filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
goldman sachs.txt | The Goldman Sachs Group, Inc. là một ngân hàng đầu tư đa quốc gia, tham gia vào các nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, chứng khoán, quản lý đầu tư, và các dịch vụ tài chính khác với khách hàng chủ yếu là các tổ chức.
Goldman Sachs được thành lập năm 1869 và đặt trụ sở chính tại 200 West Street tại khu vực Hạ Manhattan của Thành phố New York. Công ty này có văn phòng tại các trung tâm tài chính quốc tế lớn và cung cấp dịch vụ hợp nhất và tư vấn mua bán, dịch vụ bảo lãnh phát hành, quản lý tài sản và môi giới cho các khách hàng, trong đó bao gồm các tập đoàn, các chính phủ và cá nhân. Công ty cũng tham gia vào kinh doanh độc quyền và các giao dịch vốn tư nhân và là một nhà môi giới sơ cấp trên thị trường trái phiếu kho bạc Hoa Kỳ. Năm 2010, Văn phòng Bộ Tư pháp Mỹ ở quận Manhattan tiến hành đang ở giai đoạn sơ bộ và sẽ tập trung tìm hiểu liệu thể chế tài chính khổng lồ này hay các nhân viên của nó có gian lận chứng khoán liên quan đến giao dịch cầm cố của ngân hàng hay không.
Cuộc điều tra hình sự này được tiến hành theo yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Hoa Kỳ (SEC).
Trước đó, đầu tháng 4, Ủy ban Chứng khoán và Sàn giao dịch Hoa Kỳ đã đệ đơn cáo buộc Goldman Sachs gian lận dân sự khi cùng một quỹ đầu tư mạo hiểm có tiếng là Paulson & Co. phát hành Chứng khoán liên quan đến tài sản cầm cố dưới chuẩn.
Từ khi mới thành lập, Goldman Sachs đã được biết đến như một thế lực nhiều ảnh hưởng. Họ thuê những cựu chính trị gia và công chức về làm nhân viên, trong khi đội ngũ "cựu binh" của họ là nguồn nhân lực luôn sẵn sàng cho các nhà chính trị và bộ máy công quyền.
== Lịch sử ==
Được người Đức nhập cư Marcus Goldman thành lập vào năm 1869, công ty chính thức mang tên Goldman Sachs & Co từ năm 1885, là tên ghép từ họ của Marcus Goldman và con rể Samuel Sachs. Trong những năm đầu tiên, Goldman chủ yếu kinh doanh giấy ghi nợ cho các nhà buôn kim cương ở New York. Năm 1986, công ty được mời tham gia Sàn giao dịch chứng khoán New York. Tuy nhiên, mãi đến năm 1999, Goldman Sachs mới thực hiện IPO nhưng chỉ với 12% cổ phần. Cho đến nay, tập đoàn này hoạt động trong 3 lĩnh vực chính: ngân hàng đầu tư, quản lý tài sản, dịch vụ chứng khoán. Ngoài ra, Goldman Sachs còn cung cấp một số dịch vụ tài chính khác như tư vấn IPO, mua lại và sáp nhập...
Goldman Sachs đặt trọng tâm vào ngành ngân hàng đầu tư kể từ năm 1930, sau khi Sydney Weinberg tiếp quản quyền đại cổ đông. Dưới sự "triều đại" của Weinberg, Goldman thành lập thêm bộ phận nghiên cứu đầu tư và phòng trái phiếu địa phương. Nhưng Weinberg cũng chính là người đưa Goldman Sachs tiến những bước đầu tiên vào thị trường đầu tư mạo hiểm. Đến năm 1969, Gus Levy nhận quyền đại cổ đông từ tay Weinberg và dẫn dắt tập đoàn này mở rộng hoạt động giao dịch chứng khoán. Văn phòng quốc tế đầu tiên của Goldman được mở năm 1970 tại London, nhưng phải đến thời Robert Rubin và Stephen Friedman cùng làm đồng đại cổ đông, Goldman mới thức sự chú trọng việc vươn ra toàn cầu.
Chơi trội từ đầu
Ngay từ khi mới thành lập, Goldman đã thu hút sự chú ý vì những kiểu làm "chưa có tiền lệ". Chẳng hạn, Marcus Goldman được biết đến như người đi đầu trong việc cổ súy sử dụng thương phiếu trong doanh nghiệp. Việc hình thành nên thị trường IPO ở Hoa Kỳ cũng có công sức không nhỏ của Goldman Sachs. Đặc biệt, Goldman Sachs nổi tiếng là công ty đi đầu trong việc tuyển dụng các Thạc sĩ Quản trị Kinh doanh (MBA) từ những trường đại học kinh tế, tài chính danh giá, một tiêu chí được giữ tới tận ngày nay.
Một khảo sát của Bloomberg News thực hiện vào năm 2004 cho biết Goldman là đại gia Phố Wall dẫn đầu trong việc thu hút các MBA từ các trường như Wharton School của ĐH Pennsylvania, Columbia Business School và những trường đào tạo MBA hàng đầu khác. Chỉ riêng trong năm 2004, Goldman tuyển 30% nhân sự là MBA. Chính sách tuyển dụng này của Goldman về sau được nhiều đại gia Phố Wall chú ý và làm theo, thậm chí hình thành nên một sự cạnh tranh gay gắt. Trong những năm thăng hoa của kinh tế thế giới trước cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua, Goldman Sachs đã dùng nhiều sách lược để thu hút nhân tài MBA, trong đó có các chương trình cấp học bổng cho sinh viên MBA ngay từ năm thứ nhất hoặc năm 2 để họ ra làm việc cho ngân hàng ngay sau khi tốt nghiệp.
== Chính thể Sachs ==
Nhờ chiến lược tuyển dụng khôn khéo, Goldman Sachs luôn là nơi tập trung của những bộ não hàng đầu về kinh tế, tài chính. Không chỉ tuyển dụng khéo, Goldman còn tỏ rất khôn khéo trong việc "cho về vườn" những nhân sự xuất sắc ở tuổi "chắc chắn sẽ kiếm việc thứ 2". Bằng cách đó, Goldman dần dần có đội ngũ "cựu binh" xâm nhập vào hệ thống đầu não của tất cả các công ty toàn cầu, ngân hàng đối thủ và chính phủ các nước, đặc biệt tại Hoa Kỳ - nơi được xem là hệ qui chiếu của cả thế giới.
Hiện tượng trên quá phổ biến đến nỗi vào tháng 10-2008, nhà báo Ambrose Evans-Pritchard của New York Times gọi ví von Goldman Sachs là "Government Sachs" (government = chính phủ). Bài báo nêu nhiều lo ngại khi hầu hết các cơ quan đầu não về kinh tế và tài chính của Hoa Kỳ đều có sự hiện diện của các "cựu binh Goldman". Evans-Pritchard chỉ ra một số gương mặt "cựu binh Goldman" nổi trội như Bộ trưởng Ngân khố Hank Paulson (từng là CEO của Goldman), Neel Kashkari – phụ trách chương trình ứng cứu ngân hàng của chính phủ, chuyên viên đầu tư của Bộ Ngân khố Reuben Jeffrey, cùng các nhân vật chủ chốt khác của Bộ Ngân khố như Dan Jester, Steve Shafran, Edward C. Forst, và Robert K. Steel. Ngoài ra, còn có Stephen Friedman – chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang tại New York (khi nhậm chức ông Friedman vẫn còn ngồi ở ghế hội đồng của Goldman và có cổ phần ở tập đoàn này), William C. Dudley – giám đốc bộ phận mua bán các loại chứng khoán chính phủ của New York FED, và E. Gerald Corrigan (người đứng đầu cơ quan phân tích rủi ro Phố Wall). Lúc đó, Evans-Pritchard chưa biết rằng về sau còn có thêm rất nhiều "cựu binh Goldman" về đầu quân cho tổng thống kế nhiệm ông Bush. Chẳng hạn, tổng thống Obama bổ nhiệm Gary Gensler làm người đứng đầu Ủy ban Giao dịch Hàng hóa Tương lai, hay Bộ trưởng Ngân khố Geithner chọn Mark Patterson (người đứng đầu hoạt động lobby - vận động hành lang – của Goldman) là cố vấn trưởng tại Bộ Ngân khố. Sau khi Patterson rời Goldman, người thay thế ông nay lại là cố vấn trưởng của Barney Frank – chủ tịch Ủy ban Dịch vụ Chứng khoán Hạ viện.
Một người giữ cột khác của New York Times, nhà báo David Brooks lưu ý rằng trong chiến dịch tranh cử của ông Obama, các nhân viên của Goldman Sachs đã chi nhiều tiền hơn nhân viên của bất kỳ công ty, ngân hàng hay định chế nào khác. "Trong vài năm qua, người của Goldman Sachs đã kiểm soát một phần lớn chính quyền liên bang", Brooks viết. "Trong vài năm nữa, có thể họ sẽ nắm toàn bộ các vị trí trọng yếu".
Goldman Sachs là trái tim của Phố Wall, và Phố Wall là trái tim của kinh tế Hoa Kỳ. Khi cuộc khủng hoảng nặng nề nhất 60 năm diễn ra, nhiều người cho rằng Goldman có lẽ phải "co vòi". Tuy nhiên, chính trong cuộc khủng hoảng, Goldman đâm rễ sâu hơn vào bộ máy công quyền ở Hoa Kỳ và cả thế giới.
== TARP ==
TARP là tên viết tắt của chương trình ứng cứu Phố Wall 700 tỷ USD nổi tiếng của chính phủ Bush. Chương trình này không chỉ ảnh hưởng lớn tại Hoa Kỳ, mà tác động sâu sắc đến cục diện tài chính toàn cầu trong và hậu khủng hoảng. Vào tháng 3-2009, Bộ trưởng Ngân khố Geithner bị quốc hội chất vấn về xung đột lợi ích giữa Goldman và Hoa Kỳ, vì đa số những người đưa ra quyết định liên quan đến việc giải quyết khủng hoảng đều từng là người của Goldman Sachs. Trả lời chất vấn, ông Geithner không phủ nhận việc các "cựu binh Goldman" là trung tâm các quyết sách tài chính của chính phủ, nhưng cho rằng sẽ "không công bằng" nếu nghi ngờ họ đưa ra quyết định không vì quyền lợi chung của người Hoa Kỳ.
Tuy nhiên, liệu các quyết sách của những "cựu binh Goldman" có chí công vô tư như mong đợi? Sau đây là trích lược từ một bài viết của tạp chí TIME: Trong vụ ứng cứu đại gia bảo hiểm AIG vào năm 2008, Goldman là định chế tài chính ngoài AIG nhận được nhiều tiền từ quỹ TARP của chính phủ nhất, với 12,9 tỷ USD. Trong khi đó, nhiều người cho rằng chính việc mua 62,1 tỷ USD khế ước ghi nợ (CDO) do AIG phát hành của Goldman và một số định chế khác đã góp phần quan trọng trong việc đẩy AIG đến bờ vực phá sản. Thực tế, người khởi xướng việc ứng cứu AIG là cựu CEO Goldman, Bộ trưởng Ngân khố Hank Paulson. Trong cuộc họp cuối cùng với FED để định đoạt số phận AIG, Goldman là công ty duy nhất ở Phố Wall được mời tham gia. Tóm lại, những nhân vật quyết định số phận AIG đều đã hoặc đang là người của Goldman (lúc đó). Ngoài CEO Goldman Lloyd C. Blankfein và Bộ trưởng Paulson, còn có CEO AIG Liddy - cựu giám đốc Goldman, Mark Patterson – cố vấn trưởng của Bộ Ngân khố, cựu vận động hành lang Goldman, Neel Kashkari – cựu phó chủ tịch Goldman, người điều hành quỹ TARP.
Người giữ cột của Marketwatch, nhà báo Paul Farrell đã cay đắng viết: "Dù là Cộng Hòa hay Dân Chủ, Bảo Thủ hay Tự Do. Tất cả chúng ta đều bị kiểm soát bởi "Âm mưu Goldman". Tại sao bạn chưa đầu hàng? Hãy để họ nắm hết quyền lực. Sự thật là, thông qua các nhà vận động hành lang và những người đại diện ở Washington, họ đã cai trị cả Hoa Kỳ".
== Sự ảnh hưởng quốc tế ==
Dấu chấm hỏi về quyền lực Goldman không chỉ là bận tâm của người Hoa Kỳ. Tháng 5-2007, tờ Independent (Anh) có bài viết cho biết người Italy ca thán rằng Goldman Sachs đang điều hành cả đất nước họ. Người đứng đầu Chính phủ Italy lúc đó, Thủ tướng Romano Prodi từng ăn lương của Goldman Sachs từ năm1990 đến 1993, và lãnh lương trở lại vào năm 1997, khi đã làm Thủ tướng Italy lần thứ nhất (1996-1998). Ông Prodi còn là Chủ tịch Ủy ban châu Âu (EC) từ năm 1999-2004. Ngoài ra, còn 2 nhân vật chủ chốt khác của nền kinh tế Italy là "cựu binh Goldman". Thống đốc Ngân hàng Trung ương Mario Draghi (nay là Thống đốc bang Banca) từng là một giám đốc điều hành của Goldman, trong khi Thứ trưởng Bộ Ngân khố Massimo Tononi cũng từng là nhân sự cấp cao của Goldman.
Ngoài Italy, trong danh sách "cựu binh Goldman" còn có Mark J. Carney, Thống đốc Ngân hàng Trung ương Canada. Ông này từng ăn lương của Goldman suốt 30 năm ở các vị trí chủ chốt tại các chi nhánh ở London, Tokyo, từng là giám đốc điều hành của Goldman tại Toronto. Michael Cohrs, đồng giám đốc lĩnh vực ngân hàng đầu tư và là giám đốc Global Banking của ngân hàng Deutsche Bank, cũng từng là nhân sự cấp cao của Goldman Sachs tại New York và London trong giai đoạn 1981-1989. Chủ tịch Ngân hàng Thế giới (WB) hiện nay, ông Robert B. Zoellick từng là Phó Chủ tịch Goldman Sachs.
Ngoài việc nắm giữ những vị trí cốt cán trong các chính phủ nước ngoài, định chế quốc tế, các "cựu binh Goldman" còn là CEO hoặc nhân sự cấp cao của nhiều công ty, ngân hàng toàn cầu khác. Chẳng hạn, John Thain – CEO cuối cùng của NH Merrill Lynch trước khi sáp nhập với Bank of America – là giám đốc cho vay thế chấp của Goldman Sachs từ năm 1985-1990 và là chủ tịch kiêm đồng CEO từ năm 1999-2004. Robert Steel – Thứ trưởng Bộ Ngân khố Hoa Kỳ từ 2006-2008 và là chủ tịch và CEO của Wachovia Corporation – từng là Phó Chủ tịch Goldman Sachs. Gavyn Davies – cựu Giám đốc Kinh tế của Goldman Sachs – nay là Chủ tịch British Boadcasting Corp (BBC) và là chồng bà Sue Nye, cố vấn đặc biệt của Thủ tướng Anh Gordon Brown. Cựu đồng chủ tịch Goldman Sachs Robert E. Rubin nay là một giám đốc cao cấp của Citigroup...
Nhiều người còn cho rằng chính Goldman Sachs đóng một vai trò quan trọng trong việc tạo nên cuộc khủng hoảng tài chính vừa qua, thông qua các hoạt động ngân hàng đầu tư của họ. Chính vì lý do này, chính phủ Hoa Kỳ đã buộc Goldman và một số ngân hàng đầu tư khác chuyển thành ngân hàng thương mại sau sự sụp đổ của ngân hàng thương mại Lehman Brothers.
Trong cuộc khủng hoảng nợ đang ngày một trầm trọng của Hy Lạp hiện nay, Goldman Sachs cũng bị cáo buộc có nhúng tay vào (xem thêm ĐTTC số 295, trang 20). Năm 2000 và 2001, Goldman từng giúp Athens bí mật vay hàng tỷ USD để che giấu tình hình tài chính tệ hại của họ bằng cách tạo ra các sản phẩm phái sinh có thể chuyển các khoản vay thành giao dịch tiền tệ mà Hy Lạp không phải công bố theo luật của EU. Chính hoạt động này khiến tình hình tài chính Hy Lạp trông có vẻ "khỏe mạnh" hơn thực chất, một điều kiện để dẫn đến "cái chết bất ngờ".
== Tham khảo == |
thăng long.txt | Thăng Long (chữ Hán: 昇龍) là kinh đô của nước Đại Việt thời Lý, Trần, Lê, Mạc, Lê Trung hưng (1010 - 1788). Trong dân dã thì địa danh tên Nôm Kẻ Chợ được dùng phổ biến nên thư tịch Tây phương về Hà Nội trước thế kỷ 19 hay dùng Cachao hay Kecho.
== Lịch sử ==
Năm 1010, tương truyền khi vua Lý Công Uẩn rời kinh đô từ Hoa Lư đến đất Đại La thì thấy rồng bay lên nên gọi tên kinh đô mới là Thăng Long, hay "rồng bay lên" theo nghĩa Hán Việt. Ngày nay tên Thăng Long còn dùng trong văn chương, trong những cụm từ như "Thăng Long ngàn năm văn vật"... Năm 2010, là kỷ niệm 1 thiên niên kỷ của Thăng Long – Hà Nội.
Năm 1243, nhà Trần tôn tạo sửa đổi và gọi Thăng Long là Long Phượng. Cuối thời Trần, Hồ Quý Ly cho đặt tên là Đông Đô.
Năm 1428, Lê Lợi đặt kinh đô tại Thăng Long và đổi tên là Đông Kinh, vào khoảng thế kỷ 16, khi Đông Kinh trở thành một đô thị sầm uất, có cả người Châu Âu đến buôn bán, thì trong dân gian bắt đầu gọi Đông Kinh là Kẻ Chợ. Theo 1 người đã đến kinh đô Thăng Long là ông William Dampier người Anh thì tại đây có tới 20.000 nóc nhà, thường thấp, tường trát bùn và mái lợp rơm. Dù vậy cũng có một số nhà xây bằng gạch và lợp ngói. Hoàng cung được xây dựng nguy nga hơn dù cũng làm bằng gỗ.
Năm 1805, sau khi thống nhất đất nước, nhà Nguyễn đặt kinh đô tại Phú Xuân (Huế) và cho phá thành Thăng Long để xây thành theo phương pháp của phương Tây do kỹ sư Pháp giúp đỡ. Đồng thời vua Gia Long đổi tên chữ Hán của Thăng Long 昇龍, với nghĩa là "rồng bay lên" thành ra từ đồng âm Thăng Long 昇隆, nhưng mang nghĩa là "thịnh vượng" khác nghĩa với thời các triều đại trước, vì cho rằng Thăng Long lúc đó không còn là kinh đô nơi vua ở cho nên không dùng biểu tượng rồng, linh vật tượng trưng cho vương quyền. Gia Long đổi phủ Phụng Thiên thành phủ Hoài Đức, còn tại kinh đô Huế cho lập phủ Thừa Thiên, trực lệ kinh kỳ. Thăng Long 昇隆 tồn tại cho đến thời vua Minh Mạng khi bãi bỏ Bắc Thành tổng trấn và thành lập tỉnh Hà Nội, năm 1831 niên hiệu Minh Mạng thứ 12.
Từ tháng 12 năm 2002 đến nay, trên khu vực thuộc Hoàng thành Thăng Long xưa (khu vực giữa các phố Hoàng Diệu, Hoàng Văn Thụ, Độc Lập, Bắc Sơn ở Hà Nội), các nhà khảo cổ học đã tiến hành khai quật trên một diện tích khoảng hơn 19 nghìn m², phát lộ một phức hệ di tích-di vật rất phong phú, đa dạng từ La Thành-Đại La (thế kỉ 7-9) đến thành Thăng Long (thế kỉ 11-18) và thành Hà Nội (thế kỉ 19).
== Cương vực Thăng Long xưa ==
Thăng Long bao gồm Hoàng thành Thăng Long và một phủ kiêm lý, là phủ Phụng Thiên, phần thị thành kề cận kinh thành (phủ Phụng Thiên mới là phần gốc lõi của Kẻ Chợ). Đứng đầu phủ Phụng Thiên là viên quan Phủ doãn, gọi là Phủ doãn phủ Phụng Thiên. Phủ Phụng Thiên, đến thời nhà Nguyễn thì đổi thành phủ Hoài Đức, vào cuối thời nhà Hậu Lê tới đầu thời nhà Nguyễn gồm 2 huyện (với tổng cộng 13 tổng có: 239 phường, thôn, trại (đơn vị cấp làng xã)):
Huyện Thọ Xương (8 tổng: 184 phường, thôn, trại) gồm các tổng:
Tả Túc (gồm 20 phường, thôn: Phúc Lâm, Nghĩa Dũng, Mỹ Lộc, Nguyên Khiết Thượng, Nguyên Khiết Hạ, Trừng Thanh Thượng, Sài Thúc-Trừng Thanh Trung, Ngũ Hầu-Trừng Thanh Trung, Bề Thượng-Trừng Thanh Trung, Bề Hạ-Trừng Thanh Trung, Cựu Vệ Tả-Trừng Thanh Trung, Ngoại Ổ-Hương Bài, Kiên Nghĩa-chợ Hà Khẩu, Tả Lâu, Bến Đá, Miếu Trung Liệt, Chợ Bến Đá, Hàng Lược, Đông Hà, Đình Hạ-Phục Cổ, Thượng-Trừng Thanh Hạ, Tả-Trừng Thanh Hạ, Hữu-Trừng Thanh Hạ, Hàng Kiếm-Trừng Thanh Hạ, Đồn Tây Long, Vạn Hà, Thủy cơ Vũ Xá, Thủy cơ Đông Trạch, Thủy cơ Trúc Võng, Thủy cơ Biện Dương, Thủy cơ Tự Nhiên, Thủy cơ Lãng Hồ),
Tiền Túc (gồm 29 phường, thôn: Thuận Mỹ, Hữu Đông Môn, Tố Tịch, Tiên Thị (chợ Tiên, nay khoảng Lý Quốc Sư-Hàng Trống-Nhà thờ Lớn), Khánh Thụy Tả, Đồng Lạc, Hàng Nồi, An Thái, Đông Thành-An Nội, Chợ Đông Thành, Thượng-Cổ Vũ, An Nội-Cổ Vũ, Trung-Cổ Vũ, Trung Hạ-Cổ Vũ, Thị Vật-Cổ Vũ, Thái Cực, Hàng Đàn, Hoa Nương, Kim Bát Thư Khánh Thụy Hữu, Kim Bát Hạ, Đông Hà Kim Bát Thượng, Chùa Tháp-Báo Thiên, Chùa Báo Thiên, Xuân Hoa (nay khoảng phố Hàng Cân), Phúc Phố (khoảng cuối phố Nhà Chung), Tô Mộc (nay khoảng phố Hàng Khay), Chân Sơn (tức Chân Sơn Minh Cầm hay Chân Cầm, nay khoảng các phố Chân Cầm-Hàng Gai-Lý Quốc Sư-Phủ Doãn), Chiêu Hội (tức Hội Vũ)),
Hữu Túc (gồm 18 phường, thôn: Đông Các, Hàng Chè, Hàng Chài, Tả Vọng, Tư Nhất, Kho Súng, Hậu Bi, Diên Hưng, Hà Khẩu, Đông An, Trung An, Nhiễu Thượng-Đông Tác, Nam Hoa, Hậu Lâu, Hàng Cá, Trung Nghĩa, Hạ Hà, Dũng Hàn),
Hậu Túc (gồm 17 phường, Thôn: Nghĩa Lập, Thanh Hà, Huyền Thiên, Tiền Trung, Vĩnh Trừ, Phú Từ, Nội Tự cửa Đông Hoa, Cửa Đông Hoa, Cửa Hậu Đông Hoa, Cầu Cháy, Đồng Xuân, Vĩnh Thái, Nhiễu Trung-Đông Tác, Đông Hà, An Phú, Đồng Thuận, Hoa Đán),
Tả Nghiêm (gồm 23 thôn, phường: (Vũ Thạch Tiểu, Vũ Thạch Hạ) (phường Vũ Thạch cổ nay thuộc khoảng đầu các phố Quang Trung và Bà Triệu, kéo đến phố Lý Thường Kiệt), (Hồi Thuần, Thuần Mỹ) (sau nhập thành Hồi Mỹ, nay khoảng phố Lý Thường Kiệt-Trần Hưng Đạo-xóm Hà Hồi-phố Trần Quốc Toản), Đổi Mã (tức Hòa Mã), Giáo Phường (nay khoảng giữa phố Huế), Hàng Bài, (Vệ Hồ Giao (tức Long Hồ), Hậu Phong Vân) (nay là Vân Hồ), Thịnh Xương (sau nhập với Yên Ninh thành Thịnh Yên), Sài Tân (nay khoảng phố Trần Cao Vân), Cấm Chỉ Hạ (nay khoảng phố Tô Hiến Thành), Nhiễu Hạ-Đông Tác, Phúc Lâm (nay khoảng Nguyễn Công Trứ-Phố Huế), Phúc Lâm Tiểu (phía tây phường Phúc Lâm, nay khoảng Bà Triệu-Tuệ Tĩnh-phố Huế), Phục Cổ (nay khoảng đầu Nguyễn Du-phố Huế), Đông Hạ-Phục Cổ (khoảng giữa phố Huế (số 133 phố Huế)), (Thống Nhất, An Thọ (Yên Thọ)) (hợp thành thôn Yên Nhất, nay là khoảng phố Huế-Thái Phiên), Hồng Mai (tức Bạch Mai, nay khoảng phố Bạch Mai), Quỳnh Lôi (nay khoảng ngõ Quỳnh), Kim Hoa (tức Kim Liên), Trung Tự-Đông Tác (nay là khoảng phường Trung Tự quận Đống Đa)),
Tiền Nghiêm (gồm 30 thôn: Vĩnh Xương, An Trung Thượng, An Trung Hạ, Hoa Ngư Chợ Cửa Nam, Lưu Truyền, Phù Mỹ, Hoa Cẩm, Tứ Mỹ, Cung Tiên, Linh Quang (nay khoảng ngõ Liên Hoa phố Khâm Thiên), Linh Đồng (nay khoảng đầu phố Khâm Thiên-ga Hàng Cỏ), Quang Hoa, Khâm Thiên Giám, Tương Thuận, Liên Thủy (tức Liên Trì, nay khoảng phố Liên Trì và các phố bắc hồ Thiền Quang), Thái Giao (tức Thể Giao, nay khoảng các phố Hồ Xuân Hương-Tuệ Tĩnh-Bà Triệu), Pháp Hoa (nay khoảng phố Trần Bình Trọng, tây hồ Thiền Quang), Hữu Lễ, Thiền Quang (khoảng phía tây hồ Thiền Quang), Tô Tiền (nay khoảng ngõ Tô Tiền phố Khâm Thiên), Trung Kính (nay khoảng đầu phố Khâm Thiên), Hàng Dầu, Bắc Thượng-Cổ Vũ, Bắc Hạ-Cổ Vũ, Thượng Môn-Báo Thiên, Thượng Môn Hạ-Báo Thiên, Thương Đồng Hạ-Báo Thiên, Cửa Nam-Đông Tác, An Tập (Yên Tập, nay khoảng phố Quán Sứ), (Nam Phụ, Nguyễn Khánh) (sau nhập lại thành thôn Phụ Khánh, nay khoảng cuối phố Lý Thường Kiệt-Thợ Nhuộm)),
Hữu Nghiêm (gồm 27 phường, thôn: An Hòa (nay khoảng phố Trần Quý Cáp), Văn Mặc, Hữu Giám, Hậu Giám, Hữu Biên Giám, Minh Triết, Thị Trung Tiền, Hàng Gạo, Cầu Bươu, Quan Thổ (nay khoảng phía nam phố Khâm Thiên), Ngự Sử, Huy Văn (nay khoảng ngõ Văn Chương phố Khâm Thiên), Đỉnh Tân, Tạo Đế, Chợ Giám Hữu Biên, Hậu Bà Ngô (nay khoảng phố Nguyễn Khuyến), Tả Bà Ngô (tức Thanh Miến, nay khoảng đầu phố Văn Miếu), Trung Tả, Ngõ Hàng Kề, Nội Súng, Cổ Thành, Hàng Cháo Giám Hữu Biên, Phụng Thánh, Xã Đàn, Giao Trì (nay khoảng phố Đoàn Thị Điểm), Hàng Bột, Trung Tiền), nay thuộc phần đất quận Đống Đa,
Hậu Nghiêm (gồm 20 thôn, phường: Thanh Nhàn, (Hữu Vọng, Đức Bác) (Vọng Đức), (Hàng Hương, Hoa Viên) (Hương Viên hay Phương Viên, nay khoảng phố Lò Đúc-Trần Xuân Soạn-chợ Hôm Đức Viên), Thanh Lãng, (Cảm Ứng, An Hội) (Cảm Hội, nay là khoảng các phố Lò Đúc-Nguyễn Công Trứ-Cảm Hội), Hàm Châu (nay là Hàm Long), Trường Khánh (Tràng Khánh, sau nhập với Hàm Châu thành Hàm Khánh, nay khoảng phố Lê Văn Hưu), (An Lạc, Trung Chí) (nay là Lạc Trung), (Lương Xá, Yên Xá (An Xá)) (nay là Lương Yên), (Hàng Hương, Hoa Viên) Thọ Lão (nay khoảng dốc Thọ Lão-Lò Đúc), Hàng Rau (tức Hương Thái, nay khoảng phố Trần Xuân Soạn), Nhân Chiêu (khoảng đầu phố Trần Hưng Đạo-Hàn Thuyên), Hộ Quốc (nay là khoảng phố Nguyễn Huy Tự), Ngõ Hàng Trứng (nay khoảng phố Lê Văn Hưu), Tây Hổ (tức Hành Môn, nay khoảng phố Lê Văn Hưu)), nay thuộc phần đất các quận Hai Bà Trưng, Hoàn Kiếm.
Huyện Vĩnh Thuận (5 tổng: 55 xã, thôn, phường, trại) gồm các tổng:
Thượng (gồm 7 phường: Hòe Nhai, Thạch Khối, An Hoa, Nghi Tàm, Quảng Bá, Tây Hồ, Nhật Chiêu (Nhật Tân)),
Trung (gồm 6 phường: Bái Ân (nay thuộc phường Nghĩa Đô quận Cầu Giấy), (Trích Sài, Võng Thị, An Thái (Yên Thái), Hồ Khẩu) (nay thuộc phường Bưởi quận Tây Hồ), Thụy Chương (Thụy Khê)), nay thuộc phần đất các quận Cầu Giấy và Tây Hồ.
Nội (gồm 10 thôn, trại: Liễu Giai, Vĩnh Phúc, Thủ Lệ, Cống An, Đại An (Đại Yên), Ngọc Hà, Hữu Tiệp, Giảng Võ, Vạn Bảo, Hào Nam),
Hạ (gồm 6 phường, trại: Quán Trạm, Nam Đồng, Yên Lãng (làng Láng), Khương Thượng, Công Bộ, Thịnh Quang), nay thuộc phần đất các quận Đống Đa,...,
Yên Thành (gồm 26 phường, thôn: Yên Thành, An Thuận, Cận Hàn, An Ninh Hạ, An Canh, An Định, Chùa Trúc Bạch, Ngũ Xã Tràng, Tứ Chiếng Tràng, Chùa Long Châu, Hậu Khán Sơn, Chùa Một Cột, Chùa Tăng Phúc, Thanh Ninh, Thanh Trường, Cận Tú Nam, Tiên Châu, Dụ Hậu, Phụ Bảo, Bà Lẽ, An Viên, Quán Thánh, Khán Sơn Núi Sư, Trụ trì Trấn Vũ, An Duyên, Tân An).
== Xem thêm ==
Hà Nội
Hoàng thành Thăng Long
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Công trình khai quật Hoàng thành Thăng Long |
phi ngư.txt | Chòm sao Phi Ngư (chữ Hán: 飞鱼, nghĩa: cá bay, tiếng La Tinh: Volans) là một trong 88 chòm sao hiện đại, mang hình ảnh con cá bay.
Chòm sao nhỏ này có diện tích 141 độ vuông, nằm trên thiên cầu nam, chiếm vị trí thứ 76 trong danh sách các chòm sao theo diện tích.
Chòm sao Phi Ngư nằm kề các chòm sao Thuyền Để, Hội Giá, Kiếm Ngư, Sơn Án, Yển Diên.
== Tên gọi ==
== Thiên thể ==
Các thiên thể đáng quan tâm
Thiên hà xoắn ốc NGC 2442 (còn có tên là Meathook), cách Trái Đất khoảng 50 triệu năm ánh sáng
Sao biến đổi kiểu Mira S Vol, với chu kì 14 tháng, cấp sao biểu kiến của nó xê dịch trong khoảng 13,6m đến 8,6m.
Sao đôi ε Vel, ξ Vel, γ Vel, χ Vel
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
catenaccio.txt | Catenaccio là một hệ thống chiến thuật trong bóng đá, trong đó chú trọng đến việc phòng ngự. Trong tiếng Ý catenaccio có nghĩa là "cái then cửa", với ý nghĩa một hệ thống phòng ngữ có tổ chức tốt và hiệu quả để bảo vệ cầu môn.
== Lịch sử ==
Hệ thống này trở nên nổi tiếng khi được huấn luyện viên người Argentina Helenio Herrera của câu lạc bộ Inter Milan áp dụng trong thập kỉ 1960. Huấn luyện viên này đã sử dụng nó để có được các trận thắng tối thiểu 1–0 trước các đối thủ ở trong giải vô địch quốc gia. Catenaccio chịu ảnh hưởng của một hệ thống được huấn luyện viên người Áo Karl Rappan phát minh ra – hệ thống "khoá cửa" (verrou). Ông là huấn luyện viên ở Thụy Sĩ trong các thập kỉ 1930 và 1940, đã đặt một vị trí hậu vệ gọi là "cầu thủ chốt" (verrouiller) (mà ngày nay là vị trí hậu vệ quét), đứng ngay trước thủ môn và chỉ tập trung vào phòng ngự. Huấn luyện viên của Padova là Nereo Rocco vào thập niên 1950 đã đưa hệ thống này vào Ý, sau đó được AC Milan áp dụng vào đầu thập niên 1960.
Rappan đưa ra hệ thống "khoá cửa" vào năm 1932 khi đang là huấn luyện viên cho Servette. Hệ thống với bốn hậu vệ cố định (ngoài hậu vệ quét) chơi theo chiến thuật một kèm một, với một tiền vệ kiến thiết ở giữa sân và hai tiền vệ cánh.
Chiến thuật của Rocco gần với khái niệm catenaccio hơn, được áp dụng năm 1947 cho câu lạc bộ Triestina với đội hình phòng ngự triệt để phổ biến là 1-3-3-3. Với catenaccio, Triestina đã bất ngờ đoạt ngôi á quân Serie A mùa bóng đó. Một vài biến thể là 1-4-4-1 hoặc 1-4-3-2.
Về bản chất, Catenaccio là hệ thống chiến thuật sử dụng kỹ năng kèm người xuất sắc của các hậu vệ để chiến thắng trong các pha đối đầu 1vs1. Trong thời kỳ mà kỹ thuật phòng ngự đơn giản chỉ là cài các cầu thủ đá thấp hơn các tiền vệ trong đội hình để tranh chấp bóng, Catenaccio và những tiền thân của nó đã khiến các tiền đạo gặp phải vấn đề thực sự khi thường xuyên phải đối mặt với một hậu vệ đối thủ ở khoảng cách quá gần để phô diễn kỹ thuật hoặc bứt tốc thoát đi. Tuy nhiên, như thế là chưa đủ để hệ thống phòng ngự danh tiếng này trở nên bất khả chiến bại trong hơn một thập kỷ. Sức mạnh chủ yếu của chiến thuật kinh điển này nằm ở cầu thủ được mệnh danh là "cái chốt cửa": Catenaccio luôn sở hữu một hậu vệ tự do (trung vệ thòng, hậu vệ quét, sweeper) có lối chơi tương tự như các trung vệ Brazil nằm rất thấp trong hệ thống, người vừa là nhân vật thứ 3 để đảm bảo chiến thắng tuyệt đối của đội nhà trong các pha tranh chấp 1vs1, vừa là chốt chặn cuối cùng của hàng hậu vệ để đảm bảo cự ly đội hình khi các trung vệ triển khai "bám người".
Catenaccio không chỉ là phòng thủ. Inter Milan của Herrera đã ghi đến 43 bàn thắng trong 18 vòng đấu mùa giải 1962-1963 (bình quân 2.3 bàn/trận). Những pha phản công thần tốc chính là chìa khoá: Herrera sở hữu một hậu vệ cánh trái có đôi chân thần tốc là Giacinto Facchetti, tiền vệ sáng tạo trung tâm "huyền thoại" của người Tây Ban Nha là Luis ‘Luisito’ Suarez, và "thiên tài" Sandro Mazzola chơi ngay phía sau tiền đạo cắm làm nhiệm vụ nối kết tất cả với tiền đạo.
== Zona Mista ==
Zona Mista là một hệ thống phòng ngự hậu kỳ Catenaccio. Khi bóng đá tổng lực của người Hà Lan và kỹ thuật siêu việt của Mỹ Latin nhấn chìm hệ thống phòng ngự huyền thoại Catenaccio, chiến thuật phòng thủ khu vực ra đời. Tuy nhiên, hệ thống phòng ngự khu vực đơn thuần, với từng cầu thủ bảo vệ một khu vực riêng, một mặt không thể hoàn toàn chống lại sức mạnh huỷ diệt của bóng đá tổng lực (dù nó cải thiện tốc độ tấn công và phản đòn nguy hiểm hơn cho các đối thủ sử dụng bóng đá tổng lực) hoặc các cầu thủ xuất sắc kiểu như Maradona. Hơn nữa, chiến thuật này mâu thuẫn gay gắt với triết lý chơi bóng của người Ý nói riêng, và Catenaccio nói chung. Hệ quả là, Zona Mista ra đời, kết hợp tính tổ chức chặt chẽ từ phòng thủ khu vực và khả năng "kèm người kép" (1 hậu vệ+hậu vệ quét bổ sung) của Catenaccio. Với hệ thống này, hậu vệ quét được di chuyển hoàn toàn tự do trong khi các trung vệ phòng thủ theo khu vực, tiền vệ phòng ngự luôn sẵn sàng lùi sâu để đá như một trung vệ thứ 3, và tiền vệ điều tiết lối chơi được yêu cầu trám vào khu vực của tiền vệ phòng ngự bỏ trống... Có thể nói, chiến thuật phòng ngự của Enzo Bearzot chính là mẫu mực của hệ thống phòng ngự hiện đại nói chung, và "Catenacio mới" nói riêng.
== Xem thêm ==
Hậu vệ (bóng đá)
Tiền đạo (bóng đá)
Bóng đá
Bóng đá tổng lực
Chiến thuật và kỹ năng bóng đá
Đội hình (bóng đá)
== Chú thích và tham khảo == |
trận crécy.txt | Trận Crécy (còn được gọi là trận Cressy trong tiếng Anh) diễn ra vào ngày 26 tháng 8 năm 1346 ở một địa điểm gần Crécy thuộc miền bắc nước Pháp. Trận chiến diễn ra giữa quân Anh do vua Edward III chỉ huy và quân Pháp của vua Philip VI. Các cung thủ Anh đã thảm sát liên quân Pháp - Genova bằng cung dài của mình, trong khi các cỗ đại pháo Anh cũng quét tan cung thủ Genoa, mang lại thắng lợi cho Quân đội Anh. Với đại thắng này, quân Anh đã gây tổn thất nghiêm trọng cho quân Pháp. Đây được xem là một trong những trận chiến quan trọng nhất trong Chiến tranh Trăm Năm. Sự kết hợp giữa các vũ khí và chiến thuật mới đã khiến nhiều sử gia xem đây là sự bắt đầu cho sự chấm dứt của thời đại hiệp sĩ cổ điển. Tỷ dụ, người Anh trong trận này đã dùng đại bác và gây cho quân Pháp kinh khiếp.
Là một trong những thắng lợi rực rỡ ban đầu của quân Anh trong cuộc Chiến tranh Trăm Năm và cũng được xem là chiến công vẻ vang nhất của Edward III, thắng lợi quyết định này đã góp phần to lớn đến việc Calais rơi vào tay ông cùng với chiến thắng toàn diện của ông trong chiến dịch phạt Pháp lần đầu tiên đưa nước Anh nghiêng về thế thắng trong buổi đầu cuộc Chiến tranh Trăm Năm. Ông đã làm nên một trận thắng được coi là lớn nhất trong giai đoạn 1345 - 1347 vô cùng huy hoàng của quân sử nước Anh. Là một chiến tích đi vào huyền thoại, đại thắng tại Crécy - một trong những đại thảm họa của Pháp trong mối thù dai dẳng với Anh Quốc - đã góp phần lớn đến niềm tự hào dân tộc Anh Quốc. Đương khi ấy, chiến công lớn này đã chứng tỏ sức mạnh quân sự của Anh Quốc qua việc hạ gục nước có tầng lớp Hiệp sĩ quý tộc hùng mạnh nhất châu Âu là Pháp, và sai lầm nghiêm trọng của Bộ Chỉ huy quân Pháp là một nguyên nhân cho đại thảm họa này. Toàn thắng ở Crécy cũng là lần đầu tiên mà sức mạnh của các cung thủ nước Anh được chứng tỏ ở châu Âu lục địa, với uy lực khủng khiếp tiêu diệt tuyệt đại bộ phận quý tộc phong kiến Pháp.
Sau đại thắng này, Edward III đã vinh danh con ông là "Hoàng tử Đen" Edward. Đây là chiến tích đầu tiên của vị hoàng tử tài giỏi này. Thanh thế của Edward III cũng gia tăng đáng kể với thắng lợi này, và đại thắng lừng vang ấy đã khiến cho ông trên đà vinh quang mà trở thành một vị anh hùng dân tộc của nước Anh. Thắng lợi quyết định của hai ông trong trận này cũng ngăn ngừa cuộc xâm lược của quân Pháp vào xứ Gascogne, và cùng với thắng lợi ở trận Poitiers (1356) mang lại đỉnh cao vinh quang cho nước Anh trong cuộc Chiến tranh Trăm Năm (dù trận Crécy vẫn được coi là võ công hiển hách nhất của nước Anh triều Edward III).
== Bối cảnh ==
Vua Pháp là Charles IV qua đời vào năm 1328 và không có con trai nối dõi. Đến đây triều đại nhà Capet kết thúc, đẩy nước Pháp vào một cuộc khủng hoảng thừa kế. Em gái của Charles IV, Isabelle, là vợ của vua nước Anh là Edward II và sinh ra vua Edward III nước Anh. Edward III là vua Anh và đồng thời, theo luật thừa kế, là người nam giới có họ hàng gần nhất với vua Charles IV của Pháp vừa băng hà (cháu trai gọi bằng cậu), thế nên cũng được xem là người thừa kế hợp pháp của ngai vàng nước Pháp.
Tất nhiên là giới quý tộc Pháp khó lòng chấp nhận một vị vua từ nước ngoài tới. Họ viện dẫn luật Salic và khẳng định rằng do ngai vàng không thể do một phụ nữ thừa kế nên con cái của người phụ nữ đó cũng không được thừa kế ngai vàng. Vậy là người Pháp quyết định trao ngai vàng cho người nam giới lớn tuổi nhất thuộc dòng họ nhà Capet lúc bấy giờ là Philip xứ Valois. Ông lên ngôi trở thành Philip VI của Pháp và là vị vua đầu tiên của vương triều Valois. Năm 1337, Philip VI tuyên bố các điền địa ở xứ Gascogny (lúc bấy giờ do Anh kiểm soát) đúng ra phải thuộc về nước Pháp. Edward III đáp trả bằng tuyên bố rằng ông mới là người thừa kế hợp pháp của ngai vàng nước Pháp. Chiến tranh Trăm Năm giữa Anh và Pháp bắt đầu từ năm đó.
Trận Sluys vào năm 1340 được xem là trận đánh lớn đầu tiên của hai bên. Sau trận chiến đó, Edward nỗ lực xâm nhập Pháp qua vùng Flanders, nhưng không thành công do khó khăn tài chính và sự thiếu ổn định của các đồng minh. Sáu năm sau đó, Edward vạch ra một tuyến đường khác, và thực hiện một cuộc hành quân cướp phá lớn dọc vùng Normandy, giành thắng lợi ở Caen vào ngày 26 tháng 7 năm 1346 và trận Blanchetaque vào ngày 24 tháng 8. Edward sau đó hành quân về phía bắc, trong lúc Philip VI của Pháp đem đại quân đuổi theo ông. Một kế hoạch của người Pháp để đánh bẫy quân Anh giữa sông Seine và sông Somme đã thất bại trong gang tấc. Edward dẫn quân tới Crécy và chuẩn bị cho một trong những trận đánh lớn nhất trong cuộc chiến.
== Chiến trường ==
Edward đã chọn một vị trí phía bắc của thung lũng nông gần sông Maye. Đó là rìa bên cạnh của một đồng bằng nhấp nhô, với làng Estrées ở phía đông và Wadicourt ở phía bắc-đông, các thôn làng này có thể được bao quanh bởi các vườn cây ăn trái. Khoảng sống núi thấp giữa Wadicourt và Crécy dài khoảng hơn hai cây số với một chiếc cối xay gió hướng ra chính Crécy. Đằng sau đó chính là Crécy-Grand Wood, nó sẽ che chở cho một phần hậu quân và sườn bên phải của quân Anh. Thung lũng Vallee des Clercs chỉ là một vị trí sâu hơn một chỗ trũng trong các vùng đất cao tại đó vốn chạy từ Wadicourt đến Maye. Nó dài khoảng 2 km và tại điểm thấp nhất của nó cũng không thấp hơn 35 mét so với vùng cao nguyên xung quanh. Một số học giả Pháp cho rằng có ba tầng đất canh tác theo kiểu bậc thang cổ xưa hoặc thời trung cổ ở phía trước của cánh quân trung tâm của người Anh, mặc dù điều này không được đề cập trong các bản tài liệu gốc. Có một điểm u bò theo hướng phía dưới cái dốc, nhưng nó không gây trở ngại cho một cuộc tấn công của kỵ binh và thậm chí còn ít cản trở hơn nữa cho bộ binh. Nếu có một hàng rào tự nhiên như vậy thì nó có thể nằm ở phần đầu của sống núi.
Vua Edward đã phác họa đội hình chiến đấu của mình với một tốc độ rất nhàn nhã trong buổi sáng ngày 26 tháng 8. Người của ông đã được chia thành ba đạo quân trong khi họ hành quân. Đội tiên phong trên danh nghĩa thuộc quyền chỉ huy của vị hoàng tử trẻ xứ Wales, mặc dù ông có giám quân là Godfrey de Harcourt, đóng quân ở gần Crécy và theo dự kiến sẽ là nơi hứng những đợt tấn công của quân Pháp, đạo quân Trung tâm hay là đạo quân nằm dưới sự chỉ huy của nhà vua hành quân vượt qua họ và đóng quân ở vị trí sống núi giữa Crécy và Wadicourt. Đạo hậu quân nằm dưới sự chỉ huy của các Bá tước Northampton và Arundel tiếp tục di chuyển xa hơn nữa và chiếm vị trí giữa đạo quân của nhà vua và Wadicourt. Khi nhìn thấy phía trước của làng Crécy quân Anh tiếp tục thành lập một đạo quân tiên phong, một đạo quân trung tâm và một đạo hậu quân, Nhưng tất cả các nhà bình luận đều cho rằng Edward đã biết rằng quân Pháp sẽ tấn công từ Vallee des Clercs. Ngựa được buộc bên trong một pháo đài dã chiến được lập nên bởi các toa xe phía sau cánh phải và một loạt các hố bẫy được đào rải rác để phá vỡ các đợt tấn công của kỵ binh đối phương. Cánh quân bên phải thuộc quyền của Hoàng tử Đen xứ Wales có vẻ như đóng ở đoạn lưng chừng dốc.
== Bố trí đội hình ==
Edward III bố trí quân đội trên một địa hình với những chướng ngại vật tự nhiên ở hai bên cánh để có lợi cho việc phòng thủ. Cánh trái của ông được neo chặt vào một con suối, trong khi cánh phải dựa lưng vào rừng Crécy. Ông cũng hạ lệnh cho kỵ binh phải xuống ngựa để chiến đấu. Làm như vậy sẽ giúp ngăn ngừa việc các kỵ binh quá hăng hái mà lao lên phía trước làm rối loạn hàng ngũ, và cũng đảm bảo sự bảo vệ cho các cung thủ trong trường hợp quân Pháp tiếp cận được quân Anh. Con trai của Edward III là Edward Hoàng tử đen, lúc đó mới 16 tuổi, được giao chỉ huy cánh phải của quân Anh. Bản thân Edward III thì ở tại một cối xay gió trên một ngọn đồi để bao quát tình hình.
Quân Pháp tuy có số lượng đông hơn nhưng lại không có kỷ luật và sự hợp tác giữa các lực lượng. Nhiều quý tộc Pháp xem mình như là đồng minh của nhà vua chứ không phải thuộc hạ, do đó không tuân thủ triệt để theo các mệnh lệnh của ông. Khi lực lượng trinh sát của quân Pháp tường trình về cách bố trí của quân Anh, họ đã đề nghị Philip VI cho quân nghỉ ngơi một đêm rồi tấn công vào sáng sớm. Thế nhưng các quý tộc đã phản đối điều này và buộc nhà vua phải tấn công ngay lập tức để họ có thể lập chiến công. Philip VI bố trí lực lượng lính bắn nỏ chuyên nghiệp từ Genoa ở hàng đầu, phía sau lưng họ là lực lượng kỵ binh hùng hậu nhưng sắp xếp vô tổ chức. Sai lầm lớn nữa của người Pháp là đã bỏ lại đằng sau lực lượng bộ binh và những tấm khiên chắn, phương tiện duy nhất có thể giúp các lính bắn nỏ phòng thủ. Sử gia Jean Froissart cũng miêu tả lại việc hành quân lộn xộn của quân Pháp, và việc quân đánh thuê Genoa bảo rằng họ mệt mỏi sau cuộc hành quân và muốn nghỉ ngơi, nhưng không được chấp thuận.
== Diễn biến trận đánh ==
Đòn tấn công đầu tiên của quân Pháp là từ lính bắn nỏ, những người đã bắn rất nhiều tên vào quân Anh để phá vỡ đội hình và đe dọa họ. Thế nhưng các lính bắn nỏ này đã tỏ ra hoàn toàn không hiệu quả; với tốc độ bắn chỉ 1-2 phát mỗi phút, họ không thể sánh được với các lính bắn cung dài với tốc độ lên đến 5-6 phát trong khoảng thời gian tương tự. Ngoài ra thì các cung thủ Anh cũng có tầm bắn xa hơn do cấu tạo cung của mình và việc chiếm lĩnh vị trí trên cao. Một thuận lợi nữa cho người Anh là trước khi diễn ra trận đánh, đã có một trận mưa to làm hư hại một phần những cây nỏ của lính Genoa, trong khi các lính bắn cung dài người Anh đã tháo dây cung của mình trong suốt cơn mưa. Froissart thì thuật lại rằng họ đã không lấy cung ra khỏi bao cho tới khi đợt tên đầu tên của quân Genoa bắn trật mục tiêu. Các lính bắn nỏ cũng thiếu khiên chắn để bảo vệ cho mình trong suốt quá trình lắp tên kéo dài mà chỉ nấp trong những cỗ xe chở hàng. Khi cung thủ Anh bắt đầu bắn, lính bắn nỏ Genoa ngã gục hàng loạt và không thể tiếp cận được vị trí mà nỏ của họ có thể phát huy tác dụng. Chỉ huy của họ là Doria cũng tử trận và các lính nỏ bắt đầu rút lui trong hoảng sợ và rối loạn. Một số kỵ sĩ và quý tộc đã cho rằng đó là hành động hèn nhát và hạ sát họ khi họ đang trở về hàng ngũ.
Các kỵ binh Pháp cưỡi ngựa xuyên qua các lính đánh thuê đang rút lui để lao lên một cách vô tổ chức. Lúc này thì một số lính đánh thuê đã cắt dây nỏ của mình, có lẽ là để chuẩn bị đầu hàng. Các cung thủ Anh tiếp tục bắn vào các kỵ binh từ xa, và đã có rất nhiều người Pháp ngã gục rồi bị binh lính từ xứ Wales và Ireland cắt cổ. Một số kỵ sĩ Pháp hiếm hoi tiếp cận được với quân Anh thì cũng không tiêu diệt được lực lượng cung thủ Anh, do sự ngăn trở của quân bộ binh Anh.
Froissart viết là súng đại bác của Anh có lẽ đã bắn 2, 3 phát vào quân Genoa, có lẽ là từng phát bắn riêng rẽ của 2 hoặc 3 khẩu súng, bởi vì mất khá nhiều thời gian trong mỗi lần nạp đạn lại cho kiểu pháo sơ khai này. Sử gia Giovanni Villani đồng ý về khả năng tàn phá lớn của chúng, nhưng ông cho rằng quân Anh còn bắn vài phát đại bác vào cả kỵ binh Pháp nữa.
Kỵ binh Pháp tiếp tục cố gắng thực hiện những đợt xung phong của mình. Thế nhưng sườn dốc và các vật cản nhân tạo đã cản trở họ. Cùng lúc đó thì cung thủ Anh tiếp tục bắn rất nhiều tên vào các kỵ sĩ. Mỗi lần quân Pháp xông lên là lại có thêm nhiều người ngã gục và liên tục bị chặn lại. Một chiến binh lão luyện là vua John của Bohemia cũng nằm trong số những người tử trận. Ngay cả khi đã thực hiện tới 16 đợt tấn công, quân Pháp cũng không làm lay chuyển được đội hình của quân Anh, và họ phải hứng chịu những con số thương vong nặng nề. Khi Edward Hoàng tử đen gặp khó khăn, vua cha Edward III đã từ chối đưa quân tăng viện và bảo rằng hãy để Hoàng tử giành lấy vinh quang cho mình. Sau đó hoàng tử Edward đã chứng tỏ mình là một chiến sĩ cừ khôi bằng cách tự mình trụ vững.
Vua Philip của Pháp cũng bị thương và khi đêm xuống, ông hạ lệnh rút lui. Đây là một thất bại nặng nề và đáng xấu hổ cho người Pháp và là một chiến thắng vang dội của quân Anh.
== Kết cục trận đánh ==
Sau khi Philip rút lui, sáng hôm sau đó, Edward hạ lệnh rời vị trí tiến ra chiến trường (có một số lính Anh đã lén ra trong đêm để cướp trước một số đồ có giá trị). Hậu quân Pháp giờ mới tới nơi nhưng cũng mau chóng bỏ chạy. Quân Anh xem xét những người Pháp bị thương để xem ai đáng tiền chuộc cao. Những hiệp sĩ Pháp bị thương quá nặng thì bị hạ sát luôn tại chỗ với những lưỡi dao đâm vào tim hoặc xuyên qua đầu, để không phải chịu cảnh đau đớn kéo dài. Đây được xem là hành động đi ngược lại các truyền thống hiệp sĩ, vì các hiệp sĩ bị nông dân giết chết và chết bởi những mũi tên không rõ người bắn thay vì là đối mặt chiến đấu trực tiếp.
Edward Hoàng tử đen, người đã có được sự tôn trọng và vinh quang bởi những chiến công của mình, ở lại bãi chiến trường để bày tỏ lòng cảm phục với một địch thủ. Đó là vua John của Bohemia, một người gần như mù nhưng đã chiến đấu rất dũng cảm trước khi tử trận. Hoàng tử lấy chiếc khiên của John làm khiên của mình, và giờ đây nó là một biểu tượng được biết đến trên khắp nước Anh và xứ Wales. Ông được vua cha Edward III khen thưởng, và đại thắng Crécy đã trở nên chiến tích đầu tiên của ông.
Trong trận chiến, Pháp đã mất đi nhiều nhà quý tộc của mình và một số lượng lớn binh sĩ. Các số liệu ghi nhận có khoảng 1.500 hiệp sĩ Pháp đã tử trận cùng 10.000 binh sĩ, trong khi quân Anh chỉ mất có vài trăm người, và một số lớn trong đó là các binh sĩ bỏ hàng ngũ ra hôi của sau khi đại quân Pháp đã rút. Những tổn thất nặng nề của người Pháp đã giúp Edward có thể tiến quân mà không gặp phải sự ngăn trở đáng kể nào. Sau trận chiến, Edward vây khốn Calais trong 11 tháng mới đánh chiếm được, và sau đó thành phố cảng này đã nằm dưới sự thống trị của người Anh trong suốt hai thế kỷ (ngay cả sau khi Chiến tranh Trăm Năm đã kết thúc thì mãi tới năm 1557, Pháp mới chinh phục lại được Calais). Ông đã giành được toàn thắng trong chiến dịch phạt Pháp lần thứ nhất của ông, và đưa nước Anh nghiêng về thế thắng trong buổi đầu cuộc Chiến tranh Trăm Năm. Đại thắng lừng vang ở Crécy đã khiến cho ông trên đà vinh quang mà trở thành một vị anh hùng dân tộc của nước Anh.
Cùng thời điểm với thắng lợi vinh quang của nhà vua, quân Anh do Tổng giám mục xứ York chỉ huy đã đập tan cuộc xâm lăng của người Scotland vào năm 1346. Quân Anh cũng thắng nhiều trận lớn ở miền Nam nước Pháp và vùng Bretagne, khiến cho giai đoạn 1345 - 1347 được coi là một thời kỳ huy hoàng nhất trong quân sử Anh Quốc, mà trong đó chiến công của nhà vua tại Crécy là lớn hơn cả. Năm 1356, người Anh một lần nữa đánh bại Pháp tại trận Poitiers với kiểu đánh tương tự. Lần này chỉ huy của quân Anh chính là hoàng tử Edward. Vua Pháp lúc đó là John II đã bị bắt sống trong trận này. Hai đại thắng ở Crécy và Poitiers qua đó đã ghi dấu đỉnh cao thắng lợi của Anh Quốc trong cuộc Chiến tranh Trăm Năm.
== Đánh giá ==
Được xem là chiến công hiển hách nhất của vua Edward III nói riêng và cả nước Anh dưới triều ông nói chung và cũng là một trong những thắng lợi lớn đầu tiên của Quân đội Anh trong cuộc chiến, trận Crécy là một trận chiến mà quân Anh với binh lực nhỏ bé (khoảng 9.000 tới 15.000) đã đại thắng quân Pháp đông hơn nhiều (khoảng 35.000 tới 100.000), lại còn gây tổn hại nghiêm trọng cho bại binh Pháp. Vốn dĩ đã đi sâu vào huyền thoại, chiến thắng là kết quả của sự vượt trội về vũ khí và chiến thuật của người Anh, và cũng chứng tỏ tầm quan trọng của khái niệm về hỏa lực (những vũ khí tầm xa). Sự hiệu quả của cung tên Anh khi dùng với số lượng lớn để chống lại các kỵ sĩ có giáp trụ (cung dài của Anh đã thảm sát quân Pháp và quân Ý một cách không thương tiếc) đã đi ngược lại các suy nghĩ thông thường ở thời điểm đó rằng cung thủ không hiệu quả và dễ bị những lực lượng có áo giáp giết chết khi tiếp cận. (một sách kể rằng quân Anh có 5.500 cung thủ và họ đã bắn 30 lần, mỗi lần ra 5.500 mũi tên) Sau trận chiến này thì cách thức tiến hành chiến tranh ở châu Âu đã có nhiều thay đổi để phù hợp hơn với thời cuộc.
Áo giáp của hiệp sĩ ở thời điểm đó chưa phát triển tới mức mà tên không thể xuyên thủng, và các con ngựa thì không được bảo vệ gì. Nhiều loạt tên đã giết hoặc loại bỏ ngựa của các kỵ sĩ và buộc họ phải đi bộ dưới làn mưa tên. Một điều nữa là việc các lính nỏ Genoa đã không thể bắn tới quân Anh do dây cung bị ướt và tính toán sai cự ly. Quân Anh chiếm giữ vị trí cao đã dễ dàng hạ quân Genoa. Khi quân Genoa rút lui thì các hiệp sĩ Pháp đã giết chết họ và qua đó cũng tự làm rối loạn đội hình của mình trong đợt tấn công đầu tiên.
Với đại thắng, nước Anh đã cho châu Âu lục địa phải nếm trải sức mạnh của các cung thủ Anh lần đầu tiên, với tuyệt đại bộ phận quý tộc phong kiến Pháp đã bị họ tiêu diệt. Nhiều sử gia nhìn nhận trận Crécy đánh dấu sự chấm dứt của thời đại hiệp sĩ cổ điển, mặc dù trận Golden Spurs cũng có thể được xem như vậy. Nhiều tù nhân và người bị thương đã bị giết chết, điều đó đi ngược lại các truyền thống hiệp sĩ, và các hiệp sĩ trên lưng ngựa đã không còn "bất bại" trước bộ binh. Trận Crécy cũng có thể được xem là trận đánh đầu tiên mà súng đại bác được thật sự sử dụng trên chiến trường châu Âu, mặc dù trước đó nó đã từng được sử dụng lẻ tẻ. Dù các Hiệp sĩ và cung thủ giễu cợt, súng lớn của quân Anh đã khiến cho quân Pháp phải kinh sợ. Sau đại thắng này, nhà vua Edward III sẽ còn điều súng lớn đi vây đánh thành Calais.
Ngoài ra, với toàn thắng này, lần đầu tiên nước Anh đã chứng tỏ sức mạnh quân sự của mình trong đêm trường Trung Cổ, đánh gục được cả Pháp là nước có tầng lớp Hiệp sĩ quý tộc vững mạnh nhất ở châu Âu khi ấy. Một nguyên nhân gây nên đại thảm họa này chính là sai lầm nghiêm trọng của Bộ Chỉ huy quân Pháp. Với tính chất quyết định, chiến thắng của Edward III cũng giúp ông giành được những sự ủng hộ về mặt chính trị, nhất là trong hoàn cảnh đang có những sự bất bình trong triều đình về những chiến dịch ở ngoài nước Anh của ông. Thanh thế của ông đã gia tăng đáng kể sau thắng lợi to lớn này. Quân Anh thương vong không bao nhiêu, nhưng phía quân Pháp thì có tới nhiều ngàn người tử trận, bao gồm bá tước các vùng Flanders, Alençon, và Blois, Công tước Rudolph xứ Lorraine, và vua John của Bohemia. Con trai của vua John là Hoàng đế tương lai Charles IV của Đế chế La Mã Thần thánh cũng bị thương trong trận này. Thắng lợi quyết định ấy cũng ngăn ngừa một cuộc xâm lược của quân Pháp vào xứ Gascogne. Và, chiến công này đã đi vào lịch sử như một trong những trận thắng làm nên niềm tự hào dân tộc Anh Quốc, cũng như một trong những đại thảm họa của Pháp trong mối thù dai dẳng với Anh Quốc. Sau này, nhà chính trị - nhà văn Anh là Winston Churchill đã ca ngợi trận Crécy, cùng với trận Höchstädt lần thứ hai, trận Waterloo và Mùa Hè năm 1918 trong cuộc Chiến tranh thế giới thứ nhất là "bốn chiến tích siêu việt".
== Các tác phẩm hư cấu ==
Một số tác phẩm có miêu tả về trận Crécy bao gồm tiểu thuyết World Without End của Ken Follett (mô tả trận chiến từ góc nhìn của một lính Anh và một người trung lập), bộ truyện tranh Crécy của Warren Ellis hay tác phẩm The Archer's Tale của Bernard Cornwell, cùng một số tác phẩm khác.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
=== Tài liệu chính ===
The Anonimalle Chronicle, 1333–1381. Edited by V.H. Galbraith. Manchester: Manchester University Press, 1927.
Avesbury, Robert of. De gestis mirabilibus regis Edwardi Tertii. Edited by Edward Maunde Thompson. London: Rolls Series, 1889.
Chronique de Jean le Bel. Edited by Eugene Deprez and Jules Viard. Paris: Honore Champion, 1977.
Dene, William of. Historia Roffensis. British Library, London.
French Chronicle of London. Edited by G.J. Aungier. Camden Series XXVIII, 1844.
Froissart, Jean. Chronicles. Edited and Translated by Geoffrey Brereton. London: Penguin Books, 1978.
Grandes chroniques de France. Edited by Jules Viard. Paris: Société de l'histoire de France, 1920–53.
Gray, Sir Thomas. Scalacronica. Edited and Translated by Sir Herbert Maxwell. Edinburgh: Maclehose, 1907.
Le Baker, Geoffrey. Chronicles in English Historical Documents. Edited by David C Douglas. New York: Oxford University Press, 1969.
Le Bel, Jean. Chronique de Jean le Bel. Edited by Jules Viard and Eugène Déprez. Paris: Société de l'historie de France, 1904.
Rotuli Parliamentorum. Edited by J. Strachey et al., 6 vols. London: 1767–83.
St. Omers Chronicle. Bibliothèque Nationale, Paris, MS 693, fos. 248-279v. (Currenting being edited and translated into English by Clifford J. Rogers)
Venette, Jean. The Chronicle of Jean de Venette. Edited and Translated by Jean Birdsall. New York: Columbia University Press, 1953.
=== Hợp tuyển ===
Life and Campaigns of the Black Prince. Edited and Translated by Richard Barber. Woodbridge: Boydell Press, 1997.
The Wars of Edward III: Sources and Interpretations. Edited and Translated by Clifford J. Rogers. Woodbridge: Boydell Press, 1999.
=== Tài liệu thứ cấp ===
Ayton, Andrew; Preston, Philip và đồng nghiệp (2005). The Battle of Crecy, 1346. Boydell Press. Bảo trì CS1: Định rõ "và đồng nghiệp" (link)
Amt, Emilie biên tập (2001). Medieval England 1000–1500: A Reader. Peterborough, Ontario: Broadview Press. ISBN 1551112442.
Manfred Weidhorn, A Harmony of Interests: Explorations in the Mind of Sir Winston Churchill, Fairleigh Dickinson Univ Press, 1992. ISBN 0838634664.
Oxford, The Oxford children's book of famous people, Oxford University Press, 01-09-2002. ISBN 019910977X.
Barber, Richard. Edward, Prince of Wales and Aquitaine: A Biography of the Black Prince. Woodbridge: Boydell Press, 2003.
Burne, Alfred H. The Crecy War: A Military History of the Hundred Years War from 1337 to the peace of Bretigny, 1360. New York, NY: Oxford University Press, 1955.
Charles W. Oman, History of England, Ayer Publishing, 01-04-1972. ISBN 0836999207.
DeVries, Kelly. Infantry Warfare in the Early Fourteenth Century. Woodbridge, UK: Boydell Press, 1996.
Hewitt, H.J. The Organization of War under Edward III. Manchester: Manchester University Press, 1966.
Medieval Warfare: A History. Edited by Maurice Keen. Oxford, UK: Oxford University Press, 1999.
Lynn, John A. "Battle: A History of Combat and Culture". Cambridge, MA: Westview Press, 2003.
Nicolle, David (2000). Crécy 1346: Triumph of the longbow. Oxford: Osprey Publishing. ISBN 1855329662.
John H. Chambers, Everyone's History, Xlibris Corporation, 2008. ISBN 1436347122.
Christopher Rothero, The armies of Agincourt, Osprey Publishing, 23-07-1981. ISBN 0850453941.
Christopher Haigh, The Cambridge Historical Encyclopedia of Great Britain and Ireland, Cambridge University Press, 31-08-1990. ISBN 0521395526.
Harry Elmer Barnes, History and Social Intelligence, Kessinger Publishing, 30-04-2004. ISBN 1417912995.
Donald J. Hanle, Terrorism: the newest face of warfare.
Ormrod, W.D. The Reign of Edward III. Charleston, SC: Tempus Publishing, Inc, 2000.
Packe, Michael. King Edward III. London, UK: Routledge & Kegan Paul plc, 1985.
Prestwich, Michael. Armies and Warfare in the Middle Ages: The English Experience. New Haven, CT: Yale University Press, 1996.
Prestwich, Michael. The Three Edwards: War and State in England, 1272–1377. New York, NY: St. Martin's Press, 1980.
Reid, Peter. A Brief History of Medieval Warfare: The Rise and Fall of English Supremacy at Arms, 1314–1485. Philadelphia: Running Press, 2007.
Rogers, Clifford J. Essay on Medieval Military History: Strategy, Military Revolution, and the Hundred Years War. Surrey, UK: Ashgate Variorum, 2010.
Julian Munby, Richard Barber, Richard Brown, Edward III's Round Table at Windsor: The House of the Round Table and the Windsor Festival of 1344, Boydell Press, 2008. ISBN 1843833913.
Henry Morton Stanley, Dorothy Stanley, The Autobiography of Sir Henry Morton Stanley, G.c.b, Cambridge University Press, 25-08-2011. ISBN 1108031196.
Laurence Marcellus Larson, A short history of England and the British Empire, Henry Holt and Company, 1915.
Mary Parmele, The Evolution of an Empire: A Brief Historical Sketch of England, Echo Library, 30-06-2008. ISBN 1406865427.
Tim McNeese, The Renaissance, Lorenz Educational Press, 1999. ISBN 0787703915.
Kelly DeVries, Clifford J. Rogers, The Journal of Medieval Military History, Boydell Press, 2005. ISBN 1843831716.
William W. Kibler, Medieval France: an encyclopedia, Routledge, 01-03-1995. ISBN 0824044444.
Rogers, Clifford. War Cruel and Sharp: English Strategy under Edward III, 1327–1360. Woodbridge, UK: Boydell Press, 2000.
Seward, Desmond. The Hundred Years War: The English in France 1337–1453. London, UK: Constable and Company Ltd., 1996.
Sumption, Jonathan. The Hundred Years War, Volume I: Trial by Battle. Philadelphia, PA: University of Pennsylvania Press, 1990.
The Hundred Years War. Edited by Kenneth Fowler. Suffolk, UK: Richard Clay. The Chaucer Press, 1971.
Waugh, Scott L. England in the reign of Edward III. Cambridge: Cambridge University Press, 1991. |
cộng hòa trung phi.txt | Cộng hòa Trung Phi (tiếng Pháp: République Centrafricaine; tiếng Sango: Ködörösêse tî Bêafrîka) là một quốc gia tại miền trung châu Phi. Cộng hòa Trung Phi giáp Tchad về phía bắc, phía đông giáp Nam Sudan, phía nam giáp Cộng hòa Dân chủ Congo và Cộng hòa Congo, phía tây giáp Cameroon. Đây là một quốc gia không có bờ biển và có diện tích 622.436 kilômét vuông. Bangui là thủ đô và là thành phố lớn nhất quốc gia này. Cộng hòa Trung Phi nằm ở rìa bắc của lưu vực sông Congo. Phần lớn đất đai là cao nguyên với độ cao từ 610–790 m. Hai dãy núi ở phía bắc và đông bắc có độ cao tối đa khoảng 1400 m. Phần lớn quốc gia này có thảm thực vật là savanna, bãi cỏ xen lẫn với bụi cây. Rừng rậm tập trung ở tây nam. Quốc gia này có nhiều sông lớn: Bamingui và Ouham ở phía bắc, Ubangi, một chi lưu của sông Congo ở phía nam.
== Lịch sửSửa đổi ==
Lịch sử thời kì tiền thuộc địa của quốc gia này ít được biết đến. Người Banda, người Ngbandi, người Baya và người Azande là các nhóm sắc tộc chính ở vùng này. Từ thập kỷ 70 của thế kỉ 19, người châu Âu bắt đầu thám hiểm vùng này.
Năm 1889, Pháp lập một tiền trạm tại Bangui, thành lập vùng thuộc địa giữa hai sông Oubangui và Chari năm 1905 và sáp nhập vào lãnh thổ Châu Phi Xích đạo thuộc Pháp năm 1910. Vùng lãnh thổ này trở thành Cộng hòa Trung Phi với tư cách là nước tự trị thuộc Cộng đồng nước Pháp năm 1958.
Năm 1960, Cộng hòa Trung Phi tuyên bố độc lập và David Dacko trở thành Tổng thống. Năm 1966, Jean Bedel Bokassa lên cầm quyền sau cuộc đảo chính. Bokassa tuyên bố trở thành Tổng thống trọn đời năm 1972. Năm 1976, Tổng thống Jean Bedel Bokassa tuyên bố làm Hoàng đế, đổi tên nước thành Vương quốc Trung Phi.
Những xáo trộn kinh tế - xã hội, các cuộc đàn áp đẫm máu đối với những người chống đối và những cuộc tàn sát học sinh trung học dẫn đến việc Pháp giúp đỡ Tổng thống David Dacko lật đổ Bokassa, trở lại cầm quyền và lập nền cộng hòa năm 1979. Sau cuộc tuyển cử Tổng thống năm 1981, Tướng Kolingba tiến hành đảo chính và lãnh đạo đất nước. Mặc dầu Hiến pháp mới được thông qua (1986) và trở lại chế độ đa đảng (1991- 1992), Kolingba cũng không thể duy trì quyền lực. Năm 1993, Ange Félix Patassé đắc cử Tổng thống. Tháng 3 năm 1998, "Hiệp ước hòa giải dân tộc" được ký kết tại Bangui. Tổng thống Patassé sống sót sau cuộc mưu toan đảo chính tháng 5 năm 2001. Tháng 3 năm 2003, Tướng Francois Bozizé lật đổ Tổng thống Patassé và tự tuyên bố trở thành Tổng thống. Ngày 13 tháng 3 năm 2005, trong cuộc bầu cử Tổng thống ở Trung Phi, Francois Bozizé đã đắc cử với số phiếu 64,6%.
== Chính trịSửa đổi ==
Trung Phi thực hiện đường lối chính trị đa đảng, mở cửa. Đảng cầm quyền hiện nay là Phong trào giải phóng nhân dân Trung Phi (Đảng của Tổng thống).
Các Đảng phái đối lập:
- Liên minh vì nền Dân chủ và Tiến bộ (ADP),
- Đảng Cộng hoà Trung Phi (PRC),
- Phong trào Dân chủ vì Đổi mới và Tiến bộ ở Trung Phi (MDREC).
Do tình hình an ninh chính trị có nhiều phức tạp, năm 1998, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đã thông qua Nghị quyết 1159 thiết lập lực lượng gìn giữ hoà bình ở Trung Phi (MINURCA) thay thế cho lực lượng Liên Phi; MINURCA đã kết thúc sứ mệnh của mình năm 2000. Hiện nay, Văn phòng kiến tạo hoà bình của Liên Hiệp Quốc tại Cộng hòa Trung Phi (BONUCA), được thành lập năm 1999 để hỗ trợ các hoạt động của MINURCA vẫn đang hoạt động.
Gần đây, do chịu ảnh hưởng của xung đột Darfur (Sudan), khu vực Đông-Bắc của Trung Phi còn có những bất ổn do làn sóng người tị nạn từ Darfur cũng như xung đột giữa một số lực lượng phiến quân tại khu vực biên giới chung với Sudan và Tchad. Trong bối cảnh đó, ngày 25 tháng 9 năm 2007, Liên Hợp Quốc đã thông qua Nghị quyết 1778 cho phép triển khai tại Trung Phi và Sát lực lượng quốc tế trên cơ sở phối hợp với EU để thực thi các nhiệm vụ trấn áp bạo lực, bảo vệ dân thường, người tị nạn và giám sát nhân quyền. Tháng 10 năm 2007, EU đã thông qua quyết định triển khai lực lượng của mình (EUFOR) tại khu vực này.
Ngày 26 tháng 6 năm 2008, Cộng hòa Trung Phi và hai phe nổi dậy (Quân đội nhân dân phục hồi nền dân chủ và Liên minh các lực lượng dân chủ vì tập hợp) ở miền Bắc đã ký Hiệp định hoà bình chung tại Gabon theo đó tiến hành giải giáp các phe nhóm nổi dậy, ân xá cho các binh sĩ và tái hoà nhập họ vào cộng đồng. Trước đó, hai phe này đã từng ký hiệp định riêng rẽ với chính phủ Trung Phi.
Tháng 12 năm 2008, Trung Phi tổ chức đối thoại chính trị mở rộng với sự tham gia của tất cả các phe phái chính trị, kể cả phe của cựu Tổng thống Ange Félix Patassé, và đề ra lộ trình chấm dứt xung đột vũ trang và bất ổn chính trị.
== Đối ngoạiSửa đổi ==
Trung Phi là thành viên Liên Hiệp Quốc, Liên minh châu Phi (AU), Phong trào không liên kết, Tổ chức Quốc tế Pháp ngữ và nhiều tổ chức khác.
Trung Phi có quan hệ mật thiết với Pháp trên nhiều lĩnh vực. Pháp đang hỗ trợ quân sự cho các lực lượng của Trung Phi. Trong giai đoạn 1970-1980, Libya tích cực tranh giành ảnh hưởng với Pháp tại Trung Phi và tháng 5 năm 2001, Libya từng triển khai quân tại Bangui để yểm trợ cho Tổng thống Ange Félix Patassé.
Bên cạnh đó, Trung Phi tăng cường quan hệ với Mỹ và các nước phương Tây. Đầu năm 1989, Trung Phi công nhận nhà nước Ixraen và Palestin.
Từ năm 2005, đến nay, Trung Phi tìm cách đa dạng hoá quan hệ đối ngoại với các nước khác như các nước vùng Vịnh, Trung Quốc, Nam Phi.
== Địa lýSửa đổi ==
Cộng hòa Trung Phi nằm ở khu vực Trung Phi, Bắc giáp Tchad, Nam giáp Cộng hòa Congo và Cộng hòa Dân chủ Congo, Đông giáp Sudan vâ Tây giáp Cameroon. Địa hình phần lớn là vùng cao nguyên rộng lớn nằm giữa hai vùng trũng ở phía bắc và phía nam.
=== Khí hậuSửa đổi ===
Khu vực cao nguyên phía nam nằm trong miền khí hậu cận xích đạo, thuận lợi cho các khu rừng nhiệt đới phát tnển, do lượng mưa giảm dần nên khu vực phía bắc phần lớn là các vùng thảo nguyên.
== Các tỉnh và đơn vị dưới tỉnhSửa đổi ==
Cộng hòa Trung Phi được chia thành 14 tỉnh (préfectures), cùng với 2 tỉnh kinh tế (préfectures economiques) và một thành phố tự trị. Các tỉnh lại được chia thành 71 phó tỉnh (sous-préfectures).
Các tỉnh gồm:
hai tỉnh kinh tế gồm Nana-Grébizi và Sangha-Mbaéré; đô thị là Bangui.
== Kinh tếSửa đổi ==
Trung Phi là một trong những nước nghèo ở châu Phi. Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp và lâm nghiệp. Nông nghiệp chiếm hơn 1/2 GDP, gỗ chiếm 16% thu nhập xuất khẩu và công nghiệp kim cương chiếm 40%. Sản phẩm nông nghiệp có: bông, cà phê, sắn, lạc, lúa, ngô, kê... Về khoáng sản ngoài kim cương còn có sắt, măng gan, niken... nhưng sản lượng thấp.
Hạn chế của Trung Phi là nước không tiếp giáp với biển, hệ thống giao thông lạc hậu, phần lớn là lực lượng lao động không có nghề. Thiếu sự chỉ đạo trong phát triển kinh tế vĩ mô. Tình hình bất ổn cản trở kinh tế phát triển. Phân phối thu nhập bất bình đẳng. Mặc dù được Pháp và cộng đồng quốc tế viện trợ nhưng chỉ đáp ứng một phần nhu cầu thiết yếu trong nước.
Trung Phi xuất khẩu kim cương, gỗ, bông, cà phê, thuốc lá sang các nước Bỉ (22%), Indonesia (19,3%), Ý (7,7%), Pháp (7,1%), Cộng hòa Dân chủ Công Gô (6,8%). Giá trị xuất khẩu đạt 146,7 triệu USD (2007). Nhập khẩu thực phẩm, hàng dệt may, xăng dầu, máy móc thiết bị, động cơ ôtô, hoá chất, dược phẩm từ các nước Pháp (16,6%), Hà Lan (13%), Cameroon (9,7%), Mỹ (6,3%). Giá trị nhập khẩu là 237,3 triệu USD (2007).
Năm 2010, tổng sản phẩm quốc nội của Trung Phi là 2,2 tỷ USD, tăng trưởng 3,7% so với năm 2006. GDP bình quân đầu người của Trung Phi là hơn 400 USD người/năm. Tỷ lệ lạm phát được duy trì dưới 1%/năm.
Về ngoại thương, năm 2010, Trung Phi xuất khẩu khoảng 200 triệu USD hàng hoá các loại, trong đó các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của nước này là kim cương, gỗ, bông, cà phê, thuốc lá. Các đối tác xuất khẩu của Trung Phi là Bỉ, Ý, Tây Ban Nha, Indonesia, Pháp, Mỹ. Kim ngạch nhập khẩu năm 2010 của Trung Phi là 300 triệu USD. Các mặt hàng mà nước này thường nhập là thực phẩm, hàng dệt may, sản phẩm xăng dầu, máy móc, thiết bị điện, xe cộ, hoá chất, dược phẩm, hàng tiêu dùng, sản phẩm công nghiệp. Các bạn hàng nhập khẩu của Trung Phi là Pháp, Mỹ, Cameroon, Bỉ.
== Dân cưSửa đổi ==
Dân số của nước Cộng hòa Trung Phi đã tăng gấp bốn lần kể từ khi độc lập. Năm 1960, dân số là 1.232.000; ước tính của Liên Hợp Quốc năm 2009, nó là 4.422.000. Liên Hiệp Quốc ước tính rằng khoảng 11% dân số trong độ tuổi từ 15 đến 49 bị nhiễm HIV. Chỉ có 3% là dương tính với căn bệnh này. Dân cư được chia thành hơn 80 nhóm dân tộc, mỗi nhóm có ngôn ngữ riêng của mình. Các nhóm dân tộc lớn nhất là Baya, Banda, Mandjia, Sara, Mboum, M'Baka, Yakoma, và Fula (còn gọi là Fulani)., với nhóm nhỏ người Pháp.
Hơn 55% dân số sống ở khu vực nông thôn. Các lĩnh vực nông nghiệp chính tập trung xung quanh Bossangoa và Bambari. Bangui, Berberati, Bangassou, và Bossangoa là các trung tâm đô thị đông dân cư nhất.
Trung Phi cũng là quốc gia có tỷ lệ dân sô trẻ cao nhất châu Phi. Tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi trong năm 2010 là 40,4%, 55,6% là từ 15 đến 65 tuổi, trong khi 4% là 65 tuổi trở lên.
== Tôn giáoSửa đổi ==
Khoảng 80% dân số của nước Cộng hòa Trung Phi là Kitô hữu. Người ta tin rằng nhiều người trong số những người theo này kết hợp yếu tố truyền thống bản địa vào việc thực hành đức tin của họ.
Tín hữu Công giáo và Tin Lành phân bố rải rác khắp lãnh thổ. Hồi giáo tập trung chủ yếu ở phía bắc. Khoảng 51% dân số là Tin Lành, 29% là Công giáo La Mã, và 10% là người Hồi giáo. Tín ngưỡng bản địa truyền thống được thực hiện bởi khoảng 10% dân số. Ngoài ra, còn có các nhóm truyền giáo thuộc các giáo phái Kitô giáo khác như Giáo hội Luther, Baptist, và Nhân chứng Jehovah.
Công giáo Rôma ở Trung Phi chiếm trên dưới 900.000 tín hữu đại diện cho khoảng một phần tư dân số. Có chín giáo phận và một tổng giáo phận:
Bangui
Alindao
Bambari
Bangassou
Berbérati
Bossangoa
Bouar
Kaga–Bandoro
Mbaïki
Hồi giáo chiếm khoảng 10% (500.000 người) dân số của nước Cộng hòa Trung Phi, làm cho nó làm cho nó trở thành tôn giáo lớn thứ 2 sau Kitô giáo. Hầu hết người Hồi giáo Trung Phi sống ở phía bắc, phía đông, các vùng gần biên giới với Tchad và Sudan.
Hiến pháp (bị đình chỉ từ năm 2003) quy định về tự do tôn giáo trong khi cấm một số hình thức cực đoan tôn giáo. Lệnh cấm này thường được coi là hướng về trào lưu chính thống Hồi giáo. Ngày lễ Kitô giáo được tổ chức như ngày lễ quốc gia. Tất cả các nhóm tôn giáo phải đăng ký thông qua Bộ Nội vụ. Giáo hội Thống Nhất đã bị cấm kể từ giữa những năm 1980. Việc thực hành phù thủy được coi là một hành vi phạm tội hình sự, tuy nhiên truy tố thường chỉ được thực hiện kết hợp với hoạt động tội phạm khác, chẳng hạn như giết người.
== Giáo dụcSửa đổi ==
Giáo dục bắt buộc và miễn phí đối với trẻ em (bắt đầu từ năm 7 tuổi). Cả nước có khoảng 2/3 trẻ em theo học đầy đủ. Các cơ sở và phương tiện dạy và học còn rất thiếu thốn, khoảng 10% số học sinh theo học tiếp chương trình trung học và 2% số học sinh học lên đại học (hoặc các trường kĩ thuật).
== Y tếSửa đổi ==
Các bệnh tật như sốt rét, viêm gan, bại liệt, giun sán... khá phổ biến. Trung Phi chưa có đủ các dịch vụ chăm sóc y tế. Cán bộ y tế thường làm việc tận tụy nhưng được trả lương rất thấp. Hoạt động y tế ở nông thôn được sự tài trợ của các bệnh viện tư ở thủ đô và các nhà truyền giáo.
== Tham khảoSửa đổi ==
== Liên kết ngoàiSửa đổi == |
krona thụy điển.txt | Krona Thụy Điển (viết tắt: kr; mã ISO 4217: SEK) là đơn vị tiền của Thụy Điển từ năm 1873 (dạng số nhiều là kronor). Một krona gồm 100 öre (tương đương xu). Đồng krona Thụy Điển cũng được lưu hành ở Quần đảo Åland song song với tiền chính thức của Phần Lan là đồng euro.
== Lịch sử ==
Việc phát hành đồng krona, thay thế ngang giá cho đồng riksdaler Thụy Điển, là kết quả của việc thành lập Liên minh Tiền tệ Scandinavia, có hiệu lực từ năm 1873 và kéo dài tới Chiến tranh thế giới thứ nhất. Liên minh này gồm 2 nước Đan Mạch, Thụy Điển, sau đó thêm Na Uy. Tên tiền là krona bằng tiếng Thụy Điển và krone trong tiếng Đan Mạch và Na Uy (dịch nghĩa đen sang tiếng Anh là crown). Cả 3 tiền này đều lấy bản vị vàng (kim bản vị) với tiêu chuẩn 2.480 kronor (kroner) = 1 kg vàng nguyên chất.
Sau khi Liên minh Tiền tệ Scandinavia giải thể, thì cả 3 nước đều quyết định giữ tên tiền riêng của mình như cũ.
== Các tiền kim loại ==
Từ năm 1873 tới 1876, Thụy Điển phát hành các tiền kim loại mệnh giá 1, 2, 5, 10, 25, 50 öre, cùng 1, 2, 10, 20 Krona; trong đó các đồng 1, 2, 5 öre bằng đồng thau, các đồng 10, 25, 50 öre và 1 krona, 2 Krona bằng bạc, còn các đồng 10, 20 Krona bằng vàng. Năm 1881 thêm đồng 5 Krona bằng vàng.
Việc đúc tiền bằng vàng được đình chỉ từ năm 1902 và chỉ được đúc lại ngắn ngủi trong các năm 1920 và 1925, sau đó đình chỉ hoàn toàn. Trong thế chiến thứ nhất do thiếu kim loại, nên dùng sắt thay thế đồng thau từ năm 1917 tới 1919. Hợp kim đồng-kền thay thế cho kim loại bạc ở các đồng 10, 25, 50 öre năm 1920; tới năm 1927 thì đúc bằng bạc trở lại.
Trong thế chiến thứ hai lại thiếu kim loại, nên các đồng 10, 25, 50 öre lại được đúc bằng hợp kim đồng-kền trong các năm 1940 và 1947. Năm 1942, dùng sắt thay đồng thau (tới năm 1952), còn khối lượng bạc trong các tiền kim loại khác bị giảm xuống. Năm 1952, các đồng 10, 25, 50 öre bằng bạc được thay bằng hợp kim đồng-kền năm 1958, tiếp theo là đồng 2 Krona, còn đồng 1 krona bằng đồng-kền được bọc bằng đồng (thay thế bằng đồng-kền năm 1982). Các năm 1954, 1955 và 1961 đúc các đồng 5 Krona bằng bạc với mẫu thiết kế giống như các đồng 1 krona, 2 Krona hiện hành.
Năm 1962, đúc tiền kim loại 5 Krona mới nhỏ hơn (đồng cũ) bằng hợp kim đồng-kền, bọc bằng kền. Mẫu thiết kế hiện nay được đúc từ năm 1979. Năm 1971, ngưng đúc các đồng 1 öre, 2 öre, cũng như đồng 2 Krona. Năm 1972, kích thước của đồng 5 öre được giảm bớt. Năm 1984, chấm dứt việc đúc các đồng 5 öre, 25 öre, tiếp theo là đồng 10 öre vào năm 1991. Năm 1992, đưa vào lưu hành các tiền kim loại 10 Krona bằng đồng-nhôm ("Nordic gold"), cùng với các tiền kim loại 50 öre màu đồng. Tháng 3 năm 2009, chính phủ quyết định ngưng đúc tiền kim loại 50 öre. Các đồng tiền kim loại 50 öre sẽ hết hiệu lực kể từ tháng 10 năm 2010. Nguyên do là đồng tiền kim loại 50 öre có giá trị thương mại thấp và không còn được dùng để nhét vào máy trả tiền ở nơi đậu xe nữa, mà dùng đồng tiền kim loại 2 và 20 Krona.
Các tiền kim loại đang lưu hành:
Về các mệnh giá khác phát hành từ trước kia, tất cả các đồng 2 Krona đúc từ năm 1876 trở đi vẫn lưu hành hợp pháp theo luật, mặc dù hiện nay rất hiếm thấy các tiền này. Cần nói thêm, mọi tiền kim loại được đúc năm 1897 và sau này nhân các dịp quốc khánh hoặc kỷ niệm cũng đều lưu hành hợp pháp.
Theo truyền thống, các tiền kim loại có giá trị ít hơn 1 krona không in hình nổi quốc vương Thụy Điển, trong khi các tiền đúc có giá trị từ 1 krona trở lên (ngoại trừ đồng 5 Krona) đều mang hình nổi này. Các khẩu hiệu của hoàng gia Thụy Điển cũng được đưa vào nhiều tiền kim loại.
== Các tiền giấy ==
Năm 1874, ngân hàng quốc gia Thụy Điển cho lưu hành các tiền giấy mệnh giá 1, 5, 10, 50, 100 và 1.000 Krona. Ban đầu tiền giấy 1 krona chỉ được phát hành cho 2 năm, nhưng được phát hành tiếp giữa các năm 1914 và 1920. Năm 1939 và 1958, phát hành tiền giấy 10.000 Krona.
Tiền giấy 5 Krona ngưng phát hành từ năm 1981, nhưng tiền kim loại 5 Krona được phát hành từ năm 1972. Năm 1985, tiền giấy 500 Krona được phát hành. Bằng việc đúc đồng 10 Krona kim loại năm 1991, thì việc in tiền giấy 10 Krona bị đình chỉ và tiền giấy 20 Krona được phát hành. Cùng năm đó, ngưng phát hành tiền giấy 50 Krona, nhưng tới năm 1996 lại tái phát hành. Năm 2006 Ngân hàng quốc gia phát hành loại tiền giấy 1.000 Krona mới là tiền giấy đầu tiên có hình an toàn do công ty Crane thiết kế. Công ty Crane AB, nằm ở Tumba Thụy Điển là công ty in mọi tiền giấy krona.
Các tiền giấy thuộc loạt mới nhất:
== Các thay đổi mới đây ==
Ngày 18 tháng 12 năm 2008, Ngân hàng quốc gia Thụy Điển công bố đề nghị ngưng lưu hành dần dần đồng kim loại 50 öre, thời hạn chót là năm 2010. Tuy nhiên, nó vẫn được sử dụng trong việc trả tiền bằng máy trả tiền điện tử.
== Tỷ giá hối đoái ==
Về lịch sử Tỷ giá hối đoái của đồng krona Thụy Điển so với các ngoại tệ khác tùy thuộc vào chính sách tiền tệ của Thụy Điển theo đuổi trong thời điểm đó. Từ tháng 11 năm 1992 một chế độ tỷ giá hoái đoái thả nổi đã được duy trì.. Tỷ giá hối đoái so với đồng euro tương đối ổn định từ năm 2002 (khoảng 9-9,5 SEK = 1 EUR), nhưng từ nửa sau năm 2008 thì đồng krona Thụy Điển mất giá khoảng 20%, và dao động từ 10,4-11 SEK = 1 EUR.
== Tiền euro ==
Ngày 14 tháng 9 năm 2003, một cuộc trưng cầu dân ý về việc gia nhập khu vực euro đã được tổ chức, trong đó 56% trong tổng số khoảng 80% cử tri đi bỏ phiếu đã chống (theo đài BBC).. Có sự nhất trí giữa các đảng là sẽ không bàn luận vấn đề này trước cuộc tổng tuyển cử năm 2010. Sau đó có một cuộc thảo luận về việc mở một cuộc trưng cầu dân ý mới vào năm 2012 hoặc muộn hơn. Các cuộc thăm dò ý dân năm 2005 và 2006 thường cho thấy khoảng 55% người trả lời chống và 45% thuận. Trong cuộc thăm dò tháng 5 năm 2007, thì 33,3% tỏ ý thuận, 53,8% chống đối và 13,0% lưỡng lự.
Trên báo Dagens Nyheter, thủ tướng Thụy Điển Fredrik Reinfeldt nói sẽ không tổ chức trưng cầu dân ý về việc gia nhập đồng euro cho tới khi đạt được sự ủng hộ của dân chúng và đảng Dân chủ Xã hội Thụy Điển. Hiện đảng này chưa có kế hoạch về cuộc trưng cầu dân ý như vậy trước năm 2014..
== Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng SEK ==
== Xem thêm ==
Liên minh tiền tệ Scandinavia
Kinh tế Thụy Điển
Krone Đan Mạch
Krone Na Uy
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Krause, Chester L. & Clifford Mishler (1991). Standard Catalog of World Coins: 1801-1991 (ấn bản 18). Krause Publications. ISBN 0-87341-150-1. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link)
Pick, Albert (1994). Standard Catalog of World Paper Money: General Issues. Colin R. Bruce II and Neil Shafer (editors) (ấn bản 7). Krause Publications. ISBN 0-87341-207-9. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link)
== Liên kết ngoài ==
Sveriges Riksbank (tiếng Anh)
Riksbankens sida om Svenska mynt och sedlar (tiếng Thụy Điển)
Riksbankens föreskrifter (RBFS 2009:1) om inlösen av sedlar och mynt (tiếng Thụy Điển)
Myntverket (tiếng Thụy Điển)
Swedish monetary standards in historical perspective (tiếng Anh)
Svåra svenska mynt - Felpräglingar, varianter, låga upplagor och bilder
SFS 1991:1499 (tiếng Thụy Điển) |
giọng hát việt (mùa 1).txt | Mùa đầu tiên của Giọng hát Việt, một cuộc thi ca hát tương tác truyền hình thực tế, bắt đầu từ ngày 8 tháng 7 năm 2012 trên VTV, Việt Nam.
Chương trình làm theo khuôn mẫu và sản xuất dựa theo bản nhượng quyền từ chương trình truyền hình Hà Lan The Voice of Holland, sáng tạo và phát triển bởi John de Mol lần đầu tiên vào 2010 và tương tự The Voice (Mỹ).
Bốn giám khảo cho mùa đầu tiên là Thu Minh, Trần Lập, Hồ Ngọc Hà và Đàm Vĩnh Hưng. Họ dẫn dắt một nhóm gồm 14 người.
Giải thưởng cho nhà vô địch mùa đầu tiên là 500 triệu đồng Việt Nam và một hợp đồng thu âm với hãng ghi âm Universal Republic cùng nhiều giải phụ khác.
Trong đêm chung kết diễn ra vào ngày 13 tháng 1 năm 2013, thí sinh Phạm Thị Hương Tràm của đội Thu Minh đã chiến thắng và là nhà vô địch của Giọng hát Việt mùa đầu tiên.
== Vòng Blind Audition (Giấu mặt) ==
Trong vòng giấu mặt, các huấn luyện viên sẽ tiến hành " tuyển quân " để tìm cho mình một đội 14 người. Các huấn luyện viên sẽ ngồi quay lưng lại với thí sinh và không được biết bất cứ thông tin gì của thí sinh trừ giọng hát. Khi họ thấy muốn "tuyển" thí sinh đó vào đội thì phải nhấn nút "TÔI CHỌN BẠN" trong khi phần thi của thí sinh chưa kết thúc. Nếu chỉ một huấn luyện viên quay lại, thí sinh sẽ về đội người đó. Nếu có nhiều huấn luyện viên quay lại, thí sinh được phép chọn lựa huấn luyện viên mình thích và huấn luyện viên cũng được phép dùng mọi cách để " chiêu mộ nhân tài" cho đội của mình. Huấn luyện viên đã đầy chỗ sẽ dừng tuyển trong khi các huấn luyện viên khác tiếp tục. Vòng giấu mặt kết thúc ngay khi tất cả các huấn luyện viên dừng tuyển vì đủ chỗ.
=== Tập 1 (08/07/2012) ===
=== Tập 2 (18/07/2012) ===
=== Tập 3 (21/07/2012) ===
=== Tập 4 (29/07/2012) ===
== Vòng Battle (Đối đầu) ==
Các huấn luyện viên huấn luyện các thành viên trong đội với sự trợ giúp của các cố vấn tin cậy mà họ mời. Họ chia cặp (mỗi trận đấu gồm có 2 đối thủ cùng đội) đào tạo và cho các cặp thí sinh của chính đội mình đối đầu với nhau để chiến đấu và huấn luyện viên của đội đó phải quyết định một người chiến thắng để vào vòng sau, người thua sẽ phải ra về. 28 người chiến thắng sẽ vào vòng biểu diễn trực tiếp.
Danh sách cố vấn của các đội:
Thắng đối đầu do được HLV lựa chọn
Thua đối đầu do không được HLV lựa chọn
=== Tập 1 (19/08/2012) ===
=== Tập 2 (26/08/2012) ===
=== Tập 3 (09/09/2012) ===
=== Tập 4 (16/09/2012) ===
== Vòng Liveshow (Biểu diễn trực tiếp) ==
Thí sinh được bình chọn cao nhất đội
Thí sinh được bình chọn cao thứ hai đội
Thí sinh được HLV lựa chọn đi tiếp
Thí sinh phải tham gia hát Sing-off
Thí sinh thắng trong vòng Sing-off
Thí sinh bị loại
=== Liveshow 1 (23/09/2012) ===
Liveshow 1 là đêm biểu diễn của 14 thí sinh của 2 đội huấn luyện viên Trần Lập và Thu Minh. Kết quả thí sinh ở lại, đi tiếp sẽ được công bố vào liveshow 2 được xác định theo quy tắc:
2 thí sinh có tỉ lệ bình chọn cao nhất đội sẽ được vào thẳng vòng tiếp theo.
2 thí sinh được huấn luyện viên chọn từ 5 thí sinh còn lại sẽ được vào vòng tiếp theo.
3 thí sinh không có lượng bình chọn trong Top 2 đội và không được huấn luyện viên lựa chọn sẽ phải hát 1 bài sing-off trong liveshow 2. Sau đó, HLV chọn 1 thí sinh đi tiếp, 2 thí sinh còn lại sẽ bị loại.
=== Liveshow 2 (30/09/2012) ===
Sau khi công bố 8 thí sinh xuất sắc nhất trong 14 thí sinh của 2 đội huấn luyện viên trình diễn ở liveshow 1 được đặc cách vào thẳng vòng tiếp theo ở đầu chương trình. 6 thí sinh còn lại của 2 đội huấn luyện viên sẽ trình diễn đêm Sing-off. Mỗi huấn luyện viên sẽ được chọn thêm 1 thí sinh đi tiếp từ 3 thí sinh hát sing-off. Hai thí sinh còn lại sẽ bị loại.
==== Tiết mục Sing-off ====
==== Tiết mục biểu diễn của khách mời ====
=== Liveshow 3 (07/10/2012) ===
Liveshow 3 là đêm biểu diễn của 14 thí sinh của 2 đội huấn luyện viên Đàm Vĩnh Hưng và Hồ Ngọc Hà. Kết quả thí sinh ở lại, đi tiếp sẽ được công bố vào liveshow 4 được xác định theo quy tắc:
2 thí sinh có tỉ lệ bình chọn cao nhất đội sẽ được vào thẳng vòng tiếp theo.
2 thí sinh được huấn luyện viên chọn từ 5 thí sinh còn lại sẽ được vào vòng tiếp theo.
3 thí sinh không có lượng bình chọn trong Top 2 đội và không được huấn luyện viên lựa chọn sẽ phải hát 1 bài sing-off trong liveshow 4. Sau đó, HLV chọn 1 thí sinh đi tiếp, 2 thí sinh còn lại sẽ bị loại.
=== Liveshow 4 (14/10/2012) ===
Sau khi công bố 8 thí sinh xuất sắc nhất trong 14 thí sinh của 2 đội huấn luyện viên trình diễn ở liveshow 1 được đặc cách vào thẳng vòng tiếp theo ở đầu chương trình. 6 thí sinh còn lại của 2 đội huấn luyện viên sẽ trình diễn đêm Sing-off. Mỗi huấn luyện viên sẽ được chọn thêm 1 thí sinh đi tiếp từ 3 thí sinh hát sing-off. Hai thí sinh còn lại sẽ bị loại.
==== Tiết mục Sing-off ====
==== Tiết mục biểu diễn của khách mời ====
=== Liveshow 5 (28/10/2012) ===
Đêm liveshow 5 là các phần dự thi của các thí sinh thuộc đội Thu Minh và Trần Lập. Kết quả thí sinh ở lại, đi tiếp sẽ được công bố vào cuối liveshow 5 được xác định theo quy tắc:
2 thí sinh có tỉ lệ bình chọn cao nhất đội sẽ được vào thẳng vòng tiếp theo.
1 thí sinh được huấn luyện viên chọn từ 3 thí sinh còn lại sẽ được vào vòng tiếp theo.
2 thí sinh không có lượng bình chọn trong Top 2 đội và không được huấn luyện viên lựa chọn sẽ phải hát 1 bài sing-off cuối liveshow 5. Sau đó, HLV chọn 1 thí sinh đi tiếp, 1 thí sinh còn lại sẽ bị loại.
==== Tiết mục dự thi ====
==== Tiết mục Sing-off ====
==== Tiết mục biểu diễn của khách mời ====
=== Liveshow 6 (11/11/2012) ===
Đêm liveshow 6 là các phần dự thi của các thí sinh thuộc đội Đàm Vĩnh Hưng và Hồ Ngọc Hà. Kết quả thí sinh ở lại, đi tiếp sẽ được công bố vào cuối liveshow 6 được xác định theo quy tắc:
2 thí sinh có tỉ lệ bình chọn cao nhất đội sẽ được vào thẳng vòng tiếp theo.
1 thí sinh được huấn luyện viên chọn từ 3 thí sinh còn lại sẽ được vào vòng tiếp theo.
2 thí sinh không có lượng bình chọn trong Top 2 đội và không được huấn luyện viên lựa chọn sẽ phải hát 1 bài sing-off cuối liveshow 6. Sau đó, HLV chọn 1 thí sinh đi tiếp, 1 thí sinh còn lại sẽ bị loại.
==== Tiết mục dự thi ====
==== Tiết mục Sing-off ====
==== Tiết mục biểu diễn của khách mời ====
=== Liveshow 7 (18/11/2012) ===
Đêm liveshow 7 là các phần dự thi của các thí sinh thuộc đội Thu Minh và Trần Lập. Kết quả thí sinh ở lại, đi tiếp sẽ được công bố vào cuối liveshow 7 được xác định theo quy tắc:
1 thí sinh có tỉ lệ bình chọn cao nhất đội sẽ được vào thẳng vòng tiếp theo.
1 thí sinh được huấn luyện viên chọn từ 3 thí sinh còn lại sẽ được vào vòng tiếp theo.
2 thí sinh không có lượng bình chọn cao nhất đội và không được huấn luyện viên lựa chọn sẽ phải hát 1 bài sing-off cuối liveshow 7. Sau đó, HLV chọn 1 thí sinh đi tiếp, 1 thí sinh còn lại sẽ bị loại.
==== Tiết mục dự thi ====
==== Tiết mục Sing-off ====
==== Tiết mục biểu diễn của khách mời ====
=== Liveshow 8 (09/12/2012) ===
Đêm liveshow 8 là các phần dự thi của các thí sinh thuộc đội Đàm Vĩnh Hưng và Hồ Ngọc Hà. Kết quả thí sinh ở lại, đi tiếp sẽ được công bố vào cuối liveshow 8 được xác định theo quy tắc:
1 thí sinh có tỉ lệ bình chọn cao nhất đội sẽ được vào thẳng vòng tiếp theo.
1 thí sinh được huấn luyện viên chọn từ 3 thí sinh còn lại sẽ được vào vòng tiếp theo.
2 thí sinh không có lượng bình chọn cao nhất đội và không được huấn luyện viên lựa chọn sẽ phải hát 1 bài sing-off cuối liveshow 8. Sau đó, HLV chọn 1 thí sinh đi tiếp, 1 thí sinh còn lại sẽ bị loại.
==== Tiết mục dự thi ====
==== Tiết mục Sing-off ====
==== Tiết mục biểu diễn của khách mời ====
=== Liveshow 9 (16/12/2012) ===
Đêm liveshow 9 là các phần dự thi của các thí sinh thuộc đội Thu Minh và Trần Lập. Mỗi thí sinh sẽ trình diễn 2 tiết mục. Kết quả thí sinh ở lại, đi tiếp sẽ được công bố vào cuối liveshow 9 được xác định theo quy tắc:
1 thí sinh có tỉ lệ bình chọn cao nhất đội sẽ được vào thẳng vòng tiếp theo.
1 thí sinh được huấn luyện viên chọn từ 2 thí sinh còn lại sẽ được vào vòng tiếp theo.
1 thí sinh không được bình chọn cao nhất đội và không được huấn luyện viên lựa chọn sẽ bị loại.
==== Tiết mục dự thi ====
==== Tiết mục biểu diễn của khách mời ====
=== Liveshow 10 (23/12/2012) ===
Đêm liveshow 10 là các phần dự thi của các thí sinh thuộc đội Đàm Vĩnh Hưng và Hồ Ngọc Hà. Mỗi thí sinh sẽ trình diễn 2 tiết mục. Kết quả thí sinh ở lại, đi tiếp sẽ được công bố vào cuối liveshow 10 được xác định theo quy tắc:
1 thí sinh có tỉ lệ bình chọn cao nhất đội sẽ được vào thẳng vòng tiếp theo.
1 thí sinh được huấn luyện viên chọn từ 2 thí sinh còn lại sẽ được vào vòng tiếp theo.
1 thí sinh không được bình chọn cao nhất đội và không được huấn luyện viên lựa chọn sẽ bị loại.
==== Tiết mục dự thi ====
==== Tiết mục biểu diễn của khách mời ====
== Bảng kết quả ==
=== Kết quả chi tiết ===
=== Kết quả vòng Liveshow ===
== Tiền sử tham gia các cuộc thi khác của thí sinh ==
Let's Get Loud
Lê Thị Lê Vy (2010 contestant)
Dương Trần Nghĩa (2010 first runner-up)
Vietnam's Got Talent
Phạm Trần Thanh Phương và Đinh Thị Thanh Hương thí sinh mùa 1
Nguyễn Ngọc Gia Bảo (mùa 1)
Vietnam Idol
Nguyễn Trọng Khương: thí sinh mùa 1
Đinh T Thanh Hương: thí sinh mùa 2
Phan Ngọc Luân: top 14 mùa 2
Nguyễn Văn Thắng: Top 16 mùa 3
Hà Văn Đông thí sinh mùa 3
Trần Hoàng Anh (mùa 2 hạng 9)
Vũ Thanh Hằng: thí sinh mùa 3
Đồng Lan: thí sinh mùa 3
Phương Linh: mùa 5 top 4
Tố Ny: top 32 mùa 4
Sao Mai điểm hẹn / Sao Mai
Phan Ngọc Luân (mùa 4, bị loại ở tuần 3)
Mai Khánh Linh (mùa 4, bị loại ở tuần 5)
Nguyễn Đức Quang (Sao Mai 2009)
Trần Hoàng Anh (mùa 4, bị loại ở tuần 3)
Thiều Bảo Trang (Sao Mai 2011)
Đinh T Thanh Hương (mùa 4)
Nguyễn Trọng Khương (mùa 4)
Nguyễn Phú Luân (mùa 4)
Ngôi sao Tiếng hát Truyền hình
Nguyễn Đức Quang (2007 - hạng nhì)
Hoàng Thị Uyên (2008 - hạng nhì)
Tiêu Châu Như Quỳnh (2009 - hạng nhất)
Nguyễn Phú Luân (2009 - hạng nhì)
H'Zina Bya (2008 - thí sinh, 2010 - quán quân)
Hoàng Mạnh (2011 - hạng tư)
Bùi Anh Tuấn (2011 - quán quân)
Song ca cùng thần tượng
Phan Ngọc Luân với Đàm Vĩnh Hưng
Nguyễn Văn Thắng với Hồ Quỳnh Hương
Đinh Hương với Hà Anh Tuấn
K'sor Đức với Siu Black (nhất)
Nguyễn Trang Diễm My với Đan Trường
Tiếng ca học đường
Tiêu Châu Như Quỳnh (2009 - á quân 2)
Nguyễn Hoài Bảo Anh (2009 - hạng 4)
Bùi Anh Tuấn (2010 - khuyến khích)
Gương mặt thân quen 2016
Phan Ngọc Luân - Giải tư
Đinh Thị Thu Thùy (Hà Thúy Anh) - Giải ba
The Remix - Hòa âm ánh sáng
Bảo Anh - hạng 6 mùa 1
Hương Tràm - á quân mùa 2
Hằng Bingboong - hạng 9 mùa 2
Tôi là... người chiến thắng
Nguyễn Phú Luân: Vòng bảng nhóm nhạc (Vmen - Thiên Bảo Vmusic) - vòng 4 người (mùa 1)
Hà Thúy Anh: Vòng bảng ca sĩ nữ - vòng 8 người (mùa 1)
Đặng Thị Hoài Trinh: Vòng loại Top 16 (mùa 1)
Nguyễn Đức Quang: Vòng bảng ca sĩ nam - vòng 4 người (mùa 1)
Phạm Dũng Hà: Vòng bảng ca sĩ nam - vòng 8 người (mùa 1)
Trần Hoàng Anh: Vòng bảng ca sĩ nam - vòng 4 người (mùa 2)
Sing my song
Đào Bá Lộc (team Đức Trí) - bị loại vòng sáng tác.
Phạm Trần Thanh Phương (team Lê Minh Sơn) - rút lui.
Nguyễn Quốc Dũng (vòng lộ diện)
Bùi Caroon (team Lê Minh Sơn) - bị loại vòng tranh đấu
Nhân tố bí ẩn 2014
Phạm Trần Thanh Phương (cùng F-band): á quân
Bùi Caroon: Vòng Tranh đấu 2 – Hạng mục "ca sĩ Nam dưới 25 tuổi".
Trọng Khương (cùng Ayor): top 16.
Trần Nguyên Long (cùng The Zoo): Judges' House - Nhóm nhạc
Nguyễn Hoàng Triều: Judges' House - bảng nam ca sĩ dưới 25 tuổi.
Cặp đôi hoàn hảo
Hà Thúy Anh: top 10 cùng Minh Tiệp (mùa 2)
Thái Trinh: top 8 cùng Phan Anh (mùa 2)
Đinh Hương: top 7 cùng Nhan Phúc Vinh (mùa 3)
Bùi Anh Tuấn: Giải Đồng cùng Tú Vi (mùa 3)
Khác
Ngô Duy Khiêm và Nguyễn Thị Thái Trinh nổi tiếng trên Internet meme vì hát các bản nhạc nổi tiếng.
Lê Minh Mẫn là blogger Robbey.
Trần Thị Kim Loan là quán quân của Tiếng hát mãi xanh lần 1.
Hoàng Mạnh thuộc nhóm của Mỹ Lệ trong Hợp ca tranh tài.
Nguyễn Đức Quang là thành viên của nhóm Artista.
Vũ Thanh Hằng là thí sinh của House of Dream: Sáng bừng sức sống, bị loại vào đêm chung kết.
Tiêu Châu Như Quỳnh hát trong Bước nhảy hoàn vũ
Trần Hồng Dương là thành viên nhóm M4U.
Lương Minh Trí là ca sĩ hát chính nhóm Nu Voltage
Đặng Thị Hoài Trinh là MC VOV, từng đoạt giải én bạc Người dẫn chương trình truyền hình 2009.
Phạm Dũng Hà là nhà thiết kế và từng đạt giải Chất liệu tại Vietnam Collection Grand Prix 2001, và tham gia Vietnam Fashion Week 2001.
Thái Trinh đạt giải Nữ tác giả triển vọng trong Bài hát Việt, top 4 Tuyệt đỉnh tranh tài 2015, tham gia Biến hóa hoàn hảo dừng vòng tứ kết (Khởi My).
Hà Thúy Anh tham gia Gương mặt thân quen Nhí 2016.
Bùi Anh Tuấn đạt giải nhất cá nhân và nhóm trong Coca Cala Music Award 2011
Bảo Anh tham gia Bước nhảy hoàn vũ 2013 hạng 6.
Trần Thị Tố Ny tham gia lại mùa 3 đạt được vị trí đồng á quân - team Đàm Vĩnh Hưng, là em gái của Tố My - á quân Solo cùng Bolero (mùa 2).
Phạm Trần Thanh Phương là em ruột ca sĩ Thanh Duy.
Lương Minh Trí tham gia lại mùa 4 thuộc team Noo Phước Thịnh.
== Scandal ==
=== Phát biểu của Thanh Lam ===
Khi ca sĩ Thanh Lam phát biểu ý kiến về các chương trình thực tế hiện nay, nhắc đến The Voice phiên bản Việt, chị nhận xét về hai huấn luyện viên Đàm Vĩnh Hưng và Hồ Ngọc Hà rằng:
"Đàm Vĩnh Hưng và Hồ Ngọc Hà dùng công nghệ rất nhiều. Nói gì thì nói khi dạy cho một bạn trẻ có triển vọng thì phải dạy bằng cái nghề của mình chứ không thể dạy bằng công nghệ được. Các bạn ấy không có tiền, không có cuộc sống để làm những thứ to tát thì phải dạy họ bằng thực lực. Tôi nghĩ rằng đào bới khả năng của các bạn trẻ thì phải bằng những giá trị đích thực. Khi tôi xem chương trình này tôi cũng ngạc nhiên và không thể tưởng tượng ra hai ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng và Hồ Ngọc Hà sẽ dạy bằng cái gì? Có bột mới gột nên hồ. Phải có trình độ mới dạy được."
Nhiều bài báo chỉ trích dẫn phần cuối của đoạn phát biểu này và làm dấy lên tranh cãi trong dư luận. Một số người bênh vực Thanh Lam đã thẳng thắn và nói đúng. Một số người chỉ trích Thanh Lam phát ngôn gây shock và không tôn trọng đồng nghiệp. Riêng Đàm Vĩnh Hưng tuyên bố "sẽ không nhìn mặt Thanh Lam."
=== Dàn xếp kết quả ===
Một clip thu âm giọng nói của giám đốc âm nhạc, ca nhạc sĩ Phương Uyên, được tung lên internet. Phương Uyên được cho là đã có dàn xếp kết quả chương trình. Trong cuộc họp báo những người thực hiện chương trình đã bác bỏ rằng có sự dàn xếp kết quả. Tuy nhiên Phương Uyên muốn rời khỏi vị trí giám đốc âm nhạc và được quyết định là như vậy. Hoài Sa tạm thời đảm nhiệm công việc của Phương Uyên.
== Chú thích == |
mie.txt | Mie (Nhật: 三重県 (Tam Trọng Huyện), Mie-ken) là một tỉnh của Nhật Bản, nằm ở tiểu vùng Tokai, vùng Kinki trên đảo Honshū. Trung tâm hành chính là thành phố Tsu.
== Địa lý ==
Tỉnh Mie là sường phía Đông của bán đảo Kii, giáp các tỉnh Aichi, Gifu, Shiga, Kyoto, Nara, và Wakayama. Tỉnh Mie được coi là một phần của vùng Kinki nhưng về mặt giao thông lại thuận đường với Nagoya hơn. Góc đông bắc Mie có thể coi là ngoại ô của thành phố Nagoya. Địa hình Mie phức tạp, phần lớn là núi non trải dài từ đông bắc xuống tây nam. Vùng duyên hải có dải bình nguyên đông dân cư, nhất là dọc vịnh Ise ở cực Bắc.
Tính vào năm 2000 thì trên diện tích 5.776,44 km² của Mie, 64,8% đất đai là núi rừng, 11,5% nông nghiệp, 6% thổ cư, 3,8% đường sá, 3,6% là sông ngòi. Và phần còn lại 10,3% chưa được xác định.
== Lịch sử ==
Tỉnh Mie ngày nay bao gồm ba tỉnh cũ: Ise, Shima và Iga và cả vùng cực đông của Kii. Thời Minh Trị Duy tân, triều đình Nhật Bản cho sắp xếp lại các đơn vị hành chánh cũ nhiều lần, trong đó khu vực Mie. Năm 1871 thì lấyvufng đất từ sông Kisosansen ở phía Bắc đến thị trấn Tsu lập nên tỉnh Anōtsu, trong khi vùng phía nam thì lập tỉnh Watarai. Năm 1872, tỉnh lỵ của Anōtsu chuyển từ Tsu tới Yokkaichi, và sau đó tên tỉnh đổi là Mie. Năm 1876 thì Mie nhập với Watarai, nhưng vẫn giữ tên Mie và tỉnh lỵ đặt lại ở Tsu.
Địa danh "Mie" tương truyền là do Yamato Takeru đặt cho khu vực này sau một cuộc chinh phạt phía Đông.
== Hành chính ==
Có 14 thành phố đặt ở tỉnh Mie:
Ngoài ra còn 15 làng:
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Đại học Mie
== Thể thao ==
== Du lịch ==
== Các địa phương kết nghĩa ==
São Paulo, Brasil
Hồ Nam, Trung Quốc
Valencia, Tây Ban Nha
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của tỉnh Tam Trọng (tiếng Nhật)
Thông tin du lịch Tam Trọng
Outdoor Nhật Bản - Phần Tam Trọng
Mie International Exchange Foundation |
wessex.txt | Vương quốc Tây Saxons thường được gọi là Vương quốc Wessex, là vương quốc của người Anglo-Saxon nằm ở phía Nam của Đảo quốc Anh. Thành lập từ năm 519 đến khi thành lập Vương quốc Anh vào đầu thế kỷ thứ X.
== Nguồn gốc ==
Theo sách "Anglo-Saxon Chronicle", Wessex được tìm thấy bởi Cedric và Cyndric, thủ lĩnh của bộ lạc Gewisse, người đặt chân lên bờ biển Hampshire và lần lượt chinh phục các vùng đất xung quanh, trong đó bao gồm cả đảo Wight.
== Biểu tượng ==
Biểu tượng của Wessex thường là wyvern (một sinh vật huyền thoại có cánh, đầu rồng).
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
The Case for Wessex (devolutionary movement)PDF (863 KB)
The Burghal Hidage
Thomas Hardy's Wessex Research site by Dr Birgit Plietzsch
The History Files: Kings of the West Saxons
Wessex Law Academy
Wessex Society |
tàu khu trục.txt | Tàu khu trục, hay còn gọi là khu trục hạm, (tiếng Anh: destroyer) là một tàu chiến chạy nhanh và cơ động, có khả năng hoạt động lâu dài bền bỉ dùng cho mục đích hộ tống các tàu chiến lớn hơn trong một hạm đội, đoàn tàu vận tải hoặc một chiến đoàn, và bảo vệ chúng chống lại những đối thủ nhỏ tầm gần nhưng mạnh mẽ, thoạt tiên là những tàu phóng lôi, và sau này là tàu ngầm và máy bay. Khu (驅) và trục (逐) là các chữ Hán-Việt đều có nghĩa là "đuổi đi".
Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, tàu khu trục là những tàu hạng nhẹ không có khả năng chịu đựng được những chiến dịch trên đại dương một mình; mà tiêu biểu là một số tàu khu trục phối hợp cùng một tàu tiếp liệu khu trục cùng hoạt động với nhau. Trong và sau chiến tranh, các tàu khu trục mạnh hơn và lớn hơn có khả năng hoạt động độc lập được chế tạo, đặc biệt là khi các tàu tuần dương không còn được sử dụng trong những năm 1950 và 1960.
Khi bước sang thế kỷ 21, các tàu khu trục là các hạm tàu nổi lớn nhất được sử dụng thường xuyên, khi chỉ còn hải quân của ba nước Hoa Kỳ, Nga và Peru còn sử dụng tàu tuần dương hạng nặng và không còn nước nào sử dụng thiết giáp hạm. hay tàu chiến-tuần dương thực sự. Các tàu khu trục hiện đại, còn được gọi là tàu khu trục tên lửa, có trang bị tên lửa điều khiển, thì tương đương về trọng tải nhưng có hỏa lực vượt trội hơn các tàu tuần dương thời Thế Chiến II, với khả năng mang tên lửa hạt nhân. Các tàu khu trục tên lửa như là lớp Arleigh Burke trong thực tế lớn hơn và trang bị vũ khí mạnh hơn hầu hết mọi lớp tàu trước đây được xếp lớp tàu tuần dương tên lửa, do kích cỡ lớn với chiều dài 155 m (510 ft), trọng lượng rẽ nước 9.200 tấn và trang bị trên 90 tên lửa.
== Lịch sử ban đầu ==
Sự xuất hiện của tàu khu trục, và sự phát triển của nó cho đến Chiến tranh thế giới thứ hai, có liên quan đến sự phát minh ra ngư lôi tự hành vào những năm 1860. Hải quân của một quốc gia giờ đây có khả năng tiêu diệt một hạm đội tàu chiến của đối phương bằng cách chỉ sử dụng máy phóng bằng hơi nước mà từ đó các ngư lôi có thể được thả xuống. Các tàu nhỏ chạy nhanh có trang bị ngư lôi được chế tạo, và được đặt tên là tàu phóng lôi (còn được gọi là phóng pháo hạm, tàu phóng ngư lôi hay ngư lôi đỉnh), và chúng được phát triển vào khoảng thập niên 1880 thành những tàu loại nhỏ tải trọng 50 đến 100 tấn, đủ nhanh để vượt qua các tàu tuần tiễu đối phương.
Lúc đầu, mối đe dọa của chúng đối với một hạm đội chiến đấu được xem chỉ tồn tại khi đang thả neo, nhưng khi xuất hiện các ngư lôi nhanh hơn và có tầm xa hơn thì mối đe dọa được mở rộng sang những tàu đang hoạt động trên biển. Một phản ứng đối phó với mối đe dọa mới này là việc đóng các tàu đánh chặn nhanh hơn và có hỏa lực mạnh hơn gọi là "tàu đón đầu" để hộ tống hạm đội chiến đấu trên biển. Chúng cần có sức chịu đựng và có khả năng hoạt động trên biển tương đương những chiếc khác trong hạm đội; và khi chúng càng ngày càng trở nên to lớn như cần thiết thì chúng được gọi tên chính thức là torpedo boat destroyer (tàu tiêu diệt tàu phóng lôi), rồi không bao lâu sau đó được gọi rút gọn là destroyer, mà tiếng Việt tương ứng là tàu khu trục (tiếng Pháp:contre-torpilleur, tiếng Ý: cacciatorpediniere, tiếng Tây Ban Nha: Contratorpedero và tiếng Ba Lan: kontrtorpedowiec).
Một khi các tàu khu trục trở nên có giá trị hơn chỉ là "tàu đón đầu" bảo vệ một khu neo tàu, chúng được nhận ra là cũng rất lý tưởng để thực hiện vai trò của chính các tàu phóng lôi, vì thế chúng được trang bị các ống phóng ngư lôi cũng như pháo. Vào lúc đó, và thậm chí trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiệm vụ duy nhất của các tàu khu trục là bảo vệ hạm đội chiến đấu của chúng khỏi các cuộc tấn công bằng ngư lôi của đối thủ, và tiến hành các cuộc tấn công tương tự (lợi dụng tốc độ cao và tính cơ động tấn công bằng ngư lôi) vào các thiết giáp hạm đối phương. Nhiệm vụ bảo vệ các đoàn tàu vận tải vẫn còn là chuyện của tương lai.
Một phát triển quan trọng đến vào năm 1884 với chiếc Swift, một tàu phóng lôi lớn trang bị sáu pháo 47 mm bắn nhanh và ba ống phóng ngư lôi. Cho dù không đủ nhanh để đối đầu với các tàu phóng lôi một cách hiệu quả, nó có đủ hỏa lực để đối phó với quân địch.
Chiến hạm Kotaka năm 1885 "là chiếc tiên phong báo trước cho các tàu khu trục diệt tàu phóng lôi xuất hiện một thập niên sau đó". Được thiết kế theo đặc tính của Nhật Bản và đặt hàng tại Xưởng đóng tàu Yarrow của Vương quốc Anh năm 1885, nó được tháo rời để được đưa đến Nhật Bản, nơi nó được lắp ráp và hạ thủy năm 1887. Nó được trang bị 4 pháo 37 mm (1 pounder) bắn nhanh và sáu ống phóng ngư lôi, đạt được tốc độ 35 km/h (19 knot); và với trọng lượng 203 tấn, nó là một tàu phóng lôi lớn nhất từng được thiết kế. Trong những lần chạy thử năm 1889, Kotaka chứng tỏ rằng nó có thể đi xa hơn vai trò phòng thủ duyên hải, và có khả năng tháp tùng các hạm tàu lớn ngay cả khi biển động. Xưởng đóng tàu Yarrow, nơi đóng từng bộ phận cho Kotaka, cho rằng "Nhật Bản đã phát minh ra tàu khu trục một cách hiệu quả".
Ngay sau khi Kotaka được đặt đóng, Fernando Villaamil, sĩ quan thứ hai của Bộ Hải quân Tây Ban Nha nơi ông đảm trách việc phát triển khái niệm về một loại tàu thiết kế mới để chống các tàu phóng lôi, đặt đóng một tàu phóng lôi lớn vào tháng 11 năm 1885 tại Xưởng James & George Thompson ở Clydebank, cách không xa nơi mà Xưởng đóng tàu Yarrow sẽ được chuyển từ London tới hai mươi năm sau đó. Chiếc tàu được đặt tên Destructor, được đặt lườn vào cuối năm đó, hạ thủy vào năm 1886, và được đưa vào phục vụ năm 1887. Trọng lượng rẽ nước của nó là 380 tấn, và nó được trang bị với một pháo Hontoria 90 mm, bốn pháo Nordenfelt 57 mm, hai pháo Hotchkiss 37 mm và 3 ống phóng ngư lôi Schwarzkopf. Thủy thủ đoàn đầy đủ là 60 người. Ở góc độ vũ khí trang bị, tốc độ (22,5 knot khi chạy thử) và kích cỡ, một thiết kế đặc biệt để săn đuổi các tàu phóng lôi và khả năng hoạt động ngoài biển khơi, Destructor được xem rộng rãi là tàu khu trục đầu tiên từng được đóng.
Destructor của Tây Ban Nha được cho là đã có ảnh hưởng đến thiết kế và khái niệm của các tàu khu trục được Hải quân Vương quốc Anh phát triển sau này.
Sau đó không lâu, Vương quốc Anh bắt đầu những thử nghiệm với các "tàu diệt tàu phóng lôi" Rattlesnake, một lớp gồm có 17 tàu phóng lôi lớn - những tiền thân đầu tiên của các tàu khu trục được đóng trọn một lớp, hơn là những chiếc riêng lẻ. Khi chạy thử máy, Rattlesnake đã chứng tỏ tốc độ nhanh hơn các tàu phóng lôi, nhưng không đủ nhanh để trở nên có tính quyết định.
Tàu đầu tiên mang tên chính thức như "tàu diệt tàu phóng lôi" (TBD: Torpedo boat destroyer) là lớp Daring và lớp Havock, mỗi lớp gồm hai chiếc của Hải quân Hoàng gia, được phát triển năm 1892 dưới quyền của Thứ trưởng Hải quân mới được bổ nhiệm, Chuẩn Đô đốc "Jackie" Fisher. Daring và Decoy được đặt hàng vào ngày 27 tháng 6 năm 1892 từ hãng đóng tàu John I. Thornycroft & Company tại Chiswick, trong khi Havock và Hornet được đặt hàng năm ngày sau đó cho hãng Yarrow tại Poplar. Tất cả đều được hạ thủy trong những năm 1893-1894. Mỗi chiếc được trang bị một pháo 12 pounder (76 mm), ba pháo 6 pounder (57 mm), và ba ống phóng ngư lôi 460 mm. Nó cũng có tầm hoạt động và tốc độ để hoạt động hiệu quả cùng một hạm đội chiến đấu.
Hải quân Pháp, lực lượng sử dụng nhiều tàu phóng lôi, đã đóng tàu khu trục đầu tiên của họ vào năm 1899 với lớp 'torpilleur d'escadre' Durandal.
Hoa Kỳ đưa vào hoạt động tàu khu trục đầu tiên của họ là USS Bainbridge, "Tàu khu trục số 1", vào năm 1902, và đến năm 1906 họ đã có tổng cộng 16 tàu khu trục đang phục vụ.
== Trước Chiến tranh Thế giới thứ nhất ==
Thiết kế tàu khu trục được tiến triển vào khoảng lúc chuyển sang thế kỷ 20 bởi nhiều cách chủ yếu. Đầu tiên là việc phát minh ra turbine hơi nước. Việc trình diễn không chính thức của chiếc Turbinia chạy bằng turbine một cách ngoạn mục tại cuộc Duyệt binh Hải quân Spithead năm 1897, mà đáng kể là nó có kích cỡ như một tàu phóng ngư lôi, đã thúc đẩy Hải quân Hoàng gia đặt hàng một tàu khu trục kiểu mẫu trang bị turbine, chiếc HMS Viper vào năm 1899. Đây là chiếc tàu chiến đầu tiên trên thế giới thuộc mọi kiểu được trang bị động cơ turbine, và đạt được một tốc độ ấn tượng 66,7 km/h (36 knot) khi chạy thử máy ngoài biển. Đến năm 1910, động cơ turbine đã được hải quân mọi nước chấp nhận rộng rãi cho những tàu chiến nhanh của họ.
Sự phát triển thứ hai là việc thay thế mái vòm kiểu mai rùa phía trước mũi bằng một cấu trúc thượng tầng kiểu lâu đài phía trước, cho phép đi biển tốt hơn và cung cấp nhiều khoảng trống ở sàn bên dưới.
Người Anh thử nghiệm động cơ đốt dầu cùng với lớp tàu khu trục Tribal vào năm 1905, nhưng tạm thời quay trở lại nguồn nhiên liệu là than cho lớp Beagle tiếp theo vào năm 1909. Hải quân các nước khác cũng áp dụng dầu, như là Hải quân Mỹ với lớp Paulding vào năm 1909.
Cho dù với những khác biệt trên, mọi tàu khu trục đều áp dụng một sự phân bố hầu như tương tự. Lườn tàu dài và hẹp, với mớn nước tương đối nông. Mũi tàu được nâng cao như cấu trúc thượng tầng pháo đài phía trước hoặc được che phủ dưới một vòm kiểu mai rùa; bên dưới đó là chỗ dành cho thủy thủ đoàn, kéo dài 1/4 đến 1/3 chiều dài dọc lườn tàu. Phía sau đó là chỗ khoang động cơ tối đa mà kỹ thuật vào thời đó có thể cung cấp: nhiều nồi hơi và động cơ hay turbine. Trên sàn tàu, một hay nhiều khẩu pháo bắn nhanh được bố trí trước mũi, phía trước cầu tàu; và thêm nhiều khẩu được gắn giữa tàu hoặc sau đuôi. Hai bệ phóng ngư lôi (sau này là những ống phóng nhiều nòng) thường được bố trí giữa tàu.
Trong giai đoạn từ năm 1890 đến năm 1914, tàu khu trục trở nên lớn hơn đáng kể: thoạt tiên 300 tấn là một kích thước tốt, nhưng cho đến khi mở màn Chiến tranh Thế giới thứ nhất, 1.000 tấn không phải là hiếm gặp. Tuy nhiên, việc chế tạo vẫn tập trung vào việc chất một hệ thống động cơ lớn nhất có thể lên một lườn tàu nhỏ, đưa đến một cấu trúc mong manh. Lườn tàu thường được chế tạo bằng thép chỉ dày có 3 mm (1/8 inch).
Đến năm 1910, tàu phóng lôi gắn động cơ hơi nước không còn cần thiết như là một lớp tàu riêng biệt. Dù sao Đức vẫn tiếp tục đóng tàu phóng lôi cho đến khi kết thúc Thế Chiến I, mặc dù chúng hoạt động hiệu quả như là tàu khu trục duyên hải nhỏ. Trong thực tế, người Đức không phân biệt hai kiểu tàu này, đánh số hiệu lườn cho chúng theo cùng một loạt, và không bao giờ đặt tên cho tàu khu trục. Cuối cùng, thuật ngữ tàu phóng lôi (torpedo boat) gắn liền với một kiểu tàu hoàn toàn khác hẳn: xuồng máy lướt mặt nước (MTB: Motor Torpedo Boat) chạy bằng mô-tơ rất nhanh.
=== Cuộc sống trên tàu khu trục ===
Các tàu khu trục đầu tiên là những nơi cực kỳ chật hẹp để ở. Trên lớp Havock thủy thủ đoàn không thể nghỉ ngơi mà không bị quấy rầy, trong khi sĩ quan ngủ trên ghế nệm chung quanh phòng ăn chứ không có giường. Bụi nước và ẩm ướt làm cho cuộc sống thêm khốn khổ. Lớp tàu khu trục Anh đầu tiên có được phòng riêng cho sĩ quan hay lò sưởi cho thuyền trưởng là lớp River vào năm 1902.
=== Chiến thuật – Các trận chiến ===
Mục đích ban đầu của tàu khu trục là bảo vệ chống lại tàu phóng ngư lôi, nhưng hải quân các nước nhanh chóng đánh giá cao sự linh hoạt của kiểu tàu chiến nhanh và đa dụng. Phó Đô đốc Sir Baldwin Walker đã thảo ra những nhiệm vụ dành cho tàu khu trục của Hải quân Hoàng gia:
Bảo vệ sự di chuyển của hạm đội khi có nguy cơ xuất hiện tàu ngư lôi đối phương
Truy tìm dọc theo bờ biển đối phương mà hạm đội phải vượt qua
Canh chừng cảng đối phương nhằm mục đích quấy rối tàu ngư lôi địch và ngăn cản chúng quay về
Tấn công hạm đội đối phương
Trận chiến lớn đầu tiên mà tàu khu trục tham gia là cuộc tấn công của Nhật Bản nhắm vào cảng Lữ Thuận vào lúc mở màn cuộc Chiến tranh Nga-Nhật vào năm 1904. Ba đội tàu khu trục đã tấn công hạm đội Nga trong cảng, bắn tổng cộng 18 quả ngư lôi, và làm hư hại nặng hai thiết giáp hạm Nga.
== Chiến tranh Thế giới thứ nhất ==
Trong khi việc đối đầu giữa các tàu chiến chủ lực trong Chiến tranh Thế giới thứ nhất là hiếm hoi, các đơn vị tàu khu trục hầu như đụng độ liên tục với nhau trong các hoạt động tuần tra và đánh phá. Phát đạn hải pháo đầu tiên nổ vào ngày 5 tháng 8 năm 1914 bởi một tàu khu trục của Phân hạm đội 2, chiếc HMS Lance, khi đụng độ với tàu rải mìn Đức Königin Luise. Tổn thất đầu tiên của Hải quân Anh là tàu tuần dương hạng nhẹ HMS Amphion, dẫn đầu Phân hạm đội 3, đã đi vào một bãi mìn được Königin Luise rải.
Tàu khu trục đã tham gia những trận đánh lẻ tẻ vốn dẫn đến trận Heligoland Bight, và đã đảm nhiệm những vai trò khác nhau trong trận Gallipoli, hoạt động như là tàu vận chuyển binh lính và hỗ trợ hỏa lực, cũng như hộ tống bảo vệ cho hạm đội. Có trên 80 tàu khu trục Anh và 60 tàu phóng lôi Đức đã tham gia trận Jutland, bao gồm những cuộc đụng độ của các tàu nhỏ xen giữa hạm đội chính, và nhiều cuộc tấn công liều lĩnh bằng tàu khu trục không được hỗ trợ nhắm vào các tàu chiến chủ lực. Trận hải chiến lớn nhất của Thế Chiến I kết thúc bởi trận chiến đêm lộn xộn giữa Hạm đội Biển khơi Đức và một phần của lực lượng tàu khu trục hộ tống Anh.
Mối đe dọa phát sinh trong Thế Chiến I cùng với việc phát triển của tàu ngầm, hoặc U-boat. Tàu ngầm có khả năng lẩn tránh hỏa lực pháo và tiếp cận dưới nước để tấn công bằng ngư lôi. Những tàu khu trục thời kỳ đầu chiến tranh có đủ tốc độ và hỏa lực để ngăn chặn tàu ngầm trước khi chúng lặn xuống, có thể bằng pháo hay bằng cách húc chìm. Tàu khu trục cũng có tầm nước nông đến mức ngư lôi khó có thể đánh trúng chúng.
Việc mong muốn tấn công tàu ngầm dưới nước đã dẫn đến sự cải biến đáng kể tàu khu trục trong chiến tranh, khi chúng nhanh chóng được trang bị mũi tàu cứng để húc, mìn sâu và máy dò âm dưới nước để xác định mục tiêu tàu ngầm. Chiến công đầu tiên là tàu ngầm Đức U-19 đã bị tàu khu trục HMS Badger húc trúng vào ngày 29 tháng 10 năm 1914. Trong khi U-19 chỉ bị hư hại, trong tháng tiếp theo HMS Garry đã húc chìm U-18. Vụ đánh chìm bằng mìn sâu đầu tiên là vào ngày 4 tháng 12 năm 1916, khi UC-19 bị HMS Llewellyn đánh chìm.
Mối đe dọa của tàu ngầm đã khiến nhiều tàu khu trục trải qua hầu hết thời gian của chúng tuần tra chống tàu ngầm; và khi Đức tiến hành chiến tranh tàu ngầm không hạn chế vào tháng 1 năm 1917, tàu khu trục được sử dụng để hộ tống các đoàn tàu vận tải. Tàu khu trục Hải quân Mỹ là những đơn vị đầu tiên được gửi đi khi Mỹ tham chiến, và một hải đội tàu khu trục Nhật Bản thậm chí còn tham gia các cuộc tuần tra của Đồng Minh tại Địa Trung Hải. Nhiệm vụ tuần tra không phải là an toàn; trong tổng số 67 tàu khu trục Anh bị mất trong cuộc chiến, việc va chạm đã làm mất 18 chiếc, trong khi có 12 chiếc bị mất do mắc cạn.
Đến cuối chiến tranh, mức độ tinh xảo của kỹ thuật đóng tàu khu trục được thể hiện bởi các lớp tàu khu trục V và W của Anh Quốc.
== Giữa hai cuộc thế chiến ==
Xu hướng trong Thế Chiến I là theo hướng tàu khu trục lớn hơn với vũ khí trang bị mạnh hơn. Một số cơ hội tiếp tục tấn công các tàu chiến chủ lực đã bị lỡ mất trong chiến tranh, vì các tàu khu trục đã dùng hết số ngư lôi mang theo trong loạt bắn ban đầu. Các lớp tàu khu trục V và W vào cuối chiến tranh đã cố theo đuổi giải quyết vấn đề bằng cách trang bị sáu ống phóng ngư lôi trên hai bệ ba nòng, thay vì chỉ có hai hoặc bốn ống trên những kiểu trước đây. Các lớp V và W đã xác lập nên tiêu chuẩn cho các tàu khu trục được chế tạo trong thập niên 1920.
Cải tiến lớn tiếp theo là với lớp Fubuki hoặc "kiểu đặc biệt" của Hải quân Nhật, được thiết kế vào năm 1923 và giao hàng vào năm 1928. Đặc tính vượt trội và dàn hỏa lực mạnh mẽ với sáu khẩu pháo 127 mm (5 inch) và ba bệ phóng ngư lôi ba nòng. Loạt chế tạo thứ hai của lớp còn trang bị những tháp pháo góc cao dành cho hoạt động phòng không, và nâng cấp lên kiểu ngư lôi "Long Lance" Kiểu 93 610 mm (24 inch) vận hành bằng oxy. Lớp Hatsuharu tiếp theo vào năm 1931 còn tiếp tục cải tiến vũ khí ngư lôi bằng cách sử dụng ống phóng nạp lại được và mang theo ngư lôi dự trữ trong cấu trúc thượng tầng ngay bên cạnh, có khả nâng nạp lại trong vòng 15 phút.
Hầu hết hải quân các nước khác đối phó bằng những tàu tương tự lớn hơn. Lớp Porter của Mỹ trang bị pháo 127 mm (5 inch) nòng đôi, và những lớp tiếp theo Mahan và Gridley (lớp sau vào năm 1934) gia tăng số lượng ống phóng ngư lôi mang theo tương ứng là 12 và 16 ống.
Tại khu vực Địa Trung Hải, việc Hải quân Ý chế tạo những tàu tuần dương hạng nhẹ tốc độ rất nhanh thuộc lớp Condottieri đã thúc đẩy Pháp chế tạo những thiết kế tàu khu trục đặc sắc. Người Pháp từ lâu đã mến chuộng tàu khu trục lớn, khi lớp Chacal của họ vào năm 1922 có trọng lượng rẽ nước hơn 2.000 tấn và trang bị pháo 130 mm; rồi được tiếp nối bởi ba lớp khác tương tự vào khoảng năm 1930. Lớp Le Fantasque năm 1935 trang bị năm pháo 138 mm (5,4 in) và chín ống phóng ngư lôi, nhưng có thể đạt được tốc độ 83 km/h (45 knot), trở thành một kỷ lục về tốc độ của một tàu hơi nước và của mọi tàu khu trục. Tàu khu trục của chính người Ý cũng có tốc độ nhanh tương tự, khi đa số các thiết kế của họ trong những năm 1930 có thể đạt 70 km/h (38 knot), trong khi vẫn mang ngư lôi và mang bốn hoặc sáu pháo 120 mm.
Đức bắt đầu chế tạo trở lại tàu khu trục trong những năm 1930 như một phần của chương trình tái vũ trang của Hitler. Người Đức cũng ưa thích tàu khu trục lớn; nhưng trong khi những tàu khu trục ban đầu Kiểu 1934 có trọng lượng rẽ nước trên 3.000 tấn, vũ khí trang bị cho chúng chỉ tương đương với tàu nhỏ hơn. Điều này được thay đổi từ Kiểu 1936 trở đi, vốn được trang bị pháo hạng nặng 150 mm. Tàu khu trục Đức cũng áp dụng hệ thống động lực hơi nước áp lực cao đầy sáng tạo; nhưng trong khi điều này giúp cải thiện hiệu quả, chúng cũng gây ra những trục trặc cơ khí trong vận hành.
Khi việc Đức và Nhật Bản tái vũ trang đã trở nên rõ ràng, hải quân Anh và Mỹ bắt đầu tập trung một cách có ý thức vào việc chế tạo tàu khu trục nhỏ hơn, nhưng với số lượng nhiều hơn đáng kể so với những nước khác. Anh Quốc đóng một loạt các tàu khu trục từ lớp A đến lớp I, có trọng lượng rẽ nước tiêu chuẩn vào khoảng 1.400 tấn, trang bị bốn pháo 119 mm (4,7 inch) và tám ống phóng ngư lôi. Lớp Benson của Hải quân Mỹ năm 1938 có kích cỡ tương tự, nhưng mang năm pháo 127 mm (5 inch) và mười ống phóng ngư lôi. Nhận thức được nhu cầu cần có vũ khí mạnh hơn, người Anh chế tạo lớp Tribal (đôi khi còn được gọi là lớp "Afridi" theo tên một trong hai chiếc dẫn đầu) vào năm 1936. Những chiếc này có trọng lượng 1.850 tấn và được trang bị tám pháo 119 mm (4,7 inch) trên bốn tháp pháo nòng đôi và bốn ống phóng ngư lôi. Chúng được tiếp nối bởi các lớp J và L trang bị sáu pháo 119 mm (4,7 inch) trên các tháp pháo nòng đôi và tám ống phóng ngư lôi.
Các cảm biến chống tàu ngầm được trang bị bao gồm sonar và thiết bị ASDIC tương tự. Vũ khí chống tàu ngầm chỉ thay đổi chút ít, và các loại đạn chống tàu ngầm bắn ra phía trước, một nhu cầu được nhận biết từ thời Thế Chiến I, vẫn không có tiến triển.
=== Hoạt động trong giai đoạn giữa hai cuộc thế chiến ===
Trong những năm 1920 và 1930, tàu khu trục thường được bố trí đến các khu vực có quan hệ ngoại giao căng thẳng hay cứu giúp nhân đạo trong các thảm họa. Tàu khu trục Anh và Mỹ thường có mặt tại vùng duyên hải Trung Quốc giúp đổ bộ các lực lượng để bảo vệ quyền lợi tại thuộc địa.
== Chiến tranh Thế giới thứ hai ==
Đến giai đoạn Chiến tranh Thế giới thứ hai, các mối đe dọa lại tiếp tục tiến triển. Tàu ngầm có hiệu quả hơn, và máy bay trở thành một vũ khí quan trọng trong chiến tranh hải quân; và một lần nữa tàu khu trục của hạm đội chỉ được vũ trang yếu kém khi chiến đấu chống lại các mục tiêu mới này. Ngoài những vũ khí nhẹ, mìn sâu và ngư lôi sẵn có; chúng cần được bổ sung pháo phòng không mới, radar và vũ khí chống tàu ngầm bắn ra phía trước. Theo thời gian, tàu khu trục trở nên lớn hơn, đa nhiệm, trở nên những mục tiêu đắt tiền của chính nó. Kết quả là thiệt hại về tàu khu trục trong cuộc chiến là một trong những tổn thất nặng nề nhất. Điều này đã dẫn đến việc chế tạo những tàu chiến nhỏ hơn và rẻ tiền hơn, chuyên biệt cho nhiệm vụ chống tàu ngầm, được gọi là tàu corvette và tàu frigate trong Hải quân Hoàng gia Anh và tàu khu trục hộ tống (ký hiệu DDE) bởi Hải quân Hoa Kỳ. Một chương trình tương tự được Nhật Bản khởi động một cách chậm trễ qua lớp tàu khu trục Matsu. Những con tàu này có kích thước và trọng lượng rẽ nước ngang với những tàu diệt tàu phóng lôi nguyên thủy trước đây.
== Sau chiến tranh ==
Một số tàu khu trục thông thường được hoàn tất vào cuối những năm thập niên 1940 và thập niên 1950 được chế tạo dựa trên kinh nghiệm của thời chiến tranh. Những chiếc này lớn hơn đáng kể so với những chiếc trong thời chiến, và được trang bị hệ thống máy móc và dàn pháo chính hoàn toàn tự động, radar, sonar, cùng vũ khí chống tàu ngầm như pháo cối Squid. Những ví dụ bao gồm các lớp tàu khu trục Daring của Anh, lớp Forrest Sherman của Mỹ, và lớp Kotlin của Liên Xô.
Một số tàu thời Đệ Nhị thế chiến được hiện đại hóa chuyên biệt cho chiến tranh chống tàu ngầm, và cũng để kéo dài quãng đời phục vụ nhằm tránh phải đóng mới những tàu chiến đắt tiền. Những ví dụ bao gồm chương trình FRAM I của Mỹ và Tàu frigate Kiểu 15 được cải biến từ những tàu khu trục hạm đội.
Việc phát minh tên lửa đất-đối-không và đất-đối-đất vào đầu những năm 1960, như là kiểu Exocet, đã làm thay đổi đáng kể tính chất của chiến tranh hải quân. Tàu khu trục tên lửa điều khiển (mang ký hiệu lườn DDG trong Hải quân Mỹ) được phát triển để mang những loại vũ khí này nhằm bảo vệ hạm đội khỏi những mối đe dọa trên không, dưới nước và trên mặt biển. Những ví dụ bao gồm lớp Kashin của Xô Viết, lớp County của Anh và lớp Charles F. Adams của Mỹ.
== Tàu khu trục hiện đại ==
Trong Hải quân Hoa Kỳ, tàu khu trục hoạt động hỗ trợ cho các nhóm tác chiến tàu sân bay, các đội tác chiến tàu nổi, đội đổ bộ và đội tiếp liệu. Tàu khu trục hiện đang được Hải quân Hoa Kỳ sử dụng thuộc lớp Arleigh Burke. Tàu khu trục thông thường (ký hiệu lườn DD) chủ yếu thực hiện vai trò chống tàu ngầm trong khi tàu khu trục tên lửa điều khiển (DDG) là những hạm tàu nổi đa nhiệm (chống tàu ngầm, phòng không và chống tàu nổi đối phương).
Việc bổ sung gần đây các bệ phóng tên lửa hành trình đã mở rộng đáng kể vai trò tấn công trên bộ của tàu khu trục. Do việc các tàu chiến có trọng lượng lớn hơn nói chung đang được rút khỏi phục vụ trong hạm đội, trọng lượng của các tàu khu trục đang có xu hướng gia tăng. Một tàu khu trục hiện đại thuộc lớp Arleigh Burke có trọng lượng tương đương một tàu tuần dương hạng nhẹ thời Thế Chiến II.
Hải quân Hoàng gia Anh hiện tại đang sử dụng năm tàu khu trục Kiểu 42. Những chiếc này sẽ được thay thế bởi tàu khu trục Kiểu 45 mới hoặc lớp Daring, vốn sẽ có trọng lượng rẽ nước vào khoảng 7.200 tấn. Dự định lớp này sẽ bao gồm sáu chiếc, và hiện tại hai chiếc đã được đưa vào phục vụ. Chúng sẽ được trang bị những phiên bản Anh Quốc của tên lửa phòng không PAAMS và radar SAMPSON của hãng BAE Systems.
Hải quân Pháp và Hải quân Ý (Marina Militare) mỗi nước sử dụng hai tàu khu trục lớp Horizon. Những tàu chiến tàng hình này được trang bị tên lửa đối hạm Exocet và tên lửa đất-đối không Aster. Hải quân Ý hiện cũng đang sử dụng hai tàu khu trục Luigi Durand de la Penne.
Hải quân Canada hiện sử dụng những tàu khu trục thuộc lớp Iroquois gồm bốn chiếc, có khả năng chở theo máy bay trực thăng và trang bị tên lửa điều khiển phòng không. Nguyên thủy chúng được trang bị cho hoạt động chống tàu ngầm, nhưng toàn bộ lớp này trải qua một đợt tái trang bị lớn trong Chương trình Nâng cấp và Hiện đại hóa lớp Tribal (TRUMP) trong những năm 1990. Việc tái trang bị này làm thay đổi mục đích của chúng cho việc phòng không, và hiện tại chúng được phân loại như là tàu khu trục phòng không khu vực.
Hải quân Ấn Độ sử dụng ba tàu khu trục thuộc lớp Delhi. Chúng được trang bị tên lửa chống hạm Kh-35 với tầm hoạt động lên đến 130 km, nhưng sẽ được thay thế bằng tên lửa hành trình Brahmos. Hệ thống tên lửa đối không SA-N-7 Gadfly (Shtil) được trang bị để đối phó với mối đe dọa từ trên không. Hệ thống tên lửa phòng thủ điểm Barak đã được trang bị trên chiếc Delhi và sẽ nhanh chóng được trang bị cho hai chiếc còn lại của lớp. Những tàu khu trục này cũng mang theo rocket RBU-6000 dành cho nhiệm vụ chống tàu ngầm, và được cung cấp năm ống phóng ngư lôi 533 mm có khả năng phóng các ngư lôi SET-65E, Kiểu 53-65. Chúng cũng có thể chở theo hai máy bay trực thăng Sea King. Lớp Delhi sẽ được bổ sung bởi lớp tàu khu trục Kolkata, chiếc đầu tiên được hạ thủy vào tháng 3 năm 2006.
Hải quân Quân giải phóng Trung Quốc gần đây đã đưa vào hoạt động một số tàu khu trục mới hiện đại bổ sung cho bốn chiếc thuộc lớp Sovremenny. Ba lớp tàu mới đã được hạ thủy kể từ năm 2003, bao gồm tàu khu trục Kiểu 052B (Luyang), Kiểu 052C (Luyang II) và Kiểu 051C (Luzhou). Hai kiểu sau được trang bị các loại tên lửa phòng không tầm xa, kiểu HQ-9 nội địa và loại S-300 của Nga tương ứng. Người ta dự đoán rằng một khi Hải quân Trung Quốc hài lòng với một trong số hai thiết kế nói trên (052C hay 051C), nó sẽ được chọn để sản xuất hàng loạt như là thế hệ tiếp theo của tàu khu trục phòng không tiên tiến của Trung Quốc.
Hải quân Đại Hàn Dân quốc sử dụng nhiều lớp tàu khu trục bao gồm lớp Sejong Đại đế (KDX-III) và lớp Chungmugong Yi Sun-sin (KDX-II). KDX-III được trang bị hệ thống tác chiến Aegis, hệ thống vũ khí tiếp cận Goalkeeper CIWS, tên lửa hành trình Hyunmoo và tên lửa đối hạm Hae Sung.
Lực lượng phòng vệ biển Nhật Bản sử dụng các lớp tàu khu trục Atago và Kongō, cả hai đều được trang bị hệ thống tác chiến Aegis.
Hải quân Nga và Hải quân Quân giải phóng Nhân dân Trung Quốc của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sử dụng tàu khu trục lớp Sovremenny, gồm những tàu khu trục tên lửa lớn đa nhiệm. Chúng vận hành bằng nồi hơi đốt dưới áp lực, có khả năng đạt đến tốc độ vượt quá 56 km/h (30 knot). Vũ khí trang bị cho chúng bao gồm tám tên lửa đối hạm SS-N-22 Sunburn, những bệ phóng dành cho tên lửa đối không SA-N-7 Gadfly và hai khẩu hải pháo tự động AK-130 nòng đôi 130 mm có thể bắn đạn pháo dẫn đường bằng laser. Trong khi chúng cũng mang theo ống phóng ngư lôi 533 mm và ống phóng rocket RBU-6000 để sử dụng chống tàu ngầm, nhiệm vụ chủ yếu của chúng là tấn công các hạm tàu nổi đối phương. Tên lửa đối không mà chúng mang theo có chế độ hoạt động mặt biển, và cả pháo 130 mm lẫn ngư lôi đều hữu ích để chống lại tàu nổi ở khoảng cách gần.
Tàu khu trục hiện đại nhất được Hải quân Nga sử dụng hiện nay là lớp Udaloy có từ đầu thập niên 1980. Chúng có trọng lượng rẽ nước khoảng 7.900 tấn khi đầy tải, có thể di chuyển ở tốc độ 65 km/h (35 knot), và có tầm hoạt động tối đa 19.450 km (10.500 hải lý) ở vận tốc đường trường 26 km/h (14 knot). Lớp Udaloy nguyên thủy (Udaloy I) được thiết kế cho vai trò chống tàu ngầm, vốn có thể nhận thấy qua hai ống phóng bốn nòng dành cho tên lửa Metel (SS-N-14), hai ống phóng bốn nòng 533 mm (21 inch) được dùng cho ngư lôi Kiểu 53 trên lớp Udaloy I hoặc tên lửa RPK-2 Viyuga (SS-N-15) trên lớp Udaloy II, và hai ống phóng RBU-6000 chống tàu ngầm. Lớp Udaloy II là kiểu tàu khu trục đa nhiệm duy nhất của Nga, tương đương với lớp Arleigh Burke của Mỹ. Vũ khí trang bị cho lớp Udaloy II đã được cải biến. Tên lửa Metel được thay thế bằng tám tên lửa đối hạm siêu thanh P-270 Moskit (SS-N-22 Sunburn); và cho mục đích phòng không, mỗi chiếc Udaloy trang bị bốn hệ thống vũ khí tiếp cận (CIWS) AK-630 bố trí song song với nhau ở giữa tàu. Chúng còn có hai hệ thống vũ khí tiếp cận Kashtan, mỗi hệ thống có khả năng đối đầu tự động với sáu mục tiêu bằng chính vũ khí của nó là hai khẩu súng gatling GSh-6-30 hoặc bốn tên lửa đất-đối-không 9M311 (SS-N-11). Cuối cùng, 64 tên lửa đất–đối-không phòng thủ điểm tầm trung 3K95 Kinzhal (SS-N-9) có thể khai hỏa từ hệ thống phóng thẳng đứng. Hiện nay, có tổng cộng tám tàu khu trục lớp Udaloy đang hoạt động, bảy trong số đó thuộc lớp Udaloy I và một chiếc lớp Udaloy II.
== Tàu khu trục trong tương lai ==
Tàu khu trục cuối cùng thuộc lớp Spruance của Hải quân Mỹ, chiếc USS Cushing, được cho ngừng hoạt động vào ngày 21 tháng 9 năm 2005; và lớp tàu khu trục Zumwalt từng được dự định để thay thế cho chúng. Vào ngày 1 tháng 11 năm 2001, Hải quân Mỹ công bố ban hành bản Yêu cầu Đề nghị (RFP) được sửa đổi dành cho Chương trình Tàu chiến nổi Tương lai. Trước đây được gọi là DD 21, dự án này hiện nay được đặt tên là DD(X) để phản ánh chính xác hơn mục đích của chương trình, đó là nhằm sản xuất một họ các tàu nổi có kỹ thuật tiên tiến, thay vì chỉ là một lớp tàu duy nhất. Lớp DD(X), còn được gọi là lớp Zumwalt, lớn hơn nhiều so với tàu khu trục truyền thống, chúng nặng hơn gần 3.000 tấn so với một tàu tuần dương lớp Ticonderoga (khoảng 12.500 tấn, lớn hơn đa số tàu tuần dương hạng nặng thời Thế Chiến II). Nó có khả năng mang các loại vũ khí tiên tiến, và sở hữu Hệ thống Động lực Tích hợp hoàn toàn bằng điện. Tuy nhiên, do giá thành bị đội lên quá cao và hàng loạt trục trặc trong thiết kế, chương trình chế tạo lớp tàu Zumwalt đã bị cắt giảm từ 32 chiếc xuống chỉ còn 3 chiếc tổng cộng.
Cùng với việc lớp Spruance được cho nghỉ hưu trong khi kế hoạch đóng lớp Zumwalt bị hủy bỏ, Hải quân Mỹ bắt đầu đưa vào hoạt động một phiên bản cải tiến của lớp Arleigh Burke với các khả năng chống tàu ngầm được mở rộng, kiểu Arleigh Burke Flight IIA, bắt đầu với chiếc USS Oscar Austin. Tính đến năm 2010, 30 chiếc như vậy đã được đưa vào phục vụ, với ít nhất sáu chiếc khác đang được chế tạo.
Từ khi Liên Xô sụp đổ đến nay, Nga chưa đóng mới một lớp tàu khu trục nào thực sự đẳng cấp, những tàu chiến được đóng mới gần đây đều là những tàu khu trục nhỏ có lượng giãn nước dưới 4.000 tấn, chỉ phù hợp cho các nhiệm vụ phòng thủ ven biển. Xét về khía cạnh hiện đại hóa hải quân, Nga thậm chí còn chậm hơn cả Trung Quốc. Năm 2010, những khu trục hạm mạnh nhất của Hải quân Nga đều là những tàu đã được đóng từ thập niên 1980
Vì thế dù đang có doanh số xuất khẩu tốt với các loại tàu cũ nhưng ngành đóng tàu tại Nga cũng đã có kế hoạch phát triển các loại tàu khu trục theo hướng tàng hình mới, một loại được biết đến đầu tiên với tên gọi Tàu khu trục Đề án 21956 khi nó được giới thiệu năm 2007 với nhãn được dùng để xuất khẩu. Kế hoạch tàu khu trục mới sẽ có thể thay thế cho cả 3 lớp tàu phóng lôi, chống ngầm, phóng tên lửa hành trình cũng như có khả năng phòng không, nó hoạt động như một loại tàu đa chức năng, gần như là một loại tàu tuần dương vì hiện tại thiết kế tập hợp hỏa lực giúp tàu chiến có thể tham gia nhiều nhiệm vụ hơn đang là xu hướng phát triển của hải quân Nga khi mà tàu hộ tống Đề án 20385 đã được xem là mạnh gần bằng một tàu khu trục. Loại tàu mới được dự tính có thể trang bị động cơ điện hạt nhân.
== Xem thêm ==
Danh sách các lớp tàu khu trục
Tái xếp lớp tàu Hải quân Hoa Kỳ năm 1975
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
Destroyers, Anthony Preston, Bison Books (London) 1977. ISBN 0-600-32955-0
The First Destroyers / David Lyon - Caxton Editions, 1997 - ISBN 1840673648
Kaigun: Strategy, Tactics, and Technology in the Imperial Japanese Navy, 1887-1941, David C. Evans, Mark R.Peattie, Naval Institute Press, Annapolis, Maryland ISBN 0-87021-192-7
The Origins of Japanese Trade Supremacy: Development and Technology in Asia from 1540 to the Pacific War, Christopher Howe, The University of Chicago Press, ISBN 0-226-35485-7
Conway's All the World's Fighting Ships (1860-1905): Gardiner, Robert (Ed.), Naval Institute Press, 1985.
The Atlantic Campaign, Dan van der Vat.
DD-963 Spruance-class
Navy Designates Next-Generation Zumwalt Destroyer
== Liên kết ngoài ==
Tàu khu trục Kotaka của Nhật Bản năm 1887 (tiếng Nhật)
Tàu khu trục Tây Ban Nha Destructor năm 1886 (tiếng Tây Ban Nha)
"TIN CANS" can dish it out! July 1945 Popular Science article
Tổng quan của MaritimeQuest về lớp tàu khu trục Minekaze
USS Joseph P. Kennedy Hình ảnh trên Tàu khu trục Joseph P. Kennedy DD-780 tại Fall River, Massachusetts
USS Slater Hình ảnh trên Bảo tàng Hộ tống tàu khu trục USS Slater DE-766 tại Albany, New York |
tiếng guaraní.txt | Tiếng Guarani ( /ˈɡwɑrəniː/ hoặc /ɡwærəˈniː/), chính xác hơn là tiếng Guaraní Paraguay (avañe'ẽ [aʋãɲẽˈʔẽ] 'ngôn ngữ của con người'), là một ngôn ngữ bản địa tại Nam Mỹ. Đây là một trong hai ngôn ngữ chính thức tại Paraguay (cùng với tiếng Tây Ban Nha), nơi phần lớn dân số có thể nói tiếng Guaraní và một nửa dân số vùng nông thôn chỉ biết nói tiếng Guaraní. Thứ tiếng này còn được nói tại nhiều khu vực của các quốc gia láng giềng, bao gồm một số nơi ở đông bắc Argentina, đông nam Bolivia và tây nam Brazil và đây cũng là ngôn ngữ thứ hai tại một tỉnh của Argentina, tỉnh Corrientes từ năm 2004; nó cũng là ngôn ngữ chính thức tại Mercosur.
Tiếng Guaraní là một trong những ngôn ngữ bản địa phổ biến nhất và là ngôn ngữ duy nhất tại châu Mỹ có tỷ lệ lớn người nói không phải dân bản địa. Điều này là bất bình thường ở châu Mỹ, nơi mà các ngôn ngữ bản địa bị mai một dần và bị thay thế bằng ngôn ngữ của thực dân châu Âu (trong trường hợp này một ngôn ngữ chính thức nữa là tiếng Tây Ban Nha). Quá trình này đã diễn ra gần như đồng thời với quá trình hình thành người Mestizo (những người có tổ tiên lai giữa người Tây Ban Nha và thổ dân châu Mỹ), cũng là những thổ dân châu Mỹ cấp tiến bị đồng hóa văn hóa.
Từ "Guaraní" thường được dùng để chỉ tiếng Guaraní Paraguay. Tuy nhiên, nó là một phần của một nhóm phương ngữ, trong đó đa phần cũng được gọi là Guaraní.
== Tham khảo == |
sân vận động st james' park.txt | Sân nhà của câu lạc bộ Newcastle United. Là một trong 6 sân vận động lớn nhất Vương Quốc Anh với sức chứa khoảng 52,387 đến 52,409 chỗ ngồi.
St James' Park là sân nhà của Newcastle United từ năm 1892 và đã được sử dụng cho bóng đá từ năm 1880. Sân St James' Park sẽ được sử dụng cho Thế vận hội 2012, cũng như là một địa điểm tổ chức cho World Cup 2015 Rugby.
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
đỗ trung quân.txt | Đỗ Trung Quân (sinh 19 tháng 1 năm 1955) là một nhà thơ Việt Nam. Nhiều bài thơ của ông được phổ nhạc và được nhiều người yêu thích như Quê hương, Phượng hồng... Ông còn được biết đến với nhiều nghề "tay trái" khác như MC cho những chương trình ca nhạc của bạn bè ông hay làm diễn viên cho một số phim truyền hình.
== Cuộc đời và sự nghiệp ==
Ông sinh tại Sài Gòn. Đỗ Trung Quân vừa là bút danh vừa là tên thật của ông. Theo bài phỏng vấn trên báo Vietnam News giữa năm 2005 thì trong khai sinh của ông không có tên cha. Ông được mẹ là bà Đỗ Thị Hảo nuôi lớn đến năm 15 tuổi thì mẹ mất. Ông tiếp tục mưu sinh và sau khi tốt nghiệp Tú tài, ông vào học tại Viện Đại học Vạn Hạnh.
Năm 1979, ông tham gia phong trào Thanh niên xung phong và bắt đầu sáng tác. Một số bài thơ do ông sáng tác trở thành nổi tiếng như Hương tràm (1978).
Một số bài thơ phổ nhạc được nhiều người biết đến như:
Hương tràm (1978), Vũ Hoàng phổ nhạc
Bài học đầu cho con (1986), Giáp Văn Thạch phổ nhạc thành bài "Quê hương" và Anh Bằng phổ thành bài hát "Quê hương bài học đầu cho con"
Chút tình đầu (1984), Vũ Hoàng phổ nhạc thành bài Phượng hồng (1988)
Khúc mưa, Phú Quang phổ nhạc
Những bông hoa trên tuyến lửa, Nguyễn Cửu Dũng phổ nhạc
Ông từng công tác tại báo Sài Gòn tiếp thị và là chủ trang blog nổi tiếng chungdokwan
== Tác giả bài thơ ==
Thơ
Phượng Hồng
Những bông hoa trên tuyến lửa
Bài học đầu cho con
Tập thơ
Cỏ hoa cần gặp (1991)
Chân mây cuối trời (in chung cùng Hoàng Ngọc Biên, 2003)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Nhà thơ Đỗ Trung Quân: câu cuối của bài Quê Hương không có trong nguyên bản
Trang blog Chung Do Kwan của nhà thơ Đỗ Trung Quân |
enid blyton.txt | Enid Blyton Mary (11 tháng 8 năm 1897 - 28 tháng 11 năm 1968) là một nhà văn người Anh viết truyện cho trẻ em, người đã có những cuốn sách nằm trong số bán chạy nhất trên thế giới kể từ năm 1930, bán được hơn 600 triệu bản. Sách của Blyton vẫn vô cùng phổ biến, và đã được dịch ra gần 90 ngôn ngữ; Cuốn sách đầu tiên của bà, Child Whispers, một bộ sưu tập thơ 24 trang, được xuất bản vào năm 1922. Bà đã viết về một loạt các chủ đề bao gồm giáo dục, lịch sử tự nhiên, hình ảnh, những câu chuyện bí ẩn và câu chuyện Kinh Thánh, nhưng tác phẩm của bà khiến nhiều người nhớ nhất hiện nay là loạt truyện Noddy, Famou Five và Secret Seven. Tiếp theo thành công thương mại của tiểu thuyết đầu tay Adventures of the Wishing Chair (1937) và The Enchanted Wood (1939) Blyton tiếp tục xây dựng một đế chế văn học, đôi khi sản xuất năm mươi tác phẩm một năm.
== Tác phẩm tiêu biểu ==
Bộ truyện The Wishing-Chair, 1937 – 2000
Bộ truyện The Circus, 1938 – 1942
Bộ truyện The Secret, 1938 – 1953
Bộ truyện The Magic Faraway Tree, 1939 – 1951
Bộ truyện The Naughtiest Girl, 1940 - 1950
Bộ truyện The St. Clare's, 1941 – 1945
Bộ truyện The Famous Five, 1942 – 1963 (Đã xuất bản ở Việt Nam với tựa Bộ năm lừng danh, Nhà xuất bản Hội Nhà Văn, Nhã Nam, 2011)
Bộ truyện Malory Towers, 1946 -1951 (Đã xuất bản ở Việt Nam với tựa Tòa tháp Malory, Nhà xuất bản Văn Học, 2010)
Bộ truyện The Mistletoe Farm, 1948 - 1950
Bộ truyện The Secret Seven, 1949 – 1963
Bộ truyện The Barney Mystery, 1949 – 1959
== Tham khảo == |
samsung town.txt | Samsung Town là một văn phòng lớn tại Seocho-gu ở Seoul, Hàn Quốc. Nó đóng vai trò như trung tâm CNTT và điện tử của tập đoàn đa quốc gia Samsung.
Samsung Electronics, Samsung C&T, và Samsung Life Insurance gồm 3 tòa nhà cao 44, 34 và 32 tầng. Samsung Town được thiết kể bởi Kohn Pedersen Fox. Samsung Electronics và Samsung C&T đã chuyển vào tòa nhà trong khi Samsung Life Insurance cho Samsung Electronics và các chi nhánh khác thuê.
== Tham khảo ==
“Samsung Seocho Town Electronics Tower”. Council on Tall Buildings and Urban Habitat. 2012. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012.
“Samsung Electronics to move headquarters”. Invest Korea. Ngày 27 tháng 1 năm 2006. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012.
“내주 준공식 갖는 서초동 삼성타운 가보니”. news.mk.co.kr. Ngày 13 tháng 7 năm 2007. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012.
“Samsung Seocho”. Kohn Pedersen Fox. Truy cập ngày 16 tháng 7 năm 2012. |
1948.txt | 1948 (số La Mã: MCMXLVIII) là một năm nhuận bắt đầu vào thứ Năm trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1948
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1:
Trung Hoa Quốc Dân đảngthành lập cách mạng ủy viên hội.
Thông qua hiệp ước chung về thuế quan và mậu dịch
4 tháng 1: Miến Điện tuyên bố độc lập.
30 tháng 1: Lãnh tụ đảng Quốc Đại Ấn Độ Mahatma Gandhi bị ám sát
=== Tháng 2 ===
4 tháng 2: Sri Lanka giành độc lập.
25 tháng 2: Đảng cộng sản lên nắm quyền ở Tiệp Khắc
=== Tháng 3 ===
10 tháng 3: Ngoại trưởng Tiệp Khắc Jan Masaryk được báo cáo là đã tự sát.
12 tháng 3: Nội chiến Costa Rica bùng nổ.
23 tháng 3: Mao Trạch Đông hạ lệnh giải phóng quân vượt Hoàng Hà tiến quân xuống Hoa Nam và Hoa Tây
=== Tháng 4 ===
3 tháng 4: Hoa Kỳ triển khai kế hoạch Marshall.
7 tháng 4: Thành lập tổ chức y tế thế giới (WHO)
=== Tháng 5 ===
10 tháng 5: Hàn Quốc tổ chức bầu cử quốc hội
14 tháng 5: Israel thành lập quốc gia.
15 tháng 5: Mở đầu chiến tranh Trung Đông lần thứ 1.
18 tháng 5: Tại Nam Kinh, khai mạc tối cao pháp viện.
20 tháng 5: Tại Nam Kinh, Tưởng Giới Thạch chính thức nhận chức tổng thống Trung Hoa Dân Quốc lần thứ nhất.
23 tháng 5: Mở đầu cuộc bao vây Trường Xuân.
25 tháng 5: Quân đội Đảng Cộng sản Trung Quốc giải phóng Long Hóa.
=== Tháng 6 ===
18 tháng 6: Tại Malaysia xảy cuộc nổi dậy chống thực dân Anh
23 tháng 6: Quân đội Liên Xô tại Đông Đức bắt đầu rút bớt quân.
24 tháng 6: Mở đầu Cuộc phong tỏa Berlin
28 tháng 6: Hoa Kỳ mở cầu không vận tiếp tế Bá Lâm
=== Tháng 7 ===
17 tháng 7: Hiến pháp Hàn Quốc bắt đầu có hiệu lực
=== Tháng 8 ===
15 tháng 8: nước Đại Hàn Dân Quốc thành lập.
19 tháng 8: Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc phát hành kim ngân khoán
=== Tháng 9 ===
9 tháng 9: nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Triều Tiên thành lập.
12 tháng 9: mở đầu chiến dịch Liêu Thẩm.
16 tháng 9: Mở đầu chiến dịch Tế Nam.
24 tháng 9: Kết thúc chiến dịch giải phóng Tế Nam.
=== Tháng 10 ===
5 tháng 10: Mở đầu chiến dịch Thái Nguyên.
10 tháng 10: Mở đầu chiến dịch Tháp Sơn tại Liêu Ninh
15 tháng 10: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Cẩm Châu.
19 tháng 10: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Trường Xuân.
21 tháng 10: Bắt đầu chiến dịch Liêu Tây
22 tháng 10: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Trịnh Châu
24 tháng 10: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Khai Phong
28 tháng 10: Kết thúc chiến dịch Liêu Tây
=== Tháng 11 ===
2 tháng 11:
Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Thẩm Dương, kết thúc chiến dịch Liêu Thẩm.
Harry Truman đắc cử tổng thống Hoa Kỳ
6 tháng 11: Mở đầu chiến dịch Hoài Hải.
20 tháng 11: Nhân viên lãnh sự quán Mỹ tại Thẩm Dương bị cộng sản Trung Quốc bắt làm con tin.
22 tháng 11: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Bảo Định
=== Tháng 12 ===
1 tháng 12: Ngân hàng Trung ương Trung Quốc thành lập và phát hành đồng nhân dân tệ
5 tháng 12: mở đầu chiến dịch Bình Tân.
10 tháng 12: Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền của Liên Hiệp Quốc
12 tháng 12: Liên hợp quốc công nhận Hàn Quốc là đại diện hợp pháp duy nhất của Triêu Tiên
15 tháng 12: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Từ Châu.
24 tháng 12: Quân giải phóng Trung Quốc giải phóng Trương Gia Khẩu
== Sinh ==
20 tháng 02, Lê Công Phụng, Đại sứ Đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Hoa Kỳ, nguyên Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Việt Nam.
14 tháng 01, Nguyễn Đức Mậu, Nhà thơ, nhà văn Việt Nam.
== Mất ==
30 tháng 1 - Mahātmā Gāndhī, Anh hùng dân tộc Ấn Độ, lãnh đạo Đảng Quốc đại.
== Giải Nobel ==
Vật lý - Patrick Maynard Stuart Blackett
Hóa học - Arne Wilhelm Kaurin Tiselius
Y học - Paul Hermann Müller
Văn học - T. S. Eliot
Hòa bình - không có giải
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
bengaluru.txt | 12.58°B 77.35°Đ / 12.58; 77.35
Bangalore (tiếng Kannada: ಬೆಂಗಳೂರು; phát âm: ['beŋgəɭuːru] trong tiếng Kannada /'bæŋgəlɔː(ɹ)/ trong tiếng Anh là thủ phủ của Bang Karnataka của Ấn Độ. Thành phố Bengaluru tọa lạc trên cao nguyên Mysore ở tây nam Karnataka với dấn số 6,1 triệu người, là thành phố lớn thứ 3 Ấn Độ và là đại đô thị lớn thứ 5 tại Ấn Độ. Thành phố có lịch sử 900 năm nhưng tư liệu về sự định cư liên tục thì chỉ tồn tại từ năm 1537 khi Kempe Gowda I - người được cho là người kiến trúc nên Bangalore ngày nay, đã cho xây một pháo đài bằng đất ở trong thành và thành lập tỉnh với tên gọi là Đế quốc Vijayanagara. Bangalore cũng được mệnh danh là "thung lũng Silicon" châu Á.
== Nguồn gốc tên gọi ==
== Lịch sử ==
== Khí hậu ==
== Nhân khẩu ==
== Các vấn đề quản lý nhân sinh ==
== Giao thông ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
== Thể thao ==
== Xem thêm ==
Danh sách vùng đô thị châu Á
== Tham khảo == |
chile con queso.txt | Chile con queso (Từ tiếng Tây Ban Nha cho "ớt với pho mát"), đôi khi được gọi đơn giản là queso, là một món khai vị hoặc món ăn thêm từ phô-mai chảy và ớt. Món này thường phục vụ trong các nhà hàng Tex-Mex (Texas-Mexico) như là một loại nước chấm cho bim bim tortilla.
== Khái quát ==
Chile con queso là một phần của ẩm thực Tex-Mex và ẩm thực Tây Nam Hoa Kỳ, có nguồn gốc ở bang Chihuahua phía bắc Mexico, là một phiên bản của món Queso chihuahua và Queso flameado. Chile con queso chủ yếu được tìm thấy trên thực đơn các nhà hàng ở Tex-Mex và các bang khác của Hoa Kỳ.
=== Nguyên liệu ===
Chile con queso là một loại xốt mịn, sốt kem, được sử dụng để chấm. Nó được làm từ sự pha trộn các loại pho mát chảy (thường là pho mát chế biến như Velveeta hoặc các loại pho mát chế biến khác, Monterey Jack hoặc pho mát kem), kem, và ớt; ớt có thể dưới dạng hỗn hợp cà chua và ớt đóng hộp được bán ở Ro-Tel. Nhiều nhà hàng phục vụ chile con queso với các nguyên liệu bổ sung như pico de gallo, đậu đen, guacamole, và thịt bò và/hoặc thịt lợn băm.
=== Phục vụ ===
Chile con queso là một món ấm, được làm nóng đến nhiệt độ thích hợp. Chile con queso có thể được ăn với tortilla, bim bim tortilla, hoặc bim bim queso đặc biệt mà dày hơn bim bim tortilla. Nó cũng có thể được sử dụng làm gia vị ăn với fajita, taco, enchilada, miga, quesadilla hoặc bất món ăn Tex-Mex nào khác.
Trong khi các nhà hàng Tex-Mex cung cấp bim bim và salsa miễn phí, queso thường bị tính phí thêm. Nó có thể được làm từ nhiều loại pho mát khác nhau. Nó thường có màu trắng hoặc vàng.
Mặc dù chile con queso thường được gọi là "queso" ("pho mát" trong tiếng Tây Ban Nha), không nên nhầm lẫn nó với "nước chấm pho mát", đặc biệt là loại này không có ớt.
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
thực vật có hoa.txt | Thực vật có hoa còn gọi là thực vật hạt kín hay thực vật bí tử, là một nhóm chính của thực vật. Chúng tạo thành một trong hai nhóm thuộc thực vật có hạt (Spermatophyte). Chúng bao phủ các hạt của mình bằng cách đưa hạt vào trong quả thực thụ. Chúng chứa các cơ quan sinh sản trong một cấu trúc được gọi là hoa; noãn được bao phủ bởi lá noãn, nó sẽ dẫn tới sự hình thành quả.
Trong nhóm chính kia của thực vật có hạt, được gọi là thực vật hạt trần, noãn không được bao phủ khi thụ phấn và các hạt không ở trong quả thực thụ, mặc dù thỉnh thoảng người ta vẫn thấy ở chúng các cơ cấu nhiều cùi thịt che phủ hạt (ví dụ chi Taxus).
== Lịch sử ==
Thuật ngữ để chỉ thực vật hạt kín là "Angiosperm", có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp cổ đại αγγειον (chỗ chứa) và σπερμα (hạt), được Paul Hermann tạo thành dưới dạng thuật ngữ Angiospermae vào năm 1690, như là tên gọi của một trong các ngành chính trong giới thực vật của ông, nó bao gồm thực vật có hoa và tạo ra các hạt được bao phủ trong các bao vỏ (quả nang), ngược lại với Gymnospermae của ông, hay thực vật có hoa với các quả thuộc loại quả bế hay quả nứt - toàn bộ quả hay mỗi miếng riêng rẽ của nó được coi như là hạt và trần trụi. Thuật ngữ này và từ trái nghĩa của nó đã được Carolus Linnaeus duy trì với cùng ngữ cảnh, nhưng với các ứng dụng hạn hẹp hơn, như trong tên gọi của các bộ trong lớp Didynamia của ông. Việc sử dụng nó trong bất kỳ cách tiếp cận nào đối với lĩnh vực hiện đại của nó chỉ trở thành có thể sau khi Robert Brown thiết lập vào năm 1827 sự tồn tại của các noãn trần thực sự trong Cycadeae (Tuế) và Coniferae (Thông), cho phép gọi chúng một cách chính xác là thực vật hạt trần. Từ thời điểm này trở đi, cũng giống như Gymnosperm được dùng để chỉ thực vật hạt trần thì thuật ngữ Angiosperm đã được nhiều nhà thực vật học dùng với ý nghĩa đối lập, nhưng với giới hạn thay đổi, như là tên nhóm cho các thực vật hai lá mầm khác.
Sự phát hiện của Hofmeister năm 1851 về các thay đổi xảy ra trong túi phôi của thực vật có hoa, cũng như sự xác định của ông về các quan hệ chính xác của các thay đổi này với thực vật có mạch, đã cố định vị trí của Gymnosperm như là một lớp phân biệt với thực vật hai lá mầm, và thuật ngữ Angiosperm sau đó dần dần được chấp nhận như là tên gọi phù hợp cho toàn bộ thực vật có hoa hơn là Gymnosperm, và nó bao gồm trong đó các lớp thực vật hai lá mầm và thực vật một lá mầm. Đây chính là ý nghĩa mà thuật ngữ này hiện nay có được và được sử dụng ở đây.
== Nguồn gốc ==
Sự tiến hóa của giới thực vật đã theo xu hướng thiết lập các loài thực vật với kiểu cách phát triển cố định và phù hợp với sự thay đổi của sự sống trên mặt đất, và thực vật hạt kín là biểu hiện cao nhất của quá trình tiến hóa này. Chúng tạo thành thảm thực vật chủ yếu trên bề mặt Trái Đất trong kỷ nguyên hiện tại. Thực vật hạt kín được tìm thấy từ hai địa cực tới xích đạo, khi mà sự sống của thực vật là có thể duy trì được. Chúng cũng rất phổ biến trong các vùng nông của các con sông và các hồ nước ngọt, cũng như có ít hơn về mặt số lượng loài trong các hồ nước mặn hay trong lòng đại dương. Tuy nhiên, các loài thực vật hạt kín thủy sinh không phải là các dạng nguyên thủy mà được phát sinh ra từ các dạng tổ tiên trung gian trên đất liền. Gắn liền với sự đa dạng về nơi sinh sống là sự dao động lớn về hình thái chung và kiểu sinh trưởng. Chẳng hạn, các loại bèo tấm quen thuộc che phủ bề mặt các ao hồ gồm có các chồi nhỏ màu xanh lục dạng "tản", gần như không thể hiện sự phân biệt giữa các phần - thân và lá, chúng có một rễ đơn mọc theo chiều đứng xuống dưới nước. Trong khi đó, các cây thân gỗ lớn trong rừng có thân cây, có lẽ là sau hàng trăm năm, đã phát triển thành một hệ thống trải rộng bao gồm các cành và nhánh, mang theo nhiều cành con hay nhánh nhỏ với hằng hà sa số lá, trong khi dưới lòng đất thì hệ thống rễ trải rộng nhiều nhánh cũng chiếm một diện tích đất tương đương. Giữa hai thái cực này là mọi trạng thái có thể tưởng tượng được, bao gồm các loại cây thân thảo trên mặt đất và dưới nước, là các loại cây thân bò, mọc thẳng hay dây leo về cách thức phát triển, cây bụi hay cây thân gỗ nhỏ và vừa phải và chúng có sự đa dạng hơn nhiều so với các ngành khác của thực vật có hạt, chẳng hạn như ở thực vật hạt trần.
Các chứng cứ đầu tiên về sự xuất hiện của thực vật hạt kín được tìm thấy trong các mẫu hóa thạch có niên đại khoảng 140 triệu năm trước, trong thời kỳ của kỷ Jura (203-135 triệu năm trước). Dựa trên các chứng cứ hiện tại, dường như là các tổ tiên của thực vật hạt kín và ngành Dây gắm (Gnetophyta) đã tách ra khỏi nhau vào cuối kỷ Trias (220-202 triệu năm trước). Các thực vật hóa thạch với một số đặc trưng có thể xác định thuộc về thực vật hạt kín xuất hiện trong kỷ Jura và đầu kỷ Phấn trắng (kỷ Creta) (135-65 triệu năm trước), nhưng chỉ có dưới một số rất ít hình thái thô sơ. Hóa thạch sớm nhất của thực vật hạt kín, Archaefructus liaoningensis, có niên đại khoảng 125 triệu năm trước. Phấn hoa, được coi là liên quan trực tiếp tới sự phát triển của hoa, được tìm thấy trong hóa thạch có lẽ cổ tới 130 triệu năm. Sự bùng nổ mạnh của thực vật hạt kín (khi có sự đa dạng lớn của thực vật hạt kín trong các mẫu hóa thạch) đã diễn ra vào giữa kỷ Phấn trắng (khoảng 100 triệu năm trước). Tuy nhiên, một nghiên cứu trong năm 2007 đã ước tính sự phân chia của 5 trong số 8 nhóm gần đây nhất (chi Ceratophyllum, họ Chloranthaceae, thực vật hai lá mầm thật sự, magnoliids, thực vật một lá mầm) đã xảy ra khoảng 140 triệu năm trước. Vào cuối kỷ Phấn trắng, thực vật hạt kín dường như đã trở thành nhóm thống trị trong số thực vật trên đất liền, và nhiều thực vật hóa thạch có thể nhận ra được là thuộc về các họ ngày nay (bao gồm dẻ gai, sồi, thích, mộc lan) đã xuất hiện.
Tuy nhiên, một số tác giả lại đề xuất nguồn gốc sớm hơn của thực vật hạt kín, đôi khi là tận trong đại Cổ sinh (251 triệu năm trước hay sớm hơn).
== Phân loại ==
Trong phần lớn các hệ thống phân loại, thực vật có hoa được coi là một nhóm cố kết mạch lạc. Tên gọi mang tính miêu tả phổ biến nhất là Angiospermae (Angiospermae), với Anthophyta ("thực vật có hoa") là lựa chọn thứ hai. Các tên gọi này không gắn kết cố định với bất kỳ cấp phân loại nào. Hệ thống Wettstein và hệ thống Engler sử dụng tên gọi Angiospermae với cấp bậc được gán là phân ngành. Hệ thống Reveal coi thực vật có hoa như là phân ngành Magnoliophytina (Frohne & U. Jensen ex Reveal, Phytologia 79: 70 1996), nhưng sau đó tách nó ra thành Magnoliopsida, Liliopsida và Rosopsida. Hệ thống Takhtadjan và hệ thống Cronquist coi nhóm này ở cấp ngành, dẫn tới tên gọi Magnoliophyta (từ tên gọi của họ Magnoliaceae). Hệ thống Dahlgren và hệ thống Thorne (1992) coi nhóm này ở cấp độ lớp, dẫn tới tên gọi Magnoliopsida. Tuy nhiên, hệ thống APG năm 1998 và hệ thống APG II năm 2003, không coi nó như là một đơn vị phân loại chính thức mà coi nó là một nhánh không có tên gọi thực vật học chính thức và sử dụng tên gọi angiosperms cho nhánh này.
Cho tới nay, thông thường thực vật có hoa vẫn được coi là một ngành. Là một nhóm ở cấp độ trên cấp họ, nên ở đây có sự tự do trong việc chọn tên gọi: Điều 16 của ICBN cho phép hoặc là dùng tên miêu tả hoặc là dùng tên dựa trên tên phát sinh chủng loài. Tên ưa thích theo phạm trù sau là Magnoliophyta (ở cấp độ ngành, dựa trên Magnolia là tên khoa học của chi Mộc lan). Tên miêu tả phổ biến nhất là Angiospermae (Angiosperm), với Anthophyta ("thực vật có hoa") là sự lựa chọn thứ hai.
Phân loại nội bộ của nhóm này đã qua nhiều thay đổi đáng kể cũng giống như sự thay đổi của ý tưởng về các mối quan hệ của chúng. Hệ thống Cronquist, được Arthur Cronquist đề xuất năm 1968 và công bố ở dạng đầy đủ năm 1981, vẫn còn được sử dụng rộng rãi nhưng không còn được coi là phản ánh đúng cơ chế phát sinh loài. Sự nhất trí chung về việc thực vật có hoa cần sắp xếp như thế nào chỉ có thể nổi lên gần đây, thông qua công trình của Angiosperm Phylogeny Group, là tổ chức đã phát hành sự phân loại lại có sức thuyết phục hơn cho thực vật hạt kín vào năm 1998. Sự cập nhật các nghiên cứu gần đây đã được phát hành như là APG II (2003).
Theo truyền thống, thực vật có hoa được chia thành hai nhóm chính, trong hệ thống Cronquist được gọi là Magnoliopsida (ở cấp độ lớp, dựa trên tên gọi Magnolia) và Liliopsida (ở cấp độ lớp, dựa trên tên gọi Lilium). Phổ biến hơn là các tên gọi miêu tả (theo điều 16 của ICBN): Dicotyledones (một số người ưa dùng Dicotyledoneae) và Monocotyledones (một số người ưa dùng Monocotyledoneae), là các tên gọi đã được sử dụng từ rất lâu. Trong tiếng Việt, thành viên nào đó của nhóm bất kỳ nào đều có thể được gọi chung là "thực vật một lá mầm" hay "thực vật hai lá mầm", tùy theo số lượng lá mầm của nó. Các tên gọi này xuất phát từ một thực tế là thực vật hai lá mầm thường (không phải luôn luôn) có hai lá mầm trong mỗi hạt, trong khi thực vật một lá mầm thông thường chỉ có một. Quan điểm về số lượng lá mầm không phải là thuận tiện mà cũng không phải là đặc điểm có độ tin cậy cao.
Các nghiên cứu gần đây chỉ ra rằng thực vật một lá mầm là một nhóm "tốt" (nhóm đơn ngành hay toàn phần), trong khi thực vật hai lá mầm lại không phải như vậy (nhóm đa ngành). Tuy nhiên, trong phạm vi của thực vật hai lá mầm vẫn tồn tại nhóm "tốt", nó bao gồm phần lớn thực vật hai lá mầm. Nhóm mới này về mặt bán chính thức được gọi là "thực vật hai lá mầm thật sự" (eudicots) hay "ba lỗ chân lông" (tricolpate). Tên gọi "tricolpate" có nguồn gốc từ loại hình phấn hoa tìm thấy trong cả nhóm. Tên gọi eudicots được tạo ra bằng cách gắn "dicots" với tiền tố "eu-" (tiếng Hy Lạp 'eu'= "thật sự"), do mọi thực vật hai lá mầm thật sự đều chia sẻ các đặc trưng thông thường được gán cho thực vật hai lá mầm. Tên gọi hình thức cho nhóm này đôi khi được dùng là Rosopsida (ở cấp độ lớp, dựa trên chi Rosa). Tách nhóm này ra khỏi thực vật hai lá mầm (cũ) người ta thu được phần còn lại, nó đôi khi được gọi là "thực vật hai lá mầm cổ" (palaeodicot với tiền tố "palaeo-" trong tiếng Hy Lạp cổ điển có nghĩa là cổ). Do nhóm còn lại này không phải là một nhóm "tốt" nên thuật ngữ này chỉ có mục đích làm thuận lợi trong phân loại mà thôi.
== Phát sinh chủng loài ==
Hiện còn 8 nhóm thực vật hạt kín còn sinh tồn:
Amborella - loài cây bụi duy nhất ở New Caledonia
Ceratophyllum - khoảng 6 loài thực vật thủy sinh, có lẽ thân thuộc nhất như là các cây trong bể cảnh
Chloranthales - vài chục loài cây có hương thơm với lá khía răng cưa
Austrobaileyales - khoảng 100 loài cây thân gỗ từ các nơi khác nhau trên thế giới
Nymphaeales - khoảng 80 loài - súng và Hydatellaceae
magnoliids - khoảng 9.000 loài, với đặc trưng hoa có các đặc điểm là bội số của 3, phấn hoa có một lỗ, và thông thường các lá có gân phân nhánh - chẳng hạn mộc lan, nguyệt quế và hồ tiêu
eudicots - khoảng 175.000 loài, với đặc trưng hoa có các đặc điểm là bội số của 4 hay 5, phấn hoa có 3 lỗ, và thông thường các lá có gân phân nhánh - ví dụ hướng dương, mao lương, táo tây và sồi
monocots - khoảng 70.000 loài, với đặc trưng hoa có các đặc điểm là bội số của 3, một lá mầm, phấn hoa có một lỗ, và thông thường các lá có gân song song - ví dụ cỏ, lan và cau, dừa
Mối quan hệ chính xác giữa 8 nhóm này vẫn chưa rõ ràng, mặc dù người ta đã xác định được rằng ba nhóm đầu tiên tách ra khỏi các dạng thực vật hạt kín tổ tiên là Amborellales, Nymphaeales và Austrobaileyales, theo đúng trật tự đó.
== Sự đa dạng của thực vật có hoa ==
Người ta ước tính thực vật có hoa có khoảng 250.000-400.000 loài trong phạm vi của khoảng 462 họ (theo APG năm 1998). Trong APG II năm 2003 số lượng họ vẫn chưa được giải quyết; tối đa là 457, nhưng trong đó có 55 họ tùy chọn, vì thế số lượng họ tối thiểu trong hệ thống này là 402.
Sự đa dạng của thực vật có hoa không phân bố đồng đều. Sự phân bố gần đúng như sau: Khoảng 75% là thực vật hai lá mầm thật sự, khoảng 23% là thực vật một lá mầm còn 2% thuộc phức hợp Mộc lan. Tổng cộng 5 nhánh còn lại chỉ có khoảng 250 loài, nghĩa là ít hơn 0,1% sự đa dạng của thực vật có hoa, được phân chia trong 9 họ.
Các họ thực vật có hoa đa dạng nhất, theo trật tự số lượng loài, là:
Asteraceae hay Compositae (họ Cúc): 23.600 loài
Orchidaceae (họ Lan): 21.950 loài hoặc nhiều hơn
Fabaceae hay Leguminosae (họ Đậu): 19.400 loài
Rubiaceae (họ Thiến thảo hay họ Cà phê): 13.183 loài
Poaceae hay Gramineae (họ Hòa thảo, họ Cỏ, họ Lúa): 10.035 loài
Lamiaceae hay Labiatae (họ Hoa môi): 7.173 loài
Euphorbiaceae (họ Đại kích hay họ Thầu dầu): 5.735 loài
Cyperaceae (họ Cói): 4.350 loài
Malvaceae (họ Cẩm quỳ): 4.300 loài
Araceae (họ Chân bê, còn gọi là họ Ráy, bao gồm cả phân họ Ráy): 4.025 loài
Trong danh sách 10 họ lớn nhất kể trên, thì Orchidaceae, Poaceae, Cyperaceae và Araceae là các họ thực vật một lá mầm; các họ còn lại là họ thực vật hai lá mầm.
== Cấu trúc trong ==
Sự đa dạng trong cấu trúc trong của ngành này cũng vượt xa ngành thực vật hạt trần. Các bó mạch của thân cây thuộc về dạng bàng hệ, điều đó có thể hiểu là các thành phần của thân gỗ (hay chất gỗ) và vỏ (hay li be) được xếp cạnh nhau trên cùng một đường tròn.
Trong nhóm lớn hơn là thực vật hai lá mầm thì chúng có các bó mạch trong các thân cây non được sắp xếp trong vòng gỗ mở, chia tách phần lõi xốp trung tâm với phần vỏ ngoài. Trong mỗi bó, chia tách bởi phần chất gỗ và phần li be, là một lớp mô phân sinh hay mô hình thành đang hoạt động, được biết dưới tên gọi tầng phát sinh gỗ; bằng sự hình thành của lớp phát sinh gỗ giữa các bó (tầng phát sinh gỗ trong bó) thì vòng gỗ hoàn hảo được tạo ra, và đều đặn tăng độ dày hàng năm do sự phát triển của chất gỗ ở bên trong và lớp li be ở bên ngoài. Li be mềm nhanh chóng bị tiêu tan, nhưng chất gỗ cứng thì vẫn còn và tạo thành kích thước lớn của thân cây và các cành đối với các cây thân gỗ lâu năm. Do các khác biệt trong đặc trưng của các thành phần được tạo ra vào đầu và cuối mùa nên nó được giới hạn theo mặt cắt ngang thành các vòng gỗ đồng tâm, mỗi vòng cho một mùa tăng trưởng - còn gọi là vòng gỗ hàng năm.
Trong nhóm nhỏ hơn là thực vật một lá mầm thì các bó mạch có nhiều hơn ở các thân cây non và phân tán qua các mô nền. Ngoài ra, chúng không chứa tầng phát sinh gỗ và kích thước thân cây khi đã hình thành chỉ tăng trưởng trong rất ít trường hợp.
== Cơ quan sinh dưỡng ==
Giống như ở thực vật hạt trần, việc tạo nhánh là đơn trục; sự tách đôi hay chia nhánh của điểm phát triển thành hai cành tương đương để thay thế cho thân chính là thiếu vắng ở cả thân và rễ. Lá có sự dao động lớn về hình dạng, nhưng nói chung là nhỏ so với kích thước của cây; ngoại trừ ở một số loài thực vật một lá mầm như trong phân họ Ráy, trong đó ở một vài chi thì cây tạo ra lá to, nhiều nhánh mỗi mùa.
Trong một số rất hạn chế các trường hợp thì thân cây chính không tạo cành và kết thúc của nó là hoa, giống như ở loài hoa tulip (uất kim hương), trong đó các lá bắc hình thành lên thân hành dưới đất, các lá xanh lục và các lá dạng hoa màu mè được sinh ra trên cùng một trục. Nói chung, các hoa chỉ được tạo thành trên các cành, nhánh có cấp cao hơn, thông thường chỉ ở các cành cao nhất trong hệ thống nhánh cây. Nhánh tiềm năng (chồi), hoặc là chồi lá hoặc là chồi hoa, được hình thành ở nách lá; đôi khi nhiều hơn một chồi mọc ra, giống như ở cây óc chó, trong đó 2-3 chồi mọc thành chuỗi theo chiều dọc phía trên mỗi lá. Nhiều chồi chỉ ở dạng ngủ hay chỉ được đánh thức trong những hoàn cảnh khác thường, chẳng hạn sau khi cành hiện tại bị phá hủy. Ví dụ việc chặt hay xén tỉa cành sẽ giúp cho các chồi ngủ nhiều năm có thể thức dậy. Các chồi lá đôi khi có thể mọc ra từ rễ, khi chúng bị đánh thức ngẫu nhiên; điều này xảy ra ở nhiều loại cây ăn quả, như cây dương, đu và nhiều loài khác. Ví dụ, các chồi non trổ ra từ lòng đất xung quanh cây đu không phải là cây non mà là các chồi rễ. Ở nhiều loài thực vật hai lá mầm thì rễ nguyên thủy của cây non tồn tại suốt cuộc đời của cây, tạo thành (thường thấy ở các cây hai năm) một rễ cái to, giống như ở cà rốt, hay ở cây lâu năm là một hệ thống rễ nhiều nhánh.Tuy nhiên, ở nhiều loài thực vật hai lá mầm và phần lớn thực vật một lá mầm khác thì rễ nguyên thủy sẽ tàn lụi đi nhanh chóng và thay thế vào đó là các rễ ngẫu nhiên mọc từ thân cây.
== Hoa, quả và hạt ==
Tính chất đặc trưng của thực vật hạt kín là hoa, trong đó có sự dao động đáng kể về hình dáng và sự hình thành. Nó đưa ra các đặc trưng đáng tin cậy nhất để thiết lập quan hệ giữa các loài thực vật hạt kín. Chức năng của hoa là đảm bảo cho sự thụ phấn của noãn và phát triển của quả chứa các hạt. Hoa có thể sinh ra ở đầu ngọn hay ở nách lá. Thỉnh thoảng, chẳng hạn như ở hoa vi ô let, hoa mọc ra ở nách của lá. Tuy nhiên, thông dụng hơn thì các phần mang hoa của thực vật về hình dạng là phân biệt rõ nét với các phần sinh dưỡng hay phần mang lá, cũng như tạo ra hệ thống nhánh phức tạp nhiều hay ít, được gọi là cụm hoa.
Giống như ở thực vật hạt trần, các bào tử được hoa tạo ra có hai loại: tiểu bào tử hay phấn hoa, sinh sản trong các nhị hoa và đại bào tử, trong đó các tế bào trứng phát triển, chứa trong noãn và được bao phủ trong lá noãn. Hoa có thể chỉ bao gồm một trong các phần mang bào tử như thế, chẳng hạn ở cây liễu, trong đó mỗi hoa chỉ có một vài nhị hoa hay hai lá noãn. Tuy nhiên, thông thường thì các cấu trúc khác cũng có nhằm hai mục đích là bảo vệ các bào tử và hình thành một vỏ bao hấp dẫn. Các thành phần cụ thể của các cấu trúc xung quanh này được gọi là đài hoa và cánh hoa (hay bao hoa trong hoa của một vài chi như Michelia). Phần bên ngoài (đài của các đài hoa) thông thường có màu xanh lục giống như lá, có chức năng bảo vệ phần còn lại của hoa, đặc biệt là trong nụ. Phần bên trong (tràng của các cánh hoa) nói chung có màu trắng hay các màu sáng và tinh tế hơn về cấu trúc, có chức năng hấp dẫn một số loài côn trùng hoặc chim chóc cụ thể nào đó mà sự có mặt của chúng giúp cho sự thụ phấn đạt hiệu quả hơn. Sự hấp dẫn bao gồm cả màu sắc và mùi, cũng như rất phổ biến là mật hoa được tiết ra từ một số bộ phận của hoa. Các đặc trưng lôi cuốn những kẻ thụ phấn này giải thích cho sự phổ biến của hoa và thực vật có hoa đối với con người.
=== Giới tính của thực vật có hoa ===
Hoa là cơ quan sinh sản của thực vật có hoa. Bộ phận "đực" là các nhị hoa hay bộ nhị, nó tạo ra phấn hoa (các bào tử đực) trong các bao phấn. Bộ phận "cái" là lá noãn hay bộ nhụy, nó chứa các giao tử cái và là nơi để sự thụ phấn diễn ra. Trong khi phần lớn các hoa là hoàn hảo hay lưỡng tính (có cả phần đực và cái trong cùng một hoa) thì thực vật có hoa đã phát triển nhiều cơ chế hình thái và sinh lý để ngăn chặn hay làm giảm sự tự thụ phấn. Các hoa khác hình có các lá noãn ngắn và các nhị dài, hoặc ngược lại, vì thế các động vật thụ phấn không thể dễ dàng chuyển phấn hoa tới nhụy hoa (phần tiếp nhận của lá noãn). Các hoa đồng hình có thể có các cơ chế hóa sinh (sinh lý) gọi là tự không tương thích để phân biệt các hạt phấn hoa của nó hay không phải của nó. Ở các loài khác, các bộ phận đực và cái là tách biệt về hình thái, phát triển trên các hoa khác nhau.
=== Thụ phấn ===
Vào thời kỳ thụ phấn thì túi phôi nằm gần với lớp màng bao phủ noãn, sao cho ống phấn hoa có thể thâm nhập vào, lớp tế bào thành ngăn trở thành có thể hấp thụ và các tế bào đực (phấn hoa) được bơm vào trong túi phôi. Được dẫn dắt bởi tế bào trứng không phát triển đầy đủ, một tế bào đực sẽ chui được vào noãn cầu và hợp nhất với nó, hai nhân kết hợp lại, trong khi một tế bào khác sẽ hợp nhất với nhân cuối cùng, hay còn được gọi là nhân nội nhũ. Điều đáng chú ý thú vị này sẽ tăng gấp đôi khả năng thụ phấn, mặc dù chỉ được phát hiện ra gần đây, đã được chứng minh là xảy ra ở nhiều họ có sự phân tách rộng, và nó xảy ra trong cả thực vật một lá mầm cũng như nguyên tản sau khoảng lặng tiếp theo sau quá trình tái tiếp sinh lực hợp nhất của các nhân có cực. Quan điểm này vẫn được duy trì bởi những người giữ quan điểm phân biệt hai hành vi của sự thụ phấn trong túi phôi, và gọi hành vi tác động của tế bào đực thứ nhất đối với tế bào trứng là thụ phấn sinh sản hay thụ phấn thực thụ, và hành vi của giao tử đực thứ hai đối với các nhân có cực là thụ phấn thực vật, nó tạo ra sự kích thích đối với sự phát triển trong tương quan với hành vi kia. Mặt khác, nếu nội nhũ là sản phẩm của hành vi thụ phấn giống như hành vi đã tạo ra phôi thì người ta phải thừa nhận rằng các thực vật sinh đôi được tạo ra trong túi phôi - một là phôi, nó sẽ trở thành thực vật hạt kín và hai là nội nhũ, có chu kỳ sống ngắn ngủi, nơi nuôi dưỡng không được phân hóa để hỗ trợ cho quá trình dinh dưỡng của phôi, thậm chí giống như là các phôi phụ trợ trong thực vật hạt trần nhiều phôi để có thể làm thuận lợi cho sự dinh dưỡng của phôi trội. Nếu đúng như vậy và nội nhũ cũng giống như phôi, là sản phẩm thông thường của hành vi sinh sản, thì sự lai giống sẽ tạo ra nội nhũ lai giống như nó tạo ra phôi lai, và ở đây (được giả thiết) chúng ta có thể có được sự giải thích cho hiện tượng giao phấn quan sát thấy ở các nội nhũ hỗn hợp của các giống ngô lai và các thực vật khác và nó là khả năng duy nhất có thể cho đến hiện nay để xác nhận rằng chúng là biểu hiện của sự mở rộng ảnh hưởng của phấn hoa đối với noãn và các sản phẩm của nó. Tuy nhiên, điều này không giải thích được sự hình thành của các quả có kích cỡ và màu sắc trung gian giữa các cây cha mẹ lai ghép chéo. Ý nghĩa của sự hợp nhất của các nhân có cực không giải thích được bởi các sự kiện mới này, nhưng nó là đáng chú ý khi cho rằng tế bào đực thứ hai đôi khi hợp nhất với nhân có cực ở đỉnh, chị em của tế bào trứng, trước khi có sự hợp nhất của nó với nhân có cực ở gốc.
Ý tưởng về nội nhũ như là thực vật phụ trợ thứ cấp không phải là điều mới mẻ; nó đã được đưa ra từ rất sớm để giải thích sự hợp nhất của các nhân có cực, nhưng khi đó nó đã dựa trên giả thiết rằng chúng là các tế bào đực và cái, một giả thiết mà không có chứng cứ xác nhận và nó vốn đã không chắc chắn là có thực. Nền tảng của sự hợp nhất của nhân đực thứ hai với nhân cuối cùng tạo ra cho sự thụ phấn một cơ sở ổn định hơn. Các tế bào đối cực hỗ trợ nhiều hay ít trong quá trình nuôi dưỡng phôi đang phát triển, và có thể trải qua quá trình nhân bản, mặc dù cuối cùng chúng bị phân hủy, cũng giống như tế bào trứng không phát triển đầy đủ. Giống như ở thực vật hạt trần và các nhóm khác, sự thay đổi định tính gắn liền với quá trình thụ phấn. Số lượng nhiễm sắc thể (xem Tế bào học thực vật) trong nhân của hai bào tử, hạt phấn và túi phôi, chỉ là một nửa số lượng nhiễm sắc thể tìm thấy trong nhân thực vật thông thường; và điều này đã giảm số lượng tồn tại trong các tế bào xuất phát từ chúng. Số lượng đầy đủ được phục hồi trong sự hợp nhất của các nhân đực và cái trong quá trình thụ phấn và nó duy trì cho đến khi hình thành các tế bào mà từ đó các bào tử lại được sinh ra trong các thế hệ mới.
Ở một vài bộ và chi thực vật, sự trệch hướng ra khỏi tiến trình thụ phấn thông thường cũng đã được miêu tả gần đây. Trong bộ Rosaceae, loạt Querciflorae, chi Casuarina rất bất thường và những chi khác, thay vì một đại bào tử thì một số mô dạng bào tử được tạo ra, nhưng chỉ có một tế bào tiến đến sự hình thành của tế bào cái sinh sản. Trong các chi Casuarina, Juglans và bộ Corylaceae, ống phấn hoa không thâm nhập theo màng bao noãn, mà vượt qua thành bao bầu nhụy và thông qua thực giá noãn để thâm nhập vào phần cuối điểm hợp của noãn. Phương pháp thâm nhập như thế được gọi là thâm nhập điểm hợp, ngược lại với thâm nhập màng bao hay phương pháp tiếp cận thông thường theo đường màng bao noãn.
=== Phôi học ===
Kết quả của sự thụ phấn là sự phát triển của noãn thành hạt. Bằng cách phân chia tế bào trứng đã thụ phấn, hiện được bao phủ trong màng tế bào, thì thực vật-phôi được sinh ra. Một lượng thay đổi của các "bức thành" phân chia theo chiều ngang biến đổi chúng thành mầm phôi - một dãy tế bào trong đó tế bào gần nhất với màng bao noãn sẽ gắn liền với đỉnh của túi phôi, và như thế nó cố định vị trí của phôi đang phát triển, trong khi tế bào cuối cùng được chứa trong khoang của nó. Ở thực vật hai lá mầm, toàn bộ thân của phôi phát sinh từ tế bào cuối cùng của mầm phôi, từ tế bào tiếp theo sẽ sinh ra rễ, và tất cả các tế bào còn lại tạo ra cuống noãn. Ở nhiều thực vật một lá mầm thì tế bào cuối cùng tạo ra một phần lá mầm đơn độc của thân phôi, phần trục và rễ của nó xuất phát từ tế bào cận kề; như vậy lá mầm là cấu trúc cuối cùng và là đỉnh của thân nguyên thủy - một điều đánh dấu sự tương phản với thực vật hai lá mầm. Tuy nhiên, ở một số thực vật một lá mầm thì lá mầm không thực sự là cuối cùng. Rễ nguyên thủy của phôi trong tất cả thực vật hạt kín đều hướng về phía màng bao noãn. Phôi đang phát triển ở cuối của cuống noãn phát triển theo các mức độ khác nhau vào trong nội nhũ đang hình thành, từ trong đó nhờ hấp thụ bề mặt nó thu được các chất dinh dưỡng tốt cho sự tăng trưởng. Cùng thời gian đó, cuống noãn đóng vai trò của người vận chuyển chất dinh dưỡng và thậm chí có thể phát triển, khi mà không có phôi nhũ được tạo ra, các "rễ cuống noãn" hấp thụ đặc biệt bao lấy phôi đang phát triển hay chui vào trong thân và vỏ bao noãn, hoặc thậm chí vào trong thực giá noãn. Trong một số trường hợp phôi hay túi phôi gửi các vòi hút vào trong phôi tâm và vỏ bọc noãn. Khi phôi phát triển nó có thể hấp thụ mọi chất nuôi dưỡng có sẵn để lưu trữ hoặc là trong các lá mầm hay trong trụ dưới lá mầm của nó, là nơi không cần dùng ngay để tăng trưởng, như là nguồn thức ăn dự trữ để sử dụng khi nảy mầm và nhờ vậy nó tăng trưởng về kích thước cho đến khi nó chiếm toàn bộ túi phôi; hoặc sức hấp thụ của nó ở giai đoạn này có thể bị giới hạn chỉ ở mức cần thiết cho sự phát triển và nó duy trì ở kích thước tương đối nhỏ, chiếm một thể tích nhỏ của túi phôi, mà nếu khác đi thì được điền đầy bởi nội nhũ trong đó các thực phẩm dự trữ được lưu giữ. Ở đây còn có các trạng thái trung gian. Vị trí của phôi so với nội nhũ là không cố định, đôi khi nó ở bên trong nhưng đôi khi lại ở bên ngoài và ý nghĩa của điều này vẫn chưa được làm rõ.
Sự hình thành của nội nhũ bắt đầu từ nhân nội nhũ. Sự phân chia của nó luôn luôn bắt đầu trước sự phân chia của tế bào trứng, và vì thế có sự chuẩn bị đúng lúc cho sự nuôi dưỡng phôi non. Nếu túi phôi hẹp thì sự hình thành của nội nhũ tiến hành trong khoảng các đường phân chia tế bào, nhưng trong các túi phôi rộng thì nội nhũ được hình thành trước mọi thứ như là một lớp tế bào trần trụi xung quanh tường bao của túi, và chỉ dần dần thu được đặc trưng của đa tế bào, tạo ra mô điền đầy túi phôi. Chức năng của nội nhũ chủ yếu là nuôi dưỡng phôi, và vị trí gốc của nó trong túi phôi được sắp xếp sao cho nó thích hợp nhất cho sự hấp thụ các chất dinh dưỡng của noãn. Thời gian tồn tại của nó thay đổi theo khả năng sớm phát triển của phôi. Nó có thể bị hấp thụ hoàn toàn bởi sự phát triển nhanh của phôi ngay từ trong túi phôi, hoặc có thể tồn tại như là một thành phần còn lại dễ nhận thấy của hạt. Khi nó tồn tại như là thành phần cơ bản của hạt thì chức năng cung cấp nguồn nuôi dưỡng là rõ ràng, nó tích lũy trong các tế bào của mình các thức ăn dự trữ và theo các chất cơ bản thì nó có thể là tinh bột, dầu hay xenluloza, chất nhầy và protein. Trong trường hợp phôi đã tích trữ nguồn năng lượng dự trữ trong chính nó để tự dưỡng thì nội nhũ như là phần còn lại trong hạt có thể có chức năng khác, ví dụ để hấp thụ nước.
Một số sai biệt khi so sánh với sự phát triển thông thường cũng được ghi nhận. Sinh sản đơn tính, hay sự phát triển của phôi từ tế bào trứng mà không cần sự thụ phấn, đã được miêu tả đối với các loài của các chi Thalictrum, Antennaria và Alchemilla. Đa phôi nói chung gắn liền với sự phát triển của các tế bào hơn là từ tế bào trứng. Vì thế trong các chi Erythronium và Limnocharis thì tế bào trứng có thể tạo ra một lượng mô mà một vài phôi được tạo ra từ đó. Các trường hợp cá biệt chỉ ra rằng bất kỳ tế bào nào trong túi phôi có thể cũng tạo ra phôi, ví dụ tế bào trứng phát triển không đầy đủ trong các loài thuộc chi Mimosa, Iris và Allium, và trong chi cuối cùng đã nêu thì các tế bào đối cực cũng có thể. Trong chi Coelebogyne (họ Euphorbiaceae) và Funkia (họ Liliaceae) đa phôi được tạo ra từ việc sản xuất ngẫu nhiên các phôi từ các tế bào của phôi tâm xung quanh đỉnh của túi phôi. Ở các loài thuộc chi Allium, các phôi cũng đã được phát hiện là phát triển thành cùng một cá thể từ tế bào trứng, tế bào trứng không phát triển đầy đủ, tế bào đối cực và các tế bào của phôi tâm. Ở hai loài thuộc chi Balanophora sinh trưởng ở khu vực Malaya, phôi được phát triển từ tế bào của nội nhũ, nó chỉ được hình thành từ nhân có cực phía trên và bộ phận trứng bị phá hủy. Trường hợp vừa đề cập này có thể coi như là biểu hiện của sự phát triển sinh sản vô giao của thể bào tử từ thể giao tử khi so sánh với trường hợp sinh sản vô giao được miêu tả đối với các loài dương xỉ. Sự đa dạng của các trường hợp dị thường này, như đã chỉ ra trong các ví dụ trên đây, là lý do để người ta cần cân nhắc kỹ hơn trong việc thiết lập các nguyên lý hình thái cụ thể đối với thực vật có hoa.
=== Quả và hạt ===
Do sự phát triển của phôi và nội nhũ diễn ra trong túi phôi, thành của chúng phình to lên và thông thường chúng hấp thụ các chất của phôi tâm để đạt tới gần như giới hạn ngoài của nó, đồng thời kết hợp với nó và vỏ bọc để tạo ra vỏ hạt; hoặc là toàn bộ phôi tâm và thậm chí cả vỏ bọc cũng có thể bị hấp thụ. Ở một số thực vật thì phôi tâm không bị hấp thụ như vậy, nhưng tự nó trở thành nơi tích lũy thức ăn dự trữ tạo ra ngoại nhũ và nó có thể cùng tồn tại với nội nhũ, chẳng hạn như ở bộ hoa Súng, hoặc có thể một mình tạo ra thức ăn dự trữ cho phôi, như ở chi Canna. Nguồn thức ăn dự trữ nội nhũ có ưu thế hơn so với ngoại nhũ, và cái cuối cùng này là tương đối khó thấy, chỉ ở vài loạt không thực sự tiến hóa mạnh. Các hạt trong đó nội nhũ hay ngoại nhũ hoặc cả hai cùng tồn tại nói chung được gọi là có phôi nhũ hay có nội nhũ, còn các hạt mà không có cả nội nhũ và ngoại nhũ được gọi là không có phôi nhũ hay không có nội nhũ. Tuy nhiên, các thuật ngữ này (được các nhà hệ thống hóa sử dụng rộng rãi) chỉ nói đến các đặc trưng thô thiển của hạt, và chỉ ra chứng cứ về nguồn dự trữ thức ăn; nhiều loại hạt được gọi là không có phôi nhũ nhưng khi quan sát dưới kính hiển vi lại rõ ràng là nội nhũ và có thể có chức năng khác không phải là chức năng cấp nguồn dinh dưỡng. Sự có hay không có mặt của nội nhũ, khối lượng tương đối của nó khi có mặt và vị trí của phôi trong nó là các đặc trưng có giá trị để phân biệt các bộ và các nhóm bộ. Trong khi ấy thành của bầu nhụy đã phát triển để tạo thành quả hay vỏ quả, cấu trúc của nó gắn liền với kiểu phát tán của hạt. Nói chung ảnh hưởng của sự thụ phấn rơi vào bầu nhụy và các phần khác của hoa cũng tham gia vào việc tạo quả, chẳng hạn đế hoa ở táo, dâu tây v.v. Đặc trưng của vỏ hạt có liên quan rõ ràng với đặc trưng của quả. Chức năng của chúng là tăng cường gấp đôi sự bảo vệ phôi và hỗ trợ trong sự phát tán; chúng cũng có thể trực tiếp xúc tiến sự nảy mầm. Nếu quả là loại quả nứt và hạt vì thế nhanh chóng được phô ra thì vỏ hạt cần cung ứng cho sự bảo vệ phôi và cũng có thể để an toàn cho sự phát tán. Ngược lại, quả loại không nứt không có chức năng như thế đối với phôi và vỏ hạt chỉ phát triển không đáng kể.
== Tầm quan trọng kinh tế ==
Thực vật có hoa cung cấp một tỷ lệ lớn các nguồn thực phẩm cho con người, có thể là trực tiếp hay gián tiếp qua thức ăn cho gia súc, gia cầm. Trong số các họ thực vật có hoa thì họ Hòa thảo (Poaceae) là quan trọng nhất, cung cấp phần lớn các loại lương thực như lúa, ngô, lúa mì, lúa mạch, kê, yến mạch, lúa mạch đen, mía, lúa miến, trong khi họ Đậu (Fabaceae) đứng hàng thứ hai. Các họ quan trọng khác là họ Cà (Solanaceae) với khoai tây, cà chua và hạt tiêu, hay họ Bầu bí (Cucurbitaceae) với bầu, bí, dưa hấu, dưa chuột, hay họ Cải (Brassicaceae), với mù tạc, cải bắp, và họ Hoa tán (Apiaceae). Nhiều loại quả có từ họ Cam (Rutaceae), họ Hoa hồng (Rosaceae) như táo, đào, mơ, mận v.v.
Ở một vài khu vực trên thế giới, một vài loài nào đó có tầm quan trọng tối cao do sự đa dạng trong sử dụng chúng. Một ví dụ là dừa (Cocos nucifera) trên các đảo san hô vòng ở Thái Bình Dương. Một ví dụ khác là ô liu (Olea europaea) ở khu vực Địa Trung Hải.
Thực vật có hoa cũng cung cấp các nguồn cơ bản cho nền kinh tế thế giới trong sản xuất gỗ, giấy, sợi (bông, lanh và gai dầu v.v), dược phẩm (mao địa hoàng, long não v.v), các loại cây cảnh và nhiều ứng dụng khác.
== Xem thêm ==
Danh sách các loài hoa
== Ghi chú ==
== Tham khảo và liên kết ngoài ==
Angiosperm Phylogeny Group (2003). Cập nhật phân loại của Angiosperm Phylogeny Group cho các bộ và họ thực vật có hoa: APG II. Botanical Journal of the Linnean Society 141: 399-436. 1 tháng 1 năm 158.x/full/ Có sẵn trực tuyến.
Angiospermae – Tree of Life Web Project
Cronquist, Arthur. (1981) An Integrated System of Classification of Flowering Plants. Columbia Univ. Press, New York.
Loài thực vật có hoa cổ nhất đã biết được nhờ xác định gen, William J. Cromie, Harvard Gazette, 16/12/1999.
Stevens, P.F. (2001 trở đi). Angiosperm Phylogeny Website tại Vườn bách thảo Missouri.
L. Watson và M.J. Dallwitz (1992 trở đi). Các họ thực vật có hoa: Miêu tả, minh họa, xác định, thông tin tra cứu. http://delta-intkey.com |
trận bạch đằng (938).txt | Trận Bạch Đằng năm 938 là một trận đánh giữa quân dân Việt Nam - thời đó gọi là Tĩnh Hải quân và chưa có quốc hiệu chính thức - do Ngô Quyền lãnh đạo đánh với quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng. Kết quả, quân dân Việt Nam giành thắng lợi, nhờ có kế cắm cọc ở sông Bạch Đằng của Ngô Quyền. Trước sự chiến đấu dũng mãnh của quân dân Việt Nam, quá nửa quân Nam Hán bị chết đuối và Hoàng tử Nam Hán là Lưu Hoằng Tháo cũng bị Ngô Quyền giết chết. Đây là một trận đánh quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Nó đánh dấu cho việc chấm dứt hơn 1000 năm Bắc thuộc của Việt Nam, nối lại quốc thống cho dân tộc.
Sau chiến thắng này, Ngô Quyền lên ngôi vua, tái lập đất nước. Ông được xem là một vị "vua của các vua" trong lịch sử Việt Nam. Đại thắng trên sông Bạch Đằng đã khắc họa mưu lược và khả năng đánh trận của ông.
== Hoàn cảnh ==
Năm 931, Dương Đình Nghệ đánh đuổi quân Nam Hán - một trong 10 nước thời Ngũ đại Thập quốc nằm liền kề với Tĩnh Hải quân - giành lại quyền tự chủ cho người Việt ở Tĩnh Hải quân, tự xưng là Tiết độ sứ.
Năm 937, Đình Nghệ bị nha tướng Kiều Công Tiễn giết hại để cướp ngôi Tiết độ sứ. Con rể và là một tướng khác của Đình Nghệ là Ngô Quyền bèn tập hợp lực lượng ra đánh Công Tiễn để trị tội phản chủ.
Kiều Công Tiễn sợ hãi, bèn sai người sang cầu cứu Nam Hán. Vua Nam Hán là Lưu Nghiễm nhân cơ hội đó bèn quyết định đánh Tĩnh Hải quân lần thứ hai.
Lưu Nghiễm cho rằng Dương Đình Nghệ qua đời thì Tĩnh Hải quân không còn tướng giỏi, bèn phong con trai thứ chín là Lưu Hoằng Tháo làm "Bình Hải tướng quân" và "Giao Chỉ vương", thống lĩnh thủy quân.
== Diễn biến ==
=== Ngô Quyền bao vây và giết chết Kiều Công Tiễn ===
Năm 938, sau khi tập hợp các hào kiệt trong nước đứng về phía mình, Ngô Quyền mang quân từ Ái châu ra bắc đánh Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn bị cô lập không chống nổi, trông chờ viện binh của Nam Hán.
Trong khi vua Nam Hán đang điều quân thì Ngô Quyền đã tiến ra thành Đại La. Kiều Công Tiễn bị cô thế không đủ sức chống lại nên thành nhanh chóng bị hạ, Kiều Công Tiễn bị giết chết. Lúc đó quân Nam Hán vẫn chưa tiến vào tới biên giới.
=== Kế hoạch của quân Nam Hán ===
Vua Nam Hán cho con trai là Hoằng Tháo làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ, đổi tước phong là Giao Vương, đem 2 vạn quân sang với danh nghĩa là cứu Công Tiễn. Lưu Nghiễm hỏi kế ở Sùng Văn hầu là Tiêu Ích. Ích nói:
Vua Nam Hán đang muốn hành quân nhanh để đánh chiếm lại Tĩnh Hải quân, nên không nghe theo kế của Tiêu Ích, sai Hoằng Tháo đem chiến thuyền theo sông Bạch Đằng mà vào. Lưu Nghiễm tự mình làm tướng, đóng ở Hải Môn để làm thanh viện.
=== Kế hoạch của Ngô Quyền ===
Ngô Quyền nghe tin Hoằng Tháo sắp đến, ông bảo với các tướng rằng:
Ngô Quyền cho quân sĩ đóng cọc có bịt sắt nhọn xuống lòng sông Bạch Đằng. Khi thuỷ triều lên, bãi cọc không bị lộ. Ngô Quyền dự định nhử quân địch vào khu vực này khi thủy triều lên và đợi nước triều rút xuống cho thuyền địch mắc cạn mới giao chiến.
=== Thủy chiến trên sông Bạch Đằng ===
Vào một ngày cuối đông năm 938, trên sông Bạch Đằng, vùng cửa biển và hạ lưu, cả một đoàn binh thuyền do Hoằng Tháo chỉ huy vừa vượt biển tiến vào cửa ngõ Bạch Đằng.
Quân Nam Hán thấy quân của Ngô Quyền chỉ có thuyền nhẹ, quân ít tưởng có thể ăn tươi, nuốt sống liền hùng hổ tiến vào. Ngô Quyền ra lệnh cho quân bỏ chạy lên thượng lưu. Đợi đến khi thủy triều xuống, ông mới hạ lệnh cho quân sĩ đổ ra đánh. Thuyền chiến lớn của Nam Hán bị mắc cạn và lần lượt bị cọc đâm thủng gần hết. Lúc đó Ngô Quyền mới tung quân ra tấn công dữ dội. Quân Nam Hán thua chạy, còn Lưu Hoằng Tháo bỏ mạng với hơn một nửa quân sĩ.
=== Kết quả ===
Vua Nam Hán đang cầm quân tiếp ứng đóng ở biên giới mà không kịp trở tay đối phó. Nghe tin Hoằng Tháo tử trận, Nghiễm kinh hoàng, đành "thương khóc thu nhặt quân còn lại mà rút lui" (Đại Việt sử ký toàn thư). Từ đó nhà Nam Hán bỏ hẳn mộng xâm lược Tĩnh Hải quân. Lưu Cung cũng than rằng cái tên "Cung" của ông là xấu.
Năm 939, Ngô Quyền lên ngôi vua, xưng là Ngô Vương, lập ra nhà Ngô, đóng đô ở Cổ Loa (Đông Anh, Hà Nội ngày nay).
== Di sản ==
Năm 1288, quân Đại Việt do Trần Hưng Đạo lãnh đạo giao chiến với quân Nguyên trên sông Bạch Đằng. Trước đó, Trần Hưng Đạo đã cho đóng cọc và phủ cỏ lên trên rồi cho quân khiêu chiến, giả vờ bỏ chạy. Quân Nguyên đuổi theo, quân Đại Việt cố sức đánh lại. Nước triều rút xuống, thuyền quân Nguyên vướng cọc và nghiêng đắm gần hết. Trận này quân Nguyên đại bại, bắt được tướng Nguyên là Ô Mã Nhi, Tích Lệ Cơ Ngọc và 400 chiến thuyền.
== Điều kiện thành công ==
Chiến thuật quân sự của Ngô Quyền rất độc đáo và đúng như nhận định của Lê Văn Hưu: "Mưu giỏi mà đánh cũng giỏi" hoặc "mưu tài đánh giỏi" như trong Đại Việt Sử ký Toàn thư. Tuy nhiên, theo các nhà quân sự, việc áp dụng chiến thuật lấy cọc nhọn đâm thuyền địch muốn thành công cần có sự kết hợp chặt chẽ với một số mưu mẹo khác.
Thứ nhất, phải dụ địch đến đúng bãi cọc đã đóng giăng bẫy khi thuỷ triều còn cao, bãi cọc chưa bị phát lộ.
Thứ hai, phải nắm rất vững quy luật thuỷ triều theo từng giờ và tính toán thời điểm để khi thuyền quân địch tới bãi cọc rồi, thuỷ triều mới rút, có như vậy thuyền địch mới bị mắc cạn và bị cọc đâm.
Chỉ khi có đủ hai điều kiện trên, mưu kế mới phát huy tác dụng. Nếu nước triều rút quá sớm so với dự định, bãi cọc sớm phát lộ, thuyền địch sẽ biết và tránh xa cảnh giác, như vậy mưu sự hỏng. Không những thế, rất có thể chính các thuyền phía quân mình sẽ bị vướng cọc, thành "gậy ông đập lưng ông".
Nếu nước triều rút quá muộn so với dự định, thuyền chiến của địch cứ thế vượt qua, không có trở ngại gì, coi như bãi cọc đóng xuống vô tác dụng. Đây chính là trường hợp mà các nhà quân sự Việt Nam đã ghi lại của trận Bạch Đằng, 981, quân Tống đã vượt qua bãi cọc để vào được đất liền mà không bị trở ngại (tuy nhiên sau đó vẫn bị mắc mưu Lê Hoàn và đại bại).
Vì vậy, để mưu sự thành công, ngoài việc chuẩn bị cọc nhọn một cách bí mật và hoàn thành sớm, việc dụ địch đi theo đúng lộ trình mình muốn và đến vào thời điểm mình muốn mang ý nghĩa quyết định. Mưu sự thành công có thể quyết định toàn bộ cuộc chiến chỉ trong 1 buổi và Ngô Quyền đã thành công bởi mưu kế độc đáo và tính toán, vận dụng chính xác quy luật của tự nhiên.
Người vận dụng lại mưu kế này là Trần Hưng Đạo trong trận Bạch Đằng, 1288 cũng biết cách kết hợp áp dụng chính xác như vậy nên lại lập đại công phá quân Nguyên. Đời sau nghe chuyện dùng cọc đâm thuyền địch có vẻ dễ dàng, nhưng khi áp dụng cụ thể mới thấy không hoàn toàn dễ dàng để có thắng lợi như sử sách đã ghi. Không phải ngẫu nhiên mà cả Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo đều được xem là danh tướng trong lịch sử Việt Nam
== Ý nghĩa ==
1
Trận thắng lớn ở sông Bạch Đằng năm 938 có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với lịch sử Việt Nam, nó đã giúp chấm dứt 1000 năm Bắc thuộc trong lịch sử Việt Nam, mở ra một thời kỳ độc lập tự chủ cho Việt Nam.
Chiến thắng Bạch Đằng có thể coi là trận chung kết toàn thắng của dân tộc Việt Nam trên con đường đấu tranh chống Bắc thuộc, chống đồng hóa, đấu tranh giành lại độc lập dân tộc. Phải đặt trong bối cảnh Bắc thuộc kéo dài sau 1117 năm (179 TCN - 938) mới thấy hết ý nghĩa lịch sử vĩ đại của nó.
Hơn thế nữa, trong hơn 1000 năm Bắc thuộc đó, kẻ thù của dân tộc Việt là một đế quốc lớn mạnh bậc nhất ở phương Đông với chủ nghĩa bành trướng Đại Hán đang lúc phát triển cao độ, nhất là dưới thời Hán, Đường. Tiếp tục công cuộc bành trướng của Tần Thủy Hoàng, nhà Hán đã chinh phục miền Bắc xứ Triều Tiên chiếm đất đai các bộ lạc dụ mục phía Bắc, mở rộng lãnh thổ về phía Trung Á, xâm lược các nước Hạ Lang, Điền ở Tây Nam. Đầu thế kỷ thứ 7, nhà Tùy bành trướng mạnh về phía Đông, chinh phục Triều Tiên, Lưu Cầu (Đài Loan), Giao Châu, Lâm Ấp, Tây Đồ Quốc..., nhà Đường mở rộng bành trướng về mọi phía, lập thành một đế chế bao la như Đường Thái Tông đã từng tuyên bố: "Ta đã chinh phục được hơn 200 vương quốc, dẹp yên bốn bề, bọn Di Man ở cõi xa cũng lần lượt về quy phục" (theo Đường thư).
Từ đầu công nguyên, dân số của đế chế Hán đã lên đến 57 triệu người. Thời gian đó, dân số của Việt Nam chỉ độ một triệu. Sau khi chiếm được Việt Nam, mưu đồ của nhà Hán không phải chỉ dừng lại ở chỗ thủ tiêu chủ quyền quốc gia, bóc lột nhân dân, vơ vét của cả, mà còn tiến tới đồng hóa vĩnh viễn dân tộc Việt, sát nhập đất đai vào Trung Quốc. Chính sách đồng hóa là một đặc trưng nổi bật của chủ nghĩa bành trướng Đại Hán, đã được thực hiện từ thời Hán và đẩy mạnh tới nhà Đường. Trong toàn bộ tiến trình lịch sử Việt Nam, đây là một trong những thời kỳ vận mạng dân tộc trải qua một thử thách cực kỳ hiểm nghèo.
Ngô Quyền - người anh hùng của chiến thắng oanh liệt trên sông Bạch Đằng năm 938 - trở thành vị vua có "công tái tạo, vua của các vua" theo như nhận định của Đại Việt Sử ký Toàn thư. Ông xứng đáng với danh hiệu là "vị tổ trung hưng" của dân tộc như nhà yêu nước Phan Bội Châu lần đầu tiên đã nêu lên trong Việt Nam quốc sử khảo.
Sau chiến thắng Bạch Đằng, Việt Nam bước vào thời kỳ xây dựng đất nước trên quy mô lớn. Đó là kỷ nguyên của văn minh Đại Việt, của văn hóa Thăng Long, kỷ nguyên phá Tống, bình Nguyên, đuổi Minh, một kỷ nguyên rực rỡ của các nhà Lý, Trần, Lê.
Nhà sử học Ngô Thì Sĩ đánh giá:
Còn theo vua Dực Tông nhà Nguyễn
== Truyền kì ==
Sách Việt điện u linh, chương Bố Cái Đại Vương đã thuật lại chuyện Phùng Hưng hiển linh để trợ giúp Ngô Quyền đánh thắng quân Nam Hán:
Thời Ngô Tiên chúa kiến quốc, Bắc binh nhập khấu, Tiên chúa đã lo, nửa đêm hốt nhiên mộng thấy một ông già đầu bạc, y quan nghiêm nhã, tay cầm quạt lông, chống gậy trúc, tự xưng tính danh rằng: Ta lãnh thần binh vạn đội, sẵn sàng mai phục các chỗ yếu hại, chúa công tức tốc tiến binh chống cự, đã có âm trợ, chớ lo phiền chi cả.
Đến khi tiến binh trên Bạch Đằng, quả thấy trên không có tiếng xe ngựa, trận ấy quả được đại tiệp; tiên chúa lấy làm lạ, chiếu kiến lập miếu điện, trang nghiêm có từng hơn xưa, lại sắm thêm quạt lông, cờ hoàng đạo, chiên đồng, trống đại, rồi làm lễ thái lao, con hát đến làm lễ tạ; lịch triều theo đó dần dần thành ra cổ lễ.
== Xem thêm ==
Dương Đình Nghệ
Ngô Quyền
Dương Tam Kha
Kiều Công Tiễn
Nam Hán
Lưu Nghiễm
Nguyễn Tất Tố
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
An Nam chí lược, soạn giả Lê Tắc; Dịch giả:Ủy ban phiên dịch sử liệu Việt Nam; Nhà xuất bản: Viện Đại học Huế 1961
Đại Việt Sử ký Toàn thư; Soạn giả Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên...; Dịch giả Viện sử học Việt Nam; Nhà xuất bản khoa học xã hội Hà Nội, 1993.
Việt sử tiêu án, soạn giả Ngô Thì Sĩ, Dịch giả: Hội Việt Nam Nghiên cứu Liên Lạc Văn hóa Á Châu; Nhà xuất bản: Văn Sử 1991.
Lịch triều hiến chương loại chí, soạn giả Phan Huy Chú, dịch giả Viện sử học Việt Nam, Nhà xuất bản giáo dục, 2006.
Việt Nam sử lược; soạn giả Trần Trọng Kim, Trung tâm học liệu xuất bản, bản điện tử. |
rum.txt | Rượu Rum là một đồ uống có cồn được chưng cất từ mía với sản phẩm như mật đường, hoặc trực tiếp từ nước mía, một quá trình lên men và chưng cất. Chưng cất, một chất lỏng rõ ràng, thường là sau đó độ tuổi trong thùng gỗ sồi. Rum có thể được gọi tên theo các mô tả như "ron Viejo" ("rum cũ") và "ron añejo" ("rum có tuổi").
Phần lớn sản phẩm rượu Rum của thế giới ở Caribbean và châu Mỹ La Tinh (bao gồm Cộng Hòa Dominican, Martinique, Guatemala, Colombia, Venezuela, Bolivia, Barbados, Jamaica, Trinidad and Tobago, Puerto Rico, U.S. Virgin Islands, Brazil, Haiti, Belize, Grenada, Guyana, and Cuba. Rượu Rum cũng được sản xuất ở đảo Canary thuộc Tây Ban Nha, Úc, Fiji, México, Hawaii, Philippines, Ấn Độ, đảo Thống Nhất (Reunion Island), Mauritius, và Nam Phi.
== Tham khảo ==
Curtis, Wayne (2006). And a bottle of rum - a history of the New World in ten cocktails. Crown Publishers. tr. 285. ISBN [[Đặc biệt:Nguồn sách/1-400-5167-3|[[Special:BookSources/1-4000-5167-3|1-400-5167-3]]]] .
Blue, Anthony Dias (2004). The Complete Book of Spirits: A Guide to Their History, Production, and Enjoyment. HarperCollins. ISBN 0-06-054218-7.
Clarke, Frank G. (2002). The History of Australia. Greenwood Press. ISBN 0-313-31498-5.
Cooper, Rosalind (1982). Spirits & Liqueurs. HPBooks. ISBN 0-89586-194-1.
Foley, Ray (2006). Bartending for Dummies: A reference for the Rest of Us. Wiley Publishing, Inc. ISBN 0-470-05056-X.
Pack, James (1982). Nelson's Blood: The Story of Naval Rum. Naval Institute Press. ISBN 0-87021-944-8.
Tannahill, Reay (1973). Food in History. Stein and Day. ISBN 0-8128-1437-1.
Rorabaugh, W.J. The Alcoholic Republic. Oxford University Press.
=== Nghiên cứu thêm ===
Williams, Ian (2005). Rum: A Social and Sociable History of the Real Spirit of 1776. Nation Books. (extract)
Broom, Dave (2003). Rum. Abbeville Press.
Arkell, Julie (1999). Classic Rum. Prion Books.
Coulombe, Charles A (2004). Rum: The Epic Story of the Drink that Changed Conquered the World. Citadel Press.
Smith, Frederick (2005). Caribbean Rum: A Social and Economic History. University Press of Florida. (Introduction)
== Liên kết ngoài ==
Rum History
Rum Basics - What Is Rum?
Rum in the Caribbean
PhotoHistory of Rum Casks and Grog Kegs used aboard US and British Naval Vessels
PhotoHistory of 19th Century British Royal Navy Rum Cups and Grog Pails |
tiếng bồ đào nha.txt | Tiếng Bồ Đào Nha (português hay đầy đủ là língua portuguesa) là một ngôn ngữ Rôman được sử dụng chủ yếu ở Angola, Brasil, Cabo Verde, Đông Timor, Guiné-Bissau, Guinea Xích Đạo, Mozambique, Bồ Đào Nha, São Tomé và Príncipe, đặc khu hành chính Macao của Trung Quốc và một số thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha tại Ấn Độ. Với hơn 200 triệu người bản ngữ, tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ được sử dụng nhiều thứ 5 hay 6 trên thế giới. Tiếng Bồ Đào Nha còn là ngôn ngữ được sử dụng nhiều nhất tại Nam Mỹ và là một ngôn ngữ quan trọng của châu Phi.
== Phân bố ==
Tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính ở Angola (80%), Brazil, Bồ Đào Nha, và São Tomé and Príncipe (95%). Mặc dù chỉ hơn 10% dân cư Mozambique là người bản ngữ tiếng Bồ Đào Nha, song quốc gia có khoảng 50,4% cư dân nói tiếng Bồ Đào Nha theo thống kê năm 2007. Có khoảng 11,5% dân số ở Guinea-Bissau cũng sử dụng ngôn ngữ này.
Có một số lượng đáng kể cộng đồng người di cư nó tiếng Bồ Đào Nha ở một số quốc gia như Andorra (15,4%), Úc, Bermuda, Canada (0,72% hay 219.275 người năm 2006 nhưng có từ 400.000 đến 500.000 theo Nancy Gomes), Curaçao, Pháp, Nhật Bản, Jersey, Luxembourg (9%), Namibia (khoảng 4-5% dân số, chủ yếu là người tị nạn từ Angola ở phía Bắc quốc gia này) Paraguay (10,7% hay 636.000 người), Macau (0,6% hay 12.000 người), Nam Phi, Thụy Sĩ (196.000 bản ngữ năm 2008), Venezuela (1 đến 2% hay 254.000 đến 4800 người), và Mỹ (0,24% hay 687.126 người sử dụng năm 2007 theo American Community Survey), chủ yếu ở Connecticut, Florida, Massachusetts (nơi có người sử dụng nhiều thứ 2 trong bang), New Jersey, New York và đảo Rhode.
Ở một vài nơi người ta gọi là tiếng Bồ Đào Nha Ấn Độ, như tại Goa và Daman và Diu, thì ngôn ngữ này vẫn được sử dụng.
=== Hiện được sử dụng chính thức ===
Cộng đồng các quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha (gọi tắt là CPLP) gồm 8 quốc gia độc lập sử dụng tiếng Bồ Đào Nha làm ngôn ngữ chính thức: Angola, Brasil, Cape Verde, Đông Timor, Guinea-Bissau, Mozambique, Bồ Đào Nha và São Tomé và Príncipe.
Guinea Xích Đạo nộp đơn để gia nhập cộng đồng CPLP tháng 6 năm 2010 và sử dụng tiếng Bồ Đào Nha làm ngôn ngữ chính thức thứ 3 (bên cạnh tiếng Tây Ban Nha và tiếng Pháp) vì đây là một trong những điều kiện để gia nhập cộng đồng này. Tổng thống Guinea Xích Đạo, Obiang Nguema Mbasog, và Thủ tướng Ignacio Milam Tang, đã phê chuẩn vào ngày 20 tháng 6 năm 2011, Hiến pháp mới dự định sẽ thêm vào tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính thức của quốc gia này.
Tiếng Bồ Đào Nha cũng là một trong những ngôn ngữ chính thức của các khu vực đặc quyền kinh tế thuộc Trung Quốc như Macau (cùng với tiếng Trung Quốc) và một số tổ chức quốc tế như Mercosur, Tổ chức các quốc gia Iberia-châu Mỹ, Liên minh các Quốc gia Nam Mỹ, Tổ chức các Quốc gia châu Mỹ, Liên minh châu Phi và Cộng đồng châu Âu.
=== Số dân của các quốc gia nói tiếng Bồ Đào Nha chính thức ===
Theo dữ liệu thống kê và có độ tin cậy từ các chính phủ và các cơ quan thống kê của các quốc gia đó thì dân số hợp pháp của họ nói tiếng Bồ Đào Nha gồm (theo thứ tự giảm dần):
Brasil: 190.755.799 (năm 2010);
Mozambique: 20.366.795 (năm 2007);
Angola: 15.116.000 (ước tính của chính phủ. Angola không có thống kê trong vài thập kỷ nay, họ dự kiến tiến hành thống kê năm 2013);
Bồ Đào Nha: 10.555.853 (kết quả sơ bộ năm 2011);
Guinea-Bissau: 1.520.830 (năm 2009);
Timor-Leste: 1.066.582 (kết quả sơ bộ năm 2010);
Macau: 558.100 (ước tính của DSEC, SAR Macau).
Cape Verde: 491.575 (số liệu sơ bộ năm 2010);
São Tomé và Príncipe: 137.599 (số liệu năm 2001 xuất bản năm 2003)
=== Sử dụng Tiếng Bồ Đào Nha như ngoại ngữ ===
Tiếng Bồ Đào Nha được giảng dạy bắt buộc trong các trường ở Uruguay và Argentina. Các quốc gia khác có giảng dạy tiếng Bồ Đào Nha trong các trường học gồm Venezuela, Zambia, Cộng hòa Congo, Senegal, Namibia, Swaziland, Côte d'Ivoire, và Nam Phi.
=== Tương lai ===
Theo thống kê của UNESCO, tiếng Bồ Đào Nha và tiếng Tây Ban Nha là các ngôn ngữ của châu Âu phát triển nhanh nhất sau tiếng Anh và ngôn ngữ này có nhiều khả năng phát triển mạnh nhất như là ngôn ngữ quốc tế ở miền nam châu Phi và Nam Mỹ. Các quốc gia châu Phi nói tiếng Bồ Đào Nha được trông đợi là có tổng số người sử dụng là 83 triệu vào năm 2050. Tổng cộng số người nói tiếng Bồ Đào Nha ở các quốc gia vào thời điểm đó khoảng 335 triệu người.
== Ví dụ về sự khác biệt giữa các phương ngữ tiếng Bồ Đào Nha ==
Trích dẫn từ sử thi Bồ Đào Nha Os Lusíadas, của tác giả Luís de Camões (I, 33)
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Học tiếng Bồ Đào Nha trên BBC
Những điều cần lưu ý về tiếng Bồ Đào Nha BBC
Ethnologue report for Portuguese
AULP - Associação das Universidades de Língua Portuguesa Portuguese Language Universities Association.
Portuguese in East Timor an interview with Dr. Geoffrey Hull
Comparative Portuguese, Spanish, French, Italian |
liên bang.txt | Liên bang (tiếng Latinh: foedus, tiếng Anh: federation) là hình thức nhà nước bao gồm một số các thành viên cá thể có chính phủ riêng tập hợp lại dưới một chính phủ liên bang thống nhất. Trong một liên bang, chủ quyền của các thành viên liên bang được pháp luật bảo hộ và không thể bị điều chỉnh bởi một quyết định đơn phương nào của chính phủ trung ương.
Hình thức chính phủ hay kết cấu lập hiến của một liên bang được gọi là chế độ liên bang. Hình thức này có thể coi là đối lập với hình thức nhà nước đơn nhất. Nước Đức với mười sáu Länder là một ví dụ liên bang trong khi nước Áo láng giềng và các Bundesländer lại là một nhà nước đơn nhất có các đơn vị hành chính kiểu liên bang và nước Pháp luôn luôn là nhà nước đơn nhất.
Chế độ liên bang thường được thiết lập tại một quốc gia đa sắc tộc hoặc có lãnh thổ rộng lớn hoặc trong trường hợp cần thiết. Các liên bang thường được thành lập trên cơ sở một hiệp ước giữa các thành viên có chủ quyền.
Một tổ chức quốc tế của các nhà nước liên bang gọi là Diễn đàn Liên bang, có trụ sở đặt tại Ottawa, Ontario, Canada. Tổ chức này hiện gồm chín quốc gia thành viên.
== Liên bang và các hình thức tiểu bang ==
Các tiểu bang thành viên trong một liên bang được coi là có chủ quyền về một khía cạnh nào đó nhưng quyền lực cụ thể được bảo hộ của tiểu bang có thể không được chính phủ trung ương áp dụng. Tuy nhiên một liên bang lại vững chắc hơn một liên minh lỏng lẻo giữa các quốc gia độc lập. Các tiểu bang thành viên của một liên bang thường không có quyền trong quan hệ chính sách đối ngoại và vì vậy chúng muốn tình trạng không độc lập theo luật pháp quốc tế.
Một liên bang thường có một hệ thống hai cấp chính phủ tại hầu hết lãnh thổ và cho hầu hết dân cư. Tuy nhiên, sẽ không bất thường nếu một liên bang có một vài vùng lãnh thổ trực tiếp do chính phủ liên bang quản lý. Ví dụ, các Vùng (Territory) của Canada và Úc có các mức độ chính phủ khác nhau và có thể bị chính phủ liên bang đơn phương thay đổi hoặc rút bỏ; ngoài các tiểu bang thành viên Ấn Độ lại có một số Lãnh thổ liên hiệp; còn Hoa Kỳ và México đặt các thủ đô là Đặc khu Columbia và Đặc khu liên bang, trường hợp này chính phủ liên bang có đặc quyền hợp hiến để bổ nhiệm hoặc miễn nhiệm chính phủ địa phương. Thông thường một lãnh thổ sẽ được điều hành trực tiếp bởi chính phủ liên bang do các nguyên nhân lịch sử mà nó đã và đang hoặc bởi vì nó quá xa và quá thưa dân để thành lập một tiểu bang hay tỉnh, hoặc bởi vì nó là một vùng lãnh thổ có vai trò đặc biệt là thủ đô của liên bang.
Một số liên bang được gọi là bất đối xứng bởi vì một vài tiểu bang lại có quyền tự trị cao hơn các tiểu bang khác. Ví dụ cho trường hợp này là Malaysia, tiểu bang Sarawak và Sabah với các điều kiện khác so với các bang khác nằm trên bán đảo Mã Lai.
Một liên bang thường được hợp nhất từ một hiệp ước ban đầu giữa các thành viên riêng lẻ. Mục đích hợp nhất để giải quyết các vấn đề chung hoặc để có năng lực phòng thủ chung như Mỹ và Thụy Sĩ hoặc tạo ra một nhà nước dân tộc cho các nhóm rải rác ở các quốc gia khác nhau như Đức. Tuy nhiên do lịch sử và dân tộc của các quốc gia rất khác nhau cho nên chế độ liên bang của một quốc gia có thể khá khác so các hình mẫu trên. Chẳng hạn, trường hợp nước Úc là duy nhất vì nó trở thành một quốc gia thông qua bầu cử dân chủ của công dân tại mỗi tiểu bang khi họ đã trả lời "đồng ý" trong cuộc trưng cầu thông qua Hiến pháp Úc. Còn Brasil trong suốt lịch sử của mình đã từng vừa là nhà nước liên bang vừa là nhà nước đơn nhất; ngày nay một số tiểu bang của Liên bang vẫn duy trì ranh giới từ thời thuộc địa Bồ Đào Nha (có nghĩa là trước khi nhà nước Brazil ra đời) và vẫn bị ảnh hưởng nhiều bởi chính phủ trung ương đặt tại tiểu bang cuối cùng được thành lập theo Hiến pháp 1988, chủ yếu vì mục đích hành chính.
Tám trong số mười nước diện tích lớn nhất thế giới được tổ chức thành các liên bang.
=== Nhà nước đơn nhất ===
Nhà nước đơn nhất là nhà nước có một cấp chính phủ duy nhất, tập trung và một dân tộc. Tuy nhiên nhà nước đơn nhất cũng có thể có một hoặc nhiều lãnh thổ có chính phủ riêng. Sự khác nhau giữa một liên bang và một nhà nước đơn nhất kiểu này là ở chỗ trong một nhà nước đơn nhất mức độ tự trị của các lãnh thổ có chính phủ riêng tồn tại không theo mong muốn của chính phủ trung ương và có thể bị đơn phương hủy bỏ. Trong khi một liên bang thông thường được thiết lập bởi một hiệp ước giữa một số tiểu bang độc lập, thì tại một nhà nước đơn nhất các lãnh thổ có chính phủ riêng thường được thiết lập thông qua sự chuyển giao quyền lực tức là chính phủ trung ương chính thức đồng ý giao quyền tự trị cho một lãnh thổ phụ thuộc hoàn toàn trước đây. Vì vậy các liên bang thường được thành lập một cách tự nguyện từ 'cấp dưới' trong khi việc chuyển giao quyền tự trị lại được đưa ra từ 'cấp trên'.
Trong triết lý của một nhà nước đơn nhất, sự toàn vẹn lãnh thổ được coi là chủ quyền quốc gia và bởi lẽ đó chính phủ trung ương thực thi chủ quyền trên toàn lãnh thổ. Trong khi đó ở một liên bang chủ quyền thường được nhìn nhận một cách tương đối tại các tiểu bang thành viên hoặc được chia sẻ giữa các tiểu bang và chính phủ trung ương.
=== Liên bang trên thực tế ===
Sự khác biệt giữa một nhà nước liên bang và một nhà nước đơn nhất thường không rõ ràng. Một nhà nước đơn nhất có thể rất giống với liên bang về cấu trúc và chính phủ trung ương vừa có thể có quyền về mặt lý thuyết để hủy bỏ quyền tự trị của một lãnh thổ có chính phủ riêng nhưng về mặt chính trị lại rất khó để thực thi điều đó. Các lãnh thổ tự trị của một số nhà nước đơn nhất thường muốn nhiều quyền tự trị hơn ở một số liên bang. Vì lẽ đó, đôi khi có tranh cãi trong việc coi một số nhà nước đơn nhất là liên bang trên thực tế.
==== Vương quốc Tây Ban Nha ====
bởi vì nó trao nhiều quyền cho chính phủ các khu tự trị hơn so với hầu hết các liên bang khác. Đối với nghị viện Tây Ban Nha, việc bãi bỏ quyền tự trị của các vùng như Galicia, Catalonia hoặc xứ Basque, hay đối với Chính phủ Vương quốc Anh việc đơn phương hủy bỏ cơ quan lập pháp của xứ Wales, Bắc Ireland hoặc Scotland hầu như là một sự bất khả thi chính trị mặc dù không có một rào cản nào về pháp lý. Hơn nữa, một số vùng như Navarra hoặc xứ Basque có đầy đủ khả năng kiểm soát thuế và chi tiêu, chuyển một phần nhỏ cho chính phủ trung ương để phục vụ các mục đích công (quân đội, quan hệ quốc tế, chính sách vĩ mô).
==== Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ====
trên thực tế mặc dù không có quy định chính thức xuất phát từ quyền lực được trao rộng rãi cho các tỉnh một cách không chính thức để thực thi các quan hệ kinh tế và chính sách quốc gia. Kết quả là có một khái niệm "chế độ liên bang trên thực tế với đặc trưng Trung Hoa" (dựa theo chính sách của Đặng Tiểu Bình chế độ xã hội chủ nghĩa với đặc trưng Trung Hoa). Theo hiến pháp, quyền lực của các đặc khu hành chính của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được trao bởi Chính phủ nhân dân Trung ương thông qua nghị quyết của Toàn quốc Nhân dân Đại biểu Đại hội mặc dù sự can thiệp của chính quyền trung ương ngày càng lớn.
== Danh sách các liên bang ==
== Chú thích == |
chữ hán.txt | Chữ Hán, hay Hán tự (chữ Hán phồn thể: 漢字, giản thể: 汉字), Hán văn (漢文/汉文), chữ nho, chữ Trung Quốc là một dạng chữ viết biểu ý của tiếng Trung Quốc. Chữ Hán có nguồn gốc bản địa, sau đó du nhập vào các nước lân cận trong vùng bao gồm Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam. Tại các quốc gia này, chữ Hán được vay mượn để tạo nên chữ viết cho ngôn ngữ của dân bản địa ở từng nước.
== Tên gọi ==
Tại Trung Quốc, trước thời nhà Tần, chữ Hán được gọi là “văn” 文 hoặc “danh” 名. Từ nhà Tần cho đến trước khi tên gọi “Hán tự” 漢字 (chữ Hán) trở nên phổ biến chữ Hán thường chỉ được gọi là “văn” 文, “tự” 字 hoặc “văn tự” 文字. Theo sách “Thuyết văn giải tự” (說文解字) do Hứa Thận biên soạn vào thời Đông Hán thì giữa “văn” 文 và “tự” 字 vốn là có sự phân công ý nghĩa, chứ không phải là hoàn toàn đồng nghĩa. “Văn” 文 là chỉ chữ tượng hình và chỉ sự, “tự” 字 là chỉ chữ hình thanh và hội ý. Về sau người ta không còn phân biệt “văn” 文 và “tự” 字 nữa, chữ viết dù thuộc loại gì cũng đều có thể gọi là “văn” 文 hoặc “tự” 字.
Các tên gọi dùng để chỉ chữ Hán đã nêu ở trên đều có nghĩa là “chữ, chữ viết”, chúng không phải là tên gọi chuyên chỉ chữ Hán.
Tên gọi “Hán tự” 漢字 xuất hiện sớm nhất là trong Kim sử, một bộ sách sử được biên soạn vào thời nhà Nguyên. Tuy nhiên khi đó “Hán tự” 漢字 không phải là một tên gọi phổ biến của chữ Hán. Chỉ cho đến thời cận đại (tại Trung Quốc đại lục lịch sử Trung Quốc cận đại thường được tính là từ năm 1840 đến năm 1949) tên gọi “Hán tự” 漢字 mới dần dần được biết đến và sử dụng rộng rãi.
Tại Việt Nam, trước thời Pháp thuộc, người Việt thường chỉ gọi chữ Hán là “chữ” hoặc “văn tự”. Từ điển Việt-Bồ-La của A Lịch Sơn Đắc Lộ (thế kỷ XVII) đã giải nghĩa từ "chữ" của tiếng Việt bằng tiếng Bồ Đào Nha và La-tinh là chữ Trung Quốc.
Từ “chữ” trong tiếng Việt là âm Hán Việt cổ của chữ “tự” 字, bắt nguồn từ âm đọc trong tiếng Hán thượng cổ của chữ này.
== Sơ lược ==
Truyền thuyết cho rằng Hoàng Đế là người sáng tạo ra văn tự Trung Hoa từ 4-5 ngàn năm trước nhưng ngày nay không còn ai tin rằng Hoàng Đế là nhân vật có thực nữa. Cả thuyết Thương Hiệt cho chữ mà các học giả thời Chiến Quốc đưa ra cũng không thuyết phục vì không ai biết Thương Hiệt ở đời nào. Gần đây người ta đào được ở An Dương (Hà Nam) nhiều mu rùa, xương loài vật, và đồ đồng trên đó có khắc chữ, và các nhà khảo cổ phỏng đoán rằng chữ viết ở Trung Hoa ra đời muộn nhất là vào thời kỳ nhà Thương, khoảng 1800 năm trước Công nguyên.
Cũng như Ai Cập và nhiều dân tộc văn minh thời thượng cổ, chữ viết Trung Hoa thời đó là những hình biểu ý, nghĩa là vẽ phác vật mình muốn chỉ. Chẳng hạn như:
Muốn chỉ Mặt Trời, Trung Hoa vẽ (Ai Cập cũng tương tự), sau thành chữ 日 (nhật);
Muốn chỉ Mặt Trăng, Trung Hoa vẽ (Ai Cập vẽ ), sau thành chữ 月 (nguyệt);
Muốn chỉ dòng nước, Trung Hoa vẽ , sau thành chữ 川 (xuyên);
Muốn chỉ khu ruộng, Trung Hoa vẽ , sau thành chữ 田 (điền);
Muốn chỉ cây cối, Trung Hoa vẽ , sau thành chữ 木 (mộc);
Muốn chỉ cái miệng, Trung Hoa vẽ (Ai Cập cũng vẽ là
) sau thành chữ 口 (khẩu).
Đó là vào thời kỳ đầu, đến giai đoạn tiếp theo thì chữ cũng tượng hình mà thêm tính cách biểu ý như
-nhật: cả tiếng Trung Hoa lẫn tiếng cổ Ai Cập đều có nghĩa là ngày;
-nguyệt: tiếng Trung Hoa thêm nghĩa chỉ tháng; tiếng Ai Cập cũng dùng cách này để chỉ tháng: vẽ một Mặt Trăng, nhưng thêm một ngôi sao: .
Qua giai đoạn sau, mỗi hình ở Ai Cập chỉ một vần, như
chỉ cái miệng, nhưng miệng người Ai Cập thời xưa đọc là ra (hay re), cho nên vần đó chỉ thêm vần ra (hay re). Giai đoạn cuối, mỗi hình (gọi là dấu cũng được) chỉ một âm như hình
không chỉ vần ra (hay re) nữa mà chỉ phụ âm r. Từ đó, chữ viết cổ Ai Cập không còn là chữ tượng hình mà hình thành chữ tượng thanh - cũng gọi là ký âm - như các chữ của phương Tây: Hy Lạp, La Mã,...
Chữ Trung Hoa, trái lại, ngừng ở giai đoạn hai, không dùng hình để chỉ vần, ghi âm, mà dùng thêm nhiều cách khác để tạo chữ mới như hội ý, giả tá, chuyển chú... Tóm lại, chữ viết vẫn giữ tính chất tượng hình mà không thành tượng thanh, mặc dầu có sử dụng phép hài thanh: dùng thanh âm của một chữ để ghi thanh âm của một chữ khác. Ví dụ dùng chữ thành (成), là nên, để ghi âm chữ thành (城) là thành lũy và chữ thành (誠) là thành thực; như vậy hai chữ thành 城 và 誠, mỗi chữ gồm hai phần - một phần ghi âm (thành 成), một phần ghi ý. Như chữ thành (城) bao gồm thổ (土) là đất (vì thành làm bằng đất) và ngôn (言) là lời (lời nói thành thật).
== Đặc điểm ==
=== Lợi ===
Khi nhớ mặt chữ của một từ thì người học rất khó quên được ý nghĩa của nó, chẳng hạn chữ an (安) gồm nữ (女 đàn bà) ở dưới miên (宀 mái nhà) nên có nghĩa là an (an ổn), hoặc chữ minh (明) gồm nhật (日 mặt trời) và nguyệt (月 Mặt Trăng) nên có nghĩa là sáng. Như vậy mỗi từ của Trung Hoa có tính chất sống động hơn từ của phương Tây và vì vậy đọc một bài thơ Trung Hoa viết bằng chữ Trung Hoa thì cảm thấy có ý nghĩa hơn, thú vị hơn khi đọc cũng bài thơ đó phiên âm ra chữ quốc ngữ. Cái thú còn tăng thêm gấp bội nếu ta thưởng thức được nét bút của người viết, và ai cũng nhận ra môn "thư họa" (vẽ chữ) của Trung Hoa là bước đầu của môn hoạ, người Trung Hoa nào viết chữ đẹp cũng được xem giống như một hoạ sĩ.
Lợi ích lớn nhất cho dân tộc Trung Hoa là nhờ lối chữ tượng hình mà họ nhanh chóng thống nhất được đất nước, dễ giữ được đế quốc của họ, vượt được hết nhiều dị biệt của các thổ ngữ, những hàng rào ngôn ngữ. Họ có rất nhiều thổ ngữ, nếu dùng một thứ chữ tượng thanh, như tự mẫu La Tinh chẳng hạn, thì người Bắc Kinh không sao hiểu được người Vân Nam, người Tứ Xuyên không sao hiểu được người Sơn Đông..., mà nước của họ đã bị chia thành nhiều tiểu quốc, dân tộc rồi, như châu Âu có người Ý, Pháp, Đức, Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha...
Cũng nhờ lối chữ đặc biệt này mà rất nhiều Hoa kiều ở khắp thế giới từ Đông Nam Á tới Âu Châu, Mỹ Châu, dù sinh sống ở quốc gia nào và sử dụng ngôn ngữ của dân tộc khác nhưng vẫn giữ được nền văn hóa cổ, vẫn giữ được phong tục, truyền thống và dùng bút đàm mà hiểu được nhau.
=== Bất lợi ===
Thời gian học dài: Người học chữ Trung Quốc phải có nhiều (hai ba năm) mới nhớ được mặt chữ của ba bốn ngàn từ thường dùng; nếu dùng lối tượng thanh thì nhanh và đơn giản hơn.
Chữ viết phức tạp, nhiều nét: có những chữ trên hai mươi lăm nét.
In sách báo tốn công vì rất rắc rối, phải sắp gần một vạn chữ vì không thể dùng ba bốn chục ký tự mẫu và dấu như các chữ lối tượng thanh.
Không đánh được tín hiệu: phải dùng khoảng 8.000 dấu hiệu (code), mỗi dấu hiệu thay cho một chữ.
== Chữ Hán ở các nước ==
=== Trung Quốc ===
Chữ Hán bắt nguồn từ Trung Quốc từ thời xa xưa dựa trên việc quan sát đồ vật xung quanh và vẽ thành dạng chữ tượng hình, chữ mang ý nghĩa. Chữ Hán đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển. Cho tới hiện nay, chữ Hán cổ nhất được cho là loại chữ Giáp Cốt (Giáp Cốt Tự 甲骨字), chữ viết xuất hiện vào đời nhà Ân (殷) vào khoảng thời 1600-1020 trước Công Nguyên. Chữ Giáp Cốt là chữ Hán cổ viết trên các mảnh xương thú vật và có hình dạng rất gần với những vật thật quan sát được.
Chữ Giáp Cốt tiếp tục được phát triển qua các thời:
Nhà Chu 周 (1021-256 TCN) có chữ Kim (Kim Văn 金文), là chữ viết trên các chuông bằng đồng và kim loại
Chiến Quốc 戰國 (403-221 TCN) và thời nhà Tần 秦 (221-206 TCN) có chữ Triện (Đại Triện và Tiểu Triện) và có chữ Lệ (Lệ Thư 隸書)
Nhà Hán 漢 (Tiền Hán 206 TCN-8 CN, Hậu Hán 25-220) có chữ Khải (Khải Thư 楷書)
Ngoài ra còn có chữ Hành (Hành Thư 行書) và chữ Thảo (Thảo Thư 草書). Chữ Khải là loại chữ được dùng bút lông chấm mực tàu viết trên giấy và rất gần với hình dáng chữ Hán ngày nay vẫn còn được dùng ở Nhật, Đài Loan hay Hồng Kông. Chữ Thảo là loại chữ được viết bằng bút lông có lược bớt hoặc ghép một số nét lại. Sự phát triển chữ Hán trải qua các thời kỳ có thể được minh họa bằng một số chữ sau:
Giáp cốt văn → Kim văn → Triện thư → Lệ thư → Thảo thư → Khải thư → Hành thư
Ngày nay tại Trung Quốc đại lục, bộ chữ Giản thể (簡體字) đã thay thế cho bộ chữ Phồn thể (正體字).
=== Việt Nam ===
Có ý kiến cho rằng chữ Hán đã hiện diện ở Việt Nam ít nhất là từ đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công nguyên, dựa trên suy diễn về dấu khắc được coi là chữ trên một con dao găm . Tuy nhiên đó là lúc chữ Hán chưa hình thành, và trên các trống đồng Đông Sơn có thời kỳ 700 TCN - 100 SCN thì hiện diện "các chữ của người Việt cổ" chưa được minh giải để xác định vào thời kỳ đó cư dân Việt cổ đã sử dụng chữ.
Từ đầu công nguyên đến thế kỷ X, Việt Nam chịu sự đô hộ của phong kiến Trung Hoa, chữ Hán và tiếng Hán được giới quan lại cai trị áp đặt sử dụng. Theo Đào Duy Anh thì nước Việt bắt đầu có Hán học khi viên Thái thú Sĩ Nhiếp (137 - 226) đã dạy dân Việt thi thư. Trong khoảng thời gian hơn một ngàn năm, hầu hết các bài văn khắc trên tấm bia đều bằng chữ Hán.
Nước Nam Việt được Triệu Đà thành lập vào thế kỷ thứ 3 TCN, khi nhà Tần đang thống nhất chữ viết (vào thời chiến quốc, mỗi nước phát triển chữ viết khác nhau). Hơn một thế kỷ sau, khi Lưu Bang lật đổ nhà Tần lập nhà Hán, nhà Hán mới thôn tính được Nam Việt (khoản năm 111 TCN). Cổ vật trong lăng mộ của Hán Văn Đế cho thấy chữ viết của Nam Việt khá hoàn chỉnh . Sau này, nhà sử học Lê Mạnh Thát phát hiện rằng ngay cả Hán thư cũng dùng phương ngôn của người Việt.
Trong suốt thời gian Bắc thuộc đó, với chính sách Hán hóa của nhà Hán, tiếng Hán đã được giảng dạy ở Việt Nam và người Việt đã chấp nhận ngôn ngữ mới đó song song với tiếng Việt, tiếng nói truyền miệng. Tuy người Việt Nam tiếp thu tiếng Hán và chữ Hán nhưng cũng đã Việt hóa nhiều từ của tiếng Hán thành từ Hán-Việt. Từ đó đã có rất nhiều từ Hán-Việt đi vào trong từ vựng của tiếng Việt. Sự phát triển của tiếng Hán ở Việt Nam trong thời kỳ Bắc thuộc song song với sự phát triển của tiếng Hán ở chính Trung Quốc thời đó. Tuy nhiên, năm 938, sau chiến thắng Bạch Đằng của Ngô Quyền, người Việt đã độc lập và không còn lệ thuộc vào phương Bắc nữa, nhưng ngôn ngữ vẫn còn đậm ảnh hưởng của tiếng Hán. Sang thời kỳ tự chủ chữ Hán giữ địa vị là văn tự chính thức nhưng cách đọc đã phát triển theo hướng riêng, khác với sự phát triển tiếng Hán ở Trung Quốc.
Trong quá trình đó chữ Hán vẫn được người Việt dùng và phát triển thêm nhưng cách phát âm chữ Hán lại bị chi phối bởi cách phát âm của người Việt, tạo ra và củng cố dần âm Hán-Việt. Do nhu cầu phát triển, người Việt đã sử dụng chữ Hán để tạo ra chữ viết riêng, tức chữ Nôm. Trong khi đó cổ văn Hán vẫn được coi là mẫu mực để noi theo.
=== Triều Tiên ===
Hán ngữ được du nhập vào bán đảo Triều Tiên khá lâu, khoảng thời kỳ đồ sắt. Đến thế kỷ thứ 4 trước công nguyên xuất hiện các văn bản viết tay của người Triều Tiên. Các bản viết tay này được sử dụng chữ Hán. Tiếng Hán là thứ ngôn ngữ khó, dùng chữ Hán để viết tiếng Triều Tiên trở nên phức tạp, cho nên các học giả người Triều Tiên đã tìm cách cải biến chữ Hán để phù hợp với âm đọc của tiếng Triều Tiên. Vào khoảng thế kỷ thứ 15, ở Triều Tiên xuất hiện chữ ký âm, được gọi là Hangul (한글) hay Chosŏn'gŭl (조선글), chữ này trải qua nhiều thế kỷ phát triển thăng trầm, cuối cùng chính thức được dùng thay thế cho chữ Hán cho tới ngày nay. Chosŏn'gŭl lúc ban đầu gồm 28 ký tự, sau đó còn 24 ký tự giống như bảng chữ cái La Tinh, và được dùng để ký âm tiếng Triều Tiên. Tuy Chosŏn'gŭl đã xuất hiện nhưng chữ Hán (Hancha) vẫn còn được giảng dạy trong trường học. Năm 1972, Bộ Giáo dục Hàn Quốc đã quy định phải dạy 1800 chữ Hán cơ bản cho học sinh. Còn ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên, người ta đã bỏ hẳn chữ Hán.
=== Nhật Bản ===
Chữ Hán du nhập vào Nhật Bản thông qua con đường Triều Tiên. Chữ Hán ở Nhật được gọi là Kanji (漢字 Hán tự) và được du nhập vào Nhật theo con đường giao lưu buôn bán giữa Nhật và Triều Tiên vào khoảng thế kỷ thứ 4, 5. Tiếng Nhật cổ đại vốn không có chữ viết, nên khi chữ Hán du nhập vào Nhật, người Nhật dùng chữ Hán để viết tiếng nói của họ. Dạng chữ đầu tiên người Nhật sáng tạo từ chữ Hán để viết tiếng Nhật là chữ Man-yogana (萬葉假名 Vạn Diệp Giả Danh). Hệ thống chữ viết này dựa trên chữ Hán và khá phức tạp. Man-yogana được đơn giản hóa thành Hiragana ひらがな (平假名 Bình Giả Danh) và Katakana カタカナ (片假名 Phiến Giả Danh). Cả hai loại chữ này trải qua nhiều lần chỉnh lý và hoàn thiện mới trở thành chữ viết ngày nay ở Nhật. Tiếng Nhật hiện đại được viết bằng bốn loại ký tự:
Chữ Hán (hay Kanji 漢字)
Chữ mềm (hay Hiragana ひらがな)
Chữ cứng (hay Katakana カタカナ)
Chữ La Tinh (hay Romaji ローマ字).
Chữ Hán trong tiếng Nhật thường có ít nhất hai cách đọc, cách đọc theo âm Hán cổ, được gọi là On-yomi (音読 (音讀) (Âm Độc), ) và cách đọc theo âm tiếng Nhật được gọi là Kun-yomi (訓読 (訓讀) (Huấn Độc), ). Trong quá trình phát triển chữ viết cho tiếng Nhật, người Nhật còn mượn chữ Hán để sáng tạo ra một số chữ (khoảng vài trăm chữ) và mỗi chữ này chỉ có cách đọc theo âm tiếng Nhật; các chữ này được gọi là Kokuji (国字 (國字) (Quốc Tự), ), tiếng Nhật gọi là Quốc Tự Quốc Huấn (國字國訓), nghĩa là "chữ quốc ngữ âm quốc ngữ". Những chữ quốc ngữ này của người Nhật có cách hình thành khá giống chữ Nôm của Việt Nam (xin xem phần sau về chữ Nôm). Tháng 11 năm 1946, Bộ Giáo dục Nhật đề nghị đưa vào giảng dạy 1850 chữ Hán cơ bản trong trường học, và được Quốc hội Nhật thông qua năm 1947.
Đến năm 1981 thì lượng chữ Hán thông dụng được điều chỉnh lại gồm khoảng 1945 chữ thường dùng, khoảng 300 chữ thông dụng khác dùng để viết tên người. Đến năm 2000, các chữ Hán dùng để viết tên người được điều chỉnh thêm, số lượng tăng lên trên 400 chữ. Các chữ Hán này được lập thành bảng gọi là Bảng chữ Hán thường dùng (Jyoyo Kanji Hyo, 常用漢字表 Thường Dụng Hán Tự Biểu) và Bảng chữ Hán dùng viết tên người (Jinmeiyo Kanji Hyo, 人名用漢字表 Nhân Danh Dụng Hán Tự Biểu).
== Cách cấu tạo của Chữ Hán - Lục Thư (六書) ==
Cũng như các chữ viết khác trên thế giới, chữ Hán được hình thành từ các nét vẽ miêu tả các sự vật hiện tượng xung quanh con người. Nhưng khác ở đây là chữ Hán đã chọn một cách phát triển không giống các chữ viết khác trên thế giới. Với các chữ viết khác trên thế giới, khi xã hội phát triển, con người đã đơn giản các nét vẽ và dùng các nét đó để thể hiện cho một âm tiết nào đó trong tiếng nói của các dân tộc đó. Còn với chữ Hán, nó vẫn giữ lại ý nghĩa tượng hình ban đầu của chữ. Và dùng các phép tạo chữ khác để tạo nên các chữ có ý nghĩa trừu tượng (xem thêm ở dưới). Chính vì thế, chữ tượng hình mặc dù chiếm một phần không lớn trong chữ Hán, nhưng lại có tầm quan trọng rất lớn trong hệ thống chữ Hán.
Chữ Hán được hình thành theo các cách chính:
Chữ Tượng Hình (象形文字): "Tượng hình" có nghĩa là căn cứ trên hình tượng của sự vật mà hình thành chữ viết. Các chữ này rất dễ nhận biết và đơn giản.
Chữ Chỉ Sự (指事文字) hay chữ Biểu Ý (表意文字): Cùng với sự phát triển của con người, chữ Hán đã được phát triển lên một bước cao hơn để đáp ứng đủ nhu cầu diễn tả những sự việc đó là chữ Chỉ Sự. Ví dụ, để tạo nên chữ Bản (本), diễn đạt nghĩa "gốc rễ của cây" (根), thì người ta dùng chữ Mộc (木) và thêm gạch ngang diễn tả ý nghĩa "ở đây là gốc rễ" và chữ Bản (本) được hình thành. Chữ Thượng (上), chữ Hạ (下) và chữ Thiên (天) cũng là những chữ Chỉ Sự được hình thành theo cách tương tự. "Chỉ Sự" có nghĩa là chỉ định một sự vật và biểu diễn bằng chữ.
Chữ Hội Ý (Hội Ý Văn Tự 會意文字): Để tăng thêm chữ Hán, cho đến nay người ta có nhiều phương pháp tạo nhiều chữ mới có ý nghĩa mới. Ví dụ, chữ Lâm (林, rừng nơi có nhiều cây) có hai chữ Mộc (木) xếp hàng đứng cạnh nhau được làm bằng cách ghép hai chữ Mộc với nhau (Rừng thì có nhiều cây!!). Chữ Sâm (森, rừng rậm nơi có rất nhiều cây) được tạo thành bằng cách ghép ba chữ Mộc. Còn chữ Minh (鳴, kêu, hót) được hình thành bằng cách ghép chữ Điểu (鳥, con chim) bên cạnh chữ Khẩu (口, mồm); chữ Thủ (取, cầm, nắm) được hình thành bằng cách chữ Nhĩ (耳, tai) của động vật với tay (chữ Thủ 手, chữ Hựu 又). Những chữ được tạo thành theo phương pháp ghép như trên gọi là chữ Hội Ý (會意文字). "Hội Ý" có nghĩa là ghép ý nghĩa với nhau.
Chữ Hình Thanh (形聲文字): Cùng với những chữ Tượng Hình, Chỉ Sự và Hội Ý, có nhiều phương pháp tạo nên chữ Hán, nhưng có thể nói là đa số các chữ Hán được hình thành bằng phương pháp hình thanh, gọi là chữ Hình Thanh (形聲文字). Chữ Hình Thanh chiếm tới 80% toàn bộ chữ Hán. Chữ Hình Thanh là những chữ bao gồm hai phần: phần hình (形) là phần biểu diễn ý nghĩa chính mà đã được dùng từ lâu đời, và phần thanh (聲) là phần biểu diễn cách phát âm chính xác của từ đó. Ví dụ, chữ Khẩu (口) có hình biểu diễn việc ăn hoặc nói, và chữ Vị (未) có các phát âm giống chữ vị (trong khẩu vị) khi ghép hai chữ với nhau tạo nên chữ Vị (味) của khẩu vị. Bộ Thủy (氵) biểu diễn nghĩa dòng sông hoặc dòng nước chảy, khi ghép cùng với chữ Thanh (青, màu xanh) tạo thành chữ Thanh (清) có nghĩa là "trong suốt" hoặc "trong xanh".
Chữ Chuyển Chú (轉注文字): Các chữ Hán được hình thành bằng bốn phương pháp kể trên, nhưng còn có những chữ có thêm những ý nghĩa khác biệt, và được sử dụng trong những nghĩa hoàn toàn khác biệt đó. Ví dụ, chữ Dược (藥), có nguồn gốc là từ chữ Nhạc (樂), âm nhạc làm cho lòng người cảm thấy sung sướng phấn khởi nên chữ Nhạc (樂) cũng có âm là Lạc nghĩa là vui vẻ. Chữ Dược (藥) được tạo thành bằng cách ghép thêm bộ Thảo (có nghĩa là cây cỏ) vào chữ Lạc (樂). Chữ được hình thành theo phương pháp này được gọi là chữ Chuyển Chú (轉注文字).
Chữ Giả Tá (假借文字): Những chữ được hình thành theo phương pháp bằng cách mượn chữ có cùng cách phát âm được gọi là chữ Giả Tá (假借文字).
Ở trên giải thích về bốn cách tạo chữ và hai cách sử dụng chữ Hán. Bốn cách tạo chữ và hai cách sử dụng được gọi chung là Lục Thư (六書).
== Các bộ chữ trong chữ Hán - Bộ thủ (部首) ==
Trung Quốc có đến hàng ngàn chữ nhưng được phân loại thành 214 bộ chữ, mỗi bộ chữ được đại diện bằng một thành phần cấu tạo chung gọi là bộ thủ. dựa theo số nét, các bộ thủ bao gồm:
一 丨 丶 丿 乙 亅
二 亠 人 儿 入 八 冂 冖 冫 几 凵 刀 力 勹 匕 匚 匸 十 卜 卩 厂 厶 又
口 囗 土 士 夂 夊 夕 大 女 子 宀 寸 小 尢 尸 屮 山 巛 工 己 巾 干 幺 广 廴 廾 弋 弓 彐 彡 彳
心 戈 戶 手 支 攴 文 斗 斤 方 无 日 曰 月 木 欠 止 歹 殳 毋 比 毛 氏 气 水 火 爪 父 爻 爿 片 牙 牛 犬
玄 玉 瓜 瓦 甘 生 用 田 疋 疒 癶 白 皮 皿 目 矛 矢 石 示 禸 禾 穴 立
竹 米 糸 缶 网 羊 羽 老 而 耒 耳 聿 肉 臣 自 至 臼 舌 舛 舟 艮 色 艸 虍 虫 血 行 衣 襾
見 角 言 谷 豆 豕 豸 貝 赤 走 足 身 車 辛 辰 辵 邑 酉 釆 里
金 長 門 阜 隶 隹 雨 青 非
面 革 韋 韭 音 頁 風 飛 食 首 香
馬 骨 高 髟 鬥 鬯 鬲 鬼
魚 鳥 鹵 鹿 麥 麻
黄 黍 黑 黹
黽 鼎 鼓 鼠
鼻 齊
齒
龍 龜
龠
Tuy nhiên số bộ thủ không phải bất biến mà có sự thay đổi theo thời gian.
Số bộ thủ nói trên là dạng chữ phồn thể, dựa theo Khang Hi tự điển (1716) và các từ điển thông dụng sau này như Trung Hoa đại tự điển (1915), Từ hải (1936).
Trước đó, trong Thuyết văn giải tự của Hứa Thận (thời Đông Hán) có 9350 chữ phân làm 540 bộ thủ. Tự lâm của Lã Thầm (đời Tấn) và Loại biên của Vương Chu và Tư Mã Quang (đời Tống) cũng có 540 bộ thủ. Ngọc thiên của Cố Dã Vương đời Lương có 542 bộ thủ. Với việc giản thể hóa chữ Hán, vì phải thêm các bộ thủ giản thể nên số bộ thủ tăng lên thành 227 bộ. Tuy nhiên, một số cách ghép bộ thủ đã làm giảm số bộ thủ, chẳng hạn Tân Hoa tự điển có 189 bộ thủ, Hiện đại Hán ngữ từ điển có 188 bộ thủ, Hán ngữ đại từ điển có 200 bộ thủ. Riêng cuốn Từ nguyên xuất bản năm 1979 có tới 243 bộ thủ.
== Nghệ thuật thư pháp ==
Thư pháp là nghệ thuật viết chữ. Nghệ thuật Thư pháp Á Đông là nghệ thuật viết chữ Hán. Chữ Hán là loại chữ tượng hình và viết chữ Hán phải dùng bút lông để làm tăng thêm sức thể hiện của nhà thư pháp. Chữ Hán trong lịch sử đã một mặt làm nhiêm vụ là phương tiện để ghi chép, trao đổi tưởng truyền đạt văn hóa... của thế hệ này đến thế hệ khác, mặt khác nó còn tự tạo cho mình một môn nghệ thuật tạo hình độc đáo.
== Ý tưởng dạy chữ Hán trong trường phổ thông Việt Nam ==
Những năm qua giới hàn lâm trong lĩnh vực Hán Nôm đã đưa ra ý tưởng về "dạy chữ Hán trong trường phổ thông Việt Nam". Nó thể hiện nhiều nhất ở Hội thảo "Vai trò của Hán Nôm trong văn hóa đương đại" tháng 8/2016 , và điển hình là bài viết của PGS. TS Đoàn Lê Giang từ Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh . Ý tưởng về sự cần thiết này dựa trên 3 lý do:
Hiện nay trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong sách báo,... thì tiếng Việt đang bị "dùng sai một cách khủng khiếp". Trong tiếng Việt có khoảng già nửa đến 80% vốn từ là gốc Hán (tùy cách ước lượng), với lượng từ đồng âm khá cao, nhưng bị dùng sai tràn lan, ví dụ dùng "khiếm nhã" như là "trang nhã", "yếu điểm" là "điểm yếu",...
Người Việt đang "vong bản ngay trên đất nước mình", thể hiện là hầu như không ai biết chữ Hán Nôm, không đọc được những gì tổ tiên đã viết trên các đình, chùa, bia, miếu,...
Các nước Đông Á "không có nước nào dám đoạn tuyệt với chữ Hán", nhờ đó giữ vững được truyền thống và bản sắc văn hóa, đồng thời phát triển được khoa học kỹ thuật và kinh tế, như Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Hàn Quốc,... và cho rằng "Thiếu chữ Hán làm nước ta nghèo nàn, lạc hậu".
Bộ Giáo dục và Đào tạo thì dự định đưa tiếng Trung trở lại thành một ngoại ngữ được giảng dạy ở trường phổ thông (hồi cuối những năm 1950 ở miền Bắc đã dạy tiếng Trung ở trường cấp 2 và 3) . Điều này dẫn đến phản bác của giới học giả phi Hán Nôm cũng như của phụ huynh . Nó hiện ra các điểm chính:
Tiếng Việt có cần phải quá chú ý đến nghĩa gốc của từ Hán Việt một cách hàn lâm, hay chấp nhận sự biến đổi ngữ nghĩa theo thời gian đã từng và đang xảy ra.
Học sinh cần được quyền chọn ngoại ngữ để theo học, và trong trào lưu hiện nay thì chọn lựa phổ biến là tiếng Anh. Những gia đình có khả năng còn lên tiếng sẽ cho con theo học trường quốc tế hoặc trường nước ngoài, nếu như theo đúng tuyến thì không đáp ứng nguyện vọng về học ngoại ngữ.
Bộ Giáo dục có đề án dạy ngoại ngữ với gần 9.400 tỷ VND mà chủ yếu là dạy tiếng Anh, sau 8 năm triển khai đã chưa cho ra thế hệ học sinh dùng được tiếng này . Nếu có đề án cho ngôn ngữ "khó học" và ít phổ dụng hơn như tiếng Trung, thì tính khả thi, kết quả học và tính hữu ích sẽ còn thấp hơn.
== Xem thêm ==
Tiếng Trung Quốc
Chữ Nôm
Giản thể
Phồn thể
Phanh âm
== Tham khảo ==
=== Từ điển ===
Từ điển Hán Việt trên VDict
Tự Điển Hán Nôm trên Nôm Na
Hán-Việt từ điển -- Thiều Chửu
Từ điển Giản/Hán Việt
== Liên kết ngoài ==
Trang web của Viện nghiên cứu Hán - Nôm
Trang web của Hội Bảo tồn Di sản chữ Nôm
Trang web của Văn phòng Nôm Na
Thư pháp chữ Hán
"Hãy gìn giữ kho tàng di sản chữ Hán - Nôm" |
ngữ tộc tạng-miến.txt | Ngự tộc Tạng-Miến là một thuật ngữ để chỉ những ngôn ngữ phi Hán thuộc hệ ngôn ngữ Hán-Tạng, với hơn 400 ngôn ngữ được nói tại vùng cao Đông Nam Á cũng như những phần nhất định của Đông Á và Nam Á. Tên của ngữ tộc được ghép từ tên hai nhóm ngôn ngữ phổ biến nhất, đó là tiếng Miến Điện (hơn 32 triệu người nói) và nhóm ngôn ngữ Tạng (hơn 8 triệu). Những ngôn ngữ này có nền văn học đồ sộ, khởi đầu từ thế kỷ 12 (tiếng Miến Điện) và thế kỷ 7 (nhóm Tạng). Đa số các thứ tiếng khác thuộc ngữ hệ này có ít được nói hơn nhiều, và nhiều trong số chúng chưa được nghiên cứu chi tiết.
Một số phân loại chia hệ Hán-Tạng ra thành nhánh Hán và nhánh Tạng-Miến (như Benedict và Matisoff). Tuy nhiều, những học giả khác cho rằng Tạng-Miến là một nhóm đa ngành. Van Driem cho rằng hệ ngôn ngữ Hán-Tạng nên được gọi là "Tạng-Miến", nhưng cách gọi là không được chấp nhận rộng rãi. Một số người khác thì loại trừ hoàn toàn mối quan hệ với nhóm Hán, ví dụ như Beckwith, Miller.
Ngôn ngữ Tạng-Miến lâu đời nhất được ghi nhận là tiếng Bạc Lang tồn tại vào thế kỷ 3, xuất hiện trong Hậu Hán thư, với phần từ vựng của một ngôn ngữ Lô Lô-Miến nhưng cấu trúc câu trong sách đã bị chuyển đổi cho giống tiếng Trung Quốc.
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói
Danh sách ngôn ngữ theo tổng số người sử dụng
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Tibeto-Burman bibliography website
Sino-Tibetan Etymological Dictionary and Thesaurus (STEDT)
Linguistics of the Tibeto-Burman Area (journal) |
thềm lục địa.txt | Thềm lục địa là một phần của rìa lục địa, từng là các vùng đất liền trong các thời kỳ băng hà còn hiện nay là các biển tương đối nông (biển cạn) và các vịnh. Các thềm lục địa có độ dốc thoải đều (1-2°) và thông thường kết thúc bằng các sườn rất dốc (hay còn gọi là đứt gãy thềm lục địa). Đáy biển phía dưới các đứt gãy là dốc lục địa có độ dốc cao hơn rất nhiều so với thềm lục địa. Tại chân sườn nó thoải đều, tạo ra bờ lục địa và cuối cùng hợp nhất với đáy đại dương tương đối phẳng, có độ sâu đạt từ 2.200 đến 5.500 m.
Chiều rộng của thềm lục địa dao động một cách đáng kể. Có rất nhiều khu vực không có thềm lục địa, đặc biệt là ở các khu vực mà các gờ của vỏ đại dương nằm gần vỏ lục địa trong các khu vực sút giảm ven bờ, chẳng hạn như các vùng bờ biển của Chile hay bờ biển phía tây của đảo Sumatra. Thềm lục địa lớn nhất— thềm lục địa Siberi ở Bắc Băng Dương— kéo dài tới 1.500 kilômét. Biển Đông nằm trên một khu vực mở rộng khác của thềm lục địa, thềm lục địa Sunda, nó nối liền các đảo Borneo, Sumatra và Java với châu Á đại lục. Các biển khác cũng nằm trên các thềm lục địa còn có biển Bắc và vịnh Ba Tư. Chiều rộng trung bình của các thềm lục địa là khoảng 80 km. Độ sâu của các thềm lục địa cũng dao động mạnh. Nó có thể chỉ nông khoảng 30 m mà cũng có thể sâu tới 600 m.
Các trầm tích được chuyên chở tới các vùng thềm lục địa do hiện tượng xói mòn từ các vùng đất liền. Kết hợp với độ chiếu sáng từ Mặt Trời tương đối cao đối với các vùng biển nông thì các loài thủy sinh vật tại khu vực thềm lục địa tương đối phong phú khi so sánh với các sa mạc, sinh học của đáy đại dương. Cá tuyết (moruy) của khu vực Grand Banks phía ngoài Newfoundland đã nuôi những người châu Âu nghèo khó hơn 500 năm trước khi chúng bị đánh bắt cạn kiệt. Nếu các điều kiện yếm khí chiếm ưu thế trong các lớp trầm tích tại các thềm lục địa thì theo thời gian địa chất nó sẽ trở thành các nguồn nhiên liệu hóa thạch.
Xa hơn nữa, việc tương đối dễ tiếp cận của các thềm lục địa là phương thức tốt nhất để tìm hiểu các bộ phận của đáy đại dương. Trên thực tế mọi hoạt động khai thác thương mại, chẳng hạn khai thác dầu mỏ và hơi đốt (gọi chung là khai thác dầu khí) từ đại dương chủ yếu được tiến hành trên các thềm lục địa. Các quyền chủ quyền trên các thềm lục địa của mình đã được đề nghị bởi các quốc gia có biển trong Công ước về thềm lục địa, được đưa ra bởi Ủy ban luật quốc tế của Liên hiệp quốc năm 1958[1], một số phần trong đó đã được chỉnh sửa và thay thế bởi 1982 United Nations Công ước Liên hiệp quốc về luật biển năm 1982.
== Trong luật quốc tế ==
Trên đây là thuật ngữ thềm lục địa khi được hiểu với ý nghĩa khoa học của các lĩnh vực như địa chất học, hải dương học. Tuy nhiên trong lĩnh vực pháp lý thì thuật ngữ này có một số khác biệt so với cách hiểu trên.
Nguyên bản điều 1 của Công ước về thềm lục địa năm 1958 quy định:
Article 1
For the purpose of these articles, the term "continental shelf" is used as referring
(a) to the seabed and subsoil of the submarine areas adjacent to the coast but outside the area of the territorial sea, to a depth of 200 metres or, beyond that limit, to where the depth of the superjacent waters admits of the exploitation of the natural resources of the said areas;
(b) to the seabed and subsoil of similar submarine areas adjacent to the coasts of islands.
Bản dịch tiếng Việt:
Điều 1
Để phục vụ cho các điều khoản này, thuật ngữ "thềm lục địa" được sử dụng như là nói đến
(a) phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của các khu vực biển tiếp giáp với bờ nhưng ngoài khu vực lãnh hải, tới độ sâu 200 mét hoặc, vượt ra ngoài giới hạn đó, tới độ sâu của các vùng nước chồng lên nhau cho phép khai thác được các nguồn tài nguyên thiên nhiên của các khu vực đã nói;
(b) phần đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của các khu vực tương tự tiếp giáp với các bờ của các đảo.
Quy định này không có tính thực tế cao, bất hợp lý và không công bằng do trình độ công nghệ chung của các quốc gia là rất khác nhau. Công ước luật biển năm 1982 đã đưa ra định nghĩa mới có tính công bằng cao hơn, trong đó thềm lục địa của một quốc gia ven biển bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển đó, trên toàn bộ phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền thuộc quốc gia đó cho đến bờ ngoài của dốc lục địa hoặc cách đường cơ sở dùng để tính lãnh hải một khoảng cách là 200 hải lý (370,4 km), khi bờ ngoài của dốc lục địa của quốc gia này ở khoảng cách gần hơn 200 hải lý. Trong trường hợp bờ ngoài của dốc lục địa kéo dài tự nhiên lớn hơn 200 hải lý tính từ đường cơ sở thì quốc gia đó có thể xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa cho mình như sau:
Hoặc theo bề dày trầm tích: Đường nối các điểm cố định tận cùng bất kỳ mà lớp trầm tích có độ dày bằng hoặc lớn hơn 1% khoảng cách từ điểm đó tới chân dốc lục địa.
Hoặc theo khoảng cách: Đường nối các điểm cố định ở cách chân dốc lục địa nhiều nhất là 60 hải lý (111,1 km).
Trong cả hai cách tính trên thì chiều rộng tổng cộng của thềm lục địa tính từ đường cơ sở cũng không được vượt quá 350 hải lý (648,2 km) hoặc cách đường đẳng sâu 2.500 mét một khoảng cách không vượt quá 100 hải lý (185,2 km), với điều kiện tuân thủ các quy định cụ thể về việc xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa có trong Công ước luật biển 1982 và phù hợp với các kiến nghị của Ủy ban ranh giới thềm lục địa được thành lập trên cơ sở Phụ lục II của Công ước này.
Ngoài ra, để hạn chế việc mở rộng quá 200 hải lý này, người ta cũng thêm 2 điều kiện nữa là:
Phải xác định rõ tọa độ, thông báo các thông tin tính toán cho Ủy ban ranh giới thềm lục địa với hạn cuối cùng là năm 2009.
Nghĩa vụ đóng góp bằng tiền hay hiện vật đối với việc khai thác các tài nguyên phi sinh vật của phần nằm ngoài phần thềm lục địa cơ bản (200 hải lý đầu).
=== Cơ chế pháp lý ===
Các quốc gia ven biển và quốc gia quần đảo có quyền chủ quyền đối với thềm lục địa và các tài nguyên khai thác được từ đó. Ngoài ra, các quốc gia này cũng có quyền tài phán đối với các lĩnh vực sau: các đảo nhân tạo, các thiết bị; công trình trên thềm lục địa, các nghiên cứu khoa học hay bảo vệ môi trường. Các quyền chủ quyền và tài phán này không liên quan và không ảnh hưởng đến các quyền đối với vùng nước và vùng trời phía trên nó.
== Xem thêm ==
Nội thủy
Lãnh hải
Vùng tiếp giáp lãnh hải
Vùng đặc quyền kinh tế
Vùng biển quốc tế
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Office of Naval Research: Ocean Regions Continental Margin & Rise |
isadora duncan.txt | Isadora Duncan (27 tháng 5 năm 1878 – 14 tháng 9 năm 1927) là một nữ vũ công ballet người Mỹ, người đã xây dựng nên một trường phái múa ballet mới dựa trên cơ sở của khiêu vũ Hy Lạp cổ đại, đặt nền móng cho trào lưu ballet hiện đại.
Duncan sinh ngày 27 tháng 5 năm 1878 tại San Francisco, California, Hoa Kỳ với tên là Angela Isadora Duncan. Năm 1899, bà xuất hiện lần đầu trên sân khấu trong vai trò một vũ công ballet chuyên nghiệp tại Chicago. Những năm sau đó Duncan lưu diễn khắp châu Âu và thiết lập các trường dạy múa tại Berlin (1904); Paris (1914); Mátxcơva (1921). Duncan là người sùng bái nghệ thuật múa cổ điển của Hy Lạp nói riêng và mỹ học Hy Lạp nói chung. Bà đã đưa linh hồn Hy Lạp vào các điệu múa ballet của mình - tạo nên một trường phái ballet riêng, dựa trên những biểu tượng hình thể và những chuyển động tự do, phóng túng, chống lại phong cách ballet cổ điển dựa trên những chuẩn mực đã định hình. Duncan đã có một ảnh hưởng mạnh mẽ đến sự phát triển của ballet hiện đại. Vào năm 1922, Duncan đã tổ chức đám cưới với Sergei Yesenin, một nhà thơ Nga, khi đó, Duncan đã 44 tuổi còn Yesenin mới 27 tuổi.
Duncan có cuộc sống riêng không hạnh phúc. Duncan có hai con với hai người đàn ông khác nhau - một người là nhà đạo diễn và trang trí sân khấu Edward Gordon Craig; người kia là Paris Singer, con trai của Isaac Singer, ông chủ của hãng máy may Singer. Hai con bà bị chết đuối trên dòng sông Seine năm 1913. Bà sống những năm cuối đời trong cô đơn, nghèo khổ và cũng mất trong một tai nạn liên quan đến xe hơi ngày 14 tháng 9 năm 1927 tại Nice, Pháp. Bà thường đeo một chiếc khăn choàng và hôm đó chiếc khăn của bà bị dính vào bánh xe của người bạn. Khi xe chạy, bà bị kéo ra ngoài xe, gãy cổ và chết ngay lập tức.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Isadora Duncan's Web Links
Isadora Duncan International Institute, Inc.
Người phụ nữ Mỹ trong cuộc đời nhà thơ Nga Esenin |
kodaira kunihiko.txt | Kodaira Kunihiko (小平 邦彦, こだいら くにひこ, Tiểu Bình Bang Ngạn) (16 tháng 3 năm 1915 - 26 tháng 7 năm 1997) là một nhà toán học người Nhật Bản với những nghiên cứu nổi bật trong lĩnh vực hình học đại số và lý thuyết các đa tạp phức, và là người sáng lập lên trường phái các nhà hình học đại số Nhật Bản. Ông được trao huy chương Fields năm 1954 và trở thành người Nhật Bản đầu tiên giành được giải thưởng này.
== Tuổi trẻ ==
Kodaira sinh ra ở Tokyo. Ông tốt nghiệp trường đại học Tokyo năm 1938 với tấm bằng toán học và cũng tại trường đại học này ông tốt nghiệp với tấm bằng vật lý năm 1941. Trong thời gian chiến tranh thế giới lần hai ông nghiên cứu cô lập với thế giới toán học, nhưng ông đã có thể nắm bắt được lý thuyết Hodge vào thời điểm đó. Ông hoàn thành luận án tiến sĩ tại đại học Tokyo năm 1949, với nhan đề của luận án là Các trường điều hòa trong các đa tạp Riemann. Ông tham dự vào nghiên cứu mật mã trong năm 1944, tại thời điểm khó khăn của một con người, trong khi vẫn giữ một vị trí hàn lâm tại đại học Tokyo.
== Xem thêm ==
Lý thuyết phổ của các phương trình vi phân thường
Định lý triệt tiêu Kodaira
Ánh xạ Kodaira–Spencer
Kích thước Kodaira
Định lý nhúng Kodaira
== Sách do ông viết ==
K. Kodaira (1975). W. L. Baily, biên tập. Collected Works Vols I, II, III. Iwanami Shoten, Princeton University Press.
K. Kodaira (2004). Complex Manifolds and Deformation of Complex Structures (Classics in Mathematics). Springer.
K. Kodaira (2007). Complex Analysis. Cambridge University Press. ISBN 978-0521809375.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Kodaira Kunihiko tại Mathematics Genealogy Project
O'Connor, John J.; Robertson, Edmund F., “Kodaira Kunihiko”, Bộ lưu trữ lịch sử toán học MacTutor
D. C. Spencer (1998). “Kodaira Kunihiko (1915-1997)” (PDF). Notices of the AMS 45 (3): 388–389.
F. Hirzebruch (1998). “Kodaira Kunihiko: Mathematician, Friend, and Teacher” (PDF). Notices of the AMS 45 (11): 1456–1462.
“Special Issue to Honor Professor Kunihiko Kodaira on his 85th birthday”. Asian Journal of Mathematics 4 (1). 2000. |
1888.txt | Năm 1888 (số La Mã: MDCCCLXXXVIII) là một năm nhuận bắt đầu vào Chủ Nhật trong lịch Gregory hay một năm nhuận bắt đầu vào ngày Thứ Sáu theo lịch Julius, chậm hơn 12 ngày. Ở Đức, năm này được gọi là Hoàng đế.
== Sự kiện ==
=== Tháng 5 ===
13 tháng 5: Brasil công bố bãi bỏ chế độ nô lệ
=== Tháng 9 ===
26 tháng 9: Vua Hàm Nghi bị thực dân Pháp bắt sống khi đang ngũ.
=== Tháng 10 ===
5 tháng 10: Tại Đài Loan xảy ra bạo loạn
=== Tháng 11 ===
14 tháng 11: Vua Hàm Nghi bị đưa đến đốn Thuận Bài
22 tháng 11: Vua Hàm Nghị trở về Huế
25 tháng 11: Vua Hàm Nghi bị đưa vào Lăng Cô
=== Tháng 12 ===
13 tháng 12: Vua Hàm Nghi bị đày đi Bắc Phi
17 tháng 12: Nhà Thanh thành lập Bắc Dương thủy quân
== Sinh ==
Shmuel Yosef Agnon
Andrei Nikolayevich Tupolev
Dale Carnegie
Olga Drahonowska-Małkowska
Nguyễn Bỉnh Khiêm
Y Jut, nhân sỹ người Êđê Việt Nam (mất 1934).
Tôn Đức Thắng
Tản Đà
John Logie Baird (mất 1946).
== Mất ==
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
gaius plinius secundus.txt | Gaius Plinius Secundus (23 - 25/8/79 TCN), được biết đến nhiều hơn với tên Pliny Già ( /ˈplɪni/), là một tác giả, nhà tự nhiên học, và triết học tự nhiên La Mã, cũng như các chỉ huy hải quân và quân đội của Đế chế La Mã giai đoạn đầu, và bạn riêng của hoàng đế Vespasia.
Ông đã giành phần lớn thời gian rảnh rỗi của mình nghiên cứu, viết hoặc điều tra các hiện tượng tự nhiên và địa lý trong lĩnh vực này, ông đã viết một tác phẩm bách khoa, Naturalis Historia ("Lịch sử tự nhiên"), mà đã trở thành một mô hình cho tất cả các bách khoa toàn thư khác. Pliny Trẻ, cháu trai của ông, viết về ông trong một bức thư gửi cho các sử gia Tacitus.
== Tham khảo ==
Beagon, Mary (translator) (2005). The elder Pliny on the human animal: Natural History, Book 7. Oxford University press. ISBN 0-19-815065-2.
Carey, Sorcha (2006). Pliny's Catalogue of Culture: Art and Empire in the Natural history. Oxford University press. ISBN 0-19-920765-8.
== Liên kết ngoài ==
Online Galleries, History of Science Collections, University of Oklahoma Libraries High resolution images of works by Pliny the Elder in.jpg and.tiff format. |
sony ericsson t610.txt | Sony Ericsson T610 là chiếc điện thoại di động được chế tạo bởi Sony Ericsson. Ra mắt vào năm 2003, T610 là một trong những mẫu điện thoại di động đầu tiên trên thế giới được tích hợp camera kỹ thuật số, Bluetooth, màn hình màu và phím điều hướng navigation. T610 từng là một trong những model thành công nhất của liên doanh sản xuất điện thoại di động Sony Ericsson.
Chiếc điện thoại được thiết kế bởi Erik Ahlgren, T610 có 3 vỏ màu: Aluminium Haze, Abyss Blue, và Volcanic Red. Một vài khách hàng của Sony Ericsson tại Anh quốc than phiền rằng họ không thể có lựa chọn nào khác ngoài T610 vỏ màu Aluminium Haze. Và cho đến hiện nay, nó vẫn là mẫu được bán với số lượng nhiều nhất.
T610 là một chiếc điện thoại chụp hình, nó có khả năng chụp những bức ảnh với độ phân giải cao nhất là 288 x 352 pixels. Chiếc điện thoại sử dụng băng tầng chạy trên nền công nghệ 2.5G, hỗ trợ GPRS (Class 8) và HSCSD, kết nối không dây giao thức (WAP) 2.0. Nó cũng hỗ trợ nhạc chuông đa âm ở dạng MIDI (32 âm sắc), và trò chơi dành cho điện thoại sử dụng Java ME và Mophun. Phiên bản phần mềm mới nhất của T610 là R6D003 (Tháng 9 năm 2004).
== Tổng quan ==
Kích thước: 102 × 44 × 19mm
Trọng lượng máy 95g
3 băng tầng GSM 900/1800/1900 MHz
Chia sẻ không dây với công nghệ Bluetooth và Hồng ngoại
Kết nối USB (USB DCU-11 hoặc USB DCU-10)
Tích hợp GPRS
Trình duyệt đa chế độ WAP 2.0/XHTML
Tin nhắn SMS, EMS, MMS, E-mail
Nhạc chuông đa âm
Bộ nhớ trong 2MB
Trò chơi và các ứng dụng Java
Màn hình STN với độ phân giải 128×160, 16-bit (65.536 màu)
Đồng bộ với máy tính SyncML
Camera kỹ thuật số VGA với kích cỡ hình: 288 x 352 pixels (CIF) hay 120 x 160 pixels (QQVGA), 24-bit (16 triệu màu), định dạng JPEG
Hỗ trợ hiển thị hình ảnh ở định dạng: JPEG, GIF, MBM, PNG và WBMP.
Pin chuẩn Li-Pol 770 mAh đi kèm là cục sạc rời
== Phiên bản khác ==
Sony Ericsson T616 - GSM 850/1800/1900 là phiên bản dành cho thị trường Bắc Mỹ
Sony Ericsson T628/ Sony Ericsson T630 - Phiên bản mới của T610 với màn hình dạng TFT, bàn phím và vỏ được cách tân với hai vỏ màu chính là Frosty Silver (Trắng bạc) và Liquid Black (Xanh đen). Phiên bản mới này có khả năng chụp ảnh VGA với độ phân giải (480x640). T630 được chính thức phân phối trên thị trường vào năm 2004.
Sony Ericsson T637 - Tương tự như T630 nhưng sử dụng băng tầng tại Châu âu.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Sony Ericsson
Wap-site của Sony Ericsson
Wesite hỗ trợ về Sony Ericsson T610
Mobile Gazette - Retro: Sony Ericsson T610
Truy cập Internetcho máy PDA bằng T610 |
big4 (kiểm toán).txt | Big4 là cách gọi quen thuộc của 4 hãng kiểm toán lớn nhất thế giới về quy mô và doanh thu, bao gồm:
PricewaterhouseCoopers (PWC)
Deloitte (Deloitte)
Ernst and Young (E&Y)
KPMG
Với bề dày lịch sử hơn 100 năm, các hãng được coi là big4 đã hình thành từ khi kiểm toán còn sơ khai. Họ phát triển cùng với sự phát triển của nghề kiểm toán độc lập.
== Deloitte ==
Đã hơn 150 năm kể từ ngày William Welch Deloitte, một trong những cha đẻ của ngành công nghiệp kiểm toán, thành lập hàng kiểm toán chuyên nghiệp trên đường Basinghall Street tại London.
== PWC ==
Năm 1854, William Cooper bắt đầu hoạt động kinh doanh của mình và bảy năm sau trở thành Cooper Brothers. Năm 1874 Công ty được đổi tên thành Price, Waterhouse & Co sau khi có sự tham gia của Price, Holyland và Waterhouse. PriceWaterHouseCoopers bắt đầu như thế.
== E&Y ==
E&Y chính là tên của hai người hoàn toàn khác biệt A.C. Ernst và Arthur Young, được thành lập từ năm 1903.
== KPMG ==
"K" có nghĩa là do Piet Klynveld thành lập hãng Klynveld Kraayenhof & Co. tại Amsterdam vào năm 1917. "P" có nghĩa là do William Barclay Peat lập ra William Barclay Peat & Co. tại London năm 1870. "M" bắt nguồn từ James Marwick lập ra Marwick, Mitchell & Co. với Roger Mitchell tại New York vào năm 1897. "G" là do Tiến sĩ Reinhard Goerdeler, nhiều năm làm chủ tịch của KPMG, có công hợp nhất thành KPMG ngày nay.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Frontpage of Deloitte Touche Tohmatsu Limited
Frontpage of Arthur Andersen website archived in 1996
Frontpage of Coopers & Lybrand LLP website archived in 1996
Frontpage of Price Waterhouse website archived in 1997 |
danh sách các hội đồng hạt của vương quốc anh.txt | Hạt (County) là đơn vị hành chính cao nhất tại xứ Anh (England) trong Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc Ireland. Các hạt của nước Anh là khu vực được sử dụng cho mục đích phân định ranh giới địa lý hành chính và chính trị. Tính đến tháng 4 năm 2009, trên toàn xứ Anh có tất cả là 27 hạt, và được chia nhỏ ra thành 48 quận, ở các quận có Hội đồng quận quản lý. Trong 27 hạt thì có 6 trong số đó là đô thị được gọi là hạt đô thị, những đô thị này không có Hội đồng cấp quận. Cũng giống như quận, đứng đầu các hạt cũng có Hội đồng hạt, Hội đồng hạt thành lập đầu tiên vào năm 1889 và nó được cải cách đáng kể vào năm 1974.
== Những Hội đồng hạt ngày nay ==
== Các Hội đồng cấp hạt trước kia từng tồn tại ở Anh ==
== Trích nguồn ==
== Đọc thêm ==
List of English County Councils with Contact Details & Opening Times |
yttri.txt | Yttri là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Y và số nguyên tử 39. Là một kim loại chuyển tiếp màu trắng bạc, yttri khá phổ biến trong các khoáng vật đất hiếm và hai trong số các hợp chất của nó được sử dụng làm lân quang màu đỏ trong các ống tia âm cực, chẳng hạn trong các ống dùng cho truyền hình. Nguyên tố này thông thường không tìm thấy trong cơ thể người và không đóng một vai trò sinh học nào cả.
== Đặc trưng ==
Yttri tương đối ổn định trong không khí, trông khá giống scandi ở bề ngoài và về tính chất hóa học thì tương tự như các nguyên tố nhóm Lantan, khi bị phơi ra ngoài ánh sáng có ánh hơi hồng. Các mảnh vụn hay phoi bào của kim loại này có thể bắt cháy trong không khí khi nhiệt độ cao trên 400 °C. Khi yttri bị chia cắt mịn thì nó rất không ổn định trong không khí. Kim loại này có tiết diện nơtron thấp để bắt giữ hạt nhân. Trạng thái ôxi hóa phổ biến nhất của yttri là +3.
== Ứng dụng ==
Ôxít yttri (III) là hợp chất quan trọng nhất và được sử dụng rộng rãi để tạo ra các chất lân quang YVO4:Eu và Y2O3:Eu để tạo ra màu đỏ trong các ống tia âm cực dùng cho truyền hình màu. Các ứng dụng khác có:
Ôxít yttri dùng chế tạo các dạng ngọc hồng lựu yttri sắt làm các bộ lọc vi sóng hiệu suất cao.
Các loại ngọc hồng lựu yttri sắt, nhôm, gadolini (ví dụ Y3Fe5O12 và Y3Al5O12) có các tính chất từ tính rất đáng chú ý. Ngọc hồng lựu yttri sắt có hiệu suất cao trong vai trò của bộ chuyển năng và truyền dẫn năng lượng âm thanh. Ngọc hồng lựu yttri nhôm có độ cứng 8,5 và cũng được sử dụng như là đá quý (kim cương giả).
Các lượng nhỏ của yttri (0,1 tới 0,2%) đã từng được sử dụng để giảm kích thước hạt của crom, molypden, titan, zirconi. Nó cũng được dùng để tăng sức bền của các hợp kim nhôm và magiê.
Được dùng làm chất xúc tác cho quá trình polyme hóa etylen.
Ngọc hồng lựu yttri nhôm, Y2O3, florua yttri liti, vanadat yttri được dùng trong tổ hợp với các tác nhân kích thích (dopant) như neodymi, erbi, ytterbi trong các laze cận-hồng ngoại. Các dạng tinh thể và gốm của chúng đều được sử dụng.
Nó được sử dụng tại các điện cực của một số loại bu gi hiệu suất cao.
Nó được dùng để khử ôxi cho vanadi hay các kim loại phi sắt khác.
Yttri cũng được dùng trong sản xuất măng sông cho các đèn măng sông dùng propan, thay thế cho thori là chất hơi có tính phóng xạ.
Các tinh thể ngọc hồng lựu yttri nhôm kích thích bằng xeri (YAG:Ce) được dùng làm chất lân quang để làm các LED phát ánh sáng trắng.
Các vi cầu Yttri-90 có tiềm năng được dùng trong điều trị ung thư biểu mô gan không thể cắt bỏ.
Yttri được dùng như là nguyên tố "bí mật" trong chất siêu dẫn YBCO phát triển tại Đại học Houston, YBaCuO. Chất siêu dẫn này làm việc trên 90K, đáng chú ý vì nó là trên điểm sôi của nitơ lỏng (77,1K). (Y1,2Ba0,8CuO4). Vật liệu được tạo ra là khoáng vật đa tinh thể đa pha, có màu đen và lục.
Yttri được nghiên cứu để tìm kiếm khả năng sử dụng như là tác nhân tạo hòn trong sản xuất gang mềm với độ mềm dẻo của gang tăng lên (graphit tạo thành các hòn rắn chắc thay vì các mảnh như bông để tạo ra gang mềm). Về tiềm năng, yttri có thể sử dụng trong sản xuất gốm và thủy tinh, do ôxít yttri có điểm nóng chảy cao và sức kháng va chạm cao cùng hệ số giãn nở nhiệt thấp.
Ôxít yttri cũng được dùng để ổn định dạng hình hộp của zirconia để sử dụng trong nghề kim hoàn.
Yttria (Ôxít yttri (III)) được dùng như là phụ gia kết dính trong sản xuất nitrua silic xốp.
Yttri-90 được dùng trong Zevalin, là một loại thuốc trị liệu hệ miễn dịch-phóng xạ được chỉ định trong điều trị một vài loại ung thư bạch huyết phi-Hodgkin.
== Lịch sử ==
Yttri (đặt tên theo Ytterby, một làng ở Thụy Điển gần Vaxholm) được nhà hóa học, nhà vật lý kiêm nhà khoáng vật học người Phần Lan là Johan Gadolin phát hiện ra năm 1794. Năm 1828, Friedrich Wöhler đã cô lập nó như là chất chiết ra không tinh khiết từ yttria thông qua phản ứng khử clorua yttri khan (YCl3) bằng kali. Yttria (Y2O3) là ôxít của yttri, được Johan Gadolin phát hiện năm 1794 trong khoáng vật gadolinit lấy từ Ytterby.
Năm 1843, nhà hóa học người Thụy Điển Carl Mosander đã chứng minh rằng yttria có thể chia ra thành các ôxít (hay các loại đất) của ba nguyên tố khác nhau. "Yttria" là tên gọi được giữ lại cho ôxít có tính bazơ nhất (chiếm khoảng 2/3), còn các ôxít kia được đổi tên thành ecbia và tecbia. Muộn hơn trong thế kỷ 19, cả hai loại "ôxít" kia cũng được chứng minh là phức tạp, mặc dù các tên gọi vẫn được giữ lại cho thành phần có tính chất đặc trưng nhất của loại "đất" đó.)
Mỏ khai thác cạnh làng Ytterby sản sinh nhiều khoáng vật không bình thường chứa các nguyên tố đất hiếm cùng các nguyên tố khác. Các nguyên tố ecbi, tecbi, yttecbi và yttri tất cả đều được đặt tên theo tên gọi của làng nhỏ này.
== Phổ biến ==
Nguyên tố này được tìm thấy gần như trong mọi loại khoáng vật đất hiếm cũng như trong các loại quặng urani nhưng không tìm thấy ở dạng tự do trong tự nhiên. Nó được sản xuất ở quy mô thương mại bằng cách khử florua yttri (YF3) với canxi kim loại nhưng cũng có thể được sản xuất bằng các kỹ thuật khác. Nó rất khó tách ra từ các nguyên tố đất hiếm khác và khi tách được thì nó là chất bột màu xám sẫm.
"Đất hiếm" ceria (1803) và yttria (1794) nguyên bản phản ánh sự phân chia địa hóa học lớn diễn ra giữa các nguyên tố nhóm lantan nhẹ hơn và nặng hơn do "sự teo lại lantan". Các nguyên tố nhóm lantan nhẹ hơn, với bán kính nguyên tử lớn hơn, tham dự vào các khoáng vật tại các vị trí với số phối hợp cao hơn (ví dụ monazit), trong khi các nguyên tố nhóm lantan nặng hơn nhưng bán kính nguyên tử nhỏ hơn lại ưa thích các số phối hợp thấp hơn (như trong xenotim). Các nguyên tố nhóm lantan nhẹ hơn cũng tương đối phổ biến hơn trong lớp vỏ Trái Đất khi so với các nguyên tố nhóm nặng, tương xứng với sự phổ biến trong các vẫn thạch chondrit, do sự phân đoạn kích thước. Yttri rơi vào khoảng trung bình về kích thước của nhóm nặng và vì thế chắc chắn có mặt cùng chúng trong các khoáng vật này, trong đó nó chiếm khoảng hai phần ba hỗn hợp các ôxít theo trọng lượng. Thành phần như vậy là điển hình của gadolinit, xenotim và một vài dạng đất sét hấp thụ ion.
Các mẫu đá Mặt Trăng thu được từ chương trình Apollo có hàm lượng yttri tương đối cao.
Xem thêm Khoáng vật yttri.
== Đồng vị ==
Yttri tự nhiên chỉ bao gồm một đồng vị (Y89). Các đồng vị phóng xạ ổn định nhất là Y88 có chu kỳ bán rã 106,65 ngày và Y91 với chu kỳ bán rã 58,51 ngày. Tất cả các đồng vị khác có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 1 ngày, ngoại trừ Y87 với chu kỳ bán rã 79,8 giờ. Phương thức phân rã chủ yếu của các đồng vị dưới Y89 là bắt điện tử còn phương thức chủ yếu của các đồng vị trên Y89 là bức xạ beta. Hai mươi sáu đồng vị không ổn định đã được nêu đặc trưng.
Y90 tồn tại trong cân bằng muôn thuở với đồng vị cha của nó Sr90, là sản phẩm của các vụ nổ hạt nhân.
== Phòng ngừa ==
Các hợp chất chứa nguyên tố này hiếm khi được bắt gặp, nhưng nên hết sức cẩn thận do chúng có độc tính cao. Các muối của yttri có thể có khả năng gây ung thư.
== Xem thêm ==
Hợp chất yttri
Ecbi
Tecbi
Yttecbi
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com – Yttri
Phòng thí nghiệm quốc gia Los Alamos – Yttri |
bắc ninh.txt | Bắc Ninh là tỉnh có diện tích nhỏ nhất Việt Nam thuộc đồng bằng sông Hồng và nằm trên Vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ. Bắc Ninh tiếp giáp với vùng trung du Bắc bộ tại tỉnh Bắc Giang. Thành phố Bắc Ninh nằm cách trung tâm Hà Nội 30 km về phía đông bắc. phía tây và tây nam giáp thủ đô Hà Nội, phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía đông và đông nam giáp tỉnh Hải Dương, phía nam giáp tỉnh Hưng Yên. Trong quy hoạch xây dựng, tỉnh này thuộc vùng Thủ đô. Ngoài ra, Bắc Ninh còn nằm trên 2 hành lang kinh tế Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Bắc Ninh là tỉnh với dân ca quan họ. Bắc Ninh là trung tâm xứ Kinh Bắc cổ xưa. Hiện nay trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng 41 lễ hội đáng chú ý trong năm được duy trì. Trong đó có những lễ hội lớn như: hội chùa Dâu, Hội Lim, hội đền Đô, hội đền Bà Chúa Kho. Con người Bắc Ninh với truyền thống văn hoá, hiếu khách, cần cù và sáng tạo, với những bàn tay khéo léo mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, làm giấy, tranh vẽ dân gian... nổi bật là những làn điệu dân ca quan họ.
== Lịch sử ==
Bắc Ninh hình thành lâu đời gắn liền với nền Văn minh sông Hồng. Luy Lâu từng là trung tâm kinh tế - chính trị, tôn giáo cổ xưa nhất của Việt Nam.
Từ mấy nghìn năm trước người Việt cổ đã cư trú và lập làng ở ven sông Cầu, sông Dâu, sông Đuống, sông Ngũ Huyện Khê, sông Tiêu Vương sống chủ yếu bằng canh tác nông nghiệp kết hợp làm nghệ thủ công. Hàng loạt di vật như trống đồng, dao găm, rìu, giáo, tấm che ngực, mảnh giáp bằng đồng với những hoa văn độc đáo được tìm thấy ở các di tích Lãng Ngâm, Đại Trạch, Quả Cảm, Đại Lai mảnh khuôn đúc trống đồng trong thành cổ Luy Lâu đã chứng tỏ người xứ Bắc rất tinh xảo trong nghề đúc đồng, chế tác các đồ trang sức, làm gốm. Những giá trị tinh thần, tư tưởng được phản ánh qua các huyền thoại ông Đùng, bà Đùng, ông khổng lồ cắn nát núi, hút sạch rừng, băng ngang lũ; về Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Âu Cơ, Thánh Gióng, An Dương Vương, Mỵ Châu - Trọng Thuỷ và thành cổ Loa. Cùng với huyền thoại truyền thuyết là đậm đặc các di tích tiêu biểu như lăng mộ Kinh Dương Vương, các đền thờ Lạc Long Quân, Âu Cơ, đền thờ Phù Đổng Thiên Vương ở Thuận Thành, Từ Sơn, Tiên Du.
Thời kỳ Hồng Bàng, nước Văn Lang được chia làm có 15 bộ, bộ Vũ Ninh là vùng lãnh thổ thuộc phần lớn tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Trong thời Bắc thuộc, Giao Chỉ gồm có 10 huyện trong đó có huyện Luy Lâu. Luy Lâu đã từng là đô thị lớn, là trung tâm thương mại trong suốt thời kỳ dài từ cuối thế kỷ thứ II đến thế kỷ IX-X. Xung quanh Luy Lâu là các làng nông nghiệp, làng thủ công, làng buôn bán phát triển. Tại đây, tư tưởng Nho giáo và văn hoá Hán Đường đã được truyền bá liên tục vào Việt Nam. Trung tânm Luy Lâu là nơi đầu tiên có trường dạy chữ và văn hoá Hán ở Việt Nam. Ngoài ra Luy Lâu còn là trung tâm Phật giáo lớn và cổ xưa nhất của người Việt. Hệ thống di tích, chùa tháp quần tụ đậm đặc ở đây với trung tâm là chùa Dâu cùng nhiều nguồn di vật, tài liệu như tượng pháp, bia ký, bản khắc Cổ Châu Pháp Vân và lễ hội chùa Dâu - lễ hội Phật giáo lớn nhất trong đồng bằng Bắc Bộ với các nghi lễ Tân Phật, rước Tứ Pháp, rước nước chứng tỏ Luy Lâu là tổ đình của Phật giáo Việt Nam. Luy Lâu là không gian điển hình đan xen, hỗn dung tiếp xúc, biến đổi hội tụ và kết tinh văn hoá Việt Nam cổ với văn hoá Phật - Ấn, Nam Á và Trung Á, văn hoá Nho Lão (Trung Hoa - Đông Á) để rồi sinh thành bản sắc văn hoá Kinh Việt. Đến thời Ngô Quyền, Giao Châu gồm các vùng phía nam sông Hồng và sông Đuống, thuộc Hà Nội, Bắc Ninh, một phần Hưng Yên.
Thời loạn 12 sứ quân, địa bàn Bắc Ninh là nơi chiếm đóng của 2 sứ quân Nguyễn Thủ Tiệp và Lý Khuê với các căn cứ ở Tiên Du và Thuận Thành.
Các vua thời Lý lập Phủ Thiên Đức (vốn là châu Cổ Pháp). Bắc Ninh là đất phát tích nhà Lý - triều đại khai mở ra nền văn minh Đại Việt gắn liền với tên tuổi của những nhân vật lịch sử - văn hoá kiệt xuất như: Lý Công Uẩn, Lý Nhân Tông, Nguyên Phi Ỷ Lan, Lê Văn Thịnh. Đây là nơi vang vọng bài thơ Nam quốc sơn hà- bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc Việt Nam.
Cuối thời Trần, cả nước có 24 đơn vị hành chính. Lộ Bắc Giang bao trùm Bắc Ninh và một phần Hà Nội, Bắc Giang ngày nay, gồm có 3 châu, lộ trực tiếp quản lý 2 huyện Siêu Loại và Gia Lâm. Châu Gia Lâm gồm 3 huyện: An Định (Gia Bình hiện nay), Tế Giang (Văn Giang hiện nay), Thiện Tài (Lương Tài hiện nay). Châu Vũ Ninh gồm 5 huyện: Tiên Du (Tiên Du hiện nay), Vũ Ninh (Võ Giàng hiện nay), Đông Ngàn (Từ Sơn và một phần Sóc Sơn thuộc Hà Nội hiện nay), Từ Sơn (Quế Võ hiện nay), Yên Phong (Yên Phong hiện nay). Châu Bắc Giang gồm 3 huyện Tân Phúc (Đa Phúc cũ, một phần Sóc Sơn hiện nay), Phật Thệ (Hiệp Hòa thuộc Bắc Giang hiện nay), Yên Việt (Việt Yên hiện nay).
Năm 1490, vua Lê Thánh Tông cho định lại bản đồ cả nước, gồm 13 (đạo) xứ thừa tuyên. Trong đó, trấn (xứ) Kinh Bắc gồm 4 phủ (20 huyện), hiện nay bao gồm toàn bộ ranh giới 2 tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh và một phần nhỏ các tỉnh thành lân cận là Hà Nội (toàn bộ khu vực phía bắc sông Hồng là: Gia Lâm, Long Biên, Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn); Hưng Yên (Văn Giang, Văn Lâm) và Lạng Sơn (Hữu Lũng).
Thời Minh Mạng, cả nước được chia thành 31 đơn vị hành chính: phủ Thừa Thiên là trung tâm, các trấn (tên đơn vị hành chính thời Hậu Lê và Tây Sơn) được đổi thành 30 tỉnh. Việc lập các tỉnh được thực hiện trong 2 đợt. Đợt đầu tiên vào năm 1831, Minh Mạng thực hiện chia các trấn phía bắc làm 18 tỉnh. Tỉnh Bắc Ninh được thành lập (nay là Bắc Ninh và Bắc Giang, một phần đất Hà Nội và Vĩnh Phúc này nay).
Bắc Ninh là cửa ngõ của cố đô Thăng Long, là vùng đất trung chuyển giữa kinh đô xưa với miền địa đầu giáp giới Trung Quốc. Do có đường quốc lộ lên ải Bắc chạy qua, nên vị trí quân sự của Bắc Ninh cực kỳ hệ trọng. Chính vì thế, mùa xuân 1884, Pháp đánh thành Bắc Ninh hoàn thành gấp công cuộc thống trị và bảo hộ Việt Nam. Năm 1895, tách phủ Lạng Giang ra lập tỉnh Bắc Giang. Năm 1903, tách các huyện Đông Anh, Kim Anh, Đa Phúc nhập vào tỉnh Vĩnh Yên. Năm 1960, huyện Văn Giang của Bắc Ninh được tách sang tỉnh Hưng Yên. Ngày 20 tháng 4 năm 1961, tách huyện Gia Lâm nhập vào Hà Nội.
Vào năm 1963, tỉnh Bắc Ninh được sát nhập với tỉnh Bắc Giang thành tỉnh Hà Bắc; cùng lúc đó, 2 huyện Tiên Du và Từ Sơn hợp nhất thành huyện Tiên Sơn, 2 huyện Quế Dương và Võ Giàng hợp nhất thành huyện Quế Võ. Mặc dù không còn vị trí tỉnh lỵ như trước đây (lúc đó Bắc Giang trở thành tỉnh lỵ của tỉnh mới sát nhập), nhưng thị xã Bắc Ninh vẫn là một trung tâm kinh tế - xã hội quan trọng của Hà Bắc, nhất là trong mối quan hệ giao lưu với thủ đô Hà Nội..
Ngày 1 tháng 1 năm 1997, tỉnh Bắc Ninh chính thức được tái lập theo Nghị quyết của Quốc hội khoá IX, kỳ họp thứ 10 (ngày 06 tháng 11 năm 1996). Khi tách ra, tỉnh Bắc Ninh có 6 đơn vị hành chính gồm: thị xã Bắc Ninh (tỉnh lị) và 5 huyện: Gia Lương, Quế Võ, Thuận Thành, Tiên Sơn, Yên Phong.
Ngày 9 tháng 8 năm 1999, chia huyện Tiên Sơn thành 2 huyện: Tiên Du và Từ Sơn; chia huyện Gia Lương thành 2 huyện: Gia Bình và Lương Tài.
Ngày 26 tháng 1 năm 2006, chuyển thị xã Bắc Ninh thành thành phố Bắc Ninh.
Ngày 24 tháng 9 năm 2008, chuyển huyện Từ Sơn thành thị xã Từ Sơn.
== Hành chính ==
Toàn tỉnh có tổng cộng 1 thành phố, 1 thị xã, 6 huyện với 126 đơn vị hành chính cấp xã trong đó có 23 phường, 6 thị trấn và 97 xã.
== Địa lý ==
=== Địa chất, thủy văn ===
Địa hình của tỉnh không hoàn toàn là đồng bằng mà xen kẽ là các đồi thấp có hướng dốc chủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòng chảy bề mặt đổ về sông Đuống và sông Thái Bình. Vùng đồng bằng thường có độ cao phổ biến từ 3-7 m, địa hình trung du (hai huyện Quế Võ và Tiên Du) có một số dải núi độ cao phổ biến 300–400 m. Diện tích đồi núi chiếm tỷ lệ nhỏ (0,53%) so với tổng diện tích, chủ yếu ở hai huyện Quế Võ và Tiên Du.
Bắc Ninh có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, mật độ lưới sông khá cao, trung bình 1,0 - 1,2 km/km2, có 3 hệ thống sông lớn chảy qua gồm sông Đuống, sông Cầu và sông Thái Bình. Sông Đuống có chiều dài 42 km nằm trên đất Bắc Ninh, tổng lượng nước bình quân 31,6 tỷ m3. Mực nước cao nhất tại bến Hồ tháng 8/1945 là 9,64m, cao hơn so với mặt ruộng là 3 – 4 m. Sông Đuống có hàm lượng phù sa cao, vào mùa mưa trung bình cứ 1 m3 nước có 2,8 kg phù sa. Sông Cầu có chiều dài sông Cầu là 290 km với đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh dài 70 km, lưu lượng nước hàng năm khoảng 5 tỷ m3. Sông Cầu có mực nước trong mùa lũ cao từ 3 – 6 m, cao nhất là 8 m, trên mặt ruộng 1 – 2 m, trong mùa cạn mức nước sông lại xuống quá thấp (0,5 - 0,8 m). Sông Thái Bình thuộc vào loại sông lớn của miền Bắc có chiều dài 385 km, đoạn chảy qua tỉnh Bắc Ninh dài 17 km. Do phần lớn lưu vực sông bắt nguồn từ các vùng đồi trọc miền đông bắc, đất đai bị sói mòn nhiều nên nước sông rất đục, hàm lượng phù sa lớn. Do đặc điểm lòng sông rộng, ít dốc, đáy nông nên sông Thái Bình là một trong những sông bị bồi lấp nhiều nhất. Theo tài liệu thực đo thì mức nước lũ lụt lịch sử sông Thái Bình đo được tại Phả Lại năm 1971 đạt tới 7,21 m với lưu lượng lớn nhất tại Cát Khê là 5000 m3/s. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có các hệ thống sông ngòi nội địa như sông Ngũ huyện Khê, sông Dâu, sông Đông Côi, sông Bùi, ngòi Tào Khê, sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình.
Với hệ thống sông này nếu biết khai thác trị thuỷ và điều tiết nước sẽ đóng vai trò quan trọng trong hệ thống tiêu thoát nước của tỉnh. Trong khi đó tổng lưu lượng nước mặt của Bắc Ninh ước khoảng 177,5 tỷ m3, trong đó lượng nước chủ yếu chứa trong các sông là 176 tỷ m3; được đánh giá là khá dồi dào. Cùng với kết quả thăm dò địa chất cho thấy trữ lượng nước ngầm cũng khá lớn, trung bình 400.000 m3/ngày, tầng chứa nước cách mặt đất trung bình 3–5 m và có bề dày khoảng 40 m, chất lượng nước tốt. Toàn bộ nguồn nước này có thể khai thác để phục vụ chung cho cả sản xuất và sinh hoạt trong toàn tỉnh, trong đó có các hoạt động của đô thị.
=== Khí hậu ===
Bắc Ninh nằm trong vùng khí hậu cận nhiệt đới ẩm, chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông). Có sự chênh lệch rõ ràng về nhiệt độ giữa mùa hè nóng ẩm và mùa đông khô lạnh. Sự chênh lệch đạt 15-16 °C. Mùa mưa kéo dài từ tháng năm đến tháng mười hàng năm. Lượng mưa trong mùa này chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa trung bình hàng năm: 1.400-1.600 mm. Nhiệt độ trung bình: 23,3 °C. Số giờ nắng trong năm: 1.530-1.776 giờ. Độ ẩm tương đối trung bình: 79%.
=== Tài nguyên, khoáng sản ===
Tài nguyên rừng không lớn, chủ yếu là rừng trồng. Tổng diện tích đất rừng là 661,26 ha phân bố tập trung ở Quế Võ (317,9 ha) và Tiên Du (254,95 ha). Tổng trữ lượng gỗ ước tính 3.279 m³, trong đó rừng phòng hộ 363 m³, rừng đặc dụng 2916 m³.
Bắc Ninh nghèo về tài nguyên khoáng sản, chủ yếu chỉ có vật liệu xây dựng như: đất sét làm gạch, ngói, gốm, với trữ lượng khoảng 4 triệu tấn ở Quế Võ và Tiên Du, đất sét làm gạch chịu lửa ở thị xã Bắc Ninh, đá cát kết với trữ lượng khoảng 1 triệu tấn ở Thị Cầu - Bắc Ninh, đá sa thạch ở Vũ Ninh - Bắc Ninh có trữ lượng khoảng 300.000 m³. Ngoài ra còn có than bùn ở Yên Phong với trữ lượng 60.000 - 200.000 tấn.
== Dân số ==
Năm 2009, dân số Bắc Ninh là 1.024.472 người, chỉ chiếm 1,21% dân số cả nước và đứng thứ 39/63 tỉnh, thành phố, trong đó nam 502.925 người và nữ 521.547 người; khu vực thành thị 240.987 người, chiếm 23,5% dân số toàn tỉnh và khu vực nông thôn 783.485 người, chiếm 76,5%. Mật độ dân số Bắc Ninh năm 2010 đã lên tới 1,262 người/km², gần gấp 5 lần mật độ dân số bình quân của cả nước và là địa phương có mật độ dân số cao thứ 3 trong số 63 tỉnh, thành phố, chỉ thấp hơn mật độ dân số của Hà Nội và của thành phố Hồ Chí Minh.
Năm 2011, dân số Bắc Ninh là 1.060.300 người, mật độ dân số 1289 người/km², vẫn là tỉnh có mật độ dân số cao thứ 3 cả nước.
Bắc Ninh có một dân số trẻ với nhóm tuổi lao động từ 15 đến 60 là 665.236 người, chiếm 64,93% tổng dân số. Nhóm tuổi dưới 15 có 258.780 người, chiếm 25,26% tổng dân số còn nhóm người trên 60 tuổi có 100.456 người, tức chiếm 9,8%.
=== Thành phần dân tộc ===
Trên địa bàn tỉnh hiện có 27 dân tộc trên tổng số 54 dân tộc tại Việt Nam sinh sống, trong đó Kinh chiếm tuyệt đại đa số. Dưới đây là 3 dân tộc đông dân nhất là:
=== Tôn giáo ===
Cũng giống như phần lớn các tỉnh khác tại Miền Bắc Việt Nam, Bắc Ninh có đại đa số cư dân "không tôn giáo". Theo thống kê năm 2009, số người theo có tôn giáo tại tỉnh Bắc Ninh là 16.362 người, tức chiếm 1,6% tổng dân số của tỉnh. Hiện nay, Bắc Ninh có 7 tôn giáo hoạt động là Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo, Minh Lý đạo,Phật giáo Hòa Hảo và Cao Đài. Bắc Ninh có 40 xứ đạo Công giáo hoạt động và tất cả các hoạt động Công giáo ở Bắc Ninh đều do Toà Giám mục Giáo phận Bắc Ninh chỉ đạo.
== Kinh tế ==
Năm 1997, khi tái lập tỉnh, Bắc Ninh có cơ cấu nông nghiệp chiếm 45,1%, dịch vụ 31,1%, công nghiệp-xây dựng 23,8%, thu ngân sách 164 tỷ đồng, GDP đầu người 144 USD/năm; có bốn doanh nghiệp FDI với tổng vốn đăng ký 117 triệu USD, kết cấu hạ tầng yếu kém, công nghiệp chỉ có các cơ sở sản xuất nhỏ, giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn đạt 569 tỷ đồng. Sau năm 1997 kinh tế Bắc Ninh đã phát triển. Giai đoạn 2006-2010 GDP tăng trưởng trung bình 15,3% trong đó có năm 2010 tăng trưởng tới 17.86% (cao nhất từ trước tới nay của tỉnh). Năm 2011, kinh tế Bắc Ninh đạt 16,2% - là tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước. Năm 2012, GDP Bắc Ninh tăng trưởng đạt 12,3%.
Năm 2012, tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) đạt trên 13.607 tỷ đồng (đứng thứ 9 toàn quốc và thứ 2 khu vực đồng bằng sông Hồng); cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa: Khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 77,82%; dịch vụ 16,57%; Nông, lâm nghiệp và thủy sản còn 5,61%. Năm 2012, GDP bình quân đầu người đạt 67,4 triệu đồng/năm (tương đương 3.211 USD) và nằm trong top thu nhập bình quân cao nhất cả nước.
Thu ngân sách nhà nước Bắc Ninh nộp ngân sách lớn thứ 12 cả nước. Năm 2011, ngân sách là 6800 tỷ, đưa Bắc Ninh lần đầu tiên có khả năng tự cân đối ngân sách và đóng góp vào ngân sách nhà nước. Năm 2012 Bắc Ninh đã đạt tới 9.068,5 tỷ đồng.
Tỉnh Bắc Ninh hiện tại có hơn 600.000 người trong độ tuổi lao đông nhưng thiếu lao động có trình độ chuyên môn. Nhiều sinh viên tốt nghiệp vẫn phải đào tạo lại, cơ cấu và chất lượng nguồn lao động chưa dịch chuyển theo yêu cầu cơ cấu ngành kinh tế. Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vẫn chậm, đặc biệt cơ cấu nội ngành công nghiệp, dịch vụ và các sản phẩm chủ lực mũi nhọn.
Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2013 ước tăng 11,8% so với năm trước đó (giá so sánh năm 2010); GRDP bình quân đầu người đạt 68,2 triệu đồng/người/năm (tương đương 3.243 USD). Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa: khu vực công nghiệp và xây dựng 74,5%; dịch vụ 19,5%; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6%.
Giá trị sản xuất công nghiệp cả năm tính theo giá so sánh 2010 ước 598.770 tỷ đồng, tăng 60,7% so với năm 2012. Khu vực dịch vụ vẫn duy trì tăng trưởng, đặc biệt hoạt động ngoại thương có bước "nhảy vọt" với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 23 tỷ USD, tăng 68%. Chất lượng tăng trưởng còn thể hiện khi tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn cả năm ước đạt hơn36.300 tỷ đồng, tăng 11,5%; thu ngân sách Nhà nước ước đạt hơn 11.530 tỷ đồng, tăng 22,1%.Tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) năm 2013 ước tăng 11,8% so với năm trước đó (giá so sánh năm 2010); GRDP bình quân đầu người đạt 68,2 triệu đồng/người/năm (tương đương 3.243 USD). Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa-hiện đại hóa: khu vực công nghiệp và xây dựng 74,5%; dịch vụ 19,5%; nông, lâm nghiệp và thuỷ sản 6%.
Giá trị sản xuất công nghiệp cả năm tính theo giá so sánh 2010 ước 598.770 tỷ đồng, tăng 60,7% so với năm 2012. Khu vực dịch vụ vẫn duy trì tăng trưởng, đặc biệt hoạt động ngoại thương có bước "nhảy vọt" với kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 23 tỷ USD, tăng 68%. Chất lượng tăng trưởng còn thể hiện khi tổng vốn đầu tư phát triển trên địa bàn cả năm ước đạt hơn 36.300 tỷ đồng, tăng 11,5%; thu ngân sách Nhà nước ước đạt hơn 11.530 tỷ đồng, tăng 22,1%.
Năm 2015, tổng thu NSNN trên địa bàn đạt 15.050 tỷ đồng, bằng 107,5% dự toán, bằng 118,7% so với năm 2014. Trong đó, thu nội địa ước đạt 10.035 tỷ đồng; thu từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 4.540 tỷ đồng. Tổng chi ngân sách địa phương ước thực hiện là 13.394 tỷ đồng, bằng 146% so với dự toán; trong đó chi đầu tư phát triển ước thực hiện trên 3.784 tỷ đồng. Việc đầu tư từ vốn ngân sách tỉnh đã góp phần lớn trong việc xây mới, nâng cấp, cải tạo hệ thống giao thông, hỗ trợ đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn và các dự án trọng điểm.
=== Công nghiệp - Công nghệ thông tin ===
Đây là động lực quan trọng nhất trong sự phát triển kinh tế của Bắc Ninh trong những năm vừa qua. Khi tách tỉnh, Bắc Ninh là một tỉnh thuần nông với nền công nghiệp không đáng kể đa phần là làng nghề. Tuy nhiên hết năm 2012, Bắc Ninh là tỉnh có quy mô công nghiệp lớn thứ 5 cả nước, thứ 2 miền Bắc và luôn duy trì tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước trong nhiều năm qua. Năm 2012, giá trị sản xuất công nghiệp đạt 84.884 tỷ đồng (CĐ1994).Động lực cho tăng trưởng công nghiệp của Bắc Ninh tập trung ở các doanh nghiệp công nghệ cao như SamSung, Canon, Nokia. Đến năm 2015 Bắc Ninh cơ bản trở thành tỉnh công nghiệp. Thành phố Bắc Ninh, Thị xã Từ Sơn và các huyện Bắc Sông Đuống sẽ trở thành các trung tâm công nghiệp của toàn tỉnh và các huyện còn lại ở bờ Nam Sông Đuống sẽ là khu vực phụ trợ cho bờ bắc với trung tâm là huyện Thuận Thành sẽ là cửa ngõ tới các tỉnh, thành phố công nghiệp khác như Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Hải Phòng qua các tuyến quốc lộ 38, 5A cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, 18B...
=== Đầu tư ===
Năm 2011, Bắc Ninh là tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh đứng thứ 2 ở Việt Nam. Bắc Ninh đã thu hút được hầu hết các dự án công nghệ cao của cả nước như Canon, Samsung, Microsoft, ABB, Foxconn
Đầu tư trong nước: Quý I/2013, toàn tỉnh đã cấp GCNĐT mới cho 12 dự án đầu tư trên địa bàn toàn tỉnh với tổng vốn đầu tư đăng ký 665 tỷ đồng. Luỹ kế đến nay, toàn tỉnh có 673 dự án đầu tư trong nước được cấp GCNĐT với tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh là 75.079 tỷ đồng.
Đầu tư nước ngoài: Quý I/2013, toàn tỉnh đã cấp GCNĐT mới cho 25 dự án FDI với tổng vốn đăng ký đầu tư 80,52 triệu USD; cấp GCNĐT điều chỉnh tăng vốn cho 08 dự án với mức vốn tăng thêm 27,72 triệu USD; tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh là 108,24 triệu USD; thu hồi 01 dự án đầu tư với tổng vốn đầu tư 30 triệu USD. Luỹ kế đến nay, toàn tỉnh có 390 đơn vị FDI với tổng vốn đầu tư đăng ký sau điều chỉnh là 4,7 tỷ USD.
2015 Bắc Ninh dẫn đầu với tổng vốn đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 3,46 tỉ USD, chiếm 16% tổng vốn đầu tư đăng ký. TP.Hồ Chí Minh đứng thứ 2 với tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 3,32 tỉ USD, chiếm 14,6%. Bình Dương đứng thứ 3 với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm 2,95 tỉ USD, chiếm 13% tổng vốn đầu tư. Tiếp theo là Trà Vinh và Đồng Nai với tổng vốn đầu tư lần lượt là 2,52 tỉ USD và 1,94 tỉ USD.
=== Thương mại - Dịch vụ ===
Xuất khẩu giai đoạn 2001-2010 tăng trung bình là 47,91%/năm; giai đoạn 2005-2010 tăng 90,92%/năm. Năm 2011, giá trị xuất khẩu Bắc Ninh đạt 7,441 tỷ USD. Năm 2012, giá trị xuất khẩu của Bắc Ninh đạt 13,7 tỷ USD đã đưa Bắc Ninh trở thành địa phương xuất khẩu thứ 2 cả nước sau Thành phố Hồ Chí Minh, xuất khẩu Bắc Ninh chiếm tới 12% giá trị xuất khẩu của cả nước. Quý 1/2013, xuất khẩu đạt 5.123 tỷ USD với tốc độ tăng tới 87,2% so với cùng kỳ năm trước và các thị trường xuất khẩu rộng lớn, trong năm 2013 có thể kỳ vọng đây sẽ là mặt hàng đầu tiên vượt qua mốc 20 tỷ USD, đóng góp quan trọng vào quy mô và tốc độ tăng tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước. Bắc Ninh xuất siêu 180 triệu USD. Tính đến hết tháng 6 năm 2013, tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt gần 15 nghìn tỷ đồng, tăng 15,6 % so với cùng kỳ. Đây cũng là mức tăng cao hơn mức bình quân chung của 3 năm gần đây.
Sáu tháng đầu năm 2013, các chi nhánh ngân hàng và tổ chức tín dụng trên địa bàn Bắc Ninh đã huy động được 29.783 tỷ đồng, tăng 9,7% so với cuối năm 2012; dư nợ cho vay đạt 30.956 tỷ đồng, tăng 4,9% so với cuối năm 2012 trong đó tập trung cho vay các lĩnh vực ưu tiên như: nông nghiệp - nông thôn, xây dựng nông thôn mới, doanh nghiệp nhỏ và vừa, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ.
Năm 2012, Điện lực Bắc Ninh đạt 2,207 tỷ kWh, tăng 18% so với năm 2011. Trong đó thành phần phụ tải thương nghiệp dịch vụ tăng 32,61%, công nghiệp xây dựng tăng 19,89%, quản lý tiêu dùng tăng 11,04%; tổn thất điện năng giảm 0,57% so với năm 2011.
=== Du lịch ===
Bắc Ninh hiện có hàng trăm di tích lịch sử văn hóa với nhiều đình, chùa, lễ hội và những làn điệu dân ca Quan họ. Bề dày lịch sử, văn hóa đã tạo cho Bắc Ninh tiềm năng phát triển du lịch văn hóa.. Bắc Ninh có 3 khu du lịch là: Khu du lịch văn hoá Quan họ Cổ Mễ (thành phố Bắc Ninh); khu du lịch văn hoá Đền Đầm (thị xã Từ Sơn); khu du lịch văn hoá Phật Tích (huyện Tiên Du). Bên cạnh đó, theo dự kiến sẽ có 3 khu du lịch khác là: Khu du lịch lâm viên Thiên Thai (huyện Gia Bình); khu du lịch văn hoá lịch sử Như Nguyệt (huyện Yên Phong); khu du lịch tâm linh Hàm Long - Núi Dạm (thành phố Bắc Ninh) và lựa chọn 22 điểm di tích quy hoạch phát triển thành điểm du lịch làm động lực cho các tuyến du lịch khép kín, liên hoàn và hấp dẫn trên địa bàn. Trong đó có một số di tích lịch sử - văn hóa tiêu biểu để hình thành các điểm, các tuyến du lịch hấp dẫn như Văn Miếu Bắc Ninh, chùa Phật Tích, lăng Kinh Dương Vương, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, đền Đô, đền thờ Lê Văn Thịnh,Chùa Cổ Lũng,Chùa Lim. Ngoài ra, còn có du lịch cộng đồng tại làng gốm Phù Lãng (huyện Quế Võ), làng tương Đình Tổ, khu vực chùa Bút Tháp (huyện Thuận Thành), làng Quan họ Viêm Xá (Thành phố Bắc Ninh) Làng gỗ mĩ nghệ Đồng Kỵ .
== Giao thông ==
Bắc Ninh là tỉnh có hệ thống giao thông đa dạng, gồm cả đường bộ, đường sắt và đường sông. Trong đó, hệ thống đường bộ được đánh giá là tương đối đồng bộ so với các tỉnh khác trong cả nước.
Về đường bộ, tỉnh có 4 quốc lộ chạy qua là:
Tuyến Quốc lộ 1A chạy từ Hà Nội lên Lạng Sơn)
Tuyến Quốc lộ 18 (Thành phố Bắc Ninh - Hạ Long - Cảng Cái Lân - Móng Cái)
Tuyến Quốc lộ 38 từ thành phố Bắc Ninh đi Hà Nam.
Đường cao tốc Hà Nội – Thái Nguyên.
Đường cao tốc Hà Nội – Lạng Sơn.
Đường cao tốc Nội Bài - Hạ Long - Móng Cái.
Tuyến Quốc lộ 17 được nâng cấp theo Quyết định số 2546/QĐ-BGTVT từ tỉnh lộ 282 đoạn (Quế Võ - Gia Bình - Thuận Thành thuộc tỉnh Bắc Ninh) nối Quốc lộ 18 (tại Quế Võ) với Quốc lộ 5 (Hà Nội - Hải Phòng) tại Thị trấn Trâu Quỳ - Gia Lâm - Hà Nội (cách cầu vượt Thanh Trì khoảng 2 km). Ngoài ra, Quốc lộ 5 nằm liền kề với Bắc Ninh.
Cùng với quy hoạch vành đai 3, 4 của Hà Nội đều đi qua hầu hết các huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Bắc Ninh tạo ra một mạng lưới giao thông đồng bộ, liên hoàn giữa Hà Nội với Bắc Ninh, và giữa Bắc Ninh với các tỉnh lân cận. Trong tỉnh có các tỉnh lộ như 179,276, 280, 281, 283, 285, 287, 291, 295 kết nối các địa phương trong tỉnh với nhau. Đã có một số cây cầu bắc qua sông để nối Bắc Ninh với các địa phương khác hoặc các huyện với nhau như: Cầu Mai Đình - Đông Xuyên, Cầu Đáp Cầu, Cầu Như Nguyệt, Cầu Phả Lại, Cầu Bình Than, Cầu Hồ.
Tỉnh Bắc Ninh hiện có nhiều tuyến xe buýt đi tới các tỉnh thành lân cận và tất cả các huyện trong tỉnh:
01 Bắc Ninh - Lương Tài
02 Bắc Ninh - Sao Đỏ
03 Bắc Ninh - Yên Phong
3B Bắc Ninh - Vòng thành phố - Yên Phong
04 Long Biên - Thị trấn Hồ
05 Từ Sơn - Thị trấn Chờ - Thị trấn Thắng (Hiệp Hòa)
08 Bắc Ninh - Cầu Hồ - Kênh Vàng
09 Thị trấn Lim - Phật Tích - Đền Đô
10 Long Biên - Từ Sơn
16 Phù Khê - KCN VSIP
18 Đền Đô - Phật Tích - Bút Tháp - Đông Côi
54 Long Biên - Bắc Ninh
68 Đền Đô - TP.Bắc Ninh - Chợ Chì (Quế Võ)
79A BX Bắc Ninh - Nam Sơn - BX Bắc Ninh
79B BX Bắc Ninh - Đáp Cầu - Nam Sơn - BX Bắc Ninh
86 Bắc Ninh - Minh Tân
203 Giáp Bát - Bắc Ninh - Bắc Giang
217 Bắc Ninh - TP. Hải Dương
Về đường sắt, Bắc Ninh có tuyến đường sắt Hà Nội - Đồng Đăng chạy qua và tuyến đường sắt Hà Nội - Bắc Ninh - Hạ Long (Quảng Ninh) đang được xây dựng.
Về đường thủy, Bắc Ninh có hệ thống sông Cầu, sông Thái Bình và sông Đuống nối ra sông Hồng; các sông nhỏ như sông Ngũ Huyện Khê, sông Dâu, sông Đông Côi, sông Bùi, ngòi Tào Khê (đang được nâng cấp để thoát nước cho thành phố), sông Đồng Khởi, sông Đại Quảng Bình.
Cảng nội địa, Bắc Ninh có 5 cảng: Cảng Đáp Cầu,Cảng Á Lữ, Cảng Đức Long, Cảng Bến Hồ, Cảng Kênh Vàng.
Về đường hàng không, Bắc Ninh nằm liền kề với Sân bay Quốc tế Nội Bài. Từ trung tâm Tp.Bắc Ninh đến Sân bay Quốc tế Nội Bài khoảng 30 km được nối bằng QL 18. Hệ thống đường nội bộ các Khu ĐTM, KCN trên đia bàn toàn tỉnh được đồng bộ hiện đại thích ứng được với quá trình đô thị hóa nhanh của các địa phương trong tỉnh, các tuyến này cũng được liên kết với nhau nhằm tạo lập hệ thống giao thông liên hoàn để việc vận chuyển hàng hóa thuận lợi hơn giảm áp lực giao thông cho các quốc lộ, tỉnh lộ trên địa bàn.
== Y tế ==
Theo Tổng cục Thống kê Việt Nam thì năm 2010, Bắc Ninh có 217 cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sở Y tế, trong đó có 19 bệnh viện, 10 phòng khám khu vực và 186 trạm y tế.. Cùng với hệ thống y tế của nhà nước, cũng có một hệ thống bệnh viện, phòng khám tư nhân đang dần phát triển. Bắc Ninh hiện có các bệnh viện sau:
Bệnh viện Phụ sản và Nhi Bắc Ninh
Hệ thống bệnh viện đa khoa cá huyện, thị xã, thành phố của tỉnh như thành phố Bắc Ninh, Thị xã Từ Sơn, Thuận Thành, Quế Võ, Yên Phong, Tiên Du, Gia Bình, Lương Tài.
== Giáo dục ==
Bắc Ninh là tỉnh có nhiều Trạng nguyên nhất Việt Nam: 16 trong tổng số 55 người: Riêng thôn Tam Son 2 người
Lê Văn Thịnh (1075) - Người đứng đầu khoa thi đầu tiên trong lịch sử phong kiến Việt Nam
Nguyễn Quan Quang - Trạng nguyên đầu tiên (bắt đầu gọi là Trạng nguyên) (1234) - Tam Son
Lý Đạo Tái (1272) - Tổ thứ ba (Huyền Quang) của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử
Lưu Thúc Kiệm (1400)
Nguyễn Nghiêu Tư (1448) - Trạng Lợn, Lưỡng quốc Trạng nguyên
Vũ Kiệt (1472)
Nguyễn Quang Bật (1484)
Nghiêm Hoản (1496)
Nguyễn Giản Thanh (1508) - Trạng Me
Ngô Miễn Thiệu (1518) - Trạng nguyên - Tam Son
Hoàng Văn Tán (1523)
Nguyễn Lượng Thái (1553)
Phạm Quang Tiến (1565)
Vũ Giới (1577)
Nguyễn Xuân Chính (1637)
Nguyễn Đăng Đạo (1683) - Trạng Bịu, Lưỡng quốc Trạng nguyên
Riêng Bảng nhãn, thám hoa, tiến sĩ có rất nhiều. Đặc biệt Làng Kim Đôi có 25 vị trong đó, họ Nguyễn có 18 vị, họ Phạm có 7 vị (Theo Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa Việt Nam). Làng Tam Son là làng duy nhất của cả nước có đủ (Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa).
=== Học viện - Đại học - Viện Nghiên cứu - Cao đẳng - THCN ===
Tỉnh Bắc Ninh đã và đang quy hoạch 3 làng Đại học với Làng Đại học I có diện tích khoảng 200 ha tại Võ Cường (TP. Bắc Ninh) và xã Liên Bão (Tiên Du), Làng Đại học II quy hoạch theo hướng "Công viên các trường Đại học" với diện tích tổng thể khoảng 1.300 ha tại các phường Hạp Lĩnh (TP. Bắc Ninh), xã Lạc Vệ, Việt Đoàn, Minh Đạo, Tân Chi (Tiên Du). Hiện tỉnh Bắc Ninh đang xúc tiến quy hoạch và lập dự án đầu tư khu Làng Đại học III quy mô 1000 ha.
=== Trung học phổ thông ===
Năm 2008, toàn tỉnh có 18.293 học sinh tốt nghiệp Trung học phổ thông, thì có 19.380 lượt học sinh dự thi ĐH, với tổng điểm bình quân 3 môn thi ĐH là 12,85. Bắc Ninh xếp thứ 6 toàn quốc về tổng điểm bình quân 3 môn thi
== Văn hóa - xã hội ==
Bắc Ninh có một nền văn hoá nhân văn đặc sắc, một vùng quê văn hiến có nhiều di tích lịch sử văn hoá, lễ hội dân gian, làng nghề truyền thống. Những dấu ấn lịch sử sống động truyền thống văn hoá Việt Nam, đậm đà bản sắc Kinh Bắc, được kết tinh trong những di sản văn hoá, các lễ hội dân gian. Bắc Ninh là địa phương thứ 3 xây dựng văn miếu có tầm cỡ, quy mô, trang trọng. Văn miếu Bắc Ninh với 677 vị đại khoa, chiếm 1/3 tổng số vị đại khoa của cả nước đã được vinh danh. Văn miếu Bắc Ninh với những trang lịch sử văn hóa, giáo dục còn lưu giữ được cho đến ngày nay là những cứ liệu vô cùng giá trị của nền văn minh ở vùng Kinh Bắc, nơi có Luy Lâu cổ, nơi Sĩ Nhiếp lần đầu dạy người Việt học chữ. Chùa Dâu, Chùa Phật Tích, Chuà Bút Tháp là những nơi phát tích của Phật giáo Việt Nam, Chùa Dận. Bắc Ninh với các làn điệu quan họ, các làng nghề như làng tranh Đông Hồ, làng gốm Phù Lãng, gỗ mỹ nghệ Đồng Kỵ, rèn sắt Đa Hội, đúc đồng Đại Bái, dệt Hồi Quan. Các di tích lịch sử đáng kể có đền Đô - thờ tám vị vua triều Lý, đền Phụ Quốc, đình làng Đình Bảng, chùa Cổ Lũng v.v. Bắc Ninh có nhiều đặc sản Bắc Ninh như bánh phu thê Đình Bảng, bánh tẻ làng Chờ, bánh khúc làng Diềm, bánh đúc Đình Tổ, nem Bùi (bùi xá), rượu nếp làng Cẩm,, cháo cá Bắc Ninh, tương Đình Tổ, bánh tro, bánh gai tươi, bánh gio Phủ Từ. Con người Bắc Ninh mang trong mình truyền thống văn hoá, hiếu khách, cần cù và sáng tạo, với những bàn tay khéo léo mang đậm nét dân gian của vùng trăm nghề như tơ tằm, gốm sứ, đúc đồng, trạm bạc, khắc gỗ, làm giấy, tranh vẽ dân gian. Tính đến ngày 05/12/2015 Bắc Ninh đã vinh dự nhận 3 danh hiệu UNESCO Việt Nam đó là dân ca Quan họ, Ca trù và trò chơi kéo co truyền thống (kéo co được công nhận ngày 03/12/2015 - là hồ sơ đa quốc gia cùng với Hàn Quốc, Campuchia, Philippine).
== Lễ hội ==
Hàng năm, trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh diễn ra hơn 300 lễ hội lớn nhỏ khác nhau. Một số lễ hội tiêu biểu được liệt kê dưới đây (Theo âm lịch):
Lễ hội Làng Đại Lâm (xã Tam Đa, huyện Yên Phong) được tổ chức vào 24-25-26 thắng giêng, hội có môn bơi bơi chải kỉ niệm chiến thắng Sông Như Nguyệt -
Lễ hội Lim (thị trấn Lim, huyện Tiên Du) được tổ chức vào 13 - 15 tháng giêng.
Lễ hội làng Tam Tảo, xã Phú Lâm, huyện Tiên Du; được tổ chức vào mồng 10 tháng 02 hàng năm.
Lễ hội làng Kim Chân (làng Tiến sĩ). Được tổ chức vào ngày 26 đến 28 tháng 2.
Lễ hội Đền Đô (Đình Bảng, thị xã Từ Sơn) để kỷ niệm ngày đăng quang của vua Lý Thái Tổ - 15 tháng 3 năm Canh Tuất 1010, và tưởng niệm các vị vua nhà Lý.
Lễ hội Phù Đổng (của bốn xã trong đó có xã Phù Đổng huyện Tiên Du) ngày 9- tháng 4 để kỷ niệm vị anh hùng dân tộc Phù Đổng Thiên Vương.
Lễ hội Thập Đình (của mười làng thuộc hai huyện Quế Võ và Gia Bình) để kỷ niệm trạng nguyên đầu tiên của Việt Nam tức Thái sư Lê Văn Thịnh và Doãn Công (Cao Doãn Công).
Lễ hội Cao Lỗ Vương ngày 10 - tháng 3 ở làng Tiểu Than(làng Dựng) xã Vạn Ninh và làng Đại Than (làng Lớ) ở xã Cao Đức, huyện Gia
Bình.
Lễ hội Đồng Kỵ ngày 4 - tháng Giêng.
Lễ hội Chùa Dâu ngày 8 - tháng 4.
Lễ hội truyền thống làng Vĩnh Kiều
Có câu:
Mùng bảy hội Khám, mùng tám hội Dâu
Mùng chín đâu đâu cũng về hội Gióng
Lễ hội làng Diềm - Từ ngày mồng 5 đến ngày mồng 7 tháng 2 âm lich hằng năm - Tại làng Viêm Xá (còn gọi là làng Diềm), thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh.
=== Di tích, di sản văn hóa ===
Bắc Ninh có 1.259 di tích lịch sử văn hoá, trong đó có 495 di tích được nhà nước công nhận xếp hạng (trong đó có 190 di tích xếp hạng cấp Quốc gia,4 di tích Quốc gia đặc biệt, 301 di tích xếp hạng cấp tỉnh). Quan họ Bắc Ninh đã được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc xếp vào Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại.
=== Làng nghề truyền thống ===
Bắc Ninh với nhiều làng nghề truyền thống có tuổi đời hàng trăm năm, đã làm ra những sản phẩm thủ công tinh xảo, độc đáo. Hiện nay, Bắc Ninh có 62 làng nghề, chủ yếu trong các lĩnh vực như đồ gỗ mỹ nghệ xuất khẩu, sản xuất giấy, gốm, sắt, thép tái chế, đúc đồng. Các làng nghề đã góp phần rất lớn trong việc giải quyết công ăn việc làm cho nhân dân trong tỉnh (trên 72.000 lao động thường xuyên và trên 10.000 lao động thời vụ).
=== Môi trường ===
Ô nhiễm môi trường làng nghề ở Bắc Ninh đang ở mức độ nghiêm trọng đặc biệt ở 4 làng nghề trọng điểm là giấy Phong Khê, sắt thép Đa Hội, nhôm Văn Môn, đồng Đại Bái.Ngoài ra, một số công ty trong các khu công nghiệp cũng gây ô nhiễm như công ty Kingmo New Materials (Khu công nghiệp Tiên Sơn). Ô nhiễm đang ảnh hưởng lớn tới tới đời sống, sức khỏe của người dân và công nhân. Tuy nhiên điều này vẫn chưa được các cấp chính quyền quan tâm đúng mức.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý sử dụng đất tại các làng nghề tỉnh Bắc Ninh theo quan điểm phát triển bền vững
Tỉnh Bắc Ninh tại Từ điển bách khoa Việt Nam |
fukushima.txt | Fukushima (Nhật: 福島県 (Phúc Đảo Huyện), Fukushima-ken) là một tỉnh của Nhật Bản, nằm ở vùng Tōhoku trên đảo Honshū, Nhật Bản. Cách thủ đô Tokyo khoảng 300km về hướng Bắc. Thủ phủ là thành phố Fukushima. Và được thành lập vào ngày 21 tháng 8 năm 1876.
== Địa lý ==
Fukushima là tỉnh cực nam của vùng Tohoku. Nó bị một ngọn núi trải dài qua 3 vùng (từ Tây tới Đông) là Aizu, Nakadōri, và Hamadōri chia cắt. Vùng duyên hải Hamadōri nằm về hướng vùng biển Thái Bình Dương đồng thời là vùng bằng phẳng và có khí hậu ôn hòa nhất trong khi đó Nakadōri là trung tâm nông nghiệp của tỉnh, bao gồm cả thủ phủ, thành phố Fukushima. Vùng có rất nhiều núi Aizu có những con hồ tĩnh mịch, những cánh rừng xanh tốt và mùa đông nhiều tuyết.
== Lịch sử ==
Trong thế kỉ thứ 4, Fukushima được sáp nhập vào xứ Yamato, quốc gia thống nhất đầu tiên ở Nhật. Hàng rào Shirakawa và Nakoso được xây dựng thế kỉ thứ 5 nhằm bảo vệ "Nhật Bản văn minh" khỏi những "người man dợ" từ phía Bắc. Fukushima trở thành một tỉnh của Mutsu sau khi cuộc cải cách Taika được tiến hành năm 646. Tỉnh Fukushima bị hoàng tử Subaru chiếm đóng năm 1293. Vùng này của Nhật Bản cũng được biết đến là Michinoku và Ōshū.
== Hành chính ==
=== Các thành phố ===
=== Các thị trấn và làng mạc ===
ǂ Con số được đưa vào sau những vụ sáp nhập.
== Kinh tế ==
Vùng duyên hải có truyền thống chuyên về đánh bắt cá và công nghiệp đồ biển. Nó cũng nổi tiếng với công nghiệp điện tử và đặc biệt là công nghiệp chế tạo năng lượng hạt nhân. Trong khi những vùng cao thì tập trung cho nông nghiệp. Thủ phủ của vùng có một nền công nghiệp phần mềm và điện tử phát triển mạnh.
== Văn Hóa ==
Huyền thoại của vùng là một nữ yêu ma, Adachigahara, một lần đi rong chơi vùng đồng bằng nơi mà nó được đặt tên. Vùng đồng bằng Adachigahara nằm gần thành phố (thủ phủ) Fukushima.
== Giáo dục ==
== Du lịch ==
Aizuwakamatsu là nơi đã diễn ra trận chiến quan trọng trong chiến tranh Boshin. Trong đó, 19 thành viên trẻ tuổi của Byakkotai đã tự tử theo nghi lễ truyền thống seppuku. Những phần mộ tại núi Limori là địa điểm du lịch hút khách.
Núi Bandai, nằm ở công viên quốc gia Bandai, phun núi lửa năm 1888 đã tạo nên một miệng núi lửa lớn và rất nhiều hồ. Trong đó có "những hồ năm màu" (Goshiki-numa) rất đẹp. Vùng này nổi tiếng với những người thích tản bộ và trượt tuyết.
Kitakata thì được biết đến với loại mì địa phương Kitakata ramen và những căn nhà theo kiểu truyền thống được bảo quản tốt, trong khi đó thị trấn nhỏ Ouchijuku nằm trong thị trấn Shimogo còn giữ gìn được những công trình mái lá từ thời Edo.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của tỉnh Fukushima(tiếng Nhật)
Bản đồ Fukushima(1891) |
william ii của anh.txt | William II của Anh (1056 - 2 tháng 8 năm 1100), người con thứ ba của "William Nhà chinh phạt", là vua nước Anh từ 1087 tới 1100. Ông là vị vua nắm quyền lực vùng Normandie và có nhiều ảnh hưởng ở Scotland. Dù vậy, William II không mấy thành công trong việc bành trướng quyền kiểm soát ở xứ Wales. William II thường được gọi là "Rufus", tên gọi này xuất phát từ khuôn mặt luôn đỏ rực của ông.
Mặc dù là một chiến binh xuất chúng nhưng William II lại là một người cai trị tàn nhẫn và không mấy khi được lòng dân; theo như cuốn Anglo-Saxon Chronicle (Biên niên sử Anglo-Saxon), ông "bị ghét bởi hầu hết mọi người". Các nhà ghi chép biên niên sử thời đó cũng chỉ có những cái nhìn rất mơ hồ về Rufus, chỉ yếu là vì thời đó rất nhiều tri thức đều là người của nhà thờ, nơi mà luôn đấu tranh chống lại Rufus bền bỉ và lâu dài, thêm vào đó là trong truyền thống Normandie, William Rufus coi rẻ người Anh và văn hoá của họ.
Bản thân William thì có vẻ là một nhân vật khoa trương và triều đại của ông được biết đến với sự hiếu chiến. Ông không bao giờ kết hôn và cũng không có người con ngoại hôn nào; một trong những nhân vật lấy được lòng của William là Ranulf Flambard, người được phong là Giám mục xứ Durham (Bishop of Durham) năm 1099. Vào thời của mình và cả sau khi qua đời, William vẫn bị lên án khắp nơi vì vô số mối quan hệ đồng tính luyến ái của ông.
== Chú thích == |
đội tuyển bóng đá quốc gia thái lan.txt | Đội tuyển bóng đá quốc gia Thái Lan là đội tuyển cấp quốc gia của Thái Lan do Hiệp hội bóng đá Thái Lan (FAT) quản lý. Được coi là đội bóng mạnh nhất ở khu vực Đông Nam Á tại thời điểm hiện tại, đội đã 5 lần giành ngôi cao nhất tại giải vô địch khu vực. Ở cấp độ châu Á, họ cũng được đánh giá khá cao trước khi Australia soán luôn vị trí của họ. Nhưng ở cấp độ cao hơn, Thái Lan vẫn chưa hề lọt vào vòng chung kết của 1 kỳ World Cup nào; đội đã 7 lần tham dự vòng chung kết cúp bóng đá châu Á, trong đó thành tích cao nhất của đội ở một giải đấu cấp châu lục là hạng 3 Cúp châu Á vào năm 1972 khi Thái Lan là nước chủ nhà đăng cai vòng chung kết.
== Lịch sử ==
Đội tuyển bóng đá quốc gia Thái Lan được thành lập vào năm 1915. Tên nguyên gốc của đội là Đội tuyển bóng đá quốc gia Xiêm. Tuyển thi đấu trận đầu tiên vào ngày 20 tháng 12, năm 1915 gặp đội những người Âu sống tại Thái Lan, trận đấu được tổ chức tại sân vận động của Câu lạc bộ thể thao Hoàng gia Bangkok. Một năm sau, vào ngày 25 tháng 4 năm 1916, Hiệp hội bóng đá Xiêm được vua Vajiravudh Rama VI cho thành lập.
Năm 1930, đội tuyển Xiêm được mời sang Đông Dương tham gia thi đấu giao hữu gặp đội tuyển Đông Dương được tập hợp bởi các cầu thủ Nam kỳ và một số cầu thủ người Pháp. Các trận đấu trong khuôn khổ giải giao hữu diễn ra từ ngày 14 cho đến ngày 20 tháng 4. Đây được coi là trận đấu quốc tế không chính thức đầu tiên của đội.
Vào năm 1949, nhà nước Xiêm đổi tên thành Thái Lan, Hiệp hội bóng đá Xiêm cũng đổi thành Hiệp hội bóng đá Thái Lan, đội tuyển bóng đá quốc gia Xiêm trở thành đội tuyển bóng đá quốc gia Thái Lan như ta biết ngày nay.
Năm 1956, tuyển Thái Lan tham dự giải đấu cấp độ thế giới đầu tiên khi đăng ký tham gia thi đấu tại Thế vận hội Mùa hè Melbourne 1956, trong trận đầu tiên đội thua tuyển Liên hiệp Anh 0–9, thất bại nặng nề nhất trong lịch sử của đội, và đồng thời mất quyền vào chơi trận tứ kết.
Năm 1965, Thái Lan giành được danh hiệu quốc tế đầu tiên khi đoạt huy chương vàng bộ môn bóng đá tại Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á năm 1965 (ngày nay là SEA Games) được tổ chức tại Kuala Lumpur, Malaysia.
Ở đấu trường châu lục, thành tích cao nhất của đội là ngôi vị hạng 3 đạt được tại Cúp bóng đá châu Á 1972 khi Thái Lan đăng cai vòng chung kết. Tuyển cũng 1 lần nữa là đội chủ nhà của một kỳ AFC Asian Cup vào năm 2007 khi cùng đăng cai giải đấu với 3 quốc gia Đông Nam Á khác là Indonesia, Malaysia và Việt Nam.
== Danh hiệu ==
Cúp bóng đá châu Á
Hạng ba: 1972
Vô địch Đông Nam Á: 5
Vô địch: 1996; 2000; 2002; 2014; 2016
Á quân: 2007; 2008; 2012
Hạng tư: 1998
Bóng đá nam tại Asiad:
Hạng tư: 1990; 1998; 2002; 2014
Bóng đá nam tại SEA Games:
1965; 1975; 1981; 1983; 1985; 1995; 1997; 1999; 2001; 2003; 2005; 2007; 2013; 2015
1959; 1969; 1977; 1991
1967; 1971; 1987
Hạng tư: 1989
== Thành tích quốc tế ==
=== Cấp thế giới ===
=== Cấp châu lục ===
==== Á Vận Hội (ASIAD) ====
(Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1998)
=== Cấp khu vực ===
==== Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á ====
==== SEA Games ====
(Nội dung thi đấu dành cho cấp đội tuyển quốc gia cho đến kỳ Đại hội năm 1999)
== Kết quả thi đấu năm 2017 ==
Tất cả thời gian được liệt kê là UTC+07:00
Thắng Hòa Thua
V.loại giải vô địch bóng đá thế giới 2018 (Vòng 3)
== Kỷ lục ==
Cầu thủ vẫn còn thi đấu cho đội tuyển quốc gia được in đậm. Tính đến ngày 28 tháng 3 năm 2017.
== Đội hình hiện tại ==
Dưới đây là danh sách 29 cầu thủ tham dự vòng loại World Cup 2018 gặp Ả Rập Saudi và Nhật Bản vào các ngày 23 và 28 tháng 3 năm 2017.
Số liệu thống kê tính đến ngày 28 tháng 3 năm 2017 sau trận gặp Nhật Bản.
=== Triệu tập gần đây ===
Chú thích
INJ Cầu thủ rút lui vì chấn thương.
== Huấn luyện viên trưởng ==
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
thaifootball.com
thaisoccerteam.net (Fan site) |
leeds united f.c..txt | Leeds United là một câu lạc bộ bóng đá lâu đời ở Leeds, Tây Yorkshire, Anh. Trong quá khứ, Leeds United từng là một CLB rất mạnh và giàu thành tích. Đó là đội bóng vô định giải hạng nhất Anh (giải Ngoại hạng hiện nay) năm 1969 và về nhì trong 3 mùa giải sau đó. Tại Cúp FA, Leeds thua Chelsea trong trận đá lại của trận chung kết năm 1970. Mùa giải sau, Leeds giành danh hiệu cao quý này nhưng tiếp tục nhận "trái đắng" trong mùa giải tiếp sau đó khi để đội bóng hạng nhì Sunderland đánh bại trong trận đấu cuối cùng với tỷ số 1-0.
Ở đấu trường châu Âu, Leeds cũng được xem là một "đại gia" với 2 chức vô địch Fairs Cup (bây giờ là Europa League) trong năm 1968 và 1971 và để thua Celtic trong trận bán kết năm 1970.
HLV Don Revie đã phát triển đội bóng trở thành một thế lực thực sự với việc thu thập nhiều cầu thủ tài năng vào thời điểm đó như Billy Bremner, Jack Charlton hay Norman "Bites Yer Legs" Hunter. Hàng công có sự góp mặt của những chân sút "chết chóc" là Allan Clarke và Mick Jones cùng Peter Lorimer, người được nhớ đến như là cầu thủ có nhiều pha dứt điểm hóc hiểm nhất. Hàng công này hợp cùng hàng tiền vệ với sự góp mặt của Johnny Giles, Eddie Gray và đội trưởng Bremner trở thành một bộ khung tấn công khủng khiếp vào thời điểm đó. năm 2001 leeds đã từng vào đến bán kết Champions League và bị loại bởi Valencia.
== Danh hiệu ==
Giải vô địch quốc gia
Vô địch (3): 1968–69, 1971–72, 1991–92
Á quân (5): 1964–65, 1965–66, 1969–70, 1970–71, 1971–72
Cúp FA
Vô địch (1): 1971–72
Á quân (3): '1964–65, 1969–70, 1972–73
Cúp Liên đoàn
Vô địch (1): 1967–68
Á quân (1): 1995–96
Siêu cúp Anh
Vô địch (2): 1969, 1992
Á quân (1): 1974
== Cầu thủ ==
Số liệu thống kê chính xác tới 1 tháng 9 năm 2015.
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
== Chú thích == |
chiến tranh đông dương.txt | Chiến tranh Đông Dương là cuộc chiến diễn ra tại Đông Dương thuộc Pháp từ ngày 19 tháng 12 năm 1946 tới 1 tháng 8 năm 1954, giữa một bên là quân viễn chinh và lê dương Pháp cùng các lực lượng đồng minh bản xứ bao gồm lực lượng của Quốc gia Việt Nam, Vương quốc Lào, Vương quốc Campuchia, trong Liên bang Đông Dương, bên kia là lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Việt Minh) cùng các lực lượng kháng chiến khác của Lào và Campuchia.
Đây là giai đoạn đầu tiên trong "Cuộc kháng chiến 30 năm" của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với mục tiêu giành độc lập cho Việt Nam (giai đoạn 2 là cuộc chiến với Hoa Kỳ). Cuộc chiến diễn ra trên khắp Việt Nam và lan ra cả các nước láng giềng Lào và Campuchia, nhưng chiến sự chính diễn ra chủ yếu tại miền Bắc Việt Nam. Sau 9 năm sa lầy và với thất bại tại trận Điện Biên Phủ, Pháp buộc phải chấp nhận ký kết Hiệp định Genève trao trả độc lập cho Việt Nam.
Cuộc chiến tranh này ở Việt Nam còn được gọi là Chiến tranh chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ, Kháng chiến chín năm, 9 năm kháng chiến trường kỳ, Thời 9 năm, Hồi 9 năm. Các tài liệu nghiên cứu, sách báo ở nước ngoài phần lớn gọi là Chiến tranh Việt-Pháp hoặc Chiến tranh Đông Dương.
Pháp tham gia cuộc chiến này thời gian đầu với lý do vì ý muốn giữ Đông Dương là Liên bang Đông Dương tự trị trong Liên hiệp Pháp mới được thành lập - theo tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 của Chính phủ lâm thời De Gaulle và được quy định trong Hiến pháp Pháp năm 1946 - sau khi người Nhật đã bại trận và mất quyền kiểm soát Đông Dương. Động cơ thúc đẩy Pháp tham chiến mang tính chính trị và tâm lý hơn là kinh tế. Những người Pháp ủng hộ cuộc chiến cho rằng nếu Pháp để mất Đông Dương, sở hữu của Pháp tại hải ngoại sẽ nhanh chóng bị mất theo.
Đa số lãnh đạo Pháp cho rằng so với một cuộc xâm chiếm thuộc địa cổ điển với việc chiếm giữ các trung tâm dân số và mở rộng dần theo kiểu "vết dầu loang" mà người Pháp đã thực hiện rất thành công ở Maroc và Algérie, cuộc chiến này sẽ chỉ có quy mô hơn một chút. Tuy nhiên, mặc dù Pháp chiếm ưu thế quân sự trong thời gian đầu, lực lượng Việt Minh đã phát triển ngày càng mạnh và kiểm soát được nhiều vùng lãnh thổ ngày càng rộng.
Trong khi đó, mục tiêu của Việt Minh và các nhóm kháng chiến khác là giành độc lập cho dân tộc mình. Cuộc chiến giữa một cường quốc trên thế giới và một đất nước nghèo nàn lạc hậu đã diễn ra gần như lời Hồ Chí Minh đã nói:
"Nó sẽ là một cuộc chiến giữa voi và hổ. Nếu hổ đứng yên thì sẽ bị voi dẫm chết. Nhưng hổ không đứng yên. Ban ngày nó ẩn nấp trong rừng và ra ngoài vào ban đêm. Nó sẽ nhảy lên lưng voi, xé những mảnh da lớn, và rồi nó sẽ chạy trở lại vào rừng tối. Và dần dần, con voi sẽ chảy máu đến chết. Cuộc chiến tranh ở Đông Dương sẽ như vậy."
Sau Đại chiến thế giới lần thứ 2, trên lãnh thổ của Đế chế Pháp đã bùng nổ nhiều phong trào đòi độc lập, nhưng thất bại mở màn gây hiệu ứng dây chuyền và thiệt hại lớn nhất cho Pháp là cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ba nước Đông Dương.
== Hoàn cảnh ==
=== Thời Pháp thuộc ===
Năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ vào cảng Đà Nẵng và sau đó xâm chiếm Sài Gòn. Năm 1862, vua Tự Đức ký hiệp ước nhượng Sài Gòn và ba tỉnh lân cận cho Pháp. Năm 1869, Pháp chiếm nốt ba tỉnh kế tiếp để tạo thành một lãnh thổ thực dân Cochinchine (Nam kỳ). Đến năm 1885, Pháp xâm chiếm xong những phần còn lại của Việt Nam qua những cuộc chiến phức tạp ở miền Bắc. Theo chính sách "Chia để trị", Pháp chia Việt Nam thành 3 phần Bắc - Trung - Nam kỳ. Pháp tuyên bố là họ sẽ trực tiếp kiểm soát Nam Kỳ, trong khi "bảo hộ" Bắc kỳ và Trung kỳ (nơi triều đình bù nhìn nhà Nguyễn được Pháp cho tiếp tục "cai trị").
Trong suốt thời kỳ từ khi Pháp bắt đầu xâm chiếm Việt Nam, đã có nhiều cuộc khởi nghĩa và phong trào chống Pháp do vua, quan, hoặc nông dân tổ chức, nhưng tất cả đều bị thất bại.
Năm 1927, những người Việt cấp tiến đã thành lập Việt Nam Quốc dân Đảng (giống Trung Hoa Quốc dân Đảng). Đến năm 1930, sau khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái thất bại, Việt Nam Quốc dân Đảng bị suy yếu nghiêm trọng. Cùng năm, những người Việt theo chủ nghĩa Marx-Lenin thành lập Đảng Cộng sản Đông Dương, nhưng cũng mau chóng trở thành mục tiêu tiêu diệt của Pháp, khi bùng nổ cao trào cách mạng năm 1930-1931, và sau này mặc dù tổ chức của họ thân thiện với Mặt trận Bình dân trong chính quyền Pháp (khi phe tả nắm quyền tại Pháp đã ân xá các tù nhân chính trị).
=== Trong Chiến tranh thế giới thứ hai ===
==== Quan điểm của các nước Đồng Minh về tương lai Đông Dương ====
Chính phủ Pháp lưu vong do Charles de Gaulle đứng đầu không tỏ ra muốn trao trả độc lập hoàn toàn cho các thuộc địa của Pháp. Tháng 10 năm 1943, chính phủ Charles de Gaulle đệ trình Đại bản doanh Đồng Minh những yêu cầu của mình về việc trang bị cho quân đội viễn chinh Đông Dương của Pháp để sẵn sàng hành động vào mùa thu 1944. Pháp cũng yêu cầu có đại diện trong Hội đồng Chiến tranh Thái Bình Dương. Pháp mong muốn có một vị trí trong khối Đồng minh khi thế chiến thứ II kết thúc. Tuy nhiên Tổng thống Mỹ Roosevelt lại muốn Đông Dương không bị trao trả lại cho Pháp mà sẽ được cai quản bởi một chế độ quản trị quốc tế. Mỹ không có tuyên bố chính thức nào về chính sách của Mỹ đối với Đông Dương. Ngược lại một số viên chức ngoại giao Mỹ lại khẳng định với Pháp nước Mỹ sẽ ủng hộ Pháp phục hồi chủ quyền càng sớm càng tốt trên toàn bộ lãnh thổ chính quốc lẫn thuộc địa.
Yêu cầu trang bị cho quân đội viễn chinh Đông Dương của Pháp bị Đồng Minh phớt lờ vì chiến lược Viễn Đông của Anh - Mỹ vẫn tiến triển tốt mà không cần có Pháp tham gia. Hơn nữa ý đồ tái chiếm thuộc địa của Pháp quá rõ ràng và đi ngược lại chính sách của Roosevelt đối với các dân tộc thuộc địa. Tổng thống Mỹ Roosevelt báo cho Bộ Ngoại giao Mỹ biết Mỹ không được tán thành việc đặt bất cứ một phái đoàn quân sự nào của Pháp ở Bộ tư lệnh Đông Nam Á. Anh ủng hộ ý định của Pháp nhưng vì sự phản đối của Mỹ nên Đồng Minh không đưa ra được quyết định nào đối với mong muốn của Pháp tham gia các hoạt động quân sự của khối Đồng Minh tại Đông Nam Á.
Ngày 28 tháng 11 năm 1943, tại Hội nghị Tehran tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt đã nêu ý kiến đặt Đông Dương dưới sự quản thác quốc tế với Stalin, Churchill và Tưởng Giới Thạch. Roosevelt bày tỏ một cách minh bạch rằng ông chỉ mong muốn chấm dứt chủ nghĩa thực dân ở Đông Dương ngay cả khi cần trả giá bằng bất hòa với Anh và làm gián đoạn mối quan hệ với Pháp. Stalin và Tưởng Giới Thạch ủng hộ Roosevelt trong vấn đề Đông Dương, nhưng Winston Churchill thì lẩn tránh. Không có một tuyên bố chính thức nào về chính sách của Mỹ hay một sự thoả thuận nào của Đồng minh được chính phủ Mỹ hoặc Bộ Tổng tư lệnh Đồng minh công bố. Tại Hội nghị Yalta quan điểm của Mỹ về Đông Dương là phải đưa ra cho các dân tộc tại đây một hình thức Chính phủ liên bang tự trị phù hợp với hoàn cảnh và khả năng của họ thay thế cho việc thiết lập quyền ủy trị ở Đông Dương, chỉ thiết lập quyền ủy trị khi Pháp đồng ý
Sau khi Roosevelt qua đời (12/4/1945), Phó Tổng thống Truman lên thay. Có tài liệu khẳng định lập trường của Mỹ về tương lai Đông Dương thay đổi, nước Mỹ giữ thái độ im lặng, khi được hỏi về vấn đề Đông Dương, Truman cũng thận trọng trả lời là nước Mỹ chưa có quyết định gì cả. Trong điện tín do Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 29/5/1945 gửi đại sứ Mỹ tại Trung Quốc Patrick J. Hurley để trả lời báo cáo của ông này về việc Pháp đang sử dụng viện trợ quân sự của Mỹ để xâm chiếm Đông Dương và việc có dư luận cho rằng Mỹ hình như đang ủng hộ việc đặt các thuộc địa dưới sự kiểm soát của các nước đế quốc chứ không phải dưới sự ủy trị của Liên Hiệp Quốc, Bộ Ngoại giao Mỹ khẳng định Tổng thống Truman nói rằng không có thay đổi cơ bản nào trong chính sách của Mỹ đối với thuộc địa . Đến năm 1947, theo điện tín số 1737 ngày 13/5/1947 của ngoại trưởng Mỹ George Marshall gửi đại sứ quán Mỹ tại Paris thì lập trường của Mỹ là phải "cùng hội cùng thuyền" với Pháp cũng như Anh và Hà Lan ở Đông Nam Á vì lo sợ cùng với việc nền cai trị của các nước phương Tây tại Đông Nam Á được nới ra thì các nước này sẽ theo xu hướng Liên Á chống phương Tây hoặc người cộng sản sẽ giành lấy chính quyền, do đó cần duy trì sự liên kết chặt chẽ giữa các dân tộc mới được tự trị với các cường quốc (chỉ Anh, Pháp, Hà Lan) "từ lâu chịu trách nhiệm về sự thịnh vượng của họ". Đặc biệt người Việt Nam trong một thời gian nhất định "vẫn cần tới sự giúp đỡ kinh tế của Pháp cùng một sự chỉ dẫn về chính trị của một nước có nền dân chủ lâu đời và biết tôn trọng nhân quyền như Pháp". Năm 1947, Hoa Kỳ ký bản thoả thuận với nước Pháp về việc cấp cho Pháp 160 triệu USD để mua xe cộ và trang thiết bị cho quân Pháp ở Đông Dương. Theo Giáo sư sử học Vũ Dương Ninh điều đó hầu như biểu lộ sự tán thành của nước Mỹ đối với việc tái chiếm Đông Dương của Pháp.
Tưởng Giới Thạch phát biểu rằng người Việt không phải là người Trung Quốc, không dễ bị Trung Quốc đồng hóa và Trung Quốc không có quyền lợi về đất đai ở Đông Dương. Trung Quốc nhiều lần tuyên bố mặc dầu Trung Quốc mong muốn thấy Đông Dương được trả lại cho Pháp nhưng không muốn điều đó được thực hiện mà không có một số bảo đảm nhằm ngăn chặn Pháp dùng Đông Dương vào những hoạt động có hại cho lợi ích của Trung Quốc sau này. Tương lai Đông Dương sẽ không được định đoạt nếu không có sự thỏa thuận của Trung Quốc trên bàn Hội nghị Hòa bình.
==== Nhật Bản đảo chính Pháp và chiếm đóng Đông Dương ====
Năm 1940, Đế quốc Nhật Bản tấn công Đông Dương và nhanh chóng thỏa thuận được với chính quyền Vichy ở Pháp để Nhật toàn quyền cai trị Đông Dương. Thực dân Pháp chỉ tồn tại đến ngày 9 tháng 3 năm 1945 khi Nhật lật đổ Pháp trên toàn bộ Đông Dương vì nhận thấy quân đội Đông Dương thuộc Pháp đang hoạch định việc chuẩn bị tác chiến chống lại Nhật sau khi Đồng Minh đổ bộ vào Đông Dương, bắt đầu tuyển mộ dân bản xứ (các dân tộc thiểu số người Việt và Lào) vào quân đội Đông Dương thuộc Pháp. Ngày 9 tháng 3 năm 1945, tại Sài Gòn, đại sứ Nhật Matsumoto trao cho Đô đốc Decoux một tối hậu thư đòi các lực lượng vũ trang Pháp phải được đặt dưới quyền chỉ huy của Nhật. Sau 2 giờ, khi nhận được câu trả lời của Decoux, người Nhật cho rằng ông này đã bác bỏ tối hậu thư của họ. Trong vòng 48 giờ, từ Đô đốc Decoux đến những viên chức Pháp thấp nhất đều bị tước quyền hành và bỏ tù hoặc bị tập trung lại.
==== Chính phủ Đế quốc Việt Nam thành lập ====
Theo chính sách Khối Thịnh vượng chung Đại Đông Á, Đế quốc Nhật Bản bảo trợ thành lập chính phủ Đế quốc Việt Nam dưới quyền Hoàng đế Bảo Đại, đứng đầu bởi Thủ tướng Trần Trọng Kim. Cũng như các chính phủ khác ở những vùng bị Nhật chiếm đóng (Mãn Châu quốc, Triều Tiên, Chính phủ Uông Tinh Vệ...), chính phủ này không có thực quyền khi tài chính và nhân lực đều do quân Nhật nắm giữ.
Vua Bảo Đại tuyên bố thành lập Đế quốc Việt Nam ngày 11 tháng 3 năm 1945, tuyên bố chính phủ này có chủ quyền trên danh nghĩa ở ba kỳ, tiếp sau đó là Campuchia ngày 13 tháng 3 và Lào ngày 8 tháng 4. Trong tuyên bố của Bảo Đại, bãi bỏ các hiệp ước bảo hộ và mất độc lập với Pháp trước đây, độc lập theo tuyên ngôn Đại đông Á, và "ông cũng như Chính phủ Việt Nam tin tưởng lòng trung thực của Nhật Bản và nó được xác định làm việc với các nước để đạt được mục đích"..
Ngay sau đó, ngày 24 tháng 3 năm 1945, chính phủ Charles de Gaulle tuyên bố chính thức khôi phục lại chủ quyền của Pháp ở Đông Dương, dự định thành lập Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp, bao gồm năm quốc gia có đại diện riêng trong Liên bang, có lợi ích bên ngoài do Pháp đại diện; và dự kiến cơ cấu của chính phủ Liên bang Đông Dương sẽ theo mô hình chính phủ do Thống đốc đứng đầu, với các bộ trưởng người Đông Dương và người dân Pháp ở Đông Dương, và một Quốc hội được bầu theo phương thức phổ thông đầu phiếu tại mỗi quốc gia của Liên bang, trong đó có đại diện lợi ích của người Pháp. Thống đốc, Hội đồng Nhà nước chịu trách nhiệm chuẩn bị các luật và quy định, còn Quốc hội giữ vai trò biểu quyết mọi loại thuế, ngân sách, các dự luật và các điều ước quốc tế về thương mại và hợp tác với các nước khác. Liên bang sẽ có lực lượng vũ trang riêng được trang bị kỹ năng tương đương với của Liên hiệp Pháp và phát triển quan hệ thương mại với tất cả các nước khác, đặc biệt là với Trung Quốc. Cũng trong tuyên bố này, Pháp cam kết đảm bảo bình đẳng giữa công dân Đông Dương với các công dân Liên hiệp Pháp về quyền tham gia các vị trí của Liên bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp, cũng như mọi quyền tự do dân chủ nói chung (tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tự do báo chí, tự do lập hội, hội họp...). Đồng thời Liên hiệp Pháp có nghĩa vụ giúp đỡ thành lập lực lượng vũ trang Liên bang Đông Dương, cũng như thúc đẩy sự phát triển kinh tế, tiến bộ xã hội, văn hóa, giáo dục, chính trị và hành chính ở Đông Dương.
Ngày 7 tháng 4 năm 1945, Bảo Đại ký đạo dụ số 5 chuẩn y thành phần nội các Trần Trọng Kim và ngày 12 tháng 5 giải thể Viện Dân biểu Trung Kỳ. Tháng 6 năm 1945, chính phủ Trần Trọng Kim đặt quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam. Bảo Đại cũng xúc tiến trưng cầu dân ý về chính thể Việt Nam, theo đạo Dụ số 1 có nội dung "1.Chế độ chính trị từ nay căn cứ vào khẩu hiệu "Dân vi quí". 2. Trong chính giới sẽ chiêu lập các nhân tài đích đáng để chỉnh đốn lại nền tảng quốc gia cho xứng đáng là một nước độc lập chân chính có thể hợp tác với Đại Nhật Bản trong công cuộc tái thiết Đại Đông Á. 3.Trẫm sẽ tái định và tuyên bố các cơ quan chính trị để ban hành những phương pháp hợp với nguyện vọng của quốc dân".
Ngày 18 tháng 8, vua Bảo Đại tuyên bố sẽ duy trì chính phủ Đế quốc Việt Nam sau khi Nhật đầu hàng, và đồng thời gửi một thông điệp đến Thống chế Pháp De Gaulle đề nghị công nhận nền độc lập của Việt Nam. Thông điệp này cho rằng sự độc lập của Việt Nam "chỉ có nghĩa là bảo vệ lợi ích của Pháp và ảnh hưởng tinh thần Pháp ở Đông Dương". Tuy nhiên De Gaulle không hồi âm, ông ta dự kiến sẽ hậu thuẫn cho một chế độ quân chủ mà người đứng đầu không phải là Bảo Đại, người đã thỏa hiệp với Nhật Bản để được "độc lập", mà là Vĩnh San, được xem như là một "Gaullist" (người ủng hộ de Gaulle).
Ngày 16 tháng 8, Trần Trọng Kim tuyên bố sẽ bảo vệ chính phủ Đế quốc Việt Nam, và ngày 18 tháng 8 thành lập Ủy ban Giải phóng Dân tộc, tập hợp tất cả các đảng phái chính trị để lãnh đạo công cuộc này. Theo lời khuyên của ông Bộ trưởng Bộ Ngoại giao, Bảo Đại cũng gửi thông điệp cho Tổng thống Mỹ Truman, vua nước Anh, Thống chế Trung Hoa Tưởng Giới Thạch đề nghị công nhận Đế quốc Việt Nam là chính phủ đại diện của Việt Nam. Tuy nhiên tất cả các bức thư đều không được hồi âm, bởi theo Tuyên bố Cairo, không chỉ Pháp mà tất cả các nước khối Đồng Minh sẽ không công nhận bất cứ chính phủ nào do Nhật bản thành lập tại các lãnh thổ chiếm đóng. Đến 24 tháng 8, trong cao trào của Cách mạng tháng Tám, Bảo Đại đã thực hiện đề nghị của Hội đồng Cơ mật: quyết định thoái vị "để không phải là một trở ngại cho sự giải phóng của đất nước". Chính phủ Đế quốc Việt Nam đến đây tan rã.
==== Tình hình Việt Nam ====
Cuộc đảo chính của Nhật Bản ngày 10 tháng 3 đã làm suy yếu bộ máy hành chính và quân sự của Pháp và mở ra một khoảng trống rất lớn vì "Chính phủ Hoàng gia" không thể điều hành nổi. Khi Nhật Bản đầu hàng vào ngày 14, quân đội Nhật Bản có trách nhiệm giữ trật tự cho đến khi sự xuất hiện của quân đội Trung Quốc về phía bắc 16° vĩ độ, và quân Anh về phía Nam. Nhưng cuộc cách mạng đang càn quét, "không phải do chính sách Việt Minh", đã bất chấp điều đó.
Việt Minh (viết tắt của Việt Nam Độc lập Đồng minh Hội) do Hồ Chí Minh thành lập năm 1941 với vai trò một mặt trận thống nhất dân tộc để giành độc lập. Tổ chức này do Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo, thu hút được sự tham gia và ủng hộ của nhiều người Việt Nam và ngày càng lớn mạnh. Tháng 12 năm 1944, đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, lực lượng vũ trang của Việt Minh và tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam, được thành lập tại Cao Bằng. Khẩu hiệu ban đầu của Việt Minh là phản Pháp - kháng Nhật - liên Hoa - độc lập. Ban đầu lực lượng Việt Minh nhận được sự ủng hộ của phe Đồng minh, bao gồm cả Mỹ và Trung Hoa dân quốc, theo Philippe Devillers "bây giờ nó sẽ nhận được 100.000 đô la mỗi tháng phân bổ đến Nguyen Kai Thau". Hồ Chí Minh nhận thấy Mỹ đang muốn đóng vai trò lớn hơn ở khu vực Thái Bình Dương, ông đã làm tất cả để thiết lập mối quan hệ với Hoa Kỳ thông qua việc giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản. Đổi lại, cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS (U.S Office of Strategic Services) giúp đỡ y tế, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt Minh. Tháng 7 năm 1945, lực lượng này gửi đến OSS một tuyên bố: "Chúng tôi, Việt Minh, công bố yêu cầu sau đây về chính sách tương lai ở Đông Dương thuộc Pháp đến người Pháp và các quan sát viên:
1. Một quốc hội bầu theo phổ thông đầu phiếu. Nó lập pháp cho đất nước. Một thống đốc Pháp quyền Chủ tịch cho đến khi tính chất độc lập chúng tôi được đảm bảo. Thống đốc sẽ chọn một nội các hoặc một nhóm các cố vấn chấp nhận bởi quốc hội. Các quyền hạn cụ thể của các cơ quan này có thể được phát triển trong tương lai.
2. Độc lập sẽ được trao cho đất nước này trong một tối thiểu năm năm và tối đa là mười năm.
3. Tài nguyên thiên nhiên của đất nước sẽ trở lại cư dân của nó sau khi bồi thường công bằng cho các chủ sở hữu hiện tại. Pháp sẽ nhận được những lợi ích kinh tế.
4. Tất cả quyền tự do được Liên Hợp Quốc công bố sẽ được đảm bảo ở Đông Dương.
5. Bán thuốc phiện bị cấm.
Chúng tôi hy vọng rằng những điều kiện này sẽ nhận được sự chấp nhận của chính phủ Pháp.
Từ tháng 3 năm 1945, Việt Nam rơi vào một tình trạng hỗn loạn do khoảng trống về quyền lực chính trị quá lớn. Người Nhật đang lo chống đỡ các đòn tấn công của quân đội đồng minh Anh-Mỹ. Cả chính phủ của Trần Trọng Kim lẫn triều đình của Bảo Đại đều không đủ lực lượng quân sự và uy tín chính trị để kiểm soát tình hình. Theo Peter A. Pull, chỉ có Việt Minh là lực lượng có tổ chức duy nhất ở nước này có khả năng nắm được quyền chính trị. Chiến tranh đã làm kiệt quệ nền kinh tế, nước Nhật cạn kiệt nguyên liệu nên quân Nhật chiếm lấy lúa gạo và các sản phẩm khác, bắt dân phá lúa trồng đay để phục vụ chiến tranh, cộng thêm thiên tai, nạn đói (Nạn đói Ất Dậu) đã xảy ra tại Bắc kỳ và Trung kỳ. Người ta ước tính rằng đã có khoảng hai triệu người chết vì nạn đói này.
Khâm sai Phan Kế Toại đã gặp Nguyễn Khang, người do Xứ Ủy Bắc Kỳ cử đến. Ông đề nghị Việt Minh tham gia Chính phủ Đế quốc Việt Nam và ngừng các hoạt động chống Nhật nhưng Nguyễn Khang bác bỏ. Chính quyền thân Nhật Đế quốc Việt Nam cũng thành lập Uỷ ban Chính trị để đàm phán với Việt Minh. Ủy ban này đề nghị Việt Minh: "Đằng nào các ông cũng thắng, nhưng để điều đình với Đồng Minh sẽ vào Đông Dương giải giáp quân Nhật, đề nghị vùng nông thôn cách thành phố 15km là thuộc quyền các ông, còn thành phố cần có nhân sĩ, trí thức đứng ra giao dịch với Đồng Minh". Đại biểu Việt Minh đã trả lời dứt khoát: "giao dịch với Đồng Minh lúc này, ngoài Việt Minh không ai có thể có lực lượng và danh nghĩa cả".[1]
=== Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập ===
Ngay sau khi Nhật Bản đầu hàng quân Đồng Minh, lực lượng Việt Minh đã tổ chức thành công cuộc Cách mạng tháng Tám. Chính phủ Pháp không kịp phản ứng vì quân đội Pháp vẫn chưa kịp hoàn thành việc tái xây dựng lực lượng và vẫn còn ở châu Âu do chưa được khối Đồng Minh cho phép hoạt động tại chiến trường Đông Nam Á. Quân đội Nhật không can thiệp vào tình hình chính trị tại Việt Nam vì họ đã đầu hàng và đang chờ Đồng Minh đến giải giáp.
Sau Cách mạng tháng Tám, Việt Minh thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên cơ sở cải tổ Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam được thành lập tại Đại hội Quốc dân ngày 16 và 17-8-1945 tại Tân Trào. Thời điểm đó Hồ Chí Minh ít được biết đến còn Chính phủ của ông chưa được nước nào công nhận. Ông cảm thấy phải tìm cách làm cho Đồng Minh chú ý đến Chính phủ của ông trước khi quân đội của họ vào Việt Nam giải giáp quân đội Nhật. Cùng thời điểm đó, Bảo Đại cũng gửi cho lãnh đạo các nước Đồng Minh lời kêu gọi công nhận nền độc lập của Việt Nam. Điều đó làm Hồ Chí Minh lo ngại vì lời kêu gọi này đã tăng cường địa vị hợp pháp của Bảo Đại. Theo Hồ Chí Minh, Bảo Đại không còn cầm quyền từ lâu nên Chính phủ Lâm thời là Chính phủ duy nhất hợp pháp. Đối với Mỹ, Hồ Chí Minh cố gắng thuyết phục Mỹ tiếp tục chính sách chống thực dân của Mỹ đối với Đông Dương. Ông tìm cách làm Mỹ tin rằng ông không phải là một phái viên của Quốc tế Cộng sản mà là một người Quốc gia - Xã hội mong muốn giải thoát đất nước khỏi ách đô hộ của ngoại bang.
Thông qua OSS, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi 9 bức điện cho Chính phủ Mỹ, bao gồm cả 4 bức thư tay gửi trực tiếp cho Tổng thống Mỹ Harry S. Truman đề nghị Mỹ đặt quan hệ ngoại giao với Chính phủ Lâm thời, đồng thời Mỹ và Chính phủ Lâm thời sẽ có đại diện trong Ủy ban Liên tịch các nước Đồng Minh giải quyết các vấn đề liên quan đến Việt Nam. Việt Minh hy vọng tranh thủ được sự có mặt của Mỹ trong cuộc thương lượng giữa Trung Quốc và Pháp về Đông Dương vì hai nước này có thể làm nguy hại đến nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam đồng thời khuyến khích các nước Đồng Minh công nhận Chính phủ Lâm thời là đại diện duy nhất và hợp pháp của Việt Nam trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền của Việt Nam. Việt Minh lo ngại việc không được các nước Đồng Minh công nhận sẽ làm suy yếu địa vị lãnh đạo của họ và có lợi cho Việt Cách, Việt Quốc trong việc thành lập chính phủ của các lực lượng này. Hồ Chí Minh nói với chỉ huy OSS tại miền Bắc, Archimedes L.A Patti, rằng ông theo chủ nghĩa Lenin, tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và xin gia nhập Đệ Tam Quốc tế vì đây là những cá nhân và tổ chức duy nhất quan tâm đến vấn đề thuộc địa. Ông không thấy có sự lựa chọn nào khác. Nhưng trong nhiều năm sau đó những tổ chức này cũng không có hành động gì vì nền độc lập của các dân tộc thuộc địa. Trước mắt, ông đặt nhiều tin tưởng vào sự giúp đỡ của Mỹ trước khi có thể hy vọng vào sự giúp đỡ của Liên Xô. Hồ Chí Minh Giải thích rằng: Người Mỹ xem ông là một người quốc tế cộng sản, "bù nhìn của Moscow" vì ông đã ở Moscow nhiều năm, nhưng ông khẳng định mình không phải là người cộng sản theo nghĩa mà Mỹ hiểu mà là nhà cách mạng hoạt động vì độc lập dân tộc. Tuy nhiên Mỹ không đáp lại nguyện vọng của Hồ Chí Minh. Cuối tháng 9 năm 1946, Mỹ rút tất cả các nhân viên tình báo tại Việt Nam về nước, chấm dứt liên hệ với chính phủ Hồ Chí Minh.
Tại miền Nam, sau khi đảo Pháp, ngày 14/8/1945, Nhật cho phép Bảo Đại cử một Khâm sai đại thần nắm quyền cai trị tại Nam Kỳ đồng thời bổ nhiệm những người Việt thuộc Mặt trận Quốc gia Thống nhất vào các vị trí trong bộ máy chính quyền do các viên chức dân sự Pháp đã bị Nhật tống giam. Ngày 16/8/1945, người Việt tiếp quản Sài Gòn. Điều này được chào đón như một cuộc cách mạng. Ngày 19/8/1945, Khâm sai Nguyễn Văn Sâm đến Sài Gòn. Nhật chuyển giao vũ khí cho chính quyền Việt Nam và các đảng phái thuộc Mặt trận Quốc gia Thống nhất. Trong cuộc họp ngày 22/8/1945 của Mặt trận Quốc gia Thống nhất, Trần Văn Giàu thuyết phục các đảng phái trong Mặt trận chuyển giao quyền lực cho Việt Minh vì Mặt trận có thể bị Đồng Minh xem là một tổ chức thân Nhật còn Việt Minh lại đang hợp tác với Đồng Minh (tình báo quân sự Mỹ OSS) chống Nhật. Ngày 23/8/1945, Mặt trận Quốc gia Thống nhất quyết định rút lui, nhường quyền lãnh đạo cho Việt Minh thành lập Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ do Trần Văn Giàu làm Chủ tịch. Ngày 25/8/1945, tại Sài Gòn, Việt Minh tuyên bố thành lập Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ gồm 9 người đều là thành viên Việt Minh. Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ ra tuyên bố họ là bộ phận phía Nam của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau đó, theo lệnh của Chính phủ lâm thời Trung ương, Ủy ban hành chính Nam Bộ hợp tác với Kỳ bộ Việt Minh gồm đại biểu các đảng phái: Đông Dương cộng sản, Tân Dân chủ, Tổng công đoàn, Thanh niên Tiền phong, Việt Nam quốc gia, Cao Đài hợp nhất, Việt Nam Cứu quốc đoàn (Kỳ bộ cũ của Việt Minh), Quốc gia độc lập, Công giáo, Thanh niên nghĩa dũng đoàn họp bàn thành lập Ủy ban nhân dân Nam Bộ
Ở Hà Nội, các sinh viên cánh tả tổ chức biểu tình với danh nghĩa Tổng hội sinh viên kêu gọi Bảo Đại thoái vị, thành lập nền cộng hòa dưới sự bảo trợ của Việt Minh, yêu cầu Việt Minh thảo luận với tất cả các đảng phái để thành lập chính phủ Lâm thời, đồng thời kêu gọi nhân dân và các đảng phái ủng hộ chính phủ Lâm thời bảo vệ nền độc lập của đất nước. Việt Minh phát động công nhân, nông dân cướp chính quyền trên toàn quốc. Trước áp lực đó, Bảo Đại mời Việt Minh thành lập một chính phủ mới dưới quyền ông thay thế chính phủ Trần Trọng Kim.
Tháng 5/1945, các thành viên của các đảng Đại Việt Quốc dân Đảng, Đại Việt Dân chính Đảng thân Nhật và Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) gặp nhau tại Trung Quốc để thành lập một liên minh đặc biệt nhằm phối hợp hoạt động giữa các nhóm trong nước và nhóm lưu vong trong trường hợp Trung Quốc đưa quân vào Đông Dương. Đại Việt Dân chính Đảng sáp nhập vào Việt Nam Quốc dân Đảng. Khi Nhật tuyên bố đầu hàng vào tháng 8/1945, ở Việt Nam chỉ có lực lượng vũ trang của Đại Việt còn lực lượng vũ trang của Việt Nam Quốc dân Đảng vẫn còn ở Trung Quốc. Ngày 17/8/1945, Trương Tử Anh, Đảng trưởng Đại Việt Quốc dân Đảng, dẫn đầu một đơn vị 250 người hành quân vào Hà Nội. Tuy nhiên ngày 19/8/1945, lực lượng này đã không ngăn cản Việt Minh cướp chính quyền tại Hà Nội. Tối hôm đó, các đảng viên Đại Việt và Việt Quốc tổ chức họp nhưng không thống nhất được kế hoạch chống Việt Minh giành chính quyền. Các đơn vị khác của Đại Việt ở các tỉnh không thể tiến về Hà Nội do lũ sông Hồng. Quân đội của Đại Việt rút về phía Đông và phía Tây Hà Nội chờ diễn biến tình hình.
Tại Huế, Chính phủ Đế quốc Việt Nam đồng loạt từ chức và chuyển giao quyền lực cho phong trào Việt Minh. Theo lời thuật của Phan Anh, Bộ trưởng Bộ Thanh niên thì "với tư cách bộ trưởng, chúng tôi trăm phần trăm ủng hộ Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tất cả, kể cả Thủ tướng Trần Trọng Kim, đã có sự nhất trí toàn vẹn, sâu sắc về sự chuyển tiếp ấy."
Sáng ngày 23 tháng 8, hai phái viên của Việt Minh là Trần Huy Liệu và Cù Huy Cận đến cung điện Huế. Theo lời yêu cầu của hai ông này, chiều ngày 25 tháng 8 năm 1945, Bảo Đại đã đọc Tuyên ngôn Thoái vị trước hàng ngàn người tụ họp trước cửa Ngọ Môn và sau đó trao ấn tín, quốc bảo của hoàng triều cho ông Trần Huy Liệu. Ông thoái vị với lý do "Hạnh phúc của dân Việt Nam, độc lập của nước Việt Nam, muốn đạt mục đích ấy, Trẫm đã sẵn sàng hy sinh hết tất cả mọi phương diện, và cũng vì mục đích ấy nên Trẫm muốn sự hy sinh của Trẫm phải có lợi cho Tổ quốc. Xét thấy điều bổ ích nhất cho Tổ quốc lúc này là sự đoàn kết toàn thể quốc dân, Trẫm đã tuyên bố ngày 22 tháng 8 vừa rồi rằng trong giờ nghiêm trọng này rằng đoàn kết là sống mà chia rẽ là chết. Nay thấy nhiệt vọng dân chủ của quốc dân Bắc bộ lên quá cao, nếu Trẫm cứ ngồi yên mà đợi Quốc hội thì không thể nào tránh khỏi nạn Nam Bắc phân tranh, đã thống khổ cho quốc dân lại thuận tiện cho người ngoài lợi dụng, cho nên mặc dầu Trẫm hết sức đau đớn nghĩ tới công lao Liệt Thánh vào sinh ra tử trong gần bốn trăm năm để mở mang giang sơn đất nước từ Thuận Hóa đến Hà Tiên, mặc dầu Trẫm hết sức bùi ngùi cho nỗi làm vua trong hai mươi năm mới gần gũi quốc dân được mấy tháng chưa làm được gì ích lợi cho quốc dân như lòng Trẫm muốn, Trẫm cũng quả quyết thoái vị để nhường quyền điều khiển quốc dân lại cho một Chính phủ dân chủ Cộng hòa...". Ông cũng yêu cầu chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: "Đối với các đảng phái đã từng phấn đấu cho nền độc lập quốc gia, nhưng không đi sát theo phong trào dân chúng, Trẫm mong chính phủ mới sẽ lấy sự ôn hòa xử trí để những phần tử ấy cũng có thể giúp vào việc kiến thiết quốc gia và tỏ rằng Chính phủ dân chủ cộng hòa nước ta đã xây đắp ở trên sự đoàn kết của toàn thể nhân dân.". Ông trở thành "công dân Vĩnh Thụy". Trong bản Tuyên ngôn Thoái vị, ông có câu nói "Trẫm muốn được làm Dân một nước tự do, hơn làm Vua một nước bị trị". Ngày 28 tháng 8 thành lập Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa, tuyên cáo cho biết "Chính phủ lâm thời không phải là chính phủ riêng của Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) như có người đã lầm tưởng. Cũng không phải là một Chính phủ chỉ bao gồm đại biểu của các chính đảng. Thật là một Chính phủ quốc gia thống nhất, giữ trọng trách là chỉ đạo cho toàn quốc, đợi ngày triệu tập được quốc hội để cử ra một Chính phủ Dân chủ cộng hòa chính thức".
Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chí Minh tuyên bố Việt Nam thống nhất và độc lập với tên gọi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Không có dấu hiệu của cuộc cách mạng vô sản tại Việt Nam. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyền sở hữu tư nhân phương tiện sản xuất, chỉ quyết định loại bỏ các quan lại và hệ thống phân cấp hành chính và chính trị cũ của Đế quốc Việt Nam, giải tán các Hội đồng Nhân sĩ và thay bằng các Ủy ban Nhân dân do dân địa phương bầu ra. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thực hiện một số cải cách nhưng thận trọng để không tạo ra sự chống đối của giai cấp trung lưu và đại địa chủ. Việc chia lại ruộng đất chỉ giới hạn trong công điền, đất bỏ hoang, đất tịch thu của người Pháp và những người bị xem là hợp tác với phát xít. Từ ngày 22/9/1945, các chủ đất nhỏ từ 5 mẫu trở xuống đều được miễn thuế ruộng đất. Việc hạn chế buôn bán lương thực của Nhật bị bãi bỏ, việc nhà nước độc quyền bán rượu và muối chấm dứt. Thuế công thương nghiệp và môn bài bị bãi bỏ. Thuốc phiện, cờ bạc, mãi dâm và các hình thức lao động khổ sai bị cấm. Công nhân được hưởng chế độ làm 8 giờ một ngày. Cùng với đó là giải tán các nghiệp đoàn để kiểm soát nền kinh tế, thống nhất các tổ chức thanh niên (vào Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam). Tuy nhiên ở cấp địa phương vẫn có sự thanh trừng chính trị hay loại bỏ "chủ nghĩa tư bản phát xít", chia đất cho nông dân, tịch thu tài sản của những người giàu, ngoài mong muốn của những lãnh đạo trung ương Việt Minh (chỉ có một nhóm nhỏ, vài chục người đứng đầu tại Hà Nội, cũng như trong tất cả các tỉnh) như Hồ Chí Minh khi thành lập đảng đã nói "Việt Nam sẽ được di chuyển từ từ về phía chủ nghĩa xã hội thông qua việc giảng dạy và thực hành dân chủ".
Ngay sau khi tuyên bố độc lập, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức lễ phát động phong trào cứu đói tại Nhà hát lớn Hà Nội. Chính phủ còn phái một ủy ban vào Nam bộ tổ chức vận chuyển gạo ra Bắc. Chính phủ cũng kêu gọi các hội buôn và người dân tham gia vận chuyển lương thực từ Nam ra Bắc. Việc vận chuyển gạo từ Nam ra Bắc chỉ thực hiện được trong tháng 9 năm 1945 với số lượng không quá 30.000 tấn do chiến tranh bùng nổ khi Pháp đưa quân đội vào Nam Kỳ. Trong thư gửi đồng bào cả nước đăng trên Báo Cứu Quốc ngày 28-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Lúc chúng ta nâng bát cơm mà ăn, nghĩ đến kẻ đói khổ, chúng ta không khỏi động lòng. Vậy tôi xin đề nghị với đồng bào cả nước, và tôi xin thực hiện trước: Cứ 10 ngày nhịn ăn một bữa, mỗi tháng nhịn ba bữa. Đem gạo đó (mỗi bữa một bơ) để cứu dân nghèo". Chính phủ cũng chi ngân sách sửa chữa các quãng đê bị vỡ, củng cố hệ thống đê điều, đắp thêm một số đê mới. Cho đến đầu năm 1946, hệ thống đê tại miền Bắc đã sửa xong.
Để giải quyết tận gốc nạn đói, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kêu gọi nhân dân tăng gia sản xuất. Chính phủ còn vận động tư nhân cho mượn các vườn trống quanh nhà để tăng gia sản xuất. Mỗi địa phương lập ra một tiểu ban để huy động nhân lực và tổ chức sản xuất, lương thực làm ra được dùng để cứu tế. Cuối năm 1945 đầu 1946 không còn kịp thời vụ để trồng lúa nữa, nên chính phủ phát động dành phần lớn đất đai để tranh thủ trồng liên tiếp hai vụ màu (khoai lang, đậu, bắp...) bù cho phần lúa thiếu hụt. Kết quả sản lượng màu đã tăng gấp 4 lần so với thời kỳ trước năm 1945. Chỉ trong 5 tháng từ tháng 11/1945 đến tháng 5/1946 đã đạt 614.000 tấn, tương đương 506.000 tấn lúa, đủ đắp được số thiếu hụt của vụ mùa năm 1945.
Trong năm 1946, nạn đói cơ bản đã được giải quyết. Ngày 2/9/1946, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp tuyên bố: "Cuộc cách mạng đã chiến thắng được nạn đói, thật là một kỳ công của chế độ dân chủ". Giáo sư kinh tế Đặng Phong đánh giá việc giải quyết được nạn đói là lý do giải thích tại sao tuyệt đại đa số dân chúng đã tin và đi theo Việt Minh.
Một thành tựu khác của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ là xóa mù chữ. Năm 1945, có 95% dân số Việt Nam mù chữ. Trước thực trạng đó, để xóa mù chữ, từ ngày 8 tháng 9 năm 1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ra các sắc lệnh: Sắc lệnh số 17 đặt ra một bình dân học vụ trong toàn cõi Việt Nam, Sắc lệnh số 19 lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp học bình dân buổi tối, Sắc lệnh số 20 định rằng việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền. Để phục vụ chiến dịch xoá mù chữ, Nha Bình dân học vụ được thành lập ngày 18 tháng 9 năm 1945. Ngày 4 tháng 10 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi Chống nạn thất học gửi tới toàn dân: "...Muốn giữ vững nền độc lập, muốn làm cho dân mạnh nước giàu, mọi người Việt Nam phải hiểu biết quyền lợi của mình, bổn phận của mình, phải có kiến thức, mới có thể tham gia vào công cuộc xây dựng nước nhà và trước hết phải biết đọc, biết viết chữ quốc ngữ. Những người đã biết chữ hãy dạy cho những người chưa biết chữ, hãy góp sức vào bình dân học vụ…Những người chưa biết chữ hãy gắng sức mà học cho biết đi." Các lớp học Bình dân học vụ được mở khắp nơi ở cả ba miền thu hút sự tham gia của mọi lứa tuổi, mọi tầng lớp nhân dân. Người biết chữ dạy cho người không biết chữ. Đến tháng 9 năm 1946, phong trào Bình dân học vụ đã tổ chức được 75.000 lớp học với trên 95.000 giáo viên, trên 2.500.000 người được phong trào dạy biết đọc, biết viết.
Theo Quyết nghị của Chính phủ, ngày 4/9/1945, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Võ Nguyên Giáp thay mặt Chủ tịch Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, ký ban hành Sắc lệnh số 4 lập "Quỹ độc lập" với mục đích "để thu nhận các món tiền và đồ vật của nhân dân sẵn lòng quyên giúp Chính phủ để ủng hộ nền độc lập của Quốc gia". Tiếp sau đó, cũng trong khuôn khổ Quỹ độc lập, Chính phủ đã đề ra biện pháp tổ chức "Tuần lễ Vàng" từ ngày 17 đến ngày 24/9/1945. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thư cho đồng bào toàn quốc nhân dịp "Tuần lễ Vàng", nêu rõ mục đích của việc lập quỹ là "thu góp số vàng trong nhân dân và nhất là của các nhà giàu có để dùng vào việc cần cấp và quan trọng nhất của chúng ta lúc này là việc quốc phòng". Chính phủ đã huy động được tổng cộng 20 triệu đồng và 370 kg vàng. Ngân quỹ quốc gia đã có hàng trăm triệu đồng. Riêng tại Hà Nội, trong "Tuần lễ vàng" nhân dân đã góp được 2.201 lạng vàng, 920 tạ thóc cùng tiền bạc và các hiện vật khác, tổng trị giá lên 7 triệu đồng Đông Dương. Số tiền này được dùng để mua vũ khí của quân đội Nhật bị quân đội Trung hoa Dân quốc tịch thu và để hối lộ cho các tướng lĩnh Trung Hoa đang đóng quân tại miền Bắc Việt Nam.
Cùng các hình thức tổ chức "Quỹ độc lập", tuần lễ vàng chính quyền cách mạng còn tổ chức nhiều hình thức khuyến khích để nhân dân có điều kiện tham gia đóng góp cho tài chính đất nước với hình thức tự nguyện như lập "Quỹ kháng chiến", "Quỹ bình dân học vụ", "Quỹ giải phóng quân", "Ngày Nam Bộ"... Sự đóng góp, ủng hộ nhiệt tình của nhân dân đã góp phần giải quyết khó khăn về tài chính của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Theo Archimedes L.A Patti, Hồ Chí Minh và các lãnh đạo khác của Việt Minh nhiều lần bày tỏ với ông sự nghi ngại xung quanh vấn đề chủ nghĩa cộng sản có phải là hình thức chính trị phù hợp với Việt Nam hay không. Hồ Chí Minh không tin người Việt đủ trưởng thành về mặt chính trị để có thể chấp nhận chủ nghĩa cộng sản nhưng một hình thức dân chủ xã hội chủ nghĩa có cải biên có thể phù hợp hơn. Hồ Chí Minh chủ trương Việt Nam sẽ tự do giao thương với tất cả các nước trên thế giới chứ không chỉ hạn chế vào Pháp hoặc Trung Quốc để tạo ra một nền kinh tế thịnh vượng. Ông cũng nghĩ tới vấn đề xây dựng một cộng đồng Liên Á bao gồm các nước châu Á độc lập góp phần xây dựng nền hòa bình thế giới và phát triển các chương trình kinh tế, chính trị vì lợi ích chung.
Khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành lập, đa phần dân chúng chỉ biết Hồ Chí Minh mới từ nước ngoài về và là người đứng đầu nhà nước chứ không biết rõ thân thế của ông cũng như khuynh hướng cộng sản của Việt Minh. Họ cũng không có hiểu biết về chủ nghĩa cộng sản. Tuy nhiên, người dân cảm thấy tự hào và vui sướng vì Việt Nam đã giành được độc lập. Đa số dân chúng đều muốn thay đổi. Họ cảm thấy dễ chịu khi được người Việt cai trị hơn là người Pháp.
Trong các tài liệu của Việt Minh những ngày đầu sau độc lập chỉ nhắc đến Việt Minh, tuy nhiên những ngày sau khẳng định việt Minh bao gồm Đảng Cộng sản và các tổ chức khác, và nhấn mạnh các cuộc khởi nghĩa trước đó như Bắc Sơn, Nam Kỳ. Ngày 11 tháng 11 năm 1945 Đảng Cộng sản tuyên bố "tự giải tán" (trong khi chiến sự tại Nam Bộ rất ác liệt) đăng tải trên báo Cứu Quốc của Việt Minh ngày 12, kèm tổ chức kỷ niệm ngày sinh Tôn Trung Sơn. Tờ báo đăng tiểu sử nhà đại cách mạng Trung Hoa, cho biết Hồ chủ tịch tham dự chủ tọa buổi lễ do Hội Văn hóa cứu quốc tổ chức, đề nghị nhân dân treo cờ hai nước. Báo cũng cho biết Hiến pháp "ngăn ngừa sự lũng đoạn chính quyền của một giai cấp, một đảng phái, một cá nhân nào". Ngày 13 tháng 11 báo Cứu quốc đã tường trình "Vì những kẻ phản bội quyền lợi dân tộc, cố ý không hiểu chính sách của Việt Minh, phao tin trong dân chúng và dèm pha với các nước Đồng minh rằng Việt Minh là cộng sản sẽ thực hành chính sách cộng sản, mục đích chúng gây sự chia rẽ mặt trận dân tộc, và gieo mối hoài nghi trước thế giới". Trước đó, báo Cứu quốc ngày 21 tháng 9 đã bác bỏ thành lập Mặt trận công nông thay cho Mặt trận dân tộc thống nhất với lý do "Đã bao năm dưới ách phát xít Nhật - Pháp chẳng những công nhân bị thất nghiệp, nông dân bị phá sản, cả địa chủ cũng bị cướp thóc, cướp đất, tư sản cũng bị đình đốn kỹ nghệ và thương nghiệp; ngoài ra biết bao các từng lớp nhân dân khác đều chung một tai nạn chết đói chết rét. Việt Minh đã liên kết các giai cấp các từng lớp nhân dân đó đánh đuổi kẻ thù chung, giành quyền độc lập tự do cho dân tộc... Quyền lợi của giai cấp công nhân và tư sản, nông dân và địa chủ lúc nào cũng mâu thuẫn nhau, nhưng lúc này phải nhân nhượng nhau, phải đặt quyền lợi quốc gia lên trên hết".
=== Quân đội Đồng Minh vào Việt Nam giải giáp quân đội Nhật ===
Theo Hội nghị Potsdam, lực lượng Đồng Minh gồm quân Anh và quân Trung Quốc vào Việt Nam để giải giáp vũ khí Nhật. Mỹ nhường quân đội Tưởng Giới Thạch vào miền Bắc giải giáp quân đội Nhật. Pháp không tin tưởng ở Anh và khối Anglo-Saxon, nhưng được nhượng quyền lợi ở Trung Đông nên Anh ủng hộ Pháp. Theo thỏa thuận, Anh và Trung Hoa Dân Quốc không được có chủ quyền tại Đông Dương. Giải pháp của Mỹ phù hợp với tham vọng của giới cầm quyền Trùng Khánh, bởi Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng đã từ lâu nằm trong tầm nhìn của các nhà nước Trung Hoa. Theo Việt Minh, Trung Hoa Dân Quốc muốn hạ bệ chính phủ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và ủng hộ đồng minh của họ là Việt Nam Quốc dân Đảng lên nắm quyền. Việt Minh cũng xem quyền lợi của Anh trùng hợp với các mục tiêu của Pháp nhằm khôi phục các thuộc địa của họ trước chiến tranh ở Đông Nam Á. Hồ Chí Minh tin rằng hoạt động của các cường quốc Pháp, Anh, Trung Quốc sẽ gây nguy hại cho phong trào giải phóng dân tộc ở Việt Nam. Hồ Chí Minh rất khó chịu về việc phải tiếp đón quân đội Trung Hoa Dân quốc. Ông lo ngại việc một lượng lớn người Trung Quốc tràn vào Việt Nam cùng quân đội Nhật đang hiện diện tại Việt Nam sẽ làm cho tài nguyên đất nước cạn kiệt. Vấn đề nghiêm trọng hơn nữa là nếu quân đội Trung Hoa Dân quốc tiếp tế bằng lương thực tại chỗ thì sẽ xảy ra nạn đói. Ông mong muốn Mỹ tiến hành kiểm tra quân đội Trung Hoa Dân quốc và yêu cầu lực lượng này mua bán chứ không trưng thu lương thực và các vật phẩm khác trong thời gian đóng quân tại Việt Nam để tránh xung đột giữa người Việt và quân Trung Hoa Dân quốc.
Ở miền Bắc, ngày 20/8/1945, hơn 20 vạn quân Tưởng Giới Thạch theo sự phân công của phe Đồng Minh tiến vào miền Bắc Việt Nam để giải giáp quân Nhật. Theo Việt Minh, đội quân này mang theo kế hoạch Diệt Cộng Cầm Hồ. Đội quân Quốc dân Đảng Trung Quốc "chạy trốn" Đảng Cộng sản Trung Quốc đã tiến hành các hoạt động cướp bóc trên đường xuống phía Nam đến Hà Nội.. Trong hồi ký Những năm tháng không thể nào quên Võ Nguyên Giáp mô tả: quân đoàn 62 của Vũ Kim Thành (đi cùng là Việt Cách) tàn phá suốt dọc miền Đông Bắc Bắc Kỳ; lực lượng của Vũ Hồng Khanh (Việt Nam Quốc dân Đảng) và của Nguyễn Tường Tam (Đại Việt) đi theo quân đoàn 93 Vân Nam, cũng tiến hành những bài bản cướp bóc tương tự, dọc theo hành lang Tây Bắc từ Lào Cai đến Yên Bái, Phú Thọ. Tuy nhiên, quân đội Trung Hoa Dân quốc vẫn để Chính phủ Hồ Chí Minh đóng tại Bắc Bộ Phủ và cộng tác với họ suốt thời gian đóng quân tại Việt Nam nhưng Trung Hoa Dân quốc không công nhận tính hợp pháp và thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Chính phủ này.
Trong lễ chào mừng quân Đồng Minh vào Việt Nam giải giáp Nhật do Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức tại Hà Nội ngày 10/9/1945, tướng Tiêu Văn tuyên bố đối với vấn đề lương thực và nơi đóng quân, Bộ Chỉ huy Trung Quốc sẽ tiếp tế những thứ cần thiết từ nền kinh tế địa phương theo một chế độ trưng thu lương thực và dịch vụ nhưng chủ nhân và người bán hàng sẽ được trả tiền theo giá thị trường thỏa thuận và hợp lý. Tướng Tiêu Văn cũng "gợi ý" rằng ở mỗi Bộ trong Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nên đặt một sĩ quan chuyên môn người Trung Quốc để tiện liên lạc. Khi gợi ý này được dịch ra, các lãnh đạo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trở nên căng thẳng, Hồ Chí Minh tin rằng tình hình sẽ rất khó khăn và có chiều hướng hoàn toàn xấu. Quân đội Trung hoa Dân quốc tại Việt Nam đã lấy ngay những gì họ muốn bất kể đó là của người Pháp, người Việt, người Trung Quốc địa phương, không kể giàu hay nghèo. Tướng Lư Hán tự tiện ấn định tỷ giá hối đoái là 14 quan kim ăn một đồng bạc Đông Dương bất chấp sự phản đối của Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong khi đồng quan kim đã bị mất giá trầm trọng ở Trung Quốc.
Người Pháp cho rằng quân đội Tưởng cản trở sự trở lại của họ. Theo quan niệm của Hồ Chí Minh, Trung Hoa Quốc Dân Đảng muốn làm thất bại ý đồ của Pháp định khôi phục lại địa vị tại Đông Dương và muốn ngăn chặn sự liên minh của người Việt Nam với các lực lượng cộng sản Trung Quốc trong phạm vi quyền lợi của Trung Quốc (Quốc dân Đảng đã chọn Lư Hán và Tiêu Văn làm đại diện, Hồ Chí Minh coi cả hai như là những tên tướng cướp, đã bỏ tù và giết hại nhiều người Việt Nam vô tội để che đậy cho việc buôn bán bất chính của họ ở biên giới Đông Dương). Hồ Chí Minh tin rằng Trung Quốc có kế hoạch lật đổ chính quyền do ông lãnh đạo để thay thế bằng một chính quyền thân Trung Quốc, Võ Nguyên Giáp thì mô tả lãnh đạo các đảng phái quốc gia như những người đã bỏ xứ sở mà đi, tự cho mình là những người yêu nước phụng sự cho Chủ nghĩa Quốc gia nhưng thực tế chỉ là "một nhóm phản động đang ra sức thu vén làm giàu cho bản thân" nhờ vào sự giúp đỡ của Trung Quốc, và rằng Trung Hoa Quốc dân Đảng đã tô vẽ cho nhiều "tên phản bội người Việt".
Tưởng Giới Thạch nhận thức rằng vai trò cường quốc của Trung Quốc trong việc đưa quân vào Đông Dương sẽ giúp ông ép Pháp phải chấp nhận các điều kiện do ông đưa ra để giải quyết những xung đột lợi ích giữa Trung Quốc và Pháp nếu Pháp muốn quay lại thuộc địa cũ của mình. Ông không có ý định dính líu vào cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Nam. Ông không muốn làm mất lòng Pháp vì Pháp là một cường quốc trong khối Đồng Minh. Ông chủ trương rút hết quân về nước ngay sau khi giải giáp Nhật. Trong Tuyên bố của Tưởng đăng trên tờ Trung ương Nhật báo ngày 25/8/1945 ở Côn Minh có đoạn:
"... Tuân theo các điều khoản trong bản hiệp định của Đồng Minh mới đây, ngoài việc phái các lực lượng tới để tiếp nhận sự đầu hàng của Nhật trong vùng bắc vĩ tuyến 16, chúng tôi không có tham vọng đất đai ở Đông Dương thuộc Pháp. Chúng tôi mong rằng người Việt Nam sẽ từng bước thực hiện được nền độc lập của họ qua con đường tự trị, và qua đó thực hiện được những điều khoản của Hiến chương Đại Tây Dương..."
Báo Cứu quốc ngày 17 tháng 9 năm 1945 cũng đăng ý kiến của Tưởng Giới Thạch "Quân đội Trung Hoa kéo vào Việt Nam không có dã tâm gì về đất đai và chủ quyền của người Việt Nam" và Lư Hán "Nước Việt Nam căn bản là của người Việt Nam"
Tuy nhiên trong một tuyên bố khác, Tưởng Giới Thạch lại công nhận chủ quyền của Pháp đối với Đông Dương và Trung Quốc sẽ cộng tác với Pháp để giải quyết vấn đề quyền lợi Trung - Pháp tại Đông Dương. Tuyên bố không đề cập đến phong trào độc lập của người Việt Nam và việc thành lập Chính phủ Lâm thời do Việt Minh lãnh đạo.
Tướng Lư Hán xem lập trường của Tưởng là thiển cận vì đi ngược lại các nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương đã được Trung Hoa Dân Quốc cam kết ủng hộ. Lư Hán chủ trương đóng quân tại miền Bắc Việt Nam lâu dài, đặt Việt Nam dưới sự bảo trợ của Trung Hoa Dân Quốc để Việt Nam có thể độc lập mà không cần đến sự ủng hộ của Pháp. Trong suốt thời gian đóng quân tại miền Bắc Việt Nam, Lư Hán dùng mọi khả năng của mình để làm thất bại mọi kế hoạch của Pháp giành lại quyền kiểm soát miền Bắc Việt Nam. Người Pháp được đối xử như những người ngoại quốc khác, Pháp không được cử đại diện tham gia vào lễ đầu hàng của Nhật với tư cách một nước trong khối Đồng Minh, các chỉ huy Pháp tại Hà Nội cũng không được Lư Hán công nhận là đại diện của chính phủ De Gaulle. Bộ phận OSS của Mỹ tại miền Bắc Việt Nam cũng từ chối giúp các chỉ huy Pháp thiết lập một hành dinh tại Việt Nam. Trước đó OSS đã được lệnh của Tổng thống Mỹ Franklin D. Roosevelt không để cho Pháp tái chiếm Đông Dương, không được cung cấp vũ khí hay tiếp tế cho Pháp ngoại trừ để thực hiện những mục tiêu chống Nhật đã được Đồng Minh tán thành.
Tạ Quang Bửu cho rằng: mặc dù Tưởng thừa nhận là đứng trung lập, nhưng ở Trung Quốc vẫn có hai lực lượng đấu tranh với nhau. Quốc dân Đảng Trung Quốc cho việc chiếm đóng là một cơ hội để ép Paris phải nhân nhượng. Các tướng địa phương, đặc biệt là Lư Hán, lại coi việc chiếm đóng là một dịp để cướp đoạt, gây dựng một nguồn cung cấp hàng hóa và thị trường lâu dài để buôn lậu, đồng thời mở rộng quyền sở hữu của họ ra vùng ngoài biên giới Trung Quốc. Trong chính sách 14 điểm của quân Trung Hoa Dân quốc, có 4 điểm thường gây ra sự bực bội cho tướng Lư Hán và Pháp. Hồ Chí Minh cho rằng mục tiêu trước mắt của Quốc dân Đảng Trung Quốc là giữ người Pháp đứng ngoài Đông Dương và ủng hộ phong trào Quốc gia tại Việt Nam cho đến khi đàm phán xong với Pháp. Theo ông, khi nào một chế độ thân Trung Quốc còn nắm quyền thì Pháp không thể lật đổ chính quyền Việt Nam tại miền Bắc.
Tại miền Nam, lực lượng Anh do Thiếu tướng Douglas D. Gracey chỉ huy đổ bộ vào Sài Gòn để thực hiện nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Lực lượng Anh có nhiệm vụ chiếm giữ các bộ chỉ huy thuộc Hành dinh Tập đoàn quân Nam của Nhật Bản và vùng Sài Gòn Chợ Lớn, giúp đỡ tù binh và tù dân sự, giải giáp và tập trung quân Nhật, duy trì luật pháp và trật tự, chỉ huy các quân nhân Pháp tại miền Nam. Tuy nhiên, lực lượng này không có trách nhiệm giữ trật tự ngoài các khu vực được phân công căn cứ vào nhu cầu giải giáp và hồi hương quân Nhật nếu nhà chức trách Pháp không yêu cầu và phải được sự đồng ý của Tổng Tư lệnh Tối cao quân đội Đồng Minh. Việc giữ trật tự tại các khu vực ngoài tầm kiểm soát của quân Anh sẽ do quân đội Nhật phụ trách. Tuy nhiên, Thiếu tướng Gracey xem những rối loạn tại Nam Kỳ là tình trạng vô chính phủ cần chấn chỉnh. Ông ra lệnh cho quân đội Nhật tước vũ khí của người Việt Nam, đuổi Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ ra khỏi Dinh Toàn Quyền ở Sài Gòn.
Trước việc quân Đồng Minh vào Việt Nam giải giáp quân đội Nhật, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương đề kháng thụ động đối với quân đội các nước Đồng Minh. Chính phủ của ông công khai ủng hộ nhiệm vụ giải giáp quân Nhật của họ và sẵn sàng giúp đỡ họ về mọi mặt. Ông cố gắng tránh những xung đột giữa người Việt và quân đội Trung Hoa Dân quốc tại miền Bắc, nếu cần thì sẽ chấm dứt cộng tác với quân đội này, tổ chức bãi công, bãi thị và sơ tán dân thành thị về nông thôn. Tại miền Nam không để xảy ra những rối loạn khiến người Anh can thiệp vào tình hình chính trị Việt Nam, cản trở hoạt động của Việt Minh. Ông cũng ra lệnh cho Trần Văn Giàu không được xâm phạm đến thân thể và tài sản của thường dân Pháp, không để xảy ra xung đột với các quân nhân Pháp tại miền Nam, cộng tác với quân đội Anh trong việc duy trì trật tự công cộng và hoạt động hành chính nếu như Anh không can thiệp vào công tác điều hành của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ. Ngày 8/9/1945, Trần Văn Giàu ra lời kêu gọi nhân dân Nam Kỳ cộng tác với quân đội Đồng Minh theo chủ trương của Hồ Chí Minh.
Lễ đầu hàng của Nhật được Trung Hoa Dân Quốc tổ chức ngày 28/9/1945. Khách mời bao gồm các nhà chức trách quân sự và dân sự Trung Quốc, các chỉ huy quân đội Đồng Minh, các sĩ quan OSS, Chủ tịch Hồ Chí Minh và nội các của ông, các sĩ quan Pháp. Người Pháp và người Việt Nam cố tình vắng mặt không tham dự. Tại buổi lễ có treo cờ Mỹ, Liên Xô, Trung Quốc, Anh nhưng không treo cờ Pháp và Việt Nam. Phía Pháp đã yêu cầu tướng Lư Hán treo cờ Pháp nhưng ông này từ chối với lý do ở miền Bắc Việt Nam đang có phong trào chống Pháp. Sau khi tướng Nhật Tsuchihashi ký vào Bản tuyên bố đầu hàng Đồng Minh, văn kiện này được dịch ra tiếng Pháp và tiếng Việt sau đó được đọc trước buổi lễ dù cả người Pháp và người Việt đều không tham dự.
=== Pháp quay trở lại Đông Dương ===
Nước Pháp chưa bao giờ tỏ ra một chút gì muốn "giải thoát" cho thuộc địa cũ của nó. Mục tiêu của Pháp được các viên chức Mỹ ba lần chính thức cam kết ủng hộ. Quyền Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Welles đã viết ngày 13-4-1943, trong một lá thư gửi cho Henri Haye, đại sứ Pháp ở Washington: "Chính phủ Mỹ thừa nhận chủ quyền của người Pháp đối với lãnh thổ nước Pháp và đối với những thuộc địa của Pháp ở Hải ngoại... (và) nồng nhiệt hy vọng nước Pháp sẽ có thể khôi phục được nền độc lập của nước Pháp và sự toàn vẹn lãnh thổ của Pháp"; và đến tháng 11, một viên chức cao cấp thuộc Bộ Ngoại giao ở Bắc Phi, Robert Murphy, đã viết cho Giraud rằng "Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ chủ quyền nước Pháp sẽ được phục hồi càng sớm càng tốt trên toàn bộ lãnh thổ, chính quốc và thuộc địa, trên đó cờ nước Pháp đã tung bay vào năm 1939. Hiệp định Clark - Darlan về cuộc tấn công của chúng ta vào Bắc Phi cũng đã ghi nhận sự đồng ý giữa hai bên rằng các lực lượng của Pháp sẽ "giúp đỡ và ủng hộ" Đồng minh trong việc phục hồi toàn bộ Đế quốc Pháp".
Một năm sau, chính phủ Pháp lưu vong ("nước Pháp tự do") của tướng Charles de Gaulle quyết định đến lúc phải bảo đảm cho nước Pháp sau chiến tranh một vị trí trong các nước Đồng minh khi ký hoà ước kết thúc chiến tranh. Để đạt được mục đích của mình, tháng 10 năm 1943, Pháp đệ trình Đại bản doanh Đồng minh (AFHQ), những yêu cầu về việc trang bị cho quân đội viễn chinh Đông Dương của Pháp (CEFEO) để sẵn sàng hành động vào mùa thu 1944.
Ngày 2/5/1945, tại Hội nghị San Francisco, Bộ trưởng Ngoại giao Pháp G. Bidault tuyên bố chỉ có Pháp mới có quyền quyết định tương lai Đông Dương. Ông này khẳng định rằng quyền ủy trị có thể áp dụng trên các thuộc địa khác chứ không thể áp dụng cho Đông Dương. Nhưng Pháp không được tham gia vào cuộc thương lượng giữa Trung Quốc và Nhật về việc Nhật đầu hàng Đồng Minh vì Pháp không tham gia vào chiến tranh Thái Bình Dương chống Nhật.
Tháng 9 năm 1945, cựu hoàng Nguyễn Phúc Vĩnh San sau khi được De Gaulle đồng ý trở lại Việt Nam trên cương vị Hoàng đế, đưa ra đề xuất thẳng thừng đòi hỏi sự thống nhất của ba kỳ (Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ), nền độc lập của đất nước thông qua thời gian, liên kết cần thiết và hữu cơ giữa Việt Nam, Campuchia và Lào. De Gaulle đã không đưa ra lời phản đối. Ngày 4 tháng 12 năm 1945, với mong muốn đất nước thống nhất và độc lập trong một thời gian ngắn, cựu hoàng Duy Tân đã có cuộc đàm phán với De Gaulle, mong muốn lá cờ Pháp và cờ ba màu và ba thanh đại diện ba kỳ sẽ bay ở Việt Nam. Ngày 24 tháng 12, máy bay chở Duy Tân gặp nạn tại Trung Phi, những người đi trên máy bay đều thiệt mạng. Ngay sau vụ tai nạn, De Gaulle nói với Palewski: "Đó là sự thật, nó cho thấy Pháp không có cơ hội.". Sự kiện này làm nhiều người trong chính giới Pháp cho rằng cần đối thoại với các lực lượng chính trị bản xứ, bao gồm cả Việt Minh. Trước đó ngày 10 tháng 8, Pháp đã gửi thông điệp đề xuất giải pháp một Cao ủy Pháp bổ nhiệm Bộ trưởng được chấp nhận bởi quốc hội Việt Nam và độc lập "được trao cho đất nước này trong tối thiểu năm năm và tối đa là mười năm" và ngày 15 tháng 8 Pháp tuyên bố đàm phán với Việt Minh sẽ chỉ khúc dạo đầu "để tham khảo ý kiến rộng rãi của tất cả các bên Đông Dương" và rằng nó sẽ tiến tới một bản Hiến pháp mới sẽ làm rõ "nhiều khả năng để đáp ứng nguyện vọng của các dân tộc Đông Dương trong sự độc lập trong Liên hiệp Pháp".
Ở miền Nam Việt Nam, chỉ 4 ngày sau khi Việt Nam tuyên bố độc lập, phái bộ quân sự Anh đã có mặt ở Sài Gòn, theo sau là liên quân Anh-Pháp. Quân Anh theo lệnh Đồng Minh vào giám sát quân Nhật đầu hàng nhưng đồng thời cũng tạo điều kiện cho quân Pháp vào Nam Bộ. Chính phủ lâm thời của Cộng hòa Pháp muốn khôi phục lãnh thổ Đông Dương với cơ chế tự trị. Ngày 19, Pháp tuyên bố sẽ lập chính quyền tại miền Nam. Ngày 23, với sự giúp đỡ của quân Anh, quân Pháp nổ súng chiếm quyền kiểm soát Sài Gòn (ngày này sau được Việt Nam gọi là ngày Nam Bộ Kháng chiến). Nước Việt Nam vừa giành được độc lập đã phải đối đầu với quân đội nước ngoài.
Ngày 25 tháng 9, ở khu Hérault tại Tân Định ngoại ô Sài Gòn, khoảng 300 người Pháp bao gồm đàn ông, phụ nữ và trẻ em bị lực lượng Bình Xuyên bắt cóc và một nửa trong số họ bị giết, số còn lại được thả sau khi đã bị đánh đập, tra tấn.
Ngày 9 tháng 10, Anh chấp thuận Cục Dân sự Pháp là cơ quan duy nhất ở Đông Dương về phía nam vĩ tuyến 16. Ngày 7 tháng 1 năm 1946, Pháp và Vương quốc Campuchia ký hiệp ước chấp thuận Vương quốc Campuchia là quốc gia tự trị, thành viên Liên hiệp Pháp. Một hiệp ước tương tự được ký với Vương quốc Lào ngày 27 tháng 8..
Ngày 9 tháng 10, tướng Pháp Leclerc đến Sài Gòn, theo ông là lực lượng gồm 40.000 quân Pháp để chiếm giữ miền Nam Việt Nam và Campuchia. Từ cuối tháng 10, quân Pháp bắt đầu đẩy mạnh kế hoạch phá vây, mở rộng đánh chiếm ra vùng xung quanh Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ.
Từ cuối tháng 9 năm 1945, các đoàn quân "Nam tiến" của Vệ quốc đoàn (quân đội của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa) bắt đầu lên đường vào Nam chống Pháp. Các tướng lĩnh quan trọng như Nguyễn Bình, Nguyễn Sơn... được cấp tốc cử vào Nam. Trong hai tháng cuối năm 1945 và tháng 1 năm 1946, lực lượng Việt Minh tại các tỉnh Nam Bộ đã chiến đấu ngăn chặn làm chậm bước tiến của quân Pháp. Tuy nhiên, do lực lượng chênh lệch, sau một thời gian, các lực lượng này đều phải rút ra những căn cứ đầm lầy và rừng núi, xây dựng chiến khu để bảo tồn lực lượng cho kháng chiến lâu dài.
Tại Lào, một chính phủ nhân dân phi cộng sản thành lập tháng 10 năm 1945. Tuy nhiên vua Sisavang Vong chấp thuận nền quân chủ lập hiến trong Liên hiệp Pháp và từ ngày 13 tháng 5 năm 1946, tất cả các văn bản từ khi Nhật chiếm đóng Lào vô hiệu.
=== Sự chia rẽ giữa các đảng phái ===
Trước năm 1945, Đảng Cộng sản Việt Nam và các đảng phái Quốc gia khác tuy có ý thức hệ khác nhau nhưng vẫn có chung nền tảng giáo dục, thường xuyên có sự hợp tác và đôi khi có cùng quan hệ huyết thống hoặc hôn nhân. Trong giai đoạn 1924 - 1927, ở miền Nam Trung Quốc, các nhóm người Việt chống thực dân Pháp đa dạng tương tác với nhau, với cả người Trung Quốc, Triều Tiên và các dân tộc khác. Từ năm 1941 đến 1944 ở miền nam Trung Quốc, Đảng Cộng sản Đông Dương, Việt Nam Quốc Dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách) cùng tham gia vào mặt trận chống Nhật, đôi khi tố giác nhau với chính quyền Trung Quốc, nhưng không bắt cóc hoặc ám sát lẫn nhau. Chính sự cạnh tranh để kết nạp thành viên, thu nhận viện trợ cũng như sự bảo trợ của người Trung Quốc, hơn là sự khác biệt về ý thức hệ, mới là nguyên nhân khiến căng thẳng giữa các tổ chức lưu vong gia tăng. Trong nước, Đảng Cộng sản Đông Dương cũng từng hợp tác với những người Trotskyist tại Nam Kỳ trong giai đoạn 1933-1937. Hai bên sau đó chỉ trích nhau chẳng hạn thành viên của Quốc tế thứ ba (Đảng Cộng sản Đông Dương) và Quốc tế thứ tư (những người Trotskyist) cáo buộc lẫn nhau là phục vụ lợi ích đế quốc. Ban đầu cuộc tranh đấu chỉ trong phạm vi báo chí, truyền thông. Đến năm 1945 thì các phe phái đã dùng vũ lực để tiêu diệt lẫn nhau. Trong thời điểm đặc biệt khó khăn cần sự đoàn kết giữa các lực lượng chính trị tại Việt Nam thì Việt Minh và các đảng phái, tôn giáo khác như Việt Nam Quốc dân Đảng, Đại Việt Quốc dân đảng, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, những người Trotskyist, Bình Xuyên, Hòa Hảo, Cao Đài... bị chia rẽ nghiêm trọng.
==== Miền Nam ====
Tại miền Nam, sự lãnh đạo của Việt Minh không vững như tại miền Bắc. Những người Trotskyist đang kiểm soát ngành cảnh sát và các tôn giáo Hòa Hảo, Cao Đài có ác cảm với Việt Minh. Các giáo phái được Nhật hỗ trợ phát triển phong trào chính trị của họ mạnh mẽ. Cao Đài đông hàng triệu người, tỉnh nào cũng có, họ tập trung ở Sài Gòn đến mấy vạn làm công nhân và làm binh lính. Lực lượng Cao Đài có Đảng Phục Quốc của Trần Quang Vinh. Hòa Hảo đông hàng chục vạn người, nhiều nhất là ở Hậu Giang, tập trung tại Sài Gòn đến vài ngàn. Hòa Hảo có chính đảng là Dân Xã Đảng. Giáo phái Tịnh độ cư sĩ có hàng vạn quần chúng, họ không tập trung lên Sài Gòn, nhưng làm cơ sở quần chúng cho Quốc gia Đảng. Phe Trotskyist không có đông quần chúng nhưng một cánh Trotskyist là cánh Hồ Vĩnh Ký, Huỳnh Văn Phương cầm đầu Sở Mật thám và Sở Cảnh sát Nam Kỳ tạo thế cho các cánh khác hoạt động. Nhiều tổ chức khác có năm, bảy trăm, vài ba ngàn người hợp tác với Sở Sen đầm Kempeitai của Nhật. Đảng viên bí mật Đảng cộng sản Đông Dương Phạm Ngọc Thạch được Thống đốc Nam Kỳ Minoda Fujio và Tổng lãnh sự Nhật Ida mời tổ chức Thanh niên Tiền phong. Lực lượng này chỉ riêng tại Sài Gòn đã có hơn 20 vạn người và phát triển hơn 1 triệu đoàn viên trong toàn cõi Nam Kỳ.
Tháng 3 năm 1945, nhóm Trotskyist ra tuyên bố lên án Đảng Cộng sản Đông Dương, nhóm Stalinist của Quốc tế thứ ba, đã từ bỏ giai cấp công nhân để nhóm mình thảm hại dưới các đế quốc "dân chủ", phản bội những người nông dân và không còn nói về vấn đề ruộng đất; đồng thời tuyên bố "cuộc đấu tranh độc lập dưới lá cờ của Quốc tế thứ tư", "ủng hộ cách mạng thế giới". Ý nghĩa chính của họ là làm suy nhược Đảng Cộng sản Đông Dương tại Nam Kỳ và để làm giảm hiệu quả của Việt Minh ở đó. Người Trotskyist cũng đấu tranh vì độc lập dân tộc nhưng lại chủ trương vũ trang quần chúng, xóa bỏ tàn dư của chế độ thực dân Pháp, chống lại nỗ lực của các nước Đồng Minh khôi phục chủ quyền của Pháp và thi hành ngay các cải cách xã hội còn Việt Minh vẫn chấp nhận cơ cấu chính quyền cũ, sẵn sàng thương lượng với Đồng Minh và cải cách xã hội từng bước để tránh sự thay đổi đột ngột về kinh tế xã hội và cuộc đấu tranh giai cấp gắn liền với nó. Theo Trần Huy Liệu, tại hội nghị Quốc dân Đại hội Tân Trào tháng 8/1945 ở Tân Trào, tất cả đại biểu của các đảng phái tham dự đã thống nhất cuộc cách mạng giải phóng dân tộc sẽ theo khuynh hướng dân chủ, không dùng bạo lực và lập ra một mặt trận thống nhất có kỷ luật của tất cả các đảng phái để ra mắt Đồng Minh. Tuy nhiên một số đảng phái ở miền Nam đã không thấy hết sự quan trọng của việc duy trì trật tự xã hội trong giai đoạn chuyển tiếp này.
Tại Sài Gòn, xảy ra các xung đột giữa người Việt và người Pháp khiến một số người của cả hai bên chết. Báo Dân chúng của Việt Minh kêu gọi nhân dân bình tĩnh, tái lập trật tự và biểu thị sự trưởng thành chính trị đồng thời lên án những đảng phái quốc gia đã gây rối loạn và phá hoại sự nghiệp độc lập dân tộc bằng cách tấn công "những người Việt Nam yêu chuộng hòa bình". Dương Bạch Mai, Ủy viên trưởng Quốc gia Tự vệ Cuộc, ra lệnh tước vũ khí của hai giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo nhưng không đạt kết quả. Các báo chí chống cộng được những người Trotskyist hỗ trợ đáp trả bằng cách kết tội Trần Văn Giàu và đồng sự thân Pháp, có mưu đồ khôi phục nền cai trị của Pháp, phản bội sự nghiệp giải phóng dân tộc. Sainteny nhận định Việt Minh đã mất khả năng kiểm soát tình hình, việc Việt Nam trở nên hỗn loạn chỉ là vấn đề thời gian không phải vì xung đột với Pháp mà vì người Việt tự đánh lẫn nhau. Người Pháp sẽ bị kẹt giữa cuộc chiến đó của người Việt. Tình hình chỉ có thể được cứu vãn nếu người Anh hoặc Trung Quốc đến kịp thời.
Đêm 22/8/1945, Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Kỳ (thuộc chính phủ De Gaulle) Jean Cédile nhảy dù xuống gần Biên Hòa và bị nông dân bắt giữ giao cho quân đội Nhật. Sau đó ông được thả ra. Ngày 27/8/1945, Cédile gặp Trần Văn Giàu để bàn về tương lai của Việt Nam. Cédile đề nghị tương lai chính trị của Việt Nam chỉ được bàn sau khi người Pháp đã khôi phục quyền hành và phải được đặt trong khuôn khổ Tuyên bố ngày 24/3/1945 của Pháp còn Giàu giữ quan điểm Pháp trước hết phải công nhận nền độc lập của Việt Nam rồi mới bàn tới quan hệ giữa Việt Nam và Pháp. Hai bên không đi đến thống nhất về vấn đề này. Khi biết được điều này, những người Trotskyist tố cáo Việt Minh là bán mình cho Pháp và phản cách mạng.
Trong tháng 8/1945, những người Trotskyist đưa ra một chương trình cách mạng xã hội. Họ cùng với các giáo phái Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên khuyến khích nông dân tước đoạt tài sản và chia nhau ruộng đất của địa chủ. Nhiều địa chủ bị nông dân giết. Việt Minh phản đối việc xúi giục nông dân chiếm ruộng đất của địa chủ và tuyên bố: "chúng tôi chưa làm cách mạng cộng sản chủ nghĩa nhằm giải quyết vấn đề ruộng đất. Chính phủ hiện nay chỉ là chính phủ dân chủ vì thế không có nhiệm vụ nói trên. Tất cả những người nào xúi giục nông dân chiếm tài sản của địa chủ sẽ bị trừng trị nghiêm khắc".
Ngày 2/9/1945, tại Sài Gòn, những người lãnh đạo Việt Minh ở Sài Gòn, theo chỉ thị của Hà Nội hoặc muốn biểu thị một sự đoàn kết với Hà Nội, đã tổ chức một cuộc biểu tình khổng lồ nhân Ngày Độc lập. Nhưng các lãnh tụ Việt Minh kinh ngạc khi thấy trong đám quần chúng khoảng 20 vạn người đi diễu hành dọc phố Catinat, các đảng phái chính trị hợp thành liên minh miền Nam, trương lên những biểu ngữ, bích trương đầy tính chất tranh giành chia rẽ đảng phái. Khi người biểu tình đến trước cửa Nhà thờ chính tòa Đức Bà Sài Gòn thì có tiếng súng nổ từ phía Câu lạc bộ Pháp. Cuộc biểu tình biến thành một sự hỗn loạn. Không điều tra thủ phạm vụ nổ súng, cảnh sát Việt Nam đã bắt ngay hàng trăm người Pháp và thân Pháp. Bọn lưu manh thừa cơ hội cướp bóc một số nhà hàng người Hoa và Pháp. Các đảng phái nghi ngờ nhau đem đến một tương lai chính trị u ám cho đất nước. Vụ nổ súng làm thiệt mạng 4 người Pháp và 14 người Việt. Cảnh sát không tìm ra được thủ phạm vụ nổ súng.
Ngày 7/9/1945, tờ Báo Đấu tranh, cơ quan ngôn luận của những người Trotskyist đăng một bài xã luận chỉ trích Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ không có những biện pháp bảo đảm an toàn cho cuộc biểu tình vào ngày 2/9/1945 tại Sài Gòn khiến một số người chết. Sau đó, ngày 8/9/1945, Trần Văn Giàu thay mặt Ủy ban Hành chính Lâm thời ra thông cáo tố cáo những kẻ khiêu khích (ám chỉ những người Trotskyist và các giáo phái) đã phá hoại trật tự và gây đổ máu vào ngày 2/9/1945 đồng thời chỉ trích việc họ đã tổ chức một cuộc biểu tình đòi vũ trang cho quần chúng. Bản thông cáo nhắc nhở rằng quân đội Nhật mặc dù đã bại trận nhưng theo thỏa thuận với Đồng Minh vẫn có trách nhiệm duy trì trật tự cho đến khi Đồng Minh tới. Tổng hành dinh Nhật có thể tước vũ khí bộ đội quốc gia, cấm các phong trào chính trị gây rối loạn trị an, cấm các cuộc biểu tình không được phép trước Tổng Hành dinh Nhật, tước vũ khí dân chúng. Thông cáo kêu gọi người dân vì lợi ích quốc gia hãy tin cậy Ủy ban Hành chính Lâm thời, đừng để bọn phản bội tổ quốc lôi kéo. Chỉ như vậy việc đàm phán giữa phong trào độc lập của Việt Nam với Đồng Minh mới thuận lợi.
Ngay sau đó, những người Trotskyist và các giáo phái Hòa Hảo, Cao Đài công khai thách thức Ủy ban Hành chính Lâm thời. Họ tổ chức biểu tình yêu cầu cấp vũ khí cho dân chúng và kêu gọi mọi người chống lại quân đội Anh. Các Ủy ban Nhân dân địa phương ủng hộ yêu sách của các tổ chức này. Tại các tỉnh xảy ra xung đột vũ trang giữa bộ đội Việt Minh và các đơn vị quân sự của Cao Đài và Hòa Hảo. Phe đối lập kết tội Việt Minh phản bội, từ chối không giao nộp vũ khí và đòi Giàu từ chức.
Ngày 9/9/1945, Việt Minh cải tổ Ủy ban Hành chính Lâm thời. Trần Văn Giàu từ chức nhường chỗ cho Phạm Văn Bạch. Số thành viên thuộc Đảng Cộng sản Đông Dương rút từ 6 (trong số 9 người) xuống còn 4 (trong số 13 người). Trong Ủy ban Hành chính Lâm thời mới có 1 thuộc Cao Đài, 1 người Trotskyist, 2 thuộc Hòa Hảo, 3 người không đảng phái, 2 người thuộc các đảng phái quốc gia khác. Tuy nhiên sự cải tổ này không đem lại ổn định cho miền Nam. Ủy ban mới nhanh chóng sụp đổ chưa đầy 2 tuần lễ sau do các cuộc đấu tranh đảng phái, tinh thần chống Pháp, tâm lý phân biệt chủng tộc và nỗi lo sợ các đội ám sát của Việt Minh.
==== Miền Bắc ====
Tại miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem những đảng phái quốc gia thân Trung Hoa Dân Quốc như Việt Cách, Việt Quốc là bọn quốc gia giả hiệu, đầy tớ Quốc dân Đảng, không có liên hệ gì với nhân dân Việt Nam. Ông miêu tả họ là những người không có tổ chức, một nhóm cơ hội tranh giành nhau, tàn dư của các đảng phái quốc gia cũ không có chương trình hành động cơ bản nhưng lại có quá nhiều lãnh tụ. Theo sử gia Trần Trọng Kim thì Việt Quốc, Việt Cách có thế lực nhờ quân đội Trung Hoa Dân Quốc hỗ trợ, nhưng không thống nhất và không có kỷ luật chặt chẽ, tuyên truyền nhiều mà không làm được việc gì đáng kể. Sĩ quan OSS (cơ quan tình báo Mỹ) Archimedes L.A Patti mô tả: "họ mang theo cao vọng là sẽ nắm trọn quyền lãnh đạo đất nước nhưng lại quá kém về tổ chức và không có được một chương trình hành động ra hồn. Họ đã sống tập trung nhiều năm ở Quảng Tây dưới sự che chở của Trương Phát Khuê và ngẫu nhiên trở nên chống Pháp. Liên minh Đồng minh Hội đầy tham vọng và rạn nứt, đã bị lạc lõng. Việt Nam Quốc Dân Đảng và Đại Việt cũng tách khỏi liên minh và tìm cách giành cho mình quyền lãnh đạo... Sự chia rẽ đã làm lợi cho Việt Nam suốt trong 6 tháng sau và những người Quốc gia thân Trung Quốc đã tự mình cô lập khỏi đông đảo quần chúng, đúng như Hồ Chí Minh đã dự đoán."
Trong suốt thời gian chiến tranh thế giới thứ II, nhờ có Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội (Việt Cách) mà các đảng phái chống thực dân Pháp lưu vong tại miền Nam Trung Quốc nhận được sự công nhận và hỗ trợ của tướng Trương Phát Khuê, tư lệnh quân khu IV (Quảng Đông - Quảng Tây). Tuy nhiên, từ tháng 5/1945, Hồ Chí Minh lãnh đạo Việt Minh hoạt động tại các tỉnh biên giới Việt Nam - Trung Quốc mà không lấy danh nghĩa Việt Cách khiến tướng Tiêu Văn (cấp dưới của Trương Phát Khuê phụ trách vấn đề Đông Dương) khó chịu. Tiêu Văn ủng hộ lãnh đạo Việt Cách là Nguyễn Hải Thần (người được kính trọng vì từng là đồng chí của Phan Bội Châu) tập hợp hàng trăm người Việt lưu vong để cùng quân đội Trung Hoa Dân quốc vượt biên giới tấn công quân Nhật. Tuy nhiên, khi Nhật bất ngờ đầu hàng Đồng Minh, Tưởng Giới Thạch giao cho Lư Hán nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Lư Hán không có quan hệ với Việt Cách cũng như các đảng phái lưu vong khác của người Việt nhưng chấp nhận cho Tiêu Văn tham gia quân đội của ông.
Ngày 1/9/1945, tại Móng Cái, Việt Cách thành lập Chính phủ Quốc gia lâm thời Việt Nam do Nguyễn Hải Thần đứng đầu. Sau đó Việt Cách thông báo với Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rằng Trung Hoa Dân quốc và phe Đồng Minh đã công nhận hiệu kỳ của Việt Cách là lá cờ của tất cả các đảng cách mạng Việt Nam. Trên đường tiến vào Hà Nội và Hải Phòng, Việt Cách để cán bộ lại tại các tỉnh họ đi qua khiến Nguyễn Hải Thần khi về đến Hà Nội chỉ có một nhóm cận vệ bên cạnh.
Trong hai ngày 18 và 19 tháng 9 năm 1945, Việt Minh họp bí mật với Việt Cách (ngày 18/9/1945) và Việt Quốc (ngày 19/9/1945). Trong hai cuộc họp này, Nguyễn Hải Thần đại diện Việt Cách và Nguyễn Tường Tam đại diện Việt Quốc đề nghị Hồ Chí Minh đồng ý hợp nhất Việt Minh với Việt Cách và Việt Quốc. Qua đó, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Việt Minh lãnh đạo sẽ nhận được sự ủng hộ về tài chính và chính trị của Trung Hoa Dân quốc. Võ Nguyên Giáp dứt khoát không đồng ý. Theo ông, những đề nghị đó không có giá trị và không thật thà, nó chẳng khác gì thay thế chủ nghĩa thực dân Pháp bằng ách thống trị của Trung Quốc, nhân dân sẽ "chẳng bao giờ chịu bán rẻ sự nghiệp chính nghĩa của họ để đổi lấy đô la Trung Quốc".
Lực lượng Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) bao gồm những đơn vị vượt biên giới Trung Quốc tiến vào Việt Nam cùng quân đội Trung Hoa Dân quốc, các chi bộ đảng tại Công ty Đường sắt Đông Dương, Sở Bưu điện và Viện Đại học Đông Dương, các đảng viên Việt Quốc mới ra tù và các thành viên Đại Việt đang muốn liên kết với Việt Quốc. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương đánh giá Việt Quốc còn cao hơn Việt Cách, Đại Việt, những người Trotskyist hay các đảng phái khác.
Đầu tháng 9/1945, Vũ Hồng Khanh, người đứng đầu Việt Quốc, sau nhiều lần bị Trung Quốc cản trở từ Vân Nam, Trung Quốc về đến Hà Nội ngày 20/10/1945. Trong khi ông vắng mặt, một nhóm đảng viên Việt Quốc sẵn sàng hợp tác với Việt Minh đã thành lập một ủy ban nhằm tái cơ cấu lại Việt Quốc. Vũ Hồng Khanh làm ngơ việc này. Nguyễn Tường Tam ở lại Trung Quốc trong suốt năm 1945 để vận động Trung Quốc và Mỹ ủng hộ nền độc lập của Việt Nam nhưng không thành công. Vì vậy tài năng báo chí của Tam không được sử dụng.
Việt Quốc xuất bản Báo Việt Nam ra số đầu tiên ngày 15/11/1945, trên trang nhất của số đầu tiên tuyên bố Việt Quốc kế thừa sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Thái Học và các đồng chí của ông hy sinh năm 1930 đồng thời cáo buộc Hồ Chí Minh quay lưng với Mặt trận thống nhất (1942-1945) bằng cách đơn phương giành chính quyền vào tháng 8/1945. Bài báo cho rằng Việt Quốc hoàn toàn có thể lật đổ chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhưng vì lợi ích quốc gia nên họ không làm. Việt Quốc cũng tuyên bố Việt Minh đang "theo đuổi một chính sách sai lầm, thiếu hiệu quả, vì theo chủ nghĩa cực đoan nên đánh mất bạn bè quốc tế, khủng bố các đảng phái cách mạng khác, không xử lý nổi các vấn đề kinh tế và hoàn toàn thụ động trước việc Pháp đổ bộ vào miền Nam". Việt Quốc kêu gọi các đảng phái gạt bỏ bất đồng để thành lập Chính phủ liên hiệp lãnh đạo nhân dân giành độc lập, kêu gọi các thành viên Việt Minh hãy nhận thức rằng lãnh đạo của họ đang đưa đất nước đến thảm họa và sử dụng họ vào các mục tiêu quyền lực tham lam, ích kỷ. Trong 6 tuần sau, Báo Việt Nam hiếm khi sử dụng cụm từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nếu có dùng thì cũng để trong ngoặc kép đồng thời không thừa nhận quốc kỳ và quốc ca của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Họ buộc tội Hồ Chí Minh là độc tài, Việt Minh là băng đảng phát xít và vẽ một số tranh biếm họa chỉ trích Hồ Chí Minh. Họ cũng tố cáo Tổng bộ Việt Minh lừa bịp, tống tiền, bắt cóc đối thủ và tổ chức các cuộc tấn công vũ trang vào văn phòng Việt Quốc. Họ cũng chỉ trích Báo Cứu quốc của Việt Minh. Báo Việt Nam rất ít nói về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngoại trừ thường xuyên lên án lực lượng an ninh và Bộ Tuyên truyền. Báo Việt Nam lưu hành rộng rãi tại các tỉnh với sự giúp đỡ của các đảng viên Việt Quốc và các cảm tình viên ở Sở Bưu điện và Công ty Đường sắt Đông Dương. Các chính quyền địa phương thường xuyên tịch thu Báo Việt Nam và bắt giữ những người đọc báo này.
Ngày 20/1/1946, Nguyễn Tường Tam và Nghiêm Kế Tổ từ Trùng Khánh về Việt Nam thông báo về cuộc đàm phán Hoa - Pháp khiến nội bộ Việt Quốc tranh luận căng thẳng về hành động tiếp theo khi Trung Quốc rút quân khỏi miền Bắc Việt Nam. Ngày 10/2/1946, tại Hà Nội và Hải Phòng, Việt Quốc tổ chức lễ tưởng niệm cuộc nổi dậy năm 1930 ở Yên Bái. Tại Hải Phòng, cuộc tưởng niệm bị một số người phản đối vì không treo cờ đỏ sao vàng.
Từ giữa tháng 2/1946, việc Pháp và Trung Quốc đàm phán với nhau, Pháp có thể đổ quân vào miền Bắc và Hồ Chí Minh đàm phán với Pháp khiến các đảng phái lo lắng và bắt đầu chỉ trích lẫn nhau. Một tờ báo phi đảng phái chỉ trích cả 2 tờ Việt Nam và Cứu Quốc vì đã liên tục dùng từ "phản động" mạt sát nhau khiến công chúng hoang mang, ảnh hưởng đến sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc trong khi người nước ngoài (trong đó có Pháp) cũng đang đọc báo của họ.
Ngày 20/2/1946, một đám đông tập hợp trước dinh Bảo Đại mang theo cờ vàng của nhà vua và các biểu ngữ ủng hộ Bảo Đại, phản đối chính sách thân Pháp và cảnh báo tổ quốc đang lâm nguy. Ba người cao tuổi đến gặp Bảo Đại để yêu cầu ông đứng ra thành lập chính phủ mới thay thế Hồ Chí Minh. Quân cảnh Trung Hoa Dân Quốc ngăn cản lực lượng an ninh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cố gắng giải tán đám đông. Việt Minh cáo buộc Việt Quốc tổ chức cuộc biểu tình này.
Việt Nam Quốc dân Đảng và Đại Việt Quốc dân đảng đã tổ chức các đội vũ trang như "Thần lôi đoàn", "Thiết huyết đoàn", "Hùm xám"... Các đội này đã tổ chức nhiều vụ cướp có vũ trang, bắt cóc, tống tiền, tổ chức ám sát những người theo Việt Minh và cả những người trung lập như ông Ba Viên (Ba Viên bị Quốc dân Đảng nghi ngờ là gián điệp của Pháp, sau khi gặp Hồ Chí Minh, Ba Viên quay về Hà Giang, bắt giữ và hành quyết một số đảng viên Việt Nam Quốc dân Đảng), rồi tuyên truyền đổ lỗi cho Việt Minh đã không đảm bảo được an ninh trật tự ở Hà nội và một số đô thị ở Bắc Bộ. Khi Pháp chiếm lại Nam Kỳ, báo chí của các đảng phái này mô tả Việt Minh là bất lực, có khi là phản bội. Khi Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn của AFP và AP rằng Chính phủ Cách mạng Lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẵn sàng chấp nhận các cố vấn Pháp nếu họ tới Việt Nam với tư cách bạn bè chứ không phải kẻ xâm lược thì Việt Cách rải truyền đơn kết tội Việt Minh cấu kết với Pháp và kêu gọi người Việt Nam nếu muốn thật sự có độc lập phải từ bỏ Hồ Chí Minh và "bè lũ giết người" của ông. Họ ca ngợi lập trường của Tưởng Giới Thạch là "tuân theo các nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương và giúp đỡ cho sự nghiệp độc lập của Việt Nam", trong khi Việt Minh tại miền Nam lại thương lượng với Pháp và Hồ Chí Minh ở Hà Nội tỏ ra thân thiện với Pháp. Hồ Chí Minh nhận xét: "Việt Minh sẽ còn phải đấu tranh lâu dài cả với người Trung Quốc và người Việt Nam".
=== Nam Bộ kháng chiến ===
Jean Cédile đến Việt Nam theo mệnh lệnh lập lại trật tự và khôi phục chủ quyền của Pháp. Cédile có cảm tình với nguyện vọng độc lập của người Việt nhưng ông chủ trương trao trả độc lập từng bước cho Việt Nam. Ngay sau khi đến Việt Nam, Cédile đã tiếp xúc với các lãnh đạo Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ và cố gắng để đi đến một sự thông cảm nhưng quan điểm của ông là chỉ bàn đến độc lập của Việt Nam sau khi người Pháp đã khôi phục quyền hành và phải được đặt trong khuôn khổ Tuyên bố ngày 24/3/1945. Cédile đồng ý thương lượng với Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ nhằm tránh xung đột vũ trang Pháp Việt nhưng khá nhiều chủ nhà băng, chủ đồn điền, chủ mỏ, quan chức, chính trị gia Nam Kỳ người Pháp, Việt, Hoa phản đối ông với lý do Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ do những đảng viên Đảng cộng sản Đông Dương lãnh đạo. Giữa tháng 9-1945 và tháng 10-1946 khi rời Nam Kỳ, Cédile ủng hộ chính sách của D'Argenlieu-Pignon chấp thuận cho các chính khách tại Nam Kỳ thành lập Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ và hậu thuẫn những đảng phái thân Pháp như Đảng Nam Kỳ của Béziat. Jean Cédile cho lập Hội đồng tư vấn Nam Kỳ (Conseil consultatif de Cochinchine) với 12 ủy viên. Thành phần Hội đồng gồm 4 người Pháp và 8 người Việt nhưng tất cả đều có quốc tịch Pháp. Kết quả quan trọng là cú đảo chính ngày 22-23/9/1945 ở Sài Gòn và việc ông ký Hiệp định ngày 3-6-1946 thành lập Cộng hòa Tự trị Nam Kỳ với bác sĩ Nguyễn Văn Thinh thân Pháp làm Thủ tướng. Mục đích của Pháp là tách Nam Kì ra khỏi Việt Nam thống nhất.
Người Việt cũng bị chia rẽ. Việt Minh sẵn sàng đối thoại và thỏa thuận với phía Pháp để Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, lấy đó làm điểm xuất phát cho quá trình Pháp dần trao trả độc lập cho Việt Nam. Ngược lại, phe đối lập muốn hủy bỏ thương lượng với Jean Cédile và phát động cuộc chiến chống Pháp.
Đến ngày 16/9/1945, cuộc đàm phán Jean Cédile - Phạm Văn Bạch không đạt kết quả cụ thể. Theo phía Việt Nam, người Pháp tham gia đối thoại chỉ nhằm có thêm thời gian để củng cố vị trí và chờ quân đội của tướng Leclerc đổ bộ vào Việt Nam. Phạm Văn Bạch do chịu áp lực của phe đối lập đã công khai lên án Anh không chịu công nhận Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ là chính phủ hợp pháp duy nhất ở Nam Kỳ và gạt bỏ đề nghị hợp tác của Ủy ban. Sau khi không nhận được hồi đáp, Ủy ban tổ chức một cuộc tổng bãi công vào ngày 17/9/1945 để phản đối điều mà họ gọi là âm mưu Pháp - Anh nhằm lật đổ Chính phủ Việt Nam.
Ngay sau khi tướng Douglas D. Gracey, chỉ huy quân đội Anh, đến Sài Gòn ông ra lệnh cho quân đội Nhật tước vũ khí của người Việt Nam, đuổi Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ ra khỏi Dinh Toàn Quyền ở Sài Gòn. Chỉ huy quân đội Nhật, Thống chế Terauchi, điều 7 tiểu đoàn vào Sài Gòn để tước vũ khí người Việt. Nhật đòi Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ phải tước vũ khí và giải tán lực lượng vũ trang của Việt Nam. Trên thực tế, chỉ có Cao Đài, Hòa Hảo và Bình Xuyên có lực lượng vũ trang có tổ chức còn Việt Minh và những người Trotskyist chỉ có lực lượng tượng trưng do đó lệnh tước vũ khí áp dụng chủ yếu cho các giáo phái này. Người Pháp ngay lập tức treo cờ Pháp lên tất cả các công sở và xe quân sự. Phạm Văn Bạch gửi phái đoàn OSS một bức điện thông báo tình hình và yêu cầu phái đoàn thay mặt Đồng Minh chứng minh quyền được độc lập của nhân dân Việt Nam và tuyên bố Việt Nam đã hoàn toàn độc lập, người Việt có quyền tự quyết định số phận của mình.
Tình hình Sài Gòn ngày càng hỗn loạn. Quân đội Nhật bắt được nhiều nhóm khiêu khích thuộc lực lượng Bình Xuyên đã đánh bị thương một số quân nhân Pháp và đốt hai nhà của người Pháp. Đến đêm các cuộc tấn công vào người Pháp và người Việt tăng lên. Người Pháp bắt đầu lo sợ còn người Việt chuẩn bị sơ tán về nông thôn. Cédile gặp chỉ huy quân đội Anh, Douglas D. Gracey, để yêu cầu ông này cấp vũ khí cho tù bình Pháp nhằm bảo vệ tài sản và tính mạng của người Pháp.
Thiếu tướng Douglas D. Gracey, chỉ huy quân đội Anh không được lệnh cung cấp vũ khí cho người Pháp. Ông cũng muốn tránh một cuộc xung đột giữa quân đội của ông và người Việt. Ông đã được tướng Mounbatten nhắc nhở về việc quân đội Anh chỉ có trách nhiệm giải giáp quân đội Nhật chứ không được tham gia vào việc duy trì trị an vốn là trách nhiệm của quân đội Nhật cũng như tránh xa các diễn biến chính trị Pháp Việt. Tuy nhiên quân đội Nhật tỏ ra không muốn cộng tác với người Anh trong việc tước vũ khí người Việt. Gracey triệu tập chỉ huy quân đội Nhật đến và chỉ thị cho ông này phải có những biện pháp cấp bách và hiệu quả để khôi phục trật tự công cộng, thậm chí có thể dùng vũ lực. Nhật phải thực hiện mệnh lệnh ngày 6/9/1945 của phía Anh thực hiện việc tước vũ khí của bộ đội, dân quân, công an và dân thường Việt Nam.
Trước tình hình mâu thuẫn Pháp Việt ngày càng leo thang, Cédile nhờ Thiếu tá A. Peter Dewey, chỉ huy OSS tại Sài Gòn, gặp các lãnh đạo Việt Minh để thuyết phục họ khôi phục lại trật tự. Đêm 18/9/1945, A. Peter Dewey bí mật gặp Trần Văn Giàu, Phạm Văn Bạch, Dương Bạch Mai, Phạm Ngọc Thạch và Nguyễn Văn Tạo. Tất cả đều cho rằng quá muộn để thương lượng và hợp tác. Dân chúng bị xúc phạm và kích động vì thái độ kiêu căng của Pháp đã ở tư thế sẵn sàng làm mọi việc để giữ vững nền độc lập. Trần Văn Giàu phát biểu: "Hiện nay, việc cực kỳ khó khăn là kiểm soát được các bè phái chính trị khác nhau vì không phải tất cả thân Việt Minh mà tất cả đều chống Pháp".
Sáng ngày 19/9/1945, Cédile tổ chức họp báo và tuyên bố Việt Minh không đại diện cho nguyện vọng của người Đông Dương và không đủ khả năng duy trì trật tự công cộng. Các cuộc thương lượng với người Việt sẽ dừng lại cho đến khi trật tự được lập lại và sẽ chỉ được tiếp tục dựa trên cơ sở Bản Tuyên bố ngày 24/3/1945 của Pháp.
Ngày 21/9/1945, Thiếu tướng Anh Gracey ra bản Thông cáo số 1 tuyên bố sẽ duy trì pháp luật và trật tự ở Đông Dương phía Nam vĩ tuyến 16. Ông cấm tất cả các loại báo vì họ đưa tin sắp xảy ra nổi loạn và nội chiến trừ đài Sài Gòn và các báo của người Pháp. Trong 24 giờ sau, tình hình trở nên cực kỳ tồi tệ. Các vụ phá hoại, cướp bóc, hành hung, bắt cóc,... do cả hai phía Pháp Việt gây ra bùng nổ đáng sợ. Để đối phó với tình hình, ngay sau đó, tướng Gracey ra lệnh thiết quân luật. Quân đội Anh sẽ thực hiện giới nghiêm; cấm tụ tập, hội họp, biểu tình công khai; hạn chế đi lại ở một số khu vực; cấm mang vũ khí; thiết lập toà án binh để xử các vụ vi phạm trật tự, xử tử hình đối với tội cướp bóc và phá hoại. Gracey cũng cho sáp nhập cảnh sát Việt Nam vào quân đội Anh coi như một đơn vị dưới quyền chỉ huy của ông.
Đêm 21/9/1945, tình báo Pháp SLFEO báo cho Cédile biết người Việt đang củng cố lực lượng vũ trang của họ dưới sự chỉ đạo của Việt Minh. Cédile lại gặp Gracey để yêu cầu ông này trang bị vũ trí cho 14.000 tù binh Pháp (thuộc Chính phủ Vichy) để hỗ trợ quân Anh giữ trật tự. Gracey đồng ý. Ngay sau khi được thả ra, để chứng tỏ lòng trung thành với chính phủ De Gaulle, số lính này ra đường bắt bất cứ người Việt nào họ gặp được. Cédile muốn tái lập trật tự sau đó nối lại các cuộc thương lượng với người Việt. Ngày 22/9/1945, Cédile cho lính Pháp thay thế người Nhật chiếm giữ các đồn cảnh sát ở Sài Gòn, Kho bạc, Sở Mật thám, Bưu điện. Việt Minh phản ứng bằng cách thông báo với phái đoàn OSS rằng họ sẽ tổ chức một cuộc biểu tình vì nền độc lập của Việt Nam dù lệnh thiết quân luật của Anh cấm biểu tình. Phạm Ngọc Thạch nói rằng Việt Minh muốn khích cho Anh Pháp tiến hành đàn áp, gây nhiều thương vong để thế giới chú ý đến tình cảnh của Việt Nam.
Rạng sáng ngày 23/9/1945, quân Pháp tấn công Toà Thị chính Sài Gòn, nơi làm việc của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ, bắt toàn bộ ban lãnh đạo của cơ quan này. Pháp đã chiếm lại Sài Gòn. Dân thường Pháp xem đây là dịp để trả thù. Từng toán đàn ông và đàn bà Pháp xông ra đường bắt và đánh đập bất cứ người Việt nào họ gặp được. Số nạn nhân có thể lên tới hàng ngàn người. Lính Pháp và Anh chỉ đứng nhìn chứ không can thiệp. Chỉ huy OSS, A. Peter Dewey, xin gặp Gracey để phản đối Anh, Pháp để tình trạng này xảy ra. Ngày hôm sau, Dewey bị Gracey trục xuất khỏi Sài Gòn.
Cédile muốn chấm dứt tình trạng này. Ông ra lệnh ngừng việc bắt bớ nhưng không ai tuân thủ. Ông giải thích hành động của mình để tái lập trật tự chứ không phải để trả thù và muốn nhanh chóng nối lại điều đình trong khuôn khổ Bản Tuyên bố ngày 24/3/1945 của Pháp. Ông cho thả tất cả người Việt Nam vừa bị bắt. Báo chí quốc tế phản ứng mạnh trước tình hình. Người Anh bị chỉ trích gay gắt. Gracey ra lệnh cho Cédile tước vũ khí tù binh Pháp, đưa họ trở về trại và giao cho người Nhật trách nhiệm khôi phục lại trật tự.
Sau khi được thả khỏi nhà giam, người Việt tập hợp lại dưới sự lãnh đạo của Việt Minh để tiến hành chiến tranh. Ngày 24/9/1945, một số người Pháp bị giết, nhà máy và kho tàng bị đập phá, điện nước bị cắt hoàn toàn. Các đơn vị dân quân Việt Nam và các đội công nhân vũ trang tấn công phi trường Tân Sơn Nhất, đốt một tàu Pháp ở cảng, phá nhà giam, thả hàng ngàn người Việt vừa bị bắt. Đến trưa chợ Bến Thành bị đốt cháy. Chướng ngại vật được dựng lên khắp đường phố. Sài Gòn chìm trong tình trạng vô chính phủ. Người Pháp trốn vào khách sạn Continental, nơi ở của các sĩ quan Đồng Minh được bảo vệ cẩn thận. Cả người Anh và người Nhật đều không muốn can thiệp vào tình hình. Khi bị Anh khiển trách vì không thể duy trì trật tự, người Nhật giải thích rằng lính Nhật sợ bị người Việt trả thù nếu họ can thiệp. Đêm 24/9/1945, lực lượng Bình Xuyên tấn công khu Hérault tại Tân Định, Sài Gòn bắt cóc 300 dân thường Pháp. Khoảng một nửa bị giết, số còn lại được trả về sau khi đã bị đánh đập. Để đối phó, Gracey một lần nữa chấp nhận yêu cầu của Cédile cấp vũ khí cho tù binh Pháp nhưng tình hình đã quá muộn.
Những rối loạn tại Sài Gòn lan rộng ra toàn miền Nam. Trần Văn Giàu ra lệnh tổng bãi công; sơ tán người Việt khỏi Sài Gòn; cấm bán lương thực, thực phẩm cho Pháp; đặt Sài Gòn trong tình trạng cô lập. Giàu đe dọa sẽ phá hủy Sài Gòn nếu Pháp không bỏ vũ khí, rút lui và công nhận độc lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các đơn vị Việt Nam dựng các chướng ngại trên đường vào Sài Gòn, ngăn chặn mọi người ra vào trừ người Anh và Mỹ. Họ bắn bất cứ quân nhân Pháp nào xuất hiện. Ngoài phạm vi Sài Gòn, trong vùng do Nhật kiểm soát, tình hình hoàn toàn hỗn loạn.
Ngày 26/9/1945, Thiếu tá chỉ huy OSS tại Sài Gòn A. Peter Dewey bị lực lượng Việt Nam bắn chết vì tưởng ông là người Pháp. Tin này lan khắp thế giới làm xấu đi hình ảnh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thiếu tá OSS Archimedes L.A Patti đang công tác tại miền Bắc Việt Nam nhận xét: "Họ đã giết hại người bạn độc nhất của họ ở Nam Kỳ và chắc chắn những tin này sẽ chẳng đề cao được lý tưởng của họ trước nhân dân Mỹ.". Sau đó Gracey ra lệnh bắt chỉ huy quân đội Nhật Thống chế Bá tước Térauchi vì ông này bất lực trong việc giữ trật tự.
Ngày 28/9/1945, tướng Mounbatten triệu tập Gracey và Cédile đến Singapore để nhắc nhở hai người về việc quân đội Anh không được can thiệp vào tình hình chính trị Đông Dương và nhất là không được giao chiến với người Việt. Mounbatten đề nghị nên nối lại thương lượng với các lãnh đạo Việt Nam.
Ngày 1/10/1945, Gracey nối lại đàm phán với Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ. Hai bên tạm thời ngừng bắn. Phía Anh nhấn mạnh chính sách trung lập của mình nhưng theo sự thỏa thuận giữa các nước Đồng Minh, Anh sẽ không công nhận bất kỳ sự thay đổi chủ quyền trên bất kỳ lãnh thổ nào đã phải chiếm lại bằng vũ lực trong thời kỳ chiến tranh. Người Pháp yêu cầu trả lại các con tin bị bắt và xác của Thiếu tá Dewey trước khi tiếp tục thương lượng. Phía Việt Nam yêu cầu trước hết Pháp phải công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là nước tự do và độc lập. Người Việt chỉ ngừng bắn với điều kiện Pháp trao trả quyền hành chính tại Sài Gòn cho Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ, lực lượng cảnh sát phải được trao lại cho Việt Nam, quân đội Pháp phải giải giáp và không được đưa quân mới vào, người Pháp phải tập trung vào những khu vực nhất định.
Trong khi thương lượng, Việt Nam đã triển khai quân đội xung quanh Sài Gòn tại các vị trí chiến lược phía Bắc và phía Nam thành phố. Hoàng Quốc Việt vẫn liên lạc chặt chẽ với Ủy ban Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương tại Hà Nội và chỉ thị cho Giàu và Bạch phải chống lại mọi mưu đồ của Đồng Minh nhằm giúp Pháp nắm quyền kiểm soát Sài Gòn. Nếu cần, chỉ sau 24 tiếng Hà Nội sẽ gửi quân tăng viện cho miền Nam. Do lo ngại bị Việt Nam tấn công, phía Pháp yêu cầu Anh can thiệp. Tướng Mounbatten gặp Thạch và Bạch để yêu cầu kéo dài cuộc ngừng bắn thêm 48 giờ. Phạm Ngọc Thạch cho rằng Việt Nam đã độc lập và tất cả những gì còn phải bàn cãi chỉ là quy chế cho nước Việt Nam tương lai. Người Anh trả lời vẫn tiếp tục chấp nhận đối thoại cho đến khi nào có thể đạt được thỏa thuận. Người Việt đồng ý kéo dài cuộc ngưng bắn.
Ngày 3/10/1945, 10.000 quân Pháp do Leclerc chủ huy đổ bộ xuống Sài Gòn. Ngày 9/10/1945, Pháp Anh ký thỏa hiệp tại Luân Đôn xác định Anh hoàn toàn ủng hộ Pháp trong việc cai trị toàn Đông Dương dưới vĩ tuyến 16. Đêm ngày 10/10/1945, bộ đội Việt Nam tấn công sân bay Tân Sơn Nhất. Lực lượng Việt Nam giao chiến với quân Anh, Pháp tại tất cả các cửa ngõ vào Sài Gòn. Người Anh yêu cầu Nhật hỗ trợ. Nhật đồng ý tham chiến. Lực lượng Anh, Pháp, Nhật đã phá vỡ cuộc phong tỏa Sài Gòn của Việt Nam sau hai tuần chiến đấu liên tục. Ngày 16/10/1945, phía Việt Nam ngừng bao vây Sài Gòn và rút quân về vùng nông thôn do lực lượng Anh, Pháp, Nhật quá mạnh. Không quân Hoàng gia Anh và không quân Nhật tiếp tục ném bom vào các địa điểm đóng quân của Việt Nam.
Phản ứng trước việc Anh dùng quân đội Nhật tấn công lực lượng Việt Nam, tướng Douglas MacArthur phát biểu: "Nếu có gì đó làm máu tôi sôi lên thì đó là việc tôi thấy các nước Đồng Minh của chúng ta ở Đông Dương và Java sử dụng quân Nhật để đàn áp các dân tộc nhỏ bé này mà chúng ta đã hứa giải phóng. Đó là một sự phản bội kinh tởm nhất.".
Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ kêu gọi dân chúng sơ tán về nông thôn và thi hành chiến lược dùng nông thôn bao vây thành thị bằng cách cắt đứt mọi hoạt động thương mại giữa nông thôn và thành thị. Dân chúng trong đó có nhiều nhân sĩ yêu nước theo lời kêu gọi của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ rời bỏ Sài Gòn và các thành phố khác về nông thôn. Lực lượng kháng chiến và cơ quan Quốc gia Tự vệ Cuộc bắt giam và thủ tiêu nhiều nhân sĩ, trí thức và lãnh tụ các đảng phái bị kết tội làm Việt gian hợp tác với Pháp hoặc bị tình nghi là Việt gian. Thậm chí những nhân viên thừa hành của Ủy ban Hành chính Lâm thời Nam Bộ hoặc một số nhóm kháng chiến còn lợi dụng công vụ để cướp bóc, trấn lột; nếu ai chống đối sẽ bị kết tội là Việt gian rồi thủ tiêu. Tháng 12/1945, Nguyễn Bình được cử vào Nam lãnh đạo phong trào kháng chiến tại Nam Bộ. Ông lập lại trật tự bằng cách lập tòa án quân sự xét xử tất cả các chỉ huy quân sự lợi dụng danh nghĩa kháng chiến để cướp bóc, quấy nhiễu dân chúng, tổ chức lại lực lượng kháng chiến thành các chi đội Vệ quốc đoàn.
=== Thành lập Chính phủ Liên hiệp ===
Ngày 20/8/1945, Việt Cách cùng quân đội Trung Hoa Dân quốc tiến vào Việt Nam. Ngày 30/9/1945, Nguyễn Hải Thần dẫn đầu một phái đoàn tới gặp Tiêu Văn để thảo luận về việc loại bỏ Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đàn áp Đảng Cộng sản Đông Dương. Tiêu Văn tỏ ra không ủng hộ ý định của Nguyễn Hải Thần. Cuối tháng 10/1945, bảy đảng viên Việt Cách dưới quyền Nguyễn Hải Thần ký bản "Đoàn kết tinh thần" với Việt Minh theo đó Việt Cách sẽ liên kết với Việt Minh chống lại sự xâm lược của Pháp, bảo vệ nền độc lập của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên sau đó nhiều người chối bỏ họ đã ký bản "Đoàn kết tinh thần". Nguyễn Hải Thần công khai bác bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Đông Dương tại Việt Nam. Hàng loạt vụ đụng độ giữa Việt Minh và Việt Cách xảy ra khiến công chúng bị sốc và làm các chỉ huy quân đội Trung Hoa Dân quốc tại miền Bắc Việt Nam khó chịu. Tiêu Văn gây sức ép lên tất cả các bên để buộc họ thành lập chính phủ liên hiệp.
Tuy nghi ngờ, thậm chí thù địch nhau nhưng các thành viên Việt Minh và Việt Quốc vẫn gặp nhau thậm chí còn ký kết các thỏa thuận. Ngày 29/9/1945, Nguyễn Lương Bằng (Việt Minh) và Chu Bá Phượng (Việt Quốc) gặp nhau và đồng ý chấm dứt xung đột, thả tù nhân và ngừng lên án nhau công khai. Ngày 19/11/1945, Hồ Chí Minh, Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần thỏa thuận về các nguyên tắc chung nhằm định hướng đàm phán thành lập chính phủ liên hiệp, quân đội thống nhất và kết thúc cuộc đấu tranh đảng phái để cùng nhau chống Pháp. Ngày 24/11/1945, sau buổi lễ trước trụ sở Việt Quốc, lãnh tụ 3 tổ chức Việt Minh, Việt Cách, Việt Quốc ký bản ghi nhớ cam kết các bên sẽ không tấn công lẫn nhau, đi đến thống nhất và hỗ trợ Nam Bộ kháng chiến.
Sau đó vài ngày, Báo Cứu quốc coi bản ghi nhớ ngày 24/11/1945 là sự xác nhận một chính phủ liên hiệp đã tồn tại. Việt Quốc lên án việc này. Hồ Chí Minh thông báo cho Nguyễn Hải Thần và Vũ Hồng Khanh rằng các đảng phái đã thống nhất ý kiến, không cần phải thay đổi chính phủ làm cho nhân dân hoang mang, quốc tế hoài nghi mà sẽ tổ chức bầu cử quốc hội trong 3 tuần nữa; ông cũng mời Việt Quốc và Việt Cách ứng cử và chấm dứt công kích nhau bằng lời nói và hành động cho đến ngày Quốc hội khai mạc. Báo Việt Nam của Việt Quốc chỉ trích Hồ không quân tử và sử dụng các biện pháp "khủng bố và độc tài".
Ngày 23/12/1945, Tướng Tiêu Văn tổ chức một cuộc họp hòa giải các bên để thành lập chính phủ liên hiệp. Tại cuộc họp này, Nguyễn Hải Thần đề nghị Hồ Chí Minh hợp tác với Việt Quốc, Việt Cách thành lập một chính phủ bao gồm thành viên của Việt Quốc, Việt Cách, Việt Minh và các đảng phái nhỏ khác. Nguyễn Hải Thần sẽ đảm nhận chức Chủ tịch nước, Hồ Chí Minh làm Phó Chủ tịch. Việt Quốc, Việt Cách, Việt Minh, mỗi đảng nắm giữ 1/4 số ghế Bộ trưởng trong Chính phủ; 1/4 còn lại do các đảng phái nhỏ nắm. Như vậy Việt Minh và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ nhận được sự ủng hộ của Trung Hoa Dân quốc chống lại cố gắng của Pháp tái chiếm Việt Nam. Điều làm Quốc dân Đảng Trung Hoa lo sợ nhất là Hồ Chí Minh từng là nhân viên của Quốc tế Cộng sản và Việt Minh có khuynh hướng cộng sản. Trước đó, Pháp cũng đã họp với Nguyễn Hải Thần và cho biết Pháp sẽ thực hiện Bản Tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 và công nhận một chính phủ của người Việt Nam nằm trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp với điều kiện chính phủ đó không do người cộng sản lãnh đạo. Cuối cùng các bên đạt được một thỏa thuận được tuyên bố là mang tính pháp lý (viết bằng chữ Hán) theo đó các ghế bộ trưởng trong chính phủ sẽ phân chia như sau: Việt Minh 2 bộ trưởng, Đảng Dân chủ Việt Nam (cũng tham gia Việt Minh) 2 bộ trưởng, Việt Quốc 2 bộ trưởng, Việt Cách 2 bộ trưởng, phi đảng phái 2 bộ trưởng. Thỏa thuận này không sử dụng tên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vì Việt Quốc không đồng ý với tên này. Cuộc bầu cử quốc hội được hoãn 2 tuần. Vũ Hồng Khanh và Nguyễn Hải Thần chấp nhận để Hồ Chí Minh tiếp tục làm chủ tịch nước lâm thời. Quốc hội sẽ quyết định quốc kỳ và quốc huy. Hai đảng này cũng không được tham gia vào cơ quan chỉ huy và tham mưu của quân đội. Việt Quốc sẽ được 50 ghế còn Việt Cách 20 ghế trong Quốc hội mà không phải tranh cử. Điều này khẳng định với nhiều người rằng 2 đảng phái này không có khả năng giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tại địa phương.
Sau khi đạt được thỏa thuận, các bên ra lệnh cho cấp dưới ngừng xung đột vũ trang và chỉ trích nhau. Điều này khiến nhiều người thấy khó hiểu như việc các lãnh đạo người Mường đã giúp Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đàn áp Việt Quốc nghi ngờ về chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Những người khác ủng hộ chấm dứt cảnh huynh đệ tương tàn. Tuy vậy các bên vẫn không sẵn sàng thảo luận về việc sáp nhập hoặc phối hợp hoạt động với nhau. Tại một số nơi các chỉ huy Trung Quốc phải đứng ra làm trung gian giữa Việt Minh và Việt Quốc, Việt Cách để đi đến thành lập chính quyền liên hiệp. Tại Phú Thọ, tướng Vương của Trung Hoa Dân quốc làm trung gian để Việt Minh và Việt Quốc thảo luận việc thành lập chính quyền liên hiệp nhưng hai bên ngừng thảo luận và đấu súng với nhau tại chợ khiến dân chúng bị thiệt hại nên họ đã gửi kiến nghị lên Hồ Chí Minh phàn nàn cả hai bên bắt cóc nhiều con tin, khiến giao thương đình trệ và không bên nào lắng nghe những bậc cao niên ở địa phương. Tướng Vương phải ép hai bên ngừng bắn, cuộc ngừng bắn kéo dài được 4 tháng.
Do các đảng phái đối lập phản đối nên Hồ Chí Minh đồng ý loại Võ Nguyên Giáp và Trần Huy Liệu ra khỏi nội các. Các bên tổ chức Hội nghị và họp nhiều lần để thảo luận ai sẽ nắm giữ chức Bộ trưởng Quốc phòng và Bộ trưởng Nội vụ đồng thời làm thế nào chia sẻ quyền lực trong Vệ quốc quân. Phan Anh được chọn làm Bộ trưởng Quốc phòng tuy anh trai ông ta là thành viên Việt Minh. Các đảng phái đối lập hy vọng Phan Anh sẽ chống lại việc Việt Minh cố gắng nắm toàn bộ Bộ chỉ huy và Bộ tổng tham mưu Vệ quốc quân nhưng họ sẽ thất vọng. Hội nghị cũng xem xét các nhân sĩ Huỳnh Thúc Kháng, Ngô Đình Diệm, Bùi Bằng Đoàn và Trần Đình Nam xem ai thích hợp cho vị trí Bộ trưởng Bộ nội vụ. Ngô Đình Diệm bị loại vì quá chống cộng còn Bùi Bằng Đoàn quá thân Việt Minh. Trong 2 người còn lại, Hồ Chí Minh đã chọn Huỳnh Thúc Kháng. Ông gửi điện cho Kháng và cử sứ giả đến gặp ông này. Huỳnh Thúc Kháng miễn cưỡng chấp thuận. Không ai phản đối Huỳnh Thúc Kháng làm Bộ trưởng Nội vụ vì ông có uy tín khắp cả nước. Hội nghị cũng thành lập Ủy ban Kháng chiến gồm 9 người với Võ Nguyên Giáp làm Chủ tịch và Vũ Hồng Khanh làm Phó chủ tịch.
Ngày 1 tháng 1 năm 1946 Chính phủ Liên hiệp Lâm thời được thành lập thay thế Chính phủ Cách mạng Lâm thời với sự tham gia của 2 đảng phái đối lập Việt Cách và Việt Quốc. Trái với thỏa thuận ngày 23/12/1945, nội các chính thức có đến 14 bộ trưởng và 2 thứ trưởng. Tuy nhiên chức trách các Bộ cũng thay đổi. Bộ trưởng Quốc phòng trở thành người lo về tài chính mà không được xem xét danh sách nhân sự, quân số, súng đạn còn các Bộ trưởng khác của các đảng phái Quốc gia chẳng có chức trách cụ thể gì, không bao giờ được tham dự bất cứ buổi họp nào của nội các. Hồ Chí Minh cho rằng nếu không có sự lãnh đạo của Việt Minh thì sự nghiệp đấu tranh cho độc lập dân tộc sẽ thất bại. Việt Quốc và Việt Cách chỉ có thể duy trì một nền độc lập hình thức cho Việt Nam dưới quyền kiểm soát của người Pháp với sự hỗ trợ của Trung Hoa Dân Quốc phù hợp với kế hoạch bóc lột kinh tế Việt Nam của Trung Quốc. Sau khi Trung Hoa Dân quốc đạt được những thỏa thuận với Pháp có lợi cho họ, Việt Quốc, Việt Cách sẽ bị bỏ rơi và bất lực trong việc đối đầu với quân Pháp đổ bộ vào Việt Nam khiến Việt Nam quay lại làm thuộc địa Pháp. Hồ Chí Minh cũng không vội vàng triệu tập nội các.
Ngày 6 tháng 1 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã tổ chức cuộc Tổng tuyển cử trên toàn quốc, lần đầu tiên đã bầu Quốc hội và thông qua Hiến pháp. Nhiều đảng phái không có quyền tham gia Tổng tuyển cử đã tìm cách phá hoại. Các đảng này cho là "trúng cử chỉ là Việt Minh cộng sản", "chính quyền trong tay nên Việt Minh muốn ai trúng cũng được". Hai đảng đối lập trong Chính phủ là Việt Nam Quốc dân Đảng (Việt Quốc) và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh hội (Việt Cách) không tham gia bầu cử dù trước đó Hồ Chí Minh đã gửi thư cho Nguyễn Hải Thần (lãnh tụ Việt Cách) và Vũ Hồng Khanh (lãnh tụ Việt Quốc) mời Việt Quốc và Việt Cách tham gia Tổng tuyển cử và đề nghị hai bên không công kích nhau bằng lời nói hoặc hành động cho đến ngày Quốc hội khai mạc. Có tài liệu ghi nhận lá phiếu không bí mật và theo quan sát của sử gia Trần Trọng Kim thì có nơi người dân bị cưỡng bách bầu cho Việt Minh. Nhưng theo Việt Minh, cuộc bầu cử diễn ra công bằng. Mặc dù bị nhiều đảng phái tuyên truyền vận động dân chúng tẩy chay cuộc bầu cử và ngăn cản việc tổ chức bầu cử ở một số nơi (ở khu Ngũ Xá, có một nhóm vũ trang cả súng liên thanh đến ngăn cản dân phố đi bầu cử, cấm treo cờ đỏ sao vàng, cấm đặt hòm phiếu; ở Hải Phòng xảy ra cướp hòm phiếu và hành hung cán bộ an ninh, ở Sài Gòn máy bay Pháp bắn vào dân đi bầu cử), nhưng tại các địa phương, ở đâu cũng có người tự ứng cử, các cuộc tiếp xúc tranh cử công khai, tự do diễn ra ở khắp mọi nơi. Đa số đại biểu trúng cử không phải là thành viên Việt Minh Trong hồi ký "Những năm tháng không thể nào quên", đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận định các đảng phái này lo sợ thất bại trước sức ủng hộ lớn của cử tri với mặt trận Việt Minh nên tìm cách chỉ trích và không tham gia bầu cử.
Sau khi Quốc hội được bầu, ngày 2 tháng 3 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến được thành lập để thay thế Chính phủ Liên hiệp Lâm thời. Ở các địa phương, các cấp chính quyền liên hiệp được thành lập trong năm 1946. Theo thỏa thuận với Việt Minh, phe đối lập bao gồm một số tổ chức như Việt Nam Cách mạng Đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân Đảng được Trung Hoa Dân quốc ủng hộ, không tham gia Tổng tuyển cử nhưng vẫn được nắm 70 ghế Quốc hội (Việt Quốc 50 ghế, Việt Cách 20 ghế) cùng một số vị trí trong chính quyền trung ương do chính sách hòa hợp các đảng phái của Chính phủ. Hai mươi thành viên Việt Cách trở thành đại biểu quốc hội bằng một sắc lệnh hành pháp. Hồ Đắc Thành và Bồ Xuân Luật ứng cử và cũng trở thành đại biểu quốc hội. Ngày 2/3/1946, quốc hội họp phiên đầu tiên nhưng Nguyễn Hải Thần vắng mặt. Hồ Chí Minh đề cử Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch nước, Nguyễn Đình Tri của Việt Cách làm bộ trưởng xã hội. Theo David G. Marr Hồ Chí Minh đồng ý để Nguyễn Hải Thần thay vì một lãnh đạo nào đó của Việt Quốc làm Phó Chủ tịch nước vì Thần từng là đồng chí của Phan Bội Châu, được các lãnh đạo Trung Hoa Dân quốc kính trọng và nhất là Thần không có khả năng tự gây dựng cơ sở quyền lực trong nước. Việc Nguyễn Hải Thần làm Phó chủ tịch nước cũng gây ra sự chia rẽ bên trong nội bộ Việt Cách có lợi cho Việt Minh.
Tháng 4/1946, Ủy ban Hành chính Bắc bộ ký thỏa thuận với đại diện Việt Quốc tại 4 thị xã nhằm thành lập Ủy ban Hành chính liên hiệp giữa 2 bên. Đầu tháng 5/1946, Ủy ban Hành chính Bắc bộ cảnh báo với Ủy ban tỉnh Bắc Giang cần linh hoạt với các thành viên Việt Quốc để duy trì sự đoàn kết đồng thời phải chuẩn bị kế hoạch dự phòng nhằm tránh các tình huống bất thường xảy ra.
Trong thời gian hoạt động, Chính phủ đã tiếp tục thực hiện các biện pháp, chính sách để giữ vững nền độc lập của nước Việt Nam dân chủ non trẻ. Về đối nội đã kêu gọi các đảng phái đoàn kết phụng sự quốc gia, thực hiện các chính sách kinh tế, quốc phòng, văn hóa, giáo dục... Hồ Chí Minh giao cho Võ Nguyên Giáp và Trần Quốc Hoàn, sau này trở thành Bộ trưởng Công an, nhiệm vụ vô hiệu hóa các cuộc biểu tình do Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội tổ chức nhằm chấm dứt hoạt động tuyên truyền của các đảng này trong dân chúng. Võ Nguyên Giáp kể lại: "Chúng tôi phải trừng trị bọn phá hoại... Nhưng bằng mọi giá phải tránh khiêu khích và đảm bảo không xảy ra xung đột lớn". Võ Nguyên Giáp dùng lực lượng tự vệ và các hội viên Hội Cứu Quốc phá các cuộc biểu tình này. Khi có lộn xộn, lính Trung Quốc bắn chỉ thiên, xông vào giải tán đám biểu tình để vãn hồi trị an. Việt Nam Quốc dân Đảng hoảng hốt khi người Trung Hoa không giúp được gì nhiều trong việc chống lại Việt Minh như họ mong đợi. Ông Nguyễn Duy Thanh, một người theo chủ nghĩa quốc gia buồn rầu nhớ lại: "Không có Trung Hoa ủng hộ, những đảng phái theo chủ nghĩa quốc gia chẳng thể đối phó được với những người Cộng sản"
Trường Chinh, trên báo Sự thật ngày 30 tháng 6 đưa ra chủ trương đoàn kết dân tộc: kẻ thù trước mắt của dân tộc ta là thực dân phản động Pháp. Chúng đang uy hiếp chủ quyền của ta tiến công ta, dùng chiến thuật chính trị: chia rẽ. Chia rẽ dân tộc: đem người thiểu số chống người Kinh. Chia rẽ Nam Bắc: phỉnh đồng bào Nam Bộ chống đồng bào Bắc Bộ. Chia rẽ giai cấp: làm cho giàu nghèo chống chọi nhau, hằn ghét nhau. Chia rẽ tôn giáo: xui giáo chống lương, xui lương chống giáo; gây nghi ngờ giữa lương và giáo. Chia rẽ đảng phái: lập đảng Việt gian chống phe yêu nước, khuyến khích đảng nọ chống đảng kia. Thống nhất quốc gia. Đoàn kết dân tộc. Chúng ta đề ra khẩu hiệu "Trung, Nam, Bắc một nhà". Chúng ta lập mặt trận toàn dân đoàn kết, không phân biệt chủng tộc, giai cấp, tôn giáo, xu hướng chính trị. Chúng ta tham gia Hội liên hiệp quốc dân Việt Nam.. Ý nghĩa của "đoàn kết dân tộc", theo Hồ Chí Minh là liên minh công nhân và nông dân với giai cấp tư sản và địa chủ.
Ngày 15/6/1946, người lính cuối cùng của quân đội Trung Hoa Dân Quốc rời khỏi Việt Nam. Các thành viên Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách Mệnh Đồng minh hội mất chỗ dựa hậu thuẫn chính là quân đội Tưởng Giới Thạch và do bất đồng về việc ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt mùng 6 tháng 3 đã lần lượt rút khỏi chính phủ Liên hiệp. Lãnh tụ Việt Cách là Nguyễn Hải Thần, lãnh tụ Việt Quốc Vũ Hồng Khanh trong chính phủ và cánh thân Tưởng do Vũ Hồng Khanh lãnh đạo lưu vong sang Trung Quốc. Các đảng viên Đại Việt phần lớn vẫn ở lại Việt Nam chờ thời cơ. Mặc dù Hồ Chí Minh giữ độc quyền liên lạc với Pháp với sự trợ giúp của Hoàng Minh Giám nhưng Nguyễn Tường Tam vẫn thực hiện trách nhiệm của mình một cách nghiêm túc. Nguyễn Tường Tam với tư cách Bộ trưởng Bộ ngoại giao dẫn đầu phái đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tham gia Hội nghị trù bị tại Đà Lạt mặc dù trên thực tế Võ Nguyên Giáp là người lãnh đạo phái đoàn. Theo đại tướng Võ Nguyên Giáp, do bất đồng Tam đã không tham gia hầu hết các phiên họp còn theo David G. Marr Tam là người phát ngôn có năng lực và giúp giải quyết một số tranh cãi về chiến thuật đàm phán trong đoàn.. Sau đó Tam cũng không tham gia Hội nghị Fontainebleau, cuối cùng rời bỏ chính phủ (tài liệu nhà nước nêu Nguyễn Tường Tam thiếu bản lĩnh chính trị, lập trường bấp bênh, biển thủ công quỹ, tiền chi phí cho phái đoàn sang Pháp đàm phán, rồi đào nhiệm ra nước ngoài nhưng theo sử gia David G. Marr việc này khó xảy ra vì Tam khó lòng được giao trách nhiệm giữ tiền của phái đoàn).
Việc các thành viên chủ chốt của Việt Quốc, Việt Cách như Nguyễn Hải Thần, Nguyễn Tường Tam, Vũ Hồng Khanh rời bỏ chính phủ, lưu vong sang Trung Quốc đã đánh dấu chấm hết cho thời kỳ hợp tác giữa Việt Minh và các đảng phái đối lập tại miền Bắc, trong công cuộc "kháng chiến kiến quốc" mà Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến là biểu tượng.
=== Những hoạt động ngoại giao ===
==== Ký kết Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946) ====
Trong suốt năm 1946, mặc dù hai bên cùng chuẩn bị lực lượng cho chiến tranh, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cố gắng hết mức thương lượng với Pháp để cứu vãn hòa bình và đẩy lui thời điểm nổ ra cuộc chiến tranh. Tháng 2/1946, tại Lai Châu, lực lượng vũ trang của Việt Quốc và Vệ quốc quân lần lượt giao tranh nhỏ với Pháp. Việt Quốc rút về Lào Cai còn Vệ quốc quân rút về Sơn La. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ký với Pháp Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946) cho phép Pháp đưa quân vào miền Bắc đổi lại Pháp công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là trong Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp.
Trong khi đó Pháp ký Hiệp ước Hoa-Pháp thỏa thuận với Trung Hoa ngày 28 Tháng Hai, 1946 để Quân đội Trung Hoa rút khỏi phía bắc vĩ tuyến 16 nhường chỗ cho Pháp đại diện phe Đồng Minh giải giới Quân đội Đế quốc Nhật Bản. Trước đó, ngày 26 tháng Giêng đại diện Pháp và Trung Hoa dân quốc thảo luận, Trung Hoa dân quốc tuyên bố muốn loại bỏ chính phủ cộng sản, ủng hộ chính quyền thân Trung Quốc được thành lập ở Hà Nội và đàm phán với Pháp, cùng chống Việt Minh. Nhưng phía Pháp đã bác bỏ, chủ trương đàm phán với Việt Minh. Pháp tuyên bố Việt Nam có thể là một nước độc lập trong Liên bang Đông Dương thuộc Liên hiệp Pháp.
Đảng Cộng sản Đông Dương (khi đó lui vào hoạt động bí mật), Thường vụ Trung ương ngày 3 tháng 3 năm 1946 tuyên bố thì nếu Pháp cho Đông Dương tự trị thì kiên quyết đánh, nhưng nếu cho Đông Dương tự chủ thì hòa để phá tan âm mưu của "bọn Tàu trắng, bọn phản động Việt Nam và bọn phát xít Pháp còn lại". Ngày 24 tháng 3 (sau khi Hiệp định được ký) chỉ thị của Đảng Cộng sản cho thấy mục đích ký Hiệp định này để tránh tình thế bất lợi "phải cô lập chiến đấu cùng một lúc với nhiều lực lượng phản động (thực dân Pháp, Tàu trắng, bọn phản cách mạng trong nước)", tập trung đối phó với người Pháp và "các đảng phái phản động". Để tránh mũi nhọn của 2 kẻ thù có thể đồng thời tấn công, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý cho 15.000 quân Pháp tiến ra Bắc để nhanh chóng loại bỏ nguy cơ của 20 vạn quân Tưởng.
Ngày 16 tháng 2, Jean Sainteny gặp Hồ chí Minh và thỏa thuận cụm từ "tự trị" sau đó được chấp nhận bởi chính phủ Pháp. Tuy nhiên đến Hiệp định sơ bộ 6 tháng Ba, sử dụng cụm từ "tự do" thay cho cụm từ "độc lập" hay "tự trị". Việt Minh muốn Pháp phải thừa nhận Việt Nam đã có một chính phủ, quốc hội, quân đội để đi đến một nền độc lập thực sự, trong khi phía Pháp có sự chia rẽ. Đối với những người tin tìm thấy những lợi ích của Pháp - là sự độc lập của Việt Nam sẽ được giới hạn bởi các liên kết của nó với các nước Đông Dương khác. Lúc này khởi đầu Chiến tranh Lạnh, Marius Moute muốn Nam Kỳ tách ra khỏi ảnh hưởng của Việt Nam thống nhất dưới sự điều khiển của Việt Minh, lập một chế độ ở Sài Gòn và sau đó, sẽ một cuộc họp sơ bộ của các quốc gia ở Đông Dương được tổ chức mà không có sự hiện diện của chính phủ Việt Nam tại Hà Nội.
Từ ngày 3/3/1946 đến 6/3/1946, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Pháp, Trung Quốc đàm phán 3 bên. Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh không tham gia cuộc đàm phán này dù Nguyễn Tường Tam là Bộ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tam cũng không có mặt trong cuộc họp nội các khi Hồ công bố thỏa thuận với Sainteny.
Ngày 6 tháng 3 năm 1946, Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt được ký kết giữa Jean Sainteny, đại diện chính phủ Cộng hòa Pháp, và Hồ Chí Minh cùng Vũ Hồng Khanh (giữ chức Phó Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến), đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nguyễn Hải Thần đã rời Hà Nội nên chỉ có Hồ Chí Minh ký kết hiệp định này. Tuy tham dự lễ ký kết Hiệp định nhưng Nguyễn Tường Tam từ chối ký Hiệp định này còn Vũ Hồng Khanh miễn cưỡng ký Hiệp định. Nội dung của Hiệp định bao gồm các điểm chính sau đây:
Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng
Chính phủ Việt Nam đồng ý cho 15.000 quân Pháp vào miền Bắc thay thế cho 200.000 quân Trung Hoa Quốc dân đảng để làm nhiệm vụ giải giáp quân Nhật. Pháp hứa sẽ rút hết quân trong thời hạn 5 năm, mỗi năm rút 3.000 quân.
Pháp đồng ý thực hiện trưng cầu dân ý tại Nam Kỳ về việc thống nhất với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Hai bên thực hiện ngưng bắn, giữ nguyên quân đội tại vị trí hiện thời để đàm phán về chế độ tương lai của Đông Dương, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và nước ngoài và những quyền lợi kinh tế và văn hóa của Pháp ở Việt Nam.
Về phía người Pháp, Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt giúp họ danh chính ngôn thuận khi đưa quân đội ra miền Bắc Việt Nam để chuẩn bị tái chiếm Đông Dương như họ đã làm ở Nam Việt Nam, đồng thời Hiệp ước Hoa-Pháp giúp họ tránh khỏi sự ngăn cản của các tướng lĩnh Trung Hoa Quốc dân đảng; đổi lại Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương thuộc khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Đó là những điều kiện mà quân đội Pháp đồng ý để lấy lại một chỗ đứng tại Bắc Kỳ. Sainteny không đồng ý ký một tài liệu sử dụng từ "độc lập", ông chỉ đồng ý sử dụng từ "Nhà nước tự do". Ngược lại, Hồ Chí Minh cho rằng "Nhà nước tự do" của ông chịu hai tầng "xiềng xích" của Liên Bang Đông Dương và Liên hiệp Pháp.
Nhiều thành viên Việt Quốc tức giận khi Vũ Hồng Khanh ký kết Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt (1946). Học viên và hiệu trưởng trường đảng Nguyễn Thái Học của Việt Quốc kéo đến trụ sở đảng chất vấn Khanh. Tại cuộc họp khẩn cấp Ban chấp hành Trung ương Việt Quốc, nhiều đảng viên chỉ trích Khanh là kẻ độc tài vì ra quyết định quan trọng như vậy mà không thảo luận trước. Một số chi bộ Việt Quốc cách xa Hà Nội cắt đứt quan hệ với lãnh đạo trung ương và phản đối chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã hợp tác với Pháp. Ban chấp hành Trung ương Việt Quốc cử Lê Khang tới các địa phương để giải thích hoàn cảnh chính trị và lập lại kỷ luật đảng.
Sau khi Sainteny ký Hiệp định sơ bộ Pháp-Việt với chính phủ Hồ Chí Minh, tại Nam Kỳ Cédille liên hệ Nguyễn Bình đề nghị ký hiệp ước hòa bình giữa Pháp và lực lượng kháng chiến Nam Bộ. Ngày 20/3/1946, hai bên gặp nhau tại miếu Bà Cố cách Biên Hòa 10 km. Cédille đề nghị phía Việt Nam giải giáp dân quân, nạp khí giới cho Pháp. Pháp sẽ hợp tác với những người kháng chiến. Phái đoàn Việt Nam không đồng ý và trở về căn cứ kháng chiến.
==== Hội nghị Fontainebleau và Tạm ước Việt - Pháp ====
Ngày 31 tháng 5 năm 1946, phái đoàn chính phủ do Phạm Văn Đồng dẫn đầu khởi hành sang Pháp tham dự Hội nghị Fontainebleau tiếp tục đàm phán về các điều khoản đề ra theo Hiệp định sơ bộ 6 tháng Ba. Cùng ngày, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng lên đường sang Pháp tiếp xúc với chính giới Pháp và cộng đồng người Việt tại Pháp. Nội dung chương trình nghị sự được hai đoàn thoả thuận là sẽ thảo luận về các vấn đề như (đã nêu tại Hiệp định sơ bộ 6/3):
Địa vị của Việt Nam trong khối Liên hiệp Pháp, về quan hệ ngoại giao của Việt Nam.
Quan niệm tổng quát về Liên bang Đông Dương.
Vấn đề thống nhất nước Việt Nam và việc trưng cầu dân ý.
Chi tiết về Liên bang Đông Dương và vấn đề quyền lợi kinh tế của Pháp ở Đông Dương.
Dự thảo Hiệp ước.
Hội nghị Fontainebleau sau đó diễn ra kéo dài hơn hai tháng, từ 6 tháng 7 tới 10 tháng 9 năm 1946 nhưng không đem lại kết quả cụ thể nào vì hai bên đã bế tắc ở hai điểm bất đồng then chốt:
Việc thống nhất Nam Kỳ vào nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (bao gồm Bắc Kỳ và Trung Kỳ).
Độc lập chính trị của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Quan điểm của Pháp bác bỏ độc lập mà chỉ xét tự trị hay độc lập trong khuôn khổ Liên hiệp Pháp. Hơn nữa họ đòi là phải tái lập trật tự trước tiên rồi sau đó sẽ mở cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ về vấn đề thống nhất Nam Kỳ vào nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Điểm gây nhiều khó khăn nhất là việc chính phủ Pháp đã đơn phương cho phép thành lập Nam Kỳ quốc theo tinh thần Tuyên bố ngày 24 tháng 3 năm 1945 của tướng De Gaulle, tách rời khu vực này khỏi những phong trào độc lập ở hai miền Bắc và Trung. Ngày 27 tháng 5 Cao ủy Đông Dương Georges D'Argenlieu tiếp tục thông qua việc thành lập Xứ Thượng Nam Đông Dương, chia cắt Việt Nam thành nhiều mảnh.
Việt Nam nhượng bộ về mọi mặt: kinh tế, tài chính và quân sự nhưng phái đoàn Việt Nam đòi Pháp ấn định thời hạn để thực hiện cuộc trưng cầu dân ý ở Nam Kỳ. Thấy Pháp chần chừ không trả lời dứt khoát, phái đoàn Việt Nam bỏ bàn hội nghị ra về ngày 13 tháng 9. Hội nghị Fontainebleau vì vậy tan vỡ.
Tuy nhiên Hồ Chí Minh và Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Pháp Marius Moutet không chấp nhận thất bại. Trong khi Phạm Văn Đồng bỏ về nước, Hồ Chí Minh, Hoàng Minh Giám và Dương Bạch Mai nán lại Paris. Nhằm cứu vớt hòa bình lần cuối Hồ Chí Minh thảo một bản nghị ước vào chiều ngày 11 và trao cho Marius Moutet. Ba ngày sau, 14 tháng 9 năm 1946, Marius Moutet hồi đáp với một bản nghị ước khác. Đạt được đồng thuận, Hồ Chí Minh đã đến tư dinh của Marius Moutet lúc nửa đêm ngày 14 tháng 9 năm 1946 để ký văn bản này, tức Tạm ước Việt - Pháp (Modus vivendi).
Trong bản Tạm ước này, hai bên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Pháp cùng bảo đảm với nhau về quyền tự do của kiều dân, chế độ tài sản của hai bên; thống nhất về các vấn đề như: hoạt động của các trường học Pháp, sử dụng đồng bạc Đông Dương làm tiền tệ, thống nhất thuế quan và tái lập cải thiện giao thông liên lạc của Liên bang Đông Dương, cũng như việc thành lập ủy ban tạm thời giải quyết vấn đề ngoại giao của Việt Nam. Chính phủ Việt Nam cam kết ưu tiên dùng người Pháp làm cố vấn hoặc chuyên môn, và hai bên đã đồng ý chấm dứt mọi hành động xung đột, vũ lực cũng như tuyên truyền chống đối nhau, phóng thích tù nhân chính trị, bảo đảm không truy bức người của bên kia, và hợp tác để những kiều dân hai bên không làm hại nhau. Tạm ước cam kết sẽ có một nhân vật do Việt Nam chỉ định và Chính phủ Pháp công nhận được uỷ nhiệm cạnh thượng sứ để xếp đặt cộng tác thi hành những điều thoả thuận này. Cuối cùng, Chính phủ hai bên sẽ sớm tiếp tục đàm phán (chậm nhất là vào tháng 1 năm 1947) để tìm cách ký kết những bản thoả thuận riêng nhằm dọn đường cho một hiệp ước chung dứt khoát. Tạm ước này sẽ được thi hành bắt đầu từ ngày 30 tháng 10, 1946.
Sau khi ký Tạm ước Việt Pháp, Hồ Chí Minh bị Việt Quốc và Việt Cách chỉ trích phản bội và hợp tác với Pháp đồng thời yêu cầu ông từ chức. Tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khóa I, Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã phê chuẩn Tạm ước Việt Pháp, biểu quyết tín nhiệm Hồ Chí Minh và yêu cầu ông thành lập nội các mới. Tại miền Nam, ngày 28/10/1946, Ủy ban Hành chính lâm thời Nam Bộ theo chỉ thị của Chính phủ Trung ương ra tuyên bố sẵn sàng thành thực thi hành Tạm ước Việt Pháp và chống lại mọi hành động phá hoại Tạm ước đồng thời kêu gọi dân chúng giữ kỷ luật, thi hành đúng những mệnh lệnh của Chính phủ và tránh mọi hành động khiêu khích.
Trong khi đó, ngày 6 tháng 8, Cao ủy Pháp đã tổ chức một hội nghị tại Đà Lạt để nghiên cứu tình hình Liên bang Đông Dương trong Liên hiệp Pháp với đại diện của Campuchia, Lào, Nam Kỳ và Nam Trung Bộ. Ngày 14 tháng 8, các bên tham gia Hội nghị khuyến nghị thành lập một Quốc hội liên bang của các nhà nước. Nhân dân Sài Gòn tổ chức bãi công để phản đối .
Việt Nam Dân chủ cộng hòa thông qua Hiến pháp đầu tiên khẳng định nền độc lập ngày 8 tháng 11 năm 1946 (lúc này Quốc hội được chia thành các nhóm: Marxist, Việt Minh, Dân chủ, Xã hội, Việt Quốc, Việt Cách, Tổng liên đoàn lao động, không đảng phái). Trước đó, một Chính phủ mới được thành lập được báo Cứu quốc mô tả "Các đảng phái từ tả sang hữu đều ủng hộ Chính phủ mới". Ủy ban Quân sự Việt - Pháp vẫn làm việc, tuy nhiên phía Việt Nam Dân chủ cộng hòa liên tục tố cáo Pháp vi phạm Thỏa ước. Mặc dù vậy, ngày 20 tháng 2 năm 1947, Hồ Chí Minh gửi thư - thông qua Lãnh sự Anh - đến Tổng thống Pháp kêu gọi hòa bình. Ông viết "...chúng tôi muốn được thống nhất và độc lập trong Liên hiệp Pháp; chúng tôi muốn, một nền hòa bình đích thực sẽ làm vinh danh cho cả Pháp và Việt Nam".
==== Kêu gọi sự công nhận và ủng hộ của các cường quốc ====
Ngoài ra, Chủ tịch Hồ Chí Minh còn gửi thư cho nhiều nguyên thủ quốc gia trên thế giới kêu gọi công nhận nhà nước Việt Nam mới được thành lập cũng như tranh thủ sự ủng hộ nhưng không nhận được hồi âm (Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman, lãnh tụ Liên Xô Stalin, Tổng thống Pháp Léon Blum, bộ trưởng Thuộc địa Pháp Marius Moutet và Nghị viện Pháp,…). Từ giữa tháng 10/1945 đến tháng 3/1946, Hồ Chí Minh đã gửi nhiều điện tín cho Tổng thống, Bộ trưởng Ngoại giao, Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ và Liên Hiệp Quốc kêu gọi Mỹ và Liên Hiệp Quốc can thiệp vào Việt Nam trên cơ sở những nguyên tắc của Hiến chương Đại Tây Dương và vì lý do nhân đạo nhưng không đến được tay những người có thẩm quyền do Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa được Mỹ công nhận nên không được hồi đáp. Hồ Chí Minh cũng viết thư cho Stalin thông báo về sự ra đời của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đề nghị Liên Xô đưa vấn đề độc lập của Việt Nam vào chương trình nghị sự của Liên hiệp quốc nhưng cũng không được hồi đáp. Vào thời điểm này, Liên Xô quan tâm đến châu Âu hơn Đông Dương. Trong lúc đó, những người Việt Nam theo chủ nghĩa Quốc gia và những người Pháp theo chủ nghĩa thực dân qua những mối quan hệ với giới chính trị Trung Quốc và Pháp tuyên truyền rằng Hồ Chí Minh là tay sai trung thành của Liên Xô. Ngày 5/12/1946, khi A.B. Moffat, Vụ trưởng Vụ Đông Nam Á thuộc Bộ ngoại giao Mỹ, đến thăm Đông Dương, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Acheson có điện tín chỉ dẫn trong trường hợp gặp Hồ Chí Minh "phải luôn nhớ rằng ông Hồ đã được xác định là một tay sai của Quốc tế Cộng sản".
Ngay sau khi ký Hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946, Hồ Chí Minh được nội các đồng ý đã gửi một phái đoàn ngoại giao đến Trùng Khánh để tái khẳng định tình hữu nghị Việt - Trung và để thăm dò việc Tưởng Giới Thạch muốn hai nước sẽ có quan hệ thế nào sau khi ký Hiệp ước Hoa-Pháp. Thứ trưởng Ngoại giao Nghiêm Kế Tổ, một thành viên Việt Quốc có nhiều mối quan hệ ở Trung Quốc, làm trưởng đoàn, 2 người còn lại là thành viên Việt Minh. Đêm trước khi 3 người khởi hành, Hồ Chí Minh cử Cố vấn Vĩnh Thụy (Bảo Đại) đi cùng. Ban đầu cả Nghiêm Kế Tổ và Bảo Đại đều phản đối ý tưởng này nhưng sau khi họp với Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh họ thay đổi ý kiến. Theo David G. Marr, Hồ Chí Minh muốn ngăn cản tướng Leclerc lôi kéo Bảo Đại trong khi các nhà lãnh đạo Việt Quốc lại thấy Bảo Đại có thể trở thành lãnh tụ của một chính phủ mới của phe Quốc gia được Trung Quốc và Hoa Kỳ ủng hộ. Ngày 13/4/1946, đoàn công tác về đến Hà Nội còn Bảo Đại vẫn ở lại Trùng Khánh rồi sang Hồng Kông sống lưu vong cho đến khi những người Việt Quốc gia lưu vong khác đến gặp ông năm 1947.
=== Trấn áp các đảng phái đối lập ===
Sau cuộc đảo chính của Nhật ngày 9/3/1945, các tổ chức chính trị thân Pháp ngừng hoạt động, lãnh đạo các tổ chức này tránh lộ diện công khai. Các đảng phái khác tăng cường hoạt động nhờ sự tê liệt của Sở Liêm phóng Đông Dương do các viên chức Pháp bị cầm tù. Các đảng phái thân Nhật hoạt động công khai, xuất bản báo chí, hội họp, thăm dò mức độ ủng hộ của Nhật. Các đảng phái đứng về phe Đồng Minh tích cực hoạt động để chuẩn bị cho cuộc đổ bộ của Đồng Minh vào Đông Dương đồng thời lên án các đảng phái thân Nhật. Từ tháng 7/1945, bạo lực chính trị bắt đầu gia tăng nhưng lãnh đạo các đảng phái và các trí thức thuộc các khuynh hướng khác nhau vẫn gặp gỡ trao đổi thông tin và thảo luận về việc thành lập các liên minh chống thực dân Pháp. Theo Đảng Cộng sản Việt Nam, ngay sau khi giành được độc lập, chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải đối mặt với các thế lực đế quốc, phản động quốc tế đã cấu kết, bao vây, chống phá hòng thủ tiêu mọi thành quả của cuộc Cách mạng tháng 8, nhằm khôi phục lại sự thống trị đối với Việt Nam, xoá bỏ nền độc lập mà dân tộc Việt Nam vừa giành được. Các đảng phái dựa vào quân Tưởng, quân Anh và Pháp liên tục tuyên truyền, gây rối chống phá chính phủ, buộc chính phủ phải ban hành các sắc lệnh giải tán đồng thời trấn áp mạnh tay với các phần tử, đảng phái muốn tiêu diệt, lật đổ chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Theo sử gia David G. Marr, đó là một thời kỳ đầy hận thù, phản bội và giết chóc. Cho tới tháng 8 năm 1946, các đảng phái đối lập, ngoại trừ Giáo hội Công giáo, đều bị phá vỡ, vô hiệu hóa, hoặc buộc phải lưu vong.
Ngay sau khi thành lập, Chính phủ Cách mạng Lâm thời ban hành các sắc lệnh giải tán một số đảng phái, với lý do các đảng này "tư thông với ngoại quốc", làm "phương hại đến nền độc lập Việt Nam và nền kinh tế Việt Nam" (như Việt Nam Quốc xã, Đại Việt Quốc dân đảng...) nhằm kịp thời "trừng trị bọn phản cách mạng, bảo vệ chính quyền non trẻ" đồng thời "giáo dục ý thức về tinh thần cảnh giác" cho nhân dân. Ngày 6 tháng 9, Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt giam Võ Văn Cầm, thủ lĩnh Đảng Việt Nam Thanh niên ái quốc với tội danh dẫn quân Nhật tìm đánh Việt Minh. Báo Cứu Quốc, số ra ngày 7/9/1945 đăng tin của Bộ tuyên truyền và cổ động "Dưới thời đô hộ của Nhật, nhiều người đã quá nông nổi, hoặc đã bị hướng dẫn sai lầm, nên vô tình gia nhập vào những đảng có tính cách phản quốc. Chính phủ hiểu rõ chỗ lầm lẫn đáng tiếc đó và sẵn sàng tha thứ cho những người con của Tổ quốc đã lầm đường, trừ những lãnh tụ đã có những hành vi phản quốc rõ rệt...".
==== Trấn áp Đại Việt ====
Từ tháng 9/1945, rải rác khắp ba miền, Đại Việt Quốc dân Đảng đã cho thành lập chiến khu ở Kép (Bắc Giang), Lạc Triệu (Bắc Giang), Yên Bái, Di Linh (huyện Nông Cống, Thanh Hóa), An Điền (huyện Thủ Đức, tỉnh Gia Định), An Thành (Vĩnh Long), và Ba Rài (Mỹ Tho) để xây dựng các căn cứ và xây dựng lực lượng quân sự mạnh chống Pháp và chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Việt Minh lãnh đạo. Riêng ở Lạc Triệu và Yên Bái còn có trường huấn luyện sĩ quan. Chiến khu ở Kép (Bắc Giang) được Đại Việt Quốc dân Đảng đánh giá là một áp lực mạnh mẽ đối với Việt Minh, có thể "sẵn sàng chuyển quân nhanh chóng về Hà Nội, "dọn dẹp" sạch sẽ Bắc Bộ Phủ (trụ sở của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa)".
Ngày 5 tháng 9 năm 1945, Bộ trưởng Nội vụ Võ Nguyên Giáp đã ký Sắc lệnh số 8 giải thể Đại Việt Quốc gia Xã hội Đảng và Đại Việt Quốc dân Đảng với lý do "Đại Việt quốc gia xã hội Đảng đã tư thông với ngoại quốc để mưu những việc có hại cho sự độc lập Việt Nam và Đại Việt Quốc dân Đảng đã âm mưu những việc hại cho sự độc lập quốc gia và nền kinh tế Việt Nam"
Trong tháng 9 và tháng 10 năm 1945, các tổ chức khác nhau của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Minh có thể đã thủ tiêu hoặc bắt giữ hàng trăm đảng viên và những người có liên quan đến Đại Việt Quốc dân Đảng, Đại Việt Duy dân Cách mệnh Đảng tại các tỉnh Ninh Bình, Tuyên Quang, Thái Bình, Phú Thọ, Hưng Yên... Trương Tử Anh lẩn trốn sự truy nã của công an Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng thời liên tục cảnh báo Việt Nam Quốc dân Đảng không được liên minh với Đảng Cộng sản Đông Dương. Trong suốt năm 1946, công an tiếp tục truy lùng thành viên các đảng Đại Việt. Theo David G. Marr, nhờ tuyên truyền có hiệu quả nên Việt Minh làm dân chúng tin rằng đảng viên Đại Việt là những tên tay sai cho phát xít Nhật dù trên thực tế trước ngày 9/3/1945 khi Nhật đảo chính Pháp chỉ có một số ít người Việt có quan hệ với người Nhật, sau ngày 9/3/1945 tất cả các đảng phái ở Việt Nam kể cả Việt Minh đều tiếp xúc với quân đội và nhân viên dân sự Nhật. Sau khi Pháp tái chiếm Đông Dương, ngày 19 tháng 12 năm 1946 thì Trương Tử Anh đột ngột mất tích, có nguồn cho là ông bị Việt Minh thủ tiêu.
==== Trấn áp những người Trotskyist ====
Ngay sau khi cấm Đại Việt Quốc dân Đảng hoạt động, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tố cáo những người Trotskyist (nhóm La Lutte và nhóm Liên minh Cộng sản Quốc tế) là kẻ thù của mình. Đảng cộng sản Đông Dương và những người Trotskyist từ lâu đã chỉ trích nhau là tay sai đế quốc. Tuy nhiên xung đột của hai nhóm này trước năm 1945 chỉ thể hiện bằng báo chí, diễn thuyết, truyền đơn. Sau năm 1945, hai nhóm bất đồng quan điểm về việc thực hiện cách mạng xã hội và cách đối phó với việc Đồng Minh đổ bộ vào Nam Kỳ. Những người Trotskyist muốn thực hiện ngay lập tức một cuộc cách mạng xã hội và vũ trang quần chúng chống lại lực lượng Đồng Minh còn Đảng cộng sản Đông Dương muốn giải phóng dân tộc trước rồi làm cách mạng xã hội đồng thời thỏa hiệp với Đồng Minh để giành độc lập từng bước.
Ngày 7 và 8 tháng 9 năm 1945, một số thành viên Trotskyist cùng tín đồ Phật giáo Hòa Hảo tham gia một cuộc tấn công đẫm máu nhưng bất thành nhằm vào các thành viên Việt Minh ở Cần Thơ. Họ tổ chức một cuộc biểu tình của khoảng 20.000 tín đồ Phật giáo Hòa Hảo với các khẩu hiệu "Võ trang quần chúng chống thực dân Pháp. Tẩy uế các phần tử thúi nát trong ủy ban Hành chánh Nam bộ". Việt Minh huy động Thanh niên Tiền phong bắn vào đoàn biểu tình khiến nhiều người chết và bị thương.
Ngay sau đó, Dương Bạch Mai tống giam những người Trotskyist tại Sài Gòn. Binh lính Anh tìm thấy họ đêm 22/9/1945 và giao nộp cho người Pháp. Sau khi được thả, những người Trotskyist tổ chức tấn công quân Anh, Pháp theo lời kêu gọi Nam Bộ kháng chiến của Ủy ban Kháng chiến Nam Bộ do Trần Văn Giàu đứng đầu. Trong một đợt tổng rút quân của lực lượng kháng chiến Nam Bộ giữa tháng 10/1945, Đảng cộng sản Đông Dương đã truy lùng, bắt giữ và hành quyết một cách có hệ thống khoảng 20 lãnh đạo phe Trotskyist trong đó có Phan Văn Hùm, một lãnh đạo có uy tín của phe Trotskyist. Những thành viên Trotskyist khác phải nương tựa Hòa Hảo và các đảng phái quốc gia khác ở Đồng bằng sông Cửu Long.
Tại miền Bắc, các chính quyền địa phương được lệnh phát hiện, bắt giữ và tống giam những người Trotskyist tuy Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không ra văn bản nào cấm lực lượng này hoạt động. Đến năm 1946, những người Trotskyist tại miền Bắc không còn là mối lo ngại đối với chính quyền hoặc không còn người Trotskyist nào bị phát hiện. Trên báo chí, từ Trotskyist vẫn tiếp tục xuất hiện là để cảnh cáo những nhân viên nhà nước công khai phàn nàn đồng lương không đủ sống hay những người dám đấu tranh để người lao động kiểm soát nhà máy, xí nghiệp.
==== Trấn áp Việt Cách ====
Trong khi lãnh đạo các phe phái Việt Minh, Việt Quốc, Việt Cách tranh cãi về các định nghĩa pháp lý, về việc bổ nhiệm các bộ trưởng và việc đưa ra các tuyên bố chung để đi đến thành lập Chính phủ liên hiệp thì các chủ bút, cán bộ chính trị, lực lượng vũ trang của các bên vẫn đấu tranh với nhau gay gắt. Trên báo Cứu Quốc, 7 Tháng Chín 1945 Việt Minh tố cáo Việt Cách "Hội ấy cũng nêu lên cái khẩu hiệu đánh đuổi Pháp - Nhật. Nhưng họ đã tranh đấu những gì? Trong cuộc võ trang khởi nghĩa đánh vào hai kẻ thù, giữa lúc chủ quyền của chúng còn bền vững cũng như khi đã tan rã, người ta chỉ thấy có đoàn thể Việt Minh... Suốt trong thời kỳ ấy, không ai nghe nói đến hành động của Việt Nam cách mạng đồng minh hội. Vừa đây, trước cuộc tổng khởi nghĩa của Việt Minh ít ngày, hội ấy mới mộ một bọn thổ phỉ kéo vào Móng Cái để đánh Pháp Nhật (ở đó Pháp không còn một người và Nhật đã rút lui)". Bộ Tuyên truyền của Chính phủ Cách mạng lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gửi đến ban biên tập các tờ báo một bức thư hư cấu chỉ trích Nguyễn Hải Thần không cử người tham gia đoàn quân Nam tiến chi viện cho miền Nam đồng thời buộc tội ông thỏa thuận với quân Pháp. Báo chí thường xuyên cáo buộc Việt Cách và Việt Quốc tống tiền dân chúng. Công an Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thường xuyên bắt giữ các thành viên Việt Cách vì tội tống tiền, đặc biệt là đối với Hoa kiều. Các thành viên Việt Minh và Việt Cách xé áp phích của nhau, đe dọa tính mạng và phá các cuộc họp của đối thủ. Việt Minh khuyến khích Bồ Xuân Luật rời bỏ Việt Cách lập ra tờ báo Đồng Minh xuất bản cho đến tháng 11 năm 1946. Mười ngày sau đó, tại Hà Nội, Bồ Xuân Luật bị phục kích nhưng may mắn thoát chết.
Các lãnh đạo Việt Cách không gặp khó khăn gì trong việc kiểm soát các thị xã từ biên giới Trung Quốc đến đồng bằng sông Hồng cho đến khi quân đội Trung Quốc rút về nước vào tháng 4/1946. Các viên chức nhà nước tại những nơi đó phải đối mặt với việc trung thành với Việt Cách, trung lập hay di tản khỏi thị xã. Việt Cách đôi khi phải xin phép chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa để thực hiện một số hoạt động của họ.
Bị Việt Quốc làm lu mờ và ngày càng mất đoàn kết, tháng 3/1946, Việt Cách bị chia rẽ. Một số thành viên tập trung bảo vệ các thị xã phía Bắc Hà Nội, những người khác gia nhập Việt Quốc, số còn lại lệ thuộc Việt Minh. Việt Cách có thể đã tổ chức một số cuộc tấn công vào lính Pháp tại Hải Phòng vào tháng 4/1946. Cuối tháng 4/1946, Pháp khai quật được 12 thi hài tại tầng hầm trụ sở cũ của Việt Cách tại Hà Nội trong đó có 2 công dân Pháp mất tích ngày 24/12/1945. Cuối tháng 5/1946, thành viên Việt Cách Hồ Đắc Thành tham gia Mặt trận Liên Việt. Các thành viên Việt Cách ở Quảng Yên và Móng Cái đã rút qua Trung Quốc vào giữa tháng 6/1946. Cuối tháng 10/1946, báo Đồng Minh của Bồ Xuân Luật đưa tin về cuộc họp của một số chi bộ còn lại của Việt Cách và việc một số thành viên Việt Cách tham gia kỳ họp thứ hai của quốc hội. Công an thu được một số tài liệu của Việt Cách và triệu tập các thành viên Việt Cách tới thẩm vấn. Từ đó trở đi một vài thành viên Việt Cách hợp tác với Việt Minh để xây dựng một hình ảnh mặt trận quốc gia liên hiệp giữa các đảng phái trong khi đó các thành viên khác bị tống giam hoặc phải lưu vong.
==== Trấn áp Việt Quốc ====
Ngay sau khi Việt Minh giành chính quyền ngày 19/8/1945, Lê Khang dẫn đầu một nhóm Việt Quốc rời Hà Nội đến Vĩnh Yên nằm trên tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội. Tại đây họ tổ chức một cuộc biểu tình của dân chúng để thuyết phục lực lượng Bảo an binh địa phương tham gia. Ngày 29/8/1945, hàng ngàn người ủng hộ Việt Minh thuộc 3 huyện lân cận tiếp cận căn cứ của Việt Quốc tại Vĩnh Yên kêu gọi Việt Quốc tham gia một cuộc diễu hành xuyên qua thị trấn. Khi bị từ chối, họ bắn thành viên Việt Quốc. Việt Quốc bắn trả khiến một số người chết đồng thời bắt giữ khoảng 150 người. Những người bị bắt được thả sau khi đã được tuyên truyền về Việt Quốc và thừa nhận mình bị lừa khi tham gia biểu tình. Sau đó, Việt Minh và Việt Quốc tiếp tục thảo luận về việc phóng thích những người còn bị Việt Quốc giam giữ, về việc tổ chức đàm phán và những đề xuất liên quan đến việc thành lập chính quyền liên hiệp ở địa phương. Trong khi hai bên thảo luận, Việt Minh cắt đứt nguồn cung cấp lương thực cho thị xã Vĩnh Yên khiến cuộc sống ngày càng khó khăn.
Ngày 18/9/1945, Hoàng Văn Đức, một thành viên quan trọng của Đảng Dân chủ Việt Nam cùng đại diện chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ Hà Nội đến Vĩnh Yên thương lượng. Cuộc thương lượng không thành công, Lê Khang tấn công Phúc Yên nhưng thất bại. Các đơn vị quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tấn công Vĩnh Yên nhưng không giành được thị xã này. Sau đó hai bên ngừng bắn trong vài tháng. Việt Quốc không tranh giành ảnh hưởng với Việt Minh ở vùng nông thôn ngoài việc chiếm giữ nông trại Tam Lộng tại Vĩnh Yên. Đầu tháng 12/1945, Việt Minh tấn công Tam Lộng nhưng bị đẩy lùi.
Tháng 9/1945, Việt Quốc thỏa thuận bí mật với đại úy Nguyễn Duy Viên theo đó đại đội lính khố đỏ của ông sẽ theo Việt Quốc. Tuy nhiên Việt Quốc nghi ngờ đại úy Viên là điệp viên hai mang của Pháp và sẽ điều động đơn vị của mình thủ tiêu đảng viên Việt Quốc ngay sau khi vượt biên giới về Việt Nam. Đầu tháng 11, Viên đến Hà Giang gặp các thành viên Việt Quốc tại đây. Những binh sĩ đào ngũ từ các đơn vị lính thuộc địa cũng đổ về Hà Giang giúp Viên có được một đội quân khoảng 400 người. Việt Quốc và Việt Minh tại Hà Giang mâu thuẫn nhau khiến Viên đến Hà Nội yêu cầu chính phủ cử đại diện đến thuyết phục mọi người cùng chống Pháp. Sau khi gặp Hồ Chí Minh, Viên trở về Hà Giang, cho quân bắt giữ các đảng viên Việt Quốc tại đây và xử bắn một số người trên một ngọn đồi gần thị xã. Tháng 4/1946, Việt Quốc cho người ám sát ông tại Hà Nội.
Báo Sự thật của Hội nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác ở Đông Dương, ngày 5 tháng 12 năm 1945 đăng tải bức thư ngỏ của Hội gửi các anh em trong Việt Nam Quốc dân Đảng: "...Chúng tôi không bảo những người theo Đại Việt quốc xã, Cao đài, Phật thầy là Việt gian cả. Trong số những người ấy có nhiều phần tử trung thực chỉ vì thiếu sự nhận xét sáng suốt về chính trị, nên đã nhầm theo bọn lãnh tụ Việt gian. Nhưng còn những phần tử 100 phần 100 phản quốc, lẩn sau những chiêu bài Việt Nam Cách mạng đồng minh hội và Việt Nam Quốc dân đảng để tránh sự trừng phạt của quốc dân và Chính phủ. Các anh dung túng họ và hơn nữa nhận họ trong hàng ngũ; thế là các anh tự chia rẽ với dân, chứ không phải ai chia rẽ với các anh đâu...Không kể chi những chuyện xa xôi, hãy nói những cuộc khởi nghĩa hay đấu tranh cách mạng từ chiến tranh đến giờ: Bắc Sơn, Nam Kỳ, Đô Lương, kháng Nhật cứu nước, mồng 9 tháng ba, khởi nghĩa 19 Tháng Tám. Trong những giờ phút thiêng liêng ấy, các anh ở đâu?... Chúng tôi xin đề ra ba nguyên tắc hợp tác giữa các đảng phái yêu nước như dưới đây:1. Đoàn kết hợp tác giữa tất cả các đoàn thể chân chính yêu nước, nhưng không đoàn kết vô nguyên tắc với bọn phản quốc. 2. Sự đoàn kết thành thực giữa các đảng phái cách mạng chỉ có thể đặt lên trên nền tảng hành động chung. 3. Cấm chỉ mọi hành động có hại cho nước, có lợi cho địch, nhất là việc gièm pha cuộc kháng chiến và mạt sát Chính phủ kháng chiến."
Tháng 5/1946, Trần Đăng Ninh, phụ trách an ninh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đến Vĩnh Yên với lý do thảo luận về công tác sửa chữa đê điều và bị Vũ Hồng Khanh bắt. Ninh và 2 người khác trốn thoát. Việc bắt giữ này trở thành lý do để đàn áp Việt Quốc. Vệ quốc quân bắt đầu tuần tra quanh nơi hoạt động của Việt Quốc. Ngày 20/5/1946, trong một cuộc đụng độ gần Phú Thọ, Việt Quốc bắt giữ và hành quyết một nhóm người ủng hộ Việt Minh, thả vài xác chết xuống sông Hồng để cảnh cáo.
Giữa tháng 5/1946, Bộ Nội vụ ra lệnh cho tất cả các cán bộ công chức đang làm việc tại 7 thị xã ở các tỉnh phía Tây và Tây Bắc Hà Nội sơ tán và tham gia vào các Ủy ban thay thế được thành lập ở các địa điểm mới. Những người không thực hiện lệnh này không còn là người của chính phủ.
Tháng 6/1946, khi quân đội Trung Quốc rút về Vân Nam, dân quân của Việt Minh cô lập các thị xã do Việt Quốc kiểm soát. Ngày 18/6/1946, Vệ quốc quân tấn công Phú Thọ và Việt Trì. Quốc dân quân của Việt Quốc ở Phú Thọ hết đạn sau 4 ngày và phải rút lui. Vũ Hồng Khanh chỉ huy 350 lính phòng thủ Việt Trì trong 9 ngày rồi rút lui về Yên Bái. Việt Quốc ở Vĩnh Yên do Đỗ Đình Đạo chỉ huy đàm phán với Việt Minh và đạt được thỏa thuận ngừng bắn trong 2 tháng. Đỗ Đình Đạo đồng ý sáp nhập lực lượng của ông vào Vệ quốc quân và thành lập Ủy ban Hành chính liên hiệp tại Vĩnh Yên. Lực lượng này được chia nhỏ đưa về các tiểu đoàn Vệ quốc quân tại nhiều nơi. Đỗ Đình Đạo được thuyên chuyển về Hà Nội. Trong suốt tháng 5 và tháng 6/1946, Báo Việt Nam của Việt Quốc tại Hà Nội khẩn thiết kêu gọi Việt Minh ngừng tấn công Việt Quốc.
Cuối tháng 6 tại Hà Nội, các thành viên Việt Quốc họp để thảo luận về việc có nên thừa nhận sự lãnh đạo của Việt Minh, rút lui về biên giới hay tổ chức đảo chính lật đổ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong khi đó, Trương Tử Anh, đảng trưởng Đại Việt Quốc dân Đảng là đồng minh của Việt Quốc, đang lên kế hoạch cho một cuộc đảo chính có thể bắt đầu bằng việc tấn công lính Pháp để gây rối loạn. Người Pháp lại có ý định diễu binh quanh hồ Hoàn Kiếm để kỷ niệm Quốc khánh Pháp (14/7/1789) khiến lực lượng an ninh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lo ngại sự kiện này có thể trở thành mục tiêu của các đảng phái đối lập với Việt Minh. Võ Nguyên Giáp hỏi ý kiến của chỉ huy quân Pháp tại Bắc Kỳ, đại tá Jean Crépin về thái độ của Pháp nếu Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tăng cường trấn áp Việt Quốc và Việt Cách thì được ông này trả lời Pháp sẽ không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trường Chinh (Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, khi đó rút vào hoạt động bí mật, chức danh công khai là Hội trưởng Hội nghiên cứu Chủ nghĩa Mác ở Đông Dương) được Nha Công an Trung ương báo cáo phát hiện được âm mưu của thực dân Pháp câu kết với Việt Nam Quốc dân Đảng đang chuẩn bị đảo chính Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, chỉ đạo phải tập trung trấn áp Việt Nam Quốc dân Đảng, nhưng phải có đủ chứng cứ.
Sáng sớm ngày 12/7/1946, một tiểu đội công an do Lê Hữu Qua chỉ huy bao vây khám xét trụ sở của đảng Đại Việt tại số 132 Duvigneau, do nghi ngờ Đại Việt cấu kết với Pháp âm mưu tiến hành đảo chính lật đổ chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đúng vào ngày quốc khánh Pháp 14/7/1946 khiến lính canh và các đảng viên Đại Việt không kịp phản ứng. Khi thực hiện cuộc bao vây khám xét này, lực lượng công an chưa có chứng cứ cụ thể và chưa có lệnh của cấp trên nhưng vẫn tiến hành để các thành viên Đại Việt không có thời gian rút vào bí mật và tẩu tán truyền đơn, hiệu triệu lật đổ chính quyền. Tại trụ sở của Đại Việt, lực lượng công an đã tìm thấy nhiều truyền đơn, hiệu triệu chưa kịp tẩu tán cùng nhiều súng ống, lựu đạn. Công an cũng được cho là đã phát hiện một bản kế hoạch có chữ ký của Trương Tử Anh, theo đó Đại Việt sẽ quăng lựu đạn vào lính Pháp gốc Phi trong ngày diễu binh của quân đội Pháp, tiếp đó quân đội Đại Việt hoặc quân đội Pháp sẽ bắt giữ những lãnh đạo Đảng Cộng sản Đông Dương và Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cuối cùng Trương Tử Anh sẽ công bố thành lập chính phủ mới. Lê Giản, Giám đốc Nha Công an Bắc bộ, đưa tài liệu này cho Quyền chủ tịch nước Huỳnh Thúc Kháng. Ông này đọc rồi nói "Tiêu diệt chúng! Quét sạch toàn bộ! Lũ phản bội! Đồ chó má!". Tuy nhiên, tài liệu này là một bản dự thảo do Trương Tử Anh viết tay chỉ để sử dụng trong nội bộ Đại Việt Quốc dân Đảng. Lê Giản không cung cấp được bằng chứng về sự thông đồng của Pháp với Đại Việt Quốc dân Đảng trong kế hoạch đảo chính ngày 14/7/1946 ngoài việc Sainteny tiếp tục muốn tổ chức diễu binh vào ngày đó. Lê Giản tìm Võ Nguyên Giáp và được Giáp chỉ thị tấn công tất cả các văn phòng của Việt Quốc ở Hà Nội và các tỉnh.
Sau đó, lúc 7h sáng ngày 12/7/1946, Việt Nam Công an vụ thực hiện phá vụ án phố Ôn Như Hầu. Chỉ đạo trực tiếp lực lượng công an phá vụ án này là các ông Lê Giản (Giám đốc Nha Công an Bắc bộ), Nguyễn Tuấn Thức (Giám đốc Công an Hà Nội) và Nguyễn Tạo (Trưởng nha Điệp báo Công an Trung ương). Lực lượng công an xung phong đã thực hiện khám xét các trụ sở Việt Nam Quốc dân Đảng (7 căn nhà) tại Hà Nội, bắt tại chỗ nhiều thành viên của Việt Nam Quốc dân Đảng cùng nhiều tang vật như truyền đơn, vũ khí, dụng cụ tra tấn, đồng thời phát hiện nhiều xác chết tại đó... Hơn 100 người bị bắt và một số người biến mất không dấu vết. Trong số các thành viên của Quốc dân Đảng bị bắt có một đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa I là Phan Kích Nam. Theo điều tra của Nha công an, Việt Nam Quốc dân Đảng đang chuẩn bị những hành động khiêu khích rất nghiêm trọng. Dự định các thành viên của Việt Nam Quốc dân Đảng sẽ phục sẵn dọc đường quân Pháp diễu qua nhân ngày quốc khánh Pháp, bắn súng, ném lựu đạn để tạo ra những chuyện rắc rối giữa Pháp và Chính phủ, gây sự phá hoại hòa bình rồi tung truyền đơn hô hào lật đổ chính quyền và sau đó đứng ra bắt tay với Pháp.
Nhà nước sau đó thông báo sự việc với báo chí. Các cuộc tấn công được gọi tắt là "Vụ án phố Ôn Như Hầu". Các báo của Việt Minh và các đảng phái thân Việt Minh đều tường thuật vụ án này. Các báo đưa tin công an đã phá tan âm mưu chống chính phủ, đã bắt những kẻ tiến hành những vụ bắt cóc tống tiền, ám sát, bán nước, in truyền đơn chống chính phủ, làm bạc giả... Tuy nhiên Việt Quốc đã không bị kể tên trong một số bài báo.
Theo David G. Marr, nếu thật sự Pháp muốn đảo chính (họ đã cân nhắc và hoãn nhiều lần) thì không cần phải dựa vào Trương Tử Anh khơi ngòi, càng không cho Anh thành lập chính phủ. Công an cố tình lập lờ giữa Đại Việt Quốc Dân Đảng do Trương Tử Anh lãnh đạo và Việt Nam Quốc dân Đảng do Nguyễn Tường Tam và Vũ Hồng Khanh lãnh đạo khi nhắm vào tòa soạn Báo Việt Nam và các trụ sở khác của Việt Nam Quốc dân Đảng. Sau cuộc tấn công, có người trong chính quyền đã cố gắng hạn chế những lời lên án công khai Việt Quốc để tuyên truyền về Mặt trận Thống nhất. Việt Quốc trên danh nghĩa vẫn nằm trong mặt trận. Ngoại trừ một vài đảng viên Việt Quốc hợp tác với Việt Minh, mọi công dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ đó trở đi đều sợ hãi khi bị cho là đảng viên Việt Quốc. Việt Quốc đồng nghĩa với tội phản quốc.
Ngày 20/7/1946, Ủy ban Hành chính Bắc Bộ dù không nhắc đến Việt Quốc đã thông báo đến các tỉnh rằng gần đây công an đã phát hiện được việc tống tiền, bắt cóc và làm tiền giả. Tất cả đều phải bị điều tra và truy tố. Ủy ban hướng dẫn các địa phương không để việc bắt bớ và giam giữ các phần tử phản động biến thành khủng bố. Các Ủy ban Hành chính địa phương giờ đã được chấp thuận cho việc bắt giữ các đảng viên Việt Quốc đã bị phát hiện hay còn tình nghi, tuy nhiên họ không săn lùng và hành quyết ngay lập tức. Trong những tháng sau đó, hàng ngàn người bị bắt, bị thẩm vấn. Hàng trăm người bị tống giam, bị đưa đến các trại cải tạo; hàng trăm người khác bị cách chức. Cán bộ phòng chính trị thuộc Sở Công an các tỉnh bắt những kẻ tình nghi, thẩm vấn, bắt ký vào lời khai, sau đó báo cáo lên chính quyền tỉnh là thả, xét xử hay biệt giam những người này. Từ cuối tháng 7/1946 cho đến cuối năm 1946, phần lớn những người bị công an giam giữ vì lý do chính trị đều bị xem là Việt Quốc. Công an tiếp tục thẩm vấn các đảng viên Việt Quốc về vụ bắt cóc một số đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương xảy ra vào cuối năm 1945.
Cuối tháng 7/1946, Báo Việt Nam bị đình bản nhưng Tuần báo Chính Nghĩa vẫn tiếp tục xuất bản suốt 3 tháng sau. Báo chính Nghĩa đăng một loạt bài xã luận lên án chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa đế quốc Xô Viết đồng thời chỉ trích hệ thống Ủy ban Hành chính của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và việc chính phủ không thể thành lập hệ thống tư pháp độc lập, chính sách ngoại giao của Hồ Chí Minh cũng bị hoài nghi. Cuối tháng 10/1946, các bài xã luận và tin tức trong nước bị loại bỏ. Tới đầu tháng 12, Tuần báo Chính Nghĩa hoàn toàn bị vô hiệu hóa, không còn một tin tức hay bài viết nào đáng phải kiểm duyệt nữa.
Từ tháng 7/1946 đến tháng 11/1946, nhiều đại biểu quốc hội là đảng viên Việt Quốc bị bắt. Đại biểu Phan Kích Nam, đảng viên Việt Quốc, bị bắt trong vụ án phố Ôn Như Hầu, bị buộc tội bắt cóc, tống tiền và bị tống giam ngay lập tức. Đại biểu Nguyễn Đổng Lâm bị công an Hải Dương bắt và bị kiến nghị gửi đến trại biệt giam trong 2 năm với lý do "chính quyền địa phương sẽ gặp nhiều khó khăn nếu ông Lâm còn tự do ngoài vòng pháp luật". Trường hợp của Lâm được báo cáo lên Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội Nguyễn Văn Tố. Tố cùng Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra lệnh thả Lâm. Ngày 21/8/1946, Nguyễn Đổng Lâm được thả. Tại các địa phương khác, các đại biểu quốc hội là đảng viên Việt Quốc cũng bị sách nhiễu hoặc bắt giữ. Đại biểu Trình Như Tấu gửi kháng nghị đến 5 cơ quan chính phủ khác nhau sau khi ông bị dân quân bao vây nhà riêng để yêu cầu bồi thường một máy đánh chữ không có thật và đe dọa dùng vũ lực nếu ông không tuân thủ. Trình Như Tấu yêu cầu được bảo vệ với tư cách nghị sĩ nhưng không được hồi đáp. Tại kỳ họp lần thứ hai của Quốc hội vào cuối tháng 10/1946, chưa tới 12 người trong số 50 đại biểu Quốc hội thuộc Quốc dân Đảng tham dự.
Sau khi rút lui về Yên Bái, Vũ Hồng Khanh nhận ra rằng nguồn cung cấp lương thực tại địa phương chỉ đủ nuôi sống lực lượng quân đội Việt Quốc chứ không đủ cung cấp cho những người ủng hộ Việt Quốc từ đồng bằng sông Hồng đến. Việc tiếp tế từ Lào Cai gặp nhiều khó khăn vì Việt Minh đã phá hủy đường sắt. Tới tháng 11, Lào Cai bị Vệ Quốc quân bao vây và lương thực sắp hết. Vũ Hồng Khanh quyết định sơ tán sang Vân Nam và ra lệnh hành quyết 2 giảng viên học viện quân sự vì cố gắng dẫn học viên của họ quay trở lại đồng bằng. Tháng 10/1947, khi Pháp nhảy dù xuống Phú Thọ, công an Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bị cáo buộc xử bắn hơn 100 tù nhân Việt Quốc trước nguy cơ họ có thể trốn thoát hoặc lọt vào tay người Pháp.
==== Trấn áp các đảng phái khác ====
Sự có mặt của quân đội Tưởng Giới Thạch cho tới lúc đó đã đảm bảo sự tồn tại của Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội. Hai đảng này không có một chương trình gắn kết với nhau để tranh thủ dân chúng như Việt Minh. Những người lãnh đạo Việt Nam Quốc dân Đảng và Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội thì còn xa mới có được những phẩm chất có thể so sánh với Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp và những người có trách nhiệm khác của Việt Minh. Khi quân đội Tưởng Giới Thạch rút khỏi Việt Nam ngày 15/6/1946, hiểu theo cách này hay cách khác, Võ Nguyên Giáp quyết định Việt Minh phải hoàn toàn một mình điều khiển bộ máy chính quyền. Võ Nguyên Giáp hối hả hành động ngay với mục tiêu rải khắp: Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội được Trung Hoa Quốc dân Đảng ủng hộ, Việt Nam Quốc dân Đảng (theo Cecil B. Currey tổ chức này mượn danh cách mạng của Việt Nam Quốc dân Đảng năm 1930 do Nguyễn Thái Học sáng lập còn theo David G. Marr Đảng Cộng sản Đông Dương đã ra sức tuyên truyền Việt Nam Quốc dân Đảng phản bội lại sự nghiệp cách mạng của Nguyễn Thái Học năm 1930 nhưng đến cuối năm 1945 nhiều người dân vẫn không tin vào điều đó), nhóm quốc gia thân Nhật Đại Việt, những người Trotskyist, những người quốc gia chống Pháp, nhóm Công giáo mang tên "chiến sĩ Công giáo". Võ Nguyên Giáp đã từng bước tìm cách loại bỏ dần các đảng phái này.
Ngày 19/6/1946, Báo Cứu Quốc của Tổng bộ Việt Minh đăng xã luận kịch liệt chỉ trích "bọn phản động phá hoại Hiệp định sơ bộ Pháp Việt mùng 6 tháng 3". Ngay sau đó Võ Nguyên Giáp bắt đầu chiến dịch truy quét các đảng phái đối lập bằng lực lượng công an và quân đội do Việt Minh kiểm soát với sự giúp đỡ của nhà cầm quyền Pháp. Ông cũng sử dụng các binh lính, sĩ quan Nhật Bản tình nguyện ở lại Việt Nam và một số vũ khí do Pháp cung cấp (ở Hòn Gai quân Pháp cung cấp cho Việt Minh những khẩu pháo để diệt một số vị trí do quân Đại Việt chiếm giữ) trong chiến dịch này. Nhiều nhà trí thức, lãnh đạo đảng phái có khuynh hướng ôn hòa như Phạm Quỳnh, Ngô Đình Khôi, Bùi Quang Chiêu... cũng bị Việt Minh kết tội Việt gian (do từng làm quan trong triều đình nhà Nguyễn được Pháp bảo hộ) và bị xử bắn, nhiều người khác bị Việt Minh bắt hoặc phải lưu vong. Chính phủ Liên hiệp Kháng chiến được thành lập nhằm tạo khối đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc giữa các đảng phái, sau Vụ án phố Ôn Như Hầu đã mất đi ý nghĩa của nó.
=== Căng thẳng dẫn đến bùng nổ ===
Xung đột quân sự đầu tiên nổ ra tại Hải Phòng. Đầu tháng 11 năm 1946, quân Pháp chiếm trụ sở hải quan tại cảng Hải Phòng. Quốc hội Việt Nam phản đối hành động này và khẳng định chủ quyền của Việt Nam trong việc kiểm soát tất cả các vấn đề liên quan đến xuất nhập khẩu.
Ngày 20 tháng 11 năm 1946, khi quân Pháp tấn công và đánh chìm ở cảng Hải Phòng một thuyền buồm Trung Quốc chở xăng được cho là để giao cho Việt Minh. Vệ quốc quân Việt Nam đánh trả lại quân Pháp. Sau cuộc ngừng bắn ngày 21 tháng 11 năm 1946, Pháp gửi tối hậu thư cho chính quyền Việt Minh ở Hải Phòng, đòi Việt Minh phải rút khỏi Hải Phòng và trao thành phố lại cho Pháp. Ngày 23 tháng 11 năm 1946, chính quyền Việt Minh từ chối yêu sách của Pháp, và quân Pháp bắt đầu bắn phá Hải Phòng với xe tăng, pháo binh và trọng pháo từ tuần dương hạm Suffren, để "dạy Việt Minh một bài học", như lời của Tổng chỉ huy quân Pháp, tướng Jean-Étienne Valluy nói với các viên chỉ huy địa phương qua radio.
Ngày 23 tháng 11, Đại tá Pierre Louis Dèbes gửi tối hậu thư yêu cầu người Việt ra khỏi khu phố Tàu của Hải Phòng và hạ vũ khí. Khi không có phản hồi, Dèbes lệnh cho tàu chiến Pháp bắn phá thành phố, trong một buổi chiều đã giết chết hơn 6.000 người dân hoặc hơn 2.000 người theo một nguồn khác.. Sau đó, khoảng 2.000 lính Pháp tràn vào thành phố trong khi pháo tiếp tục bắn phá vùng ngoại ô. Máy bay ném bom và oanh tạc cơ Pháp trên không phận yểm trợ cho các đoàn thiết giáp và bộ binh tiến chiếm các khu phố, tấn công các trụ sở chính quyền Việt Nam.
Quân Pháp gặp phải hỏa lực mạnh của lực lượng Việt Minh bảo vệ thành phố. Quân Tự vệ Việt Nam chỉ có súng trường Mousqueton, mã tấu và lựu đạn nhưng vẫn quyết tâm chiến đấu bảo vệ Hải Phòng. Chiến sự kéo dài cho đến khi người lính Việt Minh cuối cùng rút khỏi chiến trường vào ngày 28 tháng 11.
Tin chiến sự lan ra toàn quốc. Hồ Chí Minh kêu gọi nhân dân hãy bình tĩnh. Trong khi đó thì Võ Nguyên Giáp yêu cầu được gặp Tướng Molière (Tư lệnh Pháp tại Bắc Việt Nam) vào ngày 27/11/1946 để đàm phán. Mãi tới ngày 29/11, Tướng Molière mới chịu gặp Giáp. Khi nói chuyện, Tướng Molière nói thẳng lập trường của Pháp là Pháp phải kiểm soát Hải Phòng cùng các vùng phụ cận và quốc lộ số 5 (nối liên Hà Nội với Hải Phòng) cũng như tất cả các thông lộ nối liền với các đồn trú quân của Pháp. Nếu chính phủ Việt Nam không chấp nhận những điều kiện này thì không có đàm phán gì hết. Đòi hỏi của Pháp khíến cho chính quyền Việt Nam không còn hy vọng gì thương thuyết được với người Pháp và phải chuẩn bị chiến tranh. Tất các cơ quan chính quyền Việt Nam chuẩn bị rút lui ra khỏi thủ đô Hà Nội để chuẩn bị kháng chiến lâu dài.
Sau sự kiện Hải Phòng, kế hoạch phòng thủ Hà Nội bắt đầu được chuẩn bị để chính phủ Việt Nam có thời gian sơ tán về các vùng núi lân cận. Một số ít lực lượng chính phủ đóng tại Bắc Bộ phủ và một doanh trại gần đó. Còn phần lớn lực lượng quân sự của Việt Nam trong vùng đóng tại ngoại ô của thủ đô. Bù lại, trong nội thành có gần 10.000 du kích và tự vệ. Bao gồm những thanh niên đầy nhiệt tình ủng hộ cách mạng, các lực lượng này được trang bị chủ yếu bằng vũ khí tự tạo. Đối địch với họ là vài nghìn lính Lê dương Pháp, chủ yếu đóng trong Thành Hà Nội, phần còn lại đóng xen kẽ tại 45 điểm trong thành phố như Phủ Toàn quyền, ga Hà Nội, nhà băng Đông Dương, nhà thương Đồn Thủy, cầu Long Biên, và sân bay Gia Lâm.
Các cơ quan của chính phủ Việt Nam bí mật chuyển dần ra các địa điểm đã được chuẩn bị trước ở bên ngoài thành phố. Trong thành phố, quân dân Hà Nội bắt đầu xây dựng các chiến lũy phòng thủ trên đường phố, quân Pháp cũng củng cố các vị trí phòng thủ của mình. Ngày 6 tháng 12, Hồ Chí Minh kêu gọi Pháp rút về các vị trí họ đã giữ từ trước ngày 20 tháng 11, nhưng ông không nhận được phản hồi. Trả lời phỏng vấn của nhà báo Pháp vào hôm sau, Hồ Chủ tịch khẳng định rằng Chính phủ Việt Nam hy vọng tránh được chiến tranh - cái sẽ gây đau khổ lớn cho cả hai nước. "Nhưng nếu chúng tôi phải đối mặt với chiến tranh", ông nói, "chúng tôi sẽ chiến đấu chứ không từ bỏ quyền tự do của mình".
Ngày 12 tháng 12, Léon Brum, thủ tướng mới của Pháp tuyên bố ý định giải quyết xung đột ở Đông Dương theo cách sẽ trao lại độc lập cho Việt Nam. Ba ngày sau, Hồ Chí Minh đưa Sainteny một bức thông điệp gửi Brum với các gợi ý cụ thể về cách giải quyết xung đột. Sainteny đánh điện bức thông điệp vào Sài Gòn, yêu cầu chuyển tiếp tới Paris.
Trong khi chính phủ Pháp đang do dự về yêu cầu của Cao ủy Đông Dương Georges D'Argenlieu về việc tăng quân và lập tức hành động quân sự chống lại người Việt, Valluy, người có chung quyết tâm với d'Argenlieu về việc giữ sự hiện diện của Pháp tại Đông Dương, đã quyết định rằng cần phải khiêu khích Hà Nội nhằm tạo xung đột và đưa Paris vào sự đã rồi. Ngày 16 tháng 12, ông lệnh cho tướng Morlière phá các chướng ngại vật mà Việt Minh dựng trong thành phố. Khi bức điện của Hồ Chí Minh gửi Brum vào đến Sài Gòn, Vallue viết thêm bình luận của mình, cảnh báo rằng sẽ nguy hiểm nếu trì hoãn các hành động quân sự cho đến năm sau. Đến ngày 19, bức điện mới đến Paris, khi đó đã quá muộn.
Ngày 17 tháng 12, quân Pháp với xe tăng yểm trợ vào các đường phố Hà Nội để phá các công sự mà Việt Minh dựng trong những ngày trước đó, gây ra vụ thảm sát ở phố Hàng Bún (Hà Nội), rồi dàn quân ra chốt giữ từ cổng thành Hà Nội đến tận cầu Long Biên và bao vây gây sức ép đồn Công an quận 2 của Hà Nội. Người Việt không phản ứng. Hôm sau, Pháp ra một tối hậu thư đòi chấm dứt dựng chướng ngại vật trên phố. Chiều hôm đó, Pháp ra tối hậu thư thứ hai tuyên bố rằng từ ngày 20, quân Pháp sẽ tự mình đảm nhiệm việc trị an ở Hà Nội. Đáp lại, tối hôm đó, các lực lượng Việt Minh bắt đầu chặn mọi ngả đường từ ngoại ô vào thành phố. Sáng hôm sau (ngày 19 tháng 12), Pháp ra tối hậu thư thứ ba, đòi chính phủ Việt Nam đình chỉ mọi hoạt động chuẩn bị chiến tranh, tước vũ khí của Tự vệ tại Hà Nội, và trao cho quân đội Pháp việc duy trì an ninh trong thành phố.
Leclerc, người tham gia Hiệp định sơ bộ 6 tháng Ba, cũng đã điều tra sự cố dẫn đến xung đột tại miền Bắc Việt Nam và việc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố kháng chiến khiến các giải pháp chính trị thất bại. Ngày 27 tháng 1 năm 1947, tuyên bố của chính phủ Pháp về "Chi tiết các mục tiêu theo đuổi của Pháp ở Đông Dương" có nêu "để đạt được càng sớm càng tốt với các đại diện đủ điều kiện của người An Nam một thỏa thuận phù hợp với nguyện vọng chính đáng trong Liên hiệp Pháp (...) trên cơ sở độc lập của đất nước cùng với việc duy trì lợi ích của Pháp và sự hiện diện của (các) căn cứ chiến lược của lực lượng Pháp. Một hỗ trợ lớn và ngay lập tức phải nhằm củng cố chính quyền của Nam Kỳ, nhưng "phần nào đủ điều kiện" để không đóng cánh cửa đàm phán với Việt Minh."
Đối với người Việt, tình hình không khác với sự kiện Hải Phòng hồi tháng trước, khi Đại tá Dèbes cũng đã ra các lệnh tương tự trước khi bắn phá thành phố. Sáng ngày 18 tháng 12, Hồ Chủ tịch ra lệnh chuẩn bị cho các cuộc tấn công quân Pháp vào hôm sau. Đồng thời, sợ rằng bức điện gửi Thủ tướng Brum có thể chưa đến nơi, ông gửi một bức điện thẳng tới Paris. Sáng 19, để thể hiện thiện chí và cố gắng cứu vãn hòa bình, Hồ Chủ tịch viết một bức thư ngắn và cử cố vấn ngoại giao Hoàng Minh Giám tới gặp Sainteny để đàm phán "tìm giải pháp để cải thiện bầu không khí hiện tại". Sau khi được tin Sainteny từ chối gặp Hoàng Minh Giám, Hồ Chủ tịch triệu tập Hội nghị Thường vụ Trung ương Ðảng mở rộng tại làng Vạn Phúc, Hà Nội, và tuyên bố rằng trong tình hình hiện tại, không thể nhân nhượng thêm được nữa. Hội nghị duyệt lại Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến mà Hồ Chủ tịch đã viết, thông qua văn kiện "Toàn dân kháng chiến" do Tổng Bí thư Trường Chinh dự thảo. Thời điểm bắt đầu nổ súng được quyết định là 8 giờ tối cùng ngày. Kháng chiến chống Pháp bắt đầu.
Ngay trong đêm 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Sáng ngày 20/12, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được truyền đi khắp đất nước:
== Thế trận ==
=== Chiến lược ===
Chiến lược của cuộc kháng chiến do Việt Minh lãnh đạo được tóm lược trong tài liệu Kháng chiến nhất định thắng lợi, một tài liệu tuyên truyền của Trường Chinh, phát hành những ngày đầu kháng chiến. Tài liệu chia kháng chiến ra 3 giai đoạn: cầm cự, phòng ngự, phản công. Diễn biến chiến tranh về sau đúng như vậy.
Cầm cự: bao gồm gian đoạn vừa đánh vừa đàm trước 19/12/1946 đến hết Chiến dịch Việt Bắc. Thời này có cuộc Nam Bộ Kháng chiến, cầm cự miền Nam, miền Trung, Hiệp định Sơ bộ và Tạm ước Việt - Pháp, Toàn quốc kháng chiến ở các tỉnh, Hà Nội 1946, nỗ lực vãn hồi hòa bình, công cuộc di tản lên chiến khu. Cuối cùng là đánh bại Pháp trong Chiến dịch Việt Bắc.
Phòng ngự: sau chiến dịch Việt Bắc đến hết Chiến dịch Biên giới. Có các chiến dịch lớn: Chiến dịch Đông Bắc, Chiến dịch Cao-Bắc-Lạng, Chiến dịch Biên giới.
Phản công: Chiến dịch Trung Du, Chiến dịch Đồng Bằng, Chiến dịch Hoàng Hoa Thám, Chiến dịch Tây Bắc, Chiến dịch Hòa Bình, Chiến dịch Thượng Lào, Kế hoạch Navarre, Chiến cục đông-xuân 1953-1954, Chiến dịch Điện Biên Phủ, Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Đông Dương (21/7/1954).
Phương pháp tiến hành chiến tranh của quân đội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (lấy tên chính thức là Quân đội Nhân dân Việt Nam năm 1950) chỉ đơn giản là "Toàn dân-toàn diện-trường kỳ kháng chiến", gồm hai điều: đánh tiêu hao, phân tán lực lượng địch và từng bước xây dựng lực lượng, giành thế chủ động để đẩy địch vào tình thế bị động đối phó. Khi có đủ lực lượng sẽ tung đòn đánh lớn vào những vùng mà địa thế, tương quan binh lực có lợi để giành những thắng lợi chiến lược. Phương pháp này đã đi suốt lịch sử lớn mạnh của Quân đội Nhân dân Việt Nam, và vẫn phát huy hiệu quả trong kháng chiến chống Mỹ sau đó. Tuy "đơn giản" nhưng cả Pháp và Mỹ đều không thể chống lại chiến lược chiến tranh nhân dân này, bởi như tướng De Castries đã trả lời trước Ủy ban Điều tra của Bộ Quốc phòng Pháp rằng: "Người ta có thể đánh bại một quân đội, chứ không thể đánh bại được một dân tộc".
=== Vũ khí ===
Thoạt tiên, từ 1945, quân kháng chiến Việt Nam chỉ được võ trang bằng gậy tầm vông, mã tấu, dao găm, cây phạng, lựu đạn nội hóa và một số rất ít súng trường cũ thu được của Nhật hay thậm chí súng của Pháp từ thời Chiến tranh thế giới thứ nhất sót lại (súng Mousqueton), cùng súng lục Rouleau do hãng St. Etienne bên Pháp chế tạo. Ngay cả với các đơn vị chủ lực, trang bị đều thiếu thốn và không thống nhất, có gì dùng nấy. Vũ khí chống tăng chuyên dụng rất ít, phần lớn là bom ba càng, một loại mìn chống tăng gắn trên cán gậy thu được của Nhật. Một tiểu đoàn thường chỉ được trang bị tương đương với 1 đại đội của Pháp, với 2 đại liên, 1-2 súng cối 60mm, tám trung liên, 140 đến 160 súng trường đủ các kiểu (Nhật, Nga, Pháp), một nửa số bộ đội còn lại không có súng mà phải dùng những vũ khí thô sơ như nỏ, giáo mác và dao kiếm...
Vì nhu cầu cấp bách của cuộc kháng chiến nên ngay từ 1946, tại các mật khu, quân kháng chiến Việt Nam đã cho thiết lập những xưởng vũ khí thô sơ, sửa chữa hoặc chế tạo một ít bộ phận nhỏ của súng lục và súng trường, có khi cả loại trung - đại liên, đồng thời chế tạo lựu đạn nội hóa. Ngành quân khí Việt Nam trong giai đoạn này có sự đóng góp rất lớn của Trần Đại Nghĩa, một kỹ sư đang ở Pháp đã bỏ việc về nước để tham gia kháng chiến. Nhờ những tài liệu mà ông mang về nước, quân kháng chiến Việt Nam đã có thể tự chế tạo pháo không giật chống tăng từ năm 1947.
Cho tới năm 1950, quân kháng chiến Việt Nam vẫn trong tình trạng thô sơ, họ áp dụng chiến thật tiêu thổ kháng chiến, phá hết nhà cửa, phố xá ở thành thị; còn tại trôn quê thì tre vót nhọn được cắm tua tủa khắp các bãi đất trống để ngăn cản Pháp nhảy dù. Ủy ban Hành chính Kháng chiến các xã, quận góp tiền mua ít nhất là một khẩu súng để tự vệ. Với thông cáo này, xã nào cũng đua nhau quyên góp tiền trong dân chúng để gửi đi. Nhưng nguồn cung hầu như không có, nên du kích mỗi xã chỉ có được một khẩu súng Mousqueton đã rỉ sét với 5 viên đạn, mà có khi cả 5 viên đều bắn không nổ vì đạn đã để quá lâu.
Ở ngoài mặt trận, gậy tầm vông vót nhọn và dao găm là vũ khí chính, mãi đến năm 1951 - 1952, gậy tầm vông vẫn là một thứ vũ khí lợi hại trong tay Việt Minh, không một cuộc phục kích ban đêm nào thành công mà không có một số binh sĩ Pháp chết vì bị gậy tầm vông đâm xuyên, còn lựu đạn dùng để tấn kích đồn, ném qua lỗ châu mai, hoặc vứt xuống hầm quân Pháp trú ẩn. Nhờ thu được chiến lợi phẩm nên các cấp chỉ huy từ Đại đội trưởng trở lên mới có súng lục mang bên hông, còn ở hậu phương, những cán bộ được mang súng lục phải là cao cấp, cấp tỉnh hoặc cấp khu. Chiến tranh khi đó mang một hình thức thô sơ, vừa du kích, vừa cổ điển đối với phía Việt Minh.
Sau Chiến dịch biên giới năm 1950, biên giới Việt Nam - Trung Quốc được khai thông. Việt Nam bắt đầu nhận được viện trợ vũ khí, quân trang, quân dụng từ Trung Quốc, Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa khác. Từ 1953-1954, một phần được Trung Quốc, Liên Xô viện trợ, phần khác nhờ tịch thu được vũ khí của Pháp nên gậy tầm vông vót nhọn biến mất, mã tấu dao găm chỉ để dân quân du kích địa phương dùng, còn bộ đội chính quy được võ trang đầy đủ. Tuy vậy cho đến hết chiến tranh thì Quân đội Nhân dân Việt Nam vẫn đơn thuần là bộ binh hạng nhẹ, chưa có các binh chủng hiện đại hơn như xe thiết giáp và không quân, đạn dược cho pháo binh cũng khá thiếu thốn (trong trận Điện Biên Phủ, phải có Tổng tư lệnh phê duyệt thì pháo binh mới được bắn chi viện 5 viên đạn pháo 105mm trở lên). Đến năm 1954, Việt Minh đã bắt đầu có đội xe vận tải dù số lượng còn ít (chiến dịch Điện Biên Phủ đã huy động được 628 xe vận tải, còn lại phải dùng dân công và xe đạp thồ).
Về phía Pháp, có đầy đủ cơ giới: có hàng không mẫu hạm, tàu chiến, máy bay ném bom, có xe tăng thiết giáp, đại bác 105-155 ly do Hoa Kỳ viện trợ. Bộ binh trang bị đầy đủ các loại vũ khí như súng trường M-36, súng FM, súng trung liên Bar, tiểu liên Thompson, súng cối 60-120 ly, súng đại liên 12,7 ly, pháo liên thanh 20 ly v.v... Ngoài 3.600 tỷ Frăng chiến phí tự chi trả, Pháp còn được Hoa Kỳ viện trợ khoảng 3 tỷ USD vũ khí các loại (trong trận Điện Biên Phủ, Pháp có thể thả dù 4.500 lính trong vòng 2 ngày, bắn 110 ngàn viên đạn pháo 105mm trở lên và ném trên 5.000 tấn bom). Nhờ cơ giới và vũ khí tối tân, dồi dào hơn, nên trong giai đoạn 1946-1950, trên khắp các chiến trường từ Nam chí Bắc, Pháp nắm thế chủ động, còn Việt Minh vẫn áp dụng chiến thuật du kích, chưa thể tiến tới chỗ "dùng nông thôn bao vây thành thị".
== Diễn biến ==
=== Giai đoạn 1946-1949 ===
==== Cuộc chiến tại các đô thị phía Bắc ====
Tại Hà Nội, đúng 20 giờ ngày 19 tháng 12 năm 1946, công nhân Nhà máy điện Yên Phụ phá máy, 20 giờ 3 phút, đèn điện trong thành phố vụt tắt, ít phút sau, pháo binh Việt Nam từ pháo đài Láng bắn dồn dập vào Thành. Sau đó, Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh được phát trên Đài Tiếng nói Việt Nam, đăng trên báo Cứu quốc và các báo Hà Nội, với lời thề quyết tử: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!".
Hưởng ứng Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, các lực lượng vũ trang của chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nổ súng chống Pháp tại nhiều khu vực thành thị trên cả nước: Hà Nội, Nam Ðịnh, đường số 5, Vinh, Huế, Đà Nẵng... hoàn thành nhiệm vụ bao vây kìm chân và tiêu diệt quân Pháp, tạo thời gian cần thiết để quân chủ lực tản về các căn cứ ở nông thôn và để các cơ quan, công xưởng di chuyển lên vùng chiến khu.
Chiến sự ác liệt nhất diễn ra tại Hà Nội. Tại đây, quân Pháp phải chiến đấu giành giật từng con phố và phải chịu thương vong lớn, khoảng 100 lính Pháp được coi là bị giết, 45 công dân châu Âu thiệt mạng, 200 người mất tích Trong một hoàn cảnh chiến đấu vô cùng khó khăn và chênh lệch về vũ khí, sau 57 ngày đêm chiến đấu ngoan cường trong lòng thành phố, đến đêm 17 tháng 2 năm 1947 Trung đoàn Thủ Đô mới rút ra khỏi nội thành. Đa số nhân dân Hà Nội và vùng ven cũng đã bỏ thành phố vượt sông Hồng tản cư lên phía Bắc, tạo thế "vườn không nhà trống".
==== Các nỗ lực ngoại giao ====
Hồ Chí Minh vẫn chưa bỏ cuộc trong việc tìm kiếm một giải pháp hòa bình. Ngay ngày đầu tiên của cuộc chiến, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa rải truyền đơn trên đường phố Hà Nội thông báo với "nhân dân Pháp" rằng chính phủ Việt Nam sẵn lòng tồn tại hòa bình trong Liên hiệp Pháp, rằng chiến tranh nổ ra là do "bọn thực dân phản cách mạng tìm cách chia rẽ và gây chiến", rằng chỉ cần Pháp công nhận độc lập và thống nhất của Việt Nam thì thái độ hợp tác và hiểu biết lẫn nhau giữa hai dân tộc sẽ được lập tức khôi phục. Ngày hôm sau, đài Việt Minh bắt đầu định kì phát các lời kêu gọi tái đàm phán. Ngày 23 tháng 12 năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết thư cho Marius Moutet, Bộ trưởng Bộ các lãnh thổ thuộc địa, và tướng Philippe Leclerc de Hauteclocque, đề nghị một cuộc họp giữa đại diện cả hai bên. Một vài ngày sau, ông chính thức đề nghị ngừng bắn và tổ chức một cuộc hội nghị hòa bình mới tại Paris trong khuôn khổ Hiệp định sơ bộ hồi tháng 3.
Nhà Xã hội chủ nghĩa Marius Moutet đã được gửi đến tìm hiểu về triển vọng chính trị, và trở về với kết luận rằng chỉ có một giải pháp quân sự đã được hứa hẹn. Như Đô đốc d'Argenlieu, Moutet tin rằng có thể sẽ không có cuộc đàm phán với Hồ Chí Minh. Ông đã viết về "vỡ mộng tàn nhẫn của thỏa thuận mà không thể được đưa vào hiệu lực...", và tuyên bố rằng: "Chúng tôi không còn có thể nói về một thỏa thuận tự do giữa Pháp và Việt Nam... Trước bất kỳ cuộc đàm phán ngày hôm nay, cần thiết phải có một quyết định quân sự". Trước áp lực của các đảng phái cánh tả Pháp như Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Xã hội Pháp, Thủ tướng Ramadier - một đại biểu xã hội chủ nghĩa, thông báo rằng chính phủ của ông ủng hộ nền độc lập và thống nhất cho Việt Nam: "Độc lập trong Liên hiệp Pháp [và] liên minh của ba nước An Nam, nếu người dân An Nam mong muốn nó" và Pháp sẵn sàng đàm phán một cuộc hòa giải với những đại diện chân chính ở Việt Nam.
Trả lời phỏng vấn với Tướng Georges Catroux vào tháng 1 năm 1947 ở Moscow, bộ trưởng Ngoại giao Liên Xô Vyacheslav Mikhailovich Molotov nói rằng “ông hy vọng rằng Pháp và Việt Nam có thể đạt được một thoả thuận khiến cho cả đôi bên đều hài lòng,” và không dẫn đến việc tái thiết “một chế độ cai trị thực dân”. Liên Xô không trợ giúp cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và cũng không đưa vấn đề Việt Nam ra Liên hiệp quốc. Cũng trong năm 1947, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đề nghị Liên Xô hỗ trợ cuộc kháng chiến của họ bao gồm viện trợ quân sự và kinh tế, cung cấp chuyên gia quân sự, tuyên truyền quốc tế có lợi cho Việt Nam và giúp Việt Nam tham gia Liên Hiệp Quốc nhưng Liên Xô phớt lờ những yêu cầu này.
Trong tháng hai, năm 1947, người Pháp đưa các điều kiện để Hồ Chí Minh đầu hàng vô điều kiện. Hồ thẳng thừng bác bỏ những, yêu cầu người đại diện Pháp, "Nếu bạn ở vị trí của tôi, bạn sẽ chấp nhận họ chăng?... Trong Liên hiệp Pháp không có chỗ cho những kẻ hèn nhát". Tháng 3 năm 1947, Hồ Chí Minh kêu gọi một lần nữa để chính phủ Pháp và người Pháp: "Một lần nữa, chúng tôi tuyên bố long trọng rằng nhân dân Việt Nam mong muốn chỉ thống nhất và độc lập trong Liên hiệp Pháp, và chúng tôi cam kết bảo đảm quyền lợi kinh tế và văn hóa Pháp..".
Ngày 19 tháng 4 năm 1947, Hồ Chí Minh gửi thông điệp đến Chính phủ Pháp, đề nghị nối lại đàm phán trên cơ sở "hai nước anh em trong Liên hiệp Pháp, một liên hiệp của những người tự do, hiểu biết và yêu thương nhau". Trong khi đó, Thủ tướng Ramadier tuyên bố trong tháng 3 năm 1947, rằng: "Chúng ta phải bảo vệ cuộc sống và tài sản của người Pháp, của người nước ngoài, bạn bè ở Đông Dương của chúng ta có niềm tin vào tự do Pháp".
Nhưng tất cả đều không đem lại kết quả gì, người Pháp muốn có phản ứng quân sự mạnh trước khi tính đến chuyện đàm phán. Emile Bollaert, Cao ủy Pháp mới được bổ nhiệm từ tháng 3 năm 1947, được tướng Leclerc khuyên "đàm phán bằng mọi giá". Những người thân cận ông như Pierre Messmer và Paul Mus cũng thiên về chiều hướng đối thoại. Nhưng đã có hơn 1.000 binh sĩ Pháp chết hoặc mất tích, và cộng đồng người Pháp ở Đông Dương phản đối kịch liệt việc thương lượng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - Nhà nước mà họ chỉ gọi bằng cái tên Việt Minh, tổ chức nắm đa số trong chính phủ.
Ngày 23 tháng 4, qua Bộ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam Hoàng Minh Giám, Hồ Chủ tịch lại gửi thông điệp tới Bollaert đề nghị ngừng bắn lập tức và đàm phán. Tự tin vào ưu thế quân sự, Bollaert đáp lại bằng một loạt các điều kiện đòi quân đội Việt Nam hạ vũ khí trước khi khôi phục hòa bình. Hồ Chí Minh từ chối thẳng các yêu cầu này khi Paul Mus đến chiến khu Việt Bắc gặp ông để truyền đạt thông điệp trên.
Theo tài liệu của Mỹ, rất sớm trong chiến tranh, Pháp đã tăng nỗi ám ảnh về âm mưu của Cộng sản Việt Nam. D'Argenlieu đô đốc ở Sài Gòn kêu gọi một chính sách quốc tế phối hợp để các cường quốc phương Tây chống lại sự mở rộng của chủ nghĩa cộng sản ở châu Á, bắt đầu với Việt Nam. Trong Quốc hội thảo luận vào tháng 3 năm 1947, một đại biểu cánh hữu cáo buộc rằng bạo lực tại Việt Nam đã được chỉ đạo từ Moskva: "Chủ nghĩa dân tộc ở Đông Dương là một phương tiện, cuối cùng là chủ nghĩa đế quốc Liên Xô."
Cả chính phủ lẫn người dân Pháp chú ý tuyên bố tháng 1 năm 1947 của tướng Leclerc: "Chống chủ nghĩa cộng sản sẽ là một công cụ vô dụng chừng nào vấn đề của chủ nghĩa dân tộc còn chưa được giải quyết." Về phần mình, Hồ Chí Minh đã ban hành kháng cáo lặp đi lặp lại để Pháp ngưng chiến và công nhận nền độc lập của Việt Nam, thậm chí đề xuất "Khi Pháp công nhận sự độc lập và thống nhất của Việt Nam, chúng tôi sẽ lui về làng của chúng tôi, vì chúng tôi không tham vọng quyền lực, danh dự".
==== Diễn biến tại Lào và Campuchia ====
Tại Lào, sau khi thất thủ năm 1946, Lào Issara tan vỡ năm 1949. Các lực lượng kháng chiến Lào thân Việt Nam thành lập Mặt trận Lào Issara. Tháng 1 năm 1949, lực lượng kháng chiến lập các chiến khu ở Thượng Lào, Đông Bắc Lào và Tây Lào. Đại hội toàn quốc kháng chiến Lào nhóm họp tháng 8 năm 1950 thành lập chính phủ do Hoàng thân Souphanouvong đứng đầu. Chính phủ Souphanouvong tiếp tục trở thành Đồng minh của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kế tục Chính phủ Lâm thời Lào tự do.
==== Thế trận những năm 1947-1949 ====
Mùa hè năm 1947, lực lượng chủ lực của quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa có khoảng 60.000 người, chưa kể tự vệ và du kích địa phương. Vũ khí thiếu, chủ yếu là do tự tạo và lấy được của Pháp. Yếu về hỏa lực nhưng cơ động và có hỗ trợ lớn của nhân dân, các tiểu đoàn Việt Nam ngày càng có khả năng tránh các trận càn của Pháp và tấn công đối phương lại những nơi mình lựa chọn. Quân chủ lực chính quy của Việt Nam tổ chức như quân đội phương Tây, nhưng thừa kế nhiều kinh nghiệm chiến tranh cổ truyền của Việt Nam. Quân đội và Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tổ chức lực lượng dân quân du kích là những chiến sĩ bán quân sự, nửa bí mật nửa công khai, sống tại nhà, vừa làm ruộng vừa chiến đấu trong lòng địch.
Hoàn thành việc đánh rộng ra vùng đồng bằng, Pháp quyết định tiến công lên Việt Bắc để sớm kết thúc chiến tranh. Ngày 7 tháng 10 năm 1947, cuộc hành quân Léa tấn công vào chiến khu Việt Bắc bắt đầu. Quân Pháp tiến nhanh nhưng đã không định vị được những nơi đóng các cơ quan đầu não của đối phương. Lực lượng vũ trang của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhanh chóng được phân tán, sử dụng du kích vận động chiến, bất thần phục kích, đánh tiêu hao quân Pháp ở những khu vực hiểm yếu. Pháp không đạt được mục đích tiêu diệt căn cứ Việt Bắc, nhưng cũng đã cắt được đường số 4 và kiểm soát biên giới Việt Trung, cô lập Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với thế giới bên ngoài.
Cuộc chiến tranh du kích tại đồng bằng gây khó khăn lớn cho Pháp. Ở mọi nơi, bộ đội Việt Nam vẫn tự do đi lại, tuyển quân, thu thuế. Có những hội tề (chính quyền làng xã trong vùng Pháp kiểm soát) được lập ra để che mắt Pháp nhưng hành động theo Việt Minh. Dân chúng gánh thóc gạo từ vùng do Pháp chiếm đóng đi đóng thuế cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các đội du kích được thành lập khắp các vùng bị chiếm quấy rối quân Pháp, Pháp phải để phần lớn quân chủ lực giữ đồng bằng Bắc Bộ. Mặc dù là vùng do Pháp kiểm soát, nhưng thực chất đồng bằng màu mỡ đông dân đó vẫn là nguồn cung cấp nhân lực, hàng hóa và lương thực lớn nhất cho Việt Nam.
Thắng lợi duy nhất của Pháp trong mùa hè này là về chính trị, khi tướng Nguyễn Bình - Tổng chỉ huy quân đội Việt Nam tại Nam Bộ ra sách lược: Tổ chức lại lực lượng vũ trang các giáo phái để biên chế chính quy thành Vệ quốc đoàn. Trong năm 1947, sau những xung đột quân sự với Việt Minh và nhất là sau khi giáo chủ Hòa Hảo Huỳnh Phú Sổ mất tích (Hòa Hảo cho rằng Việt Minh thủ tiêu Huỳnh Phú Sổ) cả hai giáo phái Cao Đài và Hòa Hảo đều chấm dứt hợp tác với Việt Minh để tạm thời hợp tác với Pháp chống Việt Minh. Năm 1948, một phần lực lượng Bình Xuyên cũng hợp tác với Pháp chống lại Việt Minh.
==== Pháp sa lầy ====
Sau chiến dịch Léa, xung đột lặng xuống. Thiếu phương tiện để tiếp tục các chiến dịch tấn công, quân Pháp chỉ giới hạn trong các hoạt động vừa phải ở đồng bằng. Nhưng cũng tại đồng bằng, lực lượng vũ trang Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được phân tán thành các đại đội độc lập, tiểu đoàn tập trung, tổ chức thêm các đội du kích hoạt động bán công khai, sống tại nhà, vừa làm ruộng vừa chiến đấu, thực hiện các hoạt động quấy rối quân Pháp. Các cán bộ của chính quyền và mặt trận Việt Minh vẫn đi lại tuyển quân, thu thuế trong vùng Pháp kiểm soát. Những vùng này vẫn tiếp tục là nơi cung cấp một số loại nhu yếu phẩm như thuốc men, lương thực, vải vóc... cho Việt Nam. Tại các chiến khu, chính quyền Việt Nam củng cố căn cứ, tổ chức tự sản xuất lương thực và vũ khí để có thể kháng chiến lâu dài.
Lực lượng vũ trang và du kích đồng bằng sông Hồng tổ chức các trận chiến quấy rối quân Pháp. Cuối chiến tranh, quân địa phương và du kích cầm giữ phần lớn quân Pháp trong vùng đồng bằng. Mỗi chuyến hàng của Pháp từ Hải Phòng về Hà Nội phải tụ thành đoàn lớn, nhiều xe tăng và lính bảo vệ mới đi thoát. Các đường bộ bị đào bới ngăn cản xe cơ giới, đường sắt bóc hết gang thép làm vũ khí.
Tại miền Trung Việt Nam, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát từ Hội An đến Mũi Đại Lãnh, gần như ngăn đôi đất nước. Ở miền Nam, quân Pháp ở tình thế tốt hơn do lực lượng chính trị và quân sự ở đây ở xa và liên lạc rất khó khăn với chủ lực ở miền Bắc. Lực lượng của tướng Nguyễn Bình bị đẩy về các chiến khu trong vùng ngập mặn và rừng núi, họ còn gặp sự chống đối của các giáo phái người Việt như Cao Đài, Hòa Hảo, Bình Xuyên. Năm 1948, quân Pháp tổ chức cuộc hành quân Véga nhằm phá hủy cơ quan đầu não kháng chiến ở Nam Bộ và nhiều cuộc hành quân khác vào Đồng Tháp Mười nhưng đều thất bại. Cuối năm 1949, quân đội Pháp tại Đông Dương dưới quyền tướng M. Carpentier mất quyền chủ động.
Cho đến thời điểm này, Hồ Chí Minh vẫn cố gắng kêu gọi Pháp hãy ngừng bắn và tôn trọng nền độc lập của Việt Nam. Ông viết:
Việt Nam sẵn sàng cộng tác thân thiện với nhân dân Pháp. Những người Pháp tư bản hay công nhân, thương gia hay trí thức, nếu họ muốn thật thà cộng tác với Việt Nam thì sẽ được nhân dân Việt Nam hoan nghênh họ như anh em bầu bạn. Song nhân dân Việt Nam kiên quyết cự tuyệt những người Pháp quân phiệt. Nói cho rõ hơn là: Cũng như những nước độc lập khác cự tuyệt quân đội ngoại quốc đóng trên đất nước mình, nhân dân Việt Nam kiên quyết cự tuyệt quân đội Pháp đóng ở Việt Nam.
==== Mỹ can thiệp vào chiến tranh ====
Trong 3 năm đầu của cuộc chiến tranh, Mỹ đã giữ một thái độ "trung lập" nhưng ủng hộ Pháp rất rõ ràng. Mỹ chẳng muốn tự đặt bản thân vào một vị thế khó xử là công khai ủng hộ chủ nghĩa thực dân, nhưng cũng không muốn làm mất lòng Pháp - một đồng minh quan trọng ở châu Âu. Do vậy, chính quyền Truman đã bí mật trao cho Pháp nhiều khoản viện trợ về tài chính và quân sự.
Đầu năm 1950, Hoa Kỳ bắt đầu chính thức gửi viện trợ quân sự cho Pháp ở Đông Dương. Tháng 1 năm 1951 người Pháp nhận được 20 xe tăng M24, 40 khẩu pháo 105-mm và 250 quả bom thông thường và cả bom napalm cùng đạn dược và vũ khí tự động. Tới tháng 1/1953, Pháp đã nhận được 900 xe thiết giáp cùng với 15.000 xe vận tải các loại, gần 2.500 khẩu pháo, 24.000 vũ khí tự động, 75.000 vũ khí cá nhân và gần 9.000 máy radio. Ngoài ra, Không quân Pháp đã nhận được 160 máy bay F6F Hellcat và F8F Bearcat, 41 máy bay ném bom B-26 Invader, 28 máy bay vận tải C-47 cùng với 155 động cơ máy bay và 93.000 quả bom. Cho tới khi Pháp thất bại hoàn toàn thì phía Mỹ đã viện trợ trên 1 tỷ USD mỗi năm (tương đương khoảng 5,8 tỷ USD theo thời giá năm 2004) và chi trả 78% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương.
Trả lời nhà báo Mỹ Harold Issacs (tháng 3/1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn đối thoại sau:
Trả lời nhà báo Mỹ A. Steele của tờ New York Herald Tribune (tháng 10/1949), Hồ Chí Minh nói: "Người ta lẫn lộn Việt Minh, một tổ chức yêu nước của dân tộc với Việt Nam, vốn là một quốc gia. Sự tuyên truyền giả dối của Pháp, và quan niệm sai lầm cho mọi phong trào giải phóng dân tộc và mọi sự cải cách xã hội đều là cộng sản... Tôi muốn hỏi nhân dân Mỹ một câu này, và mong ông cho tôi biết những câu trả lời của nhân dân Mỹ: Nếu Pháp hoặc một ai khác xâm phạm nước Mỹ, giết người đốt phá thành phố và làng mạc Mỹ, với mục đích là để bắt người Mỹ làm nô lệ, thì nhân dân Mỹ sẽ đối phó như thế nào?"
Trên báo Cứu quốc, Hồ Chí Minh kêu gọi: "Lâu nay đế quốc Mỹ đã công khai can thiệp vào Đông Dương. Lâu nay thực dân Pháp làm chiến tranh ở Việt Nam, Cao Miên và Ai Lao là nhờ tiền bạc, súng đạn Mỹ, và theo chỉ thị của Mỹ... Muốn độc lập thì các dân tộc Đông Dương quyết phải đánh tan thực dân Pháp là kẻ thù số một. Đồng thời phải chống bọn can thiệp Mỹ. Chúng can thiệp càng mạnh, ta càng đoàn kết và chiến đấu mạnh hơn, chống cự mạnh hơn. Ta phải vạch rõ âm mưu của chúng cho nhân dân đều thấy, nhất là nhân dân ở vùng bị tạm chiếm. Ta phải lột mặt nạ và phá tan bọn người cam tâm làm chó sǎn cho đế quốc Mỹ để dụ dỗ lừa bịp, chia rẽ nhân dân ta. Dân tộc Việt Nam đoàn kết chặt chẽ với dân tộc anh em Miên, Lào thì sức mạnh đó đủ đánh tan thực dân Pháp và bọn can thiệp Mỹ. Đế quốc Mỹ đã thất bại ở Trung Quốc, đế quốc Mỹ sẽ thất bại ở Đông Dương. Chúng ta gặp nhiều khó khǎn. Nhưng chúng ta nhất định thắng lợi."
==== Giải pháp Bảo Đại ====
Đầu năm 1947, D'Argenlieu bị triệu hồi về nước do bị người Việt Nam và các đảng phái cánh tả Pháp căm ghét. Trước áp lực của các đảng phái cánh tả Pháp như Đảng Cộng sản Pháp và Đảng Xã hội Pháp, Thủ tướng Ramadier - một đại biểu xã hội chủ nghĩa, thông báo rằng chính phủ của ông ủng hộ nền độc lập và thống nhất cho Việt Nam: "Độc lập trong Liên hiệp Pháp [và] liên minh của ba nước An Nam, nếu người dân An Nam mong muốn nó" và Pháp sẵn sàng đàm phán hòa giải "với những đại diện chân chính của Việt Nam".
Ngay sau đó, Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp quyết định sẽ ủng hộ Bảo Đại đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam. Tháng 5/1947, Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp cử phái đoàn đến Hồng Kông gặp Bảo Đại để thuyết phục ông này thành lập một Chính phủ Trung ương và đàm phán với Pháp về nền độc lập của Việt Nam. Sau đó, Pháp cử đại diện gặp Bảo Đại đề xuất về việc đàm phán về nền độc lập của Việt Nam và việc thành lập một chính phủ Việt Nam độc lập. Bảo Đại được Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp bao gồm các lực lượng chính trị Cao Đài, Hoà Hảo, Việt Nam Cách mệnh Đồng minh Hội, Đại Việt Quốc dân đảng và Việt Nam Quốc dân Đảng hậu thuẫn. Đây là những tổ chức chính trị hoặc tôn giáo từng tham gia chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa hay hợp tác với Việt Minh chống Pháp nhưng do xung đột với Việt Minh nên chuyển sang ủng hộ Bảo Đại thành lập Quốc gia Việt Nam.
Theo sử gia William Duiker, đây là việc né tránh vấn đề điều đình với Chính phủ Hồ Chí Minh. Thực chất mục đích của Pháp là tìm cách xây dựng một chính quyền bản xứ người Việt để làm đối trọng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, và để thuyết phục Mỹ viện trợ kinh tế và quân sự để Pháp có thể tiếp tục đứng chân tại Đông Dương, bởi trong hiệp ước không có quy định rõ ràng nào về nghĩa của chữ "độc lập" cũng như quyền hạn của Quốc gia Việt Nam, cũng không nói rõ việc thành lập Quốc gia này có thể ảnh hưởng gì đến cuộc chiến Việt – Pháp hiện vẫn tiếp diễn.
Ngày 7 tháng 12 năm 1947, Bảo Đại và Pháp ký Hiệp định vịnh Hạ Long, trong đó Pháp cam kết mập mờ về nền độc lập dân tộc của Việt Nam. Những chính trị gia trong Mặt trận Thống nhất Quốc gia Liên hiệp và Ngô Đình Diệm đã chỉ trích hiệp định này là kém quá xa so với một nền độc lập thực sự. Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại và Bollaert ký Hiệp định Vịnh Hạ Long thứ hai, Pháp "long trọng công nhận độc lập" của Việt Nam. Tuy nhiên, chính phủ Pháp vẫn giữ quyền kiểm soát quan hệ ngoại giao và quốc phòng, đồng thời trì hoãn việc chuyển các giao chức năng khác của chính quyền sang những cuộc đàm phán trong tương lai.
Ngày 5 tháng 6 năm 1948, Bảo Đại và Bollaert ký kết Hiệp định tại Vịnh Hạ Long trong đó Pháp tuyên bố "trịnh trọng công nhận nền độc lập của Việt Nam", nhưng đặc biệt Pháp chỉ giữ lại quyền kiểm soát công tác đối ngoại và quân đội, việc chuyển giao các chức năng khác của chính phủ sẽ được giải quyết ở các cuộc thương lượng sau. Thực tế người Việt Nam (Quốc gia Việt Nam) chẳng được trao cho quyền hành gì. Việt Minh chỉ trích Bảo Đại là xấu xaai?, tội lỗi vì đã giành được hai chữ độc lập trong thỏa thuận với Pháp, điều mà Hồ Chí Minh đã cố gắng giành giật ở Hội nghị Fontainebleu nhưng không được. Sau khi ký Hiệp định này, Bảo Đại sang châu Âu. Ngày 25/8/1948, Bảo Đại báo cho phía Pháp biết ông sẽ không về nước nếu chế độ thuộc địa ở Nam Kỳ không bị hủy bỏ. Ngày hôm sau, các bộ trưởng ở Paris phát biểu: "thật sự hắn đã bắt đầu bất chấp cả chúng ta". Có khá nhiều điều cho thấy Bảo Đại không phải chỉ là một tên bù nhìn và "vua hộp đêm" như mọi người vẫn tưởng. Bảo Đại đã ký Hiệp định Elysée để nhằm một khi nắm chính quyền, ông có thể chơi ván bài quốc tế theo kiểu của ông. Ông đã đặt lòng tin vào sự ủng hộ của Mỹ mà ông hy vọng sẽ kiềm chế được Pháp và cung cấp cho Việt Nam viện trợ kinh tế cần thiết. L.A Patti nhận xét Bảo Đại vừa là một nhà chính trị vừa là một người dân tộc chủ nghĩa.
Ngày 8 tháng 3 năm 1949, Tổng thống Pháp Vincent Auriol và Cựu hoàng Bảo Đại đã ký Hiệp ước Elysée, thành lập Quốc gia Việt Nam là quốc gia độc lập hội viên trong khối Liên hiệp Pháp, đứng đầu là Quốc trưởng Bảo Đại. Tuy nhiên, chính quyền Quốc gia Việt Nam rất yếu ớt do các quyền quan trọng về quân sự, tài chính và ngoại giao đều do người Pháp nắm giữ và quyền hành cao nhất ở Đông Dương trên thực tế là Cao ủy Đông Dương của Liên hiệp Pháp.
Tướng Georges Revers, Tổng Tham mưu trưởng quân đội Pháp, được phái sang Việt Nam để nghiên cứu tình hình (tháng 5, 6 năm 1949) và sau đó đã viết:
"Hồ Chí Minh đã có khả năng chống cự lại với sự can thiệp của Pháp lâu đến như thế, chính là vì nhà lãnh đạo Việt Minh đã biết tập hợp chung quanh mình một nhóm những người thực sự có năng lực… Ngược lại, Bảo Đại đã có một chính phủ gồm độ 20 đại biểu của toàn các đảng phái ma, trong số đó đảng mạnh nhất cũng khó mà đếm được 25 đảng viên".
Người Pháp trì hoãn một cách có tính toán việc thi hành Hiệp ước Élysée với Quốc gia Việt Nam. Quân đội của họ tiếp tục tham chiến tại Việt Nam, nhân viên hành chính tiếp tục làm việc ở các cấp chính quyền; Quốc gia Việt Nam chẳng được trao cho một chút quyền hành thực sự nào, như bấy giờ người ta nói, Quốc gia Việt Nam chỉ là một sự nguỵ trang cho nền cai trị của Pháp..
Theo hiệp ước giữa Quốc gia Việt Nam và Pháp, một số đơn vị của Pháp được chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam. Ban đầu các đơn vị này vẫn do các sĩ quan Pháp chỉ huy nhưng sẽ được thay thế dần bằng các sĩ quan người Việt tốt nghiệp các cơ sở đào tạo sĩ quan do Quốc gia Việt Nam thành lập với sự trợ giúp về mọi mặt huấn luyện đào tạo quân sự của Pháp và Mỹ. Ngoài ra các trung tâm và các trường huấn luyện của Mỹ bắt đầu chọn, đưa người từ Việt Nam sang học ở Mỹ. Quân đội Quốc gia Việt Nam là quân đội riêng, độc lập với quân đội Liên hiệp Pháp, nhưng toàn thể quân đội Việt Nam và Liên hiệp Pháp tại Đông Dương được đặt chung dưới quyền chỉ huy của Uỷ ban quân sự mà Tư lệnh sẽ là một sĩ quan Pháp. Quân đội quốc gia Việt Nam được thành lập nhưng được huấn luyện kém và không có sĩ quan chỉ huy cấp cao người Việt.
Ngày 19 tháng 7 năm 1949, Vương quốc Lào được Pháp công nhận độc lập (nhưng hạn chế) trong Liên hiệp Pháp, Hiến pháp năm 1947 được sửa đổi. Hiệp ước tiếp theo ký ngày 22 tháng 10 năm 1953 công nhận nền độc lập toàn diện của Lào. Ngày 8 tháng 11 năm 1949, Vương quốc Campuchia giành độc lập (hạn chế) trong Liên hiệp Pháp. Đến ngày 9 tháng 11 năm 1953, Campuchia mới được Pháp công nhận độc lập toàn diện.
Sau đó, chịu sức ép của Mỹ và để xoa dịu mâu thuẫn, Pháp dần ký những hiệp ước trao cho Quốc gia Việt Nam các quyền tự trị về quân sự, tài chính, thuế quan, xuất nhập cảnh... Các cơ quan chức năng do Pháp nắm giữ được chuyển giao cho Quốc gia Việt Nam trong những năm sau đó. Tuy nhiên Quốc gia Việt Nam vẫn phụ thuộc vào nguồn cung tài chính từ Pháp và các hoạt động quân sự của Quân đội Quốc gia Việt Nam vẫn nằm dưới sự chỉ đạo của một Uỷ ban quân sự mà Tư lệnh là một sĩ quan Pháp.
Kỳ thực Pháp coi giải pháp Bảo Đại chỉ là do tình thế thúc ép, họ không tin tưởng và tôn trọng chính phủ này. Năm 1949, Tổng tham mưu trưởng lục quân Pháp, đại tướng Revers sau chuyến khảo sát tình hình Đông Dương đã có bản tường trình mật trong đó viết: "Vấn đề điều đình với Việt Nam thì tìm những người quốc gia chống cộng để điều đình. Giải pháp Bảo đại chỉ là một giải pháp thí nghiệm, nhưng chế độ Bảo Đại là một chế độ ung thối với sự tham nhũng, buôn lậu đồng bạc, buôn lậu giấy phép nhập cảng, những khu chứa cờ bạc đĩ điếm..." (Trung tâm du hí Đại thế Giới ở Chợ Lớn được chính phủ Bảo Đại cho phép công khai sòng bạc và chứa mại dâm để kiếm chác). Bản tường trình sau đó bị lộ khiến chính phủ Pháp "muối mặt", và Revers bị cho về hưu non sau khi ra khai trình tại Hội đồng tối cao quân lực. bản thân Bảo Đại cũng nhận xét rằng: "Cái được gọi là giải pháp Bảo Đại hóa ra là giải pháp của người Pháp."
Tháng 10/1951, nghị sĩ John F. Kennedy - về sau trở thành Tổng thống Mỹ - đã đến Việt Nam để khảo sát. Lúc đó, Mỹ đã tài trợ một cách hào phóng cho chiến tranh của thực dân Pháp ở Đông Dương, nhưng Kennedy tự hỏi: tại sao viện trợ Mỹ vẫn không thể giúp Pháp chiến thắng? Ông đã hỏi tướng De Lattre, Cao ủy kiêm Tổng chỉ huy quân Pháp ở Đông Dương rằng: “Tại sao ông có thể trông mong người Việt Nam (Quốc gia Việt Nam) chiến đấu (chống lại Việt Minh) để duy trì nước họ như một bộ phận của Pháp?". Về lại Mỹ, Kennedy phát biểu ngày 15/11/1951 trên đài phát thanh:
“Các xứ Đông Dương là những chính phủ bù nhìn, những lãnh địa của các ông hoàng (chỉ cựu hoàng Bảo Đại và các quốc vương Lào và Campuchia) thuộc Pháp với tài nguyên to lớn nhưng là những ví dụ điển hình của đế quốc và thực dân mà người ta có thể thấy bất kỳ nơi đâu… Ở Đông Dương, chúng ta [Mỹ] đang liên kết với nỗ lực tuyệt vọng của một đế chế Pháp muốn bám lấy những mảnh còn lại của đế quốc”. Kết quả là (chúng ta) không có sự ủng hộ sâu rộng của nhân dân Việt Nam đối với chính phủ bản xứ (tức chính phủ Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại)”
Trả lời điện báo của một nhà báo quốc tế tháng 3/1948 khi thông báo tin Bảo Đại chịu nhận điều kiện quân đội người Việt Nam sẽ nằm dưới quyền chỉ huy của Pháp, chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: "Ông Vĩnh Thuỵ (tên thật của Bảo Đại) là Cố vấn của Chính phủ Việt Nam. Ông ấy không thể đàm phán hoặc hành động gì trước khi Chính phủ Việt Nam đồng ý. Vả chǎng, nếu quân đội và ngoại giao Việt Nam ở dưới quyền Pháp tức là Việt Nam chưa được độc lập hẳn và vẫn là thuộc địa của Pháp. Điều kiện như thế thì ngoài bọn phản quốc ra, không có một người Việt Nam nào chịu nhận, Cố vấn Vĩnh Thuỵ cũng vậy. Hơn 80 nǎm dưới quyền thống trị của Pháp, nhân dân Việt Nam đã nếm đủ sỉ nhục và đau khổ. Nhân dân Việt Nam quyết không chịu làm nô lệ lần nữa."
Khi trả lời điện phỏng vấn của Dân quốc Nhật báo (Trung Hoa Dân Quốc) ngày 3/4/1949, chủ tịch Hồ Chí Minh đã trả lời câu hỏi về hiệp định Elysée như sau:
"Đối với dân Việt Nam, đó chỉ là một tờ giấy lộn. Thứ thống nhất và độc lập giả hiệu ấy chẳng lừa bịp được ai. Ngay nhân dân Pháp và dư luận thế giới cũng đã hiểu rõ và tố cáo điều đó. Lúc nào quân đội thực dân Pháp hoàn toàn rút khỏi đất nước Việt Nam, thì mới có thống nhất và độc lập... Vĩnh Thụy trở về với 10.000 viễn binh Pháp, để giết hại thêm đồng bào Việt Nam. Vĩnh Thụy cam tâm bán nước, đó là sự thực... Pháp luật Việt Nam tuy khoan hồng với những người biết cải tà quy chính nhưng sẽ thẳng tay trừng trị những tên Việt gian đầu sỏ đã bán nước buôn dân. Quân và dân Việt Nam quyết tâm đánh tan tất cả âm mưu của thực dân, quyết kháng chiến để tranh cho kỳ được độc lập và thống nhất thật sự.".
Còn Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhận xét: "Với việc mở đường cho chủ nghĩa thực dân mới vào Việt Nam, De Lattre đã mang đến cho ta một hiểm hoạ lâu dài".
=== Giai đoạn 1950-1954 ===
==== Chiến dịch Biên giới ====
Trong năm 1950, Kháng chiến chống Pháp có sự thay đổi quan trọng, chuyển sang một giai đoạn mới.
Sau chiến dịch Việt Bắc, Việt Minh dần dần tổ chức lại bộ máy và lực lượng, bắt đầu tổ chức những trận đánh quy mô chống lại Pháp. Tháng 1/1950, Việt Minh mở một loạt các chiến dịch quân sự uy hiếp trực tiếp đồng bằng sông Hồng. Từ tháng 2/1945 đến tháng 4/1945, Việt Minh thực hiện những chiến dịch quy mô lớn nhằm kiểm soát Đông Bắc Bắc Bộ. Trong năm 1950, các lực lượng vũ trang của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được hoàn chỉnh về biên chế, thống nhất với tên gọi Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Về phía Pháp, chiến tranh đã vào thế sa lầy tuy họ đã dùng đến 40-45% ngân sách quân sự và 10% ngân sách quốc gia. Với sự nổ ra của Chiến tranh Triều Tiên vào tháng 6 năm 1950, Mỹ thay đổi thái độ về cuộc xâm lược của Pháp tại Đông Dương, coi Triều Tiên và Việt Nam là hai chiến trường phụ thuộc lẫn nhau trong cuộc chiến của phương Tây chống lại chủ nghĩa cộng sản. Tổng thống Mỹ Harry S. Truman tuyên bố sẽ viện trợ quân sự trực tiếp cho các nỗ lực của quân Pháp tại Đông Dương.
Trước năm 1950, Việt Minh vẫn giữ đường lối cân bằng trong quan hệ quốc tế. Năm 1948, Đảng Cộng sản Đông Dương lúc này đang hoạt động bí mật dưới danh nghĩa Việt Minh nhắc nhở các cấp uỷ không viết bài công kích Hoa Kỳ trong các tài liệu tuyên truyền và duy trì đường lối trung lập. Ngày 18/1/1950, Trung Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Các lãnh đạo Trung Quốc đã thuyết phục Stalin công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, xua tan nghi ngờ của Stalin về tính chất hai mặt của Hồ Chí Minh khi hợp tác với tình báo Mỹ và giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương. Ngày 30/1/1950, Liên Xô thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và đồng ý viện trợ vũ khí cho họ chống Pháp. Cùng ngày, Đảng ban hành một chỉ thị bí mật cho phép thể hiện xu hướng chống Mỹ trên các tài liệu tuyên truyền chính thức. Tháng 4 năm 1950, tổng bí thư Đảng Cộng sản Đông Dương, Trường Chinh, khẳng định Việt Nam, cũng giống như Trung Quốc, đã lựa chọn phong trào cộng sản chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Stalin đồng thời loại bỏ tư tưởng trung lập theo kiểu Tito. Ngày 20/7/1950, khi trả lời cuộc phỏng vấn với đại diện Đảng Cộng sản Pháp, Hồ Chí Minh phát biểu công khai lên án chủ nghĩa đế quốc của Mỹ và sự can thiệp của Mỹ vào vấn đề nội bộ Việt Nam. Hồ Chí Minh tuyên bố hành động viện trợ vũ khí cho Pháp mà Mỹ đang thực hiện là sự phản dân chủ và tương tự như một cuộc xâm lăng. Trong chuyến đi tới Moscow, Hồ Chí Minh hết lời ca ngợi Stalin và chủ nghĩa Stalin, thậm chí ông còn sáng tác một bài thơ ca ngợi Stalin.
Để lấy lại thế chủ động, Pháp thực hiện tăng cường hệ thống phòng ngự đường số 4, khoá biên giới Việt-Trung: cô lập căn cứ địa Việt Minh với bên ngoài, thiết lập hành lang Đông-Tây, cô lập Việt Bắc với đồng bằng Bắc bộ, chuẩn bị lực lượng để tấn công Việt Bắc lần 2 để tiêu diệt đầu não Việt Minh.
Về phía Việt Minh, Bộ chỉ huy Việt Minh nhận định đúng ý đồ của Pháp nên nhanh chóng vạch kế hoạch chủ động tấn công để mở cửa biên giới, khai thông bàn đạp để nhận viện trợ của Trung Quốc, Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa. Theo chủ trương này, đầu tháng 7 năm 1950, Bộ Tổng tư lệnh Việt Minh quyết định chọn hướng chiến dịch là Cao Bằng – Lạng Sơn.
Chiến dịch Biên giới bắt đầu ngày 16 tháng 9 năm 1950, diễn ra trong ba đợt. Đợt 1, ngày 16 tháng 9, Việt Minh tiến hành đánh công kiên quy mô tương đối lớn, có hiệp đồng giữa các binh chủng tấn công cứ điểm Đông Khê nhằm cô lập Cao Bằng, và đến ngày 18, cứ điểm Đông Khê hoàn toàn thất thủ dù quân Pháp đã huy động cả không quân yểm trợ. Sự kiện này làm mất một mắt xích quan trọng trong hệ thống phòng thủ đường số 4 của Pháp. Sang đợt hai, quân Pháp quyết định rút khỏi Cao Bằng, đồng thời thực hiện cuộc "hành quân kép", gửi tiếp viện từ Lạng Sơn qua Thất Khê nhằm tái chiếm Đông Khê. Việt Minh đã bố trí thế trận phục kích, bao vây sau đó lần lượt tiêu diệt cả hai cánh quân Pháp từ Thất Khê lên lẫn từ Cao Bằng rút về. Qua đợt ba, Việt Minh tiến hành truy kích quân Pháp rút chạy đồng thời liên tục quấy rối, không cho họ chuyển quân tiếp viện cho mặt trận Cao-Bắc-Lạng.
Dưới sự uy hiếp của quân Việt Minh và sự hoang mang của bộ chỉ huy Pháp, đến ngày 22 tháng 10 năm 1950, quân Pháp phải rút bỏ hoàn toàn khỏi các cứ điểm còn lại trên đường 4 như Thất Khê, Na Sầm, Đồng Lập, Lạng Sơn... Đến ngày 17 tháng 10, sau khi đã đạt được toàn bộ các mục tiêu đề ra, Việt Minh chủ động kết thúc chiến dịch.
Thắng lợi của Việt Minh trong chiến dịch này đã làm phá sản chiến lược quân sự chính trị của Pháp, phá được thế bị cô lập của căn cứ địa Việt Bắc, khai thông một đoạn biên giới dài, nối Việt Bắc với các đồng minh lớn thành một dải liên tục đến tận châu Âu, mở đầu cầu tiếp nhận viện trợ. Vành đai đồn bốt bao vây Việt Bắc đã bị phá hủy hoàn toàn. Đồng thời chiến dịch này đã gây nên không khí chủ bại và hoảng sợ tại Hà Nội. Bộ chỉ huy Pháp được cải tổ, dẫn đến việc tướng Jean de Lattre de Tassigny lên nắm quyền chỉ huy quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương.
Chiến dịch này có ý nghĩa bản lề quan trọng, là bước ngoặt của cuộc chiến tranh. Kể từ đây Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu chuyển sang thế chủ động tấn công. Cũng từ năm 1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu nhận được viện trợ từ các nước Xã hội chủ nghĩa. Trong bối cảnh Pháp được Mỹ giúp sức muốn nhanh chóng giành thắng lợi, kết thúc chiến tranh còn thế và lực của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chưa thực sự lớn mạnh, viện trợ này có ý nghĩa hết sức quan trọng.
==== Chiến tranh phát triển ====
Không còn hy vọng tiến công hay bao vây chiến khu Việt Bắc, Pháp tổ chức Phòng tuyến Tassigny để bảo vệ vùng đồng bằng. Từ khi chuyển sang chủ động tiến công, các chiến dịch liên tiếp của Quân đội Nhân dân Việt Nam - Chiến dịch Trung Du, Chiến dịch đường 18, Chiến dịch Hà Nam Ninh - đã bóc vỏ Phòng tuyến Tassigny khỏi đồng bằng, buộc Pháp duy trì một lực lượng lớn bên trong để bảo vệ vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Từ cuối năm 1950, Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu thực hiện các trận chiến quy mô lớn theo kiểu kinh điển. Nhưng họ đã phải chịu thiệt hại lớn, các chiến dịch Trung du, Đường 18 và Hà Nam Ninh bị thất bại trước quân Pháp do tướng Jean de Lattre de Tassigny chỉ huy. Chiến dịch Hòa Bình mà de Lattre mở vào tháng 11 năm 1951 đã trở thành "cối xay thịt" đối với cả hai bên. Khi trận đánh kết thúc vào tháng 2 năm 1952, Quân đội Nhân dân Việt Nam chịu thương vong không nhỏ, nhưng họ đã học được cách đối phó với chiến thuật và vũ khí của Pháp, và họ đã thâm nhập được sâu hơn vào trong vòng cung phòng thủ của Pháp.
Cuối năm 1952, Quân đội Nhân dân Việt Nam mở Chiến dịch tiến công Tây Bắc giải phóng thị xã và hầu hết Sơn La cùng các khu vực Nghĩa Lộ, Yên Bái (2 huyện), Lai Châu (4 huyện). Cuộc tấn công vào Phú Thọ để cứu vãn tình thế của Salan thất bại. Salan liền cho củng cố Nà Sản, xây dựng vị trí này như một "con nhím" xù lông để chặn bước tiến của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Ở miền Trung, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đạt được những thành công quan trọng. Vùng kiểm soát của Pháp ở Tây Nguyên đã bị thu hẹp lại chỉ còn vài vùng ven biển hẹp ở quanh Huế, Đà Nẵng, và Nha Trang. Những khu vực duy nhất mà Pháp còn có thể thành công là Nam Kỳ và Campuchia.
Mùa xuân năm 1953, Quân đội Nhân dân Việt Nam tổ chức một lực lượng lớn tiến công quân Pháp ở Lào, với sự hỗ trợ của Quân đội Chính phủ Souphanouvong. Do hậu cần quá xa nên Quân đội Nhân dân Việt Nam không tiến công quân Pháp ở Cánh đồng Chum. Đây được coi là thành công lớn của Pháp.
Ở các vùng khác, Quân đội Nhân dân Việt Nam tấn công phối hợp đồng bộ từ Nam Bộ, Khu 5, Tây Nguyên, Trung Lào, Hạ Lào, Bắc Bộ, buộc Pháp phân tán xé lẻ khối quân cơ động. Việt Minh tiến đánh Tây Bắc, Pháp không còn lực lượng cơ động để ứng cứu, hình thành Chiến cục đông-xuân 1953-1954.
==== Kế hoạch Navarre ====
Tháng 7 năm 1953, chỉ huy mới của Pháp, tướng Henri Navarre, đến Đông Dương. Được sự hứa hẹn về việc Mỹ tăng viện trợ quân sự, Navarre chuẩn bị cho một cuộc tổng phản công mà báo chí Pháp và Mỹ gọi là "Kế hoạch Navarre".
Ngày 18 tháng 7 năm 1953, Navarre mở cuộc hành quân Hirondelle ("Con én") vào Lạng Sơn và cuộc hành binh "Camargue" vào Quảng Trị nhằm phá hủy được một số dụng cụ và máy móc của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ở Lạng Sơn, quân Pháp lùng sục các kho tàng rồi vội vã rút chạy. Sau đó truyền thông Pháp loan tin quân đội đã diệt được hai tiểu đoàn, một số căn cứ trong khu tam giác là mối đe dọa trên quốc lộ số 1.
Liên tiếp với hai cuộc hành quân này, ngày 9 tháng 8 năm 1953 Pháp rút quân ra khỏi Nà Sản bằng không vận. Trước đây, năm 1952, Pháp đặt cứ điểm Na Sản để ngăn Quân đội Nhân dân Việt Nam tiến công quân Pháp ở Lào.
Ngày 15 tháng 10 năm 1953, Navarre mở Cuộc hành quân Moutte vào Ninh Bình và Thanh Hóa hòng giành lại thế chủ động trên chiến trường chính. Mục đích chính lại là phá các căn cứ hậu cần tiền duyên của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong cuộc tiến công 1953-1954 được cho là sẽ diễn ra ở đồng bằng. Nhưng thực sự trong kế hoạch Quân đội Nhân dân Việt Nam được đề ra hồi tháng 9, đồng bằng Bắc Bộ chỉ là chiến trường phối hợp. Cuộc hành quân Moutte diễn ra là sự suy đoán sai của Navarre cùng sự xuất sắc của bộ đội mật mã Việt Nam.
Ngày 12 tháng 4 năm 1953 Quân đội nhân dân Việt Nam tiến quân sang Lào. Chính phủ Vương quốc Lào lên án "Việt Minh xâm lược".
Tháng 11 năm 1953, Navarre mở cuộc hành quân Castor đánh chiếm Điện Biên Phủ - Khu vực mà ông cho rằng có vị trí chiến lược chặn giữa tuyến đường chính của Quân đội Nhân dân Việt Nam sang Lào. Navarre xem căn cứ này vừa là một vị trí khóa chặn, vừa là một cái bẫy để nhử đối phương vào một trận đánh lớn theo kiểu kinh điển và có tính chất quyết định mà tại đó Quân đội Nhân dân Việt Nam sẽ bị tiêu diệt bởi pháo binh và hỏa lực không quân vượt trội của Pháp. Navarre đã chọn Điện Biên Phủ - vùng đất nằm trong một thung lũng lớn, cách Hà Nội 200 dặm đường không, với sự chi viện của khoảng 400 máy bay. Quân Pháp sau những trận đánh nống thất bại đã nhường các điểm cao xung quanh cho Quân đội Nhân dân Việt Nam, Navarre cho rằng khi đó Quân đội Nhân dân Việt Nam không đủ khả năng đưa pháo lên Điện Biên Phủ nên sẽ không có nguy hiểm gì từ các điểm cao. Điện Biên Phủ được Navarre xem như là một "cái nhọt tụ độc", hút hết phần lớn chủ lực của Quân đội Nhân dân Việt Nam và đảm bảo an toàn cho đồng bằng Bắc Bộ.
Khi đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đang nghĩ tới một cuộc tấn công, hy vọng sẽ mở được một con đường xuyên Lào thọc qua Campuchia. Sau đó đưa lực lượng Quân đội Nhân dân Việt Nam tại miền Bắc vào chi viện bổ sung cho lực lượng sẵn có ở Nam Bộ. Trong cuộc họp tháng 11 năm 1953 của Bộ Quốc phòng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, các chỉ huy quân sự quyết định mở Chiến cục đông-xuân 1953-1954 để xé lẻ khối quân chủ lực của Pháp đang co cụm đồng bằng Bắc Bộ. Các vị trí tiến công được xác định ở Lai Châu, Trung-Hạ Lào và Tây Nguyên. Ý tưởng tuyến đường chiến lược xuyên Lào sẽ được thực hiện một phần trong tương lai thông qua con đường mòn Hồ Chí Minh.
==== Trận Điện Biên Phủ ====
Chiến dịch Lai Châu và Chiến dịch Trung Lào tháng 12 năm 1953 đến tháng 1 năm 1954 đã giúp Quân đội Nhân dân Việt Nam nắm giữ mảng lớn còn lại của vùng Tây Bắc (Điện Biên Phủ chỉ là một thung lũng nhỏ) và phần lớn vùng Trung và Nam Lào.
Để đối phó, Navarre tăng cường cho Điện Biên Phủ khiến nó trở thành một "pháo đài bất khả xâm phạm" trong con mắt phương Tây. Nhưng Navarre không hề biết rằng bản thân đã rơi vào một cái "bẫy" của Võ Nguyên Giáp khi "đặt bẫy" đối thủ của mình. Việc xây dựng một tập đoàn cứ điểm ở vùng núi Tây Bắc hiểm trở đã hút đi của Pháp những đơn vị thiện chiến nhất. Điều đó tạo nên khoảng trống không thể bù vào ở đồng bằng Bắc Bộ.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định vào "bẫy", và đưa vào Điện Biên Phủ 4 sư đoàn với một số lượng lớn pháo xấp xỉ quân Pháp ở Điện Biên Phủ, dù cơ số đạn hạn chế (chủ yếu là thu được của Pháp; phần Trung Quốc viện trợ rất hạn chế do nước này đang tham chiến tại Triều Tiên). Những cuộc tiến công trên toàn Đông Dương không cho Pháp tập hợp một đội quân cơ động ứng cứu. Những đơn vị phòng không đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được huấn luyện ở Liên Xô về nước tham chiến. Một lực lượng khổng lồ dân công làm công tác vận tải. Các đơn vị mạnh nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam bao vây quân Pháp ở Điện Biên Phủ.
Cuộc vây hãm Điện Biên Phủ diễn ra từ ngày 13 tháng 3 đến ngày 7 tháng 5 khi quân Pháp đầu hàng. Ở Washington đã có cuộc tranh luận về việc Mỹ có nên trực tiếp can thiệp bằng quân sự, nhưng tổng thống Eisenhower đã quyết định loại bỏ khả năng này do chính quyền Anh sẽ không ủng hộ.
Cục diện chiến trường Đông Dương, tại thời điểm trong và sau Chiến dịch Điện Biên Phủ, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kiểm soát khoảng 2/3 lãnh thổ Việt Nam, nhưng chủ yếu là các vùng nông thôn và rừng núi, một số thị xã nhỏ, chưa kiểm soát được các thành phố lớn, Pháp kiểm soát một số tỉnh đồng bằng và các thành phố lớn đông dân cư, một số tỉnh đồng bằng nằm trong vùng tranh chấp. Việt Minh kiểm soát gần như toàn bộ miền Bắc Việt Nam nhưng tại miền Nam Việt Nam, quân đội Quốc gia Việt Nam và quân đội Pháp chiếm ưu thế, quân đội riêng của các giáo phái tự trị cũng khá mạnh nên Việt Minh chỉ kiểm soát được một số vùng tại Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ.
Sau 56 ngày đêm, cứ điểm Điện Biên Phủ thất thủ, toàn bộ 18.000 quân Pháp bị tiêu diệt hoặc bị bắt làm tù binh. Điện Biên Phủ là chiến thắng quân sự lớn nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam trong toàn bộ Kháng chiến chống Pháp. Trên phương diện quốc tế trận này có một ý nghĩa rất lớn: lần đầu tiên quân đội của một quốc gia thuộc địa châu Á đánh thắng bằng quân sự một quân đội của một cường quốc châu Âu. Trận Điện Biên Phủ đã đánh bại ý chí duy trì Đông Dương là lãnh thổ thuộc Liên hiệp Pháp của Pháp và buộc nước này ra khỏi Đông Dương. Ngày 8 tháng 5, hội nghị Geneva bắt đầu họp bàn về vấn đề khôi phục hòa bình ở Đông Dương.
Lúc này phần lớn lãnh thổ Việt Nam trong tay Việt Minh. Các vùng kiểm soát bao gồm hầu hết miền Bắc (trừ Hà Nội, Hải Phòng, Vĩnh Yên, Móng Cái,...) hầu hết Bắc Trung Bộ (trừ duyên hải nhỏ Quảng Bình đến Quảng Nam), hầu hết Trung Trung Bộ (gồm cả Quảng Ngãi, Quy Nhơn,...), Bắc Tây Nguyên, một phần nhỏ Nam Tây Nguyên, một phần cực Nam Trung Bộ và Nam Bộ (trong đó có các địa phương phía nam đồng bằng sông Hồng, bắc Tây Nguyên và một số vùng khác, cùng với một số thị xã nhỏ ở miền bắc có Việt Trì, một số thị xã nam đồng bằng sông Hồng, Công Tum, An Khê...mới giành được). Phần lớn lãnh thổ Lào (vùng núi phía đông), một phần lãnh thổ Campuchia (đông bắc, nhỏ hơn là vùng rừng núi tây và tây nam, một phần đông nam) thuộc phe cách mạng.
== Sự tham gia của các nước khác ==
Từ năm 1950, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu nhận được viện trợ quân sự từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước Xã hội chủ nghĩa khác còn Pháp bắt nhận đầu được viện trợ quân sự từ Mỹ. Kháng chiến chống Pháp của nhân dân ba nước Đông Dương vì thế chuyển sang giai đoạn mới.
=== Về phía Việt Minh ===
Sau nhiều lần tìm sự ủng hộ về mặt ngoại giao từ phương Tây và Mỹ không thành, kèm theo đó là quan hệ các nước trong khu vực không có sự tiến triển, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa bắt đầu tìm kiếm sự ủng hộ từ hệ thống xã hội chủ nghĩa. Năm 1949, Quân đội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vượt qua biên giới Việt-Trung, tiến công quân Trung Hoa Dân quốc tỉnh Quảng Tây, bàn giao lại cho Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Ngày 14 tháng 1 năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên bố sẵn sàng thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước trên thế giới và khẳng định Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là chính phủ hợp pháp duy nhất của toàn thể nhân dân Việt Nam.
Năm 1949 ở Trung Quốc, Đảng Cộng sản đã giành được quyền lực trên toàn đại lục. Ngay sau tuyên bố trên, ngày 18 tháng 1 năm 1950, Trung Quốc trở thành nước đầu tiên trên thế giới công nhận và thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Sau Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Liên Xô, CHDCND Triều Tiên, Nam Tư và các nước Đông Âu cũng lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao. Sau khi công nhận Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Trung Quốc bắt đầu viện trợ quân sự cho nước này.
Trong Kháng chiến chống Pháp ngoài ô tô vận tải, pháo cao xạ, hỏa tiễn sáu nòng, tiểu liên K50 là của Liên Xô và các nước Xã hội chủ nghĩa Đông Âu, còn các vũ khí bộ binh, pháo 105 ly, 75 ly và lương thực là do Trung Quốc giúp đỡ. Số viện trợ nói trên chiếm khoảng 20% tổng số vật chất quân đội Nhân dân Việt Nam sử dụng trên chiến trường Bắc Bộ trong thời gian này.
Theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tính chung, từ tháng 6-1950 đến tháng 6-1954, Việt Nam nhận được từ Liên Xô, Trung Quốc tổng cộng 21.517 tấn hàng các loại, trị giá 34 triệu rúp Nga (~34 triệu USD theo thời giá bấy giờ). Còn theo thống kê của Trung Quốc thì chưa tính phần của Liên Xô, riêng lượng lương thực và thực phẩm phụ Trung Quốc đã viện trợ Việt Nam hơn 140.000 tấn và hơn 26.000 tấn dầu, ngoài ra còn 155.000 khẩu súng các loại, 57,85 triệu viên đạn, 3.692 khẩu pháo và súng cối, hơn 1,08 triệu quả đạn pháo và đạn cối, hơn 840.000 quả lựu đạn, 1.231 ô tô, hơn 1,4 triệu bộ quân phục nữa. Như vậy là có sự khác biệt khá lớn giữa số liệu thống kê của Trung Quốc và của Việt Nam.
==== Trung Quốc ====
Trong thời kỳ này, Trung Quốc thực hiện chính sách ngoại giao "nhất biên đảo", ngã về phe Xã hội chủ nghĩa do Liên Xô đứng đầu, trực tiếp đối đầu với Mỹ, coi Mỹ là kẻ thù nguy hiểm nhất. Vì vậy, Trung Quốc đã tích cực ủng hộ và đưa quân tình nguyện tham chiến ở Triều Tiên chống quân Liên Hợp Quốc và giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chống Pháp. Tuy nhiên khác với Triều Tiên, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ đồng ý nhận viện trợ vũ khí chứ không chấp nhận cho Trung Quốc đem quân tới trực tiếp tham chiến. Trung Quốc là nước viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tích cực nhất, nhiều nhất lúc đó.
Cuối tháng 1, Chủ tịch Hồ Chí Minh bí mật sang Bắc Kinh để bàn về vấn đề viện trợ, sau đó đi Moskva gặp gỡ Stalin và Mao Trạch Đông, Chu Ân Lai đang ở thăm Liên Xô. Stalin và Mao Trạch Đông đã khẳng định: Việt Nam cần trang bị 10 đại đoàn để đánh thắng Pháp, trước mắt hãy trang bị cho 6 đại đoàn có mặt ở miền Bắc. Việt Nam có thể đưa ngay một số đơn vị sang nhận vũ khí trên đất Trung Quốc. Tỉnh Quảng Tây sẽ là hậu phương trực tiếp của Việt Nam. Từ đó, viện trợ của Trung Quốc đã một góp phần không nhỏ trong việc làm thay đổi cục diện chiến tranh ở Đông Dương. Archimedes Patti, một nhân viên tình báo quân sự Mỹ từng hợp tác với Việt Minh chống phát xít Nhật, trong hồi ký viết: Đến năm 1950, Mao đã ở trong thế có thể giúp đỡ ông Hồ qua đường biên giới phía Bắc Việt Nam. Ông Hồ không còn bị cô lập như trước, ông đã có rất nhiều đồng minh, trước hết là Trung Quốc và sau đó là Liên Xô, một sân bóng mới đã bắt đầu.
Ngay tháng 4 năm 1950, hai Trung đoàn của Đại đoàn 308 sang Mông Tự, Vân Nam, tiếp đó một Trung đoàn của Đại đoàn 312 sang Hoa Đồng, Quảng Tây nhận vũ khí. Để giải quyết đảm bảo hậu cần của bộ đội Việt Nam, ngày 6-8-1950, Tổng cục Hậu cần Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc đã thành lập văn phòng ở Nam Ninh. Ngoài ra, còn có hai Tiểu đoàn công binh và trường sĩ quan lục quân sang học tập, huấn luyện tại Trung Quốc. Những đơn vị sang Trung Quốc ngoài việc trang bị lại vũ khí còn được huấn luyện thêm về chiến thuật, đặc biệt là kỹ thuật đánh bộc phá, được bắn đạn thật nên tiến bộ rất nhanh.
Theo thống kê sơ bộ của Trung Quốc, từ tháng 4 đến tháng 9, Trung Quốc đã viện trợ 14.000 súng trường và súng lục, 1.700 súng máy và tiểu liên, 150 súng cối, 60 khẩu pháo, 300 bazooka, cùng đạn dược, thuốc, quần áo và 2.800 tấn lương thực. Riêng chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc đã viện trợ cho Việt Nam tổng cộng hơn 200 ô tô, hơn 10.000 thùng dầu, hơn 3.000 khẩu súng các loại, 2.400.000 viên đạn, hơn 100 khẩu pháo các loại, hơn 60.000 viên đạn pháo các loại và đạn hỏa tiễn, 1.700 tấn lương thực, ngoài ra còn một lượng lớn thuốc men, khí tài, thuốc nổ..
Nhờ có sự giúp đỡ của Trung Quốc, trang bị vũ khí của quân đội được cải thiện đáng kể. Những năm qua, mỗi chiến sĩ chỉ mơ ước có một khẩu súng trong tay. Bây giờ không chỉ có súng mà đạn được cũng khá dồi dào. Sức mạnh hỏa lực của trung đoàn bộ binh ta đã hoàn toàn thay đổi so với trước. Tính đến tháng 6-1950, số cán bộ sang Trung Quốc học tập là 3.100 người (trong đó 650 cán bộ học bổ túc trung và sơ cấp, 1.200 học đào tạo, chỉ huy bộ binh sơ cấp, còn lại học về binh chủng như pháo binh, công binh...
Trong hai năm 1951-1952, viện trợ của các nước Xã hội chủ nghĩa, trong đó có Trung Quốc được duy trì thường xuyên và tương đối đều đặn. Từ tháng 7-1952 đến tháng 1-1953, Trung đoàn 45, Trung đoàn pháo binh hạng nặng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam được huấn luyện ở Mông Tự (Vân Nam, Trung Quốc); Trung đoàn pháo cao xạ 367 thành lập ngày 1-4-1953, sau 6 tháng huấn luyện ở Tân Dương (Quảng Tây, Trung Quốc), cuối năm 1953 được điều tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ. Liên Xô giúp trang bị vũ khí, Trung Quốc đảm nhiệm về đào tạo cán bộ, nhân viên kỹ thuật, huấn luyện cho hai trung đoàn này.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc đã chi viện cho 3.600 viên đạn pháo 105 ly, đó là số đạn đi theo 24 khẩu pháo viện trợ đưa về Việt Nam từ cuối năm 1953, chiếm 18% tổng số đạn pháo sử dụng trong chiến dịch, sau đó còn chuyển thêm cho 7.400 viên đạn 105mm nhưng số đạn này không kịp đưa vào phục vụ chiến dịch. Trong những ngày cuối chiến dịch Điện Biên Phủ, Trung Quốc còn giúp thêm một tiểu đoàn DKZ 75mm và 12 pháo hỏa tiễn H6, kịp thời tham gia đợt tổng công kích cuối cùng diễn ra chiều ngày 6 tháng 5 năm 1954, phát huy tác dụng rất lớn.
Trong những năm 1949, 1950, Đảng và Chính phủ Trung Quốc đã viện trợ 2.634 tấn gạo. Tuy nhiên, từ năm 1951 trở đi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã cố gắng huy động lương thực trong nước để giảm dần lượng gạo viện trợ. Vì vậy, trong chiến dịch Điện Biên Phủ, lương thực chủ yếu được huy động từ trong nước, gạo Trung Quốc chỉ có 1.700 tấn gạo, chiếm 6,52% tổng nhu cầu.
Ngoài trang bị vũ khí, giúp đỡ huấn luyện, viện trợ lương thực, Trung Quốc còn cử Đoàn công tác Hoa Nam gồm 79 người do Vi Quốc Thanh làm trưởng đoàn. Ngày 9-8-1950 đoàn khởi hành từ Nam Ninh, ngày 12-8 đến Quảng Uyên, Cao Bằng. Đây là lần đầu tiên Đảng Cộng sản Trung Quốc cử một đoàn cố vấn quân sự ra nước ngoài, với chỉ thị là phải phát huy tinh thần chủ nghĩa quốc tế, phải đoàn kết với các đồng chí Việt Nam, phải giúp Việt Nam theo con đường tự lực cánh sinh, phát huy tính thần gian khổ phấn đấu. Đảng Cộng sản Trung Quốc giao cho đoàn 2 nhiệm vụ: Một là, giúp đỡ Việt Nam đánh thắng trận, đuổi thực dân Pháp xâm lược; hai là, giúp đỡ Việt Nam xây dựng quân đội chính quy. Ngoài đoàn cố vấn quân sự, Trung Quốc còn cử Trần Canh (nguyên Phó Tư lệnh cánh quân Tây Nam, Tư lệnh quân khu Vân Nam) cùng một số cán bộ quân sự, trực tiếp làm cố vấn trong chiến dịch Biên giới Thu Đông năm 1950.
Bà Hứa Kỳ Sảnh, phu nhân của tướng Vi Quốc Thanh trong buổi gặp gỡ Bộ trưởng Quốc phòng Việt Nam Phùng Quang Thanh đã cho biết:
Tôi còn nhớ rất rõ, theo yêu cầu của Chủ tịch Mao Trạch Đông và Chủ tịch Hồ Chí Minh, ngay từ đầu thập niên 50 của thế kỷ trước, khi nước Trung Hoa mới vừa thành lập, đồng chí Vi Quốc Thanh, đồng chí Trần Canh và đồng chí La Quý Ba và rất nhiều đồng chí trong đoàn cố vấn Trung Quốc sang giúp Việt Nam chống Pháp, trước khi đi, Chủ tịch Mao Trạch Đông căn dặn: "Các đồng chí phải phải coi sự nghiệp giải phóng của nhân dân Việt Nam là sự nghiệp của chính mình.
Ngày 2 tháng 9 năm 1953, Hồ Chủ tịch dẫn đầu đoàn lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước đến nơi ở của đoàn cố vấn Trung Quốc để trao Huân chương Hồ Chí Minh cho các thành viên của đoàn cố vấn như Vi Quốc Thanh, La Quý Ba, biểu dương tinh thần quốc tế vô sản trong đoàn cố vấn, cảm ơn sự giúp đỡ mà Đảng Cộng sản, Chính phủ Trung Quốc đã dành cho Việt Nam.
==== Liên Xô ====
Trong giai đoạn đầu, Liên Xô đã hình thành quan hệ chính trị toàn diện với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ủng hộ chủ trương và đường lối khôi phục và xây dựng miền Bắc Việt Nam. Tuy nhiên, quan hệ này lại không đậm đà bằng quan hệ với các nước khác. Ngày 3/2/1950, Liên Xô mới đặt quan hệ ngoại giao với Indonesia (sau Việt Nam Dân chủ Cộng hòa 3 ngày), song tháng 1/1953 Liên Xô đã cử đại sứ đi Jakarta, trong khi đó mãi đến gần 2 năm sau tức là ngày 4/11/1954, Liên Xô mới cử Lavraschev - đại sứ đầu tiên của Liên Xô đến Hà Nội.
Trả lời phóng viên báo France Tireur (tháng 6/1949), Chủ tịch Hồ Chí Minh có đoạn đối thoại.khẳng định rằng dù nhận viện trợ song Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sẽ kiên quyết duy trì sự độc lập của mình:
=== Về phía Pháp ===
==== Hoa Kỳ ====
===== Chính sách chống cộng của Mỹ =====
Theo chính phủ Mỹ, một mặt Mỹ ủng hộ khái niệm quyền dân tộc tự quyết, mặt khác nước này cũng có quan hệ chặt chẽ với các đồng minh châu Âu của mình, những nước đã có những tuyên bố đế quốc đối với những thuộc địa cũ của họ. Chiến tranh Lạnh chỉ làm phức tạp thêm vị trí của Mỹ, việc Mỹ ủng hộ quá trình phi thực dân hóa gặp xung đột với mối quan tâm của Mỹ đối với sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản và những tham vọng chiến lược của Liên Xô tại châu Âu. Một số đồng minh NATO khẳng định rằng thuộc địa cung cấp cho họ sức mạnh kinh tế và quân sự mà nếu không có nó thì liên minh phương Tây sẽ tan rã. Gần như tất cả các đồng minh châu Âu của Mỹ đều tin rằng thuộc địa sẽ cung cấp sự kết hợp giữa nguyên liệu và thị trường được bảo vệ đối với hàng hóa thành phẩm, từ đó sẽ gắn kết các thuộc địa với châu Âu..
Hoa Kỳ cần có quan hệ đồng minh với Pháp để thiết lập sự cân bằng với sức mạnh của Xô Viết ở châu Âu sau chiến tranh thế giới thứ II. Từ tháng 9 năm 1945, Washington đã có một số hành động ở Đông Nam Á. Hồ Chí Minh nhận thấy Hoa Kỳ đang muốn đóng vai trò lớn hơn ở khu vực Thái Bình Dương, ông đã làm tất cả để thiếp lập mối quan hệ với Hoa Kỳ thông qua việc giải cứu các phi công gặp nạn trong chiến tranh với Nhật Bản. Đổi lại, cơ quan tình báo Hoa Kỳ OSS (U.S Office of Strategic Services) giúp đỡ y tế, cố vấn và huấn luyện quân đội quy mô nhỏ cho Việt Minh.
Tại Mỹ, các thế lực chống cộng cực đoan nắm quyền, McCarthy và Hoover thực hiện các chiến dịch chống cộng theo dõi, phân biệt đối xử, sa thải, khởi tố và bắt giam nhiều người bị xem là cộng sản hoặc ủng hộ chủ nghĩa cộng sản. Một bộ phận trong số những nạn nhân bị mất việc, bị bắt giam hoặc bị điều tra quả thật có quan hệ trong hiện tại hoặc trong quá khứ với Đảng Cộng sản Hoa Kỳ. Nhưng đại bộ phận còn lại có rất ít khả năng gây nguy hại cho nhà nước và sự liên quan của họ với người cộng sản là rất mờ nhạt. Những điều này khiến công chúng nghĩ rằng những người cộng sản là mối đe dọa đối với an ninh quốc gia.
Sự cạnh tranh chiến tranh lạnh với Liên Xô là mối quan tâm lớn nhất về chính sách đối ngoại của Mỹ trong những năm 1940 và 1950, chính phủ Truman và Eisenhower ngày càng trở nên lo ngại rằng khi các cường quốc châu Âu bị mất các thuộc địa của họ, các đảng cộng sản được Liên Xô ủng hộ sẽ đạt được quyền lực trong quốc gia mới. Điều này có thể làm thay đổi cán cân quyền lực quốc tế theo hướng có lợi cho Liên Xô và loại bỏ quyền truy cập vào nguồn lực kinh tế từ đồng minh của Mỹ. Các sự kiện như cuộc đấu tranh giành độc lập của Indonesia (1945-1950), cuộc chiến tranh của Việt Nam chống Pháp (1945-1954), và chủ nghĩa xã hội dân tộc công khai của Ai Cập (1952) và Iran (1951) đã khiến Hoa Kỳ lo lắng rằng các nước mới giành độc lập sẽ ủng hộ Liên Xô, ngay cả khi chính phủ mới không trực tiếp liên hệ với Liên Xô. Do vậy, Hoa Kỳ đã sử dụng các gói cứu trợ, hỗ trợ kỹ thuật và can thiệp đôi khi bằng quân sự để hỗ trợ các chính phủ thân phương Tây tại các quốc gia mới giành độc lập.
Từ năm 1949, sau khi Nội chiến Trung Quốc kết thúc, tiếp đó là chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, khuynh hướng thân Liên Xô tại nhiều nước Ả Rập, giới chính khách Mỹ cảm thấy lo sợ về làn sóng đi theo chủ nghĩa Cộng sản tại các nước thế giới thứ ba. Trong điện tín số 831 ngày 3/2/1947 gửi cho Đại sứ quán Mỹ tại Paris, bộ trưởng Ngoại giao Mỹ George Marshall nhận định "chúng ta không thấy có lợi ích gì trong việc nền cai trị đế quốc thực dân lại được thay thế bởi nền triết lý và các tổ chức chính trị bắt nguồn từ Kremlin và do Kremlin kiểm soát." Chính phủ Mỹ đưa ra Thuyết domino, theo đó Mỹ tin rằng nếu một quốc gia đi theo Chủ nghĩa cộng sản, các quốc gia thân phương Tây lân cận sẽ bị đe dọa. Bởi vậy, Mỹ bắt đầu viện trợ cho Pháp trong cuộc chiến chống lại Việt Minh (chỉ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa), một tổ chức/chính quyền họ cho là có liên hệ với Liên Xô và Trung Quốc. Tháng 5-1949, Ngoại trưởng Mỹ Dean Acheson, dù chẳng có chứng cớ nào về các mối liên lạc giữa Hồ Chí Minh với Kremlin, đã chỉ thị cho đại diện Mỹ tại Hà Nội cảnh báo những người quốc gia Việt Nam có ý định liên minh với Việt Minh, bằng những lời lẽ sau đây: "Qua hiểu biết về quá trình đào tạo của ông Hồ, không thể có nhận định nào khác hơn ông Hồ là một tên Cộng sản quốc tế thực thụ vì rõ ràng ông Hồ đã không thể chối cãi được các mối liên hệ với Moscow và chủ nghĩa cộng sản quốc tế và là một người châu Á được đề cao trong báo chí quốc tế cộng sản và được họ ủng hộ. Hơn nữa Mỹ đã không hề bị xúc động bởi tính chất dân tộc chủ nghĩa của lá cờ đỏ với ngôi sao vàng."
Mỹ tuyên bố "ủng hộ nguyện vọng độc lập dân tộc tại Đông Nam Á" trong đó có Việt Nam, nhưng với điều kiện "lãnh đạo của những nhà nước mới không phải là người cộng sản", họ đặc biệt ủng hộ việc thành lập các "nhà nước phi cộng sản" ổn định trong khu vực tiếp giáp Trung Quốc. Theo thuyết Domino, Mỹ hỗ trợ các đồng minh tại Đông Nam Á để chống lại các phong trào mà họ cho là "lực lượng cộng sản muốn thống trị châu Á dưới chiêu bài dân tộc". Mỹ thúc giục Pháp nhượng bộ chủ nghĩa dân tộc tại Việt Nam, nhưng mặt khác họ không thể cắt viện trợ cho Pháp vì sẽ mất đi đồng minh trước những mối đe dọa lo lớn hơn tại châu Âu. Tóm lại, chính sách của Mỹ gồm 2 mặt không tương thích: một mặt hỗ trợ người Pháp chiến thắng trong cuộc chiến chống Việt Minh - tốt nhất là dưới sự chỉ đạo của Mỹ, mặt khác Mỹ dự kiến, người Pháp sau khi chiến thắng sẽ - "một cách cao cả" - rút khỏi Đông Dương
Theo Félix Green, mục tiêu của Mỹ không phải chỉ có Việt Nam và Đông Dương, mà là toàn bộ vùng Đông Nam Á. Vì đây là "một trong những khu vực giàu có nhất thế giới, đã mở ra cho kẻ nào thắng trận ở Đông Dương. Đó là lý do giải thích vì sao Mỹ ngày càng quan tâm đến vấn đề Việt Nam... Đối với Mỹ đó là một khu vực phải nắm lấy bằng bất kỳ giá nào" Một số khác cho rằng mục tiêu cơ bản và lâu dài của Mỹ là muốn bảo vệ sự tồn tại của các chính phủ thân Mỹ tại Đông Nam Á, không chỉ nhằm làm "tiền đồn chống Chủ nghĩa Cộng sản", mà qua đó còn duy trì ảnh hưởng lâu dài của "Quyền lực tư bản" Mỹ lên thị trường vùng Đông Nam Á (xem thêm Chủ nghĩa thực dân mới).
===== Mỹ hỗ trợ Pháp =====
Năm 1947, Anh trao trả độc lập cho Ấn Độ, thuộc địa lớn nhất của Anh, mở đầu cho xu hướng phi thực dân hoá sau thế chiến thứ II. Hơn nữa chiến lược đánh nhanh thắng nhanh của Pháp đã thất bại. Pháp đã mệt mỏi vì chiến tranh đã hao tổn quá lớn, theo Việt Nam Dân chủ Cộng hòa người Pháp mong muốn "Lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt", hy vọng giảm bớt hao tổn người và tiền bạc.
Trong 3 năm đầu của cuộc chiến tranh, Mỹ đã giữ một thái độ "trung lập" nhưng ủng hộ Pháp rất rõ ràng. Mỹ chẳng muốn tự đặt bản thân vào một vị thế khó xử là công khai ủng hộ chủ nghĩa thực dân, nhưng cũng không muốn làm mất lòng Pháp - một đồng minh quan trọng ở châu Âu. Do vậy, chính quyền Truman đã bí mật trao cho Pháp nhiều khoản viện trợ về tài chính và quân sự.
Để đối phó với các áp lực chính trị, quân sự và thích ứng với xu hướng phi thực dân hoá một mặt Pháp đàm phán với Bảo Đại thành lập Quốc gia Việt Nam năm 1949, phát triển quân đội người bản xứ. Một mặt, Pháp thuyết phục Mỹ rằng Pháp đang "chống cộng" chứ không phải mục đích chính là tái chiếm thuộc địa. Ngày 16/2/1950, Bộ Ngoại giao Pháp gặp đại sứ Mỹ tại Paris để thông báo rằng "do kết quả của tình hình phát triển mới đây và triển vọng ít ra thì Cộng sản Trung Quốc cũng sẽ tăng cường viện trợ quân sự cho Hồ Chí Minh... cố gắng của Pháp ở Đông Dương giống như một dòng nước cuốn ở Pháp, đòi hỏi cần phải có một chương trình giúp đỡ dài hạn mà Mỹ mới cung cấp được. Nếu không... rất có khả năng Pháp có thể bị buộc phải chấm dứt các tổn thất của mình và rút lui khỏi Đông Dương."
Vấn đề được Mỹ đưa ra trước Hội đồng An ninh Quốc gia. Ngày 27/2/1950, Hội đồng An ninh Quốc gia quyết định "phải thi hành mọi biện pháp có thể được để ngăn chặn sự phát triển sau này của cộng sản ở Đông Nam Á... Thái Lan và Miến Điện có thể rơi vào ách thống trị của cộng sản nếu như Đông Dương bị một Chính phủ do cộng sản khống chế cai trị. Lúc đó sự cân bằng lực lượng ở Đông Nam Á sẽ ở trong một tình thế cực kỳ nguy hiểm."
Đầu năm 1950, Hoa Kỳ bắt đầu gửi viện trợ quân sự cho người Pháp ở Đông Dương. Do chiến tranh Triều Tiên bùng nổ đã buộc Mỹ phải đẩy nhanh việc cung cấp viện trợ cho Pháp. Tháng 1 năm 1951 người Pháp nhận được 20 xe tăng M24, 40 khẩu pháo 105-mm và 250 quả bom thông thường và cả bom napalm cùng đạn dược và vũ khí tự động. Tới tháng 1/1953, Pháp đã nhận được 900 xe thiết giáp cùng với 15.000 xe vận tải các loại, gần 2.500 khẩu pháo, 24.000 vũ khí tự động, 75.000 vũ khí cá nhân và gần 9.000 máy radio. Ngoài ra, Không quân Pháp đã nhận được 160 máy bay F6F Hellcat và F8F Bearcat, 41 máy bay ném bom B-26 Invader, 28 máy bay vận tải C-47 cùng với 155 động cơ máy bay và 93.000 quả bom. Cho tới khi Pháp thất bại hoàn toàn thì phía Mỹ đã viện trợ trên 1 tỷ USD mỗi năm (tương đương khoảng 5,8 tỷ USD theo thời giá năm 2004) và chi trả 78% chi phí chiến tranh của Pháp ở Đông Dương.
Tuy nhiên, viện trợ Mỹ vẫn không thể giúp Pháp đạt được những thắng lợi quân sự mà Mỹ mong muốn. Robert Blum, người phụ trách chương trình viện trợ kinh tế của Mỹ cho Pháp, nhận định "Thật khó mà đánh giá được kết quả của gần 2 năm (1950 - 1952). Mỹ tích cực tham gia vào công việc ở Đông Dương. Mặc dầu chúng ta đã lao vào một cuộc hợp tác không dễ dàng, một mặt, với người Pháp sặc mùi "thực dân" nhưng không thể tránh khỏi, và mặt khác, với những người Việt Nam yếu đuối và chia rẽ, nhưng chúng ta cũng đã không có đầy đủ khả năng hòa giải hai bạn đồng minh đó trong một cuộc đấu tranh có xu hướng đặc biệt chống cộng... Tình hình ở Đông Dương không làm cho chúng ta hài lòng và thể hiện không có triển vọng tiến bộ cụ thể, không thể giành được một chiến thắng quân sự quyết định, Chính phủ Bảo Đại có rất ít hứa hẹn phát triển được tài năng và giành được sự trung thành của dân chúng, và việc đạt tới được mục tiêu của Mỹ thật xa xôi".
Đến cuối chiến tranh, gần 80% chiến phí chủ yếu của Pháp do Mỹ cung cấp, lên đến 1,5 tỷ USD. Cuối chiến tranh, người Mỹ trực tiếp chở khoảng 16 ngàn quân Pháp vào Điện Biên Phủ và hỗ trợ không quân cho quân Pháp. Tính đến tháng 1-1954, riêng về vũ khí và phương tiện chiến tranh, Mỹ đã viện trợ cho quân Pháp ở Đông Dương 360 máy bay, 1.400 xe tăng và xe bọc thép, 390 tàu chiến và tàu quân sự, 16.000 xe quân sự các loại, 175.000 súng trường và súng máy. Nhờ số lượng vũ khí viện trợ này mà người Pháp mới có thể duy trì được cuộc chiến.
Thời gian này ở tất cả các cấp bộ trong quân đội viễn chinh Pháp đều có cố vấn Mỹ. Người Mỹ có thể đến bất cứ nơi nào kiểm tra tình hình không cần sự chấp thuận của tổng chỉ huy Pháp. Sự phụ thuộc quá nhiều của Pháp vào Mỹ khiến tướng Navarre than phiền trong hồi ký: "Địa vị của chúng ta đã chuyển thành địa vị của một kẻ đánh thuê đơn thuần cho Mỹ."
Đến nay nhiều người Mỹ vẫn không biết vì sao họ bị lôi kéo vào cuộc xâm lược của thực dân Pháp, dù nhiều người Mỹ còn chưa biết Việt Nam nằm ở góc nào trên bản đồ thế giới. Ít người nói đến việc nước Mỹ đã bị Pháp kéo vào cuộc, cũng như những thương vong đầu tiên của Mỹ ở Đông Dương đã xảy ra ngay từ trận Điện Biên Phủ. Thực sự thông qua việc tài trợ cho Pháp, nước Mỹ đã dính líu đến cuộc chiến ở Đông Dương từ rất lâu trước khi các lực lượng quân sự Mỹ đầu tiên đến Việt Nam.
== Hiệp định Genève ==
Hội nghị Genève khai mạc ngày 26 tháng 4 năm 1954 để bàn về vấn đề khôi phục hoà bình tại Triều Tiên và Đông Dương. Do vấn đề Triều Tiên không đạt được kết quả nên từ ngày 8 tháng 5 vấn đề Đông Dương được đưa ra thảo luận.
Do sức ép của Trung Quốc và Liên Xô, đoàn Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đồng ý với một bản hiệp định mang lại cho họ ít hơn những gì họ đã giành được trên chiến trường. Tuy ba nước Lào, Campuchia và Việt Nam được tuyên bố độc lập, và điều quan trọng là sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam được công nhận, nhưng Việt Nam bị tạm thời chia đôi thành hai khu vực quân sự để hai bên quân đội, Việt Minh và Pháp, tập kết. Quân Pháp sẽ rút dần khỏi Việt Nam. Cuộc tổng tuyển cử đi đến thống nhất Việt Nam sẽ được thực hiện trong vòng 2 năm.
Ngày 22-7-1954, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra lời kêu gọi: "Đấu tranh để củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập dân chủ cũng là một cuộc đấu tranh lâu dài và gian khổ" và khẳng định: "Trung, Nam, Bắc đều là bờ cõi của nước ta, nước ta nhất định thống nhất, đồng bào cả nước nhất định được giải phóng". Cũng trong ngày này Thủ tướng Quốc gia Việt Nam Ngô Đình Diệm ra lệnh treo cờ rủ toàn Miền Nam từ vĩ tuyến 17 trở vào để bày tỏ quan điểm phản đối sự chia đôi đất nước. Tuy nhiên, trưởng đoàn đại biểu Việt Nam Dân chủ Cộng hoà đã lên tiếng: "Những ai yêu nước Việt Nam, những ai yêu sự thống nhất Việt Nam thì không cần phải khóc hôm nay. Hãy thực hiện tốt những gì đã ký kết hôm nay, thì 2 năm nữa sẽ có một nước Việt Nam thống nhất, độc lập, hoà bình và giàu mạnh. Những gì Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hoà làm trong những năm qua chính là vì mục đích đó. Nước mắt của chúng tôi đổ ra trong cuộc đấu tranh cho sự nghiệp đó nhiều hơn rất nhiều so với những giọt lệ mà quý vị (Quốc gia Việt Nam) nhỏ ra ở đây".
== Kết quả ==
Trong cuộc xâm lược của thực dân Pháp này, thương vong của Pháp là 140.992, trong đó có 75.867 chết và mất tích, 65.125 bị thương. Quân bản xứ ở Đông Dương có 419.000 chết, bị thương hoặc bị bắt. Về vũ khí, Pháp mất 435 máy bay, 603 tàu chiến và ca nô, 9.283 xe quân sự, 255 pháo, 504 xe quân sự và 130 nghìn súng các loại. Số thương vong của Việt Minh được Pháp ước tính khoảng 175.000 - 300.000 chết và 300.000 - 500.000 bị thương (hiện vẫn chưa có số liệu kiểm chứng từ phía Việt Nam). Khoảng 125.000–400.000 dân thường thiệt mạng.
Cuộc chiến đã góp phần làm nước Pháp suy sụp và phân hóa. Càng về cuối cuộc chiến, sự phản đối chiến tranh trong lòng nước Pháp ngày càng dữ dội hơn. Đại tướng Pháp Henry Navare viết:
Chi phí cho cuộc xâm lược của Pháp tăng hàng năm theo cấp số nhân. Năm 1945: 3 tỷ Franc; năm 1946: 27 tỷ Franc; năm 1947: 53 tỷ Franc; năm 1948: 89 tỷ Franc; năm 1949: 130 tỷ Franc; năm 1950: 201 tỷ Franc; năm 1951: 308 tỷ Franc; năm 1952: 535 tỷ Franc. Tổng cộng trong toàn bộ cuộc chiến, nước Pháp đã chi phí 3.370 tỷ Franc (vượt dự kiến 2.385 tỷ Franc), tương đương gần 60 tỷ USD theo thời giá 2008, (trung bình là 1 tỉ Franc/ngày), bằng 28% giá trị GDP của Pháp năm 1953. Chính phủ Pháp thay đổi 20 lần, trung bình mỗi chính phủ chỉ tồn tại 7 tháng (có chính phủ chỉ tồn tại trong 7 ngày). 7 lần cao uỷ Pháp bị triệu hồi, 8 tổng chỉ huy quân đội Pháp kế tiếp nhau bị thua trận. Đất nước Việt Nam, Lào, Campuchia cũng bị tàn phá bởi chiến tranh.
Theo kết quả của hiệp định Geneva, Việt Nam được chia làm 2 nửa với giới tuyến tạm thời là vỹ tuyến 17. Quân đội Nhân dân Việt Nam, lực lượng vừa giành được thắng lợi quan trọng trên chiến trường, rút khỏi các chiến trường tại Đông Dương để tập kết về miền Bắc Việt Nam. Quân đội của Liên Hiệp Pháp và Quốc gia Việt Nam tập kết về miền Nam. Quân đội pháp cũng rút khỏi Lào và Campuchia. Trên 1 triệu người dân từ miền Bắc đã di cư vào Nam (trong đó có khoảng 800.000 người Công giáo, chiếm khoảng 2/3 số người Công giáo ở miền Bắc), và 140.000 người (đa số là cán bộ kháng chiến của Việt Minh) từ miền Nam tập kết ra Bắc.
Ngày 10 tháng 10 năm 1954, quân Pháp chính thức rút khỏi Hà Nội, Quân đội Nhân dân Việt Nam vào tiếp quản thủ đô. Thời kỳ hòa bình tại miền Bắc Việt Nam bắt đầu. Ở miền Nam, quân đội Pháp dần dần rút đi và trao quyền lực cho chính quyền Quốc gia Việt Nam, trong khi Hoa Kỳ tăng cường các hoạt động tình báo, tuyên truyền, viện trợ và cố vấn cho Quốc gia Việt Nam để chính phủ này có thể đương đầu với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và tiêu diệt lực lượng Việt Minh còn lại ở miền Nam.
Hội nghị tuyên bố chấm dứt chiến tranh ở Lào và Campuchia, bảo đảm độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của hai nước này, và hai nước sẽ tổ chức tổng tuyển cử tự do theo các nguyên tắc Hiến pháp mỗi nước, bảo đảm tôn trọng các quyền tự do cơ bản. Hai nước sẽ không tham gia vào bất kỳ một liên minh quân sự nào. Ngày 23 và 24 tháng 7 năm 1954 Bộ trưởng Quốc phòng Chính phủ Kháng chiến Pathét Lào Kaison (Kaysone Phomvihane) và Tư lệnh Bộ đội tình nguyện Việt Nam ở Pathét Lào Tạ Xuân Thu, Tổng tư lệnh giải phóng quân Khơme Ítxarắc Siêu Heng (Sieu Heng), đại diện Bộ Tư lệnh Bộ đội tình nguyện Việt Nam tại Khơme Nguyễn Thanh Sơn ra lệnh ngừng bắn từ 6 và 7 tháng 8 để thi hành Hiệp định. Năm 1955 Vương quốc Lào, Vương quốc Campuchia chính thức trở thành thành viên Liên hợp quốc, tuyên bố chính sách đối ngoại hòa bình trung lập.
Hiệp định Geneva quy định lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời (bao gồm cả trên đất liền và trên biển). Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa nằm ở phía Nam vĩ tuyến 17, được giao cho chính quyền Liên Hiệp Pháp quản lý. Năm 1956, sau khi Pháp hoàn tất rút quân khỏi Việt Nam, Quốc gia Việt Nam (do Bảo Đại đứng đầu) đứng ra tiếp quản. Tranh chấp tại 2 quần đảo này nhanh chóng xảy ra với Trung Quốc, Đài Loan, Malaysia và Phillipines.
Sau 2 năm, hiệp định Geneva đã không đem lại được hòa bình cho Đông Dương. Tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam không được chính quyền Quốc gia Việt Nam thực hiện (với lý do "nghi ngờ về việc có thể bảo đảm những điều kiện của cuộc bầu cử tự do ở miền Bắc"). Việt Nam bị chia cắt thêm 20 năm nữa, chiến tranh tiếp tục nổ ra trên toàn Đông Dương. Lần này người Mỹ thay thế cho người Pháp. Cuộc chiến mới kéo dài hơn, có quy mô và sức tàn phá lớn hơn nhiều với tổn thất cũng nặng nề hơn.
Sách giáo khoa lịch sử của Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa (Quốc sử lớp nhất - Phạm Văn Trọng & Phạm Thị Ngọc Dung) xuất bản năm 1966 có viết về cuộc chiến này, tuy nhiên do Việt Nam Cộng hòa coi Việt Minh là kẻ thù nên không nhắc tới sự lãnh đạo kháng chiến của Việt Minh mà chỉ nói chung chung là "kháng chiến của toàn dân", cũng không nhắc đến sự hợp tác với Pháp của Quốc gia Việt Nam (tiền thân của Việt Nam Cộng hòa) mà chỉ nói chung chung là "Pháp mời vua Bảo Đại thành lập chính quyền để lôi kéo chiến sĩ quốc gia":
== Ảnh hưởng trên phạm vi thế giới ==
Trên phạm vi thế giới, sự thắng lợi của người Việt Nam trong Chiến tranh Đông Dương cũng thúc đẩy sự sụp đổ của chủ nghĩa thực dân cổ điển và hệ thống thuộc địa trên toàn thế giới. Nhân dân các nước thuộc địa khác thấy rằng quân đội các cường quốc châu Âu thực tế không phải là "bất khả chiến bại", nếu người Việt Nam đã có thể đánh bại được thì dân tộc họ cũng có thể. Chẳng bao lâu sau đó, lực lượng Mặt trận Giải phóng Dân tộc tại Algérie (thuộc địa có diện tích lớn nhất của Pháp) được thành lập, phát động đấu tranh vũ trang để giành độc lập cho đất nước mình. Pháp tiếp tục đưa quân đến nhằm dập tắt phong trào độc lập của người Algérie, nhưng quân Pháp sa lầy tại đây. Một năm sau đó, các phong trào tương tự nổ ra ở Cameroon, Tuynidi, Maroc. Sự nổi dậy đồng loạt tại các thuộc địa khiến việc duy trì Liên hiệp Pháp trở nên rất khó khăn bởi Pháp không thể có đủ tài chính và lực lượng quân sự để dập tắt các phong trào đòi độc lập tại nhiều nơi cùng lúc.
Năm 1958, Cộng đồng Pháp khai sinh và Liên hiệp Pháp chấm dứt tồn tại. Điều 86 Hiến pháp Pháp (năm 1958) quy định mỗi quốc gia hội viên thuộc Cộng đồng Pháp có thể độc lập sau khi ký kết các hiệp ước với Pháp và có quyền lựa chọn vẫn là hội viên của Cộng đồng Pháp hoặc ra khỏi khối. Tại Algérie, Mặt trận Giải phóng Dân tộc tiếp tục đấu tranh vũ trang chống Pháp còn chính phủ các quốc gia còn lại từng là thuộc địa của Pháp, nay thuộc Cộng đồng Pháp chọn giải pháp tiếp tục đàm phán với chính phủ Pháp để độc lập. Trong thập niên 60, các nước thuộc Cộng đồng Pháp như Algérie, Tunisia và Maroc lần lượt ký kết hiệp ước với Pháp để tuyên bố độc lập. Đến năm 1967, Pháp đã ký các hiệp định trao trả độc lập cho phần lớn các thuộc địa của mình.
Cũng trong xu thế chống chủ nghĩa thực dân trên quy mô toàn cầu, chỉ trong năm 1960, 17 nước thuộc địa châu Phi đã tuyên bố độc lập, và đây được coi là Năm châu Phi. Một số vùng như Réunion, Nouvelle-Calédonie,... phong trào dân tộc chủ nghĩa yếu và đến nay vẫn là các vùng hải ngoại của Pháp.
== Sản phẩm văn hóa có liên quan ==
=== Phim ===
Hà Nội mùa Đông năm 46
Đất phương Nam
Chi bộ bí mật
Hoa ban đỏ
Ký ức Điện Biên
Đường lên Điện Biên
Lá cờ chuẩn
Sống cùng lịch sử
Pha Đin mây phủ
Vợ chồng A Phủ
=== Kịch ===
Đại tướng Nguyễn Chí Thanh
Bắc Sơn (kịch)
Lòng dân - Nguyễn Văn Xe
Lớp học vùng Tề
Chiến đấu trong lòng địch-Lộng chương
Anh Sơ đầu quân
=== Chèo ===
Mối tình Điện Biên (của tác giả Lưu Quang Thuận)
=== Bài hát ===
Giải phóng Điện Biên
Qua mìền Tây Bắc
Hò kéo pháo
Bộ đội về làng
Tình ca Tây Bắc
Bài ca trên núi
Tiến về Hà Nội
=== Trò chơi điện tử ===
7554
=== Truyện ===
Đất rừng phương Nam
Vợ chồng A Phủ
=== Phim tài liệu ===
Điện Biên Phủ - Cuộc chiến giữa hổ và voi
Việt Nam trên đường thắng lợi (Liên Xô làm)
Battleịeld Vietnam (Cuộc chiến Việt Nam - Mỹ sản xuất)
Việt Nam (Liên Xô thực hiện, Đạo diễn Roman Carmen)
== Thư mục ==
Spencer C.Tucker, Encyclopedia of the Vietnam War, ABC-CLIO, 2000
William Duiker, Ho Chi Minh: A Life, Hyperion, 2000
Why Vietnam, Archimedes L.A Patti, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 2008
Howard R.Simpson. Điện Biên Phủ cuộc đối đầu lịch sử mà nước Mỹ muốn quên đi, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội, 2004
Windrow, Martin (1998). The French Indochina War 1946-1954 (Men-At-Arms, 322). London: Osprey Publishing
Võ Nguyên Giáp, Đường tới Điện Biên Phủ, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 1999
Where the Domino Fell: America and Vietnam 1945-1995. James S. Olson,Randy W. Roberts.
Sockeel-Richarte: La Problème de la Souveraineté Française sur l'Indochine, in Le Général de Gaulle et l'Indochine 1940–1946
Martin Shipway, The Road to War: France and Vietnam 1944-1947, Berghahn Books, 2003
Maurice Isserman, John Stewart Bowman (2003, 1992), Vietnam War
Peter A. Pull. Nước Mỹ và Đông Dương-Từ Roosevelt đến Nixon. Nhà xuất bản Thông tin lý luận. Hà Nội. 1986
Stéphane Just: A propos d'une possibilité théorique et de la lutte pour la dictature du prolétariat trên La Vérité" n°588 (Septembre 1979)
Paul-Marie de La GORCE:De Gaulle-Leclerc: de Londres à l'Indochine Espoir n°132, 2002
Declassified per Executive Order 13526, Section 3.3 NND Project Number: NND 63316
Bảo Đại, Con Rồng Việt Nam, Nguyễn Phước Tộc Xuất Bản, 1990
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Phan Ngọc Liên (Tổng chủ biên), Lịch sử 12 nâng cao, Nhà xuất bản Giáo dục, Thanh Hóa, 2008
Cecil B. Currey. Chiến thắng bằng mọi giá, Nhà xuất bản Thế giới, 2013
Võ Nguyên Giáp, Những năm tháng không thể nào quên, Nhà xuất bản Trẻ, 2009
Nohlen, D, Grotz, F & Hartmann, C (2001) Elections in Asia: A data handbook, Volume II, ISBN 0-19-924959-8
Philippe Devillers. Paris - Saigon - Hanoi, Tài liệu lưu trữ về cuộc chiến tranh 1944-1947. Nhà xuất bản Tổng hợp. Thành phố Hồ Chí Minh. 2003
Tønnesson, Stein. Vietnam 1946: How the War Began. Berkeley, CA: California University Press, 2010
Lê Đình Chi. Người Thượng Miền Nam Việt Nam. Gardena, CA: Văn Mới, 2006
Duncanson, Dennis. Government and Revolution in Vietnam. New York: Oxford University Press, 1968
Pierre Quatrpoint. Sự mù quáng của tướng De Gaulle đối với cuộc chiến ở Đông Dương. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2008
Ban nghiên cứu lịch sử Đảng. Văn kiện Đảng (1945-1954). Nhà xuất bản Sự thật. Hà Nội. 1978
Hồ Chí Minh. Toàn tập. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. Hà Nội. 2000
Ban Chấp hành Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh: Lịch sử Đảng bộ Đảng Cộng sản Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh (1930-1954), sơ thảo, Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 1995
Đại tướng Võ Nguyên Giáp - Tổng tập Hồi ký, Những năm tháng không thể nào quên, Nhà xuất bản Quân đội nhân dân, 2010
Việt Nam, một thế kỷ qua, Nguyễn Tường Bách, Nhà xuất bản Thạch Ngữ, California, 1998
Barnet, Richard J. (1968). Intervention and Revolution: The United States in the Third World. World Publishing. ISBN 0-529-02014-9
Phạm Văn Sơn, Việt Sử Toàn Thư, 1960
Prados, John (August 2007, Volume 20, Number 1). The Smaller Dragon Strikes. MHQ: The Quarterly Journal of Military History. ISSN 1040-5992
Paul-Marie de La GORCE:De Gaulle-Leclerc: de Londres à l'Indochine Espoir n°132, 2002
Executive Order 13526, Section 3.3 NND Project Number: NND 63316. By: NWD Date: 2011
The Pentagon Papers, Gravel Edition, Chapter 2, "U.S. Involvement in the Franco-Viet Minh War, 1950-1954", (Boston: Beacon Press, 1971)
Lê Mậu Hãn (chủ biên), Trần Bá Đệ, Nguyễn Văn Thư..., Đại cương Lịch sử Việt Nam, Tập III (1945-2005). Nhà xuất bản Giáo dục. Hà Nội. 2007
H. R. McMaster (1998). Dereliction of Duty: Johnson, McNamara, the Joint Chiefs of Staff, and the Lies That Led to Vietnam. New York, New York: HarperCollins Publishers, Inc
Schrecker, Ellen (2002). The Age of McCarthyism: A Brief History with Documents (2d ed.). Palgrave Macmillan. ISBN 0-312-29425-5
Schrecker, Ellen (1998). Many Are the Crimes: McCarthyism in America. Little, Brown. ISBN 0-316-77470-7
Decolonization of Asia and Africa, 1945-1960, Office of the Historian, Bureau of Public Affairs, United States Department of State
Félix Green, The Enemy: What Every American Should Know About Imperialism. Vintage Books, New York, 1971
Thời điểm của những sự thật (2004), Nhà xuất bản Công an Nhân dân
Paul Ély, Đông Dương trong cơn lốc, Paris, 1964
Lịch sử Kháng chiến chống Mỹ cứu nước 1954-1975, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Sự thật
Nguyễn Văn Lục. Lịch sử còn đó. Garden Grove, CA: Tân Văn, 2008
Henry Navare. Đông dương hấp hối. Nhà xuất bản Công an nhân dân. Hà nội. 2004
Nguyễn Quang Ngọc 2006, Tiến trình Lịch sử Việt Nam, Hà Nội, Nhà xuất bản Giáo dục
David G. Marr, Vietnam: State, War, and Revolution (1945–1946), California: University of California Press, 2013
Penniman, Howard R. Elections in South Vietnam. Stanford, CA: Hoover Institution on War, Revolution and Peace, 1972
== Nguồn tham khảo ==
== Xem thêm ==
Nhà Nguyễn
Chiến tranh Pháp-Đại Nam
Chiến tranh Pháp-Thanh
Pháp thuộc
Thực dân Pháp
Quân đội Pháp
Cao trào kháng Nhật
Cách mạng tháng tám
Tuyên ngôn độc lập Việt Nam
Việt Minh
Chiến dịch Điện Biên Phủ
Bảo Đại
Quốc gia Việt Nam
Chiến tranh Việt Nam
Vàng hóa chiến tranh
== Liên kết ngoài ==
Kháng chiến chống Pháp 1945 - 54 tại Từ điển bách khoa Việt Nam
First Indochina War (1946–1954) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Quân Anh trong Chiến tranh Đông Dương |
xã upper chichester, quận delaware, pennsylvania.txt | Xã Upper Chichester (tiếng Anh: Upper Chichester Township) là một xã thuộc quận Delaware, tiểu bang Pennsylvania, Hoa Kỳ. Năm 2010, dân số của xã này là 16.738 người.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
American FactFinder |
đa dạng sinh học.txt | Đa dạng sinh học (tiếng Anh: biodiversity) được định nghĩa là sự khác nhau giữa các sinh vật sống ở tất cả mọi nơi, bao gồm: các hệ sinh thái trên cạn, sinh thái trong đại dương và các hệ sinh thái thuỷ vực khác, cũng như các phức hệ sinh thái mà các sinh vật là một thành phần trong đó. Thuật ngữ đa dạng sinh học này bao hàm sự khác nhau trong một loài, giữa các loài và giữa các hệ sinh thái khác nhau.
Thuật ngữ "đa dang sinh học" được đưa ra lần đầu tiên bởi hai nhà khoa học Norse và McManus vào năm 1980. Định nghĩa này bao gồm hai khái niệm có liên quan với nhau là: đa dạng di truyền (tính đa dạng về mặt di truyền trong một loài) và đa dạng sinh thái (số lượng các loài trong một quần xã sinh vật). Cho đến nay đã có hơn 25 định nghĩa nữa cho thuật ngữ "đa dạng sinh học" này. Trong đó, định nghĩa của tổ chức FAO (Tổ chức Lương nông Liên hiệp quốc) cho rằng: "đa dạng sinh học là tính đa dạng của sự sống dưới mọi hình thức, mức độ và mọi tổ hợp, bao gồm đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái"
== Các giá trị của đa dạng sinh học ==
- R.Patrick,1983 cho rằng: đa dạng sinh học gồm tính đa dạng, trạng thái khác nhau về đặc tính hoặc chất lượng của sinh vật.
- Sự đa dạng và tính khác nhau của các loài sinh vật sống và các phức hệ sinh thái mà chúng tồn tại trong đó. Tính đa dạng có thể hiểu là một số lượng xác định các đối tượng khác nhau và tần số xuất hiện tương đối của chúng. Đối với đa dạng sinh học, những đối tượng này được tổ chức ở nhiều cấp độ, từ các hệ sinh thái phước tạp đến các cấu trúc hoá học là cơ sở phân tử của vật chất di truyền. Do đó, thuật ngữ này bao hàm các hệ sinh thái, các loài, các gen khác nhau và sự phong phú tương đối của chúng. (theo OTA, 1987).
- Đa dạng sinh học còn là sự đa dạng của các sinh vật trên trái đất, bao gồm cả sự đa dạng về di truyền của chúng và các dạng tổ hợp. Đây là một thuật ngữ khái quát về sự phong phú của sinh vật tự nhiên, hỗ trợ cho cuộc sống và sức khoẻ của con người. Khái niệm này bao hàm mối tương tác qua lại giữa các gen, các loài và các hệ sinh thái (như quan niệm của Reid & Miller, 1989).
== Các khái niệm liên quan ==
Đa dạng loài
Đa dạng hệ sinh thái
Đa dạng di truyền
== Xem thêm ==
Ngày quốc tế Đa dạng sinh học
Công ước về đa dạng sinh học
== Chú thích == |
boudica.txt | Boudica ( /ˈbuːdɪkə/; cách viết thay thế: Boudicca, Boudicea, còn được gọi là Boadicea /boʊdɪˈsiːə/ và trong tiếng Wales gọi là Buddug [ˈbɨ̞ðɨ̞ɡ]) (d. AD 60 hoặc 61) là một vương hậu bộ tộc người Briton Iceni thuộc người Celt đã lãnh đạo một cuộc nổi dậy chống lại lực lượng chiếm đóng của đế chế La Mã.
== Tham khảo == |
cô dâu.txt | Cô dâu thường được xem là nhân vật nữ chính trong hôn lễ, là buổi tuyên bố lễ thành hôn giữa cô dâu đó và chú rể. Theo văn hóa phương Tây, cô dâu thường được phụ giúp bằng những thiếu nữ khác, thường được gọi là "cô dâu phụ" hay là "phù dâu".
== Trang phục ==
Trang phục cô dâu khác nhau tùy theo phong tục tập quán tại nơi tổ chức đám cưới. Ở châu Âu và Bắc Mỹ, trang phục cô dâu thường là váy cưới và khăn che mặt. Thông thường, theo văn hóa phương Tây, váy cưới cô dâu màu trắng, khi làm hôn lễ lần đầu. Một số quốc gia Đông Á chuộng màu đỏ.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Lễ cưới |
vùng đô thị sheffield.txt | Vùng đô thị Sheffield (tiếng Anh: Sheffield urban area) là một chùm đô thị gồm 640.720 dân (theo Tổng điều tra dân số năm 2001) ở hạt South Yorkshire ở Anh, lớn thứ tám trong các vùng đô thị ở Anh. Hơn hai phần ba dân số toàn vùng sống ở thành phố Sheffield. Hơn nửa dân số của South Yorkshire sống trong vùng đô thị Sheffield.
Không nên nhầm với Vùng Thành phố Sheffield (Sheffield City Region) là một thuật ngữ phi chính thức nhưng vẫn khá phổ biến nhất là trong cộng đồng doanh nghiệp.
Hai đô thị lõi của vùng là Sheffield và Rotherham. Các đô thị vệ tinh gồm Aughton, Beighton, Chapeltown, Mosborough, Highlane, Rawmarsh.
== Tham khảo ==
“Usual Resident population: Census 2001, Key statistics for urban areas (see line 516)”. ONS. Bản gốc lưu trữ ngày 23 tháng 7 năm 2004. |
tonga.txt | Tonga ( /ˈtɒŋə/ hoặc /ˈtɒŋɡə/; tiếng Tonga: [ˈtoŋa] Puleʻanga Fakatuʻi ʻo Tonga), tên chính thức Vương quốc Tonga, (tiếng Tonga nghĩa là "phương nam"), là một quần đảo độc lập ở phía nam Thái Bình Dương. Nó nằm vào khoảng một phần ba từ New Zealand đến Hawaii, phía nam của Samoa và phía đông của Fiji.
== Tên gọi ==
Trong nhiều ngôn ngữ Polynesia, Tonga có nghĩa là nam, ám chỉ nhóm đảo cực nam của quần đảo trung tâm Polynesia, tên gọi này được phát âm làˈtoŋa, còn cách phát âm phổ biến trong tiếng Anh Mỹ /ˈtɒŋɡə/ là sai. Tên gọi Tonga có cùng nguồn gốc với khu vực Kona của đảo Hawaii.
Quần đảo này còn được biết đến với biệt danh "Quần đảo thân thiện", do thuyền trưởng Cook đặt vì sự đón tiếp nồng hậu mà ông nhận được nơi đây. Ông đặt chân đến nơi này vào thời điểm của lễ hội ʻinasi, lúc người dân dâng cúng những trái cây đầu mùa cho các vua Tuʻi Tonga.
== Lịch sử ==
Những chứng tích kháo cổ học cho thấy các đảo thuộc Tonga ngày nay đã có cư dân sinh sống vào khoảng năm 900 TCN. Các nhà hàng hải Hà Lan phát hiện nhóm đảo phía Bắc năm 1616 và các đảo còn lại năm 1643. Thuyền trưởng James Cook đến nhóm đảo này năm 1773 và 1777, đặt tên là Nhóm đảo Hữu nghị (Friendly Islands). Các nhà truyền giáo người Anh đến đây năm 1797 và đã giúp cho ảnh hưởng chính trị của người Anh vững mạnh thêm. Các cuộc nội chiến trong nửa đầu thế kỉ 19 kết thúc bằng việc lên ngôi của Quốc vương George Tupou I (1845-1893), người đã thống nhất vương quốc đưa ra hiến pháp (1862) và hệ thống quản lý hành chính.
Chế độ bảo hộ được thiết lập sau khi Anh và Quốc vương George Tupou II (1893-1918) ký hiệp ước hữu nghị năm 1900, theo đó Tonga vẫn duy trì quyền tự trị và Chính phủ Anh chịu trách nhiệm về vấn đề quốc phòng và đối ngoại.
Hiệp ước năm 1968 giảm bớt quyền kiểm soát của Anh tại nhóm đảo này. Tonga trở thành vương quốc độc lập và là nước thành viên thuộc Khối Liên hiệp Anh năm 1970. Quốc vương là nguyên thủ quốc gia đồng thời kiêm luôn việc chi phối cơ quan lập pháp, trong đó gồm Nội các của Quốc vương do Thủ tướng đứng đầu với 9 thành viên thuộc giới quý tộc và 9 thành viên thuộc giới bình dân. Quốc vương hiện nay là Taufa'ahau Tupou IV (1965), con trai của Nữ hoàng Tupou III (1918-1965). Từ cuối thập niên 80, người dân Tonga đưa ra những yêu sách đòi cải cách dân chủ, nhưng nhà vua dứt khoát phản đối bất kì thay đổi nào làm giảm bớt quyền lực quân chủ. Tonga gia nhập Liên Hiệp Quốc năm 1999.
== Địa lý ==
Tonga là quốc gia thuộc quần đảo Polynesia, gồm khoảng 170 đảo san hô và núi lửa, được chia làm 3 nhóm: Tongatapu ở phía Nam, Vavau ở phía Bắc và Haapai ở trung tâm, trong đó chỉ có khoảng 36 đảo có dân cư sinh sống. Phần lớn các đảo này có các núi lửa còn hoạt động, số còn lại là các đảo san hô.
== Khí hậu ==
Tonga có khí hậu nhiệt đới với hai mùa mưa và mùa khô, mùa mưa chủ yếu giữa tháng 2 đến tháng 4.
== Chính trị ==
Chính trị của Tonga diễn ra trong khuôn khổ của một chế độ quân chủ lập hiến, trong đó nhà vua là người đứng đầu Nhà nước và là tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang của Vương quốc Tonga. Thủ tướng Tonga hiện đang được chỉ định bởi nhà vua là một trong số các thành viên của Quốc hội Tonga sau khi đã được sự ủng hộ của đa số thành viên khác. Quyền hành pháp được trao cho nội các gồm các Bộ trưởng. Quyền lập pháp nằm trong nhà vua và Quốc hội, và quyền tư pháp được trao cho tòa án tối cao.
== Kinh tế ==
Kinh tế Tonga chủ yếu dựa vào trồng trọt cây lương thực, du lịch và xuất khẩu các nông sản nhiệt đới (dừa, dưa hấu, vani). Quốc gia này còn phụ thuộc nhiều vào sự giúp đỡ của nước ngoài cũng như lượng ngoại tệ do công nhân gửi về. Hiện nay chính phủ chú trọng đến việc phát triển các khu vực tư nhân và khuyến khích đầu tư.
Lĩnh vực sản xuất bao gồm các ngành thủ công mỹ nghệ và một số ngành công nghiệp quy mô nhỏ khác chỉ đóng góp khoảng 3% GDP. Hoạt động kinh doanh thương mại của người dân không phát triển mạnh và ở một mức độ lớn được chi phối bởi các công ty thương mại lớn nằm ở các quốc gia khác trên khắp Nam Thái Bình Dương. Vào tháng 9 năm 1974, lần đầu tiên ngân hàng kinh doanh thương mại của đất nước, Ngân hàng quốc Tonga được thành lập.
Tonga hiện đang thực hiện kế hoạch phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân, nâng cấp sản xuất nông nghiệp, làm sống lại các ngành công nghiệp gia vị như sản xuất vani, phát triển du lịch, cải thiện thông tin liên lạc của hòn đảo và hệ thống giao thông vận tải. Có một lĩnh vực xây dựng nhỏ nhưng đang phát triển để đáp ứng với dòng chảy của các khoản tiền viện trợ và kiều hối từ nước ngoài gởi về.
Ngành công nghiệp du lịch tương đối kém phát triển, tuy nhiên, chính phủ thừa nhận rằng du lịch có thể đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, và những nỗ lực đang được thực hiện để tăng nguồn thu GDP từ ngành kinh tế này.
Năm 2005, nước này đủ điều kiện để trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới. Sau khi một sự chậm trễ ban đầu, Tonga đã trở thành một thành viên đầy đủ của WTO vào ngày 27 tháng 7 năm 2007.
== Hành chính ==
Hiện nay, Tonga được chia thành 3 nhóm đảo chính là:
Vava'u Group
Ha'api Group
Tongatapu Group
== Giáo dục - Y tế ==
Giáo dục ở Tonga là bắt buộc và được miễn phí 8 năm (từ 6-14 tuổi). Tỉ lệ học sinh đến trường cao, khoảng gần 70% số học sinh trung học do các trường tôn giáo tư tài trợ. Tonga có một chi nhánh thuộc trường Đại học Nam Thái Bình Dương và Đại học Atenisi.
Chính phủ Tonga cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe miễn phí cho mọi người dân. Nhờ công tác bảo vệ môi trường tốt nên Tonga ít có dịch bệnh. Mỗi nhóm đảo đều có một bệnh viện. Phần lớn các bác sĩ được đào tạo ở nước ngoài. Y học dân tộc bản địa rất được coi trọng.
== Nhân khẩu ==
Hơn 70% dân số của Vương quốc Tonga sống trên đảo chính và đông dân nhất là đảo Tongatapu.
Theo cổng thông tin của chính phủ Tonga, người Tonga, người gốc Polynesia và người có nguồn gốc Melanesia, là nhóm sắc tộc chiếm hơn 98% dân số. Các nhóm dân tộc khác chiếm 1,5% bao gồm người châu Âu (phần lớn là người Anh), người Tonga bản địa lai châu Âu, và người đến từ các đảo Thái Bình Dương khác. Ngoài ra còn khoảng 3.000 hoặc 4.000 người Trung Quốc tại Tonga. Năm 2006, một cuộc bạo loạn chủ yếu nhắm mục tiêu vào người Trung Quốc do người Trung Quốc nắm phần lớn nền kinh tế quốc gia, đã dẫn đến việc ra đi của nhiều người Trung Quốc hiện tại chỉ có khoảng 300 người Trung Quốc vẫn còn ở lại Tonga.
Tiếng Tonga là ngôn ngữ chính thức của Vương quốc, cùng với tiếng Anh. Tonga là một phần của hệ ngôn ngữ Polynesia nó có quan hệ chặt chẽ đến các ngôn ngữ khác như tiếng Wallis (tiếng Uvea), tiếng Niue, tiếng Hawaii, và tiếng Samoa.
== Tôn giáo ==
Cuộc sống hàng ngày của người dân Tonga bị ảnh hưởng nặng nề bởi truyền thống tôn giáo bản địa Polynesia và đặc biệt là bởi đức tin Kitô giáo, ví dụ, tất cả các hoạt động thương mại và giải trí chấm dứt từ nửa đêm Thứ Bảy cho đến khi nửa đêm chủ nhật, và hiến pháp tuyên bố ngày Sabát là thiêng liêng, mãi mãi. Đến năm 2006, hơn 1/3 dân số Tonga tuyên bố tôn trọng Phong trào Giám Lý, Công giáo Rôma và Mormon. Một số ít tín đồ là một phần của Giáo hội Tonga một giáo phái Kitô bị bản địa hóa. Các số liệu chính thức từ cuộc điều tra dân số mới nhất của chính phủ năm 2006 cho thấy rằng khoảng 98% dân số theo các tôn giáo lớn trong nước như sau:
Phong trào Giám Lý (38.052 hoặc 37%)
Giáo hội Mormon (17.109 hoặc 17%)
Công giáo La Mã (15.992 hoặc 16%)
Giáo hội của Tonga (11.599 hoặc 11%)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Tonga tại Wikimedia Commons
Cổng thông tin của chính phủ Tonga (tiếng Anh)
Ministry of Finance, Kingdom of Tonga
National Reserve Bank of Tonga, Kingdom of Tonga
Ministry of Lands, Survey and Natural Resources, Kingdom of Tonga
CIA World Factbook: Tonga
The Kingdom of Tonga PhotoBank
Interactive maps of Tonga
Map of Tonga
A Postcard Tour of Tonga
Matangi Tonga news from Tonga
Open Directory Project - Tonga directory category
photographs from Tonga |
sân bay khu vực northeast florida.txt | Sân bay khu vực Đông Bắc Florida (IATA: UST, ICAO: KSGJ, FAA LID: SGJ), trước đây Sân bay St. Augustine, là sân bay có cự ly bốn dặm (6 km) về phía bắc của Saint Augustine, tại quận St Johns, Florida. Nó thuộc sở hữu của St Augustine - St. Johns County Authority Authority [1]. Hầu hết các sân bay ở Hoa Kỳ sử dụng cùng một nhận dạng địa điểm cho FAA và IATA, nhưng Sân bay Northeast Florida là SGJ đến FAA và UST tới IATA (chỉ định SGJ cho Sagarai, Papua New Guinea).
== Lịch sử ==
Vào ngày 27 tháng 12 năm 1933, Ủy ban thành phố St. Augustine đã bỏ phiếu thông qua việc mua 276 mẫu Anh (1,12 km2) tại công viên Araquay, phía bắc thành phố, với giá 8.000 đô la Mỹ để chuyển sang sân bay công cộng. Chính phủ Hoa Kỳ cho phép thông qua thập kỷ này cho phép nâng cấp sân bay, và sau khi Chiến tranh thế giới II bùng nổ năm 1939, số tiền mới được cung cấp để sử dụng quân sự.
Sau cuộc tấn công ngày 19 tháng 12 năm 1941 tại Trân Châu cảng, hàng không dân dụng tại sân bay đã bị hủy bỏ và Hải quân Hoa Kỳ đã tiếp quản sân bay, đổi tên nó 'Naval Auxiliary Air Station St Augustine' . Được sử dụng làm căn cứ hải quân vệ tinh kết nối với các hoạt động huấn luyện ở gần Trạm Không quân Hải quân Jacksonville, những cải tiến đã được thực hiện cho NAAS St. Augustine bao gồm bổ sung thêm đường băng và buồng lái, cơ sở hỗ trợ và tháp điều khiển. Sau chiến tranh, Hải quân Hoa Kỳ giảm hoạt động và vào tháng 5 năm 1946 sân bay đã được đưa trở lại thành phố.
Sân bay được đổi tên thành "Sân bay khu vực Northeast Florida" vào tháng 4 năm 2010. Nhân viên của Cơ quan Quản lý Sân bay hiện có 11 nhân viên được giao nhiệm vụ quản lý và bảo dưỡng sân bay, trong khi tháp điều khiển của sân bay đã được Northrop Grumman vận hành từ một hoạt động định kỳ đến hoạt động toàn thời gian như là Tháp Điều khiển Không lưu Cấp I dưới sự bảo trợ của Chương trình tháp hợp đồng của FAA. Tháp điều khiển không lưu kiểm soát khu vực dịch vụ Dải phòng không D, trong bán kính năm hải lý xung quanh cánh đồng, và lên đến 2.500 '. Các cơ sở mặt đất của sân bay được sơn vào đầu năm 2013 với nhiều màu sắc khác nhau để xác định các khu khác nhau của phức hợp: Vàng, cam, hồng, tím. Frontier Airlines bắt đầu phục vụ cho Thánh Augustinô từ Trenton, New Jersey vào ngày 2 tháng 5 năm 2014.
== Tham khảo == |
tiếng kapampangan.txt | Tiếng Pampangan hay tiếng Kapampangan (chữ Kulitan: , Kapampangan) là một ngôn ngữ tại Philippines. Đây là ngôn ngữ chính tại tỉnh Pampanga, nam tỉnh Tarlac và đông bắc tỉnh Bataan; đa số người nói là người Kapampangan. Tiếng Kapampangan cũng hiện diện ở vài đô thị ở Bulacan và Nueva Ecija. Ngôn ngữ này còn được gọi là Pampango, và có một "tên trang trọng" (kính danh) là Amánung Sísuan (nghĩa là "[thứ] tiếng nuôi dưỡng"). Năm 2012, tiếng Kapampangan trở thành một trong các ngôn ngữ lớn tại Philippines được giảng dạy và nghiên cứu tại các trường học.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
người bru - vân kiều.txt | Trì chuyển hướng về đây, xem thêm các nghĩa từ vựng tại mục từ trì trong từ điển mở Wiktionary.
Người Bru - Vân Kiều (còn gọi là người Bru, người Vân Kiều, người Ma Coong, người Trì hay người Khùa) là dân tộc cư trú tại trung phần bán đảo Đông Dương gồm Lào, Việt Nam và Thái Lan. Ngôn ngữ của người Bru là tiếng Bru, một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Cơ Tu của ngữ tộc Môn-Khmer.
Tại Việt Nam họ là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, người Vân Kiều là một trong những dân tộc thiểu số mang họ Hồ nhằm ghi công chủ tịch Hồ Chí Minh.
== Địa bàn cư trú ==
Tại Việt Nam, theo điều tra dân số năm 1999 thì dân tộc này có khoảng 55.559 người, sống tập trung ở miền núi của Quảng Trị, Quảng Bình, Đăk Lăk và Thừa Thiên-Huế. Thực tế các tên gọi Vân Kiều, Ma Coong, Trì, Khùa, Bru dùng để chỉ các nhóm khác nhau trong tộc người này.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Bru-Vân Kiều ở Việt Nam có dân số 74.506 người, cư trú tại 39 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Bru-Vân Kiều cư trú tập trung tại các tỉnh: Quảng Trị (55.079 người, chiếm 73,9% tổng số người Bru-Vân Kiều tại Việt Nam), Quảng Bình (14.631 người, chiếm 19,6% tổng số người Bru-Vân Kiều tại Việt Nam), Đăk Lăk (3.348 người), Thừa Thiên-Huế (1.114 người), Thanh Hóa (38 người).
Tại Lào, theo ước tính của Ethnologue, có khoảng 69.000 người Bru nói phương ngữ phía đông của tiếng Bru, tương tự như tại Việt Nam.
Tại Thái Lan có khoảng 5.000 người nói phương ngữ phía đông của tiếng Bru và khoảng 20.000 người nói phương ngữ phía tây của tiếng Bru.
== Lịch sử ==
Người Bru vốn là cư dân nông nghiệp có trình độ tương đối phát triển, xưa kia họ tập trung sinh sống tại vùng trung Lào, sau những biến động của lịch sử diễn ra hàng thế kỷ, họ phải di cư đi các nơi. Một số đi theo hướng tây bắc sang Thái Lan, một số đi theo hướng đông tụ cư tại vùng miền núi phía tây Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế của Việt Nam. Khi vào Việt Nam họ dựng làng xung quanh hòn núi Vân Kiều (núi Viên Kiều), về sau người Việt lấy tên của hòn núi đặt cho một tổng của người Bru, và từ đó họ còn được gọi là Bru - Vân Kiều
== Đặc điểm ==
Tộc người này có truyền thống làm rẫy và làm ruộng, cùng với hái lượm săn bắn và đánh cá. Việc chăn nuôi gia súc, gia cầm dành chủ yếu cho các lễ cúng hơn là cải thiện bữa ăn. Nghề thủ công của dân tộc này chỉ có đan chiếu lá, gùi. Văn hóa của người Bru-Vân Kiều đặc sắc, thể hiện ở phong tục hôn nhân, nghệ thuật âm nhạc truyền thống, ở kiến trúc và trang phục, như miêu tả chi tiết dưới đây.
== Văn hóa ==
=== Hôn nhân ===
Trong phong tục đám cưới của người Bru-Vân Kiều, nhà trai trao cho nhà gái một thanh kiếm. Cô dâu khi về nhà chồng thường trải qua nhiều nghi lễ phức tạp: bắc bếp, rửa chân... Trong họ hàng, ông cậu có quyền quyết định khá lớn đối với việc lấy vợ, lấy chồng cũng như khi làm nhà, cúng bái của các cháu.
=== Âm nhạc ===
Nhạc cụ truyền thống Bru-Vân Kiều có nhiều loại: trống, thanh la, chiêng núm, kèn (amam, ta-riềm, Khơ-lúi, pi), đàn (achung, pơ-kua...). Dân ca của dân tộc này có nhiều làn điệu như "chà chấp", lối vừa hát vừa kể rất phổ biến, hay "sim", hình thức hát nam nữ. Ca dao, tục ngữ, truyện cổ các loại của người Bru-Vân Kiều rất phong phú.
=== Kiến trúc ===
Người Bru-Vân Kiều ở nhà sàn nhỏ, phù hợp với quy mô gia đình thường gồm cha, mẹ và các con chưa lập gia đình riêng. Nếu ở gần bờ sông, suối, các nhà trong làng tập trung thành một khu trải dọc theo dòng chảy. Nếu ở chỗ bằng phẳng rộng rãi, các ngôi nhà trong làng xếp thành vòng tròn hay hình bầu dục, ở giữa là nhà công cộng. Ngày nay, người Bru-Vân Kiều ở nhiều nơi đã có xu hướng ở nhà trệt.
Nhà của người Bru-Vân Kiều là nhà sàn có hai mái, thường lợp bằng lá mây hoặc lá cọ. Chiều dài của ngôi nhà dài - ngắn bao nhiêu tùy thuộc vào số lượng người trong gia đình, hoặc tùy thuộc vào kinh tế. Nhưng dù nhà dài hay ngắn, đều cũng chỉ có hai cửa chính, một cửa chủ yếu dành cho nữ, còn một cửa chỉ dành cho nam và khách nam. Hai bên đầu hồi có những hình trang trí bằng gỗ theo kiểu sừng trâu hoặc đôi chim, vừa đỡ bị tốc lá, vừa mang tính thẩm mỹ
=== Trang phục ===
Nam giới Bru-Vân Kiều để tóc dài, búi tóc, ở trần, đóng khố. Trước đây, họ thường lấy vỏ cây sui làm khố, áo.
Phụ nữ Bru-Vân Kiều mặc áo và váy. Áo nữ có đặc điểm xẻ ngực màu chàm đen và hàng kim loại bạc tròn đính ở mép cổ và hai bên nẹp áo. Có nhóm mặc áo chui đầu, không tay, cổ khoét hình tròn hoặc hình vuông. Váy trang trí theo các mảng lớn trong bố cục dải ngang. Gái chưa chồng búi tóc về bên trái, sau khi lấy chồng búi tóc trên đỉnh đầu. Trước đây phụ nữ Bru-Vân Kiều ở trần, mặc váy. Váy trước đây không dài thường qua gối 20 đến 25 cm.
Có nhóm nữ Bru-Vân Kiều đội khăn bằng vải quấn thành nhiều vòng trên đầu rồi thả sau gáy, cổ đeo hạt cườm, mặc áo cánh xẻ ngực, dài tay màu chàm cổ và hai nẹp trước áo có đính các "đồng tiền" bạc nhỏ màu sáng, nổi bật trên nền chàm đen tạo nên một cá tính về phong cách thẩm mỹ riêng trong diện mạo trang phục các dân tộc Việt Nam.
=== Lễ hội ===
Lễ hội đập trống của người Ma Coong, tổ chức vào ngày 16 tháng Giêng âm lịch để mừng mùa trăng mới. Lễ hội được tổ chức tại bản Cà Roòng, xã Thượng Trạch, huyện Bố Trạch, Quảng Bình .
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Lễ hội đập trống của người Ma Coong, Quảng Bình.
Lễ hội các dân tộc Việt Nam
== Liên kết ngoài ==
Bài này được thu thập từ nguồn thuộc phạm vi công cộng ở trang chủ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam |
viacom.txt | Viacom, viết tắt của cụm từ tiếng Anh "Video & Audio Communications" là một tập đoàn truyền thông của Mỹ tập trung chủ yếu vào điện ảnh và truyền hình cáp. Trong năm 2010, Viacom là tập đoàn truyền thông lớn thứ tư thế giới sau Công ty Walt Disney, Time Warner và News Corporation.
Công ty Viacom hiện tại được thành lập vào ngày 31 tháng 12 năm 2005, khi đó nó là một công ty lét vế của CBS Corporation và bị đổi tên từ Viacom thành CBS. CBS, không phải Viacom, đã duy trì việc kiểm soát truyền hình khoảng cách xa, sản phẩm truyền hình, quảng cáo ngoài trời, truyền hình trả tiền và xuất bản (Simon & Schuster) mà trước đó thuộc sở hữu của một công ty lớn hơn. Tuy nhiên, National Amusements, thông qua Sumner Redstone, nắm giữ quyền kiểm soát lớn đối với Viacom.
Bao gồm BET Networks, MTV Networks và Paramount Pictures, Viacom kết nối với khán giả thông qua truyền hình, các hình ảnh động, nền tảng trên di động và trực tuyến tại hơn 160 quốc gia và vùng lãnh thổ. Viacom điều hành hoạt động của hơn 170 mạng truyền thông, vươn tới 600 triệu khách hàng trên toàn cầu và sở hữu hơn 500 nhãn hiệu truyền thông số.
== Lịch sử ==
=== Những năm đầu ===
Tháng 3 năm 2005, công ty Viacom trước đã thông báo kế hoạch xem xét việc phân chia công ty thành hai công ty thương mại. Công ty không những phải đối đầu với giá cổ phiếu trì trệ, mà còn diễn ra sự xung đột giữa Leslie Moonves và Tom Freston, một thời gian dài đứng đầu MTV Networks.
Sau sự ra đi của Mel Karmazin vào năm 2004, Sumner Redstone, Chủ tịch Hội đồng quản trị và CEO, đã quyết định phân chia các chức vụ Chủ tịch và Giám đốc Điều hành (COO) cho Moonves và Freston. Redstone sắp sửa nghỉ hưu, và việc phân chia được coi là một giải pháp sáng tạo cho vấn đề thay thế ông.
Một công ty mới, Viacom hiện nay, được thành lập và đứng đầu bởi Freston. Nó bao gồm BET Networks, MTV Networks, và Paramount Pictures Corporation.
=== Thập niên 2000 ===
Tháng 6 năm 2005, Viacom thông báo mua Neopets, một trang web thú cưng ảo, cùng với GameTrailers, GoCityKids, và IFILM. Tháng 12 cùng năm, Paramount thông báo mua lại DreamWorks. Tất cả các tính hiệu đó cho thấy toàn bộ DreamWorks—cả phim live-comedy và TV studio, mặc dù không phải tài sản của DreamWorks (đã được bán cho một nhóm do George Soros dẫn đầu vào tháng 3 năm 2006) cũng như bộ phận hoạt hình (vốn không phải một phần của thương vụ)—sẽ vẫn thuộc về sở hữu của Viacom, mặc dù CBS mua lại TV studio thuộc sở hữu của Paramount.
Vào ngày 1 tháng 2 năm 2006, Paramount đã hoàn thành việc mua lại DreamWorks. Vào ngày 24 tháng 4, Viacom mua lại Xfire. Vào tháng 8, chỉ vài giờ trước khi công bố thu nhập quý gần đây nhất, Viacom thông báo rằng họ đã mua lại Atom Entertainment với giá 200&triệu USD. Vào tháng 9, Viacom đã mua lại nhà phát triển game Harmonix với giá 175 triệu USD.
Tháng 2 năm 2007, Viacom yêu cầu gỡ bỏ các clip video bản quyền bị rò rỉ trên dịch vụ chia sẻ video YouTube vì lí do bản quyền. Vào ngày 21 tháng 2, Viacom công khai tuyên bố họ sẽ cung cấp truy cập trực tuyến miễn phí tới tài liệu của họ thông qua nhà phân phối Joost của Thung lũng Silicon thông qua một thỏa thuận cấp pháp nội dung.
Vào ngày 21 tháng 5 năm 2007, Viacom đã liên doanh 50–50 với công ty truyền thông Ấn Độ Network 18 lập nên Viacom 18 để cung cấp các kênh hiện tại của Viacom ở Ấn Độ: MTV, VH1 và Nick cũng như kinh doanh phim Bollywood của Network 18. Tất cả nội dung Viacom trong tương lai của Ấn Độ và các dự án mới như kênh giải trí tiếng Hindi và kênh phim tiếng Hindi sẽ được đặt trong liên doanh này.
Vào ngày 19 tháng 12 năm 2007, Viacom ký hợp đồng 5 năm trị giá 500 triệu USD với Microsoft bao gồm chia sẻ nội dung và quảng cáo. Thỏa thuận này cho phép Microsoft cấp phép cho nhiều chương trình từ truyền hình cáp và phòng thu phim của Viacom để sử dụng trên Xbox Live v [à[MSN]]. Thoả thuận này cũng đã giúp Viacom trở thành đối tác xuất bản được ưu tiên phát triển game casual và phân phối thông qua MSN và Windows. Về mặt quảng cáo, bộ phận phân phối quảng cáo Atlas của Microsoft đã trở thành nhà cung cấp độc quyền cho kho quảng cáo chưa được khai trác trên các website của Viacom. Ngoài ra, Microsoft đã mua một lượng lớn quảng cáo trên các chương trình phát sóng trực tuyến của Viacom. Cuối cùng, Microsoft cũng sẽ hợp tác với các chương trình khuyến mại và tài trợ cho chương trình giải thưởng của MTV và BET, hai mạng truyền hình cáp thuộc sở hữu của Viacom.
Vào ngày 4 tháng 12 năm 2008, Viacom tuyên bố sa thải 850 nhân viên, hoặc 7% lực lượng lao động của họ. Cuối năm đó, Time Warner Cable (cùng với đối tác Bright House Networks) và MTV Networks của Viacom không thể chốt lại điều khoản gia hạn hợp đồng của các kênh Viacom trước cuối năm. Hoạt động của Time Warner Cable bao gồm thành phố New York và Los Angeles, với Bright House bao gồm thị trường Tampa Bay và Orlando, nằm trong 20 thị trường hàng đầu. This blackout was narrowly avoided when a zero-hour deal was reached shortly after 12 Midnight ET on January 1, 2009.
Vào ngày 7 tháng 12 năm 2009, Viacom đã bán phần vốn của MTV Brasil cho Grupo Abril cùng với quyền thương hiệu. Chi tiết về hợp đồng này không được tiết lộ.
=== Thập niên 2010 ===
== Những kiện cáo về bản quyền đối với Youtube ==
Tháng 2 năm 2007, Viacom đã gửi tới 100 000 thông cáo vi phạm đạo luật bản quyền lên trang web chia sẻ video trực tuyến Youtube.
Ngày 13 tháng 3 năm 2007, Viacom đã chi ra 1 tỷ đô-la Mỹ để kiện Google và Youtube vì cho là đã vi phạm bản quyền một cách ồ ạt, cho rằng những người dùng đã thường xuyên tải lên Youtube những vật chất và tài sản có bản quyền - đủ để tạo ra một nguồn lợi lớn cho Viacom và thu về những nguồn lợi về quảng cáo cho Youtube. Viacom cho rằng phần lớn trong 160 nghìn đoạn phim trái phép thuộc sở hữu của họ đã được cho sử dụng miễn phí trên Youtube và những đoạn phim này đã được xem tổng cộng khoảng 1,5 tỷ lần. Tuy nhiên, một số người cho rằng vị kiện là giả dối. Họ cho rằng, Viacom, thông qua những chương trình khác nhau trên những kênh truyền hình, đã vị phạm quyền lợi của các người dùng của Youtube bằng cách tải lên những video của họ và chưa được cho phép hoặc chưa trả tiền.
Ngày 23 tháng 6 năm 2010, thẩm phán Louis Stanton, trong phán quyết của mình, đã đánh giá cao thiện chí của Google, cho rằng Google đã được bảo vệ bởi những điều khoản của Đạo luật Bản quyền Thiên niên kỷ số (Digital Millennium Copyright Act) mặc dù có bằng chứng về việc vi phạm bản quyền có chủ ý. Viacom thông báo rằng họ sẽ chống lại phán quyết của tòa.
== Tài sản ==
Sản xuất và phân phối phim ảnh: Viacom International, Paramount Pictures, MTV Films, Nickelodeon Movies
Mạng lưới truyền hình:Comedy Central, Logo, BET, Spike, TV Land, Nick@Nite, Nickelodeon, TeenNick, Nick Jr., MTV, VH1, MTV2, Tr3́s, CMT, Palladia
Trò chơi điện tử: GameTrailers, Neopets
Truyền thông mới: MTV New Media
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
Ketupa.net - Viacom
Thông tin về Viacom của Hoover's
Viacom profile từ Yahoo! |
flock (trình duyệt web).txt | Flock là một trình duyệt web được xây dựng trên nền tảng mã nguồn mở Firefox của Mozilla. Flock v2.5 chính thức phát hành ngày 19 tháng 5, 2009.
Flock được tải xuống miễn phí, và hỗ trợ Microsoft Windows, Mac OS X, và nền Linux.
== Giải thưởng ==
Sau khi thoát khỏi beta, Flock đã đạt một số giải thưởng:
Webby Award trong mạng xã hội, 2008
SXSW giải thưởng cộng đồng, 2008
Open Web Award cho Ứng dụng và Widget, 2007
"Eddy Winner": Giải thưởng Flock 2.0 24th Annual Macworld Editors' Choice
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Flock |
patrick rafter.txt | Patrick "Pat" Michael Rafter (sinh 28 tháng 12 năm 1972) là cựu tay vợt người Úc số 1 thế giới. Anh giành được 2 chức vô địch giải Mỹ Mở rộng và 2 lần á quân tại giải Wimbledon. Rafter được ghi danh tại Đại sảnh danh vọng quần vợt quốc tế vào năm 2006.
== Thành tích ==
=== Grand Slam ===
==== Vô địch(2) ====
==== Á quân(2) ====
=== Masters Series ===
==== Vô địch (2) ====
==== Á quân (4) ====
== Toàn bộ (43) ==
=== Đơn (25) ===
==== Vô địch (11) ====
==== Á quân(14) ====
=== Đôi ===
==== Vô địch(10) ====
==== Á quân(8) ====
== Tham khảo == |
lê ngọc trinh.txt | Ả Chạ, hay Lê Ngọc Trinh (18-42) là một nữ tướng thời Hai Bà Trưng trong lịch sử Việt Nam.
== Sự tích ==
Lê Ngọc Trinh tên thật là Ả Nương hay Ả Chạ, có bố tên là Hoàn và mẹ là Tấn, chị là Ả Chàng hay Lê Ngọc Thanh, quê ở xã Lũng Ngoại, huyện Bạch Hạc, phủ Tam Đái, xứ Sơn Tây, nay là thôn Lũng Ngoại, xã Lũng Hoà, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
Ả Chạ là cô gái thông minh, có tài với nghề binh. Lúc nhỏ, hai chị em ham thích dạo chơi ở hồ Sen trong gò Quảng, thôn Hòa Loan. Hai chị em khi ấy đã chọn hơn 20 người con gái trong làng cùng trang lứa lên mảnh đất bằng trên gò chia thành 2 đội tập chia đánh trận. Hai chị em làm tướng, các bạn gái làm quân. Quân tướng của Ả Chàng thường bị thua chạy. Còn quân tướng của Ả Chạ kiên cường nên thường thắng lớn.
Bấy giờ Tô Định làm Thái thú, trong nước trăm họ lầm than. Ả Chạ bèn khởi nghĩa ở vùng Lũng Ngòi, chống lạo lệnh từ Phủ Thái thú. Nghĩa quân đã đánh cướp được một đoàn thuyền lương của quân Hán, chém đầu tướng Lưu Ứng Khâm. Năm 39, Hai Bà Trưng khởi nghĩa ở Hát Môn, Ả Chạ đem nghĩa binh đến theo, được phong làm Tả quân nội thị, vừa cầm binh vừa giúp bày đặt mưu kế.
Khởi nghĩa thắng lợi, Trưng Trắc xưng vương, bắt tay vào xây dựng chính quyền tự chủ, phong chức tước cho những người có công lao lớn trong sự nghiệp giành lại độc lập. Ả Chạ được phong làm Đại tướng quân, Ngọc Phượng công chúa, ban cho 8 chữ Quần thoa hào kiệt, dũng lược tuyệt trần. Theo truyền thuyết, trong một lần bị giặc vây hãm, Ả Chạ đã dùng dải yếm buộc đá để đánh giặc. Sau hòn đá rơi về địa phận thôn Lũng Ngoại nên Lũng Ngoại có trò hú đáo, còn dải yếm bay về địa phận thôn Hòa Loan nên Hòa Loan có trò kéo co.
Trưng Vương cho Ả Chạ về quê xây dựng cung sở ở Đàm Luân. Sau một năm làm quan, Ả Chạ xin về thờ cúng tổ tiên, chăm phần hương khói mẹ hiền, ở Đàm Luân cùng với chị gái Ngọc Thanh. Mỗi năm theo lệnh về hội với Trưng Vương hai lần. Đến năm 42, quân Hán xâm lược, có viên tướng Hán là Mã Cẩm, vốn là viên quan lang người Việt, nghe tin Ả Chạ là người có tài đức xuất chúng mới sai quân tướng tìm mọi cách để bắt về. Sau nhiều lần bị truy bắt, hai chị em bèn nhảy xuống hồ sen tuẫn tiết. Người dân tiếc thương, lập miếu thờ nay là miếu Ngòi làng Lũng Ngoại.
Một thuyết khác cho rằng năm 42, quân Hán do Lưu Long chỉ huy vây hãm Đàm Luân, Ả Chạ cố sức phá vây nhưng không thành, cuối cùng tử tiết.
== Thờ phụng ==
=== Làng Lũng Ngoại ===
Lũng Ngoại, hay Lũng Khê là một thôn của xã Lũng Hòa, huyện Vĩnh Tường ngày nay. Làng có ngôi miếu gọi là miếu Ngòi, 3 ngôi đình của 3 thôn cùng tên là đình Đông, đình Trung và đình Nam, đều thờ bà Lê Ngọc Trinh, em gái của bà Lê Ngọc Thanh (thờ ở đình Hòa Loan), tướng của nghĩa quân Hai Bà Trưng. Ngày nay, ngôi đình Đông không còn, thôn Đông tiến hành các nghi thức lễ hội tại miếu Ngòi là nơi thờ chính, chung cho cả 3 làng. Trong các ngày từ mồng 4 tháng Giêng đến mồng 7 tháng Giêng có lệ đánh đáo bằng hòn đá ném vào chân cột trong ô đất 4m2 gọi là "Hú đáo". Đó là một nghi thức "sự thần", liên quan đến bà Lê Ngọc Trinh. Tương truyền khi chống lại một viên tướng thời Đông Hán, bà dùng sợi dây, đầu dây buộc một hòn đá làm vũ khí. Trong lúc giao tranh, hòn đá văng về làng Lũng Ngoại, từ đó về sau, lệ đánh đáo trở thành một tín ngưỡng, một tục lệ của làng.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Truyện về một số tướng lĩnh xuất sắc của Hai Bà Trưng
Lịch sử, văn hóa, truyền thống, phong cảnh, du lịch và con người Vĩnh Phúc
TỔNG QUAN VĂN HÓA VĨNH PHÚC |
lâu đài warwick.txt | Lâu đài Warwick ( /ˈwɒrɪk/ WORR-ik) là một lâu đài được xây dựng bởi William I của Anh năm 1068. Lâu đài được đầu tiên xây bằng gỗ, sau đó được xây lại bằng đá vào thế kỷ 12. Trong cuộc chiến tranh Trăm Năm, mặt tiền đối diện thị trấn của lâu đài được củng cố trở thành đặc điểm dễ nhận biết của kiến trúc quân sự thế kỷ thứ 14.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Warwick Castle's official website
Bibliography of sources relating to Warwick Castle
Warwick Castle 360 degree virtual panoramic photograph by Our360Tour.com |
đảng lập hiến đông dương.txt | Đảng Lập hiến Đông Dương (tiếng Pháp: Parti Constitutionaliste Indochinois) là một chính đảng hoạt động ở Nam Kỳ từ năm 1923 đến khoảng thập niên 1930 thì chấm dứt. Đảng này do Bùi Quang Chiêu, một kỹ sư canh nông, có quốc tịch Pháp, cũng là hội trưởng Hội Trí Tri và chủ bút tờ La Tribune Indochinoise thành lập.
== Người sáng lập ==
Bùi Quang Chiêu xuất thân từ gia đình nhà nho nhưng hoàn toàn theo Tây học; năm 21 tuổi (năm 1893) ông đi du học sang Algérie rồi sang Pháp học ở trường kỹ sư canh nông Institut National Agronomique. Trở về nước ông làm công chức cho chính quyền thuộc địa Pháp với cương vị kỹ sư nông nghiệp. Cùng với Bùi Quang Chiêu là các ông Nguyễn Phan Long, Trương Văn Bền, Phan Văn Trường thành lập Đảng Lập hiến vào năm 1923 ở Sài Gòn.
== Lực lượng ==
Đảng Lập Hiến có lực lượng tham gia chủ yếu là người việt thuộc thành phần giai cấp tư sản dân tộc, đại địa chủ, tri thức tiểu tư sản, một số là binh lính phục vụ trong hàng ngũ quân đội thực dân Pháp. Đảng này hoạt động chủ yếu ở Nam Kỳ.
== Chủ trương ==
Chủ trương của Lập hiến Đảng là đấu tranh ôn hòa, thỏa hiệp với thực dân Pháp vào đầu thập kỷ 20 của thế kỷ 20 nhằm giành quyền lợi về kinh tế cho người Việt, chủ trương dành độc lập dân tộc thông qua việc duy tân, thu nhập và phát triển văn hóa mới theo phương Tây.
== Cơ quan ngôn luận ==
Tribune Indigène là tờ báo tiếng Pháp đầu tiên của người Việt, ra đời tháng 8 năm 1917 ở Nam Kỳ nguyên do Nguyễn Phú Khai thành lập nhưng kinh phí do chính phủ Liên bang Đông Dương đài thọ. Ông có lập trường bài Hoa, thường dùng báo cổ động đấu tranh kinh tế với Hoa kiều. Ông cũng là người Việt đầu tiên mở nhà máy gạo năm 1915 cạnh tranh với người Hoa ở Mỹ Tho.
Sau khi Đảng Lập Hiến của Bùi Quang Chiêu ra đời thì báo Tribune Indigène được dùng làm cơ quan ngôn luận của Đảng. Hai tờ L'Echo Annamite và Đuốc Nhà Nam cũng thuộc Đảng cùng phát động rầm rộ chiến dịch tẩy chay hàng hóa người Hoa năm 1919 và ủng hộ việc tham gia các hoạt động tài chính, ngân hàng trong nền kinh tế của người Việt vào giữa thập niên 1920.
Các báo này sau dùng để chuyển đạt đòi hỏi bình quyền giữa người Việt và người Pháp nên tháng 2 năm 1925 tờ Tribune Indigène bị chính phủ Thuộc địa ép phải đình bản. Sang năm sau, 1926 tờ Tribune Indochinoise mới ra đời (F H Schneider đứng tên) phục hoạt làm tiếng nói của Đảng. Báo này hoạt động đến năm 1942 thì chấm dứt. Tờ Lục tỉnh Tân văn của Nguyễn Văn Của và Lê Quang Liêm cũng được dùng làm cơ quan ngôn luận của Đảng Lập hiến.
== Uy tín và hoạt động ==
Vào những năm đầu thập niên uy tín Đảng Lập Hiến rất lớn. Cao điểm của Đảng là vào thập niên 1930 khi Bùi Quang Chiêu làm đại diện Nam Kỳ tại Thượng Hội đồng Thuộc địa ở thủ đô chính quốc Paris trong khi Nguyễn Phan Long và những đảng viên khác đắc cử trong Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ và Hội đồng thành phố Sài Gòn. Dù vậy Đảng Lập hiến không mấy chú tâm vào việc vận động quần chúng lao động mà chỉ trông vào giới trung lưu người Việt. Ưu tiên của Đảng là thỏa hiệp với chính quyền thuộc địa để đạt được tiến bộ xã hội và bình đẳng với người Pháp rồi tiến đến tự trị. Trong khi đó chính quyền thực dân thì giữ mãi thái độ trì hoãn và không thực tâm cải cách để duy trì quyền lực nên Đảng Lập Hiến bị chính quyền chi phối. Ngoài ra các đảng viên phần đông vì là công chức lệ thuộc vào nhà cầm quyền nên không dám thoát ly hẳn với chính sách thuộc địa. Do vậy sự đấu tranh chính trị của họ bị hạn chế, không phát triển rộng khắp nơi để đi sâu vào tầng lớp bị trị.
Cùng lúc đó nội bộ Đảng Lập hiến cũng bị phân hóa vì xung khắc giữa Nguyễn Phan Long và Bùi Quang Chiêu. Nguyễn Phan Long dần ngả hoạt động với giáo phái Cao Đài, làm giảm lực lượng của nhóm Lập hiến. Năm 1937 thì Nguyễn Văn Thinh lập ra Đảng Dân chủ Đông Dương, thu hút một số không nhỏ giới chuyên môn người Việt khiến ảnh hưởng của Đảng Lập hiến càng suy giảm. Trong cuộc bầu cử năm 1939, cả ba ứng cử viên của Đảng Lập hiến đều thất cử, đánh dấu thời kỳ suy thoái và mất bóng trên chính trường.
== Xem thêm ==
Danh sách tổ chức chính trị Liên bang Đông Dương
== Tham khảo ==
Các xu hướng chính trị Nam Bộ và Đông Du (BBC Vietnamese)
Số phận của Bùi Quang Chiêu và phe thỏa hiệp (BBC Vietnamese) |
what now (bài hát).txt | "What Now" là một bài hát của nghệ sĩ thu âm người Barbados Rihanna, trích từ album phòng thu thứ 7 của cô Unapologetic (2012). Bài hát được viết bởi Olivia Waithe và Rihanna cùng với hai nhà sản xuất của nó là Parker Ighile and Nathan Cassells. Một EP gồm các phiên bản remix của bài hát được phát hành độc quyền cho Beatport vào ngày 29 tháng 8 năm 2013 và sau đó được phát hành tương ứng trên iTunes, Amazon.com, và Google Play vào ngày 17 tháng 9 năm 2013. Bài hát đã được phát trên các đài phát thanh âm nhạc của Mỹ để phục vụ nhu cầu của khán giả vào ngày 24 tháng 9 năm 2013 trước khi được phát sóng trên các đài phát thanh lớn vào ngày 1 tháng 10 năm 2013 với tư cách là đĩa đơn chính thức thứ 6 từ album Unapologetic. Một EP remix khác cũng được phát hành cho Beatport vào ngày 29 tháng 10 năm 2013. Về mặt âm nhạc, bài hát là một bản nhạc ballad có giai điệu piano trung bình trong đó kết hợp những âm thanh giống như một "quả bom" suốt trong đoạn điệp khúc và tiếng trống mạnh mẽ.
"What Now" nhận được nhiều đánh giá tích cực của các nhà phê bình âm nhạc. Nhiều nhà phê bình gọi nó là một bài hát mang đầy cảm xúc, tiêu biểu cho album và họ ca ngợi giọng hát của Rihanna. Sau khi phát hành Unapologetic, "What Now" đã tiến vào bảng xếp hạng French Singles Chart và UK Singles Chart, cũng như đã xuất hiện tại UK R&B Chart và vươn lên vị trí 32. Bài hát đạt vị trí 25 tại Billboard Hot 100 và vị trí 27 tại Canadian Hot 100. Để quảng bá cho bài hát, Rihanna đã biểu diễn nó tại chatshow Alan Carr: Chatty Man và cô cũng đưa nó vào danh sách biểu diễn cho tour diễn của mình, Diamonds World Tour (2013). Jeff Nicholas, Jonathan Craven, và Darren Craig đồng đạo diễn video âm nhạc cho bài hát; trong đó miêu tả hình ảnh Rihanna phải trải qua một sự cố về tình cảm và cô ấy thể hiện những động tác vũ đạo trừ tà quỷ. Các nhà phê bình khen ngợi video và so sánh nó với video âm nhạc "Disturbia" của Rihanna phát hành năm 2008.
== Sản xuất và phát hành ==
Rihanna bắt đầu làm việc với "những âm thanh mới" cho album phòng thu thứ 7 của cô từ tháng 3 năm 2013, mặc dù khi đó cô vẫn chưa bắt đầu tiến hành ghi âm. Ngày 12 tháng 9 năm 2012, Def Jam France công bố thông qua tài khoản Twitter của Rihanna rằng sẽ có một đĩa đơn mới được phát hành vào tuần tới và album phòng thu thứ 7 của cô ấy dự kiến sẽ phát hành vào tháng 11 năm 2012. Tuy nhiên dòng tweet này chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn trước khi nó bị xóa đi và được thay thế bằng một thông báo khác: "Thêm nhiều thông tin nữa sẽ được bật mí vào ngày mai, Thứ 5 ngày 13 tháng 9". Thông qua tài khoản Twitter cá nhân của mình thì Rihanna đã tung hàng loạt tweet giới thiệu về album phòng thu thứ 7 này.
"What Now" được sáng tác bởi nghệ sĩ người Anh Livvi Franc cùng với Rihanna, Parker Ighile và Nathan Cassells trong khi đó việc sản xuất bài hát cũng do Parker Ighile và Nathan Cassells đảm nhiệm. Ighile và Cassells sáng tác phần nhạc cho bài hát tại Metropolis Studios, Luân Đôn, Vương Quốc Anh và cung cấp tất cả các nhạc cụ và phần mềm lập trình âm nhạc. Kuk Harrell đảm nhận việc thu âm và ghi âm giọng hát của Rihanna cùng với Marcos Tova tại Westlake Recording Studios ở Los Angeles, California. Blake Mares và Robert Cohen là trợ lý kỹ sư âm thanh. Bài hát được phối khí và pha trộn bởi Phil Tan tại Ninja Club Studios ở Atlanta, Gruzia với sự giúp đỡ của trợ lý âm nhạc Daniela Rivera.
"What Now" được phát hành dưới dạng đĩa đơn thứ 6 trích từ Unapologetic. 10 bản remix của bài hát được phát hành kỹ thuật số thông qua Beatport vào ngày 28 tháng 8 năm 2013 tại Hoa Kỳ. Một EP remix tương tự cũng được phát hành trên iTunes Store vào ngày 17 tháng 9 năm 2013. "What Now" được phát trên các đài phát thanh âm nhạc của Mỹ để phục vụ nhu cầu của khán giả vào ngày 24 tháng 9 năm 2013 trước khi được phát sóng trên các đài phát thanh lớn vào ngày 1 tháng 10 năm 2013. Thông qua tải khoản Instagram của mình, Rihanna đã cho phát hành bìa đĩa đơn chính thức vào ngày 16 tháng 10 năm 2013; nó cho ta thấy hình ảnh Rihanna trong bộ váy màu đen với đôi mắt được trang điểm đậm và mái tóc dài đen, phía sau là tên của cô được viết trên bảng theo nhiều kiểu chữ. Jocelyn Vena từ MTV News đã miêu tả phong cách của Rihanna trên bìa đĩa đơn với phong cách thời trang Gothic và gợi nhớ mọi người đến bức ảnh hậu trường của video âm nhạc được cô đăng tải lên mạng.
== Sáng tác ==
"What Now" là một bản pop-ballad với tiếng piano cùng tiết tấu trung bình; bài hát có độ dài 4:03. Theo Sony/ATV Music Publishing, bài hát được viết bằng khóa G♯ với một nhịp điệu trung bình-chậm là 60 nhịp một phút (BPM). Giọng hát của Rihanna nằm trong khoảng từ nốt A♯3 đến nốt C♯5, và kéo theo đó một dãy âm G♯m—B2—F♯—F♯sus4—F♯. Trong bài hát còn có thêm giai điệu của tiếng trống mạnh mẽ. Dean Martin của NME đã miêu tả bài hát như một cuộc hôn nhân điên loạn của piano và bass. Theo Mesfin Fekadu của The Huffington Post thì "bài hát được xây dựng một cách độc đáo từ những câu hát êm dịu đến đoạn điệp khúc như điện giật".
Smokey D. Fountaine của tờ The Urban Daily đã so sánh "What Now" với các tác phẩm của nữ ca sĩ Pink và theo ông thì bài hát có được một đoạn điệp khúc đầy phong cách ("yell-as-long-as-you-have-a-great-hook style"). Theo Michael Gallucci của PopCrush thì cấu trúc của bài hát nổi bật từ phần đầu đến phần điệp khúc "giống như chúng đến từ hai hành tinh khác nhau vậy". Gallucci cũng cảm thấy rằng Rihanna đã hát hết những gì cô ấy có thể với bài hát này, trái ngược với những cảm nhận của Chris Younie đến từ 4Music khi cho rằng giọng hát của Rihanna thật "ngọt ngào". Trong phần điệp khúc âm vang, mạnh mẽ thì âm thanh như một "quả bom".
== Đánh giá phê bình ==
Một nhà phê bình đến từ tạp chí Billboard đã ca ngợi "What Now" và gọi bài hát là "một điểm nhấn cảm xúc của album, mang đầy những khoảnh khắc của sự cộng hưởng". Giovanny Caquias của Culture Blues viết về bài hát và cảm thấy nó như là một bản thu âm "thẳng thắn" và "sâu sắc" nhất album Unapologetic. Anh ấy tiếp tục, "Rihanna đã gợi được một chút nội tâm trong What Now, và cô đã không dùng đến sự công khai tình dục hay sự nhẫn tâm, bướng bĩnh (thêm về điều này ở phía sau), cho tôi cảm giác rằng dường như cô ấy đã bị tước mất đi chiếc áo giáp bảo vệ trong một khoảnh khắc và điều đó cho phép cô ấy phô bày con người thật của mình, chính bản thân của cô ấy". Jim Farber từ Daily News thì viết rằng mặc dù "What Now" có thể không thể cạnh tranh với một bài hát của Beyonce nhưng nó cho ta thấy một nguồn sức mạnh khác.
Brad Stern của MTV Buzzworthy ca ngợi giọng hát của Rihanna và gọi nó là "đĩa nhạc sâu sắc nhất". Một nhà phê bình từ The Star-Ledger đa dán nhãn bài hát như "một bản ballad giàu nội lực đáng kinh ngạc và làm cho những bài hát khác của Rihanna thật nhẹ cân khi mang chúng lên bàn cân để so sánh". Andy Kellman của Allmusic ca ngợi "What Now" và gọi nó là "bản ballad khổng lồ, đầy cảm xúc, và mạnh mẽ". Jon Caramanica của The New York Times đa có những nhận xét tích cực cho bài hát khi viết: "Rihanna làm những gì trực tiếp nhất, ca hát và những tham vọng. Đây là album của một cuộc thanh trừng và dấu hiệu của một cuộc xung kích phía dưới tấm áo giáp". Genevieve Koski của The A.V. Club thì chỉ trích "What Now", và viết rằng (cũng giống như "Stay") là một bản ballad và chúng chưa bao giờ là một đặc sản ăn khách của Rihanna.
== Diễn biến xếp hạng ==
Sau khi phát hành Unapologetic, "What Now" đã tiến vào bảng xếp hạng của Pháp và hai bảng xếp hạng khác của Anh nhờ nhu cầu tải kỹ thuật số mạnh mẽ. Bài hát xuất hiền trong tuần đầu tiên tại French Singles Chart ở vị trí 144 vào ngày 1 tháng 12 năm 2012 và ở lại đó trong một tuần. Vào ngày 13 tháng 7 năm 2013, nó lại trở lại bảng xếp hạng ở vị trí 174 và sau đó tiến lên vị trí 83 vào hai tuần tiếp theo. Vào ngày 2 tháng 12 năm 2012, bài hát có mặt ở vị trí 165 tại UK Singles Chart và vị trí 32 tại UK R&B Chart. Ngày 27 tháng 7 năm 2013, "What Now" xuất hiện ở vị trí 38 tại bảng xếp hạng đĩa đơn Wallonia của Bỉ. "What Now" được phát hành như đĩa đơn chính thức thứ 4 và được phát sóng trên radio ở Australia; tại đây nó có mặt tại ARIA Singles Chart ở vị trí 37 vào ngày 18 tháng 8 năm 2013 và vươn lên được vị trí 21.
== Video âm nhạc ==
=== Bối cảnh sản xuất và ý tưởng ===
Rihanna tiến hành quay video âm nhạc cho "What Now" tại một nhà kho ở Phuket, Thái Lan vào ngày 17 tháng 9 năm 2013, đồng thời điểm khi tour diễn Diamonds World Tour dừng chân tại đây. Nó được đạo diễn bởi Jeff Nicholas, Jonathan Craven và Darren Craig. Trước đó Nicholas và Craven cũng là đồng đạo diễn cho video bài hát "Tunnel Vision" của Justin Timberlake, đây là đĩa đơn trích từ album thứ ba của anh ấy mang tên The 20/20 Experience. Theo Steven Gottlieb từ VideoStatic thì điều tương tự có thể thấy ở cả hai video đó là chúng đều mang những hình ảnh gương mặt và cơ thể ẩn hiện trong một. Vào ngày 13 tháng 11, Rihanna tiết lộ một đoạn video sau hậu trường trên tài khoản Vevo chính thức của cô ấy. Cũng trong khoảng thời gian đó, Rihanna giải thích về chủ đề của video: "Nó sẽ rất đáng sợ, kỳ lạ bởi vì 'What Now' là một trong những bài hát mà làm bạn cảm thấy thật nhàm chán với mặt hình ảnh. Bạn có thể gần như nhận được tất cả những gì bạn mong đợi. Mọi người đều hy vọng đây sẽ là một video âm nhạc truyền tải một câu chuyện tình yêu của một thứ gì đó thật mềm mại và dễ thương" và sau đó nói "Nó thật dễ thương và mềm mại nhưng nó thật sự mang trong mình một chút điên và nổi loạn". Trước khi phát hành video, Rihanna đã cho đăng một đoạn giới thiệu ngắn (sneak peak) trên Youtube. Video âm nhạc chính thức được phát hành vào ngày 15 tháng 11 năm 2013 trên VEVO.
Rob Newman là nhà sản xuất chính của video, trong khi đó Craven, Nicholas và Thananath Songchaikul nhận nhiệm vụ sản xuất hình ảnh. Sing Howe Yam chỉ đạo phần nhiếp ảnh còn Clark Eddy là biên tập viên. Video mở đầu với hình ảnh Rihanna xuất hiện trên màn hình những chiếc tivi với bộ váy trắng đơn giản và vòng cổ hình thánh giá. Sau đó cô bắt đầu hát trong một căn phòng tối với bộ váy màu đen và sau đó xuất hiện ở một căn phòng sáng với chiếc váy trắng. Trong suốt toàn bộ video miêu tả Rihanna phải trải qua một sự cố về tình cảm và cô ấy thể hiện những động tác vũ đạo trừ tà quỷ. Video là sự hoán đổi hình ảnh của một Rihanna đáng sợ và một Rihanna mềm mại trong khi cô đang ở trong một nhà kho hoang vắng, thể hiện nỗi cô đơn của chính mình.
=== Phê bình ===
Jocelyn Vena của MTV đã so sánh video của "What Now" với 4 video trước đó của Rihanna; và "Disturbia" là một trong số đó, cô nói: "Cả 'What Now' và 'Disturbia' đều mang một màu tối và một sự rung cảm mang tính siêu nhiên. Ngoài ra cô cũng chia sẻ rằng đây là một sự tương đồng, những hình ảnh sắp xếp phân tầng và tạo ra những hiệu ứng 3D đặc sắc". Cô còn so sánh với những bài hát khác bao gồm "Diamonds", "Stay" (2 bài hát này đều nằm trong album Unapologetic) và "We Found Love". Rachel Brodsky của MTV's Buzzworthy Blog cũng đã so sánh video của "What Now" với bộ phim phát hành năm 1996, The Craft. Jason Lipshutz của Billboard nói rằng Rihanna đã "giảm tốc" cho video này sau khi thực hiện những vũ điệu tecrk, múa cột và khoe da thịt trong video âm nhạc "Pour It Up" được phát hành một tháng trước đó. Nhiều ý kiến nhận xét khác cũng tương tự, như một nhà phê bình từ The Huffington Post nói: "Đoạn clip cho thấy hình ảnh nữ nghệ sĩ 25 tuổi tại một nơi ma quái, quằn quại trong một căn phòng thưa thớt với kiểu ăn mặc tương tự như trong nhiều bộ phim kinh dị"...
== Biểu diễn trực tiếp ==
Vào ngày 27 tháng 9 năm 2013, Rihanna biểu diễn "What Now" tại chatshow Alan Carr: Chatty Man. Bài hát cũng có mặt trong danh sách biểu diễn của tour diễn Diamonds World Tour (2013).
== Danh sách bài hát ==
== Bảng xếp hạng ==
== Chứng nhận ==
== Lịch sử phát hành ==
== Tham khảo == |
mali.txt | Mali có tên chính thức là Cộng hòa Mali (République du Mali) là một quốc gia nằm trong lục địa của miền tây châu Phi. Mali là đất nước có diện tích lớn thứ tám châu Phi, và có chung đường biên giới Algérie về phía bắc, Niger về phía đông, Burkina Faso và Côte d'Ivoire về phía nam, Guinée về phía tây nam, Sénégal và Mauritanie về phía tây. Diện tích của Mali vào khoảng 1.240.000 km² và dân số khoảng hơn 14 triệu người. Thủ đô của Mali là Bamako.
Mali được chia làm tám vùng và phần lớn diện tích nước này nằm trong khu vực sa mạc Sahara, trong khi vùng đất phía nam của Mali, nơi có đa số dân cư sinh sống, nằm trong lưu vực của hai con sông Niger và Sénégal. Cơ cấu kinh tế của Mali tập trung chủ yếu vào nông nghiệp và đánh bắt cá. Một số tài nguyên thiên nhiên của Mali bao gồm vàng, uranium, và muối. Mali được xem là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới.
Đất nước Mali hiện tại từng là một phần của ba đế quốc Tây Phi tồn tại trong lịch sử và kiểm soát đường thương mại xuyên Sahara: Đế quốc Ghana, Đế quốc Mali (Mali được đặt tên theo đế quốc này), và đế quốc Songhai. Cuối thập niên 1800, Mali nằm dưới sự cai trị của người Pháp, và trở thành một phần của Soudan thuộc Pháp. Mali giành được độc lập vào năm 1959 cùng với Senegal, và thành lập Liên bang Mali. Một năm sau Liên bang Mali tan rã và Mali trở thành một quốc gia độc lập. Sau một thời gian dài nằm dưới chế độ độc đảng cai trị, cuộc đảo chính 1991 dẫn tới sự thành lập một bản hiến pháp mới quy định thành lập nước Mali dân chủ và có một nhà nước đa đảng. Khoảng phân nửa dân số Mali sống dưới ngưỡng nghèo của quốc tế là 1,25 một ngày.
== Lịch sử ==
Trước kia Mali là một phần của ba đế quốc Tây Phi nổi tiếng, vốn kiểm soát đường thương mại xuyên Sahara vận chuyển vàng, muối, nô lệ, và các vật dụng quý giá khác. Ban đầu vùng đất ngày nay là Mali là bao gồm những vương quốc Sahel không có ranh giới địa chính trị cũng như một bản sắc dân tộc đặc thù. Đế quốc xuất hiện sớm nhất là đế quốc Ghana và được cai trị bởi người Soninke, vốn là một tộc người nói ngôn ngữ Mande. Quốc gia này mở rộng về Tây Phi từ thế kỷ thứ 8 đến năm 1078, khi nó bị chinh phục bởi triều Almoravids.
Sau đó, đế quốc Mali được thành lập ở phía bắc con sông Niger, và đạt tới đỉnh cao quyền lực của nó vào thế kỷ 14. Trong thời kỳ đế quốc Mali tồn tại, các thành phố cổ đại của Djenné và Timbuktu trở thành trung tâm thương mại và học thuật hồi giáo. Đế quốc này sau đó bị sụp đổ do những âm mưu chia rẽ trong nội bộ, và được thay thế bởi đế quốc Songhai. Tộc người Songhai bắt nguồn từ nơi mà hiện nay là miền tây bắc Nigeria. Người Songhai vốn đã tồn tại từ lâu ở Tây Phi và hiện diện như là một thế lực chính chống lại sự cai trị của đế quốc Mali.
Vào cuối thế kỷ 14, người Songhai dần dần giành được độc lập từ đế quốc Mali và sau đó mở rộng ảnh hưởng rồi cuối cùng làm chủ toàn bộ phần phía đông của đế quốc Mali. Tiếp đó đế quốc của người Songhai sụp đổ sau cuộc xâm lược của người Maroc do Judar Pasha chỉ huy vào năm 1591. Sự sụp đổ của đế quốc Songhai đánh dấu sự kết thúc vai trò của khu vực này như là một phần của tuyến đường thương mại. Tuy nhiên sau khi các tuyến đường biển được thiết lập bởi các cường quốc Phương Tây, tuyến đường thương mại xuyên Sahara mất đi tầm quan trọng của nó. Nạn đói tồi tệ nhất được ghi nhận trong khoảng thời gian từ năm 1738 đến năm 1756, đã giết chết khoảng một nửa dân số ở Timbuktu.
Trong thời kỳ thuộc địa, Mali nắm dưới sự cai trị của Pháp bắt đầu từ cuối thế kỷ 19. Đến năm 1905, phần lớn các khu vực của Mali đều do các công ty Pháp quản lý và là một phần của Sudan thuộc Pháp. Vào đầu năm 1959, Mali (sau đó là Cộng hòa Sudan) và Sénégal hợp nhất để trở thành Liên bang Mali. Liên bang Mali giành được độc lập từ Pháp vào ngày 20 tháng 6 năm 1960. Sau đó Senegal rút khỏi liên bang vào tháng 8 năm 1960, điều này tạo điều kiện cho việc thành lập nhà nước độc lập của Mali vào ngày 22 tháng 9 năm 1960. Modibo Keïta được bầu làm tổng thống đầu tiên. Ngay lập tức Keïta thiết lập một nhà nước đơn đảng, trên vị thế độc lập theo định hướng xã hội chủ nghĩa với các mối quan hệ chặt chẽ với phương Đông, và thực hiện quốc hữu hóa để kiểm soát các nguồn tài nguyên của đất nước.
Vào tháng 11 năm 1968, do nền kinh tế của Mali tiếp tục suy giảm và trì trệ, chính phủ của Keïta bị lật đổ trong một cuộc đảo chính không đổ máu được tiến hành bởi Moussa Traoré. Sau sự kiện này, Mali được điều hành bởi một chính phủ quân sự với Traoré là tổng thống, ông này đã nỗ lực cải cách nền kinh tế. Tuy nhiên mọi cố gắng của ông đều trở nên vô nghĩa bởi bất ổn chính trị và nạn hạn hán tàn phá trong khoảng thời gian giữa năm 1968 và 1974, vốn đã giết chết hàng ngàn người. Chính phủ Traoré còn phải đối mặt với cuộc bạo động của sinh viên bắt đầu nổ ra vào cuối thập kỷ 1970 và ba nỗ lực đảo chính. Tuy nhiên, Traoré đã dập tắt được mọi sự chống đối cho đến cuối thập kỷ 1980.
Trong thời gian này, chính phủ tiếp tục tiến hành cải cách kinh tế, tuy nhiên sự bất bình trong dân chúng ngày càng gia tăng. Đáp lại những yêu cầu ngày càng tăng phải có một nền dân chủ đa đảng, chính phủ Traoré cho phép một số quyền tự do hạn chế về chính trị, nhưng lại từ chối thiết lập hệ thống dân chủ một cách đầy đủ. Năm 1990, các phong trào chống đối liên tiếp nổi lên, và tình hình càng phức tạp hơn bởi bạo độc sắc tộc ở miền bắc theo sau sự trở về của nhiều người Tuareg về Mali.
Phong trào chống đối chính phủ cuối cùng đã dẫn đến cuộc đảo chính vào năm 1991 đi đến thiết lập một chính phủ chuyển tiếp, và một bản hiến pháp mới. Năm 1992, Alpha Oumar Konaré trở thành tổng thống Mali đầu tiên chiến thắng trong một cuộc bầu cử dân chủ, đa đảng. Và trong lần tái bầu cử vào năm 1997, Tổng thống Konaré đã thông qua một loạt các chính sách cải cách kinh tế và chính trị, chiến đấu chống tham nhũng. Năm 2002, ông từ chức và qua một cuộc bầu cử dân chủ, chính phủ Mali được điều hành bởi Amadou Toumani Touré, một tướng về hưu, vốn là người lãnh đạo về mặt quân sự của cuộc đảo chính vào năm 1991. Ngày nay, Mali là một trong những nước có được sự ổn định chính trị và xã hội nhất châu Phi.
== Địa lý ==
Mali là một đất nước nằm hoàn toàn trong lục địa ở Tây Phi, ở phía tây nam của Algérie. Với diện tích là 1.240.000 km2, Mali là quốc gia có diện tích đứng hàng thứ 24 trên thế giới và tương đương với diện tích của Cộng hòa Nam Phia hay Angola. Phần lớn lãnh thổ của Mali nằm ở phần phía nam sa mạc Sahara, vốn chủ yếu được bao phủ bởi một vùng cây savanna Sudan. Địa hình của Mali phần lớn là bằng phẳng, và càng đi lên phía bắc thì được bao phủ chủ yếu bởi cát. Vùng Adrar des Ifoghas nằm ở phía đông bắc.
Mali có nhiều vùng khí hậu như khí hậu nhiệt đới ở miền nam tới khí hậu khô nóng ở miền bắc. Phần lớn diện tích của Mali nhận được lượng mưa không đáng kể; và nạn hạn hán xảy ra thường xuyên. Từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 12 là mùa mưa. Trong thời gian này, con sông Niger thường gây ra lũ lụt, đồng thời tạo nên Đồng bằng nội Niger. Maii có nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên đáng kể, với vàng, uranium, phosphate, kaolinit, muối và đá vôi là các tài nguyên đang được khác thác rộng rãi nhất. Mali phải đối mặt với nhiều thử thách về môi trường, bao gồm sự sa mạc hóa, phá rừng, xói mòn đất, và thiếu nguồn cung cấp nước sạch. Mỗi vùng đều có một thống đốc. Vì lý do các vùng của Mali có diện tích rất lớn, toàn bộ nước này được chia thành 49 cercle, bao gồm 288 huyện. Các thị trưởng và thành viên hội đồng thành phố được bầu để điều hành các huyện.
Các vùng và quận của Mali bao gồm:
Gao
Kayes
Kidal
Koulikoro
Mopti
Ségou
Sikasso
Tombouctou (Timbuktu)
Bamako (Quận thủ đô)
== Chính trị và chính phủ ==
Mali là một quốc gia dân chủ lập hiến được quy định trong hiến pháp ngày 12 tháng 1 năm 1992, vốn được bổ sung vào năm 1999. Hiến pháp cũng quy định sự phân chia quyền lực giữa ba ngành lập pháp, hành pháp, và tư pháp của chính phủ. Hệ thống chính phủ Mali được miêu tả như là chế độ "bán tổng thống".
Quyền hành pháp được trao cho tổng thống, vốn được bầu cho một nhiệm kỳ 5 năm bằng phổ thông đầu phiếu và bị giới hạn trong hai nhiệm kỳ. Tổng thống đóng vai trò là Nguyên thủ quốc gia và Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang. Một Thủ tướng được chỉ định bởi tổng thống như là người đứng đầu chính phủ, và đến lượt người này có trách nhiệm bổ nhiệm Hội đồng Bộ trưởng. Hội đồng Quốc gia theo cơ chế đơn viện là cơ quan lập pháp duy nhất của Mali, gồm các đại biểu được bầu cho một nhiệm kỳ 5 năm. Trong cuộc bầu cử năm 2007, Liên minh vì Dân chủ và Tiến bộ đạt được 113 ghế trong tổng số 160 ghế trong hội đồng. Hội đồng tổ chức hai cuộc họp thường kỳ mỗi năm, trong đó những vấn đề được đưa ra tranh luận và bỏ phiếu thông qua các dự luật được đề cử bởi những thành viên của chính phủ. Nền dân chủ ở Mali tiến triển khả quan sau các cuộc bầu cử địa phương vào cuối tháng 4 năm 2009, mặc dù các khiếm khuyết quan trọng và các vụ lôi kéo bầu cử vẫn còn tồn tại.
Hiến pháp Mali cung cấp một nền tảng cho một nền tư pháp độc lập, nhưng ngành hành pháp vẫn còn có tác động đến ngành tư pháp thông qua việc bổ nhiệm các thẩm phán và giám sát cả hai chức năng tư pháp và thực thi pháp luật. Các tòa án bậc cao của Mali bao gồm Tòa án Tối cao, vốn nắm cả quyền tư pháp và quản lý hành chính, và Tòa án Hiến pháp riêng biệt có trách nhiệm kiểm tra mặt tư pháp của các đạo luật và phục vụ như là cơ quan phân xử trong các tranh chấp bầu cử. Các tòa án cấp thấp của Mali vẫn tồn tại, mặc dù các trưởng thôn và trưởng lão trong làng là những người giải quyết phần lớn các tranh chấp ở vùng nông thôn.
== Quan hệ đối ngoại và quân sự ==
Chính sách đối ngoại của Mali dần dần trở nên thực dụng và thân phương Tây theo thời gian. Kể từ khi việc thành lập thể chế dân chủ chính phủ vào năm 2002, các mối quan hệ của Mali với phương Tây nói chung và với Hoa Kỳ nói riêng đã được cải thiện đáng kể. Mali có mối quan hệ không bền vững và lâu dài với Pháp, nước đã từng thống trị Mali trước đây. Mali là một thành viên tích cực của các tổ chức trong khu vực như Liên minh châu Phi, tham gia kiểm soát và giải quyết các xung đột trong vùng, như tại Côte d’Ivoire, Liberia, và Sierra Leone, là một trong những thành tựu chính của chính sách đối ngoại của Mali. Tuy nhiên Mali lại bị cảm thấy đe dọa bởi những xung đột thường xuyên ở các nước láng giềng, và các mối quan hệ với nước này luôn trong tình trạng bấp bênh. Sự mất an ninh chung dọc biên giới ở phía bắc, bao gồm các vụ cướp bóc và khủng bố, vẫn còn là các vấn đề đáng lo ngại trong khu vực.
Quân đội Mali bao gồm lực lượng bộ binh và không quân, cũng như lực lượng bán quân sự là Hiến binh và Vệ binh Cộng hòa, tất cả đều nằm dưới quyền cua Bộ trưởng Quốc phòng và Cựu chiến binh Mali, đứng đầu là một viên chức dân sự. Lực lượng quân đội của nước này chỉ được trả lương thấp, trang bị kém, và cần cơ cấu hợp lý. Tổ chức của quân đội đã bị xáo trộn khi lực lượng không chính quy của người Tuareg được sát nhập với lực lượng chính quy của quân đội sau một thỏa thuận giữa chính phủ và quân nổi dậy Tuareg vào năm 1992. Nói chung quân đội giữ một vai trò thấp kể từ khi sự chuyển giao nền dân chủ diễn ra vào năm 1992. Tổng thống đương nhiệm, Amadou Toumani Touré, là một cựu tướng lĩnh và đã giành được sự ủng hộ rộng rãi từ quân đội. Trong báo cáo nhân quyền hằng năm trong năm 2003, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đánh giá cao sự kiểm soát dân sự của lực lượng an ninh là tương đối hiệu quả như lưu ý rằng một vài "biện pháp mà lực lượng an ninh thực thi lại độc lập với chính sách của chính quyền."
== Kinh tế ==
Mali là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới. Lương trung bình hằng năm của công nhân xấp xỉ khoảng 1.500 đô la. Trong khoảng thời gian giữa năm 1992 và 1995, Mali triển khai một chương trình điều chỉnh nền kinh tế mà kết quả của nó là giúp tăng trưởng kinh tế và giảm mất cân bằng ngân sách. Chương trình cũng đã nâng cao điều kiện xã hội và kinh tế, đồng thời giúp Mali gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới ngày 31 tháng 5 năm 1995. Nhờ đó, tổng sản phẩm quốc gia (GDP) bắt đầu tăng. Năm 2002, tổng lượng GDP là 3,4 tỷ đô la, và tăng đến 5,8 tỷ đô la vào năm 2005,, trong khoảng thời gian này mức tăng trưởng GDP đạt 17,6%.
Ngành kinh tế chủ chốt của Mali là trồng cây công nghiệp. Bông là cây trồng xuất khẩu lớn nhất của nước này và được xuất về hướng tây thông qua Senegal và Bờ Biển Ngà. Trong năm 2002, sản lượng bông ở Mali đạt 620.000 tấn nhưng giá bông lại bị sụp giảm đáng kể trong năm 2003. Ngoài bông, Mali còn sản xuất gạo, kê, bắp, rau quả, thuốc lá, và các loại cây trồng khác. Vàng, chăn nuôi và nông nghiệp chiếm khoảng 80% hàng hóa xuất khẩu của Mali. 80$ công nhân Mali làm trong ngành nông nghiệp và 15% làm việc trong khu vực dịch vụ. Tuy nhiên, sự biến đổi thời tiết theo mùa dẫn đến sự thất nghiệp tạm thời một cách thường xuyên của các công nhân nông nghiệp. Các động vật được chăn nuôi ở Mali bao gồm hàng triệu gia súc, cừu và dê. Khoảng 40% đàn gia súc của Mali bị mất trong nạn hạn hán Sahel vào năm 1972-74.
Năm 1991, với sự giúp đỡ của Hiệp hội Phát triển Quốc tế, Mali có thể thực thi các luật khác thác mới giúp tăng cường các nguồn đầu tư và đổi mới ngành công nghiệp khai khoáng. Vàng được khai thác ở miền nam Mali, nơi có trữ lượng lớn thứ ba châu Phi (sau Nam Phi và Ghana). Sự xuất hiện của vàng như là hàng hóa xuất khẩu chính của Mali từ năm 1999 đã giúp làm giảm nhẹ tác động tiêu cực của khủng hoảng bông ở Bờ Biển Ngà. Các nguồn tài nguyên khác của Mali bao gồm kaolinit, muối, phosphate, và đá vôi.
Các công ty điện và nước của Mali là Energie du Mali, hay EDM, các công ty dệt là Textile du Mali, hay ITEMA. Mali có tỉ lệ sử dụng thủy điện tương đối hiệu quả, vốn chiếm hơn một nửa sản lượng điện của nước này. Năm 2002, 700 GWh thủy điện được tạo ra ở Mali.
Chính phủ Mali cũng thi hành nhiều chính sách hỗ trợ đầu tư nước ngoài, bao gồm thương mại và tư nhân hóa. Mali bắt đầu trải qua sự cải cách kinh tế vào năm 1988 với các thỏa thuận với Ngân hàng Thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Trong khoảng thời gian từ năm 1988 đến 1996, chính phủ Mali chủ yếu thực hiện cải cách các doanh nghiệp công. Trong cuộc cải cách, 16 doanh nghiệp đã được tư nhân hóa. 12 doanh nghiệp được tư nhân hóa một phần và 12 doanh nghiệp bị giải thể. Năm 2005, chính phủ Mali nhượng lại công ty đường sắt cho Tập đoàn Savage. Hai công ty lớn khác của nước này, Societé de Telecommunications du Mali (SOTELMA) và Cotton Ginning Company (CMDT), dự kiến sẽ được tư nhân hóa vào năm 2008.
Mali là thành viên của Tổ chức vì Sự hài hòa Luật thương mại châu Phi (OHADA).
== Nhân khẩu ==
Vào tháng 7,2009, dân số của Mali được ước tính là khoảng 13 triệu người, với tỉ lệ tăng hằng năm là 2.7%. Phần lớn dân cư tập trung ở nông thôn (68% năm 2002), và đến 10% người dân Mali sống du mục. Hơn 90% dân số sống ở miền nam của đất nước, đặc biệt là ở Bamako, nơi cư trú của hơn 1 triệu người.
Năm 2007, khoảng 48% dân số Mali dưới 15 tuổi, 49% dân số nằm trong khoảng 15–64 tuổi, và 3% còn lại nằm trong độ tuổi 65 hay già hơn. Tuổi trung bình của Mali là 15,9 năm. Tỉ lệ sinh vào năm 2007 là 49,6 trẻ mỗi 1.000d dân, và the tỉ lệ thụ thai cộng dồn là 7,4 mỗi phụ nữ. Tỉ lệ tử vong năm 2007 là 16,5 mỗi 1.000 người. Kỳ vọng sống khi sanh của một đứa trẻ là 49,5 năm (47,6 đối với nam và 51,5 đối với nữ). Mali là một trong những nước có tỉ lệ tử vong sơ sinh cao nhất thế giới, với 106 trẻ mất mỗi 1.000 ca sinh trong năm 2007.
Dân số Mali bao gồm một số nhóm sắc tộc ở khu vực cận Sahara, phần lớn các nhóm này có đặc điểm tương đồng về ngôn ngữ, văn hóa và lịch sử. Người Bambara là nhóm sắc tộc chiếm tỉ lệ cao nhất trong dân chiếm 36.5% dân số. Gộp chung lại, các nhóm người Bambara, Soninké, Khassonké, và Malinké, là các dân tộc khác nhau của người Mandé, chiếm 50% dân số Mali. Các nhóm người quan trọng khác là Peul (17%), Voltaic (12%), Songhai (6%), người Tuareg và Moor (10%). Trong quá trình lịch sử, các nhóm sắc tộc ở Mali có mối quan hệ hòa hợp; tuy nhiêm vẫn còn các quan hệ nô dịch vẫn còn được truyền lại giữa các dân tộc, như mối quan hệ căng thẳng giữa người Songhai và Tuareg. Trong 40 năm qua, nạn hạn hán đã buộc nhiều người Tuareg phải từ bỏ lối sống du mục của mình.
Ngôn ngữ được sử dụng chính thức ở Mali là tiếng Pháp, nhưng hơn 40 ngôn ngữ châu Phi cũng được các nhóm sắc tộc khác nhau sử dụng. Khoảng 80% dân số Mali có thể giao tiếp bằng tiếng Bambara, vốn là ngôn ngữ chung của nhiều nhóm sắc tộc và được dùng chủ yếu trong giao tiếp.
=== Tôn giáo ===
Ước tính có khoảng 90% dân số Mali theo đạo Hồi (phần lớn là hệ phái Sunni), khoảng 5% là theo Kitô giáo (khoảng hai phần ba theo Giáo hội Công giáo Rôma và một phần ba là theo Tin Lành) và 5% còn lại theo các tín ngưỡng vật linh truyền thống bản địa. Một số ít người Mali theo thuyết vô thần và thuyết bất khả tri, phần lớn họ thực hiện những nghi lễ tôn giáo cơ bản hằng ngày. Các phong tục Hồi giáo ở Mali có mức độ vừa phải, khoan dung, và đã thay đổi theo các điều kiện của địa phương; các mối quan hệ giữa người Hồi giáo và các cộng đồng tôn giáo nhỏ khác nói chung là thân thiện. Hiến pháp của Mali đã quy định một thể chế nhà nước thế tục và ủng hộ quyền tự do tôn giáo, và chính phủ Mali phải đảm bảo quyền này.
== Y tế và giáo dục ==
Mali phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe liên quan tới nghèo, suy dinh dưỡng, và vệ sinh. Các chỉ số sức khỏe và phát triển của Mali thuộc vào hàng thấp nhất trên thế giới. Trong năm 2000, ước tính chỉ có 62–65 phần trăm dân số có thể tiếp cận được với nguồn nước an toàn và chỉ 69 phần trăm dân số được tiếp cận một số loại hình dịch vụ vệ sinh. Năm 2001, chi tiêu của chính phủ về y tế nói chung vào khoảng 4 đô la trung bình mỗi người dân. Các cơ sở y tế ở Mali rất hạn chế, và luôn ở trong tình trạng thiếu thuốc sử dụng. Sốt rét và các bệnh do động vật chân khớp đang lan tràn nhiều vùng ở Mali, cùng với các bệnh nhiễm khuẩn như tả và lao. Dân số Mali cũng có một tỉ lệ cao trẻ suy dinh dưỡng và tỉ lệ tiên chủng thấp. Ước tính khoảng 1,9 phần trăm dân số Mali bị ảnh hưởng bởi đại dịch HIV/AIDS và nằm trong số những nước có tỉ lệ bệnh này thấp nhất ở khu vực Châu Phi cận Sahra.
Giáo dục công của Mali theo nguyên tắc miễn phí và bắt buộc đối với trẻ em từ 7 tuổi đến 16 tuổi. Hệ thống giáo dục bao gồm sáu năm tiểu học bắt đầu lúc trẻ em bảy tuổi, sau đó là sáu năm trung học. Tuy nhiên, tỉ lệ đến trường của trẻ em Mali lại thật sự thấp, phần lớn là vì lý do ngân sách của các gia đình không thể trang trải chi phí đồng phục, sách, dụng cụ, và các lệ phí khác để được đến trường. Trong năm học 2000–01, tỉ lệ đến trường của trẻ em học tiểu học là 61% (71% trẻ em trai và 51% đối với trẻ em gái); trong cuối thập niên 1990, tỉ lệ nhập học ở bậc trung học là 15% (20% trẻ em trai và 10% đối với trẻ em gái). Hệ thống giáo dục còn thiếu hoàn chỉnh ở nông thôn do thiếu trường học, đi cùng với việc thiếu giáo viên và sách vở, dụng cụ. Ước tính tỉ lệ biết chữ ở Mali dao động trong khoảng 27–30% đến 46.4% dân số, với tỉ lệ phụ nữ biết chữ đặc biệt thấp hơn đàn ông.
== Văn hóa ==
Âm nhạc truyền thống của Mali bắt nguồn từ các griot, được biết đến như là những "Người lưu giữ kỷ niệm". Âm nhạc Mali phong phú và có nhiều thể loại khác nhau. Một số nghệ sĩ nổi tiếng của Mali là bậc thầy kora Toumani Diabaté, tay guitar Ali Farka Touré, băng nhạc Tinariwen người Tuareg, và vài nghệ sĩ nhạc pop châu Phi như Salif Keita, cặp đôi Amadou et Mariam, Oumou Sangare, và Habib Koité.
Mặc dù văn học của Mali kém nổi tiếng hơn nền âm nhạc của chính quốc gia này, Mali vẫn luôn là một trong những trung tâm văn hóa tri thức sống động nhất châu Phi. Nền văn học truyền thống của Mali được tiếp thủ chủ yếu bằng truyền miệng, với những bài hát hay câu chuyện có tên là jalis được học thuộc lòng qua nhiều thế hệ. Amadou Hampâté Bâ, nhà sử học nổi tiếng của Mali, đã dành phần lớn thời gian cuộc đời của ông để ghi chép lại những nét văn hóa truyển miệng này nhằm ghi nhận bản sắc văn hóa của Mali vào văn hóa chung của thế giới. Nhà văn viết tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Mali là Yambo Ouologuem với tác phẩm Le devoir de violence đã giành được giải thưởng Prix Renaudot năm 1968 nhưng di sản của ông lại bị tổn hại bởi những cáo buộc đạo văn. Các nhà văn nổi tiếng khác của Mali bao gồm Baba Traoré, Modibo Sounkalo Keita, Massa Makan Diabaté, Moussa Konaté, và Fily Dabo Sissoko.
Các sinh hoạt văn hóa hằng ngày khác biệt của người Mali phản ánh tính đa dạng về sắc tộc và địa lý của đất nước. Phần lớn người Mali mặc một loại áo dài có tên là boubous, một trang phục truyền thống của vùng Tây Phi. Người Mali thường xuyên tham gia các lễ hội truyền thống, khiêu vũ và nghi lễ. Gạo và kê là nguyên liệu chủ yếu của ẩm thực Mali, vốn chủ yếu được làm từ các sản phẩm ngũ cốc. Ngũ cốc được ăn cùng với nước sốt làm từ lá của cây bina hay bao báp có thêm cà chua, hay nước sốt đậu phộng, và có thể đi kèm với thịt nướng (điển hình là gà, cừu, bò, hay dê). Ẩm thực của Mali thay đổi theo từng vùng.
== Thể thao ==
Môn thể thao phổ biến nhất ở Mali là bóng đá, vốn được chú ý hơn khi Mali là chủ nhà của Cúp bóng đá châu Phi 2002. Hầu hết các thành phố đều có các đội bóng địa phương; các đội bóng nổi tiếng ở tầm quốc gia là Djoliba AC, Stade Malien, và Real Bamako, tất cả đều ở thủ đô. Trẻ em thường dùng các mảnh vải rách được bó thành quả bóng để chơi. Quốc gia này cũng là nơi sản sinh nhiều cầu thủ xuất sắc có mặt trong đội hình tuyển Pháp như Salif Keita và Jean Tigana. Frédéric "Fredi" Kanouté, đạt danh hiệu Cầu thủ bóng đá châu Phi của năm 2007, hiện đang chơi cho câu lạc bộ Sevilla FC tại giải La Liga của Tây Ban Nha. Những cầu thủ khác cũng thi đấu tại Tây Ban Nha là Mahamadou Diarra, hiện đang là đội trưởng bóng đá Mali, đang chơi cho Real Madrid và Seydou Keita chơi cho FC Barcelona. Các cầu thủ khác hiện tại cũng đang thi đấu tại các giải bóng đá châu Âu như Mamady Sidibe (Stoke City), Mohammed Sissoko (Juventus), Sammy Traore (Paris Saint-Germain), Adama Coulibaly (AJ Auxerre), Kalifa Cisse và Jimmy Kebe (Reading F.C.), và Dramane Traoré (Lokomotiv Moskva). Bóng rổ cũng là một môn thể thao chính ở Mali; Đội tuyển bóng rổ quốc gia nữ Mali, do Hamchetou Maiga làm thủ lĩnh, đã tranh tài tại Thế vận hội Bắc Kinh 2008. Vật truyền thống (la lutte) là môn thể thao tương đối phổ biến, mặc dù đã suy giảm trong những năm gần đây. Trò chơi oware, một biến thể của môn mancala được chơi trong những lúc nhàn rỗi.
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
=== Tham khảo ===
African Development Bank (2001). African Economic Outlook. OECD Publishing. ISBN 9264197044.
Campbell, Bonnie (2004). Regulating Mining in Africa: For Whose Benefit?. Uppsala, Sweden: Nordic African Institute. ISBN 978-0761475712.
Cavendish, Marshall (2007). World and Its Peoples: Middle East, Western Asia, and Northern Africa. Tarrytown, New York: Marshall Cavendish. ISBN 978-0761475712.
Constitution of Mali. (tiếng Pháp) A student-translated English version is also available.
DiPiazza, Francesca Davis (2006). Mali in Pictures. Minneapolis, Minnesota: Learner Publishing Group. ISBN 978-0822565918.
Hudgens, Jim, Richard Trillo, and Nathalie Calonnec. The Rough Guide to West Africa. Rough Guides (2003). ISBN 1-84353-118-6.
Mali country profile. Library of Congress Federal Research Division (tháng 1 năm 2005). This article incorporates text from this source, which is in the public domain.
Martin, Phillip L. (2006). Managing Migration: The Promise of Cooperation. Lanham, Maryland: Lexington Books. ISBN 978-0739113417.
May, Jacques Meyer (1968). The Ecology of Malnutrition in the French Speaking Countries of West Africa and Madagascar. New York, New York: Macmillan Publishing Company. ISBN 978-0028489605.
Mwakikagile, Godfrey. Military Coups in West Africa Since The Sixties, Huntington, New York: Nova Science Publishers, 2001.
Milet, Eric & Jean-Luc Manaud. Mali. Editions Olizane (2007). ISBN 2-88086-351-1. (tiếng Pháp)
Pye-Smith, Charlie & Rhéal Drisdelle. Mali: A Prospect of Peace? Oxfam (1997). ISBN 0-85598-334-5.
Velton, Ross. Mali. Bradt Travel Guides (2004). ISBN 1-84162-077-7.
== Liên kết ngoài ==
Government of Mali official portal
Chief of State and Cabinet Members
Thông tin chung
Country Profile from BBC News
Mục “Mali” trên trang của CIA World Factbook.
Mali from UCB Libraries GovPubs
Mali tại DMOZ
Wikimedia Atlas của Mali, có một số bản đồ liên quan đến Mali.
Islamic Architecture in Mali
Du lịch
Government Ministry of Culture and Tourism |
việt thường.txt | Việt Thường (chữ Hán: 越裳, còn được viết là 越常, 越嘗), còn gọi là Việt Thường thị (越裳氏) là một quốc gia hoặc bộ lạc cổ đại được nhắc đến trong một số thư tịch cổ của Trung Quốc và Việt Nam.
== Vị trí ==
Thư tịch đầu tiên đề cập tới nước Việt Thường là sách "Thượng thư đại truyện" (尚書大傳). Theo "Thượng thư đại truyện", "Hậu Hán thư" và "Tư trị thông giám cương mục" (資治通鑑綱目) thì nước Việt Thường nằm ở phía nam Giao Chỉ. Theo sách Việt sử lược Việt Thường thị không phải là một quốc gia mà là một bộ lạc ở Giao Chỉ.
Từ việc tên gọi "Việt Thường" trong Hán văn có ba cách viết khác nhau là 越裳, 越嘗, 越常 Đào Duy Anh đoán rằng "Việt Thường" là phiên âm của tên gọi của nước Việt Thường trong tiếng nước Việt Thường, vì là một cái tên phiên âm nên tên gọi Việt Thường có thể viết bằng bất kỳ chữ Hán nào có âm đọc giống như vậy. Thời Tây Chu, vua nước Sở là Hùng Cừ phong cho con trai út của mình là Chấp Tì (執疵) đất Việt Chương (越章). Theo Đào Duy Anh trong tiếng Trung Quốc "Việt Chương" và "Việt Thường" đồng âm với nhau, hai cái tên này chỉ là một, chỉ khác nhau về tự dạng, nước Việt Thường chính là nằm trên đất Việt Chương. Thời Hán có một quận gọi là quận Dự Chương (豫章). Cũng theo Đào Duy Anh trong tiếng Trung Quốc "Dự Chương" phát âm gần giống với "Việt Chương/Việt Thường", Đào Duy Anh đoán rằng có thể quận Dự Chương được lập trên đất Việt Thường/Việt Chương cũ. Đất của quận Dự Chương theo Đào Duy Anh ngày nay thuộc Nam Xương, tỉnh Giang Tây, Trung Quốc. Đào Duy Anh cho rằng "Việt Thường" và "Việt Chương" trong tiếng Trung Quốc là đồng âm nhưng trong thực tế thì trong tiếng phổ thông Trung Quốc "Việt Thường" và "Việt Chương" được đọc khác nhau, trong tiếng Hán thượng cổ "Việt Thường", "Việt Chương" và "Dự Chưong" cũng không đồng âm.
== Dâng chim trĩ trắng cho Chu Thành vương ==
Theo sách "Thượng thư đại truyện" và "Hậu Hán thư" thì vào năm thứ sáu kể từ khi Chu Công nhiếp chính người nước Việt Thường đi bằng ba con voi đến dâng chim trĩ trắng cho Chu Thành vương. Hai bên đều không có ai biết tiếng của nhau nên phải dùng cách phiên dịch gián tiếp qua ngôn ngữ khác để nói chuyện.
Theo sách Việt sử lược vào thời Chu Thành vương bộ lạc Việt Thường thị cho người đến dâng chim trĩ trắng.
Theo "Tư trị thông giám cương mục" thì vào năm thứ sáu kể từ khi Chu Thành vương lên ngôi, tức là năm Tân Mão, người nước Việt Thường thị đến dâng chim trĩ trắng. Vì không biết tiếng của nhau nên khi nói chuyện hai bên phải qua ba lần phiên dịch mới hiểu được nhau. Khi sứ giả Việt Thường thị về nước vì sứ giả không biết đường nên Chu Công đã cho lấy năm cỗ xe bình xa (軿車, xe có màn che thời xưa) sửa thành xe chỉ nam rồi cấp cho sứ giả để giúp sứ giả xác định phương hướng. Sứ giả Việt Thường thị đi dọc theo bờ biển hai nước Phù Nam và Lâm Ấp để về nước. Khâm định Việt sử thông giám cương mục cũng có nói tới chuyện người Việt Thường thị dâng chim trĩ cho nhà Chu, nội dung hoàn toàn giống với chuyện kể trong "Tư trị thông giám cương mục".
== Thơ ca ==
Ca dao Việt Nam có câu:
Tháng năm ngày tết Đoan Dương.
Là ngày giỗ mẹ Việt Thường Văn Lang
== Chú thích == |
carsten jensen.txt | Carsten Jensen (sinh ngày 24.7.1952 tại Marstal trên đảo Ærø, Đan Mạch) là một nhà văn Đan Mạch, đã đoạt giải Olof Palme năm 2009.
== Cuộc đời và Sự nghiệp ==
Carsten Jensen đậu bằng thạc sĩ văn chương ở Đại học Copenhagen năm 1981. Ông nổi tiếng về các bài phóng sự, các bài tiểu luận phê bình xã hội đăng trên các báo Dagbladet Information, Politiken, Aktuelt, Ekstra Bladet và Morgenavisen Jyllands-Posten của Đan Mạch trong thập niên 1980. Từ năm 1985-1990 ông là trưởng ban biên tập tạp chí định kỳ "Fredag" (ngày Thứ Sáu).
Năm 1997 Carsten Jensen đoạt Boghandlernes Gyldne Laurbær (giải Cành cọ vàng của Hội các nhà buôn bán sách) cho bài tường thuật chuyến đi "Jeg har set verden begynde" (Tôi đã thấy thế giới bắt đầu), trong năm 1996. Năm 2001 ông làm giáo sư phụ tá môn phân tích văn học ở Phân khoa Nhân văn Đại học Nam Đan Mạch. Từ năm 2000-2003 ông là hội viên của Det Kulturelle Vismandsråd (Hội đồng nhà thông thái văn hoá, tương đương Hội đồng Văn hóa cấp cao). Năm 2007 ông đoạt "giải tiểu thuyết của đài phát thanh P2" và "giải Văn học của Ngân hàng Đan Mạch" cho quyển "Vi, de druknede" (Chúng ta, những người nghiện rượu) với tiền giải là 300.000 krone Đan Mạch. Carsten Jensen đoạt giải Olof Palme năm 2009 cho các bài phê bình chỉ trích Đan Mạch về vấn đề nhân quyền.
== Đời tư ==
Carsten Jensen sống chung (mà không kết hôn) với nhà văn nữ Liz Jensen. Họ có một con gái.
== Tác phẩm ==
Salg, klasse og død, 1975
Sjælen sidder i øjet, 1985
På en mørkeræd klode, 1986
Souveniers fra 80'erne, 1988
Kannibalernes nadver, 1988
Jorden i munden, 1991
Af en astmatisk kritikers bekendelser, 1992
Forsømmelsernes bog, 1993
Jeg har set verden begynde, 1996
Jeg har hørt et stjerneskud, 1997
År to & tre, 1999
Oprøret mod tyngdeloven, 2001
Jorden rundt (2003)
Livet i Camp Eden (2004)
Det glemte folk - en rejse i Burmas grænseland (2004)
Vi, de druknede (2006)
Sidste rejse (2007)
== Tham khảo == |
canal+.txt | Canal+ ("Canal Plus", "C+" tức là "Kênh đặc sắc" tiếng Pháp) là kênh truyền hình trả tiền cao cấp khởi công vào năm 1984. Sở hữu bởi tập đoàn Canal+, sau này chuyển qua Vivendi SA. Kênh này có nhiều loại chương trình, phần lớn được mã hóa. Các kênh không mã hóa có thể xem trên Canal+ hoặc qua vệ tinh Canal+ Clair.
== Xem thêm ==
Website chính thức (tiếng Pháp)
== Tham khảo == |
chuyên gia.txt | Chuyên gia là thuật ngữ chỉ về những người người được đào tạo theo hướng chuyên sâu có kinh nghiệm thực hành công việc và có kỹ năng thực tiễn, lý luận chuyên sâu về một lĩnh vực cụ thể hoặc có hiểu biết vượt trội so với mặt bằng kiến thức chung.
Các chuyên gia có thể tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp (thông qua việc cho ý kiến, tham vấn) vào một công việc hay một lĩnh vực cụ thể. Một trong những đặc điểm quan trọng để nhận dạng chuyên gia so với các chuyên viên, đồng nghiệp thông thường là:
Kỹ năng, nghề nghiệp vượt trội đồng nghiệp.
Trong công việc luôn cho kết quả chính xác.
Tinh thông nghiệp vụ, am tường về công việc đang làm.
Được Tổ chức có thẩm quyền thừa nhận hoặc công nhận bằng văn bản.
Có khả năng tư vấn thông thạo trên mọi lĩnh vực...
== Tham khảo ==
== Chú thích == |
ban văn hoá - xã hội hội đồng nhân dân thành phố hà nội.txt | Ban Văn hóa - Xã hội Hội đồng Nhân dân Thành phố Hà Nội là cơ quan chuyên trách của Hội đồng Nhân dân thành phố.
Ban có chức năng giám sát công tác mọi mặt đời sống xã hội của nhân dân, giáo dục, khoa học xã hội, y tế sức khỏe nhân dân... của thành phố.
== Nhiệm vụ và quyền hạn ==
Ban Văn hóa - Xã hội Hội đồng Nhân dân thành phố có quyền hạn và nhiệm vụ sau:
Tham gia chuẩn bị nội dung kỳ họp của Hội đồng nhân dân liên quan đến lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao và chính sách tôn giáo;
Thẩm tra dự thảo nghị quyết, báo cáo, đề án liên quan đến lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao và chính sách tôn giáo do Hội đồng nhân dân hoặc Thường trực Hội đồng nhân dân phân công;
Giúp Hội đồng nhân dân giám sát hoạt động của Uỷ ban nhân dân và các cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân thành phố về lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao và chính sách tôn giáo; giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và công dân trong việc thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên và nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố về lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao và chính sách tôn giáo;
Tổ chức khảo sát tình hình thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao và chính sách tôn giáo tại địa phương;
Kiến nghị với Hội đồng nhân dân về những vấn đề thuộc lĩnh vực giáo dục, y tế, xã hội, văn hoá, thông tin, thể dục thể thao và chính sách tôn giáo;
Báo cáo kết quả hoạt động giám sát với Thường trực Hội đồng nhân dân và Hội đồng nhân dân.
== Bầu cử ==
Ban Văn hóa - Xã hội do Hội đồng Nhân dân thành phố bầu ra trong kỳ họp đầu tiên của Hội đồng Nhân dân thành phố. Hội đồng Nhân dân thành phố có quyền bãi nhiệm hoặc bổ nhiệm thành viên trong ban văn hóa xã hội.
Thường trực Hội đồng Nhân dân có thể quyết định thay Hội đồng Nhân dân trong khi không họp và trình quyết định bổ nhiệm hoặc bãi nhiệm cho Hội đồng Nhân dân vào phiên họp kế tiếp.
== Tổ chức ==
Ban Pháp chế gồm:
Trưởng ban
Phó Trưởng ban
Các Ủy viên
Tổ chức Ban pháp chế của thành phố hiện nay (nhiệm kỳ 2011-2016):
Trưởng ban
Nguyễn Thị Thùy
Phó Trưởng ban
Đỗ Trung Hai
Đặng Việt Quân
Phạm Xuân Tài
Ủy viên ban
Hoàng Trọng Quyết
Đặng Văn Chính
Nguyễn Thị Xuân Nữ
Vũ Cao Minh
Bùi Đức Hiếu
Lê Văn Thành
Nguyễn Thị Tuyến
Nguyễn Ngọc Thạch
Nguyễn Khắc Lợi
Vũ Mạnh Hải
Nguyễn Văn Phong
== Tham khảo == |
văn hóa đa bút.txt | Văn hóa Đa Bút là tên gọi một nền văn hóa Việt Nam ở sơ kỳ thời đại đồ đá mới có niên đại sau các nền văn hóa Hòa Bình và Bắc Sơn, cách đây từ 5000 đến 6000 năm. Không gian của văn hóa Đa Bút là dải đất nằm từ hữu ngạn sông Đáy đến lưu vực sông Mã thuộc các tỉnh Ninh Bình và Thanh Hóa ngày nay. Tính đến năm 2010, đã có hơn 10 điểm văn hóa Đa Bút được phát hiện và khai quật. Các bộ lạc chủ nhân của văn hóa Đa Bút đã tạo ra nền văn hóa Đông Sơn.
== Đặc điểm ==
Đa Bút là đặt theo tên một thôn ở huyện Vĩnh Lộc, Thanh Hóa - nơi đầu tiên tìm được những di vật của nền văn hóa này. Sau những phát hiện và khai quật Cồn Cổ Ngựa, Cồn Trũng, Bản Thuỷ, Làng Còng (Thanh Hóa) và Hang Sáo, Đồng Vươn (Ninh Bình) nhận thức về địa bàn phân bố và môi trường của Văn hóa Đa Bút trải rộng trên mặt không gian từ vùng núi đến vùng đồng bằng ven biển với nhiều loại hình di tích khác nhau đã cho thấy môi trường văn hoá đa dạng của Văn hóa Đa Bút. Thành tựu quan trọng của 80 năm phát hiện và nghiên cứu đã nhận ra những đặc trưng cơ bản của Văn hóa Đa Bút:
" Sự nảy sinh của đồ gốm đồng thời với sự hoàn thiện kỹ thuật mài là hai nét đặc trưng quan trọng nhất tạo nên bộ mặt của Văn hóa Đa Bút" (Trần Quốc Vượng).
Nghiên cứu đồ gốm Đa Bút buổi đầu mới phát hiện và khai quật di tích này E.Patte đã cho rằng: người Đa Bút đã dùng khuôn đan để chế tạo đồ gốm. Các thực nghiệm của Viện khảo cổ học cho biết: Đồ gốm Đa Bút được tạo bằng kỹ thuật nặn khối, sử dụng hòn kê, bàn đập. Đồ gốm Đa Bút đến giai đoạn cuối có sự phát triển về thể loại hình kỹ thuật, hoa văn, độ nung gốm cao hơn, các loại văn hoa và kiểu dáng. Sự có mặt các loại đồ gốm mỏng, văn hoa đa dạng, sương gốm mịn hơn được xem là sự phát triển của kỹ thuật chế tạo đồ gốm. Đồ gốm Đa Bút được xem là yếu tố văn hóa nổi trội mang tính riêng biệt của chủ nhân văn hóa Đa Bút. Đặt đồ gốm Đa Bút trong nền cảnh thời đại mới ở Việt Nam có thể xem gốm Đa Bút là tập hợp sớm nhất. Địa bàn phân bố của Đa Bút được xem là trung tâm văn hóa đồ gốm sớm ở Việt Nam. Tuy nhiên, vào những năm sau 2010, khi khai quật các di chỉ khảo cổ học ở quần thể di sản thế giới Tràng An, các nhà khảo cổ đã tìm thấy trong các hang động nhiều vật dụng gốm, được xác định là ra đời sớm nhất Việt Nam, có niên đại khoảng 9000 năm, thuộc nền văn hóa Tràng An.
Kỹ thuật chế tác công cụ đá của chủ nhân Văn hóa Đa Bút có sự phát triển và hướng tới sự hoàn chỉnh. Từ hai loại nguyên liệu được khai thác tại chỗ: đá cuội và đá phiến, chủ nhân Văn hóa Đa bút đã áp dụng kỹ thuật mài cưa để tạo ra những công cụ thích hợp, đem lại hiệu quả cao. Sự phát triển của kỹ thuật mài của đá cho phép cưa đá người Đa Bút chế tác được các loại rùi tứ giác khá hoàn chỉnh. Sưu tập đá của Văn hóa Đa Bút với các loại di vật tiêu biểu từ rùi mài lưới, mài toàn thân đến rìu tứ giác, rìu hình thanh được mài nhẵn, các loại cước đá to mài nhẵn đã cho ta thấy sự phát triển vượt trội của kỹ thuật chế tác các công cụ đá. Kiến thức ngày nay với sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuât mới đã giúp cho các nhà khảo cổ học nhận thức đúng hơn về môi trường, đời sống của cư dân Đa Bút qua các tư liệu mới về văn hóa này.
Từ một di tích khảo cổ học Đa Bút, đến nay Văn hóa Đa Bút đã được phân thành các giai đoạn phát triển khác nhau: Văn hóa Đa Bút có thể gọi là một phức hệ phát triển văn hóa lâu dài từ sau Văn hóa Hoà Bình đến cuối đá mới – mà thực chất là một quá trình "đá mới đá" được thực hiện trong sự chuyển đổi môi trường từ các thung lũng đá vôi Hoà Bình đã và đang tạo nên một bước ngoặt lớn trong quá trình phát triển của tiền sử Việt Nam.
== Các di chỉ khảo cổ ==
Di tích khảo cổ học Đa Bút (Vĩnh Tân, Vĩnh Lộc, Thanh Hóa) được phát hiện đầu tiên vào năm 1926. Kết quả khai quật đầu tiên cho biết đây là dạng di tích Cồn vỏ nhuyễn thể – Cồn hến như kiểu "đóng rác bếp". Những di vật phát hiện đầu tiên như: rùi đá, cuốc đá, bàn nghiền, chày nghiến, đồ gốm đã cho biết di tích này có niên đại đá mới.
Di tích núi Hang Sáo (Quang Sơn, Tam Điệp, Ninh Bình) với nhiều hang động và mái đá có dấu ấn của cư dân văn hóa Hòa Bình và cư dân văn hóa Đa Bút sống cách ngày nay từ 5.000 đến 10.000 năm.
Di tích Đồng Vườn (Yên Thành - Yên Mô, Ninh Bình) là một di chỉ thuộc thời đại văn hóa Đa Bút. Đây là di chỉ cư trú ngoài trời ở Ninh Bình.
Di tích khảo cổ học Cồn Cổ Ngựa (Hà Lĩnh, Hà Trung, Thanh Hoá). Được khai quật những năm 1979 - 80 trên diện tích 235 m2 xuất hiện nhiều di vật văn hóa Đa Bút.
Cụm di tích hang ốc; Núi ốp (Yên Sơn, Tam Điệp, Ninh Bình) xuất lộ dấu ấn cư dân văn hóa Đa Bút và Cư dân văn hóa Đông Sơn.
Di chỉ khảo cổ học Cồn Trũng (Phú Lộc, Hậu Lộc, Thanh Hoá) có niên đại thuộc giai đoạn từ sơ kỳ đá mới chuyển sang hậu kỳ đồ đá mới thuộc văn hóa Đa Bút.
Cụm di tích hang Mo; hang Cò; hang Trâu; hang Hũ Ngoài; hang Hũ Trong; mái đá Thung Bình thuộc khu du lịch Tràng An ở Ninh Bình có dấu ấn văn hóa Tràng An, văn hóa Hòa Bình và Đa Bút.
Di tích hang Khỉ (Đông Sơn - Tam Điệp, Ninh Bình) xuất lộ một số mảnh gốm cùng vỏ nhuyễn thể trên bề mặt nơi đây có dấu ấn văn hóa Đa Bút.
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Nguyễn Cảnh Minh (2007), "Thời đại nguyên thủy trên đất nước Việt Nam", trong Trương Hữu Quýnh chủ biên (2007), Đại cương lịch sử Việt Nam - Tập I, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội. |
intel 80386.txt | Intel 80386 (còn có các tên gọi là 80386, 80386DX, 386, hay 386DX) là bộ vi xử lý 32-bit của hãng Intel có từ năm 1985 được dùng trong các máy IBM (PS/2) và bản sao của máy IBM PC. Đối với lập trình viên nó còn gọi là kiến trúc i386 hay x86_32.Intel gọi nó là IA-32. Chip này có thanh ghi 32-bit, với bus dữ liệu 32-bit và có khả năng địa chỉ hóa đến 32-bit. Giống 80286, nó có khả năng hoạt động trong hai chế độ thực (real mode) và bảo toàn (protected mode). Trong chế độ thực (chế độ này tương thích được với MS-DOS) dung lượng địa chỉ có thể xử lý là 1 MB. Trong chế độ bảo toàn, nó có thể địa chỉ hóa tới 4 GB. Ngoài ra, 80386, còn có khả năng vận hành trong chế độ 8086 ảo (virtual 8086 mode), chế độ này cho phép hệ điều hành chia con 80386DX ra thành nhiều phần mà mỗi phần tương đương với một bộ vi xử lý 8086, chúng có riêng 1 MB không gian nhớ và cho phép các 8086 này chạy chương trình riêng của nó. Từ Pentium 4 trở đi, Intel mở rộng thêm kiến trúc IA-32 thêm mode IA-32e. IA-32e chia ra thêm 2 mode nhỏ là compality mode và 64 bit mode. |
công an nhân dân việt nam.txt | Công an Nhân dân Việt Nam là một lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, làm nòng cốt, xung kích trong sự nghiệp bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Công an nhân dân có chức năng tham mưu cho Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam về bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; thực hiện thống nhất quản lý về bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội; đấu tranh phòng, chống âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, các loại tội phạm và các vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Công an Nhân dân Việt Nam đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự thống lĩnh của Chủ tịch nước, sự thống nhất quản lý của Chính phủ và sự chỉ huy, quản lý trực tiếp của Bộ trưởng Bộ Công an. Khẩu hiệu của lực lượng từ những ngày đầu thành lập là "Bảo vệ An ninh Tổ quốc".
== Từ Công an ==
Từ "công an" là một từ gốc Hán (公安) và được sử dụng tại các quốc gia Việt Nam (公安-công an), Nhật Bản(公安-こうあん)và Hàn Quốc 公安-공안). Nghĩa của nó được hình thành bởi hai chữ Hán "Công" nghĩa là "công cộng" và "an" nghĩa là "trật tự", "hoà bình". "Công an", theo đó, có nghĩa là "lực lượng gìn giữ trật tự công cộng".
== Lịch sử ==
=== Quá trình hình thành ===
Nguồn gốc của lực lượng Công an Nhân dân Việt Nam được xem là bắt đầu từ các đội Tự vệ Đỏ trong phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh (1930-1931), các Đội Danh dự trừ gian, Hộ lương diệt ác... do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập với mục đích bảo vệ tổ chức. Những năm 1930 - 45, để chống các hoạt động phá hoại và do thám của thực dân Pháp và chính quyền tay sai, bảo vệ cách mạng, Đảng Cộng sản Đông Dương đã thành lập các đội: Tự vệ đỏ, Tự vệ công nông, Danh dự trừ gian, Danh dự Việt Minh. Đó là những tổ chức tiền thân của công an nhân dân và quân đội nhân dân sau này.
Sau cuộc Cách mạng tháng Tám (nổ ra ngày 19 tháng 8 năm 1945), chính quyền lâm thời của Việt Minh đã có chỉ thị thành lập một lực lượng vũ trang có nhiệm vụ bảo vệ an ninh trật tự. Tuy nhiên, lực lượng này chưa có tên gọi chung mà mang nhiều tên gọi khác nhau, như Sở Liêm phóng (ở Bắc Bộ), Sở trinh sát (ở Trung Bộ), Quốc gia tự vệ cuộc (ở Nam Bộ). Đến ngày 21 tháng 2 năm 1946, Chủ tịch Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 23/SL hợp nhất các lực lượng này thành một lực lượng công an nhân dân ở cả ba miền được thống nhất một tên gọi thống nhất là Công an có nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia và giữ gìn trật tự an toàn xã hội; và thành lập Việt Nam Công an Vụ để quản lý lực lượng công an nhân dân do một Giám đốc đứng đầu, mà người đầu tiên là Lê Giản.
Trong thời kỳ đầu, cơ quan quản lý ngành Công an là Nha Công an vụ, trực thuộc Bộ Nội vụ. Đến ngày 16 tháng 2 năm 1953, thành lập thành Thứ bộ Công an, trực thuộc Bộ Nội vụ, đứng đầu là một Thứ trưởng. Đến năm 1955, thì tách hẳn thành Bộ Công an. Năm 1959, sáp nhập các lực lượng biên phòng thành lực lượng Công an vũ trang (nay là lực lượng Biên phòng) trực thuộc quyền quản lý của Bộ Công an (về sau lại chuyển về trực thuộc Bộ Quốc phòng). Cũng từ năm này, lực lượng Công an được tổ chức vũ trang và bán vũ trang theo biên chế, có phù hiệu và cấp hàm tương tự như quân đội.
=== Cơ quan quản lý qua các thời kỳ ===
19 tháng 8 năm 1945 - 21 tháng 2 năm 1946: Sở Liêm phóng (ở Bắc Bộ), Sở trinh sát (ở Trung Bộ), Quốc gia tự vệ cuộc (ở Nam Bộ).
1946-1953: Nha Công an vụ, trực thuộc Bộ Nội vụ.
1953-1955: Thứ Bộ Công an trực thuộc Bộ Nội vụ.
1955-1975: Bộ Công an.
1975-1998: Bộ Nội vụ.
1998-nay: Bộ Công an.
Trừ 2 bộ trưởng đầu tiên là dân sự, các đời bộ trưởng về sau đều là sĩ quan cấp tướng.
=== Ngày truyền thống ===
Ngày 19 tháng 8 hằng năm được lấy làm ngày truyền thống của Công an Nhân dân Việt Nam và được quy định là "Ngày hội toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc".
== Tổ chức ==
Hệ thống tổ chức của Công an nhân dân gồm có:
Bộ Công an;
Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh;
Công an xã, phường, thị trấn.
Công an xã là lực lượng vũ trang bán chuyên trách làm nòng cốt trong phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở cơ sở, chịu sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của cấp uỷ Đảng, sự quản lý, điều hành của Ủy ban nhân dân xã và sự chỉ đạo, hướng dẫn nghiệp vụ của Công an cấp trên. Tổ chức, hoạt động, trang bị, trang phục, đào tạo, bồi dưỡng và chế độ, chính sách đối với Công an xã do pháp luật quy định.
Trong lực lượng Công an Nhân dân chia thành hai lực lượng riêng biệt là Cảnh sát Nhân dân và An ninh Nhân dân, thực thi các nhiệm vụ chuyên biệt.
Nhiệm vụ của An ninh nhân dân
- Phòng ngừa, phát hiện, làm thất bại các âm mưu, hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia.
- Hoạt động tình báo.
- Hướng dẫn và phối hợp với các tổ chức thực hiện công tác bảo vệ an ninh chính trị nội bộ, an ninh kinh tế, an ninh văn hoá - tư tưởng, an ninh thông tin; tham gia thẩm định quy hoạch, kế hoạch, dự án phát triển kinh tế - xã hội liên quan đến bảo vệ an ninh quốc gia.
- Thực hiện quản lý công tác xuất cảnh, nhập cảnh; quản lý người nước ngoài và người Việt Nam định cư ở nước ngoài cư trú tại Việt Nam; quản lý về bảo vệ bí mật nhà nước; thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia ở biên giới, cửa khẩu theo quy định của pháp luật.
- Làm nòng cốt xây dựng thế trận an ninh nhân dân trên các lĩnh vực, tại các địa bàn.
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
Nhiệm vụ của Cảnh sát nhân dân
- Phòng ngừa, phát hiện, đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật về trật tự, an toàn xã hội, về bảo vệ môi trường; phát hiện nguyên nhân, điều kiện phát sinh tội phạm, vi phạm pháp luật khác và kiến nghị biện pháp khắc phục; tham gia giáo dục đối tượng vi phạm pháp luật tại cộng đồng theo quy định của pháp luật.
- Quản lý hộ khẩu, cấp giấy chứng minh nhân dân; quản lý con dấu; quản lý về an ninh, trật tự các nghề kinh doanh có điều kiện và dịch vụ bảo vệ; quản lý và bảo đảm trật tự, an toàn giao thông, trật tự công cộng; quản lý vũ khí, vật liệu nổ; quản lý, thực hiện công tác phòng cháy, chữa cháy; tham gia cứu hộ, cứu nạn theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.
== Trang phục ==
Cơ bản trang phục của tất cả các lực lượng trong ngành công an nhân dân đều có chung một quy tắc là quân hàm đeo hai bên vai, huy hiệu ve áo được sử dụng tùy cấp bậc của người mặc, cấp hạ sĩ quan và chiến sĩ sử dụng ve áo hình bình hành nền đỏ ở giữa có hình công an hiệu, sĩ quan cấp úy là cành tùng màu bạc, cấp tá màu vàng và cấp tướng là màu vàng có ngôi sao.
=== An ninh nhân dân ===
- Trang phục của lực lượng An ninh nhân dân được chia làm hai mẫu là xuân-hạ và thu-đông. Trang phục xuân-hạ có áo sơ mi màu cỏ úa tay ngắn, nẹp bong, có bật vai đeo cấp hiệu. Quần âu màu rêu sẫm. Mũ kepi màu rêu sẫm, lưỡi trai đen. Đối với cấp tướng, lưỡi trai mũ kepi bọc dạ đen, gắn hai cành tùng màu vàng. Giày da cổ thấp, tất xanh mạ non. Mẫu trang phục thu-động có quần, tất, giày, mũ như trang phục xuân-hè, áo trong sơ mi trắng, cravas vào rêu sẫm, áo vest ngoài màu rêu sẫm 4 túi, cổ may kiểu veston.Thắt lưng màu nâu đậm, mặt khóa thắt lưng màu vàng. Sĩ quan cấp ta trở lên được trang bị thêm áo gillet. Sĩ quan cấp đại tá trở lên được trang bị thêm áo panto.
=== Cảnh phục phổ thông ===
- Thông thường đa số các lực lượng cảnh sát đều sử dụng loại trang phục này, cảnh phục phổ thông được chia thành 2 mẫu là trang phục xuân-hè và thu-đông. Cả hai mẫu đều sử dụng quần âu màu mạ non, giày thấp cổ da đen, tất màu mạ non, mũ kepi mào mạ non có viền dạ đỏ ở vành mũ, lưỡi trai màu nâu nhạt. Riêng mũ kepi cấp tướng có lưỡi trai bọc dạ đen, có gắn hai cành tùng. Áo sơ my xuân-hè cộc tay màu mạ non, nẹp bong. Áo sơ mi thu-đông dài tay mằu trắng. Áo vest thu-đông 4 túi, cổ áo kiểu vestong, caravat màu mạ non. Thắt lưng màu nâu đậm, mặt khóa thắt lưng màu vàng.
=== Lễ phục ===
- Lễ phục ngành công an nhân dân được sử dụng chung cho cả lực lượng cảnh sát nhân dân và an ninh nhân dân. Áo vest tay dài và quần tây dài màu be hồng, áo sơ mi trắng, caravat đen, mũ kepi trắng, bao tay trắng, giày da cổ thấp đen cùng với tất xanh mạ non. Có hoặc không có đai vắt chéo vũ trang.
=== Cảnh sát cơ động ===
- Trang phục của cảnh sát cơ động gồm quần dài bỏ ống quần vào trong ống giày bót cao, áo tay dài màu đen cổ bẻ, đối với cảnh sát đặc nhiệm thì có hàng chữ Police màu trắng trên nên đen dọc trước ngực và ngang trên lưng áo. Còn đối với cảnh sát cơ động bình thường thì có dòng chữ CSCĐ màu đỏ nền vàng phản quang dọc trước ngực và ngang trên lưng áo. Mũ bảo vệ trùm kín đầu. Khi tác chiến còn trang bị thêm áo chống đạn hoặc áo vũ trang nhiều túi màu đen.
=== Cảnh sát giao thông ===
- Trang phục như là cảnh phục phổ thông, nhưng quần, áo và nón kepi màu vàng da.
=== Trang phục khác ===
- Ngoài các trang phục trên còn một số trang phục khác tùy biến không theo quy tắc tùy trường hợp tác chiến được sử dụng trong ngành công an nhân dân.
== Phương tiện di chuyển ==
Đa số phương tiện di chuyển của lực lượng công an nhân dân ở Việt Nam đều là xe ô tô có màu trắng hoặc đen, sọc xanh dương với các dòng chữ như "Cảnh sát", "Cảnh sát giao thông", "Cảnh sát 113" được in lên chỗ dễ thấy. Do đặc tính về cơ sở hạ tầng, đường sá và mật độ lưu thông ở Việt Nam nên các phương tiện di chuyển này thường là xe mô tô có đặc điểm nhỏ gọn, tiện dụng, bền, hiệu quả cao và chi phí bảo trì rẻ. Vì vậy ít thấy những chiếc xe motor phân khối lớn cồng kềnh hay những chiếc xe tải, xe đặc dụng to lớn. Các phương tiện di chuyển này tất cả đều phải gắn còi ưu tiên, loa phát tín hiệu, đèn xoay khẩn cấp. Ngoài ra còn một số xe đặc chủng dành cho các nhiệm vụ đặc biệt khi cần thiết.
Thông thường, các loại xe hai bánh phân khối lớn được sử dụng bởi cảnh sát giao thông, cảnh sát phản ứng nhanh 113, cảnh sát cơ động hoặc cảnh sát trật tự cơ động.
== Vũ khí ==
== Cấp bậc, Chức vụ, Quân hàm ==
Xem thêm: Chức vụ Công an Nhân dân Việt Nam
Xem thêm: Quân hàm Công an Nhân dân Việt Nam
Cấp bậc của cán bộ, chiến sĩ Công an Việt Nam phân thành 5 cấp: cấp tướng (4 bậc); cấp tá (4 bậc); cấp úy (4 bậc); cấp hạ sĩ quan (3 bậc); và cấp chiến sĩ (2 bậc); với danh xưng tương tự hệ thống cấp bậc của quân đội. Ngoài ra còn được phân loại thành Sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ và Sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật. Cấp bậc thấp nhất của Sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn kỹ thuật là Hạ sĩ và cao nhất là Thượng tá.
Theo Nghị định 42/2007/NĐ-CP, hệ thống cấp bậc hàm của sĩ quan đảm nhiệm chức vụ cơ bản trong lực lượng Công an nhân dân thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 24 Luật Công an nhân dân, cụ thể như sau:
a) Đại tướng: Bộ trưởng Bộ Công an
b) Thượng tướng: Thứ trưởng Bộ Công an;
c) Trung tướng:
Tổng cục trưởng;
Tư lệnh, Chính ủy: Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động; Bộ Tư lệnh Cảnh vệ;
Chánh Văn phòng Bộ Công an; Chánh Thanh tra Bộ Công an; Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học Công an;
Cục trưởng các cục: An ninh mạng; Cảnh sát giao thông; Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ; Đối ngoại; Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp; Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; Giám đốc các học viện: An ninh nhân dân, Cảnh sát nhân dân, Chính trị Công an nhân dân;
Một Phó Tổng cục trưởng là Bí thư hoặc Phó Bí thư Đảng ủy Tổng cục;
Giám đốc Công an thành phố Hà Nội; Giám đốc Công an thành phố Hồ Chí Minh;
d) Thiếu tướng:
Trợ lý Bộ trưởng Bộ Công an;
Cục trưởng các cục: Cơ yếu; Tài chính; Kế hoạch và Đầu tư;
Cục trưởng các cục về tham mưu, chính trị, nghiệp vụ thuộc Tổng cục An ninh, trừ Cục trưởng Cục Hậu cần, Chánh Văn phòng thường trực Ban chỉ đạo về nhân quyền và Chánh Thanh tra Tổng cục;
Cục trưởng các cục về tham mưu, chính trị, nghiệp vụ thuộc Tổng cục Tình báo, trừ Cục trưởng Cục Hậu cần;
Cục trưởng các cục thuộc Tổng cục Cảnh sát: Tham mưu; Chính trị; Cảnh sát hình sự; Cảnh sát kinh tế; Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy; Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng; Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường; Cảnh sát phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao; Cảnh sát truy nã tội phạm; Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Cảnh sát đăng ký, quản lý cư trú và dữ liệu quốc gia về dân cư; Chánh Văn phòng Cơ quan Cảnh sát điều tra Bộ Công an;
Cục trưởng các cục thuộc Tổng cục Chính trị Công an nhân dân: Tham mưu; Tổ chức Cán bộ; Công tác chính trị; Chính sách; Đào tạo; Công tác Đảng, công tác quần chúng;
Cục trưởng các cục thuộc Tổng cục Hậu cần - Kỹ thuật: Thông tin liên lạc; Quản lý trang bị kỹ thuật và trang cấp; Quản lý khoa học công nghệ và môi trường; Công nghệ thông tin; Quản lý xây dựng cơ bản và doanh trại; Y tế;
Cục trưởng các cục thuộc Tổng cục Cảnh sát thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp: Chính trị; Quản lý phạm nhân, trại viên; Giáo dục cải tạo và hòa nhập cộng đồng; Theo dõi thi hành án hình sự và hỗ trợ tư pháp; Hướng dẫn tạm giam, tạm giữ;
Viện trưởng Viện Khoa học hình sự; Viện trưởng Viện Lịch sử Công an; Tổng biên tập Báo Công an nhân dân; Tổng biên tập Tạp chí Công an nhân dân; Giám đốc Trung tâm phát thanh, truyền hình, điện ảnh Công an nhân dân; Giám đốc các bệnh viện: 19-8, 199, 30-4, Y học cổ truyền;
Giám đốc Học viện Tình báo; Hiệu trưởng các trường đại học: An ninh nhân dân; Cảnh sát nhân dân; Kỹ thuật - Hậu cần Công an nhân dân; Phòng cháy và chữa cháy;
Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy thành phố Hà Nội; Giám đốc Cảnh sát phòng cháy và chữa cháy thành phố Hồ Chí Minh;
Chức vụ cấp phó của Tổng cục trưởng không quá năm; của Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động không quá bốn; của Chính ủy Bộ Tư lệnh Cảnh sát cơ động là một; của Tư lệnh Bộ Tư lệnh Cảnh vệ không quá bốn; của Chánh Văn phòng Bộ Công an không quá ba; của Chánh Thanh tra Bộ Công an không quá ba; của Viện trưởng Viện Chiến lược và Khoa học Công an không quá ba; của Cục trưởng Cục An ninh mạng, Cục Cảnh sát giao thông, Cục Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy và cứu nạn, cứu hộ, Cục Đối ngoại, Cục Pháp chế và cải cách hành chính, tư pháp, Cục Xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc không quá hai; của Giám đốc Học viện An ninh nhân dân không quá ba; của Giám đốc Học viện Cảnh sát nhân dân không quá ba; của Giám đốc Học viện Chính trị Công an nhân dân không quá ba; của Giám đốc Công an thành phố Hà Nội không quá ba; của Giám đốc Công an thành phố Hồ Chí Minh không quá ba;
đ) Đại tá:
Cục trưởng, Thủ trưởng đơn vị tương đương thuộc Tổng cục, Bộ Tư lệnh;
Hiệu trưởng các trường bậc đại học, trường sĩ quan, trừ quy định tại điểm d khoản này
Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, trừ Giám đốc Công an thành phố Hà Nội và Giám đốc Công an thành phố Hồ Chí Minh;
e) Thượng tá: Trưởng phòng; Trưởng Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; Trung đoàn trưởng;
g) Trung tá: Đội trưởng; Trưởng Công an phường, thị trấn; Tiểu đoàn trưởng; Trưởng đồn Công an;
h) Thiếu tá: Đại đội trưởng; Trưởng trạm Công an;
i) Đại úy: Trung đội trưởng;
k) Thượng úy: Tiểu đội trưởng.
Bộ trưởng Bộ Công an đương nhiệm là Đại tướng An ninh Nhân dân Tô Lâm.
Ở những đơn vị được giao nhiệm vụ quan trọng, đặc biệt hoặc địa bàn có vị trí trọng yếu về an ninh, trật tự thì cấp bậc hàm cao nhất có thể cao hơn một bậc so với cấp bậc hàm cao nhất của chức vụ tương ứng.
Hạn tuổi phục vụ cao nhất của sĩ quan Công an nhân dân ở cấp úy là 50 đối với cả nam và nữ; Thiếu tá, Trung tá là 55 đối với nam, 53 đối với nữ; Thượng tá nam 58, nữ 55; Đại tá, cấp Tướng nam 60, nữ 55.
Sĩ quan Công an nhân dân được kéo dài tuổi phục vụ phải đủ các điều kiện như đơn vị trực tiếp sử dụng sĩ quan hoặc đơn vị khác trong Công an nhân dân thực sự có nhu cầu; sĩ quan Công an nhân dân có phẩm chất tốt, sức khoẻ tốt, tự nguyện và có một trong hai điều kiện: cán bộ nghiên cứu khoa học trong Công an nhân dân có học hàm, học vị Giáo sư, Phó giáo sư, Tiến sĩ; danh hiệu Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú, Thầy thuốc nhân dân, Thầy thuốc ưu tú, Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú.
Cán bộ trong Công an nhân dân đang tham gia vào chương trình, đề tài khoa học cấp Nhà nước; chuyên gia giỏi trong các lĩnh vực công tác của Công an nhân dân cũng có thể được kéo dài tuổi phục vụ. Trường hợp đặc biệt do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
== Các Bộ trưởng ==
Trần Quốc Hoàn (1954 - 1981)
Phạm Hùng (1981 - 1987)
Mai Chí Thọ (1987 - 1991)
Bùi Thiện Ngộ (1991 - 1996)
Lê Minh Hương (1996 - 2002)
Lê Hồng Anh (2002 - 2011)
Trần Đại Quang (2011 - 2016)
Tô Lâm (2016 - nay)
== Phong tặng ==
Công an Nhân dân Việt Nam đã vinh dự được Đảng Cộng sản Việt Nam và Nhà nước Việt Nam tặng thưởng ba Huân chương Sao Vàng (1980, 1985, 2000) và nhiều phần thưởng cao quý khác;
571 lượt đơn vị và 291 cá nhân được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
== Chú thích == |
sông hậu.txt | Sông Hậu, hay Hậu Giang, là một trong hai phân lưu của sông Mê Kông. Phân lưu còn lại là sông Tiền. Mê Kông tách ra thành sông Tiền và sông Hậu tại lãnh thổ Campuchia. Ở Campuchia, sông Hậu được gọi là sông Bassac (Tonlé Bassac theo tiếng Khmer). Vì thế nó còn có tên gọi nữa là sông Ba Thắc.
Sông Hậu đổ ra biển Đông qua cửa Trần Đề và cửa Định An. Cửa Ba Thắc đã bị đất bồi từ khoảng thập niên 1970 nên không còn nữa.
Trên lãnh thổ Việt Nam, sông Hậu chạy qua tỉnh An Giang, làm ranh giới tự nhiên giữa các tỉnh Đồng Tháp và Cần Thơ, Vĩnh Long và Cần Thơ, Hậu Giang và Vĩnh Long, Trà Vinh và Sóc Trăng. Đoạn rộng nhất của con sông nay là giữa huyện Cầu Kè (Trà Vinh) và huyện Long Phú (Sóc Trăng) khoảng gần 4 km.
== Sông Hậu xưa và nay ==
Sách Đại Nam nhất thống chí viết: "...Sông Hậu Giang ở cách huyện Tây Xuyên [(tỉnh An Giang nhà Nguyễn)] 8 dặm về phía Tây Bắc [tức là huyện lỵ Tây Xuyên cũng là tỉnh thành Châu Đốc nằm ở phía Tây Bắc bờ sông Hậu]. Phát nguyên như sông Tiền Giang, đến phủ Nam Vang nước Cao Miên, chia một nhánh về phía Tây Nam làm sông Hậu Giang. Phía Đông sông là địa phận các huyện Đông Xuyên, Vĩnh An, An Xuyên [là các huyện của phủ Tân Thành tỉnh An Giang nhà Nguyễn]. Phía Tây là địa phận các huyện Tây Xuyên, Phong Phú, Vĩnh Định, và Phong Thịnh [là các huyện thuộc 2 phủ Tuy Biên và Ba Xuyên tỉnh An Giang nhà Nguyễn]. Sông ở giữa địa phận của tỉnh [An Giang nhà Nguyễn]..."
Các huyện Đông Xuyên, Vĩnh An, An Xuyên ngày nay lần lượt thuộc địa giới của các đơn vị hành chính cấp huyện sau: các huyện thị An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Chợ Mới, và thành phố Long Xuyên (đều của tỉnh An Giang ngày nay, có thể nguyên là đất 2 huyện Đông Xuyên và Vĩnh An), các huyện thị Lấp Vò, Lai Vung (đều của tỉnh Đồng Tháp, có thể nguyên là đất huyện An Xuyên). Ngoài ra, phía Đông Nam của sông Hậu xưa là các huyện của tỉnh Vĩnh Long nhà Nguyễn, nay là các huyện thị thuộc 2 tỉnh Vĩnh Long (các huyện Bình Minh, Bình Tân, Trà Ôn) và Trà Vinh (các huyện Cầu Kè, Tiểu Cần, Trà Cú, Duyên Hải).
Phần đất bờ Tây sông Hậu xưa: các huyện Tây Xuyên, Phong Phú, Vĩnh Định, Phong Thịnh của tỉnh An Giang nhà Nguyễn, nay lần lượt là địa phận các đơn vị hành chính cấp huyện của các tỉnh thành An Giang (Châu Đốc, Châu Phú, Châu Thành, và thành phố Long Xuyên, có thể nguyên là phần đất huyện Tây Xuyên phủ Tuy Biên), Cần Thơ (các quận huyện Thốt Nốt, Ô Môn, Bình Thủy, Ninh Kiều, Cái Răng, có thể nguyên là phần đất thuộc huyện Phong Phú phủ Tuy Biên tỉnh An Giang nhà Nguyễn), Hậu Giang (đất các huyện ven sông Hậu của tỉnh Hậu Giang có thể nguyên là đất huyện Vĩnh Định phủ Ba Xuyên tỉnh An Giang nhà Nguyễn), Sóc Trăng (đất tỉnh Sóc Trăng ven sông Hậu nguyên là toàn bộ huyện Phong Thịnh, và có thể một phần huyện Vĩnh Định phủ Ba Xuyên tỉnh An Giang thời Nguyễn).
== Môi trường ==
Có những lo ngại là những dự án đang hình thành hoặc đang dự định sẽ gây nhiều ô nhiễm môi trường:
Nhà máy giấy của Công ty TNHH Lee & Man (thuộc Tập đoàn Lee & Man Paper Hong Kong, Trung Quốc) nằm ngay bên cạnh bờ sông Hậu. Lee & Man đang khiến dư luận bất an về khả năng hủy hoại môi trường sống trên dòng Hậu Giang khi nhà máy đi vào hoạt động. Cụm công nghiệp giấy Lee & Man bao gồm hai nhà máy sản xuất giấy bao bì và nhà máy bột giấy tẩy trắng (có công suất lần lượt là 420.000 tấn giấy/năm và 330.000 tấn/năm), một nhà máy nhiệt điện đốt than và các phế phẩm của nhà máy giấy có công suất phát điện 125 MW và một nhà máy nước có công suất thiết kế 181.000 mét khối/ngày. Sản xuất và tái chế giấy được đánh giá là ngành công nghiệp có nguy cơ ô nhiễm cao. Bộ trưởng Trần Hồng Hà sau đó cho biết đã giao Tổng cục Môi trường chủ trì, phối hợp với Sở TN-MT Hậu Giang, Phòng cảnh sát môi trường tỉnh Hậu Giang và các cơ quan liên quan tiến hành thanh tra, xem xét và đánh giá việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường đối với Công ty TNHH giấy Lee & Man. Ngày 13-9, một thành viên đoàn thanh tra của Bộ Tài nguyên - môi trường làm việc tại Công ty TNHH giấy Lee & Man cho biết công nghệ xử lý nước thải mà công ty này xây dựng chỉ phù hợp để xử lý nước thải của nhà máy sản xuất giấy cứng bao bì cao cấp. Đoàn đã đề nghị công ty đầu tư thêm nhiều hạng mục để đảm bảo nước thải khi xả ra sông Hậu không bị ô nhiễm. Một trong những yêu cầu đó là phải xây dựng thêm hồ sinh thái dung tích 40.000m3 để chứa nước sau khi xử lý. Hồ này sẽ giữ lại nước trong hai ngày rồi mới xả ra sông Hậu. Hiện công ty đang xây dựng hồ này và cam kết chấp nhận nếu nước thải xả ra sông Hậu vượt ngưỡng quy định, dù chỉ một lần sẽ bị đóng cửa nhà máy ngay lập tức.
Dự án xây dựng sân Golf của tập đoàn Vingroup ở Cồn Ấu, một cù lao nằm giữa dòng sông Hậu, nằm ngay dưới chân cầu Cần Thơ, có diện tích 80 héc ta. Ở sân golf, sẽ có rất nhiều loại thuốc trừ sâu, thuốc trừ nấm, thuốc trừ cây cỏ dại và phải rải rất nhiều phân bón hóa học. Để duy trì cỏ sân golf, khối lượng hóa chất sử dụng sẽ vào khoảng 3-5 lần so với canh tác nông nghiệp. Các độc chất này sẽ theo lượng nước tưới tiêu đi vào lòng đất và tràn xuống sông Hậu hòa lẫn với các chất ô nhiễm khác. Nguy cơ hủy diệt hệ thủy sinh tự nhiên sẽ rất cao.
== Các cây cầu ==
Cầu Vĩnh Trường, nối thị trấn An Phú với xã Vĩnh Trường, huyện An Phú, An Giang
Cầu Vàm Cống, nối huyện Lấp Vò, Đồng Tháp với quận Thốt Nốt, Cần Thơ (đã khởi công)
Cầu Cần Thơ, Cần Thơ- Vĩnh Long
Cầu Đại Ngãi, Trà Vinh - Sóc Trăng (dự án)
== Chú thích == |
murasaki shikibu.txt | Murasaki Shikibu (Kana: むらさきしきぶ; Kanji: 紫式部, Hán Việt: Tử Thức Bộ; 978 - 1016) là biệt hiệu của một nữ văn sĩ cung đình thời Heian Nhật Bản, tác giả của cuốn tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại đầu tiên của nhân loại, kiệt tác Truyện kể Genji, được viết bằng tiếng Nhật vào khoảng năm 1000 đến 1012.
Cái tên Murasaki Shikibu chỉ là biệt hiệu của bà, không ai biết rõ tên thật của bà là gì và bà sinh ra ở đâu, chỉ biết bà thuộc dòng dõi Fujiwara Takako và mất tại Tokyo, tuy một địa điểm tham quan phía Bắc Kyoto hiện nay được coi như mộ của bà.
== Biệt hiệu ==
Mặc dù các học giả đã dày công nghiên cứu nhưng không ai biết tên thực của Murasaki Shikibu và điều đó cũng phổ biến đối với nhiều nữ sĩ cung đình Nhật Bản. Ở nước Nhật thời Heian, điều coi là không đứng đắn khi nêu tên tuổi các phu nhân thuộc gia đình quyền quý, chỉ có ngoại lệ lạ lùng là tên cung phi của Thiên Hoàng và các Hoàng nữ thuộc hoàng gia thì được cho phép.
Biệt hiệu Shikibu (式部) chỉ chức vụ của cha bà, và Murasaki (紫) có thể xuất phát từ tên của một trong những nhân vật chính trong cuốn Truyện kể Genji, nàng Murasaki đẹp lộng lẫy và giống mối tình đầu của Genji như đúc, nên rất được hoàng tử Genji sủng ái; hoặc chỉ đơn giản có nghĩa là màu "tía" (thuộc dòng vương giả); hay loại hoa màu tím mang tên hoa murasaki (hoa đậu tía, còn được gọi bằng tên hoa Fuji cũng là nửa đầu trong tên dòng họ của bà, Fujiwara).
== Tiểu sử ==
Murasaki Shikibu thuộc cành thứ của dòng họ lớn Fujiwara trị vì đất nước, nhiếp chính thay cho các Thiên Hoàng trong suốt phần lớn thời Heian, cùng tổ phụ về phía họ nội 6 thế hệ trước đó với Fujiwara Michinaga, quan đại chưởng ấn điều khiển việc nước trong buổi đầu thế kỷ 11. Tuy nhiên khi Murasaki Shikibu mới ra đời chi họ của bà bị tụt xuống hạng thứ trong giới quý tộc cung đình. Cha bà, ông Fujiwara no Tametoki (藤原為時) chỉ là một nhà thơ, người có địa vị khiêm nhường ở thủ đô và đã 2 lần làm tỉnh trưởng tỉnh Echizen.
Không ai biết gì nhiều về thời thơ ấu của Murasaki Shikibu ngoài những điều bà tự nói với chúng ta. Trong lời mào đầu nổi tiếng của cuốn Nhật ký Murasaki Shikibu (Murasaki Shikibu nikki) mô tả các biến cố triều đình từ cuối 1008 đến đầu 1010 cho chúng ta biết cha bà, thấy con gái có khả năng trong việc học hành, đã than phiền bà không sinh ra là con trai. Cha bà trở thành tỉnh trưởng Echizen ở duyên hải Biển Nhật Bản, phía bắc Tokyo, vào năm 990 và bà đã đi theo cha đến nơi nhậm chức cho đến khi lấy chồng thì trở về.
Murasaki vào triều hầu hạ thứ phi Akiko, con gái của Michinaga, trong cung điện Fujitsubo thời Thiên hoàng Ichijō (986-1011) trong khoảng giữa thập niên đầu của thế kỷ 11. Cuốn Nhật ký Murasaki Shikibu của Murasaki có nhắc đến sự ra đời của hai người con trai hoàng hậu và cả hai hoàng tử sau đó đều trở thành vua. Trong nhật ký của mình Murasaki cho biết bà vào triều ngày 29 tháng 12 âm lịch nhưng không cho biết năm, có thể là năm âm lịch 1005 và/hoặc 1006. Hoàng hậu Akiko góa chồng năm 1011, khi Thiên hoàng Ichijo băng hà, và Murasaki Shikibu còn ở lại trong cung phục vụ hai năm tiếp theo.
Chịu sự giáo dục chu đáo, tỉ mỉ của một phụ nữ trẻ cùng tầng lớp trong cung, và mặc dầu có một trí tuệ khác thường, Murasaki Shikibu đã phải tiếp thu một cách chậm chạp nhưng chắc chắn tất cả những kiến thức văn hóa rộng lớn đương thời mà người thiếu phụ này truyền cho, từ lịch sử Trung Hoa, thơ ca trữ tình Trung Hoa và Nhật Bản cho đến các trước tác triết học Khổng giáo và Phật giáo. Về truyện hư cấu bằng văn xuôi, bà cũng chỉ biết không nhiều hơn là những trước tác buổi đầu của chính người Nhật Bản vào thế kỷ 10 và ngay cả văn xuôi trong văn học Trung Hoa đương thời, vốn không phải là loại hình được người Trung Hoa ca ngợi hay thành thạo vào thời đó.
Murasaki Shikibu lấy chồng khoảng năm 998 hoặc năm 999, chồng là một người bà con xa với bà. Có lý do để tin rằng, so với thời bấy giờ bà lấy chồng khá muộn, có lẽ vào tuổi 20. Bà sinh được một con gái vào năm 999 và góa bụa vào năm 1001.
Chịu nhiều đau khổ sâu sắc trong đời tư nên Murasaki Shikibu đã sớm rút lui khỏi thế giới trần tục và dồn sinh lực của đời mình vào việc học tập cũng như sáng tạo nghệ thuật. Bà đã đạt được những thành tích xuất sắc trong âm nhạc, thơ, hội họa, và đặc biệt là cuốn tiểu thuyết nổi tiếng Truyện kể Genji 54 chương, viết xong vào khoảng năm 1004, một kiệt tác đứng vào hàng lớn nhất của văn xuôi cổ điển Nhật Bản cũng như văn xuôi nhân loại.
== Văn nghiệp ==
=== Sáng tác Truyện kể Genji ===
Vào thế kỷ 10 các tác giả viết tiểu thuyết cố gắng xây dựng nhân vật một cách thô sơ bằng cách viết các truyện hư cấu. Tuy nhiên, khi những cây bút viết về những đề tài như các chuyện dan díu ngấm ngầm ở chốn cung đình, thì sự xây dựng tính cách quá nhạt nhẽo khó có thể gọi là các cá tính nhân vật. Các nhật ký thế kỷ thứ 10 có thể là yếu tố tạo cảm hứng cho Murasaki Shikibu khi ít nhiều bộc lộ được tâm trạng và bản tính người chấp bút trên trang viết, nhưng muốn cho một điều tưởng tượng biến thành hiện thực hơn một điều thực thì phải có một bước nhảy lớn lao của trí tưởng tượng và Murasaki đã làm được điều đó.
Murasaki Shikibu viết Truyện kể Genji trong thời gian lui về sống trong đền Ishiyama bên hồ Biwa, với cảm hứng của những đêm trăng huyền ảo lung linh dưới đáy hồ. Vẻ đẹp đầy tính chất huyền thoại và đậm màu sắc hội họa đó đã in dấu trong nhiều phần của tác phẩm.
=== Tác phẩm khác ===
Ngoài Truyện kể Genji, Murasaki Shikibu còn để lại một tập nhật ký về đời riêng, cuốn Murasaki Shikibu nikki (1008-1010) tổng hợp trong đó nhiều thể loại văn học cổ điển được người viết sử dụng đan xen. Tập nhật ký đã vẽ ra nhiều tính cách sắc nét của những người cùng thời, có nét đặc sắc của một cây bút hội họa trong việc khắc họa tâm lý cũng như miêu tả ngoại hình. Nhiều đoạn trong nhật ký, như việc mô tả cuộc khai hoa mãn nguyệt của hoàng hậu khi sinh hoàng nam, miêu tả các cung nữ với những nét phát họa vẻ mặt, hành động và trang phục không bằng những cách ngôn và sự cường điệu, cho thấy những nhận thức sâu sắc và tinh tế của bà về con người. Về thơ, bà còn để lại nhiều bài thơ theo thể Renga (liên ca) được tuyển chọn trong một hợp tuyển thơ văn cổ, hàng trăm bài thơ đối đáp, ngâm vịnh trong cuốn Truyện kể Genji, và hiện nay Nhật Bản còn lưu giữ được tập thơ của bà trong kỷ yếu Hội thảo về thơ Murasaki Shikibu.
== Câu nói đáng chú ý ==
Trong những bức thư của mình Murasaki Shikibu đề cập đến sự đố kỵ của một phụ nữ khác trong cung đối với học vấn của bà, đặc biệt là các thị nữ khi thấy bà đọc tác phẩm bằng chữ Hán đã bình phẩm rằng "ngày xưa chỉ có đàn ông có công có việc mới đọc những quyển sách như thế": Mọi thứ trên thế gian này thật phiền toái. Mặc kẻ khác nói gì ta sẽ quỳ trước Phật A-di-đà và cầu nguyện. Khi tâm trí ta thoát khỏi mọi phiền toái của thế gian này, ta sẽ không gắng gỏi để trở thành một vị thánh... Nhiều điều xảy ra với ta trong cuộc đời này khiến ta nghĩ rằng mình đã phạm phải những lỗi lầm ở kiếp trước và mọi việc khiến ta sầu khổ. Quan niệm về việc phạm tội lỗi ở kiếp trước thì sẽ gánh hậu quả ở kiếp này và việc chỉ có hy vọng vào cuộc đời sau này trên Thiên đường nếu gắn với A-di-đà rõ ràng bắt nguồn từ giáo lý Tịnh độ tông, tạo âm hưởng nghiệp quả (karma) chi phối số phận của nhân vật trong Truyện kể Genji.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Lời giới thiệu Truyện kể Genji (bản tiếng Anh) do Edward Seidensticker viết tháng 1 năm 1976, bản dịch tiếng Việt tại Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, H. 1991.
Mục từ Japanese literature trong Encarta Encyclopedia Premium DVD, 2006. Microsoft Corporation.
Mục từ Mưrasaki Sikibư trên Từ điển văn học (bộ mới), Nhà xuất bản thế giới, H. 2005. Trang 1020-1021. |
quần đảo falkland.txt | Quần đảo Falkland (tiếng Anh: Falkland Islands /ˈfɔːlklənd/) hay Quần đảo Malvinas (tiếng Tây Ban Nha: Islas Malvinas [malˈβinas]) nằm tại Nam Đại Tây Dương. Các đảo chính của quần đảo này nằm cách 500 km về phía đông của bờ biển nam bộ Patagonia trên lục địa Nam Mỹ. Quần đảo có diện tích 12.200 km², gồm có đảo Đông Falkland, Tây Falkland và 776 đảo nhỏ hơn. Quần đảo là một lãnh thổ hải ngoại của Anh Quốc, chịu trách nhiệm tự quản nội bộ, còn Anh Quốc chịu trách nhiệm về các sự vụ quốc phòng và đối ngoại. Thủ phủ của quần đảo là Stanley trên đảo Đông Falkland.
Có tranh luận về vấn đề người châu Âu phát hiện và tiếp đến là thuộc địa hóa Quần đảo Falkland. Trong những thời điểm khác nhau, quần đảo có các khu định cư của Pháp, Anh Quốc, Tây Ban Nha, và Argentina. Anh Quốc tái xác nhận quyền thống trị của họ vào năm 1833, song Argentina duy trì tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo. Năm 1982, sau khi Argentina xâm chiếm quần đảo, Chiến tranh Falkland bùng phát với kết quả là lực lượng Argentina đầu hàng, quần đảo lại nằm dưới sự cai trị của Anh Quốc.
Dân số (2.932 cư dân năm 2012) chủ yếu gồm có người Quần đảo Falkland bản địa, phần lớn họ có huyết thống Anh Quốc. Các dân tộc khác gồm có người Pháp, người Gibraltar và người Scandinavia. Nhập cư từ Anh Quốc, đảo Saint Helena, và Chile giúp đảo ngược hiện tượng suy giảm dân số. Ngôn ngữ chiếm ưu thế (và chính thức) là tiếng Anh. Theo một đạo luật được Quốc hội Anh thông qua vào năm 1983, người Quần đảo Falkland là công dân Anh Quốc trên phương diện pháp luật.
Cả hai đảo lớn của quần đảo đều có các dãy núi đạt độ cao 2.300 foot (700 m). Quần đảo là nơi sinh sống của các quần thể chim lớn, song nhiều quần thể không còn sinh sản trên các đảo chính do sự cạnh tranh của những loài du nhập. Các hoạt động kinh tế chính tại quần đảo gồm có ngư nghiệp, du lịch, và chăn nuôi cừu, với trọng điểm là xuất khẩu len chất lượng cao. Hoạt động thăm dò dầu mỏ được Chính phủ Quần đảo Falkland cấp phép, song vẫn là vấn đề gây tranh luận do tranh chấp hàng hải với Argentina.
== Từ nguyên ==
Quần đảo Falkland lấy tên theo eo biển Falkland vốn chia tách hai đảo chính của quần đảo. Thuyền trưởng người Anh John Strong là người đặt tên "Falkland" cho kênh, ông đổ bộ lên quần đảo vào năm 1690. John Strong chọn tên gọi này nhằm vinh danh Thủ quỹ Hải quân Anh là Tử tước Anthony Cary xứ Falkland, là người bảo trợ cho hành trình. Tước hiệu của Tử tước bắt nguồn từ thị trấn Falkland, Scotland, và tên gọi này bắt nguồn từ "folkland" (vùng đất nắm giữ theo luật folk-right). Tên gọi này không được áp dụng cho quần đảo cho đến năm 1765, khi mà Thuyền trưởng John Byron của Hải quân Hoàng gia Anh tuyên bố chủ quyền đối với quần đảo nhân danh Quốc vương George III với tên "Falkland's Islands". Thuật ngữ "Falklands" là từ viết tắt chuẩn được sử dụng để đề cập đến quần đảo.
Tên tiếng Tây Ban Nha của quần đảo (Islas Malvinas) bắt nguồn từ tên tiếng Pháp Îles Malouines, nhà thám hiểm người Pháp Louis Antoine de Bougainville đặt tên này cho quần đảo vào năm 1764. Louis Antoine de Bougainville là người thành lập khu định cư đầu tiên trên quần đảo, ông đặt tên khu vực theo cảng Saint-Malo (nơi các tàu của ông khởi hành). Cảng này nằm tại vùng Bretagne thuộc tây bộ Pháp, và được đặt tên theo Thánh Malo (hay Maclou)- nhà truyền giáo Phúc Âm thành lập thành phố.
Trong kỳ họp thứ 20 của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, Ủy ban Thứ tư quyết định rằng ngoài tiếng Tây Ban Nha thì trong toàn bộ các ngôn ngữ, tất cả tài liệu của Liên Hiệp Quốc sẽ gọi tên lãnh thổ là Quần đảo Falkland (Malvinas). Trong tiếng Tây Ban Nha, lãnh thổ được gọi tên là Islas Malvinas (Falkland Islands).
== Lịch sử ==
Người Fuego có thể từng đến Quần đảo Falkland vào thời tiền sử, song khi được người châu Âu phát hiện thì quần đảo không có người ở. Các tuyên bố phát hiện xuất hiện từ thế kỷ 16, song không có sự nhất trí về việc liệu những nhà thám hiểm ban đầu này có phát hiện được Quần đảo Falkland hoặc các đảo khác tại Nam Đại Tây Dương hay không. Cuộc đổ bộ có ghi chép đầu tiên lên quần đảo được cho là của Thuyền trưởng người Anh John Strong, người này đang trên đường đến miền duyên hải của Peru và Chile vào năm 1690, phát hiện eo biển Falkland và ghi chép về vùng biển và động vật hoang dã trên quần đảo.
Quần đảo Falkland vẫn không có người ở cho đến năm 1764, khi thuyền trưởng người Pháp Louis Antoine de Bougainville thiết lập Port Louis trên đảo Đông Falkland. Năm 1766, thuyền trưởng người Anh Quốc John MacBride thành lập Port Egmont trên đảo Saunders. Vấn đề các khu định cư có nhận thức được sự hiện diện của nhau hay không là chủ đề gây tranh luận giữa các sử gia. Năm 1766, Pháp từ bỏ yêu sách đối với Quần đảo Falkland cho Tây Ban Nha, và đế quốc này đổi tên thuộc địa của Pháp thành Puerto Soledad vào năm sau. Các vấn đề bắt đầu khi Tây Ban Nha phát hiện Port Egmont; và chiếm cảng vào năm 1770, hai bên tránh được chiến tranh do Tây Ban Nha hoàn trả cho Anh Quốc vào năm 1771.
Hai khu định cư của Anh Quốc và Tây Ban Nha cùng tồn tại trên quần đảo cho đến năm 1774, khi mà Anh Quốc tự nguyện triệt thoái khỏi quần đảo do suy xét đến kinh tế và chiến lược mới, để lại một tấm biển tuyên bố chủ quyền Quần đảo Falkland nhân danh Quốc vương George III. Phó vương quốc Río de la Plata của Đế quốc Tây Ban Nha là bên duy nhất có sự hiện diện chính phủ trên lãnh thổ. Đảo Tây Falkland bị bỏ rơi, và Puerto Soledad trở thành nơi hầu như là một trại tù. Trong khi Anh Quốc xâm chiếm Río de la Plata, thống đốc của quần đảo rút đi vào năm 1806; đơn vị đồn trú còn lại của Tây Ban Nha cũng làm vậy vào năm 1811, ngoại trừ các gaucho và ngư dân tự nguyện ở lại.
Sau đó, chỉ có các tàu cá đi đến quần đảo; tình trạng chính trị của quần đảo không bị tranh chấp cho đến năm 1820, khi Thượng tá David Jewett, một tư lược người Mỹ làm việc cho Liên hiệp tỉnh Río de la Plata, thông báo cho các tàu thả neo về tuyên bố chủ quyền vào năm 1816 của chính phủ tại Buenos Aires đối với các lãnh thổ của Tây Ban Nha tại Nam Đại Tây Dương. Do quần đảo không có cư dân thường xuyên, đến năm 1823 thì chính phủ tại Buenos Aires ban cho thương nhân sinh tại Đức là Luis Vernet giấy phép để quản lý các hoạt động ngư nghiệp và khai thác bò hoang trên quần đảo. Luis Vernet định cư trên những tàn tích của Puerto Soledad vào năm 1826, và tích lũy tài nguyên trên quần đảo cho đến khi đầu cơ đạt đủ để đưa người định cư đến và hình thành một thuộc địa thường xuyên. Năm 1829, chính phủ tại Buenos Aires bổ nhiệm Luis Vernet là chỉ huy viên quân sự và dân sự của quần đảo, và ông nỗ lực điều tiết nhằm chấm dứt các hoạt động của những người ngoại quốc săn bắt cá voi và hải cẩu. Sự đầu cơ của Luis Vernet kéo dài cho đến khi xảy ra một tranh chấp về quyền đánh cá và săn bắn dẫn đến một cuộc tập kích của chiến hạm Hoa Kỳ USS Lexington vào năm 1831, khi đó sĩ quan Hải quân Hoa Kỳ Silas Duncan "tuyên bố chính phủ đảo kết thúc".
Chính phủ tại Buenos Aires cố gắng duy trì ảnh hưởng đối với khu định cư bằng việc đặt một đơn vị đồn trú, song xảy ra binh biến 1832, đến năm sau thì lực lượng Anh Quốc đến và tái xác nhận quyền cai trị của Anh Quốc. Liên bang Argentina (đứng đầu là Thống đốc Buenos Aires Juan Manuel de Rosas) kháng nghị các hành động của Anh Quốc, và các chính phủ Argentina kể từ sau đó duy trì kháng nghị chính thức phản đối Anh Quốc. Binh sĩ Anh Quốc dời đi sau khi hoàn thành sứ mệnh của họ, để lại khu vực "gần giống như đất không người". Cấp phó của Luis Vernet là một người Scotland mang tên Matthew Brisbane trở lại quần đảo trong cùng năm để khôi phục thương nghiệp, song các cố gắng của người này kết thúc sau khi gaucho Antonio Rivero dẫn đầu một nhóm "người bất mãn" ám sát Brisbane và những lãnh đạo bề trên của khu định cư trong bối cảnh bất ổn tại Port Louis; những người sống sót trốn trong một hang trên một đảo lân cận cho đến khi Anh Quốc trở lại và khôi phục trật tự. Năm 1840, quần đảo Falkland trở thành một thuộc địa vương thất, sau đó những người định cư Scotland thiết lập một cộng đồng mục đồng chính thức. Bốn năm sau, gần như mọi người chuyển tới Port Jackson vì cho rằng đây là địa điểm tốt hơn đối với chính quyền, và thương nhân Samuel Lafone bắt đầu một vụ đầu cơ nhằm khuyến khích người Anh Quốc thuộc địa hóa.
Port Jackson sớm đổi tên thành Stanley, và địa điểm này chính thức trở thành nơi đặt trụ sở chính phủ vào năm 1845. Trong lịch sử ban đầu của mình, Stanley có danh tiếng tiêu cực do những tổn thất tàu vận tải; chỉ các trường hợp khẩn cấp mới khiến các tàu quanh mũi Sừng dừng tại cảng. Tuy thế, vị trí địa lý của quần đảo Falkland tỏ ra lý tưởng đối với duy tu tàu và "mậu dịch tàu chìm", thương vụ mua bán tàu đắm và hàng hóa của chúng. Ngoài hoạt động mậu dịch này, lợi ích thương nghiệp tại quần đảo là tối thiểu do da bò hoang lang thang trên các đồng cỏ có giá trị thấp. Tăng trưởng kinh tế bắt đầu chỉ sau khi Công ty Quần đảo Falkland, vốn là hãng phá sản của Lafone được mua lại năm 1851, giới thiệu thành công cừu Cheviot cho các nông trại len, thúc đẩy các nông trại khác theo sau. Nguyên liệu nhập khẩu có giá thành cao, cộng với thiếu lao động và hậu quả tất yếu là lương cao, đồng nghĩa với nghề duy tu tàu trở nên không thể cạnh tranh. Sau năm 1870, ngành duy tu tàu suy giảm do các thuyền hơi nước ngày càng thay thế các thuyền buồm, và nghiêm trọng hơn do giá than thấp tại Nam Mỹ; đến năm 1914, ngành này kết thúc trên thực tế khi kênh đào Panama được khánh thành. Năm 1881, quần đảo Falkland trở nên độc lập về mặt tài chính với Anh Quốc. Trong hơn một thế kỷ, Công ty Quần đảo Falkland chi phối mậu dịch và công việc trên quần đảo; thêm vào đó, hầu hết nhà ở tại Stanley thuộc quyền sở hữu của công ty.
Trong nửa đầu thế kỷ 20, quần đảo Falkland đóng một vai trò quan trọng trong tuyên bố chủ quyền lãnh thổ của Anh Quốc đối với các quần đảo cận cực và một phần châu Nam Cực. Quần đảo Falkland quản lý các lãnh thổ này dưới chính thể Lãnh thổ phụ thuộc Quần đảo Falkland bắt đầu vào năm 1908, chính thể này tồn tại đến khi bị giải thể vào năm 1985. Quần đảo Falkland cũng đóng một vai trò nhỏ trong hai thế chiến khi là một căn cứ quân sự trợ giúp kiểm soát Nam Đại Tây Dương. Trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, trận quần đảo Falkland diễn ra trong tháng 12 năm 1914, khi một hạm đội của Hải quân Hoàng gia Anh đánh bại một hải đoàn của Đế quốc Đức. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, sau trận sông La Plata vào tháng 12 năm 1939, tàu tuần dương HMS Exeter của Anh bị hư hại và chạy đến quần đảo Falkland để duy tu. Năm 1942, do lo sợ Nhật Bản chiếm quần đảo, một tiểu đoàn của Anh Quốc đang trên đường đến Ấn Độ thì được tái bố trí đến đồn trú tại quần đảo Falkland. Sau chiến tranh, kinh tế quần đảo Falkland chịu tác động từ việc giá len suy giảm và bất xác định về chính trị do kết quả từ tranh chấp chủ quyền hồi sinh giữa Anh Quốc và Argentina.
Căng thẳng âm ỉ giữa Anh Quốc và Argentina tăng lên trong nửa cuối của thế kỷ 20, khi Tổng thống Argentina Juan Perón khẳng định chủ quyền đối với quần đảo. Tranh chấp chủ quyền tăng cường trong thập niên 1960, một thời gian ngắn sau khi Liên Hiệp Quốc thông qua một nghị quyết về phi thực dân hóa và Argentina hiểu rằng điều này có lợi cho lập trường của họ. Năm 1965, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua Nghị quyết 2065, kêu gọi hai quốc gia tiến hành đàm phán song phương để đạt được một giải pháp hòa bình cho tranh chấp. Từ năm 1966 cho đến năm 1968, Anh Quốc thảo luận một cách bí mật với Argentina về vấn đề chuyển nhượng quần đảo Falkland, cho rằng quyết định của họ sẽ được người dân quần đảo chấp thuận. Một hiệp định về liên kết mậu dịch giữa quần đảo và đại lục đạt được vào năm 1971, và bởi vậy Argentina xây dựng một đường băng tạm thời tại Stanley vào năm 1972. Tuy thế, người Falkland bất đồng quan điểm, biểu lộ thông qua sự vận động hành lang mạnh mẽ của họ tại Quốc hội Liên hiệp Vương quốc, và căng thẳng giữa Anh Quốc và Argentina hạn chế tính hiệu quả của các cuộc đàm phán về chủ quyền cho đến năm 1977.
Do lo lắng đền phí tổn để bảo trì quần đảo Falkland trong một thời kỳ cắt giảm ngân sách, Anh Quốc lại cân nhắc chuyển nhượng chủ quyền quần đảo cho Argentina vào đầu nhiệm kỳ của Chính phủ Margaret Thatcher. Các cuộc đàm phán chủ quyền mang tính thực tế lại kết thúc vào năm 1981, và tranh chấp leo thang theo thời gian. Trong tháng 4 năm 1982, bất đồng biến thành một xung đột vũ trang khi Argentina xâm chiếm quần đảo Falkland và các lãnh thổ khác của Anh Quốc tại Nam Đại Tây Dương, chiếm đóng các đảo trong một thời gian ngắn cho đến khi lực lượng viễn chinh của Anh Quốc tái chiếm các lãnh thổ vào tháng 6. Sau chiến tranh, Anh Quốc mở rộng sự hiện diện quân sự của họ, xây dựng Căn cứ Không quân RAF Mount Pleasant và tăng quy mô đơn vị đồn trú. Chiến tranh cũng để lại 117 bãi mìn, chứa gần 20.000 mìn các loại, gồm cả các loại mìn chống xe và chống người. Do số thương vong lớn trong việc rà phá mìn, các nỗ lực ban đầu nhằm dọn sạch mìn bị ngưng lại vào năm 1983.
Theo kiến nghị của Nam tước Edward Shackleton, quần đảo Falkland đa dạng hóa kinh tế từ chỉ dựa vào cừu sang một nền kinh tế du lịch, và ngư nghiệp cùng với viết thiết lập vùng đặc quyền kinh tế của quần đảo. Mạng lưới đường bộ cũng được phát triển quy mô hơn, và việc xây dựng RAF Mount Pleasant cho phép các chuyến bay đường dài có thể tiếp cận quần đảo. Thăm dò dầu mỏ cũng khởi động, với những dấu hiệu cho thấy có thể có trữ lượng khai thác thương mại trong bồn Falkland. Công việc dọn quang bom mìn tái khởi động vào năm 2009, dựa trên các bổn phận của Anh Quốc theo Hiệp ước Ottawa, và bãi Sapper Hill được dọn sạch mìn vào năm 2012, cho phép tiếp cận một cảnh quan lịch sử quan trọng lần đầu tiên trong vòng 30 năm. Argentina và Anh Quốc tái lập quan hệ ngoại giao vào năm 1990; quan hệ trở nên xấu đi do không bên nào có thể chấp thuận các điều khoản trong những thảo luận về tương lai chủ quyền. Tranh chấp giữa các chính phủ khiến một số nhà phân tích dựa đoán về khả năng một cuộc xung đột lợi ích ngày càng cao giữa Argentina và Anh Quốc do các hoạt động ngư nghiệp tại vùng biển quanh Falkland phát triển trong thời gian gần đây.
== Chính phủ ==
Quần đảo Falkland là một lãnh thổ hải ngoại tự trị của Anh Quốc. Theo Hiến pháp năm 2009, quần đảo có đầy đủ quyền tự trị nội bộ; Anh Quốc chịu trách nhiệm về đối ngoại, duy trì quyền lực "nhằm bảo vệ các lợi ích của Anh Quốc và đảm bảo quản trị tốt về tổng thể của lãnh thổ". Quân chủ Anh Quốc là nguyên thủ quốc gia, và thống đốc thực thi quyền lực hành pháp nhân danh quân chủ, thống đốc bổ nhiệm trưởng quan hành chính của quần đảo dựa theo cố vấn của các thành viên nghị hội. Cả thống đốc và trưởng quan hành chính đều là người đứng đầu chính phủ. Bộ trưởng của Anh Quốc chịu trách nhiệm về Quần đảo Falkland quản lý chính sách đối ngoại của Anh Quốc với quần đảo.
Thống đốc hành động theo cố vấn của Hội đồng hành pháp của quần đảo, hội đồng gồm có trưởng quan hành chính, Bộ trưởng tài chính và ba thành viên được bầu từ Nghị hội (với thống đốc là chủ tịch). Nghị hội của Quần đảo Falkland là đơn viện, gồm có trưởng quan hành chính, bộ trưởng tài chính và tám thành viên (năm từ Stanley và ba từ Camp) được bầu cho mỗi nhiệm kỳ 4 năm theo hình thức phổ thông đầu phiếu. Toàn bộ chính trị gia tại Quần đảo Falkland là người độc lập; không tồn tại các chính đảng trên quần đảo. Kể từ tổng tuyển cử năm 2013, các thành viên Nghị hội nhận được một khoản lương và được mong đợi làm việc toàn thời gian, từ bỏ toàn bộ các công việc hay lợi ích kinh doanh trước đó.
Do liên kết của mình với Anh Quốc, Quần đảo Falkland là một trong số các quốc gia và lãnh thổ hải ngoại của Liên minh châu Âu. Hệ thống tư pháp của quần đảo nằm dưới sự giám sát của Văn phòng Đối ngoại và Thịnh vượng chung, nó dựa phần lớn theo hệ thống pháp luật Anh, và hiến pháp ràng buộc lãnh thổ với những nguyên tắc của Công ước châu Âu về Nhân quyền. Các cư dân có quyền thượng tố đến Tòa án Nhân quyền châu Âu và Xu mật viện. Thực thi pháp luật là trách nhiệm của Cảnh sát Hoàng gia Quần đảo Falkland (RFIP), và Anh Quốc cung cấp phòng thủ quân sự cho quần đảo. Một đơn vị đồn trú của Anh Quốc đóng trên quần đảo, và chính phủ Quần đảo Falkland tài trợ Lực lượng phòng vệ Quần đảo Falkland, một lực lượng bộ binh nhẹ phụ trợ có quy mô đại đội. Vùng biển của Quần đảo Falkland kéo dài 200 hải lý (370 km) từ đường cơ sở ven bờ, dựa trên Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển; chồng lấn với giới hạn hàng hải của Argentina.
=== Tranh chấp chủ quyền ===
Anh Quốc và Argentina tuyên bố chủ quyền đối với Quần đảo Falkland. Lập trường của Anh Quốc là nhân dân Quần đảo Falkland không biểu thị một mong muốn thay đổi, và rằng không có vấn đề chưa giải quyết liên quan đến quần đảo. Cơ sở của Anh Quốc đối với lập trường của họ là sự quản lý liên tục của họ với quần đảo kể từ 1833 (ngoại trừ một thời gian trong năm 1982) và "quyền tự quyết như quy định trong Hiến chương Liên Hiệp Quốc" của nhân dân quần đảo. Chính sách của Argentina cho rằng nhân dân Quần đảo Falkland không có quyền tự quyết, tuyên bố rằng vào năm 1833 Anh Quốc trục xuất các quan chức (và người định cư) Argentina khỏi Quần đảo Falkland bằng một đe dọa "vũ lực lớn hơn", và sau đó ngăn cản người Argentina tái định cư trên quần đảo. Argentina thừa nhận quốc gia này giành được Quần đảo Falkland từ Tây Ban Nha khi giành độc lập vào năm 1816, và rằng Anh Quốc chiếm đóng bất hợp pháp quần đảo vào năm 1833.
Năm 2009, Thủ tướng Anh Quốc Gordon Brown họp với Tổng thống Argentina Cristina Fernández de Kirchner, và nói rằng sẽ không có thảo luận thêm về chủ quyền đối với Quần đảo Falkland. Trong tháng 3 năm 2013, Quần đảo Falkland tổ chức một cuộc trưng cầu dân ý về tình trạng chính trị của mình, và có 99,8% số cử tri ủng hộ vẫn nằm dưới quyền quản lý của Anh Quốc. Argentina không công nhận Quần đảo Falkland là một bên trong đàm phán; do đó bác bỏ trưng cầu dân ý về chủ quyền của Quần đảo Falkland.
== Địa lý ==
Diện tích đất liền của Quần đảo Falkland là 4.700 dặm vuông (12.200 km²) và có tổng chiều dài đường bờ biển là 800 dặm (1.300 km). Quần đảo có hai đảo chính là Tây Falkland và Đông Falkland, quanh chúng là 776 đảo nhỏ hơn. Quần đảo chủ yếu có địa hình núi đồi, với ngoại lệ lớn là các đồng bằng bị nén tại Lafonia. Quần đảo Falkland là những mảnh vỡ vỏ lục địa bắt nguồn từ sự nứt vỡ của Gondwana và mở đầu Nam Đại Tây Dương vốn bắt đầu từ 130 triệu năm trước. Quần đảo nằm trên Nam Đại Tây Dương, trên thềm lục địa Patagonia, cách 300 dặm (500 km) về phía đông của Patagonia tại nam bộ Argentina.
Quần đảo Falkland có giới hạn vĩ độ trong khoảng 51°40′ – 53°00′ S và kinh độ 57°40′ – 62°00′ W. Hai đảo chính của quần đảo tách nhau qua eo biển Falkland, và những nơi lồi lõm ven biển sâu của quần đảo tạo thành những hải cảng tự nhiên. Trên đảo Đông Falkland có thủ phủ và khu dân cư lớn nhất của quần đảo là Stanley, căn cứ quân sự của Anh Quốc RAF Mount Pleasant, và đỉnh cao nhất trên quần đảo: núi Usborne, với cao độ 2.313 foot (705 m). Ngoài các khu dân cư quan trọng này còn có một khu vực được gọi thông tục là "Camp", bắt nguồn từ thuật ngữ nông thôn (Campo) trong tiếng Tây Ban Nha.
Quần đảo có khí hậu hải dương lạnh, nhiều gió và ẩm. Nhiệt độ trong ngày biến thiên ở mức bình thường trên khắp quần đảo. Mưa thường xuất hiện trên nửa năm, trung bình tại Stanley đạt 610 milimét (24 in), và mưa tuyết nhẹ lác đác xuất hiện gần như trong cả năm. Nhiệt độ thường dao động từ 21,1 °C (70 °F) đến -11,1 °C (12 °F) tại Stanley, song có thể biến đổi từ 9 °C (48 °F) vào đầu năm đến -1 °C (30 °F) trong tháng 7. Gió tây mạnh và trời nhiều mây là hiện tượng phổ biến. Mặc dù mỗi tháng lại ghi nhận được nhiều cơn bão, song điều kiện thời tiết thường yên lặng.
== Đa dạng sinh học ==
Quần đảo Falkland về mặt địa lý học sinh vật là một bộ phận của đới Nam Cực ôn hòa, có liên hệ mạnh mẽ với động thực vật tại Patagonia tại Nam Mỹ đại lục. Các loài chim đất liền cấu thành hầu hết hệ chim của Quần đảo Falkland; 63 giống loài trên quần đảo, gồm cả 16 loài đặc hữu. Quần đảo cũng phong phú về tính đa dạng các loài chân đốt. Hệ thực vật của Quần đảo Falkland gồm có 163 loài có mạch bản địa. Loài thú bản địa duy nhất trên đảo là warrah (hay cáo Quần đảo Falkland), chúng bị những người định cư gốc Âu săn bắn đến tuyệt chủng.
Những loài thú biển như Mirounga leonina và Arctocephalus australis và các loài cá voi khác nhau hay lui tới vùng biển quanh Quần đảo Falkland; các đảo xa là nơi sống của loài Phalcoboenus australis hiếm có. Các loài cá đặc hữu quanh quần đảo chủ yếu thuộc chi Galaxias. Quần đảo Falkland không có cây thân gỗ và có một hệ thực vật kháng phong chủ yếu bao gồm các loài cây bụi lùn khác nhau.
Hầu như toàn bộ diện tích của quần đảo được sử dụng làm bãi cỏ cho cừu. Các loài du nhập gồm có tuần lộc, thỏ, cáo Patagonia, lợn, ngựa, chuột nâu và mèo. Tác động bất lợi mà một vài trong số những loài này gây ra cho hệ động thực vật bản địa khiến giới chức nỗ lực nhằm ngăn chặn, di chuyển hoặc tiêu diệt các loài xâm lấn như cáo, thỏ. Các động vật đất liền đặc hữu chịu ảnh hưởng nhiều nhất từ những loài du nhập. Không rõ về quy mô tác động của loài người lên Quần đảo Falkland, bởi có ít dữ liệu dài hạn về biến đổi môi trường sống.
== Kinh tế ==
Kinh tế Quần đảo Falkland được xếp hạng lớn thứ 222/229 thế giới theo GDP PPP (2007), và xếp hạng 10 toàn cầu về GDP (PPP) bình quân đầu người (2002). Tỷ lệ thất nghiệp ở mức 4,1% trong năm 2010, và theo tính toán lần cuối cùng vào năm 2003 thì tỷ lệ lạm phát là 1,2%. Theo dữ liệu năm 2010, quần đảo có chỉ số phát triển con người ở mức cao là 0,874 và hệ số Gini về bất bình đẳng thu nhập ở mức trung bình với 34,17. Tiền tệ địa phương là bảng Quần đảo Falkland, được cố định với bảng Anh.
Phát triển kinh tế tiến bộ nhờ bổ cấp tàu và chăn nuôi cừu lấy len chất lượng cao. Trong thập niên 1980, mặc dù các loại sợi tổng hợp và thiếu đầu tư cho trang trại gây tổn hại đến lĩnh vực chăn nuôi cừu, song chính phủ tạo lập một dòng thu nhập lớn từ việc thiết lập một vùng đặc quyền kinh tế và bán các giấy phép ngư nghiệp cho "bất kể ai muốn đánh cá trong vùng này". Kể từ khi Chiến tranh Falkland kết thúc trong năm 1982, hoạt động kinh tế của quần đảo ngày càng tập trung vào thăm dò mỏ dầu và du lịch.
Đô thị cảng Stanley lấy lại vị thế trọng tâm kinh tế của quần đảo, dân số gia tăng do có những người lao động nhập cư đến từ Camp. Lo ngại về việc phụ thuộc vào những giấy phép ngư nghiệp và đe dọa từ đánh bắt cá quá mức, đánh bắt cá phi pháp và biến động giá cả thị trường cá khiến cho khoan dầu ngày càng được quan tâm trong vai trò là một nguồn thu nhập thay thế; các nỗ lực thăm dò vẫn chưa giúp phát hiện "trữ lượng có thể khai thác". Chính phủ Quần đảo Falkland tài trợ cho các dự án phát triển về giáo dục và thể thao, không có viện trợ từ Anh Quốc cho các lĩnh vực này.
Khu vực sơ khai của nền kinh tế chiếm phần lớn tổng sản phẩm nội địa của Quần đảo Falkland, riêng ngư nghiệp đóng góp 50%-60% cho GDP hàng năm; nông nghiệp cũng đóng góp đáng kể vào GDP và tạo công việc cho khoảng một phần mười dân số. Hơn một phần tư số lao động phục vụ cho chính phủ Quần đảo Falkland, khiến chính phủ là chủ sử dụng lao động lớn nhất trên quần đảo. Du lịch được thúc đẩy nhờ mối quan tâm ngày càng tăng đối với thám hiểm châu Nam Cực và thiết lập các đường bay thẳng kết nối với Anh Quốc và Nam Mỹ. Du khách chủ yếu là hành khách trên tàu du lịch, họ bị thu hút từ loài hoang dã và môi trường của quần đảo, cũng như các hoạt động như câu cá và lặn khám phá tàu đắm; phần lớn dựa trên tiện nghi tại Stanley. Các mặt hàng xuất khẩu chính của quần đảo gồm có len, da, thịt cừu, cá và mực; các mặt hàng nhập khẩu chính gồm có nhiên liệu, vật liệu xây dựng và trang phục.
== Nhân khẩu ==
Nhân dân Quần đảo Falkland có một xã hội đồng nhất, với đa số cư dân có huyết thống từ những người Scotland và Wales nhập cư, định cư tại lãnh thổ vào năm 1833. Điều tra nhân khẩu năm 2006 cho thấy một số dân cư Falkland là hậu duệ của những người Pháp, Gibraltar và Scandinavia. Cuộc điều tra này cho thấy rằng một phần ba dân cư sinh trên quần đảo, còn các dân cư sinh tại ngoại quốc bị đồng hóa vào văn hóa địa phương. Thuật ngữ pháp lý đối với quyền cư trú là "thuộc về quần đảo". Đạo luật quốc tịch Anh Quốc năm 1983 trao quyền công dân Anh Quốc cho nhân dân Quần đảo Falkland.
Một xu thế suy giảm dân số đáng kể tác động đến quần đảo trong thế kỷ 20, khi nhiều dân cư trẻ rời khỏi quần đảo để tìm kiếm một phong cách sinh hoạt hiện đại và những cơ hội công việc tốt hơn. Trong những năm gần đây, suy giảm dân số của quần đảo được cải thiện nhờ những người nhập cư từ Anh Quốc, Saint Helena và Chile. Trong điều tra nhân khẩu năm 2012, đa số dân cư nhận là người Quần đảo Falkland (59%), tiếp đến là người Anh Quốc (29%), người Saint Helena (9,8%), và người Chile (5,4%). Một số lượng nhỏ người Argentina cũng sinh sống trên quần đảo.
Quần đảo Falkland có mật độ dân số thấp. Theo điều tra nhân khẩu năm 2012, dân số thường nhật trung bình của Quần đảo Falkland là 2.932, ngoại trừ các nhân viên quân sự phục vụ trên quần đảo và những người phụ thuộc của họ. Một báo cáo năm 2012 tính rằng có 1.300 nhân viên mặc quân phục và 50 công vụ viên của Bộ Quốc phòng Anh Quốc hiện diện trên Quần đảo Falkland. Stanley (với 2.121 dân cư) là điểm dân cư đông dân nhất trên quần đảo, tiếp theo là Mount Pleasant (369 dân cư, chủ yếu là nhà thầu căn cứ không quân) và Camp (351 dân cư). Phân bổ độ tuổi của quần đảo nghiêng về độ tuổi lao động (20–60). Nam giới đông hơn nữ giới (53 so với 47 phần trăm), và sự khác biệt này nổi bật nhất trong nhóm tuổi 20–60. Trong điều tra nhân khẩu năm 2006, hầu hết dân quần đảo tự nhận là tín đồ Cơ Đốc giáo (67,2%), tiếp đến là những người từ chối trả lời hoặc không liên kết tôn giáo (31,5%). 1,3% còn lại (39 người) là tín đồ của các đức tin khác.
Giáo dục tại Quần đảo Falkland dựa theo hệ thống giáo dục Anh, miễn phí và bắt buộc đối với các dân cư trong độ tuổi từ 5 đến 16. Giáo dục tiểu học hiện diện tại Stanley, RAF Mount Pleasant (cho trẻ của các nhân viên) và một số khu dân cư nông thôn. Giáo dục trung học chỉ hiện diện tại Stanley, tại đây có các tiện nghi nội trú và giảng dạy 13 môn học theo trình độ GCSE. Học sinh 16 tuổi hoặc lớn hơn có thể học tại các học viện ở Anh để đạt trình độ tiên tiến GCE hoặc học nghề. Chính phủ Quần đảo Falkland chi trả cho các sinh viên theo học giáo dục bậc đại học, thường là tại Anh Quốc.
== Văn hóa ==
Văn hóa Quần đảo Falkland dựa trên văn hóa Anh Quốc, là thứ văn hóa được đưa đến cùng với những người định cư từ quần đảo Anh, song nó chịu ảnh hưởng từ văn hóa Nam Mỹ Tây Ban Nha. Một số thuật ngữ và địa danh do các cựu dân cư Gaucho của quần đảo từng sử dụng hiện vẫn còn được sử dụng trong khẩu ngữ địa phương. Ngôn ngữ chiếm ưu thế và chính thức của Quần đảo Falkland là tiếng Anh, phương ngôn tối trọng yếu là tiếng Anh-Anh; tuy nhiên, các dân cư cũng có thể nói tiếng Tây Ban Nha và các ngôn ngữ khác. Theo nhà tự nhiên học Will Wagstaff, Quần đảo Falkland là một nơi có tính xã hội cao, và dừng lại để tán gẫu là một kiểu sinh hoạt.
Quần đảo có hai tuần báo: Teaberry Express và The Penguin News, và đài truyền hình và phát thanh thường phát chương trình từ Anh Quốc. Wagstaff mô tả ẩm thực địa phương mang đặc điểm rất Anh Quốc với việc sử dụng nhiều món làm từ rau nhà, thịt cừu non, thịt cừu, thịt bò và cá địa phương. Điều thường thấy giữa các bữa ăn chính là bánh ngọt và bánh quy nhà làm với trà hoặc cà phê. Theo Wagstaff, các hoạt động xã hội trên quần đảo mang đặc trưng của một đô thị nhỏ Anh Quốc với nhiều câu lạc bộ và tổ chức bao trùm nhiều khía cạnh của sinh hoạt cộng đồng.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Thư mục ==
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Wikimedia Atlas của Falkland Islands, có một số bản đồ liên quan đến Falkland Islands.
Chính phủ Quần đảo Falkland
Công ty phát triển Quần đảo Falkland
lưới tin tức Quần đảo
Sơ lược Quần đảo Falkland (BBC) |
olympique lyonnais.txt | Olympique Lyonnais, còn gọi tắt là Lyon hay OL, là câu lạc bộ bóng đá ở thành phố Lyon, Pháp. Câu lạc bộ thành lập vào năm 1950 từ việc sáp nhập giữa ba đội FC Lyon, AS Villeurbanne và Lyon Olympique Universitaire - một câu lạc bộ tồn tại từ năm 1899.
OL hiện nay lấy sân Parc OL làm sân nhà. Chủ tịch của câu lạc bộ từ tháng năm 1987 là ông Jean-Michel Aulas, huấn luyện viên hiện tại của đội là ông Bruno Génésio. Mùa bóng năm nay Lyon đang thi đấu tại Ligue 1 và cúp C2 châu Âu.
Câu lạc bộ là một trong những đội bóng giàu thành tích nhất của bóng đá Pháp, với bảy chức vô địch quốc gia liên tiếp giành được từ năm 2002 cho đến năm 2008.Lyon cũng đã có 15 mùa giải liên tiếp thi đấu ở UEFA Champions League và mùa giải UEFA Champions League 2009-10 là mùa giải thành công nhất trong lịch sử câu lạc bộ khi họ vào đến bán kết.Đội bóng nữ của câu lạc bộ hiện nay cũng là đội bóng số một của nền bóng đá đất nước hình lục lăng, sau khi giành chức vô địch Pháp trong năm mùa giải gần đây nhất, nâng số chức vô địch quốc gia mà họ đã giành được lên tổng cộng 11 lần trong lịch sử tồn tại của mình.
== Lịch sử đội bóng ==
=== Giai đoạn khởi đầu ===
" Lyon Olympique ", là một câu lạc bộ thể thao (gồm nhiều bộ môn khác nhau) được thành lập vào năm 1896 dưới cái tên Racing Club de Lyon, đội bóng đá của câu lạc bộ được thành lập sau đó ba năm (vào năm 1899). Đây chính là đội bóng đá đầu tiên ở Lyon lọt vào vòng chung kết giải vô địch bóng đá Pháp do liên đoàn USFSA tổ chức vào năm 1906. Tại giải đấu năm đó, đội đã gặp Olympique de Marseille ở vòng 1/8. Sau trận hòa 2-2 ở lượt đi, đội bóng thành phố Lyon đã không đến Marseille để chơi trận lượt về.
Những năm sau đó, đội mang tên " Lyon Olympique Universitaire " (thường được gọi tắt là " LOU ") có gặt hái được một số thành công nhất định nhưng sự phát triển còn hạn chế do vẫn chỉ là đội nghiệp dư thành viên của một câu lạc bộ thể thao (gồm nhiều bộ môn khác nhau), chứ không phải là một câu lạc bộ bóng đá biệt lập. Đồng thời, thành phố Lyon, và nhất là thị trưởng thời đó là ông Édouard Herriot không thực sự ủng hộ bóng đá. Chính sách của thành phố thời đó là phát triển phong trào thể thao quần chúng hơn là đầu tư vào một đội bóng chuyên nghiệp. Phải đến cuối Chiến tranh thế giới thứ hai, kế hoạch chuyên nghiệp hóa đội bóng đá của LOU mới được triển khai. Felix Louot, một doanh nhân của thành phố trong lĩnh vực buôn bán giày, lên nắm đội bóng đá của Lyon Olympique Universitaire và đầu tư vào đó từ năm 1944 cho đến năm 1950 tổng cộng hơn 13 triệu franc để xây dựng nền bóng đá chuyên nghiệp ở Lyon. Câu lạc bộ ngay lập tức giành chức vô địch bóng đá Pháp miền Nam vào năm 1945 và lọt vào tứ kết cúp nước Pháp năm đó.
Tuy nhiên, những phức tạp nảy sinh trong việc đội bóng đá vẫn không phải là một tổ chức độc lập, việc va chạm với phần còn lại của LOU vẫn hoạt động nghiệp dư, khiến Trillot và một số người bạn của ông có ý tưởng thành lập một mô hình hoạt động mới. Cuộc họp đầu tiên bàn về vấn đề này được tổ chức ngày 19 tháng 05 năm 1950 tại quán Brasserie de la République. 4 ngày sau đó, tức ngày 23 tháng 05 năm 1950, câu lạc bộ bóng đá " Olympique de Lyon et du Rhône " được tuyên bố thành lập tại quán Café Neuf và lấy sân vận động Stade de Gerland làm sân nhà. Bác sĩ Marcel Trillat đề nghị chọn hai màu đỏ và xanh, màu biểu tượng của thành phố Lyon, làm màu của câu lạc bộ. Ngày 27 tháng 05, điều lệ hoạt động được soạn thảo xong. Đến ngày mùng 05 tháng 06, OL và LOU ký thỏa thuận đồng ý cho việc chuyển giao. Oscar Heisserer, cựu đội trưởng đội tuyển Pháp, huấn luyện viên của LOU vào mùa bóng trước đó, tiếp tục được giao đảm nhận nhiệm vụ này tại OL. Ngày 26 tháng 08 năm 1950, Olympique Lyonnais thi đấu trận đầu tiên của mình tại giải hạng hai Pháp.
=== Lên hạng rồi lại rớt hạng ===
Olympique Lyonnais bắt đầu mùa giải đầu tiên của mình ở giải hạng nhì vào năm 1950. Đội đặt mục tiêu thăng hạng ngay tại mùa bóng đầu tiên. Sau chuỗi 10 trận bất bại vào đầu mùa giải (trong đó có 9 trận thắng), đội có một số kết quả thất thường hơn, trước khi kịp ghi đủ số điểm cần thiết vào cuối mùa để lên hạng. Tại giải năm đó, huấn luyện viên Oscar Heisserer cũng xỏ giày và thi đấu một số trận.
Chuẩn bị cho lần đầu tiên được thi đấu tại hạng cao nhất của bóng đá Pháp vào mùa bóng 1951-1952, đội đưa về Lyon ba tuyển thủ quốc gia Antoine Rodriguez, Pierre Flamion và André Grillon. Cùng hai cầu thủ trẻ nhiều triển vọng là Gilbert Bonvin và André Lerond. Tuy nhiên giải hạng nhất vẫn còn quá tầm với một đội bóng trẻ, OL phải xuống hạng ngay tại mùa bóng năm đó.
Sau một mùa bóng chuyển giao và tái xây dựng lực lượng, Olympique Lyonnais giành lại quyền lên chơi ở giải hạng nhất của bóng đá Pháp vào cuối giải năm 1953-1954.
=== 29 năm ở giải hạng nhất ===
Từ năm 1954 cho đến 1983, Lyon thi đấu liên tục 29 năm liên tại giải hạng nhất Pháp. Cho đến khi đội xuống hạng vào cuối mùa giải 1982-1983, đấy là kỷ lục về số năm thi đấu liên tục tại hạng đấu cao nhất của bóng đá Pháp tính tới thời điểm đó. Thời kỳ hoàng kim của đội bóng trong khoảng thời gian này là từ đầu thập niên 60 cho đến khoảng giữa những năm 70. Lyon trong thời kỳ này được coi là một đội hợp với đá cúp, đội có nhiều tài năng nhưng quá thất thường để giành giải vô địch quốc gia, nhưng trong từng trận đấu một thì Lyon có thể làm nên điều kỳ diệu trước bất kỳ đội bóng nào. Từ năm 1963 đến năm 1973, OL trong vòng 10 năm đã 5 lần lọt vào chung kết Cúp quốc gia Pháp (trong đó có ba lần vô địch vào các năm 1964, 1967, 1973). Olympique Lyonnais cũng lọt vào bán kết Cúp C2 châu Âu năm 1964 và chịu thúc thủ trước Sporting Clube de Portugal, đội sau đó giành ngôi quán quân.
Lối chơi của đội bóng trong thời kỳ này thường dựa vào một hàng phòng ngự số đông, vì các tiền đạo tuyến trên của họ (Nestor Combin, Angel Rambert rồi Fleury Di Nallo, Serge Chiesa, và huyền thoại Bernard Lacombe)đều có đẳng cấp cao và là các chân sút chủ lực của đội tuyển Pháp vào thời điểm đó, nên các huấn luyện viên Lyon thường cho họ độc lập tác chiến mà chú trọng lực lượng cho hàng phòng thủ. Sau năm 1975, lực lượng của Olympique Lyonnais không được bổ sung một cầu thủ nào tương xứng ngoài trừ Jean Tigana (trong 3 mùa bóng từ 1978 đến 1981), đội dần trượt dốc và xuống hạng vào cuối mùa giải 1982-1983.
=== OL = Aulas ===
Olympique Lyonnais ở lại giải hạng nhì trong 6 năm, ngân sách của đội không đủ mạnh để cho phép ngay lập tức trở lại hạng nhất. Năm 1987, sau những năm CLB phải chơi ở giải D2, Jean-Michel Aulas, một chủ doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghệ thông tin đầu tư vào CLB và giành quyền kiểm soát. Ông đặt ra tham vọng "tham dự đấu trường châu Âu trong 5 năm". Aulas đã gây ngạc nhiên khi sa thải huấn luyện viên Robert Nouzaret, một trong những biểu tượng của CLB. Tuy nhiên, đội bóng dưới sự điều hành của ông đã thăng hạng lên Ligue 1 năm 1989 dưới sự dẫn dắt của Raymond Domenech.
Việc giành quyền tham dự đấu trường châu Âu cũng được hoàn thành chỉ sau 2 mùa giải ở Ligue 1. Như vậy, Aulas đã thực hiện được mục tiêu đặt ra trước đó. Tuy vậy, câu lạc bộ lại đối mặt với cuộc chiến trụ hạng mùa giải ngay sau đó. Trong suốt thập niên 1990, Lyon có thành tích khá thất thường, đội thường xếp ở khoảng giữa của bảng xếp hạng. Nổi bật nhất có lẽ là mùa giải 1994-1995 khi OL đứng thứ hai chung cuộc sau FC Nantes, nhờ vào thế hệ cầu thủ đi lên từ lò đào tạo của đội bóng như Florian Maurice hay Bruno N'gotty.
Năm 1999, việc đầu tư 15 triệu euro của tập đoàn Pathé vào OL đổi lấy một phân ba cổ phần của CLB cho phép Jean-Michel Aulas tăng cường đáng kể về lực lượng, ngôi sao lớn đầu tiên về vùng Rhônes có lẽ là tiền đạo đội tuyển Brasil Sonny Anderson (với giá chuyển nhượng kỷ lục của bóng đá Pháp vảo thời điểm đó), đánh dấu một sự khời đầu kỉ nguyên của CLB.
Năm 2002, OL giành danh hiệu vô địch Ligue 1 lần đầu tiên trong lịch sử vào vòng đấu cuối cùng của mùa giải. Trước vòng cuối cùng, OL đứng thứ hai với 2 điểm ít hơn RC Lens. Lịch thi đấu vô tình xếp chính hai đội sẽ đối đầu với nhau tại lượt trận cuối cùng ở Gerland, Lyon giành chiến thắng với tỉ số 3-1 để giành ngôi quán quân. Sau chức vô địch đầu tiên này là chuỗi 7 chức vô địch liên tiếp (kỷ lục của bóng đá Pháp), tính đến hết mùa giải 2007-2008.
OL đã trở thành một thế lực bóng đá không chỉ ở Pháp mà còn là ở châu Âu. Đội bóng cũng là thành viên của G14 (tổ chức của 18 CLB đứng đầu châu Âu). Năm 2012, Lyon quyết định sẽ xây sân vận động mới có tên là Parc Olympique Lyonnais để phục vụ cho vòng chung kết Euro 2016. Sân hoàn thành vào tháng 1 năm 2016. Còn sân vận động cũ của Lyon là Stade de Gerland sẽ làm sân nhà cho câu lạc bộ bóng bầu dục của thành phố.
== Thành tích ==
Vô địch Ligue 1: 7
Vô địch: 2002, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2008
Á quân (5): 1995, 2001, 2010, 2015, 2016
Vô địch Ligue 2: 3
Vô địch: 1951, 1954, 1989
Vô địch cúp Quốc gia: 5
Vô địch: 1964, 1967, 1973, 2008, 2012
Á quân (3): 1963, 1971, 1976
Vô địch cúp Liên đoàn: 1
Vô địch: 2001
Á quân (4): 1996, 2007, 2012, 2014
Vô địch Siêu cúp bóng đá Pháp: 8
Vô địch: 1973, 2002, 2003, 2004, 2005, 2006, 2007, 2012
Á quân (3) - 1967, 2008, 2015, 2016
Các chức vô địch khác
Vô địch phía Nam nước Pháp (1): 1945
Cúp Intertoto (1)
Vô địch: 1997
== Cầu thủ ==
=== Đội hình chính thức ===
Tính đến 15 tháng 5 năm 2016
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
=== Cầu thủ cho mượn ===
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
== Các đời huấn luyện viên trưởng ==
1950-1954: Oscar Heisserer
1954-1955: Julien Darui
1955-1959: Lucien Troupel
1959-1961: Gaby Robert
1961-1962: Manu Fernamdez
1962-1966: Lucien Jasseron
1966-1968: Louis Hon
1968-1976: Aimé Mignot
1976-1980: Aimé Jacquet
1980-1981: Jean-Pierre Destrumelle
1981-1982: Vladimir Kovacevic
1981-1982: Robert Herbin
1984-1987: Robert Nouzaret
1987-1988: Denis Papas
1988-1988: Marcel Le Borgne
1988-1993: Raymond Domenech
1993-1995: Jean Tigana
1995-1996: Guy Stephan
1996-2000: Bernard Lacombe
2000-2002: Jacques Santini
2002-2005: Paul Le Guen
2005-2007: Gérard Houllier
2007-2008: Alain Perrin
2008-2011: Claude Puel
2011-2014: Remi Garde
2014-2015: Hubert Fournier
2015-nay: Bruno Génésio
== Chủ tịch Câu lạc bộ ==
== Lịch sử logo ==
== Ghi chú và tham khảo ==
=== Thư mục ===
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của câu lạc bộ bóng đá Olympique Lyonnais |
nguyên tử.txt | Nguyên tử là đơn vị cơ bản của vật chất chứa một hạt nhân ở trung tâm bao quanh bởi đám mây điện tích âm các electron. Hạt nhân nguyên tử là dạng gắn kết hỗn hợp giữa các proton mang điện tích dương và các neutron trung hòa điện (ngoại trừ trường hợp của nguyên tử hiđrô, với hạt nhân ổn định chỉ chứa một proton duy nhất không có neutron). Electron của nguyên tử liên kết với hạt nhân bởi tương tác điện từ và tuân theo các nguyên lý của cơ học lượng tử. Tương tự như vậy, nhóm các nguyên tử liên kết với nhau bởi liên kết hóa học dựa trên cùng một tương tác này, và tạo nên phân tử. Một nguyên tử chứa số hạt electron bằng số hạt proton thì trung hòa về điện tích, trong khi số electron nếu nhiều hoặc ít hơn thì nó mang điện tích âm hoặc dương và gọi là ion. Nguyên tử được phân loại tuân theo số proton và neutron trong hạt nhân của nó: số proton xác định lên nguyên tố hóa học, và số neutron xác định đồng vị của nguyên tố đó.
Tên gọi nguyên tử hóa học mà nay gọi đơn giản là "nguyên tử" là những đối tượng rất nhỏ với đường kính chỉ khoảng vài phần mười nano mét và có khối lượng rất nhỏ tỷ lệ với thể tích của nguyên tử. Chúng ta có thể quan sát nguyên tử đơn lẻ bằng các thiết bị như kính hiển vi quét chui hầm. Trên 99,94% khối lượng nguyên tử tập trung tại hạt nhân, với tổng khối lượng proton xấp xỉ bằng tổng khối lượng neutron. Mỗi nguyên tố có ít nhất một đồng vị với hạt nhân không ổn định có thể trải qua quá trình phân rã phóng xạ. Quá trình này dẫn đến biến đổi hạt nhân làm thay đổi số proton hoặc neutron trong hạt nhân nguyên tử. Electron liên kết trong nguyên tử có những mức năng lượng ổn định rời rạc, hay obitan, và chúng có thể chuyển dịch giữa 2 mức năng lượng bằng hấp thụ hay phát ra photon có năng lượng đúng bằng hiệu giữa 2 mức năng lượng này. Các electron có vai trò xác định lên tính chất hóa học của một nguyên tố, và ảnh hưởng mạnh tới tính chất từ tính của nguyên tử cũng như vật liệu. Những nguyên lý của cơ học lượng tử đã mô tả thành công các tính chất quan sát thấy của nguyên tử và là nền tảng cho lý thuyết nguyên tử và hạt hạ nguyên tử (hạt quark, proton, neutron...).
== Từ nguyên ==
Tên tiếng Anh "atom" xuất phát từ tiếng Hy Lạp ἄτομος (atomos, "vô hình") từ ἀ- (a-, "không") và τέμνω (temnō, "cắt"), có nghĩa là không cắt được, hoặc vô hình, một thứ không thể chia cắt được. Khái niệm nguyên tử là thành phần vô hình của vật chất do các nhà triết học Ấn Độ và Hy Lạp đề xuất ra đầu tiên. Trong thế kỷ thứ 18 và 19, các nhà hóa học nêu ra một cơ sở vật lý cho ý tưởng này bằng cách chỉ ra có những chất không thể bị bẻ gãy bởi phương pháp hóa học, và họ lấy tên gọi từ các nhà triết học cổ đại là nguyên tử để đặt cho các thực thể hóa học. Trong giai đoạn cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, các nhà vật lý đã phát hiện ra những thành phần hạ nguyên tử và cấu trúc bên trong nguyên tử, và do vậy chứng minh "nguyên tử" hóa học có thể phân chia được và tên gọi này có thể không miêu tả đúng bản chất của chúng. Tuy nhiên, nó đã trở thành một thuật ngữ khoa học hiện đại. Điều này cũng dẫn đến những tranh luận về liệu những nhà triết học cổ đại, những người định nghĩa các vật vô hình và không thể phân chia được có phải là cho những nguyên tử hóa học hiện đại hay là cho những hạt hạ nguyên tử vô hình như lepton hay quark, hay thậm chí cho những hạt cơ bản hơn mà chưa phát hiện ra.
== Lịch sử ==
=== Nguyên tử luận ===
Khái niệm về vật chất là tổ hợp của những đơn vị rời rạc và không thể chia nhỏ hơn đã xuất hiện từ nhiều thiên niên kỷ, nhưng những khái niệm này thường là những lập luận triết học và trừu tượng hơn là dựa trên những quan sát thực nghiệm. Bản chất của nguyên tử trong triết học thay đổi theo thời gian giữa nhiều nền văn minh và trường phái cổ đại, đa số có yếu tố tinh thần siêu hình học. Tuy vậy, khái niệm cơ bản về nguyên tử được các nhà khoa học hàng nghìn năm sau chấp nhận bởi vì nó giải thích một cách đơn giản một số khám phá mới trong lĩnh vực hóa học.
Các nhà triết học cổ đại Hy Lạp và Ấn Độ đã nhắc tới khái niệm nguyên tử. Ở Ấn Độ, những trường phái Ājīvika, Jain, và Cārvāka bàn về nguyên tử luận bắt đầu từ thế kỷ thứ 6 trước Công nguyên. Hệ thống tư tưởng Nyaya và Vaisheshika sau đó phát triển thuyết về nguyên tử khi đề ra cách các nguyên tử kết hợp lại thành thực thể phức tạp hơn. Ở phương Tây, nguyên tử luận được nhắc đến từ thế kỷ 5 TCN bởi Leucippus, và người học trò của ông Democritos đã tiếp nối và hệ thống hóa lý luận. Khoảng giao đoạn 450 TCN, Democritos đưa ra thuật ngữ átomos (tiếng Hy Lạp: ἄτομος), có nghĩa là "không thể cắt được" hay "hạt vô hình nhỏ nhất của vật chất". Mặc dù các khái niệm này của các triết gia Ấn Độ và Hy Lạp cổ đại thuần túy dựa vào mặt tinh thần, khoa học hiện đại đã bảo lưu thuật ngữ do Democritos đưa ra.
Lý thuyết về những hạt rất nhỏ (Corpuscularianism) do nhà giả kim Geber nêu ra từ thế kỷ 13, đôi khi có người cho là bởi Paul từ Taranto nêu ra, đó là mọi vật thể chứa bên trong và những hạt hoặc những tiểu thể rất nhỏ. Chủ nghĩa này giống với nguyên tử luận, ngoại trừ nguyên từ được giả thiết là hạt vô hình, và những hạt về nguyên lý có thể phân chia được. Theo lý thuyết ngày, ví dụ, người ta cho rằng thủy ngân có thể thấm vào kim loại và làm thay đổi cấu trúc bên trong của nó. Corpuscularianism là lý thuyết nổi bật trong vài trăm năm sau đó.
Năm 1661, nhà triết học tự nhiên Robert Boyle xuất bản cuốn The Sceptical Chymist trong đó ông lập luận rằng vật chất là tổ hợp của rất nhiều "tiểu thể" hay nguyên tử, hơn là bởi bốn yếu tố cơ bản là không khí, đất, nước và lửa. Trong những năm 1670 lý thuyết về các tiểu thể được Isaac Newton áp dụng vào lý thuyết các hạt ánh sáng của ông.
=== Nguồn gốc lý thuyết khoa học ===
Tiến trình nghiên cứu về nguyên tử không xuất hiện cho tới tận khi ngành khoa học hóa học bắt đầu phát triển. Năm 1789, thương nhân và khoa học gia người Pháp Antoine Lavoisier khám phá ra định luật bảo toàn khối lượng và nêu ra ý niệm về nguyên tố là chất cơ bản không thể phân tách bằng những phương pháp hóa học.
Năm 1805, nhà triết học và giảng sư người Anh John Dalton sử dụng khái niệm nguyên tử nhằm giải thích tại sao các nguyên tố luôn luôn phản ứng theo những tỉ số tự nhiên nhỏ (định luật Dalton) và tại sao có những loại khí hòa tan vào nước tốt hơn những khí khác. Ông đề xuất rằng mỗi nguyên tố chứa những nguyên tử cùng loại, duy nhất, và những nguyên tử này kết hợp với nhau tạo nên các hợp chất hóa học. Các nhà lịch sử khoa học coi Dalton là người tiên phong trong lý thuyết nguyên tử hiện đại.
Giả thuyết nguyên tử của Dalton không nêu cụ thể kích thước nguyên tử là bao nhiêu. Theo cảm nhận thông thường chúng phải rất nhỏ, nhưng không ai biết nhỏ bao nhiêu. Do vậy vào năm 1865 nhà hóa học người Áo Johann Josef Loschmidt đã có bước đột phá khi ông đo được kích cỡ của phân tử trong không khí.
Một dòng bổ sung lý luận hỗ trợ lý thuyết hạt (và do vậy mở rộng thuyết nguyên tử) là vào đầu năm 1827 khi nhà thực vật học Scotland Robert Brown sử dụng kính hiển vi để quan sát các hạt bụi trôi nổi trên mặt nước và ông nhận thấy chúng di chuyển zic-zac—một hiện tượng ngày nay gọi là "chuyển động Brown". Năm 1877 J. Desaulx đề xuất hiện tượng này có nguyên nhân từ chuyển động nhiệt của các phân tử nước, và tới tận năm 1905 nhà vật lý người Đức Albert Einstein mới nêu ra phân tích toán lý đầu tiên về chuyển động này. Sau đấy, nhà vật lý người Pháp Jean Perrin dựa trên nghiên cứu của Einstein tiến hành thí nghiệm xác định được khối lượng và kích thước nguyên tử, và xác nhận lý thuyết nguyên tử của Dalton.
Năm 1869, dựa trên các khám phá trước đó của những nhà khoa học như Lavoisier, nhà hóa học người Nga Dmitri Mendeleev lần đầu tiên công bố bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Trên bảng này thể hiện tính chất hóa học một cách tuần hoàn giữa các nguyên tố, ông phát hiện ra tính lặp lại tuần hoàn của các nguyên tố khi sắp xếp chúng theo nguyên tử số.
=== Hạt cấu thành và lý thuyết lượng tử ===
Nhà vật lý J. J. Thomson, thông qua nghiên cứu trên chùm tia ca tốt năm 1897, đã phát hiện ra electron, và kết luận rằng chúng là một thành phần của mỗi nguyên tử. Do vậy ông vượt qua niềm tin lâu nay cho rằng nguyên tử là những hạt vô hình, không thể phân chia của vật chất. Thomson đề xuất các hạt điện tích âm electron khối lượng nhỏ phân bố đều trên nguyên tử, có thể quay quanh thành những vòng, và điện tích của chúng cân bằng với sự có mặt của một biển điện tích dương. Mô hình này sau đó được gọi là mô hình bánh pudding mận.
Năm 1909, Hans Geiger và Ernest Marsden, lúc đó đang là trợ tá cho Ernest Rutherford, sử dụng tia alpha—lúc đó người ta đã biết là nguyên tử điện tích dương của heli—bắn phá một lá vàng và nhận thấy một tỷ lệ nhỏ các hạt bị lệch với một góc rất lớn so với giá trị tiên đoán theo mô hình Thomson. Rutherford giải thích thí nghiệm với lá vàng bằng giả sử rằng điện tích dương của nguyên tử vàng và phần lớn khối lượng của nó tập trung tại hạt nhân trung tâm của nguyên tử—hay mô hình Rutherford.
Khi làm thí nghiệm với các nguyên tố phóng xạ, năm 1913 nhà hóa học phóng xạ Frederick Soddy phát hiện ra dường như có nhiều hơn một loại nguyên tử tại mỗi vị trí trên bảng tuần hoàn. Và thuật ngữ đồng vị do bác sĩ Margaret Todd đưa ra nhằm gọi tên một cách phù hợp cho những nguyên tử khác nhau của cùng một nguyên tố. J.J. Thomson nghĩ ra một kĩ thuật nhằm tách nguyên tử có các đồng vị khác nhau khi ông nghiên cứu trên khí ion hóa, và sau đó dẫn tới khám phá ra đồng vị bền.
Trong khi đó năm 1913, nhà vật lý Niels Bohr đề xuất là các electron bị giam giữ trên những quỹ đạo bị lượng tử hóa nhất định, và chúng có thể nhảy qua lại giữa những quỹ đạo này, nhưng không thể rơi xoắn ốc vào trong hay ra ngoài trong những quỹ đạo trung gian. Một electron phải hấp thụ hoặc phát ra một lượng năng lượng cụ thể khi chuyển dịch giữa hai trạng thái này. Khi ánh sáng từ nguồn vật liệu nung nóng truyền qua một lăng kính, nó bị tách ra thành phổ nhiều tia đơn sắc. Lý thuyết Bohr đã giải thích thành công sự tách ra thành nhiều vạch phổ hiđrô tương ứng với sự chuyển dịch electron giữa các obitan.
Sau đấy trong cùng năm Henry Moseley cung cấp thêm chứng cứ thực nghiệm ủng hộ lý thuyết Niels Bohr. Những kết quả thí nghiệm này cũng tinh chỉnh mô hình của Ernest Rutherford và của Antonius Van den Broek, và thí nghiệm cho thấy nguyên tử chứa trong nó hạt nhân có số điện tích hạt nhân bằng với số thứ tự của chúng trên bảng tuần hoàn. Cho đến tận khi có các thí nghiệm của Moseley, nguyên tử số vẫn chưa được biết là một đại lượng vật lý và xác nhận bằng thực nghiệm. Nguyên tử số bằng điện tích của hạt nhân vẫn được chấp nhận trong mô hình nguyên tử hiện đại ngày nay.
Liên kết hóa học giữa các nguyên tử đến lượt được giải thích bởi Gilbert Newton Lewis năm 1916, bằng tương tác giữa các electron trong chúng. Khi đã biết tính chất hóa học của các nguyên tố lặp lại tuần hoàn trên bảng tuần hoàn, năm 1919 nhà hóa học Irving Langmuir đề xuất tính tuần hoàn có thể giải thích được nếu electron trong một nguyên tử được kết nối hay nhóm lại theo một cách nào đó. Nhóm các electron được cho là chiếm giữ vào một tập hợp lớp vỏ electron quanh hạt nhân.
Thí nghiệm Stern–Gerlach thực hiện năm 1922 mang đến kết quả thực nghiệm ủng hộ cho bản chất lượng tử của nguyên tử. Khi một chùm nguyên tử bạc cho phóng qua một từ trường không đều, chùm tia sẽ bị tách ra trên màn thu tuân theo hướng của động lượng nguyên tử, hay spin lượng tử. Nếu hướng của spin là phân bố ngẫu nhiên, thì trên màn thu sẽ thu được một dải bạc liên tục. Tuy vậy, hai nhà vật lý lại thu được kết quả là có hai phần rõ rệt, chỉ phụ thuộc vào spin nguyên tử định hướng lên hay xuống.
Năm 1924, Louis de Broglie dựa trên ý tưởng của Einstein về sóng điện từ có lúc thể hiện tính chất hạt (photon) và đề xuất ngược lại là mọi hạt có tính chất dạng sóng của chúng. Năm 1926, Erwin Schrödinger sử dụng đề xuất này nhằm phát triển mô hình toán học về nguyên tử miêu tả các electron như dạng sóng ba chiều hơn là các hạt điểm. Một hệ quả của cách sử dụng các hàm sóng miêu tả hành xử của hạt đó là về mặt toán học không thể nhận được giá trị chính xác về cả vị trí và động lượng của một hạt trong cùng một thời gian; đây chính là nội dung của nguyên lý bất định do nhà vật lý Werner Heisenberg phát biểu năm 1926. Trong khái niệm này, mỗi khi chúng ta đo chính xác vị trí của hạt chúng ta sẽ chỉ nhận được một khoảng các giá trị có thể cho động lượng, và ngược lại. Mô hình này cũng giải thích được những kết quả thực nghiệm về hành xử của nguyên tử mà những mô hình khác không làm được, như là những cấu trúc xác định và dải phổ của những nguyên tử lớn hơn nguyên tử hiđrô. Từ đó, mô hình hành tinh nguyên tử miêu tả các electron quay trên quỹ đạo quanh hạt nhân bị bác bỏ và thay thế vào đó là các electron ở những vùng gọi là obitan nguyên tử tương ứng với xác suất phân bố của electron.
Các phổ kế khối lượng phát minh ra đã cho phép đo được chính xác khối lượng của nguyên tử. Thiết bị này sử dụng một nam châm làm lệch quỹ đạo của chùm tia ion, và góc lệch đo được bằng tỉ số của khối lượng nguyên tử và điện tích của nó. Nhà hóa học Francis William Aston đã sử dụng thiết bị này để chứng tỏ rằng các đồng vị có khối lượng khác nhau. Khối lượng nguyên tử của những đồng vị cùng một nguyên tố chỉ chênh nhau theo bội nguyên của một hằng số. Để giải thích cho sự khác biệt kỳ lạ về khối lượng đồng vị phải đợi đến tận khi khám phá ra neutron, hạt trung hòa điện có khối lượng hơi lớn hơn khối lượng proton, do nhà vật lý James Chadwick phát hiện năm 1932. Do vậy các đồng vị được giải thích như là các nguyên tố có cùng số proton và khác nhau về số neutron ở hạt nhân của chúng.
=== Phân hạch, vật lý năng lượng cao và vật chất ngưng tụ ===
Năm 1938, nhà hóa học người Đức Otto Hahn, học trò của Rutherford, đã hướng chùm neutron vào các nguyên tử urani nhằm mục đích tạo ra các nguyên tố siêu urani. Thay vào đó ông lại nhận được từ kết quả thí nghiệm hóa học là sản phẩm bari. Một năm sau, Lise Meitner và người cháu trai của Otto Hahn là Otto Frisch xác nhận kết quả Hahn thu được là thực nghiệm đầu tiên về sự phân hạch hạt nhân. Năm 1944, Otto Hahn nhận giải Nobel Hóa học. Mặc dù Hahn đã nỗ lực kêu gọi Ủy ban Nobel trao giải cho Meitner và Frisch nhưng ông đã không thành công.
Trong thập niên 1950, với sự phát triển nhanh chóng của các máy gia tốc hạt và máy dò hạt đã cho phép các nhà khoa học nghiên cứu va chạm của các hạt nhân và nguyên tử ở mức năng lượng cao. Họ nhận thấy hạt neutron và proton là những loại hạt hadron, hay hạt tổ hợp của những hạt nhỏ hơn gọi là quark. Lý thuyết Mô hình chuẩn của vật lý hạt được phát triển và đã rất thành công trong giải thích tính chất của hạt nhân theo sự phân loại thành các hạt hạ nguyên tử và các tương tác chi phối thế giới lượng tử.
== Các thành phần ==
=== Hạt hạ nguyên tử ===
Mặc dù từ nguyên tử có nguồn gốc chỉ những hạt không thể phân chia nhỏ hơn nữa, nhưng như ngày nay đã biết nguyên tử là thuật ngữ khoa học tổ hợp của nhiều hạt hạ nguyên tử. Các hạt thành phần của nguyên tử là electron, proton và neutron. Ngoại trừ nguyên tử hiđrô-1 không có neutron và ion hiđrô không có electron (hay chính là hạt proton đơn lẻ).
Electron là hạt nhẹ nhất trong ba hạt với khối lượng &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000009.11×10−31 kg, và điện tích âm -e, kích thước của nó rất nhỏ và hiện nay chưa có công nghệ nào đo được đường kính của nó. Proton có điện tích dương +e và khối lượng gấp 1.836 khối lượng electron, và bằng &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000001.6726×10−27 kg, mặc dù giá trị này có thể giảm đi do bù trừ vào năng lượng liên kết của proton trong hạt nhân. Neutron là hạt trung hòa điện và khối lượng khi nó đứng riêng lẻ là 1.839 lần khối lượng electron, hay &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000001.6929×10−27 kg. Các nhà vật lý đo được đường kính của neutron và proton—vào cỡ &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-100.0000002.5×10−15 m—mặc dù 'bề mặt' của những hạt này không xác định rõ ràng.
Trong Mô hình chuẩn, electron là hạt cơ bản thực sự vì nó không có hạt thành phần. Tuy nhiên, cả proton và neutron là những hạt tổ hợp của những hạt cơ bản gọi là quark. Có hai loại quark trong các proton và neutron, mỗi hạt quark mang điện tích phân số. Proton là hạt tổ hợp của 2 quark lên (mỗi hạt có điện tích +2⁄3e) và một quark xuống (với điện tích −1⁄3e). Neutron chứa một quark lên và hai quark xưống. Sự khác biệt trong thành phần khiến cho khối lượng và điện tích của hai hạt proton và neutron có sự khác nhau.
Các quark liên kết với nhau bởi tương tác mạnh (hay lực mạnh) thông qua trao đổi các gluon. Đến lượt các hạt proton và neutron liên kết với nhau trong hạt nhân bởi lực hạt nhân, mà lực này về bản chất là do tương tác mạnh 'rò rỉ' ra ngoài với phạm vi ngắn (xem bài về lực hạt nhân). Hạt gluon là thành viên của họ hạt boson gauge, là hạt trung gian trao đổi tương tác mạnh.
=== Hạt nhân ===
Mọi proton và neutron liên kết với nhau trong hạt nhân nguyên tử, và chúng được gọi chung là các nucleon. Bán kính của hạt nhân có giá trị xấp xỉ 1,07 3√A fm, với A là tổng số nucleon trong hạt nhân. Giá trị này nhỏ hơn rất nhiều bán kính của nguyên tử và bằng khoảng 105 fm. Các nucleon liên kết với nhau bởi thế năng hút còn dư của tương tác mạnh tầm ngắn. Với khoảng cách 2,5 fm lực này mạnh hơn lực điện từ làm cho các proton điện tích dương đẩy nhau.
Các nguyên tử của cùng một nguyên tố có cùng số proton, hay còn gọi là số nguyên tử. Hạt nhân của một nguyên tố có số hạt neutron khác nhau xác định lên các đồng vị của nguyên tố đó. Tổng số proton và neutron xác định lên nuclit. Số lượng tương đối neutron so với proton ảnh hưởng tới tính ổn định của hạt nhân, và ở một số đồng vị có hiện tượng phân rã phóng xạ.
Các hạt proton và neutron được phân loại thành hạt fermion. Nguyên lý loại trừ Pauli, một hiệu ứng cơ học lượng tử, không cho phép có hai hạt fermion đồng nhất ở cùng một trạng thái, ví dụ như không thể có nhiều hạt proton có cùng một trạng thái lượng tử trong cùng một thời gian. Do vậy mỗi hạt proton trong hạt nhân phải có các trạng thái khác nhau, với mức năng lượng của riêng chúng, và tương tự quy tắc này cho các hạt neutron. Tuy nhiên nguyên lý này không ngăn cấm một hạt proton và một neutron có cùng trạng thái lượng tử.
Đối với các nguyên tử có giá trị nguyên tử số thấp, một hạt nhân có số proton khác số neutron có xu hướng trở về trạng thái năng lượng của hạt nhân thấp hơn thông qua quá trình phân rã phóng xạ dẫn đến số hạt proton và neutron trở lên xấp xỉ bằng nhau. Kết quả là, các nguyên tử có số proton xấp xỉ bằng số neutron có hạt nhân bền và không có hiện tượng phóng xạ. Tuy nhiên, khi nguyên tử số tăng lên, lực đẩy lẫn nhau giữa các proton và đòi hỏi số neutron tăng lên để duy trì sự ổn định của hạt nhân, không còn tuân theo xu hướng cân bằng hai hạt này nữa. Và thực tế không có hạt nhân bền nào với số proton xấp xỉ bằng số neutron khi nguyên tử số lớn hơn Z = 20 (canxi); và khi Z tăng đến những hạt nhân nặng nhất, tỉ số neutron trên proton để cho hạt nhân ổn định tiến tới giá trị 1,5.
Các nhà khoa học biết hạt nhân nguyên tử có thể thay đổi số proton và neutron, mặc dù sự điều chỉnh này cần năng lượng rất cao do ảnh hưởng của lực hạt nhân cũng như lực điện từ. Phản ứng tổng hợp hạt nhân xảy ra khi nhiều hạt nhân kết hợp lại thành một hạt nhân nặng hơn, như sự va chạm năng lượng cao giữa hai hạt nhân. Ví dụ, tại lõi Mặt Trời các proton đòi hỏi năng lượng cỡ 3–10 keV để vượt qua lực đầy giữa chúng— để vượt qua rào Coulomb—và tổng hợp lại thành hạt nhân nặng hơn. Phản ứng phân hạch hạt nhân là quá trình ngược lại, một hạt nhân bị tách ra làm hai hạt nhân có khối lượng nhỏ hơn—thường thông qua quá trình phân rã phóng xạ. Hạt nhân cũng bị biến đổi do kết quả quá trình bắn phá bởi các hạt hạ nguyên tử hay chùm proton năng lượng cao. Nếu hạt nhân mới sinh ra với số proton khác đi thì nguyên tử trở thành một nguyên tử của nguyên tố hóa học khác.
Nếu khối lượng của hạt nhân sản phẩm trong phản ứng tổng hợp nhỏ hơn tổng cộng khối lượng của các hạt nhân tham gia phản ứng, thì hiệu khối lượng này có thể phát ra dưới dạng năng lượng có ích (như tia gamma, hay động năng của các hạt sản phẩm như hạt beta), và tuân theo nguyên lý sự tương đương khối lượng-năng lượng với công thức của Albert Einstein ΔE = Δm c2, với Δm là khối lượng chênh lệch và c là tốc độ ánh sáng. Năng lượng dôi ra này có nguồn gốc từ năng lượng liên kết của hạt nhân tạo thành, và nó là sự mất mát năng lượng không thể khôi phục được làm cho các hạt tham gia tổng hợp đứng cạnh nhau trong một trạng thái đòi hỏi năng lượng này phải tách ra.
Phản ứng tổng hợp tạo ra hạt nhân lớn hơn từ các hạt nhân có nguyên tử số Z nhỏ hơn của sắt và nikel—với tổng số nucleon vào khoảng 60—thường là phản ứng sinh nhiệt giải phóng nhiều năng lượng hơn so với năng lượng cần thiết để tổng hợp chúng. Đây chính là những phản ứng tổng hợp hạt nhân sinh năng lượng trong các sao và giúp ngôi sao duy trì trạng thái cân bằng áp suất và lực hút hấp dẫn. Đối với các hạt nhân nặng hơn, năng lượng liên kết trên một nucleon trong hạt nhân bắt đầu giảm. Điều này làm cho phản ứng tổng hợp sinh ra hạt nhân với nguyên tử số Z > 26 và số nucleon cao hơn 60, là phản ứng thu nhiệt. Những hạt nhân nặng này không thể tham gia phản ứng tổng hợp sinh năng lượng giúp cho quá trình cân bằng thủy tĩnh của sao được ổn định.
=== Đám mây electron ===
Các electron trong một nguyên tử bị hút bởi các proton ở hạt nhân bằng lực điện từ. Lực này giam các electron bên trong một giếng thế tĩnh điện bao quanh hạt nhân, tức là cần phải có nguồn năng lượng từ bên ngoài để cho electron thoát ra khỏi hạt nhân. Electron càng nằm gần về phía hạt nhân, lực hút càng mạnh hơn. Do đó electron liên kết gần tâm của giếng thế đòi hỏi nhiều năng lượng hơn để thoát ra ngoài.
Electron, giống như những hạt vi mô khác, có cả tính chất sóng và hạt. Đám mây electron là một vùng bên trong giếng thế nơi mỗi electron tạo thành một kiểu sóng đứng ba chiều—dạng sóng không di chuyển so với hạt nhân. Hành xử này tạo nên obitan nguyên tử, một hàm toán học đặc trưng cho xác suất một electron xuất hiện tại một điểm cụ thể khi đo vị trí của electron. Chỉ có tập rời rạc bị lượng tử hóa những obitan tồn tại xung quanh hạt nhân, hoặc nếu có những dạng sóng khác thì nó sẽ nhanh chóng phân hủy thành dạng sóng đứng lượng tử ổn định hơn. Các obitan có thể có cấu trúc nhiều hơn một vòng hoặc nút, và chúng khác nhau về kích thước, hình dạng và hướng.
Mỗi obitan tương ứng với một mức năng lượng cụ thể của electron. Electron có thể thay đổi trạng thái của nó đến mức năng lượng cao hơn bằng hấp thụ một photon với năng lượng phù hợp để đẩy điện tử lên trạng thái năng lượng mới. Tương tự như vậy, thông qua phát xạ tự phát, một electron ở trạng thái năng lượng cao hơn có thể trở về mức năng lượng thấp bằng phát ra một photon. Những giá trị năng lượng đặc trưng này, xác định bởi hiệu giữa các mức năng lượng của từng trạng thái lượng tử, thể hiện cho dãy vạch phổ đặc trưng của từng nguyên tử.
Lượng năng lượng cần để lấy đi hoặc thêm một electron vào—năng lượng liên kết electron— nhỏ hơn nhiều so với năng lượng liên kết các nucleon trong hạt nhân. Ví dụ, chỉ cần 13,6 eV để tách electron ở trạng thái năng lượng nền (trạng thái năng lượng thấp nhất) ra khỏi nguyên tử hiđrô, so với 2,23 triệu eV để tách một hạt nhân deuteri. Các nguyên tử trung hòa điện nếu chúng có số electron bằng số proton. Nguyên tử thiếu hoặc dư thừa electron gọi là ion. Những electron nằm xa hạt nhân nhất có thể bị bắt sang nguyên tử bên cạnh hoặc thuộc về cả hai nguyên tử. Theo cơ chế này, các nguyên tử có thể liên kết với nhau thành các phân tử hoặc những hợp chất hóa học khác như mạng lưới tinh thể ion hoặc liên kết cộng hóa trị.
== Tính chất ==
=== Tính chất hạt nhân ===
Theo định nghĩa, bất kỳ hai nguyên tử với cùng số proton trong hạt nhân thì thuộc về cùng một nguyên tố hóa học. Các nguyên tử có cùng số proton nhưng khác số neutron là những đồng vị khác nhau của cùng một nguyên tố. Ví dụ, mọi nguyên tử hiđrô chỉ chứa một proton, nhưng có đồng vị không chứa neutron (hiđrô-1, là dạng phổ biến nhất, hay còn gọi là protium), chứa một neutron (deuteri), hai neutron (triti) và nhiều hơn hai neutron. Các nguyên tố đã biết lập thành một tập nguyên tử số, từ nguyên tố chứa 1 proton hiđrô cho đến nguyên tố chứa 118 proton ununoctium. Tất cả các đồng vị đã biết của nguyên tố có nguyên tử số lớn hơn 82 là đồng vị phóng xạ.
Các nhà vật lý hạt nhân biết khoảng 339 nuclit xuất hiện trong tự nhiên trên Trái Đất, trong số đó 254 (khoảng 75%) nuclit không có tính phân rã, và thường gọi là "đồng vị bền". Tuy nhiên, chỉ 90 trong số những nuclit này là ổn định đối với mọi phân rã, thậm chí ngay cả trên lý thuyết. Còn lại 164 (trong tổng số 254) thì người ta vẫn chưa quan sát thấy chúng phân rã, vì trên lý thuyết chúng có mức năng lượng hạt nhân cao. Và các nhà khoa học thường phân loại chúng một cách hình thức thuộc dạng "bền". Thêm khoảng 34 nuclit phóng xạ có nửa thời gian sống hơn 80 triệu năm, đủ lâu để có mặt từ lúc hình thành Hệ Mặt Trời. Tổng số 288 nuclit này gọi là các nuclit nguyên thủy. Cuối cùng, có thêm khoảng 51 nuclit với nửa thời gian sống ngắn mà các nhà khoa học biết chúng tồn tại trong tự nhiên, như là sản phẩm phân rã của các nuclit nguyên thủy (như radi từ urani), hoặc là những sản phẩm của các quá trình năng lượng cao trong tự nhiên trên Trái Đất, như do các tia vũ trụ bắn phá (ví dụ, cacbon-14).
Đối với 80 nguyên tố hóa học, mỗi nguyên tố có ít nhất một đồng vị bền tồn tại. Như một quy tắc, chỉ có một số nhất định đồng vị bền cho mỗi nguyên tố, trung bình khoảng 3,2 đồng vị bền trên một nguyên tố. 26 nguyên tố chỉ có duy nhất một đồng vị ổn định, trong khi nguyên tố có nhiều đồng vị bền nhất đã được xác nhận đó là thiếc với 10 đồng vị bền. Nguyên tố 43, 61, 83 và mọi nguyên tố có nguyên tử số cao hơn đều không có đồng vị bền.
Tính ổn định của đồng vị bị ảnh hưởng bởi tỉ số của proton trên neutron, và cũng bởi sự có mặt của những "số thần kỳ" xác định của neutron hay proton mà xuất hiện làm đầy hoặc gần với lớp vỏ lượng tử trong mô hình cấu trúc hạt nhân. Những vỏ lượng tử này tương ứng với tập mức năng lượng trong mô hình vỏ hạt nhân; những vỏ được lấp đầy, như vỏ lượng tử của thiếc chứa đầy 50 proton, lại được coi là có tính ổn định kỳ lạ đối với nuclit (hay số thần kỳ là 50). Trong 254 nuclit bền đã biết, chỉ có bốn nuclit bền chứa đồng thời số lẻ proton và số lẻ neutron: hiđrô-2 (deuteri), liti-6, boron-10 và nitơ-14. Cũng vậy, chỉ có bốn nuclit xuất hiện trong tự nhiên với đồng thời số lẻ proton và neutron có nửa thời gian sống trên một tỷ năm: potassium-40, vanadium-50, lanthanum-138 và tantalum-180m. Đa số các hạt nhân có đồng thời số lẻ proton và neutron đều mất ổn định và nhanh chóng phân rã beta, bởi vì sản phẩm phân rã chứa số chẵn đồng thời proton và neutron, và do vậy liên kết chặt với nhau hơn, do hiệu ứng bắt cặp hạt nhân (theo nguyên lý loại trừ Pauli, một proton có spin lên sẽ có xu hướng bắt cặp với một proton có spin xuống, và tương tự cho neutron, điều này dẫn đến xu hướng có đồng thời số chẵn cả proton và neutron trong hạt nhân).
=== Khối lượng ===
Phần lớn khối lượng của nguyên tử là do đóng góp của proton và neutron trong hạt nhân của nó. Tổng những hạt này (gọi là "nucleon") trong một nguyên tử gọi là số khối. Số khối đơn giản chỉ là một số tự nhiên, có đơn vị là "nucleon." Ví dụ sử dụng số khối là "cacbon-12," có 12 nucleon (6 proton và 6 neutron).
Khối lượng thực của nguyên tử khi nó đứng yên (khối lượng bất biến, khối lượng nghỉ) thường được biểu diễn bằng đơn vị khối lượng nguyên tử (u), hay đôi khi gọi là một dalton (Da). Đơn vị này được xác định bằng một phần mười hai khối lượng nghỉ của nguyên tử tự do trung hòa điện cacbon-12, với khối lượng xấp xỉ &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000001.66×10−27 kg. hiđrô-1, đồng vị nhẹ nhất của hiđrô và là nguyên tử nhẹ nhất, có khối lượng nghỉ bằng 1,007825 u. Giá trị của số này gọi là nguyên tử lượng. Một nguyên tử có nguyên tử lượng xấp xỉ bằng (sai số 1%) số khối của nó nhân với đơn vị khối lượng nguyên tử. Tuy nhiên, giá trị này sẽ không bằng chính xác số khối trừ trường hợp của cacbon-12 (xem bên dưới) Nguyên tử bền nặng nhất là chì-208, có khối lượng là &0000000000000207.976652207.9766521 u.
Ngay cả đối với các nguyên tử nặng nhất cũng quá nhẹ để có thể nghiên cứu trực tiếp và đơn vị khối lượng khá rườm rà, thay vào đó các nhà hóa học sử dụng đơn vị Mol. Một mol nguyên tử của bất kỳ một nguyên tố hóa học luôn có cùng số lượng nguyên tử (bằng khoảng &0000000000000000.0000006.022×1023). Số này được chọn sao cho nếu một nguyên tố có nguyên tử lượng là 1 u, thì 1 mol nguyên tử nguyên tố này có khối lượng xấp xỉ 1 gram. Do định nghĩa của đơn vị khối lượng nguyên tử, mỗi nguyên tử cacbon-12 có nguyên tử khối chính xác bằng 12 u, do vậy 1 mol nguyên tử cacbon-12 có khối lượng chính xác bằng 0,012 kg.
=== Hình dạng và kích thước ===
Nguyên tử không có bề mặt định rõ, do vậy kích thước của nó thường được xác định hình thức bằng thuật ngữ bán kính nguyên tử. Đại lượng này đo khoảng cách mở rộng đám mây electron tính từ hạt nhân. Tuy nhiên, cách giả sử này chỉ đúng cho nguyên tử có dạng hình cầu, mà chỉ đúng cho nguyên tử cô lập trong chân không. Bán kính nguyên tử có thể suy ra từ khoảng cách giữa hai hạt nhân khi hai nguyên tử kết hợp lại theo liên kết hóa học. Bán kính thay đổi phụ thuộc vị trí của nguyên tử trên bảng tuần hoàn, loại liên kết hóa học, số nguyên tử hay ion lân cận với nó (số tọa độ) và tính chất cơ học lượng tử của nó spin. Trên bảng tuần hoàn nguyên tố hóa học, theo tính toán lý thuyết, kích thước nguyên tử có xu hướng tăng lên khi đi theo cột từ trên xuống, nhưng giảm khi đi theo hàng từ trái sang phải và dữ liệu thực nghiệm đo được khá phù hợp với xu hướng này. Hệ quả là nguyên tử có bán kính nhỏ nhất là 32 pm, trong khi nguyên tử lớn nhất là caesium với bán kính 225 pm.
Khi chịu tác động của trường ngoài, như điện trường và từ trường, hình dạng của nguyên tử có thể bị bẻ lệch khỏi hình cầu. Sự lệch này phụ thuộc vào cường độ của trường và kiểu obitan của lớp vỏ electron ngoài cùng, như được chỉ ra bởi lý thuyết nhóm. Hình cầu biến dạng có thể xuất hiện trong cấu trúc tinh thể ở đây khi chịu điện trường mẫu tinh thể có xuất hiện những đối xứng bậc thấp trong dàn tinh thể. Gần đây các nhà tinh thể học chỉ ra sự biến dạng lớn thành ellipsoid xuất hiện ở ion lưu huỳnh trong tinh thể pyrit.
Nguyên tử có kích thước nhỏ hơn hàng nghìn lần bước sóng ánh sáng khả kiến (400–700 nm) do vậy chúng ta không thể quan sát nguyên tử bằng kính hiển vi quang học. Tuy nhiên, có thể quan sát từng nguyên tử bằng thiết bị kính hiển vi quét xuyên hầm. Để hình dung kích thước rất nhỏ của nguyên tử, đường kính của tóc người bình thường bằng khoảng 1 triệu lần đường kính nguyên tử cacbon. Một giọt nước chứa khoảng (&0000000009000000.0000002×1021) nguyên tử ôxi, và gấp hai lần số nguyên tử hiđrô. Một cara kim cương với khối lượng &-1-1-10000000000000.0002002×10−4 kg chứa khoảng (1022) nguyên tử cacbon. Nếu một quả táo phóng to bằng đường kính Trái Đất, thì một nguyên tử trong quả táo có đường kính xấp xỉ kích cỡ quả táo ban đầu.
=== Phân rã phóng xạ ===
Mỗi nguyên tố có một hay nhiều đồng vị mà hạt nhân không bền sẽ tiến tới phân rã phóng xạ, và hạt nhân phát ra hạt nhân khác hoặc bức xạ điện từ. Hiện tượng phóng xạ xảy ra khi bán kính của hạt nhân đủ lớn so với bán kính ảnh hưởng của tương tác mạnh, với phạm vi tác động khoảng 1 fm.
Những phản ứng phân rã phóng xạ hay gặp nhất là:
Phân rã alpha là phản ứng trong đó hạt nhân phát ra hạt alpha, hạt nhân của heli chứa hai proton và hai neutron. Hạt sản phẩm là những nguyên tố mới với số nguyên tử thấp hơn.
Phân rã beta (và bắt giữ electron) bị kiểm soát bởi tương tác yếu, và kết quả là một neutron biến đổi thành một proton, hoặc một proton thành một neutron. Kiểu đầu tiên đi kèm với sự phát ra một electron và một phản neutrino electron, trong khi kiểu thứ hai phát ra một positron và một neutrino electron. Hạt electron hoặc positron phát ra vì lý do lịch sử mà các nhà vật lý gọi là những hạt beta. Phân rã beta làm tăng hoặc giảm số nguyên tử của hạt nhân 1 đơn vị. Một phản ứng tương tự với phân ra beta của hạt positron trong hạt nhân giàu proton đó là phản ứng bắt electron của hạt nhân, quá trình này thậm chí còn phổ biến hơn phản ứng phát ra positron do nó đòi hỏi ít năng lượng hơn. Trong phản ứng này electron bị hấp thụ bởi hạt nhân hơn là phát positron. Một hạt neutrino vẫn phát ra trong phản ứng và một proton biến thành một neutron.
Phóng xạ tia gamma làm thay đổi mức năng lượng của hạt nhân về trạng thái năng lượng thấp hơn, kết quả là phát ra photon gamma. Phản ứng này có thể xuất hiện sau phân rã alpha hoặc beta từ phân rã phóng xạ.
Một loại phân rã hiếm nữa là sản phẩm phân rã bao gồm những neutron hoặc proton hoặc đám nucleon từ một hạt nhân, hoặc có nhiều hơn một hạt beta bị bắn ra, hoặc sản phẩm (thông qua biến đổi nội bộ hạt nhân gốc) là những electron năng lượng cao mà không phải là chùm tia beta, hay những photon năng lượng cao không phải là tia gamma. Một vài hạt nhân nổ thành hai hoặc nhiều hạt nhân không cố định đi kèm với một số neutron, trong phân rã tự phát của phản ứng phân hạch hạt nhân.
Mỗi đồng vị phóng xạ có chu kỳ phân rã đặc trưng — hay nửa thời gian sống — xác định bởi lượng thời gian cần thiết cho một nửa mẫu hạt phân rã. Đây là tiến trình phân rã hàm mũ và giảm dần lượng đồng vị còn lại một nửa sau mỗi chu kỳ phân rã. Do đó sau chu kỳ phân rã thứ hai số hạt đồng vị còn lại chỉ là 25% so với ban đầu, và cứ như thế.
=== Mômen từ ===
Các hạt cơ bản có một tính chất cơ học lượng tử nội tại gọi là spin. Tính chất này tương tự như động lượng góc của một vật quay quanh khối tâm của nó, mặc dù nói một cách sơ lược những hạt cơ bản được cho là những hạt điểm và không thể hiện tính tự quay quanh trục nào cả. Spin lượng tử hay mômen từ nội tại có đơn vị đo bằng hằng số Planck thu gọn (ħ), với electron, proton và neutron chúng chỉ có hai giá trị spin ½ ħ, hoặc "spin-½". Trong nguyên tử, các electron bao quanh hạt nhân có mômen động lượng obitan cùng với đặc tính spin, trong khi hạt nhân có mômen động lượng chính nó do spin của hạt nhân.
Từ trường sinh ra bởi nguyên tử—mômen từ— được xác định bởi nhiều giá trị mô men động lượng, giống như một vật tích điện chuyển động trong điện từ học cổ điển sinh ra từ trường. Tuy nhiên, đóng góp chủ yếu đến từ spin. Do bản chất các electron tuân theo nguyên lý loại trừ Pauli, hai electron không thể có cùng một trạng thái lượng tử trong một vùng ở cùng thời gian (không có cùng 4 số lượng tử) và quy tắc Hund về quy trình phân bố electron trong obitan. Các electron liên kết tạo cặp với nhau trong obitan, với một electron có trạng thái spin lên và electron kia có trạng thái spin xuống. Do vậy trong một cặp, spin lượng tử bị triệt tiêu, dẫn đến tổng mômen lưỡng cực từ bằng 0 trong một số nguyên tử có số chẵn electron với mỗi obitan đã lấp đầy bởi những cặp electron.
Trong các nguyên tố sắt từ như sắt, niken, chúng có một số electron chưa bắt cặp trong obitan và vì vậy có mômen từ nguyên tử. Obitan của các nguyên tử lân cận phủ lên nhau và xuất hiện một trạng thái năng lượng thấp hơn khi spin của các electron chưa bắt cặp đồng loạt hướng theo nhau, một quá trình gọi là tương tác trao đổi. Khi mômen từ của các nguyên tử sắt từ sắp hàng, vật liệu sẽ sinh ra một từ trường vĩ mô đo được. Nguyên tử của vật liệu thuận từ có mômen từ sắp xếp ngẫu nhiên không theo một hướng, nhưng khi có từ trường ngoài thì các mômen từ hưởng ứng theo hướng của từ trường ngoài và có một từ trường vĩ mô nhỏ ở vật liệu thuận từ.
Hạt nhân nguyên tử cũng có spin. Thông thường các hạt nhân có spin định hướng theo những hướng ngẫu nhiên trong cân bằng nhiệt động. Tuy nhiên, đối với một số nguyên tố (như xenon-129) hạt nhân của nó có thể bị phân cực spin theo số lượng lớn của trạng thái spin hạt nhân do vậy chúng có thể sắp hàng theo một hướng— hay hiện tượng siêu phân cực. Spin hạt nhân có một ứng dụng quan trọng trong y học đó là chụp ảnh cộng hưởng từ hạt nhân.
=== Mức năng lượng ===
Các nhà vật lý quy ước thế năng của một electron trong nguyên tử có giá trị âm, và phụ thuộc vào vị trí của nó trong nguyên tử. Nó có giá trị cực tiểu khi nằm ở gần hạt nhân nhất và quy ước bằng 0 khi nó nằm xa vô cùng so với hạt nhân, hay thế năng của nó tỉ lệ nghịch với khoảng cách. Trong mô hình cơ học lượng tử, một electron liên kết chỉ có thể chiếm những trạng thái lượng tử xung quanh hạt nhân, và mỗi trạng thái tương ứng với một mức năng lượng xác định; xem phương trình Schrödinger độc lập thời gian về cách giải thích lý thuyết. Mức năng lượng có thể đo bằng lượng năng lượng cần thiết để bứt electron tại trạng thái đó ra xa vô cùng, và có đơn vị electronvolt (eV). Trạng thái năng lượng thấp nhất của electron liên kết gọi là trạng thái năng lượng nền và khi một electron chuyển dịch sang mức năng lượng cao hơn thì nó ở vào trạng thái kích thích. Năng lượng của electron tăng lên khi số lượng tử chính n tăng bởi vì khoảng cách trung bình đến hạt nhân tăng. Sự phụ thuộc năng lượng vào số lượng tử xung lượng ℓ không phải là do thế năng tĩnh điện với hạt nhân mà là bởi tương tác giữa các electron.
Khi một electron chuyển dịch giữa hai trạng thái năng lượng, nó phải hấp thụ hoặc phát ra một photon có năng lượng bằng hiệu giữa hai trạng thái năng lượng này. Năng lượng của một photon tỷ lệ với tần số của nó, do đó những mức năng lượng xác định này hiện lên thành những dải phân biệt trong phổ điện từ. Mỗi nguyên tố có một phổ đặc trưng phụ thuộc vào điện tích hạt nhân, cấu hình electron, tương tác điện từ giữa các electron và bởi những nhân tố khác.
Khi ánh sáng với phổ năng lượng liên tục truyền qua chất khí hay plasma, một số nguyên tử hấp thụ photon, khiến cho các electron thay đổi mức năng lượng của nó. Những electron kích thích này vẫn liên kết với nguyên tử của nó và tự phát phóng thích năng lượng qua phát ra photon theo hướng ngẫu nhiên, và trở lại trạng thái năng lượng thấp hơn. Do vậy nguyên tử thể hiện như một máy lọc tạo ra một dãy các vạch tối trong phổ năng lượng phát ra. (Một người quan sát nguyên tử khi chùm sáng chiếu qua chúng sẽ thấy khi lọc bỏ phổ liên tục thu được dãy phổ phát xạ đặc trưng của nguyên tử.) Đo lường phổ về cường độ và độ rộng của các vạch phổ nguyên tử cho phép các nhà khoa học xác định được thành phần và tính chất vật lý của chất cần nghiên cứu.
Khi nghiên cứu kĩ hơn phổ nguyên tử các nhà vật lý nhận thấy có sự tách vạch trong cấu trúc tế vi. Sự xuất hiện này là do hiệu ứng spin-quỹ đạo tương đối tính, khi tính đến ảnh hưởng giữa chuyển động của electron lớp ngoài cùng với spin của nó. Khi nguyên tử đặt trong từ trường ngoài, các vạch phổ của nó bị tách thành ba hoặc nhiều vạch; hay hiệu ứng Zeeman. Hiệu ứng này là do tương tác của từ trường ngoài với mômen từ của nguyên tử và của electron. Một số nguyên tử có nhiều cấu hình electron với cùng một mức năng lượng, do đó vạch phổ thu được là giống nhau cho những cấu hình này. Khi nguyên tử tương tác với từ trường làm dịch chuyển những cấu hình electron đến một mức năng lượng hơi khác, làm cho xuất hiện nhiều vạch phổ trên quang phổ thu được. Sự có mặt của một điện trường ngoài cũng làm tách và dịch chuyển vạch phổ và thay đổi đáng kể mức năng lượng của electron, hay hiệu ứng Stark.
Nếu electron liên kết trong trạng thái kích thích, một photon tương tác với năng lượng riêng có thể gây ra hiệu ứng phát xạ kích thích cho một photon với năng lượng phù hợp với mức kích thích. Để điều này xảy ra, electron phải trở về trạng thái năng lượng thấp hơn mà có hiệu năng lượng giữa hai trạng thái chuyển dịch bằng với năng lượng của photon tương tác. Photon phát ra và photon tương tác di chuyển song song và có cùng pha với nhau, phản xạ qua lại giữa hai gương. Khi đó, phần sóng của hai photon được đồng bộ hóa. Tính chất vật lý này được ứng dụng để chế tạo các loại laser, một chùm sóng điện từ kết hợp với tần số đồng bộ.
=== Hóa trị và liên kết hóa học ===
Lớp vỏ electron ngoài cùng của nguyên tử cô lập trong trạng thái chưa kết hợp gọi là vỏ hóa trị, và các electron trong lớp vỏ này gọi là electron hóa trị. Số các electron hóa trị xác định lên tính chất liên kết hóa học giữa các nguyên tử với nhau. Nguyên tử có xu hướng phản ứng với nhau theo cách lấp đầy (hoặc làm trống) các vỏ hóa trị ngoài cùng của chúng. Ví dụ, sự truyền đổi một electron giữa các nguyên tử là một cách xấp xỉ tốt cho liên kết hình thành giữa một nguyên tử cần thêm một electron là đầy lớp vỏ hóa trị với một nguyên tử khi bớt một electron nó sẽ đầy lớp vỏ, cách liên kết này xuất hiện trong hợp chất natri clorua và những muối ion khác. Tuy nhiên, nhiều nguyên tố có nhiều số hóa trị, và có xu hướng chia sẻ nhiều electron khác nhau trong những hợp chất khác nhau. Như thế, các liên kết hóa học giữa những nguyên tố hình thành theo kiểu chia sẻ nhiều electron hơn là chỉ truyền đổi một electron. Ví dụ này bao gồm nguyên tố cacbon và các hợp chất hữu cơ.
Tính chất hóa học của các nguyên tố thể hiện tính tuần hoàn khi sắp xếp trên bảng tuần hoàn, và các nguyên tố với cùng số electron hóa trị tạo thành một nhóm trong cùng một cột của bảng. (Hàng ngang tương ứng với sự lấp đầy lớp vỏ electron.) Các nguyên tố ở phía ngoài cùng bên phải của bảng có lớp vỏ hóa trị đã được lấp đầy electron, khiến cho những nguyên tố này rất thụ động trong các phản ứng hóa học, hay còn gọi là khí hiếm.
=== Trạng thái ===
Các nguyên tử tham gia cấu thành lên những trạng thái vật chất khác nhau phụ thuộc vào những điều kiện vật lý, như mật độ, nhiệt độ và áp suất. Khi những điều kiện này thay đổi đến điều kiện giới hạn, xảy ra sự chuyển pha vật chất giữa các pha rắn, lỏng, khí và plasma. Trong một trạng thái, vật liệu cũng thể hiện những dạng thù hình khác nhau. Ví dụ như đối với cacbon rắn, nó có thể hiện như graphen, graphit hay kim cương. Dạng thù hình trong chất khí cũng tồn tại, như diôxi và ozone.
Khi giảm nhiệt độ một số loại nguyên tử gần tới độ không tuyệt đối, chúng hình thành lên dạng vật chất nhiệt độ thấp mà các nhà vật lý gọi là ngưng tụ Bose–Einstein, lúc này các hiệu ứng lượng tử thể hiện rõ rệt mà thường chỉ quan sát được ở phạm vi nguyên tử sẽ thể hiện ở cấp độ vĩ mô. Tập hợp các nguyên tử siêu lạnh này hành xử như một siêu nguyên tử khổng lồ, cho phép các nhà vật lý kiểm tra các đặc tính lượng tử mới, như giao thoa nguyên tử.
== Quan sát và thăm dò ==
Các nhà khoa học sử dụng kính hiển vi quét chui hầm là thiết bị quan sát bề mặt vật liệu ở cấp nguyên tử. Nguyên lý hoạt động của nó dựa trên hiệu ứng đường hầm lượng tử, hiệu ứng cho phép các hạt đi qua rào cản là giếng thế mà về mặt trực giác vĩ mô là không thể. Các electron chui hầm qua chân không giữa hai điện cực kim loại đồng phẳng, trên mỗi phía có một nguyên tử hấp thụ electron, dẫn đến xuất hiện mật độ dòng điện mà có thể đo được. Khi đầu dò được quét trên bề mặt mẫu, sẽ xuất hiện các điện tử di chuyển từ bề mặt mẫu sang mũi dò do hiệu ứng chui hầm lượng tử và việc ghi lại dòng chui hầm (do một hiệu điện thế đặt giữa mũi dò và mẫu) này sẽ cho các thông tin về cấu trúc bề mặt.
Khi nguyên tử bị mất một vài electron nó trở thành ion. Khi là hạt điện tích quỹ đạo của nó bị lệch đi trong từ trường. Đo được bán kính độ lệch quỹ đạo của ion cho phép chúng ta xác định được khối lượng của nguyên tử. Thiết bị phổ khối kế dựa trên nguyên lý này để đo tỉ số khối lượng trên điện tích của các ion. Nếu một chứa nhiều ion, phổ khối có thể xác định được tỉ lệ của mỗi đồng vị trong mẫu bằng cách đo cường độ của nhiều chùm ion khác nhau. Kỹ thuật làm bay hơi nguyên tử bao gồm "phổ kế phát xạ cặp nguyên tử plasma cảm ứng" và "phổ kế khối lượng cặp plasma cảm ứng", cả hai kỹ thuật sử dụng plasma làm bay hơi mẫu để phân tích.
Một phương pháp hay dùng nữa là phổ tổn hao năng lượng điện tử, dựa trên việc ghi và phân tích phần năng lượng bị mất mát của chùm electron trong kính hiển vi điện tử truyền qua do tán xạ không đàn hồi khi truyền qua mẫu vật rắn. Phương pháp thăm dò nguyên tử (atom probe) có độ phân giải dưới nanômét và thu được ảnh 3-D cũng như xác định được đặc tính hóa học của từng nguyên tử thông qua phổ khối thời gian truyền.
Phổ của trạng thái nguyên tử kích thích được dùng để phân tích thành phần nguyên tử trong các sao ở xa. Các nhà thiên văn có thể tách những bước sóng điện từ đặc trưng trong ánh sáng phát ra từ ngôi sao và liên hệ nó với sự dịch chuyển lượng tử trong nguyên tử khí tự do. Những màu này (bước sóng) có thể được sao chép bằng cách sử dụng đèn phóng điện qua khí (gas-discharge lamp) chứa cùng nguyên tố trên ngôi sao. Đặc biệt nguyên tử Heli đã được phát hiện theo cách này khi nghiên cứu phổ Mặt Trời sớm 23 năm trước khi nó được phát hiện có tồn tại trên Trái Đất.
== Nguồn gốc và trạng thái hiện tại ==
Nguyên tử chiếm khoảng 4,9% tổng mật độ năng lượng trong Vũ trụ quan sát được (còn lại là vật chất tối và năng lượng tối), với mật độ trung bình khoảng 0,25 nguyên tử/m3. Trong một thiên hà như Ngân Hà, nguyên tử có độ tập trung cao hơn, với mật độ vật chất bên trong môi trường liên sao (ISM) từ 105 đến 109 nguyên tử/m3. Mặt Trời nằm trong Bong bóng địa phương, một vùng tập trung khí ion hóa cao, do vậy mật độ ở môi trường lân cận hệ Mặt Trời trung bình vào khoảng 103 nguyên tử/m3. Các ngôi sao hình thành từ những đám mây đậm đặc trong ISM, và quá trình tiến hóa của sao dần dần làm giàu môi trường trong ISM với các nguyên tố nặng hơn hiđrô và heli. Có tới 95% nguyên tử trong Ngân Hà tập trung bên trong các ngôi sao và tổng khối lượng nguyên tử chiếm khoảng 10% khối lượng toàn thiên hà. (phần khối lượng còn lại đa số là vật chất tối.)
=== Sự hình thành ===
Electron tồn tại trong Vũ trụ từ giai đoạn sơ khai sau Vụ nổ lớn. Hạt nhân nguyên tử hình thành trong các phản ứng tổng hợp hạt nhân. Quá trình tổng hợp hạt nhân sau Vụ nổ lớn tạo ra phần lớn heli, liti, và deuteri trong Vũ trụ, và có lẽ là berili và bo.
Sự tồn tại khắp nơi và tính ổn định của nguyên tử dựa trên năng lượng liên kết của nó, có nghĩa là nguyên tử có năng lượng thấp hơn so với một hệ không liên kết gồm hạt nhân và các electron. Khi nhiệt độ cao hơn năng lượng ion hóa nguyên tử, vật chất tồn tại ở trạng thái plasma – chất khí chứa ion điện tích dương (hoặc thậm chí cả hạt nhân trần trụi) và electron. Khi nhiệt độ giảm xuống dưới mức năng lượng ion hóa, các nguyên tử bắt đầu hình thành theo các định luật của vật lý thống kê. Nguyên tử (khi đã bắt các electron) trở lên vượt trội so với các hạt tích điện sau 380.000 năm từ Big Bang— một kỷ nguyên gọi là "tái kết hợp", khi Vũ trụ giãn nở ra và lạnh đi cho phép các electron gắn kết được với hạt nhân.
Do Vụ nổ lớn không sinh ra cacbon hoặc nguyên tử nặng hơn, hạt nhân nguyên tử được sản sinh trong lòng các ngôi sao thông qua phản ứng tổng hợp hạt nhân để tạo ra nhiều nguyên tố heli hơn, và (thông qua quá trình bộ ba heli) sản sinh ra các nguyên tố cacbon cho tới sắt; xem thêm tổng hợp hạt nhân sao.
Những loại đồng vị như liti-6, cũng như một số đồng vị berilli và bo sản sinh trong không gian thông qua phản ứng bắn phá của tia vũ trụ. Khi chùm tia proton năng lượng cao va đập vào hạt nhân nguyên tử trong khí quyển Trái Đất, khiến cho một lượng lớn số hạt nhân nhẹ sinh ra.
Những nguyên tố nặng hơn sắt hình thành trong vụ nổ siêu tân tinh thông qua quá trình-r (r-process) và trong các sao nhánh tiệm cận khổng lồ (AGB stars) thông qua quá trình-s (s-process), cả hai quá trình có sự bắt neutron của hạt nhân nguyên tử. Những nguyên tố như chì hình thành từ sản phẩm của quá trình phân rã phóng xạ của các nguyên tố nặng hơn như urani.
=== Trái Đất ===
Hầu hết các nguyên tử cấu tạo nên Trái Đất và những thứ tồn tại trên nó đã có mặt trong những tinh vân suy sụp hấp dẫn từ đám mây phân tử để hình thành lên Hệ Mặt Trời. Một số hạt nhân còn lại là sản phẩm của quá trình phân rã, và khi đo được tỷ lệ có mặt của chúng các nhà khoa học có thể xác định được tuổi của Trái Đất thông qua định tuổi bằng đồng vị phóng xạ. Hầu hết heli trong lớp vỏ Trái Đất (khoảng 99% khí heli xuất hiện trong các giếng khai thác khí đốt, và một lượng nhỏ heli-3) là sản phẩm của phản ứng phân rã alpha.
Một vài dấu vết của một số đồng vị nguyên tử trên Trái Đất không có mặt lúc hình thành hệ Mặt Trời (hay không phải là "nguyên thủy"), hay là sản phẩm của quá trình phân rã. Cacbon-14 liên tục được sinh ra từ tia vũ trụ trong khí quyển. Một số nguyên tử trên Trái Đất sinh ra từ các máy gia tốc hay trong lò phản ứng hạt nhân hoặc các vụ thử nghiệm vũ khí nguyên tử. Trong các nguyên tố siêu urani—với số nguyên tử lớn hơn 92—chỉ có plutoni và neptuni xuất hiện trong tự nhiên trên Trái Đất. Các nguyên tố siêu urani có chu kỳ phân rã phóng xạ ngắn hơn tuổi của Trái Đất và do vậy nếu chúng hình thành nguyên thủy thì cũng đã bị phân rã từ lâu, ngoại trừ có một ít plutoni-244 xuất hiện trong bụi vũ trụ. Nguyên tố plutoni và neptuni có trong tự nhiên chủ yếu là sản phẩm của urani bắt neutron và thường thấy ở các quặng urani.
Trái Đất chứa xấp xỉ &0000000000000000.0000001.33×1050 nguyên tử. Mặc dù có dạng nguyên tử tồn tại độc lập như các khí hiếm tồn tại ít, như argon, neon, và heli, 99% khí quyển chứa chủ yếu các nguyên tử dạng kết hợp như phân tử, bao gồm cacbon điôxít CO2 và phân tử hai nguyên tử như ôxy O2 và nitơ N2. Tại bề mặt Trái Đất, lượng khổng lồ các nguyên tử kết hợp theo nhiều dạng, bao gồm nước H2O, muối, silicat và các ôxít. Nguyên tử cũng kết hợp lại thành vật liệu không chứa phân tử rời rạc, bao gồm tinh thể và chất lỏng hoặc kim loại rắn. Dạng vật chất rắn nguyên tử này tạo nên mạng lưới tinh thể mà thiếu đi loại đặc biệt của trật tự bị ngắt cỡ nhỏ mà thường gặp ở dạng vật chất phân từ.
=== Các dạng hiếm và trên lý thuyết ===
==== Nguyên tố siêu nặng ====
Các đồng vị với số nguyên tử lớn hơn của chì (82) có tính phóng xạ, các nhà vật lý đã đề xuất về sự tồn tại của "đảo bền" cho những nguyên tố có số nguyên tử lớn hơn 103. Những nguyên tố siêu nặng này có hạt nhân tương đối ổn định trong quá trình phân rã. Ứng cử viên cho nguyên tử siêu nặng ổn định đó là unbihexium, có 126 proton và 184 neutron.
==== Vật chất ngoại lai ====
Mỗi hạt vật chất đều có dạng tương ứng trên lý thuyết đó là hạt phản vật chất với điện tích trái dấu. Hay hạt positron điện tích dương là phản hạt của electron và phản proton điện tích âm là phản hạt của proton. Khi vật chất và phản vật chất tương ứng gặp nhau chúng lập tức bị hủy thành các tia gamma. Bởi vì lý do này, cùng với sự mất cân bằng giữa lượng vật chất và phản vật chất trong vũ trụ, phản vật chất rất hiếm thấy trong vũ trụ. (Mặc dù nguyên nhân của sự mất cân bằng trên quy mô Vũ trụ chưa được hiểu đầy đủ, một số lý thuyết đã đề xuất ra về sự vi phạm đối xứng CPT trong thời điểm của Vụ nổ lớn.) Và hiện nay chưa có dạng phản vật chất nào tìm thấy tồn tại trong tự nhiên. Trong phòng thí nghiệm, năm 1996, trung tâm nghiên cứu hạt hạ nguyên tử CERN ở Genève đã lần đầu tiên tạo ra được phản hiđrô.
Các nhà vật lý cũng tạo ra được những nguyên tử ngoại lai khác bằng cách thay hạt proton, neutron hay electron bằng hạt khác có cùng điện tích. Ví dụ, trong nguyên tử hiđrô hạt electron được thay thế bằng lepton nặng hơn là muon, tạo ra nguyên tử proton-muon. Nguyên tử ngoại lai là một trong những mẫu để các nhà vật lý kiểm chứng các tiên đoán cơ bản của vật lý, như của thuyết điện động lực học lượng tử hay sự biến đổi theo thời gian của các hằng số vật lý.
== Xem thêm ==
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
=== Sách tham khảo ===
== Liên kết ngoài ==
Atom tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
Nguyên tử tại Từ điển bách khoa Việt Nam
Cấu trúc của nguyên tử bản lưu Quantum Mechanics 22/4/2004
Francis, Eden (2002). “Atomic Size”. Clackamas Community College. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2007.
Freudenrich, Craig C. “How Atoms Work”. How Stuff Works. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2007.
“Atom:The Atom”. Free High School Science Texts: Physics. Wikibooks. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2007.
Anonymous (2007). “The atom”. Science aid+. Truy cập ngày 9 tháng 1 năm 2007. —a guide to the atom for teens.
Anonymous (ngày 3 tháng 1 năm 2006). “Atoms and Atomic Structure”. BBC. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2007.
Various (ngày 3 tháng 1 năm 2006). “Physics 2000, Table of Contents”. University of Colorado. Truy cập ngày 11 tháng 1 năm 2008.
Various (ngày 3 tháng 2 năm 2006). “What does an atom look like?”. University of Karlsruhe. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2008. |
cao côn.txt | Charles Kuen Kao (phồn thể: 高錕; giản thể: 高锟; bính âm: Gāo Kūn - Cao Côn) là một nhà khoa học gốc Trung Quốc có hai quốc tịch Mỹ và Anh. Ông được trao giải Nobel Vật lý năm 2009 nhờ các phát hiện quan trọng để chế tạo ra cáp quang, cùng với Willard S. Boyle và George E. Smith.
Charles K. Kao sinh năm 1933 tại thành phố Thượng Hải, Trung Quốc. Ông lấy bằng tiến sĩ tại trường Cao đẳng Đế quốc London, Anh về ngành điện tử. Charles K. Kao từng giữ chức vụ giám đốc phòng thí nghiệm Standard Telecommunication, Harlow và phó chủ tịch Đại học Trung Hoa Hồng Kông. Ông nghỉ hưu vào năm 1996.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Charles K. Kao tại Wikimedia Commons
Thông tin Giải thưởng Nobel
Lighting the way to a revolution |
nghịch từ.txt | Các chất nghịch từ là các chất không có mômem từ(tổng vecto từ quỹ đạo và từ spin của toàn bộ điện tử bằng 0). Khi đặt vào từ trường ngoài trong các phân tử sẽ xuất hiện dòng điện phụ và tạo ra từ trường phụ ngược chiều từ trường ngoài.
Do đó độ thẩm điện môi của môi trường μ<1, độ từ cảm χ<0. Các chất nhóm này là các khí hiếm như: I, He, Ne, Ar, Kr,...và các ion có các lớp electron giống khí hiếm. Nhiều kim loại như: Bi, Zn, Ag, Cu, H20, Pb, NaCl, SiO2, S, C.
== Xem thêm ==
Thuận từ
== Tham khảo == |
canoeing tại thế vận hội mùa hè 2008.txt | Giải canoeing tại Thế vận hội Mùa hè 2008 diễn ra từ ngày 11 đến ngày 23 tháng 8 năm 2008.
== Nội dung thi đấu ==
== Đua trên mặt nước phẳng ==
K-1 500m nam
K-1 1000m nam
K-2 500m nam
K-2 1000m nam
K-4 1000m nam
C-1 500m nam
C-1 1000m nam
C-2 500m nam
C-2 1000m nam
K-1 500m nữ
K-2 500m nữ
K-4 500m nữ
== Đua vượt thác ==
K-1 nam
C-1 nam
C-2 nam
K-1 nữ
== Xếp hạng theo quốc gia ==
== Bảng huy chương ==
=== Đua trên mặt nước phẳng ===
Nam
Nữ
=== Đua vượt thác ===
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
giải vô địch bóng đá châu âu 1992.txt | Vòng chung kết Euro 1992 được tổ chức ở Thụy Điển từ ngày mùng 10 đến ngày 26 tháng 6 năm 1992. Đây là giải vô địch bóng đá châu Âu lần thứ 9, được tổ chức 4 năm một lần bởi UEFA. Đan Mạch, đội đến Thụy Điển để thay thế cho Nam Tư (đã vượt qua vòng loại nhưng không tham gia được do có nội chiến xảy ra), đã tạo ra bất ngờ lớn khi giành chức vô địch châu Âu đầu tiên của mình.
Một đội tuyển khác "chính thức" ra không qua vòng loại mà vẫn có mặt tại vòng chung kết Euro 1992 là đội tuyển SNG (tên tắt của Cộng đồng các quốc gia độc lập mới được tách ra từ Liên Xô). Năm 1991, Liên Xô tan vỡ và bị tách thành 15 nước độc lập, SNG được thành lập từ 12 nước trong 15 nước đó gồm Nga, Ukraina, Belarus, Azerbaijan, Gruzia, Kazakhstan, Uzbekistan, Turkmenistan, Kyrgyzstan, Armenia, Moldova và Tajikistan. Đội Liên Xô đã vượt qua vòng loại được thay thế bằng tuyển SNG.
Tại Euro 1992 có một điều đáng chú ý nữa là lần đầu tiên tại một vòng chung kết một giải đấu bóng đá lớn, tên riêng của mỗi cầu thủ được in sau lưng áo đấu của mình.
== Các sân vận động ==
== Vòng loại ==
== Danh sách cầu thủ ==
== Các đội tham dự ==
Các quốc gia tham dự vòng chung kết lần này gồm:
== Các trọng tài ==
== Vòng chung kết ==
=== Vòng đấu bảng ===
==== Bảng 1 ====
==== Bảng 2 ====
=== Vòng đấu loại trực tiếp ===
==== Bán kết ====
==== Chung kết ====
== Cầu thủ ghi bàn ==
== Đội hình tiêu biểu[1] ==
== Bảng xếp hạng giải đấu ==
== Tham khảo == |
lực.txt | Trong vật lý học, lực là bất kỳ ảnh hưởng nào làm một vật thể chịu sự thay đổi, hoặc là ảnh hưởng đến chuyển động, hướng của nó hay cấu trúc hình học của nó. Nói cách khác, lực là nguyên nhân làm cho một vật có khối lượng thay đổi vận tốc của nó (bao gồm chuyển động từ trạng thái nghỉ), tới chuyển động có gia tốc, hay làm biến dạng vật thể, hoặc cả hai. Lực cũng có thể được miêu tả bằng những khái niệm trực giác như sự đẩy hoặc kéo. Lực là đại lượng vectơ có độ lớn và hướng. Trong hệ đo lường SI nó có đơn vị là newton và ký hiệu là F.
Định luật thứ hai của Newton ở dạng ban đầu phát biểu rằng tổng lực tác dụng lên một vật bằng với tốc độ thay đổi của động lượng theo thời gian. Nếu khối lượng của vật không đổi, định luật này hàm ý rằng gia tốc của vật tỷ lệ thuận với tổng lực tác dụng lên nó, cũng như theo hướng của tổng lực, và tỷ lệ nghịch với khối lượng của vật. Biểu diễn bằng công thức:
F
→
=
m
a
→
{\displaystyle {\vec {F}}=m{\vec {a}}}
với mũi tên ám chỉ đây là đại lượng vectơ có độ lớn và hướng.
Những khái niệm liên quan đến lực gồm: phản lực, làm tăng vận tốc của vật; lực cản làm giảm vận tốc của vật; và mô men lực tạo ra sự thay đổi trong vận tốc quay của vật. Nếu không coi vật là chất điể,, mỗi phần của vật sẽ tác dụng những lực lên những phần bên cạnh nó; sự phân bố những lực này trong vật thể được gọi là ứng suất cơ học. Áp suất là một dạng đơn giản của ứng suất. Ứng suất thường làm biến dạng vật rắn hoặc tạo ra dòng trong chất lưu.
== Sự hình thành khái niệm ==
Các nhà triết học thời cổ điển đã sử dụng khái niệm lực trong nghiên cứu những vật chuyển động và đứng yên cũng như các máy đơn giản, tuy thế các triết gia như Aristotle và Archimedes đã mắc phải những sai sót cơ bản khi nghiên cứu về lực. Một phần là do sự hiểu biết không đầy đủ về biểu hiện lực của ma sát, dẫn đến cách nhìn không thỏa đáng về bản chất của chuyển động trong tự nhiên. Một sai lầm cơ bản đó là niềm tin rằng lực là cần thiết để duy trì sự chuyển động, ngay cả với vận tốc không đổi. Hầu hết những hiểu lầm trước đó về chuyển động và lực cuối cùng đã được Isaac Newton miêu tả đúng đắn; với ý nghĩa toán học bên trong, ông đã thiết lập lên các định luật về chuyển động mà đã đứng vững trong gần ba trăm năm. Đầu thế kỷ 20, Albert Einstein phát minh ra thuyết tương đối cho phép tiên đoán đúng đắn tác dụng của lực lên những vật với chuyển động xấp xỉ tốc độ ánh sáng, cũng như mang lại hiểu biết mới về bản chất của lực hấp dẫn và quán tính.
Cùng với tầm nhìn hiện đại theo cơ học lượng tử và công nghệ cho phép gia tốc các hạt cơ bản tới gần tốc độ ánh sáng, vật lý hạt đã đưa ra Mô hình chuẩn để miêu tả các lực giữa những hạt hạ nguyên tử. Mô hình chuẩn tiên đoán sự trao đổi các hạt gọi là boson gauge (boson chuẩn) có ý nghĩa như các lực là hấp thụ hay phát ra hạt. Chỉ có bốn tương tác cơ bản gồm: tương tác mạnh, tương tác điện từ, tương tác yếu, và tương tác hấp dẫn. Thực nghiệm của vật lý năng lượng cao trong thập niên 1970 và 1980 xác nhận rằng tương tác yếu và tương tác điện từ được thống nhất bởi tương tác điện yếu.
== Cơ học Newton ==
Isaac Newton miêu tả chuyển động của mọi vật bằng sử dụng khái niệm quán tính và lực, và ông cũng nhận thấy rằng chúng tuân theo một số định luật bảo toàn. Năm 1687, Newton công bố cuốn sách Philosophiæ Naturalis Principia Mathematica chứa nội dung về các nghiên cứu của ông. Trong cuốn sách này, Newton dẫn ra ba định luật chuyển động mà cho tới ngày nay là cách mà lực được miêu tả trong vật lý học.
=== Định luật thứ nhất ===
Định luật thứ nhất của Newton phát biểu rằng mọi vật sẽ tiếp tục chuyển động trong trạng thái với vận tốc không đổi trừ khi nó bị tác động bởi tổng hợp lực bên ngoài. Định luật này mở rộng quan niệm của Galileo về vận tốc không đổi luôn kết hợp với sự thiếu đi lực tác dụng (xem miêu tả chi tiết bên dưới). Newton đề xuất rằng mỗi vật có khối lượng sẽ có quán tính tự thân như là hàm của "trạng thái tự nhiên" cân bằng cơ bản trong ý tưởng của Aristote về "trạng thái nghỉ tự nhiên". Do vậy, định luật thứ nhất mâu thuẫn với niềm tin trực giác của Aristote rằng hợp lực là cần thiết nhằm duy trì một vật chuyển động với vận tốc không đổi. Bằng cách đặt trạng thái nghỉ không thể phân biệt về mặt vật lý với trạng thái của vật với vận tốc không đổi khác 0, định luật thứ nhất của Newton liên hệ trực tiếp quán tính với khái niệm vận tốc tương đối của Galileo. Đặc biệt, trong hệ mà các vật đang chuyển động với nhiều vận tốc khác nhau, sẽ không thể xác định được vật nào là "đang chuyển động" và vật nào là "đang đứng yên". Nói cách khác, các định luật vật lý là như nhau trong mỗi hệ quy chiếu quán tính, tức là các hệ tuân theo phép biến đổi Galileo.
Ví dụ, khi ngồi trong một chiếc xe chuyển động với vận tốc đều, các định luật vật lý xảy ra trong chiếc xe sẽ không khác gì khi nó đứng yên tương đối. Một người ngồi trong xe ném lên một quả bóng sẽ bắt lại được khi nó rơi xuống mà không bị ảnh hưởng bởi hướng và vận tốc của chiếc xe. Điều này còn đúng ngay cả khi có một người đứng ở mặt đất quan sát thấy xe chạy qua và quả bóng ném trong xe đi theo quỹ đạo parabol theo hướng của chiếc xe. Quán tính của quả bóng kết hợp với vận tốc không đổi của nó theo hướng của chiếc xe chuyển động đảm bảo rằng quả bóng tiếp tục di chuyển theo hướng đó ngay cả khi nó bị ném lên và rơi xuống. Từ quan sát của người ngồi trong xe, chiếc xe và mọi thứ khác bên trong nó ở trong trạng thái nghỉ: trong khi thế giới bên ngoài đang chuyển động với vận tốc không đổi theo hướng ngược lại với chiều chuyển động của chiếc xe. Do không có một thí nghiệm nào có thể phân biệt được chiếc xe đang đứng yên hay thế giới bên ngoài đang đứng yên, hai tình huống này được coi là không thể phân biệt được về mặt vật lý. Do đó quán tính áp dụng một cách bằng nhau cho hệ chuyển động với vận tốc đều hay khi nó đứng yên.
Có thể tổng quát khái niệm quán tính một cách sâu hơn nhằm giải thích cho xu hướng của các vật tiếp tục trong nhiều dạng khác nhau của chuyển động đều, ngay cả khi không giới hạn trong chuyển động đều. Quán tinh quay của Trái Đất thể hiện ở sự không thay đổi độ dài của ngày và của năm (khi không kể đến các ảnh hưởng khác). Albert Einstein đã mở rộng nguyên lý quán tính khi ông áp dụng cho những hệ chuyển động với gia tốc không đổi, như hệ quy chiếu gắn với các vật rơi tự do trong trường hấp dẫn Trái Đất sẽ tương đương vật lý với hệ quy chiếu quán tính. Điều này giải thích tại sao, ví dụ, các nhà du hành vũ trụ có cảm giác không trọng lượng khi ở trên quỹ đạo rơi tự do quanh Trái Đất, và tại sao các định luật chuyển động của Newton có thể dễ dàng kiểm chứng trong môi trường không trọng lực (hoặc vi trọng lực). Nếu nhà du hành đặt một vật khối lượng trong tàu vũ trụ, nó sẽ giữ trạng thái đứng im so với con tàu do quán tính. Điều này xảy ra hệt khi nhà du hành và con tàu vũ trụ ở trong không gian liên thiên hà khi không có lực tác dụng của lực hấp dẫn tác dụng lên hệ quy chiếu trong con tàu. Đây chính là nguyên lý tương đương và nó là một trong những cơ sở của thuyết tương đối tổng quát.
=== Định luật thứ hai ===
Cách trình bày hiện đại của định luật hai Newton là dưới dạng phương trình vi phân vectơ:
F
→
=
d
p
→
d
t
,
{\displaystyle {\vec {F}}={\frac {\mathrm {d} {\vec {p}}}{\mathrm {d} t}},}
với
p
→
{\displaystyle \scriptstyle {\vec {p}}}
là động lượng của hệ, và
F
→
{\displaystyle \scriptstyle {\vec {F}}}
là hợp lực (tổng vectơ). Trong hệ cân bằng, hợp lực tác dụng bằng 0, nhưng có thể có nhiều lực tác dụng (cân bằng nhau) vào hệ. Ngược lại, định luật thứ hai nói rằng khi lực không cân bằng tác dụng lên vật sẽ làm cho động lượng của vật thay đổi theo thời gian.
Theo định nghĩa của động lượng,
F
→
=
d
p
→
d
t
=
d
(
m
v
→
)
d
t
,
{\displaystyle {\vec {F}}={\frac {\mathrm {d} {\vec {p}}}{\mathrm {d} t}}={\frac {\mathrm {d} \left(m{\vec {v}}\right)}{\mathrm {d} t}},}
với m là khối lượng và
v
→
{\displaystyle \scriptstyle {\vec {v}}}
là vận tốc của nó.
Định luật hai chỉ áp dụng cho hệ có khối lượng không đổi, và ở đây m có thể đưa ra ngoài toán tử đạo hàm. Phương trình lúc này trở thành
F
→
=
m
d
v
→
d
t
.
{\displaystyle {\vec {F}}=m{\frac {\mathrm {d} {\vec {v}}}{\mathrm {d} t}}.}
Bằng cách thay định nghĩa của gia tốc, dạng đại số của định luật hai Newton trở thành:
F
→
=
m
a
→
.
{\displaystyle {\vec {F}}=m{\vec {a}}.}
Định luật hai Newton chứng tỏ mối liên hệ trực tiếp của gia tốc tỷ lệ thuận với lực và khối lượng tỷ lệ nghịch với nó. Gia tốc có thể đo được thông qua định nghĩa về mặt động học. Tuy nhiên, trong khi chuyển động học được miêu tả rõ ràng thông qua phân tích hệ quy chiếu trong vật lý cao cấp, vẫn còn có những câu hỏi sâu sắc về định nghĩa bản chất của khối lượng. Thuyết tương đối rộng đề xuất sự liên hệ giữa không thời gian, trường hấp dẫn và khối lượng, nhưng hiện vẫn chưa có một lý thuyết hấp dẫn lượng tử được chấp thuận, do vậy sự liên hệ này có còn đúng khi các nhà vật lý xét ở cấp độ vi mô hay không. Với một vài điều chỉnh, định luật hai Newton có thể dùng làm định nghĩa cho phép đo về khối lượng bằng cách viết định luật dưới dạng biểu thức toán học tương đương.
Cách sử dụng định luật hai Newton làm định nghĩa cho lực không được sự đồng thuận rộng rãi trong nhiều cuốn sách vật lý nâng cao, mặc dù nó đúng về bản chất toán học. Nhiều nhà vật lý, triết học và toán học nổi tiếng đi tìm một cách định nghĩa hiển cho khái niệm lực bao gồm Ernst Mach, hay Walter Noll.
Định luật hai cũng được áp dụng để đo độ lớn của lực. Ví dụ, khi biết khối lượng của hành tinh cùng với gia tốc của nó trên quỹ đạo cho phép tính ra được lực hấp dẫn tác động lên hành tinh đó.
=== Định luật thứ ba ===
Định luật thứ ba của Newton là kết quả của áp dụng tính đối xứng cho trường hợp khi lực có ảnh hưởng đáng kể lên các vật khác nhau. Định luật thứ ba có nghĩa là mọi lực là sự tương tác giữa các vật với nhau, và do vậy không có thứ như lực vô hướng hay lực tác dụng chỉ lên một vật. Bất cứ khi nào vật thứ nhất tác dụng lực F lên vật thứ hai, vật thứ hai sẽ tác dụng lực −F lên vật thứ nhất. F và −F có độ lớn bằng nhau nhưng ngược hướng. Định luật này đôi khi còn gọi là định luật tác dụng-phản tác dụng, với F gọi là "tác dụng" và −F là "phản tác dụng". Tác dụng và phản tác dụng là đồng thời:
F
→
1
,
2
=
−
F
→
2
,
1
.
{\displaystyle {\vec {F}}_{1,2}=-{\vec {F}}_{2,1}.}
Nếu vật 1 và vật 2 được coi trong cùng một hệ, khi đó hợp lực tác dụng lên hệ do sự tương tác giữa vật 1 và 2 là bằng 0 do
F
→
1
,
2
+
F
→
2
,
1
=
0
{\displaystyle {\vec {F}}_{1,2}+{\vec {F}}_{\mathrm {2,1} }=0}
∑
F
→
=
0.
{\displaystyle \sum {\vec {F}}=0.}
Điều này có nghĩa là trong hệ kín gồm các hạt, không có nội lực mất cân bằng. Tức là, lực tác dụng-phản tác dụng giữa bất kì hai vật nào trong hệ kín sẽ không làm gia tốc khối tâm của hệ. Các vật trong hệ chỉ gia tốc tương đối với nhau, trong khi về tổng thể thì cả hệ không bị gia tốc. Hay cách khác, nếu có ngoại lực tác dụng lên hệ, thì khối tâm của hệ sẽ chịu sự gia tốc bằng độ lớn của ngoại lực chia cho khối lượng của cả hệ.
Kết hợp định luật hai và ba của Newton, có thể chứng tỏ được rằng động lượng của một hệ là bảo toàn. Sử dụng
F
→
1
,
2
=
d
p
→
1
,
2
d
t
=
−
F
→
2
,
1
=
−
d
p
→
2
,
1
d
t
{\displaystyle {\vec {F}}_{1,2}={\frac {\mathrm {d} {\vec {p}}_{1,2}}{\mathrm {d} t}}=-{\vec {F}}_{2,1}=-{\frac {\mathrm {d} {\vec {p}}_{2,1}}{\mathrm {d} t}}}
và tích phân theo thời gian, thu được phương trình:
Δ
p
→
1
,
2
=
−
Δ
p
→
2
,
1
{\displaystyle \Delta {{\vec {p}}_{1,2}}=-\Delta {{\vec {p}}_{2,1}}}
Đối với hệ bao gồm vật 1 và 2,
∑
Δ
p
→
=
Δ
p
→
1
,
2
+
Δ
p
→
2
,
1
=
0
{\displaystyle \sum {\Delta {\vec {p}}}=\Delta {{\vec {p}}_{1,2}}+\Delta {{\vec {p}}_{2,1}}=0}
tức là động lượng được bảo toàn. Lập luận tương tự, có thể tổng quát hóa kết quả cho hệ chứa số lượng hạt bất kỳ. Điều này cũng chỉ ra rằng động lượng trao đổi giữa các hạt sẽ không ảnh hưởng đến tổng động lượng của cả hệ. Nói chung, khi coi tất cả lực là do tương tác giữa khối lượng các vật (như bỏ qua lực điện từ), có thể xác định một hệ với tổng động lượng bảo toàn.
== Theo thuyết tương đối hẹp ==
Trong thuyết tương đối hẹp, khối lượng và năng lượng là tương đương với nhau qua công thức E = mc2 (như khi tính toán công cần thiết để gia tốc một vật). Khi vận tốc của vật tăng lên, thì năng lượng của nó cũng tăng và do vậy khối lượng cũng tăng tương đương (quán tính). Do vậy cần nhiều lực hơn để gia tốc nó so với khi vật có vận tốc nhỏ. Định luật hai của Newton viết dưới dạng
F
→
=
d
p
→
/
d
t
{\displaystyle {\vec {F}}=\mathrm {d} {\vec {p}}/\mathrm {d} t}
vẫn còn đúng theo định nghĩa toán học. Nhưng để bảo toàn, động lượng tương đối tính phải được định nghĩa lại thành:
p
→
=
m
0
v
→
1
−
v
2
/
c
2
{\displaystyle {\vec {p}}={\frac {m_{0}{\vec {v}}}{\sqrt {1-v^{2}/c^{2}}}}}
với
v
{\displaystyle v}
là vận tốc
c
{\displaystyle c}
là tốc độ ánh sáng
m
0
{\displaystyle m_{0}}
là khối lượng nghỉ.
Biểu thức tương đối tính liên hệ lực và gia tốc cho một hạt với khối lượng nghỉ không đổi khác 0
m
{\displaystyle m}
chuyển động theo hướng
x
{\displaystyle x}
là:
F
x
=
γ
3
m
a
x
{\displaystyle F_{x}=\gamma ^{3}ma_{x}\,}
F
y
=
γ
m
a
y
{\displaystyle F_{y}=\gamma ma_{y}\,}
F
z
=
γ
m
a
z
{\displaystyle F_{z}=\gamma ma_{z}\,}
trong đó hệ số Lorentz
γ
=
1
1
−
v
2
/
c
2
.
{\displaystyle \gamma ={\frac {1}{\sqrt {1-v^{2}/c^{2}}}}.}
Trong giai đoạn đầu của thuyết tương đối đặc biệt, biểu thức
γ
3
m
{\displaystyle \gamma ^{3}m}
và
γ
m
{\displaystyle \gamma m}
được gọi là khối lượng theo phương dọc và phương ngang. Lực tương đối tính không tạo ra gia tốc đều, mà gia tốc của vật giảm khi vận tốc của nó tiệm cận đến tốc độ ánh sáng. Lưu ý rằng
γ
{\displaystyle \gamma }
không xác định đối với vật có khối lượng nghỉ khác 0 tại vận tốc ánh sáng, và lý thuyết tương đối không cho một tiên đoán nào về vật tại vận tốc này.
Có thể viết lại định nghĩa lực theo thuyết tương đối như sau
F
μ
=
m
A
μ
{\displaystyle F^{\mu }=mA^{\mu }\,}
bằng cách sử dụng vectơ-4. Biểu thức này đúng trong thuyết tương đối khi
F
μ
{\displaystyle F^{\mu }}
là lực-4,
m
{\displaystyle m}
là khối lượng bất biến, và
A
μ
{\displaystyle A^{\mu }}
là gia tốc-4.
== Miêu tả ==
Do cách nhận thức lực thông qua những tác dụng như đẩy hoặc kéo, điều này mang lại cách hiểu trực giác khi miêu tả lực. Như những khái niệm vật lý khác (ví dụ nhiệt độ), cách hiểu trực giác về lực được lượng hóa nhờ sử dụng định nghĩa miêu tả chính xác (operational definition) mà nó nhất quán trực tiếp với kết quả quan sát và phạm vi đo tiêu chuẩn. Thông qua thí nghiệm, các nhà vật lý xác định được rằng lực đo trong phòng thí nghiệm là hoàn toàn thống nhất với lực định nghĩa trong cơ học Newton.
Lực tác dụng theo một hướng cụ thể với độ lớn phụ thuộc vào sự kéo hay đẩy đi mạnh bao nhiêu. Bởi những đặc tính này, lực được phân loại thành đại lượng "vectơ". Điều này có nghĩa rằng lực tuân theo một bộ các quy tắc toán học khác với các đại lượng vật lý không có hướng (đại lượng vô hướng). Ví dụ, khi xác định kết quả của hai lực tác dụng lên cùng một vật, cần phải biết rõ độ lớn và hướng của từng lực nhằm tính toán ra hợp lực. Chỉ cần thiếu một trong hai thông tin này ở mỗi lực thì tình huống sẽ trở lên mập mờ. Như nếu bạn biết hai người đang kéo cùng một sợi dây mà đã biết độ lớn lực kéo nhưng bạn lại không biết mỗi người kéo theo hướng nào, thì bạn sẽ không thể xác định được gia tốc của sợi dây là bao nhiêu. Hai người có thể kéo theo hai hướng ngược nhau như trong trò kéo co hoặc hai người cùng kéo về một hướng. Trong ví dụ một chiều đơn giản này, nếu không biết hướng của lực thì sẽ không thể biết được tổng hợp lực là kết quả của việc cộng hay trừ độ lớn của hai lực. Lực gắn với khái niệm vectơ cho phép tránh được những khó khăn này.
Về mặt lịch sử, các nhà khoa học nghiên cứu lực trong điều kiện cân bằng tĩnh đầu tiên khi ấy một vài lực có thể triệt tiêu lẫn nhau. Các thí nghiệm này minh hóa tính chất quan trọng của lực đó là đại lượng vectơ cộng được: chúng có độ lớn và hướng. Khi hai lực tác dụng vào cùng một hạt điểm, lực kết quả, hợp lực (hoặc tổng hợp lực), sẽ được xác định tuân theo quy tắc hình bình hành của phép cộng vectơ: mỗi lực được biểu thị bằng với 2 cạnh chung đỉnh của hình bình hành, và hợp lực chính bằng vectơ với độ lớn bằng đường chéo của hình bình hành và hướng dọc theo cạnh đó. Độ lớn của hợp lực phụ thuộc vào góc hợp bởi hai lực cũng như độ lớn của mỗi lực thành phần. Nếu hai lực tác dụng lên một vật, quy tắc hình bình hành chỉ áp dụng được khi đường kéo dài hai lực cắt nhau.
Biểu đồ lực là một cách thuận tiện nhằm thu được lực tổng hợp. Về mặt lý thuyết, các biểu đồ này được vẽ với bảo tồn góc và độ lớn tương đối của các vectơ lực sao cho có thể thực hiện được phép cộng hình học vectơ.
Không những cộng được, lực cũng có thể phân tích thành các lực thành phần mà từng cặp vuông góc với nhau. Một lực chỉ theo hướng đông bắc có thể phân tích thành hai lực, một lực chỉ theo hướng bắc còn lực kia chỉ theo hướng đông. Tổng của hai lực thành phần này tuân theo phép cộng vectơ sẽ thu được lực ban đầu. Việc phân tích vectơ lực theo hệ các vectơ cơ sở thường là một phương pháp toán học rõ ràng nhằm miêu tả lực hơn là miêu tả nó bằng độ lớn và hướng. Điều này là do, đối với các thành phần trực giao, các thành phần của vectơ tổng được xác định một cách duy nhất bằng cách cộng các độ lớn của từng các vectơ riêng rẽ. Các thành phần trực giao là độc lập với nhau do lực tác dụng theo hướng 90° sẽ không có ảnh hưởng đến lực vuông góc với nó. Việc chọn bộ các vectơ cơ sở trực giao sao cho để việc thực hiện các phép toán là thuận tiện nhất. Cách hay gặp là chọn cơ sở vectơ theo cùng hướng với một trong những lực cần phân tích, do lực đó sẽ chỉ có một thành phần khác 0 theo hệ cơ sở đó. Các vectơ lực trực giao có thể là một bộ ba trong không gian 3 chiều, với mỗi cặp vectơ cơ sở trực giao với nhau.
=== Cân bằng ===
Cân bằng cơ học xuất hiện khi hợp lực tác dụng lên một điểm bằng 0 (hay tổng các vectơ lực bằng 0). Khi mở rộng sang cho vật thực, cần thêm một điều kiện nữa là tổng mô men lực cũng phải bằng 0.
Có hai loại cân bằng là cân bằng tĩnh và cân bằng động.
==== Trạng thái cân bằng ====
Các nhà khoa học hiểu khá tốt về trạng thái cân bằng tĩnh trước khi cơ học cổ điển ra đời. Các vật đứng yên sẽ có tổng hợp lực tác dụng lên nó bằng 0.
Trường hợp đơn giản nhất của cân bằng tĩnh là khi hai lực có độ lớn bằng nhau nhưng ngược hướng nhau tác dụng tại một điểm. Ví dụ, một vật nằm trên mặt phẳng bị kéo (hút) về tâm Trái Đất bởi lực hấp dẫn. Cùng lúc đó, lực bề mặt chống lại bằng một lực hướng lên trên (còn gọi là lực pháp tuyến). Kết quả là hợp lực bằng 0 và vật không chịu sự gia tốc.
Trường hợp đẩy hay kéo một vật có tính tới ma sát bề mặt khiến cho vật không di chuyển được bởi vì lực tác dụng vào bị chống lại bởi ma sát tĩnh (hay ma sát nghỉ), tạo ra giữa vật và bề mặt nó nằm lên. Khi vật không di chuyển, lực ma sát tĩnh cân bằng chính xác với lực tác dụng và hợp lực bằng 0. Ma sát tĩnh tăng hoặc giảm nhằm đáp ứng lại lực tác dụng vào cho tới một giới hạn trên xác định bởi đặc tính của bề mặt tiếp xúc và vật thể đó.
Ứng dụng cân bằng tĩnh giữa hai lực là một cách thông dụng nhất nhằm đo lực, sử dụng các thiết bị đơn giản như cân trọng lượng (weighing scales) và cân lò xo. Ví dụ, một vật treo lên một cân lò xo thẳng đứng sẽ chịu tác dụng của lực hấp dẫn và một lực cân bằng do sự đàn hồi của lò xo mà tỷ lệ với trọng lượng của vật. Sử dụng những công cụ này, một số định luật liên quan đến lực đã được khám phá: lực hấp dẫn tỉ lệ với thể tích vật chiếm chỗ trong chất lỏng hay định luật Archimedes; nguyên lý đòn bẩy của Archimedes; định luật Boyle-Mariotte cho áp suất khí; và định luật Hooke đối với lò xo. Tất cả đều được khám phá và xác nhận bằng thí nghiệm trước khi Newton nêu ra ba định luật về chuyển động của ông.
==== Động lực học ====
Galileo là người đầu tiên miêu tả về cân bằng động học khi ông nhận thấy rằng một số giả sử của Aristotel mâu thuẫn với quan sát và tính logic. Galileo nhận thấy rằng phép cộng vận tốc đơn giản dẫn đến đòi hỏi một "hệ quy chiếu đứng yên tuyệt đối" là không cần thiết. Ông kết luận rằng trạng thái chuyển động đều hoàn toàn tương đương với trạng thái đứng yên. Điều này mâu thuẫn với khái niệm của Aristotle về "trạng thái tự nhiên" của sự đứng yên mà các vật với khối lượng sẽ cuối cùng đạt đến một cách tự nhiên. Các thí nghiệm đơn giản chứng tỏ rằng nhận thức của Galileo về sự tương đương giữa chuyển động đều và trạng thái đứng yên là đúng đắn. Ví dụ, nếu một người đứng trên con thuyền đi với vận tốc không đổi và thả rơi một quả bóng, khi ấy Aristotel cho rằng quả bóng sẽ rơi về phía sau người đó khi con thuyền tiến về phía trước. Tuy nhiên, thực tế thì quả bóng vẫn rơi đúng tại chân người đó hệt như khi người đó đứng yên trên mặt đất. Do không có lực tác dụng theo phương ngang nào khi quả bóng rơi, chỉ có thể kết luận rằng quả bóng tiếp tục di chuyển với cùng vận tốc như con thuyền khi nó rơi. Do vậy không cần một lực nào để duy trì quả bóng di chuyển với cùng vận tốc của con thuyền về phía trước.
Hơn nữa bất kỳ vật nào chuyển động với vận tốc đều thì hợp lực tác dụng vào nó phải bằng 0. Đây chính là định nghĩa của cân bằng động: khi mọi lực tác dụng lên một vật sẽ cân bằng sao cho vật đó vẫn chuyển động với vận tốc không đổi.
Một trường hợp đơn giản của cân bằng động đó là vật chuyển động đều trên bề mặt với ma sát động. Trong trường hợp này, lực tác dụng theo hướng chuyển động trong khi lực ma sát động tác dụng theo hướng ngược lại. Kết quả là tổng hợp lực bằng 0, nhưng do từ đầu vật chuyển động với vận tốc không đổi, do vậy vật tiếp tục di chuyển với vận tốc đều đó. Aristotle đã hiểu sai về chuyển động đều khi không nhận ra được sự có mặt của ma sát động giữa các bề mặt.
=== Biểu đồ Feynman ===
Trong vật lý hạt hiện đại, lực và sự gia tốc của các hạt được giải thích như là sản phẩm toán học của sự trao đổi các boson gauge mang động lượng. Cùng với sự phát triển của lý thuyết trường lượng tử và thuyết tương đối rộng, các nhà vật lý nhận ra rằng lực một khái niệm phái sinh từ định luật bảo toàn động lượng (4-động lượng trong thuyết tương đối và động lượng của các hạt ảo trong điện động lực học lượng tử). Sự bảo toàn động lượng, mà có thể suy trực tiếp từ tính đối xứng đồng nhất của không gian và thường được coi là khái niệm cơ bản hơn khái niệm lực. Do vậy tên gọi các "lực cơ bản" được các nhà vật lý gọi lại một cách chính xác hơn là "tương tác cơ bản". Khi hạt A phát (tạo ra) hoặc hấp thụ (hủy) hạt ảo B, hạt A sẽ bị giật lùi do hệ quả của định luật bảo toàn động lượng dẫn đến sự liên tưởng là hạt A bị hút hoặc đẩy bằng cách trao đổi thông qua hạt B. Cách miêu tả này áp dụng đối với mọi lực trong tương tác cơ bản. Trong khi cần có những miêu tả bằng toán học phức tạp về các tương tác này một cách chi tiết và cho kết quả chính xác, có một cách dễ hình dung nhằm minh họa các tương tác cơ bản thông qua biểu đồ Feynman. Trong biểu đồ Feynman, mỗi hạt vật chất được biểu diễn bằng một đường thẳng (xem tuyến thế giới (world line)) di chuyển trong không thời gian theo hướng đi lên hoặc chếch sang phải trong biểu đồ. Vật chất và phản vật chất là giống nhau ngoại trừ hướng lan truyền của chúng trên biểu đồ Feynman. Các tuyến thế giới của các hạt cắt nhau tại các đỉnh, và biểu đồ Feynman thể hiện lực xuất hiện từ một tương tác tại mỗi đỉnh thông qua sự thay đổi tức thì trong hướng của tuyến thế giới của hạt. Các boson gauge phát ra từ đỉnh dưới dạng đường lượn sóng, và trong trường hợp trao đổi hạt ảo, chúng bị hấp thụ tại đỉnh kế tiếp.
Tính hữu dụng của biểu đồ Feynman ở chỗ các hiện tượng vật lý khác trong bức tranh chung của tương tác cơ bản nhưng về mặt khái niệm khác hẳn với khái niệm lực vẫn được miêu tả trong cùng các quy tắc của biểu đồ. Ví dụ, biểu đồ Feynman có thể miêu tả súc tích một cách chi tiết tiến trình một hạt neutron phân rã thành một electron, proton, và phản neutrino electron, tương tác được truyền bởi cùng boson gauge của tương tác yếu.
== Lực cơ bản ==
Mọi hoạt động trong vũ trụ đều được miêu tả thu gọn về các tương tác cơ bản. Lực mạnh và yếu là các lực hạt nhân có tầm tác dụng rất ngắn ở thang vi mô, chúng chịu trách nhiệm trong tương tác giữa các hạt hạ nguyên tử, bao gồm các nucleon và hạt nhân nguyên tử. Lực điện từ tác dụng giữa các hạt điện tích, và lực hấp dẫn tác động đến mọi hạt khối lượng. Ví dụ, ma sát là thuộc tính thể hiện của lực điện từ tác dụng giữa các nguyên tử tại hai bề mặt tiếp giáp nhau, kết hợp với nguyên lý loại trừ Pauli, ngăn cản các nguyên tử đi xuyên qua nhau. Tương tự, lực đàn hồi từ các lò xo, như mô hình hóa bởi định luật Hooke, là kết quả của lực điện từ và nguyên lý loại trừ kết hợp với nhau tác dụng vào vật làm cho nó trở về vị trí cân bằng. Lực ly tâm là lực gia tốc xuất hiện từ sự gia tốc của một hệ quy chiếu quay.
Sự phát triển của các lý thuyết miêu tả lực cơ bản đi theo hướng thống nhất các khái niệm mà ban đầu có vẻ như tách biệt nhau. Ví như Isaac Newton đã thống nhất lực làm cho các vật rơi trở lại mặt đất với lực gây ra chuyển động của các hành tinh quanh Mặt Trời trong cơ học thiên thể thông qua định luật vạn vật hấp dẫn của ông. Michael Faraday và James Clerk Maxwell chứng tỏ rằng lực điện và lực từ là hai biểu hiện của cùng một lực điện từ. Trong thế kỷ 20, sự ra đời của cơ học lượng tử dẫn tới những hiểu biết hiện đại về ba lực cơ bản trong tự nhiên (ngoại trừ hấp dẫn) là do tương tác giữa vật chất (fermion) thông qua trao đổi các hạt ảo gọi là boson gauge. Mô hình chuẩn của vật lý hạt đưa các nhà vật lý đi đến tiên đoán về sự thống nhất giữa tương tác yếu và tương tác điện từ trong lý thuyết điện yếu và các tiên đoán của lý thuyết này đã được xác nhận bằng thực nghiệm. Mô hình chuẩn cũng tiên đoán sự tồn tại của hạt chịu trách nhiệm sinh khối lượng cho các hạt khác thông qua cơ chế Higgs mà gần đây được khám phá tại CERN, nhưng mô hình chuẩn cũng chưa giải thích được tại sao neutrino dao động (hay neutrino thực sự có khối lượng rất nhỏ). Lý thuyết thống nhất lớn miêu tả sự kết hợp của tương tác điện yếu với tương tác mạnh cũng như có một số lý thuyết về siêu đối xứng nhằm giải quyết một số vấn đề chưa giải được trong vật lý học. Các nhà vật lý vẫn đang cố gắng tìm cách phát triển một lý thuyết thống nhất nhất quán kết hợp bốn tương tác cơ bản trong một lý thuyết gọi là thuyết của mọi thứ. Einstein đã thử và không thành công trên con đường này, và hiện nay có một số lý thuyết nổi bật như lý thuyết dây nhằm trả lời các vấn đề này.
=== Lực hấp dẫn ===
Người ta đã không nhận ra lực hấp dẫn là một lực phổ quát cho đến tận khi Isaac Newton nghiên cứu nó. Trước Newton, xu hướng các vật rơi xuống bề mặt Trái Đất không được hiểu là có liên quan đến chuyển động của các thiên thể. Galileo đã làm thí nghiệm nhằm nghiên cứu đặc tính của các vật thả rơi bằng cách ông miêu tả gia tốc của mọi vật rơi tụ do là hằng số và độc lập với khối lượng của vật. Ngày nay, gia tốc do lực hấp dẫn về phía bề mặt Trái Đất thường được ký hiệu là
g
→
{\displaystyle \scriptstyle {\vec {g}}}
và có độ lớn khoảng 9,81 mét trên giây bình phương (giá trị này đo tại mức nước biển và có thể thay đổi phụ thuộc vào vị trí), và vectơ này hướng về tâm Trái Đất. Quan sát này có nghĩa là lực hấp dẫn tác động lên vật tại bề mặt Trái Đất tỷ lệ trực tiếp với khối lượng của vật. Do vậy một vật có khối lượng
m
{\displaystyle m}
sẽ chịu một lực:
F
→
=
m
g
→
{\displaystyle {\vec {F}}=m{\vec {g}}}
Trong trường hợp rơi tự do, không có lực cản lại lực hấp dẫn và do vậy tổng hợp lực tác dụng lên vật chính là trọng lượng của nó. Đối với các vật không trong trạng thái rơi tự do, lực hấp dẫn cân bằng với lực tác dụng lên vật theo hướng ngược lại. Ví dụ, một người đứng trên mặt đất sẽ chịu tổng hợp lực tác dụng vào anh ta bằng 0, do trọng lượng của anh ta cân bằng với lực pháp tuyến tác dụng bởi mặt đất.
Công lao của Newton trong định luật vạn vật hấp dẫn đó là thống nhất chuyển động của các thiên thể, mà Aristotle cho rằng chúng trong trạng thái tự nhiên của chuyển động đều, với chuyển động rơi tự do của các vật trên Trái Đất. Từ định luật của ông cũng suy ra được các định luật của Kepler miêu tả chuyển động của các thiên thể có từ trước đó.
Newton nhận ra rằng ảnh hưởng của hấp dẫn có thể quan sát theo nhiều cách khác nhau ở những khoảng cách lớn hơn. Đặc biệt, ông chứng tỏ rằng gia tốc của Mặt Trăng trên quỹ đạo quanh Trái Đất có thể được gắn cho bởi nguyên nhân của cùng một lực hấp dẫn nếu như gia tốc do hấp dẫn giảm tuân theo định luật nghịch đảo bình phương. Hơn nữa, Newton cũng thấy gia tốc do hấp dẫn tỷ lệ với khối lượng của vật thể hút. Kết hợp những suy nghĩ này ông dẫn ra được công thức liên hệ khối lượng (
m
⊕
{\displaystyle \scriptstyle m_{\oplus }}
) và bán kính (
R
⊕
{\displaystyle \scriptstyle R_{\oplus }}
) của Trái Đất với gia tốc hấp dẫn:
g
→
=
−
G
m
⊕
R
⊕
2
r
^
{\displaystyle {\vec {g}}=-{\frac {Gm_{\oplus }}{{R_{\oplus }}^{2}}}{\hat {r}}}
với hướng của vectơ theo hướng của vectơ đơn vị
r
^
{\displaystyle \scriptstyle {\hat {r}}}
mà hướng từ tâm Trái Đất ra ngoài.
Trong phương trình này, hằng số
G
{\displaystyle G}
được đưa ra nhằm miêu tả độ mạnh của lực hấp dẫn. Hằng số này còn gọi là hằng số hấp dẫn Newton, mặc dù thời Newton người ta chưa xác định được nó. Cho đến tận năm 1798 Henry Cavendish mới lần đầu tiên có thể xác định được giá trị của
G
{\displaystyle G}
bằng thí nghiệm cân xoắn thăng bằng; thí nghiệm này nhanh chóng trở lên nổi tiếng khi việc xác định được giá trị của
G
{\displaystyle G}
cũng đồng nghĩa với việc xác định được khối lượng của Trái Đất. Đi xa hơn, Newton còn nhận thấy do mọi thiên thể tuân theo cùng các định luật của Kepler, do vậy định luật hấp dẫn của ông phải mang tính phổ quát. Định luật vạn vật hấp dẫn của Newton phát biểu rằng lực tác dụng lên một khối cầu khối lượng
m
1
{\displaystyle m_{1}}
do sức hút hấp dẫn từ khối cầu khối lượng
m
2
{\displaystyle m_{2}}
bằng
F
→
=
−
G
m
1
m
2
r
2
r
^
{\displaystyle {\vec {F}}=-{\frac {Gm_{1}m_{2}}{r^{2}}}{\hat {r}}}
với
r
{\displaystyle r}
là khoảng cách giữa tâm hai khối cầu và
r
^
{\displaystyle \scriptstyle {\hat {r}}}
là vectơ đơn vị chỉ theo hướng từ tâm của vật thể đầu tiên đến tâm của vật thể thứ hai.
Định luật này đã đứng vững trong hơn 200 năm như là cơ sở cho những miêu tả của cơ học thiên thể cho đến đầu thế kỷ 20. Trong thời gian này, phương pháp phức tạp của lý thuyết nhiễu loạn đã được phát minh nhằm tính toán những sai lệch trong quỹ đạo của thiên thể trong bài toán nhiều vật như hệ hành tinh, vệ tinh tự nhiên, sao chổi, hay tiểu hành tinh. Phương pháp này đủ chính xác để giúp các nhà thiên văn học tiên đoán sự tồn tại của Sao Hải Vương trước khi họ quan sát thấy nó.
Chỉ có quỹ đạo của Sao Thủy là định luật của Newton dường như không thể giải thích một cách tốt nhất. Một số nhà thiên văn đề xuất có sự tồn tại của một hành tinh nằm bên trong quỹ đạo giữa Sao Thủy và Mặt Trời nhằm miêu tả chuyển động dị thường của sự tiến động của điểm cận nhật quỹ đạo Sao Thủy; tuy vậy không có một hành tinh nào được phát hiện ra. Khi Albert Einstein cuối cùng thiết lập ra thuyết tương đối tổng quát (GR) ông đã nghĩ ngay tới khải năng giải thích chuyển động dị thường của Sao Thủy bằng lý thuyết mới này. Kết quả tiên đoán của thuyết tương đối rộng khớp với các số liệu quan sát khiến Einstein tin rằng ông đã tìm ra dạng đúng của phương trình trường. Đây là lần đầu tiên lý thuyết hấp dẫn của Newton được chỉ ra là ít chính xác hơn một lý thuyết khác.
Kể từ đó, thuyết tương đối rộng được công nhận là lý thuyết tốt nhất miêu tả được lực hấp dẫn. Trong thuyết tương đối rộng, lực hấp dẫn không được xem như là một lực, bởi chuyển động rơi tự do của vật trong trường hấp dẫn đi theo đường trắc địa trong không thời gian cong – hay là đường ngắn nhất giữa hai sự kiện trong không thời gian. Từ vật rơi tự do, mọi chuyển động xảy ra dường như không phải do lực hấp dẫn bên ngoài tác động hay không còn lực hấp dẫn. Chỉ khi nhận xét trên tổng thể cả hệ, độ cong của không thời gian mới có thể nhận thấy và lực xuất hiện như là một cách giải thích cho vật đi theo những quỹ đạo cong. Do vậy, đường thẳng trong không thời gian tương ứng với đường cong trong không gian, hay quỹ đạo đường đạn của vật. Ví dụ, một quả bóng rổ ném lên từ mặt đất sẽ chuyển động theo quỹ đạo hình parabol trong trường hấp dẫn đều. Quỹ đạo trong không thời gian của nó (khi tính tới chiều thời gian ct) sẽ là một đường gần thẳng, hơi cong (với bán kính cong có độ lớn tới vài năm ánh sáng). Kết quả của đạo hàm thời gian của động lượng của vật được đồng nhất với "lực hấp dẫn".
=== Lực điện từ ===
Lực điện từ được miêu tả lần đầu tiên vào năm 1784 bởi Coulomb khi ông coi có một lực tồn tại tác dụng lên giữa hai điện tích. Tính chất của lực tĩnh điện đó là nó tuân theo định luật nghịch đảo bình phương khoảng cách giữa hai điện tích, và đều có dạng hút và dạng đẩy (sự phân cực điện), đồng thời lực điện độc lập với khối lượng của vật tích điện cũng như tuân theo nguyên lý chồng chập. Định luật Coulomb đã thống nhất được mọi quan sát này trong một phát biểu duy nhất.
Các nhà toán học và vật lý sau đó đã tìm ra cách định nghĩa xây dựng cho điện trường một cách hữu ích nhằm xác định được lực tĩnh điện tác động lên một điện tích tại mọi điểm trong không gian. Định nghĩa điện trường dựa trên giả sử có một điện tích thử tồn tại trong điện trường và sau đó dựa trên định luật Coulomb để xác định được lực của điện trường tác dụng lên điện tích thử và suy ra được cường độ điện trường tại vị trí của điện tích thử. Do vậy điện trường trong không gian được định nghĩa như là
E
→
=
F
→
q
{\displaystyle {\vec {E}}={{\vec {F}} \over {q}}}
với
q
{\displaystyle q}
là độ lớn của điện tích thử.
Trong khi đó, người ta cũng phát hiện ra lực Lorentz của một nam châm tồn tại giữa hai dây dẫn mang dòng điện. Nó có cùng một tính chất toán học như định luật Coulomb khi mà các dây điện có thể hút hoặc đẩy lẫn nhau tùy thuộc vào chiều của dòng điện chạy trong mỗi sợi dây. Tương tự như điện trường, từ trường được dùng để xác định lực từ tác dụng lên một dây dẫn điện tại một điểm bất kỳ trong không gian. Tương tự rong trường hợp này, độ lớn của từ trường sẽ được xác định là
B
=
F
I
ℓ
{\displaystyle B={F \over {I\ell }}}
với
I
{\displaystyle I}
là độ lớn của dòng điện chạy qua dây dẫn và
ℓ
{\displaystyle \scriptstyle \ell }
là độ dài của dây mà dòng điện thử nghiệm chạy qua. Từ trường tác dụng một lực lên mọi nam châm như từ trường Trái Đất tác dụng lên kim la bàn và được các nhà hàng hải, hoa tiêu sử dụng để định vị phương hướng.
Thông qua kết hợp định nghĩa của dòng điện bằng sự biến đổi theo thời gian của các hạt điện tích chạy trong dây dẫn, Lorentz nêu ra quy tắc tích vectơ xác định lực Lorentz miêu tả lực tác dụng lên một điện tích di chuyển trong từ trường. Sự liên hệ giữa điện học và từ học cho phép miêu tả một cách thống nhất lực điện từ tác dụng lên điện tích. Lực này có thể biểu diễn dưới dạng tổng của lực tĩnh điện (do tác động của điện trường) và lực từ (do từ trường):
F
→
=
q
(
E
→
+
v
→
×
B
→
)
{\displaystyle {\vec {F}}=q({\vec {E}}+{\vec {v}}\times {\vec {B}})}
với
F
→
{\displaystyle \scriptstyle {\vec {F}}}
lực điện từ,
q
{\displaystyle q}
là độ lớn điện tích của hạt thử,
E
→
{\displaystyle \scriptstyle {\vec {E}}}
là điện trường,
v
→
{\displaystyle \scriptstyle {\vec {v}}}
là vận tốc của hạt nhân với từ trường (
B
→
{\displaystyle \scriptstyle {\vec {B}}}
).
Nguồn gốc của điện trường và từ trường không được hiểu đầy đủ cho đến tận năm 1864 khi James Clerk Maxwell thống nhất một số các lý thuyết trước đó trong một hệ 20 phương trình vô hướng, mà sau đó Oliver Heaviside độc lập với Josiah Willard Gibbs viết lại thành hệ 4 phương trình vectơ. "Phương trình Maxwell" miêu tả đầy đủ nguồn gốc của trường điện từ đứng yên hay chuyển động, cũng như tương tác giữa chúng. Điều này dẫn Maxwell tới khám phá ra rằng từ trường và điện trường có thể tự duy trì lẫn nhau trong không gian dưới dạng sóng lan truyền với tốc độ mà ông tính ra được bằng tốc độ ánh sáng. Ý nghĩa này mang lại sự thống nhất của ngành điện từ học non trẻ với ngành quang học cũng như dẫn trực tiếp tới sự miêu tả đầy đủ hơn về phổ điện từ.
Tuy nhiên, lý thuyết của Maxwell đã không giải thích được hai hiện tượng quan sát vào thời đó, hiệu ứng quang điện, và sự không tồn tại của thảm họa cực tím. Hai hiện tượng này đã thúc đẩy các nhà vật lý hàng đầu đi đến một lý thuyết điện từ mới dựa trên cơ học lượng tử: điện động lực học lượng tử (QED), lý thuyết miêu tả một cách trọn vẹn các hiệu ứng điện từ khi có sự tham gia của hạt trung gian là các photon thực và ảo. Trong QED, photon là các hạt trao đổi trong tương tác liên quan đến điện từ bao gồm lực điện từ.
Có một sự hiểu nhầm phổ biến khi cho rằng độ cứng và rắn của chất rắn là do lực đẩy điện từ giữa các điện tích cùng dấu. Tuy nhiên, tính cứng và rắn của vật chất là hệ quả từ nguyên lý loại trừ Pauli. Do electron là các fermion, chúng không thể ở cùng một trạng thái lượng tử. Khi các electron trong nguyên tử bị nén chặt lại, sẽ không có đủ trạng thái cơ lượng tử năng lượng thấp cho mọi electron (và là một trong những hệ quả của nguyên lý bất định), do đó một số electron phải ở trạng thái năng lượng cao hơn. Điều này có nghĩa là cần có nhiều năng lượng hơn để nén chúng lại. Trong khi đó, đối với từng nguyên tử thì chỉ có một số hữu hạn số trạng thái mà các electron có thể chiếm giữ trên obitan nguyên tử.
=== Lực hạt nhân ===
Có hai loại "lực hạt nhân" mà ngày nay được coi là các tương tác miêu tả bởi các lý thuyết trường lượng tử trong vật lý hạt. Lực hạt nhân mạnh là lực chịu trách nhiệm cho cấu trúc tổ hợp của các nucleon và hạt nhân nguyên tử trong khi lực hạt nhân yếu gây ra sự phân rã của một số nucleon và hạt nhân thành các lepton và các hạt hadron khác.
Lực hạt nhân mạnh là tương tác giữa các quark và gluon cũng như liên kết các proton và neutron với nhau, như được miêu tả trong thuyết sắc động lực học lượng tử (QCD). Các hạt gluon là những hạt truyền tương tác mạnh, tác dụng lên các quark, phản quark, và chính gluon. Lực mạnh là lực có cường độ mạnh nhất trong bốn lực cơ bản trong tự nhiên.
Lực mạnh chỉ tác dụng trực tiếp lên các hạt cơ bản. Tuy thế, sự dư thừa hay rò rỉ của nó như quan sát các hadron (hay như lực liên kết các nucleon bao gồm proton và neutron trong hạt nhân) được coi như là lực hạt nhân. Ở đây lực mạnh tác dụng một cách gián tiếp, khi gluon truyền ra tạo thành các hạt ảo như meson pi và rho meson mà các nhà vật lý hạt nhân coi chúng là các hạt truyền của lực hạt nhân. Do không thể quan sát trực tiếp các hạt quark tự do cho nên ảnh hưởng của các hạt cơ bản là không quan sát trực tiếp được. Hiệu ứng này được gọi là sự giam hãm màu.
Lực hạt nhân yếu hay tương tác yếu có các hạt truyền là các boson W và Z có khối lượng lớn. Hiệu ứng quen thuộc nhất của lực này đó là phân rã beta (của các neutron trong hạt nhân) và đi kèm với sự phóng xạ. Thuật ngữ "yếu" xuất phát từ thực tế rằng cường độ của nó nhỏ hơn 1013 so với lực mạnh. Mặc dù vậy nó vẫn mạnh hơn lực hấp dẫn ở tầm tác dụng vi mô. Cả hai lực mạnh và lực yếu có tầm tác dụng ngắn trong cấp độ hạt nhân. Các nhà vật lý đã phát triển lý thuyết điện yếu với tiên đoán lực điện từ và lực yếu là không thể phân biệt được khi các hạt cơ bản trong trạng thái nhiệt độ xấp xỉ 1015 kelvin. Các nhiệt độ này đã được khảo sát trong các máy gia tốc hiện đại và chúng thể hiện những điều kiện sơ khai của vũ trụ trong những giây ngắn ngủi đầu tiên sau Vụ Nổ Lớn.
== Các lực khác ==
Một số lực là hệ quả của các lực cơ bản. Trong các tình huống như vậy, những mô hình lý tưởng có thể được sử dụng để hiểu rõ những quy luật vật lý.
=== Lực pháp tuyến ===
Lực pháp tuyến là do lực đẩy của tương tác giữa các nguyên tử tại bề mặt tiếp xúc. Khi các đám mây electron xếp đan xen nhau, nguyên lý loại trừ Pauli (do bản chất hạt fermion của electron) làm nảy sinh lực đẩy tác dụng theo hướng vuông góc với bề mặt tiếp xúc giữa hai vật. Ví dụ, lực pháp tuyến cản trở không cho chiếc bàn bị thụt xuống sàn nhà. Ngoài ra lực pháp tuyến xuất hiện khi có một lực tác động va vào một bề mặt không chuyển động được.
=== Ma sát ===
Ma sát là lực bề mặt chống lại xu hướng chuyển động tương đối giữa hai vị trí bề mặt. Lực ma sát tỷ lệ trực tiếp với lực pháp tuyến giữ cho hai vật rắn tách rời nhau ở những điểm tiếp xúc. Lực ma sát được phân loại thành hai loại lực: ma sát tĩnh và ma sát động.
Lực ma sát tĩnh (
F
s
f
{\displaystyle F_{\mathrm {sf} }}
) sẽ bằng và ngược hướng với lực tác dụng song song với bề mặt tiếp xúc cho tới một giới hạn xác định bởi hệ số ma sát tĩnh (
μ
s
f
{\displaystyle \mu _{\mathrm {sf} }}
) nhân với lực pháp tuyến (
F
N
{\displaystyle F_{N}}
). Hay nói cách khác độ lớn của ma sát tĩnh thỏa mãn bất đẳng thức:
0
≤
F
s
f
≤
μ
s
f
F
N
{\displaystyle 0\leq F_{\mathrm {sf} }\leq \mu _{\mathrm {sf} }F_{\mathrm {N} }}
.
Ma sát động (
F
k
f
{\displaystyle F_{\mathrm {kf} }}
) độc lập với cả lực tác dụng và sự chuyển động của vật. Do vậy độ lớn của lực ma sát động bằng:
F
k
f
=
μ
k
f
F
N
{\displaystyle F_{\mathrm {kf} }=\mu _{\mathrm {kf} }F_{\mathrm {N} }}
,
với
μ
k
f
{\displaystyle \mu _{\mathrm {kf} }}
là hệ số ma sát động. Đối với hầu hết các bề mặt tiếp xúc, hệ số ma sát động nhỏ hơn hệ số ma sát tĩnh.
=== Sức căng ===
Lực căng được mô hình hóa bằng những dây lý tưởng không có khối lượng, không gây ma sát, không thể phá vỡ được và không bị kéo giãn. Chúng có thể kết hợp với các ròng rọc lý tưởng cho phép các dây lý tưởng chuyển đổi hướng lực tác dụng. Các dây lý tưởng truyền lực căng một cách tức thời trong cặp tác dụng-phản tác dụng sao cho nếu hai vật nối với nhau bởi một dây lý tưởng, bất kỳ lực nào hướng dọc theo dây gây nên bởi vật thứ nhất được kết hợp với một lực hướng dọc theo dây theo hướng ngược lại gây bởi vật thứ hai. Bằng cách nối những dây lý tưởng tương tự đối với cùng những vật như thế theo một cấu hình với các ròng rọc, lực căng của dây lên tải trọng có thể được tăng gấp bội cho phép ròng rọc có thể nâng được vật khối lượng lớn. Tuy nhiên, trong những cỗ máy đơn giản như ròng rọc, việc lợi về lực thì lại tương ứng với thiệt về quãng đường cần kéo dây để có thể di chuyển tải trọng. Quy luật này chính là hệ quả của định luật bảo toàn năng lượng do công tác dụng lên tải trọng là như nhau cho dù các cỗ máy có hoạt động theo cách nào đi chăng nữa.
=== Lực đàn hồi ===
Lực đàn hồi tác dụng lên lò xo khiến nó khôi phục lại trạng thái ban đầu. Một lò xo lý tưởng được coi là không có khối lượng, không có ma sát, không bị đứt gãy, và có thể dãn vô hạn. Những lò xo này tác dụng lực đẩy khi chúng bị nén ngắn lại, hoặc lực kéo khi bị kéo dài, lực này tỉ lệ với độ dịch chuyển của lò xo từ vị trí cân bằng của nó. Robert Hooke đã miêu tả mối quan hệ tuyến tính này vào năm 1676 bởi định luật mang tên ông là định luật Hooke. Nếu
Δ
x
{\displaystyle \Delta x}
là độ dịch chuyển, lực tác dụng bởi lò xo lý tưởng sẽ bằng:
F
→
=
−
k
Δ
x
→
{\displaystyle {\vec {F}}=-k\Delta {\vec {x}}}
với
k
{\displaystyle k}
là hằng số phụ thuộc vào từng loại lò xo. Dấu trừ thể hiện cho xu hướng của lực tác dụng theo hướng ngược lại khi có ngoại lực tác dụng lên lò xo.
=== Cơ học môi trường liên tục ===
Cơ học và các định luật Newton lúc đầu được phát biểu trong trường hợp lực tác dụng lên các hạt điểm lý tưởng hơn là các vật thể hình học ba chiều. Tuy vậy trong thực tế, các lực tác dụng lên một vị trí của vật thể và có thể coi là ảnh hưởng đến những phần khác của vật. Trong trường hợp khi các dàn tinh thể nguyên tử trong một vật hành xử theo cách có thể chảy được, co lại, nở ra hoặc thay đổi hình dạng, lý thuyết cơ học môi trường liên tục miêu tả lực tác dụng lên vật thể và những hệ quả đối với cấu trúc bên trong của vật. Ví dụ, trong cơ học chất lỏng, sự chênh lệch áp suất hình thành lên lực theo hướng của gradient áp suất như sau:
F
→
V
=
−
∇
→
P
{\displaystyle {\frac {\vec {F}}{V}}=-{\vec {\nabla }}P}
với
V
{\displaystyle V}
là thể tích vật chiếm chỗ trong chất lỏng và
P
{\displaystyle P}
là hàm vô hướng miêu tả áp suất tại mọi vị trí trong không gian. Gradient áp suất và sự chênh lệch áp suất là nguyên nhân của lực đẩy nổi đối với vật trong chất lỏng dưới tác dụng của trường hấp dẫn, gió trong khoa học khí quyển, và lực nâng trong khí động lực học và nghiên cứu chuyển động bay.
Một ví dụ cụ thể của những loại lực này là áp suất động lực của sức cản chất lỏng: một vật chuyển động trong môi trường chất lỏng bị một lực cản gây bởi tính nhớt của chất lỏng đó. Lực cản Stokes tỷ lệ xấp xỉ với vận tốc của vật và có hướng ngược lại:
F
→
d
=
−
b
v
→
{\displaystyle {\vec {F}}_{\mathrm {d} }=-b{\vec {v}}\,}
với:
b
{\displaystyle b}
là hằng số phụ thuộc vào tính chất của chất lỏng và hình học của vật thể (thường là tiết diện của vật thể), và
v
→
{\displaystyle \scriptstyle {\vec {v}}}
là vận tốc của vật.
Một các trừu tượng hơn, lực trong cơ học môi trường liên tục được miêu tả đầy đủ bởi tenxơ ứng suất được định nghĩa là
σ
=
F
A
{\displaystyle \sigma ={\frac {F}{A}}}
với
A
{\displaystyle A}
là diện tích tiết diện tương ứng cho thể tích mà tenxơ ứng suất đang cần tính. Tenxơ này bao gồm thành phần áp suất gắn liền với lực tác dụng vuông góc với mặt cắt tiết diện (ma trận chéo của tenxơ) cũng như thành phần ứng suất cắt gắn liền với lực tác dụng theo hướng song song với mặt cắt tiết diện (các thành phần không thuộc đường chéo của biểu diễn ma trận tenxơ). Tenxơ ứng suất cũng miêu tả các lực gây ra sự biến dạng của vật thể như lực nén và lực kéo.
=== Giả lực ===
Có những loại lực mà giá trị và hướng phụ thuộc vào hệ quy chiếu, có nghĩa là chúng xuất hiện khi sử dụng những hệ quy chiếu phi Newton (hay hệ quy chiếu phi quán tính). Những lực này bao gồm lực hướng tâm và lực Coriolis. Những lực này được coi là giả lực do chúng không tồn tại trong hệ quy chiếu đang không bị gia tốc.
Trong thuyết tương đối rộng, lực hấp dẫn trở thành giả lực khi nó xuất hiện trong những tình huống khi không thời gian được coi là không gian cong hơn là không gian phẳng.
== Quay và xoắn ==
Lực đi kèm với mômen lực làm quay vật. Về mặt toán học mô men lực của một lực
F
→
{\displaystyle \scriptstyle {\vec {F}}}
được xác định đối với một điểm bất kỳ thông qua tích có hướng:
τ
→
=
r
→
×
F
→
{\displaystyle {\vec {\tau }}={\vec {r}}\times {\vec {F}}}
với
r
→
{\displaystyle \scriptstyle {\vec {r}}}
là vec tơ vị trí lực đặt vào so với điểm quy chiếu.
Ngẫu lực là sự quay tương đương của lực theo cùng cách mà vec tơ vị trí quay một góc tương đương, hoặc vec tơ vận tốc góc cho vận tốc và mô men động lượng cho động lượng. Theo hệ quả của Định luật thứ nhất Newton, tồn tại quán tính quay để đảm bảo mọi vật sẽ vẫn duy trì mô men động lượng của nó trừ khi có ngẫu lực không cân bằng tác động lên. Tương tự, Định luật thứ hai Newton được dùng để suy ra phương trình cho gia tốc góc tức thời của vật rắn:
τ
→
=
I
α
→
{\displaystyle {\vec {\tau }}=I{\vec {\alpha }}}
với
I
{\displaystyle I}
là mô men quán tính của vật
α
→
{\displaystyle \scriptstyle {\vec {\alpha }}}
là gia tốc góc.
Công thức này cũng dùng để định nghĩa cho khái niệm mô men quán tính. Trong cơ học cao cấp, nơi miêu tả sự quay theo khoảng thời gian, mô men quán tính được thay bằng khái niệm tổng quát hơn là tensơ mô men quán tính, cho phéo khi phân tích đầy đủ và chi tiết đặc tính của vật quay bao gồm tiến động và chương động.
Một cách tương đương, dạng vi phân của Định luật thứ hai Newton đưa ra định nghĩa khác về mô men lực:
τ
→
=
d
L
→
d
t
,
{\displaystyle {\vec {\tau }}={\frac {\mathrm {d} {\vec {L}}}{\mathrm {dt} }},}
với
L
→
{\displaystyle \scriptstyle {\vec {L}}}
là động lượng góc của hạt.
Định luật thứ ba Newton nói rằng mọi vật tác động ngẫu lực thì chính chúng sẽ chịu một ngẫu lực bằng về độ lớn nhưng ngược hướng, và do vậy hàm ý trực tiếp định luật bảo toàn mô men động lượng cho hệ kín chịu sự quay thông qua tác dụng của nội mô men xoắn.
=== Lực hướng tâm ===
Một vật chuyển động gia tốc trên quỹ đạo tròn, nó chịu một lực có độ lớn bằng:
F
→
=
−
m
v
2
r
^
r
{\displaystyle {\vec {F}}=-{\frac {mv^{2}{\hat {r}}}{r}}}
với
m
{\displaystyle m}
là khối lượng của vật,
v
{\displaystyle v}
là vận tốc và
r
{\displaystyle r}
là độ lớn khoảng cách đến tâm của quỹ đạo tròn và
r
^
{\displaystyle \scriptstyle {\hat {r}}}
là vectơ đơn vị chỉ theo hướng từ tâm ra ngoài. Lực hướng tâm luôn hướng về tâm của đường tròn tiếp xúc với quỹ đạo của vật thể tại một thời điểm. Lực này tác dụng vuông góc với vectơ vận tốc của vật và do vậy không làm thay đổi độ lớn vận tốc của nó, nhưng chỉ làm thay đổi hướng của vectơ vận tốc. Lực gây ra chuyển động của vật có thể phân tích thành một thành phần vuông góc với quỹ đạo của nó, và một thành phần tiếp tuyến với quỹ đạo. Thành phần tiếp tuyến làm tăng tốc hoặc làm chậm vật trong khi thành phần vuông góc (lực hướng tâm) làm thay đổi hướng của nó.
== Tích phân động học ==
Lực có thể dùng để định nghĩa một số khái niệm vật lý bằng cách tích phân nó theo các biến động học. Ví dụ, tích phân theo thời gian sẽ cho định nghĩa của xung lực:
I
→
=
∫
t
1
t
2
F
→
d
t
{\displaystyle {\vec {I}}=\int _{t_{1}}^{t_{2}}{{\vec {F}}\mathrm {d} t}}
mà theo định luật hai của Newton nó phải tương đương với sự thay đổi của động lượng (định lý xung lượng- động lượng).
Tương tự, tích phân lực theo vị trí cho định nghĩa của công cơ học tác dụng bởi lực:
W
=
∫
x
→
1
x
→
2
F
→
⋅
d
x
→
{\displaystyle W=\int _{{\vec {x}}_{1}}^{{\vec {x}}_{2}}{{\vec {F}}\cdot {\mathrm {d} {\vec {x}}}}}
và nó tương đương với sự thay đổi của động năng (định lý công năng lượng).
Công suất P là tỷ lệ thay đổi dW/dt của W theo thời gian, khi quỹ đạo được mở rộng bởi sự thay đổi vị trí
d
x
→
{\displaystyle \scriptstyle {d}{\vec {x}}}
trong khoảng thời gian dt:
d
W
=
d
W
d
x
→
⋅
d
x
→
=
F
→
⋅
d
x
→
,
hay
P
=
d
W
d
t
=
d
W
d
x
→
⋅
d
x
→
d
t
=
F
→
⋅
v
→
,
{\displaystyle {\text{d}}W\,=\,{\frac {{\text{d}}W}{{\text{d}}{\vec {x}}}}\,\cdot \,{\text{d}}{\vec {x}}\,=\,{\vec {F}}\,\cdot \,{\text{d}}{\vec {x}},\qquad {\text{ hay }}\quad P\,=\,{\frac {{\text{d}}W}{{\text{d}}t}}\,=\,{\frac {{\text{d}}W}{{\text{d}}{\vec {x}}}}\,\cdot \,{\frac {{\text{d}}{\vec {x}}}{{\text{d}}t}}\,=\,{\vec {F}}\,\cdot \,{\vec {v}},}
với
v
→
=
d
x
→
/
d
t
{\displaystyle \scriptstyle {{\vec {v}}{\text{ }}={\text{ d}}{\vec {x}}/{\text{d}}t}}
là vận tốc.
== Thế năng ==
Một khái niệm toán học hữu ích thay thế cho lực trong nhiều trường hợp đó là thế năng. Ví dụ lực hấp dẫn tác dụng lên một vật có thể coi như là tác dụng của trường hấp dẫn có mặt tại vị trí của vật. Bằng cách viết lại định nghĩa của năng lượng (thông qua định nghĩa của công cơ học), trường vô hướng thế năng
U
(
r
→
)
{\displaystyle \scriptstyle {U({\vec {r}})}}
được định nghĩa là trường mà gradien có độ lớn bằng và ngược hướng với lực tác dụng tại mỗi điểm:
F
→
=
−
∇
→
U
.
{\displaystyle {\vec {F}}=-{\vec {\nabla }}U.}
Lực có thể được phân loại thành lực bảo toàn hoặc lực không bảo toàn. Lực bảo toàn là tương đương với gradien của trường thế năng trong khi lực không bảo toàn thì không có tính chất này.
=== Lực bảo toàn ===
Lực bảo toàn tác động lên một hệ kín gắn liền với công cơ học cho phép năng lượng được biến đổi giữa các dạng động năng và thế năng. Điều này có nghĩa là trong một hệ kín cơ năng được bảo toàn bất cứ khi nào có lực bảo toàn tác động lên hệ. Do vậy lực liên hệ trực tiếp với hiệu thế năng giữa hai vị trí khác nhau trong không gian, và có thể coi như một trường thế năng giả theo cùng cách với hướng và lưu lượng nước trong biểu đồ đường đồng mức của địa hình.
Các lực bảo toàn bao gồm lực hấp dẫn, lực điện từ và lực đàn hồi lò xo. Mỗi lực này được mô hình hóa mà phụ thuộc vào vectơ vị trí
r
→
{\displaystyle \scriptstyle {\vec {r}}}
hướng từ trường thế năng đối xứng cầu ra ngoài. Xét ví dụ dưới:
Đối với lực hấp dẫn:
F
→
=
−
G
m
1
m
2
r
→
r
3
{\displaystyle {\vec {F}}=-{\frac {Gm_{1}m_{2}{\vec {r}}}{r^{3}}}}
với
G
{\displaystyle G}
là hằng số hấp dẫn, và
m
n
{\displaystyle m_{n}}
là khối lượng của vật n.
Đối với lực tĩnh điện:
F
→
=
q
1
q
2
r
→
4
π
ϵ
0
r
3
{\displaystyle {\vec {F}}={\frac {q_{1}q_{2}{\vec {r}}}{4\pi \epsilon _{0}r^{3}}}}
với
ϵ
0
{\displaystyle \epsilon _{0}}
là hằng số điện môi, và
q
n
{\displaystyle q_{n}}
là điện tích của vật n.
Đối với lực lò xo:
F
→
=
−
k
r
→
{\displaystyle {\vec {F}}=-k{\vec {r}}}
với
k
{\displaystyle k}
là hằng số đàn hồi của lò xo.
=== Lực không bảo toàn ===
Trong một số mô hình vật lý nhất định, khó có thể định nghĩa lực dựa trên khái niệm gradien của thế năng. Điều này thường do những giả sử vĩ mô cho phép thu được lực từ mức độ trung bình thống kê vĩ mô của những hệ có trạng thái vi mô. Ví dụ, ma sát có nguyên nhân từ gradien của rất nhiều thế năng tĩnh điện giữa các nguyên tử, nhưng nó lại thể hiện ra như một lực độc lập với bất kỳ vectơ vị trí vĩ mô nào. Lực không bảo toàn ngoài lực ma sát ra bao gồm lực tiếp xúc, sức căng bề mặt, sự nén và kéo. Tuy nhiên, cho những tình huống miêu tả thích hợp, tất cả những lực trên là kết quả của lực bảo toàn do mỗi lực vĩ mô này là tổng hợp của các gradien thế năng vi mô.
Mối liên hệ giữa lực không bảo toàn vĩ mô với lực bảo toàn vi mô được miêu tả chi tiết trong cơ học thống kê. Trong hệ kín vĩ mô, lực không bảo toàn tác động đến sự thay đổi nội năng của hệ và thường đi kèm với hiệu ứng truyền nhiệt. Theo định luật thứ hai của nhiệt động lực học, lực không bảo toàn là kết quả cần thiết của quá trình biến đổi năng lượng trong hệ kín từ trạng thái trật tự chuyển sang trạng thái ngẫu nhiên khi entropy của hệ tăng lên.
== Đơn vị đo của lực ==
Đơn vị SI của lực là newton (ký hiệu N), là lực cần thiết để làm một vật có khối lượng một kilogram thu gia tốc một mét trên giây bình phương, hoặc kg·m·s−2. Tương ứng, đơn vị của lực theo hệ CGS là dyne, là lực cần thiết để làm một vật có khối lượng một gram thu gia tốc một centimet trên giây bình phương, hayg·cm·s−2. Một newton bằng 100,000 dyne.
Theo hệ đơn vị Anh FPS, thì đơn vị của lực là pound-lực (lbf), được định nghĩa là lực hấp dẫn tác dụng lên một khối lượng một pound trong một trọng trường tiêu chuẩn 9.80665 m·s−2. Đơn vị pound-lực đưa ra một đơn vị khác cho khối lượng: một slug là khối lượng mà sẽ thu được gia tốc một foot trên giây bình phương khi bị tác động bởi một lực một pound-lực.
Một đơn vị khác của lực theo hệ FPS tuyệt đối là poundal, được định nghĩa là lực cần thiết để gia tốc cho khối lượng một pound đạt một foot trên giây bình phương. Các đơn vị slug và poundal được đưa ra nhằm tránh hằng số tỷ lệ trong định luật 2 Newton.
Pound-lực cũng có một đơn vị tương ứng trong hệ đo lường mét nhưng ít được sử dụng hơn newton: đó là kilogram-lực (kgf) (đôi khi gọi là kilopond), là lực tác động lên một khối lượng một kilogram gây ra bởi một trọng trường tiêu chuẩn. Kilogram-lực dẫn đến một đơn vị đo khối lượng khác, nhưng ít khi sử dụng đó là:metric slug (đôi khi gọi là mug hay hyl) là khối lượng mà thu được một gia tốc 1 m·s−2 khi bị tác dụng một lực 1 kgf. Kilogram-lực không thuộc hệ đo lường quốc tế hiện đại, và thường bị phản đối; tuy nhiên nó vẫn còn được dùng cho một vài trường hợp chẳng hạn như biểu diễn phản lực, lực kéo của nan hoa xe đạp, mô men xoắn của bộ chìa vặn đai ốc và mô men xoắn công suất động cơ. Những đơn vị của lực ít được dùng đến như sthène tương đương với 1000 N và kip tương đương với 1000 lbf.
== Danh sách các loại lực ==
Trọng lực
Phản lực
Áp lực
Lực ma sát
Lực đàn hồi
Lực động
Lực hướng tâm
Lực ly tâm
Lực Culomb (hay lực tĩnh điện)
Lực Ampere (hay lực điện động)
Lực Lorentz
Lực Faraday (hay lực điện từ)
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
== Đọc thêm ==
Các lực trong tự nhiên. V. Grigoriev, G. Miakisev; Ngô Đặng Nhân dịch - Tái bản lần 1. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 2002, 527tr
Tiếng Anh
== Liên kết ngoài ==
Video lecture on Newton's three laws by Walter Lewin from MIT OpenCourseWare
A Java simulation on vector addition of forces
Force Unit Converter |
danh sách quốc gia theo giá trị nhập khẩu.txt | Đây là thứ hạng các nước xếp theo kim ngạch nhập khẩu (tính bằng triệu USD) từ cao xuống thấp, lấy từ nguồn của The World Factbook.
== Danh sách mức nhập khẩu các nước ==
Số liệu chính được lấy từ nguồn CIA The World Factbook, 2014. Số liệu được tính ở đơn vị triệu dollar (1000 000 $).
== Nguồn ==
The World Factbook, truy cập 1 tháng 4 năm 2007, Rank Order - Imports.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Lists of countries and territories
Danh sách quốc gia theo tính tự do kinh tế
Danh sách quốc gia theo chỉ số bình đẳng thu nhập
Danh sách các nước theo giá trị xuất khẩu
== Liên kết ngoài == |
god save the queen.txt | God Save the Queen (tiếng Anh có nghĩa là: "Thượng đế hãy phù hộ cho nữ hoàng") là bài hát được dùng như bài quốc ca của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Ở New Zealand, thì bài này là một trong hai bản quốc ca. Canada dùng bài này làm hoàng ca cũng như các quốc gia nhìn nhận quốc vương Anh là nguyên thủ quốc gia như các thành viên của Khối thịnh vượng chung Anh.
Tác giả bài này vẫn chưa được xác định nhưng nhiều người ghi nhận Henry Carey là người đầu tiên trình tấu bản nhạc này vào năm 1740.
Vì Queen là "nữ hoàng," lời nhạc này sẽ đổi thành God Save the King để phù hợp nếu nhà vua thuộc nam giới. Điệu nhạc God Save the Queen, nhưng với lời nhạc khác cũng là hoàng ca của Na Uy (Kongesangen) và quốc ca của Liechtenstein (Oben am jungen Rhein) cùng một số lãnh thổ từng có liên hệ vương tộc với hoàng gia Anh như Hà Lan (cho đến năm 1932), Phổ và Đức (thời kỳ 1795-1918 với tựa Heil dir im Siegerkranz), Nga (Molitva russkikh cho đến năm 1833), và Thụy Điển (thời kỳ 1805-93 với tựa Bevare gud vår kung). Thụy Sĩ (Rufst Du, mein Vaterland/O monts indépendants) cũng một thời dùng điệu nhạc này làm quốc thiều mãi đến năm 1961 mới đổi sang bản khác.
== Nguyên bản tiếng Anh ==
God save our gracious Queen,
Long live our noble Queen,
God save the Queen:
Send her victorious,
Happy and glorious,
Long to reign over us:
God save the Queen.
O Lord, our God, arise,
Scatter her enemies,
And make them fall.
Confound their politics,
Frustrate their knavish tricks,
On thee our hopes we fix:
God save the Queen.
Thy choicest gifts in store,
On her be pleased to pour;
Long may she reign:
May she defend our laws,
And ever give us cause
To sing with heart and voice
God save the Queen
Not in this land alone,
But be God's mercies known,
From shore to shore!
Lord make the nations see,
That men should brothers be,
And form one family,
The wide world ov'er.
From every latent foe,
From the assassins blow,
God save the Queen!
O'er her thine arm extend,
For Britain's sake defend,
Our mother, prince, and friend,
God save the Queen!
Lord grant that Marshal Wade
May by thy mighty aid
Victory bring.
May he sedition hush,
And like a torrent rush,
Rebellious Scots to crush.
God save the Queen!
== Tham khảo ==
Maclean, Fitzroy, Bonnie Prince Charlie, Canongate Books Ltd. 1989. ISBN 0-86241-568-3
Percy A Scholes: Oxford Companion to Music, Tenth Edition, OUP
The English Hymnal with Tunes, OUP, 1906
== Liên kết ngoài ==
Nhạc MIDI của bài hát
British National Anthem (Choir)
Listen to the British National Anthem
God Save The Queen (MIDI)
Official Royal Family site - National anthem page
Department of Canadian Heritage - Royal anthem page
British National Anthem sung by choir
God Save the Queen, recorded at wedding ceremony of Charles and Camilla at St. George's Chapel Windsor - Video from Dutch public television website
God Save Great George our King - article discussing different versions of the lyrics |
người tày.txt | Người Tày, với các nhóm địa phương là Pa dí, Thổ, Ngạn, Phén, Thu Lao, là một dân tộc thiểu số trong số 54 dân tộc tại Việt Nam.
Người Tày nói tiếng Tày, một ngôn ngữ thuộc ngữ chi Thái của hệ ngôn ngữ Tai-Kadai.
Người Tày sinh sống chủ yếu ở vùng miền núi thấp phía bắc Việt Nam. Người Tày trước đây hay được gọi là người Thổ (tuy nhiên tên gọi này hiện nay được dùng để chỉ một dân tộc khác, xem bài người Thổ). Người Tày có dân số đông thứ 2 ở Việt Nam.
Người Tày, Nùng có mối quan hệ gần gũi với người Choang tại Trung Quốc.
== Dân số và địa bàn cư trú ==
Người Tày chủ yếu cư trú tại các tỉnh trung du và miền núi phía bắc (1.400.519 người năm 1999). Bên cạnh đó, trong thời gian gần đây, người Tày còn di cư tới một số tỉnh Tây Nguyên như Đắk Lắk và Lâm Đồng.
Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Tày ở Việt Nam có dân số 1.626.392 người năm 2009, là dân tộc có dân số đứng thứ 2 tại Việt Nam, có mặt trên tất cả 63 tỉnh, thành phố. Người Tày cư trú tập trung tại các tỉnh:
Lạng Sơn (259.532 người, chiếm 35,4% dân số toàn tỉnh và 31,5% tổng số người Tày tại Việt Nam),
Cao Bằng (207.805 người, chiếm 41,0% dân số toàn tỉnh và 25,2% tổng số người Tày tại Việt Nam),
Tuyên Quang (185.464 người, chiếm 25,6% dân số toàn tỉnh và 22,5% tổng số người Tày tại Việt Nam),
Hà Giang (168.719 người, chiếm 23,3% dân số toàn tỉnh và 20,5% tổng số người Tày tại Việt Nam),
Bắc Kạn (155.510 người, chiếm 52,9% dân số toàn tỉnh và 18,9% tổng số người Tày tại Việt Nam),
Yên Bái (135.314 người, chiếm 18,3% dân số toàn tỉnh và 16,4% tổng số người Tày tại Việt Nam),
Thái Nguyên (123.197 người, chiếm 11,0% dân số toàn tỉnh và 15,0% tổng số người Tày tại Việt Nam),
Lào Cai (94.243 người),
Đăk Lăk (51.285 người)...
== Tổ chức cộng đồng ==
Bản của người Tày thường ở chân núi hay ven suối. Tên bản thường gọi theo tên đồi núi, đồng ruộng, khúc sông. Mỗi bản có từ 15 đến 20 nóc nhà. Bản lớn chia ra nhiều xóm nhỏ.
== Trang phục ==
Người Tày mặc các bộ trang phục có màu chàm. Trang phục cổ truyền của người Tày được làm từ vải sợi bông tự dệt, nhuộm chàm đồng nhất trên trang phục nam và nữ, hầu như không có hoa văn trang trí.
Trang phục dân tộc Tày có thể được coi là một trong những bộ trang phục đơn giản nhất của 54 dân tộc anh em. Bộ trang phục tuy đơn giản nhưng có ý nghĩa.
== Người Tày nổi tiếng ==
Tổng đốc Vi Văn Định.
Phò mà áo chàm Thân Cảnh Phúc người có công lớn trong kháng chiến chống Tống.
Hoàng Văn Thụ, nhà lãnh đạo cao cấp của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương
Nông Đức Mạnh, nguyên Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam
La Văn Cầu, một người chiến sĩ dũng cảm thời kháng chiến chống Pháp
Thượng tướng Vũ Lập.
Thượng tướng Đàm Quang Trung
Trung tướng Bằng Giang
Thiếu tướng Lê Quảng Ba.
Hoàng Trường Minh, nguyên Bí thư tỉnh ủy Lào Cai, Bí thư tỉnh ủy Lạng Sơn, Trưởng ban Dân tộc Trung ương, Phó Chủ tịch Quốc hội.
Hoàng Yến Chao và Hoàng A Tưởng, dòng họ thổ ti tại Lào Cai.
Đại tá Hoàng Biểu. Phi công người dân tộc thiểu số đầu tiên lái máy bay tiêm kích.
Trung tá Đàm Thị Loan, người kéo cờ ngày 2-9-1945 tại Quảng trường Ba Đình
Đạo diễn Lục Đại Lượng- Giải thưởng cánh diều vàng Hội Điện ảnh VN 2006
Tô Đình Cắm: là một trong 34 đội viên Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng Quân ra mắt tại khu rừng Trần Hưng Đạo ngày 22 tháng 12 năm 1944. Ông tên thật là Tô Đình Cắm (Có bí danh là Tô Tiến Lực), sinh ngày 16 tháng 10 năm 1922 tại bản Um, xã Tam Kim, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Hiện sống tại tại Thôn 8B, thị trấn Đạ Tẻh, huyện Đạ Tẻh, tỉnh Lâm Đồng.
Nhà thơ Dương Thuấn: Nhà thơ, nhà báo Dương Thuấn, dân tộc Tày, quê ở bản Hon (xã Bành Trạch, huyện Ba Bể, Bắc Kạn). Hiện nay anh là Chi hội trưởng Hội VHNT các dân tộc Hà Nội - thuộc Hội VHNT dân tộc thiểu số, đã xuất bản 14 tập thơ, chủ biên gần 30 cuốn sách về sáng tác văn học nghệ thuật và giáo dục.
== Âm nhạc ==
Hát then, hát lượn, hát sli được dùng vào các mục đính sinh hoạt khác nhau, các thể loại dân ca nổi tiếng của người Tày. Bộ nhạc cụ như Đàn tính, Lúc lắc. Đàn tính là loại nhạc cụ có mặt trong tất cả những sinh hoạt văn hoá tinh thần của người Tày, như linh hồn trong nghệ thuật dân ca dân vũ Tày. Bao đời nay đàn tính có vai trò như một phương tiện giao tiếp mang đậm bản sắc.
== Nhà ở ==
Những nhà truyền thống thường là nhà sàn, nhà đất mái lợp cỏ gianh và một số vùng giáp biên giới có loại nhà phòng thủ. Trong nhà phân biệt phòng nam ở ngoài, nữ ở trong buồng. Phổ biến là loại nhà đất 3 gian, 2 mái (không có chái), tường trình đất hoặc thưng phên nứa, gỗ xung quanh, mái lợp cỏ tranh,người Tày sống định cư, quây quần thành từng bản chừng 15 đến 20 hộ.
== Tín ngưỡng ==
Người Tày thờ tổ tiên và bái vật giáo. Bàn thờ tổ tiên của người Tày đặt chính giữa nhà và làm thành một không gian riêng và được cung kính hết mực. Khách và phụ nữ có thai, mới sinh không được phép ngồi hay nằm trên ghế, giường trước bàn thờ. Trong tôn giáo của người Tày, ngày tảo mộ ngày lễ quan trọng nhất của người tày thường là những ngày cuối tháng chạp âm lịch.
== Ẩm thực ==
Cuộc sống của người Tày thường gắn bó với thiên nhiên, do đó, nguồn lương thực, thực phẩm chính của người Tày là những sản phẩm thu được từ hoạt động sản xuất ở vùng có rừng, sông, suối, đồi núi bao quanh.Một số món ăn nổi tiếng là: Xôi trứng kiến,xôi ngũ sắc,măng chua,khâu nhục.
== Hình ảnh ==
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói |
andré gomes.txt | André Filipe Tavares Gomes (phát âm tiếng Bồ Đào Nha: [ɐ̃ˈdɾɛ ˈɡomɨʃ]; sinh ngày 30 tháng 7 năm 1993) là một cầu thủ bóng đá chuyên nghiệp người Bồ Đào Nha chơi ở vị trí tiền vệ trung tâm cho câu lạc bộ FC Barcelona của Tây Ban Nha.
Anh chơi bóng ba năm tại Benfica, nơi anh giành cú ăn ba quốc nội trong mùa giải 2013–14. Vào tháng 7 năm 2014, anh gia nhập Valencia.
Gomes có 37 lần khoác áo Bồ Đào Nha ở tất cả các cấp độ trẻ, bao gồm sáu lần khoác áo đội U21. Anh đại diện cho quốc gia tại Euro 2016, vô địch giải đấu này.
== Sự nghiệp câu lạc bộ ==
=== Benfica ===
Sinh tại Grijó, Vila Nova de Gaia, quận Porto, Gomes gia nhập lò đào tạo trẻ của S.L. Benfica ở tuổi 18, chơi bóng năm cuối của anh ở đội trẻ với câu lạc bộ Lisboa. Vào ngày 28 tháng 7 năm 2012, anh xuất hiện trong trận đấu đầu tiên của mình với đội một, trong trận giao hữu với Gil Vicente FC, và đã trải qua mùa giải đầu tiên của mình ở cấp cao với đội dự bị, cạnh tranh ở giải hạng hai.
Gomes ghi bàn thắng đầu tiên cho Benfica B ở trận đấu của giải trước S.C. Braga B (hòa 2–2 trên sân nhà) và C.F. Os Belenenses (6–0, cũng tại sân nhà). Vào ngày 18 tháng 10 năm 2012 anh ra mắt chính thức trong đội hình chính, thi đấu 25 phút sau khi vào sân từ băng ghế dự bị thay thế cho Eduardo Salvio và ghi bàn trong chiến thắng 4–0 trước S.C. Freamunde, cho chiến dịch Taça de Portugal.
Gomes tiếp tục có tên trong đội hình một của Benfica vào ngày 27 tháng 10 năm 2012, khi anh xuất phát ngay từ đầu và ghi bàn trong chiến thắng trên sân khách 3–0 trước Gil Vicente trong lần đầu xuất hiện tại Primeira Liga. Tuy nhiên, anh chủ yếu tiếp tục chơi ở đội B.
Vào ngày 31 tháng 1 năm 2014, Benfica (và Benfica Stars Fund) đã bán 100% quyền kinh tế của Gomes cho một công ty tư nhân, Meriton Capital Limited, với mức giá 15 triệu euro, cộng thêm 25% vào phí chuyển nhượng sau này. Anh vẫn ở lại với the Eagles đến cuối mùa giải.
Vào ngày 16 tháng 4 năm 2014, Gomes chơi trọn vẹn 90 phút trong trận đấu lượt về vòng bán kết của Cúp bóng đá Bồ Đào Nha, ghi bàn ấn định chiến thắng 3–1 sau một nỗ lực cá nhân tuyệt vời để giúp đội bóng của anh – chơi thiếu một người trong 60 phút trước FC Porto – chiến thắng với tổng tỷ số 3–2. Anh kết thúc mùa giải với 23 trận trên tất cả các đấu trường, giúp câu lạc bộ giành cú ăn ba đầu tiên trong lịch sử (giải vô địch quốc gia, cup và Taça da Liga).
=== Valencia ===
Vào ngày 17 tháng 7 năm 2014, Gomes đồng ý một bản hợp đồng cho mượn một mùa giải với Valencia CF, tham gia tổ chức của đồng bào bao gồm cả quản lý Nuno Espírito Santo. Mặc dù các quyền kinh tế của anh đã thuộc sở hữu của Peter Lim, một hợp đồng cho mượn đã được sắp xếp để đưa anh và Rodrigo đến câu lạc bộ của Tây Ban Nha do sự mua đứt sau này của Lim.
Gomes ra mắt tại La Liga vào ngày 23 tháng 8 năm 2014, xuất phát trong trận hòa 1–1 trên sân khách trước Sevilla FC. Anh ghi bàn thắng đầu tiên của mình tại đấu trường này vào ngày 22 tháng 9, ghi bàn thứ hai trong chiến thắng 3–0 trên sân khách trước Getafe CF.
Vào ngày 12 tháng 6 năm 2015, Benfica và Valencia đạt được thỏa thuận về việc chuyển nhượng Gomes. Sau đó, anh ký một bản hợp đồng với câu lạc bộ của Tây Ban Nha tới ngày 30 tháng 6 năm 2020.
=== Barcelona ===
Vào ngày 21 tháng 7 năm 2016, FC Barcelona thông báo rằng họ đã đạt được thỏa thuận với Valencia về việc chuyển nhượng Gomes, với mức giá 35 triệu euro cộng thêm 20 triệu euro các khoản phí phụ.
== Sự nghiệp quốc tế ==
Gomes đại diện cho Bồ Đào Nha tại 2012 UEFA European Under-19 Championship. Ở tuổi 19 anh lần đầu được gọi lên đội tuyển quốc gia, cho trận giao hữu với Ecuador vào ngày 6 tháng 2 năm 2013, nhưng không được sử dụng trong thất bại 2–3 trên sân nhà.
Gomes ra mắt đầy đủ vào ngày 7 tháng 9 năm 2014, xuất phát và chơi trọn vẹn 90 phút trong thất bại 0–1 trước Albania tại Estádio Municipal de Aveiro tại vòng loại UEFA Euro 2016. Anh được lựa chọn vào đội hình tham dự vòng chung kết tại Pháp, xuất phát trong trận đầu tiên của họ, hòa 1–1 trước Iceland tại Saint-Étienne nơi anh kiến tạo cho Nani ghi bàn trước khi bị thay thế bởi Éder trong hiệp hai.
== Thống kê sự nghiệp ==
=== Câu lạc bộ ===
Số liệu thống kê chính xác tới ngày 20 tháng 3 năm 2017
=== Đội tuyển quốc gia ===
Số liệu thống kê chính xác tới ngày 28 tháng 3 năm 2017
== Danh hiệu ==
=== Câu lạc bộ ===
Benfica
Primeira Liga: 2013–14
Taça de Portugal: 2013–14
Taça da Liga: 2013–14
UEFA Europa League: Á quân 2012–13, 2013–14
=== Quốc gia ===
Bồ Đào Nha
Giải bóng đá vô địch châu Âu: 2016
=== Cá nhân ===
UEFA Europa League: Đội hình tiêu biểu của mùa giải 2013–14
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Valencia official profile
André Gomes tại thefinalball.com
André Gomes tại ForaDeJogo
Thông tin của André Gomes tại BDFutbol
André Gomes tại Soccerbase
André Gomes tại National-Football-Teams.com
André Gomes trên FiFA.com
André Gomes – Hồ sơ giải đấu UEFA |
câu lạc bộ xuất sắc nhất thế kỷ của fifa.txt | Câu lạc bộ xuất sắc nhất thế kỷ của FIFA (tiếng Anh: FIFA Club of the Century) là giải thưởng được FIFA trao cho Real Madrid vào ngày 13 tháng 12 năm 2000. Việc bình chọn được giới hạn chỉ danh cho những người mua FIFA World Magazine (tờ tạp chí chính thức của FIFA). Giải thưởng được trao cho Real Madrid vào tháng 12 năm 2000.
Năm 2006 một biểu tượng được thêm vào áo đấu của Real Madrid để công nhận họ là Câu lạc bộ xuất sắc nhất thế kỷ.
== Kết quả ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
The FIFA Club of the Century |
ống kính canon ef 28–135mm.txt | Canon EF 28–135 f/3.5–5.6 IS USM là ống kính zoom chuẩn được sản xuất từ tháng 2-1998. Ống kính có hệ số zoom 4,82x, sử dụng ngàm EF hoạt động trên tất cả các máy ảnh cơ và kĩ thuật số dòng EOS có hỗ trợ ống này.
Ống này sử dụng công nghệ ổn định hình ảnh (IS) thế hệ 2, motor lấy nét USM dạng vòng với cơ cấu lấy nét tay toàn thời gian và phần ống trước không xoay, sẽ kéo dài ra khi zoom. Ống kính này có 6 lá khẩu và 1 thấu kính phi cầu (molded, không tròn). Khoảng lấy nét gần nhất là 50 cm.
Đây là ống kính tầm trung, khá đáng giá, có thể dùng là ống cho người mới bắt đầu hoặc là sự nâng cấp từ ống kit 18-55. Dải zoom lớn cùng với cơ cấu ổn định hình ảnh (Image Stabilization - IS) khiến ống này rất linh hoạt, có thể dùng chụp đường phố, phong cảnh. Do ống kính này có khẩu độ tối đa khá nhỏ, xuống tới 5.6 ở 135mm nên việc sử dụng trong nhà hoặc điều kiện thiếu sáng sẽ không tốt, khi đó cơ cấu IS sẽ là cần thiết.
Mặc dù trên thân ống và các văn bản khác có ghi "Macro", đây không phải ống kính macro, tỉ lệ phóng đại chỉ đạt 1/5,3.
Từ tháng 8-2007, 28–135 được sử dụng làm ống kính bộ cho 40D, 50D và EOS 7D.
Ống kính này sử dụng hood EW-78B II dạng cánh hoa tulip.
Tại Việt Nam (9-2016), ống này có giá 2,5-4 triệu tùy theo tình trạng.
== Thông số kỹ thuật ==
== Khác ==
Đối với những người sử dụng DSLR dùng cảm biến APS-C 1.6 (ví dụ EOS 600D) thì ống này thường được so sánh và cân nhắc với ống EF-S 17-85 do khi lắp trên cảm biến APS-C thì 17-85 sẽ cho trường nhìn giống như 28-135 lắp trên máy ảnh dùng cảm biến full-frame. Trong trường hợp người dùng sử dụng 28-135 cho máy dùng cảm biến APS-C 1.6 thì trường nhìn sẽ thay đổi, ở tiêu cự 28mm góc nhìn sẽ tương đương 45mm trên full-frame, tính năng góc rộng sẽ mất đi, bù lại góc nhìn ở 135mm sẽ tương đương 216mm.
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Official Canon Website
Canon Museum |
metasia.txt | Metasia là một chi bướm đêm thuộc họ Crambidae.
== Các loài ==
Metasia capnochroa Meyrick, 1884
Metasia carnealis Treitschke, 1829
Metasia corsicalis Duponchel, 1833
Metasia cuencalis Ragonot, 1894
Metasia cyrnealis Schawerda, 1926
Metasia hymenalis Guenée, 1854
Metasia ibericalis Ragonot, 1894
Metasia liophaea Meyrick, 1887
Metasia olbienalis Guenée, 1854
Metasia ophialis Treitschke, 1829
Metasia rosealis Ragonot, 1895
Metasia suppandalis Hübner, 1823
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Metasia tại Wikispecies
Natural History Museum Lepidoptera genus database |
thư rác (điện tử).txt | Thư rác, thư linh tinh, hay còn dược dùng dưới tên gốc Anh ngữ là spam hay spam mail, là các thư điện tử vô bổ thường chứa các loại quảng cáo được gửi một cách vô tội vạ và nơi nhận là một danh sách rất dài gửi từ các cá nhân hay các nhóm người và chất lượng của loại thư này thường thấp. Đôi khi, nó dẫn dụ người nhẹ dạ, tìm cách đọc số thẻ tín dụng và các tin tức cá nhân của họ.
== Đặc điểm ==
Người dùng hộp thư có thể có cảm giác bị "tra tấn" bằng các thư điện tử quảng cáo. Các spam thì vô hại nhưng mỗi ngày nhiều người có thể vì các spam mail này mà bị đầy cả hộp thư. Trong năm 2003, khi các phần mềm chống spam chưa phổ biến và cỡ của các hộp thư điện tử còn giới hạn thì đã có rất nhiều người dùng email phải nhận cả trăm spam trong một ngày mà chỉ có đúng vài nội dung khác nhau. Tại sao các spam lại lặp đi lặp lại một cái thư quảng cáo cả chục lần cho một hộp thư? Một lý do là các hãng quảng cáo muốn dùng hiệu ứng tâm lý. Khi hình ảnh sản phẩm nào đó cứ đập vào mắt người đọc mãi thì đến lúc cần mua một thứ có chức năng tương tự (hay cùng loại) thì chính hình ảnh thương hiệu của cái spam mail sẽ hiện đến trong óc người đó trước tiên. Lý do khác là kích thích sự tò mò của người dùng email muốn đọc thử một spam xem có nội dung gì bên trong.
Spam mail không có "độc tính", hiểu theo nghĩa có hại cho máy tính, mà chỉ đôi khi làm người chủ hộp thư khó chịu hoặc đôi khi làm cho các thư từ khác quan trọng hơn thay vì nhận được thì lại bị trả về cho người gửi vì lý do hộp thư người nhận đã quá đầy!
Tuy nhiên, không thể tránh được các spam mail có nội dung khiêu khích hay lợi dụng. Việc quan trọng nhất của ngưòi dùng hộp thư là đừng bao giờ trả lời hay xác nhận bất kì gì mà các thư này yêu cầu và việc đơn giản là xóa chúng đi.
Như vậy, thư nhũng lạm có thể xem là một loại thư rác có mang thêm những tính năng phiền nhiễu đến cho người chủ hộp thư và người tạo ra các thư nhũng lạm đã lợi dụng chức năng của hệ thống thư điện tử (hay hệ thống mạng) bởi vì chúng được gửi đi với số lượng rất lớn đến nhiều nơi và gửi nhiều lần trong thời gian ngắn.
Các chi phí chuyển thư, chứa thư và xử lý thư nhũng lạm thuộc về người dùng hay tổ chức cung ứng Webmail. Tuy nhiên cần phân biệt rõ rằng hoàn toàn hơp pháp khi có các email tiếp thị.
Những người gửi spam thường ngụy tạo những thông tin giả như là tên, địa chỉ, số điện thoại... để đánh lừa các ISP. Họ cũng thường dùng số giả hay số ăn cắp của các thẻ tín dụng để chi trả cho các tài khoản. Việc này cho phép họ di chuyển thật nhanh từ một tài khoản này sang tài khoản khác mỗi lần bị phát hiện và bị đóng tài khoản bởi các chủ ISP.
Người gửi spam cũng có thể đột nhập vào giao thức thư điện tử (SMTP) để đánh lừa rằng các spam đến từ một địa chỉ email khác.
Gần đây, tác nhân gửi spam còn dùng cả các loại virus mạng trên hệ thống Windows (như là virus Zombie) nhằm gửi truyền đi các spam.
== Các biện pháp loại bỏ thư nhũng lạm ==
Dùng chức năng lọc: Nhiều nơi cung cấp phần mềm điện thư cũng đã có sẵn bộ lọc (filter) để loại bỏ các spam mail này trước khi tới tay người nhận một cách chủ động nhưng các lọc này không tuyệt hảo.
Hầu hết các email client như là MS Outlook, AOL có thêm chức năng cho phép chúng ta cài lại một số dấu hiệu và loại bỏ spam mail qua các thực đơn sẵn có.
Một số cơ sở thương mại cũng đã có các dịch vụ để giúp người tiêu dùng dẹp bỏ nạn spam mail bằng cách tung ra thị trường các loại phần mềm (bộ lọc) chống spam. Tuy nhiên không phải phần mềm nào dược bán ra cũng hoạt động hữu hiệu. Hai hãng có sản phẩm chống spam mạnh là Norton AntiSpam và Qurb.
Sử dụng WebMail: Thay vì dùng các hộp thư thông thường thì có thể dùng các dịch vụ cung cấp email qua Internet. Bằng cách này thì trách nhiệm lọc spam mail được giao về cho các dịch vụ cung cấp. Tuy nhiên, không chắc dịch vụ nào cũng làm tốt nhiệm vụ. Nghĩa là họ có thể không làm gì cả để lọc các spam mail. Trong các dịch vụ kiểu này thì có Mailblocks Extended Servivce khá hữu hiệu. Dẫu sao, người mua dịch vụ phải trả cước phí hàng tháng nào đó cho công tác này.
Người dùng Internet và những người quản lý hệ thống đã phát triển nhiều kỹ thuật để ngăn, lọc, hay cấm các spam thâm nhập vào các hộp thư. Hầu hết các ISP cấm việc dùng dịch vụ của họ để gửi spam. Cũng có nhiều tổ chức hay người tình nguyện đứng ra lo việc ngăn chận spam như là Brightmail, Postini, và nhiều DNSBL.
Một số chính phủ trong đó đi tiên phong là Hoa Kỳ đã có biện pháp mạnh mẽ hơn để bảo vệ người tiêu dùng bằng cách ra các đạo luật phạt vạ khắt khe các cơ sở hay cá nhân dùng spam mail. Tuy nhiên nhược điểm của phương án này là 3/4 các spam lại không dược gửi ra trong nước mà là chúng đến từ những nơi chưa có lệnh cấm.
Hiện tại đang có nhiều nỗ lực để phát triển những tiêu chuẩn về thư điện tử mới ngõ hầu chấm dứt tình trạng này. Một khi các tiêu chuẩn đó được công nhận thì khái niệm spam sẽ không còn thông dụng nữa.
== Các đặc trưng của spam ==
=== Việc thu thập các địa chỉ ===
Để gửi spam, người gửi cần phải có một số lượng lớn địa chỉ email của người dự tính sẽ nhận thư. Vì các spam được gửi một cách vô tội vạ, vô trách nhiệm, nên danh sách địa chỉ được thu thập về để gửi của một thư nhũng lạm có thể lên đến hàng chục triệu—Trong đó, không ít địa chỉ là không hợp lệ hay không thể gửi đến được (các địa chỉ email cũ không còn người dùng nữa chẳng hạn).
Spam có nhiều đặc điểm khác với các thư trực tiếp tiếp thị (direct marketing). Một trong các điểm này là nó không tốn thêm tiền khi gửi với một số lượng người nhận lớn hơn. Bởi vậy, nó không có sự tuyển lựa người nhận là ai. Do đó, các spam có thể có các thứ tiếng mà người nhận không thể đọc được hay chúng đưọc gửi đến ngay cả các postmaster hoặc được gửi trùng lặp nhiều lần tới cùng một địa chỉ.
Các địa chỉ email có thể thu thập về bằng nhiều cách. Hai cách chung nhất là
Phổ biến là việc dùng các địa chỉ được đăng bởi những người chủ để dùng trong các mục tiêu khác nhau. Thí dụ như địa chỉ của các nhóm Google thường là mục tiêu của những người làm spam. Hoặc người làm spam có tên đăng ký trong các danh sách bàn thảo qua thư điện tử (discussion mailing lists). Nhiều chương trình tiện ích có thể dùng để tìm ra các địa chỉ trên các trang web.
Một phương pháp khác nữa để tìm địa chỉ gửi là thâm nhập vào các tài khoản bằng cách dùng máy tính để mò tìm tên và mật khẩu của một tài khoản trong các hệ thống email dùng phương pháp tấn công kiểu từ điển. Ngoài ra, các tên thông dụng (ví dụ John, Smith, Steve,...) có thể ghép thành một địa chỉ đúng trong nhiều ngàn tên miền và sẽ có xác suất thành công rất cao.
=== Những kỹ thuật dùng để gửi spam ===
Trước đây, khi spam được gửi từ người tạo ra spam thì chắc chắn ISP sẽ bị phát hiện ra từ việc phản ánh của những người nhận spam. Do dó, kĩ thuật cơ bản của việc gửi thư nhũng lạm là gửi các spam bằng máy tính của người khác để dấu hành vi của mình.
Trong thập niên 1990, cách chung nhất để gửi spam là lợi dụng các ngưng đọng thư mở. Bởi vì các máy chủ thư điện tử kiểu này có cấu hình để chuyển các mẫu thông tin gửi tới nó từ bất kì nơi nào đến bất kì người nhận nào (mà không kiểm soát). Đây cũng là cách thiết trí mặc định của các kiến trúc SMTP nguyên thuỷ. SMTP đã được thiết kế trước khi có spam nên không lường được hiệu quả này và đã bị lạm dụng bởi spam. Người gửi spam có thể dùng một loại văn lệnh để gửi spam qua các ngưng đọng thư mở này.
Như là các nỗ lực ngăn chận đầu tiên, các DNSBL như là MAPS RBL đã cho phép việc từ chối các thư gửi từ những ngưng đọng thư mở.
Sau đó một vài năm, việc khai thác các ngưng đọng thư mở không còn hiệu quả thì đã xuất hiện các phương pháp khác, trong đó, quan trọng là việc dùng các proxy mở. Các proxy mở này sẽ nối máy khách vào một máy chủ bất kì mà không cần kiểm lại chủ quyền sử dụng và cũng không giới hạn các quyền hạn truy cập khác. Như vậy, người tạo spam có thể chỉ thị một proxy mở để nối vào một máy chủ điện thư và gửi spam qua đó. Các máy chủ đã làm công việc kết nối với proxy không phải người chủ spam.
Bên cạnh đó, người ta còn lợi dụng các dịch vụ thiếu an toàn để gửi spam. Thí dụ: FormMail.pl là một bài văn lệnh CGI cho phép các trang WEB gửi email trả lời từ một mẫu điền HTML. Nhiều phiên bản của chương trình này cho phép người dùng chuyển hướng email đến một địa chỉ tùy ý. Spam được gửi kiểu này thường có dòng mở đầu là: Below is the result of your feedback form.
Ngày nay, những người tạo spam thay vì dùng các biện pháp kể trên, đã chuyển sang thiết kế các con virus để khai thác các proxy và các công cụ gửi spam khác. Hàng trăm ngàn máy tính có thể bị nhiễm. Hầu hết các spam virus trong năm 2003 là các Windows email, bao gồm họ virus Sobig và Mimail.
Ngoài ra, các chủ spam còn dùng đến một thủ đọan khác là tấn công vào các DNSBL và các nguồn chống spam. Trong năm 2003 nhiều DNSBL đã bị tấn công.
== Lịch sử của spam mail ==
Có nhiều tác giả đã không thống nhất với nhau trong lịch sử của SPAM Mail.
Có lẽ SPAM Mail đã có từ năm 1978, được gửi đi bởi hãng DEC trên hệ thống ARPANET trong một thư mời mọi người ở vùng biển miền Tây Hoa kỳ đến gặp tại California.
Một số tài liệu cho rằng chữ SPAM bắt nguồn từ chữ Shoulder Pork and hAM"/"SPiced hAM một loại đồ ăn trưa đóng hộp của hãng Hormel Foods.
Ngày 12 tháng 4 năm 1994 rất nhiều người đã nhận được một mẫu quảng cáo vô bổ từ hai luật sư Laurence Canter và Martha Siegel. Đây không phải là lần đầu tiên các thư quảng cáo được tung ra nhưng lại là lần đầu tiên chữ spam được dùng rộng rãi. (Xem thêm tài liệu Anh ngữ [1] và [2]).
Nội dung chính của bức thư như sau:
Green Card Lottery 1994 May Be The Last One!
THE DEADLINE HAS BEEN ANNOUNCED.
The Green Card Lottery is a completely legal program giving away a certain annual allotment of Green Cards to persons born in certain countries. The lottery program was scheduled to continue on a permanent basis. However, recently, Senator Alan J Simpson introduced a bill into the U. S. Congress which could end any future lotteries. THE 1994 LOTTERY IS SCHEDULED TO TAKE PLACE SOON, BUT IT MAY BE THE VERY LAST ONE.
PERSONS BORN IN MOST COUNTRIES QUALIFY, MANY FOR FIRST TIME.
The only countries NOT qualifying are: Mexico; India; P.R. China; Taiwan, Philippines, North Korea, Canada, United Kingdom (except Northern Ireland), Jamaica, Domican Republic, El Salvador and Vietnam.
Lottery registration will take place soon. 55,000 Green Cards will be given to those who register correctly. NO JOB IS REQUIRED.
THERE IS A STRICT JUNE DEADLINE. THE TIME TO START IS NOW!!
For FREE information via Email, send request tocslaw@indirect.com...
Phần mềm chống spam mail đầu tiên xuất hiện vào năm 1997 bởi công ty Goo Software. Phần mềm này được viết cho máy Apple có tên gọi là Spam Blaster. Vào khoảng 2001 thì các phần mềm chống spam xuất hiện ồ ạt trên thị trường cho Windows.
== Khái niệm tương cận ==
Junk mail, bulk mail, hay thư rác.
Virus
== Xem thêm ==
Hacker
Sâu máy tính
Virus (máy tính)
== Tham khảo ==
Understanding Spam Filters -- Sandy Berger
Understanding SPAM
Hiểu Biết Sơ Đẳng về Virus, Spam Mail, và Spyware -- Võ Quang Nhân Bài viết do tác giả hiệu chỉnh và gửi đăng
Origin of the term "spam" to mean net abuse
A brief history of spam
History Of Spam
E-mail spam
Bulk mail
A Brief History of Anti-Spam |
6 tháng 7.txt | Ngày 6 tháng 7 là ngày thứ 187 (188 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 178 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
371 TCN – Trận Leuctra diễn ra giữa hai thành bang Hy Lạp cổ đại là Thebes và Sparta.
1415 – Nhà cải cách tôn giáo người Séc Jan Hus bị thiêu sống vì tội dị giáo tại Konstanz nay thuộc Đức.
1885 – Louis Pasteur thử nghiệm thành công vắc-xin phòng bệnh dại trên bệnh nhân là một cậu bé bị chó dại cắn.
1921 – Cách mạng Ngoại Mông: Lực lượng Xô viết và Đảng Nhân dân Mông Cổ chiếm Urga (nay là Ulaanbaatar) từ Bạch vệ.
1957 - John Lennon và Paul McCartney - 2 thành viên của nhóm nhạc huyền thoại The Beatles và là bộ đôi nhạc sĩ vĩ đại của thế kỉ 20, gặp nhau lần đầu tiên.
1998 – Sân bay quốc tế Hồng Kông chính thức được sử dụng cho thương mại, hiện là một trong những cảng hàng không lớn nhất trên thế giới.
2006 – Ấn Độ và Trung Quốc mở lại hoạt động thông thương mậu dịch qua đèo Nathu La thuộc đoạn Tây Tạng-Sikkim sau 44 năm kể từ Chiến tranh Trung-Ấn.
== Ngày sinh ==
1173 - Lý Cao Tông, Hoàng đế thứ bảy của nhà Lý, Việt Nam (m. 1211)
1946 - Tổng thống Hoa Kỳ George W. Bush
1907 - Thế Lữ, Nhà văn việt nam (m. 1989)
== Mất ==
1893 - Guy de Maupassant, nhà văn viết truyện ngắn người Pháp (s. 1850)
1967 - Nguyễn Chí Thanh, Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam (s. 1914)
2009 - Robert McNamara, chính khách, Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ (s. 1916)
2014 - Tô Hoài, nhà văn người Việt Nam (s. 1920)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
== Tham khảo == |
cape coast.txt | Cape Coast là một thành phố Ghana. Thành phố Cape Coast thủ phủ của vùng Trung Ghana. Dân số ước tính năm 2007 là 154.204 người. Đây là thành phố lớn thứ 8 Ghana. Thành phố Cape Coast có cự ly 165 km về phía tây Accra, bên vịnh Guinea. Từ thế kỷ 16 thành phố này đã thuộc cai trị của người Anh, Bồ Đào Nha, Thụy Điển, Đan Mạch và Hà Lan. Được thành lập bởi người Bồ Đào Nha trong thế kỷ 15, Cape Coast phát triển quanh lâu đài Cape Coast - một di sản thế giới.
== Tham khảo == |
cúp bóng đá châu phi.txt | Cúp bóng đá châu Phi (tiếng Pháp: Coupe d'Afrique des Nations, viết tắt: CAN; tiếng Anh: African Nation's Cup) là cúp bóng đá giữa các quốc gia châu Phi do Liên đoàn bóng đá châu Phi (CAF) tổ chức. Giải lần đầu tiên được tổ chức năm 1957 chỉ với 3 đội bóng. Từ năm 1968, giải chính thức được tổ chức 2 năm một lần. Từ năm 2013, giải được chuyển sang tổ chức vào các năm lẻ để tránh trùng với Cúp bóng đá thế giới. Như vậy lần thứ hai giải được tổ chức vào hai năm liên tiếp (2012 và 2013, sau lần đầu tiên vào 50 năm trước đó).
Đội bóng đoạt nhiều chức vô địch nhất là đội tuyển Ai Cập với 7 lần bước lên ngôi cao nhất vào các năm 1957, 1959, 1986, 1998, 2006, 2008 và 2010.
== Kết quả các trận chung kết và tranh hạng 3 ==
(1) Năm 1959, chỉ có 3 đội tham dự và trận cuối cùng được coi như trận chung kết.
(2) Năm 1976, 4 đội cuối cùng (giải có 8 đội) đấu vòng tròn xếp hạng.
(3) Năm 1978, đội Tunisia bỏ cuộc ở phút thứ 42 và đội Nigeria được xử thắng 2-0.
=== Các đội lọt vào top 4 ===
=== Kết quả của các nước chủ nhà ===
=== Kết quả của đương kim vô địch ===
== Vô địch theo từng khu vực ==
== Giải thưởng ==
=== Cầu thủ xuất sắc nhất giải ===
=== Vua phá lưới ===
== Các đội tham dự ==
Chú thích
Q – Vượt qua vòng loại
— Chủ nhà
— Bỏ cuộc khi tham dự vòng loại
— Bị loại khỏi vòng loại
Các đội chưa từng tham dự CAN
Burundi, Cộng hòa Trung Phi, Tchad, Comoros, Djibouti, Eritrea, Gambia, Lesotho, Madagascar, Mauritanie, São Tomé và Príncipe, Seychelles, Somalia, Nam Sudan, Swaziland.
== Thống kê theo số trận thắng ==
Tính đến mùa giải 2017:
== Các huấn luyện viên vô địch ==
== Liên kết ngoài ==
== Tham khảo == |
hổ phách.txt | Hổ phách, còn được gọi là huyết phách, minh phách, hồng tùng chi, tiếng Latinh: succinum, là nhựa cây đã hóa đá (hóa thạch) từ thời đại đồ đá mới, được đánh giá cao về màu sắc và vẻ đẹp tự nhiên. Các phân tích cho thấy hổ phách có công thức cấu tạo là C40H64O4, viết gọn là (C10H16O)4. Hổ phách thường gặp dưới dạng khối nhựa cứng hoặc dạng nhũ đá với các khối to nhỏ không đều nhau, nhìn trong suốt với màu rất đẹp; một số trường hợp còn thấy rõ trong mảnh hổ phách chứa các động vật hóa thạch nguyên vẹn. Đem đun nóng, hổ phách tỏa mùi hương dễ chịu. Hổ phách dẫn nhiệt rất kém. Thales đã phát hiện ra từ 600 năm trước Công nguyên rằng khi chà xát liên tục vào miếng vải hoặc miếng len thì hổ phách sinh điện.
Hổ phách được sử dụng trong nhiều công nghệ. Đông y cổ truyền cho rằng hổ phách có vị ngọt, tính bình vào bốn kinh tâm, can, phế và bàng quang; có tác dụng an thần, định kinh, lợi tiểu tiện, tán ư huyết; chỉ dành cho người hỏa suy, thủy thịnh. Vì dễ mài giũa và cắt gọt, hổ phách trở thành vật liệu quý đối với ngành thủ công mỹ nghệ: chế biến tẩu thuốc, làm nhiều món trang sức đắt tiền như mặt nhẫn, sợi dây chuyền, cườm tay, hoa tai, v.v...
== Đọc thêm ==
Căn phòng hổ phách
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Thế giới Hổ phách A comprehensive website maintained by the Earth Science Department of Emporia State University, Emporia, Kansas (Truy cập 29 May 2005)
Several dozen full text historical references on Amber Theophrastus, George Frederick Kunz, and special on Baltic Amber.
Publications on amber inclusions
http://www.webmineral.com/data/Amber.shtml
http://www.mindat.org/min-188.html
http://www.gemstone.org/gem-by-gem/english/amber.html
http://mineral.galleries.com/minerals/mineralo/amber/amber.htm |
disersus chibcha.txt | Disersus chibcha là một loài bọ cánh cứng trong họ Elmidae. Loài này được Spangler & Santiago miêu tả khoa học năm 1987.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Dữ liệu liên quan tới Disersus chibcha tại Wikispecies |
fukuoka.txt | Fukuoka (Nhật: 福岡県 (Phúc Cương Huyện), Fukuoka-ken) là một tỉnh của Nhật Bản, nằm ở phía Bắc của vùng Kyushu trên đảo Kyushu. Trung tâm hành chính là thành phố Fukuoka.
== Địa lý ==
Fukuoka có 3 mặt giáp biển, trên đất liền giáp vớo Saga, Ōita, và Kumamoto và đối diện với Yamaguchi qua eo biển Kanmon.
Tính đến 01 tháng 4 năm 2012, 18% đất của tỉnh này là vườn thiên nhiên gồm Vường quốc gia Setonaikai, Genkai, Kitakyūshū, và Yaba-Hita-Hikosan, và Chikugogawa, Chikuhō, Dazaifu, Sefuri Raizan, và Yabegawa.
Fukuoka có 2 thành phố lớn trên đảo Kyūshū, Fukuoka và Kitakyushu, và nơi đặt nền công nghiệp phần lớn của Kyūshū. Tỉnh này cũng có nhiều đảo nhỏ gần bờ biển phía bắc Kyūshū.
== Lịch sử ==
Xưa kia, trên địa bàn tỉnh Fukuoka là các xứ Chikuzen và bunzen.
== Hành chính ==
Ngoài Fukuoka còn 27 thành phố, trong số đó có Kitakyushu cũng là một đô thị quốc gia của Nhật Bản như thành phố Fukuoka.
Làng và thị trấn
== Dân số ==
Độ tuổi dân số trung bình là 42,9 tuổi (nam là 41,1 tuổi còn nữ là 44,5 tuổi - toàn nước Nhật là 43,9 tuổi ở nam giới và nữ là 45,3 tuổi).
Tỷ lệ người cao tuổi: 19,8% (bình quân cả nước - 21%) tỷ lệ vị thành niên: 13,9% (bình quân cả nước - 13,6%).
== Kinh tế ==
Lâm nghiệp
Năm 2003, Fukuoka có 223,222ha rừng, trong đó 58% là rừng nhân tạo, rừng tự nhiên là 20,3%
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
=== Đại học ===
Các cơ sở giáo dục bậc đại học ở Fukuoka gồm:
== Thể thao ==
Các đội thể thao được liệt kê dưới đây có trụ sở tại Fukuoka.
Bóng đá
Avispa Fukuoka (Fukuoka)
Bóng chày
Fukuoka SoftBank Hawks (Fukuoka)
Bóng rổ
Fukuoka Rizing (Fukuoka)
Rugby
Coca Cola West Red Sparks (Fukuoka)
Fukuoka Sanix Blues (Munakata)
Kyuden Voltex
Sanix World Rugby Youth Tournament
== Du lịch ==
Fukuoka đón hơn 2 triệu lượt khách du lịch nước ngoài mỗi năm, phần lớn đến từ Hàn Quốc và Trung Quốc. Hầu hết các điểm du lịch nổi tiếng tập trung ở thành phố Fukuoka và ở Dazaifu. Bên cạnh đó Kitakyūshū cũng đang thu hút nhiều du khách. Một số điểm du lịch nổi tiếng:
Công viên Ōhori
Tháp Fukuoka
Viện bảo tàng quốc gia Kyushu
== Giao thông ==
=== Hàng không ===
Fukuoka có 2 sân bay chính là sân bay Fukuoka và sân bay Kitakyushu. Sân bay Kitakyushu hoạt động 24/7, còn sân bay Fukuoka nằm trong nội thị nên hoạt động hạn chế bao gồm các chuyến bay quốc tế và nội địa. Các Sân bay này phục vụ như là trung tâm vận chuyền phía Tây của Nhật Bản.
=== Tàu điện ===
JR Nishinihon (Công ty Đường sắt Tây Nhật Bản)
Sanyō Shinkansen
Tuyến Hakata Minami
JR Kyushu
Kyūshū Shinkansen, Tuyến Kagoshima, Tuyến Chikuhō, Tuyến Nippō, tuyến Kyudai
Tuyến Chikuhi, Tuyến Gotōji, Tuyến Kashii, Tuyến Hitahikosan, Tuyến Sasaguri
Đường sắt Nishi-Nippon
Tuyến Tenjin Ōmuta, Tuyến Dazaifu, Tuyến Nishitetsu Amagi, Tuyến Kaizuka
Amagi Railway
Amagi Railway Amagi Line
Heisei Chikuhō Railway
Tuyến Ita, Tuyến Itota, Tuyến Tagawa
Tàu điện ngầm Fukuoka
Tuyến Kūkō, Tuyến Hakozaki, Tuyến Nanakuma
Kitakyushu Monorail
=== Cảng biển ===
Các cảng biển quan trọng như:
Cảng Kitakyushu
Cảng Hakata
Cảng Kandako
Cảng Miike
== Các vùng kết nghĩa ==
Hawaii, Hoa Kỳ
Giang Tô, Trung Quốc
Delhi, Ấn Độ
Bangkok, Thái Lan
Hà Nội, Việt Nam
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của tỉnh Fukuoka (tiếng Nhật)
Trang web chính thức của Hiệp hội du lịch Fukuoka (tiếng Anh)
Trang chủ thông tin Fukuoka (tiếng Anh)
Thảo luận Fukuoka (tiếng Anh)
Bản đồ tiếng Anh của tỉnh Fukuoka (tiếng Anh)
Lưu trữ quốc gia Nhật Bản Bản đồ Fukuoka (1891) |
general motors.txt | General Motors Corporation (GM) (OTCBB: GMGMQ/Bản mẫu:Pinksheets) là một hãng sản xuất ô tô Hoa Kỳ, đóng trụ sở ở Detroit, tiểu bang Michigan, Hoa Kỳ. Đây đã là hãng sản xuất ô tô lớn thứ nhì thế giới, sau Toyota theo xếp hạng doanh số toàn cầu năm 2008. GM đã là hãng có doanh số ô tô hàng đầu trong 77 năm liên tục từ năm 1931 đến 2007. Hãng này sản xuất xe hơi và xe tải tại 34 quốc gia. GM sử dụng 244.500 nhân công trên toàn thế giới, bán và cung cấp xe dịch vụ ở 140 quốc gia. Năm 2008, 8,35 triệu chiếc xe hơi và xe tải của GM đã được bán ra trên toàn cầu dưới các thương hiệu Buick, Cadillac, Chevrolet, GMC, Opel, Vauxhall, Holden và Wuling.
Cuối năm 2008, GM cùng với Chrysler đã nhận được khoản vay của chính quyền Hoa Kỳ, Canada, và Ontario để tránh phá sản do suy thoái kinh tế cuối thập niên 2000, khủng hoảng giá dầu mỏ cuối thập niên 2000, quản lý tồi và cạnh tranh khốc liệt (xem khủng hoảng ngành ô tô 2008-2009).
Ngày 20 tháng 2 năm 2009, bộ phận Saab của GM đã đệ xin tái tổ chức trong một phiên toà ở Thuỵ Điển sau khi bị từ chối các khoản vay từ chính phủ Thuỵ Điển.
General Motors (GM) đã chính thức nộp đơn xin bảo hộ phá sản lên tòa án ở khu Hạ Manhattan, Thành phố New York vào đầu giờ sáng ngày 1 tháng 6 giờ địa phương, (tối 1 tháng 6 theo giờ Hà Nội).
Theo nội dung đơn, GM có tài sản 82,3 tỷ USD và gánh khoản nợ 172,8 tỷ USD. Với số tài sản này, theo danh sách mà tạp chí Fortune của Mỹ liệt kê, GM đã ghi danh vào lịch sử với vụ phá sản lớn nhất từng có của một doanh nghiệp sản xuất công nghiệp tại Mỹ, đồng thời là vụ phá sản lớn thứ tư trong lịch sử doanh nghiệp nói chung của nước này sau các vụ phá sản của các công ty Lehman Brothers Holdings Inc., Washington Mutual và WorldCom Inc.
Chủ nợ lớn nhất của General Motors là Công ty Wilmington Trust, đại diện cho một nhóm trái chủ nắm giữ 22,8 tỷ USD trái phiếu doanh nghiệp do GM phát hành, kế tiếp là Nghiệp đoàn Công nhân ôtô Mỹ (UAW), đại diện của các công nhân làm việc cho GM, đối tượng mà GM còn chịu các nghĩa vụ nợ với tổng trị giá 20,6 tỷ USD. Nhân vật chính thúc đẩy GM tới lựa chọn phá sản là Tổng thống Mỹ Barack Obama, ông tin rằng, việc quốc hữu hóa tạm thời hãng xe từng là biểu tượng của chủ nghĩa tư bản Mỹ sẽ giúp cứu được hãng xe này khỏi những kết cục tồi tệ nhất.
Chính phủ Hoa Kỳ sẽ rót thêm cho GM 30 tỷ USD, ngoài khoản gần 20 tỷ USD đã bơm từ trước, và giành lấy 60% cổ phần của hãng xe này. Đây được xem là vụ can thiệp lớn bất thường của Chính phủ Mỹ vào ngành công nghiệp nước này. Chính phủ Canada sẽ nắm giữ 12% cổ phần trong GM mới, UAW nắm 17,5%, còn các trái chủ của GM nhận được 10%.
== Tham khảo == |
sách đệ nhị luật.txt | Đệ nhị luật là cuốn sách thứ năm của Kinh thánh Do Thái và Cựu Ước. Đệ nhị luật tiếp tục ghi chép lại hành trình bốn mươi năm của dân tộc Israel trong sa mạc, nhưng được cách ngôn bởi Moses. Trung tâm của nó là hệ thống lề luật mà Moses tha thiết căn dặn Israel phải ghi nhớ và thực thi vì chính đây là những điều Thiên Chúa đã truyền dạy cho họ thông qua ông. Tất cả gồm ba bài đại thuyết giảng. Phần lớn giới nghiên cứu cho rằng, Đệ nhị luật có thể được biên soạn vào cuối thế kỷ 7 sau Công Nguyên, trong quá trình triển khai thực hiện cải cách tôn giáo theo vua Josiah (Giô-si-a), cho đến khi Judah (Giuđa) bị sụp đổ trước người Babylon năm 586 SCN.
Tên gọi "Đệ nhị luật" trong tiếng Việt của Công giáo Rôma bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp: Deuteronomion (Latinh: Deuteronomium), nghĩa là "pháp luật thứ hai". Tuy nhiên, Tin Lành lại gọi quyển sách này là "Phục truyền luật lệ ký".
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
SÁCH ĐỆ NHỊ LUẬT (Nhóm Phiên dịch CGKPV) - Ủy ban Kinh Thánh, Hội đồng Giám mục Việt Nam
Phục Truyền - Thư Viện Tin Lành.
Deuteronomy at Bible Gateway
Paterson, James Alexander (1911). “Deuteronomy”. Trong Chisholm, Hugh. Encyclopædia Britannica (ấn bản 11). Nhà in Đại học Cambridge.
Morris Jastrow (1905). “Deuteronomy”. New International Encyclopedia.
Jewish translations:
Deuteronomy at Mechon-Mamre (modified Jewish Publication Society translation)
Deuteronomy (The Living Torah) Rabbi Aryeh Kaplan's translation and commentary at Ort.org
Devarim – Deuteronomy (Judaica Press) translation [with Rashi's commentary] at Chabad.org
דְּבָרִים Devarim – Deuteronomy (Hebrew – English at Mechon-Mamre.org)
Christian translations:
Online Bible at GospelHall.org (King James Version)
Deuteronomy – Chapter Indexed (King James Version)
oremus Bible Browser (New Revised Standard Version)
oremus Bible Browser (Anglicized New Revised Standard Version)
Deuteronomy at Wikisource (Authorized King James Version) |
bibcode.txt | Bibcode là một chuỗi ký tự nhận dạng được sử dụng cho một số hệ cơ sở dữ liệu thiên văn nhằm xác định tài liệu tham khảo. Bibcode được phát triển bằng sử dụng dữ liệu SIMBAD và NASA/IPAC Extragalactic Database (NED), nhưng hiện tại nó đã được sử dụng cho dữ liệu rộng hơn, ví dụ trong Hệ cơ sở dữ liệu thiên văn vật lý của NASA (NASA Astrophysics Data System). Mã này gồm 19 ký tự cố định với dạng tổng quát sau
YYYYJJJJJVVVVMPPPPA,
trong đó YYYY là bốn số của năm tham khảo và JJJJJ là mã dành cho tài liệu tham khảo được xuất bản ở đâu. Trong trường hợp là tạp chí, VVVV là số thứ tự của tập tạp chí, M ám chỉ phần trong tạp chí xuất bản (ví dụ, L cho phần bài viết công bố kết quả nghiên cứu-letters section), PPPP là số trang bắt đầu của bài viết đó và A là chữ cái đầu tiên trong last name của tên tác giả đầu tiên của bài báo. Dấu chấm (.) được sử dụng để lấp đầy những trường không có hoặc đệm vào những trường quá ngắn; việc đệm các dấu chấm được đặt vào bên phải đối với mã xuất bản và bên trái đối với số tập tạp chí và số trang. Ví dụ như sau:
== Tham khảo == |
trấn thành.txt | Trấn Thành tên khai sinh Huỳnh Trấn Thành (sinh ngày 5 tháng 2 năm 1987) là một diễn viên hài, người dẫn chương trình, diễn viên lồng tiếng và diễn viên điện ảnh người Việt Nam.
== Tiểu sử ==
Trấn Thành sinh ra và lớn lên tại thành phố Hồ Chí Minh, ba của anh là người gốc Hoa và mẹ của anh là người Tiền Giang. Anh có thể nói được tiếng Việt, tiếng Quảng Đông và tiếng Anh. Theo học khoa diễn viên Sân khấu Điện ảnh nhưng Trấn Thành được biết đến nhiều hơn với vai trò MC. Trấn Thành từng đoạt giải 3 cuộc thi Người dẫn chương trình truyền hình năm 2006. Anh thể hiện thành công sự linh hoạt, hài hước trong cách dẫn những chương trình như: Cứ nói đi (chương trình dành cho những người bạn nước ngoài học tiếng Việt), Cầu vồng nghệ thuật, Thử thách cùng bước nhảy, Gala cười 2011 hay liveshow Quang Lê: Hát trên quê hương.
Trấn Thành có khả năng nhái giọng người khác; anh có thể giả giọng hát, giọng nói của nhiều ca sĩ, nghệ sĩ nổi tiếng như là: ca sĩ Lam Trường, ca sĩ Duy Mạnh, ca sĩ Thanh Lam, ca sĩ Hồng Ngọc, NSƯT Việt Anh, NSƯT Thành Lộc, nghệ sĩ Việt Hương, nghệ sĩ Minh Nhí, nghệ sĩ Trung Dân và NSND Lệ Thủy. Cũng nhờ có tài nhái giọng nên Trấn Thành mới trở thành diễn viên lồng tiếng một cách dễ dàng, anh đã lồng tiếng cho phim hoạt hình Sóc chuột siêu quậy 3, Madagascar 3: Thần tượng châu Âu, Kẻ cắp mặt trăng 2 và Tay đua siêu tốc.
Tháng 5 năm 2016, Trấn Thành bị Sở Văn hóa-Thông tin TP. HCM xử phạt 32,5 triệu đồng sau khi tham gia diễn vở hài kịch Tô Ánh Nguyệt Remix (phóng tác từ vở cải lương Tô Ánh Nguyệt của soạn giả Trần Hữu Trang) trên chương trình Paris By Night 116. Vở hài kịch này bị xem là khiến nhiều khán giả và người trong nghề phẫn nộ vì chứa nhiều lời lẽ và hành vi dung tục.
== Đời tư ==
Trấn Thành kết hôn với nữ ca sĩ Hàn Quốc gốc Việt Hari Won vào ngày 25 tháng 12 năm 2016 tại Trung tâm Hội nghị Gem Center, Thành phố Hồ Chí Minh.
== Sự nghiệp ==
=== Dẫn chương trình ===
Bước nhảy xì teen
Vua hài đất Việt (2011)
Cầu vồng nghệ thuật
Cặp đôi hoàn hảo 2013
Thử thách cùng bước nhảy - So You Think You Can Dance (2012 - nay)
Cứ nói đi - Say it if you dare
Gala cười 2011
Ý phái đẹp, lời phái mạnh (2013 - 2016) (nay là Giải mã cặp đôi)
Hãy xem tôi diễn - Let us show...
Giọng hát Việt nhí - The voice kids mùa 1
Ai thông minh hơn học sinh lớp 5 (2012 - 2014)
Rubic Chat
Song ca cùng thần tượng mùa 1
Vì bạn xứng đáng - You deserve it (2013 - 2015)
Liveshow Quang Lê: Hát trên quê hương
Liveshow Nhật Cường: Cười để nhớ
Liveshow Nhật Cường: Cười để nhớ 2
Ai hiểu mẹ nhất? (2013 - 2014)
Tôi tỏa sáng
Người bí ẩn (2014 - nay)
Một trăm triệu một phút (2015 - nay)
My man can - Đàn ông phải thế (2015 - 2016)
Kỳ phùng địch thủ - Lip Sync Battle (2016)
Bước nhảy ngàn cân (mùa 2)
Kỳ tài thách đấu (2016 - 2017)
Ơn giời, cậu đây rồi (2014 - 2016)
=== Các vở hài ===
=== Phim đã tham gia ===
=== Phim đã lồng tiếng ===
=== Giám khảo ===
Đồ Rê Mí 2012
Hãy xem tôi diễn - Let us show...
Tôi Dám Hát 2013
Ai Dám Hát 2014
Cùng Nhau Tỏa Sáng
Thách Thức Danh Hài (2015 - 2017)
Cười xuyên Việt (2015)
Hoán đổi (2015)
Thử thách người nổi tiếng (2015)
Tìm kiếm tài năng: Vietnam's Got Talent 2016
Đấu trường tiếu lâm 2016
Song đấu (2016)
Biến hóa hoàn hảo
Làng hài mở hội (2016)
Giọng ải giọng ai
Biệt tài tí hon - VTV3
=== Trưởng phòng ===
Ơn giời cậu đây rồi!
Bí mật đêm Chủ Nhật
=== Bài hát ===
=== Giải thưởng ===
Giải nhất Cặp đôi hoàn hảo (mùa 1)
Giải ba Người dẫn chương trình truyền hình năm 2006
Giải Mai Vàng 2013: Diễn viên hài được yêu thích nhất
Giải HTV Awards 2014: Giải Cống hiến
Giải Mai Vàng 2014: MC được yêu thích nhất
Giải HTV Awards 2015: Giải Nam MC được yêu thích nhất
Giải VTV Awards 2015: Giải MC ấn tượng
Giải VTV Awards 2015: Giải Nghệ sĩ hài ấn tượng
Giải Mai Vàng 2015: MC được yêu thích nhất
Giải HTV Awards 2016: Giải MC được yêu thích nhất
Giải HTV Awards 2016: Giải Nghệ sĩ hài được yêu thích nhất
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
tuyên quang.txt | Tuyên Quang là một tỉnh thuộc vùng Tây Bắc Việt Nam. Có tỉnh lỵ là Thành phố Tuyên Quang.
== Vị trí địa lý ==
Tỉnh có phía Bắc giáp tỉnh Hà Giang, phía Đông Bắc giáp Cao Bằng, phía Đông giáp Bắc Kạn và Thái Nguyên, phía Nam giáp Vĩnh Phúc, phía Tây-Nam giáp Phú Thọ, phía Tây giáp Yên Bái.
Tuyên Quang nằm ở trung tâm của lưu vực sông Lô. sông Gâm chảy qua tỉnh theo hướng Bắc-Nam và nhập vào sông Lô ở phía Tây Bắc huyện Yên Sơn chỗ giáp ranh giữa ba xã Phúc Ninh, Thắng Quân và Tân Long.
== Lịch sử ==
Tuyên Quang nguyên cũng là một vùng đất thuộc xứ Thái, nhưng từ thế kỷ 13 đã chịu sự kiểm soát của triều đình Việt Nam dưới đời nhà Trần. Triều Trần gọi là lộ Quốc Oai, sau đổi là châu Tuyên Quang. Dưới đời vua Trần Hiến Tông (niên hiệu Khai Hữu, 1329-1341), châu Tuyên Quang đổi thành trấn, rồi thành phủ Tuyên Hóa dưới thời Minh thuộc.
Sau khi vua Lê Thái Tổ đuổi xong giặc Minh, ngài đặt phủ Tuyên Hóa thuộc Tây Đạo. Đời vua Lê Thánh Tông, Tuyên Quang gồm một phủ và năm huyện và trở thành tỉnh Minh Quang dưới triều vua Lê Uy Mục. Đời Lê Trang Tông, đổi Minh Quang thành doanh An Tại, cho dòng họ Vũ người Thái làm doanh trưởng.
=== Thời gian các chúa Bầu cát cứ ===
Họ Vũ trấn trị Tuyên Quang gần 200 năm, từ 1527 đến 1699.
Vũ Văn Uyên vốn là một thanh niên khỏe mạnh, gan dạ. Thời vua Lê Chiêu Tông, vì phạm tội giết người, trốn lên ngụ ở trấn Đại Đồng (phủ Tuyên Quang). Bấy giờ người tù trưởng Đại Đồng bị nhân dân oán ghét, tình hình Đại Đồng rất lộn xộn. Vũ Văn Uyên thấy vậy bèn tập hợp lực lượng riêng, thừa cơ giết chết người tù trưởng, ổn định tình hình địa phương rồi chiếm luôn đất đó, trở thành người trấn trị Đại Đồng (thuộc các tỉnh Tuyên Quang, Lào Cai, Yên Bái của Việt Nam hiện nay). Vua Lê Chiêu Tông phong cho ông làm Đô thống sứ trấn Tuyên Quang, tước Khánh Bá Hầu. Vũ Văn Uyên đóng căn cứ tại thành Nghị Lang, giữ vững cả miền Tuyên Quang, Hưng Hóa, cát cứ một phương, không chịu theo nhà Mạc khi Mạc Đăng Dung lên nắm quyền.
Họ Vũ nhân thời loạn tự lập ở Tuyên Quang, chống chính quyền cai trị ở Thăng Long. Thời Nam Bắc triều, họ Vũ không theo nhà Mạc mà theo nhà Lê trung Hưng ở Thanh Hoá, nhưng khi nhà Lê Trung Hưng về Thăng Long, họ Vũ cũng không thần phục hoàn toàn. Các đời họ Vũ trấn giữ trên thành ở núi Bầu nên được gọi chung là Chúa Bầu, xây dựng nên một hệ thống thành nhà Bầu rộng khắp rất nhiều trong một vùng rộng lớn suốt từ ngã ba Đoan Hùng ngược lên hết địa phận huyện Lục Yên.
Năm 1699, Vũ Công Tuấn bị triều đình vua Lê chúa Trịnh bắt và giết. Triều đình đặt chức Lưu thủ ở Tuyên Quang để điều khiển các tộc trưởng Thái.
=== Tuyên Quang thời nhà Nguyễn ===
Vào đầu thế kỷ 19, Tuyên Quang gồm 1 phủ là phủ Yên Bình. Phủ này quản lý 1 huyện và 5 châu:
Huyện Phúc Yên (nay là phần đất thuộc thành phố Tuyên Quang, các huyện Yên Sơn, Chiêm Hóa tỉnh Tuyên Quang) gồm 10 tổng: Trung Môn, Yên Lũng, Yên Lĩnh, Hằng Túc, Hùng Dị, Kim Đô, Hoàng Sơn, Đồng Yên, Lăng Quán, Bình Ca;
Châu Lục Yên (nay là phần đất thuộc huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái);
Châu Thu Vật (năm 1823 đổi tên là châu Thu (Thu Châu), nay là phần đất thuộc huyện Yên Bình tỉnh Yên Bái) gồm 7 tổng: Vĩnh Kiên, Đại Đồng, Ẩm Phúc, Cẩm Nhân, Mông Sơn, Ngọc Chấn, Thì Ngạn;
Châu Vị Xuyên (nay là phần đất thuộc tỉnh Hà Giang);
Châu Bảo Lạc (nay là phần đất thuộc các huyện Mèo Vạc, Bắc Mê, Yên Minh tỉnh Hà Giang và các huyện Bảo Lâm, Bảo Lạc tỉnh Cao Bằng);
Châu Đại Man (nay là phần đất thuộc các huyện Na Hang,... tỉnh Tuyên Quang);
Vua Gia Long lại đổi thành trấn Tuyên Quang, rồi trở thành tỉnh dưới triều Minh Mạng. Khi Pháp mới xâm chiếm Việt Nam, phủ Yên Bình là căn cứ kháng chiến chống giặc Pháp. Người Thái, Mường, Mèo, Thổ, Nùng cùng với dân quân các tỉnh lân cận đánh quân Pháp nhiều trận khốn đốn vào những năm 1884, 1885; thêm vào đó, quân Cờ Đen quấy nhiễu vùng Tuyên Quang khá lâu. Mãi tới năm 1894, Pháp mới hoàn toàn chiếm được tỉnh này.
Sau năm 1954, Tuyên Quang có tỉnh lị là thị xã Tuyên Quang và 6 huyện: Yên Bình, Yên Sơn, Na Hang, Hàm Yên, Sơn Dương và Chiêm Hóa.\
Ngày 1 tháng 7 năm 1956, chuyển huyện Yên Bình về tỉnh Yên Bái quản lý.
Sau năm 1975, Tuyên Quang được hợp nhất với tỉnh Hà Giang thành tỉnh Hà Tuyên.
Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Tuyên Quang được tái lập, có 6 đơn vị hành chính gồm thị xã Tuyên Quang và 5 huyện: Chiêm Hóa, Hàm Yên, Na Hang, Sơn Dương, Yên Sơn.
Ngày 2 tháng 7 năm 2010, chuyển thị xã Tuyên Quang thành thành phố Tuyên Quang.
Ngày 28 tháng 1 năm 2011, thành lập huyện Lâm Bình trên cơ sở tách 5 xã thuộc huyện Na Hang và 3 xã thuộc huyện Chiêm Hóa.
Tuyên Quang có diện tích 5.868 km² (đứng thứ 25 trên cả nước) và dân số 727.751 người (Đứng thứ 53 trên cả nước), mật độ trung bình khoảng 124 người/1 km². Dân cư Tuyên quang phát triển rất nhanh...
== Hành chính ==
Tuyên Quang gồm có 1 Thành phố và 6 huyện với 141 đơn vị cấp xã gồm 7 phường, 5 thị trấn và 129 xã.
== Kinh tế ==
Tuyên Quang là tỉnh miền núi, nền kinh tế nông-lâm nghiệp chiếm ưu thế, mô hình kinh tế trang trại kết hợp nông lâm. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, tỉnh Tuyên Quang xếp ở vị trí thứ 56/63 tỉnh thành.
Nông nghiệp: lúa là cây lương thực chính, sau đó là các cây ngô, sắn, khoai lang. Cây công nghiệp gồm có: chè (nhà máy chè Tuyên Quang, Tháng Mười, Tân Trào), cây sả làm tinh dầu sả, lạc, đậu, tương. Cây ăn quả có: cam, quýt, nhãn, vải, chanh. Chăn nuôi có trâu, bò, lợn, dê, gia cầm...
Công nghiệp: có quặng kẽm, quặng mangan, quặng thiếc, bột kẽm, khai thác ăntimoan... Sản xuất giấy, bột giấy, xi măng, vôi.
Có nhà máy thủy điện Tuyên Quang được đưa vào sử dụng chính thức ngày 30 tháng 1 năm 2008, công suất thiết kế đạt 342 MW.
== Giao thông ==
Giao thông vận tải gồm có: Vận tải đường bộ và vận tải đường thủy.
=== Đường bộ ===
1. Các tuyến Quốc lộ:
Tổng chiều dài: 340,6 km. Gồm có 4 quốc lộ:
Quốc lộ 2: Điểm đầu tại km 115 00 (thuộc xã Đội Bình huyện Yên Sơn), điểm cuối km 205 00 (thuộc xã xã Yên Lâm huyện Hàm Yên), chiều dài 90 km.
Quốc lộ 37: Điểm đầu km 172 800 (từ đỉnh Đèo Khế xã Hợp Thành - Sơn Dương) điểm cuối km236 748 phà Hiên và km238 108 cầu Bỗng (thuộc xã Mỹ Lâm huyện Yên Sơn, chiều dài 63,4 km (không kể 4.0 km đi chung QL.2).
Quốc lộ 2C: Điểm đầu km 49 750 (thuộc xã Sơn Nam huyện Sơn Dương), điểm cuối km147 250 (thuộc xã Lang Quán huyện Yên Sơn), chiều dài 91,2 km (không kể 6,3 km đi chung QL.37).
Quốc lộ 279: Từ xã Hồng Quang huyện Chiêm Hóa đến xã Đà Vị huyện Na Hang, chiều dài 96 km.
2. Các tuyến đường tỉnh: Gồm có 6 tuyến, tổng chiều dài 392,6 km trong đó:
Tuyến ĐT.185: Điểm đầu km 211 470 (thuộc xã Nông Tiến, thị xã Tuyên Quang), điểm cuối thị trấn Vĩnh Lộc, huyện Chiêm Hóa dài 74,1 km.
Tuyến ĐT.186: Điểm đầu km 55 Quốc lộ 2C (Ngã ba Sơn Nam, huyện Sơn Dương), điểm cuối km 234 400 Quốc lộ 37 (thuộc xã Mỹ Bằng huyện Yên Sơn), chiều dài 84 km.
Tuyến ĐT.187: Điểm đầu đường ĐT.176 cũ (Đài Thị), điểm cuối đỉnh đèo Keo Mác huyện Chiêm Hóa, chiều dài: 17 km.
Tuyến ĐT.188: Điểm đầu từ Thị trấn huyện Chiêm Hóa, điểm cuối xã Bình An huyện Chiêm Hóa, chiều dài: 40 km (không kể 5 km đi chung QL.279).
Tuyến ĐT.189: Điểm đầu km 5 700 (thuộc xã Bình Xa, huyện Hàm Yên), điểm cuối thôn Lục Khang xã Yên Thuận huyện Hàm Yên, chiều dài: 61,5Km.
Tuyến ĐT.190: Điểm đầu Km 166 QL.2 (thuộc xã Thái Sơn, huyện Hàm Yên), điểm cuối xã Thượng Giáp huyện Nà Hang, chiều dài: 116 km (không kể 35 km đi chung QL.279).
3. Các tuyến đường huyện: Là đường nối từ trung tâm hành chính của huyện với trung tâm hành chính của xã, cụm xã hoặc trung tâm hành chính của huyện lân cận; đường nối đường tỉnh với trung tâm hành chính của xã hoặc trung tâm cụm xã. Tổng chiều dài các tuyến đường huyện trong tỉnh là 579,8 km. Bao gồm:
Huyện Na Hang: gồm 11 tuyến =122,5 km.
Huyện Chiêm Hóa: gồm 11 tuyến=146,0 km.
Huyện Hàm Yên: gồm 6 tuyến= 57,2 km.
Huyện Yên Sơn: gồm 14 tuyến=129,5 km.
Huyện Sơn Dương: gồm 12 tuyến=124,6 km
4. Các tuyến đường đô thị:
Chiều dài 141,71 km, là các đường giao thông nằm trong phạm vi địa giới hành chính thành phố Tuyên Quang, các thị trấn huyện lỵ và khu Di tích lịch sử Tân Trào.
=== Đường thủy ===
Sông khai thác vận tải được:
Sông Lô: dài 156 km, TW quản lý: 85 km (Phan lương – N3 Lô Gâm) - Sà lan < 200 T hoạt động mùa nước, Tuyên Quang quản lý: 71 km (N3 Lô Gâm – Bạch xa)- Đò ngang
Sông Gâm: dài 109 +70 km, TW quản lý: 33 km (N3 Lô Gâm – Chiêm Hóa) 33 km (tàu, thuyền < 40T), Tuyên Quang quản lý: 76 km (Chiêm Hóa - Thuý Loa) 37 km (Chiêm Hóa - Na Hang) Thuyền < 5 T
2- Bến đò: Tổng số bến 44, Trong đó có giấy phép mở bến: 28
== Du lịch ==
=== Di tích lịch sử ===
Di tích lịch sử Tân Trào: Tân Trào là xã nằm trong thung lũng nhỏ ở Đông Bắc huyện Sơn Dương (Tuyên Quang) được bao bọc bởi núi Hồng ở phía Đông, núi Thoa, ngòi Thia ở phía Nam, núi Bòng ở phía Tây… Để đến được Tân Trào, trước đây chỉ có 2 đường mòn xuyên qua rừng rậm và đèo cao. Ngày nay, đến Tân Trào đã có đường ô tô rất thuận tiện. Di tích lịch sử quốc gia đặc biệt.
Khu di tích Kim Bình, xã Kim Bình, huyện Chiêm Hóa
Khu di tích Kim Quan, xã Kim Quan, huyện Yên Sơn
Khu di tích Làng Ngòi - Đá Bàn, xã Mỹ Bằng, huyện Yên Sơn
Khu di tích Chiến thắng Khe Lau, xã Phúc Ninh và xã Thắng Quân, huyện Yên Sơn
Tân Trào là tên mới, được hợp nhất từ hai xã Tân Lập và Hồng Thái vào năm 1945 (trước đây còn gọi là Kim Long và Kim Châu). Gắn liền với chiến công oanh liệt của dân tộc trong cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm, ngày nay Tân Trào có nhiều di tích lịch sử quan trọng như đình Tân Trào, đình Hồng Thái, cây đa Tân Trào, lán Nà Lừa, hang Bòng…
=== Danh lam, thắng cảnh ===
Quần thể hang động xã Yên Phú, huyện Hàm Yên: danh thắng quốc gia
Động Song Long - xã Khuôn Hà, huyện Lâm Bình: danh thắng quốc gia
Hang Phia Vài - xã Khuôn Hà, huyện Lâm Bình: danh thắng quốc gia
Thác Mơ - Na Hang Cách thành phố Tuyên Quang 100 km, thác Mơ nằm giữa khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang. Lối vào thác là con đường rải nhựa ngoằn ngoèo chạy dưới tán rừng nguyên sinh. Từ hồ nước trong xanh vời vợi trên đỉnh núi Pắc Ban, từng ngọn thác mềm mại, trắng xoá đổ xuống chân núi.
Suối nước khoáng Mỹ Lâm Nằm ở địa phận huyện Yên Sơn, Tuyên Quang, suối là một trong những địa chỉ nghỉ dưỡng và chữa bệnh yên tĩnh, thoáng mát. Nguồn nước khoáng ở đây rất tốt cho việc điều trị các bệnh về cơ, xương, khớp...
Động Tiên thuộc huyện Hàm Yên cách thành phố Tuyên Quang khoảng 50 km.
== Kết nghĩa ==
Hưởng ứng phong trào kết nghĩa Bắc - Nam, tỉnh Tuyên Quang kết nghĩa với tỉnh Bình Thuận. Tại thành phố Phan Thiết có một con đường và một trường tiểu học mang tên "Tuyên Quang" và tại thành phố Tuyên Quang có một phường, một trường tiểu hoc và một trường trung học cơ sở mang tên "Phan Thiết".
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức của tỉnh Tuyên Quang
Báo Tuyên Quang điện tử
Sở Y tế Tuyên Quang
Trung tâm Xúc tiến Đầu tư Tuyên Quang
Sở Giáo dục và Đào tạo Tuyên Quang
Sở Tài nguyên và Môi trường Tuyên Quang |
tổ chức y tế thế giới.txt | Tổ chức Y tế Thế giới viết tắt WHO (tiếng Anh: World Health Organization) hoặc OMS (tiếng Pháp: Organisation mondiale de la santé) là một cơ quan của Liên Hiệp Quốc, WHO đóng vai trò thẩm quyền điều phối các vấn đề sức khỏe và y tế cộng đồng trên bình diện quốc tế, WHO tham gia giúp đỡ các quốc gia thành viên, WHO cung cấp những thông tin chính xác, những địa chỉ đáng tin cậy trên lĩnh vực sức khỏe con người, WHO sẽ đứng ra để giải quyết những vấn đề cấp bách về sức khỏe cộng đồng và dịch bệnh của con người.Kể từ khi WHO được thành lập, nó đã đóng một vai trò hàng đầu trong việc loại trừ bệnh đậu mùa. Các ưu tiên hiện tại của nó bao gồm các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt là HIV / AIDS, Ebola, sốt rét và lao; giảm thiểu những tác động của bệnh không truyền nhiễm; theo dõi sức khoẻ sinh sản và tình dục, sự phát triển và tuổi già; Dinh dưỡng, an ninh lương thực và ăn uống lành mạnh; sức khỏe nghề nghiệp; lạm dụng thuốc kháng sinh; và thúc đẩy sự phát triển của các báo cáo, các ấn phẩm và kết nối mạng toàn cầu.
WHO được Liên Hiệp Quốc thành lập vào ngày 7 tháng 4 năm 1948. WHO kế thừa phần nhiều chức trách và tài nguyên từ tổ chức tiền thân của nó là Tổ chức Sức khoẻ (Organisation de la Santé), một cơ quan của Hội Quốc Liên trước đây.
WHO có trụ sở đặt tại Geneva, Thụy Sĩ. Tổng Giám đốc hiện nay là Trần Phùng Phú Trân (Margaret Chan, Fung Fu-chun), đảm trách từ 2007 và dự kiến đến tháng 6/2017..
Ngân sách 2015 của WHO là khoảng 4 tỷ đô la Mỹ trong đó khoảng 930 triệu đô la Mỹ sẽ được cung cấp bởi các quốc gia thành viên với thêm 3 tỷ đô la Mỹ nữa là từ đóng góp tự nguyện.
== Thành viên ==
Năm 2015 WHO có 194 thành viên quốc gia hay vùng lãnh thổ.
Đại hội đồng là cơ quan ra quyết định tối cao của WHO, họp hàng năm tại Geneva, Thuỵ Sĩ vào tháng 5 với sự tham dự của tất cả các nước thành viên. Đại hội đồng đề cử Tổng Giám đốc, thông qua chính sách tài chính và ngân sách chương trình của WHO.
== Nhiệm vụ ==
Mục tiêu của WHO là giúp mọi người có được sức khoẻ tốt nhất. Từ năm 1977, Hội đồng Y tế Thế giới đề ra khẩu hiệu "Sức khoẻ cho tất cả mọi người vào năm 2000" và coi là ưu tiên cao nhất của WHO. Để đạt được những mục tiêu này, tổ chức WHO đã đề ra bốn định hướng chiến lược tác động qua lại lẫn nhau:
Giảm tỉ lệ tử vong, tỉ lệ mắc bệnh và tật nguyền cao quá mức, đặc biệt trong các nhóm dân cư nghèo và bị thiệt thòi;
Cổ vũ lối sống lành mạnh và giảm các yếu tố gây nguy cơ cho sức khoẻ con người do các nguyên nhân môi trường, kinh tế, xã hội và hành vi gây ra;
Xây dựng các hệ thống y tế trong đó nâng cao một cách công bằng các kết quả đầu ra về sức khoẻ, đáp ứng các nhu cầu chính đáng của nhân dân và công bằng về tài chính;
Xây dựng môi trường thể chế và chính sách thuận lợi trong ngành y tế, đẩy mạnh có hiệu quả vị thế y tế trong chính sách phát triển, môi trường, kinh tế và xã hội.
Ngoài các định hướng chiến lược này, WHO cũng xác định các ưu tiên cụ thể như phòng chống các bệnh sốt rét, lao phổi, sức khoẻ tâm thần, thuốc lá, các bệnh không truyền nhiễm (ung thư, tim mạch...), mang thai an toàn hơn và sức khoẻ trẻ em, HIV/AIDS, sức khoẻ và môi trường, an toàn thực phẩm, truyền máu an toàn, hệ thống y tế.
== Cấu trúc ==
Tổng Giám đốc: Đứng đầu WHO là Tổng Giám đốc, do Đại hội đồng bầu ra. Giúp việc cho TGĐ là các Phó TGĐ và Ban Thư ký.
Hội đồng chấp hành WHO: gồm 32 thành viên, nhiệm kỳ 3 năm. Nhiệm vụ của Hội đồng chấp hành là thực hiện các quyết định và chính sách của Đại hội đồng, góp ý kiến và thúc đẩy hoạt động của Đại hội đồng. Việt Nam là thành viên của Hội đồng chấp hành WHO từ tháng 5/2003 đến tháng 5/2005.
Văn phòng khu vực: WHO có 6 Văn phòng khu vực trên thế giới và các Văn phòng Đại diện ở các nước thành viên.
Văn phòng WHO tại Hà Nội do một Đại diện của WHO đứng đầu.
== Tổng Giám đốc và Hội đồng chấp hành ==
== Ngày hành động quốc tế do WHO đề xuất ==
Ngày hành động quốc tế, hay ngày lễ quốc tế, do WHO đề xuất và được công nhận.
Thập kỷ 2011-2020 là Thập kỷ hành động vì an toàn đường bộ (Decade of Action for Road Safety) được WHO đề xuất và được Liên Hiệp Quốc công nhận trong Nghị quyết A/RES/64/255.ws
== Đại sứ thiện chí WHO ==
Đại sứ thiện chí Tổ chức Y tế Thế giới (WHO Goodwill Ambassador) là những người có danh tiếng, uy tín được WHO lựa chọn nhằm sử dụng tài năng cũng như danh tiếng của họ phục vụ cho các mục đích phát triển y tế và phúc lợi ở các nước trên thế giới.
Tổ chức Sứ mệnh toàn cầu (Global Embassy] [1]) có danh sách các đại sứ thiện chí của Tổ chức Y tế Thế giới cũng như các tổ chức khác của Liên hợp quốc.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Hệ thống Liên Hiệp Quốc
Trụ sở Liên Hiệp Quốc
Trụ sở Liên Hiệp Quốc tại Geneva
Danh sách các tổ chức Liên Hiệp Quốc theo vị trí
Lists of countries and territories
== Liên kết ngoài ==
Tổ chức Y tế Thế giới - Français
Tổ chức Y tế Thế giới - English
Tổ chức Y tế Thế giới tại Việt Nam (tiếng Anh)
Statement on the human right to essential medicines |
ethnologue.txt | Ethnologue: Languages of the World là một xuất bản phẩm điện tử với nội dung là các số liệu thống kê về ngôn ngữ và phương ngữ trên thế giới. Nó cung cấp thông tin về số lượng người sử dụng một ngôn ngữ, nơi sử dụng, phương ngữ, mối quan hệ ngôn ngữ học, bản dịch của Kinh thánh trong ngôn ngữ đó và ước lượng khả năng tồn tại của ngôn ngữ. Ấn bản 17 ra mắt năm 2013 thống kê 7.105 ngôn ngữ và phương ngữ. Các ấn bản từ 16 trở về trước được xuất bản dưới dạng bản in.
== Tổng quan ==
Ethnologue là xuất bản phẩm của SIL International (tên cũ là Summer Institute of Linguistics) - một tổ chức cung cấp dịch vụ ngôn ngữ học Kitô giáo nghiên cứu nhiều ngôn ngữ thiểu số. Xuất bản phẩm này còn làm việc với các cộng đồng ngôn ngữ để dịch các phần của Kinh Thánh ra ngôn ngữ bản xứ.
Năm 1984, Ethnologue ấn hành hệ thống mã ba chữ cái có tên gọi "SIL code" nhằm nhận diện các ngôn ngữ. Bộ mã này vượt xa quy mô so với tiêu chuẩn quốc tế ISO 639-1 ra đời trước đó. Năm 2002, Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế mời Ethnologue hợp tác tích hợp hệ thống mã của họ cho tương thích với mã quốc tế. Kết quả là hiện nay Ethnologue đang sử dụng tiêu chuẩn ISO 639-3.
Về cách hiểu "phương ngữ", Ethnologue đã nêu quan điểm ở đầu xuất bản phẩm "Không phải mọi học giả đều chia sẻ bộ tiêu chuẩn chung phân biệt 'ngôn ngữ' với 'phương ngữ'". Ethnologue tuân theo tiêu chuẩn do ISO 639-3 ấn định
Bên cạnh việc chọn tên chính cho một ngôn ngữ, Ethnologue còn cung cấp cho độc giả một số danh xưng mà người sử dụng ngôn ngữ, các chính phủ, người nước ngoài và các nước láng giềng dùng để gọi ngôn ngữ đó. Nó cũng cho biết lịch sử hình thành tên gọi của ngôn ngữ, dù cho tên gọi đó có tư cách chính thức, có hợp với đường lối chính trị hay có tính công kích.
Tác giả William Bright - khi còn làm biên tập biên của tạp chí học thuật Language: Journal of the Linguistic Society of America - đã cho rằng Ethnologue là thứ "không thể thiếu được đối với bất cứ kệ sách tham khảo nào về các ngôn ngữ trên thế giới".
== Các ấn bản ==
Ethnologue ấn bản mới được xuất bản định kỳ khoảng bốn năm một lần. Dưới đây là bảng liệt kê các ấn bản:
== Thống kê họ ngôn ngữ ==
Cách phân loại ngôn ngữ của Ethnologue dựa theo cách phân loại của William Bright (1992) trong bộ sách bốn tập Oxford International Encyclopedia of Linguistics (Nhà xuất bản Đại học Oxford, ISBN 9780195051964) nhưng đi xa hơn do dựa vào nhiều nghiên cứu cá nhân khác.
== Xem thêm ==
Danh sách ngôn ngữ
Danh sách hệ ngôn ngữ
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Website The Ethnologue (tiếng Anh)
How Linguists and Missionaries Share a Bible of 6,912 Languages, The New York Times, 19 tháng 7 năm 2005 (tiếng Anh)
Ethnologue 13 (1996), mã ngôn ngữ và tên gọi (tiếng Anh) |
đạo luật.txt | Đạo luật (thường được gọi là luật) là một văn bản pháp luật (Văn bản quy phạm pháp luật) được bản hành bởi cơ quan lập pháp (Quốc hội, Nghị viện). Đạo luật có phạm vi rộng hơn luật, bao gồm cả các văn bản Luật và các văn bản dưới luật do cơ quan lập pháp ban hành (ví dụ như Nghị quyết của Quốc hội ở Việt Nam bên cạnh các Luật do cơ quan này ban hành). Trong Khối thịnh vương chung, thuật ngữ này được sử dụng theo nghĩa hẹp, như mô tả một cách chính thức về một đạo luật được thông qua trong các vùng, lãnh thổ nhất định. Ở Hoa Kỳ những quyết định của Tổng thống được gọi là Đạo luật vì những quyết định này được Quốc hội Hoa Kỳ thông qua theo một quy trình chặt chẽ, từ dự luật đến khâu tranh cãi, thông qua hoặc phủ quyết.
== Chú thích == |
giải vô địch bóng đá đông nam á 2008.txt | Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2008 là giải vô địch bóng đá Đông Nam Á lần thứ 7 do Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á (AFF) tổ chức. Giải đấu năm đó còn mang tên AFF Suzuki Cup 2008 do lần đầu tiên, hãng Suzuki đóng vai trò nhà tài trợ chính cho sân chơi bóng đá lớn nhất khu vực Đông Nam Á. Giải được chia làm 2 giai đoạn. 5 đội tuyển xếp hạng kém nhất gồm Brunei, Đông Timor, Campuchia, Lào, và Philippines phải tham dự vòng sơ loại tại Campuchia từ ngày 17 cho đến ngày 22 tháng 10 năm 2008 để chọn ra 2 đội vào vòng chung kết. Vòng chung kết được tổ chức tại Indonesia (bảng A) và Thái Lan (bảng B) từ ngày 5 đến 10 tháng 12 năm 2008. 8 đội tuyển được chia vào 2 bảng, đấu vòng tròn 1 lượt, chọn 2 đội đứng đầu vào bán kết. Từ vòng bán kết, các cặp đấu sẽ chơi 2 lượt đi và về. Các trận bán kết và chung kết diễn ra từ ngày 16 tháng 12 cho đến ngày 28 tháng 12 cùng năm. Việt Nam lần đầu tiên vô địch sau khi thắng Thái Lan ở hai lượt trận chung kết với tổng tỉ số 3–2. Chiến thắng có phần bất ngờ của tuyển Việt Nam được trang thông tin điện tử Goal.com xếp vào top 10 sự kiện bóng đá châu Á năm 2008, cũng như được độc giả Vietnamnet bình chọn là một trong 10 sự kiện nổi bật của Việt Nam trong năm.
== Thông tin quanh giải đấu ==
Theo kế hoạch đầu tiên, quyền đăng cai vòng bảng của giải đấu năm nay sẽ được trao cho Myanmar theo hệ thống cho phép tất cả các quốc gia ASEAN sẽ lần lượt được tổ chức giải, nhưng do các cuộc biểu tình chống chính phủ tại Myanmar diễn ra vào tháng 8 năm 2007, quốc gia này đã buộc phải từ bỏ kế hoạch. Tại kỳ họp thứ ba của AFF diễn ra tại Bali, Indonesia và Thái Lan vượt qua các ứng cử viên khác để thay thế Myanmar tổ chức 2 vòng đấu bảng. Trong trường hợp 2 quốc gia này không đáp ứng được một số điều kiện do Liên đoàn bóng đá Đông Nam Á (AFF) đặt ra, Việt Nam sẽ là quốc gia thay thế. Cơ cấu giải thưởng của giải cũng được công bố: Đội vô địch sẽ nhận được 100.000 USD, đội á quân 50.000 USD, và 15.000 cho đội thua ở trận bán kết. Nike cũng trở thành hãng cung cấp trang phục chính thức cho giải.
10 ngày trước khi vòng chung kết khởi tranh, do cuộc khủng hoảng chính trị tại Thái Lan lan rộng tại Băng Cốc. Tình hình an ninh ở thủ đô không được đảm bảo, sân bay Suvarnabhumi phải đóng cửa tạm thời, Hiệp hội bóng đá Thái Lan tuyên bố nếu tình hình tiếp tục căng thẳng, giải đấu dự định tổ chức tại Băng Cốc sẽ được chuyển đến Chiang Mai ở miền Bắc quốc gia này hoặc Phuket ở miền Nam.
Mặc dù Thái Lan tuyên bố vẫn sẽ đảm bảo tổ chức giải, Việt Nam và Malaysia cũng nhanh chóng lên kế hoạch chuẩn bị thay thế nếu tình hình thay đổi vào phút chót.
Ngày 29 tháng 11, khi chưa đầy 1 tuần nữa là đến ngày khai mạc giải, ban tổ chức mới ra quyết định cuối cùng chuyển bảng đấu dự định thi đấu tại Băng Cốc về Phuket.
== Các sân vận động ==
== Trọng tài ==
Danh sách trọng tài đã điều khiển các trận đấu:
Mohamed Hadimin
Midi Setiyono
Nafeez Wahab
Ramachandran Krishnan
Mohd Salleh
Cho Win
Allan Martinez
Abdul Malik
Pandian Palaniyandi
Chaiya Alee
Phùng Đình Dũng
Võ Minh Trí
== Vòng loại ==
Vòng loại của giải diễn ra tại thủ đô Phnom Penh, Campuchia, từ ngày 17 cho đến ngày 25 tháng 10 năm 2008. 5 đội tuyển xếp hạng kém nhất gồm Brunei, Đông Timor, Campuchia, Lào, và Philippines phải tham dự vòng sơ loại này. Các đội thi đấu theo thể thức vòng tròn tính điểm, lấy hai đội nhất và nhì tham dự vòng chung kết.
== Danh sách cầu thủ ==
== Vòng chung kết ==
=== Vòng bảng ===
Giờ thi đấu tính theo giờ địa phương (UTC+7)
==== Bảng A ====
Tất cả các trận đấu diễn ra ở Indonesia và Malaysia.
==== Bảng B ====
Tất cả các trận đấu diễn ra ở Thái Lan
=== Vòng đấu loại trực tiếp ===
Lưu ý: Mặc dù được thi đấu 2 lượt, hình thức luật bàn thắng trên sân khách không được áp dụng, nhưng luật bàn sân khách có áp dụng sau hiệp phụ. Nếu tổng tỉ số của cả hai đội sau 2 lượt đấu là hòa, thì phải đá thêm 2 hiệp phụ, nếu bàn sân khách bằng nhau tiếp sau đó là loạt đá luân lưu 11m.
=== Bán kết ===
==== Lượt đi ====
==== Lượt về ====
Thái Lan thắng với tổng tỉ số 3–1.
Việt Nam thắng với tổng tỉ số 1–0.
=== Chung kết ===
==== Lượt đi ====
==== Lượt về ====
Việt Nam thắng với tổng tỉ số 3–2.
=== Vô địch ===
=== Giải thưởng ===
=== Danh sách cầu thủ ghi bàn ===
4 bàn
Budi Sudarsono
Agu Casmir
Teerasil Dangda
3 bàn
Indra Putra Mahayuddin
Ronnachai Rangsiyo
Nguyễn Vũ Phong
2 bàn
1 bàn
== Bảng xếp hạng giải đấu ==
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức (tiếng Anh) |
khởi nghĩa lam sơn.txt | Khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) (chữ Nôm: 起義藍山) là cuộc khởi nghĩa đánh đuổi quân Minh xâm lược về nước do Lê Lợi lãnh đạo và kết thúc bằng việc giành lại độc lập cho nước Đại Việt và sự thành lập nhà Hậu Lê.
Khởi nghĩa Lam Sơn gồm ba giai đoạn lớn: hoạt động ở vùng núi Thanh Hoá (1418-1423), tiến vào phía nam (1424-1425) và giải phóng Đông Quan (1426-1427). Trong giai đoạn đầu,cuộc khởi nghĩa Lam Sơn gặp rất nhiều khó khăn, thường phải hứng chịu các cuộc càn quét của quân Minh, mặc dù vẫn có những trận họ đánh thắng quân Minh và họ cũng từng đánh bại được quân Ai Lao cấu kết với quân Minh. Quân khởi nghĩa bắt đầu giành thế thắng khi Lê Lợi tiến quân ra đất Nghệ An vào năm 1424. Họ đạt được nhiều thắng lợi to lớn, đỉnh điểm là đại thắng ở Tân Bình, Thuận Hóa. Cuối cùng, vào năm 1426, giữa lúc quân khởi nghĩa đang trên đà thắng lợi và tiếng tăm của Lê Lợi lên cao, quân khởi nghĩa tiến đánh thành Đông Quan, và đánh tan nát quân Minh trong trận Tốt Động - Chúc Động. Bước sang năm 1427, nghĩa quân đập tan tác 10 vạn viện binh của đối phương trong trận Chi Lăng - Xương Giang, giết chết viên chỉ huy quân Minh là Liễu Thăng. Họ thu được nhiều chiến mã, lại còn bắt sống và tiêu diệt được nhiều tướng Minh. Cuối cùng, người Minh phải giảng hòa và thoái binh về nước, khiến cho nước Đại Việt không còn một mống quân xâm lăng. Một văn thần trong quân khởi nghĩa là Nguyễn Trãi thừa lệnh của Lê Lợi đã viết bài Bình Ngô đại cáo để tuyên cáo cho toàn quốc biết về chiến thắng vẻ vang của nghĩa quân Lam Sơn.
== Bối cảnh lịch sử ==
=== Bối cảnh ===
Khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra trong bối cảnh rất khó khăn. Nhiều cuộc nổi dậy chống Minh, điển hình là nhà Hậu Trần, đã bị dẹp một cách tàn khốc. Liên tiếp 2 vua nhà Hồ, một vua nhà Hậu Trần bị bắt về bắc, vua Trùng Quang và các tướng đều tử tiết. Trương Phụ tàn sát những người lính theo quân khởi nghĩa và cả dân thường rất tàn bạo (chặt đầu, đốt xác, cuốn ruột vào cây...) để khủng bố tinh thần người Việt.
Năm Giáp Ngọ (1414), tháng Giêng, tướng nhà Minh là Trương Phụ, Mộc Thạnh hoàn thành xong việc đánh dẹp các cuộc khởi nghĩa của nhà Hậu Trần, bắt đầu tiến hành việc cai trị Đại Việt. Sự cai trị tàn bạo, khắc nghiệt của nhà Minh khiến người dân Đại Việt rất oán hận
=== Lê Lợi khởi nghĩa ở Lam Sơn ===
Lê Lợi là phụ đạo Lam Sơn (tên gọi thổ tù), nối đời làm hào trưởng Lam Sơn, trước theo vua Trùng Quang, làm chức Kim ngô Tướng quân, sau Hoàng Phúc chiêu dụ đến cho làm Thổ quan Tuần kiểm, Lê Lợi không theo. Lê Lợi ẩn dấu ở núi rừng làm nghề cày cấy; tự mình đọc sách kinh sử, nhất là càng chuyên tâm về các sách Thao Lược; hậu đãi các tân khách; chiêu nạp kẻ trốn, kẻ làm phản; ngầm nuôi kẻ mưu trí; bỏ của, phát thóc để giúp cho kẻ côi cút, nghèo nàn; hậu lễ, nhún lời, để thu nạp anh hùng hào kiệt; đều được lòng vui vẻ của họ. Những hào kiệt như Lê Văn An, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Lưu Nhân Chú, Trịnh Vô, Vũ Uy, Lê Liễu và Lê Xa Lôi nối tiếp đến quy phục. Lê Lợi thấy người Minh tàn ngược, khẳng khái nói:
Lại thường lời lẽ nhún nhường, đem nhiều vàng, bạc, của báu, đút lót cho các tướng nhà Minh là Trương Phụ, Trần Trí, Sơn Thọ, Mã Kỳ; mong họ không hãm hại mình để để chờ thời cơ. Ngụy quan người Việt Lương Nhữ Hốt bàn với tướng Minh, nói rằng: Chúa Lam sơn chiêu vong, nạp bạn, đãi quân lính rất hậu, chí nó chẳng nhỏ. Nếu thuồng luồng gặp được mây mưa, thì tất không phải là vật ở trong ao đâu!. Nên sớm trừ đi, đừng để sau sinh vạ
Nhà Minh tin lời Lương Nhữ Hốt, bức bách Lê Lợi gấp gáp, Lê Lợi bèn đại hội tướng sĩ, bàn việc khởi binh. Mùa xuân, tháng giêng, ngày Canh Thân, năm 1418 Lê Lợi khởi binh ở Lam Sơn, xưng là Bình Định vương, cử cháu là Lê Thạch làm Tướng quốc, truyền hịch đi các nơi cùng chống quân Minh. Cuộc khởi nghĩa mở đầu được Nguyễn Trãi viết trong Bình Ngô đại cáo:
Vừa khi cờ nghĩa dấy lên
Chính lúc quân thù đang mạnh
... Tuấn kiệt như sao buổi sớm
Nhân tài như lá mùa thu
== Hoạt động ở vùng núi Thanh Hóa ==
=== Lực lượng của quân Minh và lực lượng ban đầu của quân khởi nghĩa Lam Sơn ===
Mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt đồng chí hướng như Lê Văn An, Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Nguyễn Trãi... tất cả 50 tướng văn và tướng võ chính thức phất cờ khởi nghĩa Lam Sơn (trong đó 19 người đã từng tham gia hội thề Lũng Nhai, năm 1416), xưng là Bình Định Vương, kêu gọi dân Việt đồng lòng đứng lên đánh quân xâm lược nhà Minh cứu nước. Địa danh Lam Sơn nay thuộc huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa. Theo sách Lam Sơn thực lục, buổi đầu khởi nghĩa Lam Sơn:
Khi ấy, quân Minh đã thiết lập được sự cai trị trên đất Đại Việt, với 5 vạn quân, voi ngựa hàng trăm con.
=== Quá trình quân khởi nghĩa Lam Sơn hoạt động ở vùng núi Thanh Hóa ===
Thời kỳ hoạt động ở vùng núi Thanh Hóa là giai đoạn khó khăn nhất của cuộc khởi nghĩa. Trong thời gian đầu, lực lượng của quân Lam Sơn chỉ có vài ngàn người, lương thực thiếu thốn, thường chỉ thắng được vài trận nhỏ và hay bị quân Minh đánh bại.
Bị quân Minh vây đánh nhiều trận, quân Lam Sơn khốn đốn ba lần phải rút chạy lên núi Chí Linh những năm 1418, 1419, 1422 và một lần cố thủ ở Sách Khôi năm 1422. Một lần bị quân Minh vây gắt ở núi Chí Linh (có sách ghi năm 1418, có sách ghi năm 1419), quân sĩ hết lương, một nghĩa sĩ của Lê Lợi là Lê Lai theo gương Kỷ Tín nhà Tây Hán phải đóng giả làm Lê Lợi, dẫn quân ra ngoài nhử quân Minh. Quân Minh tưởng là bắt được chúa Lam Sơn nên lơi lỏng phòng bị, Lê Lợi và các tướng lĩnh thừa cơ mở đường khác chạy thoát. Lê Lai bị quân Minh giải về Đông Quan và bị giết. (Xem thêm bài Lê Lai)
Ngoài quân Minh, Lê Lợi và quân Lam Sơn còn phải đối phó với một bộ phận các tù trưởng miền núi tại địa phương theo nhà Minh và quân nước Ai Lao (Lào) bị xúi giục hùa theo. Dù gặp nhiều khó khăn, quân Lam Sơn mấy lần đánh bại quân Ai Lao có lực lượng đông hơn. Tuy nhiên do lực lượng chưa đủ mạnh nên Lê Lợi thường cùng quân Lam Sơn phải ẩn náu trong rừng núi, nhiều lần phải ăn rau củ và măng tre lâu ngày; có lần ông phải giết cả voi và ngựa chiến của mình để cho tướng sĩ ăn.
Trước tình thế hiểm nghèo, Lê Lợi phải xin giảng hòa với quân Minh năm 1422. Đến năm 1423, khi thực lực được củng cố, lại thấy quân Minh bắt giữ sứ giả, Lê Lợi liền tuyệt giao cắt đứt giảng hoà.
== Tiến vào Nam ==
Theo kế của Nguyễn Chích, năm 1424 Lê Lợi quyết định đưa quân vào đồng bằng Nghệ An. Tiến vào Nghệ An là một bước ngoặt về chiến thuật trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn.
Trên đường đi, quân Lam Sơn hạ thành Đa Căng (Bất Căng, Thọ Xuân) do Lương Nhữ Hốt giữ, đánh lui quân cứu viện của viên tù trưởng địa phương theo quân Minh là Cầm Bành. Sau đó quân Lam Sơn đánh thành Trà Lân. Tướng Minh là Trần Trí mang quân từ Nghệ An tới cứu Cầm Bành, bị quân Lam Sơn đánh lui. Lê Lợi vây Cầm Bành, Trần Trí đóng ngoài xa không dám cứu. Bị vây ngặt lâu ngày, Cầm Bành phải đầu hàng.
Lê Lợi sai Đinh Liệt mang quân vào đánh Nghệ An, lại mang quân chủ lực cùng tiến vào, Trần Trí bị thua liền mấy trận phải rút vào thành cố thủ.
Lý An, Phương Chính từ Đông Quan (thuộc Đông Hưng, Thái Bình) vào cứu Trần Trí ở Nghệ An, Trí cũng mang quân ra ngoài đánh. Lê Lợi dùng kế nhử địch đến sông Độ Gia phá tan. Trần Trí chạy về Đông Quan, còn An và Chính lại chạy vào thành Nghệ An.
Tháng 5 năm 1425, Lê Lợi lại sai Đinh Lễ đem quân ra đánh Diễn Châu, quân Minh thua chạy về Tây Đô (Thanh Hóa). Sau đó ông lại điều Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Triện tiếp ứng cho Đinh Lễ đánh ra Tây Đô, quân Minh ra đánh lại bị thua phải rút vào cố thủ trong thành.
Lê Lợi một mặt siết vòng vây quanh thành Nghệ An và Tây Đô, mặt khác sai Trần Nguyên Hãn, Doãn Nỗ, Lê Đa Bồ đem quân vào nam đánh Tân Bình, Thuận Hóa. Tướng Minh là Nhậm Năng ra đánh bị phá tan. Sau Lê Lợi lai sai Lê Ngân, Lê Văn An mang thủy quân tiếp ứng cho Trần Nguyên Hãn chiếm đất Tân Bình, Thuận Hoá. Quân Minh phải rút vào cố thủ nốt.
Như vậy đến cuối năm 1425, Lê Lợi làm chủ toàn bộ đất đai từ Thanh Hóa trở vào, các thành địch đều bị bao vây.
== Giải phóng Đông Quan ==
=== Chiến thắng Tốt Động - Chúc Động ===
Tháng 8 năm 1426, Lê Lợi chia quân cho các tướng làm 3 cánh bắc tiến. Phạm Văn Xảo, Đỗ Bí, Trịnh Khả, Lê Triện ra phía Tây bắc, Lưu Nhân Chú, Bùi Bị ra phía Đông bắc; Đinh Lễ, Nguyễn Xí ra đánh Đông Quan.
Lê Triện tiến đến gần Đông Quan gặp Trần Trí kéo ra, liền đánh bại Trí. Nghe tin viện binh nhà Minh ở Vân Nam sắp sang, Triện chia quân cho Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả ra chặn quân Vân Nam, còn Triện và Đỗ Bí hợp với quân Đinh Lễ, Nguyễn Xí đánh Đông Quan.
Viện quân từ Vân Nam do Vương An Lão chỉ huy kéo sang, nhưng bị Phạm Văn Xảo phá tan. An Lão chạy về cố thủ ở thành Tam Giang. Trần Trí thấy mất viện binh bèn cầu viện Lý An ở Nghệ An. Lý An và Phương Chính để Thái Phúc ở lại giữ thành Nghệ An, mang quân vượt biển ra cứu Đông Quan. Quân Lam Sơn định đón đường ngăn chặn nhưng không được. Lê Lợi liền giao cho Lê Văn An, Lê Văn Linh vây thành, còn mình kéo đại quân ra bắc.
Để đối phó lại tình hình nguy cấp, năm 1426, nhà Minh cho huy động 20.000 quân từ nhiều tỉnh phía nam tiến vào tiếp viện. Các quan lại nhà Minh tại Việt Nam cũng được lệnh mộ thêm 30.000 thổ binh bản xứ hỗ trợ. Thêm vào đó, nhà Minh cho gửi thêm hỏa khí sang trợ chiến, và các tướng Minh tại Việt Nam cũng rút hết quân làm đồn điền (trồng lúa lấy lương - khoảng 8.000 thổ binh bản xứ) để đối phó với quân nổi dậy. Trần Trí, Phương Chính bị cách chức, bị đặt dưới quyền Vương Thông sai khiến để lấy công chuộc tội. Tại Vân Nam, Mộc Thạnh cũng được lệnh tuyển mộ 15 ngàn bộ binh và 3 ngàn cung thủ chuẩn bị sẵn sàng. Từ Quảng Tây, tướng Minh là Cố Hưng Tổ (Gu Xing-zu) được lệnh đưa 5.000 quân bản bộ sang tiếp ứng với Vương Thông.
Vương Thông, Mã Anh mang quân sang tiếp viện, hợp với quân ở Đông Quan được 10 vạn, chia cho Phương Chính, Mã Kỳ ra chặn đánh quân Lam Sơn. Lê Triện, Đỗ Bí đánh bại Mã Kỳ ở Từ Liêm, lại đánh luôn cánh quân của Chính. Cả hai tướng thua chạy, về nhập với quân Vương Thông ở Cổ Sở. Lê Triện lại tiến đánh Vương Thông, nhưng Thông đã phòng bị, Triện bị thua phải rút về Cao Bộ, sai người cầu cứu Nguyễn Xí.
Đinh Lễ, Nguyễn Xí đem quân đến đặt phục binh ở Tốt Động, Chúc Động (các địa danh này ngày nay đều thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Nội). Nhân biết Vương Thông định chia dường đánh úp Lê Triện, hai tướng bèn tương kế tựu kế dụ Thông vào ổ mai phục Tốt Động. Quân Vương Thông thua to, Trần Hiệp, Lý Lượng và 5 vạn quân bị giết, 1 vạn quân bị bắt sống. Thông cùng các tướng chạy về cố thủ ở Đông Quan.
Sử chép ba đạo quân ra bắc của Lê Lợi chỉ có tổng số 9000 người. Các nhà nghiên cứu cho rằng con số đó chưa chính xác vì các trận đánh của ba đạo quân này đều có quy mô khá lớn và lực lượng quân Minh sang nhập vào khá đông, do đó để giành thắng lợi, 3 cánh quân (sau đó lại chia thành 4) chắc phải đông hơn. Với một vài ngàn người khó đương nổi lực lượng đông và mạnh của quân Minh như vậy. Căn cứ sách Đại Việt thông sử, khi quân Minh sắp rút về, Lê Lợi đã bàn với các tướng, đại ý rằng: quân Lam Sơn hiện có tổng số 35 vạn, ông dự định sẽ cho 25 vạn về làm ruộng và tuyển lấy 10 vạn làm quân thường trực của triều đình. Qua đó thì thấy những cánh quân ra bắc phải có một vài vạn mỗi cánh quân.
Ngoài ra, theo tác giả Karl Hack, sau khi nhà Hậu Trần thất bại, nhà Minh cho rằng sự bình định ở Giao Chỉ cơ bản đã hoàn thành, nên điều Trương Phụ cùng một phần lớn đạo quân viễn chinh về nước. Việc đánh dẹp và chiếm giữ được giao lại cho các đạo quân phần nhiều gồm binh lính mộ bản xứ và có các chỉ huy là người Việt. Đây có lẽ là lý do sự chiếm đóng của nhà Minh nhanh chóng sụp đổ khi các binh lính người Việt này nổi dậy hoặc hưởng ứng các cuộc nổi dậy sau này.
Lê Lợi được tin thắng trận liền sai Trần Nguyên Hãn, Bùi Bị chia hai đường thủy bộ tiến ra gần Đông Quan.
=== Lập Trần Cảo ===
Vương Thông thua chạy không dám ra đánh, viện cớ tìm lại tờ chiếu của vua Minh Thành Tổ năm 1407 khi đánh nhà Hồ, có nội dung muốn lập lại con cháu nhà Trần (vì nhà Hồ cướp ngôi nhà Trần nên Minh Thành Tổ lấy danh nghĩa lập lại nhà Trần để mang quân sang đánh nhà Hồ, nay Vương Thông muốn vin vào đó) ra điều kiện với Lê Lợi rằng Thông sẽ rút về nếu Lê Lợi lập con cháu nhà Trần làm vua.
Lê Lợi vì đại cuộc, muốn quân Minh nhanh chóng rút về nên đồng ý. Ông sai người tìm được Trần Cảo bèn lập làm vua, còn ông tự xưng là Vệ quốc công. Theo sử sách, Trần Cảo tên thật là Hồ Ông, tự xưng là cháu nội vua Trần Nghệ Tông, được tù trưởng châu Ngọc Ma tiến cử với Lê Lợi. Nhưng theo một số sử gia gần đây, việc Trần Cảo mạo xưng hay thật sự là con cháu nhà Trần rất khó xác định, có thể chữ "mạo xưng" mà sử sách ghi là do các sử gia nhà Lê chép vào để giảm uy tín của Cảo.
Vương Thông ngoài mặt giảng hòa nhưng lại sai quân đào hào cắm chông phòng thủ và mật sai người về xin cứu viện. Lê Lợi biết chuyện liền cắt đứt giảng hòa.
=== Vây thành Đông Quan ===
Sau khi cắt đứt giảng hoà, Lê Lợi sai các tướng đi đánh chiếm các thành ở Bắc bộ như Điêu Diêu (Thị Cầu, Bắc Ninh), Tam Giang (Tam Đái, Phú Thọ), Xương Giang (phủ Lạng Thương), Kỳ Ôn, không lâu sau đều hạ được.
Đầu năm 1427, Lê Lợi chia quân tiến qua sông Nhị Hà, đóng dinh ở Bồ Đề, sai các tướng đánh thành Đông Quan. Ông đặt kỷ luật quân đội rất nghiêm để yên lòng nhân dân. Do đó quân Lam Sơn đi đến các nơi rất được lòng dân.
Tướng Minh là Thái Phúc nộp thành Nghệ An xin hàng. Lê Lợi sai Thượng thư bộ Lại là Nguyễn Trãi viết thư dụ địch ở các thành khác ra hàng.
Nhân lúc quân Lam Sơn vây thành có vẻ lơi lỏng, quân Minh ở Đông Quan ra đánh úp. Lê Triện tử trận ở Từ Liêm, Đinh Lễ và Nguyễn Xí bị bắt ở Thanh Trì. Đinh Lễ bị giặc giết hại, sau Nguyễn Xí lợi dụng một đêm mưa giông mà trốn thoát được.
=== Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang ===
Cuối năm 1427, vua Minh Tuyên Tông điều viện binh cứu Thành sơn hầu Vương Thông, sai An viễn hầu Liễu Thăng mang 10 vạn quân tiến sang từ Quảng Tây; Chinh Nam tướng quân thái phó Kiềm quốc công Mộc Thạnh mang 5 vạn quân từ Vân Nam kéo sang. Đây là hai tướng đã từng sang đánh Việt Nam thời nhà Hồ và nhà Hậu Trần. Theo các nhà nghiên cứu, con số 15 vạn của cả hai đạo quân có thể là nói cao lên, trên thực tế nếu cộng số các đạo quân điều động từ các nơi thì tổng số chỉ có khoảng gần 12 vạn quân và cánh quân chủ lực là của Liễu Thăng.
Theo Minh sử thì tới cuối tháng 1 năm 1427, nhà Minh điều động từ Bắc Kinh, Nam Kinh và khắp các tỉnh miền nam Trung Quốc khoảng 70.000 quân. Để cung ứng lương thảo, tại các tỉnh Quảng Đông, Quảng Tây hễ nơi nào có dư lương thực đều phải tức tốc vận chuyển về để cung ứng cho đạo quân viễn chinh. Tới cuối tháng 3, nhà Minh lại điều thêm 2.200 vệ binh từ Vũ Xương và Thành Đô, 10.000 quân tinh nhuệ từ Nam Kinh và 33.000 quân từ các tỉnh miền nam Trung Quốc đặt dưới quyền Liễu Thăng và Mộc Thạnh.
Nghe tin có viện binh, nhiều tướng muốn đánh để hạ gấp thành Đông Quan. Tuy nhiên, theo ý kiến của Nguyễn Trãi, Lê Lợi cho rằng đánh thành là hạ sách vì quân trong thành đông, chưa thể lấy ngay được, nếu bị viện binh đánh kẹp vào thì nguy; do đó ông quyết định điều quân lên chặn đánh viện binh trước để nản lòng địch ở Đông Quan.
Đầu tiên, ông ra lệnh dời người ở những vùng địch đi qua như Lạng Giang, Bắc Giang, Quy Hoá, Tuyên Quang, để đồng không để cô lập địch. Biết cánh Liễu Thăng là quân chủ lực, ông sai Lê Sát, Lưu Nhân Chú, Lê Văn Linh, Đinh Liệt mang quân phục ở Chi Lăng, lại sai Lê Văn An, Nguyễn Lý mang quân tiếp ứng. Đối với cánh quân Mộc Thạnh, ông biết Thạnh là viên tướng lão luyện, sẽ ngồi chờ thắng bại của Liễu Thăng mới hành động nên hạ lệnh cho Phạm Văn Xảo và Trịnh Khả cố thủ không đánh.
Tướng trấn giữ biên giới là Trần Lựu liên tục giả cách thua chạy từ Ải Nam Quan về Ải Lưu rồi lại lui về Chi Lăng. Ngày 18 tháng 9 âm lịch, Liễu Thăng đuổi đến Chi Lăng. Trần Lựu lại thua, Thăng đắc thắng mang 100 quân kị đi trước. Ngày 20, Thăng bị phục binh của Lê Sát, Trần Lựu đổ ra chém chết. Tới tận ngày 25 tháng 12 năm 1427, vua Minh mới nhận được tin Liễu Thăng bị giết.
Các tướng thừa dịp xông lên đánh địch, giết hơn 1 vạn quân, chém được Lương Minh, Lý Khánh tự vẫn. Tướng Minh còn lại Hoàng Phúc, Thôi Tụ cố kéo về thành Xương Giang thế thủ nhưng đến nơi mới biết thành đã bị quân Lam Sơn hạ, phải đóng quân ngoài đồng không. Lê Lợi sai Trần Nguyên Hãn chặn đường vận lương, sai Phạm Vấn, Nguyễn Xí tiếp ứng cho Lê Sát cùng sáp đánh, giết 5 vạn quân Minh ở Xương Giang. Hoàng Phúc, Thôi Tụ và hơn 3 vạn quân bị bắt. Do quyết tâm không quy hàng, Thôi Tụ bị giết. Hoàng Phúc bị bắt khi định chạy theo ngả Chi Lăng. Cùng quẫn định tự tự sát thì thuộc hạ quỳ xuống van xin ngăn lại, Lê Lợi biết chuyện khen ngợi, tới ngày 17 tháng 12 năm 1427 thì cho người thả về Trung Quốc theo đường Long Châu, tỉnh Quảng Tây.
Mộc Thạnh nghe tin Liễu Thăng thua to nên kinh hồn, bèn rút chạy. Phạm Văn Xảo, Trịnh Khả đuổi theo chém hơn 1 vạn quân, bắt sống 1000 người ngựa. Theo Minh thực lục, ngày 14 tháng 12 năm 1427, Mộc Thạnh cùng thuộc hạ chạy tới Cao Trại, Thủy Vĩ thì bị quân Lam Sơn phục kích cả trên sông lẫn trên bờ, phải vất vả làm lại thuyền mới đi tiếp được.
=== Hội thề Đông Quan ===
Vương Thông nghe tin hai đạo viện binh bị đánh tan, sợ hãi xin giảng hòa để rút quân. Lê Lợi đồng ý cho giảng hòa để quân Minh rút về nước. Ông cùng Vương Thông tiến hành làm lễ thề trong thành Đông Quan, hẹn đến tháng chạp âm lịch năm Đinh mùi (1427) rút quân về.
Lê Lợi đứng tên Trần Cảo là người đang làm vua trên danh nghĩa, sai sứ dâng biểu cho nhà Minh xin được phong. Vua Minh biết Lê Lợi không có ý tôn Cảo nhưng vì bị thua mãi nên đồng ý phong cho Trần Cảo làm An Nam quốc vương.
Tháng chạp, Vương Thông rút quân về nước. Các tướng muốn giết địch để trả thù tội ác khi cai trị Việt Nam, Lê Lợi không đồng tình vì muốn giữ hòa khí hai nước, cho nên ông phán:
Thế rồi ông cấp thuyền và ngựa cho quân Minh về. Vương Thông dẫn đầu quân Bộ binh triệt thoái về chính quốc. Ông được Lê Lợi đưa tiễn nồng hậu. Nước Đại Việt không còn một mống quân xâm lăng.
Sách Minh sử thông giám kỷ sự chép:
"[Vương] Thông đến kinh đô (Bắc Kinh) rồi, quần thần nhà Minh tới tấp dâng tấu sớ lên đàn hặc Thông và bọn Mã Anh, Mã Kỳ, Sơn Thọ. Hình quan trong triều làm việc xét hỏi, bọn Thông đều thú nhận cả. Định nghị cho rằng Thông thì phạm tội không giữ quân luật, làm thiệt quân và bỏ mất đất; Sơn Thọ thì phạm tội che chở bênh vực cho bọn phản nghịch, Mã Kỳ thì làm kích động gây biến ở nơi phiên thuộc. Tất cả đều đáng luận vào tội xử tử. Vua Minh xuống chiếu: tống giam Thông vào ngục và tịch thu gia sản; còn bọn Mã Anh cũng đều phạt tội có nặng nhẹ khác nhau. Sau đó Lê Lợi sai đưa trả 157 quan lại, 15170 lính thú, và 1200 ngựa; còn số người bị giữ không cho về nước không biết bao nhiêu mà kể".
Bình luận về việc Minh Tuyên Tông ra lệnh bãi binh ở Đại Việt, sử gia Trung Quốc là Cốc Vĩnh Thái viết trong Minh sử kỷ sự bản mạt:
Vương Thông lực yếu mà phải xin hoà, Liễu Thăng lại sang rồi bị thua chết. Sau đó lại xuống chiếu sai sứ sang giao hảo và rút quân về, nhục nhã thực bằng Tân, Trịnh hội thề dưới chân thành, hổ thẹn ngang với Kính Đường cắt đất giảng hoà vậy
Theo Minh thực lục:
Ngày 3 tháng 1 năm 1428, Thành sơn hầu Vương Thông, chỉ huy trưởng Giao Chỉ, lập lời thề với Lê Lợi. Thông chưa đợi lệnh Minh triều mà tự ý cho rút hết quân về Quảng Tây bằng đường bộ. Các Thái giám Sơn Thọ và thuộc hạ theo đường thủy về Tần Châu. Dân và quân Minh về nước khoảng 86.640 người, số còn lại bị Lê Lợi giữ.
== Vấn đề tù binh người Minh ==
Ngày 29 tháng 12 năm 1427, khi Vương Thông rút về nước, Lê Lợi trao trả nhà Minh vừa tù binh, vừa hàng binh. Theo Minh sử, số người trở về nước là 84.640; số người bị giữ lại không tính được.
Tháng giêng năm 1428, nhà Minh có thư sang yêu cầu Lê Lợi trả hết số người và vũ khí ở Đại Việt. Lê Lợi bèn ra lệnh cấm người Việt chứa giấu người Minh, chỉ giấu 1 người cũng xử tội chết, vì vậy người Minh lần lượt ra đầu thú để về nước.
Năm 1429, Lê Lợi sai Đào Công Soạn đi sứ, dâng thư và trao trả những người và vũ khí còn lại, bao gồm quân quan 580 người, dân quân và lại 157 người, kỳ quân 15.170 người, ngựa 1.200 con
== Lê Lợi lên ngôi vua ==
Trong cuốn Việt Nam Sử Lược, nhà sử học Trần Trọng Kim có bình luận: "Giặc Minh lục-tục về bắc, bấy giờ mới thật là: Nam quốc sơn hà, nam đế cư; nước Nam lại được tự chủ như cũ." Lê Lợi sai Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh giặc Minh, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai sau bài thơ Nam quốc sơn hà.
Bài "Bình Ngô Đại cáo" trở thành một áng văn chương có giá trị to lớn dưới Vương triều nhà Lê Sơ. Sau khi quân Minh rút về, trên danh nghĩa Trần Cảo là vua Việt Nam. Theo sử sách, đầu năm 1428, Trần Cảo tự biết mình không có công, lòng người không theo nên bỏ trốn vào châu Ngọc Ma (vùng núi phía Tây), nhưng không thoát, bị bắt mang về và bị ép uống thuốc độc chết. Một số nhà nghiên cứu nghi ngờ việc Cảo phải tự bỏ trốn mà cho rằng các tướng của Lê Lợi được lệnh sát hại Cảo, hoặc Cảo bị đe doạ phải bỏ trốn. Tuy nhiên, suy cho cùng Trần Cảo cũng chỉ là con bài chính trị để Lê Lợi đối phó với nhà Minh trong một giai đoạn cần thiết. Nhà Minh lấy lý do lập con cháu nhà Trần thực chất chỉ là cớ để đánh nhà Hồ.
Lê Lợi lên ngôi hoàng đế năm 1428, tức là vua Lê Thái Tổ, chính thức dựng lên nhà Hậu Lê. Do chiến công của ông đánh bại quân Minh trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, ông trở thành một vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam.
== Phong thưởng ==
Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư Bản kỉ, quyển X ghi: " Tháng 2, định các mức khen thưởng cho những hỏa thủ và quân nhân của quân Thiết đột có công lao siêng năng khó nhọc ở Lũng nhai bao gồm 121 người.
Công hạng nhất được ban quốc tính là bọn Lê Vấn, Lê Quy, Lê Dịch, 52 người làm Vinh lộc đại phu, tả Kim ngô vệ Đại tướng quân, tước Thượng trí tự.
Công hạng hai, được ban quốc tính là bọn Lê Bồ, Lê Liệt, Lê Khảo, 72 người, làm Trung lượng đại phu, tả Phụng thần vệ tướng quân, tước Đại trí tự.
Công hạng ba, được ban quốc tính là bọn Lê Lễ 94 người, làm Trung vũ đại phu, Câu kiềm vệ tướng quân, tước Trí tự." Theo "Chức quan chí" trong sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, tháng 5 năm 1429 khi Lê Thái Tổ phong mọi tước hầu (liệt hầu) cho các công thần, gồm có 9 bậc:
Thứ nhất: Huyện thượng hầu.
Thứ hai: Á thượng hầu.
Thứ ba: Hương thượng hầu.
Thứ tư: Đình thượng hầu.
Thứ năm: Huyện hầu.
Thứ sáu: Á hầu.
Thứ bảy: Quan nội hầu.
Thứ tám: Quan phục hầu.
Thứ chín: Trước phục hầu.
Bấy giờ có 93 người được phong tước và khắc biển công thần (Những người tên chữ nghiêng đều được cải sang họ Lê của vua, ở đây ghi nguyên họ những người đó):
Huyện Thượng hầu, 3 người: Phạm Vấn, Lê Sát, Phạm Văn Xảo.
Á Thượng hầu, 1 người: Lê Ngân.
Hương Thượng hầu, 3 người: Nguyễn Lý, Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng.
Đình Thượng hầu, 14 người: Nguyễn Chích, Lê Văn An, Đinh Liệt, Lê Miễn, Đinh Lễ, Lê Chiến, Lê Khôi, Lê Đính, Lê Chuyết, Trịnh Lỗi, Nguyễn Nhữ Lãm, Lê Sao, Lê Kiệm, Lê Bật.
Huyện hầu, 14 người: Bùi Bị, Lê Bì, Lê Phủ, Lê Náo, Lê Thụ, Trương Lôi, Trịnh Khả, Lê Bồi, Lê Lang, Nguyễn Xí, Đỗ Khuyển, Đỗ Bí, Lê Quốc Trinh, Lê Bật;
Á hầu, 26 người: Lê Lạn, Lê Trãi, v.v...;
Quan nội hầu, 16 người: Lê Thiệt, Lê Chương,...
Quan phục hầu, 12 người: Phạm Cuống, Lê Dao, Nguyễn Trãi,...
Thượng trí tự trước phục hầu, 4 người: Trịnh Khắc Phục, Lê Hài, v.v...
Các tướng tử trận khi khởi nghĩa chưa kết thúc như Lê Thạch, Lê Lai, Đinh Lễ, Lý Triện cũng đều được truy tặng.
== Vai trò của hỏa lực trong khởi nghĩa Lam Sơn ==
Trong một tiểu luận được viết vào sau năm 2000, một sử gia là Sun Laichen (Tôn Lai Thần) cho rằng, khi khởi nghĩa, Lê Lợi cũng học hỏi từ cách cầm quân của Trương Phụ, sử dụng hỏa khí rất hữu hiệu để đánh lại quân Minh và giành được những thắng lợi quan trọng, như trận đánh Vương Thông ngày 8/5/1426, quân Lam Sơn đánh bại 10 vạn quân Vương Thông, tiêu diệt trên 5 vạn, bắt sống 1 vạn, khiến "vô số" quân Minh chết đuối (Minh sử ghi từ 2 đến 3 vạn quân tử trận). Nếu như trước kia thành Đa Bang thất thủ là điểm khởi đầu cho thất bại của nhà Hồ, thì sau khi khi 8 vạn quân Lam Sơn vây hạ thành Xương Giang có 2000 quân cố thủ, quân Minh cũng không gượng dậy được. Trong số 15 vạn quân tiếp viện nhà Minh gửi sang, có tới 9 vạn quân bỏ mạng trong các trận đánh tiếp theo, dù rằng cả hai tướng chỉ huy, Liễu Thăng và Mộc Thạnh đều đã từng tham gia các chiến dịch chinh phạt An Nam, bản thân Liễu Thăng cũng tử trận.
Sun Laichen (Tôn Lai Thần) tỏ ra thiếu thuyết phục khi ông nêu ra luận điểm: Chiến thắng tại trận Tốt Động-Chúc Động khiến quân khởi nghĩa thu được rất nhiều khí cụ của quân Minh, trong đó có hỏa pháo và do đó biết cách sử dụng chiến cụ này, cũng như việc Thái Phúc- viên Đô đốc trấn thành Nghệ An đầu hàng quân Lam Sơn đã khiến người Việt học được từ chính viên tướng đầu hàng này cách chế súng máy để đánh lại kẻ thù đang chiếm đóng đất nước họ.
Trên thực tế, các chi tiết về Thái Phúc chỉ được đề cập rất giản lược trong sử Việt Nam. Trong bộ sử chính thức của Trung Quốc-tác phẩm Minh thực lục- cũng chỉ tường thuật là Thái Phúc bày cho Lam Sơn cách đánh thành, không kèm theo chi tiết "bày cách chế tạo súng". Và thuyết phục hơn cả, những tường thuật về diễn biến chiến trận tại thành Xương Giang trong Minh thực lục cũng nói quân Đại Việt hạ được thành sau khi họ tăng cường tấn công, thắng cả 3 trận chiến liên tiếp ngay dưới chân thành rồi sau đó dùng thang leo được vào thành. Vai trò của hỏa pháo chỉ được đề cập như 1 công cụ hỗ trợ bên cạnh máy bắn đá, tên có đầu tẩm dầu và câu liêm.
Ngoài ra, trong tiểu luận của mình, tác giả Sun Laichen cũng tỏ ra nhầm lẫn khi ông viết rằng "theo sách Đại Việt sử ký toàn thư thì trong trận đánh quyết định, thắng quân 10 vạn quân tiếp viện nhà Minh tại Xương Giang vào cuối năm 1427, quân Đại Việt đã thu được khối lượng chiến lợi phẩm gấp 2 lần so với những gì họ đã thu được sau trận Tốt Động - Chúc Động một năm trước đó (cuối năm 1426)." Trên thực tế, chi tiết này không có trong sách Toàn thư.
Bởi lẽ đó, sẽ là xác đáng khi cho rằng trong tiểu luận của mình, Sun Laichen đã đề ra những giả thiết có sức thuyết phục và hấp dẫn nhất định; tuy nhiên những giả thiết và luận điểm của ông không được hỗ trợ bởi những ghi chép chính xác và cụ thể được ghi lại trong chính sử.
Vì thế, vai trò của hỏa lực trong thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn vẫn là vấn đề cần được nghiên cứu và tranh luận thêm.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Nhà Hậu Trần
Lê Lợi
Trần Cảo (vua)
== Tham khảo ==
=== Sách trích dẫn ===
Tiếng Việt
Việt Nam sử lược
Đại Việt thông sử
Đại Việt Sử ký Toàn thư
Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 3, Nhà xuất bản Khoa học xã hội
Tiếng Anh
Edward Dreyer (1982). Early Ming China: A political history 1355-1435. Stanford University Press. ISBN 9780804711050.
Karl Hack (2006). Colonial Armies in Southeast Asia. New York: Routledge. ISBN 0-415-33413-6.
John Whitmore (1985). Vietnam: Ho Qui Ly and the Ming. New Haven, CT. |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.