được suy tôn như một trong những nhà khai sáng Nho giáo, đồng thời là giảng sư và triết gia lỗi lạc bậc nhất cõi Á Đông.
Trí tuệ Khổng Khâu được đúc kết trong mỹ tự Vạn thế sư biểu (chữ Hán: 萬世師表) hoặc Đại thành chí thánh tiên sư (chữ Hán: 大成至聖先師).
== Danh hiệu ==
Nguyên danh: Khổng Khâu (孔丘).
Biểu tự: Trọng Ni (仲尼).
Thụy hiệu: Bao thành tuyên Ni công (褒成宣尼公; năm 1 triều Hán Bình Đế), Văn Tuyên vương (文宣王; năm 739 triều Đường Huyền Tông), Đại thánh Văn Tuyên vương (大聖文宣王, năm 1008 triều Tống Chân Tông), Chí thánh tiên sư (至聖先師; năm 1560 triều Minh Thế Tông), Đại thành chí thánh Văn Tuyên vương Thánh sư (大成至聖文宣王聖師; năm 1645 triều Thanh Thế Tổ).
Khi dịch sách Trung Hoa sang ngôn ngữ Tây dương, các tu sĩ dòng Tên đã chuyển âm Kǒng fūzǐ thành Confucius.
== Tiểu sử ==
=== Ấu thơ ===
Khổng Khâu sinh trưởng tại ấp Trâu, thôn Xương Bình, nước Lỗ (nay là huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông, Trung Hoa) cuối thời Xuân Thu. Nhiều sử ký nói rằng ông là con của một gia đình nghèo, nhưng cụ tổ ba đời vốn cũng thuộc dòng quý tộc đã sa sút từ nước Tống di cư đến nước Lỗ.
Cha ông là Thúc Lương Ngột (cháu 13 đời của Vi Tử Diễn, anh của vua Trụ nhà Thương) là quan võ thuộc ấp Trâu, đến 70 tuổi mới lấy bà Nhan Chinh Tại mà sinh ra ông. Tương truyền khi Nhan Chinh Tại mang thai, theo tập quán lúc đó hai ông bà đưa nhau đến Ni Khâu phía đông nam thành Khúc Phụ để cầu thần núi, sau đó đến một cái động ở gần đó để nghỉ, không ngờ lại trở dạ và sinh con ở ngay trong cái động đó. Để tỏ lòng cảm tạ thần nhân, hai ông bà lấy núi đặt cho con, do đó tên ông là Khâu, lại có tự là Trọng Ni.
Năm lên ba, Khâu mồ côi cha. Bà Nhan Chinh Tại lúc đó mới 20 tuổi không sợ khó khăn vất vả đã đưa Khổng Tử đến sống ở Khúc Phụ, thủ phủ nước Lỗ, mong ông được sống và lớn lên trong một điều kiện tốt hơn. Khi lớn lên, ông phải làm lụng vất vả để giúp đỡ mẹ, nhưng rất ham học. Ông từng nói "... Lúc nhỏ bị nghèo hèn, ta phải làm nhiều nghề nên biết được nhiều việc nhỏ mọn. Người quân tử cần biết nhiều như vậy không? Không cần biết nhiều nghề như vậy.". Năm ông 16 tuổi thì mẹ qua đời, Khổng Tử đó sống một cuộc sống thanh bạc, hàng ngày vẫn chăm chỉ học hành, mong muốn thực hiện được ước vọng của mẹ.
=== Làm quan ===
Năm 19 tuổi, ông lấy vợ và làm một chức quan nhỏ coi kho chuyên quản lý kho tàng, xuất nạp tiền lương công bằng chuẩn xác. Ông cũng từng đảm nhiệm chức quan nhỏ chuyên quản lý nông trường chăn nuôi, súc vật sinh trưởng rất tốt. Nhờ vậy ông được thăng chức lên làm quan Tư không, chuyên quản lý việc xây dựng công trình. Năm 21 tuổi, Đức Khổng Tử được cử làm chức Ủy Lại, một chức quan nhỏ coi việc sổ sách của kho lúa, cùng là cân đo và gặt lúa. Sau đó, qua làm chức Tư Chức Lại, coi việc nuôi bò, dê, súc vật dùng trong việc tế tự.
Năm 22 tuổi, ông lập trường giảng học và thường được các môn đồ gọi bằng phu tử. Năm 25 tuổi thì ông chịu tang mẹ. Năm 29 tuổi, ông học đàn với Sư Tương ở nước Lỗ.
Năm 30 tuổi, Khổng Tử muốn đến Lạc Dương, kinh đô nhà Chu, để nghiên cứu về nghi lễ, chế độ miếu đường, nhưng vì nhà nghèo, không đủ tiền lộ phí, đành than thở mà thôi. Học trò là Nam Cung Quát nghe vậy, liền về tâu với Lỗ Chiêu Công. Vua liền ban cho ông một cỗ xe song mã và vài quân hầu cận để đưa Khổng Tử và Nam Cung Quát đi Lạc Dương. Đến nơi, Khổng Tử quan sát nhà Tôn miếu, nhà Minh đường, khảo cứu luật lệ và thư tịch đời cổ, đi xem Giao đàn là nơi nhà vua tế Thiên Địa và Tinh tú, rồi đến Xã đàn là nơi vua tế Thần Nông và Thần Hậu Thổ. Nơi nào có quan hệ đến việc tế lễ thì ông đến quan sát và hỏi han cho tường tận.
Khổng Tử ở Lạc Dương khảo sát các việc xong thì trở về nước Lỗ. Từ đó, sự học của ông càng rộng hơn nhiều nên học trò xin theo học càng lúc càng đông. Nhưng vua Lỗ vẫn chưa dùng ông vào việc nước. Được mấy năm, trong nước Lỗ, Quý Bình Tử khởi loạn. Ông theo Lỗ Chiêu Công tạm lánh sang nước Tề. Tề Cảnh Công mời ông tới để hỏi việc chính trị và rất khâm phục, muốn đem đất Ni Khê phong cho ông, nhưng quan Tướng quốc nước Tề là Yến Anh ngăn cản không cho. Năm sau, ông trở về nước Lỗ lo việc dạy học, và nghiên cứu cho tường tận Đạo học của Thánh hiền. Lúc đó ông được 36 tuổi.
=== Ngao du ===
Trong suốt gần 20 năm, từ năm 34 tuổi, Khổng Tử dẫn học trò đi khắp các nước trong vùng để truyền bá các tư tưởng và tìm người dùng các tư tưởng đó. Có nơi ông được trọng dụng nhưng cũng có nơi ông bị coi thường. Khổng Tử cùng các học trò đi qua các nước: Vệ, Khuông, Trần, Tống, Thái, Sở, mong thuyết phục các vua chư Hầu chịu đem Đạo của ông ra ứng dụng để đem lại thái bình cho dân chúng. Nhưng Đạo của ông là Vương Đạo (đạo trị quốc) nên đi ngược ý đồ Bá Đạo (đạo chinh phạt) của các vua chư hầu và quyền lợi của các quan Đại phu nên các vua chư hầu đều không dám dùng ông. Ông từng cảm thán "Ai mà không phải đi qua cửa rồi mới rời khỏi nhà ? Vậy mà tại sao không có ai đi theo đạo này ?". Khi bị vây ở đất Khuông, Khổng Tử nói "Sau khi vua Văn Vương mất, tất cả mọi văn hóa, lễ nhạc đều không phải ở nơi ta cả ư ? Nếu trời muốn cho nền văn hóa này mất đi, thì sao khi vua Văn Vương chết, lại ủy thác cho ta nắm giữ nền văn hóa này làm gì ? Còn nếu trời đã không muốn để mất nền văn hóa này, thì người Khuông kia làm gì được ta ?". Sau 14 năm đi chu du các nước không thành công, ông trở về nước Lỗ, có quan Đại Phu Quý Khang tử sai Công Hoa ra đón ông. Phu nhân của Khổng Tử là bà Thượng Quan đã mất trước đó một năm. Các học trò của ông nói về giai đoạn ông đi các nước truyền bá đạo học:
Tử Cầm hỏi Tử Cống rằng "Thầy Khổng Tử của chúng ta mỗi khi đến một nước nào đều được tham dự vào công việc chính sự của nước đó. Đây là do thầy chúng ta yêu cầu hay do người ta chủ động mời thầy ?"
Tử Cống nói: "Thầy chúng ta có đức tính ôn, lương, cung, kiệm, nhường, nên mới được vinh dự đặc biệt đó. Phương pháp đề xuất yêu cầu được tham gia chính sự của thầy chúng ta hoàn toàn khác với phương pháp xin việc của người khác." (Luận ngữ)
Đến năm thứ 9 đời vua Lỗ Định công, ông được 51 tuổi, được vua Lỗ mời ra làm quan, phong cho chức Trung Đô Tể lo việc cai trị ở Ấp Trung Đô, tức là đất Kinh thành. Một năm sau, bốn phương lấy chính sự của ông làm khuôn mẫu. Năm Lỗ Định Công thứ 10 (500 TCN), ông phò vua Lỗ đi phó hội với Tề Cảnh Công ở Giáp Cốc. Nhờ tài ngôn luận và ứng đáp kịp thời, vua Tề rất khâm phục và trả lại cho nước Lỗ ba khoảnh đất ở Quy Âm mà Tề đã chiếm của Lỗ từ mấy năm trước.
Qua năm sau, Đức Khổng Tử giữ chức Tư Không, rồi thăng lên Đại Tư Khấu (Hình Bộ Thượng thư) coi việc hình án. Ông đặt ra luật lệ để cứu giúp kẻ nghèo khổ, lập ra phép tắc, định việc tống táng, lớn nhỏ có trật tự, trai gái không lẫn lộn, gian phi trộm cắp không còn nữa, xã hội được an bình thịnh trị. Sau 4 năm, Lỗ Định Công phong ông lên làm Nhiếp Tướng Sự (Tướng Quốc), coi việc Chính trị trong nước. Ông cầm quyền được 7 ngày thì tâu với vua Lỗ xin giết gian thần Thiếu Chính Mão để chỉnh đốn quốc chính. Ông chỉnh đốn kỷ cương trong nước, dạy dân những điều lễ, nghĩa, liêm, sỉ, nên dân không còn nhiễu loạn mà chánh trị mỗi ngày một tốt lên. Sau ba tháng, nước Lỗ trở nên thịnh trị.
Nước Tề thấy nước Lỗ mạnh lên, có ý lo ngại. Vua Tề theo kế, lập ra Bộ Nữ Nhạc mà đem dâng vua Lỗ. Khổng Tử biết vua Tề có ý dùng chuyện hưởng lạc để làm suy bại chính sự nước Lỗ nên khuyên Lỗ Định công đừng nhận, nhưng Định công không nghe. Quả nhiên vua Lỗ sau khi nhận Bộ Nữ Nhạc sinh ra lười biếng mà chán ghét Khổng Tử. Lỗ Định công không nghe lời can gián của Khổng Tử, bỏ bê việc triều chánh, có khi luôn 3 ngày không ra coi triều, mọi việc đều giao cả cho quyền thần. Khổng Tử can gián vua Lỗ nhiều lần nhưng không được, chán nản xin từ chức, bỏ nước Lỗ đi chu du các nước chư hầu. Đạo làm quan của ông thể hiện qua lời ông nói với Nhan Hồi "Dùng ta thì ta giúp làm nên sự nghiệp, không dùng thì ta ở ẩn. Chỉ có ta và ngươi có thể làm được điều này mà thôi.".
=== Soạn sách ===
Năm 68 tuổi, Khổng Tử trở về nước Lỗ, tiếp tục dạy học và bắt tay vào soạn sách. Ông cũng chỉnh lý lại các bản nhạc nước Lỗ khiến cho nhạc nhã và nhạc tụng mỗi loại có vị trí thích đáng của nó. Có thể nói Khổng Tử là người thầy tư nhân chuyên thu nhận học trò đầu tiên trong lịch sử giáo dục Trung Quốc. Trước thời ông, trường học hoàn toàn là của triều đình và thường chỉ thu nhận con em của gia đình quý tộc. Khổng Tử sáng lập ra trường học tư, thu nhận nhiều đồ đệ bất kể xuất thân sang hèn, đưa giáo dục mở rộng cho bình dân, đem tri thức văn hóa truyền bá cho dân gian, có cống hiến thật to lớn đối với giáo dục thời cổ đại. Tổng số môn đệ của Khổng Tử có lúc lên tới 3.000 người (Tam thiên đồ đệ), trong đó có 72 người được liệt vào hạng tài giỏi, nên gọi là Thất thập nhị hiền. Trong số học trò của Khổng Tử, Nhan Hồi là người hiếu học nhất nhưng không may chết sớm. Khổng Tử nói "Nhan Hồi ư! Lòng dạ của trò ấy trong ba tháng không lúc nào xa rời đạo nhân. Các trò khác không được như vậy, chỉ là ngẫu nhiên làm việc nhân thôi.". Nhan Uyên, một học trò của Khổng Tử, ngậm ngùi than rằng "Đạo của thầy càng ngước trông lên càng thấy cao, càng nỗ lực nghiên cứu càng thấy sâu. Mới chiêm nghiệm thấy ở phía trước, đột nhiên lại hiện phía sau lưng. Thầy khéo dẫn dắt dần từng bước trước sau giảng cho ta thấu triệt. Thầy dùng đủ loại văn chương, làm cho tri thức của ta thêm phong phú, lại biết dùng lễ tiết để đưa hành vi của ta dần vào khuôn phép, khiến cho mình dù muốn thôi cũng không thôi được, đã đua hết tài lực ra học thế mà vẫn trông thấy đạo của thầy ta như đang đứng sững trước mặt. Ta dẫu muốn theo đến cùng, mà vẫn không tài nào đạt được như yêu cầu của thầy ta.". Khổng Tử nói về hoạt động dạy học của ông "Ta chẳng gặp được người đạt mức trung dung để truyền đạo nên buộc lòng phải tìm đến hạng cuồng giả, quyến giả. Cuồng giả có tinh thần tiến thủ mãnh liệt. Quyến giả biết giữ lòng ngay thẳng, không bao giờ làm chuyện bất nghĩa.".
Năm 69 tuổi, ông bắt tay vào việc hiệu đính các cổ thư bị tản mát, nhiều chỗ không rõ ràng, dễ bị thất truyền hoặc khiến người đời sau nhầm lẫn. Do vậy, Khổng Tử thực hiện san định lại các kinh sách của Thánh hiền đời trước, lập thành 6 cuốn sách: Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Nhạc, Kinh Dịch, Kinh Xuân Thu. Mỗi cuốn lại nói về một vấn đề khác nhau, từ thi ca, nghi lễ, bói toán cho tới sử học. Việc Khổng Tử tự mình biên soạn 6 bộ sách đã thể hiện hiểu biết sâu rộng và tinh thần làm việc miệt mài của ông, có thể coi đây là một dạng Bách khoa toàn thư đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc. 6 cuốn sách này gồm:
Kinh Thi (詩經 Shī Jīng): Sưu tầm các bài thơ dân gian có từ trước Khổng Tử. Khổng Tử san định thành 300 thiên nhằm giáo dục mọi người tình cảm trong sáng lành mạnh và cách thức diễn đạt rõ ràng. Một lần, Khổng Tử hỏi con trai "Học Kinh Thi chưa ?", nó đáp "chưa". Khổng Tử nói "Không học Kinh Thi thì không biết nói năng ra sao" (sách Luận ngữ).
Kinh Thư (書經 Shū Jīng): Lưu lại các truyền thuyết, biến cố về các đời vua cổ có trước Khổng Tử. Khổng Tử san định lại để các ông vua đời sau nên theo gương các minh quân như Nghiêu, Thuấn chứ đừng tàn bạo như Kiệt, Trụ.
Kinh Lễ (禮記 Lǐ Jì): Chép các lễ nghi thời trước. Khổng Tử hiệu đính lại mong dùng làm phương tiện để duy trì và ổn định trật tự xã hội. Khổng Tử nói: "Không học Kinh Lễ thì không biết đi đứng ở đời" (sách Luận Ngữ).
Kinh Dịch (易經 Yì Jīng): Nói về các tư tưởng triết học Trung Hoa dựa trên các khái niệm âm dương, bát quái... Đời Chu, Chu Văn Vương đặt tên và giải thích các quẻ của bát quái gọi là Thoán từ. Chu Công Đán giải thích chi tiết nghĩa của từng hào trong mỗi quẻ gọi là Hào từ. Kinh Dịch thời Chu gọi là Chu Dịch. Khổng Tử giảng giải rộng thêm Thoán từ và Hào từ cho dễ hiểu hơn và gọi là Thoán truyện và Hào truyện.
Kinh Xuân Thu (春秋 Chūn Qiū): Chép các biến cố xảy ra ở nước Lỗ, quê của Khổng Tử. Khổng Tử không chỉ ghi chép như một sử gia mà theo đuổi mục đích trị nước nên ông chọn lọc các sự kiện, ghi kèm các lời bình, sáng tác thêm lời thoại để giáo dục các bậc vua chúa.
Ngoài ra còn có Kinh Nhạc bàn về nhạc thuật và nhạc khí, nhưng nguyên bản đã bị thiêu hủy trong Chiến tranh Hán-Sở, chỉ còn đôi chút làm thành một thiên trong Kinh Lễ, gọi là Nhạc ký. Tuy nhiên, giới học giả cũng cho rằng, so với 5 cuốn còn lại thì sách này có phẩm chất thấp nhất.
Tựu trung, 6 cuốn sách chỉ còn lại 5 mà hậu thế gọi là Ngũ kinh. Hiện nay, Ngũ kinh giữ vị trí đặc biệt quan trọng trong các tác phẩm cổ điển Trung Hoa, nhờ có nó mà tới 2.500 năm sau người ta vẫn hiểu biết tường tận về đời sống của đời thái cổ. Trong 6 cuốn sách, Khổng Tử chú các lời nói của Thánh hiền đời trước, xếp đặt lại cho có thứ tự, chú thích những chỗ khó hiểu, nhất là với Kinh Dịch, ông chú giải rất kỹ. Sau đó, Khổng Tử viết ra Kinh Xuân Thu, chép những việc của nước Lỗ và của nhà Chu liên hệ với các nước chư Hầu từ đời Lỗ Ẩn Công nguyên niên (721 trước Tây lịch) đến đời Lỗ Ai Công thứ 14 (481 TCN), tổng cộng là 242 năm. Khổng Tử thấy thời thế loạn lạc, chính đạo mờ mịt, các tà thuyết dấy lên, những sự hung bạo rất nhiều, con giết cha, bề tôi phản nghịch, cho nên ông lấy làm lo sợ mà làm ra sách Xuân Thu, để định sự chính danh, thưởng phạt theo đạo lý. Đây là cuốn kinh mà Khổng Tử tâm đắc nhất, là một trong những tác phẩm sử học đầu tiên của Trung Hoa, trước cả Sử ký.
Xem hình thể bề ngoài thì Kinh Xuân Thu là một bộ sử biên niên, lời lẽ vắn tắt, lắm chỗ hình như không có ý nghĩa gì cả, nhưng xét rõ đến tinh thần thì là bộ sách triết lý về việc chính trị. Phép của Kinh Xuân Thu là trị kẻ gian ác, dù còn sống hay chết rồi, trị ngay đến bản thân, cốt để răn kẻ ác, khuyến khích trung nghĩa, còn đến con cháu xa thì là để khuyến thiện, bỏ ác theo thiện. Khổng Tử đã vận dụng bút pháp để khen chê, để phân biệt người thiện kẻ ác hết sức minh bạch và đanh thép, nên người đời sau gọi đó là những búa rìu giáng lên kẻ gian tà, răn đe chúng suốt ngàn đời sau:
Trong kinh Xuân Thu, được một chữ khen thì vinh hơn cái áo hoa cổn vua ban, bị một chữ chê thì nhục hơn phải tội rìu búa (Nhứt tự chi bao, vinh ư hoa cổn; nhứt tự chi biếm, nhục ư phủ việt)
Từ khi Khổng Tử nêu cao cái nghĩa trong Kinh Xuân Thu, bọn loạn thần tặc tử trong thiên hạ đều phải khiếp sợ (Khổng Tử tác Xuân Thu nhi loạn thần tặc tử cụ).
=== Cuối đời ===
Mùa Xuân năm Lỗ Ai công thứ 14 (481 TCN), tương truyền người nước Lỗ đi săn bắt được một con kỳ lân què chân trái phía trước. Đức Khổng Tử đến xem rồi bưng mặt khóc, ông than rằng: "Ngô đạo cùng hĩ!" (Đạo của ta đến lúc cùng). Sách Xuân Thu chép đến đây thì hết, nên đời sau còn gọi sách Xuân Thu là Lân kinh.
Năm Nhâm Tuất đời Lỗ Ai Công thứ 17 (479 TCN), một hôm Khổng Tử chống gậy đi tản bộ trước nhà, vừa đi vừa hát: "Thái sơn kỳ đồi hồ! Lương mộc kỳ hoại hồ! Triết nhân kỳ nuy hồ! (Núi Thái sơn đổ ư! Cây gỗ tốt hư hoại ư! Triết nhân mòn mỏi ư!)" Học trò của ông là Tử Cống liền đến hỏi thăm, ông nói: "Ta biết mình sắp chết". Đến ngày Kỷ Sửu, tức là ngày 18 tháng 2 năm Nhâm Tuất (tháng 4 năm 479 TCN) Khổng Tử tạ thế, hưởng thọ 73 tuổi. Trước khi mất Khổng Tử cảm thán "Chim phượng hoàng không bay đến, sông Hoàng Hà không xuất hiện đồ thư, một đời ta thế là hết.". Mộ của ông ở bên bờ sông Tứ Thủy, cực Bắc nước Lỗ, nay gọi là Khổng Lâm, thuộc huyện Khúc Phụ, tỉnh Sơn Đông.
== Nhân cách ==
=== Phẩm hạnh ===
Khổng Tử là người rất thông minh, luôn luôn ham học. Bất cứ việc gì, ông cũng để ý xem xét rất kỹ lưỡng để biết cho cùng tận mới thôi. Tánh ông ôn hòa, nghiêm trang, khiêm tốn, làm việc gì cũng hết sức cẩn thận, đề cao lễ nhạc, luôn luôn tin vào Thiên mệnh. Ông tin rằng con người được sinh ra trên đời này là có lý do, bản thân ông được Trời giao cho sứ mệnh góp sức xây dựng nên một xã hội quý trọng đạo đức và lòng hiếu học, và ông đã giành cả đời nỗ lực cho sứ mệnh đó.
Ông là người nhân hậu, khiêm nhường, giản dị, chân thành, giàu tình cảm, ôn hòa mà nghiêm túc, uy nghi nhưng không thô bạo, cung kính mà an nhàn. Ông sống thanh đạm, trọng nghĩa khinh tài. Khổng Tử nói "Ăn cơm gạo thô, uống nước lã, khi ngủ co cánh tay mà gối đầu, niềm vui cũng ở trong đó rồi. Còn như dùng phương pháp không chính đáng để đạt được giàu có và phú quý, ta coi như đám mây trôi vậy". Một người ở xứ Đạt Hạng nói "Khổng Tử thật là vĩ đại, học rộng nhưng rất tiếc lại chẳng có danh tiếng gì!". Khổng Tử nghe được liền nói với học trò rằng "Ta làm cái gì ? Đánh xe ư ? Bắn tiễn ư ? Ta làm nghề đánh xe vậy!". Khi Khổng Tử ở nhà dáng dấp rất thoải mái, trên mặt biểu lộ thần thái hết sức hoài vui. Khi ăn uống ở nhà có tang, Khổng Tử không bao giờ ăn no. Hôm nào Khổng Tử đi phúng viếng đám tang, thì suốt ngày hôm đó không đàn hát nữa. Ông đối xử với các học trò bằng tình thương như cha đối với con còn các học trò kính trọng ông như người cha thứ hai của họ. Trong quan hệ thầy trò, ông gần gũi với họ và hết sức chân thành. Ông từng nói với các học trò "Các ngươi cứ tưởng ta còn giấu các ngươi điều gì sao? Ta đâu có giấu điều gì. Ta không có điều gì làm mà không cho các ngươi biết. Ta, Khổng Khâu là con người như vậy.". Ba việc mà Khổng Tử hết sức thận trọng là trai giới, chiến tranh và bệnh tật.
Ông là người thông kim bác cổ nhưng chưa bao giờ tự nhận mình là người hiểu biết nhiều, ông biết rằng hiểu biết của một người chỉ là hạt cát so với kho tàng kiến thức của nhân loại. Khổng Tử nói "Ta có nhiều hiểu biết ư? Không! Ta không hiểu biết nhiều. Có một nông dân hỏi ta một vấn đề mà lúc đầu ta không biết tí nào cả nhưng ta đem hai mặt của vấn đề lật đi lật lại, suy nghĩ tìm hiểu, rồi giải thích tường tận cho người ấy hiểu rõ.". Khổng Tử thường hay nói về Kinh Thi, Kinh Thư và thực hành Kinh Lễ đều là những lời thanh nhã cả. Khổng Tử ít khi nói đến lợi, mệnh trời và nhân, không bao giờ bàn luận những chuyện quái dị, bạo lực, phản loạn, quỷ thần. Tử Lộ hỏi về việc tế lễ quỷ thần. Khổng Tử nói "Chưa biết phụng thờ con người làm sao có thể phụng thời quỷ thần ?". Tử Lộ lại hỏi "Con mạnh dạn hỏi thầy về đạo lý của sự chết". Khổng Tử nói "Chưa biết đạo lý của sự sống sao biết đạo lý của sự chết".
Khổng Tử không dùng màu xanh da trời và màu đỏ nâu để viền quần áo, không dùng màu đỏ và màu tím. Mùa nóng, Khổng Tử mặc áo đơn bằng vải mỏng nhất định phải có áo lót ở trong. Mùa lạnh, thì mặc áo da cừu màu đen ở trong, mặc áo dài màu đen ở ngoài; hoặc mặc áo da hươu màu trắng ở trong, thì mặc áo dài màu trắng ở ngoài; còn nếu mặc áo da cáo màu vàng ở trong thì mặc áo dài vàng ở ngoài. Thường ngày áo da mặc ở nhà, may dài hơn lễ phục một ít, ống tay phải ngắn hơn ống tay trái một ít để tiện lợi khi làm việc. Khi ngủ nhất thiết phải mặc áo ngủ dài bằng một nửa người. Áo da cáo da hạc mặc làm việc ở nhà có lông dày và ấm. Khi mãn tang Khổng Tử thường hay đeo ngọc. Nếu không là áo xiêm mặc để đi tế lễ và đến công đường làm việc thì may giản dị hơn. Không mặc áo da cừu màu đen và đội mũ màu đen đi điếu tang. Mồng một hàng tháng Khổng Tử đều mặc triều phục vào chầu vua. Đến kỳ trai giới, Khổng Tử giữ mình sạch sẽ, mặc áo vải tinh khiết màu trắng, áo ngủ dài gấp rưỡi thân mình. Khi trai giới nhất định thay đổi bữa ăn thường ngày, nơi ở cũng thay đổi sang chỗ khác. Tuy không cầu kỳ cao lương mỹ vị nhưng Khổng Tử yêu cầu rất cao đối với thực phẩm. Khổng Tử thích ăn gạo giã trắng, ăn thịt thái mỏng. Khổng Tử không ăn lương thực để lâu ngày, thức ăn đã hôi thiu, rau quả đã héo úa, thịt cá sống đã đổi màu, thức ăn có mùi vị khó ngửi, nấu sống hay nát quá, thức ăn chín quá, thực phẩm không đúng mùa vụ, thức ăn nêm mắm muối gia vị không đúng kiểu cách, thịt thái không vuông vắn. Thức ăn, thịt cá trên mâm cỗ nhiều, Khổng Tử không bao giờ ăn quá mức bình thường. Chỉ có rượu là không giới hạn tửu lượng nhưng yêu cầu giữ mình không được say. Rượu và thịt khô mua ở chợ về là không dùng. Mỗi bữa đều ăn thêm gừng nhưng chỉ vừa đủ. Khi dự lễ ở tông miếu, Khổng Tử không để thịt cách đêm. Khi tế tại nhà riêng, Khổng Tử không để lại thịt tế quá ba ngày, chiếu trải không ngay ngắn không ngồi, khi ăn cơm không mạn đàm với người khác, khi ngủ không nói chuyện với ai. Dù chỉ ăn cơm canh bình thường nhưng trước khi ăn Khổng Tử nhất định dành một ít để thờ cúng, thành tâm như khi trai giới. Khi ngủ Khổng Tử không duỗi thẳng tay chân như người chết. Bình thường ở nhà, Khổng Tử không trang điểm trau chuốt dung mạo.
Khi Khổng Tử uống rượu với người trong làng, ông đợi các cụ cao tuổi rời khỏi mâm rồi mới rời sau. Khi người làng làm lễ nghênh thần tống quỷ ông mặc triều phục đứng ở thềm phía Đông. Khi nhờ người chuyển lời thăm hỏi của mình đến bạn mình ở nước khác, Khổng Tử vái người mình nhờ hai lạy để tiễn người ấy. Vua ban tặng Khổng Tử thức ăn chín, Khổng Tử nhất định trải chiếu ngay ngắn rồi mới ăn. Vua ban tặng cho thực phẩm sống, ông nấu xong đem cúng tế tổ tiên rời mới ăn. Vua ban tặng cho vật sống, Khổng Tử nhất định giữ lại để nuôi. Khi ngồi hầu cơm bên vua khi vua đang tế lễ, Khổng Tử nếm trước. Khổng Tử ốm tại nhà, khi vua đến thăm, Khổng Tử chuyển đầu hướng về phía Đông, đem triều phục đắp lên người với dây đai ở trên. Khi vua triệu Khổng Tử đến gặp, ông đi bộ tới ngay, không đợi xe. Bạn bè mất mà không có ai thân thuộc lo liệu, Khổng Tử nói "Việc này do ta chịu trách nhiệm". Khi bạn bè tặng lễ phẩm, dẫu quý như xe ngựa nhưng không phải là vật cúng tế được thì khi nhận Khổng Tử cũng không bao giờ bái tạ. Khổng Tử nhìn thấy người mặc áo tang thì thay đổi thái độ tỏ lòng thương xót. Khổng Tử nhìn thấy người đội mũ miện, mặc lễ phục hoặc người mù luôn đối xử với họ rất lịch sự. Ngồi xe đang đi trên đường, gặp người mặc tang phục, Khổng Tử cúi người về phía trước gật đầu như muốn chia sẻ nỗi buồn của tang chủ. Khổng Tử gặp người cầm sổ sách của nhà nước cũng cúi chào như vậy để tỏ lòng kính trọng người thi hành công vụ. Khổng Tử khi làm khách, thấy chủ nhà dọn mâm thịnh soạn thì đứng lên cảm tạ lòng hiếu khách của chủ nhân rồi mới cầm đũa. Khi có sấm to bão lớn, Khổng Tử cũng thay đổi thái độ, nét mặt hiện vẻ lo lắng sợ thiên tai gây họa cho dân.
Khổng Tử câu cá không bao giờ đánh bằng lưới, khi bắn chim không bao giờ bắn con đã về tổ nghỉ ngơi ấp trứng. Khổng Tử cùng ngồi hát với người khác, nếu phát hiện ai hát hay thì nhất định mời họ hát lại một lần nữa để mình cùng được hát theo. Khi nhìn thấy người mặc tang phục, người đội mũ miện mặc lễ phục và người mù, mặc dù họ còn rất trẻ thì Khổng Tử cũng nhất định dừng lại, nếu phải đi qua trước mặt họ thì đi rất nhanh. Khổng Tử không bao giờ mắc phải bốn sai lầm: không dựa vào ý riêng; không phán đoán khẳng định, áp đặt; không cố chấp; không tự cho mình là đúng cả. Một lần có người chỉ ra sai lầm của Khổng Tử, ông nói "Ta thật may mắn, giả dụ có sai lầm thì người ta cũng biết được". Khổng Tử là người am hiểu lễ nhạc. Ông nói "Khi nhạc sư Chí mới ra làm quan, tấu bản nhạc phổ theo bài thơ Quan Thư, tới khúc cuối cùng, tiếng nhạc dào dạt, nghe vui thích, thuận tai lắm thay!".
Khổng Tử khi ở quê hương, đứng trước mặt cha anh, bạn bè thì hết sức khiêm tốn, kính cẩn vâng lời, chẳng hề tranh với ai điều gì. Khổng Tử rất ít nói, có lúc tựa như chẳng biết nói năng gì. Nhưng khi ra nơi tông miếu triều đình, giải quyết công việc, Khổng Tử ăn nói rất lưu loát, mạch lạc, chững chạc đâu ra đấy; duy có điều lời lẽ rất cẩn thận, không tùy tiện bao giờ. Ở triều đình, khi nói chuyện với quan đại phu dưới quyền, Khổng Tử rất cương nghị, thẳng thắn; khi nói chuyện với quan đại phu bậc trên luôn luôn giữ thái độ hòa nhã. Khi vua đến Khổng Tử tỏ ra hết sức cung kính rụt rè, trong lòng như có điều gì chưa yên tâm, không thể hiện cử chỉ nào thất lễ. Khi vua triệu đến tiếp khách quý, tiếp chỉ xong, sắc mặt Khổng Tử thay đổi ngay, tỏ ra hết sức nghiêm trang. Trước mặt tân khách, Khổng Tử tỏ ra hết sức chu đáo, cẩn thận, chân bước nhanh hơn. Đứng chào khách, Khổng Tử chắp hai tay cúi đầu chào khách bên trái rồi bên phải, còn quần áo mặc khi tiếp khách thì ngay ngắn, phía sau cũng chỉnh tề như phía trước. Khi dẫn khách vào Khổng Tử lanh lẹ đi trước dẫn đường, hai cánh tay thẳng, tựa hồ như chim duỗi cánh. Khi khách cáo từ ra về, Khổng Tử liền trở vào tâu với vua rằng "Khách không còn ngoảnh mặt lại nữa" ý muốn thưa rằng mọi việc tiếp đãi, bàn luận đã hết sức chu đáo. Khi bước vào cửa cung điện nơi vua và đại thần hội họp Khổng Tử hết sức kính cẩn hơi có vẻ lo lắng cảm thấy mình bé nhỏ như không có chỗ dung thân, như chưa xứng đáng với thân phận của mình. Khổng Tử khi đi ngang qua ngai vua thì sắc mặt hơi đổi, chân bước nhanh hơn, nói năng khe khẽ như không đủ lời. Khi vén áo bước lên công đường Khổng Tử cúi mình nín thở. Khi trở ra, xuống một bậc thềm thì sắc mặt thư giãn, trở nên vui vẻ thư thái; xuống đến bậc thềm chót thì rảo bước, đưa hai tay như chim xòe cánh. Khi trở lại chỗ của mình, Khổng Tử lại giữ vẻ cung kính. Khổng Tử lĩnh mệnh vua đi sứ các nước, hai tay cầm thẻ Ngọc Khuê dâng lên vua chư hầu rất cung kính, dường như nâng không nổi vậy. Khổng Tử giơ cao Ngọc Khuê lên như để vái chào, rồi hạ xuống ngang ngực, báo hiệu chuẩn bị dâng lễ; nét mặt tỏ ra kính sợ, chân bước rón rén như phải vịn vào vật gì mới đi nổi. Khi dâng lễ vật của vua sắc mặt Khổng Tử tươi tắn, ôn hòa, trang trọng. Khi dâng lễ của riêng mình thì hết sức thoải mái vui tươi.
=== Tâm nguyện ===
Ngay từ thời trẻ, Không Tử đã đặc biệt yêu thích văn hóa cổ đại, ông thấy rằng giá trị văn hóa cổ đại rất cao xa và sâu sắc, cảm nhận được “cõi lòng cao thượng của cổ nhân”. Đây là yếu tố ảnh hưởng tới tư tưởng của Khổng Tử một cách tự nhiên, hướng tư tưởng phẩm chất của Khổng Tử đến một trình độ tự giác cao “Quyết chí học tập, phát huy văn hóa truyền thống, chịu trách nhiệm trước lịch sử, lập chí cho sự nghiệp lớn sống vì thiên hạ!”
Ông sống trong thời kỳ trật tự xã hội đã suy đồi, chư hầu lấn quyền thiên tử, đại thần tiếm đoạt ngôi chư hầu dẫn đến cảnh chém giết nhau hỗn loạn, không còn đạo lý, kỷ cương. Đau lòng trước cảnh này Khổng Tử than: "Các dân tộc Di Địch lạc hậu ở biên giới còn có vua, không như các dân tộc Hoa Hạ ở Trung Nguyên cứ như thể chẳng có vua gì cả!". Đạo đức xã hội thời ông sống cũng đã suy đồi. Tử Lộ hỏi về phẩm đức của một người toàn tài. Khổng Tử nói "Có trí tuệ như Tang Vũ Trọng, liêm khiết như Mạnh Công Xước, dũng cảm như Biện Trang Tử, tài nghệ như Nhiễm Cầu, lại nắm được lễ nhạc, được như vậy xem như là một người toàn tài". Khổng Tử lại nói tiếp "Bây giờ muốn trở thành một người toàn tài thì chẳng cần phải như vậy nữa. Chỉ cần nhìn thấy lợi thì trước hết hãy nghĩ đến nghĩa, gặp việc nguy nan không tiếc thân mình, lời hứa ngày thường dù lâu cũng không bao giờ quên, được như vậy xem như là một người toàn tài rồi".
Ông mong muốn tái lập lại trật tự xã hội, làm cho mọi người trở nên tốt đẹp hơn, đối xử với nhau hòa hảo, thân ái. Một lần Khổng Tử tâm sự với học trò "Nguyện vọng của ta là muốn cho người già được nuôi dưỡng đầy đủ, bạn bè tin cậy lẫn nhau, trẻ nhỏ được quan tâm chăm sóc.". Chính vì thế ông luôn muốn dùng tài năng của mình giúp nước, giúp đời. Khổng Tử nói "Nếu có người bổ dụng ta làm quan quản lý nhà nước thì một năm cũng đã tương đối rồi, ba năm nhất định có nhiều thành tích hơn nữa". Bản thân ông lại thích cuộc sống an nhàn, tự do tự tại. Khi Khổng Tử hỏi chí hướng của học trò ông là Tăng Tích, người này thưa "Tháng ba cuối xuân mặc trang phục mùa xuân, cùng hẹn với năm sáu bạn trẻ, sáu bảy em nhỏ đến sông Nghi tung tăng bơi lội tắm mát, lên đài cầu mưa Vũ Vu nhảy múa hứng gió, vừa đi vừa ngâm vịnh mà trở về nhà.". Khổng Tử ngậm ngùi than rằng "Ta tán thành cách suy nghĩ của con.".
Trong suốt cuộc đời dạy học, viết sách và du thuyết của mình, Khổng Tử luôn tự vấn bản thân "Im lặng nhớ kỹ những điều đã học được; kiên trì học tập không biết chán, dạy bảo người khác không biết mệt mỏi. Trong ba việc này ta đã làm được việc nào ?", "Ở triều đình thì tôn kính các bậc công khanh; ở nhà thì hiếu để với cha anh; gặp việc tang chẳng dám không có lễ tiết cho chu toàn; rượu chè không đến nỗi quá say mà lèm nhèm. Những việc đó ta đã làm được việc nào chăng ?". Ông nói "Đức hạnh không tu dưỡng, học vấn không giảng giải, nhìn thấy việc nghĩa không làm, tự có điều sai không chịu sửa chữa, những điều này là nỗi lo của ta.". Phương châm sống của ông là "Lập chí vì đạo, giữ vững lấy đức, noi theo điều nhân, vui chơi trong lục nghệ".
Sách Trung Dung nói về Khổng Tử "Khổng Tử tôn sùng tiếp nối đạo đức của vua Nghiêu, vua Thuấn; noi theo và làm sáng tỏ phép tắc của vua Văn Vương, vua Vũ Vương, trên thuận thiên thời, dưới hợp địa lý. Đức của Khổng Tử vĩ đại như trời đất, không có cái gì không chứa nổi, không có cái gì không che chở; lại giống như bốn mùa thay nhau luân chuyển, như mặt trời, mặt trăng thay nhau tỏa sáng." còn ông chỉ khiêm tốn tự nhận "Một thôn có chục nhà thì nhất định có một người trung tín như ta, chỉ khác không ham học như ta. Ta không phải là người sinh ra đã biết tất cả, mà do hâm mộ đạo nghĩa đời xưa, nên cần mẫn học tập mà có được tri thức như hiện nay. Về tri thức văn hóa thì ta cũng chỉ bằng người khác. Nếu nói về làm một người quân tử tu thân hành đạo trong thực tiễn thì ta vẫn chưa làm được bao nhiêu. Nếu khoác cho ta hai chữ thánh nhân ta đâu dám nhận. Nhưng thực hiện theo công việc của bậc thánh và bậc nhân thì ta từ trước đến nay chưa biết chán, dạy học trò chưa bao giờ biết mệt mỏi, chỉ có vậy thôi.".
Thái Sử Công Tư Mã Thiên từng ca ngợi Khổng Tử: "Núi cao cúi phục, thiên nhiên cũng kính nể ngừng khoe sắc đẹp. Thiên hạ biết không đuổi kịp được ông nhưng luôn hướng theo ông! Từ bậc quân vương đến thường dân lúc đó đều ca ngợi ông. Tuy chỉ là người mặc áo vải nhưng ông đời đời được tôn vinh, những người học đều coi ông là thầy, có thể nói ông là bậc thánh hiền!”.
== Triết lý ==
Dù Khổng giáo thường được người Trung Quốc tin theo như một tôn giáo, vẫn tồn tại những cuộc tranh luận về việc liệu đó có phải là một tôn giáo không, bởi Khổng giáo ít đề cập tới các vấn đề thần học hay duy linh (quỷ thần, kiếp sau, vân vân).
Các triết lý của Khổng Tử được chấp nhận chủ yếu bởi nó dựa trên nền tảng quan điểm phổ thông trong xã hội Trung Quốc. Triết học của ông nhấn mạnh sự tu dưỡng đức hạnh cá nhân và cai trị bằng đạo đức: "tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ", đưa ra các quy tắc trong các mối quan hệ xã hội, đề cao "Đạo Trung Dung" và các đức tính "Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín". Khổng Tử đề cao mối quan hệ gia đình, thờ cúng tổ tiên, trẻ kính trọng già, vợ tôn trọng chồng, và gia đình là căn bản cho một xã hội lý tưởng. Ông đã tuyên bố rõ nguyên tắc nổi tiếng, "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân" (cái gì mình không muốn thì đừng làm cho người khác). Ông cũng luôn lấy những điều tốt đẹp trong quá khứ ra làm chuẩn mực, và khuyên người Trung Quốc, đặc biệt là tầng lớp cai trị, tự đổi mới mình dựa trên những hình mẫu những vị vua hiền trong quá khứ.
Nói về triết học của đức Khổng Tử, có hai chủ thuyết là nhân sinh quan và vũ trụ quan. Nhân sinh quan có hai mặt là cơ xuất thế và cơ nhập thế. Cơ nhập thế là nói về mười lăm đức, con người phải có đạo đức, nếu không có đức con người có khác gì cầm thú. Còn về cơ xuất thế là tánh mạng song. Cụ thể trong Trung Thiên dịch, là cơ năng chuyển hóa từ hậu thiên trở về với Thiên tiên. Trong quẻ Bát Thuần Càn có câu, Càn đạo biến hóa các Chánh tánh mạng, bảo hiệp Thái hòa mải lợi trinh... Con người có tánh, tức là có tâm hồn là thần trí của ta nó là thể vô hình. còn mạng ta, tức là hình thể xác thân là khí huyết. Bên Đạo Giáo gọi là Thần Khí, bên Phật giáo gọi là Tâm tức.
Về vũ trụ quan của ông thể hiện bằng tám quẻ: Càn là Trời, Khôn là Đất, Ly là mặt Nhật, Khảm là mặt Nguyệt... Như vậy triết lý tự nhiên của ông rất siêu hình.
Tư Mã Thiên đã đánh giá Khổng Tử như sau: "Trong thiên hạ các vua chúa và người tài giỏi rất nhiều, khi sống thì vinh hiển, nhưng lúc chết là hết. Khổng Tử là một người áo vải thế mà truyền hơn mười đời, các học giả đều tôn làm thầy, từ thiên tử tới vương hầu ở Trung Quốc hễ nói đến lục nghệ đều lấy Khổng Tử làm tiêu chuẩn. Có thể gọi là bậc Chí Thánh vậy".
=== Đạo đức ===
Lý thuyết đạo đức của Khổng tử dựa trên ba quan niệm chính:
Khi Khổng tử trưởng thành, lễ được xem là ba khía cạnh sau trong cuộc đời: hiến tế cho thần thánh, thiết chế chính trị và xã hội, và hành vi hàng ngày. Lễ được xem là quy phạm đạo đức và hành vi mà Thiên thượng (Trời) chế định cho con người, lấy đó mà biết việc nào nên làm, việc nào không nên làm.
Đối với Khổng tử, Nghĩa (義 [义]) là nguồn gốc của Lễ. Nghĩa chính là cách hành xử đúng đắn. Trong khi làm việc vì lễ, vị kỷ cá nhân chưa hẳn đã là xấu và người cư xử theo lễ một cách đúng đắn là người mà cả cuộc đời dựa trên trí. Tức là thay vì theo đuổi quyền lợi của cá nhân mình, người đó cần phải làm những gì là hợp lẽ và đạo đức. Trí là làm đúng việc vì một lý do đúng đắn. Nghĩa dựa trên quan hệ qua lại. Một ví dụ sống theo Nghĩa là tại sao phải để tang cha mẹ ba năm sau khi chết. Lý do là vì cha mẹ đã phải nuôi dưỡng chăm sóc đưa trẻ toàn bộ trong suốt ba năm đầu đời, và là người có trí phải đền đáp lại bằng cách để tang ba năm.
Cũng như Nghĩa xuất phát từ Lễ, thì Nghĩa cũng xuất phát từ Nhân (仁). Nhân là cách cư xử tốt với mọi người. Nhân là trung tâm của các đức tính: tình cảm chân thật, ngay thẳng; hết lòng vì nghĩa; nghiêm trang, tề chỉnh; rộng lượng, khoan dung và siêng năng cần mẫn. Người có đức Nhân chỉ hành động vì nhân nghĩa, đối lập với kẻ bất nhân chỉ hành động vì lợi.
Hệ thống đạo đức của Khổng Tử dựa trên lòng vị tha và hiểu những người khác thay vì là việc cai trị dựa trên luật pháp có được như một quyền lực thần thánh. Để sống mà được cai trị bằng Nhân thì thậm chí còn tốt hơn là sống trong luật pháp của Nghĩa. Để sống có nhân thì ta theo nguyên tắc vàng của Khổng tử: ông đã tranh luận rằng người ta phải luôn đối xử với người khác đúng như những gì họ muốn người khác đối xử với họ. Đức hạnh theo Khổng tử là dựa trên việc sống hài hòa với mọi người.
Khổng Tử nói: "Muốn nhân mà không muốn học thì bị cái che mờ là ngu, muốn trí mà không muốn học thì bị cái che mờ là cao kỳ, muốn tín mà không muốn học thì bị cái che mờ là hại nghĩa, muốn trực mà không muốn học thì bị cái che mờ là ngang ngạnh, muốn dũng mà không muốn học thì bị cái che mờ là loạn, muốn cương mà không muốn học thì bị cái che mờ là táo bạo khinh suất".
Ông áp dụng nguyên tắc trên như sau: "Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân - Cái gì mà ta không muốn thì đừng làm cho người khác"
Dựa theo mức độ tu dưỡng đạo đức, Khổng Tử chia loài người thành ba hạng:
Thánh nhân: Bậc hiền giả, người thể hiện và chuyển giao chân lý minh triết.
Quân tử: Người cao nhã, kẻ phấn đấu để làm điều chân chính.
Tiểu nhân: Kẻ "hèn mọn", hành động không màng tới đạo đức.
Khổng Tử nói: "Người quân tử sợ ba điều: sợ mệnh trời, sợ bậc đại nhân, sợ lời nói của thánh nhân. Kẻ tiểu nhân không biết mệnh trời, nên không sợ, mà còn khinh nhờn bậc đại nhân, giễu cợt lời nói của thánh nhân. Người quân tử ung dung mà không kiêu căng, kẻ tiểu nhân kiêu căng mà không ung dung".
Trong cuốn Luận Ngữ, Khổng Tử tự coi mình là một "người truyền đạt lại cái đã có mà không phát minh ra thứ gì khác". Ông rất nhấn mạnh trên tầm quan trọng của sự học, và chương mở đầu Luận Ngữ cũng đề cập tới việc học. Vì thế, ông được người Trung Quốc coi là vị Đại Sư. Thay vì tìm cách xây dựng một lý thuyết mang tính hệ thống về cuộc sống và xã hội, ông muốn các môn đồ của mình phải suy nghĩ sâu sắc cho chính mình và lặng lẽ nghiên cứu thế giới bên ngoài, chủ yếu thông qua các cuốn kinh cũ và qua các sự kiện quá khứ có liên quan (như Kinh Xuân Thu) hay những tình cảm của nhân dân trong quá khứ (như Kinh Thi).
Sự giáo hóa của Khổng Tử chủ yếu là làm sao cho sáng tỏ cái đức sáng của con người, chớ không đặt trọng tâm vào sự truyền thụ kiến thức. Đây là một phương pháp giáo dục rất hay để khai mở cái Tâm của con người. Nền giáo dục hiện đại, nhiều nơi làm ngược lại: đặt trọng tâm vào sự truyền thụ kiến thức chứ không quan tâm đến giáo dục đạo đức lối sống, cho nên cái Tâm của học trò không được mở mang khiến họ dễ thành kẻ xấu. Đó là điều mà Khổng Tử tối kỵ, ông xem đó là dạy tiểu xảo chứ không phải dạy người.
Khổng Tử coi việc dạy học là để mưu cầu lợi ích cho nhân dân chứ không phải để mưu lợi cá nhân. Ông nói "Chỉ cần tự mình dâng lên một xâu thịt khô làm lễ xin học, thì ta chưa từng bao giờ từ chối ai làm học trò của ta.". Nội dung giáo dục của Khổng Tử đối với học trò có bốn mặt là văn, hạnh, trung, tín. Người làng Hỗ Hương rất khó cùng trò chuyện. Một đứa trẻ làng ấy đến yết kiến Khổng Tử xin vào học. Học trò của Khổng Tử cảm thấy nghi hoặc không hiểu nổi. Khổng Tử nói "Ta tán thành mặt tiến bộ của họ, không tán thành mặt yếu kém của họ. Chẳng việc gì phải đối xử quá đáng với họ. Người ta thanh khiết tốt đẹp đến với mình thì nên tán thành sự thanh khiết tốt đẹp của họ, không nên cứ truy cứu việc quá khứ của họ.".
Ở thời đại của sự phân chia, hỗn loạn và những cuộc chiến tranh không dứt giữa các nước chư hầu, ông muốn tái lập Thiên Mệnh để có thể thống nhất "thiên hạ" (天下, mọi thứ dưới gầm trời, ở đây nghĩa là Trung Quốc) và mang lại hòa bình, thịnh vượng cho nhân dân. Vì thế Khổng Tử thường được coi là người đã đề xướng chủ nghĩa bảo thủ, nhưng khi xem xét kỹ những đề xuất của ông ta thấy ông đã sử dụng (và có thể cố ý bóp méo) những định chế và lễ nghi trong quá khứ nhằm đặt ra một hệ thống chính trị mới của riêng mình. Ông mơ ước về sự khôi phục một vương quốc thống nhất mà những vị vua phải được lựa chọn xứng đáng theo đạo đức (như vua Nghiêu, vua Thuấn) chứ không phải theo dòng họ. Những người cai trị phải hành động vì nhân dân, và họ phải đạt tới mức hoàn thiện. Một vị vua như vậy có thể dùng đạo đức của mình giáo hóa nhân dân thay vì áp đặt mọi người bằng pháp luật và quy định.
Nhiều khía cạnh tư tưởng của Khổng Tử vẫn còn lưu truyền và phát huy đến tận ngày nay. Có được sự trường tồn đó, là ở tinh thần đam mê học hỏi và thái độ nghiêm túc đối với việc học của Khổng Tử. Ông nói: "Ta đi học là học cho ta, để gây cái phẩm giá của ta, chứ không phải là để khoe với người. Ta chỉ lo không làm được những việc đáng cho người ta biết, chứ không lo người ta không biết mình". Theo Ông, đã không học thì thôi chứ đã học là phải "Học cho rộng, hỏi cho kỹ; nghĩ cho cẩn thận, phân biệt cho sáng tỏ, làm cho hết sức. Có điều không học nhưng đã học điều gì thì phải học cho kỳ được. Có điều không hỏi, nhưng khi đã hỏi điều gì thì phải hỏi cho thật hiểu. Có điều không nghĩ nhưng đã nghĩ điều gì thì phải nghĩ cho ra. Có điều không phân biệt nhưng đã phân biệt điều gì thì phải phân biệt cho minh bạch. Có điều không làm nhưng đã làm điều gì thì phải cố hết sức mà làm cho bằng được... Nếu quả theo được đạo ấy thì tuy ngu mà cũng thành sáng, yếu đuối rồi cũng thành ra khoẻ mạnh".
Khổng Tử cũng nhấn mạnh trên cái mà ông gọi là "Lễ và Nhạc", coi hai thứ đó là những trụ cột của sự cân bằng cho trật tự và sự hài hòa. Lễ là các yêu cầu và quy phạm trong việc đối nhân xử thế; còn Nhạc (âm nhạc, văn nghệ) là để thống nhất mọi con tim cùng chung vui, cũng là để giữ gìn đức hạnh. Ông nói thêm rằng lễ không chỉ là cúng tế, và âm nhạc không chỉ là âm thanh của dùi đánh vào chuông. Cả hai còn là cách truyền đạt giữa lòng nhân của một người và hoàn cảnh xã hội của anh ta; cả hai yếu tố đó đều tăng cường các mối quan hệ xã hội, như Ngũ Thường (năm mối quan hệ chủ yếu): quân thần (vua tôi), phụ tử (cha con), phu thê (vợ chồng), huynh đệ (anh em) và bằng hữu (bạn bè). Các trách nhiệm luôn được cân bằng, và nếu một thần dân phải tuân lệnh vua, thì thần dân cũng phải can ngăn khi nhà vua sai lầm.
Khổng Tử chú trọng vào sự tu dưỡng đạo đức cá nhân trước tiên, sau đó nuôi dưỡng gia đình, rồi mới đến cai trị thiên hạ bằng lòng nhân từ: "Tu thân, Tề gia, Trị quốc, Bình Thiên hạ". Ông nhấn mạnh vào Ngũ thường: "Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín". Nhân là lòng từ thiện, Nghĩa là làm tròn bổn phận, Lễ là sự tôn ti trật tự hay quy tắc trong việc đối nhân xử thế với người trên kẻ dưới, Trí là trí tuệ minh mẫn làm việc gì cũng phải suy nghĩ, Tín là lòng thành thực hiện điều đã nói. Người ta phải giữ năm đạo đó làm thường, chẳng nên để rối loạn.
Những bài giảng của Khổng Tử sau này được các môn đồ của ông hệ thống thành một bộ văn bản tỉ mỉ về những quy định và cách thức thực hiện nghi lễ. Nhiều thế kỷ sau khi ông đã qua đời, cả Mạnh Tử và Tuân Tử đều viết những cuốn sách quan trọng, và lúc ấy, một triết lý đã được tạo dựng đầy đủ, gọi là Khổng giáo. Sau hơn 1.500 năm, học giả Chu Hi đã diễn giải ý tưởng Khổng giáo theo một cách hoàn toàn mới, được gọi là Tân Khổng giáo, để phân biệt với những ý tưởng trong cuốn Luận Ngữ. Tân Khổng giáo đã có ảnh hưởng sâu rộng ở Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam và nhiều nước châu Á khác cho tới tận thế kỷ 20.
Tư Mã Thiên đã có lời bình về Khổng Tử: "Trong kinh "Thi" có câu nói như thế này: "Cái giống như núi cao khiến người ta chiêm ngưỡng, cái giống như đại Đạo khiến người ta tuân theo. Từ xưa tới nay trong thiên hạ, Quân Vương và người tài đức thì có cũng nhiều. Họ khi đang còn sống đều vinh hoa quý hiển, nhưng chết đi rồi thì chẳng còn lại chút gì. Khổng Tử là một người bình dân, nhưng những người đọc sách đều tôn ông làm thầy. Từ Thiên tử, Vương Hầu đến nhân dân cả nước, những ai nói về "Lục Nghệ" thì đều xem học thuyết ấy của Khổng Tử là chuẩn tắc cao nhất. Có thể nói Khổng Tử là một Thánh nhân chí cao vô thượng".
Một trong những giáo lý sâu sắc nhất của Khổng Tử, một trong những điều khó hiểu nhất từ quan điểm phương Tây, có thể là việc ông sử dụng những câu chuyện cách ngôn chứ không giảng giải trực tiếp cách cư xử cho các môn đồ. Đạo đức của ông có thể được coi là một trong những kiểu đạo đức cao nhất. Cách dạy "gián tiếp" này được sử dụng rất nhiều trong các bài giảng của ông thông qua những lời ám chỉ, nói bóng gió, và thậm chí là sự lặp thừa. Điều này giải thích tại sao khi nghiên cứu cần đặt các bài giảng của ông vào đúng ngữ cảnh. Một ví dụ là câu chuyện sau:
Từ triều về nhà, nghe tin chuồng ngựa cháy, Khổng Tử nói, "Có ai bị thương không?" Ông không hề hỏi về Ngựa.
Luận Ngữ
Câu chuyện không dài, nhưng có tầm quan trọng rất lớn. Ở thời ông, một con ngựa có thể đắt gấp 10 lần một nô lệ. Khi không hỏi tới ngựa, Khổng Tử thể hiện sự quan tâm lớn nhất của mình: con người. Vì thế, theo nhiều nhà bình luận cả Đông và Tây, những bài giảng của Khổng Tử có thể được coi là một biến thể kiểu Trung Hoa của Chủ nghĩa nhân đạo.
Có lẽ bài giảng nổi tiếng nhất của ông là Quy tắc vàng:
Tử Cống hỏi: "Có một chữ nào có thể dẫn dắt hành xử trọn đời không?"
Thầy đáp: "Có lẽ là chữ Thứ (恕)chăng? Cái gì mà mình không muốn thì đừng làm cho người khác?"Luận Ngữ
(Điều mình không muốn đừng bắt người phải chịu thì gọi là Thứ 恕)
Để đào tạo ra những con người lý tưởng, Khổng Tử đã đề xuất một hệ thống phương pháp giáo dục khá chặt chẽ, với những kiến giải sâu sắc. Có thể nói với hệ thống phương pháp giáo dục này Khổng Tử xứng đáng là một nhà giáo dục lớn. Khổng Tử đã sử dụng nhiều phương pháp dạy học rất độc đáo, có thể khái quát lại gồm:
Một là: Phương pháp đối thoại gợi mở, giảng dạy bằng cách trao đổi giữa thầy và trò, giữa người dạy và người học nhằm phát huy tính năng động, sáng tạo và khoa học, khả năng tư duy của người học. Ông nói: "Kẻ nào chẳng phấn phát lên để hiểu thông, thì ta chẳng giúp cho hiểu thông được. Kẻ nào chẳng ráng lên để tỏ ý kiến mình, thì ta chẳng khai phát cho được. Kẻ nào đã biết rõ một góc, nhưng chẳng chịu căn cứ vào đó để biết luôn ba góc kia, thì ta chẳng dạy kẻ ấy nữa."
Hai là: Phương pháp kết hợp học đi đôi với hành, lời nói kết hợp với việc làm, là thực hành điều đã học và đem tri thức của mình vận dụng vào trong cuộc sống. Ông nói: "Người quân tử trước học văn chương (như Kinh Thi, Kinh Thư) đặng mở rộng trí thức của mình; kế đó, người nương theo lễ giáo mà kiềm giữ lấy nết mình; nhờ vậy mà khỏi trái đạo lý. - Quân tử bác học ư văn; ước chi dĩ lễ; diệc khả dĩ phất bạn hỹ phù".
Ba là: Phương pháp "ôn cũ biết mới", thường xuyên rèn luyện, tu dưỡng và học tập. Ông thường nhắc rằng: "Người nào ôn lại những điều đã học, do nơi đó mà biết thêm những điều mới, người đó có thể làm thầy thiên hạ đó - Ôn cố nhi tri tân, khả dĩ vi sư hỹ". Theo Khổng Tử, muốn tiến bộ người học phải luôn cố gắng nỗ lực, siêng năng trau dồi tri thức cho mình, phải luôn có thái độ cầu tiến, vượt lên. Người học nhất định phải có thái độ khách quan trong học tập, không được vị kỷ tư dục, võ đoán, cố chấp, tự phụ chủ quan - "Vô ý, vô tất, vô cố, vô ngã".
Khổng Tử đã đưa ra hệ thống các phương pháp giáo dục, phát huy tính năng động, tích cực và sáng tạo của người học. Những phương pháp đó đến nay vẫn có ý nghĩa thiết thực, đem lại hiệu quả cao trong giáo dục.
Trong quá trình giáo dục, Khổng Tử nhấn mạnh: cả thầy và trò đều phải có nghĩa vụ to lớn với nhau. Trò phải tôn kính thầy, dẫu sau này có thành đạt, quyền cao chức trọng đến đâu chăng nữa cũng không được bỏ rơi lễ nghĩa, vẫn luôn phải cung kính thầy. Ngược lại, người thầy thì phải có tư cách mẫu mực để làm gương cho trò. Người thầy có can trực, đạo đức, như thế mới có thể đào tạo nên những học trò hữu ích cho đất nước. Trong Lịch sử Việt Nam có chuyện kể rằng: Phạm Sư Mạnh sau khi đỗ đạt, làm quan to ở triều, về thăm thầy là Chu Văn An. Dọc đường qua khu chợ đang họp, ông ra uy để lính thét dân phải dẹp đường. Biết chuyện, Chu Văn An giận Phạm Sư Mạnh làm quan mà tỏ ra hách dịch với dân, làm trái lời thầy dạy, nên không cho gặp mặt. Dù đã là quan lớn triều đình, Phạm Sư Mạnh vẫn phải quỳ gối cả buổi trước cửa nhà thầy để xin tha lỗi, về sau cũng hành xử khiêm nhường không dám hách dịch nữa.
=== Chính trị ===
Tư tưởng chính trị Khổng Tử dựa trên tư tưởng đạo đức của ông. Ông cho rằng chính phủ tốt nhất là chính phủ cai trị bằng "Lễ nghĩa" và đạo đức tự nhiên của con người, chứ không phải bằng vũ lực và mua chuộc. Ông đã giải thích điều đó tại một trong những đoạn quan trọng nhất ở cuốn Luận Ngữ: "Dùng mệnh lệnh, pháp luật để dẫn dắt chỉ đạo dân, dùng hình phạt để quản lý dân, làm như vậy tuy có giảm được phạm pháp, nhưng người phạm pháp không biết xấu hổ, sỉ nhục. Dùng đạo đức để hướng dẫn chỉ đạo dân, dùng lễ nghĩa để giáo hóa dân, làm như vậy chẳng những dân hiểu được thế nào là nhục nhã khi phạm tội, mà còn cam tâm tình nguyện sửa chữa sai lầm của mình tận gốc từ mặt tư tưởng." (Tứ Thư - Luận Ngữ, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân 2003) Sự "biết sỉ nhục" là sự mở rộng của trách nhiệm, nơi mà hành động trừng phạt đi trước hành động xấu xa, chứ không phải đi sau nó như trong hình thức luật pháp của Pháp gia.
Trong khi ủng hộ ý tưởng về một vị Hoàng đế đầy quyền lực, nguyên nhân là vì tình trạng hỗn loạn ở Trung Quốc thời Xuân Thu, các triết lý của Khổng Tử chứa đựng một số yếu tố hạn chế sự lạm quyền của những nhà cai trị. Theo ông người cầm quyền phải có đạo đức, đặt nhân nghĩa lên hàng đầu và đặt lợi ích của dân chúng cao hơn lợi ích bản thân. Ông cho rằng lời lẽ phải luôn ngay thật; vì thế tính trung thực có tầm quan trọng hàng đầu. Sự thành thật có thể làm cảm động lòng người, quy tụ thiên hạ. Ông nói "Có lòng thành thật thì sẽ biểu hiện ra ngay. Hiện rõ ra rồi thì sẽ sáng chói. Sáng chói thì sẽ cảm động đến lòng người". Thậm chí Khổng Tử còn ca ngợi người lãnh đạo biết nhường quyền lực cho người tài đức hơn mình. Ông nói "Thái Bá là con người có đức hết mực. Nhiều lần ông ta đem thiên hạ nhường cho người khác, nhưng không để dân chúng biết mà ca ngợi công đức của mình".
Khi bàn luận về mối quan hệ giữa thần dân và nhà vua (hay giữa con và cha), ông nhấn mạnh sự cần thiết phải có sự tôn trọng của người dưới với người trên. Điều này không có nghĩa là người dưới phải răm rắp tuân theo mọi mệnh lệnh từ người trên như nhiều người hiện nay suy diễn sai mà người dưới phải đưa ra lời khuyên cho người trên nếu người trên có hành động sai lầm. Tư tưởng này được học trò của ông là Mạnh Tử phát triển thêm khi nói rằng nếu nhà vua không coi trọng nhân dân và có những hành vi gây hại cho đất nước, ông ta sẽ mất Thiên mệnh và sẽ phải bị lật đổ. Vì thế hành động giết bạo chúa không bị coi là phản nghịch mà là đúng đắn, bởi vì tư cách của kẻ bạo chúa giống một kẻ cướp hơn là một vị vua. Ngược lại người trên cũng phải dùng lễ nghĩa đối xử với người dưới nếu không sẽ bị xem là vô đạo.
== Vinh danh ==
=== Bản quán ===
Ngay sau khi Khổng Tử mất, cố hương Khúc Phụ (曲阜) trở thành nơi hành hương để người đời bày tỏ lòng kính ngưỡng. Hiện đây vẫn là một địa điểm du lịch văn hóa nổi tiếng, nhiều người Trung Quốc thường xuyên viếng thăm mộ và những ngôi đền xung quanh. Tại Trung Quốc, có nhiều ngôi đền nơi Phật giáo, Lão giáo và Khổng giáo cùng hiện diện. Cũng có nhiều ngôi đền thờ riêng Khổng Tử, chúng thường là nơi tổ chức những buổi lễ tưởng nhớ ông.
Hoa lục
tỉnh Vân Nam
Côn Minh (1)
Jianshui (1)
Đài Loan (20+)
Tỉnh Đài Bắc (5)
Pescadores (1)
Nhật Bản
Yushima Seidō, Khu Bunkyo, Tokyo
Các triều đại phong tặng Khổng Tử các danh hiệu sau:
Năm 739, vua Đường Huyền Tông phong tặng Đức Khổng Tử là Văn Tuyên Vương, tượng thờ ông được mặc phẩm phục Hoàng đế, tặng cho các đệ tử các tước: Công, Hầu, Bá.
Năm 1008, vua Tống Chân Tông phong là: Đại Thánh Văn Tuyên Vương, phong cho cha Khổng Tử là Lỗ Công, mẹ là Lỗ Phu Nhân, vợ là Bà Thượng Quan Thị làm Vân Phu Nhân, và ra lệnh cho các tỉnh lập miếu thờ ông.
Năm 1560, vua Minh Thế Tông phong tặng ông là Chí Thánh Tiên Sư.
Năm 1645, vua Thanh Thế Tổ phong ông là Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương Thánh Sư Khổng Phu Tử.
=== Hậu duệ ===
Mọi nhân vật có tư cách hậu duệ chính thống của Khổng tử luôn được thiên hạ tôn kính, các chính thể quân chủ thường liệt họ vào hàng quý tộc và ban thực ấp cũng như quan tước tùy khả năng. Sơ khởi, Hán Cao tổ đã phong cho cháu đời thứ 9 của Khổng Tử là Khổng Đằng chức "Phụng Tự quân", trông coi việc tế giỗ Khổng Tử. Đến đời Hán Nguyên đế đã phong cho Khổng Bá, cháu đời thứ 13 tước "Bao Thành hầu". Họ Khổng được phong tước Hầu cả thảy 35 lần kể từ thời nhà Hán. Đến thời Đường, Đường Huyền Tông đã phong tước "Văn Tuyên công" cho Khổng Chi, cháu đời thứ 35. Đến năm 1055, hoàng đế Tống Chân Tông cải phong thành tước "Diễn Thánh công" (衍聖公 - Yǎnshèng gōng) cho Khổng Thánh Hữu, cháu đời thứ 46. Tính tổng cộng, họ Khổng tiếp tục được gia phong tước Công 42 lần từ đời Nhà Đường tới thời Nhà Thanh.
Dù trong lịch sử Trung Quốc luôn xảy ra những cuộc thay đổi triều đại, danh hiệu Diễn Thánh công luôn được trao cho các thế hệ con cháu của Khổng Tử. Người cuối cùng được phong tước hiệu này là Khổng Đức Thành (1919-2008), cháu đời thứ 77 của Khổng Tử. Mãi cho đến năm 1935, chính phủ Trung Hoa Dân quốc bãi bỏ tước vị này, nhưng vẫn chỉ định ông Khổng Đức Thành làm người trông coi việc cúng giỗ Khổng Tử. Qua hơn 2.000 năm với hàng chục lần chiến tranh loạn lạc hoặc thay đổi triều đại, hậu duệ của Khổng Tử vẫn tiếp tục gìn giữ việc tế tự ông tại Khổng Phủ. Trải qua nhiều thời đại, các thành viên họ Khổng thường có quan hệ hôn nhân với một số gia đình chính trị có ảnh hưởng ở Trung Quốc. Hoàng đế Càn Long đã cưới một người cháu gái của Khổng Hiến Bồi, cháu đời thứ 72 của Khổng Tử, khiến họ Ái Tân Giác La và họ Khổng có quan hệ với nhau. Một người cháu khác là Khổng Tường Hy, cháu đời thứ 75, từng giữ chức Viện trưởng Hành chính, kiêm Bộ trưởng Tài chính trong chính phủ Tưởng Giới Thạch, lập gia đình với Tống Ái Linh, trở thành anh em cột chèo với cả 2 vị tổng thống của Trung Hoa Dân quốc là Tôn Trung Sơn và Tưởng Giới Thạch.
Dòng chính thống của ông đã rời quê hương Khúc Phụ tới Đài Loan trong thời Nội chiến Trung Quốc. Người trưởng tộc là Khổng Đức Thành, một giáo sư tại Đại học Quốc lập Đài Loan. Ông từng phục vụ cho chính phủ Trung Hoa Dân quốc với tư cách Chủ tịch Khảo thí viện. Ông cưới Tôn Kỳ Phương, chắt của một vị học giả, quan chức nhà Thanh và cũng là chủ tịch đầu tiên của Đại học Bắc Kinh Tôn Gia Nại, gia đình ông này đã lập ra tổ hợp kinh doanh đầu tiên ở Trung Quốc hiện đại ngày nay, gồm nhà máy bột mì lớn nhất Châu Á, Công ty Bột mì Fou Foong. Con trai trưởng của ông là Khổng Duy Ích, cháu đời thứ 78 của Khổng Tử đã qua đời vào năm 1989. Cháu nội của ông, Khổng Thụy Trường, sinh năm 1975, là cháu đời thứ 79. Năm 2008, Khổng Đức Thành qua đời ở tuổi 90, nhưng cũng đã kịp chứng kiến sự ra đời của người cháu đời thứ 80 của Khổng Tử, Khổng Hựu Nhân, được sinh hạ vào ngày 1 tháng 1 năm 2006 tại Đài Bắc. Hiện tại, ông Khổng Thụy Trường giữ chức vụ danh dự "Đại thành chí thánh tiên sư phụng tự quan" (大成至圣先师奉祀官) của chính phủ Đài Loan, chịu trách nhiệm tế tự cho Khổng Tử.
Trước sự quan tâm lớn về dòng dõi của Khổng Tử, một dự án được tiến hành ở Trung Quốc để kiểm tra ADN của các thành viên gia đình đã được biết. Theo đó, cho phép các nhà khoa học xác định nhiễm sắc thể Y chung của các thế hệ con cháu theo dòng nam của Khổng Tử. Nếu thế hệ con cháu được tiếp nối liên tục, cha truyền cho con, những thành viên nam của gia đình sẽ có các nhiễm sắc thể Y giống nhau với đột biến nhỏ xảy ra theo thời gian. Tuy nhiên, năm 2009, những thành viên gia đình đã quyết định không tiến hành kiểm tra ADN. Bryan Sykes, giáo sư di truyền học của Đại học Oxford, giải thích quyết định này: "Dòng dõi gia đình Khổng Tử có một dấu ấn văn hóa quan trọng... Đây không chỉ là vấn đề về mặt khoa học." Cuộc kiểm tra ADN dự định bổ sung những thành viên mới vào dòng dõi gia đình Khổng Tử, mà những bản gia phả đã thiếu sót vì những biến động trong thế kỷ XX.
=== Môn đồ ===
Môn đồ và là người cháu duy nhất của ông, Tử Tư, tiếp tục duy trì trường phái triết học Khổng Tử sau khi ông qua đời. Trong khi vẫn dựa chủ yếu vào hệ thống đức trị của Khổng Tử, hai trong số những môn đồ nổi tiếng nhất của ông nhấn mạnh trên những khía cạnh khác biệt trong giáo lý của ông. Mạnh Tử tin vào tính thiện vốn có của con người, trong khi Tuân Tử đề cao sự thực tế và những khía cạnh vật chất trong tư tưởng Khổng Tử.
Ở thời Nhà Tống, học giả Chu Hi đã thêm các ý tưởng từ Đạo giáo và Phật giáo vào Khổng giáo. Trong suốt cuộc đời mình, Chu Hi không được mọi người biết tới, nhưng không lâu sau khi ông mất, những ý tưởng đó trở thành một quan điểm chính thống mới về những ý nghĩa thực sự của tư tưởng Khổng Tử. Các nhà sử học hiện đại coi Chu Hi là người đã tạo ra một thứ gì đó khác biệt và gọi tư tưởng của ông là Tân Khổng giáo. Ở thời hiện đại, vẫn có một số học giả nghiên cứu Nho giáo nhưng trong thời Cách mạng Văn hoá, Khổng giáo thường bị những nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Trung Quốc lên án.
== Xem thêm ==
Văn miếu
Khổng Thánh miếu
Khổng tử gia ngữ
Học viện Khổng Tử
Phê Lâm phê Khổng vận động
== Tham khảo ==
Clements, Jonathan (2008). Confucius: A Biography. Stroud, Gloucestershire, England: Sutton Publishing. ISBN 978-0-7509-4775-6.
Confucius (1997). Lun yu, (in English The Analects of Confucius). Translation and notes by Simon Leys. New York: W.W. Norton. ISBN 0-393-04019-4.
Confucius (2003). Confucius: Analects—With Selections from Traditional Commentaries. Translated by E. Slingerland. Indianapolis: Hackett Publishing. (Original work published c. 551–479 BC) ISBN 0-87220-635-1.
Creel, Herrlee Glessner (1949). Confucius and the Chinese Way. New York: Harper.
Creel, Herrlee Glessner (1953). Chinese Thought from Confucius to Mao Tse-tung. Chicago: University of Chicago Press.
Csikszentmihalyi, M. (2005). "Confucianism: An Overview". In Encyclopedia of Religion (Vol. C, pp 1890–1905). Detroit: MacMillan Reference USA.
Dawson, Raymond (1982). Confucius. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0192875361.
Dollinger, Marc J. (1996). "Confucian Ethics and Japanese Management Practices," in Sterling Harwood, ed., Business as Ethical and Business as Usual Boston: Jones & Bartlett.
Fingarette, Hebert (1998). Confucius: the secular as sacred. Long Grove, Ill.: Waveland Press. ISBN 1577660102.
Mengzi (2006). Mengzi. Translation by B.W. Van Norden. In Philip J. Ivanhoe & B.W. Van Norden, Readings in Classical Chinese Philosophy. 2nd ed. Indianapolis: Hackett Publishing. ISBN 0-87220-780-3.
Ssu-ma Ch'ien (1974). Records of the Historian. Yang Hsien-yi and Gladys Yang, trans. Hong Kong: Commercial Press.
Van Norden, B.W., ed. (2001). Confucius and the Analects: New Essays. New York: Oxford University Press. ISBN 0-19-513396-X.
Vidal, Gore (1981). Creation. New York: Random House. ISBN 0-394-50015-6.
Khổng miếu, mộ Khổng Tử và khu nhà thờ của họ Khổng được đưa vào danh sách di sản thế giới của UNESCO
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tư Mã Thiên, Sử ký, "Khổng Tử thế gia", (phần tiếp theo)
Khổng miếu, mộ Khổng Tử và khu nhà thờ của họ Khổng được đưa vào danh sách di sản thế giới của UNESCO.
Khổng Tử, Lê Anh Minh lược dịch từ H.G. Creel, Chinese Thought from Confucius to Mao Tsê-Tung (Tư Tưởng Trung Quốc từ Khổng Tử đến Mao Trạch Đông), A Mentor Book, New York, 1964, p. 29-44. |
kenya.txt | Cộng hòa Kenya ( /ˈkɛnjə/; phiên âm tiếng Việt: Kê-ni-a; tiếng Swahili: Jamhuri Ya Kenya; tiếng Anh: Republic of Kenya) là một quốc gia tại miền đông châu Phi. Thủ đô và thành phố lớn nhất của Kenya là Nairobi.
== Lịch sử ==
=== Lịch sử trước thuộc địa ===
Từ đầu Công nguyên, các bộ lạc người Phi đã sinh sống ở vùng đất là Kenya ngày nay. Thế kỷ 7, các tàu bè của người châu Á và người Ả Rập đã đến vùng bờ biển này. Đến thế kỷ 10, người Ả Rập kiểm soát toàn bộ khu vực này. Sau khi nhà hàng hải Vasco da Gama đặt chân lên vùng bờ biển này năm 1498, các thương gia Bồ Đào Nha cũng đến đây lập các bến cảng buôn bán và bị người Ả Rập đánh đuổi vào năm 1729. Từ năm 1740, người Ả Rập kiểm soát vùng bờ biển. Có trên 40 nhóm sắc tộc sống tại Kenya. Người Kikuyu là nhóm sắc tộc lớn nhất di cư đến vùng này từ đầu thế kỉ 18. Tiếp đó, Kenya rơi vào tay thực dân Bồ Đào Nha và Anh.
=== Lịch sử thời kỳ thuộc địa ===
Năm 1890, vùng lãnh thổ này thuộc quyền bảo hộ của Anh và trở thành thuộc địa với tên gọi Đông Phi thuộc Anh từ năm 1920. Chính sách khai thác và bóc lột nặng nề của thực dân Anh làm bùng lên các phong trào phản kháng và chủ nghĩa dân tộc trong thập niên 1940. Năm 1952, phong trào Mau Mau gồm phần lớn là người Kikuyu, dưới sự lãnh đạo của Jomo Kenyatta, nổi dậy chống thực dân Anh. Cuộc chiến kéo dài cho đến năm 1956. Năm 1943, Liên minh dân tộc Phi Kenya (KAU) được thành lập. KAU mở rộng thành viên sang các bộ lạc lớn của Kenya (Luo, Kamba, Kalenin...). Vì vậy, Liên minh dân tộc Phi Kenya (KANU) được thành lập và thay thế KAU. Trước cuộc đấu tranh của nhân dân Kenya do KANU lãnh đạo, ngày 12 tháng 12 năm 1963, Anh phải trao trả độc lập cho nước này.
=== Sau thời kỳ thuộc địa cho đến ngày nay ===
Năm 1964, Kenyatta trở thành Tổng thống. Trong nhiệm kì Tổng thống, Kenyatta lãnh đạo đất nước một cách vững vàng mặc dầu có nhiều áp lực từ các nhóm sắc tộc khác nhau chung sống ở Kenya. Người kế vị Kenyatta, Tổng thống Arap Moi, bị áp lực bãi bỏ chế độ độc đảng. Tuy nhiên, Arap Moi vẫn tái đắc cử năm 1992 và năm 1997. Một loạt các tai ương xảy ra tại Kenya trong hai năm 1997-1998: các trận lụt lớn tàn phá đường sá, cầu cống và mùa màng; các đợt bệnh dịch sốt và dịch tả hoành hành, trong khi hệ thống y tế hoạt động kém hiệu quả; xung đột sắc tộc bùng nổ giữa người Kikuyu và người Kalenjin. Ngày 7-8-1998, tòa đại sứ Mỹ tại Nairobi bị nhóm khủng bố tấn công bằng bom làm chết 243 người và làm bị thương khoảng 1.000 người.
Trong cố gắng tranh thủ sự tài trợ lại của Quỹ tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB), vốn đã bị trì hoãn trước đó do tình trạng tham nhũng và tình hình hoạt động kinh tế nghèo nàn, Tổng thống Moi đã bổ nhiệm một nhà chính trị đối lập hàng đầu Richard Leakey, giữ chức Thủ tướng. Leakey hứa hẹn sẽ củng cố sức đưa kinh tế đất nước thoát khỏi tình trạng trì trệ và đấu tranh chống tệ nạn tham nhũng. Tổng thống Moi dường như không thực hiện cải cách một cách nghiêm túc. Moi đã sa thải Leakey sau 20 tháng cầm quyền. Nhà lãnh đạo đối lập Mwai Kibaki giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Tống thống tháng 12 năm 2002. Kibaki hứa sẽ đấu tranh để chấm dứt tình trạng tham nhũng.
Thắng lợi của cuộc bầu cử tổng thống năm 2007 một lần nữa lại thuộc về ông Kibaki, tuy nhiên từ tháng 8 năm 2010 chính phủ Kenya đã thông qua hiến pháp mới nhằm giảm bớt vai trò của Thủ tướng.
== Chính trị ==
=== Đối nội ===
Trước đây, Kenya có một số đảng phái chính trị cùng hoạt động. Từ 1990 đến 1992 Tổng thống Arab Moi áp dụng chế độ độc đảng. Tháng 12 năm 1992 Kenya thực hiện chế độ chính trị đa đảng, Tổng thống là người đứng đầu Nhà nước và Chính phủ, nhiệm kỳ 5 năm, ứng cử tối đa 2 nhiệm kỳ. Tổng thống có quyền chỉ định Phó Tổng thống; Quyền hành pháp tập trung vào Quốc hội gồm 224 ghế, trong đó 210 ghế bầu theo phổ thông đầu phiếu, nhiệm kỳ 5 năm, còn lại do Tổng thống bổ nhiệm, trên cơ sở giới thiệu của các đảng và dựa theo tỷ lệ phiếu bầu của các thành viên trong đảng. Ngày 27 tháng 12 năm 2007, hơn 14 triệu cử tri Kenya đã đi bỏ phiếu bầu Tổng thống. Ông Mwai Kibaki đã giành thắng lợi (4.584.721 phiếu so với 4.352.993 phiếu của ứng cử viên đối lập Raila Odinga). Ông Mwai Kibaki đã tuyên thệ nhậm chức Tổng thống, ông Raila Odinga được chỉ định làm Thủ tướng Kenya và một số thành viên của Phong trào Dân chủ màu Da cam (ODM) được bổ nhiệm vào Nội các Kenya.
=== Đối ngoại ===
Kenya theo đường lối đối ngoại không liên kết nhưng quan hệ nhiều với phương Tây. Tuy nhiên, quan hệ với Mỹ và phương Tây có thời gian căng thẳng vì Tổng thống Moi kiên quyết chống việc Mỹ và các nước phương Tây đòi Kenya áp dụng chế độ chính trị đa nguyên đa đảng. Ngày 10 tháng 3 năm 1994, Bộ Ngoại giao Kenya đã triệu tập các đại sứ Mỹ, Anh, Đức để phản đối hành động "can thiệp vào công việc nội bộ" của Kenya.
Đối với các vấn đề châu Phi: Kenya coi trọng hợp tác với các nước châu Phi, đặc biệt là với các nước láng giềng.
Kenya cùng Ethiopia, Uganda, Somalia, Djibouti, Sudan lập IGADD (Tổ chức liên chính phủ về phát triển và chống hạn hán) năm 1985. Đối với các vấn đề tranh chấp khu vực châu Phi, Kenya giữ thái độ trung lập. Kenya luôn tích cực tham gia vào các cuộc thảo luận để tìm ra giải pháp cho các cuộc xung đột sắc tộc (ở Somalia, Rwanda...).
Kenya cũng tham gia vào các tổ chức quốc tế và các Hiệp ước như: Liên Hợp Quốc, G-77, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Phong trào không liên kết, Liên minh châu Phi, Công ước Lomé,…
== Hành chính ==
Đứng đầu các địa phương bởi một tỉnh là Ủy viên hội đồng (được bổ nhiệm tập trung từ tổng thống). Các tỉnh (Miko mkoa đơn lẻ trong plural Swahili) được chia thành các huyện (wilaya). Năm 1999 có 69 huyện (census). Huyện này sau đó được chia thành 497 đơn vị (taarafa). Các đơn vị này sau đó được chia thành 2.427 vùng (mtaa) và sau đó 6612 sublocations (mtaa mdogo). Thành phố Narobi cũng tình trạng như trên đầy đủ một cơ quan hành chính tỉnh. Cơ quan chính phủ, giám sát hành chính của các huyện và các địa phương. Các tỉnh đang có:
Nhà nước quản lý địa phương, thực hiện ở Kenya là thông qua chính quyền địa phương. Nhiều đô thị là trung tâm lưu trữ thành phố, các hội đồng thành phố hoặc thị xã. Chính quyền địa phương trong khu vực nông thôn được biết đến như là hạt các hội đồng. Thành viên hội đồng địa phương đã được người dân bầu cử, tổ chức cùng với tổng tuyển cử.
Cử tri là một đơn vị bầu cử được chia. Hiện có 210 cử tri ở Kenya.
== Địa lý ==
Kenya nằm ở Đông Phi, Bắc giáp Nam Sudan và Ethiopia, Nam giáp Tanzania, Đông giáp Somalia và Ấn Độ Dương, Tây giáp Uganda và hồ Victoria. Địa hình tương đối đa dạng, vùng đồng bằng ven biển tiếp nối với vùng cao nguyên và núi ở phía Tây Nam, nơi tập trung phần lớn dân cư và các hoạt động kinh tế. Vùng phía Bắc chiếm khoảng 60% diện tích đất đai là sa mạc và bán sa mạc; cao nguyên Turkana ở vùng Tây Bắc, nơi có hồ Turkana thuộc thung lũng Rift Valley, trải dài theo hướng Bắc Nam.
=== Môi trường ===
Ô nhiễm nguồn nước do chất thải công nghiệp và đô thị; chất lượng nước giảm do lạm dụng thuốc trừ sâu và phân bón hóa học; nạn phá rừng; đất bị xói mòn; sa mạc hóa; tình trạng săn bắn thú rừng trái phép.
=== Khí hậu ===
Vùng ven biển chịu ảnh hưởng khí hậu xích đạo nóng ẩm; vùng nội địa phía Bắc khí hậu nóng và khô; vùng núi và cao nguyên phía Tây khí hậu tương đối mát mẻ, lượng mưa lớn hơn.
== Kinh tế ==
Là cửa ngõ về thương mại và tài chính của khu vực, nhưng nền kinh tế Kenya bị cản trở bởi nạn tham nhũng và sự phụ thuộc vào một số mặt hàng cơ bản. Năm 1997, Tổ chức Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã đình chỉ Chương trình tăng cường chuyển dịch cơ cấu do thất bại của chính phủ nước này trong việc duy trì cải cách và ngăn chặn nạn tham nhũng. Trong thời gian từ năm 1999 đến năm 2000, Kenya đã phải chịu đợt hạn hán nghiêm trọng đã gây ra thiếu nước và năng lượng dẫn đến giảm sản lượng nông nghiệp. Vì thế, GDP năm 2000 của Kenya giảm 0,2%. Năm 2000, IMF đã nối lại khoản vay cho Kenya trong giai đoạn hạn hán nhưng lại tiếp tục đình chỉ khoản cho vay này do Chính phủ không có những giải pháp nghiêm khắc chống tham nhũng. Mặc dù mưa lớn đã trở lại vào năm 2001 nhưng giá cả leo thang, nạn dịch tham nhũng và đầu tư thấp đã hạn chế tốc độ phát triển nền kinh tế Kenya. Chính phủ mới lên nắm quyền vào năm 2002 đã tập trung giải quyết những khó khăn kinh tế và nạn tham nhũng mà đất nước đang phải đối mặt, và huy động được sự giúp đỡ từ bên ngoài. Kinh tế Kenya bắt đầu khởi sắc từ sau năm 2002, dưới sự lãnh đạo của đương kim Tổng thống Kibaki với những chiến dịch chống tham nhũng tương đối mạnh mẽ. IMF đã chấp nhận cấp cho Kenya một loạt khoản vay để thực hiện các chương tình cải cách kinh tế và quản lý đất nước, chương trình xoá đói, giảm nghèo... Nhờ đó GDP năm 2005 đã tăng trưởng trên 5%, đạt khoảng 16,11 tỷ USD. GDP bình quân đầu người khoảng 464 USD/người/năm. Tuy nhiên bạo lực sau bầu cử năm 2008 cùng với những tác động tiêu cực của khủng hoảng kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến kinh tế Kenya khiến GDP giảm xuống còn 1,7%. Năm 2009 và 2010 nền kinh tế đã hồi phục trở lại.
Nông nghiệp đóng vai trò chủ lực trong nền kinh tế Kenya với 85% dân số sống về nghề nông. Các nông sản chính có lúa mì, ngô, kê, khoai tây, chuối, cà phê, chè, bông, đường...
Công nghiệp Kenya khá phát triển ở châu Phi. Các ngành công nghiệp chủ chốt là công nghiệp thực phẩm, hoá dầu (Kenya nhập dầu thô để lọc), điện và vật liệu xây dựng. Bạn hàng chính của Kenya gồm Mỹ, Nhật, Ấn Độ, Các tiểu vương quốc Ả Rập (UAE), Nam Phi, Trung Quốc, Hà Lan, Tanzania, Uganda... Hiện nay Anh là nhà đầu tư lớn nhất vào Kenya với khoảng 1,5 tỷ USD.
Du lịch phát triển nhờ vào 18 công viên quốc gia và sự bảo tồn thiên nhiên rất nghiêm ngặt (nhất là chống lại việc buôn bán ngà voi...), mang lại khoảng 25% nguồn thu nhập quốc gia.
Ngoài ra, Kenya cũng được hưởng các ưu đãi thương mại với EU (hiệp định EBA - Everything but arms), Mỹ (Đạo luật về Tăng trưởng kinh tế và cơ hội cho châu Phi, AGOA).
Về ngoại thương, năm 2010 Kenya xuất khẩu khoảng 5,1 tỷ USD (f.o.b) gồm các mặt hàng chính như chè, cà phê, sản phẩm dầu, cá, xi măng... Thị trường xuất khẩu chính của Kenya là Uganda, Vương quốc Anh, Mỹ, Hà Lan, Ai Cập, Tanzania, Pakistan.
Năm 2010, Kenya nhập khẩu khoảng 10,4 tỷ USD (f.o.b) các mặt hàng như máy móc thiết bị, phương tiện vận tải, sản phẩm xăng dầu, nhựa thông… Thị trường nhập khẩu của Kenya là UAE, Ả Rập Xê Út, Nam Phi, Mỹ, Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản, Vương quốc Anh.
GDP chính thức: 30,57 tỷ USD (2009)
GDP bình quân: 780 USD (2009)
Tăng trưởng GDP: 2% (2009)
=== Thăm dò dầu khí ===
Dầu khí vẫn chưa được phát hiện trên lãnh thổ của Kenya, mặc dù nhiều thập kỷ thăm dò liên tục. Kenya hiện đang nhập khẩu dầu thô. Kenya, nền kinh tế lớn nhất phía đông châu Phi, không có dự trữ dầu mỏ và chỉ dựa vào nguồn dầu dầu của các nước khác. Dầu khí chiếm 20 đến 25% số lương mặt hàng nhập khẩu quốc gia.
Trước khi xuất cảnh giữa năm nay, Tổng công ty Dầu khí Ngoài khơi Quốc gia Trung Quốc (CNOOC) đã làm việc với các công ty dầu ở Kenya như Lion Energy Corp để khoan một giếng thăm dò ở 9 điểm thăm dò nằm phía bắc Kenya.
== Tôn giáo ==
Phần lớn của dân số Kenya theo Kitô Giáo chiếm 83% dân số, với 47,7% là Tin Lành và 23,5% là Công giáo La Mã. Các dân tộc thiểu số theo các tôn giáo khác với số lượng đáng kể khác như (Hồi giáo 11,2%, tín ngưỡng bản địa 1,7%). Sáu mươi phần trăm của dân số Hồi giáo sống ở các tỉnh ven bờ biển, chiếm 50% tổng dân số ở khu vực đó. Khu vực phía tây của đất nước là nơi tập trung sống chủ yếu của Kitô hữu. Ở các tỉnh phía Bắc chiếm số lượng phân bố khoảng 10% người Hồi giáo của đất nước, nơi mà họ tạo thành các nhóm tôn giáo đa số. Ngoài ra, còn có một số lượng lớn những người theo đạo Hindu ở Kenya (khoảng 50.000), nhóm người Ấn giáo thiểu số này đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế địa phương. Ngoài ra còn có một nhóm nhỏ theo đạo Baha'i.
== Giáo dục ==
Việc học tập được chính phủ khuyến khích. Từ năm 1978, giáo dục tiểu học đã tăng lên 60%, tuy nhiên chỉ khoảng 1/2 số học sinh học xong bậc tiểu học và 1/2 số đó học lên trung học. Hệ thống trường công lập được Chính phủ tài trợ một phần. Ở vùng nông thôn, chương trình tiểu học ba năm đầu được dạy bằng tiếng Swahili, sau đó bằng tiếng Anh (ở thành thị hoàn toàn bằng tiếng Anh). Chương trình đại học dành cho những sinh viên đủ điều kiện và khả năng về tài chính.
== Văn hóa ==
Kenya là một quốc gia đa dạng về sắc thái văn hóa, với nhiều nét đại diện. Đáng lưu tâm văn hóa tổng hợp Swahili trên bãi biển, các cộng đồng du mục ở phía Bắc, và một số cộng đồng khác ở trung tâm và khu vực miền Tây. Ngày nay, văn hóa của người bản xứ Maasai rất nổi tiếng, dành cho hướng nặng về du lịch, tuy nhiên. Maasai đã tạo dựng tương đối nhỏ, tỉ lệ trong dân số người Kenya. Văn hóa Maasai được biết đến với sự trau chuốt trang sức trên thân thể và trang sức.
Kenya có âm nhạc phổ thông, truyền hình và khung cảnh nhà hát.
== Viễn cảnh văn học ==
== Xem khác ==
== Ghi chú và sự tham khảo ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Government
Government of Kenya Official site.
Kenya Law Reports Kenyan Legislation, Case Law, Official Gazette Notices and legal Info.
State House Kenya Official site State House, Kenya.
Chief of State and Cabinet Members
General
Country Profile from BBC News
Republic of Kenya General Info
Kenya from the Encyclopædia Britannica
Country Profile from New Internationalist
Mục “Kenya” trên trang của CIA World Factbook.
Kenya from UCB Libraries GovPubs
Kenya tại DMOZ
“Kenya”. Countries + Disasters. ReliefWeb.
Wikimedia Atlas của Kenya, có một số bản đồ liên quan đến Kenya.
Key Development Forecasts for Kenya from International Futures
Media
Kenya news media list from Stanford University
Kenya Video news aggregated from all Kenya Media Houses
Tourism
Kenya Tourist Board (Magical Kenya) official travel and tourism guide
KTN Live TV Watch Online Kenyan Live TV with Music, News, Comedy, Movies and Interviews |
tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa.txt | Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ, trong tiếng Anh viết tắt là OPEC (viết tắt của Organization of Petroleum Exporting Countries). Mục tiêu của tổ chức này là đảm bảo thu nhập ổn định cho các quốc gia thành viên và đảm bảo nguồn cung dầu mỏ cho các khách hàng.
OPEC là tổ chức đa chính phủ được thành lập bởi các nước Iran, Iraq, Kuwait, Ả Rập Saudi và Venezuela trong hội nghị tại Bagdad (từ 10 tháng 9 đến 14 tháng 9 năm 1960). Các thành viên Qatar (1961), Indonesia, Libya (1962), UAE (1967), Algérie (1969) và Nigeria (1971) lần lượt gia nhập tổ chức sau đó. Ecuador (1973–1992) và Gabon (1975–1994) cũng từng là thành viên của OPEC. Trong 5 năm đầu tiên trụ sở của OPEC đặt ở Genève, Thụy Sĩ, sau đấy chuyển về Viên, Áo từ tháng 9 năm 1965.
Các nước thành viên OPEC khai thác vào khoảng 40% tổng sản lượng dầu lửa thế giới và nắm giữ khoảng ¾ trữ lượng dầu thế giới.
== Lịch sử ==
Vào ngày 10–14 tháng 9 năm 1960, theo sáng kiến của Bộ trưởng Bộ Năng lượng và Mỏ Venezuelan Juan Pablo Pérez Alfonso và bộ trưởng Bộ Năng lượng và Mỏ Ả Rập Saudi Abdullah al-Tariki, các chính phủ Iraq, Iran, Kuwait, Ả Rập Saudi và Venezuela nhóm họp tại Baghdad để thảo luận các phương án nhằm tăng giá dầu thô sản xuất ở các quốc gia này
OPEC được thành lập nhằm thống nhất và phối hợp các chính sách về dầu mỏ của các quốc gia thành viên. Giữa năm 1960 và 1975, tổ chức này đã mở rộng bao gồm các thành viên mới như Qatar (1961), Indonesia (1962), Libya (1962), và Các tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (1967), Algérie (1969), và Nigeria (1971). Ecuador và Gabon trước đây từng là thành viên của OPEC, nhưng Ecuador đã rút lui ngày 31 tháng 12 năm 1992 do họ không sẵn sàng hay không thể chi trả 2 triệu đô la tiền phí thành viên và cảm giác rằng họ cần sản xuất nhiều dầu hơn chỉ tiêu mà OPEC cho phép, dù vậy họ gia nhập trở lại vào tháng 10 năm 2007. Các mối quan tâm tương tự cũng đã thúc đẩy Gabon ngừng làm thành viên vào tháng 1 năm 1995. Angola gia nhập đầu năm 2007. Na Uy và Nga tham dự các hội nghị của OPEC với tư cách là quan sát viên. OPEC không phải không thích mở rộng nữa, Mohammed Barkindo, tổng thư ký OPEC gần đây đã đề nghị Sudan gia nhập. Iraq vẫn là thành viên của OPEC, nhưng sản lượng của Iraq không nằm trong bất kỳ chỉ tiêu thỏa thuận nào của OPEC kể từ tháng 3 năm 1998.
Tháng 5 năm 2008, Indonesia tuyên bố rời khỏi OPEC khi hết hạn thành viên và vào cuối năm đó, nước này trở thành quốc gia nhập khẩu dầu và không thể đạt được chỉ tiêu sản xuất dầu của họ. Một bản tuyên bố do OPEC đưa ra ngày 10 tháng 9 năm 2008 đã xác nhận Indonesia rút khỏi tổ chức này, trong đó có đoạn "thật tiếc là chúng tôi phải chấp nhận mong muốn của Indonesia để dừng tư cách thành viên trong Tổ chức [OPEC] và hy vọng rằng Quốc gia này sẽ sẵn sàng gia nhập trở lại trong một tương lai không xa." Indonesia vẫn xuất khẩu dầu ngọt nhẹ và nhập khẩu dầu chua hơn (chức nhiều lưu huỳnh), nặng hơn để tận dụng chênh lệch giá (nhập khẩu lớn hơn xuất khẩu).
== Tổ chức ==
OPEC có khả năng điều chỉnh hạn ngạch khai thác dầu lửa của các nước thành viên và qua đó có khả năng khống chế giá dầu. Hội nghị các bộ trưởng phụ trách năng lượng và dầu mỏ thuộc tổ chức OPEC được tổ chức mỗi năm hai lần nhằm đánh giá thị trường dầu mỏ và đề ra các biện pháp phù hợp để bảo đảm việc cung cấp dầu. Bộ trưởng các nước thành viên thay nhau theo nguyên tắc xoay vòng làm chủ tịch của tổ chức hai năm một nhiệm kỳ.
=== Thành viên ===
Hiện nay tổ chức này có 12 nước thành viên được liệt kê dưới đây với ngày tháng gia nhập.
Châu Phi
Algérie (tháng 7 năm 1969)
Libya (tháng 12 năm 1962)
Nigeria (tháng 7 năm 1971)
Angola (tháng 1 năm 2007)
Trung Đông
Iran (tháng 9 năm 1960)
Iraq (tháng 9 năm 1960) (không được đếm vào phần xuất khẩu của OPEC từ năm 1998)
Kuwait (tháng 9 năm 1960)
Qatar (tháng 12 năm 1961)
Ả Rập Saudi (tháng 9 năm 1960)
Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (tháng 11 năm 1967)
Nam Mỹ
Venezuela (tháng 9 năm 1960)
Ecuador (1973-1993, 2007)
Cựu thành viên
Gabon (Thành viên chính thức từ 1975 đến 1995)
Indonesia (tháng 12 năm 1962 đến 2008)
Thành viên tương lai
Bolivia, Canada, Sudan và Syria đã được OPEC mời tham gia
== Mục tiêu ==
Mục tiêu chính thức được ghi vào hiệp định thành lập của OPEC là ổn định thị trường dầu thô, bao gồm các chính sách khai thác dầu, ổn định giá dầu thế giới và ủng hộ về mặt chính trị cho các thành viên khi bị các biện pháp cưỡng chế vì các quyết định của OPEC. Nhưng thật ra nhiều biện pháp được đề ra lại có động cơ bắt nguồn từ quyền lợi quốc gia, thí dụ như trong các cơn khủng hoảng dầu, OPEC chẳng những đã không tìm cách hạ giá dầu mà lại duy trì chính sách cao giá trong thời gian dài.
Mục tiêu của OPEC thật ra là một chính sách dầu chung nhằm để giữ giá. OPEC dựa vào việc phân bổ hạn ngạch cho các thành viên để điều chỉnh lượng khai thác dầu, tạo ra khan hiếm hoặc dư dầu giả tạo nhằm thông qua đó có thể tăng, giảm hoặc giữ giá dầu ổn định. Có thể coi OPEC như là một liên minh độc quyền (cartel) luôn tìm cách giữ giá dầu ở mức có lợi nhất cho các thành viên.
== Các biện pháp của OPEC theo thứ tự thời gian ==
14 tháng 9 năm 1960: thành lập tổ chức theo đề xuất của Venezuela tại Baghdad.
1965: Dời trụ sở về Wien. Các thành viên thống nhất một chính sách khai thác chung để bảo vệ giá.
1970: Nâng giá dầu lên 30%, nâng thuế tối thiểu áp dụng cho các công ty khai thác dầu lên 55% của lợi nhuận.
1971: Nâng giá dầu sau khi thương lượng với các tập đoàn khai thác. Tiến tới đạt tỷ lệ quốc gia hóa 50% các tập đoàn.
1973: Tăng giá dầu tăng từ 2,89 USD/thùng lên 11,65 USD. Thời gian này được gọi là cuộc khủng hoảng dầu lần thứ nhất, OPEC khai thác 55% lượng dầu của thế giới.
1974 đến 1978: tăng giá dầu 5-10% hầu như mỗi nửa năm một lần để chống lại việc USD bị lạm phát.
1979: Khủng hoảng dầu lần thứ hai. Sau cuộc cách mạng Hồi giáo giá dầu từ 15,5 USD một thùng được nâng lên 24 USD. Libya, Algérie và Iraq thậm chí đòi đến 30 USD cho một thùng.
1980: Đỉnh điểm chính sách cao giá của OPEC. Lybia đòi 41 USD, Ả Rập Saudi 32 USD và các nước thành viên còn lại 36 USD cho một thùng dầu.
1981: Lượng tiêu thụ dầu giảm do các nước công nghiệp lâm vào cuộc khủng hoảng kinh tế và bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng dầu lần thứ nhất, do giá dầu cao, nhiều nước trên thế giới đầu tư vào các nguồn năng lượng khác. Lượng tiêu thụ dầu thế giới giảm 11% trong thời gian từ 1979 đến 1983, thị phần dầu của OPEC trên thị trường thế giới giảm xuống còn 40%.
1982: Quyết định giảm lượng sản xuất tuy được thông qua nhưng lại không được các thành viên giữ đúng. Thị phần của OPEC giảm xuống còn 33% và vào năm 1985 còn 30% trên tổng số lượng khai thác dầu trên thế giới. Lượng khai thác dầu giảm xuống đến mức thấp kỷ lục là 17,34 triệu thùng/ngày.
1983: Giảm giá dầu từ 34 USD xuống 29 USD/thùng. Giảm hạn ngạch khai thác từ 18,5 triệu xuống 16 triệu thùng một ngày.
1986: Giá dầu rơi xuống đến dưới 10 USD/thùng do sản xuất thừa và do một số nước trong OPEC giảm giá dầu.
1990: Giá dầu được nâng lên trong tầm từ 18 đến 21 USD một thùng. Nhờ vào chiến tranh vùng Vịnh giá dầu đạt đến mức đề ra.
2000: Giá dầu đã dao động mạnh, vượt qua cả hai mức thấp và cao nhất trong lịch sử. Nếu trong quý I, chỉ với 9 USD người ta cũng có thể mua được một thùng dầu thì trong quý IV giá đã vượt trên 37 USD một thùng. Các thành viên của OPEC đồng ý giữ giá dầu ở mức 22-28 USD/thùng.
2005: OPEC quyết định giữ nguyên lượng khai thác 27 triệu thùng. Các thành viên đã nhất trí "tạm ngưng" không giữ giá dầu ở mức 22-28 USD/thùng.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của OPEC
Số liệu thống kê và dự đoán của OPEC đến năm 2010 |
chiến tranh boer.txt | Chiến tranh dân Boer có hai thời kỳ, lần thứ nhất từ 16 tháng 12 1880 đến 23 tháng 3 1881. Chiến tranh dân Boer thứ nhì là cuộc chiến chính và được lịch sử nêu đến nhiều hơn, từ 11 tháng 10 1899 đền 31 tháng 5 1902.
Cuộc chiến xảy ra giữa Đế quốc Anh và hai nước độc lập tại nam châu Phi: Orange Free State và Cộng Hòa Nam Phi (còn gọi là Cộng Hòa Transvaal). Sau hơn 3 năm đấu tranh gay go, hai nền cộng hòa này phải đầu hàng và chịu khuất phục Đế quốc Anh.
== Sơ lược về Đế quốc Anh và châu Phi ==
== Dân Boer ==
Dân Boer đa số là dân Hà Lan sang khai hoang, dân châu Âu ưa mạo hiểm đến đào vàng và tìm kim cương.
== Chiến tranh lần thứ nhất ==
Chiến tranh Boer lần thứ nhất (1880–1881), cũng còn được biết đến với tên gọi "Chiến tranh Transvaal," là một cuộc xung đột ngắn giữa những người định cư Boer chống lại âm mưu của Đế quốc Anh thôn tính Transvaal, nhằm tái lập nước cộng hòa này. Cuộc chiến này đáng ghi nhớ với tổn thất chênh lệch tới 10:1, mà phần thua thiệt thuộc về Anh.
=== Nguyên nhân ===
=== Diễn tiến ===
=== Hậu quả ===
== Chiến tranh lần thứ nhì ==
=== Nguyên nhân ===
=== Diễn tiến ===
=== Hậu quả ===
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
kinh tế canada.txt | Canada là nền kinh tế lớn thứ 9 trên thế giới (tính theo giá trị đô la Mỹ theo tỷ giá thị trường), và là một trong các quốc gia giàu nhất trên thế giới, là thành viên của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và thuộc nhóm tám quốc gia phát triển (G8). Giống như các quốc gia phát triển khác, ngành dịch vụ chiếm ưu thế trong nền kinh tế Canada, chiếm 3/4 nền kinh tế Canada. Khác với các nước phát triển khác, Canada chú trọng vào khu vực sơ khai, với khai thác gỗ và khai thác dầu mỏ là hai ngành quan trọng nhất. Canada cũng có một khu vực chế tạo tương đối lớn, tập trung ở trung tâm Canada, với ngành công nghiệp ô tô - xe máy là đặc biệt quan trọng nhất.
Canada xếp thứ hạng cao trong danh sách các quốc gia có nền kinh tế tự do trên thế giới. Ngày nay, kinh tế Canada liên kết chặt chẽ với kinh tế Hoa Kỳ cả về thể chế kinh tế theo định hướng thị trường lẫn mô hình sản xuất.. Tại thời điểm tháng 10 năm 2007, Canada có tỉ lệ thất nghiệp là 5,9%, thấp nhất trong 33 năm gần đây. Tỷ lệ thất nghiệp ở các tỉnh là khác nhau từ thấp nhất là 3,6% ở Alberta cho đến cao nhất là 14,6% ở Newfoundland và Labrador.. Trong danh sách 2.000 công ty lớn nhất thể giới năm 2008 của báo Forbes Global, Canada có 69 công ty, xếp hạng 5 ngang với Pháp.. Vào năm 2008, tổng gánh nặng nợ chính phủ của Canada là thấp nhất trong các thành viên của G8. Năm 2005, thu nhập bình quân đầu người là 34.000 USD. Dự trữ ngoại tệ và vàng năm 2005 là 33,03 tỷ USD. Theo số liệu công bố của Cơ quan thống kê Canada (StasCan), kinh tế nước này đã suy giảm 5,4% trong quý 1 năm 2009, mức giảm lớn nhất trong vòng 18 năm qua. Trước đó, kinh tế Canada đã sụt giảm 3,4% trong quý 4 năm 2008.
Thương mại quốc tế đóng góp một phần lớn trong nền kinh tế Canada, đặc biệt là các nguồn tài nguyên thiên nhiên có ý nghĩa rất quan trọng. Hoa Kỳ hiện là đối tác thương mại lớn nhất, chiếm khoảng 76% xuất khẩu và 65% nhập khẩu trong năm 2007 của Canada.. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Canada lớn thứ 8 trong tất cả các quốc gia trên thế giới trong năm 2006.
== Lịch sử ==
Thay đổi GDP thực tế trong các năm trước đây :
== Các ngành kinh tế ==
Canada là quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng và phong phú trải dài trên khắp lãnh thổ của đất nước. Ở British Columbia, ngành công nghiệp về lâm nghiệp chiếm một vị trí quan trọng, trong khi ngành công nghiệp dầu mỏ có vai trò quan trọng ở Alberta, Newfoundland và Labrador. Miền bắc Ontario là nơi có các mỏ dầu, trong khi các ngành công nghiệp thủy sản lâu nay đã được chính phủ chú ý đến như là tỉnh Atlantic, mặc dù trong thời gian gần đây đã có những bước từ chối. Canada có nguồn tài nguyên khoáng sản như là than,đồng,quặng sắt,và vàng.
Các ngành công nghiệp đang ngày càng trở nên ít quan trọng đối với toàn bộ nền kinh tế. Chỉ có một số ít lao động của Canada chiếm 4% đang làm việc trong các lĩnh vực đó, và họ đóng góp ít hơn 6% cho GDP. Canada vẫn còn việc quan trọng trong nhiều phần còn lại của đất nước. Nhiều nếu không phải nói là nhiều nhất, thị xã ở miền Bắc Canada,nơi sản xuất nông nghiệp gặp khó khăn, do sự tồn tại của một mỏ ở gần đó hoặc nguồn khai thác gỗ. Canada có các công ty hàng đầu thế giới trong việc sản xuất nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên như: vàng, nickel, uran, kim cương và chì. Một số các công ty lớn nhất của Canada được dựa trên nguồn tài nguyên thiên nhiên cung cấp cho các ngành công nghiệp, như là EnCana, Cameco, Goldcorp, và Barrick Gold. Đại đa số các sản phẩm được xuất khẩu, chủ yếu vào Hoa Kỳ. Ngoài ra còn có nhiều ngành công nghiệp và dịch vụ có liên kết trực tiếp với nhau. Ví dụ một trong những lĩnh vực sản xuất của các ngành công nghiệp lớn nhất của Canada là bột giấy và giấy ở khu vực, đó là trực tiếp liên kết với các ngành công nghiệp khai thác gỗ.
Nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối lớn có tác dụng đến kinh tế và xã hội của Canada. Trong khi các ngành công nghiệp sản xuất và dịch vụ rất dễ để chuẩn hóa, nguồn tài nguyên thiên nhiên thì phong phú nằm ở nhiều khu vực khác nhau. Điều này đảm bảo cho việc phát triển cơ cấu kinh tế khác nhau ở mỗi một khu vực của Canada, đóng góp mạnh của nhiều khu vực của Canada. Cũng trong thời gian đó phần lớn các nguồn lực được xuất khẩu, kết hợp chặt chẽ Canada vào nền kinh tế quốc tế. Howlett và Ramesh cho rằng sự bất ổn thuộc về các ngành công nghiệp cũng góp phần vào và sự can thiệp nhiều hơn của chính phủ trong nền kinh tế, làm giảm tác tác động của xã hội đối với thay đổi của thị trường.
Các ngành công nghiệp phát triển cũng làm tăng sự quan trọng của câu hỏi về phát triển bền vững. Mặc dù nhiều thập kỷ qua Canada như là một nhà sản xuất các sản phẩm, nhưng ít có nguy cơ dùng hết. Các khám phá lớn tiếp tục được thực hiện, như khối lượng lớn nickel được tìm thấy tại vịnh Voisey. Hơn nữa, vùng phía bắc vẫn còn phần lớn chưa phát triển như giá cao hơn giá sản xuất hay nhiều công nghệ mới hoạt động tại khu vực này chưa phải là hiệu quả về chi phí. Trong những thập kỷ gần đây người dân Canada không chấp nhận sự tàn phá môi trường cùng với việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên. Vấn đề tăng lương và khiếu nại của thổ dân về đất đai cũng được quan tâm hơn trước. Thay vào đó, nhiều công ty của Canada đã tập trung vào việc khai thác và mở rộng hoạt động ở của họ nước ngoài, nơi đang có mức giá thấp hơn và chính phủ các nước đó lại rất chào đón họ. Các công ty của Canada ngày càng quan tâm và thấy được vai trò của khu vực Mỹ Latin, khu vực Đông Nam Á, và Châu Phi.
Đây là nguồn tài nguyên tái tạo, nó có đưa ra một số những mối quan tâm lớn nhất. Sau nhiều thập kỷ qua về tăng quá mức lượng khai thác các cá tuyết sụp đổ, nhưng tất cả các ngành thủy sản trong những năm 1990, và cá hồi Thái Bình Dương cũng phải chịu rất nhiều ảnh hưởng của ngành công nghiệp. Các ngành công nghiệp khai thác gỗ, sau nhiều năm khai thác tràn lan, trong những năm gần đây đã di chuyển đến một mô hình bền vững hơn.
=== Năng lượng ===
Canada là một trong số ít các quốc gia phát triển có xuất khẩu ròng (xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu) năng lượng. Trữ lượng dầu và khí lớn tập trung chủ yếu ở Alberta và lãnh thổ phía Bắc; ngoài ra còn ở các vùng lân cận của British Columbia và Saskatchewan. Theo USGS, trữ lượng khổng lồ của Athabasca Tar Sands khiến Canada thành nước đứng thứ hai thế giới về trữ lượng dầu mỏ, sau Ả Rập Saudi. British Columbia và Quebec, cũng như là ở Ontario, Saskatchewan, Manitoba và khu vực Labrador, là những nơi có tiềm năng thủy điện rất lớn, đây là nguồn năng lượng phong phú, không tốn kém và thân thiện với môi trường. Điều này phần nào giải thích tại sao Canada là một trong những khu vực tiêu dùng năng lượng bình quân đầu người cao nhất thế giới. Năng lượng giá rẻ đã kích thích hoạt động và sáng tạo của một số ngành công nghiệp quan trọng, như ngành luyện nhôm quy mô lớn ở Quebec, Alberta và British Columbia.
Trong quá khứ, một vấn đề quan trọng trong chính trị của Canada là trong khi Tây Canada là một trong những khu vực giàu nhất thế giới về các nguồn năng lượng, Bắc Ontario - trái tim công nghiệp của Canada - lại hầu như không có tài nguyên năng lượng gì. Tuy nhiên, vận chuyển dầu Alberta tới miền Tây Hoa Kỳ lại rẻ hơn tới miền Đông Canada. Thành ra, các cảng ở phía Đông Canada lại đi nhập khẩu một số lượng đáng kể dầu từ nước ngoài, và Ontario sử dụng đáng kể điện hạt nhân.
Mỗi khi dầu tăng giá, phần lớn dân Canada phải chịu thiệt hại, thì miền Tây Canada lại hưởng lợi. Các chính sách năng lượng quốc gia vào đầu những năm 1980 đã cố gắng để ép buộc vùng Alberta bán dầu giá thấp để phục vụ cho miền Đông Canada. Chính sách này minh chứng sự phân chia sâu sắc và mất đi một cách nhanh chóng tầm quan trọng của nó khi giá dầu sụt mạnh vào giữa những năm 1980. Một trong những phần gây tranh cãi nhất của Hiệp định thương mại tự do Canada-Hoa Kỳ ký năm 1988 là một cam kết rằng Canada sẽ không bao giờ tính tiền năng lượng đối với Hoa Kỳ cao hơn khi tính với người dân Canada.
=== Nông nghiệp ===
Mặc dù có đất đai rộng lớn nhưng đất canh tác nông nghiệp của Canada chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ và có điều kiện thời tiết luôn thất thường. Tuy nhiên, nông nghiệp Canada đạt được nhiều thành tựu lớn. Canada là một trong những nhà cung cấp lớn nhất thế giới về các sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là lúa mì và các hạt ngũ cốc. Canada là nhà xuất khẩu lớn các sản phẩm nông nghiệp đến Hoa Kỳ và còn cho cả châu Âu và Đông Á. Giống như tất cả các quốc gia phát triển khác: tỷ lệ dân số làm việc trong khu vực nông nghiệp và mức đóng góp vào GDP của ngành này đã giảm xuống đáng kể trong thế kỷ 20.
Giống như các quốc gia phát triển khác, sản xuất nông nghiệp của Canada nhận được nhiều trợ cấp và hỗ trợ của chính phủ. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của Tổ chức thương mại thế giới WTO, Canada là nước ủng hộ mãnh mẽ việc giảm những trợ cấp bóp méo thị trường. Vào năm 2000, Canada chi khoảng 4,6 tỷ CDN hỗ trợ cho sản xuất nông nghiệp. Trong đó 2,32 tỷ CDN thuộc loại trợ cấp "hộp lam" của WTO, có nghĩa là nó không trực tiếp ảnh hưởng đến thị trường, chẳng hạn như các khoản hỗ trợ cho nghiên cứu hoặc giảm nhẹ thiên tai. Tổng số trợ cấp trị giá 848,2 triệu USD chỉ bằng 5% giá trị sản lượng cây trồng mà họ đã cung cấp, là ngưỡng nhập WTO. Do đó, Canada, chỉ dùng 848,2 triệu USD trong tổng số 4,3 tỷ USD được WTO cho phép.
=== Khu vực chế tạo ===
Mô thức phát triển chung của các nước giàu chuyển dịch cơ cấu từ một nền kinh tế dựa vào khu vực sơ khai sang dựa vào khu vực chế tạo và sau đó là sang dựa vào khu vực dịch vụ. Canada đã không làm theo mô thức này: khu vực chế tạo luôn là ngành xếp hạng hai, mặc dù không phải là không quan trọng. Một phần vì lý do này, Canada đã không chịu nhiều thiệt hại từ những thiệt hại của quá trình phi công nghiệp hóa trong năm 1970 và những năm 1980.
Miền Trung Canada là nơi đặt chi nhánh của các hãng chế tạo ô tô Hoa Kỳ và Nhật Bản, và cũng có rất nhiều nhà máy sản xuất linh kiện thuộc sở hữu của các công ty Canada như Magna International và Linamar Corporation. Miền TrungCanada hiện nay hàng năm sản xuất nhiều xe ô tô hơn cả tiểu bang lân cận của Hoa Kỳ là Michigan, trung tâm của ngành công nghiệp chế tạo ô tô Hoa Kỳ. Các nhà sản xuất đã bị thu hút vào Canada do ở đây có trình độ dân trí rất cao và chi phí lao động thấp hơn so với Hoa Kỳ. Chi tiêu công cộng của Canada cho hệ thống chăm sóc sức khỏe cũng là một yếu tố hấp dẫn đầu tư nước ngoài, vì nó giúp cho các công ty đỡ phải chi tiêu nhiều cho bảo hiểm y tế giống như tại Hoa Kỳ.
Hầu hết các ngành công nghiệp chế tạo của Canada đều bao gồm các nhà máy chi nhánh của các doanh nghiệp Hoa Kỳ, mặc dù cũng có một số nhà chế tạo lớn trong nước, như Bombardier Inc.. Điều này đã khiến người dân Canada lo ngại. Các nhà máy chi nhánh thường chỉ tạo ra những việc làm chân tay, còn các công việc nghiên cứu và điều hành chỉ hạn chế tại Hoa Kỳ.
Quá trình phi công nghiệp hóa ở Canada đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng, đặc biệt là tại Ontario (rất phụ thuộc vào các ngành công nghiệp ô tô), khi các doanh nghiệp nước ngoài có nhà máy tại đây đóng cửa. Khủng hoảng kinh tế làm tình hình xấu hơn, với càng thêm nhiều nhà máy đóng cửa (Oshawa và Windsor, Ontario bị tác động nghiêm trọng).
Trong nhiều năm, các hãng sản xuất xe hơi liên tục chuyển việc làm sang Canada nhằm tránh chi phí y tế cao ở Hoa Kỳ. Hiện nay, Ontario là nơi sản xuất xe hơi lớn nhất Bắc Mỹ, thậm chí vượt cả Michigan.
Nhu cầu tiêu thụ ô tô tại thị trường Hoa Kỳ giảm sút khiến sản lượng ô tô của Canada giảm 21% năm 2008. Ngành công nghiệp ôtô của Canada lỗ 2,7 tỷ CAD cũng trong năm đó.
=== Khu vực dịch vụ ===
Khu vực dịch vụ ở Canada lớn và nhiều phân ngành, sử dụng ba phần tư lao động của Canada và đóng góp tới hơn hai phần ba GDP. Thu hút nhiều lao động nhất là ngành bán lẻ, sử dụng gần 12% dân Canada. Ngành bán lẻ chủ yếu tập trung ở một số ít chuỗi cửa hàng liên kết trong các khu mua sắm. Trong những năm gần đây, nhiều cửa hàng lớn, như là Wal-Mart (của Hoa Kỳ) và Future Shop (một chi nhánh có nhiều khách nhất của Hoa Kỳ) xuất hiến, đã dẫn đến giảm việc làm trong lĩnh vực bán lẻ và chuyển công việc bán lẻ đến vùng ngoại ô.
Phân ngành lớn thứ hai trong khu vực dịch vụ là dịch vụ kinh doanh, chỉ sử dụng ít lao động hơn so với ngành bán lẻ một chút. Phân ngành này bao gồm dịch vụ tài chính, bất động sản, và các ngành công nghiệp truyền thông. Những ngành này đã phát triển nhanh chóng trong những năm gần đây. Chúng tập trung chủ yếu ở các trung tâm đô thị lớn, đặc biệt là Toronto và Calgary.
Lĩnh vực giáo dục và y tế là hai lĩnh vực lớn nhất của Canada, nhưng cả phần lớn thuộc quyền hạn của Chính phủ. Ngành chăm sóc y tế phát triển nhanh chóng, và là ngành dịch vụ lớn thứ ba ở Canada. Tốc độ tăng trưởng cao của nó đã gây khó khăn cho chính phủ trong việc huy động tài chính cho ngành này.
Canada có một ngành công nghệ cao quan trọng, và cũng có cả một ngành công nghiệp giải trí phục vụ không chỉ cho trong nước và mà còn cả cho quốc tế. Ngành du lịch ở Canada có tầm quan trọng ngày càng tăng, với phần lớn các du khách quốc tế đến từ Hoa Kỳ. Mặc dù gần đây Đô la Canada lên giá ảnh hưởng tiêu cực đến ngành này, song các nước như Trung Quốc vẫn tăng số lượng khác du lịch đến Canada.
== Vấn đề chính trị ==
=== Chênh lệch phát triển ===
Nền kinh tế Canada khác nhau rất nhiều giữa các vùng. Miền Trung Canada giữ truyền thống là động cơ kinh tế của Canada, trung tâm công nghiệp và là nơi sinh trú của hơn một nửa dân số đất nước. Những năm gần đây, người ta chứng kiến sự tăng trưởng nhanh chóng tại miền Tây Canada nhờ thương mại với Châu Á đã làm giàu cho British Columbia và tài nguyên dầu mỏ phong phú đã thúc đẩy kinh tế của Alberta và Saskatchewan phát triển.
Bốn tỉnh bang ở ven Đại Tây Dương, mặc dù một thời là trung tâm của hoạt động kinh tế, đã trải qua quá trình suy thoái cuối thế kỷ 19 và có truyền thống nghèo khó hơn đáng kể phần còn lại của Canada, đặc biệt là sau khi ngành đánh bắt cá sụp đổ. Những năm gần đây, người ta thấy các tỉnh bang này đã có những sự dịch chuyển đáng kể theo hướng đa dạng hoá, đặc biệt là dầu khí ở ngoài khơi đã bắt đầu được khai thác và đưa vào khu vực. Quebec cũng là vùng có truyền thống nghèo hơn mức bình quân ở Canada mặc dù không đến mức như các địa phương thuộc Đại Tây Dương. Trong những năm gần đây Newfoundland and Labrador đã bắt đầu cho thấy một thay đổi trong nền kinh tế của họ và được gọi là "con hổ Celtic của Canada" (so sánh với chuyển biến kinh tế ở Ireland); nó cũng đã được gọi là "tiểu Alberta" do có nguồn dầu khí mới phát hiện được, mặc dù nhiều người trẻ ở Newfoundland di trú sang Alberta để tìm kiếm những việc làm mang lại thu nhập cao hơn.
=== Mối quan hệ với Hoa Kỳ ===
Canada và Hoa Kỳ có quan hệ thương mại chặt chẽ với nhau. Thị trường việc làm của Canada tiếp tục trong tình trạng thuận lợi cùng với tình hình của kinh tế Hoa Kỳ. Tỷ lệ thất nghiệp hồi tháng 12 năm 2006 đạt mức thấp nhất trong 30 năm qua và là năm thứ 14 liên tục tăng trưởng. Những bất đồng về thuế quan, những hành động quân sự đa phương và tranh cãi về các vấn đề pháp lý của Canada chẳng hạn như hôn nhân đồng giới, quyền lợi người khuyết tật, phân biệt chủng tộc, luật di trú và cần sa hợp pháp đã làm cho quan hệ giữa hai nước có những căng thẳng nhất định.
Mặc dù có những khác biệt nêu trên, Hoa Kỳ vẫn là đối tác thương mại lớn nhất củaCanada, với kim ngạch bình quân hàng ngày lên tới 1,7 tỷ CAD vào năm 2005. Có tới 81% xuất khẩu của Canada là sang Hoa Kỳ và 67% của nhập khẩu của Canada là từ Hoa Kỳ. Thương mại với Canada đã chiếm 23% xuất khẩu và 17% nhập khẩu của Hoa Kỳ. Năm 2005, thương mại của Hoa Kỳ với Canada nhiều hơn thương mại của Hoa Kỳ với toàn Liên Minh châu Âu gộp lại, và cũng lớn hơn hai lần thương mại giữa Hoa Kỳ với tất cả các quốc gia Mỹ Latin gộp lại. Chỉ xét riêng thương mại hai chiều thực hiện qua Cầu Ambassador giữa Michigan và Ontario đã bằng tất cả xuất khẩu của Hoa Kỳ tới Nhật Bản. Tầm quan trọng của Canada với Hoa Kỳ không chỉ dừng ở các bang có biên giới chung giữa hai nước. Canada là thị trường xuất khẩu hàng đầu của 35 / 50 tiểu bang Hoa Kỳ, và là nước ngoài cung cấp năng lượng nhiều nhất cho Hoa Kỳ.
Thương mại song phương tăng 52% trong thời kỳ từ năm 1989 khi Hiệp định thương mại tự do Hoa Kỳ-Canada (FTA) có hiệu lực đến năm 1994 khi Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (NAFTA) thay thế FTA trên. Kể từ đó, thương mại đã tăng 40%. NAFTA tiếp tục phát huy kết quả của FTA trong việc giảm dần các rào cản thương mại và thiết lập các quy tắc thương mại theo thỏa thuận. Nó cũng giải quyết một số trở ngại tồn tại kéo dài và tự do hóa các quy tắc ở một số lĩnh vực, bao gồm cả nông nghiệp, dịch vụ, năng lượng, dịch vụ tài chính, đầu tư và mua sắm của chính phủ. NAFTA tạo thành khu vực thương mại lớn nhất thế giới, với trên 406 triệu dân của ba nước Bắc Mỹ.
Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Canada, chiếm hơn một nửa thực phẩm xuất khẩu của Canada. Tương tự, Canada là thị trường xuất khẩu nông sản lớn nhất của Hoa Kỳ, với gần 20% số thực phẩm xuuất khẩu Hoa Kỳ là tới nước hàng xóm phía Bắc. Gần hai phần ba sản phẩm lâm nghiệp của Canada, bao gồm cả bột giấy và giấy, được xuất khẩu sangHoa Kỳ; 72% tổng số giấy in báo của Canada sản xuất ra cũng đã được xuất khẩu vào Hoa Kỳ.
Với kim ngạch 73,6 tỷ dollar Mỹ trong năm 2004, Canada trở thành bạn hàng năng lượng lớn nhất của Hoa Kỳ trong mối quan hệ thương mại, và chiếm hầu hết kim ngạch xuất khẩu năng lượng trị giá 66,7 tỷ dollar của Canada. Các mặt hàng chính là dầu, khí đốt tự nhiên và điện. Canada là nhà cung cấp dầu lớn nhất cho Hoa Kỳ và đứng thứ năm trên thế giới về sản xuất năng lượng. Canada cung cấp đáp ứng khoảng 16% nhu cầu nhập khẩu dầu của Hoa Kỳ và 14% tiêu thụ khí tự nhiên của nước này. Mạng lưới điện quốc gia của Canada và Hoa Kỳđược liên kết với nhau và cả hai quốc gia chia sẻ các thiết bị thủy điện biên giới phía Tây.
Trong khi hầu hết các doanh nghiệp Hoa Kỳ-Canada thông suốt, đôi khi có những tranh chấp thương mại song phương, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp và văn hóa. Thông thường những vấn đề này đã giải quyết được thông qua các diễn đàn song phương tư vấn hoặc giới thiệu đến Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), hoặc NAFTA giải quyết tranh chấp. Trong tháng 5 năm 1999, Hoa Kỳ và chính phủ Canada đã thương lượng một thỏa thuận trên tạp chí cung cấp tăng quyền truy cập cho ngành công nghiệp Hoa Kỳ xuất bản vào thị trường Canada.
Hoa Kỳ và Canada cũng có một số các vấn đề liên quan đến thủy sản đã giải quyết. Bởi thỏa thuận thông thường, hai nước đã gửi một báo cáo về vịnh Maine là ranh giới tranh chấp lên Tòa án Tư pháp Quốc tế năm 1981; cả hai được chấp nhận của Toà án vào 12 tháng 10 năm 1984 nguyên tắc chia các ranh giới lãnh thổ biển. Một vấn đề hiện nay giữa Hoa Kỳ và Canada tiếp tục là chế biến gỗ mềm, như Hoa Kỳ là Canada alleges oan subsidizes các ngành công nghiệp lâm nghiệp.
Trong năm 1990, Hoa Kỳ và Canada đã ký một thỏa thuận song phương về thuỷ sản, đã phục vụ cho hoạt động ngăn chặn đánh bắt cá bất hợp pháp và giảm nguy cơ bị thương trong quá trình thực thi cứu giúp sự cố thủy sản.Hoa Kỳ và Canada đã ký một thoả thuận cá hồi Thái Bình Dương trong tháng 6 năm 1999 là ổn định qua việc triển khai thực hiện những sự khác biệt của Thái Bình Dương vào năm 1985 Hiệp ước cá hồi cho thập kỷ tới.
Canada và Hoa Kỳ đã ký một thỏa thuận hàng không trong thời gian Bill Clinton thăm Canada vào tháng 2 năm 1995, và giao thông hàng không giữa hai nước đã tăng lên đáng kể như là một kết quả.Hai nước cũng chia sẻ trong hoạt động của St Lawrence Seaway, kết nối các Great Lakes đến Đại Tây Dương.
Hoa Kỳ là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất của Canada; vào cuối năm 1999, các cổ phiếu của Hoa Kỳ đầu tư trực tiếp đã được ước tính $ 116,7 tỷ đồng, hoặc về 72% của tổng số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Canada. Hoa Kỳ đầu tư chủ yếu ở Canada của mỏ và các ngành công nghiệp nấu chảy kim loại,xăng dầu, hóa chất, sản xuất máy móc và thiết bị giao thông vận tải, và tài chính. Canada là nhà đầu tư nước ngoài lớn thứ ba tại Hoa Kỳ. Vào cuối năm 1999, các cổ phiếu của Canada đầu tư trực tiếp tại Hoa Kỳ đã được ước tính $ 90,4 tỷ đồng. Canada đầu tư tại Hoa Kỳ là tập trung vào sản xuất, kinh doanh bán buôn, bất động sản, dầu khí, tài chính, và bảo hiểm và các dịch vụ khác.
== Thu nhập trung bình của hộ gia đình ==
Theo một báo cáo chuẩn bị hàng quý của các Economist Intelligence Unit thay mặt Barclays Wealth dự kiến trong năm 2007 đã có 1.100.000 triệu đôla Mỹ ở Canada.
== Hiệp định Thương mại tự do ==
(theo nguồn: DFAIT)
Hiệp định thương mại tự do Canada-Hoa Kỳ (ký ngày 12 tháng 10,1987, đóng vai trò của NAFTA, bao gồm cả México)
Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ (Ký ngày 1 tháng 1,1994)
Hiệp định thương mại tự do Canada-Israel (Ký ngày 1 tháng 1,1997)
Hiệp định thương mại tự do Canada-Chile (Ký ngày 5 tháng 7,1997)
Hiệp định thương mại tự do Canada-Costa Rica (Ký ngày 1 tháng 11,2002)
Hiệp định thương mại tự do Canada-Hiệp hội thương mại tự do châu Âu (Ký ngày 26 tháng 1,2008)
Canada đàm phán song phương về trao đổi thương mại với các nước:
Jordan
Hàn Quốc
Cộng hòa Dominica
Singapore
Cộng đồng Andean (Đàm phán đã ký kết với các nước Peru và Colombia)
CARICOM (Cộng đồng Caribbean)
Liên minh châu Âu
Canada cũng tham gia vào đàm phán để tạo ra các khu vực thương mại khối:
Hiệp định thương mại tự do Canada - Trung Mỹ
Khu vực tự do thương mại châu Mỹ (FTAA)
== Xem thêm ==
Canada
Lịch sử Canada
Thủ tướng Canada
So sánh giữa nền kinh tế Canada và Hoa Kỳ
Lịch sử kinh tế Canada
Kinh tế Ontario
Kinh tế Quebec
Kinh tế Alberta
Lịch sử ngành công nghiệp dầu mỏ Canada
Danh sách các tỉnh và vùng lãnh thổ của Canada theo tổng sản phẩm trong nước
== Liên kết ==
OECD's Canada country Web site and OECD Economic Survey of Canada
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Howlett, Michael and M. Ramesh. Political Economy of Canada: An Introduction. Toronto: McClelland and Stewart, 1992.
Wallace, Iain, A Geography of the Canadian Economy. Don Mills: Oxford University Press, 2002.
Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc CIA World Factbook. |
danh sách hệ điều hành.txt | Đây là danh sách các hệ điều hành. Hệ điều hành máy tính có thể được phân loại theo công nghệ, quyền sở hữu, giấy phép, trạng thái hoạt động, cách dùng, và nhiều đặc điểm khác. Trong thực tế, rất nhiều các nhóm có thể chồng chéo. Tiêu chuẩn để được đề cử là nổi tiếng, như được thể hiện hoặc thông qua một bài viết có sẵn trên Wikipedia hoặc có trích dẫn từ nguồn tin đáng tin cậy.
== Độc quyền ==
=== Acorn Computers ===
Arthur
ARX
MOS
RISC iX
RISC OS
=== Amiga Inc. ===
AmigaOS
AmigaOS 1.0-3.9 (Motorola 68000)
AmigaOS 4 (PowerPC)
Amiga Unix (aka Amix)
=== Apple Inc. ===
Gia đình Apple II
Apple DOS
Apple Pascal
ProDOS
GS/OS
Apple III
Apple SOS
Apple Lisa
Lisa Workshop
Lisa Operating System
Apple Macintosh
Mac OS
A/UX (UNIX System V với phần mở rông BSD)
Rhapsody
NeXTSTEP
OS X (trước đó là Mac OS X)
OS X Server (trước đây là Mac OS X Server)
Apple Network Server
IBM AIX (Apple-customized)
Apple MessagePad
Newton OS
iPhone, iPod Touch, iPad
iOS (bản rút gọn của OS X)
Apple Watch
watchOS (bản rút gọn của iOS)
Hệ điều hành nhúng
A/ROSE
iPod software (hệ điều hành nhúng không có tên gọi dành cho iPod)
Biến thể giấu tên của NetBSD cho Airport Extreme và Time Capsule
=== Apollo Computer ===
Domain/OS: Một trong những hệ điều hành mạng đầu tiên. Hoạt động trên phần cứng Apollo/Domain. Sau đó bị Hewlett-Packard mua lại.
=== Atari ===
Atari DOS (cho máy tính 8 bit)
Atari TOS
Atari MultiTOS
=== Be Inc. ===
Beoscomment
BeIA
Beoscomment r5.1d0
magnussoft ZETA (dựa trên Beoscomment r5.1d0 mật mã gốc, được phát triển bởi yellowTAB)
=== Bell Labs ===
Unix ("hệ thống mới của Ken," vì nó được sáng tạo bởi (Ken Thompson), tên gọi chính thức là Unics và sau đó đổi thành Unix, hệ điều hành được tạo ra tại Bell Labs vào năm 1969 làm cơ sở cho gia đình Unix)
UNIX Time-Sharing System v1
UNIX Time-Sharing System v2
UNIX Time-Sharing System v3
UNIX Time-Sharing System v4
UNIX Time-Sharing System v5
UNIX Time-Sharing System v6
MINI-UNIX
PWB/UNIX
USG
- CB Unix
UNIX Time-Sharing System v7 (Nó là Phiên bản Unix 7 (và, với một chừng mực nào đó, con cháu của nó được liệt kê dưới đây, hầu như tất cả hệ điều hành tương tự Unix và dựa trên Unix đều bắt nguồn từ đây.)
Unix System III
Unix System IV
Unix System V
Unix System V có các bản phát hành 2.0, 3.0, 3.2, 4.0, và 4.2
UNIX Time-Sharing System v8
UNIX Time-Sharing System v9
UNIX Time-Sharing System v10
Hệ điều hành phi Unix
BESYS
Plan 9 from Bell Labs
=== Bull, SAS ===
General Comprehensive Operating System (GCOS)
=== Burroughs Corporation, Unisys ===
Burroughs MCP
=== Control Data Corporation ===
Chippewa Operating System (COS)
MACE (Mansfield and Cahlander Executive)
Kronos (Kronographic OS)
NOS (Network Operating System)
NOS/BE NOS Batch Environment
NOS/VE NOS Virtual Environment
SCOPE (Supervisory Control Of Program Execution)
SIPROS (cho Simultaneous Processing Operating System)
EP/IX (Enhanced Performance Unix)
=== Digital Research, Inc. ===
CP/M
CP/M CP/M cho Intel 8080/8085 và Zilog Z80
Personal CP/M, một bản tùy chỉnh của CP/M
CP/M Plus với BDOS 3.0
CP/M-68K CP/M cho Motorola 68000
CP/M-8000 CP/M cho Zilog Z8000
CP/M-86 CP/M cho Intel 8088/8086
CP/M-86 Plus
Personal CP/M-86
MP/M phiên bản đa người dùng của CP/M-80
MP/M II
MP/M-86 phiên bản đa người dùng của CP/M-86
MP/M 8-16, biến thể vi xử lý kép của MP/M cho CPU 8086 và 8080.
Concurrent CP/M, phiên bản nối nghiệp của CP/M-80 và MP/M-80
Concurrent CP/M-86, phiên bản nối nghiệp của CP/M-86 và MP/M-86
Concurrent CP/M 8-16, biến thể vi xử lý kép của Concurrent CP/M cho các CPU 8086 và 8080.
Concurrent CP/M-68K, một biến thể cho 68000
DOS
Concurrent DOS, phiên bản nối tiếp Concurrent CP/M-86 with PC-MODE
Concurrent PC DOS, một biến thể Concurrent DOS cho các máy tính tương thích IBM-PC
Concurrent DOS 8-16, biến thể vi xử lý kép của Concurrent DOS cho các CPU 8086 và 8080.
Concurrent DOS 286
Concurrent DOS XM, Biến thể chế độ thực của Concurrent DOS với hỗ trợ EEMS.
Concurrent DOS 386
Concurrent DOS 386/MGE, a Concurrent DOS 386 biến thể với khả năng thiết bị đầu cuối đồ họa tiên tiến
Concurrent DOS 68K,một cổng của Concurrent DOS cho CPU Motorola 68000 với DOS với chức năng mã nguồn di động.
FlexOS 1.0 – 2.34, một phát sinh từ Concurrent DOS 286
FlexOS 186, biến thể của FlexOScho thiết bị cuối
FlexOS 286, biến thể của FlexOS cho hosts
Siemens S5-DOS/MT, một hệ thống điều khiển công nghiệp dựa trên FlexOS
IBM 4680 OS, mộ hệ điều hành POS dự trên FlexOS
IBM 4690 OS, một hệ điều hành POS dựa trên FlexOS
Toshiba 4690 OS, một hệ điều hành POS dựa trên IBM 4690 OS và FlexOS
FlexOS 386, biến thể sau này của FlexOS cho hosts
IBM 4690 OS, một hệ điều hành POS dựa trên FlexOS
Toshiba 4690 OS, một hệ điều hành POS dựa trên IBM 4690 OS và FlexOS
FlexOS 68K, một phát sinh của Concurrent DOS 68K
Multiuser DOS, phiên bản nối tiếp Concurrent DOS 386
CCI Multiuser DOS
Datapac Multiuser DOS
Datapac System Manager, phát sinh từ Datapac Multiuser DOS
IMS Multiuser DOS
IMS REAL/32, một phát sinh của Multiuser DOS
IMS REAL/NG, phiên bản nối tiếp REAL/32
DOS Plus 1.2 – 2.1, hệ thống đơn người dùng, đa tác vụ phát sinh từ Concurrent DOS 4.1 – 5.0
DR DOS 3.31 – 6.0, một bản DOS đơn người dùng đơn tác vụ phát sinh tư Concurrent DOS 6.0
Novell PalmDOS 1.0
Novell "Star Trek"
Novell DOS 7, hệ thống đơn người dùng, đa tác vụ phát sinh từ DR DOS
Caldera OpenDOS 7.01
Caldera DR-DOS 7.02 và cao hơn
=== Fujitsu ===
Towns OS
=== General Electric ===
Real-Time Multiprogramming Operating System
=== Google ===
Google Chrome OS được thiết kế để làm việc dành riêng cho các ứng dụng web. Công bố ngày 7/7/2009, Chrome OS hiện đang được công khai và được phát hành từ mùa hè 2011. Mã nguồn của Chrome OS phát hành vào 19/10/2009, dưới giấy phép với tên gọi Chromium OS.
Chromium OSlà một phiên bản phát triển hệ điều hành mã nguồn mở của Google Chrome OS. Cả hai hệ điều hành đều dựa trên hạt nhân Linux.
Android là một hệ điều hành dành cho các thiết bị di động. nó bao gồm Android Runtime (userland) cùng với Linux (kernel), với hạt nhân Linux của nó sửa đổi để thêm trình điều khiển cho phần cứng thiết bị di động và để loại bỏ không sử dụng trình điều khiển Vanilla Linux.
=== Honeywell ===
Multics
GCOS
CP-6
=== Intel ===
iRMX; Hệ điều hành thời gian thực ban đầu được tạo ra để hỗ trợ ban đầu được tạo ra để hỗ trợ họ vi xử lý 8080 và 8086 trong các ứng dụng nhúng
ISIS-II; "Intel Systems Implementation Supervisor" là môi trường THE cho phát triển của phần mềm họ vi xử lý của Intel đầu những năm 80 của Intellec Microcomputer Development System của họ và các bản sao. ISIS-II làm việc với đĩa mềm 8 inch và có một trình biên tập, cross-assemblers, một linker, một trình định vị đối tượng, gỡ lỗi, compilers cho PLM (PL/I cho vi xử lý của họ 8080/86), một trình phiên dịch BASIC, etc. và cho phép quản lý tập tin qua một bảng điều khiển.
=== IBM ===
==== Trên các mainframes đầu tiên: 1400, 1800, 701, 704, 709, 7090, 7094 ====
BESYS (for the IBM 7090)
CTSS (The Compatible Time-Sharing System, phát triển tại MIT's Computation Center để sử dụng trên một bản sửa đổi của IBM 7094)
GM OS & GM-NAA I/O (cho IBM 704)
IBSYS (Hệ điều hành băng cho IBM 7090 và IBM 7094)
IJMON (Một serial I/O monitor có thể khởi động để tải các chương trình cho IBM 1400 và IBM 1800)
SOS (SHARE Operating System, cho IBM 704 và 709)
UMES (University of Michigan Executive System,cho IBM 704, 709, và 7090)
==== On S/360, S/370, and successor mainframes ====
OS/360 và các phiên bản kế nhiệm trên các mainframe IBM S/360, S/370, và các phiên bản kế nhiệm
OS/360 (Hệ điều hành chính thức đầu tiên hướng đến kiến trúc System/360),
Saw cài đặt khách hàng của các biến thể sau đây:
PCP (Primary Control Program, một hạt nhân và một hệ thống không gian Cấp phát tập tin tự động)
MFT (Đa lập trình gốc, với một số cố định các tác vụ, bị thay thế bởi MFT II)
MFT II (Đa lập trình với một với một số cố định các tác vụ, có tới 15 phân vùng ứng dụng kích thước cố định, cộng với phân vùng cho các tác vụ hệ thống, ban đầu được xác định tại thời điểm khởi động nhưng có thể định nghĩa lại bằng các câu lệnh điều hành)
MVT (Multi-Programming Variable Tasks, có tới 15 vùng ứng dụng định nghĩa động, cộng với vùng cho tác vụ hệ thống)
OS/VS (phân nhánh của OS/360 hứong đến kiến trúc System/370 virtual memory architecture, "OS/370" is not correct name for OS/VS1 and OS/VS2, but rather refers to OS/VS2 MVS and MVS/SP Version 1),
Customer installations in the following variations:
SVS (Single Virtual Storage, both VS1 & VS2 began as SVS systems)
OS/VS1 (Operating System/Virtual Storage 1, Virtual-memory version of MFT II)
OS/VS2 (Operating System/Virtual Storage 2, Virtual-memory version of OS/MVT but without multiprocessing support)
OS/VS2 R2 (called Multiple Virtual Storage, MVS, eliminated most need for VS1)
MVS/SE (MVS System Extensions)
MVS/SP (MVS System Product)
MVS/XA (MVS/SP V2. MVS hỗ trợ kiến trúc eXtended, 31-bit)
MVS/ESA (MVS hỗ trợ Enterprise System Architecture, horizontal addressing extensions: data only address spaces called Dataspaces; a Unix environment was available starting with MVS/ESA V4R3)
OS/390 (Nâng cấp từ MVS, với bổ sung thêm môi trường Unix)
z/OS (OS/390 hỗ trợ z/Architecture, 64-bit)
DOS/360 and successors trên IBM S/360, S/370,và các
BOS/360 (early interim version of DOS/360, briefly available at a few Alpha & Beta System/360 sites)
TOS/360 (similar to BOS above and more fleeting, able to boot and run from 2x00 series tape drives)
DOS/360 (Disk Operating System (DOS), multi-programming system with up to 3 partitions, first commonly available OS for System/360)
DOS/360/RJE (DOS/360 with a control program extension that provided for the monitoring of remote job entry hardware (card reader & printer) connected by dedicated phone lines)
DOS/VS (First DOS offered on System/370 systems, provided virtual storage)
DOS/VSE (also known as VSE, upgrade of DOS/VS, up to 14 fixed size processing partitions)
VSE/SP (program product replacing DOS/VSE and VSE/AF)
VSE/ESA (DOS/VSE extended virtual memory support to 32-bit addresses (Extended System Architecture)).
z/VSE (latest version of the four decades old DOS lineage, supports 64-bit addresses, multiprocessing, multiprogramming, SNA, TCP/IP, and some virtual machine features in support of Linux workloads)
CP/CMS (Control Program/Cambridge Monitor System) and successors on IBM S/360, S/370, and successor mainframes
CP-40/CMS (for System/360 Model 40)
CP-67/CMS (for System/360 Model 67)
VM/370 (Virtual Machine / Conversational Monitor System, virtual memory operating system for System/370)
VM/XA (VM/eXtended Architecture for System/370 with extended virtual memory)
VM/ESA (Virtual Machine / Extended System Architecture, added 31-bit addressing to VM series)
z/VM (z/Architecture version of the VM OS with 64-bit addressing)
TPF Line (Transaction Processing Facility) on IBM S/360, S/370, and successor mainframes (largely used by airlines)
ACP (Airline Control Program)
TPF (Transaction Processing Facility)
z/TPF (z/Architecture extension)
Tương tự Unix-like trên IBM S/360, S/370,các máy chủ lớn sau kế nhiệm.
AIX/370 (IBM's Advanced Interactive eXecutive, a System V Unix version)
AIX/ESA (IBM's Advanced Interactive eXecutive, a System V Unix version)
OpenSolaris for IBM System z
UTS (developed by Amdahl)
z/Linux
Others on IBM S/360, S/370, and successor mainframes:
BOS/360 (Basic Operating System)
MTS (Michigan Terminal System, developed by a group of universities in the US, Canada, and the UK for the IBM System/360 Model 67, System/370 series, and compatible mainframes)
RTOS/360 (IBM's Real Time Operating System, ran on 5 NASA custom System/360-75s)
TOS/360 (Tape Operating System)
TSS/360 (IBM's Time Sharing System)
MUSIC/SP (developed by McGill University for IBM System/370)
ORVYL and WYLBUR (developed by Stanford University for IBM System/360)
==== Trên PC và dựa trên kiến trúc Intel x86 ====
PC DOS, IBM DOS
PC DOS 1.x, 2.x, 3.x (phát triển cùng với Microsoft)
IBM DOS 4.x, 5.0 (phát triển cùng với Microsoft)
PC DOS 6.1, 6.3, 7, 2000, 7.10
OS/2
OS/2 1.x (phát triển cùng với Microsoft)
OS/2 2.x
OS/2 Warp 3
OS/2 Warp 4
eComStation (Warp 4.5/Workspace on Demand, rebundled by Serenity Systems International)
IBM 4680 OS version 1 to 4, a POS operating system based on Digital Research's Concurrent DOS 286 and FlexOS 286 1.xx
IBM 4690 OS version 1 to 6.3, a successor to 4680 OS based on Novell's FlexOS 286/FlexOS 386 2.3x
Toshiba 4690 OS version 6.4, a successor to 4690 OS 6.3
==== Trên các nền tảng phần cứng khác ====
IBM Series/1
EDX (Event Driven Executive)
RPS (Realtime Programming System)
CPS (Control Programming Support, subset of RPS)
SerIX (Unix on Series/1)
IBM 1130
DMS (Disk Monitor System)
IBM 1800
TSX (Time Sharing eXecutive)
MPX (Multi Programming eXecutive)
IBM 8100
DPCX (Distributed Processing Control eXecutive)
DPPX (Distributed Processing Programming Executive)
IBM System/3
DMS (Disk Management System)
IBM System/34, IBM System/36
SSP (System Support Program)
IBM System/38
CPF (Control Program Facility)
IBM System/88
Stratus VOS (developed by Stratus, and used for IBM System/88, Original equipment manufacturer from Stratus)
AS/400, iSeries, System i, Power Systems i Edition
OS/400 (descendant of System/38 CPF, include System/36 SSP environment)
i5/OS (extends OS/400 with significant interoperability features)
IBM i (extends i5/OS)
UNIX on IBM POWER
AIX (Advanced Interactive eXecutive, a System V Unix version)
AOS (a BSD Unix version, not related to Data General AOS)
Others
IBM Workplace OS (Microkernel based operating system, developed and canceled in 1990s)
K42 (open-source research operating system on PowerPC or x86 based cache-coherent multiprocessor systems)
Dynix (developed by Sequent, and used for IBM NUMA-Q too)
=== Microsoft Corporation ===
Xenix (phiên bản cấp phép của Unix; được cấp phép bởi SCO năm 1987)
MSX-DOS (phát triển bởi MS Japan cho máy tính MSX 8-bit)
MS-DOS (phát triển cùng với IBM, versions 1.0–6.22)
Windows (16-bit and 32-bit preemptive and cooperative multitasking, running atop MS-DOS)
Windows 1.0 (Windows 1)
Windows 2.0 (Windows 2 – phiên bản riêng cho vi xử lý i386)
Windows 3.0 (Windows 3)
Windows 3.1x (Windows 3.1)
Windows for Workgroups 3.1 (Tên mã Snowball)
Windows 3.2 (chỉ phát hành tại Trung Quốc)
Windows for Workgroups 3.11
Windows 95 (Tên mã Chicago – Windows 4.0)
Windows 98 (Tên mã Memphis – Windows 4.1)
Windows Millennium Edition (Windows ME – Windows 4.9)
Windows NT (Full 32-bit or 64-bit kernel, không phụ thuộc MS-DOS)
Windows NT 3.1
Windows NT 3.5
Windows NT 3.51
Windows NT 4.0
Windows 2000 (Windows NT 5.0)
Windows XP (Windows NT 5.1)
Windows Server 2003 (Windows NT 5.2)
Windows Fundamentals for Legacy PCs (dựa trên Windows XP)
Windows Vista (Windows NT 6.0)
Windows Azure (Cloud OS Platform) 2009
Windows Home Server (dựa trên Windows Server 2003)
Windows Server 2008 (dựa trên Windows Vista)
Windows 7 (Windows NT 6.1)
Windows Server 2008 R2 (based on Windows 7)
Windows Home Server 2011 (based on Windows Server 2008 R2)
Windows Server 2012 (based on Windows 8)
Windows 8 (Windows NT 6.2)
Windows Phone 8
Windows 8.1 (Windows NT 6.3)
Windows Server 2012 R2 (based on Windows 8.1)
Xbox One system software
Windows Phone 8.1
Windows 10 (Windows NT 10.0)
Windows 10 Mobile
Windows CE (OS for handhelds, embedded devices, and real-time applications that is similar to other versions of Windows)
Windows CE 3.0
Windows CE 5.0
Windows CE 6.0
Windows Mobile (based on Windows CE, but for a smaller form factor)
Windows Phone 7
Singularity – A research operating system written mostly in managed code (C#)
Midori – A managed code operating system
Xbox 360 system software
=== Novell ===
NetWare hệ điều hành mạng cung cấp dịch vụ mạng hiệu năng cao. Đã được thay thế bởi Open Enterprise Server, có thể dựa trên NetWare hoặc Linux để cung cấp cùng một dịch vụ.
UnixWare
Novell "SuperNOS", một hợp nhất không được phát hành của NetWare và UnixWare
Novell "Corsair"
Novell "Exposé"
Open Enterprise Server, phiên bản kế nhiệm của NetWare.
=== Samsung ===
Bada
Tizen
=== SCO, SCO Group ===
Xenix, bản phân phối dựa trên Unix System III cho kiến trúc Intel 8086/8088
Xenix 286, bản phân phối dựa trên Unix System V Release 2 cho kiến trúc Intel 80286
Xenix 386, bản phân phối dựa trên Unix System V Release 2 cho kiến trúc Intel 80386
SCO Unix, SCO UNIX System V/386 was the first volume commercial product licensed by AT&T to use the UNIX System trademark (1989). Derived from AT&T System V Release 3.2 with an infusion of Xenix device drivers and utilities plus most of the SVR4 features
SCO Open Desktop, the first 32-bit graphical user interface for UNIX Systems running on Intel processor-based computers. Based on SCO Unix
SCO OpenServer 5, AT&T UNIX System V Release 3 based
SCO OpenServer 6, SVR5 (UnixWare 7) based kernel with SCO OpenServer 5 application and binary compatibility, system administration, and user environments
UnixWare
UnixWare 2.x, based on AT&T System V Release 4.2MP
UnixWare 7, UnixWare 2 kernel plus parts of 3.2v5 (UnixWare 2 + OpenServer 5 = UnixWare 7). Referred to by SCO as SVR5
== Không độc quyền ==
=== Tương tự Unix ===
==== Research and other POSIX-compliant ====
MINIX (study OS developed by Andrew S. Tanenbaum in the Hà Lan)
Plan 9 from Bell Labs (distributed OS developed at Bell Labs, based on original Unix design principles yet functionally different and going much further)
Inferno (distributed OS derived from Plan 9, originally from Bell Labs)
Plan B (distributed OS derived from Plan 9 and Off++ microkernel)
Unix (OS developed at Bell Labs ca 1970 initially by Ken Thompson)
Xinu (Study OS developed by Douglas E. Comer in the USA)
==== Tự do và mở nguồn ====
BSD (Berkeley Software Distribution, một biến thể của Unix cho phần cứng DEC VAX)
FreeBSD (one of the outgrowths of UC Regents' abandonment of CSRG's 'BSD Unix')
DragonFlyBSD, forked from FreeBSD 4.8
Darwin, created by Apple using FreeBSD and NeXTSTEP
GhostBSD
PC-BSD
NetBSD (an embedded device BSD variant)
OpenBSD forked from NetBSD
Bitrig forked from OpenBSD
GNU
Linux
Android x86
Cray Linux Environment
illumos, contains original Unix (SVR4) code derived from the OpenSolaris (discontinued by Oracle in favor of Solaris 11 Express)
OpenIndiana, operates under the illumos Foundation. Uses the illumos kernel, which is a derivative of OS/Net, which is basically an OpenSolaris/Solaris kernel with the bulk of the drivers, core libraries, and basic utilities.
Nexenta OS, based on the illumos kernel with Ubuntu packages
SmartOS, an illumos distribution for cloud computing with Kernel-based Virtual Machine integration.
RTEMS (Real-Time Executive for Multiprocessor Systems)
Syllable Desktop
Univention Corporate Server
VSTa
FMI/OS, successor of VSTa
==== Tự do và mở nguồn ====
Cosmos (Viết bằng C#)
FreeDOS (Biến thể DOS mã nguồn mở)
Haiku (open source inspired by BeOS, under development)
ITS written by MIT students (for the PDP-6 and PDP-10) (written in MIDAS)
MonaOS (written in C++)
osFree OS/2 Warp open source clone.
OSv (written in C++)
Phantom OS (persistent object oriented)
ReactOS, open source OS designed to be binary compatible with Windows NT and its variants (Windows XP, Windows 2000, etc.); currently in development phase
SharpOS (written in.NET C#)
TempleOS (written in HolyC)
Redox OS (written in Rust)
== Đĩa hệ điều hành (DOS) ==
86-DOS (developed at Seattle Computer Products by Tim Paterson for the new Intel 808x CPUs; licensed to Microsoft, became PC DOS/MS-DOS. Also known by its working title QDOS.)
PC DOS (IBM's DOS variant, developed jointly with Microsoft, versions 1.0–7.0, 2000, 7.10)
MS-DOS (Microsoft's DOS variant for OEM, developed jointly with IBM, versions 1.x–6.22 Microsoft's now abandoned DOS variant)
Concurrent CP/M-86 3.1 (BDOS 3.1) with PC-MODE (Digital Research's successor of CP/M-86 and MP/M-86)
Concurrent DOS 3.1-4.1 (BDOS 3.1-4.1)
Concurrent PC DOS 3.2 (BDOS 3.2) (Concurrent DOS variant for IBM compatible PCs)
DOS Plus 1.2 (BDOS 4.1), 2.1 (BDOS 5.0) (single-user, multi-tasking system derived from Concurrent DOS 4.1-5.0)
Concurrent DOS 8-16 (dual-processor variant of Concurrent DOS for 8086 and 8080 CPUs)
Concurrent DOS 286 1.x
FlexOS 1.00-2.34 (derivative of Concurrent DOS 286)
FlexOS 186 (variant of FlexOS for terminals)
FlexOS 286 (variant of FlexOS for hosts)
Siemens S5-DOS/MT (industrial control system based on FlexOS)
IBM 4680 OS (POS operating system based on FlexOS)
IBM 4690 OS (POS operating system based on FlexOS)
Toshiba 4690 OS (POS operating system based on IBM 4690 OS and FlexOS)
FlexOS 386 (later variant of FlexOS for hosts)
IBM 4690 OS (POS operating system based on FlexOS)
Toshiba 4690 OS (POS operating system based on IBM 4690 OS and FlexOS)
Concurrent DOS 386 1.0, 1.1, 2.0, 3.0 (BDOS 5.0-6.2)
Concurrent DOS 386/MGE (Concurrent DOS 386 variant with advanced graphics terminal capabilities)
Multiuser DOS 5.0, 5.01, 5.1 (BDOS 6.3-6.6) (successor of Concurrent DOS 386)
CCI Multiuser DOS 5.0-7.22 (up to BDOS 6.6)
Datapac Multiuser DOS
Datapac System Manager 7 (derivative of Datapac Multiuser DOS)
IMS Multiuser DOS 5.1, 7.0, 7.1 (BDOS 6.6-6.7)
IMS REAL/32 7.50, 7.51, 7.52, 7.53, 7.54, 7.6, 7.7, 7.8, 7.90, 7.91, 7.92, 7.93, 7.94, 7.95 (BDOS 6.8 and higher) (derivative of Multiuser DOS)
IMS REAL/NG (successor of REAL/32)
Concurrent DOS XM 5.0, 5.2, 6.0, 6.2 (BDOS 5.0-6.2) (real-mode variant of Concurrent DOS with EEMS support)
DR DOS 3.31, 3.32, 3.33, 3.34, 3.35, 5.0, 6.0 (BDOS 6.0-7.1) single-user, single-tasking native DOS derived from Concurrent DOS 6.0)
Novell PalmDOS 1.0 (BDOS 7.0)
Novell DR DOS "StarTrek"
Novell DOS 7 (single-user, multi-tasking system derived from DR DOS, BDOS 7.2)
Novell DOS 7 updates 1-10 (BDOS 7.2)
Caldera OpenDOS 7.01 (BDOS 7.2)
Enhanced DR-DOS 7.01.0x (BDOS 7.2)
Dell Real Mode Kernel (DRMK)
Novell DOS 7 updates 11-15.2 (BDOS 7.2)
Caldera DR-DOS 7.02-7.03 (BDOS 7.3)
DR-DOS "WinBolt"
OEM DR-DOS 7.04-7.05 (BDOS 7.3)
OEM DR-DOS 7.06 (PQDOS)
OEM DR-DOS 7.07 (BDOS 7.4/7.7)
FreeDOS (open source DOS variant)
ProDOS (operating system for the Apple II series computers)
PTS-DOS (DOS variant by Russian company Phystechsoft)
TurboDOS (Software 2000, Inc.) for Z80 and Intel 8086 processor-based systems
Multi-tasking user interfaces and environments for DOS
DESQview+ QEMM 386 multi-tasking user interface for DOS
DESQView/X (X-windowing GUI for DOS)
== Nhúng ==
=== Personal digital assistants (PDAs) ===
DIP DOS on Atari Portfolio
Embedded Linux
Android
Ångström distribution
Familiar Linux
Mæmo based on Debian deployed on Nokia's Nokia 770, N800 and N810 Internet Tablets.
MeeGo merger of Moblin and Maemo
OpenZaurus
webOS from Palm, Inc., later Hewlett-Packard via acquisition, and most recently at LG Electronics through acquisition from Hewlett-Packard
Inferno (distributed OS originally from Bell Labs)
iOS (a subset of OS X)
Magic Cap
MS-DOS on Poqet PC, HP 95LX, HP 100LX, HP 200LX, HP 1000CX, HP OmniGo 700LX
NetBSD
Newton OS on Apple MessagePad
Palm OS from Palm, Inc; now spun off as PalmSource
PEN/GEOS on HP OmniGo 100 and 120
PenPoint OS
Plan 9 from Bell Labs
PVOS
Symbian OS
Windows CE, từ Microsoft
Pocket PC từ Microsoft, một biến thể của Windows CE
Windows Mobile từ Microsoft, một biến thể của Windows CE
Windows Phone từ Microsoft
=== Phương tiện, kỹ thuật số người sẽ là cầu thủ ===
DSPnano RTOS
iOS (a subset of OS X)
iPod software
ipodlinux
iriver clix OS
RockBox
=== Điện thoại di động và smartphones ===
BlackBerry OS
Embedded Linux
Access Linux Platform
Android
bada
Firefox OS (tên dự án: Boot to Gecko)
Openmoko Linux
OPhone
MeeGo (hợp nhất từ Maemo và Moblin)
Mobilinux
MotoMagx
Qt Extended
Sailfish OS
Tizen (trước đây được gọi là LiMo Platform)
Ubuntu Touch
webOS
PEN/GEOS, GEOS-SC, GEOS-SE
iOS (một bản rút gọn của OS X)
Palm OS
Nền tảng Symbian(sau này là Symbian OS)
Windows Mobile (bị thay thế bởi Windows Phone)
BlackBerry 10
=== Routers ===
AlliedWare by Allied Telesis (aka Allied Telesyn)
AirOS by Ubiquiti Networks
CatOS by Cisco Systems
Cisco IOS (originally Internetwork Operating System) by Cisco Systems
DD-WRT by NewMedia-NET
Inferno (distributed OS originally from Bell Labs)
IOS-XR by Cisco Systems
IronWare by Foundry Networks
JunOS by Juniper Networks
LibreWRT GNU/Linux-libre
OpenWrt
RouterOS by Mikrotik
ScreenOS by Juniper Networks, originally from Netscreen
Timos by Alcatel-Lucent
FTOS by Force10 Networks
RTOS by Force10 Networks
List of wireless router firmware projects
=== Hệ thống nhúng khác ===
Contiki
ERIKA Enterprise
eCos
NetBSD
uClinux
MINIX
NCOS
freeRTOS, openRTOS and safeRTOS
OpenEmbedded (or Yocto Project)
pSOS (Portable Software On Silicon)
QNX Hệ điều hành thời gian thực tương tự Unix, nhắm chủ yếu vào thị trường hệ thống nhúng.
REX OS (microkernel OS; thường là một hệ điều hành điện thoại di động nhúng
RIOT
ROM-DOS
TinyOS
ThreadX
UbiquiOS bởi Virscient
DSPnano RTOS
Windows Embedded
Windows CE
Windows Embedded Standard
Windows Embedded Enterprise
Windows Embedded POSReady
Wind River VxWorks Small footprint, scalable, high-performance RTOS for embedded microprocessor based systems.
Wombat OS (microkernel OS; Hệ điều hành nhúng thời gian thưc)
== Xem thêm ==
So sánh các hệ điều hành
=== Thể loại liên kết ===
Hệ điều hành
Hệ điều hành nhúng
Hệ điều hành thời gian thực
== Chú thích == |
gambia.txt | Gambia (phiên âm tiếng Việt: Găm-bi-a), tên chính thức Cộng hòa Gambia (tiếng Anh: Republic of The Gambia) là một quốc gia tại Tây Phi, được vây quanh bởi Sénégal với một đường bờ biển ngắn giáp với Đại Tây Dương ở cực tây. Đây là nước nhỏ nhất trên châu Phi lục địa.
Lãnh thổ Gambia trãi rộng ra trên phần đất hai bên sông Gambia, một con sông chảy từ cực đông Gambia và đổ vào Đại Tây Dương. Diện tích Gambia là 10.689 kilômét vuông (4.127 sq mi) với dân số 1.882.450 theo thống kê 2013. Banjul là thủ đô, còn hai thành phố lớn nhất là Serekunda và Brikama.
Gambia tương tự những quốc gia Tây Phi khác ở lịch sử buôn bán nô lệ. Đây cũng là nguyên nhân chính của việc tạo dựng và duy trì một thuộc địa trên sông Gambia, ban đầu được Bồ Đào Nha thực hiện, trong thời kỳ mà nơi này được gọi là 'A Gâmbia'. Sau đó, vào ngày 25 tháng 5, 1765, A Gâmbia được chuyển giao cho thực dân Anh, đồng thời Tỉnh Senegambia được thành lập. Ngày 18 tháng 2 năm 1965, Gambia giành được độc lập từ Vương quốc Liên hiệp Anh. Từ đó, Gambia chỉ có hai lãnh đảo: Dawda Jawara (1970 đến 1994), và Yahya Jammeh, người đã giành được quyền lực trong một cuộc đảo chính khi còn là một nhân viên quân đội trẻ.
Sau cuộc bầu cử năm 2016, hội đồng bầu cử thông báo rằng Adama Barrow là người chiến thắng. Barrow, với 45,5% số phiếu, đã vượt qua Yahya Jammeh (36,7% số phiếu). Một ứng cử viên khác, Mama Kandeh, giành được 17,8% số phiếu.
Kinh tế Gambia chủ yếu là trồng trọt, đánh bắt thủy sản, và đặc biệt là du lịch. Khoảng một phần ba dân số sống dưới ngưỡng nghèo quốc tế 1,25 đô la Mỹ một ngày.
== Tên ==
Cái tên "Gambia" xuất phát từ từ Kambra/Kambaa trong tiếng Mandinka, chỉ sông Gambia.
== Lịch sử ==
Những thương gia người Ả Rập đã cung cấp những tài liệu viết đầu tiên về khu vực mà nay là Gambia, vào khoảng thế kỷ 9-10. Vào thế kỷ 10, các nhà buôn và học giả Hồi giáo đã thành lập những cộng đồng dân cư ở nhiều trung tâm thương mại Tây Phi. Họ xây dựng những tuyến đường thương mại xuyên Sahara, thúc đẩy việc bán nô lệ, vàng và ngà, cũng như mua lại nhiều hàng hóa.
Thế kỷ 11-12, vua của những vương quốc như Takrur (một vương quốc có trung tâm là vùng sông Senegal ở phía bắc, Ghana cổ đại và Gao) đã cải đạo sang Hồi giáo, và tin dùng những người Hồi giáo biết tiếng Ả Rập. Đầu thế kỷ 14, đa phần Gambia hiện nay là một phần của đế quốc Mali. Người Bồ Đào Nha đến vùng này bằng đường biển vào khoảng giữa thế kỷ 15, và bắt đầu làm chủ thương mại.
Năm 1588, António, Viện trưởng Crato đã bán quyền thương mại độc quyền trên sông Gambia cho các nhà buôn người Anh. Thư từ Nữ hoàng Elizabeth I xác nhận điều nằy. Năm 1618, Vua James I của Anh cho một công ty Anh đặc quyền thương mại với Gambia và Bờ Biển Vàng (nay Ghana). Từ 1651 tới 1661, một vài phần của Gambia nằm dưới quyền thống trị của Công quốc Kurzeme và Zemgale, và được mua lại bởi Jacob Kettler, một chư hầu của Thịnh vượng chung Ba Lan và Litva.
Cuối thế kỷ 17 và suốt thế kỷ 18, Đế quốc Anh và Đế quốc Pháp liên tục tranh giành nhau quyền ưu thế về chính trị và thương mại trong vùng sông Senegal và sông Gambia. Đế quốc Anh chiếm Gambia trong một cuộc viễn chinh dẫn đầu bởi Augustus Keppel. Năm 1783 Hiệp định Versailles Đầu tiên cho Anh quyền sở hữu sông Gambia, Pháp giữ một phần nhỏ đất tại Albreda ở bờ bắc con sông. Phần đất này được nhượng lại cho Anh năm 1856.
Khoảng ba triệu nô lệ đã bị bắt đi từ khu vực này trong ba thế kỷ buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương. Trong thời gian trước đó thì không rõ bao nhiêu người đã bị nô lệ hóa từ những cuộc nội chiến và bởi những thương gia Hồi giáo. Đa số nô lệ được những người châu Phi khác bán cho người châu Âu: một số là tù nhân trong các cuộc chiến; một số là người có nợ không trả nổi; và số khác đơn giản là bị bắt cóc.
Thương gia ban đầu đưa nô lệ đến châu Âu để họ làm việc như người hầu cho đến khi thị trường lao động mở rộng ở Tây Ấn và Bắc Mỹ. Năm 1807, Vương quốc Liên hiệp thủ tiêu việc buôn bán nô lệ trên khắp đế quốc, nhưng thất bại trong việc hủy bỏ buôn bán nô lệ tại Gambia. Tàu nô lệ bị chặn lại bởi Hải đoàn Tây Phi của Hải quân Hoàng gia Anh trở lại Gambia. Những người nô lệ tự do được phóng thích tại đảo MacCarthy, nơi họ bắt đầu cuộc sống mới. Anh thành lập Bathurst (nay là thủ đô Banjul) năm 1816.
=== Sứ bảo hộ và Thuộc địa Gambia (1821–1965) ===
Những năm tiếp theo, Banjul nằm dưới quyền của Toàn quyền người Anh tại Sierra Leone. Năm 1888, Gambia trở thành một thuộc địa riêng.
Một hiệp định ký với Cộng hòa Pháp năm 1889 đã thiết lập nên biên giới Gambia hiện đại. Gambia trở thành thuộc địa Gambia thuộc Anh (hay Sứ bảo hộ và Thuộc địa Gambia). Gambia có hội đồng lập pháp và hành pháp riêng năm 1901, và dần có xu hướng tự quan lý. Sau một đợt xung đột ngắn giữa lực lượng thực dân và cư dân bản địa, chính quyền thuộc địa được củng cố vững chắc.
Trong Chiến tranh Thế giới II, có những người lính Gambia tham chiến trong Khối Đồng Minh. Dù họ chủ yếu tham gia tại Miến Điện, một số hy sinh gần với quê nhà hơn, một nghĩa trang tưởng niệm đã được xây dựng tại Fajara (gần Banjul).
Sau Thế Chiến, hiến pháp được sửa đổi. Một năm sau cuộc bầu cử năm 1962, Anh cho phép quyền tự quản hoàn toàn.
=== Độc lập (1965–nay) ===
== Phương tiện truyền thông ==
Có những lời cáo buộc chính phủ Gambia hạn chế quyền tự do ngôn luận. Một đạo luật được thông qua vào năm 2002 đã lập ra một ủy ban có quyền cấp giấy phép cũng như bỏ tù các nhà báo; năm 2004, thêm một đạo luật nữa cho phép giam cầm những người nổi loạn và phỉ báng chính quyền, cũng như hủy bỏ giấy phép in ấn hay phát thanh truyền hình, buộc các tập đoàn truyền thông phải đóng số tiền gấp năm lần chi phí ban đầu nếu muốn xin giấy phép trở lại.
Ba nhà báo Gambia đã bị bắt giam kể từ sau vụ đảo chính. Có thông tin cho rằng sở dĩ như vậy là vì các nhà báo này đã có lời lẽ chỉ trích chính sách kinh tế của chính phủ, hoặc đã phát ngôn rằng Bộ trưởng Bộ Nội vụ và người đứng đầu ngành an ninh là một trong số những người vạch ra âm mưu đảo chính. Biên tập viên Deyda Hydara bị bắn chết trong một tình huống không được giải thích sau khi đạo luật năm 2004 có hiệu lực.
Mức phí xin cấp phép đối với báo chí và đài phát thanh không hề thấp, và các đài phủ sóng tầm quốc gia bị chính phủ kiểm soát chặt.
== Hành chính ==
Gambia được chia làm tám vùng địa phương, gồm cả thành phố thủ đô Banjul.
== Địa lý ==
Gambia nằm ở Tây Phi, bên bờ Đại Tây Dương, nằm lọt vào giữa nước Sénégal. Lãnh thổ gồm một dải đồng bằng hẹp hai bên bờ sông Gambia, tiến sâu vào đất liền khoảng 330 km. Gambia có nhiều rừng dọc theo sông ngòi và cánh đồng cỏ.
Khí hậu chung cho Gambia là nhiệt đới. Mùa mưa nóng (tháng 6 - tháng 11), mùa khô lạnh hơn (tháng 11 - tháng 5). Lượng mưa trung bình năm từ 750-1.000 mm, vùng ven biển: 1.300-1.500 mm.
Khí hậu ở Gambia là cùng một kiểu với Sénégal, phía Nam Mali và phía bắc Bénin.
== Kinh tế ==
Gambia là một nước nghèo, khoáng sản và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác rất hạn chế. Khoảng 75% dân số sống nhờ vào trồng trọt và chăn nuôi. Công nghiệp có quy mô nhỏ, chủ yếu là chế biến lạc, cá và da. Du lịch tương đối phát triển. Ngành thương mại tái xuất khẩu đóng vai trò chủ chốt. Tuy nhiên, việc phá giá đồng franc CFA (50%) vào tháng 1 năm 1994 tạo cơ hội cho hàng hóa Sénégal cạnh tranh mạnh hơn và gây tổn hại cho ngành thương mại tái xuất khẩu của Gambia.
Năm 2010, GDP của Gambia là 1,04 tỉ USD, tăng trưởng 5% so với năm 2009. Về ngoại thương, năm 2010, nước này xuất khẩu được 107 triệu USD bao gồm các mặt hàng như các sản phẩm lạc, cá, bông…
Về nhập khẩu, Gambia phải nhập số lượng lớn các sản phẩm lương thực, hàng chế tạo, xăng dầu, máy móc và thiết bị...từ các nước như Trung Quốc, Sénégal, Brasil, Anh, Hà Lan, Mỹ...với tổng kim ngạch 530 triệu USD.
=== Giáo dục ===
Giáo dục mẫu giáo và tiểu học (6 năm) được miễn phí, bắt đầu từ năm 8 tuổi. Khoảng 1/5 số học sinh học tiếp lên trung học (5 năm). Sau đó, những học sinh tốt nghiệp sẽ được theo học chương trình dự bị đại học (2 năm), số còn lại có thể vào trường trung học kĩ thuật (4 năm). Gambia có một Viện đào tạo Công nghệ và Trường Sư phạm Yundum, không có loại hình đại học tổng hợp.
=== Y tế ===
Gambia có hệ thống chăm sóc sức khỏe quốc gia được trang bị khá đầy đủ tại thủ đô Banjul và Combo. Ở các địa phương và vùng thượng lưu các sông, Chính phủ cho xây dựng nhiều trung tâm y tế và cử bác sĩ đến làm việc. Công tác tiêm chủng mở rộng cho người dân cũng rất được quan tâm. Tuy nhiên, do điều kiện vệ sinh và dinh dưỡng kém nên tỉ lệ tử vong trẻ sơ sinh của Gambia vẫn còn cao.
== Văn hóa ==
Dù Gambia là quốc gia nhỏ nhất tại châu Phi đất liền, nền văn hóa Gambia lại được ảnh hưởng bởi nhiều nguồn khác nhau. Lãnh thổ quốc gia đơn giản là vùng đất nằm hai bên bờ sông Gambia, vùng nước này quyết định sự tồn tại của Gambia, và được gọi đơn giản là "con Sông". Nếu không có những rào cản tự nhiên, Gambia đã trở thành nơi định cư của nhiều nhóm dân tộc có mặt trên khắp Tây Phi, đặc biệt là những người ở Senegal.
=== Âm nhạc ===
Âm nhạc Gambia gắn liền với âm nhạc của Senegal, nó kết hợp âm nhạc đại chúng phương Tây, với tiếng trống sabar, và âm nhạc người của Wolof và Serer.
=== Thể thao ===
Như nước láng giềng Senegal, môn thể thao phổ biến nhất ở Gambia là đấu vật. Bóng đá và bóng rổ cũng phổ biến.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Chính phủ Gambia |
thế vận hội dành cho người khuyết tật.txt | Thế vận hội dành cho người khuyết tật còn gọi là Thế vận hội Paralympic (tiếng Anh: Paralympic Games) là một sự kiện thể thao quốc tế quan trọng, là nơi các vận động viên khuyết tật thể chất thi đấu cạnh tranh, bao gồm các vận động viên thiểu năng, khuyết chi, mù lòa, và bại não. Hai sự kiện Thế vận hội Paralympic Mùa hè và Mùa đông được tổ chức theo Thế vận hội Olympic tương ứng. Tất cả các cuộc thi trong Thế vận hội Paralympic đều do Ủy ban Paralympic quốc tế (IPC) quy định.
Thế vận hội Paralympic khởi nguồn một tập hợp nhỏ những cựu chiến binh người Anh trong chiến tranh thế giới thứ II vào năm 1948 và ngày nay đã trở thành một trong những sự kiện thể thao quốc tế lớn nhất của thế kỷ 21. Những người tham gia Thế vận hội Paralympic đấu tranh cho sự đối xử bình đẳng như những vận động viên bình thường tại Thế vận hội Olympic, nhưng vẫn có một khoảng cách lớn về khoản tài trợ dành cho các vận động viên Olympic và Paralympic. Ngoài ra còn có những môn thể thao như các môn liên quan đến chạy, nhảy và ném có thể ngăn vận động viên Paralympic cạnh tranh bình đẳng với vận động viên bình thường, mặc dù đã có những vận động viên Paralympic từng tham dự Thế vận hội Olympic.
Thế vận hội Paralympic dành cho các vận động viên khuyết tật thể chất và được tổ chức song song với Thế vận hội Olympic. Hội đồng Olympic Quốc tế (IOC) công nhận sự kiện Thế vận hội Olympic Đặc biệt (Special Olympics World Games) dành cho các vận động viên khuyết tật trí tuệ và Thế vận hội Deaflympic dành cho các vận động viên khiếm thính.
Lý giải chính thức hiện nay đối với tên gọi "Paralympic" là nó có nguồn gốc từ giới từ tiếng Hy Lạp παρά (phiên âm Latin: pará, nghĩa là bên cạnh, kề bên) và do đó đề cập đến một cuộc thi được tổ chức song song với Thế vận hội Olympic. Lần đầu tiên thuật ngữ "Paralympic" được đưa vào sử dụng chính thức là tại Paralympic Mùa hè 1988 tổ chức ở Seoul.
Vì có nhiều vận động viên với nhiều loại khuyết tật khác nhau đăng ký tham gia, do đó có sự phân chia những thể loại thi đấu dành cho các vận động viên. Các vận động viên khuyết tật được thi phép thi đấu sẽ được phân vào 6 loại lớn, bao gồm: khuyết tay/chân, bại não, khuyết tật trí tuệ, xe lăn, khiếm thị và các loại còn lại (những vận động viên khuyết tật không rơi vào năm loại trên bao gồm những người bệnh còi cọc, đa xơ cứng và dị tật bẩm sinh). Sáu loại này lại được chia nhỏ hơn nữa và khác nhau tùy theo từng môn thể thao. Hệ thống phân loại đã dẫn đến tranh cãi vấn đề lừa dối xoay quanh việc các vận động viên khai quá mức độ khuyết tật của họ nhằm mục đích được sử dụng các loại thuốc hỗ trợ thi đấu, một điều đã từng gặp trong nhiều sự kiện khác.
== Lịch sử ==
=== Các vận động viên đầu tiên ===
Các vận động viên khuyết tật đã thi đấu ở Thế vận hội Olympic trước khi Thế vận hội Paralympic ra đời. Người đầu tiên tiêu biểu cho trường hợp này là vận động viên thể dục người Mỹ George Eyser, với một chân giả ông đã tham gia vào Thế vận hội mùa hè tổ chức tại Hoa Kỳ năm 1904. Karoly Takacs người Hungary thi đấu ở bộ môn bắn súng trong cả hai kì Thế vận hội Olympic Mùa hè 1948 và 1952. Karoly bị khuyết cánh tay phải và có khả năng bắn bằng tay trái. Một vận động viên khuyết tật khác xuất hiện trong Thế vận hội Olympic trước Paralympic là Liz Hartel, một vận động viên đua ngựa người Đan Mạch. Liz đã mắc bệnh bại liệt vào năm 1943 và giành huy chương bạc ở bộ môn huấn luyện ngựa (dressage).
Cuộc thi thể thao đầu tiên được tổ chức dành cho vận động viên khuyết tật diễn ra trùng với Thế vận hội Olympic là vào ngày khai mạc Olympic Mùa hè 1948 tại Luân Đôn. Tiến sĩ Ludwig Guttmann giám đốc bệnh viện Stoke Mandeville đã tổ chức một cuộc thi thể thao cho các bệnh nhân là cựu chiến binh người Anh trong Chiến tranh thế giới thứ hai bị chấn thương tủy sống. Những cuộc thi đầu tiên được gọi là Cuộc thi Xe lăn Quốc tế 1948 và được dự định tổ chức cùng lúc với Olympic 1948 Mục tiêu của tiến sĩ Guttmann là tạo ra một cuộc thi thể thao ưu tú cho người khuyết tật có thể sánh ngang với Thế vận hội Olympic Cuộc thi được tổ chức lần tiếp theo tại cùng một địa điểm vào năm 1952, và những cựu chiến binh Hà Lan đã tham gia cùng với người Anh. Đây là cuộc thi đấu nhân đạo mang tính quốc tế đầu tiên diễn ra. Những cuộc thi bắt nguồn từ sớm này, còn được gọi là Cuộc thi Stoke Mandeville, được xem như tiền thân của Thế vận hội Paralympic.
=== Các mốc lịch sử ===
Đã có một số mốc quan trọng trong phong trào Paralympic. Kì Paralympic chính thức đầu tiên không còn tổ chức riêng cho cựu chiến binh được tổ chức tại Roma vào năm 1960, thu hút 400 vận động viên từ 23 quốc gia thi đấu. Các nội dung thi đấu chỉ dành cho vận động viên ngồi xe lăn. Tại Paralympic Mùa hè 1976, lần đầu tiên các vận động viên với nhiều dạng khuyết tật khác nhau đã được phép tham gia. Với sự gia tăng nhiều loại khuyết tật được phép tham gia trong bảng phân loại, Paralympic Mùa hè 1976 có số vận động viên lên đến 1.600 từ 40 quốc gia khác nhau. Paralympic Mùa hè 1988 tại Seoul, Hàn Quốc là một mốc quan trọng khác đối với phong trào Paralympic. Seoul là nơi Paralympic Mùa hè được tổ chức ngay sau Olympic Mùa hè, cùng được đăng cai tại một thành phố, cùng sử dụng các thiết bị và tiện ích vật chất như nhau. Điều này đã trở thành một tiền lệ và tiếp tục diễn ra vào năm 1992 và 1996. Việc tổ chức này cuối cùng đã được chính thức hóa qua một thỏa thuận giữa Ủy ban Paralympic quốc tế (IPC) và Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) vào năm 2001. Paralympic Mùa đông 1992 là kì Paralympic Mùa đông đầu tiên sử dụng cùng tiện ích cơ sở vật chất như Olympic mùa đông. Từ năm 1960, Thế vận hội Paralympic diễn ra vào cùng năm với Thế vận hội Olympic.
=== Thế vận hội Mùa đông ===
Thế vận hội Paralympic Mùa đông đầu tiên diễn ra vào năm 1976 tại Örnsköldsvik, Thụy Điển. Đây là Paralympic đầu tiên mà nhiều loại vận động viên khuyết tật có thể tham gia thi đấu. Paralympic Mùa đông được tổ chức bốn năm một lần vào cùng năm với Paralympic Mùa hè, tương tự như ở Thế vận hội Olympic. Truyền thống này được duy trì cho đến Paralympic Mùa đông 1992 tại Albertville, Pháp; sau thời điểm đó cho đến nay, Paralympic Mùa đông và Olympic Mùa đông được tổ chức vào những năm chẵn và cách 2 năm so với Thế vận hội Mùa hè.
=== Thế vận hội gần đây ===
Các môn thi đấu ở Paralympic được xây dựng nên nhằm nhấn mạnh thành tích thể thao của người tham gia chứ không phải khuyết tật của họ. Phong trào phát triển đáng kể từ những ngày đầu thành lập - điển hình như số lượng vận động viên tham gia đã tăng từ 400 vận động viên tại Paralympic Mùa hè 1960 ở Roma đến hơn 3.900 vận động viên từ 146 quốc gia tại sự kiện 2008 ở Bắc Kinh. Thế vận hội Paralympic Mùa hè và Mùa đông được công nhận trên trường quốc tế. Paralympics không còn là sự kiện tổ chức duy nhất dành cho các cựu chiến binh Anh hoặc cho các vận động viên xe lăn, mà dành cho tất cả các vận động viên ưu tú với nhiều dạng khuyết tật từ khắp mọi nơi trên thế giới.
== Ủy ban Paralympic Quốc tế ==
=== Giai đoạn 1964-1989 ===
Tổ chức đầu tiên phục vụ những cải cách tiến bộ tạo cơ hội để người khuyết tật tham gia thể thao là Tổ chức Thể thao Quốc tế dành cho Người khuyết tật (ISOD), được thành lập vào năm 1964. Những người sáng lập của tổ chức này dự định nó sẽ là một cơ quan điều hành thể thao khuyết tật, đóng vai trò như Ủy ban Quốc tế Olympic đối với Thế vận hội Olympic. Tổ chức này sau cùng trở thành Ủy ban Điều phối Quốc tế của Tổ chức Thể thao Thế giới cho Người khuyết tật (ICC), thành lập vào năm 1982. ICC có nhiệm vụ vận động cho quyền lợi của vận động viên khuyết tật trước Ủy ban OIympic Quốc tế. Sau khi các nỗ lực hợp tác giữa ICC và Ủy ban Olympic Quốc tế thành công tốt đẹp tại Paralympic Seoul, ICC xác định cần thiết phải mở rộng và tăng thêm đại diện tham dự từ tất cả các quốc gia có chương trình thể thao dành cho người khuyết tật. Họ cũng cho rằng cần thiết tăng cường số lượng các vận động viên tham dự theo những quyết định của cơ quan quản lý Paralympic. Do đó cơ quan này được tổ chức lại thành Uỷ ban Paralympic Quốc tế (IPC) vào năm 1989.
=== Từ 1989 đến nay ===
Ủy ban Paralympic Quốc tế là cơ quan quản lý toàn cầu của phong trào Paralympic. Ủy ban này bao gồm 165 Uỷ ban Paralympic quốc gia (NPC) và bốn liên đòa thể thao quốc tế dành cho người khuyết tật. Chủ tịch Ủy ban Paralympic Quốc tế là Philip Craven, một cựu vận động viên Paralympic từ Anh quốc. Ngoài ra, Craven còn là một thành viên của Ủy ban Olympic Quốc tế. Với trụ sở quốc tế đặt tại Bonn, Đức, Ủy ban Paralympic Quốc tế chịu trách nhiệm tổ chức Thế vận hội Paralympic Mùa hè và Mùa đông, ngoài ra còn tham gia vào Liên đoàn Thể thao Quốc tế ở 9 bộ môn. Điều này đòi hỏi Ủy ban Paralympic Quốc tế phải giám sát và phối hợp các Giải vô địch Thế giới và những cuộc thi khác cho 9 bộ môn đó. Đặt dưới thẩm quyền của Ủy ban Paralympic Quốc tế là một số lượng lớn các liên đoàn và tổ chức thể thao quốc gia và quốc tế. Ủy ban Paralympic Quốc tế cũng công nhận các đối tác phương tiện truyền thông, chính quyền xác nhận, thẩm tra, và chịu trách nhiệm thi hành quy chế của Hiến chương Paralympic.
Ủy ban Paralympic Quốc tế có quan hệ hợp tác với Ủy ban Olympic Quốc tế. Các đại biểu của Ủy ban Paralympic Quốc tế còn là thành viên đồng thời tham gia vào ủy thác và nhiệm vụ của Ủy ban Olympic Quốc tế. Với hai Thế vận hội riêng, hai cơ quan quản lý vẫn còn điểm khác biệt, mặc dù mối quan hệ làm việc gần gũi nhau.
== Tên gọi và biểu tượng ==
Nguồn gốc của tên gọi "Paralympic" vốn không rõ ràng. Tên gọi ban đầu được đặt ra như một sự kết hợp giữa từ "paraplegic"và "Olympic". Nhưng việc thêm vào nhiều nhóm khuyết tật khác làm cho giải thích này không phù hợp. Giải thích chính thức hiện nay cho tên gọi này là nó có nguồn gốc từ giới từ tiếng Hy Lạp: παρά (bên cạnh, kề bên) và do tên gọi đề cập đến một cuộc thi được tổ chức song song với Thế vận hội Olympic. Thế vận hội Paralympic Mùa hè 1988 tổ chức tại Seoul là lần đầu tiên thuật ngữ "Paralympic" được đưa vào sử dụng chính thức.
"Tinh thần vận động" là phương châm của phong trào Paralympic. Biểu tượng của Paralympic gồm ba màu: đỏ, xanh dương và xanh lá cây, đó là những màu sắc đại diện được sử dụng rộng rãi nhất trong quốc kì của các quốc gia. Mỗi màu sắc được thiết kế với hình dạng của một Agito (trong tiếng Latinh có nghĩa là "Tôi vận động"). Ba vòng tròn Agitos vòng quanh một điểm trung tâm chính là biểu tượng cho các vận động viên từ mọi nơi trên thế giới tụ họp lại. Phương châm và biểu tượng của Ủy ban Paralympic Quốc tế đã thay đổi vào năm 2003 trở thành phiên bản hiện nay. Sự thay đổi này được nhằm truyền tải ý tưởng rằng các vận động viên Paralympic có một tinh thần thi đấu và Ủy ban Paralympic Quốc tế là một tổ chức nhận ra tiềm năng của cuộc thi và đang cố vận động tiến về trước, nỗ lực để đạt được điều đó. Quan điểm của Ủy ban Paralympic Quốc tế là, "Giúp các vận động viên Paralympic có thể trải nghiệm được sự tuyệt vời của thể thao, đồng thời qua đó truyền cảm hứng và kích động thế giới. " Bài quốc ca của Paralympic là "Hymn de l'Avenir" hay còn gọi là "Quốc ca của tương lai". Bài hát do Thierry Darnis sáng tác và được thông qua để trở thành bài quốc ca chính thức vào tháng 3 năm 1996.
== Các buổi lễ ==
=== Khai mạc ===
Theo quy định của Điều lệ Paralympic, có nhiều yếu tố khác nhau góp phần dựng nên lễ khai mạc Thế vận hội Paralympic. Hầu hết các nghi lễ đã được thành lập trong kì Olympic Mùa hè 1920 tại Antwerp. Buổi lễ thường bắt đầu với màn kéo cờ và trình bày bài quốc ca của nước chủ nhà. Sau đó nước chủ nhà sẽ có những màn biểu diễn nghệ thuật về âm nhạc, ca hát, khiêu vũ và phần trình bày tiêu biểu mang tính đại diện cho nền văn hóa của quốc gia.
Sau các phần trình diễn nghệ thuật của buổi lễ là đến cuộc diễu hành vào sân vận động của các nhóm vận động viên theo từng quốc gia, dựa trên thứ tự trong bảng alphabet theo ngôn ngữ mà nước chủ nhà chọn. Đoàn vận động viên của nước chủ nhà sẽ tiến vào sân vận động sau cùng. Bài diễn văn được đọc, kết thúc bằng phần tuyên bố Thế vận hội Paralympic chính thức khai mạc. Cuối cùng, ngọn đuốc Paralympic được đưa vào sân vận động và chuyền cho tới khi nó đến tay người rước đuốc cuối cùng—thường là một vận động viên Paralympic thuộc nước chủ nhà—người sẽ thắp sáng ngọn lửa Paralympic trên chiếc vạc đặt tại sân vận động.
=== Bế mạc ===
Lễ bế mạc Thế vận hội Paralympic diễn ra sau khi tất cả các cuộc thi đấu kết thúc. Người đại diện của từng quốc gia tham dự mang quốc kỳ lần lượt tiến vào sân vận động, theo sau là các vận động viên và không hề có bất kỳ sự phân biệt quốc gia nào. Cờ Paralympic được kéo xuống. Cờ của nước đăng cai Paralympic Mùa hè hoặc Mùa Đông tới được kéo lên cùng lúc bài quốc ca tương ứng cất lên. Thế vận hội chính thức khép lại và ngọn lửa Paralympic được dập tắt. Sau những nghi thức bắt buộc, nước chủ nhà sắp tới giới thiệu ngắn gọn về quốc gia của họ qua màn biểu diễn nghệ thuật múa và phần trình bày thể hiện nền văn hóa quốc gia.
=== Trao tặng huy chương ===
Buổi lễ trao tặng huy chương được tổ chức sau mỗi sự kiện thể thao Paralympic kết thúc. Người hoặc đội chiến thắng với thành tích cao nhất, nhì và ba đứng trên bục ba tầng và được trao tặng huy chương tương ứng. Sau khi thành viên ban tổ chức đem huy chương ra, cờ quốc gia đại diện cho ba thành phần đoạt huy chương được kéo lên trong khi bài quốc ca của quốc gia sở hữu huy chương vàng vang lên. Những công dân tình nguyện của nước đăng cai đóng vai trò là những chủ nhà trong các buổi lễ trao huy chương, họ trợ giúp ủy viên trao tặng huy chương và là người cầm cờ. Với mỗi sự kiện thể thao Paralympic đều có lễ trao tặng huy chương tương ứng, hầu hết diễn ra vào một ngày sau cuộc thi đấu cuối cùng.
== Bình đẳng ==
=== Mối liên hệ với Thế vận hội Olympic ===
Năm 2001 Ủy ban Olympic Quốc tế (IOC) và Ủy ban Paralympic quốc tế (IPC) đã ký một thỏa thuận đảm bảo rằng các thành phố chủ nhà sẽ nhận nhiệm vụ giao ước trên giấy tờ là quản lý cả Olympic và Paralympic. Thoả thuận này vẫn có hiệu lực cho đến khi Thế vận hội Mùa hè 2012. Thỏa thuận sẽ được mở rộng cho Thế vận hội mùa Đông 2014 và Olympic mùa hè 2016.
Ủy ban Olympic Quốc tế đã viết cam kết trong Hiến chương là cho phép mọi người đều có quyền tham gia thi đấu bình đẳng. Hiến chương nêu rõ:
Trong khi đó, Hiến chương không nhắc đến việc phân biệt đối xử đặc biệt liên quan đến người khuyết tật. Điều này cho thấy có thể sự phân biệt đối xử về khả năng của người khuyết tật có xu hướng đi ngược lại lại những lý tưởng của Hiến chương Olympic và Ủy ban Olympic Quốc tế. Trong Hiến chương Paralympic nghiêm cấm việc phân biệt đối xử trên cơ sở chính trị, tôn giáo, khuyết tật, kinh tế, giới tính, khuynh hướng tình dục hoặc những lý do chủng tộc.
Chủ tịch ban tổ chức Luân Đôn, Lord Coe, đã nói về Paralympic Mùa hè 2012 và Olympic Mùa hè 2012 ở Luân Đôn rằng:
=== Vận động viên Paralympic tại Olympic ===
Các vận động viên Paralympic tìm kiếm cơ hội bình đẳng để tranh tài tại Thế vận hội Olympic. Tiền lệ này đã được Neroli Fairhall, một cung thủ Paralympic từ New Zealand, thiết lập nên. Neroli đã thi đấu tại Olympic mùa hè 1984 tại Los Angeles. Năm 2008, Oscar Pistorius, một vận động viên môn chạy nước rút đến từ Nam Phi đã cố gắng để hội đủ tư cách tham dự Thế vận hội Olympic mùa hè 2008. Pistorius bị cụt cả hai chân từ đầu gối trở xuống và tham gia cuộc đua với hai thanh thiết bị sợi carbon bổ trợ. Anh người giữ kỉ lục ở nội dung chạy cự ly 100, 200, và 400 mét tại Paralympic. Năm 2007, Pistorius thi đấu tại vòng đua quốc tế dành cho người không tàn tật, sau đó Liên đoàn Điền kinh Quốc tế (International Association of Athletics Federations, viết tắt IAAF) đã cấm sử dụng bất kỳ thiết bị kỹ thuật có kèm theo "... lò xo, bánh xe hoặc bất kỳ yếu tố khác có thể đem lại cho người dùng lợi thế so với những vận động viên không sử dụng thiết bị." Điều mà các vận động viên và Liên đoàn quan tâm là thiết bị hỗ trợ của Pistorius đem lại cho anh một lợi thế không công bằng. Liên đoàn sau đó đã phán quyết rằng Pistorius không đủ điều kiện tham gia Olympic Mùa hè 2008. Tòa án Trọng tài Thể thao (CAS) bác bỏ phán quyết của Liên đoàn vì đã không cung cấp đầy đủ bằng chứng khoa học chứng minh những chân giả của Pistorius sẽ đem lại cho anh lợi thế không thích đáng. Do đó, nếu Pistorius đã vượt qua vòng loại của Olympic, anh sẽ được phép tham gia thi đấu. Cơ hội tốt nhất của anh để hội đủ điều kiện tham gia là ở vòng đua cự ly 400 mét. Pistorius thất bại vòng loại Olympic với khoảng cách 0,7 giây. Anh đã thi đấu tại Paralympic Mùa hè 2008 và giành được huy chương vàng ở cự ly 100, 200 và 400 mét chạy nước rút.
Vận động viên không khuyết tật cũng có thể tham gia tại Paralympic: người hướng dẫn thị giác cùng vận động viên khiếm thị là một phần gần gũi và thiết yếu trong cuộc thi. Vận động viên khiếm thị và người hướng dẫn được xem như một đội, và cả hai đều là ứng cử viên giành huy chương.
=== Kinh phí trợ cấp ===
Đã có những lời chỉ trích vì sự bất bình đẳng trong kinh phí trợ cấp cho vận động viên Paralympic so với vận động viên Olympic. Một ví dụ về những lời chỉ trích này là một vụ kiện tụng pháp luật vào năm 2003 của ba vận động viên Paralympic là Tony Iniguez, Scot Hollonbeck và Jacob Heilveil từ Hoa Kỳ. Họ khẳng định Ủy ban Olympic Hoa Kỳ (USOC), trong đó bao gồm các Ủy ban Paralympic Quốc gia, đã cung cấp không đầy đủ kinh phí cho các vận động viên Paralympic Hoa Kỳ. Iniguez trích dẫn một thực tế là USOC thực hiện quyền lợi chăm sóc sức khỏe cho các vận động viên Paralympic với tỉ lệ nhỏ hơn, USOC cung cấp tiền sinh hoạt phí đào tạo hàng quý ít hơn và chi trả giải thưởng tài chính cho các huy chương giành được tại Paralympic thấp hơn. Những người gửi đơn xem đây là một bất lợi cho các vận động viên Paralympic Hoa Kỳ, vì các quốc gia như Canada và Anh hỗ trợ các vận Paralympic và Olympic hầu như ngang nhau. USOC không phủ nhận sự khác biệt trong kinh phí và đưa ra lý luận rằng điều này dựa trên thực tế là sư kiện thể thao này đã không nhận được bất kỳ hỗ trợ tài chính nào từ phía chính phủ. Kết quả là việc tổ chức đã phải dựa vào doanh thu tạo ra thông qua sự phát tán phương tiện truyền thông về các vận động viên tham gia. Những thành công mà các vận động viên Olympic đem lại về doanh thu qua phương tiện truyền thông lớn hơn nhiều so với các vận động viên Paralympic. Vụ kiện đã được tòa án cấp thấp xét xử và quyết định rằng USOC có quyền phân bổ tài chính cho các vận động viên ở những mức độ khác nhau. Vụ kiện được kháng cáo lên Tòa án Tối cao, và vào ngày 6 tháng 9 năm 2008 tòa thông báo sẽ không giải quyết kháng cáo. Tuy nhiên, trong thời gian vụ kiện kéo dài (từ năm 2003 đến năm 2008), các khoản tài trợ USOC cung cấp đã tăng gần ba lần. Trong năm 2008 đã có 11,4 triệu USD được chi cho các vận động viên Paralympic so với năm 2004 là 3 triệu USD.
=== Mức độ truyền thông ===
Thế vận hội Olympic đã và đang trải qua sự phát triển to lớn tầm ảnh hưởng thông qua các loại phương tiện truyền thông toàn cầu kể từ Thế vận hội Mùa hè 1984, trong khi đó, Thế vận hội Paralympic đã không thể duy trì vững chắc việc phát sóng và lan truyền của phương tiện truyền thông quốc tế.
Các đài truyền hình bắt đầu phát sóng Thế vận hội Paralympic vào năm 1976, nhưng phạm vi phát sóng vốn có từ sớm này này đã bị hạn chế thông qua việc phát sóng gián tiếp những bản thu lại, điều này diễn ra tùy theo quốc gia hoặc tùy vùng. Đã từng có quá trình phát sóng trực tiếp 45 giờ tại Paralympic Mùa hè 1992 nhưng chỉ ở châu Âu. Những quốc gia khác phát sóng bản thu lại trong suốt thời gian diễn ra sự kiện. Không có những cải thiện có ý nghĩa trong phạm vi phát sóng xảy ra cho đến Paralympic Mùa hè 2000 ở Sydney.
Thế vận hội Paralympic 2000 tiêu biểu cho sự gia tăng đáng kể về độ lan truyền qua phương tiện truyền thông toàn cầu đối với bản thân sự kiện. Ban tổ chức Paralympic Sydney (SPOC) và All Media Sport (AMS) đã đạt thỏa thuận trong việc phát sóng Thế vận hội Paralympic trên toàn thế giới. Thỏa thuận đã đạt được với châu Á, Nam Mỹ và các công ty truyền hình châu Âu trong việc phát tán thông tin qua phương tiện truyền thông ở càng nhiều thị trường càng tốt. Sự kiện cũng được đã được phát sóng trên trang web lần đầu tiên. Do những hiệu quả tích cực mà Paralympic Sydney đem lại, lượng khán giả toàn cầu ước tính đạt đến 300 triệu người. Một vấn đề quan trọng khác là các nhà tổ chức đã không phải chi trả cho mạng lưới truyền hình trong việc phát sóng sự kiện như đã từng phải làm vào kì 1992 và 1996. Mặc dù những tiến bộ về mối quan tâm của giới truyền thông lâu dài này là do thực hiện theo yêu cầu, một vấn đề đã từng diễn ra ở Anh trong việc phát sóng Paralympic Mùa đông 2010.
Đài BBC đã bị chỉ trích về việc phát sóng quá ít ỏi chương trình Paralympic Mùa đông 2010 so với Olympic Mùa đông 2010. BBC thông báo sẽ đăng tải một số nội dung trên trang web của đài và phát sóng một chương trình tóm gọn những điểm nổi bật nhất với thời lượng một giờ sau khi sự kiện kết thúc. Riêng đối với Olympic Mùa đông, BBC đã phát sóng 160 giờ. Lời giải thích từ BBC là do ngân sách hạn chế và do "yếu tố múi giờ". Việc cắt giảm vẫn được tiến hành bất chấp sự gia tăng tỉ lệ xem của Paralympic Mùa hè 2008 diễn ra trước đó, với lượng khán giả theo dõi ở nước Anh chiếm 23% dân số. Tại Na Uy, đài phát thành truyền hình Na Uy (NRK) đã phát sóng 30 giờ trực tiếp Paralympic Mùa đông 2010. Kênh thể thao của NRK (NRK-sport) đã phê phán bộ phận sản xuất truyền hình từ Vancouver và đã đưa vấn đề này lên Liên hiệp Phát sóng châu Âu (EBU). Trong đó gồm các vấn đề như công chiếu bộ môn phối hợp bắn súng và trượt tuyết đường trường (biathlon) mà không thấy cảnh bắn súng và chiếu các vận động viên môn trượt tuyết băng đồng từ khoảng cách xa. Điều này gây khó khăn cho việc theo dõi quá trình thi đấu. NRK hài lòng nhiều hơn đối với việc quay và chiếu các cuộc thi ở bộ môn khúc côn cầu trên băng (ice sledge hockey) và đua xe lăn với chất lượng theo NHK đánh giá là tương đương với Thế vận hội Olympic.
== Phân loại ==
Ủy ban Paralympic Quốc tế (IPC) đã phân các thí sinh tham dự thành 6 hạng mục. Trong 6 hạng mục khuyết tật đó, vận động viên được chia thành nhiều hạng mục nhỏ hơn nữa tùy theo mức độ khuyết tật, dựa trên một hệ thống phân loại chức năng khác nhau tùy theo từng môn thể thao.
=== Hạng mục ===
Vận động viên có một trong sáu loại khuyết tật mà Ủy ban Paralympic Quốc tế đã phân ra có thể tham gia Paralympics mặc dù không phải môn thể thao nào cũng dành cho tất cả các loại khuyết tật. Sáu thể loại khuyết tật này áp dụng cho cả hai sự kiện Paralympic Mùa hè và Mùa đông.
Khuyết chi: vận động viên với ít nhất một chi bị mất mát một phần hoặc toàn bộ.
Bại não: vận động viên não bị tổn thương không phát triển, ví dụ như bại não, tổn thương não sau chấn thương, đột quỵ hay những khuyết tật tương tự có ảnh hưởng đến kiểm soát cơ bắp, đến cân bằng hoặc phối hợp.
Khuyết tật trí tuệ: vận động viên có hoạt động trí tuệ bị suy giảm đáng kể và bị hạn chế liên quan đến hành vi ứng xử thích nghi. Đối tượng chủ yếu của Ủy ban Paralympic Quốc tế là các vận động viên khuyết tật thể chất, nhưng nhóm khuyết tật trí tuệ đã được bổ sung vào và được phép tham gia thi đấu một số bộ môn ở Paralympic. Ủy ban Paralympic Quốc tế công nhận Thế vận hội Thế giới Olympic cởi mở đón nhận tất cả những người bị khuyết tật trí tuệ, bất kể ở mức độ nghiêm trọng nào.
Xe lăn: vận động viên bị chấn thương tủy sống và các khuyết tật khác mà đòi hỏi họ phải thi đấu trên xe lăn.
Khiếm thị: vận động viên với các loại khiếm thị khác nhau, từ người có tầm nhìn không hoàn toàn cho đến tầm nhìn vừa đủ để được đánh giá mù trên phương diện pháp lý, hoặc bị mù hoàn toàn. Người hướng dẫn thị giác cùng vận động viên khiếm thị là một bộ đôi gắn bó và cần thiết trong các cuộc thi, được xem như một đội và đều là ứng cử viên giành huy chương.
Các loại khác: vận động viên khuyết tật về thể chất mà không thuộc theo đúng một trong năm loại trên, như bị bệnh còi cọc, bệnh đa xơ cứng hoặc dị tật chi bẩm sinh do thuốc an thần thalidomide gây ra.
=== Hệ thống phân loại ===
==== Phân loại y khoa - từ lúc đầu cho đến những năm 80 ====
Từ khi thành lập cho đến những năm 1980, hệ thống phân loại vận động viên của Paralympic gồm đánh giá về y tế và chẩn đoán suy giảm. Tình trạng y khoa của một vận động viên là yếu tố duy nhất được sử dụng để xác định hạng mục mà họ được phép tham gia thi đấu. Ví dụ, một vận động viên bị tổn thương tủy sống dẫn đến suy nhược chi dưới, sẽ không được thi đấu trong cuộc đua xe lăn giống như một vận động viên với đôi chi dưới cụt đến đầu gối. Thực tế là tình trạng khuyết tật gây ra sự suy yếu tương tự đã không được xem là yếu tố trong việc xác định phân loại, việc xem xét chỉ dựa trên chẩn đoán y tế cá nhân của họ. Mãi cho đến khi quan điểm về vận động viên khuyết tật chấm dứt hình thức chỉ là phục hồi chức năng, hệ thống phân loại đã thay đổi từ chẩn đoán y tế sang tập trung vào các khả năng thiết thực của vận động viên.
==== Phân loại chức năng - sau những năm 80 đến nay ====
Không có số liệu ghi lại rõ ràng về thời điểm các thay đổi xảy ra, tuy nhiên, một hệ thống phân loại chức năng đã trở thành tiêu chuẩn để phân loại vận động viên khuyết tật trong những năm 1980. Hệ thống này tập trung vào vấn đề sự suy giảm chức năng của vận động viên tác động lên khả năng tham gia thi đấu của họ như thế nào. Theo hệ thống này, vận động viên chịu tổn thất toàn bộ chức năng chân sẽ được phép thi đấu tại hầu hết các môn thể thao, bởi chức năng bị mất của chân được xem là như nhau và lý do cho sự tổn thất đó là không đáng kể. Ngoại lệ duy nhất của hệ thống chức năng là cách thức phân loại do Liên đoàn Thể thao Người mù Quốc tế (IBSF0) sử dụng, tuy nhiên Liên đoàn vẫn áp dụng hệ thống phân loại dựa trên xét nghiệm y tế.
Một số môn thể thao chỉ được tổ chức cho một số loại hình khuyết tật riêng. Ví dụ, môn bóng gôn chỉ dành cho các vận động viên khiếm thị. Thế vận hội Paralympic công nhận ba mức độ khác nhau về suy giảm thị lực, do đó tất cả các đối thủ cạnh tranh trong môn bóng gôn phải đeo một tấm che mặt hoặc "mặt nạ màu đen" để lợi thế thi đấu giữa các vận động viên được cân bằng. Những môn thể thao khác như điền kinh cho phép các vận động viên với nhiều loại hình khuyết tật tham dự. Vận động viên tham gia môn điền kinh được chia thành một loạt các hạng mục nhỏ dựa trên loại hình khuyết tật của họ, sau đó các vận động viên được tiếp tục phân ra dựa trên mức độ khuyết tật. Ví dụ: phân loại từ 11 đến 13 là dành cho vận động viên khiếm thị, sắp xếp tùy thuộc vào mức độ suy giảm thị lực của họ. Sau cùng, có những môn thi đấu đồng đội như bóng bầu dục trên xe lăn. Trong thi đấu đồng đội, từng thành viên trong nhóm nhận điểm giá trị dựa trên mức độ khuyết tật của họ. Khả năng thi đấu càng cao thì số điểm cũng cao. Mỗi đội có một giới hạn điểm nhất định, trong đó tổng điểm của những người tham gia trong một thời gian nhất định phải thỏa mãn giới hạn đó. Ví dụ, trong bộ môn bóng bầu dục trên xe lăn, tổng số điểm giá trị khuyết tật của năm người tham gia thi đấu không được vượt quá 8 điểm.
== Thể thao ==
Có 20 môn thể thao Paralympic trong chương trình của Paralympic Mùa hè và 5 môn trong chương trình chương trình Paralympic Mùa Đông. Ở một số môn thể thao đặc biệt có nhiều cuộc thi đấu diễn ra. Ví dụ, môn trượt tuyết Anpơ (trượt tuyết ở các địa hình dốc có độ nghiêng) chia làm hai cuộc đấu, có chướng ngại vật và siêu chướng ngại vật. Ủy ban Paralympic Quốc tế quản lý một số môn thể thao nhưng không phải tất cả. Các tổ chức quốc tế khác như Liên đoàn Thể thao Quốc tế (IF), đặc biệt là Liên đoàn Xe lăn Quốc tế, Liên đoàn Thể thao Người cụt (IWAS), Liên đoàn Thể thao Người mù Quốc tế (IBSA) và Hiệp hội Thể thao và Giải Trí Quốc tế cho người Bại não (CP-ISRA) quản lý một số môn thể thao đặc biệt dành cho những nhóm khuyết tật riêng. Liên đoàn Thể thao Quốc tế có nhiều cơ quan trong đó bao gồm Uỷ ban Paralympic Quốc gia, chịu trách nhiệm trong công tác tuyển chọn các vận động viên và quản lý những môn thể thao ở cấp quốc gia.
== Gian lận ==
Những vụ gian lận tai tiếng đã gây thiệt hại cho Thế vận hội Paralympic. Sau khi Paralympic Sydney 2000 kết thúc, một cầu thủ bóng rổ Tây Ban Nha cho rằng một số thành viên của đội bóng rổ khuyết tật trí tuệ đoạt huy chương vàng của Tây Ban Nha là giả dạng. Ông tuyên bố rằng chỉ có hai trong số 12 thành viên của đội bóng đáp ứng được trình độ của một vận động viên khuyết tật trí tuệ. Một vụ tranh cãi đã xảy ra sau đó và ỦY ban Paralympic Quốc tế yêu cầu Ủy ban Paralympic Tây Ban Nha mở một cuộc điều tra. Kết quả điều tra phát hiện một số vận động viên Tây Ban Nha đã qua mặt các nguyên tắc về tư cách tham gia dành cho người khuyết tật trí tuệ. Trong một cuộc phỏng vấn với chủ tịch liên đoàn giám sát các cuộc thi đấu của người khuyết tật trí tuệ, ông Fernando Martin Vicente thừa nhận rằng các vận động viên trên khắp thế giới đã phá vỡ các quy tắc về điều kiện tham gia dành cho loại đối tượng này. Ủy ban Paralympic Quốc tế phản ứng bằng cách bắt đầu một cuộc điều tra nội bộ. Kết quả điều tra xác nhận các vận động viên Tây Ban Nha chỉ viện cớ để vào thi đấu và xác định tình trạng này không chỉ xảy ra ở môn bóng rổ dành cho người khuyết tật trí tuệ, cũng như không chỉ riêng vận động viên Tây Ban Nha. Hậu quả là tất cả các cuộc thi dành cho người khuyết tật trí tuệ đã bị hoãn lại vô thời hạn. Lệnh cấm đã được dỡ bỏ sau Thế vận hội 2008, sau khi công tác thắt chặt các tiêu chuẩn và kiểm soát tư cách tham gia của vận động viên khuyết tật trí tuệ được chấn chỉnh. Bốn môn thể thao gồm bơi lội, điền kinh, bóng bàn và chèo thuyền dự kiến sẽ tổ chức cho các vận động viên khuyết tật trí tuệ thi đấu tại Paralympic Mùa hè 2012.
Paralympic cũng đã bị phá hoại do hành vi sử dụng steroid. Tại Thế vận hội 2008 tại Bắc Kinh, ba vận động viên môn nhấc tạ (powerlifting) và một cầu thủ bóng rổ người Đức đã bị cấm sau khi có kết quả thử nghiệm dương tính với các chất cấm sử dụng. Số trường hợp bị cấm đã giảm so với Thế vận hội 2000 là 10 vận động viên nhấc tạ và một vận một động viên điền kinh. Vận động viên người Đức, Thomas Oelsner, là vận động viên Paralympic Mùa đông đầu tiên thử nghiệm dương tính với chất steroid. Anh đã giành được hai huy chương vàng tại Paralympic Mùa đông 2002, nhưng lại bị tước huy chương sau khi kết quả thử nghiệm cho thấy việc sử dụng thuốc. Tại Thế vận hội Olympic Mùa đông 2010 ở Vancouver, vận động viên môn ném tạ trên băng (curling) người Thụy Điển, Glenn Ikonen, có kết quả thử nghiệm dương tính với một chất bị cấm và đã bị Ủy ban Paralympic Quốc tế đình chỉ trong sáu tháng. Glenn Ikonen đã bị loại khỏi phần còn lại của cuộc thi nhưng đội của Glenn vẫn được phép tiếp tục thi đấu. Vận động viên 54 tuổi này cho biết bác sĩ của ông đã kê đơn một loại thuốc nằm trong danh mục các chất bị cấm. Thụy Điển đã đánh bại Hoa Kỳ và giành được huy chương đồng.
Một mối quan tâm mà hiện nay các ủy viên Paralympic phải đối mặt là kỹ thuật tăng huyết áp, còn gọi là tăng phản xạ tự phát (autonomic dysreflexia). Tác dụng của việc tăng huyết áp đã được chứng tỏ có thể cải thiện đến 15% hiệu suất thi đấu. Điều này đem lai hiệu quả cao nhất trong các môn thể thao đòi hỏi sức bền như trượt tuyết xuyên quốc gia. Để tăng huyết áp, vận động viên phải gây ra chấn thương tay chân thậm chí là chấn thương cột sống. Chấn thương này có thể bao gồm gãy xương, băng tay chân quá chặt và sử dụng vớ áp lực nén cao. Thương tích không gây đau đớn nhưng có ảnh hưởng đến huyết áp của vận động viên.
== Thành quả và quán quân nổi bật ==
Xem thêm thông tin: Danh sách vận động viên đạt huy chương vàng Paralympic
Trischa Zorn đến từ Hoa Kỳ là vận động viên Paralympic giành được nhiều huy chương nhất trong lịch sử. Cô thi đấu tại bộ môn bơi lội dành cho người mù và đã giành tổng cộng 55 huy chương, trong đó có 41 huy chương vàng. Sự nghiệp Paralympic của cô kéo dài 24 năm, từ 1980-2004. Cô cũng là vận động viên dự bị trong đội tuyển bơi lội Olympic năm 1980 của Mỹ nhưng không được tham gia. Ragnhild Myklebust của Na Uy giữ kỷ lục giành được nhiều huy chương nhất tại Paralympic Mùa đông. Tham gia vào nhiều cuộc thi đấu năm 1988, 1992, 1994 và 2002, cô giành tổng cộng 22 huy chương, trong đó có 17 huy chương vàng. Sau khi đoạt năm huy chương vàng tại Paralympic 2002, cô đã nghỉ hưu ở tuổi 58. Neroli Fairhall, một cung thủ đến từ New Zealand, là người liệt hai chân dưới đầu tiên - đồng thời cũng là vận động viên Paralympic đầu tiên - tham gia thi đấu tại Thế vận hội Olympic Mùa hè 1984 ở Los Angeles. Cô được xếp hạng thứ 34 trong cuộc thi bắn cung Olympic và giành được một huy chương vàng Paralympic trong cùng kì Thế vận hội.
== Thành phố tổ chức ==
== Hình ảnh ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Anh)
Website chính thức
Trang Facebook chính thức của ParalympicSport.tv
Trang web truyền hình của Ủy ban Paralympic Quốc tế (IPC)
Thế vận hội Paralympic – Sự kiện và nhân vật
(tiếng Việt)
Thông tin Thế vận hội dành cho người khuyết tật trên trang Ủy ban Olympic Việt Nam (Vietnam Olympic Committee)
Lịch sử Paralympic
Lịch sử thế vận hội dành cho người khuyết tật
Paralympic 2010 - Vinh danh những con người dũng cảm
Khai mạc Thế vận hội dành cho người khuyết tật ở Bắc Kinh |
kinh tế ả rập saudi.txt | Ả Rập Saudi có nền kinh tế phụ thuộc vào dầu lửa, chính phủ điều hành hầu hết các hoạt động kinh tế lớn. Ả Rập Saudi sở hữu 25% tổng trữ lượng dầu của thế giới, là nước xuất khẩu dầu lửa lớn nhất, dẫn đầu trong khối OPEC.
Ngành khai thác, sản xuất dầu mỏ đóng góp khoảng 75% thu ngân sách, tới 45% GDP, 90% thu nhập từ xuất khẩu. Khu vực tư nhân đóng góp khoảng 40% GDP. Có 5,5 triệu công nhân nước ngoài làm việc tại Ả Rập Saudi; lực lượng này đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế của đất nước. Chính phủ đang khuyến khích phát triển khu vực kinh tế tư nhân để giảm bớt sự phụ thuộc vào dầu lửa và tăng cơ hội việc làm cho dân số đang tăng. Chính phủ đã bắt đầu cho phép khu vực kinh tế tư nhân và đầu tư nước ngoài tham gia vào ngành điện lực và viễn thông.
== Xu hướng kinh tế vĩ mô ==
Dưới đây là biểu đồ xu hướng tổng sản phẩm quốc nội của Ả Rập Saudi theo giá thị trường được ước tính bởi Quỹ tiền tệ quốc tế, đơn vị tính là triệu Riyal.
Để tính theo sức mua tương đương, 1 USD = 3,41 Riyals.
== Tham khảo == |
tbilisi.txt | Tbilisi (IPA: [ˌtbiˈliːsi]; tiếng Gruzia: თბილისი) là thủ đô và là thành phố lớn nhất của Gruzia, nằm bên hai bờ Mtkvari của (sông Kura). Tbilisi đôi khi được gọi là Tiflis , nhưng đây không phải là tên gọi của người bản xứ trong thời kỳ Trung Cổ. Thành phố có diện tích 372 km² (144 dặm vuông) và dân số 1.093.000 người.
== Lịch sử ==
Thành phố Tbilisi được Vakhtang Gorgasali, vua nước Gruzia Kartli thành lập vào thế kỷ 5, sau đó chọn là kinh đô vào thế kỷ 6. Ngoài đặc điểm là một trung tâm công nghiệp, xã hội, văn hóa quan trọng, thành phố Tbilisi còn nổi tiếng là điểm trung chuyển quan trọng cho các dự án thương mại và năng lượng toàn cầu.
Tbilisi nằm ở giao điểm chiến lược giữa châu Á và châu Âu, nằm dọc con đường tơ lụa lịch sử. Tbilisi đã là điểm gặp gỡ thường xuyên cho những cuộc thỏa thuận của nhiều cường quốc và đế quốc địch thủ.
Lịch sử của thành phố có thể được nhìn thấy ở kiến trúc của nó, nơi đại lộ Rustaveli Haussmann hóa được trộn lẫn với các con phố hẹp của quận Narikala Trung Cổ. Cơ cấu dân số của thành phố khá đa dạng. Trong lịch sử, nó là nơi ở của các dân tộc từ các nền văn hóa, tôn giáo và dân tộc khác nhau.
== Khí hậu ==
== Xem thêm == |
văn học mỹ.txt | Văn học Mỹ trong bài viết này có ý nói đến những tác phẩm văn học được sáng tác trong lãnh thổ Hoa Kỳ và nước Mỹ thời thuộc địa. Để bàn luận chi tiết hơn về thi ca và kịch nghệ, xin xem thi ca Hoa Kỳ và Kịch nghệ Hoa Kỳ.
== Tổng quan ==
Suốt lịch sử đầu, Mỹ là một tập hợp các thuộc địa của Anh Quốc bên duyên hải phía đông của Hoa Kỳ ngày nay. Vì thế, truyền thống văn học của Mỹ khởi đầu có sự liên hệ tới truyền thống bề rộng hơn của Văn học Anh. Tuy nhiên, các tính chất riêng Mỹ và bề rộng sáng tác của nó thường khiến cho nó được xem ngày nay có một truyền thống và hướng đi khác biệt.
== Văn học thời thuộc địa ==
Một số hình thức sớm nhất của văn học Mỹ là sách nhỏ và các tác phẩm ca ngợi về ích lợi của các thuộc địa đến bạn đọc thực dân và châu Âu. Thuyền trưởng John Smith có thể được xem là tác giả Mỹ đầu tiên với các tác phẩm: A True Relation of... Virginia... (1608) và The General Historie of Virginia, New England, and the Summer Isles (1624). Các tác giả khác bao gồm Daniel Denton, Thomas Ashe, William Penn, George Percy, William Strachey, John Hammond, Daniel Coxe, Gabriel Thomas, và John Lawson.
Những cuộc tranh cãi về tôn giáo mà đã tạo ra việc di cư từ châu Âu và định cư tại Mỹ cũng là những đề tài văn học ban đầu. Một tập nhật ký của John Winthrop đề cập đến những nền tảng tôn giáo của Thuộc địa Vịnh Massachusetts. Edward Winslow cũng giữ một tập nhật ký những năm đầu sau khi chuyến thuyền Mayflower đến. Những nhà văn có tư tưởng tôn giáo gồm có Increase Mather và William Bradford, tác giả của quyển nhật ký được xuất bản như một quyển "Lịch sử Thuộc địa Plymouth, 1620–47". Những người khác như Roger Williams và Nathaniel Ward luôn tranh cãi quyết liệt việc tách rời giữa nhà thờ và nhà nước.
Cũng có một số thi ca đã được sáng tác. Anne Bradstreet và Edward Taylor đặc biệt được chú ý. Michael Wigglesworth đã sáng tác một bài thơ bán chạy nhất là The Day of Doom diễn tả về ngày phán quyết. Nicholas Noyes cũng được biết đến với vần thơ tồi.
Những tác phẩm đầu diễn tả những cuộc xung đột và tương tác với người bản thổ Mỹ như được thấy trong các tác phẩm của Daniel Gookin, Alexander Whitaker, John Mason, Benjamin Church, và Mary Rowlandson. John Eliot đã dịch Thánh kinh sang tiếng Algonquin.
Jonathan Edwards và John Kerry đại diện cho Đại Tỉnh thức, một phong trào làm sống lại đời sống tôn giáo trong đầu thế kỷ 18. Những nhà văn tôn giáo và Thanh giáo bao gồm Thomas Hooker, Thomas Shepard, Uriah Oakes, John Wise, và Samuel Willard. Các nhà văn ít nghiêm khắc hơn có Samuel Sewall, Sarah Kemble Knight, và William Byrd.
Giai đoạn cách mạng cũng có những tác phẩm chính trị, gồm những tác phẩm của những người thực dân như Samuel Adams, Josiah Quincy, John Dickinson, và Joseph Galloway, một người trung thành với vương miện. Hai khuôn mặt chính là Benjamin Franklin và Thomas Paine. Poor Richard's Almanac của Franklin và Tự truyện của Benjamin Franklin là những tác phẩm được coi trọng cùng với trí tuệ và ảnh hưởng của chúng trong việc hình thành một bản sắc Mỹ vừa chớm nở. Sách nhỏ của Paine Common Sense và tác phẩm The American Crisis được xem như đóng một vai trò làm ảnh hưởng cường điệu chính trị thời bấy giờ.
Trong chính cuộc cách mạng, thi ca và các bài hát như "Yankee Doodle" và "Nathan Hale" được phổ biến. Các nhà thơ trào phúng chính gồm có John Trumbull và Francis Hopkinson. Philip Morin Freneau cũng có làm thơ về diễn biến của chiến tranh.
== Văn học ban đầu của Hoa Kỳ ==
Thời hậu chiến, các bài tiểu luận chủ trương thành lập Liên bang của Alexander Hamilton, James Madison, và John Jay tiêu biểu trước cho một thảo luận lịch sử về việc tổ chức chính phủ và các giá trị cộng hoà. Bản Tuyên ngôn Độc lập của Thomas Jefferson, ảnh hưởng của ông đối với bản Hiến pháp, tự truyện của ông, "Ghi chú về Tiểu bang Virginia", và vô số các lá thư của ông đã đưa ông trở thành một trong những nhà văn thiên tài nhất đầu tiên của Mỹ. Fisher Ames, James Otis, và Patrick Henry cũng đáng ngưỡng mộ vì các tác phẩm và diễn văn chính trị của họ.
Tiểu thuyết Mỹ đầu tiên đôi khi được xem là tác phẩm The Power of Sympathy (1789) của Hill Brown. Phần nhiều văn học ban đầu của quốc gia mới đã gắng sức tìm kiếm một tiếng nói riêng biệt của người Mỹ. Những hình thức và phong cách châu Âu thường được truyền đến các địa phương mới và những nhà phê bình thường xem chúng như hạng thấp kém. Thí dụ, Wieland và những tiểu thuyết khác của Charles Brockden Brown (1771-1810) thường được xem như là những mô phỏng theo tiểu thuyết Gothic mà lúc đó đang được sáng tác tại Anh Quốc.
== Phong cách độc nhất của Mỹ ==
Với cuộc Chiến tranh năm 1812 và một ước muốn ngày gia tăng việc sáng tạo tác phẩm Mỹ độc nhất, một số khuôn mặt văn chương mới chính yếu đã xuất hiện, có lẽ nổi bật nhất là Washington Irving, William Cullen Bryant, James Fenimore Cooper, và Edgar Allan Poe. Irving, thường được xem là một nhà văn đầu tiên phát triển ra phong cách Mỹ độc nhất (mặc dù vấn đề này vẫn còn được bàn cãi) sáng tác các tác phẩm hài hước trong Salmagundi và văn trào phúng nổi tiếng A History of New York, by Diedrich Knickerbocker (1809). Bryant sáng tác những vần thơ ngợi ca thiên nhiên và thơ lãng mạn đầu tiên mà thoát ly khỏi nguồn gốc châu Âu của nó. Năm 1832, Poe bắt đầu sáng tác những chuyện ngắn—bao gồm "The Masque of the Red Death," "The Pit and the Pendulum," "The Fall of the House of Usher," và "The Murders in the Rue Morgue"—khám phá những mức độ tiềm ẩm tâm lý con người và đẩy giới hạn của tiểu thuyết về phía tiểu thuyết bí ẩn và tiểu thuyết thần thoại. Những truyện Leatherstocking của Cooper về Natty Bumppo được ưa chuộng cả trong và ngoài nước.
Các nhà văn hài hước cũng được ưa chuộng và gồm có Seba Smith và Benjamin P. Shillaber tại Tân Anh Cát Lợi và Davy Crockett, Augustus Baldwin Longstreet, Johnson J. Hooper, Thomas Bangs Thorpe, Joseph G. Baldwin, và George Washington Harris viết về biên cương Mỹ.
Brahmins của Tân Anh Cát Lợi là một nhóm nhà văn có liên hệ với Đại học Harvard và nơi hoạt động của nhóm là tại Cambridge, Massachusetts. Đầu đàn trong nhóm gồm có James Russell Lowell, Henry Wadsworth Longfellow, và Oliver Wendell Holmes, Sr.
Năm 1836, Ralph Waldo Emerson (1803-1882) xuất bản một tác phẩm văn hiện thực gây sững sốt có tên là Thiên nhiên mà trong đó ông cho rằng có thể không cần đến tôn giáo có tổ chức nhưng sẽ đạt đến một trạng thái tinh thần cao thượng bằng cách học tập và đáp lời đến thế giới thiên nhiên. Tác phẩm của ông không chỉ ảnh hưởng những nhà văn tập hợp quanh ông hình thành một phong trào được biết đến là Thuyết tiên nghiệm, mà cũng ảnh hưởng đến công chúng, những người nghe ông diễn thuyết.
Nhà tư tưởng đồng sự thiên tài nhất của Emerson có lẽ là Henry David Thoreau (1817-1862), một người cương quyết không theo lề thói. Sau khi sống phần nhiều một mình khoảng hai năm trong một căn chòi gần một cái ao trong rừng, Thoreau sáng tác Walden, một hồi ký dài cả cuốn sách hối thúc mọi người kháng cự những mệnh lệnh từ xã hội có tổ chức gây quấy nhiễu cuộc sống riêng tư. Tác phẩm cấp tiến của ông diễn tả một chiều hướng cắm rễ sâu ngã về chủ nghĩa cá nhân trong đặc tính của người Mỹ. Những nhà văn khác bị ảnh hưởng bởi Thuyết tiên nghiệm là Bronson Alcott, Margaret Fuller, George Ripley, Orestes Brownson, và Jones Very.
Cuộc xung đột quanh vấn đề bãi bỏ chế độ nô lệ đã truyền cảm hứng cho các tác phẩm của William Lloyd Garrison và tờ báo của ông là The Liberator (người giải phóng) cùng với thi sĩ John Greenleaf Whittier và Harriet Beecher Stowe với bài thơ nỗi danh thế giới của bà là Uncle Tom's Cabin (Căn chòi của chú Tom).
Năm 1837, thanh niên Nathaniel Hawthorne (1804-1864) tập hợp được một số mẫu chuyện của mình trong Twice-Told Tales (những mẫu chuyện được kể hai lần), một bộ truyện giàu tính chủ nghĩa biểu tượng và tình tiết huyền bí. Hawthorne tiếp tục sau đó sáng tác những tác phẩm lãng mạn dài, những tiểu thuyết nữa ngụ ngôn khám phá những đề tài như tội lỗi, tự hào, cảm xúc tại quê hương Tân Anh Cát Lợi của ông. Kiệt tác của ông The Scarlet Letter là một vở kịch về một người phụ nữ bị tống khứ ra khỏi cộng đồng của mình vì mang tội ngoại tình.
Tiểu thuyết của Hawthorne có một mãnh lực lớn đối với bạn của ông là Herman Melville (1819-1891), người đầu tiên tự tạo ra tên tuổi bằng cách biến chi tiết từ những ngày đi biển thành những tiểu thuyết kỳ lạ. Cảm hứng bởi mẫu tượng Hawthorne, Melville sau đó tiếp tục sáng tác các tiểu thuyết giàu ước đoán triết lý. Trong Moby Dick, một chuyến đi săn cá voi đầy mạo hiểm trở thành phương tiện xem xét những đề tài như sự ám ảnh, thiên nhiên đầy tai ương, và sự tranh đấu của con người chống lại sức mạnh thiên nhiên. Trong một tác phẩm hay khác, tiểu thuyết ngắn Billy Budd, Melville kịch hóa những đòi hỏi mâu thuẫn về nhiệm vụ và lòng trắc ẩn trên một chiếc thuyền trong thời chiến. Những cuốn sách tinh tế thâm sâu hơn của ông bán không chạy, và ông đã bị lãng quên từ lâu cho đến khi mất. Ông được tái khám phá trong những thập niên đầu của thế kỷ 20.
Những tác phẩm bài chủ nghĩa tiên nghiệm của các tác giả Melville, Hawthorne, và Poe bao gồm tiểu thể loại lãng mạn bi quan (Dark romanticism) của văn học phổ biến trong thời kỳ này.
== Thơ trữ tình Mỹ ==
Hai nhà thơ vĩ đại nhất của Mỹ trong thế kỷ 19 có thể không có gì khác hơn trong tính khí và phong cách. Walt Whitman (1819-1892) là một người lao động, một người chu du, một người tự làm y tá trong Nội chiến Hoa Kỳ (1861-1865), và một nhà sáng tạo thi ca. Tác phẩm chính của ông là Leaves of Grass mà trong đó ông sử dụng một vần thơ tự do và những dòng có độ dài bất thường để miêu tả cả những tính chất bao hàm của nền dân chủ Mỹ. Đưa chủ đề bao quát đó đi xa hơn nữa, nhà thơ đặt ngang hàng tầm mức rộng lớn kinh nghiệm của người Mỹ với bản thân ông nhưng không tự đề cao mình. Thí dụ, trong Song of Myself, bài thơ dài và trọng tâm của tập thơ Leaves of Grass, Whitman viết: "Đây là những tư tưởng của tất cả mọi người mọi lứa tuổi và mọi nơi, họ không có cùng nguồn cội với tôi...."
Whitman cũng là một nhà thơ theo phái triết lý về thể xác -- "thể xác điện" như ông đã từng gọi nó. Trong Những nghiên cứu về Văn học cổ điển Mỹ, tiểu thuyết gia người Anh D.H. Lawrence đã viết rằng Whitman "là người đầu tiên phá vỡ quan niệm đạo lý xưa rằng tâm hồn của con người thì có cái gì đó 'siêu đẳng' và 'trên' thể xác."
Về mặt khác, Emily Dickinson (1830-1886) sống cuộc đời ẩn dật của một phụ nữ độc thân nhã nhặn trong một thị trấn nhỏ tên Amherst, Massachusetts. Bên trong cấu trúc hình thức, thơ của bà khéo léo, tế nhị, thanh tao, và sâu sắc tâm lý. Tác phẩm của bà không theo qui ước ngày đó, và chỉ một ít đã được xuất bản trong đời bà.
Nhiều bài thơ của bà ngự trên sự chết, thường là với một sự quằn quại tinh quái. "Vì tôi không thể dừng lại cho cái chết" một bài thơ bắt đầu, "cái chết đã vui lòng dừng lại chờ tôi." Phần mở đầu một bài thơ khác của Dickinson đã đùa nghịch vai trò của bà như một người phụ nữ trong một xã hội do đàn ông làm chủ và một bài thơ không biết tên: "Tôi không là ai! Bạn là ai? / Có phải bạn cũng không là ai?"
== Sang tân thế kỷ ==
Vào đầu thế kỷ 20, các tiểu thuyết gia Mỹ mở rộng khung cảnh xã hội của thể loại tiểu thuyết gồm cả đời sống thượng lưu và bần cùng và đôi khi có liên quan đến trường phái chủ nghĩa thiên nhiên hiện thực. Trong chuyện và tiểu thuyết của bà, Edith Wharton (1862-1937) đã nghiên cứu cẩn thận giới thượng lưu, xã hội duyên hải phía đông Hoa Kỳ nơi bà lớn lên. Một trong những cuốn sách hay của bà, The Age of Innocence, xoay quanh chủ đề một người ông chọn lấy một người phụ nữ xã hội chấp nhận, bình thường hơn là một người phụ nữ quyến rũ khác thường. Cũng vào lúc đó, Stephen Crane (1871-1900), nỗi danh với tiểu thuyết thời nội chiến Hoa Kỳ của ông là The Red Badge of Courage, đã diễn tả đời sống của những cô gái làng chơi ở Thành phố New York trong Maggie: A Girl of the Streets. Và trong Sister Carrie, Theodore Dreiser (1871-1945) đã diễn tả một cô gái miền quê di chuyển đến Chicago và trở thành một "gái bao". Hamlin Garland và Frank Norris viết về những vấn đề của những nông gia Mỹ và các vấn đề xã hội khác theo lối viết của người theo chủ nghĩa tự nhiên.
Những tác phẩm chính trị trực tiếp hơn có bàn thảo đến các vấn đề xã hội và quyền lực của những tập đoàn kinh doanh. Một vài người như Edward Bellamy trong Looking Backward phác thảo ra những khung sườn xã hội và chính trị có thể có khác. Upton Sinclair, nỗi danh nhất với tiểu thuyết The Jungle của ông, đã tán thành chủ nghĩa xã hội. Những nhà văn chính trị khác của thời kỳ này gồm có Edwin Markham, William Vaughn Moody. Những nhà phê bình báo chí, gồm có Ida M. Tarbell và Lincoln Steffens được dán cho biệt danh "The Muckrakers", có nghĩa là những nhà báo, tác giả, nhà làm phim đã điều tra và đưa ra ánh sáng những vấn đề xã hội như tham nhũng, tội phạm kinh tế, lao động trẻ con, những điều kiện làm việc mất vệ sinh trong các nhà máy sản xuất thực phẩm... Tự truyện văn chương của Henry Adams, The Education of Henry Adams cũng miêu tả chi tiết gay rứt về hệ thống giáo dục và cuộc sống hiện đại.
Năm 1909, Gertrude Stein (1874-1946), vào lúc đó là một người Mỹ ở Paris, đã xuất bản Three Lives, một tác phẩm tiểu thuyết sáng tạo bị ảnh hưởng bởi sự quen thuộc của bà với hội họa, nhạc jazz và những phong trào nhạc và nghệ thuật đương đại khác. Stein gọi một nhóm nhà văn nổi tiếng của Mỹ sống tại Paris và thập niên 1920 và 1930 là "Thế hệ bị lãng quên".
Thi sĩ Ezra Pound (1885-1972) sinh ra tại Idaho nhưng sống phần nhiều cuộc đời của ông tại châu Âu. Tác phẩm của ông phức tạp, đôi khi tối nghĩa, có nhiều liên quan đến những hình thức nghệ thuật khác và một tầm mức rộng lớn văn chương của cả Đông và Tây. Ông bị ảnh hưởng bởi nhiều thi sĩ khác, nổi bật là T. S. Eliot (1888-1965) cũng là một người Mỹ sống ở nước ngoài. Eliot làm thơ giàu tưởng tượng hơn là cảm xúc được chuyển vận bằng một cấu trúc nhiều hình tượng. Trong "The Waste Land", ông biểu hiện một viễn ảnh đen tối về một xã hội hậu Chiến tranh thế giới thứ nhất bằng những hình ảnh bị mất từng đoạn và ma quái. Giống như Pound, thơ của Eliot có thể là quá nhiều hình tượng, và một số tái bản The Waste Land có đính kèm ghi chú của nhà thơ. Năm 1948, Eliot thắng Giải Nobel Văn chương.
Những nhà văn Mỹ cũng diễn tả những mộng tưởng vỡ tan theo sau chiến tranh. Những chuyện và tiểu thuyết của F. Scott Fitzgerald (1896-1940) ghi lại tâm trạng bất phục, thèm khát thú vui, bồn chồn của thập niên 1920. Đề tài đặc biệt của Fitzgerald, được diễn tả thấm thía trong The Great Gatsby, là chiều hướng của những giấc mơ vàng của tuổi trẻ bị tan vỡ trong thất bại và chán chường. Sinclair Lewis và Sherwood Anderson cũng viết tiểu thuyết phê phán cuộc sống Mỹ. John Dos Passos viết về chiến tranh và một bộ ba cuốn sách (mà tiếng Anh gọi là U.S.A. trilogy) kéo dài cho đến thời Đại khủng hoảng.
Ernest Hemingway (1899-1961) đã chứng kiến bạo động và cái chết lần đầu tiên khi làm tài xế xe cứu thương trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, và sự tàn phá của chiến tranh đã thuyết phục ông rằng ngôn ngữ trừu tượng hầu như trống rỗng và lạc lối. Ông đã cắt bỏ những từ ngữ không cần thiết ra khỏi tác phẩm của ông, đơn giản hóa cấu trúc câu, và tập trung vào những hành động và đối tượng cụ thể. Ông bám chặt vào một quy tắc đạo lý đặt nặng sự thanh nhã dưới áp lực, và những nhân vật chính của ông thường là những người đàn ông trầm lặng, mạnh mẽ thường lúng túng với phụ nữ. The Sun Also Rises và A Farewell to Arms thường được xem là những tiểu thuyết hay nhất của ông; năm 1954, ông đoạt được Giải Nobel Văn chương.
Năm năm trước Hemingway, một tiểu thuyết gia Mỹ khác đã đoạt được Giải Nobel là William Faulkner (1897-1962). Faulkner tự mình xoay quanh một phạm vi to lớn của nhân sinh quan trong Quận Yoknapatawpha, một quận thuộc Mississippi mà ông tự hư cấu nên. Ông ghi chép dường như không có mạch lạc và không có sửa đổi về những nhân vật của mình để tiêu biểu những trạng thái nội tâm của họ, đó là một kỹ thuật hành văn được gọi là ""tuông ra ý thức" (stream of consciousness). Sự thật thì kiểu hành văn như thế đã được luyện tập kỷ lưỡng, và cấu trúc dường như hỗn độn của chúng giúp che đậy nhiều lớp ý nghĩa. Ông cũng làm xáo trộn thứ tự thời gian để cho thấy quá khứ tồn tại như thế nào trong hiện tại—đặc biệt là thời đại giữ nô lệ của vùng cực nam nước Mỹ (Deep South). Một số trong những đại tác phẩm của ông là The Sound and the Fury, Absalom, Absalom!, Go Down, Moses, và The Unvanquished.
Văn học thời Đại khủng hoảng thì thẳng thừng và trực tiếp trong việc phê phán xã hội của nó. John Steinbeck (1902-1968) sinh ra tại Salinas, California là nơi ông dùng làm khung cảnh cho những câu chuyện của mình. Phong cách của ông đơn giản và gợi ý giúp ông chiếm cảm tình của bạn đọc, nhưng đối với những nhà phê bình thì không được cái hân hạnh đó. Steinbeck thường viết về người nghèo, người lao động và sự vật lộn của họ để có được cuộc sống lương thiện và tươm tất; ông có lẽ là nhà văn nhận thức xã hội nhất trong thời đại của ông. The Grapes of Wrath, được xem là kiệt tác của ông, là một tiểu thuyết mạnh mẽ, có chiều hướng xã hội kể câu chuyện về gia đình nghèo của vợ chồng Joads từ Oklahoma và chuyến đi của họ đến California để tìm kiếm một cuộc sống tốt đẹp hơn. Những tiểu thuyết được yêu chuộng khác gồm có Tortilla Flat, Of Mice and Men, Cannery Row, và East of Eden. Ông được trao Giải Nobel Prize Văn chương năm 1962. Những nhà văn khác đôi khi được xem là phần tử của trường phái vô sản gồm có Nathanael West, Fielding Burke, Jack Conroy, Tom Kromer, Robert Cantwell, Albert Halper, và Edward Anderson.
== HậuChiến tranh thế giới thứ hai ==
Thời kỳ từ cuối Chiến tranh thế giới thứ hai cho đến khoảng cuối thập niên 1960 và đầu thập niên 1970 đã chứng kiến sự xuất bản một số các tác phẩm được yêu chuộng nhất trong lịch sử Mỹ. Một số còn lại, các tác phẩm hiện đại hiện thực hơn cùng với các tác phẩm thuộc thể loại Beatnik lãng mạn cuồng nhiệt gần như chiếm ưu thế thời kỳ này trong khi sự trực tiếp tham gia của Mỹ vàoChiến tranh thế giới thứ hai cũng đã thêm vào ảnh hưởng đáng ghi nhận đối với các tác phẩm này.
Từ Nine Stories và The Catcher in the Rye của J.D. Salinger đến The Bell Jar của Sylvia Plath, sự điên cuồng của nước Mỹ được đặt ngay vào hàng đầu sự diễn đạt văn chương của quốc gia. Những nhà văn lưu vong như Vladimir Nabokov với tác phẩm Lolita đã vượt lên cùng với chủ đề, và, gần như cùng lúc đó, thể loại Beatnik đã bước một bước nhịp nhàng tránh xa khỏi bậc đàn anh của Thế hệ bị lãng quên.
Thi ca và tiểu thuyết của "Thế hệ Beat" phần lớn phát sinh từ một nhóm trí thức được thành lập tại Thành phố New York quanh Đại học Columbia và được thành lập chính thức hơn một thời gian sau đó tại San Francisco. Thuật từ Beat ám chỉ, cùng lúc, đến nhịp điệu đối ngược văn hóa của nhạc Jazz, đến cảm giác nỗi loạn có liên quan đến trọng tâm bảo thủ của xã hội hậu chiến, và đến một sự chú tâm vào những hình thức mới về tinh thần qua ma túy, rượu, triết lý, và tôn giáo, và đặc biệt là qua Thiền tông. Allen Ginsberg đã xếp đặt phong thái của phong trào trong bài thơ của ông có tên là Howl mà bắt đầu như sao: "Tôi đã chứng kiến những trí tuệ lỗi lạc nhất thế hệ tôi bị hủy diệt bởi sự điên cuồng...." Cùng lúc đó, bạn thân của ông là Jack Kerouac (1922-1969) chúc mừng cách sống lang thang, không gò bó, vui tươi của thế hệ Beats trong nhiều tác phẩm, đặc biệt là kiệt tác và là tiểu thuyết nổi tiếng nhất của ông có tựa đề On the Road. Đặc biệt đối với tiểu thuyết chiến tranh, có một sự bùng nổ văn chương tại Mỹ trong thời đại hậu [[Chiến tranh thế giới thứ hai. Một số tác phẩm nổi tiếng được sáng tác gồm có The Naked and the Dead (1948) của Norman Mailer, Catch-22 (1961) của Joseph Heller và Slaughterhouse-Five (1969) của Kurt Vonnegut Jr.. MacBird của nhà văn Barbara Garson là một tác phẩm nổi tiếng khác vén mở sự ngớ ngẩn của chiến tranh.
Flannery O'Connor (sinh 25-3-1925 tại Georgia – mất 3-8-1964 tại Georgia) cũng khám phá và phát triển đề tài về 'miền Nam' trong văn học Mỹ mà gần gũi thân thiết với Mark Twain và các tác giả hàng đầu khác của lịch sử văn học Mỹ (Wise Blood 1952; The Violent Bear It Away 1960; Everything That Rises Must Converge - truyện ngắn nổi tiếng nhất của bà, và là một bộ truyện được xuất bản năm 1965 sau khi bà mất).
== Tiểu thuyết đương đại Mỹ ==
Từ ngay đầu thập niên 1970 cho đến nay, thể loại văn học nổi tiếng nhất, mặc dù thường bị tranh cãi như một cái tên chính xác, đã và đang là thể loại Hậu hiện đại. Những nhà văn nổi tiếng của thời đại này gồm có Thomas Pynchon, Tim O'Brien, Don DeLillo, Toni Morrison, Philip Roth, Cormac McCarthy, Joyce Carol Oates và Annie Dillard. Các tác giả được dán nhãn là Hậu hiện đại đã đối diện và hiện nay đang đối diện trực tiếp với nhiều cách mà văn hóa và truyền thông đại chúng tác động đến cách nhìn nhận và kinh nghiệm về thế giới của một người Mỹ bình thường. Những nhìn nhận và kinh nghiệm này của họ rất thường bị chỉ trích cùng với chính phủ Mỹ, và, trong nhiều trường hợp, với cả lịch sử Mỹ, nhưng đặc biệt là với cách nhìn nhận về quá trình của chính họ.
Nhiều tác giả hậu hiện đại cũng được nổi tiếng vì chọn bối cảnh trong những nhà hàng thức ăn nhanh, trên xe điện, hoặc trong những trung tâm mua sắm; họ viết về ma túy, về phẫu thuật thẩm mỹ, và thương mại truyền hình. Đôi khi, những miêu tả này gần giống như là tán dương ca tụng. Nhưng đồng thời, những nhà văn thuộc trường phái này giữ một thái độ hạ mình (như một số nhà phê bình có nói), châm biếm, có ý thức và nhận thức về chủ đề của họ. David Eggers, Chuck Palahniuk, và David Foster Wallace có lẽ nổi tiếng nhất vì những chiều hướng đặc biệt này.
== Những tiêu điểm thiểu số trong Văn học Mỹ ==
Văn học miền Nam Hoa Kỳ
Văn học người Mỹ gốc châu Phi
Văn học người Mỹ gốc Do Thái
Văn học đồng tính
Danh sách nhà văn Mỹ gốc châu Á
Văn học người Mỹ gốc Armenia
== Các thể loại khác ==
Tiểu thuyết trinh thám
Tiểu thuyết kinh dị
Tiểu thuyết tình cảm
Tiểu thuyết khoa học viễn tưởng và Tiểu thuyết thần thoại
Tiểu thuyết Cao bồi
== Xem Thêm ==
Harry Potter
Pendragon
Eragon
Cái bóng của những đứa trẻ
Frankenstein
Những cái hố (tiểu thuyết)
== Tham khảo ==
New Immigrant Literatures in the United States: A Sourcebook to Our Multicultural Literary Heritage by Alpana Sharma Knippling (Westport, CT: Greenwood, 1996)
Asian American Novelists: A Bio-Bibliographical Critical Sourcebook by Emmanuel S. Nelson (Westport, CT: Greenwood Press, 2000)
== Liên kết ngoài ==
A Student's History of American Literature (1902) by Edward Simonds
Electronic Texts in American Studies |
yên bái.txt | Yên Bái là một tỉnh thuộc vùng trung du và miền núi phía Bắc Việt Nam.
== Vị trí ==
Yên Bái nằm ở vùng Tây Bắc tiếp giáp với Đông Bắc. Phía đông bắc giáp hai tỉnh Tuyên Quang và Hà Giang, phía đông nam giáp tỉnh Phú Thọ, phía tây nam giáp tỉnh Sơn La, phía tây bắc giáp hai tỉnh Lai Châu và Lào Cai. Trung tâm hành chính của tỉnh là thành phố Yên Bái, cách thủ đô Hà Nội 180 km.
== Hành chính ==
Yên Bái bao gồm 1 thành phố, 1 thị xã và 7 Huyện, trong đó có với 180 đơn vị hành chính cấp xã, gồm có 10 thị trấn, 13 phường và 157 xã.
== Địa hình ==
Yên Bái có diện tích tự nhiên 6.882,9 km², nằm trải dọc đôi bờ sông Hồng.
Địa hình Yên Bái có độ dốc lớn, cao dần từ đông sang tây, từ nam lên bắc, độ cao trung bình 600 mét so với mực nước biển và có thể chia làm hai vùng: vùng thấp ở tả ngạn sông Hồng và lưu vực sông Chảy mang nhiều đặc điểm của vùng trung du; vùng cao thuộc hữu ngạn sông Hồng và cao nguyên nằm giữa sông Hồng và sông Đà có nhiều dãy núi. Đèo Khau Phạ là đèo hiểm trở và dài nhất trên tuyến quốc lộ 32 với độ dài trên 30 km.
== Sông ngòi ==
Ngoài hai con sông lớn là sông Hồng và sông Chảy, còn có khoảng 200 ngòi, suối lớn nhỏ và hồ, đầm. Đầu thập niên 1960, Nga giúp thiết kế hồ Thác Bà là hồ nước nhân tạo có diện tích mặt nước trên 20.000 ha, với khoảng 1.300 đảo lớn nhỏ. Hồ có sức chứa 3–3,9 tỷ m³ nước với mục đích ban đầu là chạy nhà máy thuỷ điện Thác Bà: Công trình thuỷ điện lớn đầu tiên ở Việt Nam.
== Khí hậu ==
Yên Bái có khí hậu đặc trưng của khí hậu cận nhiệt đới ẩm của miền bắc Việt Nam, mùa hè nóng ẩm mưa nhiều, mùa đông phi nhiệt đới lạnh và khô.
== Rừng ==
Yên Bái có rừng nhiệt đới, á nhiệt đới và ôn đới trên núi cao. ở đây có gỗ quý pơ-mu sẽ tốt cho sức khỏe và đuổi muỗi nếu làm giường.
== Khoáng sản ==
Tài nguyên khoáng sản trữ lượng khá lớn như đá đỏ, sắt, thạch anh, đá fenspat, đá trắng Đông Nam Á.
== Nông nghiệp ==
Đất nông nghiệp chiếm gần 10% diện tích tự nhiên, trong đó có cánh đồng Mường Lò rộng 2.300 ha nổi tiếng vùng Tây Bắc với nhiều sản vật có giá trị như: chè, quế, gạo nếp Tú Lệ, cam Lục Yên, nhãn Văn Chấn.
== Dân tộc ==
Hiện nay, toàn tỉnh có 740.905 người (điều tra dân số ngày 01/04/2009, gồm 30 dân tộc chung sống. Các dân tộc ở Yên Bái sống xen kẽ, quần tụ ở khắp các địa phương trên địa bàn của tỉnh, với những bản sắc văn hoá đậm nét dân tộc.gồm có các dân tộc Kinh,dân tộc Tày,dân tộc Dao,dân tộc Mông...
== Lịch sử ==
Yên Bái là một điểm sinh tụ của người Việt cổ, có nền văn hoá nhân bản, thể hiện ở những di vật, di chỉ phát hiện ở hang Hùm (Lục Yên), công cụ bằng đá ở Thẩm Thoóng (Văn Chấn), thạp đồng Đào Thịnh, Hợp Minh (Trấn Yên), trống đồng Minh Xuân (Lục Yên). Nhiều di chỉ khảo cổ được phát hiện, như đền, tháp, khu di tích lịch sử.
Được thành lập năm 1900, tỉnh Yên Bái được biết đến qua cuộc Khởi nghĩa Yên Bái của Việt Nam Quốc Dân Đảng vào thượng tuần tháng 2 năm 1930. Lãnh tụ là Nguyễn Thái Học đã bị thực dân Pháp bắt và đem hành quyết bằng máy chém ở Yên Bái cùng 12 đồng đội vào ngày 17 tháng 6 năm 1930.
Sau năm 1945, tỉnh Yên Bái có 5 huyện: Lục Yên, Than Uyên, Trấn Yên, Văn Bàn, Văn Chấn.
Ngày 29 tháng 4 năm 1955, tách 2 huyện Than Uyên và Văn Chấn để thành lập Khu tự trị Thái - Mèo, và sau là tỉnh Nghĩa Lộ.
Ngày 7 tháng 4 năm 1956, thành lập lại thị xã Yên Bái.
Ngày 1 tháng 7 năm 1956, chuyện huyện Yên Bình của tỉnh Tuyên Quang về tỉnh Yên Bái quản lý.
Ngày 16 tháng 12 năm 1964, thành lập 2 huyện Bảo Yên (tách ra từ 2 huyện Lục Yên và Văn Bàn) và Văn Yên (tách ra từ 2 huyện Trấn Yên và Văn Bàn). Nay hai huyện Bảo Yên và Văn Bàn thuộc tỉnh Lào Cai.
Ngày 27 tháng 12 năm 1975, tỉnh Yên Bái được hợp nhất với 2 tỉnh Lào Cai và Nghĩa Lộ thành tỉnh Hoàng Liên Sơn.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Yên Bái được tái lập từ tỉnh Hoàng Liên Sơn; chuyển 2 huyện Bảo Yên và Văn Bàn về tỉnh Lào Cai quản lý. Khi tách ra, tỉnh Yên Bái có 8 đơn vị hành chính gồm thị xã Yên Bái và 7 huyện: Lục Yên, Mù Cang Chải, Trạm Tấu, Trấn Yên, Văn Chấn, Văn Yên, Yên Bình.
Ngày 15 tháng 5 năm 1995, thành lập lại thị xã Nghĩa Lộ trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của huyện Văn Chấn.
Ngày 11 tháng 1 năm 2002, chuyển thị xã Yên Bái thành thành phố Yên Bái.
== Giao thông ==
Giao thông ở Yên Bái có hệ thống đường sắt, đường bộ, đường thuỷ, quốc lộ 32, 37 và 70 chạy qua tỉnh. Thông thương từ Yên Bái đến các tỉnh lân cận của miền Tây Bắc và Việt Bắc ngày càng phát triển nhất là khi hệ thống đường bộ đang tiếp tục được hoàn thiện, tuyến đường sắt Hà Nội - Yên Bái - Lào Cai nối liền tới Côn Minh, Trung Quốc được nâng cấp.
== Đặc sản, lâm thổ sản ==
Gạo nếp Tan (Tú Lệ, Văn Chấn)
Xôi ngũ sắc (Nghĩa Lộ và Văn Chấn)
Xôi tam sắc (Nghĩa Lộ và Văn Chấn)
Táo mèo (Mù Căng Chải và Trạm Tấu)
Chè tuyết san (Suối Giàng, Văn Chấn)
Bưởi Đại Minh
Cam (Văn Chấn, Lục Yên)
Nhãn (Văn Chấn)
Khoai sọ (Lục Yên)
Quế (Văn Yên)
Lạp cá (Mường Lò)
Thịt chó (thành phố Yên Bái)
Thịt trâu gác bếp (Văn Chấn)
Cá (hồ thủy điện Thác Bà)
Cá tiểu bạc (hồ thủy điện Thác Bà)
Dế mèn (Mường Lò)
Pơ mu
Cải mèo
Trám đen
Gạo nương (Tân Đồng)
== Du lịch ==
Dốc Yên Ngựa,Thung lũng Hồng Ca Trấn Yên
Ruộng bậc thang Mù Cang Chải
Thủy điện Thác Bà
Chợ đá quý Lục Yên
Đền Tuần Quán
Cánh đồng Mường Lò
Thác Mơ
Điểm du lịch Hồ Thác Bà
Căng và Đồn Nghĩa Lộ
Suối khoáng Bản Bon, Bản Hốc
Táo mèo
Suối Giàng
Đền Đông Cuông
Lăng Mộ Nguyễn Thái Học và di tích Khởi nghĩa Yên Bái
Chiến khu Vần
== Giáo dục ==
Sự nghiệp giáo dục và đào tạo của tỉnh có truyền thống từ lâu và chuyển biến tích cực và đạt được những kết quả quan trọng trong những năm gần đây. Hệ thống giáo dục và đào tạo được củng cố, phát triển. Quy mô giáo dục tăng nhanh, các cấp học, ngành học từ giáo dục mầm non đến giáo dục đại học, từ giáo dục chính quy đến giáo dục thường xuyên dần hoàn thiện. Công tác đào tạo đã có một số chuyển biến tích cực, đáp ứng một phần nguồn nhân lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Hiện nay toàn ngành đang tích cực triển khai thực hiện Nghị quyết 10-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Nghị quyết về đẩy mạnh phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2009 - 2015. Một số trường học có uy tín tại Yên Bái
Trường CĐSP Yên Bái
Trường THPT chuyên Nguyễn Tất Thành
Trường THPT Nguyễn Huệ
Trường TH Nguyễn Thái Học
Trường THPT Lý Thường Kiệt
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Tỉnh Yên Bái
Báo Yên Bái |
phòng trưng bày quốc gia jeu de paume.txt | Phòng trưng bày quốc gia Jeu de Paume (tiếng Pháp: Galerie nationale du Jeu de Paume) là một địa điểm dành cho các cuộc triển lãm nghệ thuật ở Paris. Tòa nhà của phòng triển lãm nằm trong vườn Tuileries, vốn là một phòng dành cho môn thể thao jeu de paume, xây dựng từ giữa thế kỷ 19. Trong thế kỷ 20, công trình trở thành bảo tàng Jeu de Paume với bộ sưu tập nghệ thuật hiện đại rồi hội họa Ấn tượng. Ngày nay Jeu de Paume là nơi tổ chức các triển lãm nghệ thuật đương đại, bao gồm nhiếp ảnh, video, tạo hình, điện ảnh...
== Phòng triển lãm ==
Nằm ở cuối vườn Tuileries, phía quảng trường Concorde, phòng trưng bày Jeu de Paume đối xứng với bảo tàng Orangerie. Tòa nhà Jeu de Paume có kiến trúc trải dài, dọc theo phố Rivoli, kích thước 80 x 13 m. Tổng diện tích của công trình là 2754,50 m², trong đó 1137 m² dành cho không gian triển lãm, chia thành 9 phòng. Phần lớn các phòng triển lãm có sàn ở độ cao 4,5 m. Từng là một bảo tàng trưng bày bộ sưu tập quan trọng của hội họa Ấn tượng, ngày nay Jeu de Paume chỉ còn là một gallery dành cho nghệ thuật đương đại.
Hiệp hội Jeu de Paume được thành lập vào tháng 5 năm 2004 với sự kết hợp của ba hội: Phòng trưng bày quốc gia Jeu de Paume, Trung tâm quốc gia nhiếp ảnh và hội Di dản nhiếp ảnh. Với sự trợ cấp của Bộ Văn hóa Pháp và một số tổ chức cá nhân, ngoài địa điểm chính Jeu de Paume, hiệp hội còn có phòng triển lãm trong dinh thự Sully ở khu phố Le Marais, Quận 4. Ngoài ra, đôi khi các cuộc triển lãm cũng được tổ chức ở địa điểm khác. Bên cạnh hoạt động chính, hiệp hội còn tổ chức các buổi gặp gỡ, giáo dục...
== Lịch sử ==
Tòa nhà Jeu de Paume được xây dựng năm 1861 dưới thời Napoléon III trong khu vườn Tuileries. Mục đích ban đầu, đúng như cái tên, công trình được dành cho phòng chơi jeu de paume. Từ năm 1909, công trình trở thành phòng triển lãm nghệ thuật. Đến năm 1922, sau khi được sửa chữa lại, Jeu de Paume trở thành một bào tàng trưng bày thường xuyên và vẫn tiếp tục giữ chức năng phòng triển lãm. Từ khoảng thời gian này, Jeu de Paume là nơi lưu trữ, trưng bày các tác phẩm trường phái ngoại quốc đương đại.
Từ năm 1930, nhờ chính sách mua lại, Jeu de Paume có thêm nhiều tác phẩm thuộc trường phái Paris như của các họa sĩ Amedeo Modigliani, Kees Van Dongen, Pablo Picasso, Marc Chagall... Từ 1932, Jeu de Paume có được dáng vẻ như hiện nay. Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, đây vẫn là nơi dành cho các cuộc triển lãm nghệ thuật hiện đại. Khi Paris bị chiếm đóng, Quân đội Đức trưng dụng Jeu de Paume, bảo tàng trở thành nhà kho.
Năm 1947, bảo tàng mang tên Jeu de Paume chính thức được thành lập, trở thành nơi trưng bày các tác phẩm hội họa Trường phái ấn tượng. Tới năm 1957, một lần nữa Jeu de Paume được sửa chữa, các phòng được trang bị điều hòa không khí và thiết kế tận dụng ánh sáng tự nhiên. Tuy vậy, không gian của Jeu de Paume trở nên nhỏ hẹp bởi lượng khách viếng thăm qua đông. Năm 1986, bảo tàng Orsay mở cửa. Bộ sưu tập Ấn tượng của Jeu de Paume được chuyển về bảo tàng mới.
Tháng 9 năm 1987, kiến trúc sư Antoine Stinco được chọn để thực hiện cải tạo lại tòa nhà. Không thay đổi vẻ bên ngoài, Antoine Stinco thiết kế lại nội thất, tạo thêm các không gian triển lãm, một khánh phòng, một hiệu sách và quán cà phê. Các phòng đón ánh sáng tự nhiên, mở ra vườn Tuileries, quảng trường Concorde, về hướng sông Seine và điện Invalides. Tháng 7 năm 1991, Tổng thống François Mitterrand khánh thành Phòng trưng bày quốc gia Jeu de Paume.
Hiện nay Jeu de Paume được dành cho các triển lãm nghệ thuật hiện đại và đương đại. Từ 2004, phòng trưng bày bắt đầu được cả dành cho thể loại điện ảnh và video.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chính thức của hiệp hội Jeu de Paume |
escudo cabo verde.txt | Escudo (ký hiệu:
S
∥
{\displaystyle \mathrm {S} \!\!\!\Vert }
; ISO 4217: CVE) là đơn vị tiền tệ của nước Cộng hòa Cabo Verde.
Biểu tượng cifrão được dùng như dấu ngăn cách phần thập phân khi viết số tiền, chẳng hạn 20
S
∥
{\displaystyle \mathrm {S} \!\!\!\Vert }
00 nghĩa là 20 escudo Cabo Verde, hoặc 1.000
S
∥
{\displaystyle \mathrm {S} \!\!\!\Vert }
00 nghĩa là 1000 escudo Cabo Verde.
== Lịch sử ==
Đồng escudo trở thành tiền tệ của Cabo Verde vào năm 1914, thay thế cho đồng real Cabo Verde với tỉ lệ quy đổi 1000 réis = 1 escudo. Cho đến năm 1930, Cabo Verde vẫn dùng tiền xu của Bồ Đào Nha, mặc dù giấy bạc ngân hàng do Banco Nacional Ultramarino phát hành riêng cho Cabo Verde đã có từ năm 1865.
Cho đến thời khắc độc lập vào năm 1975, escudo Cabo Verde vẫn có giá trị tương đương với escudo Bồ Đào Nha. Sau đó, nó bắt đầu trượt giá, trong hai năm 1977-1978 đã mất giá đến 30% giá trị và trong các năm 1982-1984 thì mất thêm 40% giá trị nữa. Thời gian sau này, đồng escudo Cabo Verde khá ổn định so với escudo Bồ Đào Nha.
Giữa năm 1998, một thỏa thuận được ký giữa Cabo Verde và Bồ Đào Nha, theo đó đồng escudo Cabo Verde được neo tỷ giá vào đồng escudo Bồ Đào Nha theo tỷ giá 1 escudo Bồ Đào Nha = 0,55 escudo Cabo Verde. Từ ngày đồng escudo Bồ Đào Nha bị thay thế bởi euro, escudo Cabo Verde chuyển sang neo tỷ giá vào euro với tỷ giá 1 euro = 110
S
∥
{\displaystyle \mathrm {S} \!\!\!\Vert }
265.
== Tiền xu ==
Dưới sự cai trị của Bồ Đào Nha, tiền xu được phát hành ở Cabo Verde vào năm 1930 với các mệnh giá 5, 10, 20 và 50 centavo và 1 escudo. Các mệnh giá 5, 10 và 20 centavo được đúc bằng đồng thiếc trong khi các mệnh giá 50 centavo và 1 escudo được đúc bằng nickel-đồng thiếc. Năm 1953, phát hành đồng xu 1 escudo bằng đồng thiếc, 2½ escudo bằng nickel-đồng thiếc và 10 escudo bằng bạc, tiếp sau đó là 50 centavo bằng đồng thiếc và 5 escudo bằng nickel-đồng thiếc vào năm 1968.
Sau ngày độc lập khỏi Bồ Đào Nha, Cabo Verde phát hành tiền xu vào năm 1977 với các mệnh giá 20 và 50 centavo, 1, 2½, 10, 20 và 50 escudo. Đồng xu centavo được đúc bằng nhôm, 1 và 2½ escudo được đúc bằng nickel-đồng thiếc, còn các tiền xu mệnh giá cao hơn thì đúc bằng đồng-nickel. Do tình trạng lạm phát kéo dài, tiền xu centavo dần biến mất khỏi lưu thông, theo thời gian chỉ còn đồng xu 1 escudo là đồng xu mệnh giá nhỏ nhất còn trong lưu thông.
Bộ tiền xu hiện hành được ra mắt năm 1994. Mệnh giá nhỏ nhất là 1 escudo, được đúc bằng thép mạ đồng thau. Các mệnh giá cao hơn là 5 escudo (đúc bằng thép mạ đồng); 10, 20 và 50 escudo (đúc bằng thép mạ nickel) và 100 escudo (hình thập giác, lưỡng kim). Đồng 1 escudo lưu thông không tốt lắm, và giới thương nhân có xu hướng làm tròn số về 5 escudo. Tiền xu 1 escudo chỉ có một kiểu cách duy nhất: trên đó khắc hình con rùa biển. Các tiền xu mệnh giá cao hơn có ba loại kiểu cách khác nhau. Một kiểu là khắc động vật bản xứ (chim, bò sát), một kiểu là khắc hình những con tàu lịch sử kèm tên của chúng, còn kiểu thứ ba là khắc hình cây cối bản xứ. Đồng xu 200 escudo có hình thất giác được phát hành năm 1995 để kỉ niệm 50 năm Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc và 20 năm ngày độc lập của Cabo Verde. Năm 2005, Cabo Verde phát hành đồng xu 200 escudo (lần này có hình tròn) để kỉ niệm 30 năm ngày độc lập. Tiền xu mệnh giá 200 escudo lưu thông không được rộng rãi lắm song vẫn được chấp nhận bên cạnh tiền giấy mệnh giá 200 escudo.
== Giấy bạc ==
Năm 1914, Banco Nacional Ultramarino giới thiệu tiền giấy mệnh giá 4, 5, 10, 20 và 50 centavo. Năm 1921, tiền giấy mệnh giá 1, 5, 10, 20, 50 và 100 escudo được phát hành. Bộ tiền giấy tiếp theo được ra mắt năm 1945, bỏ đi tất cả các mệnh giá nhỏ hơn 5 escudo (đã được thay bằng tiền xu) và bổ sung tiền giấy mệnh giá 500 escudo. Tiền giấy 10 escudo bị thay bằng tiền xu vào năm 1953, đồng thời tiền giấy 5 escudo cũng bị rút khỏi lưu thông.
Sau ngày độc lập 5 tháng 7 năm 1975, tiền giấy được phát hành với các mệnh giá 100, 500, and 1000 escudo vào ngày 1 tháng 7 năm 1977. Sê ri tiền giấy tiếp theo được ra mắt năm 1989 và gồm các mệnh giá 100, 200, 500, 1000 and 2500 escudo.
Sê ri tiền giấy thứ ba được giới thiệu năm 1992 với các mệnh giá 200, 500, 1000; đến năm 1999 thì bổ sung thêm mệnh giá 2000 và 5000 escudo. Năm 2005, người ta thiết kế lại tiền giấy mệnh giá 200, tiếp sau đó là 500 và 1000 escudo vào năm 2007.
== tỷ giá hối đoái ==
¹ - Euro ra mắt ngày 1 tháng 1 năm 1999, đến 1 tháng 1 năm 2002 thì mới lưu thông.
² - Đồng tiền đã bị bỏ từ tháng 3 năm 2002.
Note: Các tỷ giá hối đoái được lấy từ nguồn web xe.com có thể mâu thuẫn với tỷ giá cố định nêu ở trên.
== Xem thêm ==
Kinh tế Cabo Verde
== Tham khảo == |
lãng mạn.txt | Lãng mạn là một thể loại văn học nghệ thuật thường được viết dưới dạng văn xuôi hay thơ, phổ biến trong thời kì Trung Cổ ở châu Âu. Yếu tố "lãng mạn" ngày nay thường thấy trong các dạng tiểu thuyết, truyện cổ tích, truyện tranh hay phim ảnh.
Đầu tiên, văn học lãng mạn được viết bằng tiếng Pháp cổ, Anh-Norman và Occitan, sau đó xuất hiện bằng tiếng Anh và tiếng Đức. Từ thế kỷ 13, thể loại này dần được viết thành kịch. Trong tiểu thuyết lãng mạn sau này, đặc biệt bắt nguồn từ Pháp, yếu tố lãng mạn thường nhấn mạnh vào các câu chuyện tình lịch sử. Một thể loại khác song song với lãng mạn là Gothic, trong đó kết hợp cả yếu tố kỳ ảo. "lãng mạn' còn để chỉ nhưng con sóng sô vào bờ nhè nhẹ rồi từ xa vào tới bờ mạn mạn nhẹ nhàng quyến luyến"
== Tham khảo == |
qualcomm.txt | Qualcomm Incorporated là một công ty bán dẫn toàn cầu của Mỹ chuyên thiết kế và tiếp thị các sản phẩm và dịch vụ viễn thông không dây, có trụ sở tại San Diego, California, Mỹ, với có 157 văn phòng trên toàn thế giới.
Công ty mẹ là Qualcomm Incorporated (Qualcomm), trong đó bao gồm Licensing Division Qualcomm Technologies (QTL). Công ty con thuộc Qualcomm sở hữu toàn bộ, Qualcomm Technologies, Inc (QTI), đảm trách gần như tất cả các hoạt động nghiên cứu và phát triển của Qualcomm, cũng như các sản phẩm và dịch vụ kinh doanh của mình, bao gồm cả doanh nghiệp bán dẫn của nó, Qualcomm CDMA Technologies. Trong tháng 11 năm 2014, Qualcomm CEO Steve Mollenkopf công bố tại cuộc họp ngày phân tích hàng năm của công ty được tổ chức tại Thành phố New York rằng công ty đang có kế hoạch nhắm vào thị trường trung tâm dữ liệu với các chip máy chủ mới dựa trên công nghệ ARM và có kế hoạch thương mại hóa sản phẩm này cuối năm 2015.
== Lịch sử ==
Qualcomm đã được thành lập vào năm 1985 bởi cựu sinh viên MIT và là giáo sư đại học UC San Diego Irwin M. Jacobs, cựu sinh viên USC MIT Andrew Viterbi, Harvey White, Adelia Coffman, Andrew Cohen, Klein Gilhousen, và Franklin Antonio. Jacobs và Viterbi trước đây đã thành lập Linkabit. Sản phẩm và dịch vụ đầu tiên của Qualcomm bao gồm định vị vệ tinh và tin nhắn dịch vụ OmniTRACS, được sử dụng bởi các công ty vận tải đường dài, được phát triển từ một sản phẩm gọi là Omninet thuộc sở hữu của Parviz Nazarian và Neil Kadisha, và mạch tích hợp chuyên dụng cho thông tin vô tuyến kỹ thuật số như một bộ giải mã Viterbi.
== Tham khảo == |
rougemont, doubs.txt | Rougemont là một xã của tỉnh Doubs, thuộc vùng Franche-Comté, miền đông nước Pháp.
== Dân số ==
== Xem thêm ==
Xã của tỉnh Doubs
== Tham khảo ==
INSEE (tiếng Anh)
IGN (tiếng Anh)
Rougemont on the regional Web site (tiếng Pháp)
== Liên kết ngoài ==
Official Web site |
nhà thờ lớn hà nội.txt | Nhà thờ Lớn Hà Nội (tên chính thức: Nhà thờ chính tòa Thánh Giuse) là nhà thờ chính tòa của Tổng giáo phận Hà Nội, nơi có ngai tòa của tổng Giám mục. Đây cũng là một nhà thờ cổ tại thành phố này, thường xuyên diễn ra các sinh hoạt tín ngưỡng của các giáo dân thuộc tổng giáo phận Hà Nội.
== Lịch sử ==
=== Khu đất ===
Theo một số tài liệu lịch sử như sách của Louvet "La vie de Mgr. Puginier", tiểu thuyết lịch sử "Bóng nước Hồ Gươm" của Chu Thiên, các tài liệu trong Văn khố Hội Thừa sai Paris (M.E.P.) … thì khu đất này xưa kia là khu đất của Báo Thiên Tự (Chùa tháp Báo Thiên) được xây dựng từ đời Nhà Lý. Đây là một ngôi quốc tự nổi tiếng của kinh đô Đại Việt trong suốt các triều đại từ Lý-Trần. Đến thời Lê – Nguyễn, đây vẫn là nơi diễn ra các nghi lễ Phật giáo cầu cho quốc thái dân an...
Theo Bùi Thiết trong Tự điển Hà Nội địa danh, chùa Báo Thiên đến cuối thế kỷ 18 đã bị phá hủy và nền chùa cũ trở thành đất họp chợ trước khi chuyển giao cho nhà thờ. Còn ông Thống sứ Bắc Kỳ Raoul Bonnal, người chứng kiến việc chuyển giao khu đất, đã viết trong cuốn Au Tonkin rằng Tổng đốc Nguyễn Hữu Độ đã cố gắng lấy lòng Giám mục bằng cách lấy lý do ngôi chùa đã đổ nát và không tìm thấy hậu duệ của người thành lập ngôi chùa nên đã cho phá sập và chuyển nhượng khu đất cho nhà thờ. Tuy nhiên, trên thực tế, theo tài liệu của André Masson thì khu vực Nhà thờ thuộc trong khuôn viên của chùa Báo Thiên. Theo sách Từ điển Đường Phố Hà Nội của Đại Học Hà Nội xuất bản viết rõ: "Nền nhà thờ hiện nay nguyên là nền đất chùa Báo Thiên rất nổi tiếng, ở đây còn có một tháp gọi là tháp Báo Thiên".
=== Xây dựng ===
Sau nhà thờ tạm bằng gỗ, từ năm 1884-1888, Giáo hội Công giáo tiến hành xây nhà thờ bằng gạch, tốn phí khoảng 200.000 franc Pháp. Khi đó, Giám mục xin chính quyền bảo hộ Pháp cho mở xổ số để quyên góp. Sau hai lần bị từ chối, cuối cùng ông cũng được chấp thuận mở hai đợt xổ số (đợt một năm 1883, đợt hai năm 1886), quyên góp được khoảng 30.000 franc Pháp, cộng với các nguồn tài trợ khác, đủ kinh phí hoàn thành nhà thờ vào năm 1886.
Nguyên thủy, nhà thờ này có tên là Nhà thờ Thánh Giuse (Saint Joseph) do vào năm 1678, Giáo hoàng Innôcentê XI tôn phong Thánh Giuse (cha nuôi của Chúa Giêsu) làm thánh quan thầy của nước Việt Nam và các nước lân cận. Chính vì vậy, ngôi thánh đường lớn nhất ở Hà Nội được tôn phong là "Nhà thờ chính tòa kính Thánh Giuse". Lễ khánh thành được tổ chức đúng vào lễ Giáng sinh năm Đinh Hợi (1887).
Nhà thờ hiện nay tọa lạc tại số 40 phố Nhà Chung, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, nằm trên một khu đất rộng, liền kề với tòa tổng Giám mục Hà Nội, Đại chủng viện Thánh Giuse Hà Nội, Dòng Mến Thánh Giá Hà Nội.
== Kiến trúc ==
Nhà thờ được thiết kế theo phong cách kiến trúc Gothic trung cổ châu Âu, rất thịnh hành trong thế kỷ 12 và thời Phục Hưng ở châu Âu, làm theo mẫu của Nhà thờ Đức Bà Paris với những mái vòm uốn cong, rộng, hướng lên bầu trời. Vật liệu xây dựng chính của nhà thờ là gạch đất nung, tường trát bằng giấy bổi. Nhà thờ có chiều dài 64,5m, chiều rộng 20,5m và hai tháp chuông cao 31,5m với những trụ đá to nặng bốn góc. Trên đỉnh là cây thánh giá bằng đá.
Phía sảnh trong nhà thờ, có một cửa đi lớn, hai cửa nhỏ hai bên tháp. Các cửa đi và toàn bộ các cửa sổ đều cuốn nhọn theo nghệ thuật Gothique, kết hợp với các cửa cuốn nhọn là những bức tranh Thánh bằng kính màu rất đẹp và hài hòa tạo ra nguồn ánh sáng tự nhiên bên trong lòng nhà thờ. Khu cung thánh được trang trí theo nghệ thuật dân gian truyền thống, chạm trổ hoa văn bằng gỗ sơn son thiếp vàng rất tinh vi độc đáo. Ở tòa gian chính có tượng thánh Giuse bằng đất nung cao hơn 2m.
Nhà thờ còn có một bộ chuông Tây, gồm bốn quả chuông nhỏ và một quả chuông boòng lớn, trị giá 20.000 franc Pháp thời đó. Đặc biệt là chiếc đồng hồ lớn gắn giữa mặt tiền nhà thờ. Đồng hồ có báo khắc, báo giờ, hệ thống chuông báo được liên kết với 5 quả chuông treo trên hai tháp.
Trung tâm quảng trường phía trước nhà thờ có đài Đức Mẹ bằng kim loại, xung quanh nhà thờ có đường kiệu, bồn hoa, phía sau có hang đá. Hiện nay toàn bộ không gian và cảnh quan nhà thờ bị chen lấn bởi sự phát triển của đô thị, mất đi sự tương xứng với quy mô đồ sộ của nhà thờ.
== Hoạt động ==
Nhà thờ lớn Hà Nội là Nhà thờ chính tòa của Tổng Giáo phận Hà Nội, là một trong những trung tâm của các hoạt động Công giáo tại Hà Nội và các vùng phụ cận. Ngày thường, nhà thờ có 2 thánh lễ, ngày Chủ nhật có 7 thánh lễ. Ngoài ra, nhà thờ còn tổ chức lễ rước thánh Quan thầy của Tổng giáo phận Hà Nội là Thánh Giuse vào ngày 19 tháng 3 hàng năm.
Phó giáo sư Chu Thiên Lan, giảng viên tại khoa Ngoại giao và Đối ngoại, Đại học Occidental, California, có luận án tiến sĩ ở Đại học George Washington năm 2005 về vai trò của Giáo hội Công giáo tại các nước cộng sản, cho biết (5.10.2008) là các hoạt động không phải lúc nào cũng suôn sẻ, "Từ nhiều năm qua, mọi người đã nghe tiếng nhạc disco vang lên từ tòa Khâm cũ với âm lượng đinh tai nhức óc từ sáng sớm, lấn át những buổi cầu kinh trong nhà Thờ Lớn."
== Xem thêm ==
Giáo hội Công giáo Rôma
Nhà thờ Cửa Bắc
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Báo chí Mỹ: Giáo dân Việt Nam không gặp khó khăn trong việc cử hành thánh lễ
Lễ giáng sinh
Giờ lễ tại nhà thờ Lớn Hà Nội và bản đồ vị trí |
laurent blanc.txt | Laurent Blanc (sinh ngày 19 tháng 5 năm 1965 tại Alès, Pháp) là một cựu cầu thủ bóng đá nổi tiếng. Trước đây, ông từng làm huấn luyện viên trưởng đội tuyển quốc gia Pháp. Trước đó, ông từng làm huấn luyện viên cho câu lạc bộ Bordeaux tới chức vô địch Ligue 1 mùa giải 2009-2010. Ông từng là nhà vô địch thế giới ở World Cup 1998 tại quê nhà và là nhà vô địch châu Âu 2 năm sau đó tại Euro 2000. Sự nghiệp cầu thủ nổi tiếng của ông cũng từng qua rất nhiều đội bóng lớn như FC Barcelona, Marseille, Inter Milan hay Manchester United. Hiện tại ông đang là huấn luyện viên của Paris Saint Germain thay thế cho huấn luyện viên Carlo Ancelotti chuyển qua dẫn dắt Real Marid, nhưng mùa hè năm 2016 ông đã bất ngờ từ chức.
== Danh hiệu ==
=== Cầu thủ ===
Montpellier
Vô địch Cúp Pháp (Coupe de France): 1990
Auxerre
Vô địch Hạng nhất Pháp (Division 1) : 1996
Vô địch Cúp Pháp (Coupe de France): 1996
FC Barcelona
Vô địch Siêu cúp Tây Ban Nha (Supercopa de España): 1996
Vô địch UEFA Cup Winners' Cup (C2): 1997
Vô địch Cúp nhà vua (Copa del Rey): 1997
Marseille
Á quân UEFA Cúp: 1999
Á quân Ligue 1: 1999
Inter Milan
Vô địch Serie B: 2000
Manchester United
Vô địch Ngoại hạng Anh (Premier League): 2003
Bán kết Champions League: 2002
ĐT France
Vô địch Cúp Thế giới (FIFA World Cup) : 1998
Vô địch Cúp châu Âu (UEFA European Football Championship): 2000
Bán kết Euro: 1996
Bán kết
France U-21
Vô địch Cúp châu Âu (UEFA European Under-21 Football Championship): 1988
=== Huấn luyện viên ===
Girondins de Bordeauux
Tứ kết Champions League: 2010
Vô địch Ligue 1: 2009
Á quân Ligue 1: 2008
Vô địch Siêu cúp Pháp (Trophee des Champions): 2008, 2009
Vô địch Cúp Liên đoàn (Coupe de la Ligue): 2009
Á quân Cúp Liên đoàn (Coupe de la Ligue): 2010
ĐT Pháp
Tứ kết châu Âu (Euro): 2012
Pairs Saint Germain
Vô địch Ligue 1: 2014, 2015, 2016
Vô địch Cúp Pháp (Coupe de France): 2015,2016
Vô địch Cúp Liên đoàn (Coupe de la Ligue): 2014, 2015,2016
Vô địch Siêu cúp Pháp (Trophee des Champions): 2013, 2014, 2015
Tứ kết Champions League: 2013, 2015, 2016
HLV Xuất sắc nhất Ligue 1: 2015,2016
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Profile at Liên đoàn bóng đá Pháp
Profile at Soccerbase.com
Laurent Blanc at Goal.com
Laurent Blanc at Eurosport.com
PSG Official Website (tiếng Anh) |
thái bình thiên quốc.txt | Thái Bình Thiên Quốc (chữ Hán phồn thể: 太平天國, chữ Hán giản thể: 太平天国; 1851–1864) là một nhà nước trong lịch sử Trung Quốc được hình thành từ cuộc nổi dậy của nông dân do Hồng Tú Toàn (洪秀全) cầm đầu vào giữa thế kỷ 19. Thái Bình Thiên Quốc có lãnh thổ trải rộng từ sông Dương Tử xuống phía nam Trung Quốc với trên 16 tỉnh và hơn 600 thị, có thủ đô là Thiên Kinh (Nam Kinh).
Lịch sử phát triển và suy vong của Thái Bình Thiên Quốc gắn liền với cuộc đấu tranh của người dân Trung Quốc chống lại sự cai trị của nhà Thanh và sự xâm lăng của các thế lực phương Tây.
Cuộc chiến tranh giữa Thái Bình Thiên Quốc và các thế lực đối kháng được coi là một trong những cuộc chiến khốc liệt nhất trong thế kỷ 19 ở Trung Quốc. Theo thống kê không chính thức nó đã tước đi sinh mạng của hơn 20 triệu người, bao gồm thường dân và quan quân, nhưng cũng có nguồn cho rằng số người chết lên đến khoảng 50 triệu người. Sau cuộc chiến chống lại Thái Bình Thiên Quốc, nhà Thanh đã kiệt quệ và đành phải chứng kiến các nước phương Tây xâm chiếm những vùng đất duyên hải, áp đặt các đặc quyền thương mại trên đất Trung Hoa.
== Sự hình thành và phát triển ==
Năm 1843, Hồng Tú Toàn, một nho sĩ bất mãn với xã hội phong kiến lúc bấy giờ, đã kết hợp với những lý luận cơ bản về lấy chủ nghĩa bình đẳng của đạo Thiên Chúa làm gốc, sáng lập ra đạo "Bái Thượng đế" để tập hợp người dân chống lại chính quyền. Ông tự nhận mình người được Thượng đế phong Vương cử xuống trần thế thiên hành đạo, giúp người dân chống lại Thanh triều.
Năm 1847 – 1848, hai tỉnh Lưỡng Quảng bị nạn đói, giặc cướp khắp nơi, Hồng Tú Toàn hợp cùng một nhóm bạn đồng học đồng hương như Dương Tú Thanh, Tiêu Triều Quý, Thạch Đạt Khai dấy binh nổi dậy ở Kim Điền - Quảng Tây, với khẩu hiệu "Phản Thanh, diệt tham ô tàn bạo, khôi phục lại nhà Minh". Quân nổi dậy được sự ủng hộ mạnh mẽ của người dân nghèo, chỉ trong một thời gian ngắn đã lên tới hàng trăm vạn người. Quân nổi dậy cả nam lẫn nữ đều để tóc dài, chống lại lệnh để bím tóc đuôi sam của triều đình Mãn Thanh - nên sử nhà Thanh thường gọi là "Giặc tóc dài".
Thế lực của quân Hồng Tú Toàn rất mạnh, chỉ trong vòng chưa đầy nửa năm họ đã chiếm được hết hơn 16 tỉnh, 600 thị trấn..., làm triều đình nhà Thanh lung lay đến tận gốc rễ. Tháng 3 năm 1853, quân nổi dậy chiếm được thành phố quan trọng phía nam của Mãn Thanh là Nam Kinh. Hồng Tú Toàn đã quyết định đổi tên thành phố thành Thiên Kinh và lấy đó làm thủ đô của Thái Bình Thiên Quốc.
Vào thời điểm cực thịnh của mình, lãnh thổ Thái Bình Thiên Quốc bao trùm hầu hết miền trung và miền nam Trung Quốc. Tuy nhiên Thái Bình Thiên Quốc không nắm được bất kì một cảng biển quan trọng nào của vùng duyên hải. Chính điều này đã phần nào đưa chính quyền Thiên Quốc vào tình trạng bị cô lập và không có các quan hệ thương mại với bên ngoài.
=== Chính sách quản lý nhà nước ===
Sau khi lập quốc, Hồng Tú Toàn đã ban hành chính sách cai trị như sau:
Về tôn giáo, đạo đức, có 10 khoản phỏng theo thập giới của đạo Ki Tô: phải thờ phụng Thượng đế, không thờ phụng các tôn giáo khác (cấm thờ Khổng, Lão, Phật..., cấm cả thờ ông bà), mỗi tuần bảy ngày, ngày nào cũng phải tán tụng ân đức của Thượng đế, phải hiếu thuận với cha mẹ, không giết người, không tà dâm, không trộm cướp, không nói láo.
Chính sách xã hội: những người già cả, góa vợ, góa chồng, những người cô độc, hoặc trẻ em, không cày ruộng được chính phủ cấp dưỡng.
Nghiêm cấm các tập tục như thói đàn bà bó chân, thói hút thuốc phiện, uống rượu, đánh bạc, mua bán nô tì, nuôi nàng hầu.
Quan chế, binh chế (lược bỏ)
Điền chế: ruộng đất, vàng bạc là của chung, không ai được giữ làm của riêng; ruộng thì chính quyền phân phát cho, dân cùng nhau cày cấy, cùng ăn cùng mặc, có tiền thì cùng tiêu, người nào trữ mười lạng bạc hoặc một lạng vàng thì bị trừng phạt.
Chế độ đó là chế độ cộng sản, lần đầu tiên Hồng Tú Toàn đem áp dụng ở Trung Quốc, nhưng vì năm nào cũng có chiến tranh chưa thực hành được trọn.
Dùng lịch mới, gọi là Thiên lịch: mỗi năm gồm 366 ngày, chia làm 12 tháng, tháng lẻ 31 ngày, tháng chẵn 30 ngày, như vậy cứ 4 năm, dôi ra 3 ngày, thi hành được 5 năm sau đó thấy sai lệch mới phải sửa lại.
Chế độ thi cử: vì Thái Bình Thiên quốc đề xướng nam nữ bình đẳng, nên cho cả nam nữ đi thi như nhau, lập ra hai bảng một cho nam và một cho nữ. Có chủ khảo riêng cho nam thí sinh, chủ khảo riêng cho nữ thí sinh. Phía nữ cũng lấy một người đậu Trạng nguyên, đó là một đặc sắc của Thái Bình Thiên Quốc.
Tuy nhiên, các chính sách không có hiệu quả vì được tiến hành không theo một chủ trương chung; tất cả mọi cố gắng đều dồn vào quân đội và việc quản lý dân sự rất kém. Trong khi chính quyền cấm chế độ đa thê, Hồng Tú Toàn lại có 88 vợ. Nhiều viên chức trong chính quyền Thái Bình Thiên Quốc cũng có nhiều vợ và sống như vua.
=== Cơ cấu bộ máy nhà nước ===
Bộ máy nhà nước của Thái Bình Thiên Quốc được xây dựng xung quanh các lãnh tụ của cuộc khởi nghĩa. Người đứng đầu nhà nước là Thiên Vương Hồng Tú Toàn, có quyền quyết định tối cao về các vấn đề quân sự, chính trị và tôn giáo. Tuy nhiên những năm cuối đời Thiên Vương thực chất chỉ đảm nhiệm những vấn đề tôn giáo.
Đứng sau Thiên Vương là các Vương gia, họ được phân quản lý các vùng trên lãnh thổ của Thái Bình Thiên Quốc. Ban đầu lập quốc Thái Bình Thiên Quốc có 5 vương gia, bao gồm Bắc Vương Vi Xương Huy, Nam Vương Phùng Vân Sơn, Đông Vương Dương Tú Thanh, Tây Vương Tiêu Triều Quý và Dực Vương Thạch Đạt Khai. Sau này có thêm Trung Vương Lý Tú Thành, Phú Vương, Tĩnh Vương, Anh Vương Trần Ngọc Thành v.v. Vào thời kỳ cuối của Thiên quốc, tổng cộng có khoảng 2000 người được phong vương.
==== Bảy vương gia thời kì đầu ====
Ở mức thấp hơn Vương gia là các Hầu và Công chúa, Thừa tướng. Vai trò của những người này chủ yếu là quản lý về mặt quân sự và trợ lý cho các Vương.
==== Các hầu gia thời kì đầu ====
==== Các vương gia quan trọng thời kì sau ====
Can vương Hồng Nhân Can
Anh vương Trần Ngọc Thành
Trung vương Lý Tú Thành
Tán vương Mông Đắc Ân
Thị vương Lý Thế Hiền
Phụ vương Dương Phụ Thanh
Phù vương Trần Đắc Tài
Khải vương Lương Thành Phú
Tuân vương Lại Văn Quang
Hỗ vương Lam Thành Xuân
Mộ vương Đàm Thiệu Quang
Nhìn chung bộ máy nhà nước của Thái Bình Thiên Quốc khá đơn giản và mang nặng tính quân sự. Có lẽ nó xuất phát từ hoàn cảnh chiến tranh, tuy nhiên chính vì vậy việc quản lý kinh tế của nhà nước này cũng rất lỏng lẻo và thiếu hiệu quả. Mặc dù chiếm được vùng lãnh thổ rất lớn nhưng thực chất Thái Bình Thiên Quốc chỉ quản lý được các đô thị, còn tại các địa phương và các vùng nông thôn việc quản lý nhà nước hầu như bị bỏ ngỏ - chính quyền trung ương chỉ tập trung quản lý nhân khẩu để bổ túc lực lượng cho quân đội.
== Sự sụp đổ của Thái Bình Thiên Quốc ==
Sau các chiến thắng trước triều đình Mãn Thanh, theo các sử gia, Hồng Tú Toàn và các tướng lĩnh của Thái Bình Thiên Quốc đã có một quyết định sai lầm chiến lược khi không tiếp tục các chiến dịch quân sự mạnh mẽ chống lại triều đình Mãn Thanh nữa, mà rút về xây dựng bộ máy quản lý tại các vùng đã chiếm được. Chính sai lầm về chiến lược phát triển này đã cho phép nhà Thanh có thời gian để bình tĩnh khôi phục lại lực lượng để phòng thủ và sau đó là phản công lại Thái Bình Thiên Quốc.
Cuộc chiến giữa Thái Bình Thiên Quốc và nhà Mãn Thanh kéo dài dai dẳng trong hơn một thập kỉ. Lực lượng quân sự của nhà Thanh với các vũ khí tiên tiến từ các nước phương Tây đã dần chiếm ưu thế. Cùng trong thời gian đó nội bộ lãnh đạo của Thái Bình Thiên Quốc cũng bắt đầu có mâu thuẫn, xung đột tranh giành quyền lực. Bản thân bộ máy quản lý nhà nước của Thái Bình Thiên Quốc cũng không được vận hành tốt do thiếu nhân lực có trình độ, dẫn tới việc nhà nước thực chất chỉ quản lý được các đô thị trên những vùng lãnh thổ mà họ kiểm soát. Trong sức ép của chiến tranh và sự quản lý nhà nước yếu kém, Thái Bình Thiên Quốc dần dần suy tàn.
Năm 1864, Tằng Quốc Phiên và Lý Hồng Chương chỉ huy quân Thanh chiếm lại thủ đô Thiên Kinh của Thái Bình Thiên Quốc. Hồng Tú Toàn tự tử, quân đội và chính quyền của Thái Bình Thiên Quốc tan rã chấm dứt 15 năm tồn tại của một nhà nước độc lập trong lòng Trung Hoa.
Nguyên nhân sụp đổ của nhà nước Thái Bình Thiên Quốc được các nhà sử học cho là do thiếu tổ chức (chiếm lĩnh đất đai mà không biết cai trị), nội bộ lủng củng (do tranh giành quyền lực đã chia bè cánh sâu sắc) và nhất là mất lòng người (do muốn hủy bỏ hết truyền thống dân tộc). Nhưng Thái Bình Thiên Quốc cũng đã đặt ra một số nền móng mới cho sự phát triển của xã hội Trung Quốc, chẳng hạn việc Hồng Tú Toàn chủ trương bình đẳng giới, cho phụ nữ tham gia cả trong quân đội cũng như bộ máy nhà nước đã đem đến cho người dân Trung Hoa khái niệm mới về nam nữ bình quyền, điều mà sau này đã được đề cao trong cuộc Cách mạng Tân Hợi 1911.
== Tính chất và ý nghĩa lịch sử ==
Thái Bình thiên quốc không phải là phong trào tôn giáo vì thực chất họ chỉ thông qua hình thức tôn giáo để tổ chức, nhờ giáo lý để nói lên ước vọng vào Thượng đế để làm đấng hộ mệnh tập hợp đông đảo quần chúng nhân dân vào cuộc đấu tranh chống cường quyền.
Đây cũng chưa phải là cuộc cách mạng dân chủ tư sản vì lực lượng tham gia chủ yếu là nông dân do vậy chưa đại diện cho một lực lượng sản xuất mới, quan hệ sản xuất mới. Phong trào này xuất thân từ 2 mâu thuẫn cơ bản trong xã hội: Giữa dân chúng Trung Quốc với đế quốc thực dân và giữa nhà nước phong kiến thối nát hủ lậu với quần chúng nhân dân lao động.
Phong trào Thái Bình thiên quốc là phong trào nông dân lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc, được xét đến không chỉ về phạm vi hoạt động mà còn phải kể đến các chính sách đổi mới hết sức quyết liệt và sáng tạo của nó. Lần đầu tiên một cương lĩnh chính trị đã được đưa ra giải quyết được những quan hệ xã hội tồn tại lâu đời, sự sở hữu ruộng đất... Phong trào này làm suy yếu triều đình Mãn Thanh khiến họ khó lòng chống đỡ trước sức ép của các cường quốc phương Tây hoặc đã phương Tây hóa đồng thời chính sự suy yếu này thuận lợi cho các cuộc cách mạng dân chủ, dân tộc sau này. Đây là phong trào nông dân Trung Quốc tiêu biểu trong thế kỷ 19 để lại nhiều kinh nghiệm cho các cuộc cách mạng về sau trong thế kỷ 20.
== Phim ảnh ==
Phong trào Thái Bình thiên quốc đã được chuyển thể thành 2 bộ phim truyền hình cùng tên do Trung Quốc và Hồng Kông lần lượt sản xuất.
Bộ phim Thái Bình Thiên Quốc do Trung Quốc sản xuất năm 1998: đạo diễn Trần Gia Lâm với các nhân vật như: Thiên Vương Hồng Tú Toàn, Hồng Tuyên Kiều, Phó Thiện Tường, Tô Tam Nương, Thạch Ích Dương...
Bộ phim Thái Bình Thiên Quốc do Hồng Kông (TVB) sản xuất năm 1988 với độ dài 45 tập có sự tham gia của các diễn viên: Lữ Lương Vĩ, Trần Mẫn Nhi, Hoàng Nhật Hoa, Đặng Tuỵ Vân, Quách Phú Thành...
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
LỊCH SỬ THÁI BÌNH THIÊN QUỐC: Chương một Quân Thái Bình Thiên Quốc nỗi dậy (1850-1854)
LỊCH SỬ THÁI BÌNH THIÊN QUỐC (II) Những nét đặc trưng về Thái bình thiên quốc
LỊCH SỬ THÁI BÌNH THIÊN QUỐC (III) Sự đối kháng của thế lực truyền thống (1853-1860)
LỊCH SỬ THÁI BÌNH THIÊN QUỐC (IV) Nhà Thanh giành được ngoại viện, Tăng Quốc Phiên trù hoạch chiến đấu
LỊCH SỬ THÁI BÌNH THIÊN QUỐC (V) Thái Bình Thiên Quốc cùng đường |
aichi.txt | Aichi (Nhật: 愛知県 (Ái Tri Huyện), Aichi-ken) là một tỉnh của Nhật Bản thuộc tiểu vùng Tokai, vùng Chubu. Thủ phủ là thành phố Nagoya. Đây là tỉnh có dân số đông thứ tư tại Nhật Bản, xếp sau Tokyo, Osaka và Kanagawa.
== Địa lý ==
== Lịch sử ==
Aichi được thành lập trên cơ sở sáp nhập ba tỉnh cũ là Owari, Mikawa và Ho. Sau thời kì cải cách Taika, Mikawa và Ho được nhập thành một. Đến năm 1871, sau khi hệ thống lãnh địa của các daimyo bị xóa bỏ, Owari trừ phần trên bán đảo Chita, được chuyển đổi thành tỉnh Nagoya. Sau đó, tỉnh Nagoya được đổi tên thành tỉnh Aichi vào tháng 4 năm 1872. Tháng 11 cùng năm, tỉnh cũ Nukuta được nhập vào Aichi.
Triển lãm Expo 2005 World Exposition đã được tổ chức tại Seto và Nagakute.
== Hành chính ==
=== Các thành phố ===
Aichi có 35 thành phố:
=== Các thị trấn và làng ===
Có 24 thị trấn và 2 làng nằm trong 10 quận:
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
== Thể thao ==
== Du lịch ==
Các điểm du lịch đáng chú ý gồm có: bảo tàng kiến trúc ngoài trời Meiji Mura ở Inuyama; các công trình xây dựng cổ từ thời Meiji và Taishō được còn được bảo tồn tại đây, ngoài ra còn có công trình tái hiện hành lang của khách sạn Hoàng đế (Imperial Hotel) do Frank Lloyd Wright thiết kế (tên một khách sạn có thực ở Tokyo từ năm 1923 tới năm 1967).
Một số điểm du lịch khác như: nhà máy ô tô Toyota trong thành phố cùng tên, công viên khỉ ở Inuyama, lâu đài ở Nagoya, Okazaki, Toyohashi và Inuyama.
Do đặc điểm địa lý nằm trên bờ biển phía Đông nước Nhật, tỉnh Aichi có một số cảnh biển tự nhiên nhưng ngoài các bãi biển trên bán đảo Atsumi không có bãi biển nào khác đáng chú ý nếu so sánh với tỉnh liền kề là Shizuoka. Hầu hết điểm du lịch ở đây đều là các di tích lịch sử của vùng hoặc công trình nhân tạo.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của tỉnh (tiếng Nhật) |
quảng châu (thành phố).txt | Quảng Châu (chữ Hán giản thể: 广州, phồn thể: 廣州, pinyin: Guǎngzhōu, Wade-Giles: Kuang-chou, việt phanh: Gwong2zau1, Yale: Gwóngjaū) là thành phố thủ phủ của tỉnh Quảng Đông, miền Nam Trung Quốc, nằm trong đồng bằng châu thổ sông Châu Giang. Tên quốc tế của nó trước đây là Canton. Quảng Châu cách Hồng Kông khoảng 120 km về phía Tây Bắc. Theo số liệu của chính quyền thành phố, năm 2006, dân số thành phố vào khoảng 9.754.600 người.
== Địa lý ==
Quảng Châu nằm trong toạ độ địa lý: 112°57'-114°3' kinh độ Đông và 22°26'-23°56' vĩ độ Bắc. Nằm trong đồng bằng châu thổ sông Châu Giang.
=== Khí hậu ===
== Lịch sử ==
Một số ý kiến cho rằng thành phố đầu tiên được xây dựng trên địa điểm nơi Quảng Châu hiện diện ngày nay là Phiên Ngung (繙禺). Năm 207 trước Công nguyên, Phiên Ngung trở thành kinh đô của nước Nam Việt dưới thời nhà Triệu. Khi nhà Hán thôn tính Nam Việt vào năm 111 trước Công nguyên, Phiên Ngung trở thành tỉnh lỵ và giữ vai trò này cho đến tận ngày nay. Cái tên Quảng Châu vốn là tên châu, tên tỉnh, người dân quen với việc gọi tên thành phố theo tên tỉnh trong một khoảng thời gian dài khiến cho cái tên Phiên Ngung dần bị lãng quên. Năm 1711, Công ty Đông Ấn của Đế quốc Anh thiết lập trạm giao dịch ở thành phố khởi đầu cho sự có mặt của những người châu Âu. Triều đình vua Càn Long buộc những thương nhân nước ngoài phải dồn vào một quận riêng, việc này dẫn đến nhiều biến động cho số phận thành phố về sau. Năm 1842, kết thúc Chiến tranh Nha phiến lần thứ nhất, theo Hiệp ước Nam Kinh, Quảng Châu trở thành "nhượng cảng", cùng với Ninh Ba, Hạ Môn, Phúc Châu và Thượng Hải phải mở cửa cho thương nhân phương Tây tự do giao dịch. Đến năm 1918, thành phố được mang tên chính thức là Quảng Châu. Vào những năm 1930 và 1953, người ta đề xuất trao cho Quảng Châu quy chế thành phố tự trị nhưng những đề xuất trên đều bị huỷ bỏ ngay trong năm. Quân đội Nhật Bản chiếm đóng thành phố này từ năm 1938 đến 1945.
== Thành phố kết nghĩa ==
Fukuoka, Nhật Bản (tháng 5 năm 1979)
Los Angeles, Hoa Kỳ (ngày 2 tháng 3 năm 1982)
Manila, Philippines (tháng 11 năm 1982)
Vancouver, Canada (tháng 3 năm 1985)
Sydney, Úc (tháng 5 năm 1986)
Bari, Ý (tháng 11 năm 1986)
Frankfurt am Main, Đức (ngày 11 tháng 4 năm 1988)
Lyon, Pháp (tháng 11 năm 1988)
Auckland, New Zealand, (tháng 2 năm 1989)
Gwangju, Hàn Quốc (tháng 10 năm 1996)
Linköping, Thụy Điển (tháng 11 năm 1997)
Durban, Cộng hoà Nam Phi (tháng 7 năm 2000)
Bristol, Anh (tháng 5 năm 2001)
Yekaterinburg, Nga (ngày 10 tháng 7 năm 2002)
Huế, Việt Nam (ngày 26 tháng 10 năm 2003
Arequipa, Perú (ngày 27 tháng 10 năm 2004)
== Kinh tế ==
Quảng Châu là trung tâm kinh tế của Đồng bằng châu thổ Châu Giang, đồng thời cũng là trái tim của vùng kinh tế chế xuất hàng đầu Trung Quốc. Năm 2006, GDP của thành phố đạt khoảng hơn 600 tỷ nhân dân tệ (tương đương 76,8 tỷ Đô la Mỹ), GDP bình quân đầu người vào khoảng 85.000 nhân dân tệ (11.000 Đô la Mỹ), đứng đầu trong 659 thành phố ở Trung Quốc.
Hội chợ hàng xuất khẩu Trung Quốc còn gọi là Hội chợ Quảng Châu được tổ chức thường niên vào mùa xuân và mùa thu (bắt đầu từ năm 1957) là một sự kiện thường niên quan trọng của Quảng Châu.
== Hình ảnh về Quảng Châu ==
== Xem thêm ==
Danh sách vùng đô thị châu Á
== Tham khảo == |
jim courier.txt | James Spencer "Jim" Courier (sinh 17 tháng 8 năm 1970 tại Sanford, Mỹ) là cựu tay vợt chuyên nghiệp số 1 thế giới người Mỹ. Trong sự nghiệp, Courier vô địch 4 danh hiệu Grand Slam tại giải đơn, 2 tại Pháp Mở rộng và 2 tại Úc Mở rộng.
== Sự nghiệp quần vợt ==
Khi còn là một tay vợt thiếu niên trong những năm 1980, Courier gia nhập Học viện quần vợt Hoàng gia Nick Bollettieri và vô địch giải đấu uy tín Orange Bowl từ năm 1986 đến 1987 cũng như giải đôi trẻ tại Pháp Mở rộng.
Courier tham gia thi đấu chuyên nghiệp từ năm 1988 và mang về danh hiệu Grand Slam đầu tiên trong sự nghiệp tại Pháp mở rộng 1991 sau khi đánh bại người bạn đồng môn ở Học viện Nick Bolletieri là Andre Agassi trong 5 set. Trong năm này, Courier vào chung kết Mĩ mở rộng nhưng gác vợt trước Stefan Edberg.
1992, Courier vô địch ở cả Úc mở rộng và Pháp mở rộng cùng chuỗi 25 trận bất bại. Tháng 2, Courier trở thành tay vợt thứ 10 trong lịch sử giành được ngôi số 1 thế giới kể từ khi bảng xếp hạng ra đời từ năm 1973. Courier kết thúc mùa giải này ở ngôi số 1 thế giới và còn là một thành viên của đội tuyển Davis Cup Mĩ (Mĩ vô địch năm này).
1993, Courier bảo vệ thành công ngôi vô địch Úc mở rộng và lọt vào chung kết Pháp Mở rộng năm thứ ba liên tiếp nhưng thua Sergi Bruguera. Courier cũng có mặt trong trận chung kết Wimbledon nhưng thua Pete Sampras.
Courier cũng là thành viên góp phần vào chiến thắng của Mĩ tại Davis Cup 1995.
Courier có tổng cộng 23 danh hiệu đơn, 6 danh hiệu đôi trong suốt sự nghiệp. Courier có 58 tuần giữ ngôi số 1 thế giới từ năm 1992 đến 1993. Ngoài ra, Courier còn thắng tại 4 trận chung kết Grand Slam.
Courier là tay vợt đầu tiên đội một chiếc nón chơi bóng chày khi thi đấu quần vợt. Courier được biết đến như một fan hâm mộ lớn của môn bóng chày, đội bóng yêu thích nhất của Courier là Cincinnati Reds.
Courier giã từ sự nghiệp năm 2000 và trở thành thành viên của Tòa nhà danh vọng (Tennis) vào năm 2005.
== Grand Slam ==
=== Vô địch (4) ===
=== Á quân (3) ===
== ATP Tour Championships finals ==
=== Á quân (2) ===
== Masters Series ==
=== Vô địch (5) ===
== Toàn bộ ==
=== Vô địch đơn (23) ===
=== Á quân (13) ===
=== Đánh Đôi ===
==== Vô địch(6) ====
==== Á quân(5) ====
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
bách khoa (phường).txt | Bách Khoa là một trong số 20 phường của quận Hai Bà Trưng. Đây là một trong những phường có tốc độ đô thị hóa cao của thành phố Hà Nội. Phường Bách Khoa có vị trí địa lý: phía bắc giáp với phường Lê Đại Hành, phía nam giáp với phường Đồng Tâm, phía tây giáp với phường Phương Mai - Đống Đa, phía tây giáp với Cầu Dền.
Phường Bách Khoa là khu vực tập trung nhiều cơ quan, trường học, doanh nghiệp lớn của quận Hai Bà Trưng như: trường đại học Bách Khoa Hà Nội, Viện Đại Học Mở Hà Nội, trường cao đẳng nghề Bách Khoa Hà Nội, Chợ Bách Khoa, trường tiểu học Lê Văn Tám, trường THCS Ngô Gia Tự................
Các tuyến đường chính của phường Bách Khoa, quận Hai Bà Trưng như: Đại Cồ Việt, Giải Phóng, Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Lê Thanh Nghị, Nguyễn Hiền,...
== Tham khảo == |
tha teng.txt | Tha Teng là một huyện (muang, mường) thuộc tỉnh Sekong ở Nam Lào . Trước khi thành lập tỉnh Sekong, Tha Teng thuộc tỉnh Champasack.
Nhờ có khí hậu phù hợp cho trồng cây công nghiệp và ngành du lịch phát triển, Tha Teng là huyện phát triển nhất tỉnh Sekong. Trong huyện có nhiều trang trại cà phê Arabica.
Quốc lộ 1I nối Tha Teng với tỉnh lỵ Lam Mam.
== Hành chính ==
== Chú thích == |
luật việt vị (bóng đá).txt | Luật việt vị là luật XI trong Luật bóng đá (Laws of the Game) được soạn thảo và công bố bởi FIFA, liên quan đến việc hạn chế khả năng giành lợi thế của cầu thủ đội tấn công bằng việc đợi bóng trong trường hợp ở giữa cầu thủ này và khung thành chỉ có thủ môn hoặc người hậu vệ cuối cùng của bên đối phương. Luật này nhằm đảm bảo chơi đẹp và liên tục, thúc đẩy sự phát triển chiến thuật cũng như đa dạng lối chơi trong bóng đá. Luật việt vị là một trong những luật khá khó giải thích và khó thực thi đúng đắn của trò chơi bóng đá.
== Nguồn gốc từ ==
Từ "việt vị" có gốc Hán Việt: "Việt" nghĩa là vượt lên trên (hay dùng trong "ưu việt"), "vị" nghĩa là vị trí. Một số người hay đọc chệch thành "liệt vị".
== Vị trí việt vị ==
Một cầu thủ được coi là đứng ở vị trí việt vị khi 4 điều kiện sau đồng thời thỏa mãn:
Anh ta đứng ở phần sân của đối phương.
Có ít hơn 2 cầu thủ của đối phương đứng giữa anh ta và đường biên ngang cuối sân đối phương so với bóng.
Tham gia vào đường bóng đó
Trong các điều kiện trên, thủ môn được tính là một cầu thủ của đối phương, mặc dù thủ môn thường là vị trí thấp nhất trong đội hình nhưng ở một thời điểm bất kì thì không nhất thiết thủ môn là một trong 2 cầu thủ đối phương cuối cùng.
Anh ta phải đứng phía trước trái bóng (Theo hướng tấn công).
Theo Luật Bóng Đá sửa đổi năm 2005, các điều kiện thứ hai và thứ tư được hiểu rõ là "[...]cầu thủ ở vị trí việt vị nếu bất cứ bộ phận nào ở đầu, thân hình và chân của anh ta ở gần đường biên ngang cuối sân đối phương hơn so với bóng và cầu thủ đối phương thứ 2 (cầu thủ đối phương thứ 1 thường là thủ môn). Cánh tay không nằm trong định nghĩa này."
== Phạm lỗi ==
Cầu thủ đứng ở vị trí việt vị coi là phạm luật việt vị và chỉ bị xử phạt nếu ở thời điểm đồng đội chuyền bóng hoặc chạm bóng, theo nhận định của trọng tài cầu thủ đó tham gia vào đường bóng đó một cách tích cực như:
Tham gia tình huống đó.
Cản trở đối phương.
== Không phạm lỗi ==
Cầu thủ đứng ở vị trí việt vị không bị phạt nếu nhận bóng trực tiếp từ:
Quả phát bóng
Quả ném biên
Quả phạt góc
== Phạt những vi phạm ==
Cầu thủ vi phạm bất kỳ lỗi việt vị nào, trọng tài đều cho đội đối phương hưởng quả phạt gián tiếp tại nơi xảy ra lỗi.
== Xem thêm ==
Luật bóng đá
Trọng tài
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Laws of the Game - Offside
Offside Presentation tháng 6 năm 2005 - PDF file
http://www.burtrandworld.co.uk/offside-rule.php
Detailed history of the offside rule
Flash Animation detailing the Offside law
Luật việt vị mới và những rắc rối đầu tiên
Toàn văn Luật bóng đá Việt Nam |
giỏ hàng hóa.txt | Giỏ hàng hóa hay Giỏ hàng hóa tiêu dùng (tiếng Anh: Basket of consumer goods) là phương pháp tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bằng cách gom một số hàng hóa tiêu dùng và dịch vụ nhất định trên thị trường mà một người dân bình thường hay mua để tính giá cả của toàn giỏ hàng hóa đó, từ đó tính CPI.
Cần phân biệt giỏ hàng hóa để tính chỉ số giá tiêu dùng (CPI) với giỏ hàng hóa để tính chỉ số giá sản xuất (PPI-Producer price index).
== Xem thêm ==
Chỉ số giá tiêu dùng
== Tham khảo == |
quận.txt | Quận là một loại đơn vị hành chính địa phương. Danh xưng "quận" bắt nguồn từ Trung Quốc, trong lịch sử đã từng được sử dụng ở cả Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Ngày nay, quận chỉ còn được dùng để chỉ một loại đơn vị hành chính cấp 2 ở Việt Nam, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Hàn Quốc. Trong nhiều tài liệu tiếng Anh, từ "district" được xem là có nghĩa tương đương với "quận".
== Lịch sử ==
Danh xưng "quận" (chữ Hán: 郡) được sử dụng để chỉ đơn vị hành chính đầu tiên ở nước Tần cuối thời kỳ Chiến Quốc, sau Biến pháp Thương Ưởng. Ban đầu, quận mang ý nghĩa như một đơn vị hành chính quân sự ở vùng biên cương, khác với huyện chỉ đơn thuần là những đơn vị hành chính nội địa. Sách Sử ký có ghi chép thời Tần Vũ vương, Tả thừa tướng Cam Mậu đánh chiếm đất Nghi Dương của nước Hàn, đặt thành quận huyện.
Khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc, đã xóa bỏ chế độ phong kiến từ của nhà Chu, chia toàn quốc thành 36 quận, sau tăng lên thành 40 quận. Dưới cấp quận là huyện. Nhà Hán kế thừa phân cấp hành chính này (nhà Hán còn thành lập "quốc" để phong cho các hoàng thất chư hầu, nên còn gọi là "chính sách Quận - Quốc"), từ đó lan dần đến các quốc gia ảnh hưởng lịch sử văn hóa Hán như Nhật Bản, Triều Tiên và Việt Nam. Tuy nhiên, từ nhà Đường về sau, danh xưng "quận" không còn được sử dụng để chỉ đơn vị hành chính. Thời Tống, dân gian đôi khi vẫn dùng danh xưng "quận" để chỉ đơn vị hành chính cấp châu. Thời Minh - Thanh, giới sĩ nhân thường dùng danh xưng "quận" để chỉ đơn vị hành chính cấp phủ.
Trong lịch sử, Nhật Bản cũng từng dùng danh xưng "quận" để chỉ một cấp đơn vị hành chính. Danh xưng này sử dụng đến năm 1942 thị bị bãi bỏ. Tuy nhiên, tại thuộc địa Đài Loan, đơn vị hành chính cấp quận vẫn được tiếp tục sử dụng cho đến tận năm 1945.
Ngày nay, đơn vị hành chính quận chỉ còn sử dụng ở Việt Nam, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Hàn Quốc, đều dùng để chỉ đơn vị hành chính cấp 2. Ở Việt Nam, quận là đơn vị hành chính đô thị, nhưng tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên và Hàn Quốc, quận (Hangul: 군, Kun) là đơn vị hành chính nông thôn.
== Việt Nam ==
Ở Việt Nam, quận là đơn vị hành chính của thành phố trực thuộc trung ương. Đơn vị hành chính ngoại thành ngang cấp quận thì được gọi là huyện. Ví dụ như quận Ninh Kiều là một khu nội thành của thành phố trực thuộc trung ương Cần Thơ và Cờ Đỏ là một vùng ngoại thành cũng của Cần Thơ.
Trước năm 1975 tại miền nam dưới thời Việt Nam Cộng hòa, tất cả các đơn vị hành chính cấp thấp ngay dưới đơn vị hành chính tỉnh đều được gọi là quận, không phân biệt vùng thành thị hay nông thôn. Ví dụ quận Châu Thành, Vĩnh Long là quận thành thị gồm phần đất của thành phố Vĩnh Long bây giờ, và quận Trà Ôn là quận nông thôn cũng của tỉnh Vĩnh Long.
== Hoa Kỳ ==
Ở Hoa Kỳ, các đơn vị hành chính theo thứ tự cấp bậc như sau: dưới quốc gia Hoa Kỳ là các tiểu bang, dưới mỗi tiểu bang là quận (county). Nơi đông người Việt nhất ở Hoa Kỳ được gọi là Quận Cam (Orange County), một khu vực rộng lớn có trên 30 thành phố. Đôi khi thuật từ "quận" cũng được dùng để dịch từ district trong tiếng Anh.
Một ví dụ là District of Columbia, thường được dịch là "Quận Columbia", tức là thủ đô Washington D.C. của Hoa Kỳ. Tuy nhiên cách dịch này không chính xác bởi vì Washington D.C. không lệ thuộc bất kỳ một tiểu bang nào hay lãnh thổ nào và thường thì nó được xem ngang cấp với các tiểu bang của Hoa Kỳ vì thế trường hợp này District of Columbia nên dịch là Đặc khu Columbia.
== Trung Quốc ==
Tại Trung Quốc, tương đương của một quận ở Việt Nam được gọi là "khu" (chữ Hán: 区; Hán-Việt: khu) và tương đương của một huyện được gọi là "huyện" (县; huyện, huyền). Khác với Việt Nam, chỉ có thành phố trực thuộc trung ương mới có đơn vị quận, Trung Quốc là quốc gia có rất nhiều thành phố lớn tuy không phải là thành phố trực thuộc trung ương nhưng đủ rộng lớn để có thể thành lập các đơn vị hành chính cấp quận. Ví dụ như thành phố Quế Lâm ở Khu tự trị Quảng Tây, Trung Hoa cũng có các đơn vị hành chính như Thành phố Hồ Chí Minh ở Việt Nam.
== Nhật Bản ==
Quận là khu vực hành chính dưới đô đạo phủ huyện được thiết lập từ năm 1878, thông thường quản lý một số địa phương tự trị đinh hoặc thôn. Địa phương tự trị cấp thành phố thì không thuộc quyền quản lý của quận. Tuy nhiên, Nhật Bản đã bỏ chế độ quận từ năm 1926, hiện thời quận chỉ biểu thị địa danh mà không có chức năng quản lý.
== Xem thêm ==
Phân cấp hành chính Việt Nam
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Nghị định của Chính phủ số 15/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 1 năm 2007 "Về phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp huyện" |
5 tháng 7.txt | Ngày 5 tháng 7 là ngày thứ 186 (187 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 179 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1833 – Lê Văn Khôi cùng 27 lính Bắc thuận Hồi lương làm binh biến chiếm thành Phiên An, phát triển thành cuộc nổi dậy Lê Văn Khôi.
1885 – Tôn Thất Thuyết chỉ huy quân Nguyễn tấn công quân Pháp đóng ở kinh thành Huế, kết quả quân Nguyễn thất bại hoàn toàn.
1943 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Các lực lượng Đức bắt đầu tiến hành tổng công kích Liên Xô trong trận Vòng cung Kursk.
1950 – Chiến tranh Triều Tiên: Lục quân Hoa Kỳ và Quân đội Nhân dân Triều Tiên giao chiến lần đầu tiên trong trận Osan.
1975 – Arthur Ashe trở thành nam giới da đen đầu tiên giành được danh hiệu vô địch nội dung đơn tại Giải Vô địch Wimbledon.
1977 – Muhammad Zia-ul-Haq lật đổ thủ tướng Pakistan Zulfikar Ali Bhutto trong một cuộc đảo chính quân sự.
2009 – Hàng loạt vụ náo loạn bạo lực xảy ra tại Urumqi, Tân Cương, Trung Quốc, khiến 197 người thiệt mạng theo số liệu chính thức.
== Sinh ==
182 - Tôn Quyền, vi quân chủ đầu tiên của nước Ngô thời Tam Quốc trong (m. 252)
1888 - Herbert Spencer Gasser, nhà sinh lý học Hoa Kỳ được nhận giải Nobel (m. 1963)
1911 - Georges Pompidou, nhà chính trị người Pháp (m. 1974)
1980 - Jason Wade, nhạc sĩ người Mỹ
1987 - Ji Chang-wook, diễn viên Hàn Quốc
1987 - Trần Hiểu, diễn viên người Trung Quốc
1994 - Sơn Tùng M-TP, ca sĩ nhạc trẻ Việt Nam
== Mất ==
1867 - Phan Thanh Giản là một triều quan của Nhà Nguyễn
2008 - Hòa thượng Thích Huyền Quang (s. 1919), lãnh đạo Phật giáo Việt Nam.
2009 - Nghệ sĩ nhân dân Phùng Há (s. 1911)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
hệ thống quản lý phiên bản.txt | Trong kỹ nghệ phần mềm, một hệ thống quản lý phiên bản (còn viết là VCS theo từ tiếng Anh version control systems) là một hệ thống lưu giữ các phiên bản của mã nguồn của sản phẩm phần mềm, giúp các lập trình viên có thể dễ dàng lấy lại phiên bản mong muốn.
Hệ thống này có thể được sử dụng bởi một nhóm các lập trình viên, mỗi thành viên trong nhóm thường không được phép thay đổi mã nguồn của các thành viên khác, mà chỉ có thể xem. VCS cho phép người quản trị phân chia các tập tin cho từng thành viên tương ứng. Nó cũng cho phép các thành viên chia sẻ một số tập tin cho nhau trong khi phát triển. Các thành viên có thể phát hiện lỗi và sửa lỗi thuận tiện trong VCS. Trưởng nhóm phải có nhiệm vụ cập nhật lại nội dung của các tập tin đó. VCS giúp cho công việc này được thực hiện một cách tự động.
Khi các thành viên hiệu chỉnh mã của cùng một tập tin tại cùng một thời điểm, để tránh sửa đổi mâu thuẫn, họ sẽ phải so sánh xem có gì khác biệt giữa các sửa đổi của các thành viên hay không. VCS giúp cho việc này được thực hiện tự động.
== Các khái niệm, thuật ngữ quan trọng ==
=== Nơi chứa ===
Nơi chứa (repository) là một nơi chung chứa mọi bản chính (master copy) của các tập tin khi chúng được thêm vào trong cơ sở dữ liệu của một VCS.
Có thể được lưu trữ riêng cho từng tập tin hoặc chung cho mọi tập tin.
Trong môi trường phát triển nhóm, nơi chứa thường nằm trên một server riêng.
Nơi chứa có thể chứa: mã nguồn, sưu liệu, các tài liệu khác (hình ảnh, âm thanh,...)
Nơi chứa có thể chứa mọi thứ. Vậy các loại tập tin nào nên được đưa vào? Nếu không có phiên bản cập nhật của tập tin X, chúng ta không thể xây dựng được ứng dụng của mình. Khi đó X nên được cho vào trong nơi chứa.
=== Thư mục làm việc ===
Thư mục làm việc (working folder) là một nơi mà chúng ta lấy phiên bản của tập tin và hiệu chỉnh.
Thư mục làm việc thường được đặt trên máy client cho từng thành viên trong khi làm việc nhóm.
Khi các phiên bản được lấy ra, thư mục này là nơi mặc định mà một VCS sẽ dùng để chứa các bản sao phiên bản đó.
=== Khóa ===
Khi làm việc nhóm, các thành viên có thể hiệu chỉnh cùng một tập tin tại một thời điểm. Xung đột là chuyện hiển nhiên. Làm sao tránh xung đột? Tùy chọn khóa hay cơ chế khóa (locking) cho phép ngăn chặn xung đột. Có 2 loại khóa:
Khóa nghiêm ngặt (strict locking): Trong khóa này, khi một tập tin được lấy ra để hiệu chỉnh, nó sẽ bị đặt thuộc tính là read-only. Do đó, thành viên có thể đọc nó nhưng không thể hiệu chỉnh nội dung của nó. Chỉ khi nào tập tin đó được cập nhật, thành viên khác mới có thể lấy ra lại.
Vấn đề: nếu một thành viên lấy ra hiệu chỉnh quá lâu và chưa cập nhật, những thành viên khác sẽ "bó tay"!.
Khóa tự do (optimistic locking): Khóa tự do cho phép khi một tập tin được lấy ra để sửa, các thành viên khác cũng có quyền cập nhật dữ liệu trong tập tin đó. Và khi hai thành viên cùng check in tập tin đã được hiệu chỉnh, nguyên tắc sau được thực hiện:
Nếu 2 bản cập nhật không cùng cập nhật 1 dòng, việc cập nhật sẽ ghép 2 bản đó lại.
Nếu 2 bản cùng cập nhật 1 dòng, VCS sẽ báo cho 2 thành viên đó và cho họ tự chọn việc cập nhật.
=== Dự án, mô đun và tập tin ===
Dự án là một thư mục chứa toàn bộ thông tin của các tập tin của nhóm. Một nhóm có thể thực hiện nhiều dự án khác nhau. Các dự án này có thể chia sẻ các tập tin (shared file). Mỗi VCS thường có một dự án gốc cho mọi dự án.
Mô đun là một dự án con (sub-project) nằm trong một dự án mẹ.
Tập tin trong dự án có thể thuộc về một hoặc nhiều dự án (shared file).
=== Phân nhánh ===
Khi làm việc nhóm, mọi thành viên đều có một phần mã chung, gọi là nhánh chính (mainline). Và các thành viên đều làm việc với một phần của nhánh chính. Khi có yêu cầu tách một phần mã chung đó, ví dụ như để tạo một phiên bản để thử nghiệm, các thành viên của nhóm phân phối thử nghiệm đó cần mã độc lập với nhánh chính. Giải pháp là dùng phân nhánh.
Chia nhánh (branching) là một cơ chế của hệ thống quản lý phiên bản cho phép tách một phần của dự án ra riêng. Phần này sẽ hoạt động độc lập với dự án chung. Khi đó, việc đánh phiên bản cũng thay đổi.
Ví dụ: nếu một tập tin A trong nhánh chính có số phiên bản là 1.14 và một nhánh mới được tạo ra, A sẽ có số phiên bản trong nhánh là 1.14.1.1. Việc hiệu chỉnh tập tin đó trong nhánh chính sẽ cho chỉ số phiên bản mới trong nhánh chính là 1.15 tuy nhiên nếu hiệu chỉnh tập tin đó trong nhánh thì nó có số phiên bản mới là 1.14.1.2.
=== Ghép tập tin ===
Có nhiều nhánh (branch) có thể được tách ra làm việc độc lập. Nếu họ trong khi làm thấy rằng có một số lỗi (bug) phát sinh và có ảnh hưởng tới nhánh chính. Họ sẽ làm sao để cập nhật nhanh nhất mã trong nhánh chính và dùng cách ghép tập tin (merge).
Ghép tập tin sẽ cho phép loại bỏ được việc phải cắt dán nhiều lần trên các phiên bản khác nhau của hệ thống.
=== Phiên bản ===
Mỗi tập tin có thể có nhiều phiên bản (version). Các phiên bản được đánh số khác nhau. Mỗi lần chúng ta hiệu chỉnh nội dung tập tin và cập nhật vào nơi chứa của VCS, phiên bản sẽ được cập nhật.
Một số VCS sử dụng hệ thống phiên bản 1, 2, 3,... trong khi có một số khác sử dụng hệ thống 1.0, 1.1, 1.2,... Các VCS thường lưu phiên bản cuối cùng và các thay đổi của phiên bản cuối so với phiên bản trước đó.
Các số phiên bản (như 1.0, 1.1, hay 1.2,...) còn được gọi là revision.
Đi đôi với số phiên bản, VCS lưu thêm các thông tin về ngày giờ cập nhật, người cập nhật và một số ghi chú nếu có.
Một vấn đề nhỏ trong cách đánh số này là làm sao các thành viên trong nhóm biết được các phiên bản của dự án. Số phiên bản trong dự án sẽ thay đổi khi phiên bản của tập tin thay đổi. Các VCS do đó sử dụng thêm một cách ghi nhận phiên bản là đánh nhãn (labeling). Khi đó, cho dù số phiên bản của dự án thay đổi, nhãn của dự án vẫn không đổi.
== Xem thêm ==
Phiên bản
CVS (Concurrent Versions System)
Subversion
Git
Mercurial
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
lốc xoáy.txt | Lốc xoáy hay vòi rồng (tiếng Anh: tornado hoặc twister) là hiện tượng một luồng không khí xoáy tròn mở rộng ra từ một đám mây dông xuống tới mặt đất.
== Nguồn gốc hình thành và đặc điểm ==
=== Nguồn gốc hình thành ===
Lốc xoáy phát triển từ một cơn dông, thường từ ổ dông rất mạnh hay siêu mạnh, nên ở đâu có dông dữ dội là ở đó có thể có lốc xoáy, song cũng may là nó rất hiếm. Cũng có khi nó sinh ra từ một dải gió giật mạnh (được gọi những đường tố) hay từ một cơn bão. Người ta cho rằng khi không khí ở lớp bên trên lạnh đè lên lớp không khí nóng ở phía dưới, không khí nóng sẽ bị cưỡng bức chuyển động lên rất mạnh. Nhưng khi lốc xoáy xảy ra trên mặt nước thì thường lại không thấy đối lưu và cũng không thấy sự khác biệt nhiệt độ giữa các lớp. Vì vậy nguyên nhân lốc xoáy con người vẫn chưa hoàn toàn hiểu được hết.
Tuy vậy, phần lớn lốc xoáy được hình thành từ một dạng mây dông đặc biệt là mây dông tích điện. Một đám mây có thể kéo dài trong vài giờ, xoáy tròn trong vùng có đường kính từ 10 đến 16 km, di chuyển hàng trăm dặm và sinh ra vô số ống hút khổng lồ. Nguồn gốc của chúng là vùng khí hậu có luồng khí nóng đi lên và luồng khí lạnh đi xuống.
Đầu tiên là quá trình tương tác giữa cơn dông có chiều lên trên và gió. Sự tương tác này sẽ làm cho tầng khí nóng ở dưới di chuyển lên trên và xoay tròn trong không trung.
Tiếp đó là sự phát triển của dòng khí lạnh di chuyển theo hướng đi xuống mặt đất ở phía bên kia của cơn bão. Vận tốc của dòng khí đi xuống có thể lớn hơn 160 km/h.
=== Đặc điểm ===
Đường kính của lốc xoáy có thể thay đổi từ vài chục mét cho tới vài kilômét. Nhưng đa số các lốc xoáy có đường kính vào khoảng 50 m.
Trên đường di chuyển nó có thể cuốn theo (rồi ném xuống ở một khoảng cách sau đó) hoặc phá hủy mọi thứ, kể cả những nhà gạch xây kiên cố, nên lốc xoáy cũng là hiện tượng khí tượng đặc biệt nguy hiểm.
Âm thanh lốc xoáy thường là tiếng đùng đùng liên tục, giống như âm thanh khi tàu hỏa sắp đến. Đôi khi lốc xoáy tạo ra tiếng ồn lớn như tiếng thác nước đổ hoặc tiếng ồn mở cửa kính ô tô khi xe chạy cực nhanh.
Nhìn từ xa lốc xoáy có thể có màu đen hoặc trắng, tuỳ thuộc những thứ mà nó cuốn theo. Khi lốc xoáy xuất hiện ở trên đại dương, hình thành nên vòi rồng, thường hút bụi nước lên cao tạo thành các cây nước (waterspouts) nặng hàng chục tấn.
=== Nguồn gốc tên gọi ===
Đó là hiện tượng gió xoáy rất mạnh, phạm vi đường kính rất nhỏ, hút từ bề mặt đất lên đám mây vũ tích, tạo thành hình như cái phễu di động, trông giống như cái vòi, nhưng từ trên bầu trời thò xuống nên dân ta "tôn kính" gọi là "vòi rồng" (mà không gọi là vòi voi chẳng hạn), chứ thực tế không có con rồng nào cả. Rất thú vị là không phải chỉ có dân ta "tôn kính" gọi nó là vòi rồng mà cả ở Trung quốc người ta cũng gọi là vòi rồng (âm Hán-Việt là "lục long quyển"). Còn tiếng Anh thuật ngữ đó là "Tornado" có nguồn gốc từ tiếng Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha, đều có nghĩa là "quay" hay "xoáy" (gió xoáy).
== Cường độ ==
Việc đo tốc độ gió của lốc xoáy một cách trực tiếp là vô cùng khó khăn, bởi nó có thể phá hủy nhiều thứ xuất hiện trên đường đi. Năm 1971, ông Theodore Fujita, một nhà khí tượng thuộc đại học Chicago đã chế tạo ra một hệ thống phân biệt cấp độ của lốc xoáy dựa trên việc đo tác hại của nó đối với những công trình nhân tạo. Thiết bị được gọi là thang độ Fujita.
Độ mạnh của lốc xoáy tăng dần từ F0 đến F5. Lốc xoáy yếu nhất (F0) có thể phá hủy ống khói và các biển hiệu, trong khi ở cấp mạnh nhất (F5) chúng có thể thổi bay những căn nhà khỏi móng.
Với cấp F4 và F5, tốc độ gió của lốc xoáy có thể lên tới 207 dặm Anh một giờ (333 km/h) cho đến 261 dặm Anh một giờ (420 km/h).
== Hậu quả do lốc xoáy tự nhiên gây ra ==
Hậu quả do lốc xoáy gây ra là rất nghiêm trọng cho địa phương nơi nó đi qua. Càng xảy ra nhiều lốc xoáy và nhất là lốc xoáy cấp mạnh thì thiệt hại về người cũng như về cơ sở hạ tầng là càng lớn.
Các con số thống kê cho thấy Hoa Kỳ là quốc gia chịu nhiều trận lốc xoáy nhất trong một năm. Con số trung bình là hơn 800 cơn lốc xoáy hoạt động trong một năm, làm cho ít nhất 50 người chết. Và số lốc xoáy cấp F5 chiếm 0,1% tổng số.
Australia xếp thứ hai. Một số nước khác cũng thường có như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ, Anh và Đức.
Do di chuyển với tốc độ rất nhanh, cùng với gió xoáy, lốc xoáy dường như phá hủy hết mọi thứ trên đường đi của nó. Với những lốc xoáy nhỏ thì sẽ phá hủy các biển hiệu giao thông, những nhà có kiến trúc không vững. Những trận mạnh thì có thể cuốn bay cả những chiếc ô tô, những căn nhà kiên cố, phá hủy những cây cầu... và cuốn theo cả con người, con vật trên đường đi.
== Những lốc xoáy gây hậu quả lớn trong lịch sử ==
Trận lốc xoáy lốc xoáy tồi tệ nhất ở Mỹ xảy ra ngày 18 tháng 3 năm 1925. Cùng một lúc 7 lốc xoáy đã xuất hiện ở 3 bang Illinois, Missouri, Indiana làm 740 người thiệt mạng và phá hủy nhiều cấu trúc hạ tầng. Một thảm hoạ lốc xoáy khác cũng đáng nhớ không kém xảy ra vào ngày 3 tháng 4 năm 1974, nó là tập hợp của 148 lốc xoáy nhỏ, giết chết 315 người từ bắc Alabama đến bang Ohio.
Ngày 12 tháng 6 năm 1899 Quận St. Croix, Wisconsin, Mỹ làm 117 người chết.
Ngày 5 tháng 4 năm 1936 tại Tupelo, Mississippi, Mỹ làm 216 người chết.
Ngày 9 tháng 4 năm 1947 tại Woodward, Oklahoma Mỹ làm 181 người chết.
Ngày 8 tháng 6 năm 1953 tại Flint, Michigan Mỹ làm 115 người chết.
Ngày 22 tháng 4 năm 2011 tại Joplin, Missouri Mỹ làm 138 người chếtyôkẹdiend8ekd8dkd8rmđỏkỉkxỉ😘🍜🙀😃🙀🙀🍆🍼😃🙀😃🍼😃🙀🍷🍠🍜⏫🍆🙀🍆🍣🍆🙀😃.
== Cách phòng tránh ==
Nói chung đối với lốc xoáy, nhất là loại có tốc độ lớn việc phòng tránh là rất khó khăn.
Trong thời gian diễn ra lốc xoáy, mọi người phải ngay lập tức tìm nơi trú ẩn trong một tầng hầm hay nơi kín đáo của toà nhà như phòng họp, phòng tắm… Tuyệt đối tránh trú ẩn trong xe hơi và nhà di động bởi chúng có thể bị thổi bay bất cứ lúc nào. Không nên ở trong những nhà lớn có mái rộng như thính phòng, hay siêu thị là những nơi dễ bị sụp đổ. Nếu đang ở ngoài đường, bạn nên chui xuống một cái rãnh hay mương sâu và che đầu cẩn thận để khỏi bị thương do đất đá rơi xuống.
== Xem thêm ==
Vòi rồng nước
Tố
Động đất
Bảng độ Jujita Tornadoskala
Núi lửa
Sóng thần
Tiếng vọng hình móc
== Tham khảo ==
== Liên kết hữu ích ==
Tổng quát
Những câu hỏi thường gặp về lốc xoáy - Tiếng Anh (Trung tâm Dự báo Bão của Cơ quan Thời tiết quốc gia)
Những nghiên cứu về lốc xoáy (National Severe Storms Laboratory)
WW2010: Những trận lốc xoáy
Dự án lốc xoáy
lốc xoáy và những tổ chức nghiên cứu nó
Cơ quan thí nghiệm của châu Âu về lốc xoáy
TorDACH: Centre of Competence for Severe Local Storms in D, A, CH
U.S. Cơ quan dự báo thời tiết (Đại học Nebraska tại Lincoln)
Dự báo lốc xoáy (Rasmussen et Markowski)
Electronic Journal of Severe Storms Meteorology
NWS Jet Stream Online Weather School
Birth of a Tornado – hoạt hình của MSNBC Interactive
Tornado Newspaper Articles Archive hơn 50.000 bài báo chi tiết về lốc xoáy trong lịch sử
Hình ảnh
Hình ảnh lốc xoáy (phạm vi công cộng)
Hình ảnh nghiên cứa về bão và lốc xoáy
Hình ảnh của Cơ quan Thời tiết quốc gia
Safety and Preparedness
NOAA Tornado Preparedness Guide
Tornado Safety (The Tornado Project)
Tornado Preparedness Tips for School Administrators (NOAA / SPC)
Highway Overpasses as Tornado Shelters: Fallout from the ngày 3 tháng 5 năm 1999 Tornado Outbreak (National Weather Service, Norman, Oklahoma)
Natural Disasters - Tornado Great research site for kids
FEMA for Kids: Tornado
Thông tin khác
Tornadoes in Kansas Library of Congress, America's Story
Tornado damage (in 1899; archived panoramic photographs)
Chasing Tornadoes (National Geographic Magazine)
Stormtrack magazine
StormWiki
Storm Report Map (Map and Track Tornadoes, Hail and Wind Reports)
Person carried by tornado survives
Tiếng Việt
Tố, lốc và lốc xoáy |
charles i của anh.txt | Charles I (19 tháng 11, 1600 – 30 tháng 1, 1649) là vua của ba vương quốc Anh, Scotland, và Ireland từ 27 tháng 3, 1625 đến khi bị hành quyết vào năm 1649.
Charles là hoàng tử thứ hai của vua James VI của Scotland, nhưng sau khi cha ông giành được ngai vàng ở Anh năm 1603, ông chuyển đến Anh và dành phần lớn thời gian còn lại của cuộc đời ở đây. Ông trở thành người thừa kế ngai vàng Anh, Ireland và Scotland sau cái chết của hoàng huynh, Henry Frederick, Hoàng tử xứ Wales, năm 1612. Khi trưởng thành, ông bị trưởng công chúa Tây Ban Nha thuộc nhà Hasburg là Maria Anna từ chối kết hôn sau chuyến thăm kéo dài 8 tháng đến Tây Ban Nha năm 1623 và đó là minh chứng cho sự thất bại hoàn toàn của việc đàm phán hôn nhân. Hai năm sau, ông kết hôn với công chúa nhà Bourbon là Henrietta Maria của Pháp.
Sau khi kế vị, Charles tranh chấp với Nghị viện, trong nỗ lực của ông nhằm củng cố đặc quyền hoàng gia. Charles tin tưởng vào quyền lực thiêng liêng của các vị vua và cho rằng ông có thể cai quản đất nước theo ý muốn của mình. Nhiều chính sách của ông bị quần chúng phản đối, đặc biệt là việc tăng thuế mà không thông qua sự đồng ý của Quốc hội, khiến ông bị mang tiếng là một quân vương chuyên chế, một bạo chúa. Chính sách tôn giáo của ông, cùng với cuộc hôn nhân với một người Công giáo, đã gây ra sự bất bình và ác cảm của những nhóm cải cách tôn giáo như Thanh giáo và thần học Calvin, những người cho rằng ông nghiêng về phía Công giáo. Ông ủng hộ những giáo sĩ high church như Richard Montagu và William Laud, và thất bại trong việc giúp các thế lực Kháng Cách giành thắng lợi cuối cùng trong Chiến tranh Ba mươi năm. Ông cố rắng buộc Giáo hội Scotland làm theo mô hình tôn giáo của Anh dẫn đến Chiến tranh giữa các giám mục, tăng thêm vị thế cho Nghị viện Anh và Scotland đồng thời khiến vị thế của ông tuột dốc không phanh.
Từ 1642, Charles chiến đấu với quân đội Nghị viện trong Nội chiến Anh. Sau thất bại năm 1645, ông đầu hàng lực lượng Scotland và bị rơi vào tay Nghị viện. Charles từ chối công nhận yêu sách của những kẻ bắt được mình khi bác bỏ ý tưởng về nền quân chủ lập hiến, và trốn thoát khởi nơi giam cầm vào tháng 11, 1647. Lại bị cầm tù một lần nữa tại Đảo Wight, Charles cố gắng liên minh với người Scotland, nhưng cuối năm 1648 Oliver Cromwell cùng quân đội kiểu mới của ông ta đã nắm được quyền kiểm soát Anh quốc. Charles bị đưa ra xét xử, bị kết án tử hình vì tội phản quốc vào tháng 1 năm 1649. Vương quyền bị xóa bỏ, nền cộng hòa được thành lập, sử gọi là Khối Thịnh vương chung Anh. Chế độ quân chủ được trung hưng bởi con trai của ông, Charles II, năm 1660.
== Cuộc sống ban đầu ==
Là con trai thứ hai của vua James VI của Scotland và Anne của Đan Mạch, Charles chào đời ở Cung điện Dunfermline, Fife, ngày 19 tháng 11 năm 1600. Trong một buổi lễ theo nghi thức Kháng Cách tại Nhà nguyện hoàng gia thuộc Cung điện Holyrood, Edinburgh ngày 23 tháng 12 năm 1600, ông được rửa tội bởi David Lindsay, Giám mục xứ Ross, và được tấn phong Công tước Albany, danh hiệu truyền thống được dành cho con trai thứ hai của nhà vua Scotland, cùng với các tước vị phụ như Hầu tước Ormond, Bá tước xứ Ross và Lãnh chúa Ardmannoch.
James VI là cháu họ của Nữ hoàng Elizabeth I của Anh, và khi nữ hoàng chết không con cái vào tháng 3 năm 1603, ông ta trở thành Vua của Anh cùng vương hiệu James I. Charles là một đứa trẻ rất ốm yếu, và trong khi cha mẹ ông rời quê hương đến Anh vào tháng 4 và đầu tháng 6 năm đó, thì vì sức khỏe không cho phép, ông vẫn ở Scotland cùng người bạn thân của phụ thân là Lãnh chúa Fyvie, người được tấn phong làm giám hộ của ông.
Năm 1604, khi được 3 tuổi rưỡi, Charles có thể đi một vòng lớn quanh hội trường lớn ở Cung điện Dunfermline mà không cần người trợ giúp, cho nên ông được cho là đã có thể chịu được chuyến đi dài tới Anh quốc đoàn tụ với song thân. Giữa tháng 7 năm 1604, Charles rời Dunfermline đi đến Anh, nơi ông sống hết quãng đời còn lại. Ở Anh, Charles ông được chăm sóc bởi Elizabeth, Lady Carey, vợ của bá tước Sir Robert Carey, người giúp ông cải thiện tình trạng sức khỏe vốn rất yếu ớt. Ông chậm biết nói, và về sau nói ngập ngừng và nói ngọng, trong suốt quãng đời của mình.
Tháng 1 năm 1605, Charles được tấn phong Công tước xứ York, danh hiệu truyền thống thường dành cho con trai thứ hai của nhà vua, và danh dự Hiệp sĩ xứ Bath. Thomas Murray, một người Scots theo Giáo hội Trưởng lão, được cử làm gia sư của ông. Charles học những môn học cổ điển, truyền thống thời bấy giờ như ngoại ngữ, toán và tôn giáo. Năm 1611, ông được tấn phong Hiệp sĩ Garter.
Cuối cùng, Charles dường như đã chiến thắng được bệnh tật, có thể tình trạng yếu ớt của ông là do bệnh còi xương. Ông trở thành một kĩ sĩ thành thục và một tay thiện xạ, có thể nhảy qua được hàng rào. Tuy nhiên, hồ sơ công khai của ông vẫn ghi rằng ông vẫn chậm lớn và yếu ớt, trái ngược với hoàng huynh khỏe mạnh và to lớn, Henry Frederick, Hoàng tử xứ Wales, người Charles kính mến và cố gắng cạnh tranh. Tuy nhiên, đầu tháng 11 năm 1612, Henry qua đời khi mới 18 tuổi do bệnh thương hàn (hoặc có thể là hội chứng porphyria). Charles, chỉ còn 2 tuần nữa sẽ bước sang tuổi 12, trở thành thái tử nước Anh. Là con trai lớn nhất còn sống sót của quốc vương, Charles được phong một số danh hiệu (bao gồm Công tước Cornwall và Công tước Rothesay). Bốn năm sau, tháng 11 năm 1616, ông được tấn phong Hoàng tử xứ Wales và Bá tước Chester.
== Hoàng thái tử ==
Năm 1613, hoàng tỉ của ông là Elizabeth kết hôn với Frederick V, Tuyển hầu tước Palatine, và dời đến Heidelberg. Năm 1617, thành viên hoàng gia Habsburg Đại Công tước Ferdinand của Áo, một người công giáo, được chọn làm Vua của Bohemia. Năm sau, người Bohemia nổi dậy, tuyên bố ủng hộ đức tin Kháng Cách, chống lại vị vua Công giáo của mình. Tháng 8 năm 1619, Nghị viện Bohemia quyết định chọn Frederick V, lãnh đạo của Liên minh Kháng Cách, làm quốc vương, trong khi Ferdinand được bầu làm Hoàng đế La Mã Thần Thánh trong cuộc bầu cử hoàng đế. Frederick chấp nhận lên ngôi vua Bohemia, hớt tay trên của hoàng đế, là nguyên nhân dẫn đến sự bùng nổ của một cuộc chiến mà về sau phát triển thành Chiến tranh Ba mươi năm. Cuộc xung đột, ban đầu chỉ gói gọn trong lãnh thổ Bohemia, sau đó lan rộng ra khắp châu Âu, khi Nghị viện Anh và công chúng đang muốn đứng yên xem cuộc xung đột giữa phe Công giáo và Kháng Cách trên lục địa. Năm 1620, anh rể của Charles, Frederick V, bị đánh bại ở Trận White Mountain gần Prague và lãnh địa ông được thừa kế thuộc Tuyển hầu quốc Palatinate bị tấn công bởi quân nhà Harburg từ Hà Lan thuộc Tây Ban Nha. Tuy nhiên, James, khi đó muốn tìm kiếm hòa bình bằng cuộc hôn nhân giữa Hoàng tử xứ Wales với cháu gái của Ferdinand, công chúa dòng họ Habsburg là Maria Anna của Tây Nan Nha, và bắt đầu đàm phán với Tây Ban Nha trong một nỗ lực ngoại giao nhằm chấm dứt cuộc chiến giữa hai nước và tìm kiếm hòa bình ở châu Âu.
Không may cho James, cuộc thỏa thuận với người Tây Ban Nha không được quần chúng ủng hộ, kể cả người dân lẫn triều đình của James. Nghị viện Anh vốn chủ động muốn gây chiến với Tây Ban Nha và phe Công giáo, khi được triệu tập bởi James năm 1621, các thành viên hi vọng ép được nhà vua ký vào một đạo luật tuyên chiến, chống lại hải quân Tây Ban Nha, và một cuộc hôn nhân của Hoàng tử xứ Wales với một người Kháng Cách. Quan Chưởng ấn trong triều, Francis Bacon, đã bị Thượng viện kết tội tham nhũng.Việc luận tội như thế này (không cần thông qua nhà vua) bắt đầu từ năm 1459 theo Chỉ dụ attainder. Vụ việc như thế chính là tiền lệ, tiếp tục được sử dụng để xét xử và luận tội chống lại Charles và những người ủng hộ: Công tước Buckingham, Đại Giám mục Laud, và Bá tước Strafford. James nhấn mạnh rằng Viện Thứ dân chỉ cần chú ý đến các vấn đề đối nội, trong khi các thành viên phản đối, cho rằng họ có quyền tự do ngôn luận trước Hạ viện, muốn gây chiến với Tây Ban Nha và đòi Công nương xứ Wales phải là người Kháng Cách. Charles, cũng như phụ thân, coi cuộc bàn tán về hôn nhân của mình trong Hạ viện là một việc làm xấc láo và xâm phạm vào uy quyền của hoàng gia Tháng 1 năm 1622, James giải tán Nghị viện, do tức giận với cái ông gọi là sự vô liêm sỉ và không biết khoan nhượng của các thành viên trong Nghị viện.
Charles và Công tước Buckingham, sủng thần của James và cũng là một người có ảnh hưởng rất lớn đối với thái tử, đã bí mật đến Tây Ban Nha vào tháng 2 năm 1623 nhằm tiều kiếm một thỏa thuận hòa hoãn giữa hai nước sau cuộc chiến lâu năm. Tuy nhiên cuối cùng, chuyến đi trở thành một thất bại đáng xấu hổ. Trưởng Công chúa nghĩ rằng Charles là một người không sùng đạo, và điều kiện thách cưới đầu tiên của phía Tây Ban Nha là ông phải đổi sang Công giáo. Người Tây Ban Nha muốn có sự khoan dung tôn giáo được thực hiện ở Anh và bãi bỏ những đạo luật hình sự, những đòi hỏi mà Charles biết rằng Nghị viện sẽ không bao giờ chấp thuận, và một điều kiện khác: Trưởng Công chúa sẽ ở lại Tây Ban Nha một năm sau khi hôn lễ diễn ra để đảm bảo rằng phía Anh sẽ tuân thủ toàn bộ Hiệp ước. Một cuộc tranh cãi nổ ra giữa Buckingham và Bá tước Olivares, tể tướng Tây Ban Nha, và Charles đã cố gắng hòa giải nhưng vô ích. Khi Charles trở về London vào tháng 10, mà không có một cô dâu nào đi cùng, công chúng cảm thấy hân hoan, ông và Buckingham miễn cưỡng thuyết phục James tiếp tục chiến tranh với Tây Ban Nha.
Với sự khuyến khích của các cố vấn Tin Lành, James triệu tập Nghị viện Anh vào năm 1624 và tuyên bố một cuộc chiến tranh. Charles và Buckingham đứng ra tố cáo Tổng Thủ quỹ, Lionel Cranfield, Bá tước thứ nhất của Middlesex, người phản đối chiến tranh với lý do ngân sách bị suy giảm nghiêm trọng vì cuộc chiến, quan điểm này tương đồng với Bacon. James nói với Buckingham rằng ông ta là một kẻ ngốc, và cảnh báo thái tử rằng ông sẽ sớm phải hối tiếc vì đã ngầm trao cho Nghị viện một công cụ quyền lực, đó là luận tội. Một đội quân dưới quyền Ernst von Mansfeld được lập ra nhằm chiếm lại Palatinate, nhưng chi phí trang trải cho đội quân thấp đến nỗi nó không thể tiến vào vùng bờ biển Hà Lan.
Cuối năm 1624, James lâm bệnh, sau những nỗ lực miệt mài và khó khăn nhằm kiểm soát Quốc hội. Khi ông ta qua đời vào tháng 3 năm 1625, Charles và Công tước Buckingham đã kiểm soát vương quốc trên thực tế. Bản mẫu:House of Stuart
== Làm vua thời kì đầu ==
Với thất bại trước Tây Ban Nha, Charles và Buckingham chuyển sự chú ý sang Pháp. Ngày 1 tháng 5 năm 1625 Charles kết hôn kết hôn thông qua đại diện với Công chúa 15 tuổi của Pháp quốc Henrietta Maria trước cổng Nhà thờ Đức Bà Paris. Charles đã gặp Henrietta Maria lần đầu ở Paris khi đang trên đường đến Tây Ban Nha. Hai người chính thức kết hôn ngày 13 tháng 6 năm 1625 ở Canterbury. Charles hoãn việc khai mạc Quốc hội cho đến sau đám cưới chính thức để ngăn chặn mọi sự phản đối. Nhiều thành viên của Hạ viện phản đối hôn nhân của nhà vua với một người Công giáo, họ lo rằng Charles sẽ ngăn cản những người Kháng Cách và ngăn cản tiến trình cải cách của Giáo hội Anh. Mặc dù ông phát biểu trước Nghị viện rằng ông không có ý nới lỏng hạn chế tôn giáo, nhưng ông đã cam kết về điều đó trong cuộc đàm phán hôn nhân bí mật với vua Louis XIII của Pháp. Hơn nữa, một hiệp ước theo đó lực lượng Pháp sẽ kết hợp với hải quân Anh đàn áp những người Huguenots ở La Rochelle. Charles tiến hành lễ gia miện ngày 2 tháng 2 năm 1626 tại Tu viện Westminster, nhưng không có vợ ông bên cạnh vì bà từ chối tham gia buổi lễ tổ chức theo nghi thức Kháng Cách.
Sự bất mãn đối với chính sách tôn giáo của Charles gia tăng khi ông chấp thuận một cuộc tranh cãi của một giáo sĩ phản đối thần học Calvin, Richard Montagu, người không được lòng bọn Thanh giáo. Trong cuốn sách nhỏ A New Gag for an Old Goose (1624), Montagu lập luận chống lại Thần học Calvin nguyên thủy, học thuyết chủ nghĩa rằng sự cứu rỗi và sự nguyền rủa được định trước bởi Chúa. Những người chống Calvin-được gọi là Arminians – tin rằng con người có thể quyết định số phận của mình thông qua việc thực hiện những nguyện vọng của họ. Những người Arminian nằm trong thiểu số những người ủng hộ hôn nhân của Charles với công chúa Tây Ban Nha. Với sự ủng hộ của vua James, Montagu đã từng xuất bản một cuốn sách nhỏ, đầu đề là Appello Caesarem, năm 1625 không lâu trước cái chết của nhà vua, và Charles lên kế vị. Để bảo vệ Montagu khỏi sự chống đối của phe Thanh giáo trong Nghị viện, Charles phong một mục sư trong triều đình của ông, gia tăng sự nghi ngờ của người Thanh giáo rằng Charles ủng hộ những người Arminian với mục đích khôi phục lại Công giáo trên đất Anh.
Thay vì tham gia một cuộc chiến tranh trực tiếp trên lục địa châu Âu, nghị viện Anh tổ chức một cuộc tấn công ít tốn kém hơn vào các thuộc địa của Tây Ban Nha ở Tân Thế giới, với hi vọng sẽ tóm được Đội tàu chở kho báu của Tây Ban Nha. Nghị viện đã quyết định chi £140,000, một số tiền không đủ cho mưu đồ chiến tranh của Charles. Hơn thế nữa, Hạ viện lại giới hạn lại thu nhập của hoàng gia từ phí trọng tải và hoa hồng (hai loại thuế hải quan) trong thời hạn một năm, mặc dù những vị trước đó từ Henry VI của Anh đều có đầy đủ quyền hành trong vấn đề thu thuế này. Theo đó, Nghị viện có thể trì hoãn việc phê duyệt mức thuế cho đến khi họ xem xét toàn diện các nguồn thu từ hải quan. Dự luật này không được thông qua tại Thượng viện trong lần biểu quyết đầu tiên. Mặc dù không có một đạo luận cho phép thu phí trọng tải và hoa hồng, Charles tiếp tục cho thu thuế.
Một kế hoạch không đủ kinh phí nhằm thực hiện chuyến thám hiểm hải quân chống lại Tây Ban Nha dưới sự lãnh đạo Buckingham trở thành một thất bại tồi tệ, và Hạ viện bắt đầu chuẩn bị bằng chứng luận tội Công tước. Tháng 5 năm 1626, Charles tấn phong Buckingham làm Hiệu trưởng của Đại học Cambridge trong một chương trình hỗ trợ, và hai thành viên trong Hạ viện phát biển chống lại Buckingham – Dudley Digges và Sir John Eliot – bị bắt giữ trước cửa Hạ viện. Hạ viện bị xúc phạm khi hai thành viên của họ bị tống giam, và sau khoảng 1 tuần bị giam giữ, cả hai được phóng thích. Ngày 12 tháng 6 năm 1626, Hạ viện tung ra một bản tố cáo trực tiếp vào Buckingham, nội dung là, "Chúng thần phản đối trước mặt Thánh thượng và cả thế giới rằng cái con người tuyệt vời kia không nên được để cho can thiệp vào những vấn đề đại sự của quốc gia, chúng thần đã không còn hi vọng vào bất kì thành công mĩ mãn nào; và thật sợ hãi khi tiền bạc, chúng thần sẽ hoặc là có thể cung cấp, sẽ bị ông ta sử dụng sai chỗ, và trở lại hây tổn thương và ảnh hưởng xấu đến vương quốc của thánh thượng và mặt khác, bởi những kinh nghiệm đáng tiếc, chúng thần thấy rằng những nguồn ngân sách trước đây hoặc gần đây đã bị xuất ra gần hết." Mặc cho sự phản đối của Nghị viện, Charles từ chối bỏ rơi bạn thân của ông, thay vào đó ông giải tán Nghị viện.
Trong khi đó, những cuộc cãi vã giữa Charles và Henrietta Maria rất gay gắt trong những năm đầu hôn nhân. Tranh chấp về tài sản để lại cho vợ, các cuộc hẹn của hoàng hậu với gia đình bà, và nỗ lực chứng tỏ sự sùng đạo của hoàng hậu lên đến đỉnh điểm khi nhà vua trục xuất những người hầu cận đến từ Pháp của hoàng hậu vào tháng 8 năm 1626. Mặc dù Charles đã đồng ý trợ giúp cho người Pháp và sẽ cho một vài hạm đội Anh đến giúp Pháp như một điều kiện thách cưới, năm 1627, ông mở một cuộc tấn công vào bờ biển nước Pháp để bảo vệ những người Huguenots ở La Rochelle. Cuộc tấn công, lãnh đạo bởi Buckingham, đã không thành công. Thất bại của Buckingham trong việc bảo vệ những người Huguenots – và sự rút lui của ông về Saint-Martin-de-Ré – khiến vua Louis XIII có cớ mở Chiến dịch La Rochelle và tăng thêm sự bất bình của Nghị viện Anh và dân chúng đối với vị Công tước.
Charles lại gây ra một bất ổn khi cố gắng kiếm tiền cho cuộc chiến tranh bằng cách "khoản vay bắt buộc": một loại thuế được thu mà không cần quốc hội thông qua. Tháng 11 năm 1627, các sự kiện thử nghiệm trong King's Bench, được gọi là "Vụ kiện năm hiệp sĩ", cho thấy rằng nhà vua có quyền tống giam không qua xét xử đối với những người từ chối thuế mới. Quốc hội được triệu tập vào tháng 3 năm 1628, ngày 26 tháng 5 Nghị viện thông qua Kiến nghị quyền lực, kêu gọi nhà vua thừa nhận rằng ông không thể đánh thuế nếu Quốc hội không đồng ý, không áp đặt quân luật đối với dân thường, không bỏ tù không qua xét xử, và không đóng quân trước cửa Quốc hội. Charles ưng thuận kiến nghị này ngày 7 tháng 6, nhưng đến cuối tháng ông tạm ngưng hoạt động của Nghị viện và tiếp tục khẳng định quyền thu thuế hải quan của ông mà không có sự đồng ý của Nghị viện.
Ngày 23 tháng 8 năm 1628, Buckingham bị ám sát. Charles vô cùng đau khổ. Theo như Edward Hyde, Bá tước thứ nhất của Clarendon, thì "Thánh thượng nằm vật ra giường, than vãn với cảm xúc mạnh và khóc hết nước mắt". Ông đau buồn đến nỗi không rời khỏi phòng trong hai ngày. Trái lại, công chúng rất phấn khởi trước cái chết của Buckingham, người họ cho là cái hố ngăn cách triều đình và nhân dân, giữa Nhà vua với Hạ viện. Mặc dù cái chết của Buckingham chính thức chấm dứt cuộc chiến tranh với Tây Ban Nha; và chấm dứt sự lãnh đạo kém hiệu quả của ông ta, nhưng nó không chấm dứt mâu thuẫn giữa Charles với Nghị viện. Tuy nhiên, sự kiện này trùng hợp với việc nhà vua và vợ ông đã cải thiện mối quan hệ với nhau, và vào tháng 11 năm 1628, những tranh cãi giữa họ đã chấm dứt. Có lẽ tình yêu của Charles dành cho Buckingham đã chuyển sang cho Henrietta Maria. Bà mang thai lần đầu tiên, và quan hệ vợ chồng trở nên tốt đẹp hơn. Họ đã cùng nhau có một cuộc sống gia đình hạnh phúc, và triều đình của họ trở thành khuôn mẫu cho nghi thức và đạo đức.
== Tự cai trị ==
=== Ngừng hoạt động của Quốc hội ===
Tháng 1 năm 1629, Charles triệu tập Nghị viện lần thứ hai, vốn đã bị giải tán vào tháng 6 năm 1628, và đọc bản tuyên cáo với lời lẽ ôn hòa về vấn đề tiền trọng tải và hoa hồng. Các thành viên của Hạ viện bắt đầu công khai lên tiếng phản đối các chính sách của Charles như trường hợp của John Rolle, một thành viên của Nghị viện, người đã bị tịch thu tất cả hàng hóa vì không chịu nộp tiền thuế. Nhiều nghị sĩ cho rằng việc áp dụng biểu thuế trong thời điểm đất nước không có chiến tranh là sự vi phạm Kiến nghị quyền lực. Khi Charles ra chỉ dụ hoãn hoạt động của quốc hội vào ngày 2 tháng 3, Chủ tịch Hạ viện, Sir John Finch, ngồi xuống ghế của ông ta để kết thúc buổi họp đã từng bị trì hoãn đủ lâu với các nghị quyết chống lại Công giáo, trọng tải và tiền hoa hồng được thông qua. Bản nghị quyết này nhận được sự hoan nghênh từ các chính trị gia. Sự khiêu khích đối với Charles lên cao, ông giải thể Quốc hội và bắt giam 9 thành viên lãnh đạo Nghị viện, bao gồm Sir John Eliot, người sau đó nhận được vinh dự là hi sinh vì đạo, và khiến một cuộc biểu tình nổ ra.
Không lâu sau khi giải tán Quốc hội, khi không có sự phê duyệt của Nghị viện cho một cuộc chiến tranh ở châu Âu, và sự ảnh hưởng của Buckingham, Charles ký hòa ước với Pháp và Tây Nan Nha. Trong 11 năm tiếp theo, Charles cai trị Anh quốc không thông qua Nghị viện, thời kì này được gọi là thời kì tự nắm quyền hay "mười một năm chuyên chế". Việc cai trị không cần có quốc hội ở Anh không phải mới có từ thời Charles, mà đã có tiền lệ vào thời những người tiền nhiệm. Tuy nhiên chỉ có Quốc hội, có thể tăng thuế một cách hợp pháp, và nỗ lực của Charles khi tìm cách tăng ngân quỹ của ông bị thu hẹp bởi đặc quyền bị giới hạn của ông.
=== Tài chính ===
Vấn đề thâm hụt ngân sách đã khởi nguồn từ thời Elizabeth I và James I. Mặc cho các cuộc chiến dịch của Buckingham chống lại cả Tây Ban Nha và Pháp, Charles không có đủ khả năng tài chính để tiến hành chiến tranh với các nước khác. Trong suốt thời gian cai trị, Charles phải dựa dẫm chủ yếu vào những lực lượng tình nguyện để trang trải quốc phòng và những nỗ lực ngoại giao để ủng hộ hoàng tỉ, Elizabeth, với mục đích khôi phục lại Palatinate. Anh quốc vẫn là nước đánh thuế ít nhất ở châu Âu, không có khoản thu đặc biệt chính thức nào và không có một loại thuế nào được thu định kì. Để có tiền mà không phải triệu tập lại Nghị viện, Charles khôi phục lại đạo luật đã chìm vào quên lãng từ lâu gọi là "Tịch biên Hiệp sĩ", vốn bị hoãn trong hơn một thế kỉ, theo đó bất kì người nào kiếm được nhiều hơn £40 từ lãnh địa mỗi năm phải trình diện nhà vua tại lễ đăng quang của ông và được phong Hiệp sĩ Dựa theo luật này, Charles phạt tiền những ai không tham gia lễ đăng quang của ông năm 1626.
Một loại thuế mới được Charles đặt ra, gọi là thuế tàu thủy, càng không nhận được sự tán thành từ quần chúng, và lạm thu hơn so với cả thuế hoa hồng và trong tải trước đó. Trước đây, thuế tàu thủy chỉ được thu trong những lúc có chiến tranh nổ ra, và chỉ thu ở những vùng ven biển. Charles, tuy nhiên, lại cho thu thuế ngay vào thời bình và thu ở tất cả các vùng trong nước. Thuế tàu thủy thu được sẽ chuyển trực tiếp vào ngân quỹ của hải quân, tổng cộng đến khoảng £150,000 - £200,000 mỗi năm trong giai đoạn 1634 - 1638, sau đó giảm dần. Sự phản đối loại thuế này tăng lên, nhưng 12 thành viên trong Hội đồng luật của Anh tuyên bố rằng thu thuế là đặc quyền của nhà vua, mặc dù một vài ngườ trong số họ bị ép buộc. Việc John Hampden bị khởi tố vì không nộp thuế trong năm 1637 - 1638 là nền tăng cho sự phản đối, và Hội đồng chỉ chấp nhận khởi tố ông ta với số phiếu sít sao 7-5.
Nhà vua cũng tìm cách kiếm tiền bằng việc cấp độc quyền, bất chấp việc luật cấm những hành động như vậy, và mặc dù hiệu quả không được như mong đợi, cũng góp vào ngân khố £100,000 mỗi năm vào cuối những năm 1630. Một trong những độc quyền được cấp cho xà phòng, được gọi là xà phòng thuộc về giáo hoàng.. . Charles cũng tiến hành thu tiền từ giới quý tộc Scotland, với chính sách gây ra nhiều sự bất bình, bởi Đạo luật thu hồi (1625), tất cả các quà tặng là đất đai của hoàng gia và giáo hội dành cho quý tộc từ năm 1540 đều bị thu lại, nhưng người bị tước quyền sở hữu vẫn phải đóng thuế hằng năm. Thêm vào đó, ranh giới của các khu rừng hoàng gia ở Anh được khôi phục để tối đa hóa việc thu thuế từ đất và sẵn sàng xử phạt những ai sử dụng đất lấn vào ranh giới. Trọng tâm của chương trình này là nhằm phá rừng và bán đất rừng để phát triển kinh doanh trên đồng cỏ, hoặc trồng trọt, hoặc như trường hợp Forest of Dean, là phát triển ngành công nghiệp sắt. Sự phá rừng đã thường xuyên gây ra bạo loạn và những cuộc nổi dậy từ những nhân vật gọi là cuộc khởi nghĩa miền tây.
Việc thi hành cấp độc quyền ngày càng khiến quần chúng, những người phải trả thuế cao hơn những người được cấp độc quyền, phẫn nộ. Trong tình trạng bất ổn, Charles dường như sắp phải phá sản khi Nghị viện tiếp tục phủ quyết các loại thuế mới. Thành phố London, chìm ngập trong những ý kiến bất bình, và không ai chấp nhận cho nhà vua vay tiền, và cũng tương tự như vậy, ông cũng không thể vay tiền từ nước ngoài. Trong tháng 7, Charles lấy tổng cộng £130,000, và trong tháng 8 ông tiếp tục chiếm hết các cổ phiếu trong công ty Đông Ấn và bán nó với giá rẻ mạt.
== Xung đột tôn giáo ==
Trong suốt triều đại Charles I, vấn đề tôn giáo luôn đứng vị trí hàng đầu trong những cuộc tranh luật chính trị. Thần học Arminian nhấn mạnh quyền của các giáo sĩ có thể từ chối hoặc chấp nhận sự cứu vớt, và vì thế bị coi là dị giáo và một thứ có thể dẫn đến sự trở lại của Giáo hội Công giáo Roma trên đất Anh, vì nó đối lập với Thần học Calvin. Charles đồng tình với lời giáo huấn từ những người Arminia, và đặc biệt ông muốn đưa Giáo hội Anh (đang có khuynh hướng dựa vào Thần học Calvin) chuyển sang một mô hình khác truyền thống hơn và bí bích, và những người Thanh giáo coi hành động như vậy là không coi trọng đức tin. Ngoài ra, những người Tin Lành dõi theo tình hình chiến tranh ở châu Âu rất thường xuyên và sự thất vọng tăng cao đối với các chính ngoại giao của Charles đối với Tây Ban Nha và thất bại của ông trong việc ủng hộ phe Tin Lành ở lục địa.
Năm 1633, Charles bổ nhiệm William Laud làm Tổng Giám mục Canterbury. Cùng với đó, họ bắt đầu một loạt cải cách chống lại Calvinist nhằm cố gắng đảm bảo tính thống nhất tôn giáo bằng cách hạn chế những thuyết giả không theo Anh giáo, nhấn mạnh rằng các nghi thức tế lễ được tổ chức theo hướng dẫn của Kinh Cầu nguyện chung, thiết lập trong nội bộ các công trình nhà thờ ở Anh để nhấn mạnh bí tích, và tái tuyên bố Tuyên bố giải trí, theo đó cho phép các ngoại động truyền thống trong ngày sabbath. Những người được cấp đất từ nhà thờ, một tổ chức mua tài sản và quyền tiến cử làm mục sư mà đứng đằng sau có thể là người Thanh giáo, bị giải tán. Để truy tố những người phản đối cải cách của mình, Laud đã dùng hai toà án quyền lực nhất, Tòa án High Commission và Tòa án Star Chamber. Các tòa án trở nên lo sợ vì quan điểm tôn giáo đối lập của họ, và những hình phạt được tiến hành gắt gao ngay cả đối với giới quý tộc, khiến quần chúng không bằng lòng. Ví dụ năm 1637 William Prynne, Henry Burton và John Bastwick bị đóng gông, đánh roi và cạo lông và bị giam cầm không thời hạn vì xuất bản các truyền đơn chống các giám mục.
Khi Charles cố gắng áp đặt chính sách tôn giáo của ông đối với người Scotland, ông đối mặt với nhiều khó khăn. Mặc dù chào đời ở Scotland, Charles lại trở nên xa lạ với vương quốc ở phía bắc này; chuyến đi đầu tiên của ông tới Scotland sau thời thơ ấu là lần đăng quang ngôi vua Scotland năm 1633. Trước sự kinh ngạc của người Scots, những người đã loại bỏ nhiều nghi thức truyền thống khi tiến hành nghi thức tế lễ, Charles nhấn mạnh rằng lễ đăng quang của ông được tiến hành theo nghi thức Anh giáo. Năm 1637, nhà vua ra lệnh sử dụng một quyển kinh cầu nguyện mới ở Scotland có nội dung gần giống như Kinh cầu nguyện ở Anh, mà không thông báo với Nghị viện Scotland và nhà thờ. Mặc dù sắc lệnh được viết bằng giấy mực hẳn hoi dưới sử chỉ đạo của Charles, bởi các giám mục Scotland, nhiều người Scot chống lại nó, cho rằng cuốn Kinh cầu nguyện là thứ đưa Anh giáo đến đất nước Scotland. Ngày 23 tháng 7, cuộc nổi loạn nổ ra ở Edinburgh vào ngay ngày chủ nhật đầu tiên mà kinh cầu nguyện được sử dụng, và tình trạng bất ổn lan rộng ra khắp nơi. Công chúng bắt đầu tập hợp lại và cùng nhau tái khẳng định Công ước Quốc gia, theo đó cam kết sẽ duy trì các cải cách tôn giáo ở Scotland và từ chối bất kì sự đổi mới nào mà không có sự đồng ý của Nghị viện và Nhà thờ. Khi Đại hội Giáo hội Scotland họp tháng 11 năm 1638, họ lên án kinh cầu nguyện mới, bãi bỏ chính quyền nhà thờ giám mục của các giám mục, và chấp nhận Chính phủ trưởng lão được lãnh đạo bởi các trưởng lão và người trợ tế.
=== Chiến tranh các giám mục ===
Charles nhìn nhận tình trạng bất ổn ở Scotland là một cuộc nổi loạn chống lại triều đình của ông, và bắt đầu Chiến tranh các giám mục lần thứ nhất năm 1639. Charles không tìm kiếm sự ủng hộ từ Nghị viện Anh để tiến hành chiến tranh, thay vào đó ông cử một đạo quân lên phía bắc mà không cần được Quốc hội viện trợ giúp và đội quân này đóng Berwick-upon-Tweed, nơi ở gần biên giới Scotland. Nhà vua lo sợ cho quân đội của ông, vốn chẳng thấm tháp vào đâu so với lực lượng Scotland. Trong hiệp ước Berwick, Charles giành lại được quyền quản lý pháo đài Scotland và bảo đảm việc giải thể chính phủ lâm thời trưởng lão, dù vậy sự nhượng bộ dành cho cả Nghị viện Scotland và Nhà thờ cũng không ít.
Thất bại của Charles trong Chiến tranh giám mục lần thứ nhất gây ra một cuộc khủng hoảng về cả tài chính và ngoại giao đối với Charles, và sự túng quẫn đó càng tăng thêm khi ông cố gắng mượn tiền của người Tây Ban Nha, trong khi vẫn ủng hộ người anh rể ở Palatine, dẫn đến việc bị bẻ mặt trong Trận Downs, nơi người Hà Lan đã đánh tan hạm đội của Tây Ban Nha ở vùng bờ biển Kent trước sự bất lực của Hải quân Anh.
Charles tiếp tục đàm phán nghị hòa với người Scot nhằm kéo dài thời gian để chuẩn bị cho một chiến dịch quân sự mới. Bởi vì tình hình tài chính khó khăn, ông buộc phải triệu tập Nghị viện để mong có thêm tiền trang trải chiến phí. Cả nghị viện Anh và Nghị viện Ireland đều được triệu tập vào mùa xuân năm 1640. Tháng 3 năm 1640, Nghị viện Ireland bỏ phiếu hỗ trợ cho nhà vua £180,000 để nuôi quân đội và hứa gửi 9,000 quân tinh nhuệ vào cuối tháng 5. Tuy nhiên trong cuộc biểu quyết Quốc hội Anh vào tháng 3, các thành viên Nghị viện lại đưa ra quyết định trái ngược với phía Ireland, vì thế quan hệ giữa nhà vua với Nghị viện trở nên tồi tệ vào tháng 4. Bá tước Northumberland và Strafford có ý làm trung gian cho cuộc thương lượng giữa hai bên, theo đó nhà vua phải đồng ý bỏ thuế tàu thủy để đổi lại £650,000 (mặc dù chi phí cho chiến tranh ước tính lên tới £1 triệu). Tuy nhiên, chỉ điều kiện này thôi khi không đủ làm vừa lòng Hạ viện. Các thành viên Hạ viện "kêu gọi về sự đổi mới", nhưng Charles để ngoài tai, ông vẫn còn nhận được sự ủng hộ của Thượng viện. Bất chấp sự phản đối của Northumberland, Nghị viện ngắn hạn (tên gọi thường được dùng vì thời gian tồn tại ngắn ngủi) bị giải tán vào tháng 5 năm 1640, một tháng sau khi được triệu tập.
Đến giai đoạn này thì Strafford, Phó vương Ireland từ năm 1632, đã trở thành cánh tay đắc lực của nhà vua cùng với Laud, theo đuổi một chính sách "triệt để" với mục đích làm cho vương quyền lớn mạnh hơn và đàn áp các thế lực địa phương và thế lực chống chính phủ. Mặc dù ban đầu phê phán nhiều chính sách của nhà vua, Strafford lại đứng về phía hoàng gia từ năm 1628 (theo lời khuyên của Buckingham), và cùng với Laud, trở thành các bộ trưởng có ảnh hưởng lớn đổi với Charles.
Bị ảnh hưởng bởi thất bại của Nghị viện ngắn hạn ở Anh, Nghị viện Scotland tuyên bố rằng mình có thể tự cai trị mà không cần sự đồng ý của nhà vua, vào tháng 8 năm 1640, quân Covenanter tiến đến đất Northumberland thuộc nước Anh. Charles và Strafford trực tiếp lên phía bắc để chỉ huy quân đội Anh, Vì bá tước Northumberland, người của nhà vua đứng đầu vùng đất này, đang bị hành hạ bởi bệnh gút và bệnh lị. Những người lính Scotland, phần nhiều đã từng chiến đấu trong Chiến tranh Ba mươi năm, có tinh thần chiến đấu và sự thành thục chiến trận cao hơn quân đội Anh, và dễ dàng tiến sâu đến Newcastle upon Tyne mà không vấp phải sự kháng cự nào. Ở nơi đây diễn ra Trận Newburn, và người Scot đánh bại người Anh và chiếm đóng thành phố cũng như vùng đất lân cận là Durham.
Khi nhu cầu triệu tập Nghị viện ngày càng trở nên cấp thiết, Charles đã có quyết bất thường khi triệu tập Đại hội đồng khanh tướng. Vào lúc cuộc họp diễn ra, ngày 24 tháng 9 tại York, Charles đã làm theo lời khuyên của hầu hết mọi người và triệu tập Nghị viện. Sau khi thông báo đến các quý tộc rằng một cuộc họp Quốc hội sẽ diễn ra vào tháng 11, ông yêu cầu họ tìm cách nào đó để ông có thể có kinh phí duy trì quân đội để chiến đấu với người Scot. Họ khuyên ông nên thương lượng với phía Scotland. Một hiệp định hòa bình, dù cho đó không phải là hiệp định vĩnh viễn, đã được ký vào tháng 10 năm 1640, với thất bại nhục nhã của nhà vua Hiệp ước Ripon. Theo nội dung Hiệp ước, người Scots sẽ tiếp tục chiếm đóng Northumberland và Durham, và được trả £850 mỗi ngày cho đến khi hòa bình lập lại và Nghị viện Anh được tái triệu tập, mà khi có Nghị viện mới có đủ vốn chi trả cho quân Scotland. Do đó Charles lại triệu tập Quốc hội, Quốc hội này được biết đến với tên gọi là Quốc hội dài hạn. Một lần nữa, sự ủng hộ dành Charles khá thấp trong nội bộ Quốc hội. Trong số 493 thành viên của Hạ viện được phục chức vào tháng 11, có hơn 350 người chống đối nhà vua.
== Nghị viện dài hạn ==
=== Sức ép chiến tranh ===
Nghị viện dài hạn đã chứng minh rằng họ còn khó đối phó gấp nhiều lần so với Nghị viện ngắn hạn. Nghị viện được tập hợp ngày 3 tháng 11 năm 1640 và nhanh chóng khởi động quá trình luận tội phản quốc đối với các cố vấn hàng đầu của nhà vua. Strafford bị bắt giam vào ngày 10 tháng 11; Laud bị luận tội vào ngày 18 tháng 12; Lord Keeper Finch bị luận tội vào ngày hôm sau, và ông ta đã đào thoát đến the Hague với sự cho phép của Charles ngày 21 tháng 12. Để ngăn chặn nhà vua giải tán Nghị viện theo ý muốn, Nghị viện đã thông qua Đạo luật ba năm một lần, yêu cầu Nghị viện phải được triệu tập ít nhất mỗi ba năm, và cho phép Lord Keeper of the Great Seal và 12 khanh tướng có thể tự triệu tập Nghị viện nếu nhà vua không làm điều đó. Đạo luật này ra đời cùng lúc với dự luật trợ cấp, và do đó Charles phải miễn cưỡng ban chỉ dụ bày tỏ sự đồng tình của hoàng gia vào tháng 2 năm 1641..
Strafford trở thành mục tiêu công kích của các nghị sĩ, đặc biệt là John Pym, và ông bị xét xử vì tội phản quốc ngày 22 tháng 3 năm 1641. Tuy nhiên, cáo buộc của Sir Henry Vane rằng Strafford đã đe dọa sẽ dùng tới quân đội Ireland để chinh phục Anh quốc đã không được chứng minh và ngày 10 tháng 4, vụ kiện của Pym đã không thành công. Pym và các đồng minh bèn đưa ra một dự luật trái với pháp luật, theo đó chỉ tuyên bố Strafford có tội và tuyên án tử hình ông ta.
Charles trấn an Strafford rằng "Bằng lời nói của một vị vua, ái khanh sẽ không bị mất đi mạng sống, danh sự và tài sản", và cái thủ tục pháp lý kia sẽ không được thực hiện nếu Charles không đồng ý. Hơn thế nữa, nhiều thành viên Nghị viện và hầu hết các khanh tướng phản đối dự luật, họ không mong muốn, "giết người bằng lưỡi gươm công lý". Tuy nhiên, căng thẳng leo thang khi xuất hiện một cuộc đảo chính bất thành do những người bảo hoàng tổ chức để cứu Stafford, có cả sự tham gia Charles. Hạ viện thông qua dự luật ngày 20 tháng 4 với số phiếu chênh lệch (204 phiếu thuận, 59 phiếu chống, và 230 phiếu trắng), và các lãnh chúa cũng ưng thuận việc này (tỉ lệ 26/19, 79 người không có ý kiến) vào tháng 5. Charles, lo sợ cho sự an toàn của gia đình ông khi đang phải đối mặt với tình trạng bất ổn, phải miễn cưỡng thông qua dự luật ngày 9 tháng 5 sau khi bàn bạc với các thẩm phán và giám mục. Strafford bị chém đầu ba ngày sau đó.
Ngày 3 tháng 5, những người bất mãn trong Nghị viện lên án những "âm mưu xấu xa" của Charles là "cai trị tùy tiện và độc tài"; trong khi một số người khác ký tiến thỉnh nguyện sẽ bảo vệ cho "thân thể, danh dự và đẳng cấp " của nhà vua, họ cũng đã thề bảo vệ "những cải cách tôn giáo thực sự", Nghị viện, và "quyền lợi và sự tự do của thần dân". Chưa đầy một tuần sau, Charles phê chuẩn một Đạo luật chưa từng có, theo đó cấm việc giải tán Nghị Viện mà không có sự đồng ý của Nghị viện. Tháng sau, thuế tàu thủy, tiền phạt vụ phong tước hiệp sĩ và khoản tiêu đặc biệt không cần Quốc hội đồng ý đã được tuyên bố là không hợp pháp, các Tòa án Star Chamber và High Commission bị giải tán. Tất cả những loại thuế còn lại được công nhận và được quy định trong Luật Trọng tải và Hoa hồng. Hạ viện cũng tìm cách kết tội các giám mục, nhưng không được sự phê chuẩn từ các Lãnh chúa.
Charles đã nhượng bộ đối với phía Anh, và tạm thời cải thiện được địa vị ở Scotland bằng cách đến thăm vương quốc này trong khoảng tháng 8 đến tháng 11 năm 1641, tại đây ông thừa nhận sự thành lập và tồn tại của Giáo hội Trưởng lão. Tuy nhiên, sau một cuộc đảo chính của những người bảo hoàng ở Scotland, gọi là "The Incident", uy tín của Charles lại một lần nữa bị suy giảm.
=== Đối phó với cuộc nổi dậy ở Ireland ===
Ở Ireland, người dân chia làm 3 nhóm chính trị chủ yếu: người Gaelic Irish, theo Công giáo, người Cựu Anh, là con cháu của người Norman thời trung cổ và cũng theo Công giáo; và Tân Anh, những người vừa di dân từ Anh và Scotland đến Ireland theo Kháng Cách, họ ủng hộ Nghị viện Anh và Covenanters. Thời gian Strafford làm phó vương của Ireland, nền kinh tế phát triển và mức thuế đóng góp cho hoàng gia tăng lên, nhưng những điều đó có được bởi sự áp đặt của chính phủ. Nhà vua đã dựng lên một đội quân Công giáo lớn nhằm tạo thêm thế lực cho mình và làm suy yếu quyền lực của Nghị viện Ireland, trong khi vẫn tiếp tục đoạt đất của người Công giáo cho người Kháng Cách, cùng lúc lại tìm cách Anh giáo vào Ireland, với những tư tưởng chống Giáo hội Trưởng lão. Kết quả là, cả ba nhóm chính trị đều bất mãn. Việc Strafford bị luận tội, đã đem đến một giai đoạn mới đối với nền chính trị Ireland, và tất cả các bên đều đưa ra bằng chứng chống lại ông ta. Tương tự như Nghị viện Anh, nhóm Cựu Anh trong nghị viện Ireland chống đối Strafford và tuyên bố vẫn trung thành với Charles. Họ lập luận rằng nhà vua đã bị mê hoặc bởi tên sủng thần độc ác, và hơn thế nữa, một vị phó vương như Strafford có thể đủ sức hành động như một người cai trị chuyên chế chứ chưa hẳn nhà vua đã có thể trực tiếp cai trị hòn đảo. Thất bại Strafford cũng làm suy yếu sức ảnh hưởng của Charles lên vương quốc Ireland. Yêu cầu giải thể quân đội Ireland của Hạ viện Anh đã bất thành tới ba lần trong lúc Strafford bị giam trong tù, cho đến khi Charles cuối cùng do thiếu tiền đã phải giải tán quân đội và cuối cùng đưa Strafford ra xét xử. Cách tranh chấp liên quan đến việc chuyển quyền sử dụng đất từ những người Công giáo sang cho những người Tin Lành đến định cư, đặc biệt liên quan đến vấn đề plantation of Ulster, cùng lúc với quyết định đặt Nghị viện Scotland dưới Nghị viện Anh, đã gieo mầm cho cuộc nổi loạn. Khi xung đột vũ trang phát sinh giữa người Gaelic và Tân Anh, vào cuối tháng 10 năm 1641, người Cựu Anh đứng về phía người Gaelic và đồng thời vẫn tuyên bố trung thành với nhà vua.
Tháng 11 năm 1641, Hạ viện thông qua Đại Kháng nghị, một danh sách dài những khiếu nại đối với các hành động của bộ trưởng của Charles từ đầu triều đại của ông (được khẳng định là một phần của âm mưu lớn của những người Công giáo mà nhà vua bị lợi dụng và lôi kéo tham gia), nhưng có vẻ như là Pym đã bước đi quá xa bởi chỉ có 11 phiếu thuận - 159 phiếu chống, khoảng cách lên đến 148. Hơn thế nữa, Đại Kháng nghị cũng không được nhiều sự ủng hộ từ Thượng viện, nơi có nhiều thành viên bị Đại Kháng nghị nhắm vào. Căng thẳng leo thang khi những tin tức về cuộc nổi loạn ở Irelang truyền đến, cùng với những tin đồn sai sự thực là Charles có đồng lõa trong vụ này. Suốt tháng 11, một loạt các truyền đơn xuất hiện gây ra hoang mang trong quần chúng khi kể về cuộc nổi dậy tàn khốc ở Ireland, trong đó có những cuộc tàn sát vô tội vạ nhằm vào người Tân Anh bởi phe những người Ireland bản xứ mà người Cựu Anh không thể kiểm soát được. Tin đồn về "người theo Giáo hội" đang có âm mưu nào đó lan truyền khắp vương quốc Anh, và thái độ chống Công giáo của người Anh càng thêm vững chắc, làm tổn hại đến danh tiếng và quyền hạn của Charles.
Nghị viện Anh không tin tưởng vào những động cơ của Charles khi ông muốn có thêm tiền để trang trải việc dẹp loạn của Ireland; nhiều thành viên Hạ viện nghi ngờ rằng nguồn nhân lực và tài lực họ cung cấp có thể sẽ bị Charles dùng để chống lại chính Quốc hội. Pym đề ra Dự luật dân quân với dự định giành quyền kiểm soát quân đội của nhà vua, song các khanh tướng không chịu, để lại một mình Charles. Thay vào đó, Hạ viện thông qua dự luật giống như một pháp lệnh, họ tuyên bố rằng không cần sự đồng ý của hoàng gia. Pháp lệnh dân quân được đưa ra dường như đã xúi giục các lãnh chúa đưa quân hỗ trợ nhà vua. Trong một nỗ lực nhằm củng cố địa vị của mình, Charles lại gây ra sự bất bình lớn hơn từ người London, và nơi đây nhanh chóng chìm trong hỗn loạn, khi ông đặt Tháp London nằm dưới sự chỉ huy của Đại tá Thomas Lunsford, một người không nổi tiếng, mặc dù có năng lực. Khi tin đồn truyền tới tai Charles là Nghị viện có ý buộc tội hoàng hậu thông đồng với phiến quân Ireland, ông quyết định hành động quyết liệt.
=== Năm thành viên ===
Charles nghi ngờ rằng, có thể ông đã đúng, rằng một số thành viên trong Nghị viện Anh đã thông đồng với người Scot xâm lược nước Anh. Ngày 3 tháng 1, Charles buộc Nghị viện cách chức năm thành viên của họ – Pym, John Hampden, Denzil Holles, William Strode và Sir Arthur Haselrig – cùng một người khác – Lord Mandeville – vì lý do là họ bị nghi phạm tội phản quốc. Khi Nghị viện kháng chỉ, có thể Henrietta Maria đã khuyên Charles bắt giữ năm thành viên kia, và Charles đã quyết định làm theo. Tuy nhiên, tin tức về việc bắt giữ truyền đến Nghị viện, và năm người kia lên thuyền bỏ trốn không lâu trước kia Charles xông vào Hạ viện với quân đội của ông, ngày 4 tháng 1 năm 1642. Sau khi đuổi chủ tịch Hạ viện, William Lenthall, khỏi cái ghế của ông ta, nhà vua yêu cầu ông ta nói nơi các nghị sĩ đã bỏ trốn. Lenthall, đã quỳ xuống, và đáp lại nhà vua bằng một câu nói nổi tiếng, "Có thể để làm vui lòng Thánh Thượng, Hạ thần sẽ không còn cặp mắt nào để nhìn và không có cái lưỡi nào để nói ở nơi này nhưng đây là nơi Hạ thần lãnh đạo, và tôi tớ thần đang ở đây." Charles ngậm ngùi tuyên bố "tất cả lũ chim đã trốn thoát", và buộc phải ra về mà không thu được gì cả.
Nỗ lực bắt giữ bất thành nhanh chóng trở thành tai họa cho Charles. Tiền lệ chưa có vị vua Anh nào bước chân vào Hạ viện, và hành động vô tiền khoáng hậu của ông khi dẫn quân vào nơi đó để bắt giữ 5 thành viên đã xâm phạm nghiêm trọng quyền lực của Quốc hội. Trong một cơn thịnh nộ, Charles phá tan hết những sự ủng hộ dành cho ông như người bảo vệ chống lại sự đổi mới và mất trật tự.
Nghị viện nhanh chóng kiểm soát London, và Charles rời thủ đô đến Lâu đài Bá tước Hampton ngày 10 tháng 1 năm 1642, hai ngày sau ông đến Lâu đài Windsor. Sau khi gửi hoàng hậu và công chúa hoàng gia đến một nơi an toàn ở nước khác trong tháng 2, ông đi về phía bắc, hi vọng sẽ kiểm soát được kho vũ ký quân sự ở Hull. Nhưng mọi việc không như là mơ, ông bị đẩy lui bởi Thống đốc nghị viện tại thị trấn, Sir John Hotham, người từ chối cho ông vào địa phận vào tháng 4, và Charles buộc phải rút lui.
== Nội chiến Anh ==
Giữa năm 1642, hai phe bắt đầu cuộc chiến. Quân của Charles là những kị sĩ phong kiến có kinh nghiệm trong chiến trận với cách dàn quân theo kiểu Trung cổ, và Nghị viện kêu gọi những người tình nguyện tham gia vào lực lượng dân quân. Sau những cuộc đàm phán không thu được kết quả gì, Charles ký quyết định tuyên chiến ở Nottingham ngày 22 tháng 8 năm 1642. Vào những tháng đầu của Cuộc nội chiến lần thứ nhất, quân của Charles kiểm soát các xứ Midlands, Wales, miền tây và miền bắc nước Anh. Ông thiết triều ở Oxford. Nghị viện kiểm soát London, miền đông nam và miền đông nước Anh, và kiểm soát lực lượng hải quân.
Sau một vài cuộc đụng độ nhỏ, hai bên gặp nhau tại Edgehill, ngày 23 tháng 10 năm 1642. Cháu trai của Charles Hoàng thân Rupert xứ the Rhine không đồng ý với kế hoạch tác chiến của người chỉ huy phe bảo hoàng, Lãnh chúa Lindsey, và Charles đồng tình với Rupert. Lindsey từ chức, sau đó Charles đưa Lãnh chúa Forth lên thay thế. Kị binh của Rupert đã phá vây thành công trước quân của Nghị viện, nhưng thay vì trở lại đánh tiếp, ông ta lại đi đường tắt để đánh vào đội hậu quân. Lindsey, đã bị thương và chảy máu đến chết mà không có người trợ giúp băng vết thương. Trận chiến kết thúc bất phân thắng lại khi trời đã sập tối.
Theo hồi trưởng của Charles, kinh nghiệm học được từ cuộc chiến khiến nhà vua "buồn vô hạn và sâu sắc". Ông điểm quân tại Oxford, từ chối đề nghị Rupert là nhanh chóng tiến quân đánh London. Sau một tuần, ông mới cho quân đánh thủ đô ngày 3 tháng 11, chiếm Brentford, vùng mà quân đội của ông đi qua trên đường hành quân; tiếp đó ông vẫn duy trì đàm phán với Nghị viện. Tại Turnham Green thuộc ngoại ô London, quân đội hoàng gia gặp phải sự kháng cự từ lực lượng quân dân thủ đô, với lực lượng đông đảo hơn, nên Charles ra lệnh thoái quân. Ông ở qua mùa đông tại Oxford, tăng cường hệ thống phòng thủ trong thành phố và chuẩn bị cho chiến dịch vào mùa xuân năm sau. Thỏa thuận hòa bình giữa hai bên kết thúc vào tháng 4.
Chiến tranh tiếp tục mà vẫn chưa bên nào giành được lợi thế trong vài năm tiếp đó, và Henrietta Maria trở về Anh trong 17 tháng từ tháng 2 năm 1643. Sau khi Rupert chiếm được Bristol tháng 7 năm 1643, Charles đến thăm thành phố cảng này và bao vây Gloucester, áp sát sông Severn. Kế hoạch của ông nhằm công phá các bức tường thành đã thất bại vì trời mưa to, và viện quân của Quốc hội đang đến gần, Charles gỡ bỏ vòng vây và rút lui về Lâu đài Sudeley. Quân đội của Quốc hội lại tiến về London, truy đuổi quân của Charles. Hai bên lại giáp chiến Newbury, Berkshire, ngày 20 tháng 9. Giống như trận Edgehill,trận chiến rơi vào bế tắc khi màn đêm buông xuống, và hai bên tự thối lui. Tháng 1 năm 1644, Charles triệu tập một Quốc hội ở Oxford, gồm 40 khanh tướng và 118 thành viên Hạ viện, Quốc hội này được biết với tên gọi Nghị viện Oxford, cho đến tháng 3 năm 1645, nó đã nhận được sự ủng hộ của phần lớn các quý tộc và một phần ba thành viên Hạ viện. Charles cảm thấy thất vọng vì sự vô hiệu quả của cái hội nghị này, ông gọi nó là "vật lai", trong một bức thư gửi cho hoàng hậu.
Năm 1644, Charles vẫn ở miền nam nước Anh trong khi Rupert hành quân lên phía bắc để giải vây Newark và York, vốn đang bị quân đội Scotland đe dọa nghiêm trọng. Charles giành chiến thắng trong trận cầu Cropredy vào cuối tháng 6, nhưng đội quân ở miền bắc lại bị đánh bại tại trận Marston Moor chỉ sau đó vài ngày. Nhà vua tiếp tục tổ chức chiến dịch ở phía nam, bao vây và giải giáp lực lượng quân của Nghị viện dưới sự chỉ huy của Bá tước Essex. Quay trở lại căn cứ tại Oxford, ông tham gia trận Newbury lần thứ hai trước khi mùa đông đến; trận chiến kết thúc bất phân thắng bại. Những nỗ lực đàm phán được tiến hành vào mùa đông, khi hai bên tái vũ trang và tổ chức lại lực lượng, cũng không thu được kết quả.
Tại trận Naseby ngày 14 tháng 6 năm 1645, kị binh của Hoàng thân Rupert tấn công mãnh liệt, bẻ gãy cánh trái và truy kích những đại đội kị binh của Quân đội kiểu mới của Nghị viện đang bỏ chạy, nhưng lực lượng của Charles bị quân phản nghịch truy đuổi gắt gao. Charles, cố gắng động viên quân đội, thúc ngựa ra phía trước đội quân như ông từng làm vài lần trước kia, nhưng Lãnh chúa Carnwath ngăn lại và kéo ông về, vì lo sợ cho sự an toàn của nhà vua. Hành động của Carnwath bị quân bảo hoàng hiểu lầm là lệnh rút quân, dẫn đến việc hàng ngũ bị rối loạn. Cán cân lúc này nghiêng hẳn về phía Nghị viện. Hoàng thân Rupert chỉ kịp bảo vệ nhà vua chạy thoát khỏi trận địa. Từ đây quân hoàng gia gặp hàng loạt thất bại liên tiếp, và sau Chiến dịch Oxforl, Charles cải trang thành một người đầy tớ rồi bỏ trốn vào tháng 4 năm 1646. Ông tự nộp mình cho quân đội trưởng lão đang bao vây Newark, và bị dẫn lên phía bắc đến Newcastle upon Tyne. Sau chín tháng đàm phán, người Scot đã đi đến một thỏa thuận với người Anh, theo đó đổi lấy £100,000 và sẽ còn nhiều hơn trong tương lai, phía Scotland sẽ rút khỏi Newcastle và giao nộp Charles cho Nghị viện vào tháng 1 năm 1647.
=== Bị câu thúc ===
Nghị viện đã quản thúc Charles tại Holdenby House thuộc Northamptonshire cho đến khi viên sĩ quan George Joyce dùng vũ lực buộc ông rời Holdenby ngày 3 tháng 6 dưới danh nghĩa quân đội kiểu mới. Vào thời điểm đó, sự nghi vực phát sinh và gia tăng trong nội bộ giữa một bên là Nghị viện, ủng hộ giải tán quân đội và Giáo hội trưởng lão, với bên kia là Quân đội kiểu mới, những người chủ trương Độc lập không theo tôn giáo, muốn có được vai trò chính trị lớn hơn hiện tại. Charles háo hứng lợi dụng sự chia rẽ này, ông xem hành động của Joyce là một cơ hội cho mình chứ không phải là mối đe dọa. Đầu tiên ông được đưa tới Newmarket, nơi mà ông muốn đến, và sau đó đến Oatlands rồi Hampton Court, trong khi nhiều cuộc đàm phán không có kết quả diễn ra. Tháng 11, ông nhận ra được cơ hội trốn thoát đã đến, và tìm kiếm một nơi ẩn náu – Pháp, miền nam nước Anh hay Berwick-upon-Tweed, gần biên giới Scotland. Ông trốn khỏi Hampton Court ngày 11 tháng 11, và từ bờ biển Southampton Water ông bắt liên lạc với Robert Hammond, Thống đốc Nghị viện Isle of Wight, Charles tin rằng ông ta còn trung thành với mình. Hammond, tuy nhiên, câu thúc Charles trong Lâu đài Carisbrooke và thông báo với Nghị viện rằng Charles đang ở chỗ mình.
Từ Carisbrooke, Charles tiếp tục cố gắng thương lượng với các bên chống đối. Mặc dù trước đây từng xung đột với Nhà thờ Scotland, ngày 26 tháng 12 năm 1647 ông ký một hiệp ước bí mật với người Scot. Theo cái thỏa thuận gọi là "Engagement", Scotland sẽ tiến hành xâm lược nước Anh dưới danh nghĩa của Charles và khôi phục ngai vàng cho ông với điều kiện Giáo hội Trưởng lão được thành lập ở Anh trong 3 năm.
Phe bảo hoàng lại nổi lên vào tháng 5 năm 1648, khởi đầu cuộc nội chiến lần 2, và như thỏa thuận với Charles, Scotland đưa quân đánh Anh. Các cuộc nổi dậy ở Kent, Essex, và Cumberland, và cả ở Nam Wales, bị quân đội kiểu mới đánh tan, và với thất bại của Scotland tại trận Preston vào tháng 8 năm 1648, hoàng gia không còn bất kì cơ hội chiến thắng nào.
Charles bây giờ chỉ còn trông mong vào cuộc đàm phán, được tổ chức ở Newport thuộc Đảo Wight. Ngày 5 tháng 12 năm 1648, Nghị viện quyết định tiếp tục đàm phán với nhà vua với tỉ lệ số phiếu là 129/83, nhưng Oliver Cromwell và quân đội phản đối bất kì cuộc đàm phán nào với một người là họ coi là bạo chúa khát máu và đã dùng hành động để thể hiện quyền lực của họ. Hammond bị cách chức Thống đốc đảo Wight ngày 27 tháng 11, và bị quân đội quản thúc từ ngày hôn sau. Tại sự kiện Pride's Purge diễn ra vào ngày 6 và 7 tháng 12, 143 thành viên nghị viện bị bắt giữ hoặc cách chức bởi Đại tá Thomas Pride, trong khi chỉ có 50 người ủng hộ quân đội được giữ lại. Các thành viên còn lại được gọi là Nghị viện Rump. Đó là kết cục của một cuộc đảo chính quân sự.
== Xét xử ==
Charles bị chuyển tới Lâu đài Hurst vào cuối năm 1648, và sau đó đến Lâu đài Windsor. Tháng 1 năm 1649, Hạ viện Rump truy tố ông vì tội phản quốc, tuy rằng cáo buộc bị Thượng viện bác bỏ. Ý tưởng xét xử nhà vua là một chuyện lạ thường. Chánh thẩm pián của ba phiên tòa là Henry Rolle, Oliver St John vàd John Wilde – tất cả đều phản đối bản cáo trạng dành cho nhà vua là trái pháp luật. Hạ viện Rump tự tuyên bố họ có thể tự nắm quyền lập pháp, thông qua một dự luật thiết lập một tòa án đắc biệt xét xử Charles, và tuyên bố dự luật trở thành đạo luật mà không cần sự đồng ý của hoàng gia. Tòa đại hình Justice được thành lập sau Đạo luật này gồm 135 ủy viên, nhưng phần nhiều trong số họ từ chối nhiệm vụ hoặc không đến tòa. Chỉ có 68 người (đều là thành viên Nghị viện) tham gia phiên tòa xét xử Charles về tội phản quốc và "những tội lớn khác" bắt đầu vào ngày 20 tháng 1 năm 1649 tại Đại sảnh Westminster. John Bradshaw là Chủ thẩm phiên tòa, và người đứng truy tố là Luật sư John Cook.
Charles đã bị buộc tội phản quốc, chống lại Anh quốc bằng cách dùng quyền lực của mình để chăm lo cho lợi ích cá nhân thay vì lợi ích quốc gia. Bản cáo trạng nói rằng ông, "cho những dự định đã thực hiện của ông ta, cho việc bảo vệ bản thân ông ta và người ủng hộ ông ta là mục đích của những hành động xấu xa của ông ta và bọn chúng, và cuối cùng dẫn đến sự phản bội và ngoan cố trong cuộc chiến chống lại Nghị viện hiện nay, và những người đứng đại diện (trong Nghị viện)", và rằng "chính sách độc ác, chiến tranh, và những hành động xấu xa của ông ta, ông Charles Stuart, đã làm, và ông ta làm điều đó vì sự thăng tiến và lợi ích cá nhân, ý thích, quyền lực, cho ông ta và gia đình ông ta, chống lại lợi ích quốc gia, quyền cộng đồng, sự tự do, công lý, và hòa bình của mọi công dân trên đất nước này." Phản ánh đúng các khái niệm hiện đại về trách nhiệm của người chỉ huy, bản cáo trạng buộc tội ông "kết tội tất cả những ai làm phản, giết người, cướp bóc, thiêu sống, ăn cắp, tàn phá, gây thiệt hại tổn lại đến đất nước này, hành động và tham gia trong các cuộc chiến tranh đã nói đến, hoặc gây ra điều đó." Ước tính khoảng 300,000 người, 6% dân số chết vì chiến tranh.
Trong ba ngày xét xử đầu tiên, bất cứ khi nào được yêu cầu tìm người bào chữa, ông từ chối, và bày tỏ sự phản đối của mình: "Quả nhân không biết là với cái danh nghĩa gì đưa quả nhân đến đây, là quyền thế hợp pháp à...?" Ông tuyên bố là không có tòa án nào có thẩm quyền xét xử một vị quân vương, quyền lực cai trị của riêng ông được Chúa ban cho và bởi những luật lệ truyền thống của Anh quốc, và rằng cách duy nhất để ông giữ được quyền lực đó là phải dựa vào lực lượng vũ trang. Charles nhấn mạnh phiên tòa là bất hợp pháp, giải thích rằng,
Không có một quyền thế nào trên thế giới này có thể thẩm vấn quả nhân (là vua của các ngươi) với những câu hỏi như thể đối với tội phạm ... Việc làm ngày hôm nay không được công nhận theo luật của Chúa, mà trái lại, quyền thế cần phải được tuân phục của một vị vua được chứng thực trong cả Cựu Ước và Tân Ước ... Đối với pháp luật của vùng đất này, Quả nhân không phải không tự tin, không có một luật sư nào dám giả dối khẳng định sự luận tội chống lại nhà vua, tất cả họ đều sẽ tự làm theo ý của mình: và một trong những châm ngôn của họ là, nhà vua không làm gì sai ... Thượng viện bị loại trừ hoàn toàn; và còn Hạ viện, ai cũng biết rằng phần lớn thành viên Hạ viện đang bị giam giữ hay bị loại bỏ khỏi chức vụ ... những gì Quả nhân làm chỉ là bảo vệ những nguyên tắc cơ bản của vương quốc này và chống lại những ai cho là quyền lực của Quả nhân đã hoàn toàn làm thay đổi chính quyền cổ xưa.
Tòa án, ngược lại, bác bỏ đặc quyền miễn truy tố của quốc vương, và đề xuất "Nhà vua của Anh không phải là một cá nhân, mà là một chức vụ mà người nắm giữ nó được giao phó một quyền lực hạn chế để cai trị 'bởi và theo pháp luật của đất nước và không là cái gì khác'."
Vào cuối ngày thứ ba, Charles bị đưa ra khỏi tòa án, và sau đó hơn 30 nhân chứng bắt đầu chống lại nhà vua khi ông không có mặt ở đó vào hai ngày tiếp theo, và ngày 26 tháng 1 ông bị xử tội chết. Ngày hôm sau, đức vua bị giải ra trước quần chúng, bị tuyên bố có tội và bị kết án. 59 ủy viên đã ký tên vào bản án tử hình của ông.
== Vụ hành quyết ==
Theo kế hoạch Charles bị chặt đầu vào thứ 3, ngày 30 tháng 1 năm 1649. Hai người con của ông vẫn còn ở lại Anh dưới sự kiểm soát của Nghị viện: Elizabeth và Henry. Họ được phép đến thăm ông ngày 29 tháng 1, và ông nói với các con những lời chia tay trong nước mắt. Sáng hôm sau, ông yêu cầu hai chiếc áo để tránh thời tiết lạnh giá có thể khiến ông run rẩy mà quần chúng sẽ tưởng là ông sợ hãi: "thời tiết mùa này quá khắc nghiệt có thể khiến Quả nhân run rẩy, mà một số người quan sát sẽ tưởng quả nhân sợ hãi. Quả nhân không muốn bị quy tội như vậy."
Ông bị áp giải từ Cung điện St James, nơi ông bị giam giữ, đến Cung điện Whitehall, nơi đoạn đầu đài đã được dựng lên ở phía trước phòng thiết yến. Charles bị đưa ra xa những người chứng kiến bởi một hàng dày các binh sĩ, và ông chỉ nói lời cuối cùng khi đứng trước đoạn đầu đài. Ông cho rằng số phận hiện tại của ông là do từ thất bại trong việc cứu người tôi tớ trung thành của ông, Strafford: "Một điều bất công mà Quả nhân đã làm cho nó có hiệu lực, và bây giờ điều bất công đó đặt lên chính Quả nhân." Ông tuyên bố rằng: "Đối với nhân dân, quả nhân thật sự mong các người có được tự do nhiều như bất cứ ai. Nhưng Quả nhân phải nói với các người, rằng tự do của họ chỉ có được khi có chính phủ; tức là luật lệ nhờ đó mà thần thánh của họ là do họ lựa chọn. Điều này không có nghĩa là dính líu vào một chính phủ mà hầu như chẳng có gì liên quan đến họ. Một thần dân và một đế vương rõ ràng là khác nhau, và do vậy cho đến khi các người biết được điều đó, ý ta là các người đặt nhân dân vào tự do đó như Quả nhân nói, chắc chắn là họ sẽ không bao giờ được hạnh phúc." Ông tiếp tục, "Quả nhân sẽ đi từ một ngai vua có thể hư đốn đến một ngai vua không thể hư đốn, nơi không thể có phiền nhiễu nào, không phiền nhiễu nào trong thế giới đó.” ."
Vào khoảng 2 giờ chiều, Charles đặt đầu của ông vào thớt chém sau khi nói vài lời cầu nguyện và ra hiệu với đa phủ khi ông đã sẵn sàng bằng cách dũi tay ra, ông đó ông bị chặt đầu chỉ với một nhát chém xuống. Theo như Philip Henry, một tiếng kêu van "dường như tôi chưa bao giờ nghe trước đó và tôi ước không có giờ phải nghe lại" cất lên từ chỗ đám đông, vài người trong số họ nhúng khăn tay của mình vào máu của nhà vua như là một vật lưu niệm.
Đao phủ đã đeo mặt nạ và cải trang, và có nhiều cuộc tranh luận về danh tính của người này. Ban đầu các ủy viên đã muốn để Richard Brandon, người thi hành án treo cổ ở London làm việc này, nhưng ông từ chối, ít nhất là trong lần đầu, mặc dù đã được hứa trả £200. Có thể ông đã nghĩ lại và nhận lời sau khi bị dọa giết, nhưng có những người khác cũng bị tình nghi, bao gồm George Joyce, William Hulet và Hugh Peters. Sau khi kiểm tra thi thể của nhà vua ở Windsor năm 1813, cho thấy rằng người chém đầu ông là một đao phủ dày dạn kinh nghiệm.
Theo thông lệ truyền thống, đầu của kẻ phản quốc sẽ được đưa đi trưng bày trước công chúng với dòng chữ "Kìa, đầu của kẻ phản bội!" Mặc dù thủ cấp của Charles bị đem thị chúng, nhưng dòng chữ không được dùng kèm theo, có thể là do đao phủ không muốn danh tính của mình bị tiết lộ. Một ngày sau vụ hành quyết, đầu của nhà vua được gắn lại với phần thân, rồi người ta ướp xác ông và đặt nó vào một quan tài chì.
Hội đồng không chịu cho an táng Charles tại Tu viện Westminster, vì vậy thi thể ông được đưa tới Windsor vào tối 7 tháng 2. Ông được an táng trong hầm mộ của Henry VIII bên cạnh thi thể Henry VIII và người vợ thứ ba của ông ta, Jane Seymour, tại Nhà nguyện St George, Lâu đài Windsor, ngày 9 tháng 2 năm 1649. Con trai ông, Charles II, sau đó dự định xây một lăng mộ hoàng gia cho ông ở Hyde Park, London, nhưng nó không bao giờ được dựng lên.
== Di sản ==
Mười ngày sau cuộc hành quyết Charles, một cuốn hồi kì được nhà vua viết đã xuất hiện và được rao bán. Quyển sách này, tên Eikon Basilike ("Hình tượng Hoàng gia"), có nhiều nội dung biện hộ cho chính sách của hoàng gia, và đó là một trong những tài liệu được những người bảo hoàng dùng để tuyên truyền. John Milton viết câu trả lời của Nghị viện, Eikonoklastes ("The Iconoclast"), nhưng không mang nhiều hiệu quả như cuốn sách của phe bảo hoàng. Anh giáo và Hoàng gia coi ông như một người tử vì đạo, và Giáo hội England đã phong thánh cho ông, trong Hội nghị Canterbury and York năm 1660. Người Anh giáo xây dựng các nhà thờ để tưởng nhớ việc ông tử đạo như, như Falmouth và Tunbridge Wells.
Lấy cảm hứng từ chuyến thăm Tây Ban Nha của ông năm 1623, Charles trở thành một người say mê và thông thạo trong việc sưu tập những tác phâmr nghệ thuật, ông sở hữu một bộ sưu tập nghệ thuật vào loại nhất lúc đó. Những cận thần thân cận của ông như Công tước Buckingham và Bá tước Arundel có cùng sở thích với ông và họ được gọi là nhóm Whitehall. Ở Tây Ban Nha, ông được vẽ chân dung bởi Velázquez, và tác phẩm được mua lại bởi Titian và Correggio, trong số những người khác. Ở Anh, di sản của ông bao gồm trần nhà Banqueting House, Whitehall, bởi Rubens và tranh vẽ của các họa sĩ người Hà Lan như van Honthorst, Mytens, và van Dyck. Năm 1627 và 1628, ông mua lại toàn bộ sưu tập của Công tước Mantua, bao gồm các tác phẩm của Titian, Correggio, Raphael, Caravaggio, del Sarto và Mantegna. Bộ sưu tập của Charles càng đồ sộ hơn khi có cả những tác phẩm của Bernini, Bruegel, da Vinci, Holbein, Hollar, Tintoretto và Veronese, những bức chân dung bán thân của Dürer và Rembrandt. Khi Charles chết, ước tính là ông sở hữu 1760 bức tranh, phần nhiều trong số đó được bán và phân phát trong nội bộ Nghị viện.
Chế độ quân chủ bị lật đổ, Anh trở thành nước cộng hòa hay "Thịnh vương chung". Thượng viện bị bãi bỏ bởi Hạ viện Rump, và quyền hành pháp rơi vào tay Hội đồng nhà nước. Tất cả những chống đối quân sự ở Anh và Ireland đã bị dập tắt bởi lực lượng của Oliver Cromwell trong Nội chiến Anh lầm thứ ba và Cuộc chinh phục Ireland của Cromwell. Cromwell giải tán Nghị viện Rump năm 1653, thiết lập Chế độ và chính ông ta là Bảo hộ công. Khi ông ta chết năm 1658, người con lên nối ngôi một thời gian ngắn, Richard. Nghị viện được tái lập, và chế độ quân chủ trung hưng bởi con trai trưởng của Charles I, Charles II, năm 1660.
=== Đánh giá ===
Theo lời của John Philipps Kenyon, "Charles Stuart là một con người nhiều mâu thuẫn và tranh cãi". Được tôn kính bởi Đảng Bảo thủ, họ coi ông như một vị thánh tử đạo nhưng ông bị lên án bởi các nhà sử học đảng Whig, như Samuel Rawson Gardiner, người cho rằng ông dối trá và hoang tưởng. Trong những thập kỉ gần đây, nhiều sử gia chỉ trích ông, ngoại trừ Kevin Sharpe người đánh giá ông với cái nhìn cảm thông hơn, nhưng không được nhiều người tán đồng. Trong Sharpe lập luận rằng nhà vua là người năng động và có lương tâm, Giáo sư Barry Coward nghĩ rằng Charles "nhà vua vô năng nhất ở Anh kể từ Henry VI", cái nhìn này được tán đồng bởi Ronald Hutton, người gọi ông là "ông vua tệ nhất kể từ thời Trung Cổ".
Đại giám mục William Laud, người bị Nghị viện chặt đầu trong giai đoạn chiến tranh, miêu tả Charles là "Một ông hoàng nhẹ nhàng và duyên dáng, không dễ gì để có được, hoặc tạo ra được, thật tuyệt." Charles tỉnh táo và tinh tế hơn phụ thân ông, nhưng ông không biết khoan nhượng đúng lúc và cố tình theo đuổi các chính sách không được lòng dân để rồi mang lại họa sát thân. Cả Charles và James đều theo đuổi quyền tối thượng của các vị vua, nhưng trong khi tham vọng của James bị kiềm chế bởi sự thỏa hiệp và đồng thuận của thần dân, Charles tin rằng ông không việc gì phải thỏa hiệp hay giải thích lý do những hành động của ông. Ông cho rằng ông chỉ phải chịu trách nhiệm với Thượng đế. "Các ông hoàng không bị ràng buộc phải nói lý do những hành động của họ," ông viết, "trừ phi trước mặt Chúa".
== Danh hiệu, tước hiệu, vinh dự và huy hiệu ==
=== Tước hiệu và danh hiệu ===
23 tháng 12 1600 – 27 tháng 3 1625: Công tước xứ Albany, Hầu tước xứ Ormonde, Bá tước xứ Ross và Lãnh chúa Ardmannoch
6 tháng 1 1605 – 27 tháng 3 1625: Công tước xứ York
6 tháng 11 1612 – 27 tháng 3 1625: Công tước Cornwall và Rothesay
4 tháng 11 1616 – 27 tháng 3 1625: Hoàng tử xứ Wales và Bá tước Chester
27 tháng 3 1625 – 30 tháng 1 1649: Đức Vua Bệ hạ
Danh hiệu đầy đủ của Charles I khi làm vua là "Charles, bởi Ân điển của chúa, Vua của Anh, Scotland, Pháp và Ireland, Người bảo vệ Đức tin, etc." Danh hiệu "Vua của Pháp" chỉ là trên danh nghĩa, được tất cả các vị vua Anh từ Edward III đến George III sử dụng, mặc dù tại nước Pháp đã có vương triều riêng cai trị. Những người xử tội ông gọi ông là "Charles Stuart, Vua của Anh".
=== Vinh dự ===
KB: Hiệp sĩ xứ Bath, 6 tháng 1 1605 – 27 tháng 3 1625
KG: Hiệp sĩ Garter, 24 tháng 4, 1611 – 27 tháng 3, 1625
=== Huy hiệu ===
== Con cái ==
Charles có 9 người con, 2 trong số đó trở thành vua, và hai người chết không lâu sau khi chào đời.
== Tổ tiên ==
== Xem thêm ==
Caroline era
Cultural depictions of Charles I of England
Society of King Charles the Martyr
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Danh sách nguồn ==
Adamson, John (2007), The Noble Revolt, London: Weidenfeld & Nicolson, ISBN 978-0-297-84262-0
Ashmole, Elias (1715), The History of the Most Noble Order of the Garter, London: Bell, Taylor, Baker, and Collins
Carlton, Charles (1995), Charles I: The Personal Monarch , London: Routledge, ISBN 0-415-12141-8
Cokayne, George Edward; Gibbs, Vicary; Doubleday, Arthur (1913), The Complete Peerage III, London: St Catherine Press
Coward, Barry (2003), The Stuart Age , London: Longman, ISBN 978-0-582-77251-9
Cust, Richard (2005), Charles I: A Political Life, Harlow: Pearson Education, ISBN 0-582-07034-1
Donaghan, Barbara (1995), “Halcyon Days and the Literature of the War: England's Military Education before 1642”, Past and Present 147: 65–100, doi:10.1093/past/147.1.65, JSTOR 651040
Edwards, Graham (1999), The Last Days of Charles I, Stroud: Sutton Publishing, ISBN 0-7509-2079-3
Gardiner, Samuel Rawson (1906), The Constitutional Documents of the Puritan Revolution 1625–1660 , Oxford: Clarendon Press
Gillespie, Raymond (2006), Seventeenth Century Ireland , Dublin: Gill & McMillon, ISBN 978-0-7171-3946-0
Gregg, Pauline (1981), King Charles I, London: Dent, ISBN 0-460-04437-0
Hibbert, Christopher (1968), Charles I, London: Weidenfeld & Nicolson
Higgins, Charlotte (ngày 24 tháng 11 năm 2009), “Delaroche masterpiece feared lost in war to go on show at National Gallery”, The Guardian, truy cập ngày 22 tháng 10 năm 2013
Holmes, Clive (2006), Why was Charles I Executed?, London & New York: Hambledon Continuum, ISBN 1-85285-282-8
Howat, G. M. D. (1974), Stuart and Cromwellian Foreign Policy, London: Adam & Charles Black, ISBN 0-7136-1450-1
Johnston, G. Harvey (1906), The Heraldry of the Stewarts, Edinburgh & London: W. & A. K. Johnston
Kenyon, J. P. (1978), Stuart England, London: Penguin Books, ISBN 0-7139-1087-9
Bản mẫu:Cite ODNB
Loades, D. M. (1974), Politics and the Nation, London: Fontana, ISBN 0-00-633339-7
Louda, Jiří; Maclagan, Michael (1999) [1981], Lines of Succession: Heraldry of the Royal Families of Europe (ấn bản 2), London: Little, Brown, ISBN 978-0-316-84820-6
Quintrell, Brian (1993), Charles I: 1625–1640, Harlow: Pearson Education, ISBN 0-582-00354-7
Robertson, Geoffrey (2002), Crimes Against Humanity: The Struggle for Global Justice , Harmondsworth: Penguin Books, ISBN 978-0-14-101014-4
Robertson, Geoffrey (2005), The Tyrannicide Brief, London: Chatto & Windus, ISBN 0-7011-7602-4
Russell, Conrad (1990), The Causes of the English Civil War, Oxford: Clarendon Press, ISBN 978-0-19-822141-8
Russell, Conrad (1991), The Fall of the British Monarchies 1637–1642, Oxford: Clarendon Press, ISBN 0-19-820588-0
Schama, Simon (2001), A History of Britain: The British Wars 1603–1776, London: BBC Worldwide, ISBN 0-563-53747-7
Scott, William Robert (1912), The Constitution and Finance of English, Scottish, and Irish Joint-Stock Companies to 1720, Cambridge: Cambridge University Press
Sharpe, Kevin (1992), The Personal Rule of Charles I, New Haven & London: Yale University Press, ISBN 0-300-05688-5
Smith, David L. (1999), The Stuart Parliaments 1603–1689, London: Arnold, ISBN 0-340-62502-3
Starkey, David (2006), Monarchy, London: HarperPress, ISBN 978-0-00-724750-9
Stevenson, David (1973), The Scottish Revolution 1637–1644, Newton Abbot: David & Charles, ISBN 0-7153-6302-6
Trevelyan, G. M. (1922), England under the Stuarts , London: Putnam
Wallis, John Eyre Winstanley (1921), English Regnal Years and Titles: Hand-lists, Easter dates, etc, London: Society for the Promotion of Christian Knowledge
Weir, Alison (1996), Britain's Royal Families: A Complete Genealogy , London: Pimlico, ISBN 978-0-7126-7448-5 Bảo trì CS1: Văn bản dư (link)
== Xem thêm ==
Ashley, Maurice (1987), Charles I and Cromwell, London: Methuen, ISBN 978-0-413-16270-0
Gardiner, Samuel Rawson (1882), The Fall of the Monarchy of Charles I, 1637–1649: Volume I (1637–1640); Volume II (1640–1642)
Hibbard, Caroline M. (1983), Charles I and the Popish Plot, Chapel Hill: University of North Carolina Press, ISBN 0-8078-1520-9
Kishlansky, Mark A. (2005), “Charles I: A Case of Mistaken Identity”, Past and Present 189 (1): 41–80, doi:10.1093/pastj/gti027
Lockyer, Roger biên tập (1959), The Trial of Charles I, London: Folio Society
Reeve, L. J. (1989), Charles I and the Road to Personal Rule, Cambridge: Cambridge University Press, ISBN 0-521-52133-5
Wedgwood, Cicely Veronica (1955), The Great Rebellion: The King's Peace, 1637–1641, London: Collins
Wedgwood, Cicely Veronica (1958), The Great Rebellion: The King's War, 1641–1647, London: Collins
Wedgwood, Cicely Veronica (1964), A Coffin for King Charles: The Trial and Execution of Charles I, London: Macmillan
== Liên kết ngoài ==
Tài liệu lưu trữ liên quan đến Charles I của Anh liệt kê tại Cơ quan lưu trữ quốc gia Vương quốc Anh
Chân dung của King Charles I tại Phòng Trưng bày Chân dung Quốc gia, Luân Đôn
Official website of the British monarchy
The Society of King Charles the Martyr
The Society of King Charles the Martyr (United States)
Các tác phẩm của Charles I, King of England tại Dự án Gutenberg
Các tác phẩm của hoặc nói về Charles I của Anh tại Internet Archive
Bản mẫu:Công tước Albany Bản mẫu:Công tước Cornwall
Bản mẫu:Công tước York |
quần đảo bắc mariana.txt | Quần đảo Bắc Mariana, tên chính thức là Thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana (Commonwealth of the Northern Mariana Islands), là một nước thịnh vượng chung liên hiệp chính trị với Hoa Kỳ và nằm ở một vị trí chiến lược trong miền tây Thái Bình Dương. Nó bao gồm 15 đảo, nằm ở khoảng ba phần tư đường từ Hawaii tới Philippines. Cục Điều tra Dân số Hoa Kỳ báo cáo tổng diện tích đất của quần đảo là 463,63 km² (179,01 dặm vuông).
Dân số của quần đảo là 80.362 (ước tính vào năm 2005). Điều tra dân số chính thức năm 2000 của Hoa Kỳ cho biết con số là 69.221. Cũng lưu ý rằng Quần đảo Mariana có tỉ lệ giới tính nữ và nam cao nhất thế giới, trung bình cứ 77 nam thì có 100 nữ.
== Địa lý và khí hậu ==
Quần đảo Bắc Mariana cùng với Guam ở phía nam, hợp thành Quần đảo Mariana.
Các đảo phía nam là đảo đá vôi với nền đất bằng phẳng và có các dãy đá san hô viền quanh. Các đảo phía tây là đảo núi lửa, có núi lửa vẫn còn hoạt động như trên Anatahan, Đảo Pagan và Agrihan. Núi lửa trên Agrihan là điểm cao nhất trong quần đảo (965 mét). Khoảng một phần năm đất đai trồng trọt được, một phần mười là các đồng cỏ thiên nhiên. Nguồn lợi thiên nhiên chủ yếu là cá nhưng cũng là điều gây nên mâu thuẫn với việc bảo vệ các loài vật thú hiếm. Những phát triển trước đây tạo ra các vùng chứa rác mà cần phải dọn dẹp và nó cũng gây ra ô nhiễm nguồn nước ngầm tại Saipan, có thể đã mang đến bệnh tật.
Anatahan là một đảo núi lửa nhỏ, 120 km (80 dặm) về phía bắc của Đảo Sapan và 320 km (200 dặm) về phía bắc Guam. Đảo dài khoảng 9 km (5.6 dặm) và rộng khoảng 3 km (2 dặm). Anatahan bỗng nhiên phun lửa từ miệng núi lửa phía đông vào ngày 10 tháng 5 năm 2003 lúc 5:00 p.m. (17:00h). Từ lúc đó đến nay nó tiếp tục thay đổi giữa giai đoạn phun và bình lặng. Vào ngày 6 tháng 4 năm 2005, khoảng 50.000 mét khối tro bụi và đá bị tung lên, tạo thành một đám mây lớn và đen trôi về phía nam trên Saipan và Tinian. Những lần phun vừa qua khiến nhiều chuyến bay thương mại phải đổi đường bay.
Quần đảo có khí hậu nhiệt đới biển trung hòa bởi gió mùa đông bắc hay còn gọi là gió mậu dịch. Có ít thay đổi nhiệt độ giữa các mùa; mùa khô từ tháng 12 đến tháng 6, và mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 10 có thể có bão. Sách ghi Kỷ lục Thế giới Guinness (Guinness Book of World Records) nói rằng Saipan có nhiệt độ đều hòa nhất thế giới.
== Lịch sử ==
=== Các nước châu Âu chiếm đóng ===
Cuộc thám hiểm khu vực này lần đầu tiên của người châu Âu là do Ferdinand Magellan thực hiện năm 1521. Ông đổ bộ lên Đảo Guam cạnh đó và tuyên bố chủ quyền quần đảo cho Tây Ban Nha. Sau khi ông gặp mặt người bản thổ và được cho tỉnh dưỡng nghỉ ngơi ăn uống, để đổi lại người bản thổ Chamorros tự ý lấy một chiếc xuồng nhỏ thuộc đội thuyền của Magellan. Chuyện này đã dẫn đến sự xung đột văn hóa vì đối với văn hóa cổ của người Chamorro, có rất ít nếu không nói là không có gì là của riêng và chuyện lấy đồ mà mình cần giống như xuồng để đi câu cá thì không thể xem đó là ăn cắp trong mắt người dân địa phương.
Vì hiểu lầm văn hóa, khoảng sáu người dân địa phương bị hạ sát và một làng với 40 căn nhà bị đốt cháy trước khi chiếc xuồng được lấy lại và cả dãy quần đảo sau này có một cái tên đầu kinh bỉ là Islas de los Ladrones ("Quần đảo của những kẻ trộm").
Quần đảo sau đó bị Tây Ban Nha thôn tính và quản lý từ Philippines như là một phần của Đông Ấn thuộc Tây Ban Nha. Người Tây Ban Nha xây một Cung điện Hoàng gia tại Guam cho Thống đốc Quần đảo (dấu vết của nó vẫn còn thấy vào năm 2006).
Guam là một trạm dừng chân quan trọng từ México cho các đội thuyền buồm mang vàng và nhiều đồ quý giá khác giữa Philippines và Tây Ban Nha. Có nhiều thuyền buồm Tây Ban Nha bị chìm mà không tìm lại được ngoài khơi Guam.
Năm1668 quần đảo được Padre Diego Luis de Sanvitores đặt tên lại là Las Marianas là tên của Mariana nước Áo, hóa phụ của vua Tây Ban Nha Philip IV.
Gần như toàn bộ thổ dân trên quần đảo chết dần mòn dưới sự cai trị của Tây Ban Nha, nhưng những người dân định cư mới, chủ yếu là người từ Philippines và Quần đảo Caroline, được đưa vào để tăng dân số cho quần đảo. Mặt dù vậy, dân số người Chamorro dần dần tăng lên và tiếng Chamorro, tiếng Filipino và tiếng Caroline trên căn bản vẩn khác biệt trên quần đảo cho đến ngày nay.
Quần đảo Mariana bị Đức kiểm soát một thời kỳ ngắn ngủi khi Tây Ban Nha bán quần đảo cho Đức, ngoại trừ Guam. Năm 1919 Nhật Bản xâm lược và chiếm đóng quần đảo và Hội Quốc Liên, tiền thân của Liên Hiệp Quốc trao ủy thác quần đảo cho Nhật Bản.
=== Thuộc địa của Nhật Bản ===
Đế quốc Nhật Bản chiếm Đảo Guam trong Chiến tranh thế giới thứ hai và dời chính quyền cai trị Nhật Bản về Guam. Nhật Bản sát nhập Quần đảo Mariana mà không có sự ủng hộ của người cư dân của quần đảo và quân đội Nhật Bản bị tố cáo là đã thực hiện tội diệt chủng trong thời gian chiếm đóng quần đảo, bao gồm việc tra tấn và tàn sát cư dân trên cả Đảo Guam và quần đảo Bắc Mariana.
=== Hoa Kỳ chiếm hữu ===
Năm 1944, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ chiếm Guam với một giá rất đắt về sinh mạng. Từ ngoài biển nhìn vào thì không thấy các pháo đài phòng thủ của Nhật Bản. Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ phần lớn bị quét ngã như rạ bởi lực lượng phòng thủ của Nhật Bản khi họ tiến đến gần. Tuy nhiên Thủy quân Lục chiến thành công và lấy được cả Saipan và các đảo xa hơn về phía bắc. Tư lệnh Nhật Bản viết thư cho Thiên hoàng Hirohito xin lỗi vì để mất quần đảo và rồi tự sát.
Ngày 15 tháng 6 năm 1944, Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đổ bộ lên quần đảo và cuối cùng đánh thắng Trận Saipan trong ba tuần giao tranh ác liệt. Quần đảo Mariana là phần cực điểm trong trang cuối cùng của cuộc chiến khi Tinian cung cấp điểm xuất phát cho việc dội bom Hiroshima.
Và đây là ghi chú bên lề bất thường, với việc ký hiệp ước đình chiến, cuộc chiến chưa hẳn là chấm dứt đối với tất cả mọi người. Vào năm 1972, Shoichi Yokoi, một người lính Nhật Bản đã sống ẩn núp gần ngôi làng Talofofo từ thờiChiến tranh thế giới thứ hai. Ông ta là người lính cuối cùng còn đang thi hành nhiệm vụ khi người Nhật Bản rời bỏ Guam, và gia đình ông nghĩ rằng ông đã chết trong lúc chiến đấu.
=== Thịnh vượng chung ===
Sau khi Nhật Bản bại trận, quần đảo được quản lý bởi Hoa Kỳ như là một phần của Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương của Liên Hiệp Quốc; như thế về quốc phòng và đối ngoại là trách nhiệm của Hoa Kỳ. Cư dân Quần đảo Bắc Mariana quyết định vào năm 1970 là không giành độc lập nhưng thay vì vậy mở một nối liên kết gần gũi với Hoa Kỳ. Thương lượng để tìm một tình trạng chính trị lãnh thổ bắt đầu vào năm 1972. Một hiệp ước thành lập khu thịnh vượng chung liên hiệp chính trị với Hoa Kỳ được chấp thuận vào năm 1975. Một chính quyền mới và hiến pháp mới bắt đầu có hiệu lực vào năm 1978.
== Chính trị ==
Quần đảo Bắc Mariana là một vùng thịnh vượng chung liên hiệp chính trị với Hoa Kỳ. Ngân quỹ liên bang dành cho vùng thịnh vượng chung do Phòng Quốc hải vụ Hoa Kỳ thuộc Bộ Nội vụ Hoa Kỳ điều hành.
Như các lãnh thổ khác và các chính phủ của các tiểu bang, quyền hành pháp được thực hiện bởi Thống đốc Quần đảo Bắc Mariana. Quyền lập pháp nằm trong tay Lập Pháp Lưỡng viện Quần đảo Bắc Mariana. Tư pháp đứng độc lập khỏi ngành hành pháp và lập pháp.
Tuy nhiên, nền chính trị tại quần đảo thường mang tính chất quan hệ gia đình và trung thành với cá nhân. Một gia đình lớn gồm nhiều thế hệ thì quan trọng hơn là phẩm chất cá nhân của người ra ứng cử. Nhiều người chỉ trích, bao gồm tác giả trang mạng [saipansucks.com] tố cáo đây chính là chủ nghĩa gia đình trị mang vỏ bọc dân chủ bên ngoài.
Quần đảo Bắc Mariana là nơi của một sự việc gây tranh cãi có liên quan đến Dân biểu John Doolittle (Cộng hoà, California), Jack Abramoff, và Dân biểu Richard Pombo (Cộng hoà, California) vì mối quan hệ bị tố cáo là liên quan đến Hội Sản xuất Hàng dệt may Saipan và Quần đảo Bắc Mariana trong vai trò ngăn cản ngành lập pháp truy cứu các xưởng làm thuê như nô lệ và ổ chứa mại dâm tại quần đảo trong năm 2001.
Quần đảo Bắc Mariana bị tố cáo là chứa chấp các hình thức lạm dụng lao động nhất không nơi nào bằng tại Hoa Kỳ. Theo Quỹ Hành động vì Tiến bộ Mỹ (American Progress Action Fund), "Những kẻ buôn người đem hàng ngàn người đến đó làm việc như các nô lệ tình dục và trong các xưởng may làm việc nặng nhọc trong điều kiện tù túng. Nơi đây quần áo may xong được gắn nhãn hiệu "Chế tạo tại Hoa Kỳ" và giao hàng cho các thương hiệu chính."
== Tình trạng chính trị ==
Năm 1947, Quần đảo Bắc Mariana trở thành một phần trong "Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương" của Liên Hiệp Quốc sau Chiến tranh thế giới thứ hai (Trust Territory of the Pacific Islands - TTPI). Hoa Kỳ trở thành thẩm quyền quản lý Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương theo các điều khoản của một thỏa hiệp ủy thác. Năm 1976, Quốc hội chấp thuận một Hiệp ước có thương thảo hai bên để thiết lập một Thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana (CNMI) liên hiệp chính trị với Hoa Kỳ. Chính quyền Thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana ban hành hiến pháp riêng của mình vào năm 1977, và chính quyền hiến pháp nhậm chức vào tháng 1 năm 1978. Hiệp ước được áp dụng triệt để vào ngày 3 tháng 11 năm 1986, theo đúng Tuyên cáo Tổng thống số. 5564, ban quyền công dân Hoa Kỳ cho các cư dân hội đủ tiêu chuẩn là cư dân hợp pháp của vùng Thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana.
Ngày 22 tháng 12 năm 1990, Hội đồng Bảo an Liên hiệp Quốc chấm dứt Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương như được áp dụng cho Thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana và năm đảo khác của Quần đảo Marshall và Liên bang Micronesia (Chuuk, Kosrae, Pohnpei và Yap). Tất cả là 7 khu ban đầu của Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương.
Theo hiệp ước, tổng quát, luật liên bang áp dụng cho Thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana. Tuy nhiên, Thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana ở bên ngoài lãnh thổ hải quan của Hoa Kỳ. Mặc dù những luật lệ về nội thu áp dụng trong hình thức là một thứ thuế thu nhập địa phương, hệ thống thuế thu nhập phần nhiều là quyết định bởi địa phương. Theo Hiệp ước, mức lương tối thiểu và luật di trú liên bang sẽ không áp dụng với Quần đảo Bắc Mariana.
== Kinh tế ==
Quần đảo Bắc Mariana hưởng lợi từ các trợ cấp đáng kể và tài trợ phát triển từ Chính phủ liên bang Hoa Kỳ. Nền kinh tế phụ thuộc nặng về du lịch, đặc biệt là từ Nhật Bản, và lĩnh vực sản xuất hàng dệt may đang suy thoái nhanh. Kỹ nghệ du lịch cũng suy thoái. Từ cuối năm 2006, du lịch giảm 15,23 phần trăm.
Quần đảo Bắc Mariana đã thành công trong việc sử dụng vị trí của nó thành vùng tự do mậu dịch với Hoa Kỳ trong lúc đó lại không bị chi phối bởi luật lao động của Hoa Kỳ. Thí dụ, tiền lương tối thiểu 3,05 USD một giờ tại quần đảo thấp hơn nhiều so với tại Hoa Kỳ và những bảo hộ lao động khác còn yếu kém nên chi phí sản xuất thấp hơn. Điều này cho phép hàng dệt may có nhãn hiệu "Chế tạo tại Hoa Kỳ" mà không tuân theo hết những luật lệ lao động của Hoa Kỳ. Một dự luật được thông qua tại Hạ viện Hoa Kỳ sẽ nới rộng luật lương tối thiểu trung bình của liên bang bao gồm cả Quần đảo Bắc Mariana và nâng mức lương tối thiểu lên 7,00 USD một giờ nếu nó được ký thành luật.
Việc miễn áp dụng luật lao động Hoa Kỳ đối với quần đảo đã đưa đến nhiều tình trạng bóc lột bị phanh khui bao gồm những cáo buộc gần đây về sự hiện hữu của các xưởng làm việc nặng nhọc và môi trường tồi túng, lao động trẻ con, mại dâm trẻ con, và thậm chí cưỡng bức phá thai.
Một hệ thống di dân riêng lẻ ngoài tầm kiểm soát của chính phủ Hoa Kỳ đưa đến kết quả là một số lượng lớn công nhân di cư từ Trung Hoa đến làm việc trong ngành dệt may của quần đảo. Tuy nhiên, việc bãi bỏ hạn chế hàng nhập cảng từ Trung Hoa vào Hoa Kỳ của Tổ chức Thương mại Thế giới đã đặt thương mại của quần đảo dưới áp lực nặng nề, đưa đến một số xưởng gần đây phải đóng cửa.
Sản xuất nông nghiệp, chủ yếu là bột sắn hột, bò, dừa, sa kê, cà, và dưa hiện hữu nhưng rất có tầm quan trọng kinh tế rất nhỏ.
=== Sự miễn thi hành các quy định của liên bang ===
Mặc dù Thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana là một phần của Hoa Kỳ. Có một số thành viên Quốc hội Hoa Kỳ thuộc Đảng Cộng hòa đã chống đối mạnh mẽ để giữ Quần đảo Bắc Mariana khỏi các quy định của liên bang, bảo tồn nó theo hình thức chủ nghĩa tư bản nguyên vẹn hơn mà không bị ràng buột bởi những luật lệ quy định lao động. Năm 1998, Dân biểu Cộng hòa Tom Delay gọi Thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana là "a perfect Petri dish of capitalism" (một cái đỉa "nuôi tế bào" hoàn hảo của chủ nghĩa tư bản). Và hai năm sau, khi nói chuyện với Thống đốc Quần đảo Bắc Mariana, Delay nổi tiếng qua lời nói:
You are a shining light for what is happening in the Republican Party, and you represent everything that is good about what we’re trying to do in America in leading the world in the free-market system.
(Các bạn là một ánh hào quang cho những gì đang xảy ra trong Đảng Cộng hoà, và các bạn đại diện cho mọi thứ tốt đẹp về những gì chúng ta đang nỗ lực để làm tại Mỹ trong việc dẫn dắt thế giới vào hệ thống thị trường tự do.)
Tuy nhiên, sự thiếu những quy định về lao động không phải là không có vấn đề gây tranh cãi. Chuyện không áp dụng các quy định về lao động của liên bang đã tạo ra nhiều hành vi lao động cực đoan, chưa từng thấy khắp nơi tại Hoa Kỳ. Những hành vi cực đoan này bao gồm: cưỡng bức công nhân phá thai (như đã được phơi bày trong tiết mục 20/20 ngày 18 tháng 3 năm 1998 của đài truyền hình ABC), cầm giữ phụ nữ như nô lệ và ép họ hành nghề mại dâm (như việc Bộ tư Pháp Hoa Kỳ đã truy tố những kẻ buôn người của Quần đảo Bắc Mariana vào năm 1999 đã chứng minh điều này). Từ 2005-2006, vấn đề miễn giảm quy định đối với Quần đảo Bắc Mariana bị phanh khui trong những vụ tai tiếng chính trị ở Hoa Kỳ của Dân biểu Tom DeLay và người vận động hành lang Jack Abramoff.
== Giao thông ==
Quần đảo có trên 350 km đường xa lộ, ba phi trường có phi đạo rải nhựa (một có chiều dài 3000 mét hay 9840 ft; hai có chiều dài 2000 mét hay 6560 ft), ba phi trường không rải nhựa (một dài 3000 mét; hai dưới 1000 mét), và một sân trực thăng.
== Các đảo, nhóm đảo và các khu tự quản ==
Quần đảo có tổng diện tích 463,63 km². Tổng thể được trình bày tiếp theo sau với thứ tự các đảo đi từ bắc xuống nam.
Về hành chánh, Thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana được chia ra thành bốn khu tự quản:
Các đảo từ số 1 đến số 10 được gọi chung là Quần đảo Bắc, cùng hợp thành Khu Tự quản Quần đảo Bắc. Các đảo 11 đến 14 được gọi chung là Quần đảo Nam là các Khu Tự quản Saipan, Tinian, và Rota (Aguijan không người là một phần của Khu Tự quản Tinian).
Vì mối đe dọa của núi lửa, các đảo miền bắc dường như đã di tản hết. Hiện tại nơi dân cư ở chỉ hạn chế trên Agrihan, Pagan, và Alamagan, nhưng dân số luôn thay đổi vì các yếu tố kinh tế thay đổi bao gồm giáo dục trẻ em. Thống kê tháng 4 năm 2000 cho thấy chỉ có 6 người trên cả Khu tự quản Quần đảo Bắc (lúc đó sống trên Alamagan), và văn phòng thị trưởng Quần đảo Bắc bị "lưu vong" về Saipan.
Saipan, Tinian, và Rota chỉ có cảng và bến tàu, và là các đảo có người sinh sống thường trực.
== Xem thêm ==
Aguijan
Trận Saipan
Trận Tinian
Micronesia
Các lãnh thổ Ủy thác Liên hiệp Quốc
Phi trường quốc tế Saipan
== Tham khảo và ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Các quan hệ giữa Hoa Kỳ và Thịnh vượng chung Quần đảo Bắc Mariana
Full Committee Hearing: Conditions in the Commonwealth of the Northern Mariana Islands, Thứ năm, 8 tháng 2 năm 2007, Ủy ban Thượng viện Hoa Kỳ đặc trách Năng lượng và Tài nguyên Thiên nhiên (tiếng Anh)
View complete webcast of above hearings Phim phát qua mạng về cuộc điều trần trên. Dài khoảng 2,5 tiếng đồng hồ.
"Cohen Warns of Imminent CNMI 'Federalization'" Pacific Daily News, Jan. 7, 2007. Cohen cảnh báo việc Liên bang hóa Quần đảo Bắc Mariana là đến lúc cần thiết. (tiếng Anh)
Chính quyền
Northern Mariana Islands Official government site
The CNMI Covenant
The CNMI Constitution
CNMI Office of Resident Representative Pedro A. Tenorio
H.R. 873 - the Northern Mariana Islands Delegate Act
H.R. 5550 - The United States-Commonwealth of the Northern Marianas Human Dignity Act
Tin tức
Saipan Tribune
Marianas Variety
Bruce Lloyd Media Services CNMI News
The Pacific Times
Food for Thought - Weekly commentary on CNMI society by KZMI and KCNM manager Harry Blalock
Tổng quan
Open Directory Project - Northern Mariana Islands directory category
Moon Handbooks Micronesia
myMicronesia/Northern Marianas section
Digital Micronesia
Trust Territory of the Pacific Islands Archives
Những trang mạng liên quan khác
www.lonelyplanet.com
Micronesian Journal of the Humanities and Social Sciences
Northern Mariana Islands Online Encyclopedia
Micronesian Seminar
"Paradise Lost: Greed, Sex Slavery, Forced Abortions and Right-Wing Moralists" by Rebecca Clarren
Fresh Air (NPR): "Sweatshops in U.S. Territory"
"Neo-Colonialism & Contract Labor Under The U.S. Flag" by Phil Kaplan
"Solving Worker Abuse Problems in the Northern Mariana Islands" by Karen M. Smith
"About Saipan" - A strongly critical take on the CNMI, Saipan Sucks
Satellite Image of Anatahan Ash Plume
Ocean Dots pictures
Thinkprogress' information on sex and labor slavery
Saipan and Tinian locator map
Pascal Horst Lehne and Christoph Gäbler: Über die Marianen. Lehne-Verlag, Wohldorf in Germany 1972.
Ms. magazine Spring 2006 article "Paradise Lost: Greed, Sex Slavery, Forced Abortions and Right-Wing Moralists" Article about the plight of garment workers, the Abramoff scandal, and other abuses |
nutella.txt | Nutella (/nuːˈtɛlə/; phát âm tiếng Ý: [nuˈtɛlla]) là một thương hiệu của mứt hạt phỉ - sô-cô-la ngọt, thường để phết lên bánh mì. Nó sản xuất bởi công ty Ferrero của Italia, được bày bán từ năm 1964.
== Lịch sử ==
Pietro Ferrero, chủ một tiệm bánh ở Alba, Piedmont, một vùng nổi tiếng về sản xuất hạt phỉ, bán một lô hàng đầu tiên nặng 300 kg (660 lb) gọi là "Pasta Gianduja" trong năm 1946. Ban đầu là dạng khối rắn, nhưng Ferrero bắt đầu bán phiên bản dạng kem từ năm 1951 gọi là "Supercrema".
Năm 1963, con trai của Ferrero, Michele Ferrero làm mới Supercrema với ý định tiếp thị nó trên khắp châu Âu. Thành phần của nó đã được sửa đổi và nó đã được đổi tên thành "Nutella". Bình đầu tiên của Nutella rời nhà máy Ferrero ở Alba vào ngày 20/4/1964. Sản phẩm này là một thành công và nó vẫn còn đang phổ biến rộng rãi.
Năm 2012, Thượng nghị sĩ Pháp Yves Daudigny đề xuất tăng thuế đối với dầu cọ từ € 100 đến € 400 mỗi tấn metric. Với độ đậm 20%, dầu cọ là một trong những thành phần chính của Nutella và thuế được gọi là "thuế Nutella" trên các phương tiện truyền thông.
Ngày Nutella thế giới là 5/2.
Ngày 14 tháng 5 năm 2014, Poste Italiane đã ban hành một tem kỷ niệm Nutella tròn 50 năm. Con tem 70 cent Euro được thiết kế bởi Istituto Poligrafico e Zecca dello Stato và các "tính năng" (bản gốc: features") của một lọ Nutella trên nền vàng kim. Ferrero đã tổ chức "ngày Nutella" vào ngày 17 và 18 tháng 5 hàng năm để kỷ niệm.
== Nguyên liệu ==
Nguyên liệu chính của Nutella là đường, dầu cọ, và hạt phỉ, và cả bột ca cao và sữa ít béo. Ở Mĩ, Nutella còn chứa các sản phẩm từ đậu nành. Nutella được quảng cáo là "kem hạt phỉ" ở nhiều nước. Theo luật pháp Italia, nó không thể được dán nhãn là "kem sôcôla", vì nó không đáp ứng được các tiêu chí tối thiểu về nồng độ ca cao. Ferrero sử dụng 25 phần trăm lượng cung cấp quả phỉ toàn cầu.
Một công thức truyền thống của Pemonte, sô cô la Gianduja, là một hỗn hợp có chứa khoảng 71,5% hạt phỉ và 19,5% sô cô la. Nó được phát triển ở Piedmont, Ý, sau khi trừ thuế vào hạt ca cao cản trở việc sản xuất và phân phối sôcôla thông thường.
== Sản xuất ==
Nutella được sản xuất tại các cơ sở khác nhau. Tại thị trường Bắc Mỹ, nó được sản xuất tại một nhà máy ở Brantford, Ontario ở Canada và gần đây nhất tại San José Iturbide, Guanajuato, Mexico.
Đối với Úc và New Zealand, Nutella đã được sản xuất tại Lithgow, New South Wales kể từ cuối những năm 1970.
Hai trong số bốn nhà máy sản xuất Ferrero Nutella tại Ý, tại Alba, Piedmont, và tại Sant'Angelo dei Lombardi tại Campania. Ở Pháp, một cơ sở sản xuất nằm ở Villers-Écalles. Đối với Đông Âu (bao gồm cả Đông Nam châu Âu, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Cộng hòa Séc và Slovakia) và Nam Phi nó được sản xuất ở Warsaw và Manisa. Đối với Đức và Bắc Âu, Nutella được sản xuất tại nhà máy Ferrero ở Stadtallendorf đã tồn tại từ năm 1956.
Ferrero cũng có một nhà máy ở Brazil, trong đó cung cấp các thị trường Brazil, với một phần của sản xuất được xuất khẩu ra nước ngoài.
== Gia công ==
Nutella là một dạng sô cô la phết bánh mì. Vì vậy, quá trình sản xuất cho mặt hàng thực phẩm này rất giống với các sản phẩm sô cô la phết thông thường. Nutella được làm từ đường, dầu cọ, quả phỉ, ca cao, sữa bột tách kem, bột whey, lecithin, và vani.
Quá trình làm sô cô la phết bắt đầu với việc khai thác các bột ca cao từ hạt ca cao. Những hạt cà phê ca cao được thu hoạch từ cây ca cao và để khô trong khoảng mười ngày trước khi được chuyển đến cho bạn chế biến. Thông thường hạt cacao có chứa khoảng 50 phần trăm của bơ ca cao. Do đó, họ phải được rang để đưa hạt cacao thành một dạng lỏng. Bước này là không đủ để biến hạt ca cao thành sôcôla phết vì nó đặc lại ở nhiệt độ phòng, và sẽ không được phết. Sau khi rang ban đầu, chất lỏng được đưa tới máy ép, được sử dụng để ép bơ ra khỏi hạt ca cao. Sản phẩm cuối cùng là đĩa tròn sôcôla làm bằng ca cao nén tinh khiết. Bơ ca cao được chuyển nơi khác, do đó có thể được sử dụng trong các sản phẩm khác.
Quá trình thứ hai liên quan đến hạt dẻ.Khi các hạt phỉ đã đến nhà máy chế biến, kiểm soát chất lượng được ban hành để kiểm tra các loại hạt như vậy họ rất thích hợp để chế biến. Một máy chém đượcsử dụng để cắt các loại hạt để kiểm tra bên trong. Sau khi quá trình này, hạt phỉ được làm sạch và rang. Một kiểm soát chất lượng thứ hai được phát hành bởi một vụ nổ máy điều khiển không khí, trong đó loại bỏ các hạt xấu từ lô. Điều này đảm bảo rằng mỗi lọ Nutella là thống nhất trong cái nhìn và hương vị của nó. Khoảng 50 hạt dẻ có thể được tìm thấy trong mỗi lọ Nutella, như tuyên bố của công ty.
Bột ca cao sau đó được pha trộn với các hạt phỉ cùng với đường, vani và sữa gạn kem trong một bể chứa lớn cho đến khi nó trở thành một dán giống như lây lan. Được thay đổi dầu cọ sau đó được thêm vào để giúp giữ lại các pha rắn của Nutella tại phòng nhiệt độ, mà thay thế cho bơ tìm thấy trong hạt ca cao. Ngoài ra, sữa bột được thêm vào hỗn hợp vì nó hoạt động như một chất kết dính cho vữa. Bột Whey là một chất phụ gia thường được sử dụng trong lan để ngăn chặn sự đông máu của sản phẩm vì nó ổn định nhũ tương chất béo. Tương tự như sữa bột lecithin, đó là một dạng chất béo được tìm thấy trong các mô động vật và thực vật, được sử dụng để nhũ hóa vì nó thúc đẩy trộn đồng nhất của các thành phần khác nhau cho phép dán để trở thành phết. Nó cũng hỗ trợ các tính chất ưa mỡ của bột ca cao, một lần nữa, giữ sản phẩm từ tách. Vani được thêm vào để tăng cường vị ngọt của sôcôla. Sản phẩm cuối cùng sau đó được đóng gói.
== Dinh dưỡng ==
Nutella chứa 10,5% chất béo bão hòa và 58% đường được chế biến theo trọng lượng. Một muỗng lớn (37 gram) Nutella chứa 200 calo trong đó có 99 calo từ 11 gam chất béo (3.5g trong số đó được bão hòa) và 80 calo từ 21 gram đường. Nutella cũng có chứa 15 mg natri và 2g protein mỗi khẩu phần (ở Canada khẩu phần là 1 thìa, 19 gram).
== Tham khảo == |
f. scott fitzgerald.txt | Francis Scott Key Fitzgerald (24 tháng 9 năm 1896 - 21 tháng 12 năm 1940) là một nhà văn Mỹ, nổi tiếng với các tác phẩm về "thời đại nhạc Jazz". Ông sinh ra trong một gia đình gốc Ireland Công giáo. Năm 1913 Fitzgerald vào Đại học Princeton nhưng sắp tốt nghiệp thì bỏ học vào lính. Thời gian phục vụ trong quân đội Fitzgerald bắt đầu viết cuốn tiểu thuyết đầu tiên This Side of Paradise (Phía bên kia địa đàng, 1920). Sau khi xuất bản cuốn tiểu thuyết này Fitzgerald cưới vợ và bắt đầu nổi tiếng. Cũng trong thời gian này ông in tập truyện ngắn đầu tay Flappers and Philosophers (Những cô nàng và những triết gia, 1920). Tiểu thuyết thứ hai The Beautiful and Damned (Đẹp và đáng nguyền rủa, 1922) kể về cuộc hôn nhân khổ sở của hai con người tài năng và quyến rũ. Năm 1923 ông viết và dựng vở kịch Vegatable (Rau cỏ, 1923) bị thua lỗ nhưng sau đó viết tiểu thuyết The Great Gatsby (Đại gia Gatsby, 1925) được giới phê bình đánh giá là kiệt tác, là một trong những tiểu thuyết hay nhất nước Mỹ.
Tuân thủ nguyên tắc của "thế hệ mất mát" (The Lost Generation), Fitzgerald sang sống ở châu Âu (Ý) nhưng hôn nhân tan vỡ, đời sống riêng suy sụp, vợ mắc bệnh tâm thần còn ông là người nghiện rượu. Tiểu thuyết Tender is the Night (Đêm dịu dàng, 1934) là sự thể hiện lối thoát về châu Âu. Tập truyện Top at Reveille (Tín hiệu thức tỉnh, 1935) là những thổ lộ tâm can của nhà văn về sự đổ vỡ. Cũng giống như nhân vật chính của truyện Crazy Sunday (Ngày chủ nhật cuồng điên) trong tập trên, Fitzgerald quay trở về Hollywood trong tâm trạng thất vọng và bệnh hoạn. Ông mất ngày 21 tháng 12 năm 1940, để lại một cuốn tiểu thuyết đang viết dở The Last Tycoon (Trùm tư bản cuối cùng, 1941).
Sau Chiến tranh thế giới thứ hai người ta đua nhau tìm đọc tác phẩm của Fitzgerald. Năm 1945 nhà văn và nhà phê bình Edmund Wilson tập hợp những bài viết lẻ, những hồi ức, thư từ của Fitzgerald thành một tập sách có tựa đề The Crack-Up (Sụp đổ). Rất nhiều nhà văn nổi tiếng viết về Fitzgerald, Ernest Hemingway có một liên hệ phức tạp với Fitzgerald qua nhiều năm và đã viết về Fitzgerald trong nhiều tác phẩm.
== Tiểu sử ==
Cha ông, Edward, là chủ một doanh nghiệp nhỏ. Mẹ ông, bà Mollie McQuillan, là con gái trong một gia đình nhập cư người Ireland làm giàu bằng nghề buôn thực phẩm. Nhờ gia đình McQuillan mà gia đình Fitzgerald sống khá sung túc ở vùng Summit Avenue, vốn được xem là nơi hội tụ của các hộ giàu kếch sù khác. Tuy nhà ông sống chỉ cách khu nhà giàu có vài căn nhưng gia đình ông chưa bao giờ được xếp vào cùng đẳng cấp với họ.
Thời trẻ, Scott Fitzgerald kết giao nhiều với con cái giới thượng lưu. Năm 1908, ông vào học trường St. Paul Academy và đạt kết quả xuất sắc trong lĩnh vực tranh luận và thể thao. Năm 1909, tác phẩm The Mystery of the Raymond Mortgage (Bí ẩn nhà Raymond) được đăng trên tạp chí Now & Then của St. Paul Academy. Ngoài ra, ông còn sáng tác một số vở kịch và truyện ngắn trong các hoạt động ở trường.
Năm 1911, để nâng cao kết quả học tập, ông được cha mẹ gửi vào trường Newman ở Hackensack, New Jersay. Tại đây ông đã gặp Sigourney Fay, người đã tạo cảm hứng và động viên ông theo đuổi nghề viết. Từ đó ông đã có ba truyện được xuất bản trong tạp chí văn học Newman.
Năm 1913, Fitzgerald vào Đại học Princeton. Giai đoạn này ông cũng không được liệt vào hàng sinh viên ưu tú nhưng sự nghiệp viết văn có tiến triển nhiều hơn, đóng góp khá nhiều cho các ấn bản của Princeton. Năm 1917, ông tham gia quân đội, được thăng đến chức trung uý bộ binh. Ông vẫn tiếp tục viết, nhưng tác phẩm The Romantic Egotist (Tên tự tôn mơ mộng) của ông bị nhà xuất bản Charles Scribner's Sons từ chối và yêu cầu viết lại.
Cuộc đời ông rẽ sang bước ngoặt lớn vào tuổi 22, khi ông đem lòng yêu Zelda Sayre, con út của thẩm phán tòa án tối cao Alabama. Ông này phản đối hôn nhân giữa hai người, buộc Scott phải làm thế nào để đủ tài chánh chu toàn cho con gái ông thì lúc đó ông mới chịu gả. Năm 1919, Fitzgerald chuyển đến New York và làm việc cho một công ty quảng cáo, nuôi hy vọng kiếm được tiền để có được Zelda. Thế nhưng đến tháng 6/1919 Zelda đã chán cảnh đợi chờ và hủy hôn ước. Thời gian này Fitzgerald viết lại The Romantic Egotist và đã được tổng biên tập Maxwell Perkins của Scribner chấp thuận cho xuất bản. Một tuần ngay sau đó, Scott và Zelda tổ chức hôn lễ tại New York, cặp đôi nhanh chóng trở thành tâm điểm chú ý của công chúng và được xem như biểu tượng cho phong cách sống thập kỷ 1920.
Cả hai cùng nhau du lịch châu Âu khá nhiều, đặc biệt là nước Pháp. Tuy nhiên về sau cuộc sống gia đình giữa hai người không thực sự hạnh phúc. Cả hai đều lún sâu vào bia rượu, còn tài chính không còn dồi dào và ổn định để chu cấp cho mức sống xa hoa của hai người. Mặc dù This Side of Paradise (Phía bên kia địa đàng) đem lại lợi tức khá lớn nhưng các tác phẩm sau đó lại không mấy thành công. Vì thế Scott đã phải dồn tâm sức viết truyện ngắn gửi đăng cho nhiều loại tạp chí.
Một tai hoạ khác cho hôn nhân của hai người là Zelda mắc bệnh tâm thần và đột quỵ 3 lần trong khoảng từ năm 1930 đến 1934, phải chữa trị đặc biệt tại Pháp và Thụy Sĩ, rồi nhập viện ở Mỹ, đến1948 thì cô mất tại bệnh viện. Căn bệnh của Zelda đòi hỏi Scott phải ra sức chăm sóc về tinh thần lẫn tài chính trong khi ông không thể đáp ứng đủ, và cặp vợ chồng rơi vào cảnh nợ nần. Đến gần cuối đời, Scott phải lòng một nhà bình luận phim, Sheilah Graham, và có những năm tháng hoạt động sáng tạo trở lại cho đến khi ông mất ở tuổi 44.
== Tác phẩm ==
This Side of Paradise (Phía bên kia địa đàng, 1920)
Flappers and Philosophers (Những cô nàng và những triết gia, 1920)
The Beautiful and Damned (Đẹp và đáng nguyền rủa, 1922)
Vegatable (Rau cỏ, 1923)
The Great Gasby (Đại gia Gatsby, 1925)
Tender is the Night (Đêm dịu dàng, 1934)
Top at Reveille (Tín hiệu thức tỉnh, 1935)
The Last Tycoon (Trùm tư bản cuối cùng, 1941)
The Crack-Up (Sụp đổ, 1945)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
chiến tranh kế vị tây ban nha.txt | Bản mẫu:Campaignbox Anglo-Spanish wars
Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha (1701–1714) là một cuộc xung đột chính trị quân sự ở châu Âu đầu thế kỉ XVIII, được kích nổ bởi cái chết của vị vua cuối cùng của vương triều Habsburg ở Tây Ban Nha, một người ốm yêu và không thể có con, Carlos II. Ông đã cai trị một đế quốc rộng khắp toàn cầu, và câu hỏi ai sẽ là người kế vị đã gây ra sự tranh chấp giữa các cường quốc châu Âu. Những nỗ lực để giải quyết vấn đề đi đến thỏa thuận phân chia đế chế giữa ba ứng viên đủ điều kiện kế vị đến từ nước Pháp (Bourbon), Áo (Habsburg), và Bavaria (Wittelsbach) nhưng cuối cùng thất bại, và trên giường bệnh Carlos II trao quyền kế vị vương quốc của ông cho Philippe, Công tước xứ Anjou, cháu trai thứ hai của đức vua Louis XIV của Pháp. Nếu như Philippe chiếm được Tây Ban Nha, Louis XIV sẽ kiểm soát một vùng đất rất rộng lớn và chiếm nhiều ưu thế ở châu Âu, nhưng một số chính trị gia coi việc thống trị của dòng họ Bourbon là mối đe dọa cho thế cân bằng quyền lực.
Louis XIV có mọi điều kiện tốt để chấp nhận cháu trai của ông lên ngôi vua Tây Ban Nha, nhưng sau đó ông đã có những hành động bất ngờ và gây tranh cãi: ông gửi quân đến Hà Lan thuộc Tây Ban Nha (là vùng đệm giữa Pháp với Cộng hòa Hà Lan); ông tìm cách thống trị thương mại ở các thuộc địa của Tây Ban Nha ở châu Mỹ cạnh tranh với các thương nhân Anh và Hà Lan, ông từ chối loại bỏ Philip khỏi danh sách kế vị ở Pháp, gây ra nguy cơ về sự hợp nhất hai vương quốc Pháp-Tây Ban Nha dưới một vương triều quyền lực duy nhất trong tương lai gần. Để chống lại âm mưu của Louis XIV, Anh, Cộng hòa Hà Lan, và Áo – cùng với các đồng minh của họ trong Thánh chế La Mã đã tái lập Đại Liên minh (1701) và ủng hộ quyền kế vị Leopold I trên vương miện Tây Ban Nha sẽ chuyển cho hoàng tử thứ hai của ông, Đại Công tước Karl. Bằng cách ủng hộ ứng viên nhà Habsburg (những người ủng hộ gọi ông ta là vua Carlos III của Tây Ban Nha), mỗi thành viên trong liên minh đều hi vọng làm giảm thế lực của Pháp, bảo đảm an toàn và lãnh thổ và vương triều của mình, và khôi phục cũng như cải thiện những lợi ích thương mại mà họ có được như thời Carlos II.
Phía Áo, cùng đồng minh là Hà Lan và Anh bắt đầu tuyên chiến tháng 5 năm 1702. Năm 1708, Công tước Marlborough và Hoàng thân Eugene xứ Savoy đã giành chiến thắng trong cuộc chiến tại Hà Lan thuộc Tây Ban Nha và Ý, sau đó tấn công đồng minh của Louis XIV tại Bavaria. Pháp đối mặt với cuộc xâm lược, nhưng liên minh khi đó bắt đầu rạn nứt. Với việc Đại Liên minh tấn công Tây Ban Nha, những thương vong và chiến phí ngày càng tăng do nó gây ra là tiền đề cho sự chia sẽ. Đảng Bảo thủ lên nắm quyền ở Liên hiệp Anh từ 1710 và tìm cách chấm dứt cuộc chiến. Các quan đầu triều ở Anh và Pháp chuẩn bị cho một hội nghị hòa bình năm 1712 và Anh ngừng các hoạt động quân sự. Hà Lan, Áo và các vương hầu người Đức vẫn chiến đấu để chiếm ưu thế trên bàn đàm phán, nhưng họ bị đánh bại bởi Nguyên soái Villars và bị buộc phải chấp nhận hòa giải giữa Anh và Pháp. Với Hiệp ước Utrecht (1713) và Hiệp ước Rastatt (1714), Đế quốc Tây Ban Nha được phân chia giữa các nước lớn và nước nhỏ. Người Áo nhận nhiều lãnh địa của Tây Ban Nha ở châu Âu, nhưng Công tước xứ Anjou vẫn thống trị bán đảo Tây Ban Nha và các thuộc địa ở châu Mỹ, sau khi từ bỏ quyền kế vị ngôi vua ở Pháp, ông cai trị Tây Ban Nha với vương hiệu Felipe V (Felipe V). Thế cân bằng quyền lực ở châu Âu vẫn được đảm bảo.
== Hoàn cảnh ==
Cuối những năm 1690, việc sức khỏe nhà vua Carlos II của Tây Ban Nha ngày càng suy nhược đã tạo ra vấn đề to về việc ai sẽ kế nghiệm ông, một vấn đề mà nhiều chính khách châu Âu đã che giấu nó trong nhiều thập niên. Vào cuối thế kỉ XVII Tây Ban Nha đã không còn là bá chủ châu Âu, nhưng Đế quốc Tây Ban Nha – về cơ bản vẫn là một liên minh rộng lớn khắp toàn cầu, mà người Tây Ban Nha thường gọi đó là 'nền quân chủ' – vẫn còn sức bật dậy. Bên ngoài Tây Ban Nha, những lãnh địa khác của Carlos II tại châu Âu có thể kể đến như Đảo Balearic, Hà Lan thuộc Tây Ban Nha, Milan, Sicily, Naples, Sardinia, Finale và bang Presidi trên bờ biển Tuscan; lãnh địa hải ngoại bao gồm Philippines, Tây Ấn thuộc Tây Ban Nha, Florida, phần lớn Bắc và Nam Mỹ cùng nhiều thành thị ở Bắc Phi. Đế quốc tuy đã suy yếu, nhưng vẫn là đế quốc có nhiều lãnh địa hải ngoại nhất ở châu Âu, và những hành động của nó vẫn ảnh hưởng lớn đến vũ đài chính trị ở châu Âu và cả thế giới.
Carlos II trở thành vua sau cái chết của phụ thân ông ta, Felipe IV, năm 1665, nhưng sức khỏe của ông không được tốt và không thể có con; ông là thành viên cuối cùng của Habsburg ở Tây Ban Nha và ông đã sống lâu hơn nhiều so với dự đoán của một số người. Khi Hiệp ước Ryswick (Rijswijk) kết thúc Chiến tranh Chín năm (1688–97), các chính trị gia ở châu Âu hướng sự chú ý của họ về vấn đề kế vị Tây Ban Nha bởi trước cái chết của Carlos II trong tương lai. Cuối cùng, những ứng viên có tư cách kế vị là con cháu đến từ dòng họ Bourbon của vua Louis XIV của Pháp, và nhà Habsburg ở Áo và Thánh chế La Mã, Leopold I, tất cả họ đều là con rể của vua Felipe IV của Tây Ban Nha và cháu của Felipe III, và cả hai bên đều vững tin về khả năng nối ngôi của họ. Tuy nhiên, nếu họ kế vị thì thế cân bằng quyền lực ở châu Âu sẽ nghiêng hẳn về phía Pháp, hoặc Áo, do đó các mối nguy cơ về một thế lực khác sẽ làm bá chủ là vấn đề quan tâm chung của các cường quốc khắp châu Âu.
=== Các yêu sách đối đầu ===
Không giống như ngai vàng Pháp, ngai vàng Tây Ban Nha có thể cho tất cả con cháu đều có quyền kế vị, mặc dù dòng nữ vẫn phải đứng sau dòng nam. Những người tiếp theo trong danh kế kế vị Carlos II, vì thế là hai người chị của ông ta: Maria Theresa, Trưởng Công chúa, và Margarita Teresa, Thứ Công chúa. Maria đã kết hôn với vua Louis XIV năm 1660 và có một người con với ông, Louis, Thái tử Pháp. Đáng lý ra thì thái tử là người nối ngôi đương nhiên, nhưng Maria đã tuyên bố bỏ quyền kế vị để đổi lấy một khoản tiền hồi môn là nửa triệu lạng vàng. Trong chúc thư của cha bà ta, Felipe IV, đã nhắc lại sự việc này và công bố rằng quyền kế vị của cả vương quốc Tây Ban Nha sau Carlos sẽ là con gái nhỏ của ông, Margarita. Tuy nhiên, người Pháp, lấy một phần lý do là của hồi môn không bao giờ được trả, vì thế sự từ bỏ của Maria không được chấp nhận. Cũng không rõ liệu công chúa có bỏ luôn quyền kế vị dành cho những đứa trẻ của bà chào đời sau này hay không.
Leopold I kết hôn với Margarita Teresa năm 1666. Khi bà chết năm 1673 đã để lại một người thừa kế, Maria Antonia, người mà năm 1685 đã kết hôn với Max Emanuel, Tuyển hầu Bavaria. Không lâu trước khi chết vào năm 1692, bà ta hạ sinh một cậu bé, Joseph Ferdinand. Khi kết hôn, Maria đồng ý từ bỏ quyền kế vị ngôi vua Tây Ban Nha cho những người con thứ của Leopold I với đệ tam hoàng hậu: người anh là Đại Công tước Joseph (sinh 1678), về sau nối ngôi Leopold trên cương vị hoàng đế và nhà cai trị của các lãnh địa của nhà Hasburg thuộc Áo, và người em là Đại Công tước Karl (sinh. 1685), người mà Leopold I coi như ứng viên kế vị ngôi vua Tây Ban Nha. Tuy nhiên, sự từ bỏ của Maria Antonia bị nghi ngờ và không được công nhận ở Tây Ban Nha, thay vào đó, Hội đồng quốc gia ủng hộ ứng viên Joseph Ferdinand – cháu cố của Felipe IV – sẽ kế thừa toàn bộ đế chế. Quyền kế vị của hoàng tử Bavaria cũng nhận được sự ủng hộ của các cường quốc hàng hải (Anh và Cộng hòa Hà Lan) mặc dù họ từng đảm bảo với Leopold I về vấn đề kế vị Tây Ban Nha trong liên minh năm 1689, công nahanj rằng Nhà Wittelsbach không phải là mối đe dọa đối với thế cân bằng quyền lực ở châu Âu.
Nếu được chọn, Louis XIV có thể đã can thiệp vào Tây Ban Nha bằng vũ lực, tuy nhiên Chiến tranh Chín năm đã khiến cho quốc khố của Pháp kiệt quệ. Hơn thế nữa, cuộc chiến tranh với người Ottoman của Leopold I tại Balkans đã sắp kết thúc thắng lợi, và Hoàng đế sẽ sớm chuyển sự quan tâm của ông ta về phía tây và củng cố tư cách kế vị ở Tây Ban Nha. Để tìm kiếm một giải pháp thỏa đáng và cũng là tìm sự hỗ trợ, Louis XIV dàn hòa với đối thủ lâu năm của ông ta, William xứ Orange, người hiện là Thống đốc Hà Lan và Vua của Anh (vương hiệu William III). Anh và Cộng hòa Hà Lan cũng có những lợi ích thương mại, chiến lược và lợi ích chính trị của họ trong đế quốc Tây Ban Nha, và họ đều mong muốn lập lại hòa bình. Tuy nhiên, các cường quốc ven biển này đang suy yếu và thế lực của họ cũng bị suy giảm vào thời điểm kết thúc của Chiến tranh Chín năm. Louis XIV và William III, do đó, tìm cách giải quyết vấn đề ở Tây Ban Nha thông qua thương lượng, dựa trên những nghị định phân chia (lúc đầu đều không thông qua triều đình Tây Ban Nha và Áo) có hiệu lực sau khi Carlos II chết.
=== Các thỏa thuận phân chia ===
Hiệp ước phân chia lần thứ nhất, được ký kết giữa Công tước Tallard và Bá tước Portland ngày 26 tháng 9 năm 1698 và được phê chuẩn ngày 11 tháng 10, theo đó các vùng Naples và Sicily, cảng Tuscan, Finale, và Basque thuộc tỉnh Gipuzkoa, được trao cho thái tử Pháp; con trai thứ hai của Leopold I, Đại Công tước Karl, sẽ nhận Lãnh địa Công tước Milan và các vùng phụ cận. Tuy nhiên, hầu hết lãnh thổ đế chế - bao gồm bán đảo Tây Ban Nha, Hà Lan thuộc Tây Ban Nha, Sardinia, và các lãnh thổ hải ngoại – sẽ được trao cho hoàng tử Bavaria, Joseph Ferdinand. Nếu Joseph lên ngôi, ngai vàng Tây Ban Nha vẫn được độc lập khỏi các thế lực của Pháp và Áo, nhưng cậu ta lại qua đời vào tháng 2 năm 1699 đã dẫn đến hiệp ước phân chia thứ hai, được ký kết giữ William III và Tallard ngày 11 tháng 6, sau đó được phê chuẩn bởi Quốc hội Hà Lan ngày 25 tháng 3 năm 1700.
Đế quốc Tây Ban Nha lúc này sẽ được phân chia giữa ba ứng viên còn sống. Theo hiệp ước mới, Đại Công tước Karl sẽ nhận được phần lớn Tây Ban Nha, Hà Lan thuộc Tây Ban Nha, Sardinia, và các lãnh thổ hải ngoại. Thái tử Pháp sẽ nhận Gipuzkoa, và phần còn lại thuộc Tây Ban Nha trên bán đảo Italia, nhưng Milan sẽ được trao đổi với Lãnh địa công tước Lorraine, những vùng này sẽ được nhập vào nước Pháp. Đối với Leopold I, việc chiếm được Tây Ban Nha và hệ thống thuộc địa của nó không thể sánh được với việc giành quyền kiểm soát bán đảo Ý, đặc biệt là Milan, vùng đất mà ông coi là lá chắn cần thiết cho sườn tây nam Áo quốc. Mặc dù Leopold I và các quan đầu triều của ông ta có thể chấp nhận một ố điều trong nghị định, họ lại không đồng ý từ bỏ Italy. Leopold I, vì thế, phản đối Hiệp ước phân chia thứ hai. Đây là những vùng gắn liền với vương triều Habsburg, nhưng giờ đây nếu chống lại sự phân chia lãnh thổ Tây Ban Nha, Hoàng đế cũng hi vọng sẽ tạo được ấn tượng tốt đối với thần dân Madrid, nơi mà ý tưởng phân chia làm người dân ở đây kinh ngạc và tức giận.
Trong suy nghĩ của các quan đại thần Tây Ban Nha, việc bảo vệ đế chế được nguyên vẹn không chia cắt và phải có một ông vua đủ mạnh để đảm bảo sự toàn vẹn đó là rất cần thiết. Việc đảm bảo đế quốc Tây Ban Nha thống nhất dưới thời vị vua kế nhiệm là mục tiêu chính trong những năm cuối đời Carlos II, nhưng các quý tộc, dẫn đầu là Hồng y Portocarrero, biết được rằng quân sự đất nước họ nhờ nhiều vào ân huệ của Pháp và Áo, thiếu lực lượng hải quân, có thể không có hi vọng để hiện thực hóa ước muốn đó. Do đó, Carlos II, đang nằm trên giường bệnh, cùng với các quan, đã ký vào bản di chúc cuối cùng ngày 3 tháng 10 năm 1700, khôi phục quyền kế vị cho Maria Theresa và trao toàn bộ đế quốc cho cháu của Louis XIV, Philippe, Công tước xứ Anjou. Vì Philippe không phải là người đứng đầu danh sách kế vị ở Pháp (sau thái tử và Công tước Burgundy), chính phủ Tây Ban Nha hi vọng rằng thỏa thuận này sẽ đạt được sự đồng thuận của các cường quốc châu Âu, vốn lo sợ về sự thống nhất giữa Pháp-Tây Ban Nha với một ngai vàng duy nhất. Nếu Philippe qua đời hoặc từ chối, ngai vàng sẽ trao cho hoàng đệ của ông ta, Công tước Berry; nếu tất cả họ từ chối, quyền kế vị sẽ thuộc về Đại Công tước Charles.
Vua Carlos II của Tây Ban Nha chết ngày 1 tháng 11 năm 1700. Louis XIV lúc này đối mặt với tình thế khó xử mà bản thân ông thừa nhận là khó xử. Nếu ông cấm Công tước xứ Anjou chấp nhận ngai vàng Tây Ban Nha và thay vì tôn trọng Hiệp ước phân vùng thứ hai – mà Leopold I đã từ chối công nhận – thì Đại Công tước Charles chắc chắn sẽ là nhà vua Tây Ban Nha và tất cả các thuộc địa, theo chúc thư cuối cùng của Carlos II. Nhà Habsburg sẽ tạo dựng được một sức mạnh rất lớn trong khi Pháp chẳng được gì, và chiến tranh với Tây Ban Nha và Áo là không thể tránh khỏi. Còn chấp nhận chúc thư của Carlos II cũng có nghĩa là chiến tranh với Leopold I, nhưng trong trường hợp như vậy Pháp sẽ có sự ủng hộ của Tây Ban Nha và dòng họ Bourbon sẽ nối đời cai trị vương qốc này. Trong bất kì trường hợp nào nhà vua cũng cho rằng Các cường quốc hàng hải vẫn lo lắng cho hòa binh, và họ sẽ đứng trung lập hoặc tham gia hờ hững, miễn là Pháp và Tây Ban Nha không thống nhất là được. Với lý do như vậy, Louis XIV quyết định chấp nhận ý muốn cuối cùng của Carlos II, và gửi hoàng tôn đến Madrid để lên ngôi trở thành Felipe V của Tây Ban Nha.
== Khởi đầu ==
Tin tức Louis XIV chấp nhận chúc thư của Carlos II và Hiệp ước phân chia thứ hai mất hiệu lực đã gây ra nỗi lo lớn cho William III, ông cho rằng Felipe V chẳng là cái gì khác hơn một con rối của vua Pháp. Tuy nhiên, ở Anh nhiều ý kiến cho rằng việc chấp nhận các ý muốn của Carlos II sẽ tốt hơn là cái hiệp ước mà trước mắt Pháp sẽ mở rộng lãnh thổ của mình, bao gồm cả việc sáp nhập Napoli và Sicily vào vương quốc Pháp sẽ tạo ra mối đe dọa cho con đường thương mại Levantine của Anh quốc. Sau khi kết thúc Chiến tranh Chín năm, Đảng Bảo thủ - đã kiểm soát Viện thứ dân - tìm cách cuộc chiến và khôi phục các hoạt động thương mai bình thương. Tuy nhiên, đối với William III thì thế lực của Pháp sẽ tăng lên và chiến tranh là khó tránh, và cùng với Anthonie Heinsius, Grand Pensionary của Hà Lan người trên thực tế nắm quyền điều hành nước Hà Lan, ông, đã chuẩn bị để tìm kiếm sự hỗ trợ. William III được cảm thông bởi những hành động của Louis XIV sau đó.
Hành động đầu tiên của Louis XIV là chính thức tái công nhận vị trí của Philippe trong danh sách kế vị ở Pháp, bằng cách tuyên bố về quyền thiêng liêng của các vị vua. Điều này dẫn đến một viễn cảnh liên minh cá nhân Pháp-Tây Ban Nha dưới một ngai vàng duy nhất, mâu thuẫn với chúc thư của Carlos II. Tiếp đó, đầu tháng 2 năm 1701 Louis XIV đưa quân đến để bảo đảm quyền kế vị của nhà Bourbon ở Hà Lan thuộc Tây Ban Nha và gửi lực lượng Pháp đến 'Pháo đài' ở Hà Lan mà William III đã giành được sau Hòa ước Ryswick. Đất Hà Lan thuộc Tây Ban Nha có vị trí chiến lược quan trọng đối với người Hà Lan khi đó là vùng đệm giữa Pháp và nền cộng hòa. Nhưng sự xâm lược của người Pháp cũng đã gây phương hại đến lợi ích thương mại của Hà Lan – những hạn chế đó đến thời điểm này đã đảm bảo vị trí của Cộng hòa ở các vịnh và cửa biển ở những vùng ven biển châu Âu. Phía Anh cũng có những lợi ích của họ ở Hà Lan thuộc Tây Ban Nha, và các bộ trưởng đã công nhận mối nguy hiểm đến từ một kẻ thù ở phía đông eo biển Dover lợi dụng gió thuận lợi và thủy triều, sẽ đe dọa đến Đảo Anh. Sự dời quân của người Pháp đã gây ra áp lực đối với Các cường quốc hàng hải nếu họ công nhận Philip là vua của Tây Ban Nha – điều mà họ đã làm từ trước – nhưng theo quan điểm của William III, việc này sẽ đảo lộn hết các chính sách trong vòng 20 năm trở lại đây.
Louis XIV tiếp tục làm mất lòng Các cường quốc hàng hải khi đề nghị phía Tây Ban Nha cấp ưu đãi đặc biệt cho những thương nhân Pháp buôn bán trong đế chế, từ đó ép chẹt các lái buôn Anh và Hà Lan. Đối với nhiều người, Louis XIV đã một lần nữa đóng vai trò trọng tài ở châu Âu, và ủng hộ một chính sách chiến tranh đang đến gần. Mặc dù tham vọng và động cơ của nhà vua nước Pháp là gì không ai biết rõ, Chính phủ Anh coi như những hành động của Louis XIV là nhằm mở rộng lãnh thổ của ông ta và tìm cách thống trị Tây Ban Nha. Với mối đe dọa từ một thế lực mới sẽ thống trị châu Âu và thương mại ở hải ngoại, London lúc này đã sẵn sàng ủng hộ những cố gắng của William III là liên minh với Hoàng đế và Quốc hội Hà Lan, và bảo vệ quyền Tự do ở châu Âu, tài sản và Hòa bình ở Anh, và để hạn chế quyền lực quá đáng của người Pháp.'
=== Leopold I dời Milan ===
Ngay từ đầu Leopold I đã bác bỏ bản chúc thư của Carlos II: ông nhất quyết không từ bỏ các lãnh địa Tây Ban Nha ở Ý, nhất là Lãnh địa Công tước Milan vốn được xem là trọng điểm an ninh ở miền nam nước Áo. Trước khi mở đầu cuộc chiến, phía Milan đã đứng về phe Pháp khi phó vương nơi này công nhận Felipe V; và láng giềng của nó là Lãnh địa Công tước Mantua cũng làm như vậy với một thỏa thuận bí mật vào tháng 2, 1701. Cộng hòa Venice, Cộng hòa Genoa, Đại Công quốc Toscan, và Lãnh đại Công tước Parma (dưới quyền của Giáo hoàng), đứng trung lập. Ở xa hơn về phía nam, Vương quốc Naples thừa nhận Felipe V là Vua của Tây Ban Nha, cũng như Giáo hoàng Clement XI do khuynh hướng thân Pháp của các Hồng y dưới quyền ông, nên ông đứng trung lập và có phần nghiêng về người Pháp. Chỉ có Modena và Guastalla – những nơi trục xuất quân đội Pháp vào đầu chiến dịch – là ủng hộ hoàng đế.
Nhà lãnh đạo có ảnh hưởng nhất ở miền bắc Italy là Victor Amadeus II, Công tước Savoy, người cũng có khả năng tuyên bố kế vị Tây Ban Nha thông qua bà cố của ông, con gái vua Felipe II của Tây Ban Nha. Cũng như Hoàng đế, Công tước mưu đồ sở hữu Công quốc Milan láng giềng, và ông ta nịnh hót cả Louis XIV và Leopold I để thực hiện những ý đồ riêng của ông ta. Tuy nhiên, việc Công tước Anjou kế vị ngai vàng Tây Ban Nha và sự thống trị của triều Bourbon đã quá rõ ràng, nên ngày 6 tháng 4 năm 1701, Victor Amadeus phải miễn cưỡng liên minh với Pháp. Quân đội Pháp đóng ở Milan lúc bấy giờ được phép đi qua lãnh thổ Savoy. Đổi lại, Công tước nhận được một khoản tiền và danh hiệu là chỉ huy tối cao quân đội Savoy và Bourbon ở Italia (dù chỉ là trên danh nghĩa), mặc dù ông không đưa ra đề nghị gì về lãnh thổ. Liên minh được thắt chặt bằng cuộc hôn nhân giữa Felipe V với cô con gái 13 tuổi của Amadeus, Maria Luisa.
Sự hiện diện của người Pháp ở Italy đe dọa đến an ninh của Áo. Mặc dù chiến thắng gần đây của Leopold I trước quân Thổ đã giúp ông củng cố vùng đất phía đông, ông chuyển sang con đường ngoại giao khôn khéo hơn. Vì thế tháng 5 năm 1701, trước khi tuyên bố chiến tranh, Leopold I gửi Hoàng thân Eugene xứ Savoy đi ngang qua Alps để bảo vệ lãnh địa Công tước Milan bằng binh lực. Đầu tháng 6 quân của Eugene gồm 30,000 người đã vượt qua những ngọn núi và vào lãnh địa trung lập Venice, và ngày 9 tháng 7 ông đánh bại một chi đội từ quân của Nguyên soái Catinat's tại Trận Carpi; sau đó là một chiến thắng khác vào ngày 1 tháng 9 trước người kế nhiệm của Catinat, Nguyên soái Villeroi, tại Trận Chiari. Eugene đã chiếm giữ nhiều lãnh thổ thân Pháp, mặc dù chiến thắng các của ông nhưng ông không được nhiều sự trợ giúp từ Vienna. Sự sụp đổ của lòng tin từ chính quyền dẫn đến Leopold I tháo hết quân đội, khi buộc Eugene vào làm theo những chính sách trái với bình thường. Ngày 1 tháng 2 năm 1702 ông tấn công tổng hành dinh của người Pháp tại Cremona. Cuộc tấn công cuối cùng thất bại, nhưng Villeroi bị bắt sống (sau được thả ra), khiến người Pháp lùi về sau Adda. Nhà Bouborn vẫn chiếm giữ Lãnh địa Công tước Milan, tuy nhiên người Áo đã chứng minh họ có thể và sẽ chiến đấu để bảo vệ lợi ích của họ, và sự thành lập một liên minh với Anh và Cộng Hòa Hà Lan.
=== Đại Liên minh tái lập ===
Các cuộc đàm phán bắt đầu tại The Hague vào tháng 3 năm 1701. Mặc dù có những phản kháng ban đầu, William III, bây giờ đã gần chết, giao cho Bá tước Marlborough làm người kế nhiệm ông về chính trị và quân sự, bổ nhiệm ông làm Đại sứ đặc biệt tại The Hague và chỉ huy trưởng lực lượng Anh và Scotland tại Vùng đất thấp. Heinsius đại diện cho Hà Lan trong khi Bá tước Wratislaw, đại sứ đế quốc ở London, đàm phán thay mặt cho Hoàng đế. Cuộc đàm phán với đại sứ Pháp, Bá tước d'Avaux, xoay quanh số phận của chế độ quân chủ Tây Ban Nha, các cuộc xâm nhập của quân Pháp vào Hà Lan thuộc Tây Ban Nha và Lãnh địa Công tước Milan, và các đặc quyền thương mại cấp cho thương nhân Pháp tại các cường quốc hàng hải. Những cuộc đàm phán này không đi đến kết quả gì, và họ giải tán đầu tháng 8. Tuy nhiên, các cuộc thảo luận để thành lập liên minh chống Pháp giữa Anh, Cộng hòa Hà Lan, và Áo đã có những bước tiến đáng kể, kết quả là việc ký Hiệp ước thứ hai của Đại Liên minh (hay, Hiệp ước The Hague) ngày 7 tháng 9. Mục tiêu tổng thể của Liên minh khá mơ hồ: không có đề cập đến việc Đại Công tước Karl lên ngai vàng Tây Ban Nha, nhưng Hoàng đế sẽ nhận được sự hài lòng 'công bằng và hợp lý' cho việc kế thừa ngôi vua Tây Ban Nha, và ý kiến rằng vương quốc Pháp và Tây Ban Nha vẫn độc lập với nhau là trọng tâm của thỏa thuận.
Ngay cả sau sự hình thành của Đại liên minh nhà vua Pháp tiếp tục phản kháng. Ngày 16 tháng 9 năm 1701, vị vua Công giáo James II của Anh (VII of Scotland) – lưu vong ở Saint-Germain từ sau 'Cách mạng Vinh quang' – chết. Mặc dù đã từ bỏ phe Jacobites tại Hiệp ước Ryswick, Louis XIV sớm công nhận con trai Công giáo của James II, James Francis Edward Stuart, là Vua 'James III' của Anh. Triều đình Pháp khẳng định việc cấp cho James danh hiệu vua chỉ là hình thức, nhưng các Bộ trưởng Anh đã hoài nghi và bất bình. Tuyên bố của Louis XIV dường như là thách thức đối với Nghị viện và Đạo luật Định cư, vào lúc cái chết của người con trai còn sống duy nhất Anne đã thay đổi thứ tự kế vị ngôi vua Anh về cho Thái phu nhân Sophia của Hanover (cháu nội của James VI/I) và những người thừa kế Kháng Cách của bà. Hệ quả là, sự bảo đảm sự thừa kế của người Tin Lành được công nhận bởi Đại Liên minh như một trong những mục tiêu chính của người Anh trong cuộc chiến.
Ngày 19 tháng 3 năm 1702, William, Vua của Anh và Thống đốc Hà Lan, băng. Anne lên kế tự ngai vàng và cùng lúc đó đảm bảo trước Hội đồng Cơ mật hai mục tiêu chính của bà: duy trì quyền kế vị của phe Tin Lành, và hạn chế quyền lực của Pháp. Sự kế nhiệm của Anne cũng đảm bảo địa vị của Marlborough: bà tấn phong ông ta làm Tổng chỉ huy các lực lượng của bà ở trên bộ (cùng với những sự đề bạt khác), trong khi Sarah, vợ của Marlborough và là bạn lâu năm với Anne, được giao các vị trí chủ chốt trong gia đình hoàng gia. Nữ hoàng cũng dùng lại người cố vấn thân cận của bà (và bạn của Marlboroughs), Sidney Godolphin, và bổ nhiệm ông làm Đại Thủ Quỹ. Ở Cộng hòa Hà Lan, cái chết của William dẫn đến giai đoạn gọi là Thời kì không Thống đốc thứ hai, và hầu hết các tỉnh chống lại nhà Orange, cộng hòa, phe ưa chuộng hòa bình đã lấy được ưu thế. Tuy nhiên trái với kì vọng ban đầu của người Pháp chế độ mới thông qua nhiều chính sách đối ngoại của. Sự thống trị của người Pháp ở Hà Lan thuộc Tây Ban Nha bị coi là một mối đe dọa trực tiếp đến sự tồn tại của nền Cộng hòa và nền thương mại của nó, và thương gia ở Amsterdam lo sợ cho nhiều đặc quyền của họ ở Tây Ban Nha và Mỹ thuộc Tây Ban Nha sẽ rơi vào sự kiểm soát của người Pháp. Do đó, nhiều chính sách hàng động trong những năm cuối William vẫn được giữ lại, bao gồm Heinsius giàu kinh nghiệm có mối quan hệ cá nhân với Marlborough là nền tảng cho sự thành công của Đại Liên minh trong giai đoạn đầu của cuộc chiến.
Khi mà không có bước ngoặt nào về ngoại giao kể từ sau khi ký Hiệp ước thứ hai của Đại Liên minh, Anh, Cộng hòa Hà Lan, và Áo tuyên chiến với Pháp vào ngày 15 tháng 5 năm 1702.
== Lãnh đạo, chiến lược và lực lượng chiến đấu ==
Đối với Anh, vấn đề Tây Ban Nha không phải mối quan tâm chính, nhưng sự tăng cường quyền lực của Pháp và khả năng họ sẽ thống trị châu Âu bị xem là mối đe dọa hàng đầu cho lợi ích của người Anh ở trong và ngoài nước. Cách tốt nhất để đạt được mục tiêu của nước này là nguyên cớ của cuộc tranh luận căng thẳng. Nói chung, Đảng Bảo thủ tránh chiến tranh trên lục địa với sự đồng tình một 'chính sách blue water' nơi Hải quân hoàng gia tiến hành chiến tranh ngăn chặn nguồn thương mại của Pháp và Tây Ban Nha trên biển trong khi cùng lúc đó bảo vệ và mở rộng thương mại cho Anh. Phe Bảo thủ coi chuyện phải đem quân đánh lên lục địa là khá tốn kém, và sẽ chỉ có lợi cho phe Liên minh hơn là cho Anh. Ngược lại, Đảng Whigs và các ông trùm tài chính ở London những người sẽ thu được nhiều lợi ích nhất nếu chiến dịch được tổ chức trên lục địa, ủng hộ tấn công lên bộ, và lập luận rằng chỉ mình hải quân sẽ không bao giờ thắng nổi Louis XIV. Các cuộc tranh luận về chuyện sử dụng nguồn lực của người Anh như thế nào sẽ tồn tại trong suốt cuộc chiến, nhưng sức mạnh tài chính của nước này giúp nó triển khai một số chiến lược, quan trọng nhất trong số đó là khả năng tấn công nước Pháp trên nhiều mặt trận. Tuy nhiên, đánh bại được Louis XIV là vượt quá khả năng của một thành viên duy nhất trong liên minh, và vì thế tất cả chiến lược đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ về thương mại và chính trị giữa Anh và Cộng hòa Hà Lan để cùng nhau có được một quân đội hiệu quả trên chiến trường và duy trì mối quan hệ tốt với các thành viên liên minh ở châu Âu, chủ yếu là Đức, nơi các vương hầu có thể cung cấp quân đội đánh thuê cho họ.
Phần nhiều các thành bang ở Đức (bao gồm Hesse-Kassel, Hesse-Darmstadt, Palatinate, Münster, Baden) đã chiến đấu để giành lại một vài vùng lãnh thổ cũ của Thánh chế La Mã thuộc Alsace và Lorraine, và do đó đảm bảo một Rào cản của Đức mạnh mẽ ở biên giới phía tây của đế chế. Tuy nhiên, nhiều người trong số những nhà lãnh đạo có ảnh hưởng lớn ở Đức lại có những chiến lược khác và quyền lợi khác trong cuộc chiến, và ưu tiên đưa quân của hộ hỗ trợ Anh-Hà Lan để đổi lấy trợ cấp hàng năm. Georg Luwig, Tuyển đế hầu Hanover, đang háo hức củng cố địa vị của ông ở Anh là người kế vị Nữ hoàng Anne, trong khi Friedrich August xứ Saxony – cũng là Vua của Ba Lan – có những chiến lược riêng trong Đại chiến phương bắc chống lại Karl XII của Thụy Điển. Tuyển đế hầu xứ Brandenburg-Phổ – người nhận được sự chấp thuận của Leopold I khi đã công nhân ông ta làm Friedrich I, Vua ở Phổ, cũng là một thành viên trong Đại Liên minh – cung cấp lực lượng 12,000 người vào đầu cuộc chiến, nhưng sự tham gia của ông chỉ có thể được đảm bảo bằng sự nhượng bộ về tài chính và lãnh thổ. Frederik IV của Đan Mạch cũng cung cấp quân đổi để đổi lấp tiền trợ cấp, mặc dù ông không bao giờ chính thức tham gia chiến tranh chống lại Pháp.
== Giai đoạn thứ nhất: 1701–1703 ==
Năm 1702, Vương công Eugene chiến đấu ở Ý, nơi quân Pháp do công tước Villeroi chỉ huy. Eugene đánh tan tác quân Pháp và bắt sống Villeroi ở trận Cremona ngày 1 tháng 2. Villeroi được Pháp thay bằng công tước Vendôme. Vendôme và Eugene coi như hòa nhau trong trận Luzzara diễn ra vào tháng 8. Sau đó Vendôme giành được một số lợi thế đáng kể, nhưng vẫn không thể đẩy Eugene khỏi Ý.
Trong lúc đó, Công tước Marlborough chỉ huy lực lượng liên quân Anh, Hà Lan và Đức ở vùng đất thấp. Tại đây, ông chiếm được một số pháo đài quan trọng, đáng kể nhất có Liège. Trên sông Rhine, Quân đội Đế quốc La Mã Thần thánh do Louis, bá tước của Baden-Baden chỉ huy chiếm được Landau vào tháng 9, nhưng mối đe dọa với vùng Alsace được giảm bớt sau khi Maximilian II Emanuel, Tuyển hầu tước của Bayern bước vào cuộc chiến đứng về phía Pháp. Louis của Baden-Baden buộc phải rút lui dọc theo sông Rhine. Tại đó, ông bị quân đội Pháp do Claude Louis Hector de Villars chỉ huy đánh bại ở trận Friedlingen - nhưng đây là một chiến thắng kiểu Pyrros của quân Pháp. Trên biển, đô đốc Anh Sir George Rooke giành được một thắng lợi quan trọng, trận vịnh Vigo, cướp được nhiều tấn bạc và dẫn tới sự hủy diệt hoàn toàn của hải đội trở hàng hóa và châu báu từ thuộc địa của Tây Ban Nha.
Sang năm sau, danh tướng Marlborough chiếm được Bon và buộc Tuyển hầu tước của Cologne phải lưu vong, nhưng ông lại không thể chiếm được Antwerp. Quân Pháp giành được nhiều chiến thắng ở Đức. Liên quân Pháp - Bayern do Villars và Max Emanuel của Bayern đánh bại Quân đội Đế chế La Mã Thần thánh do Louis của Baden và Hermann Styrum chỉ huy. Tuy nhiên, sự thận trọng của Max Emanuel khiến liên quân Pháp - Bayern không thể tiến thẳng tới kinh thành Viên. Và, Quân đội của Styrum đã được cứu vãn nhờ một cuộc lui binh hiển hách do một danh tướng của Quân đội Phổ và liên quân chống Pháp là Vương công Leopold I xứ Anhalt-Dessau - tức "Ông già Dessau" - thực hiện sau trận Höchstädt lần thứ nhất. Sự bất đồng ý kiến dẫn tới việc Villars từ chức. Quân Pháp, giờ do Camille de Tallard chỉ huy, tiếp tục giành chiến thắng ở miền nam Đức sau khi Villars từ chức. Các chỉ huy Pháp vạch ra một kế hoạch đầy tham vọng, dự kiến sẽ đánh chiếm kinh đô nước Áo trong năm 1703. Tuy nhiên, vào cuối năm 1703, quân Pháp gặp bất lợi khi Bồ Đào Nha và xứ Savoy trở cờ sang phe đế chế. Người Anh, trước giờ vẫn cho rằng Philip có thể kế vị Tây Ban Nha, giờ quyết định rằng các lợi ích thương mại của họ sẽ được bảo đảm hơn nếu Đại Công tước Karl của Áo được kế vị Tây Ban Nha.
== Giai đoạn thứ hai: 1704–1709 ==
Năm 1704, kế hoạch của Pháp là sử dụng quân đội của Villeroi ở Hà Lan để kiềm chế Marlborough. Còn Tallard và liên quân Pháp - Bayern do Max Emanuel và Ferdinand de Marsin, người thay thế Villars, chỉ huy, sẽ tiến đến kinh thành Viên.
Marlborough, bất chấp mong muốn của người Hà Lan đóng quân giữ vùng đất thấp, dẫn liên quân Anh-Hà Lan về miền nam Đức. Trong khi đó, Eugène chỉ huy quân Áo tiến về phía bắc từ Ý. Mục tiêu của những kế hoạch này là ngăn liên quân Pháp-Bayern tiến đến thành Viên. Đạo quân của hai danh tướng Marlborough và Eugène chạm trán quân Pháp do Tallard chỉ huy trong trận đánh lớn tại Blenheim (Còn gọi là trận Höchstädt lần thứ hai) với thắng lợi oanh liệt cho Marlborough và Eugène, loại quân Bayern khỏi vòng chiến. Xứ Schwaben cũng rơi vào tay liên quân chống Pháp. Trong trận đánh tại Blenheim, "Ông già Dessau" tức Vương công Leopold I xứ Anhalt-Dessau đã đóng vai trò không nhỏ đối với chiến thắng oanh liệt của liên quân chống Pháp. Trong năm đó, Quân đội Anh giành được một thắng lợi quan trọng khi kiểm soát được Gibraltar ở Tây Ban Nha với sự trợ giúp của quân đội Hà Lan do hoàng tử George của Hesse-Darmstadt, đại diện cho Đại Công tước Karl, chỉ huy.
Sau đại thắng tại Blenheim, Marlborough và Eugène chia quân ra làm hai nhánh. Marlborough trở về vùng đất thấp, rồi sau đó là Ý. Năm 1705, chiến sự diễn ra cầm chừng khi không bên nào giành được tiến bộ đáng kể. Những nỗ lực xâm lấn nước Pháp của Marlborough không đi tới đâu. Ông chặn được Villeroi và vượt qua phòng tuyến Brabant ở trận Elixheim, ông không lừa được tư lệnh quân Pháp ra chiến trường. Villars và Louis của Baden không đạt được thắng lợi nào đáng kể tại Rhine. Tình hình của Vendôme và Eugene tại Ý cũng thế. Thế bế tắc bị phá vỡ vào năm 1706 khi Marlborough đẩy được quân Pháp ra khỏi hầu hết lãnh thổ Hà Lan thuộc Tây Ban Nha, đánh bại quân của Villeroi ở trận Ramilles vào tháng 5 và sau đó chiếm được cả Antwerp và Dunkirk thuộc Pháp. Hoàn thân Eugene cũng thành công. Tháng 9, sau khi Vendôme phải đến Hà Lan để cứu vãn tình hình ở đó, Eugene và công tước của Savoy gây ra một thất bại nặng nề cho quân Pháp do Orleans và Marsin chỉ huy ở trận Turin và vào cuối năm đánh đuổi quân Pháp khỏi Ý. Trong trận thắng tại Turin, "Ông già Dessau" đã tham chiến cùng với Vương công Eugène xứ Savoie.
Giờ đây, khi quân Pháp đã bị đẩy ra khỏi Đức, Hà Lan và Ý, Tây Ban Nha trở thành chiến trường chính trong các năm tiếp theo. Năm 1706, tướng Bồ Đào Nha Marquês das Minas chỉ huy một cuộc tấn công vào Tây Ban Nha từ Bồ Đào Nha, chiếm được Madrid. Tuy nhiên, vào cuối năm, Madrid bị tái chiếm bởi quân đội do vua Felipe V và James FitzJames, Công tước thứ nhất của Berwick upon Tweed (con trai ngoài giá thú của cựu vương Anh Quốc James II, phục vụ cho quân đội Pháp) chỉ huy. Henri de Massue, tử tước thứ nhất của Galway chỉ huy một cánh quân định đánh chiếm Madrid một lần nữa năm 1707, nhưng Berwick đã đánh bại ông này ở trận Almansa ngày 25 tháng 4. Do đó, cuộc chiến ở Tây Ban Nha rơi vào thế giằng co.
Năm 1707, cuộc chiến bị gián đoạn bởi cuộc Đại chiến phương bắc ở Bắc Âu. Quân đội Thụy Điển dưới sự chỉ huy của vua Karl XII tới vùng Sachsen, sau khi ông đánh tan tác quân của Tuyển hầu tước xứ Sachsen kiêm vua Ba Lan là August II, và buộc ông này phải từ bỏ ngai vàng tại Vương quốc Ba Lan và Đại Công quốc Litva. Cả hai phe Pháp và Liên quân chống Pháp đều gửi sứ thần tới nơi Karl XII đóng quân. Người Pháp hi vọng thuyết phục ông phát đại binh đánh Hoàng đế Joseph I của Đế chế La Mã thần thánh, vì ông này từng có tiền sử là người ủng hộ của Augustus. Tuy nhiên, Karl XII, tự coi mình là một minh chủ tối cao của đức tin Tin Lành ở châu Âu, rất ghét Louis XIV và không hứng thú với cuộc chiến tranh ở Tây Âu. Ông tập trung sự chú ý của mình sang nước Nga, chấm dứt khả năng quân Thụy Điển có thể can thiệp vào cuộc chiến.
Sau đó năm 1707, Vương công Eugène chỉ huy một đợt tấn công của quân đế chế ở miền nam Pháp từ Ý, nhưng bị quân Pháp chặn lại. Cùng lúc, Marlborough vẫn đóng quân ở vùng đất thấp, nơi ông mắc kẹt trong những trận công thành không bao giờ kết thúc. Vào năm 1708, Quân đội của Marlborough đụng độ quân Pháp. Lúc này quân Pháp bị chia rẽ bởi vấn đề chỉ huy. Những viên tư lệnh của họ, Hoàng thái tử Louis (1682-1712) (cháu của vua Louis XIV) và Công tước của Vendôme không hòa thuận. Hoàng thái tử Louis thường đưa ra những quyết định quân sự thiếu khôn ngoan.
Do Bourgogne cứ khăng khăng không cho Quân đội Pháp tiến công, Công tước của Marlborough một lần nữa có thể họp binh với Vương công Eugène, giúp cho liên quan chống Pháp đập tan tác quân Pháp trong trận đánh tại Oudenarde, sau đó chiếm lĩnh được Lille. Tại Ý, Quân đội Áo tấn công các thành phố như Forlì (1708).
Những chiến bại thảm hại tại Oudenarde và Lille đưa nước Pháp đến bờ vực sụp đổ. Vua Louis XIV buộc phải thương lượng; ông sai quan Thượng thư Bộ Ngoại giao là Hầu tước Torcy đến diện kiến các thống lĩnh liên quân chống Pháp tại The Hague. Nhà vua đồng ý nhượng Tây Ban Nha và tất cả các lãnh thổ của nó cho các nước chống Pháp, chỉ yêu cầu họ cho phép ông được quyền giữ lấy xứ Napoli (ở Ý). Không những thế, ông còn chuẩn bị cung cấp tiền hỗ trợ cho liên quân chống Pháp đánh đuổi Felipe V ra khỏi Tây Ban Nha. Tuy nhiên, các nước chống Pháp áp đặt lên Louis XIV những điều khoản tệ hại hơn; họ yêu cầu ông dùng Quân đội Pháp để hạ bệ người cháu của chính mình. Nhưng Louis từ chối yêu cầu này, và quyết định tiếp tục đấu tranh cho đến khi nhận lấy kết thúc bi thảm. Ông kêu gọi nhân dân Pháp đấu tranh, và có được hàng nghìn tân binh.
Vào năm 1709, liên quân chống Pháp tiến hành ba cuộc chinh phạt Pháp, nhưng hai trong số các cuộc chinh chiến đó thật quá nhỏ bé đến mức chúng chỉ mang tính chất của những cuộc nghi binh. Khi Marlborough và Eugène họp binh đánh kinh thành Paris thì họ tiến hành một cuộc chinh chiến lớn hơn. Họ trạm chán với quân Pháp của Công tước Villars trong trận đánh tại Malplaquet - trận đánh khốc liệt nhất trong cuộc chiến. Mặc dù liên quân chống Pháp đè bẹp quân Pháp, họ mất đến hơn 2 vạn binh sĩ, trong khi quân Pháp chỉ mất có 1 vạn binh sĩ. Liên quân chống Pháp chiếm được Mons nhưng họ không thể phát huy thế thượng phong của mình. Trận đánh tại Malplaquet là một bước ngoặt trong cuộc chiến tranh; dù thắng trận, liên quân chống Pháp không thể tiếp tục tiến đánh nước Pháp, do chịu tổn thất quá nặng nề. Hoàng thái tử nước Phổ là Friedrich Wilhelm đã tham chiến với danh tướng Leopold xứ Anhalt Dessau và liên quân chống Pháp trong trận đánh tại Malplaquet, và sau này ông sẽ là vua Friedrich Wilhelm I - vị vua có công xây dựng lực lượng Quân đội Phổ tinh nhuệ.
== Giai đoạn cuối: 1710–1714 ==
Vào năm 1710, liên quân chống Pháp tiến hành cuộc chinh chiến cuối cùng tại Tây Ban Nha, nhưng không khả thi. Bá tước James Stanhope cùng Đại Công tước Karl kéo quân đến kinh thành Madrid, nhưng viện binh Pháp kéo đến và bắt đội quân của Stanhope phải đầu hàng tại Brihuega. Trong khoảng thời gian đó, liên minh chống Pháp cũng bắt đồng suy yếu. Tại Anh Quốc Ảnh hưởng chính trị lớn lao của Marlborough đã mất đi: tiếc thay, tình bạn giữa vợ ông và Nữ hoàng Anne - nguyên nhân của phần lớn ảnh hưởng chính trị của ông - không còn nữa, với việc Nữ hoàng Anne cách chức Công nương của Marlborough và tống khứ bà ra khỏi cung đình. Không những thế, Đảng Tory lên làm Đảng cầm quyền sau khi Whig - một đảng ủng hộ chiến tranh - mất chức, và Đảng Tory tìm kiếm hòa bình.
Vào năm 1711, Đại Công tước Karl lên ngôi Hoàng đế Karl VI sau khi vua anh Joseph I đột ngột qua đời. Trong thời điểm này, một chiến thắng quyết định của nước Áo trong việc thống nhất Đế quốc La Mã Thần thánh với Vương quốc Tây Ban Nha, sẽ làm thay đổi cán cân quyền lực, cũng như nếu Pháp chiến thắng.
Marlborough giành chiến thắng về chiến lược trước Villars, phá vỡ các phòng tuyến của quân Pháp tại Ne Plus Ultra và chiếm được Bouchain, nhưng ông lại bị gọi về Anh Quốc cuối năm đó, và được thanh thế bởi Công tước thứ hai của Ormonde. Triều đình Anh, theo đường lối của quan Khâm sai Thượng thư Henry St John, bắt đầu trao đổi thư từ bí mật với Hầu tước Torcy, loại trừ người Hà Lan và Áo ra khỏi các cuộc đàm phấn của họ. Công tước của Ormonde cũng từ chối cho Quân đội Anh xông pha trên trận tiền, do đó uy lực của quân Pháp của tướng Villars cũng được phục hồi đáng kể vào năm 1712, thể hiện qua việc ông ta chuyển tình thế tuyệt vọng thành chiến thắng trước Vương công Eugène xứ Savoie trong trận Denain. Sau thắng lợi tại Denain, Villars tiếp tục phát huy lợi thế của ông ta và gặt hái được thắng lợi. Đồng thời, Quân đội Pháp giành chiến thắng tại Tây Ban Nha, và chiếm được Barcelona.
Cũng như cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763), nước Anh đã rời bỏ các đồng minh của họ. Họ và Hà Lan kết thúc chiến tranh với Pháp khi họ ký kết Hiệp định Utrecht vào năm 1713. Với Hiệp định Utrecht này, nước Anh đã toàn thắng trong cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha. Dù thành phố Barcelona đã ủng hộ liên quân chống Pháp và khuyến khích Đại Công tước Áo lên ngai vàng Tây Ban Nha vào năm 1705, đã đầu hàng Quân đội Bourbon vào ngày 11 tháng 9 năm 1714 sau một cuộc vây hãm lâu dài, chấm dứt sự hiện diện của quân chống Pháp tại Tây Ban Nha. Tại vùng đất này, nhân dân nhớ đến sự kiện ấy là Ngày Quốc khánh Catalonia.
Nước Áo vẫn còn chống Pháp cho đến năm 1714, khi hai bên thông qua các Hiệp định Rastatt và Baden, chấm dứt cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha. Tây Ban Nha chậm chạp hơn trong việc phê chuẩn các Hiệp ước hòa bình; họ không chính thức kết thúc những cuộc chiến tranh với nước Áo cho đến năm 1720, sau khi bị đại bại trước tất cả mọi cường quốc trong cuộc Chiến tranh Liên quân bốn nước.
Đối với nước Phổ, đây là một cuộc chiến vì mục đích chính trị, và vì thế Quân đội Phổ phải rời xa Tổ quốc. Vậy nên cống hiến của Quân đội Phổ trong cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha không được lòng dân cho lắm, khác hẳn với những chiến công của vua Friedrich II Đại Đế trong cuộc Chiến tranh Bảy năm (1756 - 1763) sau này. Tuy nhiên, cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha đóng vai trò quyết định đối với truyền thống quân sự Phổ hùng cường: các tướng tá Phổ như "Ông già Dessau" đã học hỏi được những bí quyết giúp danh tướng Marlborough đè bẹp Quân đội của vua Louis XIV. Và, "Ông già Dessau" - tức vị danh tướng Leopold - sẽ còn đóng vai trò lớn lao trong cuộc chiến tranh của nước Phổ chống vua Thụy Điển Karl XII sau này. Những sách lược mà ông học được từ danh tướng Marlborough sẽ còn ảnh hưởng không nhỏ đến các chiến thuật của vị minh quân Friedrich II Đại Đế sau này.
Các nước đều kiệt quệ khi cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha kết thúc.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Documents about The case of the catalans dating to 1714, at the House of Lords, UK.
Journal of the House of Lords: volume 19, ngày 2 tháng 8 năm 1715, Further Articles of Impeachment against E. Oxford brought from H.C. Article VI. |
samsung galaxy tab 3 8.0.txt | Samsung Galaxy Tab 3 8.0 là máy tính bảng 8-inch chạy hệ điều hành Android sản xuất và phân phối bởi Samsung Electronics. Nó thuộc thế hệ thứ ba của dòng Samsung Galaxy Tab series, bao gồm bản 7-inch và 10.1-inch, Galaxy Tab 3 7.0 và Galaxy Tab 3 10.1. Nó được công bố vào 24 tháng 6 năm 2013, và phát hành ở Mỹ vào 7 tháng 7 năm 2013. Không giống như máy tính bảng 7-inch và 10.1 inch, Galaxy Tab 3 8.0 có kích thước mới trong dòng Tab và đánh dấu sự ra mắt với thế hệ này của máy tính bảng Galaxy. Ngoài ra sẽ có máy tính bảng 8-inch thứ hai của Samsung cao hơn Samsung Galaxy Note 8.0.
== Lịch sử ==
Galaxy Tab 3 8.0 được công bố vào 24 tháng 6 năm 2013. Nó được ra mắt cùng với Galaxy Tab 3 7.0 và Galaxy Tab 3 10.1 tại 2013 Mobile World Conference. Samsung xác nhận rằng Galaxy Tab 3 8.0 sẽ được phát hành tại Mỹ vào 7 tháng 7 năm 2013 với giá $299.99 cho bản 16GB.
== Tính năng ==
Galaxy Tab 3 8.0 phát hành với Android 4.2.2 Jelly Bean. Nó được xác nhận rằng vào mùa hè 2013 sẽ phát hành bản nâng cấp Android 4.3 Jelly Bean với một số tính năng có sẵn trong tương lai; tính đến đầu năm 2014, hầu hết các tin tức cho biết 4.3 sẽ bị bỏ qua với bản nâng cấp Android 4.4 Kit-Kat đến trong năm 2014. Samsung tùy biến với giao diện TouchWiz UX. Cũng như các ứng dụng từ Google, bao gồm Google Play, Gmail và YouTube, cho phép truy cập vào úng dụng Samsung như ChatON, S Suggest, S Voice, S Translator, S Planner, Smart Remote, Smart Stay, Multi-Window, Group Play, và All Share Play.
Galaxy Tab 3 8.0 có sẵn bản WiFi-only, 3G & WiFi, và biến thể 4G/LTE & WiFi. Dung lượng bộ nhớ từ 16 GB đến 32 GB tùy theo mẫu, với khe thẻ nhớ mở rộng microSDXC. Nó có màn hình 8-inch WXGA TFT với độ phân giải 1.280x800 pixel. Nó có máy ảnh trước 1,3 MP không flash và 5.0 MP AF máy ảnh trước. Nó có thể quay video HD.
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy Tab series
Samsung Electronics
Samsung Galaxy Tab 3 7.0
Samsung Galaxy Tab 3 10.1
Samsung Galaxy Note 8.0
== Tham khảo ==
== Liên kết ==
Website chính thức |
samsung z1.txt | Samsung Z1 là một điện thoại thông minh sản xuất bởi Samsung Electronics và là chiếc điện thoại đầu tiên chạy hệ điều hành Tizen (ngoài các phiên bản thử nghiệm Tizen, Samsung Z dự định phát hành ở thị trường nhà vào tháng 6 năm 2014 - nhưng đã không bao giờ phát hành); nó được phát hành tại thị trường Ấn Độ vào 14 tháng 1 năm 2015. Giá của thiết bị là INR 5,700.
Tính đến tháng 5 năm 2015, Samsung đã bán ra hơn 500.000 thiết bị Z1 ở Ấn Độ và Bangladesh. Nó còn tiết lộ rằng Z1 sẽ du nhập vào thị trường Sri Lankan như điểm đến thứ ba sau Ấn Độ Bangladesh.
== Phần cứng ==
Không giống như kế hoạch trước là thiết bị cao cấp Samsung Z, loạt điện thoại Tizen chỉ có thông số thấp.
Bao gồm màn hình cảm ứng 4-inch 480x800, a 1.2 GHz dual core A7 processor, 768 MB RAM, bộ nhớ trong 4GB, mở rộng lên đến 64 GB qua thẻ microSDXC, máy ảnh chính 3.1 megapixel, máy ảnh phụ 0.3 megapixel VGA, và pin 1500 mAh.
== Tham khảo == |
quần đảo virgin thuộc mỹ.txt | Quần đảo Virgin thuộc Mỹ là một nhóm đảo nằm trong vùng Caribe và là một vùng quốc hải Hoa Kỳ. Về mặt địa lý, quần đảo này là một phần của chuỗi quần đảo Virgin và nằm trong Quần đảo Leeward thuộc nhóm Tiểu Antilles. Quần đảo Virgin thuộc Mỹ bao gồm bốn đảo chính St. Croix, Saint John, St. Thomas và Đảo Water, cùng nhiều đảo nhỏ hơn. Đây là nơi duy nhất của Hoa Kỳ mà xe cộ lưu thông bên trái. Tổng diện tích toàn lãnh thổ là 346,36 km² (133,73 dặm vuông). Theo điều tra dân số năm 2000, dân số của quần đảo là 108.612.
Quần đảo từng là Tây Ấn thuộc Đan Mạch cho đến khi Đan Mạch nhường lại thuộc địa này cho Hoa Kỳ trong Hiệp ước Tây Ấn thuộc Đan Mạch năm 1916.
== Lịch sử ==
Quần đảo Virgin ban đầu có người Ciboney, Carib và Arawak sinh sống. Quần đảo được Christopher Columbus đặt tên trong chuyến đi thứ hai của ông năm 1493 để tìm Thánh Ursula và những con chiêm trinh nữ của bà. Trên 300 năm sau, quần đảo bị nhiều thế lực châu Âu chiếm giữ bao gồm Tây Ban Nha, Anh Quốc, Hà Lan, Pháp, Các Hầu tước của Malta và Đan Mạch.
Công ty West India Đan Mạch đóng bản doanh trên St. Thomas năm 1672, trên Saint John năm 1694, và mua Saint Croix từ Pháp năm 1733. Quần đảo trở thành thuộc địa Đan Mạch năm 1754, tên của quần đảo dịch sang tiếng Đan Mạch là Jomfruøerne. Mía đường, được sản xuất bởi nhân công nô lệ, đã giúp phát triển kinh tế quần đảo trong thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 cho đến khi bị Thống đốc Peter von Scholten bỏ chế độ nô lệ vào ngày 3 tháng 7 năm 1848.
Cho đến hết thời gian cai trị của Đan Mạch, quần đảo không đứng vững về kinh tế và nhà nước Đan Mạch đã phải chuyển nhượng lớn ngân sách của mình đến cho chính quyền quần đảo. Có lần quần đảo được đem ra thương lượng mua bán với Hoa Kỳ vào đầu thế kỷ 20 nhưng thương lượng không thành. Một cuộc cải tổ được đưa ra với hy vọng làm sống lại nền kinh tế của quần đảo nhưng rồi không có kết quả mỹ mãn. Chiến tranh thế giới thứ nhất khởi sự khiến cho các cải tổ đi đến đường cùng và rồi để quần đảo bị cô lập và bỏ quên.
Trong giai đoạn chiến tranh có tàu ngầm thời Chiến tranh thế giới thứ nhất, Hoa Kỳ sợ rằng quần đảo có thể bị Đức chiếm đóng để làm căn cứ tàu ngầm nên đã dọ hỏi Đan Mạch bán quần đảo cho Hoa Kỳ. Sau mấy tháng thương lượng, hai bên đồng ý giá cả là $25 triệu. Vương quốc Đan Mạch ắt hẳn đã cảm nhận một áp lực nào đó nên đã nhận bán quần đảo vì nghĩ rằng Hoa Kỳ sẽ chiếm quần đảo nếu Đức xâm lăng Đan Mạch. Tuy nhiên cùng thời gian đó cũng vì gánh nặng kinh tế nếu tiếp tục giữ quần đảo đè nặng tâm trí các nhà hoạch định tại Đan Mạch, và một cuộc hội ý của hai đảng trong Quốc hội Đan Mạch cho kết quả là họ muốn bán quần đảo. Một cuộc trưng cầu dân ý sau đó được tổ chức cuối năm 1916 xác nhận quyết định bán với tỉ lệ cao. Cuộc mua bán như thế được phê chuẩn và làm xong thủ tục vào ngày 17 tháng 1 năm 1917 khi Hoa Kỳ và Đan Mạch trao đổi giấy phê chuẩn hiệp ước mua bán.
Hoa Kỳ nhận chủ quyền quần đảo ngày 31 tháng 3 năm 1917 và lãnh thổ được đổi tên thành Quần đảo Virgin thuộc Mỹ. Dân cư sống trên quần đảo được cấp quyền công dân Hoa Kỳ năm 1927.
== Phân chia hành chính ==
Quần đảo Virgin thuộc Mỹ về hành chính được chia thành hai quận (district) và được phân chia cấp nhỏ thành 20 chi khu (sub-district).
Hai quận là:
Quận Saint Croix
Quận St. Thomas - St. John - Water Island.
Đảo thứ tư trong Quần đảo Virgin thuộc Mỹ là Water Island, trước đây thuộc Đảo St. Thomas.
== Địa lý ==
Quần đảo Virgin thuộc Mỹ nằm ở vùng biển Caribbean và Đại Tây Dương, khoảng 50 đặm phía đông Puerto Rico. Toàn bộ diện tích đất đai của quần đảo là xấp xỉ hai lần diện tích của Washington, D.C.
Quần đảo Virgin thuộc Mỹ được biết đến vì có các bãi biển cát trắng, như là Vịnh Magens và Vịnh Trunk, và các bến tàu chiến lược như Charlotte Amalie và Christiansted. Đa số các đảo bao gồm Saint Thomas, là có nguồn gốc từ núi lửa và có nhiều đồi núi. Điểm cao nhất là Núi Crown, ở Đảo Saint Thomas (474 mét). Đảo Saint Croix, đảo lớn nhất trong Quần đảo Virgin thuộc Mỹ, nằm ở phía nam và có nền đất bằng phẳng. Cục Công viên Quốc gia Hoa Kỳ làm chủ hơn nửa Đảo Saint John, gần như toàn bộ Đảo Hassel, và nhiều mẫu Anh bãi đá san hô.
Quần đảo Virgin thuộc Mỹ nằm trên đường ranh giới giữa Vết nứt Bắc Mỹ và Vết nứt Caribbean. Thiên tai bao gồm động đất, bão xoáy và sóng thần.
== Chính trị ==
Quần đảo Virgin thuộc Mỹ là lãnh thổ có tổ chức chính quyền nhưng chưa sáp nhập của Hoa Kỳ. Mặt dù dân cư trên đảo là công dân Hoa Kỳ nhưng họ không thể tham gia bầu cử tổng thồng.
Các đảng chính trị chính của Quần đảo Virgin thuộc Mỹ là Đảng dân chủ Quần đảo Virgin, Phong trào Công dân Độc lập và Đảng Cộng hòa Quần đảo Virgin. Các ứng cử viên khác ra tranh cử như ứng cử viên độc lập.
Ở cấp độ quốc gia, Quần đảo Virgin thuộc Mỹ bầu một đại biểu vào Quốc hội Hoa Kỳ từ đơn vị bầu cử tự do của quần đảo. Tuy nhiên, đại diện được bầu, chỉ có thể bỏ phiếu trong ủy ban thuộc Quốc hội Hoa Kỳ nhưng không được tham gia bỏ phiếu tại trong sàn nhà Quốc hội. Đại diện Hạ viện hiện thời là Donna Christensen (đảng Dân chủ).
Ở cấp bậc lãnh thổ, có 15 Thượng nghị sỉ; 7 từ Quận Saint Croix, bảy từ Quận Saint Thomas và Saint John, và một thượng nghị sỉ tự do phải là cư dân của Saint John. Tất cả được bầu với nhiệm kỳ hai năm phục vụ trong Lập pháp đơn viện của Quần đảo Virgin.
Quần đảo Virgin thuộc Mỹ bầu thống đốc lãnh thổ 4 năm một lần từ năm 1970. Các thống đốc trước đây được bổ nhiệm bởi tổng thống Hoa Kỳ.
Quần đảo Virgin thuộc Mỹ có tòa án quận, tòa án hình sự và tòa án tối cao. Tòa án quận có trách nhiệm về luật lệ liên bang, trong khi tòa án hình sự có trách nhiệm về luật ở mức độ xét xử và tòa tối cao có trách nhiệm nhận các vụ kháng cáo từ tòa hình sự vào ngày 29 tháng 1 năm 2007 hay sau đó. Những kháng cáo đệ trình trước ngày đó thì được xử tại phiên phúc thẩm của tòa án quận. Các thẩm quán được bổ nhiệm theo trình tự bởi tổng thống và thống đốc.
Quốc hội Hoa Kỳ có tổ chức vài lần trưng cầu dân ý địa phương để hỗ trợ quyền tự quyết của quần đảo. Cũng giống như Puerto Rico, dân cư ngụ trên đảo được lựa chọn độc lập, tình trạng hiện thời không đổi hoặc là trở thành tiểu bang. Tuy nhiên những biện pháp này đều thất bại, không hấp dẫn đủ sự chú ý của người dân hoặc cử tri đi bầu để tạo ra số phiếu bầu đa dạng, làm cho đa số là không thể nào và như thế quần đảo được giữ nguyên tình trạng lãnh thổ hiện thời cho một khoảng thời gian dài trong tương lai. Theo lý thuyết thì chỉ khi nào người Puerto Rico đòi hỏi quyền tự quyết thì có lẽ đó là chất xúc tác cho mối quan tâm chính trị tại Quần đảo Virgin thuộc Mỹ cũng như ở các lãnh thổ khác của Mỹ.
Thật là nhiều điều gây tranh cãi, những nỗ lực bởi chính phủ liên bang trong việc bình thường hóa tình trạng của các lãnh thổ chưa sát nhập hoàn toàn bị Ủy ban Đặc trách Vấn đề xóa bỏ Thuộc địa Liên Hiệp Quốc làm ngơ và Quần đảo Virgin thuộc Mỹ hiện thời đang trong danh sách Các lãnh thổ Phi Tự trị của Liên Hiệp Quốc.
== Kinh tế ==
Du lịch là hoạt động kinh tế chính. Quần đảo thông thường đón 2 triệu du khách một năm, đa số là đến trên các du thuyền lớn. Lĩnh vực sản xuất bao gồm lọc dầu, dệt, điện tử, làm rượu rum, dược liệu, và các xưởng làm đồng hồ. Lãnh vực nông nghiệp thì nhỏ, đa số thực phẩm đều phải nhập khẩu. Giao thương quốc tế và dịch vụ tài chính tuy nhỏ nhưng là một thành phần phát triển của nền kinh tế. Hovensa, một trong các xưởng lọc dầu lớn nhất thế giới nằm trên đảo Saint Croix.
Quần đảo thường hay bị ảnh hưởng bão nhiệt đới và xoáy thuận nhiệt đới. Trong lịch sử vừa qua, bão Hugo gây thiệt hại nặng vào năm 1989 và bão Marilyn năm1995. Quần đảo cũng bị bão Bertha tàn phá năm 1996, bão Georges năm 1998 và bão Lenny năm 1999, nhưng mức độ thiệt không to lớn trong những lần này.
== Nhân khẩu ==
Theo điều tra dân số năm 2000, có 108.612 người, 40.648 gia hộ, và 26.636 gia đình sống trên lãnh thổ. Thành phần chủng tộc của lãnh thổ là 76,19% da đen hay gốc Phi châu, 13,09% da trắng, 7,23% các giống dân khác, và 3,49% có hai chủng tộc. Người nói tiếng Tây Ban Nha, kể hết mọi chủng tộc, là 13,99% dân số.
Có 40.648 gia hộ trong đó 34,7% có con cái dưới tuổi 18 sống chung gia đình, 33,2% là vợ chồng chung sống với nhau, 24,9% có nữ là chủ hộ không có chồng hiện diện, và 34,5% là không có gia đình. 30,2% trong tất cả các gia hộ là sống riêng một mình và 6,3% có người già 65 hoặc hơn sống một mình. Gia hộ trung bình có 2,64 người và gia dình trung bình có 3,34.
Trong lãnh thổ, dân số được trải ra với 31,6% dưới 18, 8,0% từ 18 đến 24, 27,1% từ 25 đến 44, 24,9% từ 45 đến 64, và 8.4% tuồi 65 và hơn. Tuổi trung bình là 33. Tỉ lệ nữ là 100 so với 91.4 nam. Cứ 100 nữ 18 tuổi và lớn hơn thì chỉ có 87.7 nam. Gia tăng dân số trung bình hàng năm là -=0.12%.
Thu nhập trung bình cho một gia hộ trong lãnh thổ là $24.704, và một gia đình $28.553. Nam có thu nhập trung bình là $28.309 so với nữ là $22.601. Tính theo đầu người trên tổng sản lượng quốc gia $13.139. Trên 28,7% gia đình và 32,5% dân cư sồng dưới mức nghèo khổ, bao gồm 41,7% dưới 18 và 29,8% tuổi 65 và hơn.
== Xem thêm ==
Thông tin liên lạc trên Quần đảo Virgin thuộc Mỹ
Chính phủ Quần đảo Virgin thuộc Mỹ
Giao thông trên Quần đảo Virgin thuộc Mỹ
Danh sách các thống đốc của Quần đảo Virgin thuộc Mỹ
Phi trường Quốc tế Henry E. Rohlsen
Phi trường Cyril E. King
Các trường đại học của Quần đảo Virgin thuộc Mỹ
Quần đảo Virgin thuộc Anh
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
=== Thông tin du lịch ===
Quần đảo Virgin bây giờ - Tìm mọi thứ bạn cần cho nghỉ phép trên Quần đảo Virgin. Thưởng thức bãi biển, thể thao nước, nhà hàng, và hơn thế nữa!
Du lịch Đảo Virgin - Tất cả về Quần đảo Virgin thuộc Mỹ—Chuyện kể địa phương, nơi hấp dẫn, lịch sử, hoạt động, cưới hỏi,...
=== Thông tin di chuyển ===
Trung tâm di chuyển Quần đảo Virgin - Thông tin không thể thiếu khi cần phải dọn đến sống ở Quần đảo Virgin.
=== Các trang mạng chính thức của chính phủ ===
Hiệp định chuyển nhượng "West Indies thuộc Đan Mạch" giữa Hoa Kỳ và Đan Mạch - Tài liệu đã ký tại New York, 4 tháng 8 năm 1916
Quần đảo Virgin thuộc Mỹ - Trang chính thức của Bộ Du lịch Quần đảo Virgin thuộc Mỹ
Ngày bàn giao - Tổng lãnh sự Đan Mạch trên Quần đảo Virgin thuộc Mỹ
Quần đảo Virgin thuộc Mỹ - Sách tư liệu thế giới, CIA Xuất bản
"Scholten và Việc xóa bỏ chế độ nô lệ trên West Indies thuộc Đan Mạch"
Trang mạng chính phủ - Trang mạng Thống đốc John P. deJongh
=== Tin tức và truyền thông ===
The Virgin Islands Daily News - Nhật báo tại St. Thomas
St. Croix Source - Nhật báo trên mạng tại St. Croix
St. John Tradewinds - Tuần báo tại St. John
=== Thông tin phụ ===
Cục Địa chất Hoa Kỳ địa lý, và những nguồn thông tin khoa học khác của Quần đảo Virgin.
Bản đồ trên mạng của Quần đảo Virgin - Bản đồ trên mạng của Quần đảo Virgin cung cấp thông tin về đất và san hô ngoài khơi. |
thời biểu của microsoft windows.txt | Bài viết này trình bày một thời biểu của các sự kiện trong lịch sử của hệ điều hành Microsoft Windows từ năm 1985 đến nay.
== Máy tính và máy chủ ==
== Di động ==
== Xem thêm ==
Lịch sử Microsoft Windows
So sánh các phiên bản Microsoft Windows
Lịch sử hệ điều hành
So sánh các hệ điều hành
Danh sách các hệ điều hành
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của Microsoft Windows
Lịch sử Microsoft Windows |
incheon.txt | 37°29′B 126°38′Đ
Incheon (âm Hán-Việt: Nhân Xuyên) là một thành phố trung ương và thành phố cảng lớn ven Hoàng Hải của Hàn Quốc, thuộc vùng thủ đô Seoul. Khu vực thành phố khi xưa chỉ là nơi cư trú của 4.700 người khi cảng Jemulpo dược xây dựng vào năm 1883. Ngày nay, dân số thành phố là 2,76 triệu người, khiến Incheon trở thành thành phố đông dân thứ ba tại Hàn Quốc sau Seoul và Busan. Sự phát triển của thành phố trong thời hiện đại được đảm bảo với cùng với sự phát triển của hải cảng và vị thế là một thành phố biển.
Incheon đã góp phần to lớn vào sự phát triển của Hàn Quốc với việc mở cửa cảng ra thế giới bên ngoài, hiện đại hóa Hàn Quốc như một trung tâm công nghiệp hóa. Năm 2003, thành phố được quyết định trở thành khu kinh tế mở đầu tiên của Hàn Quốc. Từ đó, các công ty bản địa lớn và các hãng kinh doanh toàn cầu đã tăng cường đầu tư vào then Khu kinh tế Mở Incheon, bao gồm Samsung với việc lựa chọn Thành phố Quốc tế Songdo làm điểm đầu tư mới cho ngành công nghiệp sinh học của tập đoàn.
Với vai trò là một thành phố quốc tế, Incheon đã tổ chức nhiều hội nghị quốc tế có quy mô lớn, như Lễ hội và Hội chợ Toàn cầu Incheon năm 2009. Á vận hội lần thứ 17 vào năm 2014 đã được tổ chức tại Incheon. Incheon tự đặt mình vào vị trí trung tâm của khu vự Đông Bắc Á với sân bay quốc tế Incheon nổi tiếng thế giới và cảng Incheon.
== Lịch sử ==
Sử sách đầu tiên nói về khu vực Incheon là từ năm 475 CN dưới thời Trường Thọ Vương (Jangsu) của Cao Câu Ly với tên gọi "Michuhol". Khu vực đã trải qua một số tên gọi dưới các Triều đại sau đó. Tên gọi hiện nay của thành phố có từ năm 1413. Tuy nhiên, tên gọi Jemulpo không được sử dụng rộng rãi cho đến khi cảng mở cửa vào năm 1883.
Vào ngày 15 tháng 9 năm 1950, trong chiến tranh Triều Tiên, Incheon là nơi đã diễn ra Trận Incheon, khi các lực lượng Hoa Kỳ tiến hành đổ bộ để làm dịu áp lực cho vành đai Pusan và khởi động cuộc tấn công của Liên Hiệp Quốc lên hướng bắc. Kết quả là một trận đánh mang ý nghĩa lớn của quân Liên Hiệp Quốc. USS Inchon (MCS-12) được đặt tên theo trận thủy chiến xảy ra sau đó.
Incheon vốn là một phần của tỉnh Gyeonggi, nhưng đã trở thành thành phố thuộc trung ương từ 1 tháng 7 năm 1981. Incheon được biết đến với tên Inchon trước khi chính phủ Hàn Quốc công nhận một hệ thống Latinh hóa tiếng Hàn mới (Romaja quốc ngữ) vào năm 2000.
== Hành chính ==
Thành phố Incheon có 8 khu (gu) và 2 quận (gun).
== Thành phố kết nghĩa ==
Trung Quốc
Đại Liên
Thiên Tân
Alexandria, Ai Cập
Tel Aviv, Israel
Kitakyushu, Nhật Bản
Thành phố Panama, Panama
Manila, Philippines
Hải Phòng, Việt Nam
Ekaterinburg, Nga
Hoa Kỳ
Anchorage, Alaska
Burbank, California
Honolulu, Hawaii
Philadelphia, Pennsylvania
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính quyền đại đô thị Incheon
Website chính thức của Khu công nghiệp tự do Incheon (IFEZ)
Amateur Incheon Guide
Korean Railroad Guide (tiếng Triều Tiên)
Website chính thức của Global Fair & Festival 2009 |
action center.txt | Action Center là một trung tâm thông báo được đi kèm với Windows Phone 8.1, Windows 10 và Windows 10 Mobile. Nó được giới thiệu lần đầu với Windows Phone 8.1 vào tháng 7 năm 2014, và được xuất hiện trên các máy tính cá nhân với phiên bản Windows 10 vào ngày 29 tháng 7 năm 2015.
Action Center thay thế thanh charms trong Windows 10.
== Tính năng ==
Action Center cho phép gắn tới bốn nút cài đặt nhanh, và người dùng Windows 10 có thể mở rộng để xem tất cả các nút cài đặt nhanh còn lại. Các thông báo được sắp xếp vào các thể loại bởi ứng dụng, và người dùng có thể trượt sang phải để xóa thông báo. Action Center cũng hỗ trợ các thông báo tương tác hành động với Windows 10. Trong phiên bản cho di động, người dùng có thể trượt từ cạnh trên màn hình xuống để mở Action Center, và các tính năng khác được giới thiệu trong Windows Phone 8.1 bao gồm khả năng thay đổi các cài đặt đơn giản như âm lượng. Thiết kế mới của khu vực thông báo cho phép người dùng thực hiện các tác vụ như thay đổi mạng không dây, bật/tắt Bluetooth và Chế độ máy bay, và truy cập "Chế độ lái xe", tất cả từ bốn hộp cài đặt có thể tùy chỉnh ở phía trên màn hình, trong khi bên dưới bốn hộp được sắp xếp theo chiều ngang này bao gồm các tin nhắn văn bản và thông báo từ các mạng xã hội. Trên phiên bản desktop, người dùng có thể mở Action Center bằng cách nhấn vào biểu tượng của nó trên thanh tác vụ, hoặc trượt từ phía bên phải màn hình sang.
Microsoft thông báo tại Microsoft Build 2016 rằng Cortana sẽ có thể đồng bộ các thông báo giữa các Actions Center của Windows 10 Mobile và Windows 10, và Cortana cũng sẽ có thể đồng bộ thông báo từ các thiết bị Android tới Action Center của Windows 10.
== Xem thêm ==
Notification Center (iOS và OS X)
Notification Service
== Tham khảo == |
lam trường.txt | Tiêu Lam Trường (sinh ngày 14 tháng 10 năm 1974) là một ca sĩ, diễn viên Việt Nam.
Lam Trường thường được người hâm mộ gọi thân mật là "Anh Hai" và thường viết là "A2". Anh là con út trong một gia đình người Việt gốc Hoa (Triều Châu). Ngay từ nhỏ Lam Trường đã tỏ ra có năng khiếu trong lĩnh vực âm nhạc. Mặc dù gặp phải sự ngăn cấm của bố khi quyết định theo đuổi nghề ca hát, nhưng bằng chính thực lực của mình Lam Trường cũng đã nhận được sự đồng ý của bố.
Năm 2014, anh là giám khảo của Giọng hát Việt nhí.
== Sự nghiệp ==
=== Âm nhạc ===
Tháng 10 năm 1995, Lam Trường đạt giải nhì cuộc thi "Thập đại tinh tú", một cuộc thi hát của cộng đồng người Hoa tại thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 1997, ngoài album riêng đầu tay Baby I love you, anh còn gây ấn tượng ở nhiều ca khúc quốc tế khác.
Năm 1998, Lam Trường trở thành một "hiện tượng" với bài hát Tình thôi xót xa (Bảo Chấn). Liền sau đó là một loạt bài hát khác như: "Tôi ngàn năm đợi", "Mưa phi trường"... Một thời gian dài liên tục anh có mặt trong Topten Làn Sóng Xanh của Đài Tiếng nói nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 2000, với thành công của live show đầu tiên "Lời trái tim muốn nói" và album Chút tình thơ ngây.
Năm 2002, Lam Trường thực hiện live show thứ hai "Cho bạn cho tôi" và phát hành album single cùng tên "Cho bạn cho tôi" cũng chính là một sáng tác mới của anh sau sáng tác đầu tay "Có một ngày" phát hành năm 2001.
Tháng 9 năm 2002, Lam Trường sang Nhật biểu diễn theo lời mời của Đài Truyền hình NHK ngay sau khi nhận giải thưởng Làn Sóng Xanh của Đài Tiếng nói Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 2003, anh ra tiếp album Đêm lạnh, Dù ta không còn yêu.
Ngày 24 tháng 3 năm 2007, Lam Trường thực hiện Liveshow "Chuyện Hôm Qua" tại nhà thi đấu Quân khu 7.
Năm 2007 đại diện Việt Nam Tham gia đại hội âm nhạc châu Á "Asia song Festival" tại Hàn Quốc
=== Điện ảnh ===
Ngoài ca hát, Lam Trường còn tham gia các bộ phim như: Nữ tướng cướp, Ngôi nhà hạnh phúc, Bếp Hát.
=== Gia đình ===
Năm 2004, Lam Trường kết hôn với Ngô Ý An, một Việt kiều cư ngụ tại thành phố Houston, tiểu bang Texas ở Mỹ. Hôn thê của anh là một kỹ sư vi tính. Hai người có một con trai tên Tiêu Kiến Văn. Hai người ly hôn vào năm 2009 . Sau khi chia tay, con trai anh ở với mẹ.
Năm 2013 Lam Trường đính hôn với Yến Phương, một du học sinh trường Cao đẳng cộng đồng Green River thành phố Auburn, bang Washington, Mỹ. Cô kém anh gần 17 tuổi. Năm 2014, Lam Trường chính thức kết hôn với Yến Phương, hiện anh vẫn đi về giữa Mỹ và Việt Nam để tiện việc chăm sóc gia đình nhỏ của mình cũng như kết hợp lưu diễn ở Mỹ. Con gái chung của Lam Trường và Yến Phương dự kiến sẽ sinh năm 2017 và được đặt tên là Tiêu Yên Lam.
== Danh sách đĩa nhạc ==
=== Album phòng thu ===
Xin đến trong giấc mộng. Ngày phát hành: 1/1/1999.
Vol 1: Mãi mãi. Ngày phát hành: 28/6/1999.
Yêu nhau ghét nhau - Lam Trường (1999)
Cô bé kính cận - Lam Trường & Cẩm Ly (1999)
Biển trắng (Nhạc Hoa Vol 1). Ngày phát hành: 28/11/2000.
Vol 2: Chút tình thơ ngây. Ngày phát hành: 4/4/2000.
Vol 3: Có một ngày. Ngày phát hành: 24/11/2001.
Vol 4: Đêm lạnh. Ngày phát hành: 19/1/2003.
Vol 5: Dù ta không còn yêu. Ngày phát hành: 16/9/2003.
Vol 6: Đôi chân thiên thần. Ngày phát hành:21/7/2004.
Vol 7: Khi em ra đi. Ngày phát hành: 10/10/2005.
Vol 8: Anh nhớ em. Ngày phát hành: 11/8/2006.
Vol 9: Đôi giày vải. Ngày phát hành: 31/10/2006.
Vol 10: Chuyện hôm qua. Ngày phát hành: 2007.
Vol 11: TODAY (Ngày hôm nay). Ngày phát hành: 6/8/2008.
Vol 12: Con đường tình yêu. Ngày phát hành: 2009
Khi người yêu tôi khóc (2011)
Vol 14: Mong em hạnh phúc (2013)
Vol 15: Đi qua bốn mùa (2015/10)
=== Album trực tiếp ===
Lời trái tim muốn nói (2000)
=== Đĩa mở rộng ===
Biển chờ (1998)
=== Album tổng hợp ===
Mãi cho tình lênh đênh (1999)
Khung trời mơ (2005)
=== Đĩa đơn ===
"Cho bạn - Cho tôi" (2002)
"Treasure the World - Thế giới tươi đẹp" (2003)
== Danh sách video ==
=== VCD ===
Live Show 2002 Cho bạn - Cho tôi. Ngày phát hành: 17/11/2002.
=== DVD ===
Karaoke Live Show Cho bạn cho tôi (2004)
Katy
Live Show Chuyện hôm qua (2007)
Lam Trường Katy - Lá Thư Cuối Cùng (2010)
== Chú thích ==
}}
== Liên kết ngoài ==
Lam Trường tại Internet Movie Database
^ Chi Anh (10 tháng 02 năm 2017). “Lam Trường: 'Tình cảm của tôi và con trai không được trọn vẹn'”. Báo điện tử Ngôi sao. Truy cập 10 tháng 02 năm 2017. |
eton college.txt | Eton College hay còn gọi tắt là Eton là một trường nội trú độc lập của Anh dành cho các học sinh nội trú tuổi từ 13 đến 18. Đây là một trường nam sinh lớn, có 1.300 học sinh, được thành lập năm 1440 bởi vua Henry VI của Anh với vai trò "The King's College of Our Lady of Eton besides Wyndsor".
Trường toạ lạc tại làng Eton, gần Windsor, Berkshire, Anh và là một trong chín trường độc lập (independent schools) của Anh. Theo truyền thống trường công cộng, Eton chỉ có toàn học sinh nội trú, có nghĩa là tất cả học sinh của trường đều sinh sống trong trường. Đây cũng là một trong bốn trường công cộng vẫn tiếp tục giữ thông lệ chỉ tuyển nam sinh, ba trường còn lại là Winchester College, Harrow School và Radley College.
Trường Eton có một danh sách dài các cựu học sinh lỗi lạc. David Cameron, Thủ tướng thứ mười chín của Anh, đã học tại trường Eton và từng đề nghị Eton thành lập một trường do nhà nước quản lý nhằm nâng cao chất lượng.
The Good Schools Guide gọi Eton là "trường công cộng số một dành cho nam sinh", thêm vào đó, "giảng dạy cũng như điều kiện vật chất không thua kém trường nào khác". Đây cũng là một trường có mặt trong nhóm G20 Schools.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
tự do tín ngưỡng.txt | Tự do tín ngưỡng hay tự do tôn giáo thường được coi là một nguyên tắc ủng hộ quyền tự do của cá nhân hay cộng đồng trong việc công khai hoặc bí mật thực hành, thờ phụng, rao giảng, hay tu tập một tôn giáo hay tín ngưỡng. Khái niệm này thường được thừa nhận là có bao gồm cả việc tự do thay đổi tôn giáo hoặc tự do không theo một tôn giáo nào. Tại nhiều quốc gia, tự do tín ngưỡng được nhiều người coi là một quyền cơ bản của con người.
Tuyên ngôn Quốc tế về Nhân quyền định nghĩa tự do tín ngưỡng như sau: "Mỗi người có quyền tự do tư tưởng, lương tâm, và tín ngưỡng; quyền này bao gồm tự do thay đổi tín ngưỡng, và tự do thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình một cách cá nhân hoặc công khai trong việc rao giảng, thực hành, thờ phụng, và tu tập." ("Everyone has the right to freedom of thought, conscience and religion; this right includes freedom to change his religion or belief, and freedom, either alone or in community with others and in public or private, to manifest his religion or belief in teaching, practice, worship, and observance.")
Điều 18 Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị nói rằng: "Quyền tự do của cá nhân thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng của mình chỉ phải chịu các giới hạn chẳng hạn như các giới hạn được luật pháp quy định và các giới hạn cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự, sức khỏe xã hội, hay tinh thần hoặc các quyền cơ bản và quyền tự do của những người khác." ("Freedom to manifest one's religion or beliefs may be subject only to such limitations as are prescribed by law and are necessary to protect public safety, order, health, or morals or the fundamental rights and freedoms of others.")
Tại một quốc gia có quốc giáo, tự do tín ngưỡng thường được hiểu là chính phủ cho phép thực hành các hoạt động của các tôn giáo khác với quốc giáo, và không đàn áp các tín đồ thuộc các tôn giáo khác.
Về phương diện cá nhân (không phải chính phủ), sự khoan dung tôn giáo thường được hiểu là thái độ chấp nhận đối với tín ngưỡng của những người khác. Sự khoan dung này không đòi hỏi người ta phải coi tôn giáo của những người khác cũng đúng đắn như của mình; thay vào đó là quan điểm rằng mỗi công dân chấp nhận rằng những người khác có quyền giữ và thực hành các đức tin của riêng mình.
Ngày nay, có những mối quan tâm về sự đàn áp các tôn giáo thiểu số tại các nước Hồi giáo và tại một số quốc gia khác như Trung Quốc và Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, cũng như một số hình thức không khoan dung khác tại các quốc gia khác —chẳng hạn việc một số nước châu Âu cấm các trang phục tôn giáo như Khăn trùm đầu Hồi giáo.
Tự do tín ngưỡng là một khái niệm luật pháp có quan hệ, nhưng không đồng nhất, với sự khoan dung tôn giáo, sự phân tách giữa giáo hội và nhà nước, hay nhà nước thế tục (laïcité).
Việt Nam là một nước có sự đoàn kết cao trong giữa các dân tộc anh em, có ngày Hội đại đoàn kết toàn dân tộc
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Tự do tôn giáo ở Việt Nam |
phan rang - tháp chàm.txt | Phan Rang - Tháp Chàm (thường được gọi tắt là Phan Rang) là thành phố tỉnh lị của tỉnh Ninh Thuận, Việt Nam.
Tên Tháp Chàm được đặt theo cụm tháp Poklong Garai phía bắc thành phố.
== Hành chính ==
Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm (Đô thị loại II) có tổng cộng 16 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm 15 phường: Bảo An, Đài Sơn, Đạo Long, Đô Vinh, Đông Hải, Kinh Dinh, Mĩ Bình, Mĩ Đông, Mĩ Hải, Mĩ Hương, Phủ Hà, Phước Mĩ, Tấn Tài, Thanh Sơn, Văn Hải và 1 xã: Thành Hải.
== Lịch sử ==
Vùng đất này từng là kinh đô Panduranga của Vương quốc Champa cổ.
Thị xã Phan Rang được thành lập theo đạo dụ của vua Khải Định ban hành ngày 4 tháng 8 năm 1917.
Trước năm 1976, Phan Rang là tỉnh lỵ của tỉnh Ninh Thuận. Từ năm 1976 đến năm 1991, khi tỉnh Ninh Thuận hợp nhất với tỉnh Bình Thuận (kể cả tỉnh Bình Tuy của Việt Nam Cộng hòa) thành tỉnh Thuận Hải thì Phan Rang không còn là tỉnh lỵ của tỉnh Ninh Thuận, mà thuộc tỉnh Thuận Hải.
Ngày 27 tháng 4 năm 1977 thị xã Phan Rang bị chia hai và hạ cấp xuống thành thị trấn Phan Rang, huyện lỵ huyện Ninh Hải, và thị trấn Tháp Chàm, huyện lỵ huyện An Sơn. Thị trấn Phan Rang là địa bàn 6 phường Mỹ Hương, Tấn Tài, Kim Định, Thanh Sơn, Phủ Hà, Đạo Long của thị xã cũ, còn thị trấn Tháp Chàm là địa bàn 3 phường Đô Vinh, Bảo An và Phước Mỹ của thị xã cũ.
Thị xã Phan Rang được tái lập với tên mới là thị xã Phan Rang - Tháp Chàm, theo Quyết định số 45/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 1 tháng 9 năm 1981, đồng thời với việc tái lập ba huyện là Ninh Sơn, Ninh Hải và Ninh Phước trên cơ sở 2 huyện An Sơn và Ninh Hải. Lúc đó thị xã Phan Rang - Tháp Chàm gồm 9 phường: Bảo An, Đô Vinh, Phước Mỹ, Phủ Hà, Thanh Sơn, Mỹ Hương, Kinh Dinh, Đạo Long, Tấn Tài, và 3 xã: Văn Hải, Khánh Hải và Thành Hải (xã Khánh Hải về sau được chuyển về huyện Ninh Hải quản lý và trở thành thị trấn Khánh Hải năm 1994).
Ngày 30 tháng 10 năm 1982, xã Mỹ Hải và xã Đông Hải (huyện Ninh Hải) sáp nhập vào thị xã Phan Rang - Tháp Chàm theo quyết định số 204-HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng. Thị xã Phan Rang - Tháp Chàm lúc này có 9 phường (Bảo An, Đô Vinh, Phước Mỹ, Phủ Hà, Thanh Sơn, Mỹ Hương, Kinh Dinh, Đạo Long, Tấn Tài) và 5 xã (Văn Hải, Khánh Hải, Thành Hải, Mỹ Hải và Đông Hải)
Khi tỉnh Ninh Thuận được tái lập (1992), thị xã Phan Rang hợp nhất cùng với Tháp Chàm thành thị xã Phan Rang - Tháp Chàm, đồng thời trở thành tỉnh lỵ của tỉnh Ninh Thuận.
Ngày 25 tháng 12 năm 2001, chuyển xã Đông Hải thành phường Đông Hải; thành lập phường Mỹ Đông từ một phần xã Mỹ Hải; thành lập phường Đài Sơn từ một phần phường Thanh Sơn và xã Thành Hải. Thị xã Phan Rang - Tháp Chàm có 12 phường (Bảo An, Đô Vinh, Phước Mỹ, Phủ Hà, Thanh Sơn, Mỹ Hương, Kinh Dinh, Đạo Long, Tấn Tài, Đông Hải, Mỹ Đông, Đài Sơn) và 3 xã (Văn Hải, Thành Hải và Mỹ Hải).
Tháng 1 năm 2005, thị xã Phan Rang - Tháp Chàm được công nhận là đô thị loại 3.
Ngày 8 tháng 2 năm 2007, thị xã Phan Rang - Tháp Chàm trở thành thành phố theo Nghị định của Chính phủ.
Ngày 16 tháng 4 năm 2007, thành phố Phan Rang - Tháp Chàm làm lễ công bố trở thành thành phố theo Nghị định của Chính phủ.
Ngày 21 tháng 1 năm 2008, chia xã Mỹ Hải thành 2 phường: Mỹ Hải và Mỹ Bình; chuyển xã Văn Hải thành phường Văn Hải. Thành phố Phan Rang - Tháp Chàm có 15 phường và 1 xã như hiện nay.
Ngày 26 tháng 2 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 252/QĐ-TTg công nhận thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là đô thị loại II trực thuộc tỉnh Ninh Thuận.
== Địa lý ==
=== Vị trí địa lý ===
Phan Rang - Tháp Chàm cách Thành phố Hồ Chí Minh 350 km, cách Đà Lạt 110 km, cách Nha Trang 105 km và cách Hà Nội 1388 km.
Phía Bắc giáp huyện Bác Ái và huyện Ninh Hải
Phía Tây giáp huyện Ninh Sơn
Phía Nam giáp huyện Ninh Phước
Phía Đông giáp biển Đông
=== Đặc điểm Khí hậu và đất đai ===
Phan Rang có nhiều rặng núi bao quanh phía Bắc, phía Nam, phía Tây khiến cho gió mùa Đông-Bắc và gió mùa Tây-Nam là những gió đem mưa tới bị ngăn cản lại trước khi thổi đến Phan Rang. Các rặng núi trọc quanh Phan Rang đều phản chiếu lại nhiệt vào giữa lòng đồng bằng nên khí hậu nóng.
Độ ẩm trung bình hàng năm chừng 80%, các tháng khô khan nhất là từ tháng 1 đến tháng 3 dương lịch. Vào các tháng này, gió thổi rất mạnh. Vì đặc điểm này mà dân địa phương thường ví von "Gió như Phan, Nắng như Rang". Do đặc điểm này nên Phan Rang thích hợp trồng Nho, hành tỏi và có nhiều tiềm năng về điện gió.
Khí hậu Phan Rang rất khô và có lẽ là vùng khô hạn nhất Việt Nam. Lượng mưa hàng năm rất ít. Các chất "Bazơ" trao đổi không bị nước mưa cuốn trôi xuống sâu do đó pH của đất rất lớn: thường đất đai có pH trên 6 (những nơi khác do mưa nhiều nên pH của đất trung bình khoảng 5). Có những loại đất đặc biệt nhưng đất kiềm (pH > 7,5) chỉ có ở vùng Phan Rang. Đó là đất cà-giang.
=== Diện tích và dân số ===
Diện tích: 78,8974 km² (2009)
Dân số: 161.730 người (2009)
=== Đô thị ===
Phan Rang - Tháp Chàm chính thức trở thành Đô thị loại 3 vào năm 2007 và trở thành Đô thị loại 2 vào năm 2015.
== Hình ảnh ==
== Đặc sản Ninh Thuận ==
Nho
Nước mắm: Nước mắm nhĩ, mắm ruốc, mắm nêm
Mực khô - Mực một nắng
Tỏi, Hành - Nổi tiếng tại Nhơn Hải, Thanh Hải huyện Ninh Hải và phường Văn Hải thành phố Phan Rang-Tháp Chàm
Táo
Dông
Tôm giống - 02 vùng sản xuất Tôm giống tại xã An Hải - Ninh Phước và Nhơn Hải - Ninh Hải
Muối - Cánh đồng muối "Cà Ná, Thuận Nam" tại nơi nước biển có độ mặn lớn nhất Đông Dương
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
sant cugat sesgarrigues.txt | Sant Cugat Sesgarrigues là một đô thị trong ‘‘comarca’’ Alt Penedès, Barcelona, Catalonia, Tây Ban Nha.
== Biến động dân số ==
Biến động dân số từ năm 1717 đến năm 2006
1717-1981: población de hecho; 1990-: población de derecho
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
The AEK Sant Cugat is the indoor soccer club founded in 1989.
the club's website (in catalan) |
liên đoàn ả rập.txt | Liên đoàn Ả Rập (tiếng Ả Rập: الجامعة العربية al-Jāmiʻa al-ʻArabiyya), tên gọi chính thức là Liên minh các Quốc gia Ả Rập (tiếng Ả Rập: جامعة الدول العربية Jāmiʻat ad-Duwal al-ʻArabiyya), là một tổ chức của các quốc gia Ả Rập tại Tây Nam Á, Bắc và Đông Bắc Phi. Tổ chức này được thành lập ngày 22 tháng 3 năm 1945 tại Cairo với sáu thành viên: Ai Cập, Iraq, Transjordan (sau được đổi tên thành Jordan sau năm 1946), Liban, Ả Rập Xê Út và Syria. Yemen gia nhập tổ chức ngày 5 tháng 5 năm 1945, liên minh Ả Rập hiện có 22 thành viên. Mục đích của liên minh là "thắt chặt mối quan hệ và gia tăng hợp tác giữa các quốc gia, nhằm bảo vệ độc lập và chủ quyền, xem xét các vấn đề chung và các mối quan tâm của các quốc gia Ả Rập".
Thông qua một số cơ quan như Tổ chức Văn hóa Khoa học và Giáo dục Liên minh Ả Rập (ALESCO) hay Hội đồng Thống nhất Kinh tế Ả Rập (CAEU), Liên minh Ả Rập phát triển các chương trình về chính trị, xã hội, kinh tế, văn hóa, khoa học nhằm nâng cao mối quan tâm của thế giới Ả Rập. Nó còn đóng vai trò là một diễn đàn cho các quốc gia thành viên để nâng cao vị thế chính sách và cân nhắc các vấn đề chung cần quan tâm, nhằm giải quyết những mâu thuẫn, hạn chế những xung đột chẳng hạn như Cuộc khủng hoảng Liban 1958. Liên minh cũng giữ vai trò đi đầu trong việc soạn thảo những văn bản quan trọng nhằm nâng cao sự hội nhập kinh tế.
Mỗi quốc gia thành viên có một phiếu tại Hội đồng Liên minh, trong đó những quyết định được rằng buộc bởi những quốc gia đã bầu ra. Những mục tiêu chính của liên minh năm 1945 là củng cố và phát triển những chương trình về xã hội, kinh tế, chính trị và văn hóa của các thành viên nhằm điều chỉnh những mâu thuẫn giữa các thành viên và các bên liên quan. Thêm nữa, việc ký kết hiệp đình Đồng hợp tác Kinh tế và Quốc phòng ngày 13 tháng 4 năm 1950, đã gắn kết các thành viên vào một sự hợp tác đồng phát triển các phương pháp an ninh quốc phòng.
Liên minh Ả Rập đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành những chương trình giảng dạy tại các trường học, nâng cao vai trò của phụ nữ trong xã hội, đẩy mạnh phúc lợi xã hội dành cho trẻ em, khuyến khích các chương trình về thể thao, bảo tồn các di sản Ả Rập, thúc đẩy trao đổi văn hóa giữa các thành viên. Những chiến dịch xóa mù chữ được phát động, nhiều thuật ngữ và các tác phẩm khoa học kĩ thuật hiện đại đã được dịch giữa các quốc gia thành viên. Liên minh khuyến khích những biện pháp chống lại tội phạm và nghiện hút, giải quyết những vấn đề về lao động - đặc biệt là với lao động nhập cư Ả Rập.
== Lịch sử ==
Theo sau phê chuẩn nghị định thư Alexandria Protocol năm 1944, liên đoàn Ả Rập được thành lập ngày 22 tháng 3 năm 1945. Liên đoàn nhằm mục đính trở thành một tổ chức khu vực của các quốc gia Ả Rập tập trung vào phát triển kinh tế, giải quyết tranh chấp, và phối hợp các mục tiêu chính trị. Các quốc gia khác gia nhập vào liên đoàn vào các thời điểm sau đó. Mỗi quốc gia cử một thành viên bỏ phiếu vào hội đồng. Hành động can thiệp đầu tiên, bị cáo buộc theo đại diện của phần lớn dân cư Ả Rập là đã bật gốc nhà nước Israel nổi lên vào năm 1948 (và để đáp ứng lại sự phản đổi của đa số trong thế giới Ả Rập), mặc dù thực tế rằng một người than gia trong sự can thiệp này là Transjordan đã đồng ý với Israel để phân chia nhà nước Ả Rập Palestine theo Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, trong khi Ai Cập can thiệp chủ yếu để ngăn chặn đối thủ của nó ở Amman để hoàn thành mục tiêu của nó. Tiếp theo đó là việc tạo ra một hiệp ước phòng thủ chung hai năm sau đó. Một thị trường chung được thành lập vào năm 1965.
== Các quốc gia thành viên ==
== Xem thêm ==
Liên minh Ả Rập Maghreb
Quỹ Tiền tệ Ả Rập
== Tham khảo == |
boeing.txt | Boeing (đọc như là "Bô-inh") là hãng sản xuất máy bay lớn nhất thế giới có tổng hành dinh tại Chicago, Illinois. Đến năm 2007, Boeing vẫn là tập đoàn sản xuất vũ khí lớn nhất thế giới và tuột xuống vị trí thứ 3, sau Lockheed Martin và BAE System vào năm 2008.
== Lịch sử ==
=== Trước những năm 1950 ===
Công ty được thành lập tại thành phố Seattle, Washington bởi William E. Boeing vào ngày 15 tháng 7 năm 1916, cùng với George Conrad Westervelt, một kỹ sư của Hải quân Hoa Kỳ, và được đặt tên là "B&W" theo chữ viết tắt của tên người sáng lập. Sau đó công ty được đổi tên thành "Pacific Aero Products" và vào năm 1917, công ty trở thành "Boeing Airplane Company". William Boeing học ở Đại học Yale và ban đầu làm trong công nghiệp khai thác gỗ, nơi ông ta đã trở nên giàu có. Nơi đó ông cũng thu thập được những kiến thức về các cấu trúc bằng gỗ mà sau này trở nên có giá trị trong việc thiết kế và lắp đặt máy bay.
Vào năm 1927, Boeing thiết lập một hãng hàng không, đặt tên là Boeing Air Transport (BAT). Một năm sau đó, BAT cùng với Pacific Air Transport và Boeing Airplane Company sáp nhập lại thành một công ty lớn. Công ty đổi tên thành United Aircraft and Transport Corporation vào năm 1929 và mua Pratt & Whitney, Hamilton Standard Propeller Company và Chance Vought. United Aircraft sau đó mua National Air Transport vào năm 1930. Đạo luật Air Mail năm 1934 cấm các hãng hàng không và các nhà sản xuất dưới cùng một tổng công ty, do đó công ty lại tách ra thành 3 công ty nhỏ hơn - Boeing Airplane Company, United Airlines và United Aircraft Corporation (tiền thân của United Technologies). Kết quả là William Boeing bán hết các cổ phiểu của ông ta.
Không lâu sau đó, một thỏa thuận với Pan American World Airways (Pan Am) đạt được để phát triển và đóng các máy bay chở khách cất cánh từ mặt nước và có khả năng chuyên chở khách vượt đại dương. Chuyến bay đầu tiên của Boeing 314 Clipper là vào tháng 6 năm 1938. Đó là máy bay dân dụng lớn nhất vào lúc đó, với sức chứa 90 hành khách trong các chuyến bay ban ngày, và 40 hành khách trong các chuyến bay đêm. Một năm sau đó, dịch vụ máy bay hành khách đầu tiên từ Hoa Kỳ đến Anh được khai trương. Sau đó các tuyến bay khác được mở ra, và không lâu sau đó Pan Am bay với Boeing 314 đến khắp nơi trên thế giới.
Vào năm 1938, Boeing hoàn thành máy bay 307 Stratoliner. Đó là máy bay chuyên chở đầu tiên trên thế giới có cabin được bơm khí nén, có khả năng bay ở độ cao 20.000 ft — trên hầu hết các biến động về thời tiết.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Boeing đóng một số lượng lớn các máy bay ném bom. Rất nhiều công nhân là vợ của những người lính ngoài mặt trận. Vào đầu năm 1944, sản xuất đã được đẩy mạnh đến mức trên 350 máy bay được đóng trong một tháng. Để ngăn chặn oach tạc từ trên không, các xưởng sản xuất đã được ngụy trang bằng cây cỏ và các sản phẩm từ trang trại. Trong những năm chiến tranh, những công ty sản xuất máy bay hàng đầu của Hoa Kỳ hợp tác với nhau. Máy bay ném bom B-17 được thiết kế bởi Boeing và được lắp đặt bởi Lockheed Aircraft Corp. và Douglas Aircraft Co., trong khi B-29 cũng được lắp đặt bởi Bell Aircraft Co. và Glenn L. Martin Company.
Sau chiến tranh, hầu hết các đơn đặt hàng về máy bay ném bom bị hủy bỏ và 70.000 người mất việc tại Boeing. Công ty hướng tới việc hồi phục nhanh chóng bằng cách bán Stratocruiser, một loại máy bay 4 động cơ chở khách thương mại hạng sang được phát triển từ B-29. Tuy vậy, số lượng bán của kiểu máy bay này không được như mong đợi và công ty Boeing phải tìm các cơ hội khác để vượt qua hoàn cảnh đó. Công ty đã thành công trong việc bán các máy bay quân sự chuyển đổi lại để có thể chuyên chở binh sĩ và tiếp tế nhiên liệu trên không.
=== Những năm 1950 ===
Vào giữa thập niên 1950 kỹ thuật đã tiến bộ một cách vượt bậc, đem lại những khả năng cho Boeing phát triển và sản xuất những sản phẩm mới hoàn toàn. Một trong những sản phẩm mới là tên lửa điều khiển tầm ngắn được dùng để đánh chặn máy bay của kẻ thù. Vào thời gian Chiến tranh Lạnh trở nên như một chuyện thường ngày, Boeing sử dụng các kỹ thuật tên lửa tầm ngắn để phát triển và sản xuất tên lửa liên lục địa.
Vào năm 1958, Boeing bắt đầu xuất xưởng B707, máy bay phản lực chở khách đầu tiên của Hoa Kỳ, đáp lại chiếc De Havilland Comet của Anh, Sud Caravelle của Pháp và Tupolev Tu-104 'Camel' của Liên bang Xô viết; là những máy bay thuộc loại thế hệ đầu tiên của máy bay phản lực chở khách dân dụng. Với chiếc B707, một loại máy bay bốn động cơ chở được 156 hành khách, Hoa Kỳ trở thành một trong những người dẫn đầu trong việc sản xuất máy bay phản lực dân dụng. Một vài năm sau đó, Boeing thêm vào một phiên bản thứ hai của máy bay này, chiếc B720 nhanh hơn và có tầm bay ngắn hơn. Một vài năm sau nữa, Boeing giới thiệu B727, một loại máy bay phản lực dân dụng khác có cùng kích cỡ, thế nhưng chỉ có 3 động cơ và thiết kế cho các tuyến bay tầm trung. Máy bay B727 ngay lập tức được chấp nhận như là một máy bay an toàn và tiện nghi bởi hành khách, phi hành đoàn và các hãng hàng không. Mặc dù sản xuất đã ngưng từ 1984, vào đầu thiên niên kỷ gần 1.300 chiếc B727 vẫn còn đang phục vụ trong các hãng hàng không khắp thế giới.
=== Những năm 1960 ===
Máy bay lên thẳng Piasecki được mua bởi Boeing vào năm 1960, và được công nhận như là chi nhánh Vertol của Boeing. Loại hai động cơ CH-47 Chinook, sản xuất bởi Vertol, bay lần đầu tiên vào năm 1961. Loại máy bay lên thẳng với sức nâng hạng nặng này vẫn một loại phương tiện chuyên chở chủ lực cho đến ngày hôm nay. Vào năm 1964, Vertol cũng bắt đầu sản xuất CH-46 Sea Knight.
Trong năm 1967, Boeing giới thiệu một loại máy bay chở khách tầm ngắn và tầm trung với hai động cơ B737. Nó đã trở thành loại máy bay phản lực dân dụng bán chạy nhất trong lịch sử của ngành hàng không. Loại B737 vẫn được sản xuất, và các cải tiến liên tục được đưa ra. Một vài kiểu cải tiến đã được phát triển, chủ yết để tăng số lượng hành khách và tầm bay.
Lễ xuất xưởng của chiếc B747-100 đầu tiên diễn ra vào năm 1968, tại xưởng đóng máy bay mới tại Everett, tiểu bang Washington, khoảng 1 tiếng đồng hồ lái xe từ trụ sở Boeing ở Seattle. Chiếc máy bay bay chuyến đầu tiên một năm sau đó. Chuyến bay dân dụng đầu tiên diễn ra vào năm 1970.
=== Những năm 1970 ===
Vào đầu thập niên 1970, Boeing đối đầu với một cuộc khủng hoảng mới. Chương trình Apollo mà trong đó Boeing đã tham dự phần lớn trong thập niên trước hầu như là bị xóa bỏ. Một lần nữa, Boeing hy vọng sẽ bù trừ với việc bán các máy bay chở khách dân dụng. Vào thời gian đó, tuy vậy, có một giai đoạn khủng hoảng trong ngành hàng không và do vậy Boeing đã không nhận được đơn đặt hàng nào trong vòng 1 năm. Cá cược tương lai của Boeing, loại B747 mới bị đình trệ trong sản xuất và chi phí cao hơn ban đầu dự tính. Một vấn đề khác là vào năm 1971, Quốc hội Hoa Kỳ quyết định ngưng việc tài trợ cho việc phát triển máy bay siêu âm B2707, câu trả lời của Boeing với Concorde do Anh và Pháp sản xuất, buộc công ty phải ngưng dự án. Công ty cũng phải giảm số nhân viên từ trên 80.000 xuống khoảng còn một nửa, chỉ trong khu vực Seattle. Vào tháng 1 năm 1970 chiếc B747 đầu tiên, một loại máy bay chở khách đường dài 4 động cơ, bay chuyến thương mại đầu tiên. Chiếc máy bay nổi tiếng này đã thay đổi hoàn toàn phương thức bay, với sức chứa 450 hành khách và khoang phía trên của nó. Cho đến 2001, Boeing là hãng sản xuất máy bay duy nhất cung cấp một máy bay có khả năng như vậy và đã xuất xưởng được gần 1.400 chiếc. (Airbus bây giờ đưa ra A380, khi xuất xưởng sẽ là máy bay hành khách lớn nhất). Kiểu B747 đã được cải tiến liên tục để các kỹ thuật trong đó không bị lạc hậu. Các phiên bản lớn hơn cũng được phát triển với tầng trên được kéo dài ra.
=== Những năm 1980 ===
Vào năm 1983, tình hình kinh tế bắt đầu khá lên. Boeing lắp ráp chiếc máy bay dân dụng B737 thứ 1.000. Trong suốt những năm sau đó, máy bay dân dụng và máy bay quân sự của công ty trở thành những thiết bị cơ bản của các hãng hàng không và không quân. Vì lưu lượng hành khách đi máy bay tăng lên, cạnh tranh trở nên gay gắt hơn, chủ yếu là từ một hãng sản xuất máy bay mới lên từ châu Âu, công ty Airbus. Boeing phải đưa ra một loại máy bay mới, và phát triển loại máy bay với một lối đi giữa hai dãy ghế B757, loại lớn hơn có hai lối đi B767 và những kiểu cải tiến của B737.
Một đề án quan trọng của những năm này là chương trình tàu con thoi, mà Boeing đã đóng góp kinh nghiệm sản xuất tên lửa vũ trụ mà công ty thu hoạch được trong thời kì Chương trình Apollo, mà công ty đã tham gia. Boeing cũng tham gia vào các sản phẩm khác trong chương trình không gian, và là hãng hợp đồng đầu tiên cho Trạm Vũ trụ Quốc tế. Cùng lúc đó, một số đề án quân sự đi vào sản xuất, chẳng hạn như máy bay lên thẳng RAH-66 Comanche, hệ thống phòng không Avenger và một thế hệ mới các hỏa tiễn tầm ngắn. Trong những năm này, Boeing rất năng động trong việc nâng cấp những thiết bị quân sự hiện có và phát triển những thứ mới.
=== Những năm 1990 ===
Vào tháng 4 năm 1994, Boeing giới thiệu loại máy bay phản lực dân dụng hiện đại nhất, máy bay hai động cơ B777, với sức chứa từ 300 đến 400 hành khách trong một cấu hình chuẩn có 3 cấp hành khách, và ở giữa B767 và B747. Là máy bay hai động cơ có tầm bay xa nhất trên thế giới, kiểu B777 là máy bay hành khách Boeing đầu tiên thiết lập hệ thống điều khiển "fly-by-wire" và được xem như là đối lại với những thâm nhập bởi Airbus vào thị trường truyền thống của Boeing. Chiếc máy bay này, thường được gọi thông thường là "Triple Seven" (Ba số Bảy), đạt một bước tiến quan trọng vì là máy bay đầu tiên được thiết kế hoàn toàn bằng kỹ thuật đồ họa trên máy tính (CAD). Cũng trong giữa thập niên 1990, công ty phát triển kiểu cải tiến của B737, được biết đến như là "Next-Generation 737" (737 Đời mới), hay là 737NG. Nó đã trở thành kiểu bán chạy nhất của B737 trong lịch sử và vào ngày 20 tháng 4 năm 2006 số lượng bán đã vượt qua "737 Cổ điển", với một đơn đặt hàng 79 máy bay từ Southwest Airlines. "Next-Generation 737" bao gồm B737-600, B737-700, B737-800 và B737-900.
Vào năm 1996, Boeing mua bộ phận sản xuất máy bay và quốc phòng của công ty Rockwell. Sản phẩm của Rockwell trở thành chi nhánh của Boeing, được đặt tên là Boeing North American, Inc. Một năm sau, Boeing sáp nhập với McDonnell Douglas. Sau sự sáp nhập giữa Boeing và McDonnell Douglas, kiểu MD-95 của McDonnell Douglas được đặt tên lại là B717-200, và việc sản xuất MD-11 bị dừng lại. Boeing giới thiệu một tổng công ty mới với sự hoàn thành của việc sáp nhập đó với huy hiệu công ty mới mang dòng chữ đậm Boeing và biểu trưng đơn giản của McDonnell Douglas.
=== Những năm 2000 ===
Trong những năm gần đây Boeing phải đối phó với Airbus với sức cạnh tranh ngày càng cao, hãng này đưa ra một số linh kiện dùng chung giữa các kiểu máy bay (làm giảm chi phí bảo trì và huấn luyện) cũng như những kỹ thuật "fly-by-wire" mới nhất. Từ thập niên 1970 Airbus đã tăng các chủng loại máy bay của họ đến mức bây giờ họ có thể đưa ra một loại máy bay có cùng tính chất với hầu như mỗi kiểu của Boeing. Thật vậy, bây giờ Airbus cạnh tranh trong tất cả các thị trường mà Boeing đã từng chiếm giữ vị trí độc quyền, chẳng hạn như A320 đã được chọn bởi một số hãng máy bay giá rẻ (loại máy bay thường được sử dụng bởi các hãng hàng không này là B737) và trong thị trường máy bay cực lớn, máy bay A380. Loại B747 đã bị cạnh tranh bởi một loạt máy bay Boeing 777-300.
Hiện tại, Boeing đang dự định sẽ giới thiệu năm loại máy bay mới, 787 Dreamliner, loại tầm bay cực xa B777-200LR, B737-900ER, B737-700ER và B747-8. Boeing 787 trước đây được biết đến như là Boeing 7E7, nhưng thiết kế đã được thay đổi từ dạo đó. Boeing 777-200LR có tầm bay xa nhất trong tất cả các loại máy bay dân dụng, và là máy bay dân dụng đầu tiên có thể bay nửa vòng quanh Trái Đất với một lượng chuyên chở có hiệu quả kinh tế, và nắm kỉ lục thế giới với một chuyến bay xa nhất bởi một máy bay chở khách dân dụng là 21.601 km.
Boeing cũng đang đóng một phiên bản nâng cao của B747, loại B747-8 [1], để sẽ cạnh tranh sát sao hơn với Airbus A380. Kiểu máy bay này đã được thông báo không chính thức tại Triển lãm Hàng không Paris trong năm 2005.
=== Những năm 2010 ===
== Lĩnh vực kinh doanh ==
Hai đơn vị lớn nhất là Boeing Commercial Airplanes và nhóm Integrated Defense Systems.
AviationPartnersBoeing, 50/50 liên doanh với Aviation Partners, Inc.
Boeing Australia, Ltd.
Boeing Capital
Boeing Commercial Airplanes
Aeroinfo Systems
Airspace Safety Analysis Corporation
Alteon Training, trước là FlightSafetyBoeing
Continental Datagraphics
Jeppesen, trước là Jeppesen Sanderson.
SBS International
Boeing Integrated Defense Systems
United Launch Alliance (với Lockheed Martin)
United Space Alliance (với Lockheed Martin)
Boeing Satellite Systems
Sea Launch (40%)
Boeing Realty
Boeing Technology
Phantom Works
Information Technology
Intellectual Property Management
Corporate Engineering & Technology
Boeing Shared Services Group
Boeing Travel Management Company
Connexion by Boeing
Preston Aviation Solutions
== Nhân công ==
=== Theo vị trí địa lý ===
cho đến 10 tháng 6 năm 2005
=== Nhân công theo nhóm (các đơn vị) ===
cho đến 10 tháng 6 năm 2005
== Bộ máy lãnh đạo ==
=== Hội đồng quản trị hiện thời ===
W. James McNerney, Jr. - Chairman, President & CEO
John H. Biggs
John Bryson
Linda Cook
William M. Daley
Kenneth M. Duberstein
John McDonnell
Richard Nanula
Rozanne Ridgway
John Shalikashvili
Mike S. Zafirovski
=== Giám đốc điều hành (CEO) ===
=== Chủ tịch hội đồng quản trị ===
=== Chủ tịch ===
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Airbus
Arianespace
Boeing Aircraft Holding Company
Lockheed Martin
Northrop Grumman
Phillip G. Johnson
Vertol
== Liên kết ngoài ==
Công ty Boeing
Boeing order sheet, year-to-date
Boeing’s Triumph: The American Jetliner
Yahoo! - Lịch sử công ty
Transcripts of The Boeing Company's Quarterly Conference Calls
Boeing and WTO
BBC
Complete productionlist starting with Model 1 |
nara (thành phố).txt | Thành phố Nara (奈良市, Nại Lương thị) thuộc tỉnh Nara (奈良県) ở vùng Kinki của Nhật Bản.
== Lịch sử ==
Nara là thủ đô của Nhật Bản, Heijo-kyo, được thành lập vào năm 710. Thành phố này đẹp và nổi tiếng nhất Nhật Bản trong thời kỳ trước năm 784, khi thủ đô của Nhật được chuyển đến nơi khác. Lịch sử Nhật Bản gọi thời này là thời kỳ Nara. Tên chính thức của thủ đô thời đó được gọi là Heijō Kyō, được xây dựng theo mô hình của Trường An, Nhà Đường, Trung Quốc, nay là Tây An. Theo sách cổ của Nhật Bản Nihon Shoki, tên gọi "Nara" có nguồn gốc từ narashita nghĩa là "làm phẳng".
Bức tường bao quanh thành phố dài khoảng 4,3 km từ phía Đông đến Tây, và 4,8 km từ phía Bắc đến Nam. Có một con đường rộng thiết kế theo kiểu Trung Hoa, rộng khoảng 80 m chạy từ phía Bắc đến Nam ở giữa khu vực trung tâm. Con đường này chạy đến cung điện Heijo, khu vực mà vua và các văn phòng trung ương được đặt ở đó.
Vào thời Nara, đạo Phật được chính quyền ủng hộ mạnh mẽ. Chính vì vậy, nhiều ngôi chùa lớn đã được xây dựng tại Nara và vẫn còn lại cho đến tận ngày nay. Hồi đó, việc xây dựng những ngôi chùa lớn thờ Phật được nghĩ rằng sẽ bảo vệ vua và nước Nhật. Vào thời gian này, Nhật có quan hệ rất tốt với Trung Quốc, lúc đó là thời nhà Đường đã phát triển cực thịnh, và Nara đã là nơi tiếp thu những sản phẩm văn hóa, nghệ thuật của thời Đường. Những công trình xây dựng, nghệ thuật, điêu khắc... thời đó vẫn còn lại đến này nay và được xếp vào tài sản quốc gia của đất nước hoa anh đào.
Năm 2010, thành phố Nara tổ chức lễ kỷ niệm 1300 năm thủ đô cổ Nhật Bản.
== Di sản thế giới ==
Tháng 12 năm 1998, Ủy ban Di sản thế giới đã chọn riêng một số khu vực và những kiến trúc lịch sử của Nara, gồm cả di tích của các cung điện, rừng cây, chùa chiền... đã được xây dựng vào khoảng 1300 năm trước đây, hồi mà Nara đã là thủ đô của Nhật Bản, là di sản văn hóa thế giới. Các bộ phận của di sản văn hóa cố đô Nara gồm:
Chùa Todai
Kho báu Hoàng gia Shoso
Chùa Kofuku
Đền Kasuga
Chùa Gango
Chùa Yakushi
Chùa Toshodai
Di tích Cung điện Heijo
Rừng nguyên sinh Kasugayama
Trước đó, vào năm 1993, quần thể kiến trúc Phật giáo khu vực chùa Horyuji cũng ở Nara đã được chọn là di sản thế giới.
== Thành phố kết nghĩa ==
Canberra, Úc
Gyeongju, Hàn Quốc
São Paulo, Brazil
Toledo, Castile-La Mancha, Tây Ban Nha
Versailles, Pháp
Tây An, Trung Quốc
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của thành phố Nara
Website của UNESCO về Di sản văn hóa cổ đô Nara |
hát.txt | Hát là hoạt động tạo ra âm nhạc bằng giọng của một người. Âm thanh khi một người đang hát phát ra gọi là giọng hát. Hát là khởi nguồn của âm nhạc nhiều ngàn năm về trước. Khi hát, người hát điều chỉnh giọng lên cao xuống thấp, lên bổng xuống trầm. Nếu họ làm điều này theo một thang đo với nốt nhạc thì sẽ tạo ra một giai điệu. Một người ca hát chuyên nghiệp gọi là ca sĩ, các ca sĩ thường trình diễn giọng hát của mình cho công chúng để kiếm tiền hoặc vì các mục đích khác như phục vụ văn nghệ hay quyên góp từ thiện.
== Kỹ thuật hát ==
Khi hát, người ta dùng khí ở trong phổi. Tốc độ khí thoát khỏi phổi được điều khiển bởi cơ hoành. Người hát có kỹ thuật bài bản thường dành nhiều thời gian luyện tập "điều khiển hơi thở" khi hát.
Khí thoát qua cổ họng nơi thanh quản hoạt động như lưỡi gà của đàn clarinet: rung động của nó tạo âm tùy theo sự điều khiển của người hát.
Âm thanh sau đó tới khoang miệng để được khuếch âm to lên nhờ cộng hưởng. Ca sĩ chuyên nghiệp thậm chí học để tận dụng toàn bộ các bộ phận có thể trên đầu vào mục đích cộng hưởng âm. Âm sau đó ra khỏi miệng thành tiếng hát.
Hát khác biệt so với nói vì những cách sử dụng dây thanh âm trong cổ họng khi hát.
== Quãng giọng ==
Đa số người ta có thể hát trong phạm vi hơn một quãng tám. Người luyện tập nhiều có thể hát trên phạm vi hai quãng tám. Người ta chia ra các loại giọng dựa vào khả năng người hát hát cao hay thấp bao gồm: soprano, mezzo-soprano và contralto cho nữ, tenor, baritone và bass cho nam. Đàn ông có thể luyện tập để hát được giọng alto (nữ trầm/nam cao) bằng cách dùng giọng gió (falsetto). Giọng trẻ em thường gọi là giọng treble.
== Thể loại ==
Có rất nhiều thể loại và phong cách hát trên thế giới. Mỗi loại đều có kỹ thuật khác nhau. Có rất nhiều thể loại nhạc trên thế giới. Các thể loại nổi tiếng và có ảnh hưởng rộng có thể kể tới tiêu biểu như pop, blues, jazz, country, hip hop, rock,acapella, rapper, ballad...
== Thưởng thức ca hát ==
Hát là một trong những thứ có thể được cảm thụ bởi nhiều người. Người có thể hát đơn một mình, hay hát bè, hát nhóm, hát đồng ca. Khi hát có thể hát với nhạc do các nhạc công (nhạc sống) hay nhạc nền thâu sẵn hoặc với máy karaoke hay không có nhạc (acappella). Người ta có thể hát cho mình mình nghe hoặc cho nhiều người khác nghe hoặc cho một số lượng lớn khán giả tại các buổi hòa nhạc. Người nghe cũng có thể thưởng thức việc ca hát gián tiếp qua các băng đĩa nhạc hay trên internet.
== Xem thêm ==
Ca sĩ
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
tây tạng.txt | Tây Tạng (chữ Tạng: བོད་; Wylie: Bod, phát âm tiếng Tạng: [pʰø̀ʔ]; tiếng Trung: 藏區 / Tạng khu) là một khu vực cao nguyên tại châu Á, ở phía bắc-đông của dãy Himalaya. Đây là quê hương của người Tạng cũng như một số dân tộc khác như Môn Ba, Khương, và Lạc Ba, và hiện nay cũng có một lượng đáng kể người Hán và người Hồi sinh sống. Tây Tạng là khu vực có cao độ lớn nhất trên Trái Đất, với độ cao trung bình là 4.900 mét (16.000 ft).
Đến thế kỷ thứ 7, Tây Tạng trở thành một đế quốc thống nhất, song nhanh chóng phân liệt thành nhiều lãnh thổ. Phần lớn tây bộ và trung bộ Tây Tạng (Ü-Tsang) thường thống nhất (ít nhất là trên danh nghĩa) dưới quyền các chính quyền nối tiếp nhau ở Lhasa, Shigatse, hay những nơi lân cận; các chính quyền này từng có lúc nằm dưới quyền bá chủ của Mông Cổ và Trung Quốc. Các khu vực Kham và Amdo ở đông bộ thường duy trì cơ cấu chính trị bản địa mang tính phân tán hơn, được chia thành một số tiểu quốc và nhóm bộ lạc, các khu vực này thường phải chịu sự kiểm soát trực tiếp hơn từ Trung Hoa; và hầu hết chúng cuối cùng được hợp nhất vào các tỉnh Tứ Xuyên và Thanh Hải. Ranh giới hiện nay của Tây Tạng nhìn chung được thiết lập nên vào thế kỷ 18. Sau khi triều Thanh sụp đổ vào năm 1912, các binh lính Thanh bị giải giáp và được hộ tống ra khỏi Tây Tạng địa phương (Ü-Tsang). Tây Tạng địa phương tuyên bố độc lập vào năm 1913. Sau đó, chính phủ Lhasa đoạt lấy quyền kiểm soát phần phía tây của tỉnh Tây Khang. Khu vực duy trì tình trạng tự quản cho đến năm 1951, khi Quân đội Cộng sản Trung Quốc tiến vào Tây Tạng, Tây Tạng hợp nhất vào Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, và chính phủ Tây Tạng bị bãi bỏ sau một cuộc nổi dậy thất bại vào năm 1959. Ngày nay, chính phủ Trung Quốc định ra Khu tự trị Tây Tạng ở tây bộ và trung bộ của Tây Tạng, còn các khu vực phía đông hầu hết thuộc về các tỉnh Tứ Xuyên và Thanh Hải. Có những căng thẳng liên quan đến tình trạng chính trị của Tây Tạng trong khi có các nhóm người Tạng lưu vong đang hoạt động.
Kinh tế Tây Tạng chủ yếu là nông nghiệp tự cấp, song du lịch cũng trở thành một ngành kinh tế nổi lên trong các thập niên gần đây. Tôn giáo chủ yếu ở Tây Tạng là Phật giáo Tây Tạng, cùng với đó là tôn giáo bản địa Bön (Bön ngày nay tương đồng với Phật giáo Tây Tạng) cùng với các thiểu số Hồi giáo và Cơ Đốc giáo. Phật giáo Tây Tạng có ảnh hưởng mang tính chủ yếu đối với nghệ thuật, âm nhạc, lễ hội của khu vực. Kiến trúc Tạng phản ánh ảnh hưởng từ kiến trúc Hán và kiến trúc Ấn. Các loại lương thực chủ yếu tại Tây Tạng là đại mạch, thịt bò Tạng, và trà bơ.
== Từ nguyên ==
Người Tạng gọi vùng đất của họ là Bod བོད་, mặc dù ban đầu nó chỉ có nghĩa là chỉ vùng trung bộ quanh Lhasa- nay được gọi là Ü trong tiếng Tạng. Cách phát âm trong tiếng Tạng tiêu chuẩn của từ Bod, [pʰøʔ˨˧˨], được chuyển tự thành Bhö theo phương pháp Tournadre, Bö theo phương pháp THL, và Poi theo bính âm tiếng Tạng. Một số học giả cho rằng các văn bản đầu tiên đề cập đến Bod "Tây Tạng" là những miêu tả về người Bautai trong các tác phẩm Chuyến đi vượt Hồng Hải (thế kỷ 1 CN) và Geographia (Ptolemy, thế kỷ 2 CN), bản thân nó lại có nguồn gốc từ Bhauṭṭa trong tiếng Phạn.
Từ "Tây Tạng" trong tiếng Hán bắt nguồn từ việc hoán dụ tên gọi khu vực Tsang quanh Shigatse, cộng thêm tiền tố "Tây". Con người, ngôn ngữ, và văn hóa Tây Tạng đến từ bất cứ nơi đâu cũng đều được gọi là "Tạng", song khái niệm địa lý của Tây Tạng tại Trung Quốc nay thường chỉ giới hạn trong Khu tự trị Tây Tạng. Thuật ngữ Tây Tạng được đặt ra dưới thời Gia Khánh Đế (1796–1820).
Tên Thổ Phồn lần đầu tiên được viết bằng Hán tự bằng "土番" vào thế kỷ 7 (Lý Thái) và bằng 吐蕃 vào thế kỷ 10 (Đường thư mô tả sứ thần năm 608–609 do Tán phổ Nang Nhật Luân Tán phái đến chỗ Tùy Dạng Đế). Trong tiếng Hán Trung cổ, do William H. Baxter tái dựng, 土番 được đọc là thux-phjon và 吐蕃 được đọc là thux-pjon (với x thể hiện thanh điệu). Các tên tiếng Hán khác dùng để chỉ Tây Tạng bao gồm Ô Tư Quốc (烏斯國), Ô Tư Tạng (烏斯藏), Đồ Bá Đặc (圖伯特), và Đường Cổ Thắc (唐古忒).
== Ngôn ngữ ==
Các nhà ngôn ngữ học thường xếp tiếng Tạng là một ngôn ngữ thuộc Ngữ hệ Hán-Tạng, mặc dù ranh giới giữa "tiếng Tạng" với các ngôn ngữ Himalaya khác có thể không rõ ràng. Theo Matthew Kapstein:
Theo quan điểm của ngôn ngữ học lịch sử, tiếng Tạng tương đồng nhất với tiếng Miến Điện trong số các ngôn ngữ lớn tại châu Á. Nhóm hai ngôn ngữ này cùng với các ngôn ngữ khác dường như có liên hệ ở vùng đất Himalaya, cũng như ở vùng cao của Đông Nam Á và các khu vực ranh giới giữa Hán-Tạng, các nhà ngôn ngữ học nói chùng kết luận rằng có sự tồn tại của một họ ngôn ngữ Tạng-Miến. Gây nhiều tranh cãi hơn là việc nhóm ngôn ngữ Tạng-Miến được cho là một phần của một họ ngôn ngữ lớn hơn là ngữ hệ Hán-Tạng, qua đó tiếng Tạng và tiếng Miến là họ hàng xa của tiếng Hán.
Tiếng Tạng có nhiều phương ngữ địa phương thường không hiểu lẫn nhau. Nó được sử dụng trên khắp cao nguyên Tây Tạng và Bhutan, cũng được nói tại một số nơi ở Nepal và bắc Ấn Độ, như ở Sikkim. Nhìn chung, các phương ngữ ở trung bộ Tây Tạng (bao gồm Lhasa), Kham, Amdo và một số khu vực nhỏ hơn được xem là các phương ngữ tiếng Tạng. Các dạng khác, đặc biệt là Dzongkha, Sikkim, Sherpa, và Ladakh, được những người sử dụng chúng xem là các ngôn ngữ riêng biệt, phần lớn là vì lý do chính trị.
Mặc dù khẩu ngữ tiếng Tạng thay đổi tùy theo khu vực, song văn viết tiếng Tạng dựa trên ngôn ngữ Tạng cổ điển thì đồng nhất rộng khắp. Điều này có thể là do ảnh hưởng lâu dài của Thổ Phồn. Tiếng Tạng có chữ viết riêng, chung với tiếng Ladakh và tiếng Dzongkha, có nguồn gốc từ chữ Brāhmī từ Ấn Độ cổ đại.
== Lịch sử ==
Loài người định cư trên cao nguyên Tây Tạng ít nhất là từ 21.000 năm trước Các cư dân này phần lớn bị thay thế vào khoảng năm 3000 TCN bởi những người nhập cư thời đại đồ đá mới đến từ miền Bắc Trung Quốc. Tuy nhiên, có một sự "di truyền cục bộ liên tục giữa các cư dân thời đại đồ đá cũ và những cư dân Tạng hiện đại".
Bản văn tiếng Tạng lâu đời nhất xác định văn hóa Tượng Hùng (Zhangzhung) là của một nhóm người nhập cư từ khu vực Amdo đến nơi mà nay là Guge ở tây bộ Tây Tạng. Tượng Hùng được đánh giá là khởi nguồn ban đầu của tôn giáo Bön. Vào thế kỷ 1 TCN, một vương quốc láng giềng nổi lên ở thung lũng Yarlung, và quốc vương Yarlung là Drigum Tsenpo (Chỉ Cống Tán Phổ) cố gắng loại bỏ ảnh hưởng của Tượng Hùng bằng việc trục xuất các giáo sĩ Bön khỏi Yarlung. Ông bị ám sát và Tượng Hùng vẫn tiếp tục tống trị khu vực cho đến khi bị Songtsen Gampo (Tùng Tán Cán Bố) sáp nhập vào thế kỷ thứ 7.
Trước thời Tùng Tán Cán Bố, các quân chủ Tây Tạng mang tính thần thoại hơn là thực tế, và không có đủ bằng chứng về việc họ có thực sự tồn tại hay không.
=== Thổ Phồn ===
Lịch sử của một Tây Tạng thống nhất bắt đầu dưới triều đại của Tùng Tán Cán Bố, ông thống nhất các lãnh thổ ở thung lũng sông Yarlung và lập nên Đế quốc Thổ Phồn. Ông cũng tiến hành nhiều cải cách và Thổ Phồn nhanh chóng khuếch trương thế lực rồi trở thành một đế quốc hùng mạnh. Tương truyền, phối ngẫu đầu tiên của ông là Công chúa Bhrikuti của Nepal, và bà đóng một vai trò rất lớn trong việc hình thành đức tin Phật giáo tại Tây Tạng. Năm 640, Tùng Tán Cán Bố kết hôn với Văn Thành công chúa, cháu gái của Đường Thái Tông.
Dưới thời một số vị quân chủ tiếp theo, Phật giáo trở thành quốc giáo và thế lực của Thổ Phồn thậm chí còn bao trùm lên nhiều khu vực rộng lớn ở Trung Á, từng thực hiện các cuộc xâm nhập lớn vào lãnh thổ Đại Đường, thậm chí từng tiến đến kinh sư Trường An vào cuối năm 763. Tuy nhiên, Thổ Phồn chỉ cò thể chiếm được Trường An trong 15 ngày, sau đó họ bị liên minh Đường cùng Hồi Cốt đánh bại.
Vương quốc Nam Chiếu nằm dưới quyền kiểm soát của Thổ Phồn từ năm 750 đến 794, người Nam Chiếu sau thoát khỏi quyền bá chủ của Thổ Phồn và giúp Đường đánh bại Thổ Phồn.
Năm 747, uy thế của Thổ Phồn bị lung lay do chiến dịch của tướng Đường Cao Tiên Chi, người này muốn tái lập tuyến đường thông thương trực tiếp giữa Trung Á và Kashmir. Năm 750, Thổ Phồn mất hầu hết thuộc địa ở Trung Á vào tay Đường. Tuy nhiên, sau khi Cao Tiên Chi thất bại trước vương triều Abbas của người Ả Rập trong trận Talas (751) và Đường xảy ra nội loạn, ảnh hưởng của Đường suy giảm nhanh chóng và ảnh hưởng của Thổ Phồn được phục hồi.
Vào năm 821/822, Thổ Phồn và Đường ký kết hòa ước, trong đó xác định chi tiết biên giới giữa hai bên, chùng được khắc song ngữ trên một cột đá nằm bên ngoài chùa Đại Chiêu (Jokhang) ở Lhasa. Thổ Phồn tiếp tục duy trì vị thế là một đế quốc Trung Á cho đến giữa thế kỷ thứ 9, khi một cuộc nội chiến tranh giành quyền kế vị dẫn đến sự sụp đổ của Thổ Phồn. Thời kỳ sau đó, Thổ Phồn bị phân liệt giữa các quân phiệt và bộ lạc, không có quyền lực tập trung.
=== Thời Nguyên ===
Triều Nguyên quản lý Tây Tạng thông qua Tuyên Chính Viện- cơ quan hành chính cao nhất tại Tây Tạng. Một trong số các mục đích của cơ quan này là chọn ra một "dpon-chen" (bản thiền), thường do Lạt-ma bổ nhiệm và được hoàng đế Nguyên ở Bắc Kinh xác nhận. Lạt ma của Tát-ca phái duy trì quyền tự chủ ở một mức độ nhất định, nắm thẩm quyền về mặt chính trị của khu vực, còn Bản thiền thì nắm giữ quyền hành pháp và quân sự. Sự cai trị của người Mông Cổ đối với Tây Tạng là riêng biệt so với các tỉnh khác tại Trung Quốc bản thổ. Nếu Lạt-ma của Tát-ca phái xảy ra xung đột với Bản thiền, Bản thiền có quyền đem quân đến khu vực.
Người Tây Tạng duy trì thẩm quyền hư danh đối với các vấn đề tôn giáo và chính trị khu vực, trong khi người Mông Cổ quản lý cấu trúc và hành chính tại khu vực, được củng cố bằng các can thiệp quân sự song việc này hiếm khi xảy ra. Đây là tình trạng "cấu trúc hai chính quyền" dưới trướng hoàng đế Nguyên, trong đó quyền lực chính thuộc về người Mông Cổ. Vương tử Khoát Đoan (Khuden) giành được quyền lực thế tục tại Tây Tạng vào thập niên 1240 và ủng hộ Tát Ca Ban Chí Đạt (Sakya Pandita), nơi người này tu hành trở thành thủ phủ của Tây Tạng.
Quyền kiểm soát của triều Nguyên đối với Tây Tạng kết thúc khi họ bị triều Minh lật đổ ở Trung Nguyên, và Đại Tư Đồ Giáng Khúc Kiên Tán (Tai Situ Changchub Gyaltsen) nổi dậy chống lại người Mông Cổ. Sau cuộc nổi dậy, Đại Tư Đồ Giáng Khúc Kiên Tán thành lập nên triều đại Phách Mộc Trúc Ba (Phagmodrupa), và tìm cách giảm bớt ảnh hưởng của Nguyên đối với văn hóa và chính trị Tạng.
=== Phác Mộc Trúc Ba và Đạt Lai Lạt Ma ===
Từ năm 1346 đến 1354, Đại Tư Đồ Giáng Khúc Kiên Tán lật đổ Tát-ca phái và lập ra triều Phách Mộc Trúc Ba. Trong 80 năm sau đó, Tông-khách-ba thành lập nên Cách-lỗ phái, các tu viện Phật giáo quan trọng như Ganden (Cam Đan), Drepung (Triết Bạng), và Sera (Sắc Lạp) được hình thành gần Lhasa.
Năm 1578, Yêm Đáp Hãn (Altan Khan) của Thổ Mặc Đặc bộ Mông Cổ trao cho Sách Nam Gia Thố (Sonam Gyatso)- một Lạt-ma có địa vị cao của Cách-lỗ phái, danh hiệu Đạt-lai Lạt-ma (Dalai Lama); Dalai là từ dịch sang tiếng Mông Cổ của "Gyatso", nghĩa là "đại dương".
Những người Âu đầu tiên đến Tây Tạng là những nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha António de Andrade và Manuel Marques vào năm 1624. Họ được Quốc vương và vương hậu nước Cổ Cách (Guge) nghênh đón, và được phép xây dựng một nhà thờ và giới thiệu đức tin Cơ Đốc giáo. Quốc vương Cổ Cách hăng hái chấp nhận Cơ Đốc giáo để đối phó với ảnh hưởng tôn giáo của Cách-lỗ phái đang phát triển mạnh và để làm đối trọng với các đối thủ tiềm năng của mình cũng như củng cố địa vị. Toàn bộ các nhà truyền giáo bị trục xuất vào năm 1745.
=== Thời Thanh ===
Triều Thanh đưa Amdo vào quyền kiểm soát của họ vào năm 1724, hợp nhất đông bộ của Kham vào các tỉnh lân cận vào năm 1728. Triều đình Thanh phái một đặc ủy viên cư dân, gọi là một Amban (ngang bang), đến Lhasa. Năm 1750, Ngang bang và phần lớn người Hán cùng người Mãn sống tại Lhasa bị sát hại trong một cuộc nổi loạn, và quân Thanh nhanh chóng tiến đến và đàn áp quân nổi dậy vào năm sau. Giống như triều Nguyên, triều Thanh kiểm soát hành chính và quân sự của khu vực, và trao cho Tây Tạng sự tự trị nhất định về mặt chính trị. Tướng quân Thanh hành hình thị chúng một số người ủng hộ quân nổi dậy, và vào năm 1723 và 1728, tiến hành các thay đổi trong cấu trúc chính trị và dự tính về tổ chức chính thức. Triều Thanh nay cho Đạt-lai Lạt-ma lãnh đạo chính quyền được gọi là Cát hạ (Kashag) song nâng cao vai trò của Ngang bang bao gồm cả việc tham gia vào các vấn đề nội bộ của Tây Tạng. Đồng thời triều Thanh cũng cho các giáo sĩ nắm những vị trí chủ chốt trong chính quyền địa phương để làm đối trọng với quyền lực của tầng lớp quý tộc.
Trong nhiều thập niên, Tây Tạng có được tình trạng hòa bình, song vào năm 1792, hoàng đế Thanh khiển một đội quân lớn đến Tây Tạng nhằm đánh đuổi quân Nepal xâm lược. Triều Thanh lại tái tổ chức chính quyền Tây Tạng, lần này là thông qua một bản kế hoạch gọi là "Tân đính Tây Tạng chương trình nhị thập cửu điều". Các đơn vị quân Thanh đồn trú cũng được thiết lập gần biên giới với Nepal. Tây Tạng do người Mãn thống trị trong các giai đoạn khác nhau vào thế kỷ 18, và những năm ngay sau những chỉnh lý 1792 là thời kỳ đỉnh cao của quyền lực của đại diện triều đình Thanh; song không có nỗ lực nào nhằm biến Tây Tạng thành một tỉnh của Đại Thanh.
Năm 1834, Đế quốc Sikh xâm lược và thôn tính Ladakh, một khu vực thuộc văn hóa Tây Tạng mà khi đó là một vương quốc độc lập. Bảy năm sau đó, một đội quân Sikh do tướng Zorawar Singh chỉ huy tiến vào xâm chiếm tây bộ Tây Tạng từ Ladakh, khởi đầu Chiến tranh Thanh-Sikh. Một đội quân Thanh-Tạng đẩy lui quân xâm lược song sau đó bị đánh bại khi truy kích quân Sikh đến Ladakh. Chiến tranh kết thúc với việc ký kết hòa ước giữa Thanh và Sikh.
Do triều Thanh suy yếu, thẩm quyền của họ đối với Tây Tạng cũng dần suy yếu theo; đến cuối thế kỷ 19, ảnh hưởng của triều Thanh còn lại khá ít (vì Thanh Triều bại trận sau Trung - Nhật chiến tranh 1895). Thẩm quyền của triều Thanh phần nhiều mang tính biểu tượng thay vì thực chất vào cuối thế kỷ 19, mặc dù trong thập niên 1890 người Tạng vì những lý do riêng vẫn tiếp tục lựa chọn việc nhấn mạnh thẩm quyền mang tính biểu tượng của triều Thanh và thể hiện rằng điều này có vẻ đáng kể.
Thời kỳ này, Tây Tạng cũng xuất hiện một số liên hệ với Dòng Tên và Dòng Phanxicô từ châu Âu, và vào năm 1774 một nhà quý tộc người Scotland là George Bogle đến Shigatse để dò xét tiềm năng thương mại cho Công ty Đông Ấn Anh. Thế kỷ 19, Đế quốc Anh xâm lấn từ miền Bắc Ấn Độ vào khu vực dãy Himalaya, Vương quốc Afghanistan và Đế quốc Nga khuếch trương ra Trung Á và họ nghi ngờ ý định của nhau đối với Tây Tạng.
Năm 1904, Anh xâm lược Tây Tạng do lo sợ rằng người Nga sẽ khuếch trương thế lực đến khu vực này, Anh hy vọng rằng việc đàm phán với Đạt-lại Lạt-ma thứ 13 sẽ có hiện quả hơn là với các đại diện của triều đình Bắc Kinh. Khi quân Anh tiến đến Tây Tạng, một cuộc đối đầu vũ trang giữa hai bên dẫn đến vụ thảm sát Chumik Shenko, sau đó Francis Younghusband áp đặt một hiệp định mà sau đó bị bãi bỏ, và được thay thế bởi Hiệp ước giữa Anh Quốc và Đại Thanh vào năm 1906.
Năm 1910, triều đình Thanh khiển Triệu Nhĩ Phong đem quân đến Tây Tạng để thiết lập quyền cai quản trực tiếp của triều đình và hạ chiếu phế bỏ Đạt-lại Lạt-ma 13- người chạy trốn sang Ấn Độ thuộc Anh. Triệu Nhĩ Phong đánh bại quân Tây Tạng và trục xuất lực lượng của Đạt-lại Lạt-ma khỏi Tây Tạng.
=== Thời Hậu Thanh ===
Sau Cách mạng Tân Hợi (1911–1912) lật đổ triều Thanh và các binh sĩ Thanh cuối cùng bị áp giải ra khỏi Tây Tạng, Trung Hoa Dân Quốc xin lỗi về các hành động của triều Thanh và quyết định khôi phục tước hiệu cho Đạt-lai Lạt-ma. Đạt-lai Lạt-ma từ chối bất kỳ tước hiệu nào của Trung Quốc, và ông tuyên bố cai trị một Tây Tạng độc lập. Năm 1913, Tây Tạng và Mông Cổ ký hiệp định công nhận lẫn nhau. Trong 36 năm sau đó, Đạt-lai Lạt-ma thứ 13 và các nhiếp chính kế tiếp ông cai quản Tây Tạng. Trong thời gian này, Tây Tạng giao chiến với các quân phiệt Trung Quốc để tranh quyền kiểm soát đối với các khu vực người Tạng tại Tây Khang và Thanh Hải (một phần của Kham và Amdo) dọc theo thượng du Trường Giang. Năm 1914, chính phủ Tây Tạng ký kết điều ước Simla với Anh Quốc, nhượng Nam Tây Tạng cho Ấn Độ thuộc Anh. Chính phủ Trung Quốc tuyên bố điều ước là bất hợp pháp.
Khi các nhiếp chính mắc các sơ suất trong việc cai quản vào thập niên 1930 và 1940, chính phủ Quốc dân của Trung Quốc nhân cơ hội này để khuếch trương phạm vi thế lực vào lãnh thổ Tây Tạng.
=== Từ năm 1950 đến nay ===
Sau Nội chiến Trung Quốc, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tiến hành "giải phóng hòa bình Tây Tạng" vào năm 1950 và dàn xếp "Thập thất điều hiệp nghị" với chính phủ của Đạt-lai Lạt-ma thứ 14 mới đăng cơ, khẳng định chủ quyền của Trung Quốc song trao cho Tây Tạng quyền tự trị khu vực. Sau đó, trên hành trình đi lưu vong, Đạt-lai Lạt-ma thứ 14 hoàn toàn bác bỏ hiệp nghị.
Sau khi chính phủ của Đạt-lai Lạt-ma chạy đến Dharamsala, Ấn Độ, trong Nổi dậy Tây Tạng 1959, họ thành lập một chính phủ lưu vong đối nghịch. Sau đó, chính phủ Bắc Kinh từ bỏ hiệp nghị và bắt đầu thực hiện các cải cách xã hội và chính trị từng bị tạm dừng. Trong Nạn đói lớn, có khoảng 200.000 đến 1.000.000 người Tây Tạng thiệt mạng, và xấp xỉ 6.000 tu viện bị phá hủy trong Cách mạng Văn hóa. Năm 1962, Trung Quốc và Ấn Độ giao chiến trong cuộc chiến ngắn ngủi do tranh chấp lãnh thổ. Mặc dù giành chiến thắng song các binh sĩ Trung Quốc vẫn rút về phía bắc của đường McMahon, Nam Tây Tạng vẫn thuộc quyền quản lý của Ấn Độ.
Năm 1980, Tổng bí thư Hồ Diệu Bang thăm Tây Tạng, và mở ra một giai đoạn tự do hóa xã hội, chính trị và kinh tế. Đến cuối thập niên, các tăng ni tại tu viện Drepung và Sera bắt đầu kháng nghị và yêu cầu độc lập, do vậy chính phủ Trung ương dừng việc cải cách lại và bắt đầu một chiến dịch chống ly khai.
== Địa lý ==
Bài chính: Địa lý Tây Tạng
Tây Tạng nằm trên cao nguyên Tây Tạng, cao trung bình trên 4200 m. Phần lớn dãy Himalaya nằm trong địa phận Tây Tạng. Đỉnh cao nhất của dãy núi này, đỉnh Everest, nằm trên biên giới với Nepal.
Khí hậu ở đây rất khô suốt 9 tháng trong năm. Có những dãy núi tuyết vĩnh cửu cao 5.000-7.000 m. Các hẻm núi phía tây nhận được một lượng nhỏ tuyết mỗi năm nhưng vẫn có thể dùng được quanh năm. Nhiệt độ thấp là chủ đạo trong khu vực này, trong đó sự hoang vắng lạnh lẽo đến tẻ nhạt bởi không có một loài cây nào ngoài một vài bụi cây rậm và thấp, và gió thổi ngang qua đồng bằng khô cằn mênh mông không hề bị cản trở. Gió mùa từ Ấn Độ Dương gây ra một số ảnh hưởng ở phía đông Tây Tạng. Phía bắc Tây Tạng có nhiệt độ cao trong mùa hè và lạnh khủng khiếp về mùa đông.
Tây Tạng trong lịch sử bao gồm các khu vực sau:
Amdo (a'mdo) ở phía đông bắc, được sát nhập vào các tỉnh Thanh Hải, Cam Túc và Tứ Xuyên của Trung Quốc.
Kham (khams) ở phía đông, một phần của Tứ Xuyên, bắc Vân Nam và một phần của Thanh Hải.
Tây Kham, một phần của Khu tự trị Tây Tạng.
U (dbus), ở trung tâm, một phần của Khu tự trị Tây Tạng.
Tsang (gtsang) ở phía tây, một phần của Khu tự trị Tây Tạng.
Văn hóa của người Tây Tạng ảnh hưởng rộng lớn tới các quốc gia láng giềng như Bhutan, Nepal, các khu vực kề sát của Ấn Độ như Sikkim và Ladakh, và các tỉnh kề bên của Trung Quốc mà ở đó Phật giáo Tây Tạng là tôn giáo chủ yếu.
Một số con sông chính có đầu nguồn ở Tây Tạng bao gồm:
Dương Tử
Hoàng Hà
Sông Ấn
Mê Kông
Brahmaputra
Sông Hằng
== Kinh tế ==
Kinh tế của Tây Tạng chủ yếu là nông nghiệp tự cung tự cấp. Vì hạn chế trong đất trồng trọt, chăn nuôi đã phát triển như ngành nghề chính. Trong những năm gần đây, du lịch đã trở thành một ngành quan trọng, và nó được xúc tiến một cách tích cực từ phía chính quyền. Tuyến đường sắt Thanh-Tạng (青藏铁路) được xây dựng để kết nối khu vực này với phần còn lại của Trung Quốc dài 1956 km nối tỉnh Thanh Hải với Tây Tạng được Chính phủ Trung Quốc tuyên bố hoàn thành vào ngày 15 tháng 10 năm 2005.
=== Tuyến đường sắt Thanh-Tạng ===
Từ ngày 1/7/2006, Trung Quốc chính thức đưa vào vận hành tuyến đường sắt cao nhất thế giới, nối thành phố Thanh Hải với vùng Tây Tạng hùng vĩ.
Tuyến đường sắt lên Tây Tạng là công trình xây dựng mang công nghệ phức tạp, với đường ray đặc biệt có khả năng ổn định trong điều kiện thời tiết vô cùng khắc nghiệt. Ga đầu của tuyến đường sắt nổi tiếng này là thành phố Golmud thuộc tỉnh Thanh Hải và ga cuối là thủ phủ Lhasa của Tây Tạng.
Các toa tàu được thiết kế như khoang máy bay để bảo vệ hành khách trước độ cao quá lớn, với điểm cao nhất của công trình lên tới 5.072 mét so với mặt nước biển. Không khí bên trong được điều hòa tự động để cân bằng tại những nơi thiếu dưỡng khí mà tàu chạy qua.
Trung Quốc tuyên bố tuyến đường sắt Thanh-Tạng có tổng chi phí xây dựng 4,2 tỷ USD và dài 1.140 km này là một kỳ tích vĩ đại về công nghệ, đem lại cơ hội phát triển to lớn cho một khu vực mênh mông hùng vĩ.
Chính phủ Trung Quốc đang có kế hoạch mở rộng tuyến đường sắt cao nhất thế giới vừa được khánh thành, nhằm đưa công trình được coi là kỳ tích xây dựng này vươn tới thành phố lớn thứ hai ở Tây Tạng sau Lhasa là Xigaze.
Thành phố Xigaze cao hơn mực nước biển 3.800 mét và nằm gần biên giới với Ấn Độ. Đây là nơi ngự trị truyền thống của Ban Thiền Lạt Ma, một trong những lãnh đạo tinh thần quan trọng của Phật giáo Tây Tạng.
Xigaze còn có cách viết khác là Shigatse có dân số 80.000 người. Vùng đất này tọa lạc tại nơi hợp lưu của hai dòng sông nổi tiếng về tâm linh là Yarlong Tsangpo và Nuangchu, ở phía tây của Khu tự trị Tây Tạng.
Theo Tân Hoa xã, tuyến đường sắt sẽ được kéo dài thêm 270 km từ Lhasa tới Xigaze và hoàn thành trong vòng 3 năm. Một quan chức địa phương là Yu Yungui nhấn mạnh: "Đường sắt sẽ tạo ra cơ hội lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội của Xigaze".
Tình trạng cách ly đặc biệt của Tây Tạng về địa lý khiến kinh tế vùng đất này nghèo nàn. Hệ thống giáo dục và tuổi thọ trung bình của người dân tại đây thấp hơn nhiều so với phần còn lại của Trung Quốc. Nhưng chính sự cách ly đó giúp bảo tồn nền văn hoá đặc trưng và lối sống không giống đâu trên thế giới này của Tây Tạng.
Sự xuất hiện của hệ thống đường sắt sẽ đem đến thay đổi dữ dội mà Bắc Kinh đánh giá là sẽ khai phá Tây Tạng, mang đến sự phồn vinh cho người dân địa phương. Nhưng những người chỉ trích công trình này thì cho rằng, nó sẽ là hồi chuông báo tử cho nền văn hoá đặc hữu của Tây Tạng.
Trước khi có đường sắt, chỉ có hai cách đến được với thủ phủ Lhasa. Đó là đáp một chuyến bay rất hao tiền để rồi dựng tóc gáy mỗi khi nó hạ cánh xuống Tây Tạng. Cách thứ hai là đi trên những chuyến xe buýt nêm chặt người và mất 3 ngày 3 đêm ròng rã trên những con đường núi nguy hiểm và tổn sức.
Nhưng rất nhiều chiếc xe như vậy cùng hành khách của nó đã kết thúc cuộc hành trình dưới một khe núi sâu nào đó có vô số trên đường.
Có nhiều ý kiến khác nhau về tác động của tuyến đường sắt đối với Tây Tạng. Nhiều người địa phương cho rằng: "Đó là một ý tưởng tốt. Nó sẽ giúp chúng tôi mang len ra thị trường dễ dàng hơn. Hiện chúng tôi phải thuê xe tải để chuyên chở, nhưng với tàu hoả nó sẽ rẻ và dễ hơn nhiều".
Tuy nhiên, các nhà môi trường học lại lo ngại về những ảnh hưởng của tuyến đường sắt đến con đường di trú của loài linh dương Tây Tạng quý hiếm. Họ cũng lo lắng cho một hệ sinh thái rất mong manh, mà một khi bị phá hỏng sẽ phải mất cả một thế hệ để sửa sai.
== Dân số ==
Theo dòng lịch sử, dân cư Tây Tạng chủ yếu là tộc người Tạng. Các tộc người khác ở Tây Tạng bao gồm người Menba (Monpa), người Lhoba, người Mông Cổ và người Hồi.
Việc đưa ra tỷ lệ người Trung Quốc gốc Hán ở Tây Tạng là một vấn đề chính trị nhạy cảm. Trong những năm từ thập niên 1960 đến thập niên 1980, nhiều tù nhân (trên 1 triệu, theo Harry Wu) đã được đưa vào các trại cải tạo ở Amdo (Thanh Hải) và họ đã ở lại sau khi được trả tự do. Từ những năm 1980, sự tự do hóa kinh tế ngày càng tăng và những thay đổi bên trong khu vực đã tạo ra một luồng di cư của nhiều người Hán tới Tây Tạng để tìm kiếm việc làm hay định cư, mặc dù con số thực của việc di cư dân số này vẫn là điều gây tranh cãi. Chính quyền Tây Tạng lưu vong ước tính con số này là 7,5 triệu (đối lại chỉ có 6 triệu người Tạng), coi điều này như là kết quả của chính sách tích cực trong việc làm mất bản sắc dân tộc của người Tạng và thu nhỏ bất kỳ cơ hội nào của về độc lập chính trị của Tây Tạng, và như thế đã vi phạm Công ước Geneva năm 1946 là ngăn cấm việc định cư của các lực lượng chiếm đóng. Chính quyền Tây Tạng lưu vong đặt dấu hỏi trên mọi con số thống kê được đưa ra bởi CHNDTH, bởi vì họ đã không tính đến các thành viên của Giải phóng quân nhân dân đồn trú ở Tây Tạng (hoặc gia đình họ), hoặc một lượng lớn dân di cư không đăng ký. Tuyến đường sắt Thanh-Tạng (Tây Ninh tới Lhasa) cũng là sự lo ngại lớn, vì họ cho rằng nó sẽ làm thuận tiện hơn cho việc di dân.
Tuy nhiên, chính phủ CHNDTH không nhận mình là lực lượng chiếm đóng và đã kịch liệt phản đối các luận điểm về mất bản sắc dân tộc. CHNDTH cũng không thừa nhận các biên giới của Tây Tạng như Chính quyền Tây Tạng lưu vong đã phát ngôn, cho rằng đó là âm mưu có tính toán nhằm tính cả những khu vực phi-Tạng mà những người không là người Tạng đã sống nhiều thế hệ (chẳng hạn như khu vực Tây Ninh và thung lũng Chaidam) để gia tăng nhận thức của người Tạng rằng lãnh thổ của người Tạng là lớn hơn Khu tự trị Tây Tạng hiện nay. Thống kê chính thức của CHNDTH thông báo rằng 92% dân số ở Khu tự trị Tây Tạng là tộc người Tạng, mặc dù tỷ lệ này thấp hơn một cách đáng kể so với những dữ liệu đối với Amdo và đông Kham, bởi vì người Trung Quốc gốc Hán không phân bổ đều trên toàn bộ Tây Tạng lịch sử. Trong khu tự trị Tây Tạng, phần lớn người Hán sống ở Lhasa. Các chính sách kiểm soát dân số như "mỗi gia đình chỉ có một con" chỉ áp dụng đối với người Hán, mà không áp dụng với các dân tộc thiểu số như người Tạng. CHNDTH nói rằng chính quyền đang cố gắng bảo vệ các văn hóa truyền thống Tây Tạng; họ cũng xây dựng tuyến đường sắt Thanh-Tạng, phục hồi cung điện Potala và nhiều dự án khác như là một phần của chiến lược Phát triển miền tây Trung Quốc, là một cố gắng to lớn và đắt tiền của phần miền đông giàu có hơn của Trung Quốc đối với Tây Tạng nhằm phát triển các khu vực miền tây nghèo hơn.
== Văn hóa-tôn giáo ==
Bài chính: Văn hóa Tây Tạng
Tây Tạng là trung tâm truyền thống của Phật giáo Tây Tạng, một dạng đặc biệt của Mật Tông (Vajrayana). Phật giáo đứng đầu trong các tôn giáo và mang đậm dấu ấn trong văn hóa ở Tây Tạng. Đây là nơi sinh ra Mật Tông. Một tông phái của Phật giáo với văn hóa và phong cách đa dạng như Quán Đảnh, Trì Chú cùng với các vị Đạt-Lai-Lạt-Ma (Phật sống) được nhiều người tôn thờ. Hiện nay, khu tự trị Tây Tạng tổng cộng có hơn 1700 chùa chiền tổ chức hoạt động Phật giáo Tây Tạng, có khoảng 46 nghìn tăng ni.
Phật giáo Tây Tạng không những chỉ được phổ biến ở Tây Tạng; nó còn là tôn giáo thịnh hành ở Mông Cổ và phổ biến mạnh trong tộc người Buryat ở miền nam Siberia. Tây Tạng cũng là quê hương của một tôn giáo nguyên thủy gọi là Bön (Bon). Hàng loạt các tiếng địa phương của tiếng Tạng được nói trên cả khu vực. Người Tạng viết bằng chữ Tạng.
Trong các thành phố Tây Tạng có các cộng đồng nhỏ người Hồi giáo, được biết đến như là Kachee (Kache), mà tổ tiên họ là những người di cư từ ba khu vực chính: Kashmir (đối với người Tây Tạng cổ là Kachee Yul), Ladakh và các nước của người Turk ở Trung Á. Ảnh hưởng của Hồi giáo ở Tây Tạng cũng đến từ Ba Tư. Ở đây cũng có các cộng đồng Hồi giáo Trung Quốc (gya kachee) mà tổ tiên của họ là dân tộc Hồi Trung Quốc. Người ta cho rằng những người Hồi giáo di cư từ Kashmir và Ladakh đã đến Tây Tạng vào khoảng thế kỷ 12. Dần dần các cuộc hôn nhân và các mối quan hệ xã hội đã dẫn đến sự tăng dân số thành cộng đồng đáng kể xung quanh Lhasa. Hiện Hồi giáo ở đây có 4 Thánh đường với số tín đồ theo đạo khoảng 3000 người.
Thiên Chúa giáo có 1 nhà thờ Thiên Chúa giáo với người theo đạo hơn 700 người.
Tây Tạng có nhiều danh lam thắng cảnh và một số phong tục tập quán lạ. Điển hình trong các phong tục là làm Mạn Đà La, tức là các vòng tròn bằng cát nhuộm màu để làm ra đủ loại hình thù hay và đẹp. Cung điện Potala, trước đây là nơi ở của các Đạt Lai Lạt Ma, là di sản thế giới.
== Xem thêm ==
Chính quyền Tây Tạng lưu vong
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
euro.txt | Euro (€; mã ISO: EUR, còn gọi là Âu kim hay Đồng tiền chung châu Âu) là đơn vị tiền tệ của Liên minh Tiền tệ châu Âu, là tiền tệ chính thức trong 18 quốc gia thành viên của Liên minh châu Âu (Áo, Bỉ, Bồ Đào Nha, Đức, Hà Lan, Hy Lạp, Ireland, Luxembourg, Pháp, Phần Lan, Tây Ban Nha, Ý, Slovenia, Malta, Cộng hòa Síp, Estonia, Latvia, Litva) và trong 6 nước và lãnh thổ không thuộc Liên minh châu Âu.
Vào ngày 1 tháng 1 năm 1999 tỷ lệ hối đoái giữa Euro và các đơn vị tiền tệ quốc gia được quy định không thể thay đổi và Euro trở thành tiền tệ chính thức. Việc phát hành đồng Euro rộng rãi đến người tiêu dùng bắt đầu từ ngày 1 tháng 1 năm 2002. Tiền giấy Euro giống nhau hoàn toàn trong tất cả các quốc gia. Tiền giấy Euro có mệnh giá 5 Euro, 10 Euro, 50 Euro, 100 Euro, 200 Euro và 500 Euro. Mặt trước có hình của một cửa sổ hay phần trước của một cánh cửa, mặt sau là một chiếc cầu. Các đồng tiền kim loại euro cùng một mệnh giá giống nhau ở mặt trước, nhưng có trang trí khác nhau ở mặt sau, đặc trưng cho từng quốc gia phát hành.
Euro có thể được phát âm như iu-rô hoặc ơ-rô, oi-rô, u-rô tùy từng nơi ở châu Âu và thế giới.
== Lịch sử ==
=== Dự án chính trị ===
Euro là tiền tệ thống nhất trong châu Âu có nguồn gốc từ thời kỳ đầu tiên của Liên minh châu Âu và trong lịch sử kinh tế toàn cầu. Một mặt việc hòa nhập kinh tế thông qua liên minh thuế quan 1968 đã có những bước tiến dài, mặt khác sự sụp đổ của hệ thống tỷ giá hối đoái Bretton Woods dẫn đến việc tỷ giá hối đoái dao động mạnh mà theo như cách nhìn của giới chính trị thì đã cản trở thương mại. Năm 1970 lần đầu tiên ý tưởng về một liên minh tiền tệ châu Âu được cụ thể hóa. Trong cái gọi là kế hoạch Werner, Thủ tướng Luxembourg, Pierre Werner, đã cùng nhiều chuyên gia soạn thảo một Liên minh Kinh tế và Tiền tệ châu Âu với tiền tệ thống nhất. Dự tính với mục đích thành lập liên minh này cho đến năm 1980 đã thất bại mà một trong những nguyên nhân là sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods. Thay vào đó Liên minh Tỷ giá hối đoái châu Âu được thành lập vào năm 1972 và sau đó là Hệ thống Tiền tệ châu Âu vào năm 1979. Hệ thống tiền tệ châu Âu có nhiệm vụ ngăn cản việc các tiền tệ quốc gia dao động quá mạnh. Đơn vị Tiền tệ châu Âu (tiếng Anh: European Currency Unit – ECU), một đơn vị thanh toán, ra đời vì mục đích này và có thể xem như là tiền thân của đồng Euro. Năm 1988 một ủy ban xem xét về liên minh kinh tế và tiền tệ dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Ủy ban châu Âu, Jacques Delors, đã soạn thảo cái gọi là báo cáo Delors, dự định thành lập Liên minh Kinh tế và Tiền tệ châu Âu qua 3 bước.
=== Đồng Euro hình thành ===
Bước đầu tiên bắt đầu vào ngày 1 tháng 7 năm 1990, việc lưu chuyển vốn được tự do hóa giữa các nước trong Liên minh châu Âu. Vào ngày 1 tháng 1 năm 1994 bước thứ hai bắt đầu: Viện Tiền tệ châu Âu, tiền thân của Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), được thành lập và tình trạng ngân sách quốc gia của các nước thành viên bắt đầu được xem xét. Ngoài ra, vào ngày 16 tháng 12 năm 1995 Hội đồng châu Âu tại Madrid (Tây Ban Nha) đã quyết định tên của loại tiền tệ mới: "Euro". Trước ngày này đã có nhiều tên khác được thảo luận: các "ứng cử viên" quan trọng nhất bao gồm Franc châu Âu, Krone châu Âu và Gulden châu Âu. Việc sử dụng tên một loại tiền tệ quen thuộc là nhằm vào mục đích phát ra tín hiệu của sự liên tục và củng cố niềm tin tưởng của quần chúng vào loại tiền tệ mới này, ngoài ra một vài thành viên cũng có thể tiếp tục giữ được tên tiền tệ của nước mình. Pháp thích "Ecu", tên của loại tiền tệ thanh toán cũ. Thế nhưng tất cả các đề nghị này đều thất bại vì một vài nước dè dặt. Để đối phó với tình thế này, tên "Euro" được Bộ trưởng Bộ Tài chính Đức, Theodor Waigel, đề nghị.
Ngày 13 tháng 12 năm 1996 các bộ trưởng Bộ Tài chính của EU đi đến thỏa thuận về Hiệp ước Ổn định và Tăng trưởng nhằm bảo đảm các nước thành viên giữ kỷ luật về ngân sách và qua đó bảo đảm giá trị của tiền tệ chung. Bước thứ ba của Liên minh Kinh tế và Tiền tệ châu Âu bắt đầu có hiệu lực cùng với cuộc họp của Hội đồng châu Âu từ ngày 1 tháng 5 đến ngày 3 tháng 5 năm 1998, xác định 11 quốc gia thành viên của Liên minh Kinh tế và Tiền tệ theo các tiêu chuẩn hội tụ được quy định trước. Ngày 19 tháng 6 năm 2000 Hội đồng châu Âu đi đến "nhận định là Hy Lạp đã đạt hội tụ bền vững ở mức độ cao và trên cơ sở này thỏa mãn các yêu cầu cần thiết để đưa tiền tệ chung vào sử dụng". Vì thế vào ngày 1 tháng 1 năm 2001 Hy Lạp gia nhập vào Liên minh Kinh tế và Tiền tệ châu Âu.
Vào ngày 1 tháng 1 năm 1999 tỷ lệ hối đoái giữa Euro và các đơn vị tiền tệ quốc gia được quy định không thể thay đổi và Euro trở thành tiền tệ chính thức. Ngay ngày hôm sau, ngày 2 tháng 1, các thị trường chứng khoán tại Milano (Ý), Paris (Pháp) và Frankfurt am Main (Đức) đã định giá tất cả các chứng khoán bằng Euro. Một thay đổi khác có liên quan với thời điểm đưa đồng Euro vào sử dụng là việc thay thế cách ghi giá cho ngoại tệ. Trước ngày đã định, việc ghi theo giá (1 USD = xxx DEM) là hình thức thông dụng. Từ ngày 1 tháng 1 năm 1999, trong mua bán ngoại tệ tại các nước thành viên, giá trị của ngoại tệ được ghi theo lượng (1 EUR = xxx USD). Thêm vào đó, từ ngày 1 tháng 1 năm 1999 có thể chuyển khoản bằng Euro (Tại Hy Lạp từ ngày 1 tháng 1 năm 2001). Các tài khoản và sổ tiết kiệm được phép ghi bằng Euro và tiền cũ. Cổ phiếu và các chứng khoán khác chỉ còn được phép mua bán bằng Euro. Việc phát hành đồng Euro đến người tiêu dùng bắt đầu vào ngày 1 tháng 1 năm 2002.
Trong một thời gian chuyển tiếp nhất định tùy thuộc vào từng quốc gia, kéo dài hoặc là đến hết tháng 2 năm 2002 hay đến hết tháng 6 năm 2002, đồng Euro và tiền quốc gia cũ tồn tại song song như là tiền tệ chính thức. Thời gian sau này các tiền quốc gia cũ không còn là tiền tệ chính thức nữa nhưng vẫn có thể được đổi lấy đồng Euro tại các ngân hàng quốc gia của các nước, tùy theo quy định của từng nước. Từ ngày 28 tháng 2 năm 2002 tại Đức quyền đổi đồng Mark Đức sang Euro không tốn lệ phí tại các ngân hàng trung ương tiểu bang là một điều được pháp luật quy định. Khác với một số nước thành viên khác, yêu cầu này tại Đức không có thời hạn. Mặc dầu có cơ chế đổi tiền không tốn lệ phí và đơn giản, trong tháng 5 năm 2005 vẫn còn lưu hành 3,72 tỉ Euro tiền kim loại Mark Đức. Tổng giá trị của tiền giấy chưa đổi thành tiền Euro ở vào khoảng 3,94 tỉ Euro. Theo nhận xét của Ngân hàng Liên bang Đức phần lớn số tiền này là tiền đã bị tiêu hủy hay đánh mất.
== Khu vực đồng Euro ==
Xem bài Khu vực đồng Euro
Ngoài 18 quốc gia trong Khu vực Liên minh châu Âu đã lưu hành và sử dụng chính thức đồng Euro, một số quốc gia khác đã tham gia vào Liên minh tiền tệ với thành viên trong khu vực và sử dụng đồng Euro như tiền tệ chính thức. Bên cạnh các thành viên chính thức, một số quốc gia hay địa phận khác cũng đã tự quyết định chọn Euro làm tiền tệ chuẩn (không có quyết định của EU). Thêm vào đó, nhiều quốc gia khác bắt đầu coi đồng Euro là một ngoại tệ quan trọng, thay chỗ cho đồng Đô la Mỹ.
Các thành viên EU như Đan Mạch, Estonia, Latvia, Litva, Malta, và Síp cam kết giữ tỷ giá tiền tệ của mình đối với đồng Euro trong khoảng dao động cho phép của Cơ chế Tỷ giá hối đoái II (ERM II). Các quốc gia Anh, Đan Mạch, Thụy Điển đã quyết định không dùng đồng Euro và vẫn giữ tiền tệ chính thức của quốc gia.
Các quốc gia Ba Lan, Cộng hòa Séc, Estonia, Hungary, Latvia, Litva, Malta, Slovakia, và Síp gia nhập EU năm 2004 chỉ có thể gia nhập vào Liên minh Kinh tế và Tiền tệ châu Âu sau khi thỏa mãn được các điều kiện hội tụ (qua 2 năm là thành viên của Cơ chế Tỷ giá hối đoái II và các điều kiện khác).
Các nước mới gia nhập EU vào ngày 1 tháng 1 năm 2007, Bulgaria, Romania có kế hoạch gia nhập Khu vực đồng Euro lần lượt vào các năm 2010 và 2011.
== Tác động kinh tế ==
Khi đưa đồng Euro vào lưu hành người ta hy vọng là thương mại và cộng tác kinh tế giữa các thành viên trong vùng Euro sẽ vững mạnh thêm vì các rủi ro về tỷ giá hối đoái và kèm theo đó là việc bảo hộ tiền tệ (tiếng Anh: currency hedging) của các doanh nghiệp châu Âu sẽ không còn tồn tại nữa. Người ta cũng đoán rằng việc này sẽ mang lại lợi thế cho người dân trong vùng Euro vì trong quá khứ thương mại là một trong những nguồn chính của tăng trưởng kinh tế. Thêm vào đó người ta cũng tin rằng giá cả của sản phẩm và dịch vụ sẽ không còn chênh lệch nhau nhiều nữa. Điều này dẫn đến cạnh tranh mạnh hơn giữa các doanh nghiệp và vì thế sẽ làm giảm lạm phát và tăng sức mua của người tiêu thụ.
Một số nhà kinh tế học bày tỏ lo ngại về những nguy hiểm của một đồng tiền tệ chung cho một vùng kinh tế không đồng nhất và rộng lớn như vùng Euro. Đặc biệt là khi các nền kinh tế phát triển không đồng bộ sẽ tạo khó khăn cho một chính sách tiền tệ thích ứng. Về mặt chính trị vẫn còn câu hỏi là liệu Ngân hàng Trung ương châu Âu và Ủy ban châu Âu có khả năng kiềm chế các nước thành viên giữ kỷ luật trong ngân sách quốc gia hay không. Trên thực tế, thời gian vừa qua dường như đã xác thực nỗi lo ngại này, ít nhất là trong trường hợp của nước Đức: Từ khi đưa đồng Euro vào lưu hành nước Đức chưa có năm nào đạt được điều kiện về thâm hụt ngân sách quốc gia (không được vượt quá 3% tổng sản phẩm quốc nội). Cho tới nay, các biện pháp trừng phạt thật ra là đã được quy định trước trong Hiệp ước Ổn định và Tăng trưởng đã không được Hội đồng các bộ trưởng Bộ Tài chính châu Âu áp dụng.
=== Tác động về lạm phát của đồng Euro ===
Nhiều người tiêu dùng nhận định là hàng hóa và dịch vụ đã tăng giá khi đồng Euro được đưa vào sử dụng. Tại Đức, một nguyên nhân là do một số nhà cung cấp hàng hóa và dịch vụ đã cố tình không dùng tỷ giá chính xác giữa đồng Mark Đức và Euro khi tính toán chuyển đổi và một phần khác, giá được nâng lên một ít trước khi đưa đồng Euro vào sử dụng để sau đó là thông qua tính toán tỷ giá chuyển đổi có thể "làm tròn số" giá bán. Tuy nhiên, theo như các thống kê chính thức thì giá tăng không đáng kể: Theo Statistik Austria (Tổng cục Thống kê Liên bang Áo), dựa trên chỉ số giá tiêu dùng, tỷ lệ lạm phát tăng trung bình ở Áo là 2,45% trong vòng 12 năm, từ 1987 đến 1998, trong khi đó tỷ lệ lạm phát trung bình giảm xuống còn 1,84% sau khi đưa đồng Euro vào lưu hành. Tại Đức, lạm phát trung bình đã giảm từ 2,60% (trước khi đưa đồng Euro vào sử dụng) xuống còn 1,29% sau đó.
Có nhiều lý thuyết giải thích sự khác nhau giữa lạm phát đã giảm theo tính toán thống kê và cảm nhận tăng lạm phát chủ quan. Thí dụ như người ta đã chỉ ra rằng các mặt hàng được mua hằng ngày như thực phẩm thật sự là đã tăng giá quá mức trung bình trong khi các mặt hàng khác trong giỏ hàng hóa thí dụ như các mặt hàng điện dân dụng tuy là được giảm giá nhưng sự giảm giá này không được cảm nhận vì các mặt hàng này hiếm được mua hơn.
=== Euro trong hệ thống tiền tệ toàn cầu ===
Theo một bản nghiên cứu của Ngân hàng Trung ương châu Âu tỷ lệ của đồng Euro trong dự trữ ngoại tệ trên toàn cầu tăng từ 13% trong năm 2001 lên 16,4% trong năm 2002 và đến 18,7% trong năm 2003, cũng trong cùng thời gian này tỷ lệ của đồng Đô la Mỹ giảm từ 68,3% (2001) xuống 67,5% (2002) và trong năm 2003 còn 64,5%. Nói chung người ta tin rằng tầm quan trọng của đồng Đô la Mỹ như là tiền tệ dự trữ thế giới sẽ tiếp tục giảm và đồng Euro sẽ ngày càng quan trọng hơn trong chức năng này. Tầm quan trọng ngày càng tăng của đồng Euro cũng thể hiện qua một khía cạnh khác: Trong năm 1999 21,7% tất cả các giấy nợ quốc tế được tính bằng Euro, trong năm 2001 là 27,4% và trong năm 2003 đã là 33%. Năm 2004 đồng Đô la Mỹ đã chấm dứt vai trò là tiền tệ quan trọng nhất cho các loại trái phiếu và công trái với lãi suất cố định và lãi suất thả nổi (tiếng Anh: Floating Rate Notes): Trong cuối tháng 9 năm 2004 có trên 12.000 tỷ đô la trái phiếu và công trái quốc tế lưu hành trên toàn thế giới. Trong đó có 5.400 tỉ là đồng Euro, 4.800 tỉ là đồng Đô la Mỹ, 880 tỷ đồng Bảng Anh, 500 tỉ tiền Yen và 200 tỉ là đồng Franc Thụy Sĩ. Tỷ lệ của đồng Đô la Mỹ trong tổng số tiền gửi tại các tài khoản của các quốc gia OPEC giảm từ 75% trong mùa hè 2001 xuống còn 61,5% trong mùa hè 2004. Tỷ lệ tiền Euro tăng trong cùng khoảng thời gian từ 12% lên 20%. Trong năm 2003 tỷ lệ mua bán Euro trên các thị trường ngoại tệ là 25% so với 50% của đồng Đô la Mỹ và 10% cho hai loại tiền Bảng Anh và Yen Nhật. Đồng Euro vì vậy là tiền tệ quan trọng đứng thứ nhì hiện thời.
== Tỷ giá hối đoái của đồng Euro ==
=== Tỷ giá hối đoái của các tiền tệ cũ so với Euro ===
Tỷ giá hối đoái của các tiền tệ chính thức của các quốc gia là thành viên của liên minh tiền tệ được quy định vào ngày 31 tháng 12 năm 1998 dựa trên cơ sở giá trị tính chuyển đổi của đồng ECU (European Currency Unit). Vì thế mà đồng Euro bắt đầu tồn tại như là tiền để thanh toán trong kế toán (chưa có tiền mặt): đồng Euro về mặt hình thức trở thành tiền tệ của các nước thành viên, các tiền tệ quốc gia có địa vị là một đơn vị dưới Euro và có tỷ giá cố định không đổi. Tỷ giá này được quy định bao gồm có 6 con số để giữ cho các sai sót làm tròn ít đi. Một đồng Euro tương ứng với:
1,95583 Mark Đức
13,7603 Schilling Áo
40,3399 Franc Bỉ
166,386 Peseta Tây Ban Nha
5,94573 Markkaa Phần Lan
6,55957 Franc Pháp
0,787564 Pound Ireland
1936,27 Lira Ý
40,3399 Franc Luxembourg
2,20371 Gulden Hà Lan
200,482 Escudo Bồ Đào Nha
340,750 Drachma Hy Lạp
Sau khi đồng Euro được sử dụng như là tiền dùng để thanh toán trong kế toán, các tiền tệ là thành viên chỉ được phép tính chuyển đổi với nhau thông qua đồng Euro, tức là trước tiên phải tính chuyển từ tiền tệ khởi điểm sang Euro và sau đấy từ Euro sang tiền tệ muốn chuyển đổi. Cho phép làm tròn số bắt đầu từ ba số sau dấu phẩy ở tiến Euro và tiền muốn chuyển đổi. Phương pháp này là quy định bắt buộc của Ủy ban châu Âu nhằm tránh các sai sót trong lúc làm tròn số có thể xuất hiện khi tính toán chuyển đổi trực tiếp.
=== Tỷ giá hối đoái EUR/USD ===
Có nhiều ý kiến khác nhau về tầm quan trọng kinh tế của một đồng Euro mạnh. Một mặt các nguyên liệu đa phần vẫn tiếp tục được mua bán bằng đồng Đô la Mỹ, vì thế mà một đồng Euro mạnh có tác dụng làm giảm giá các nguyên liệu. Mặt khác, giá đồng Euro cao sẽ làm cho xuất khẩu từ vùng Euro trở nên đắt và vì thế một đồng Euro có giá cao sẽ làm cho tăng trưởng kinh tế yếu đi trong một chừng mực nhất định. Vì vùng Euro rộng lớn nên tỷ giá hối đoái và các rủi ro về tỷ giá hối đoái do các tiền tệ dao động gây nên không còn có tầm quan trọng như trong thời kỳ còn các tiền tệ quốc gia nữa.
Việc đồng Euro liên tục bị xuống giá cho đến năm 2002 có thể là do đồng Euro không tồn tại trên thực tế như là tiền mặt, vì thế mà trong thời gian đầu đồng Euro đã bị đánh giá thấp hơn giá trị thực dựa trên những số liệu cơ bản. Các vấn đề về kinh tế trong Cộng đồng châu Âu đã đẩy mạnh thêm xu hướng này và làm cho việc đầu tư trong châu Âu không còn hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài nữa. Thật ra thì các triển vọng về kinh tế của châu Âu đã không tốt đẹp hơn từ thời điểm đó nhưng ngay sau khi tiền mặt được đưa vào lưu hành thì đồng Euro mà cho tới lúc đó là bị đánh giá dưới trị giá thật bắt đầu được đánh giá cao hơn. Có 3 nguyên nhân có thể giải thích cho điều này:
Thâm hụt cán cân thương mại và ngân sách quốc gia và kèm theo đó là tăng nợ của Mỹ.
Chuyển đổi trong dự trữ ngoại tệ của các quốc gia như Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật, Nga và các quốc gia khác.
Các nước xuất khẩu dầu mà trước tiên là Nga ngày càng sẵn sàng chấp nhận đồng Euro như là phương tiện thanh toán cho dầu mỏ.
== Ký hiệu tiền tệ, tiền đồng và tiền giấy ==
=== Mã tiền tệ ISO ===
Ký hiệu quốc tế bao gồm ba mẫu tự của đồng Euro (mã tiền tệ ISO) là EUR. Ký hiệu này là một trường hợp đặc biệt trong mã tiền tệ ISO vì nhiều lý do:Thông thường thì chữ cái đầu tiên của ký hiệu cho một loại tiền tệ được sử dụng trong khuôn khổ của một liên minh tiền tệ là chữ X. Vì thế ký hiệu nếu như theo như tiêu chuẩn phải là XEU. Nếu như chữ đầu tiên không phải là X thì hai mẫu tự đầu tiên là mã quốc gia theo ISO 3166. Ký hiệu EU dành cho Liên minh châu Âu cũng được định nghĩa trong tiêu chuẩn này nhưng thật ra là trường hợp đặc biệt vì Liên minh châu Âu không phải là một quốc gia có chủ quyền. Chữ cái cuối cùng của mã tiền tệ thường là chữ cái đầu tiên của tiền tệ. Không có ký hiệu chính thức và cũng không có cách viết tắt chính thức cho Cent (xu) của Euro.
=== Ký hiệu tiền tệ ===
Đọc bài chính về ký hiệu Euro
Dấu hiệu Euro được Ủy ban châu Âu đưa vào sử dụng như là ký hiệu của đồng tiền tệ cộng đồng châu Âu vào năm 1997. Ký hiệu này dựa trên cơ sở của phác thảo nghiên cứu năm 1974 của người trưởng đồ họa của Cộng đồng châu Âu, Arthur Eisenmenger. Ký hiệu này là một chữ E tròn và lớn có hai vạch nằm ngang €. Ký hiệu này gợi nhớ đến chữ epsilon của Hy Lạp và vì vậy là gợi nhớ đến châu Âu thời cổ điển. Hai vạch ngang tượng trưng cho sự bền vững của Euro và của vùng kinh tế châu Âu.
=== Tiền kim loại Euro ===
Đọc bài chính về tiền kim loại Euro
Các đồng tiền kim loại Euro có mặt trước hoàn toàn giống nhau trong tất cả các nước nhưng mặt sau là hình ảnh của từng quốc gia. Thế nhưng vẫn có thể trả bằng tiền kim loại trong khắp liên minh tiền tệ. Một euro được chia thành 100 cent, tại Hy Lạp thay vì cent người ta dùng lepto (số ít) hay lepta (số nhiều) trên các đồng tiền kim loại của Hy Lạp.
=== Tiền giấy Euro ===
Đọc bài chính về tiền giấy Euro
Tiền giấy Euro giống nhau hoàn toàn trong tất cả các nước. Tiền giấy Euro có mệnh giá 5 Euro, 10 Euro, 50 Euro, 100 Euro, 200 Euro và 500 Euro. Mặt trước có hình của một cửa sổ hay phần trước của một cánh cửa, mặt sau là một chiếc cầu. Đây không phải là hình ảnh của các công trình xây dựng có thật mà chỉ là đặc điểm của từng thời kỳ kiến trúc. Tiền giấy Euro do người Áo Robert Kalina tạo mẫu sau một cuộc thi đua trong toàn EU. Tiền giấy Euro có thể được theo dõi trên toàn thế giới qua dự án Eurobilltracker.
== Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng EUR ==
== Xem thêm ==
Đồng 2€ kỷ niệm
Đô la
Tiền Việt Nam
== Liên kết ngoài ==
Ngân hàng Trung ương Âu Châu
Liên đoàn Ngân hàng Âu Châu
Europedia: Guide to European policies and legislation
Euro - tiền giấy (tiếng Đức) (tiếng Anh) |
lễ cưới.txt | Lễ cưới hay đám cưới là một phong tục văn hóa trong hôn nhân nhằm thông báo rộng rãi về sự chấp nhận của xã hội và các bên thành hôn về cuộc hôn nhân. Với ý nghĩa này, lễ này còn gọi là lễ thành hôn.
== Việt Nam ==
Trước đây, người Việt gọi lễ này là lễ rước dâu. Ngày nay, trong ngôn từ của đời sống thường ngày, người ta gọi lễ này là lễ cưới, hôn lễ. Đây là hình thức liên hoan, mừng hạnh phúc cô dâu, chú rể và hai gia đình. Đây là nghi lễ được một số xã hội quan tâm và thường chỉ được tổ chức sau khi đã được chính quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Trong tâm thức người Việt thì lễ cưới có giá trị cao hơn cả giấy chứng nhận đăng ký kết hôn. Sự quan tâm lớn của xã hội vào buổi lễ này đôi khi gây sức ép lên những người tổ chức: họ phải đảm bảo để có thể làm hài lòng nhiều người tham dự.
Lễ cưới của người Việt có nhiều thủ tục gồm:
Lễ xin dâu/chạm ngõ
Lễ rước dâu
Tiệc cưới
Lại mặt
Lễ cưới của người Việt thường phải xem ngày tốt để tiến hành các thủ tục như ngày tổ chức, ngày rước dâu về nhà chồng. Đây là một sự tin tưởng chuyện vui được cử hành ngày lành tháng tốt thì sẽ mang đến hạnh phúc và bình an cho cô dâu, chú rễ. Họ nhà trai sẽ phải chuẩn bị đầy đủ lễ vật(như là bánh phu thê, rượu, trầu cau, trái cây,...) và sang họ nhà gái đúng ngày giờ đã xem. Các thủ tục như cha mẹ chú rễ sẽ nói lời để xin con dâu với họ nhà gái, cô dâu -chú rễ lạy bàn thờ tổ tiên, mời rượu cha mẹ hai bên và cha mẹ, họ hàng, anh chị em thân thiết có thể tặng quà mừng cho đôi vợ chồng mới cưới vào lúc này,...sẽ được tiến hành trước khi rước dâu về nhà chồng. Lễ cưới cũng có thể được tổ chức tại nhà thờ (dành cho những gia đình theo đạo Công giáo Rôma) hay tại chùa (cho những gia đình Phật giáo).
Cũng đã có những nỗ lực nhằm sáng tạo một biểu trưng cưới hỏi ở Việt Nam như đôi chim bồ câu, quả cau lá trầu, song biểu trưng thường gặp, cô đúc nhất về ngữ nghĩa trong lễ cưới ở Việt Nam xưa nay vẫn là chữ song hỷ. Đây là biểu trưng xuất xứ từ phong tục cưới hỏi Trung Quốc, với ý nghĩa trước kia thể hiện hai niềm vui lớn: đại đăng khoa (thi đỗ làm quan) và tiểu đăng khoa (cưới vợ), nay song hỷ biểu thị niềm vui chung của hai họ. Nhiều người Việt không hiểu chữ Hán nhưng khi nhìn vào chữ này cũng biết những nơi dán biểu trưng này đang có đám cưới. Cũng co 1 thể dùng chữ Tân hôn (cho nhà trai) hay Vu quy (cho nhà gái).
Trong lễ cưới Việt Nam, thông thường sẽ có một bữa tiệc được tổ chức ở nhà hàng hoặc tại gia để mời bạn bè đến chung vui. Những người tham dự thường đem tặng các đồ mừng đám cưới hoặc tiền mừng. Quà cưới thường trang trọng, được bọc giấy điều, tiền có thể được bỏ vào bì thư đỏ. Trong đám cưới, ban lễ tân (thường là người thân) đứng ra nhận quà mừng. Có những đám cưới tổ chức tiệc trà, đơn giản hơn tiệc cưới thông thường, có ý không yêu cầu người tham dự mang quà mừng.
Trong cuộc sống hiện đại, nhiều đôi dâu rể còn thường chụp ảnh kỷ niệm trước lễ cưới tại các ảnh viện hoặc chụp ngoại cảnh. Trong đám cưới thì thường chụp ảnh và quay phim. Và sau lễ cưới thì đôi vợ chồng trẻ có thể đi hưởng tuần trăng mặt (đây là một hình thức được du nhập từ nước ngoài vào).
== Người Hoa ==
Lễ cưới người Hoa cũng phức tạp và nhiều nghi Lễ. Theo nghi thức truyền thống thì cô dâu va chú rể sẽ che mặt bằng khăn màu đỏ, đeo bông. Được mang kiệu rước đi, sau đó làm lễ bái đường để chính thức trở thành vợ chồng. Nghi lễ gồm: Nhất bái thiên địa, nhị bái cao đường, phu thê giao bái. Và cuối cùng là đưa vào động phòng. Chú rễ sẽ giở khăn che mặt của cô dâu và động phòng.
== Phương Tây ==
Đám cưới truyền thống của phương Tây thông thường tổ chức tại nhà thờ có sự chứng kiến của người thân, bạn bè và một linh mục. Thông thường những cặp cô dâu, chú rễ lần đầu làm đám cưới thì sẽ theo nghi thức này (vì do lời thề chung sống trọn đời, nên những người tái hôn sẽ không làm lễ ở nhà thờ nữa). Theo nghi lễ, chú rể và cô dâu (thường cầm theo bó hoa) sẽ dắt tay nhau vào nhà thờ và thề trước người cha xứ. Người cha xứ sẽ tuần tự hỏi từng người: Con có đồng ý lấy anh ấy/cô ấy không? có trọn đời yêu thương, chung thủy với anh ấy/cô ấy không?. Sau khi hai người trả lời "Con đồng ý" thì người cha tuyên bố từ nay hai người là vợ chồng. Sau đó chú rể trao nhẫn cưới và cả hai trao nhau nụ hôn trước tràng vỗ tay của mọi người.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Wedding ceremonies tại Wikimedia Commons |
di sản thế giới.txt | Di sản thế giới là di chỉ, di tích hay danh thắng của một quốc gia như rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc hay thành phố... do các nước có tham gia Công ước Di sản thế giới đề cử cho Ủy ban Di sản thế giới, được công nhận và quản lý bởi UNESCO. Sau đó UNESCO sẽ lập danh mục, đặt tên và bảo tồn những vị trí nổi bật về văn hóa hay đặc điểm tự nhiên cho di sản nhân loại chung. Những vị trí được đưa vào danh sách di sản thế giới có thể được nhận tiền từ Quỹ Di sản thế giới theo một số điều kiện nào đó. Ủy ban này được thành lập bởi Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, gọi tắt là Công ước Di sản thế giới, nó được Đại hội đồng UNESCO chấp nhận ngày 16 tháng 11 năm 1972. Trong hệ thống các danh hiệu của UNESCO, di sản thế giới là danh hiệu danh giá nhất và lâu đời nhất.
== Tổng quan ==
Một Di sản thế giới do Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc (viết tắt là UNESCO) công nhận là địa điểm hoặc những địa điểm có chung đặc điểm. Các địa điểm này có thể là rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, tòa nhà, quần thể kiến trúc hay thành phố... do các nước có tham gia Công ước Di sản thế giới đề cử cho Ủy ban Di sản thế giới, được công nhận bởi những giá trị văn hóa hay ý nghĩa vật lý đặc biệt và quản lý bởi Ủy ban Di sản thế giới của UNESCO. Ủy ban này bao gồm 21 quốc gia tham gia ký kết và phê chuẩn Công ước Di sản thế giới. Tính đến nay, có 190 quốc gia thành viên. Chỉ có Bahamas, Liechtenstein, Nauru, Somalia, Nam Sudan, Đông Timor và Tuvalu không là thành viên của Công ước. Đại hội đồng Quốc gia thành viên với nhiệm kỳ 4 năm một lần có nhiệm vụ thảo luận về việc quản lý các di sản thế giới đã được công nhận, đồng thời xem xét việc chấp nhận một di sản mới được đề cử từ các quốc gia thành viên.
Ủy ban Di sản thế giới sẽ lập danh mục, đặt tên và bảo tồn những vị trí nổi bật về văn hóa hay đặc điểm tự nhiên cho di sản nhân loại chung. Những vị trí được đưa vào danh sách di sản thế giới có thể được nhận tiền từ Quỹ Di sản thế giới theo một số điều kiện nào đó. Ủy ban này được thành lập bởi Công ước về Bảo vệ di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, gọi tắt là Công ước Di sản thế giới, nó được Đại hội đồng UNESCO chấp nhận ngày 16 tháng 11 năm 1972.
Tính đến năm 2016, có tất cả 1052 di sản được liệt kê, trong đó có 814 di sản về văn hóa, 203 di sản về những khu thiên nhiên và 35 di sản thuộc cả hai loại. Các di sản đó hiện diện tại 165 quốc gia. Ý là quốc gia có số lượng di sản thế giới được công nhận nhiều nhất với 50 di sản, tiếp theo là Trung Quốc có 47 di sản và Tây Ban Nha với 44 di sản. Tài liệu tham khảo tại trang web chính thức của UNESCO, mỗi một di sản thế giới được xác xác định bằng mã số ký hiệu riêng tạo thành một trang nhỏ riêng biệt, có những địa điểm trước đó đã từng được liệt kê và đề cử danh sách nhưng thất bại. Kết quả là, mã số ký hiệu đã vượt quá con số 1.200 mặc dù số lượng di sản thế giới trong danh sách là ít hơn.
Tuy di sản thế giới vẫn là một phần của lãnh thổ quốc gia đó nhưng UNESCO xem xét nó trên mối quan tâm của cộng đồng quốc tế để bảo vệ chúng trước những tác động có thể gây ra.
== Lịch sử ==
Năm 1954, chính phủ Ai Cập quyết định xây dựng đập Aswan (đập Aswan trên), một sự kiện sẽ khiến một thung lũng có chứa những kho báu vô giá của Ai Cập cổ đại như các ngôi đền Abu Simbel bị nhấn chìm trong biển nước. UNESCO sau đó đã phát động một chiến dịch bảo vệ các di tích này trên toàn thế giới. Abu Simbel và ngôi đền Philae đã được tháo rời, di chuyển đến một vị trí cao hơn, và xếp lại với nhau từng khối đá một, trong khi ngôi đền Dendur đã được chuyển đến thành phố New York còn các đền thờ của Debod đã được chuyển đến Madrid.
Chi phí của dự án là 80 triệu USD, trong đó khoảng 40 triệu USD được vận động đóng góp từ 50 quốc gia. Dự án được coi là một thành công, và là nền tảng cho các chiến dịch bảo vệ khác, như Venice và vùng đầm phá ở Ý, tàn tích Mohenjo-daro ở Pakistan, và đền Borobudur ở Indonesia. UNESCO sau đó thành lập Hội đồng Di tích và Di chỉ Quốc tế, cùng với một dự thảo quy ước bảo vệ di sản văn hóa chung của nhân loại.
Mỹ là quốc gia đầu tiên khởi xướng ý tưởng về bảo tồn văn hóa và thiên nhiên. Một hội nghị tại Nhà Trắng vào năm 1965 nhằm bảo tồn các khu vực tự nhiên tuyệt đẹp trên thế giới, danh lam thắng cảnh và các di tích lịch sử. Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên tổ chức một hội nghị tương tự vào năm 1968 và vào năm 1972 tại hội nghị Liên hợp quốc về Con người và Môi trường tại Stockholm. Theo Ủy ban Di sản thế giới, các nước ký kết được yêu cầu cung cấp dữ liệu và báo cáo định kỳ cho Ủy ban Di sản thế giới tổng quan về việc thực hiện của mỗi quốc gia tham gia Công ước Di sản thế giới và một "bản chụp hình ảnh" điều kiện hiện tại của các Di sản thế giới đã được công nhận.
Một văn bản duy nhất được thống nhất giữa tất cả các quốc gia tham gia, và Công ước liên quan đến bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới đã được thông qua bởi Đại hội đồng UNESCO vào ngày 16 tháng 11 năm 1972.
== Định nghĩa ==
=== Di sản văn hóa ===
Theo Công ước Di sản thế giới thì di sản văn hóa là:
Các di tích: Các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc và hội họa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở trong hang đá và các công trình sự kết hợp giữa công trình xây dựng tách biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chúng, do tính đồng nhất hoặc vị trí trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật và khoa học.
Các di chỉ: Các tác phẩm do con người tạo nên hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học.
=== Di sản thiên nhiên ===
Theo Công ước Di sản thế giới thì di sản thiên nhiên là:
Các đặc điểm tự nhiên bao gồm các hoạt động sáng tạo vật lý hoặc sinh học hoặc các nhóm các hoạt động kiến tạo có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm thẩm mỹ hoặc khoa học.
Các hoạt động kiến tạo địa chất hoặc địa lý tự nhiên và các khu vực có ranh giới được xác định chính xác tạo thành một môi trường sống của các loài động thực vật đang bị đe dọa có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn.
Các địa điểm tự nhiên hoặc các vùng tự nhiên được phân định rõ ràng, có giá trị nổi bật toàn cầu về mặt khoa học, bảo tồn hoặc thẩm mỹ.
=== Di sản hỗn hợp ===
Năm 1992, Ủy ban Di sản thế giới đưa ra khái niệm di sản hỗn hợp hay còn gọi là di sản kép, cảnh quan văn hóa thế giới để miêu tả các mối quan hệ tương hỗ nổi bật giữa văn hóa và thiên nhiên của một số khu di sản. Một địa danh được công nhận là di sản thế giới hỗn hợp phải thỏa mãn ít nhất là một tiêu chí về di sản văn hóa và một tiêu chí về di sản thiên nhiên.
== Tiêu chuẩn ==
Để được ghi vào danh sách Di sản thế giới của UNESCO, một tài sản phải đáp ứng các tiêu chuẩn về văn hoá hoặc thiên nhiên theo Công ước Di sản thế giới đã được Ủy ban về Di sản thế giới của UNESCO duyệt lại.
Một di tích văn hóa phải xác thực, có ảnh hưởng sâu rộng hoặc có bằng chứng độc đáo đối với sự phát triển của nghệ thuật kiến trúc, hoặc di tích đó phải gắn liền với tư tưởng hay tín ngưỡng có ý nghĩa phổ biến, hoặc là điển hình nổi bật của một lối sống truyền thống đại diện cho một nền văn hóa nào đó.
Một di chỉ thiên nhiên có thể điển hình cho một giai đoạn, các quá trình tiến hóa địa cầu, hoặc cho những biến đổi sinh thái học, hoặc bao gồm những vùng cư trú tự nhiên các Loài cực kỳ nguy cấp. Di chỉ thiên nhiên có thể là một khung cảnh đẹp khác thường, một cảnh quan ngoạn mục, hoặc là một khu bảo tồn số lượng lớn các động vật hoang dã.
Cho đến cuối năm 2004, có 6 tiêu chí cho di sản văn hóa và 4 tiêu chí cho di sản thiên nhiên. Đến năm 2005, điều này đã được sửa đổi để chỉ có một bộ 10 tiêu chí, trong đó 6 tiêu chí đầu thuộc về di sản văn hóa, còn các tiêu chí 7 đến 10 thuộc về di sản thiên nhiên.
Tiêu chuẩn văn hóa
(I) - là một tuyệt tác về tài năng sáng tạo của con người.
(II) - Thể hiện một sự giao lưu quan trọng giữa các giá trị của nhân loại, trong một khoảng thời gian hoặc trong phạm vi một vùng văn hoá của thế giới, về các bước phát triển trong kiến trúc hoặc công nghệ, nghệ thuật tạo hình, quy hoạch đô thị hoặc thiết kế cảnh quan.
(III) - Là một bằng chứng độc đáo hoặc duy nhất hoặc ít ra cũng là một bằng chứng đặc biệt về một truyền thống văn hoá hay một nền văn minh đang tồn tại hoặc đã biến mất.
(IV) - Là một ví dụ nổi bật về một kiểu kiến trúc xây dựng hoặc một quần thể kiến trúc cảnh quan minh hoạ cho một hay nhiều giai đoạn có ý nghĩa trong lịch sử nhân loại.
(V) - Là một ví dụ tiêu biểu về sự định cư của con người hoặc một sự chiếm đóng lãnh thổ mang tính truyền thống và tiêu biểu cho một hoặc nhiều nền văn hóa, nhất là khi nó trở nên dễ bị tổn thương dưới tác động của những biến động không thể đảo ngược được.
(VI) - Gắn bó trực tiếp hoặc cụ thể với những sự kiện hoặc truyền thống sinh hoạt với các ý tưởng, hoặc các tín ngưỡng, các tác phẩm văn học nghệ thuật có ý nghĩa nổi bật toàn cầu. (tiêu chuẩn này chỉ duy nhất được sử dụng trong những trường hợp đặc biệt và áp dụng đồng thời với các tiêu chuẩn khác)
Tiêu chuẩn tự nhiên
(VII) - Chứa đựng các hiện tượng, địa điểm tự nhiên hết sức nổi bật hoặc các khu vực có vẻ đẹp tự nhiên độc đáo và tầm quan trọng về thẩm mỹ.
(VIII) - Là những ví dụ nổi bật đại diện cho những giai đoạn lớn trong lịch sử của Trái Đất, trong đó có lịch sử về sự sống, các quá trình địa chất quan trọng đang tiếp diễn trong sự phát triển của các địa mạo, hoặc các đặc điểm quan trọng về địa chất hoặc địa lý tự nhiên.
(IX) - Là những ví dụ tiêu biểu cho quá trình sinh thái và sinh học đang tiếp diễn trong quá trình tiến hoá và phát triển của các dạng địa hình, vùng nước ngọt, biển và ven biển và các quần xã động vật, thực vật.
(X) - Là những nơi cư trú tự nhiên quan trọng nhất và tiêu biểu nhất, mang giá trị bảo tồn nguyên trạng sự đa dạng sinh học, trong đó có những môi trường sống chứa đựng những loài động vật hoặc thực vật đang bị đe dọa, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm khoa học hoặc bảo tồn.
Tính toàn vẹn
Ngoài các tiêu chuẩn như trên, những địa điểm đó còn phải đáp ứng về tính toàn vẹn được quy định dưới đây:
Những địa điểm mô tả ở tiêu chuẩn (VII) phải bao gồm toàn bộ hoặc phần lớn những thành phần chủ yếu liên quan với nhau và phụ thuộc lẫn nhau trong mối quan hệ tự nhiên; chẳng hạn như thuộc "thời kỳ đóng băng" thì phải bao gồm bãi tuyết, sóng băng cũng như các dạng điển hình của xói mòn do sóng băng, các trầm tích và các di thực thực vật (các vết băng tích, giai đoạn diễn thế của thực vật)
Những địa điểm mô tả ở mục (VIII) phải khá rộng lớn và bao gồm những thành phần cần thiết cho việc minh họa những khía cạnh chủ yếu của địa danh đó. Vì thế, một miền rừng nhiệt đới ẩm thì phải có một số độ cao khác nhau so với mực nước biển, có sự biến đổi địa hình, loại đất, bờ sông, nhánh sông để minh họa cho sự đa dạng và phức tạp.
Những địa điểm mô tả ở mục (IX) phải bao gồm những thành phần của hệ sinh thái cần thiết cho sự bảo tồn của các loài, hay là sự nối tiếp các quá trình hoặc thành phần thiên nhiên cần được bảo tồn, Nhữg thành phần thay đổi tùy từng trường hợp như khu vực được bảo vệ của một thác nước phải bao gồm toàn bộ hoặc đại bộ phận khu vực cung cấp nước cho nó về phía thượng lưu hoặc một địa điểm ám tiêu san hô thì phải bao gồm các khu vực bảo vệ chống lại sự bồi lấp hay gây nhiễm mà các dòng sông đổ ra, các dòng đại dương có thể gây ảnh hưởng tới quá trình cung cấp dinh dưỡng cho ám tiêu san hô.
Những địa điểm chứa đựng những loài bị đe dọa nhưng các loài được mô tả trong tiêu chuẩn (X) phải khá rộng lớn, bao gồm những yếu tố về nơi trú ẩn cần thiết cho sự sống của các cá thể loài tồn tại.
Trường hợp đối với các loài di cư, những vùng cư trú theo mùa cần thiết cho sự tồn tại các loài, bất kể chúng ở đâu tới phải được bảo vệ thích đáng. Ủy ban Di sản thế giới phải đảm bảo bằng các biện pháp cần thiết để bảo vệ các loài suốt chu kỳ sống của chúng. Việc này được thỏa thuận thông qua việc tham gia Công ước quốc tế hoặc dưới hình thức thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên.
Mỗi địa điểm tự nhiên phải được đánh giá một cách tương đối, nghĩa là phải được so sánh với những địa điểm khác cùng loại, cả trong và ngoài quốc gia chủ quyền của địa danh đó, thuộc cùng một vùng địa lý sinh vật hay trên cùng một đường di trú.
== Biểu tượng Di sản thế giới ==
Những di sản được xếp trong danh mục. Di sản thế giới sẽ được gắn biển đồng có biểu tượng của Di sản thế giới và được hưởng các quy chế đặc biệt của Công ước quốc tế về bảo tồn các di sản cũng như của Quỹ Di sản thế giới.
Biểu tượng Di sản thế giới là một hình vuông nội tiếp trong một hình tròn nối liền. Trong đó, hình vuông là biểu hiện kiệt tác do loài người sáng tạo còn hình tròn biểu hiện cho thiên nhiên và cũng là Trái Đất, nó thể hiện thái độ trân trọng bảo vệ các di sản của nhân loại. Hình vuông và hình tròn nối liền nhau thể hiện sự hài hòa và thống nhất.
== Danh sách các di sản thế giới ==
=== Khái quát ===
== UNESCO cố gắng tôn trọng sự cân bằng giữa các châu lục trong vấn đề di sản thế giới. Ban đầu, châu Âu chiếm số đông hơn, nhưng những di sản tự nhiên đã góp phần điều hòa sự cân bằng về mặt địa lý. Năm 2016, thế giới có 1052 di sản trên 165 quốc gia: 814 về văn hóa, 203 tự nhiên và 35 di sản hỗn hợp (tự nhiên và văn hóa). Những di sản này được xếp theo 5 vùng địa lý, trong đó México mặc dù thuộc Bắc Mỹ nhưng các di sản được xếp vào Mỹ Latinh và Caribe. Vùng hoang dã ở Tasmania của Úc và Thái Sơn của Trung Quốc là 2 di sản thế giới kép đáp ứng nhiều tiêu chuẩn nhất với 7/10 tiêu chuẩn. ==
Châu Phi
Các nước Ả Rập: bao gồm Bắc Phi và Trung Đông
Châu Á - Thái Bình Dương: bao gồm cả Úc và Châu Đại Dương
Châu Âu và Bắc Mỹ
Mỹ Latinh và Caribe
Nga và các nước Kavkaz được xếp vào khu vực châu Âu và Bắc Mỹ
=== Danh sách cụ thể ===
Danh sách dưới đây được xếp theo 4 khu vực địa lý là các châu lục, các di sản tại Thổ Nhĩ Kỳ và Nga được xếp vào châu Âu (kể cả các di sản thuộc phần lãnh thổ châu Á), còn di sản tại Bắc Mỹ được xếp vào châu Mỹ Latinh và Caribê. Các di sản tại thuộc địa và vùng lãnh thổ hải ngoại thì vẫn xếp theo quốc gia đề cử và chính quốc. Các nước Ả rập bao gồm một số quốc gia thuộc châu Phi và một số quốc gia thuộc Trung Đông được xếp vào khu vực châu Á và châu Đại Dương.
Danh sách di sản thế giới tại châu Á và châu Đại Dương
Danh sách di sản thế giới tại châu Âu
Danh sách di sản thế giới tại châu Mỹ
Danh sách di sản thế giới tại châu Phi
== Di sản thế giới trong tình trạng nguy hiểm ==
Khi một di sản văn hóa hay thiên nhiên có nguy cơ tiêu vong hay hủy hoại nặng nề do bị xuống cấp mạnh bởi các nguyên nhân như: phát triển kinh tế, xã hội, các nguyên nhân tự nhiên (thiên tai, lũ lụt, động đất, độ ẩm cao, quá nóng v.v) thì di sản đó sẽ được ghi vào danh mục "Những di sản trong tình trạng nguy hiểm" để cảnh báo quốc gia, vùng lãnh thổ có di sản đó phải có các biện pháp bảo tồn khẩn cấp cũng như để Ủy ban Di sản thế giới cung cấp các sự hỗ trợ cần thiết về kinh phí, kỹ thuật v.v từ Quỹ Di sản thế giới để bảo tồn các di sản đó.
Trong danh sách năm 2013 có 44 di sản thế giới của 31 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp vào danh mục "Những di sản trong tình trạng nguy hiểm" theo quy định tại Điều 11 (4) của Công ước Di sản thế giới..
== Di sản thế giới tại Việt Nam ==
Hiện tại, Việt Nam đã có 8 di tích được UNESCO công nhận là Di sản thế giới gồm:
2 Di sản thiên nhiên thế giới:
Vịnh Hạ Long, được công nhận năm 1994 theo tiêu chí (vii) và năm 2000 theo tiêu chí (viii).
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng, năm 2003, là di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chí (viii) và năm 2015 theo tiêu chí (ix), (x)
5 Di sản văn hóa thế giới gồm:
Quần thể di tích Cố đô Huế, năm 1993, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (iv).
Phố cổ Hội An, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (ii) (v).
Thánh địa Mỹ Sơn, năm 1999, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (ii) (iii).
Khu di tích trung tâm Hoàng thành Thăng Long, năm 2010, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (ii) (iii) và (vi).
Thành nhà Hồ, năm 2011, là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí (ii) và (iv)
1 Di sản thế giới hỗn hợp:
Quần thể danh thắng Tràng An, năm 2014, theo các tiêu chí (vii) và (viii) của một di sản thiên nhiên thế giới và tiêu chí (v) của một di sản văn hóa thế giới.
== Xem thêm ==
Di sản thế giới tại Việt Nam
Khu dự trữ sinh quyển thế giới
Di sản tư liệu thế giới
Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tiếng Anh
Di sản thế giới UNESCO – website chính
Danh sách chính thức các di sản thế giới UNESCO
Các tiêu chuẩn chính xác cho những di sản thế giới
Tiếng Việt
UNESCO và việc bảo vệ văn hóa phi vật thể |
vương quốc bosporos.txt | Vương quốc Bosporos hay Vương quốc của Cimmerian Bosporus là một quốc gia cổ xưa nằm ở phía Đông Crimea và bán đảo Taman trên bờ của Cimmerian Bosporus (xem Eo biển Kerch). Có một điều đáng chú ý là nó thực sự là một thành bang "Hy lạp hóa" đầu tiên-một hỗn hợp dân tộc trong đó dân số đa số sử dụng tiếng Hy lạp và văn minh Hy lạp.
Vương quốc Bosporos là một tỉnh La Mã vào 63-68 SCn, dưới thời hoàng đế Nero. Thế kỷ 1-2 SCN giai đoạn của một thời đại hoàng kim mới của nhà nước Bosporos.
Sự thịnh vượng của Vương quốc Bosporos đã dựa trên xuất khẩu lúa mì, cá và nô lệ.
== Thuộc địa Hy lạp thời kì đầu ==
Toàn bộ vùng nằm rải rác là các thành phố Hy lạp bao gồm: ở phía tây là Panticapaeum (Kerch), lãnh đạo của tất cả, thường tự gọi là Bosporus, Nymphaeum và Myrmekion; nằm về phía đông là Phanagoria (thủ đô thứ 2), Cepoi, Germonassa, Portus Sindicus, Gorgippia. Hầu hết các thuộc địa Hy lạp đều được thành lập bởi người Milesians, Panticapaeum trong tk 7 hoặc sớm trong thế kỷ 6TCN.Nhưng Phanagoria (c. 540 TCN) là một thuộc địa của Teos, Nymphaeum đã có những mối quan hệ với Athen-ít nhất nó xuất hiện với tư cách là thành viên của liên minh Delios.
== Các vị vua Cimmerian Bosporus ==
Xem thêm:các vị vua Cimmerian Bosporus
Theo Diodorus Siculus (xii. 31) vùng đất này đã được cai quản bởi một dòng họ gọi là Archaeanactidae, có thể là một gia đình cầm quyền, những người đã đem dâng vùng đất này cho bạo chúa Spartocus(438 TCN - 431 TCN), rõ ràng là một người Thrace.Ông ta đã thành lập một triều đại mà đã tồn tại tới khoảng năm 110 TCN.Các Spartocids đã để lại nhiều bia khắc mà cho thấy các thành viên ban đầu của dòng họ cai trị như là một archons của các thành phố Hy Lạp và vua chúa của các bộ tộc bản địa.
Satyrus (431 TCN - 387 TCN), người kế thừa của Spartocus, đã thiết lập sự cai trị của mình trên toàn khu vực, thêm Nymphaeum vào lãnh địa của mình và tiến hành bao vây Theodosia, mà đã là một đối thủ thương mại đối lập vì nó có một hải cảng không bao giờ bị đóng băng và gần với các cánh đồng lúa ở phía đông Crimea. Nó được dành riêng cho con trai ông Leucon (387 TCN - 347 TCN), người mà chiếm thành phố này. Ông được kế tục bởi hai người con trai đồng cai trị của ông, Spartocus II, và Paerisades; người anh cả mất năm 342 và em trai của ông trị vì một mình cho đến năm 310. Sau đó, theo sau một cuộc nội chiến, trong đó Satyrus đánh bại Eumelus em trai của mình trong trận sông Thatis năm 310 trước Công nguyên nhưng sau đó bị giết để Eumelus lên ngôi.
Người kế nhiệm ông là Spartocus III (303 TCN - 283 TCN) và sau ông là Paerisades II. Những hoàng tử kế vị lặp đi lặp lại tên trong gia đình. Chúng ta chỉ biết rằng thành viên cuối cùng của họ, Paerisades V, không thể thực hiện chống lại sức mạnh của người dân địa phương, năm 108 TCN ông gọi sự giúp đỡ của Diophantus, tướng của vua Mithridates VI của Pontus, hứa sẽ bàn giao vương quốc của mình cho ông hoàng này. Ông đã bị giết bởi một người Scythia tên là Saumacus mà đã lãnh đạo một cuộc nổi loạn chống lại ông.
Trong thế kỷ 1 trước Công nguyên, sau thất bại của mình trước tướng Pompey năm 63 trước Công nguyên, vua Mithridates VI của Pontus bỏ chạy với một đội quân nhỏ từ Colchis (Georgia hiện nay) vựot qua dãy núi Caucasus tới Crimea và thực hiện kế hoạch xây dựng một đội quân để chống lại người La Mã. Con trai ông lớn tuổi nhất của ông, Machares, phó vương của Bosporos Cimmeria, đã không sẵn sàng để trợ giúp cha mình. Mithridates VI đã giết chết Machares, và Mithridates VI lên ngôi vua của Vương quốc Bosporos. Mithridates sau đó ra lệnh tiến hành cưỡng bách tòng quân và chuẩn bị cho chiến tranh. Năm 63 trước Công nguyên Pharnaces II, con trai út của Mithridates VI, đã dẫn đầu một cuộc nổi loạn chống lại cha mình, có sự tham gia của những người La Mã lưu vong trong thành phần quân đội Pontos của Mithridates VI. Mithridates VI đã rút vào trong lâu đài của Panticapaeum, nơi ông đã tự sát. Mithridates VI được Pompey chôn trong ngôi mộ của tổ tiên mình ở Amasia, thủ đô cũ của Vương quốc Pontos.
== Vương quốc Crimea Bosporos thời La Mã ==
Mithridates VI đã uỷ thác vương quốc Cimmeria Bosporos cho Machares, con trai cả của ông, tuy nhiên ông ta đã bỏ theo người La Mã. Ngay cả khi bị đuổi ra khỏi vương quốc riêng của mình bởi Pompey, Mithridates VI vẫn đủ mạnh để lấy lại Cimmeria Bosporos, và giết chết người con Machares của mình. Sau đó người Bosporos lại nổi dậy dưới quyền Pharnaces II. Sau cái chết của Mithridates VI (63 TCN), Pharnaces II (63 TCN - 47 TCN) đã nộp mình cho Pompey, sau đó ông đã cố gắng để lấy lại lãnh địa của mình trong cuộc nội chiến, nhưng đã bị đánh bại bởi độc tài La Mã Gaius Julius Caesar tại Zela và ông ta sau đó bị giết bởi cựu thống đốc của ông và con rể-Asandros.
Trước khi Pharnaces II chết, Asandros đã kết hôn với Dynamis, con gái của Pharnaces II. Asandros và Dynamis đã là những vị quân vương cầm quyền cho đến khi Gaius Julius Caesar, chỉ định một người chú bên nội của Dynamis, Mithridates II tuyên chiến với Vương quốc Bosporos và khẳng định vương quyền cho chính mình. Asander và Dynamis bị đánh bại bởi đồng minh của Caesar và buộc phải sống lưu vong chính trị. Tuy nhiên sau cái chết của Caesar năm 44 TCN, Vương quốc Bosporos đã được phục hồi cho Asandros và Dynamis bởi người cháu trai vĩ đại và là người thừa kế của Caesar, Octavian (Hoàng đế La Mã Augustus trong tương lai). Asandros cai trị như là một Archon và sau này là vua cho đến khi qua đời năm 17 trước Công nguyên. Sau cái chết của Asandros, Dynamis buộc phải kết hôn với một kẻ cướp ngôi La Mã gọi là Scribonius, nhưng vị chính khách La Mã Marcus Vipsanius Agrippa đẫ can thiệp và thiết lập Polemon I của Pontos (16 TCN- 8 trước Công nguyên) vào thế chỗ. Polemon kết hôn với Dynamis trong năm 16 TCN và bà qua đời trong năm 14 trước Công nguyên. Polemon làm vua cho đến khi ông mất trong năm 8 trước Công nguyên. Sau cái chết của Polemon, Aspurgus, con trai của Dynamis và Asandros, kế vị Polemon.
Vương quốc Bosporos của Aspurgus là một "nước chư hầu" của đế chế La Mã. Aspurgus (8 trước Công nguyên - 38) đã thành lập một dòng dõi các vị vua tồn tai mãi với một số thời kì gián đoạn cho đến năm 341. Aspurgus đã nhận tên La Mã Tiberius Julius "bởi vì ông được nhận quyền công dân La Mã và được hưởng sự bảo trợ của hai vị hoàng đế La Mã đầu tiên, Augustus và Tiberius. Tất cả của các vị vua sau đây đã chấp nhận hai tên La Mã theo sau là một tên thứ ba, chủ yếu là có nguồn gốc Pontos, Thracia (chẳng hạn Kotys, Rhescuporis và Rhoemetalces), nhưng cũng có nguồn gốc địa phương (chẳng hạn như Sauromates, Eupator, Ininthimeus, Pharsanzes, Synges, Terianes, Theothorses và Rhadamsades).
Những vị vua chư hầu này của La Mã có triều đại là hậu duệ của vua Mithridates VI của Pontus và người vợ đầu tiên của mình, Laodice, em gái của ông, thông qua Aspurgus. Các vị vua đã chấp nhận "kỷ nguyên Pontic" được truyền bá bởi Mithridates VI, bắt đầu từ năm 297 trước Công nguyên, thời kỳ này đã sử dụng những đồng tiền có ngày tháng. Các vị vua Bosporos đã đúc tiền xu trong suốt thời kì vương quốc, trong đó bao gồm stater vàng mang chân dung của hoàng đế La Mã tương ứng. Tuy nhiên, những tiền đúc này ngày càng nhiều này đã trở nên mất giá trị trong thế kỷ thứ 3. Do đó, chúng ta biết tên và ngày tháng của họ khá tốt, mặc dù hầu như bất kỳ sự kiện nào thuộc triều đại của họ đều được ghi lại. Vương quốc của họ kiểm soát một nửa phía đông của bán đảo Crimea và bán đảo Taman, và mở rộng dọc theo bờ biển phía đông của đầm lầy Maeotae tới Tanais ở cửa của sông Don, một thị trường tuyệt vời cho thương mại với nội địa.
Họ đã tiến hành một cuộc chiến tranh lâu dài với các bộ lạc bản địa, và trong đó được hỗ trợ bởi bá chủ La Mã của họ, những người thậm chí hỗ trợ bằng các đơn vị đồn trú và hạm đội. Năm 63, với lý do không rõ, Hoàng đế La Mã Nero lật đổ vua Bosporos Cotys I khỏi ngai vàng của ông ta. Có lẽ Nero muốn giảm thiểu vai trò, sức mạnh và ảnh hưởng của các vị vua chư hầu địa phương và mong muốn người Bosporos phải hoàn toàn bị chi phối bởi nhà nước La Mã. Vương quốc Bosporos được thiết lập là một phần của tỉnh La Mã Hạ Moesia từ năm 63-68. Năm 68, Hoàng đế La Mã mới, Galba đã khôi phục Vương quốc Bosporos cho Rhescuporis I, con trai của Cotys I.
== Xem thêm ==
Vương quốc Pontus
Đế chế La Mã
== Tham khảo ==
(tiếng Đức) Jochen Fornasier and Burkhard Böttger: Das Bosporanische Reich, Mainz 2002, ISBN 3-8053-2895-8.
Coinage and information about the Bosporan Kings
== Liên kết ngoài ==
Rare and Unique Coins of Bosporan Kingdom. Bulletin of the Odessa Numismatics Museum. Issues 7,8,9. 2001. Odessa. Ukraine. |
broadcom.txt | Broadcom Corporation là một công ty sản xuất chip bán dẫn của Hoa Kỳ về mạng không dây và mạng băng thông rộng. Trụ sở chính của công ty được đặt tai Irvine, California. Broadcom được thành lập bởi Henry Samueli và Henry T. Nicholas III tại đại học California, Los Angeles (UCLA) vào năm 1991. Năm 1995, công ty chuyển từ Westwood, Los Angeles tới Irvine, California. Năm 1998, Broadcom niêm yết trên sàn chứng khoán NASDAQ (mã giao dịch: BRCM). Hiện tại, Broadcom đang có mặt tại 15 quốc gia với 11,750 nhân viên trên toàn thế giới.
Broadcom nằm trong top 10 hãng chip bán dẫn theo tổng doanh thu. Năm 2012, tổng doanh thu của Broadcom đạt 8.01 tỷ đô la. Năm 2013, Broadcom đứng thứ 327 trong bảng xếp hạng Fortune 500, tăng 17 bậc so với năm 2012.
Ngày 28 tháng 5 năm 2015, công ty sản xuất linh kiện Avago Technologies Ltd. đồng ý mua lại Broadcom Corp. với giá 37 tỷ đô la Mỹ bằng tiền mặt và cổ phiếu. Cổ đông của Broadcom sẽ nắm 32% cổ phần của công ty mới được đặt tên là Broadcom Limited. Hock Tan, CEO của Avage trở thành CEO của công ty mới sau hợp nhất. Tiến sĩ Samuelli trở thành giám đốc kĩ thuật và thành viên ban giám đốc của công ty mới và tiến sĩ Nicholas là tư vấn chiến lược cho công ty mới.
== Các thương vụ sát nhập ==
Tháng 9 năm 2011, Broadcom mua NetLogic Microsystems với giá 3.7 tỷ đô la bằng tiền mặt, chưa bao gồm 450 triệu đô la cổ phần của nhân viên NetLogic, những người sẽ chuyển sang làm việc cho Broadcom
Bên cạnh NetLogic Microsystems, Broadcom đã thâu tóm nhiều công ty nhỏ hơn để phát triển nhanh trên những thị trường mới.
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ
Broadcom SEC Filings
Lịch sử công ty
Broadcom Analysis on Wikinvest |
trung tâm thương mại.txt | Trung tâm thương mại là nơi tập trung các công trình, các hạng mục công trình phục vụ các hoạt động thương mại, giải trí,... với quy mô lớn, được quản lý chặt chẽ, có hệ thống.
Trung tâm thương mại có các công trình có chức năng hội trường, phòng họp, văn phòng cho thuê, nhà hàng khách sạn, hội chợ triển lãm...
Các hoạt động thương mại diễn ra bao gồm kinh doanh mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.
== Tại Việt Nam ==
Tính đến hết năm 2010, Việt Nam có 83 trung tâm thương mại, trong đó tập trung chủ yếu tại Hà Nội (18 trung tâm thương mại), Hải Phòng (7), Bình Dương (5), thành phố Hồ Chí Minh (4), Nghệ An (4) và Đà Nẵng (4).
== Chú thích == |
sa đéc.txt | Sa Đéc là một thành phố trực thuộc tỉnh của tỉnh Đồng Tháp, Việt Nam, là trung tâm kinh tế, tài chính, giáo dục và văn hóa của tỉnh. Sa Đéc được Chính phủ Việt Nam công nhận là thành phố trực thuộc tỉnh Đồng Tháp vào ngày 14 tháng 10 năm 2013 theo Nghị quyết số 113/NQ-CP. Thành phố Sa Đéc đang hướng đến được công nhận là đô thị loại II năm 2020.
Sa Đéc lại từng là tỉnh lỵ của tỉnh Sa Đéc cũ vào thời Pháp thuộc trước năm 1956 và trong giai đoạn 1966-1975 dưới thời Việt Nam Cộng hòa. Đặc biệt, thị xã Sa Đéc cũ lại giữ vai trò là tỉnh lỵ của tỉnh Đồng Tháp trong suốt giai đoạn 1976-1994, và sau đó theo Nghị định số 36-CP ban hành ngày 29 tháng 4 năm 1994, tỉnh lỵ tỉnh Đồng Tháp lại dời về thị xã Cao Lãnh (ngày nay là thành phố Cao Lãnh) cho đến nay.
== Vị trí ==
Sa Đéc cách Thành phố Hồ Chí Minh 140 km về phía Tây Nam. Phía bắc giáp sông Tiền, phía Tây Bắc giáp huyện Lấp Vò, Tây Nam giáp huyện Lai Vung, phía Đông giáp huyện Cao Lãnh, phía Nam giáp huyện Châu Thành.
== Diện tích, dân số ==
Thành phố Sa Đéc có diện tích là 5.985,89 ha, với dân số trên 152.646 người thuộc các dân tộc Việt, Hoa, Khmer,...
== Hành chính ==
Thành phố Sa Đéc có 9 đơn vị hành chính trực thuộc gồm 6 phường: 1, 2, 3, 4, An Hòa, Tân Quy Đông và 3 xã: Tân Khánh Đông, Tân Phú Đông, Tân Quy Tây.
== Lịch sử ==
=== Thời phong kiến ===
Trước khi chúa Nguyễn khai phá miền đất phía Nam, Sa Đéc thuộc đất Tầm Phong Long của Thủy Chân Lạp, với tên gọi nguyên gốc là Phsar Dek. Nhiều người cho rằng Sa Đéc theo tiếng Khmer nghĩa là "chợ sắt". Tuy nhiên Sơn Nam và nhiều nhà nghiên cứu khác không chắc chắn lắm với luận điểm này, lại có quan điểm cho rằng nguyên gốc tên gọi Phsar Dek là tên một vị thủy thần Khmer.
Khoảng cuối thập niên 1750, Chúa Nguyễn thành lập năm đạo ở miền Tây Nam Bộ, để bảo vệ cho Dinh Long Hồ trong đó có Đông Khẩu Đạo là thành phố Sa Đéc và một số huyện lân cận. Trong một thời gian dài, Sa Đéc từng là một trong những khu chợ sung túc nhất ở phía Nam.
Năm 1832, sau khi Lê Văn Duyệt qua đời, vua Minh Mạng chia lại miền Nam thành ngũ trấn gồm lục tỉnh. Khi đó Sa Đéc lại thuộc phủ Tân Thành, tỉnh An Giang.
Vào thời nhà Nguyễn độc lập, vùng đất huyện Châu Thành và thành phố Sa Đéc ngày nay ban đầu thuộc địa bàn các tổng An Hội, An Mỹ, An Thạnh, An Trung cùng thuộc huyện Vĩnh An, phủ Tân Thành, tỉnh An Giang. Năm 1839, đặt thêm huyện An Xuyên thuộc phủ Tân Thành do tách ra từ huyện Vĩnh An. Từ đó, các tổng An Thạnh và An Trung thuộc huyện Vĩnh An; các tổng An Hội và An Mỹ thuộc huyện An Xuyên. Năm 1836, các tổng An Hội, An Mỹ, An Thạnh, An Trung có các thôn trực thuộc như sau:
Tổng An Hội gồm 5 thôn: An Tịch, Sùng Văn, Tân Lâm, Tân Quy Đông, Tân Xuân;
Tổng An Mỹ gồm 7 thôn: An Thuận, Phú An, Phú Hựu, Phú Nhơn, Tân An Đông, Tân Hựu, Tân Nhơn;
Tổng An Thạnh gồm 7 thôn: Hội An, Mỹ An, Tân An Trung, Tân Đông, Tân Khánh, Tân Khánh Tây, Tân Mỹ;
Tổng An Trung gồm 6 thôn: Bình Tiên, Tân Phú, Tân Phú Đông, Tân Phú Trung, Tân Quy Tây, Vĩnh Phước.
=== Thời Pháp thuộc ===
Sau khi chiếm hết được ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ vào năm 1867, thực dân Pháp dần xóa bỏ tên gọi tỉnh An Giang cùng hệ thống hành chính phủ huyện cũ thời nhà Nguyễn, đồng thời đặt ra các hạt Thanh tra. Lúc bấy giờ, hạt Thanh tra Tân Thành được thành lập trên địa bàn phủ Tân Thành, tỉnh An Giang cũ. Trụ sở hạt Thanh tra Tân Thành đặt tại Sa Đéc. Lúc đầu, hạt Thanh tra tạm gọi tên theo tên các phủ huyện cũ, sau mới đổi tên gọi theo địa điểm đóng trụ sở. Về sau, hạt Thanh tra Tân Thành cũng được đổi tên thành hạt Thanh tra Sa Đéc. Ngày 5 tháng 1 năm 1876, hạt Thanh tra Sa Đéc đổi thành hạt tham biện Sa Đéc.
Theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương ngày 20 tháng 12 năm 1889 đổi tất cả các hạt tham biện thành tỉnh thì kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900, tỉnh Sa Đéc được thành lập trên cơ sở đổi tên hạt tham biện Sa Đéc trước đó. Tỉnh lỵ Sa Đéc ban đầu đặt tại làng Vĩnh Phước thuộc quận Châu Thành (kể từ năm 1924). Sau này, thực dân Pháp hợp nhất 6 làng Tân Quy Đông, Tân Quy Tây, Tân Hưng, Tân Phú Đông, Vĩnh Phước và Hòa Khánh lại thành một làng lấy tên là Tân Vĩnh Hòa. Từ đó, tỉnh lỵ Sa Đéc thuộc địa bàn làng Tân Vĩnh Hòa. Thời Pháp thuộc, làng Vĩnh Phước và sau đó là làng Tân Vĩnh Hòa vừa đóng vai trò là quận lỵ quận Châu Thành và là tỉnh lỵ tỉnh Sa Đéc.
Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, tỉnh Sa Đéc bị giải thể, toàn bộ diện tích tỉnh bị sáp nhập vào tỉnh Vĩnh Long. Sau năm 1924, tỉnh Sa Đéc được tái lập với 3 quận trực thuộc:
Quận Châu Thành: tức thành phố Sa Đéc, một phần huyện Châu Thành và các vùng lân cận, trong đó có một phần huyện Lấp Vò ngày nay nằm dọc theo sông Tiền
Quận Cao Lãnh: tức thành phố Cao Lãnh, huyện Cao Lãnh và một phần huyện Tháp Mười ngày nay
Quận Lai Vung: tức huyện Lai Vung ngày nay và các vùng lân cận.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, chính quyền Việt Minh cho thành lập thị xã Sa Đéc trực thuộc tỉnh Sa Đéc.
Tháng 6 năm 1951, thị xã Sa Đéc thuộc tỉnh Long Châu Sa. Nhưng đến tháng 10 năm 1954, tỉnh Long Châu Sa lại chia làm 3 tỉnh là Sa Đéc, Châu Đốc, Long Xuyên như cũ.
=== Giai đoạn 1956-1976 ===
==== Việt Nam Cộng hòa ====
Năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa bỏ tỉnh Sa Đéc, phần bắc tỉnh này ở bờ trái (bờ bắc) sông Tiền nhập vào tỉnh Kiến Phong, phần nam tỉnh này ở bờ phải (bờ nam) sông Tiền (giữa sông Tiền và sông Hậu, gồm các huyện Lai Vung, Lấp Vò, Châu Thành, thị xã Sa Đéc) nhập vào tỉnh Vĩnh Long. Quận Châu Thành thuộc tỉnh Sa Đéc cũ được đổi tên thành quận Sa Đéc thuộc tỉnh Vĩnh Long. Lúc này, xã Tân Vĩnh Hòa (sau năm 1956 các làng gọi là xã) chỉ còn giữ vai trò là quận lỵ quận Sa Đéc.
Nhưng đến ngày 24 tháng 9 năm 1966, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lại tái lập tỉnh Sa Đéc. Tỉnh Sa Đéc mới tách ra từ tỉnh Vĩnh Long, chỉ gồm phần đất nằm giữa hai con sông Tiền Giang và Hậu Giang, với diện tích khoảng 900 km². Khi đó, quận Sa Đéc lại đổi tên thành quận Châu Thành như cũ. Ngày 14 tháng 3 năm 1968, quận Châu Thành lại bị đổi tên thành quận Đức Thịnh.
Tỉnh lỵ tỉnh Sa Đéc khi đó có tên là "Sa Đéc", về mặt hành chánh vẫn thuộc xã Tân Vĩnh Hòa. Trong giai đoạn 1966-1975, xã Tân Vĩnh Hòa vẫn tiếp tục vừa đóng vai trò là quận lỵ quận Châu Thành (sau năm 1968 là quận Đức Thịnh) và là tỉnh lỵ tỉnh Sa Đéc.
Trong thời kỳ trước năm 1975, Sa Đéc là một khu vực quân sự, chính trị quan trọng của Hoa Kỳ và chính quyền Việt Nam Cộng hòa với một căn cứ tọa lạc tại trường Cao đẳng nghề Đồng Tháp ngày nay. Nhưng những hoạt động cách mạng không vì thế mà suy giảm, vẫn có những cơ sở đảng được thành lập và được người dân che chở.
==== Chính quyền Cách mạng ====
Chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng phân chia, sắp xếp lại các đơn vị hành chính trong tỉnh như bên chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Năm 1957, chính quyền Cách mạng cũng giải thể và sáp nhập tỉnh Sa Đéc vào tỉnh Vĩnh Long. Đồng thời, huyện Châu Thành cũ cũng đổi tên thành huyện Sa Đéc. Như vậy, lúc bấy giờ thị xã Sa Đéc và huyện Sa Đéc là hai đơn vị hành chính cấp huyện ngang bằng nhau và cùng thuộc tỉnh Vĩnh Long.
Trong giai đoạn 1966-1974, địa bàn tỉnh Sa Đéc của chính quyền Việt Nam Cộng hòa vẫn do tỉnh Vĩnh Long của chính quyền Cách mạng quản lý. Do đó, huyện Sa Đéc và thị xã Sa Đéc vẫn thuộc tỉnh Vĩnh Long trong giai đoạn này. Bên cạnh đó, tên gọi "quận Đức Thịnh" cũng không được phía chính quyền Cách mạng công nhận và sử dụng.
Tháng 8 năm 1974, Trung ương Cục miền Nam quyết định giải thể các tỉnh Kiến Phong và An Giang để tái lập các tỉnh Long Châu Tiền, Long Châu Hà và Sa Đéc. Tỉnh Sa Đéc gồm các huyện Chợ Mới, Cao Lãnh, Kiến Văn, Mỹ An và thị xã Cao Lãnh của tỉnh Kiến Phong cũ và các huyện Lấp Vò, Lai Vung, Châu Thành, thị xã Sa Đéc của tỉnh Vĩnh Long giao lại; tỉnh lỵ đặt tại thị xã Sa Đéc. Lúc này, huyện Sa Đéc cũng được đổi lại tên cũ là huyện Châu Thành thuộc tỉnh Sa Đéc.
Sau ngày 30 tháng 04 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam ban đầu vẫn đặt thị xã Sa Đéc thuộc tỉnh Sa Đéc như trước đó cho đến đầu năm 1976.
=== Từ năm 1976 đến nay ===
Từ tháng 2 năm 1976, tỉnh Sa Đéc được sáp nhập với tỉnh Kiến Phong thành tỉnh Đồng Tháp. Thị xã Sa Đéc ban đầu vẫn là tỉnh lỵ tỉnh Đồng Tháp cho đến ngày 29 tháng 4 năm 1994. Sau đó tỉnh lỵ được dời về thị xã Cao Lãnh (ngày nay là thành phố Cao Lãnh). Thị xã Sa Đéc ban đầu gồm 5 xã: Vĩnh Phước, Tân Quý Đông, Tân Quý Tây, Tân Hưng, Tân Phú Đông.
Ngày 10 tháng 09 năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 62-HĐBT về việc thành lập một số phường và xã mới thuộc thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp:
Giải thể các xã Vĩnh Phước, Tân Quy Đông, Tân Quy Tây, Tân Hưng, Tân Phú Đông.
Thành lập các phường và xã sau đây:
Thành lập phường 1 gồm có 4 khóm: khóm 1, khóm 2, khóm 3 và khóm 4 (trước đây gọi là các ấp Vĩnh Hiệp, Vĩnh Thuận, Vĩnh Thới và Tân Bình)
Thành lập phường 2 gồm có 3 khóm: khóm 1, khóm 2 và khóm 3 (trước đây gọi là ấp Hoà Khánh, Phú Mỹ và một phần của ấp Phú Thuận)
Thành lập phường 3 gồm có 3 khóm: khóm 1, khóm 2 và khóm 3 (trước đây gọi là ấp Tân Long)
Thành lập phường 4 gồm có 2 khóm: khóm 1 và khóm 2 (trước đây gọi là ấp Tân Hưng và ấp An Thuận)
Thành lập xã Tân Quy Tây gồm có các ấp Tân Hoà, Tân An và một phần của xã Vĩnh Phước cũ
Thành lập xã Tân Phú Đông gồm có các ấp Phú Long, Phú Thuận và Phú Hoà
Thành lập xã Tân Quy Đông gồm có các ấp Tân Mỹ I, Tân Mỹ II và ấp Sa Nhiên
Ngày 16 tháng 02 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 36-HĐBT về việc điều chỉnh địa giới hành chính thị xã Sa Đéc thuộc tỉnh Đồng Tháp:
Tách 2 ấp Tân Huề, Tân Lợi gồm 890 hécta diện tích tự nhiên với 4.508 nhân khẩu của xã Tân Dương thuộc huyện Thạnh Hưng; 3 cồn Cát Sậy và Bồng Bồng gồm 152 hécta diện tích tự nhiên với 505 nhân khẩu của xã Bình Hàng Trung thuộc huyện Cao Lãnh để sáp nhập vào thị xã Sa Đéc.
Thị xã Sa Đéc gồm 4 phường, 3 xã, có 4.005 hécta diện tích tự nhiên với 72.670 nhân khẩu.
Địa giới thị xã Sa Đéc ở phía đông giáp huyện Châu Thành và sông Tiền; phía tây giáp huyện Lai Vung,Lấp Vò; phía nam giáp huyện Châu Thành; phía bắc giáp sông Tiền.
Ngày 29 tháng 4 năm 1994, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 36-CP về việc di chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Tháp từ thị xã Sa Đéc về thị xã Cao Lãnh.
Ngày 30 tháng 11 năm 2004, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 194/2004/NĐ-CP về việc thành lập các phường thuộc thị xã Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp:
Thành lập phường Tân Quy Đông trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của xã Tân Quy Đông.
Thành lập phường An Hòa trên cơ sở 641,10 ha diện tích tự nhiên và 7.490 nhân khẩu của xã Tân Quy Tây.
Ngày 15 tháng 12 năm 2005, thị xã Sa Đéc được công nhận là đô thị loại III.
Vào năm 2008, Sa Đéc đã long trọng tổ chức đêm giao thừa để chào mừng 250 năm (1758-2008) thành lập Đông Khẩu đạo (tức thành phố Sa Đéc bây giờ và một số vùng lân cận).
Ngày 14 tháng 10 năm 2013, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 113/NQ-CP về việc thành lập thành phố Sa Đéc thuộc tỉnh Đồng Tháp trên cơ sở toàn bộ 5.981 ha diện tích tự nhiên, 152.237 nhân khẩu và 09 đơn vị hành chính cấp xã của thị xã Sa Đéc.
Thành phố Sa Đéc có 5.981 ha diện tích tự nhiên, 152.237 nhân khẩu và 09 đơn vị hành chính cấp xã gồm 06 phường: 1, 2, 3, 4, An Hòa, Tân Quy Đông và 03 xã: Tân Khánh Đông, Tân Quy Tây, Tân Phú Đông.
Vào ngày 31 tháng 01 năm 2014 (đúng ngày mùng 1 Tết Nguyên Đán năm Giáp Ngọ), Ủy ban nhân dân Thành phố Sa Đéc đã tổ chức Lễ Công bố Nghị Quyết Chính phủ về việc thành lập thành phố Sa Đéc thuộc tỉnh Đồng Tháp. Buổi lễ cùng với Đêm Giao Thừa Chào Đón Năm mới 2014 đã thu hút trên 500.000 người đến tham dự.
== Đặc sản ==
Khi qua Cầu Mỹ Thuận chúng ta rẽ theo đường dẫn đến vào trung tâm của thành phố Sa Đéc thì sẽ thưởng thức các món ăn như:
Hủ tiếu Sa Đéc
Bún cá
Nem Lai Vung
Lẩu gà nòi
Bánh phồng tôm
Bánh tráng sữa
Phở bò Sa Đéc
== Kinh tế ==
Sa Đéc vốn đã rất nổi tiếng về sự hưng thịnh của mình từ khi mới thành lập. Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí nói Sa Đéc (Đồng Tháp) là vùng "lưu thông quán khái" (sông sâu nước chảy), đất đai phì nhiêu, giao thông thủy tiện lợi, nối liền hai miền Tiền và Hậu Giang". Lần hồi, với vị trí địa lý đặc biệt của mình, "Sa Đéc vừa là trung tâm sản xuất vừa là trung tâm thu gom, tập kết lúa gạo, lâm thủy sản và hàng hóa khác của địa phương, rồi dùng phương tiện vận tải thủy, chuyên chở lên bán tận Sài Gòn, Nam Vang và nhiều nơi khác, rồi thu mua hàng hóa ở các nơi này, chở về bán lại cho địa phương nhà".
Trong Đại Nam nhất thống chí có ghi: Chợ Vĩnh Phúc tục gọi chợ Sa Đéc ở phía đông lỵ sở huyện Vĩnh An, chợ và phố ở ven sông liên tiếp với nhau dài đến năm dặm, dưới sông là trúc gác lên(hiểu là làm nhà bè trên tre) cửa nhà la liệt thành hàng hoặc mua bán tơ lụa và đồ dùng, hoặc mua bán dầu trám, dầu rái, nguyên liệu chính làm nghề xăm trét ghe thuyền, than gỗ chủ yếu làm nghề gốm thô, gạch ngói, mây tre, muối mắm, trên bờ và giữa sông hàng hóa san sát thật là nơi phồn hoa .
Ngày nay thành phố vẫn không ngừng phát triển và lớn mạnh. Theo ông Tống Kim Quảng, Chủ tịch UBND thành phố Sa Đéc, tốc độ tăng trưởng GDP trong năm 2006 của thành phố tăng 19,04%; trong đó khu vực công nghiệp - xây dựng tăng 26,06%, thương mại – dịch vụ tăng 16,87%, nông lâm thủy sản tăng 6,5%.
Năm 2007 tốc độ tăng trưởng GDP của thành phố là 22%, thu nhập bình quân đầu người đạt 100,881 tỷ đồng- mức cao nhất của toàn tỉnh. Nếu như năm 2006, giá trị sản xuất công nghiệp của thành phố đạt trên 1.374 tỷ đồng (tăng 26,47% so với năm 2005), thì năm 2007 ước đạt trên 1.899 tỷ đồng (cao nhất so với các địa phương trong tỉnh), tăng 41,91% so với năm 2006.
Trong 6 tháng đầu năm 2008, nền kinh tế của thành phố tiếp tục có những diễn biến tốt, kinh tế tăng trưởng ở mức cao 20,03%, xấp xỉ mục tiêu kế hoạch cả năm 2008 (20,5%);giá trị sản xuất công nghiệp tăng trên 23,53%, tổng mức lưu chuyển hàng hoá và doanh thu dịch vụ tăng khoảng 26,5%, kim ngạch xuất khẩu tăng 55,45%, các khu vực kinh tế đều tăng cao so với năm 2007, thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt khá cao (trên 60%), vốn đầu tư xây dựng cơ bản thực hiện trên 51%.
Năm 2011, nền kinh tế thành phố tiếp tục có những bước tiến ổn định. Tổng giá trị GDP ước đạt trên 11100.696 tỷ đồng tăng 15000,92% so năm 2008 trong đó công nghiệp- xây dựng tăng 18,51%, thương mại - dịch vụ tăng 15,36%, nông nghiệp tăng 3,98%, thu nhập bình quân đầu người ước đạt 26,87 triệu đồng/ người/ năm (giá thực tế).
=== Công nghiệp ===
Ước tính ngành công nghiệp - xây dựng chiếm 33,84% trong tổng cơ cấu GDP của thành phố. Tổng giá trị sản xuất công nghiệp chiếm khoảng 40% giá trị của cả tỉnh.
Ngày nay, toàn thành phố có 3 khu công nghiệp là A và C và C mở rộng, gọi chung là Khu Công nghiệp Sa Đéc với tổng diện tích quy hoạch là 323 ha, tọa lạc tại phường Tân Quy Đông và phường An Hòa. Khu C có diện tích 180 ha nằm ở mạn bắc thành phố; tập trung sản xuất, chế biến các mặt hàng nông lâm thủy sản, thức ăn gia súc với một cảng nước sâu có thể tiếp nhận tàu 5000 DWT. Khu A có diện tích 140 ha, ở phía tây bắc thành phố. Các khu công nghiệp này có ảnh hưởng tác động không những với thành phố mà với các khu vực lân cận như Lai Vung, Lấp Vò, Châu Thành và đang là nơi thu hút nguồn lao động lớn. Do có vị trí trung tâm, nơi đây còn là đầu mối chính chuyển hàng hoá từ TP. Hồ Chí Minh về các huyện xung quanh và là đầu mối thu hút nhiều nguồn nông sản từ các tỉnh khác về để chế biến xuất khẩu.
Năm 2009, giá trị sản xuất công nghiệp- TTCN là 3.101,73 tỷ đồng đạt 81,69% kế hoạch và tăng 10,74% so cùng kỳ
=== Thương mại, dịch vụ ===
Ngành thương mại – dịch vụ chiếm 57,68% trong tổng cơ cấu GDP của thành phố, có tốc độ phát triển nhanh, phân bố rộng khắp trong nội thành. Do đó thành phố được xem là đầu mối dịch vụ hàng đầu của toàn tỉnh. Hệ thống giao dịch, trao đổi hàng hóa phân bố rộng và ngày càng được nâng cao về quy mô lẫn chất lượng. Trên địa bàn thành phố hiện đã có nhiều ngân hàng chọn nơi đây để mở các chi nhánh và phòng giao dịch của mình.
Phía đông nam là Bến xe Sa Đéc và Cảng Saigonshipmarin Đồng Tháp II có công suất 500 tấn - một cảng quan trọng trong hệ thống cảng của tỉnh Đồng Tháp,có thể đón tàu có trọng tải lớn và là nơi trung chuyển hàng hóa của tỉnh.
Đến năm 2009, tổng mức lưu chuyển hàng hóa và doanh thu dịch vụ khoảng 3.731 tỷ đồng đạt 107,34% kế hoạch, tăng 28,86% so với năm 2008.
Các trung tâm mua sắm
Trung tâm thương mại, chợ thành phố Sa Đéc và siêu thị Vinmart, siêu thị Coopmart.
Các trung tâm vui chơi, giải trí
Công viên Sa Đéc, làng hoa Sa Đéc, làng bột Sa Đéc
=== Nông nghiệp ===
Nông nghiệp là ngành chiếm tỉ trọng thấp nhất-8,48% trong cơ cấu GDP. Điều đó đã thể hiện nên quá trình Công nghiệp hóa của thành phố. Ngành nông nghiệp phân bố chủ yếu tại các xã Tân Khánh Đông, Tân Quy Tây, một phần các phường An Hòa và Tân Quy Đông. Sa Đéc nổi tiếng với nghề trồng hoa mà tiêu biểu nhất là làng hoa Tân Quy Đông. Mỗi độ Tết về, nơi đây lại ngập tràn hương sắc, với đủ mọi loại hoa đa dạng. Ngoài ra, còn có các làng nghề nổi tiếng như Làng bột và bánh phồng tôm Sa Giang. Đặc biệt, Hủ tiếu Sa Đéc là một trong những loại hủ tiếu ngon nhất đồng bằng và được hầu hết các tỉnh biết đến.
== Giao thông ==
Nằm ở vị trí thuận lợi nên thành phố có mạng lưới giao thông thủy bộ khá phát triển, với các trục giao thông chính như:
Quốc lộ 80.
Đường Vành đai-tuyến tránh Quốc lộ 80-Tránh thành phố Sa Đéc(đường cấp 1 đồng bằng với 6 làn xe,bề mặt đường rộng 18-20m).
Đường ĐT848, ĐT852, ĐT853...
Đại lộ Hùng Vương.
Đại lộ Hùng Vương nối dài.
Đại lộ Trần Thị Nhượng.
Đường Trần Hưng Đạo.
Đường Nguyễn Tất Thành.
Đường Trần Phú.
Sông Sa Đéc, sông Tiền, kênh Mương Khai (hướng đi Cần Thơ).
Và hàng trăm con đường trong nội ô. Đây chính là những trục giao thông quan trọng, nối liền thành phố với các địa phương khác trong và ngoài tỉnh. Bên cạnh đó, hệ thống giao thông nội thị đang được nâng cấp và mở rộng, tất cả các tuyến đường đều được trải nhựa và có hệ thống đèn giao thông khá hoàn chỉnh, phục vụ tốt cho nhu cầu đi lại và phát triển kinh tế, đảm bảo mỹ quan đô thị.
Hiện nay thành phố có 4 tuyến xe buýt để phục vụ người dân đi lại trong và ngoài tỉnh đó là: tuyến bắc Cao Lãnh - thành phố Sa Đéc - Cái Tàu Hạ, tuyến Sa Đéc - bắc Vàm Cống (tỉnh An Giang), tuyến Sa Đéc - thành phố Vĩnh Long (tỉnh Vĩnh Long), tuyến Sa Đéc - Kinh Cựu Hội, [1] và các tuyến còn lại sẽ được khai thác trong tương lai.
== Du lịch ==
Công viên thành phố Sa Đéc: Tại đây, giữa một khoảng không gian rộng lớn của trung tâm của quảng trường là tượng đài chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn, nơi đây còn diễn ra những cuộc mít tinh ngoài trời dưới chân tượng Bác Hồ có thể đủ chỗ cho 15 đến 20 ngàn người dự lễ, có nhiều công trình vui chơi dành cho thiếu nhi, nhiều công trình văn hoá - thể thao như: Trung tâm văn hoá mà trong đó được thiết kế nhiều phòng chức năng, có hội trường 1500 chỗ ngồi, có sân khấu ngoài trời,... Hiện tại công viên Sa Đéc (bao gồm cả quảng trường) đang thực hiện mở rộng với tổng diện tích 22 ha, nhiều công trình vui chơi, giải trí hiện đại được xây dựng và đã mở cửa chào đón du khách vào ngày 24/12/2009, bao gồm các trò chơi như: tàu lượn siêu tốc, đĩa bay, ếch nhảy, thảm bay,... tất cả các trò chơi đều được đầu tư chu đáo, phục vụ nhu cầu giải trí của mọi người.
Làng hoa Sa Đéc - một trong những làng hoa lớn nhất Việt Nam, có diện tích trên 250ha với gần 2.000 hộ làm nghề. Ở đây có tới 1.000 chủng loại hoa. Nhờ sự khéo léo của người trồng hoa, chăm hoa; nhờ khí hậu thích hợp, hoa Sa Đéc đẹp có tiếng. Hoa Sa Đéc được xuất đi các tỉnh thành và cả sang Lào, Campuchia và Trung Quốc. Ngoài ra còn có khu nhà cổ của ông Huỳnh Thủy Lê tại bờ kè Nguyễn Huệ, cạnh đó còn có chợ đêm nhộn nhịp, tại đây có rất nhiều hàng hoá dùng để trao đổi và mua bán không thua kém gì chợ ban ngày. Nhưng cơ sở hạ tầng du lịch nhất là khách sạn còn rất ít hiện tại chỉ có 2 khách sạn 2 sao cùng một số khách sạn 1 sao. Nhiều dự án xây dựng Trung tâm Thương mại - Tài chính, khu du lịch, khu đô thị mới và khách sạn đang được triển khai xây dựng.
Hiện nay thành phố Sa Đéc có 2 di tích cấp quốc gia đó là:
- Nhà cổ Huỳnh Thủy Lê
-Kiến An Cung
Là một thành phố lâu đời,được hình thành gần như cùng lúc với Sài Gòn nên vùng có rất nhiều chùa miếu, nơi thờ tự, được mệnh danh là đô thị có nhiều chùa, miếu nhất tỉnh Đồng Tháp. Bên cạnh đó, nơi đây còn có nhiều di tích cấp tỉnh như: Chùa Phước Hưng (chùa Hương), chùa Bà Thiên Hậu, đình thần Vĩnh Phước,... Ngoài ra, Sa Đéc còn có 17 ngôi nhà cổ được xây cất vào cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20 đều mang dấu ấn của kiến trúc Pháp. Hầu như bất kỳ du khách Pháp nào đến Sa Đéc đều đã từng ghé qua trường tiểu học Trưng Vương. Đây là một ngôi trường được xây dựng thời Pháp thuộc với nét kiến trúc khá hiện đại thời bấy giờ và nhà cổ Huỳnh Thủy Lê - nơi người tình của bà Marguerite Duras từng sinh sống.
== Nhân vật nổi tiếng ==
Sa Đéc là nơi sinh ra nhiều trí thức, nhân tài và những người có truyền thống cách mạng, tiêu biểu là:
Bà Nguyễn Thị Bình- nguyên phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Bác vật Lưu Văn Lang - kĩ sư đầu tiên của Đông Dương và châu Á.
Đào Thiên Hải- Đại kiện tướng cờ vua đầu tiên của Việt Nam.
Cô giáo Ngài (tức cô Trần Thị Nhượng).
Anh hùng Phan Văn Út.
Đức Tông sư Minh Trí, vị khai sáng Tịnh Độ Cư Sỉ Phật Hội Việt Nam.
Nguyễn Văn Bảy, anh hùng phi công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Trần Công Minh, cựu huấn luyện viên trưởng CLB bóng đá Đồng Tâm Long An, cựu tuyển thủ đội tuyển bóng đá Việt Nam, quả bóng vàng 1999 và hiện là thành viên ban huấn luyện của CLB.
== Y tế ==
Sa Đéc có bệnh viện tuyến tỉnh là Bệnh viện Đa Khoa Sa Đéc. Tuy nhiên trọng trách của bệnh viện Sa Đéc là bảo vệ sức khỏe của nhân dân các huyện thành như Sa Đéc, Châu Thành, Lai Vung, Lấp vò nên hiện nay số giường bệnh đã không đáp ứng đủ.
Nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân được đưa về các trạm Y tế xã, phường. Các trạm Y tế xã phường gồm: Phường 1, phường 2, phường 3, phường 4, phường Tân Qui Đông, Phường An Hòa, xã Tân Khánh Đông, Xã Tân Quy Tây, xã Tân Phú Đông. Trung tâm điều hành các hoạt động của các trạm Y tế là Trung tâm Y tế thành phố Sa Đéc.
== Giáo dục ==
Đây là nơi có truyền thống hiếu học rất lâu đời của tỉnh Đồng Tháp. Là địa phương đi đầu của ngành giáo dục tỉnh nhà nên ngành giáo dục của thành phố Sa Đéc đạt rất nhiều thành công. Nơi đây hiện đã có 12 nhà giáo đạt danh hiệu Nhà giáo ưu tú.
Hiện nay thành phố có: 7 trường đạt chuẩn quốc gia là: trường Trung học phổ thông thành phố Sa Đéc, trường Trung học cơ sở Trần Thị Nhượng, trường Trung học cơ sở Võ Thị Sáu,trường Trung học cơ sở Tân Khánh Đông, trường Trung học cơ sở Lưu Văn Lang, trường tiểu học Kim Đồng, trường mẫu giáo Sen Hồng. Và trường chuyên đầu tiên của tỉnh Đồng Tháp là trường Trung học phổ thông chuyên Nguyễn Đình Chiểu (được thành lập năm 2008 trên cơ sở cũ của trường Trung học phổ thông tư thục Đồ Chiểu đã giải thể và trường đã có đề án xây dựng mới trên diện tích 5 ha). Cũng trong năm 2008, trường Trung học phổ thông Nguyễn Du chính thức được thành lập.
Các điểm giáo dục tại thành phố Sa Đéc:
Trường Cao đẳng Nghề Đồng Tháp.
Trường THPT Chuyên Nguyễn Đình Chiểu.
Trường THPT thành phố Sa Đéc.
Trường THPT Nguyễn Du.
Trường Trung học cơ sở Lưu Văn Lang.
Trường Trung học cơ sở Trần Thị Nhượng.
Trường Trung học cơ sở Võ Thị Sáu.
Trường Trung học cơ sở Hùng Vương.
Trường Trung học cơ sở Tân Khánh Đông.
Trường TH Kim Đồng.
Trường TH Trưng Vương.
Trường TH Hoà Khánh.
Trương TH Tân Phú Đông.
Trường TH Phú Long.
Trường TH Tân Long.
Trường TH Phú Mỹ.
Trường TH Phạm Hữu Lầu.
Trung tâm giáo dục thường xuyên thành phố Sa Đéc.
== Sa Đéc trong văn học, nghệ thuật ==
Địa danh Sa Đéc đã được nhiều người biết đến qua ca khúc Về miền Tây của 2 nhạc sĩ Y Vân- Vân Thế Bảo. Ngoài ra còn có 1 quyển sách phần nhiều nói về sự hình thành và phát triển của thành phố Sa Đéc, tập sách đó có tên Hương quê thương nhớ của tác giả Nhất Thống do Nhà xuất bản tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 2009.
== Ảnh ==
== Xem thêm ==
Lưu Văn Lang
Trần Thị Nhượng
Kiến An Cung
Sa Đéc (tỉnh)
Đào Thiên Hải
Có tham khảo tài liệu từ: Sa Đéc xưa và nay (Huỳnh Minh, 1967), Gia Định thành thông chí (Trịnh Hoài Đức), Đại Nam nhất thống chí.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website của Thành phố Sa Đéc
Hủ tiếu Sa Đéc
Làng hoa Sa Đéc |
samsung galaxy s.txt | Samsung Galaxy S là một điện thoại thông minh màn hình cảm ứng dạng thanh chạy hệ điều hành Android do Samsung Electronics thiết kế, phát triển và tiếp thị. Nó là thiết bị đầu tiên của dòng điện thoại thông minh Android thứ ba được sản xuất bởi Samsung. Nó được công bố với báo chí vào tháng 3 năm 2010 và mở bán vào tháng 6 năm 2010.
Galaxy S có hơn 20 biến thể. Phên bản quốc tế 'GT-I9000' có bộ xử lý ARM "Hummingbird" 1 GHz, bộ xử lý đồ họa PowerVR, bộ nhớ flash 2 hoặc 4 GB, màn hình cảm ứng Super AMOLED 4 in (10 cm) độ phân giải 480×800 pixel, kết nối Wi-Fi, máy ảnh chính 5-megapixel cùng máy ảnh sau 0.3-megapixel. Các phiên bản biến thể có thể bao gồm tùy chỉnh về sóng di động địa phương, hay thay đổi về bố trí nút, bàn phím, màn hình, máy ảnh hay Android OS.
Tại thời điểm phát hành, Galaxy S là điện thoại thông minh có bộ xử lý đồ họa nhanh nhất,, và mỏng nhất với 9.9 mm, và là điện thoại Android đầu tiên đạt chứng nhận DivX HD.
Tính đến năm 2013, đã có hơn 25 triệu đơn vị điện thoại Galaxy S được bán ra. Cái tên Galaxy S được tiếp tục với các các điện thoại thông minh Galaxy S Plus (dựa trên Snapdragon) và Galaxy S Advance (dựa trên NovaThor). Phát hành lớn kế tiếp của dòng này là Samsung Galaxy S II.
Năm 2012, Samsung giới thiệu phiên bản 2 SIM của Galaxy S, là Samsung Galaxy S Duos.
== Ra mắt ==
== Sự đón nhận ==
== Phần cứng ==
=== Bộ xử lý ===
=== Bộ nhớ ===
=== Màn hình ===
=== Âm thanh ===
=== Máy ảnh ===
== Phần mềm ==
=== Giao diện người dùng ===
=== Ứng dụng đi kèm ===
=== Hỗ trợ đa phương tiện ===
=== Cập nhật ===
==== Nâng cấp lên Android 2.2 ====
==== Nâng cấp lên Android 2.3 ====
==== Android 4.0 và các phiên bản mới hơn ====
=== Không chính thức ===
== Các biến thể ==
=== Quốc tế ===
==== GT-I9000B ====
==== GT-I9000M ====
==== GT-I9000T ====
==== GT-I9000/M4 ====
==== GT-I9003 ====
=== Bắc Mĩ ===
==== Captivate ====
==== Vibrant ====
==== Fascinate ====
==== Galaxy S Showcase ====
==== Epic 4G ====
==== Stratosphere ====
==== Indulge ====
==== Galaxy Proclaim ====
==== Infuse ====
==== Aviator ====
=== Châu Á ===
==== SC-02B ====
==== SHW-M110S ====
==== SHW-M130K ====
==== SHW-M130L ====
==== SCH-I909 ====
==== GT-I9008 ====
==== GT-I9088 ====
=== Nexus S ===
== Dòng sản phẩm Galaxy S ==
== Pháp lý ==
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy S series
Samsung Galaxy Tab
Samsung Infuse 4G
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Samsung Galaxy S
Mã nguồn chính thức của Samsung Galaxy S (Phiên bản cho Sprint là SPH-D700 DI18)
Samsung Apps
Trang hỗ trợ của Samsung
ARM NEON Multimedia Applications
Hệ điều hành CyanogenMod (Alternative Android distribution) |
daihatsu.txt | Công ty cổ phần Công nghiệp Daihatsu (tiếng Nhật: ダイハツ工業株式会社, tiếng Anh: Daihatsu Motor Co., Ltd) là một công ty sản xuất ô tô của Nhật Bản. Trụ sở chính của công ty đặt tại thành phố Ikeda, tỉnh Ōsaka. Daihatsu là một thành viên của tập đoàn Toyota.
== Lịch sử ==
1907 – Công ty cổ phần Chế tạo Hatsudoki được thành lập
1951 – Đổi tên thành Công ty cổ phần Công nghiệp Daihatsu. Dai lấy từ chữ Hán 大 để chỉ Ōsaka (大阪) và Hatsu lấy từ chữ Hán 発 để chỉ các loại động cơ do công ty chế tạo.
1967 – Liên kết với Toyota
1988 – Chi nhánh Daihatsu tại Mỹ cho ra hai dòng xe Charade và Rocky
1992 – Chi nhánh Daihatsu tại Mỹ đóng cửa vào tháng 2, các dòng xe của Daihatsu tại Mỹ được Toyota kế thừa
1999 – Toyota nằm 51% giá trị thị trường (cổ phần) của Daihatsu.
Sau khi sản xuất dòng xe ba bánh, Daihatsu đã chế tạo dòng xe bốn bánh đầu tiên vào năm 1958. Trong tập đoàn Toyota, Daihatsu chuyên về sản xuất xe du lịch công suất nhỏ và xe địa hình với hệ dẫn động bốn bánh. Không lâu sau vào năm 1966, hãng cho ra đời mẫu Compagno là chiếc xe của Nhật đầu tiên được nhập vào thị trường Anh.
== Các loại xe ô tô do Daihatsu chế tạo ==
Dòng xe nhỏ, đặc trưng bởi hai mẫu Domino và Charade, hầu hết sử dụng động cơ ba si lanh gồm động cơ Diesel 1,0 lít rất nhỏ. Mẫu ba si lanh tối ưu là Garade GTI, với động cơ 993cc.
Luật thuế nội địa của Nhật Bản đã làm xuất hiện dòng xe thành phố cấp K nhỏ bé, phù hợp với những quy định nghiêm ngặtvề kích thước và kiểu dáng. Chiếc Củoe của Daihatsu, với động cơ 2 xi lanh 547cc, xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1976. Một thập kỷ sau đó các tính năng này đã được kết hợp trong chiếc Leeza, với phiên bản turbo 50 bhp.
Chiếc xe địa hình với hệ dẫn động bốn bánh của Daihatsu là chiếc Taft thiết thực, sử dụng các loại động cơ xăng 1 lít tới động cơ diesel 2,5 lít. Chiếc Fourtrak, ra đời năm năm 1985, hoạt động tốt hơn chiếc địa hình trước đó. Chiếc Sportrak, được tung ra năm 1990 nhằm vào thị trường nhàn rỗi, mặc dù nó bị tụt hậu so với những chiếc xe mới hơn như Honda’s CR-V hay Toyota RAV4.
Một quy định hơi lỏng chút ít đối với dòng xe cấp K cho phép mở rộng thêm kích cỡ. Chiếc Move năm cửa cỡ nhỏ, được hãng thiết kế cùng với IDEA ở Italy, sử dụng động cơ 3 xi lanh 847ccn van 12, số tự động 3 cấp hơn hẳn hộp số sàn 5 cấp. Chương trình quảng cáo xe Move của Anh mang phong cách kỳ lạ (quảng cáo sử dụng ngôn từ "huyền bí") – bất chấp độ dài ngắn ngủn của chiếc xe này, nhưng nó vẫn có độ cao vừa đủ cho phép lái xe có thể đội thêm mũ khi lái. Một chiếc truyền thống hơn là Grand Move, về cơ bản là mẫu MPV với động cơ 1,5 lít.
Dòng xe Anh của Daihatsu về tổng thể có xu hướng đặc trưng bởi những chiếc xe nhỏ hơn, không có gì là nổi bật nhưng được trang bị khác thường. Chỉ có một ngoại lệ đó là Copen roadster đặc sắc. Mặc dù không theo tiêu chuẩn châu Âu, nhưng Daihatsu đang được nghiên cứu tính khả thi và chi phí để chuyển thể sang kiểu mẫu xuất khẩu.
== Tham khảo == |
bách thanh mỏ vàng.txt | Bách thanh mỏ vàng (danh pháp hai phần: Corvinella corvina) là một loài chim thuộc Họ Bách thanh (Laniidae]]). Loài này đôi khi được gọi là bách thanh đuôi dài, nhưng điều này không được khuyến khích vì nó mời nhầm lẫn với bách thanh đuôi dài, Lanius schach, miền nam châu Á nhiệt đới.
== Mô tả ==
Bách thanh mỏ vàng là một cư dân chim sinh sản phổ biến ở châu Phi nhiệt đới từ Senegal đông đến Uganda và địa phương ở phía tây Kenya. Nó thường lui tới rừng và môi trường sống khác với cây.
Tổ là một cấu trúc hình cái tách làm trong bụi cây hoặc cây vào đó bốn hoặc năm đẻ trứng. Chỉ có một con mái trong một nhóm sinh sản tại một thời gian nhất định, với các thành viên khác cung cấp bảo vệ và thực phẩm.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
BirdLife International (2009). “Corvinella corvina”. Loài bị đe dọa trong sách Đỏ. Version 3.1. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. Truy cập ngày 3 tháng 10 năm 2010. Database entry includes justification for why this species is of least concern
Birds of The Gambia by Barlow, Wacher and Disley, ISBN 1-873403-32-1
Zimmerman, Dale A.; Turner, Donald A.; and Pearson, David J. (1999). Birds of Kenya and Northern Tanzania, Field Guide Edition. Princeton University Press. tr. 494. ISBN 0-691-01022-6. Truy cập ngày 26 tháng 7 năm 2007. |
riyadh.txt | Riyadh hay Ri-át, thủ đô của Ả Rập Saudi, là trung tâm văn hoá, giáo dục, hành chính và thương mại của quốc gia này. Thành phố toạ lạc tại trung tâm của tỉnh có cùng tên (Ar Riyād trong tiếng Ả Rập), thành phố là một trung tâm giao thông quan trọng với một sân bay quốc tế, kết nối đường sắt đến bờ biển Vịnh Ba Tư và đường quốc lộ đến tất cả các nơi khác của quốc gia này.
Đầu thập niên 1940, nguồn thu nhập từ dầu mỏ đã giúp phát triển và hiện đại hoá thành phố. Hiện nay, thành phố đã có nhiều đường cao tốc, nhà cao tầng, các tháp nước lớn và có tốc độ gia tăng dân số thuộc nhóm nhanh nhất thế giới. Nền kinh tế của Riyadh chủ yếu dựa vào cung cấp dịch vụ, xây dựng, chế biến thực phẩm và sản xuất dầu mỏ.
Thành phố đứng nơi từng là một ốc đảo của hợp lưu nhiều sông chỉ có nước vào mùa mưa. Riyadh, có nghĩa "những ngôi vườn" trong tiếng Ả Rập đã có tên gọi từ một khu vực nông nghiệp trên ốc đảo này. Trước giữa thế kỷ 20, Riyadh đã là một làng chủ yếu nổi tiếng với các khu định cư được rải gạch bùn và nước ngầm mà nó cung cấp khiến cho nó là nơi trồng chà là, trái cây, ngũ cốc và rau. Trong khi nhiều toà nhà thời kỳ trước khi có dầu hoả đã bị phá mất, chính phủ đã cho phục dựng nhiều công trình mang tính lịch sử, bao gồm Pháo đài Musmak thế kỷ 19.
== Lịch sử ==
Riyadh đã là một nơi ở chính của dòng họ cai trị Saudi từ 1824 khi các lực lượng Saudi bị quân đội xâm lược Ai Cập đẩy ra khỏi trung tâm Bán đảo Ả Rập. Dòng họ Saudi đã chủ trì việc xây dựng Pháo đài Musmak, một nhà thờ Hồi Giáo và một thành ở Riyadh, nhưng lại bị dòng họ Rashidi đuổi đi năm 1891. Năm 1902, trong một cuộc tấn công táo bạo vào Pháo đài Musmak, Abdul Aziz ibn Saud đã chiếm lại được Riyadh và bắt đầu mở rộng lãnh địa của Saudi. Cuộc chinh phục này của ông đã tạo ra Vương quốc Ả Rập Saudi năm 1932. Dù là thủ đô của vương quốc, Riyadh vẫn còn nhỏ bé về diện tích và tầm quan trọng so với thành phố Jeddah trong nhiều thập kỷ. Mãi đến năm 1985 các văn phòng chính phủ mới dời đến Riyadh, ngày nay là thành phố lớn nhất Ả Rập Saudi. Dân số năm 1999 khoảng 3.180.000 người.
== Tham khảo == |
nato.txt | NATO là tên tắt của Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (tiếng Anh: North Atlantic Treaty Organization; tiếng Pháp: Organisation du Traité de l'Atlantique Nord và viết tắt là OTAN) là một liên minh quân sự dựa trên Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương được ký kết vào ngày 4 tháng 4 năm 1949 bao gồm Mỹ và một số nước ở châu Âu (các nước 2 bên bờ Đại Tây Dương), với mục đích thiết lập một liên minh phòng thủ trong đó các nước thành viên thực hiện phòng thủ chung khi bị tấn công bởi bên ngoài.
Ba thành viên của NATO là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc với quyền phủ quyết và là các nước sở hữu vũ khí hạt nhân: Mỹ, Pháp và Anh. Trụ sở chính của NATO đặt tại Brussels, Bỉ,, nơi Supreme Allied Commander tọa lạc. Bỉ là một trong 28 quốc gia thành viên NATO tại Bắc Mỹ và châu Âu, và mới nhất trong số các thành viên là các nước Albania và Croatia, tham gia vào tháng 4 năm 2009. Một 22 quốc gia khác tham gia với tư cách đối tác quan hệ của NATO trong chương trình Hòa bình, và 15 quốc gia khác tham gia vào các chương trình đối thoại thể chế hóa. Chi phí quân sự của NATO chiếm 70% chi phí quân sự thế giới, riêng Mỹ chiếm khoảng 50%, Anh, Pháp, Đức và Ý gộp lại chiếm 15% chi phí quân sự thế giới. Chi phí của các thành viên NATO dự tính là 2% GDP.
Mục đích thành lập của NATO là để ngăn chặn sự phát triển ảnh hưởng của chủ nghĩa cộng sản và Liên Xô lúc đó đang trên đà phát triển rất mạnh ở châu Âu có thể gây phương hại đến an ninh của các nước thành viên. Việc thành lập NATO dẫn đến việc các nước cộng sản thành lập khối Warszawa để làm đối trọng. Sự kình địch và chạy đua vũ trang của hai khối quân sự đối địch này là cuộc đối đầu chính của Chiến tranh Lạnh trong nửa cuối thế kỷ 20.
Những năm đầu tiên thành lập, NATO chỉ là một liên minh chính trị. Tuy nhiên, do cuộc chiến tranh Triều Tiên tác động, một tổ chức quân sự hợp nhất đã được thành lập. Nghi ngờ rằng liên kết của các nước châu Âu và Mỹ yếu đi cũng như khả năng phòng thủ của NATO trước khả năng mở rộng của Liên Xô, Pháp rút khỏi Bộ Chỉ huy quân sự của NATO (không rút khỏi NATO) năm 1966. Năm 2009, với số phiếu áp đảo của quốc hội dưới sự lãnh đạo của chính phủ của tổng thống Nicolas Sarkozy, Pháp quay trở lại NATO.
Sau khi bức tường Berlin sụp đổ năm 1989, tổ chức bị lôi cuốn vào cuộc phân chia nước Nam Tư, và lần đầu tiên tham dự quân sự tại Bosna và Hercegovina từ 1992 tới 1995 và sau đó đã thả bom Serbia vào năm 1999 trong cuộc nội chiến ở Kosovo. Tổ chức ngoài ra có những quan hệ tốt đẹp hơn với những nước thuộc khối đối đầu trước đây trong đó nhiều nước từng thuộc khối Warszawa đã gia nhập NATO từ năm 1999 đến 2004. Ngày 1 tháng 4 năm 2009, số thành viên lên đến 28 với sự gia nhập của Albania và Croatia. Từ sau sự kiện 11 tháng 9 năm 2001, NATO tập trung vào những thử thách mới trong đó có đưa quân đến Afghanistan và Iraq.
== Các thành viên NATO ==
=== Thành viên sáng lập ===
Anh
Bỉ
Bồ Đào Nha
Canada
Đan Mạch
Hà Lan
Mỹ
Iceland
Luxembourg
Na Uy
Pháp
Ý
=== Thành viên trong chiến tranh Lạnh ===
Hy Lạp (18 tháng 2 năm 1952)
Thổ Nhĩ Kỳ (18 tháng 2 năm 1952)
CHLB Đức (9 tháng 5 năm 1955)
Tây Ban Nha (30 tháng 5 năm 1982)
=== Thành viên Đông Âu sau Chiến tranh Lạnh ===
Ba Lan (27 tháng 5 năm 1999)
Cộng hoà Séc (27 tháng 5 năm 1999)
Hungary (27 tháng 5 năm 1999)
Bulgaria (29 tháng 3 năm 2004)
Estonia (29 tháng 3 năm 2004)
Latvia (29 tháng 3 năm 2004)
Litva (29 tháng 3 năm 2004)
România (29 tháng 3 năm 2004)
Slovakia (29 tháng 3 năm 2004)
Slovenia (29 tháng 3 năm 2004)
Croatia (1 tháng 4 năm 2009)
Albania (1 tháng 4 năm 2009)
Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ gia nhập tổ chức vào tháng 2 năm 1952. Năm 1955 Cộng hoà Liên bang Đức (lúc đó chỉ có phần Tây Đức) gia nhập, năm 1990 nước Đức thống nhất mở rộng tư cách thành viên cho vùng lãnh thổ Đông Đức tức Cộng hoà Dân chủ Đức cũ. Tây Ban Nha gia nhập ngày 30 tháng 5 năm 1982. Năm 1999, 3 nước thành viên khối Warszawa cũ gia nhập NATO là Ba Lan, Cộng hoà Séc và Hungary.
Pháp là một thành viên NATO, nhưng năm 1966 đã rút khỏi bộ chỉ huy quân sự. Sau đó tổng hành dinh NATO chuyển từ Paris đến Bruxelles. Tháng 4 năm 2009, Pháp quay trở lại bộ chỉ huy quân sự NATO, trở thành thành viên đầy đủ, chấm dứt 43 năm vắng bóng. Iceland là thành viên duy nhất của NATO không có quân đội riêng vì thế lực lượng quân đội Hoa Kỳ thường trực tại Iceland đảm nhiệm vai trò Lực lượng Phòng vệ Iceland.
Ngày 29 tháng 3 năm 2004, Slovenia, Slovakia, các nước khối Warszawa cũ gồm Bulgaria, Romania, các nước vùng Baltic thuộc Liên Xô trước đây là Estonia, Latvia và Litva chính thức gia nhập NATO. Tháng 4 cùng năm, các nước này lần đầu tiên dự họp hội đồng NATO.
Ngày 1 tháng 4 năm 2009, Croatia và Albania chính thức được kết nạp vào NATO sau 1 năm nộp đơn xin gia nhập.
Ngoài ra, NATO còn có chương trình hành động thành viên (MAP). Hiện tại MAP gồm Macedonia, Bosnia-Herzegovina và Montenegro.
=== Bản đồ lớn ===
== Quan hệ Nga-NATO ==
Theo NATO, trong hơn hai thập kỷ, NATO đã cố gắng xây dựng quan hệ đối tác với Nga, đối thoại và hợp tác với Nga trong các lĩnh vực hai bên cùng có lợi. Tuy nhiên quan hệ này bị rạn nứt khi Nato cáo buộc Nga can thiệp quân sự vào Ukraina nhưng NATO vẫn giữ các kênh đối thoại chính trị và quân sự với Nga. NATO tiếp tục quan tâm đến các hoạt động quân sự của Nga sau sự kiện Ukraina. Về phần mình, Nga cũng đổ lỗi khủng hoảng tại Ukraina là do NATO gây ra khi không giữ vững các cam kết trước đó với Nga cũng như đã tiến hành lật đổ chính quyền hợp pháp tại đây bằng đảo chính. Trên thực tế, Nga và Nato luôn tồn tại rất nhiều bất đồng.
Theo Học thuyết quân sự Liên bang Nga, lực lượng vũ trang Nga được tổ chức theo nguyên tắc phòng thủ, không đe dọa sử dụng vũ lực và ngăn chặn xung đột nhằm bảo vệ hòa bình và các lợi ích quốc gia của Nga, các đồng minh (bao gồm các lợi ích của công dân, xã hội và nhà nước) khi các biện pháp chính trị, kinh tế, ngoại giao, pháp lý và các biện pháp phi bạo lực khác không có tác dụng. Trong Học thuyết quân sự, Nga coi việc NATO sử dụng năng lực tiềm tàng của mình để vi phạm luật pháp quốc tế thông qua quá trình mở rộng là một mối đe dọa quân sự đối với Nga ngang hàng với các nguy cơ về gây mất ổn định nội bộ của các quốc gia, khu vực, thế giới; triển khai quân đột xuất ở các quốc gia có biên giới với Nga hoặc biên giới với đồng minh của Nga; các hệ thống phòng thủ và tấn công gây mất cân bằng hạt nhân chiến lược toàn cầu; sự phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt; sử dụng lực lượng vũ trang không theo luật pháp quốc tế và hiến chương Liên Hiệp Quốc; thành lập những chính phủ chống Nga và đồng minh mà không thông qua bầu cử hợp pháp tại các quốc gia láng giềng của Nga và đồng minh; chủ nghĩa khủng bố và lợi dụng chống khủng bố để gây phương hại cho Nga và đồng minh...Chính sách đối ngoại của Nga với NATO là đối thoại trên cơ sở bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau nhằm xây dựng nền an ninh với nền tảng không liên kết và có tính tập thể (collective non-aligned), Nga và NATO cùng nhau củng cố vai trò của Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu Âu (OSCE).
=== Chính sách Đông tiến của NATO và sự lo ngại của Nga ===
Chính sách kết nạp các thành viên cũ trong khối Xã hội chủ nghĩa tại Đông Âu và các nước thuộc không gian hậu Xô-viết bị Nga lên án là hành động vi phạm Hiệp ước Các Lực lượng Vũ trang Thông thường ở châu Âu (CFE) khi Hiệp định này nghiêm cấm các thành viên cũ trong khối Xã hội chủ nghĩa tại Đông Âu và các nước thuộc không gian hậu Xô-viết gia nhập NATO. Bên cạnh đó Nga cũng cáo buộc NATO không giữ đúng cam kết về duy trì mức trần về số lượng vũ khí thông thường. Việc NATO mở rộng về phía Đông là một trong các nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng chính trị tại Ukraina. Về cơ bản, NATO mở rộng về phía Đông đã tái khẳng định địa vị lãnh đạo toàn cầu của Mỹ, không gian an ninh và không gian sinh tồn của Nga dần bị thu hẹp, bố cục an ninh địa chính trị của châu Âu thay đổi đáng kể.
Hoa Kỳ chủ trương duy trì NATO và thúc đẩy chính sách Đông tiến của NATO, biến đây trở thành lý do để NATO tồn tại sau chiến tranh Lạnh. Nga tuy thừa kế vị thế pháp lý của Liên Xô nhưng không thể hùng mạnh một cách toàn diện như Liên Xô trước kia. Tuy nhiên, Nga vẫn là một cường quốc ở châu Âu và chính sách đông tiên là để kiềm chế Nga.
Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, NATO tiến hành 3 đợt Đông tiến. Ngay trong lần mở rộng đầu tiên, biên giới NATO đã được mở về phía Đông thêm 900 km, quân số tăng thêm 13 Sư đoàn, tiếp nhận toàn bộ vũ khí-khí tài các thành viên mới và Đông Đức. Điều này khiến cho cán cân Nga-NATO mất cân bằng nghiêm trọng. Tổng quân số NATO gần 5 triệu quân (chưa tính quân số của Hoa Kỳ và các nước ngoài châu Âu), trong khi đó Nga có 3,2 triệu. ngày 27/5/1997 đã ký kết “Văn kiện cơ bản về quan hệ, hợp tác và an ninh giữa Nga với NATO”. Trong văn kiện, NATO cam kết sẽ để Nga có quyền phát ngôn ở mức độ nhất định đối với các sự vụ của NATO. Hơn nữa NATO bảo đảm không bố trí vũ khí hạt nhân trong lãnh thổ các nước thành viên mới..
Chính sách Đông tiến đã xâm phạm đến sân sau của Nga và đe dọa đến lợi ích chiến lược cốt lõi của nước này, một điều mà Tổng thống Putin đã nhấn mạnh và lặp lại nhiều lần. Tổng thống Nga Boris Yeltsin đã nói: “Đây là dấu hiệu đầu tiên về điều có thể xảy ra khi NATO tiến gần đến biên giới của Liên bang Nga. … Ngọn lửa chiến tranh có thể bùng cháy và trải khắp châu Âu" khi NATO mở rộng lần thứ nhất sau chiến tranh Lạnh. Ngoại trưởng Nga Lavrov đã công bố các tài liệu chứng minh rằng NATO từng hứa với Liên Xô và Nga rằng NATO không bao giờ mở rộng về phía Đông.
=== Hệ thống phòng thủ tên lửa của NATO tại Đông Âu và sự lo ngại của Nga ===
Bên cạnh chính sách Đông tiến, hệ thống phòng thủ tên lửa của NATO tại Đông Âu cũng bị Nga coi là một mối đe dọa khác. Mặc dù NATO tuyên bố hệ thống này làm nhằm chống lại các mối đe dọa từ Iran nhưng Nga cho rằng sự thiếu cân bằng trong việc triển khai lực lượng giữa Đông Âu-Địa Trung Hải là minh chứng cho sự bao vây Nga. Bên cạnh đó, việc Iran không có khả năng tấn công châu Âu nên thực tế hệ thống này là để kiềm chế Nga. Năm 2001, Chính quyền của Tổng thống G.W.Bush đã đơn phương tuyên bố rút khỏi Hiệp ước chống tên lửa đạn đạo (ABM), mà Mỹ và Liên Xô đã ký kết năm 1972 để xây dựng hệ thống này khiến Nga cực kỳ lo ngại khi Hiệp ước này là nền tảng để hai bên duy trì thế cân bằng lực lượng..
Để đáp trả, Nga đã lên kế hoạch việc nâng cấp khả năng tấn công bằng tên lửa của mình, trong đó có kế hoạch triển khai tên lửa đạn đạo chiến thuật Iskander tại Kaliningrad, Krashnodar (Nga) và Belarus.
Ngày 13/05/2015, Nga đã phản ứng gay gắt khi Hoa Kỳ đưa hệ thống phòng thủ tên lửa ở Đông Âu chính thức đi vào hoạt động. Hệ thống này trị giá 800 triệu USD. Ngoài ra Nga cũng thành lập 3 sư đoàn mới tại miền Tây nước này để làm đối trọng với NATO
Phát ngôn viên điện Kremlin Dmitri S. Peskov nói rằng: "Ngay từ đầu, các chuyên gia quân sự của Nga đã bị thuyết phục rằng hệ thống tên lửa này tạo ra một mối đe dọa lớn với Liên bang Nga"
== NATO và kế hoạch thành lập quân đội riêng của Liên minh Châu Âu ==
Hiện tại, để khắc phục những nhược điểm của NATO cũng như để độc lập hơn với Hoa Kỳ trong chính sách đối ngoại và phòng thủ, Liên minh Châu Âu đã đưa ra đề xuất thành lập một quân đội riêng của các nước trong khối. Cả ông Jean-Claude Juncker - Chủ tịch Ủy ban châu Âu, lẫn bà Federica Mogherini - Cao ủy Liên minh Châu Âu về Đối ngoại (tương đương Ngoại trưởng của khối) đều ủng hộ kế hoạch này. Tiên trình này trước đây bị Anh phản đối do lo ngại lực lượng vũ trang này sẽ cạnh tranh với NATO. Theo Anh, kế hoạch này sẽ làm hỏng chính sách phòng thủ của EU. Tuy nhiên, từ sau khi Anh rời EU, kế hoạch này lại được nối lại. Việc thành lập lực lượng vũ trang riêng của EU rất được Đức, Pháp - 2 nước chủ chốt trong khối ủng hộ. Về phía Hoa Kỳ, việc thành lập quân quân đội EU sẽ khiến nước này giảm bớt chi phí dành cho các nước đồng minh ở Châu Âu thông qua NATO, không phải can thiệp vào những công việc của riêng Châu Âu nhưng ít có ảnh hưởng tới lợi ích của Hoa Kỳ như những sự việc ở Balkan. Việc bà Mogherini tuyên bố quân đội EU sẽ làm việc độc lập với NATO đã làm gia tăng lo ngại rằng quân đội EU sẽ thay thế vai trò của NATO ở châu Âu. Hungary, Italia và Séc đều ủng hộ kế hoạch này. Tờ Người Bảo vệ của Anh cho rằng Hoa Kỳ sẽ ủng hộ việc thành lập quân đội này nếu nó khiến cho Châu Âu "suy yếu một cách nhanh chóng và vững chắc". Tờ báo này cũng nhấn mạnh rằng hiện tại Châu Âu không thiếu một quân đội mà thiếu một cam kết về phòng thủ giữa các nước Châu Âu và xuyên Đại Tây Dương. Ngày 22 tháng 11 năm 2016, Liên minh Châu Âu đã đưa ra cam kết quân đội riêng của khối sẽ đi vào hoạt động vào năm 2017. Theo ông Sergey Rastoltsev thuộc Viện Kinh tế Thế giới và Quan hệ Quốc tế Primakov, thuộc Học viện Khoa học Liên bang Nga, quân đội EU có thể khiến quan hệ chính trị-quân sự giữa Nga-EU thêm căng thẳng nhưng trong trường hợp quan hệ Nga-EU được cải thiện, quân đội EU cũng có thể tạo ra nhiều cơ hội hợp tác hơn giữa Nga-EU nếu so với vai trò của NATO do NATO vốn dĩ là một vết tích từ thời Chiến tranh lạnh và do sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ lên quan hệ Nga-EU cũng sẽ bị giảm bớt khi quân đội này không có Hoa Kỳ tham gia như NATO.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
David C. Isby & Charles Kamps Jr, Armies of NATO's Central Front, Jane's Publishing Company Ltd 1985
== Đọc thêm ==
Đọc thêm – Giai đoạn đầu
Francis A. Beer. Integration and Disintegration in NATO: Processes of Alliance Cohesion and Prospects for Atlantic Community. (Columbus: Ohio State University Press, 1969), 330 pp.
Francis A. Beer. The Political Economy of Alliances: Benefits, Costs, and Institutions in NATO. (Beverly Hills: Sage, 1972), 40 pp.
Eisenhower, Dwight D. The Papers of Dwight David Eisenhower. Vols. 12 and 13: NATO and the Campaign of 1952: Louis Galambos et al., ed. Johns Hopkins University Press, 1989. 1707 pp. in 2 vol.
Gearson, John and Schake, Kori, ed. The Berlin Wall Crisis: Perspectives on Cold War Alliances Palgrave Macmillan, 2002. 209 pp.
John C. Milloy. North Atlantic Treaty Organisation, 1948–1957: Community or Alliance? (2006), focus on non-military issues
Smith, Joseph, ed. The Origins of NATO Exeter, UK University of Exeter Press, 1990. 173 pp.
Đọc thêm – Giai đoạn Chiến tranh Lạnh sắp kết thúc
Smith, Jean Edward, and Canby, Steven L.The Evolution of NATO with Four Plausible Threat Scenarios. Canada Department of Defence: Ottawa, 1987. 117 pp.
Đọc thêm – Giai đoạn hậu Chiến tranh lạnh
Asmus, Ronald D. Opening NATO's Door: How the Alliance Remade Itself for a New Era Columbia University Press, 2002. 372 pp.
Bacevich, Andrew J. and Cohen, Eliot A. War over Kosovo: Politics and Strategy in a Global Age. Columbia University Press, 2002. 223 pp.
Daclon, Corrado Maria Security through Science: Interview with Jean Fournet, Assistant Secretary General of NATO, Analisi Difesa, 2004. no. 42
Gheciu, Alexandra. NATO in the 'New Europe' Stanford University Press, 2005. 345 pp.
Hendrickson, Ryan C. Diplomacy and War at NATO: The Secretary General and Military Action After the Cold War University of Missouri Press, 2006. 175 pp.
Lambeth, Benjamin S. NATO's Air War in Kosovo: A Strategic and Operational Assessment Santa Monica, Calif.: RAND, 2001. 250 pp.
Đọc thêm – Lịch sử chung
Alasdair, Roberts (2002/2003). “NATO, Secrecy, and the Right to Information” (PDF). East European Constitutional Review (New York University — School of Law). 11/12 (4/1): 86–94.
Kaplan, Lawrence S. The Long Entanglement: NATO's First Fifty Years. Praeger, 1999. 262 pp.
Kaplan, Lawrence S. NATO Divided, NATO United: The Evolution of an Alliance. Praeger, 2004. 165 pp.
Létourneau, Paul. Le Canada et l'OTAN après 40 ans, 1949–1989 Quebec: Cen. Québécois de Relations Int., 1992. 217 pp.
Paquette, Laure. NATO and Eastern Europe After 2000 (New York: Nova Science, 2001).
Powaski, Ronald E. The Entangling Alliance: The United States and European Security, 1950–1993. Greenwood Publishing Group, 1994. 261 pp.
Telo, António José. Portugal e a NATO: O Reencontro da Tradiçoa Atlântica Lisbon: Cosmos, 1996. 374 pp.
Sandler, Todd and Hartley, Keith. The Political Economy of NATO: Past, Present, and into the 21st Century. Cambridge Uiversity Press, 1999. 292 pp.
Zorgbibe, Charles. Histoire de l'OTAN Brussels: Complexe, 2002. 283 pp.
Đọc thêm – Các vấn đề khác
Kaplan, Lawrence S., ed. American Historians and the Atlantic Alliance. Kent State University Press, 1991. 192 pp.
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của NATO
History of NATO – the Atlantic Alliance - UK Government site
Basic NATO Documents
'NATO force 'feeds Kosovo sex trade' (The Guardian)
NATO Maintenance and Supply Agency (NAMSA) Official Website
NATO Consultation, Command and Control Agency (NC3A) Official Website
Joint Warfare Centre
NATO Response Force Article
NATO searches for defining role
Official Article on NATO Response Force
World Map of NATO Member Countries
Congressional Research Service (CRS) Reports regarding NATO
Balkan Anti NATO Center, Greece
NATO Defense College
Atlantic Council of the United States
CBC Digital Archives - One for all: The North Atlantic Treaty Organization
NATO at Fifty: New Challenges, Future Uncertainties U.S. Institute of Peace Report, tháng 3 năm 1999
NATO at 50
Ukraine shelves bid to join NATO |
libya.txt | Libya (phiên âm tiếng Việt: Li-bi; tiếng Ả Rập: ليبيا Lībiyā) là một quốc gia tại Bắc Phi và giáp với Địa Trung Hải ở phía bắc, Ai Cập ở phía đông, Sudan ở phía đông nam, Tchad và Niger ở phía nam, Algérie và Tunisia ở phía tây. Với diện tích hơi lớn hơn gấp năm lần Việt Nam, Libya là nước lớn thứ tư ở châu Phi và thứ 17 trên thế giới. Thủ đô của Libya là thành phố Tripoli, với 1,7 triệu trong tổng số 5,8 triệu dân cả nước. Ba khu vực truyền thống của quốc gia này là Tripolitania, Fezzan và Cyrenaica.
Cái tên "Libya" bắt nguồn từ chữ "Lebu" trong tiếng Ai Cập, để chỉ những người Berber sống ở phía tây sông Nil, và được đưa vào tiếng Hy Lạp cổ đại để trở thành "Libya". Ở thời Hy Lạp cổ đại, thuật ngữ "Lybya" có nghĩa rộng hơn, gồm toàn bộ Bắc Phi ở phía tây Ai Cập, và đôi lúc còn bao gồm toàn bộ lục địa châu Phi.
Với một trữ lượng dầu mỏ đã được kiểm chứng thuộc hàng lớn nhất trên thế giới, Libya có mức thu nhập kinh tế quốc dân trên đầu người cao nhất Bắc Phi, cũng như là một trong những nước có mức GDP trên đầu người cao ở châu Phi. Với tổng diện tích 1,8 triệu km², 90% trong đó là sa mạc. Với dân số chỉ có 6 triệu người và các khoản thu nhập từ dầu lửa hàng năm tới 32 tỷ đô la Mỹ trong năm 2010, tiềm năng của Libya là rất lớn, cung cấp cho người dân một hệ thống an sinh xã hội cao và rộng rãi, đặc biệt trong lĩnh vực nhà ở và giáo dục. So sánh với các nước láng giềng theo định hướng thị trường, Libya có mức nghèo tuyệt đối và tương đối khá thấp. Tuy nhiên trong 42 năm cầm quyền, Gadhafi được cho là đã biển thủ các nguồn tài trợ nhằm thu lợi cho gia đình và bộ tộc của ông. và tỉ lệ thất nghiệp tại Libya được ước tính là 30% hoặc nhiều hơn.
== Lịch sử ==
Bằng chứng khảo cổ học cho thấy ít nhất từ tám nghìn năm trước Công Nguyên, đồng bằng ven biển Libya đã có những người dân thuộc văn hoá đồ đá mới biết thuần hóa gia súc và trồng cấy lương thực. Nền văn hóa này đã phát triển từ hàng nghìn năm trong vùng, hàng nghìn năm trước khi các lực lượng từ châu Âu cổ tới đây thống trị, cho tới khi nó bị thay thế bởi người Berber.
Vùng đất trở thành nước Libya hiện đại ngày nay đã từng bị chinh phục ở nhiều mức độ khác nhau từ bên ngoài bởi người Phoenicia, Carthage, Hy Lạp, La Mã, Vandal, ngoài ra Đế chế Byzantine từng cai trị toàn bộ hay từng phần của Libya. Ngoài một số phế tích tại Cyrene, Leptis Magna và Sabratha của người Hy Lạp và người La Mã, hiện nay có rất ít di vật của hai nền văn hóa cổ đó trên đất Libya.
Người Phoenicia là những người đầu tiên thành lập các cảng thương mại ở Libya khi những thương nhân tại Týros (thuộc Liban ngày nay) phát triển các mối quan hệ thương mại với các bộ lạc người Berber và thiết lập các hiệp ước với họ nhằm đảm bảo sự hợp tác trong việc khai thác các nguyên liệu thô. Tới thế kỷ thứ 5 TCN, Carthage, thuộc địa lớn nhất của người Phoenicia đã mở rộng quyền bá chủ của mình ra hầu hết toàn bộ vùng Bắc Phi ngày nay, nơi một nền văn minh riêng biệt, được gọi là Punic, đang hình thành. Những khu định cư của người Punic ở dọc bờ biển Libya gồm Oea (Tripoli), Labdah (sau này là Leptis Magna) và Sabratha, tại một vùng sẽ được gọi chung là Tripolis, hay "Ba thành phố", và thủ đô Tripoli ngày nay của Libya cũng có tên xuất phát từ đó.
Người Hy Lạp cổ đại đã chinh phục Đông Libya, khi theo thông lệ, những người dân từ hòn đảo Thera đông đúc theo lời sấm tại Delphi đi tìm kiếm một vùng đất mới ở Bắc Phi. Năm 631 trước Công Nguyên họ bắt đầu biết đến thành phố Cyrene. Trong vòng 200 năm, người Hy Lạp lập bốn thành phố quan trọng khác trong vùng đất Libya là: Barce (Al Marj); Euhesperides (sau này là Berenice, Benghazi) hiện nay; Teuchira (sau này là Arsinoe, Tukrah hiện nay); và Apollonia (Susah), cảng Cyrene. Cùng với Cyrene, chúng được gọi là Pentapolis (Năm thành phố).
Người La Mã đã thâu tóm các vùng thuộc Libya, và trong hơn 400 năm, Tripolitania và Cyrenaica trở thành các tỉnh thịnh vượng của La Mã. Những tàn tích thời La Mã, như những tàn tích ở Leptis Magna, minh chứng cho sinh khí từng có ở vùng này, khi các thành phố thịnh vượng và thậm chí là các thị trấn nhỏ hơn đều có chung tình trạng phát triển với mức sống cao ở đô thị. Các nhà buôn và thợ thủ công từ nhiều vùng của đế chế Roma đã tới Bắc Phi, nhưng đặc điểm của các thành phố Tripolitania vẫn mang nhiều nét Punic của người Punic và nét Cyrenaica của người Hy Lạp.
Người Ả Rập đã chinh phục Libya vào thế kỷ thứ 7. Trong những thế kỷ tiếp theo, nhiều người bản địa đã theo đạo Hồi, tiếng Ả Rập và văn hoá. Đế chế Ottoman Thổ Nhĩ Kỳ đã chinh phục nước này vào giữa thế kỷ 16, Libya tiếp tục là một phần của đế chế đó, dù tại nhiều thời điểm hầu như nó đã trở thành một vùng tự trị, cho tới khi bị Ý xâm chiếm năm 1911. Sau các cuộc kháng chiến bất thành, Libya bị biến thành một nước thuộc địa.
Năm 1934, Ý chấp nhận cái tên "Libya" (đã được người Hy Lạp sử dụng để chỉ cả vùng Bắc Phi, ngoại trừ Ai Cập), làm tên chính thức của thuộc địa này, khi ấy nó gồm các tỉnh Cyrenaica, Tripolitania và Fezzan. Vua Idris I, Emir xứ Cyrenaica, lãnh đạo cuộc kháng chiến của người Libya chống lại sự chiếm đóng của Ý giữa hai cuộc thế chiến. Từ năm 1943 tới 1951, Tripolitania và Cyrenaica nằm dưới quyền chiếm đóng của Anh trong khi Pháp chiếm đóng Fezzan. Năm 1944, Idris trở về nước từ nơi bị trục xuất là Cairo nhưng không thể cư trú thường xuyên tại Cyrenaica cho tới khi một số quyền chiếm đóng của nước ngoài bị bãi bỏ năm 1947. Theo các điều khoản của hiệp ước hòa bình năm 1947 với các nước Đồng Minh, Ý từ bỏ mọi yêu sách đối với Libya.
Ngày 21 tháng 11 năm 1949, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua một nghị quyết tuyên bố rằng Libya sẽ trở thành một nước độc lập trước ngày 1 tháng 1 năm 1952. Idris đại diện cho Libya tại các cuộc đàm phán của Liên Hiệp Quốc sau đó. Khi Libya tuyên bố nền độc lập của mình ngày 24 tháng 12 năm 1951, nó trở thành nước đầu tiên giành được độc lập thông qua Liên Hiệp Quốc và một trong những thuộc địa đầu tiên của châu Âu ở châu Phi giành lại được độc lập. Libya tuyên bố trở thành quốc gia theo chính thể quân chủ lập hiến dưới quyền Vua Idris.
Sự phát hiện ra những giếng dầu với trữ lượng lớn năm 1959 và nguồn thu có được sau đó từ bán dầu khiến cho nước này từ vị thế một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trở thành một nước rất giàu có, khi tính theo GDP trên đầu người. Dù dầu mỏ đã cải thiện một cách đáng kể tình hình tài chính của chính phủ Libya, sự bất mãn của dân chúng vẫn tồn tại khi tài sản quốc gia ngày càng bị tập trung vào tay Vua Idris và tầng lớp quý tộc trong nước. Sự bất bình ngày càng tăng với sự phát triển của chủ nghĩa Nasser và chủ nghĩa quốc gia Ả Rập trên toàn vùng Bắc Phi và Trung Đông.
Ngày 1 tháng 9 năm 1969, một nhóm nhỏ các sĩ quan quân đội dưới sự chỉ huy của Muammar Abu Minyar al-Gaddafi khi ấy mới 28 tuổi tiến hành một cuộc đảo chính lật đổ Vua Idris. Ở thời điểm đó, Idris đang phải nằm viện ở Thổ Nhĩ Kỳ. Cháu trai ông, Thái tử Sayyid Hasan ar-Rida al-Mahdi as-Sanussi, lên làm vua. Rõ ràng là các sĩ quan cách mạng, những người đã thông báo sự phế truất Vua Idris không muốn nhượng bộ ông ta về những quyền lợi đối với một vị vua. Sayyid nhanh chóng nhận ra thực tế rằng khi làm vua ông lại có ít quyền lực hơn khi làm thái tử. Trước cuối tháng 9, Vua Sayyid Hasan ar-Rida al-Mahdi as-Sanussi chính thức bị các sĩ quan cách mạng phế truất và bị quản thúc tại gia. Trong lúc ấy, các sĩ quan cách mạng xóa bỏ chế độ quân chủ, và tuyên bố một nước Cộng hòa Libya Ả Rập mới. Gaddafi đã là "Lãnh tụ Anh cả và là Người hướng dẫn Cách mạng" theo cách gọi chính thức của chính phủ và trên báo chí.
Năm 2011, một cuộc nổi dậy nổ ra và biến thành nội chiến, chấm dứt 42 năm cầm quyền của Gaddafi.
== Chính trị ==
Libya có hệ thống chính phủ kép. "Ban cách mạng" gồm Lãnh tụ Cách mạng Gaddafi, Ủy ban cách mạng và các thành viên còn lại của mười hai người trong Hội đồng Chỉ huy Cách mạng, được thành lập từ năm 1969. Ban lãnh đạo cách mạng từ trước không được bầu ra và cũng không thể bị khai trừ, bởi vì họ nắm quyền lực nhờ vào công lao đã đóng góp trong cuộc cách mạng. Ban cách mạng kiểm soát quyền đưa ra quyết định của ban kia, "Ban Jamahiriya".
Là nhánh lập pháp của chính phủ, ban này gồm các Đại hội Nhân dân Địa phương tại mỗi 1.500 khu vực đô thị, 32 Sha’biyat Đại hội Nhân dân cho các vùng, và Đại hội Nhân dân Quốc gia. Các cơ chế lập pháp này được đại diện bởi các cơ chế hành pháp tương đương (Ủy ban Nhân dân Địa phương, Ủy ban Nhân dân Sha'biyat và Ủy ban Đại hội Nhân dân Quốc gia).
Bốn năm một lần các thành viên của Đại hội Nhân dân Địa phương bầu ra lãnh đạo của mình và các thư ký cho các Ủy ban Nhân dân, bằng cách giơ tay biểu quyết, thỉnh thoảng có thể là sau nhiều cuộc tranh luận và một cuộc bỏ phiếu khá gắt gao. Lãnh đạo các Ủy ban Nhân dân Địa phương đại diện cho khu vực của mình tại Đại hội Nhân dân cấp trên và là sự ủy thác bắt buộc. Các thành viên của Đại hội Nhân dân Quốc gia bầu ra các thành viên của Ủy ban Nhân dân Quốc gia(Chính phủ libya1977 – 2011) bằng cách giơ tay biểu quyết tại kỳ họp hàng năm của mình. Cuộc họp gần đây nhất diễn ra tại Sirte 8 tháng 1–12 tháng 1 năm 2005, là kỳ họp hàng năm lần thứ 29.
Trong khi vẫn có những cuộc tranh luận về người sẽ cạnh tranh vào các chức vụ hành pháp, trên thực tế chỉ những người được ban lãnh đạo cách mạng đồng ý mới trúng cử. Chính phủ hành chính chỉ hoạt động hiệu quả khi nó thực hiện đúng các mệnh lệnh lãnh đạo do ban lãnh đạo cách mạng đưa ra. Ban lãnh đạo cách mạng có quyền phủ quyết tối cao bất kể tới quyền lực hiến pháp của chế độ dân chủ nhân dân và cái gọi là quyền lực của nhân dân. Chính phủ kiểm soát cả truyền thông nhà nước và tư nhân, và bất kỳ một bài viết nào chỉ trích các chính sách hiện thời đều đã được chỉ đạo có mục đích từ trước của chính ban lãnh đạo cách mạng, để làm ví dụ về các biện pháp cải cách. Trong những trường hợp khác, sự chỉ trích như vậy của các tờ báo tư nhân, như tờ The Tripoli Post, đã bị kiểm duyệt.
Các Đảng chính trị đã bị cấm hoạt động theo Đạo luật về việc cấm các Đảng Chính trị số 71 năm 1972. Theo Đạo luật bổ sung năm 1971 cho phép thành lập các tổ chức phi chính phủ (NGOs). Bởi vì chúng phải thích hợp với những mục tiêu của cách mạng, tuy nhiên, có quá ít các tổ chức như vậy khi so sánh với các nước xung quanh. Các Liên đoàn Thương mại cũng không hề tồn tại, nhưng nhiều hiệp hội nghề nghiệp được đưa vào trong các cơ cấu của chính phủ trở thành một trụ cột thứ ba, cùng với các Đại hội Nhân dân và các Ủy ban. Các hiệp hội đó không có quyền bãi công. Các hiệp hội nghề nghiệp cử các đại biểu tới các Đại hội nhân dân Quốc gia, và họ có tư cách đại diện.
== Các vùng hành chính ==
Ban đầu chỉ được tổ chức thành từ hai tới bốn tỉnh, sau này Libya được chia thành nhiều vùng thủ hiến (muhafazat), 25 khu đô thị (baladiyat) và gần đây là 32 sha'biyah.
== Quan hệ ngoại giao ==
Chính sách đối ngoại của Libya đã có nhiều thay đổi lớn từ khi nước này tuyên bố thành lập vào Đêm Noel năm 1951. Khi còn là một quốc gia quân chủ, Libya theo đuổi lập trường ủng hộ phương Tây, tuy thế nó vẫn là một nước được cho là thuộc số quốc gia bảo thủ trong việc giữ gìn truyền thống bên trong Liên đoàn Ả Rập, mà họ là một thành viên từ năm 1953. Chính phủ nước này là một đồng minh thân cận của Anh và Hoa Kỳ; cả hai nước này đều giữ quyền đặt căn cứ quân sự tại Libya. Libya cũng có quan hệ thân thiện với Pháp, Ý, Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ, và đã thiết lập quan hệ ngoại giao đầy đủ với Liên bang Xô viết năm 1955.
Dù chính phủ ủng hộ những cuộc đấu tranh chính nghĩa Ả Rập, gồm các phong trào đòi độc lập ở Maroc và Algérie, họ không tham gia tích cực vào cuộc tranh chấp Ả Rập-Israel, các đề tài chính trị ồn ào bên trong cộng đồng Ả Rập trong thập kỷ 1950 và đầu thập kỷ 1960. Vương quốc này được biết đến với sự hợp tác chặt chẽ với phương Tây, trong khi lại tỏ ra bảo thủ với các vấn đề trong nước.
Sau vụ đảo chính năm 1969, Gaddafi đóng cửa các căn cứ của Anh, Mỹ và quốc hữu hoá một phần các công ty dầu mỏ và thương mại nước ngoài tại Libya. Ông cũng đóng vai trò quan trọng trong việc vận động sử dụng cấm vận dầu lửa như một vũ khí để thách thức phương Tây, hy vọng rằng khi giá dầu tăng cao cùng với cuộc cấm vận năm 1973, phương Tây, đặc biệt là Hoa Kỳ, sẽ phải cân nhắc trong việc ủng hộ Israel. Gaddafi không chấp nhận cả chủ nghĩa cộng sản của Sô viết và chủ nghĩa tư bản của phương Tây, tuyên bố rằng mình đang lập ra một con đường trung dung riêng cho đất nước. Tháng 10 năm 1978, Gaddafi đã bị chỉ trích nặng nề khi ủng hộ Idi Amin trong cuộc Chiến tranh Uganda-Tanzania. Quân đội Libya được Gaddafi gửi đến giúp đỡ Idi Amin trong tham vọng sát nhập tỉnh Kagera phía bắc Tanzania của ông ta. Amin thua trận và sau này phải chạy trốn sang Libya và sống ở đó gần một năm.
Trong thập kỷ 1980, Libya ngày càng xa lánh phương Tây, và bị buộc tội thực hiện nhiều hành động của một quốc gia ủng hộ chủ nghĩa khủng bố. Khi bằng chứng về sự dính líu của Libya vào vụ đánh bom khủng bố vào vũ trường tại Berlin năm 1986 làm thiệt mạng hai người Mỹ bị khám phá, Hoa Kỳ trả đũa bằng cách tung ra một chiến dịch ném bom vào các mục tiêu gần Tripoli và Benghazi vào tháng 4 năm 1986.
Năm 1991, hai nhân viên tình báo Libya bị các công tố viên liên bang truy tố tại Hoa Kỳ và Scotland vì sự liên quan của họ tới vụ đánh bom chuyến bay 103 của Pan Am vào tháng 12 năm 1988. Sáu người Libya khác cũng bị xét xử vắng mặt về vụ đánh bom chuyến bay 772 của UTA năm 1989. Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã yêu cầu Libya dẫn độ các nghi can, hợp tác với những nhà điều tra vụ Pan Am 103 và UTA 772, chi trả bồi thường cho gia đình các nạn nhân và ngừng mọi hành động ủng hộ chủ nghĩa khủng bố. Libya từ chối hợp tác dẫn tới việc Hội đồng Bảo an thông qua Nghị quyết 748 vào ngày 31 tháng 3 năm 1992, áp đặt các biện pháp trừng phạt nước này cho tới khi các nghị quyết trước đó được tuân thủ. Libya tiếp tục bất hợp tác và Liên Hiệp Quốc lại đưa ra các biện pháp trừng phạt năng nề hơn chống lại Libya vào tháng 11 năm 1993.
Năm 2003, hơn một thập kỷ sau khi các biện pháp trừng phạt được áp dụng, Libya bắt đầu có những thay đổi đầy bất ngờ trong chính sách của họ với thế giới phương Tây thể hiện rõ ràng mong muốn theo đuổi chính sách giảm căng thẳng giữa Libya và phương Tây. Chính phủ Libya đã thông báo quyết định từ bỏ các chương trình vũ khí hạt nhân của mình và chi gần 3 tỷ đôla Mỹ cho các gia đình nạn nhân chuyến bay 103 của Pan Am và chuyến bay 772 của UTA. Nhiều nước phương Tây đã hoan nghênh quyết định này của Libya và coi đó là một bước tiến quan trọng của Libya trong việc tái gia nhập cộng đồng quốc tế. Từ năm 2003 nước này đã bình thường hóa quan hệ với Liên minh châu Âu và hoa Kỳ và thậm chí đã trở thành một trường hợp điển hình với câu nói thông dụng "kiểu Libya", một ví dụ cho cộng đồng quốc tế thấy rằng mọi việc đều có thể được giải quyết thông qua đàm phán chứ không phải bằng vũ lực khi có thiện chí từ cả hai phía.
Việt nam là một trong ít nước có quan hệ ngoại giao khá bền chặt và lâu dài với Lybia. Hai nước ký kết quan hệ ngoại giao từ 1975. Chi tiết xem thêm Quan hệ ngoại giao Việt Nam - Libya
== Địa lý ==
Libya rộng 1.759.540 km² (679.182 dặm vuông), là nước rộng thứ 17 trên thế giới. phía bắc Libya được bao bọc bởi Địa Trung Hải, phía tây giáp với Tunisia và Algérie, phía tây nam với Niger, phía nam với Tchad và Sudan, và phía đông giáp Ai Cập. Với một đường bờ biển dài 1770 kilômét (1100 dặm), Libya là quốc gia có đường bờ biển dài nhất ở Địa Trung Hải. Khí hậu đa phần là khô và kiểu sa mạc. Tuy nhiên, các vùng phía bắc có khí hậu Địa Trung Hải ôn hòa hơn.
Các vùng địa lý theo lịch sử là Cyrenaica, Tripolitania và Fezzan. Hai thành phố quan trọng nhất là thủ đô Tripoli ở phía tây bắc Libya và Benghazi, nằm ở phía đông. Các thành phố lớn khác gồm Misratah, Sirte và Sabha.
Các thiên tai gồm gió nóng, khô mang theo nhiều bụi (tại Libya thường được gọi là gibli). Đây là gió ở phía nam xuất hiện trong thời gian từ một đến bốn ngày vào mùa xuân và mùa thu. Ngoài ra còn có các trận bão bụi và bão cát. Các ốc đảo có rải rác trên khắp lãnh thổ, các ốc đảo lớn nhất là Ghadames và Kufra.
=== Sa mạc ===
Sa mạc Libya bao phủ hầu như toàn bộ vùng đông Libya, là một trong những địa điểm khô cằn nhất trên thế giới. Tại nhiều vị trí, trong thời gian hàng thập kỷ không có mưa, và thậm chí tại những vùng cao nguyên mưa rất hiếm khi xảy ra, chỉ một lần trong khoảng 5-10 năm. Tại Uweinat, trận mưa cuối cùng xảy ra vào tháng 9 năm 1998. Có một vùng đất trũng rất rộng được đặt tên là vùng Đất trũng Qattara, ở ngay phía nam dãy núi cực bắc, cùng với ốc đảo Siwa ở cực tây. Vùng này dốc nghiêng về phía tây, chạy tới hai ốc đảo Jaghbub và Jalo.
Tương tự như vậy, khí hậu ở sa mạc Libya có thể rất khắc nghiệt; năm 1922, thị trấn Al 'Aziziyah, nằm ở phía tây Tripoli, có nhiệt độ lên tới 57.8°C (136.0°F), thường được coi là mức nhiệt độ không khí cao nhất từng ghi nhận được trên thế giới.
Có một số ốc đảo không người ở nằm rải rác, thường liên kết với các vùng trũng lớn, nơi có thể tìm thấy nước khi đào sâu xuống đất vài feet. Ở phía tây, có một số nhóm ốc đảo nằm phân tán và không liên kết với các vùng đất trũng, nhóm Kufra, gồm Tazerbo, Rebiana và Kufra.
Ngoài các vách núi, địa hình bằng phẳng ở đây chỉ bị ngắt quãng bởi một loạt các cao nguyên và các khối núi ở gần trung tâm Sa mạc Libya, xung quanh điểm giao cắt biên giới Ai Cập - Sudan - Libya.
Hơi xa hơn về phía nam là các khối núi Arkenu, Uweinat và Kissu. Những ngọn núi đá granite này rất cổ, đã được hình thành từ lâu trước những viên đá sa thạch xung quanh chúng. Arkenu và Tây Uweinat là những vòng phức hợp rất giống với các vòng tại dãy núi Air. Đông Uweinat (điểm cao nhất ở Sa mạc Libya) là một cao nguyên đá sa thạch kề sát phần đá granite ở phía tây. Đồng bằng ở phía bắc Uweinat mang một số đặc điểm núi lửa đã bị ăn mòn.
Năm 1996 bộ phim Bệnh nhân người Anh khiến mọi người quan tâm hơn tới sa mạc Libya giống như tác phẩm văn học nguyên mẫu của bộ phim này đã gây ra năm 1992.
== Kinh tế ==
Kinh tế Libya phụ thuộc chủ yếu vào các nguồn thu từ lĩnh vực dầu khí, trên thực tế chiếm toàn bộ nguồn thu từ xuất khẩu và khoảng một phần tư GDP. Các nguồn thu từ dầu khí đó cộng với số lượng dân chúng nhỏ khiến Libya trở thành một trong những quốc gia có GDP trên đầu người cao nhất châu Phi và cho phép nước này cung cấp cho người dân một hệ thống an sinh xã hội cao và rộng rãi đáng kinh ngạc, đặc biệt trong lĩnh vực nhà ở và giáo dục. So sánh với các nước láng giềng theo định hướng thị trường, Libya có mức nghèo tuyệt đối và tương đối khá thấp. Trong ba thập kỷ qua, các nhà lãnh đạo Libya đã có những nỗ lực thực hiện quá trình cải cách kinh tế như một phần của chiến dịch rộng lớn hơn nhằm tái hòa nhập cộng đồng quốc tế. Nỗ lực này càng gia tăng sau khi những biện pháp trừng phạt của Liên Hiệp Quốc được dỡ bỏ vào tháng 9 năm 2003, và khi Libya thông báo vào tháng 12 năm 2003 rằng họ sẽ từ bỏ các chương trình sản xuất vũ khí giết người hàng loạt.
Libya đã bắt đầu chấp nhận đáp ứng các sức ép kinh tế, chính trị quốc tế để tiến hành cải cách theo phương hướng thị trường và đã tự do hóa nền kinh tế mang phương hướng xã hội của mình. Những bước đi đầu tiên — gồm xin gia nhập WTO, giảm một số khoản trợ cấp và thông báo các kế hoạch tư nhân hoá — đang tạo nền tảng cho một quá trình chuyển tiếp tới một nền kinh tế dựa trên thị trường. Các lĩnh vực sản xuất phi dầu khí và xây dựng, vốn chiếm khoảng 20% GDP, đã được mở rộng thêm nhiều mặt hàng mới như hóa dầu, sắt, thép và nhôm thay vì đơn thuần là chế biến các sản phẩm nông nghiệp như trước kia. Các điều kiện khí hậu và đất đai bạc màu hạn chế rất nhiều năng suất nông nghiệp, và Libya phải nhập khẩu khoảng 75% lương thực.
Nền kinh tế Libya được coi là đã chín muồi để thực hiện hiện đại hóa và cho đầu tư nước ngoài. Dưới thời thủ tướng trước, Shukri Ghanem và thủ tướng hiện nay Baghdadi Mahmudi, nước này trải qua một giai đoạn bùng nổ thương mại. Nhiều ngành công nghiệp do chính phủ quản lý thời trước đang được tư nhân hoá. Đa số các biện pháp trừng phạt của Hoa Kỳ đã được dỡ bỏ; tới tháng 5 năm 2006, những biện pháp cuối cùng còn lại cũng đã được xếp đặt kế hoạch đưa ra trước lưỡng viện Hoa Kỳ để được thông qua. Continental Airlines hiện đang chào các tour du lịch tới Libya. Nhiều công ty dầu lửa quốc tế đã quay lại nước này, như Shell và ExxonMobil. Du lịch cũng đang phát triển, khiến lượng nhu cầu về phòng khách sạn và khả năng vận chuyển của các sân bay như Sân bay quốc tế Tripoli tăng lên. Chương trình hiện đại hóa các sân bay ở Libya trị giá nhiều triệu đôla gần đây đã được chính phủ thông qua nhằm đáp ứng các yêu cầu đó.
Và cũng dưới chế dộ của Ghadafi, tỷ lệ biết chữ đã tăng từ 10% lên 90% tuổi thọ trung bình tăng từ 57 lên 77 tuổi quyền bình đẳng được bảo vệ cho phụ nữ và người da đen, cơ hội việc làm được nâng cao cho các công nhân nhập cư và hệ thống phúc lợi đã được đầu tư cho phép người dân tiếp cận với giáo dục và chăm sóc y tế miễn phí cũng như hỗ trợ về nhà ở. Dòng sông Nhân Tạo là dự án tưới tiêu lớn nhất thế giới cũng được đào để cung cấp nước ngọt cho Libya. Ngoài ra, việc hỗ trợ tài chính cũng được cấp cho các đại học để trao học bổng và chương trình phát triển việc làm. Do vậy, Chỉ số phát triển con người (HDI) của Libya được xếp vào mức cao trên thế giới, thứ hạng 58/177 nước năm 2005. Và Libya không hề có nợ nước ngoài dưới chế độ của Gaddafi.
Tuy vậy, tỷ lệ thất nghiệp tại Libya được ước tính là 30% hoặc nhiều hơn. Hình thức chủ nghĩa xã hội đặc biệt của Libya cung cấp miễn phí giáo dục, y tế và trợ cấp nhà ở và giao thông vận tải được bao cấp.
Tuy nhiên theo báo BBC Anh quốc, mức lương tại Libya rất thấp và sự giàu có của nhà nước và lợi nhuận từ đầu tư nước ngoài chỉ đem lại lợi lộc cho một tầng lớp thượng lưu nhỏ. Theo tờ báo Hoa Kỳ Los Angeles Times, các quan chức cao cấp của chính quyền mới ở Libya cáo buộc Đại tá Moammar Gadhafi đã bí mật tẩu tán hơn 200 tỷ USD trong các tài khoản ngân hàng, địa ốc và các khoản đầu tư khắp thế giới trước khi ông ta chết. Các quan chức này cho rằng, trong 42 năm cầm quyền, Gadhafi đã biển thủ các nguồn tài trợ nhằm thu lợi cho gia đình và bộ tộc của ông. Theo tờ báo Anh quốc Daily Mail, Ông Gaddafi được cho là có khoảng 170 tỷ USD tài sản ở nước ngoài, phần lớn trong số đó đã bị phong tỏa kể từ đầu năm 2011.
Tuy nhiên các con số trên chưa được chứng minh là sự thật. Thực tế, con số 200 tỷ USD được gán cho Gaddafi thực chất là số tiền thuộc sở hữu hợp pháp của các tổ chức nhà nước như Ngân hàng Trung ương Libya và Cơ quan Đầu tư Libya, quỹ tài sản có chủ quyền của Libya. Do đó, các quỹ của Libya dưới thời Gaddafi cũng tương tự như các quỹ tài sản có chủ quyền của các nước khác. Liên minh châu Âu cũng thông báo ít nhất 30 tỷ USD các khoản đầu tư của Libya đã bị phong tỏa trên khắp lục địa và cùng đồng thuận rằng hàng tỷ tiền đầu tư của chính phủ Libya ở nước ngoài không phải là tài sản cá nhân của Gaddafi.
== Nhân khẩu ==
Libya có dân số ít sống trong một lãnh thổ rộng lớn, với mật độ dân số khoảng 3 người trên km² (8,5/mi²) ở hai vùng phía bắc là Tripolitania và Cyrenaica, và chưa tới một người trên km² (1,6/mi²) tại những nơi khác. Vì vậy, Lybia là một trong những quốc gia có số dân trên diện tích thấp nhất trên thế giới. 90% dân số sống trên một vùng chiếm chưa tới 10% lãnh thổ, đa số dọc theo bờ biển. Hơn nửa triệu người sống tại đô thị, và tập trung đông nhất ở hai thành phố lớn là Tripoli và Benghazi. Người Lybia bản địa chủ yếu gồm người Ả Rập và người Berber.
Có một số lương nhỏ người Tuareg và Tebu sống tập trung ở phía nam, sống theo kiểu du mục hay bán du mục. Trong số người nước ngoài sống tại Lybia, nhóm đông nhất là các công dân từ các quốc gia châu Phi gồm Bắc Phi (chủ yếu là người Ai Cập và Tunisia), Tây Phi và người Phi vùng Hạ Sahara. Người Berber ở Lybia và người Ả Rập chiếm 97% dân số, 3% còn lại là người Phi da đen, người Hy Lạp, Maltese, Ý, Ai Cập, Pakistan, Thổ, Ấn Độ và Tunisia.
Ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất ở Libya là tiếng Ả Rập, và đây cũng là ngôn ngữ chính thức. Tiếng Tamazight, tuy không phải là ngôn ngữ chính thức nhưng được người Berber ở Libya sử dụng. Ngoài ra, người Tuareg nói tiếng Tamahaq, thứ ngôn ngữ thuộc nhóm ngôn ngữ Tamasheq duy nhất được biết đến ở vùng phía bắc. Tiếng Ý và tiếng Anh thỉnh thoảng được sử dụng tại các thành phố lớn, dù những người nói tiếng Ý chủ yếu đều đã có tuổi.
=== Giáo dục ===
Dân số Libya xấp xỉ 5,8 triệu người trong đó có 1,7 triệu học sinh và sinh viên, hơn 270.000 người đang theo học tại các trường đại học. Giáo dục ở Libya được miễn phí cho mọi người, và là bắt buộc cho đến cấp hai. Tỷ lệ biết chữ của nước này cao nhất Bắc Phi; 82,6% dân số biết đọc và viết. Sau khi Libya tuyên bố độc lập năm 1951, trường đại học đầu tiên của họ từng là "Đại học Libya", được thành lập ở Benghazi. Trong niên khoá 1975/76 số lượng sinh viên đại học được ước tính là 13.418 người. Tới năm 2004, con số này đã tăng lên hơn 200.000, với khoảng 70.000 người khác đang theo học các trường kỹ thuật và đào tạo nghề. Sự tăng trưởng nhanh chóng số lượng sinh viên trong khu vực đào tạo cao học được phản ánh ở sự tăng nhanh số lượng các viện đào tạo cao học. Từ năm 1975 số lượng các trường đại học đã tăng từ hai lên tới con số chín và sau khi bắt đầu xuất hiện từ năm 1980, số các trường kỹ thuật và đào tạo nghề hiện đã là 84. Giáo dục cao học ở Libya được trợ cấp từ ngân sách nhà nước. Năm 1998, số tiền dành cho giáo dục chiếm 38,2% ngân sách quốc gia.
=== Tôn giáo ===
Tôn giáo thống trị ở Libya là Hồi giáo với 97% dân số theo tín ngưỡng này. Hầu như toàn bộ người Hồi giáo Libya đều thuộc dòng Hồi giáo Sunni, nó có ảnh hưởng lớn cả trên tinh thần cá nhân và các chính sách của chính phủ.
Trước thập kỷ 1930, Phong trào Sanusi là phong trào Hồi giáo lớn nhất ở Libya. Đây là một phong trào hướng tới sự phục hưng tôn giáo đã được thay đổi nhằm tương thích với cuộc sống sa mạc. Các zawaayaa (chi nhánh) của nó đã được tìm thấy tại Tripolitania và Fezzan, nhưng ảnh hưởng lớn nhất của Sanusi nằm tại Cyrenaica. Nhằm cứu nguy tôn giáo khỏi sự bất ổn và tình trạng hỗn loạn, phong trào Sanusi đã mang lại cho những người dân bộ lạc Cyrenaican một sự gắn bó tôn giáo và những tình cảm thống nhất. Phong trào Hồi giáo này, cuối cùng bị tiêu diệt bởi cả cuộc xâm lược của Ý và sau đó là bởi chính phủ Gaddafi, phong trào này mang nhiều tính bảo thủ và dù sao cũng có khác biệt so với Hồi giáo hiện nay ở Libya. Gaddafi quả quyết rằng ông là một tín đồ Hồi giáo cuồng nhiệt và chính phủ của ông đang giữ vai trò ủng hộ các viện Hồi giáo trên khắp thế giới thu hút thêm các tín đồ theo đạo Hồi. Tuy nhiên, Hồi giáo Libya luôn được coi là theo truyền thống, nhưng không thô bạo so với Hồi giáo tại các nước khác. Hình thức Hồi giáo Sufism của Libya rất phổ biến trên toàn quốc.
Ngoài đa số tuyệt đối tín đồ Hồi giáo Sunni, có một cộng đồng thiểu số rất nhỏ Cơ đốc giáo, gồm hầu hết là người nước ngoài. Cũng có một cộng đồng Anh giáo nhỏ, gồm phần lớn là công nhân nhập cư châu Phi tại Tripoli; nó là một phần của Giáo khu Ai Cập. Cũng có khoảng 40.000 tín đồ Công giáo La Mã tại Libya với hai giám mục, một tại Tripoli (phục vụ cộng đồng Ý) và một tại Benghazi (dành cho cộng đồng Malta).
Tới thời gian gần đây Libya vẫn là nơi có một trong những cộng đồng người Do Thái lớn nhất thế giới và đã từng tồn tại ít nhất từ năm 300 TCN. Một loạt các cuộc tàn sát người Do Thái bắt đầu từ tháng 11 năm 1945 và kéo dài gần ba năm đã làm suy giảm đáng kể số lượng người Do Thái ở Libya. Năm 1948, khoảng 38.000 người Do Thái còn sống tại nước này.
Từ khi Libya tuyên bố độc lập năm 1951, đa số cộng đồng Do Thái đã di cư khỏi đất nước. Một loạt các cuộc tàn sát người Do Thái khác diễn ra sau cuộc Khủng hoảng Suez năm 1956, buộc khoảng 100 người Do Thái phải bỏ chạy. Khi Gaddafi lên nắm quyền lực, số người Do Thái còn lại bị tịch thu gia sản và những khoản nợ của người khác đối với họ bị xóa bỏ. Tuy nhiên, gần đây Gaddafi đã thông báo rằng những khoản bồi thường thích hợp sẽ được chi trả cho những người Do Thái Libya đã bỏ đất nước ra đi. Dù Giáo đường Do Thái chính ở Tripoli đã được tu bổ lại năm 1999, nó vẫn chưa được mở cửa cho công chúng.
== Văn hóa ==
Văn hóa Libya tương đồng với các quốc gia Ả rập xung quanh. Trong khi ngôn ngữ hàng đầu của đất nước là một hình thức thông tục địa phương của tiếng Ả rập, người dân Libya coi họ là một phần của thế giới Ả rập to lớn. Dường như có một sự phân biệt về thổ ngữ và một số thổ ngữ bộ lạc và làng khác. Người Libya Ả rập có một di sản truyền thống của bộ lạc du mục Bedouin và thường coi mình là một phần của bộ lạc Bedouin.
Cuộc sống gia đình là điều quan trọng đối với các gia đình Libya, đa số họ sống tại các tòa nhà chung cư và các ngôi nhà riêng, kiểu ngôi nhà phụ thuộc vào thu nhập và sự giàu có của từng hộ. Dù người Libya Ả rập theo truyền thống sống du mục trong các lều trại, hiện họ đã định cư tại nhiều thị trấn và thành phố. Vì thế, phong cách sống cũ của họ dần phai nhạt. Một số lượng nhỏ người Libya vẫn sống trong sa mạc như cha ông họ đã từng sống trong hàng thế kỷ trước kia. Đa phần dân cư làm việc trong các ngành công nghiệp và dịch vụ, chỉ một số nhỏ làm nông nghiệp.
Như một số nước Ả rập khác trong thế giới Ả rập, Libya có ít nhà hát và các gallery. Giải trí công cộng hầu như không tồn tại, thậm chí trong các thành phố lớn. Gần đây nghệ thuật tại Libya đã bắt đầu phục hưng, đặc biệt là hội hoạ; các gallery tư nhân bắt đầu phát triển tạo cơ hội thể hiện cho các tài năng trẻ. Trái lại, trong nhiều năm nước này không hề có những nhà hát công cộng, và chỉ vài rạp chiếu phim có trình chiếu các bộ phim nước ngoài. Văn hóa dân gian vẫn tồn tại và phát triển, với một số nhóm nhạc và nhảy múa tại các dịp lễ hội, cả tại Libya và nước ngoài. Các chương trình phát thanh chính ở Libya đều phát các loại nhạc truyền thống. Âm nhạc Tuareg và nhảy múa rất phổ biến tại Ghadames ở phía nam. Các chương trình truyền hình đa số phát bằng tiếng Ả rập với chỉ 30 phút mỗi ngày cho các bản tin tiếng Anh và tiếng Pháp mỗi buổi chiều. Chính phủ vẫn quản lý chặt chẽ các cơ sở phát thanh, truyền hình; Một phân tích mới do Ủy ban bảo vệ các nhà báo đưa ra cho rằng truyền thông ở Libya là một trong những nơi bị quản lý chặt chẽ nhất trong thế giới Ả rập. Để khắc phục điều này, chính phủ đã có nhiều kế hoạch nhằm phát triển truyền hình tư nhân, một sáng kiến được đưa ra nhằm phục hưng ngành truyền thông của đất nước.
Người Libya thường đi nghỉ tại các bãi biển trong nước. Họ cũng có cơ hội tham quan tại các địa điểm khảo cổ học được gìn giữ trong tình trạng tốt, đặc biệt ở Leptis Magna, nơi đây được nhiều người coi là một trong những di sản khảo cổ học Rôma được gìn giữ tốt nhất trên thế giới.
Thủ đô đất nước, Tripoli, có rất nhiều bảo tàng đẹp và văn khố phong phú; gồm Thư viện chính phủ, Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Khảo cổ học, Lưu trữ Quốc gia, Bảo tàng Văn khắc và Bảo tàng Hồi giáo. Bảo tàng Jamahiriya được xây dựng sau các cuộc thảo luận với UNESCO, có lẽ là bảo tàng nổi tiếng nhất nước này; nó trưng bày những bộ sưu tập đẹp nhất về nghệ thuật cổ điển Địa Trung Hải.
Xem thêm thông tin: Âm nhạc Libya
== Nhân quyền tại Libya ==
Xem chi tiết Nhân quyền tại Libya.
== Xem thêm ==
== Xếp hạng quốc tế ==
== Tham khảo ==
Libya, Anthony Ham, Lonely Planet Publications, 2002, ISBN 0-86442-699-2
Libya Handbook, Jamez Azema, Footprint Handbooks, 2001, ISBN 1-900949-77-6
Harris, David A. (2001). In the Trenches: Selected Speeches and Writings of an American Jewish Activist, 1979-1999. KTAV Publishing House, Inc. ISBN 0-88125-693-5
Wright, John L. Nations of the Modern World: Libya, Ernest Benn Ltd, 1969
Bản mẫu:CIAfb
Bài viết này kết hợp các tài liệu thuộc phạm vi công cộng từ website hay thư mục thuộc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (Nền tảng lưu ý).
== Liên kết ngoài ==
Nội chiến & căng thẳng chính trị Libya 2011
=== Chính phủ ===
General People's Committee (The Cabinet)
The People's Committee of Foreign Affairs
Libyan Liaison Office, Washington D.C.
Libyan People's Bureau (Libyan Embassy), Ottawa
Libyan Cultural Affairs, London.
=== Tổng quan ===
BBC News Country Profile — Libya
Encyclopaedia Britannica, Libya - Country Page
Open Directory Project - Libya directory category
US Congressional Research Service (CRS) Reports - Libya
US State Department — Libya includes Background Notes, Country Study and major reports
=== Du lịch ===
Libyan Arab Airlines
Libya Connected
Libya Tourism Forums
Libya travel
=== Thương mại ===
Libyan American Chamber of Commerce |
ứng suất kéo.txt | Ứng suất kéo là trạng thái ứng suất khi vật liệu chịu tác động kéo căng hướng trục. Bất kỳ một vật liệu nào thuộc loại đàn hồi thì phần lớn chịu được ứng suất kéo trung bình, ngược lại là các vật liệu chịu đựng lực kéo kém như: gốm, hợp kim giòn. Trong ngành chế tạo thép, một số loại thép có khả năng chịu được ứng suất kéo rất lớn, như các sợi dây cáp thép trong các thiết bị nâng hạ.
Ứng suất kéo luôn thể hiện khả năng liên kết các vi tinh thể của vật liệu. Khi vật liệu bị kéo bằng hai lực ngược chiều nhau, thì phần lớn các vật liệu sẽ bị đứt ở một giới hạn ứng suất nào đó. Tại thời điểm vật liệu bị kéo đứt, thông số ứng suất đó được ghi nhận và được xem như độ bền kéo của vật liệu đó.
== Tham khảo == |
mori ōgai.txt | Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Mori. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau).
Mori Ogai (森 鷗外/森 鴎外, Mori Ogai, Sâm Âu Ngoại/Sâm Hào Ngoại) 17 tháng 2 năm 1862 – 8 tháng 7 năm 1922) là một bác sĩ, một dịch giả, nhà viết tiểu thuyết và là một nhà thơ Nhật Bản. Ông sinh ra ở Tsuwano, tỉnh Iwami (nay là tỉnh Shimane) trong một gia đình đời đời làm nghề thầy thuốc cho lãnh chúa, lớn lên theo truyền thống đó, vào Đại học Đế quốc Tokyo học y khoa. Ông tốt nghiệp năm 1881 và trở thành quân y của lục quân.
== Sự nghiệp ==
Mori được gửi đi học về khoa vệ sinh ở Đức (Leipzig, Dresden, Munich, và Berlin) bởi chính quyền Minh Trị năm 1884 khi ông ở tuổi 22. Trở về vào 4 năm sau, ông được tạm xếp ở một vị trí cao là một bác sĩ khoa nội trong quân đội Nhật Bản. Là một người chuyên điều trị không phải dùng phẫu thuật, Mori là chuyên gia trong lĩnh vực bệnh tê phù, một nguyên nhân gây đau ốm bởi sự thiếu hụt thiamine. Mori tin tưởng một cách sai lầm rằng bệnh tê phù là một bệnh truyền nhiễm và từ chối chế độ ăn kiêng mà lực lượng hải quân Nhật đề ra cái mà rõ ràng đã điều trị cho 99% bệnh nhân. Những quyết định đáng ngờ của ông trong suốt Chiến tranh Nga-Nhật là nguyên nhân cái chết của mười ngàn lính Nhật bị bệnh tê phù. Trong năm 1907 Mori trở thành Tổng cục trưởng hệ thống quân y của lục quân, và vào năm 1916 ông được chỉ định làm giám đốc nhà bảo tàng Đế quốc.
Trong suốt chiến tranh Nga - Nhật (1904-1905) cái mà Mori giữ bên mình là một cuốn sổ thơ. Sau chiến tranh, ông bắt đầu thành lập tanka viết về Đảng bao gồm một số nhà thơ nổi tiếng như Yosano Akiko. Là một tác giả, Mori được coi là một nhà văn hàng đầu thời kỳ Minh Trị với những tác phẩm lừng danh như Maihime (舞姫, Nàng vũ công, 1890) miêu tả mối quan hệ giữa một người đàn ông Nhật và một phụ nữ Đức, mang màu sắc khai sáng khuynh hướng lãng mạn trong văn học Nhật Bản thời cận đại. Đặc biệt là Gan ("Ngỗng trời", được dịch ở Việt Nam với tên gọi "Nhạn", 1911–13) xuất bản năm 1881 ở Tokyo được chuyển thể thành phim bởi Shiro Toyoda năm 1953 với tựa đề the Mistress/ Bà chủ nhà.
Khi tinh thần khai sáng của giai đoạn đầu đã lắng dịu, ông viết các tác phẩm đậm màu sắc sử liệu như Sanshō Dayū (山椒大夫, "Truyện Sanshō, người kể dạo", 1915), Takasebune (高瀬舟, "Thuyền giải tù", 1916) v.v.
Những đóng góp khác của Mori có thể kể đến bao gồm dịch thuật những tác phẩm của Goethe, Schiller, Ibsen, Hans Christian Andersen, và Hauptmann; thành lập Viện phê bình văn học hiện đại ở Nhật dựa trên lý thuyết thẩm mỹ của Karl von Hartmann. Hầu hết thời gian làm việc về sau của ông thì liên quan đến tiểu sử và lịch sử.
== Thông tin thêm ==
Tên thực của Mori là Rintarō (林太郎). Ōgai viết đúng là 鷗外 nhưng nhiều máy tính không hiện đúng ký tự kanji này và chữ 鴎外 thường được dùng thay thế.
Ngôi nhà nơi Mori từng sống được bảo quản ở khu vực Kokura Kita thuộc Kitakyushu, không xa nhà ga Kokura. Tại đây ông viết Kokura Nikki (Nhật ký Kokura). Ngôi nhà nơi ông sinh ra được bảo quản ở Tsuwano.
Một trong những người con gái của Mori, Mori Mari, có những ảnh hưởng tới sự vận động của Yaoi trong nền văn học Nhật Bản đương đại.
== Tác phẩm tiêu biểu ==
Maihime (1890, 舞姫 | Nàng vũ công)
Utakata no ki (1890, Truyện người ca kỹ)
Fumizukai (1891, Người đưa thư)
Wita sekusuarisu (1909, ヰタ・セクスアリス Tình dục muôn năm)
Seinen (1910, Tuổi trẻ)
Chinmoku notō (Pháo đài tĩnh lặng, 1910)
Mōsō (Mộng tưởng, 1911)
Gan (1911–13, 雁 | Nhạn)
Okitsu Yagoemon no isho (1912, Thư trối trăn của Okitsuyaemon)
Sanshō Dayū (1915, 山椒大夫 | Truyện của Sanshô, người kể dạo)
Shibue Chūsai (1916, Sáp Giang Trừu Trai)
Takasebune (1916, 高瀬舟 | Thuyền giải tù) v.v.
=== Tác phẩm đã được dịch sang tiếng Việt ===
Ba truyện ngắn Đang trùng tu, Thuyền giải tù, Hanako (Nguyễn Nam Trân dịch từ nguyên tác tiếng Nhật).
Nhạn (Hoàng Long dịch từ nguyên tác tiếng Nhật, Nhà xuất bản Văn học, 2013)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Mori Ôgai, nhà văn và nhà tư tưởng khai sáng trên Việt Nam Net (22 tháng 6 năm 2006)
Mori Ogai | Nhân vật lịch sử hiện đại điển hình của Nhật Bản (National Diet Library)
Công trình e-texts của Mori Ōgai trên Aozora bunko
Mộ Mori Ogai |
người sán dìu.txt | Người Sán Dìu là một dân tộc ít người sinh sống ở miền trung du của một số tỉnh miền Bắc Việt Nam. Các tên gọi khác: Sán Déo, Trại, Trại Đất, Mán quần cộc, Mán váy xẻ. Dân tộc này thuộc về nhóm ngôn ngữ Hoa với dân số khoảng 126.237 người. Dân tộc Sán Dìu được tạo lập từ thời nhà Minh tại Quảng Đông, Trung Quốc, sau đó dần dần di chuyển đến Việt Nam. Mặc dù nói tiếng Quảng Đông và sử dụng chữ Hán, người Sán Dìu không được chính phủ Việt Nam phân loại là người Hoa.
== Dân số và địa bàn cư trú ==
Dân tộc Sán Dìu chủ yếu sống ở miền trung du các tỉnh Thái Nguyên,Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Tuyên Quang, Hải Dương (tổng cộng khoảng 97%). Một số di cư vào Tây Nguyên lập nghiệp, thành các làng hay sống rải rác tại các tỉnh thành khác.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Sán Dìu ở Việt Nam có dân số 146.821 người, có mặt tại 56 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Sán Dìu cư trú tập trung tại các tỉnh: Thái Nguyên (44.131 người, chiếm 30,1% tổng số người Sán Dìu tại Việt Nam), Vĩnh Phúc (36.821 người, chiếm 25,1% tổng số người Sán Dìu tại Việt Nam), Bắc Giang (27.283 người), Quảng Ninh (17.946 người), Tuyên Quang (12.565 người), Hải Dương (1.872 người), Đồng Nai (850 người), Hà Nội (832 người), Lâm Đồng (662 người), Đắk Nông (617 người)...
== Các đặc điểm cơ bản ==
=== Tổ chức cộng đồng ===
Người Sán Dìu ở thành từng chòm xóm nhỏ.
=== Nhà cửa ===
Người Sán Dìu ở nhà đất. Nhà của dân tộc này không có những đặc trưng riêng. Có lẽ vì vậy mà người Sán Dìu đã tiếp thu mẫu nhà của người Kinh khá dễ dàng.
=== Trang phục ===
Trang phục của người Sán Dìu đã và đang đổi thay gần giống trang phục người Kinh. Phụ nữ Sán Dìu có tập quán ăn trầu và thường mang theo mình chiếc túi vải đựng trầu hình múi bưởi có thêu nhiều hoa văn sặc sỡ, và kèm theo là con dao bổ cau có bao bằng gỗ được chạm khắc trang trí đẹp.
=== Cưới xin ===
Trong nhà, người chồng (cha) là chủ gia đình, con theo họ cha, con trai được thừa hưởng gia tài. Cha mẹ quyết định việc cưới gả cho con. Con trai con gái phải được xem số, so tuổi trước khi nên duyên vợ chồng.
== Kinh tế ==
Người Sán Dìu chủ yếu làm ruộng nước, có phần nương, soi, bãi. Thêm vào đó còn có chăn nuôi, khai thác lâm sản, đánh bắt nuôi thả cá, làm gạch ngói, rèn, đan lát v.v
Từ lâu đời, người Sán Dìu đã sáng tạo ra chiếc xe quệt (không cần bánh lăn) dùng trâu kéo để làm phương tiện vận chuyển. Hình thức gánh trên vai hầu như chỉ dùng cho việc đi chợ.
Hàng ngày, người Sán Dìu dùng cả cơm lẫn cháo, đồ giải khát thông thường là nước cháo loãng. Ngoài ra họ còn hay uống rượu trong si
== Ma chay ==
Người Sán Dìu địa tang có cải táng hay bốc mộ. Đến ngày Thanh Minh hàng năm thì tảo mộ. lễ tảo mộ thường là cá và cơm nếp (các loại cá trừ cá Rô phi). Ngoài ra có thể là thịt lơn, Gà luộc... Trong mỗi mộ phải có 1 bộ cờ dây (5 cờ) được làm từ giấy với đủ loại màu khác nhau. với những mộ của người là thầy cúng thì con hoặc cháu cắm thêm cờ tam giác.
== Văn hóa ==
Thơ ca dân gian của người Sán Dìu phong phú, dùng thơ ca trong sinh hoạt hát đối nam nữ (Soọng cô) rất phổ biến. Truyện kể - chủ yếu truyện thơ khá đặc sắc. Các điệu nhảy múa thường xuất hiện trong đám ma. Nhạc cụ có tù và, kèn, trống, sáo, thanh la, não bạt cũng để phục vụ nghi lễ tôn giáo. Nhiều trò chơi dân tộc được họ ưa thích là: đi cà kheo, đánh khăng, đánh cầu lông kiểu Sán Dìu, kéo co.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Tiếng Việt
Các dân tộc ít người ở Việt Nam.. Hà Nội, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội. 1978. "Dân tộc Hoa": trang 388-395
Tiếng Anh
Grant Evants (2000). Where China meets Southeast Asia: Social & Cultural Change in the Border Region.. Palgrave Macmillan. ISBN 9780312236342. Chapter 13: Cross-Border Categories: Ethnic Chinese and the Sino-Vietnamese Border at Mong Cai
== Liên kết ngoài == |
danh sách các câu lạc bộ bóng đá ở ghana.txt | Đây là danh sách các câu lạc bộ bóng đá ở Ghana.
Về danh sách đầy đủ, xem Thể loại:Câu lạc bộ bóng đá Ghana
== 2 ==
24/7 (24 Seven) United
== A ==
== B ==
== C ==
== D ==
== E ==
== F ==
== G ==
== H ==
== I ==
== J ==
== K ==
== L ==
== M ==
== N ==
== O ==
== P ==
== Q ==
Queens Park Rangers
== R ==
== S ==
== T ==
== U ==
== V ==
== W ==
== Z ==
Zamalek F.C. (Takoradi)
Zaytuna (Accra)
Zongo JS
Zoom F.C.
Zurak FC
Zum FC
== Câu lạc bộ nữ ==
Abrem Super Blessing Ladies
Abura Dunkwa Real Maiden Ladies
Ada Ladies
Akyawkrom Washington View
Ampem Darko Ladies
Ash Town Ladies
Ashaiman Ladies
Assin Foso Betinsin Ladies
Assin North Ladies
Athleta Ladies
Bafana Ladies
Blessed Ladies (Kasoa)
Bubiashie Starlets Ladies
Cape Coast Ghatel Ladies
Coegan Ladies
Comsport Ladies FC
Cosmos Ladies
Elmina Bafana Ladies
Envoys Ladies
Fabulous Ladies
Dansoman Faith Ladies Football Club (Accra)
Ghatel F.C. Tamale
GHATEL Ladies
Ghatel Ladies (Kumasi)
Ghatel Ladies (Sunyani)
Ghatel Ladies of Accra
GHATEL Ladies of Takoradi
God's Kingdom Ladies
Goldfields Ladies
Great Mawuena Ladies
Hasaacas Ladies
Ideal Ladies
Immigration Accra
Impregnable Tesano Ladies
Konongo Missiles Ladies
La Ladies
Lepo Stars Ladies FC
Madonna Ladies
Mawuena FC
Meridia Ladies
Oforikrom Ladies
Olympique Marseille Ladies
Osei Tutu Ladies
Peki Ladies
Police Accra
Police Ladies (Kumasi)
Port Ladies
Post Ladies
Real Meridian Ladies
Reformers Sunyani
Right to Dream SA
Rock Ladies
Sharp Arrows Ladies
Simew New Castles
Starlets Ladies
Super Fire (Bekwai)
Super Lions Ladies FC
Takoradi Ghatel Ladies
Tema Bluna Ladies
Tema Zion Ladies
Tesano Ladies
Western Ladies
Valued Girls FC
== Liên kết ngoài ==
Ghana League - RSSSF |
eritrea.txt | Eritrea (Tiếng Việt: Ê-ri-tơ-rê-a; phát âm tiếng Anh: /ˌɛrɨˈtreɪə/, tiếng Ả Rập: إرتريا Iritriya), tên chính thức Nhà nước Eritrea, là một quốc gia châu Phi, giáp Sudan về phía tây, Ethiopia về phía nam và Djibouti về phía đông nam. Phần phía đông và đông bắc Eritrea còn có các đảo ven bờ trong biển Đỏ. Quần đảo Dahlak và rất nhiều đảo thuộc quần đảo Hanish thuộc lãnh thổ Eritrea. Eritrea có diện tích 118,000 km² và dân số ước tính khoảng hơn 6 triệu người người. Thủ đô là Asmara.
Italia đã từng xâm chiếm Eritrea và chính phủ Italia xem Eritrea như một thuộc địa vào ngày 1 tháng 1 năm 1890. Năm 1936, Eritrea cùng với Ethiopia và một phần Somalia trở thành một tỉnh của Italia với tên gọi Đông Phi thuộc Ý (Ý Đông Phi). Người Anh thế chân người Ý quản lý Eritrea vào năm 1941 dưới danh nghĩa vùng đất ủy trị của Hội Quốc Liên đến năm 1951 khi Eritrea liên kết với Ethiopia thông qua nghị quyết 390 của Liên Hiệp Quốc (tháng 12 năm 1950).
Cũng từ thời điểm này, tại Eritrea người dân nổi dậy chống lại sự hợp nhất với Ethiopia. Hành động này châm ngòi cho việc đi đến quyết định của chính phủ Ethiopia tuyên bố Eritrea là tỉnh thứ 14 của Ethiopia vào năm 1962. Hành trình tìm kiếm lại độc lập của Eritrea kéo dài 31 năm và kết thúc vào năm 1991 với sự trung gian hòa giải của Liên Hiệp Quốc. Theo đó sẽ tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về tương lai của Eritrea và người dân Eritrea đã chọn con đường trở thành một nước độc lập. Eritrea tuyên bố độc lập và được quốc tế công nhận vào năm 1993 .
Eritrea hiện là thành viên của Liên Hợp Quốc, Liên minh châu Phi và quan sát viên của Liên đoàn Ả Rập.
== Lịch sử ==
Vào thời cổ đại, vùng lãnh thổ Eritrea hiện nay thuộc về vương quốc Aksum rồi đến vương quốc Ethiopia. Vùng này thuộc quyền kiểm soát của Đế quốc Ottoman vào thế kỉ 16. Năm 1889, lãnh thổ này bị Italia xâm chiếm và trở thành thuộc địa Italia theo Hiệp ước Uccialli. Người Italia đặt tên cho thuộc địa này theo tên biển Đỏ bằng tiếng La tinh, More Erythraeum. Thực dân Italia lấy nơi đây làm căn cứ xuất phát để xâm lược Ethiopia vào các năm 1896 và 1936.
Năm 1941, quân Đồng minh giải phóng Ethiopia. Eritrea thuộc quyền kiểm soát của quân đội Anh.
Năm 1952, Eritrea trở thành quốc gia liên bang tự trị thuộc Ethiopia và bị sáp nhập hoàn toàn vào Ethiopia năm 1962. Từ năm 1961, Mặt trận Giải phóng Eritrea phát động các cuộc đấu tranh vũ trang. Do sự chi phối của người Hồi giáo, phong trào này phân chia thành Mặt trận Giải phóng Eritrea và Mặt trận Giải phóng Dân tộc Eritrea năm 1970.
Sau khi Tổng thống Mengistu của Ethiopia bị lật đổ, chế độ mới ở Ethiopia chấp nhận nguyên tắc trưng cầu ý dân về quyền tự quyết Eritrea giành được độc lập năm 1993. Từ năm 1998, xung đột biên giới giữa Eritrea và Ethiopia gia tăng lên tầm mức của một cuộc chiến tranh, gây tổn thất lớn: cả hai đất nước nghèo khổ này đã tốn hàng triệu USD để mua máy bay chiến đấu và vũ khí. Khoảng 80.000 người bị chết và nhiều người phải đi tị nạn. Eritrea bị thất bại trước quốc gia láng giềng hùng mạnh và đông dân hơn, một Hiệp định hòa bình được ký kết vào tháng 12 năm 2000. Liên Hiệp Quốc đã triển khai hơn 4.000 quân tiếp tục giám sát vùng đệm giữa hai nước.
Tháng 4 năm 2002, một ủy ban về biên giới quốc tế đã giải quyết những tranh chấp biên giới giữa hai nước.
Hiện nay, Eritrea vẫn duy trì hoạt động gìn giữ hoà bình của Liên Hợp Quốc, và khu vực biên giới chung dài 25 km với Ethiopia. Một uỷ ban Quốc tế, được thành lập để giải quyết cuộc xung đột biên giới đã công bố những kết luận của mình nhưng việc phân định ranh giới lần cuối vẫn chưa được thực hiện do sự phản đối từ phía Eritrea.
Trong cuộc bầu cử đầu tiên sau khi giành độc lập vào năm 1993, Isaias Afewerki đã đắc cử với 95% số phiếu ủng hộ.
== Hệ thống hành chính ==
Eritrea được chia thành 6 vùng (zobas) và các vùng được chia thành các đơn vị nhỏ hơn gọi là quận ("sub-zobas"). Điểm đặc biệt là ranh giới các vùng được phân chia dựa trên đường phân thủy của các lưu vực sông. Việc này thực hiện cùng lúc hai mục đích của chính phủ trung ương là trao quyền cho chính quyền địa phương trong quản lý khả năng phát triển nông nghiệp và loại bỏ các yếu tố xung đột gây ra trong lịch sử liên quan đến tranh chấp tài nguyên nước.
Các vùng với các quận của Eritrea gồm:
== Chính trị và chính phủ ==
Eritrea là một quốc gia độc đảng dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Nhân dân Vì Dân chủ và Pháp lý (People's Front for Democracy and Justice, PFDJ).. Các nhóm chính trị khác không được phép hoạt động mặc dù Hiến pháp (không được thực thi) năm 1997 quy định sự tồn tại của đa đảng. Quốc hội Eritrea có 150 ghế trong đó EPLF chiếm 75 ghế. Các cuộc tổng tuyển cử đã được lên kế hoạch nhưng đều bị hủy bỏ, chưa có một cuộc tổng tuyển cử được tổ chức tại quốc gia này . Các nguồn thông tin về hoạt động chính trị địa phương ở Eritrea hiếm khi được công bố. Tháng 9 năm 2001 chính phủ đóng cửa tất cả các cơ quan truyền thông tư nhân, những người có tiếng nói bất đồng đều bị bắt giam mà không cần xét xử .
=== Tổng tuyển cử ===
Tổng tuyển cử toàn quốc Eritrea được dự trù thực hiện trong năm 1995 nhưng sau đó trì hoãn đến 2001 với lý do là 20% lãnh thổ quốc gia còn bị Ethiopia chiếm giữ, các cuộc tổng tuyển cử sẽ được tiến hành sau khi xung đột với Ethiopia được giải quyết. Tuy nhiên, các cuộc bầu cử ở địa phương vẫn được tiến hành. Vòng bầu cử ở địa phương được tiến hành gần đây nhất là vào tháng 5 năm 2004.
=== Quan hệ ngoại giao ===
Eritrea là thành viên chính thức của tổ chức Cộng đồng Phi Châu (African Union-AU), tiền thân của Tổ chức Liên Minh Phi Châu (Organization of African Unity_OAU) ngày nay nhưng nước này đã rút quan sát viên khỏi tổ chức này vì cho rằng nước này đã không hành động đủ mạnh trong việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ giữa Eritrea và Ethiopia.
Mối quan hệ Eritrea và Hoa Kỳ khá phức tạp. Mặc dù hai quốc gia đã từng sát cánh trong cuộc chiến chống khủng bố nhưng mối quan hệ không mấy tốt đẹp ở các lĩnh vực khác. Từ tháng 11 năm 2008, mối quan hệ này trở nên xấu hơn khi trợ lý thư ký Hoa Kỳ Jendayi Frazer gọi Eritrea là quốc gia bảo trợ khủng bố và chính phủ Mỹ liệt nước này vào Trục ma quỷ gồm Iran và [[Cuba . Lý do của hành động này là do sự hiện diện tại một cuộc họp của nhóm đối lập được tổ chức tại Asmara của Sheikh Hassan Dahir Aweys, một lãnh đạo Hồi Giáo li khai Somali có quan hệ với nhóm khủng bố Al Queda. Các trừng phạt về kinh tế có thể sẽ sớm được áp dụng
Mối quan hệ với Italia và EU cũng căng thẳng trong ba năm trở lại đây.
Mối quan hệ với Ethiopia chuyển từ liên minh sang thù địch đưa đến cuộc chiến tranh từ tháng 5.1998 đến tháng 6.2000. Cuộc chiến này đã làm 123,000 người Ehiopia và 19,000 người Eritrea bỏ mạng .
Eritrea cũng có những xung đột biên giới với Sudan, một cuộc chiến với Yemen về chủ quyền quần đảo Hanish nổ ra năm 1996 và gần đây là các xung đột biên giới với Ethiopia.
== Chính phủ và sự kiểm duyệt báo chí ==
Trong hai năm 2007 và 2008, tổ chức Phóng viên không biên giới xếp Eritrea hạng 169 toàn cầu trong Chỉ số tự do báo chí toàn cầu hằng năm. Eritrea thay thế vị trí cuối bảng được Bắc Triều Tiên nắm giữ trong nhiều năm . Tổ chức này khẳng định rằng ở Eritrea các tờ báo tư nhân đã bị đóng cửa và bị chính phủ của tổng thống Isaias Afewerki xua đuổi. Tác giả của những bài báo có ý kiến phê bình chính phủ lập tức bị bỏ tù và trong số rất nhiều nhà báo bị cầm tù, 4 người đã chết trong sự giam cầm .
Xếp hạng Chỉ số tự do báo chí toàn cầu hằng năm của Eritrea
Nguồn: Tổ chức Phóng viên không biên giới
== Địa lý ==
Eritrea nằm ở vùng Sừng châu Phi, phía Đông và Đông Bắc giáp Hồng Hải. Quốc gia này gần như bị chia cắt bởi một trong những dãy núi dài nhất thế giới là địa hào Đông Phi (Great Rift Valley), với đất đai màu mỡ phía Tây, địa hình thấp dần xuống sa mạc ở phía Đông.
Afar Triangle hay còn gọi là Trũng Eritrea có thể là điểm giao nhau của ba mảng nền đang tách giãn là Mảng Arab và hai phần của Mảng Phi châu (phân mảng Nubian và phân mảng Somali). Sự tách giãn của ba mảng này làm cho Địa Hào Đông Phi ngày càng sâu và rộng. Điểm cao nhất cả nước là đỉnh Emba Soira, nằm ở trung tâm cả nước với độ cao 3,018 mét trên mực nước biển.
Các thành phố chính của Eritrea gồm thủ đô Asmara, thành phố cảng Asseb, thành phố Massawa ở phía đông và thành phố Keren ở phía bắc.
== Môi trường ==
Eritrea là quê hương của nhiều quần thể voi. Các vua Ptoleme của Ai Cập đã từng sử dụng chúng như một lực lượng tham gia chiến đấu trong thế kỷ thứ III trước Công Nguyên. Trong khoảng thời gian từ 1955 đến 2001, không có một báo cáo nào cho thấy sự tiếp tục hiện diện của voi và chúng được cho là nạn nhân của chiến tranh giành độc lập. Tháng 12 năm 2001, người ta phát hiện khoảng 30 con với khoảng 10 con nhỏ gần sông Gash.
Năm 2006, Eritrea trở thành quốc gia đầu tiên trên thế giời chuyển toàn bộ vùng đất duyên hải thành khu bảo tồn thiên nhiên. Một khu vực với 1,347 km (837 dặm) đới ven bờ, cùng với 1,946 km (1,209 dặm) đường bờ với hơn 250 đảo nằm dưới sự bảo tồn của chính phủ.
== Kinh tế ==
Giống như phần lớn các quốc gia Phi Châu khác, nền kinh tế Eritrea chủ yếu dựa vào hoạt động sản xuất nông nghiệp với 80% dân số làm việc trong ngành trộng trọt và chăn nuôi. Hạn hán là nguyên nhân thiên tai chủ yếu tác động đến nền nông nghiệp nước này.
Cuộc chiến giành độc lập với Ethiopia đã gây tổn thất nặng nề cho nền kinh tế. GDP giảm 1% vào năm 1999 và 2% vào năm 2000. Năm 2000, quân đội Ethiopia mở một cuộc tấn công lớn và miền Nam Eritrea gây thiệt hại 600 triệu USD cho nền kinh tế với 225 triệu tổn thất từ gia súc và 55,000 nhà cửa bị phá hoại. Cuộc tấn công này nhắm đến vùng sản xuất lương thực chính yếu của Eritrea gây ra việc sụt giảm 62% sảm lượng nông nghiệp
Trong suốt những năm tháng chiến tranh, Eritrea cũng đã nỗ lực phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng như mở đường, cải thiện hệ thống cảng, sửa chữa những cung đường và cầu bị tàn phá do chiến tranh như là một phần của chương trình Warsay Yika'alo. Thành quả quan trọng nhất của dự án này là việc xây dựng tuyến quốc lộ ven biển dài hơn 500 km nối Massawa với Asseb cũng như khôi phục tuyến đường sắt quốc gia.
Tương lai nền kinh tế Eritrea khá mờ ám. Việc cắt đứt giao thương với Ethioipia, quốc gia trước đây luôn sử dụng các cảng của Eritrea để xuất nhập hàng hóa, để lại cho Eritrea nhiều lỗ hổng cần khỏa lấp. Tương lai nền kinh tế dựa vào nội lực của nền kinh tế cũng như giải quyết những vấn đề bức thiết như nạn mù chữ cao, lao động thiếu tay nghề, cơ sở hạ tầng lạc hậu.
Một báo cáo ngày 6 tháng 5 năm 2008 cho thấy Eritrea là quốc gia có giá nhiên liệu cao nhất thế giới với một gallon xăng có giá 9.58USD, cao hơn 85 cent so với quốc gia đứng thứ hai là Na Uy .
Hiện nay, tương lai của kinh tế Eritrea phụ thuộc vào khả năng giải quyết của Chính phủ trong các vấn đề xã hội như nạn mù chữ, thất nghiệp, trình độ kỹ năng tay nghề yếu kém cũng như thực sự thúc đẩy quá trình tư nhân hóa nền kinh tế và chỉ có thực hiện như vậy mới có thể tạo ra các nguồn lực để phát triển nền kinh tế.
Năm 2009, tổng sản phẩm quốc nội của Eritrea đạt 4,1 tỷ USD, tăng 2,5% so với năm 2008.
Hiện nay, nông nghiệp thu hút tới 80% lực lượng lao động nhưng chỉ đóng góp vàp khoảng 17,3% GDP của nước này (2009). Các nông sản chính của Eritrea là lúa miến, đậu lăng, rau, ngô, bông, sợi bông, thuốc lá, cà phê, sợi sidan, vật nuôi, dê..
Công nghiệp của Eritrea khá nhỏ bé, đóng góp vào 23,2% GDP. Các ngành công nghiệp chính của nước này là: chế biến thực phẩm, bia, ngành dệt may, sản xuất xi măng, muối, sửa chữa tàu thương mại.
Dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn nhất trong cơ cấu GDP với tỉ trọng hiện nay là 59,5% (2009).
Về ngoại thương, năm 2009, Eritrea xuất khẩu 12 triệu USD hàng hoá các loại. Trong đó các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của đất nước này là vật nuôi, lúa miến, hàng dệt may, thực phẩm, và các sản phẩm sơ chế khác. Các thị trường xuất khẩu chính của Eritrea là Ireland, Mỹ, Italia và Thổ Nhĩ Kỳ.
Năm 2009, kim ngạch nhập khẩu của Eritrea đạt 590 triệu USD. Các mặt hàng mà nước này thường nhập là máy móc thiết bị, sản phẩm dầu lửa, thực phẩm và đồ tiêu dùng khác. Các đối tác nhập khẩu lớn của Eritrea là Ả Rập Xê Út, Ý, Ai Cập, Ấn Độ, Đức, Trung Quốc.
== Xã hội ==
=== Dân cư ===
Eritrea là một quốc gia đa chủng tộc. Một cuộc điều tra dân số độc lập cho thấy người Tigrinya và người Tigre chiếm 80% dân số. Hai nhóm này đều là những dân tộc nói ngôn ngữ Semit.
Phần còn lại của dân số là tập hợp của những nhóm người Phi-Á như người Saho, Hedareb, Afar, và Bilen. Những nhóm người này được xem là thổ dân đầu tiên của vùng Sừng châu Phi. Ngoài ra còn có một số dân tộc thuộc nhóm Nilotic. Tại Asmara còn có sự hiện diện của một số ít người Eritrea gốc Ý và người Tigray gốc Ethiopia.
Mỗi một tộc người có một ngôn ngữ riêng, rất nhiều nhóm thiểu số sử dụng nhiều hơn một ngôn ngữ trong đời sống hằng ngày.
Nhóm người mới nhất ở Eritrea là người Rashaida. Họ di cư vào nước này vào thế kỷ XIX từ phía bên kia bờ Hồng Hải. Họ là những cư dân du mục, có quan hệ hôn phối với người Tigre và Beja. Tổng dân số của nhóm này khoảng 61,000 người, chiếm khoảng 1% dân số.
Những nhóm thiểu số ít có sự tác động đến đời sống của Eritrea.
=== Ngôn ngữ ===
Eritrea là một quốc gia đa ngôn ngữ, không có ngôn ngữ chính thức. Hiến pháp thiết lập "sự bình đẳng của tất cả ngôn ngữ Eritrea". Tiếng Tigrinya là ngôn ngữ chính thức trên thực tế của quốc gia. Với tổng cộng 2.540.000 người nói trên dân số 5.254.000 (2006), đây là ngôn ngữ phổ biến nhất, đặc biệt ở phần bắc và trung Eritrea. Những ngôn ngữ lớn khác gồm tiếng Afar, tiếng Ả Rập, tiếng Beja, tiếng Bilen, tiếng Kunama, tiếng Nara, tiếng Saho và tiếng Tigre. Tiếng Tigrinya, cùng với tiếng Ả Rập chuẩn hiện đại và tiếng Anh, là những ngôn ngữ làm việc. Tiếng Ý được dạy tại trường tiểu học và trung học.
=== Giáo dục ===
Có 5 cấp học tại Eritrea gồm Mẫu giáo, Tiểu học, Trung Ấu, Trung học Cơ Sở, và Hậu Trung học Cơ Sở. Có gần 238,000 học sinh đang theo học Tiểu học, Trung Ấu, Trung học Cơ Sở, và Hậu Trung học Cơ Sở. Toàn quốc có khoảng 824 trường học và 2 Đại học (Đại học Asmara và Viện Khoa Học và Công nghệ) cũng như nhiều trường Cao đẳng và Trung Cấp Nghề khác.
Một trong những mục tiêu quan trọng nhất của giáo dục Eritrea là cung cấp giáo dục căn bản cho người dân bằng tiếng mẹ đẻ cũng như phát triển khả năng tự tư duy của học sinh để chống lại đói nghèo và bệnh tật. Xa hơn là trang bị cho học sinh những kỹ năng làm việc cần thiết trong một nền kinh tế toàn cầu đang thay đổi.
Hệ thống giáo dục Eritrea cũng được thiết kế để khuyến khối doanh dân mở trường đào tạo, tạo cơ hội tiếp cận giáo dục công bằng đến mọi người như chống phân biệt giới tính, chống phân biệt chủng tộc, chống phân biệt tầng lớp trong xã hội, và thúc đẩy việc học tập suốt đời của người dân.
Rào cản trong giáo dục Eritrea là những định chế truyền thống, học phí, và chi phí cơ hội của các gia đình có thu nhập thấp .
=== Tôn giáo ===
Eritrea có hai tôn giáo chính là Hồi giáo và Cơ Đốc giáo với số lượng tín đồ xấp xỉ nhau. Phần lớn tín đồ Hồi Giáo thuộc phái Sunni, tín đồ Cơ Đốc thuộc dòng Chính Thống giáo và một số lượng tương đối lớn người theo Công giáo La Mã. Tin Lành và các nhóm khác cũng hiện diện trong đời sống tâm linh của nước này.
Từ tháng 5 năm 2002, chính quyền Eritrea chính thúc công nhận sự hoạt động của các tôn giáo: Chính Thống giáo, (Hồi giáo Sunni), Công giáo La Mã, và Giáo hội Luther. Các nhóm khác muốn tự do hoạt động phải trải qua một quá trình đăng ký nghiêm ngặt. Một trong những yêu cầu đó là các nhóm tôn giáo được yêu cầu cung cấp thông tin cá nhân của các tín đồ cho nhà chức trách. Một số tổ chức tôn giáo dù đã đáp ứng tất cả các yêu cầu của chính phủ vẫn chưa được cấp phép hoạt động
Các nhóm Jehovah's Witnesses, Bahá'í Faith, Seventh-day Adventist Church, và rất nhiều giáo phái Tin Lành không được cấp giấy phép và không thể hoạt động tự do. Chính phủ đã thực thi các lệnh cấm một cách có hiệu quả và nhiều giải pháp đã được đưa ra để ngăn chặn các tín đồ hành lễ. Nhiều người đã bị tống giam trong thời gian dài. Không một cái có cơ hội tiếp cận đến tòa án để khiếu kiện công bằng. Bảng báo cáo năm 2006 về Quyền Tự Do tín ngưỡng của Ủy ban Tôn Giáo Hoa Kỳ đã xếp Eritrea 3 năm liên tiếp vào nhóm nước "Đặc biệt lo ngại" về tự do tín ngưỡng .
Có một số ít người Do Thái còn tiếp tục sinh sống tại Eritrea, họ hình thành một cồng đồng của vài trăm người sinh sống tại thủ đô Asmara. Họ là con cháu của người Do Thái đã vượt biển từ Aden (Yemen) sang vào nửa cuối thế kỷ XIX .
== Văn hóa ==
Eritrea có sự giao lưu thượng mại từ lâu đời với nhiều quốc gia trên thế giới, điều này thể hiện rõ nét trong một nền văn hóa đa dạng của đất nước. Thủ đô Asmara là nơi diễn ra sự giao lưu mạnh mẽ nhất. tại đây người ta có thể thấy sự hiện diện của các quán cà phê phục vụ các thức uống tương tự như tại Ý. Ở đây cũng đồng thời hiện diện sự pha trộn ven hóa bản xứ của người Tigrinya với văn hóa Ý. Điều này gần như không thấy xuất hiện tại các vùng nông thôn.
Trong thời thuộc địa và những năm đầu lập quốc, các phim Ấn của Bollywood thịnh hành tại thành thị trong khi phim Mỹ và Ý thì được trình chiếu trong các rạp. Sự thay đổi đã diễn ra vào những năm 1980 và khi Eritrea độc lập từ Ethiopia, phim Mỹ dần trở nên phổ biến. Sự cạnh tranh còn có sự tham gia của những nhà làm phia địa phương.
Trang phụ truyền thống của người Eritriea tương đối đa dạng. Phụ nữ vùng thấp mặc đầm truyền thống có màu nhạc trong khi áo đầm truyền thống của người Tigrinya có màu trắn nhẹ. Người Hồi giáo vẫn giữ trang phục truyền thống của họ với mạn che đầu.
Các môn thể thao phổ biến ở Eritrea có bóng đá và cưỡi xe đạp. Trong những năm gần đây, các vận động viên điền kinh của Eritrea đạt được những thành công nhất định trên đấu trường quốc tế.
Gần như duy nhất ở lục địa đen có một giải đua xe đạp quy mô lớn là Tour of Eritrea. Giải đấu này được hình thành từ thời thuộc địa, năm 1946 . Đường đua bắt đầu từ những bãi biển của Masawa để leo lên vùng cao với các thung lũng và hẻm vực của thủ đô Asmara. Từ đây, các courer để đèo để xuống vùng đất thấp Gash-Barka Zone, và trở về thủ đô từ hướng Nam.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
== Liên kết ==
Chính phủ
Bộ Thông tin Eritrea trang chủ
Thành viên chính phủ và nội các
Thông tin chung
Mục “Eritrea” trên trang của CIA World Factbook.
Eritrea từ UCB Libraries GovPubs
Eritrea tại DMOZ
Wikimedia Atlas của Eritrea, có một số bản đồ liên quan đến Eritrea. |
nam ossetia.txt | Nam Ossetia (tiếng Ossetia: Хуссар Ирыстон, Khussar Iryston; tiếng Gruzia: სამხრეთ ოსეთი, Samkhret Oseti; tiếng Nga: Южная Осетия, Yuzhnaya Osetiya) là một vùng ở Nam Kavkaz, nguyên là tỉnh tự trị Ossetia bên trong Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Gruzia, một phần lãnh thổ này đã độc lập trên thực tế khỏi Gruzia kể từ khi lãnh thổ này tuyên bố độc lập thành Cộng hòa Nam Ossetia trong cuộc xung đột Gruzia-Ossetia đầu thập niên 1990. Chính phủ Gruzia phản ứng lại bằng cách bãi bỏ quyền tự trị của Nam Ossetia và cố gắng chiếm lại khu vực bằng vũ lực, điều này đã dẫn đến chiến tranh Nam Ossetia 1991-1992. Có thêm hai cuộc xung đột để cố gắng chiếm lại Nam Ossetia năm 2004 và 2008. Cuộc xung đột cuối cùng đã dẫn đến chiến tranh Nam Ossetia 2008, kết quả là Nga công nhận độc lập cho Nam Ossetia và Abkhazia.
Về mặt ngoại giao, 189 trên tổng số 193 quốc gia thành viên của Liên Hiệp Quốc (ngoại trừ Nga, Venezuela, Nicaragua, và Nauru) không công nhận Nam Ossetia mà vẫn tiếp tục xem lãnh thổ này là một bộ phận của Gruzia. Gruzia vẫn giữ quyền kiểm soát với các khu vực phía đông và phía nam của vùng này, nơi mà vào tháng 4 năm 2007, họ đã lập ra một Cơ quan hành chính lâm thời thực thể Nam Ossetia) đứng đầu bởi người Ossetia (các thành viên cũ của chính phủ ly khai) có thể đàm phán với các chính quyền trung ương Gruzia về tình trạng cuối cùng của vùng cũng như giải pháp cho cuộc xung đột.
Gruzia không công nhận sự tồn tại của Nam Ossetia như một thực thể chính trị, mà xem như là lãnh thổ của mình, một phần của khu vực Shida Kartli.
== Vị thế chính trị ==
Liên hiệp quốc, Liên minh châu Âu, Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE), Hội đồng Liên minh châu Âu, Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương (NATO) và tất cả các quốc gia khác trên thế giới công nhận Nam Ossetia là một phần lãnh thổ Gruzia. Tuy nhiên, trên thực tế nước cộng hòa độc lập này, được cai quản bởi một chính phủ ly khai, đã tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về độc lập vào ngày 12 tháng 11 năm 2006, sau cuộc trưng cầu dân ý đầu tiên vào năm 1992 không được cộng đồng quốc tế coi là hợp pháp. Theo cơ quan bầu cử của Tskhinvali, cuộc trưng cầu dân ý kết thúc với đa số người đồng ý giành độc lập từ Gruzia với 99% người dân Nam Ossetian ủng hộ trong số 95% người đi bầu và cuộc trưng cầu này đã được giám sát bởi một đội 34 quan sát viên từ Đức, Áo, Ba Lan, Thụy Điển và các quốc gia khác tại 78 điểm bầu cử. Tuy nhiên, cuộc trưng cầu này không được Liên hiệp quốc, Liên minh châu Âu, OSCE, NATO và Liên bang Nga công nhận, vì thiếu sự tham gia của cộng đồng người Gruzia và cũng không được chính phủ tại Tbilisi công nhận. Liên minh châu Âu, OSCE và NATO lên án cuộc trưng cầu dân ý. Song song với cuộc trưng cầu này, những người ly khai cũng tổ chức một cuộc bầu cử, phong trào đối lập Ossetia (Liên minh Bảo vệ Nam Ossetia) tại Kokoity, tự tổ chức cuộc bầu cử của riêng mình, trong đó cả người Gruzia và một số người Ossetia trong vùng ủng hộ Dmitri Sanakoev lên làm tổng thống Nam Ossetia. Cuộc bầu cử ủng hộ Sanakoev được tuyên bố là có sự ủng hộ hoàn toàn của sắc tộc Gruzia. Năm 2007, Dmitri Sanakoev trở thành lãnh đạo của Cơ quan quản lý lâm thời Nam Ossetia.
Ngày 13 tháng 7 năm 2007, Gruzia lập ra một ủy ban nhà nước, đứng đầu là Thủ tướng Zurab Noghaideli, để phát triển vị thế tự trị của Nam Ossetia bên trong nhà nước Gruzia. Theo các quan chức Gruzia, vị thế chính trị sẽ được đặt ra bên trong khuôn khổ "một cuộc đối thoại tất cả các bên" với tất cả các lực lượng và cộng đồng bên trong xã hội Ossetia.
Ngày 7 tháng 8 năm 2008, Quân đội Gruzia và lực lượng ly khai Nam Ossetia đạt được thỏa thuận ngừng bắn và đồng ý đàm phán với sự trung gian của Nga, nhằm chấm dứt xung đột kéo dài lâu nay. Nhưng chỉ vài giờ sau, quân đội Gruzia bất ngờ tấn công Nam Ossetia bằng bộ binh, pháo hạng nặng và cả không quân nhằm tái chiếm vùng đất này.
Ngày 8 tháng 8 năm 2008, cùng thời điểm Thế vận hội mùa hè 2008 chính thức bắt đầu, chiến tranh diễn ra giữa các lực lượng Gruzia và các lực lượng ly khai Nam Ossetia. Bộ trưởng Ngoại giao Nga đã nói rằng hơn 1500 thường dân và 15 lính gìn giữ hòa bình Nga đã bị giết hại kể từ khi cuộc xung đột bắt đầu.
== Lịch sử ==
=== Trung cổ và tiền hiện đại ===
Người Ossetia ban đầu là hậu duệ của Alans, một nhóm bộ tộc Sarmatia. Họ đã trở thành tín đồ Thiên chúa giáo thời đầu Trung Cổ dưới những ảnh hưởng của Gruzia và Đế quốc Đông La Mã. Trong thời kỳ cai trị của Mông Cổ, họ bị đẩy khỏi quê hương và phải di cư về phía nam sông Đông tại vùng ngày nay thuộc nước Nga và một phần phải di cư về phía vùng đồi núi Kavkaz, tới Gruzia nơi họ lập lên ba thực thể lãnh thổ riêng biệt. Digor ở phía tây rơi vào vùng ảnh hưởng của người Kabard láng giềng, và theo Đạo Hồi. Tualläg ở phía nam ngày nay trở thành Nam Ossetia, một phần của công quốc lịch sử Samachablo thuộc Gruzia nơi người Ossetia lánh lạn trước quân xâm lược Mông Cổ. Iron ở phía bắc ngày nay trở thành Bắc Ossetia, dưới quyền cai quản của Nga từ năm 1767. Đa số người dân Ossetia hiện là tín đồ Thiên chúa giáo (xấp xỉ 61%); cũng có một thiểu số khá đông người Hồi giáo.
=== Nam Ossetia thời Đế quốc Nga và Liên bang Xô viết ===
Nam Ossetia ngày nay đã bị Nga sáp nhập năm 1801, cùng với Gruzia, và trở thành một phần của Đế quốc Nga. Sau cuộc Cách mạng tháng 10, Nam Ossetia trở thành một phần của nước Cộng hòa Dân chủ Gruzia Menshevik, trong khi miền bắc thành một phần của nước Cộng hòa Xô viết Terek. Vùng này đã trải qua một loạt các cuộc nổi dậy Ossetia với nhiều lần tuyên bố độc lập. Chính phủ Gruzia đã buộc tội người dân Ossetia hợp tác với những người Bolshevik. Theo các nguồn tin của Ossetia khoảng 5.000 người Ossetia đã bị giết hại và hơn 13.000 người sau đó đã chết vì đói khát và bệnh dịch.
Chính phủ Xô viết Gruzia đã được thành lập bởi Tập đoàn quân số 11 của hồng quân năm 1921 lập ra Vùng tự trị Nam Ossetia (cấp độ tương đương như quận) vào tháng 4 năm 1922. Dù người Ossetia có ngôn ngữ riêng của mình (tiếng Ossetia), tiếng Nga và tiếng Gruzia là các ngôn ngữ hành chính/nhà nước. Dưới sự cai trị của chính phủ Gruzia thời Xô viết, vùng này có được khá nhiều quyền tự trị gồm cả việc sử dụng và giảng dạy bằng tiếng Ossetia tại các trường học.
=== Xung đột Gruzia-Ossetia ===
==== 1989-2008 ====
Những căng thẳng trong vùng đã bắt đầu nảy sinh trong bối cảnh sự trỗi dậy của chủ nghĩa quốc gia ở cả người Gruzia và người Ossetia năm 1989. Trước đó, hai cộng đồng của Vùng tự trị Nam Ossetia của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Gruzia đã chung sống hòa bình với nhau ngoại trừ trong các sự kiện 1918-1920. Cả hai sắc tộc đều đã có sự tương tác cũng như hôn nhân với nhau ở mực độ cao.
Mặt trận Nhân dân Nam Ossetia (Ademon Nykhas) có nhiều ảnh hưởng được thành lập năm 1988. Ngày 10 tháng 11 năm 1989, hội đồng vùng Ossetia yêu cầu Xô viết Tối cao Gruzia cho vùng này được nâng cập thành "nước cộng hòa tự trị". Năm 1989 Xô viết Tối cao Gruzia đã xóa bỏ tiếng Gruzia với tư cách ngôn ngữ chủ yếu trên khắp quốc gia.
Xô viết Tối cao Gruzia đã thông qua một luật ngăn cấm các đảng khu vực vào mùa hè năm 1990. Hành động này bị người Ossetia coi là một động thái chống lại Ademon Nykhas và khiến người dân Ossetia tuyên bố thành lập Cộng hòa Dân chủ Xô viết, với đầy đủ chủ quyền bên trong Liên bang các nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết. Người dân Ossetia đã tẩy chay cuộc bầu cử nghị viện Gruzia sau đó và tổ chức cuộc bầu cử của riêng mình vào tháng 12. Chính phủ Gruzia dưới sự lãnh đạo của Zviad Gamsakhurdia đã tuyên bố cuộc bầu cử này là bất hợp pháp và xóa bỏ vị thế tự trị của nó vào ngày 11 tháng 12 năm 1990.
Xung đột vũ trang bùng phát hồi cuối năm 1991 trong đó nhiều làng mạc Nam Ossetia đã bị tấn công và đốt phá tương tự như nhiều ngôi nhà và trường học của người Gruzia tại Tskhinvali, thủ đô của Nam Ossetia. Hậu quả, xấp xỉ 1.000 người chết và khoảng 100.000 người Ossetia đã phải bỏ chạy khỏi lãnh thổ Gruzia, đa số qua biên giới vào Bắc Ossetia. Khoảng 23.000 người Gruzia khác cũng đã phải rời bỏ Nam Ossetia và định cư tại những khu vực khác ở Gruzia. Nhiều người dân Nam Ossetia đã tái định cư tại những vùng không có người sinh sống ở Bắc Ossetia nơi người Ingush đã bị Stalin trục xuất năm 1944, dẫn tới những cuộc xung đột giữa người Ossetia và người Ingush về quyền sinh sống tại lãnh thổ cũ của người Ingush.
Phần phía tây Nam Ossetia đã bị ảnh hưởng bởi trận động đất Racha-Java năm 1991, làm thiệt mạng 200 người và khiến 300 gia đình mất nhà ở.
Khi Liên bang Xô viết giải tán, chính phủ Hoa Kỳ công nhận các biên giới thời trước Hiệp ước Molotov-Ribbentrop năm 1933 của nước này (chính phủ Franklin D. Roosevelt đã thiết lập các quan hệ ngoại giao với Kremlin ở thời điểm cuối năm đó). Vì điều này, chính quyền George H. W. Bush công khai ủng hộ sự ly khai của các nước vùng Baltic, nhưng coi các vấn đề liên quan tới các cuộc xung đột giành độc lập và lãnh thổ của Gruzia, Armenia, Azerbaijan và phần còn lại của Transcaucasus — là phần không thể tách rời của Liên bang Xô viết với các biên giới quốc tế không hề thay đổi từ thập niên 1920 — là vấn đề nội bộ của Liên Xô.
Năm 1992, Gruzia bị buộc phải chấp nhận ngừng bắn để tránh sự leo thang xung đột với Nga. Chính phủ Gruzia và những người ly khai Nam Ossetia đã đạt được một thỏa thuận ngừng sử dụng vũ lực chống lẫn nhau, và Gruzia cam kết không sử dụng các biện pháp trừng phạt chống Nam Ossetia. Tuy nhiên, chính phủ Gruzia vẫn giữ quyền kiểm soát với những phần nhỏ bên trong Nam Ossetia, gồm cả thị trấn Akhalgori. Một lực lượng gìn giữ hòa bình gồm người Ossetia, người Nga và người Gruzia được thành lập. Ngày 6 tháng 11 năm 1992, Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE) thành lập một phái bộ ở Gruzia để giám sát chiến dịch gìn giữ hòa bình. Từ đó, cho tới giữa năm 2004 Nam Ossetia nói chung ở trong cảnh hòa bình. Vào tháng 6 năm 2004, căng thẳng bắt đầu tăng lên khi chính quyền Gruzia tăng cường các nỗ lực chống lại nạn buôn lậu trong vùng. Những vụ bắt cóc con tin, bắn giết và thỉnh thoảng cả đánh bom đã khiến hàng chục người thiệt mạng và bị thương. Một thỏa thuận ngừng bắn được ký ngày 13 tháng 8 dù nó liên tục bị vi phạm. Tình hình trở nên rất căng thẳng với mối đe dọa chiến tranh. Moskva và Tskhinvali tỏ ra thận trọng trước những hành động tăng cường binh lực của Gruzia.
Chính phủ Gruzia phản đối sự liên tục tăng cường hiện diện về kinh tế và chính trị của Nga trong vùng và phản đối quân đội không bị kiểm soát của phía Nam Ossetia. Nước này cũng coi lực lượng gìn giữ hòa bình là không trung lập và yêu cầu thay thế. Lời chỉ trích này đã được một số người ủng hộ, như Richard Lugar, tuy nhiên vào ngày 5 tháng 10 năm 2006, Javier Solana, Cao ủy về Đối ngoại và Chính sách An ninh của Liên minh châu Âu, đã bác bỏ khả năng thay thế binh lính gìn giữ hòa bình Nga bằng lực lượng của Liên minh châu Âu. Phái viên của Liên minh châu Âu về Nam Kavkaz Peter Semneby sau đó đã nói rằng "các hành động của Nga trong cuộc tranh cãi gián điệp Gruzia đã gây phương hại tới lòng tin cũng như tính trung lập của lực lượng gìn giữ hòa bình Nga ở các nước láng giềng vùng Biển Đen."
==== Chiến tranh 2008 ====
Trong những giờ đầu tiên ngày 8 tháng 8 năm 2008, quân đội Gruzia với xe bọc thép đã tổng tấn công vào vùng lãnh thổ Nam Ossetia và pháo kích vào Tskhinvali. AFP, dẫn lời một người phát ngôn Bộ Nội vụ Gruzia, nói rằng ba chiếc Sukhoi Su-24 của Nga đã xâm phạm không phận Gruzia, tấn công một số mục tiêu trong vùng Tskhinvali. Cùng ngày hôm đó, mười hai lính gìn giữ hòa bình Nga bị thiệt mạng và gần 150 người bị thương.
Thủ tướng Nga Vladimir Vladimirovich Putin nói rằng Chính phủ Nga "lên án những hành động tấn công của quân đội Gruzia ở Nam Ossetia" và rằng Nga sẽ đáp trả. Đã có thông báo về những trận đánh lớn tại Tskhinvali trong hầu hết ngày 8 tháng 8, các lực lượng Gruzia tìm cách đẩy lùi người Ossetia khỏi thành phố.
Trong lúc ấy, xe tăng Nga vượt qua biên giới để "giúp người Nam Ossetia", và đã được thông báo là đang tuần tra trên khắp Tskhinvali.
== Chính trị ==
Cộng hòa Nam Ossetia là sự pha trộn của những thị trấn và làng mạc nơi sinh sống của người Gruzia và người Ossetia. Thành phố thủ đô Tskhinvali với đa số dân là người Ossetia cùng các cộng đồng người Ossetia khác do chính phủ ly khai quản lý, trong khi các làng và thị trấn của người Gruzia do chính phủ Gruzia quản lý. Sự gẫn gũi và tương tác giữa hai cộng đồng đã khiến cuộc xung đột ở Nam Ossetia trở nên đặc biệt nguy hiểm, bởi bất kỳ nỗ lực nào nhằm thanh lọc sắc tộc đều có thể dẫn tới một cuộc di dân ở quy mô lớn.
Tranh cãi chính trị vẫn chưa được giải quyết và chính quyền ly khai Nam Ossetia vẫn cai quản vùng này với sự độc lập thực sự khỏi Tbilisi. Dù những cuộc đàm phán đã được tổ chức định kỳ giữa hai phía, ít có tiến bộ đạt được dưới thời chính phủ Eduard Shevardnadze (1993–2003). Người kế nhiệm ông ta Mikheil Saakashvili (được bầu năm 2004) đã coi việc đòi lại Nam Osseatia là nhiệm vụ chính trị ưu tiên. Sau thành công chấm dứt nền độc lập trên thực tế của tỉnh phía tây Ajaria vào tháng 5 năm 2004, ông đã hứa thực hiện điều tương tự với Nam Ossetia. Sau những cuộc xung đột năm 2004, chính phủ Gruzia đã tăng cường nỗ lực nhằm thu hút sự chú ý của cộng đồng quốc tế với vấn đề. Ngày 25 tháng 1 năm 2005, Tổng thống Saakashvili đã đệ trình một đề xuất của Gruzia nhằm giải quyết vấn đề Nam Ossetian ra trước kỳ họp của Ủy ban Nghị viện châu Âu (PACE) ở Strasbourg. Cuối tháng 10, Chính phủ Mỹ và OSCE bày tỏ sự ủng hộ với kế hoạch hành động của Gruzia được Thủ tướng Zurab Noghaideli đệ trình tại Ủy ban Thường trực OSCE ở Viên ngày 27 tháng 10 năm 2005. Ngày 6 tháng 10, Ủy ban Bộ trưởng OSCE tại Ljubljana thông qua một nghị quyết ủng hộ kế hoạch hòa bình của Gruzia nghị quyết này đã bị chính quyền Nam Ossetia bác bỏ.
=== Cộng hòa Nam Ossetia ===
Ngày 11 tháng 9 năm 2006, Ủy ban Thông tin và Báo chí Nam Ossetia thông báo rằng nước cộng hòa này sẽ tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về độc lập (cuộc trưng cầu dân ý đầu tiên vào năm 1992 đã không được cộng đồng quốc tế coi là hợp pháp) vào ngày 12 tháng 11 năm 2006. Các cử tri sẽ quyết định việc Nam Ossetia "sẽ duy trì tình trạng hiện tại hay trở thành một nhà nước độc lập". Gruzia lên án hành động này như một "điều ngớ ngẩn chính trị". Tuy nhiên, ngày 13 tháng 9 năm 2006, Tổng thư ký Hội đồng châu Âu (CoE) Terry Davis đã bình luận về vấn đề, nói rằng có lẽ không ai sẽ chấp nhận các kết của cuộc trưng cầu dân ý này và hối thúc chính phủ Nam Ossetia tham gia các cuộc đàm phán với Gruzia. Ngày 13 tháng 9 năm 2006 Đại diện Đặc biệt của Liên minh châu Âu tại Nam Caucasus, Peter Semneby, khi viếng thăm Moskva, đã nói: "Các kết quả của cuộc trưng cầu dân ý về độc lập tại Nam Ossetia sẽ không có ý nghĩa với Cộng đồng châu Âu". Peter Semneby cũng thêm rằng cuộc trưng cầu dân ý này sẽ không góp phần giải quyết cuộc xung đột ở Nam Ossetia.
Người dân Nam Ossetia nhất trí trong cuộc trưng cầu dân ý ngày 12 tháng 11 năm 2006 lựa chọn độc lập khỏi Gruzia. Cuộc trưng cầu dân ý có tỷ lệ cử tri tham gia rất đông, với 98 và 99 phần trăm phiếu thuận, những buổi lễ với cờ hoa được tổ chức trên khắp Nam Ossetia, nhưng các quan sát viên thì không phấn khích như vậy. Những lời chỉ trích từ cộng đồng quốc tế cho rằng hành động này sẽ làm tồi tệ hơn những căng thẳng, và chính phủ Tblisi hoàn toàn bác bỏ các kết quả.
Bản mẫu:Bầu cử Nam Ossetia
=== Cơ quan hành chính lâm thời thực thể Nam Ossetia ===
Tổ chức Nhân dân Nam Ossetia vì hòa bình được thành lập tháng 10 năm 2006 bởi những người Ossetia lên tiếng chỉ trích mạnh mẽ và đặt ra nguy cơ đối lập nghiêm trọng cho chính quyền ly khai của Eduard Kokoity.
Nhóm này được lãnh đạo bởi cựu bộ trưởng quốc phòng và khi ấy đang giữ chức thủ tướng chính phủ ly khai Dmitri Sanakoev đã tổ chức cái gọi là cuộc bầu cử thay thế, ngày 12 tháng 11 năm 2006 song song với cuộc bầu cử do chính quyền ly khai tại Tskhinvali tổ chức. Hội đồng bầu cử cũng đã đưa ra một kết quả rất cao, với ước tính hơn 42.000 cử tri cả người Ossetia (quận Java và Tskhinvali) và người Gruzia (Eredvi, Tamarasheni, vân vân) trong các cộng đồng Nam Ossetia và Sanakoev được thông báo đã nhận được 96% phiếu bầu. Một cuộc trưng cầu dân ý khác cũng đã được tổ chức ngay sau khi một yêu cầu khởi động các cuộc đàm phán với Gruzia về một thỏa thuận liên bang cho Nam Ossetia nhận được 94% phiếu ủng hộ. Tuy nhiên Liên minh Bảo vệ Nam Ossetia đã bác bỏ một yêu cầu từ một tổ chức phi chính phủ của Gruzia, "Gruzia Đa quốc gia", để giám sát cuộc trưng cầu này và những kết quả được đưa ra dường như đã bị thổi phồng.
Theo Nhóm Khủng hoảng Quốc tế, "Những hành động của chính phủ Gruzia là phi bạo lực và có chiều hướng phát triển nhưng việc áp dụng chúng chỉ là đơn phương và võ đoán tới mức chúng chỉ làm tăng thêm căng thẳng và nguy hiểm trong vùng".
Ban đầu thực thể của Sanakoev được gọi là "Chính phủ thay thế Nam Ossetia", nhưng trong năm 2007 chính quyền trung ương Gruzia đã quyết định trao quy chế chính thức cho nó và vào ngày 13 tháng 4 việc thành lập "Cơ quan hành chính lâm thời Nam Ossetia" được thông báo. Ngày 10 tháng 5 năm 2007 Dmitry Sanakoev được chỉ định đứng đầu thực thể hành chính lâm thời ở Nam Ossetia.
Một đội tìm kiếm sự thực của Liên minh châu Âu đã tới thăm vùng này vào tháng 1 năm 2007. Per Eklund, Lãnh đạo Phái đoàn Cao ủy châu Âu tại Gruzia đã nói rằng "Không một chính phủ nào [ở Nam Ossetia] được chúng tôi coi là hợp pháp"
== Địa lý ==
Nam Ossetia bao phủ khoảng 3.900 km² ở phần phía nam Kavkaz, bị chia cắt bởi những dãy núi với vùng Bắc Ossetia (một phần của Nga) đông đúc dân cư và trải dài về phía nam đến tận cong sông Mtkvari bên trong Gruzia. Vùng này đặc biệt nhiều núi non, đa số diện tích nằm ở độ cao 1.000 m (3.300 ft) trên mực nước biển. Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, dù chưa tới 10% đất đai Nam Ossetia có thể canh tác. Ngũ cốc, hoa quả, rượu là các sản phẩm chủ yếu. Công nghiệp rừng và gia súc cũng tồn tại, đặc biệt xung quanh thủ đô Tskhinvali.
== Nhân khẩu ==
Trước cuộc xung đột Gruzia-Ossetia khoảng hai phần ba dân số Nam Ossetia là người Ossetia và 25-30% là người Gruzia. Thành phần dân số hiện tại không được biết, dù theo một số ước tính có 45.000 người Ossetia và 17.500 Gruzia ở Nam Ossetia năm 2007. Ở thời điểm tháng 8 năm 2008 hơn 70% công dân Nam Ossetia có quốc tịch Nga.
Tôn giáo ở Nam Ossetia gồm Chính thống giáo Đông phương, Hồi giáo Sunni
== Kinh tế ==
Sau một cuộc chiến với Gruzia hồi thập kỷ 1990, Nam Ossetia gặp phải nhiều vấn đề kinh tế. Việc làm và những nguồn cung cấp rất hạn chế. Ngoài ra, Gruzia đã cắt nguồn cung cấp điện cho vùng, việc này buộc chính phủ Nam Ossetia phải lập một đường cáp điện qua Bắc Ossetia. Đa số dân cư sống bằng nông nghiệp tự túc. Nguồn thu kinh tế quan trọng nhất Nam Ossetia có được là việc kiểm soát Đường hầm Roki nối Nga với Gruzia, chính phủ Nam Ossetia được cho là kiếm tới hai phần ba ngân sách từ các khoản thuế hàng hóa đi qua đây. Các quan chức ly khai công nhận rằng Tskhinvali có hơn 60% ngân sách năm 2006 trực tiếp từ chính phủ Nga.
Cuối năm 2006, một chiến dịch chống buôn lậu lớn ở Nam Ossetia được lực lượng U.S. Secret Service và cảnh sát Gruzia tiến hành.
GDP của Nam Ossetian được ước tính khoảng 15 triệu dollar Mỹ (US$ 250 trên đầu người) trong một cuộc nghiên cứu được công bố năm 2002.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Âm nhạc Ossetia
Abkhazia
== Liên kết ngoài ==
BBC overview of South Ossetia
OCHA report on which side controls which regions of South Ossetia
Special South Ossetia on Caucaz.com, Weekly Online about South Caucasus.
Photos and stories from South Ossetia
(tiếng Nga) Ossetia—History, culture, politics, news
International Crisis Group, Georgia’s South Ossetia Conflict: Make Haste Slowly, Europe Report N°183, ngày 7 tháng 6 năm 2007 (free registration needed to view the full report)
Alan Tskhurbayev (CRS No. 406 17-Aug-07), South Ossetians Caught Between Two "Presidents". Institute for War and Peace Reporting.
(tiếng Nga) State news agency of the Republic of South Ossetia
South Ossetia - A Land of No Crossroads |
dãy núi pamir.txt | Dãy núi Pamir là một dãy núi nằm tại Trung Á, được tạo thành từ sự nối liền hay điểm nút của các dãy núi Thiên Sơn, Karakoram, Côn Lôn và Hindu Kush. Dãy núi này là một trong các dãy núi cao nhất thế giới. Dãy núi này được biết đến trong tiếng Trung như là Thông Lĩnh 葱嶺 tức 'núi củ hành'.
Khu vực Pamir có trung tâm nằm trong tỉnh Gorno-Badakhshan của Tajikistan. Các phần của dãy núi Pamir cũng nằm trong các quốc gia khác như Kyrgyzstan, Afghanistan, Pakistan. Phía nam của Gorno-Badakhshan, hành lang Wakhan chạy dọc theo khu vực Pamir, cũng bao gồm các phần xa nhất về phía bắc của tỉnh Biên giới Tây-Bắc và của Địa khu Bắc Bộ đều thuộc Pakistan.
== Địa lý ==
Ba đỉnh núi cao nhất của dãy núi Pamir là Ismoil Somoni (từ 1932 tới 1962 gọi là đỉnh Stalin, từ 1962 tới 1998 là đỉnh Cộng sản) với độ cao 7.495 m (24.590 ft); đỉnh Ibn Sina (tên gọi không chính thức là đỉnh Lenin) với độ cao 7.134 m (23.406 ft); và đỉnh Korzhenevskaya với độ cao 7.105 m (23.310 ft)
Có nhiều sông băng trong khu vực dãy núi Pamir, bao gồm sông băng Fedchenko dài 77 km (48 dặm Anh), con sông băng dài nhất tại Liên Xô cũ và là sông băng dài nhất ngoài phạm vi hai vùng địa cực.
== Khí hậu ==
Bị tuyết che phủ trong suốt cả năm, khu vực dãy núi Pamir có mùa đông kéo dài và lạnh lẽo và mùa hè ngắn nhưng mát mẻ. Lượng giáng thủy hàng năm đạt khoảng 130 mm (5 inch), đủ hỗ trợ cho sự phát triển của các đồng cỏ nhưng có rất ít cây thân gỗ.
== Kinh tế ==
Than đá được khai thác ở miền tây, nhưng ngành mục súc chăn nuôi cừu tại các bãi cỏ miền núi vẫn là nguồn thu nhập chính của khu vực này.
== Phát hiện ==
Trong đầu thập niên 1980, một mỏ clinohumit chất lượng đá quý đã được phát hiện trong khu vực dãy núi Pamir. Nó là loại trầm tích duy nhất đã biết cho tới khi phát hiện ra mỏ khoáng vật chất lượng đá quý tại Taymyr của Siberi vào năm 2000.
== Vận tải ==
Ở rìa đông nam của khu vực Pamir tại Trung Quốc, đường cao tốc Karakoram, đường cao tốc quốc tế cao nhất trên thế giới, nối liền Pakistan với Trung Quốc. Đường cao tốc Pamir, đường cao tốc cao thứ hai thế giới, chạy từ Dushanbe ở Tajikistan tới Osh ở Kyrgyzstan ngang qua tỉnh tự trị Gorno-Badakhshan và nó là hành trình cung cấp chính của khu vực cô lập này. Con đường tơ lụa thời cổ đại đi qua một loạt các núi của dãy núi Pamir
== Vị trí chiến lược ==
Về mặt lịch sử, dãy núi Pamir từng được coi là hành trình thương mại chiến lược giữa Kashgar và Kokand trên Con đường tơ lụa phía bắc và đã từng là mục tiêu của nhiều vụ tranh giành lãnh thổ. Con đường tơ lụa phía bắc (dài khoảng 2.600 km) nối liền kinh đô cổ đại của Trung Quốc là Tây An với phía tây, vượt qua dãy núi Pamir tới Khách Thập trước khi nối với Parthia cổ đại. Trong thế kỷ 20, dãy núi này là nơi diễn ra cuộc nội chiến Tajikistan, biên giới tranh chấp giữa Trung Quốc và Liên Xô, nơi thiết lập các căn cứ quân sự của Liên Xô cũ, Nga, Ấn Độ, và sự tái quan tâm tới phát triển thương mại và khai thác tài nguyên.
== Xem thêm ==
Ngữ chi Pamir
Wakhan
Các dãy núi ở Pakistan
Trung Á thuộc Liên Xô
Trung Á
Đỉnh Imeon
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Curzon George Nathaniel. 1896. The Pamirs and the Source of the Oxus. Hiệp hội Địa lý Hoàng gia Anh, London. Tái bản: Elibron Classics Series, Adamant Media Corporation. 2005. ISBN 1-4021-5983-8 (pbk; ISBN 1-4021-3090-2 (hbk).
Gordon T. E. 1876. The Roof of the World: Being the Narrative of a Journey over the high plateau of Tibet to the Russian Frontier and the Oxus sources on Pamir. Edinburgh. Edmonston và Douglas. Ch’eng Wen Publishing Company tái bản, Đài Bắc, 1971.
Toynbee Arnold J. 1961. Between Oxus and Jumna. London. Nhà in Đại học Oxford.
Wood John, 1872. A Journey to the Source of the River Oxus. With an essay on the Geography of the Valley of the Oxus by Colonel Henry Yule. London: John Murray.
Horsman S. 2002. Peaks, Politics and Purges: the First Ascent of Pik Stalin trong Douglas E. (chủ biên) Alpine Journal 2002 (Quyển 107), The Alpine Club & Ernest Press, London, trang 199-206.
Leitner G. W. 1890. Dardistan in 1866, 1886 and 1893: Being an Account of the History, Religions, Customs, Legends, Fables and Songs of Gilgit, Chilas, Kandia (Gabrial) Yasin, Chitral, Hunza, Nagyr and other parts of the Hindukush. With a supplement to the second edition of The Hunza and Nagyr Handbook. And an Epitome of Part III of the author’s "The Languages and Races of Dardistan". First Reprint 1978. Manjusri Publishing House, New Delhi.
Strong Anna Louise. 1930. The Road to the Grey Pamir. Robert M. McBride & Co., New York.
Slesser Malcolm "Red Peak: A Personal Account of the British-Soviet Expedition", Coward McCann, 1964
Tilman H. W. Phần "Two Mountains and a River" trong "The Severn Mountain Travel Books". Diadem, London. 1983
Waugh Daniel C. 1999. "The ‘Mysterious and Terrible Karatash Gorges’: Notes and Documents on the Explorations by Stein and Skrine." The Geographical Journal, Quyển 165, số 3. (11/1999), trang 306-320.
== Liên kết ngoài ==
Thông tin và hình ảnh
The Pamirs. 1:500.000 - A tourist map of Gorno-Badkshan-Tajikistan and background information on the region. Verlag „Gecko-Maps", Thụy Sĩ, 2004 (ISBN 3-906593-35-5)
Văn phòng du lịch tại Khorog (Tajikistan) Hiệp hội Du lịch Pamir |
chủ nghĩa thực dân.txt | Chủ nghĩa thực dân là chính sách tạo dựng và duy trì hình thức thuộc địa của một người dân ở lãnh thổ này lên một lãnh thổ khác. Mẫu quốc là nước tuyên bố chủ quyền đối với những thuộc địa này và bổ nhiệm toàn quyền cai trị tương tự Thái thú của chế độ phong kiến. Cấu trúc xã hội, chính quyền và kinh tế của lãnh thổ bị quốc gia thực dân áp đặt thay đổi. Thuộc địa là một bộ phận của đế chế do đó chủ nghĩa thực dân có liên hệ gần gũi với chủ nghĩa đế quốc.
Chủ nghĩa thực dân thường dùng để nhắc đến một giai đoạn lịch sử từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 20 khi những người châu Âu tiến hành xây dựng các thuộc địa của mình tại các lục địa khác. Những lý do để thực hiện chính sách thực dân trong thời kỳ này bao gồm:
Thu lợi về kinh tế.
Mở rộng uy quyền của mẫu quốc.
Trốn thoát sự ngược đãi tại mẫu quốc.
Cải đạo cho người dân bản xứ sang tín ngưỡng của những người thực dân.
Một số người ủng hộ chủ nghĩa thực dân cho rằng họ đang giúp đỡ những dân bản xứ bằng cách "khai hóa văn minh" cho họ bằng Giáo lý Cơ đốc và nền văn minh. Tuy nhiên, sự thật về chủ nghĩa thực dân thường là sự nô dịch, chiếm đất hoặc cái chết cho dân bản xứ.
Kể từ cuối thế kỷ 20, hệ thống thuộc địa của Chủ nghĩa thực dân về cơ bản đã sụp đổ, nhưng việc các cường quốc phương Tây can thiệp vào nội bộ nước nhỏ vẫn thường xuyên xảy ra. Một thuật ngữ mới được đặt ra là "Chủ nghĩa thực dân mới", nhằm mô tả chỉ việc các cường quốc tư bản chủ nghĩa sử dụng các chính phủ bù nhìn, sự xâm thực văn hóa để kiểm soát một quốc gia, thay vì kiểm soát trực tiếp như chủ nghĩa thực dân cổ điển trước đây.
== Hình thức thực dân ==
Các nhà sử học thường phân biệt hai loại chủ nghĩa thực dân, chủ yếu dựa trên số người từ mẫu quốc định cư tại thuộc địa:
Chủ nghĩa thực dân định cư với đội ngũ thực dân đông đảo, chủ yếu tìm những mảnh mất màu mỡ để lập trại.
Chủ nghĩa thực dân bóc lột có số thực dân ít hơn, thường chú trọng đến việc bòn rút nguồn tài nguyên để xuất khẩu sang mẫu quốc. Loại thực dân này bao gồm các trạm thông thương nhưng cũng gồm cả những thuộc địa lớn hơn, tại đó những người xâm chiếm sẽ nắm quyền điều hành nhiều hơn, sở hữu nhiều đất đai và tư bản hơn nhưng dựa vào nguồn lao động là những người dân bản xứ.
Cũng có sự trùng lắp giữa hai mô hình thực dân này. Trong cả hai trường hợp trên, đều có hiện tượng người chuyển từ mẫu quốc sang thuộc địa còn hàng hóa được xuất từ thuộc địa qua mẫu quốc.
Di dân thuộc địa thường được xem là phù hợp với mô hình chủ nghĩa thực dân bóc lột. Tuy nhiên, cũng có dân nhập cư thuộc thành phần khác - những nô lệ để canh tác hoa màu xuất khẩu.
Có một số trường hợp chủ nghĩa thực dân định cư diễn ra trong một khu vực đã có người sinh sống từ trước, kết quả dẫn đến có hoặc là một cộng đồng pha trộn chủng tộc (như những người lai ở châu Mỹ), hoặc phân theo chủng tộc, như tại Algérie thuộc Pháp hay Nam Rhodesia.
Lãnh thổ ủy thác Hội Quốc Liên về pháp lý là rất khác biệt với một thuộc địa. Tuy nhiên, có một số sự tương đồng với chủ nghĩa thực dân bóc lột.
== Lịch sử ==
Hiện thực thực dân hóa trải dài trên khắp thế giới và qua quãng thời gian dài, xuất hiện ở những dân tộc rất khác nhau như người Hittite, người Inca và người Anh, mặc dù thuật ngữ chủ nghĩa thực dân thường gợi đến những cuộc chinh phục vượt biển của người châu Âu hơn là những các cuộc chinh phục trên đất liền ở sát nhau, ngay tại châu Âu hay bất cứ nơi khác.
Những cuộc chinh phục trên đất liền thường được ước định mô tả bằng thuật ngữ chủ nghĩa đế quốc, như Thời đại của chủ nghĩa đế quốc mà trong đó Chủ nghĩa thực dân là một khái niệm con, nhưng thuật ngữ chính thường để nhắc đến các cuộc chinh phục và xâm chiếm các thế lực địa lý yếu hơn ở gần đó. Những ví dụ về các đế quốc trên đất liền gồm có Đế chế Mông Cổ, một đế quốc lớn trải dài từ Tây Thái Bình Dương đến Đông Âu, Đế chế của Alexander Đại đế, Vương triều Umayyad, Đế chế Ba Tư, Đế chế La Mã, Đế chế Byzantine. Đế chế Ottoman được tạo ra trên khắp Địa Trung Hải, Bắc Phi và bên trong vùng Đông Nam châu Âu và tồn tại trong suốt thời gian các quốc gia châu Âu đi thực dân ở các phần khác trên thế giới.
Sau thời kỳ Reconquista của Bồ Đào Nha khi Vương quốc Bồ Đào Nha đấu tranh chống lại sự thống trị của Hồi giáo tại Iberia, vào thế kỷ 12 và 13, người Bồ bắt đầu mở rộng lãnh thổ ra hải ngoại. Chủ nghĩa thực dân châu Âu bắt đầu vào năm 1415, với việc Bồ Đào Nha chiếm được cảng Ceuta của người Hồi giáo tại Bắc Phi. Trong các thập niên tiếp theo Bồ Đào Nha đã phát triển các địa điểm thông thương, cảng biển và pháo đài dọc theo bờ biển châu Phi. Chủ nghĩa thực dân ngày càng mở rộng với các cuộc thám hiểm châu Mỹ, bờ biển châu Phi, Trung Đông, Ấn Độ và Đông Á của hai nước Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha.
Vào ngày 7 tháng 6 năm 1494, Giáo hoàng Alexander VI đã chia thế giới thành hai nửa, chia phần phía tây cho Tây Ban Nha, và phía đông cho Bồ Đào Nha, một cử chỉ mà nước Anh và Pháp chưa bao giờ chấp nhận. Xem thêm Hiệp ước Tordesillas ra đời sau sắc lệnh của Giáo hoàng.
Nửa sau của thế kỷ 16 chứng kiến sự bành trường của quốc gia thực dân Anh qua Ireland. Mặc dù đã bỏ ra nhiều nỗ lực, cho đến tận thế kỷ 17, Anh quốc, Pháp và Hà Lan mới hình thành xong các đế quốc hải ngoại bên ngoài châu Âu, trực tiếp cạnh tranh với Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và cả với nhau. Vào thế kỷ 19, Đế chế Anh đã phình ra thành đế quốc rộng lớn nhất từng có (xem danh sách các đế quốc rộng lớn nhất).
Cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 là kỷ nguyên phi thực dân hóa đầu tiên khi phần lớn các thuộc địa của châu Âu ở châu Mỹ lần lượt giành được độc lập từ mẫu quốc của chúng. Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha yếu đi thấy rõ sau khi bị mất đi các thuộc địa tại Tân Thế giới, nhưng Anh quốc (sau liên minh giữa Anh và Scotland), Pháp và Hà Lan lại hướng sự chú ý của mình đến Cựu Thế giới, cụ thể là Nam Phi, Ấn Độ và Đông Nam Á, những nơi tạo nên vùng duyên hải. Đế chế Đức (ngày nay là Cộng hòa), được tạo ra phần lớn nước Đức sau khi được hợp nhất dưới quốc gia Phổ (ngoại trừ Áo, và các vùng bản địa Đức khác), cũng tìm kiếm thuộc địa tại Đông Phi thuộc Đức. Các lãnh thổ ở khu vực khác trên thế giới vượt đại dương, hoặc vượt ra ngoài châu Âu, cũng được bổ sung vào Đế quốc thực dân Đức. Ý xâm chiếm Eritrea, Somalia và Libya. Trong chiến tranh Ý-Ethiopia lần thứ nhất và lần thứ 2, Ý đã xâm lược Abyssinia, và vào năm 1936 Đế quốc Ý đã được hình thành.
Sự công nghiệp hóa trong thế kỷ 19 dẫn đến một thời kỳ được gọi là Tân chủ nghĩa đế quốc, khi tốc độ thực dân hóa được đẩy nhanh, mà đỉnh cao của nó là Sự tranh giành châu Phi.
Vào năm 1823, Hoa Kỳ, trong quá trình mở rộng bờ cõi về phía tây bên bờ Thái Bình Dương, đã đưa ra Học thuyết Monroe trong đó đưa ra lời cảnh báo đối với những người theo chủ nghĩa bành trước ở châu Âu đừng can dự vào công việc nội bộ của châu Mỹ. Nguyên thủy, tài liệu này nhắm đến việc mở rộng chủ nghĩa thực dân tại châu Mỹ Latin và vùng Caribê, cho rằng điều đó là đàn áp và không thể chịu đựng. Đến cuối thế kỷ 19, một số cá nhân như Theodore Roosevelt đã diễn dịch Học thuyết Monroe theo cách cho rằng trách nhiệm của Hoa Kỳ là phải bảo đảm cho sự ổn định kinh tế ở Trung Mỹ, Caribê và Nam Mỹ, từ đó giúp cho các quốc gia này trả lại số nợ cho những kẻ thực dân. Trên thực tế, dưới thời tổng thống Roosevelt vào năm 1904, Hệ luận Roosevelt đối với Học thuyết Monroe đã được thêm vào tài liệu gốc để điều chỉnh lại chính sách và hành vi mở rộng thuộc địa của Hoa Kỳ dưới thời Roosevelt. Roosevelt đã biện hộ cho sự sửa đổi này trước quốc hội vào năm 1904, trong đó ông nói:
"Tất cả những gì quốc gia này mong muốn là nhìn thấy những quốc gia láng giềng được ổn định, kỷ luật và thịnh vượng. Bất kỳ nước nào mà người dân cư xử tốt có thể nhờ cậy đến tình bằng hữu nồng ấm của chúng ta. Nếu một quốc gia cho thấy họ biết cách hành động với năng lực và cách thức hợp lý để đối phó với các vấn đề xã hội và chính trị, nếu họ giữ được trật tự và thể hiện sự biết ơn, họ không cần phải sợ có sự can thiệp nào từ Hoa Kỳ. Còn cứ liên tục làm điều sai trái, hay tỏ ra bất lực dẫn đến các mối liên kết văn minh bị nới lỏng, thì ở Hoa Kỳ, hay bất cứ nơi nào khác, rốt cuộc cần phải có sự can thiệp từ một quốc gia văn minh nào đó, và ở Tây Hemisphere sự tôn trọng triệt để của Hoa Kỳ đối với Học thuyết Monroe sẽ buộc Hoa Kỳ, dù miễn cưỡng, trước những trường hợp sai trái hoặc bất lực rõ ràng đó, phải thực thi sức mạnh cảnh vệ quốc tế (Roosevelt, 1904)."
Với sự kiện này, giờ đây lần đầu tiên trong lịch sử nước Mỹ, chủ nghĩa đế quốc đã bắt đầu biểu hiện băng qua đường lãnh hải và đã sát nhập các lãnh thổ của Phillipines, Guam, Cuba, Puerto Rico, và Hawaii vào lãnh thổ Hoa Kỳ.
Mỹ đã thành công trong việc "giải phóng" các lãnh thổ Cuba, Puerto Rico, Guam, và Philippines. Chính quyền Mỹ thay thế chính quyền hiện có tại Hawaii vào năm 1893; nó được sát nhập vào liên minh Hoa Kỳ như một lãnh thổ hải ngoại vào năm 1898. Trong khoảng giữa năm 1898 và 1902, Cuba là một lãnh thổ của Hoa Kỳ cùng với Puerto Rico, Guam, và Philippines, tất cả đều là các thuộc địa mà Hoa Kỳ giành được từ tay Tây Ban Nha. Vào năm 1946, Phillipines được trao quyền độc quyền từ Hoa Kỳ và Puerto Rico đến nay vẫn là một lãnh thổ của Hoa Kỳ cùng với Samoa thuộc Mỹ, Guam, và Quần đảo Virgin thuộc Mỹ. Tại Cuba, Luật sử đổi Platt bị thay thế vào năm 1934 bởi Hiệp ước Quan hệ trao cho Cuba quyền tự chủ cao hơn về các vấn đề kinh tế và ngoại giao. Năm 1934 cũng là năm dưới thời tổng thống Franklin D. Roosevelt, áp dụng Chính sách Láng giềng tốt để hạn chế sự can thiệp của Hoa Kỳ vào Trung và Nam Mỹ.
Trong suốt thế kỷ 20, các thuộc địa hải ngoại của những nước thua cuộc trong Chiến tranh thế giới thứ nhất được các nước chiến thắng chia nhau với danh nghĩa lãnh thổ ủy quyền. Nhưng khi Chiến tranh thế giới thứ hai bắt đầu, ngày 14/8/1941 Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt và Thủ tướng Anh Winston S. Churchill cùng nhau ra Tuyên bố chung Hiến chương Đại Tây Dương. Điều 3 của Hiến chương này nói rằng Anh và Mỹ tôn trọng quyền của tất cả mọi dân tộc được chọn hình thức chính quyền lãnh đạo họ, Anh và Mỹ cũng mong muốn nhìn thấy chủ quyền và các hình thức nhà nước tự trị của các dân tộc trước kia bị người khác dùng vũ lực tước mất được tái lập lại. Đến cuối Chiến tranh thế giới thứ hai giai đoạn thứ hai của phi thực dân hóa mới được tiến hành nhanh chóng.
== Chủ nghĩa tân thực dân ==
Thuật ngữ chủ nghĩa tân thực dân đã được dùng để chỉ nhiều thứ khác nhau kể từ những nỗ lực phi thực dân hóa sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Nói chung, nó không đề cập đến một loại chủ nghĩa thực dân mà thực ra là chủ nghĩa thực dân dưới các hình thức khác. Cụ thể, người ta buộc tội mối quan hệ giữa các nước mạnh và yếu cũng giống như chủ nghĩa thực dân bóc lột, nhưng ở đây nước mạnh hơn không cần phải xây dựng hoặc duy trì thuộc địa. Những lời buộc tội như vậy thường tập trung vào các mối quan hệ kinh tế và sự can thiệp về chính trị của một nước lớn đối với nước nhỏ.
== Hậu chủ nghĩa thực dân ==
Hậu chủ nghĩa thực dân (hay còn gọi là thuyết hậu thuộc địa) nhắc đến một loạt lý thuyết về triết học và văn học vật lộn với những di sản của sự cai trị thực dân. Với ý nghĩa này, nền văn học hậu chủ nghĩa thực dân có thể được xem là một nhánh của Văn học hậu hiện đại liên quan đến sự độc lập chính trị và văn hóa của những người trước đây từng bị nô dịch trong các thuộc địa của đế quốc. Nhiều người trong nghề xem cuốn sách Orientalism (dịch nghĩa là Đông phương học) của Edward Said vào năm 1978 là tác phẩm đầu tiên sáng tạo ra lý thuyết này (dù các nhà lý thuyết người Pháp như Aimé Césaire và Frantz Fanon đã nói lên những điều tương tự hàng thập kỷ trước Said).
Edward Said đã phân tích các tác phẩm của Balzac, Baudelaire và Lautréamont, khám phá cách họ bị ảnh hưởng lẫn sự giúp đỡ hình thành một ý nghĩ kỳ quặc về tính ưu việt chủng tộc của người Âu châu. Những tiểu thuyết gia hậu thuộc địa giao tiếp với những bài văn thuộc địa truyền thống, nhưng thay đổi hoặc đảo ngược nó; ví dụ bằng cách kể lại một câu chuyện tương tự về khía cạnh của nhân vật phụ phản diện trong câu chuyện. Tác phẩm Những người thấp cổ bé họng có lên tiếng được không? vào năm 1998 của Gayatri Chakravorty Spivak là nguồn gốc của ngành Nghiên cứu thấp cổ bé họng.
Trong cuốn A Critique of Postcolonial Reason (chỉ trích các lý do hậu thực dân) vào năm 1999, Spivak đã phám phá ra cách làm thế nào những tác phẩm lớn của chủ nghĩa siêu hình châu Âu (như Kant, Hegel) không chỉ có xu hướng loại trừ những thành phần thấp cổ bé họng ra khỏi vấn đề mà chúng bàn luận, mà còn tích cực ngăn chặn những người không phải dân châu Âu giành được vị trí của một con người đầy đủ. Tác phẩm Hiện tượng Tinh thần vào năm 1807 nổi tiếng vì thể hiện chủ nghĩa vị chủng một cách công khai, trong đó xem nền văn minh phương Tây là hoàn thiện nhất, còn Kant cũng để cho những dấu hiệu phân biệt chủng tộc xen vào tác phẩm của ông.
== Ảnh hưởng của chủ nghĩa thực dân và sự thuộc địa hóa ==
Sự tranh cãi về những khía cạnh tiêu cực và tích cực (từ sự lây lan bệnh dịch, xã hội bất công, bóc lột, nô dịch, cơ sở hạ tầng, tiến bộ trong y dược, các học viện mới, phát minh mới, v.v.) của chủ nghĩa thực dân đã diễn ra từ nhiều thế kỷ, trong cả những người xâm chiếm và những người bị chiếm, và vẫn tiếp tục đến ngày nay. Vấn đề hôn nhân khác chủng tộc; mối liên kết giữa các công ty ở thuộc địa, diệt chủng — xem Diệt chủng Herero và Diệt chủng Armenia — và Holocaust; và các vấn đề bản chất của chủ nghĩa đế quốc, thuyết phụ thuộc và chủ nghĩa tân thuộc địa (cụ thể là khối nợ của Thế giới thứ ba) tiếp tục duy trì thực tế này.
=== Ảnh hưởng về sức khỏe ===
Sự gặp gỡ giữa những nhà thám hiểm châu Âu với người dân ở phần còn lại của thế giới thường dẫn đến sự xuất hiện những bệnh dịch khủng khiếp ở địa phương. Bệnh tật đã giết toàn bộ dân bản địa (Guanche) tại Quần đảo Canary vào thế kỷ thứ 16. Một nửa dân số người Hispaniola đã bị chết vì bệnh đậu mùa vào năm 1518. Bệnh đậu mùa cũng tàn phá México vào những năm 1520, chỉ riêng người Tenochtitlán đã có hơn 150.000 người chết, gồm cả quốc vương, và Peru vào những năm 1530, nhờ đó hỗ trợ cho những người châu Âu đi chinh phục. Bệnh sởi đã giết hơn hai triệu dân bản xứ México vào những năm 1600. Vào năm 1618–1619, bệnh đậu mùa đã quét sạch 90% người bản xứ Mỹ tại Vịnh Massachusetts. Dịch đậu mùa vào năm 1780–1782 và 1837–1838 đã dẫn đến sự sụp đổ và sụt giảm dân số khủng khiếp người da đỏ đồng bằng. Một số người tin rằng tỷ lệ đến 95% người da đỏ bản xứ tại Tân Thế giới bị chết là do bệnh tật ở Cựu Thế giới truyền sang. Qua nhiều thế kỷ, người châu Âu đã đạt được sự miễn dịch cao đối với loại bệnh này, trong khi người bản xứ không có khả năng như vậy.
Bệnh đậu mùa đã giết hại rất nhiều dân bản xứ tại Úc, giết chết khoảng 50% người bản địa Úc vào những năm đầu đô hộ của người Anh. Nó cũng giết nhiều người Māori ở New Zealand. Đến tận 1848–49, vẫn có đến 40.000 người trong tổng số 150.000 người Hawaii được cho là đã chết vì các bệnh sởi, ho gà và cúm. Các căn bệnh mới, đặc biệt là đậu mùa, đã gần như quét sạch toàn bộ dân bản địa tại Đảo Easter. Vào năm 1875, bệnh sởi giết chết 40.000 người Fiji, xấp xỉ một phần ba dân số. Dân số người Ainu đã giảm khủng khiếp trong thế kỷ thứ 19, do phần lớn dân chúng bị nhiễm các bệnh truyền nhiễm do dân định cư người Nhật mang vào Hokkaido.
Những nhà nghiên cứu kết luận rằng bệnh giang mai đã bị mang từ Tân Thế giới sang châu Âu sau chuyến hải hành của Colombo. Những nghiên cứu này cho rằng những người châu Âu có thể đang mang các vi khuẩn nhiệt đới không lây qua đường tình dục về nhà, tại đó các vi khuẩn đó đã đột biến thành một dạng nguy hiểm hơn trong điều kiện khác biệt ở châu Âu. Bệnh tật hồi đó thường dễ gây chết người hơn ngày nay. Bệnh giang mai là căn bệnh gây chết người chủ yếu ở châu Âu trong Thời kỳ Phục hưng. Đại dịch tả đầu tiên bắt đầu tại Bengal, sau đó đến năm 1820 đã lan ra khắp Ấn Độ. 10.000 binh lính Anh và vô số người Ấn đã chết trong đại dịch này. Từ năm 1736 đến 1834 chỉ có khoảng 10% nhân viên của Công ty Đông Ấn là sống sót để quay về được nhà. Waldemar Haffkine, người làm việc chủ yếu tại Ấn Độ, là nhà vi sinh đầu tiên phát triển và sử dụng vắc-xin bệnh tả và dịch hạch.
Vào đầu năm 1803, Vua Tây Ban Nha đã tổ chức một sứ mệnh (thám hiểm Balmis) để vận chuyển vắc xin đậu mùa sang các thuộc địa của Tây Ban Nha, và thực hiện các chương trình tiêm chủng hàng loạt tại đó. Đến năm 1832, chính quyền liên bang Hoa Kỳ đã thành lập chương trình tiêm chủng đậu mùa cho người da đỏ bản xứ. Dưới sự chỉ đạo của Mountstuart Elphinstone, một chương trình đã được thực hiện để tuyên truyền tiêm chủng đậu mùa tại Ấn Độ. Từ đầu thế kỷ 20 về sau, sự tiêu diệt hoặc khống chế bệnh tật ở các nước nhiệt đới đã trở thành động lực cho tất cả các thế lực thuộc địa. Dịch bệnh buồn ngủ tại châu Phi đã bị khống chế nhờ các đội cơ động cách ly có hệ thống hàng triệu người có nguy cơ nhiễm bệnh. Vào thế kỷ 20, thế giới đã chứng kiến sự bùng bổ dân số lớn nhất từ trước tới nay trong lịch sử loài người do tỷ lệ chết đã giảm tại nhiều nước nhờ các tiến bộ về y học. Dân số thế giới đã tăng từ 1,6 tỷ vào năm 1990 đến khoảng chừng 6,7 tỷ vào ngày nay.
=== An ninh lương thực ===
Sau năm 1492, một sự trao đổi các giống cây trồng và gia súc trên phạm toàn cầu đã diễn ra. Các loại cây trồng chính trong cuộc trao đổi này là cà chua, ngô, khoai tây và sắn từ Tân Thế giới sang Cựu thế giới. Khi nhà Minh hình thành ở Trung Quốc vào năm 1368, dân số nước này có gần 60 triệu người, và đến cuối thời nhà Minh vào năm 1644 đã đạt đến con số 150 triệu. Các loại cây trồng mới đã được du nhập từ châu Mỹ sang châu Á thông qua những tên thực dân Tây Ban Nha vào thế kỷ 16, trong đó có ngô và khoai lang, góp phần cho sự tăng trưởng dân số này. Mặc dù ban đầu bị xem là không phù hợp cho con người, khoai tây đã trở thành loại cây trồng chủ yếu tại bắc Âu. Ngô có mặt tại châu Âu vào thế kỷ 15. Do sản lượng cao, nó đã nhanh chóng được truyền đi khắp châu Âu, và sau đó đến châu Phi và Ấn Độ. Ngô có thể đã du nhập vào Ấn Độ nhờ những người Bồ Đào Nha vào thế kỷ 16.
Từ khi được những thương gia người Bồ giới thiệu vào thế kỷ 16, ngô và sắn đã thay thế các cây trồng truyền thống ở châu Phi trở thành giống cây trồng quan trọng nhất tại lục địa. Cây sắn đôi khi được mô tả là "bánh mì của vùng nhiệt đới".
=== Buôn bán nô lệ ===
Chế độ nô lệ đã tồn tại với nhiều quy mô, hình thức và trong các giai đoạn khác nhau tại hầu như tất cả các nền văn hóa và lục địa. Từ thế kỷ 17 đêns thế kỷ 20, buôn bán nô lệ Ả Rập (còn gọi là chế độ nô lệ phương Đông) đã biến khoảng 18 triệu người từ châu Phi thành nô lệ qua các tuyến đường xuyên sa mạc Sahara và Ấn Độ Dương.
Từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, trong giai đoạn buôn bán nô lệ Đại Tây Dương, các nước châu Âu như Anh, Pháp, Hà Lan... đã bắt giam 12 triệu nô lệ châu Phi và đưa họ đến Tân Thế giới.
Từ năm 1654 đến 1865, chế độ nô lệ suốt đời vẫn hợp pháp trong biên giới hiện nay của Hoa Kỳ. Theo thống kê tại Hoa Kỳ vào năm 1860, gần bốn triệu nô lệ được nuôi với tổng số người là trên 12 triệu rải khắp 15 bang cho phép chế độ nô lệ. Trong tất cả 1.515.605 gia đình tại 15 bang nô lệ, 393.967 gia đình có nuôi nô lệ (gần một phần tư), chiếm tỷ lệ 8% tất cả hộ gia đình tại Hoa Kỳ.
Vào năm 1807, Vương quốc Anh trở thành một trong những quốc gia đầu tiên chấm dứt sự tham gia vào các vụ buôn bán nô lệ. Từ năm 1808 đến 1860, Đội tàu Tây Phi của Anh đã bắt được xấp xỉ 1.600 tàu chở nô lệ và giải phóng 150.000 người Phi trên tàu. Đã có nhiều hành động chống lại những nhà lãnh đạo châu Phi nào từ chối ký một thỏa thuận với nước Anh đặt việc buôn bán này ra khỏi vòng pháp luật, ví dụ như vụ chống lại "Vua cướp ngôi của Lagos", bị hạ bệ vào năm 1851. Các hiệp ước chống chế độ nô lệ đã được ký với hơn 50 người đứng đầu các nước châu Phi. Vào năm 1827, nước Anh tuyên bố rằng buôn bán nô lệ là cướp biển, có thể bị phạt tội chết.
=== Ảnh hưởng đến văn hóa địa phương ===
John Lame thuộc tộc người Sioux của Lakota đã nói về sự ảnh hưởng với người da đỏ do cuộc xâm chiếm thuộc địa mà người da trắng tiến hành ở các thuộc địa Bắc Mỹ:
Trước khi người anh em da trắng đến để mang cho chúng ta "nền văn minh", chúng ta không có bất kỳ loại nhà tù nào. Vì vậy, chúng ta cũng không có tội phạm. Không có nhà tù, không có tội phạm. Thế nên, chúng ta không có ổ khóa lẫn chìa khóa, và bởi vậy mà chúng ta cũng không có trộm cướp. Khi một người nghèo đến nỗi anh ta không có đủ tiền để mua một con ngựa, một túp lều, hay một cái mền, anh ta sẽ có được nó như một món quà. Chúng ta không "văn minh" để chú tâm vào những tài sản của sự văn minh. Chúng ta không biết đến bất kỳ loại tiền tệ nào nên giá trị của một người không được chúng ta đo lường bằng sự giàu có. Chúng ta không đặt ra bất kỳ văn bản luật nào, cũng không có luật sư, không có chính khách, bởi vậy chúng ta không lừa đảo và bịp người khác. Chúng ta thực sự ở trong tình trạng tồi tệ trước khi người da trắng đến, và tôi không biết phải giải thích thế nào về cách quản lý những thứ cơ bản (mà họ bảo với tôi là chúng) rất cần thiết cho một xã hội hiện đại
=== Các nạn đói ===
Các nước thuộc địa thường xảy ra nạn đói do chính sách cai trị bóc lột của nước thực dân. Trong thời kỳ Ấn Độ thuộc Anh, một vài nạn đói khủng khiếp nhất đã được ghi chép lại, gồm cả Đại nạn đói 1876–78, đã khiến cho từ 6,1 triệu đến 10,3 triệu người chết và nạn đói ở Ấn Độ 1899–1900, làm từ 1,25 triệu đến 10 triệu người chết. Đại dịch hạch lần thứ ba khởi đầu từ Trung Quốc giữa thế kỷ 19, lây lan khắp lục địa và đã làm 10 triệu người Ấn Độ thiệt mạng.
Tại Việt Nam, nạn đói cũng xảy ra vào thời Pháp thuộc. Khoảng 1 tới 2 triệu người Việt đã chết chỉ riêng trong năm 1945 vì nạn đói (xem Nạn đói năm Ất Dậu).
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Liberal opposition to colonialism, imperialism and empire (pdf) - của giáo sư Daniel Klein
Colonialism - mục từ tại Stanford Encyclopedia of Philosophy ngày Margaret Kohn
Globalization (and the metaphysics of control in a free market world) - video trực tuyến về toàn cầu hóa, chủ nghĩa thực dân, và sự điều khiển. |
nghị quyết 1874 của hội đồng bảo an liên hiệp quốc.txt | Nghị quyết 1874 của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc được Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc nhất trí thông qua vào ngày 12 tháng 6 năm 2009. Nghị quyết này, thể theo Chương VII, Điều 41 của Hiến chương Liên Hiệp Quốc, thi hành sự trừng phạt về kinh tế và thương mại đối với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) và khuyến khích các quốc gia thành viên Liên Hiệp Quốc lục soát tàu hàng của Bắc Triều Tiên, sau vụ thử hạt nhân dưới lòng đất do nước này thực hiện vào ngày 25 tháng 5 năm 2009.
== Điều khoản ==
Các điều khoản của nghị quyết bao gồm:
Cho phép các quốc gia thành viên thực hiện lục soát, "thể theo nhà chức trách và luật pháp của quốc gia, nhất quán với luật pháp quốc tế", các tàu hàng của Bắc Triều Tiên trên đất liền, dưới biển, và trên không, để phá hủy bất cứ hàng hóa nào bị nghi là có liên hệ đến chương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên.
Yêu cầu chính phủ Bắc Triều Tiên lập tức quay trở lại Đàm phán sáu bên và rút lại tuyên bố rút khỏi Hiệp ước không phổ biến hạt nhân.
Ngăn cản các dịch vụ tài chính có thể phục vụ cho chương trình hạt nhân hoặc tên lửa đạn đạo.
Chỉ thị cho các quốc gia thành viên không được hỗ trợ tài chính cho chương trình hạt nhân của CHDCND Triều Tiên, hoặc cho nước này vay nợ, ngoại trừ vì lý do nhân đạo hoặc phát triển.
Mở rộng sự cấm vận vũ khí đối với Bắc Triều Tiên bằng cách cấm tất cả việc xuất khẩu vũ khí từ quốc gia này và phần lớn sự nhập khẩu vào quốc gia này, ngoại trừ vũ khí bộ binh, vũ khí hạng nhẹ và các thiết bị liên quan – mặc dù các quốc gia thành viên phải thông báo với Hội đồng Bảo an năm ngày trước khi bán vũ khí.
Đòi hỏi Bắc Triều Tiên dừng chương trình vũ khí hạt nhân của nước này và không được tiến hành các vụ thử hạt nhân và tên lửa nào khác.
Yêu cầu các quốc gia thành viên thông báo cho Hội đồng Bảo an các bước đang tiến hành để thực hiện nghị quyết trong vòng 45 ngày.
Khẳng định sự ủng hộ một giải pháp hòa bình, ngoại giao cho tình huống.
== Thông qua ==
Với việc nhất trí thông qua nghị quyết, Hội đồng đã lên án vụ thử hạt nhân là sự "vi phạm và rõ ràng không tôn trọng" các nghị quyết 1695 và 1718 trước đây của Hội đồng. Nghị quyết này giờ đây đã gắn liền với luật pháp quốc tế.
=== Các thành viên thường trực Hội đồng Bảo an ===
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: Đại sứ Trương Nghiệp Toại nói rằng Trung Quốc đã bỏ phiếu ủng hộ nghị quyết vì những hành động của Bắc Triều Tiên đã "không tôn trọng mục tiêu chung của cộng đồng quốc tế". Tuy nhiên, ông nhấn mạnh rằng cần sử dụng các biện pháp ngoại giao thay vì chỉ thực hiện trừng phạt, và nghị quyết không nên "ảnh hưởng bất lợi lên sự phát triển của đất nước, hoặc sự hỗ trợ nhân đạo cho nước này". Ông cũng thúc giục chống lại việc sử dụng vũ lực khi kiểm soát tàu hàng Bắc Triều Tiên.
Pháp: Đại sứ Jean-Maurice Ripert lưu ý rằng CHDCND Triều Tiên đã "thực hiện một chương trình hạt nhân bí mật" khiến tăng nguy cơ của nước này. Ông nói rằng quốc gia này đã làm tăng thêm sự căng thẳng trong khu vực với việc bắn tên lửa và Hội đồng Bảo an đã đáp trả cho hành động đó bằng những lệnh trừng phạt cứng rắn lên chế độ, mặc dù ông có nhắc đến việc Hội đồng có lo ngại cho dân chúng.
Nga: Đại diện ngoại giao Vitaly Churkin nói rằng những giới hạn được đưa ra "về bản chất là quan trọng và đúng mục tiêu", và "ràng buộc rõ ràng với việc kết thúc chương trình tạo tên lửa hạt nhân của CHDCND Triều Tiên". Ông nhấn mạnh rằng sự trừng phạt không nhắm vào nhân dân Triều Tiên, là vấn đề quan tâm chủ yếu của phái đoàn ông. Ông cũng nhấn mạnh rằng những sự trừng phạt sẽ được dỡ bỏ nếu Bắc Triều Tiên hợp tác.
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland: Phó đại sứ Philip Parham nói rằng sự thông qua nghị quyết cho thấy "cộng đồng quốc tế đã thống nhất trong việc lên án các hành động hạt nhân của Bắc Triều Tiên".
Hoa Kỳ: Đại diện ngoại giao Rosemary DiCarlo nói rằng nghị quyết đã tạo ra "sự trừng phạt mạnh hơn hẳn" đối với Bình Nhưỡng để thuyết phục họ từ bỏ chương trình vũ khí hạt nhân. Sau đó, Đại sứ Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc Susan Rice cũng tuyên bố rằng nghị quyết là "chưa từng có" và "có răng để cắn" (nguyên văn: "teeth that will bite"). Nghị quyết là một "câu trả lời mạnh mẽ và thống nhất quốc tế" đối với vụ thử thiết bị hạt nhân.
=== Thành viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ===
Úc: Đại sứ Thomas Mayr-Harting nói rằng nghị quyết là một câu trả lời "rõ ràng, thích hợp và thẳng thắn" đối với các hành động của Bắc Triều Tiên. Ông kêu gọi quốc gia này quay lại Hiệp ước Cấm thử nghiệm hạt nhân toàn diện (CTBT).
Burkina Faso: Phó đại diện Paul Robert Tiendrébéogo đã ủng hộ nghị quyết và nhấn mạnh nguyện vọng của đất nước ông cho một thế giới phi hạt nhân và quyền sử dụng năng lượng hạt nhân với mục đích hòa bình. Ông kêu gọi Bắc Triều Tiên hợp tác với Cơ quan Năng lượng Nguyên tử Quốc tế, đàm phán sáu bên và những cơ quan khác, nhấn mạnh rằng quốc gia này nên "chọn đối thoại".
Croatia: Đại sứ Ranko Vilović nói rằng sự trừng phạt không nhắm tới người dân Bắc Triều Tiên, nhưng kêu gọi Bắc Triều Tiên tán thành Hiệp ước CTBT và cuộc đàm phán sáu bên.
Costa Rica: Đại diện thường trực Jorge Urbina nhắc lại quan điểm của toàn Hội đồng, và thôi thúc quốc gia này quay trở lại các hệ thống đối thoại của quốc tế.
Nhật Bản: Đại diện thường trực Yukio Takasu hoan nghênh nghị quyết, mô tả các hành động của CHDCND Triều Tiên là "hành vi thiếu trách nhiệm" tạo sự đe dọa cho quốc gia của ông. Ông hy vọng rằng nghị quyết được thông qua sẽ thay đổi những hành động của Bắc Triều Tiên. Thủ tướng Nhật Bản Aso Taro cũng thôi thúc Bắc Triều Tiên xem xét nghị quyết "một cách nghiêm túc".
Libya: Đại diện thường trực Abdurrahman Mohamed Shalgham nói rằng thế giới sẽ không được hưởng sự an toàn cho đến khi nào tất cả các vũ khí hạt nhân bị tiêu trừ. Ông nói rằng cộng đồng quốc tế đã không tưởng thưởng cho Lybia vì đã ngừng chương trình hạt nhân của họ và hy vọng một lệnh trừng phạt tương tự sẽ được áp dụng cho Israel. Shalgham cũng nói rằng dù nước ông bình thường không ủng hộ lệnh trừng phạt có thể gây nguy hại đến dân chúng, trong trường hợp này đây là cách tốt nhất để mang lại một giải pháp cho tình huống.
Mexico: Đại sứ Claude Heller nói rằng nghị quyết là một "thông điệp rõ ràng" rằng các hành động của Bắc Triều Tiên là không thể chấp nhận được đối với cộng đồng quốc tế. Ông nhấn mạnh rằng các hành động gần đây của CHDCND Triều Tiên đã vi phạm các nghị quyết của Hội đồng Bảo an và phá hoại nguyện vọng cho một thế giới phi hạt nhân và hối thúc Bắc Triều Tiên ngưng các vụ thử hạt nhân khác "hoàn toàn và vĩnh viễn".
Thổ Nhĩ Kỳ: Phát ngôn đại diện cho quốc gia, Chủ tịch Hội đồng đương nhiệm Baki İlkin nói rằng các hành động gần đây của Bắc Triều Tiên đã phá hoại sự ổn định, tin tưởng lẫn nhau và tự tin trong khu vực, điều mà chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ cực kỳ phản đối. Ông hối thúc nước này quay lại bàn đàm phán sáu bên, xem chúng là cách tốt nhất có thể bảo đảm sự phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên.
Uganda: Đại diện thường trực Ruhakana Rugunda nhắc lại ý kiến của Hội đồng, vì nó "quan trọng để đạt được phi hạt nhân hóa trên bán đảo Triều Tiên".
Việt Nam: Đại diện Lê Lương Minh đã ủng hộ sự đồng thuận của Hội đồng, nhấn mạnh rằng quốc gia của ông luôn ủng hộ sự phi hạt nhân hóa nhưng cũng lưu ý rằng sự trừng phạt không nên có tác động ngược đến dân chúng Bắc Triều Tiên.
=== Các quốc gia Liên Hiệp Quốc khác ===
Hàn Quốc: Hàn Quốc được mời tham dự phiên họp. Đại diện Park In-kook nói rằng vụ thử hạt nhân đã vi phạm các nghị quyết của Hội đồng và "thách thức các cảnh báo của cộng đồng quốc tế", đe dọa hòa bình và sự ổn định trong khu vực, do đó tất cả các quốc gia thành viên nên bảo đảm rằng họ sẽ thực thi lệnh trừng phạt một cách đầy đủ. Ông nói rằng chính quyền Hàn Quốc hối thúc mạnh mẽ Bắc Triều Tiên quay lại bàn đàm phán sáu bên và từ bỏ các chương trình vũ khí và tên lửa hạt nhân.
== Phản ứng của Bắc Triều Tiên ==
Một tờ báo chính thức nói rằng quốc gia này xem các lệnh trừng phạt mới là "lời tuyên chiến". Để phản ứng lại, một tuyên bố của Bộ ngoại giao, do Cơ quan Thông tấn Trung ương Triều Tiên (KCNA) phát ra, nói rằng quốc gia này sẽ "vũ khí hóa tất cả plutonium" và đã xử lý lại hơn "một phần ba lượng nhiên liệu hạt nhân đã sử dụng của chúng tôi". Cơ quan này cũng thông báo họ sẽ bắt đầu làm giàu uranium. Lời tuyên bố xem bất kỳ nỗ lực bao vây nào đều là "hành động chiến tranh sẽ giáp mặt với một câu trả lời bằng quân sự dứt khoát", và sẽ "chống lại 'sự trừng phạt' bằng cách trả đũa và 'đương đầu' với tất cả ai muốn đương đầu", cáo buộc nghị quyết là một sản phẩm do Hoa Kỳ cầm đầu nhằm chống lại quốc gia này. Tuyên bố của Bộ Ngoại giao Bắc Triều Tiên trên KCNA tiếp tục:
Hoa Kỳ và Nhật Bản, không bằng lòng với "nghị quyết" này, đang âm mưu những kịch bản dơ bẩn nhằm bổ sung thêm sự "trừng phạt" của chính họ vào những nghị quyết chống lại CHDCND Triều Tiên đã có bằng cách dựng lên những vấn đề tưởng tượng về "rửa tiền" và "buôn lậu ma túy". Hoa Kỳ đã xúi giục Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc để bị lôi kéo ngày càng sâu vào nhằm bưng bít CHDCND Triều Tiên, dẫn đến việc tạo ra sự cẳng thẳng gay gắt chưa từng thấy tại Bán đảo Triều Tiên.
...
Nếu bất cứ nước nào khác rơi vào hoàn cảnh giống CHDCND Triều Tiên, họ sẽ nhận thẩy rằng CHDCND Triều Tiên không bao giờ lựa chọn nó mà là bị ép buộc phải tiến đến hạt nhân để đối mặt với chính sách thù địch của Hoa Kỳ và nguy cơ hạt nhân từ họ. Thậm chí việc CHDCND Triều Tiên nghĩ đến việc từ bỏ chương trình hạt nhân đã là một lựa chọn hoàn toàn không thực hiện được. Đối với CHDCND Triều Tiên, không có sự khác biệt nào nếu tình trạng hạt nhân được công nhận hay không.
Một bài xã luận trên báo Rodong Sinmun khẩng định Hoa Kỳ đã chuẩn bị 1000 vũ khí hạt nhân tại Hàn Quốc để tấn công Bắc Triều Tiên, còn tờ Tongbil Sinmun cảnh báo rằng chiến tranh hạt nhân có thể nổ ra tại bán đảo Triều Tiên. Phát ngôn viên quân đội Hoa Kỳ đã mô tả lời khẳng định là "vô căn cứ", bổ sung thêm rằng các vũ khí đã bị hủy diệt theo hiệp ước năm 1991.
Vào ngày 15 tháng 6, chính quyền Bắc Triều Tiên đã tổ chức một cuộc phản đối khổng lồ với 100.000 người tham dự tại quảng trường Kim Il-sung ở Bình Nhưỡng để phản đối Nghị quyết 1874. Thư ký Hội đồng Trung ương Đảng Công nhân Triều Tiên Kim Ki Nam buộc tội Hoa Kỳ gây áp lực bằng sự trừng phạt, bổ sung rằng chúng sẽ không làm CHDCND Triều Tiên yếu đi.
== Xem thêm ==
Vụ thử hạt nhân năm 2009 của Bắc Triều Tiên
Bắc Triều Tiên và vũ khí tiêu diệt hàng loạt
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
SC/9679 Nội dung nghị quyết, UN Press phát hành (tiếng Anh)
Nghị quyết 1874 (PDF)
Trừng phạt Bắc Triều Tiên: Nghị quyết 1718 so với Nghị quyết 1874, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (tiếng Anh)
Bản mẫu:UNSCR DPRK |
từ.txt | Từ là đơn vị sẵn có trong ngôn ngữ. Từ là đơn vị nhỏ nhất, cấu tạo ổn định, mang nghĩa hoàn chỉnh, được dùng để cấu thành nên câu. Từ có thể làm tên gọi của sự vật (danh từ), chỉ các hoạt động (động từ), trạng thái, tính chất (tính từ)... Từ là công cụ biểu thị khái niệm của con người đối với hiện thực.
Trong ngôn ngữ học, từ là đối tượng nghiên cứu của nhiều cấp độ khác nhau, như cấu tạo từ, hình thái hoc, ngữ âm học, phong cách học, cú pháp học...
== Đơn vị cấu tạo ==
Đơn vị cơ sở để cấu tạo từ tiếng Việt là các tiếng, cái mà ngữ âm học vẫn gọi là các âm tiết.
Mặc dù nguyên tắc phổ biến là các từ được cấu tạo từ các hình vị, nhưng hình vị trong các ngôn ngữ khác nhau có thể không như nhau.
Tiếng của tiếng Việt có giá trị tương đương như hình vị trong các ngôn ngữ khác, và người ta cũng gọi chúng là các hình tiết (morphemesyllable) – âm tiết có giá trị hình thái học.
Xét về ý nghĩa, về giá trị ngữ pháp, về năng lực tham gia cấu tạo từ... không phải tiếng (hình tiết) nào cũng như nhau.
Trước hết có thể thấy ở bình diện nội dung:
Sự tranh luận về giá trị và ý nghĩa của tiếng, thực sự chỉ tập trung ở những tiếng thuộc loại b. và c., nhất là loại c. Tuy nhiên, tư cách và giá trị tương đương với hình vị trong tiếng Việt vẫn có thể chứng minh được (mặc dù chưa thực sự có sức thuyết phục tuyệt đối cho tất cả mọi trường hợp) qua các hiện tượng tách rời, lặp, chen thành tố, rút gọn... Ví dụ:
Mặt khác, cũng cần thấy rằng các tiếng thuộc loại c. này không chiếm số lượng nhiều trong tiếng Việt; và đa số trong số đó lại thuộc nguồn gốc ngoại lai. Chúng thuộc phạm vi ở vùng biên chứ không phải ở vùng tâm của tiếng Việt. Hơn nữa, mặt dù chưa có những chứng cứ đầy đủ về mặt tâm lý ngôn ngữ học, nhưng chúng ta cũng phải lưu ý đến một điều là: trong ứng xử ngôn ngữ, dường như người Việt luôn luôn có tâm lý chờ đợi ở mỗi tiếng (bất kể tiếng đó như thế nào) một phần nghĩa nào đấy; hoặc sẵn sàng cấp cho nó một nghĩa nào đấy. Nếu không vậy thì làm sao người ta có thể chấp nhận được những tiếng, những câu như sau: "Trời đất khen sao khéo khéo phòm" của Hồ Xuân Hương?
Nói tóm lại, trong Việt ngữ học hiện nay, nếu lấy tiêu chí "có chỉ ra, có quy chiếu vào đối tượng nào, khái niệm nào hay không" thì người ta vẫn quen phân loại và gọi các tiếng thuộc loại a. kể trên là loại tiếng có nghĩa; còn các tiếng thuộc loại b. và c. là tiếng vô nghĩa.
Về năng lực hoạt động ngữ pháp, có thể căn cứ vào tiêu chí: "có khả năng hoạt động tự do hay không" để chia các tiếng thành hai loại:
Tuy nhiên, ranh giới của các loại tiếng không phải là hoàn toàn tuyệt đối. Cần phải lưu ý đến những trường hợp trung gian giữa loại này với loại kia, phạm vi này với phạm vi kia.
== Phương thức cấu tạo ==
Từ tiếng Việt được cấu tạo hoặc là bằng các dùng một tiếng, hoặc là tổ hợp các tiếng lại theo lối nào đó.
Phương thức dùng một tiếng làm một từ sẽ cho ta các từ đơn (còn gọi là từ đơn tiết). Vậy từ đơn ở đây được hiểu là những từ cấu tạo bằng một tiếng.
Phương thức tổ hợp (ghép) các tiếng lại, mà giữa các tiếng (thành tố cấu tạo) đó có quan hệ về nghĩa với nhau, sẽ cho ta những từ gọi là từ ghép. Dựa vào tính chất của mối quan hệ về nghĩa giữa các thành tố cấu tạo, có thể phân loại từ ghép tiếng Việt như sau:
Từ ghép đẳng lập. Đây là những từ mà các thành tố cấu tạo có quan hệ bình đẳng với nhau về nghĩa. Ở đây, có thể lưu ý tới hai khả năng.
Từ ghép chính phụ. Những từ ghép mà có thành tố cấu tạo này phụ thuộc vào thành tố cấu tạo kia, đều được gọi là từ ghép chính phụ. Thành tố phụ có vai trò phân loại, chuyên biệt hoá và sắc thái hoá cho thành tố chính. Ví dụ: tàu hoả, đường sắt, sân bay, hàng không, nông sản, cà chua, máy cái, dưa hấu, cỏ gà... xấu bụng, tốt mã, lão hoá... xanh lè, đỏ rực, ngay đơ, thằng tắp, sưng vù...
Phương thức tổ hợp các tiếng trên cơ sở hoà phối ngữ âm cho ta các từ láy (còn gọi là từ lấp láy, từ láy âm).
Từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng và còn có loại ba tiếng. Tuy nhiên, loại đầu tiên là loại tiêu biểu nhất cho từ láy và phương thức láy của tiếng Việt.
Một từ sẽ được coi là từ láy khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phần ngữ âm được lặp lại; nhưng vừa có lặp (còn gọi là điệp) vừa có biến đổi (còn gọi là đối). Ví dụ: đỏ đắn: điệp ở âm đầu, đối ở phần vần. Vì thế, nếu chỉ có điệp mà không có đối (chẳng hạn như: người người, nhà nhà, ngành ngành... thì ta có dạng láy của từ chứ không phải là từ láy. Kết hợp tiêu chí về số lượng tiếng với cách láy, có thể phân loại từ láy như sau:
Từ láy gồm hai tiếng (cũng gọi là từ láy đôi) có các dạng cấu tạo sau:
Láy hoàn toàn. Gọi là láy hoàn toàn nhưng thực ra bộ mặt ngữ âm của hai thành tố (hai tiếng) không hoàn toàn trùng khít nhau, chỉ có điều là phần đối của chúng rất nhỏ khiến người ta vẫn nhận ra được hình dạng của yếu tố gốc trong yếu tố được gọi là yếu tố láy. Có thể chia các từ láy hoàn toàn thành ba lớp nhỏ hơn:
Láy bộ phận. Những từ láy nào chỉ có điệp ở phần âm đầu, hoặc điệp ở phần vần thì được gọi là láy bộ phận. Căn cứ vào đó, có thể chia từ láy bộ phận thành hai lớp.
Từ láy ba và bốn tiếng được cấu tạo thông qua cơ chế cấu tạo từ láy hai tiếng. Tuy vậy, từ láy ba tiếng dựa trên cơ chế láy hoàn toàn, còn từ láy bốn lại dựa trên cơ chế láy bộ phận là chủ yếu. Ví dụ: khít khìn khịt, sát sàn sạt, dửng dừng dưng, trơ trờ trờ... đủng đà đủng đỉnh, lếch tha lếch thếch, linh tinh lang tang, vội vội vàng vàng...
Trên thực tế, số lượng từ láy ba tiếng và bốn tiếng không nhiều. Mặt khác, có thể coi chúng chỉ là hệ quả, là bước "tiếp theo" trên cơ chế láy của từ láy hai tiếng mà thôi. Từ láy ba là láy toàn bộ kèm theo sự biến thanh và biến vần (ví dụ: nhũn – nhũn nhùn nhùn; xốp – xốp xồm xộp...). Nhiều khi ta gặp những "cặp bài trùng" giữa từ láy hai tiếng và ba tiếng như: sát sạt – sát sàn sạt; trụi lủi – trụi thui lủi; nhũn nhùn – nhũn nhùn nhùn; khét lẹt – khét lèn lẹt... Từ láy bốn tiếng thì tình hình cấu tạo có đa tạp hơn. Có thể là:
Ngoài ra, còn có một số từ khác không cấu tạo theo các cách nêu trên; hoặc từ một từ gốc có thể cấu tạo hai từ láy bốn tiếng chứ không phải chỉ có một. Chẳng hạn: bù lu bù loa; bông lông ba la... hoặc bắng nhắng – bắng nha bắng nhắng; bắng nhắng bặng bặng nhặng...
Sự biểu đạt ý nghĩa của từ láy rất phức tạp và rất thú vị, nhất là ở nhiều nhóm từ cùng có khuôn cấu tạo lại có thể có những điểm giống nhau nào đó về nghĩa. Điều này cần được khảo sát riêng tỉ mỉ hơn.
Từ các kiểu từ đã trình bày trên đây, tiếng Việt còn có một lớp từ mà người bản ngữ hiện nay không thấy giữa các thành tố cấu tạo (các tiếng) của chúng có quan hệ gì về ngữ âm hoặc ngữ nghĩa. Vì vậy, từ góc độ phân loại, cần tách chúng ra và gọi là cáctừ ngẫu hợp với ngụ ý: các tiếng tổ hợp với nhau ở đây một cách ngẫu nhiên. Lớp từ này có thể bao gồm:
Bộ phận từ này trong những năm gần đây có xu hướng gia tăng do các mối quan hệ quốc tế mở rộng, tạo điều kiện cho sự tiếp xúc, vay mượn và du nhập từ ngữ, nhất là trong lĩnh vực thông tin, khoa học và kĩ thuật.
== Biến thể của từ ==
Trong hoạt động của mình, một số từ tiếng Việt có thể có biến động về cấu trúc. Tuy nhiên, cần nói rằng đó không phải là những biến dạng theo nguyên tắc hình thái học như các dạng thức khác nhau của từ trong ngôn ngữ biến hình. Ở đây chúng thường chỉ được coi là dạng lâm thời biến động hoặc dạng "lời nói" của từ. Có nghĩa rằng, những biến động ấy không đều đặn, không thường xuyên ở tất cả mọi từ. Chúng chỉ lâm thời xảy ra ở một số từ trong một số trường hợp sử dụng mà thôi. Đại thể có những dạng biến động như sau:
Biến một từ có cấu trúc lớn, phức tạp hơn sang cấu trúc nhỏ, đơn giản hơn. Thực chất đây là sự rút gọn một từ dài thành từ ngắn hơn. Ví dụ:
Xu hướng biến đổi này không có tính bắt buộc, không đều đặn ở mọi từ, và nhiều khi chỉ vì lý do tiết kiệm trong ngôn ngữ. Không phải ngày nay tiếng Việt mới có hiện tượng rút gọn như vậy, mà những cặp từ song song tồn tại giữa một bên là từ đa tiết với một bên là từ đơn tiết chứng tỏ rằng hiện tượng này đã có từ lâu. Chẳng hạn:
Rất nhiều tên gọi các tổ chức chính trị, xã hội, tôn giáo, các danh nhân, địa danh... trong tiếng Việt ngày nay đã được rút gọn lại như vậy
Xu hướng biến đổi một từ đơn giản thành một từ có cấu trúc phức tạp hơn, trong tiếng Việt hiện nay không thấy có. Rất có thể vì nó trái với nguyên tắc tiết kiệm mà người sử dụng ngôn ngữ thường xuyên phải tính đến.
Lâm thời phá vỡ cấu trúc của từ, phân bố lại yếu tố tạo từ với những yếu tố khác ngoài từ chen vào. Ví dụ:
Sự biến đổi theo kiểu này rất đa dạng, nhằm nhiều mục đích. Cũng có khi người nói, với dụng ý ít nhiều mang tính chơi chữ, đã phá vỡ cấu trúc từ để dùng yếu tố tạo từ với tư cách như một từ. Ví dụ:
(1) Đồng không con đóm lập loè (Tản Đà)
== Tham khảo == |
lịch sử thế giới.txt | Lịch sử thế giới hay còn gọi là lịch sử loài người, bắt đầu từ thời đại đồ đá cũ. Khác với lịch sử Trái Đất (nó gồm cả lịch sử địa chất Trái Đất và lịch sử tiến hóa sự sống trước khi có sự xuất hiện của con người). Lịch sử thế giới được nghiên cứu qua khảo cổ học và các ghi chép, truyền miệng còn sót lại từ thuở xưa. Lịch sử cổ đại được lưu giữ lần đầu tiên qua các tài liệu lưu trữ
Tuy nhiên gốc rễ của nền văn minh loài người trải rộng ra từ trước khi có sự xuất hiện của chữ viết.
Thời tiền sử mở đầu từ kỷ Paleolithic (hay thời đại đồ đá cũ), tiếp sau là kỷ Neolithic (hay thời đại đồ đá mới) và chuyển tiếp dân số thời đại đồ đá mới (Neolithic Revolution) (hay cuộc cách mạng nông nghiệp) (khoảng 8000 đến 5000 năm trước Công nguyên) tại vùng đồng bằng trăng lưỡi liềm (Fertile Crescent). Cuộc cách mạng nông nghiệp là mốc dấu thay đổi lịch sử loài người, con người bắt đầu tìm ra phương pháp làm nông nghiệp với những cây trồng trong tự nhiên và động vật thuần hóa từ hoang dã.
Sự tăng trưởng của nông nghiệp dẫn đến việc con người chuyển dần từ lối sống du mục sang định cư lâu dài. Lối sống du mục vẫn duy trì tại nhiều nơi khác, đặc biệt tại những vùng lãnh thổ bị tách biệt do tự nhiên với vài loài súc vật và thực vật.
Nhu cầu liên kết tự vệ và sự gia tăng sản phẩm nông nghiệp đã cho phép các cộng đồng người mở rộng thành các đơn vị ngày càng lớn hơn, càng được thúc đẩy hơn bởi sự phát triển của giao thông vận tải.
Khi nông nghiệp phát triển, canh tác cây lương thực trở nên phức tạp hơn và thúc đẩy việc phân công lao động để tích trữ sản phẩm lương thực dư thừa giữa các mùa cây trồng sinh trưởng. Phân công lao động dẫn đến có nhiều thời gian nhàn hạ cho lớp người thượng lưu và sự phát triển của các thành phố. Xã hội ngày càng phức tạp của con người đòi hỏi phải có hệ thống chữ viết và kế toán.
Nhiều thành phố phát triển cạnh hồ và sông. Khoảng đầu năm 3000 TCN, có những điểm nổi bật đầu tiên, các khu định cư ở vùng đồng bằng Lưỡng Hà (Mesopotamia), vùng bờ sông Nin và thung lũng sông Indus mọc lên và phát triển mạnh mẽ. Nền văn minh tương tự có lẽ cũng phát triển dọc các sông chính tại Trung Quốc nhưng thiếu bằng chứng khảo cổ học thuyết phục về khu vực xây dựng đô thị.
Lịch sử của cựu thế giới (đặc biệt ở châu Âu và vùng Địa Trung Hải) thông thường chia thành lịch sử cổ đại (Antiquity), đến năm 476 CE; Trung Cổ từ thế kỷ thứ 5 đến thế kỷ 15, gồm thời đại hoàng kim của đạo Hồi (750 CE- 1258 CE) và giai đoạn đầu thời kỳ Phục Hưng (bắt đầu từ khoảng 1300 CE); thời kỳ cận đại (từ TK 15 đến cuối TK 18), bao gồm Thời kỳ khai sáng (Age of Enlightenment); và thời kỳ hiện đại, từ cuộc cách mạng công nghiệp đến hiện tại, gồm cả lịch sử đương đại.
Văn minh Tây Á, Hy Lạp cổ đại, La Mã cổ đại là những văn minh nổi bật trong thời kỳ cổ đại.
Trong lịch sử của nền văn minh Tây Âu, sự sụp đổ của đế quốc Tây La Mã dưới thời trị vì của hoàng đế Romulus Augustulus năm 476 do sự tấn công của các bộ tộc German, nó được coi là mốc đánh dấu kết thúc thời kỳ cổ đại và là khởi đầu của thời kỳ Trung Cổ. Trong khi đó vùng Đông Âu trải qua sự chuyển tiếp từ đế quốc La Mã sang đế quốc Byzantine, đế chế này còn tồn tại vài thế kỷ mới suy tàn.
Vào khoảng giữa thế kỷ 15, Johannes Gutenberg phát minh ra máy in ấn hiện đại , sử dụng đầu mô di động (Movable type) làm nên cuộc cách mạng về truyền tin, là nhân tố kết thúc thời kỳ Trung Cổ, báo hiệu sự khởi đầu của cuộc cách mạng khoa học. Đến thế kỷ 18, sự tích lũy tri thức và công nghệ, đặc biệt là ở châu Âu, đã đạt đến khối lượng tới hạn (Critical mass) dẫn đến cuộc cách mạng công nghiệp.
== Thời tiền sử ==
.
=== Bình minh loài người ===
Bằng chứng khoa học dựa trên di truyền học và nghiên cứu hóa thạch, dựa vào Đồng hồ phân tử (Molecular clock) chỉ ra rằng nòi giống loài khỉ hình người, loài tiến hóa thành nhánh Homo sapiens và loài tiến hóa thành nhánh Chimpanzee (sinh vật sống có quan hệ gần gũi nhất với loài người hiện đại) đã rẽ nhánh khoảng 5 triệu năm trước.
Chi người vượn phương nam Australopithecine được cho là loài khỉ không đuôi đầu tiên đứng thẳng đi bộ bằng 2 chân, cuối cùng tiến hóa thành chi loài Homo.
Về phương diện giải phẫu loài người hiện đại, Homo sapiens (người Khôn ngoan) tiến hóa ở châu Phi khoảng 200.000 năm trước, đạt tới hành vi hiện đại khoảng 50000 năm trước.
Giống người hiện đại di cư ra khỏi châu Phi khoảng 70.000 năm trước. Đến châu Âu khoảng 40.000 năm trước; và Đông Nam châu Á khoảng 50.000 năm trước.
Sự lan rộng nhanh chóng của loài người đến Bắc Mỹ và châu Đại Dương đã diễn ra đỉnh điểm ở kỷ băng hà gần đây nhất, khi những vùng ôn đới của ngày nay đã từng vô cùng khắc nghiệt.
Tuy nhiên con người đã xâm chiếm gần như toàn bộ các vùng băng giá vào thời điểm cuối kỷ băng hà, khoảng 12.000 năm trước.
Các giống khỉ hình người khác như Người đứng thẳng (Homo erectus) đã sử dụng gỗ và đá làm công cụ trong cả thiên niên kỷ, theo thời gian các công cụ ngày càng trở nên tinh xảo. Tại một số thời điểm, con người bắt đầu sử dụng lửa để sưởi ấm và nấu ăn. Họ cũng bắt đầu phát triển ngôn ngữ vào giai đoạn Thời đại đồ đá cũ, và ý niệm về âm nhạc, phương thức chôn cất cho người chết và trang điểm cho người sống.
Sự thể hiện nghệ thuật đầu tiên có thể được tìm thấy dưới dạng bức tranh hang động và tác phẩm điêu khắc làm từ gỗ và xương. Trong thời điểm này, tất cả loài sống bằng săn bắt - hái lượm, và nói chung là du mục.
Các xã hội săn bắt - hái lượm có khuynh hướng rất nhỏ, mặc dầu trong một số trường hợp họ đã phát triển sự phân tầng xã hội và những tiếp xúc ở khoảng cách xa đã có thể diễn ra ở trường hợp những "xa lộ" bản xứ Australia.
Cuối cùng đa số các xã hội săn bắt - hái lượm đã phát triển, hay buộc phải bị hấp thu vào những tổ chức xã hội nông nghiệp lớn hơn. Những xã hội không hội nhập bị tiêu diệt, hay vẫn trong tình trạng cách ly, những xã hội săn bắt hái lượm nhỏ đó hiện vẫn tồn tại ở những vùng xa xôi.
=== Sự đi lên của văn minh loài người ===
Cuộc cách mạng nông nghiệp, bắt đầu từ khoảng 8000 năm TCN, sự phát triển của nông nghiệp đã gây ra thay đổi mạnh mẽ phương thức sống của con người. Nông nghiệp cho phép tập trung dân số dày hơn, theo thời gian nó chuyển biến thành các thành bang. Nông nghiệp cũng tạo ra thặng dư lương thực, cấp dưỡng cho những người không trực tiếp tham gia vào sản xuất lương thực. Sự phát triển nông nghiệp cho phép tạo ra các thành phố đầu tiên. Đây là các trung tâm thương mại, sản xuất thủ công nghiệp và quyền lực chính trị mà bản thân nó gần như không có sản xuất nông nghiệp. Sự hình thành các thành phố đi kèm là sự cộng sinh với các vùng nông thôn xung quanh nó, tiêu thụ các sản phẩm nông nghiệp, và cung cấp lại các sản phẩm thủ công nghiệp và nhiều cấp độ khác nhau về kiểm soát quân sự và bảo vệ lãnh thổ.
Sự phát triển của các thành phố đồng nghĩa với sự đi lên của nền văn minh. Nền văn minh xuất hiện sớm nhất là ở vùng Lưỡng Hà(3500 năm TCN). Tiếp sau là nền văn minh Ai Cập cổ đại dọc dòng sông Nin (3000 năm TCN) và văn minh lưu vực sông Ấn ở thung lũng sông Ấn (hiện tại là Ấn Độ và Pakistan; 2500 năm TCN). Các xã hội này phát triển dựa trên một số đặc điểm thống nhất, gồm một chính quyền trung ương, một nền kinh tế và cấu trúc xã hội phức tạp, hệ thống ngôn ngữ và chữ viết phức tạp, nền văn hóa và tôn giáo khác biệt. Chữ viết là mấu chốt trong lịch sử phát triển của loài người, vì nó giúp chính quyền của các thành phố biểu đạt ý nghĩ dễ dàng hơn.
Nền văn minh trở nên phức tạp kéo theo làm phức tạp về tôn giáo, và dạng đầu tiên cũng bắt nguồn từ giai đoạn này. Các thực thể như mặt trời, mặt trăng, trái đất, bầu trời và biển thường được tôn sùng. Các đền thờ được xây dựng, phát triển, và dần hoàn thiện với hệ thống cấp bậc như linh mục,thầy tế và các chức danh khác. Điển hình của thời kỳ đồ đá này là có xu hướng thờ các vị thần mang hình dáng con người. Trong số những văn bản kinh tôn giáo lâu đời nhất còn tồn tại là các văn bản kim tự tháp Ai Cập (khoảng giữa 2400 đến 2300 TCN). Một số nhà khảo cổ học cho rằng, dựa trên dấu tích khai quật được ở ngôi đền Göbekli Tepe (Potbelly Hill) ở miền nam Thổ Nhĩ Kỳ, có niên đại từ 11500 năm trước, tôn giáo hình thành trước khi xảy ra cuộc cách mạng nông nghiệp chứ không phải sau như suy nghĩ trước đó.
Thời đại đồ đồng là một phần trong hệ thống ba thời đại (thời đại đồ đá mới, thời đại đồ đồng, thời đại đồ sắt), là thuật ngữ mô tả nền văn minh cổ đại từng tạo ảnh hưởng tại một số khu vực trên thế giới. Trong thời đại này những vùng đất màu mỡ đã sản sinh ra những thành bang và những nền văn minh này bắt đầu phát triển hưng thịnh ở một số nơi trên thế giới. Các nền văn minh đều nằm trên lưu vực ven sông bởi nước có vai trò thiết yếu trong một xã hội nông nghiệp, và các dòng sông cũng hỗ trợ cho nhu cầu giao thông vận tải được trở nên thuận tiện.
== Sự xuất hiện các nền văn minh ==
=== Vùng Lưỡng Hà ===
Lưỡng Hà là vùng đất thuộc vùng đồng bằng trăng lưỡi liềm, nơi khai sinh ra các nhà nước thành bang cổ đại. Vùng giao nhau của sông Tigris và sông Euphrates đã tạo nên một vùng đất màu mỡ và nguồn cung cấp nước cho tưới tiêu. Những nền văn minh nổi lên xung quanh 2 con sông này là những nền văn minh lâu đời nhất không du canh- du cư được biết cho đến nay. Vùng Lưỡng Hà này sản sinh ra những nền văn minh như Sumerian, Akkadian, Assyrian, and Babylonian .
Sumerian, một trong những nền văn minh phát triển mạnh trong khu vực Lưỡng Hà là nền văn minh phức tạp đầu tiên được biết đến cho đến nay, phát triển từ một số thành bang vào thiên niên kỷ thứ 4 trước Công nguyên. Nền văn minh này phát minh ra gạch, bánh xe, công cụ cày bừa, và đồ gốm lần đầu tiên trong lịch sử.
Nền văn minh Sumerian nổi lên trong suốt thời kỳ Ubaid (Ubaid period) (6500-3800 TCN) và những thành phố cổ đại Uruk, Eridu phát triên ổn định trong giai đoạn đầu thời kỳ Ubaid. Tại thành phố cổ Eridu (miền nam Lưỡng Hà) những ngôi đền thờ nằm xen lẫn với các khu định cư cổ đại (khoảng 5000 năm TCN).
Nông nghiệp Sumerian phát triển trên lưu vực sông Tigris và sông Euphrates. Lương thực dư thừa dẫn đến phân công lao động, không cần phải ai cũng tham gia vào nông nghiệp, cuối cùng hình thành các tầng lớp xã hội. Trên là vua Sumerian, thầy tế, và quan chức chính quyền dưới là các người phụ việc, thương gia, nông dân, ngư dân. Đáy xã hội những người nô lệ. Nô lệ thường là một phạm nhân, tù nhân, hoặc những người trong nợ nần.
Trong khu vực Lưỡng Hà, dạng chữ viết đầu tiên đã xuất hiện là chữ hình nêm (Cuneiform) có nguồn gốc từ hệ thống chữ tượng hình. Những hình ảnh đại diện của nó dần trở nên đơn giản hơn. Chữ hình nêm được viết trên đá phiến sét, những chữ cái được viết bằng cây sậy có tác dụng như bút trâm (Stylus). Cùng với sự thành lập của các trạm chuyển phát sự quản lý quốc gia trở nên dễ dàng hơn. Với người Sumerian chỉ những con cái nhà giàu, quý tộc mới được học chữ. Chúng được học tại một nơi gọi là Edubba, chỉ có con trai được học. Các văn bản lịch sử văn hóa đã góp phần vào sự tồn tại của nền văn minh này. Một trong những văn bản cổ nhất trên thế giới, có tên Sử thi Gilgamesh, có nguồn gốc từ nền văn minh này. Năm 2400 TCN, đế chế Akkadian được tạo dựng ở vùng Lưỡng Hà. Vài thế kỷ tiếp sau, đế chế Assyria nổi lên, tiếp theo đó là đế chế của người Babylon.
=== Lưu vực sông Nin ===
Lưu vực sông Nin ở Bắc Phi là nơi ra đời nền văn minh Ai Cập cổ đại. Khoảng 6000 năm TCN, xuất hiện các vương quốc của xã hội tiền Ai Cập cổ đại (trước khi xuất hiện chế độ quân chủ ở Ai Cập) có kĩ năng trồng trọt và chăn thả gia súc. Những hình ảnh ban đầu đó có thể quan sát được qua những biểu tượng trên đồ gốm của nền văn hóa Gerzeh, khoảng 4000 năm TCN, giống với chữ tượng hình của Ai Cập cổ đại. Vữa hồ bắt đầu được sử dụng từ khoảng 4000 năm TCN, đồ gốm sứ bắt đầu được sản xuất từ khoảng 3500 năm TCN. Bệnh viện và trung tâm phục vụ y tế bắt đầu có từ 3000 năm TCN.
Bằng chứng khảo cổ cho thấy sự hiện diện của con người ở khu vực tây nam Ai Cập, gần biên giới với Sudan, khoảng 8000 năm TCN. Khoảng 7000-3000 TCN, khí hậu sa mạc Sahara ẩm ướt hơn ngày hôm nay, do đó cho phép các hoạt động canh tác trên đất mà bây giờ trở nên khô hạn. Biến đổi khí hậu bắt đầu từ sau năm 3000 TCN dẫn đến quá trình khô cằn dần dần trong khu vực. Do tác động của những biến đổi này, các cư dân của bộ lạc cổ đại tại sa mạc Sahara buộc phải di chuyển đến khu vực xung quanh sông Nin khoảng năm 2500 TCN. Ở đó, họ phát triển một nền kinh tế và xã hội nông nghiệp và hệ thống xã hội phức tạp hơn. Bộ tộc người từ lâu đã sinh sống hai bên bờ sông Nin cũng đã phát triển cộng đồng của họ một cách độc lập. Gia súc được nhập từ châu Á khoảng 7500-4000 năm TCN.
Người Ai Cập cổ đại được biết đến với nhiều thành tựu và phát minh trong lịch sử, bao gồm cả việc xây dựng các kim tự tháp khổng lồ, phẫu thuật cổ đại, khoa học toán học, và vận tải bằng thuyền. Sự nổi lên của triều đại Ai Cập bắt đầu khi thống nhất Thượng và Hạ Ai Cập khoảng 3200 năm TCN, và kết thúc vào khoảng năm 340 TCN, bắt đầu từ triều đại Nhà Achaemenes trên lãnh thổ Ai Cập. Vương quốc của Ai Cập dẫn đầu bởi một vị vua nắm giữ cung điện Pharaon. Lúc đỉnh điểm, đế chế của ông trải dài từ đồng bằng sông Nin đến núi Gebel Barkal, Sudan.
Xã hội Ai Cập cổ đại tạo dựng sự cân bằng giữa con người với thiên nhiên, đặc biệt là dựa vào dòng sông Nin trong tưới tiêu nông nghiệp của họ. Quốc gia cổ đại này được biết qua những văn bản chữ tượng hình, công trình kim tự tháp, đền thờ và các lăng mộ dưới lòng đất; sử dụng xe ngựa chiến để tăng cường sức mạnh quân đội.
Có sự khác biệt lớn giữa các tầng lớp xã hội. Hầu hết các thành viên cộng đồng là nông dân, nhưng họ không được hưởng sản phẩm họ trồng được. Sản phẩm nông nghiệp thuộc sở hữu của nhà nước, đền thờ, hoặc gia đình quý tộc có đất nông nghiệp. Chế độ nô lệ cũng tồn tại, nhưng chi tiết về họ trong xã hội Ai Cập cổ đại vẫn chưa rõ ràng.
=== Lưu vực sông Ấn ===
Văn minh lưu vực sông Ấn xuất hiện khoảng 3300 năm TCN. Giai đoạn đầu xuất hiện trước 4000 năm TCN. Trung tâm của nền văn minh là nằm bao quanh sông Ấn (chủ yếu thuộc lãnh thổ của Pakistan, và một phần nhỏ là thuộc Afghanistan, Iran và Ấn Độ), mở rộng về phía đông đến lưu vực sông Ghaggar-Hakra và ngược dòng vươn tới sông Hằng- sông Yamuna. Phía tây mở rộng tới bờ biển Makran thuộc Balochistan (Pakistan), phía nam đến làng Daimabad, tỉnh Maharashtra, Ấn Độ.
Sự phát triển của nền văn minh được chia thành nhiều giai đoạn và đánh dấu sự phát triển của các thành phố trong tiểu lục địa Ấn Độ..
Đây là nền văn minh đầu tiên xuất hiện hoạt động nông nghiệp ở Nam Á.
Lúa mì (tiểu mạch), đại mạch, và táo tàu (Jujube) được trồng khoảng 9000 năm trước Công nguyên; dê và cừu nuôi sau đó. Nền nông nghiệp và chăn nuôi phát triển tại Mehrgarh khoảng 8000-6000 năm TCN. Thời kỳ này cũng xuất hiện sự kiện thuần hóa loài voi. Khoảng thiên niên kỷ thứ 5 trước Công nguyên, một cộng đồng nông nghiệp nằm rải rác ở khu vực Kashmir. Tại các bãi khảo cổ của nền văn minh này người ta tìm thấy các vật dụng như giỏ, công cụ bằng đá, công cụ bằng xương, vòng cổ, vòng tay, hoa tai, vỏ động vật giáp xác biển, đá vôi, ngọc lam, đá sa thạch và đồng. Nền văn minh này phát triển thịnh vượng các thành phố gồm: Harappa (3300 TCN), Dholavira (2900 TCN), Mohenjo-Daro (2500 TCN), Lothal (2400 TCN), và Rakhigarhi, và hơn 1000 thị trấn và ngôi làng nhỏ khác. Kiến trúc đô thị của nền văn minh này được xây bằng gạch, có hệ thống thoát nước bên đường, và nhà ở tập trung liền sát nhau (Terraced house). Các thành phố lớn có bề rộng khoảng một dặm, và có khoảng cách lớn giữa các thị trấn và nhiều khả năng là dấu hiệu của sự tập trung chính trị, hoặc dưới dạng của 2 thành bang, hoặc dưới dạng một đế chế không có thủ đô cố định hay có lẽ thay thế Harappa, Mohenjo-Daro, do bị phá hủy bởi lũ lụt không chỉ một lần. Nền văn minh này cũng được biết đến với việc sử dụng hệ thống đo lường thập phân cổ đại.
Vào cuối thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, sự phát triển của văn minh lưu vực sông Indus bước vào thời kỳ Vệ Đà. Bộ sách thánh ca Vệ đà tiếng Phạn theo ước tính được soạn thảo từ 1700-1100 TCN, bộ sưu tập các bài thánh ca này trở thành nền tảng của Ấn Độ giáo và xu hướng của các xã hội tiền Ấn Độ khác. Vào một thời điểm không chắc chắn khoảng cuối thế kỷ thứ 6 TCN, có một người tiên phong tạo nên Ấn Độ giáo, tôn giáo mà còn tồn tại đến ngày nay.
=== Lưu vực sông Hoàng Hà ===
Khởi phát nền văn minh Trung Quốc nằm cách không xa sông Hoàng Hà (dọc theo sông Trường Giang) do xung quanh khu vực tìm thấy nhiều di tích của thời Trung Quốc tiền sử. Các nền văn minh thời đại đồ đá mới tìm thấy được ở Trung Quốc là văn minh Bành Đầu Sơn (Pengtoushan) (sông Trường Giang) và văn minh Bùi Lý Cương (Kebudayaan Peiligang), tất cả chúng đều xuất hiện khoảng 7000 năm TCN hoặc sớm hơn. Giai đoạn văn hóa Bành Đầu Sơn khó xác định, kết quả các tính toán cho biến thiên từ 9000-5500 năm TCN, tại di chỉ của nền văn hóa này tìm thấy dấu tích của lúa gạo từ khoảng 7000 năm TCN. Tại di chỉ Giả Hồ (Jiahu) cổ đại tìm thấy vài bằng chứng về việc trồng lúa. Một khám phá quan trọng tại Giả Hồ là cây sáo cổ có niên đại khoảng 7000-6000 năm TCN. Văn minh Bùi Lý Cương là một trong những nền văn minh lâu đời nhất tại Trung Quốc có sản xuất đồ gốm. Cả nền văn minh Bành Đầu Sơn và nền văn minh Bùi Lý Cương đều phát triển hoạt động trồng Kê, chăn nuôi, lưu trữ và phân phối thực phẩm. Bằng chứng khảo cổ cũng cho thấy sự hiện diện của các thợ thủ công, đày tớ. Lối chữ hình vẽ (Pictogram) được cho là khởi đầu của hệ thống chữ viết Trung Quốc bắt nguồn từ các hoạt động nông nghiệp và chăn nuôi tại Trung Quốc. Tại di chỉ Giả Hồ tìm thấy một số lối chữ hình vẽ, nó không được xem là có hệ thống chữ viết nhưng những ký hiệu đó dẫn đến hệ thống chữ viết.
Tại văn hóa Đại Mạch Địa (Damaidi), Ninh Hạ có hàng ngàn dấu chạm khắc trên vách đá có từ 6000-5000 năm TCN, mang những đặc trưng của lối chữ hình vẽ giống với mặt trời, mặt trăng, các ngôi sao, thánh thần, các khung cảnh đi săn và trông nom gia súc. Lối chữ hình vẽ tại đây gần như tương đồng với các ký tự Trung Quốc cổ đại được biết cho đến nay.
Văn hóa Bành Đầu Sơn được thay thế bởi văn hóa Ngưỡng Thiều (Yangshao culture) (5000-3000 năm TCN) ảnh hưởng của nền văn hóa này bao trùm phía Bắc Trung Quốc. Nền văn hóa này cũng đã thay thế nền văn hóa Long Sơn (Yangshao culture) khoảng 2500 năm TCN. Tại địa điểm khảo cổ di chỉ Tam Tinh Đôi (Sanxingdui) và văn hóa Nhị Lý Đầu (Erlitou culture) có bằng chứng của văn minh đồ đồng. Con dao bằng đồng với hình thái cổ xưa nhất (khoảng 3000 năm TCN) được tìm thấy tại di chỉ văn hóa Mã Gia Diêu (Majiayao culture) (thuộc tỉnh Cam Túc và tỉnh Thanh Hải).
Theo lịch sử Trung Quốc, sông Hoàng Hà được sử dụng cho tưới tiêu khoảng năm 2200 TCN thời vua Hạ Vũ, người đặt nền móng nhà Hạ. Nhà Hạ (khoảng 2100-1600 TCN) được đề cập là triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, nó được nhắc đến trong sử ký Tư Mã Thiên và Trúc thư kỉ niên. Mặc dù có sự tranh cãi về triều đại thần thoại này, có vài bằng chứng khảo cổ học chứng minh cho sự tồn tại của nó. Tư Mã Thiên nói rằng triều đại này thành lập được thành lập khoảng năm 2200 TCN nhưng mốc thời gian này không thuyết phục. Hiện nay nhiều nhà khảo cổ học kết nối được sự tồn tại của triều đại nhà Hạ bởi cuộc khai quật ở tỉnh Hà Nam, nơi khám phá ra những nội thất đồ đồng khoảng năm 2000 TCN.
Triều đại lịch sử đầu tiên được công nhận là triều đại nhà Thương, khoảng năm 1500 TCN. Bằng chứng khảo cổ học cho sự tồn tại của triều đại nhà Thương là các đồ tạo tác bằng đồng và giáp cốt văn, mai rùa hay xương thú được khắc các ký tự Trung Quốc cổ, các văn tự này được tìm thấy ở lưu vực sông Hoàng Hà tại thủ đô Triều Ca nhà Thương. Các di tích mai rùa của nhà Thương có niên đại 1500 năm TCN, tính toán theo công nghệ Cacbon phóng xạ.
Thay thế nhà Thương là nhà Chu, vào khoảng thế kỷ 11 TCN. Thời điểm kết thúc nhà Chu đã ra đời 2 nhà triết học nổi tiếng Trung Quốc là Khổng Tử (người thiết lập Khổng giáo) và Lão Tử (người thiết lập Đạo giáo.
=== Hy Lạp cổ đại ===
Trong hang động Franchthi, phía đông nam Argolis, Hy Lạp có bằng chứng về hoạt động nông nghiệp của Hy Lạp cổ đại. Xấp xỉ 11000 năm TCN, canh tác ngũ cốc, các loạt hạt, lúa mì xảy ra đồng thời, trong khi yến mạch và đại mạch xuất hiện khoảng 10500 năm TCN; đậu Hà Lan và Lê thì khoảng 7300 năm TCN. Khu vực định cư thời đồ đá mới rải rác khắp Hy Lạp cùng với hoạt động nông nghiệp và sản xuất đồ gốm. Những địa điểm nổi tiếng như Sesklo và Dimini, đã có đường giao thông, quảng trường. Nó là một ví dụ về không gian thành phố cổ trong lục địa châu Âu. Một địa điểm quan trọng khác là Dispilio nơi phát hiện ra một phiến đá cổ xưa với đường nét như văn bản cổ.
Văn minh Minoan là nền văn minh thời đại đồ đồng đầu tiên tại Hy Lạp. Nền văn minh phát sinh trên đảo Crete và phát triển mạnh mẽ khoảng 2700-1500 năm TCN, nhưng thời điểm khởi đầu phát triển của nó xảy ra rất xa trước đó. Con người bắt đầu sinh sống trên đảo Crete ít nhất từ 128.000 năm TCN, trong thời kỳ đồ đá cũ. Các hoạt động nông nghiệp ngày lớn, phức tạp hơn, và dẫn đến nền văn minh dần được khởi tạo vào khoảng 5000 năm TCN. Sự tồn tại của các nền văn minh này đã bị lãng quên đến khi nó được phát hiện vào đầu thế kỷ 20 bởi nhà khảo cổ học người Anh Sir Arthur Evans. Will Durant nhìn nhận nền văn minh là "xâu chuỗi đầu tiên trong sợi dây lịch sử châu Âu".
Nền văn minh Mycenae phát triển tại phía bắc của đảo Crete khoảng năm 1600 TCN, khi nền văn hóa Helladik trên đất liền Hy Lạp chuyển đổi dưới ảnh hưởng của nền văn hóa Minoan của đảo Crete. Không giống như người Minoan người dựa vào thương mại. Nền văn minh Mycenae có cộng đồng thích đi xâm chiếm, thống trị bởi tầng lớp hiệp sĩ quý tộc Aristocracy.
Khoảng năm 1400 TCN, người dân Mycenae mở rộng phạm vi quyền lực của họ cho Crete do trung tâm của nền văn minh Minoan gặp phải vụ phun trào Minoa tại đảo Santorini, và họ chấp nhận hệ thống chữ viết Linear A để viết ngôn ngữ Hy Lạp cổ đại, hệ thống chữ viết phát triển trong suốt văn minh Mycenae gọi là Linear B.
Truyền thuyết về các cuộc xâm chiếm giữa các thành bang ở Hy Lạp không chỉ là Mycenae, thành bang Troy được đề cập đến trong sử thi Iliad như là một đối thủ của Mycenae. Vì chỉ có duy nhất nguồn sử liệu của Hómēros về lịch sử thành Troy và cuộc chiến tranh thành Troia nên có thể nó không có thật. Năm 1876, nhà khảo cổ học người Đức Heinrich Schliemann khám phá ra các di tích tại Hisarlik, vùng phía tây bán đảo Tiểu Á thuộc Thổ Nhĩ Kỳ ngày này và công bố rằng nó là địa điểm của thành Troy. Chắc chắn rằng địa điểm của thành Troy được nhắc đến bởi Hómēros vẫn còn tiếp tục bị bàn cãi
Nền văn minh Hy Lạp đã ảnh hưởng rất lớn đến các nền văn minh châu Âu sau đó, đặc biệt là nền văn minh La Mã. Trong Hy Lạp cổ các thành bang Athena, Sparta, Corinth, và Thebes có nền chính trị độc lập, và mối quan hệ ít căng thẳng với nhau. Nếu một thành phố không đủ nhu cầu lương thực để duy trì toàn bộ dân số, thì họ sẽ rời đi một phần để thiết lập một thành phố mới, thị trấn mới có vai trò thuộc địa, lệ thuộc vào thành phố ban đầu để cùng bảo vệ trước các mối đe dọa, trước các cuộc chiến với bên ngoài.
=== Dãy Andes ===
=== Trung Bộ châu Mỹ ===
=== Sự phát triển của nông nghiệp ===
Một sự thay đổi lớn, được miêu tả bởi nhà tiền sử học Vere Gordon Childe như là một "cuộc cách mạng," đã diễn ra khoảng thiên niên kỷ 9 TCN với việc hình thành nghề nông. Mặc dầu nghiên cứu có khuynh hướng tập trung vào vùng đất Trăng lưỡi liềm màu mỡ ở Trung Đông, khảo cổ học ở châu Mỹ, Đông Á và Đông Nam Á cho thấy rằng những hệ thống nông nghiệp trồng cấy nhiều loại ngũ cốc khác nhau và sử dụng các loại gia súc khác nhau có thể đã phát triển hầu như đồng thời ở một số nơi.
Một bước tiến nữa ở nông nghiệp Trung Đông xảy ra với sự phát triển tưới tiêu có tổ chức và sử dụng lực lượng lao động chuyên biệt, bởi những người Sumer, bắt đầu vào khoảng 5.500 TCN. Đồng và sắt thay thế đá để trở thành công cụ trong nông nghiệp và chiến tranh. Tới tận lúc đó những xã hội nông nghiệp định cư hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào các công cụ đá. Ở Âu Á, các công cụ đồng đỏ và đồng thau, những đồ trang trí và vũ khí bắt đầu trở nên dồi dào vào khoảng năm 3000 TCN. Sau đồ đồng, vùng Đông Địa Trung Hải, Trung Đông và Trung Quốc bắt đầu sử dụng công cụ và vũ khí bằng sắt.
Những người dân châu Mỹ có thể không hề biết tới công cụ kim loại cho tới tầng Chavin năm 900 TCN. Chúng ta cũng biết rằng Moche có áo giáp, những con dao và bộ đồ ăn bằng kim loại. Thậm chí người Inca vốn ít dùng đồ kim loại cũng có những chiếc cày mũi kim loại, ít nhất sau khi chinh phục Chimor. Tuy nhiên, ít có những tìm kiếm khảo cổ học ở Peru và hầu như toàn bộ khipus (những vật sáng chế để ghi lại thông tin, dưới hình thức các nút thắt, người Incas từng sử dụng) đã bị đốt cháy khi diễn ra Cuộc chinh phục Peru của người Tây Ban Nha. Toàn bộ các thành phố vẫn đang được khám phá vào năm 2004. Một số khai quật khảo cổ cho thấy rằng có thể thép đã từng được chế tạo tại đây trước khi nó phát triển ở châu Âu.
Các vùng lưu vực ven sông trở thành những cái nôi của những nền văn minh đầu tiên như lưu vực sông Hoàng Hà ở Trung Quốc, sông Nin ở Ai Cập, và lưu vực sông Ấn ở Pakistan. Một số dân tộc du mục, như những người Thổ dân Australia và thổ dân Nam Phi ở phía Nam châu Phi, không biết tới nông nghiệp cho tới tận thời hiện đại.
Nhiều nhóm người không thuộc về các quốc gia trước 1800. Trong số những nhà khoa học, đã có sự bất đồng về thuật ngữ "bộ lạc" phải được sử dụng để miêu tả loại xã hội của những người sống trong đó. Những phần rộng lớn của thế giới có thể là lãnh thổ của những "bộ lạc" đó trước khi người châu Âu bắt đầu tiến hành thực dân hoá. Nhiều "bộ lạc" chuyển thành quốc gia khi họ bị đe dọa hay bị ảnh hưởng bởi các quốc gia. Ví dụ như Marcomanni và Lát via. Một số "bộ lạc", như Kassites và Mãn Châu, chinh phục các quốc gia và lại bị chúng đồng hoá.
Nông nghiệp đã tạo cơ hội cho các xã hội phức tạp hơn, cũng được gọi là những nền văn minh. Các cuộc gia và các thị trường xuất hiện. Các kỹ thuật cải thiện khả năng của con người nhằm kiểm soát thiên nhiên và phát triển giao thông và thông tin.
=== Sự phát triển của tôn giáo ===
Đa số các nhà sử học truy nguyên sự khởi đầu của Đức tin tôn giáo ở thời Đồ đá mới. Đa số các đức tin tôn giáo thời kỳ này cốt ở sự thờ phụng một Đức mẹ nữ thần, một Cha bầu trời, và cũng có sự thờ phụng Mặt trời và Mặt Trăng như các vị thần. (xem thêm sự thờ phụng Mặt trời)
== Phát triển của văn minh ==
=== Quốc gia ===
Nông nghiệp dẫn tới nhiều thay đổi lớn. Nó cho phép một xã hội đông đúc hơn rất nhiều, và nó tự tổ chức mình vào trong những quốc gia. Đã có nhiều định nghĩa được sử dụng cho thuật ngữ "quốc gia" Max Weber và Norbert Elias định nghĩa quốc gia là một tổ chức những người có một độc quyền về sự sử dụng hợp pháp vũ lực trong một vùng địa lý riêng biệt.
Những quốc gia đầu tiên xuất hiện ở Lưỡng Hà, Ai Cập cổ đại và lưu vực sông Ấn Độ vào cuối thiên niên kỷ thứ 4 và đầu thiên niên kỷ thứ ba TCN. Ở Lưỡng Hà, có nhiều thành bang. Ai Cập cổ đại khởi đầu là một quốc gia không có các thành phố, nhưng nhanh chóng sau đó các thành phố xuất hiện. Một quốc gia cần một quân đội để thực hiện việc sử dụng vũ lực hợp pháp. Một quân đội cần một bộ máy quan liêu để duy trì nó. Ngoại trừ duy nhất là trường hợp văn minh lưu vực sông Ấn Độ vì thiếu bằng chứng về một lực lượng quân sự.
Các quốc gia đã xuất hiện ở Trung Quốc vào cuối thiên niên kỷ thứ ba đầu thiên niên kỷ thứ hai TCN. Các cuộc chiến tranh lớn nổ ra giữa các quốc gia ở Trung Đông. Hiệp ước Kadesh, một trong những hiệp ước hòa bình đầu tiên, được ký kết giữa người Hittites và Ai Cập cổ đại khoảng 1275 TCN. Vào thế kỷ thứ 6 TCN, Hoàng đế Cyrus II (Cyrus Đại Đế) trỗi dậy kiến lập Đế quốc Ba Tư cường thịnh, chinh phạt được các nước Media, Lydia và Babylon. Ai Cập cũng rơi vào tay của con trai ông là Hoàng đế Cambyses II. Ngoài ra, lịch sử thế giới cổ đại cũng có những quốc gia hùng mạnh khác như đế quốc Maurya (thế kỷ thứ 4 TCN), Trung Quốc (thế kỷ thứ 3 TCN), và Đế quốc La Mã (thế kỷ thứ 1 TCN).
Đụng độ giữa các đế quốc diễn ra vào thế kỷ thứ 8, khi Khalip của Ả Rập (cai trị từ xứ Tây Ban Nha cho đến Iran) và nhà Đường bên Trung Quốc (cai trị từ Triều Tiên) đã đánh nhau trong hàng thập kỷ để giành quyền kiểm soát Trung Á. Rộng lớn hơn cả trong thời đại này là đế quốc Mông Cổ vào thế kỷ thứ 13. Lúc ấy, đa số người dân ở châu Âu, châu Á, Bắc Phi đều thuộc vào các quốc gia. Cũng có các quốc gia ở México và tây Nam Mỹ. Các quốc gia tiếp tục kiểm soát ngày càng nhiều vùng lãnh thổ và dân chúng trên thế giới; vùng đất cuối cùng chưa có quốc gia bị các quốc gia chia sẻ với nhau theo Hiệp ước Berlin năm (1878).
=== Thành phố và thương mại ===
Nông nghiệp cũng tạo nên và cho phép sự tích trữ lương thực thặng dư có thể dùng để cung cấp cho những người không dính dáng trực tiếp tới việc sản xuất lương thực. Sự phát triển của nông nghiệp cho phép sự xuất hiện của những thành phố đầu tiên. Chúng là những trung tâm của quốc gia và hầu như không tự mình sản xuất ra lương thực. Các thành phố là những kẻ ăn bám và được cung cấp lương thực từ những vùng nông thôn xung quanh, nhưng trái lại nó cung cấp sự bảo vệ quân sự ở nhiều mức độ khác nhau.
Sự phát triển của các thành phố dẫn tới cái được gọi là văn minh: đầu tiên Văn minh Sumerian ở hạ Lưỡng Hà (3500 TCN), tiếp theo là văn minh Ai Cập dọc sông Nin (3300 TCN) và nền văn minh Harappan ở lưu vực sông Ấn (3300 TCN). Đã có bằng chứng về những thành phố phức tạp với những mức độ xã hội cao và nền kinh tế phát triển. Tuy nhiên, những nền văn minh này khá khác biệt so với nhau bởi vì chúng hầu như có nguồn gốc độc lập. Chính ở thời gian này chữ viết và thương mại ở tầm rộng bắt đầu xuất hiện.
Tại Trung Quốc, những xã hội tiền thành thị có thể đã phát triển từ 2500 TCN, nhưng triều đình đầu tiên được khảo cổ học xác định là nhà Thương. Thiên niên kỷ thứ 2 TCN chứng kiến sự nổi lên của nền văn minh ở Crete, lục địa Hy Lạp và trung tâm Thổ Nhĩ Kỳ. Ở châu Mỹ, các nền văn minh như Maya, Moche và Nazca nổi lên ở Mesoamerica và Peru vào cuối thiên niên kỷ thứ 1 TCN. Những đồng tiền xu đã được sử dụng ở Lydia.
Những con đường thương mại tầm xa xuất hiện lần đầu thiên niên kỷ thứ 3 TCN, khi những người Sumerians ở Lưỡng Hà buôn bán với nền văn minh Harappan ở lưu vực sông Ấn. Những con đường thương mại cũng xuất hiện ở phía đông Địa Trung Hải vào thiên niên kỷ thứ 4 TCN. Con đường tơ lụa giữa Trung Quốc và Syria bắt đầu từ thiên niên kỷ thứ 2 TCN. Các thành phố ở Trung Á và Ba Tư là nơi ngã ba đường của những con đường thương mại đó. Các nền văn minh Phoenician và Hy Lạp đã lập ra các đế quốc ở lưu vực Địa Trung Hải vào thế kỷ thứ 1 TCN dựa trên thương mại. Người Ả Rập thống trị các con đường thương mại ở Ấn Độ Dương, Đông Á, và Sahara vào cuối thiên niên kỷ thứ 1 và đầu thiên niên kỷ thứ 2. Những người Ả Rập và Do Thái cũng thống trị thương mại ở Địa Trung Hải vào cuối thiên niên kỷ thứ 1. Người Ý chiếm vai trò này vào đầu thiên niên kỷ thứ 2.
Các thành phố người Flemish và Đức nằm ở trung tâm các con đường thương mại ở Bắc Âu vào đầu thiên niên kỷ thứ 2. Ở mọi vùng, các thành phố chính phát triển ở những ngã ba đường dọc theo những con đường thương mại.
=== Tôn giáo và Triết học ===
Những triết học và tôn giáo mới xuất hiện ở cả phía đông và phía tây, đặc biệt là vào khoảng thế kỷ thứ 6 TCN. Cùng với thời gian, một tập hợp đa dạng các tôn giáo phát triển trên thế giới, với Ấn Độ giáo và Phật giáo ở Ấn Độ, Hỏa giáo ở Ba Tư là một trong số những đức tin lớn và sớm nhất. Ở phía đông, ba trường phái tư tưởng ngự trị Trung Quốc cho đến tận ngày nay. Chúng gồm Đạo giáo, Pháp gia, và Khổng giáo. Truyền thống Khổng giáo, sau này đạt được vị trí thống trị, không tìm cách tăng cường luật pháp, mà là tìm kiếm quyền lực và những tấm gương truyền thống cho đạo đức chính trị. Ở phía tây, truyền thống triết học Hy Lạp, được thể hiện qua các tác phẩm của Plato và Aristotle, đã được truyền bá ra khắp châu Âu và Trung Đông qua các cuộc chinh phục của vua Alexandros Đại Đế xứ Macedonia vào thế kỷ thứ 4 TCN.
== Những vùng và những nền văn minh lớn ==
Tới những thế kỷ cuối cùng TCN, vùng Địa Trung Hải, sông Hằng và sông Dương Tử đã trở thành khu vực phát sinh của các đế quốc mà các nhà cai trị về sau này sẽ phải tìm cách học tập. Trong lịch sử Ấn Độ, đế quốc Maurya cai trị đa phần tiểu lục địa Ấn Độ, trong khi người Pandyas cai trị phần nam Ấn Độ. Trong lịch sử Trung Quốc, nhà Tần và nhà Hán đã mở rộng sự cai trị của đế quốc thông qua sự thống nhất chính trị, cải thiện thông tin và nổi tiếng nhất là việc thành lập nhà nước độc quyền của vua Hán Quang Vũ Đế. Ở phía tây, những người La Mã bắt đầu mở rộng lãnh thổ của mình thông qua các cuộc chinh phục và thực dân hóa từ thế kỷ 3 TCN. Dưới thời cai trị của Hoàng đế Augustus, khoảng thời điểm ra đời của Jesus xứ Nazareth, La Mã kiểm soát mọi vùng đất bao quanh Địa Trung Hải.
Các đế quốc vĩ đại dựa trên khả năng khai thác quá trình sáp nhập thông qua quân sự và việc thành lập những vùng định cư được bảo vệ để trở thành những trung tâm nông nghiệp. Hòa bình mà họ mang lại thúc đẩy thương mại quốc tế, mà nổi tiếng nhất là sự phát triển của con đường tơ lụa. Họ cũng phải đối mặt với các vấn đề thông thường, như những vấn đề liên quan tới việc duy trì những đội quân đông đảo và ủng hộ một chế độ quan liêu trung tâm. Các chi phí đó đều đổ lên đầu nông dân, trong khi những lãnh chúa đất ngày càng trốn tránh quyền kiểm soát từ trung ương và cũng không chịu nộp thuế cho nhà nước. Áp lực của các bộ lạc du mục ở biên giới cũng đẩy nhanh quá trình tan rã từ bên trong. Vương triều nhà Hán rơi vào nội chiến năm 220, trong khi Đế quốc La Mã bắt đầu giảm tập trung hóa và cũng bị phân chia vào thời gian đó.
Trên các vùng khí hậu ở Âu Á, châu Mỹ và Bắc Phi, các đế quốc lớn tiếp tục nổi lên và sụp đổ. Tại Ba Tư, Vương triều nhà Sassanid phát triển hùng mạnh, với các Hoàng đế Ardashir I, Shapur I, Shapur II và Khosrow I.
Sự tan rã dần dần của đế quốc La Mã, đã tồn tại qua nhiều thế kỷ, từ sau thế kỷ thứ 2, trùng khớp với sự mở rộng của Ki-tô giáo về phía tây từ Trung Đông. Phần phía tây của Đế quốc La Mã rơi vào tay của nhiều bộ lạc người Đức vào thế kỷ thứ 5, và những xã hội đó dần phát triển thành một số chiến quốc, tất cả đều liên kết với Giáo hội Công giáo La Mã theo cách này hay cách khác. Phần còn lại của đế quốc La Mã ở phía đông Địa Trung Hải từ đó được gọi là đế quốc Đông La Mã. Nhiều thế kỷ sau, một sự hợp nhất có giới hạn đã phục hồi lại tây Âu thông qua sự thành lập đế quốc La Mã thần thánh, gồm một số quốc gia hiện thuộc Đức và Ý.
Tại Trung Quốc, các triều đại nổi lên rồi lại sụp đổ giống như nhau. Những người du mục từ phía bắc bắt đầu xâm chiếm từ thế kỷ thứ 4, cuối cùng chinh phục hầu như toàn bộ miền bắc Trung Quốc và lập nên nhiều tiểu quốc. Nhà Tuỳ tái thống nhất Trung Quốc năm 581, và dưới thời nhà Đường (618-907) Trung Quốc lần thứ hai trải qua thời cực thịnh của họ. Tuy nhiên, nhà Đường cũng tan vỡ và, sau khoảng nửa thế kỷ hỗn loạn, nhà bắc Tống thống nhất Trung Quốc năm 982. Tuy nhiên, áp lực từ các quốc gia du mục phía bắc ngày càng cấp bách. Toàn bộ miền bắc Trung Quốc rơi vào tay người Nữ Chân năm 1141 và đế quốc Mông Cổ đã chinh phục toàn bộ Trung Quốc năm 1279, cũng như hầu như toàn bộ vùng Âu Á, chỉ còn lại vùng tây Âu và trung Âu, Nhật Bản và Đông Nam Á- hoặc là lệ thuộc như Cao Ly hoặc là đánh thắng như Việt Nam.
Miền bắc Ấn Độ được cai trị bởi đế quốc Gupta vào thời đó. Ở miền nam Ấn, ba vương quốc của bật của người Tamil xuất hiện, là Chera, Chola, và Pallava. Sự ổn định tiếp sau đó góp phần báo trước thời đại hoàng kim của văn hoá Ấn Độ giáo vào thế kỷ thứ 4 và thế kỷ 5.
Các xã hội rộng lớn cũng bắt đầu được dựng lên ở Trung Mỹ vào thời kỳ đó, người Maya và người Aztec ở Mesoamerica là những xã hội phát triển nhất. Khi nền văn hoá nguyên gốc của người Olmec dần tàn lụi, các thành bang lớn của người Maya chậm rãi vượt lên cả về số lượng và tầm ảnh hưởng, và văn hoá Maya phát triển ra khắp Yucatán và các vùng xung quanh. Đế quốc về sau này của người Aztec được xây dựng trên những nền văn hoá láng giềng và bị ảnh hưởng từ những dân tộc đã bị chinh phục, như người Toltec.
Nam Mỹ chứng kiến sự trỗi dậy của người Inca vào thế kỷ thứ 14 và thế kỷ thứ 15. Đế chế Inca ở Tawantinsuyu trải dài ra toàn bộ vùng Andes và có kinh đô ở Cusco. Inca thời ấy rất thịnh vượng và tiến bộ, được biết tới nhờ hệ thống đường sá Inca tuyệt vời và các công trình xây dựng lớn.
Hồi giáo, khởi đầu từ vùng Ả Rập vào thế kỷ thứ 7, cũng là một trong những thế lực đáng chú ý nhất trong suốt lịch sử thế giới, từ khởi đầu với một số ít tín đồ nó đã trở thành nền tảng cơ bản của nhiều đế quốc rộng lớn tại Ấn Độ, Trung Đông và Bắc Phi.
Ở vùng Đông Bắc Phi, Nubia và Ethiopia, cả hai nước từ lâu đã có quan hệ với vùng Địa Trung Hải, vẫn thuộc ảnh hưởng của Ki-tô giáo trong khi phần còn lại của châu Phi phía bắc đường xích đạo đã đổi sang Hồi giáo. Cùng với Hồi giáo là những kỹ thuật mới đã lần đầu tiên cho phép thương mại chính yếu vượt qua Sahara. Nguồn thuế từ thương mại đó dẫn tới sự thịnh vượng ở Bắc Phi và sự nổi lên của nhiều vương quốc vùng Sahel.
Thời kỳ này được ghi dấu bởi sự cải tiến kỹ thuật chậm chạp nhưng chắc chắn, với những sự phát triển có tầm ảnh hưởng quan trọng như bàn đạp yên ngựa và bừa (mouldboard plough) xuất hiện cách nhau chỉ vài thế kỷ.
== Sự trỗi dậy của châu Âu ==
=== Bối cảnh sự tiến bộ của châu Âu ===
Các đế chế nông nghiệp ban đầu bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi môi trường của họ. Sản lượng còn thấp và các thảm hoạ thiên nhiên thường là nguyên nhân chính tác động vào vòng xoay thịnh vượng rồi suy tàn gây nên sự trỗi dậy và sụp đổ của chúng. Nhưng tới năm 1000, đã có một sự thay đổi về chất trong lịch sử thế giới. Tiến bộ kỹ thuật và sự thịnh vượng được thương mại thúc đẩy dần ngày càng có ảnh hưởng lớn hơn. Những thay đổi đó thường xảy ra ở những vùng có sản lượng nông nghiệp cao nhất: Trung Quốc, Ấn Độ và các khu vực trong thế giới Hồi giáo.
Trung Quốc có những người nông dân tự do không còn bị phụ thuộc, họ có thể bán hoa lợi và tham gia hăng hái vào thị trường. Nông nghiệp có sản lượng cao. Nhưng, sau những cuộc tấn công dữ đội đầu tiên của người Nữ Chân, những gì sót lại của Vương triều nhà Tống đã bị người Mông Cổ chinh phục năm 1279.
Bên ngoài, cuộc Phục hưng của châu Âu (bắt đầu vào thế kỷ 14). Nó đã mang lại một nền văn hoá mang nhiều tính tò mò và sau cùng dẫn tới chủ nghĩa nhân đạo, cách mạng khoa học, và cuối cùng là sự chuyển đổi vị đại của cách mạng công nghiệp. Tuy nhiên, cách mạng khoa học ở thế kỷ 17 không gây ảnh hưởng lập tức tới công nghệ. Chỉ ở nửa sau của thế kỷ 19 những tiến bộ khoa học mới được áp dụng cho các phát minh thực tiễn. Những sự tiến bộ của châu Âu được phát triển vào giữa thế kỷ 18 gồm cả hai: một nền văn hoá thương mại và sự giàu có nhờ thương mại ở Đại Tây Dương.
Một số ý kiến được đưa ra để giải thích tại sao, từ 1750 trở đi, châu Âu trỗi dậy và vượt qua các nền văn minh khác, trở thành nơi phát sinh cách mạng công nghiệp, và thống trị phần còn lại của thế giới. Max Weber cho rằng nó nhờ vào một tác dụng về mặt đạo đức của Tin lành (Protestant work ethic) đã thúc đẩy những người châu Âu làm việc hăng hái hơn và lâu dài hơn so với những thế hệ trước. Một giải thích kinh tế - xã hội khác lại lưu ý tới nhân khẩu học: châu Âu với giới tăng lữ sống độc lập, với sự di cư thuộc địa, những trung tâm thành thị có tỷ suất tử cao, những cuộc chiến triền miên, và có độ tuổi kết hôn muộn nên gây trở ngại lớn tới sự tăng trưởng dân số của nó so với các nền văn hoá châu Á. Sự thiếu hụt lao động đồng nghĩa với việc những thặng dư được đầu tư vào tiến bộ kỹ thuật nhằm tiết kiệm nhân công như các bánh xe và các cối xay, các xa quay tơ và khung cửi chạy bằng nước, động cơ hơi nước, và vận chuyển bằng tàu thuỷ chứ không mất chi phí vào việc mở rộng đơn giản quy mô dân số. Nhiều người cho rằng các thể chế của châu Âu cũng có tính ưu việt, rằng những quyền sở hữu và những nền kinh tế thị trường tự do ở châu Âu mạnh mẽ hơn ở bất kỷ nơi nào khác trên thế giới.
Địa lý châu Âu cũng có thể đóng một vai trò quan trọng. Trung Đông, Ấn Độ và Trung Quốc tất cả đều bị bao quanh bởi các dãy núi, nhưng một khi vượt qua được các biên giới bên ngoài đó thì đất đai lại khá phẳng. Trái lại, dãy Alps, Pyrenees, và các rặng núi khác chạy xuyên suốt châu Âu, và lục địa bị phân chia bởi nhiều biển. Điều này làm cho châu Âu có được sự bảo vệ khỏi mối nguy hiểm từ những kẻ xâm lược vùng Trung Á. Ở thời kỳ trước khi có súng cầm tay, tất cả vùng Âu Á đều bị đe doạ bởi những kỵ sĩ vùng thảo nguyên Trung Á. Những dân tộc du mục đó có ưu thế về quân sự so với các nước nông nghiệp ở vùng rìa lục địa và nếu họ tràn vào bên trong các đồng bằng phía bắc Ấn Độ hay những vùng châu thổ Trung Quốc thì không có cách nào để ngăn cản được họ. Những cuộc xâm lấn đó thường gây tàn phá và huỷ hoại. Thời đại hoàng kim của Hồi giáo đã chấm dứt khi quân Mông Cổ cướp phá kinh thành Baghdad năm 1258, và cả Ấn Độ cùng Trung Quốc cũng là mục tiêu của các cuộc xâm lược từ Đế quốc Mông Cổ hùng mạnh. châu Âu, đặc biệt là tây Âu cách khá xa khỏi mối đe doạ đó.
Địa lý cũng góp phần vào những khác biệt địa chính trị quan trọng. Trong đa phần lịch sử của mình Trung Quốc, Ấn Độ và Trung Đông đều thống nhất dưới một quyền lực cai trị duy nhất và nó mở rộng cho đến khi chạm tới những vùng núi non và sa mạc. Vào năm 1600, Đế quốc Ottoman kiểm soát hầu như toàn bộ Trung Đông, nhà Minh cai quản Trung Quốc, và Đế quốc Mughal từng cai trị toàn bộ Ấn Độ. Trái lại, châu Âu hầu như luôn bị chia rẽ trong số các nước chiến quốc. Các đế quốc "toàn Âu", ngoại trừ Đế quốc La Mã, sớm trước đó, đều có khuynh hướng suy sụp sớm ngay sau khi họ nổi lên. Nghịch lý, sự cạnh tranh dữ dội giữa các nước đối nghịch thường được miêu tả như là một nguồn gốc của sự thành công của châu Âu. Ở những vùng khác, sự ổn định thường được ưu tiên hơn so với sự phát triển. Ví dụ, sự nổi lên của Trung Quốc với tư cách cường quốc trên biển đã bị Hai jin nhà Minh ngăn cản. Ở châu Âu sự cấm đoán như vậy là không thể xảy ra vì có sự bất hoà, nếu bất kỳ một nước nào áp đặt lệnh cấm đó, nó sẽ nhanh chóng bị bỏ lại sau so với những kẻ cạnh tranh với nó.
Một yếu tố địa lý quan trọng khác góp phần vào sự trỗi dậy của châu Âu là Địa Trung Hải, trong hàng nghìn năm, nó hoạt động như một siêu xa lộ trên biển tạo thuận lợi cho những trao đổi hàng hoá, con người, ý tưởng và những phát minh.
=== Một Tây Âu thực dân và một Đông Âu hùng mạnh ===
Vào thế kỷ mười bốn, thời kỳ Phục hưng đã bắt đầu ở châu Âu. Một số học giả hiện nay đã đặt ra câu hỏi về việc thời kỳ nở rộ về nghệ thuật và chủ nghĩa nhân đạo này có ảnh hưởng thế nào đối với khoa học, nhưng quả thực thời kỳ này đã chứng kiến một sự hợp nhất quan trọng giữa kiến thức Ả rập và châu Âu. Một trong những phát triển có tầm quan trọng nhất là thuyền buồm, nó tích hợp buồm tam giác của người Ả Rập với buồm vuông của người châu Âu để tạo ra những chiếc tàu đầu tiên có thể chạy một cách an toàn trên Đại Tây Dương. Cùng với những phát triển quan trọng trong nghề hàng hải, kỹ thuật này đã cho phép Christopher Columbus năm 1492 đi ngang qua Đại tây dương và nối từ Phi-Âu Á đến Châu Mỹ.
Việc này có những ảnh hưởng to lớn tới cả hai lục địa, là một trong những vấn đề ngoài phạm vi sử học nổi tiếng nhất. Người châu Âu đem theo họ bệnh tật mà người châu Mỹ chưa từng bao giờ biết tới, và một số lượng không chắc chắn, có lẽ hơn 90% người thổ dân châu Mỹ đã bị giết hại trong một lô những vụ lan truyền bệnh dịch kinh khủng. Người châu Âu cũng có những tiến bộ khoa học về ngựa, sắt thép và súng cho phép họ có khả năng vượt trội so với các Đế chế của người Aztec và Inca, cũng như các nền văn hoá khác ở Bắc Mỹ.
Vàng và các nguồn tài nguyên từ châu Mỹ bắt đầu bị cướp đoạt khỏi tay những người châu Mỹ và được chất lên thuyền đem về châu Âu, cùng lúc đó số lượng lớn những người châu Âu thực dân bắt đầu di cư về phía tây. Để đáp ứng nh cầu lớn về lao động ở các thuộc địa mới, sự xuất khẩu ồ ạt những người châu Phi làm nô lệ bắt đầu. Ngay sau đó nhiều người châu Mỹ bắt đầu có đặc điểm di truyền từ các nô lệ. Ở Tây Phi, một loạt những quốc gia giàu có đã phát triển dọc theo Bờ biển nô lệ, bắt đầu trở nên thịnh vượng từ khai thác và bóc lột những người châu Phi nô lệ.
Sự mở rộng hàng hải của châu Âu, nhờ vào vị trí địa lý của họ, phần lớn là nhờ ở các nước lục địa gần bờ biển Đại tây dương: Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Anh Quốc, Pháp, Hà Lan. Đế quốc Bồ Đào Nha và Đế quốc Tây Ban Nha ban đầu là những kẻ chinh phục lớn mạnh nhất và có ảnh hưởng lớn nhất, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau nó đã được chuyển giao cho Anh Quốc, Pháp và Hà Lan những nước này thống trị Đại Tây Dương. Trong một loạt những cuộc chiến, diễn ra vào thế kỷ 17 và thế kỷ 18, lên tới cực điểm với những cuộc chiến thời Napoleon, Anh Quốc nổi lên là siêu cường đầu tiên của thế giới. Nó là một đế quốc trải dài khắp quả đất, kiểm soát, ở lúc cực điểm, gần một phần tư bề mặt lục địa thế giới, trên đó "Mặt trời không bao giờ lặn".
Lúc ấy, những cuộc viễn du của Đô đốc Trịnh Hòa bị nhà Minh, triều đình được thành lập sau khi đánh đuổi được người Mông Cổ ở Trung Quốc, cấm đoán. Một cuộc cách mạng thương mại Trung Quốc, thỉnh thoảng được miêu tả như là giai đoạn "chủ nghĩa tư bản sơ khai," cũng sớm chết yểu. Nhà Minh cuối cùng lại rơi vào tay những người Mãn Châu, trở thành nhà Thanh, và đó là một giai đoạn yên tĩnh và thịnh vương, nhưng càng ngày càng trở nên một con mồi đối với sự xâm lấn từ phương tây.
Ngay sau khi xâm chiếm châu Mỹ, người châu Âu đã sử dụng tiến bộ kỹ thuật của mình để chinh phục các dân tộc ở châu Á. Đầu thế kỷ 19, nước Anh chiếm quyền kiểm soát tiểu lục địa Ấn Độ, Ai Cập và Bán đảo Malaysia; Người Pháp chiếm Đông Dương; trong khi người Hà Lan chiếm Đông Ấn. Người Anh cũng chiếm nhiều vùng khi ấy chỉ có những bộ tộc ở trình độ văn minh thời kỳ đồ đá mới, gồm Australia, New Zealand và Nam Phi, và, giống như trường hợp châu Mỹ, rất nhiều kẻ thực dân Anh bắt đầu di cư sang các vùng đó. Vào cuối thế kỷ mười chín, những vùng cuối cùng ở châu Phi còn chưa bị xâm chiếm bị các nước mạnh ở châu Âu đem ra chia chác với nhau.
Vào các thế kỷ 18 và 19, các liệt cường Đông Âu phát triển cường thịnh. Trong suốt 149 năm kể từ khi Nga hoàng Aleksei I mất vào năm 1676 cho đến khi Nga hoàng Aleksandr I mất vào năm 1825, Vương triều nhà Romanov đã đưa đất nước từ một cường quốc địa phương non trẻ lên thành một "tên sen đầm của châu Âu" bất khả chiến baị. Trong khi Nga hoàng Aleksei I lên ngôi cùng thập niên với vua Pháp là Louis XIV thì ông chẳng được biết đến mấy tại Hoàng cung Versailles, thì Nga hoàng Aleksandr I đã đánh tan tác quân Pháp mà thẳng tiến vào kinh thành Paris. Nga hoàng Pyotr I (trị vì: 1682 - 1725) và Nữ hoàng Ekaterina II (trị vì: 1762 - 1796) đều được tôn vinh là "Đại Đế", với tài năng phi thường họ đã cống hiến không nhỏ đến sự phát triển cường thịnh của nước Nga. Nước Nga giành thắng lợi trong nhiều cuộc chiến tranh và Đại Công quốc Moskva vươn lên thành một "Đế quốc của toàn dân Nga". Lực lượng Quân đội Nga trở nên hùng cường. Đế quốc Nga cường thịnh đã dẹp tan tác mọi mối đe dọa trước đây từ quân Thổ Nhĩ Kỳ Ottoman và quân Thụy Điển. Danh tiếng của nước Nga vang xa trong cuộc Chiến tranh Bảy năm, dù Nữ hoàng Elizaveta thất bại trong việc xâm lược nước Phổ. Vua nước Phổ là Friedrich II cũng thoát khỏi chính sách bành trướng của nước Nga trong những năm tháng sau đó.
Trong cùng thời gian đó, Vương quốc Phổ nhanh chóng phát triển hùng cường. Nước Phổ trở thành một tấm gương sáng, phản ánh truyền thống châu Âu nhân văn: với một bộ máy hành chính chính phủ hữu hiệu, một chính sách khoan dung tôn giáo và một bộ máy dân sự không tham nhũng. "Hào khí Phổ" trỗi dậy với niềm trung quân, niềm nhiệt huyết với nền quân sự, và niềm tự hào với sự phát triển của nền văn hóa đất nước. Các vua Friedrich I (trị vì: 1688 - 1713) và Friedrich Wilhelm I (trị vì: 1713 - 1740) phát triển đất nước, tham chiến trong các cuộc Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha và Đại chiến Bắc Âu, chiếm được những vùng đất quan trọng như Stettin và Tây Pomerania. Vua Friedrich Wilhelm I ra sức xây dựng một lực lượng Quân đội Phổ hùng mạnh. Vào ngày 16 tháng 12 năm 1740, tân vương Friedrich II (được tôn vinh là Friedrich Đại Đế hay Friedrich Độc Đáo) đem 27 nghìn quân chinh phạt được tỉnh Silesia của Đế quốc Áo. Ông tiến hành những cải cách tiến bộ, và giữ vững được toàn bộ đất nước trong cuộc Chiến tranh Bảy năm chống cả liên quân Pháp - Áo - Nga - Thụy Điển. Vị vua xuất chúng này được những người đương thời thán phục và các nhà sử học mê say. Sau này, ông còn thiết lập "Liên minh các Vương hầu" thắng lợi, trở thành vị minh chủ của các tiểu quốc Đức trong Đế quốc La Mã Thần thánh.
Thời kỳ này ở châu Âu chứng kiến Thời đại Lý tính dẫn tới cách mạng khoa học, làm thay đổi sự hiểu biết của chúng ta về thế giới và tạo cơ sở cho cách mạng công nghiệp, một sự chuyển đối căn bản của các nền kinh tế thế giới. Nó bắt đầu ở nước Anh và việc sử dụng những hình thức sản xuất mới như các nhà máy, sản xuất hàng loạt, và cơ giới hoá để sản xuất ra nhiều loại sản phẩm với tốc độ nhanh hơn và tốn ít nhân công hơn các cách thức sản xuất trước đó. Thời đại của lý trí cũng dẫn tới sự khởi đầu của dân chủ như chúng ta biết hiện nay, trong những cuộc cách mạng ở Mỹ và ở Pháp vào cuối thế kỷ 18. Dân chủ sẽ phát triển để có một ảnh hưởng sâu rộng lên các sự kiện thế giới và chất lượng cuộc sống. Trong thời cách mạng công nghiệp, kinh tế thế giới nhanh chóng dựa trên than, cũng như những hình thức giao thông mới, như đường sắt và tàu hơi nước, làm cho thế giới trở nên nhỏ hơn. Trong lúc ấy, ô nhiễm công nghiệp và những tổn hại đối với môi trường thiên nhiên, đã hiện diện từ khi khám phá ra lửa và sự bắt đầu của nền văn minh, đã được đẩy nhanh gấp hàng chục lần.
== Thế kỷ 20 ==
=== Tiến bộ công nghệ ===
Thế kỷ 20 chứng kiến sự giảm sút mức độ thống trị đối với thế giới của châu Âu, ít nhất một phần vì những thiệt hại và những sự phá huỷ của Chiến tranh thế giới thứ nhất và Chiến tranh thế giới thứ hai, và sự hiện diện của Hợp chúng quốc Hoa Kỳ và Liên bang Xô Viết với tư cách những siêu cường. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên hiệp quốc được thành lập với hy vọng rằng nó có thể ngăn chặn các cuộc xung đột giữa các quốc gia và làm cho chiến tranh không thể xảy ra trong tương lai - những hy vọng vẫn chưa bao giờ có thể thực hiện. Sau năm 1990, Liên bang xô viết sụp đổ và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ trở thành siêu cường duy nhất, được một số người gọi là "siêu cường quốc." (Xem "Pax Americana.")
Thế kỷ này cũng chứng kiến sự trỗi dậy của những hệ tư tưởng từ hàng ngàn năm trước. Đầu tiên, sau năm 1917 là chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô, nó lan rộng ra khắp Đông Âu sau năm 1945, và Trung Quốc năm 1949, cùng những nước khác thuộc Thế giới thứ ba trong những thập kỷ 1950 và 1960. Thập kỷ 1920 là giai đoạn chủ nghĩa độc tài phát xít quân phiệt chiếm được quyền lãnh đạo ở Đức, Ý, Nhật và Tây Ban Nha.
Những sự chuyển giao quyền lực đó đã dẫn tới các cuộc chiến tranh với tầm vóc và mức độ huỷ diệt khác nhau. Chiến tranh thế giới thứ nhất đã tiêu diệt nhiều chế độ quân chủ cũ tại châu Âu, và làm suy yếu Pháp và Anh Quốc. Chiến tranh thế giới thứ hai dẫn tới sự sụp đổ của những chế độ độc tài quân sự ở châu Âu và sự trỗi dậy của cộng sản chủ nghĩa ở Đông Âu và châu Á. Nó lại gây ra cuộc Chiến tranh lạnh, một sự cách biệt kéo dài bốn mươi năm giữa Hoa Kỳ, Liên bang xô viết và đồng minh của họ. Toàn bộ nhân loại và những hình thức phức tạp của cuộc sống bị đặt trước nguy cơ bởi sự phát triển của các loại vũ khí hạt nhân. Sau khi đã có bước tiến bộ vượt bậc về vũ khí, thế giới lại phải chứng kiến sự tan rã của Liên bang Xô Viết thành những quốc gia riêng lẻ, một số những nước cộng hoà cũ của nó tái gia nhập với Nga vào trong một khối thịnh vượng chung, các nước khác tiến lại gần với tây Âu.
Thế kỷ này cũng là thời điểm công nghệ tiến bộ vượt bực, tuổi thọ con người và tiêu chuẩn sống tăng lên đáng kể. Khi kinh tế thế giới chuyển từ căn bản dựa trên than đá chuyển qua dựa trên dầu mỏ, những kỹ thuật thông tin và giao thông tiếp tục làm thế giới trở nên thống nhất hơn. Những phát triển công nghệ trong thế kỷ này cũng góp phần giảm các vấn đề ô nhiễm môi trường tại thành phố so với thời dùng than.
Nửa sau của thế kỷ 20 là giai đoạn phát triển của thời đại tin học và toàn cầu hoá đã làm tăng trưởng thương mại và trao đổi văn hoá tăng lên ở mức đáng kinh ngạc. Thám hiểm vũ trụ đã mở rộng ra toàn bộ hệ mặt trời. DNA, mức độ bản nguyên nhất của sự sống, đã được khám phá, và bộ gene của con người cũng đã được nối kết đầy dủ, hứa hẹn cuối cùng sẽ mang lại một thay đổi về tình trạng bệnh tật của loài người. Số lượng những bài báo khoa học hàng năm hiện nay vượt quá tổng số lượng của chúng trước năm 1900 [1], và cứ 15 năm lại tăng gấp đôi.[2] Tỷ lệ biết chữ tiếp tục tăng lên, và phần trăm nhân lực cần thiết để sản xuất ra đủ lượng lương thực cho thế giới ngày càng giảm bớt khi chúng ta đạt tới (thời đại của những máy móc trí tuệ).
Cũng trong giai đoạn này đã xuất hiện nguy cơ về sự kết thúc của lịch sử loài người, là kết quả của những nguy cơ không thể điều tiết được của quá trình toàn cầu hoá: sự phát triển vũ khí hạt nhân, hiệu ứng nhà kính và các hình thức khác của sự suy giảm chất lượng thiên nhiên có nguyên nhân từ "những nhà máy sử dụng nguyên liệu hoá thạch," những cuộc xung đột quốc tế có nguyên nhân từ sự suy giảm của các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sự lan truyền nhanh chóng của các loại dịch bệnh như HIV, và sự di chuyển gần Trái Đất của các tiểu hành tinh và sao chổi.
Sự phát triển của các quốc gia cũng làm gia tăng mong ước chiếm đoạt và nỗi sợ hãi vì bị thiệt hại. Ý thức đồng nhất quốc gia luôn được viện tới trong mọi cuộc xung đột với bên ngoài và được coi là một nguy cơ tiềm tàng. Khi thế kỷ 20 chấm dứt, thế giới cũng chứng kiến sự trỗi dậy của một số nước được coi là cường quốc mới, là Liên minh châu Âu. Một số bước chuẩn bị đầy toan tính đã được thực hiện nhằm cạnh tranh với Liên minh châu Âu từ các nước Châu Á, Châu Phi và Nam Mỹ. Sự trỗi dậy, cuộc sống và sự sụp đổ của các quốc gia, được tổ chức với nhiều sắc dân đông đảo và cho mục đích hoàn thành các mục tiêu của loài người, tiếp tục là một nguy cơ của chiến tranh, với sự thiệt hại đi cùng về nhân mạng, vật chất, bệnh tật, đói nghèo và diệt chủng.
=== Toàn cầu hóa và Tây phương hóa ===
Về mặt chính trị, thế giới được thống nhất bởi người châu Âu, những người đã lập nên các thuộc địa ở đa phần những vùng lãnh thổ thế giới bên ngoài châu Âu. Văn hóa phương Tây được hiện đại hóa nhanh chóng nhờ vào cuộc cách mạng công nghiệp và bắt đầu thống trị thế giới trong thế kỷ 19 và 20, nhưng nó cũng bị ảnh hưởng lớn từ các nền văn minh khác. Vẫn có nhiều khác biệt sâu sắc về văn hóa giữa các vùng trên thế giới, mặc dù khuynh hướng hiện tại là thống nhất dưới sự ảnh hưởng của phương Tây.
Các đế quốc thương mại như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hà Lan, Pháp và Anh Quốc từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19 đã thống trị trên các vùng biển. Công nghiệp hóa và những thay đổi về chính trị cũng như xã hội ở phương Tây trong thế kỷ 18 và 19 đã dẫn tới một cảm giác ưu việt trong số những nhà tư tưởng và chính trị phương Tây. Châu Phi và đa phần Châu Á trở thành những vùng nằm dưới quyền kiểm soát của châu Âu, trong khi những hậu duệ của người châu Âu cai quản Australia và Châu Mỹ.
Các ý tưởng mới nảy sinh với mục đích sửa đổi lại hình thức thế giới. Những người theo chủ nghĩa xã hội Darwin và những người theo chủ nghĩa đế quốc thường tin rằng người da trắng là ưu việt hơn và rằng họ sẽ "khai hóa" cho những dân tộc còn ở trình độ sơ khai (những nền văn hóa khác) bằng cách đưa tới đó cách thức sản xuất phương Tây (kinh tế) và những ý thức hệ phương tây như Ki-tô giáo. Nhờ vậy, những dân tộc sơ khai có thể có một cách sống ‘tốt hơn’, ‘đạo đức hơn’, mặc dù họ cho rằng những dân tộc đó sẽ không bao giờ văn minh được bằng với người da trắng . Những người theo chủ nghĩa xã hội và tự do cũng muốn khai hóa văn minh cho tầng lớp lao động ở các nước phương Tây. Những người theo chủ nghĩa xã hội và tự do ở Hoa Kỳ tin rằng (và hiện vẫn đang tin tưởng như vậy) xã hội, trong tổng thể, chịu trách nhiệm về cách ứng xử của các công dân của nó và rằng xã hội phải được thay đổi để làm cho thế giới tốt đẹp hơn . Những người bảo thủ tại Mỹ, những người tự do tại châu Âu, và tất cả những người theo chủ nghĩa tự do tin vào (và vẫn tiếp tục tin như vậy) tự do và những lực lượng thị trường và muốn rằng cá nhân tự chịu trách nhiệm về chính mình và rằng xã hội phải đảm bảo tự đo để cá nhân có thể phát triển một cách đầy đủ. Những người Ki-tô giáo, bất kể thuộc hệ tư tưởng chính trị nào, tin rằng các mối quan hệ của cá nhân với Nhà thờ và/hay Thiên Chúa là nhân tố chủ chốt của một đời sống thoả mãn. Những người theo Hồi giáo, Ấn Độ giáo, Phật giáo và các tôn giáo khác có những khái niệm tôn giáo của riêng họ.
Thế kỷ 20 diễn ra một cuộc phân cực lớn giữa các hệ tư tưởng đó. Chủ nghĩa Darwin xã hội đã bị ảnh hưởng lớn khi Đức phát xít bị đánh bại trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Hoa Kỳ và Liên bang xô viết thúc đẩy tiến trình giải thực. Phong trào nhân quyền và phong trào hippie phản đối văn hoá trong thập kỷ 1960 dẫn tới sự thống trị trên toàn thế giới của tư tưởng nhân văn vẫn còn tồn tại dai dẳng cho tới ngày nay ở các nước phương Tây.
Những người theo chủ nghĩa xã hội cố gắng thay đổi xã hội bằng nhiều phương cách khác nhau. Hai phong trào lớn nhất là dân chủ xã hội và chủ nghĩa cộng sản. Các nhà dân chủ xã hội tìm cách đạt tới một xã hội xã hội chủ nghĩa bằng cách thay đổi xã hội thông qua liên kết với các đảng chính trị khác. Quốc gia hệ thống phúc lợi xã hội được thiết lập ở nhiều nước phương tây. Cánh tả Ki-tô giáo và những người theo chủ nghĩa tự do cùng chiếm ưu thế tại quốc gia kiểu này. Hiện nay quốc gia hệ thống phúc lợi xã hội không được phổ biến bởi các nhà tư bản, họ nghĩ ngăn cản phát triển kinh tế vì đầu tư không hiệu quả. Những người cộng sản tìm cách lập ra một xã hội xã hội chủ nghĩa bằng cách thay đổi xã hội cũ, những tầng lớp cũ và tất cả mọi ý thức hệ cạnh tranh. Nó nó là một mô hình ý niệm tốt tuy nhiên thiếu thức tế bị phản đối mạnh mẽ ở các tầng lớp tư bản cao, vì nó ảnh hưởng đến quyền lợi trực tiếp của họ. Có nhiều ý kiến trái ngược về mô hình này. Các nhà lãnh đạo Xô viết và Trung Quốc và tầng lớp trí thức nhận ra rằng kiểu sản xuất của ‘phương Tây’ với trách nhiệm cá nhân dẫn tới tiến bộ liên tục trong khi các xã hội cộng sản theo mô hình Liên Xô lại rơi vào giảm phát kinh tế liên tục, vì thế họ bắt buộc phải thay đổi bằng cách tìm ra mô hình phù hợp vừa đảm bảo được sự phát triển kinh tế vừa không vi phạm những quy tắc cơ bản về xã hội chủ nghĩa.
Các nền văn minh ngoài phương tây ban đầu bị thực dân phương Tây thống trị, và họ thường đối xử rất ác nghiệt với dân bản xứ. Những người quốc gia và những phong trào cộng sản lan tràn khắp các quốc gia đó đã tuyên truyền cho dân chúng những ý tưởng đầu tiên về các phong trào độc lập, muốn yêu cầu quyền lợi công bằng trên thế giới. Nhiều thuộc địa châu Phi và châu Á bắt đầu giành lại độc lập trong thập kỷ 1960. Cuối cùng, đã có suy nghĩ lạc quan rằng những nước kém phát triển sẽ trở thành những nước phát triển, nhưng tình hình kinh tế của họ nói chung là rất kém sau khi đã giành được độc lập. Các cuộc nội chiến và những kẻ độc tài làm suy yếu các xã hội và các nền kinh tế địa phương – nguyên nhân của nó thỉnh thoảng là bắt nguồn từ chủ nghĩa thực dân mới và một phần vì Hoa Kỳ (xem Chủ nghĩa Sô vanh, và học thuyết quốc gia phụ thuộc). Hiện nay, nhiều quốc gia Mỹ Latin và châu Á đang bắt đầu chuyển tiếp để trở thành quốc gia thuộc thế giới thứ nhất; đa số các nước châu Phi và Trung Đông, tuy vậy, vẫn còn đang ở tình trạng trì trệ.
Những người bảo thủ và người theo chủ nghĩa quốc gia trên thế giới sợ rằng những xã hội của họ sẽ sụp đổ vì hiện đại hoá và các ý tưởng mới vì vậy họ tìm cách ngăn chặn làn sóng thay đổi . Chủ nghĩa bảo thủ đang càng ngày càng trở nên phổ biến trên nhiều vùng của thế giới , với việc chủ nghĩa bảo thủ mới hiện đang thống trị trong chính phủ Hoa Kỳ. Những người (tự xưng) Hồi giáo chính thống tìm cách ngăn chặn sự phi tôn giáo hóa bằng cách gây nên chiến tranh chống lại văn minh phương Tây. Nhiều lãnh đạo quốc gia và trí thức ở Trung Đông và vùng Hạ Sahara châu Phi chỉ trích phương tây vì cách sống "vô đạo đức" của họ. Chủ nghĩa bảo thủ được nuôi dưỡng, phần lớn nhờ ở niềm tin tôn giáo vào đời sống kiếp sau với những lo sợ hiện hữu về sự trừng phạt mãi về sau này.
Những nỗ lực nhằm thống nhất thế giới bằng chinh phục quân sự hay bằng cách mạng đã không thành công. Quốc gia dân tộc trở thành cơ sở quan trọng nhất trong thế giới phương tây . Các đế quốc thực dân ở thế kỷ thứ 19 dựa trên quốc gia dân tộc, vốn từng kiểm soát phần lớn những vùng đất đai sinh sống của các sắc dân bộ lạc. Các quốc gia dân tộc thống nhất với nhau thành liên bang trong thế kỷ 20. Trong thời gian giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, Liên đoàn các quốc gia không thể đóng vai trò to lớn trong việc ngăn chặn chiến tranh. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Liên hiệp quốc (cũng không có vai trò gì nhiều) đã tìm cách giải quyết nhiều vấn đề mà từng nước riêng biệt không thể giải quyết. Liên đoàn quốc gia và Liên hiệp quốc phụ thuộc vào ý nguyện tham gia và kinh phí đóng góp tự nguyện của các quốc gia thành viên. Các tổ chức đó không thể hoạt động mà không có được sự ủng hộ của các quốc gia lớn, như đã từng xảy ra trong thập kỷ 1920 và 1930 và trong thời gian Chiến tranh lạnh. Nhiều quốc gia không chính xác (về mặt quy cách) là quốc gia dân tộc, nhưng tồn tại như nhiều dân tộc (hạ Saharan châu Phi), hay chỉ có một tỷ lệ nhỏ của một dân tộc bên trong biên giới lãnh thổ của họ (như tại các nước Ả rập).
Số lượng và kích cỡ của các nền kinh tế thị trường tự do ngày càng tăng trưởng nhanh chóng kể từ thế kỷ 19, nhưng các nền kinh tế do nhà nước kiểm soát vẫn có thể tồn tại với tư cách thời kỳ chuyển tiếp, cho tới khi Liên bang Xô viết sụp đổ năm 1989. Các nền kinh tế thị trường tự do dẫn tới tăng trưởng to lớn trong đời sống người dân. Một thị trường tự do toàn cầu đã mang lại thành quả chung. Tự do trao đổi hàng hóa và thông tin dẫn tới sự phụ thuộc lẫn nhau của các quốc gia và muốn có lợi ích riêng thì cần phải hợp tác với các quốc gia khác. Quá trình này được gọi là toàn cầu hóa.
Dân số quá đông cũng bị coi là một trong những vấn đề to lớn nhất trên khắp thế giới. Vấn đề này từng được các nhà tư tưởng như Malthus và Max Weber đưa ra. Weber sợ rằng Ấn Độ và Trung Quốc sẽ phát triển những nền kinh tế lớn của họ với cái giá phải trả của Châu Âu, và ủng hộ chủ nghĩa chủ nghĩa đế quốc kiểu Đức để ngăn chặn sự nghèo đói cho dân tộc Đức. Sự phát triển kỹ thuật và kinh tế của thế kỷ 20 chỉ ra rằng các nước tây phương có thể có được phát triển kinh tế thông qua phát triển từ bên trong. Các nước châu Âu ở thời Max Weber có thể coi như là các quốc gia thuộc Thế giới thứ ba hiện nay . Trung Quốc, Ấn Độ và các nước Mỹ Latin đã phát triển trong vài thập kỷ gần đây, và hậu quả của nó là sự thất nghiệp ở các nước phương tây . Dân số tăng cũng dẫn tới sự tăng trưởng nhanh chóng của nhu cầu đòi chia sẻ các nguồn tài nguyên hạn chế và tăng nhanh sự phá hủy môi trường khi sử dụng các nguồn tài nguyên đó.
Văn hoá Mỹ đã có một ảnh hưởng lớn trên thế giới. Các bộ phim Hollywood và nhạc jazz thống trị trên toàn thế giới phương Tây từ thập kỷ 1920 . Văn hóa thanh niên đã bắt đầu ở Mỹ. Quần Jeans, áo T-shirt, phong cách quảng cáo Mỹ và nhạc pop đã thống trị toàn thế giới trong thập kỷ 1960 và 1970. Những cải cách kinh tế của Mỹ và Anh trong thập kỷ 1980 đã trở thành mẫu mực cho toàn thế giới
=== Chiến tranh thế giới thứ nhất ===
=== Chiến tranh thế giới thứ hai ===
== Xem thêm ==
==== Lịch sử theo miền ====
Lịch sử châu Phi
Lịch sử châu Mỹ
Lịch sử Châu Nam Cực
Lịch sử châu Á
Lịch sử Australia
Lịch sử Đông Á
Lịch sử vùng Âu Á
Lịch sử vùng Tây Âu Á
Lịch sử châu Âu
Lịch sử Trung Đông
Lịch sử Bắc Mỹ
Lịch sử Nam Mỹ
LịchsửNamÁ
Lịch sử Đông Nam Á
Lịch sử nước ta
==== Đề tài trong lịch sử ====
Tính phi thường của kỹ thuật
Việc ghi chép sử
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Christopher M. Clark, Iron kingdom: the rise and downfall of Prussia, 1600-1947, Harvard University Press, 2006. ISBN 0674023854.
Josef Wiesehöfer, Ancient Persia, I.B.Tauris, 2001. ISBN 1860646751.
Gregory L. Freeze, Russia: a history, Oxford University Press, 2002. ISBN 0198605110.
Norman Davies, Europe: a history, Oxford University Press, 1996. ISBN 0198201710.
Diamond, Jared (1996). Guns, Germs, and Steel: The Fates of Human Societies. New York: W. W. Norton. ISBN 0-393-03891-2.
Braudel, Fernand (1996). The Mediterranean and the Mediterranean world in the age of Philip II. Berkeley, Calif.: University of California Press. ISBN 0-520-20308-9.
Braudel, Fernand (1973). Capitalism and material life, 1400-1800. New York: HarperCollins. ISBN 0-06-010454-6.
Hodgson M, Rethinking World History: Essays on Europe, Islam, and World History (Cambridge, 1993)
Pomeranz, K, The Great Divergence:China, Europe and the Making of the Modern World Economy (Princeton, 2000)
Ponting, C World History: A New Perspective (London, 2000)
== Liên kết ngoài ==
WWW-VL: World History at European University Institute
Lịch sử thế giới bằng đồ họa |
kui buri (huyện).txt | Kui Buri (tiếng Thái: กุยบุรี) là một huyện (amphoe) ở phía bắc của tỉnh Prachuap Khiri Khan, miền trung Thái Lan.
== Lịch sử ==
Mueang Kui là một thành phố cổ của vương quốc Ayutthaya. Dưới thời vua Boromakot, Kui là thành phố cấp 4. Khi vua Chulalongkorn lập Monthon Phetchaburi, Kui Buri nằm trong đơn vị hành chính này. Năm 1898, tòa thị chính đã được dời đến vịnh Ko Lak và Kui Buri bị hạ cấp thành một tambon thuộc huyện Mueang Prachuap Khiri Khan. Tiểu huyện (king amphoe) Kui Buri được tái lập ngày 19 tháng 7 năm 1960 và chính thức nâng thành huyện ngày 16 tháng 7 năm 1963.
== Địa lý ==
Các huyện giáp ranh: Sam Roi Yot về phía bắc và Mueang Prachuap Khiri Khan về phía nam. Về phía tây là vùng Tanintharyi của Myanma, về phía đông là vịnh Thái Lan. Sông chính ở huyện này là Khlong Kui.
== Hành chính ==
Huyện này được chia ra thành 6 phó huyện (tambon), các đơn vị này lại được chia thành 47 làng (muban). Có hai thị trấn(thesaban tambon) within Huyện - Kui Buri nằm trên một phần của tambon Kui Buri vàKui Nuea, còn Rai Mai nằm trên một phần của tambon Sam Krathai.
Số 5 không có trong bảng này là tambon Rai Mai thuộc Sak Roi Yot.
== Tham khảo == |
hip hop.txt | Hip hop là một thể loại âm nhạc và trào lưu văn hóa xuất hiện từ thập niên 1970 tại Bronx, New York. Nền văn hóa này xuất thân và phát triển ở những khu ghetto (thường là những nơi ở tập trung của những người nghèo, người da màu, nơi thường gắn liền với nhiều tệ nạn xã hội và băng đảng). Văn hóa hip hop được miêu tả như một hoạt động được hình thành bởi nhiều phương tiện truyền đạt khác nhau. Những yếu tố chính bao gồm: DJing (người mix nhạc), MCing (Rapping), Graffiti (Tranh phun sơn), breakdance, popping và locking. Ngoài ra còn một số yếu tố khác như: beatboxing, hiphop fashion.
== Lịch sử hình thành ==
Vào thập niên 1970, 10 năm trước khi nó được thế giới công nhận, hip hop là sự ca tụng cuộc sống đã từ từ phát triển các nguyên tố của nó để rồi hình thành một hoạt động văn hóa. Nhờ vào nguồn năng lượng & động lực của nó mà hip hop đã trở thành chiếc "chìa khoá" của sự nâng cao và cải cách như một công trình trị giá hàng tỷ đô la.
=== Nguồn gốc từ Hip hop ===
Hai từ "Hip Hop" có nguồn gốc từ đâu và ai sẽ đứng ra chịu trách nhiệm nếu có sự nhầm lẫn khi nói rằng 2 từ đó có nguồn từ Afrika Bambaataa? Khi Bambaataa tổ chức những buổi tiệc, Bam cảm thấy thích tạo ra tên chủ đạo cho những buổi tiệc đó thêm phần thú vị. Một trong những tên chủ đạo mà Bam đã đặt là "THE HIP HOP BEENY BOP". Một số người đã dùng nó để làm ứng tấu vì cụm từ "Benny Bop". Và những buổi tiệc sau đó, Starski (1 MC hợp tác với Bam) thường mở đầu buổi tiệc bằng những khúc ứng tấu. Starski đã nói câu đại loại như "WELCOME TO THE HIP HOP BEENY BOP! THAT'S RIGHT YALL, HIP HOP TILL YOU DON'T STOP". Vậy thì không còn nghi ngờ gì khi ta gọi Mc Starski là người khởi nguồn của 2 từ "Hip Hop". Mặt khác, ta cũng không sai khi nói Africa Bambaataalà người khởi đầu cho Hip Hop.
Bambaataa khởi nghiệp DJ khi còn rất trẻ, cũng như việc Bam tổ chức rất nhiều party tại South Bronx. Bambaataa. Bam bắt đầu làm việc như 1DJ (Bam dùng turntable loại nhỏ) vào năm 1970 tại nơi mà người ta gọi là "The Old Center in Bronx River Houses". Đồng thời, Bam cũng làm việc chung với Kool DJ Herc, Tyrone và Mc là JoJo, Lovebug Starski, Disco King Mario và Tex DJ Hollywood suốt nhiều năm trước khi có văn hóa Hip Hop.
== Quá trình hình thành ==
== Chiến tranh và mâu thuẫn trong Hip Hop ==
Trong Hip Hop, chuyện hai người đụng độ, xích mích với nhau là chuyện thường gặp. Rapper này "diss" rapper kia một câu, rapper kia trả lời lại một câu, chuyện nhỏ thành chuyện to. Hoặc một rapper nào cảm thấy không đồng ý với rapper kia cũng lại nhắc lên trên lời nhạc. Và chiến tranh giữa các rapper lại bùng nổ.
Điển hình là cuộc chiến giữa Westcoast và Eastcoast (miền Đông và miền Tây), nơi những sự đụng độ đã ra khỏi ranh giới âm nhạc. Đó cũng là nơi 2 rapper nổi tiếng và có ảnh hưởng lớn trong Hip Hop đã bị ám sát, đó là East Coast's The Notorious B.I.G - Christopher Wallace - còn gọi là Biggie Smalls hay Biggie và West Coast's 2Pac - Tupac Shakur - hay Makaveli.
Trước debut (sự khởi đầu) kinh điển "The Chronic" của Dr.Dre năm 1992, tuy West Coast hiphop đã khá phát triển với sự ra đời của Gangsta Rap, tiêu biểu là rap group đứng thứ 83 trong 100 nghệ sĩ của mọi thời đại - tạp chí Rolling Stone - là N.W.A và sự nổi lên của các rapper West Coast như Too $hort, Ice-T, Eazy E, Ice Cube (Fat Joe đã nêu tên trong My FoFo diss 50Cent)... Vì vậy người ta nói Gangsta Rap xuất xứ, khởi nguồn từ West Coast và những rapper đến từ miền Tây nước Mỹ và cả những rapper chơi Gangsta Rap thực thụ trên khắp thế giới thường hay giơ bàn tay hình chữ W như một sự biểu trưng đặc thù. Nhưng chiếm lĩnh loa đài vẫn là East Coast hiphop. Tuy nhiên, các nghệ sĩ miền Tây kể trên đang ngày một thu hút sự chú ý của người nghe. Người ta cho rằng khởi đầu mâu thuẫn EastSide-Westside bắt đầu vào năm 1991 khi rapper miền Đông Tim Dog ra single "Fuck Compton" hướng vào N.W.A và các nghệ sĩ Compton khác, bao gồm cả DJ Quik. Tuy N.W.A không chính thức có phản ứng gì, nhưng rapper từ Long Beach là Snoop Dogg đã có lời đáp trả trong bài "Fuck With Dre Day" cùng Dr.Dre. Năm 1992, dưới nhãn hiệu Death Row của mình và Suge Knight, Dre debut "The Chronic", khai sinh dòng hiphop mới là G-Funk - Gangsta Funk - thì West Coast hiphop mới chính thức trở thành một đối thủ của East Coast với sự phát triển thành công cực nhanh của Death Row Records. Thành công đó càng lớn với debut G-Funk kinh điển "Doggystyle" của Snoop Doggy Dogg năm 1993. West Coast hiphop hoàn toàn chiếm lĩnh các phương tiện truyền thông, đặc biệt với rapper huyền thoại 2Pac - người có những bài hát nói lên thực trạng xã hội, tình trạng phân biệt chủng tộc và đả kích các nhà cầm quyền.
=== Death Row vs Bad Boy: Suge Knight vs Puff Daddy ===
Năm 1993, Sean "Puff Daddy" Combs - bây giờ chính là P.Diddy - thành lập Bad Boy Records, giới thiệu gương mặt mới chính là The Notorious B.I.G huyền thoại với debut "Ready To Die" vô cùng thành công, tạo nên đối trọng với 2Pac của miền Tây. Năm 1995 tại lễ trao giải của Source, Suge Knight đã khích Puff Daddy với tuyên bố, đại ý rằng Death Row mới là nơi các tài năng "không muốn lo về việc nhà sản xuất lúc nào cũng cố xuất hiện trong video của mình" nên tìm đến. Căng thẳng lên cao khi bạn thân của Suge bị bắn chết, Suge buộc tội Puff Daddy có dính líu tới vụ án này. Cùng năm, Suge đã trả 1.4 triệu đôla bảo lãnh và thu nhận 2Pac - người cáo buộc Biggie và Bad Boy Records biết mà không cảnh báo mình về vụ bị cướp và bắn ngày 30/11/1994.
=== 2Pac vs The Notorious B.I.G(Biggie) ===
Sau vụ cướp và bắn kể trên, 2 người bạn thân từ trung học 2Pac và Biggie đã đối đầu nhau. Cả hai cho ra một loạt ca khúc đả kích nhau, mở đầu là ca khúc được coi là bài hát đả kích hay nhất mọi thời đại - "Hit Em Up" của 2Pac hát cùng với Outlawz, Biggie đã đáp trả bằng "Who shot ya?" sau đó. Đỉnh điểm của cuộc đối đầu này là cái chết của 2Pac ngày 7/9/1996 bởi một vụ xả súng bất ngờ vào Biggie ngày 9/3/1997 trong một tình huống tương tự.
=== Các nghệ sĩ trung lập ===
Các nghệ sĩ này luôn cố gắng xoa dịu mâu thuẫn hai miền.
Thứ nhất là Puff Daddy, tuy là trung tâm của sự đả kích của Pac và Suge nhưng Sean chỉ đáp trả bằng việc gọi các nghệ sĩ đối đầu là "những kẻ ghen ghét" với thành công của mình, trong khi không cho các nghệ sĩ của Bad Boy đáp trả trong các bài hát.
Thứ hai là Dr.Dre. Dre luôn cố gắng hòa giải mâu thuẫn hai miền bằng việc hợp tác, hát cùng các nghệ sĩ miền Đông như Nas. Năm 1996, Dre cùng các nghệ sĩ miền Đông nhu KRS-One, RBX, B-Real, Nas ra bài hát chống cuộc xung đột này là "West Coast East Coast Killas".
=== Đối đầu kết thúc ===
Sau cái chết của 2 huyền thoại 2Pac và The Notorious B.I.G, mâu thuẫn West Coast - East Coast coi như được hòa giải. Trước khi Pac chết, một số dấu hiệu bình thường hóa cũng đã xuất hiện, tiêu biểu là việc Nas và Pac đã gặp nhau sau buổi trao giải của MTV tại New York, Pac sẽ bỏ những lời xúc phạm Nas trong album sắp ra của mình nếu như Nas làm điều tương tự, không xúc phạm mình nữa.
=== Hậu mâu thuẫn ===
Cuộc đối đầu này là cuộc đối đầu lớn nhất trong lịch sử âm nhạc nói chung và Hiphop nói riêng. Hậu quả là thế giới mất đi hai huyền thoại lớn. Sau khi Pac chết, các thành viên Death Row, đi đầu là Dre và Snoop Dogg, lần lượt bỏ công ty do mâu thuẫn trước đó. Suge Knight dính líu thêm vào vụ kiện của bà Afeni Shakur - mẹ của 2Pac - trong khi vẫn đang bị án treo, khiến Death Row chao đảo và cuối cùng sụp đổ. West Coast hiphop mất vị trí thống trị của mình và dần dần bị East Coast hiphop áp đảo hoàn toàn, ít được nói đến nữa. Bad Boy Records tuy không chịu hậu quả lớn như Death Row nhưng cũng yếu thế đi nhiều.
Năm 1999, tại lễ trao giải MTV, mẹ của 2 huyền thoại đã qua đời 2Pac và Biggie là bà Afeni Shakur và bà Voletta Wallace đã gặp gỡ, xóa bỏ mâu thuẫn giữa hai rapper khi sinh thời, đồng thời cùng hợp tác điều tra cái chết của 2 rapper.
Vụ án về cái chết của 2Pac và The Notorious B.I.G cho đến nay vẫn chưa có lời giải.
=== Các nghệ sĩ liên quan trong cuộc đối đầu Đông-Tây ===
Các nghệ sĩ miền Đông: The Notorious B.I.G, Junior M.A.F.I.A, Mobb Deep, Nas, Jay-Z, Chino XL, DMX, Masta Ace, Tim Dog, Common, Luke, Capone-N-Noreaga, De La Soul, Black Sheep, Ced-G, Kool Keith.
Các nghệ sĩ miền Tây: 2Pac, Suge Knight(CEO của Death Row), Tha Outlawz, Kurupt, Tha Dogg Pound, Snoop Doggy Dogg, DJ Quik, Compton's Most Wanted, Ice Cube, Westside Connection, Tweedy Bird Loc.
== Nhạc rap tại Việt Nam ==
Xem thêm thông tin: Lịch sử Rap Việt
== Đọc thêm ==
David Toop (1984/1991). Rap Attack II: African Rap To Global Hip Hop. New York. New York: Serpent's Tail. ISBN 1-85242-243-2.
McLeod, Kembrew. Interview with Chuck D và Hank Shocklee. 2002. Stay Free Magazine.
Corvino, Daniel and Livernoche, Shawn (2000). A Brief History of Rhyme and Bass: Growing Up With Hip Hop. Tinicum, PA: Xlibris Corporation/The Lightning Source, Inc. ISBN 1-4010-2851-9
Chang, Jeff. "Can't Stop Won't Stop".
Rose, Tricia (1994). "Black Noise". Middletown, Connecticut: Wesleyan University Press. ISBN 0-8195-6275-0
Potter, Russell (1995) Spectacular Vernaculars: Hip-Hop and the Politics of Postmodernism. Albany: SUNY Press. ISBN 0-7914-2626-2
Light, Alan (ed). (1999). The VIBE History of Hip-Hop. New York: Three Rivers Press. ISBN 0-609-80503-7
George, Nelson (2000, rev. 2005). Hip-Hop America. New York: Penguin Books. ISBN 0-14-028022-7
Fricke, Jim and Ahearn, Charlie (eds). (2002). Yes Yes Y'All: The Experience Music Project Oral History of Hip Hop's First Decade. New York: Da Capo Press. ISBN 0-306-81184-7
Kitwana, Bakar (2004). The State of Hip-Hop Generation: how hip-hop's culture movement is evolving into political power. Truy cập 4 tháng 12 năm 2006. From Ohio Link Database
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Cậu bé 2 tuổi siêu hip hop
Can't Stop, Won't Stop: A History of the Hip-Hop Generation — By Jeff Chang
The Monitor of Hip Hop Culture in Mainstream Media — By DUB
Rap: Striking Tales of Black Frustration and Pride Shake the Pop Mainstream — By Robert Hilburn
Concepts In Hip Hop Music - By HipHopPow
When did Reggae become Rap? by D.George
National Geographic Hip Hop Overview
"In the Heart of Freedom, In Chains": 2007 City Journal article on Hip Hop and Black America
Olivo, W. (tháng 3 năm 2001). “Phat Lines: Spelling Conventions in Rap Music”. Written Language & Literacy 4 (1): 67–85. doi:10.1075/wll.4.1.05oli.
HiphopArchive.prg |
hadena.txt | Hadena là một chi bướm đêm thuộc họ Noctuidae.
== Các loài ==
Hadena aberrans (Eversmann, 1856)
Hadena adriana (Schawerda, 1921)
Hadena afghana (Brandt, 1947)
Hadena alba (Vallantin, 1893)
Hadena albertii Hacker, 1996
Hadena albimacula – White Spot (Borkhausen, 1792)
Hadena amabilis (Barnes & McDunnough, 1918)
Hadena archaica Hacker, 1996
Hadena atlantica (Hampson, 1905)
Hadena aureomixta (Draudt, 1934)
Hadena avempacei (Tams, 1925)
Hadena azorica Meyer & Fibiger, 2002
Hadena bactriana Hacker, 1996
Hadena badakhshana Hacker, 1996
Hadena bicruris – The Lychnis (Hufnagel, 1766)
Hadena caelestis Troubridge & Crabo, 2002
Hadena caesia – The Grey (Denis & Schiffermüller, 1775)
Hadena cailinita (Draudt, 1934)
Hadena canescens (Brandt, 1947)
Hadena cappadocia Hacker, 1987
Hadena capsincola (Denis & Schiffermüller, 1775)
Hadena capsularis (Guenée, 1852)
Hadena cavalla Pinker, 1980
Hadena christophi (Möschler, 1862)
Hadena chrysocyanea Boursin, 1961
Hadena chrysographa Hacker, 1996
Hadena cimelia (Brandt, 1938)
Hadena circumvadis (Smith, 1902)
Hadena clara (Staudinger, 1901)
Hadena compta – Varied Coronet (Denis & Schiffermüller, 1775)
Hadena confucii (Draudt, 1950)
Hadena confusa – Marbled Coronet (Hufnagel, 1766)
Hadena consparcatoides (Schawerda, 1928)
Hadena corrupta (Herz, 1898)
Hadena danilewskyi Hacker, 1996
Hadena defreinai Hacker, Kuhna & Gross, 1986
Hadena dianthoecioides (Boursin, 1940)
Hadena difficilis Hacker, 1996
Hadena draudti (Brandt, 1938)
Hadena drenowskii (Rebel, 1930)
Hadena dsungarica Hacker, 1996
Hadena duercki (Draudt, 1934)
Hadena ectrapela (Smith, 1898) (đồng nghĩa: Hadena jola (Barnes & Benjamin, 1924))
Hadena ectypa (Morrison, 1875)
Hadena elbursica Hacker, 1996
Hadena esopis (Druce, 1889)
Hadena esperi Hacker, 1992
Hadena eximia (Staudinger, 1895)
Hadena femina Hacker, 1996
Hadena fibigeri Hacker, 1996
Hadena filograna (Esper, 1788)
Hadena finitima Hacker, 1996
Hadena gabrieli Troubridge & Crabo, 2002
Hadena gandhara Hacker, 1996
Hadena germaniciae Boursin, 1959
Hadena glaciata (Grote, 1882)
Hadena gueneei (Staudinger, 1901)
Hadena gyulaii Hacker, 1996
Hadena heringi (Draudt, 1934)
Hadena hissarica Hacker, 1996
Hadena hreblayi Hacker, 1996
Hadena humilis (Christoph, 1893)
Hadena hyrcanoides Hacker, 1996
Hadena ignicola (Warren, 1909)
Hadena inexpectata Varga, 1979
Hadena intensa Boursin, 1962
Hadena irregularis – Viper's Bugloss (Hufnagel, 1766)
Hadena karagaia (Bang-Haas, 1912)
Hadena karsholti Hacker, 1996
Hadena klapperichi Boursin, 1960
Hadena kurajica Hacker, 1996
Hadena labecula Zetterstedt, [1839]
Hadena lafontainei Troubridge & Crabo, 2002
Hadena lucida (Brandt, 1938)
Hadena luteocincta (Rambur, 1834)
Hadena lypra (Püngeler, 1904)
Hadena maccabei Troubridge & Crabo, 2002
Hadena macilenta (Brandt, 1947)
Hadena magnifica Hacker, 1996
Hadena magnolii (Boisduval, 1829)
Hadena melanochroa (Staudinger, [1892])
Hadena mesolampra (Brandt, 1938)
Hadena minorata (Smith, 1888)
Hadena miserabilis (Alphéraky, 1892)
Hadena montana (Brandt, 1941)
Hadena musculina (Staudinger, [1892])
Hadena naumanni Hacker, 1996
Hadena nebulosa Hacker, 1996
Hadena neglecta Hacker, 1992
Hadena nekrasovi Hacker, 1996
Hadena nevadae (Draudt, 1933)
Hadena nigricata Pinker, 1969
Hadena niveifera (Hampson, 1906)
Hadena nobilis Hacker, 1996
Hadena nuratina Hacker & Klyuchko, 1996
Hadena orihuela Hacker, 1996
Hadena paropamisos Hacker, 1992
Hadena paulula Troubridge & Crabo, 2002
Hadena perornata (Draudt, 1950)
Hadena perpetua Hacker, 1996
Hadena perplexa – Tawny Shears (Denis & Schiffermüller, 1775)
Hadena persimilis Hacker, 1996
Hadena persparcata (Draudt, 1950)
Hadena pfeifferi (Draudt, 1934)
Hadena cây mậnasata (Buckett & Bauer, 1967)
Hadena praetermissa Hacker, 1996
Hadena pseudoclara Hacker, 1996
Hadena pseudodealbata Hacker, 1988
Hadena pseudohyrcana de Freina & Hacker, 1985
Hadena pumicosa Hacker, 1996
Hadena pumila (Staudinger, 1878)
Hadena purpurea Hacker, 1996
Hadena pygmaea Boursin, 1962
Hadena quotuma Hacker & Gyulai, 1998
Hadena rjabovi (Idrisov, 1961)
Hadena rolleti Lajonquière, 1969
Hadena ronkayorum Hacker, 1996
Hadena ruetimeyeri Boursin, 1951
Hadena salmonea (Draudt, 1934)
Hadena sancta (Staudinger, 1859)
Hadena schwingenschussi (Draudt, 1934)
Hadena scythia Klyuchko & Hacker, 1996
Hadena secreta Hacker, 1996
Hadena silenes (Hübner, [1822])
Hadena silenides (Staudinger, 1895)
Hadena siskiyou Troubridge & Crabo, 2002
Hadena sogdiana Hacker, 1996
Hadena splendida (Draudt, 1950)
Hadena staudingeri (Draudt, 1934)
Hadena strouhali Boursin, 1955
Hadena subhyrcana Hacker, 1996
Hadena syriaca (Osthelder, 1933)
Hadena tephrochrysea (Draudt, 1934)
Hadena tephroleuca (Boisduval, 1833)
Hadena thecaphaga (Draudt, 1937)
Hadena thomasi Hacker, 1996
Hadena tristis (Draudt, 1934)
Hadena variolata (Smith, 1888)
Hadena vartianica Hacker, 1996
Hadena vulcanica (Turati, 1908)
Hadena vulpecula (Brandt, 1938)
Hadena wehrlii (Draudt, 1934)
Hadena weigerti Hacker, 1996
Hadena wiltshirei (Brandt, 1947)
Hadena wolfi Hacker, 1992
Hadena zaprjagaevi Hacker & Nekrasov, 1996
=== Thư viện ảnh ===
== Tham khảo ==
Hadena at funet.fi
Natural History Museum Lepidoptera genus database |
thuế không con.txt | Thuế không con (tiếng Nga: налог на бездетность, nalog na bezdetnost) là một sắc thuế được áp dụng ở Liên Xô từ năm 1941. Chế độ Joseph Stalin đã lập ra thuế này để thúc đẩy người Nga trưởng thành sinh con, nhằm gia tăng dân số Nga và Liên Xô. Thuế suất là 6% đánh vào thu nhập đối với đàn ông từ 25 tới 50 tuổi và phụ nữ kết hôn từ 20 tới 45 tuổi.
Thuế này tồn tại tới khi Liên Xô sụp đổ, tuy nhiên vào thời cuối cùng của Liên Xô thì số tiền bị đánh thuế đã giảm đều đặn. Bộ trưởng Y tế Mikhail Zurabov và Phó chủ tịch Ủy ban bảo vệ sức khỏe của duma Nikolai Gerasimenko đề nghị tái lập thuế này ở Nga năm 2006, nhưng tới nay đề nghị trên chưa được thực hiện.
== Thuế thời Xô Viết ==
Như đã được chấp thuận và thi hành từ năm 1941 tới năm 1990, thuế này đánh trên các đàn ông từ 25 tới 50 tuổi và phụ nữ kết hôn từ 20 tới 45 tuổi mà không có con. Thuế suất là 6% thu nhập, tuy nhiên có một số ngoại lệ: những người có con bị chết trong chiến tranh thế giới thứ hai, các anh hùng, cùng nhiều sinh viên, những người có thu nhập hàng tháng ít hơn 70 rúp Nga và các người - về mặt y học - không đủ khả năng sinh con cũng không phải nộp thuế này. Ngoài ra cũng có rất nhiều người độc thân trốn được thuế này bằng cách xuất trình tài liệu y học giả chứng minh là mình bị vô sinh.
Sau năm 1990, mức thu nhập được miễn thuế tăng lên tới 150 rúp, tức là 150 rúp thu nhập đầu tiên của người không có con, không bị đánh thuế. Năm 1991, thuế này không còn áp dụng cho phụ nữ, và năm 1992 thì thuế này hết hiệu lực, vì Liên Xô sụp đổ.
== Hiệu quả và các đề nghị ==
Dưới thời Liên Xô, nước Nga có tỷ suất sinh cao hơn các năm sau khi Liên Xô sụp đổ, khiến cho một số nhà lãnh đạo Nga đề nghị tái lập sắc thuế đánh trên việc không có con. Theo Bộ Y tế Nga, tỷ suất sinh hiện nay đã giảm từ 2,19% thời Liên Xô, xuống còn 1,17%. Theo Giám đốc Trung tâm Dân số Nga Anatoly Vishnevsky, tỷ suất sinh của Nga vào loại thấp nhất thế giới, và các nhà lãnh đạo Nga đã mô tả vấn đề dân số ở Nga có triệu chứng của một cuộc "khủng hoảng".
Trong khi thuế không con chưa được tái ban hành thì đã có các đề nghị khác. Ví dụ, Vladimir Putin đã đưa ra đề nghị cấp tiền khuyến khích các phụ nữ sẵn lòng sinh con thứ hai.
== Chú thích == |
1756.txt | Năm 1756 (số La Mã: MDCCLVI) là một năm nhuận bắt đầu từ ngày thứ năm trong lịch Gregory (hoặc một năm nhuận bắt đầu từ ngày thứ hai của lịch Julius chậm hơn 11 ngày).
== Sự kiện ==
1 tháng 10 - Chiến tranh Bảy năm: Quân đội Phổ dưới sự thống lĩnh của Friedrich Đại đế đánh bại quân Áo do Maximilian Ulysses chỉ huy trong trận Trận Lobositz.
== Sinh ==
27 tháng 1- Wolfgang Amadeus Mozart nhà soạn nhạc nổi tiếng, quan trọng, và có nhiều ảnh hưởng nhất trong thể loại nhạc cổ điển châu Âu (mất vào năm 1791).
== Mất ==
== Tham khảo == |
7 tháng 5.txt | Ngày 7 tháng 5 là ngày thứ 127 (128 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 238 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
434 – Cựu hoàng Hồ Hạ Hách Liên Xương bị Bắc Ngụy sát hại sau khi ông quay sang chống lại nước này.
1875 – Nga và Nhật Bản ký kết Hiệp ước Sankt-Peterburg, theo đó đảo Sakhalin thuộc về Nga còn quần đảo Kuril thuộc về Nhật Bản.
1915 - Tàu du lịch Lusitania của Anh Quốc bị tàu ngầm Hải quân Đức bắn chìm không cảnh cáo trước tại vùng biển phía nam Ireland, 1.198 người chết - trong đó có 128 người Mỹ
1945 - Đại tướng Đức Alfred Jodl ký kết tại Reims các điều kiện đầu hàng vô điều kiện chấm dứt sự tham gia của Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tài liệu này có hiệu lực vào ngày hôm sau.
1946 – Công ty công nghiệp thông tín Tokyo được thành lập, là tiền thân của Sony.
1954 – Chiến tranh Đông Dương: Chiến dịch Điện Biên Phủ kết thúc với thất bại của Pháp trước Việt Nam.
1955 - Hải quân Nhân dân Việt Nam được thành lập
1998 - Mercedes-Benz mua Chrysler với giá 40 tỷ đô la trở thành DaimlerChrysler là vụ sát nhập lớn nhất trong lịch sử ngành công nghiệp
1999 – Chiến tranh Kosovo: Máy bay Hoa Kỳ oanh tạc đại sứ quán Trung Quốc tại Beograd, Serbia khiến ba người thiệt mạng và 20 người bị thương.
2000 – Vladimir Putin nhậm chức Tổng thống Liên bang Nga.
== Sinh ==
1832 - Nguyễn Quang Bích, quan triều Nguyễn
1840 - Pyotr Ilyich Tchaikovsky, nhà soạn nhạc nổi tiếng Nga
1909 - Phạm Ngọc Thạch, bác sĩ y khoa, nhà hoạt động cách mạng
1997- Faker, game thủ liên minh huyền thoại
== Mất ==
973 - Otto I, Hoàng đế La Mã thần thánh (s. 912)
1982 - Tôn Thất Tùng, bác sĩ y khoa
== Ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
viêm.txt | Viêm là một đáp ứng bảo vệ cơ thể của hệ miễn dịch trước sự tấn công của một tác nhân bên ngoài (vi sinh vật, tác nhân hóa, lý) hoặc của tác nhân bên trong (hoại tử do thiếu máu cục bộ, bệnh tự miễn). Đây là một đáp ứng miễn dịch tự nhiên. Quá trình viêm thường kèm theo các triệu chứng sưng, nóng, đỏ và đau, do các mạch máu giãn nở, đưa nhiều máu đến nơi tổn thương. Các bạch cầu cũng theo mạch máu xâm nhập vào mô, tiết các chất prostaglandin, cytokine nhằm tiêu diệt hoặc trung hòa các tác nhân gây tổn thương. Khi viêm không lành sẽ có thể trở thành viêm mạn tính. Nghiên cứu cho thấy mối liên hệ giữa sự viêm mạn tính và nguy cơ ung thư thông qua yếu tố NF-kB.
== Khái niệm ==
Viêm là kết quả có tính quy luật của các tác nhân gây viêm xuất hiện trong cơ thể, là quá trình phức hợp giữa điều hòa và phản ứng. Quá trình này xảy ra ở bộ máy liên kết và vi mạch, gây ra những rối loạn chủ yếu về hóa tổ chức và tính thấm thành mạch, dẫn đến các hiện tượng thoát huyết tương, xuyên bạch cầu, tăng sinh tế bào tại ổ viêm và hiện tượng thực bào, gây ra 4 triệu chứng điển hình là sưng, nóng, đỏ và đau với các đặc điểm sau:
Phản ứng viêm chỉ xảy ra ở các động vật có hệ thần kinh phát triển.
Biểu hiện viêm thường chỉ thấy ở tại chỗ nơi tác nhân gây viêm xâm nhập, nhưng đó là một phản ứng toàn thân bao gồm 2 mặt đối lập: quá trình bệnh lý phá hủy và quá trình bảo vệ phát triển.
Mặc dù nguyên nhân gây viêm rất khác nhau, nhưng tổn thương viêm lại gây ra cùng một kiểu phản ứng và có thể bị ức chế bởi cùng những tác nhân dược lý.
Tuy nhiên, các triệu chứng trên không phải bao giờ cũng thể hiện đầy đủ, các nhà giải phẫu bệnh học còn miêu tả khái niệm "viêm lạnh", thí dụ trong một số tổn thương do lao.
Những thay đổi về hình thái và sinh hóa gặp trong quá trình viêm diễn biến theo quy luật. Mặc dù mức độ và thời gian của các giai đoạn viêm có thể thay đổi, nhưng quá trình viêm thường diễn biến qua 3 giai đoạn: giai đoạn tổn thương tổ chức, giai đoạn rối loạn vận mạch và thoát dịch rỉ viêm, giai đoạn tăng sinh tổ chức để hàn gắn tổn thương.
== Nguyên nhân gây viêm ==
=== Nguyên nhân ngoại sinh ===
Do vi sinh vật: vi khuẩn, virus, một số loại nấm, các vi sinh vật đơn bào, ký sinh trùng và côn trùng.
Các yếu tố hóa học: do hóa chất (acid, baze...), do thuốc...
Các yếu tố cơ học: chấn thương, áp lực, ma sát, dị vật...
Các yếu tố vật lý: nhiệt (nóng, lạnh), tia phóng xạ, bức xạ...
=== Nguyên nhân nội sinh ===
Sản phẩm chuyển hóa: như ure máu tăng gây viêm màng phổi, màng tim; acid uric máu tăng gây viêm khớp trong bệnh Goutte.
Hoại tử kín gây viêm vô trùng, như hoại tử chỏm xương đùi.
Phản ứng tự miễn: như bệnh thấp khớp, viêm cầu thận.
Viêm xung quanh tổ chức ung thư...
== Sinh lý bệnh ==
=== Giai đoạn rối loạn chuyển hóa và tổn thương tổ chức ===
==== Tác động của các tác nhân gây viêm ====
Các tác nhân gây viêm tác động lên cơ quan và mô gây ra 2 hậu quả chủ yếu là:
Gây tổn thương tế bào mô làm giải phóng ra các chất trung gian hóa học như histamin, PG... gọi là các mediator viêm (chất môi giới).
Gây rối loạn tuần hoàn và chuyển hóa tại ra các sản phẩm chuyển hóa trung gian. Chính các sản phẩm này lại đóng vai trò như các mediator viêm mới, gây ra những tổn thương tổ chức, rối loạn tuần hoàn và chuyển hóa tiếp theo.
==== Các mediator (chất môi giới) ====
Bao gồm:
Các acid amin: như histamin, serotonin gây ra phản ứng dị ứng.
Các dẫn xuất của acid béo: gồm các prostaglandin (PG) là các mediator quan trọng nhất gây ra phản ứng viêm.
Các men lysosom: collagenase, elastase, hyaluronidase, chymotrysinase...
Các lymphokin: yếu tố ức chế di tản đại thực bào (MIF), yếu tố hóa ứng động...
Các kinin: bradykinin, kalidin... có nguồn gốc từ các protit huyết tương.
=== Giai đoạn rối loạn tuần hoàn và thoát dịch rỉ viêm ===
==== Tác động của các mediator viêm ====
Trước tiên là phản ứng gây co các tiểu động mạch tuy nhiên phản ứng này ít có giá trị về lâm sàng,thấy rõ trên các invitro gây viêm thực nghiệm.phản ứng có giá trị sinh học vì là tiền đề cho hàng loait các phản ứng tiếp theo
Gây giãn mạch tại chỗ, làm tăng cường tuần hoàn đến chỗ viêm tạo thuận lợi cho bạch cầu xuyên mạch và tăng thoát dịch từ lòng mạch vào tổ chức kẽ để hòa loãng các tác nhân gây viêm. Hiện tượng giãn mạch làm vùng viêm đỏ, thoát dịch viêm gây phù nề sưng tấy tại chỗ.
Thu hút các bạch cầu đến chỗ viêm gọi là tác dụng hóa ứng động bạch cầu, đây là tác dụng có lợi để tăng cường quá trình chống viêm, loại trừ các tác nhân gây viêm và hồi phục tổn thương viêm. Các mediator còn có tác dụng kích thích bạch cầu thực bào và kích thích quá trình di chuyển, xâm nhập của bạch cầu vào tổ chức viêm.
Làm tăng quá trình chuyển hóa tại chỗ, do đó làm tăng nhiệt độ tại ổ viêm làm cho ổ viêm nóng hơn các vùng khác. Nhiệt độ tại ổ viêm tăng làm tăng hiện tượng giãn mạch, tăng khả năng di chuyển và thực bào của bạch cầu. Các mediator là các chí nhiệt tố, chúng vào máu và tác động lên trung khu điều nhiệt ở vùng dưới đồi gây phản ứng sốt toàn thân.
Gây đau: do kích thích các tận cùng thần kinh như các PG, kinin. Ngoài ra đau còn do dịch phù viêm gây sưng và chèn ép vào các tận cùng thần kinh. Đau có tác dụng thông báo cho thần kinh trung ương biết đang có tổn thương tại chỗ viêm.
Gây tổn thương tổ chức tế bào, dẫn đến hoại tử tổ chức do tác dụng của các mediator có tính chất men, làm ổ viêm lan rộng.
Thành phần của dịch rỉ viêm bao gồm huyết tương và các tế bào viêm, các tế bào hoại tử, và các tác nhân gây viêm. Dịch rỉ viêm còn có cả fibrinogen, khi ra khỏi lòng mạch, fibrinogen sẽ chuyển thành fibrin và tạo thành một hàng rào bao quanh ổ viêm có tác dụng ngăn cản sự phát triển của ổ viêm.
Trong giai đoạn này xảy ra hiện tượng xuyên mạch và thực bào của bạch cầu: các bạch cầu sẽ di chuyển theo kiểu amib chui qua thành mạch và tổ chức để đến ổ viêm do ảnh hưởng của các chất hóa ứng động như leucotaxin, necroxin).
==== Các bạch cầu xuyên mạch gồm ====
Đại thực bào (Mastocyt - MΦ): thực bào các mảnh chết của tổ chức sau đó trở thành tế bào cố định của tổ chức.
Bạch cầu đa nhân trung tính (Neutrophil - N): thực bào các dị vật nhỏ như vi khuẩn, hồng cầu, khi ăn xong thì chết giải phóng ra các mediator viêm và trở thành tế bào viêm.
Bạch cầu ái toan (Eozinophil - E): thực bào dị vật nhỏ, thường xuất hiện ở ổ viêm dị ứng.
Bạch lympho (Lymphocyt - L): thường ở các ổ viêm mạn tính, không làm nhiệm vụ thực bào mà có chức năng tạo ra kháng thể và tạo ra một hàng rào bao quanh ổ viêm, ngăn chặn sự lan tràn của ổ viêm.
==== Vai trò của các tế bào khác trong giai đoạn này ====
Tế bào nội mạc
Các tế bào nội mạc có 4 tính chất chính:
Điều hòa trương lực mạch máu qua cơ chế co mạch và giãn mạch.
Bình thường, nội mạc có tính kháng đông, nhưng trong phản ứng viêm, nội mạc tại chỗ có thể trở nên thuận lợi cho sự đông máu.
Biểu hiện các phân tử kết dính giúp cho các bạch cầu và tiểu cầu xuyên mạch.
Sản xuất một số cytokine làm tăng cường độ của phản ứng viêm.
Tế bào tạo sợi
Các tế bào tạo sợi (fibroblast) sản xuất các sợi tạo keo (collagen) có vai trò trong giai đoạn tạo sẹo, phục hồi.
Tiểu cầu
Các tiểu cầu có chức năng chính là khởi phát quá trình đông máu, tạo sẹo và điều hòa phản ứng viêm nhờ các chất trung gian có sẵn, kể cả TGFβ (Transforming Growth Factor β).
=== Giai đoạn tăng sinh và liền sẹo ===
Các tác nhân gây viêm và các mediator giảm, rối loạn tuần hoàn và chuyển hóa giảm. Một số sản phẩm viêm có tác dụng kích thích phân bào làm tăng sinh tế bào ở khu vực viêm, tăng sinh tổ chức liên kết, tăng sinh các mao mạch và tổ chức hạt. Tổ chức hoại tử ở giai đoạn trước được thay thế bởi một tổ chức mới được hình thành.
Trên đây là 3 giai đoạn của một phản ứng viêm điển hình xảy ra tuần tự nhưng đan xen vào nhau. Tuy vậy, thực tế từ loại phản ứng viêm mà có giai đoạn trội, có giai đoạn biểu hiện rõ rệt:
Viêm cấp tính: giai đoạn 1 và 2 phát triển mạnh, gây viêm xuất tiết.
Viêm mạn tính: giai đoạn 3 phát triển mạnh, gây viêm phì đại.
== Xem thêm ==
Đau
Prostaglandin
== Tham khảo ==
Trường đại học y Hà nội - Sinh lý bệnh học - Nhà xuất bản Y học, Hà nội, 2000.
== Liên kết ngoài ==
At the Crossroads of Inflammation and Cancer Hans Clevers, Cell 118 |
vườn quốc gia yellowstone.txt | Vườn quốc gia Yellowstone là một vườn quốc gia Hoa Kỳ nằm ở các bang phía tây Wyoming, Montana và Idaho của Hoa Kỳ được thành lập ngày 01 tháng 3 năm 1872,. Yellowstone là vườn quốc gia đầu tiên và xưa nhất thế giới, phần lớn ở góc phía đông của Wyoming. Yellowstone nổi tiếng với các loài động vật hoang dã và các điểm địa nhiệt, đặc biệt là mạch nước phun Old Faithful. Ở đây có một số kiểu hệ sinh thái, như kiểu rừng cận núi cao là chủ yếu.
Người Mỹ bản địa đã sống ở vùng Yellowstone ít nhất là 11,000 năm. Khu vực này nằm trên đường đi trong cuộc thám hiểm của Lewis và Clark vào đầu thập niên 1800. Bên cạnh việc tham quan của mountain men trong nửa đầu thập niên 1800, các cuộc thám hiểm có tổ chức chỉ bắt đầu từ cuối thập niên 1860. Quân đội Hoa Kỳ đã được ủy nhiệm để giám sát khu này sau khi nó được thành lập. Năm 1917, quyền quản lý vườn quốc gia được giao cho National Park Service, một cơ quan được thành lập vài năm trước đó. Hàng trăm công trình đã được xây dựng và được bảo vệ về các yếu tố lịch sử và kiến trúc, và các nhà nghiên cứu đã kiểm tra, đánh giá hơn 1.000 điểm khảo cổ.
Vường quốc gia Yellowstone có diện tích 8.980 km², bao gồm các hồ, vực, sông và các dãi núi. Hồ Yellowstone là một trong những hồ nằm ở độ cao lớn nhất Bắc Mỹ và năm ở trung tâm của lòng chảo Yellowstone, một siêu núi lửa lớn nhất trên lục địa, rộng 3825 km vuông và sâu 8 km. Lòng chảo là một núi lửa đang hoạt động; nó đã phun nhiều lần với sức mạnh rất lớn trong 2 triệu năm gần đây. Phân nửa các điểm địa nhiệt trên thế giới là nằm ở Yellowstone. Các dòng dung nham và đá núi lửa phủ hầu hết các vùng đất của Yellowstone. Vườn quốc gia là vùng lõi của hệ sinh thái Greater Yellowstone, hệ sinh thái hầu như còn nguyên vẹn lớn nhất thuộc vùng ôn đới bắc Bán cầu.
Hàng trăm loài động vật có vú, chim, cá và rùa đã được ghi nhận bao gồm một số loài có nguy cơ tuyệt chủng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng. Các mảng rừng và đồng cỏ lớn cũng có chỉ bao gồm các loài thực vật duy nhất. Có các loài gấu, sói xám, và các bầy bò rừng bizon và nai sừng tấm sống khu vườn này. Các trận cháy rừng xảy ra trong công viên mỗi năm; trong trận cháy rừng năm 1988, gần một phần ba công viên bị đốt cháy. Yellowstone có nhiều điểm vui chơi giải trí như đi bộ đường dài, cắm trại, chèo thuyền, câu cá và ngắm cảnh. Các đường bê tông được xây dựng đến các khu vực địa nhiệt chính cũng như các hồ và thác. Vào mùa đông, du khách thường đến công viên theo các tour du lịch có người hướng dẫn sử dụng các xe trượt tuyết.
== Địa lý ==
Khoảng 96% diện tích đất dai của vườn quốc gia Yellowstone nằm trong tiểu bang Wyoming. Khoảng 3% thuộc lãnh thổ bang Montana và khoảng 1% còn lại thuộc bang Idaho. Vườn quốc gia này dài khoảng 102 km (63 dặm Anh) theo chiều bắc-nam và 87 km (54 dặm Anh) theo chiều đông-tây. Với diện tích 898.317 ha (2.219.789 mẫu Anh), Yellowstone lớn hơn cả cả hai bang là đảo Rhode và Delaware cộng lại. Sông và hồ chiếm 5% diện tích đất, với khu vực chứa nước lớn nhất là hồ Yellowstone có diện tích 35.220 ha (87.040 mẫu Anh). Hồ Yellowstone sâu tới 122 m (400 ft) và có 177 km (110 dặm Anh) đường bờ hồ. Nằm ở cao độ 2.357 m (7.733 ft) trên mực nước biển, hồ Yellowstone là hồ nằm ở độ cao lớn nhất tại Bắc Mỹ. Rừng chiếm 80% diện tích đất đai của vườn, phần lớn diện tích còn lại là đồng cỏ
Đường phân chia lục địa của Bắc Mỹ chạy chéo qua phần tây nam của vườn. Đường phân chia này là một đặc trưng địa hình chia tách các lưu vực chia nước của Thái Bình Dương và Đại Tây Dương. Khoảng một phần ba vườn nằm ở phía tây của đường phân chia này. Nơi phát sinh của các sông Yellowstone và sông Snake là gần nhau nhưng trên hai mặt đối diện nhau của đường phân chia này. Kết quả là nước của sông Snake chảy tới Thái Bình Dương trong khi nước của sông Yellowstone lại chảy tới Đại Tây Dương thông qua vịnh Mexico.
Vườn nằm trên cao nguyên Yellowstone, với độ cao trung bình là 2.400 m (8.000 ft) trên mực nước biển. Cao nguyên này có ranh giới ở gần như mọi mặt là các dãy núi của dãy núi Trung Rocky, với độ cao từ 2.743 tới 3.352 m (9.000-11.000 ft). Điểm cao nhất trong vườn là đỉnh Eagle cao 3.462 m (11.358 ft) và điểm thấp nhất là dọc theo lạch Reese (1.610 m hay 5.282 ft). Các dãy núi cận kề như dãy núi Gallatin ở phía tây bắc, dãy núi Beartooth ở phía bắc, dãy núi Absaroka ở phía đông và dãy núi Teton cùng dãy núi Madison ở phía tây nam và tây. Đỉnh núi nổi bật nhất trên cao nguyên Yellowstone là đỉnh Washburn cao 3.122 m (10.243 ft).
Vườn quốc gia Yellowstone có một trong những rừng hóa đá lớn nhất trên thế giới, với các cây gỗ bị vùi lấp từ rất lâu bởi tro bụi và đất, bị chuyển hóa từ gỗ thành các vật liệu khoáng hóa. Tại đây có 290 thác nước cao ít nhất 4,5 m (15 ft), với thác nước cao nhất là thác hạ lưu sông Yellowstone cao 94 m (308 ft).
Hai hẻm núi sâu nằm trong vườn quốc gia, cắt ngang qua đá túp núi lửa của cao nguyên Yellowstone bằng các con sông ít nhất là trên 640.000 năm. Sông Lewis chảy qua hẻm núi Lewis ở phía nam còn sông Yellowstone chảy qua Grand Canyon của Yellowstone trong hành trình của nó ở phía bắc.
== Địa chất ==
Yellowstone là nơi kết thúc phía đông bắc của bình nguyên sông Snake, một vòng cung lớn hình chữ U qua các dãy núi trải rộng từ Boise, Idaho khoảng 640 km (400 dặm Anh) về phía tây. Đặc trưng này đi theo hành trình của mảng Bắc Mỹ trong suốt 17 triệu năm gần đây do nó bị chuyển vận bởi kiến tạo địa tầng ngang qua điểm nóng lớp phủ tĩnh. Cảnh quan của Vườn quốc gia Yellowstone ngày nay là biểu lộ gần đây nhất của điểm nóng này phía dưới lớp vỏ Trái Đất.
Hõm chảo Yellowstone là hệ thống núi lửa lớn nhất tại Bắc Mỹ. Nó được gọi là "siêu núi lửa" do hõm chảo được hình thành từ các vụ phun trào nổ cực lớn. Hõm chảo hiện tại được tạo ra từ vụ phun trào biến cố địa chất diễn ra khoảng 640.000 năm trước, trong đó giải phóng 1.000 km³ (240 dặm khối Anh) tro, đá và các vật liệu đá mảnh nhiệt. Vụ phun trào này mãnh liệt hơn phun trào núi St. Helens 1980 tới 1.000 lần. Nó tạo ra một miệng núi lửa sâu tới 1 km (0,62 dặm Anh) và kích thước 85 x 45 km (52 x 28 dặm Anh) và ngưng đọng thành Lava Creek Tuff, một thành hệ địa chất đá túp cố kết. Vụ phun trào mãnh liệt nhất đã biết, diễn ra khoảng 2,1 triệu năm trước, phun ra 2.450 km³ (588 dặm khối Anh) vật liệu tro núi lửa và tạo thành thành hệ đá gọi là Huckleberry Ridge Tuff và tạo ra hõm chảo Island Park. Vụ phun trào nhỏ hơn phóng ra 280 km³ (67 dặm khối Anh) vật liệu khoảng 1,2 triệu năm trước, tạo thành hõm chảo Fork Henry và ngưng đọng thành Mesa Falls Tuff.
Cả ba vụ phun trào cao đỉnh này đã giải phóng một lượng lớn tro và che phủ phần lớn miền trung Bắc Mỹ, với tro bụi rơi xuống cách xa đó hàng trăm dặm. Lượng tro bụi và khí giải phóng vào khí quyển có lẽ đã gây ra những tác động đáng kể tới các kiểu mẫu thời tiết thế giới và dẫn tới sự tuyệt chủng của nhiều loài, chủ yếu tại Bắc Mỹ.
Vụ phun trào cao đỉnh nhỏ hơn sau đó diễn ra khoảng 160.000 năm trước. Nó tạo thành một hõm chảo tương đối nhỏ, chứa West Thumb của hồ Yellowstone. Muộn hơn, hai chu kỳ phun trào nhỏ hơn, với vụ cuối cùng diễn ra khoảng 70.000 năm trước đã vùi lấp phần lớn hõm chảo dưới lớp dung nham dày.
Mỗi vụ phun trào trên thực tế là một phần của chu kỳ phun trào có cao đỉnh với sự sụp đổ của mái của khoang macma bị rút cạn một phần. Nó tạo ra miệng núi lửa, gọi là hõm chảo và giải phóng một lượng rất lớn vật liệu núi lửa, thường là thông qua những khe nứt bao quanh hõm chảo. THời gian giữa ba vụ phun trào biến cố địa chất gần đây nhất trong khu vực Yellowstone dao động trong khoảng 600.000 tới 900.000 năm, nhưng số lượng nhỏ như vậy của các vụ phun trào cao đỉnh không thể sử dụng để dự đoán các sự kiện núi lửa trong tương lai.
Khoảng 630.000 tới 700.000 năm trước, hõm chảo Yellowstone đã gần như được nhồi đầy với các vụ phun trào có chu kỳ của các dung nham rhyolit như có thể thấy tại Obsidian Cliff, và các dung nham bazan như có thể thấy tại Sheepeater Cliff. Các địa tầng dung nham dễ dàng nhìn thấy nhất tại hẻm núi lớn (Grand Canyon) của Yellowstone, nơi sông Yellowstone vẫn đang tiếp tục đục vào trong các lớp dung nham cổ đại. Hẻm núi này là thung lũng chữ V kinh điển, chỉ ra rằng ở đây có sự xói mòn kiểu sông chứ không phải sự xói mòn kiểu sông băng.
Mạch nước phun nổi tiếng nhẩt trong vườn, và có lẽ của thế giới, là mạch nước phun Old Faithful, nằm tại Bồn địa Upper Geyser. Mạch nước phun Castle, mạch nước phun Lion và mạch nước phun Beehive nằm trong cùng một bồn địa. Vườn quốc gia chứa mạch nước phun hoạt động lớn nhất thế giới—Mạch nước phun Steamboat tại bồn địa Norris Geyser. Có khoảng 300 mạch nước phun tại Yellowstone và tổng cộng ít nhất 10.000 điểm đặc trưng địa nhiệt. Một nửa điểm đặc trưng địa nhiệt và hai phần ba mạch nước phun của thế giới tập trung tại Yellowstone.
Tháng 5 năm 2001, Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ, Vườn quốc gia Yellowstone và Đại học Utah đã lập ra Đài quan sát núi lửa Yellowstone (YVO), một cơ quan để giám sát dài hạn các tiến trình địa chất của dải núi lửa trên cao nguyên Yellowstone, để phổ biến các thông tin liên quan tới các nguy hiểm rủi ro tiềm năng của khu vực có hoạt động địa chất mạnh này.
Năm 2003, các thay đổi trong bồn địa Norris Geyser đã làm người ta phải tạm thời đóng cửa một vài đường đi trong bồn địa. Các lỗ phun khí mới được ghi nhận và một vài mạch nước phun thể hiện sự gia tăng trong hoạt động với nhiệt độ nước tăng cao. Một vài mạch nước phun trở nên quá nóng đến mức chúng chuyển thành dạng chỉ phun hơi nước nóng do nước bị quá nhiệt và chúng không thể phun trào bình thường được nữa. Điều này trùng khớp với báo cáo của dự án nghiên cứu lâu năm của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ, trong đó người ta lập bản đồ đáy hồ Yellowstone và nhận dạng mái vòm cấu trúc đã bị đội lên trong quá khứ. Nghiên cứu chỉ ra rằng những phần đội lên này không gây ra mối đe dọa ngay lập tức về phun trào núi lửa, do chúng có thể đã phát triển rất lâu từ trước đó và không thấy có sự gia tăng nhiệt độ gần với các chỗ đội lên. Ngày 10 tháng 3 năm 2004, một nhà sinh học phát hiện 5 con bò rừng bizon bị chết dường như do bị hít phải khí địa nhiệt độc hại bị sót lại trong bồn địa Norris Geyser bởi sự đảo ngược khí quyển theo mùa. Nó gần trùng khớp với sự bột phát hoạt động địa chấn trong tháng 4 năm 2004. Năm 2006, người ta thông báo rằng các khu vực mái vòm hồ Mallard và mái vòm lạch Sour— những khu vực người ta đã biết từ lâu là có các thay đổi đáng kể trong chuyển động trong lòng đất của chúng— đã trồi lên với tốc độ khoảng 4 tới 6 cm (1,5 tới 2,4 inch) mỗi năm từ giữa năm 2004 cho tới năm 2006. Vào cuối năm 2007, sự trồi lên này vẫn tiếp tục với tốc độ đã giảm. Các sự kiện này đã gây sự chú ý lớn từ các phương tiện thông tin đại chúng cũng như những đồn đoán về tương lai địa chất của khu vực. Các chuyên gia đã bác bỏ những đồn đoán bằng cách thông báo rằng không có rủi ro tăng cao về phun trào núi lửa trong tương lai gần.
Yellowstone trải qua hàng nghìn trận động đất nhỏ mỗi năm, dường như tất cả đều khó ghi nhận đối với con người. Tại đây có ít nhất 6 trận động đất với cường độ lớn hơn 6 hay lớn hơn trong quá khứ, bao gồm cả trận động đất cường độ 7,3-7,5 diễn ra với chấn tâm ngay bên ngoài ranh giới phía tây bắc vườn quốc gia vào ngày 17 tháng 8 năm 1959. Trận động đất này đã gây ra một trận lở đất lớn, gây ra sự sập đổ ngăn chặn một phần hồ Hebgen ngay phía dưới dòng chảy của đập Hebgen, trầm tích từ vụ lở đất đã chặn sông Madison và tạo ra một hồ mới phía trên đập, gọi là hồ Earthquake. Hai mưới tám người đã chết và các tổn thất về tài sản trong khu vực cận kề là rất lớn. Trận động đất đã làm cho một số mạch nước phun ở phía tây bắc vườn quốc gia phải phun trào, các vết nứt lớn trong lòng đất được hình thành và thoát hơi nước nóng, còn một số suối nước nóng thông thường có nước trong đã trở thành vẩn đục. Một trận động đất cường độ 6,1 đã xảy ra trong vườn quốc gia vào ngày 3 tháng 6 năm 1975, nhưng tổn thất là không đáng kể. Trong ba tháng của năm 1985, khoảng 3.000 trận động đất nhỏ đã được máy móc ghi nhận tại phía tây bắc vườn quốc gia, làm hõm chảo Yellowstone lún xuống một chút. Bắt đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 2007, khoảng 16 trận động đất nhỏ có cường độ lên tới 2,7 đã diễn ra tại hõm chảo Yellowstone trong vài ngày. Những tập hợp nhiều trận động đất như vậy là phổ biến và từng có 70 tập hợp động đất như thế trong giai đoạn từ năm 1983 tới năm 2008. Tháng 12 năm 2008, trên 250 trận động đất được ghi nhận trong vòng 4 ngày phía dưới hồ Yellowstone, trận mạnh nhất có cường độ 3,9. Hoạt động địa chấn trong vườn quốc gia Yellowstone là liên tục và được Chương trình nguy hiểm động đất của Cục Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ ghi nhận, báo cáo mỗi giờ.
== Sinh học và sinh thái ==
Vườn quốc gia Yellowstone là trung tâm của 8.093.712 ha đất đai thuộc Hệ sinh thái Đại Yellowstone, một khu vực bao gồm cả Vườn quốc gia Grand Teton, rừng quốc gia Hoa Kỳ cận kề và các khu vực hoang vu rộng lớn trong các khu rừng này. Hệ sinh thái này là dải kéo dài liên tiếp còn sót lại lớn nhất của vùng đất cổ xưa chưa phát triển tại Hoa Kỳ ngoài Alaska và được coi là hệ sinh thái còn nguyên vẹn lớn nhất thế giới tại khu vực ôn đới Bắc bán cầu (mặc dù khu vực này chủ yếu không phải là ôn đới mà là cận núi cao và toàn bộ vùng đất thuộc rừng quốc gia Hoa Kỳ bao quanh vườn quốc gia này không còn nguyên vẹn). Với sự thành công của chương trình tái du nhập chó sói bắt đầu từ thập niên 1990, dường như mọi loài động vật từng sinh sống trong khu vực này khi người da trắng lần đầu tiên đặt chân tới đây đều có thể lại được tìm thấy.
=== Quần thực vật ===
1.700 loài cây gỗ và các dạng thực vật có mạch khác là bản địa của vườn quốc gia. Khoảng 170 loài khác là loài xâm lấn không bản địa. Trong số 8 loài cây lá kim đã lập hồ sơ, các rừng thông Lodgepole che phủ 80% tổng số diện tích rừng. Các loài cây lá kim khác, như linh sam cận núi cao, vân sam Engelmann, linh sam Douglas núi Rocky và thông vỏ trắng, được tìm thấy như là các lùm cay thưa thớt trong suốt cả vườn quốc gia. Vào năm 2007, thông vỏ trắng bị nấm gỉ sắt thông vỏ trắng đe dọa; tuy nhiên, nó chủ yếu diễn ra tại các khu rừng phía bắc và tây. Tại Yellowstone, khoảng 7% thông vỏ trắng bị nấm này gây hại, trong khi tại tây bắc Montana thì gần như toàn bộ thông vỏ trắng đều bị nấm gây hại. Dương rung và liễu là các loài cây lá sớm rụng phổ biến nhất tại đây. Các rừng dương rung đã suy giảm đáng kể từ đầu thế kỷ 20, nhưng các nhà khoa học tại Đại học bang Oregon đã góp phần vào việc phục hồi dương rung bằng cách đưa chó sói trở lại đây để làm thay đổi thói quen gặm lá của nai sừng tấm bản địa.
Tại đây có vài chục loài thực vật có hoa đã được nhận dạng, phần lớn ra hoa trong khoảng tháng 5 tới tháng 9. Cỏ roi ngựa cát Yellowstone là loài hiếm chỉ tìm thấy tại Yellowstone. Nó có quan hệ họ hàng gần với các loài sinh sống trong khu vực có khí hậu nóng hơn, làm cho nó trở thành kỳ dị tại đây. Khoảng 8.000 cụm loài hoa hiếm này sống tren các vùng đất cát ven bờ hồ Yellowstone, ngay phía trên mực nước.
=== Quần động vật ===
Tại Yellowstone có khoảng 60 loài động vật có vú, bao gồm cả loài nguy cấp là sói xám, các loài bị đe dọa như linh miêu và gấu xám Bắc Mỹ. Các loài thú lớn khác còn có bò rừng bizon, gấu đen, nai sừng tấm, nai anxet, hươu đuôi đen, dê núi, linh dương sừng tỏa, cừu sừng to và báo sư tử.
Bắt đầu từ năm 1914, trong cố gắng nhằm bảo vệ quần thể nai sừng tấm, Quốc hội Hoa Kỳ đã cho lập quỹ để sử dụng vào mục đích "tiêu diệt chó sói, chó đồng cỏ và các động vật khác gây tổn hại cho nông nghiệp và gia súc" trên các vùng đất công. Các thợ săn của Vườn quốc gia đã thực hiện nhiệm vụ này và vào năm 1926 họ đã bắn giết 136 chó sói và dường như chó sói đã biến mất khỏi Yellowstone. Sự tiêu diệt còn tiếp diễn tới năm 1935 khi Cục Vườn quốc gia chấm dứt hoạt động này. Với sự thông qua của Luật về loài nguy cấp năm 1973 thì chó sói là một trong số những loài động vật có vú được liệt kê đầu tiên. Sau khi chó sói bị tiêu diệt khỏi Yellowstone thì chó sói đồng cỏ trở thành động vật ăn thịt hàng đầu. Tuy nhiên, do nó không thể hạ được những con thú lớn nên quần thú lớn trở nên què quặt và bệnh hoạn.
Vào thập niên 1990, Chính phủ liên bang đã thay đổi quan điểm về sói. Trong một quyết định gây mâu thuẫn của Cục Cá và Động vật hoang dã Hoa Kỳ, 66 con sói thung lũng Mackenzie, được nhập khẩu từ Canada, đã được du nhập vào vườn quốc gia này. Các cố gắng tái du nhập đã thành công với quần thể tương đối ổn định. Một khảo sát tiến hành năm 2005 thông báo họ phát hiện 13 bầy sói, tổng cộng 118 con tại Yellowstone và 326 trong toàn bộ hệ sinh thái.
Một vấn đề nhức nhối khác là có rất nhiều du khách đi tham quan trong vườn quốc gia Yellowstone đã bị gấu xám Bắc Mỹ tấn công. Nạn nhân bị gấu tấn công thường là khách đi bộ đường dài và gặp phải chúng trên đường. Đã có rất nhiều người bị gấu tấn công đến tử vong. Do gấu xám ở đây rất hung dữ nên vì thế vườn quốc gia phải nghiêm cấm du khách không được tiếp cận gấu, không được cho gấu ăn, khi đi bộ đường dài không được đi một mình, khi gặp gấu không được bỏ chạy và phải mang bình xịt gấu khi đi bộ trong rừng.
== Ghi chú == |
người ainu.txt | Người Ainu (アイヌ) (hay còn được gọi là Ezo trong các tài liệu lịch sử) là một tộc người thiểu số ở Nhật Bản, người bản xứ ở khu vực Hokkaidō, quần đảo Kuril và phần lớn Sakhalin.
Phần lớn những người được xác nhận là người Ainu đều vẫn sống tại các khu vực này, mặc dù vậy số lượng chính xác của những người Ainu còn sống thì không xác định rõ. Điều này là do những vấn đề phân biệt chủng tộc ở Nhật Bản đã dẫn tới việc những người có nguồn gốc Ainu che giấu thân phận của họ và bị nhầm lẫn do hiện có nhiều người Ainu lai với người Nhật Bản. Con số ước lượng còn khoảng 25,000, trong khi đó con số không chính thức có thể lên tới 200,000 người.
== Lịch sử ==
Văn hóa Ainu bắt đầu vào khoảng năm 1200 sau công nguyên , những nghiên cứu gần đây cho rằng nó bắt nguồn từ sự nổi lên giữa nền văn hóa Okhotsk và Satsumon . Những liên hệ đầu tiên giữa người Wajin (người Nhật Bản) và người Ainu của Ezochi (giờ gọi là Hokkaido) bắt đầu từ thế kỷ 13 . Ainu là một xã hội sống bằng nghề săn bắn, những người chỉ sống phần lớn bằng nghề đánh bắt cá hoặc trồng cây và mọi người theo một đạo giáo nào đó dựa trên những hiện tượng tự nhiên . Văn hóa Ainu đã tồn tại như vậy cho tới thế kỷ 19, với sự liên hệ hạn chế với người Wajin.
Bước ngoặt cho văn hóa Ainu xảy ra vào đầu thời kỳ đầu của cuộc cải cách Minh Trị năm 1868. Đó là khi chính phủ Nhật Bản thực hiện những cải cách về văn hóa, chính trị, kinh tế với hy vọng hiện đại hóa đất nước theo kiểu phương Tây, điều này dẫn đến việc Hokkaido bị thuộc địa hóa. Sau những liên hệ đầu tiên với những người nhập cư, một lượng lớn người Nhật Bản đã dần chuyển tới định cư tại lãnh thổ của người Ainu. Việc này đã lập tức gặp phải sự phản kháng - điển hình nhất là cuộc nổi dậy Shakushain và trận Menashi-Kunashir.
Năm 1899, chính phủ Nhật Bản thông qua đạo luật gọi người Ainu là người thổ dân cũ, với ý tưởng sẽ đồng hóa người Ainu - điều này dẫn đến việc đất đai của người Ainu đang sống bị chính phủ Nhật Bản chiếm giữ và từ đó nắm quyền kiểm soát . Cũng vào thời điểm này, người Ainu được trao quyền công dân Nhật Bản, qua đó phủ nhận họ là người bản địa.
Người Ainu ngày càng gặp phải sự phân biệt đối xử ngay trên mảnh đất của mình - trong khoảng 36 năm, người Ainu đi từ chỗ là một nhóm người sống tách biệt cho tới việc bị đồng hóa về lãnh thổ, ngôn ngữ, tôn giáo, phong tục với người Nhật Bản . Thêm vào đó, đất đai của người Ainu sinh sống được phân bố cho người Wajin, những người đã quyết định tới sống tại Hokkaido và được khuyến khích bởi chính phủ Nhật Bản thời Minh Trị trong việc tận dụng sự màu mỡ tài nguyên thiên nhiên của quần đảo nhằm tạo những trang trại theo khuôn mẫu nên nông nghiệp công nghiệp hóa kiểu phương Tây. Sự phát triển này được gọi là Kaitakushi . Cũng như vậy, sự xuất hiện các nhà máy lúa mì, nhà máy bia và khai thác khoáng sản đã xây dựng nên một cơ sở hạ tầng gồm đường sá và đường ray xe lửa trong suốt một thời kỳ cho tới tận năm 1904 .
Đạo luật năm 1899 được thay thế năm 1997 - từ đó chính phủ tuyên bố không có một nhóm dân tộc thiểu số nào . Cho tới tận tháng 6 năm 2008 Nhật Bản mới chính thức công nhận người Ainu là một nhóm người bản địa.
Người Ainu hiện có xu hướng kết hôn với người Nhật Bản nhằm giảm bớt sự phân biệt đối xử cho con cháu của họ. Kết quả là hiện nay có rất nhiều người Ainu không còn có thể phân biết với người Nhật Bản. Có những thị trấn nhỏ ở vùng phía đông nam hay vùng Hidaka hiện vẫn có người Ainu thuần chủng sinh sống.
Vào ngày 6 tháng 6 năm 2008, một nghị quyết được nghị viện Nhật Bản thông qua kêu gọi chính phủ công nhận người Ainu là người bản xứ Nhật Bản và kêu gọi chấm dứt việc phân biệt đối xử với tộc người Ainu. Nghị quyết công nhận người Ainu là "người bản địa với ngôn ngữ, tôn giáo và văn hóa riêng biệt" và hủy bỏ đạo luật thông qua năm 1899.
== Chú thích ==
== Chú giải và đọc thêm == |
xói mòn đất.txt | Xói mòn đất là quá trình tự nhiên làm ảnh hưởng đất tất cả các dạng địa hình. Trong nông nghiệp, xói mòn đất là quá trình lớp đất mặt bị mang đi nơi khác do các yếu tố vật lý như nước và gió hoặc các yếu tố liên quan đến hoạt động trồng trọt. Trong khi xói mòn là một quá trình tự nhiên, các hoạt động của con người làm gia tăng tốc độ xói mòn lên 10-40 lần. Xói mòn gia tăng có thể gây ra các vấn đề tại vị trí đó hoặc những nơi khác liên quan đến các dòng trầm tích này. Tại vị trí xói món như làm giảm sản lượng nông nghiệp và phá vỡ hệ sinh thái, cả hai yếu tố này làm giảm độ phì của tầng đất mặt. Trong một vài trường hợp, kết quả cuối cùng là sự sa mạc hóa. Các ảnh hưởng ngoài nơi xói mòn như sự lắng đọng trầm tích trên các kênh dẫn và gây phú dưỡng các vực nước, cũng như gây phá vỡ đường sá và nhà cửa liên quan đến trầm tích. Xói mòn do gió và nước là hai yếu tố cơ bản làm giảm chất lượng đất; nếu xét cả hai trường hợp này, chúng chiếm đến 84% sự xuống cấp của đất trên toàn cầu, nên đây là một trong những vấn đề môi trường quan trọng nhất toàn cầu.
== Phân loại xói mòn đất ==
=== Xói mòn đất do gió ===
Kiểu xói mòn do gió là hiện tượng xói mòn gây ra bởi sức gió. Ðây là hiện tượng xói mòn có thể xảy ra ở bất kì nơi nào khi có những điều kiện thuận lợi sau đây:
Ðất khô, tơi và bị tách nhỏ đến mức độ gió có thể cuốn đi (thông thường là đất cát)
Mặt đất phẳng, có ít thực vật che phủ thuận lợi cho việc di chuyển của gió
Diện tích đất đủ rộng và tốc độ gió đủ mạnh để mang được các hạt đất đi
Nguyên lý:khi tốc độ gió vượt qua một mức độ nhất định sẽ gây xói mòn. Động lực gió tác động lên các bạt đất bề mặt làm chúng lăn, va vào các hạt khác, cứ như thế tiếp tục tạo một dây chuyền. Những hạt đất bị gió cuốn khỏi mặt đất khi rơi xuống tác động mạnh mẽ hơn vào các hạt khác, tạo nên sự kích thích chuyển động. Sự va chạm cơ học đã bào mòn lớp đất mặt.
Ảnh hưởng của xói mòn do gió gây ra khá phức tạp, đất bị chuyển dịch đi có thể dưới các hình thức nhảy cóc, trườn trên bề mặt hoặc bay lơ lửng.
Tùy vào tốc độ gió có thể có xói mòn cục bộ, xói mòn thường xuyên. Xói mòn cục bộ xuất hiện khi tốc độ gió <12 – 15 m/s. Lốc bụi: là dạng xói mòn do gió nguy hại nhất, đất bị xói mòn nhanh khi tốc độ gió > 15 m/s. Lốc bụi bốc cả bụi cát, bào mòn 1 vùng này, phủ kín một vùng khác, làm lấp các làng mạc, ruộng vườn.
=== Xói mòn do nước ===
Kiểu xói mòn do nước gây ra do tác động của nước chảy tràn trên bề mặt (nước mưa, băng tuyết tan hay tưới tràn), hiện tượng xói mòn do nước gây ra đối với đất sản xuất nông nghiệp thường mạnh nhất ở các bề mặt đất trống, sau khi làm đất chuẩn bị gieo trồng.
Về lý thuyết, xói mòn mặt đất có hai quá trình vật lý cơ bản xảy ra đó là tác động phá vỡ hạt đất và tác động cuốn trôi của dòng chảy. Trong quá trình mưa, khi lực của giọt nước mưa hay dòng chảy tác động lên bề mặt đất sẽ phát sinh ra phản lực. Hai lực đó không cân bằng nhau và thông thường lực tác động của nước lớn hơn lực đề kháng của đất nên đã gây ra xói mòn (Nguyễn Xuân Quát, 1994).
Về nguyên lý, Ellison (1994) đã xác định tác nhân gây xói mòn mạnh nhất là xung lực hạt mưa đập vào mặt đất, đồng thời tác giả đã chia quá trình này thành 3 pha:
Pha 1: Tách các hạt đất ra khỏi khối đất
Pha 2: Di chuyển các phần tử tách ra đi nơi khác
Pha 3: Lắng đọng chúng ở một nơi khác
Nếu hạn chế được pha 1, thì sẽ không xảy ra pha 2 và pha 3.
Dòng chảy của nước có thể tạo ra các rãnh xói, khe xói hoặc bị bóc theo từng lớp, người ta chia kiểu xói mòn do nước gây ra thành các dạng:
Xói mòn thẳng là sự xói lở đất, đá mẹ theo những dòng chảy tập trung, ăn sâu tạo ra các rãnh xói và mương xói.
Xói mòn phẳng là sự rửa trôi đất một cách tương đối đồng đều trên bề mặt do nước chảy dàn đều, đất bị cuốn đi theo từng lớp, phiến. Khi lớp đất trên bề mặt bị xói mòn thì rất khó khôi phục và những thiệt hại của xói mòn có thể ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức sản xuất của đất. Ví dụ một phép tính đơn giản nếu đất bị xói mòn 1 cm đất thì trên 1 ha đất mất đi 100 m3 đất, tương đương 150 tấn, trong đó có 6 tấn mùn và 1,5 tấn đạm. Trong khi đó, ở vùng nhiệt đới có những nơi xói mòn làm mất 3 cm đất mặt hàng năm. Riêng vùng đồi núi hàng năm bình quân mất đi khoảng 2 cm điều này làm cho đất ở đây bị thoái hóa nhanh chóng. Trên những vùng đất cao, dốc, mưa lớn còn tạo nên những dòng chảy cực đại trên sườn dốc và ngoài việc bào mòn lớp đất mặt chúng còn có khả năng tạo ra những dòng xói hoặc rãnh xói. Có rãnh sâu 5 – 6 m tới tận lớp đá mẹ và làm mất đi hoàn toàn khả năng sản xuất của đất đai.
== Các yếu tố ảnh hưởng đến xói mòn ==
=== Khí hậu ===
Yếu tố khí hậu có thể nói là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất đến xói mòn đất. Trong các yếu tố gây xói mòn chính thì mưa là quan trọng hơn cả, ngoài ra có những yếu tố ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến xói mòn như nhiệt độ không khí, độ ẩm, tốc độ gió...
Lượng mưa
Lượng mưa ảnh hưởng rất lớn đến quá trình xói mòn. Ở những khu vực có lượng mưa thấp thì khả năng xói mòn là rất thấp vì lượng mưa không đủ để tạo thành dòng chảy (vì bị mất do ngấm vào đất, bay hơi, thực vật sử dụng...) và do đó không có khả năng vận chuyển vật chất đi xa. Lượng mưa trung bình hàng năm thường phải lớn hơn 300 mm thì xói mòn do mưa mới xuất hiện rõ. Nếu lượng mưa lớn hơn 1000 mm/năm thì cũng tạo điều kiện tốt cho lớp phủ thực vật phát triển và lượng xói mòn cũng không đáng kể. Nhưng với lượng mưa như vậy mà tại những khu vực có rừng bị tàn phá thành đất trống, đồi núi trọc thì xói mòn thì sẽ là rất lớn.
Bốc hơi nước
Một phần bốc hơi trực tiếp vào khí quyển, phần khác bốc hơi qua hoạt động của thực vật và động vật sau đó được ngấm xuống đất theo khe nứt, thẩm thấu. Lượng nước còn lại hình thành dòng chảy bề mặt.
Cường độ mưa
Quá trình hình thành dòng chảy phụ thuộc nhiều vào cường độ của trận mưa. Cường độ mưa là lượng mưa trong một thời gian nhất định trong một đơn vị tính là mm/h. Theo các kết quả nghiên cứu ở nhiều khu vực trên thế giới thì những trận mưa có cường độ mưa trên 25 mm/h thì mới có tác dụng tạo nên dòng chảy và từ đó mới gây xói mòn. Tỷ lệ lượng mưa tạo ra trong năm được tạo ra bởi các trận mưa có cường độ lớn hơn 25 mm/h càng nhiều thì khả năng gây xói mòn càng lớn. Nếu thời gian mưa dồn dập trong thời gian ngắn thì đó chính là tiền đề cho sự hình thành lũ quét, trượt lở ở vùng núi gập lụt ở hạ lưu, cùng với việc gia tăng xói mòn đất.
Đặc tính của mưa
Đặc tính của mưa cũng ảnh hưởng lớn đến xói mòn của đất. Mưa rào nhiệt đới gây tác hại nhiều hơn nhiều so với mưa nhỏ ở các vùng ôn đới.
Thời gian mưa
Hay là mức độ tập trung của những trận mưa. Lượng đất bị xói mòn chủ yếu là vào mùa mưa, nhất là những nơi đất đang thời kỳ bỏ hoá không có sự điều tiết và cản nước của lớp phủ thực vật.
Các yếu tố khác:
Tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự xói mòn đất như nhiệt độ không khí, sự bay hơi nước, tốc độ gió (khi mưa xuống),... Những tác động này nếu so sánh với tác động do mưa gây ra thì có thể xem là không đáng kể, trừ một số trường hợp đặc biệt như lượng mưa quá nhỏ.
=== Địa hình ===
Địa hình ảnh hưởng rất lớn lên xói mòn và với mỗi kiểu địa hình sẽ có những loại hình xói mòn khác nhau. Nếu địa hình núi, phân cắt có độ dốc lớn thì xói mòn khe rãnh dạng tuyến diễn ra mạnh mẽ. Còn đối với những mặt sườn phơi và địa hình thấp, thoải thì xói mòn theo diện (hay xói mòn bề mặt) sẽ chiếm ưu thế. Với địa hình núi đá vôi thì không có hai loại hình trên mà có xói mòn ngầm, tạo các dạng hang động.
Ảnh hưởng của địa hình có thể trực tiếp hay gián tiếp đến sự xói mòn đất. Trước hết, địa hình làm thay đổi vi khí hậu trong vùng đến ảnh hưởng gián tiếp đến xói mòn đất thông qua tác động của khí hậu. Địa hình núi cao cùng với sườn chắn gió ẩm là một trong những yếu tố tạo nên những tâm mưa lớn. Ảnh hưởng trực tiếp của địa hình đến xói mòn được thông qua yếu tố chính là độ dốc và chiều dài sườn dốc:
Độ dốc:
Độ dốc là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến xói mòn và dòng chảy mặt. Độ dốc càng lớn thì xói mòn mặt càng lớn và ngược lại. Nó ảnh hưởng tới sự phân chia dòng nước và cường độ dòng nước chảy. Xói mòn có thế xảy ra cường độ dốc từ 30 và nếu độ dốc tăng lên hai lần thì cường độ xói mòn tăng lên 4 lần hoặc hơn.
Trong điều tra lập bảng đồ đất quy hoạch sử dụng đất tỷ lệ nhỏ có thế xác định độ dốc theo 3 cấp sau:
Đất có độ dốc dưới 150: được coi là vùng đất bằng, ít dốc. Trong số này chủ yếu là các vùng đất ven biển, đồng bằng thung lũng, cao nguyên và đồng bằng thấp, vùng bán sơn địa. Cây nông nghiệp trồng chủ yếu trên những loại đất này.
Đất có độ dốc từ 150 - 250: đây là những vùng có độ dốc trung bình nhưng đã phải hạn chế sản xuất nông nghiệp với các loại cây nông nghiệp ngắn ngày, có độ che phủ thấp hoặc cây trồng cần chăm sóc đặc biệt không nên trồng trên đất dốc trên 150. Các loại cây trồng lâu năm có tán lá rộng, che phủ cao có thể trồng được nhưng phải có biện pháp hạn chế xói mòn. Mô hỉnh sử dụng hợp lý nhất là sản xuất nông lâm kết hợp.
Độ dốc trên 250: theo quy định thì không được bố trí cây nông nghiệp ở đây. Vùng này chỉ được phép bảo vệ, phục hồi và trồng lại rừng.
Trong quy hoạch sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam, độ dốc được chia thành 5 cấp như sau:
Chiều dài sườn dốc:
Cùng một cấp độ dốc, nếu chiều dài sườn dốc càng lớn thì nguy cơ gây xói mòn đất càng cao. Chiều dài sườn dốc dài bao nhiêu thì lượng đất bị bào mòn cũng tăng lên tuỳ thuộc vào mô hình sử dụng đất.
Một số kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng: nếu chiều dài sườn dốc tăng lên hai lần thì lượng đất xói mòn cũng tăng xấp xỉ hai lần (đối với đất sản xuất lâm nghiệp) và tăng lên gần ba lần trên đất trồng cà phê. Trong điều kiện nhiệt đới ảnh hưởng của chiều dài sườn dốc cũng rõ nét hơn so với các nước ôn đới (Hudson, 1981). Theo Lê Văn Khoa và đồng tác giả (2001) nghiên cứu ảnh hưởng của chiều dài sườn dốc tới cường độ xói mòn đã rút ra nhận xét: nếu tăng chiều dài sườn dốc lên hai lần thì lượng đất bị xói mòn tăng 7-8 lần.
=== Con người ===
Trong các hoạt động của mình con người tác động đến thế giới tự nhiên theo hai hướng tích cực và tiêu cực, các hoạt động này có thể là nguyên nhân trực tiếp hay gián tiếp tác động lên xói mòn. Các hoạt động của con người có thể là:
Du canh, đốt rừng làm rẩy.
Hủy hoại thảm thực vật rừng tự nhiên.
Khai thác gỗ không hợp lý.
Bao gồm phá rừng, xây dựng đường sá.
Khai thác đòng cỏ chăn thả tự do, làm giảm thảm phủ thực vật tự nhiên, và tăng mức độ nén chặt đất, dẫn đến kết quả là gia tăng nước chảy tràn, tăng xói mòn đất, mất nhiều nước.
Khai thác hầm mỏ.
Kỹ thuật canh tác không thích hợp.
=== Thảm thực vật ===
Nghiên cứu của Võ Đại Hải (1996) cho thấy: nếu giảm độ tàn che từ 0,7 - 0,8 xuống mức 0,3 - 0,4 thì xói mòn đất sẽ tăng lên 42,2% và dòng chảy mặt tăng 30,4% đối với rừng tự nhiên; xói mòn đất tăng 27,1% và dòng chảy mặt tăng 33,8% đối với rừng le. Đồng thời, tác giả cũng chỉ ra rừng càng có nhiều tầng tán thì khả năng giữ nước và đất càng tốt, rừng có một tầng tán thì lượng đất xói mòn cao gấp 3 lần so với rừng có 3 tầng tán.
=== Đất đai ===
Mỗi loại đất khác nhau thì có tính chống xói mòn khác nhau. Có thể định nghĩa tính xói mòn của đất là đại lượng biểu hiện tính chất dễ bị xói mòn của đất. Tính xói mòn mang tính chất ngược lại với tính chống xói mòn của đất. Những yếu tố tác dụng đến tính xói mòn của đất được chia làm 2 nhóm:
Nhóm 1: Các tính chất vật lý của đất như cấu trúc đất, thành phần cơ giới, tốc độ thấm.
Nhóm 2: Các biện pháp làm đất trong quá trình sử dụng đất. Những tính chất quan trọng của đất gồm: thành phần cơ giới, cấu trúc, tốc độ thấm và giữ nước, độ xốp hay độ nén của đất.
== Kiểm soát xói mòn ==
=== Kiểm soát xói mòn do gió ===
Duy trì thảm phủ bề mặt thông qua quản lý dư thừa cây trồng và trồng cây che phủ.
Duy trì chiều cao gốc rạ, cây trồng sau thu hoạch thích hợp (30 – 40 cm)
Trồng cây chắn gió.
Tưới nước đầy đủ, luôn duy trì ẩm độ đất thích hợp.
Trồng cây theo băng, thẳng góc với hướng gió.
=== Kiểm soát xói mòn do nước ===
Nguyên lý
Làm giảm tốc độ nước chảy tràn. Chiều dài dốc càng dài, tốc độ dòng chảy càng tăng. Nếu trên đường đi, nếu có vật cản, tốc độ dòng chảy sẽ giảm. Nguyên lý này được áp dụng như thiết lập ruộng bậc thang, bờ đá, trồng cây theo đường đồng mức…
Duy trì tốc độ thấm ban đầu cao. Đất có cấu trúc viên, bền vững, sa cấu trung bình, thường có khả năng thấm ban đầu cao.
Làm tiêu hao năng lượng hạt mưa. Tán lá hay dư thừa thực vật phủ trên mặt đất sẽ giữ lại 1 phần nước, không tham gia vào lượng nước chảy tràn, đồng thời khi hạt mưa rơi vào thảm phủ, tán lá sẽ tiêu hao phần lớn năng lượng, giảm thiểu lực va đất vào mặt đất.
Các giải pháp: giải pháp nông học và cơ học
Giải pháp nông học:
Cây trồng che phủ đất. Đất luôn được che phủ nhất là mùa mưa bằng các cây trồng chính hay cây che phủ. Nhiều loại cây được trồng với mục đích chính là che phủ đất, hạn chế tác động trực tiếp của mưa, nhưng nếu quản lý tốt, sẽ cung cấp 1 lượng chất hữu cơ đáng kể cho đất, các chất dinh dưỡng.
Quản lý dư thừa cây trồng. Cần bỏ lại dư thừa trên đồng ruộng, không nên đốt. Dư thừa cây trồng vụ trước bỏ lại trên mặt ruộng là biện pháp kiểm soát xói mòn rất hiệu quả. Các nghiên cứu cho thấy, nếu phủ 30% dư thừa, mức độ xói mòn giảm từ 50 - 60 %.
Luân canh cây trồng. Các cây trồng khác nhau được trồng tiếp nối nhau có thể cải thiện được cấu trúc đất, làm tăng tính thấm ban đầu của đất, do các loại cây có hệ thống rễ khác nhau, ngoài ra đất luôn được che phủ bởi chính tán lá của cây trồng.
Trồng cây theo đường đồng mức.
Trồng cây đệm theo băng.
Trồng cây chắn gió theo đường đi. Một kiểu cải tiến của trồng cây theo đường đồng mức là trồng cây chắn gió dọc theo lối đi, có tác dụng như là những hàng rào sinh học ngăn chặn xói mòn.
.Thiết lập đường đồng mức. Là kỹ thuật làm đất chạy song song với đường đồng mức. Việc thiết lập đường đồng mức được sử dụng trồng kỹ thuật trồng cây theo băng, hay kết nối các mảnh ruộng bậc thang với nhau.
Tái trồng rừng. Có thể trồng rừng với các loại cây lấy gỗ hay cây ăn quả.
Hệ thống nông lâm kết hợp.
Thiết lập hàng rào sinh học. Công nghệ hệ thống cỏ vetiver. Hệ thống cỏ vetiver hiện nay là công nghệ kiểm soát xói mòn rất có hiệu quả trên thế giới. Là loại có có bộ rễ phát triển rất mạnh và sâu, thích hợp trên tất cả các điều kiện môi trường bất lợi.
Giải pháp cơ học:
Thiết lập ruộng bậc thang.
Trồng cỏ trên các mương dẫn nước.
Thiết lập đập, ao hồ giữ nước.
Phân tán dòng chảy.
Xây đập chắn nước.
== Chú thích == |
hồ quý ly.txt | Hồ Quý Ly (1336 – 1407) là hoàng đế đầu tiên của nhà nước Đại Ngu trong lịch sử Việt Nam, làm vua từ năm 1400 đến năm 1401, sau đó giữ ngôi Thái thượng hoàng từ năm 1401 đến năm 1407. Ông có tên tự là Lý Nguyên, tổ tiên vốn người họ Hồ bên Chiết Giang, Trung Quốc, thời Hậu Hán sang ở Diễn Châu. Đến đời thứ 12, dời sang làng Đại Lại, Thanh Hóa, làm con nuôi viên quan tuyên úy họ Lê, mới đổi sang họ Lê, mà Quý Ly là cháu bốn đời. Do là anh em bên ngoại vua Trần Nghệ Tông, Quý Ly được tin tưởng, từ chức Chính chưởng bốn cục chi hậu thăng Khu mật đại sứ rồi Tiểu tư không, được phong Đồng bình chương sự gia phong thêm phụ chính Thái sư nhiếp chính, tước Đại vương, rồi lại tự xưng Quốc tổ chương hoàng.
Năm 1400, Hồ Quý Ly tiếm ngôi nhà Trần, đặt quốc hiệu là Đại Ngu, chưa được một năm trao ngôi cho con mà làm Thái thượng hoàng nhưng vẫn nắm đại quyền. Khi lên ngôi, ông đã có những sự thay đổi về hành chính, kinh tế và quân sự. Mười tháng sau khi lên ngôi, ông đã phát binh thảo phạt nước Chiêm Thành ở phía Nam, qua hai lần phát binh, chiếm được hai châu Đại Chiêm và Cổ Lũy của Chiêm Thành. Đến năm 1406, nhà Minh đưa quân xâm lược Đại Ngu, quân Đại Ngu thất bại, lui dần về phía nam và thất bại toàn cục năm 1407 khi cha con Hồ Quý Ly đều bị quân Minh bắt và giải về Trung Quốc.
== Nguồn gốc và giáo dục ==
Hồ Quý Ly trước có tên là Lê Quý Ly, tự là Lý Nguyên. Ông sinh năm Ất Hợi (1335), quê ở Đại Lại, Vĩnh Lộc (nay là xã Hà Đông, huyện Hà Trung, Thanh Hóa). Tổ tiên Hồ Quý Ly là Hồ Hưng Dật, vốn là người Triết Giang bên Trung Quốc, thời Hậu Hán (947-950) được vua Hán cử sang làm Thái thú Châu Diễn (tức vùng Diễn Châu, Nghệ An). Đến thời loạn mười hai sứ quân, họ Hồ dời vào hương Bào Đột (nay là xã Quỳnh Lâm, Quỳnh Lưu, Nghệ An) và trở thành một trại chủ. Đến thời Lý, trong họ có người lấy công chúa Nguyệt Đích, sinh ra công chúa Nguyệt Đoan. Đời cháu thứ 12 của Hồ Hưng Dật là Hồ Liêm dời đến ở hương Đại Lại, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa. Hồ Liêm làm con nuôi của Tuyên úy Lê Huấn rồi lấy họ Lê làm họ của mình. Hồ Quý Ly là cháu 4 đời của Lê Huấn, khi lên làm vua thì đổi lại họ Hồ.
Theo sách Việt sử tiêu án: Quý Ly tìm kín được dòng máu họ Hồ, muốn trở lại họ cũ, bèn lấy tên Hồ Cương làm người tâm phúc. Theo Minh thực lục, Lê Quý Ly vốn là con của một cựu võ quan là Lê Quốc Mạo hoặc Lê Quốc Kỳ, sau khi cướp ngôi vua, Lê Quý Ly đổi tên thành Lê Nhất Nguyên hoặc Hồ Nhất Nguyên.
Hồ Quý Ly thuở nhỏ theo học võ Nguyễn Sư Tề, sau đỗ thi Hương, rồi đỗ khoa Hoành từ. Hai chị em bà cô của Hồ Quý Ly đều làm cung nhân của vua Trần Minh Tông; bà Minh Từ sinh ra Trần Nghệ Tông; bà Đôn Từ sinh ra Trần Duệ Tông. Do đó, vua Trần Nghệ Tông mới lên ngôi rất tín nhiệm Quý Ly, lại đem em gái mới góa chồng là công chúa Huy Ninh gả cho.
== Đời nhà Trần ==
=== Đời vua Trần Nghệ Tông ===
Năm 1369, vua Trần Dụ Tông mất, do không có con, ra chiếu cho người con của cố Cung Túc Đại Vương Trần Dục tên Nhật Lễ lên ngôi. Nhật Lễ vốn là con của người làm trò trong hoàng cung tên Dương Khương. Vợ Dương Khương làm con hát trong cung, đương khi mang thai Nhật Lễ, thì Trần Dục lấy làm thích, cưới về làm vợ, nhận Nhật Lễ làm con. Nhật Lễ lên ngôi, chỉ lo rượu chè dâm dật, chỉ lo hát xướng, tôn thất nhà Trần và các quan đều thất vọng. Năm 1370, người con thứ ba của vua Trần Minh Tông liên kết với các tôn thất và các quan làm binh biến, các tướng đem quân hàng, rốt cuộc bắt được Nhật Lễ, lên làm vua, tức Trần Nghệ Tông.
Do là anh em bên ngoại nên Hồ Quý Ly được vua Nghệ Tông tín nhiệm. Năm 1371, Quý Ly được làm Khu mật viện đại sứ và được vua gả em gái vừa góa chồng là công chúa Huy Ninh cho Thời bây giờ, nước Chăm do Chế Bồng Nga làm vua cường thịnh, thường đem binh đánh cướp Đại Việt. Năm 1371, quân Chiêm đánh vào tận kinh đô, cướp bóc, đốt phá, nhà vua phải lánh sang Đông Ngàn tránh.. Tháng 8 năm năm 1371, vua Nghệ Tông sai Quý Ly đi tới Nghệ An để chiêu tập dân chúng, vỗ về biên giới, đến tháng 9, gia phong làm Trung Tuyên Quốc thượng hầu.
==== Triều vua Trần Duệ Tông ====
Tháng 11 năm 1372, Trần Nghệ Tông xuống chiếu nhường ngôi cho em là Trần Kính, tức là Trần Duệ Tông, còn bản thân lên làm Thái thượng hoàng. Trần Duệ Tông là con của Đôn Từ thái phi, cũng là cô của Lê Quý Ly. Trần Duệ Tông lấy Lê Quý Ly làm Tham mưu quân sự. Năm 1376, vua Chiêm là Chế Bồng Nga lại mang quân xâm lấn. Duệ Tông sai Đỗ Tử Bình đi đánh. Chế Bồng Nga sợ hãi, xin dâng 10 mâm vàng tạ tội. Tử Bình giấu vàng đi, lại tâu về triều rằng vua Chiêm kiêu ngạo không thần phục. Duệ Tông quyết định thân chinh đi đánh. Tháng 12 năm 1376, Duệ Tông cầm 12 vạn quân đánh Chiêm Thành. Tháng giêng năm 1377, quân Trần tiến vào cửa Thi Nại (Quy Nhơn), đánh lấy đồn Thạch Kiều rồi tiến tới kinh thành Đồ Bàn nước Chiêm. Quân nhà Trần bị quân Chiêm phục kích, Duệ Tông tử trận. Lê Quý Ly bấy giờ đang đốc thúc quân tải lương, được tin Duệ Tông tử trận, sợ hãi, bỏ chạy về trước.
==== Triều vua Trần Phế Đế ====
Năm 1377, Trần Nghệ Tông thấy Duệ Tông tử trận, nên chiêu hồn chôn ở Hy Lăng và cho lập con trưởng của em là Kiến Đức Đại vương Trần Hiện 17 tuổi lên làm vua, tức là Trần Phế Đế, tôn hiệu Giản Hoàng. Theo nhận xét của sử quan Ngô Sĩ Liên:vua u mê, nhu nhược, không làm nổi việc gì, uy quyền càng về tay kẻ dưới, xã tắc lung lay.
Sau khi đánh bại Trần Duệ Tông, vua Chăm Pa Chế Bồng Nga biết binh lực nhà Trần suy nhược nên liên tục phát thủy binh Bắc tiến. Trong vòng chỉ hai năm (1377- 1378), quân Chăm Pa tiến công hai lần bằng đường biển, hai lần đều vào được thành Thăng Long giết người cướp của rồi rút về.
Năm 1379, Hồ Quý Ly được vua lấy làm Tiểu tư không kiêm Hành khu mật đại sứ như cũ. Hồ Quý Ly tiến cử con của thầy học mình là Nguyễn Đa Phương làm tướng quân, Phạm Cự Luận làm quyền đô sự. Người đương thời cho rằng Hồ Quý Ly có phương viên tá lự, tức có người giúp mưu tính kế vuông tròn.
Đầu năm 1380, vua Chăm Pa phát quân đánh vào Thanh Hóa, Nghệ An. Tháng 3 năm đó, Lê Quý Ly được lệnh thống lĩnh quân thủy, Đỗ Tử Bình chỉ huy quân bộ đi vào Thanh Hóa để chống giữ. Quý Ly đem quân đến sông Ngu (nay là sông Lạch Trường ở huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa), ra lệnh cho binh sĩ đóc cọc gỗ ở giữa lòng sông. Tháng 5 cùng năm, Quý Ly dẫn viên tướng chỉ huy quân Thần Vũ và Nguyễn Kim Ngao và tướng chỉ huy quân Thị vệ là Đỗ Dã Kha ra đánh. Kim Ngao quay thuyền trở lại để tránh mũi nhọn của giặc. Quý Ly chém Ngao để thị uy trước ba quân, rồi ra lệnh quân sĩ nổi trống hò reo mà tiến. Vua Chiêm Chế Bồng Nga chống cự không được, phải rút chạỵ về nam. Kể từ đó Đỗ Tử Bình cáo ốm, không giữ binh quyền nữa. Chỉ có Quý Ly giữ chức Nguyên Nhung hành Hải Tây đô thống chế.
Sang năm 1382, quân Chiêm lại Bắc tiến đánh vào Thanh Hóa. Lê Quý Ly đem quân đóng đồn ở núi Long Đại ở Thanh Hóa (tức núi Hàm Rồng), Nguyễn Đa Phương đóng cọc giữ cửa biển Thần Đầu. Quân Chiêm hai đường tiến đánh. Khi thủy quân Chiêm lại gần, Đa Phương không đợi lệnh Quý Ly, cho mở cọc cắm cừ, tiến ra giao chiến. Quân Chiêm trở tay không kịp, quân Trần dùng hỏa khí ném vào làm thuyền Chiêm bị cháy đắm gần hết. Quân Chiêm thua to, phải bỏ chạy vào rừng núi. Quân Trần vây núi ba ngày, quân Chiêm nhiều người bị chết đói. Thủy quân Chiêm còn lại bỏ chạy về nước. Quân Trần đuổi theo đánh đến Nghệ An. Sau đó Nguyễn Đa Phương được thăng làm Kim Ngô vệ đại tướng quân.
Kể từ khi giành toàn thắng trong các trân sông Ngu và cửa Thần Đầu, quân thế quân Trần đã tốt hơn nhiều. Do vậy, tháng 1 năm 1383, Trần Nghệ Tông ra lệnh cho Lê Quý Ly đem quân vào đến Lại Bộ Nương Loan (ở huyện Kỳ Anh, Hà Tĩnh ngày nay) nhưng gặp phải bão đánh nát mất nhiều thuyền chiến, vì vậy lại phải rút quân về. Sang tháng 6, Chế Bồng Nga cùng với đại tướng La Khải đem quân đi đường núi ra đóng ở đất Quảng Oai (nay thuộc Ba Vì, Hà Nội). Trần Nghệ Tông sai tướng Mật Ôn đi đánh, nhưng bị quân Chiêm bắt. Nghệ Tông sợ hãi, chạy khỏi Thăng Long, người học trò Nguyễn Mộng Hoa mặc nguyên quần áo lội xuống nước cản Thượng hoàng hãy ở lại chống quân Chăm Pa nhưng Nghệ Tông không nghe. Nguyễn Đa Phương ngày đêm đốc suất quân sĩ dựng rào chắn bảo vệ kinh thành, tháng 12 quân Chiêm dẫn quân về.
Năm 1384, nhà Minh đánh vùng Vân Nam, sai người sang Đại Việt đòi lương thực cấp cho quân lính ở Lâm An. Nhà Trần đồng ý cấp lương thực, các quan sai đi nhiều người nhiễm bệnh mà chết. Đến năm 1385, 1386, nhà Minh lại đòi cấp tăng nhân, các giống hoa quả, lại sai bọn Cẩm Y Vệ sang mượn đường đánh Chiêm Thành, đòi 50 con voi. Quan tư đồ, Chương túc Quốc thượng hầu Trần Nguyên Đán xin về trí sĩ ở Côn Sơn, đem con là Mộng Dữ gửi gắm cho Quý Ly. Quý Ly đem công chúa Hoàng Trung gả cho Mộng Dữ. Lúc này Hồ Quý Ly nắm quyền hành lớn, các tôn thất và quan lại tỏ ra lo lắng. Năm 1387, Hồ Quý Ly được thăng làm Đồng bình chương sự, Thượng hoàng ban cho một thanh gươm, một lá cờ đề tám chữ Văn võ toàn tài, quân thần đồng đức, Quý Ly làm một bài thơ cảm tạ.
==== Vua Trần Phế Đế mưu phế trừ Quý Ly ====
Thượng hoàng Trần Nghệ Tông tuy nắm giữ đại quyền, nhưng việc gì cũng Lê Quí Ly quyết định. Quý Ly tìm cách phát triển thế lực riêng, nhưng Nghệ Tông vẫn không hề nghi ngại. Lúc đó, lòng các quan lại, tôn thất phần nhiều đã chán nản, rã rời, nhiều người biết trước Hồ Quý Ly sẽ cướp ngôi nhà Trần như Trần Nguyên Đán liền kết thông gia với họ Hồ, mong được phú quý và toàn mạng sau này. Tuy nhiên, Nghệ Tông hết lòng tin rằng Quý Ly vẫn trung thành với triều Trần, nên trao cho họ ông gươm và một lá cờ có đề "Văn võ toàn tài, quân thần đồng đức".
Bấy giờ, Hoàng đế Trần Hiện thấy thượng hoàng quá tin dùng Quý Ly, mới bàn với thái úy Trần Ngạc (là con trưởng của Trần Nghệ Tông) rằng nếu không trừ đi ắt thành vạ to. Không ngờ rằng, người hầu vua học là Vũ Như Mai biết được chuyện này, liền báo cho Quý Ly biết trước. Nguyễn Đa Phương khuyên ông nên tránh ra núi Đại Lại (ở huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa ngày nay) để chờ đợi biến động. Trong khi đó, Phạm Cự Luận lại can rằng:
"Không được, một khi đã ra ngoài thì khó lo chuyện sống còn".
Quý Ly nói:
"Nếu không còn phương sách gì thì ta đành tự tử, không để tay kẻ khác giết mình".
Cự Luận nói:
"Thượng hoàng trong lòng vẫn căm vua về việc giết Quan Phục Đại Vương, vua rất không hài lòng. Nay quyền bính trong thiên hạ đều ở đại nhân cả mà vua lại mưu hại ngài thì Thượng hoàng lại càng ngờ lắm. Đại nhân hãy liều vào lạy Thượng hoàng, bày tỏ lợi hại, thì nhất định Thượng hoàng sẽ nghe theo ngài, chuyển họa thành phúc, dễ như trở bàn tay. Thượng hoàng có nhiều con chính đích, ngài cứ tâu rằng thần nghe ngạn ngữ nói "Chưa có ai bán con để nuôi cháu, chỉ thấy bán cháu để nuôi con may ra thượng hoàng tỉnh ngộ mà đổi lập Chiêu Định Vương. Nếu thượng hoàng không nghe thì chết cũng chưa muộn".
Quý Ly nghe vậy, bèn bí mật vào yết kiến thượng hoàng rồi cứ y tâu như lời Cụ Luận. Thượng hoàng nghe vậy, bèn giả vờ vi hành về Yên Sinh, rồi sai người gọi Đế Hiễn đến bàn việc nước. Đế Hiễn đến, lập tức bị bắt rồi bị giam vào chùa Tư Phúc. Các tướng chỉ huy các phủ quân cũ như tướng chỉ huy quân Thiết Liêm là Nguyễn Khoái, Nguyễn Vân Nhi, tướng chỉ huy quân Thiết Giáp là Nguyễn Kha, Lê Lặc, tướng chỉ huy quân Thiết Sang là Nguyễn Bát Sách định đem quân vào cướp lấy vua đem ra. Đế Hiễn viết hai chữ "Giải giáp" đưa cho các tướng và răn bảo họ không được trái ý thượng hoàng, các tướng mới thôi. Lát sau, Nghệ Tông đưa vua xuống phủ Thái Dương và cho thắt cổ cho chết. Bấy giờ Lê Á Phu, cùng nhiều người nữa vì cùng mưu với Đế Hiễn nên đều bị giết cả. Về sự việc này, sử gia Ngô Sĩ Liên trong tác phẩm Đại Việt sử ký toàn thư có nói rằng:
Theo Minh thực lục, khoảng cuối tháng 12 năm 1388, Lê Nhất Nguyên (Li Yi-yuan - 黎一元) giết vua Trần Vĩ (tức Trần Phế Đế) rồi chôn ở phường Đại Dương ngoại thành Thăng Long. Lê Nhất Nguyên sau đó lập Trần Nhật Hỗn, con Trần Thúc Minh (陳叔明) lên thay.
==== Triều vua Trần Thuận Tông ====
Vua Trần Phế Đế bị buộc cổ cho chết, Trần Nghệ Tông lập người con út là Chiêm Định Vương Ngung làm Hoàng đế, tức vua Trần Thuận Tông, vào năm 1388, đổi niên hiệu là Quang Thái, đại xá, tự xưng là Nguyên Hoàng. Một năm sau, vua lập con gái lớn của Quý Ly làm Hoàng hậu. Cùng năm đó, Hồ Quý Ly lấy người tâm phúc của mình là Phạm Cự Luận làm Thiêm Thư khu mật viện sự, Cự Luận tiến cử nhiều người tài giỏi cho Quý Ly.
Tháng 10 năm 1389, Chế Bồng Nga lại đánh lên Thanh Hóa, tiến vào hương Cổ Vô. Nghệ Tông lại sai Lê Quý Ly dẫn quân chống cự. Quân Chiêm đắp ngăn sông Bản Nha ở thượng lưu, quân Trần đóng cọc dày đặc đối địch, giữ nhau 20 ngày. Quân Chiêm đặt sẵn quân và voi, giả vờ bỏ doanh trại rút về. Hồ Quý Ly chọn những quân tinh nhuệ, dũng cảm làm quân cảm tử truy kích quân Chiêm. Thủy quân Trần nhổ cọc ra đánh, quân Chiêm phá đập nước, tung voi trận xông ra. Quân tinh nhuệ đã đi xa, quân thủy bị ngược dòng không tiến lên được. Kết quả quân Trần bị thua to, hàng trăm tướng tử trận. Quý Ly để tỳ tướng Phạm Khả Vĩnh và Nguyễn Đa Phương ở lại cầm cự với giặc, còn mình thì trốn về Thăng Long xin thêm chiến thuyền để chống cự. Trần Nghệ Tông không cho, vì thế ông giao trả binh quyền, không đi đánh nữa. Phạm Khả Vĩnh và Nguyễn Đa Phương chống giữ ở Ngu Giang, biết mình thế yếu, bèn dùng kế giương nhiều cờ xí, buộc thuyền lớn vào cọc, sai người canh giữ, đang đêm dong thuyền nhẹ rút lui. Về việc này, Việt sử tiêu án có ghi rằng:
Việc này Quý Ly trốn trước, Đa Phương trốn theo, thế mà còn cho rằng: toán quân đi giữ gìn sau cùng, là công của mình, có vẻ khoe khoang, thế là những người thua bỏ chạy 50 bước cười người chạy 100 bước, lại không xấu hổ với quân lính buộc thuyền giữ cây gỗ đó hay sao? Còn tài cán gì mà khoe khoang.
Quân Chiêm không dám đuổi theo. Quân Trần rút lui trọn vẹn không bị tổn thất. Trở về kinh thành, Nguyễn Đa Phương cậy công lớn, có ý lên mặt, công khai chê Quý Ly là bất tài. Quý Ly căm tức, nói với Nghệ Tông rằng trận thua này là do nghe lời Đa Phương. Nghệ Tông nghe vậy bèn cách chức Đa Phương. Quý Ly lại bảo Nghệ Tông nên giết Phương vì sợ Phương đi hàng Chiêm, do đó Nghệ Tông bèn ép Phương tự vẫn.
Bấy giờ, quân nổi loạn khắp nơi, Nguyễn Thanh làm loạn ở Lương Giang, Phạm Sư Ôn nổi dậy ở Quốc Oai. Về việc này, Việt Nam sử lược ghi rằng:
Bấy giờ trong triều thì Lê Quý Ly chuyên quyền, chọn những chân tay cai quản các đội quân để làm vây cánh, ngoài các trấn thì giặc giã nổi lên nhiều lắm. Ở Thanh Hóa có tên Nguyễn Thanh tự xưng là Linh Đức Vương làm loạn ở Lương Giang; tên Nguyễn Kị tự xưng là Lỗ Vương làm loạn ở Nông Cống. Ở Quốc Oai thì có người sư tên là Phạm Sư Ôn nổi lên đem quân về đánh Kinh Sư. Thượng Hoàng, Thuận Tông và Triều đình phải bỏ chạy lên Bắc giang. Phạm Sư Ôn lấy được Kinh sư, ở ba ngày rồi rút về Quốc Oai. Bấy giờ có tướng quân là Hoàng Phụng Thế đóng ở Hoàng Giang để phòng giữ quân Chiêm Thành, nghe tin Sư Ôn phạm đất Kinh sư mới đem quân về đánh lẻn bắt được Sư Ôn và phá tan giặc ấy.
Lúc đó, quân Trần và quân Chiêm cầm cự nhau ở sông Hoàng giang (khúc sông Hồng ở Hà Nam). Thượng hoàng Trần Nghệ Tông sai Trần Khát Chân lúc đó đang nắm quân Long Tiệp đi chống quân Chiêm. Đến năm 1390, Chế Bồng Nga bị tướng Trần Khát Chân cho quân dùng súng bắn chết. Quan quân đánh đuổi tàn quân rồi cắt lấy đầu Chế Bồng Nga đem về dâng triều đình. Nghệ Tông thấy đầu Chế Bồng Nga, tự ví mình như Hán Cao Tổ thấy đầu Hạng Vũ.
Năm 1391, Lê Quý Ly đi tuần Hóa châu, xét duyệt quân ngũ, sai tướng coi quân Thánh Dực Hoàng Phụng Thế đánh quân Chiêm. Quân Chiêm mai phục, quân Thánh Dực tan vỡ, Phụng Thế đầu hàng, khi quân chạy về, Quý Ly sai chém 30 viên đội đội phó.
Trước đây, khi Trần Nghệ Tông giết vua Trần Phế Đế, định lập Trần Ngạc làm vua, nhưng Quý Ly lại lừa Nghệ Tông khiến cho Nghệ Tông lập vua Thuận Tông. Ngạc có hiềm khích với Quý Ly, sợ bị giết, liền bỏ chạy ra Nam Đinh. Thượng hoàng Nghệ Tông sai tướng Nguyễn Nhân Liệt bắt về. Quý Ly ngầm ra lệnh Liệt giết Trần Ngạc, về sau Thượng hoàng tỉnh ngộ, hỏi ai ra lệnh giết Trần Ngạc, Nguyễn Nhân Liệt sợ nên thắt cổ chết.
Đến năm 1392, tôn thất Trần Nhật Chương lập mưu giết Quý Ly, Thượng hoàng sai người giết Nhật Chương. Có người học trò Bùi Mộng Hoa dâng sớ có ý khuyên Thượng hoàng trừ Quý Ly, Thượng hoàng đem tờ tâu ấy cho Quý Ly xem, sau Quý Ly nắm đại quyền, Mộng Hoa lánh không ra nữa. Quý Ly dâng sách mình soạn, tên Minh đạo, gồm 14 thiên dâng lên, Quốc tử trợ giáo Đoàn Xuân Lôi cho là không đúng, bị đày đi xa.
==== Thượng hoàng Trần Nghệ Tông mất, Quý Ly dời đô về Thanh Hóa ====
Năm 1394, tháng 2, Thượng hoàng Trần Nghệ Tông ban bức tranh tứ phụ cho Quý Ly. Trong tranh ấy vẽ Chu công giúp vua Chu Thành Vương, Hoắc Quang giúp Hán Chiêu Đế, Gia Cát Lượng giúp Thục Hậu Chủ, Tô Hiến Thành giúp vua Lý Cao Tông, gọi là tranh Tứ phụ, ý nói nên giúp vua Thuận Tông cũng nên như thế.
Thượng hoàng ban đêm nằm mơ thấy Duệ Tông về đọc cho bài thơ, Thượng hoàng suy ngẫm về bài thơ, cho đó là điềm Quý Ly lấy mất ngôi vị nhà Trần, nhưng không thể làm gì được nữa. Tháng 4, Thượng hoàng Nghệ Tông gọi Quý Ly vào:
Bình chương là họ thân thích nhà vua, mọi việc nước nhà đều trao cho khanh cả. Nay thế nước suy yếu, trẫm thì già nua. Sau khi trẫm chết, quan gia nếu giúp được thì giúp, nếu hèn kém ngu muội thì khanh cứ tự nhận lấy ngôi vua.
Quý Ly cởi mũ, khấu đầu khóc lóc mà thề rằng:
"Nếu hạ thần không hết lòng, hết sức giúp nhà vua, thì trời tru đất diệt. Vả ngày trước Linh Đức Vương (tức là Phế Đế) có lòng làm hại, nếu không có uy linh của bệ hạ, thì nay đã ngậm cười dưới đất, còn đâu ngày nay nữa mà mài thân nghiền cốt để báo đền vạn nhất! Vậy hạ thần đâu có ý gì khác, xin bệ hạ tỏ lòng ấy cho và đừng lo gì!"
Tháng 12, năm 1394, Thượng hoàng Nghệ Tông băng hà. Năm sau, Lê Quý Ly lên làm Nhập nội Phụ Chính Thái Sư Bình chương quân quốc trọng sự, Tuyên trung vệ quốc đại vương, đeo lân phù vàng. Ônh cho người dịch thiên Vô Dật ra chữ Nôm để dạy Thuận Tông và tự xưng là Phụ Chính Cai Giáo hoàng Đế. Vua cho Quý Ly ở bên hữu sảnh, đài gọi là Họa lư.
Đến năm 1397, Quý Ly sai viên quan Đỗ Tỉnh đi xem đất và đo đạc động An Tôn phủ Thanh Hóa, ý muốn di chuyển kinh đô về Thanh Hóa. Phạm Cự Luận và Nguyễn Nhữ Thuyết can, Quý Ly không nghe. Quý Ly bỏ Nguyễn Nhữ Thuyết không dùng, điều mưu sĩ Phạm Cự Luận đi đánh quân phản loạn ở Tuyên Quang, người này bị thua trận chết. Như vậy khi đã nắm đại quyền, hai người tâm phúc, là tướng quân Nguyễn Đa Phương và mưu sĩ Phạm Cự Luận đều bị Lê Quý Ly trừ bỏ. Đến tháng 11, Quý Ly bức vua Thuận Tông dời kinh đô về Thanh Hóa, cung nhân Trần Ngọc Cơ và Trần Ngọc Kiểm nói mật với vua rằng dời đô thế nào cũng bị cướp ngôi, Quý Ly cho giết cả.
==== Quý Ly ép vua Thuận Tông nhường ngôi cho thái tử An ====
Năm 1398, Hồ Quý Ly bức vua Thuận Tông nhường ngôi cho Thái tử An, tức vua Thiếu đế, lúc ấy Thái tử mới còn 3 tuổi. Còn mình tự xưng Khâm Đức Hưng Liệt Đại Vương. Đến năm 1399, lại sai người giết vua Thuận Tông. Các tôn thất là Thái bảo Trần Hãng, Thượng tướng quân Trần Khát Chân lập mưu giết Quý Ly, sự việc không thành, những người đồng mưu gồm 370 người đều bị giết.
Tháng 6, năm 1399, Quý Ly tự xưng làm Quốc Tổ Chương Hoàng, vào ở cung Nhân Thọ, điềm nhiên mặc áo vàng, ra vào hoàng cung theo lệ như hoàng đế, dùng 12 cái lọng vàng. Con là Hán Thương xưng là Nhiếp thái phó, ở bên hữu điện Hoàng Nguyên. Nguyên Trừng làm tư đồ. Bảng văn thì đề là Phụng Nhiếp Chính Quốc Tổ Chương Hoàng, chỉ xưng là "dư" mà chưa dám xưng "trẫm".
== Hoàng đế Đại Ngu ==
Tháng 2, năm 1400, Quý Ly lúc ấy đã 64 tuổi, bức vua Trần nhường ngôi, buộc các quan và tôn thất ba lần dâng biểu khuyên lên ngôi. Quý Ly giả vờ ba lần từ chối, nói:Ta sắp xuống lỗ rồi, còn mặt mũi nào trông thấy tiên đế ở dưới đất nữa.Rồi tự lập làm vua, đặt niên hiệu Thánh Nguyên, quốc hiệu Đại Ngu, đổi thành họ Hồ.
Chưa được một năm, theo cách nhà Trần, ông nhường ngôi cho con thứ là Hồ Hán Thương, làm Thái Thượng hoàng nhưng vẫn tự mình quyết đoán mọi công việc. Về phần Trần Thiếu Đế, do là cháu ngoại nên ông chỉ phế làm Bảo Ninh đại vương và giam lỏng.
=== Hành chính ===
Năm 1397, Hồ Quý Ly làm phụ chính thái sư, đã sửa đổi chế độ hành chính, nhằm tăng cường tổ chức của các khu vực hành chính, chia cả nước làm lộ và trấn; lộ hay trấn thống hạt phủ, phủ thống hạt châu, châu thống hạt huyện, huyện thống hạt xã. Để tăng cường sự thống nhất, nhà Hồ đặt các trạm dịch từ Thăng Long, phía bắc đến Lạng Sơn, phía nam đến Thăng Hoa. Đổi Thanh Hóa làm trấn Thanh Đô, Quốc Oai làm trấn Quảng Oai, Đà Giang làm Trấn Thiên Hưng, Nghệ An làm trấn Lâm An, Trường Yên làm trấn Thiên Quan, Diễn Châu làm trấn Vọng Giang, Lạng Sơn phủ làm trấn Lạng Sơn, Tân Bình phủ làm trấn Tân Bình. Sang đời Hồ, khi chiếm được hai châu Đại Chiêm và Cổ Lũy đã đặt làm bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, gồm làm lộ Thăng Hoa, tức miền Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay. Cùng năm 1397, Quý Ly bức vua Trần dời đô vào Thanh Hóa, đặt Thăng Long (hay Đại La Thành) thành Đông Đô, gọi thành mới xây ở núi An Tôn thuộc Thanh Hóa là Tây Đô.
=== Kinh tế ===
Từ năm 1396, trước khi lên ngôi, Hồ Quý Ly đã cho phát thứ tiền giấy gọi là Thông bảo hội sao. In xong, ra lệnh cho dân cả nước đến đổi 1 quan tiền đồng lấy 1 quan 2 tiền giấy. Cấm tiêu riêng, chứa riêng tiền đồng; số tiền đồng thu hồi chứa ở kho Ngao trì kinh thành và trị sở các huyện. Phạm tội chứa tiền đồng hình phạt cũng như làm tiền giả. Thể thức tiền giấy: tờ 10 đồng vẽ rồng, tờ 30 đồng vẽ sóng, tờ 1 tiền vẽ mây, tờ 2 tiền vẽ rùa, tờ 3 tiền vẽ lân, tờ 5 tiền vẽ phượng, tờ 1 quan vẽ rồng. Kẻ nào làm tiền giả bị xử tử, tài sản bị tịch thu. Lại cho đánh thuế các thuyền buôn, chia ra 3 mức, thượng, trung, hạ.
Theo Phan Huy Chú bình trong sách Lịch triều hiến chương loại chí:tiền giấy chẳng qua chỉ là mảnh giấy vuông, phí tổn chỉ đáng 5, 3 đồng tiền mà đổi lấy vật đáng 5, 6 trăm đồng của người ta, có nhiên không phải là cái đạo đúng mức. Vả lại, người có tiền giấy cất giữ cũng dễ rách nát, mà kẻ làm giả mạo sinh ra không cùng, thực không phải là cách bình ổn vật giá mà lưu thông của cải vậy. Quý Ly không xét kỹ đến cái gốc lợi hại, chỉ ham chuộng hư danh sáng chế, để cho tiền của hàng hóa thường vẫn lưu thông tức là sinh ra ứ đọng, khiến dân nghe thấy đã sợ, thêm mối xôn xao, thế có phải chế độ bình trị đâu!.
Năm 1401, đặt ra kho thường bình, nghĩa là luôn luôn cân bằng, phát tiền giấy cho các lộ, theo giá cả mua thóc chứa vào kho, nhằm bình ổn giá thóc. Theo Đại Việt sử ký toàn thư, bây giờ số quan lại ở các phủ, châu, huyện có sự thay đổi nên không làm được.
Năm 1403, đặt ra chức thị giám tức người coi chợ, ban hành các đồ đo lường (cân, thước, đấu, thưng, định giá tiền giấy cho mua bán với nhau. Bây giờ phần nhiều người buôn bán chê tiền giấy, lại đặt ra luật lệ để xử tội ai không tiêu tiền giấy.
Định lại các lệ thuế và tô ruộng, triều trước mỗi mẫu thu 3 thăng thóc nay thu 5 thăng. Bãi dâu, triều trước mỗi mẫu thu 9 quan hoặc 7 quan, nay thu hạng thượng đẳng mỗi mẫu 5 quan tiền giấy; hạng trung 4 quan tiền giấy, hạng hạ đẳng 3 quan tiền giấy. Tiền nộp hằng năm của đinh nam trước thu 3 quan, nay chiểu theo số ruộng, người nào chỉ có 5 sào thì thu 5 tiền giấy; từ 6 sào đến 1 mẫu thì thu 1 quan; 1 mẫu 1 sào đến 1 mẫu 5 sào thu 1 quan 5 tiền; từ 1 mẫu 6 đến 2maaiu thu 2 quan; từ 2 mẫu 1 sào đến 2 mẫu 5 sao thu 2 quan 6 tiền, từ 2 mẫu 6 trở lên thu 3 quan. Đinh nam không có ruộng, trẻ mồ côi, bà góa dẫu có ruộng cũng được miễn trừ.
=== Giáo dục ===
Từ năm 1396, Hồ Quý Ly đã cho thay đổi cách thi tuyển, ban đầu thời Trần thi Thái học sinh chia ra thượng trại, hạ trại; thi Đình chia ra kinh, trại (Nghệ An, Thanh Hóa thời Trần gọi là Trại) lấy đỗ Tam khôi, văn thể không xác định. Đến đây, dùng phép thi của nhà Nguyên, dùng văn thể bốn trường, bỏ bài ám tả cổ văn. Trường thứ nhất thi một bài kinh nghĩa hạn 500 chữ trở lên, trường nhì thi bài thơ Đường Luật, một bài phú dùng thể ly tao hoặc cổ thể hoặc văn tuyển hạn 500 chữ trở lên; trường tam thi chiếu chế biểu; trường tư thi văn sách, ra đề về kinh sử hạn 1000 chữ trở lên.
Năm 1397, Hồ Quý Ly có ban tờ chiếu với nội dung là lệnh cho các lộ Sơn Nam, Kinh Bắc và Hải Đông đặt một vị học quan, được cấp ruộng công, từ đó thu học trò mà dạy dỗ rồi hàng năm tiến cử cho triều đình. Theo sử gia Ngô Sĩ Liên, tờ chiếu ban ra tốt đẹp, nhưng không thấy thi hành, theo sử gia đó là cách Quý Ly lấy lòng nhân tâm.
Đến năm 1402, Hồ Hán Thương định cách thức thị cử nhân: Tháng 8 năm nay thi Hương, ai đỗ thì được miễn lao dịch, tháng 8 năm sau thi ở Lễ bộ, ai đỗ thì bổ dùng, lại đến tháng 8 sang năm nữa thi Hội, ai đỗ thì sung Thái học sinh, cứ ba năm một khoa. Phép thi theo nhà Nguyên, thi ba trường, lại có kì văn sách là trường tư, một kỳ thi viết và tính là trường năm.
=== Quân sự ===
Có lần Hồ Quý Ly nói với các quan rằng:Làm sao để có 100 vạn quân để chống giặc Bắc ? Viên Đồng tri khu mật sứ Hoàng Hối Khanh dâng lên kế sách,làm sổ hổ tịch trong cả nước, biên hết vào sổ những nhân khẩu từ hai tuổi trở lên và lấy số hiện tại làm thực số. không cho người lưu vong mà vẫn biên tên trong sổ. Yết thị cho các phiên trấn hễ có người kinh nào trú ngụ thì đuổi về nguyên quán. Đến năm 1401, làm sổ hộ tịch xong, tính số người từ 15 tuổi trở lên, 60 tuổi trở xuống được gấp bội so với trước, cho nên năm 1402 điểm binh càng nhiều.
Hán Thương lập phép hạn chế gia nô, chiếu theo phẩm cấp được cấp số lượng khác nhau, thừa phải dâng lên triều đình. Bây giờ nhiều sĩ đại phu tham phú quý, muốn được lòng họ Hồ, dâng thư khuyên giết hại con cháu nhà Trần, giảm bớt số ruộng và nô để nén bớt thế lực của họ.
Cho đóng thuyền đinh sắt để phòng quân Minh, có hiệu là Trung tàu tải lương; Cổ lâu thuyền tải lương, chỉ mượn tiếng là chở lương thôi nhưng bên trên có đường sàn đi lại để tiện việc chiến đấu, bên dưới thì hai người chèo một mái chèo.
Năm 1405, Hồ Hán Thương định quân Nam ban và Bắc ban, chia thành 12 vệ; quân Điện hậu đông và tây chia thành 8 vệ; mỗi vệ 18 đội, mỗi đội 18 người. Đại quân thì 30 đội, trung đội thì 20 đội, mỗi doanh là 15 đội, mỗi đoàn là 10 đội, cấm vệ đô thì 5 đôi, do Đại tướng quân thống lĩnh. Tổng số quân trong 12 vệ Nam Bắc là 4.320 người, trong 8 vệ Đông Tây là 2.820 người; trong ấy đại quân là 540 người, trung quân là 360 người. Lại đặt hai vệ Thiên ngưu và Phủng thần, thuộc quân Long tiệp, cùng đặt các chức thủy quân đô tướng và bộ quân đô úy. Lại thêm hương binh, chọn người có chức tước tạm cho cai quan quản. Mộ những kẻ vong mệnh làm quân dũng hãn, đặt chức thiên hộ và bách hộ để cai quản.
== Chiến tranh với Chiêm Thành ==
Quý Ly cướp ngôi nhà Trần vào tháng 2, năm 1400, đến tháng 12 phát binh 15 vạn quân đánh Chiêm Thành. Tháng 7, năm 1402, Hán Thương đem đại quân đi đánh Chiêm Thành, chúa Chiêm Ba Đích Lại sợ, sai cậu là Bố Điền dâng một voi trắng, một voi đen, sản vật và đất Chiêm Động để xin rút quân. Bồ Điền tới, Quý Ly ép phải sửa tờ biểu là dâng nộp cả động Cổ Lũy, rồi chia đất ấy thành bốn châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa, đặt An phủ sứ và An phủ phó sứ lộ Thăng Hoa để cai trị; miến đầu nguồn đất ấy thì đặt trấn Tân Ninh. Chiêm Thành thu lấy những dân phụ cận đưa về nước. Hán Thương điều An phủ sứ lộ Thuận Hóa là Nguyễn Cảnh Chân làm An phủ sứ lộ Thăng Hoa. Cảnh Chân dâng thư xin theo việc cũ của nhà Hán, nhà Đường, mộ người nộp thóc rồi ban tước, miễn lao dịch,..nhằm đủ thóc để phòng bị biên cương. Hồ Quý Ly phê:Biết được mấy chữ mà dám nói việc Hán Đường, thực là thằng ngọng hay nói, chỉ chuốc lấy tiếng cười mà thôi.
Năm 1403, Hán Thương sai đem những người không có ruộng mà có của dời đến Thăng Hoa, biên chế thành quân đội, chia đất cho họ ở. Những người đó đưa vợ con đi theo, bị bão chết đuối, dân oán. Cùng năm đóng các thuyền đinh nhỏ để đánh Chiêm Thành, dự định phân chia các đất Bản Đạt lang, Hắc Bạch và Sa Li Nha từ Tư Nghĩa trở về Nam đến biên giới Xiêm làm châu huyện Gia phong Phạm Nguyên Khôi làm đại tướng quân 2 vệ Thiên Ngưu và Phụng Thần, chỉ huy quân Long tiệp; Hồ Vấn làm phó; Đỗ Mãn chỉ huy quân Thiên Cương, Chương Thánh và Củng Thần, quân thủy bộ cộng 20 vạn người, đều theo tiết chế của Nguyên Khôi. Quân Đại Ngu vào đất Chiêm, làm nhiều chiến cụ, vây thành Chà Bàn, sắp lấy được, nhưng vì quân đi đã 9 tháng, hết lương, không thắng phải rút về. Chiêm Thành cầu cứu nhà Minh, người Minh sai 9 chiếc thuyền vượt biển sang cứu, thủy quân Đại Ngu gặp quân Minh ngoài biển, người Minh bảo Nguyên Khôi phải rút quân về, không được ở lại lâu. Nguyên Khôi từ Chiêm trở về bị Quý Ly trách vì không tiêu diệt hết quân Minh.
== Việc Quý Ly tranh chấp đất đai với nhà Minh ==
Năm 1405, nhà Minh sai sứ sang đòi cắt đất Lộc Châu ở Lạng Sơn. Do vụ việc thổ quan phủ Tư Minh, Quảng Tây là Hoàng Quảng Thành báo lên rằng Lộc Châu là đất cũ của phủ ấy. Thượng hoàng Hồ Quý Ly sai hành khiển Hoàng Hối Khanh làm cát địa sứ. Hối Khanh đem các thôn như Cổ Lâu, gồm 59 thôn trả cho nhà Minh. Khi về triều, Quý Ly trách mắng, lăng nhục Hối Khanh vì trả lại đất nhiều quá. Những thổ quan do bên nhà Minh đặt, Quý Ly đều bí mật sai thổ nhân ở đó đánh thuộc độc giết đi.
== Chiến tranh với nhà Minh ==
=== Bối cảnh trước cuộc chiến ===
Từ năm 1384 nhà Minh xuất binh đánh Vân Nam và các man làm phản ở biên giới. Lai sai sứ sang đòi Đại Việt chu cấp lương thực, voi chiến, nhà sư, đàn bà xoa bóp, người bị thiến hoạn, giống cây trồng...những hành động gây áp lực về ngoại giao này kéo dài cho đến khi xảy ra cuộc chiến. Đại Việt phía Nam chiến tranh liên miên với Chiêm Thành, trong nước rối loạn, nên phải nhượng bộ.
Hồ Quý Ly tiếm ngôi nhà Trần từ năm 1400, trước và sau khi lên ngôi ông đã cố gắng đưa ra những sách lược nhằm đối phó với nhà Minh, cuộc chiến mà ông biết nó sẽ xảy ra. Mười tháng sau khi lên ngôi, Quý Ly phát động cuộc chiến với Chiêm Thành, nhằm tránh thế phải đối đầu với kẻ địch ở hai mặt. Quân Chiêm thua trận, phải cắt đất hai châu Đại Chiêm và Cổ Lũy cho Đại Ngu. Năm 1395, dời đô từ Thăng Long về Thanh Hóa, xây thành ở động An Tôn, cho đào hào, trồng tre gai xung quoanh... để phòng thủ. Làm sổ hộ tịch, biên hết vào sổ nhân khẩu từ 2 tuổi trở lên, không cho phép người lưu vong mà vẫn có trong sổ, làm sổ xong nhân khẩu từ 15 đến 60 gấp bội so với trước, nên từ năm 1402 điểm binh rất nhiều.
=== Quân Minh sang lần thứ nhất và bị thua trận ===
Năm 1406, nhà Minh sai hai tướng Hàn Quan và Hoàng Trung đem 10 vạn quân Quảng Tây xâm lược Đại Ngu, mượn cớ đưa Trầm Thiêm Bình về nước. Ngày 8/4, ở ải Lãnh Kinh (Hà Bắc cũ), quân Minh-Đại Ngu giao chiến, quân Đại Ngu thất bại; sáng hôm sau, quân thủy bộ giao chiến, Nhị vệ đại tướng Phạm Nguyên Khôi, chỉ huy quân Chấn Cương Chu Bỉnh Trung,...bị giết. Tả tướng quốc Hồ Nguyên Trừng may chạy thoát lên bờ, do quân Đại Ngu nghĩ quân Minh ít quân, coi thường đối thủ. Duy có Tả Thánh Dực quân Hồ Vấn kéo quân Vũ Cao tới đánh bại quân Minh.
Tướng Minh Hoàng Trung liệu thế, đến trống canh hai nửa đêm trốn về. Tướng Tả Thánh Dực quân Hồ Vấn, chỉ huy quân Thanh Dực Bắc Giang Trần Đĩnh đã chặn ở ải Chi Lăng từ trước. Quân Minh bèn đem giao nộp Trần Thiêm Bình, dân thư hàng xin được tha. Hồ Xạ đồng ý, cho quân Minh trở về Trung Quốc. Vua Hồ Hán Thương thưởng công cho các tướng, tự mình không nhận biểu mừng.
=== Quân Minh sang lần thứ hai ===
Tháng 9,năm 1406, lấy cớ "Phù Trần diệt Hồ", nhà Minh sai Trương Phụ, Mộc Thạnh mang 80 vạn quân sang đánh Đại Ngu. Quân Minh chia làm hai đường, cánh quân do Trương Phụ cầm 40 vạn quân đánh vào ải Pha Lũy (tức ải Nảm Quan), cánh quân do Mộc Thạnh cầm 40 quân đánh vào ải Phú Lệnh (gần thị xã Hà Giang).
Về sách lược, viên hàng tướng Chiêm Thành Bố Đông khuyên với Hồ Quý Ly nên đưa quân lên biên giới đón đánh ngay quân Minh, không cho tiến sâu vào, để quân Minh ỷ vào trường binh và thông được đường tiến quân, nhưng các tướng không nghe. Theo K.W Taylor nhà Hồ đã từ bỏ phần lớn khu vực Đông Kinh (Thăng Long) và phòng thủ ở bờ nam sông Hồng. Trương Phụ viết bảng văn kể tội họ Hồ, cho thả trôi theo dòng nước, nhiều người đọc được, chán nản vì chính sự hà khắc của họ Hồ không còn bụng dạ chiến đấu nữa. Theo Minh sử, gia đình Mạc Thúy, Mạc Viễn, Trần Huân đã dẫn theo 10.000 người ở Đông Kinh mà phản lại họ Hồ, người kinh lộ phần nhiều theo quân Minh phản lại họ Hồ
Trước các mũi tiến công của địch, đội quân nhà Hồ có chặn đánh ở một vài nơi rồi rút về giữ phòng tuyến Nam sông Hồng. Quân Minh thừa cơ hội đã tập trung binh lực vượt sông Hồng đánh chiếm thành Đa Bang. Cuối năm Bính Tuất (ngày 20 tháng 1 năm 1407) thành Đa Bang thất thủ, tuyến phòng ngự của quân nhà Hồ cũng tan vỡ nhanh chóng. Từ Đa Bang ngày 22 tháng 1 năm 1407, quân nhà Minh tràn xuống chiếm cố đô Thăng Long. Quân nhà Hồ lại một lần nữa rút lui xuống miền hạ lưu sông Hồng. Và sau một vài trận phản công thất bại, Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương đem theo các thuộc hạ chạy ra biển rồi vào Thanh Hóa.
Đến Lỗi Giang (Mã Giang) quân Minh đuổi kịp, quân Hồ lại một phen tan tác. Tướng Ngụy Thức thấy thế nguy cấp, bèn tâu:
"Nước đã mất, làm ông vua không nên để cho người ta bắt được, xin Bệ hạ tự đốt đi mà chết còn hơn."
Hồ Quý Ly giận lắm, bắt Ngụy Thức chém rồi chạy vào Nghệ An. Quân Minh tiếp tục đuổi theo, đến Kỳ La (Kỳ Anh, Hà Tĩnh) cha con Hồ Quý Ly đều bị bắt. Lúc đó là tháng 6 năm Đinh Hợi (1407). Có thuyết nói ông bị nhà Minh sát hại khi sang Yên Kinh (Bắc Kinh), có thuyết lại nói ông bị đày làm lính ở Quảng Tây và mất sau đó vài năm. Theo Minh thực lục, cha con Hồ Quý Ly được tha tội.
Nhà Hồ trị vì đất nước từ năm Canh Thìn (1400) đến năm Đinh Hợi (1407), được trọn 7 năm thì sụp đổ.
== Nhà thơ ==
Hồ Quý Ly có bài thơ gửi Ngự sử Trung đô úy Đỗ Tử Trừng:
Ông còn có bài thơ Ký Nguyên quân (gửi Nguyên quân - Trần Thuận Tông) như sau:
Khi đã bị nhà Minh bắt giữ, ông đáp lời người Trung Quốc hỏi về phong hóa nước Nam bằng một bài thơ:
== Giai thoại ==
Trong Kiên biều tập của Chử Nhân Hoạch soạn đời nhà Thanh có chép một giai thoại lạ lùng về Hồ Quý Ly, được Lê Quý Đôn dẫn lại trong Kiến văn tiểu lục
== Tác phẩm ==
Hồ Quý Ly đã viết các tác phẩm sau:
Quốc ngữ thi nghĩa (viết về chủ đề giáo dục, nay đã thất truyền)
Minh đạo lục (sách lý thuyết, 14 thiên, nay đã thất truyền)
== Nhận định ==
Theo sách Đại Việt sử toàn thư, khi chép đến phần đặt tên là:Phụ: Hồ Quý Ly và Hán Thương, chép rằng:Sử sũ đem hai người họ Hồ (tức Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương) chép từng năm thành kỷ, nay truất bỏ và sửa cho đúng. Không rõ bản sách này được chép lại vào năm nào, có quan điểm khác nhau về cha con Hồ Quý Ly đối với sử quan.
Sử gia Ngô Sĩ Liên gọi hai cha con họ Hồ là loạn thần tặc tử:Họ Hồ giết Trần Thuận Tông mà cướp lấy nước, những người như Trần Hãng, Trần Khát Chân mưu giết mà không được. Sau khi họ chết, trong khoảng 7, 8 năm, không còn ai có thể làm được việc ấy nữa. Họ Hồ tự cho là người trong nước không còn ai dám làm gì nữa. Nhưng bọn loạn thần tặc tử thì ai ai cũng có thể giết chết chúng được và trời cũng không một ngày nào tha trừng phạt chúng dưới gầm trời này! Người trong nước giết chúng không được thì ngưoời nước láng giềng có thể giết, người nước láng giềng giết không được thì người Di người Địch có thể giết. Vì thế người Minh mới có thể giết được chúng. Còn như người Minh giả nhân giả nghĩa, sát hại sinh linh thì chính là một bọn giặc tàn bạo. Cho nên Thái Cao Tổ Hoàng Đế ta lại có thể tiêu diệt được bọn chúng.
Phan Huy Chú khi soạn sách Lịch triều hiến chương loại chí coi cha con Hồ Quý Ly là phần phụ, phần Nhà Nhuận Hồ, nhuận tức phần thừa, không có tính chính thống.
Sử gia Trần Trọng Kim trong sách Việt Nam sử lược .
Sách Hồ Quý Ly và những cuộc cải cách trong lịch sử của Viện Sử học Việt Nam đã nêu nhận định khái quát về Hồ Quý Ly: Những cải cách của Hồ Quý Ly nhằm mục đích xây dựng một nước Đại Ngu cường thịnh. Tuy nhiên, tư tưởng đổi mới của Hồ Quý Ly và những cải cách của ông thực hiện quá dồn dập trong một thời gian ngắn, không đạt kết quả như mong đợi và gây ra sự phẫn nộ trong nhân dân; đặc biệt là với các sĩ phu trung thành với nhà Trần.....
== Gia đình ==
Cha: Hồ Quốc Mạo hay Lê Quốc Mạo.
Mẹ: Phạm thị.
Anh em: Hồ Quý Tì.
Vợ: Huy Ninh công chúa, con gái Trần Minh Tông. Trước lấy Nhân Vinh (? - 12/1370), Trần Nghệ Tông gả em gái cho Quý Ly tháng 5 âm lịch năm 1371. Về sau bà được Hán Thương truy tôn làm Thái Từ hoàng hậu.
Hậu duệ:
Hồ Nguyên Trừng, mẹ là thị thiếp Nguyễn thị.
Hồ Hán Thương, mẹ là Huy Ninh công chúa.
Khâm Thánh hoàng hậu, tên là Thánh Ngâu, hoàng hậu của Trần Thuận Tông, mẹ của Trần Thiếu Đế.
== Xem thêm ==
Nhà Trần
Nhà Hồ
Họ Hồ làng Quỳnh Đôi
Hồ Hán Thương
Hồ Nguyên Trừng
Chiến tranh Việt - Chiêm 1367-1396
Chiến tranh Việt - Chiêm 1400-1407
Chiến tranh Minh - Đại Ngu
== Tham khảo ==
Ngô Sỹ Liên cùng nhiều người khác, Đại Việt sử ký toàn thư - Bản PDF
Quốc sử quán triều Nguyễn, Khâm định Việt sử Thông giám cương mục - Bản PDF
Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, tập 2, Nhà xuất bản giáo dục, 2007.
Đất nước Việt Nam qua các đời, Tác giả Đào Duy Anh, Nhà xuất bản Hồng Đức, 2016.
Việt Nam sử lược, Tác giả Trần Trọng Kim, Nhà xuất bản Nhã nam, 2015.
Văn Tạo (2006), Mười cuộc cải cách, đổi mới trong lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học sư phạm
Trần Xuân Sinh (2006), Thuyết Trần, Nhà xuất bản Hải Phòng
Viện sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Hoàng Ngọc Phách, Kiều Thu Hoạch (1988), Giai thoại văn học Việt Nam, Nhà xuất bản Văn học
Trần Trọng Kim, Việt Nam sử lược, bản điện tử
Edward L. Dreyer (1982). Early Ming China. Stanford University Press. ISBN 0-8047-1105-4.
Karl Hack (2006). Colonial Armies in Southeast Asia. New York: Routledge. ISBN 0-415-33413-6.
John Whitmore (1985). Vietnam: Ho Qui Ly and the Ming. New Haven, CT.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Hồ Quý Ly
Đi tìm mộ Hồ Quý Ly trên báo Tuổi Trẻ Online |
kagawa.txt | Kagawa (Nhật: 香川県 (Hương Xuyên Huyện), Kagawa-ken) là tỉnh có diện tích nhỏ nhất ở Nhật Bản. Tỉnh này nằm ở vị trí đầu Đông Bắc đảo Shikoku. Trung tâm hành chính là thành phố Takamatsu.
== Địa lý ==
Kagawa bao gồm góc phía Đông Bắc của Shikoku, giáp ranh với tỉnh Ehime ở phía Tây, tỉnh Tokushima về phía Nam, và các đảo nhỏ trên biển nội địa Seto đối mặt với tỉnh Okayama và vùng Kansai.
Kagawa hiện là tỉnh nhỏ nhất Nhật Bản tính theo diện tích, tỉnh Osaka từng giữ "danh hiệu" là tỉnh nhỏ nhất cho đến khi sân bay quốc tế Kansai được xác nhập từ đại dương đầu thập niên 1990, tạo cho nó một phần diện tích lớn hơn Kagawa một chút
== Lịch sử ==
Kagawa từng được biết đến là tỉnh Sanuki. Trong một giai đoạn ngắn từ tháng 8 năm 1876 đến tháng 12 năm 1888, Kagawa là một phần của tỉnh Ehime.
=== Trận chiến Yashima ===
Nằm ở thành phố thủ phủ của Kagawa, Takamatsu, ngọn núi của Yashima từng là chiến trường của một trong những trận chiến nổi tiếng nhất giữa thị tộc Heike và Genji. Cái tên Yashima có nghĩa nôm na là "đảo mái nhà". Yashima được gọi vậy bởi hình thế giống mái nhà của nhà trang trại ở Nhật. Tỉnh này là một mũi biển bằng nhô ra vùng biển Seto Naikai.
Vào thời gian chiến tranh Genpei xảy ra, như được hàm ý với cái tên, một hòn đảo tách với đảo chính bởi sông Aibikigawa. Đạo quân nhà Heike, bị đánh bại ở Ichinotani, và phải lui tới Yashima với hoàng đế Antoku và lập nên một triều đình ngắn hạn, các cơ quan đầu não của họ nằm ở vịnh nhỏ Dannoura của Yashima. Yashima giờ vẫn còn lưu giữ rất nhiều cái tên liên quan đến trận chiến lịch sử. Theo ghi chép, chiến trường chính của cuộc chiến là cả vùng Dannoura, vùng mà hiện nay là trường tiểu học Yashima-higashi. Khách tham quan giờ có thể tìm thấy địa bàn cũ của hoàng đế Antoku, những bia mộ của Sato Tsugunobu và Kikuomaru, và cả hòn đá mà trên đó Nasuno Yoichi cầu nguyện cho thành công của trận đánh, hòn đá mà Yoichi cưỡi ngựa bắn cung tên xuyên qua chiếc quạt. Những địa danh đỉnh núi Genjigamine, Funakakushi, ao Chinoike gợi nhớ lại quá khứ.
== Hành chính ==
=== Các thành phố ===
Có 8 thành phố:
=== Thị trấn và làng ===
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Đại học Kagawa
== Thể thao ==
Các đội thể thao được liệt kê dưới đây có trụ sở tại Kagawa.
Bóng chày
Kagawa Olive Guyners
Bóng rổ
Takamatsu Five Arrows (Takamatsu)
Bóng đá
Kamatamare Sanuki (Takamatsu)
Bóng chuyền
Eighty8 queen
== Du lịch ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của tỉnh Kagawa (tiếng Nhật)
Bản đồ Kagawa (1891)
Blog ghi chú từ Shikoku (tiếng Anh). |
financial times.txt | Financial Times (FT) hay Thời báo tài chính là một tờ báo về kinh doanh quốc tế. Tờ báo ra hàng ngày tại London và 23 thành phố trên toàn thế giới. Đối thủ chính của tờ báo này là tờ The Wall Street Journal trụ sở tại New York City. Lượng phát hành trên toàn cầu của FT đạt 390.121 bản. Tính cả trang web FT.com thì trung bình một ngày có 1,9 triệu lượt đọc FT trên thế giới (số liệu kiểm toán của PwC, tháng 4 năm 2010). FT.com có ba triệu thành viên đăng ký tài khoản, 206.892 người đăng ký theo dõi ấn bản điện tử và 597.015 người dùng trả phí (giai đoạn 2 tháng 10 năm 2010 đến 4 tháng 1 năm 2011).
Được thành lập vào năm 1888 do công của James Sheridan và Horatio Bottomley, Financial Times phải cạnh tranh với bốn tờ báo chuyên về tài chính khác. Năm 1945, FT thâu tóm tờ báo cuối cùng là tờ Financial News (thành lập năm 1884). Nội dung của FT chuyên về tin tức tài chính và kinh doanh ở Anh và quốc tế. Báo in trên giấy khổ lớn màu cá hồi.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức
Financial Times châu Á
Financial Times châu Âu
Financial Times trên Facebook
@FT trên Twitter
@Financial Times trên Twitter |
tư cách pháp lý.txt | Tư cách pháp lý là tư cách của cá nhân, pháp nhân, tổ chức hay các chủ thể khác khi tham gia vào một hoặc nhiều quan hệ pháp luật nhất định. Tư cách pháp lý cũng chính là địa vị pháp lý thể hiện vị trí, vai trò của chủ thể đó trong quan hệ pháp luật và đi liền với nó là quyền lợi, nghĩa vụ cũng như trách nhiệm pháp lý phát sinh. Tư cách pháp lý là nền tảng để xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người và cũng là điểm xuất phát để gỡ rối tranh chấp trong tố tụng..
Luật sư Nguyễn Ngọc Bích đã dùng hình ảnh "khối đá vuông có cây dù ở trên" để ví về tư cách pháp lý, theo đó khối đá vuông là tư cách, cây dù chính là quyền lợi và nghĩa vụ, một người muốn lấy cây dù thì phải đứng trên khối đá vuông. Một người có thể có nhiều tư cách trong nhiều mối quan hệ hoặc trong cùng một mối quan hệ pháp lý. Muốn tìm ra tư cách pháp lý thì phải xác định được mối tương quan pháp lý của các bên trong giao dịch hay quan hệ. Trong Bộ Luật dân sự của Việt Nam thì tư cách pháp lý được diễn đạt bằng thuật ngữ địa vị pháp lý. Điều 15 của Bộ Luật dân sự quy định khái niệm năng lực pháp luật dân sự của một cá nhân.
== Tham khảo ==
Bộ luật dân sự Việt Nam năm 2005
Nguyễn Ngọc Bích, Tài ba của Luật sư - Sách gối đầu của những ai muốn trở thành Luật sư, Nhà xuất bản Trẻ, thành phố Hồ Chí Minh, năm 2010, trang 50-55
== Chú thích == |
bình đẳng trước pháp luật.txt | Bình đẳng trước pháp luật hay quyền bình đẳng trước pháp luật là những nguyên lý của pháp luật được thể hiện qua các quy định cụ thể (các quy phạm pháp luật) thiết lập về quyền được đối xử một cách như nhau, công bằng giữa mọi công dân trước pháp luật, theo đó, mọi công dân, nam, nữ thuộc các dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội khác nhau trong một quốc gia đều không bị phân biệt đối xử trong việc hưởng quyền, nghĩa vụ và chịu trách nhiệm pháp lý theo quy định của pháp luật.
Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền đã nêu lên trong điều 7:
Theo Liên Hiệp Quốc thì nguyên lý này rất quan trọng cho những người thiểu số và người nghèo.
== Khát quát ==
Quyền bình đẳng trước pháp luật được thể hiện trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội đặc biệt là các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa – xã hội nhất là quyền bình đẳng trong lĩnh vực pháp lý, tư pháp, tố tụng. Tiêu chí của một đất nước văn minh hiện nay là luật pháp phải được thượng tôn bất kể vị thế giữa người vi phạm và bị xâm phạm.
Quyền và nghĩa vụ của công dân không bị phân biệt bởi giới tính, dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo, giàu nghèo, thành phần xã hội, địa vị xã hội… Trong cùng một điều kiện như nhau, công dân được hưởng quyền và nghĩa vụ như nhau, có tư cách pháp lý như nhau. Nhưng mức độ sử dụng các quyền và nghĩa vụ đó đến đâu phụ thuộc rất nhiều vào khả năng, điều kiện và hoàn cảnh của mỗi người. Nhà nước phải có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm cho công dân thực hiện quyền và nghĩa vụ một cách bình đẳng, công dân cần thực hiện tốt các nghĩa vụ được Hiến pháp và luật xác định là điều kiện để sử dụng quyền của mình.
Quyền bình đẳng trước pháp luật cũng là một trong những nguyên tắc pháp lý cơ bản ở nhiều nước. Hiến pháp Việt Nam quy định: Mọi công dân Việt Nam đều có quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Công dân không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử và đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử vào quốc hội, hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật. Hiến pháp xác định quyền bình đẳng của phụ nữ và nam giới về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình.
== Một số khía cạnh ==
=== Quyền và nghĩa vụ ===
Công dân bình đẳng về quyền và nghĩa vụ có nghĩa là bình đẳng về hưởng quyền và làm nghĩa vụ trước Nhà nước và xã hội, quyền và nghĩa vụ không tách rời nhau, thể hiện qua việc Mọi công dân đều được hưởng quyền và phải thực hiện nghĩa vụ của mình: Một số quyền cơ bản như quyền bầu cử, ứng cử, sở hữu, thừa kế, các quyền tự do cơ bản và quyền dân sự, chính trị khác, nhân quyền, quyền tự do ngôn luận, quyền tự do cư trú, tự do đi lại, quyền thông tin… Nghĩa vụ lao động công ích, đóng thuế…
=== Trách nhiệm pháp lý ===
Bình đẳng về trách nhiệm pháp lý là bất kỳ công dân nào vi phạm pháp luật đều bị xử lý bằng các chế tài theo quy định của pháp luật. Ví dụ như khi truy cứu trách nghiệm pháp lý đối với chủ thể có hành vi vi phạm được quy định trong pháp luật và chỉ trong giới hạn mà pháp luật quy định do cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng. Việc truy cứu trách nhiệm phải kịp thời, chính xác, công bằng, hợp lý. Khi xét xử thì mọi người phải bình đẳng trước tòa án.
Trên thực tế nhiều nước chưa thật sự có sự bình đẳng trong trách nhiệm pháp lý, nhất là trong quá trình tố tụng, như tại Việt Nam, với triết lý Nho giáo đã ăn sâu từ lâu là: Hình phạt thì không tới bậc đại phu, lễ nghi không tới bậc thứ dân tức là tức là hình luật chẳng thể phạm đến những kẻ bề trên, cho nên một số ý kiến cho rằng chỉ khi mọi người đều có ý thức tôn trọng pháp luật như nhau thì mới gọi là công bằng, mới không có cái gọi là nhờn luật, mặt khác sự can thiệp của hệ thống Đảng Cộng sản Việt Nam các cấp vào pháp luật đã tạo ra một quy trình bên ngoài pháp luật đồng thời những bản án tuyên phạt của tòa án nước này trong nhiều trường hợp chưa được sự đồng tình của xã hội vì quá cả nể, nhẹ tay với kẻ có quyền thế, địa vị, hoặc tiền bạc nhưng quá hà khắc đối với người yếu thế, nghèo khó nên đã nêu lên vấn đề về sự bình đẳng trước pháp luật.
=== Nhà nước và công dân ===
Chính Nhà nước cũng được xem như một pháp nhân: Các quyết định của chính quyền như vậy cũng phải tuân thủ nguyên tắc hợp pháp như bao chủ thế pháp lý khác. Nguyên tắc này cho phép đóng khung hoạt động của quyền lực công và đặt hoạt động đó vào khuôn khổ của nguyên tắc pháp chế, vốn trước tiên dựa trên các nguyên tắc hiến định.
Trong khuôn khổ đó, các cưỡng chế hướng lên Nhà nước sẽ mạnh mẽ: Các quy định mà Nhà nước đưa ra và các quyết định mà Nhà nước ban hành phải tuân thủ toàn thể các quy phạm pháp luật cao hơn đang có hiệu lực (các luật, điều ước quốc tế và các nguyên tắc mang tính Hiến pháp), không được quyền hưởng bất kì ưu tiên về mặt tài phán. Các cá nhân cũng như pháp nhân của luật tư như thế là đối lập tranh cãi với các quyết định của cơ quan công quyền bằng các đối lập với các quy phạm mà cơ quan này ban hành. Trong khuôn mẫu này, vai trò của các cơ quan tài phán là vô cùng cần thiết và sự độc lập của tư pháp là bắt buộc.
== Chú thích == |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.