filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
đồng bằng duyên hải miền trung.txt
Đồng bằng duyên hải miền Trung là một dải các đồng bằng duyên hải ở miền Trung Việt Nam, kéo dài từ Thanh Hóa đến Bình Thuận. Do theo cấu tạo địa chất, địa hình, vị trí với đường xích đạo, chí tuyến đã dẫn tới việc phân chia rõ rệt về khí hậu, thời tiết thành 2 vùng riêng biệt là Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ === Địa hình và địa chất === Tất cả các đồng bằng miền Trung đều bắt nguồn từ một lịch sử thống nhất liên quan đến quá trình biển tiến-mài mòn mà dấu tích ngày nay là các bậc thềm đánh dấu sự dao động của mực nước qua các thời kì băng hà tan. Đi từ trong ra phía biển, địa hình thấp dần: 40-25m, 25-15m, 15-5m, 5-4m, và có tuổi trẻ dần. Điều đó chứng tỏ địa hình được nâng cao dần và liên tục. Bờ biển lùi ra xa, các con lươn con trạch tạo nên những cồn cát, những cồn cát này được gió vun lên thành những đụn cát và ngăn chặn các đầm phá. Cùng thời gian đó hình thành nên các đảo và bán đảo. Ở đồng bằng duyên hải miền Trung có những cồn cát cao tới 40-50m, và giữa chúng hình thành những mạch nước ngọt ngầm phun lên như ở Bàu Tró (Quảng Bình) Địa hình đồng bằng bị cắt xẻ bởi các nhánh núi ăn sát ra tới biển như: dãy núi Hoành Sơn-đèo Ngang, dãy núi Bạch Mã-đèo Hải Vân, dãy núi Nam Bình Định-đèo Cả. Vì vậy, địa hình đồng bằng duyên hải miền Trung mang tính chất chân núi-ven biển. Ngoài bị cắt xẻ ngang bởi các nhánh núi ăn sát ra biển, thì ở đây còn có sự phân chia dọc theo đồng bằng, đi từ trong ra ta sẽ gặp: cồn cát → đụn cát → đồi núi sót → mõm đá. Phía trong các cồn cát là các đồng bằng nhỏ hẹp có thể canh tác nông nghiệp. Còn ở dưới chân núi là vùng sỏi đá khô cằn, cỏ cây hoang dại mọc. === Khí hậu và thời tiết === Phần lớn khu vực thuộc miền khí hậu đông Trường Sơn, dẫn tới khu vực Bắc Trung Bộ chịu chế độ gió mùa hạ và gió tây khô nóng (gió Lào) từ phía Tây, còn khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ phần lớn chịu ảnh hưởng của gió mùa mùa đông từ biển thổi vào. Vùng này cũng là nơi chịu rất nhiều ảnh hưởng của các cơn bão, tập trung nhiều về tháng 9, 10, 11, 12. Trung bình có từ 0,3 đến 1,7 cơn bão/ tháng. Đặc biệt vào tháng 9, tại khu vực Bắc Trung Bộ trung bình có 1,5 cơn bão/tháng, tất cả các cơn bão đều từ hướng đông, đông bắc đổ vào Bên cạnh đó,đồng bằng duyên hải miền trung cũng là một vùng đất có nhiều thuận lợi trong việc phát triển kinh tế, đặc biệt là kinh tế biển.Nơi đây tập trung nhiều ngư trường lớn,chủ yếu là ở Nam Trung Bộ. == Tham khảo ==
rubiđi.txt
Rubidi (hay rubiđi) là một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn có ký hiệu Rb và số nguyên tử bằng 37. Rubidi là một nguyên tố kim loại màu trắng bạc, mềm trong nhóm các kim loại kiềm. Rubidi trong tự nhiên là hỗn hợp của hai đồng vị: 85Rb, là đồng vị bền duy nhất chiếm 72%. Đồng vị còn lại chiếm 28% và có tính phóng xạ là 87Rb có chu kỳ bán rã 49 tỉ năm—gấp 3 lần tuổi ước tính của vũ trụ. Rubidi rất mềm và có độ hoạt động hóa học cao, với các tính chất tương tự như các nguyên tố khác trong nhóm 1, chẳng hạn nhanh chóng bị ôxi hóa trong không khí. Các nhà hóa học người Đức Robert Bunsen và Gustav Kirchhoff đã phát hiện ra rubidi năm 1861 bằng một phương pháp mới phát triển là quang phổ ngọn lửa. == Lịch sử == Rubidi (từ tiếng Latinh rubidus, đỏ thẫm) được Robert Bunsen và Gustav Kirchhoff phát hiện năm 1861 trong khoáng vật lepidolit bằng cách sử dụng phương pháp phân tích quang phổ. Do nó cho ra các vạch đỏ tươi trong quang phổ phát xạ của nó, chúng được chọn tên có nguồn gốc từ tiếng Latinh rubidus, nghĩa là "đỏ thẫm". Rubidi có mặt với lượng nhỏ trong lepidolit. Kirchhoff và Bunsen đã xử lý 150 kg lepidolit nhưng chỉ chứa 0,24% rubidi ôxít (Rb2O). Cả kali và rubidi đều tạo thành các muối không tan với axit cloroplatinic, nhưng các muối này thể nhiệt mức độ hòa tan hơi khác nhau trong nước nóng. Vì thế, rubidi hexachloroplatinat (Rb2PtCl6) ít tan hơn có thể thu được bằng kết tinh phân đoạn. Sau khi khử hexachloroplatinat với hydro, quá trình này tạo ra 0,51 gram rubidi clorua cho các nghiên cứu tiếp theo. Việc cô lập các hợp chất caesi và rubidi quy mô lớn đầu tiên được tiến hành trên 44.000 lit nước khoáng được thực hiện bởi Bunsen và Kirchhoff, tạo ra 7,3 gram caesi clorua, 9,2 gram rubidi clorua. Rubidi là nguyên tố thứ hai, sau caesi được phát hiện trong quang phổ, chỉ một năm sau khi phát minh ra kính quang phổ bởi Bunsen và Kirchhoff. Hai nhà khoa học đã sử dụng rubidi clorua thu được để ước tính khối lượng nguyên tử của nguyên tố mới là 85,36 (giá trị hiện nay được chấp nhận là 85,47). Họ đã cố gắng tạo ra rubidi nguyên tố bằng cách điện phân nóng chảy rubidi clorua, nhưng thay vì ra được kim loại thì họ nhận được một chất đồng nhất màu xanh theo đó "nhìn bằng mắt thường hoặc kính hiển vi cũng không thấy kim loại ở dạng vết." Họ đặt cho nó là một subchlorua (Rb2Cl); tuy nhiên, sản phẩm này có thể là một hỗn hợp colloid của kim loại và rubidi clorua. Lần thử thứ hai để tạo ra kim loại rubidi, Bunsen đã có thể khử rubidi bằng cách nung cháy rubidi tartrat. Mặc dù rubidi được chưng cất là một pyrophoric, nên có thể xác định tỷ trọng và điểm nóng chảy của rubidi. Chất lượng của nghiên cứu được thực hiện trọng thập niên 1860 có thể được thẩm định bởi sự thật rằng tỉ trọng được xác định của chúng khác nhau dưới 0,1 g/cm3 và điểm nóng chảy nhỏ hơn 1 °C theo giá trị hiện được chấp nhận. Tính phóng xạ nhẹ của rubidi đã được phát hiện năm 1908, trước khi lý thuyết về đồng vị được xác lập vào thập niên 1910 và hoạt tính thấp là do chu kỳ bán rã dài của nó trên 1010 năm nên việc giải đoán trở nên phức tạp. Phân rã 87Rb hiện nay được chứng minh đối với cặp đồng vị bền 87Sr qua quá trình phân rã beta vẫn được thảo luận vào cuối thập niên 1940. Tuy nhiên, nguyên tố này chỉ có các ứng dụng công nghiệp tối thiểu cho tới tận thập niên 1920. Kể từ đó, ứng dụng quan trọng nhất của rubidi là trong nghiên cứu và phát triển, chủ yếu là các ứng dụng hóa và điện tử. Năm 1995, rubidi-87 đã được sử dụng để tạo ra ngưng tụ Bose-Einstein, với những phát hiện này, Eric Allin Cornell, Carl Edwin Wieman và Wolfgang Ketterle đã giành giải Nobel vật lý năm 2001. == Đặc trưng == Rubidi là một kim loại màu trắng bạc, mềm và dẻo. Rubidi là nguyên tố có độ âm điện đứng hàng thứ hai trong số các kim loại kiềm ổn định (sau xêzi, do franxi là nguyên tố phóng xạ) và nó bị hóa lỏng ở nhiệt độ 39,3 °C (102,7 °F).Giống như các nguyên tố nhóm 1 khác, kim loại này phản ứng dữ dội với nước để sinh ra hiđrô, tạo ra các hỗn hống với thủy ngân và tạo hợp kim với vàng, sắt, caesium, natri, và kali, nhưng không tạo hợp kim với liti (mặc dù rubidi và liti cùng một nhóm). Giống như kali và xêzi, phản ứng này tỏa nhiệt rất dữ dội, đủ để kích cháy hiđrô mới sinh ra. Người ta cũng thông báo rằng rubidi bị kích cháy tự phát trong không khí. Rubidi có năng lượng ion hóa rất thấp, chỉ khoảng 406 kJ/mol. Rubidi và kali khi cháy có màu tím rất giống nhau, do đó cần phải thực hiện các phép thử bằng quang phổ để phân biệt chúng. === Hợp chất === Rubidi clorua (RbCl) có lẽ là hợp chất được sử dụng phổ biến nhất của rubidi; nó được sử dụng trong sinh hóa để làm cho các tế bào bắt DNA và chất sinh học đánh dấu vì nó sẵn sàng giữ và thay thế kali, và có mặt ở một lượng nhỏ trong sinh vật sống. Các hơp chất phổ biến khác của rubidi như rubidi hydroxit ăn mòn (RbOH), vật liệu ban đầu cho hầu hết các quá trình hóa học gốc rubidi; rubidi carbonat (Rb2CO3), được sử dụng trong một số thủy tinh quang học, và rubidi đồng sunphat, Rb2SO4·CuSO4·6H2O. Rubidi bạc iodua (RbAg4I5) là chất bán dẫn ở nhiệt độ phòng cao nhất trong bất kỳ thủy tinh ion đã được biết, một giá trị được khai thác trong các pin film mỏng và các ứng dụng khác. Rubidi có nhiều ôxít như rubidi monoxit (Rb2O), Rb6O và Rb9O2, được tạo thành khi kim loại rubidi tiếp xúc với không khí; rubidi trong môi trường có nhiều ôxy tạo thành superôxit RbO2. Rubidi tạo thành các muối halua như rubidi florua, rubidi clorua, rubidi bromua, và rubidi iodua. === Đồng vị === Rubidi có 24 đồng vị đã biết với rubidi nguồn gốc tự nhiên chỉ là hỗn hợp của 2 đồng vị là Rb85 (72,2%) và Rb87 (27,8%, có tính phóng xạ). Hỗn hợp thông thường của rubidi có tính phóng xạ nhẹ (khoảng 670 Bq/g), đủ để làm mờ các cuộn phim trong khoảng thời gian 110 ngày. Rb87 có chu kỳ bán rã là 4,88×1010 năm, gấp 3 lần tuổi của vũ trụ,. Nó dễ dàng thay thế cho kali trong các khoáng vật, và vì thế là tương đối phổ biến. Rb đã từng được sử dụng nhiều trong xác định niên đại đá; Rb87 phân rã thành stronti87 ổn định bằng cách bức xạ một hạt beta âm. Trong kết tinh phân đoạn, stronti có xu hướng tích lũy trong plagioclase, để lại rubidi trong pha lỏng. Vì vậy, tỷ lệ Rb/Sr trong macma còn sót lại có thể tăng lên theo thời gian, tạo ra trong các loại đá với các tỷ lệ Rb/Sr tăng lên, phụ thuộc vào sự phân dị mácma. Các tỷ lệ cao (10 hay hơn thế) có trong pecmatit. Nếu như lượng stronti ban đầu là đã biết hay có thể ngoại suy ra được thì niên đại của đá có thể xác định bằng cách đo hàm lượng Rb và Sr cũng như tỷ lệ của Sr87/Sr86. Niên đại chỉ có thể chỉ ra chính xác tuổi của khoáng vật nếu như đá đó không bị biến đổi sau này. Xem cụ thể tại bài Xác định niên đại bằng Rubidi-Stronti để có thêm chi tiết. === Phổ biến === Nguyên tố này được coi là đứng thứ 23 trong số các nguyên tố phổ biến nhất trong lớp vỏ Trái Đất. Trong tự nhiên, nó có mặt trong các khoáng vật như leucit, pollucit và zinnwaldit, trong đó có chứa tới 1% ôxít của nó. Lepidolit chứa khoảng 0,3% đến 3,5% rubidi và đây là nguồn thương mại của nguyên tố này. Một số khoáng vật của kali và clorua kali cũng chứa rubidi với khối lượng đáng kể về mặt thương mại. Nước biển chứa trung bình125 µg/L rubidi cao hơn nhiều so với kali 408 mg/L và thấp hơn giá trị của casei 0,3 µg/L. Do có bán kính ion lớn nên rubidi là một nguyên tố không tương hợp." Trong quá trình kết tinh phân đoạn mácma, rubidi tập hợp cùnh với nguyên tố tương đồng và nặng hơn nó là caesi trong pha lỏng và kết tinh sau cùng. Do vậy, các mỏ rubidi và caesi lớn nhất là các thân quặng trong đới pecmatit được làm giàu qua quá trình này. Do rubidi thay thế vị trí của kali trong kết tinh mácma, quá trình làm giàu ít ảnh hưởng đến trường hợp của caesi. Các thân quặng trong đới pegmatit chứa một lượng khoáng vật caesi ở dạng pollucit hay các khoáng vật liti như lepidolit, loại này là một sản phẩm phụ cung cấp rubidi. Hai nguồn nguồn rubidi đáng chú ý là trong các trầm tích của pollucit tại hồ Bernic, Manitoba, Canada, và rubiclin ((Rb,K)AlSi3O8) được tìm thấy ở dạng tạp chất trong pollucit trên đảo Elba của Ý, với hàm lương rubidi đạt 17,5%. Cả hai nguồn này cũng là nguồn cung cấp caesi. == Sản xuất == Mặc dù rubidi phong phú trong vỏ trái đất hơn caesium, các ứng dụng hạn chế của nó và thiếu các nguồn quặng giàu rubidi nên việc sản xuất rubidi rất hạn chế, chỉ đạt khoảng 2 đến 4 tấn mỗi năm. Nhiều phương pháp hiện đã được áp dụng để tách rubidi, kali và caesi. Kết tinh phân đoạn của rubidi và caesi (Cs,Rb)Al(SO4)2·12H2O tải qua sau 30 bước để có rubidi tinh khiết. Hai phương pháp khác cũng đã được xem xét là clorostannat và ferrocyanua. Trong nhiều năm trong khoảng thập niên 1950 đến 1960, một sản phẩm phụ trong khai thác kali được gọi là Alkarb là một nguồn cung cấp rubidi chính. Alkarb chứa 21% rubidi, với phần còn lại là kali và một tỉ lệ nhỏ caesi. Ngày ngay các nhà sản xuất caesi lớn nhất như Tanco Mine, Manitoba, Canada, sản xuất ra rubidi ở dạng sản phẩm phụ từ pollucit. == Sử dụng == Các sử dụng hiện tại hay tiềm năng của rubidi là: Trong ngưng tụ Bose-Einstein. Chất lưu hoạt động trong các tua bin hơi. Chất thu khí trong các ống chân không. Thành phần của tế bào quang điện. Thành phần cộng hưởng trong các đồng hồ nguyên tử. Thành phần trong một vài loại thủy tinh đặc biệt. Sản xuất superoxit bằng cách đốt cháy trong ôxy. Trong nghiên cứu các kênh ion kali trong sinh học. Hơi rubidi được sử dụng làm từ kế nguyên tử. Rb87 hiện tại được sử dụng, cùng các kim loại kiềm khác, trong phát triển một dạng từ kế là SERF (spin-exchange relaxation-free: trao đổi spin hồi phục tự do) [1]. Rubidi rất dễ bị ion hóa, vì thế nó được xem xét để sử dụng trong các động cơ ion cho tàu vũ trụ (nhưng xêzi và xenon có hiệu quả cao hơn cho mục đích này). Các hợp chất của rubidi đôi khi cũng được sử dụng trong pháo hoa để tạo cho nó màu tím. RbAg4I5 có độ dẫn điện ở nhiệt độ phòng là cao nhất trong số các tinh thể ion đã biết. Thuộc tính này có thể là hữu ích trong các loại pin màng mỏng và trong các ứng dụng điện khác. Rubidi cũng được xem xét để sử dụng trong các máy phát điện dựa trên hiện tượng nhiệt điện sử dụng nguyên lý từ thủy động lực học, trong đó các ion rubidi được tạo ra bằng cách đốt nóng ở nhiệt độ cao và cho di chuyển qua từ trường. Các ion này dẫn điện và đóng vai trò tương tự như của phần ứng điện trong máy phát điện, vì thế sinh ra dòng điện. Rubidi, cụ thể là Rb87, trong dạng hơi, là một trong các dạng nguyên tử được sử dụng rộng rãi nhất trong làm mát laser và ngưng tụ Bose-Einstein. Các đặc trưng mong muốn của nó cho các ứng dụng này bao gồm khả năng sẵn có để dùng của ánh sáng diod laser không đắt tiền ở bước sóng thích hợp cũng như nhiệt độ vừa phải cần phải có để thu được các áp suất hơi đáng kể. Rubidi cũng đã từng được dùng để phân cực He3 (nghĩa là tạo ra một thể tích của khí He3 đã từ hóa, với các spin hạt nhân hướng về phía một hướng cụ thể nào đó trong không gian, thay vì ngẫu nhiên). Hơi rubidi được kích thích quang học bởi laser và Rb đã phân cực sẽ phân cực He3 bằng tương tác hyperfine [2], các tế bào He3 phân cực spin đang trở thành phổ biến cho các phép đo sự phân cực nơtron cũng như để sản xuất các chùm nơtron phân cực cho các mục đích khác [3]. == Cảnh báo và hiệu ứng sinh học == Rubidi phản ứng mạnh với nước và có thể gây cháy. Để đảm bảo an toàn và độ tinh khiết của nó, rubidi cần được bảo quản trong dầu khoáng khô, trong chân không hay trong môi trường của các khí trơ. Rubidi tạo thành các peroxit khi tiếp xúc với một lượng không khí nhỏ khi khuếch tán vào trong dầu, và do đó những cảnh báo về peroxit tương tự như lưu trữ kim loại kali. Rubidi, tương tự như natri và kali, gần như luôn luôn có trạng thái ôxi hóa +1. Cơ thể người có xu hướng coi các ion Rb+ như là các ion kali, và vì thế tích lũy rubidi trong chất điện giải của cơ thể. Các ion rubidi nói chung là không độc hại; một người cân nặng 70 kg pchứa trung bình khoảng 0,36 g rubidi, và giá trị này tăng lên 50 đến 100 lần không thể hiện các hiệu ứng tiêu cực ở những người tham gia thử nghiệm. Chu kỳ bán rã sinh học của rubidi ở người là 31–46 ngày. Mặc dù một phần bị thay thế kali bởi rubidi là có khả năng, những con chuột có hơn 50% kali bị thay thế trong các tế bào thì bị chết. == Xem thêm == Hợp chất của rubiđi == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phòng thí nghiệm Quốc gia Los Alamos, Hoa Kỳ – Rubidi WebElements.com – Rubidi Louis Meites, Handbook of Analytical Chemistry (New York: McGraw-Hill Book Company, 1963)
dị hình giới tính.txt
Dị hình giới tính hay dị hình lưỡng tính là sự khác biệt hình dạng rõ rệt giữa giống đực và giống cái trong cùng một loài động vật hay thực vật. Sự khác biệt này xảy ra trong các sinh vật mà sinh sản thông qua hình thức sinh sản hữu tính; ví dụ điển hình là khác biệt về đặc tính của cơ quan sinh sản. Các ví dụ khác có thể là những đặc điểm giới tính thứ cấp, kích thước cơ thể, sức mạnh thể chất và hình thái học, các đặc điểm trang trí, hành vi và những đặc điểm khác của cơ thể. Các đặc điểm như trang trí và hành vi sinh sản được tìm thấy trong chỉ giới có nghĩa là lựa chọn giới tính trong một khoảng thời gian dài dẫn đến dị hình lưỡng tính. == Chú thích ==
giải phóng (đường hà nội).txt
Đường Giải Phóng là tuyến đường trọng điểm phía đông nam của thủ đô Hà Nội, chạy qua các quận Hai Bà Trưng, Hoàng Mai, Đống Đa và Thanh Xuân. == Đặc điểm == Đường Giải Phóng chính là một đoạn của quốc lộ 1A cũ, từ Hà Nội đi vào các tỉnh phía nam. Đây là cửa ngõ phía nam của Hà Nội. Đường Giải Phóng dài 3,3 km, bắt đầu từ đoạn cuối phố Lê Duẩn (ở ngã tư Đào Duy Anh – Lê Duẩn) đến hết ngã tư giao cắt với đường Pháp Vân và Nghiêm Xuân Yêm, kết nối với đường Ngọc Hồi đi thị trấn Văn Điển, huyện Thanh Trì. Đường Giải Phóng chạy xuôi từ bắc xuống nam, là đất của xã Thịnh Liệt, Phương Liệt, huyện Thanh Trì trước, hiện nay là 2 phường Bách Khoa, Đồng Tâm, quận Hai Bà Trưng; 3 phường Giáp Bát, Thịnh Liệt, Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, phường Phương Mai, quận Đống Đa và phường Phương Liệt, quận Thanh Xuân. Đoạn cuối trước đây dân tự đặt là phố Giáp Bát. Nay tên này được đặt cho con đường chạy qua làng Giáp Bát cũ, kéo dài từ đường Giải Phóng tới phố Trương Định. Đường Giải Phóng chạy song song với đường sắt Bắc Nam, trên đó có ga Giáp Bát. == Các tuyến xe buýt chạy qua == Tuyến 03: Bến xe Giáp Bát - Bến xe Gia Lâm. Tuyến 03B: Bến xe Giáp Bát - Vincom - Phúc Lợi. Tuyến 06A: Bến xe Giáp Bát - Cầu Giẽ. Tuyến 06B: Bến xe Giáp Bát - Hồng Vân (Thường Tín). Tuyến 06C: Bến xe Giáp Bát - Phú Minh (Phú Xuyên). Tuyến 06D: Bến xe Giáp Bát - Tân Dân (Phú Xuyên). Tuyến 06E: Bến xe Giáp Bát - Phú Túc (Phú Xuyên). Tuyến 08: Long Biên - Đông Mỹ. Tuyến 16: Bến xe Nước Ngầm - Bến xe Mỹ Đình. Tuyến 18: ĐH Kinh tế quốc dân - Long Biên - ĐH Kinh tế quốc dân Tuyến 23: Nguyễn Công Trứ - Vân Hồ - Nguyễn Công Trứ Tuyến 21A: Bến xe Giáp Bát - Bến xe Yên Nghĩa. Tuyến 21B: KĐT Pháp Vân Tứ Hiệp - Bến xe Giáp Bát - Bến xe Yên Nghĩa. Tuyến 25: Nam Thăng Long - Bến xe Giáp Bát. Tuyến 26: Mai Động - SVĐ Quốc gia Tuyến 28: Bến xe Giáp Bát - Đại học Mỏ. Tuyến 29: Bến xe Giáp Bát - Tân Lập. Tuyến 32: Bến xe Giáp Bát - Nhổn (Đại học Công nghiệp Hà Nội). Tuyến 37: Bến xe Giáp Bát - Chương Mỹ Tuyến 41: Bến xe Giáp Bát - Nghi Tàm Tuyến 42: Bến xe Giáp Bát - Đức Giang. Tuyến 206: Bến xe Giáp Bát - Phủ Lý. Tuyến 209: Bến xe Giáp Bát - Hưng Yên. == Địa điểm == Ga Giáp Bát == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Các đường phố Hà Nội theo vần G
hệ số poisson.txt
Hệ số Poisson hay tỉ số Poisson (ký hiệu là ν {\displaystyle \nu } ) được đặt theo tên nhà vật lý Siméon-Denis Poisson là tỉ số giữa độ biến dạng hông (độ co, biến dạng co) tương đối và biến dạng dọc trục tương đối (theo phương tác dụng lực). Khi một mẫu vật liệu bị nén (hoặc kéo) theo một phương thì nó thường có xu hướng co lại (hoặc giãn ra) tương ứng theo phương vuông góc với phương tác dụng lực nhưng cũng có trường hợp vật liệu nở ra khi bị kéo và co lại khi bị nén. Hệ số Poisson là để miêu tả cho xu hướng này. Hệ số Poisson của vật liệu thông thường nằm trong khoảng (-1,0; 0,5). Hệ số Poisson của phần lớn vật liệu nằm trong khoảng (0,0; 0,5) như: bấc: gần 0; thép: 0,3; cao su: gần 0,5. Vật liệu không thể chịu nén lý tưởng khi bị biến dạng đàn hồi trong một khoảng nhỏ sẽ có hệ số Poisson bằng 0.5. Một số vật liệu có hệ số Poisson âm như các loại xốp polymer, các loại vật liệu này khi bị kéo sẽ giãn nở theo phương vuông góc với phương chịu lực. Giả sử vật liệu bị nén dọc trục: ν = − ε t r a n s ε a x i a l = − ε x ε y {\displaystyle \nu =-{\frac {\varepsilon _{\mathrm {trans} }}{\varepsilon _{\mathrm {axial} }}}=-{\frac {\varepsilon _{\mathrm {x} }}{\varepsilon _{\mathrm {y} }}}} với: ν {\displaystyle \nu } : hệ số Poisson, ε t r a n s {\displaystyle \varepsilon _{\mathrm {trans} }} : biến dạng ngang (biến dạng hông) (có giá trị âm nếu chịu kéo, dương nếu chịu nén) ε a x i a l {\displaystyle \varepsilon _{\mathrm {axial} }} : biến dạng dọc trục (có giá trị dương nếu chịu kéo, âm nếu chịu nén) == Cơ chế == Ở cấp phân tử, nguyên nhân của hiệu ứng Poisson là sự chuyển dịch giữa các phân tử và sự kéo giãn mối liên kết phân tử trong khung phân tử do ứng suất gây ra. Khi liên kết bị kéo giãn theo phương của ứng suất thì nó bị thu ngắn lại theo phương kia. Sự tổng hợp các thay đổi này trong toàn bộ khung phân tử sẽ gây ra hiệu ứng Poisson. == Định luật Hooke tổng quát == Đối với vật liệu đẳng hướng, biến dạng của vật liệu theo một phương sẽ gây ra biến dạng theo các phương còn lại trong không gian 3 chiều. Do đó có thể tổng quát hóa định luật Hooke trong không gian: ε x = 1 E [ σ x − ν ( σ y + σ z ) ] {\displaystyle \varepsilon _{x}={\frac {1}{E}}\left[\sigma _{x}-\nu \left(\sigma _{y}+\sigma _{z}\right)\right]} ε y = 1 E [ σ y − ν ( σ x + σ z ) ] {\displaystyle \varepsilon _{y}={\frac {1}{E}}\left[\sigma _{y}-\nu \left(\sigma _{x}+\sigma _{z}\right)\right]} ε z = 1 E [ σ z − ν ( σ x + σ y ) ] {\displaystyle \varepsilon _{z}={\frac {1}{E}}\left[\sigma _{z}-\nu \left(\sigma _{x}+\sigma _{y}\right)\right]} với ε x {\displaystyle \varepsilon _{x}} , ε y {\displaystyle \varepsilon _{y}} and ε z {\displaystyle \varepsilon _{z}} là biến dạng theo trục x {\displaystyle x} , y {\displaystyle y} và z {\displaystyle z} , σ x {\displaystyle \sigma _{x}} , σ y {\displaystyle \sigma _{y}} và σ z {\displaystyle \sigma _{z}} là ứng suất theo trục x {\displaystyle x} , y {\displaystyle y} và z {\displaystyle z} , E {\displaystyle E} là môđun đàn hồi Young (đối với vật liệu đẳng hướng môđun đàn hồi theo các trục x {\displaystyle x} , y {\displaystyle y} và z {\displaystyle z} bằng nhau) ν {\displaystyle \nu } là hệ số Poisson (đối với vật liệu đẳng hướng là như nhau theo các trục x {\displaystyle x} , y {\displaystyle y} và z {\displaystyle z} ) == Thay đổi thể tích == Độ thay đổi thể tích tương đối ΔV/V của vật kiệu do bị kéo giãncó thể tính theo công thức giản lược (chỉ khi biến dạng là nhỏ): Δ V V = ( 1 − 2 ν ) Δ L L {\displaystyle {\frac {\Delta V}{V}}=(1-2\nu ){\frac {\Delta L}{L}}} với V {\displaystyle V} thể tích Δ V {\displaystyle \Delta V} độ thay đổi thể tích L {\displaystyle L} chiều dài ban đầu Δ L {\displaystyle \Delta L} độ thay đổi chiều dài. == Hệ số Poisson của một số vật liệu == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
năm.txt
Năm thường được tính là khoảng thời gian Trái Đất quay xong một vòng quanh Mặt Trời. Đối với một người quan sát trên Trái Đất, điều này tương ứng với khoảng thời gian Mặt Trời hoàn thành một vòng quay dọc theo cung hoàng đạo. Trong thiên văn học, năm Julius là một đơn vị thời gian, định nghĩa là 365,25 ngày x 86.400 giây/ngày của hệ SI (không có giây nhuận). Do độ nghiêng trục của Trái Đất, quá trình một năm chứng kiến sự thay đổi tuần tự của các mùa, được đánh dấu bởi những thay đổi về thời tiết, các giờ ban ngày, thảm thực vật và khả năng sinh sản của chúng. Ở vùng ôn đới và ở xa địa cực, thường có bốn mùa được công nhận: mùa xuân, mùa hè, mùa thu và mùa đông, về mặt thiên văn được đánh dấu bởi các điểm xuân phân, hạ chí, thu phân và đông chí của đường đi của Mặt Trời, mặc dù các mùa khí hậu có độ trễ so với các dấu hiệu thiên văn trên. Trong một số khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới chỉ có 2 mùa: mùa mưa với mùa khô. Một năm dương lịch là một khoảng thời gian xấp xỉ của chu kỳ quỹ đạo của Trái Đất trong một lịch cụ thể. Một năm trong lịch Gregory (cũng như trong lịch Julius) có 365 ngày (năm thường) hoặc 366 ngày (năm nhuận). Chiều dài trung bình của năm trong lịch Gregory (hiện đại) là 365,2425 ngày (có tính đến các quy tắc năm nhuận cho 1 thiên niên kỷ). Từ "năm" cũng được sử dụng một cách lỏng lẻo cho các khoảng thời gian liên quan nhưng không giống hệt với năm thiên văn hoặc năm dương lịch, chẳng hạn như các năm theo mùa, năm tài chính hoặc năm học, v.v... Theo nghĩa mở rộng, năm có thể có nghĩa là chu kỳ quỹ đạo của bất cứ hành tinh nào: ví dụ, một "năm sao Hỏa" hoặc "năm sao Kim" là thời gian mà sao Hỏa hoặc sao Kim đi đủ một vòng quỹ đạo riêng. Thuật ngữ này cũng được áp dụng theo nghĩa rộng hơn cho bất kỳ thời gian dài hoặc chu kỳ nào, chẳng hạn như "Great Year". == Năm theo mùa == Một năm theo mùa là thời gian giữa tái phát liên tiếp của một sự kiện theo mùa như lũ của một con sông, sự di cư của một loài chim, sự ra hoa của một loài thực vật, sương giá đầu tiên, hoặc các trò chơi đầu tiên dự kiến của một môn thể thao nào đó. Tất cả những sự kiện này có thể có sự khác biệt lớn trong hơn một tháng từ năm này sang năm khác. == Năm dương lịch == == Năm thiên văn == == Ký hiệu ISO == Trong phụ lục thông tin, các tiêu chuẩn quốc tế ISO 80000-3 đề xuất chữ viết tắt a (tiếng Latin: annus) để đại diện cho một năm hoặc 365 hoặc 366 ngày. Trong tiếng Anh sử dụng các từ viết tắt y, yr (year) cho "năm" hoặc ya (year ago) cho "năm trước đây". Các bội số của năm trong biểu diễn thời gian quá khứ hoặc tuổi, thường ký hiệu là: Ka tức Kilo annum; Ma tức Mega annum; Ga tức Giga annum. Kèm theo, nhất là trong văn liệu tiếng Anh, có thể có chữ viết tắt BP: before present có nghĩa là "trước đây", "trước ngày nay". == Các loại năm khác == === Năm tài chính === Một năm tài chính là một khoảng thời gian 12 tháng sử dụng cho tính toán báo cáo tài chính hàng năm của các doanh nghiệp và các tổ chức khác. Ở nhiều khu vực pháp lý, các quy định về kế toán yêu cầu phải lập báo cáo như vậy một lần mỗi mười hai tháng, nhưng không yêu cầu mười hai tháng tạo thành một năm dương lịch. Ví dụ, ở Canada và Ấn Độ năm tài chính bắt đầu từ ngày 1 tháng 4; ở Anh năm tài chính bắt đầu từ 1 tháng 4 cho mục đích báo cáo thuế công ty và báo cáo tài chính của chính phủ, nhưng bắt đầu từ ngày 6 tháng 4 cho các mục đích đánh thuế cá nhân và thanh toán các lợi ích của Nhà nước; ở Úc năm tài chính bắt đầu từ ngày 1 tháng 7; trong khi tại Hoa Kỳ năm tài chính của chính phủ liên bang bắt đầu từ ngày 1 tháng 10. == Sách tham khảo == Fraser, Julius Thomas (1987). Time, the Familiar Stranger . Amherst: Nhà in Đại học Massachusetts. ISBN 0870235761. OCLC 15790499. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link) Whitrow, Gerald James (2003). What is Time?. Oxford: Nhà in Đại học Oxford. ISBN 0198607814. OCLC 265440481. == Tham khảo ==
windows 9x.txt
Windows 9x là một thuật ngữ chung chỉ một dòng các hệ điều hành máy tính Microsoft Windows được sản xuất từ năm 1995 đến năm 2000, được dựa trên hạt nhân Windows 95 và nền móng của MS-DOS, cả hai đều được cập nhật trong các phiên bản tiếp theo. Dòng Windows 9x bao gồm tất cả các phiên bản của Windows 95 và Windows 98. Windows ME cũng đôi lúc được xếp vào nhóm này. Windows 9x được chủ yếu biết đến do được sử dụng nhiều trên các máy tính để bàn. Năm 1998, Windows chiếm 82% thị phần hệ điều hành. Các phiên bản phát hành nội bộ cho các phiên bản Windows 9x là 4.x. Các phiên bản Windows dựa trên MS-DOS trước sử dụng các số hiệu phiên bản từ 3.2 trở xuống. Windows NT, được nhắm tới những người dùng chuyên nghiệp, cũng sử dụng các số tương tự nhưng tách biệt giữa 3.1 và 4.0. Phiên bản cuối cùng của Windows 9x là Windows ME, được phát hành vào tháng 9 năm 2000 với số hiệu phiên bản nội bộ là 4.9. Tất cả các phiên bản sau này của Windows, bắt đầu từ Windows 2000 và Windows XP được dựa trên mã nguồn cơ sở của Windows NT. == Xem thêm == So sánh các hệ điều hành Cấu trúc Windows 9x Windows == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Học liệu liên quan tới Windows 9x tại Wikiversity Basic Computing Using Windows/Appendices/Dual Booting trên Wikibooks Operating System Design/Case Studies/Windows 9x trên Wikibooks
khu tưởng niệm hòa bình hiroshima.txt
Khu tưởng niệm Hòa bình Hiroshima thường được biết đến với cái tên Vòm bom nguyên tử (tiếng Nhật: 原爆ドーム Genbaku Dome) là Di sản thế giới ở thành phố Hiroshima, Nhật Bản. Được thừa nhận năm 1996, khu tưởng niệm này là một phần của Công viên tưởng niệm hòa bình Hiroshima. Đây vốn là một tòa nhà được kiến trúc sư Jan Letzel người Séc thiết kế, hoàn thành xây dựng tháng 04 năm 1915 với tên gọi Nhà triển lãm thương mại tỉnh Hiroshima. Tòa nhà chính thức mở cửa phục vụ công chúng tháng 08 cùng năm. Nó được đổi tên thành Phòng trưng bày sản phẩm tỉnh Hiroshima năm 1921 và đổi tên một lần nữa vào năm 1933 thành Phòng xúc tiến công nghiệp tỉnh Hiroshima. Ngày 6 tháng 8 năm 1945, quả bom nguyên tử đầu tiên chống lại loài người đã nổ gần như ngay trên đầu tòa nhà này (tâm điểm vụ nổ cách nó 150m) và đây là công trình gần vụ nổ nguyên tử nhất chịu được sức công phá. Tòa nhà được bảo tồn nguyên trạng ngay sau vụ nổ. Ngày nay, nó là lời nhắc nhở về sự tàn phá khủng khiếp của vũ khí hạt nhân và là biểu tượng của ước mơ hòa bình cho thế giới cũng như mong muốn loại bỏ hết vũ khí hạt nhân. Mặc dầu vậy, Trung Quốc vẫn có những bảo lưu về việc thừa nhận khu tưởng niệm này như là một Di sản thế giới và đại diện của Hoa Kỳ trong Ủy ban Di sản Thế giới của UNESCO không tham gia vào quyết định của Ủy ban . Trung Quốc nêu ra rằng khu tưởng niệm này có thể bị sử dụng để làm lu mờ một thực tế rằng các quốc gia chống lại Nhật Bản trong Chiến tranh thế giới thứ hai mới là những nước gánh chịu thiệt hại nhân mạng nặng nề nhất. Hoa Kỳ lý luận rằng một khu tưởng niệm như thế đã bỏ qua bối cảnh lịch sử của vụ ném bom. == Hình ảnh == == Xem thêm == Du lịch Nhật Bản == Liên kết ngoài == == Xem thêm == Vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki Đế quốc Nhật Bản Dự án Manhattan
công nghệ ghi hình chuyển động.txt
Ghi hình chuyển động (tiếng Anh: Motion capture) hay mocap là một công nghệ nắm bắt chuyển động từ một đối tượng hoặc một người. Chúng được áp dụng vào các lĩnh vực như quân sự, giải trí, thể thao, giải phẫu học, các ứng dụng y tế, hay để tạo tầm nhìn cho robot. Chúng thường được ứng dụng trong phim hoạt hình và trò chơi điện tử, ghi lại chuyển động của diễn viên và sử dụng các thông tin để áp dụng vào các nhân vật hoạt hình 3D hoặc 2D. Khi công nghệ mocap làm chuyển động của nhân vật như ngón tay hay mặt, chúng được gọi là chuyển động riêng hoặc motion tracking hay match moving. Trong quá trình ghi lại chuyển động, chuyển động của diễn viên được ghi rất nhiều lần trên một giây. Trong khi đó, các kỹ thuật trước đây chỉ sử dụng hình ảnh từ các camera để tính toán vị trí 3D, thường chỉ nhằm mục đích chụp chuyển động là để ghi lại chuyển động của diễn viên, không xuất hiện hình ảnh của nhân vật. Những "dữ liệu hoạt hình" này được ráp vào một mô hình 3D hoạt động như diễn viên. Kĩ thuật này được áp dụng vào các phim như Chúa tể của những chiếc nhẫn và American Pop và phim được sử dụng cho các bản ráp hình vẽ tay. == Hệ thống quang học == == Tham khảo ==
nội các.txt
Nội các (tiếng Anh: Cabinet) là cơ quan gồm có các thành viên cấp cao của chính phủ, thông thường đại diện ngành hành pháp. Đôi khi nội các cũng còn được gọi là Hội đồng Bộ trưởng, Hội đồng Hành pháp, hay Ủy ban Hành pháp. == Tổng quan == Tại một số quốc gia, đặc biệt là các quốc gia sử dụng Hệ thống Westminster, nội các quyết định chung các chính sách và hướng đi chiến thuật của chính phủ, đặc biệt là các vấn đề quan hệ đến luật lệ mà Nghị viện đã thông qua. Tại các quốc gia theo tổng thống chế như Hoa Kỳ, nội các không hoạt động như một cơ quan quyền lực chung của ngành lập pháp; đúng hơn vai trò chính yếu của nó là một hội đồng cố vấn chính thức của nguyên thủ quốc gia. Theo cách này, tổng thống nhận ý kiến và lời cố vấn cho các quyết định sắp tới. Vai trò thứ hai của các viên chức nội các là điều hành các cơ quan thuộc ngành hành pháp hay các bộ. Tại đa số quốc gia trong đó có các quốc gia sử dụng hệ thống Westminster, các bộ trưởng nội các được bổ nhiệm từ trong số các thành viên đương nhiệm của ngành lập pháp và họ vẫn là thành viên của ngành lập pháp trong lúc phục vụ trong nội các. Tại các quốc gia khác, đặc biệt là các quốc gia theo tổng thống chế thì ngược lại - các thành viên nội các không thể là các nhà lập pháp đương nhiệm, và nếu nhà lập pháp nào được bổ nhiệm vào nội các thì phải từ chức trước khi nhận nhiệm sở mới trong nội các. Trong đa số chính phủ, thành viên nội các được gọi là bộ trưởng, và mỗi thành viên giữ một ngành mục khác nhau của chính phủ (thí dụ như "Bộ trưởng Môi trường" etc). Vai trò hàng ngày của đa số thành viên nội các là phục vụ trong vai trò người đứng đầu một bộ phận của bộ máy quan liêu quốc gia mà tất cả các nhân viên khác trong bộ đó phải báo cáo cho mình. Quy mô của các nội các trên thế giới thì khác nhau tuy đa số có khoảng chừng từ 10 đến 20 bộ trưởng. Các nhà nghiên cứu đã tìm ra một mối quan hệ tỉ lệ nghịch giữa mức độ phát triển của một quốc gia và quy mô nội các: trung bình mà nói, một quốc gia càng phát triển hơn thì quy mô nội các nhỏ hơn. == Nguồn gốc nội các == Trong lịch sử, nội các bắt nguồn từ phân nhóm nhỏ hơn thuộc Hội đồng Cơ Mật Hoàng gia Anh (Privy Council). Thuật từ nội các là từ tiếng Anh "cabinet" có nghĩa là một phòng riêng tương đối nhỏ, được dùng làm nơi nghỉ ngơi hay nghiên cứu. Thuật ngữ tiếng Anh như "cabinet counsel" có nghĩa là cuộc tham vấn riêng tư dành cho nhà vua, có từ cuối thế kỷ 16 và được đánh vần không chuẩn vào thời đó nên khó mà biết được ý nghĩa của nó có phải là "council" (hội đồng) hay "counsel" (cuộc tham vấn). Charles I của Anh khởi đầu "Hội đồng Nội các" chính thức trong tư cách là Hội đồng Cố vấn Hoàng gia hay "Hội đồng riêng" khi ông lên ngôi vào năm 1625. Ở Đông Á, từ Nội Các xuất phát từ Nội Các nhà Minh. Nội Các vốn chỉ Văn Uyên các, là văn phòng cho Hoàng Đế nhà Minh. Sau khi Minh Thái Tổ phế Thừa tướng Hồ Duy Dung, quyền thừa tướng bị thau tóm vào tay hoàng đế. Tuy nhiên đến năm 1402 (Kiến Văn thứ 4) Minh Huệ Tông phong đại thần tâm phúc chức Đại học sĩ, quyền như tể tướng, tùy thời can gián, từ đó hình thành quyền uy của Nội Các, xưng Các Thần. == Nội các thuộc hệ thống Westminster == Dưới hệ thống Westminster, các thành viên nội các có trách nhiệm chung đối với tất cả chính sách của chính phủ. Tất cả các bộ trưởng phải ủng hộ chính sách của chính phủ, bất kể là họ có bất đồng riêng tư hay không. Theo lý thuyết, mặc dù tất cả các quyết định được nội các xử lý chung nhưng trên thực tế nhiều quyết định được giao cho nhiều tiểu ban khác nhau của nội các và các tiểu ban này sẽ báo cáo cho toàn nội các biết những gì họ tìm thấy cũng như ý kiến của họ. Khi những ý kiến này được những người nắm giữ các bộ có liên quan đồng ý thì chúng thường được toàn nội các đồng ý sau khi được thảo luận thêm một ít thời gian. Những quyết định chung cuộc của nội các thì bí mật và các tài liệu có liên quan được đánh dấu bảo mật. Đa số các tài liệu có liên quan đến quyết định của nội các sẽ được công bố trong một khoảng thời gian đáng kể sau khi nội các đó giải tán; thí dụ thời gian là 20 năm sau khi chúng được thảo luận. Theo lý thuyết, thủ tướng là viên chức cao cấp trong số các viên chức có tư cách ngang hàng nhau (first among equals). Tuy nhiên, thủ tướng là người mà nguyên thủ quốc gia cuối cùng tìm đến để được cố vấn cho việc thực thi quyền lực hành pháp mà có thể bao gồm quyền lực tuyên chiến, sử dụng vũ khí hạt nhân, bãi nhiệm các bộ trưởng khỏi nội các, và định đoạt các bộ khi thay đổi nội các. Trong thực tế, thủ tướng ở vị trí có liên quan đến quyền lực hành pháp có nghĩa rằng thủ tướng có cấp bậc kiểm soát cao trong nội các: bất cứ sự nới rộng trách nhiệm cho hướng đi chung của chính phủ thường được thực hiện theo sự điều khiển của thủ tướng. Nội các bóng tối (shadow cabinet) là thuật từ dùng để chỉ nhóm người bao gồm những thành viên lãnh đạo hay những người ngồi ghế hàng đầu trong nghị viện quốc gia của đảng đối lập. Thông thường nhóm người này giữ những vị trí đối trọng "bóng tối" đối với các bộ nội các nhằm đặt nghi vấn những quyết định của nội các và đề nghị những chính sách khác thay thế. Hệ thống nội các Westminster là nền tảng của nhiều nội các trên thế giới vì chúng được biết đến ở các khu vực quyền lực liên bang, tỉnh (hoặc bang) của Úc, Bangladesh, Canada, Pakistan, Ấn Độ, Nam Phi, New Zealand, và các quốc gia khác trong Khối Thịnh vượng chung có kiểu mẫu nghị viện dựa theo nghị viện Vương Quốc Anh. == Nội các Hoa Kỳ == Theo học thuyết tam quyền phân lập, nội các dưới chính phủ tổng thống chế là một phần của ngành hành pháp. Theo lý thuyết, ít nhất, họ thực hiện chính sách hơn là họ tạo ra chính sách. Ngoài việc điều hành các bộ phận riêng trong ngành hành pháp, các thành viên nội các còn có trách nhiệm cố vấn cho nguyên thủ quốc gia trên các lãnh vực nằm trong phạm vi trách nhiệm của họ. Họ được bổ nhiệm và phục vụ theo ý của nguyên thủ quốc gia và vì thế họ là người phục tùng tổng thống vì họ có thể bị thay thế bất cứ khi nào. Thường thường họ là người chung đảng phái chính trị với tổng thống vì được tổng thống bổ nhiệm nhưng ngành hành pháp có quyền tự do chọn lựa bất cứ ai, kể cả thành viên của đảng đối lập với tổng thống nhưng tất cả đều phải được Quốc hội Hoa Kỳ xác nhận trước khi nhận nhiệm sở. Thông thường, ngành lập pháp hay một bộ phận của nó phải biểu quyết xác nhận việc bổ nhiệm một thành viên nội các; đây là một trong số nhiều đề mục của cái khái niệm "kiểm soát và cân bằng quyền lực" được xây dựng trong hệ thống tổng thống. Ngành lập pháp cũng có thể bãi nhiệm một thành viên nội các qua một tiến trình luận tội thường thường là khó khăn. Trong nội các, các thành viên không phục vụ để gây ảnh hưởng đối với chính sách của ngành lập pháp đến mức độ như được thấy trong một hệ thống Westminster; tuy nhiên, mỗi thành viên có khá nhiều ảnh hưởng đối với các vấn đề có liên quan đến bộ hành chính của mình. Kể từ thời chính phủ Franklin Roosevelt, tổng thống Hoa Kỳ thường xuyên làm việc qua văn phòng hành pháp của chính mình hay Hội đồng An ninh Quốc gia hơn là qua nội các như các chính phủ trước đó. == Tham khảo ==
surrey.txt
Surrey /ˈsʌri/ là một hạt ở Đông Nam Anh và là một trong các Home Counties. Hạt này giáp với Đại Luân Đôn, Kent, East Sussex, West Sussex, Hampshire và Berkshire. Thủ phủ lịch sử của hạt là Guildford. Hội đồng hạt Surrey đóng ở Kingston upon Thames, dù vùng này thuộc Đại Luân Đôn từ năm 1965. Các quận London Lambeth, Wandsworth và Southwark đã được xem là thuộc Surrey cho đến năm 1889; và Croydon, Kingston, Merton, Sutton, Barnes và Richmond - tất cả ngày nay đều thuộc Đại Luân Đôn - đã thuộc Surrey cho đến năm 1965. Surrey được chia thành 11 quận và huyện: Elmbridge, Epsom and Ewell, Guildford, Mole Valley, Reigate và Banstead, Runnymede, Spelthorne, Surrey Heath, Tandridge, Waverley, Woking. Sau cuộc bầu cử ngày 1 tháng 5 năm 2008, Đảng Bảo thủ kiểm soát toàn 10/11 hội đồng ở Surrey, với Epsom và Ewell thuộc kiểm soát Residents Association. Đảng Bảo thủ nắm giữ tất cả 11 đơn vị bầu cử nghị viện trong hạt này. == Tham khảo == Bản mẫu:Surrey
ibm.txt
IBM, viết tắt của International Business Machines, là một tập đoàn công nghệ máy tính đa quốc gia có trụ sở tại Armonk, New York, Mỹ. IBM được thành lập năm 1911 tại Thành phố New York, lúc đầu có tên là Computing Tabulating Recording (CTR) và đổi thành International Business Machines vào năm 1924. IBM là nhà sản xuất và bán phần cứng, phần mềm máy tính, cơ sở hạ tầng, dịch vụ máy chủ và tư vấn trong nhiều lĩnh vực từ máy tính lớn đến công nghệ na nô. Với hơn 350.000 nhân viên, IBM là công ty tin học lớn nhất thế giới. IBM có đội ngũ kỹ sư và nhân viên tư vấn tại 170 quốc gia. IBM còn có 8 phòng thí nghiệm trên thế giới. Nhân viên của IBM đã giành được 5 giải Nobel, 5 giải thưởng Turing, 5 huy chương công nghệ quốc gia. == Giới thiệu chung == Tập đoàn máy tính quốc tế (viết tắt là IBM, tên riêng “Big Blue” ) là một tập đoàn công nghệ máy tính đa quốc gia và đặt trụ sở chính tại Armonk, New York, USA. . Công ty là một trong số ít những công ty công nghệ thông tin với một lịch sử liên tục kể từ thế kỷ thứ 19 . IBM sản xuất và bán sản phẩm phần cứng máy tính và phần mềm, và đưa ra những công tác (dịch vụ) cơ sở hạ tầng, những công tác (dịch vụ) hosting, và những công tác dịch vụ tư vấn trong những vùng đang hạn chế từ những máy tính lớn đến những máy tính mang công nghệ nano . IBM được biết đến gần đây như là một công ty sản xuất máy tính hàng đầu thế giới, với hơn 388000 công nhân trên toàn thế giới . IBM là chủ công nhân công nghệ lớn nhất trên toàn thế giới. Đó là một lợi thế nhưng doanh thu của IBM đã bị tụt xuống hang thứ hai sau Hewlett Packard trong năm 2007 IBM giữ nhiều bằng sáng chế hơn bất kỳ công ty công nghệ nào khác ở Mỹ Nó có những kỹ sư và cố vấn trên hơn 70 nước và IBM Research có 8 phòng thí nghiệm trên toàn thế giới . Công nhân của IBM được ba giả thưởng Nobel, bốn giải thưởng Turing, năm huy chương công nghệ của quốc gia và năm huy chương khoa học của quốc gia. Như là một nhà sản xuất bộ vi xử lý, IBM là một trong 20 nhà phân phối chip bán dẫn hàng đầu thế giới . == Lịch sử == Khởi đầu công ty IBM là một công ty sản xuất máy lập bảng gần Herman Hollerith, trong Broome county, New York. Ngày 16 tháng 6 năm 1911, IBM hợp nhất thành Computing Tabulating Recording Corporation (CTB) và được đăng ký vào sở giao dịch chứng khoán New York vào năm 1916. IBM sử dụng tên hiện thời vào năm 1924 khi trở thành một trong 500 công ty trong bảng xếp hạng Fortune 500. Tháng 5 năm 2007, IBM đã công khai kế hoạch "big green", một phương án dự phòng cho kế hoạch 1 tỉ mỗi năm cho mỗi doanh nghiệp để tăng hiệu suất năng lượng. Người ta hy vọng những sản phẩm mới của IBM và những công tác dịch vụ mới sẽ giảm bớt những tiêu thụ năng lượng trung tâm dữ liệu cùng cơ sở hạ tầng công nghệ và sự biến đổi công nghệ hệ thống các máy khách vào trung tâm dữ liệu “xanh”, với năng lượng tiết kiệm xấp xỉ 42% so với một trung tâm dữ liệu trung bình. Kế họạch "big green" phác ra 5 bước cho những máy khách để cải thiện công suất năng lượng. Sáng kiến bao gồm một “green team” toàn cầu cho hơn 850 kiến trúc sư công suất năng lượng từ IBM. IBM đang xây dựng một trung tâm dữ liệu xanh trị giá 86 triệu đô la như một phần của dự án tại Boulder và sẽ củng cố gần 4000 máy chủ từ 6 vị trí toàn cầu lên 30 máy mainframe đang chạy hệ điều hành Linux. == Đồng phục == Complet màu tối hoặc màu xám, áo sơ mi trắng, và một cà vạt “sincere” là đồng phục cho những người làm thuê của IBM trong hầu hết thế kỷ 20 . Trong thời gian cải cách của IBM trong những năm 1990 , CEO Lou Gerstner bình thường hoá những hành vi và quần áo của công nhân IBM để giống với những bản sao của họ trong những công ty công nghệ lớn khác. == JAMS == Vào năm 2003 , IBM trình bày một dự án đầy tham vọng để viết lại những giá trị của công ty . Sử dụng công nghệ kỹ thuật Jam, công ty dựa trên nền tảng Intranet trực tuyến thảo luận để tìm kiếm chìa khoá để phát hành với 50000 công nhân hơn 3 ngày . Những thảo luận được phân tích bởi phần mềm phân tích văn bản phức tạp ( eClassifier ) để trực tiếp bình luận những chủ đề. Như một kết quả của Jam 2003 , những giá trị của công ty đã được cập nhật để phản chiếu ba doanh nghiệp hiện đại, những khẩu hiệu “sự hiến dâng tới mọi khách hàng là thành công “ “cải cách các vấn đề cho công ty chúng ta là cho thế giới “ “sự tin tưởng và trách nhiệm của cá nhân trong tất cả các mối quan hệ “ Vào năm 2004 , một chương trình Jam khác được chỉ đạo trong 52000 công nhân nào trao đổi thực tiễn tốt nhất trong suốt thời gian 72 giờ . Họ tập trung vào những ý tưởng có thể hỗ trợ cho việc thi hành các giá trị trước đó đã được xác định . Một sự kiện những đánh giá mới của Jam được phát triển để người sử dụng IBM lựa chọn những ý tưởng hỗ trợ những giá trị . Ban giám đốc trích dẫn Jam này khi tặng thưởng tăng lương Palmisano trong mùa xuân 2005. Trong tháng 7 và tháng 9 năm 2006 , Pamisano giới thiệu một chương trình Jam mới được gọi là InnovationJam. InnovationJam là cuộc họp để tranh luận trực tuyến lớn nhất với hơn 150000 người tham gia từ 104 nước . Những người tham gia là những người làm thuê cho IBM và gia đình của họ, những trường đại học, những đối tác, và những khách hàng . InnovationJam đã được chia thanh hai phiên họp (một trong tháng 7 và một trong tháng 9) trong vòng mỗi 72 giờ và hơn 46000 ý tưởng chính . Trong tháng 11 năm 2006 , IBM thông báo họ sẽ đầu tư 100 triệu USD cho 10 ý tưởng tốt nhất trong InnovationJam. == Mã nguồn mở == IBM đã gây được ảnh hưởng bởi “Open Source Initative”, và bắt đầu hỗ trợ Linux vào năm 1998 . Công ty đầu tư hàng tỷ USD trong những công tác dịch vụ, phần mềm dựa trên Linux trong trung tâm công nghệ Linux, mà bao gồm hơn 300 những người phát triển nhân Linux . IBM cũng sử dụng mã nguồn mở dưới nhiều giấy phép nguồn mở khác nhau, như khung phần mềm nền tảng độc lập Eclipse (giá xấp xỉ 40 triệu Usd vào thời gian đó) và Java – hệ quản trị cơ sở dữ liệu có quan hệ (RDBMS)- Apache Derby. == Project Managerment Center Of Excellence == Trung tâm quản lý dự án của IBM (PM COE) là một chương trình là một chương trình dành cho định nghĩa và việc thực hiện những bước mà IBM phải dùng đến để làm mạnh thê khả năng quản lý dự án của nó . Chức năng như kho tư tưởng của IBM, COE PM kết hợp những khuynh hướng công nghiệp và những phương hướng ngoài với doanh nghiệp IBM, tổ chức, và những nhu cầu thấu hiểu địa lý. Tất cả các giám đốc dự án IBM (PMs) phải hoàn thành các dự án hoặc việc cấp chứng thư, chứng chỉ IBM . Cấp dưới PM ( trợ lý PM và PM tư vấn liên quan ) được uỷ nhiệm làm người tự định giá sau khi được sự cho phép của các giám thị. Bậc trên PM phải thông qua một quá trình chứng chỉ IBM khó khăn . Bởi việc làm cho có hiệu lực sự thành thạo của những giám đốc dự án và những kỹ năng chống lại những tiêu chuẩn worldwide chắc chắn, chứng chỉ giúp đỡ bảo trì sự tin cậy của khách hàng trong chất lượng cao của những người chuyên nghiệp IBM cho những kỹ năng và sự kinh nghiệm của họ . == Corporate Affairs == Diversity and workforce issues Những nỗ lực của IBM để đẩy mạnh tính đa dạng lực lượng lao động và cơ hội bằng nhau, ít nhất là trước ngày thế chiến thứ nhất, khi công ty cho thuê vô hiệu hoá những người kỳ cựu . IBM là công ty công nghệ duy nhất được xếp hạng trong top 10 trong tạp chí Working Mother vào năm 2004 , và một trong hai công ty công nghệ trong năm 2005 (công ty còn lại là Hewlett Packard) Vào những năm 1990 , 2 chương trình thay đổi chính, bao gồm một sự chuyển đổi một số dư tiền mặt, dẫn đến một người làm thuê phân loại gây ra một vụ kiện khẳng định sự phân biệt tuổi . Những người làm thuê đã chiến thắng mặc dù hiện tại vẫn chưa giải quyết .IBM cũng phải giải quyết một vụ kiện cáo về giờ làm thêm trong năm 2006 . Lịch sử IBM có một danh tiếng tốt của sư duy trì nhân viên dài hạn với quy mô tận dụng thời gian tốt . Trong năm gần đây, có một số tác động tới việc cắt giảm lực lượng lao động như những sự nỗ lực của IBM để thích nghi với tình huống thị trường và khi lợi nhuận xuống dốc đang thay đổi cơ sở . Lợi tức thong được như mong đợi vào quý đầu tiên năm 2005 làm cho IBM sa thải 14500 nhân viên . Trong tháng 5 năm 2005 , IBM Ireland đóng cửa . Xưởng sản xuất di chuyển tới một công ty gọi là Amkor ở Singapore , công ty mà đã đồng ý mua doanh nghiệp vi điện tử của IBM . Ngày 8 tháng 6 nằm 2005 , công ty IBM Canada sa thải 700 vị trí . IBM Ấn Độ và IBM Trung Quốc, Philippin và CostaRica đang chứng kiến một sự bùng nổ tuyển mộ và tăng trưởng số nhân viên . Ngày 10 tháng 10 năm 2005 , IBM trở thành công ty chính đầu tiên trên thế giới mà hình thức giao phó không sử dụng thông tin di truyền trong những quyết định việc làm của nó . Việc này xảy ra vài tháng sau khi IBM được công bố National Geographic Society's Genographic Project. == Lô gô == Biểu tượng được sử dụng từ năm 1947 đến năm 1956 . Quả đại cầu quen thuộc được thay thế với những chữ cái đơn giản “IBM” Biểu tượng được dùng từ 1956 đến 1972 . Nó thể hiện một sự xuất hiện đặc hơn và cân bằng hơn Vào năm 1972 những mảnh nằm ngang bây giờ được thay thế để gợi ý “ tốc độ và thuyết động lực “ . Biểu tượng này được thiết kế bởi Paul Rand Logo được thiết kế vào những năm 1970 , hướng tới cảm giác đối với sự giới hạn kỹ thuật của những máy photo. Một biểu tượng với những vùng đặc lớn trông sẽ kém hơn cả những bản sao của những máy photo vào những năm 1970 , vì vậy những biểu tượng thường được ưu tiên không dùng những vùng đặc lớn . Năm 1972 , biểu tượng của IBM là một ví dụ của xu hướng này. Với sự phát triển của những máy sao chép kỹ thuật số vào giữa những năm 1980 , sự hạn chế kỹ thuật này phần lớn biến mất . == Ban giám đốc == Những thành viên hiện thời của ban giám đốc IBM : Cathleen Black Tổng giám đốc Hearst Magazines William Brody President, Johns Hopkins University Ken Chenault chủ tịch và giám đốc điều hành (CEO), American Express Company Juergen Dormann chủ tịch hội đồng, ABB Ltd Michael Eskew chủ tịch và giám đốc điều hành (CEO), United Parcel Service, Inc. Shirley Ann Jackson tổng giám đốc, Rensselaer Polytechnic Institut Minoru Makihara cố vấn chủ tịch tập đoàn, Mitsubishi Corporation Lucio Noto quản lý đối tác, Midstream Partners LLC James W. Owens chủ tịch và giám đốc điều hành (CEO), Caterpillar Inc. Samuel J. Palmisano tổng giám đốc, chủ tịch và giám đốc điều hành (CEO), IBM Joan Spero tổng giám đốc, Doris Duke Charitable Foundation Sidney Taurel, chủ tịch và giám đốc điều hành (CEO), Eli Lilly and Company Lorenzo Zambrano chủ tịch và giám đốc điều hành (CEO), Cemex SAB de C == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ
khối lượng riêng.txt
Khối lượng riêng của vật thể là một đặc tính về mật độ của vật chất đó, là đại lượng đo bằng thương số giữa khối lượng m của một vật làm bằng chất ấy (nguyên chất) và thể tích V của vật. Khi gọi khối lượng riêng là D, ta có: D = m V {\displaystyle D={m \over V}} Cụ thể khối lượng riêng tại một vị trí trong vật được tính bằng khối lượng của một thể tích vô cùng nhỏ nằm tại vị trí đó, chia cho thể tích vô cùng nhỏ này. Nếu chất đó có thêm đặc tính là đồng chất thì khối lượng riêng tại mọi vị trí là như nhau và bằng khối lượng riêng trung bình. Khối lượng riêng còn được gọi là mật độ khối lượng. Đại lượng vật lý này khác hẳn với đại lượng vật lý trọng lượng riêng, mọi người rất dễ gây nhầm lẫn giữa khái niệm trọng lượng và khối lượng. Trọng lượng riêng (N/m³) = Gia tốc trọng trường (≈9.8 m/s²) x Khối lượng riêng (kg/m³) Trong hệ đo lường quốc tế, khối lượng riêng có đơn vị là kilôgam trên mét khối (kg/m³). Một số đơn vị khác hay gặp là gam trên xentimét khối (g/cm³). Ý nghĩa đơn vị khối lượng riêng: kilôgam trên mét khối là khối lượng riêng của một vật nguyên chất có khối lượng 1 kilôgam và thể tích 1 mét khối. Khi biết được khối lượng riêng của một vật, ta có thể biết vật được cấu tạo bằng chất gì bằng cách đối chiếu với bảng khối lượng riêng của các chất. Khối lượng riêng một số chất ở nhiệt độ 0 °C và áp suất 760mm Hg là: Nitơ: 1,25 kg/m³ Nước đá: 999 kg/m³ Nhôm: 2601–2701 kg/m³ Kẽm: 6999 kg/m³ Vàng: 19300 kg/m³ Thủy ngân: 13600 kg/m³ Sắt: 7800 kg/m³ == Khối lượng riêng trung bình == Khối lượng riêng trung bình của một vật thể được tính bằng khối lượng, m, của nó chia cho thể tích, V, của nó, và thường được ký hiệu là ρ (đọc là "rô"): ρ = m/V == Tỷ khối, tỷ trọng == Theo quy ước, tỷ lệ giữa mật độ hoặc khối lượng riêng của một chất nào đó so với mật độ hoặc khối lượng riêng của nước ở 4°C thì được gọi là tỷ khối hoặc tỷ trọng của chất đó. Trong thực hành, nhiều phép đo khối lượng riêng được thực hiện bằng việc so sánh với nước; hơn nữa khối lượng riêng của nước xấp xỉ bằng 1000kg/mét khối, một con số dễ sử dụng trong chuyển đổi sang hệ đo lường quốc tế. Ví dụ: tỷ khối của dầu là 0,8, của nhôm là 2,7... == Đo lường == Khối lượng riêng của chất lỏng có thể được đo bằng phù kế. == Khối lượng riêng của một số chất == === Nước === == Xem thêm == Định lượng Trọng lượng riêng == Tham khảo ==
kinh kịch.txt
Kinh kịch (京劇/京剧) hay kinh hí (京戲/京戏) là một thể loại ca kịch của Trung Quốc hình thành và phát triển mạnh tại Bắc Kinh vào thời vua Càn Long của vương triều nhà Thanh, là kết quả của sự trộn lẫn giữa Huy kịch với Hán kịch. == Lịch sử == Ban đầu nghệ thuật diễn tuồng sân khấu của Trung Hoa cổ được gọi là ca kịch hay hí kịch là một thể loại diễn tuồng bao gồm ca múa (ngâm khúc kèm theo nghệ thuật vũ đạo), thậm chí có cả các loại tạp kĩ pha trộn như kể chuyện, các màn nhào lộn, xiếc, diễn hoạt kê (tiếu lâm khôi hài), đối thoại trào lộng và võ thuật. Từ thời nhà Đường trở về trước nghệ thuật diễn tuồng sân khấu được gọi là hí kịch. Các thể loại kịch của Trung Quốc cũng như các loại hình biểu diễn sân khấu tương tự tại các nước trong khu vực như Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam thường lấy các sự tích câu chuyện những vị anh hùng trong dân gian và lịch sử làm đề tài chủ đạo. Cho đến thời nhà Đường, được phát triển thành Tham quân hí (hoặc được gọi là Lộng tham quân) bao gồm hai vai: một người mặc y phục xanh lục tề chỉnh, thông minh cơ trí và linh lợi, tên vai diễn gọi là Tham quân; còn người kia ăn mặc lôi thôi, khờ khạo đần độn, tên vai diễn gọi là Thương cốt. Hai nhân vật này trong vở khi diễn thường có những lời đối đáp khôi hài trào lộng. Tham quân là vai chính, Thương cốt là vai phụ. Đôi khi Tham quân là đối tượng để làm trò cười và cuối cùng bị Thương cốt đánh đập. Đến thời nhà Tống, Tham quân hí biến thành Tạp kịch. Vai diễn cũng chỉ có hai người: Thương cốt (vai khờ khạo) được đổi thành tên Phó mạt, còn Tham quân (vai tinh khôn) được đổi tên là Phó tịnh. Trong khi diễn, diễn viên nam cũng có thể hóa trang thành nhân vật nữ để diễn xuất, được gọi là Trang đán. Đến thời Nam Tống, vùng đất Ôn Châu là nơi nổi danh về hí kịch, ca múa, nên sản sinh ra thể loại được gọi là Nam hí (hí kịch Nam Tống). Thời nhà Tống nghệ thuật diễn không chú ý đến các vai nữ (Đán giác). Vai nữ được xếp hạng là «đệ tử» (con em). Trong ban hát đều là nữ thì được gọi là «đệ tử tạp kịch». Vai chính được gọi là Chính đán, vai già là Lão đán, vai trẻ là Tiểu đán, Trà đán, Thiếp đán, v.v... Vào thời nhà Nguyên, vai nữ (đán giác) lại rất được xem trọng. Đó cũng là điểm khác biệt giữa tạp kịch thời nhà Nguyên và tạp kịch thời nhà Tống. Tính chất tạp kịch thời nhà Tống và thời nhà Nguyên có chung một tính chất là khôi hài, hoạt kê, nhưng tạp kịch thời nhà Nguyên có nhấn mạnh thêm tính chất phê phán thói đời và các tệ nạn xã hội. Tạp kịch thời nhà Nguyên là thành tựu rất lớn và ở giai đoạn đỉnh điểm hưng thịnh của nó trong suốt hai thế kỷ XIII-XIV. Nhiều nhà soạn những vở diễn tuồng múa hát rất nhiều, khoảng trên 150 người, trong số đó nổi tiếng nhất là Quan Hán Khanh có ít nhất cũng khoảng 60 vở tuồng. Tạp kịch thời nhà Nguyên thâu hóa và chuyển thể các tác phẩm văn học Trung Quốc cổ đại. Trong một vở thường có bốn hồi và đôi khi có thêm phần phi lộ. Vai chính phải hát trong thời gian diễn suốt vở kịch. Dù các nhạc phổ của Nguyên khúc không còn giữ được, nhưng qua hình ảnh và các tư liệu còn lại, người ta đã phát hiện các loại nhạc cụ gồm sáo, trống, não bạt. Các nhân vật trong tạp kịch thời nhà Nguyên là anh hùng, văn nhân, kĩ nữ, cường đạo, quan tòa, ẩn sĩ, và các vai siêu nhiên (ma, qủy, v.v...). Cuối thời nhà Nguyên, Nam hí chuyển hóa thành thể loại Truyền kỳ. Truyền kì tập trung vào các chủ đề tình cảm lãng mạn trên sân khấu trong suốt 200 năm sau đó. Âm nhạc trong thể loại Nam hí bao gồm các khúc hát và ca từ trong dân gian, các bài ca dao ở thôn quê mang tính chất đặc thù địa phương khá đậm. Do vậy trong Truyền kì nghệ thuật diễn đã phát triển thành hệ thống bốn giọng nói địa phương: Hải Diêm, Dặc Dương, Dư Diêu, và Côn Sơn. Các Khúc hát vùng Côn Sơn được gọi là Côn khúc thống lĩnh sân khấu từ cuối thời nhà Minh. Đến thời nhà Thanh thì Côn khúc được gọi là Nhã bộ, rất được giới sĩ phu trí thức hâm mộ. Vào giai đoạn Côn Khúc suy tàn, các loại hí kịch địa phương mới có dịp nở rộ và được gọi theo tên địa phương như Xuyên kịch của vùng Tứ Xuyên, Tương kịch của vùng Tương Dương, cho đến Cống kịch, Huy kịch, v.v... mà sau này tất cả được gọi là chung là Kinh Kịch. Kinh kịch đôi khi được diễn giải là loại hát kịch ở Bắc Kinh. Ngày nay, giới trẻ ở Trung Quốc không còn ham thích loại nghệ thuật sân khấu tuồng cổ này nữa. Trong Kinh kịch thường hay có các màn nhào lộn, xiếc, và diễn trò và không có vị trí gì trong võ thuật Trung Hoa. Nhưng võ thuật Trung Hoa đã thâm nhập vào loại hình nghệ thuật này và góp sức làm giàu thêm cho khung cảnh Văn hóa Trung Hoa. Sau này các diễn viên Kinh kịch được đào tạo bài bản thường chuyển sang thành các diễn viên võ thuật trong điện ảnh như Quan Đức Hưng là người đầu tiên diễn vai Hoàng Phi Hồng, Thành Long (còn gọi là Jackie Chan) trong các thể loại phim võ hài do anh đổi mới phong cách cùng với Hồng Kim Bảo để thoát ra khỏi tầm ảnh hưởng của thể loại phim Kungfu của Lý Tiểu Long khởi xướng từ cuối thập kỉ 1960, Lục Tiểu Linh Đồng trong vai Tôn Ngộ Không trong bộ phim truyền hình nhiều tập Tây du ký được chuyển thể từ tác phẩm văn học cùng tên của nhà văn Ngô Thừa Ân thời nhà Minh,... Có thể nói rằng Kinh kịch đã góp phần làm phong phú diện mạo của điện ảnh Hồng Kông và Trung Quốc hiện đại. Do đó có người cho rằng trong thể loại phim quyền cước của Hồng Kông có hai loại võ thuật là võ thuật thật sự của các võ sư và quyền sư tham gia diễn và võ thuật sân khấu của những diễn viên Kinh kịch chuyển sang. == Tham khảo ==
manchester united f.c. mùa bóng 2010-11.txt
Mùa giải 2010-11 của câu lạc bộ bóng đá Manchester United là mùa giải lần thứ 19 Premier League, và mùa giải liên tiếp thứ 36 của Manchester United ở bóng đá Anh. Đó là mùa giải đầu tiên với nhà tài trợ áo đấu mới Aon, sau khi bốn mùa với AIG. United bắt đầu mùa giải khi đánh bại Chelsea 3-1 tại Wembley vào ngày 08 tháng 08 năm 2010 để đoạt siêu cúp Anh Community Shield. == Tham khảo ==
nhóm ngôn ngữ rôman.txt
Nhóm ngôn ngữ Rôman là một phân nhóm của nhóm ngôn ngữ gốc Ý (thuộc hệ Ấn-Âu). Nhóm này là hậu thân của tiếng Latinh bình dân được dùng bởi các dân bản địa sau khi Đế quốc La Mã sụp đổ. Nhóm Rôman được chia ra làm 3 nhánh: Nhánh phía Đông, Nhánh phía Nam và Nhánh Ý-Tây. == Sơ đồ của Nhóm ngôn ngữ Rôman == Nhóm ngôn ngữ Rôman (thuộc Hệ ngôn ngữ Ấn-Âu) Nhánh phía Đông: tiếng Romana, các loại tiếng Romana tại Croatia, Hy Lạp, Macedonia... Nhánh phía Nam Tiếng Corse Nhóm Sardegna: các tiếng địa phương của đảo Sardegna. Nhánh Ý-Tây Nhánh Ý-Dalmatia Nhóm Dalmatia: tiếng Dalmatia, tiếng Istriot đều đã bị mai một. Nhóm tiếng Ý: tiếng Ý, tiếng Sicilia... Nhánh phía Tây Nhóm ngôn ngữ Gaul-Iberia Nhóm Gaul-Rôman Nhóm Gaul-Rhetia Nhóm tiếng Oïl Tiếng Pháp-Provençal Nhóm tiếng Pháp: tiếng Pháp, tiếng Norman, tiếng Picard, tiếng Wallon... Nhóm Rhetia: tiếng Romansch... Nhóm Gaul-Ý: tiếng Linguria, tiếng Piemont, tiếng Venetia... Nhóm Iberia-Rôman Nhóm Astur-Leone Nhóm Bồ-Galicia: tiếng Bồ Đào Nha... Nhóm Catalan: tiếng Catalan... Nhóm tiếng Oc: (còn gọi là Nhóm Occitan) tiếng Provençal, tiếng Gascon... Nhóm Castilia: tiếng Tây Ban Nha... Nhóm ngôn ngữ Pyrenee-Mozarabic Tiếng Mozarabic: đã bị mai một. Nhóm Pyrenee: tiếng Aragon dùng tại vùng chung quanh dãy núi Pyrenee. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Michael de Vaan, Etymological Dictionary of Latin and the other Italic Languages, Brill, 2008, 826pp. (part available freely online) Lexikon der Romanistischen Linguistik (LRL), edd. Holtus / Metzeltin / Schmitt Michael Metzeltin, Las lenguas románicas estándar. Historia de su formación y de su uso, Oviedo, 2004 Orbis Latinus, site on Romance languages Hugh Wilkinson's papers on Romance Languages Spanish is a Romance language, but what does that have to do with the type of romance between lovers?, dictionary.com Comparative Grammar of the Romance Languages Comparison of the computer terms in Romance languages
hội đồng tham mưu trưởng liên quân hoa kỳ.txt
Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ (tiếng Anh: Joint Chiefs of Staff, viết tắt là JCS) là một cơ quan có trách nhiệm tham mưu cho chính phủ dân sự Hoa Kỳ về các vấn đề quân sự và việc lãnh đạo Quân đội Hoa Kỳ. Cơ quan này gồm một Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân (Chairman of the Joint Chiefs of Staff), một Phó Chủ tịch Hội đồng, hợp cùng 5 lãnh đạo cao nhất của 4 nhánh quân chủng và Văn phòng Vệ binh Quốc gia. Tất cả đều là tướng lĩnh quân sự cao cấp, do Tổng thống Hoa Kỳ bổ nhiệm và được Thượng viện Hoa Kỳ xác nhận. Trong Khối Thịnh vượng chung Anh cũng có một cơ quan có chức năng nhiệm vụ tương tự gọi là Ủy ban Tham mưu trưởng (Chiefs of Staff Committees - CSC). Hàn Quốc thì gọi cơ quan của mình là Bộ Tham mưu hiệp đồng (합동참모본부, Hapttong Chammo Bonbu) == Lịch sử == Khi Quân đội Hoa Kỳ lớn mạnh về số lượng sau Nội chiến Hoa Kỳ, việc phối hợp các hoạt động quân sự giữa Lục quân Hoa Kỳ và Hải quân Hoa Kỳ càng ngày càng trở nên khó khăn. Việc phối hợp chiến đấu của Lục quân và Hải quân thiếu sự hỗ trợ ở cả mặt kế hoạch và tác chiến và bị giới hạn vì thiếu sự đồng thuận trong Chiến tranh Tây Ban Nha-Mỹ tại các chiến dịch ở vùng Caribe. Ban hiệp đồng Lục quân và Hải quân được Tổng thống Theodore Roosevelt thành lập vào năm 1903 gồm có các đại diện của các lãnh đạo quân sự và chỉ huy trưởng cao cấp của cả Tổng bộ Hải quân Hoa Kỳ và Tổng bộ Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ. Ban hiệp đồng này đóng vai trò như một "ủy ban cố vấn" được thành lập để hoạch định các chiến dịch hỗn hợp và giải quyết các vấn đề hiềm khích thông thường giữa hai quân chủng. Tuy nhiên, Ban hiệp đồng này chỉ hoàn thành một ít nhiệm vụ vì hiến chương của Ban không cho phép Ban bắt buộc việc thi hành các quyết định của mình. Ban cũng thiếu khả năng đưa ra ý kiến của chính mình và vì thế bị giới hạn trong phạm vi chỉ phát biểu về các vấn đề được Bộ trưởng Chiến tranh và Bộ trưởng Hải quân đưa ra mà thôi. Kết quả là Ban hiệp đồng có từ ít đến không có ảnh hưởng về cách mà Hoa Kỳ tiến hành chiến tranh trong Thế chiến thứ nhất. Sau Thế chiến thứ nhất, vào năm 1919, hai bộ trưởng đồng ý với nhau tái thành lập và làm tái sinh Ban hiệp đồng. Lần này, thành viên của Ban sẽ bao gồm các Tham mưu trưởng, Phó Tham mưu trưởng, tổng cục trưởng chiến lược của Lục quân Hoa Kỳ và tổng cục trưởng chiến lược của Hải quân Hoa Kỳ. Dưới Ban Liên quân sẽ là một bộ tham mưu được gọi là Ủy ban Kế hoạch Liên quân (Joint Planning Committee) phục vụ ban. Cùng với việc có thêm những thành viên mới, Ban Liên quân có thể đưa ra sáng kiến đề nghị của chính mình. Tuy nhiên, Ban Liên quân vẫn không có quyền hợp pháp để bắt buộc việc thi hành các quyết định của ban. Năm 1942, Tổng thống Hoa Kỳ Franklin D. Roosevelt và Thủ tướng Vương quốc Anh Winston Churchill thành lập Bộ tổng tham mưu Kết hợp (Combined Chiefs of Staff) sau vụ tấn công của Nhật Bản vào Trân Châu Cảng và Hoa Kỳ tham dự vào Chiến tranh thế giới thứ hai. Bộ tổng tham mưu Kết hợp phục vụ với vai trò của một bộ phận quân sự tối cao cho sự phối hợp chiến lược giữa Hoa Kỳ và các nước trong Khối Thịnh vượng chung Anh. Trong khi Vương quốc Anh có Ủy ban Tham mưu trưởng (Chiefs of Staff Committee) thì Hoa Kỳ không có một cơ quan quân sự nào tương ứng để cung ứng cho Bộ tổng tham mưu Kết hợp từ phía Hoa Kỳ. Mặc dù Ban Liên quân tồn tại nhưng thẩm quyền của ban ít hữu dụng đối với Bộ tổng tham mưu Kết hợp. Mặc dù vào năm 1935, ban đã xuất bản "Hành động Phối hợp Lục quân và Hải quân", đề xuất một số hướng dẫn cho các chiến dịch phối hợp trong Chiến tranh thế giới thứ hai nhưng Ban Liên quân chỉ giữ chút ảnh hưởng đối với cuộc chiến. Theo sau kết thúcChiến tranh thế giới thứ hai, Ban Liên quân chính thức bị giải thể vào năm 1947. Để lấp đầy nhu cầu cho một nỗ lực phối hợp và cung ứng công việc tham mưu, Đô đốc William D. Leahy đề nghị một khái niệm về một "bộ tư lệnh tối cao thống nhất" (unified high command) mà sau này có tên là Bộ tổng tham mưu Liên quân (Joint Chiefs of Staff). Ngày 20 tháng 7 năm 1942, Đô đốc Leahy trở thành Tham mưu trưởng của Tổng tư lệnh Lục quân và Hải quân Hoa Kỳ ("Tổng tư lệnh Lục quân và Hải quân Hoa Kỳ" là chức danh quân sự của Tổng thống Hoa Kỳ theo Điều khoản II, § 2, Hiến pháp Hoa Kỳ). Ông lập ra một bộ tổng tham mưu để phục vụ dưới quyền của ông. Các thành viên đầu tiên của Bộ tổng tham mưu mới thành lập là: *Arnold sau đó được bổ nhiệm thành Đại tướng Không quân. Cấp bậc khi ông là Tư lệnh Không lực Lục quân là Đại tướng Lục quân. KhiChiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, Bộ tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ được chính thức thành lập dưới Đạo luật An ninh Quốc gia 1947. Theo đó, cứ mỗi Đạo luật An ninh Quốc gia thì Bộ tổng tham mưu Liên quân sẽ gồm có một Tổng tham mưu trưởng, Tham mưu trưởng Lục quân, Tham mưu trưởng Không quân và Tham mưu trưởng Hải quân. Tham mưu trưởng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ phải được tham vấn về các vấn đề có liên quan đến lực lượng này, nhưng vị này không phải là thành viên thường trực. Đại tướng Lemuel C. Shepherd, Jr., Tham mưu trưởng Thủy quân Lục chiến năm 1952-55, là người đầu tiên có vai trò của một thành viên không thường trực trong hội đồng. Luật được tu chính trong nhiệm kỳ của Đại tướng Louis H. Wilson, Jr. (1975-79) cho phép Tham mưu trưởng Thủy quân Lục chiến làm thành viên thường trực của hội đồng để cân bằng với ba binh chủng khác trong Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Vị trí Tổng tham mưu phó Liên quân được Đạo luật Goldwater-Nichols năm 1986 tạo ra để giảm bớt trách nhiệm cho Tổng tham mưu trưởng Liên quân, đặc biệt các vấn đề liên quan đến trang bị. Đại tướng Colin L. Powell (1989-93) là người Mỹ gốc châu Phi đầu tiên và duy nhất tính đến năm 2009 phục vụ trong Bộ tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ. Đại tướng Peter Pace (Tổng tham mưu phó, 2001-05; Tổng tham mưu trưởng, 2005-07) là quân nhân Thủy quân Lục chiến đầu tiên phục vụ với cả hai vai trò Tổng tham mưu trưởng và Tổng tham mưu phó Liên quân. Chưa có một phụ nữ nào phục trong hội đồng. Mặc dù Tuần duyên Hoa Kỳ là một trong năm quân chủng của Hoa Kỳ nhưng Tư lệnh Tuần duyên Hoa Kỳ không phải một thành viên của Bộ tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ. Tuy nhiên vị này được hưởng lương phụ trội như các vị trong Bộ tổng tham mưu Liên quân theo Bộ luật Hoa Kỳ số 37, mục 414(a)(5) (4.000 đô la một năm, tính theo năm 2009), và được đặc quyền ưu tiên tại Thượng viện Hoa Kỳ theo Luật Thượng viện số XXIII(1) và được xem là thành viên de facto của Bộ tổng tham mưu Liên quân trong những buổi Tổng thống đọc diễn văn. Không như các Tham mưu trưởng Liên quân là những người không nắm quyền tư lệnh tác chiến quân sự, Tư lệnh Tuần duyên Hoa Kỳ chỉ huy lực lượng của mình. Các sĩ quan Tuần duyên có quyền chính thức được bổ nhiệm làm Tổng tham mưu trưởng hay Tổng tham mưu phó theo Bộ luật Hoa Kỳ số 10 U.S.C. 152(a)(1) & 154(a)(1) theo thứ tự - vì luật chỉ nói chung thuật ngữ "lực lượng vũ trang" hơn là ghi rõ binh chủng nào được quyền - nhưng chưa có một vị sĩ quan nào trong binh chủng Tuần duyên được bổ nhiệm tính đến năm 2009. == Vai trò và trách nhiệm == Sau khi tái tổ chức quân đội vào năm 1986 theo Đạo luật Goldwater-Nichols, Bộ tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ không hiện diện trong các bộ tư lệnh tác chiến thống nhất của Quân đội Hoa Kỳ. Trách nhiệm tiến hành các cuộc hành quân tác chiến bắt đầu từ Tổng thống Hoa Kỳ đến Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ và trực tiếp đến các tư lệnh của các bộ tư lệnh tác chiến và vì thế hoàn toàn không thông qua Bộ tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ. Ngày nay, trách nhiệm chính của Bộ tổng tham mưu Liên quân là làm thế nào để quân đội có thể luôn trong tình trạng sẵn sàng chiến đấu, làm sao cho chắc chắn rằng chính sách, kế hoạch và huấn luyện các binh chủng của họ thật tốt cho các tư lệnh tác chiến của họ. Ngoài ra, Tổng tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ cũng đóng vai trò làm cố vấn cho Tổng thống Hoa Kỳ và Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ. Trong vai trò chuyên về cố vấn, bộ tổng tham mưu liên quân hình thành nên bộ phận cao cấp thứ hai về chính sách quân sự sau Hội đồng An ninh Quốc gia Hoa Kỳ mà trong đó có Tổng thống và các viên chức khác ngoài Tổng tham mưu trưởng Liên quân. == Lãnh đạo == === Tổng tham mưu trưởng Liên quân === Theo luật, Tổng tham mưu trưởng Liên quân (Chairman of the Joint Chiefs of Staff) là sĩ quan quân sự cao cấp nhất của Quân đội Hoa Kỳ , và là cố vấn quân sự chính của Tổng thống Hoa Kỳ. Ông là người chủ tọa các cuộc họp và điều hợp các ý kiến của các tham mưu trưởng bao gồm tổng tham mưu trưởng, tổng tham mưu phó, Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ, Tham mưu trưởng Không quân Hoa Kỳ, Tham mưu trưởng Hải quân Hoa Kỳ, và Tham mưu trưởng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ. Bộ tổng tham mưu Liên quân có văn phòng nằm trong Ngũ Giác Đài. Tổng tham mưu trưởng Liên quân là sĩ quan cao cấp nhất so với các sĩ quan đứng đầu các binh chủng nhưng không có quyền tư lệnh đối với họ, binh chủng của họ hay các bộ tư lệnh tác chiến thống nhất . Tất cả các tư lệnh tác chiến đều nhận mệnh lệnh trực tiếp từ Bộ trưởng Quốc phòng Hoa Kỳ . Tổng tham mưu trưởng hiện tại là Đại tướng Martin Dempsey, Lục quân Hoa Kỳ, bắt đầu nhiệm kỳ của mình vào ngày 30 tháng 5 năm 2011. Ghi chú: Ngày 20 tháng 7 năm 1942, Thủy sư đô đốc William D. Leahy trở thành Tham mưu trưởng của Tổng tư lệnh Lục quân và Hải quân Hoa Kỳ (ngày 20/7/1942–21/3/1949). Thật sự ông không phải là Tổng tham mưu trưởng Liên quân. Chức vị của Leahy là tiền thân của Tổng tham mưu trưởng Liên quân. Chức Tổng tham mưu trưởng được lập và được Tướng Lục quân là Omar Bradley giữ lần đầu tiên vào năm 1949. === Tổng tham mưu phó Liên quân === Chức vụ Tổng tham mưu phó Liên quân Hoa Kỳ được lập theo Đạo luật Goldwater-Nichols năm 1986. Tổng tham mưu phó Liên quân là tướng bốn sao và theo luật là sĩ quan cao cấp đứng thứ hai trong Quân đội Hoa Kỳ (sau Tổng tham mưu trưởng Liên quân Hoa Kỳ). Nếu Tổng tham mưu trưởng vắng mặt, Tổng tham mưu phó Liên quân chủ trì các cuộc họp Bộ tổng tham mưu Liên quân. Ông cũng có thể đóng vai trò này nếu Tổng tham mưu trưởng ra lệnh. Vị trí này không phải là một vị trí thành viên có quyền biểu quyết đầy đủ trong Bộ tổng tham mưu Liên quân cho đến khi có Đạo luật Ủy quyền Quốc phòng (National Defense Authorization Act) năm 1992. Tổng tham mưu phó Liên quân là Đô đốc James A. Winnefeld, Jr. === Cố vấn cao cấp của Tổng tham mưu trưởng === Thượng sĩ William J. Gainey được chọn làm cố vấn cao cấp đầu tiên cho Tổng tham mưu trưởng Liên quân, bắt đầu từ 1 tháng 10 năm 2005. Đây là chức vụ mới nhất được thành lập để cố vấn Tổng tham mưu trưởng Liên quân về các vấn đề liên quan đến nhân sự binh sĩ trong môi trường liên quân. Chức vị Cố vấn cao cấp của Tổng tham mưu trưởng hiện nay bỏ trống. Với vai trò Cố vấn cao cấp của Tổng tham mưu trưởng, Cố vấn cao cấp sẽ là một cố vấn cho Tổng tham mưu trưởng liên quân về tất cả các vấn đề có liên quan đến việc hợp nhất, sử dụng và pháp triển tổng lực lượng liên quân. Ngoài ra vị cố vấn này cũng sẽ giúp phát triển các hạ sĩ quan bằng việc huấn luyện nghiệp vụ có liên quan đến liên quân, tăng cường việc sử dụng các hạ sĩ quan cao cấp trong các bộ tham mưu tác chiến hỗn hợp và hỗ trợ Tổng tham mưu trưởng thực hiện các trách nhiệm của mình. Vị trí này đã bị bỏ trống từ khi Thượng sĩ Gainey hồi hưu ngày 25 tháng 4 năm 2008. Cho đến tháng 9 năm 2009, chưa có đề bạc nào được đưa lên để bổ nhiệm vị trí này. == Ghi chú == == Xem thêm == Ủy ban Tham mưu trưởng (Anh) Bộ Tham mưu hiệp đồng (Hàn Quốc) Bộ Tổng Tham mưu Quân đội Nhân dân Việt Nam == Đọc thêm tiếng Anh == Gillespie, Robert M. The Joint Chiefs of Staff and the Escalation of the Vietnam Conflict, 1964-1965. Masters Thesis, Clemson University, 1994. Joint Chiefs of Staff, Organizational Development of the Joint Chiefs of Staff, 1942-1987. Joint Secretariat, Joint Chiefs of Staff, 1988. McMaster, H.R. Dereliction of Duty: Lyndon Johnson, Robert McNamara, the Joint Chiefs of Staff, and the Lies that Led to Vietnam. New York: Harper Collins, 1997. Perry, Mark Four Stars: The Inside Story of the Forty-Year Battle Between the Joint Chiefs of Staff and America's Civilian Leaders. New Yotk: Houghton Mifflin, 1989, ISBN 0-395-42923-4. Rearden, Steven L. History of the Office of the Secretary of Defense. 2 vols. Washington DC: Historical Office, Office of the Secretary of Defense, 1984. Schnabel, James F. History of the Joint Chiefs of Staff. The Joint Chiefs of Staff and National Policy 1945-1947. Volume I. Washington DC: Joint History Office, The Joint Staff, 1996. Taylor, Maxwell D. The Uncertain Trumpet. New York: Harper & Row, 1959. == Liên kết ngoài == Official site
ứng suất.txt
Ứng suất (cg. sức căng), đại lượng biểu thị nội lực phát sinh trong vật thể biến dạng (x. Biến dạng) do tác dụng của các nguyên nhân bên ngoài như tải trọng, sự thay đổi nhiệt độ, v.v. Phương trình ứng suất tổng quan: σ = F A {\displaystyle {\sigma }={\frac {F}{A}}} trong đó: σ là ứng suất, F là lực và A diện tích bề mặt. có quan hệ với: Ứng suất (vật lý) Ứng suất kéo Ứng suất nén Ứng suất cắt Áp lực Ứng suất đàn hồi trong kỹ thuật chế tạo máy == Trang liên quan == Kéo nén uốn == Tham khảo == == Tài liệu == Ameen, Mohammed (2005). Computational elasticity: theory of elasticity and finite and boundary element methods. Alpha Science Int'l Ltd. tr. 33–66. ISBN 184265201X. Atanackovic, Teodor M.; Guran, Ardéshir (2000). Theory of elasticity for scientists and engineers. Springer. tr. 1–46. ISBN 081764072X. Chadwick, Peter (1999). Continuum mechanics: concise theory and problems. Dover books on physics (ấn bản 2). Dover Publications. tr. 90–106. ISBN 0486401804. Chakrabarty, J. (2006). Theory of plasticity (ấn bản 3). Butterworth-Heinemann. tr. 17–32. ISBN 0750666382. Chatterjee, Rabindranath (1999). Mathematical Theory of Continuum Mechanics. Alpha Science Int'l Ltd. tr. 111–157. ISBN 8173192448. Chen, Wai-Fah; Han, Da-Jian (2007). Plasticity for structural engineers. J. Ross Publishing. tr. 46–71. ISBN 1932159754. Fung, Yuan-cheng; Tong, Pin (2001). Classical and computational solid mechanics. Volume 1 of Advanced series in engineering science. World Scientific. tr. 66–96. ISBN 9810241240. Hamrock, Bernard (2005). Fundamentals of Machine Elements. McGraw-Hill. tr. 58–59. ISBN 0072976829. Hjelmstad, Keith D. (2005). Fundamentals of structural mechanics. Prentice-Hall international series in civil engineering and engineering mechanics (ấn bản 2). Springer. tr. 103–130. ISBN 038723330X. Irgens, Fridtjov (2008). Continuum mechanics. Springer. tr. 42–81. ISBN 3540742972. Jaeger, John Conrad; Cook, N.G.W, & Zimmerman, R.W. (2007). Fundamentals of rock mechanics . Wiley-Blackwell. tr. 9–41. ISBN 0632057599. Lubliner, Jacob (2008). Plasticity Theory (Revised Edition) (PDF). Dover Publications. ISBN 0486462900. Mase, George E. (1970). Continuum Mechanics. McGraw-Hill. tr. 44–76. ISBN 0070406634. Mase, G. Thomas; George E. Mase (1999). Continuum Mechanics for Engineers . CRC Press. tr. 47–102. ISBN 0-8493-1855-6. Prager, William (2004). Introduction to mechanics of continua. Dover Publications. tr. 43–61. ISBN 0486438090. Smith, Donald Ray; Truesdell, Clifford (1993). An introduction to continuum mechanics -after Truesdell and Noll. Springer. ISBN 0792324544. Wu, Han-Chin (2005). Continuum mechanics and plasticity. CRC Press. tr. 45–78. ISBN 1584883634. == Tham khảo các website khác == Stress analysis, Wolfram Research ESDU Stress Analysis Methods True stress and true strain Stress-Strain Curve for Ductile Material Encyclopædia Britannica article
ngôn ngữ đánh dấu.txt
Một ngôn ngữ đánh dấu có cả văn bản và thông tin phụ về văn bản. Thông tin này, ví dụ nói về cấu trúc của tập tin hay cách trình bày văn bản, là mã đánh dấu được pha trộn vào văn bản chính. Ngôn ngữ đánh dấu hiện đại nổi tiếng nhất là HTML (Ngôn ngữ Đánh dấu Siêu văn bản), một gốc của World Wide Web. Trong lịch sử và hiện nay, mã đánh dấu được sử dụng trong ngành xuất bản để gửi thông tin về công trình giữa tác giả, nhà xuất bản, và nhà in. == Thẻ đánh dấu == Thẻ đánh dấu trong các ngôn ngữ đánh dấu có thể được hiểu như một câu ra lệnh. Nội dung nằm trong thẻ đánh dấu sẽ được điều chỉnh theo chức năng của thẻ đánh dấu. Một ví dụ về thẻ đánh dấu trong HTML: <i>Chữ in nghiêng</i> cho ra kết quả hiển thị là Chữ in nghiêng trong ví dụ trên cặp thẻ đánh dấu (thẻ mở) và (thẻ đóng) có chức năng hiển thị dòng nội dung trong nó dưới dạng in nghiêng. == Một số ngôn ngữ đánh dấu == Ngôn ngữ đánh dấu đa mục đích SGML Ngôn ngữ đánh dấu giao diện XUL Ngôn ngữ đánh dấu hình ảnh đồ họa vectơ SVG Ngôn ngữ đánh dấu phục vụ Web WSDL == Xem thêm == CSS (Cascading Style Sheets) == Tham khảo ==
phản ứng tổng hợp hạt nhân.txt
Phản ứng tổng hợp hạt nhân hay phản ứng nhiệt hạch, phản ứng hợp hạch, trong vật lý học, là quá trình 2 hạt nhân hợp lại với nhau để tạo nên một nhân mới nặng hơn. Cùng với quá trình này là sự phóng thích năng lượng hay hấp thụ năng lượng tùy vào khối lượng của hạt nhân tham gia. Nhân sắt và nickel có năng lượng kết nối nhân lớn hơn tất cả các nhân khác nên bền vững hơn các nhân khác. Sự kết hợp hạt nhân của các nguyên tử nhẹ hơn sắt và nickel thì phóng thích năng lượng trong khi với các nhân nặng hơn thì hấp thụ năng lượng. Phản ứng tổng hợp hạt nhân là một trong hai loại phản ứng hạt nhân. Loại kia là phản ứng phân hạch. Phản ứng tổng hợp hạt nhân của các nguyên tử nhẹ tạo ra sự phát sáng của các ngôi sao và làm cho bom hydro nổ. Phản ứng tổng hợp hạt nhân của các nhân nặng thì xảy ra trong điều kiện các vụ nổ sao (siêu tân tinh). Phản ứng tổng hợp hạt nhân trong các sao và các chòm sao là quá trình chủ yếu tạo ra các nguyên tố hóa học tự nhiên. Nhiên liệu thường dùng trong phản ứng tổng hợp hạt nhân là các đồng vị deuterium và tritium của hydrogen. Các đồng vị này có thể trích lấy dễ dàng từ thành phần nước biển, hoặc tổng hợp không mấy tốn kém từ nguyên tử hydrogen. Để làm cho các hạt nhân hợp lại với nhau, cần tốn một nguồn năng lượng rất lớn, ngay cả với các nguyên tử nhẹ nhất như hydro. Điều đó được giải thích là do các quá trình của phản ứng đều khó thực hiện: bước 1 cần phải nguyên tử hóa các phân tử, ion hóa hoàn toàn tất cả các nguyên tử, đồng thời tách loại electron để biến nhiên liệu phản ứng hoàn toàn trở thành hạt nhân không có electron ở thể plasma. Sau đó cần phải cung cấp động năng cực kỳ lớn cho các hạt nhân vượt qua tương tác đẩy Coulomb giữa chúng mà va vào nhau. Nhiệt độ cần thiết có thể lên đến hàng triệu độ C. Nhưng sự kết hợp của các nguyên tử nhẹ, để tạo ra các nhân nặng hơn và giải phóng 1 neutron tự do, sẽ phóng thích nhiều năng lượng hơn năng lượng nạp vào lúc đầu khi hợp nhất hạt nhân. Điều này dẫn đến một quá trình phóng thích năng lượng có thể tạo ra phản ứng tự duy trì. Tuy nhiên, từ hạt nhân sắt trở đi, việc tổng hợp hạt nhân trở nên thu nhiệt nhiều hơn tỏa nhiệt. Việc cần nhiều năng lượng để khởi động thường đòi hỏi phải nâng nhiệt độ của hệ lên cao trước khi phản ứng xảy ra. Chính vì lý do này mà phản ứng hợp hạch còn được gọi là phản ứng nhiệt hạch. Năng lượng phóng thích từ phản ứng hạt nhân thường lớn hơn nhiều so với phản ứng hóa học, bởi vì năng lượng kết dính giữ cho các nhân với nhau lớn hơn nhiều so với năng lượng để giữ các electron với nhân. Ví dụ, năng lượng để thêm 1 electron vào nhân thì bằng 13.6 eV, nhỏ hơn một phần triệu của 17 MeV giải phóng từ phản ứng D-T (deuterium-tritium, các đồng vị của hiđrô). === Ứng dụng === Hiện nay, nghiên cứu về tính khả thi của phương pháp tổng hợp hạt nhân như một nguồn cung cấp năng lượng thực tiễn đang được thực hiện với hi vọng khống chế được tốc độ cũng như lượng nhiệt của phản ứng. Với các vật liệu được biết đến ngày nay thì không có vật liệu nào chịu được nhiệt độ quá cao của phản ứng - do đó, hiện tại phản ứng nhiệt hạch được thực hiện một cách không khống chế nên gây lãng phí năng lượng. Một số nghiên cứu hướng đến việc sử dụng chùm laser hội tụ để nhắm vào nhiên liệu hạt nhân, ép chúng ở nhiệt độ rất cao để gây ra phản ứng, thay vì sử dụng nhiệt lượng tỏa ra từ khối uranium phân hạch như phương pháp truyền thống. Ngoài ra, người ta cũng có thể dùng từ trường ngoài khống chế các hạt nhân, đảm bảo chúng không va chạm vào thành bình chứa chúng, giữ cho phản ứng được thực hiện trong điều kiện ít tốn kém và hiệu suất cao. Nếu việc ứng dụng công nghệ năng lượng này trở thành hiện thực, nó sẽ trở thành nguồn năng lượng lý tưởng cho con người. Các đặc tính ưu việt như: mật độ năng lượng rất cao (lớn hơn hàng tỷ lần mật độ năng lượng của các nhiên liệu hóa thạch, hơn hàng chục lần mật độ năng lượng của nhiên liệu phân hạch), hoàn toàn không gây ô nhiễm môi trường (nếu nhiên liệu là các đồng vị hydro như deuteri, triti thì sản phẩm thải là heli, khí hiếm hoàn toàn không gây bất kì ảnh hưởng nào đến môi trường), công nghệ hạt nhân và tổng hợp đồng vị phát triển, nguồn nhiên liệu thô - hydro để tổng hợp deuteri và triti là vô tận trong vũ trụ, là những điểm vượt trội của loại hình năng lượng này mà không có loại hình năng lượng nào khác có được. Một khi công nghệ hóa hữu cơ đã phát triển được vật liệu thích hợp làm bình chứa cho phản ứng, và công nghệ hạt nhân tìm ra được phương pháp khống chế hiệu quả, thì loại năng lượng sẽ trở thành một nguồn năng lượng không thể thiếu của con người. == Xem thêm == Phản ứng hạt nhân Phản ứng phân hạch == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
arnica.txt
Arnica là một chi thực vật có hoa trong họ Cúc (Asteraceae). == Loài == Chi Arnica gồm các loài: == Chú thích == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Arnica tại Wikimedia Commons Dữ liệu liên quan tới Arnica tại Wikispecies
cờ vua.txt
Cờ vua, trước kia còn được gọi là Cờ quốc tế, là một trò chơi trên bàn và là một môn thể thao trí tuệ cho 2 người chơi. Ngày nay, cờ vua là một trong những trò chơi phổ biến nhất thế giới với hàng triệu người tại nhà riêng, trong câu lạc bộ, trực tuyến, từ xa và trong các giải đấu. Trò chơi này diễn ra trên một bảng hình vuông, gọi là bàn cờ, gồm 8 hàng (đánh số từ 1 đến 8) và 8 cột (đánh các chữ cái từ a đến h), tạo ra 64 ô hình vuông với các màu đậm và nhạt xen kẽ nhau, với mỗi người chơi sẽ có ô màu nhạt ở hàng cuối cùng bên tay phải của mình khi ngồi vào bàn chơi cờ. Mỗi người sẽ bắt đầu ván cờ với 16 quân cờ và sẽ lần lượt đi các quân của mình sau khi đối phương đã đi xong một nước (hoàn thành nước đi). Các quân cờ của mỗi bên bao gồm 8 Tốt , 2 Mã , 2 Tượng , 2 Xe , 1 Hậu và 1 Vua . Người cầm quân trắng luôn là người đi đầu tiên; người kia cầm quân đen. Các quân Hậu và Xe được gọi là quân nặng, còn Tượng và Mã được gọi là quân nhẹ. Truyền thống của thi đấu cờ đã xuất hiện từ thế kỷ 16. Ngày nay, cờ vua được công nhận là một môn thể thao chính thức bởi Ủy ban Olympic Quốc tế. Nhà vô địch Cờ vua Thế giới đầu tiên, Wilhelm Steinitz đã giành danh hiệu này năm 1886. Hiện nay Magnus Carlsen là đương kim vua cờ. Các nhà lý thuyết đã sáng tạo ra rất nhiều chiến thuật và chiến lược kể từ khi bắt đầu có cờ vua. Nhiều khía cạnh nghệ thuật cũng được tìm thấy trong cờ thế. Một trong những mục tiêu ban đầu của các nhà khoa học máy tính là tạo nên các máy tính biết đánh cờ vua. Cờ vua ngày nay bị ảnh hưởng rõ ràng bởi các chương trình chơi cờ cũng như khả năng chơi cờ trực tuyến. Năm 1997, Deep Blue trở thành chương trình đầu tiên đánh bại được một kiện tướng thế giới khi nó đánh bại Garry Kasparov. == Giới thiệu == Cờ vua không phải là một trò chơi may rủi; nó dựa thuần túy vào chiến thuật và chiến lược. Tuy thế, trò chơi này rất phức tạp đến mức thậm chí cả những người chơi hay nhất cũng không thể tính hết tất cả mọi phương án: mặc dù chỉ có 64 ô và 32 quân cờ trên bàn cờ nhưng số lượng nước đi có thể được thì còn vượt cả số lượng các nguyên tử có trong vũ trụ (xem Số Shannon). Cờ vua là một trong những trò chơi trí tuệ phổ biến nhất thế giới; nó được nói đến không chỉ như là một trò chơi mà còn là nghệ thuật, khoa học và thể thao. Cờ vua đôi khi được nhìn nhận như là trò chơi chiến tranh trừu tượng; cũng như là "các cuộc đấu trí tuệ", và việc chơi cờ vua được coi như là một cách để rèn luyện tư duy và bản lĩnh. Cờ vua được chơi để tiêu khiển cũng như để thi đấu trong các câu lạc bộ cờ vua, các giải đấu, chơi trực tuyến và chơi theo cách gửi thư. Rất nhiều biến thể và các trò chơi tương tự như cờ vua được chơi trên toàn thế giới. Trong số đó phổ biến nhất theo trật tự giảm dần về số người chơi là cờ tướng (ở Trung Quốc, Việt Nam v.v), Shogi (ở Nhật Bản) và Janggi (ở Triều Tiên). == Lịch sử == Bài chính: Nguồn gốc cờ vua Nhiều quốc gia cho rằng họ là nơi phát minh ra cờ vua trong dạng phôi thai nào đó. Phổ biến nhất thì người ta tin rằng cờ vua có nguồn gốc từ Ấn Độ, tại đó nó được gọi là chaturanga (saturanga) và có lẽ ra đời vào khoảng thế kỷ 6. Một thuyết khác cho rằng cờ vua sinh ra từ trò chơi tương tự của cờ Trung Quốc, hoặc ít nhất là từ tổ tiên của cờ tướng, là môn đã tồn tại ở Trung Quốc kể từ thế kỷ 2 TCN. Joseph Needham và David Li là hai trong số nhiều học giả theo thuyết này. Cờ vua sau đó được phổ biến về phía tây tới châu Âu và về phía đông tới Nhật Bản, sinh ra các biến thể trên đường đi của nó. Từ Ấn Độ nó đã tới Ba Tư, ở đây các thuật ngữ của nó được phiên âm sang tiếng Ba Tư và tên gọi của nó đổi thành chatrang. Từ Ba Tư nó đi vào thế giới Hồi giáo, tại đây tên gọi của các quân cờ chủ yếu vẫn giữ các dạng Ba Tư trong thời kỳ Hồi giáo ban đầu của nó. Tên gọi của nó trở thành shatranj, được phiên theo tiếng Tây Ban Nha là ajedrez và trong tiếng Hy Lạp là zatrikion, nhưng trong phần lớn các nước châu Âu khác nó được thay thế bằng phiên bản Ba Tư của từ shāh = "vua". Có một thuyết cho rằng việc thay đổi tên diễn ra bởi vì trước khi cờ vua tới châu Âu thì các nhà buôn đã tới châu Âu và mang theo các quân vua được trang trí như là các đồ vật hiếm và cùng với chúng là tên gọi shāh, tên gọi này đã bị người châu Âu phát âm sai theo nhiều cách khác nhau. Chiếu bí: Trong tiếng Anh là checkmate là từ dịch ra của cụm từ shāh māt, trong tiếng Ba Tư có nghĩa là "vua hết đường". Trong tiếng Ả Rập nó có nghĩa là "shāh bị chết", nhưng shāh không phải là một từ Ả Rập thông dụng để chỉ "vua" (ngoại trừ đôi khi trong cờ vua). Xe: Trong tiếng Anh là rook. Nó có được thông qua tiếng Ả Rập từ chữ rukh trong tiếng Ba Tư, có nghĩa là "xe ngựa kéo", nhưng cũng có nghĩa là "má" (một phần của mặt) và còn có nghĩa là một con chim huyền thoại với sức mạnh gọi là roc. Tượng: Trong tiếng Anh là bishop. Tiếng Ả Rập al-fīl (từ tiếng Ba Tư pīl) có nghĩa là "voi", nhưng ở châu Âu và phần phía tây của thế giới Hồi giáo khi đó người ta biết rất ít hoặc không biết gì về voi và tên gọi của quân cờ đến với Tây Âu theo dạng Latinh alfinus và tương tự, một từ không có nghĩa gì (trong tiếng Tây Ban Nha, nó tiến hóa thành tên gọi alfil). Tên gọi bishop của người Anh là một sự đổi tên được sáng tạo ra theo hình dáng quy ước của nó. Tuy thế, tại Nga thì tên gọi của quân cờ này là slon = "voi". Hậu: Trong tiếng Anh là queen. Tiếng Ba Tư farzīn = vizia - quan chức cao cấp trong thế giới Hồi giáo cổ, tương tự như tể tướng đã trở thành tiếng Ả Rập firzān, nó đến châu Âu trong các dạng như alfferza, fers v.v. nhưng sau đó được thay thế thành "hậu". Trò chơi này đã phổ biến trong thế giới Hồi giáo sau khi những người theo đạo Hồi xâm lược Ba Tư. Cờ vua đến Nga theo đường Mông Cổ mà tại đó người ta chơi cờ vua từ đầu thế kỷ 7. Nó đã được người Moor đưa vào Tây Ban Nha trong thế kỷ 10, và đã được miêu tả trong bản viết tay nổi tiếng thế kỷ 13 về cờ vua, cờ thỏ cáo và trò chơi xúc xắc có tên gọi Libro de los juegos. Cờ vua cũng đi theo đường bộ xuyên qua Siberi tới Alaska. == Nguyên lý chơi == === Các quy tắc của cờ vua === Để có thêm chi tiết về chủ đề này, xem Quy tắc cờ vua. Khi một ván cờ vua bắt đầu, một người chơi sẽ cầm quân đen và người chơi còn lại cầm quân trắng. Việc chọn lựa ai sẽ cầm quân đen hay trắng phụ thuộc vào thể thức chơi là giải trí hay thi đấu trong hệ thống có tổ chức. Nó có thể là do hai người thỏa thuận (giải trí) hoặc do quyết định của trọng tài trong giải đấu [1]. Bên cầm quân trắng luôn luôn được đi trước và do đó có một ưu thế nhỏ so với bên cầm quân đen. Các quân cờ cần phải xếp trên bàn cờ tiêu chuẩn với ô nằm ở hàng cuối cùng bên tay phải người chơi bao giờ cũng có màu nhạt. Các quân cờ có nước đi khác nhau. Xe (ký hiệu quốc tế R - Rook) di chuyển theo các đường thẳng dọc theo cột hay hàng tới ô còn trống mà không có quân nào cản trên đường đi hay tới ô bị quân đối phương chiếm giữ (ăn quân) nhưng không thể vượt qua quân đang đứng ở ô đó. Ngoại lệ duy nhất là trường hợp nhập thành. Khi đó nó có thể nhảy qua quân Vua của mình để đứng cạnh nó. Chỉ có Xe mới có nước đi như thế. Xem thêm nhập thành. Tượng (ký hiệu quốc tế B - Bishop) di chuyển theo đường chéo tới ô có cùng màu với nguyên lý tương tự như Xe tới ô còn trống hay ô bị quân đối phương chiếm giữ (ăn quân). Hậu (ký hiệu quốc tế Q - Queen) có nước đi là tổ hợp đơn giản của chuyển động của Xe và Tượng. Trong một nước đi nó có thể di chuyển theo đường chéo hoặc đường thẳng dọc theo cột hay hàng, với nguyên lý đi và ăn quân giống như Tượng và Xe. Mã (ký hiệu quốc tế N - Knight) có thể di chuyển tới ô còn trống hay ô bị quân đối phương chiếm giữ (ăn quân) theo dạng hình chữ L (hình chữ nhật 3×2 hay 2×3). Quân Mã không bị cản như trong cờ tướng. Tốt (không cần ký hiệu) có thể di chuyển thẳng về phía trước chỉ một ô một lần tới ô còn trống (đi mà không ăn quân), nhưng khi di chuyển quân để ăn quân đối phương thì đi chéo. Ví dụ, Tốt trắng tại ô c4 có quyền ăn quân đối phương tại b5 hoặc d5 nếu một trong hai ô này có quân đối phương chiếm hoặc di chuyển xuống ô c5 nếu ô này còn trống, trừ hai trường hợp sau: Nó có thể di chuyển 1 hoặc 2 ô nếu nó đi từ vị trí xuất phát ban đầu tới ô chưa bị chiếm giữ, nhưng không thể nhảy qua một quân khác để tới ô đó. Ví dụ Tốt trắng tại g2 có thể đi tới g3 hoặc g4 nếu đây là nước đi đầu tiên của nó và các ô này chưa bị chiếm giữ, nhưng nó không thể đi tới g4 nếu ô g3 đã có một quân nào đó chiếm giữ. Trong trường hợp khi một quân Tốt nào đó của bên trắng đạt tới hàng 5 (ví dụ tới ô e5) và quân Tốt thuộc một trong hai cột của bên đen nằm ngay bên cạnh cột mà Tốt trắng này đang chiếm giữ (trong trường hợp đã cho là cột d và cột f) đi từ vị trí xuất phát đầu tiên (d7 hay f7) nhảy liền 2 ô tới ô d5/f5 thì Tốt trắng tại vị trí e5 ngay tại nước đi sau đó có quyền ăn Tốt đen tại ô d5/f5 và di chuyển tiếp tới ô d6/f6. Quyền này sẽ tự động mất, nếu tại nước đi ngay sau đó quân trắng di chuyển quân khác. Tương tự như vậy cho Tốt đen khi nó đã chiếm giữ hàng 4. Đây là trường hợp mà trong cờ vua người ta gọi là bắt tốt qua đường (en passant). Tốt còn một đặc điểm nữa là khi nó di chuyển đến hàng cuối cùng thì người chơi có quyền phong cấp cho nó thành bất kỳ quân nặng hay nhẹ nào (Hậu, Xe, Tượng, Mã). Vua (ký hiệu quốc tế là K - King) là quân quan trọng nhất, nếu mất Vua thì người chơi thua cuộc. Mỗi lần đi nó có thể ăn quân hoặc di chuyển sang các ô bao quanh ô mà nó hiện tại đang chiếm giữ, nhưng không thể tới ô mà quân của mình đang chiếm giữ hay các ô bị quân đối phương kiểm soát. Ngoại lệ duy nhất là trường hợp nhập thành. Khi đó nó có thể di chuyển qua hai ô đồng thời với việc di chuyển quân Xe của mình để quân Xe đó đứng bên cạnh nó về phía cột trung tâm. Ký hiệu của nhập thành là 0-0 (nhập thành gần) và 0-0-0 (nhập thành xa). Xem thêm nhập thành. Lưu ý: Khi thực hiện nhập thành trên thực tế, theo luật của FIDE, bao giờ cũng phải di chuyển Vua trước và thực hiện bằng một tay duy nhất. Khi ăn quân đối phương, quân tấn công sẽ di chuyển tới ô đó và thay thế cho quân đối phương tại vị trí này, bắt tốt qua đường (en passant) là ngoại lệ duy nhất. Quân bị ăn được loại ra khỏi bàn cờ. Vua không thể không bảo vệ khỏi nước chiếu, do đó khi bị chiếu thì người chơi phải thực hiện các biện pháp nhằm cứu Vua (di chuyển Vua khỏi vị trí bị chiếu, ăn quân đang chiếu hay dùng quân khác của mình cản đường chiếu nếu có thể). Nếu không thể có nước đi để cứu Vua thì người chơi bị chiếu bí và thua cuộc. Các ván cờ không phải bao giờ cũng kết thúc bằng chiếu bí. Có thể một bên xin thua, có thể thua do hết giờ hoặc phạm luật chơi. Có thể xảy ra các ván cờ hòa. Một ván cờ vua là hòa khi: do thỏa thuận của hai bên do không bên nào dám mạo hiểm hay khi không đủ lực lượng để chiếu hết, rơi vào trạng thái hết nước đi (stalemate), cả hai bên lặp lại nước đi ba lần hay luật 50 nước đi (perpetual check). === Chiến lược và chiến thuật === Để có thêm chi tiết, xem Chiến lược và chiến thuật cờ vua. Khai cuộc là một loạt các nước đi lúc bắt đầu chơi, thông thường là được ghi nhớ sẵn, điều này giúp cho người chơi xây dựng các thế đứng và phát triển quân để chuẩn bị cho giai đoạn trung cuộc. Các thế khai cuộc thông thường được xây dựng trên nguyên tắc chiếm giữ phần trung tâm bàn cờ (gồm 4 ô trung tâm e4, e5, d4 và d5), phát triển quân, bảo vệ vua và tạo ra một cấu trúc tốt đủ mạnh. Quan điểm của cờ vua hiện đại cho rằng việc kiểm soát trung tâm không chỉ là bằng các Tốt mà còn nhờ sức mạnh của các quân khác. Một cách rất quan trọng để bảo vệ Vua và triển khai nhanh quân Xe là nhập thành nhằm đưa Vua vào vị trí khó bị tấn công, tuy nhiên không phải trong bất kỳ ván cờ nào cũng cần nhập thành. Xem thêm Danh sách các khai cuộc cờ vua để có thêm thông tin. Việc lượng giá quân cờ là một phần quan trọng khi thực hiện việc đổi quân trong cờ vua. Các lượng giá khác nhau không đáng kể trong các sách dạy chơi cờ vua, nhưng nói chung thì người ta cho rằng Hậu trị giá 9 điểm, Xe trị giá 5 điểm, Tượng và Mã đều trị giá 3 điểm và Tốt trị giá 1 điểm. Do việc mất Vua tương đương với thua cờ nên giá trị của nó là vô hạn, trong cờ tàn nó khoảng 3,5 điểm. Trong lập trình cờ vua, thường người ta cho Vua một giá trị rất lớn nào đó (chẳng hạn 2000 điểm). Giá trị thực sự và tầm quan trọng của quân cờ thực ra là không thể chỉ gán đơn giản như vậy do nó còn phụ thuộc vào thế cờ. Ví dụ một quân Xe đang nằm ở vị trí xấu không có giá trị bằng một con Mã đang có thế đứng tốt. Nếu một người chơi thực hiện việc thí quân (cho phép đối phương bắt quân có trị giá cao của mình) thì thông thường họ sẽ bỏ qua các giá trị danh định dành cho quân đó để đổi lấy các ưu thế về chiến lược hay ưu thế về vị trí của các quân đang tấn công. Một số nguyên lý cơ bản về thế cờ phổ biến đối với phần lớn các chiến thuật cờ và bẫy cờ như: Nĩa [còn gọi là đòn đôi] (tiếng Anh: fork) là một tình huống khi một quân di chuyển tới vị trí mà nó uy hiếp hai hay nhiều quân của đối phương cùng một lúc. Nó thông thường là rất khó cho đối phương để bảo vệ cả hai quân của mình trong cùng một nước đi. Ghim [còn gọi là giằng quân] (tiếng Anh: pin) cũng có thể sử dụng để ngăn chặn đối phương di chuyển quân bằng cách đe dọa gián tiếp bất kỳ quân nào đứng sau quân bị ghim nếu quân bị ghim đó di chuyển. Xiên (tiếng Anh:skewer) là một tình huống ngược với ghim khi quân có giá trị cao hơn đang bị tấn công và nó lại đứng trước quân ít giá trị. Một loại hình khác là một quân di chuyển ra khỏi vị trí mà nó đang đứng để mở đường cho quân khác tấn công gọi là "mở đường bắt quân". Các nguyên lý chiến thuật khác còn có: nước trung gian (dịch của zwischenzug trong tiếng Đức, có nghĩa là khi một bên đe dọa tấn công một mục tiêu nào đó, thay vì bảo vệ mục tiêu thì đối phương phản công vào mục tiêu khác nhằm giảm áp lực lên các quân đang bị tấn công của mình), xói chân (tức là khi quân đối phương được bảo vệ bằng ít lực lượng hơn so với lực lượng tấn công thì người ta thường tìm cách đổi quân để thu được ưu thế về lực lượng, chủ yếu là đánh vào các quân bảo vệ để đánh mất sự ràng buộc bảo vệ của chúng), quá tải (tức là khi một quân bị hãm vào thế phải chống đỡ và bảo vệ nhiều mục tiêu) và che mặt (khi người chơi di chuyển một quân vào vị trí mà nếu đối phương bắt quân đó bằng bất kỳ quân nào đều dẫn đến tình trạng mà lực lượng của người đó sẽ có lợi thế hơn hẳn trong các nước đi tiếp sau đó như phong Tốt thành Hậu, bắt được quân có giá trị hơn do nó đã bị mất sự bảo vệ). Trong quá trình tàn cuộc các Tốt và Vua trở nên tương đối mạnh hơn do khi đó lực lượng quân nặng và nhẹ của cả hai bên đều suy giảm rõ rệt. Cả hai bên khi đó đều có xu hướng di chuyển Tốt thật nhanh nhằm phong cấp cho nó. Nếu một người chơi có ưu thế rõ rệt về lực lượng thì việc chiếu bí chỉ là vấn đề thời gian và ván cờ sẽ kết thúc nhanh chóng, nhưng nếu ván cờ là tương đối cân bằng về lực lượng thì việc nắm chiến thuật cờ tàn là rất quan trọng. Trong các giải cờ tính giờ thì việc kiểm soát nhịp độ (thời gian cho mỗi nước đi) là cực kỳ quan trọng khi còn ít quân trên bàn cờ. Trong nhiều trường hợp, người chơi có ưu thế về lực lượng nhưng lại thua cờ do hết thời gian. Ngoài ra khi lực lượng không đủ để chiếu bí và cả hai đã thực hiện đủ số nước đi quy định theo thời gian mà không có sự di chuyển quân Tốt thì ván cờ dẫn đến hòa. Ví dụ người chơi còn 1 Vua và 2 Mã thì trong phần lớn các trường hợp không thể chiếu bí đối phương chỉ còn 1 Vua (có một thế ngoại lệ). === Các biến thể của hình thức chơi === Bên cạnh thể thức chuẩn của cờ vua còn phổ biến nhiều thể thức khác trong các cuộc chơi cờ. Cờ nhanh là một thể thức của cờ vua trong đó thời gian chơi bị giới hạn cho mỗi người chơi trong một khoảng ngắn. Nói chung mỗi bên chỉ có từ 3 đến 15 phút (5 phút là phổ biến nhất) cho toàn bộ các nước đi. Thể thức nhanh hơn là cờ chớp. Thời gian ở đây ít hơn 3 phút. Cờ nhanh đòi hỏi người chơi phải suy nghĩ nhanh nếu không họ có thể thua vì hết giờ. Khi chơi cờ nhanh các máy tính có ưu thế hơn so với người. Khi hai người ở xa nhau họ vẫn có khả năng chơi cờ với nhau. Cờ thư tín là loại hình cờ vua được chơi thông qua thư từ, thư điện tử hay các máy chủ cờ vua thư tín đặc biệt. Ngày nay, cờ vua thông thường được chơi trên Internet thông qua Câu lạc bộ cờ vua Internet, Yahoo! Games hay các máy chủ khác. == Cờ vua hiện đại == Ban đầu các quân cờ của người châu Âu có nhiều giới hạn về nước đi. Tượng chỉ có thể đi bằng cách nhảy chính xác qua 2 ô theo đường chéo, Hậu chỉ có thể di chuyển theo đường chéo là một ô, Tốt không thể di chuyển 2 ô trong nước đi đầu tiên của nó và không có nhập thành. Cuối thế kỷ 15, các quy tắc hiện đại đối với các nước đi cơ bản đã được chấp nhận từ Ý: quân Tốt có khả năng đi hai ô nếu đang ở vị trí xuất phát (nhảy) và khả năng bắt quân theo kiểu "bắt tốt qua đường" (en passant), Tượng có được nước đi như ngày nay và Hậu đã trở thành quân mạnh nhất; do đó cờ vua hiện đại được nói đến như là "cờ của quân Hậu", "cờ Hậu điên". Trò chơi này kể từ đó đã gần giống như cờ ngày nay. Các quy tắc hiện nay đã được hoàn thiện xong vào đầu thế kỷ 19, ngoại trừ các điều kiện chính xác là một cờ hòa. Thiết kế quân cờ phổ biến nhất là bộ cờ "Staunton", được Nathaniel Cook tạo ra năm 1849, được một kì thủ hàng đầu vào thời đó là Howard Staunton phổ biến và được Liên đoàn cờ vua thế giới chính thức công nhận năm 1924. Tổ chức quốc tế về cờ là FIDE, đã tổ chức giải vô địch thế giới trong hàng chục năm. Xem Giải vô địch cờ vua thế giới để có thêm chi tiết và hiểu sâu thêm về lịch sử của nó. Phần lớn các quốc gia cũng có tổ chức cờ vua quốc gia. Mặc dù hiện nay cờ vua không phải là một môn thể thao trong Thế vận hội, nhưng nó có Thế vận hội cờ vua riêng (Olympiad cờ vua), tổ chức 2 năm một lần theo thể thức thi đấu đồng đội. == Ký hiệu == Cho đến những năm 1970, ít nhất là tại các nước nói tiếng Anh, các cuộc đấu cờ vua được ghi chép lại và xuất bản bằng cách sử dụng ký hiệu cờ vua miêu tả. Nó đã được thay thế bằng ký hiệu cờ vua đại số cô đọng hơn. Một số loại ký hiệu khác đã được sinh ra, dựa trên cơ sở ký hiệu cờ vua đại số, để ghi chép các ván cờ trong các định dạng phù hợp với các xử lý trên máy tính. Trong số đó, Portable Game Notation (PGN, Ký pháp trận đấu khả chuyển) là phổ biến nhất. Bên ngoài việc ghi lại các ván cờ còn có ký hiệu Forsyth-Edwards để ghi lại các thế đặc biệt. Nó có ích nhằm tạm hoãn ván cờ để có thể hồi phục lại sau này hoặc để chuyển các vấn đề về thế cờ mà không cần có biểu đồ. == Cờ vua trên máy tính == Bài chính: Cờ vua máy tính Đã từng là trò chơi trí tuệ chỉ dành cho con người, ngày nay cờ vua được cả người lẫn máy tính chơi. Đầu tiên, việc máy tính chơi cờ chỉ là điều hiếu kỳ, nhưng hiện nay các chương trình cờ vua tốt nhất - như Shredder, Fritz v.v. - đã trở nên mạnh hơn con người, đặc biệt là trong cờ nhanh, kể cả khi nó được chạy trên các máy tính thông thường. Garry Kasparov, khi còn là số một thế giới về cờ vua, đã chơi một trận đấu 6 ván với máy tính chơi cờ của IBM có tên gọi là Deep Blue trong tháng 2 năm 1996. Deep Blue đã gây sốc cả thế giới khi thắng ván đầu tiên trong Deep Blue - Kasparov, 1996, Ván 1, nhưng Kasparov đã thắng trận khi thắng 3 và hòa 2 ván tiếp theo. Trận tái đấu 6 ván diễn ra tháng 5 năm 1997 đã có phần thắng nghiêng về máy (về thực tế là một Deep Blue cải tiến) và sau đó IBM tuyên bố cho nghỉ. Trong tháng 10 năm 2002, Vladimir Kramnik đã hòa trong một trận đấu 8 ván với chương trình Deep Fritz. Năm 2003, Kasparov hòa cả trận 6 ván với chương trình Deep Junior trong tháng 2, và trận 4 ván với X3D Fritz trong tháng 11. Máy tính chơi cờ Hydra là hậu duệ có trí tuệ của Deep Blue; và có lẽ nó mạnh hơn Deep Blue. Tháng 6 năm 2005, Hydra đã thắng oanh liệt trên số 7 thế giới khi đó là đại kiện tướng Michael Adams trong một trận đấu 6 ván với tỷ số 5,5-0,5. Thất bại của Kasparov trước Deep Blue đã sinh ra một ý tưởng sáng tạo những biến thể cờ vua trong đó trí tuệ con người có thể vượt trội so với khả năng tính toán của máy tính và cố gắng của lập trình viên. Cụ thể là Arimaa, cũng được chơi trên bàn cờ tiêu chuẩn 8×8, là một loại trò chơi mà trong đó con người có thể đánh bại những cố gắng cao nhất của các lập trình viên, thậm chí ngay cả khi chơi rất nhanh. == Các biến thể của cờ vua == Để có thêm thông tin, xem Biến thể cờ vua. Các biến thể của cờ vua được tạo ra từ cờ vua nhưng ở đây trò chơi này được chơi trên các bàn cờ khác, đặc biệt là quân cờ kỳ dị hay các quy luật khác. Có trên 1.500 biến thể khác nhau. Bobby Fischer nhấn mạnh tầm quan trọng các biến thể và đã phát minh ra Cờ vua ngẫu nhiên Fischer (FRC) trong lễ khai mạc cờ vua thông thường năm 1996. Cờ vua ngẫu nhiên Fischer và các biến thể khác với các vị trí khởi đầu khác nhau được tạo ra bằng cách xáo trộn vị trí nguyên thủy cho từng ván. Xem thêm Danh sách các biến thể. == Xem thêm == Cờ tướng Ván cờ mẫu giải thích về cờ vua thông qua các minh họa đơn giản. Thuật ngữ cờ vua Cờ thế và Câu đố cờ vua Những cách chơi cờ vua: Cờ thư tín, Cờ nhanh, Cờ chớp nhoáng, Cờ chấp cây, Cờ chấp nước, Đánh nhiều người, Cờ mù, Cờ người Các máy chủ Internet chơi cờ vua: Câu lạc bộ cờ vua Internet, FICS, InstantChess.com, ChessWorld.net Hệ số ELO Các tổ chức hành chính: Liên đoàn Cờ vua Quốc tế (FIDE) Hiệp hội Cờ vua Chuyên nghiệp (PCA) (do Kasparov lập nên để ly khai FIDE) Liên đoàn Cờ vua Anh Liên đoàn Cờ vua Mỹ Các ký hiệu cờ vua trong Unicode Cờ vua và toán học Danh sách các chủ đề cờ vua Danh sách các giải vô địch cờ vua quốc gia === Các ván cờ nổi tiếng === Bowdler - Conway, London, 1788, thí dụ nổi tiếng về thí hai Xe. Ván cờ bất tử giữa Adolf Anderssen và Lionel Kieseritzky (1851) Ván cờ vĩnh cửu giữa Adolf Anderssen và Jean Dufresne (1852) Ván cờ Opera giữa Paul Morphy và hai người, Karl-công tước xứ Brunswick người Đức và nhà quý tộc Pháp Count Isouard (1858) Lasker - Bauer, Amsterdam, 1889, thí dụ nổi tiếng về thí hai Tượng. Ván cờ thế kỷ giữa Bobby Fischer và Donald Byrne (1956) Trận đấu thế kỷ giữa Bobby Fischer và Boris Spassky, 1972. Deep Blue - Kasparov, 1996, Ván 1. Deep Blue - Kasparov, 1997, Ván 6. Kasparov chống lại Thế giới, trong đó nhà vô địch khi đó chơi theo đường Internet, chống lại phần còn lại của thế giới năm 1999. Kasparov - Topalov, Wijk aan Zee, 1999, thí xe với 15+ nước tổ hợp hy sinh bắt buộc. === Lịch sử của cờ vua === Lịch sử cờ vua Giải vô địch cờ vua thế giới Các nhà chơi cờ vĩ đại nhất Nguồn gốc cờ vua Cờ vua trong văn học Cờ vua trong văn học Ả Rập Lý thuyết Cox-Forbes Cờ vua tại châu Âu Thế vận hội cờ vua Các kỷ lục thế giới về cờ vua === Các nhà vô địch cờ vua thế giới === Bài chính: Giải vô địch cờ vua thế giới Không chính thức nhưng được công nhận rộng rãi như là nhà vô địch (thời kỳ trước khi có giải vô địch): Philidor Howard Staunton Adolf Anderssen Paul Morphy Các nhà vô địch chính thức (của FIDE): Wilhelm Steinitz Emanuel Lasker José Raúl Capablanca Alexander Alekhine Max Euwe Mikhail Botvinnik Vassily Smyslov Mikhail Tal Tigran Petrosian Boris Spassky Bobby Fischer Anatoly Karpov Garry Kasparov Vladimir Kramnik Viswanathan Anand Magnus Carlsen Các nhà vô địch thế giới của PCA: Garry Kasparov Vladimir Kramnik Các nhà vô địch thế giới của FIDE thời hậu-Kasparov: Alexander Khalifman Viswanathan Anand Ruslan Ponomariov Rustam Kasimdzhanov Veselin Topalov Năm 2006 FIDE đã tổ chức trận đấu thống nhất các danh hiệu vô địch cờ vua giữa vô địch cờ truyền thống Vladimir Kramnik và Veselin Topalov. Kết quả là Vladimir Kramnik đã chiến thắng bằng cờ nhanh sau khi hoà cờ chính thức 6-6 để giành ngôi vô địch thế giới thống nhất lần đầu tiên. === Luật cờ vua === Luật Cờ vua FIDE áp dụng cho mọi cuộc đấu trên bàn cờ. Văn bản bằng tiếng Anh là văn bản gốc của Luật Cờ Vua, được thông qua tại Hội nghị FIDE lần thứ 71 tại Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) vào tháng 11 năm 2000 và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2001. Xem tại đây. === Các sách, báo về cờ vua === Các bài báo về cờ vua Các thư viện cờ Tập hợp các ván cờ Hướng dẫn khai cuộc == Tham khảo == ^ Hướng dẫn cờ vua của Mark Weeks tại About.com Tarrasch, Siegbert (1994). The Game of Chess, Algebraic Edition. Hays Publishing. ISBN 1-880673-94-0. Wolff, Patrick (1991). The Complete Idiot's Guide to Chess (ấn bản 3). Alpha Books. ISBN 1-59257-316-9. Hooper, David; Whyld, Kenneth (1992). The Oxford Companion to Chess (ấn bản 2). Nhà xuất bản Đại học Oxford. ISBN 0-19-866164-9. Tái bản: (1996) ISBN 0-19-280049-3 === Tổng quan === Lý thuyết khai cuộc trong sách Wiki về cờ vua Website chính thức của FIDE Các quy tắc chính thức của FIDE Website chính thức của ECU Liên đoàn Cờ Việt Nam The International Correspondence Chess Federation Free Internet Correspondence Chess & Go Server Liên đoàn cờ vua Mỹ Liên đoàn cờ vua máy tính Thụy Điển Tin tức cờ vua của Chessbase Tạp chí cờ vua của Anh Giải quyết các vấn đề tương tác trong cờ vua Chú giải các ván và các bài giảng của các kiện tướng Trang về các biến thể cờ vua Các quân cờ vua kỳ dị của Tim Krabbé Trang cờ vua Ed's Ever - bài giảng, các vấn đề, biếm họa, hài hước, ảnh, câu đố v.v. WikiTeX chess - Hỗ trợ sửa các ván cờ trực tiếp trong các bài Wiki. Công cụ cờ vua cho người lập Web Liên đoàn trò chơi máy tính quốc tế Nghệ thuật cờ vua Lưu trữ cờ vua của Pitt Chess Tin mới về cờ vua và chơi cờ trí tuệ nhân tạo (AI) Đánh cờ như thế nào? Dành cho những người tập chơi. Ảnh về bàn và quân cờ. Ảnh để sử dụng tự do trong các ấn phẩm và các website về cờ vua. === Các phần mềm có thể tải về === Chủ yếu tại SCID,PGN hay CBF. Trực tuyến theo năm, người chơi, khai cuộc cho các ván cờ v.v. Tìm kiếm theo khai cuộc, người chơi, kết quả, vị trí v.v Các thể loại trò chơi theo mã của ECO. (tiếng Pháp) Tìm các ván cờ gần đây nhất Sách khai cuộc của Chessbase Các nguồn sử dụng Lưu trữ về cờ vua của International Correspondance Chess Federation. == Xem thêm == Cờ tướng Cờ cá ngựa Cờ tư lệnh Cờ úp Shogi Cờ vây Renju (cờ ca rô) == Liên kết ngoài ==
mùa đông.txt
Mùa đông là một trong bốn mùa trên Trái Đất và một số hành tinh. Nó là mùa có ngày ngắn nhất và nhiệt độ thấp nhất. Ở những vùng xa xích đạo, mùa đông thường được biết đến qua việc tuyết rơi, là mùa cuối cùng trong năm. Nhiệt độ thấp nhất vào mùa đông thường là vào tháng một ở Bắc Bán Cầu và tháng bảy ở Nam Bán Cầu. Mùa đông là mùa các môn thể thao cần tuyết được tổ chức. Ở một số nơi, mùa đông còn được gọi là mùa khô. Mùa đông thường được miêu tả là mùa của nỗi buồn. == Thời gian == Theo thiên văn học phương tây, mùa đông bắt đầu với đông chí - thời điểm mà Mặt Trời xuống tới điểm thấp nhất về phía nam trên bầu trời để sau đó bắt đầu quay trở lại phía bắc, và ngày trở nên ngắn nhất: ở Bắc bán cầu vào ngày 21 hoặc 22 tháng 12 và ở Nam bán cầu vào ngày 21 tháng Sáu. Sau đó, ngày càng dài và đêm ngắn hơn. Mùa đông kết thúc với xuân phân, là điểm phân mà khi đó ban ngày và ban đêm dài bằng nhau: 20 tháng 3 hoặc vào đêm 21 tháng 3 tại Bắc bán cầu và 22 hoặc 23 tháng 9 tại Nam bán cầu. Mùa đông do đó kéo dài 89 ngày ở Bắc bán cầu và 93 ngày ở Nam bán cầu. Theo Khí tượng học, Mùa đông bắt đầu từ ngày 01 tháng 12 và kéo dài đến hết tháng 2 tại Bắc bán cầu và tháng 6, 7, 8 tại Nam bán cầu. Các nhà khí tượng học thường xếp thời gian giao mùa vào đầy tháng. Còn theo Lịch Trung Quốc cổ đại, mùa đông bắt đầu với tiết lập đông và chấm dứt khi tiết Đại hàn chấm dứt, trước khi tiết Lập xuân bắt đầu, tương ứng với dương lịch là khoảng thời gian từ ngày 7 hoặc 8 tháng 11 dương lịch đến hết ngày 3 hoặc 4 tháng 2. == Chú thích == == Tham khảo == Rosenthal, Norman E. (1998). Winter Blues. New York: The Guilford Press. ISBN 1-57230-395-6
từ vựng.txt
Từ vựng hay vốn từ, kho từ vựng của một người là tập hợp các từ trong một ngôn ngữ mà người đó quen thuộc (biết tới). Vốn từ vựng thường xuyên tăng lên theo tuổi tác, và là công cụ cơ bản và hữu dụng trong giao tiếp và thu nhận kiến thức. Người ta phân biệt hai loại kho từ vựng là chủ động và bị động. Kho từ vựng chủ động bao gồm các từ được sử dụng trong văn nói và văn viết. Kho từ vựng bị động bao gồm các từ mà một người có thể nhận ra lúc đọc hoặc lúc nghe, nhưng không sử dụng chúng trong văn nói hoặc viết. Kho từ vựng bị động nhiều hơn kho từ vựng chủ động một vài lần. == Biết và sử dụng một từ == Kho từ vựng được định nghĩa là tất cả các từ được biết và được sử dụng bởi một người cụ thể. Tuy nhiên, những từ được biết (hiểu) và được sử dụng bởi một người cụ thể không cấu thành tất cả những từ mà người đó gặp phải. Theo định nghĩa, một kho từ vựng bao gồm hai mục sau cùng trong danh sách dưới đây: Không bao giờ vấp phải từ Nghe từ, nhưng không thể xác định nó Nhận ra từ nhờ văn cảnh và giọng điệu Có thể sử dụng từ nhưng không thể giải thích nó một cách rõ ràng Sử dụng trôi chảy, thành thạo từ, bao gồm cả việc hiểu rõ định nghĩa của nó == Các loại từ vựng == Dưới đây liệt kê theo thứ tự từ nhiều nhất đến ít nhất: === Từ vựng đọc === Kho từ vựng đọc của một người là tất cả những từ mà anh ấy/chị ấy có thể nhận ra lúc đọc. Đây là loại kho từ vựng lớn nhất, đơn giản vì nó bao gồm cả ba loại khác. === Từ vựng nghe === Kho từ vựng nghe của một người là tất cả những từ mà anh ấy/chị ấy có thể nhận ra khi nghe lời nói. Kho từ vựng này được trợ giúp (bổ sung) về kích thước bằng văn cảnh và giọng điệu. === Từ vựng viết === Kho từ vựng viết của một người là tất cả những từ mà anh ấy hoặc chị ấy có thể áp dụng trong khi viết. Đối lập với hai loại từ vựng trước, từ vựng viết được kích thích/cưỡng ép bởi người dùng của nó. === Từ vựng nói === Từ vựng nói của một người là tất cả những từ mà anh ấy hoặc chị ấy có thể sử dụng trong lúc nói, phát biểu. Nhờ bản chất tự sinh của từ vựng nói, các từ thường xuyên bị dùng sai. Sự dùng sai này (mặc dù không cố ý và có thể bỏ qua) có thể được bù đắp bằng biểu cảm khuôn mặt, giọng điệu, hay động tác tay chân. == Từ vựng tiêu điểm == "Từ vựng tiêu điểm" là một tập hợp đặc biệt của các thuật ngữ và các điểm khác biệt có ý nghĩa rất quan trọng đối với một nhóm nhất định; đặc biệt tập trung về kinh nghiệm hoặc hoạt động. Một cuốn từ vị, hay từ vựng, là một cuốn từ điển ngôn ngữ, tập hợp tên các đồ vật, các sự kiện, và các ý tưởng trong ngôn ngữ đó. Một số nhà ngôn ngữ học tin rằng, cuốn từ vị tác động đến tri giác con người về các thứ, đây chính là giả thuyết Sapir–Whorf. Ví dụ, Nuer của Sudan có vốn từ vựng hoàn thiện để mô tả gia súc rất kĩ. Nuer có hàng tá tên dành cho gia súc do lịch sử đặc biệt của gia súc, do nền kinh tế và do môi trường. Dạng so sánh kiểu này đã được rút trích ra từ các cuộc tranh luận về ngôn ngữ học, ví dụ như với "những từ chỉ tuyết của người Eskimo". Người nói tiếng Anh cũng có thể chi tiết hóa vốn từ vựng về tuyết và gia súc của họ khi nhu cầu tăng lên. == Sự tăng trưởng từ vựng == Thuở ban đầu lúc còn thơ ấu, sự mở rộng vốn từ vựng không đòi hỏi nỗ lực nào cả. Trẻ con nghe các từ và bắt chước lại chúng, sau cùng liên hệ chúng với các đồ vật và hành động. Đây chính là từ vựng nghe. Từ vựng nói tiếp theo sau đó, khi những suy nghĩ của đứa trẻ phụ thuộc vào khả năng biểu lộ bản thân của chính nó mà không cần tới điệu bộ và những âm đơn giản. Một khi đạt được từ vựng đọc và từ vựng viết - thông qua các câu hỏi và giáo dục - các dị thường và bất quy tắc của ngôn ngữ có thể được phát hiện. Ở lớp đầu tiên, một học sinh có lợi thế (đã biết chữ) biết số từ nhiều hơn khoảng hai lần so với học sinh không có ưu thế khác. Nói chung, khoảng cách này không được rút ngắn. Điều này chuyển thành một dải rộng kích cỡ từ vựng theo độ tuổi năm, sáu, thời điểm mà một đứa trẻ nói tiếng Anh sẽ biết khoảng 2.500-5.000 từ. Một học sinh trung bình học được khoảng 3.000 từ/năm, hoặc xấp xỉ tám từ mỗi ngày. Sau khi rời trường học, từ vựng tăng trưởng đạt đến mức ổn định. Sau đó người ta có thể mở rộng từ vựng của mình bằng cách tham gia vào các hoạt động như đọc sách, chơi trò đố chữ, và tham gia các chương trình từ vựng. == Từ vựng chủ động và bị động == Ngay cả nếu chúng ta học một từ, thì điều đó cũng cần thực hành nhiều và cần liên hệ ngữ cảnh thì mới học tốt được. Một phân nhóm sơ lược các từ chúng ta hiểu khi nghe chúng bao gồm từ vựng "bị động" của chúng ta, trong khi từ vựng "chủ động" được tạo thành từ các từ xuất hiện lập tức trong tâm trí ta khi chúng ta phải sử dụng chúng trong câu khi nói. Trong trường hợp này, chúng ta phải tăng cường hoạt động với một từ trong khung thời gian một phần ngàn giây, vì vậy phải biết rõ chúng, nhất là các tổ hợp với các từ khác trong câu thường hay được sử dụng. == Tầm quan trọng của từ vựng == Một vốn từ vựng phong phú trợ giúp cho việc biểu đạt và giao tiếp. Kích thước từ vựng trực tiếp liên quan đến việc đọc hiểu. Từ vựng ngôn ngữ học đồng nghĩa với từ vựng tư duy. Một người có thể được đánh giá bởi những người khác dựa vào vốn từ vựng của người đó. == Từ vựng tiếng mẹ đẻ và từ vựng ngoại ngữ == === Từ vựng tiếng mẹ đẻ === Các từ vựng của những người nói tiếng mẹ đẻ một ngôn ngữ nào đó thay đổi rất nhiều, và đặc biệt phụ thuộc vào trình độ giáo dục của họ. Một nghiên cứu vào năm 1995 đã đánh giá kích thước từ vựng của một người nói đã qua giáo dục đại học vào khoảng 17 000 họ từ, còn của sinh viên đại học năm nhất (đã qua giáo dục trung học) thì vào khoảng 12 000. === Từ vựng ngoại ngữ === ==== Ảnh hưởng của kích thước từ vựng lên sự hiểu biết ngôn ngữ ==== Francis và Kucera đã nghiên cứu các văn bản có tổng cộng một triệu từ và đã phát hiện ra rằng, nếu một người hiểu các từ có tần số sử dụng cao nhất, người đó sẽ nhanh chóng hiểu phần lớn các từ trong một văn bản: Nếu một người hiểu 2000 từ có tần số sử dụng cao nhất, người đó sẽ hiểu 80% số từ trong những văn bản đó. Số lượng này thậm chí còn cao hơn nếu như chúng ta tính cả những từ mà chúng ta tiếp thu trong văn cảnh nói phi chính thức. Sau đó, 2000 từ phổ biến nhất sẽ bao trùm 96% vốn từ vựng. Những con số này nên được khuyến khích đối với những người bắt đầu học tiếng, đặc biệt bởi vì các con số ở trong bảng là dành cho các bổ đề từ (word lemma) và nhiều họ từ sẽ cho tầm bao phủ thậm chí còn cao hơn nữa. ===== Sự nắm vững từ vựng ngôn ngữ thứ hai ===== Việc học từ vựng là một trong những bước đầu tiên của việc học ngôn ngữ thứ hai, tuy nhiên một người sẽ không bao giờ đạt tới bước cuối cùng trong việc nắm vững từ vựng. Dù trong tiếng mẹ đẻ hay ngôn ngữ thứ hai đi chăng nữa, thì sự nắm bắt một vốn từ mới là một quá trình liên tục. Nhiều phương pháp có thể trợ giúp cho việc nắm bắt vốn từ vựng mới. ===== Sự ghi nhớ ===== Mặc dù quá trình ghi nhớ có thể bị xem là chán ngấy và buồn tẻ, việc kết nối một từ trong tiếng mẹ đẻ với từ tương ứng trong ngôn ngữ thứ hai trước khi nó được ghi nhớ được xem là một trong những phương pháp tốt nhất trong việc nắm vững từ vựng. Đến tuổi trưởng thành, học sinh thường đã thu thập được một số phương pháp ghi nhớ. Mặc dù vẫn còn nhiều tranh cãi cho rằng quá trình ghi nhớ một cách điển hình không yêu cầu quá trình nhận thức phức tạp làm tăng khả năng lưu giữ (Sagarra & Alba, 2006), nhưng quá trình này một cách điển hình vẫn đòi hỏi một lượng lớn số lần lặp lại. Các phương pháp khác một cách điển hình cần nhiều thời gian và lâu hơn để nhớ lại. Một vài từ có thể không được liên kết dễ dàng thông qua sự kết hợp hay các phương pháp khác. Khi một từ trong ngôn ngữ thứ hai tương tự với một từ trong tiếng mẹ đẻ một cách trực quan hay về phương diện âm vị học, một người thường cho rằng chúng cũng chia sẻ nghĩa tương tự. Mặc dù trường hợp này thường gặp, nhưng nó không phải luôn luôn đúng. Khi đối mặt với từ cùng gốc sai, quá trình ghi nhớ và lặp lại là những chìa khóa để làm chủ. Nếu một người học ngôn ngữ thứ hai chỉ dựa vào các phép kết nối từ để học từ vựng mới, người đó sẽ có một khoảng thời gian rất vất vả để có thể làm chủ các từ gốc sai. Khi một lượng lớn từ vựng phải được tiếp thụ trong một khoảng thời gian giới hạn, khi người học cần nhớ lại thông tin một cách nhanh chóng, khi các từ đại diện cho các khái niệm trừu tượng hoặc khó biểu diễn hình ảnh tinh thần, hoặc khi phân biệt giữa các từ gốc sai, quá trình ghi nhớ cơ học (tự động, máy móc, không có sự tham gia của nhận thức) là phương pháp được sử dụng. Một mô hình mạng nơ-ron của việc học từ tiểu thuyết thông qua chính tả chữ viết, tính đến khả năng ghi nhớ đặc trưng L1 của người học L2 gần đây đã được giới thiệu (Hadzibeganovic & Cannas, 2009). khoảng thời gian giới hạn, khi người học cần nhớ lại thông tin một cách nhanh chóng, khi các từ đại diện cho các khái niệm trừu tượng hoặc khó biểu diễn hình ảnh tinh thần, hoặc khi phân biệt giữa các từ gốc sai, quá trình ghi nhớ cơ học (tự động, máy móc, không có sự tham gia của nhận thức) là phương pháp được sử dụng. Một mô hình mạng nơ-ron của việc học từ tiểu thuyết thông qua chính tả chữ viết, tính đến khả năng ghi nhớ đặc trưng L1 của người học L2 gần đây đã được giới thiệu (Hadzibeganovic & Cannas, 2009). ===== Phương pháp từ khóa ===== Một phương pháp hữu ích để xây dựng từ vựng trong ngôn ngữ thứ hai là phương pháp từ khóa. Khi có thêm thời gian hoặc khi một người muốn nhấn mạnh một số ít từ khóa, người đó có thể tạo ra các thiết bị giúp dễ nhớ hoặc các kết hợp từ. Mặc dù những chiến lược này có xu hướng chiếm nhiều thời gian thực hiện và hồi tưởng hơn, chúng tạo ra các liên kết mới và không thông thường có thể tăng khả năng lưu giữ. Phương pháp từ khóa đòi hỏi quá trình tư duy sâu hơn, do đó tăng khả năng lưu giữ (Sagarra & Alba, 2006). Phương pháp này sử dụng những điều chỉnh phù hợp trong lý thuyết mã hóa kép của Paivio (1986) bởi vì nó dùng cả hai hệ thống ghi nhớ là lời nói và hình ảnh. Tuy nhiên, chỉ nên dùng phương pháp này đối với những từ đại diện cho các đối tượng cụ thể và có thể hình ảnh hóa. Các khái niệm trừu tượng hoặc các từ mang hình ảnh khác biệt đối với bộ não rất khó để kết hợp. Hơn nữa, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc học từ vựng kết hợp thành công hơn với những học sinh còn nhỏ tuổi (Sagarra & Alba, 2006). Sau này khi học sinh lớn dần lên, chúng có xu hướng ít dựa vào việc tạo kết hợp từ để nhớ từ vựng. === Từ vựng "Tiếng Anh Căn bản" === Nhiều danh sách từ đã được phát triển để cung cấp cho những người có một vốn từ vựng hạn chế, hoặc trình độ thông thạo ngôn ngữ nhanh hay một phương tiện truyền thông hiệu quả. Năm 1930, Charles Kay Ogden đã tạo ra tiếng Anh căn bản (850 từ). Các danh sách khác bao gồm tiếng Anh đơn giản hóa (1000 từ) và tiếng Anh đặc biệt (1500 từ). 2000 từ tần số cao trong Danh sách Dịch vụ Tổng hợp (General Service List), biên soạn bởi Michael West từ ngữ liệu 5.000.000 từ, đã được sử dụng để tạo ra một số văn bản đọc phù hợp với người học tiếng Anh. Biết 2.000 từ tiếng Anh, một người có thể hiểu được khá nhiều tiếng Anh, và thậm chí đọc rất nhiều tài liệu đơn giản mà không gặp vấn đề. === Sự khác biệt từ vựng giữa các tầng lớp xã hội ở Hoa Kỳ === James Flynn báo cáo sự khác biệt đáng kể trong tiếp xúc với từ vựng của trẻ chưa đến tuổi đi học giữa các tầng lớp khác nhau ở Hoa Kỳ. Rõ ràng, trẻ chưa đến tuổi đi học ở các gia đình chuyên nghiệp thường tiếp xúc với 2.150 từ khác nhau, còn trẻ chưa đến tuổi đi học ở các gia đình tầng lớp công nhân thường tiếp xúc với 1.250 từ, trong khi các trẻ đến từ các hộ gia đình sống nhờ phúc lợi xã hội chỉ tiếp xúc với khoảng 620 từ. == Chú thích == == Tham khảo == Barnhart, Clarence L. (1968). The World Book Dictionary. Clarence L. Barnhart. 1968 Edition. Published by Thorndike-Barnhart, Chicago, Illinois. Flynn, James R. (2008). Where Have All the Liberals Gone?: Race, Class, and Ideals in America. Cambridge University Press; 1st edition. ISBN 978-0-521-49431-1. Lenkeit, Roberta. Cultural Anthropology (3rd. ed.) Liu, Na and I.S.P. Nation. "Factors affecting guessing vocabulary in context", RELC Journal, 1985,16 1, pp. 33–42. Miller, B. (1999). Cultural Anthropology(4th. ed.,pg 315). New York: Allyn and Bacon. Schonell, F. J., I. G. Meddleton and B. A. Shaw, A Study of the Oral Vocabulary of Adults, University of Queensland Press, Brisbane, 1956. West, Michael (1953). A General Service List of English Words. Longman, Green & Co., London.
yakushima.txt
Yakushima (屋久島, "Ốc Cửu đảo") là một đảo của Nhật Bản. Hòn đảo có hình ngũ giác kỳ lạ. Đảo này nằm ở phía nam Kyūshū và là một phần của huyện Kagoshima, và eo biển Vincennes (Yakushima Kaikyō) chia nó ra khỏi Tanegashima. Điểm cao nhất của hòn đảo là Miyanoura-dake với chiều cao 1.935 m. Đảo Yakushima được bao bọc bởi rừng rậm có loại cây Cryptomeria theo tiếng Nhật là Sugi. Rừng cổ ôn đới độc đáo của Yakushima được công nhận là di sản thiên nhiên thế giới. == Xem thêm == Du lịch Nhật Bản == Tham khảo ==
thai kỳ.txt
Thai kỳ (hay chửa) là một thời kì phát triển của giao tử (trứng được kết hợp với tinh trùng) trong dạ con của con cái ở những động vật sinh con, kể cả con người. Tuỳ vào từng loài mà thời kì mang thai cũng khác nhau. Thai chính là khởi đầu cho một sinh vật mới(ấu trùng), để sau đó là sự phát triển ở bên ngoài. Thai chính là một mắt xích trong sự tiến hoá của sinh loài. == Xem thêm == Thai nghén == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
asō tarō.txt
Đây là một tên người Nhật; họ tên được viết theo thứ tự Á Đông (họ trước tên sau): họ là Aso. Tuy nhiên, tên người Nhật hiện đại bằng ký tự La Tinh thường được viết theo thứ tự Tây phương (tên trước họ sau). Aso Taro (麻生太郎, あそう たろう) (sinh 20 tháng 9 năm 1940) là đương kim Phó Thủ tướng Nhật Bản. Ông cũng từng là Thủ tướng Nhật Bản từ ngày 24 tháng 9 năm 2008 sau khi Thủ tướng tiền nhiệm Fukuda Yasuo đột ngột từ chức đến ngày 16 tháng 9 năm 2009 sau khi đảng ông thua trong cuộc tổng tuyển cử vào tháng 8 năm đó. Ông cũng là Chủ tịch Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản (LDP), và phục vụ trong Hạ Nghị viện Nhật Bản từ năm 1979. Ông cũng từng giữ chức vụ Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong các năm từ 2005 đến 2007 dưới thời Thủ tướng Abe Shinzo và Koizumi Junichiro, và chức vụ Tổng thư ký của Đảng LDP một thời gian ngắn trong năm 2007 và 2008. Ngày 22 tháng 9 năm 2008, Asō được bầu làm người kế nhiệm ông Fukuda Yasuo giữ chức Chủ tịch Đảng LDP. Đến ngày 24 tháng 9 năm 2008, Nghị viện Nhật Bản đã bầu Asō làm Thủ tướng. == Thân thế == Asō Tarō sinh ngày 20 tháng 9 năm 1940 tại Iizuka, Fukuoka. Cha ông là Asō Takakichi từng là chủ tịch Công ty Xi măng Asō và là người thân cận của thủ tướng Tanaka Kakuei. Mẹ ông là con gái của cựu thủ tướng Yoshida Shigeru. Asō Tarō là cháu bốn đời của Ōkubo Toshimichi. Phu nhân của Asō Tarō là con gái thứ ba của cựu thủ tướng Suzuki Zenko. Em gái của ông là vương phi (vợ của hoàng tử) Tomohito no Mikasa. Asō tốt nghiệp Đại học Gakushuin, ngành chính trị. Ông từng theo học bậc sau đại học, lúc đầu tại Đại học Stanford và tiếp theo là tại Trường Kinh tế Luân Đôn. Năm 1966, ông vào làm tại công ty khai thác khoáng sản của cha, từng làm chủ tịch của công ty này trong thời kỳ từ 1973 đến 1979, và có thời gian 2 năm làm nghề khai thác kim cương tại Sierra Leone. Asō mê môn thể thao bắn súng. Ông từng là thành viên đội tuyển quốc gia môn bắn súng của Nhật Bản tại Thế vận hội mùa hè 1978 tổ chức tại Montreal, Canada. == Sự nghiệp chính trị == Tháng 10 năm 1979, Asō trở thành nghị sĩ hạ viện Nhật Bản. Năm 1988, ông giữ cương vị phó chủ nhiệm ủy ban giáo dục của Quốc hội Năm 2003, ông giữ cương vị Bộ trưởng Bộ Tổng hợp trong Nội các của Thủ tướng Koizumi Jun’ichiro. Tháng 10 năm 2005, ông chuyển sang làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Khi Koizumi hết nhiệm kỳ năm 2006, Asō đã ra tranh cử chức chủ tịch LDP nhưng thất bại trước Abe Shinzo. Ông tiếp tục làm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao trong nội các của Thủ tướng Abe. Khi Abe Shinzo từ nhiệm vào tháng 9 năm 2007, Asō lại ra tranh cử chức chủ tịch LDP nhưng thất bại trước Fukuda Yasuo. Ngày 22 tháng 9, ông đã thắng trong cuộc bầu cử chức chủ tịch LDP. Theo Hiến pháp Nhật Bản, người giữ chức chủ tịch đảng cầm quyền sẽ là thủ tướng Nhật Bản. Ngày 24 tháng 9, ông nhậm chức Thủ tướng Nhật Bản == Tham khảo ==
đội tuyển bóng đá quốc gia nam tư.txt
Đội tuyển bóng đá quốc gia Nam Tư là đội tuyển cấp quốc gia của Vương quốc Nam Tư (1918-1941, từ 1918 tới 1929 là Vương quốc Serb, Croat và Sloven), Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư (1943-1992). Đội được Hiệp hội bóng đá Nam Tư quản lý. Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Nam Tư là trận gặp đội tuyển Tiệp Khắc vào năm 1920 và trận thi đấu quốc tế cuối cùng của đội là trận gặp đội tuyển Hà Lan vào năm 1992. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là hai lần vị trí thứ tư World Cup giành được vào các năm 1930 và 1962 cùng với 2 ngôi vị á quân của Euro giành được vào các năm 1960 và 1968. == Danh hiệu == Vô địch thế giới: 0 Hạng tư: 1930; 1962 Vô địch châu Âu: 0 Á quân: 1960; 1968 Hạng tư: 1976 Bóng đá nam tại Olympic: 1960 1948; 1952; 1956 1984 Hạng tư: 1980 == Giải vô địch bóng đá thế giới == == Giải vô địch bóng đá châu Âu == == Chú thích ==
cao lãnh.txt
Thành phố Cao Lãnh là một thành phố, đồng thời là tỉnh lỵ của Đồng Tháp, Việt Nam. Đây còn là một trong các trung tâm của vùng Đồng Tháp Mười, có thể xem là điểm tựa và cơ sở hậu cần cho sự phát triển bền vững của một trong sáu vùng kinh tế lớn của Đồng bằng sông Cửu Long. Cao Lãnh từng là tỉnh lỵ của tỉnh Kiến Phong cũ trong giai đoạn 1956-1975 dưới thời Việt Nam Cộng hòa. Năm 1976, tỉnh Đồng Tháp được thành lập. Ban đầu, thị xã Sa Đéc cũ giữ vai trò là tỉnh lỵ của tỉnh Đồng Tháp trong suốt giai đoạn 1976-1994, và sau đó theo Nghị định số 36-CP ban hành ngày 29 tháng 4 năm 1994, tỉnh lỵ tỉnh Đồng Tháp lại dời về thị xã Cao Lãnh (ngày nay là thành phố Cao Lãnh) cho đến nay. Năm 2007, Cao Lãnh chính thức trở thành thành phố trực thuộc tỉnh Đồng Tháp. == Vị trí địa lý == Thành phố Cao Lãnh nằm ở tả ngạn sông Tiền dọc theo quốc lộ 30, cách Thành phố Hồ Chí Minh 154km, Thành phố Cần Thơ 80 km; phía Bắc và phía Đông giáp huyện Cao Lãnh, phía Nam giáp huyện Lấp Vò đều cùng tỉnh, phía Tây giáp huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang. == Hành chính == Thành phố gồm 8 phường: 1, 2, 3, 4, 6, 11, Mỹ Phú, Hòa Thuận và 3 xã: Mỹ Tân, Hoà An, Tịnh Thới, Tân Thuận Đông, Tân Thuận Tây, Mỹ Trà, Mỹ Ngãi. == Nguồn gốc địa danh Cao Lãnh == Ban đầu, Cao Lãnh chỉ là tên một ngôi chợ thuộc thôn Mỹ Trà và sau đó là làng Mỹ Trà, tổng Phong Thạnh. Năm 1913, thực dân Pháp thành lập quận mới thuộc tỉnh Vĩnh Long lúc bấy giờ và đặt tên là quận Cao Lãnh do lấy theo tên gọi Cao Lãnh vốn là nơi đặt quận lỵ. == Lịch sử == === Thời phong kiến === Vào thời nhà Nguyễn độc lập, vùng đất Cao Lãnh và Tháp Mười ngày này ban đầu thuộc tổng Phong Thạnh và một phần tổng Phong Phú, huyện Kiến Đăng, phủ Kiến An, tỉnh Định Tường. Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), lập một phủ mới mang tên là phủ Kiến Tường, trích huyện Kiến Đăng thành 2 huyện Kiến Đăng và Kiến Phong cho vào phủ Kiến Tường. Lúc này, hai tổng Phong Thạnh và Phong Phú cùng thuộc huyện Kiến Phong, phủ Kiến Tường, tỉnh Định Tường. Năm 1836, hai tổng Phong Thạnh và Phong Phú có các làng trực thuộc như sau: Tổng Phong Phú gồm 17 thôn: An Thái Đông, An Thái Tây, An Thái Trung, Bình Hàng Tây, Bình Hàng Trung, Hòa Lộc, Mỹ An Đông, Mỹ An Tây, Mỹ Đức Tây, Mỹ Hưng, Mỹ Long, Mỹ Lợi, Mỹ Lương, Mỹ Thuận, Mỹ Toàn, Mỹ Xương, Thanh Hưng; Tổng Phong Thạnh gồm 11 thôn: An Bình, An Long, An Phong, Mỹ Đảo, Mỹ Ngãi, Mỹ Trà, Nhị Mỹ, Phong Mỹ, Tân An, Tân Phú, Tân Thạnh Lúc bấy giờ, thôn Mỹ Trà (tức Cao Lãnh) là lỵ sở của huyện Kiến Phong và cũng là lỵ sở của phủ Kiến Tường. Sau này, tổng Phong Thạnh sáp nhập thêm từ tổng Phong Phú các thôn: Bình Hàng Tây, Bình Hàng Trung, Mỹ An Đông, Mỹ An Tây, Mỹ Long, Mỹ Toàn, Mỹ Xương. === Thời Pháp thuộc === Sau khi chiếm hết được ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ vào năm 1862, thực dân Pháp dần xóa bỏ tên gọi tỉnh Định Tường cùng hệ thống hành chính phủ huyện cũ thời nhà Nguyễn, đồng thời đặt ra các hạt Thanh tra. Lúc bấy giờ, hạt Thanh tra Kiến Tường được thành lập trên địa bàn huyện Kiến Phong thuộc phủ Kiến Tường, tỉnh Định Tường cũ. Trụ sở hạt Thanh tra Kiến Tường đặt tại Cao Lãnh. Lúc đầu, hạt Thanh tra tạm gọi tên theo tên các phủ huyện cũ, sau mới đổi tên gọi theo địa điểm đóng trụ sở. Về sau, trụ sở được dời từ Cao Lãnh (thuộc thôn Mỹ Trà) đến Cần Lố (thuộc thôn Mỹ Thọ). Chính vì vậy, hạt Thanh tra Kiến Tường cũng được đổi tên thành hạt Thanh tra Cần Lố; bao gồm 3 tổng: Phong Hòa, Phong Phú và Phong Thạnh. Ngày 20 tháng 9 năm 1870, giải thể hạt Thanh tra Cần Lố, đưa hai tổng Phong Hòa và Phong Phú vào hạt Thanh tra Cái Bè; đồng thời đưa tổng Phong Thạnh qua hạt Thanh tra Sa Đéc. Ngày 5 tháng 6 năm 1871, giải thể hạt Thanh tra Cái Bè nhập vào địa bàn hạt Thanh tra Mỹ Tho. Đồng thời, địa bàn tổng Phong Thạnh cũng được chia cho 3 hạt thanh tra Châu Đốc, Long Xuyên và Sa Đéc: Hạt Châu Đốc: lấy phần đất 3 làng An Bình, An Long và Tân Thạnh thuộc tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong. Phần đất này nằm ở phía tây bắc Đồng Tháp Mười, sau gọi là tổng An Phước thuộc hạt Châu Đốc. Hạt Long Xuyên: lấy địa phận các làng Tân Phú, Tân Thạnh của tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong để lập tổng mới gọi là tổng Phong Thạnh Thượng thuộc hạt Long Xuyên. Hạt Sa Đéc: lấy địa phận các làng Mỹ Ngãi, Mỹ Trà, Nhị Mỹ, Phong Mỹ (trước đây thuộc tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong) để lập tổng mới cũng lấy tên là tổng Phong Thạnh. Lại lấy địa phận các làng Mỹ Long, Bình Hàng Tây (nguyên thuộc tổng Phong Phú, huyện Kiến Phong) để lập tổng mới gọi là tổng Phong Nẫm. Hai tổng Phong Thạnh (mới) và Phong Nẫm đều thuộc về hạt Sa Đéc. Ngày 5 tháng 1 năm 1876, hạt Thanh tra Sa Đéc đổi thành hạt tham biện Sa Đéc. Ngày 1 tháng 1 năm 1900, tất cả các hạt tham biện ở Đông Dương điều thống nhất gọi là "tỉnh", trong đó có tỉnh Sa Đéc. Hai tổng Phong Thạnh và Phong Nẫm lúc bấy giờ cùng thuộc tỉnh Sa Đéc. Từ ngày 9 tháng 2 năm 1913 đến ngày 9 tháng 2 năm 1924, tỉnh Sa Đéc bị giải thể, toàn bộ diện tích tỉnh bị sáp nhập vào tỉnh Vĩnh Long. Ngày 10 tháng 12 năm 1913, thực dân Pháp thành lập quận Cao Lãnh thuộc tỉnh Vĩnh Long, gồm 3 tổng: An Tịnh với 5 làng, Phong Thạnh với 6 làng, An Thạnh Thượng với 8 làng. Ngày 24 tháng 12 năm 1921, tách tổng An Thạnh Thượng nhập vào quận Sa Đéc (sau đổi tên là quận Châu Thành thuộc tỉnh Sa Đéc), đổi lại được nhận tổng Phong Nẫm tách ra từ quận Sa Đéc. Ngày 9 tháng 2 năm 1924, quận Cao Lãnh thuộc tỉnh Sa Đéc khi tỉnh này được tái lập, gồm 3 tổng cũ. Quận lỵ Cao Lãnh đặt tại làng Mỹ Trà. Năm 1924, quận Cao Lãnh có 3 tổng là: Tổng An Tịnh gồm 4 làng: Hòa An, Tịnh Thới, Tân Tịch, Tân Thuận; Tổng Phong Nẫm gồm 9 làng: Bình Hàng Tây, Bình Hàng Trung, Bình Thạnh, Mỹ Hội, Mỹ Hiệp, Mỹ Long, Mỹ Thọ, Mỹ Thành, Mỹ Xương; Tổng Phong Thạnh gồm 7 làng: An Bình, Mỹ Ngãi, Mỹ Trà, Mỹ Thạnh, Nhị Mỹ, Phong Mỹ, Tân An. Sau này, chính quyền thực dân Pháp cũng tiến hành thay đổi hành chính một số làng trực thuộc như: hợp nhất hai làng Mỹ Long và Mỹ Hiệp thành làng Long Hiệp; sáp nhập làng Mỹ Thạnh vào làng Mỹ Trà; sáp nhập làng Mỹ Thành vào hai làng Bình Hàng Tây và Bình Hàng Trung; chia làng Tân Thuận thành hai làng mới là Tân Thuận Đông và Tân Thuận Tây. Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam bộ chủ trương bỏ cấp tổng, bỏ đơn vị làng, thống nhất gọi là xã, đồng thời bỏ danh xưng quận, gọi thay thế bằng huyện. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa đến năm 1956 cũng thống nhất dùng danh xưng là xã, tuy nhiên vẫn gọi là quận cho đến năm 1975.. Huyện Cao Lãnh ban đầu vẫn thuộc tỉnh Sa Đéc. Tháng 6 năm 1951, huyện Cao Lãnh thuộc tỉnh Long Châu Sa. Đến cuối năm 1954, huyện Cao Lãnh trở lại thuộc tỉnh Sa Đéc như cũ. === Giai đoạn 1956-1975 Cao Lãnh là tỉnh lỵ Kiến Phong cũ === ==== Việt Nam Cộng hòa ==== Sau năm 1956, các làng gọi là xã. Ngày 17 tháng 2 năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa tách quận Cao Lãnh ra khỏi tỉnh Sa Đéc để nhập vào tỉnh Phong Thạnh mới được thành lập. Tỉnh lỵ tỉnh Phong Thạnh đặt tại Cao Lãnh. Đến ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh 143-NV để " thay đổi địa giới và tên Đô thành Sài Gòn – Chợ Lớn cùng các tỉnh và tỉnh lỵ tại Việt Nam". Địa giới và địa danh các tỉnh ở miền Nam thay đổi nhiều, một số tỉnh mới được thành lập. Theo Sắc lệnh này, địa phận Nam Phần của Việt Nam Cộng Hoà gồm Đô thành Sài Gòn và 22 tỉnh. Lúc này, tỉnh Phong Thạnh được đổi tên thành tỉnh Kiến Phong, còn tỉnh lỵ vẫn giữ nguyên tên cũ là "Cao Lãnh", về mặt hành chánh tỉnh lỵ Cao Lãnh thuộc xã Mỹ Trà, quận Cao Lãnh. Ban đầu, xã Mỹ Trà vừa đóng vai trò là quận lỵ quận Cao Lãnh và là tỉnh lỵ tỉnh Kiến Phong. Năm 1957, chính quyền Việt Nam Cộng hòa lại cho thành lập thêm quận Mỹ An thuộc tỉnh Kiến Phong bao gồm một phần đất phía bắc của quận Cao Lãnh và phía tây bắc quận Cái Bè (thuộc tỉnh Mỹ Tho) trước năm 1956. Quận lỵ đặt tại xã Mỹ An (trước năm 1956 thuộc quận Cái Bè, tỉnh Mỹ Tho). Phần đất được nhập vào quận Mỹ An bao gồm phần lớn địa phận phía bắc xã Mỹ Thọ và một phần nhỏ địa phận phía bắc xã Mỹ Hội. Sau khi nhập vào quận Mỹ An, vùng đất này tương đương với các xã Mỹ Hòa, Mỹ Quý, Thạnh Lợi mới được thành lập. Ngày 13 tháng 7 năm 1961, tách tổng Phong Nẫm với các xã: Bình Hàng Trung, Bình Hàng Tây, Bình Thành, Long Hiệp, Mỹ Hội, Mỹ Xương, Mỹ Thọ để lập quận Kiến Văn cùng thuộc tỉnh Kiến Phong, quận lỵ đặt tại xã Bình Hàng Trung. Từ năm 1965, các tổng mặc nhiên bị giải thể, các xã trực thuộc quận. Ngày 8 tháng 8 năm 1967, dời quận lỵ Cao Lãnh từ xã Mỹ Trà về xã An Bình. Còn tỉnh lỵ Cao Lãnh thì vẫn được đặt tại xã Mỹ Trà cho đến năm 1975. Sau này, lại tách phần đất phía đông xã Phong Mỹ để thành lập mới xã Thiện Mỹ cùng thuộc quận Cao Lãnh. Đến năm 1969, lại tách một phần nhỏ đất đai phía bắc hai xã Phong Mỹ và Thiện Mỹ để sáp nhập vào quận Đồng Tiến mới được thành lập. Phân chia hành chánh các quận Cao Lãnh, Kiến Văn và Mỹ An cùng thuộc tỉnh Kiến Phong năm 1970 của chính quyền Việt Nam Cộng hòa: Quận Cao Lãnh gồm 12 xã: An Bình, Hòa An, Mỹ Ngãi, Mỹ Trà, Nhị Mỹ, Phong Mỹ, Tân An, Tân Thuận Đông, Tân Thuận Tây, Tân Tịch, Thiện Mỹ, Tịnh Thới; Quận Kiến Văn gồm 7 xã: Bình Hàng Tây, Bình Hàng Trung, Bình Thành, Long Hiệp, Mỹ Hội, Mỹ Thọ, Mỹ Xương; Quận Mỹ An gồm 6 xã: Mỹ An, Mỹ Đa, Mỹ Hòa, Mỹ Quý, Thạnh Lợi, Thạnh Mỹ; ==== Chính quyền Cách mạng ==== Chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cũng phân chia, sắp xếp lại các đơn vị hành chính trong tỉnh như bên chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Cuối năm 1956, chính quyền Cách mạng thành lập tỉnh Kiến Phong, đồng thời tách xã Mỹ Trà và các vùng lân cận để thành lập thị xã Cao Lãnh thuộc tỉnh Kiến Phong. Như vậy, lúc bấy giờ thị xã Cao Lãnh và huyện Cao Lãnh cùng là hai đơn vị hành chính cấp huyện ngang bằng nhau. Sau đó, chính quyền Cách mạng cũng cho thành lập thêm huyện Kiến Văn và huyện Mỹ An như phía chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Tháng 5 năm 1974, Trung ương Cục miền Nam quyết định giải thể các tỉnh Kiến Phong và An Giang để tái lập các tỉnh Long Châu Tiền và tỉnh Sa Đéc. Lúc này, thị xã Cao Lãnh, huyện Cao Lãnh, huyện Kiến Văn và huyện Mỹ An cùng trực thuộc tỉnh Sa Đéc cho đến đầu năm 1976. Tuy nhiên, tỉnh lỵ tỉnh Sa Đéc vẫn đặt tại thị xã Sa Đéc. === Từ năm 1976 đến nay === Năm 1976, thị xã Cao Lãnh, huyện Kiến Văn và huyện Mỹ An đều bị giải thể, sáp nhập trở lại vào địa bàn huyện Cao Lãnh. Địa bàn thị xã Cao Lãnh cũ được chuyển thành thị trấn Cao Lãnh và là nơi đặt huyện lỵ huyện Cao Lãnh. Tháng 2 năm 1976, huyện Cao Lãnh thuộc tỉnh Đồng Tháp. Lúc bấy giờ, tỉnh lỵ tỉnh Đồng Tháp vẫn đặt tại thị xã Sa Đéc cho đến năm 1994. Ngày 27 tháng 12 năm 1980, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 382-CP về việc điều chỉnh địa giới một số xã thuộc huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp như sau: Chia xã Hưng Thạnh thành hai xã lấy tên là xã Hưng Thạnh và xã Trường Xuân. Chia xã Mỹ Quý thành hai xã lấy tên là xã Mỹ Quý và xã Mỹ Đông. Chia xã Mỹ Tân thành hai xã lấy tên là xã Mỹ Tân và xã Tân Nghĩa. Chia xã Long Hiệp thành hai xã lấy tên là xã Mỹ Long và xã Mỹ Hiệp. Chia xã Nhị Bình thành hai xã lấy tên là xã Nhị Mỹ và xã An Bình. Chia xã Phương Thịnh thành hai xã lấy tên là xã Phương Thịnh và xã Ba Sao. Thành lập xã Phương Trà trên cơ sở sáp nhập ấp Một của xã Phương Thịnh và một nửa ấp Mỹ Quới của xã Mỹ Trà. Đến thời điểm năm 1981, huyện Cao Lãnh có 29 xã: An Bình, Ba Sao, Bình Hàng Tây, Bình Hàng Trung, Bình Thạnh, Hòa An, Mỹ Hiệp, Mỹ Hội, Mỹ Long, Mỹ Tân, Mỹ Thọ, Mỹ Trà, Mỹ Xương, Nhị Mỹ, Phong Mỹ, Phương Thịnh, Phương Trà, Tân Nghĩa, Tân Thuận Đông, Tân Thuận Tây, Tịnh Thới, Đốc Binh Kiều, Hưng Thạnh, Mỹ An, Mỹ Đông, Mỹ Hòa, Mỹ Quý, Thanh Mỹ, Trường Xuân và thị trấn Cao Lãnh. Ngày 05 tháng 01 năm 1981, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 4-CP về việc chia huyện Cao Lãnh thành hai huyện lấy tên là huyện Cao Lãnh và huyện Tháp Mười: Huyện Cao Lãnh gồm có các xã An Bình, Ba Sao, Bình Hàng Tây, Bình Hàng Trung, Bình Thạnh, Hoà An, Mỹ Hiệp, Mỹ Hội, Mỹ Long, Mỹ Tân, Mỹ Thọ, Mỹ Trà, Mỹ Xương, Nhị Mỹ, Phong Mỹ, Phương Thịnh, Phương Trà, Tân Nghĩa, Tân Thuận Đông, Tân Thuận Tây, Tịnh Thới, và thị trấn Cao Lãnh. Trụ sở huyện đóng tại thị trấn Cao Lãnh. Huyện Tháp Mười gồm có các xã Đốc Binh Kiều, Hưng Thạnh, Mỹ An, Mỹ Đông, Mỹ Hoà, Mỹ Quý, Thanh Mỹ, Trường Xuân. Trụ sở huyện đóng tại xã Mỹ An. Ngày 23 tháng 2 năm 1983, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 13-HĐBT về việc thành lập thị xã Cao Lãnh thuộc tỉnh Đồng Tháp: Thành lập thị xã Cao Lãnh trên cơ sở tách thị trấn Cao Lãnh và các xã Hòa An, Mỹ Trà, Mỹ Tân của huyện Cao Lãnh. Thành lập 4 phường của thị xã Cao Lãnh là phường 1, phường 2, phường 3 và phường 4 (trên đất của thị trấn Cao Lãnh cũ). Thị xã Cao Lãnh gồm có các phường 1, phường 2, phường 3, phường 4 và các xã Hoà An, Mỹ Trà, Mỹ Tân. Ngày 16 tháng 2 năm 1987, Hội đồng Bộ trưởng Nhà nước Việt Nam ban hành Quyết định số 36/HĐBT về việc điều chỉnh địa giới hành chính các huyện Cao Lãnh, Thạnh Hưng và các thị xã Cao Lãnh, Sa Đéc thuộc tỉnh Đồng Tháp. Tách 3 xã Tân Thuận Tây, Tịnh Thới và Tân Thuận Đông; 5 ấp của xã Tân Nghĩa; ấp 4, ấp 5 của xã Phương Trà và một phần ấp 5 của xã Phong Mỹ với tổng diện tích tự nhiên 6.380 hécta và 52.459 nhân khẩu của huyện Cao Lãnh để sáp nhập vào thị xã Cao Lãnh. Thị xã Cao Lãnh gồm 11 phường, 7 xã, có 9.624 hécta diện tích tự nhiên với 104.193 nhân khẩu. Ngày 29 tháng 4 năm 1994, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 36-CP về việc di chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đồng Tháp từ thị xã Sa Đéc về thị xã Cao Lãnh. Cuối năm 2003, thị xã Cao Lãnh có 6 phường và 7 xã. Ngày 30 tháng 11 năm 2004, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 194/2004/NĐ-CP về việc điều chỉnh địa giới hành chính để thành lập phường thuộc các thị xã Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp như sau: Thành lập phường Hòa Thuận thuộc thị xã Cao Lãnh trên cơ sở 229,20 ha diện tích tự nhiên và 5.309 nhân khẩu của xã Hòa An. Phường Hòa Thuận có 229,20 ha diện tích tự nhiên và 5.309 nhân khẩu. Thành lập phường Mỹ Phú thuộc thị xã Cao Lãnh trên cơ sở 263,70 ha diện tích tự nhiên và 7.490 nhân khẩu của xã Mỹ Trà. Phường Mỹ Phú có 263,70 ha diện tích tự nhiên và 7.490 nhân khẩu. Tháng 8 năm 2005, thị xã Cao Lãnh được Bộ Xây dựng công nhận là đô thị loại 3 trực thuộc tỉnh Đồng Tháp. Ngày 16 tháng 1 năm 2007, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 10/2007/NĐ-CP về việc thành lập THÀNH PHỐ CAO LÃNH thuộc tỉnh Đồng Tháp trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Cao Lãnh. Thành phố Cao Lãnh có 10.719,54 ha diện tích tự nhiên và 149.837 nhân khẩu, có 15 đơn vị hành chính, gồm các phường: 1, 2, 3, 4, 6, 11, Hoà Thuận, Mỹ Phú và các xã: Mỹ Tân, Hoà An, Tịnh Thới, Tân Thuận Đông, Tân Thuận Tây, Mỹ Trà, Mỹ Ngãi. == Cơ cấu kinh tế == Cơ cấu kinh tế, tỷ trọng thương mại - dịch vụ chiếm 60,49%, công nghiệp - xây dựng chiếm 27,98% và nông nghiệp chiếm 11,53%. Thế mạnh của Thành phố là thương mại - dịch vụ, mạng lưới kinh doanh thương mại có 01 siêu thị và 19 chợ, phần lớn chợ hình thành có quy hoạch nên vị trí phù hợp và có điều kiện phát triển. Là trung tâm kinh tế - văn hóa của Tỉnh, trên địa bàn thành phố còn có nhiều loại hình dịch vụ cao cấp khác như: hệ thống tài chính - ngân hàng, giao thông vận tải, bưu chính - viễn thông, bảo hiểm, y tế, giáo dục,… phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt đời sống nhân dân và phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Về thị trường chứng khoán đã có 02 công ty cổ phần niêm yết trên sàn giao dịch và trụ sở tại Thành phố là Công ty cổ phần dược phẩm Imexpham và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu y tế Domesco. Tổng mức bán lẻ hàng hóa dịch vụ năm 2006 đạt hơn 1.782 tỷ đồng, tăng 21,63%. Trên địa bàn có 08 doanh nghiệp tham gia xuất nhập khẩu; tổng kim ngạch nhập khẩu bình quân hàng năm đạt 63,07 triệu USD, xuất khẩu đạt 86,66 triệu USD. Về công nghiệp: có 01 Khu công nghiệp Trần Quốc Toản với diện tích là 55,937ha, dự kiến sẽ mở rộng thêm 180ha, là một trong hai khu công nghiệp tập trung của tỉnh nằm trong hệ thống các khu công nghiệp của cả nước, đóng vai trò quan trọng thúc đẩy chuyển đổi cơ cấu kinh tế trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa của Thành phố và của Tỉnh. Các mặt hàng ưu thế của Thành phố như chế biến gạo, thủy sản xuất khẩu, dược phẩm, vật liệu xây dựng, chế biến gỗ,… Về giao thông: từ hạ tầng kỹ thuật còn thấp kém so với mạng lưới đô thị trong khu vực, đến nay đã từng bước chỉnh trang nâng cấp, tỷ lệ đường chính trong đô thị đạt 4,33 km/km2; các tuyến giao thông liên xã, liên huyện đều đã được bêtông và nhựa hóa. Ngoài ra, thành phố còn có nhiều sông, kênh rạch lớn chảy qua với chiều dài hơn 1.462 km; cảng Cao Lãnh là một trong các cảng sông lớn vùng đồng bằng sông Cửu Long, nằm trên tuyến đường thủy quốc tế đi Campuchia, tạo điều kiện thuận lợi trong việc gắn kết giữa sản xuất, vận chuyển, tiêu thụ hàng hóa với các tỉnh trong khu vực, Thành phố Hồ Chí Minh và quốc tế. Về du lịch: Một trong những điểm mạnh của Thành phố là du lịch văn hóa lịch sử và sinh thái, đến Thành phố Cao Lãnh, sẽ được viếng mộ cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, là một trong những điểm tham quan trọng tâm trong tuyến du lịch văn hóa, lịch sử và sinh thái của tỉnh như: Gò Tháp, Vườn Quốc gia Tràm Chim, Khu căn cứ địa cách mạng Xẻo Quýt, rừng tràm sinh thái Gáo Giồng... Ngoài ra, còn có Bia Tiền Hiền Nguyễn Tú, di tích lịch sử cách mạng Hòa An, nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên của Tỉnh, Bảo tàng, đền thờ ông, bà Đỗ Công Tường, khu công viên Văn Miếu và các điểm du lịch miệt vườn... Về nông nghiệp: Thực hiện chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp, tập trung phát triển nông nghiệp đô thị, bố trí sản xuất phù hợp theo từng vùng, từng địa phương như: sản xuất lúa giống, xây dựng các khu vườn cây ăn trái kiểu mẫu, an toàn kết hợp phát triển dịch vụ du lịch, phát triển diện tích nuôi trồng thủy sản ven sông Tiền… Về giáo dục, có Trường Đại học, Trường Cao đẳng cộng đồng, Trung tâm dạy nghề, Trường nghiệp vụ thể dục thể thao, Trường Trung học Y tế, 05 Trường trung học phổ thông, có 11 trường trung học cơ sở, hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo được đầu tư khá hoàn chỉnh. Ngành Y tế, có Bệnh viện đa khoa, bệnh viện Y học dân tộc, viện điều dưỡng cán bộ, Quân y viện, riêng hệ thống Y tế do Thành phố quản lý có Phòng khám đa khoa khu vực và 15 trạm y tế tại các phường, xã. Về môi trường, luôn xanh, sạch, đẹp. Luôn coi trọng việc xóa đói giảm nghèo, năm 2000 từ 11,5% hộ nghèo đến 2006 còn 4,92%. == Phương hướng phát triển == Thành phố Cao Lãnh sẽ là một đô thị văn minh, năng động, có hệ sinh thái bền vững, phát triển hài hòa giữa kiến trúc hiện đại với dân tộc và đặc thù về cảnh quan môi trường, đồng thời là vùng động lực phát triển kinh tế - xã hội khu vực Bắc sông Tiền. Để đạt được điều đó, Thành phố sẽ tập trung mọi nguồn lực để phát triển mạnh hạ tầng kỹ thuật; đẩy mạnh phát triển thương mại - dịch vụ, tạo bước tăng trưởng đột phá về kinh tế. Thành phố kêu gọi sự tham gia đóng góp của các thành phần kinh tế, sự hỗ trợ của các ngành, các cấp trong Tỉnh và Trung ương cho thành phố ngày càng phát triển, nhất là đầu tư cho các dự án lớn như: Khu thương mại Nghi Xuân và khu ẩm thực - phường 2; Khu thương mại, dịch vụ Bằng Lăng - phường Mỹ Phú; Khu thương mại, dịch vụ Phong Lan - phường 4; đường Nguyễn Văn Tre nối dài; khu nghỉ dưỡng ven Sông Tiền - phường 6; khu dân cư phường 4 - Hòa An; khu dân cư phường 11; dự án khu dân cư phường 6 - Tịnh Thới; khu dân cư khóm 5 - phường 1; đầu tư xây dựng, khai thác các chợ ở các cụm dân cư. Mặc dù là Thành phố trẻ, nhưng Thành phố Cao Lãnh sẽ là nơi "đất lành chim đậu", nhờ hội tụ đầy đủ các điều kiện tự nhiên - xã hội và biết tạo ra môi trường bền vững cho phát triển kinh tế, du lịch và thu hút các nhà đầu tư. Đồng thời, ưu tiên phát triển hạ tầng kỹ thuật, kinh tế, văn hoá, xã hội; giải quyết tốt các vấn đề xã hội và bảo vệ môi trường; xây dựng hệ thống chính trị thật sự vững mạnh; xây dựng đội ngũ cán bộ đủ năng lực quản lý và điều hành. Đó là nền tảng cơ bản cho sự phát triển bền vững của Thành phố Cao Lãnh trong hiện tại và tương lai. == Các tuyến đường chính trên địa bàn == Nguyễn Huệ (Quốc lộ 30) 30 tháng 4 (Quốc lộ 30) Phạm Hữu Lầu Cách mạng Tháng 8 Điện Biên Phủ Nguyễn Thái Học Lý Thường Kiệt Hùng Vương Lê Lợi Trần Hưng Đạo Tôn Đức Thắng Võ Trường Toản Đặng Văn Bình Nguyễn Đình Chiểu Thiên Hộ Dương Ngô Quyền Lê Duẩn Trần Phú Nguyễn Thị Minh Khai Lê Thị Riêng Nguyễn Văn Tre Nguyễn Quang Diêu Ngô Thì Nhậm Quốc lộ 30 == Hình ảnh == == Giao thông == Thành phố có quốc lộ 30 đi qua, trong tương lai có thêm tuyến đường N2 và cầu Cao Lãnh đang thi công sẽ hoàn thành vào năm 2017. == Xem thêm == Đỗ Công Tường Văn Thánh Miếu Cao Lãnh Khu Di tích Nguyễn Sinh Sắc == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang thong tin dien tu Thanh pho Cao Lanh
kỳ giông hokuriku.txt
Hynobius takedai (tên tiếng Anh: Hokuriku Salamander) là một loài kỳ giông thuộc họ Hynobiidae. Đây là loài đặc hữu của Nhật Bản. Môi trường sống tự nhiên của chúng là rừng ôn đới, sông ngòi, đầm nước ngọt, suối nước ngọt, và đất có tưới tiêu. Chúng hiện đang bị đe dọa vì mất môi trường sống. == Chú thích == == Tham khảo == Kaneko, Y. & Matsui, M. 2004. Hynobius takedai. 2006 IUCN Red List of Threatened Species. Truy cập 22 tháng 7 năm 2007.
thụ tinh trong ống nghiệm.txt
Thụ tinh trong ống nghiệm là một phương pháp thụ tinh theo đó trứng được thụ tinh bằng tinh trùng bên ngoài cơ thể, trong ống nghiệm. Đây là một phương pháp được áp dụng sau khi kỹ thuật hỗ trợ sinh sản đã thất bại, được áp dụng cho những được dành cho những cặp vợ chồng hay những người phụ nữ đang ở độ tuổi sinh sản, vì bất kỳ lý do gì đó, tinh trùng không thể thụ tinh cho trứng bằng phương pháp tự nhiên. Sự rụng trứng được điều khiển bởi hormone và trứng đã thụ tinh sẽ được đưa vào tử cung. Người được thụ tinh được tiêm thuốc gonadotrophin để kích thích trứng lớn. Việc này được thực hiện dưới sự kiểm soát chặt chẽ về y tế, sử dụng lượng hormone vừa đúng, sau đó sẽ bác sĩ tiến hành siêu âm để phát hiện những trứng lớn. Khi trứng lớn, chúng sẽ được hút ra khi đã chín nhưng chưa tự phóng. Hormone gondotropins, loại hóc môn gây tắt kinh nguyệt của người được dùng để kích thích rụng trứng. 36 giờ sau, bào tương (chứa tế bào trứng) sẽ được lấy ra bằng đường âm đạo (bằng kim và siêu âm). Các trứng trong bào tương sẽ được thụ tinh với tinh trùng đã lấy từ trước, và 2 trứng đã thụ tinh sẽ được đưa lại vào tử cung người phụ nữ. Louise Brown là đứa bé đầu tiên ra đời bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm vào năm 1978. Robert G. Edwards, bác sĩ phát triển phương pháp này, đã được trao Giải Nobel Sinh lý và Y khoa năm 2010. Với công nghệ tiên tiến, ngày nay tỷ lệ mang thai của người được thụ tinh trong ống nghệm đã được nâng lên đáng kể so với trước đây. Năm 2006, các báo cáo y khoa của Canada cho thấy tỷ lệ mang thai là 35%. Một nghiên cứu của Pháp ước tính có 66% bệnh nhân bắt đầu áp dụng phương pháp thụ tinh này và cuối cùng đã sinh con (40% trong quá trình điều trị bằng kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm tại trung tâm và 26% sau khi gián đoạn thụ tinh trong ống nghiệm). Việc có con sau khi ngừng điều trị bằng thụ tinh trong ống nghiệm chủ yếu là nhận con nuôi (46%) hoặc mang thai tự nhiên (42%). == Tham khảo ==
stronti.txt
Stronti (tiếng Anh: Strontium) là một nguyên tố kim loại kiềm thổ có ký hiệu là Sr và số nguyên tử 38. Là một kim loại kiềm thổ, stronti là một kim loại có màu vàng hoặc trắng bạc và có độ hoạt động hóa học cao. Kim loại chuyển sang màu vàng khi tiếp xúc với không khí. Nó có mặt trong tự nhiên trong các khoáng Celestin và strontianit. Đồng vị 90Sr thể hiện tính phóng xạ và có chu kỳ bán rã 28,90 năm. Cả stronti và strontianit đều được đặt theo tên một ngôi làng Strontian ở Scotland gần mỏ khoáng mà nó được khai thác đầu tiên. == Tính chất == Stronti là kim loại có màu xám, bạc mềm hơn canxi và thậm chí rất hoạt động trong nước. Nó phản ứng mạnh với nước tạo ra stronti hydroxit và khí hydro. Nó cháy trong không khí tạo ra hai loại stronti oxit và stronti nitrit, nhưng vì nó không phản ứng với nitơ dưới 380 °C, nên ở nhiệt độ phòng nó chỉ tạo thành oxit tự phát. Do nó hoạt động mạnh với ôxy và nước nên nguyên tố này chỉ tồn tại ở dạng hợp chất với các nguyên tố khác, các chất khoáng như strontianit và celestin. Nó được bảo quản trong hydrocacbon lỏng như dầu khoáng hay kerosene để chống sự ôxy hóa; khi tiếp xúc với không khí kim loại stronti chuyển sang màu vàng ở dạng ôxit. Bột kim loại stronti sẽ tự bốc cháy trong không khí ở nhiệt độ phòng. Các muối stronti ở dạng hơi có màu đỏ sáng đến màu ngọn lửa, và các muối này được sử dụng làm pháo hoa và các chất phát sáng. Stronti tự nhiên là hỗn hợp của 4 đồng vị bền. == Lịch sử == Stronti được đặt theo tên của làng Strontian ở Scotland, (Gaelic Sron an t-Sithein), nó đã được phát hiện trong các quặng lấy từ mỏ chì. Năm 1790, Adair Crawford là một bác sĩ tham gia vào việc điều chế bari, ông đã nhận ra rằng các quặng ở Strontian thể hiện các tính chất khác nhau so với cách thông thường mà ông đã từng thấy với các nguồn "spat nặng" khác. Điều này cho phép ông kết luận "... nó thực sự có thể là khoáng vật scotch là một loại đất mới cho đến nay vẫn được xem xét đầy đủ". Khoáng vật mới được đặt tên là strontites năm 1793 bởi Thomas Charles Hope, ông là giáo sư hóa học ở Đại học Glasgow. Nguyên tố này thực chất đã được tách ra bởi Sir Humphry Davy năm 1808 bằng phương pháp điện phân hỗn hợp gồm stronti clorua và thủy ngân ôxít, và được ông công bố trong bài thuyết trình của mình cho hiệp hội Hoàng gia Anh (Royal Society) ngày 30 tháng 6 năm 1808. Để phù hợp với cách đặt tên nguyên tố kiềm thổ khác, ông đã đổi tên nó thành strontium. Ứng dụng quy mô lớn đầu tiên của stronti là sản xuất đường từ củ cải đường. Mặc dù quá trình kết tinh sử dụng stronti hydroxit đã được cấp bằng phát minh cho Augustin-Pierre Dubrunfaut năm 1849 việc ứng dụng với quy mô lớn với những cải tiến của công nghệ được thực hiện vào đầu thập niên 1870. Công nghiệp đường của Đức đã sử dụng công nghệ này rất tốt trong thế kỷ 20. Trước chiến tranh Thế giới thứ nhất ngành công nghiệp từ củ cải đường đã sử dụng 100.000 đến 150.000 tấn stronti hydroxit để xử lý mỗi năm. Stronti hydroxit đã được tái sử dụng trong quy trình này, nhưng nhu cầu để bổ sung lượng thất thoát trong quá trình sản xuất tạo ra cao đến mức phải tiến hành khai thác mỏ strontianit ở Münsterland. Việc khai thác mỏ strontianite ở Đức kết thúc khi các mỏ celestite bắt đầu được khai thác ở Gloucestershire. Các mỏ mới này cung cấp hầu hết lượng stronti trên thế giới trong giai đoạn từ 1884 đến 1941 == Phân bố == Xem thêm Thể loại: Khoáng vật Stronti Stronti có mặt phổ biến trong tự nhiên, và là nguyên tố phổ biến thứ 15 trên Trái Đất, trung bình chiếm 0,034% trong tất cả các đá mác-ma và được tìm thấy chủ yếu ở dạng khoáng vật sulfat celestite (SrSO4) và carbonat strontianit (SrCO3). Trong số 2 khoáng vật này, celestite có mặt nhiều hơn trong các mỏ trầm tích với kích thước đủ để khai thác công nghiệp. Do stronti được sử dụng nhiều nhất ở dạng carbonat, strontianit có lẽ là loại hữu ích hơn trong số 2 khoáng vật phổ biến nêu trên, nhưng có ít mỏ đã được phát hiện có đủ điều kiện để khai thác. Hàm lượng stronti trung bình trong nước biển là 8 mg/l. Với nồng độ stronti trong khoảng 82 đến 90 µmol/l thì được xem là thấp hơn đáng kể so với nồng độ canxi (khoảng 9,6 đến 11,6 mmol/l). == Sản xuất == Theo Cục Khảo sát Địa chất Anh, Trung Quốc là quốc gia sản xuất stronti hàng đầu năm 2007 chiếm hơn 2/3 thị trường thế giới, theo sau là Tây Ban Nha, Mexico, Thổ Nhĩ Kỳ, Agentina, và Iran. Kim loại stronti có thể được điều chế bằng phương pháp điện phân stronti clorua nóng chảy trộn với kali clorua: Sr2+ + 2 e⁻ → Sr 2 Cl− → Cl2 (g) + 2 e⁻ Ngoài ra, có thể tạo ra stronti kim loại bằng cách khử stronti oxit với nhôm trong chân không ở nhiệt độ mà stronti chưng cất. Có 3 đồng hình của stronti kim loại với điểm chuyển tiếp ở 235 và 540 °C. == Đồng vị == Stronti có 4 đồng vị bền trong tự nhiên: 84Sr (0.56%), 86Sr (9.86%), 87Sr (7.0%) và 88Sr (82.58%). Chỉ có 87Sr sinh ra từ phân rã phóng xạ; nó được tạo ra bằng cách phân rã kim loại kiềm phóng xạ 87Rb, loại có chu kỳ bán rã 4,88 × 1010 năm. Do đó, có 2 nguồn 87Sr trong bất kỳ vật liệu nào: thứ nhất là nó được hình thành trong các ngôi sao cùng với các đồng vị 84Sr, 86Sr, và 88Sr; và thứ hai là nó được hình thành bằng các phân rã phóng xạ 87Rb. Tỉ lệ 87Sr/86Sr là chỉ số đặc trưng trong khảo sát địa chất; các tỉ lệ này trong khoáng vật và trong các đá dao động từ khoảng 0.7 đến lớn hơn 4.0. Vì stronti có bán kính nguyên tử tương tự như của canxi nên nó sẵn sàng thay thế canxi trong các khoáng vật. Có 16 đồng vị phóng xạ của stronti tồn tại. Trong đó, quan trọng nhất là 90Sr với chu kỳ bán rã là 28,78 năm và 89Sr có chu kỳ bán rã 50,5 ngày. 90Sr là sản phẩm phụ trong phân hạch hạt nhân được tìm thấy trong các vụ nổ hạt nhân và gây ra các vấn đề sức khỏe vì nó thay thế canxi trong xương, chống lại sự đào thải ra khỏi cơ thể. Đồng vị này là một trong những tác nhân phát xạ beta năng lượng cao và tồn tại lâu, và được sử dụng trong các thiết bị SNAP (Systems for Nuclear Auxiliary Power). Các thiết bị này hứa hẹn sử dụng trong phi thuyền không gia, các trạm đo thời tiết từ xa, vv., nơi mà cần có nguồn năng lượng điện hạt nhân hoạt động trong thời gian dài và khối lượng nhẹ. Thảm họa hạt nhân Chernobyl 1986 gây ô nhiễm 90Sr trên diện rộng.90Sr được đặt bên trong một mẫu bạc lõm được sử dụng để điều trị cắt mộng thị ở mắt. 89Sr là đồng vị tổng hợp có thời gian sống ngắn, được dùng để chữa bệnh ung thư xương. Trong các trường hợp khi mà ung thư phát triển và di căn sang đau xương, sử dụng 89Sr trực tiếp (phát xạ beta) lên vùng xương bị bệnh.89Sr được sản xuất từ ở dạng muối clorua (hòa tan), và khi được hòa tan trong muối thường thì có thể bơm vào tĩnh mạch. == Hợp chất == Xem thêm Thể loại: Hợp chất Stronti Ứng dụng chủ yếu của các hợp chất stronti là trong thủy tinh ống phóng điện tử của tivi màu để ngăn phát xạ tia X. Tất cả các phần của ống phóng điện tử này phải hấp thụ các tia X. Ở cổ và phễu của ống, thủy tinh chì được sử dụng cho mục đích này, nhưng loại thủy tinh này cho mặt trước của ống thì nó gây ra các hiệu ứng nâu do phản ứng của các tia X với thủy tinh. Do vậy, tấm thủy tinh phía trước phải sử dụng một hỗn hợp thủy tinh khác mà trong đó stronti và bari là các vật liệu hấp thụ tia X. Giá trị trung bình của hỗn hợp thủy tinh được xác định trong một nghiên cứu về tái sử dụng thủy tinh năm 2005 là 8,5% stronti ôxít và 10% bari ôxít. == Ứng dụng == Stronti carbonat hoặc các muối stronti khác được sử dụng để sản xuất pháo hoa, vì chúng tạo ra màu đỏ đậm của pháo. Kim loại stronti được dùng ở dạng hợp kim: hợp kim stronti 90%-nhôm 10% của hợp phần eutectic trong việc hỗ trợ gia công hợp kim nhôm-silic. AJ62 là một hợp kim magiê bền, chống rão được sử dụng trong các động cơ của ôtô và xe gắn máy của hãng BMW, loại hợp kim này chứa 2% khối lượng stronti. Stronti được sử dụng trong các nghiên cứu khoa học về giải phóng dẫn truyền thần kinh của nơron. Giống như canxi, các chức năng của stronti synaptic vesicle dung hợp với màng giao điện. Nhưng khác với canxi ở chỗ stronti gây ra túi nhiệt hạch không đồng bộ. Do đó, sự thay thế canxi trong môi trường nuôi cấy bằng stronti cho phép các nhà khoa học đo lường tác động của sự kiện tổng hợp từng túi riêng lẻ, ví dụ như kích thước phản ứng hậu giao điện gây ra bởi hàm lượng chất chuyển hóa thần kinh của từng túi riêng biệt. == Vai trò sinh học == Acantharea là một nhóm liên quan đến các sinh vật biển radiolaria protozoa tạo ra khu xương khoáng được cấu tạo bởi stronti sulfat. Trong các hệ sinh học, canxi được thay thế một phần nhỏ bởi stronti. Trong cơ thể con người, hầu hết stronti được hấp thụ thì tích tụ trong xương. Tỉ lệ stronti/canxi trong cơ thể người dao động trong khoảng 1:1000 và 1:2000, tỉ lệ này cũng gần tương tự như trong huyết thanh. === Ảnh hưởng đến cơ thể con người === Cơ thể người hấp thụ stronti giống như canxi. Do sự tương đồng về đặc điểm hóa học của các nguyên tố này, các dạng ổn định của stronti có thể không gây nguy hại đánh kể đối với sức khỏe trong thực tế, các mức hàm lượng stronti được tìm thấy trong tự nhiên thực sự là có thể có lợi - nhưng đồng vị phóng xạ 90Sr có thể gây ra những rối loạn về xương khác nhau, như ung thư xương. Đơn vị stronti được sử dụng để đo mức độ phóng xạ từ việc hấp thụ 90Sr. Một nghiên cứu trong ống nghiệm gần đây được tiến hành ở Đại học khoa học Nha NY (NY College of Dental Sciences) sử dụng stronti trên tế bào xương cho thấy sự cải thiện đáng kể về sự hình thành xương của các tế bào xương. Thuốc stronti ranelate, được chế tạo bằng cách kết hợp stronti với axit ranelic, loại axit được tìm thấy trong quá trình hỗ trợ phát triển của xương, làm tăng mật độ xương, và làm giảm gãy xương cột sống, ngoại vi và hông. Lịch sử nghiên cứu dược ứng dụng stronti đã bắt đầu từ thập niên 1950. Các nghiên cứu cho thấy thiếu các tác dụng phụ không mong muốn. == Chú thích == == Liên kết ngoài == WebElements.com – Strontium Chemistry in its element podcast (MP3) from the Royal Society of Chemistry's Chemistry World: Strontium University of Nottingham, Periodic Table of Videos: Strontium
xín vàng.txt
Xín Vàng là một xã thuộc huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, Việt Nam. Xã có diện tích 81,53 km², dân số năm 1999 là 1.718 người, mật độ dân số đạt 21 người/km². == Chú thích == == Tham khảo ==
borussia dortmund.txt
BV Borussia Dortmund là một câu lạc bộ thể thao đóng ở Dortmund, phía bắc sông Rhine và được biết đến như một trong những đội bóng nổi tiếng và thành công nhất nước Đức cùng với Bayern Munich, Hamburg, FC Schalke 04 , Borussia Mönchengladbach và 1. FC Nurnberg. Với 8 chiếc cúp vô địch quốc gia Đức và 3 cúp DFB Pokal, Dortmund cũng vô địch UEFA Cup Winners' Cup vào năm 1966 (trở thành đội bóng Đức đầu tiên giành danh hiệu tầm châu lục) và giành chức vô địch UEFA Champions League vào năm 1997. Biệt danh của câu lạc bộ: Schwarzgelben (Vàng-đen) hay Die Borussen (những người Phổ). Borussia Dortmund là một trong những câu lạc bộ giàu thành tích và có bề dày truyền thống bậc nhất của nước Đức. Tuy vậy, phải đến thập kỉ 90 đội bóng này mới gây được tiếng vang lớn đối với người hâm mộ trên toàn thế giới. == Lịch sử == Được thành lập vào năm 1909, Dortmund không đạt được danh hiệu nào đáng kể cho đến những năm 1950, khi họ giành chiến thắng hai lần liên tiếp tại Giải Bundesliga vào năm 1956 và 1957. Từ đó Dortmund đã dần trở thành một đội bóng có tên tuổi trong làng bóng đá Đức, Mùa bóng 1962/63 vô địch Bundesliga sau đó Dortmund đoạt chức Vô địch Cup Winners Cup, danh hiệu Châu Âu đầu tiên của CLB, Tuy nhiên phải sau những năm 1990, Schwarzgelben mới thực sự phát triển và trở thành một trong những CLB hùng mạnh cả trong nền bóng đá Đức và cả của Châu Âu, và có lẽ là hiện nay chỉ duy nhất có Dortmund là có khả năng đua tranh cùng Bayern Munich trên con đường chinh phục vô địch Bundesliga. Sau hai lần liên tiếp đoạt chức vô địch giải quốc gia Đức vào năm 1995 và 1996, Bằng chiến thắng trước Juventus 3-1 tại Olympic Stadium, Borussia Dortmund đã đoạt được vương miện cao quý nhất của bóng đá châu Âu với danh hiệu UEFA Champions League mùa bóng 96/97. Sau đó để bổ sung thêm vào bảng vàng thành tích của mình, BVB còn tiếp tục đoạt nốt danh hiệu Vô địch Cup Liên Lục địa tổ chức tại Tokyo. Người kiến tạo nên những thành công đó cho BVB trong thập niên 90 là huấn luyện viên huyền thoại của CLB Ottmar Hitzfeld. Trong tất cả các quá trình phát triển của mình Dortmund được biết đến như là một câu lạc bộ có lối chơi mang đậm phong cách Đức, phần lớn các cầu thủ của Dortmund thường là những người thợ đá bóng hơn là những cầu thủ mang đậm tính chất kỹ thuật, tất nhiên cũng có một số ngoại lệ, Andreas Möller, một trong những kỹ thuật gia của Dortmund và cả đội tuyển Đức trong những năm 90, và libero Matthias Sammer có lẽ là cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử phát triển của câu lạc bộ. Vào đùng thời kỳ đỉnh cao của mình, BVB cũng có những đóng góp to lớn cho chiến thắng của đội tuyển quốc gia tại Euro 1996 với sự góp mặt của những ngôi sao Andy Möller, Matthias Sammer,Stefan Reuter,... Mùa bóng 1998-99, Dortmund có những kết quả tồi tệ dưới thời của huấn luyện viên Michael Skibbe, họ đã không lọt vào vòng đấu bảng UEFA Champions League, một số hợp đồng mới không đạt kết quả như ý. Chính vì vậy mà Skibbe bị sa thải, qua một vài sự thử nghiệm ngắn ngủi một số huấn luyện viên không đạt yêu cầu, và chỉ đến khi huyền thoại câu lạc bộ Matthias Sammer đứng lên nhận nhiệm vụ lãnh đạo câu lạc bộ trong thời điểm khó khăn. Và như có một phép mầu của chàng trai tóc hung này, người mà huấn luyện viên đội bóng có nhiều cầu thủ già hơn chính mình, đã đưa con thuyền "vàng đen" trở về đúng con đường mà các cổ động viên mong đợi, ngay mùa bóng đầu tiên lãnh đạo BVB đoạt chức vô địch Bundesliga vào chung kết UEFA Cup. Matthias Sammer cũng là huấn luyện viên rất thành công trong việc tạo điều kiện cho nhân tài Đức phát triển: Christoph Metzelder, Sebastian Kehl, Torsten Frings, Lars Ricken.... == Trang phục == Màu áo đầu tiên của Dortmund là Xanh - Trắng - Đỏ. Sau khi sáp nhập với các CLB láng giềng là Britannia, Rhenania và Deutsche Flagge CLB mới có màu áo truyền thống hiện nay là Vàng - Đen. Mùa giải 2012 - 2013, trong trận chung kết UEFA Champions League câu lạc bộ BV Borussia Dortmund đã để thua đội bóng đồng hương FC Bayern München với tỉ số 1 - 2. == Những mùa giải gần đây == == Danh hiệu == ==== Danh hiệu chính thức ==== Quốc gia Bundesliga Vô địch (8): 1955-56, 1956-57, 1962-63, 1994–95, 1995–96, 2001–02, 2010–11, 2011–12 Về nhì (6): 1947-49, 1960-61, 1965–66, 1991–92, 2012-13, 2013-14 Cúp bóng đá Đức Vô địch (3): 1964-65, 1988-89, 2011–12 Về nhì (5): 1962-63, 2007-08, 2013-14, 2014-15, 2015-16 Siêu cúp bóng đá Đức Vô địch (5): 1989, 1995, 1996, 2013, 2014 Về nhì (3): 2011, 2012, 2016 Cúp Liên đoàn bóng đá Đức Về nhì (1): 2003 Quốc tế UEFA Champions League/Cúp C1: 1 Vô địch (1): 1997 Về nhì (1): 2013 UEFA Cup Winners' Cup/Cúp C2: 1 1966 Cúp Liên lục địa: 1 1997 Siêu cúp bóng đá châu Âu: Về nhì (1): 1997 Cúp UEFA/Cúp C3: Về nhì (2):1993, 2002 == Đội trẻ == Giải U19 Đức Vô địch: 1994, 1995, 1996, 1997, 1998 Giải U17 Đức Vô địch: 1984, 1993, 1996, 1998 Về nhì: 1999, 2001, 2006, 2007, 2008 Giải U19 Bundesliga Tây Đức Vô địch: 2009 Giải U17 Bundesliga Tây Đức Vô địch: 2008 == Cầu thủ == === Thay đổi cầu thủ 2016/17 === Trong mùa này Borussia Dortmund mất đi 3 cầu thủ quan trọng của đội, Mats Hummels (Bayern München/38), Ilkay Gündogan (Manchester City/27) và Henrich Mkitarian (Manchester United/42), nhưng thu nhập được tổng cộng 107 triệu Euro. Để bù đấp vào khoảng trống này Dortmund đã mua Mario Götze (Bayern München/26 triệu Euro), Marc Bartra (FC Barcelona/8), Sebastian Rode (Bayern München/12), Emre Mor (FC Nordsjaelland/7), Ousmane Dembélé (Stade Rennes/15), Mikel Merino (CA Osasuna/3,75), Raphaël Guerreiro (FC Lorient/12) và sau cùng là André Schürrle (30 triệu từ VfL Wolfsburg). Schürrle như vây là cầu thủ đắt tiền nhất mà Dortmund đã từng mua. Tổng cộng hội đã chi ra 113,75 triệu Euro cho các cầu thủ mới. === Đội hình hiện tại === Số liệu thống kê chính xác tới 23 tháng 7 năm 2016 Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. === Cho mượn === Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA. == Các huấn luyện viên == 07.01.1963 - 06.30.1965 Hermann Eppenhoff 07.01.1965 - 06.30.1966 Willi Multhaup 07.01.1966 - 04.10.1968 Heinz Murach 04.18.1968 - 12.16.1968 Oßwald Pfau 12.17.1968 - 03.17.1969 Helmut Schneider 03.21.1969 - 06.30.1970 Hermann Lindemann 07.01.1970 - 12.21.1971 Horst Witzler 01.03.1972 - 06.30.1972 Herbert Burdenski 07.01.1972 - 10.30.1972 Detlev Brüggemann 11.01.1972 - 03.01.1973 Max Michallek 03.02.1973 - 06.30.1973 Dieter Kurrat 07.01.1973 - 06.30.1974 Janos Bedl 07.01.1974 - 02.01.1976 Otto Knefler 02.01.1976 - 06.18.1976 Horst Buhtz 06.18.1976 - 04.30.1978 Otto Rehhagel 05.21.1978 - 04.29.1979 Carl-Heinz Rühl 04.30.1979 - 06.30.1979 Uli Maslo 07.01.1979 - 05.10.1981 Udo Lattek 05.11.1981 - 06.30.1981 Rolf Bock 07.01.1981 - 06.30.1982 Branko Zebec 07.01.1982 - 04.05.1983 Karl-Heinz Feldkamp 04.06.1983 - 06.30.1983 Helmut Witte 07.01.1983 - 10.23.1983 Uli Maslo 10.31.1983 - 11.15.1983 Heinz-Dieter Tippenhauer 11.16.1983 - 06.30.1984 Horst Franz 07.01.1984 - 10.24.1984 Friedhelm Konietzka 10.28.1984 - 06.30.1985 Erich Ribbeck 07.01.1985 - 04.20.1986 Pál Csernai 04.20.1986 - 06.26.1988 Reinhard Saftig 06.27.1988 - 06.30.1991 Horst Köppel 07.01.1991 - 06.30.1997 Ottmar Hitzfeld 07.01.1997 - 06.30.1998 Nevio Scala 07.01.1998 - 02.04.2000 Michael Skibbe 02.05.2000 - 04.12.2000 Bernd Krauss 04.16.2000 - 06.30.2000 Udo Lattek 07.01.2000 - 06.30.2004 Matthias Sammer 07.01.2004 - 12.18.2006 Bert van Marwijk 12.19.2006 - 03.12.2007 Jürgen Röber 03.13.2007 - 05.19.2008 Thomas Doll 07.01.2008 - 06.30.2015 Jürgen Klopp 07.01.2015 - hiện tại Thomas Tuchel == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức của đội bóng
trung đoàn thủ đô.txt
Trung đoàn Thủ Đô, hay Trung đoàn 102, là một trung đoàn có bề dày truyền thống, thuộc Sư đoàn 308 Quân đội Nhân dân Việt Nam. Trung đoàn thủ đô hiện nay đóng quân tại địa bàn xã Phú Mãn, huyện Quốc Oai. == Lịch sử == Trung đoàn chính thức được thành lập ngày 7 tháng 1 năm 1947, giữa cuộc chiến kéo dài 2 tháng tại Hà Nội mở đầu Toàn quốc kháng chiến, trên cơ sở Tiểu đoàn 301 cùng các đơn vị Vệ quốc đoàn và Tự vệ chiến đấu Liên khu 1 (thuộc 36 phố phường Hà Nội cũ), gồm khoảng 2.000 người. Các chỉ huy đầu tiên là: Trung đoàn trưởng Hoàng Siêu Hải (sau chuyển về Tỉnh ủy Cao Bằng), Chính uỷ Lê Trung Toản (sau làm Thứ trưởng Bộ Nội thương, Phó chủ nhiệm Ủy ban Kế hoạch Nhà nước), Liệt Sĩ Trần Phúc Ánh (hy sinh ngày 7 tháng 1 năm 1952), Tham mưu trưởng Hoàng Phương. Tên gọi đầu tiên là Trung đoàn Liên khu I. Ngày 12 tháng 1 năm 1947, Hội nghị quân sự toàn quốc quyết định tặng Trung đoàn Liên khu I danh hiệu Trung đoàn Thủ Đô. Ngày 17 tháng 2 năm 1947, sau 2 tháng chiến đấu cầm chân quân Pháp tại Hà Nội (xem bài Trận Hà Nội 1946), bảo vệ 38 nghìn người tản cư an toàn, trung đoàn đã thực hiện thành công cuộc rút lui chiến lược ra khỏi vòng vây của quân Pháp cùng với một bộ phận nhân dân Liên khu 1. Bắt đầu 17 giờ ngày 17, từ đình Phất Lộc, ra bãi cát ven sông Hồng, trung đoàn đi dưới gầm cầu Long Biên (có lính Pháp gác trên cầu), lội sang bãi giữa sông rồi vượt sông bằng thuyền, về vùng tự do thuộc huyện Đông Anh. Đến 8 giờ ngày 18 tháng 2, toàn trung đoàn đã vượt sông xong. Khi gần sáng, quân Pháp phát hiện và truy kích nhưng bị chặn đánh và phải bỏ cuộc. == Đánh giá == Trong buổi mít tinh đêm 22 tháng 2 năm 1947 tại làng Thượng Hội, Đan Phượng, Hà Tây, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nói: "Trung đoàn Thủ Đô đã tượng trưng cho bộ đội của một dân tộc nhược tiểu quyết tâm không muốn làm nô lệ và đã ngang nhiên chống lại quân đội một nước lớn hùng mạnh của đế quốc chủ nghĩa. Trung đoàn Thủ Đô đã nối chí truyền thống oanh liệt của các vị anh hùng thuở trước" Sau này, ông đã đề nghị Hà Nội nên có nơi ghi công Trung đoàn Thủ Đô, chẳng hạn như đặt tên "Trung đoàn thủ đô" cho một con đường. == Trong văn hóa đại chúng == Nhà văn, nhạc sĩ Nguyễn Đình Thi đã viết bài hát "Người Hà Nội" để tặng các chiến sĩ Trung đoàn Thủ Đô, ông kể: "Ngày 19-12-1946, quân dân Hà Nội đồng loạt nổ súng vào các vị trí đóng quân của thực dân pháp chống lại âm mưu gây hấn của chúng. Chiến lũy mọc ngay trên các đường phố. Với tinh thần "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh", quân dân Hà Nội bám giữ từng ngôi nhà, từng góc phố gây cho địch nhiều thiệt hại." "Xúc động trước tinh thần chiến đấu anh dũng của Trung đoàn Thủ đô (thành lập từ các đơn vị Vệ quốc và Tự vệ Liên khu 1 thuộc 36 phố phường Hà Nội cũ), tôi sáng tác bài hát Người Hà Nội để tặng các chiến sĩ trung đoàn. Báo Cứu quốc Mặt trận Hà Nội số Xuân 1947 có đăng bài hát này được các chiến sĩ giao liên vượt vòng vây dày đặc của địch mang đến anh em bộ đội của trung đoàn...". == Cựu chiến binh == Nhạc sĩ Lương Ngọc Trác Nhà thơ Chính Hữu ... == Chú thích == == Liên kết ngoài == Quyết tử quân Hà Nội qua hai bức ảnh, báo Nhân dân, 06-12-2007
người xơ đăng.txt
Người Xơ Đăng hay Xê Đăng, còn có tên gọi khác là Xơ Đeng, Ca Dong, Cà Dong, Tơ-dra, Hđang, Mơ-nâm, Hà Lăng, Ka Râng, Bri La Teng, Con Lan, là một dân tộc trong số 54 dân tộc tại Việt Nam. == Nhóm ngôn ngữ == Tiếng Xơ Đăng là ngôn ngữ thuộc Nhóm ngôn ngữ Môn-Khmer của ngữ hệ Nam Á. == Dân số và địa bàn cư trú == Người Xơ Đăng cư trú tập trung ở tỉnh Kon Tum, một số ít ở miền núi của tỉnh Quảng Ngãi và tỉnh Quảng Nam. Người Xơ Đăng có quan hệ gần gũi với người Giẻ Triêng, người Co, người Hrê và người Ba Na. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Xơ Đăng ở Việt Nam có dân số 169.501 người, có mặt tại 41 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Xơ Đăng cư trú tập trung tại tỉnh Kon Tum (104.759 người, chiếm 24,4% dân số toàn tỉnh và 61,8% tổng số người Xơ Đăng tại Việt Nam), Quảng Nam (37.900 người, chiếm 22,4% tổng số người Xơ Đăng tại Việt Nam), Quảng Ngãi (17.713 người), Đắk Lắk (8.041 người), Gia Lai (705 người)... == Đặc điểm kinh tế == Người Xơ Đăng làm rẫy là chính. Nhóm Mơ-nâm làm ruộng nước nhưng không cày bừa mà lại dùng sức trâu, sức người để giẫm nát đất. Họ chăn nuôi gia súc, gia cầm, săn bắn, hái lượm, đánh bắt cá, đan lát, dệt, rèn. Nhóm Tơ-dra có nghề rèn từ quặng sắt rất phát triển và nổi tiếng. == Tổ chức cộng đồng == Mỗi làng Xơ Đăng có nhà rông, có bãi mộ chôn người chết... Nhà cửa của dân làng quây quần bên nhau, mọi người gắn bó giúp đỡ nhau. Ông "già làng" được trọng nể nhất, là người điều hành mọi sinh hoạt chung trong làng và đại diện của dân làng. == Hôn nhân gia đình == Tên của người Xơ Đăng không có họ kèm theo, nhưng có từ chỉ định giới tính: nam là A, nữ là Y (ví dụ như là A Nhong, Y Hên). Trai gái lớn lên, sau khi đã cưa răng theo phong tục (ngày nay ít người còn theo phong tục này), được tìm hiểu, yêu nhau. Lễ cưới xin đơn giản. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng ở luân chuyển với từng gia đình mỗi bên ít năm, rất ít trường hợp ở hẳn một bên. == Văn hóa == Trong số các lễ cúng, lễ hội truyền thống của người Xơ Đăng, lễ đâm trâu được tổ chức long trọng nhất, đông vui nhất. Người Xơ Đăng thích hát múa, tấu chiêng cồng, chơi đàn, kể chuyện cổ. Đàn ông không chỉ có tinh thần thượng võ, mà còn tài nghệ trong kiến trúc, điêu khắc và hội họa, tạo nên những sản phẩm tiêu biểu, đó là ngôi nhà rông và cây nêu trong lễ đâm trâu. Mỗi làng người Xơ Đăng đều có nhà rông, nóc và mái được tạo dáng như cánh buồm lớn hoặc lưỡi rìu khổng lồ ngửa lên trời. Có hình chim chèo bẻo hay hình sừng thú chót vót ở hai đầu đốc. Nhà rông được dân làng tạo dựng nên hoàn toàn bằng thảo mộc có sẵn ở địa phương. Kỹ thuật xây dựng chỉ là lắp ghép và chằng buộc, không hề dùng đến đinh sắt, dây thép... Nhà rông thực sự là công trình kiến trúc, một sản phẩm văn hóa, là trụ sở và câu lạc bộ trong làng của người Xơ Đăng. Người Xơ Đăng có sự đối xử bình đẳng giữa nam và nữ, không phân biệt giữa con riêng và con chung, con đẻ và con nuôi, con của mình và con của anh em họ. Quan hệ làng bản khá đoàn kết, có tục kết nghĩa với người cùng tuổi hoặc cùng tên. Con cháu cùng họ không được phép kết hôn với nhau. == Trang phục == == Tham khảo == == Xem thêm == Danh sách ngôn ngữ == Liên kết ngoài ==
kỷ silur.txt
Kỷ Silur hay phiên âm thành kỷ Xi-lua là một kỷ chính trong niên đại địa chất kéo dài từ khi kết thúc kỷ Ordovic, vào khoảng 443,7 ± 1,5 triệu (Ma) năm trước, tới khi bắt đầu kỷ Devon vào khoảng 416,0 ± 2,8 Ma (theo ICS, 2004). Giống như các kỷ địa chất khác, các tầng đá xác định sự khởi đầu và kết thúc kỷ này được xác định khá rõ, nhưng niên đại chính xác thì vẫn là không chắc chắn trong phạm vi 5-10 triệu năm. Căn cứ xác định sự bắt đầu kỷ này là một sự kiện tuyệt chủng lớn khi 60% các loài sinh vật biển đã bị đào thải. Xem Sự kiện tuyệt chủng kỷ Ordovic-kỷ Silur. == Biên niên sử == Hệ thống địa tầng kỷ Silur đã lần đầu tiên được Roderick Murchison xác định, khi ông kiểm tra các tầng đá trầm tích chứa hóa thạch ở miền nam Wales (Xứ Uên/Xứ Gan) vào đầu thập niên 1830. Ông đặt tên cho các tầng đá này theo tên gọi của một bộ lạc người Celt (Xen-tơ) ở Wales- là người Silures, kế tục truyền thống của bạn ông là Adam Sedgwick, người đã xác định và đặt tên cho kỷ Cambri. Năm 1835, hai người đã đưa ra một bài báo chung, dưới tên gọi On the Silurian and Cambrian Systems, Exhibiting the Order in which the Older Sedimentary Strata Succeed each other in England and Wales, có thể coi là phôi thai cho việc xác định niên đại địa chất hiện đại. Tuy nhiên, sau khi đã xác định kỷ này và khi lần theo dấu vết của kỷ Silur trên thực địa thì người ta nhận ra rằng nó chồng lấn lên các tầng thuộc kỷ Cambri của Sedgwick, điều này đã gây ra tranh cãi và gây bất hòa đến mức chấm dứt luôn cả tình bạn của họ. Charles Lapworth cuối cùng đã giải quyết mâu thuẫn bằng cách xác định một hệ thống địa tầng chính mới với tên gọi là kỷ Ordovic để bao gồm các tầng đang tranh chấp. == Các phân kỷ == Khoảng thời gian của kỷ Silur thông thường được chia nhỏ thành các phân kỷ Tiền (Llandovery và Wenlock) và Hậu (Ludlow và Pridoli) Silur. Tuy nhiên, một vài sơ đồ hệ thống sử dụng Tiền (Llandovery), Trung (Wenlock) và Hậu (Ludlow và Pridoli) Silur. Các tầng động vật này được đặc trưng bởi các hóa thạch chỉ mục, là các loài mới của các sinh vật biển thuộc nhóm Graptolita xuất hiện trong mỗi tầng. Mỗi thế địa chất này tương ứng với một chuỗi đá, chúng được nói đến như là thuộc về các phần dưới, giữa và trên của tầng đá, tương tự với thời gian đầu, giữa và cuối của kỷ Silur. Các thế địa chất và các tầng động vật từ trẻ nhất đến già nhất là: Thế Pridoli - không định nghĩa tầng động vật (hậu Silur) Thế Ludlow được phân chia thành: Kỳ Ludford (hậu Ludlow - hậu Silur) Kỳ Gorst (tiền Ludlow - hậu Silur) Thế Wenlock được phân chia thành: Kỳ Homer (hậu Wenlock - tiền hoặc trung Silur) Kỳ Sheinwood (tiền Wenlock - tiền hoặc trung Silur) Thế Llandovery được phân chia thành: Kỳ Telych (hậu Llandovery - tiền Silur) Kỳ Aeron (trung Llandovery - tiền Silur) Kỳ Rhuddal (tiền Llandovery - tiền Silur) Tại Bắc Mỹ một hệ thống các tầng động vật cục bộ khác được sử dụng: Cayuga (hậu Silur - Ludlow) Lockport (trung Silur - Wenlock) Tonawand (trung Silur - Wenlock) Ontario (tiền Silur - Llandovery) Alexandria (tiền Silur - Llandovery) == Cổ địa lý học == Trong kỷ Silur, Gondwana vẫn tiếp tục trôi dạt chậm về phía nam tới các vĩ độ lớn, nhưng có các chứng cứ cho thấy các chỏm băng thuộc kỷ Silur là ít lớn hơn so với các chỏm băng thuộc thời kỳ băng hà hậu Ordovic. Sự tan chảy ra của các chỏm băng và các sông băng đã làm cho mực nước biển lên cao, được ghi nhận từ thực tế là các trầm tích kỷ Silur che phủ lên trên các trầm tích kỷ Ordovic bị xói mòn, tạo thành một sự phân vỉa không chỉnh hợp. Các craton khác và các mảng lục địa đã trôi dạt cùng nhau gần đường xích đạo, bắt đầu sự hình thành của siêu lục địa thứ hai, được biết đến dưới tên gọi Euramerica (Âu-Mỹ). Khi proto-Europe (tiền-châu Âu) va chạm với Bắc Mỹ thì va chạm này đã gấp nếp các trầm tích ven bờ biển đã được tích lũy từ kỷ Cambri ngoài khơi phía đông của Bắc Mỹ và phía tây của châu Âu. Sự kiện này được gọi là kiến tạo sơn Caledonia, sự dồn lên của các dãy núi kéo dài từ tiểu bang New York (ngày nay) tới chỗ nối lại của châu Âu với Greenland và Norway. Vào cuối kỷ Silur, mực nước biển lại hạ thấp xuống một lần nữa, để lại các lòng chảo lộ rõ chứa muối (evaporit) trong lưu vực kéo dài từ Michigan tới West Virginia, và các dãy núi mới hình thành nhanh chóng bị xói mòn. Sông Teays, chảy vào các biển nông trên giữa lục địa, đã xói mòn các tầng thuộc kỷ Ordovic, để lại dấu vết trong các tầng thuộc kỷ Silur ở miền bắc Ohio và Indiana. Đại dương rộng lớn Panthalassa đã bao phủ phần lớn Bắc bán cầu. Các đại dương nhỏ khác như Proto-Tethys, Paleo-Tethys, Rheic, đường thông ra biển của đại dương Iapetus (nằm giữa Avalonia và Laurentia), và Ural mới hình thành. Trong kỷ này, Trái Đất đang nằm trong giai đoạn nhà kính ấm và kéo dài và các biển nông và ấm đã che phủ phần lớn các vùng đất tại khu vực xích đạo. Kỷ này có một sự ổn định tương đối của khí hậu Trái Đất, kết thúc kiểu khí hậu thất thường của giai đoạn trước đó. Các lớp mai (vỏ) vỡ (gọi là coquina) cung cấp các chứng cứ mạnh mẽ cho kiểu khí hậu mà các cơn bão mạnh ngự trị được phát sinh khi đó bởi các mặt biển ấm. == Sinh vật == === Động vật === Mực nước biển cao và các biển nông trên thềm lục địa cung cấp một môi trường thích hợp cho sự sống đại dương của tất cả các loài. Các tầng đá kỷ Silur là nơi chứa nhiều mỏ dầu và hơi đốt ở nhiều khu vực. Các tầng đá kỷ Silur chứa hematit—một loại quặng sắt—ở miền đông Bắc Mỹ đã đóng vai trò quan trọng cho nền kinh tế châu Mỹ thuộc địa thời kỳ đầu. Các dải đá san hô ngầm đã lần đầu tiên xuất hiện trong kỷ này, được các nhóm san hô đã tuyệt chủng như các bộ Tabulata và Rugosa tạo ra. Những loài cá xương đầu tiên (nhóm Osteichthyes) đã xuất hiện, với các đại diện là Acanthodii được che phủ bằng lớp vảy bằng chất xương; các loài cá đã đạt được sự đa dạng đáng kể và phát triển các quai hàm chuyển động được, được thích ứng từ sự hỗ trợ của 2 hoặc 3 cung mang ở phía trước. Hệ động vật đa dạng của nhóm Eurypterida (bò cạp biển) -- một số trong chúng có độ dài vài mét—sinh sống ở các biển nông thời kỳ Silur ở Bắc Mỹ; nhiều hóa thạch của chúng đã được tìm thấy ở bang New York. Các ngành Brachiopoda, Bryozoa, Mollusca và Trilobita đã rất đông đảo và đa dạng. Nhóm Myriapoda trở thành những động vật sống trên đất liền đích thực đầu tiên. Các hệ sinh thái đất liền, bao gồm những động vật đa bào đầu tiên trên đất liền hiện đã xác định được, là các họ hàng của nhện và động vật nhiều chân ngày nay, các hóa thạch của chúng đã được phát hiện ra trong thập niên 1990. === Thực vật === Những hóa thạch đầu tiên của thực vật có mạch đã xuất hiện trong kỷ Silur. Các đại diện sớm nhất của nhóm này là Cooksonia (chủ yếu ở Bắc bán cầu) và Baragwanathia (ở Australia). Các loài thực vật nguyên thủy trên đất liền thuộc kỷ Silur với xylem và libe nhưng không phân hóa thành rễ, thân và lá, là nhóm Psylophyton, với cơ chế sinh sản bằng bào tử và thở thông qua các khí khổng trên mỗi mặt, và có lẽ quang hợp ở mọi mô được chiếu sáng. Rhyniophyta và Lycopodiophyta nguyên thủy là các thực vật đất liền khác đã lần đầu tiên xuất hiện trong kỷ này. === Nấm === Các loài nấm sống trên đất liền đầu tiên có lẽ xuất hiện trong kỷ này. == Tham khảo == Emiliani, Cesare, 1993. Planet Earth: Cosmology, Geology and the Evolution of Life and Environment. Ogg, Jim; tháng 6, 2004, Overview of Global Boundary Stratotype Sections and Points (GSSP's), truy cập 30 tháng 4 năm 2006. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Paleos: kỷ Silur UCMP Berkeley: kỷ Silur Paleoportal: Silurian strata in U.S., state by state USGS:Các tầng đá kỷ Silur và Devon (U.S.) ICS Geologic Time Scale, 2004, truy cập ngày 19 tháng 9 năm 2005.
venus williams.txt
Venus Ebony Starr Williams (sinh ngày 17 tháng 6 năm 1980 tại Lynwood, California, Mỹ), từng là tay vợt nữ số 1 thế giới, Huy chương Vàng Olympic, có trong tay 23 danh hiệu Grand Slam (bao gồm 7 danh hiệu đơn, 14 danh hiệu đôi nữ, 2 danh hiệu đôi nam nữ). Venus là chị của tay vợt số 1 thế giới Serena Williams. Hai chị em Williams được chú ý bởi lối chơi đầy sức mạnh của họ, và Venus đang giữ kỷ lục về quả giao bóng nhanh nhất được thực hiện bởi 1 tay vợt nữ trong 1 trận đấu chính thức (128.8 dặm/h). == Sự nghiệp ban đầu == Đã nổi tiếng từ năm 11 tuổi, bắt đầu thi đấu chuyên nghiệp vào 31 tháng 10 năm 1994, Venus và cô em được huấn luyện bởi bố mẹ của mình là Richards Wiliams và Oracene Price. Năm 1994, cô chỉ tham gia 1 giải đấu duy nhất ở Oakland (vào đến vòng 2). Tham gia chỉ 3 giải đấu vào năm 1995 và 5 giải đấu trong năm 1996. Williams bắt đầu chơi thường xuyên hơn từ năm 1997. Sự kiện đáng nhớ vào năm 1997 là khi cô vào đến chung kết Mỹ Mở rộng lần đầu tiên trong đời rồi để thua Martina Hingis 6-0, 6-4, sau khi đã đánh bại Irina Spirlea trong trận bán kết nổi tiếng (Williams và Spirlea đã có cuộc ẩu đả với nhau trong giờ nghỉ). Vào 1998, cùng với Justin Gimelstob giành Giải Úc Mở rộng và Roland Garros ở nội dung đôi nam nữ. Cô em Serena cũng giành 2 Grand Slam còn lại của năm (Wimbledon và US Open) ở nội dung đôi nam nữ để hoàn thành "năm Grand Slam đánh đôi của Gia đình Williams". Tại nội dung đấu đơn, Venus thắng cúp Grand Slam và 2 giải đấu ở Miami và Oklahoma. Cô cũng vào đến ít nhất là tứ kết của 4 Grand Slam trong năm. Venus kết thúc năm 1998 ở hạng 5 thế giới. Năm 1999, Williams giành giải Miami, sau khi đánh bại lần lượt Jana Novotna, Steffi Graf và người em gái Serena. Venus cũng giành các giải Hamburg, Roma, New Haven và Zurich. Venus và Serena đánh cặp và giành danh hiệu đôi nữ ở Pháp và Mỹ mở rộng, trở thành hai chị em đầu tiên giành Grand Slam của thế kỷ 20. Năm 2000, Williams giành danh hiệu đơn ở cả Wimbledon và US Open; ngoài ra còn giành 2 huy chương vàng ở Olympic Sydney. Cũng trong năm này, 2 chị em Williwms cũng giành danh hiệu Wimbledon đầu tiên ở nội dung đôi nữ. Williams thành công trong việc bảo vệ chức vô địch Wimbledon và US Open của cô vào 2001. TẠi US Open, Venus đã không để thua một ván đấu nào và đánh bại cô em Serena trong trận chung kết 6-2, 6-4. Hai chị em Williams vô địch đôi nữ tại Úc mở rộng lần đầu tiên. Venus giành tổng cộng 6 danh hiệu Grand Slam (đơn và đôi) trong năm này. Venus mở đầu năm 2002 bằng việc giành chiến thắng trước Justine Henin tại giải Gold Coast. Sau đó vào đến tứ kết Úc mở rộng. Tháng 2 năm 2002, cô được xếp hạng tay vợt số 1 thế giới, tay vợt da màu đầu tiên gặt hái được vị trí đó kể từ khi có bảng xếp hạng vi tính (1975). Bắt đầu từ giải Pháp Mở rộng 2002 và kéo dài đến Wimbledon 2003, Venus đều vào đến 5 trận chung kết, đều để thua trước Serena Williams. == 2003 == Để thua trước cô em trong trận chung kết Úc mở rộng, Williams sau đó vô địch giải Diamond Games tại Antweps lần thứ 2 liên tiếp. Trong trận bán kết tại Wimbledon, Williams gẳp phải chấn thương vùng bụng nghiêm trọng, và cần được săn sóc y tế trong suốt thời gian còn lại của trận đấu. Williams đã để thua cán đầu tiên, bị dẫn trước khá sớm ở ván thứ 2 trước khi trận đấu bị hoãn vì trời mưa. Khi trận đấu được tiếp tục, cô thắng 4-6, 6-3, 6-1. Người chị của cô, Yetunde Price, bị ám sát tại Compton, California vào sáng ngày 14 tháng 10 năm 2003. Kỉ nguyên của gia đình Williams bắt đầu khép lại sau vũ ám sát này. Sau Wimbledon, cà Venus và Serena đều bị chấn thương, khiến họ không thể thi đấu cho đến hết năm. == 2004 == Tại Úc mở rộng, cô chỉ đi đến vòng 3. Còn tại Pháp Mở rộng, cô để thua nhà vô địch của năm đó là Anastacia Myskina 6-3, 6-4. Ở Wimbledon, cô để thua Karolina Sperm trong trận đấu gây tranh cãi tại vòng 2. Trọng tài chính của trận đấu, Ted Watts, đã cho Sperm hưởng điểm sai trong loạt tiebreak ở ván thứ 2. Sau quyết định này, Watts đã bị đình chỉ nhiệm vụ. Tại Mỹ mở rộng, cô để thua Lindsay Davenport ở vòng 4. 2004 không phải là một năm thành công của Williams. == 2005 == Khởi đầu năm 2005 bằng việc đề thua trận đấu vòng 4 Úc mở rộng. Sau đó, cô giành chiến thắng tại Proximus diamond Games lần thứ 3 trong vòng 4 năm. Tại giải NASDAQ-100 mở rộng tại Miami, Venus thắng cô em Serena trong trận tứ kết, trước khi để thua Maria Sharapova. Đây là lần đầu tiên kể từ US Open 2001 mà Venus đánh bại được Serena. Cô chỉ vào đến vòng 3 vì thua Sesil Karatantcheva, người sau này bị phát hiện đã sử dụng chất kích thích và bị cấm thi đấu 2 năm. Tại Wimbledon, cô đánh bại đương kim vô địch Maria Sharapova trong trận bán kết. Chiến thắng này đánh dấu 6 năm liên tiếp mà ít nhất một trong 2 chị em Williams có mặt trong 1 trận chung kết Grand Slam, và đó là trận chung kết Wimbledon thứ năm của Venus trong vòng 6 năm. Ở Wimbledon 2005, Venus được xếp hạt giống thứ 14 và giành luôn chức vô địch. Hơn nữa, đây là hạt giống thấp nhất giành chức vô địch trong các kì Wimbledon. Venus đánh bại Serena tại vòng 4 giải Mỹ mở rộng. Vào đến tứ kết thì cô để thua Kim Clijster, người đã giành quán quân năm đó. Được tạp chí TENNIS xếp vị trí thứ 25 trong danh sách 40 tay vợt vĩ đại nhất. == 2006 == Tại Grand Slam đầu tiên của năm, Venus thất bại một cách đáng ngạc nhiên trước Tszvetana Pironkova. Đây là thất bại sớm nhất của cô tại Úc Mở rộng. Williams đã không tham gia một giải nào từ 16 tháng 1 cho đến tận 30 tháng 4 vì chấn thương. Sau khi thắng Martina Hingis tại vòng 2, cô để thua Svetlana Kuznetsova tại tứ kết giải J&S (Warszawa, Ba Lan). Tại giải ý mở rộng, cô lại để thua Martina Hinis tại tứ kết, sau khi thắng Jelena Jankovic và Patty Schnyder ở những vòng trước. Venus Williams kết thúc mùa thi đấu trên sân đất nện sau khi để thua Nicole Vaidisova ở tứ kết giải Pháp mở rộng. Williams thi đấu tại Wimbledon trên mặt sân cỏ, mặt sân ưa thích nhất của cô. Tuy nhiên, cô đã thua sớm tại vòng 3 trước hạt giống số 26, Jelena Jankovic. Phát biểu sau trận đấu, cô nói rằng mình bị đau ở cổ tay trái, nhưng đó không phải là lý do cô thua trận. Venus không tham gia Mỹ Mở rộng do chấn thương cổ tay lại tái phát. == 2007 == Venus lại rút lui khỏi Úc Mở rộng do chấn thương cổ tay. Đó là Grand Slam thứ 2 liên tiếp mà cô không tham dự vì chấn thương. Tại WTA Cellelar South Cup ở Memphis, Tennessee, Williams giành vô địch. Đây là giải đấu đầu tiên của cô kể từ tháng 10 năm 2006, cũng là giải đấu giúp cô giành danh hiệu thứ 24 trong sự nghiệp của mình. Williams tham dự Sony Ericsson mở rộng tại Miami, tuy nhiên đã thua tại vòng 3 trước hạt giống số 1 Maria Sharapova. Nhưng cô đã cải thiện được vị trí của mình trong bảng xếp hạng: từ 39 lên 32. Chuyển sang mùa thi đấu trên mặt sân đất nện, cô không giành được danh hiệu nào, nhưng đã tiến lên được hạng 22. Williams thi đấu tại Fed Cup cùng với em gái lần đầu tiên trong vòng 4 năm tại Delray Beach, Florida. Tại J&S Cup,cô lại để thua Svetlana Kuznetsova tại tứ kết. Vào đến vòng 3 Pháp Mở rộng và để thua tay vợt Serbia Jelena Janković (người đã vào đến bán kết năm đó). Tại trận đấu vòng 2, Venus đã giao bóng với tốc độ 206 km/h (128,8 dặm/h), đây là quả giao bóng mạnh nhất của một tay vợt nữ trong một trên đấu chính thức. Tại Wimbledon 2007, cô đã thể hiện một phong độ chói sáng. Tại vòng 4, cô đánh bại hạt giống số 2 Maria Sharapova. Sau đó là Svetlana Kuznetsova tại tứ kết, rồi ngôi sao đang lên Ana Ivanović tại bán kết. Vào đến chung kết, cô chiến thắng áp đảo tài năng trẻ người Pháp, Mario Bartoli 2 sét trắng để đang quang tại Wimbledon lần thứ 4 trong sự nghiệp. Tại Wimbledon lần này, cô cũng là nhà vô địch nữ đầu tiên được hưởng mức tiền thưởng cao nhất (bằng với nhà vô địch nam, là 700.000 nghìn bảng = 1,47 triệu Mỹ Kim). Được xếp hạt giống số 12 tại US Open, Williams lần lượt vượt qua Ana Ivanović ở vòng 4 và Jelena Janković ở tứ kết để tham dự trân bán kết Grand Slam đầu tiên ngoài Wimbledon kể từ năm 2003,Williams thua tay vợt số 1 thế giới và là nhà vô địch sau đó là Justine Henin. Williams kết thúc năm ở vị trí số 8 thế giới. == 2008 == Williams tham dự grand slam đầu tiên trong năm tại Úc mở rộng, cô để thua Ana Ivanovic tại vòng tứ kết với tỷ số 0-2 (6-7, 4-6). Tại Bangalore(Ấn Độ), cô thua em gái ở vòng bán kết(3-6,6-3,6-7). Tại Miami open, Williams thua Svetlana Kuznetsova tại tứ kết. Tại Italian open, Williams thua Jelena Janlovic ở vòng tứ kết. Tại Pháp mở rộng, Williams bị loại ở vòng 3 trước Flavia Pennetta. Williams bảo vệ thành công danh hiệu tại Wimbledon mà không thua set đấu nào, trong đó có chiến thắng trước cô em Serena tại trận chung kết(7-5,6-4). Cô còn dành thêm danh hiệu đôi nữ tại đây cùng với em gái của mình. Tại Olympic Bắc Kinh, Venus để thua đáng tiếc trước Li Na (Trung Quốc) nhưng vẫn giành chiếc HCV ở nội dung đôi nữ cùng Serena Williams và trở thành tay vợt nữ có nhiều HCV Olympic nhất (3 HCV). Tại US Open 2008, Venus thua cô em gái sau khi có hơn 5 điểm set - point. Venus giành đủ điểm tham dự WTA championship tại Doha (Qatar) và toàn thắng cả 5 trận để có chức VĐ lần đầu tiên. Williams kết thúc năm ở vị trí thứ sáu của WTA. == Đấu tranh giành mức tiền thưởng cân xứng cho các tay vợt nữ tại Wimbledon == Mặc dù bị nhà tiên phong trong giới quần vợt là Billie Jean King và nhiều người khác chỉ trích suốt nhiều thập kỉ qua, Roland Garros và Wimbledon 2005 vẫn khước từ mức thưởng bằng nhau cho các tay vợt nam và nữ. Vào năm 2005, Venus đã gặp gỡ với những nhà tổ chức 2 giải đấu này, đề nghị rằng các tay vợt nữ cũng nên được thưởng bằng với các đồng nghiệp nam. Mặc dù được chủ tịch WTA Larry Scott bình luận là rất ấn tượng và có ý nghĩa, lời đề nghị của Williams bị bác bỏ. Bước ngoặt của sự kiện này là bài viết đang trên tờ The Times khi gần kết thúc Wimbledon 2006. Trong đó, Williams buộc tội Wimbledon là đã "đi ngược lại lịch sử": "Tôi thực sự cảm thấy rằng quan điểm của ban tổ chức Wimbledon đã đi làm giảm giá trị những tài năng và thu hẹp những năm tháng lao động vất vả mà các tay vợt nữ bỏ ra để được thi đấu chuyên nghiệp. Tôi tin rằng các vận động viên, đặc biệt là các vận động viên nữ của môn thể thao hàng đầu dành cho phái nữ, nên được có vai trò chính. Thông điệp mà tôi muốn chuyển đến phụ nữ và các bạn gái trên toàn cầu là không có một mức thưởng xứng đáng cho nữ. Nỗi sợ của tôi chính là việc ban tổ chức Wimbledon lại đưa ra thông điệp hoàn toàn trái ngược. Wimbledon biện hộ rằng quần vợt nữ thì ít giá trị hơn với hàng loạt các lý do; họ nói rằng, lấy ví dụ, bởi vì các tay vợt nam phải dốc sức để chơi hết 5 ván đấu, vì thế mà học làm việc cực lực hơn mới có được tiền thưởng. Sự biện hộ này thật là vô nghĩa; trước hết, các quý cô sẽ rất vui lòng mà chơi năm ván ở các giải Grand Slam... Thứ hai, quần vợt là một môn thể thao độc nhất trong số các môn thể thao chuyên nghiệp. Không có môn nào mà cả nam và nữ thi đấu cho cùng một danh hiệu Grand Slam, trên cùng mặt sân, tại cùng thời điểm. Vì thế nên đối với công chúng mà nói thì các trận đấu nam và nữ có một giá trị như nhau. Thứ ba,... chúng tôi cũng nổi tiếng như các đồng nghiệp nam và được trả cho những giá trị mà chúng tôi mang lại cho giới truyền thông và cho người hâm mộ, chứ không phải vì lượng thời gian mà chúng tôi bỏ ra trên sân. Và, theo kết quả đo đạc, thì trận chung kết của các quý bà ở Wimbledon 2005 dài hơn 45 phút so với trận chung kết nam... Wimbledon đã có lý do chính đáng để đối xử với phụ nữ như một tầng lớp thứ hai bởi vì chúng tôi đã cống hiến nhiều hơn cho giải. Lại biện hộ rằng những tay vợt nữ hàng đầu - những người có vẻ như được chơi nhiều trận hơn so với các đồng nghiệp nam - vì thế sẽ kiếm được nhiều hơn các tay vợt nam tại các nội dung đơn, đôi, đôi nam nữ. Suy ra rằng chúng tôi càng theo đuổi Wimbledon, chúng tôi càng bị đối xử kém công bằng! Tuy nhiên, các nội dung đánh đôi là những sự kiện hoàn toàn độc lập so với các trận đấu đơn. Có phải Wimbledon đề nghị rằng, nếu các tay vợt nữ rút khỏi các nội dung đánh đôi, thì chúng tôi sẽ được hưởng mức tiền thưởng cân bằng khi đánh đơn. Nếu vậy thì Liên hiệp các CLB ở Anh giải thích như thế nào khi quỹ thưởng cho các sự kiện đôi nữ ít hơn đôi nam gần 130.000 bảng? Tôi dự định làm tất cả những gì có thể cho đến khi ước nguyện bình đẳng của Billie Jean trở thành sự thực. Sẽ thực sự xấu hổ nếu tên tuổi của giải đấu lớn nhất trong làng quần vợt, một sự kiên mà đáng ra là biểu tượng tích cực của thể thao, bị làm cho ô uế." Đáp lại, Thủ tướng Anh Tony Blair và các thành viên Nghị viện đã hết lời ca ngợi những lỹ lẽ của Venus. Cuối năm đó, Hiệp hội Quần vợt Nhà nghề Nữ WTA và UNESCO đã cùng nhau mở cuộc vận động cho sự bình đẳng giới trong thể thao và còn mời Venus làm người đứng đầu chiến dịch này. Dưới qua nhiều áp lực, cuối cùng Wimbledon đã đồng ý thưởng đồng đều cho các tay vợt, và giải Roland Garros cũng tiếp bước Wimbledon một ngày sau đó. Chủ tịch Liên đoàn quần vợt Pháp đã thừa nhận rằng ông đã bị ảnh hưởng bởi những lời phê bình của Venus. Còn tờ Chicago Sun – Times thì công nhận Williams như "nhân tố cá biệt" đã làm "thay đổi suy nghĩ của các cậu trai", và là một thủ lĩnh "sẵn sàng tạo sự chống đối dư luận, điều giúp cô tách biệt khỏi không những các nữ đồng nghiệp, mà còn khỏi các nam đồng nghiệp nổi tiếng của cô". == Sự nghiệp ngoài sân vận động == Venus là một nữ doanh nhân và là giám đốc điều hành hãng trang trí nội thất mang tên V Starr Interiors có trụ sở tại Jupiter, Florida. Công ty của Venus nổi lên nhờ việc thiết kế bộ nội thất cho chương trình "Tavis Smiley Show" trên kênh PBS, thiết kế nơi ở cho các vận động viên trong Thế Vận Hội 2012 (một phần của chiến dịch đăng cai tổ chức Thế Vận Hội 2012 của Thành phố New York), cũng như việc thiết kế nhà ở cho người dân và các thương gia sống ở vùng Palm Beach, Florida. Năm 2001, Venus có tên trong danh sách 25 người phụ nữ quyền lực nhất ở Mỹ do tạp chí Ladies Homes bình chọn. == Sự nghiệp thi đấu đơn Grand Slams == === Vô địch (7) === === Á Quân (7) === == Sự nghiệp thi đấu đôi nữ tại Grand Slams == === Vô địch (8) === == Sự nghiệp thi đấu đôi nam nữ tại Grand Slams == === Vô địch (2) === === Á quân (1) === == danh hiệu (47) == === Đơn (37) === === Đôi (10) === == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Venus Williams tại Hiệp hội quần vợt nữ Venus Williams Official website V Starr Interiors website ElevenbyVenus website Venus Williams Interview
i am... yours
ngọc thạch.txt
Ngọc thạch là một loại đá quý màu xanh thường dùng để làm vật trang sức hoặc trang trí. Người miền Nam còn gọi loại đá này là cẩm thạch, nhưng thật chất, cẩm thạch là một loại đá hoa màu xanh giống màu ngọc thạch thường được dùng để làm đồ trang sức giả, nó hoàn toàn khác với ngọc thạch. Những tạo tác bằng ngọc thạch sớm nhất được khai quật từ các di chỉ thời tiền sử là những vật trang sức đơn giản mang hình hạt chuỗi, cúc áo, hoặc hình ống. Ngoài ra, ngọc thạch cũng từng được dùng làm đầu rìu, dao, và các loại vũ khí khác. Khi kĩ thuật gia công kim loại phát triển, ngọc thạch còn được dùng làm những vật trang trí và trang sức quý giá. Có hai loại ngọc thạch. Loại thứ nhất là ngọc thạch cứng (jadeitite), có độ cứng từ 6.5- 7. Loại thứ hai là ngọc thạch mềm (nephrite), có độ cứng từ 5.5-6. Cả hai đều rất dai và rất chắc, nhưng ngọc thạch mềm (nephrite) dai gấp đôi ngọc thạch cứng (jadeitite). Cả hai đều có màu xanh lục, nâu lục, hoặc trắng. Riêng ngọc thạch cứng thì còn có thêm màu da cam, đỏ, và tím oải hương. Ngọc thạch cứng hiếm hơn ngọc thạch mềm và chỉ được dẫn chứng tại ít hơn 12 địa điểm trên toàn thế giới. Loại ngọc thạch cứng có màu xanh như ngọc lục bảo được xem là quý nhất, cả trong lịch sử và hiện tại. Hiện nay, Miến Điện và Guatemala là hai nguồn cung cấp chính của ngọc thạch cứng, trong khi Canada là nguồn cung cấp chính của ngọc thạch mềm. == Xem thêm == Ngọc thạch (màu) == Tham khảo ==
kamakura.txt
Thành phố Kamakura (tiếng Nhật: 鎌倉市 Kamakura-shi; Hán-Việt: Liêm Thương thị) là một đơn vị hành chính cấp hạt của Nhật Bản thuộc tỉnh Kanagawa. Thành phố này được thành lập từ năm 1939. Tuy nhiên, cái tên Kamakura của vùng đất này đã có từ rất lâu. == Địa lý == Kamakura nằm ở phía Tây bán đảo Miura. Phía Nam trông ra vịnh Sagami. Ba phía Bắc, Đông và Tây có những dãy núi bao bọc. Thời xa xưa, chỉ có 7 lối ra vào thuận tiện ở ba phía này. Đó là sau khi đã có bàn tay còn người mở rừng xẻ núi. Ngày nay, phía Bắc là thành phố Yokohama, phía Đông là thành phố Zushi, phía Tây là thành phố Fujisawa. Kamakura cổ thời trung thế có diện tích nhỏ hơn rất nhiều so với diện tích 39,5 km² của thành phố Kamakura hiện đại. == Lịch sử == Những khai quật khảo cổ học đã phát lộ nhiều di tích thời kỳ Jomon và thời kỳ Yayoi ở Kamakura. Cho đến trước thời kỳ Kamakura, không có nhiều ghi chép về vùng đất Kamakura. Năm 1063, Minamoto no Yoriyoshi (988-1075) một shogun thời kỳ Heian được triều đình cử đi đánh dẹp phía Đông Nhật Bản, thấy Kamakura là nơi đắc địa làm căn cứ quân sự, nên đã đóng đại bản doanh của mình tại đây. Từ cuối thế kỷ 12, Kamakura đã là một trong những đô thị lớn nhất Nhật Bản. Năm 1180, Kamakura trở thành trung tâm của giai cấp võ sĩ, những người nắm giữ vận mệnh chính trị của Nhật Bản. Từ năm 1185 đến năm 1333, Kamakura là trung tâm chính trị trên thực tế của Nhật Bản, nơi các shogun dòng họ Minamoto và những người tiếp tục đặt đại bản doanh (mạc phủ). Lịch sử Nhật Bản gọi chính quyền này Mạc phủ Kamakura (theo tên gọi của vùng đất) và gọi thời kỳ lịch sử này là thời kỳ Kamakura. Chính trong thời kỳ này, Kamakura phát triển rực rỡ. Dưới sự bảo trợ của shogun và của tầng lớp võ sĩ nói chung, văn hóa, tôn giáo đều phát triển mạnh ở Kamakura. Từ thời kỳ Muromachi về sau, mặc dù Kamakura không còn là nơi đặt mạc phủ nữa, song nó vẫn là một đô thị quan trọng. Mạc phủ Muromachi vẫn đặt hành dinh bộ chỉ huy tiền phương của mình tại đây. Thời kỳ Edo, Mạc phủ Tokugawa đặt ly cung của mình ở Kamakura. Do ngay gần Edo, nên Kamakura trở thành nơi vui chơi của các quý tộc. Thêm nhiều kiến trúc đặc sắc được xây dựng ở Kamakura. Từ thời Minh Trị, khi Tokyo trở thành thủ đô, Kamakura trở thành nơi vui chơi, nghỉ ngơi, tham quan, tắm biển thu hút nhiều du khách. Nhiều nhà văn Nhật Bản đã tới đây sinh sống và viết, tạo thành cái gọi là văn sĩ Kamakura mà tiêu biểu là Natsume Soseki, Akutagawa Ryunosuke, Kunigida Doppo, Kawabata Yasunari, Osaragi Jiro. == Đền chùa ở Kamakura == Từ thế kỷ thứ 11, nhiều chùa chiền, đền thờ lớn đã bắt đầu được xây dựng ở Kamakura. Nổi tiếng nhất trong số đó là: Chùa Kaikozan Hase, một chùa lớn có nhiều tượng Phật Quan Âm Chùa Kotoku của phái Phật giáo Tịnh độ tông, nơi có tượng Phật A Di Đà (Daibutsu) lớn thứ hai Nhật Bản. Chùa Tokei của dòng Thiền Lâm Tế, một ngôi chùa có nhiều phụ nữ đến tu hành. Kamakura Ngũ Sơn Chùa Kencho của dòng Thiền Lâm Tế và là tổng hành dinh của phái Lâm Tế Kencho. Chùa Engaku Chùa Jufuku Chùa Jochi Chùa Jomyo Chùa Meigetsu Chùa Chosho Chùa Kuhon Chùa Anyo Chùa Ankokuron Đền Tsurugaoka Hachiman của đạo Shinto thờ Nhật hoàng Ojin. Đền Moto Hachiman Nhiều hạng mục nói trên đã được Nhật Bản trình UNESCO vào năm 1992 xin công nhận là di sản thế giới về văn hóa. == Các núi == Núi Inamuragasaki Bảy đường núi ra vào Kamakura cũ == Các bãi biển == Do có bờ biển, Kamakura có hai bãi biển đẹp nổi tiếng Nhật Bản, gồm: Bãi biển Yuiga Bãi biển Zamokuza == Các viện bảo tàng, phòng trưng bày == Bảo tàng quốc gia mỹ thuật cận đại Kamakura Bảo tàng quốc bảo Kamakura Bảo tàng văn học Kamakura == Lễ hội == Kamakura có nhiều lễ hội, nối tiếng nhất là lễ hội đền Tsurugaoka Hachiman. Trong ngày hội này, người ta diễn lại cảnh các võ sĩ xưa mặc áo giáp, cưỡi ngựa và bắn cung. == Bia == Kamakura là nơi có nhiều cơ sở lên men bia, và cũng có nhiều quán bia ngon và thanh lịch. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ của thành phố (tiếng Anh) Trang chủ của Chùa Kencho (tiếng Anh) Trang chủ của Đền Tsurugaoka Hachiman (tiếng Anh)
hội đồng olympic châu á.txt
Hội đồng Olympic châu Á (OCA) là một tổ chức điều hành các hoạt động thể thao tại châu Á, với 45 thành viên thuộc các quốc gia và vùng lãnh thổ. Chủ tịch hiện tại là Hoàng thân Sheikh Fahad Al-Sabah. Quốc gia trở thành thành viên sớm nhất của Hội đồng là Nhật Bản, được Ủy ban Olympic quốc tế (IOC) công nhận năm 1912; và Đông Timor là thành viên mới nhất, gia nhập năm 2003. Trụ sở chính của Hội đồng đặt tại thành phố Kuwait. == Thành viên hiện tại == Bảng liệt kê dưới đây bao gồm các quốc gia, mã quy ước theo IOC, năm thành lập cùng các chú thích. Ủy ban Olympic của Ma Cao, Trung Quốc được OCA thừa nhận là thành viên, nhưng không được sự tán đồng của IOC nên không được phép tham dự Thế vận hội. === Cựu thành viên === Israel rút tên thành viên của Hội đồng Olympic châu Á từ năm 1981. Hiện tại, quốc gia này đang là thành viên chính thức của Hội đồng Olympic châu Âu (EOC). == Hoạt động của OCA == ASIAD AIGs EAGs SEA Games Asian Martial Arts Games Asian Winter Games Asian Beach Games Asian Youth Games Asian Indoor & Martial Arts Games FECG == Chú thích == == Liên kết ngoài == Website chính thức của OCA Website chính thức của Ủy ban Paralympic châu Á
mona lisa.txt
Mona Lisa (La Gioconda hay La Joconde, Chân dung Lisa Gherardini, vợ của Francesco del Giocondo) là một bức chân dung thế kỷ 16 được vẽ bằng sơn dầu trên một tấm gỗ dương tại Florence bởi Leonardo da Vinci trong thời kì Phục Hưng Italia. Tác phẩm thuộc sở hữu của Chính phủ Pháp và hiện được trưng bày tại bảo tàng Louvre ở Paris, Pháp với tên gọi Chân dung Lisa Gherardini, vợ của Francesco del Giocondo. Bức tranh là một bức chân dung nửa người và thể hiện một phụ nữ có những nét thể hiện trên khuôn mặt thường được miêu tả là bí ẩn. Sự mơ hồ trong nét thể hiện của người mẫu, sự lạ thường của thành phần nửa khuôn mặt, và sự huyền ảo của các kiểu mẫu hình thức và không khí hư ảo là những tính chất mới lạ góp phần vào sức mê hoặc của bức tranh. Có lẽ nó là bức tranh nổi tiếng nhất từng bị đánh cắp và được thu hồi về bảo tàng Louvre. Ít tác phẩm nghệ thuật khác từng là chủ đề của nhiều sự chăm sóc kỹ lưỡng, nghiên cứu, thần thoại hoá và bắt chước tới như vậy. Một sự nghiên cứu và vẽ thử bằng chì than và graphite về Mona Lisa được cho là của Leonardo có trong Bộ sưu tập Hyde, tại Glens Falls, NY. == Bối cảnh == Da Vinci bắt đầu vẽ Mona Lisa vào khoảng năm 1503, trong Thời Phục hưng Italia và theo Vasari, "sau khi ông đã bỏ bẵng nó trong bốn năm, không hoàn thành…." Ông được cho là đã tiếp tục bức vẽ trong ba năm sau khi đã rời sang Pháp và hoàn thành nó một thời gian ngắn trước khi mất năm 1519. Da Vinci đã mang bức tranh từ Italia tới Pháp năm 1516 khi Vua François I mời nghệ sĩ tới làm việc tại Clos Lucé gần lâu đài của nhà vua tại Amboise. Có thể nhất là qua những người thừa kế của trợ lý của da Vinci là Salai, nhà vua đã mua bức tranh với giá 4,000 écu và giữ nó tại Château Fontainebleau, nơi nó ở lại cho tới khi được trao cho Louis XIV. Louis XIV đưa bức tranh tới Cung điện Versailles. Sau cuộc Cách mạng Pháp, nó được đưa tới Louvre. Napoleon I chuyển nó tới phòng ngủ trong Cung điện Tuileries; sau đó nó quay trở lại Louvre. Trong thời kỳ Chiến tranh Pháp-Phổ (1870–1871) nó được chuyển từ Louvre tới một nơi cất giấu nào đó tại Pháp. Mãi tới giữa thế kỷ 19 Mona Lisa mới bắt đầu nổi tiếng khi các nghệ sĩ của phong trào Biểu tượng bắt đầu ca ngợi nó, và gắn nó với những ý tưởng của họ về sự bí ẩn của phụ nữ. Nhà phê bình Walter Pater, trong tiểu luận năm 1867 của mình về da Vinci, đã thể hiện quan điểm này bằng cách miêu tả nhân vật trong bức tranh như một kiểu hiện thân bí ẩn của nữ tính vĩnh cửu, người "già hơn những hòn đá mà bà ngồi lên" và người "đã chết nhiều lần và biết được những bí ẩn của nấm mồ." == Chủ đề và tên gọi == Mona Lisa là tên của Lisa del Giocondo, một thành viên của gia đình Gherardini tại Florence và Tuscany và vợ của một thương nhân tơ lụa giàu có người Florence là Francesco del Giocondo. Bức tranh được đặt hàng cho ngôi nhà mới của họ và để kỷ niệm ngày sinh của đứa con trai thứ hai, Andrea. Danh tính của người mẫu đã được xác định chắc chắn tại Đại học Heidelberg năm 2005 bởi một chuyên gia thư viện người đã khám phá ra một đoạn ghi chú năm 1503 ngoài lề một cuốn sách do Agostino Vespucci viết. Các học giả theo nhiều cách suy nghĩ, xác định ít nhất bốn bức tranh khác nhau là Mona Lisa và nhiều người là đối tượng của nó. Mẹ của Da Vinci, Caterina, trong một ký ức xa, Isabella của Naples hay Aragon, Cecilia Gallerani, Costanza d'Avalos—người cũng được gọi là "merry one" hay La Gioconda, Isabella d'Este, Pacifica Brandano hay Brandino, Isabela Gualanda, Caterina Sforza, tất cả đều đã được chính da Vinci đặt tên cho người mẫu. Danh tính nhân vật ngày nay được cho là Lisa, vốn luôn là một quan điểm truyền thống. Tên bức tranh xuất phát từ một đoạn miêu tả của Giorgio Vasari trong cuốn tiểu sử da Vinci của ông xuất bản năm 1550, 31 năm sau khi nghệ sĩ qua đời. "Leonardo đã nhận vẽ, cho Francesco del Giocondo, bức chân dung Mona Lisa, vợ ông…." (một phiên bản trong tiếng Ý: Prese Lionardo a fare per Francesco del Giocondo il ritratto di mona Lisa sua moglie). Trong tiếng Italia, ma donna có nghĩa quý bà của tôi. Nó đã trở thành madonna, và cách viết gọn mona. Mona vì thế là một cách đề cập lịch sự, tương tự như Ma’am, Madam, hay my lady trong tiếng Anh. Trong tiếng Italia hiện đại, hình thức ngắn của madonna thường được đánh vần là Monna, vì thế cái tên thỉnh thoảng được đọc là Monna Lisa, hiếm trong tiếng Anh và phổ thông hơn trong các ngôn ngữ Romance như tiếng Pháp và tiếng Italia. Khi ông mất năm 1525, trợ lý của da Vinci là Salai sở hữu bức tranh và gọi tên nó trong các giấy tờ riêng của mình là la Gioconda, nghệ sĩ đã di chúc để lại bức tranh này cho Salai. Theo nghĩa tiếng Italia là vui vẻ, hạnh phúc hay vui tươi, Gioconda là một tên hiệu của người mẫu, một sự chơi chữ theo hình thức giống cái của tên người chồng bà là Giocondo và tính tình của bà. Trong tiếng Pháp, cái tên La Joconde cũng có nghĩa kép như vậy. == Bí ẩn nụ cười Mona Lisa == Bức tranh nàng Mona Lisa của Leonardo da Vinci đã tạo cảm hứng cho rất nhiều nhà phân tích, từ nghệ thuật tới khoa học, từ phân tích quang học tới phân tích tâm lý học, hình thành hình ảnh "nụ cười Mona Lisa" trong văn học, đại diện cho một cái gì đó rất bí ẩn nhưng thật sâu xa, khuôn mặt nàng không biết nàng đang cười hay đang khóc, đấy là một bí mật không ai biết. Khuôn mặt nàng Mona Lisa trong tranh khiến người ta không thể đoán định rằng nàng có đang cười hay không. Nhìn riêng đôi mắt, bạn sẽ thấy ánh lên rất nhiều ý vui, ý lạc quan, yêu đời. Nhưng nhìn thấp xuống khoé miệng, đôi môi, ta lại thấy nàng nghiêm nghị đến kỳ lạ. Trong cái miệng đó, ta lại thấy rõ sự hồi hộp, lo lắng trong cái nhếch mép cười. Bộ mặt Mona vừa cười, vừa nghiêm nghị đã trở thành đề tài bàn cãi trong rất nhiều các cuộc khẩu chiến và bút chiến. Nhà sinh học thần kinh Margaret Livingstone của Đại học Harvard (Hoa Kỳ) cho rằng đó là do bản thân cảm xúc thị giác người xem: "Mỗi khi nhìn, bạn nhìn những chấm riêng rẽ, nhưng thị giác ngoại biên thì tập hợp chúng lại với nhau và trộn lẫn màu sắc, mắt bạn chuyển động chung quanh và tạo nên những thay đổi phù hợp tâm trạng khi nhìn". Christopher Tyler và Leonid Kontsevich của Viện nghiên cứu mắt Smith-Kettlewell ở San Francisco (Hoa Kỳ) đã điều chỉnh một bức ảnh kỹ thuật số được chụp lại từ bức tranh này, bằng cách bổ sung vào đó các nhiễu loạn thị giác – giống như những vết nhiễu trên một kênh tivi kém. Sau đó, họ yêu cầu 12 người quan sát đánh giá cảm xúc của nhân vật trên tranh, phân theo 4 bậc, từ buồn rầu tới hạnh phúc. Kết luận: hệ thống thị giác của chúng ta bị nhiễu bởi nhiều nguồn, như: số lượng photon ít nhiều đập vào các tế bào cảm nhận ánh sáng trong mắt, hoạt động sai lệch ngẫu nhiên của các sắc tố hấp thụ photon, và sự loé sáng ngẫu nhiên của các nơron có nhiệm vụ mang tín hiệu thị giác tới não. Còn một điều nữa mà bây giờ ta vẫn chưa lý giải được đó là Lisa trong bức tranh không có lông mày và các mật mã trong mắt nàng == Đánh cắp và hư hại == Bức hoạ Mona Lisa hiện được treo tại Bảo tàng Louvre ở Paris, Pháp. Danh tiếng ngày càng tăng của bức hoạ còn lớn thêm khi nó bị ăn trộm ngày 21 tháng 8 năm 1911. Ngày hôm sau, Louis Béroud, một hoạ sĩ, đi vào Louvre và vào Salon Carré nơi bức tranh Mona Lisa đã được trưng bày trong năm năm. Tuy nhiên, nơi bức tranh Mona Lisa đáng phải có mặt, ông chỉ thấy bốn chiếc móc thép. Béroud liên hệ với người chỉ huy đội canh gác, ông này cho rằng bức tranh đang được đưa đi chụp ảnh hay cho các mục đích marketing. Vài giờ sau, Béroud kiểm tra lại với người chịu trách nhiệm khu vực đó của bảo tàng và sự việc được xác nhận rằng bức Mona Lisa không ở chỗ những nhà nhiếp ảnh. Bảo tàng Louvre bị đóng cửa một tuần để trợ giúp việc điều tra vụ trộm. Nhà thơ Pháp Guillaume Apollinaire, người từng một lần kêu gọi "đốt cháy" Louvre bị nghi ngờ; ông đã bị bắt và tống giam. Apollinaire đã tìm cách làm dính líu tới người bạn của mình là Pablo Picasso, người cũng bị đưa tới thẩm vấn, nhưng cả hai người sau này đều được chứng minh là không liên quan. Ở thời điểm đó, bức tranh được cho là đã mất vĩnh viễn, và phải mất hai năm trước khi kẻ trộm thực sự bị phát hiện. Nhân viên bảo tàng Louvre Vincenzo Peruggia đã lấy trộm nó bằng cách xâm nhập toà nhà trong những giờ mở cửa, trốn trong một phòng để đồ và lấy trộm bức tranh rồi giấu nó trong áo khoác đi ra ngoài khi bảo tàng đã đóng cửa. Peruggia là một người Italia yêu nước và ông tin rằng bức tranh của da Vinci phải được đưa quay trở lại trưng bày trong một bảo tàng của Italia. Peruggia cũng có thể có động cơ bởi một người bạn, người bán những bức tranh chép của tác phẩm này, việc mất tranh gốc sẽ làm những bức tranh chép tăng giá vùn vụt. Sau khi đã giữ bức tranh trong căn hộ của mình trong hai năm, Peruggia trở nên mất kiên nhẫn và cuối cùng bị bắt khi tìm cách bán nó cho những vị giám đốc của Uffizi Gallery ở Florence; bức tranh được trưng bày trên khắp Italia và được trao trả về Louvre năm 1913. Peruggia được ca ngợi về lòng yêu nước ở Italia và chỉ bị tù vài tháng về tội này. Trong Thế chiến II, bức tranh một lần nữa bị đưa khỏi Louvre và mang tới nơi an toàn, ban đầu là Château d'Amboise, sau đó là Loc-Dieu Abbey và cuối cùng tới Bảo tàng Ingres ở Montauban. Năm 1956, phần dưới của bức tranh đã bị hư hại nghiêm trọng khi một kẻ phá hoại hắt axít vào nó. Ngày 30 tháng 12 cùng năm ấy, một người Bolivia trẻ tuổi tên là Ugo Ungaza Villegas đã phá hoại bức tranh bằng cách ném một hòn đá vào nó. Việc này khiến bức tranh mất một mẩu màu gần khuỷu tay trái, chỗ này sau đó đã được vẽ lại. Kính chống đạn đã được dùng để bảo vệ bức hoạ Mona Lisa sau những cuộc tấn công sau đó. Tháng 4 năm 1974, một phụ nữ tàn tật, bực tức vì chính sách của bảo tàng với người tàn tật, đã phun sơn đỏ vào bức tranh khi nó đang được trưng bày tại Bảo tàng Quốc gia Tokyo. Ngày 2 tháng 8 năm 2009, một phụ nữ Nga, quẫn trí vì bị từ chối trao quyền công dân Pháp, đã ném một chiếc cốc hay chén trà bằng đất nung, mua tại bảo tàng vào bức tranh ở Louvre, làm vỡ mặt kính. Ở cả hai trường hợp trên, bức tranh đều không bị hư hại. == Bảo tồn == Bức tranh Mona Lisa đã tồn tại trong hơn 500 năm, và một hội đồng quốc tế nhóm họp năm 1952 đã lưu ý rằng "bức tranh đang ở một tình trạng bảo tồn tốt." Điều này một phần nhờ kết quả của nhiều biện pháp bảo tồn đã được áp dụng với bức tranh. Một cuộc phân tích chi tiết năm 1933 bởi Madame de Gironde cho thấy những nhà bảo tồn ở giai đoạn đầu đã "hành động với sự cẩn trọng lớn." Tuy thế, việc sử dụng véc ni được làm cho bức tranh đã làm nó tối đi thậm chí ngay từ cuối thế kỷ 16, và một cuộc vệ sinh và tái phủ véc ni quá tay năm 1809 đã làm mất một số thành phần trên cùng của lớp sơn, khiến một số phần sơn trên mặt nhân vật bị tẩy mất. Dù có những cuộc xử lý như vậy, Mona Lisa đã được bảo tồn tốt trong suốt lịch sử, và mặc dù sự cong vênh của tấm panel khiến những người quản lý có "một số lo lắng", đội bảo tồn năm 2004-05 vẫn lạc quan về tương lai của tác phẩm. ==== Tấm gỗ dương ==== Ở một số thời điểm trong lịch sử của mình, bức hoạ Mona Lisa đã bị tháo khỏi khung nguyên thuỷ. Tấm gỗ dương tự nhiên được để cho cong tự nhiên theo thay đổi về độ ẩm, và vì thế, một vết nứt đã bắt đầu phát triển ở gần đỉnh tấm. Vết nứt đã mở rộng xuống đường tóc của nhân vật. Ở giữa thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, một số người đã tìm cách làm ổn định vết nứt bằng cách lắp hai thanh gỗ óc chó hình bướm vào phía sau tấm ở độ sâu khoảng 1/3 tấm. Công việc này đã được thực hiện một cách có tay nghề, và đã thành công trong việc ổn định vết nứt. Trong một khoảng thời gian từ năm 1888 tới năm 1905, hay có lẽ ở một thời điểm nào đó khi bức tranh bị lấy cắp, thanh gỗ phía trên đã rơi ra. Một nhà bảo tồn sau đó đã dán và bồi đoạn rỗng và vết nứt bằng vải. Khung gỗ sồi co giãn (được thêm vào năm 1951) và các thanh chéo (1970) giúp tấm gỗ không bị cong thêm nữa. Một thanh hình cánh bướm giúp tấm gỗ không nứt thêm nữa. Bức tranh hiện được giữ ở những điều kiện không khí được kiểm soát chặt chẽ trong hộp kính chống đạn. Độ ẩm được duy trì ở mức 50% ±10%, và nhiệt độ được duy trì trong khoảng 18 tới 21 °C. Để bù trừ cho những sự thay đổi do độ ẩm, hộp được bổ sung thêm một đệm bằng silica gel được xử lý để cung cấp 55% độ ẩm tương đối. ==== Khung ==== Bởi tấm gỗ dương của bức tranh Mona Lisa nở ra và co lại theo thay đổi độ ẩm, bức tranh đã bị cong một chút. Để bù cho sự cong vênh mà bức tranh phải trải qua trong thời gian lưu trữ trong Thế chiến II, và để chuẩn bị cho việc trưng bày bức tranh để kỷ niệm ngày sinh lần thứ 500 của Da Vinci, bức hoạ Mona Lisa năm 1951 được lắp một khung gỗ sồi co giãn với các tấm chéo gỗ sồi. Khung co giãn này, được dùng thêm cho khung trang trí được miêu tả phía dưới, tạo áp lực trên tấm gỗ để giữ nó không cong vênh thêm nữa. Năm 1970, các thanh chéo gỗ sồi được đổi thành gỗ thích sau khi mọi người phát hiện ra rằng gỗ sồi dễ bị côn trùng làm hư hại. Năm 2004-2005, một đội nghiên cứu và bảo tồn đã thay thế các thanh gỗ thích bằng gỗ ngô đồng, và một thanh chéo kim loại nữa được thêm vào để đo độ cong của tấm gỗ dương một cách khoa học. Bức hoạ Mona Lisa đã từng có nhiều khung trang trí trong lịch sử tồn tại của mình, tuỳ theo những thay đổi trong phong cách thẩm mĩ trong nhiều thế kỷ. Năm 1906, nữ bá tước Béarn đã lắp cho bức tranh chiếc khung hiện thời, một chiếc khung thời Phục hưng thích hợp với giai đoạn lịch sử của bức hoạ. Các cạnh của bức tranh ít nhất đã bị cắt bớt một lần trong lịch sử tồn tại của nó để được lắp vừa vào trong những chiếc khung, nhưng không phần nào của lớp sơn nguyên bản bị cắt đi. ==== Vệ sinh và sửa ==== Cuộc vệ sinh, phun véc ni lại và sửa chữa lớn đầu tiên được ghi lại với bức hoạ Mona Lisa diễn ra năm 1809, công việc được Jean-Marie Hooghstoel tiến hành, ông chịu trách nhiệm việc khôi phục các bức tranh cho các phòng tranh của Bảo tàng Napoléon. Công việc gồm làm vệ sinh bằng cồn, sửa lại màu, và phun lại véc ni cho bức tranh. Năm 1906, nhà bảo tồn của Louvre là Eugène Denizard đã thực hiện việc sửa lại màu nước trên những khu vực lớp sơn bị hư hại bởi vết nứt của tấm gỗ dương. Denizard cũng sửa lại các cạnh của bức tranh bằng véc ni, để che đi những phần từng trước kia từng bị che khuất bởi một chiếc khung cũ. Năm 1913, khi bức tranh tái xuất hiện sau khi bị ăn trộm, Denizard một lần nữa được triệu tới để sửa chữa bức Mona Lisa. Denizard được chỉ đạo làm vệ sinh bức tranh nhưng không được dùng dung môi, và thực hiện việc sửa chữa nhỏ với nhiều vết xây xát trên màu nước. Năm 1952, lớp véc ni trên hậu cảnh bức tranh bị phẳng ra. Sau vụ tấn công thứ hai năm 1956, nhà bảo tồn Jean-Gabriel Goulinat được triệu tập để sửa chữa những hư hại ở khuỷu tay trái của Mona Lisa bằng màu nước. Năm 1977, một sự hư hại do côn trùng mới được phát hiện phía sau tấm gỗ vì việc lắp đặt những thanh chéo để giữ bức tranh không bị cong. Hư hại này đã được xử lý bằng carbon tetrachloride, và sau này bằng cách xử lý ethylene oxide. Năm 1985, chấm này một lần nữa được xử lý bằng carbon tetrachloride như một biện pháp phòng ngừa. ==== Trưng bày ==== Ngày 6 tháng 4 năm 2005—sau một giai đoạn bảo dưỡng, ghi chép và phân tích—bức tranh được chuyển tới một vị trí mới trong Salle des États (Phòng các Quốc gia) tại Bảo tàng. Nó được trưng bày trong một không gian kín, có điều hoà nhiệt độ, được xây dựng đặc biệt sau một lớp kính chống đạn. Khoảng 6 triệu người tới ngắm bức tranh tại bảo tàng Louvre hàng năm. == Danh tiếng == Nhà sử học Donald Sassoon đã sắp xếp sự tăng trưởng danh tiếng của bức tranh. Hồi giữa những năm 1800, Théophile Gautier và các nhà thơ lãng mạn đã có thể viết về Mona Lisa như một femme fatale (người đàn bà gây tai hoạ) bởi Lisa là một người bình thường. Mona Lisa "…là một cuốn sách mở mà trong đó mỗi người có thể đọc thấy điều mình muốn; có thể bởi bà không phải là một hình ảnh tôn giáo; và, có thể, bởi những người có cái nhìn có tính chất văn học chủ yếu là nam giới những người coi bà là hiện thân của nguồn vui bất tận của đàn ông." Trong thế kỷ 20, bức tranh đã bị đánh cắp, một vật thể để sao chép hàng loạt, buôn bán, đả kích và suy đoán, và đã được sao chép lại trong "300 bức tranh và 2,000 quảng cáo". Đối tượng bị miêu tả là điếc, đang để tang, móm, một "gái điếm hạng sang", người tình của nhiều người, một sự phản ánh chứng loạn thần kinh của các nghệ sĩ, và một nạn nhân của bệnh giang mai, nhiễm trùng, liệt, mất cảm giác, cholesterol hay đau răng. Giới học giả cũng như những suy đoán không chuyên đã gắn cái tên Lisa với ít nhất bốn bức hoạ khác nhau và danh tính của người mẫu cho ít nhất mười người khác nhau. Khách tham quan nói chung mất khoảng 15 giây để ngắm Mona Lisa. Cho tới thế kỷ 20, Mona Lisa là một trong nhiều tác phẩm và chắc chắn không phải là "bức tranh nổi tiếng nhất" thế giới như hiện tại. Trong số những tác phẩm tại Louvre, năm 1852 giá trị thị trường của nó là 90,000 franc so với các tác phẩm của Raphael có giá lên tới 600,000 franc. Năm 1878, cuốn hướng dẫn Baedeker gọi nó là "tác phẩm được chào đón nhiều nhất của Leonardo tại Louvre". Từ năm 1851 tới năm 1880, các nghệ sĩ tới thăm Louvre đã sao chép Mona Lisa chỉ khoảng bằng một nửa số lần so với các tác phẩm của Bartolomé Esteban Murillo, Antonio da Correggio, Paolo Veronese, Titian, Jean-Baptiste Greuze và Pierre Paul Prud'hon. Từ tháng 12 năm 1962 tới tháng 3 năm 1963, chính phủ pháp đã cho Hoa Kỳ mượn bức tranh để trưng bày tại Thành phố New York và Washington D.C.. Năm 1974, bức tranh được triển lãm tại Tokyo và Moskva. Trước chuyến đi tháng 3 năm 1962, bức tranh đã được ước định giá, để bảo hiểm, ở mức $100 triệu; cuối cùng bảo hiểm không được mua, thay vào đó mọi người chi thêm tiền cho an ninh. Là một bức tranh đắt giá, chỉ gần đây nó mới bị vượt giá trị, theo giá dollar hiện thời, bởi ba bức tranh khác: bức Portrait of Adele Bloch-Bauer I của Gustav Klimt, được bán với giá $135 triệu, bức Woman III của Willem de Kooning được bán với giá $138 triệu tháng 11 năm 2006, và bức No.ngày 1 tháng 5 năm 1948 của Jackson Pollock được bán với giá kỷ lục $140 triệu tháng 11 năm 2006. Dù những con số này cao hơn con số định giá năm 1962 của Mona Lisa, việc so sánh chưa tính tới thay đổi về giá bởi lạm phát - $100 triệu năm 1962 tương đương xấp xỉ $700 triệu năm 2009 khi tính bù lạm phát theo Chỉ số Giá Tiêu dùng Mỹ. == Suy đoán về bức tranh == Mặc dù người mẫu theo truyền thống đã được xác định là Lisa del Giocondo, nhưng sự thiếu hụt một bằng chứng xác thực từ lâu đã khởi nguồn cho nhiều giả thuyết khác, gồm cả khả năng rằng da Vinci đã sử dụng chính chân dung của mình. Các khía cạnh khác của bức tranh từng là chủ đề suy đoán là kích cỡ gốc của nó, nó có phải bản gốc không, tại sao nó được vẽ, và nhiều lời giải thích bằng cách nào có thể tạo ra một nụ cười bí ẩn như vậy. == Di sản == Giới nghệ thuật tiên phong đã lưu ý tới sự nổi tiếng không thể bác bỏ của Mona Lisa. Vì vị thế quá nổi bật của bức tranh, những thành viên trường phái Dada và siêu thực thường tạo ra những hình thức chuyển đổi và biếm hoạ. Ngay từ năm 1883, một bức Mona Lisa hút tẩu thuốc đã được trưng bày tại "Incoherents" ở Paris. Năm 1919, Marcel Duchamp, một trong những thành viên có ảnh hưởng nhất của trường phái Dada, đã tạo ra L.H.O.O.Q., một bức tranh nhại Mona Lisa được làm bằng cách vẽ thêm lên một bức tranh chép rẻ tiền một bộ ria mép và một chòm râu dê, cũng như thêm vào đoạn ghi chú thô lỗ, khi đọc tho trong tiếng Pháp có âm kiểu "Elle a chaud au cul" (dịch "bà ta bị nóng đít". Đây là một cách ám chỉ người phụ nữ trong tranh đang ở tình trạng kích động tình dục và sẵn sàng quan hệ). Đây tạo ra như một trò đùa có chủ định kiểu Freud, ám chỉ tới lời đồn đại về sự đồng tính của da Vinci. Theo Rhonda R. Shearer, bức tranh nhái thực thế là một bản chép dựa một phần trên chính khuôn mặt của Duchamp. Salvador Dalí, nổi tiếng về tác phẩm siêu thực của mình, đã vẽ Self portrait as Mona Lisa năm 1954. Năm 1963 sau khi bức tranh được đưa tới triển lãm tại Hoa Kỳ, Andy Warhol đã tạo ra những bản in lụa của nhiều Mona Lisa gọi là Thirty are Better than One (Ba mươi tốt hơn một), giống các tác phẩm của ông với Marilyn Monroe (Twenty-five Colored Marilyns, 1962), Elvis Presley (1964) và Campbell's soup (1961–1962). == Ghi chú == == Tham khảo == Bartz, Gabriele (2006), Louvre, Art and Architecture, 3C Publishing, ISBN 3-8331-1943-8 Farago, Claire J. (1999), Leonardo's Projects, C. 1500-1519, Taylor and Francis, ISBN 0815329350 Kemp, Martin (2006), Leonardo Da Vinci: The Marvellous Works of Nature And Man, Oxford University Press, ISBN 0-1928-0725-0 Littlefield, Walter (1914). “The Two "Mona Lisas"”. The Century: a popular quarterly (Scribner & Co.) 87. Turudich, Daniela (2003), Plucked, Shaved & Braided: Medieval and Renaissance Beauty and Grooming Practices 1000–1600, Streamline Press, ISBN 193006408X Vasari, Giorgio (1879) [1550], Le vite de' più eccellenti pittori, scultori ed architettori , Florence: G.C. Sansoni Wilson, Colin (2000), The Mammoth Encyclopedia of the Unsolved, Carroll & Graf Publishers, ISBN 0-7867-0793-3 == Liên kết ngoài == The Mona Lisa with Professor Donald Sassoon podcast interview with Donald Sassoon on the La Trobe University website 25 bí mật mới nhất về Mona Lisa Bí mật về hiện tượng ảo giác trong nụ cười nàng Mona Con người phân tích tình cảm bằng cả hai bán cầu não nàng Mona Giải mã nụ cười của nàng Mona Lisa Mona Lisa đang 'xuống sắc' Vì sao nụ cười của Mona Lisa bí ẩn? Nhà mới cho nàng Mona Lisa Đằng sau nụ cười Mona Lisa Tìm thấy hậu duệ của nàng Monalisa Monalisa là đàn ông ?
chủ nghĩa xã hội đặc sắc trung quốc.txt
Chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc (Trung văn giản thể: 中国特色社会主义, Trung văn phồn thể: 中国特色社会主义; Hán Việt: Trung Quốc đặc sắc xã hội chủ nghĩa), trước Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XV Đảng Cộng sản Trung Quốc tháng 9 năm 1997 gọi là chủ nghĩa xã hội có đặc sắc Trung Quốc (Trung văn phồn thể: 有中國特色社會主義; Trung văn giản thể: 有中国特色社会主义, Hán Việt: hữu Trung Quốc đặc sắc xã hội chủ nghĩa), là hệ tư tưởng chính thức của Đảng Cộng sản Trung Quốc dựa trên chủ nghĩa xã hội khoa học. Ý thức hệ này hỗ trợ việc tạo ra một nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa chi phối bởi các khu vực công vì Trung Quốc đang trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội. Chính phủ Trung Quốc cho rằng Trung Quốc không từ bỏ chủ nghĩa Mác nhưng đã phát triển nhiều thuật ngữ và khái niệm của lý thuyết Mác-xít để hàm chứa hệ thống kinh tế mới. Đảng Cộng sản Trung Quốc cho rằng chủ nghĩa xã hội là tương thích với các chính sách kinh tế. Trong tư tưởng của Cộng sản Trung Quốc hiện nay, Trung Quốc đang trong giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội-một quan điểm giải thích các chính sách kinh tế linh hoạt của chính phủ Trung Quốc để phát triển thành một quốc gia công nghiệp hóa. Bắt đầu từ cuối năm 1978 các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã tiến hành cải tổ nền kinh tế từ mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung kiểu Xô viết sang nền kinh tế hướng thị trường hơn nhưng vẫn trong khuôn khổ kiểm soát của Đảng. Theo mục tiêu này, chính quyền đã chuyển sang cơ chế khoán trong nông nghiệp thay cho hình thức hợp tác xã, tăng quyền hành đối với cán bộ địa phương và lãnh đạo các nhà máy trong công nghiệp, cho phép hoạt động đối với một loạt các doanh nghiệp cỡ nhỏ trong các ngành dịch vụ và sản xuất nhỏ, và mở cửa nền kinh tế cho ngoại thương và đầu tư nước ngoài. Các chính sách kiểm soát giá cả cũng được nới lỏng. Kết quả là nền kinh tế Hoa Lục đã chuyển từ một nền kinh tế mệnh lệnh sang hình thức kinh tế hỗn hợp, dung hòa cả khuynh hướng tư sản lẫn vô sản. == Chú thích == == Tham khảo == == Sách chuyên khảo ==
tổ chức an ninh và hợp tác châu âu.txt
Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu (OSCE) là một tổ chức an ninh liên chính phủ lớn nhất thế giới. Tổ chức ban hành các vấn đề về kiểm soát vũ khí, quyền con người, quyền tự do báo chí và bầu cử tự do. Phần lớn trong số 3500 cán bộ thành viên của tổ chức đều trực tiếp tham gia vào các hoạt động xã hội, chỉ có 10% là làm việc tại trụ sở. OSCE là tổ chức hoạt động theo hiến chương của Liên hiệp quốc, các vấn đề quan tâm của tổ chức này liên quan gồm có cảnh báo và ngăn chặn xung đột, kiểm soát khủng hoảng và tái thiết thời hậu chiến. Tổ chức được thành lập thời chiến tranh lạnh, như là một diễn đàn an ninh Âu Á, vào năm 1975 với cái tên là Conference on Security and Co-operation in Europe (CSCE) tổ chức tại Helsinki, Phần Lan.. Đến năm 1995 thì mới đổi tên là OSCE. 57 quốc gia thành viên bao gồm tất cả các nước châu Âu ngoại trừ Kosovo, Các nước xuất phát từ Liên Xô, Mông Cổ cũng như Hoa Kỳ và Canada. Trụ sở của tổng thư ký tổ chức đặt ở Viên. == Lịch sử == Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu có nguồn gốc từ Hội nghị về An ninh và Hợp tác châu Âu (CSCE) năm 1973. Các hội nghị bàn thảo về vấn đề hợp tác an ninh tại châu Âu đã bắt đầu từ những năm 1950 tuy nhiên do những cản trở của Chiến tranh lạnh đã không đạt được tiến bộ cụ thể nào cho đến tận Hội nghị tại Dipoli, Helsinki tháng 11 năm 1972. Các hội nghị này được tiến hành với sự gợi ý của Liên Xô, vốn có ý định dùng các hội nghị này để duy trì sự kiểm soát với các nước cộng sản tại đông Âu. Tuy nhiên các nước tây Âu nhìn nhận đây là cơ hội thông qua đàm phán để giảm căng thẳng trong khu vực, đồng thời thúc đẩy hợp tác kinh tế và đạt được những tiến bộ nhân đạo trong khối các nước cộng sản. Nghị trình đàm phán được giới thiệu trong "Sách Xanh" đã xác lập trên thực tế một tiến trình đàm phán gồm ba giai đoạn, gọi là tiến trình Helsinki. CSCE khai mạc ngày 3 tháng 7 năm 1973 tại Helsinki với sự tham dự của đại diện từ 35 quốc gia. Giai đoạn thứ nhất kéo dài 5 ngày với kết quả là thông qua nghị trình được khuyến cáo trong Sách Xanh. Giai đoạn hai là giai đoạn đàm phán chính, tiến hành tại Geneva từ ngày 18 tháng 9 năm 1973 đến ngày 21 tháng 7 năm 1975 với kết quả là Hiệp ước Helsinki (Helsinki Final Act hay Helsinki Accord). Giai đoạn ba được tiến hành tại nhà hát Finlandia Hall, Phần Lan, từ ngày 30 tháng 7 đến ngày 1 tháng 8 năm 1975, với sự chủ tọa của nhà ngoại giao của Tòa thánh Vatican Cardinal Agostino Casaroli, 35 nước tham gia đàm phán đã ký kết Hiệp ước Helsinki. == Xem thêm == Offizielle Seite der OSZE Organigramm (englisch, PDF) Büro für demokratische Institutionen und Menschenrechte Der Hohe Kommissar für nationale Minderheiten Der Beauftragte für die Freiheit der Medien == Chú thích ==
michigan.txt
Michigan là một tiểu bang thuộc vùng Bắc-Đông Bắc của Hoa Kỳ, giáp Canada. Bang này được đặt tên theo hồ Michigan, vốn có xuất xứ từ tiếng Ojibwe là mishigami có nghĩa là "hồ nước lớn". Michigan là bang đông dân thứ 8 trong 50 bang của Mỹ. Thủ phủ của nó là Lansing, thành phố lớn nhất là Detroit. Michigan chính thức được sáp nhập vào liên bang vào ngày 26 tháng 1 năm 1837 và trở thành bang thứ 26 của Hoa Kỳ. == Xem thêm == == Liên kết ngoài == == Tham khảo ==
cá.txt
Cá là những động vật có dây sống, phần lớn là ngoại nhiệt (máu lạnh), có mang (một số có phổi) và sống dưới nước. Hiện người ta biết khoảng trên 31.900 loài cá, điều này làm cho chúng trở thành nhóm đa dạng nhất trong số các động vật có dây sống. Sự biến nhiệt cho phép thân nhiệt của chúng biến đổi theo sự thay đổi nhiệt độ của môi trường, mặc dù một số loài cá lớn có hoạt động bơi lội tích cực như cá mập trắng lớn và cá ngừ có thể duy trì một nhiệt độ lõi cao hơn. == Tổng quan == Về mặt phân loại học, cá là một nhóm cận ngành mà quan hệ chính xác của nó còn gây tranh cãi nhiều; sự phân chia phổ biến là chia chúng thành cá không hàm (siêu lớp Agnatha với 108 loài, bao gồm các loài cá mút đá và cá mút đá myxin), cá sụn (lớp Chondrichthyes với 970 loài, bao gồm các loại cá mập và cá đuối), với lớp còn lại là cá xương (lớp Osteichthyes). Trong tiếng Việt, nhiều loài động vật sống dưới nước khác cũng gọi là "cá", chẳng hạn (cá) mực hay cá voi, cá heo, cá nhà táng, cá sấu... nhưng thực ra, chúng không phải là cá thực thụ. Mực thuộc phân lớp Coleoidea, lớp Chân đầu (Cephalopoda) còn các loại cá sau lại là các động vật có vú (Mammalia), riêng cá sấu là một nhóm bò sát. Cá có kích thước rất đa dạng, từ loài cá nhám voi dài 16 m (51 ft) tới loài cá nhỏ chỉ dài 7 mm (trên ¼ inch) tại Australia, mà tại đó người ta gọi là stout infantfish (danh pháp khoa học: Schindleria brevipinguis). Một số loài cá duy trì các thân nhiệt cao tới vài độ so với môi trường xung quanh. Tất cả các loài cá thu nhiệt (cá xương) đều thuộc về phân bộ Scombroidei và bao gồm các loại cá săn mồi, cá ngừ và một loài cá thu "nguyên thủy" (Gasterochisma melampus). Tất cả các loài cá mập trong họ Lamnidae – như cá mập mako vây ngắn, cá mập mako vây dài, cá nhám trắng, cá nhám hồi – cũng được biết đến như là có khả năng thu nhiệt, và các chứng cứ cho thấy những đặc điểm như vậy cũng tồn tại trong họ Alopiidae (cá nhám đuôi dài). Mức độ thu nhiệt dao động từ các loại cá săn mồi chỉ làm ấm mắt và não, tới cá ngừ vây xanh và cá nhám hồi duy trì thân nhiệt tới 20 °C cao hơn so với môi trường nước xung quanh. (Xem thêm Duy trì thân nhiệt ở các động vật khổng lồ). Quá trình thu nhiệt, mặc dù về mặt trao đổi chất là tốn kém, nhưng có một số ưu thế như làm tăng lực co bóp của các cơ, tốc độ xử lý cao của hệ thần kinh trung ương và tốc độ tiêu hóa cao. == Sinh thái học cá == Các loài cá có thể tìm thấy trong gần như toàn bộ các vùng chứa nước lớn, bao gồm cả nước mặn, nước lợ và nước ngọt, ở các độ sâu từ mức chỉ ngay dưới bề mặt tới độ sâu vài nghìn mét. Tuy nhiên, các hồ nước siêu mặn như Hồ Muối Lớn (Great Salt Lake tại Hoa Kỳ) hay Biển Chết không hỗ trợ sự sinh tồn của cá. Một vài loài cá đã được nhân giống đặc biệt để nuôi trong các bể cá cảnh và có thể sống trong môi trường trong nhà. Việc đánh bắt cá phục vụ cho các mục đích như làm thực phẩm hay giải trí, thể thao được gọi chung là nghề cá (ngư nghiệp). Sản lượng hàng năm từ tất cả các lĩnh vực nói trên ở phạm vi toàn thế giới là khoảng 100 triệu tấn. Việc đánh bắt quá mức là mối đe dọa đối với nhiều loài cá. Vào ngày 15 tháng 5 năm 2003, tạp chí Nature đã thông báo rằng tất cả các loài cá lớn trong các đại dương đã bị đánh bắt quá mức một cách có hệ thống và chỉ còn lại không nhiều hơn 10% mức của thập niên 1950. Trong số đó chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là cá mập, cá tuyết Đại Tây Dương, cá ngừ vây xanh và cá mòi Thái Bình Dương. Các tác giả cũng đề xuất việc cắt giảm mạnh mẽ ngay lập tức việc đánh bắt cá và bảo tồn môi trường đại dương trên toàn thế giới. == Thực phẩm == Cá là một nguồn thực phẩm quan trọng trong nhiều nền văn hóa. Xem thêm bài về Cá thực phẩm. == Phân loại == Cá là một nhóm cận ngành: có nghĩa là bất kỳ nhánh nào có chứa tất cả các loài cá thì cũng chứa cả động vật bốn chân không phải là cá. Vì thế lớp Pisces trong các tài liệu cũ hiện tại không còn được sử dụng trong các phân loại chính thức. Cá được phân loại vào trong các nhóm chính sau đây (theo Janvier, 1981, 1997, Shu và ctv., 2003): Lớp Myxini (cá mút đá myxin) Lớp † Pteraspidomorphi (cá giáp vây, loại cá không quai hàm tiền sử, từ kỷ Ordovic tới kỷ Devon) Lớp † Thelodonti (cá răng nhũ (núm vú), từ kỷ Ordovic tới kỷ Devon) Lớp † Anaspida (cá không giáp, từ kỷ Silur tới kỷ Devon) Lớp Petromyzontida hay Hyperoartia (cá mút đá) Petromyzontidae (cá mút đá) Lớp Conodonta (động vật răng nón) Lớp Cephalaspidomorphi (cá giáp đầu, không quai hàm, tuyệt chủng nếu không gộp cả cá mút đá, khi đó từ kỷ Silur tới kỷ Devon) (không phân hạng) Galeaspida (không phân hạng) Pituriaspida (không phân hạng) Osteostraci Phân thứ ngành Gnathostomata (động vật có quai hàm) Lớp † Placodermi (cá da phiến, từ kỷ Silur tới kỷ Devon) Lớp Chondrichthyes (cá sụn) Lớp † Acanthodii (cá mập gai) Siêu lớp Osteichthyes (cá xương) Lớp Actinopterygii (cá vây tia) Phân lớp Chondrostei: cá sụn hóa xương hay cá xương mềm vẩy cứng Bộ Acipenseriformes (cá tầm và cá tầm mép thìa) Bộ Polypteriformes ([cá nhiều vây). Phân lớp Neopterygii: cá vây mới Phân thứ lớp Holostei (cá toàn xương, gồm cá nhái và cá vây cung) Phân thứ lớp Teleostei (cá xương thật sự, nhiều bộ cá thông thường) Lớp Sarcopterygii (cá vây thùy) Phân lớp Coelacanthimorpha (cá vây tay) Phân lớp Dipnoi (cá phổi) Một số nhà cổ sinh vật học tranh luận rằng do Conodonta là động vật có dây sống nên chúng là cá nguyên thủy. Để biết chi tiết hơn về xử lý của đơn vị phân loại này, xem bài động vật có dây sống. Vị trí của cá mút đá myxin trong ngành Chordata vẫn chưa được giải quyết triệt để. Nghiên cứu phát sinh chủng loài năm 1998 và 1999 hỗ trợ ý tưởng cho rằng cá mút đá myxin và cá mút đá tạo thành một nhóm tự nhiên gọi là Cyclostomata (cá miệng tròn) và nó có quan hệ chị em với Gnathostomata. Các nhóm cá khác nhau gộp lại chiếm trên một nửa tổng số loài động vật có xương sống. Con số loài đã biết ở thời điểm ngày 8-3-2011 là 31.900, chủ yếu là cá xương, với các loài cá sụn và cá mút đá chỉ chiếm gần 1.100 loài. Khoảng 1/3 số loài thuộc về 9 họ lớn nhất; theo trật tự từ nhiều nhất tới ít nhất là Cyprinidae, Gobiidae, Cichlidae, Characidae, Loricariidae, Balitoridae, Serranidae, Labridae và Scorpaenidae. Khoảng 64 họ là đơn loài, nghĩa là chỉ có một loài. Con số các loài còn sinh tồn theo ước tính có thể trên 32.500. == Giải phẫu học == === Hệ tiêu hóa === Sự ra đời của các quai hàm cho phép cá ăn được nhiều chủng loại thức ăn hơn, bao gồm cây cỏ và các sinh vật khác. Cá ăn thức ăn bằng miệng và sau đó bị phân tách nhỏ một phần trong thực quản. Khi thức ăn vào tới dạ dày, nó bị phân tách tiếp, và ở nhiều loài cá, quá trình phân rã tiếp theo trong các túi giống ngón tay gọi là manh tràng môn vị. Manh tràng môn vị tiết ra các enzym tiêu hóa và hấp thụ các chất dinh dưỡng từ các thức ăn đã tiêu hóa. Các cơ quan như gan và tụy bổ sung các enzym và nhiều hóa chất tiêu hóa khác khi thức ăn chuyển động trong hệ tiêu hóa. Tại ruột thì quá trình tiêu hóa được hoàn thiện và các chất dinh dưỡng được hấp thụ hoàn toàn qua thành ruột cung cấp cho cơ thể, các chất cặn bã còn lại được thải ra ngoài qua lỗ hậu môn. === Hệ hô hấp === Phần lớn các loài cá trao đổi các chất khí bằng mang, là bộ phận nằm ở các bên của hầu. Các mang được cấu thành từ các cấu trúc tương tự như sợi chỉ gọi là các thớ mảnh. Mỗi thớ mảnh chứa một hệ thống các mao mạch để có diện tích tiếp xúc bề mặt lớn cho việc trao đổi ôxy và điôxít cacbon. Cá trao đổi khí bằng cách hút nước giàu ôxy qua miệng và đẩy chúng qua các thớ mảnh của mang. Chúng sau đó đẩy nước nghèo ôxy ra ngoài thông qua các lỗ hổng ở các bên của hầu. Một số loài cá, như cá mập và cá mút đá, có nhiều lỗ hổng của mang. Tuy nhiên, phần lớn các loài cá có một lỗ hổng của mang trên mỗi bên của cơ thể. Lỗ hổng này được che đậy bằng một lớp chất xương bảo vệ gọi là nắp mang. Một số loài cá, như cá có phổi, đã phát triển cơ chế thích nghi để cho phép chúng có thể tồn tại trong các khu vực nghèo ôxy hay những nơi mà nước thường xuyên bị khô cạn. Các loài cá này có các cơ quan đặc biệt có tác dụng như phổi. Chúng có một ống đưa không khí chứa ôxy tới cơ quan này theo đường miệng cá. Một số loài cá có phổi là những loài phụ thuộc vào việc nhận ôxy từ không khí và chúng sẽ chết ngạt nếu không được nhô đầu lên khỏi bề mặt nước. === Hệ tuần hoàn === Cá có hệ tuần hoàn khép kín với tim làm nhiệm vụ bơm máu vào một vòng tuần hoàn đơn trong suốt cơ thể. Máu từ tim đi tới các mang, sau đó từ mang đi tới toàn bộ cơ thể, và sau đó quay ngược trở lại tim. Ở phần lớn các loài cá, tim bao gồm bốn phần: tĩnh mạch xoang, tâm nhĩ, tâm thất và động mạch bụng. Mặc dù có bốn phần nhưng tim cá vẫn chỉ là loại tim hai ngăn. Tĩnh mạch xoang là một cái túi có thành mỏng để thu thập máu từ các tĩnh mạch của cá trước khi cho nó chảy vào tâm nhĩ, là một ngăn lớn có cơ bắp. Giữa tâm nhĩ và tâm thất có các van có tác dụng cho máu chảy một chiều vào tâm thất. Tâm thất là ngăn có thành dày và có cơ bắp. Nó có tác dụng như một chiếc "máy bơm" thực thụ của tim. Nó bơm máu vào một ống to gọi là động mạch hình củ hành. Như một thiết bị ngoại vi, động mạch hình củ hành nối với mạch máu lớn gọi là động mạch chủ, từ đó máu chảy tới các mang cá. === Hệ bài tiết === Giống như nhiều loại động vật thủy sinh, phần lớn các loài cá giải phóng các chất thải chứa nitơ dưới dạng amôniắc. Một lượng nhỏ chất thải khuếch tán qua mang vào trong môi trường nước xung quanh. Phần còn lại được đưa vào thận, cơ quan bài tiết lọc các chất thải từ máu. Thận giúp cá kiểm soát nồng độ amôniắc trong cơ thể chúng. Cá nước mặn có xu hướng mất nước do hiện tượng thẩm thấu. Đối với cá nước mặn thì thận tích lũy các chất thải và trả lại càng nhiều nước càng tốt cho cơ thể. Điều ngược lại diễn ra đối với cá nước ngọt, chúng có xu hướng thu nước liên tục. Thận của cá nước ngọt là đặc biệt thích hợp để bơm một lượng lớn nước tiểu loãng ra ngoài. Một vài loài cá có thận thích nghi đặc biệt để thay đổi chức năng của nó, cho phép cá có thể di chuyển từ môi trường nước ngọt sang môi trường nước mặn. === Hệ thần kinh === Cá có hệ thần kinh phát triển tốt thiết lập xung quanh đại não, và được chia thành các phần khác nhau. Ở phía trước của não bộ là các tổ chức khứu giác hình củ hành, hỗ trợ cá trong việc ngửi. Không giống như phần lớn các động vật có xương sống khác, đại não của cá chủ yếu có tác dụng hỗ trợ khứu giác hơn là phản xạ cho toàn bộ các hành vi chủ động khác. Các thùy thị giác xử lý thông tin từ mắt. Đại não phối hợp các chuyển động của cơ thể trong khi phần cuối của não nối với tủy xương (tiểu não) kiểm soát chức năng của các nội tạng. Phần lớn các loài cá phát triển khá tốt cơ quan khứu giác. Gần như toàn bộ các loài cá kiếm ăn ban ngày có các mắt phát triển tốt có cảm nhận màu sắc tốt ít ra cũng bằng con người. Nhiều loài cá còn có các tế bào đặc biệt gọi là các thụ quan có trách nhiệm đối với những giác quan bất thường về mùi vị. Mặc dù cá có các tai trên đầu, nhưng nhiều loại cá không cảm thụ âm thanh tốt. Tuy nhiên, phần lớn cá có các thụ quan nhạy cảm tạo thành hệ thống đường bên. Hệ thống này cho phép cá phát hiện được các dao động và chuyển động nhẹ của dòng nước, cũng như để cảm nhận chuyển động của các loại cá khác ở gần nó hay của con mồi. Một số loài cá như cá da trơn hay cá mập, có các cơ quan có thể phát hiện các dòng điện cực nhỏ. Một số loài cá khác như lươn điện hay cá đuối điện, có thể sản sinh ra điện của chính nó. === Hệ giác quan === Cá có các giác quan cơ bản giống người như: thị giác, thính giác, xúc giác, khứu giác và vị giác. Thị giác Hầu hết cá có mắt ở hai bên đầu, nhờ thế mà cá nhìn được mọi phía, điều này rất cần thiết bởi vì cá không thể quay đầu về phía sau được. Phần lớn cá có thể nhìn tốt ở phía trước hoặc ở 2 bên, số ít hơn có khả năng nhìn màu. Đó là điều quan trọng khi chúng giao phối vì một số loài có thể thay đổi màu sắc khi giao phối. Thính giác Cá có tai nằm bên trong sọ. Giống như các động vật có xương sống khác, tai cá có chức năng như các cơ quan giữ thăng bằng cũng như để nghe. Âm thanh truyền rất tốt trong nước, và nhiều loại cá truyền âm thanh để thông tin cho nhau, có loài còn truyền cả sóng âm (như cá heo nhưng đây không phải phụ thuộc vào thính giác). Xúc giác Nhiều loài cá sống trong những nơi tối tăm, và xúc giác của chúng là cơ quan hỗ trợ thiết thực cho cơ quan thị giác. Một số xúc giác của cá là râu mọc xung quanh miệng (có chức năng như ngón tay). Với cơ quan này, nó có thể di chuyển dễ dàng dưới đáy biển hoặc sông. Một cơ quan quan trọng hơn nữa là hệ thống đường bên. Cấu tạo của cơ quan này là một nhóm đầu dây thần kinh nằm ở dưới da bên hông của cá. Khi có bất kỳ chuyển động nào trong nước (luôn tạo ra sóng lan truyền theo mọi hướng), hệ thống đường bên sẽ nhận biết sóng này truyền qua hệ thần kinh và cá sẽ biết được đó là kẻ thù hoặc thức ăn gần bên. Khứu giác Tất cả loài cá đều có khứu giác tốt. Nhiều loài tận dụng điều này để săn mồi, một số khác để tự vệ. Nếu 1 con cá trong bầy bị thương vì kẻ thù thì tự nhiên nó sẽ tiết ra 1 chất đặc biệt trong da tan loãng vào nước. Khi các thành viên trong đàn ngửi thấy nó, chúng sẽ bơi nhanh hơn để an toàn. Vị giác Cơ quan vị giác của cá có quan hệ chặt chẽ với cơ quan khứu giác. Tuỳ vào loài cá mà có các vị trí vị giác khác nhau, nhưng đều phân bố ở bên trong hoặc xung quanh miệng. === Hệ cơ === Phần lớn các loài cá chuyển động bằng cách co các cặp cơ ở hai bên xương sống một cách so le. Sự co cơ này tạo ra đường cong hình chữ S làm cơ thể cá chuyển động xuống dưới. Khi đường cong đạt tới vây cuối thì lực phản hồi được tạo ra. Lực phản hồi này, kết hợp với các vây, làm cá chuyển động về phía trước. Các vây của cá có tác dụng như là các thiết bị ổn định của máy bay. Các vây cũng làm tăng diện tích bề mặt của đuôi, cho phép cá có được gia tốc lớn hơn. Cơ thể thuôn của cá làm giảm ma sát khi cá chuyển động trong nước. Do đa phần cơ thể có khối lượng riêng trung bình nặng hơn nước, cá phải có cơ chế bù lại sự sai biệt này nếu không chúng sẽ bị chìm do lực đẩy Ác-si-mét không đủ để cân bằng trọng lực. Nhiều loài cá xương có một cơ quan gọi là bong bóng để điều chỉnh sức nổi của chúng thông qua điều chỉnh áp suất khí trong bong bóng. Khi giảm áp suất khí trong bong bóng, bong bóng cá bị ép nhỏ lại, thể tích giảm và lực đẩy Ác-si-méc giảm, khiến cá chìm xuống. Khi tăng áp suất khiến bong bóng nở ra, thể tích tăng và lực đẩy Ácsimét tăng, khiến cá nổi lên. === Sinh sản === Trứng cá được thụ tinh bên trong hoặc bên ngoài, phụ thuộc vào loài. Cá đẻ trứng: Cá cái thông thường đẻ trứng, phôi trong trứng phát triển và nở thành cá con (cá bột) bên ngoài cơ thể cá mẹ. Sự phát triển của cá đẻ trứng con có được là nhờ các chất dinh dưỡng có trong noãn hoàn của trứng. Ví dụ, cá hồi là loài đẻ trứng. Cá đẻ trứng thai: Các trứng được bên trong bụng cá mẹ sau khi thụ tinh bên trong. Mỗi một phôi phát triển độc lập bên trong trứng của chính nó. Cá bột đẻ ra tương tự như phần lớn động vật có vú. Cá đẻ con cho phép các phôi ở trong bụng mẹ giống như cá đẻ trứng thai. Tuy nhiên, các phôi của cá đẻ con thu được các dưỡng chất cần thiết từ cá mẹ chứ không phải từ các chất có trong trứng. Cá non đẻ ra giống như ở động vật có vú. Một số loài cá, như một vài loài cá mập là những loài đẻ con. == Xem thêm == Trang thể loại cá trong Wikipedia cung cấp các liên kết tới mọi khía cạnh của chủ đề này, từ ngư học tới bể cá cảnh hay cá mập. Động vật Bể cá cảnh Cá biển sâu Giải phẫu cá Nghề nuôi cá Chuyển động của cá Cá di trú Ngư nghiệp Ngư học (nghiên cứu về cá) Danh sách các họ cá Danh sách các tên gọi phổ biến của cá Cá cảnh Danh sách các loài cá cảnh nước ngọt Danh sách các loài cá cảnh nước mặn Ostracoderm - loại cá nguyên thủy nhất Cá thời kỳ tiền sử Cá trắng Cá đen == Ghi chú == == Tham khảo == Helfman G.; Collette B.; Facey D. (1997). The Diversity of Fishes. Blackwell Publishing. ISBN 0-86542-256-7. Helfman G., Collette B.B., Facey D.H., Bowen B.W., (2009) The Diversity of Fishes: Biology, Evolution, and Ecology, Wiley-Blackwell. ISBN 978-1-4051-2494-2 Moyle P.B., Cech J.J., (2003) Fishes, An Introduction to Ichthyology. Ấn bản lần thứ 5, Benjamin Cummings. ISBN 978-0-13-100847-2 Nelson J. S., (2006). Fishes of the World. John Wiley & Sons, Inc.. ISBN 0-471-25031-7. == Liên kết ngoài == Fish tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Cá tại Từ điển bách khoa Việt Nam Cơ sở dữ liệu về cá (trong FishDeals.com) Age of Aquariums - Tropical Fish - Một lượng lớn cộng đồng yêu thích cá cảnh đã được giao trách nhiệm về nuôi giữ cá phạm vi quốc tế từ năm 1997. Aquatic Community - Website với một trong những CSDL lớn nhất về cá FishFriend.com - Website về cá cảnh Carp - CSDL thông tin về các loại cá chép và hình ảnh. TropicalFishKeeper.com - Thông tin và trợ giúp về nuôi các loài cá nhiệt đới. Fish species - Thông tin về nhiều loài cá khác nhau.
1823.txt
Bản mẫu:C19YearInTopicX Năm 1823 (MDCCCXXIII) là một năm thường bắt đầu vào ngày thứ tư trong lịch Gregory (hay một năm thường bắt đầu vào thứ hai, chậm hơn 12 ngày trong lịch Julius. == Sự kiện trong năm 1823 == 3 tháng 2 - Semiramide của Gioachino Rossini được diễn lần đầu. 13 tháng 4 - Franz Liszt 11 tuổi đã biểu diễn hòa nhạc và sau đó được cá nhân Ludwig van Beethoven chúc mừng. == Sinh năm 1823 == Anton Wilhelm Karl von L’Estocq Abdul Mejid I Adelgunde của Bayern Jean-Henri Fabre Nguyễn Đức Đạt Lý Hồng Chương == Tham khảo ==
tata.txt
Tata là một thành phố thuộc hạt Komárom-Esztergom, Hungary. Thành phố này có diện tích 78,17 km², dân số năm 2010 là 24906 người, mật độ 319 người/km². == Tham khảo ==
thời kỳ nara.txt
Thời kỳ Nara (tiếng Nhật: 奈良時代 |Nara-jidai, Nại Lương thời đại) của lịch sử Nhật Bản kéo dài từ năm 710 đến năm 794. Thiên hoàng Gemmei (元明天皇 Gemmei Tennō, Nguyên Minh Thiên Hoàng) đặt kinh đô tại Heijō-kyō (平城京, Bình Thành Kinh ngày nay là Nara). Ngoại trừ 5 năm (740-745) kinh đô phải dời đi nơi khác, đó là kinh đô của Nhật Bản cho đến khi Thiên hoàng Kanmu (桓武天皇 Kammu Tennō, Hoàn Vũ Thiên Hoàng) đặt kinh đô tại Nagaoka-kyō (長岡京, Trường Cương Kinh) vào năm 784 trước khi di chuyển đến Heian-kyō (平安京, Bình An Kinh), hoặc Kyoto (京都, Kinh Đô), một thập niên sau vào năm 794. Phần lớn xã hội Nhật Bản lúc bấy giờ làm về nông nghiệp, tụ tập quanh các ngôi làng. Đa số dân làng theo tôn giáo Shinto dựa vào thờ cúng thiên nhiên và thần linh tổ tiên (kami). Kinh đô Nara được xây dựng theo mô hình của Trường An (長安, Tây An ngày nay, 西安), là kinh đô của nhà Đường, Trung Quốc. Trong những lãnh vực khác, tầng lớp thượng lưu Nhật Bản đã lấy người Trung Quốc làm kiểu mẫu, kể cả du nhập chữ viết của Trung Quốc (Nhật Bản: kanji, 漢字, Hán tự) và Phật giáo. == Thời kỳ văn hóa Nara == Dựa vào những cố gắng của Triều đình, những tác phẩm đầu tiên của lịch sử văn hóa Nhật Bản thời kỳ Nara đã được ghi chép lại. Các tác phẩm như Cổ sự ký (古事記) và Nihon shoki (日本書紀) mang tính chất chính trị nguyên thủy đã được lưu lại và do đó quyền tối cao của các Hoàng đế Nhật Bản đã được xác định và thiết lập. Nhờ vào sự truyền bá chữ viết, các bài thơ Nhật Bản được bắt đầu sáng tác, như là bài waka (和歌, Hòa ca). Theo thời gian, các bộ sưu tập thơ cá nhân được xuất bản. Bộ sưu tập thơ lớn nhất của Nhật Bản là Vạn diệp tập (万葉集) vào khoảng sau năm 759. Chữ viết Trung Quốc được dùng để diễn đạt âm thanh của Nhật Bản (được gọi là man'yōgana (万葉仮名, Vạn Diệp Giả Danh) cho đến khi kana được phát minh. == Sự phát triển về kinh tế, xã hội và chính quyền == Trước khi Luật Taihō (大宝律令 Taihō-ritsuryō, Đại Bảo Luật Lệnh) được thiết lập, kinh đô đã được dời đi theo phong tục sau khi Hoàng đế băng hà vì người xưa tin rằng nơi có sự chết chóc là ô uế, không còn thiêng liêng nữa. Sự thay đổi và quan liêu của triều đình đã dẫn đến việc xây dựng một kinh đô cố định là Heijō-kyō (平城京, Bình Thành Kinh), tức Nara, vào năm 710. Đáng chú ý là kinh đô đã được dời đi chỉ trong một thời gian ngắn (lý do sẽ được nhắc đến trong phần sau) giữa những năm 740 và 745; được dọn đến Kuni-kyō (恭仁京, Cung Nhân Kinh, Kizugawa) giữa những năm 740 và 744, dọn đến Naniwa-kyō (難波京, Nan Ba Kinh, nay là Osaka) vào năm 744-745, dọn đến Shigarakinomiya (紫香楽宮, Tử Hương Lạc Cung, nay là Shigaraki) năm 745, nhưng lại dọn trở về Nara năm 745. Một thời kỳ mới đã được đặt tên theo kinh đô Nara, là nơi đã được thiết kế theo phong cách của người Trung Quốc, nhà Đường (唐, 618–907) kinh đô là Trường An (長安). Nara là trung tâm thành thị đầu tiên của Nhật Bản. Chẳng mấy chốc dân số đã tăng lên 200.000 (gần 4% dân số cả nước) và có khoảng 10.000 người làm việc cho chính phủ. Hoạt động kinh tế và chính quyền phát triển trong thời kỳ Nara. Đường sá nối liền thủ đô các tỉng bang, và thuế má được thu có hiệu quả và đều đặn hơn. Tiền đồng được đúc mặc dù chưa được sử dụng rộng rãi. Tuy nhiên, bên ngoài khu vực Nara, có rất ít hoạt động thương mại và trong phần đất của các tỉnh thuộc về Cựu Shōtoku, hệ thống cải tổ bị khước từ. Đến giữa thế kỷ 8, shōen (荘園, trang ấp), là một trong những điều kiện thành lập kinh tế quan trọng của Nhật Bản thời Trung cổ, bắt đầu phát triển nhờ vào kết quả của sự nghiên cứu về quản lý đất chiếm hữu dễ dàng hơn. Chính quyền địa phương trở nên có thẩm quyền hơn, trong khi sự thất bại của hệ thống phân chia đất đai cũ và thuế má tăng đã dẫn đến sự mất mát hoặc bỏ rơi đất đai của những người trở thành "vô gia cư," hoặc furōsha (浮浪者, Phù lãng giả). Một vài người trong số những người "quần chúng nhân dân" này được bí mật mướn làm công cho các địa chủ lớn, và "đất công" dần dần trở lại là shōen. Tranh chấp giữa các bè phái vẫn tiếp diễn suốt thời kỳ Nara. Thành viên các gia đình hoàng tộc, các gia đình đứng đầu trong triều đình như Fujiwara (藤原, Đằng Nguyên), và các tu sĩ Phật giáo đều tham gia vào cuộc tranh giành thế lực. Vào đầu thời kỳ này, Hoàng tử Nagaya đã cướp chính quyền sau khi Fujiwara no Fuhito qua đời. Bốn người con trai của Fuhito là Muchimaro, Umakai, Fusasaki, và Maro đã kế vị ông. Họ đã đưa Hoàng đế Shōmu, là cháu ngoại của Fuhito, lên ngôi. Vào năm 729, họ bắt giữ Nagaya và thu lại quyền hành. Tuy nhiên, khi dịch bệnh đậu mùa đầu tiên lan tràn từ Kyushu vào năm 735, cả bốn anh em đều mất mạng hai năm sau đó, dẫn đến quyền thống trị của Fujiwara tạm thời bị thu hẹp lại. Hoàng đế bị sốc nặng sau trận dịch này nên ông đã di dời cung điện ba lần chỉ trong vòng năm năm kể từ năm 740, cho đến cuối cùng khi ông dọn trở về Nara. Vào cuối thời kỳ Nara, gánh nặng tài chính tăng dần, và triều đình bắt đầu sa thải các viên chức không quan trọng. Vào năm 792, toàn bộ chế độ cưỡng bách tòng quân được bãi bỏ, và lãnh đạo các địa hạt được quyền thiết lập các lực lượng dân quân tư nhân cho công tác cảnh sát địa phương. Sự phân quyền của nhà chức trách đã trở nên nguyên tắc mặc cho sự cải tổ của thời kỳ Nara. Cuối cùng, để trả lại quyền lực cho triều đình, kinh đô đã được dọn đến Nagaoka-kyō (長岡京, Trường Cương Kinh) vào năm 784 và đến Heian-kyō (平安京, Bình An Kinh), vào năm 794 cách Nora khoảng 26 kilômét về phía Bắc. Vào cuối thế kỷ thứ 11, thành phố được đổi tên là Kyoto (京都, Kinh Đô) kể từ đó. == Sự phát triển của văn hóa và Phật giáo == Một vài tác phẩm văn học bất hủ của Nhật Bản đã được viết trong thời kỳ Nara, bao gồm các quyển Kojiki (古事記) và Nihon shoki (日本書紀) viết về lịch sử đầu tiên của nước Nhật đã được biên soạn vào năm 712 và năm 720 theo thứ tự; các hợp tuyển thi ca Man'yōshū (万葉集, Vạn diệp tập, và Kaifūsō (懐風藻, Hồi ức yêu dấu) đã được các Hoàng đế và Hoàng tử Nhật Bản viết bằng chữ Trung Quốc. Một phát triển văn hóa quan trọng khác trong thời đại này là Phật giáo đã được chính thức hóa. Vào thế kỷ thứ 6, Phật giáo đã được Baekje đưa vào Nhật Bản nhưng sự tiếp thu bị pha trộn cho đến khi Hoàng đế Shōmu (聖武天皇 Shōmu Tennō. Thành Võ Thiên Hoàng) ở thời kỳ Nara thành tâm đón nhận. Hoàng đế Shōmu và thân tộc Fujiwara của ông là các Phật tử nhiệt thành đã tích cực truyền bá Phật giáo, biến Phật giáo thành "người bảo vệ đất nước" và là một phương cách làm cho thể chế Nhật Bản thêm vững mạnh. Dưới triều đại Shōmu, chùa Tōdai-ji (東大寺, Đông Đại Tự) đã được xây cất với tượng Phật Dainichi (Phật Thái dương) cao 16 mét bằng đồng. Đức Phật này có liên quan chặt chẽ với Nữ thần Thái dương và sự hỗn tạp dần nảy sinh sau đó giữa Phật giáo và đạo Shinto. Hoàng đế Shōmu tự nhận là "Bầy tôi của Tam bảo" Phật giáo: Phật, Pháp và Tăng. Ngoài ra chính phủ còn cho xây dựng các chùa kokubunji (国分寺, Quốc Phận Tự) tại các tỉnh. Chùa Tōdai-ji là một kokubunji của tỉnh Yamato (大和国, Đại Hòa quốc, ngày nay là Tỉnh Nara, 奈良県). Mặc dù những cố gắng này đã thúc đẩy Phật giáo thành một tôn giáo của quốc gia, nhưng Phật giáo Nara đã làm tăng thêm thân thế của hoàng tộc. Thế lực của Phật tử tại triều đình đã tăng thêm dưới hai triều đại của con gái Shōmu. Nữ hoàng Kōken (孝謙天皇 Kōken Tennō, Hiếu Khiêm Thiên Hoàng trị vì từ năm 749 đến năm 758) đã triệu nhiều tu sĩ Phật giáo vào triều đình. Kōken đã thoái vị năm 758 theo lời khuyên của người anh họ Fujiwara no Nakamaro (藤原 仲麻呂, Đằng Nguyên Trọng Ma Lữ). Khi bà Nữ hoàng đã thoái vị bắt đầu chiếu cố đến một tu sĩ Phật giáo tên là Dōkyō (道鏡, Đạo Cảnh) thì Nakamaro vũ trang chống lại vào năm 764 nhưng đã bị tiêu diệt nhanh chóng. Kōken đã buộc Hoàng đế tội thông đồng với Nakamaro và phế truất Ông. Kōken lại lên ngôi Nữ hoàng với tên hiệu là Shōtoku (称徳天皇 Shōtoku Tennō, Thánh Đức Thiên Hoàng trị vì từ năm 764 đến năm 770). Nữ hoàng đã cho xuất bản kinh một triệu lời cầu nguyện —the Hyakumanto dharani (百万塔陀羅尼, Bách Vạn Tháp Đà La Ni) —. Bản in vào năm 770 này là một trong những ấn phẩm được xuất bản sớm nhất trên thế giới. Shōtoku cho in các quyển kinh này nhằm xoa dịu giới tăng lữ Phật giáo. Bà còn mong muốn lập Dōkyō làm Hoàng đế nhưng bà đã qua đời trước khi kịp thực hiện quyết định này. Các hành vi của bà đã khích động xã hội Nara dẫn đến việc loại trừ phụ nữ trong triều đình lên nối ngôi và cách chức các tu sĩ Phật giáo có chức vụ trong chính trị. Rất nhiều tác phẩm nghệ thuật và báu vật từ nước ngoài của Nhật Bản dưới thời Nhật hoàng Shōmu và Shōtoku đều được sưu tầm ở Shōsō-in ở đền Tōdai-ji. Chúng được gọi là kho Shōsōin, minh họa văn hóa thế giới hay còn gọi là văn hóa Tempyō. Các báu vật từ bên ngoài cho thấy rất nhiều ảnh hưởng từ khu vực Con đường tơ lụa, bao gồm Trung Quốc, Ấn Độ, Triều Tiên, và các Đế chế Hồi giáo. Shosoin cũng lưu trữ 10.000 trang bản thảo gọi là thư tịch Shōsōin (正倉院文書) ("Chính Thương viện văn thư’’). Đầy là lưu trữ chép tay ở mặt ngược kinh Phật hay trên bao ngoài của vật nhập khẩu, và tồn tại được là nhờ việc dùng lại các thư tịch chính thức. Văn thư Shōsōin đóng góp rất lớn vào việc nghiên cứu hệ thống chính trị và xã hội của thời kỳ Nara, trong khi chúng thậm chí còn chỉ ra sự phát triển của hệ thống chữ viết Nhật Bản (ví dụ như katakana). == Quan hệ quốc tế == Triều đình Nara du nhập mạnh mẽ nền văn minh Trung Hoa bằng cách gửi các phái đoàn ngoại giao đến nhà Đường (唐) 20 năm một lần (còn gọi là Kentō-shi, 遣唐使, "Khiển Đường Sứ’’). Rất nhiều sinh viên Nhật Bản, cả trong giáo hội hay các nhà sư, đến học ở Trường An (長安) và Luoyang (洛陽, Lạc Dương). Một người tên là Abe no Nakamaro (阿倍 仲麻呂) đỗ được kỳ thi chọn quan lại và được bổ nhiệm vào một ví trị trong triều đình Trung Quốc. Ông làm An Nam Tiết Độ Sự từ 761 đến năm 767. Rất nhiều sinh viên khi trở về quê hương được đề bại lên những chức vụ cao trong triều như Kibi no Makibi (吉備 真備, Cổ Bị Chân Bị). Nhà Đường chưa bao giờ gửi sứ thần đến Nhật Bản, và Hoàng đế Nhật Bản, hay Thiên Hoàng như họ tự gọi mình chưa bao giờ nhận sắc phong của Hoàng đế Trung Hoa. Chính quyền địa phương Trung Hoa ở thung lũng hạ Yangzi Valley đã gửi quan viên đến Nhật Bản để đưa đoàn sứ thần Nhật Bản vào Trung Quốc qua ngả Balhae (渤海, Bột Hải) về. Đoàn sứ bộ Trung Hoa này không thể trở về vì loạn An Lộc Sơn, cuối cùng được nhập tịch Nhật Bản. Quan hệ với các vương triều Cao Ly như Silla (新羅, Tân La) ban đầu rất hòa bình, với việc trao đổi sứ thần thường xuyên. Nhưng sư nổi lên của Balhae ở phía Bắc Silla đã làm mối quan hệ Nhật Bản-Silla rơi vào bất ổn. Balhae gửi đoàn sứ thần đầu tiên đến Nara năm 728, và được đón tiếp như người nối tiếp Goguryeo (高句麗) ("Cao Cấu Ly’’), đất nước mà Nhật Bản vẫn liên mình cho đến khi Silla thống nhất Tam Quốc Triều Tiên. == Các sự kiện == 710: Thủ đô của Nhật Bản chuyển từ Fujiwara đến Nara, được làm theo mẫu đô thành Tây An của Trung Quốc 712: Sưu tầm truyện kể Kojiki ("Cổ Sự ký’’) 720: Biên soạn Nihonshoki ("Nhật Bản thư kỉ") 743: Nhật hoàng Shōmu ban chiếu xây dựng Daibutsu, sau khi hoàn thành được đặt ở Tōdai-ji, Nara 759: Tập thơ Man'yōshū ("Vạn Diệp Tập") 784: Nhật hoàng rời đo đến Nagaoka 788: Nhà sư Saichō xây dựng thiền viện ở núi Hiei, gần Kyoto, trở thành một hệ thống đền đài ấn tượng. Danh sách các Daijō-daijin (Thái Chính đại thần) thời Nara: Hoàng tử Osakabe: 703 - 705 Hoàng tử Hozumi: 705 - 715 Hoàng tử Toneri: 720 - 735 Hoàng tử Suzuka: 735 - 745) Fujiwara no Nakamaro: 760 -764 Nhà sư Dōkyō: 765 - 766. == Tham khảo ==
mít.txt
Mít (danh pháp hai phần: Artocarpus heterophyllus) là loài thực vật ăn quả, mọc phổ biến ở Đông Nam Á và Brasil. Nó là cây thuộc họ Dâu tằm (Moraceae), và được cho là có nguồn gốc ở Ấn Độ. Quả mít là loại quả quốc gia của Bangladesh. == Đặc điểm == Cây mít thuộc loại cây gỗ nhỡ cao từ 8 đến 15 m. Cây mít ra quả sau ba năm tuổi và quả của nó là loại quả phức, ăn được lớn nhất có giá trị thương mại, hình bầu dục kích thước (30-60) cm x (20-30) cm. Mít ra quả vào khoảng giữa mùa xuân và chín vào cuối mùa hè (tháng 7-8). Nó là một loại quả ngọt, có thể mua được ở Mỹ và châu Âu trong các cửa hàng bán các sản phẩm ngoại quốc. Sản phẩm được bán trong dạng đóng hộp với xi rô đường hay có thể mua ở dạng quả tươi ở các chợ châu Á. Các lát mỏng và ngọt cũng được sản xuất từ nó. Mít cũng được sử dụng trong ẩm thực của khu vực Đông Nam Á, trong các món ăn của người Việt Nam và Indonesia. Gỗ của cây mít thuộc gỗ nhóm IV, đôi khi được sử dụng để sản xuất các dụng cụ âm nhạc như các loại mộc cầm, là một phần của gamelan ở Indonesia (một thể loại dàn nhạc bao gồm chiêng, cồng, trống, các loại nhạc cụ bằng các thanh kim loại hay gỗ). == Các món ăn có sử dụng mít == Các múi mít chín có thể ăn tươi, có vị rất ngọt do có hàm lượng đường như glucoza, fructoza cao (10-15%). Ở Huế có món mít trộn với tôm, hành, nước mắm ăn kèm với bánh tráng nướng Quả mít non có thể sử dụng như rau để nấu canh, kho với cá, xào với thịt, làm gỏi. Xơ mít có thể dùng làm dưa muối gọi là nhút. Món này làm từ xơ mít chín hoặc từ quả mít xanh. Phương ngôn "Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn" nhắc đến hai đặc sản của vùng quê ở Nghệ An. Hạt mít cũng ăn được và có giá trị dinh dưỡng nhất định. Hột có thể đem rang, luộc, hoặc hấp. Trước khi ăn thì bóc lớp vỏ mỏng bên ngoài; có mùi thơm và vị bùi. Mứt mít. Hạt mít rang: hạt mít bóc vỏ rửa sạch đem rang, Gudeg món ăn truyền thống ở Jogyakarta, miền trung Java, Indonesia Lodeh Sayur Asam Cơm cà ri mít ở Sri Lanka == Canh tác == === Châu Mỹ === Cây mít được trồng ở vùng nhiệt đới và bán nhiệt đới châu Mỹ. Với cộng đồng người Mỹ gốc Việt đáng kể để tiêu thụ, mít từ México được xuất cảng sang Mỹ nhắm vào thị trường này. === Việt Nam === Cây mít được trồng phổ biến ở các vùng nông thôn. Mít có nhiều loại như mít mật, mít ướt, mít dai, mít tố nữ (đặc sản của miền Nam) v.v, ngoài giá trị dinh dưỡng trong ẩm thực như nói trên, nhiều bộ phận của cây mít còn là vị thuốc. Lá mít có địa vị đặc biệt dùng để lót oản cúng Phật. Lá mít cũng được dùng để gói thuốc lào truyền thống. Gỗ mít cũng là loại gỗ được chuộng để tạc tượng thờ trong các đền chùa vì thớ gỗ mịn, dễ khắc nhưng nặng và chắc. == Mít trong ngôn ngữ == Trái mít non còn rất nhỏ cỡ ngón tay cái gọi là dái mít (địa phương Huế gọi là mít đái). Dái mít có vị chát thơm nhẹ được dùng trộn làm gỏi hay làm thức ăn chay. Thành ngữ, tục ngữ Việt Nam có câu: Nhà ngói cây mít: tả cảnh nhà nông sung túc. Mít đặc: dốt Mít ướt: hay khóc Tiêu tiền như lá mít Mít ngon anh đánh cả xơ Thơ Hồ Xuân Hương có bài "Quả mít": Thân em như quả mít trên cây Da nó sù sì, múi nó dày Quân tử có thương thì đóng cọc Xin đừng mân mó nhựa ra tay Tuy không hẳn trực tiếp liên quan đến cây mít, hoặc trái mít nhưng dưới thời Pháp thuộc, người Việt còn gọi đùa nhau là "mít" vốn nhại âm annamite mà người Pháp áp dụng để chỉ dân tộc Việt. == Hình ảnh == == Xem thêm == Gỗ mít Artocarpus altilis Cây vả (Ficus carica) Danh sách các loại quả == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == (tiếng Việt) Những vị thuốc từ cây mít Mít Artocarpus heterophyllus trên trang SVRVN (tiếng Anh) “Artocarpus heterophyllus'”. Germplasm Resources Information Network (GRIN) online database. Truy cập ngày 18 tháng 3 năm 2014. Mít tại Encyclopedia of Life Mít tại trang Trung tâm Thông tin Công nghệ sinh học quốc gia Hoa Kỳ (NCBI). Mít tại Hệ thống Thông tin Phân loại Tích hợp (ITIS). Artocarpus heterophyllus Lam. (tên chấp nhận) trên Catalogue of Life: ngày 17 tháng 3 năm 2014 Fruits of Warm Climates: Jackfruit and Related Species California Rare Fruit Growers: Jackfruit Fruit Facts Know and Enjoy Tropical Fruit: Jackfruit, Breadfruit & Relatives Jackfruit (Artocarpus heterophyllus) on Wane's Word Artocarpus integrifolia (Biotin)
bộ giáo dục, văn hóa, thể thao, khoa học và công nghệ (nhật bản).txt
Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (文部科学省, Monbu-kagaku-shō), còn được gọi là MEXT, Monka-shō, và trước đây là Bộ Giáo dục, Khoa học và Văn hoá (文部省, Monbu-shō), là một trong các bộ của chính phủ Nhật Bản. Chính phủ Minh Trị đã lập ra Bộ giáo dục đầu tiên vào năm 1871. Chính phủ Nhật Bản quản lý giáo dục từ cấp trung ương, và nó được quản lý bởi một bộ máy quan liêu nhà nước mà điều chỉnh gần như mọi khía cạnh của quá trình giáo dục. Luật giáo dục trường học yêu cầu các trường trên khắp đất nước để sử dụng sách giáo khoa theo đường lối giáo trình (学習指導要領) do Bộ ban hành, mặc dù có một số trường hợp ngoại lệ. Vào tháng 1 năm 2001, tổ chức Monbu-shō cũ và Cơ quan Khoa học và Công nghệ (科学技術庁, Kagaku-gijutsu-chō) sáp nhập lại để trở thành tổ chức MEXT hiện tại. MEXT đang được dẫn dắt bởi một Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ, là một thành viên của nội các và là lựa chọn của Thủ tướng, thông thường là từ các thành viên của Quốc hội. MEXT là một trong ba bộ điều hành Chương trình JET. Nó cũng cung cấp học bổng Monbukagakusho, còn được gọi là học bổng MEXT hay học bổng Monbu-shō. == Latinh hoá tiếng Nhật == MEXT phụ trách việc đặt ra tiêu chuẩn cho việc Latinh hoá tiếng Nhật. == Giáo dục của người Nhật Bản sống ở nước ngoài == MEXT cung cấp chương trình Mạng Internet cho Trẻ em sống ở nước ngoài và Trẻ em hồi hương (CLARINET - Children Living Abroad and Returnees Internet) mà cung cấp thông tin cho các gia đình Nhật Bản sống ở nước ngoài. MEXT gửi giáo viên đi khắp thế giới để phục vụ trong nihonjin gakkō, các trường quốc tế toàn thời gian của Nhật Bản trên thế giới. Chính phủ Nhật Bản cũng gửi giáo viên toàn thời gian tới các trường bổ sung hoshū jugyō kō, cung cấp giáo trình tương tự như của nihonjin gakkō và/hoặc những nơi có 100 học sinh hoặc hơn. Thêm vào đó, MEXT trợ cấp cho các trường học vào cuối tuần có hơn 100 học sinh. == Xem thêm == Phong trào vận động tinh thần quốc gia Giáo dục ở Nhật Bản Luật Giáo dục Cơ bản Lịch sử giáo dục Nhật Bản Tranh cãi về sách giáo khoa lịch sử Nhật Bản Học bổng Monbukagakusho == Chú thích == == Tham khảo == Reischauer, Edwin O. và Marius Jansen (2005). The Japanese Today. Tokyo: Tuttle Publishing. == Liên kết ngoài == Website chính thức (tiếng Anh) Website chính thức (tiếng Nhật) Trang web của Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (trước khi sáp nhập) (lưu trữ) Trang web của Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ (trước khi sáp nhập) (lưu trữ) (tiếng Nhật) Thông cáo báo chí về đạo luật "Luật Đoàn thể Đại học Quốc gia"
cpu.txt
CPU viết tắt của chữ Central Processing Unit (tiếng Anh), tạm dịch là bộ xử lý trung tâm, là các mạch điện tử trong một máy tính, thực hiện các câu lệnh của chương trình máy tính bằng cách thực hiện các phép tính số học, logic, so sánh và các hoạt động nhập/xuất dữ liệu (I/O) cơ bản do mã lệnh chỉ ra. Thuật ngữ này đã được sử dụng trong ngành công nghiệp máy tính kể từ đầu những năm 1960. Theo truyền thống, thuật ngữ "CPU" chỉ một bộ xử lý, cụ thể là bộ phận xử lý và điều khiển (Control Unit) của nó, phân biệt với những yếu tố cốt lõi khác của một máy tính nằm bên ngoài như bộ nhớ và mạch điều khiển xuất/nhập dữ liệu. Hình thức, thiết kế và thực hiện của CPU đã thay đổi theo tiến trình lịch sử, nhưng hoạt động cơ bản của nó vẫn còn gần như không thay đổi. Thành phần chủ yếu của CPU bao gồm các bộ phận số học logic (ALU) thực hiện phép tính số học và logic, các thanh ghi lưu các tham số để ALU tính toán và lưu trữ các kết quả trả về, và một bộ phận kiểm soát với nhiệm vụ nạp mã lệnh từ bộ nhớ và "thực hiện" chúng bằng cách chỉ đạo các hoạt động phối hợp của ALU, các thanh ghi và các thành phần khác. Hầu hết các CPU hiện đại đều là các vi xử lý, có ý nghĩa là chúng được đặt trên một chip vi mạch (IC) đơn. Một vi mạch có chứa một CPU cũng có thể chứa bộ nhớ, giao diện cho các thiết bị ngoại vi, và các thành phần khác của một máy tính; việc các thiết bị tích hợp như vậy được gọi theo nhiều cách khác nhau: vi điều khiển hoặc hệ thống trên một vi mạch (SoC). Một số máy tính sử dụng một CPU đa nhân là một con chip duy nhất có chứa hai hoặc nhiều CPU được gọi là "lõi"; Trong bối cảnh đó, các chip đơn đôi khi được gọi là "khe cắm" - socket. Mảng vi xử lý và bộ xử lý vector có nhiều bộ xử lý hoạt động song song, không có bộ xử lý nào được coi là trung tâm. Một CPU năm 1971 chỉ có 2.300 transitor thì hiện nay (2016) đã có tới 7,2 tỉ transitor với 22 nhân nhờ quá trình sản xuất 14 nm (dòng 22-core Xeon Broadwell-E5). Hiện nay người ta đang hướng tới công nghệ sản xuất 7 nm và 5 nm với CPU, hứa hẹn sẽ có những dòng CPU tiết kiệm năng lượng và hiệu suất cao hơn nữa. == Lịch sử == Máy tính cổ như ENIAC muốn thực hiện các nhiệm vụ khác nhau thì phải nối lại hoàn toàn các mạch điện, điều này khiến các máy này được gọi là "máy tính có chương trình cố định". Thuật ngữ "CPU" thường được định nghĩa là một thiết bị để chạy phần mềm (chương trình máy tính), các thiết bị đầu tiên mà có thể được gọi là CPU đi kèm với sự ra đời của máy tính có khả năng lưu trữ chương trình. Ý tưởng về một máy tính lưu trữ chương trình đã hiện diện trong thiết kế ENIAC của J. Presper Eckert và John William Mauchly, nhưng đã được bỏ qua ngay từ đầu để nó có thể được hoàn thành sớm hơn. Ngày 30 tháng 6 năm 1945, trước khi ENIAC được tạo ra, nhà toán học John von Neumann công bố bài báo mang tên First Draft of a Report on the EDVAC. Bài báo là phác thảo của một máy tính chạy chương trình được lưu trữ mà cuối cùng sẽ được hoàn thành vào tháng 8 năm 1949. EDVAC được thiết kế để thực hiện một số lượng nhất định các lệnh khác nhau. Đáng chú ý là các chương trình viết cho EDVAC đã được lưu trữ trong bộ nhớ máy tính có tốc độ cao thay cho hệ thống dây điện vật lý của máy tính. Điều này đã vượt qua một hạn chế nghiêm trọng của ENIAC, đó là thời gian đáng kể và nỗ lực cần thiết để cấu hình lại máy tính để thực hiện một nhiệm vụ mới. Với thiết kế von Neumann, các chương trình mà EDVAC chạy có thể được thay đổi chỉ đơn giản bằng cách thay đổi các nội dung của bộ nhớ. Tuy nhiên, EDVAC không phải là máy tính lưu trữ chương trình đầu tiên; Manchester Small-Scale Experimental Machine,một nguyên mẫu máy tính có lưu trữ một chương trình nhỏ, chạy chương trình đầu tiên của mình vào ngày 21 tháng 6 năm 1948 và Manchester Mark 1 chạy chương trình đầu tiên của mình trong đêm 16-17 tháng 6 năm 1949. Các CPU đời đầu sử dụng các thiết kế tùy chỉnh như là một phần của một máy tính lớn và đôi khi rất khác biệt. Tuy nhiên, phương pháp này thiết kế CPU tùy chỉnh cho một ứng dụng cụ thể đã nhường chỗ cho sự phát triển của bộ vi xử lý đa mục đích sản xuất với số lượng lớn. Tiêu chuẩn này bắt đầu trong thời đại máy tính mainframe sử dụng transistor, máy tính mini và đã nhanh chóng tăng tốc với sự phổ biến của các vi mạch (IC). Các vi mạch đã cho phép CPU ngày càng phức tạp được thiết kế và sản xuất nhỏ đến cỡ nanômét. Hai quy trình thu nhỏ hóa và tiêu chuẩn hóa của CPU đã làm tăng nhanh sự có mặt của các thiết bị kỹ thuật số trong cuộc sống hiện đại vượt xa các ứng dụng hạn chế của máy tính chuyên dụng. Bộ vi xử lý hiện đại xuất hiện trong các thiết bị điện tử khác nhau, từ xe ô tô đến điện thoại di động, và thậm chí cả trong đồ chơi. Trong khi von Neumann thường được ghi công với việc thiết kế của máy tính có khả năng lưu trữ chương trình vì thiết kế EDVAC của ông, và thiết kế này được gọi là kiến trúc von Neumann, những người khác trước ông như Konrad Zuse cũng đã đề xuất và thực hiện những ý tưởng tương tự. Cái gọi là kiến trúc Harvard của Harvard Mark I, được hoàn thiện trước EDVAC, cũng sử dụng một thiết kế được lưu trữ chương trình sử dụng băng giấy đục lỗ thay vì bộ nhớ điện tử. Sự khác biệt cơ bản giữa các kiến trúc von Neumann và Harvard là máy Harvard tách rời việc lưu trữ và xử lý các lệnh CPU và dữ liệu, trong khi máy của von Neumann sử dụng bộ nhớ không gian chung cho cả hai. Hầu hết các CPU hiện đại chủ yếu sử dụng ý tưởng von Neumann trong thiết kế, nhưng CPU với kiến trúc Harvard được xem là tốt, đặc biệt là trong các ứng dụng nhúng; Ví dụ, các vi điều khiển Atmel AVR là các bộ xử lý kiến trúc Harvard. Rơle và đèn điện tử chân không đã được sử dụng phổ biến để làm các thành phần chuyển mạch; một máy tính hữu ích đòi hỏi hàng ngàn hoặc hàng chục ngàn các thiết bị chuyển mạch như vậy. Tốc độ tổng thể của một hệ thống phụ thuộc vào tốc độ của thiết bị chuyển mạch. Máy tính dùng đèn chân không như EDVAC có thời gian sử dụng trung bình tám giờ trước khi nó bị hỏng, trong khi máy tính dùng rơle như Harvard Mark I (chậm hơn, nhưng được tạo ra sớm hơn) rất ít khi hỏng hóc. Cuối cùng, CPU dùng đèn chân không đã trở thành thống trị bởi vì những lợi thế đáng kể về tốc độ của nó đã thắng những vấn đề về độ tin cậy. Hầu hết các CPU đồng bộ ban đầu chạy ở tốc độ thấp hơn so với các thiết kế vi điện tử hiện đại. tần số tín hiệu đồng hồ khác nhau, từ 100 kHz đến 4 MHz rất phổ biến vào thời kỳ này, giới hạn phần lớn bởi tốc độ của các thiết bị chuyển mạch của CPU. === Các CPU dùng tranzito === Sự phức tạp thiết kế của CPU tăng lên khi hàng loạt công nghệ khác nhau tạo thuận lợi cho việc xây dựng các thiết bị điện tử nhỏ hơn và đáng tin cậy hơn. Những cải tiến đầu tiên như vậy đi kèm với sự ra đời của transistor. CPU bán dẫn trong suốt những năm 1950 và 1960 không còn phải được xây dựng bằng các phần tử chuyển mạch cồng kềnh, không đáng tin cậy và mong manh như đèn điện tử chân không và rơle. Với cải tiến này nhiều CPU phức tạp và đáng tin cậy được xây dựng trên một hoặc một số mạch in chứa các thành phần riêng biệt. Năm 1964, IBM giới thiệu kiến trúc máy tính System/360, được sử dụng trong một loạt các máy tính có khả năng chạy các chương trình tương tự với tốc độ và hiệu suất khác nhau. Điều này có ý nghĩa tại thời điểm đó khi hầu hết các máy tính điện tử là không tương thích với nhau, ngay cả những máy tính có chung nhà sản xuất. Để tạo điều kiện cho cải tiến này, IBM sử dụng các khái niệm về một vi chương trình (thường được gọi là "vi mã"), vi mã này vẫn được sử dụng rộng rãi trong các CPU hiện đại. Kiến trúc System/360 trở nên phổ biến đến mức nó thống trị thị trường máy tính mainframe trong hàng thập kỷ và để lại một di sản vẫn được tiếp tục với các máy tính hiện đại zSeries của IBM. Năm 1965, Digital Equipment Corporation (DEC) giới thiệu một máy tính có ảnh hưởng nhằm vào thị trường khoa học và nghiên cứu, PDP-8. Máy tính mạch bán dẫn có một số lợi thế khác biệt so với những máy tính trước đó. Bên cạnh độ tin cậy tăng lên và tiêu thụ điện năng giảm đi, bóng bán dẫn cũng cho phép CPU hoạt động với tốc độ cao hơn nhiều vì thời gian chuyển đổi ngắn hơn của một bóng bán dẫn so với một đèn điện tử hoặc rơle. Nhờ độ tin cậy tăng lên cũng như việc tăng đáng kể tốc độ của các thành phần chuyển mạch (với các bóng bán dẫn được dùng gần như hoàn toàn trong thời gian này), tốc độ xung nhịp CPU tăng lên tới hàng chục megahertz trong giai đoạn này. Ngoài ra, trong khi CPU dùng bóng bán dẫn rời rạc và vi mạch CPU được sử dụng rộng rãi, các thiết kế mới có hiệu suất cao như các xử lý vectơ SIMD (Single Instruction Multiple Data) bắt đầu xuất hiện. Những thiết kế thử nghiệm đầu tiên này sau đó đã dẫn đến thời đại của các siêu máy tính chuyên ngành như các máy được Cray Inc và Fujitsu Ltd sản xuất. === Các CPU tích hợp quy mô nhỏ === Trong thời gian này, một phương pháp sản xuất nhiều transistor kết nối với nhau trong một không gian nhỏ gọn đã được phát triển. Các mạch tích hợp (IC) cho phép một số lượng lớn các bóng bán dẫn được sản xuất trên một chip bán dẫn. Lúc đầu chỉ mạch kỹ thuật số rất cơ bản không chuyên đầu tiên như cổng NOR được thu nhỏ vào vi mạch. CPU dựa trên những khối vi mạch thường được gọi là thiết bị "tích hợp quy mô nhỏ"(SSI). Vi mạch SSI, chẳng hạn như những vi mạch được dùng trong các máy tính hướng dẫn tàu Apollo, thường chứa lên đến một vài nghìn transistor. Để xây dựng toàn bộ một CPU trên vi mạch SSI cần hàng ngàn chip, nhưng vẫn tiêu thụ ít không gian và điện năng hơn nhiều so với thiết kế bằng bóng bán dẫn trước đó. System/370 của IBM, phiên bản kế tục System/360, sử dụng vi mạch SSI thay vì dùng module bán dẫn rời rạc của Solid Logic Technology. Máy tính PDP-8/I and KI10 PDP-10 của DEC cũng chuyển từ các bóng bán dẫn riêng lẻ được PDP-8 và PDP-10 sử dụng và chuyển qua dùng vi mạch SSI, và dòng máy PDP-11 cực kỳ phổ biến của họ ban đầu được xây dựng với vi mạch SSI nhưng cuối cùng đã được thay thế bằng các vi mạch LSI khi nó ra đời. === Các CPU tích hợp quy mô lớn === Lee Boysel xuất bản các bài báo có ảnh hưởng, trong đó có một "tuyên ngôn" năm 1967, trong đó mô tả làm thế nào để xây dựng máy tính tương đương với một máy tính mainframe 32-bit từ một số lượng tương đối nhỏ các mạch tích hợp quy mô lớn (LSI). Vào thời điểm đó, cách duy nhất để xây dựng chip LSI, một con chip với một trăm hoặc nhiều cổng, bằng cách xây dựng chúng sử dụng một quá trình MOS (chẳng hạn PMOS logic, NMOS logic, hoặc CMOS logic). Tuy nhiên, một số công ty tiếp tục xây dựng các bộ xử lý dùng chip lưỡng cực vì các bán dẫn lưỡng cực nhanh hơn nhiều so với các chip MOS; chẳng hạn, Datapoint tạo các bộ vi xử lý bằng chip TTL cho đến đầu những năm 1980. Các nhà sản xuất máy tính tốc độ cao muốn chúng chạy nhanh chóng, vì vậy trong những năm 1970 họ xây dựng các CPU từ các vi mạch tích hợp quy mô nhỏ (SSI) và quy mô trung bình (MSI) bao gồm các cổng TTL của vi mạch họ 7400. Vào thời điểm đó, vi mạch MOS quá chậm đến nỗi chúng chỉ được coi là hữu ích trong một vài ứng dụng thích hợp với yêu cầu công suất thấp. Khi công nghệ vi điện tử phát triển mạnh, nó gia tăng số lượng bóng bán dẫn được đặt trên một IC, giảm số lượng IC riêng cần thiết để tạo ra một CPU hoàn chỉnh. Các vi mạch MSI và LSI tăng lượng transistor lên đến hàng trăm, và sau đó hàng ngàn. Đến năm 1968, số lượng IC cần thiết để xây dựng một CPU hoàn chỉnh đã được giảm xuống còn 24 IC của tám loại khác nhau, với mỗi IC chứa khoảng 1000 MOSFET. Tương phản hoàn toàn với các vi mạch SSI và MSI của nó, vi mạch LSI đầu tiên của PDP-11 chứa một CPU bao gồm chỉ có bốn mạch tích hợp LSI. === Các bộ vi xử lý === Trong những năm 1970, những phát minh cơ bản của Federico Faggin (IC MOS cổng silicon với cổng tự liên kết cùng với các phương pháp thiết kế logic ngẫu nhiên mới của ông) đã thay đổi việc thiết kế và sản xuất CPU mãi mãi. Kể từ sự ra đời của bộ vi xử lý thương mại đầu tiên (Intel 4004) vào năm 1970, và bộ vi xử lý lần đầu tiên được sử dụng rộng rãi (Intel 8080) năm 1974, mô hình này của CPU đã gần như hoàn toàn vượt qua tất cả các bộ phận xử lý trung tâm khác. Các nhà sản xuất máy tính lớn và máy tính mini thời kỳ này tung ra các chương trình phát triển vi mạch độc quyền để nâng cấp kiến trúc máy tính cũ của họ, và cuối cùng tạo ra bộ vi xử lý tương thích với tập lệnh cũ của các phần cứng và phần mềm cũ. Kết hợp với sự ra đời và cuối cùng thành công khắp nơi của máy tính cá nhân, thuật ngữ CPU bây giờ được áp dụng gần như độc quyền cho các bộ vi xử lý. Một số CPU (gọi là lõi) có thể được kết hợp trong một chip xử lý duy nhất. Các thế hệ trước của CPU cũng được sản xuất như các linh kiện điện tử và vô số vi mạch (IC) trên một hay nhiều mạch in. Bộ vi xử lý là các CPU được sản xuất trên một số lượng rất nhỏ các IC; thường chỉ là một. Tổng thể kích thước CPU nhỏ hơn, là một kết quả của việc sản xuất trên cùng một khuôn, khiến thời gian chuyển đổi nhanh hơn vì các yếu tố vật lý như giảm điện dung ký sinh tại cổng. Điều này đã cho phép các bộ vi xử lý đồng bộ có tốc độ xung nhịp từ hàng chục megahertz đến vài gigahertz. Ngoài ra, vì khả năng để xây dựng transistor cực nhỏ trên một vi mạch đã tăng lên, sự phức tạp và số lượng bóng bán dẫn trong một CPU duy nhất đã tăng lên nhiều lần. Xu hướng được kiểm chứng rộng rãi này được đặt tên là Định luật Moore, mà đã được chứng minh qua thực tế là một yếu tố dự báo khá chính xác về sự phát triển của CPU (và các IC phức tạp khác). Trong khi mức độ phức tạp, quy mô, xây dựng, và dạng tổng quát của CPU đã thay đổi rất nhiều kể từ năm 1950, đáng chú ý là các thiết kế cơ bản và chức năng của nó đã không thay đổi chút nào. Hầu như tất cả các CPU phổ biến hiện nay có thể được mô tả rất chính xác như các máy lưu trữ chương trình theo kiểu von Neumann. Khi định luật Moore nói trên vẫn tiếp tục đúng, mối quan tâm phát sinh về các giới hạn của công nghệ bóng bán dẫn mạch tích hợp. Thu nhỏ tối đa các cửa điện tử đang gây ra những ảnh hưởng của hiện tượng như electromigration và rò rỉ dưới ngưỡng đã nhiều hơn đáng kể. Những mối quan tâm mới là một trong nhiều yếu tố khiến các nhà nghiên cứu tập trung tìm hiểu các phương pháp mới của máy tính như máy tính lượng tử, cũng như để mở rộng việc sử dụng tính toán song song và các phương pháp khác nhằm mở rộng tính hữu ích của các mô hình von Neumann cổ điển. == Hoạt động == Các hoạt động cơ bản của hầu hết các CPU, không phụ thuộc hình thức vật lý, là thực hiện một chuỗi các tập lệnh được lưu trữ, gọi là chương trình. Các mã lệnh chờ thực hiện này được lưu giữ trong một số loại bộ nhớ máy tính. Gần như tất cả các CPU có các bước: lấy thông tin, giải mã và thực hiện lệnh khi hoạt động, và được gọi chung là chu kỳ lệnh. Sau khi thực hiện một lệnh, toàn bộ quá trình lặp đi lặp lại, với sự chu kỳ lệnh tiếp theo thường lấy các lệnh tiếp theo trong chuỗi vì giá trị tăng lên trong thanh ghi con trỏ lệnh. Nếu một lệnh nhảy được thực hiện, con trỏ lệnh sẽ được sửa đổi để chứa địa chỉ của lệnh đã thay đổi và thực hiện chương trình tiếp tục như bình thường. Trong các CPU phức tạp hơn, nhiều lệnh có thể được tải xuống, giải mã, và thực hiện đồng thời. Phần này mô tả những gì thường được gọi là "đường ống RISC cổ điển", vốn khá phổ biến trong các CPU đơn giản được sử dụng trong nhiều thiết bị điện tử (thường được gọi là vi điều khiển). Nó chủ yếu bỏ qua vai trò quan trọng của CPU cache, và do đó bỏ qua các giai đoạn tiếp cận của các đường ống. Một số lệnh thao tác truy cập chương trình chứ không phải tạo ra dữ liệu kết quả trực tiếp; lệnh như vậy thường được gọi là "lệnh nhảy" và cho phép chương trình chạy lặp vòng, thực hiện chương trình có điều kiện (thông qua việc sử dụng một bước nhảy có điều kiện), và khả năng viết các chương trình con. Trong một số bộ vi xử lý, một số lệnh khác thay đổi trạng thái của các bit trong một thanh ghi "cờ". Những cờ này có thể được sử dụng để thay đổi cách ứng xử của chương trình, vì chúng thường chỉ ra kết quả của các toán tử khác nhau. Ví dụ, trong bộ vi xử lý khi một lệnh "so sánh" đánh giá hai giá trị, chúng xóa bit trong những thanh ghi cờ để chỉ ra số nào lớn hơn số nào, hoặc hai số được so sánh là bằng nhau; một trong những cờ này sau đó có thể được một lệnh nhảy sử dụng để xác định rẽ nhánh tùy theo kết quả so sánh trên. == Thành phần == === Khối điều khiển (CU - Control Unit) === Là thành phần của CPU có nhiệm vụ thông dịch các lệnh của chương trình và điều khiển hoạt động xử lý, được điều tiết chính xác bởi xung nhịp đồng hồ hệ thống.Phần này là phần cốt lõi của một bộ xử lý được cấu tạo từ các mạch logic so sánh với các linh kiện bán dẫn như transistor tạo thành. === Khối tính toán ALU (Arithmetic Logic Unit) === Chức năng thực hiện các phép toán số học và logic sau đó trả lại kết quả cho các thanh ghi hoặc bộ nhớ. === Các thanh ghi (Registers) === Là các bộ nhớ có dung lượng nhỏ nhưng tốc độ truy cập rất cao, nằm ngay trong CPU, dùng để lưu trữ tạm thời các toán hạng, kết quả tính toán, địa chỉ các ô nhớ hoặc thông tin điều khiển. Mỗi thanh ghi có một chức năng cụ thể. Thanh ghi quan trọng nhất là bộ đếm chương trình (PC - Program Counter) chỉ đến lệnh sẽ thi hành tiếp theo. === Opcode === Phần bộ nhớ chứa mã máy của cpu(không bắt buộc) để có thể thực thi các lệnh trong file thực thi. === Phần điều khiển === Thực hiện việc điều khiển các khối và điều khiển tần số xung nhịp. Mạch xung nhịp đồng hồ hệ thống dùng để đồng bộ các thao tác xử lý trong và ngoài CPU theo các khoảng thời gian không đổi. Khoảng thời gian chờ giữa hai xung gọi là chu kỳ xung nhịp. Tốc độ theo đó xung nhịp hệ thống tạo ra các xung tín hiệu chuẩn thời gian gọi là tốc độ xung nhịp – tốc độ đồng hồ tính bằng triệu đơn vị mỗi giây (MHz).Phần này là không cần thiết cho một cpu nhưng hầu hết có trong kiến trúc cisc. == Tốc độ == Tốc độ xử lý của máy tính chủ yếu phụ thuộc vào tốc độ của CPU, nhưng nó cũng phụ thuộc vào các phần khác như bộ nhớ RAM, bo mạch đồ họa, ổ cứng, v.v.. Có nhiều công nghệ làm tăng tốc độ xử lý của CPU. Ví dụ: pipeline, turbo boost, siêu phân luồng, v.v.. Tốc độ CPU có liên hệ với tần số đồng hồ làm việc của nó (tính bằng các đơn vị như MHz, GHz, v.v..). Trước năm 2005, tần số này cao hơn cũng có nghĩa là tốc độ xử lý cao hơn. Tuy nhiên khi chỉ so sánh như vậy là bỏ qua rất nhiều yếu tố khác. (Ví dụ: CPU Intel Core 2 Duo (2 nhân) có tần số 2,6 GHz có thể xử lý nhanh hơn CPU Intel Pentium 4 (1 nhân) 3,4 GHz hay dòng Intel Core 2 Duo (2 nhân) 2,6 GHz GHz lại yếu hơn dòng Core i3 (2 nhân) với cùng 2,6 GHz GHz rất nhiều). Do vậy hiện nay, nhà sản xuất CPU như Intel dùng khái niệm đánh giá trên hiệu suất làm việc (performance rating -P.R) cho các dòng Core i3, i5, i7. Tốc độ CPU còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: Số nhân xử lý (2,4,10,22 nhân...), càng nhiều nhân càng mạnh Công nghệ sản xuất (32 nm, 22 nm,14 nm..), càng nhỏ càng tiết kiệm điện và hiệu năng cao hơn. Công nghệ làm tăng tốc độ xử lý của CPU (pipeline, turbo boost, siêu phân luồng, v.v.), Bộ nhớ đệm - bộ nhớ dùng để lưu các lệnh/dữ liệu thường dùng hay có khả năng sẽ được dùng trong tương lai gần, giúp giảm bớt thời gian chờ đợi của CPU. Ví dụ: Intel Core 2 Duo sử dụng chung cache L2 (shared cache) giúp cho tốc độ xử lý của hệ thống hai nhân mới này cao hơn so với hệ thống hai nhân thế hệ thứ nhất (Intel Pentium D) với mỗi nhân từng bộ nhớ đệm L2 riêng biệt. Đồ họa tích hợp (vd: Intel HD Graphics 530 mạnh ngang một card màn hình mạnh như Inno3D GT 730 1 GB) TDP (công suất thoát nhiệt), lượng nhiệt chip xử lý tỏa ra mà hệ thống làm mát cần phải giải tỏa. TDP thường cho biết mức tiêu thụ điện của con chip, con số này càng thấp càng tốt. == Các nhà sản xuất == Hai nhà sản xuất CPU lớn nhất hiện nay là Intel và AMD. Một trong những CPU đầu tiên của hãng Intel là Intel 4004. Được tung ra thị trường vào tháng 11 năm 1971, Intel 4004 có 2250 transistor và 16 chân. Một CPU khác của Intel được tung ra thị trường năm 2006 là Intel Northwood P4ntium, có 55 triệu transistor và 478 chân. Nhà sản xuất AMD (Advanced Micro Devices) cũng được đánh giá cao: APU(Dòng tích hợp nhân đồ họa của AMD): -A10[ 58xx(k), 68xx(k), 78xx(k)] với sức mạnh đồ họa tích hợp sánh ngang với các GPU tầm trung. == Chú thích == == Tham khảo == == Xem thêm == CPU Intel CPU AMD CPU đa nhân == Liên kết ngoài == 25 vi chip khuynh đảo thế giới – bài viết tiếng Anh của Institute of Electrical and Electronics Engineers.
giải nobel.txt
Giải thưởng Nobel, hay Giải Nobel (phát âm tiếng Thuỵ Điển: [noˈbɛl], Thụy Điển, số ít: Nobelpriset, Na Uy: Nobelprisen), là một tập các giải thưởng quốc tế được tổ chức trao thưởng hằng năm kể từ năm 1901 cho những cá nhân đạt thành tựu trong lĩnh vực vật lý, hoá học, y học, văn học, kinh tế và hòa bình; đặc biệt là giải hoà bình có thể được trao cho tổ chức hay cho cá nhân. Vào năm 1968, Ngân hàng Thụy Điển đưa thêm vào một giải về lĩnh vực khoa học kinh tế, theo di chúc của nhà phát minh người Thụy Điển Alfred Nobel năm 1895. Từ năm 1901 đến năm 2012, các giải thưởng Nobel và giải thưởng về Khoa học Kinh tế được trao tặng 555 lần cho 856 người và tổ chức. Do một số cá nhân và tổ chức nhận giải Nobel nhiều hơn một lần, tổng cộng có 835 cá nhân (791 nam và 44 nữ) và 21 tổ chức đã nhận giải này. Kết quả đoạt giải được công bố hằng năm vào tháng 10 và được trao (bao gồm tiền thưởng, một huy chương vàng và một giấy chứng nhận) vào ngày 10 tháng 12, ngày kỷ niệm ngày mất của Nobel. Giải Nobel được thừa nhận rộng rãi như là giải thưởng danh giá nhất một người có thể nhận được trong lĩnh vực được trao. Giải Nobel Hòa bình được trao thưởng ở Oslo, Na Uy, trong khi các giải khác được trao ở Stockholm, Thụy Điển. Giải Nobel được xem là giải danh giá nhất trong các lĩnh vực văn học, y học, vật lý, hóa học, hòa bình và kinh tế. Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển trao giải Nobel Vật lý, giải Nobel Hóa học và giải Nobel kinh tế; Hội Nobel ở Karolinska Institutet trao giải Nobel Sinh học và Y học; Viện Hàn lâm Thụy Điển trao giải Nobel Văn học; và giải thưởng Nobel Hòa bình được Ủy ban Nobel Na Uy (gồm 5 thành viên do quốc hội Na Uy bầu ra ) trao tặng thay vì một tổ chức của Thụy Điển. Các giải Nobel không bắt buộc phải được trao hàng năm, nhưng ít nhất phải được trao một lần cho mỗi 5 năm. Số tiền của giải thưởng mỗi năm một khác. Mỗi người đoạt giải nhận được một huy chương vàng, một chứng chỉ và một khoản tiền được Quỹ Nobel quyết định. Tính đến năm 2012, giải trị giá 8.000.000 SEK (1,2 triệu USD, hoặc 930.000 €). Giải khi đã trao thì không bao giờ bị tước. Nếu người đoạt giải mất đi trước khi đến nhận giải, giải vẫn sẽ được trao. Tuy tỷ lệ số người nhận trên mỗi giải có thay đổi, Giải Nobel được trao cho tối đa 3 người mỗi năm. == Lịch sử == Alfred Nobel sinh ngày 21 tháng 10 năm 1833 ở Stockholm, Thụy Điển, trong một gia đình toàn kỹ sư. Ông là một nhà hóa học, kỹ sư, và nhà phát minh. Năm 1894, Nobel mua sắt thép và nhà máy Bofors, tại đó ông đã trở thành một nhà sản xuất vũ khí lớn. Nobel cũng phát minh ra ballistite. Sáng chế này là tiền thân của nhiều vật liệu nổ không khói dùng trong quân đội, đặc biệt là bột chất nổ không khói của người Anh. Do tuyên bố bằng sáng chế của mình, Nobel cuối cùng đã tham gia vào một vụ kiện vi phạm bằng sáng chế về chất nổ không khói. Ông tích lũy được một tài sản khổng lồ trong suốt cuộc đời của mình, hầu hết số tiền bắt nguồn từ 355 phát minh của ông, trong đó có phát minh thuốc nổ (dynamite) là nổi tiếng nhất. Khi người anh Ludvig của ông qua đời vào năm 1888, nhiều vụ cáo phó sớm đã nhầm lẫn và viết về cái chết của Alfred Nobel trong khi ông vẫn còn sống. Bản cáo phó trên một tờ báo Pháp viết Le marchand de la mort est mort (Nhà buôn cái chết đã chết) và tiếp tục viết, "Tiến sĩ Alfred Nobel, người đã trở nên giàu có sau khi phát minh ra cách thức giết con người nhanh chóng hơn bao giờ hết, đã qua đời ngày hôm qua." Bài viết này khiến Nobel bất ngờ và làm ông lo ngại về việc ông sẽ được ghi nhớ ra sao sau khi ông chết. Nó đã khiến ông muốn thay đổi di chúc của mình. Ngày 10 tháng 12 năm 1896, Alfred Nobel đã chết trong biệt thự của ông ở San Remo, Ý vì xuất huyết não, thọ 63 tuổi, 8 năm sau bản cáo phó trên. Trong bản di chúc gây bất ngờ lớn cho công chúng thời đó, Nobel đã ghi rằng tài sản của ông sẽ được sử dụng để tạo ra một loạt các giải thưởng cho những người trao "lợi ích lớn nhất cho nhân loại" trong vật lý, hóa học, hòa bình, sinh học, y học và văn học. Alfred đã dành 94% trị giá tài sản, 31 triệu SEK (khoảng 186 triệu USD, 150 triệu € tính theo thời giá 2008) và lấy lãi hàng năm để lập nên 5 giải Nobel cho "những ai, trong năm mà giải sẽ được trao, đã đưa đến những lợi ích tốt nhất cho con người.". Di chúc của ông ghi rõ: Tất cả tài sản còn lại của tôi được thực hiện như sau đây: Số tiền vốn sẽ được người thực hiện di chúc đầu tư vào các nguồn an toàn và lập nên quỹ, và lợi nhuận nói trên được chia thành các giải thưởng cho những ai trong những năm trước khi nhận giải đã phục vụ tốt cho nhân loại. Lợi nhuận nói trên được chia ra làm 5 giải thưởng bằng nhau, chia ra như sau: một phần cho người có phát hiện hay phát minh quan trọng nhất trong lĩnh vực vật lý, một phần cho người có phát hiện và phát triển quan trọng nhất trong hóa học; một phần cho người có phát hiện quan trọng nhất trong lĩnh vực sinh lý học hay y học; một phần cho người đã sáng tạo ra trong lĩnh vực văn chương tác phẩm nổi bật nhất với khuynh hướng lý tưởng hóa; và một phần cho người đã đóng góp nhiều nhất hay tốt nhất cho tình anh em giữa các dân tộc, cho sự xóa bỏ hay giảm thiểu quân đội thường trực và cho sự giữ gìn và tăng tình hữu nghị giữa các nước. Giải thưởng cho vật lý và hóa học sẽ do viện Hàn lâm Thụy Điển trao tặng; cho sinh lý học hay y học do viện Caroline ở Stockholm; cho văn chương do viện Hàn lâm Stockholm; và cho người đóng góp vì hòa bình do ủy ban 5 người được Quốc hội Na Uy bầu. Trong di chúc của tôi có nói rõ ràng rằng giải được trao không phân biệt quốc gia của người nhận, vì thế người xứng đáng nhận giải nhất sẽ nhận giải, dù cho người đó có là người Scandinavi hay không. Do sự nghi ngờ về tính chân thực của bản di chúc này, đến ngày 26 tháng 4 năm 1897 bản di chúc mới được Tòa án Na Uy chấp nhận. Chấp hành di chúc của Nobel, Ragnar Sohlman và Rudolf Lilljequist đã lập ra Quỹ Nobel (Nobel Foundation) để quản lý tài sản của Nobel và tổ chức các giải thưởng của quỹ. Hướng dẫn của Nobel tạo ra một Ủy ban Nobel Na Uy trao giải Nobel Hòa bình, các thành viên của Ủy ban này đã được bổ nhiệm ngay sau khi di chúc đã được phê duyệt trong tháng 4 năm 1897. Không lâu sau đó, các tổ chức trao giải thưởng khác đã được chỉ định hoặc thành lập, bao gồm: Karolinska Institutet vào ngày 7 tháng 6, Học viện Thụy Điển vào ngày 9 tháng 6, và Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển vào ngày 11 tháng 6. Quỹ Nobel đã đạt được một thỏa thuận về tiêu chí trao các giải thưởng, và đến năm 1900, các tiêu chí trao giải của Quỹ Nobel đã được vua Oscar II ban hành chính thức. Năm 1905, các liên minh cá nhân giữa Thụy Điển và Na Uy đã bị giải tán. Sau đó, Ủy ban Nobel của Na Uy chịu trách nhiệm cho việc trao giải Nobel Hòa bình và các tổ chức Thụy Điển chịu trách nhiệm trao các giải còn lại. === Quỹ Nobel === Quỹ Nobel được thành lập như một tổ chức tư nhân vào ngày 29 tháng 6 năm 1900. Chức năng của nó là quản lý tài chính và quản trị các giải thưởng Nobel. Tuân thủ theo di chúc của Nobel, nhiệm vụ chính của Quỹ là quản lý các tài sản Nobel để lại. Robert và Ludwig Nobel đã tham gia vào việc kinh doanh dầu ở Azerbaijan và theo nhà sử học Thụy Điển E. Bargengren, người truy cập các tài liệu lưu trữ của gia đình Nobel, "việc quyết định cho phép rút tiền của Alfred từ Baku đã trở thành yếu tố quyết định cho phép Quỹ Nobel được thành lập". Một nhiệm vụ quan trọng của Quỹ Nobel là quảng cáo các giải thưởng này trên bình diện quốc tế và giám sát các thủ tục liên quan đến giải thưởng. Quỹ không được tham gia vào quá trình lựa chọn người đoạt giải Nobel. Quỹ Nobel tương tự như một công ty đầu tư với việc đầu tư tiền Nobel để lại để tạo ra một nguồn tài chính vững chắc cho các giải thưởng và các hoạt động hành chính. Quỹ Nobel được miễn các loại thuế ở Thụy Điển (từ năm 1946) và các loại thuế đầu tư tại Hoa Kỳ (từ năm 1953). Từ những năm 1980, đầu tư của Quỹ đã có lợi nhuận nhiều hơn và tính đến 31 tháng 12 năm 2007, Quỹ Nobel kiểm soát các tài sản có giá trị lên tới 3.628 tỷ kronor Thụy Điển (khoảng 560 triệu USD). Theo luật, Quỹ bao gồm một hội đồng quản trị của năm công dân Thụy Điển hay Na Uy, với trụ sở tại Stockholm. Chủ tịch Hội đồng quản trị được Vua Thụy Điển bổ nhiệm, với bốn thành viên khác do ủy thác của các tổ chức trao giải thưởng bổ nhiệm. Một giám đốc điều hành được lựa chọn trong số các thành viên hội đồng quản trị, Phó giám đốc được Vua Thụy Điển bổ nhiệm, và hai phó chủ tịch được bổ nhiệm do người được ủy thác. Tuy nhiên, kể từ năm 1995, tất cả các thành viên của hội đồng quản trị được lựa chọn bởi các ủy viên quản trị; Giám đốc điều hành và các Phó Giám đốc chỉ định bởi chính hội đồng quản trị. Cũng như hội đồng quản trị, Quỹ Nobel được tạo thành từ các tổ chức trao giải (Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển, Đại hội đồng Nobel tại Viện Karolinska, Viện Hàn lâm Thụy Điển, và các Ủy ban Nobel Na Uy), người được ủy thác của các tổ chức trên, và các kiểm toán viên. == Huy chương Nobel == Huy chương Nobel làm bằng 150 gram vàng 18 ca-ra chạm hình Alfred Nobel. Mặt sau của tấm huy chương giải Nobel Vật lý và Hóa học là hình một phụ nữ để ngực trần. Một số tấm huy chương Nobel đã được chủ nhân mang ra bán đầu giá. Tấm huy chương Nobel Hòa bình được bán rẻ nhất trong đấu giá đó là của Aristide Briand, người Pháp đã có đóng góp lớn trong năm 1926 vào cuộc hoà hợp ngắn ngủi Đức – Pháp. Năm 2008 huy chương Nobel này được bảo tàng Ecomusée của Saint-Nazaire mua về với khoản tiền, 12 nghìn euro. Khá hơn một chút, huy chương Nobel Hoà bình của người Anh William Randal Cremer vinh danh năm 1903 đã bán với giá 17.000 đô la tại một cuộc đấu giá năm 1985. Từ năm 2014, việc bán huy chương Nobel trở nên phổ thông. Cho tới giờ 8 huy chương đã được bán kể từ đó. Cũng về giải Nobel Hoà bình, tấm huy chương của người Bỉ Auguste Beernaert (được trao năm 1909) đã đạt tới giá 661 nghìn đô la và huy chương Nobel của Carlos Saavedra Lamas, người Argentina, nhận năm 1936, thậm chí đã tìm được người mua với giá kỷ lục 1,16 triệu đô la. Kỷ lục hiện nay là huy chương của James Watson, người Mỹ được nhận giải nobel Y học năm 1962 cho những phát hiện ra cấu trúc ADN. Ông đã bán được tấm huy chương Nobel của mình với giá 4,76 triệu đô la hồi tháng 12/2014. Trong khi đó chỉ trước đó có 20 tháng, những người được thừa kế của nhà khoa học Anh Francis Crick, nhận chung Nobel Y học với James Watson, lại chỉ bán được tấm huy chương với giá chưa bằng một nửa. == Những tranh cãi và phê bình == === Những người nhận gây tranh cãi === Trong những lời chỉ trích, Ủy ban Nobel đã bị cáo buộc là có những chương trình nghị sự mang tính chất chính trị hoặc bỏ qua những người xứng đáng. Họ cũng bị cáo buộc bởi chủ nghĩa trung dung châu Âu, nhất là trong Giải Nobel Văn học. ==== Giải Nobel Hòa bình ==== Một trong những trường hợp bị chỉ trích nhiều nhất là giải thưởng của Henry Kissinger và Lê Đức Thọ. Những tranh cãi nãy đã dẫn đến sự ra đi của nhiều thành viên của Ủy ban Nobel Na Uy. Lê Đức Thọ đã từ chối nhận giải. Cả Lê Đức Thọ và Kissinger đều được nhận giải vì những nỗ lực chấm dứt chiến tranh giữa Bắc Việt và Hoa Kỳ vào tháng 1 năm 1973. Tuy nhiên, khi giải thưởng của hai ông được tuyên bố, tất cả các bên liên quan đến chiến tranh Việt Nam đều bị kéo vào vòng chiến tranh. Nhiều ý kiến chỉ trích cho rằng Kissinger không phải là một người kiến tạo hòa bình mà là một người mở rộng cuộc chiến tranh. Yasser Arafat, Shimon Peres và Yitzhak Rabin được trao giải Nobel Hòa bình vào năm 1994 trong những nỗ lực kiến tạo hòa bình giữa Israel và Palestine. Tức thì sau khi giải thưởng được tuyên bố, một trong năm thành viên của Ủy ban Nobel Na Uy đã cáo buộc Arafat là một tên khủng bố và xin từ chức. Những mối nghi ngờ mới về Arafat đã được lan truyền trên các trang báo phổ biến. Một sự chỉ trích khác nhằm vào giải Nobel Hòa bình của Barack Obama vào năm 2009. Quyết định trao giải thưởng cho vị Tổng thống Mỹ da màu đầu tiên được đưa ra chỉ sau 7 ngày Obama nhậm chức, nhưng thực sự thì việc trao giải phải diễn ra 8 tháng sau đó. Obama tuyên bố ông không cảm thấy xứng đáng với giải thưởng này. Chuyện này đã gây ra hai luồng ý kiến khác nhau: một số người cho rằng Obama xứng đáng, số khác thì cho rằng ông chưa đạt được thành tựu nào để xứng đáng với điều đó như là một sự tưởng thưởng. Giải Nobel của ông, như của Jimmy Carter và Al Gore đã thúc đẩy sự những tố cáo của những người cánh tả. ==== Giải Nobel Văn học ==== Giải thưởng năm 2004 được trao cho Elfriede Jelinek và nó đã gây ra một sự phản đối từ một thành viên của Viện hàn lâm Thụy Điển, Knut Ahnlund. Ông này quyết định từ chức, viện cớ rằng những ngôn từ của Jelinek là "một mớ văn bản được xúc vào mà không có các cấu trúc nghệ thuật". Giải thưởng năm 2009 dành cho Herta Müller cũng gây ra sự chỉ trích. Theo The Washington Post, những nhà phê bình và giáo sư người Mỹ đã trở nên ngu dốt vì tác phẩm vì tác phẩm của bà. Nó làm cho những nhà phê bình đó giải thưởng mang tính chất chủ nghĩa trung dung châu Âu. ==== Giải Nobel dành cho khoa học ==== Năm 1948, nhà thần kinh học António Egas Moniz nhận Giải Nobel Sinh lý và Y khoa cho những phát triển của ông cho phẫu thuật tủy não. Năm trước, Walter Jackson Freeman II đã phát triển lĩnh vực này bằng một giải pháp nhanh hơn và dễ dàng hơn. Một phần của vấn đề là do khi công bố rộng rãi quy trình ban đầu, nó đã được mà không có sự cân nhắc xứng đáng hay sự quan tâm của đạo đức y học hiện đại. Có một sự thực được chứng thực bởi các ấn phẩm có ảnh hưởng như The New England Journal of Medicine rằng phẫu thuật tủy não đã được phổ biến khi có đến 5000 ca phẫu thuật trong vòng 3 năm và các ca này đều sử dụng phương pháp của Moniz. === Những thành tựu đã bị bỏ qua === ==== Giải Nobel Hòa bình ==== Ủy ban Nobel Na Uy đã xác nhận rằng Mahatma Gandhi xứng đáng là người được nhận giải thưởng Nobel Hòa bình trong các năm 1937-1939 và 1947. Sự xác nhận cuối cùng chỉ diễn ra vài ngày trước khi người anh hùng dân tộc của Ấn Độ bị ám sát vào ngày 30 tháng 1 năm 1948. Sau đó, Ủy ban trên đã xác nhận Gandhi đã không được nhận giải thưởng. Geir Lundestad, thư ký của Ủy ban vào năm 2006, đã nói rằng: Năm 1948, khi Gandhi qua đời, Ủy ban Nobel Na Uy đã từ chối ý định trao giải với ý rằng "không ứng viên nào xứng đáng" trong năm đó. Sau đó, khi Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 được trao Giải Nobel Hòa bình vào năm 1989, chủ tịch của ủy ban đã nói rằng "đó là một sự tri ân dành cho Mahatma Gandhi". Ngoài ra, có rất nhiều trường hợp khác đã bị bỏ qua. Theo Foreign Policy, những trường hợp như vậy gồm Eleanor Roosevelt, Václav Havel, Ken Saro-Wiwa, Sari Nusseibeh và Corazon Aquino, những người mà "không bao giờ được trao giải, nhưng họ xứng đáng". == Tham khảo == == Sách tham khảo == == Xem thêm == == Đọc thêm == Pais, Abraham (1983). Subtle Is the Lord: The Science and the Life of Albert Einstein . Oxford University Press. ISBN 0-19-520438-7. OCLC 8195995. == Liên kết ngoài == Official Website Nobel Prizes by Universities and Institutes
californi.txt
Californi là một nguyên tố hóa học kim loại tổng hợp có tính phóng xạ, thuộc nhóm actini, có ký hiệu Cf và số nguyên tử là 98. Nguyên tố được tạo ra đầu tiên ngày 17 tháng 3 năm 1950 bằng cách bắn phá hạt nhân curi bởi các hạt alpha (các ion heli) tại Đại học California, Berkeley. Đây là nguyên tố siêu urani thứ sáu được tổng hợp, và là một trong các nguyên tố có khối lượng nguyên tử cao nhất. Tên gọi của nó được đặt theo tên của tiểu bang và trường đại học California. Californi chủ yếu được sử dụng trong một số ứng dụng tận dụng các ưu thế của nó như phát xạ neutrong mạnh. Ví dụ, trong khởi động các lò phản ứng hạt nhân, trị ung thư, và phát hiện chất nổ và độ mỏi kim loại. Nó cũng được sử dụng trong khai thác dầu bằng việc đo carota giếng khoan, tối ưu hóa các nhà máy phát điện dùng than, và các cơ sở sản xuất xi măng. Nguyên tố 98 được tổng hợp bằng cách bắn phá hạt nhân californi-249 bằng các ion canxi-48. == Đặc điểm == Californi là một kim loại actini màu trắng bạc tồn tại ở ba dạng. Nguyên tố này bị mờ xỉ chậm trong không khí ở nhiệt độ phòng, và tốc độ tăng dần khi độ ẩm tăng. Các tính chất hóa học của nó được dự đoán là tương tự với dysprosi và nó có hóa trị là 4, 3, 2. Californi phản ứng khi nung nóng với hydro, nitơ hoặc chalcogen và bị ôxy hóa khi nung nóng trong không khí; các phản ứng với các hydrit khô và dung dịch axit vô cơ diễn ra nhanh. Californi-252 (chu kỳ bán rã 2,645 năm) phát xạ neutron rất mạnh và gây nguy hiểm. Một microgram phát xạ liên tục 2,314 triệu neutron/giây và một gam phát ra 39 watt nhiệt. Californi 249 được tạo ra từ phân rã beta của berkeli-249 và hầu hết các đồng vị californi khác được tạo ra từ berkeli bức xạ neutron mạnh trong lò phản ứng hạt nhân. Californi phá vỡ khả năng tạo hồng cầu của cơ thể thông qua tích lũy sinh học trong mô xương. Nguyên tố này không đóng vai trò sinh học quan trọng trong bất kỳ cơ thể sinh vật nào do độ phóng xạ mạnh và có nồng độ thấp trong môi trường. Nguyên tố này có hai dạng kết tinh: dạng α sáu phương kép đóng kín tồn tại dưới 900 °C với mật độ 15,10 g/cc và β lập phương tâm mặt mặt độ 8,74 g/cc. Californi kim loại chưa được điều chế. Chỉ có californi-249 là thích hợp cho nghiên cứu hóa học. == Hóa học == Có ít hợp chất californi được tạo ra và nghiên cứu. Ion californi duy nhất ổn định trong dung dịch là cation Cf(III). Hai trạng thái ôxy hóa khác là IV (chất ôxy hóa mạnh) và II. Nếu các vấn đề tồn tại của nguyên tố có thể giải quyết được thì CfBr2 và CfI2 có thể là ổn định. Trạng thái ôxy hóa III đặc trưng cho californi(III) ôxít (vàng lục, Cf2O3), californi(III) florua (lục sáng, CfF3) và californi(III) iốt (vàng chanh, CfI3). Các trạng thái ôxy hóa +3 khác là dạng sulfide và Cp3Cf. Californi(IV) ôxít (nâu đen, CfO2), californi(IV) florua (lục, CfF4) đặc trưng cho trạng thái ôxy hóa IV. Trạng thái II được đặc trưng bởi californi(II) bromua (vàng, CfBr2) và californi(II) iốtua (tím sẫm, CfI2). Californi (III) clorua (CfCl3) là hợp chất màu lục emerald theo cấu trúc sáu phương và có thể được điều chế bằng cách cho Cf2O3 phản ứng với axít clohydric ở 500 °C. sau đó CfCl3 được dùng để tạo ra tri-iốtua màu vàng cam CfI3, chất này có thể bị giảm từ từ thành di-iốtua màu tím-oải hương CfI2. Nung nóng sulfat trong không khí ở khoảng 1200 °C và sau đó giảm ôxy hóa với hydro ở 500 °C tạo ra sesquioxide (Cf2O3). Hiđrôxít Cf(OH)3 và triflorua CfF3 có khả năng hòa tan nhỏ. == Tham khảo == == Tài liệu == Cotton, F. Albert; Wilkinson, Geoffrey; Murillo, Carlos A.; Bochmann, Manfred (1999). Advanced Inorganic Chemistry (ấn bản 6). New York: John Wiley & Sons, Inc. ISBN 0-471-199957-5 . CRC contributors (2006). David R. Lide, biên tập. Handbook of Chemistry and Physics (ấn bản 87). Boca Raton, Florida: CRC Press, Taylor & Francis Group. ISBN 0-8493-0487-3. Cunningham, B. B. (1968). “Californium”. Trong Clifford A. Hampel (editor). The Encyclopedia of the Chemical Elements. New York: Reinhold Book Corporation. LCCN 68-29938. Emsley, John (2001). “Californium”. Nature's Building Blocks: An A-Z Guide to the Elements. Oxford, England, UK: Oxford University Press. ISBN 0198503407. Greenwood, N. N.; Earnshaw, A. (1997). Chemistry of the Elements (ấn bản 2). Oxford: Butterworth-Heinemann. ISBN 0-7506-3365-4. Heiserman, David L. (1992). “Element 98: Californium”. Exploring Chemical Elements and their Compounds. New York: TAB Books. ISBN 0-8306-3018-X. Jakubke, Hans-Dieter; Jeschkeit, Hans biên tập (1994). Concise Encyclopedia Chemistry. trans. rev. Eagleson, Mary. Berlin: Walter de Gruyter. ISBN 0-89925-457-8. NNDC contributors (2008). Alejandro A. Sonzogni (Database Manager), biên tập. “Chart of Nuclides”. Upton, New York: National Nuclear Data Center, Brookhaven National Laboratory. Truy cập ngày 1 tháng 3 năm 2010. O'Neil, Marydale J.; Heckelman, Patricia E.; Roman, Cherie B. biên tập (2006). The Merck Index: An Encyclopedia of Chemicals, Drugs, and Biologicals (ấn bản 14). Whitehouse Station, NJ, USA: Merck Research Laboratories, Merck & Co., Inc. ISBN 0-911910-00-X. Osborne-Lee, I.W.; Alexander, C. W. (1995). “Californium-252: A Remarkable Versatile Radioisotope”. Oak Ridge Technical Report ORNL/TM-12706. doi:10.2172/205871. Weeks, Mary Elvira; Leichester, Henry M. (1968). “21: Modern Alchemy”. Discovery of the Elements. Easton, PA: Journal of Chemical Education. tr. 848–850. LCCCN 68-15217. == Liên kết ngoài == WebElements.com - Californium NuclearWeaponArchive.org - Californium It's Elemental - Californium Hazardous Substances Databank – Californium, Radioactive
phương pháp chuyển tự wylie.txt
Phương pháp chuyển tự Wylie là một phương pháp chuyển tự được dùng để biến các văn kiện đã được viết dưới dạng hoa văn của tiếng Tây Tạng sang dạng dùng các ký tự Latinh. Turrell Wylie là người đã hoàn thiện phương pháp này vào năm 1959, và từ đó phương pháp chuyển tự Wylie đã trở thành một chuẩn của các người nghiên cứu về văn học và ngôn ngữ Tây Tạng. == Bảng chuyển tự == == Xem thêm == Ký tự Tây Tạng == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Wylie, Turrell (1959). A Standard System of Tibetan Transcription. Harvard Journal of Asiatic Studies, p. 261-267 (Các liên kết sau cần font tiếng Tây Tạng) The Wylie Translation Table, at Nitartha International THDL Extended Wylie Transliteration Scheme Online Transliterator (converts Wylie or ACIP transliteration to graphics)
thori.txt
Thori là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Th và số hiệu nguyên tử 90 trong bảng tuần hoàn. Thori là một trong 3 kim loại phóng xạ xuất hiện trong tự nhiên với số lượng lớn ở dạng nguyên thủy (hai nguyên tố còn lại là bismuth và urani. Thori được nhà khoáng vật học người Na Uy Morten Thrane Esmark phát hiện năm 1828 và được xác định bởi nhà hóa học Thụy Điển Jöns Jakob Berzelius, ông đã đặt tên nó theo Thor, Norse god của sấm. Trong tự nhiên, thori là một kim loại phóng xạ thấp, và cũng được xem là một nguyên liệu hạt nhân thay thế cho urani. == Tính chất == === Vật lý === Thori nguyên chất là một kim loại có ánh bạc, bền trong không khí và giữ được ánh của nó trong khoảng vài tháng. Khi lẫn với ôxít, thori bị mờ đi từ từ trong không khí và chuyển sang màu xám và cuối cùng là đen. Các tính chất vật lý của thori chịu ảnh hưởng lớn bởi mức độ lẫn với ôxít. Các loại tinh khiết nhất thường chứa khoảng 10% lượng ôxít. Thori nguyên chất mềm, dễ uốn và có thể cuộn tròn ở trạng thái lạnh (không cần gia nhiệt), rập nóng và kéo dài. Thori có hai kiểu cấu trúc và chúng biến đổi ở 1400 °C từ lập phương sang lập phương tâm khối. Bột thori thường tự bốc cháy do vậy nên cẩn thận khi cầm chúng. Khi nung nóng trong không khí, kim loại thori phát cháy và có ngọn lửa sáng màu trắng. Xem Actinit trong môi trường để biết thêm chi tiết về thori. === Hóa học === Thori phản ứng rất chậm với nước nhưng không phải lúc nào cũng tan trong axít thường trừ axít clohidrit. Nó hòa tan trong axít nitric đậm đặc với một ít chất xúc tác là ion Flo. Các hợp chất của thori thường bền ở trạng thái ôxi hóa +4. === Hợp chất === Thori điôxit được sử dụng làm chất ổn định trong các điện cực tungsten trong kỹ thuật hàn khí trơ tungsten, ống điện, động cơ máy bay. Nó nóng chảy ở 3300 °C là giá trị cao nhất trong tất cả các ôxít. Thori(IV) nitrat và thori(IV) florua thường có các dạng hydrat như: Th(NO3)4.4H2O và ThF4.4H2O. Tâm thori nằm trong mặt phẳng phân tử hình vuông. Thori(IV) cacbonat, Th(CO3)2 cũng tương tự. Khi xử lý với natri florua và axít clohiđric, Th4+ tạo thành ion phức ThF62−, và có thể kết tủa ở dạng muối không tan K2ThF6. Thori(IV) hyđroxit, Th(OH)4, không tan trong nước, cũng không là chất lưỡng tính. Perôxít của thori rất hiếm ở dạng chất rắn không tan. Tính chất này có thể dùng để tách thori ra khỏi các ion khác trong dung dịch. Nếu có mặt các ion phốtphát, Th4+ sẽ kết tủa thành nhiều hợp chất khác nhau và là các hợp chất không tan trong nước và các dung dịch axít. == Sản xuất == Thori được tách ra chủ yếu từ monazit: thori diphosphat (Th(PO4)2) cho phản ứng với axit nitric, và thori nitrat thu được đem xử lý với tributyl phosphat. Các nguyên tố đất hiếm lẫn tạp chất được tách ra bằng cách điều chỉnh pH trong dung dịch sulfat. Một phương pháp tách khác là monazit được phân rã trong dung dịch chứng 45% natri hydroxit ở 140 °C. Hỗn hợp hydroxit kim loại được tách ra đầu tiên, được lọc ở 80 °C, rửa sách bằng nước và cho hòa tan vào axit hydrochloric đậm đặc. Sau đó, dung dịch axit được trung hòa với hydroxit để đạt đến pH = 5,8, mức mà tạo kết tủa thori hydroxit (Th(OH)4) chứa khoảng ~3% hydroxit đất hiếm; các hydroxit đất hiếm còn lại vẫn nằm trong dung dịch. Thori hydroxit đem hòa tan trong axit vô cơ và sau đó tách ra khỏi các nguyên tố đất hiếm. Một phương pháp hiệu quả là sự hòa tan thori hydroxit trong axit nitric, so dung dịch tạo thành có thể được làm tinh khiết bằng cách chiết tách với các dung môi hữu cơ: Th(OH)4 + 4 HNO3 → Th(NO3)4 + 4 H2O Thori kim loại được tách ra từ anhydrous oxit hoặc clorua bằng cách phản ứng với canxi trong không khí trơ: ThO2 + 2 Ca → 2 CaO + Th Đôi khi thori được tách ra bằng phương pháp điện phân florua trong hỗn hợp natri và kali clorua ở 700–800 °C trong nồi bằng than chì. Thori độ tinh khiết cao có thể được tách ra từ iotua của nó với quá trình hình thành thanh tinh thể. == Ứng dụng == Một số ứng dụng của thori như: Thori là một nguyên tố trong hợp kim với magiê, dùng trong các động cơ máy bay, nhằm tăng độ bền và chống lại biến dạng trườn ở nhiệt độ cao. Thori cũng là chất trong hợp kim kỹ thuật hàn cung tungsten khí (GTAW) để tăng nhiệt độ nóng chảy của các điện cực tungsten và tăng độ bền mối hàn. Thori được phủ lên dây kim loại tungsten trong các thiết bị điện nhằm làm tăng truyền nhiệt qua điện tích của catốt bị nung nóng. Định tuổi Urani-thori được dùng để xác định tuổi hóa thạch họ người. Thori được dùng để bổ sung thêm trong quá trình sản xuất nguyên liệu hạt nhân. Đặc biệt đối với các lò phản ứng khuếch đại năng lượng được thiết kế với mục đích sử dụng thori. Khi thori nhiều hơn urani, một số mẫu lò phản ứng hạt nhân kết hợp thori vào chu trình nguyên liệu của chúng. Thori cũng được sử dụng trực tiếp làm nguyên liệu hạt nhân giống như urani, vì nó tạo ra ít chất thải phóng xạ nguyên tử lớn. Thori là tấm chắn phóng xạ rất hiệu quả, mặc dù nó chưa bao giờ được sử dụng vào mục đích này so với chì. Các ứng dụng của thori điôxít (ThO2): Lớp áo trong các đèn khí cầm tay. Các lớp áo này phát sáng rực rỡ với các tia sáng chói (không liên quan đến phóng xạ) khi nung nóng bằng ngọn lửa khí. Sử dụng trong các điện cực kỹ thuật hàn cung tungsten khí. Sử dụng để điều khiển kích thước hạt của tungsten dùng trong các bóng đèn điện. Sử dụng trong gốm cách nhiệt giống như các nồi nấu kim loại nhiệt độ cao trong phòng thí nghiệm. Thêm vào thủy tinh, nó giúp tạo ra thủy tinh có hệ số khúc xạ cao và tán xạ thấp. Ngoài ra chúng còn được sử dụng làm các thấu kính của camera và thiết bị khoa học. Sử dụng làm chất xúc tác: Chuyển amoniac thành axít nitric. Trong các phản ứng cracking dầu mỏ. Sản suất axít sulfuric. Thori điôxít là chất hoạt động của Thorotrast, sử dụng như là một phần của chẩn đoán bằng tia X. Ứng dụng này đã bị hủy bỏ bởi vì Thorotrast tự nhiên có thể gây ung thư. == Xem thêm == David Hahn, người đã tạo ra một lượng nhỏ vật liệu có thể phân hạch hạt nhân. Lò phản ứng hạt nhân Chuỗi phân rã phóng xạ == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Los Alamos National Laboratory — Thorium WebElements.com — Thorium The World Nuclear Association European Nuclear Society — Natural Decay Chains often-quoted article by Michael Anissimov advocating adopting Thorium reactors == Liên kết ngoài == Thorium information page New Age Nuclear: article on thorium reactors | Cosmos Magazine ATSDR ToxFAQs — Thorium USGS data — Thorium Thorium as a Secure Nuclear Fuel Alternative The Endless Refrigerator/Freezer Deodorizer, a commercial product which claimed to destroy odours 'forever.' Made with thorium-232. Is thorium the answer to our energy crisis? Thorium Energy Blog, discussion forum and document repository Another thorium information page Monazite
hiệp hội bóng đá bắc ireland.txt
Hiệp hội đoàn bóng đá Bắc Ireland là tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động bóng đá ở Bắc Ireland. Hiệp hội quản lý đội tuyển bóng đá quốc gia nam và nữ, tổ chức các giải bóng đá như vô địch quốc gia và cúp quốc gia. Hiệp hội bóng đá Bắc Ireland gia nhập FIFA năm 1911 và UEFA năm 1954. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ của Hiệp hội
praseodymi.txt
Praseodymi (tên Latinh: Praseodymium) là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Pr và số nguyên tử là 59. == Đặc trưng == Praseodymi là một kim loại mềm màu trắng bạc thuộc về nhóm Lantan. Nó có khả năng chống ăn mòn trong không khí tốt hơn một chút so với europi, lantan, xeri hay neodymi, nhưng nó phát triển một lớp che phủ bằng ôxít màu xanh lục dễ bở vụn ra khi bị lộ ra ngoài không khí, làm cho nó tiếp tục bị ôxi hóa. Vì lý do này, praseodymi nên được lưu trữ trong dầu khoáng nhẹ hay trong lọ đậy kín. Trong các dạng hợp chất của nó, praseodymi thường có trạng thái ôxi hóa +3 và/hoặc +4. Praseodymi (IV) là một chất ôxi hóa mạnh, nhanh chóng ôxi hóa nước thành ôxy nguyên tố dạng phân tử hay axít clohiđríc thành clo nguyên tố. Vì thế, trong dung dịch lỏng, chỉ có trạng thái ôxi hóa +3 là hay bắt gặp. Các muối praseodymi (III) có màu vàng-lục, và trong dung dịch, tồn tại trong phổ hấp thụ tương đối đơn giản trong khoảng nhìn thấy, với một dải nằm trong khoảng vàng-da cam ở bước sóng 589-590 nm (trùng với bức xạ kép của natri) và ba dải nằm trong khu vực lam/tím, ở bước sóng xấp xỉ 444, 468 và 482 nm. Các vị trí này biến động nhẹ với phản-ion. Ôxít praseodymi, thu được bởi đốt cháy các muối như oxalat hay cacbonat trong không khí, có màu đen (với dấu vết màu nâu hay lục) và chứa praseodymi +3 cùng +4 theo một tỷ lệ hơi biến thiên, phụ thuộc vào điều kiện hình thành. Công thức của nó thường được coi gần đúng là Pr6O11. == Ứng dụng == Các công dụng của praseodymi: Như là tác nhân tạo hợp kim với magiê để tạo ra các hợp kim có sức bền cao dùng trong động cơ máy bay. Praseodymi tạo thành phần lõi của các đèn hồ quang dùng trong chiếu bóng và các loại đèn chiếu. Các hợp chất của praseodymi tạo cho thủy tinh và men thủy tinh màu vàng. Praseodymi được dùng để tạo cho zirconia lập phương màu vàng-lục để giả lập peridot. Praseodymi là thành phần của thủy tinh didymi, được sử dụng để làm một số loại kính an toàn nhất định dùng trong nghề hàn và thổi thủy tinh. Praseodymi trộn với các tinh thể silicat được dùng để làm chậm xung ánh sáng xuống vài trăm mét trên giây. Praseodymi tạo hợp kim với niken (PrNi5) có hiệu ứng từ nhiệt đủ mạnh cho phép các nhà khoa học tiếp cận trong phạm vi một phần nghìn của nhiệt độ 0 tuyệt đối. Kích thích tạp praseodymi trong thủy tinh florua cho phép nó được sử dụng như là sợi khuếch đại quang học chế độ đơn (PDFA, xem thêm EDFA). Ôxít praseodymi trong dung dịch rắn với xeria hay với xeria-zirconia được sử dụng như là chất xúc tác ôxi hóa. == Lịch sử == Tên gọi praseodymi có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp prasios nghĩa là xanh lục và didymos nghĩa là đôi, kép. Năm 1841, Mosander đã tách ra loại đất hiếm didymi từ lantana. Năm 1874, Per Teodor Cleve kết luận rằng didymi trên thực tế là hai nguyên tố và năm 1879, Lecoq de Boisbaudran đã cô lập được một nguyên tố đất hiếm mới là samari từ didymi thu được từ khoáng vật samarskit. Năm 1885, nhà hóa học người Áo là nam tước Carl Auer von Welsbach đã tách didymi thành hai nguyên tố, là praseodymi và neodymi, với các muối của chúng có màu sắc khác biệt. Leo Moser (con trai của Ludwig Moser, người sáng lập ra Moser Glassworks ở khu vực ngày nay là Karlovy Vary, Bohemia, Cộng hòa Séc, không nhầm với Leo Moser, một nhà toán học) đã nghiên cứu việc sử dụng praseodymi trong tạo màu thủy tinh vào cuối thập niên 1920. Kết quả là loại thủy tinh màu vàng-lục có tên gọi "Prasemit". Tuy nhiên, màu tương tự có thể thu được với các chất tạo màu có giá thành chỉ bằng một phần nhỏ giá thành của praseodymi vào cuối thập niên đó, do vậy kính màu với chất tạo màu là praseodymi đã không phổ biến, chỉ một vài miếng đã được tạo ra và các mẫu kính này hiện nay là rất hiếm. Moser cũng pha trộn praseodymi với neodymi để sản xuất thủy tinh "Heliolit", được chấp nhận rộng rãi hơn. Sử dụng thương mại kéo dài đầu tiên của praseodymi, còn tiếp tục cho tới nay, là trong dạng thuốc màu vàng-da cam cho gốm sứ, tức "vàng Praseodymi", là dung dịch rắn của praseodymi trong lưới tinh thể silicat ziriconi (ziricon). Thuốc màu này không có vết màu xanh lục trong nó. Ngược lại, khi có một lượng đủ cao thì thủy tinh praseodymi lại có màu xanh lục đặc trưng chứ không phải màu vàng thuần khiết. Sử dụng các phương pháp chia tách kinh điển, praseodymi luôn luôn là rất khó để làm tinh khiết. Ít phổ biến hơn so với lantan và neodymi mà từ đó nó được tách ra (xeri đã được loại bỏ bằng phản ứng ôxi hóa khử), praseodymi cuối cùng bị phân tán trong một lượng lớn các phần nhỏ, và hiệu suất thu được của vật liệu tinh chế là rất thấp. R. J. Callow đưa ra một hệ thống tinh chế sử dụng kết tinh nitrat amoni kép, bằng cách đó các nguyên tố đất hiếm trong monazit (trong các điều kiện trạng thái dừng, sử dụng việc tái chế thích hợp các phần nhỏ hỗn tạp) cung cấp 10% hàm lượng đất hiếm như là phần chứa 40% praseodymi. Vào cuối thập niên 1950, Lindsay Chemical Division của American Potash and Chemical Corporation, vào thời gian đó là nhà sản xuất lớn nhất các kim loại đất hiếm trên thế giới, đưa ra các muối praseodymi, được làm tinh khiết theo cách này, ở các cấp 30% và 45%. Rẻ nhất trong số này là các nitrat amoni kép, trực tiếp từ hệ thống tinh lọc: 30%: $6,30/lb. ($3,85/lb. cho các lượng 50-lb.) hoặc 45%: $8,20/lb. ($4,95/lb. cho các lượng 50-lb.). Mức giá cho 1 pao các ôxít tương ứng là 22,50 và 29,90 cho 2 cấp tinh khiết. Dây chuyền sản xuất này nhanh chóng bị biến mất từ các bảng giá và được thay thế bằng praseodymi được tinh chế theo phương pháp trao đổi ion. Vào năm 1959, ôxít praseodymi 99% có giá ở mức $40/lb. và phẩm cấp 99,9% có giá $50 mỗi pao, hay tương ứng là 20 hay 25 US cents mỗi gam, khi mua lượng nhỏ. Theo dòng lịch sử, praseodymi từng là nguyên tố đất hiếm mà việc cung cấp nó đã từng vượt quá nhu cầu. Điều này đôi khi dẫn tới giá cả mua bán nó rẻ hơn cả của neodymi, nguyên tố phổ biến hơn. Không mong muốn điều đó, phần nhiều praseodymi đã được tiếp thị như là hỗn hợp với lantan và xeri, hay "LCP" (viết tắt từ ba chữ cái đầu tiên trong tiếng Latinh để chỉ mỗi nguyên tố), để sử dụng thay thế cho các hỗn hợp các nguyên tố nhóm lantan truyền thống được tạo ra không quá đắt từ các khoáng vật monazit hay bastnaesit. LCP là những gì còn lại của những hỗn hợp như thế, sau khi neodymi mong muốn và tất cả các nguyên tố khác trong nhóm lantan nhưng nặng hơn, hiếm hơn và có giá trị hơn đã được chiết tách ra bằng chiết dung môi. Tuy nhiên, khi công nghệ tiến triển, praseodymi đã tìm được khả năng kết hợp trong các nam châm neodymi-sắt-bo, do đó mở rộng việc cung cấp của neodymi có nhu cầu nhiều hơn. Vì thế, như là kết quả của điều này, LC bắt đầu thay thế dần cho LCP. == Phổ biến == Praseodymi có sẵn ở lượng nhỏ trong lớp vỏ Trái Đất (9,5 ppm). Nó được tìm thấy trong các khoáng vật đất hiếm như monazit và bastnasit, thông thường chiếm khoảng 5% các nguyên tố nhóm lantan chứa trong đó, và có thể được phục hồi từ bastnasit hay monazit bằng công nghệ trao đổi ion hay bằng chiết dung môi ngược dòng. Praseodymi cũng chiếm khoảng 5% của misch metal. == Hợp chất == Các hợp chất của praseodymi bao gồm: Các florua: PrF2, PrF3, PrF4 Các clorua: PrCl3 Các bromua: PrBr3, Pr2Br5 Các iodua: PrI2, PrI3, Pr2I5 Các ôxít: PrO2, Pr2O3, Pr6O11 Các sulfua: PrS, Pr2S3 Các selenua: PrSe Các telurua: PrTe, Pr2Te3 Các nitrua: PrN Xem thêm hợp chất praseodymi. == Đồng vị == Praseodymi phổ biến trong tự nhiên là một đồng vị (Pr141) ổn định. Tuy vậy, 38 đồng vị phóng xạ cũng đã được nêu đặc trưng với các đồng vị ổn định nhất là Pr143 có chu kỳ bán rã 13,57 ngày và Pr142 có chu kỳ bán rã 19,12 giờ. Tất cả các đồng vị phóng xạ còn lại có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 5,985 giờ và phần lớn trong số này có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 33 giây. Nguyên tố này cũng có 6 trạng thái giả ổn định với ổn định nhất là Pr138m (t½ 2,12 giờ), Pr142m (t½ 14,6 phút) và Pr134m (t½ 11 phút). Các đồng vị của praseodymi có nguyên tử lượng nằm trong khoảng từ 120,955 u (Pr121) tới 158,955 u (Pr159). Phương thức phân rã chủ yếu trước đồng vị ổn định Pr141 là bắt điện tử còn phương thúc phân rã chủ yếu sau Pr141 là phân rã β−. Sản phẩm phân rã chủ yếu trước Pr141 là các đồng vị của nguyên tố 58 (xeri) còn sản phẩm phân rã chủ yếu sau Pr141 là các đồng vị của nguyên tố 60 (neodymi). == Phòng ngừa == Giống như mọi nguyên tố đất hiếm khác, praseodymi có độc tính từ nhẹ tới vừa phải. Praseodymi chưa được biết đến là có vai trò sinh học nào hay không. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Phòng thí nghiệm Quốc gia Hoa Kỳ Los Alamos – Praseodymi WebElements.com – Praseodymium It's Elemental – The Element Praseodymium
citizendium.txt
Citizendium là một dự án bách khoa toàn thư miễn phí bằng tiếng Anh dựa trên hình thức wiki do Larry Sanger sáng lập, người đã từng đồng sáng lập Wikipedia vào năm 2001. Đến ngày 27 tháng 10 năm 2011, trang web có ít hơn 100 thành viên hoạt động tích cực. Tính đến tháng 8 năm 2013, nó đã có 16.484 bài viết, trong đó 165 bài đã đạt được phê duyệt và khoảng 10 cộng tác viên thực hiện ít nhất 20 chỉnh sửa mỗi tháng. Biên tập viên quản lý là Anthony Sebastian, cho đến khi văn phòng bị bỏ trống vào năm 2016. == Tham khảo ==
indian wells masters.txt
Indian Wells Masters tên chính thức, BNP Paribas Masters (được đặt tên theo nhà tài trợ là ngân hàng BNP Paribas) là giải quần vợt ngoài trời được tổ chức hằng năm tại Indian Wells, California, Hoa Kỳ. Giải đấu được chơi trên sân cứng và là giải đấu quần vợt đông khán giả nhất ngoài bốn giải Grand Slam, với hơn 450 000 lượt khán giả (năm 2015). Giải thi đấu trên sân vận động quần vợt lớn thứ hai thế giới với hơn 16 100 chỗ ngồi. Từ tháng 12 năm 2009, Larry Ellison, Giám đốc điều hành và đồng sáng lập của Oracle, mua BNP Paribas Open và Indian Wells Tennis Garden để trở thành chủ sở hữu chính thức của giải. Giải đấu là sự kiện quần vợt nằm trong hệ thống 9 giải Masters 1000 thuộc ATP World Tour Masters 1000. Năm 2014 giải đấu được diễn ra từ ngày 6 đến ngày 17 tháng 3 với chức vô địch đơn nam thuộc về Novak Djokovic và vô địch đơn nữ thuộc về Flavia Pennetta‎. == Danh sách vô địch đơn nam == Dưới đây là danh sách nhà vô địch đơn nam từ năm 1974. == Danh sách vô địch đơn nữ == == Chú thích == == Tham khảo ==
yemen.txt
Yemen (phiên âm tiếng Việt: Y-ê-men; tiếng Ả Rập: اليَمَن al-Yaman), tên chính thức Cộng hòa Yemen (الجمهورية اليمنية al-Jumhūrīyah al-Yamanīyah), là một quốc gia nằm ở Tây Á, tọa lạc tại Nam bán đảo Ả Rập. Yemen là quốc gia lớn thứ nhì trên bán đảo, trãi rộng trên lãnh thổ 527.970 km2 (203,850 sq mi). Đường bờ biển dài khoảng 2.000 km (1,200 mi). Nó giáp Ả Rập Saudi về phía bắc, biển Đỏ về phía tây, vịnh Aden và biển Ả Rập về phía nam, và Oman về phía đông-đông bắc. Dù về mặt hình thức, thành phố Sana'a là thủ đô Yemen, thành phố đang nằm dưới sự điều khiển của phe đối lập từ tháng 2 năm 2015. Vì vậy, thủ đô Yemen hiện tạm thời là thành phố cảng Aden phía duyên hải miền nam. Yemen có hơn 200 hòn đảo; lớn nhất trong đó là Socotra. == Địa lý == Yemen nằm trong thế giới Ả Rập, trong nửa phía nam của bán đảo Ả Rập, giáp biển Ả Rập, vùng vịnh Aden, và Biển Đỏ. Nó nằm ở phía nam của Ả Rập Xê Út và phía tây của Oman, giữa vĩ độ 12° và 19°B và kinh độ 42° và 55°Đ. Một số các đảo Biển Đỏ, bao gồm cả quần đảo Hanish, Kamaran, và Perim, cũng như Socotra ở Biển Ả Rập, thuộc về Yemen. Nhiều số đảo trong số các đảo là núi lửa, ví dụ Jabal al-Tair đã có một vụ phun trào núi lửa trong năm 2007 và trước đó vào năm 1883. Với tổng diện tích 527.970 km2 (203.850 dặm vuông), Yemen là quốc gia lớn thứ 49 thế giới về diện tích. Quốc gia này có diện tích ngang với Thái Lan và tiểu bang California. Cho đến khi ký kết hiệp ước hòa bình Yemen, Ả Rập Xê Út trong tháng bảy 2000 biên giới phía bắc của Yemen đã xác định; sa mạc Ả Rập ngăn chặn bất kỳ sinh sống của con người ở đó. Đất nước này có thể được chia thành bốn vùng địa lý chính: đồng bằng ven biển ở phía tây, vùng cao nguyên phía tây, vùng cao nguyên phía đông, và al Rub al Khali ở phía đông. == Lịch sử == Từ thời Cổ đại, vùng này đã có những mối quan hệ với các nền văn minh Lưỡng Hà, văn minh Ba Tư và văn minh Ấn Độ. Xứ sở này được Hồi giáo hóa và thuộc quyền kiểm soát của triều đại Abbasid từ thế kỉ 7. Từ năm 1508 đến năm 1648, lãnh thổ do người Bồ Đào Nha kiểm soát, sau đó lại rơi vào tay người Thổ Nhĩ Kỳ thuộc đế quốc Ottoman, nhưng đến năm 1741 Ahmah ibn Sa'id đã đánh đuổi người Thổ Nhĩ Kỳ. Hậu duệ của Quốc vương (Sultan) Ahmah cai trị Oman đến ngày nay. Quốc gia này sớm phát triển về lãnh vực thương mại nhờ vị trí địa lý thuận lợi, có ảnh hưởng rộng lớn khắp các vùng tại vịnh Ba Tư và một số vùng ven biển ở phía đông châu Phi trong hai thế kỉ 17 và 18. Từ thế kỉ 19, Oman liên kết chặt chẽ với Anh thông qua hiệp ước ký kết năm 1891. Năm 1920, lợi dụng sự sụp đổ của đế quốc Ottoman, Bắc Yemen tuyên bố độc lập và các Imam (Giáo trưởng Hồi giáo) duy trì quyền cai trị đến năm 1962. Trong khi đó, Nam Yemen vẫn thuộc quyền bảo hộ của đế quốc Anh cho đến năm 1967. === Bắc Yemen === (Cộng hòa Ả Rập Yemen) Năm 1962, cuộc đảo chính quân sự được sự trợ giúp của Ai Cập đã lật đổ vị Giáo trưởng Hồi giáo với sự ra đời của nền cộng hòa. Phái bảo hoàng, do Ả Rập Xê Út yểm trợ, đã tiến hành cuộc chiến chống lại những người cộng hòa và quân đội Viễn chinh Ai Cập. Năm 1972, cuộc chiến tranh giữa hai miền Yemen bùng nổ và kết thúc bằng một hiệp ước dự kiến thống nhất đất nước nhưng vẫn không có hiệu lực. Năm 1974, Đại tá Ibrahim al-Hamdi lên nắm quyền và thành công trong việc thực thi quyền lực của chính phủ trung ương trên toàn lãnh thổ Bắc Yemen. Cuộc mưu sát Tổng thống Cộng hòa Ả Rập Yemen (1978) đã dẫn đến việc cắt đứt các mối quan hệ ngoại giao, cuộc chiến tranh giữa hai nước lại bùng nổ. Trung tá Ali Abdullah Saleh được bổ nhiệm vào chức vụ Tổng thống. Năm 1980, Saleh kêu gọi sự giúp đỡ của Liên Xô, bất chấp áp lực từ Hoa Kỳ và Ả Rập Xê Út, cải thiện các mối quan hệ với Nam Yemen. Tái đắc cử năm 1983 và năm 1988, Saleh đã ký kết với Nam Yemen một hiệp ước nhằm thực hiện tiến trình thống nhất đất nước năm 1989 và có hiệu lực năm 1990. === Nam Yemen === (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Yemen) Từ năm 1962, Nam Yemen thuộc quyền bảo hộ của Anh. Cuộc đấu tranh, dưới sự lãnh đạo của Mặt trận giải phóng dân tộc, đã dẫn đến việc tuyên bố độc lập năm 1967. Năm 1970, Salim Ali Rubayyi xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa. Năm 1978, Rubayyi bị quân đội lật đổ. Ali Nasir Muhammad kiêm nhiệm lãnh đạo Đảng và Nhà nước. Năm 1986, Muhammad bị lật đổ và cuộc nội chiến kéo dài 15 ngày đã làm cho 12.000 người thiệt mạng. Abu Bakr al-Attas trở thành nhà lãnh đạo mới và tạo mối quan hệ thân thiện với Bắc Yemen. === Thống nhất === Sau cuộc họp thượng đỉnh tại Adan ngày 22 tháng 5 năm 1990, sau nhiều năm thương thuyết, hai vị nguyên thủ quốc gia cùng nhất trí thống nhất đất nước và tuyên bố thành lập Nhà nước Cộng hòa Yemen. Ali Saleh trở thành Tổng thống. Những căng thẳng giữa hai miền Nam và Bắc đã làm bùng nổ cuộc chiến tranh năm 1994. Chiến thắng của lực lượng miền Bắc củng cố thêm quyền lực Tổng thống và đảng do Saleh cầm quyền. == Chính trị == Yemen theo thể chế cộng hoà nghị viện, lấy Luật Hồi giáo Sharia làm cơ sở cho luật lệ hiện hành. Quốc hội 2 viện bao gồm Hội đồng Shura (111 ghế, do Tổng thống chỉ định), và Hạ viện (301 ghế, được bầu cử thông qua bỏ phiếu, nhiệm kỳ 6 năm). Ở Yemen hiện có trên 12 đảng, trong đó có các đảng chủ chốt: Đảng Đại hội nhân dân toàn quốc (miền Bắc), Đảng Cải cách Hồi giáo (miền Bắc), Đảng Baath xã hội Ả Rập thống nhất, Đảng Nasser thống nhất, Đảng Xã hội Chủ nghĩa Yemen là đảng trước đây có khuynh hướng Mác-xít (ở miền Nam). Hiện nay Chính phủ Yemen đang thực hiện chính sách cải cách chính trị, kinh tế, hoà giải và hoà hợp dân tộc. == Đối ngoại == Yemen là thành viên của Liên Hiệp Quốc, Liên đoàn Ả Rập, Phong trào không liên kết, Tổ chức Hội nghị Hồi giáo (OIC), UNESCO, FAO, G-77, IAEA, ILO, IMF, WHO, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), UNIDO…và là Quan sát viên của các nước Hội đồng Hợp tác vùng Vịnh (GCC). Yemen theo đuổi chính sách đối ngoại Không Liên kết, ưu tiên phát triển quan hệ với các nước Ả Rập; ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân Palestine. Tiếp tục duy trì quan hệ với các nước Đông Âu và các nước thuộc Liên Xô cũ. Tăng cường quan hệ với Mỹ, Nhật và Tây Âu nhằm tranh thủ vốn đầu tư và kỹ thuật. == Hành chính == Tính đến tháng 2 năm 2004, Yemen được chia thành 20 vùng và 1 thành phố thủ đô. Hai mươi mốt vùng được chia thành tiếp 333 huyện (muderiah), sau đó được chia thành 2.210 huyện phụ thuộc (sub), và sau đó là 38.284 làng. == Văn hóa == == Kinh tế == Yemen là nước kém phát triển nhất Tây Á và kém phát triển trên thế giới. Địa hình khô cằn, sự ẩn náu của Al-Qaeda, không có mấy tài nguyên khoáng sản (dầu mỏ, khí đốt,...) và nạn tham nhũng khiến Yemen là một trong những nước nghèo trên thế giới. Nạn thất nghiệp gia tăng, chính phủ yếu kém, nạn đói,... nên Yemen phần lớn phải nhờ Hoa Kỳ hỗ trợ. Xét về thu nhập bình quân đầu người, Yemen là một trong những nước nghèo nhất so với các nước Ả Rập khác. Nền kinh tế Yemen dựa vào 3 nguồn chính là khai thác dầu lửa, sản xuất nông nghiệp và đánh cá. Dầu lửa có trữ lượng khoảng 4 tỷ thùng; sản xuất trung bình 402.500 thùng/ngày và tiêu thụ 128.000 thùng/ngày. Khí đốt trữ lượng 480 tỷ m³. Yemen đang cố gắng đa dạng hóa nguồn lợi thu về, không chỉ riêng dầu. Vì vậy, năm 2006 Yemen đã bắt đầu một chương trình cải cách kinh tế chú trọng vào các ngành kinh tế phi dầu mỏ và đầu tư nước ngoài. Kết quả của chương trình này, Yemen đã thu về khoảng 5 tỷ USD từ các dự án phát triển. Bên cạnh đó, những năm gần đây Yemen đã có sự tiến bộ trong việc cải cách các chính sách nhằm khuyến khích đầu tư nước ngoài. Hiện tại, tổng thu nhập về dầu mỏ của Yemen có thể đã tăng cao hơn so với năm 2007, đó là kết quả của giá dầu tăng cao hơn. Ngân sách của Yemen năm 2007 là 7,407 tỷ USD, nhưng con số chi tiêu là 8,177 tỷ USD đã vượt hơn cả ngân sách cả nước. Yemen đang đối mặt với việc nợ cao, chiếm 33,7% của tổng sản phẩm nội địa GDP (theo CIA-2007). Tính đến năm 2016, GDP của Yemen đạt 31.326 USD, đứng thứ 99 thế giới, đứng thứ 33 châu Á và đứng thứ 13 Trung Đông. Các ngành công nghiệp có một số nhà máy xi măng, dệt, diêm, xà phòng, thuốc lá và nước giải khát (ở miền bắc), cá hộp và dệt, chế biến thực phẩm, hàng thủ công (ở miền Nam). Yemen xuất khẩu dầu thô, cà phê, cá khô và cá muối; nhập khẩu lương thực, súc vật, máy móc và các thiết bị, hoá chất. Các bạn hàng chính: Ấn Độ, Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Malaysia, Hoa Kỳ, Singapore, Ả Rập Xê Út, Các Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất, Nga, Pháp. Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp 9,4%, Công nghiệp 52,4%, Dịch vụ 38,1% (2008). Lực lượng lao động: 6,49 triệu người (CIA-2008), tỷ lệ thất nghiệp chiếm 35% dân số, tỷ lệ người sống dưới mức nghèo đói chiếm 45,2% (2003) GDP năm 2008: 55,29 tỷ đô la (theo sức mua) và xếp thứ 88 trên thế giới, tính theo tỷ giá hối đoái hiện tại trên các thị trường tiền tệ quốc tế là 27,56 tỷ USD. GDP bình quân đầu người tính theo sức mua tương đương: 2.400 USD (CIA-2008) Tốc độ tăng trưởng: 3,2% năm 2008. Lạm phát năm 2008 là 12,5%. Sản lượng khai thác dầu thô của Yemen trung bình 320.000 thùng/ngày (CIA-2007) và khả năng tiêu thụ dầu 135.000 thùng/ngày (CIA-2006). == Dân số == Dân số của Yemen là khoảng 24 triệu theo ước tính tháng 6 năm 2011, với 46% dân số dưới 15 tuổi và 2,7% trên 65 tuổi. Vào năm 1950, nó là 4,3 triệu. Đến năm 2050, dân số dự kiến ​​tăng lên khoảng 60 triệu. Yemen có mức sinh đẻ cao, 4,45 con trên một phụ nữ, cao thứ 30 trên thế giới. Trong cuối thế kỷ 20 dân số Sana'a phát triển nhanh chóng, từ khoảng 55.000 năm 1978 lên hơn 1 triệu vào đầu thế kỷ 21. Người Yemen có nguồn gốc chủ yếu từ Ả Rập. Yemen vẫn còn là một xã hội bộ tộc. Ở khu vực miền núi phía Bắc của đất nước là nơi sinh sống của khoảng 400 bộ lạc Zaydi. Ngoài ra còn có các nhóm đẳng cấp di truyền trong các khu đô thị như Al-Akhdam. Yemen chính thức bãi bỏ chế độ nô lệ vào năm 1962. [66] Người Thổ Nhĩ Kỳ đến Yemen trong quá trình xâm chiếm của đế quốc Ottoman. Ngày hôm nay, có từ 10,000-30,000 người gốc Thổ Nhĩ Kỳ vẫn còn ở trong nước. Ngoài ra, Yemen còn có người Do Thái, cộng đồng Do Thái Yemen hình thành một thiểu số người Do Thái khá lớn ở Yemen với một nền văn hóa khác biệt với cộng đồng Do Thái trên thế giới. Hầu hết đã di cư đến Israel vào giữa thế kỷ 20. Ước tính có khoảng 100.000 người gốc Ấn Độ đang tập trung ở phần phía nam của đất nước, xung quanh Aden, Mukalla, Shihr, Lahaj, Mokha và Hodeidah. == Ngôn ngữ == Tiếng Ả Rập là ngôn ngữ chính thức, mặc dù tiếng Anh ngày càng được người dân ở các thành phố lớn sử dụng. Trong khu vực Mahra (cực đông) và đảo Soqotra, một số ngôn ngữ Do Thái và tiếng Ả Rập cổ đại được nói. Ngôn ngữ chính thức là tiếng Ả Rập tiêu chuẩn hiện đại. Tiếng Ả Rập Yemen được nói trong nhiều tiếng địa phương khu vực. == Tôn giáo == Tôn giáo tại Yemen bao gồm chủ yếu hai nhóm tôn giáo Hồi giáo chính, 55% dân số theo đạo Hồi giáo Sunni và 45% là người Shia. Người Sunni chủ yếu sống ở phía nam và đông nam đất nước. Người Shia là các bộ tộc Zaydis chủ yếu sống ở phía bắc và tây bắc trong khi nhánh Hồi giáo Ismailis sống trong những trung tâm chính như Sana'a và Ma'rib. Có những cộng đồng Hồi giáo hỗn hợp trong các thành phố lớn. Khoảng 1% của Yemen không theo đạo Hồi, gồm các cộng đồng Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo, Ấn Độ giáo, hoặc chủ nghĩa vô thần. == Du lịch == Ngành công nghiệp du lịch của Yemen bị cản trở bởi cơ sở hạ tầng hạn chế cũng như các vấn đề an ninh nghiêm trọng. Khách sạn và nhà hàng của đất nước này nằm dưới các tiêu chuẩn quốc tế, vận tải hàng không và đường phần lớn là không đủ. Bắt cóc khách du lịch nước ngoài vẫn là một mối đe dọa, đặc biệt là bên ngoài các thành phố chính, cùng với vụ đánh bom khủng bố tại cảng Aden trong năm 2000 và 2002, trở thành một trở ngại đáng kể cho du lịch. Gần đây nhất là tháng 9 năm 2006, các bộ lạc ở tỉnh Shabwa, phía đông thủ đô Sanaa, bắt cóc bốn khách du lịch Pháp trên đường đến Aden. Họ được trả tự do hai tuần sau đó. Tháng 10 năm 2006, Bộ Ngoại giao Mỹ đã nhắc lại cảnh báo cho công dân Mỹ, thúc giục mạnh mẽ họ xem xét cẩn thận những rủi ro khi du lịch đến Yemen. Bộ Ngoại giao Anh đã đưa ra một tư vấn tương tự. Thống kê gần đây cho khách du lịch ở Yemen đã giảm nhiều, nhưng trong năm 2004, số lượng đã tăng lên 274.000 từ 155.000 trong năm 2003. == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
samsung galaxy s6 active.txt
Samsung Galaxy S6 Active là một điện thoại thông minh chạy hệ điều hành Android do Samsung Electronics sản xuất cho nhà mạng AT&T. Là một biến thể của Samsung Galaxy S6, S6 Active có thông số kĩ thuật tương tự, và còn trang bị thêm tính năng chống nước, chống sốc và chống bụi theo tiêu chuẩn IP68, cùng với thiết kế chắc chắn hơn; nó được phát hành vào ngày 12 tháng 6 năm 2015. == Phát hành == == Thông số kĩ thuật == == Sự đón nhận == == Xem thêm == Samsung Galaxy S series Samsung Galaxy Xcover 3 Samsung Rugby Smart == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức
đồng 2 euro kỷ niệm.txt
Đồng 2 € kỷ niệm là những tiền kỷ niệm euro đặc biệt được các quốc gia thành viên của khu vực đồng euro đúc và phát hành từ năm 2004 dùng làm tiền pháp định tại tất cả các quốc gia thành viên khu vực đồng euro. Những đồng xu này thường để kỷ niệm các sự kiện lịch sử hoặc để thu hút sự chú ý vào những sự kiện quan trọng đặc biệt đang diễn ra. Vào năm 2009, đã có 69 mẫu thiết kế (phiên bản) của đồng kỷ niệm 2 € được đúc—sáu phiên bản vào năm 2004, tám phiên bản vào năm 2005, bảy phiên bản vào năm 2006, 20 loại năm 2007 (gồm mười ba phiên bản của đồng thông thường), 10 vào năm 2008, 18 vào năm 2009 (gồm cả 16 phiên bản của đồng thông thường). Người ta đã lên kế hoạch đúc thêm ít nhất 6 mẫu thiết kế nữa vào năm 2009. Những đồng kỷ niệm 2 € đã trở thành vật sưu tập. Không nên nhầm lẫn tiền kỷ niệm 2 € với các tiền kỷ niệm (giá trị in trên mặt lớn hơn 2 €), được quy định chính thức là "tiền sưu tập" và thường được làm từ kim loại quý. == Điều tiết và hạn chế == Cơ sở để đúc những đồng kỷ niệm này xuất phát từ một quyết định của Ủy ban châu Âu, trong đó bãi bỏ lệnh cấm thay đổi mặt trước của các đồng euro được phát hành trên từng quốc gia từ ngày 1 tháng 1 năm 2004 về sau. Tuy nhiên, một số khuyến cáo và hạn chế cũng được ban hành. Có hai hạn chế liên quan đến thiết kế. Một là, quyết định không thay đổi việc các đồng euro phải có mặt sau thống nhất, do đó chỉ có mặt trước là có thể thay đổi. Ngoài ra, mặt trước mỗi loại đồng đã phát hành trong mỗi quốc gia không được thay đổi nữa, sớm nhất là cho đến năm 2008, trừ khi có sự thay đổi nguyên thủ quốc gia được minh họa trên một số đồng tiền trước thời hạn đó (điều này đã được áp dụng cho Monaco và Thành Vatican, những nơi có nguyên thủ—lần lượt là Rainier III và Giáo hoàng John Paul II—mất vào năm 2005 và hình mặt trước đồng xu quốc gia được thay đổi vào năm 2006). Việc hoãn thay đổi sẽ được xem xét mở rộng vào năm 2008. Một quy định khác hạn chế tần suất và số lượng phát hành tiền kỷ niệm. Mỗi quốc gia thành viên chỉ được phát hành một đồng tiền kỷ niệm mỗi năm, và nó phải là đồng 2 €. Tổng số lượng tiền kỷ niệm đưa vào lưu thông mỗi năm không được vượt quá một trong hai con số sau, tùy vào số nào lớn hơn: 0,1 phần trăm tổng số đồng 2 € mà tất cả thành viên của khu vực đồng euro đưa vào lưu thông. Giới hạn này có thể được xem xét tăng lên 2,0 phần trăm nếu đồng kỷ niệm đó để kỷ niệm một sự kiện rất đặc biệt và đáng chú ý; trong trường hợp đó, quốc gia thành viên phát hành các đồng kỷ niệm này với số lượng lớn cần hạn chế đưa bất kỳ đồng kỷ niệm nào khác vào lưu thông trong vòng bốn năm tiếp theo. 5,0 phần trăm tổng số đồng 2 € mà quốc gia thành viên định phát hành đồng kỷ niệm đưa vào lưu thông. Một quyết định khác đã bổ sung hai hướng dẫn nữa liên quan đến việc thiết kế đồng kỷ niệm. Phải làm sao để khi nhìn vào mặt trước phải dễ dàng nhận biết quốc gia đã phát hành nó, hoặc bằng cách ghi rõ tên đầy đủ của quốc gia hoặc tên viết tắt dễ nhận thấy của quốc gia đó; và không được lặp lại tên hoặc giá trị của đồng kỷ niệm trên mặt trước, vì nó đã được ghi đồng nhất trên mặt sau. Những hạn chế sẽ không áp dụng hồi tố; chỉ những mẫu thiết kế mới—những đồng kỷ niệm thường do các quốc gia mới gia nhập khu vực đồng euro phát hành, và các đồng 2 € kỷ niệm phát hành từ năm 2006 về sau—mới bị ràng buộc. Tuy nhiên, năm quốc gia có thiết kế vi phạm bản sửa đổi đầu tiên của quy định (Áo, Bỉ, Phần Lan, Đức và Hy Lạp) ban đầu được yêu cầu phải thay đổi thiết kế của họ trong tương lai gần, trong đó Phần Lan đã thực hiện vào năm 2007 và Bỉ vào năm 2008. Một quyết định khác lại thay đổi quy định lần nữa: Mười hai ngôi sao của Liên minh châu Âu bao quanh mẫu thiết kế đồng kỷ niệm cần phải bao quanh tất cả các yếu tố thiết kế của đồng kỷ niệm, bao gồm dấu chỉ dấu năm, chỉ dấu đúc và tên quốc gia. Các ngôi sao phải được vẽ giống như cách sắp xếp của chúng trên lá cờ Liên minh châu Âu (những khuyến cáo này hiện không thỏa mãn trên hai đồng kỷ niệm của Hà Lan và Luxembourg). Mẫu thiết kế các đồng euro không được thay đổi trừ hai tình huống sau: Nếu một thiết kế vi phạm các khuyến cáo, nó cần được cập nhật để phù hợp (áp dụng cho Áo, Đức, Hy Lạp, Luxembourg và Hà Lan). Nếu một thiết kế mô tả nguyên thủ quốc gia, nó cần được cập nhật: mỗi mười lăm năm một lần để phù hợp với hình ảnh hiện tại của nguyên thủ quốc gia; nếu nguyên thủ mãn nhiệm hoặc qua đời. Tuy nhiên, các nguyên thủ tạm quyền sẽ không được xem là lý do thay đổi thiết kế; thay vào đó được phép phát hành một đồng kỷ niệm 2 € khác (có thể là một đồng kỷ niệm 2 € thứ hai). Hình dạng ký tự trên đồng kỷ niệm phải y hệt như trên đồng thông thường. (Những sửa đổi này đã buộc Bỉ phải quay về thiết kế trước minh họa chân dung hoàng gia Bỉ, do cập nhật năm 2008 theo khuyến cáo cũng thay đổi cả chân dung, điều đó là trái với quy định; những đồng kỷ niệm Bỉ từ năm 2009 trở về vẽ chân dung gốc từ năm 1999, nhưng thiết kế đồng kỷ niệm mới vào năm 2008 cũng như dấu hiệu quốc gia và dấu hiệu năm ấn hành cũng được quan tâm. Những chỉnh sửa này cũng cấm những bộ kỷ niệm sede vacante của Thành Vatican, chỉ cho phép những tiền kỷ niệm dành cho những sự kiện này). Khuyến cáo sẽ được xem xét lại vào năm 2015. == Phát hành == === Các quốc gia phát hành === Tính đến tháng 11 năm 2008, đã có mười bốn quốc gia phát hành độc lập đồng kỷ niệm 2 € (Áo, Bỉ, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ý, Luxembourg, Monaco, Bồ Đào Nha, San Marino, Slovenia, Tây Ban Nha và Thành phố Vatican), trong đó Hy Lạp là quốc gia đầu tiên phát hành loại tiền này. Năm quốc gia thuộc khu vực đồng euro khác chưa phát hành độc lập đồng kỷ niệm loại này (Síp, Ireland, Malta, Hà Lan và Slovakia); cũng có hai đồng kỷ niệm 2 € chung do tất cả các quốc gia thành viên khu vực đồng euro phát hành (kỷ niệm Hiệp ước Roma vào năm 2007, Liên minh Kinh tế Tiền tệ vào năm 2009). Giá trị được ghi trên đồng kỷ niệm thường thấp hơn giá thị trường của chúng thường từ €3 đến €12. Ngoại lệ là tại San Marino, các đồng kỷ niệm cũ hơn thường được bán với giá từ €30 đến €40, còn ở Thành Vatican, hiếm khi nào có được chúng với giá dưới €100. Các mẫu thiết kế được công khai tại Tạp chí Chính thức của Liên minh châu Âu (tham chiếu đến các ấn bản được ghi trong bảng dưới đây). === Phát hành năm 2004 === === Phát hành năm 2005 === === Phát hành năm 2006 === === Phát hành năm 2007 === === Phát hành đồng kỷ niệm Hiệp ước Roma năm 2007 === === Phát hành năm 2008 === === Phát hành năm 2009 === === Phát hành đồng đặc biệt kỷ niệm Liên minh Kinh tế Tiền tệ === == Dự kiến phát hành == == Tham khảo == == Xem thêm == Euro Tiền kỷ niệm Đồng 2 euro kỷ niệm của Đức Xu euro sưu tầm Tiền xu 2 euro == Liên kết ngoài == Trang của Ngân hàng Trung ương châu Âu về tiền xu kỷ niệm 2 euro
thạch bảo khanh.txt
Thạch Bảo Khanh (sinh ngày 25 tháng 4 năm 1979 tại Tây Hồ, Hà Nội) là một cựu cầu thủ bóng đá Việt Nam. Anh chơi ở vị trí tiền đạo. Anh từng thi đấu cho câu lạc bộ bóng đá Hà Nội T&T và đá Thể Công. == Sự nghiệp == Trước khi tham gia đội tuyển Việt Nam (từ 2004 đến nay), Thạch Bảo Khanh cũng đã tham gia các đội tuyển quốc gia U19 (từ 1998 đến 2001) và U23 (từ 2003 đến 2006). Ở cấp CLB, Thạch Bảo Khanh từng là một tiền đạo giỏi của đội Thể Công. == Thành tích == Tại đội tuyển Việt Nam Hạng ba giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2007 Vô địch Cúp bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh 2005; hạng nhì 2004; hạng ba 2006 Hạng nhì King Cup 2007 Vô địch giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2008 Tại Thể Công Vô địch Việt Nam 1998 Vô địch Đại hội Thể dục Thể thao toàn quốc Tại Thanh Hóa Vô địch Siêu cúp bóng đá Việt Nam năm 2009 Tại Hà Nội T&T Á quân V-league năm 2011, 2012 Vô địch V-league năm 2013 Á quân V-league 1 năm 2014 Danh hiệu cá nhân Quả bóng Bạc Việt Nam năm 2004 Cầu thủ xuất sắc nhất Cúp bóng đá Thành phố Hồ Chí Minh 2004 Vua phá lưới Cúp bóng đá Việt Nam 2004 Cầu thủ xuất sắc nhất của Liên đoàn bóng đá Việt Nam 2004 Cầu thủ Việt Nam xuất sắc nhất Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á 2004 == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Thạch Bảo Khanh - Cầu thủ VN hay nhất Tiger Cup 2004 Câu lạc bộ Home United (Singapore) đề nghị mua Thạch Bảo Khanh Xông đất Thạch Bảo Khanh Nỗi ám ảnh của Thạch Bảo Khanh Thạch Bảo Khanh giao lưu trực tuyến
thiếu nữ bên hoa huệ.txt
Thiếu nữ bên hoa huệ là một tác phẩm tranh sơn dầu do họa sĩ Tô Ngọc Vân sáng tác năm 1943. Bức tranh mô tả chân dung một thiếu nữ mặc áo dài trắng bên cạnh lọ hoa huệ trắng. Tác phẩm này được coi là bức tranh tiêu biểu nhất trong sự nghiệp sáng tác của họa sĩ Tô Ngọc Vân cũng như là một trong những đại diện tiêu biểu nhất cho mỹ thuật Việt Nam đầu thế kỷ 20. == Mô tả == Thiếu nữ bên hoa huệ mô tả chân dung của một người thiếu nữ mặc áo dài trắng đang nghiêng đầu một cách tự nhiên về phía lọ hoa huệ tây trắng. Hình dáng cô gái cùng những chi tiết và màu sắc xung quanh tạo thành một hình khối giản dị, toát lên một nét buồn vương vấn, nhẹ nhàng. Hoa huệ cắm trong lọ bên cạnh cô gái không phải là loại hoa huệ bông nhỏ thường dùng trong các ngày rằm mà là hoa huệ tây hay tên phổ biến là hoa loa kèn. == Lịch sử == Theo học khóa sơn dầu 1926-1931 của trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, họa sĩ Tô Ngọc Vân được coi là một trong những nghệ sĩ xuất sắc của hội họa Việt Nam trước 1945 với câu so sánh "Nhất Trí, nhì Vân, tam Lân, tứ Cẩn". Bắt đầu có nhiều tác phẩm đáng chú ý từ thập niên 1930, Tô Ngọc Vân sáng tác bức tranh nổi tiếng nhất của ông, Thiếu nữ bên hoa huệ, vào năm 1943. Người mẫu của bức tranh là cô Sáu, một người mẫu tranh sáng giá thời bấy giờ ở Hà Nội. Cô còn là người mẫu cho nhiều tác phẩm khác của họa sĩ Tô Ngọc Vân trong đó có bức Thiếu nữ với hoa sen. Bên cạnh Tô Ngọc Vân, cô Sáu còn là người mẫu tranh cho nhiều họa sĩ nổi tiếng đương thời như Trần Văn Cẩn, Nguyễn Gia Trí, Lương Xuân Nhị. Sau này khi di cư vào miền Nam cô tiếp tục làm người mẫu cho họa sĩ Nguyễn Gia Trí. Sau khi quân đội Pháp quay lại chiếm Hà Nội, Thiếu nữ bên hoa huệ được bán cho nhà sưu tập tranh nổi tiếng Đức Minh (tên thật là Bùi Đình Thản). Sau khi ông Đức Minh qua đời, tác phẩm này được các con của ông bán cho một người sưu tầm tên là Hà Thúc Cần với giá 15.000 USD. Theo lời họa sĩ Tô Ngọc Thành, con trai của họa sĩ Tô Ngọc Vân, thì sau khi mua được Thiếu nữ bên hoa huệ, ông Cần đã bán lại tác phẩm nổi tiếng ra nước ngoài, bấp chấp quy định cấm của Việt Nam. Một phiên bản chép lại của bức tranh từng được trưng bày tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nhưng từ sau năm 1990 phiên bản này đã được gỡ bỏ trong nỗ lực chỉ treo tranh bản chính của Bảo tàng. == Đánh giá == Bức tranh Thiếu nữ bên hoa huệ được coi là tác phẩm nổi tiếng nhất của họa sĩ Tô Ngọc Vân cũng như là một trong những đại diện tiêu biểu nhất của hội họa Việt Nam đầu thế kỷ 20. Bên cạnh những giá trị nghệ thuật, Thiếu nữ bên hoa huệ còn thể hiện cho một thú chơi tao nhã của người Hà Nội, thú chơi hoa loa kèn trắng, loài hoa nở rộ vào cuối tháng 3, đầu tháng 4 hàng năm ở đây. == Tham khảo ==
atp world tour 500.txt
ATP World Tour 500 là hệ thống giải đấu do Hiệp hội quần vợt nhà nghề tổ chức.Nó xếp sau Grand Slam, Atp World Tour Finals và ATP World Tour Masters 1000 về độ danh giá và tiền thưởng.Mỗi năm hệ thống tổ chức 11 giải đấu trên toàn thế giới và thu hút được khá nhiều tay vợt danh tiếng tham gia tranh tài. Nhà vô địch giải đấu sẽ được cộng 500 điểm thưởng vào bảng xếp hạng thế giới. == Các giải đấu == Chú thích: (i) Giải diễn ra ở sân trong nhà, có mái che. == Vô địch (từ 2009) == Ghi chú: Vận động viên còn thi đấu -in đậm. == Số lần vô địch (từ 1990) == ^ Active players in bold. == Điểm ATP == == Kết quả == === 2017 === === 2016 === === 2015 === === 2014 === === 2013 === === 2012 === === 2011 === === 2010 === === 2009 === == Xem thêm == ATP World Tour Masters 1000 ATP World Tour Finals Grand Slam == Tham khảo ==
tiếng ossetia.txt
Tiếng Ossetia (Ирон aвзаг, Iron ævzag hay Иронау,Ironau) là một ngôn ngữ thuộc nhóm Ấ-Iran của Ngữ hệ Ấn-Âu được sử dụng tại Ossetia, một khu vực tại dãy núi Kavkaz. Khu vực thuộc Nga được gọi là nước Cộng hòa Ossetia-Alania, trong khi khu vực phía nam là Nam Ossetia, một lãnh thổ được Nga, Nicaragua, Venezuela và Nauru công nhận độc lập nhưng được phần còn lại của thế giới coi là một phần của Gruzia. Tổng số người nói tiếng Ossetia là khoảng 525.000 người, 60% trong số đó sống ở Alania (Bắc Ossetia-Alania), 10% sống ở Nam Ossetia. == Lịch sử == Tiếng Ossetia được người Ossetia sử dụng, dân tộc này sống ở phần trung tâm của dãy núi Kavkaz. Tiếng Ossectia, cùng với tiếng Kurd, tiếng Tati, tiếng Talyshi là một trong những ngôn ngữ thuộc nhóm Iran có cộng đồng sử dụng khá lớn tại Kavkaz. == Chữ viết == Trước khi bị Đế quốc Nga xâm chiếm, tiếng Ossectia được ghi nhận là không có chữ viết. Tiếng Ossetia sau đó sử dụng chữ Kirin và quyển sách tiếng Ossetia đầu tiên viết theo kiểu chữ này được phát hành năm 1798. Cùng thời gian đó, chữ Gruzia được sử dụng ở một số khu vực ở phía nam dãy núi Kavkaz: năm 1820, Yalguzidze đã phát hành một bảng chữ cái được sa]r đổi từ chữ Gruzia == Chú thích == == Liên kết ngoài == Genetic Evidence Concerning the Origins of South and North Ossetians Ossetic language page at the Minority languages of Russia on the Net project (tiếng Nga) History of the Ossetian writing system and a comprehensive table of characters (tiếng Nga) Ossetic language materials in English and partly French Laboratory of Field Linguistics: Ossetic (studies on Ossetic grammar, modern spoken texts in Ossetic) (tiếng Anh) Ossetic section of the Rosetta Project Omniglot - Ossetian (Ирон æвзаг / Дигорон æвзаг) Ossetian Swadesh list of basic vocabulary words (from Wiktionary's Swadesh list appendix)
tây ninh.txt
Tây Ninh là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ Việt Nam. Tây Ninh nằm ở vị trí cầu nối giữa Thành phố Hồ Chí Minh và thủ đô Phnôm Pênh, vương quốc Campuchia và là một trong những tỉnh nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tỉnh có thành phố Tây Ninh nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 100 km theo đường Quốc lộ 22, cách biên giới Campuchia 40 km về phía Tây Bắc. Vùng đất Tây Ninh từ thời xưa vốn là một vùng đất thuộc Thủy Chân Lạp, với tên gọi là Romdum Ray, có nghĩa là "Chuồng Voi" vì nơi đây chỉ có rừng rậm với muôn thú dữ như cọp, voi, beo, rắn,... cư ngụ. Những người thổ dân ở đây sống rất thiếu thốn, cơ cực cho đến khi người Việt đến khai hoang thì vùng đất này mới trở nên phát triển. == Vị trí địa lý == Tây Ninh nối cao nguyên Nam Trung Bộ với đồng bằng sông Cửu Long, vừa mang đặc điểm của một cao nguyên, vừa có dáng dấp, sắc thái của vùng đồng bằng, tọa độ của tỉnh từ 10057’08’’ đến 11046’36’’ vĩ độ Bắc và từ 105048’43" đến 106022’48’’ kinh độ Đông. Phía Đông giáp tỉnh Bình Dương và Bình Phước, phía Nam và Đông Nam giáp Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An, phía Bắc và Tây Bắc giáp 3 tỉnh của Vương quốc Campuchia là Svay Rieng, Prey Veng và Tbong Khmum (Kampong Cham trước năm 2013) với 2 cửa khẩu quốc tế Mộc Bài và Xa Mát, các cửa khẩu quốc gia: Chàng Riệc, Kà Tum, Phước Tân và nhiều cửa khẩu tiểu ngạch. == Điều kiện tự nhiên == Như các tỉnh thành Đông Nam Bộ khác, Tỉnh Tây Ninh cũng là vùng có địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên Nam Trung Bộ xuống đồng bằng sông Cửu Long, đất đai tương đối bằng phẳng. Địa hình vừa mang đặc điểm của một cao nguyên, vừa có dáng dấp, sắc thái của vùng đồng bằng, Tây Ninh có nhiều vùng địa hình khác nhau như vùng địa hình núi (núi Bà Đen cao 986m, cao nhất miền nam Việt Nam), vùng đồi thấp có lượn sóng yếu dao động từ 10m - 70m, vùng có địa hình bằng phẳng, vùng thung lũng bãi bồi...nhìn chung địa hình của Tây Ninh bằng phẳng hơn so với các tỉnh Đông Nam Bộ khác. Khí hậu Tây Ninh tương đối ôn hoà, chia thành 2 mùa là mùa mưa và mùa khô. Mùa khô thường kéo dài từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 11. Nhiệt độ tương đối ổn định, với nhiệt độ trung bình năm là 26 – 27 °C và ít thay đổi, Lượng mưa trung bình hàng năm từ 1800 – 2200 mm. Mặt khác, Tây Ninh nằm sâu trong lục địa, có địa hình cao núp sau dãy Trường Sơn, chính vì vậy ít chịu ảnh hưởng của bão và những yếu tố thuận lợi khác. Với lợi thế đó là những điều kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp đa dạng, đặc biệt là các loại cây ăn quả, cây công nghiệp, cây dược liệu và chăn nuôi gia súc. Tây Ninh có tiềm năng dồi dào về đất, trên 96% quỹ đất thuận lợi cho phát triển cây trồng các loại, từ cây trồng nước đến cây công nghiệp ngắn ngày và dài ngày, cây ăn quả các loại. Đất đai Tây Ninh có thể chia làm 5 nhóm đất chính với 15 loại đất khác nhau. Trong đó, nhóm đất xám chiếm trên 84%, đồng thời là tài nguyên quan trọng nhất để phát triển nông nghiệp. Ngoài ra, còn có nhóm đất phèn chiếm 6,3%, nhóm đất cỏ vàng chiếm 1,7%, nhóm đất phù sa chiếm 0,44%, nhóm đất than bùn chiếm 0,26% tổng diện tích. Đất lâm nghiệp chiếm hơn 10% diện tích tự nhiên. Tây Ninh có hồ Dầu Tiếng giúp cân bằng sinh thái, phục vụ tưới tiêu trong nông nghiệp, cung cấp nước cho nuôi trồng thuỷ sản, sinh hoạt tiêu dùng và cho sản xuất công nghiệp. Nguồn nước ngầm ở Tây Ninh phân bố rộng khắp trên địa bàn, bảo đảm chất lượng cho sản xuất và đời sống của người dân. == Lịch sử == Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi, đồng thời đổi tên phủ Gia Định thành trấn Gia Định. Năm 1808, trấn Gia Định đổi lại đổi là thành Gia Định, gồm có 5 trấn là Phiên An, Biên Hòa, Vĩnh Thanh, Định Tường và Hà Tiên. Năm 1832, vua Minh Mạng định tiếp tục tổ chức hành chánh ở Gia Định, từ 5 trấn chia thành 6 tỉnh gồm có Phiên An tỉnh thành (tức trấn Phiên An cũ), Tỉnh Biên Hòa (trấn Biên Hòa cũ), Tỉnh Định Tường (trấn Định Tường cũ), Tỉnh Vĩnh Long (trấn Vĩnh Thanh cũ), Tỉnh An Giang, Tỉnh Hà Tiên. Lúc bấy giờ, vùng đất Tây Ninh thuộc Phiên An tỉnh thành. Năm 1838, vua Minh Mạng đổi Phiên An tỉnh thành là tỉnh Gia Định gồm có 3 phủ, 7 huyện. Các phủ là Phủ Tân Bình có 3 huyện, Phủ Tân An có 2 huyện, Phủ Tây Ninh có 2 huyện là: huyện Tân Ninh và huyện Quang Hóa. Phủ Tây Ninh: phía Bắc giáp Cao Miên (qua núi Chiêng, tức núi Bà Đen), phía Đông giáp huyện Bình Long phủ Tân Bình, phía Nam giáp huyện Bình Dương phủ Tân Bình và huyện Cửu An phủ Tân An, nguyên là đạo Quang Phong. Năm Minh Mạng thứ 19 (1838), bỏ đạo lập phủ với tên gọi phủ Tây Ninh, quản lý 2 huyện (với 7 tổng có 56 làng xã): Huyện Tân Ninh, lỵ sở kiêm phủ thành nằm ở thôn Khang Ninh (nay thuộc thị xã Tây Ninh), phía Bắc giáp Cao Miên (qua núi Chiêng), phía Đông giáp giáp huyện Bình Long phủ Tân Bình, phía Nam giáp huyện Bình Long phủ Tân Bình và huyện Quang Hóa cùng phủ Tây Ninh, phía Tây giáp huyện huyện Kiến Hưng tỉnh Định Tường và giáp nước Cao Miên. Huyện Tân Ninh, được đặt ra năm Minh Mạng thứ 17 (1836), theo Đại Nam nhất là quản lý 2 tổng (nhưng có lẽ là 3 tổng), là tổng Hàm Ninh Thượng và tổng Kiếm Hoa với 24 làng xã. Phần đất huyện Tân Ninh phủ Tây Ninh nhà Nguyễn nay có thể là địa phận phía Bắc của tỉnh Tây Ninh ngày nay (tức năm 2011) (thành phố Tây Ninh, huyện Tân Biên, huyện Châu Thành,...), và có thể bao gồm cả một phần đất phía Bắc của tỉnh Svay Rieng (khúc giữa tỉnh Svay Rieng) Campuchia, vì mô tả trên theo Đại Nam nhất thống chí: Tân Ninh còn tiếp giáp với cả huyện Kiến Hưng phủ Kiến An tỉnh Định Tường nhà Nguyễn, vốn chỉ nằm bên bờ Tây sông Vàm Cỏ Tây, cách địa bàn tỉnh Tây Ninh ngày nay (phần từng là đất huyện Tân Ninh) qua địa bàn tỉnh Svay Rieng. Năm 1890, sau khi lập Liên bang Đông Dương, người Pháp trích một phần đất hạt Tây Ninh (hạt Tây Ninh nguyên là toàn bộ phủ Tây Ninh) là phần đất dọc theo rạch Ngã Bát cho Campuchia thuộc Pháp, trong đó có lẽ gồm cả phần đất tỉnh Svay Rieng (tức tỉnh Soài Riêng) đề cập đến ở trên. Các bản đồ của người Pháp thể hiện xứ Nam Kỳ thuộc Pháp, vẽ với kỹ thuật Tây phương khá chính xác, vào các năm 1872 và 1886 (trước khi thành lập Liên bang Đông Dương năm 1887) đều thể hiện "vùng lồi" Svay Rieng thuộc đất Nam Kỳ (Cochinchine). Huyện Quang Hóa, phía Bắc giáp huyện Tân Ninh cùng phủ Tây Ninh, phía Đông giáp huyện Tân Ninh, phía Nam giáp huyên Tân Ninh và huyện Cửu An phủ Tân An, phía Tây giáp huyện Kiến Hưng phủ Kiến An tỉnh Định Tường nhà Nguyễn. Lỵ sở trước đặt ở thôn Cẩm Giang sau chuyển sang thôn Long Giang, quản lý 4 tổng (Hàm Ninh Hạ (Ham Ninh Ha tong), Mộc Hóa (Moc Hoa tong), Giải Hóa (Giải Hoa tong), Mỹ Ninh (Mi Nin tong)) với 32 làng xã. Đất huyện Quang Hóa phủ Tây Ninh nhà Nguyễn nay có thể là địa phân các huyện phía Nam tỉnh Tây Ninh (như Bến Cầu, Gò Dầu, Trảng Bàng,...), các huyện Đông Bắc tỉnh Long An (như Đức Huệ, Hậu Nghĩa, Mộc Hóa,...) và phần phía Nam của tỉnh Svay Rieng Campuchia. Theo Đại Nam thực lục thì vào khoảng tháng 3 âm năm 1845, Cao Hữu Dực (quyền Tuyên phủ sứ Tây Ninh) cho chiêu mộ dân trong phủ Tây Ninh lập ra 26 thôn làng: Tiên Thuận, Phúc Hưng, Phúc Bình, Vĩnh Tuy, Phúc Mỹ, Long Thịnh, Long Khánh, Long Giang, Long Thái, An Thịnh, Khang Ninh, Vĩnh An, An Hòa, Gia Bình, Long Bình, Hòa Bình, Long Định, Phú Thịnh, Thái Định, Hòa Thuận, An Thường, Thuận Lý, Thiên Thiện, Hướng Hóa, Định Thái, Định Bình, đều thuộc phủ Tây Ninh. Vua Thiệu Trị phê chuẩn quyết định này. Năm 1861, Sau khi thực dân Pháp chiếm Tây Ninh, việc cai quản ở 2 huyện được thay thế bằng 2 Đoàn Quân sự đặt tại Trảng Bàng và Tây Ninh. Năm 1868, hai đoàn Quân sự được thay thế bằng hai Ty Hành chánh. Sau nhiều lần thay đổi, năm 1897 Tây Ninh gồm có 2 quận là Thái Bình, Trảng Bàng, trong đó có 10 tổng, 50 làng. Ngày 1 tháng 1 năm 1900, Toàn quyền Paul Doumer cho áp dụng nghị định ký ngày 20 tháng 12 năm 1899 đổi các khu tham biện (inspections) là tỉnh (province). Thời Pháp thuộc, Nam Kỳ được chia làm 20 tỉnh để cai trị và sau đó Cap St. Jacques (Vũng tàu) tách ra thành tỉnh thứ 21. Tây Ninh lúc đó là tỉnh thứ 12. Ngày 9 tháng 12 năm 1942, Thống đốc Nam kỳ ban hành Nghị định 8345 ấn định ranh giới Tây Ninh. Sau Cách mạng Tháng Tám tỉnh Tây Ninh vẫn giữ nguyên ranh giới cũ. Năm 1950, cắt một phần đất của Thái Hiệp Thạnh cũ thành lập thị xã Tây Ninh, nhưng do chưa đủ điều kiện hoạt động nên sau đó giải thể. Sau hiệp định Giơnevơ năm 1954, thành lập lại Thị xã Tây Ninh trên địa bàn cũ, do Võ Văn Truyện làm Bí thư Đảng kiêm Chủ tịch Uỷ ban hành chính. Năm 1957, Tây Ninh chia thành 3 quận gồm có Châu Thành, Gò Dầu Hạ, Trảng Bàng. Năm 1963, tỉnh Tây Ninh gồm 4 quận là quận Phú Khương, Phước Ninh, Hiếu Thiện, Khiêm Hanh. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, tỉnh tổ chức thành 7 huyện: Bến Cầu, Châu Thành, Dương Minh Châu, Gò Dầu, Phú Khương, Tân Biên, Trảng Bàng và 1 thị xã Tây Ninh, ngày 14 tháng 3 năm 1979 đổi tên huyện Phú Khương thành huyện Hòa Thành và theo Quyết định số 48/HĐBT (nay là Chính phủ) ngày 13 tháng 5 năm 1989 tách một phần huyện Tân Biên thành lập huyện Tân Châu. Ngày 12 tháng 12 năm 2012, Bộ Xây dựng có Quyết định số 1112/QĐ-BXD, công nhận thị xã Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, là đô thị loại III. Ngày 29 tháng 12 năm 2013, Chính phủ ra Nghị quyết 135/NQ-CP chuyển 2 xã Ninh Sơn và Ninh Thạnh thành 2 phường có tên tương ứng và chuyển thị xã Tây Ninh thành thành phố Tây Ninh == Hành chính == Tỉnh Tây Ninh có 9 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 1 thành phố và 8 huyện. Trong đó có 8 thị trấn, 7 phường và 80 xã == Kinh tế == Tỉnh Tây Ninh được xem là một trong những cửa ngõ giao lưu về quốc tế quan trọng giữa Việt Nam với Campuchia, Thái Lan…Đồng thời tỉnh có vị trí quan trọng trong mối giao lưu trao đổi hàng hoá giữa các tỉnh vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Cửu Long. Ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp của Tây Ninh ngày càng phát triển vững chắc đồng thời đã xây dựng được hệ thống các nhà máy chế biến nông sản tại các vùng chuyên canh như các nhà máy đường, các nhà máy chế biến bột củ mì, các nhà máy chế biến mủ cao su, từng bước xây dựng các khu công nghiệp trong tỉnh. Trong 3 tháng đầu năm 2012, phát triển ở mức tương đối, lĩnh vực nông nghiệp vẫn tiếp tục là thế mạnh, một số lĩnh vực đạt kết quả khả quan như thu ngân sách đạt dự toán, đảm bảo tiến độ thực hiện và đáp ứng các nhiệm vụ chi theo dự toán được giao, chỉ số giá tiêu dùng được kéo giảm, đầu tư phát triển trên địa bàn do được tập trung chỉ đạo nên thực hiện có hiệu quả, các dự án được cấp giấy chứng nhận đầu tư đẩy nhanh tiến độ triển khai. Thu ngân sách nhà nước đạt trên 1.133 tỷ đồng, Tổng nguồn vốn tín dụng của hệ thống ngân hàng ước trên 21.880 tỷ đồng, tăng 27% so với cùng kỳ, Tổng kim ngạch xuất khẩu ước thực hiện 287 triệu USD, tăng trên 22% so với cùng kỳ. Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP của Tây Ninh hàng năm đạt 14%, GDP bình quân đầu người đạt năm 2010 đạt 1.390 USD. == Văn hóa & Xã hội == Kiến trúc Chàm, nền văn minh Chàm và dân tộc Khmer được đánh giá cao như là một xã hội văn minh sớm xuất hiện ở miền Nam Việt Nam. === Du lịch === Tây Ninh nổi tiếng với những phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ. Núi Bà Đen cao 986m là ngọn núi cao nhất miền Nam Việt Nam và là nơi có nhiều truyền thuyết nổi tiếng, ở đây có một bảo tàng được xây dựng trong động Kim Quang và một ngôi chùa cùng tên rất nổi tiếng. Tây Ninh là thánh địa của đạo Cao Đài với Tòa Thánh Tây Ninh nguy nga, tráng lệ. Ngoài ra còn có đạo Phật, đạo Kitô, đạo Hồi và nhiều đạo khác. Tây Ninh là thủ đô kháng chiến, nơi đóng Trung ương Cục miền Nam trong những năm chống Mỹ, giành độc lập dân tộc. Tây Ninh còn là nơi có hồ thủy lợi nhân tạo từng lớn nhất khu vực Đông Nam Á, đó là hồ Dầu Tiếng. === Ẩm thực === Tây Ninh nổi tiếng với các loại đặc sản sau đây: Bánh Tráng phơi sương: Loại đặc sản này ngày nay đã được sản xuất ở nhiều địa phương trong tỉnh và được sản xuất công nghiệp, nhưng nó vẫn gắn liền với địa danh Trảng Bàng. Trước năm 1980, Bánh Tráng Trảng Bàng được sản xuất từ củ sắn (khoai mì). Nhưng ngày nay thì chỉ được sản xuất từ lúa gạo. Để làm ra Bánh Tráng phơi sương phải qua nhiều công đoạn khá công phu và cầu kỳ. Bánh Canh thịt heo Trảng Bàng: Bánh Canh Trảng Bàng là một loại thức ăn nổi tiếng của Tây Ninh có từ rất lâu đời. Nó đã trở thành một sản phẩm du lịch, một điểm dừng chân thân thuộc đối với khách du lịch. Muối tôm: là một đặc sản rất nổi tiếng của Tây Ninh. Mãng cầu Bà Đen (trái na): được trồng tại khu vực gần núi Bà Đen của Tây Ninh. Cùng với việc chọn thời vụ canh tác, xử lý ra hoa vào các tháng khác nhau mà trái mãng cầu có quanh năm. Ngay cả các tháng 3-4-5, sản lượng cũng đạt gần 1.000 tấn/tháng. Tỉnh Tây Ninh đã tiến hành đăng ký với Cục Sở hữu Trí tuệ về bảo hộ địa danh dưới hình thức chỉ dẫn địa lý "Bà Đen" cho sản phẩm mãng cầu được trồng ở khu vực núi Bà Đen và vùng phụ cận núi Bà. Bánh tráng trộn == Dân cư & Giáo dục == === Dân cư === Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Tây Ninh đạt gần 1.080.700 người, mật độ dân số đạt 268 người/km² Trong đó dân số sống tại thành thị đạt gần 169.100 người, dân số sống tại nông thôn đạt 911.600 người. Dân số nam đạt 535.500 người, nữ đạt 545.200 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 8,9 % Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Tây Ninh có 9 tôn giáo khác nhau, nhiều nhất là Đạo Cao Đài có 379.752 người, Phật giáo có 95.674 người, Công giáo có 32.682 người, các tôn giáo khác như Hồi giáo 3.337 người, Tin Lành có 684 người, Phật giáo hòa hảo có 236 người, Minh Sư Đạo có 4 người, Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam có 2 người, Bà-la-môn có 1 người. Theo thống kê của Tổng cục thống kê Việt Nam, tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009, toàn tỉnh Tây Ninh có đủ 29 dân tộc cùng người nước ngoài sinh sống. Trong đó dân tộc Kinh có 1.050.376 người, người Khmer có 7.578 người, người Chăm có 3.250 người, người Xtiêng có 1.654 người, người Hoa có 2.495 người, còn lại là những dân tộc khác như Mường, Thái, Tày...... === Giáo dục === Tính đến thời điểm ngày 30 tháng 9 năm 2011, trên địa bàn toàn tỉnh Tây Ninh có 410 trường học ở cấp phổ trong đó có Trung học phổ thông có 31 trường, Trung học cơ sở có 106 trường, Tiểu học có 271 trường, trung học có 1 trường, có 1 trường phổ thông cơ sở, bên cạnh đó còn có 116 trường mẫu giáo. Với hệ thống trường học như thế, nền giáo dục trong địa bàn Tỉnh Tây Ninh cũng tương đối hoàn chỉnh, góp phần giảm thiểu nạn mù chữ trong địa bàn tỉnh. Tây Ninh có một trường chuyên là THPT Chuyên Hoàng Lê Kha địa chỉ ở số 23, Võ Thị Sáu, Khu phố 4, TP. Tây Ninh. == Giao thông == Tây Ninh có đường Xuyên Á đi qua với chiều dài gần 28 km, nối thành phố Hồ Chí Minh với Campuchia thông qua cửa khẩu Mộc Bài. Tây Ninh có 2 tuyến sông chính là tuyến sông Sài Gòn và tuyến sông Vàm Cỏ Đông. Ngoài ra địa bàn tỉnh Tây Ninh còn có cảng sông Bến Kéo nằm trên sông Vàm Cỏ Đông. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang thông tin điện tử chính thức của tỉnh Tây Ninh Báo Tây Ninh điện tử
hà sơn bình.txt
Hà Sơn Bình là một tỉnh từng tồn tại ở Bắc Bộ Việt Nam từ ngày 27 tháng 12 năm 1975 đến 12 tháng 8 năm 1991 trên cơ sở sáp nhập hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình. Tỉnh Hà Sơn Bình bắc giáp tỉnh Vĩnh Phú, đông bắc giáp thành phố Hà Nội, đông giáp tỉnh Hải Hưng (bên kia sông Hồng), đông nam giáp tỉnh Hà Nam Ninh, nam giáp tỉnh Thanh Hóa, tây giáp tỉnh Sơn La. Khi mới thành lập tỉnh bao gồm: 3 thị xã: Hà Đông (tỉnh lị), Hòa Bình, Sơn Tây. 21 huyện: Ba Vì, Chương Mỹ, Đà Bắc, Đan Phượng, Hoài Đức, Kim Bôi, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thủy, Lương Sơn, Mai Châu, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Tân Lạc, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa, Yên Thủy. Ngày 29 tháng 12 năm 1978, hai thị xã Hà Đông, Sơn Tây và 5 huyện Đan Phượng, Hoài Đức, Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất cùng một số xã thuộc huyện Chương Mỹ, Thanh Oai (ở phía bắc quốc lộ 6) được nhập vào thành phố Hà Nội theo nghị quyết của kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa VI. Tuy nhiên thị xã Hà Đông vẫn tạm thời giao cho tỉnh Hà Sơn Bình và là tỉnh lỵ. Tỉnh còn 2 thị xã: Hà Đông (tỉnh lị), Hòa Bình và 16 huyện: Chương Mỹ, Đà Bắc, Kim Bôi, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thủy, Lương Sơn, Mai Châu, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Quốc Oai, Tân Lạc, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa, Yên Thủy, với diện tích 5978 km², dân số 1.569.000 người (1981). Ngày 12 tháng 8 năm 1991, kỳ họp thứ 9 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết chia tỉnh Hà Sơn Bình để tái lập tỉnh Hà Tây và tỉnh Hòa Bình, cùng lúc đó, trả thị xã Sơn Tây và 5 huyện: Đan Phượng, Hoài Đức, Ba Vì, Phúc Thọ, Thạch Thất của thành phố Hà Nội về tỉnh Hà Tây. Tỉnh Hà Tây gồm 2 thị xã: Hà Đông (tỉnh lị), Sơn Tây và 12 huyện: Ba Vì, Chương Mỹ, Đan Phượng, Hoài Đức, Mỹ Đức, Phú Xuyên, Phúc Thọ, Quốc Oai, Thạch Thất, Thanh Oai, Thường Tín, Ứng Hòa. Tỉnh Hòa Bình gồm thị xã Hòa Bình và 9 huyện: Đà Bắc, Kim Bôi, Kỳ Sơn, Lạc Sơn, Lạc Thủy, Lương Sơn, Mai Châu, Tân Lạc, Yên Thủy. Ngày 29 tháng 5 năm 2008, Hà Tây và bốn xã của huyện Lương Sơn, Hòa Bình là Đông Xuân, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung (thuộc huyện Lương Sơn) lại được sáp nhập vào Hà Nội. == Tham khảo ==
lầu năm góc.txt
Ngũ Giác Đài hay Lầu Năm Góc là trụ sở của Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ. Cơ sở này tọa lạc ở địa chỉ 48 N. Rotary Road, Arlington, Virginia 22211. (Map) Lầu Năm Góc được dùng là biểu tượng của Quân đội Hoa Kỳ và khi nói đến Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ thì tên tòa nhà này dùng như đồng nghĩa. Ngũ Giác Đài khánh thành ngày 15 tháng 1 năm 1943 với kiến thức phức hợp văn phòng, có công suất sử dụng cao nhất thế giới và cũng là tòa nhà văn phòng rộng nhất thế giới xét về diện diện tích sàn. Ngũ Giác Đài có 23.000 nhân viên (quân nhân và dân sự) và 3.000 người giúp việc. Về mặt kiến trúc đúng ra là 5 bình đồ hình ngũ giác đồng tâm lồng vào nhau, có 5 cạnh, cao 5 tầng (cộng thêm 2 tầng hầm). Chiều dài các hành lang cộng lại đo được 28 km. Trong vụ khủng bố ngày 11/9, Ngũ Giác Đài là một mục tiêu của nhóm Al-Qaeda. Nhóm khủng bố này đã cướp chiếc máy bay dân sự Boeing 757 cất cánh từ Boston, Massachusetts rồi phóng đâm vào một góc Ngũ Giác Đài, gây nhiều thương vong. == Lịch sử == Theo nhiều tài liệu của Anton Fisher, tòa nhà hoàn tất năm 1943 == Kiến trúc == == Sự kiện 11 tháng 9 == Về nhà == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ Lầu Năm Góc
thường tín.txt
Thường Tín là một huyện nằm phía Nam của thành phố Hà Nội. == Diện tích và dân số == Diện tích: 127,59 km2 Dân số: 230.000 người Dân tộc: Đa số là người Kinh == Địa giới hành chính == Phía đông giáp các xã Mễ Sở, Thắng Lợi huyện Văn Giang và giáp các xã Tân Châu, Tứ Dân, Hàm Tử, Dạ Trạch, Bình Minh, huyện Khoái Châu của tỉnh Hưng Yên với ngăn cách tự nhiên là sông Hồng Phía nam giáp huyện Phú Xuyên Phía tây giáp huyện Thanh Oai, ngăn cách bởi sông Nhuệ Phía bắc giáp huyện Thanh Trì == Hành chính == Huyện Thường Tín có 1 thị trấn huyện lị Thường Tín và 28 xã: Chương Dương, Dũng Tiến, Duyên Thái, Hà Hồi, Hiền Giang, Hòa Bình, Hồng Vân, Khánh Hà, Lê Lợi, Liên Phương, Minh Cường, Nghiêm Xuyên, Nguyễn Trãi, Nhị Khê, Ninh Sở, Quất Động, Tân Minh, Thắng Lợi, Thống Nhất, Thư Phú, Tiền Phong, Tô Hiệu, Tự Nhiên, Văn Bình, Vạn Điểm, Văn Phú, Vân Tảo, Văn Tự, Tiền Phong == Lãnh đạo huyện == Bí thư Huyện ủy Nguyễn Tiến Minh - Chủ tịch HĐND huyện: Phùng Văn Quốc Phó bí thư - Chủ tịch UBND huyện: Ông Kiều Xuân Huy Phó bí Thư Huyện uỷ: Ông Phùng Văn Quốc Phó chủ tịch UBND huyện: Ông Nguyễn Sỹ Tuyến, Ông Nguyễn Tuấn Thịnh, Bà Lê Thị Liễu Phó chủ tịch HĐND huyện:Ông Lê Tuấn Dũng, Ông Phan Thanh Tùng == Địa lý == Về đất đai đa phần diện tích đất đai là Đông Bằng được bồi đắp bởi hai 2 dòng sông chính là sông Hồng và sông Nhuệ. == Giao thông == Thường Tín có hệ thống đường giao thông thuận lợi với hai tuyến đường bộ chạy dọc huyện là quốc lộ 1A dài 17,2 km và đường cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ dài 17 km đến cầu Vạn Điểm đoạn giao cắt với đường 429 (73 cũ); chạy ngang huyện là tuyến đường tỉnh lộ 427 (đường 71 cũ) từ dốc Vân La (xã Hồng Vân) qua cầu vượt Khê Hồi đến thị trấn Thường Tín sang phía tây huyện và tỉnh lộ 429 (73 cũ) từ Thị trấn Phú Minh (huyện Phú Xuyên) qua gầm cầu vượt Vạn Điểm đến Ngã 3 Đỗ Xá giao với quốc lộ 1A cũ; tiếp theo là đoạn đường 429 từ ngã ba Tía chạy vào Đồng Quan. Dự kiến sẽ xây cầu Mễ Sở nối với huyện Văn Giang của tỉnh Hưng Yên. Trên Huyện có tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua với 3 nhà ga là ga Thường Tín, ga Tía và ga Đỗ Xá. Đường thủy có sông Hồng, với cảng Hồng Vân, cảng Vạn Điểm. Qua sông đi Tứ Dân, Khoái Châu, Phố Nối và Thành phố Hưng Yên. Hiện nay, huyện Thường Tín đang được đầu tư xây dựng khu đô thị Duyên Thái nằm ở phía bắc huyện, giáp ranh với xã Liên Ninh của huyện Thanh Trì. == Lịch sử == Thường Tín nguyên là một phủ thuộc Trấn Sơn Nam từ thời Lê đến thời nhà Nguyễn, Phủ Thường Tín thuộc tỉnh Hà Đông. Phú Thường tín lúc đó bao gồm các huyện: Thanh Trì, Thượng Phúc (là Thường tín ngày nay) và Phú Xuyên. Ngày 21 tháng 4 năm 1965, huyện Thường Tín thuộc tỉnh Hà Tây (hợp nhất 2 tỉnh Hà Đông và Sơn Tây), gồm 32 xã: Chương Dương, Đại Áng, Dũng Tiến, Duyên Thái, Hà Hồi, Hiền Giang, Hòa Bình, Hồng Vân, Khánh Hà, Lê Lợi, Liên Ninh, Liên Phương, Minh Cường, Nghiêm Xuyên, Ngọc Hồi, Nguyễn Trãi, Nhị Khê, Ninh Sở, Quất Động, Tả Thanh Oai, Tân Minh, Thắng Lợi, Thống Nhất, Thư Phú, Tiền Phong, Tô Hiệu, Tự Nhiên, Văn Bình, Vạn Điểm, Văn Phú, Vân Tảo, Văn Tự. Ngày 29 tháng 12 năm 1975, huyện Thường Tín thuộc tỉnh Hà Sơn Bình do hợp nhất 2 tỉnh Hà Tây và Hòa Bình. Ngày 29 tháng 12 năm 1978, 4 xã ở phía bắc huyện Thường Tín là: Đại Áng, Liên Ninh, Ngọc Hồi, Tả Thanh Oai được sáp nhập vào huyện Thanh Trì. Huyện Thường Tín còn lại 28 xã: Chương Dương, Dũng Tiến, Duyên Thái, Hà Hồi, Hiền Giang, Hòa Bình, Hồng Vân, Khánh Hà, Lê Lợi, Liên Phương, Minh Cường, Nghiêm Xuyên, Nguyễn Trãi, Nhị Khê, Ninh Sở, Quất Động, Tân Minh, Thắng Lợi, Thống Nhất, Thư Phú, Tiền Phong, Tô Hiệu, Tự Nhiên, Văn Bình, Vạn Điểm, Văn Phú, Vân Tảo, Văn Tự. Ngày 19 tháng 3 năm 1988, thành lập thị trấn Thường Tín trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và nhân khẩu của các xã Văn Bình, Văn Phú và Hà Hồi. Ngày 12 tháng 8 năm 1991, Thường Tín trở lại thuộc tỉnh Hà Tây. Như vậy, huyện Thường Tín có 1 thị trấn và 28 xã, giữ ổn định đến nay. Ngày 29 tháng 5 năm 2008, cùng với toàn bộ tỉnh Hà Tây, huyện Thường Tín được nhập về Hà Nội. == Cơ cấu kinh tế == Công nghiệp - xây dựng: 53,4% Thương mại dịch vụ: 32,5% Nông nghiệp: 14,1% Hiện nay huyện có nhiều công trình dự án đầu tư như: Khu công nghiệp bắc Thường Tín (chưa đầu tư) Khu công nghiệp Hà Bình Phương nằm ở khu vực các xã: Hà Hồi, Văn Bình và Liên Phương Khu công nghiệp Phụng Hiệp nằm ở vị trí xã Thắng Lợi, xã Dũng Tiến, xã Tô Hiệu, xã Nghiêm Xuyên Cụm công nghiệp Quất Động nằm trên Địa bàn xã Quất Động Cụm công nghiệp Duyên Thái nằm ở xã Duyên Thái, cụm công nghiệp Liên Phương ở xã Liên Phương Cụm công nghiệp làng nghề: Vạn Điểm (mộc), cụm công nghiệp làng nghề Duyên Thái(sơn mài); Cụm công nghiệp làng nghề mây tre đan (Ninh Sở), cụm công nghiệp làng nghề Tiền Phong (bông len), cụm công nghiệp làng nghề mộc Văn Tự Nhà máy bia Việt Nam tại xã Vân Tảo chuyên sản xuất các loại bia ngoại: Heineken, Tiger. == Làng nghề == Thường Tín là huyện có nhiều làng nghề lâu đời với những sản phẩm nổi tiếng như: Đan lưới ở trần phú, xã minh cường Tiện gỗ ở Nhị Khê Sơn mài ở Duyên Thái Thêu ở Quất Động Thêu ở xã Dũng Tiến Làm bánh dày ở Quán Gánh Mây tre đan ở Bằng Sở, Ninh Sở Sản xuất vàng mã ở Văn Bình Điêu khắc gỗ đá ở Nhân Hiền - Hiền Giang Một số nghề mới phát triển mấy chục năm trở lại đây như: Xương sừng Thuỵ Ứng - xã Hoà Bình Bông len ở Trát Cầu - Tiền Phong Mộc cao cấp ở Vạn Điểm. Nghề trông cây cảnh ở Hông Vân, Vân Tảo, Tự Nhiên, Thư Phú... Hiện nay đã có 43 làng được UBND thành phố Hà Nội công nhận là làng nghề. == Làng văn hóa == Huyện có 126 làng cổ, hiện thời được phân thành 169 thôn, cụm dân cư, tổ dân phố tại 28 xã và 1 thị trấn. Được thừa hưởng truyền thống lịch sử văn hóa đặc sắc của vùng ven đô. Trong các cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam, vùng đất này có nhiều dấu ấn đi vào lịch sử. Huyện đã có nhiều di chỉ khảo cổ học của thời ký đồ đá mới, thời kỳ văn hóa Đông Sơn. Tình cờ, trong quá trình sản xuất người dân xã Thắng Lợi đã tìm được những hiện vật gồm 21 rìu đá được chế tác khá tinh xảo trong một ngôi mộ bên dòng sông Kim Ngưu. Cách đó 3 km, họ đào được nhiều mộ thuyền tương tự như các hiện vật tại di chỉ xã Châu Can huyện Phú Xuyên chứa đựng các đồ tùy táng bằng đồng: mũ, lá chắn, giáo, tên... Tất cả đã được Bảo tàng tỉnh đưa về bảo quản và trưng bày. Nhiều địa danh đã được sử sách ghi lại như Chương Dương Độ, diễn ra trận chiến 1285 của nhà Trần dẫn đến chiến thắng cuộc xâm lược Đại Việt lần thứ hai của nhà Nguyên. Hà Hồi nơi mở màn chiến thắng giặc Mãn Thanh của vua Quang Trung trên đường tiến đánh thành Thăng Long. Huyện là vùng đất khoa bảng, trong danh sách ghi tên những người đỗ tiến sĩ qua các Triều đại phong kiến, Thường Tín là huyện đứng ở tốp đầu về con số đăng khoa {gần 70 người}. Nhiều dòng họ, nhiều gia đình nối đời đỗ đạt, điển hình là họ Vũ làng Ba Lăng xã Dũng Tiến được coi là đất học với nhiều người học rộng tài cao. Họ Ngô ở Nghiêm Xá (Nghiêm Xuyên) với 3 cha con cùng đỗ đại khoa. Họ Từ ở làng Khê Hồi xã Hà Hồi được gọi là "Họ Tiến sĩ" vì có đông người đỗ khoa bảng. Tiêu biểu là Gia đình Nguyễn Phi Khanh làng Nhị Khê, cả cha và con đều đỗ Thái Học Sinh năm 1400 (tương đương Tiến sĩ). Sau này Nguyễn Trãi với tài văn võ song toàn đã có công lớn trong việc giúp Lê Lợi đánh thắng nhà Minh. Sáu trăm năm sau ngày sinh Nguyễn Trãi được UNESCO đưa vào danh sách những nhân vật kiệt xuất nhất của lịch sử nhân loại là Danh nhân văn hoá thế giới. Trong hệ thống các di tích cổ, toàn huyện có 385 điểm được Nhà nước Việt Nam xếp hạng gần 100 điểm, một số điểm được đề nghị xếp hạng đặc biệt như: Chùa Đậu thuộc xã Nguyễn Trãi, nơi lưu giữ di hài theo phương thức "Tượng táng" như cách gọi của GS-TS Nguyễn Lân Cường; chùa Mui xã Tô Hiệu, một cụm kiến trúc còn khá nguyên bản cuối thế kỷ 14; đền thờ Nguyễn Trãi ở làng Nhị Khê..Về di sản văn hóa phi vật thể, huyện còn lưu giữ nhiều tục ngữ, dân ca địa phương, các sinh hoạt lễ hội các tích trò cổ: kéo lửa nấu cơm thi Từ Vân xã Lê Lợi, các cuộc thi võ cổ truyền, hát trống quân... Huyện đã triển khai Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá, thực thiện nếp sống văn minh trong nếp sống xã hội như cưới, tang, hội hè, và các lễ thức khác. Đã có 78% số hộ đạt Gia đình văn hoá, 58 làng đạt danh hiệu Làng văn hoá, 58 cơ quan, đơn vị doanh nghiệp văn hoá. == Di tích lịch sử == Thường Tín thực sự là một vùng quê tươi đẹp với những di tích lịch sử nổi tiếng là: Chùa Đại Minh (Thôn Duyên Trường, xã Duyên Thái) Đền Thờ Nguyễn Trãi ở xã Nhị Khê chùa Đậu ở xã Nguyễn Trãi Đình thờ Chử Đồng Tử - Tiên Dung (xã Tự Nhiên bên dòng sông Hồng Chùa Mui (xã Tô Hiệu) Đình Nghiêm Xá - Nghiêm Xuyên Cụm di tích đình chùa Liễu Viên-Nghiêm Xuyên Đình Cống Xuyên-Nghiêm Xuyên Đền Đông Bộ Đầu (xã Thống Nhất) Đình Là (Xã Tân Minh) Lăng đá Quận Vân (xã Vân Tảo) Bến và Đền, chùa Chương Dương (xã Chương Dương) Khu đền Lộ, Xâm Dương, đình chùa đền, lăng Bồ Tát Ninh Xá (xã Ninh Sở) Đền, chùa, đình Vân Trai, Yên Phú (xã Văn Phú) Đình Đan Nhiễm (xã Khánh Hà) Đình Thượng Cung, Ngọc Động (xã Tiền Phong) Chùa Pháp Vân(Thôn Văn Giáp, xã Văn Bình) Đình Bình Vọng, Chùa Văn Hội (xã Văn Bình) Đình Vĩnh Lộc, Phú Mỹ (xã Thư Phú) Đình Tự Nhiên, Bãi Nổi sông Hồng nơi Chử Đồng Tử gặp Tiên Dung... Cụm di tích lịch sử văn hóa Đình-Chùa thôn Đống Chanh - xã Minh Cường == Giáo dục - Y tế == Huyện có: Phòng giáo dục huyện Trường Cao đẳng Sư phạm Hà Tây Trường Cao đẳng Truyền hình 6 trường THPT: Thường Tín; Nguyễn Trãi; Tô Hiệu; Vân Tảo; Lý Tử Tấn; Phùng Hưng 30 trường THCS 29 trường tiểu học Bệnh viện đa khoa Thường Tín Bệnh viện tâm thần Trung ương 1 - Hoà Bình Viện Giám định Pháp Y tâm thần Trung ương - Hòa Bình Huyện hiện nay có các trung tâm y tế, trung tâm dân số và bệnh viện huyện Thường Tín hàng năm chữa trị cho hàng vạn người trong huyện cũng như các địa phương lân cận. Ngoài ra 100% các trung tâm y tế xã trong huyện đã có các bác sĩ khám chữa bệnh == Danh nhân == Qua các Triều đại phong kiến, huyện có gần 70 người đỗ đạt, tiêu biểu là: Trần Hòa, Trần Điện và Trần Điền, người phủ Thường Tín, tỉnh Hà Đông dưới triều vua Lý Nam Đế, đã dạy nghề kim hoàn cho thợ bạc ở trong nước. Cha con Nguyễn Phi Khanh - Nguyễn Trãi. Lý Tử Tấn người làng Triều Đông, xã Tân Minh, cùng đỗ Thái học sinh và cùng tham gia chống giặc Minh dưới cờ Lê Lợi cùng Nguyễn Trãi Nguyễn Chí (Hoàng Giáp) người xã Cao xá, huyện Thượng Phúc, nay là thôn Cao Xá trên, xã Dũng Tiến, huyện Thường Tín, TP.HN. Đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa Mậu Thìn, niên hiệu Đoan Khánh thứ 4 (1508), đời Lê Uy Mục. Quan Thị Lang (thuộc dòng họ Nguyễn lớn nhất thôn Cao Xá trên, hậu duệ là các ông Nguyễn Đăng Trình, Nguyễn Đăng Đệ, Nguyễn Đăng Chu). Lê Công Hành (làng Quất Động) - là ông tổ nghề thêu ren... Dương Trực Nguyên đỗ tiến sý thời Lê sơ là phó suý hội Tâo Đàn của vua Lê Thánh Tông Ngô Hoan - đỗ Hoàng giáp năm 1484, người làng Nghiêm Xá, Nghiêm Xuyên- Đô Ngự sử- Hội viên Hội Tao đàn của vua Lê Thánh Tông. Cụ có 2 con trai là Ngô Ước, Ngô Hoành cùng thi đỗ Hoàng giáp và Đồng tiến sĩ xuất thân khoa thi năm 1527 đời Lê Cung hoàng. Lương Văn Can người (làng) xã Nhị Khê, nhà cách mạng Việt Nam, khởi xướng phong trào Đông Kinh nghĩa thục. Trần Lư, tiến sĩ triều Lê, ông tổ nghề sơn ta. Từ Trọng Đĩnh (1689) Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, người xã Phương Quế huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Liên Phương huyện Thường Tín). Ông là em của Từ Bá Cơ, làm quan Giám sát Ngự sử Nguyễn Khánh, Phó thủ tướng, quê xã Hà Hồi Lê Liêm, Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt nam, Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thứ trưởng Bộ Giáo dục, Chủ nhiệm Văn phòng Văn giáo Phủ Thủ tướng. Phạm Khôi Nguyên, nguyên Uỷ viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Bộ trưởng bộ Tài nguyên Môi trường, Đại biểu Quốc hội khoá XII, quê xã Ninh Sở. Tạ Xuân Đại, nguyên Phó Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, quê xã Quất Động. Luật sư Vũ Văn Mẫu, nguyên Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao của Việt Nam Cộng hoà, quê xã Quất Động. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Huyện Thường Tín trên trang web tỉnh Hà Tây cũ
đội tuyển bóng đá quốc gia algérie.txt
Đội tuyển bóng đá quốc gia Algérie, có biệt danh là Les Fennecs (Những con cáo sa mạc), là đội tuyển của Liên đoàn bóng đá Algérie và đại diện cho Algérie trên bình diện quốc tế. Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Algérie là trận gặp đội tuyển Tunisia vào năm 1957. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là lọt vào vòng 16 đội của World Cup 2014, tấm huy chương vàng của đại hội Thể thao toàn Phi 1978 và chức vô địch Cúp bóng đá châu Phi 1990. == Danh hiệu == Cúp bóng đá châu Phi: 1 Vô địch: 1990 Á quân: 1980 Hạng ba: 1984; 1988 Hạng tư: 1982; 2010 Bóng đá nam tại African Games: 1978 Hạng tư: 1965 == Thành tích tại các giải đấu == === Giải bóng đá vô địch thế giới === === Cúp bóng đá châu Phi === Algérie mới 1 lần vô địch châu Phi khi đăng cai giải đấu này năm 1990. Khung đỏ: Chủ nhà === Cúp bóng đá Ả Rập === 1963 đến 1985 - Không tham dự 1988 - Vòng bảng 1992 - Không tham dự 1998 - Vòng bảng 2002 đến 2012 - Không tham dự == Kết quả thi đấu == === 2017 === == Đội hình hiện tại == Dưới đây là danh sách đội hình tham dự cúp bóng đá châu Phi 2017. Số liệu thống kê tính đến ngày 23 tháng 1 năm 2017, sau trận gặp Sénégal. === Triệu tập gần đây === Chú thích INJ Cầu thủ rút lui vì chấn thương.RET Đã giã từ đội tuyển quốc gia. === Kỷ lục === Dươi đây là danh sách 10 cầu thủ chơi nhiều trận nhất và ghi nhiều bàn thắng nhất tính đến ngày 23 tháng 1 năm 2017. Cầu thủ in đậm vẫn còn thi đấu ở đội tuyển quốc gia. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Đội tuyển bóng đá quốc gia Algérie trên trang chủ của FIFA
milos raonic.txt
Milos Raonic ( /ˈmiːloʊʃ ˈraʊnɪtʃ/ MEE-lohsh ROW-nich; sinh ngày 27 tháng 12 năm 1990) là 1 vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Canada. Anh ấy có vị trí cao nhất trong Bảng xếp hạng Đơn là số 3 thế giới vào ngày 21 tháng 11 năm 2016. Sự nghiệp đỉnh cao bao gồm chung kết Grand Slam tại Giải đơn nam Vô địch Wimbledon 2016; hai bán kết Grand Slam tại Giải đơn nam - Vô địch Wimbledon 2014 và Giả đơn nam - Úc mở rộng 2016; và 3 chung kết giải ATP World Tour Masters 1000 tại Giải đơn nam cúp Roger 2013, Giải đơn nam BNP Paribas Masters 2014, và Giải đơn nam BNP Paribas Open 2016. == Tiểu sử == Raonic sinh ngày 27 tháng 12 năm 1990 tại Titograd, SFR Nam Tư (nay là Podgorica, Montenegro), và là người gốc Serbi. Bị thúc đẩy bởi tình trạng bất ổn chính trị ở Balkan và tìm kiếm nhiều cơ hội nghề nghiệp hơn, gia đình anh chuyển đến Canada vào năm 1994 khi ông mới ba tuổi, định cư ở Brampton, Ontario. His parents are both engineers; his father, Dušan, holds a Ph.D. in electrical engineering, Cha mẹ của ông là cả kỹ sư, [21] cha của ông, Dušan, có bằng tiến sĩ. Trong kỹ thuật điện, [20] trong khi mẹ của ông, Vesna, có bằng cấp về cơ khí và kỹ thuật máy tính, bao gồm cả thạc sĩ. [2] [21] Ông có hai anh chị em, cả hai đều lớn hơn rất nhiều: em gái của ông, Jelena, có bằng thạc sỹ về thương mại và tài chính quốc tế và đã 11 tuổi, trong khi anh trai, Momir, có bằng cấp về công nghệ thông tin và kinh doanh và đã chín tuổi. 2] Chú của Raonic, Branimir Gvozdenović, là một chính trị gia của Chính phủ Montenegro, nơi ông làm Phó Thủ tướng Raonic is fluent in Serbian and English.. Raonic thông thạo tiếng Serbian và tiếng Anh. == Thống kê sự nghiệp == === Thời gian biểu thi đấu Grand Slam === Bảng này đến hiện tại của Giải quần vợt Úc Mở rộng 2017. === Chung kết Grand Slam: 1 (1 về nhì) === == Tham khảo == Ghi chú Nguồn Tennis Canada (2016). “2016 Tennis Canada Media Guide” (PDF). Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 17 tháng 3 năm 2016. Truy cập ngày 28 tháng 5 năm 2016. Footnotes == Liên kết ngoài == Website chính thức Milos Raonic trên trang chủ ATP (tiếng Anh) Milos Raonic trên ITF Milos Raonic tại Davis Cup
bắc triều tiên và vũ khí hủy diệt hàng loạt.txt
Bắc Triều Tiên (tên chính thức là Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên) đã tuyên bố rằng mình sở hữu vũ khí hạt nhân và nhiều người tin rằng quốc gia này có vũ khí hạt nhân. CIA đánh giá rằng Bắc Triều Tiên cũng có một kho vũ khí hóa học đáng kể. Bắc Triều Tiên là một bên của Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân nhưng rút lui vào năm 2003 với lý do "tình thế nghiêm trọng mà chủ quyền của dân tộc Triều Tiên và an ninh của CHDCND Triều Tiên bị đe dọa do chính sách thù địch của Mỹ". Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên coi hạt nhân là con bài để đạt được yêu sách Hoa Kỳ thực hiện nghiêm túc Hiệp định Geneve 1954 về bán đảo Triều Tiên là không được can thiệp vào nội bộ của bán đảo Triều Tiên. Triều Tiên từ lâu đã tìm kiếm một thỏa thuận hòa bình với Mỹ. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ và các đồng minh, gồm cả Hàn Quốc không được đe dọa sử dụng vũ lực với Triều Tiên. Đặc biệt, phía Triều Tiên đưa ra yêu sách rằng nếu Hàn Quốc và Hoa Kỳ ngừng tập trận thì Triều Tiên sẽ ngừng thử hạt nhân (theo luật pháp quốc tế, tập trận là một trong các hình thức đe dọa sử dụng vũ lực). Việc Triều Tiên tự nguyện phá hủy lò phản ứng hạt nhân Yongbyon vào năm 2008 được coi là một trong những thiện chí từ phía Triều Tiên nhưng Hoa Kỳ và Hàn Quốc không có những hành động thể hiện thiện chí tương ứng đã khiến cho lòng tin của các bên tiếp tục bị suy giảm nghiêm trọng. == Lịch sử phát triển == Nhận thức được sức mạnh của vũ khí hạt nhân trong việc bảo vệ lãnh thổ và răn đe kẻ thù, năm 1956 - dưới sự chỉ đạo của Chủ tịch Kim Nhật Thành, các nhà khoa học Triều Tiên bắt đầu tiến hành việc nghiên cứu với sự giúp đỡ của Liên Xô, một số cán bộ kỹ thuật Triều Tiên sang Moskva để học hỏi những kiến thức cơ bản. Năm 1958, trước việc Mỹ triển khai tên lửa Honest mang đầu đạn hạt nhân và lực lượng pháo hạt nhân 280mm đến Hàn Quốc, Triều Tiên và Liên Xô lập tức ký một thỏa thuận hợp tác, theo đó phía Liên Xô sẽ giúp Triều Tiên xây dựng Trung tâm hạt nhân Yongbyon. Năm 1962, các lò phản ứng đạt được công suất 2MW rồi đến năm 1974, được nâng lên thành 4MW. Từ năm 1970, Triều Tiên bắt đầu khai thác quặng Urani ở một số mỏ nằm gần tỉnh Sunchon và Pyongsan. Sau khi nắm được những công nghệ cơ bản về chế tạo vũ khí hạt nhân, song song với việc triển khai các lò phản ứng, từ năm 1980 đến 1985, Triều Tiên tiến hành xây dựng thêm một nhà máy ở Trung tâm hạt nhân Yongbyon để tích lũy Urani. Năm 1985, tuy Triều Tiên ký "Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân" (NPT) nhưng vẫn lặng lẽ nghiên cứu và hoàn thiện cách chế tạo loại công cụ hủy diệt hàng loạt này, mặc cho nhiều biện pháp ngăn cản, trừng phạt, bao vây cấm vận của Liên Hiệp Quốc cùng một số quốc gia như Mỹ, Anh, Pháp … Bên cạnh đó, Bình Nhưỡng cũng không đồng ý để các thanh sát viên IAEA đến kiểm tra các cơ sở hạt nhân của mình. Năm 1992, lần đầu tiên Triều Tiên mới cho phép một nhóm chuyên gia IAEA đến Trung tâm hạt nhân Yongbyon. Kết quả kiểm tra đã phát hiện nhiều mâu thuẫn, trái ngược với những tuyên bố của Bình Nhưỡng rằng họ phát triển công nghiệp hạt nhân chỉ nhằm mục đích phục vụ cho nhu cầu dân sự mà đang bí mật sử dụng lò phản ứng và cơ sở tái chế ở Yongbyon để biến nhiên liệu đã qua sử dụng thành Plutonium. Trước những cáo buộc ấy, tháng 3 năm 1993, Bình Nhưỡng đe dọa sẽ rút khỏi Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT). Sau nhiều vòng đàm phán, ngày 12 tháng 10 năm 1994, Mỹ và Triều Tiên đã ký một thỏa thuận khung, trong đó Bình Nhưỡng đồng ý đóng băng chương trình sản xuất Plutonium để đổi lấy xăng, dầu, lương thực cùng 2 nhà máy điện hạt nhân nước nhẹ, phục vụ cho sinh hoạt dân sự. Đổi lại, Triều Tiên sẽ tháo dỡ các cơ sở hạt nhân hiện có, và các thanh nhiên liệu Urani trong các lò phản ứng sẽ được đưa ra khỏi Triều Tiên dưới sự giám sát của IAEA. Ngày 31 tháng 8 năm 1998, Triều Tiên bất ngờ phóng tên lửa Paektusan-1, mang theo vệ tinh thăm dò thời tiết Kwangmyongsong. Các nhà phân tích quân sự Mỹ cho rằng vụ phóng vệ tinh chỉ là nhằm che giấu việc thử nghiệm loại tên lửa liên lục địa. Tên lửa này đã bay qua vùng lãnh hải Nhật Bản, khiến Chính phủ Nhật rút lại 1 tỷ USD - là tiền viện trợ xây dựng 2 lò phản ứng nước nhẹ dân sự cho Bình Nhưỡng. Từ đó đến năm 2002, Triều Tiên vẫn tiếp tục nghiên cứu, chế tạo vũ khí nguyên tử cho dù 2 nhà máy điện hạt nhân nước nhẹ phục vụ dân sinh đã bắt đầu được xây dựng bởi Tổ chức phát triển năng lượng Hàn Quốc, cũng như phớt lờ những cảnh báo của Tổng thống Mỹ George W. Bush. Ngày 13 tháng 12, Bình Nhưỡng yêu cầu IAEA loại bỏ con dấu niêm phong và tháo gỡ thiết bị giám sát tại cơ sở hạt nhân Yongbyon. Khi IAEA từ chối, Triều Tiên tự loại bỏ một mình đồng thời tiến hành đưa các thanh nhiên liệu đến nhà máy Yongbyon để phục vụ cho việc sản xuất Plutonium. Ngày 27 tháng 12, Bình Nhưỡng ra lệnh trục xuất các thanh sát viên IAEA đồng thời chính thức công bố kế hoạch mở lại một nhà máy tái chế để có thể bắt đầu sản xuất bom Plutonium. Ngày 10 tháng 1 năm 2003, một lần nữa Bình Nhưỡng lại tuyên bố sẽ rút khỏi Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT). Nhiều cuộc đàm phán giữa Hàn Quốc, Mỹ, IAEA với Triều Tiên đã diễn ra nhưng hầu như không đạt được kết quả đáng kể. Ngày 5 tháng 2 năm 2003, Triều Tiên cho biết họ đã kích hoạt lại các cơ sở hạt nhân và mọi hoạt động bắt đầu diễn ra bình thường. Đến tháng 6 Bình Nhưỡng công khai tuyên bố họ sẽ xây dựng một "lực lượng răn đe hạt nhân" trừ khi Chính phủ Mỹ từ bỏ chính sách thù địch với họ. Năm 2004, Triều Tiên đồng ý cho phép một nhóm các chuyên gia Mỹ - trong đó có nhà khoa học hạt nhân là Tiến sĩ Siegfried Hecker - thăm cơ sở hạt nhân Yongbyon và ông xác nhận việc Triều Tiên làm giàu Plutonium là có nhưng ông không nhìn thấy bất kỳ bằng chứng nào về sự chế tạo Vũ khí hạt nhân. Ngày 19 tháng 9 năm 2005, trải qua nhiều cuộc đàm phán tổ chức ở Bắc Kinh, Trung Quốc, một tuyên bố chung giữa Mỹ và Triều Tiên được công bố trong đó Triều Tiên đồng ý từ bỏ tất cả các hoạt động hạt nhân của mình, đồng thời tái gia nhập Hiệp ước không phổ biến vũ khí hạt nhân (NPT). Thế nhưng, ngay hôm sau, Bình Nhưỡng lại cho biết sẽ không bỏ chương trình hạt nhân cho đến khi có được một lò phản ứng hạt nhân dân sự. Ngày 26 tháng 6 năm 2006, một báo cáo của Viện Khoa học và An ninh quốc tế ước tính rằng thời điểm ấy, lượng Plutonium dự trữ của Triều Tiên đủ để chế tạo từ 4 đến 13 quả bom hoặc đầu đạn hạt nhân. Ngày 4 tháng 7 năm 2006, Triều Tiên phóng thử nghiệm 6 tên lửa, trong đó có một tên lửa tầm xa Taepo Dong-2. Hôm sau, họ phóng tiếp một tên lửa nữa với lời tuyên bố "sẽ tiếp tục phóng", bất chấp những cảnh báo lặp đi lặp lại từ cộng đồng quốc tế. Ngày 6 tháng 10 năm 2006, vệ tinh tình báo Mỹ ghi nhận có một vụ nổ xảy ra tại khu vực thử nghiệm Hwaderi, gần thành phố Kilju. Ngay lập tức, Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc ra tuyên bố: "Hội đồng Bảo an kêu gọi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên không tiến hành thử nghiệm vũ khí hạt nhân để tránh gây thêm căng thẳng trong việc giải quyết các mối quan tâm của cộng đồng quốc tế, nhằm tạo điều kiện cho một giải pháp hòa bình, thông qua các nỗ lực ngoại giao…". Triều Tiên tuyên bố thực hiện vụ thử hạt nhân đầu tiên vào ngày 9 tháng 10 năm 2006, một hành động bị ngay cả những quốc gia đồng minh lên án. Với độ mạnh chưa đầy 1 kiloton, quả bom chưa bằng 1/10 quả bom được thả xuống Hiroshima năm 1945. Trong tháng 4 năm 2009, báo cáo cho rằng Bắc Triều Tiên đã trở thành một "cường quốc gia hạt nhân đầy đủ", một ý kiến ​​được chia sẻ bởi Tổng Giám đốc IAEA Mohamed ElBaradei. Ngày 25 tháng 5 năm 2009, Triều Tiên tiến hành Vụ thử hạt nhân lần thứ hai, một động thái khiến cả thế giới lo ngại. Đáp lại hành động này, vào ngày 12 tháng 6 năm 2009, Liên Hợp Quốc đã thảo ra những lệnh trừng phạt mới đối với "Bình Nhưỡng". Vụ thử này được tin cho là nguyên nhân gây ra một trận địa chấn 4,7 độ. Mặc dù không có thông tin chính thức về vị trí các của thử nghiệm, nó được tin rằng nó đã xảy ra trong các khu vực đông bắc gần Kilju, địa điểm thử nghiệm hạt nhân của Bắc Triều Tiên. Ngày 12 tháng 2 năm 2013, Triều Tiên tiến hành vụ thử hạt nhân lần 3 có sức công phá lớn hơn 2 lần trước nhưng vẫn nhỏ hơn vụ Hiroshima. Theo các chuyên gia đánh giá, Triều Tiên đã có thể sản xuất được đầu đạn hạt nhân, nhưng chưa thể làm chủ công nghệ tên lửa đẩy và cách thu nhỏ kích thước đầu đạn để gắn lên nó. Ngày 06 tháng 01 năm 2016, Triều Tiên tuyên bố thử thành công Vũ khí nhiệt hạch trong vụ thử hạt nhân lần 4. Tuy nhiên, các chuyên gia quốc tế vẫn tin rằng Triều Tiên chưa đủ khả năng để chế tạo Vũ khí nhiệt hạch. Ngày 9 tháng 9 năm 2016, nhân dịp ngày kỷ niệm 68 năm quốc khánh, Triều Tiên tiến hành vụ thử hạt nhân lần 5. Cơ quan Khảo sát Địa chất Mỹ cho biết có rung chấn mạnh 5,3 độ Richter xảy ra tại bãi thử hạt nhân Punggye-ri. Đây là vụ thử lớn nhất của Triều Tiên tính tới nay, ít nhất là từ 20 đến 30 kiloton” và rung chấn chỉ ra rằng vụ nổ có sức công phá lớn hơn quả bom nguyên tử Mỹ từng thả xuống trong Vụ ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki == Kinh phí để thực hiện các vụ thử nghiệm == Theo hãng tin Bloomberg, để có tiền chi cho các chương trình phát triển vũ khí hạt nhân, Bình Nhưỡng đã tiến hành thực hiện nhiều kế sách, bao gồm từ việc mua bán vũ khí trái phép, buôn lậu ngà voi, sừng tê giác, thuốc tây, cộng với một số hoạt động kinh tế công khai như bán bản quyền đánh cá cho Trung Quốc, mở nhà hàng, quán ăn ở một số nước. Những khách hàng vũ khí thường xuyên của Triều Tiên là một số quốc gia ở Trung Đông và châu Phi. Trước đây, mặt hàng mua bán chủ yếu là tên lửa tầm ngắn và tầm trung. Nhưng những năm gần đây, bên cạnh việc mua bán bắt đầu trở nên khó khăn vì lệnh cấm vận của Liên Hiệp Quốc thì một số quốc gia không còn mặn mà với những vũ khí do Triều Tiên chế tạo bởi lẽ nó được sao chép từ những công nghệ thời Xô Viết mà đến nay, đã trở nên lạc hậu. Một nguồn thu nhập khác cho ngành công nghiệp hạt nhân Triều Tiên là tiền lương của các công nhân làm việc ở Khu công nghiệp Kaesong và xuất khẩu lao động. Theo Bộ Thống nhất Hàn Quốc, Khu công nghiệp Kaesong mang lại cho Triều Tiên 616 tỷ won (516 triệu USD) kể từ khi bắt đầu đi vào hoạt động hồi năm 2004. Với 54.000 lao động người Triều Tiên, tiền lương bình quân 120USD/tháng nhưng họ không được lĩnh trực tiếp, 120 công ty Hàn Quốc thanh toán tiền lương bằng USD nhưng Bình Nhưỡng đã quy đổi sang đồng won rồi phát lại cho công nhân. Điều đáng nói là việc quy đổi dựa trên tỉ giá do Bình Nhưỡng quy định. Từ giữa thập niên 2000, Triều Tiên tăng cường gửi công nhân ra nước ngoài làm việc nhằm thu ngoại tệ tại hơn 40 quốc gia, trong nhiều lĩnh vực khác nhau, như phục vụ nhà hàng ở Trung Quốc, Đông Nam Á, xây dựng ở Nga và Trung Đông. == Tham khảo ==
xâm lược.txt
Xâm lược là hành động quân sự của quân đội (hoặc lực lượng vũ trang) một nước hay liên minh các nước vào một vị trí địa lý chính trị trọng yếu của nước khác. Theo Điều 1 của Nghị quyết 3314 nhằm định nghĩa về Xâm lược của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 1974, Xâm lược là việc sử dụng lực lượng vũ trang hoặc là bất kỳ hành động nào trái với Hiến chương Liên Hiệp Quốc của một quốc gia hay liên minh các quốc gia nhằm chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hay sự độc lập về chính trị của một quốc gia khác hoặc của 1 liên minh các quốc gia khác. Hành động xâm lược có nhiều mục đích như mở rộng lãnh thổ, tạo ra điều kiện để mặc cả trên bàn đàm phán và để thực hiện các mục đích chính trị khác nhau. Theo Nghị quyết 3314 nhằm định nghĩa về Xâm lược của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 1974, xâm lược là một sự kiện diễn ra giữa các quốc gia với nhau, các cuộc chiến giữa các phe phái trong cùng một quốc gia không được coi là các hành động xâm lược. Hành động xâm lược bị coi là hành động chống lại nền hòa bình quốc tế, những vùng lãnh thổ có được nhờ xâm lược không được pháp luật thừa nhận. Không có bất kỳ lý do tự nhiên, kinh tế, chính trị hay những lý do khác để biện minh cho hành động xâm lược. Việc điều động quân sự vì mục đích nhân đạo không bị coi là xâm lược == Lịch sử == Các bằng chứng khảo cổ học đã chỉ ra rằng việc xâm lược đã thường xuyên xảy ra từ thời tiền sử. Trong thời cổ, trước khi có các phương tiện giao tiếp bằng sóng vô tuyến và các phương vận tải nhanh, cách duy nhất để bảo đảm bảo được sức mạnh cần thiết là di chuyển các đoàn người (đoàn quân) như một lực lượng lớn. Do vậy, theo bản chất tự nhiên của nó đã dẫn tới chiến lược xâm chiếm. Cùng với các cuộc xâm lược là việc mang đến những sự thay đổi văn hóa, thay đổi về tôn giáo, triết học, và công nghệ đã hình thành nhiều nền văn minh khác nhau của thế giới cổ. == Biện pháp phòng thủ == Các quốc gia có kẻ thù tiềm tàng ở bên cạnh thường dùng biện pháp phòng thủ để giữ chậm, ngặn chặn hành động xâm lược. Các rào cản địa lý như các con sông, suối, đầm lầy, núi đồi được tận dụng cho việc phòng ngự. Các công trình quân sự cũng được dùng trong việc phòng ngự. "Vạn Lý Trường Thành" là một công trình quân sự nổi tiếng được sử dụng cho việc này. Các rào cản còn bao gồm cả các công sự, các đường hào, các bãi mìn, các phương tiện quan sát, theo dõi sự di chuyển. Tuy nhiên các công trình này có thể cần một lựoc lượng quân đội lớn để bảo vệ cũng như duy trì các trang thiết bị được bố trí, là một gánh nặng kinh tế cho đất nước. Các công trình quân sự có thể được xây dựng thành một dãy liên tiếp, gồm các thành hoặc các công sự, pháo đài đặt ở gần biên giới. Các công trình này được thiết kế đẻ giữ chậm hành động xâm lược trong thời gian dài cho việc di chuyển một lực lượng bảo vệ đủ lớn đến. Trong một vài trường hợp thì chúng lại trở thành phương tiện phòng ngự ngược trở lại khi bị chọc thủng. Các pháo đài có thể bố trí ở các vị trí thuận lợi để đóng quân tránh được hoả lực trực tiếp của kẻ thù. Trong thời hiện đại, ý tưởng về việc sử dụng những công trình phòng thủ cố định chống lại sự đe doạ các căn cứ trên đất liền có quy mô lớn trở thành lỗi thời. Việc sử dụng những chiến dịch không quân chính xác và các máy móc phương tiện cơ giới hoá cỡ lớn được làm nhẹ hơn, khả năng phòng vệ cơ động hơn mới đáng được yêu cầu trong các kế hoạch quân sự. Các nước sử dụng phòng thủ chống lại các cuộc xâm lược hiện đại thường sử dụng các trung tâm dân cư lớn như các thành phố, các khu đô thị làm các điểm phòng thủ. Kẻ xâm lược phải chiếm được những điểm này để phá huỷ khả năng phòng thủ. Lực lượng phòng thủ sử dụng các sư đoàn để bảo vệ những điểm này nhưng lực lượng phòng thủ vẫn có thể rất cơ động và thông thường là ẩn nấp. Ví dụ điển hình cho việc sử dụng những thành phố làm các công sự phòng ngự là các vị trí đóng quân của Quân đội Iraq trong cuộc xâm lược Iraq 2003 tại Baghdad, Tikrit và Basra. Tuy nhiên những địa điểm tĩnh vẫn có hữu ích trong việc phòng thủ chống lại các cuộc tấn công của hải quân và không quân. Thuỷ lôi là phương thức hiệu quả cho việc phòng thủ bờ biển bảo vệ các cảng. Hệ thống phòng thủ không quân kết hợp giữa các súng pháo phòng không và các bệ phóng tên lửa vẫn là cách tốt nhất để chống lại các cuộc tấn công của không quân. Các hệ thống như vậy đã được sử dụng một cách hiệu quả ở xung quanh Hà Nội trong Chiến tranh Việt Nam. Hoa Kỳ cũng đầu tư nhiều thời gian và tiền bạc vào việc xây dựng hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia (WMD), một mạng lưói phòng thủ nhằm chặn đứng các tên lửa đạn đạo liên lục địa. Các quốc gia riêng biệt như Vương quốc Anh hay Nhật Bản và những nước lục địa có các bờ biển rộng như Hoa Kỳ đã tận dụng sự có mặt của hải quân để ngăn chặn trước một cuộc xâm lăng vào đất nước của họ hơn là việc củng cố các vùng biên giới. Tuy nhiên để thành công, lực lượng hải quân phải rất mạnh == Những hành động bị coi là xâm lược == Có rất nhiều phương pháp xâm lược. Để tiện phân biệt, Nghị quyết 3314 nhằm định nghĩa về Xâm lược của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 1974 đã nê khái quát về các hình thức xâm lược ở Điều 2 và các loại hình xâm lược một cách cụ thể ở Điều 3. Tuy nhiên hành động xâm lược không chỉ bao gồm những hành động trong điều 3 mà còn những hành động khác. Điều 2: Việc sử dụng lực lượng vũ trang trước của một quốc gia hay của một liên minh các quốc gia mà vi phạm Hiến chương Liên Hiệp Quốc sẽ được viện dẫn như một bằng chứng xác đáng của một hành vi xâm lược bất chấp Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, theo Hiến chương Liên Hiệp Quốc, có thể kết luận là: "việc xác định rằng một hành động xâm lược, mà hành động xâm lược đó đã được thừa nhận là vi phạm Hiến chương, sẽ không được bào chữa bởi việc nhận thấy những tình huống có liên quan, bao gồm thực tế rằng những hành động được quan tâm hay những hậu quả của những hành động động được quan tâm này không ở mức nghiêm trọng". Điều 3: chiểu theo và viện dẫn Điều 2, bất kỳ những hành động sau đây sẽ bị coi là xâm lược dù cho không tuyên bố chiến tranh Hành động xâm lấn hoặc tấn công được thực hiện bởi các lực lượng vũ trang của một quốc gia hay liên minh các quốc gia nhằm vào một quốc hoặc một liên minh các quốc gia khác hoặc là hành vi chiếm đóng quân, dù cho chỉ là tạm thời hoặc là sau khi thực hiện hành vi xâm lấn hoặc tấn công hay bất kỳ sự sáp nhập thông qua việc sử dụng lực lượng vũ trang tại chỗ hoặc một phần của lực lượng tại chỗ của một quốc hoặc một liên minh các quốc gia khác được nói ở trên. Hành vi bắn phá, pháo kích, cường kích hoặc ném bom được thực hiện bởi các lực lượng vũ trang của một quốc gia hoặc một liên minh quốc gia nhằm vào lãnh thổ của một quốc gia khác hoặc một liên minh quốc gia khác hoặc việc sử dụng bất kỳ loại vũ khí nào của một quốc gia hoặc một liên minh quốc gia nhằm vào lãnh thổ của một quốc gia khác hoặc một liên minh quốc gia khác Hành vi phong tỏa các cảng hay bờ biển được của một quốc gia hoặc một liên minh quốc gia được thực hiện bởi lực lượng vũ trang của một quốc gia khác hoặc một liên minh quốc gia khác Một cuộc tấn công trên bờ, trên biển hoặc trên không của một quốc gia hoặc một liên minh các quốc gia được thực hiện bởi lực lượng vũ trang hoặc lực lượng không quân hoặc lực lượng hải quân hoặc lực lượng không quân của hải quân của một quốc gia khác hoặc một liên minh các quốc gia khác Việc sử dụng lực lượng vũ trang của một quốc gia hoặc một liên minh các quốc gia mà lực lượng vũ trang này ở trong lãnh thổ của một quốc gia khác hoặc một liên minh các quốc gia khác không dựa theo thỏa thuận của quốc gia hoặc liên minh quốc gia tiếp nhận, bao gồm việc sử dụng lực lượng vũ trang này vi phạm các điều khoản có trong thỏa thuận hoặc bất kỳ việc kéo dài sự hiện diện ở những khu vực như trên vượt quá thời hạn có trong thỏa thuận Hành đồng của một quốc gia hoặc một liên minh các quốc gia ở trong vùng lãnh thổ được cho phép, điều đã bị bác bỏ bởi một quốc gia khác hoặc một liên minh các quốc gia khác, được thực hiện bởi một quốc gia hoặc một liên minh các quốc gia nói ở vế đầu nhằm vi phạm một đạo luật về hành động xâm lược công lại một quốc gia thứ 3 hoặc một liên minh các quốc gia thứ 3. Việc triển khai quân được thực hiện bởi hay đại diện cho một quốc gia hoặc một liên minh các quốc gia do những lực lượng, những nhóm có vũ trang hoặc lực lượng không chính quy hoặc lính đánh thuê thực hiện mà tạo ra những hoạt động vũ trang chống lại một quốc gia khác hoặc một liên minh các quốc gia khác gây ra những thiệt hại như những hành động được nói ở trên hoặc sự can dự trong trường hợp này gây ra những thiệt hại đáng kể. === Xâm lược trên đất liền === Xâm lược trên đất liền là sự tấn công trực tiếp của lực lượng vũ trang vào vùng đất liền tiếp giáp giữa các nước, thường là xuyên qua biên giới hoặc các vùng đã được phân định như là vùng phi quân sự, vượt qua các công trình các địa điểm phòng ngự. Mặc dù chiến thuật này thường đưa đến kết quả là nhanh chóng chiến thắng nhưng việc di chuyển lực lượng tương đối chậm và dễ bị đổ vỡ bởi địa hình và thời tiết. Hơn nữa phương pháp xâm lược này cũng khó giữ được bí mật đồng thời các nước đều bố trí các công trình, các pháo đài phòng ngự ở những vị trí xung yếu như đã nói đến ở trên. === Xâm lược trên biển === === Xâm lược trên không === đi bằng không quân như máy bay ném bom chiến lược, máy bay chiến đấu, máy bay vận chuyển.... xâm lược trên không nhầm mục đích phá hoại các thiết bị như nhà ga, xí nghiệp, sân bay... các mục tiêu quan trọng cần đánh. dùng tiêu diệt các mục tiêu trên không, biển, bộ == Xem thêm == Chiến tranh Chiến tranh xâm lược Quân đội Xung đột Xâm lược văn hoá Danh sách các cuộc xâm lược Chủ nghĩa đế quốc Chủ nghĩa thực dân Chủ nghĩa thực dân mới == Tham khảo ==
luật pháp.txt
Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí chung của một quốc gia, khu vực, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế. Luật pháp thông thường được thực thi thông qua một hệ thống tòa án trong đó quan tòa sẽ nghe tranh tụng từ các bên và áp dụng các quy định để đưa ra phán quyết công bằng và hợp lý. Cách thức mà luật pháp được thực thi được biết đến như là hệ thống pháp lý, thông thường phát triển trên cơ sở tập quán tại mỗi quốc gia. Phần lớn các quốc gia dựa vào cảnh sát pháp lý để thi hành luật pháp. Cảnh sát pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi luật pháp trước khi được cho phép có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa ra các cảnh báo và trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh khác cũng như thực hiện việc tạm giam, tạm giữ. Những người hành nghề pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức pháp lý trước khi được phép biện hộ cho các bên tại tòa án, == Lịch sử == Luật pháp dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng các biện pháp giáo dục, thuyết phục, và cưỡng chế. Luật pháp thông thường được thực thi thông qua một hệ thống các cơ quan thực thi, bao gồm các cơ quan như Công an (cảnh sát), tòa án, Việc kiểm sát, thi hành án.....Tuy nhiên, cũng cần hiểu rằng, chỉ những hành vi vi phạm pháp luật gây hậu quả xấu cho xã hội và đến một mức độ cần thiết mới có thể bị đưa ra Toà án. Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới đều có hai "nhánh" là thực thi luật pháp theo con đường hành chính và thực thi theo con đường hình sự. Hành chính và hình sự là hai cấp độ khác nhau và không thể đồng thời áp dụng lên một hành vi vi phạm. (Cụ thể xin vui lòng xem thêm quy định tại các văn bản pháp luật hiện hành để biết quy định nào sẽ cấu thành tội phạm hình sự và hành vi nào sẽ bị xử phạt hành chính). Về cơ bản, luật pháp được thực thi thông qua các biện pháp hành chính là nhiều hơn cả, ví dụ như: cảnh sát giao thông xử phạt người vi phạm, thanh tra xây dựng thanh tra và xử phạt vi phạm..... Trong xã hội dân dự, mặc dù Toà án vừa đóng vai trò là cơ quan thực thi nhưng cũng vừa là một người trọng tài để đưa ra các phán xét của mình về tính hợp pháp của hành vi. Tuy vậy, ở Việt Nam và đại đa số các nước châu Á nói chung, việc đưa vụ việc đến Toà án chưa trở thành một thói quan và văn hoá pháp luật. Phần lớn các quốc gia dựa vào cảnh sát pháp lý để thi hành luật pháp. Cảnh sát pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức, kỹ năng thực thi luật pháp trước khi được cho phép có các hành vi nhân danh pháp luật, chẳng hạn như đưa ra các cảnh báo và trát đòi hầu tòa, thực thi việc tìm kiếm hay ra các lệnh khác cũng như thực hiện việc tạm giam, tạm giữ. Những người hành nghề pháp lý nói chung phải được đào tạo chuyên nghiệp về các kiến thức pháp lý trước khi được phép biện hộ cho các bên tại tòa án, dự thảo các văn bản pháp lý hay đưa ra các tư vấn pháp lý. == Bản chất == Bản chất của luật pháp phản ánh bản chất của Nhà nước đặt ra nó. Nhà nước kiểu nào thì pháp luật kiểu đó. Chính vì vậy, luật pháp có tính chất giai cấp. Luật pháp còn có tính xã hội vì nó chứa đựng những chuẩn mực chung được số đông trong xã hội ủng hộ. Nếu không luật pháp sẽ bi chống đối. Luật pháp có tính dân tộc, nghĩa là phù hợp với truyền thống, tập quán, giá trị đạo đức của các dân tộc trong đất nước. Bản chất này cho phép luật pháp gần gũi với dân chúng, được dân chúng ủng hộ, do đó mà có hiệu quả điều chỉnh lên các quan hệ xã hội. Luật pháp có tính thời đại, nghĩa là phù hợp với trình độ phát triển kinh tế của đất nước, có khả năng hội nhập với luật pháp quốc tế. == Thuộc tính của luật pháp == Về mặt nội dung, luật pháp có tính quy phạm phổ biến. Luật pháp là do Nhà nước đặt ra, nên đối tượng điều chỉnh của nó phổ biến hơn (rộng rãi hơn) các quy phạm xã hội khác. Về mặt hình thức, luật pháp có tính chặt chẽ. Để dân chúng biết được và phải biết ý chí của Nhà nước, thì ý chí này phải được thể hiện dưới các hình thức chặt chẽ. Có 3 hình thức luật pháp cơ bản, đó là tập quán pháp, tiền lệ pháp, và văn bản quy phạm pháp luật. Luật pháp được đảm bảo bằng Nhà nước. Sau khi đặt ra luật pháp, Nhà nước đưa luật pháp vào đời sống thông qua các cơ quan Nhà nước, các thiết chế chính trị, các cán bộ, nguồn lực tài chính, các phương pháp quản lý đặc biệt là phương pháp cưỡng chế. == Các hệ thống pháp luật == Bài chính Các hệ thống pháp luật trên thế giới. Nói chung có 4 hệ thống pháp luật đang được thực thi ngày nay trên thế giới. === Dân luật/Luật châu Âu lục địa === Bài chính Hệ thống luật châu Âu lục địa Hệ thống luật châu Âu lục địa hay dân luật là sự pháp điển hóa đặt thành một hệ thống bao hàm toàn diện các quy tắc được áp dụng và làm sáng tỏ bởi các quan tòa. Đây là hệ thống luật được thực thi lớn nhất trên thế giới, với khoảng 60% dân số thế giới sống tại các quốc gia được điều hành bởi hệ thống luật này. Sự khác biệt quan trọng nhất của hệ thống luật này với thông luật hay luật Anh-Mỹ, là thông thường thì chỉ có các quy định trong các đạo luật mới được coi là có giá trị ràng buộc pháp lý mà không phải là các tiền lệ, ngoại trừ các trường hợp tương tự đã được phán quyết tại tòa án tối cao. Tuy nhiên, trong thực tế xét xử đối với các trường hợp tương tự thì các tòa án thông thường theo các phán quyết trước đây của mình. Ngoài ra, tại một số hệ thống luật pháp theo hệ thống luật châu Âu lục địa (chẳng hạn tại Đức), các văn bản của các học giả pháp lý cũng có ảnh hưởng đáng kể tại tòa. Trong phần lớn các chế định pháp lý thì lĩnh vực hạt nhân của luật tư được pháp điển hóa trong dạng luật dân sự, nhưng trong một số trường hợp, chẳng hạn tại Scotland thì chúng không được pháp điển hóa. Hệ thống luật châu Âu lục địa có nguồn gốc từ Luật La Mã, đã được các học giả và các tòa án kế tục và sử dụng từ cuối thời kỳ Trung cổ trở đi. Phần lớn các hệ thống pháp lý ngày nay có nguồn gốc từ xu hướng pháp điển hóa trong thế kỷ 19. Luật dân sự của nhiều quốc gia, cụ thể là tại các thuộc địa cũ của Pháp và Tây Ban Nha có các vết tích từ bộ luật Napoleon trong nhiều khía cạnh. Tuy nhiên, điều này không đúng đối với phần lớn các quốc gia trong khu vực Trung và Đông Âu, Scandinavia và Đông Á. Đáng chú ý là Bộ Luật Dân sự của Đức BGB đã được phát triển từ luật La Mã với sự tham chiếu tới các tập quán pháp lý của Đức và có ảnh hưởng quyết định tới sự đi theo dân luật tại các quốc gia khác. Tầm quan trọng của luật Napoléon cũng không nên cường điệu hóa quá mức do nó chỉ bao hàm một số lĩnh vực cơ bản của luật tư, trong khi còn có các bộ luật khác điều chỉnh các lĩnh vực như luật doanh nghiệp, luật hành chính, luật thuế và hiến pháp v.v. === Thông luật/luật Anh-Mỹ === Thông luật hay luật Anh-Mỹ là một hệ thống pháp luật với hình thức pháp lý đặc thù là tiền lệ pháp. Đó là pháp luật dựa trên các phán quyết tạo ra tiền lệ (stare decisis) từ các vụ án trước đó. Hệ thống thông luật hiện nay được áp dụng tại Ireland, Anh, Australia, New Zealand, Nam Phi, Canada (ngoại trừ Québec) và Hoa Kỳ (bang Louisiana sử dụng cả thông luật và dân luật Napoleon). Ngoài ra, một số quốc gia khác cũng áp dụng hệ thống thông luật trong một hệ thống hỗn hợp, chẳng hạn như Pakistan, Ấn Độ và Nigeria chủ yếu áp dụng hệ thống thông luật, nhưng kết hợp cả luật tôn giáo và tập quán pháp. === Tập quán pháp === Bài chính: Tập quán pháp Tập quán pháp là những tập quán có ích sẵn có đối với một nhà nước mới được thành lập và được nhà nước này thừa nhận làm pháp luật. Lưu ý là luật tập quán cũng có thể thích hợp trong các phán quyết tại các hệ thống pháp lý khác trong những lĩnh vực hay vụ việc mà các quy định pháp lý điều chỉnh lại không (hoặc chưa) tồn tại. Ví dụ, tại Áo, các học giả luật tư thông thường cho rằng luật tập quán vẫn còn tồn tại, trong khi các học giả luật công lại không công nhận điều này. Trong bất kỳ trường hợp nào, rất khó để tìm các ví dụ thích hợp trong thực tế. === Luật tôn giáo === Bài chính: Luật tôn giáo. Nhiều quốc gia xây dựng hệ thống pháp luật của mình trên cơ sở các nguyên lý tôn giáo. Hệ thống có ảnh hưởng lớn nhất trong dạng này là Sharia, hay luật Hồi giáo. Luật Do Thái (Halakha), được tuân thủ bởi những người Do Thái Chính thống và Bảo thủ (trong các dạng khác nhau đáng kể) đề cập cả các quan hệ có tính chất tôn giáo cũng như dân luật. Tuy nhiên, không giống như Sharia, hiện nay không có quốc gia nào có luật pháp tuân theo Halakha một cách đầy đủ. Ở mức độ nhỏ hơn thì hiện nay vẫn còn các khu vực trên thế giới áp dụng luật giáo hội, nó được tuân thủ bởi những người theo Công giáo và Anh giáo, và hệ thống pháp lý tương tự được sử dụng bởi Chính thống giáo Đông phương. Tuy nhiên, luật giáo hội Kitô giáo ngày nay gần như chỉ để phân xử các quan hệ tôn giáo chứ không giống như Sharia, trong đó nó liên quan tới cả dân luật (chẳng hạn các quyền về tài sản, hợp đồng, công ty, hiệp hội và đền bù tổn thất) cũng như luật hành chính. == Các bộ phận của luật == Trong nghĩa rộng, các bộ phận của luật pháp có thể phân chia trên cơ sở bên nào là bên có tố quyền. Một điều rất phổ biến là các lĩnh vực thực tế của áp dụng luật pháp có thể bao trùm nhiều bộ phận của luật pháp. === Luật tư === Bài chính: Luật tư. Lĩnh vực của luật tư (luật dân sự) là hệ thống pháp lý liên quan đến các bộ luật điều chỉnh các quan hệ giữa các cá nhân hay pháp nhân (không nhà nước). Luật tư có thể coi như là luật dân sự mở rộng, nó không chỉ là hệ thống dân luật thịnh hành ở nhiều quốc gia mà còn bao gồm cả những gì có trong dời sống pháp luật của một cá nhân mà không có sự chi phối mạnh mẽ của Nhà nước như hôn nhân gia đình, thừa kế, thương mại (nói chung là các lĩnh vực mà các bên liên quan thiết lập theo thỏa thuận là chính). Luật tư quốc tế là sự mở rộng của luật tư để hướng dẫn cách xử sự, giải quyết các tranh chấp giữa các cá nhân hay pháp nhân thuộc các hệ thống tư pháp khác nhau (xuyên quốc gia). Nó bao gồm cả các hợp đồng thương mại như vận đơn (để vận chuyển) và các quyền cá nhân v.v đến thừa kế tài sản. Các thành phần quan trọng của luật tư quốc tế vẫn chưa được pháp điển hóa trong các điều khoản của các điều ước quốc tế (chẳng hạn lex situs - địa điểm thích hợp của quyền sở hữu tài sản) nhưng nói chung được công nhận tại các quốc gia và vì thế vẫn duy trì ở dạng luật tập quán. Ví dụ: Khi ông A là người Việt Nam đi du lịch sang Hoa Kỳ, tại đây, chẳng may ông bị tai nạn giao thông, đưa vào bệnh viện, trước khi qua đời ông di chúc miệng lại cho con trai của ông đang ở Việt Nam tài sản là 100.000 USD mà ông đang gửi ở một ngân hàng tại Thụy Sĩ. Như vậy luật pháp của nước nào sẽ được dùng để xử lý di chúc này, đó là một trong rất nhiều lĩnh vực mà Luật tư quốc tế điều chỉnh. Khi mà các quy định của luật tư quốc tế khác với các luật tư quốc gia thì ở đó tồn tại mâu thuẫn luật. === Luật công === Bài chính: Luật công. Trong nghĩa chung nhất thì lĩnh vực của luật công là các sắc luật trong hệ thống luật pháp đang đề cập tới nhằm điều chỉnh các quan hệ giữa các tổ chức nhà nước ở các cấp độ khác nhau, cũng như điều chỉnh các tranh chấp giữa tổ chức nhà nước với các cá nhân, pháp nhân khác (phi-nhà nước) trong phạm vi quốc gia đó. Các tổ chức nhà nước sử dụng tố quyền để khởi kiện các cá nhân vì các vi phạm hình sự cũng như các cá nhân/pháp nhân vì các vi phạm luật pháp khác. Luật công có thể chia thành 3 tiểu thể loại: hiến pháp, luật hành chính và luật hình sự. Tương tự, các cá nhân/pháp nhân cũng có thể khởi kiện các cơ quan, tổ chức nhà nước (công quyền) vì các tổn thất mà các tổ chức nhà nước đã gây ra cho họ. Nó bao gồm các nền tảng trên cơ sở các quy định, sắc luật được đưa ra vượt quá khả năng của họ hay dẫn đến các vi phạm các quyền cá nhân. Hai điểm đang đề cập này thông thường được bảo vệ bởi hiến pháp của quốc gia đó. === Luật tố tụng === Bài chính: Luật tố tụng Luật tố tụng là lĩnh vực của luật pháp điều chỉnh quy trình tiến hành vụ việc pháp lý. Nó bao gồm các quy trình như ai có thể có quyền đệ đơn tới tòa, đệ đơn ra tòa như thế nào, cũng như quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia tranh tụng. Luật tố tụng thường được coi như là luật "bổ trợ" do nó là các bộ luật liên quan đến việc các bộ luật khác được áp dụng như thế nào. Thông thường, nó bao gồm các quy định tố tụng dân sự và hình sự, nhưng nó có thể bao gồm cả luật điều chỉnh bằng cứ, trong đó xác định cách thức như thế nào được phép sử dụng để xác nhận chứng cứ, cũng như luật liên quan đến các phương thức khắc phục hậu quả. === Luật hình sự === Bài chính: Luật hình sự Khái niệm luật hình sự nói về những luật có chung tính chất là đề ra những hình phạt riêng biệt và nặng nề hơn bình thường nếu phạm vào. Tùy theo loại tội và thẩm quyền, sự trừng phạt (về mặt) hình sự bao gồm tử hình, giam giữ, bị quản thúc hoặc bị phạt vạ. Những tội cổ xưa như sát nhân (giết người), phản quốc.v.v. luật hình sự nơi nào cũng có. Nhưng cũng có nhiều tội ở nước này đưa vào luật hình sự mà nước khác thì không. Ngay cả trong các bộ luật đôi khi cũng không rõ ràng về ranh giới giữa dân sự và hình sự. Luật hình sự thường được tiến hành khởi tố bởi chính quyền, không giống như luật dân sự thường được tiến hành khởi tố bởi người dân hay các pháp nhân khác. === Luật quốc tế === Bài chính: Luật quốc tế. Luật quốc tế điều chỉnh các quan hệ giữa các quốc gia, các thực thể quốc tế chưa đầy đủ,lãnh thổ hoặc vùng lãnh thổ. Hay giữa các công dân của các quốc gia khác nhau cũng như giữa các tổ chức quốc tế. Hai nguồn cơ bản của luật quốc tế là các luật tập quán và các điều ước quốc tế. == Triết học luật pháp == Bài chính: Triết học luật pháp Triết học luật pháp thường được coi như là lý thuyết pháp lý. Lý thuyết pháp lý quy phạm thực chất là triết học chính trị, và đặt vấn đề là: "luật nên là gì?", trong khi đó lý thuyết pháp lý phân tích đặt câu hỏi là "luật là gì?". Câu trả lời theo chủ nghĩa công lợi của John Austin là luật là "những mệnh lệnh, được bảo đảm bằng sự đe dọa trừng phạt, từ một ông vua, cho những người có thói quen phục tùng". Mặt khác, những luật gia theo trường phái tự nhiên, như là Jean-Jacques Rousseau, chỉ ra là luật thực chất phản ánh đạo đức và những luật tự nhiên không thể thay đổi. Quan niệm "luật tự nhiên" xuất hiện trong triết học Hy Lạp cổ đại và gắn liền với khái niệm về công lý, và tái xuất trong dòng chảy văn hóa Phương Tây thông qua các tác phẩm của Thomas Aquinas. Hugo Grotius, người sáng lập ra hệ thống luật tự nhiên duy lý thuần túy, lập luận rằng luật phát sinh từ đồng thời sự thúc đẩy của xã hội- như Aristotle đã từng nói-và lẽ phải. Immanuel Kant tin rằng một mệnh lệnh đạo đức đòi hỏi luật pháp "phải được chọn ra như là mặc dù chúng nên được giữ như một quy luật của tự nhiên". Jeremy Bentham và học trò của mình Austin, theo David Hume, tin rằng việc đồng nhất "là" và "nên là" là một vấn đề. Bentham và Austin ủng hộ luật pháp thực chứng; rằng luật pháp thực sự hoàn toàn tách biệt với "đạo đức". Kant cũng bị chỉ trích bởi Friedrich Nietzsche, người mà phủ nhận nguyên tắc bình đẳng, và tin rằng luật xuất phát từ ý chí hướng tới quyền lực, và không thể bị coi là "đạo đức" hay "vô đạo đức" Năm 1934, Hans Kelsen, triết gia người Áo, tiếp tục truyền thống thực chứng trong cuốn sách của ông, Lý thuyết Luật pháp Thuần Túy. Kelsen tin rằng mặc dù luật pháp tách biệt với đạo đức, nó được gán cho "tính chuẩn mực"; tức là chúng ta nên tuân thủ nó. Trong khi luật pháp do con người đặt ra "là" một lời tuyên bố (ví dụ như tiền phạt cho hành vi đi ngược chiều trên đước cao tốc là 500); luật pháp cho chúng ta biết điều gì chúng ta "nên" làm. Do vậy, mỗi hệ thống pháp lý có thể đưa ra giả thuyết có một tiêu chuẩn cơ bản (Grundnorm) bắt chúng ta phải tuân theo. Đối thủ của Kelsen, Carl Schmitt, bác bỏ cả hai, chủ nghĩa thực chứng và khái niệm về nguyên tắc luật pháp vì ông ta không chấp nhận sự vượt trội của các nguyên tắc chuẩn mực trừu tượng so với các quyết định và địa vị chính trị. Do đó, Schmitt ủng hộ lý thuyết pháp lý của sự ngoại lệ, mà phủ nhận các quy phạm pháp luật có thể bao gồm tất cả kinh nghiệm chính trị. == Xem thêm == Tổng quan các chủ đề luật pháp Danh sách các lĩnh vực luật Danh sách các chủ đề luật Danh sách các thuật ngữ luật Danh sách các từ luật viết tắt Danh sách các hãng luật Chánh án Thẩm phán Hội thẩm Luật sư Tòa án Viện kiểm sát Công tố Luật Hình Sự Giới thiệu Khái Quát Lệch lạc == Đọc thêm == Blackstone, William, Sir. An analysis of the laws of England: to which is prefixed an introductory discourse on the study of the law. xuất bản lần thứ 3. Buffalo, N.Y.: W.S. Hein & Co., 189 trang, 1997. (nguyên bản: Oxford: Clarendon Press, 1758) ISBN 1-57588-413-5 David, René, và John E. C. Brierley. Major Legal Systems in the World Today: An Introduction to the Comparative Study of Law. xuất bản lần thứ 3. London: Stevens, 1985. ISBN 0-420-47340-8. Ginsburg, Ruth B. A selective survey of English language studies on Scandinavian law. So. Hackensack, N.J.: F. B. Rothman, 53 trang, 1970. OCLC 86068 Glenn, H. Patrick Legal Traditions of the World: Sustainable Diversity in Law xuất bản lần thứ 2, London: Oxford University Press, 432 trang, 2004. ISBN 0-19-926088-5 Iuul, Stig và những người khác Scandinavian legal bibliography. Stockholm: Almqvist & Wiksell, 196 trang, 1961. (series: Acta / Instituti Upsaliensis Iurisprudentiae Comparativae; 4) OCLC 2558738 Llewellyn, Karl N. & E. Adamson Hoebel. Cheyenne Way: Conflict & Case Law in Primitive Jurisprudence. special ed. New York City: Legal Classics Library, 374 trang, 1992. ISBN 0-8061-1855-5 Nielsen, Sandro. The Bilingual LSP Dictionary. Principles and Practice for Legal language. Tübingeb.: Gunter Narr Verlag, 308 trang, 1994. (series: Forum für Fachsprachen-Forschung; Bd. 24) ISBN 3-8233-4533-8 == Tham khảo == Nguồn in Nguồn trực tiếp == Liên kết ngoài == Thư viện pháp luật, cơ sở dữ liệu văn bản pháp luật Việt Nam Luật Việt Nam - Luatvietnam.vn - Cung cấp trên 30.000 văn bản pháp luật Việt Nam Diễn đàn Luật pháp The Australian Institute of Comparative Legal Systems WorldLII - The World Legal Information Institute WikiCities Legal Site The shared law tại Jurispedia.org Định nghĩa luật pháp Stanford Encyclopedia of Philosophy: Law and Ideology Law and Language Legal Systems and Historical roots around the World interactive world map Legal news and information network for attorneys and other legal professionals Encyclopaedic project of academic initiative in Jurispedia Legal articles, news, and interactive maps WorldLII - World Legal Information Institute CommonLII - Commonwealth Legal Information Institute AsianLII - Asian Legal Information Institute (AsianLII) AustLII - Australasian Legal Information Institute BaiLII - British and Irish Legal Information Institute CanLII - Canadian Legal Information Institute NZLII - New Zealand Legal Information Institute PacLII - Pacific Islands Legal Information Institute
danh sách vườn quốc gia tại canada.txt
Đây là danh sách các vườn quốc gia tại Canada. Các vườn quốc gia Canada bảo vệ cả hai khu vực mang vẻ đẹp ngoạn mục và tiêu biểu của đất nước, nằm ​​trong một trong số 13 tỉnh và vùng lãnh thổ của Canada. Mục tiêu của các vườn viên quốc gia là tạo ra một hệ thống các khu bảo tồn đại diện cho tất cả các vùng tự nhiên khác nhau Công viên Canada (là cơ quan của chính phủ và cũng là cơ quan quản lý hệ thống các vườn quốc gia) đã phát triển một kế hoạch cụ thể đưa 39 khu vực khác nhau nhằm mục đích trên. Trong năm 2005, Công viên Canada báo cáo rằng hệ thống đã được hoàn thành hơn 60%. Các vườn quốc gia của Canada được quản lý chủ yếu để bảo vệ sự toàn vẹn sinh thái, ngoài ra là để cho phép công chúng tham quan khám phá, tìm hiểu và tận hưởng không gian thiên nhiên của Canada. Các nghiên cứu đang được tiến hành để thiết lập một số vườn quốc gia nữa trong một số khu vực bao gồm Hồ Wolf ở Yukon, Nam Okanagan-hạ lưu sông Similkameen tại British Columbia và vùng đất thấp Manitoba (tây bắc hồ Winnipeg). Hiện tại có 36 vườn quốc gia và 8 khu dự trữ Vườn quốc gia (bao gồm vườn quốc gia và khu bảo tồn Kluane, được coi là một vườn quốc gia và cũng là một khu dự trữ). Danh sách này cũng bao gồm 4 khu vực Khu bảo tồn biển quốc gia (NMCAs), 1 địa danh quốc gia, và 3 vườn quốc gia dự kiến trong tương lai. Tổng diện tích của các vườn quốc gia hiện nay là 303.571 km ², chiếm khoảng 3,0% tổng diện tích đất của Canada. Dưới đây là danh sách các vườn quốc gia của Canada. == Danh sách == Một Khu bảo tồn vườn quốc gia là khu vực đang chờ để trở thành một vườn quốc gia. Cho đến lúc đó, chúng sẽ được quản lý theo Đạo Luật vườn quốc gia như là một vườn quốc gia chính thức. === Vườn quốc gia và Khu bảo tồn vườn quốc gia === === Vườn quốc gia và các Khu bảo tồn vườn quốc gia dự kiến === === Các vườn quốc gia đã bị xóa bỏ === === Khu bảo tồn biển quốc gia === Khu bảo tồn biển quốc gia (NMCAs) là một bổ sung tương đối mới đối với hệ thống vườn quốc gia. Các khu vực này có một nhiệm vụ khác hơn so với các vườn quốc gia khác. Chúng được thành lập để sử dụng hiệu quả, bền vững, cũng như bảo vệ toàn vẹn hệ sinh thái biển. Chính phủ đã công bố kế hoạch bổ sung 5 Khu bảo tồn biển như là một phần của Đạo luật Khu bảo tồn biển. Khu bảo tồn đầu tiên được chính thức công bố là khu bảo tồn biển quốc gia Hồ Superior, mặc dù ngày công bố vẫn chưa được tiết lộ. Các khu vực khác đang được xem xét là phía nam của eo biển Georgia và Gwaii Haanas tại British Columbia và có các cuộc thảo luận để nghiên cứu tính khả thi của một khu vực trên bờ biển phía nam của Newfoundland. === Địa danh quốc gia === Ngoài các vườn quốc gia, một chương trình gần đây được thành lập vào năm 1978 có tên Địa danh quốc gia nhưng vẫn chưa được mở rộng ngoài một địa điểm duy nhất. Nó được dự định để bảo vệ các đặc điểm tự nhiên cụ thể được coi là "xuất sắc, đặc biệt, độc đáo, hoặc hiếm có của quốc gia. Những đặc điểm tự nhiên thường sẽ được các đơn vị khoa học quan tâm. == Xem thêm == Công viên cấp tỉnh được quản lý và hỗ trợ bởi chính quyền địa phương, tuy nhiên cũng có một số công viên cấp tỉnh được phân loại như là một vườn quốc gia (loại II) thuộc IUCN. Danh sách các công viên tỉnh tại Canada Danh sách các công viên tỉnh Alberta Danh sách các công viên tỉnh British Columbia Danh sách các công viên tỉnh Ontario (bao gồm cả các vườn quốc gia) Danh sách các công viên tỉnh Quebec (công viên tỉnh này được gọi là công viên "quốc gia" của tỉnh) Danh sách các khu dự trữ sinh quyển tại Canada Di sản thế giới tại Canada == Ghi chú == ^ A. Khu bảo tồn vườn quốc gia Nam Moresby được thành lập ngày 12 tháng 7 năm 1988 qua việc ký kết Thỏa thuận Nam Moresby. Ngày 28 tháng 2 năm 1996, khu bảo tồn được đổi tên thành Khu bảo tồn vườn quốc gia Gwaii Haanas và Di sản Haida. Bao gồm SGaang Gwaii (đảo Anthony) Di sản thế giới. ^ B. Thành lập năm 1984 với tên gọi Vườn quốc gia Bắc Yukon; năm 1992 đổi tên thành Vườn quốc gia Ivvavik. ^ C. Khu bảo tồn vườn quốc gia Kluane được thành lập năm 1972. Sau đó, một bộ phần rộng lớn ở phía đông của khu bảo tồn trở thành Vườn quốc gia và khu bảo tồn Kluane. ^ D. Năm 2007, chính phủ Canada tuyên bố rằng 29.000 km2 (11.197 sq mi) đất sẽ được bổ sung vào Nahanni, khiến nó có diện tích tổng cộng là 33.766 km2 (13.037 sq mi). Tuy vậy, những thay đổi này chưa được thực hiện đầy đủ. ^ E. Khu bảo tồn vườn quốc gia Đảo Ellesmere được thành lập năm 1988, đổi tên thành Quttinirpaaq vào năm 1999 và trở thành vườn quốc gia vào năm 2000. ^ F. Vườn quốc gia Núi Riding được UNESCO phong làm Khu dự trữ sinh quyển vào năm 1986. ^ G. Vườn quốc gia Glacier là một phần của Công viên hòa bình quốc tế Waterton-Glacier - một Di sản thế giới. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Tiếng Anh Parks Canada World Heritage Sites in Canada Park Search Canadian Parks Locator Parks Canada Directory
giải bóng đá u17 quốc gia.txt
Giải bóng đá U17 quốc gia (Với tên chính thức: Giải bóng đá vô địch U17 Quốc gia) là giải bóng đá quốc gia hàng năm cho lứa tuổi dưới 17 do Liên đoàn bóng đá Việt Nam tổ chức cho các đội bóng thuộc các câu lạc bộ chuyên nghiệp, hạng nhất, hạng nhì và các địa phương trong cả nước. == Các đội bóng tham dự năm 2017 == Mùa giải 2017, có 24 đội tham dự vòng đấu loại trong đó đội U17 Thành phố Hồ Chí Minh đăng cai tổ chức vòng chung kết. Bảng A: do Đoàn bóng đá Huế đăng cai tổ chức, gồm 6 Đội: Thừa Thiên Huế, Hà Nội, Công An Nhân Dân, Viettel, Quảng Ninh, Hải Phòng. Bảng B: do Công ty cổ phần Sông Lam Nghệ An đăng cai tổ chức, gồm 6 Đội: SHB Đà Nẵng, Nam Định, Thanh Hoá, Sông Lam Nghệ An, Hà Tĩnh, Bình Định. Bảng C: do Công ty cổ phần thể thao Hoàng Anh Gia Lai đăng cai tổ chức, gồm 6 Đội: Hoàng Anh Gia Lai, Khánh Hoà, Đăk Lăk, Đồng Nai, Bình Phước, Tây Ninh. Bảng D: do Quỹ đầu tư và phát triển tài năng bóng đá Việt Nam (PVF) đăng cai tổ chức, gồm 6 Đội: PVF, Long An, Tiền Giang, Vĩnh Long, Đồng Tháp, Cần Thơ. == Các đội đoạt huy chương == == Vua phá lưới == == Xem thêm == Giải bóng đá U15 quốc gia Giải bóng đá U19 quốc gia Giải bóng đá U21 quốc gia == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Liên đoàn bóng đá Việt Nam Giải bóng đá QG U17 - Cúp báo Bóng Đá 2006
hms diana (h49).txt
HMS Diana (H49) là một tàu khu trục lớp D được Hải quân Hoàng gia Anh Quốc chế tạo vào đầu những năm 1930. Thoạt tiên được phân về Hạm đội Địa Trung Hải, nó được điều sang Trạm Trung Quốc vào đầu năm 1935, và tạm thời được bố trí Hồng Hải vào đầu năm 1935 do cuộc Khủng hoảng Abyssinia trước khi quay trở lại nhiệm sở, nơi nó ở lại cho đến giữa năm 1939. Diana được điều trở lại Hạm đội Địa Trung Hải ngay trước khi Chiến tranh Thế giới thứ hai nổ ra vào tháng 9 năm 1939, rồi phục vụ cùng Hạm đội Nhà trong Chiến dịch Na Uy. Diana được chuyển giao cho Hải quân Hoàng gia Canada vào năm 1940 và được đổi tên thành HMCS Margaree, nhưng chỉ phục vụ cùng Canada được hơn một tháng trước khi bị đắm do một tàu buôn lớn mà nó hộ tống húc phải vào ngày 22 tháng 10 năm 1940. == Thiết kế và chế tạo == Diana có trọng lượng choán nước tiêu chuẩn 1.375 tấn Anh (1.397 t), và lên đến 1.890 tấn Anh (1.920 t) khi đầy tải. Nó có chiều dài chung 329 foot (100,3 m), mạn thuyền rộng 33 foot (10,1 m) và mớn nước 12 foot 6 inch (3,8 m). Con tàu được cung cấp động lực bởi hai turbine hơi nước hộp số Parsons, dẫn động hai trục chân vịt, tạo ra công suất 36.000 mã lực càng (27.000 kW) cho phép đạt tốc độ tối đa 36 hải lý một giờ (67 km/h; 41 mph). Hơi nước cho turbine được cung cấp bởi ba nồi hơi ống nước Admiralty hoạt động ở áp suất 310 psi (2.137 kPa). Diana mang theo tối đa 473 tấn Anh (481 t) dầu đốt cho phép nó có tầm xa hoạt động 5.870 hải lý (10.870 km; 6.760 mi) ở tốc độ đường trường 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph). Thành phần thủy thủ đoàn bao gồm 145 sĩ quan và thủy thủ. Chiếc tàu khu trục được trang bị bốn khẩu pháo QF 4,7 in (120 mm) Mk IX trên các tháp pháo đơn, được đặt tên 'A', 'B', 'X' và 'Y' tuần tự từ trước ra sau. Cho mục đích phòng không, Diana có một khẩu QF 12-pounder Mk V bố trí giữa hai ống khói và hai khẩu đội súng máy QF 0.5-inch Vickers Mk III bốn nòng đặt ở hai bên cánh cầu tàu. Nó còn được trang bị hai bệ ống phóng ngư lôi bốn nòng trên mặt nước dùng cho ngư lôi 21 in (530 mm). Một đường ray và hai máy phóng được dùng để thả mìn sâu, thoạt tiên mang theo 20 quả mìn, nhưng được tăng lên 35 quả không lâu sau khi chiến tranh bắt đầu. Diana được đặt hàng vào ngày 2 tháng 2 năm 1931 tại xưởng tàu của hãng Palmers Shipbuilding and Iron Company ở Hebburn-on-Tyne trong Kế hoạch Chế tạo 1930. Nó được đặt lườn vào ngày 12 tháng 6 năm 1931, hạ thủy vào ngày 16 tháng 6 năm 1932, và nhập biên chế cùng Hải quân Anh vào ngày 21 tháng 12 năm 1932 với chi phí tổng cộng 229.502 Bảng Anh, không kể đến những thiết bị do Bộ Hải quân Anh cung cấp như vũ khí, đạn dược và thiết bị vô tuyến. == Lịch sử hoạt động == Diana thoạt tiên được phân về Chi hạm đội Khu trục 1 tại Địa Trung Hải, và từng được bố trí một thời gian ngắn đến vịnh Ba Tư và Hồng Hải vào tháng 9–tháng 11 năm 1933. Đang khi ở lại Địa Trung Hải, trong một thời gian, con tàu được đặt dưới quyền chỉ huy của Geoffrey Oliver, vị Đô đốc tương lai của Hải quân Hoàng gia Anh. Nó được tái trang bị tại Xưởng tàu Sheerness từ ngày 3 tháng 9 đến ngày 23 tháng 10 năm 1934 để phục vụ tại Trạm Trung Quốc cùng với Chi hạm đội Khu trục 8 (sau đổi tên thành Chi hạm đội Khu trục 21), đến nơi vào tháng 1 năm 1935. Nó được điều động về Hạm đội Địa Trung Hải tại Hồng Hải từ tháng 9 năm 1935 đến tháng 5 năm 1936 trong vụ Khủng hoảng Abyssinia, từng ghé thăm Bombay và các cảng Đông Phi trước khi quay về Hồng Kông vào ngày 7 tháng 8. Một lần vào năm 1937, Diana được cử đi khảo sát tại sao một hải đăng gần Hạ Môn không chiếu sáng, và khám phá rằng nó bị hải tặc tấn công. Nó tiếp tục ở lại Viễn Đông cho đến khi sự căng thẳng gia tăng ngay trước Chiến tranh Thế giới thứ hai khiến nó được gọi quay trở về vào tháng 8 năm 1939. Khi chiến tranh nổ ra, Diana và các tàu chị em Duncan, Daring và Dainty được phân về Hạm đội Địa Trung Hải, đến nơi vào tháng 10. Nó được sửa chữa tại Malta trong tháng 11 và gia nhập trở lại hạm đội vào tháng 12, được phân công nhiệm vụ tuần tra một giai đoạn ngắn trước khi được chuyển về Chi hạm đội Khu trục 3 trực thuộc Hạm đội Nhà. Con tàu quay về vùng biển nhà vào tháng 1 năm 1940, đảm trách hộ tống các tàu chiến chủ lực của hạm đội và tuần tra. Ngày 15 tháng 2, nó hộ tống cho tàu chị em Duncan khi chiếc này được các tàu kéo đưa từ Invergordon đến Forth để sửa chữa triệt để những hư hại do va chạm trong khi hộ tống một đoàn tàu vận tải. Trong Chiến dịch Na Uy, Diana đã hộ tống tàu sân bay HMS Furious khi chiếc này quay về Scapa Flow vào ngày 25 tháng 4 để bổ sung thêm máy bay. Vào ngày 1 tháng 5, nó hộ tống cho các tàu tuần dương hạng nhẹ HMS Manchester và HMS Birmingham thuộc Hải đội Tuần dương 18 khi chúng bảo vệ cho cuộc triệt thoái khỏi Åndalsnes, và nó đã đưa Tổng tư lệnh quân đội Na Uy, Thiếu tướng Otto Ruge, từ Molde đến Tromsø. Chiếc tàu khu trục cũng hộ tống các tàu sân bay HMS Glorious và Furious, khi chiếc sau chuyển những máy bay tiêm kích Gloster Gladiator của Không quân Hoàng gia Anh đến sân bay Bardufoss vào ngày 21 tháng 5. Mười ngày sau, Diana hộ tống cho các tàu sân bay HMS Ark Royal và Furious trong Chiến dịch Alphabet, cuộc triệt thoái lực lượng Đồng Minh khỏi Na Uy. Chiếc tàu khu trục được tái trang bị và sửa chữa tại Luân Đôn trong tháng 7. Sau khi hoàn tất, Diana được chuyển giao cho Canada để thay thế chiếc Fraser vốn bị đắm do va chạm với chiếc tàu tuần dương phòng không Anh HMS Calcutta vào ngày 25 tháng 6 năm 1940. Con tàu được chính thức nhập biên chế cùng Hải quân Hoàng gia Canada như là chiếc HMCS Margaree vào ngày 6 tháng 9 năm 1940. Đến ngày 17 tháng 10, nó hộ tống Đoàn tàu vận tải OL8 đi Canada, nhưng con tàu bị đắm chỉ năm ngày sau đó do va chạm với tàu chở hàng MV Port Fairy. Trong số 176 người có mặt trên Margaree vào lúc đó, chỉ có sáu sĩ quan và 28 thủy thủ được Port Fairy cứu vớt. == Tham khảo == === Chú thích === === Thư mục === Douglas, W. A. B.; Sarty, Roger; Michael Whitby, Robert H. Caldwell, William Johnston, William G. P. Rawling (2002). No Higher Purpose. The Official Operational History of the Royal Canadian Navy in the Second World War, 1939–1943. 2, pt. 1. St. Catharines, Ontario: Vanwell. ISBN 1-55125-061-6. English, John (1993). Amazon to Ivanhoe: British Standard Destroyers of the 1930s. Kendal, England: World Ship Society. ISBN 0-905617-64-9. Friedman, Norman (2009). British Destroyers From Earliest Days to the Second World War. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 978-1-59114-081-8. Haarr, Geirr H. (2010). The Battle for Norway: April–June 1940. Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 978-1-59114-051-1. Lenton, H. T. (1998). British & Commonwealth Warships of the Second World War. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-55750-048-7. Whitley, M. J. (1988). Destroyers of World War 2. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-326-1. == Liên kết ngoài == HMS Diana at Uboat.net HMS Diana's career
mẹ chồng chàng dâu.txt
Mẹ chồng chàng dâu là một câu truyện tâm lý xã hội, hài hước về cuộc đời của những người đồng tính nam (Gay) == Nội dung == Câu truyện xoay quang cuộc đời của Dương Kì Hoàng, một người với mái tóc xù xì, gu ăn mặc lỗi thời nhưng ẩn sâu bên trong là một con người đẹp trai. Từ nhỏ mồ côi cha mẹ nhưng lại là một người vô cùng học giỏi. Được nhận vào làm việc tại tập đoàn WAG đã được Huỳnh Gia Tuấn (tổng giám đốc) nhận làm thư ký. Anh đã được làm vợ giả của Huỳnh Gia Tuấn (nhằm qua mặt mẹ Tuấn). Hai người rất ghét nhau nhưng sau này đã nảy sinh ra tình cảm. == Nhân vật == Dương Kì Hoàng: 22 tuổi. Từ nhỏ mồ côi cha mẹ, lớn lên trong cô nhi viện. Sở hữu 1 vẻ ngoài ưa nhìn nhưng cậu luôn luôn che giấu nó bằng 1 cặp kính với cái tròng to tướng che hết cả khuôn mặt kèm theo đó là 1 mái tóc ngố. Huỳnh Gia Tuấn: 26 tuổi. Là tổng giám đốc tập đoàn WAG, sỡ hữu vẻ đẹp trai manly khiến bao nhiêu cô gái chết mê chết mệt. Thay tình như thay áo, nhưng lại rất nghiêm túc trong công việc. Trịnh Như Ý: mẹ của Huỳnh Gia Tuấn, 1 người đàn bà rất có quyền thế. Là 1 người cực kì xinh đẹp. == Tham khảo ==
phúc kiến.txt
Phúc Kiến là một tỉnh nằm ở ven biển đông nam của đại lục Trung Quốc. Phúc Kiến giáp với Chiết Giang ở phía bắc, với Giang Tây ở phía tây, và với Quảng Đông ở phía nam. Đài Loan nằm ở phía đông của Phúc Kiến, qua eo biển Đài Loan. Tên gọi Phúc Kiến bắt nguồn từ việc kết hợp tên gọi của hai thành Phúc Châu và Kiến Châu (tên cũ của Kiến Âu) trên địa phận vào thời nhà Đường. Tỉnh có đại đa số cư dân là người Hán và là một trong những tỉnh có văn hóa và ngôn ngữ đa dạng nhất tại Trung Quốc. Hầu hết tỉnh Phúc Kiến do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa quản lý. Tuy nhiên, các quần đảo Kim Môn và Mã Tổ nằm dưới quyền kiểm soát của Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan). == Lịch sử == Những khám phá khảo cổ học gần đây đã chứng minh rằng cư dân bản địa ở Phúc Kiến đã tiến vào thời đại đồ đá mới vào giữa thiên niên kỉ thứ 6 TCN. Từ di chỉ Xác Khâu Đầu (壳丘头, cách nay 7450–5590 năm), một di chỉ thời kỳ đầu đồ đá mới trên đảo Bình Đàm (平潭岛) nằm cách khoảng 70 kilômét (43 mi) về phía đông nam Phúc Châu, rất nhiều công cụ làm bằng đá, vỏ, mai, xương, ngọc thạch và gốm (gồm cả bàn xoay làm gốm) đã được khai quật, cùng với bánh xe quay, một bằng chứng của hoạt động dệt. Di chỉ Đàm Thạch Sơn (昙石山) (cách nay 5500–4000 năm) ở ngoại ô Phúc Kiến trải qua cả hai thời đại đồ đá mới và thời đại đồ đồng đá, tại đây đã tìm thấy các công trình tròn bán ngầm ở các mức thấp hơn. Di chỉ Hoàng Thổ Lôn (黄土崙) (khoảng 1325 TCN), cũng ở ngoại ô Phúc Châu, mang đặc điểm của thời đại đồ đồng. Khu vực Phúc Kiến từng tồn tại vương quốc Mân Việt. Từ "Mân Việt" là kết hợp giữa từ "Mân" (閩/闽; Bạch thoại tự: bân), có thể là tên một dân tộc và có liên hệ với từ để chỉ các dân tộc man di trong tiếng Hán là "man" (蠻/蛮; bính âm: mán; Bạch thoại tự: bân), và "Việt" là lấy theo tên nước Việt thời Xuân Thu tồn tại ở khu vực tỉnh Chiết Giang ngày nay. Điều này là bởi vương tộc nước Việt đã bỏ chạy đến Phúc Kiến sau khi vương quốc của họ bị nước Sở tiêu diệt và sáp nhập vào năm 306 TCN. Mân cũng là tên của dòng sông chính trong khu vực Phúc Kiến, Mân Giang, song tên gọi người Mân có từ trước. Nước Mân Việt tồn tại cho đến khi bị triều Tần bãi bỏ. Tuy nhiên, với việc nhà Tần sớm sụp đổ, nội chiến đã nổ ra giữa Hạng Vũ và Lưu Bang, sử gọi là Hán Sở tranh hùng; khi đó Vô Chư (无诸) đã quyết định xuất quân phụ giúp Lưu Bang. Sau đó, Lưu Bang giành chiến thắng và lập ra triều Hán; để thưởng công, năm 202 TCN, Hán Cao Tổ phục hồi địa vị cho Mân Việt là một vương quốc chư hầu, phong Vô Chư là Mân Việt vương. Vô Chư được triều Hán cho phép xây thành phòng thủ ở Phúc Châu cũng như một số địa điểm khác tại Vũ Di Sơn, chúng đã được khai quật trong những năm gần đây. Vương quốc của Vô Chư đã mở rộng phạm vi ra ngoài ranh giới của Phúc Kiến đến các vùng đất mà nay là phía đông Quảng Đông, phía đông Giang Tây, và phía nam Chiết Giang. Sau cái chết của Vô Chư, Mân Việt duy trì truyền thống chiến đấu của mình và tiến hành một số cuộc viễn chinh chống lại các nước chư hầu láng giềng tại Quảng Đông, Giang Tây, và Chiết Giang, việc này diễn ra trong suốt thế kỷ thứ 2 TCN và chỉ bị ngăn chặn bởi triều Hán. Cuối cùng, hoàng đế triều Hán đã quyết định loại bỏ mối đe dọa tiềm tàng này bằng cách gửi lực lượng quân sự lớn tấn công Mân Việt từ tứ phía cả trên biển lẫn trên bộ vào năm 111 TCN. Những người lãnh đạo ở Phúc Châu đã đầu hàng để tránh một cuộc chiến vô ích, tuy nhiên quân Hán vẫn tiến hành hủy hoại cung điện, thành quách của Mân Việt; vương quốc đầu tiên trong lịch sử Phúc Kiến kết thúc tồn tại một cách đột ngột. Sau khi triều Hán dần sụp đổ vào cuối thế kỷ 2, mở đường cho thời Tam Quốc. Tôn Quyền, người sáng lập ra nước Đông Ngô, đã phải mất gần 20 năm mới có thể khuất phục được người Sơn Việt, một nhánh Bách Việt sống ở vùng đồi núi. Làn sóng nhập cư đầu tiên của giới quý tộc người Hán đến khu vực Phúc Kiến ngày nay diễn ra vào đầu thế kỷ 4 khi triều Tây Tấn sụp đổ và miền Bắc Trung Quốc bị các các dân tộc Hồ xâu xé. Những người nhập cư này chủ yếu đến từ tám dòng họ ở miền trung Trung Quốc: Lâm, Hoàng, Trần, Trịnh, Chiêm (詹), Khâu, Hà và Hồ. Bốn họ đầu tiên vẫn là những họ chính của người dân Phúc Kiến hiện nay. Tuy nhiên, địa hình gồ ghề và biệt lập với các khu vực lân cận đã góp phần khiến cho nền kinh tế và mức độ phát triển của Phúc Kiến tương đối lạc hậu. Bất chấp việc số người Hán trong khu vực đã tăng đáng kể, mật độ dân số ở Phúc Kiến khi đó vẫn còn thấp so với phần còn lại của Trung Quốc. Triều Tấn chỉ lập ra 2 quận và 16 huyện trên đất Phúc Kiến ngày nay. Giống như các tỉnh phía nam khác như Quảng Đông, Quảng Tây, Quý Châu và Vân Nam, Phúc Kiến thường là một địa điểm để triều đình đương thời lưu đày các tù nhân và các nhân vật bất đồng. Đến thời Nam-Bắc triều, Phúc Kiến nằm dưới quyền kiểm soát của các hoàng triều phương Nam. Thời Đường (618–907) là một thời kỳ hoàng kim của phong kiến Trung Quốc. Khi triều Đường sụp đổ, Trung Quốc bị chia cắt trong suốt một thời kỳ được gọi là Ngũ Đại Thập Quốc. Trong thời gian này, đã có một làn sóng nhập cư thứ hai đến Phúc Kiến để tìm chốn nương thân, dẫn đầu là Vương Thẩm Tri, người này đã lập ra nước Mân với kinh đô đặt tại Phúc Châu. Tuy nhiên, sau khi quốc vương khai quốc qua đời, Mân quốc đã xảy ra xung đột nội bộ và sớm bị một nước phương Nam khác là Nam Đường tiêu diệt. Tuyền Châu là một hải cảng phồn hoa dưới thời Mân. Vào đầu thời triều Minh, Tuyền Châu là khu vực binh lính tập hợp và cung cấp vật phẩm cho chuyến thám hiểm hàng hải của Trịnh Hòa. Việc hải cảng này phát triển hơn nữa bị cản trở do triều Minh đã ra lệnh hải cấm, và Tuyền Châu đã dần bị thay thế bởi các cảng Quảng Châu, Hàng Châu, Ninh Ba và Thượng Hải gần đó mặc dù lệnh cấm đã được gỡ bỏ vào năm 1550. Việc Uy khấu (hải tặc Nhật Bản) xâm nhập với quy mô lớn cuối cùng đã bị quân Trung Quốc và Toyotomi Hideyoshi của Nhật Bản xóa bỏ. Thời Minh mạt và Thanh sơ đã xảy ra làn sóng lớn người tị nạn đến Phúc Kiến và 20 năm cấm buôn bán trên biển dưới thời Hoàng đế Khang Hy, một biện pháp nhằm chống lại những người vẫn trung thành với nhà Minh tại Đài Loan dưới quyền lãnh đạo của Trịnh Thành Công. Tuy nhiên, những người tị nạn này đã không ở lại Phúc Kiến mà sau đó lại di cư đến các khu vực thịnh vượng ở Quảng Đông. Năm 1689, triều đình nhà Thanh sau khi thu phục được Đài Loan đã chính thức hợp nhất hòn đảo này vào Phúc Kiến. Sau đó, người Hán bắt đầu di cư với số lượng lớn ra Đài Loan, và phần lớn cư dân Đài Loan hiện nay có nguồn gốc từ những người nhập cư đến từ miền Nam Phúc Kiến. Sau khi Đài Loan trở thành một tỉnh riêng vào năm 1885 và rồi bị nhượng cho Nhật Bản vào năm 1895, Phúc Kiến vẫn duy trì nguyên trạng cho đến nay. Phúc Kiến chịu ảnh hưởng đáng kể của Nhật Bản sau khi ký kết Hiệp ước Shimonoseki năm 1895 cho đến Chiến tranh Trung-Nhật trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Sau Cách mạng Tân Hợi, tỉnh Phúc Kiến nằm dưới quyền kiểm soát của chính quyền Trung Hoa Dân Quốc. Năm 1933, lộ quân 19 tiến hành binh biến và lập nên Trung Hoa Cộng hòa quốc, đặt thủ đô tại Phúc Châu. Nước cộng hòa này chỉ tồn tại trong 55 ngày từ 22 tháng 11 năm 1933 đến 13 tháng 1 năm 1934. Sau Nội chiến Trung Quốc, Phúc Kiến thuộc quyền kiểm soát của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, riêng quần đảo Kim Môn và Mã Tổ do chính quyền Trung Hoa Dân Quốc tại Đài Loan chiếm giữ, chính quyền Trung Hoa Dân Quốc cũng thành lập nên tỉnh Phúc Kiến, song bộ máy chính quyền cấp tỉnh này hiện nay không hoạt động trên thực tế. Eo biển Đài Loan đã từng xảy ra ba cuộc khủng hoảng giữa hai bên vào các năm 1954-1955, 1958 và 1995–1996. Kể từ cuối thập niên, kinh tế Phúc Kiến ở vùng ven biển đã hưởng lợi rất nhiều từ sự gần gũi về mặt địa lý và văn hóa với Đài Loan. Chính quyền Phúc Kiến và chính phủ Trung ương Trung Quốc cũng đề xuất thành lập khu kinh tế Bờ tây Eo biển để khai thác hiệu quả lợi thế này. Năm 2008, Đài Loan là nhà đầu tư số một tại Phúc Kiến. == Địa lý == Phúc Kiến nằm ở vùng ven biển phía đông nam Trung Quốc. Phúc Kiến giáp với Chiết Giang ở phía bắc, giáp với Giang Tây ở phía tây, giáp với Quảng Đông ở phía tây nam. Ở phía đông và phía nam của mình, Phúc Kiến giáp với biển Hoa Đông, eo biển Đài Loan và biển Đông. Đường bờ biển của Phúc Kiến kéo dài 535 km theo đường thẳng. Tuy nhiên do có nhiều vịnh và bán đảo, đường bờ biển trên thực tế dài khoảng 3.324 km, chiếm 18,3% chiều dài đường bờ biển Trung Quốc. Các vịnh lớn tại Phúc Kiến là vịnh Phúc Ninh (福宁湾), vịnh Tam Sa (三沙湾), vịnh La Nguyên (罗源湾), vịnh Mi Châu (湄洲湾), vịnh Đông Sơn (东山湾). Phúc Kiến có tổng cộng 1.404 đảo ven bờ, tổng diện tích của các hòn đảo này là khoảng trên 1.200 km². Các đảo chính là Hạ Môn, Kim Môn, Bình Đàm (平潭岛), Nam Nhật (南日岛), Đông Sơn (东山岛). Địa hình Phúc Kiến chủ yếu là đồi núi, theo truyền thống được mô tả là "Bát sơn, nhất thủy, nhất phân điền" (八山一水一分田). Ở phía tây bắc, địa hình cao hơn với dãy núi Vũ Di tạo thành ranh giới tự nhiên giữa Phúc Kiến và Giang Tây, trong đó, núi Hoàng Cương (黄岗山) với cao độ 2.157 m là điểm cao nhất tại Phúc Kiến, cũng là điểm cao nhất vùng Đông Nam của Trung Quốc. Vành đai núi Phúc Kiến từ bắc xuống nam chia thành dãy núi Thứu Phong, dãy núi Đái Vân (戴云山脉), [[dãy núi Bác Bình Lĩnh (博平岭山脉). Đất đỏ và đất vàng là các loại đất chính của Phúc Kiến. Phúc Kiến là đơn vị hành chính cấp tỉnh có nhiều rừng nhất tại Trung Quốc, với tỷ lệ che phủ rừng đạt 62,96% vào năm 2009. Rừng tại Phúc Kiến có thể phân thành khu vực rừng thường xanh lá rộng cận nhiệt ở trung và tây bộ và rừng mưa cận nhiệt đới gió mùa ở đông bộ. Các sông chủ yếu tại Phúc Kiến là Mân Giang (闽江) dài 577 km, Tấn Giang (晋江) dài 182 km, Cửu Long Giang (九龙江) dài 258 km và Đinh Giang (汀江) dài 220 km. Với lượng mưa phong phú, lưu lượng nước hàng năm của các sông trên toàn tỉnh là 116,8 tỷ m³ nước, riêng lưu lượng dòng chảy bình quân của Mân Giang (1.980 m³/s) đã lớn hơn của Hoàng Hà (1.774,5 m³/s). Đa số các sông suối có độ dốc lớn và chảy nhanh, có nhiều ghềnh thác, dự trữ thủy lực lý thuyết đạt 10,46 triệu kW, công suất lắp đặt đạt 7,0536 triệu kW. Tại vùng duyên hải, do có nhiều vũng vịnh nên có thể lợi dụng thủy triều để sản xuất điện, với 3000 km² diện tích chịu ảnh hưởng của thủy triều, dự trữ năng lượng thủy triều có thể khai thác là trên 10 triệu kW. Phúc Kiến có bốn đồng bằng lớn là đồng bằng Chương Châu, đồng bằng Phúc Châu, đồng bằng Tuyền Châu và đồng bằng Hưng Hóa. Phúc Kiến có khí hậu cận nhiệt đới ẩm gió mùa, khí hậu có lợi cho việc phát triển một nền nông nghiệp đa dạng. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 17-21 °C. Mùa đông tại Phúc Kiến khá ấm áp, nhiệt độ tháng 1 tại vùng duyên hải là 7-10 °C, tại vùng núi là 6-8 °C. Mùa hè nóng với nhiệt độ dao động từ 20-39 °C, chịu ảnh hưởng của nhiều cơn bão nhiệt đới. Giáng thủy hàng năm đạt từ 1.400-2.000 mm, giảm dần từ đông nam đến tây bắc. === Phân vùng === Mân Đông là một khu vực rộng lớn, bao gồm khu vực trung hạ du Mân Giang ở đông bộ và khu vực đồi núi ở đông bắc bộ Phúc Kiến, giáp eo biển Đài Loan và biển Hoa Đông. Về mặt hành chính, vùng Mân Đông bao gồm Phúc Châu và Ninh Đức. Tại Mân Đông, toàn bộ Phúc Châu và hai huyện Cổ Điền, Bình Nam của Ninh Đức nói tiếng Phúc An (福安话). Quần đảo Mã Tổ do Trung Hoa Dân Quốc quản lý cũng thuộc vùng Mân Đông. Mân Trung gồm Phủ Điền và đại bộ phận của Tam Minh. Trong vùng Mân Trung, các huyện Vưu Khê và Đại Điền nói tiếng Mân Nam; các huyện khu Tam Nguyên, Vĩnh An và Sa nói tiếng Mân Trung; tại Ninh Hóa và Thanh Lưu nói tiếng Khách Gia; các huyện Thái Ninh, Tương Lạc, Kiến Ninh và Minh Khê nói phương ngôn Mân Cống (闽赣方言). Mân Nam chỉ khu vực lưu vực Cửu Long Giang và Tấn Giang ở nam bộ Phúc Kiến, giáp với eo biển Đài Loan. Về mặt hành chính, Mân Nam bao gồm ba địa cấp thị Chương Châu, Tuyền Châu và Hạ Môn. Vùng Mân Nam có nền kinh tế phát triển, còn được gọi là tam giác vàng Mân Nam. Các đảo Kim Môn do Trung Hoa Dân Quốc quản lý cũng thuộc vùng Mân Nam. Mân Nam là quê hương của một số lượng lớn Hoa kiều, là tổ tiên của đa số người Đài Loan. Người dân vùng Mân Nam nói tiếng Mân Nam. Mân Bắc chỉ khu vực thượng du Mân Giang ở bắc bộ Phúc Kiến, phía đông nam của đoạn bắc dãy núi Vũ Di và phía tây bắc của dãy núi Đái Vân (戴云山脉). Về mặt hành chính, Mân Bắc bao gồm Nam Bình và một bộ phận của Tam Minh. Mân Bắc giáp với Ninh Đức ở phía đông, giáp với Thượng Nhiêu và Ưng Đàm của tỉnh Giang Tây ở phía tây, phía nam đan xen vào Tam Minh, phía bắc giáp với Lệ Thủy của tỉnh Chiết Giang. Người dân Mân Bắc nói tiếng Mân Bắc. Mân Tây thời cổ dùng để chỉ các châu quận ở cực tây của Phúc Kiến là Đinh châu (汀州), ngoại trừ khu thành Long Nham và bên ngoài Chương Bình, là nơi cư trú của người Xa, và là một trong tứ châu Khách Gia. Mân Tây là quê hương của nhiều người Khách Gia tại Đài Loan, Đông Nam Á và Tứ Xuyên. Hiện nay, Mân Tây dùng để chỉ Long Nham. Thổ lâu Phúc Kiến là một di sản văn hóa thế giới. == Các đơn vị hành chính == Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa cai quản hầu hết tỉnh này, và chia nó thành 9 đơn vị hành chính cấp địa khu: 9 đơn vị hành chính cấp địa khu này được chia thành 85 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 26 quận, 14 thị xã (huyện cấp thị), và 45 huyện. Các đơn vị hành chính cấp huyện này lại được nhỏ thành 1107 đơn vị hành chính cấp hương, gồm 605 thị trấn (trấn), 328 hương, 18 hương dân tộc, và 156 nhai đạo. Huyện Kim Môn về mặt danh nghĩa là do thành phố Tuyền Châu quản lý, nhưng thực tế lại do Trung Hoa Dân Quốc trên đảo Đài Loan quản lý. Huyện Liên Giang, thuộc thành phố Phúc Châu của CHND Trung Hoa, trên danh nghĩa quản lý Quần đảo Mã Tổ, nhưng thực tế Mã Tổ lại do Trung Hoa Dân Quốc quản lý, với tên gọi là huyện Liên Giang. Nhóm đảo Ô Khâu trên danh nghĩa thuộc quyền quản lý của khu Tú Tự thuộc thành phố Phủ Điền của CHND Trung Hoa song trên thực tế do huyện Kim Môn của Trung Hoa Dân Quốc quản lý. == Nhân khẩu == === Dân tộc === Người Hán chiếm 98% cư dân Phúc Kiến, tuy nhiên cư dân người Hán tại Phúc Kiến lại có tính đa nguyên cao về ngôn ngữ và văn hóa. người Mân (người nói tiếng Mân) là nhóm Hán lớn nhất tại Phúc Kiến, tiếp theo là người Khách Gia, người Triều Châu. Người Khách Gia sinh sống ở phần tây nam của Phúc Kiến. Người Huệ An, một nhánh người Hán có văn hóa và các tập tục khác biệt, sinh sống tại bờ biển đông nam Phúc Kiến gần trấn Sùng Vũ (崇武镇) tại huyện Huệ An. người Xa sinh sống chủ yếu ở vùng núi phía bắc Phúc Kiến, chiếm 60% tổng số người Xa tại Trung Quốc, họ là dân tộc thiểu số lớn nhất tại Phúc Kiến. Năm 2009, tỉnh Phúc Kiến có tổng cộng 11 hương dân tộc, trong đó có 18 hương dân tộc Xa và 1 hương dân tộc Hồi, có 562 thôn dân tộc. Phúc Kiến là quê hương của nhiều Hoa kiều hải ngoại, đặc biệt là ở Đông Nam Á. Hậu duệ của những người di cư từ Phúc Kiến chiếm đa số trong cộng đồng người Hán tại Đài Loan và Singapore. Tại Hồng Kông, theo ước tính có khoảng 1,2 triệu người Phúc Kiến, riêng người gốc Tuyền Châu là 700.000 người. Người gốc Phúc Kiến cũng chiếm một tỉ lệ đáng kể trong cộng đồng người Hán tại Malaysia, Indonesia, Brunei và Philippines. Từ năm 1970 trở đi, Phúc Thanh và Trường Lạc, Phúc Châu có nhiều người di cư đến Hoa Kỳ, Anh Quốc, Nhật Bản và Nam Mỹ. === Ngôn ngữ === Do có địa hình đồi núi với nhiều đợt nhập cư đến từ miền Trung Trung Quốc trong dòng chảy lịch sử, Phúc Kiến là một trong những nơi đa dạng nhất về ngôn ngữ trong số các khu vực người Hán trên toàn quốc. Trong một khoảng cách ngắn, các phương ngữ trong cùng một địa phương có thể không hiểu lẫn nhau. Điều này được phản ánh trong thành ngữ "nếu bạn đi năm dặm tại Phúc Kiến thì văn hóa sẽ biến đổi, và nếu bạn đi mười dặm, ngôn ngữ sẽ khác". Việc phân loại các phương ngữ này khiến các nhà ngôn ngữ học lúng túng. Nhìn chung, hầu hết các phương ngữ tại Phúc Kiến được xếp thuộc về tiếng Mân, nhóm này lại chia thành tiếng Mân Bắc, tiếng Mân Đông, tiếng Mân Trung, tiếng Mân Nam, tiếng Phủ Tiên, và tiếng Thiệu Tương (邵将). (phân nhóm thứ bảy của tiếng Mân, tiếng Hải Nam, không nói ở Phúc Kiến.) Phương ngữ Phúc Châu thuộc tiếng Mân Đông, song một số nhà ngôn ngữ học lại phân nó thuộc tiếng Mân Bắc; tiếng Hạ Môn là một bộ phận của tiếng Mân Nam. Tiếng Khách Gia, một phân nhánh khác của tiếng Hán, được người Khách Gia sinh sống quanh Long Nham nói. Cũng như các tỉnh khác, ngôn ngữ chính thức tại Phúc Kiến là tiếng Phổ thông, được dùng để đàm thoại giữa người dân ở các khu vực khác nhau. == Kinh tế == Trước năm 1978, do nằm đối diện với Đài Loan, Phúc Kiến được xem là sẽ trở thành tiền tuyến trong một cuộc chiến tranh tiềm tàng giữa hai bờ eo biển. Vì thế, tỉnh không được chính phủ Trung ương Trung Quốc đầu tư nhiều và kinh tế chậm phát triển hơn so với phần còn lại của đất nước. Từ sau cải cách mở cửa năm 1978, Phúc Kiến đã nhận được nguồn đầu tư đáng kể của Hoa kiều gốc Phúc Kiến tại hải ngoại, từ Đài Loan và đầu tư ngoại quốc. Ngày nay, mặc dù là một trong các tỉnh giàu có của Trung Quốc, song GDP bình quân đầu người của Phúc Kiến vẫn đứng thấp nhất trong số các đơn vị hành chính ven biển phía đông của Trung Quốc. Theo các số liệu sơ bộ, tổng GDP của Phúc Kiến năm 2010 đạt 1,4 nghìn tỉ NDT, tăng 13,8% so với năm trước, GDP bình quân đầu người đạt 39.432 NDT, tăng 13% so với năm trước, trong đó tỉ lệ ba khu vực một, hai và ba của nền kinh tế lần lượt là 9,5%-51,3%-39,2%. Hạ Môn, Phúc Châu và Tuyền Châu là những nơi kinh tế phát triển hơn cả tại Phúc Kiến. Tại vùng ven biển, các ngành công nghiệp chủ đạo là công nghiệp nhẹ, điện tử, thực phẩm, thủy sản, chế biến thực phẩm; còn tại vùng nội địa, các ngành công nghiệp chủ đạo là nguyên liệu thô, dệt may, gỗ, hóa chất. Phúc Kiến có các nhà máy chế biến trà, cùng các nhà máy sản xuất trang phục và đồ thể thao của các hãng lớn như Anta, 361 Degrees, Xtep, Peak Sport Products và Septwolves. Nhiều hãng nước ngoài cũng có các hoạt động Phúc Kiến như Boeing, Dell, GE, Kodak, Nokia, Siemens, Swire, TDK và Panasonic. Phúc Kiến là tỉnh có nhiều đồi núi, thiếu đất canh tác. Lúa là cây trồng chính, ngoài ra các nông dân còn trồng khoai lang cùng lúa mì và lúa mạch. Ruộng lúa ước tính chiếm 81% diện tích đất canh tác, có thể trồng hai đến ba vụ luân phiên trong một năm, chẳng hạn theo công thức lúa gạo-lúa gạo-lúa mì. Phúc Kiến là một tỉnh trọng yếu trong việc trồng các loại cây trồng nhiệt đới và cận nhiệt đới tại Trung Quốc. Phúc Kiến cũng trồng mía để sản xuất đường và trồng cải dầu. Phúc Kiến cũng dẫn đầu Trung Quốc về sản lượng nhãn, vải, trà. Theo công báo Phát triển Kinh tế và Xã hội Quốc dân tỉnh Phúc Kiến năm 2010, diện tích cây lương thực đạt 18,4845 triệu mẫu, trong đó diện tích lúa là 12,8224 triệu mẫu, diện tích trồng thuốc lá là 972.400 mẫu, diện tích trồng các loại hạt có dầu là 1.674.900 mẫu, khu vực có phát triển trồng rau là trên 10 triệu mẫu. năm 2010, sản lượng lương thực đạt 6,6 triệu tấn. Hải sản là một thế mạnh khác của Phúc Kiến, đặc biệt là các loài có vỏ. Tỉnh Phúc Kiến sẽ được hưởng lợi từ việc khai thông vận chuyển trực tiếp với Đài Loan bắt đầu từ ngày 15 tháng 12 năm 2008. Điều này cũng bao gồm việc mở các chuyến bay từ Đài Loan đến các thành phố chính của Phúc Kiến như Hạ Môn và Phúc Châu. Bên cạnh đó, các cảng tại Hạ Môn, Tuyền Châu và Phúc Châu sẽ nâng cấp cơ sở hạ tầng để tăng trao đổi thương mại với Đài Loan. Năm 2011, GDP danh nghĩa của Phúc Kiến là 1,74 nghìn tỷ NDT (276,3 tỷ USD), tăng 13% so với năm trước đó. GDP bình quân đầu người của tỉnh đạt 46.802 NDT (7.246 USD). Đến năm 2015, Phúc Kiến hy vọng sẽ có ít nhất 50 doanh nghiệp có doanh thu hàng năm trên 10 tỉ NDT. Chính quyền cũng dự tính 55% tăng trưởng GDP sẽ đến từ lĩnh vực công nghiệp. == Giao thông == === Đường sắt === Người ta chỉ mới bắt đầu xây dựng đường sắt tại Phúc Kiến từ những năm 1950, khi hai bờ eo biển Đài Loan vẫn còn căng thẳng. Việc xây dựng đường sắt là một phần trong chiến lược của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa nhằm chống lại một cuộc tấn công có thể xảy ra từ Đài Loan. Vì thế, tuyến đường sắt từ Ưng Đàm thuộc tỉnh Giang Tô (được xác định là tuyến phòng thủ thứ hai) đến Hạ Môn đã được xây dựng, sau đó kéo dài thêm đến Phúc Châu. Để thu hút đầu tư, Phúc Kiến dự định sẽ tăng chiều dài đường sắt trong tỉnh lên 50%, đạt 2.500 km. Đến nay, đường sắt ở Phúc Kiến không còn phục vụ cho nhu cầu đi lại nội tỉnh mà chủ yếu phục vụ các tuyến đường dài đi đến các tỉnh khác. Đường sắt Phúc Châu-Hạ Môn là một tuyến đường sắt cao tốc dài 274,9 km. Tuyến đường sắt này được bắt đầu xây dựng vào năm 2005, và đã được nghiệm thu vào tháng 10 năm 2009 và đi vào hoạt động từ năm 2010. Tuyến đường sắt có thể đạt tốc dộ trên 200 km/h và toàn hành trình chỉ mất khoảng 1 tiếng rưỡi. Tuyến đường sắt Phúc Châu-Hạ Môn là một phần của Đường sắt cao tốc Hàng Châu-Phúc Châu-Thâm Quyến, vì thế, Phúc Kiến có thể kết nối một cách nhanh chóng và thuận lợi đến hai khu vực kinh tế lớn nhất đất nước là đồng bằng Châu Giang và đồng bằng Trường Giang. Dự kiến khi một cây cầu được xây dựng bắc qua vịnh Hàng Châu để phục vụ cho tuyến đường sắt cao tốc, Phúc Kiến sẽ có thể kết nối trực tiếp đến Thượng Hải bằng tuyến đường này. === Đường bộ === Mạng lưới đường bộ của Phúc Kiến đã được phát triển trong những năm đầu của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và luôn ở trong tình trạng tốt để có thể sẵn sàng phục vụ cho việc chuyển quân nếu xảy ra chiến tranh. Kể từ khi Trung Quốc tiến hành cải cách mở cửa vào năm 1978 và phát triển mạnh nền kinh tế thị trường với các ngành công nghiệp nhẹ, nhu cầu vận tải bằng đường bộ đã tăng lên rất nhiều. Tính đến năm 2012, có 54.876 kilômét (34.098 mi) đường quốc lộ tại Phúc Kiến, trong đó có 3.500 kilômét (2.200 mi) đường cao tốc. Theo Kế hoạch 5 năm lần thứ 12, tức giai đoạn từ 2011 đến 2015, chiều dài đường cao tốc của Phúc Kiến sẽ tăng lên 5.500 kilômét (3.400 mi). === Hàng không === Phúc Kiến có hai sân bay quốc tế là Sân bay quốc tế Trường Lạc Phúc Châu, Sân bay quốc tế Cao Khi Hạ Môn, và một số sân bay địa phương nhỏ hơn như là Sân bay Tấn Giang Tuyền Châu, Sân bay Nam Bình Vũ Di Sơn, Sân bay Liên Thành. Những sân bay địa phương này được phát triển từ các sân bay quân sự song đến nay vẫn chỉ có một vài tuyến bay. Tuy nhiên, hai sân bay Phúc Châu và Hạ Môn đã được mở rộng và hiện đại hóa. Sân bay Hạ Môn có năng lực phục vụ 15,75 triệu hành khách vào năm 2011, còn Phúc Châu có năng lực tiếp đón 6,5 triệu hành khách mỗi năm với năng lực chuyên chở hàng hóa trên 200.000 tấn. Các sân bay tại Phúc Kiến có các tuyến bay trực tiếp đến 45 điểm, bao gồm cả các điểm quốc tế như Nhật Bản, Malaysia, Thái Lan, Singapore và Hồng Kông. === Giao thông đường thủy === Phúc Kiến có trên 3.700 km đường thủy nội địa, song lại có ít ý nghĩa vì các dòng chảy quá nông nên tàu lớn không thể đi lại. Ngoài ra, trên nhiều con sông có các đập thủy điện, vì thế Phúc Kiến khó có khả năng phát triển loại hình giao thông này. Tuy nhiên, với lợi thế nằm ven biển cùng nhiều vũng, vịnh, Phúc Kiến có khả năng phát triển giao thông đường biển. Một số hải cảng chính của Phúc Kiến là Hạ Môn, Phúc Châu, Tuyền Châu, Chương Châu, Hàm Giang. Ngoài ra, tỉnh Phúc Kiến còn sẽ hình thành một hải cảng lớn ở vịnh Mi Châu (湄洲湾) thuộc Phủ Điền. == Văn hóa == Một vài khu vực tại Phúc Kiến có hình thức hí khúc (戏曲) riêng của mình. Mân kịch (闽剧) phổ biến tại khu vực xung quanh Phúc Châu; Cao Giáp hí (高甲戏) phổ biến quanh Tấn Giang và Tuyền Châu; Hương kịch (芗剧) phổ biến quanh Chương Châu; Phúc Kiến Nam khúc (福建南曲) quen thuộc trên khắp vùng nam bộ, và Phủ Tiên hí (莆仙戏) phổ biến quanh Phủ Điền và Tiên Du. Ẩm thực Phúc Kiến có thế mạnh về hải sản và là một trong tám trường phái lớn của ẩm thực Trung Quốc. Trường phái Phúc Kiến bao gồm các truyền thống ẩm thực đến từ các khu vực khác nhau, như ẩm thực Phúc Châu và ẩm thực Mân Nam. Món ăn có thanh thế nhất của ẩm thực Phúc Kiến là Phật nhảy tường (佛跳墙 "Phật khiêu tường"), một món ăn phức tạp gồm nhiều thành phần, bao gồm cả vây cá mập, hải sâm, bào ngư và rượu Thiệu Hưng (绍兴酒, Thiệu Hưng tửu). Nhiều loại trà nổi tiếng có nguồn gốc từ Phúc Kiến, trong đó phải kể đến trà Ô Long, Nham trà Vũ Di (武夷岩茶)), và trà hoa nhài Phúc Châu. Trà đạo Phúc Kiến là một hình thức chuẩn bị và phục vụ trà công phu. Từ "trà" trong tiếng Anh, "tea", có nguồn gốc từ tiếng Mân Nam, te. Sơn mài thoát thai Phúc Châu (福州脱胎漆器), một kiểu sơn mài nổi tiếng, có điểm đáng chú ý là sử dụng một cục đất sét và/hoặc thạch cao để tạo ra hình thù; cục này sau đó bị loại bỏ. Ở Phúc Châu có nghệ thuật chạm khắc đá Thọ Sơn (寿山石). == Giáo dục == == Đối tác hữu nghị == Tính đến ngày 1 tháng 7 năm 2009, Phúc Kiến đã thiết lập 61 mối quan hệ quốc tế với 28 quốc gia, trong đó quan hệ cấp tỉnh là 16, Phúc Châu: 9, Hạ Môn: 13, Tuyền Châu: 5, Chương Châu: 3, Phủ Điền: 2, Nam Bình: 2, Long Nham: 2, Thạch Sư: 2, Vũ Di Sơn: 2, Tam Minh, Ninh Đức, Nam An, Phúc Đỉnh, khu Tư Minh của Hạ Môn đều có một đối tác quốc tế. Trong đó, các đối tác quốc tế cấp tỉnh, bang của Phúc Kiến là: == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Khám phá tỉnh Phúc Kiến
hà nam (trung quốc).txt
Hà Nam (tiếng Trung: 河南; bính âm: Hénán), là một tỉnh ở miền trung của Trung Quốc. Tên gọi tắt là Dự (豫), đặt tên theo Dự châu, một châu thời Hán. Tên gọi Hà Nam có nghĩa là phía nam Hoàng Hà. Với dân số gần 100 triệu người, Hà Nam là một trong các tỉnh đông dân nhất Trung Quốc. Hà Nam giáp Hà Bắc về phía bắc, Sơn Đông về phía đông bắc, An Huy về phía tây nam, Hồ Bắc về phía nam, Thiểm Tây về phía tây và Sơn Tây về phía tây bắc. Hà Nam và tỉnh láng giềng Hà Bắc có tên gọi chung là Lưỡng Hà (两河). Hà Nam thường được gọi là Trung Nguyên (中原) hoặc Trung Châu (中州), nghĩa là "đồng/ vùng đất ở giữa"; rộng hơn, tên gọi này cũng được dùng để chỉ bình nguyên Hoa Bắc. Hà Nam được xem là vùng đất phát nguyên trung tâm của nền văn minh Trung Hoa. == Lịch sử == === Thời cổ đại === Vào đầu thời đại đồ đá mới, tại khu vực trung du Hoàng Hà đã có nhiều thể loại hình thức văn hóa phát sinh và phát triển, thông qua khảo cổ, đã phát hiện được văn hóa Bùi Lý Cương tồn tại trong khoảng thời gian 7000 TCN - 5000 TCN ở lưu vực Lạc Hà, khu định cư Gia Hồ từng tồn tại từ 7000 TCN - 5800 TCN ở khu vực huyện Vũ Dương ngày nay. Cư dân Gia Hồ khi đó đã trồng kê và lúa, trong khi việc trồng kê là điều thường thấy ở các cộng đồng thuộc văn hóa Bùi Lý Cương, thì việc trồng lúa chỉ xuất hiện duy nhất tại Gia Hồ. Tiếp sau, tại khu vực nay là bắc bộ Hà Nam đã xuất hiện văn hóa Ngưỡng Thiều (5000 TCN – 3000 TCN), cư dân thuộc nền văn hóa này chủ yếu trồng kê, một vài làng cũng trồng lúa mì hay lúa gạo, đánh cá và chăn nuôi các động vật như lợn, gà và chó, cũng như cừu, dê và bò, họ cũng có thể đã thực hành một dạng sớm của chăn nuôi tằm tơ. Đến cuối thời đại đồ đá mới, khu vực trung hạ du Hoàng Hà, bao gồm cả Hà Nam, thuộc về văn hóa Long Sơn (3000 TCN - 2000 TCN), cư dân của nền văn hóa này đã đạt được trình độ cao trong sản xuất đồ gốm, như sử dụng bàn xoay gốm. Văn hóa Nhị Lý Đầu đã tạo ra bước nhảy từ thời đại đồ đá mới sang thời đại đồ đồng tại Trung Quốc, nền văn hóa này được đặt tên theo di chỉ Nhị Lý Đầu ở thôn cùng tên tại Yển Sư của Hà Nam. Nền văn hóa này tồn tại trong khoảng thời gian từ 1880 TCN đến 1520 TCN, Di chỉ Nhị Lý Đầu có dấu tích của các tòa cung điện và các xưởng nấu chảy đồng. Nhị Lý Đầu là nơi duy nhất sản xuất các bình đồng dùng trong lễ nghi đương thời tại Trung Quốc. Thời gian tồn tại của văn hóa Nhị Lý Đầu tương ứng với vương triều Hạ, quốc gia liên minh bộ lạc hay triều đại đầu tiên và có tính thần thoại cao trong lịch sử Trung Quốc. Khu vực Hà Nam ngày nay là trung tâm của vương triều Hạ, khu vực di chỉ Nhị Lý Đầu được nhiều học giả nhận định là đô thành trong toàn bộ thời gian hoặc thời kỳ thứ nhất, thứ hai của vương triều Hạ, song vẫn đang phải tìm kiếm các cơ sở vững chắc để làm rõ. Xuất hiện sau văn hóa Nhị Lý Đầu là văn hóa Nhị Lý Cương, tồn tại trong khoảng thời gian 1500 TCN –1300 TCN và được đặt theo tên một di chỉ ở ngay bên ngoài khu đô thị của Trịnh Châu. Di chỉ có dấu tích của một tường thành lớn với chu vi gần 7 km, các xưởng lớn được đặt ngay bên ngoài tường thành: một xưởng sản xuất đồ cốt, một xưởng sản xuất đồ gốm, hai xưởng sản xuất bình đồng. Nhị Lý Cương là nền văn hóa khảo cổ học sớm nhất tại Trung Quốc thể hiện việc đã sử dụng phổ biến các bình đồng được đúc, phong cách cũng thống nhất hơn văn hóa Nhị Lý Đầu. Nhiều nhà khảo cổ Trung Quốc cho rằng thành cổ này là một trong những đô thành ban đầu của vương triều Thương, triều đại tiếp nối của vương triều Hạ. Minh Điều, nay là đông bộ Phong Khâu là nơi quân của Thương Thang đã quyết chiến với quân của vua Kiệt triều Hạ, kết quả là quân Hạ đại bại. Do việc lũ lụt, thiên tai, triều Thương đã phải thiên đô nhiều lần, cuối cùng định đô tại Ân Khư (thuộc An Dương ngày nay) trong thời gian vua Bàn Canh trị vì. Viên quan triều Thanh Vương Ý Vinh (王懿榮) đã phát hiện ra những xương và mai rùa được khắc chữ tại di chỉ An Khư vào năm 1899, được gọi là giáp cốt văn. Sau khi tộc Chu lật đổ vương triều Thương, lập ra vương triều Chu, Chu Vũ Vương theo kiến nghị của Chu công Đán đã cho con của Trụ Vương là Vũ Canh tiếp tục cai trị đất Ân. Nước Ân đóng đô tại thủ đô của triều Thương trước đây (tức Ân Khư), lãnh thổ của Ân gần tương ứng với khu vực bắc bộ tỉnh Hà Nam, nam bộ tỉnh Hà Bắc và đông nam bộ tỉnh Sơn Tây ngày nay. Không lâu sau, Vũ Canh nổi dậy chống lại triều đình nhằm khôi phục triều Thương, song cuối cùng đã bị Chu công Đán đánh bại. Sau đó Chu Công chia đất Ân làm đôi, một nửa phong cho người tông thất khác của nhà Ân là Vi Tử Khải ở nước Tống để giữ hương hoả nhà Ân còn nửa kia phong cho người em khác của Chu Vũ Vương là Khang Thúc Cơ Phong, đặt quốc hiệu là Vệ. Chu công Đán cũng cho xây thành Lạc Ấp (nay thuộc Tây Công, Lạc Dương) để làm căn cứ địa phòng bị các cuộc phản loạn ở phía đông. Năm 771 TCN, vương triều Chu dời đô đến Lạc Ấp, trở thành dấu mốc bắt đầu thời kỳ Đông Chu đầy bất ổn. Thời Xuân Thu, trên địa phận Hà Nam tồn tại rất nhiều nước chư hầu, mạnh nhất là các nước Trần, Sái, Tào, Trịnh, Vệ, Tống. Nước Tấn hùng mạnh ở phía bắc đến 403 TCN bị phân liệt, trong đó nước Hàn về sau thiên đô đến Tân Trịnh, nước Ngụy vào năm 361 TCN đã thiên đô đến Đại Lương (nay thuộc Khai Phong). Nam bộ Hà Nam là đất đai của nước Sở, cũng là một cường quốc, Hùng Dịch đã kiến lập quốc đô đầu tiên của Sở tại Đan Dương, nằm ở khu vực Tích Xuyên ngày nay. Tới thế kỷ 3 TCN, lãnh thổ nhỏ bé của triều Chu lại bị phân thành hai nước Tây Chu và Đông Chu, phạm vi hai nước này nằm xung quanh Lạc Dương ngày nay. Nước Tần ở phía tây lần lượt tiêu diệt Tây Chu, Đông Chu và Hàn vào các năm 256 TCN, 249 TCN và 230 TCN, tiến tới thống nhất Trung Quốc vào năm 221 TCN. === Thời phong kiến === Sau khi thống nhất Trung Quốc, triều Tần đã thiết lập bảy quận: Tam Xuyên quận, Nam Dương quận, Dĩnh Xuyên quận, Hà Nội quận, Đông quận và Trần quận trên địa bàn Hà Nam ngày nay. Sang thời Tây Hán, trên địa bàn Hà Nam có tám quận: Hoằng Nông, Hà Nội, Hà Nam, Dĩnh Xuyên, Nhữ Nam, Trần Lưu, Nam Dương, Ngụy. Ngoài ra, trên địa bàn Hà Nam khi đó còn có hai nước chư hầu của triều Hán: nước Hoài Dương (trung tâm nằm tại Chu Khẩu) và nước Lương. Tại các quận và nước chư hầu, triều đình Tây Hán thiết lập nên các chức vụ tư lệ giáo úy và thứ sử để giám sát, Hà Nam phân thuộc tư lệ giáo úy bộ và Dự châu, Duyện châu, Kinh châu, Ký châu. Sau những biến loạn tại Trường An, Hán Quang Vũ Đế đã dời đô đến Lạc Dương vào tháng 10 năm 25 SCN, bắt đầu triều Đông Hán. Thời Đông Hán, trên địa bàn Hà Nam có hai nước chư hầu là Trần và Lương; phân thuộc tư lệ giáo úy bộ và năm châu: Dự, Duyện, Kinh, Ký, Dương. Cuối thời Đông Hán, sau Khởi nghĩa Khăn Vàng, các quân phiệt Trung Nguyên cát cứ giao chiến và kình địch với nhau. Đầu tiên, Đổng Trác tiến vào Lạc Dương, sau phế Hán Thiếu Đế và lập Hán Hiến Đế lên ngôi, lại thiên đô về Trường An. Đến năm 196, Tào Tháo đem Hán Hiến Đế đến địa bàn của mình là Hứa Xương, kiến đô Hứa Đô ở đây. Bốn năm sau, Tào Tháo đã đánh bại quân phiệt Viên Thiệu trong trận Quan Độ ở đông bắc huyện Trung Mưu của Hà Nam hiện nay, thống nhất Hoa Bắc. Năm 220, Hán Hiến Đế thiện nhượng cho con trai của Tào Tháo là Tào Phi. Tào Phi kiến lập đô thành tại Lạc Dương, hiệu là Ngụy Văn Đế. Tào Ngụy sau đó thiên đô đến Lạc Dương, Tào Ngụy ở Trung Nguyên cùng với Ngô ở Giang Nam và Thục Hán ở tây nam mở ra thời kỳ Tam Quốc trong lịch sử Trung Quốc. Đến thời Ngụy Nguyên Đế, đại phu Tư Mã Chiêu nắm thực quyền đã đoạt lấy hoàng vị, lập nên nhà Tấn. Trong thời gian đó, Lạc Dương trở thành một trong các thành phố lớn và thịnh vượng nhất thế giới đương thời, mặc dù nhiều lần bị tổn hại do chiến loạn. Nội bộ Tây Tấn nổ ra loạn bát vương kéo dài từ 291 tới năm 306, nguyên khí triều Tấn vì thế mà bị tổn hại nghiêm trọng, cuối cùng chỉ còn lại Đông Hải vương Tư Mã Việt, trở thành người nắm chính trường. Nhân lúc triều Tấn có loạn, di dân Nam Hung Nô từ Sơn Tây và người Đê ở Tứ Xuyên phân biệt khởi nghĩa tạo phản, lập ra nước Hán và Thành. Năm 311, quân Hán dưới sự chỉ huy của Lưu Thông đã đánh bại đại quân Tấn tại Hoa Trung, chiếm được đô thành Lạc Dương của Tấn và bắt Tấn Hoài Đế, triều Tây Tấn bắt đầu diệt vong. Cùng với sự sụp đổ của triều Tây Tấn vào cuối thế kỷ 4 và đầu thế kỷ 5, các tộc du mục (Ngũ Hồ) từ phía bắc đã xâm chiếm miền Bắc Trung Quốc và lập ra nhiều chế độ kế tiếp nhau. Tuy nhiên, các dân tộc này dần dần bị Hán hóa. Trong thời Ngũ Hồ thập lục quốc, địa bàn Hà Nam trước sau thuộc về các nước Tiền Triệu, Hậu Triệu, rồi Tiền Yên, Tiền Tần. Sau khi Tiền Tần thống nhất Hoa Bắc, lại thất bại trong trận Phì Thủy trước triều Đông Tấn, Hoa Bắc lại một lần nữa phân liệt thành nhiều nước, Hà Nam lần lượt thuộc quyền cai quản của các nước Hậu Yên, Hậu Tần. Nhận thấy Hậu Tần có bất ổn nội bộ, thu năm 416, tướng Lưu Dụ của Đông Tấn đã cho mở một chiến dịch lớn đánh Hậu Tần, quân Tấn đã nhanh chóng đoạt được nửa phía đông của Hậu Tần, bao gồm cả thành Lạc Dương. Quân Đông Tấn sau đó liên tiếp giành được thắng lợi, lấy được vùng đất rộng lớn nằm ở phía bắc Hoài Hà và phía nam Hoàng Hà. Năm 420, Lưu Dụ tiếm vị triều Đông Tấn, lập ra triều Lưu Tống. Đến năm 422, quân Bắc Ngụy dưới sự chỉ đạo của Ngụy Minh Nguyên Đế đã vượt Hoàng Hà, sau lần cuộc chiến này, Lưu Tống bị mất vùng đất từ Hồ Lục, Hạng Thành trở lên phía bắc. Nhân lúc Bắc Ngụy phải đối phó với Nhu Nhiên phía bắc, năm 429, Lưu Tống Văn Đế đòi Bắc Ngụy trả đất Hà Nam song Ngụy Thái Vũ Đế không chịu. Năm 430, Lưu Tống Văn Đế sai Đáo Ngạn Chi mang quân Bắc phạt, quân Bắc Ngụy ít nên chủ động rút lui song sau đó đã phản công, lấy lại được Lạc Dương và Hổ Lao. Tháng 2 năm 431, quân Ngụy giao tranh với quân Lưu Tống do Đàn Đạo Tế chỉ huy lên Bắc cứu Hoạt Đài (nay là huyện Hoạt), hai bên đánh nhau 30 trận, đều bị tổn thất nặng, cuối cùng Đàn Đạo Tế phải đưa quân Lưu Tống rút lui. Bắc Ngụy thống nhất hoàn toàn miền Bắc Trung Quốc vào năm 439, cùng với các triều đại ở phương Nam mở ra thời Nam Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc. Năm 450, Bắc Ngụy Thái Vũ Đế điều 10 vạn quân vây đánh Huyền Hồ (懸瓠, nay thuộc Trú Mã Điếm) trong 42 ngày, quân Lưu Tống ở các thành xung quanh đều sợ thế Bắc Ngụy và bỏ thành rút chạy. Sau khi đánh bại quân Lưu Tống được cử đến cứu viện, Thái Vũ Đế lại đem quân Bắc Ngụy nam tiến, kết quả chiếm được vùng Hoài Bắc. Năm 493, Bắc Ngụy Hiếu Văn Đế đã cho mang đến Hà Dương (Hà Nam) 2 triệu con ngựa, tổ chức quân túc vệ 15 vạn thường trú tại Lạc Dương, dời hộ tịch toàn bộ người vùng Đại tới Lạc Dương. Hành động dời kinh đô đến Lạc Dương là để hiển thị Bắc Ngụy là chính quyền chính thống của Trung Quốc và có lợi cho việc hấp thụ mau lẹ văn hóa Hán. Sau khi Hiếu Vũ Đế sang Quan Trung với Tập đoàn quân phiệt Quan Lũng của Vũ Văn Thái, Cao Hoan đã lập Nguyên Thiện Kiến làm vua mới, tức là Đông Ngụy Hiếu Tĩnh Đế. Do thấy Lạc Dương gần họ Vũ Văn, ông thiên đô về Nghiệp Thành thuộc Hà Bắc ngày nay. Cả Cao Hoan và Vũ Văn Thái đều tuyên bố người mình ủng hộ là người thừa kế ngai vàng Bắc Ngụy, dẫn tới sự chia cắt lãnh thổ Bắc Ngụy thành hai nhà nước từ khoảng năm 534-535 thành Đông Ngụy và Tây Ngụy, tuy vậy hai triều đại này lại bị Bắc Tề và Bắc Chu phân biệt thay thế không lâu sau đó. Nhà Tùy đã tái thống nhất Trung Quốc vào năm 589, triều đại này định đô ở Trường An. Sau khi Tùy Dạng Đế lên ngôi, vào tháng 3 năm 605 đã cho xây dựng Đông Đô Lạc Dương, yêu cầu tháng 1 năm sau phải hoàn thành. Đông Đô Lạc Dương là một công trình lớn trong khi thời hạn hoàn thành không đến một năm, nhân công dùng mỗi tháng cần hơn 2.000.000 người, do đôn đốc lao dịch quá gấp gáp khắt khe nên phu dịch cứ 10 người thì chết đến 4, 5. Thành Đông Đô được chia làm ba khu chính là Cung thành (chỗ Hoàng cung), Hoàng thành (phủ nha của các bá quan), Ngoại quách thành (khu nhà ở của quan và dân). Chu vi Ngoại quách thành dài hơn 50 dặm, trong thành có nơi cư trú cho quan và dân hơn 1.000 phường, ngoài ra còn có ba chợ buôn bán lớn là chợ Phong Đô, chợ Đại Đồng, chợ Thông Viễn. Một phần do hao tổn nhân lực, tiền bạc quá lớn để xây thành Đông Đô, triều Tùy suy sụp, các cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ đã khiến triều đại này diệt vong vào năm 617. Thời nhà Đường, mặc dù triều đình định đô tại Trường An song khu vực Hà Nam vẫn là một trong những nơi giàu có nhất của đế quốc. Năm 690, Võ Tắc Thiên đoạt lấy ngôi vị hoàng đế Đại Đường, đổi quốc hiệu thành Chu, sử gọi là Vũ Chu, từng định đô tại Đông Đô Lạc Dương, gọi là Thần Đô Lạc Dương. Từ năm 904–907, Lạc Dương lạc trở thành kinh đô của triều Đường, song vào năm 907, Lương vương Chu Ôn đã soán vị, giáng Đường Ai Đế làm Tế Âm vương. Chu Ôn lập quốc hiệu là "Đại Lương", sử gọi là triều "Hậu Lương. Nhà Đường diệt vong, lịch sử Trung Quốc tiến vào thời kỳ Ngũ Đại Thập Quốc. Từ năm 913, quốc đô của Hậu Lương được dời đến Khai Phong. Cả năm triều đại kế tiếp nhau trong thời Ngũ Đại Thập Quốc: Hậu Lương, Hậu Đường (923–936), Hậu Hán (936–947), Hậu Tấn (947–95), Hậu Chu (951–960) đều định đô trên địa phận Hà Nam ngày nay, ngoài Hậu Đường định đô ở Lạc Dương ra thì bốn triều đại còn lại đều định đô ở Khai Phong. Nhà Tống tái thống nhất Trung Quốc 982, triều đại này cũng định đô tại Khai Phong. Thời Bắc Tống, Hà Nam phân thuộc Khai Phong phủ cùng Kinh tây bắc lộ, Kinh tây nam lộ, Kinh Đông Tây lộ. Thời Bắc Tống, Trung Quốc tiến vào một thời kỳ văn minh và thịnh vượng mới, đô thành Khai Phong vượt qua Lạc Dương và Trường An để trở thành thành phố lớn nhất Đại Tống và thế giới đương thời,, dân số đô thành đạt trên 1 triệu người, thương mại mậu dịch đạt kim ngạch chiếm một nửa toàn quốc. Năm 1004, tức trong thời gian trị vì của Tống Chân Tông, triều Liêu của người Khiết Đan phát động chiến tranh xâm lược Tống, quân Khiết Đan tấn công ồ ạt vào vùng Thiền châu (nay là Bộc Dương). Mặc dù nhiều đại thần của Tống muốn hòa, song dưới sức ép của tể tướng Khấu Chuẩn, Tống Chân Tông đã đồng ý thân chinh đến Thiền châu. Quân Tống vì được khích lệ tinh thần chiến đấu, đã phản công quân Liêu và liên tục giành thắng lợi. Hai bên Tống-Liêu sau đó ký kết minh ước Thiền Uyên, đã tạo ra hòa bình giữa hai quốc gia trong trên 100 năm. Cuối thời Bắc Tống, Đông Kinh thành của Khai Phong phủ cũng được gọi là Biện Lương, Biện Kinh. Đầu năm 1126, triều Kim của người Nữ Chân đã cho quân vượt Hoàng Hà, tiến sát tới Biện Kinh. Quá hoảng sợ, Tống Huy Tông đã thoái vị ngày 18 tháng 1 năm 1126 để nhường ngôi cho kỳ tử Triệu Hoàn, tức Tống Khâm Tông. Quân Kim sau đó bỏ việc bao vây Khai Phong và quay trở về phương Bắc song Tống đã buộc phải ký hòa ước với nhà Kim. Tuy nhiên, vài tháng sau, vào tháng 9 năm 1126, quân Kim lại quay trở lại phương Nam một lần nữa. Quân Kim cuối cùng đã vào được Biện Kinh vào ngày 9 tháng 1 năm 1127 và tiến hành các vụ cướp bóc, hãm hiếp, thảm sát trong nhiều ngày liền. Trong sự kiện Tĩnh Khang, quân Kim đã bắt Huy Tông, Khâm Tông, các tôn thất và bá quan của triều Tống. Bắc Tống diệt vong, song hoàng tử Triệu Cấu đã kịp chạy trốn về miền Nam, và thành lập triều đại Nam Tống. Năm 1129, Kim Thái Tông hạ lệnh cho Tông Phụ và Ngột Truật mang quân đánh triều Nam Tống mới hình thành. Quân Kim vượt Hoàng Hà rồi chia làm hai nhánh, Ngột Truật lĩnh 10 vạn quân đánh phủ Khai Đức (nay thuộc huyện Bộc Dương) nhưng bị thiếu lương nên ông mang quân quay lại đánh Bộc châu. Ngột Truật cử tướng tiên phong Ô Lâm Đáp Thái (乌林答大) tiến lên trước, đại phá 20 vạn quân Tống của Vương Thiện. Hạ được Bộc châu, Ngột Truật thừa thắng chiếm luôn 5 huyện lân cận. Sau đó, Ngột Truật mang quân quay lại đánh Khai Đức. Khi Ngột Truật dẫn quân Kim tiến đến Quy Đức (nay thuộc Thương Khâu), đã cho lính áp sát thành, đặt hỏa pháo ngay trên bờ hào, quân Tống trong thành sợ hãi xin hàng. Cuối cùng, Kim và Tống lấy Hoài Hà làm ranh giới, triều Tống phải cống nạp hằng năm cho Kim. Trong thời gian này, do được hưởng trạng thái hòa bình lâu dài cùng sự thịnh vượng về kinh tế-văn hóa, vùng Giang Nam đã thay thế Trung Nguyên để trở thành trung tâm kinh tế-văn hóa của Trung Quốc. Thời thuộc Kim, Hà Nam về mặt hành chính được phân thành Nam Kinh lộ và Hà Đông Nam lộ, Kinh Triệu phủ lộ, Đại Danh phủ lộ, Hà Bắc Đông lộ, còn về mặt kinh tế là một trong các khu vực kinh tế phát triển nhất nước. Biện Kinh đóng vai trò là "Nam Kinh" của triều Kim từ năm 1157 (nguồn khác nói là từ năm 1161) và được xây dựng lại trong thời gian này. Năm 1214, sau khi Mông-Kim hòa nghị thành công, Kim Tuyên Tông đã thiên đô đến Biện Kinh. Sau dó, Kim tiến hành chiến tranh chống Nam Tống kéo dài từ năm 1217 tới đầu năm 1224. Kim bị tiêu diệt vào năm 1234 trước sự tấn công của liên quân Mông Cổ-Nam Tống. Sau khi chiếm được Hà Nam, người Mông Cổ thiết lập nên Hà Nam Giang Bắc đẳng xứ hành trung thư tỉnh, trị sở đặt tại Khai Phong. Trong chiến tranh Mông-Kim, phương Bắc Trung Quốc, trong đó có Hà Nam, đã bị phá hoại đến mức hủy diệt, ngoại trừ một số rất ít người chạy trốn được ra bên ngoài, đại đa số dân thường đã thiệt mạng, tạo thành những khu vực cả nghìn lý không có một bóng người. Các thiết bị, kế hoạch, tổ chức của các công trình thủy lợi bị phá hoại với số lượng lớn, lũ lụt Hoàng Hà ngày càng trở nên nghiêm trọng, vì thế Hà Nam đã bị mất đi ưu thế mà khu vực này đã từng có trong một thời gian dài. Trong các cuộc dân biến vào cuối thời Nguyên, Hà Nam cũng trở thành khu vực phải hứng chịu sự phá hoại nghiêm trọng từ chiến tranh, dân số suy giảm. Vì thế, trong những năm Chu Nguyên Chương trị vì, triều đình nhà Minh đã tổ chức cưỡng chế di dân trên quy mô lớn từ Sơn Tây đến Trung Nguyên. Đại Minh được thành lập chính thức vào năm 1368, Hà Nam thừa tuyên bố chính sứ ti do triều đại này lập ra có ranh giới tương đồng với tỉnh Hà Nam hiện nay. Hà Nam thời Minh được chia thành tám phủ: Khai Phong, Hà Nam (Lạc Dương), Quy Đức (Thương Khâu), Nam Dương, Nhữ Ninh (Nhữ Nam), Vệ Huy, Chương Đức (An Dương), Hoài Khánh (Thấm Dương). Năm 1641, Lý Tự Thành công chiếm Lạc Dương, giết chết Phúc vương Chu Thường Tuân (朱常洵)- con trai thứ ba của Minh Thần Tông. Năm 1642, trong thời gian Lý Tự Thành bao vây Khai Phong, người ta đã đào bới để đưa nước Hoàng Hà làm ngập lụt thành này (có thuyết nói là do quân Lý Tự Thành, có thuyết nó là quân Minh đào), trong số 37 vạn dân toàn thành thì chỉ 3 vạn là còn sống sót. Trong các cuộc chiến tranh cuối thời Minh và đầu thời Thanh (1630—1662), khu vực Hà Nam lại bị phá hoại nghiêm trọng. Đến thời Khang Hy Đế, kinh tế nông nghiệp Hà Nam phục hồi, lại bắt đầu trở thành khu vực tập trung dân cư và khu vực sản xuất lương thực chủ yếu của đất nước. Khai Phong trở thành thủ phủ của Hà Nam, thành phố này cũng trở nên phồn vinh sau khi chịu thiệt hại từ chiến loạn trong thời gian Lý Tự Thành khởi nghĩa và đầu thời Thanh. Đến những năm 60 của thế kỷ 19, tại Hà Nam bùng phát các cuộc khởi nghĩa nông dân, sau hợp nhất vào khởi nghĩa lớn Niệp quân. Ngoài ra, quân Thái Bình Thiên Quốc cũng nhiều lần ra vào Hà Nam, vì thế Hà Nam trở thành một khu vực trung tâm của khởi nghĩa nông dân lưu vực Hoàng Hoài. Sau khi khởi nghĩa nông dân thất bại, nông nghiệp Hà Nam ngày càng suy thoái, tư tưởng văn hóa về cơ bản vẫn chìm đắm trong Trình-Chu lý học. === Thời hiện đại === Do ảnh hưởng từ khởi nghĩa Vũ Xương, đảng viên cách mạng Hà Nam đã thúc đẩy Tân quân tại tỉnh lỵ Khai Phong phản lại chính quyền, tổ chức khởi nghĩa vũ trang ở các phủ huyện khác, song không giành được thành công, trở thành một trong vài tỉnh chưa từng "độc lập". Trung Hoa Dân Quốc đã thay thế triều Thanh vào năm 1911, mở ra thời kỳ hiện đại trong lịch sử Trung Quốc. Việc xây dựng và mở rộng tuyến Đường sắt Bình Hán (thông xe năm 1906) và đường sắt Long Hải (thông xe đoạn Khai Phong-Lạc Dương năm 1910) đã biến Trịnh Châu, một phố huyện nhỏ vào lúc bấy giờ, thành một trung tâm giao thông lớn. Mặc dù có sự nổi lên của Trịnh Châu, kinh tế Hà Nam về tổng thể liên tục chịu thiệt hại nặng nề từ nhiều thảm họa đương thời. Chính phủ Quốc dân bỏ phủ giữ lại đạo, tại Hà Nam đã thành lập nên Khai Phong đạo, Hà Lạc đạo, Nhữ Dương đạo, Hà Bắc đạo; đạo doãn trú tương ứng tại Khai Phong, Lạc Dương, Tín Dương và huyện Cấp. Thời kỳ Bắc Dương quân phiệt, năm 1920, Lạc Dương trở thành căn cứ của Ngô Bội Phu thuộc Trực hệ quân phiệt, có sở quan Lưỡng Hồ tuần duyệt sử và bộ tư lệnh sư đoàn 3 Lục quân. Năm 1926, Phùng Ngọc Tường tham gia chiến tranh Bắc phạt do Tưởng Giới Thạch phát động từ Quảng Châu nhằm triệt tiêu các quân phiệt phương Bắc, Phùng tiến quân về phía nam, trong đó Ngô Bội Phu cát cứ Hoa Trung được liệt là một mục tiêu chính. Ngô Bội Phu trước tình thế này đã kêu gọi Trương Tác Lâm "khôi phục pháp thống" song không nhận được hưởng ứng. Do Ngô Bội Phu có lập trường chống Liên Xô nên Liên Xô hỗ trợ cho chính phủ Quốc dân đóng ở Quảng Châu. Cùng năm, quân Bắc phạt đánh tan quân chủ lực của Ngô Bội Phu, Ngô Bội Phu buộc phải dẫn tàn quân về Hà Nam sau khi để mất Vũ Hán tam trấn, sau lại chạy trốn đến Tứ Xuyên. Năm 1930, Trung Quốc đã nổ ra nội chiến giữa quân của Tưởng Giới Thạch với Diêm Tích Sơn, Phùng Ngọc Tường và Lý Tông Nhân, được gọi là đại chiến Trung Nguyên. Cuộc nội chiến này diễn ra chủ yếu trên địa bàn Hà Nam và là cuộc chiến tranh quy mô nhất trong thời kỳ cận đại của Trung Quốc. Kết quả, Tưởng Giới Thạch toàn thắng, chấm dứt thời kỳ quân phiệt cát cứ. Năm 1932, sau sự kiện Nhất Nhị Bát tại Thượng Hải, chính phủ Quốc dân Nam Kinh đã định Lạc Dương là "hành đô", chuyển văn phòng đến Lạc Dương, đến tháng 12 cùng năm thì lại trở về Nam Kinh. Năm 1923, tổng công hội đường sắt Kinh-Hán, một tổ chức cộng sản, đã thành lập tại Trịnh Châu, họ tiến hành phát động công nhân đường sắt Kinh-Hán bãi công, gây ảnh hưởng lớn.. Trong giai đoạn 1928-1932, các lãnh đạo cộng sản như Trương Quốc Đào và Từ Hướng Tiền đã tiến hành cát cứ vũ trang ở vùng núi Đại Biệt Sơn, gọi là căn cứ địa cách mạng Ngạc-Dự-Hoàn. Tân Lập (nay là huyện Tân) là thủ phủ của căn cứ địa Ngạc-Dự-Hoàn, cũng là nơi Trung Quốc công nông hồng quân có chiếc phi cơ đầu tiên, đặt tên là "Lenin". Sau đó, quân Quốc Dân Đảng dưới sự lãnh đạo của Biệt Đình Phương (别廷芳) đã đánh bại quân cộng sản của Trương Quốc Đào, triệt tiêu căn cứ của cộng sản tại Hà Nam, buộc Trương Quốc Đào phải chạy đến Tứ Xuyên lập căn cứ mới. Tháng 6 năm 1938, sau khi quân Nhật công chiếm Khai Phong, chính phủ Quốc dân đã cho nổ mìn phá đê Hoàng Hà ở Hoa Viên Khẩu thuộc Trịnh Châu để ngăn bước tiến của quân Nhật. Trận lụt năm 1938 đã khiến một diện tích rộng 54.000 km² bị ngập và cướp đi mạng sống của 500.000 đến 900.000 người Trung Quốc, phá hủy nhà cửa và hoa màu trên quy mô rộng lớn. Trận lụt đã ngăn quân Nhật chiếm Trịnh Châu, song đã không cản được quân Nhật đạt được mục tiêu chiếm giữ thủ đô lâm thời Vũ Hán. Mùa thu năm 1939, chính quyền tỉnh Hà Nam lại một lần nữa chuyển đến Lạc Dương. Sau khi kết thúc Chiến tranh Trung-Nhật, Trung Quốc lại xảy ra nội chiến Quốc-Cộng, quân Quốc Dân đảng tiến đánh "khu giải phóng Trung Nguyên" của lực lượng cộng sản vào tháng 6 năm 1946 song bị lực lượng cộng sản đánh trả quyết liệt, lực lượng cộng sản vẫn được bảo tồn. Tháng 6 năm 1947, chủ lực Tấn Ký Lỗ Dự dã chiến quân của lực lượng cộng sản đã chọc thủng phòng tuyến tự nhiên Hoàng Hà, tiến từ tây nam Sơn Đông vào Trung Nguyên, mở đầu cho giai đoạn phản công của họ trong cuộc nội chiến. Liền sau đó, binh đoàn Trần Tạ của Tấn Ký Lỗ Dự dã chiến quân đã vượt Hoàng Hà, tiến thẳng đến Tây Hà Nam; Hoa Đông dã chiến quân cũng tiến đến khu vực Đông Hà Nam, có được thắng lợi trong các chiến dịch giải phóng Lạc Dương, Khai Phong, Trịnh Châu, Nam Dương. Đến năm 1948 thì phần lớn Hà Nam đã nằm trong tay quân cộng sản. Đến tháng 1 năm 1949, sau khi quân cộng sản thắng lợi trong chiến dịch Hoài Hải, toàn bộ Hà Nam nằm trong quyền quản lý của lực lượng này. Ngày 20 tháng 8 năm 1949, phần phía bắc Hoàng Hà thuộc tỉnh Hà Nam và phần tây nam của tỉnh Sơn Đông được tách ra để hình thành tỉnh mới Bình Nguyên, tỉnh lị đặt tại Tân Hương. Ngày 15 tháng 11 năm 1952, chính quyền Trung ương đã quyết định triệt tiêu tỉnh Bình Nguyên, trả lại các phần đất trước kia cho hai tỉnh Sơn Đông và Hà Nam. Năm 1954, tỉnh lỵ của Hà Nam được chuyển từ Khai Phong về Trịnh Châu, một phần là do tầm quan trọng về kinh tế của thành phố này. Tháng 1 năm 1954, theo kế hoạch 5 năm lần thứ nhất của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Liên Xô đã giúp đỡ xây dựng 7 cơ sở công nghiệp nặng quy mô lớn tại khu Giản Tây của Lạc Dương: nhà máy máy kéo Đông Phương Hồng Lạc Dương, nhà máy cơ khí khai mỏ, nhà máy vòng bi, nhà máy động cơ Diesel, nhà máy vật liệu chịu lửa, nhà máy nhiệt điện, nhà máy luyện kim Hoàng Hà, biến Lạc Dương thành một thành phố công nghiệp nặng mới nổi có tầm quan trọng, trở thành một thành phố trực thuộc tỉnh. Ngày 20 tháng 4 năm 1958, ở huyện Toại Bình của Hà Nam, người ta đã thành lập nên công xã nhân dân Sơn Vệ Tinh, công xã nhân dân đầu tiên của Trung Quốc, sự kiện này cũng khởi đầu cho chiến dịch kinh tế-xã hội Đại nhảy vọt. Do chiến dịch này, trong ba năm xảy ra nạn đói lớn sau đó, Hà Nam là một trong các tỉnh chịu tổn thất nghiêm trọng nhất, với vài triệu người tử vong. Một trận lụt mang tính hủy diệt của Hoài Hà vào mùa hè năm 1950 đã thúc đẩy chính quyền cho tiến hành các công trình đập quy mô lớn trên các chi lưu lớn của sông này tại trung bộ và nam bộ Hà Nam. Tuy nhiên, nhiều đập trong số chúng đã không thể chống chịu được trước lượng mưa cao bất thường do bão Nina gây ra vào tháng 8 năm 1975. Có 62 đập, lớn nhất trong số đó là đập Bản Kiều ở huyện Bí Dương, đã bị đổ sập; lũ lụt thảm khốc bao trùm lên một vài huyện của Trú Mã Điếm và các khu vực xuôi về hạ nguồn, giết chết ít nhất 26.000 người. Các ước tính tổn thất nhân mạng không chính thức, bao gồm cả tử vong do dịch bệnh và nạn đói, lên đến 85.600, 171.000 hay thậm chí là 230.000. Đây được xem là thảm họa chết chóc nhất liên quan đến đập trong lịch sử nhân loại. Đầu thập niên 1970, Trung Quốc là một trong các nước nghèo nhất thế giới, và Hà Nam là một trong những tỉnh nghèo nhất Trung Quốc. Tuy nhiên, từ sau năm 1978, khi nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình khởi xướng cải cách mở cửa và đi theo kinh tế thị trường, Trung Quốc đã có sự bùng nổ về kinh tế. Bùng nổ kinh tế ban đầu đã không lan đến các tỉnh nội địa như Hà Nam, song vào những năm 1990, kinh tế Hà Nam đã đạt tốc độ phát triển nhanh hơn cả tốc độ bình quân của Trung Quốc. Tháng 11 năm 2004, thiết quân luật đã được ban bố tại huyện Trung Mưu của Hà Nam, mục đích là để dập tắt các cuộc đụng độ đẫm máu giữa người Hán và người Hồi vốn đã khiến 148 thiệt mạng. == Địa lý == Hà Nam nằm ở trung hạ du Hoàng Hà, ở tây nam vùng bình nguyên Hoa Bắc (bình nguyên Hoàng-Hoài-Hải Hà). Hà Nam có tọa độ giới hạn trong 31°23′-36°22′ vĩ Bắc, 110°21′-116°39′ kinh Đông. Hà Nam giáp với hai tỉnh Sơn Đông và An Huy ở phía đông, giáp với hai tỉnh Hà Bắc và Sơn Tây ở phía bắc, giáp với tỉnh Thiểm Tây ở phía tây, giáp với tỉnh Hồ Bắc ở phía tây. === Địa chất === Cho đến tận các thời kỳ địa chất khá gần đây, các dãy núi ở phía tây Hà Nam tạo thành bờ biển của một vùng biển mà về bản chất là phần mở rộng về phía tây của Bột Hải và Hoàng Hải hiện nay. Biển này nay đã bị đất bùn theo các con sông và gió từ cao nguyên Hoàng Thổ bồi lấp, tạo thành bình nguyên Hoa Bắc và bồn địa Hoài Hà. Người ta ước tính rằng trầm tích của bình nguyên nay sâu khoảng 850 mét tại nhiều nơi. Nó là một phần của đới hút chìm lớn (một phần bồn trũng của lớp vỏ Trái Đất), kéo dài từ Hắc Long Giang đến Giang Tây. Đáy của đới này đang tụt xuống với tốc độ ngang bằng với quá trình lắng đóng. Đất trồng tại Hà Nam được tạo thành chủ yếu từ canxi cacbonat (vôi) trong các tầng đất phù sa cứng. Do khu vực có lượng mưa tương đối thấp, chỉ có ít hiện tượng thẩm thấu. Vùng đất cao ở phía tây chủ yếu là đất vàng nâu, thoát nước tốt hơn so với đất vùng bình nguyên. Đất đai ở bình nguyên màu mỡ hơn, phù sa trải rộng khắp; nó có màu hơi vàng và xám, xốp, dạng hạt, và nghèo chất hữu cơ. Từ khi lòng sông của Hoàng Hà cao hơn khu vực xung quanh, đã có nhiều trận lụt xảy ra, khiến đất đai toàn khu vực chịu ảnh hưởng mặn hóa và kiềm hóa. Kể từ năm 1949, đã có những nỗ lực nhằm cải tạo các vùng đất kiềm thành đất sản xuất. === Địa hình, địa mạo === Hà Nam có tổng diện tích là 167.000 km², chiếm khoảng 1,73% diện tích toàn Trung Quốc. Diện tích đất thường dùng để canh tác tại Hà Nam là 108.017.700 mẫu. Địa thế Hà Nam nói chung là tây cao đông thấp, bắc phẳng nam trũng, có địa hình bằng phẳng ở phía đông và có địa hình đồi núi ở phía tây và cực nam. Đông bộ và trung bộ của tỉnh là một phần của bình nguyên Hoa Bắc. Ở phía tây bắc, có một đoạn của Thái Hành Sơn nằm trên ranh giới của Hà Nam. Ở phía tây, Tần Lĩnh tiến vào Hà Nam từ phía tây và kéo dài tới một nửa chiều ngang của tỉnh, các nhánh của dãy núi này kéo dài về phía bắc và nam, Phục Ngưu Sơn (伏牛山) là dãy núi nhánh lớn nhất của Tần Lĩnh trên địa bàn Hà Nam. Ở xa về phía nam, Đại Biệt Sơn và Đồng Bách Sơn (桐柏山) chia tách Hà Nam với Hồ Bắc. Giữa Phục Ngưu Sơn và Đồng Bách Sơn ở nam bộ Hà Nam là bồn địa Nam Dương, rộng 120 đến 160 km, có hai sông thuộc hệ thống Hán Thủy là Bạch Hà và Đường Hà cắt qua, từ thời Hán trở đi thì bồn địa này trở thành một tuyến đường được sử dụng nhiều khi người Hán nam tiến từ Trung Nguyên xuống vùng trung du Trường Giang. Vùng đồi núi chiếm 44,3% (vùng núi: 26,6%, vùng gò đồi: 17,7%) diện tích của Hà Nam, vùng bình nguyên và bồn địa chiếm 55,7%. Lão Nha Xóa (老鸦岔) thuộc địa phận Linh Bảo là điểm cao nhất toàn tỉnh Hà Nam, với cao độ 2413,8 mét trên mực nước biển; còn điểm có cao độ thấp nhất tỉnh là nơi Hoài Hà chảy ra khỏi địa phận, thuộc huyện Cố Thủy, với cao độ chỉ 23,2 mét. === Khí hậu === Hà Nam thuộc đới khí hậu ôn đới ấm-cận nhiệt đới, ẩm ướt-bán ẩm. Khí hậu Hà Nam nói chung có đặc trưng là mùa đông rét và ít mưa tuyết, mùa xuân khô hạn và nhiều gió cát, mùa hè nóng và mưa nhiều, mùa thu quang đãng và có đủ ánh nắng mặt trời. Nhiệt độ trung bình năm của toàn tỉnh dao động từ 12 °C-16 °C, nhiệt độ trung bình trong tháng 1 là từ -3 °C đến 3 °C, nhiệt độ trung bình trong tháng 7 là 24 °C-29 °C. Nhiệt độ bình quân của tỉnh nói chung thấp dần từ đông sang tây và từ nam lên bắc, có sự khác biệt rõ ràng giữa các vùng đồi núi và bình nguyên. Chênh lệch nhiệt độ giữa các khoảng thời gian trong năm và giữa ngày và đêm ở Hà Nam ở mức cao, nhiệt độ thấp nhất từng được ghi nhận trên địa bàn là -21,7 °C (ngày 12 tháng 1 năm 1951 tại An Dương), nhiệt độ cao nhất từng được ghi nhận trên địa bàn là 44,2 °C (ngày 20 tháng 6 năm 1966 tại Lạc Dương). Lượng giáng thủy bình quân năm của Hà Nam dao động từ 532,5 mm đến 1380,6 mm, tập trung từ tháng 6 đến tháng 8. Mỗi năm Hà Nam có 1.848,0 đến 2.488,7 giờ nắng, 189-240 ngày không có sương giá. === Sông ngòi === Trên địa bàn Hà Nam có 1.500 con sông, thuộc lưu vực của bốn con sông lớn tại Trung Quốc: Hoàng Hà, Hoài Hà, Trường Giang và Hải Hà. Trong đó, có 493 sông có diện tích lưu vực trên 100 km². Phần lớn các sông tại Hà Nam phát nguyên từ vùng núi tây bộ, tây bắc bộ và đông nam bộ. Hoàng Hà chảy qua trung bộ Hà Nam, tổng chiều dài đoạn Hoàng Hà chảy trong địa phận tỉnh 711 km, diện tích lưu vực Hoàng Hà trên địa bàn là 36.200 km², tức 1/5 tổng diện tích toàn tỉnh. Hoàng Hà chảy vào địa giới của tỉnh từ mạn tây bắc, chuyển hướng dòng chảy sang phía đông ngay sau khi nhận nước từ Vị Hà. Ngay sau đó, Hoàng Hà chảy vào Tam Môn Hiệp, hướng dòng chảy chuyển sang đông-đông bắc trong 130 km, tạo thành ranh giới tự nhiên giữa Hà Nam và Sơn Tây. Sau khi chảy qua Lạc Dương, lưu vực Hoàng Hà đều là bình nguyên, lòng sông bị nâng lên do bồi tích và thường xuyên gây ra lũ lụt. Vào mùa hè, tức vào lúc có lưu lượng nước lớn nhất, Hoàng Hà mang theo một lượng đất bùn khổng lồ, có nguồn gốc chủ yếu từ vùng cao nguyên Hoàng Thổ ở Thiểm Tây và Sơn Tây. Trước khi xây đập Tam Môn Hiệp, Hoàng Hà chảy nhanh qua hẻm núi này, mang theo đất bùng xuống vùng bình nguyên, song từ khi đập xuất hiện, tốc độ dòng chảy của sông đã được kiểm soát và không còn xuất hiện lũ lụt nữa. Có điều đặc biệt là từ điểm hợp lưu với sông Vị đến lúc đổ ra biển, với khoảng cách 1000 km, Hoàng Hà chỉ có hai chi lưu tương đối nhỏ là Lạc Hà ở hữu ngạn và Tần Hà ở tả ngạn. Trong suốt lịch sử, để đối phó với mối đe dọa lũ lụt từ Hoàng Hà, người ta đã xây dựng các con đê, thường nằm song song và cách bờ sông từ 8 đến 13 km. Tuy nhiên, hậu quả là lượng đất bùn bị dồn ứ trong phạm vi giữa hai bờ đê, bồi tích lòng sông qua hàng thế kỷ, và cho đến nay thì nó đã cao hơn các vùng nông thôn xung quanh. Để đối phó, người ta lại cho xây đê cao hơn nữa, và khi các đoạn đê không chống chịu nổi (xảy ra ở một số phần của tỉnh trong hầu hết các năm), nước sông tràn xuống vùng bình nguyên và không thể quay trở lại lòng sông vốn đã cao hơn khi mực nước sông rút bớt, gây nên các trận lụt thảm khốc. Kết quả là gây ngập úng đất trồng, phá hủy mùa màng và nạn đói. Ranh giới lưu vực của Hoàng Hà và Hoài Hà gần như không thể nhận thấy được. Hoàng Hà đã hoàn toàn thay đổi dòng chảy của nó nhiều lần trong suốt ba thiên niên kỷ qua, đầu tiên nó chảy ra biển ở phía nam, song sau lại chuyển lên phía bắc của bán đảo Sơn Đông. Gần đây nhất, năm 1194, Hoàng Hà đổi dòng rồi đổ ra biển theo dòng chảy trước đó của Hoài Hà, ở bắc bộ Giang Tô ngày nay. Sau trận lụt Hoàng Hà năm 1897, con sông này lại đổi dòng, chuyển sang chảy qua Sơn Đông rồi đổ vào Bột Hải. Khi đó, việc trệch dòng luôn bắt đầu từ đoạn giữa Trịnh Châu và Khai Phong tại Hà Nam. Năm 1938, quân đội Quốc Dân đảng đã cố tình làm trệch dòng chảy của Hoàng Hà về phía nam để ngăn bước tiến quân Nhật bằng cách cho nổ các con đê gần Trịnh Châu. Hoàng Hà được khôi phục lại dòng chảy phía bắc từ năm năm 1948. Trung bộ và nam bộ Hà Nam thuộc lưu vực Hoài Hà cùng nhiều chi lưu của nó. Hoài Hà có lượng nước phong phú, dòng chảy chính trên địa bàn tỉnh dài 340 km, diện tích lưu vực trên địa bàn tỉnh là 88.300 km², tức khoảng 1/2 tổng diện tích toàn tỉnh. Hoài Hà và các chi lưu phát nguyên từ khu vực tây nam của Hà Nam, chảy về phía đông vào An Huy, cũng nổi tiếng với nạn lũ lụt. Năm 1949, chính quyền Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã cho tiến hành chương trình kiểm soát nguồn nước quy mô lớn đầu tiên của mình ở lưu vực Hoài Hà. Sáu đập nước nhanh chóng được xây dựng ở thượng du các chi lưu Hoài Hà tại Hà Nam, sau đó đã có đến hàng chục đập nữa được xây dựng, từ đó đã không có thảm họa nghiêm trọng nào xảy ra. Ở bắc bộ Hà Nam có hai sông lớn là Vệ Hà (卫河) bắt nguồn từ Thái Hành Sơn thuộc huyện Tân Hương và Chương Hà (漳河) tạo thành một đoạn ranh giới tự nhiên với tỉnh Hà Bắc; hai sông này thuộc hệ thống Hải Hà. Ở tây nam bộ Hà Nam có các sông Đan Giang (丹江), Thoan Hà (湍河), Đường Hà (唐河), Bạch Hà (白河) chảy sang Hồ Bắc và thuộc lưu vực Hán Thủy, một chi lưu lớn của Trường Giang. Tổng lượng tài nguyên nước của toàn Hà Nam là 41,3 tỷ m³, lượng tài nguyên thủy năng đạt 4,905 triệu kW và đã khai thác được 3,15 triệu kW === Sinh vật === Thảm thực vật tự nhiên của Hà Nam gồm có rừng rụng lá và miền rừng trên các bình nguyên, cùng rừng rụng lá và rừng lá kim trên vùng núi phía tây. Việc định cư tập trung, thâm canh ở vùng bình nguyên trong một thời gian dài đã dẫn đến việc phát quang cây cối để trồng trọt. Tuy nhiên, trên các dãy núi vẫn còn giữ lại được một số khu rừng. Sau năm 1949, đã có nhiều nỗ lực để trồng cây cho mục đích che phủ, lấy gỗ và các mục đích khác. Hiện nay, Hà Nam có 197 họ thực vật có mạch với 3.830 loài, đã biết được 520 loài động vật hoang dã có xương sống sống trên cạn, trong đó có 90 loài động vật hoang dã được bảo hộ trọng điểm cấp quốc gia. == Nhân khẩu == Hà Nam đã từng là tỉnh đông dân nhất Trung Quốc sau khi Trùng Khánh tách khỏi Tứ Xuyên. Cư dân nông thôn trên địa bàn tỉnh tập trung tại vùng bình nguyên phía đông, đông nhất là các vùng lưu vực Y Hà và Lạc Hà và vùng bồn địa quanh Nam Dương ở phía tây nam. Ở các vùng đồi núi phía tây và phía nam của tỉnh, cư dân thưa thớt hơn nhiều so với vùng bình nguyên. Ở vùng bình nguyên phía đông, các thôn nằm tương đối sát nhau, trung bình chỉ khoảng trên 1 km, nhà cửa truyền thống tại đây chủ yếu có tường trát bùn và mái lợp rạ. Trong công cuộc tập thể hóa nông nghiệp và Đại nhảy vọt, cư dân nông thôn ở vùng bình nguyên đã di cư đến các đô thị ở phía tây với số lượng lớn trong khoảng thời gian 1958-1959. Cuối năm 2011, tổng nhân khẩu của Hà Nam là 104.890.000 người, song số nhân khẩu thường trú là 93.880.000 người. Trong năm này, toàn tỉnh Hà Nam có 1.210.000 trẻ được sinh ra, tỷ lệ sinh đạt 11,56‰; số người tử vong trong năm là 690.000 người, đạt tỷ lệ 6,62‰; số nhân khẩu tăng tự nhiên là 520.000 người, đạt tỷ lệ 4,94‰. Tỷ lệ đô thị hóa trong năm 2011 của Hà Nam là 40,57%., tăng mạnh so với 23,2% theo điều tra năm 2000. Theo số liệu từ năm 2000, 51,59% cư dân Hà Nam là nam giới, 48,41% là nữ giới, tỷ lệ giới tính khi sinh tại Hà Nam vào năm này là 118,46 nam/100 nữ. Trong số nhân khẩu thường trú tại Hà Nam vào năm 2011, người Hán chiếm 98,8%, các dân tộc thiểu số chiếm 1,2% (1.128.283 người). Số người trên 15 tuổi mù chữ tại Hà Nam vào năm 2011 là 399.000 người, giảm 1.439.000 người so với điều tra năm 2000. Cộng đồng người Hồi đã hợp nhất với cộng đồng người Hán, còn những người Mông Cổ và Mãn di cư đến địa bàn tỉnh từ xa xưa thì đã bị Hán hóa. Trong thế kỷ 12, ở kinh đô Khai Phong có một cộng đồng người Do Thái quan trọng có nguồn gốc từ Ấn Độ và Ba Tư, họ vẫn duy trì được bản sắc của mình cho đến cuối thế kỷ 19, trước khi bị hấp thu vào văn hóa Hán. Trong số 100 họ phổ biến nhất tại Trung Quốc ngày nay, có đến 73 họ bắt nguồn hoặc có một chi trong họ bắt nguồn từ Hà Nam. Trong suốt chiều dài lịch sử, người Hán đã dùng trên 10.000 họ, hiện còn sử dụng hơn 3.000 họ, trong đó trên 80% có nguồn gốc từ Hà Nam. Trong số 100 họ lớn nhất tại Đài Loan, có 75 họ phát nguyên từ Hà Nam. Do là vùng đất phát nguyên chủ yếu của các họ người Trung Trung Hoa, trong những năm gần đây đã có nhiều người đến Hà Nam để thăm tìm gốc rễ tổ tiên. Các tôn giáo lớn nhất tại Hà Nam là tôn giáo truyền thống Trung Hoa, Phật giáo Trung Hoa và Đạo giáo. Hà Nam cũng là tỉnh có số tín hữu Ki-tô giáo nhiều nhất tại Trung Quốc, theo ước tính là khoảng 5 triệu người, cũng có một số tường thuật về xung đột giữa các giáo hội ngầm và nhà cầm quyền tại Hà Nam. Ngoài ra, Hà Nam là tỉnh có số người Hồi lớn nhất ở phía đông Trung Quốc, chiếm xấp xỉ 1% dân số toàn tỉnh và sống chủ yếu tại các khu Hồi giáo ở các khu tự trị dân tộc Hồi Quản Thành tại Trịnh Châu, Triền Hà tại Lạc Dương, và Thuận Hà tại Khai Phong. == Các đơn vị hành chính == Hà Nam được chia làm 17 đơn vị hành chính, toàn bộ là thành phố thuộc tỉnh (địa cấp thị, 地级市):, ngoài ra còn 1 thị xã (huyện cấp thị) được tỉnh quản lý trực tiếp. Các đơn vị hành chính cấp địa khu và 1 thị xã được tỉnh quản lý trực tiếp trên đây được chia thành 159 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 50 quận (thị hạt khu), 21 thị xã (huyện cấp thị), và 88 huyện (tính cả thị xã Tế Nguyên). Các đơn vị hành chính cấp huyện này lại được nhỏ thành 2440 đơn vị hành chính cấp hương, gồm 866 thị trấn (trấn), 1234 hương, 12 hương dân tộc, và 328 phường (nhai đạo). == Kinh tế == Toàn bộ tỉnh Hà Nam thuộc khu kinh tế Trung Nguyên (中原经济区), một khu vực phát triển trọng điểm được quy hoạch rõ ràng tại Trung Quốc. Trong giai đoạn 2004-2008, tổng GDP của Hà Nam nằm trong số năm tỉnh thành lớn nhất Trung Quốc. Trong vòng 29 năm từ 1979 đến 2007, so sánh theo giá trị tuyệt đối, tổng GDP của Hà Nam đã tăng 92,43 lần. Theo giá cả so sánh, lấy theo mức giá trung bình cùng kỳ toàn quốc, GDP của tỉnh tăng trưởng bình quân 10,9% mỗi năm, tốc độ đứng thứ bảy cả nước. Tuy nhiên, trên một khía cạnh khác, Hà Nam là một tỉnh có cơ cấu dân số lớn, nhiều người nghèo, số nhân khẩu thường trú thấp hơn nhiều số nhân khẩu có hộ khẩu trên địa bàn, vẫn là khu vực tương đối kém phát triển về kinh tế tại Trung Quốc. Theo số liệu thống kê cho năm 2011, tổng GDP của tỉnh Hà Nam là 2.723,204 tỉ NDT, trong đó, khu vực một đạt giá trị 351,206 tỉ NDT, khu vực hai đạt giá trị 1588,739 tỉ NDT, khu vực ba đạt giá trị 783,259 tỉ NDT. Tổng diện tích đất canh tác của tỉnh là 71.792.000 ha, hầu hết nằm trên vùng bình nguyên phía đông Đường sắt Bắc Kinh-Quảng Châu, chỉ có đất nhàn rỗi tại các vùng núi ở phía tây và nam, cũng như các vùng đất nhiễm mặn ở phía đông bắc. Hà Nam là khu vực sản xuất lương thực, bông chủ yếu của Trung Quốc, trong đó sản lượng lúa mì, thuốc lá, vừng đứng ở vị trí đầu tiên. Các loại cây trồng khác là kê cao lương, đỗ tương, đại mạch, ngô, khoai lang, lúa gạo, thiết đậu. Lúa mì có diện tích và sản lượng vượt trội so với các loại cây trồng khác, lúa gạo chỉ chiếm một diện tích nhỏ song tại Hà Nam nó có năng suất gấp ba lần lúa mì. Năm 2007, tổng sản lượng lương thực của Hà Nam là 104,9 tỉ cân, liên tục 8 năm liền đứng đầu Trung Quốc, lượng tăng sản lượng lương thực của Hà Nam cũng chiếm một phần ba lượng tăng sản lượng lương thực cả nước. Mặc dù có dân số rất đông song Hà Nam đã gần như giải quyết được vấn đề cái ăn cho người dân trong tỉnh, mỗi năm còn xuất 20 tỉ cân lương thực sang các tỉnh khác. Việc trồng cây ăn quả cũng phát triển trong những năm gần đây, một phần là nhằm bảo vệ đất, đặc biệt là ở các vùng đất nhàn rỗi. Hồng, táo tây, lê là các loại cây ăn quả chính, ngoài ra còn có óc chó và hạt dẻ. Ở Hà Nam, người ta cũng nuôi các loài động vật lấy sức kéo, chủ yếu là bò vàng và lừa. Lợn là loại gia súc quan trọng nhất, dê và cừu chủ yếu được nuôi ở vùng núi phía tây. Hà Nam là một trong những trung tâm lâu đời nhất của ngành trồng dâu nuôi tằm ở Trung Quốc, sau Chiến tranh, ngành này đã hồi sinh trên các sườn dốc của Phục Ngưu Sơn, và tỉnh đã trở thành một nhà xuất khẩu tơ lụa quan trọng. Trước năm 1949, ở Hà Nam có rất ít hoạt động sản xuất công nghiệp tại Hà Nam, từ năm 1950 trở đi thì quá trình công nghiệp hóa trên địa bàn đã diễn ra nhanh chóng và trên một phạm vi rộng lớn. Ban đầu, nền công nghiệp của tỉnh Hà Nam chủ yếu dựa vào tài nguyên than đá phong phú ở phía tây bắc. Sau đó, sản xuất công nghiệp phát triển một cách toàn diện hơn, với các ngành kỹ thuật, luyện kim loại màu, và dệt làm trụ cột. Năm 2011, giá trị công nghiệp của Hà Nam đạt 1440,170 tỉ NDT, tỷ trọng giữa hai ngành công nghiệp nhẹ và công nghiệp nặng là 30,6:69,4. Mười ngành nhỏ có quy mô đứng đầu trong nền công nghiệp Hà Nam là: sản phẩm khoáng sản phi kim, chế biến thực phẩm, gia công luyện và cán kim màu, khai thác và tuyển than đá, sản xuất và cung ứng điện-nhiệt, gia công luyện và cán kim loại đen, chế tạo nguyên liệu hóa học và chế phẩm hóa học, sản xuất thiết bị thông dụng, sản xuất thiết bị chuyên dụng, dệt. Hà Nam có cấu tọa địa chất phức tạp, hình thành một tài nguyên khoáng sản phong phú, là một trong các tỉnh lớn về khoáng sản của Trung Quốc. Đến nay, đã phát hiện được 126 loại khoáng sản và 157 loại á khoáng trên địa bàn tỉnh, bao hàm. Đã xác minh được trữ lượng của 73 loại khoáng sản và 81 loại á khoáng; và đã khai thác và sử dụng 85 loại khoáng sản cùng 117 loại á khoáng. Trong số các loại khoáng sản tại Hà Nam, có 6 loại khoáng sản năng lượng, 27 loại khoáng sản kim loại, 38 loại khoáng sản phi kim. Trong số các loại khoáng sản đã xác minh được trữ lượng, Hà Nam có 8 loại đứng đầu cả nước: molypden, kyanit, andalusit, trona, đất sét illit, đất sét dùng làm phối liệu xi măng, perlit (đá trân châu), nephelin syenit. Trữ lượng dầu mỏ, than đá và khí thiên nhiên còn lại của Hà Nam lần lượt đứng thứ 8, thứ 10 và thứ 11 tại Trung Quốc. == Giao thông == Nhiều tuyến đường cao tốc và quốc đạo tại Trung Quốc giao nhau tại Hà Nam. Đến năm 2011, số lượng hàng hóa và lữ khách vận chuyển theo hệ thống công lộ của Hà Nam tương ứng đạt 2,201 tỷ tấn và 1,842 tỷ lượt lữ khách,tỉnh này đã có 5196 km đường cao tốc. Đường cao tốc Kinh-Cảng-Áo và đường cao tốc Liên-Hoắc chạy xuyên suốt địa bàn tỉnh, phân biệt dọc theo đường sắt Kinh Quảng và đường sắt Lũng Hải. Tổng cộng, theo quy hoạch quốc gia sẽ có 9 tuyến công lộ cao tốc và 9 tuyến quốc đạo đi qua Hà Nam. Hệ thống đường sắt của Hà Nam khá phát triển, các thành thị đều phân bố gần các tuyến đường sắt trọng yếu. Hai tuyến đường sắt huyết mạch của Trung Quốc là đường sắt cao tốc Kinh-Quảng-Thâm-Cảng và đường sắt cao tốc Từ-Lan giao nhau tại Trịnh Đông tân khu thuộc Trịnh Châu. Các tuyến đường sắt lớn khác trên địa bàn Hà Nam là đường sắt Kinh-Quảng, dường sắt Lũng Hải, đường sắt Bắc-Cửu, đường sắt Tiêu-Liễu, đường sắt Ninh-Tây. Hầu hết các tuyến đường sắt trên địa bàn Hà Nam do cục đường sắt Trịnh Châu quản lý, riêng các tuyến đường sắt quốc hữu ở bốn địa phương nam bộ là Bình Đỉnh Sươn, Tháp Hà, Trú Mã Điếm thuộc quyền quản lý của cục đường sắt Vũ Hán. Ga Trịnh Châu Bắc là ga nối toa tàu hỏa vận chuyển hàng hóa số một châu Á, còn ga Trịnh Châu là một trong các ga vận chuyển hành khách lớn nhất châu Á, ga Trịnh Châu Đông là một trong các ga trung tâm tối quan trọng tại Trung Quốc. Trên địa bàn Hà Nam có các cảng hàng không dân dụng: Sân bay quốc tế Tân Trịnh Trịnh Châu, sân bay Khương Doanh Nam Dương, sân bay Bắc Giao Lạc Dương. Các cảng hàng không dân dụng trong quy hoạch là: sân bay Dự đông bắc An Dương, sân bay Thương Khâu, sân bay Minh Cảng Tín Dương, sân bay Tường Long Bộc Dương, sân bay Chu Khẩu, sân bay Nghiêu Sơn Bình Đỉnh Sơn. Hà Nam có nhiều sông song năng lực vận chuyển đường thủy không nhiều, đa số các sông có đập chắn trên thượng lưu nên trở thành "sông theo mùa". Trên Hoàng Hà, đoạn hạ du từ Lạc Dương trở đi có năng lực thông hàng một phần theo mùa. Đoạn Hoài Hà trên khu vực Tín Dương có năng lực thông hàng. == Các trường đại học cao đẳng == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Khám phá Hà Nam China Travel Videos Travel spots and tips in Henan The Provincial Government of Henan Chinese Persecution of Religion Large map of Henan China Internet Information Center 大河网News Center 河南旅游网Henan Province Tourism Service Network 河南文化网Nenan Culture Websites [1] The communist city of Nanjiecun - webpresence, engl.
ung thư vú.txt
Ung thư vú là loại ung thư thường gặp nhất và gây tử vong hàng đầu ở phụ nữ nhiều nước công nghiệp. Theo Cơ quan Nghiên cứu Ung thư Thế giới (IARC) vào năm 1998 thì ung thư vú đứng đầu, chiếm 21% trong tổng số các loại ung thư ở phụ nữ trên toàn thế giới. Cũng theo IARC, xuất độ chuẩn hóa theo tuổi của ung thư vú ở phụ nữ là 92,04 (trên 100 000 dân) ở châu Âu và 67,48 (trên 100 000 dân) trên toàn thế giới vào năm 1998, đều là cao nhất trong các loại ung thư ở nữ giới.5 Ung thư vú đang trở nên phổ biến tại các nước đang phát triển. Tại Việt Nam, năm 1998, ở nữ giới, ung thư vú là loại ung thư có tần suất cao nhất ở Hà Nội với xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 20,3 (trên 100 000 dân) và cao thứ hai ở Thành phố Hồ Chí Minh với xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 16 (trên 100 000 dân) sau ung thư cổ tử cung mà xuất độ chuẩn hóa theo tuổi là 28,6 (trên 100 000 dân). 6 Đây là một bệnh hết sức phức tạp mà trong nhiều năm qua đã có nhiều nghiên cứu về nguyên nhân, bệnh sinh và điều trị. Một điều quan trọng cần phải nhận thấy là việc phát hiện sớm ung thư vú qua sự tầm soát ở những phụ nữ bình thường đã làm thay đổi rõ ràng bệnh sử tự nhiên của bệnh cũng như cải thiện đáng kể tiên lượng bệnh. == Các yếu tố nguy cơ == Nguyên nhân của ung thư vú chưa được biết rõ, nhưng với những nghiên cứu dịch tễ học cùng với những hiểu biết sâu hơn về sinh học của tế bào tuyến vú đã mang lại những cơ sở mới cho bệnh này. Theo UICC thì tỷ lệ ung thư vú ở đàn ông ít hơn 100 lần so với phụ nữ. 3. Còn theo 1 thì nguy cơ tương đối của ung thư vú giữa phụ nữ và nam giới là 150. Nghĩa là ung thư vú ở nam giới ít gặp hơn nữ giới rất nhiều lần. Dưới đây chỉ nói về những yếu tố nguy cơ ung thư vú ở phụ nữ. Người ta nhận thấy nguy cơ bị ung thư vú tăng lên ở những bệnh nhân sau: 1 Ngoài ra, nguy cơ ung thư vú cũng gặp ở những nhóm người sau: Bệnh nhân sống ở các quốc gia vùng Bắc Mỹ và Bắc Âu Có tiền sử phơi nhiễm bức xạ ion hóa Những phụ nữ không có con. Người ta cho rằng cho con bú kéo dài trên 6 tháng có tác dụng bảo vệ chống ung thư vú ở các phụ nữ trẻ. 1 Uống rượu, tiếp xúc với thuốc trừ sâu (đặc biệt là DDT). == Sinh học ung thư vú == Yếu tố gia đình từ lâu đã được công nhận là có liên quan đến ung thư vú, tuy nhiên yếu tố này chỉ quan trọng trong khoảng 10–15% các trường hợp ung thư vú. Yếu tố gia đình gợi ý có một số gene quy định tính nhạy cảm của cá thể đó với bệnh này, và những nghiên cứu về gene đã ghi nhận một vùng của nhiễm sắc thể 17 (mang gene BRCA1 và BRCA2) có liên quan đến việc xuất hiện sớm ung thư vú trong một số gia đình. Hội chứng Li-Fraumeni, với đột biến của gene p53 cũng được ghi nhận ở những bệnh nhân bị ung thư vú sớm. 2 Nội tiết tố sinh dục ảnh hưởng đến nguy cơ ung thư vú. Người ta nhận thấy estrogen đẩy mạnh ung thư vú ở chuột trong thí nghiệm, và trên mẫu nuôi cấy các tế bào ung thư vú thì estrogen kích thích các tế bào này tăng trưởng. Ngày nay, người ta biết tác dụng của nội tiết tố sinh dục lên mô vú một phần là qua trung gian các yếu tố tăng trưởng. Một số yếu tố tăng trưởng đã được xác định có thể là nguyên nhân gây ra những biến đổi mô vú bình thường thành ác tính và kéo dài quá trình ung thư hóa. Ngoài ra, estrogen còn gây tăng tiết prolactin – cũng là một loại hormone gây phát triển tuyến vú. 1 Thụ thể của mô tuyến vú với estrogen và progesteron và một số yếu tố tăng trưởng cũng đã được nhận dạng. Trong đó thụ thể với estrogen và progesteron rất có giá trị trong việc đánh giá tiên lượng bệnh nhân, chọn lựa phương pháp điều trị. Người ta nhận thấy có khoảng 2/3 các bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính, và ½ số đó có đáp ứng khi điều trị bằng nội tiết tố ở chỗ kích thước khối bướu thu nhỏ. 3 == Chẩn đoán ung thư vú == === Các tình huống lâm sàng === ==== Thường gặp ==== Đa phần ung thư vú được phát hiện là do chính người bệnh, khi họ ghi nhận thấy một sự thay đổi ở tuyến vú. Thường gặp nhất đó là một khối bướu hay một chỗ dày cứng lên không đau ở vú. Hoặc cũng có thể do thầy thuốc phát hiện qua một lần khám sức khỏe thường kỳ. Cần phải nghi ngờ ung thư vú khi thấy bất kỳ bướu nào ở vú ở người phụ nữ trên 30 tuổi cho đến khi có triệu chứng chính xác ngược lại mặc dù khoảng 80% khối bất thường ở vú là lành tính. 2 Những tính chất sau của khối bướu gợi ý ác tính: Cứng Không đau (chiếm khoảng 85–90%) Không đồng nhất, bờ không rõ Dính vào thành ngực hoặc da trên vú, khó di động Núm vú bị co kéo Chảy máu ==== Tình huống trễ ==== Bệnh nhân đến khám với các triệu chứng của ung thư tiến triển hoặc đã có di căn xa: Hạch nách hoặc hạch trên đòn dương tính Tràn dịch màng phổi, làm bệnh nhân đau ngực, khó thở Tràn dịch màng ngoài tim, bệnh nhân khó thở, suy hô hấp... Gãy xương, khi ung thư đã di căn vào xương Bụng: gan to, [báng bụng],... Di căn lên não: khối u xuất hiện trong não làm bệnh nhân đau đầu, hôn mê; chèn ép cột sống làm bệnh nhân đau lưng, yếu liệt tay chân... === Tầm soát ung thư vú === Điều này đã được làm ở các nước phát triển và đang bắt đầu được áp dụng ở Việt Nam. Các phương pháp sau đây được áp dụng trong chương trình tầm soát ung thư vú: Khám lâm sàng tuyến vú: Các phụ nữ trên 40 tuổi cần được khám vú mỗi năm. Cần đảm bảo cho toàn bộ tuyến vú được khám xét kể cả phần đuôi của tuyến ở gần nách. Trong quá trình khám, người bác sĩ nên hướng dẫn cách tự khám vú cho bệnh nhân. Theo UICC khám lâm sàng tuyến vú có thể chấp nhận được để thay thế nhũ ảnh ở các quốc gia không có phương tiện để thực hiện nhũ ảnh. Tự khám vú: Ít tốn kém. Nếu được thực hiện đúng cách có thể giúp người bệnh phát hiện sớm một bướu vú, được điều trị sớm và vì vậy tiên lượng tốt hơn. Nhũ ảnh: Là một phương pháp chụp X quang vú đặc biệt. Dùng một lượng ít tia X, để cho hình ảnh chi tiết của tuyến vú, có thể thấy những điểm vôi hóa rất nhỏ. Nhũ ảnh đóng vai trò quan trọng trong tầm soát ung thư vú. Nhiều nghiên cứu cho thấy tầm soát bằng nhũ ảnh giúp giảm tử suất của ung thư vú khoảng 30%. Vì vậy Viện Ung thư quốc gia Hoa Kỳ và Hội Ung thư Hoa Kỳ đề xuất nên chụp nhũ ảnh mỗi 1-2 năm cho những phụ nữ trên 40 tuổi. === Xét nghiệm cận lâm sàng === Chọc hút bằng kim nhỏ (FNA – Fine Needle Aspiration): dùng một kim hút nhỏ lấy một mẫu bệnh phẩm và dùng để làm xét nghiệm tế bào học. Xét nghiệm này có thể cho biết tế bào lấy ra có đặc trưng cho ung thư hay không, nhưng không thể phân biệt ung thư tại chỗ hay ung thư xâm lấn được. Âm tính giả có thể xảy ra khi thật sự là ung thư mà mũi kim không chạm bướu. Sinh thiết: nhằm quan sát các mô và tế bào dưới kính hiển vi để tìm ra dấu hiệu ung thư. Nếu phát hiện khối u ở vú, các bác sĩ có thể lấy mẫu mô hoặc tế bào của khối u này để thực hiện xét nghiệm. Có 4 phương pháp sinh thiết, bao gồm: Sinh thiết cắt bỏ toàn bộ khối u. Sinh thiết một phần: lấy một mẫu của khối u hoặc mô để kiểm tra. Sinh thiết trích mô dùng kim lớn: lấy mô bằng cách dùng kim lớn. Sinh thiết chọc hút tế bào bằng kim nhỏ: lấy mô bằng cách dùng kim nhỏ. Sinh thiết trọn khối u được thực hiện khi chọc hút không cho chẩn đoán xác định. Tuy nhiên, ngày nay việc sinh thiết trọn khối u ít được thực hiện dần đi vì chọc hút bằng kim nhỏ ngày càng cho thấy tính chính xác cao. Chụp nhũ ảnh Siêu âm tuyến vú: là một xét nghiệm rẻ tiền, đơn giản. Siêu âm giúp phân biệt rõ một tổn thương dạng nang với một tổn thương dạng đặc. Ngoài ra, với siêu âm người phụ nữ không có nguy cơ nhiễm tia X, thích hợp cho phụ nữ có thai và phụ nữ trẻ. 2 Còn có nhiều phương tiện chẩn đoán hình ảnh khác được sử dụng trong chẩn đoán ung thư vú, nhưng ở Việt Nam ít dùng như cắt lớp điện toán CT scan, chụp cộng hưởng từ MRI,... Những xét nghiệm giúp đánh giá đáp ứng điều trị: Tìm thụ thể với estrogen, đo nồng độ estradiol tự do trong máu,... Những xét nghiệm này ít được làm ở điều kiện Việt Nam. == Phân loại mô học == === Carcinoma === Ống Trong ống Xâm lấn với thành phần trong ống chiếm ưu thế Xâm lấn, không đặc hiệu Dạng trứng cá Dạng viêm Dạng tủy với thâm nhiễm lympho Dạng keo Dạng nhú Dạng ống dẫn Dạng xơ cứng Các dạng khác Thùy Tại chỗ Xâm lấn với thành phần tại chỗ vượt trội Xâm lấn Núm vú Bệnh Paget, không có gì đặc hiệu Bệnh Peget với carcinoma ống Bệnh Paget với carcinoma ống xâm lấn === Loại khác === Carcinoma không biệt hóa === Những loại bướu ít gặp và không được coi là điển hình === Sarcom nang diệp thể Sarcom mạch máu Lymphoma nguyên phát === Các bướu không xâm lấn === Carcinoma thùy tại chỗ: không bao giờ chẩn đoán được bằng lâm sàng, vì tổn thương ở mức vi thể. Diễn t == Xếp giai đoạn == === Xếp hạng theo TNM === ==== Theo bướu nguyên phát T (tumor) ==== Tx: Không thể xác định được bướu nguyên phát T0: Không thấy bướu nguyên phát T in situ: Carcinoma tại chỗ, carcinom atrong ống, carcinoma thùy tại chỗ, hoặc bệnh Paget núm vú không có bướu kèm theo (bệnh Paget núm vú có bướu kèm theo được xếp theo kích thước của bướu) T1: Bướu có kích thước lớn nhất ≤ 2.0 cm T1mc: Xâm lấn vi thể bướu có kích thước lớn nhất ≤ 0.1 cm T1a: Bướu > 0.1 cm nhưng ≤ 0.5 cm T1b: Bướu > 0.5 cm nhưng ≤ 1.0 cm T1c: Bướu > 1.0 cm nhưng ≤ 2.0 cm T2: Bướu có kích thước lớn nhất > 2.0 cm nhưng ≤ 5.0 cm T3: Bướu có kích thước lớn nhất > 5.0 cm T4: Bướu kích thước bất kỳ, nhưng có sự ăn lan trực tiếp vào da hoặc thành ngực T4a: Ăn lan thành ngực T4b: Phù nề hoặc loét da vú hoặc các nốt vệ tinh ở da vú T4c: Có cả hai thành phần trên T4d: Carcinoma dạng viêm ==== Theo hạch lympho vùng N (Nodes) ==== Nx: Không thể xác định các hạch vùng N0: Không có di căn hạch vùng N1: Di căn vào hạch lympho vùng nách, di động N2: Di căn vào hạch lympho nách, hạch dính nhau hoặc dính vào các cấu trúc khác N3: Di căn vào hạch lympho vú trong cùng bên ==== Theo di căn xa M (Metastasis) ==== Mx: Không thể xác định di căn xa M0: Không có di căn xa M1: Có di căn xa (kể cả di căn vào hạch lympho trên đòn cùng bên) === Xếp giai đoạn theo UICC 1997 === == Điều trị == === Ung thư tại chỗ === Carcinoma ống tại chỗ: Điều trị chủ yếu là đoạn nhũ có tỷ lệ khỏi bệnh là 98-99% với 1-2% trường hợp tái phát. Điều trị bảo tồn vú đang là hướng đi mới, chỉ mổ lấy bướu cùng với xạ trị hỗ trợ cũng khá hiệu quả, với tỷ lệ tái phát là 7-13%. 2 Carcinoma tiểu thuỳ tại chỗ: bệnh nhân thường được theo dõi sát có thể kết hợp với hóa trị phòng ngừa (như dùng tamoxifen) và làm giảm các yếu tố nguy cơ. Phẫu thuật chỉ áp dụng cho một số ít bệnh nhân. 2 === Ung thư giai đoạn sớm – I, II, IIIA === ==== Phẫu thuật ==== Là điều trị chủ yếu. Những phẫu thuật trước đây như đoạn nhũ tận gốc (Phẫu thuật Halsted) ngày nay ít được dùng vì mức tàn phá rộng, để lại nhiều dư chứng nặng nề cho bệnh nhân. Các loại phẫu thuật ít tàn phá hơn, bảo tồn các cơ ngực lớn, bé càng ngày càng cho thấy hiệu quả trong việc điều trị tại chỗ căn bệnh. Phẫu thuật bảo tồn vú: chỉ lấy khối bướu và mô bình thường cách rìa bướu 1–2 cm gần đây được ưa thích và áp dụng nhiều. Nhiều thử nghiệm lâm sàng cho thấy phẫu thuật bảo tồn kèm theo xạ trị cho kết quả ngang bằng với phẫu thuật đoạn nhũ riêng lẻ. Tuy nhiên, có một số chống chỉ định của phương pháp điều trị này: Có hai hoặc nhiều khối bướu nằm ở các góc phần tư khác nhau của vú Bướu lan tỏa, giới hạn không rõ Bướu to nằm trong tuyến vú nhỏ Bướu nằm ở vị trí trung tâm của vú Nạo hạch cũng là một phần của phẫu thuật. Nhất là nạo hạch lympho vùng nách rất cần cho đánh giá tiên lượng. ==== Xạ trị hỗ trợ ==== Xạ trị là một phần của phương pháp điều trị bảo tồn: tiến hành sau phẫu thuật cắt bướu. Xạ trị giúp giảm nguy cơ tái phát. Xạ trị sau đoạn nhũ: giảm nguy cơ tái phát cho những bệnh nhân nguy cơ cao như bệnh nhân có nhiều hạch vùng, bệnh nhân có bướu nguyên phát to,... ==== Liệu pháp toàn thân ==== Nguy cơ di căn vi thể ở những ung thư giai đoạn sớm là có. Vì vậy, hóa trị là một biện pháp điều trị toàn thân có thể diệt các tế bào ác tính lan tràn. Liệu pháp nội tiết Cắt buồng trứng Tamoxifen: là các chất ức chế thụ thể estrogen chọn lọc. Dùng cho các bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính. Có tác dụng giảm nguy cơ tái phát và giảm xuất độ ung thư vú đối bên khoảng 50%. Hóa trị hỗ trợ Kết hợp cả hóa trị và liệu pháp nội tiết Điều trị hỗ trợ đối với ung thư vú có hạch dương tính (di căn hạch)7 Tiền mãn kinh, Thụ thể Estrogen(ER) + hoặc thụ thể Progesteron (PR) +: Hóa trị + Tamoxifen Cắt bỏ buồng trứng (hoặc chất tương đồng GnRH) +/- Tamoxifen Hóa chất +/- Cắt bỏ buồng trứng (hoặc chất tương đồng GnRH) +/- Tamoxifen Trước mãn kinh, ER - và PR -: Hóa trị Sau mãn kinh, ER-,PR+: Hóa trị, Tamoxifen Sau mãn kinh, ER - và PR -: Hóa trị Người già: dùng Tamoxifen, nếu không có ER và PR thì dùng hóa trị (ER: Thụ thể Estrogen, PR: Thụ thể Progesterone, GnRH (Gonadotropin releasing hormone): Nội tiết kích thích tiết kích dục tố) === Ung thư di căn === Mục đích chủ yếu là cải thiện chất lượng đời sống và kéo dài cuộc sống. ==== Phẫu thuật ==== Có chỉ định cho một số bệnh nhân. Như bệnh nhân cần đoạn nhũ khi các tổn thương sùi, loét gây đau nhức, bệnh nhân có các di căn não, phổi đơn độc, tràn dịch màng ngoài tim, màng phổi,... ==== Xạ trị ==== Vai trò chủ yếu trong điều trị tạm bợ và nâng đỡ, ví dụ như chỉ định cho các di căn xương đau nhiều, di căn hệ thần kinh trung ương không cắt bỏ được... ==== Liệu pháp toàn thân ==== Việc lựa chọn thuốc để điều trị phải cân nhắc nhiều yếu tố của bệnh nhân. Các yếu tố đó là: tuổi, bệnh nhân đã mãn kinh hay chưa, bệnh nhân có thụ thể với estrogen dương tính hay không, số lượng hạch di căn.... 3 Liệu pháp toàn thân bao gồm: Liệu pháp nội tiết: thường dùng cho phụ nữ mãn kinh, có thụ thể estrogen dương tính. Các loại thuốc thường áp dụng: kháng estrogen (Tamoxifen), ức chế enzyme aromatase (Anastrozole, letrozole...), dùng các thuốc tương tự GnRH, các progestin. Hoá trị: thường dùng cho những bệnh nhân nào mà căn bệnh vẫn tiếp tục tiến triển dù đã điều trị nội tiết, hoặc bệnh nhân có thụ thể nội tiết âm tính. Có nhiều phác đồ thường dùng như: CA, CAF, CMF... Trastuzumab: Là kháng thể đơn dòng kháng lại thụ thể tăng trưởng biểu bì - HER2/neu Cắt buồng trứng == Tiên lượng == Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tiên lượng của bệnh. Quan trọng nhất là giai đoạn của bệnh, càng phát hiện ở giai đoạn sớm thì tiên lượng càng tốt. Hạch di căn cũng đóng vai trò đáng kể. Đặc tính mô học của bướu cũng được quan tâm. Tiên lượng tốt hơn với các ung thư trong nang, ung thư ống dẫn, ung thư dạng tủy, bệnh Paget không bướu. == Phòng ngừa == Ung thư vú rất đáng quan tâm vì đó là một trong những loại ung thư hàng đầu ở phụ nữ. Nhiều biện pháp đã được đề xuất để làm giảm nguy cơ mắc bệnh, một số biện pháp dưới đây rất đáng chú ý: 4 Dùng tamoxifen cho các carcinom tiểu thùy tại chỗ Chế độ ăn ít béo, giảm cân Giảm uống rượu Tránh tiếp xúc với Clo hữu cơ, chất phóng xạ Nên cho con bú sữa mẹ Thường xuyên luyện tập thể dục Tiếp xúc nhiều với ánh nắng mặt trời ... == Tham khảo == Chú giải 1: Estrogen and the Risk of Breast Cancer - Mark Clemons, M.B., B.S., M.D., và Paul Goss, M.D., Ph.D. – NEJM Chú giải 2: Breast cancer – Issam Makhoul, M.D. – Emedicine Chú giải 3: Manual of Clinical Oncology – 6th – 1994 – UICC Chú giải 4: REDUCING THE RISK OF BREAST CANCER – ROWAN T. C BOWSKI, M.D., PH.D. – NEJM Chú giải 5: Cancer Incidence, Mortality and Prevalence in the European Union-1998 Chú giải 6: Ung thư học nội khoa – PGS Nguyễn Chấn Hùng – Nhà xuất bản Y Học Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2004 – trang 18–19 Chú giải 7: Meeting highlights: International concensus panel on the treatment of Primary Breast Cancer; Goldhirsch A et al. J Natl. Cancer Inst 1998;90:1604. == Liên kết ngoài == Phát hiện sớm ung thư vú ở phụ nữ Những dấu hiệu bạn bị ung thư vú Tầm soát ung thư vú Hình ảnh học trong chẩn đoán ung thư vú Viện ung thư quốc gia Hoa Kỳ Hội ung thư Hoa Kỳ Nấm lim xanh - thảo dược hỗ trợ điều trị ung thư vú
sức khỏe.txt
Sức khỏe là trạng thái thoải mái toàn diện về thể chất, tinh thần và xã hội và không phải chỉ bao gồm có tình trạng không có bệnh hay thương tật (theo Tổ chức Y tế Thế giới) Mặc dù định nghĩa này là chủ đề của nhiều cuộc tranh cãi, đặc biệt thiếu giá trị hoạt động và vì vấn đề được tạo ra bởi từ "toàn diện", nên đây vẫn là vấn đề còn kéo dài. Các định nghĩa khác cũng đã được đưa ra, trong số đó định nghĩa gần đây nhất là mối quan hệ giữa sức khỏe và sự thỏa mãn các nhu cầu cá nhân. Các hệ thống phân loại như Phân loại quốc tế về Gia đình của WHO, bao gồm Hệ thống phân loại quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe (ICF) và Phân loại quốc tế về Bệnh tật (ICD), thường được sử dụng để định nghĩa và để đo đạc các thành phần của sức khỏe. Có một sức khỏe tốt nhất là một trong những quyền cơ bản con người dù thuộc bất kỳ chủng tộc, tôn giáo, chính kiến chính trị hay điều kiện kinh tế - xã hội nào. Để giữ gìn sức khỏe, bạn nên: == Các yếu tố quyết định sức khỏe == Nhìn chung, ngữ cảnh mà theo đó nhiều cá nhân xem trọng tình trạng sức khỏe và chất lượng của sống của họ. Người ta ngày càng nhận ra rằng sức khỏe được duy trì và cải thiện không chỉ qua những thành tựu và ứng dụng của khoa học y tế, mà còn qua những cố gắng và những lựa chọn cách sống thông thái của một cá nhân hay xã hội. Theo WHO, các yếu tố chính quyết định đến sức khỏe như môi trường kinh tế và xã hội, môi trường vật lý, và đặc điểm và ứng xử của mỗi cá nhân. Cụ thể hơn, các yếu tố chính đã được phát hiện là có ảnh hưởng đến sức khỏe bao gồm: == Tập luyện == Tập luyện thể dục thể thao là việc thực hành các động tác nhằm phát triển và duy trì sức khỏe thể chất và sức khỏe toàn diện. Điều này có được nhờ việc rèn luyện các động tác thể dục. Tập luyện thường xuyên là thành phần rất quan trọng giúp ngăn ngừa bệnh tật, ngăn ngừa các "bệnh người giàu" như ung thư, bệnh tim, bệnh mạch vành, tiểu đường loại 2, béo phì và đau lưng. Nhìn chung, luyện tập thể dục có thể chia thành hai nhóm theo tác động nói chung lên cơ thể con người: Tập luyện về cơ bắp, chẳng hạn như uốn dẻo, nhằm chăm sóc chức năng vận động của cơ và các khớp. Các bài tập Aerobic như đi bộ và chạy tập trung vào việc tăng sức chịu đựng của hệ tuần hoàn. Bài tập Anaerobic chẳng hạn nâng tạ hoặc chạy nước rút tăng sức mạnh của cơ trong thời gian ngắn. Tập luyện về khí huyết, tinh thần, chẳng hạn như việc hô hấp, hít thở, nhằm chăm sóc chức năng vận động khí huyết, thư giãn và tập trung tinh thần. Các bài tập thái cực quyền, khí công, yoga làm tăng sự lưu thông khí huyết và hướng tinh thần vào các động tác tập luyện. Từ đây làm tăng khả năng tập trung, rèn luyện trí nhớ. Tập luyện thể dục rất quan trọng trong việc giữ gìn sức khỏe thể chất gồm có trọng lượng, thể hình và xương, cơ, khớp, tăng cường hoạt động của hệ miễn dịch. Tập luyện tinh thần làm vững chắc hệ thần kinh, làm hoạt hóa các hoạt động về khí huyết. Chế độ Dinh dưỡng cũng quan trong tương đương với việc tập luyện thể dục. Khi tập luyện, dinh dưỡng sẽ trở nên thậm chí quan trọng hơn cả để có một chế độ ăn tốt nhằm đảm bảo cho cơ thể có một tỉ lệ đúng cả yếu tố thông thường lẫn yếu tố vi lượng, giúp cơ thể hồi phục sau khi vận động. == Dinh dưỡng == Dinh dưỡng là sự cung cấp các dưỡng chất cho cơ thể thông qua các thực phẩm ăn uống. Theo dinh dưỡng học, để có đầy đủ chất dinh dưỡng thì cơ thể phải được cung cấp đầy đủ các vitamin cần thiết. Nếu không đủ các vitamin cần thiết thì cơ thể sẽ bị suy yếu, gọi là suy dinh dưỡng. Việc thay đổi chế độ ăn uống, cung cấp các chất dinh dưỡng đầy đủ sẽ làm thay đổi sức khỏe, chữa lành mọi bệnh tật có nguyên nhân từ chế độ dinh dưỡng sai lệch. Sự thiếu hụt quá mức hay mất cân bằng trong chế độ dinh dưỡng có thể dẫn tới các bệnh như bệnh scobat, béo phì, chứng loãng xương, cũng như nhiều vấn đề liên quan tới tâm lý và hành vi. Hơn nữa, ăn phải các nguyên tố không có vai trò với sức khỏe (như là chì, thủy ngân, PCB, dioxin) có thể gây độc và các hậu quả tiềm tàng dẫn tới tử vong, tùy thuộc liều lượng. Dinh dưỡng học là môn khoa học nghiên cứu mối quan hệ giữa chế độ ăn, các thành phần sức khỏe và bệnh tật. Các nhà dinh dưỡng là các chuyên gia y học đã được đào tạo chuyên môn cao. Họ cũng là những bác sĩ có thể cung cấp những lời khuyên an toàn, có cơ sở khoa học và chính xác về dinh dưỡng và cách can thiệp. Dinh dưỡng học giúp tăng hiểu biết tại sao và như thế nào các vấn đề dinh dưỡng có ảnh hưởng tới sức khoẻ. == Sức khỏe tinh thần == Sức khỏe tinh thần là một khái niệm ám chỉ tình trạng tâm thần và cảm xúc tốt của mỗi cá nhân. Theo tổ chức Y tế Thế giới, không có định nghĩa chính thức cho sức khỏe tinh thần. Các nền văn hóa khác nhau, các đánh giá chủ quan và các giả thuyết khoa học khác nhau đều có ảnh hưởng tới định nghĩa về khái niệm "sức khỏe tinh thần". Mặt khác, tình trạng thoải mái, không có rối loạn nào về tinh thần chưa chắc đã được coi là sức khỏe tinh thần. Có một cách để nhận xét sức khỏe tinh thần là xem xem một người thể hiện chức năng của mình thành công tới mức nào. Cảm thấy có đủ khả năng tự tin, có thể đối mặt với những mức tình trạng căng thẳng ở bình thường, luôn giữ được các mỗi quan hệ một cách thoải mái, có một cuộc sống độc lập, và dễ hồi phục sau những tình huống khó khăn... đều được coi là các dấu hiệu của một sức khỏe tinh thần. == Duy trì sức khỏe tốt == === Vai trò của khoa học === Khoa học chăm sóc sức khỏe hay còn được gọi là Khoa học Y học, là một tập hợp các ngành khoa học ứng dụng áp dụng một hay nhiều phần của khoa học tự nhiên hay khoa học hình thức (formal science) để xây dựng và phát triển kiến thức, phương pháp can thiệp hay công nghệ có ích trong việc chăm sóc sức khỏe lâm sàng và sức khỏe cộng đồng. === Vai trò của Y tế công cộng === Y tế công cộng là khoa học và nghệ thuật phòng bệnh, kéo dài tuổi thọ và tăng cường sức khỏe thông qua những cố gắng có tổ chức của xã hội. Y tế công cộng có nhiều lĩnh vực nhỏ nhưng có thể chia ra các phần: dịch tễ học, sinh thống kê và dịch vụ y tế. Những vấn đề liên quan đến môi trường, xã hội, nhân chủng học và sức khỏe nghề nghiệp cũng là lĩnh vực quan trọng trong y tế công cộng. Trọng tâm can thiệp của y tế công cộng là phòng bệnh trước khi đến mức phải chữa bệnh thông qua việc theo dõi tình trạng và điều chỉnh hành động bảo vệ sức khỏe. Nói tóm lại, trong nhiều trường hợp thì chữa bệnh có thể gây nguy hiểm đến tính mạng hơn so với phòng bệnh từ trước, chẳng hạn như khi bùng phát bệnh lây nhiễm. Chương trình tiêm chủng vắc-xin và phân phát bao cao su là những ví dụ về các biện pháp dùng trong y tế công cộng. == Xem thêm == Chất dinh dưỡng Chất dinh dưỡng thiết yếu Danh sách chất dinh dưỡng đa lượng Danh sách chất dinh dưỡng vi lượng Các phytochemical trong thực phẩm Suy dinh dưỡng == Chú thích == == Liên kết ngoài == Định nghĩa sức khỏe của WHO-1948 Беляев, И.А. Здоровье человека как целостного природно-социально-духовного существа / И.А. Беляев // Вестник Оренбургского государственного университета. — 2014. — № 7 (168), июль. — С. 86-92.
bãi macclesfield.txt
Bãi Macclesfield (tiếng Anh: Macclesfield Bank; giản thể: 中沙群岛; phồn thể: 中沙群島; bính âm: Zhōng​shā ​Qúndǎo, Hán-Việt: Trung Sa quần đảo​) là một bãi ngầm dạng rạn vòng hoàn toàn chìm dưới mặt nước biển Đông. Bãi ngầm này nằm cách quần đảo Hoàng Sa 75 hải lý (139 km) về phía đông, ở vào khoảng giữa của đường hàng hải từ bờ biển miền Trung Việt Nam đến phía bắc đảo Luzon của Philippines. Tên gọi của bãi ngầm xuất phát từ sự kiện tàu Macclesfield của Anh khám phá ra bãi này vào năm 1701. Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đều tuyên bố chủ quyền đối với bãi Macclesfield. == Địa lý == Bãi ngầm Macclesfield là một rạn san hô vòng (rạn vòng) lớn nằm trên cực đông của sườn lục địa phía tây biển Đông, có chiều dài tính từ tây-nam lên đông-bắc là 75 hải lý (139 km) và chiều rộng tối đa là 33 hải lý (61 km). Phía tây của bãi ngầm là máng biển sâu 2.500 m; phía đông của bãi ngầm dốc hơn 50° xuống đồng bằng biển thẳm sâu 4.000 m. Vành ám tiêu của Macclesfield rộng trung bình khoảng 4,8 km, trên đó là hàng loạt các bãi cạn có độ sâu dưới 20 m. Nơi nông nhất của vành này là tại điểm mút đông bắc của bãi cạn Pigmy (tiếng Anh: Pigmy Shoal) với độ sâu 11,9 m. Trong khi đó, nơi nông nhất của bãi ngầm là bãi cạn Walker (tiếng Anh: Walker Shoal, sâu 9,2 m) nằm bên trong vụng biển của bãi ngầm. Danh sách thực thể địa lý Bãi ngầm/Rạn vòng Macclesfield gồm 26 thực thể địa lý phụ thuộc ("rạn san hô", "bãi cạn", "bãi ngầm"). Phần lớn nằm trên vành ám tiêu của rạn vòng này trong khi số còn lại nằm bên trong vụng biển. == "Quần đảo Trung Sa" == Năm 1935, Trung Hoa Dân Quốc xuất bản "Biểu đối chiếu tên gọi Hoa-Anh các đảo thuộc Nam Hải Trung Quốc", trong đó Trung Sa ngày nay được gọi là "quần đảo Nam Sa". Năm 1947, Trung Hoa Dân Quốc đổi tên "quần đảo Nam Sa" thành "quần đảo Trung Sa". Cách diễn giải khái niệm "quần đảo Trung Sa" của Trung Quốc không thống nhất và gây hiểu lầm (Zou, 2005). Trong các bản đồ chính thức, Trung Quốc chú thích "quần đảo Trung Sa" là bãi Macclesfield. Tuy nhiên, Trung Quốc quan niệm rằng "quần đảo Trung Sa" còn bao gồm nhiều bãi cạn và bãi ngầm khác như bãi cạn Scarborough, bãi cạn St. Esprit (St. Esprit Shoal), bãi ngầm Dreyer (Dreyer Shoal), bãi cạn Helen (Helen Shoal), núi ngầm Stewart (Stewart Seamount/Bank), bãi cạn Truro (Truro Shoal),... Một số học giả đặt ra câu hỏi về tính hợp pháp của hành động tuyên bố chủ quyền đối với bãi Macclesfield vì theo luật pháp quốc tế, một quốc gia không được phép tuyên bố chủ quyền đối với thực thể địa lý chìm dưới biển như thể chúng là "đảo" (Hong & Van Dyke, 2009; Poling, 2012). == Hoạt động của con người == Bãi Macclesfield là khu vực neo tàu rất tiện lợi. Nếu có dây neo đủ dài thì tàu có thể dừng lại để thuỷ thủ sửa máy hoặc nghỉ ngơi. Ngày 5 tháng 7 năm 2012, Tân Hoa xã loan báo rằng Sở Hải dương và Ngư nghiệp tỉnh Hải Nam (Trung Quốc) sẽ xây dựng cơ sở nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản như cá, tôm, tảo tại bãi cạn Walker. == Xem thêm == Bãi cạn Scarborough - một rạn san hô vòng Tam Sa Phương tiện liên quan tới bãi ngầm Macclesfield tại Wikimedia Commons == Ghi chú == == Tham khảo == === Chú thích === === Thư mục ===
bỏ phiếu kín.txt
Bỏ phiếu kín là phương pháp bỏ phiếu trong đó lựa chọn của cử tri trong một cuộc bầu cử hay trưng cầu dân ý được giữ bí mật (vô danh), giúp ngăn ngừa các tác động bên ngoài ảnh hưởng đến cử tri như hăm doạ hay đút lót. Đây là một trong những biện pháp được đưa ra để thực hiện quyền riêng tư chính trị. Tuy nhiên, bỏ phiếu kín cũng có thể làm gia tăng việc mua phiếu bằng cách trả tiền cho những người ủng hộ đi bầu cử và trả tiền cho những người phản đối không đến bầu, từ đó giảm bớt chi phí mua phiếu. Hình thức bỏ phiếu kín phù hợp với nhiều hệ thống bỏ phiếu khác nhau. Hình thức đơn giản nhất là dùng các mảnh giấy trắng, và cử tri chỉ viết lên đó lựa chọn của mình mà thôi. Cử tri sẽ không cho ai biết sự lựa chọn của mình và bỏ các lá phiếu đó vào trong một hòm được dán kín, hòm này sau đó sẽ được mở ra để kiểm đếm. Trong thế giới hiện đại, một trong những hình thức bỏ phiếu kín thường gặp nhất là in sẵn những lá phiếu trên đó có tên của các ứng cử viên. Các điểm bỏ phiếu sẽ cung cấp những lá phiếu này cho cử tri để họ bí mật lựa chọn. Cách bỏ phiếu này được thiết kế để tránh sự thiên vị và ngăn không cho người khác biết được cử tri nào đã bầu cho ai. == Tham khảo ==
hecta.txt
Hecta, hay héc-ta, hectar, ký hiệu ha, là một đơn vị đo diện tích bằng 10.000 mét vuông, tức bằng một héctômét vuông, thường được sử dụng trong ngành trắc địa. Một hình vuông mỗi chiều dài 100 m có diện tích 1 ha. Đơn vị gốc là: "A", được định rõ bởi hệ đo lường Mét-Kilôgam-Giây (MKS) cũ, nhưng cả hai đơn vị không thuộc hệ đo lường quốc tế (SI). Ủy ban Cân đo Quốc tế (CIPM) đã quyết định rằng, dù hecta không thuộc SI, nhưng người ta được tiếp tục sử dụng nó mãi, vì nó được định rõ dùng những đơn vị cơ bản SI. 1 ha = 100 a = 1 hm² = 0,01 km² = 10.000 m². 1 km² = 100 ha Hecta thường được sử dụng ở nhiều quốc gia, nhất là trong những ngành quy hoạch và quản lý đất đai, như là nông nghiệp, lâm nghiệp, và quy hoạch thành phố; đối với những ngành này, mét vuông khó sử dụng hơn. Tuy nhiên, ở Vương quốc Anh, Hoa Kỳ, và Canada, mẫu Anh (acre) vẫn được sử dụng nhiều nhất để đo diện tích đất trong những trường hợp tương tự. == Tham khảo ==
chiến tranh triều tiên.txt
Chiến tranh Triều Tiên là cuộc chiến xảy ra và kéo dài từ giữa năm 1950 đến năm 1953 trên bán đảo Triều Tiên bị chia cắt vì sự chiếm đóng tạm thời của Liên Xô và Hoa Kỳ. Chiến sự được châm ngòi vào ngày 25 tháng 6 năm 1950 khi Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) tấn công Đại Hàn Dân quốc (Nam Triều Tiên). Từ 1 cuộc chiến quy mô nhỏ giữa 2 lực lượng đối nghịch trên bán đảo Triều Tiên, quy mô cuộc chiến đã trở nên lớn khi lực lượng của Liên hiệp quốc được Hoa Kỳ lãnh đạo và sau đó là Chí nguyện quân của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa can thiệp. Lực lượng hỗ trợ chính cho miền Bắc là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa với sự tiếp ứng hạn chế của Liên Xô trong hình thức các cố vấn quân sự, phi công quân sự và vũ khí. Đại Hàn Dân quốc được lực lượng Liên hiệp quốc, chủ yếu là quân đội Hoa Kỳ, hỗ trợ. Trước cuộc xung đột, CHDCND Triều Tiên và Đại Hàn Dân quốc tồn tại như 2 chính phủ lâm thời đang tranh giành ảnh hưởng kiểm soát toàn bộ Bán đảo Triều Tiên. Sau 3 năm, chiến cuộc kết thúc khi 2 miền đạt được 1 thỏa hiệp ngừng bắn vào ngày 27 tháng 7 năm 1953. Do không có hiệp định hòa bình nên về kỹ thuật, cuộc chiến này vẫn chưa kết thúc cho đến nay. Đụng độ lẻ tẻ vẫn diễn ra, hai bên vẫn tiếp tục ở trong tình trạng chiến tranh và có thể phát động tấn công bất ngờ mà không cần tuyên chiến. Hiện nay, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên (Bắc Triều Tiên) vẫn tiếp tục đầu tư rất lớn cho quốc phòng và coi việc thống nhất dân tộc Triều Tiên là mục tiêu cao nhất của đất nước. Trong khi đó, Mỹ vẫn duy trì 28.000 quân tại Hàn Quốc để ngăn chặn việc Bắc Triều Tiên cố gắng tiến hành thống nhất đất nước 1 lần nữa. == Tên gọi == Tại Hàn Quốc, cuộc chiến thường được gọi là ngày 25 tháng 6 hoặc Chiến tranh ngày 25 tháng 6 (tiếng Triều Tiên: 6·25 전쟁), là ngày khởi đầu của cuộc xung đột hay gọi chính thức hơn Hàn Quốc chiến tranh (tiếng Triều Tiên: 한국전쟁, phiên âm latinh: "Hanguk Jeonjaeng"). Tại Bắc Triều Tiên, trong khi thường được biết như là Chiến tranh Triều Tiên, cuộc chiến được gọi chính thức là Chiến tranh Giải phóng Tổ quốc (조국해방전쟁). Tại Hoa Kỳ, cuộc xung đột được gọi tên chính thức là Cuộc xung đột Triều Tiên hơn là một cuộc chiến tranh, chính yếu là tránh sự cần thiết có sự tuyên chiến của Quốc hội Hoa Kỳ. Cuộc chiến đôi khi được gọi là Cuộc chiến bị lãng quên và Cuộc chiến không được biết vì nó là một cuộc xung đột lớn trong thế kỷ 20 ít được chú ý hơn Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra trước nó, và Chiến tranh Việt Nam khốc liệt hơn xảy ra sau đó. Tại Trung Hoa, cuộc chiến được biết đến với tên gọi Chiến tranh Kháng Mỹ viện Triều (抗美援朝, nghĩa là "Chiến tranh chống Mỹ và trợ giúp Triều Tiên") (朝鮮戰爭, Chaoxian Zhanzheng). == Bối cảnh lịch sử == === Sự chiếm đóng của Nhật Bản === Sau khi đánh bại quân Thanh trong Chiến tranh Trung - Nhật (1894-1895), lực lượng Nhật Bản lưu lại và chiếm đóng những phần đất quan trọng chiến lược của Triều Tiên. Mười năm sau đó, người Nhật đánh bại hải quân Đế quốc Nga trong Chiến tranh Nga - Nhật (1904-1905), đưa Nhật Bản trở thành một cường quốc. Nhật Bản chiếm đóng bán đảo Triều Tiên, mở rộng tầm kiểm soát của họ lên các cấp chính quyền địa phương bằng vũ lực, và cuối cùng sát nhập Triều Tiên vào Nhật Bản trong tháng 8 năm 1910. Tại Hội nghị Yalta vào tháng 2 năm 1945, lãnh đạo Liên Xô Joseph Stalin kêu gọi lập "các vùng đệm" tại châu Á và châu Âu. Stalin tin rằng Liên Xô phải có tiếng nói quyết định tại Trung Quốc và để đổi lại Liên Xô sẽ tham chiến chống Nhật Bản "hai hoặc ba tuần sau khi Đức đầu hàng." Ngày 6 tháng 8 năm 1945, Liên Xô tuyên chiến với Đế quốc Nhật Bản và vào ngày 8 tháng 8 bắt đầu tấn công phía bắc Bán đảo Triều Tiên. Như đã thỏa thuận với Mỹ, Liên Xô dừng quân lại ở vĩ tuyến 38 độ bắc. Quân đội Hoa Kỳ ở phần phía nam của bán đảo đầu tháng 9 năm 1945. Nhiều người Triều Tiên đã tổ chức chính trị trước khi quân đội Hoa Kỳ đến. === Phân chia Triều Tiên sau Chiến tranh thế giới thứ hai === Ngày 10 tháng 8 năm 1945, khi mà sự đầu hàng của Nhật Bản trông thấy rõ, chính phủ Hoa Kỳ không biết chắc là người Nga có tôn trọng vào lời đề nghị đã được mình dàn xếp trước đó hay không. Một tháng trước đó, hai vị đại tá là Dean Rusk và Bonesteel đã vẽ đường phân giới tại vĩ tuyến 38 độ trong vòng nửa tiếng đồng hồ, sử dụng một bản đồ của Hội địa lý Quốc gia Hoa Kỳ để tham khảo. Rusk, sau này là Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ có nói rằng quân đội Hoa Kỳ lúc đó phải đối mặt với sự thiếu hụt lực lượng có sẵn tại chỗ cũng như gặp phải các yếu tố bất lợi về thời gian và quãng cách khiến quân đội khó mà có thể tiến về phía bắc nhanh chóng trước khi quân đội Liên Xô tiến vào khu vực". Liên Xô đồng ý lấy vĩ tuyến 38 làm đường phân giới tạm thời giữa hai vùng chiếm đóng trên bán đảo Triều Tiên, một phần là vì họ muốn có vị thế tốt hơn để thương thuyết với Đồng Minh về Đông Âu. Thỏa thuận đạt được giao cho Liên Xô giải giới quân Nhật ở phần phía bắc của Triều Tiên và Hoa Kỳ ở phần phía nam. Tháng 12 năm 1945, Hoa Kỳ và Liên Xô thỏa thuận quản lý Triều Tiên dưới một Ủy ban Hỗn hợp Hoa Kỳ-Liên Xô. Thỏa thuận cũng nói rằng Triều Tiên sẽ được độc lập sau bốn năm quốc tế giám sát. Tuy nhiên, cả Hoa Kỳ và Liên Xô đã cho phép phần họ quản lý có một chính phủ do người Triều Tiên lãnh đạo trong khi đó các chính phủ của hai phần Triều Tiên lại ưa chuộng theo ý thức hệ của lực lượng chiếm đóng mình. Các sự dàn xếp này bị đa số người dân Triều Tiên bác bỏ và biến thành các cuộc bạo động dữ dội ở cả miền bắc và miền nam. Tại Nam Triều Tiên, một nhóm cánh tả chống ủy trị được biết với tên gọi Hội đồng Đại diện Dân chủ (Representative Democratic Council) ra đời với sự tiếp sức của lực lượng Hoa Kỳ mặc dù có một nghịch lý là nhóm này lại chống các thỏa ước do chính Hoa Kỳ bảo trợ. Vì người Triều Tiên đã chịu nhiều đau khổ dưới ách thực dân của Nhật Bản trong suốt 35 năm nên đa số người dân Triều Tiên chống đối một thời kỳ kế tiếp dưới sự cai trị của ngoại quốc. Sự chống đối này đã làm cho Hoa Kỳ phải bãi bỏ những thỏa thuận trước kia với Liên Xô. Hoa Kỳ không muốn thấy một chính phủ cánh tả tại Nam Triều Tiên nên họ đã tự tổ chức bầu cử tại Nam Triều Tiên. Không ngoài mong muốn của Mỹ, chính phủ đắc cử được lãnh đạo bởi Lý Thừa Vãn, một người Triều Tiên sống lưu vong tại Mỹ và có tư tưởng chống cộng rất mạnh. Ông là một người Triều Tiên bị Nhật Bản cầm tù từ khi còn là một thanh niên và rồi trốn thoát sang Hoa Kỳ nơi ông lấy được các cấp bằng đại học và sau đại học tại Đại học Georgetown, Đại học Harvard và Đại học Princeton. Hoa Kỳ ủng hộ Lý Thừa Vãn bởi ông ta là tín đồ Thiên Chúa giáo rất ngoan đạo và chống Cộng rất mạnh Khi đó ở 2 miền Triều Tiên, quần chúng đã tự hình thành các "ủy ban nhân dân" nhằm chuẩn bị tiếp quản nước Triều Tiên sau khi được giải phóng. Nhân dân Triều Tiên đều rất khát khao độc lập. Ở miền Bắc, các "ủy ban nhân dân" nói trên có thái độ thân thiện với lực lượng quân quản Liên Xô. Tuy nhiên, tình hình ở miền Nam thì lại khác. Chế độ quân quản của Mỹ nhận thấy các yếu tố cánh tả (ủng hộ Liên Xô) trong các "ủy ban nhân dân" do quần chúng lập nên, và đã ra sắc lệnh giải tán các tổ chức này. Thay vào đó, Mỹ đã chủ động ủng hộ một chính phủ lâm thời do Lý Thừa Vãn đứng đầu. Nhân dân Nam Triều Tiên lập tức tiến hành biểu tình hoặc vũ trang nổi dậy chống lại chế độ quân quản của Mỹ và chính quyền lâm thời Lý Thừa Vãn. Lực lượng của Mỹ và của ông Lý Thừa Vãn đã nhanh chóng trấn áp các cuộc biểu tình và nổi dậy này. Sau đó, dưới sự dàn xếp của Mỹ, Lý Thừa Vãn tìm cách hợp thức hóa chính phủ Hàn Quốc bằng cách tổ chức bầu cử riêng rẽ ở miền Nam Triều Tiên. Do các lực lượng đối lập đã bị Mỹ trấn áp, Lý Thừa Vãn dễ dàng đắc cử trong cuộc bầu cử mà thực ra chỉ có ông ta là ứng viên. Các đảng phái cánh tả tẩy chay bầu cử để phản đối sự ủng hộ của Hoa Kỳ dành cho Lý Thừa Vãn và sự đàn áp của Hoa Kỳ đối với các phong trào chính trị bản xứ. Sau khi kết quả bầu cử được công bố, bạo động nổ ra dữ dội để phản đối cuộc bầu cử gian lận do Mỹ đạo diễn. Quân đội Hàn Quốc nổ súng vào đoàn biểu tình, giết chết hàng trăm người biểu tình và bắt giữ hàng ngàn người khác. Trước diễn biến trên, miền Bắc Triều Tiên đã đáp lại bằng 1 cuộc bầu cử quốc hội, và vào tháng 9/1948, Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên tuyên bố thành lập, đứng đầu bởi lãnh tụ Kim Nhật Thành, một cựu chiến binh từng tham gia kháng chiến chống Nhật suốt 20 năm (CHDCND Triều Tiên tuyên bố cuộc bầu cử quốc hội của nước này không chỉ diễn ra công khai ở miền Bắc mà còn được tiến hành bí mật ở cả miền Nam). Về phần Liên Xô, họ chấp thuận và gia tăng nỗ lực giúp Kim Nhật Thành ở miền bắc. Nhờ uy tín khi từng là một chiến binh kháng chiến chống Nhật, cùng với tài năng chính trị, mối liên hệ với Liên Xô nên Kim Nhật Thành vươn lên thành lãnh đạo của chính quyền mới và dẹp bỏ bất cứ chống đối nào đến sự lãnh đạo của ông. Kim Nhật Thành khao khát giành độc lập và thống nhất cho Triều Tiên, vốn đã bị Nhật bản chiếm đóng gần 50 năm qua. Năm 1949, cả hai lực lượng của Liên Xô và Hoa Kỳ rút khỏi Triều Tiên. === Khởi nghĩa Jeju === Khởi nghĩa Jeju (Hangul: 제주 4·3 사건, chữ Hán: 濟州四三事件, nghĩa là 'sự kiện 3 tháng 4 tại Jeju') là một cuộc khởi nghĩa trên đảo Jeju tại Nam Triều Tiên/Hàn Quốc kéo dài từ ngày 3 tháng 4 năm 1948 đến tháng 5 năm 1949. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến khởi nghĩa là cuộc bầu cử dự kiến vào ngày 10 tháng 5 năm 1948 theo kế hoạch của Ủy ban Lâm thời Liên Hiệp Quốc tại Triều Tiên (UNTCOK) nhằm hình thành một chính phủ mới cho toàn thể Triều Tiên. Tuy nhiên, bầu cử chỉ được lên kế hoạch tổ chức tại miền nam của Triều Tiên đang nằm dưới quyền kiểm soát của UNTCOK, trong khi không được tổ chức ở miền Bắc (Hoa Kỳ lo ngại rằng Kim Nhật Thành sẽ thắng cử vì ông này rất có uy tín trong nhân dân do các hoạt động kháng chiến chống Nhật). Lo ngại bầu cử sẽ làm tăng thêm ly tán dân tộc, các chiến binh du kích của Đảng Lao động Nam Triều Tiên (SKLP - một đảng anh em với Đảng Lao động Triều Tiên ở miền Bắc) đã phản ứng kịch liệt, tấn công cảnh sát địa phương trên đảo Jeju. Người chỉ huy lực lượng cảnh sát trên đảo là Trung tướng Kim Ik-ryeo nỗ lực nhằm kết thúc khởi nghĩa trong hòa bình bằng cách đàm phán với quân nổi dậy. Ông họp vài lần với thủ lĩnh Kim Dal-sam của SKLP song hai bên đều không nhất trí về các điều khoản. Chính phủ muốn quân nổi dậy đầu hàng hoàn toàn, còn quân nổi dậy cầu cảnh sát địa phương giải trừ quân bị, miễn nhiệm toàn bộ quan chức trên đảo, cấm chỉ các tổ chức thanh niên bán quân sự trên đảo và tái thống nhất đất nước Triều Tiên. Giao tranh tiếp tục sau khi đàm phán thất bại, Chính phủ Nam Triều Tiên đáp trả hoạt động du kích bằng cách triển khai các đại đội cảnh sát, mỗi đại đội có 1.700 người, từ các tỉnh miền nam đến Jeju. Ngày 17 tháng 11 năm 1948, Lý Thừa Vãn tuyên bố thiết quân luật nhằm tiêu diệt cuộc khởi nghĩa. Trong giai đoạn này, Quân đội Nam Triều Tiên tham gia các hành động tàn bạo, một báo cáo mô tả sự kiện vào ngày 14 tháng 12 năm 1948 khi Quân đội Nam Triều Tiên tấn công làng, bắt giữ nhiều nam nữ thanh thiếu niên, hiếp dâm tập thể các nữ thanh thiếu niên trong hai tuần lễ và hành quyết họ cùng các nam thanh niên. Ngày 1 tháng 1 năm 1949, du kích khởi nghĩa phát động cuộc tấn công cuối cùng chống quân đội Nam Triều Tiên nhưng thất bại. Quân đội Nam Triều Tiên truy kích các du kích quân và tiếp tục thực hiện các hành động tàn bạo, như tàn sát dân làng. Chính phủ Nam Triều Tiên lúc này kiên quyết tiêu diệt tàn quân du kích, họ phát động một chiến dịch tiệt trừ trong tháng 3 năm 1949. Trong chiến dịch, 2.345 du kích quân và 1.668 thường dân bị giết. Hành động đàn áp tàn bạo của cảnh sát và quân đội Nam Triều Tiên dưới quyền kiểm soát của chính phủ Hoa Kỳ do James A. Casteel lãnh đạo, người chỉ huy lực lượng an ninh Jeju Truyền thông Hoa Kỳ đưa ra tài liệu và công khai vụ tàn sát song quân đội Hoa Kỳ làm ngơ Quân đội Hoa Kỳ sau đó gọi việc phá hủy hoàn toàn làng Jungsangan - tai họa lớn nhất trong sự kiện - là một "chiến dịch thành công". Nhìn chung, quân đội Nam Triều Tiên đã đàn áp vụ khởi nghĩa một cách đặc biệt tàn nhẫn. Kết quả là khoảng 30.000 người thiệt mạng do khởi nghĩa, chiếm khoảng 10% dân số của đảo. Khoảng 40.000 người khác phải sang Nhật Bản lánh nạn. Cuộc tàn sát do quân đội Nam Triều Tiên dưới sự hỗ trợ của Hoa Kỳ đã gây căm phẫn sâu sắc cho Kim Nhật Thành và các nhà lãnh đạo Bắc Triều Tiên, đẩy sự đối kháng chính trị giữa chính phủ hai miền Triều Tiên lên cao chưa từng có. Kim Nhật Thành tố cáo chính phủ Nam Triều Tiên là tay sai của Mỹ, ông tuyên bố quyết tâm thống nhất đất nước Triều Tiên dù phải bằng vũ lực. === Khơi mào chiến tranh === Lý Thừa Vãn và Kim Nhật Thành đều mong muốn thống nhất bán đảo và đã tiến hành các cuộc tấn công quân sự dọc theo ranh giới suốt năm 1949 và đầu năm 1950. Mặc dù Kim Nhật Thành và những đồng sự thân tín tin vào việc thống nhất đất nước bằng vũ lực, Stalin thì do dự không muốn bị lôi cuốn vào cuộc chiến mà có thể kích động gây ra một cuộc chiến với Mỹ. Ngày 12 tháng 1 năm 1950, Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Dean Acheson đã nói rằng chu vi phòng thủ Thái Bình Dương được hình thành gồm có Quần đảo Aleutian, Nhật Bản, và Philippines, điều đó ám chỉ rằng Mỹ có thể không chiến đấu vì Triều Tiên. Acheson nói sự phòng thủ Triều Tiên sẽ là trách nhiệm của Liên hiệp quốc. Vào giữa năm 1949, Kim Nhật Thành gây áp lực với Stalin rằng thời cơ đã đến để thống nhất bán đảo Triều Tiên. Kim Nhật Thành cần sự giúp đỡ của Liên Xô để tiến hành thành công một cuộc tấn công ngang qua bán đảo nhiều đồi núi và địa hình khó khăn. Tuy nhiên, Stalin từ chối giúp đỡ vì e ngại lực lượng Bắc Triều Tiên thiếu chuẩn bị và vì Mỹ có thể tham chiến. Phía nam Triều Tiên do Mỹ chiếm đóng đoạt lại quyền lực từ những "Ủy ban Nhân dân" được điều hành theo từng địa phương và đã thiết lập lại nhiều địa chủ và cảnh sát cũ, những người đã từng phục vụ Nhật Bản khi Triều Tiên còn dưới sự đô hộ của Nhật Bản. Những động thái này gặp phải sự chống đối nặng nề và sự phản kháng công khai ở một số phần của Nam Triều Tiên như các đảo ở phía Nam. Sau một số vụ đụng độ ở biên giới (được cho là xuất phát từ lệnh của Mỹ), dường như cuộc chiến là không thể tránh khỏi. Những nhân chứng cho rằng việc đề xướng tái thống nhất đất nước của phía Bắc đã nhận được nhiều sự ủng hộ ở phía Nam. Các tài liệu lưu trữ cho thấy quyết định tấn công phía Nam là một quyết định của chính Kim Nhật Thành chứ không phải ý đồ từ Liên Xô. Do có một số lượng lớn số xe tăng của Liên Xô tuy đã lỗi thời nhưng vẫn là loại tối tân ở Triều Tiên cộng với các vũ khí nặng khác, Bắc Triều Tiên đã có thể leo thang các cuộc đụng độ ở biên giới và ngày càng chuyển sang công kích trong khi Nam Triều Tiên với hậu thuẫn giới hạn của Hoa Kỳ có ít sự chọn lựa hơn. Chính phủ Hoa Kỳ lúc đó tin rằng Khối Xã hội chủ nghĩa là một khối thống nhất, và những hành động của Bắc Triều Tiên là chủ trương của cái khối này như là một cái móng vuốt của Liên Xô. Vì thế, Hoa Kỳ xem đây như là một cuộc xung đột quốc tế hơn là một cuộc nội chiến. Suốt một năm sau, Bắc Triều Tiên đã rèn luyện quân đội của họ thành một cỗ máy chiến tranh có tính tấn công khá ghê gớm, một phần dựa theo khuôn mẫu của một lực lượng cơ giới Liên Xô nhưng được tăng cường sức mạnh chính yếu bởi một làn sóng trở về của những người Triều Tiên đã phục vụ trong Quân Giải phóng Nhân dân của Trung Quốc từ thập niên 1930. Đầu năm 1950 thời gian quyết định tấn công càng gấp rút đối với cả Bình Nhưỡng và Moskva vì thời gian này các lực lượng an ninh của Lý Thừa Vãn đã quét sạch được gần như tất cả các du kích quân do Bình Nhưỡng gửi vào Nam Triều Tiên trong năm 1949. Khả năng thống nhất đất nước dường như tiêu tan, và chính thể của Lý Thừa Vãn đang giành được lợi thế. Kim Nhật Thành đã có một chọn lựa cuối cùng là tấn công quân sự quy ước để thống nhất Triều Tiên dưới sự kiểm soát của ông trước khi Nam Triều Tiên trở nên đủ mạnh để có thể tự vệ. Vào năm 1950, quân đội Bắc Triều Tiên được trang bị với những vũ khí Xô Viết tuy đã lỗi thời nhưng nó vẫn có lợi thế vượt trội hơn nhiều so với lực lượng Nam Triều Tiên về mọi mặt. Ngày 30 tháng 1 năm 1950, Stalin, qua điện báo, thông báo cho Kim Nhật Thành hay rằng ông sẵn lòng giúp Kim Nhật Thành trong kế hoạch thống nhất Triều Tiên. Trong những cuộc thảo luận theo sau đó với Kim Nhật Thành, Stalin đề nghị: ông muốn lãnh đạo cuộc chiến và nói rằng một năm tối thiểu 25 ngàn tấn hàng viện trợ có lẽ sẽ giúp ích cho Bắc Triều Tiên chiến thắng. Sau những lần viếng thăm Moskva của Kim Nhật Thành trong tháng ba và tháng 4 năm 1950, Stalin chấp thuận một cuộc tấn công. Mao Trạch Đông đã phản đối mạnh mẽ kế hoạch của Bắc Triều Tiên xâm chiếm Hàn Quốc cho đến 6 tuần trước khi nổ ra cuộc tấn công và ông chỉ thay đổi chính sách sau khi có chỉ thị của Josef Stalin. Mao Trạch Đông đã bỏ qua lời khuyên của phần còn lại trong chính quyền phản đối cuộc chiến và trở thành người khởi xướng mạnh mẽ cho nó. Sự phản đối quyết liệt của Lâm Bưu, người đáng lẽ đã thống lĩnh các lực lượng Trung Quốc trong cuộc chiến khiến nhân vật này phải rời Trung Quốc sang Liên Xô một thời gian. Ngày 19/1/1950, Kim Nhật Thành nói với đại sứ Liên Xô rằng ông ta có kế hoạch tấn công xuống phía Nam để thống nhất đất nước. Stalin gửi một bức điện thể hiện ủng hộ kế hoạch, nhưng không nói gì với Mao Trạch Đông và cũng đồng ý cung cấp trong năm 1950 vũ khí và trang thiết bị đã cam kết cho năm 1951, để Kim Nhật Thành có thể tăng thêm 3 sư đoàn, nâng quân đội Bắc Triều Tiên lên 10 sư đoàn. Kim Nhật Thành bảo đảm với Stalin rằng ông ta có thể chiếm xong Hàn Quốc trước khi người Mỹ có thời gian cũng như ý định can thiệp. Mục đích của Stalin là muốn kiểm soát bán đảo Triều Tiên và dùng các cảng không bao giờ bị đóng băng là Inchon và Pusan cho hải quân Liên Xô, thay thế cho việc mất cảng Đại Liên (Trung Quốc) mà quân đội Liên Xô đã kiểm soát trong tháng 8/1945. Về mặt chính thức, Bắc Triều Tiên được cho là bên nổ súng trước và ngày 25/6/1950 được coi là ngày mở màn chiến tranh. Tuy nhiên các tài liệu gần đây cho thấy thực ra trước đó khoảng 1 năm, tình hình Triều Tiên vốn đã trở nên căng thẳng và Nam Triều Tiên đã mở nhiều cuộc đột kích nhỏ mang tính khiêu khích nhằm vào Bắc Triều Tiên. Ngay từ tháng 6/1949, hơn 250 biệt kích Nam Triều Tiên được cho là đã phát động một cuộc tấn công vào các làng ở Bắc Triều Tiên dọc theo bờ biển phía đông, với kết quả là đã có 200 biệt kích Nam Triều Tiên tử trận chỉ sau 2 tuần. Cuộc tấn công ngày 25/6/1950 của Bắc Triều Tiên chỉ là kết quả của một loạt xung đột đã xảy ra từ trước và thực ra đến nay vẫn chưa rõ ai là bên khai chiến trước == Diễn biến == === Bắc Triều Tiên tấn công === Cuộc tấn công của Quân đội Nhân dân Triều Tiên xảy ra vào sáng sớm ngày chủ nhật 25 tháng 6 năm 1950 bằng cách vượt qua vĩ tuyến 38 và được hậu thuẫn bởi một trận địa pháo bắn phá dữ dội vào phía trước. Được trang bị tốt với 135.438 binh sĩ và 242 xe tăng bao gồm 150 xe tăng T-34 của Liên Xô chế tạo, quân đội Bắc Triều Tiên bắt đầu cuộc chiến với khoảng 180 máy bay, gồm có 40 máy bay tiêm kích Yak và 70 máy bay ném bom tấn công. Tuy vậy, lực lượng hải quân vẫn còn khá thô sơ (so với hải quân Hoa Kỳ gần đó). Điểm yếu trầm trọng nhất của Bắc Triều Tiên là thiếu một hệ thống tiếp vận đáng tin cậy để di chuyển đồ tiếp liệu về miền Nam khi quân đội của họ tiến lên về phía trước, nhưng lực lượng Nam Triều Tiên còn yếu hơn nếu đem so với Bắc Triều Tiên. Hàng ngàn người dân Triều Tiên chạy loạn về miền Nam bị bắt buộc xách tay đồ tiếp liệu. Quân đội Nam Triều Tiên có 64.697 binh sĩ được quân đội Mỹ huấn luyện và trang bị. Khi quân Mỹ rút khỏi Triều Tiên, đã chuyển giao cho quân đội Hàn Quốc cả một kho vũ khí lớn trị giá 110 triệu USD, đủ trang bị cho một đội quân mặt đất 50.000 người. Với 100.000 khẩu súng, 50 triệu viên đạn dùng cho vũ khí nhẹ, 2.000 ống phóng tên lửa, hơn 40.000 xe cộ cùng rất nhiều đại bác và súng cối. Tuy nhiên, quân Hàn Quốc không có xe tăng và rất thiếu xe bọc thép và pháo binh. Quân đội Nam Triều Tiên cũng không có máy bay tiêm kích, hoặc bất cứ pháo chống tăng nào. Không có đơn vị chiến đấu nào của ngoại quốc hiện diện tại đất nước khi chiến tranh bắt đầu, nhưng có nhiều lực lượng Hoa Kỳ đóng quân ở Nhật Bản gần đó. Cuộc tấn công được quân đội Bắc Triều Tiên hoạch định tốt với khoảng 135.000 quân, họ đạt được những thành công chớp nhoáng và bất ngờ. Bắc Triều Tiên tấn công một số nơi quan trọng gồm có Kaesŏng, Chuncheon, Uijeongbu và Ongjin. Trong mấy ngày đầu giao chiến, các lực lượng Nam Triều Tiên, bị thua sút về quân số và vũ khí, ý chí chiến đấu thấp và thiếu lòng trung thành với chính thể miền Nam, đã tháo lui toàn bộ hoặc đào ngũ hàng loạt sang quân đội Bắc Triều Tiên. Quân đội Hàn Quốc từ 100.000 người nhanh chóng giảm xuống còn 25.000 người do thương vong hoặc đào ngũ. Chính Lý Thừa Vãn và các quan chức cao cấp của ông ta cũng trốn chạy khỏi Seoul, chuẩn bị thành lập "Chính phủ lưu vong” ở Nhật Bản. Khi cuộc tấn công trên bộ tiếp tục, không quân Bắc Triều Tiên tiến hành oanh tạc Phi trường Kimpo gần Seoul. Các lực lượng Bắc Triều Tiên chiếm được Seoul trưa ngày 28 tháng 6, chỉ 3 ngày sau khi phát động tấn công. Tuy nhiên, niềm hy vọng của Bắc Triều Tiên về việc chính phủ của Lý Thừa Vãn đầu hàng, sự giải tán quân đội Nam Triều Tiên và đất nước thống nhất đã tan thành mây khói, khi Hoa Kỳ can thiệp vào cuộc chiến để chống đỡ cho Nam Triều Tiên. === Phản ứng của phương Tây === Cuộc tấn công Nam Triều Tiên đến rất bất ngờ đối với Hoa Kỳ và các cường quốc phương Tây khác. Trong tuần trước đó, Acheson đã nói trước Quốc hội Hoa Kỳ vào ngày 20 tháng 6 là một cuộc chiến tranh như vậy khó có thể xảy ra. Việc Mỹ tham chiến có một số lý do như sau. Harry Truman là tổng thống thuộc Đảng Dân chủ Hoa Kỳ đang bị nhiều áp lực từ trong nước vì quá nhẹ tay đối với các nước theo chủ nghĩa cộng sản. Trong số những người gây áp lực với tổng thống có Thượng nghị sĩ Đảng Cộng hòa là Joseph McCarthy, đặc biệt gay gắt nhất là những người tố cáo Đảng Dân chủ đã làm mất Trung Hoa vào tay cộng sản. Sự can thiệp quân sự cũng là một việc áp dụng quan trọng học thuyết mới có tên là Học thuyết Truman, chủ trương chống đối lại chủ nghĩa cộng sản ở bất cứ nơi đâu mà nó tìm cách mở rộng. Những bài học của Hiệp ước Munich năm 1938 cũng có ảnh hưởng đến quyết định của Washington, khiến họ tin rằng nhân nhượng các quốc gia hiếu chiến chỉ khuyến khích thêm những hành động bành trướng. Thay vì hối thúc Quốc hội tuyên chiến, Truman nghĩ rằng hành động như vậy làm mất thời giờ và gây náo động không cần thiết trong khi tình hình đang rất là cấp bách, ông quay sang xin chấp thuận từ Liên Hiệp quốc. Ngay ngày chiến tranh chính thức bắt đầu (25 tháng 6), Liên Hiệp quốc nhanh chóng thảo ra Nghị quyết số 82 kêu gọi: Chấm dứt Tất cả các hoạt động thù địch và Bắc Triều Tiên rút lui về Vĩ tuyến 38; Thành lập một Ủy ban Đặc trách về Triều Tiên của Liên Hiệp quốc để giám sát tình hình và báo cáo lại cho Hội đồng Bảo an; Yêu cầu tất cả các thành viên của Liên Hiệp quốc ủng hộ nghị quyết này của Liên Hiệp quốc, và tự kiềm chế không giúp đỡ cho chính phủ Bắc Triều Tiên. Giải pháp được thông qua dễ dàng tại Hội đồng Bảo an do có sự vắng mặt tạm thời của Liên Xô trong Hội đồng Bảo an — Liên Xô tẩy chay Hội đồng Bảo an và phản đối rằng chiếc ghế của Trung Quốc ở Hội đồng Bảo an phải được chuyển từ tay Trung Hoa Dân Quốc sang Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Do Liên Xô vắng mặt nên giải pháp không bị phủ quyết (5 thành viên thường trực có quyền phủ quyết là Anh, Pháp, Trung Hoa Dân quốc, Liên Xô và Hoa Kỳ), và chỉ có Nam Tư bỏ phiếu trắng, Liên Hiệp quốc bỏ phiếu thông qua việc giúp Nam Triều Tiên vào ngày 27 tháng 6. Giải pháp đưa đến hành động trực tiếp của Mỹ. Lực lượng Mỹ có thêm binh sĩ và tiếp liệu đến từ 15 thành viên khác của Liên Hiệp quốc: Canada, Úc, New Zealand, Anh, Pháp, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Hy Lạp, Hà Lan, Ethiopia, Colombia, Philippines, Bỉ, và Luxembourg. Tuy nhiên, Mỹ góp 50% lực lượng bộ binh (Nam Triều Tiên phần còn lại), 86% lực lượng hải quân, và 93% không quân. Liên Xô và đồng minh của họ không thừa nhận giải pháp này với lý do là nó bất hợp pháp vì có một thành viên thường trực của hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc vắng mặt trong cuộc bỏ phiếu. Đối đầu lại điều này, quan điểm đưa ra là một thành viên thường trực của hội đồng phải thật sự phủ quyết để đánh bại giải pháp. Chính phủ Bắc Triều Tiên cũng không đồng ý và lý giải rằng cuộc xung đột này là một cuộc nội chiến, và vì vậy không nằm trong tầm giải quyết của Liên Hiệp Quốc. Năm 1950, một giải pháp của Liên Xô đưa ra kêu gọi chấm dứt thù địch và rút các lực lượng ngoại quốc đã bị bác bỏ. Dư luận công chúng Mỹ đồng lòng đứng sau cuộc can thiệp này. Tuy nhiên, sau đó Truman bị chỉ trích nặng nề vì không xin phép tuyên chiến từ Quốc hội trước khi gửi quân sang Triều Tiên. Vì thế, "Chiến tranh của Truman" bị một số người nói rằng nó vi phạm tinh thần và văn ngôn của Hiến pháp Hoa Kỳ. === Can thiệp của Mỹ === Mặc dù việc giảm bớt lực lượng Hoa Kỳ và Đồng minh sau Chiến tranh thế giới thứ hai gây ra nhiều vấn đề tiếp vận trầm trọng cho quân đội Mỹ trong vùng nhưng Mỹ vẫn có đủ lực lượng tại Nhật Bản để đối phó với quân đội Bắc Triều Tiên với các trang bị đa số đã lỗi thời của Liên Xô. Các lực lượng này của Mỹ nằm dưới quyền chỉ huy của Thống tướng Douglas MacArthur. Ngoài các đơn vị của Khối thịnh vượng chung, không có quốc gia nào khác cung cấp nguồn nhân lực đáng kể. Sau khi nghe báo cáo về chiến sự toàn diện nổ ra tại Triều Tiên, Tổng thống Truman ra lệnh cho Tướng MacArthur chuyển đạn dược đến cho quân đội của Nam Triều Tiên trong lúc đó dùng phương tiện hàng không để che chở việc di tản các công dân Hoa Kỳ. Truman không đồng ý tiến hành các cuộc không kích đơn phương của Mỹ chống lại các lực lượng Bắc Triều Tiên theo ý kiến các cố vấn của ông, nhưng ông đã ra lệnh cho Hạm đội Một bảo vệ Đài Loan của Tưởng Giới Thạch, chấm dứt chính sách không can thiệp vào chuyện nội bộ của Trung Hoa vẫn được Mỹ thực hiện trước đó. Chính phủ Trung Hoa Dân Quốc yêu cầu được tham chiến tại Triều Tiên tuy nhiên bị người Mỹ từ chối vì người Mỹ sợ chuyện này chỉ khiến Cộng hòa Nhân dân Trung hoa can thiệp vào cuộc chiến. Sự can thiệp lớn nhất và đầu tiên của quân đội ngoại quốc là Lực lượng Đặc nhiệm Smith (Task Force Smith) của Hoa Kỳ, một đơn vị của Sư đoàn Bộ binh số 24 Bộ binh của Mỹ đóng ở Nhật Bản. Ngày 5 tháng 7, lực lượng này chiến đấu lần đầu tiên ở Osan và bị bại trận với thương vong cao. Lực lượng chiến thắng của Bắc Triều Tiên tiến quân về phía Nam, và Sư đoàn bộ binh số 24 với sức mạnh còn phân nửa bị buộc phải rút quân về Taejeon là nơi cũng bị rơi vào tay quân Bắc Triều Tiên. Tướng William F. Dean bị bắt làm tù binh. Vào tháng tám, các lực lượng Nam Triều Tiên và Quân đoàn 8 Hoa Kỳ bị đẩy lui vào một vùng nhỏ trong cạnh Đông Nam của bán đảo Triều Tiên quanh thành phố Pusan. Trong khi quân đội Bắc Triều Tiên tiến công, họ vây bắt và tàn sát những công chức dân sự. Ngày 20 tháng 8, MacArthur gởi một thông điệp cảnh báo Kim Nhật Thành rằng ông ta phải chịu trách nhiệm cho các hành động tàn bạo chống quân đội Liên Hiệp Quốc. Vào tháng chín, chỉ có vùng xung quanh thành phố Pusan—khoảng 10% Bán đảo Triều Tiên—vẫn còn nằm trong tay lực lượng đồng minh. Với sự hỗ trợ tiếp vận lớn lao của Mỹ, không quân yểm trợ, và viện quân, các lực lượng của Hoa Kỳ và Nam Triều Tiên đã giữ vững được phòng tuyến dọc theo sông Nakdong. Hành động bám giữ liều lĩnh này trở thành nổi tiếng tại Hoa Kỳ với tên gọi là Vành đai Pusan. Mặc dù có thêm lực lượng của Liên Hiệp Quốc đến tiếp tay, tình thế trở nên nguy kịch, và dường như Bắc Triều Tiên sẽ thành công trong việc thống nhất bán đảo. === Đồng minh củng cố lực lượng === Đối diện với các cuộc tấn công dữ dội của Bắc Triều Tiên, phòng tuyến của đồng minh trở thành một trận đánh liều lĩnh mà người Mỹ gọi là Trận Vành đai Pusan. Tuy nhiên, Bắc Triều Tiên lại không thành công trong việc chiếm Pusan. Không lực Hoa Kỳ đến với số lượng lớn, thực hiện 40 phi vụ một ngày trong những hành động hỗ trợ bộ binh, nhắm vào các lực lượng Bắc Triều Tiên nhưng cũng gây ra sự tàn phá to lớn đến người dân cũng như các thành phố. Các máy bay ném bom chiến thuật (đa số là oanh tạc cơ B-29 có căn cứ ở Nhật Bản) gây ngừng lưu thông đường sá và đường xe hỏa trong ban ngày, và tàn phá 32 cây cầu thiết yếu không chỉ cần thiết cho chiến tranh mà còn quan trọng đối với việc di tản của người dân. Xe lửa dùng cho cả quân sự và dân sự đều phải nằm chờ đợi lúc ban ngày bên trong các đường hầm. Khắp nơi trên Triều Tiên, các máy bay ném bom Hoa Kỳ thi nhau đánh bom các kho tiếp liệu chính và phá hủy các nhà máy lọc dầu và hải cảng nhận hàng nhập cảng cũng như tiếp liệu quân sự để làm cạn kiệt lực lượng Bắc Triều Tiên. Không lực hải quân cũng tấn công các điểm chuyển vận. Lực lượng Bắc Triều Tiên đã bị kéo giãn ra trên toàn bán đảo, và sự tàn phá do bị các máy bay ném bom của Hoa Kỳ gây ra đã ngăn ngừa đồ tiếp liệu cần thiết tới lực lượng Bắc Triều Tiên ở miền nam. Kim Nhật Thành khiếp sợ khi chứng kiến hiệu quả tàn phá của không quân Mỹ mà quân Bắc Triều Tiên không có cách nào ngăn chặn được. Kim khẩn cầu Stalin hỗ trợ quân sự, nếu không từ Liên Xô thì cũng từ các quốc gia cộng sản khác nhưng không muốn gửi quân và đối mặt với nguy cơ gây chiến cùng Mỹ, Stalin gửi một bức điện cho Mao Trạch Đông: "Theo tình hình hiện nay, nếu Trung Quốc có thể hỗ trợ quân sự cho Bắc Triều Tiên thì 5-6 sư đoàn sẽ là ổn thỏa để tiến tới vĩ tuyến 38. Vai trò của họ sẽ là quân tình nguyện và dĩ nhiên, họ nằm dưới sự chỉ huy của Trung Quốc". Trong lúc đó, các căn cứ tiếp liệu tại Nhật Bản đưa vũ khí và binh sĩ Liên hiệp quốc ào ạt vào Pusan. Các tiểu đoàn xe tăng Hoa Kỳ từ San Francisco được cấp bách đưa vào Triều Tiên; vào cuối tháng tám, Hoa Kỳ có trên 500 xe tăng loại trung tại vành đai Pusan. Đầu tháng chín, các lực lượng Liên Hiệp Quốc và Nam Triều Tiên được củng cố mạnh hơn và đông hơn lực lượng quân sự Bắc Triều Tiên (đồng minh 180.000 quân so với Bắc Triều Tiên 100.000 quân). Vào thời điểm đó, đồng minh bắt đầu một cuộc phản công. Để chống lại sức mạnh của không quân Mỹ, Stalin buộc phải đem hàng trăm máy bay chiến đấu MiG sang Triều Tiên. Không quân Liên Xô đào tạo các phi công Trung Quốc hoặc dùng phi công của mình mặc quân phục Trung Quốc và nói tiếng Trung để vẫn giả vờ rằng Liên Xô không can thiệp và tránh xung đột trực tiếp với Mỹ. === Tái chiếm Nam Triều Tiên === Đối diện với các cuộc tăng viện áp đảo của Liên Hiệp Quốc, lực lượng Bắc Triều Tiên tự nhận thấy mình có quân số ít hơn và có hỗ trợ tiếp liệu yếu kém. Họ cũng thiếu hỗ trợ của không quân và hải quân so với Mỹ. Để giảm sức ép đối với Vành đai Pusan, Tướng MacArthur, tổng tư lệnh lực lượng Liên Hiệp Quốc tại Triều Tiên, đã ra lệnh cho một cuộc đổ bộ từ biển vào bờ xa phía sau phòng tuyến của Bắc Triều Tiên tại Incheon (인천; 仁川, Nhân Xuyên), một thành phố và là hải cảng lớn ven bờ biển Hoàng Hải của Nam Triều Tiên, gần Seoul. Thủy triều cao và sự hiện hữu của một lực lượng quân địch mạnh làm cho cuộc đổ bộ này trở thành một chiến dịch cực kỳ mạo hiểm. MacArthur bắt đầu hoạch định chiến dịch này vài ngày sau khi chiến tranh khởi sự nhưng Lầu Năm Góc mạnh mẽ bác bỏ kế hoạch này. Cuối cùng khi được phép, MacArthur tập hợp Quân đoàn X dưới quyền của Tướng Edward Almond gồm có 70.000 quân từ Sư đoàn Thủy quân lục chiến số 1, Sư đoàn Bộ binh số 7 và tăng phái với 8.600 quân người Triều Tiên và ra lệnh cho họ đổ bộ tại Incheon trong Chiến dịch Chromite. Vào lúc tấn công đổ bộ ngày 15 tháng 9, nhờ vào thám báo của các du kích quân Nam Triều Tiên, sự cố tình tạo ra thông tin sai lạc và các cuộc pháo kích kéo dài trước khi đổ bộ, thêm vào đó lực lượng Bắc Triều Tiên có rất ít quân đóng tại Incheon nên lực lượng Mỹ chỉ gặp sự chống trả yếu ớt khi họ đổ bộ lên Incheon. Cuộc đổ bộ là một chiến thắng quyết định khi Quân đoàn 10 tiến công tràn ngập quân phòng thủ vốn ít hơn và đe dọa bao vây quân đội chính quy của Bắc Triều Tiên. MacArthur nhanh chóng tái chiếm Seoul. Quân đội Bắc Triều Tiên bị cắt đứt tuyến tiếp vận, nên phải nhanh chóng rút lui về phía bắc; khoảng 25.000 đến 30.000 quay trở lại. Sau khi tái chiếm lại Nam Triều Tiên, Lý Thừa Vãn ra lệnh tiến hành thảm sát hàng loạt những người dân bị tình nghi ủng hộ Bắc Triều Tiên, gây ra Thảm sát Bodo League (giết chết 100.000 tới 200.000 người), diễn ra suốt mùa hè năm 1950. Đây là một trong những vụ thảm sát lớn nhất châu Á kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. === Xâm chiếm Bắc Triều Tiên === Lực lượng Liên Hiệp Quốc (gồm chủ yếu là quân Mỹ) đẩy lui quân Bắc Triều Tiên ngược qua Vĩ tuyến 38. Mục tiêu cứu chính phủ Nam Triều Tiên của Mỹ đã đạt được nhưng vì bị quyến rũ bởi sự thành công và viễn cảnh thống nhất Triều Tiên dưới tay chính phủ Lý Thừa Vãn nên lực lượng Liên Hiệp Quốc tiến quân vào Bắc Triều Tiên. Sự kiện này đánh dấu khoảnh khắc quan trọng trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ khi các nhà lãnh đạo của Hoa Kỳ quyết định đi xa hơn là chỉ đơn thuần "ngăn chặn" mối đe dọa thấy rõ của cộng sản. Các vấn đề khác gồm có tác dụng tâm lý về việc tiêu diệt được một quốc gia cộng sản chủ nghĩa và giải thoát các tù nhân chiến tranh. Các lực lượng Liên Hiệp Quốc vượt qua biên giới tiến vào Bắc Triều Tiên đầu tháng 10 năm 1950. Quân đoàn 10 của Mỹ đổ bộ từ biển vào bờ tại Wonsan và Iwon. Hai nơi này đã bị quân đội Nam Triều Tiên tiến công trên bộ chiếm được. Các lực lượng còn lại của Hoa Kỳ sát cánh với quân Nam Triều Tiên tiến quân theo phía bờ tây của Triều Tiên và chiếm được Bình Nhưỡng ngày 19 tháng 10. Đến cuối tháng 10, quân đội Bắc Triều Tiên tan rã nhanh chóng, và quân Liên Hiệp Quốc bắt được 135.000 tù binh. Cuộc tiến công của Liên Hiệp Quốc gây lo ngại rất lớn cho Trung Quốc. Họ lo lắng lực lượng Liên Hiệp Quốc sẽ không dừng lại ở Sông Áp Lục là ranh giới giữa Triều Tiên và Trung Quốc mà sẽ mở rộng chiến tranh vào lãnh thổ Trung Quốc. Nhiều người ở Tây phương bao gồm Tướng MacArthur nghĩ rằng mở rộng chiến tranh vào Trung Quốc là cần thiết. Tuy nhiên, Truman và những nhà lãnh đạo khác không đồng ý, và MacArthur được lệnh phải cẩn trọng khi tiến tới biên giới Trung Quốc. Dần dần, MacArthur không còn quan tâm đến lệnh của Tổng thống nữa và cho rằng quân đội Bắc Triều Tiên sẽ được tiếp tế qua các căn cứ tại Trung Quốc nên các căn cứ đó phải bị dội bom. Tuy nhiên, trừ một vài dịp hiếm hoi, các máy bay ném bom Liên Hiệp Quốc vẫn cách xa tầm bay đến Mãn Châu trong suốt cuộc chiến. === Trung Quốc tham chiến === Trung Quốc cảnh cáo các nhà lãnh đạo Hoa Kỳ qua các nhà ngoại giao trung lập rằng họ sẽ can thiệp để bảo vệ nền an ninh quốc gia. Truman xem các lời cảnh báo này như "một mưu toan táo bạo để hù dọa Liên Hiệp Quốc" và không coi trọng nó lắm. Ngày 15 tháng 10 năm 1950, Truman đến Đảo Wake để họp ngắn ngủi với MacArthur. Cục Tình báo Trung ương Mỹ trước đây có cho Truman biết rằng việc Trung Quốc tham chiến là không thể xảy ra. MacArthur suy đoán rằng có ít rủi ro về một cuộc chiến với Trung Quốc. MacArthur cho rằng Trung Quốc đã mất dịp giúp Bắc Triều Tiên. Ông ước tính Trung Quốc có 300.000 quân tại Mãn Châu với khoảng từ 100.000-125.000 quân dọc theo Sông Áp Lục; phân nửa quân số đó có thể vượt qua sông Áp Lục. Nhưng Trung Quốc không có lực lượng không quân, vì thế, "nếu Trung Quốc cố tràn xuống Bình Nhưỡng thì sẽ có một cuộc đại tàn sát." MacArthur nhận định rằng Trung Hoa muốn tránh bị thiệt hại nặng nề. Ngày 8 tháng 10 năm 1950, một ngày sau khi quân đội Mỹ vượt vĩ tuyến 38, Chủ tịch Mao Trạch Đông phát lệnh tập kết Chí nguyện quân Nhân dân Trung Quốc. Bảy mươi phần trăm thành viên của Chí nguyện quân là quân đội hiện dịch của Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc. Mao ra lệnh quân đội di chuyển đến sông Áp Lục, sẵn sàng vượt sông. Mao Trạch Đông tìm sự trợ giúp của Liên Xô và coi sự can thiệp vào Triều Tiên là một hành động tự vệ cần thiết: "Nếu chúng ta để cho Hoa Kỳ chiếm đóng toàn Triều Tiên...chúng ta phải chuẩn bị chờ Hoa Kỳ tuyên chiến với Trung Hoa," ông nói với Stalin như vậy. Thủ tướng Chu Ân Lai được phái đến Moskva để tăng thêm cường độ cho những lý lẽ qua điện thoại của Mao. Mao trì hoãn trong lúc chờ đợi sự chi viện lớn từ Liên Xô, hủy bỏ cuộc tấn công đã hoạch định từ 13 tháng 10 đến 19 tháng 10. Tuy nhiên, sự giúp đỡ của Liên Xô chỉ giới hạn cung cấp yểm trợ bằng không quân không quá 60 dặm Anh (100 km) từ mặt trận. Các phi cơ MiG-15 của Liên Xô trong màu sắc Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa là một sự thách thức nghiêm trọng đối với các phi công Liên Hiệp Quốc. Tại một khu vực có biệt danh là "Hành lang MiG" (MiG Alley - do các lực lượng Liên Hiệp Quốc đặt), các phi cơ của Liên Xô có ưu thế hơn đối thủ với các phi cơ F-80 do Hoa Kỳ chế tạo (Lockheed F-80 Shooting Stars) cho đến khi các phi cơ F-86 (North American F-86 Sabre) được triển khai. Người Trung Quốc rất giận dữ trước việc tham chiến có giới hạn của Liên Xô vì họ cứ đinh ninh rằng họ đã được hứa cung ứng yểm trợ không quân toàn diện. Mỹ biết rõ vai trò của Liên Xô nhưng vẫn giữ im lặng để tránh một khả năng leo thang chiến tranh thành một cuộc chiến tranh hạt nhân. Chạng vạng tối ngày 19 tháng 10 năm 1950, trong cơn mưa lạnh, các quân đoàn 40, 39, 42, 38 và ba sư đoàn pháo binh Quân Chí nguyện nhân dân Trung Quốc cùng một lúc lần lượt vượt sông Áp Lục ở ba bến An Lạc, Trường Miến, và Tập An bí mật tiến vào Triều Tiên. Quân Trung Quốc đối mặt với quân đội Hoa Kỳ ngày 25 tháng 10 năm 1950 với 270.000 quân dưới quyền tư lệnh của tướng Bành Đức Hoài khiến cho Liên Hiệp Quốc rất ngạc nhiên vì không lường trước được mức độ quân số đông đảo đến như vậy. Tuy nhiên, sau những vụ đụng độ ban đầu, các lực lượng Trung Quốc rút lui vào vùng núi. Các nhà lãnh đạo Liên Hiệp Quốc coi sự rút lui của Trung Quốc như là một dấu hiệu yếu thế và đánh giá sai lầm trầm trọng khả năng tác chiến của Trung Quốc. Thế nên các lực lượng Liên hiệp quốc tiếp tục tiến công về sông Áp Lục không đếm xỉa gì đến những lời cảnh cáo của Bắc Kinh. Tình báo Mỹ, sơ sài trong suốt giai đoạn này vì nhiều lý do, đã không làm việc hiệu quả tại Bắc Triều Tiên cũng như đã từng không hiệu quả tại Nam Triều Tiên trong những ngày có cuộc bao vây tại Vành đai Pusan. Quân Trung Quốc hành quân bằng cách đi bộ và ngủ trong rừng nên giảm thiểu tối đa sự phát hiện của đối phương. Trong một trường hợp có ghi chép kỹ càng, một quân đoàn của Trung Quốc gồm có ba sư đoàn hành quân bằng chân đất từ An Tung ở Mãn Châu, phía bắc cách sông Áp Lục khoảng 286 dặm (460 km) đến nơi tập kết tại Bắc Triều Tiên trong khoảng một thời gian dài từ 16 đến 19 ngày. Một sư đoàn của quân đoàn này hành quân vào ban đêm trên những con đường núi ngoằn ngoèo, trung bình đi được 18 dặm (29 km) một ngày trong vòng 18 ngày. Cuộc hành quân trong bắt đầu từ sau khi chập tối lúc 19 giờ và kết thúc lúc 3 giờ sáng hôm sau. Những phương án trú ẩn chống phi cơ phải hoàn thành trước 5 giờ 30 sáng. Tất cả mọi người, thú vật và các trang bị được che giấu hay ngụy trang. Trong ban ngày chỉ có các nhóm trinh sát được ngụy trang di chuyển về phía trước để chọn lựa khu đóng quân ngoài trời của ngày hôm sau. Khi các đơn vị của Trung Quốc bắt buộc phải hành quân vào ban ngày vì bất cứ lý do gì, họ luôn tuân thủ lệnh dừng lại ngay tại chỗ và không cử động khi có máy bay xuất hiện trên đầu. Các sĩ quan có quyền bắn hạ bất cứ binh sĩ nào vi phạm lệnh này. Từ ngày 25 tháng 10 đến ngày 5 tháng 11 (1950) là chiến dịch đầu tiên của Trung Quốc. Quân Trung Quốc dùng 2 sư đoàn của quân đoàn 42 tổ chức phòng ngự ở khu vực Hoàng Thảo Lĩnh, Phó Chiến Lĩnh thuộc mặt trận miền đông, lại dùng 3 quân đoànvà một sư đoàn của quân đoàn 42 (sau tăng thêm 2 quân đoàn) phản kích ở mặt trận miền Tây. Chiến dịch này đã đánh lui quân Mỹ đến phía nam sông Thanh Xuyên. Ngày 7 tháng 11, các quân đoàn 20, 26, 27 thuộc Binh đoàn 9 quân Chí nguyện dưới quyền chỉ huy của Tư lệnh kiêm Chính uỷ Tống Thời Luân tiến vào Triều Tiên. Tới lúc này, binh lực tác chiến của Trung Quốc lên tới 9 quân đoàn, 30 sư đoàn, tổng cộng hơn 380.000 quân, chiếm ưu thế hơn so với quân Liên Hợp Quốc gồm 5 quân đoàn, 13 sư đoàn, 3 lữ đoàn, tổng cộng 220.000 quân. Cuối tháng 11, Trung Quốc đánh vào phía tây, dọc theo sông Chongchon, hoàn toàn áp đảo một số sư đoàn của Nam Triều Tiên và đánh một đòn chí tử vào sườn các lực lượng còn lại của Liên Hiệp Quốc. Ở mặt trận phía tây, quân Chí nguyện tiêu diệt sư đoàn 7 quân Nam Triều Tiên, đánh quị sư đoàn 2 quân Mỹ. Ở mặt trận phía đông, đánh quị sư đoàn thủy quân lục chiến 1, sư đoàn bộ binh 2 quân Mỹ. Tình hình đó buộc McAthur phải ra lệnh cho quân Mỹ và quân Nam Triều Tiên rút lui toàn bộ. Tư lệnh tập đoàn quân số 8 quân Mỹ trong khi rút lui đã chết vì tai nạn xe. Thất bại của Quân đoàn 8 đã tạo nên một cuộc rút lui dài nhất của một đơn vị quân đội Mỹ trong lịch sử. Tại miền đông, trong Trận hồ nước Chosin, một đơn vị 30.000 người của Sư đoàn Bộ binh số 7 Mỹ cũng chưa chuẩn bị kịp cho những cuộc tấn công chiến thuật của Trung Quốc và chẳng bao lâu bị bao vây, mặc dù cuối cùng họ phá được vòng vây nhưng bị thương vong 15.000 người. Tại trận này, Thủy quân lục chiến Mỹ cũng bị đánh bại và bắt buộc rút lui sau khi gây ra những thiệt hại nặng nề cho sáu sư đoàn quân Trung Quốc. Trong khi các binh sĩ Trung Quốc ban đầu thiếu yểm trợ của hỏa lực nặng và vũ khí bộ binh hạng nhẹ, chiến thuật của họ nhanh chóng điều chỉnh thích hợp cho sự bất lợi này như Bevin Alexander giải thích trong cuốn "How Wars Are Won" (Cách thế nào để thắng các cuộc chiến tranh): Phương cách thông thường là xâm nhập các đơn vị nhỏ của địch từ một trung đội 50 người đến một đại đội 200 người, bằng cách phân tán thành nhiều nhóm riêng lẻ. Trong lúc một đội cắt đường rút lui của người Mỹ, các đội khác đánh thẳng cả mặt trước và hai bên sườn trong các cuộc tiến công phối hợp nhịp nhàng. Các cuộc tiến công tiếp tục vào các phía cho đến khi những người phòng thủ bị tiêu diệt hoặc bắt buộc phải rút lui. Người Trung Quốc bò lên phía trước đến sườn mở nơi đóng chốt của trung đội kế tiếp và lập lại chiến thuật này. Roy Appleman làm sáng tỏ hơn các chiến thuật ban đầu của Trung Quốc như sau: Trong giai đoạn đầu tiến công, các lực lượng bộ binh thiện chiến nhẹ đã thực hiện các cuộc tấn công của Trung Quốc, nói chung không được yểm trợ với bất kỳ loại vũ khí hạng nặng nào ngoài súng cối (mortars). Các cuộc tấn công đã chứng minh rằng binh sĩ Trung Quốc là những chiến binh có kỷ luật và được huấn luyện kỹ lưỡng, và đặc biệt lão luyện trong chiến đấu về đêm. Họ có tài về nghệ thuật ngụy trang. Các đội trinh sát rất thành công đáng kể trong việc phát hiện các vị trí của các lực lượng Liên Hiệp Quốc. Họ hoạch định các cuộc tấn công vào phía sau lưng của các lực lượng này, cắt đường rút lui và đường tiếp vận của quân địch, và rồi sau đó xung trận đánh vào mặt trước và bên sườn để kết thúc trận chiến. Họ cũng áp dụng một chiến thuật gọi là Hachi Shiki tạo thành một đội hình chữ V mà họ để cho quân địch di chuyển trong đó; hai cạnh của chữ V sau đó được khép lại quanh quân địch trong khi đó một lực lượng khác di chuyển phía dưới miệng chữ V để đón chặn bất cứ lực lượng nào cố giải vây cho đơn vị bị bao vây. Các chiến thuật như thế của Trung Hoa đã được sử dụng với những thành công to lớn tại Onjong, Unsan, và Ch'osan, nhưng chỉ thành công một phần tại Pakch'on và Ch'ongch'on. Lực lượng Hoa Kỳ tại đông bắc Triều Tiên, từng tiến công chớp nhoáng chỉ một vài tháng trước đây, bị bắt buộc phải nhanh chân hơn nữa rút về miền nam để hình thành một vành đai phòng thủ quanh thành phố hải cảng Hungnam nơi mà sau đó một cuộc di tản lớn được thực hiện cuối tháng 12 năm 1950. Trước nguy cơ đối diện với sự bại trận hoàn toàn và đầu hàng, 193 lượt tàu chở các quân nhân Mỹ và trang thiết bị đã rời bến di tản khỏi Bến cảng Hungnam. Khoảng 105.000 binh sĩ, 98.000 thường dân, 17.500 xe các loại, và 350.000 tấn tiếp liệu được tàu chở đến Pusan trong vòng trật tự. Khi họ đã bỏ đi, các lực lượng Mỹ đã đánh sập phần lớn thành phố để không cho quân đội Trung Quốc sử dụng, khiến nhiều người dân Triều Tiên không có nơi trú thân trong mùa đông. === Chiến sự ngang qua Vĩ tuyến 38 (đầu năm 1951) === Kim Nhật Thành là một đối tác khó tính. Đầu tiên, ông từ chối hợp nhất các lực lượng của mình dưới sự chỉ huy của Bành Đức Hoài cho dù lính Trung Quốc chiếm đa số quân đội. Kim chỉ đồng ý sau khi nhận được một chỉ thị từ Stalin. Kim Nhật Thành cũng tranh cãi với Bành Đức Hoài vào đầu năm 1951 xung quanh việc liệu có nên vượt vĩ tuyến 38 vì Kim Nhật Thành ra lệnh tiến quân song Bành Đức Hoài từ chối và vấn đề chỉ được dàn xếp sau khi có một chỉ thị từ Stalin ủng hộ Bành Đức Hoài. Nhà sử học Trung Quốc Trần Lâm cho rằng Mao Trạch Đông đã gửi ra chiến trường các binh sĩ từ quân đội Quốc dân đảng đã đầu hàng: "Quân giải phóng nhân dân Trung Quốc thực tế không muốn thu nhận họ. Động cơ của Mao Trạch Đông khi tham chiến là để thu hút sự chú ý và công nhận Trung Quốc như một cường quốc, đồng thời đoàn kết người dân trong một cuộc chiến yêu nước". Tháng giêng năm 1951, các lực lượng Trung Quốc và Bắc Triều Tiên lại đánh mạnh trong giai đoạn tiến công thứ ba (được biết với tên gọi Cuộc tiến công mùa đông của Trung Quốc). Quân Trung Quốc lặp lại các chiến thuật trước đây của họ là tấn công chủ yếu là vào đêm với cách đánh thăm dò từ các vị trí xa mặt trận theo sau là một đợt xung phong với số lượng quân áp đảo, và dùng kèn, cồng chiêng để liên lạc và đánh lạc hướng quân địch. Các lực lượng Liên Hiệp Quốc không có thuốc trị cho chiến thuật này, và sức kháng cự của họ sa sút nên họ rút lui nhanh về miền nam. Seoul bị bỏ lại và bị các lực lượng Trung Quốc và Bắc Triều Tiên chiếm được vào ngày 4 tháng 1 năm 1951. Khó khăn thêm gia tăng cho Quân đoàn 8 khi Tướng Walker bị giết chết trong một vụ tai nạn. Trung tướng Matthew Ridgway, một cựu chiến binh nhảy dù trong Chiến tranh thế giới thứ hai lên thay và nhanh chóng nâng sĩ khí và tinh thần chiến đấu của Quân đoàn 8 vốn đã quá kiệt quệ và sa sút trong cuộc rút lui. Tuy nhiên tình thế quá khắc nghiệt đến nỗi Tướng Douglas MacArthur thậm chí nói đến việc sử dụng vũ khí hạt nhân chống lại Trung Quốc, gây nhiều lo ngại cho các đồng minh của Mỹ. Các lực lượng Liên Hiệp Quốc tiếp tục rút lui cho đến khi họ tới phòng tuyến chạy dài từ phía nam Suwon ở miền tây, Wonju ở giữa, và phía bắc Samchok ở miền đông là nơi mặt trận được ổn định. Quân Chí nguyện của Trung Quốc đã bỏ xa đường tiếp vận của họ nên gặp khó khăn khi tiến ra xa khỏi Seoul vì họ đang ở cuối đường vận chuyển tiếp liệu. Do thiếu phương tiện cơ giới, lại bị không quân Hoa Kỳ đe dọa nên tất cả lương thực và đạn dược của Trung Quốc phải được vận chuyển vào ban đêm bằng chân hoặc xe đạp từ sông Áp Lục, cách cận chuyển này không thể đủ đáp ứng nhu cầu của mặt trận ở xa hàng trăm km. Tướng Bành Đức Hoài ra lệnh cho các lực lượng của ông ngừng tiến công và chuyển sang phòng ngự. Cuối tháng giêng, sau khi nhận thấy các phòng tuyến phía trước lực lượng của ông bị bỏ hoang, Tướng Ridgway ra lệnh tiến hành thám thính mà sau đó biến thành một cuộc tiến công toàn diện có tên gọi là "Operation Roundup" (Chiến dịch Bố ráp). Chiến dịch được hoạch định tiến hành từng bước một, lợi dụng ưu thế hỏa lực trên mặt đất và trên không của Liên Hiệp Quốc. Vào lúc kết thúc Chiến dịch Bố ráp vào đầu tháng hai, các lực lượng Liên Hiệp Quốc đã tiến tới sông Hán và tái chiếm Wonju. Trung Quốc phản công vào giữa tháng hai bằng Cuộc tiến công giai đoạn bốn từ Hoengsong ở miền trung chống các vị trí của Quân đoàn IX Mỹ quanh Chipyong-ni. Các đơn vị của Sư đoàn Bộ binh số 2, gồm có Tiểu đoàn Pháp tại Triều Tiên đã đánh trả một cuộc bao vây ngắn ngủi nhưng dữ dội và cuối cùng phá vỡ được cuộc tiến công này. Trong trận đánh này, Liên Hiệp Quốc đã học được cách đối phó với các chiến thuật tấn công của Trung Quốc và có thể giữ vững trận địa của họ. Chiến dịch Bố ráp được theo sau trong hai tuần cuối của tháng 2 năm 1951 bằng Chiến dịch Sát thủ (Operation Killer) do Quân đoàn 8 được tái sinh của Mỹ đảm nhiệm. Đây là một cuộc tấn công toàn diện ngang qua mặt trận, lần nữa được hoạch định tăng cường tối đa hỏa lực với mục đích gây thiệt hại nặng nề cho các quân đoàn Bắc Triều Tiên và Trung Quốc. Cuối Chiến dịch Sát thủ, Quân đoàn I đã tái chiếm lại được tất cả các lãnh thổ phía nam sông Hán, trong khi Quân đoàn IX tái chiếm Hoengsong. Ngày 7 tháng 3 năm 1951, Quân đoàn 8 lại thọc mạnh về phía trước trong Chiến dịch Ripper, và vào ngày 14 tháng 3 họ đã đẩy lui các lực lượng Trung Quốc và Bắc Triều Tiên ra khỏi Seoul, đây là lần thứ tư trong một năm thành phố này đổi chủ. Seoul ở trong cảnh hoang tàn đổ nát; dân số của thành phố trước chiến tranh là 1,5 triệu người đã giảm xuống còn 200.000 người và thiếu thực phẩm trầm trọng. Douglas MacArthur bị tước quyền tự lệnh bởi Tổng thống Harry Truman ngày 11 tháng 4 năm 1951 vì bất tuân lệnh Tổng thống, gây ra một cơn bão lửa phản đối ở Hoa Kỳ. Tư lệnh tối cao mới là Tướng Ridgway tiến hành củng cố các lực lượng Liên Hiệp Quốc để chuẩn bị cho một loạt các cuộc phản công hiệu quả. Vị trí Tư lệnh Quân đoàn 8 được chuyển cho Tướng James Van Fleet. Một loạt các cuộc tấn công sau đó từ từ đẩy lui quân Trung Quốc và Bắc Triều Tiên như các chiến dịch Courageous và Tomahawk, một cuộc công kích kết hợp giữa bộ binh và không quân giam lực lượng cộng sản giữa Kaesong và Seoul. Các lực lượng Liên Hiệp Quốc tiếp tục tiến công cho đến khi họ tới được phòng tuyến Kansas, cách vĩ tuyến 38 một khoảng mấy dặm về phía bắc. Tuy nhiên, tháng 4 năm 1951, Trung Quốc mở đợt tiến công giai đoạn năm. Đây là một nỗ lực chính có sự tham dự của ba quân đoàn (lên đến 700.000 quân). Quả đấm chính rơi trúng Quân đoàn I của Mỹ nhưng sự chống trả quyết liệt trong các trận đánh tại sông Imjin và Kapyong đã chặn bước tiến của quân đội Trung Quốc ở phòng tuyến phía bắc Seoul. Một cuộc tiến công khác của Trung Quốc sau đó ở miền trung chống lại Quân đoàn X và lực lượng Nam Triều Tiên vào ngày 15 tháng 5 cũng đạt được những thành công ban đầu, nhưng vào 20 tháng 5 cuộc tấn công dừng lại. Quân đoàn 8 phản công và đến cuối tháng 5 thì chiếm lại phòng tuyến Kansas. Quyết định của Liên Hiệp Quốc dừng lại ở phòng tuyến Kansas, nằm ở phía bắc Vĩ tuyến 38, và không tiếp tục các hành động tiến công vào Bắc Triều Tiên đã đẩy cuộc chiến vào giai đoạn bế tắc, là điểm điển hình cho phần còn lại của cuộc xung đột. === Bế tắc (tháng 7 năm 1951 - tháng 7 năm 1953) === Phần còn lại của cuộc chiến bao gồm chút ít sự thay đổi về lãnh thổ, các cuộc oanh tạc tầm mức rộng lớn ở Bắc Triều Tiên và dân cư của họ, và các cuộc thương thuyết hòa bình kéo dài bắt đầu từ 10 tháng 7 năm 1951 tại Kaesong. Thậm chí trong suốt các cuộc thương thuyết hòa bình, chiến sự vẫn tiếp tục. Đối với các lực lượng Nam Triều Tiên và đồng minh, mục tiêu của họ là phải tái chiếm hoàn toàn miền Nam trước khi một thỏa ước đạt được để tránh mất bất cứ lãnh thổ nào. Trung Quốc và Bắc Triều Tiên đã cố mở các chiến dịch tương tự, và sau đó còn tiến hành các chiến dịch nhằm thử quyết tâm của Liên Hiệp Quốc có tiếp tục cuộc xung đột. Các cuộc đụng độ quân sự chính yếu trong giai đoạn này là những hành động quanh lòng chảo phía đông như Bloody Ridge và Heartbreak Ridge năm 1951, các trận đánh như Trận Old Baldy ở giữa và Trận Hook ở phía tây trong suốt năm 1952–53, Trận Đồi Eerie năm 1952, và Trận Đồi Pork Chop năm 1953. Các cuộc thương thuyết hòa bình kéo dài trong hai năm, đầu tiên là ở Kaesong và sau đó là ở Bàn Môn Điếm. Một vấn đế chính yếu trong các cuộc thương thuyết là việc trao trả tù binh chiến tranh. Phía miền Bắc đồng ý trao trả theo tự nguyện của tù binh nhưng với điều kiện là đa số tù binh sẽ trở về Trung Quốc hoặc Bắc Triều. Nhưng vì có quá nhiều tù binh từ chối được trao trả về Trung Quốc và Bắc Triều Tiên, chiến tranh tiếp tục cho đến khi phía cộng sản sau đó từ bỏ điều kiện này. Tháng 10 năm 1951, các lực lượng Mỹ tiến hành Chiến dịch Cảng Hudson với ý định thiết lập khả năng sử dụng vũ khí nguyên tử. Một số phi cơ B-29 thực hiện các phi vụ tập ném bom giả từ Okinawa đến Bắc Triều Tiên mang theo các quả bom nguyên tử "hình nộm" hoặc các loại bom thông thường hạng nặng. Chiến dịch được điều hợp từ Căn cứ Không quân Yokota tại Nhật Bản. Cuộc tập trận này có ý định thử chức năng thực sự của tất cả các hoạt động sẽ cần dùng trong một tấn công bằng vũ khí nguyên tử, bao gồm việc lắp ráp vũ khí và thử nghiệm, hướng dẫn, kiểm soát mặt đất về mục tiêu ném bom. Kết quả cho thấy bom nguyên tử không hiệu quả như là tiên đoán bởi vì việc phát hiện số đông lực lượng địch kịp thời thì quả là hiếm hoi. Vào ngày 29 tháng 11 năm 1952, tổng thống mới đắc cử là Dwight D. Eisenhower đã thực hiện lời hứa lúc tranh cử là đến Triều Tiên để tìm ra giải pháp để kết thúc cuộc xung đột. Với việc Liên Hiệp Quốc chấp thuận lời đề nghị ngừng bắn của Ấn Độ, lệnh ngừng bắn được thiết lập vào ngày 27 tháng 7 năm 1953 vào thời điểm tuyến đầu mặt trận quay trở lại quanh vĩ tuyến 38, và vì vậy một vùng phi quân sự được thiết lập quanh nó, hiện tại được quân đội Bắc Triều Tiên phòng thủ một phía và phía bên kia là quân đội Nam Triều Tiên và Mỹ. Kaesong, nơi diễn ra các cuộc đàm phán hòa bình, vốn cố đô của Triều Tiên, là phần đất của miền Nam trước khi các cuộc xung đột bùng nổ nhưng bây giờ là một thành phố đặc khu của miền Bắc. Cho đến bây giờ cũng không có một hiệp định hòa bình nào được ký kết, theo kỹ thuật, Nam và Bắc Triều Tiên vẫn đang ở trong tình trạng chiến tranh. Mặc dù Bắc Triều Tiên và Mỹ đã ký kết Hiệp định Đình chiến nhưng Lý Thừa Vãn từ chối ký kết vào văn kiện này. == Thương vong == Tổng số thương vong của tất cả mọi phía nhập lại có thể không thể nào biết được. Tại các nước phương Tây, các con số đã và đang là đề tài của vô số các cuộc nghiên cứu và tra cứu của các học giả, và trong trường hợp của một ước tính do Mỹ thực hiện, con số đã được điều chỉnh lại sau khi một lỗi đánh máy được phát hiện. Con số thương vong được tự báo cáo từ từng quốc gia phần lớn dựa vào các cuộc di chuyển quân đội, bảng phân công các đơn vị, các báo cáo thương vong lúc chiến sự, và các hồ sơ y tế. Các con số của phương Tây về thương vong của Trung Quốc và Bắc Triều Tiên chủ yếu được dựa vào những báo cáo từ mặt trận về ước tính thương vong, việc hỏi cung các tù nhân và các tài liệu tịch thu được. Ước tính của Trung Quốc về số thương vong của Liên Hiệp Quốc cho rằng "Tuyên bố chung sau chiến tranh của Quân Chí nguyện Trung Quốc và Quân đội Nhân dân Triều Tiên công bố rằng họ đã "loại trừ" 1,09 triệu quân địch, bao gồm 390.000 quân của Mỹ, 660.000 quân Nam Triều Tiên, và 29.000 quân các nước khác. Con số "loại trừ" mập mờ không nêu chi tiết có bao nhiêu người chết, bị thương và bị bắt." Nói về thương vong của chính họ, cũng là nguồn đó nói rằng "Trong suốt thời gian chiến tranh, 70 phần trăm các lực lượng của Quân đội Giải phóng Nhân dân Trung Quốc đã được khai triển đến Triều Tiên như Quân Chí nguyện Nhân dân Trung Quốc (tổng lượt lên đến 2.97 triệu) cùng với hơn 600.000 dân công. Quân Chí nguyện bị thiệt hại tổng cộng 148.000 người chết, trong đó có 114.000 tử trận, tai nạn, và chết rét, 21.000 chết sau khi được cấp cứu, 13.000 chết vì bệnh tật; và số người bị thương là 380.000 người. Cũng có 29.000 người mất tích, bao gồm 21.400 bị bắt trong đó 14.000 được đưa sang Đài Loan, 7.110 được trao trả." Cũng nguồn tương tự kết luận con số thương vong của Bắc Triều Tiên, "Quân đội Nhân dân Triều Tiên có 290.000 thương vong và 90.000 bị bắt. Có một con số tổn thất dân sự rất lớn tại miền bắc Triều Tiên nhưng không có con số chính xác nào được xác nhận." Các con số thương vong của các lực lượng Liên Hiệp Quốc được ghi trên bảng tổng kết cùng với các con số đưa ra của họ về lực lượng Trung Quốc và Bắc Triều Tiên. == Tính chất và đặc điểm == === Chiến tranh cơ giới === Khi các binh sĩ Bắc Triều Tiên tràn qua vĩ tuyến 38 vào Nam Triều Tiên, xe tăng Liên Xô T-34/T-85 gần như không có đối thủ chống lại tại các phòng tuyến của Nam Triều Tiên. Trong thời gian này, quân đội Nam Triều Tiên không có xe tăng, chỉ có một ít pháo chống tăng và bazooka. Thật sự thì gần như toàn thể binh sĩ Nam Triều Tiên không quen với xe tăng và cách chống lại chúng. Quân đội Nam Triều Tiên có súng chống tăng nhưng những súng này là loại M9 bazooka 60 mm lỗi thời từ Chiến tranh thế giới thứ hai. Những vũ khí này đã lỗi thời và không thể công phá phần bọc thép phía trước của T-34/T-85. Trước khi Hoa Kỳ đưa loại súng M20 bazooka 89 mm (3.5 inch) hạng nặng vào, quân đội Nam Triều Tiên không thể chống lại xe tăng Bắc Triều Tiên một cách hữu hiệu. Lúc bắt đầu chiến tranh, một số lực lượng Nam Triều Tiên được chia thành những toán cảm tử quân và áp sát các xe tăng T-34 để quăng chất nổ vào trong ổ đại bác hoặc dưới bụng xe tăng nơi mà vỏ bọc thép là mỏng nhất. Những chiến thuật này ít hiệu quả (phần lớn bộ binh bị hạ trước khi kịp tới gần xe) và không đủ để giúp chặn sự tiến công bằng xe tăng của Bắc Triều Tiên. Các xe tăng đầu tiên của Mỹ đến Triều Tiên và tham chiến là các xe tăng hạng nhẹ M24 Chaffee được để lại Nhật Bản cho nhiệm vụ chiếm đóng sau Chiến tranh thế giới thứ hai (các xe tăng hạng nặng có thể làm hỏng đường sá Nhật Bản). Các xe tăng hạng nhẹ này có một ít thành công rất hạn chế chống xe tăng T-34/T-85 hạng trung vượt trội hơn của các lực lượng Bắc Triều Tiên. Các chuyến vận chuyển sau đó gồm các xe tăng hạng nặng của Mỹ như M4 Sherman và M26 Pershing, xe tăng Centurion của Anh Quốc cũng như các khu trục cơ tấn công mặt đất của phe Đồng minh và Mỹ đã có thể vô hiệu hóa lợi thế về xe tăng của Bắc Triều Tiên. Tuy nhiên, khác với việc sử dụng cơ giới nhiều trong Chiến tranh thế giới thứ hai, có rất ít các trận đấu xe tăng đã xảy ra trong suốt cuộc chiến Triều Tiên. Địa hình rừng núi dày đặc của đất nước khiến cho xe tăng hoạt động không hữu hiệu, nhưng nó có thể được dùng như một loại vũ khí yểm trợ từ xa, chuyên dùng pháo để bắn vào kẻ địch phòng thủ trên một ngọn đồi hay vách đá. === Chiến tranh trên không === Chiến tranh Triều Tiên là cuộc chiến tranh chính cuối cùng mà các loại khu trục cơ cánh quạt như F-51 Mustang, F4U Corsair và loại phi cơ sử dụng trên hàng không mẫu hạm là Supermarine Seafire được sử dụng, và loại khu trục cơ tuốc bin phản lực F-80 và F9F Panther xuất hiện làm chủ bầu trời, áp đảo các phi cơ cánh quạt của Bắc Hàn như Yakovlev Yak-9 và Lavochkin La-9. Từ năm 1950, Bắc Hàn bắt đầu bay các loại phản lực cơ tiêm kích MiG-15 của Liên Xô chế tạo, một số phi cơ này được các phi công có kinh nghiệm của Không quân Liên Xô đảm nhận. Các lực lượng đồng minh Liên hiệp quốc với lý do chính đáng tham dự cuộc chiến rất lo ngại đương đầu một cuộc chiến mở rộng với Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trước tiên, các khu trục cơ Liên hiệp quốc trong đó bao gồm các phi cơ Gloster Meteor của Không quân Hoàng gia Úc có một số thành công, nhưng các phi cơ MiG với chất lượng vượt trội hơn đã giữ thế thượng phong đối với các phản lực cơ thế hệ đầu mà Liên hiệp quốc sử dụng vào đầu cuộc chiến. Tháng 12 năm 1950, Không quân Hoa Kỳ bắt đầu sử dụng phi cơ F-86 Sabre. Các phi cơ MiG có thể bay cao hơn, 50.000 ft so với 42.000 ft (12.800 mét) của phi cơ đồng minh, cho thấy lợi thế rõ ràng lúc khởi đầu của không chiến của MiG. Trong lúc bay đường trường thì tốc độ tối đa của chúng bằng nhau - khoảng 660 dặm Anh một giờ (1.060 km/giờ). Phi cơ MiG có thể vượt lên cao tốt hơn; phi cơ Sabre có thao tác bay tốt hơn và có thể chúi xuống dưới tốt hơn. Về mặt vũ khí, phi cơ MiG mang hai khẩu súng 23 mm và một đại bác 37 mm, so với phi cơ Sabre có sáu khẩu súng máy nòng cỡ 0,5 inch (12,7 mm). Các khẩu súng máy nòng cỡ 0,5 inch của Mỹ có thể bắn ra nhiều đạn hơn. Bảo trì là một vấn đề đối với phi cơ Sabre, và phần lớn phi cơ của Liên hiệp quốc đã bị giữ dưới mặt đất để sửa chữa trong suốt cuộc chiến. Thậm chí sau khi Không quân Hoa Kỳ đưa vào sử dụng phi cơ tiên tiến hơn là F-86, các phi công của Liên hiệp quốc thường vật lộn vất vả chống lại các phản lực cơ do các phi công thiện chiến của Liên Xô cầm lái. Dần dần sau đó Liên hiệp quốc giành được lợi thế về số lượng phi cơ, và sự năng nổ tấn công của họ đã cho họ một ưu thế trên không kéo dài cho đến hết chiến tranh — một nhân tố quyết định trong việc giúp Liên hiệp quốc tiến quân vào miền bắc, và sau đó chống trả cuộc xâm lăng Nam Triều Tiên của Trung Hoa. Người Trung Hoa cũng có sức mạnh của phản lực cơ, nhưng các lực lượng Hoa Kỳ đã huấn luyện các phi công của họ trội hơn. Với việc sử dụng các phi cơ F-86F vào cuối năm 1952, các phi cơ của Liên Xô và Hoa Kỳ coi như có các đặc điểm thao tác tương tự. Trong số các nhân tố khác giúp xoay chuyển cán cân về phía các phản lực cơ Liên hiệp quốc là chất lượng ống ngắm radar tốt hơn của các phản lực cơ F-86 (dẫn đến việc gắn các hệ thống cảnh báo radar lần đầu tiên trên các máy bay tiêm kích MiG), các mặt số dễ nhìn hơn trong phòng lái, hệ thống điều khiển và giữ thăng bằng lúc bay nhanh và bay cao tốt hơn, và sự đưa vào sử dụng bộ đồ bay chống gia tốc. Các phi công F-86 của Hoa Kỳ cho là họ đã bắn rơi 792 phi cơ MiG-15 và 108 phi cơ khác trong khi chỉ mất 78 phi cơ Sabres, một tỉ lệ vượt xa 10:1. Một số nghiên cứu sau chiến tranh chỉ có thể xác nhận 379 lần chiến thắng, mặc dù không quân Hoa Kỳ tiếp tục duy trì con số chính thức này và việc tranh luận không thể nào hòa giải được. Vừa qua, các tài liệu Liên Xô thời Stalin được tiết lộ cho là chỉ có 345 MiG-15 của Liên Xô bị mất trong suốt Chiến tranh Triều Tiên. Liên Xô tuyên bố họ đã 1.300 bắn hạ máy bay Liên quân và 335 MiG bị mất vào thời gian đó. Con số mất mát chính thức của Trung Hoa là 231 phi cơ bị bắn rơi trong các cuộc chiến đấu không đối không (đa số là MiG-15) và 168 mất mát khác. Con số mất mát của không quân Bắc Triều Tiên không được tiết lộ. Ước tính là họ mất khoảng 200 phi cơ trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, và thêm 70 phi cơ sau khi Trung Hoa can thiệp. Liên Xô công bố bắn hạ 650 máy bay F-86, và Trung Hoa tuyên bố là hạ thêm 211 phi cơ F-86 nữa trong không chiến - có lẽ đây là sự thổi phồng. Theo một công bố của Hoa Kỳ vừa qua, con số phi cơ F-86 từng có mặt tại Bán đảo Triều Tiên suốt cuộc chiến tổng cộng chỉ có 674 và tổng số phi cơ F-86 mất vì nhiều lý do là khoảng 230 chiếc. So sánh trực tiếp các mất mát của phi cơ Sabre và MiG dường như không hợp lý, vì các mục tiêu chính yếu của các phi cơ MiG là oanh tạc cơ hạng nặng B-29, và các mục tiêu chính yếu của các phi cơ Sabre là MiG-15. Vào đầu năm 1951, các chiến tuyến được củng cố và không thay đổi nhiều trong suốt phần còn lại của cuộc chiến. Qua mùa hè và đầu mùa thu năm 1951, các phi cơ Sabre vượt trội về số lượng (ít nhất là 44 chiếc tại một địa điểm) của Không đoàn tiêm kích đánh chặn số 4 (4th Fighter Interceptor Wing) tiếp tục tìm mục tiêu tại Hàng lang MiG gần sông Áp Lục chống lại một vùng không phận địch có đến 500 phi cơ. Jabara, Becker, và Gibson trở thành những phi công Sabre ưu tú. Theo sau thông điệp nổi tiếng của Đại tá Harrison Thyng gởi về Lầu Năm Góc, Không đoàn tiêm kích đánh chặn số 51 đến tiếp viện Không đoàn số 4 đang bị bao vây vào tháng 12 năm 1951. Trong khoảng thời gian một năm rưởi tiếp theo, cả hai không đoàn tiếp tục các trận không chiến tương tự tại vùng Hành lang MiG. === Không quân Hoa Kỳ đánh phá === Bộ tư lệnh Liên hiệp quốc có được sự thảnh thơi không bị không kích sau khi Không quân Bắc Triều Tiên bị đánh bại chẳng bao lâu sau khi cuộc chiến khởi sự. Liên hiệp quốc cũng giành được quyền chủ động gây ra các cuộc đánh phá từ trên không. Trừ những lần tập kích gây thiệt hại vào ban đêm bằng các cuộc tấn công với các máy bay lỗi thời, Bắc Triều Tiên không có nỗ lực nào tấn công vào các chiến tuyến hoặc các căn cứ phía nam của Triều Tiên. Ngược lại, lực lượng không quân của Bộ tư lệnh Liên hiệp quốc, hoạt động chính yếu dựa vào Không quân Viễn đông Hoa Kỳ và Lực lượng Đặc nhiệm 77 của Hải quân Hoa Kỳ, tăng sức ép liên tục cả ngày và đêm chống lại hạ tầng cơ sở công nghiệp của Bắc Triều Tiên và hệ thống tiếp vận cung cấp tiếp liệu cho các quân đoàn cộng sản. Một số chiến dịch kéo dài như Chiến dịch Bóp nghẹt (Operation Strangle), một nỗ lực ép phía cộng sản đưa đồ tiếp liệu bằng xe tải bằng cách cắt đứt các đường xe lửa, không đưa đến thành công, trong lúc các chiến dịch khác như các cuộc không kích vào các hệ thống thủy điện và thành phố thủ đô Bình Nhưỡng năm 1952 đạt được thành công về quân sự. Mặc dù những hình ảnh nạn nhân dân sự của vũ khí in sâu vào trí óc của thế giới tại Việt Nam, sau này người ta nhận thấy rằng con số bom napalm đáng kể hơn đã được thả xuống Bắc Hàn dù chỉ có khoảng thời gian chiến tranh ngắn hơn. Hàng chục ngàn gallon được thả xuống Triều Tiên mỗi ngày. === Mối đe dọa chiến tranh nguyên tử từ Hoa Kỳ === Ngày 5 tháng 4 năm 1950, Bộ Tổng tham mưu Liên quân Hoa Kỳ (JCS) ra các chỉ thị dội bom trả đũa vào các căn cứ quân sự của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bằng vũ khí nguyên tử nếu như bất cứ tập đoàn quân nào của Trung Hoa vượt biên giới vào Triều Tiên hoặc nếu các oanh tạc cơ của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa hay của Quân đội Nhân dân Triều Tiên mở các cuộc không kích Triều Tiên từ các căn cứ đó. Tổng thống Hoa Kỳ ra lệnh chuyển 9 quả bom hạt nhân Mark 4 "cho liên đoàn oanh tạc cơ số 9 của Không quân Hoa Kỳ, đây là đơn vị được giao phó mang loại vũ khí này... [và] ký lệnh sử dụng chúng chống lại các mục tiêu Triều Tiên và Trung Quốc". Tuy nhiên ông chưa bao giờ truyền lệnh sử dụng chúng. Tổng thống Truman không đe dọa chiến tranh hạt nhân ngay sau khi Trung Quốc can thiệp vào tháng 10 năm 1950 nhưng 45 ngày sau đó, ông có lưu ý về sự khả dĩ sử dụng vũ khí nguyên tử sau khi Quân Chí nguyện Trung Hoa đẩy lui Bộ Tư lệnh Liên Hiệp Quốc khỏi Bắc Triều Tiên. Trong cuốn The Origins of the Korean War (1981, 1990), sử gia Hoa Kỳ Bruce Cumings cho biết rằng trong một cuộc họp báo ngày 30 tháng 11 năm 1950, những lời ám chỉ tấn công Quân đội Nhân dân Triều Tiên bằng vũ khí hạt nhân của Tổng thốngt Truman "là lời đe dọa dựa trên kế hoạch bất ngờ sử dụng bom hạt nhân, chớ không phải lở lời như nhiều người lầm tưởng như vậy." Ngày 30 tháng 11 năm 1950, Bộ Tư lệnh Không quân Chiến lược của Không quân Hoa Kỳ được lệnh "gia tăng khả năng của mình, và sự gia tăng này gồm có khả năng nguyên tử." Đại sứ Ấn Độ, Kavalam Panikkar, cho biết "Truman đã thông báo rằng ông đang nghĩ đến việc sử dụng bom nguyên tử tại Triều Tiên. Nhưng người Trung Hoa dường như hoàn toàn chẳng hề lay động bởi mối đe dọa này... Họ gia tăng cường độ tuyên truyền chống sự xâm lấn của người Mỹ. Chiến dịch 'Kháng Mỹ viện Triều' trở thành khẩu hiệu thúc đẩy tăng gia sản xuất, đoàn kết quốc gia hơn, và kiểm soát chặt chẽ hơn đối với các hoạt động chống phá quốc gia. Có người còn nghĩ rằng lời đe dọa của Truman rất là hữu ích đối với các nhà lãnh đạo Cách mạng Trung Hoa, giúp cho họ giữ vững nhịp điệu hoạt động của họ." Tổng thống Truman lưu ý rằng chính phủ của ông tích cực xem xét đến việc sử dụng bom nguyên tử để kết thúc chiến tranh tại Triều Tiên nhưng ông cũng nói rằng chỉ có ông - với tư cách là Tổng thống Hoa Kỳ - mới có quyền ra lệnh sử dụng bom nguyên tử, và rằng ông đã chưa cho phép. Vấn đề chiến tranh nguyên tử là quyết định riêng của Hoa Kỳ, không phải là quyết định chung của Liên Hiệp Quốc. Ngày 4 tháng 12 năm 1950, Truman họp với Thủ tướng Anh và phát ngôn viên Khối Thịnh vượng chung Anh Clement Attlee, Thủ tướng Pháp René Pleven, và Ngoại trưởng Robert Schuman để thảo luận những mối quan tâm của họ về chiến tranh nguyên tử và việc khả dĩ mở rộng nó trên lục địa. Hoa Kỳ kiềm chế phát động cuộc chiến tranh nguyên tử không phải vì "Liên Xô và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không muốn leo thang" Chiến tranh Triều Tiên mà vì các đồng minh Liên Hiệp Quốc - đáng nói là Vương quốc Anh, Khối thịnh vượng chung Anh, và Pháp - quan tâm về sự thiếu cân bằng địa chính trị khiến cho khối NATO khó phòng vệ trong lúc Hoa Kỳ đánh nhau với Trung Quốc. Trung Quốc khi đó có thể thuyết phục Liên Xô tiến công đánh chiếm Tây Âu. Ngày 6 tháng 12 năm 1950, sau khi Trung Quốc can thiệp và đẩy lui các lục quân thuộc Bộ tư lệnh Liên Hiệp Quốc khỏi phía bắc Bắc Triều Tiên, Đại tướng J. Lawton Collins (Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ), Đại tướng MacArthur, Đô đốc C. Turner Joy, Đại tướng George E. Stratemeyer, và các sĩ quan tham mưu là Thiếu tướng Doyle Hickey, Thiếu tướng Charles A. Willoughby, và Thiếu tướng Edwin K. Wright họp tại Tokyo để thảo chiến lược đối đầu cuộc can thiệp của Trung Quốc; họ xét đến ba kịch bản tiềm năng về chiến tranh nguyên tử bao gồm những tuần và tháng kế tiếp của chiến tranh. Trong kịch bản đầu tiên: Nếu Quân chí nguyện Trung Hoa tiếp tục tấn công toàn lực, Bộ Tư lệnh Liên Hiệp Quốc bị cấm phong tỏa và không kích Trung Quốc, không có sự tiếp viện từ phe Trung Hoa Quốc gia (Quốc Dân Đảng Trung Quốc), và không có sự gia tăng lực lượng Hoa Kỳ đến tháng 4 năm 1951 (bốn sư đoàn Vệ binh Quốc gia được dự trù đến tiếp viện) thì bom nguyên tử có lẽ được dùng tại Triều Tiên. Trong kịch bản thứ hai: Nếu Quân chí nguyên Trung Hoa tiếp tục tấn công toàn lực, Bộ Tư lệnh Liên Hiệp Quốc đã phong tỏa được Trung Quốc, thực hiện việc thám thính trên không hữu hiệu và không kích bên trong lãnh thổ Trung Quốc, binh sĩ Trung Hoa Quốc gia được sử dụng triệt để, và việc không kích bằng bom nguyên tử chiến thuật được thực hiện thì các lực lượng Liên Hiệp Quốc có thể giữ vững các vị trí sâu bên trong Bắc Hàn. Trong kịch bản thứ ba: Nếu Quân chí nguyện Trung Hoa đồng ý không vượt ranh giới vĩ tuyến 38 độ thì Đại tướng MacArthur sẽ đề nghị Liên Hiệp Quốc chấp nhận một cuộc đình chiến, không cho phép Quân chí nguyện Trung Hoa và Quân đội Nhân dân Triều Tiên hiện diện ở phía nam vĩ tuyến, và yêu cầu các du kích quân của Quân chí nguyện và Quân đội Nhân dân Triều Tiên rút về phía bắc. Lục quân 8 của Hoa Kỳ sẽ ở lại để bảo vệ khu vực Seoul–Incheon trong khi đó Quân đoàn X sẽ rút về Pusan. Một ủy ban Liên Hiệp Quốc sẽ giám sát việc thực thi đình chiến. Năm 1951, Hoa Kỳ leo thang gần sát đến chiến tranh nguyên tử tại Triều Tiên. Vì Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã triển khai thêm các tập đoàn quân mới đến biên giới Trung-Triều nên các quả bom nguyên tử được lắp ráp sẵn sàng cho Chiến tranh Triều Tiên, "chỉ còn thiếu có lõi nguyên tử thiết yếu" tại Căn cứ Không quân Kadena, Okinawa. Tháng 10 năm 1951, Hoa Kỳ thực hiện Chiến dịch Hudson Harbor để thử khả năng của vũ khi hạt nhận. Các oanh tạc cơ B-29 của Không quân Hoa Kỳ thực hiện các vụ thực tập ném bom riêng lẻ xuất phát từ Okinawa đến Bắc Hàn (sử dụng các quả bom thông thường và hạt nhân giả), được điều hợp từ Căn cứ Không quân Yokota nằm ở giữa phía đông Nhật Bản. Chiến dịch Hudson Harbor đã thử nghiệm về "chức năng thật sự của tất cả các hoạt động mà một cuộc tấn công nguyên tử cần có trong đó gồm có việc lắp ráp và thử nghiệm, dẫn dắt, kiểm soát mục tiêu không kích từ mặt đất". Dữ liệu về cuộc thử nghiệm không kích cho thấy rằng về chiến thuật bom nguyên tử không có hiệu quả chống lại bộ binh địch vì "việc phát hiện đúng lúc quân số địch đông đảo thì rất hiếm có." === Tội ác chiến tranh === ==== Tội ác đối với thường dân ==== Khi phần lớn lãnh thổ của Nam Triều Tiên nằm dưới quyền kiểm soát của Bắc Triều Tiên, việc tàn sát chính trị được báo cáo là hàng chục ngàn người đã xảy ra tại các thành phố và làng mạc. Bắc Triều Tiên xử bắn một cách có hệ thống các quan chức của chính phủ Nam Triều Tiên và những ai thù địch đối phía họ, và các vụ tử hình như thế này gia tăng cường độ khi quân Bắc Triều Tiên rút lui khỏi miền Nam. Về phía mình, các lực lượng bán quân sự và cảnh sát, quân đội Nam Triều Tiên, thường có sự chứng kiến của giới quân sự Hoa Kỳ và những người không bị xét xử, đã hành quyết hàng chục ngàn tù nhân cánh tả và những người có cảm tình với Bắc Triều Tiên trong những sự kiện như vụ tàn sát tù nhân chính trị của Nhà tù Daejeon và cuộc đàn áp đẫm máu trong vụ Thảm sát Jeju. Ngay trong ngày nổ ra chiến tranh, 28/6/1950, tổng thống Lý Thừa Vãn của Nam Triều Tiên ra lệnh tử hình toàn bộ tù nhân chính trị, bao gồm cả những người bất đồng chính kiến với Lý Thừa Vãn. Họ bị gom hết vào tội danh "ủng hộ Cộng sản" (dù thực tế phần lớn số này không phải là đảng viên Cộng sản mà chỉ tỏ ra chống đối chế độ Lý Thừa Vãn). Đầu tiên là tại trại tù ở đảo Jeju cực nam Hàn Quốc, nơi các tù chính trị phạm được chia làm 4 loại là A, B, C, D, tù chính trị phạm thuộc nhóm C, D bị xử bắn lập tức theo lệnh "Hành hình toàn bộ các tù nhân thuộc nhóm C,D bằng cách xử bắn không muộn hơn ngày 6 tháng 9 (năm 1950)" của Lý Thừa Vãn. Trên quy mô toàn quốc, tất cả tù chính trị, nghi can có liên hệ với Đảng Lao động Triều Tiên trên toàn quốc, đặc biệt tại trại cải tạo Bodo League (보도연맹 사건), bị tử hình lập tức bằng mọi cách mà không có bất kì phiên tòa, phiên xét xử nào.Tù nhân bị xử bắn tập thể, hầu hết bị tống xuống hố chôn tập thể, một số bị dùng báng súng đập chết hoặc bị quăng xuống biển. Nhiều đối thủ chính trị, gia đình các tù Cộng sản, chính trị phạm bao gồm cả trẻ em cũng bị đưa vào danh sách tử hình, bản án được các binh sĩ Hàn Quốc thực thi triệt để. Gregory Henderson, một nhà ngoại giao Hoa Kỳ tại Triều Tiên vào thời điểm đó, đưa ra con số tổng cộng là 100.000 người đã bị Nam Triều Tiên hành quyết, và xác chết của những người này bị quăng vào các hố chôn tập thể. Gần đây, Ủy ban Hòa giải và Tìm sự thật của Hàn Quốc đã nhận được các báo cáo của hơn 7.800 vụ tàn sát dân sự trong 150 địa điểm khắp đất nước nơi các vụ tàn sát dân sự tập thể xảy ra trước và trong suốt cuộc chiến. Theo nhà lịch sử Kim Dong-choon, những vụ tàn sát tập thể này là "chương tàn bạo và kinh hoàng nhất cuộc chiến Triều Tiên". Ủy ban Hòa giải và Tìm hiểu sự thật ước tính ít nhất 100.000 người đã bị hành quyết. Những ước tính này dựa trên các cuộc khảo sát của các địa phương và theo ông Kim, con số thực sự có thể cao gấp hai lần và hơn thế. Trong những vụ khác, quân đội Nam Triều Tiên cũng đã cho phá hủy một số cây cầu có đông nghẹt các thường dân đang bỏ chạy khi họ không thể nào giải tỏa những cây cầu đó trước khi quân địch đến. Các lực lượng Triều Tiên của cả hai phía thường xuyên vây bắt và buộc tất cả các nam và nữ trong vùng hoạt động của họ nhập ngũ; hàng ngàn người trong số đó không bao giờ thấy trở về nhà nữa. Theo ước tính của R. J. Rummel, giáo sư tại Đại Học Hawaii, khoảng 400.000 công dân Nam Triều Tiên bị bắt quân dịch phục vụ trong Quân đội Bắc Triều Tiên. Trước khi Quân đội Hoa Kỳ tái chiếm Seoul vào tháng 9 năm 1950, theo chính phủ Nam Triều Tiên, ước tính có khoảng 83.000 công dân của thành phố này bị các lực lượng rút lui của Bắc Triều Tiên mang theo, số phận của họ đến nay vẫn không được biết rõ. Bắc Triều Tiên thì tuyên bố rằng những người Nam Triều Tiên đã đi theo phục vụ quân đội của họ một cách tự nguyện và không hề bị giam giữ Quân đội Mỹ được lệnh xem bất cứ thường dân Triều Tiên nào hiện diện tại mặt trận mà tiến về các vị trí của họ là thù địch, và được lệnh "vô hiệu hóa" họ vì sợ bị xâm nhập. Việc này đưa đến các vụ tàn sát bừa bãi hàng trăm thường dân Nam Triều Tiên bởi lực lượng Hoa Kỳ tại những nơi như No Gun Ri trong đó nhiều người tị nạn không tự vệ - đa số là phụ nữ, trẻ con và người già - bị quân đội Mỹ bắn chết và có thể đã bị Không quân Hoa Kỳ dội bom lên đầu. Gần đây, Hoa Kỳ đã thừa nhận là có chính sách ngăn chặn thường dân tại một số nơi ở mặt trận ở một số thời điểm. ==== Tội ác chống tù binh chiến tranh ==== Các tù binh chiến tranh bị cả hai phía của cuộc xung đột ngược đãi trầm trọng. Nhiều kiểm chứng lịch sử đã cho thấy có các cuộc đánh đập thường xuyên, bỏ đói, lao động cưỡng bức, hành quyết tập thể. Có những cuộc đi bộ đường xa được biết với tên gọi "đường tử thần" do Bắc Triều Tiên và Trung Hoa thực hiện chống các tù binh Liên hiệp quốc. Các lực lượng Bắc Triều Tiên đã gây ra một số cuộc xử bắn hàng loạt các binh sĩ Hoa Kỳ bị bắt tại những địa danh như Đồi 312 và đồi 303 trong Vành đai Pusan, bên trong và xung quanh Daejeon; chuyện này xảy ra đặc biệt là trong các cuộc càn quét lúc đầu. Theo bản báo cáo của Quốc hội Hoa Kỳ: "Hơn 5.000 tù binh chiến tranh Mỹ chết vì hành động phạm tội ác chiến tranh của cộng sản và hơn 1.000 người sống sót là nạn nhân của tội ác chiến tranh. (…) Khoảng chừng 2/3 tổng số tù binh chiến tranh Mỹ tại Triều Tiên chết vì tội ác chiến tranh." Bắc Triều Tiên và Trung Hoa tuyên bố là họ đã bắt được trên 70.000 binh sĩ Nam Triều Tiên tất cả, nhưng họ chỉ trao trả 8.000 trong số đó. Ngược lại, 76.000 tù binh chiến tranh Bắc Triều Tiên được Hàn Quốc trao trả. Ngoài con số khoảng 12.000 chết trong lúc bị bắt, theo Hoa Kỳ, có khoảng 50.000 tù binh chiến tranh Nam Triều Tiên có lẽ bị cưỡng bức gia nhập vào quân đội Bắc Triều Tiên. Theo Bộ Quốc phòng Hàn Quốc, có ít nhất 300 tù binh chiến tranh vẫn còn bị giam giữ tại Bắc Triều Tiên trong năm 2003. Vừa qua, một binh sĩ Nam Triều Tiên đã trốn thoát từ Miền Bắc và trở về nhà trong năm 2003, kể từ năm 1994 đã có hơn 30 tù binh Nam Triều Tiên đã trốn thoát khỏi Bắc Triều Tiên. Bình Nhưỡng tuyên bố rằng họ không còn giữ bất cứ tù binh chiến tranh nào. Phía Nam Triều Tiên cũng có những hành động tương tự khi bị cáo buộc đã thảm sát hàng trăm nghìn lính Bắc Triều Tiên và Trung Hoa, trong đó rõ ràng nhất là cuộc thảm sát 1.800 tù nhân chính trị do quân đội miền Nam Triều Tiên thực hiện tại Daejeon, trong ba ngày của tháng 7/1950. Các nhà sử học và nhân chứng sống sót khẳng định binh lính Hàn Quốc đã hành quyết nhiều thường dân khi các lực lượng của Liên Hợp Quốc rút lui trước cuộc tấn công của quân đội Bắc Triều Tiên vào giữa năm 1950. Những nạn nhân này bị tình nghi có cảm tình với Bắc Triều Tiên và có thể cộng tác với đối phương nên bị xử bắn. Một điều rất đặc biệt là binh sĩ Nam Triều Tiên lại trở thành nạn nhân bị ngược đãi của chính quân đội này. Trong tháng 12 năm 1950, Ủy ban Quốc phòng của Nam Triều Tiên được thành lập, quản lý 406.000 binh lính Nam Triều Tiên. Vào mùa đông năm 1951, 50.000 tới 90.000 binh lính Nam Triều Tiên đã bị bỏ đói đến chết trong khi hành quân về phía nam dưới sự tấn công của Trung Quốc, bởi các sĩ quan chỉ huy của Nam Triều Tiên đã tham ô ngân quỹ dành cho thực phẩm của binh sĩ. Sự kiện này được gọi là Khủng hoảng tại Ủy ban Quốc phòng. == Di sản chiến tranh == Chiến tranh Triều Tiên là một cuộc đối đầu vũ trang đầu tiên của Chiến tranh lạnh và đặt chuẩn mực cho nhiều cuộc xung đột sau này. Nó tạo ra ý tưởng cho một cuộc chiến tranh giới hạn mà hai siêu cường đánh nhau tại một quốc gia khác, khiến cho người dân tại quốc gia đó chịu nhiều sự tàn phá to lớn và chết chóc trong một cuộc chiến giữa hai quốc gia to lớn như thế. Các siêu cường tránh rơi vào một cuộc chiến tranh toàn diện với nhau, cũng như tránh việc sử dụng vũ khí nguyên tử chống lại nhau. Nó cũng mở rộng Chiến tranh lạnh đến mức độ gây lo ngại phần lớn cho châu Âu. Cuộc chiến sau cùng đã đưa đến một sự củng cố liên minh trong khối Tây phương và sự tách rời Trung Hoa cộng sản ra khỏi khối Xô Viết. Chiến tranh Triều Tiên đã gây thiệt hại nặng nề cho cả hai miền Triều Tiên. Mặc dù Nam Triều Tiên trì trệ về kinh tế trong thập niên theo sau chiến tranh, song sau đó đã có thể hiện đại hóa và công nghiệp hóa. Ngược lại, kinh tế Bắc Triều Tiên hồi phục nhanh chóng sau chiến tranh và cho đến khoảng năm 1975 đã vượt qua nền kinh tế của miền Nam. Tuy nhiên, nền kinh tế của Bắc Triều Tiên từ từ tăng trưởng chậm lại sau khi bạn hàng truyền thống là Liên Xô và các nước Đông Âu bị sụp đổ. Ngày nay, nền kinh tế Bắc Triều Tiên bị tụt lại khi so sánh với nền kinh tế của Hàn Quốc. Năm 2007, Sách Dữ liệu Thế giới của CIA ước tính rằng Tổng sản lượng nội địa của Bắc Triều Tiên là 40 tỉ đô la Mỹ, thu nhập bình quân đầu người một năm của Bắc Triều Tiên là 1.800 đôla Mỹ. Nếu tính theo sức mua tương đương thì thu nhập của người dân Bắc Triều Tiên có thể cao hơn (đạt khoảng 6.000 - 8.000 USD/người), nhưng vẫn kém hơn đáng kể so với thu nhập bình quân đầu người/năm của Nam Triều Tiên là 24.500 đô la Mỹ. Tại Nam Triều Tiên, các chính quyền độc tài quân sự liên tiếp nắm quyền từ sau năm 1950 đến cuối thập niên 1980 với lập trường chống chủ nghĩa Cộng sản rất mạnh (quân đội Nam Triều Tiên từng được cử sang tham chiến cùng Mỹ trong cuộc chiến ở Việt Nam). Ngày 18/5/1980 đã xảy ra vụ nổi dậy Quang Châu (Gwangju) khi người dân địa phương đánh cướp kho vũ khí của các trạm cảnh sát địa phương để chống lại cảnh sát chính phủ của Chun Doo-hwan sau khi lực lượng này đàn áp một cuộc biểu tình ôn hòa của sinh viên địa phương. Quân đội Nam Triều Tiên được điều đến và nổ súng bắn chết khoảng 1.000 tới 2.000 thường dân Tuy nhiên, cuộc nổi dậy để lại dấu ấn to lớn cho sự ra đời của chính phủ dân sự vào thập niên 1990 với đường lối đối ngoại mềm mỏng hơn rất nhiều. Một vùng phi quân sự được canh phòng dày đặc (DMZ) trên Vĩ tuyến 38 tiếp tục chia cắt bán đảo ngày nay. Thái độ chống cộng và chống Bắc Triều Tiên tuy không còn mạnh như trước nhưng vẫn còn hiện hữu tại Hàn Quốc ngày nay, và đa số người Hàn Quốc phản đối chính quyền Miền Bắc. Tuy nhiên, một "Chính sách Thái Dương" đã được đảng cầm quyền (Đảng Uri) thực hiện. Đảng Uri và Tổng thống Roh thường bất đồng với Hoa Kỳ trong các cuộc thảo luận về Bắc Triều Tiên. Đảng Đại Dân tộc (GNP) là đảng đối lập chính đối với Đảng Uri cho đến ngày nay vẫn duy trì chính sách chống chính quyền Miền Bắc. Tại Hàn Quốc, luật an ninh chống lại Triều Tiên vẫn có hiệu lực, theo đó những ai tỏ thái độ ủng hộ hoặc ca ngợi Triều Tiên có thể bị phạt tới 7 năm tù giam. Cuộc chiến cũng có ảnh hưởng đến các quốc gia khác. Việc tham chiến của Thổ Nhĩ Kỳ đã giúp họ trở thành một thành viên của NATO. Tại Hoa Kỳ, Chiến tranh Triều Tiên đã không nhận được sự chú ý của nhiều người như Chiến tranh thế giới thứ hai hoặc Chiến tranh Việt Nam, vì vậy nó đôi khi được gọi là Cuộc chiến bị lãng quên (The Forgotten War). Theo tường trình của NPR (Truyền thanh Công cộng Quốc gia) ngày 7 tháng 9 năm 2007, Tổng thống Bush đã phát biểu rằng lập trường của chính phủ ông là một hiệp ước hòa bình chính thức với Bắc Triều Tiên chỉ có thể được ký kết khi nào mà miền bắc từ bỏ các chương trình hạt nhân của họ. Theo Tổng thống Bush, "Chúng ta trông đợi đến ngày khi chúng ta có thể chấm dứt Chiến tranh Triều Tiên. Nó sẽ kết thúc - sẽ xảy ra khi ông Kim dẹp bỏ có kiểm chứng các vũ khí và chương trình vũ khí của ông ta." Có một số người đã mô tả điểm này như một sự đảo ngược chính sách thay đổi chế độ, ám chỉ đến Bắc Triều Tiên đã được phát biểu trước đây của ông Bush. Ngày 27 tháng 5 năm 2009, Bắc Triều Tiên tuyên bố không tuân thủ hiệp định đình chiến (chấm dứt Chiến tranh liên Triều 1950-53) và cảnh báo khả năng đáp trả quân sự, khi mà trước đó ít ngày, Hàn Quốc tuyên bố tham gia Sáng kiến Phòng ngừa Phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt (PSI) do Mỹ khởi xướng. Sự kiện này làm dấy lên lo ngại trong dư luận thế giới rằng có thể xảy ra Chiến tranh Triều Tiên lần 2, đặc biệt là khi Triều Tiên đã thử thành công vũ khí hạt nhân ngày 25 tháng 5, 2009. == Giao tranh sau 1953 == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trung tâm Nghiên cứu Chiến tranh Triều Tiên Tài liệu Chiến tranh Triều Tiên Đài tưởng niệm Trẻ em Chiến tranh Triều Tiên Cao đẳng Calvin, Ảnh hưởng của chiến tranh lên nhân dân Triều Tiên Facts and texts on the War BBC: Tiến hành Quân sự của Mỹ trong Chiến tranh Triều Tiên Chiến tranh hàn quốc triều tiên Tộc ác chống người Mỹ trong Chiến tranh Triều Tiên Tội ác do người Mỹ gây ra trong Chiến tranh Triều Tiên Một loạt 27 bản đồ diễn tả động thái của mặt trận Minh hoạ các chiến dịch năm 1950 Minh hoạ các chiến dịch năm 1951 Phim về tù binh chiến tranh, nhồi sọ và Chiến tranh Triều Tiên Tài liệu lưu trữ điện tử của Đài truyền hình CBC- Những anh hùng bị lãng quên: Canada và Chiến tranh Triều Tiên Trung Hoa kỷ niệm 50 năm Đài Tưởng niệm Chiến tranh Triều Tiên
tóc.txt
== Cấu trúc == Tóc là cấu trúc sừng hình sợi dài, dẫn xuất của biểu bì da, bao phủ da đầu của người. Tóc có thành phần chủ yếu là chất sừng, giàu biotin, kẽm, lưu huỳnh và nitơ. Màu và dạng của tóc chính là một dấu hiệu nhân chủng học quan trọng. Tóc có thể mang màu đen, nâu, vàng, hung, bạch kim, đỏ... có thể thẳng, xoăn, uốn sóng... == Màu sắc tóc == Màu sắc tóc do sắc tố có trong tóc quyết định và mang tính chất di truyền. Với thời gian, lượng sắc tố đó sẽ giảm đi và phân số các hát sắc tố cũng có sự biến đổi. Đây chính là lý do tóc bị bạc. Cũng có trường hợp tóc bị mất sắc số, như những người bị bệnh bạch tạng. Tóc mọc dài do các tế bào nang tóc sinh sản thường xuyên. Những sợi tóc chỉ tồn tại một thời gian rồi rụng, với nam giới trung bình 2 năm, ở nữ giới lâu hơn, khoảng 4 đến 5 năm. Ở mỗi người, trung bình khoảng 50 đến 100 sợi tóc rụng mỗi ngày. == Vòng đời của tóc == Có ba giai đoạn chính: Giai đoạn tăng trưởng (anagen): tóc được hình thành và nhú ra khỏi đầu thoát của tuyến dầu quanh nang tóc. Thân tóc xuất hiện và hoàn thiện quá trình sừng hóa phía ngoài. Giai đoạn tăng trưởng kéo dài 2-4 năm ở đàn ông và 3-7 năm ở phụ nữ. Tóc mọc 0,3-0,4mm một ngày và tối đa là 1 cm trong một tháng. Giai đoạn dừng tăng trưởng (catagen): trong suốt giai đoạn này, tóc trải qua hàng loạt những thay đổi. Tất cả mọi hoạt động tăng trưởng trong tế bào bầu tóc ngừng lại và co về phía trước. Sự tổng hợp melanin cũng dừng lại. Phần sâu nhất của nang tóc sẽ thoái hóa trong từ 2 đến 3 tuần. Giai đoạn thoái hóa (telogen): kéo dài 2-4 tháng. Nang tóc giờ đây chỉ còn là một bộ phận không hoạt động. Bộ phận sinh trưởng nằm sâu dưới lớp da,chân tóc tách khỏi nang bây giờ đã co lại, bắt đầu rụng đi và nhường chỗ cho giai đoạn tăng trưởng của sợi tóc mới, vòng đời mới của tóc bắt đầu. == Chất dinh dưỡng cần cho tóc == , Biotin: được biết tới như vitamin H – rất quan trọng đối với việc phát triển tóc mới, tạo chân tóc khoẻ mạnh và hỗ trợ quá trình tạo tế bào tóc nhanh. Vitamin B: bao gồm vitamin B1, B2, B3, B5, B6, B12. B3 và B6 giúp giảm rụng tóc, B5 tăng độ ẩm của tóc, giúp tóc mềm mại. Vitamin B còn có khả năng giúp cơ thể giảm bớt tác hại của stress lên tóc Silica: hay silcon là chất dinh dưỡng cần cho cơ thể, đặc biệt là tóc và móng. Có thể bổ sung silica từ các loại đậu, rau quả Sắt Kẽm: giúp tóc mọc dày, sợi tóc khỏe, giúp các tế bào ở nang tóc nhận biết sự có mặt của các hormone kích thích tóc tăng trưởng Vitamin E Vitamin D == Bệnh thường gặp ở tóc == === 1. Rụng tóc === Việc rụng tóc xảy ra trong giai đoạn này có thể diễn ra liên tục hay kèm theo việc nhường chỗ cho một sợi tóc mới phát triển phía dưới. Ngay cả một lực kéo rất nhẹ có thể nhổ tóc được mà không hề gây đau đớn, hoàn toàn ngược lại với tóc khi đang ở trong giai đoạn tăng trưởng. Thông thường mỗi người có khoảng 100.000 sợi tóc trên da đầu của mình và tốc độ rụng tóc tương đồng với tốc độ mọc tóc nên số lượng tóc trên đầu gần như duy trì nguyên vẹn. ==== Nguyên nhân rụng tóc ==== Có nhiều nguyên nhân gây rụng tóc Stress: khiến hoạt động của [hệ thần kinh] và hệ miễn dịch bị rối loạn dẫn đến hàng loạt thay đổi trong cơ thể. Một trong những tác động đáng lo ngại của stress là gây rụng tóc. Rối loạn chức năng hệ miễn dịch Thiếu dưỡng chất cho tóc Ngộ độc Dùng nhiều loại thuốc có khả năng gây rụng tóc Hóa trị Xạ trị Sinh con: sự mất cân bằng hormone trong giai đoạn mang thai và nuôi con khiến vòng đời của tóc bị ảnh hưởng lớn. Giai đoạn angen bi rút ngắn và bị đẩy nhanh vào giai đoạn telogen, khiến tóc rụng. Sử dụng quá nhiều mỹ phẩm dành cho tóc Thường xuyên uốn, duỗi, nhuộm, sây == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Tóc tại Từ điển bách khoa Việt Nam How to measure the diameter of your own hair using a laser pointer Instant insight
bảng tuần hoàn.txt
Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học, hay bảng tuần hoàn Mendeleev, hay ngắn gọn bảng tuần hoàn, là một phương pháp liệt kê các nguyên tố hóa học thành bảng, dựa trên số hiệu nguyên tử (số proton trong hạt nhân), cấu hình electron và các tính chất hóa học tuần hoàn của chúng. Các nguyên tố được biểu diễn theo trật tự số hiệu nguyên tử tăng dần, thường liệt kê cùng với ký hiệu hóa học trong mỗi ô. Dạng tiêu chuẩn của bảng gồm các nguyên tố được sắp xếp thành 18 cột và 7 dòng, với hai dòng kép nằm riêng nằm bên dưới cùng. Các hàng trong bảng gọi là các chu kỳ, trong khi các cột gọi là các nhóm, một số có tên riêng như halogen hoặc khí hiếm. Bởi vì theo định nghĩa một bảng tuần hoàn thể hiện những xu hướng tuần hoàn, bất kỳ bảng dưới dạng nào cũng có thể dùng để suy ra mối quan hệ giữa các tính chất của nguyên tố và tiên đoán tính chất của những nguyên tố mới, chưa được khám phá hoặc chưa tổng hợp được. Do đó, một bảng tuần hoàn-dù ở dạng tiêu chuẩn hay các biến thể-cung cấp khuôn khổ hữu ích cho việc phân tích thuộc tính hóa học, và các bảng như vậy được sử dụng rộng rãi trong hóa học và các khoa học khác. Mặc dù có những người tiên phong trước đó, Dmitri Ivanovich Mendeleev thường được xem là người công bố bảng tuần hoàn phổ biến đầu tiên vào năm 1869. Ông đã phát triển bảng tuần hoàn của mình để minh họa các xu hướng tuần hoàn trong thuộc tính các nguyên tố đã biết khi đó. Mendeleev cũng tiên đoán một số thuộc tính của các nguyên tố chưa biết mà ông hi vọng sẽ lấp vào những chỗ trống trong bảng này. Hầu hết những tiên đoán của ông tỏ ra chính xác khi các nguyên tố đó lần lượt được phát hiện. Bảng tuần hoàn của Mendeleev từ đó đã được mở rộng và hiệu chỉnh với sự khám giá hoặc tổng hợp thêm những nguyên tố mới và sự phát triển của các mô hình lý thuyết để giải thích thuộc tính hóa học. Tất cả các nguyên tố có số nguyên tử từ 1 (hiđrô) đến 118 (Oganesson) đã được phát hiện hoặc ghi nhận tổng hợp được, trong khi các nguyên tố 113, 115, 117 và 118 vẫn chưa được thừa nhận rộng rãi. 98 nguyên tố đầu tồn tại trong tự nhiên mặc dù một số chỉ tìm thấy sau khi đã tổng hợp được trong phòng thí nghiệm và tồn tại với lượng cực nhỏ. Các nguyên tố có số hiệu nguyên tử từ 99 đến 118 chỉ được tổng hợp ra, hoặc được tuyên bố là đã tổng hợp được trong phòng thí nghiệm. Người ta hiện vẫn đang theo đuổi việc tạo ra các nguyên tố có các số hiệu nguyên tử lớn hơn, cũng như tranh cãi về câu hỏi rằng bảng tuần hoàn có thể cần phải hiệu chỉnh ra sao để tương thích với những nguyên tố mới sẽ thêm vào. == Bố cục == Chú thích: Đây là bố cục bảng tuần hoàn 8 cột phổ biến nhất, được gọi là dạng thông thường hoặc dạng tiêu chuẩn, hoặc có khi gọi là dạng bảng dài để so với dạng bảng ngắn hay bảng kiểu Mendeleev, thường các nhóm từ 3 tới 12 bằng cách gộp vào nhóm chính. Bảng tuần hoàn rộng khác ở chỗ chứa luôn cả họ lantan và họ actini, thay vì tách chúng khỏi phần thân chính của bảng. Bảng tuần hoàn mở rộng thì thêm các chu kì 8 và 9 chứa các nguyên tố xa hơn nhóm actini. Tất cả các phiên bản của bảng tuần hoàn chỉ bao gồm các nguyên tố hóa học, không bao gồm hỗn hợp, hợp chất hay các hạt hạ nguyên tử. Mỗi nguyên tố hóa học có một số hiệu nguyên tử đặc trưng đại diện cho số proton có trong hạt nhân của nó. Hầu hết các nguyên tố có thể có số nơtron khác nhau giữa các nguyên tử, các biến thể này gọi là các đồng vị của nguyên tố đó. Chẳng hạn, cacbon có 3 đồng vị tồn tại trong tự nhiên: hầu hết cacbon tự nhiên có 6 proton và 6 nơtron, nhưng cỡ khoảng 1% có 8 nơtron và một lượng rất nhỏ có 7 nơtron. Đồng vị không tách rời mà gộp lại trong một ô của bảng tuần hoàn như một nguyên tố duy nhất với khối lượng trung bình theo hàm lượng. Những nguyên tố không có đồng vị bền nào có khối lượng nguyên tử bằng của đồng vị bền nhất và được đặt trong dấu ngoặc đơn. Trong bảng tuần hoàn tiêu chuẩn, các nguyên tố được liệt kê theo thứ tự số hiệu nguyên tử tăng dần. Một hàng mới (tức một chu kỳ) bắt đầu khi một lớp electron mới thêm vào. Các cột (tức nhóm) được xác định bởi cấu hình electron của nguyên tử; những nguyên tố có cùng số electron trong một phân lớp cụ thể rơi vào cùng cột (chẳng hạn oxi và selen nằm cùng cột bởi vì chúng đều có 4 electron ở phân lớp p ngoài cùng). Các nguyên tố với tính chất hóa học tương tự nhau thường nằm trong cùng nhóm, mặc dù ở khối f và ít nhiều ở khối d, các nguyên tố cùng chu kì cũng thường có tính chất tương tự nhau. Do đó, người ta có thể tiên đoán tương đối dễ dàng tính chất hóa học của một nguyên tố nếu biết tính chất của các nguyên tố xung quanh nó. Tính tới tháng 12 năm 2016, bảng tuần hoàn có 118 nguyên tố đã được xác nhận, bao gồm các nguyên tố từ 1 (hiđrô) tới 118 (oganesson) trong đó các nguyên tố 113, 115, 117 và 118 đã được tổng hợp trong phòng thí nghiệm và những tuyên bố tổng hợp thành công chúng đã được IUPAC chính thức công nhận lần lượt là nihoni (Nh), moscovi (Mc), tennessine (Ts), và oganesson (Og). Tổng cộng 98 nguyên tố xuất hiện trong tự nhiên; 20 nguyên tố còn lại, từ ensteini tới copernici, và flerovi cùng livermori, chỉ xuất hiện trong phép tổng hợp nhân tạo. Trong số 98 nguyên tố đó, 84 là nguyên tố nguyên thủy, nghĩa là xuất hiện trước khi Trái Đất hình thành. 14 nguyên tố còn lại chỉ xuất hiện trong các chuỗi phân rã của các nguyên tố nguyên thủy. Không có nguyên tố nào nặng hơn einsteini (số hiệu 99) từng quan sát thấy với lượng vĩ mô ở dạng tinh khiết. == Phương pháp sắp xếp == === Nhóm === Một nhóm, còn gọi là một họ, là một cột đứng trong bảng tuần hoàn. Các nhóm thường thể nhiều xu hướng tuần hoàn quan trọng hơn là các chu kỳ và các khối. Các thuyết về cấu trúc nguyên tử trong cơ học lượng tử hiện đại giải thích rằng các nguyên tố trong cùng một nhóm có cấu hình electron như nhau trong lớp hóa trị của chúng, và do đó các nguyên tố trong cùng một nhóm có tính chất hóa học giống nhau và thể hiện một xu hướng rõ ràng trong các tính chất với số hiệu nguyên tử tăng dần. Tuy nhiên, trong một vài phần của bảng tuần hoàn, như các khối d và f, tính tương đồng theo chiều ngang có thể quan trọng không kém, hoặc thậm chí quan trọng hơn, tính tương đồng theo chiều dọc. Theo quy ước đặt tên quốc tế, các nhóm đánh số từ 1 đến 18 từ cột đầu tiên bên trái (kim loại kiềm) đến cột cuối cùng bên phải (khí hiếm). Trước đây, chúng được đánh thứ tự theo số La Mã. Ở Hoa Kỳ (và một số nước khác) trước kia, người ta phân các nhóm vào loại "A" nếu nhóm đó chỉ chứa lớp s hoặc p, hoặc "B" nếu nhóm đó chứa lớp d. Số La Mã bằng hàng đơn vị của thứ tự cột từ trái sang phải (chẳng hạn, cột thứ 4 là nhóm IVB, và cột thứ 14 là IVA). Các nhóm thứ 8, 9, 10 được xếp chung thành một nhóm lớn là VIIIB. Tiêu chuẩn cũ của IUPAC từng lưu hành ở châu Âu cũng tương tự, trừ chữ "A" được dùng nếu nhóm nằm trước 10 và "B" được dùng cho nhóm 10 trở về sau; ngoài ra nhóm VIIIB ở đây gọi là nhóm VIII còn nhóm VIIIA là nhóm 0. Năm 1988, hệ thống đặt tên IUPAC mới có hiệu lực, và các tên gọi nhóm cũ theo chữ số La Mã đã bị loại bỏ, nhưng vẫn tồn tại ở một số nước như Việt Nam. Tham khảo các cách gọi tên nhóm cũ và mới ở bảng phía dưới. Một số nhóm này có tên thông thường, chẳng hạn nhóm 2 được gọi là nhóm kim loại kiềm thổ. Nhóm 3–10 không có tên chung của 3 nhóm và được xem là đơn giản bởi các nhóm của chúng hoặc bởi tên gọi của nhóm đầu tiên trong nhóm của chúng (như 'nhóm scandi' cho nhóm 3), vì chúng thể hiện các xu hướng ít tương đồng hơn theo phương đứng. Các nguyên tố cùng nhóm có khuynh hướng thể hiện các dáng điệu tương tự về bán kính nguyên tử, năng lượng ion hóa, và độ âm điện. Từ trên xuống trong cùng một nhóm, bán kính nguyên tử tăng dần. Do có nhiều mức năng lượng được lấp đầy hơn, các electron hóa trị xuất hiện ở xa hạt nhân hơn. Từ trên xuống, các nguyên tố sau có mức năng lượng ion hóa thấp hơn, tức là dễ tách electron ra khỏi nguyên tử bởi liên kết lỏng lẻo đi. Tương tự, trong một nhóm từ trên cuống sẽ giảm độ âm điện do khoảng cách giữa các electron hóa trị và hạt nhân tăng dần. Tuy nhiên các xu hướng này cũng có ngoại lệ, ví dụ trong nhóm 11 thì độ âm điện tăng từ trên xuống. === Chu kỳ === Một chu kỳ là một hàng ngang trong bảng tuần hoàn. Mặc dù nhóm thông thường có các xu hướng quan trọng hơn, có những vùng trong bảng mà xu hướng theo chiều ngang quan trọng hơn chiều dọc, như ở khối f, với các họ Lantan và họ Actini tạo nên hai chuỗi hàng ngang quan trọng. Trong một chu kì từ trái sang phải, bán kính nguyên tử giảm dần do mỗi nguyên tố thêm vào proton khiến cho electron lớp ngoài bị kéo lại gần hạt nhân hơn. Bán kính nguyên tử giảm làm năng lượng ion hóa và độ âm điện tăng dần Ái lực electron cũng ít nhiều có một xu hướng, với kim loại (phía trái) thường có ái lực electron thấp hơn phi kim (phía bên phải) với ngoại lệ là các khí hiếm. === Khối === Các vùng khác nhau trên bảng tuần hoàn đôi khi được xem là "khối" (tiếng Anh: "block") theo cách mà các vỏ electron của các nguyên tố được lấp đầy. Mỗi lớp được đặt tên theo sự sắp xếp các electron cuối cùng trong vỏ. Khối s gồm hai nhóm đầu tiên (kim loại kiềm và kiềm thổ) cũng như hydro và heli. Khối p gồm 6 nhóm cuối từ số 13 đến 18 theo IUPAC (3A đến 8A theo bảng hiện hành ở Việt Nam), trong đó có tất cả các á kim và một số kim loại cùng phi kim. Khối d gồm các nhóm thứ 3 đến 12 theo IUPAC (tức 3B đến 2B) và chứa tất cả kim loại chuyển tiếp. Khối f, thường xếp riêng bên dưới bản tuần hoàn, gồm những nguyên tố kim loại thuộc các họ lantan và actini. === Phân loại và các quy ước khác === Tùy theo tính chất, các nguyên tố trong bảng tuần hoàn có thể chia làm các loại chính là kim loại, phi kim và á kim. Kim loại thường nằm bên trái và phía dưới bảng tuần hoàn. Đặc trưng của chúng là chất rắn, có ánh kim, dẫn điện và nhiệt tốt, có thể tạo thành hợp kim với nhau và hợp chất với phi kim. Phi kim nằm ở bên phải và phía trên. Chúng thường là các khí có màu hoặc không màu, cách điện và nhiệt, hình thành hợp chất hóa trị với nhau. Ở giữa kim loại và phi kim là á kim, có tính chất trung gian hoặc kết hợp giữa hai loại trên. Kim loại và phi kim có thể chia làm các tiểu loại thể hiện nguyên tố giảm tính kim loại và tăng tính phi kim từ trái sang phải. Kim loại chia làm kim loại kiềm hoạt động mạnh, kim loại kiềm thổ ít hoạt động hơn, rồi đến các họ lantan và actini, rồi tới các kim loại chuyển tiếp nguyên hình, và kết thúc ở các kim loại yếu hơn về hóa học lẫn vật lý. Các phi kim đơn giản chia làm phi kim đa nguyên tử, nằm gần á kim nhất, thể hiện chút ít đặc tính kim loại, các phi kim hai nguyên tử, thể hiện tính phi kim rõ ràng, và cuối cùng là các phi kim đơn nguyên tử tức khí hiếm, gần như hoàn toàn trơ và phi kim. Các loại đặc biệt như kim loại chịu nhiệt và các kim loại hiếm đều thuộc vào kim loại chuyển tiếp và đôi khi cũng được thể hiện trong bảng tuần hoàn. Việc phân loại như thế này tồn tại từ rất lâu, ít nhất là từ năm 1869 khi Hinrichs khẳng định rằng có thể vạch những đường đơn giản trên bảng tuần hoàn để chia ra thành kim loại, phi kim hay nguyên tố khí. Thực tế cách phân loại này không hoàn hảo vì có rất nhiều chồng lấn về tính chất ở gần biên của các loại trên bảng tuần hoàn, và có những nguyên tố, như beri, khó mà phân vào một loại nào. Trong cách biểu diễn bảng tuần hoàn, họ lantan và họ actini thường thể hiện thành hai hàng dưới thân chính của bảng tuần hoàn, với các vị trí giữa bari và hafni, giữa radi và rutherfordi được đánh dấu bằng ký hiệu hoặc bằng một nguyên tố đại diện (lantan và actini hoặc luteti và lawrenci) Quy ước này thuần túy là một vấn đề thẩm mỹ và tính tiện lợi; một dạng bảng rộng hiếm gặp chèn các họ nguyên tố này vào vị trí chính xác của chúng, tức là một phần của các hàng (chu kỳ) 6 và 7. Một quy ước khác cũng hay gặp là một đường chia giữa kim loại và phi kim, tuy đường này cũng có những biến thể khác nhau và không nằm trong bảng tuần hoàn chính thức của IUPAC. == Xu hướng tuần hoàn == === Cấu hình electron === Cấu hình electron, tức cách phân bố electron quay quay xung quanh các nguyên tử trung hòa, thể hiện một dáng điệu tuần hoàn. Electron chiếm một chuỗi các lớp vỏ electron (đánh dấu bằng các chữ cái in hoa từ K,L,M,N,... ứng với số lượng tử chính n=1,2,3,4,...). Mỗi lớp lại chứa một hoặc nhiều phân lớp (gọi là s,p,d,f và g, ứng với số lượng tử phụ m=0,1,2,3,4). Khi số hiệu nguyên tử tăng, số electron sẽ lần lượt lấp đầy các lớp và phân lớp này theo quy tắc Klechkowski hay quy tắc thứ tự năng lượng thể hiện ở giản đồ hình bên. Trong bảng tuần hoàn, mỗi khi electron bắt đầu chiếm một lớp mới tương ứng với một chu kỳ mới bắt đầu bởi một kim loại kiềm. Vì tính chất cả một nguyên tố chủ yếu phụ thuộc vào cấu hình electron của nó, cho nên những tính chất này cũng thể hiện dáng điệu tuần hoàn. Chính tuần hoàn này đã dẫn tới sự hình thành định luật tuần hoàn (tính chất của các nguyên tố lặp lại với những khoảng đều nhau) và những bảng tuần hoàn đầu tiên, mặc dù biểu hiện của nó chỉ nhận được sự chú ý khi mô hình Bohr về cấu trúc nguyên tử ra đời. === Bán kính nguyên tử === Bán kính nguyên tử thay đổi theo cách có thể dự đoán và giải thích được trong toàn bảng tuần hoàn. Ví dụ, bán kính nguyên tử thường giảm dọc theo mỗi chu kỳ của bảng tuần hoàn, từ các kim loại kiềm đến các khí hiếm; và tăng theo chiều từ trên xuống trong mỗi nhóm. Bán kính tăng mạnh giữa khí hiếm ở cuối mỗi chu kỳ và kim loại kiềm ở đầu chu kỳ tiếp theo. Các xu hướng này của bán kính nguyên tử (cũng như nhiều tính chất vật lý và hóa học khác của các nguyên tố) có thể giải thích bằng lý thuyết về lớp vỏ electron của nguyên tử; chúng cung cấp bằng chứng quan trọng cho sự phát triển và xác nhận của cơ học lượng tử. Các electron trong phân lớp 4f, được lấp đầy dần dần từ xeri (Z = 58) đến ytterbi (Z = 70) tỏ ra không hiệu quả trong việc che chắn điện tích hạt nhân tăng lên từ các phân lớp ra ngoài. Kết quả là các nguyên tố ngay sau nhóm lantan có bán kính nguyên tử nhỏ hơn như dự đoán và hầu như bằng đúng bán kính nguyên tử các nguyên tố nằm ngay phía trên chúng. Hiện tượng này được gọi là sự co ở họ lantan, mổi bật từ đầu họ này tới platin (Z = 78), từ sau đó bị che khuất bởi một hiệu ứng tương đối tính gọi là "hiệu ứng cặp trơ" Một hiệu ứng có nguồn gốc và biểu hiện tương tự, sự co khối d, xảy ra giữa khối d và khối p và khó nhận thấy hơn so với sự co ở họ lantan. === Năng lượng ion hóa === Mức năng lượng ion hóa thứ nhất (IE1 hay I1) là năng lượng cần thiết để tách một electron ra khỏi nguyên tử, và các mức năng lượng thứ 2, thứ 3,.. định nghĩa tương tự. Đối với một nguyên tử cho trước, các mức năng lượng ion hóa tiếp theo tăng theo mức độ ion hóa. Các electron ở các orbital càng gần thì chịu lực hút tĩnh điện càng lớn; do đó lượng năng lượng cần thiết để tách electron tăng càng nhiều. Năng lượng ion hóa tăng về phía trên bên phải của bảng tuần hoàn. Các bước nhảy lớn trong năng lượng ion hóa phân tử liên tiếp xuất hiện khi tách một electron khỏi cấu hình khí hiếm (lớp vỏ bão hòa). Chẳng hạn, năng lượng ion hóa thứ nhất và thứ hai của magiê lần lượt là 738 kJ/mol và 1450 kJ/mol, nhưng năng lượng ion hóa thứ ba, từ Mg2+ (có cấu hình khí hiếm 1s22s22p2) xuống Mg3+(1s22s22p1) đạt tới 7730 kJ/mol. === Độ âm điện === Độ âm điện là khuynh hướng một nguyên tử hút các electron. Độ âm điện của nguyên tử chịu ảnh hưởng của cả số hiệu nguyên tử và khoảng cách giữa các electron hóa trị và các hạt nhân. Độ âm điện càng cao thì khả năng hút electron càng mạnh. Khái niệm này được Linus Pauling đề xuất đầu tiên năm 1932 và thang Pauling vẫn là cơ sở tham chiếu rộng rãi cho độ âm điện tới ngày nay, tuy cũng tồn tại các phương pháp khác. Nhìn chung, độ âm điện tăng từ trái qua phải trong một chu kỳ, và giảm từ trên xuống trong một nhóm. Do đó flo có độ âm điện lớn nhất trong các nguyên tố,trong khi Xêsi có độ âm điện thấp nhất, chí ít là theo các nguồn dữ liệu chủ chốt đã có. Có những ngoại lệ về nguyên tắc chung này. Galli và germani có độ âm điện cao hơn nhôm và silic theo thứ tự do sự co khối d. Những nguyên tố của chu kỳ 4 nằm ngay sau dòng đầu tiên của các kim loại chuyển tiếp có bán kính nguyên tử nhỏ bất thường do các electron 3d không che chắn hiệu quả điện tích hạt nhân gia tăng, và kích thước nguyên tử nhỏ hơn tương ứng độ âm điện lớn hơn. Độ âm điện cao bất thường của chì, nhất là khi so sánh với thalli và bismuth, dường như là một hệ quả của sự chọn lọc dữ liệu công bố (cũng như sự thiếu thốn dữ liệu)-các phương pháp tính toán khác phương pháp Pauling đều thể hiện xu hướng tuần hoàn bình thường của các nguyên tố này. === Ái lực electron === Ái lực electron của một nguyên tử là lượng năng lượng giải phóng ra khi electron thêm vào nguyên tử trung hòa để tạo thành ion âm. Mặc dù ái lực electron thay đổi với những khoảng rất lớn, người ta vẫn quan sát thấy có những dáng điệu nhất định. Nhìn chung, phi kim có giá trị ái lực electron dương nhiều hơn kim loại, với clo có giá trị ái lực electron cao hơn cả. Ái lực electron của khí hiếm chưa đo đạc được một cách thuyết phục, cho nên chúng có hoặc không có các giá trị âm nhỏ. Ái lực electron tăng theo chu kỳ. Điều này là do sự lấp đầy lớp vỏ hóa trị của nguyên tử; một nguyên tử nhóm 17 giải phóng nhiều năng lượng hơn nguyên tử nhóm 1 nhận một electron vì nó đạt đến lớp vỏ hóa trị bão hóa và do đó bền hơn. Với cách giải thích tương tự, ta có thể trông đợi quan sát thấy xu hướng giảm ái lực electron từ trên xuống trong một nhóm. Electron thêm vào sẽ rơi vào orbital nằm xa hạt nhân hơn. Do vậy electron này sẽ ít bị hút vào hạt nhân hơn và có thể giải phóng ít năng lượng hơn khi được thêm vào. Tuy nhiên, theo chiều từ trên xuống, khoảng 1/3 các nguyên tố là bất thường, với các nguyên tố nặng hơn có ái lực electron cao hơn so với nguyên tố cùng nhóm mà nhẹ hơn. Phần lớn điều này là do sự che chắn kém bởi các electron lớp d và f. Việc giảm đều đặn ái lực electron chỉ đúng với các nguyên tử nhóm 1. === Tính kim loại === Năng lượng ion hóa, độ âm điện và ái lực electron càng thấp thì tính kim loại càng mạnh và ngược lại, tính phi kim tăng thì các giá trị trên càng lớn. Theo đó, tính kim loại có khuynh hướng giảm trong chu kỳ và, với một số vị trí không đều đặn chủ yếu do khả năng chắn hạt nhân kém bởi electron các phân lớp d và f cùng hiệu ứng tương đối tính, có khuynh hướng tăng dần trong một nhóm. Vì vậy, hầu hết các nguyên tố có tính kim loại mạnh nhất (như xezi và franci) nằm ở góc dưới bên trái của bảng tuần hoàn truyền thống và hầu hết các nguyên tố có tính phi kim mạnh nhất (ôxi, flo, clo) ở góc trên bên phải. Sự kết hợp các xu hướng theo chiều đứng và chiều ngang của tính kim loại giải thích ranh giới gấp khúc chia tách giữa kim loại và phi kim trên một số phiên bản bảng tuần hoàn, và việc xếp nhóm một số nguyên tố nằm cạnh đường ranh này thành á kim. == Lịch sử == === Những nỗ lực hệ thống hóa đầu tiên === Năm 1789, Antoine Lavoisier công bố danh sách 33 nguyên tố hóa học, xếp nhóm thành các chất khí, kim loại, phi kim và "đất". Các nhà hóa học đã dành cả một thế kỉ sau đó để tìm kiếm một sơ đồ phân loại chính xác hơn. Năm 1829, Johann Wolfgang Döbereiner nhận thấy nhiều nguyên tố có thể nhóm thành các bộ ba dựa trên tính chất hóa học. Liti, natri và kali chẳng hạn, có thể xếp vào nhóm các kim loại mềm, dễ phản ứng. Döbereiner cũng nhận thấy rằng khi sắp xếp theo khối lượng, nguyên tố thứ hai trong mỗi bộ ba thường gần bằng trung bình cộng của hai nguyên tố kia; sau này được gọi là "định luật bộ ba nguyên tố". Nhà hóa học Đức Leopold Gmelin làm nghiên cứu hệ thống này, và tới năm 1843 ông đã nhận diện được 10 bộ ba, ba nhóm bộ 4 và 1 nhóm bộ 5. Năm 1857 Jean-Baptiste Dumas công bố công trình mô tả mối quan hệ giữa các nhóm kim loại khác nhau. Mặc dù nhiều nhà khoa học có thể nhận diện mối quan hệ giữa các nhóm nguyên tố nhỏ, họ chưa thể dựng lên một sơ đồ định hướng toàn bộ chúng. Năm 1858, August Kekulé quan sát thấy rằng cacbon thường có 4 nguyên tử khác liên kết với nó. Ví dụ như Metan có một nguyên tử cacbon và 4 nguyên tử hiđrô. Quan niệm hóa trị hình thành từ đây; các nguyên tố khác nhau liên kết với những số nguyên tử khác nhau. Năm 1862, Alexandre-Emile Béguyer de Chancourtois, một nhà địa chất Pháp, công bố một dạng bảng tuần hoàn sơ khai, mà ông gọi là "đường xoắn telua" hay "đinh vít telua" (tiếng Pháp: vis tellurique). De Chancourtois là người đầu tiên nhận thấy tính tuần hoàn của các nguyên tố. Khi tố xếp theo một đường xoắn trên một hình ống theo khối lượng nguyên tử tăng dần, ông chỉ ra rằng các ngyên tố với tính chất tương tự nhau dường như xuất hiện theo những khoảng cách đều đặn. Bảng mà de Chancourtois đề xuất bao gồm một số ion và hợp chất bên cạnh các nguyên tố. Bài viết của ông cũng sử dụng các thuật ngữ địa chất hơn là hóa học và không sử dụng một giản đồ nào; kết quả là nó không nhận được chú ý cho đến khi công trình của Dmitri Mendeleev xuất hiện. Năm 1864, Julius Lothar Meyer, một nhà hóa học Đức, công bố một bảng bao gồm 44 nguyên tố xếp theo hóa trị. Bảng này chỉ ra các nguyên tố với tính chất tương tự thường có chung hóa trị. Đồng thời, nhà hóa học William Odling cũng công bố một bảng sắp xếp 57 nguyên tố dựa trên khối lượng nguyên tử. Với một số chỗ trống và tính không đều đặn, ông nhận thấy rằng cái có vẻ như là tính tuần hoàn về khối lượng nguyên tử trong số các nguyên tố đó và rằng điều này tương ứng với "các cách ghép nhóm được ghi nhận của chúng." Odling ám chỉ tới ý tưởng về một định luật tuần hoàn nhưng không theo đuổi đến cùng. Về sau (năm 1870) ông quay sang đề xuất một sự phân loại nguyên tố dựa trên hóa trị. Nhà hóa học người Anh John Newlands công bố một loạt bài báo từ năm 1863 tới năm 1866 ghi nhận rằng khi các yếu tố được xếp theo thứ tự khối lượng nguyên tử tăng dần, các tính chất vật lý và hóa học tái tục theo những khoảng 8 đơn vị, ông gọi chúng là "octave" (bộ tám) theo cách gọi các quãng tám trong âm nhạc. Điều này cũng được gọi là Định luật về các bộ tám, tuy nhiên bị những người cùng thời chế diễu, và Hội Hóa học London từ chối ấn hành công trình này. Tuy nhiên Newlands đã thảo ra một bảng nguyên tố và dùng nó để tiên đoán sự tồn tại của những nguyên tố còn thiếu, chẳng hạn germani. Hội Hóa học chỉ ghi nhận ý nghĩa những khám phá của ông 5 năm sau khi họ công nhận Mendeleev. Năm 1867, Gustavus Hinrichs, một nhà hóa học gốc Đan Mạch làm việc ở Hoa Kỳ, công bố một hệ thống tuần hoàn xoắn ốc dựa trên phổ và khối lượng nguyên tử, và những tính tương đồng hóa học. Công trình của ông bị xem là lập dị, khoe mẽ, rắm rối và điều này có thể đã cản trở sự thừa nhận của cộng đồng khoa học. === Bảng tuần hoàn của Mendeleev === Hai nhà hóa học, Dmitri Mendeleev người Nga và Julius Lothar Meyer người Đức độc lập với nhau đã công bố bảng tuần hoàn lần lượt vào năm 1869 và 1870. Bảng của Mendeleev là phiên bản đầu tiên của ông công bố, bản của Meyer là phiên bản mở rộng của một bảng khác năm 1864. Cả hai đều xây dựng bảng bằng cách liệt kê các nguyên tố theo hàng hoặc cột theo thứ tự khối lượng nguyên tử và bắt đầu mỗi hàng hoặc cột mới khi các thuộc tính của nguyên tố bắt đầu lặp lại. Sự ghi công dành cho bảng của Mendeleev đến từ hai quyết định quan trọng của ông. Thứ nhất là ông để dành chỗ trống mà dường như tương ứng với những nguyên tố còn chưa được khám phá. Mendeleev không phải là nhà khoa học đầu tiên làm vậy, nhưng ông là người đầu tiên được công nhận là sử dụng các xu hướng trong bảng tuần hoàn để tiên đoán tính chất của những nguyên tố bị thiếu, như galli và germani. Quyết định thứ hai là đôi khi bỏ qua trật tự cứng nhắc theo khối lượng nguyên tử và hoán chuyển các nguyên tố lân cận, chẳng hạn như telua và iốt, để phân loại chúng thành các họ hóa học tốt hơn. Với sư phát triển của các lý thuyết về cấu trúc nguyên tử, người ta nhận thấy rõ ràng là Mendeleev đã vô tình liệt kê các nguyên tố theo trật tự số hiệu nguyên tử (hay điện tích hạt nhân) tăng dần. Tầm quan trọng của số hiệu nguyên tử đối với việc tổ chức bảng tuần hoàn không được thừa nhận cho tới khi sự tồn tại và tính chất của proton và nơtron được nghiên cứu chi tiết hơn. Các bảng tuần hoàn của Mendeleev sử dụng khối lượng nguyên tử thay vì số hiệu nguyên tử để tổ chức các nguyên tố, thông tin có thể xác định với độ chính xác tương đối cao ở thời bấy giờ. Khối lượng nguyên tử thỏa mãn hầu hết các trường hợp, đem lại một sự mô tả có khả năng tiên đoán tính chất của các nguyên tố chưa biết chính xác hơn bất kỳ phương pháp cùng thời nào khác. Việc thay thế bằng số hiệu nguyên tử sau này đem lại mỗi chuỗi xác định, dựa trên số nguyên cho nguyên tố vẫn được sử dụng tới ngày nay ngay cả khi các nguyên tố tổng hợp đang được chế tạo và nghiên cứu. === Những phát triển về sau === Năm 1871, Mendeleev công bố một dạng bảng tuần hoàn, có các nhóm nguyên tố tương tự nhau xếp thành các cột từ I tới VIII (như hình trên). Ông cũng đưa ra các tiên đoán chi tiết về tính chất của các nguyên tố mà trước đó ông từng ghi nhận là bị khuyết nhưng hẳn phải tồn tại. Những khoảng trống này lần lượt lấp đầy khi các nhà khoa học khám phá thêm những nguyên tố tồn tại trong tự nhiên. Người ta từng nghĩ rằng nguyên tố tự nhiên cuối cùng được khám phá là franci (mà Mendeleev gọi eka-caesium) vào năm 1939. Nhưng một nguyên tố được tổng hợp lần đầu tiên vào năm 1940 là plutoni về sau (1971) lại tìm thấy với một lượng rất nhỏ xuất hiện trong tự nhiên, và tới năm 2011 người ta biết rằng tất cả các nguyên tố cho tới californi có thể xuất hiện trong tự nhiên ít nhất là dưới dạng vết (hàm lượng cực nhỏ) trong các mỏ quặng urani do bắt giữ nơtron và phân rã beta. Dạng bảng tuần hoàn phổ biến hiện nay, thường gọi là dạng tiêu chuẩn hay dạng thông thường, là bản do Horace Groves Deming hiệu chỉnh. Năm 1923, nhà hóa học Hoa Kỳ này công bố các bảng tuần hoàn dạng ngắn (gọi là kiểu Mendeleev) và vừa (dạng 18 cột) Merck and Company chuẩn bị dạng bảng vừa 18 cột của Deming năm 1928 và phát hành rộng rãi trong các trường học ở Hoa Kỳ. Tới những năm 1930 bảng của Deming đã xuất hiện trong các cuốn sổ tay và từ điển bách khoa hóa học. Sự phổ biến của nó cũng một phần nhờ được Sargent-Welch Scientific Company phát hành trong nhiều năm. Với sự phát triển của các lý thuyết cơ học lượng tử về cấu hình electron trong nguyên tử, người ta nhận thấy rằng mỗi chu kỳ (hàng) trong bảng ứng với sự lấp đầy một lớp vỏ lượng tử electron. Những nguyên tử lớn hơn có nhiều phân lớp electron hơn, cho nên các bảng về sau có những chu kỳ ngày càng dài hơn. Năm 1945, Glenn Seaborg, một nhà khoa học Hoa Kỳ, đề xuất rằng các nguyên tố họ actini, cũng giống họ lantan lấp đầy một phân lớp f. Trước đó họ actini được cho là tạo thành một hàng khối d thứ tư. Đồng nghiệp của Seaborg khuyên ông không nên công bố một đề xuất táo bạo như vậy vì nó có thể làm hỏng toàn bộ sự nghiệp của ông. Seaborg vẫn bất chấp công bố và giả thuyết này về sau được chứng minh là đúng, góp phần giúp ông nhận giải Nobel Hóa học năm 1951. Mặc dù những lượng rất nhỏ một vài nguyên tố siêu urani tồn tại trong tự nhiên, con người biết tới chúng đầu tiên qua tổng hợp nhân tạo. Việc chế tạo ra chúng đã mở rộng bảng tuần hoàn đáng kể, với thành viên đầu tiên là neptuni (1939). Vì nhiều nguyên tố siêu urani hết sức không bền và phân rã nhanh chóng, chúng thách thức việc phát hiện và tìm hiểu tính chất. Đã có nhiều tranh cãi liên quan tới việc các phòng thí nghiệm khác nhau đòi ghi công phát minh và kéo theo đó là quyền đặt tên cho các nguyên tố mới. Các nguyên tố có tên riêng chính thức được công nhận gần đây nhất là flerovi (nguyên tố 114) và livermori (nguyên tố 116), cả hai được đặt tên ngày 31 tháng 5 năm 2012. Năm 2010, một nhóm cộng tác nghiên cứu giữa Nga và Hoa Kỳ ở Dubna, Moskva, Nga, tuyên bố tổng hợp thành công 6 nguyên tử của nguyên tố thứ 117 ununsepti, khiến nó trở thành nguyên tố được tuyên bố phát hiện gần đây nhất. == Các kiểu bố trí khác == Có nhiều bảng tuần hoàn với dạng khác dạng tiêu chuẩn. Trong khoảng 100 năm từ khi bảng của Mendeleev xuất hiện năm 1869 người ta ước tính có khoảng 700 phiên bản bảng tuần hoàn khác nhau ấn hành. Cùng với rất nhiều biến thể hình chữ nhật, cũng có những hình dạng khác, như các dạng tròn, lập phương, ống trụ, mặt tiền (kiều ngôi nhà), chuỗi xoắn, lăng trụ 8 cạnh, kim tự tháp, dạng chia cắt, dạng cầu, tam giác và, lemniscate,.... Mục đích của những bảng này thường là nhằm tô đậm hoặc nêu bật các thuộc tính hóa học hoặc vật lý của các nguyên tố khó nhận thấy trong bảng tuần hoàn thông thường. Trong số các biến thể, một phiên bản khá phổ biến là bản của Theodor Benfey (1960), trong đó các nguyên tố được sắp xếp theo một chuỗi xoắn ốc liên tục, với hiđrô ở trung tâm và các nguyên tố kim loại chuyển tiếp, các họ lantan và actini chiếm các bán đảo. Hầu hết các bảng tuần hoàn ở dạng phẳng nhưng cũng có những phiên bản ba chiều tồn tại ít nhất là từ năm 1862 (trước cả bảng 2 chiều của Mendeleev). Các ví dụ gần đây hơn bao gồm Phân loại Tuần hoàn của Courtines (1925), Hệ thống Phiến của Wringley (1949), Chuỗi xoắn tuần hoàn của Giguère (1965) và Cây Tuần hoàn của Dufour (1996). Đi xa hơn nữa, Stowe mô tả Bảng tuần hoàn cho Nhà vật lý (1989) của mình là 4 chiều (ba chiều không gian và một chiều màu sắc). Các dạng bảng khác nhau được cho là nằm trên một continuum hóa-lý. Về cực điểm phía hóa học trong continuum này có thể thấy bảng Bảng tuần hoàn hóa học của Nhà hóa học vô cơ 'vô nguyên tắc' của Rayner-Canham (2002), nhấn mạnh các xu hướng và hình thái tuần hoàn, và các mối quan hệ cùng thuộc tính hóa học dị thường. Ở gần cực vật lý là Bảng tuần hoàn hóa học bước trái của Janet (1928). Bảng này có một cấu trúc thể hiện mối liên hệ gần gũi hơn với mức độ lấp đầy lớp vỏ electron và do đó gầm hơn với cơ học lượng tử. Ở khoảng giữa là dạng tiêu chuẩn phổ biến, được xem là mô tả các xu hướng tuần hoàn thực nghiệm trong các trạng thái vật lý, tính dẫn điện và dẫn nhiệt, và các số oxi hóa, cùng các nguyên tố khác dễ dàng suy ra từ các kĩ thuật truyền thống trong phòng thí nghiệm hóa học. == Các vấn đề và tranh cãi liên quan == === Các nguyên tố chưa biết thuộc tính hóa học === Mặc dù tất cả những nguyên tố cho tới ununocti đã được khám phá, trong số các nguyên tố sau hassi (nguyên tố 108), chỉ có copernici (nguyên tố thứ 112) là đã xác định được tính chất hóa học. Các nguyên tố khác có thể biểu hiện khác với cách ngoại suy từ các chu kỳ thấp hơn, do các hiệu ứng tương đối tính; chẳng hạn, người ta tiên đoán flevori là thể hiện tính chất giống khí hiếm, mặc dù nó hiện được đặt trong nhóm cacbon. Tuy nhiên các thí nghiệm gần đây lại đề xuất rằng flevori lại biểu hiện hóa học giống như chì do vị trí trong bảng tuần hoàn của nó. === Mở rộng bảng tuần hoàn trong tương lai === Người ta hiện không rõ liệu các nguyên tố mới có tiếp tục theo trật tự bảng tuần hoàn hiện tại, làm thành chu kỳ 8 hay không, hay sẽ cần những sự cải tiến hay hiệu chỉnh thêm. Glenn T. Seaborg cho rằng chu kỳ 8 sẽ đi theo đúng trật tự, bao gồm một khối s hai nguyên tố cho các nguyên tố 119 và 120, một khối g mới cho 18 nguyên tố tiếp theo, và 30 nguyên tố tiếp tiếp tục các khối f, d và p. Gần đây, các nhà vật lý như Pekka Pyykkö đưa ra giả thuyết rằng những nguyên tố này sẽ không theo quy tắc Klechkowski về cách thức lấp đầy lớp vỏ electron và do đó sẽ ảnh hưởng tới hình dạng bảng tuần hoàn hiện tại. === Quy mô tối hậu === Các nhà khoa học cũng chưa biết có thể có tất cả bao nhiêu nguyên tố. Từ năm 1911 Elliot Adams đã đề xuất, dựa trên sự sắp xếp các nguyên tố theo các hàng ngang của bàng tuần hoàn, rằng các nguyên tố với khối lượng lớn hơn khoảng 256 khối lượng hiđrô (tức bằng khoảng giữa nguyên tố 99 và 100 hiện nay) không tồn tại, một tiên đoán sớm tỏ ra sai lầm. Một ước tính gần đây hơn là bảng tuần hoàn có thể kết thúc ngay sau miền đảo ổn định, có tâm xung quanh nguyên tố 126, do sự mở rộng bảng tuần hoàn các nguyên tố (cũng như các nuclid nói chung) bị giới hạn bởi proton và nơtron trong những thứ gọi là "đường nhỏ giọt" (tức các đường giới hạn của tính ổn định hạt trong bảng nuclid). Các tiên đoán khác bảng tuần hoàn kết thúc ở nguyên tố 128 như bởi John Emsley, nguyên tố 137 như bởi Richard Feynman và nguyên tố 155 bởi Albert Khazan. Hạn chế của các mô hình cơ học lượng tử hiện tại khiến cho việc xác định nguyên tố cuối cùng khả dĩ của bảng tuần hoàn trở nên khó khăn. Mô hình Bohr tiên đoán rằng với số hiệu nguyên tử lớn hơn 137, một nguyên tử sẽ cần electron phân lớp 1s di chuyển nhanh hơn vận tốc ánh sáng, một điều bất khả; nhưng mô hình này chưa chính xác vì không xét tới hiệu ứng tương đối tính. Các phương trình tương đối tính của Paul Dirac cũng gặp vấn đề với các nguyên tố có nhiều hơn 137 proton. Với các nguyên tố như vậy, hàm sóng của trạng thái Dirac cơ bản có tính dao động hơn là liên kết, và không có khoảng cách nào giữa các phổ năng lượng dương và âm, như trong nghịch lý Klein. Các bổ chính đưa vào liên quan tới hiệu ứng kích thước hữu hạn của hạt nhân chỉ ra rằng năng lượng liên kết thứ nhất sẽ vượt giới hạn cho các nguyên tố nhiều hơn 137 proton. Đối với những nguyên tố nặng hơn, nếu orbital trong cùng (1s) không bão hoàn, trường điện từ của hạt nhân sẽ kéo một electron ra khỏi chân không, dẫn tới bức xạ positron tự phát; tuy nhiên điều này không xảy ra nếu 1s bão hòa, do đó nguyên tố 137 không nhất thiết là điểm tận cùng của bảng tuần hoàn. === Các vị trí không tương hợp === Bảng tuần hoàn có một số phần không tương hợp gây nên các tranh luận tới ngày nay. Một trong số đó là vị trí của hiđrô và hêli thường được đặt ở những vị trí không tương ứng với cấu hình electron của chúng. Hiđrô nằm trên liti trong bảng tiêu chuẩn, nhưng có khi nằm trên flo, hoặc thậm chí cacbon vì tính chất ít nhiều tương tự với các nguyên tố này. Đôi khi hiđrô được đặt ở một nhóm riêng, vì biểu hiện của nó không đủ giống với bất kì nguyên tố nào khác để nằm chung một nhóm. Hêli thường đặt ở trên neon, nhưng cũng có lúc nằm trên beri theo cấu hình electron(hêli: 1s2; beri: [He] 2s2). Một vấn đề khác liên quan tới các nhóm chứa các kim loại chuyển tiếp. Định nghĩa của IUPAC về kim loại chuyển tiếp là những nguyên tố có nguyên tử với phân lớp d chưa hoàn thành, hoặc có thể tạo ra các cation với phân lớp d chưa hoàn thành. Theo định nghĩa này tất cả các nguyên tố trong các nhóm từ 3 tới 11 là kim loại chuyển tiếp. Tuy nhiên một số nhà hóa học vẫn xem "nguyên tố khối d" và "kim loại chuyển tiếp" là những thuật ngữ hoán đổi được cho nhau, và do đó bao gồm cả nhóm 12 (kẽm, cadmi, thủy ngân), mặc dù nhóm này là ngoại lệ với các electron phân lớp d thường không tham gia vào liên kết hóa học. Gần đây người ta phát hiện ra rằng thủy ngân có thể sử dụng electron phân lớp d để hình thành thủy ngân florit (HgF4), cổ vũ cho lập luận rằng thủy ngân (và do đó nhóm 12) nên được chính thức công nhận là kim loại chuyển tiếp. Tuy nhiên, những nhà bình luận như Jensen cho rằng sự hình thành một hợp chất HgF4 chỉ xảy ra dưới những điều kiện hết sức không bình thường; và do đó thủy ngân không thể được xem là kim loại chuyển tiếp theo bất cứ cách diễn giải hợp lý về nghĩa thông thường của thuật ngữ này.. Cũng đi theo cách diễn giải về hóa tính, một số nhà hóa học khác đi xa hơn tới chỗ loại trừ các nguyên tố nhóm 3 ra khỏi nhóm kim loại chuyển tiếp. Lập luận của họ là nhóm 3 không hình thành bất kì ion nào có phân lớp d bị chiếm giữ một phần và do đó không thể hiện bất kì tính chất nào đặc trưng cho kim loại chuyển tiếp. Ngoài ra, ở nhóm 3 cũng có một vấn đề khác liên quan tới các chu kỳ sau của nhóm này. Người ta không thống nhất được hai nguyên tố sau scandi và yttri là gì, một số cho là lantan và actini, nhưng số khác cho là luteti và lawrenci. Có một vài lập luận, dựa trên cả hóa học và vật lý, ủng hộ mạnh mẽ cách sắp xếp sau nhưng không phải ai cũng cảm thấy chúng đủ thuyết phục. Bảng tuần hoàn chính thức của IUPAC hiện nay chọn cách thể hiện tất cả họ lantan và actini bằng cách đánh dấu chúng trong một ô của nhóm 3. Định nghĩa của IUPAC về thuật ngữ "lanthanoid" (hay "lanthanide", tức họ lantan) bao gồm 15 nguyên tố gồm cả lantan và luteti, và "transition element" (nguyên tố chuyển tiếp) áp dụng cho lantan và actini, cũng như luteti nhưng không có lawrenci, bởi vì nó không tương hợp với nguyên lý Aufbau. Thông thường electron thứ 103 sẽ đi vào phân lớp d, nhưng các nghiên cứu cơ học lượng tử cho thấy cấu hình thực tế là [Rn]5f147s27p1 do hiệu ứng tương đối tính. IUPAC hiện không khuyến nghị một dạng cụ thể nào cho khối f trong hàng của bảng tuần hoàn, khiến cho vấn đề còn để ngỏ.. === Dạng tối ưu === Sự tồn tại nhiều dạng bảng tuần hoàn khác nhau làm dấy lên câu hỏi liệu có một dạng tối ưu xác định rõ ràng của bảng tuần hoàn. Câu trả lời có lẽ phụ thuộc vào liệu tính tuần hoàn hóa học xảy ra với các nguyên tố có một chân lý ngầm ẩn, gắn kết vào bản thể vũ trụ, hay là tính tuần hoàn đó chỉ là sản phẩm của cách diễn dịch chủ quan của con người, tùy thuộc vào hoàn cảnh, niềm tin và thiên kiến của người quan sát. Bất kì cơ sở khách quan nào về tính tuần hoàn hóa học cũng sẽ phải giải quyết các câu hỏi về vị trí của hiđrô và hêli hay cấu tạo của nhóm 3 như đã nêu trên. Một chân lý như thế, nếu tồn tại, hiện nay vẫn chưa tìm thấy cho nên với sự vắng mặt của nó, các dạng bảng tuần hoàn khác nhau có thể dược xem như là những biến thể trên chủ đề về tính tuần hoàn hóa học, mỗi biến thể khám phá và nhấn mạnh những khía cạnh, tính chất và những mối quan hệ khác nhau giữa các nguyên tố. Sự phổ biến của dạng bảng vừa của Deming mà ngày nay ta gọi là dạng "tiêu chuẩn" có thể là kết quả của sự cân bằng tốt giữa kích thước và cấu trúc tiện dụng, và sự minh họa trật tự nguyên tử và các xu hướng tuần hoàn. == Xem thêm == Nhóm tuần hoàn Chu kỳ tuần hoàn Thiên hà nguyên tố Nguyên tử == Chú thích == == Trích dẫn == == Thư mục tham khảo == == Liên kết ngoài == Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học tại Từ điển bách khoa Việt Nam Periodic table of the elements tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) OxNotes. “Periodic Table Revision Notes - IGCSE Chemistry - OxNotes GCSE Revision”. Truy cập ngày 20 tháng 12 năm 2013. M. Dayah. “Dynamic Periodic Table”. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2012. Brady Haran. “The Periodic Table of Videos”. University of Nottingham. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2012. Mark R. Leach. “The INTERNET Database of Periodic Tables”. Truy cập ngày 14 tháng 5 năm 2012. IUPAC Periodic Table of the Elements Bảng tuần hoàn chính thức của IUPAC, 1 tháng 5 năm 2013 Periodic Table on the Web Bảng tuần hoàn trực tuyến
thủ môn.txt
Trong nhiều môn thể thao đồng đội có việc ghi bàn, thủ môn là một cầu thủ được chỉ định có nhiệm vụ ngăn chặn trực tiếp việc ghi bàn của đội bạn bằng cách chặn đứng cú ghi bàn. Vị trí như vậy có trong hurling, bóng đá, bóng ném, khúc côn cầu trên cỏ, khúc côn cầu trên băng, ice hockey, bóng nước, bandy, rink bandy, bóng vợt, bóng sàn và một số môn thể thao khác. == Chú thích ==
renault.txt
Renault SA là một hãng sản xuất ô tô của Pháp.Liên minh với hãng xe Nissan đã giúp đưa hãng trở thành hãng xe lớn thứ tư thế giới.Trụ sở chính của Renault đặt tại Boulogne-Billancourt. Carlos Ghosn hiện là Giám đốc điều hành của Renault. Các mẫu xe hơi thành công nhất cho đến nay của hãng là Renault Clio và Renault Laguna, và thị trường cốt lõi của Renault là thị trường châu Âu.Công ty này được biết đến với nhiều mẫu thiết kế mang tính cách mạng, công nghệ bảo mật, công nghệ xe đua. Hiện nay, Renault đã có mặt tại 118 quốc gia với 3 thương hiệu: Renault, Dacia và Renault- Samsung. Năm 1999, Renault liên minh với Nissan và trở thành hãng xe lớn thứ 4 thế giới. Năm 2011, Renault đã bán được tổng cộng 2.7 triệu xe trên toàn thế giới trong đó 43% lượng bán là ngoài châu Âu. 5 thị trường lớn nhất của Renault là: Pháp, Brasil, Đức, Nga & Thổ Nhĩ Kỳ. 100% các nhà máy của Renault đều đạt tiêu chuẩn ISO 14001. Renault còn được biết đến nhiều bởi thành tích lẫy lừng trong lĩnh vực đua xe công thức 1 (Formula 1 hay viết tắt là F1). Tính đến nay, hãng này đã 10 lần vô địch với tư cách nhà sản xuất, 9 lần vô địch với tư cách tay đua. Renault cũng là nhà cung cấp động cơ cho giải F1. Năm 2012, Renault có 4 đội đua là Red Bull Racing Renault, Lotus Team F1, Williams Team F1 và Caterham Team F1. Trước đó, vào các năm 2010 và 2011, đội Red Bull đã giành được vị trí quán quân toàn đội cũng như tay đua. Chính phủ Pháp hiện đang nắm giữ 15% cổ phần của Renault. == Lịch sử phát triển == === 1898-1918 === Louis Renault và anh em của mình thành lập công ty vào năm 1898. Họ nhanh chóng xác lập tên tuổi trong giới đua xe và đạt được một loạt chiến thắng với chiếc xe đua Voiturettes của mình. Các nhà máy của Renault đã áp dụng kỹ thuật sản xuất hàng loạt vào năm 1905 và chủ nghĩa Taylor vào năm 1913. Trong suốt chiến tranh thế giới thứ nhất, các loại xe của công ty như xe tải, xe cáng thương, xe cứu thương và ngay cả những chiếc xe tăng Renault FT-17 nổi tiếng cũng đã góp phần quyết định vào thắng lợi cuối cùng. === 1919-1945 === Renault đã hiện đại hóa cơ sở của mình, bắt đầu lên dây chuyền sản xuất đầu tiên tại Billancourt vào năm 1929. Công ty đã cố gắng kiểm soát chi phí để vượt qua khủng hoảng kinh tế. Tuy nhiên, tình hình xã hội đã trở nên xấu đi. Louis cho rằng chiến tranh thế giới thứ hai và cuộc xung đột với Đức là một sai lầm, và ông đã giúp cung cấp cho nhu cầu của quân đội Đức. Kết quả là, sau khi Đức thua trận, Renault đã bị quốc hữu hóa vào năm 1945, trở thành Régie Nationale des UsinesRenault (RNUR). === 1945-1975 === Renault, lúc đó đã là một công ty quốc gia, thực hiện hiện đại hóa các nhà máy của nó, cũng như xây dựng và mua địa điểm sản xuất mới. Renault đã cố gắng để chinh phục thị trường Mỹ nhưng không thành, nhưng Renault vẫn tiếp tục mở rộng ra thị trường quốc tế. Thành công đến với mẫu xe 4CV là "loại xe nhỏ dành cho tất cả mọi người" đầu tiên, theo sau là Renault 4 và Renault 5... Công ty sau đó cho ra mắt mẫu xe hạng sang, Renault 16, là mẫu "voiture à vivre" đầu tiên (nghĩa là "xe cho cuộc sống "). Đồng thời, công ty tiếp tục đạt được kết quả ấn tượng trong các cuộc đua xe lớn. === 1975-1992 === Công ty tiếp tục phát triển cho tới những năm đầu thập niên 1980. Renault thực hiện đổi mới các sản phẩm với sự ra mắt của hai mẫu xe hạng sang: Renault 25 và Espace. Thương hiệu Renault đã ghi dấu ấn trong hoạt động thể thao ô tô và gia nhập cuộc đua Công thức 1. Tuy nhiên, từ đó công ty bị thiếu hụt nhiều. Bằng cách bắt đầu một chính sách quyết liệt cắt giảm chi phí và tái tập trung vào các kỹ năng cốt lõi của nó, Renault đã trở lại trong màu đen trong năm 1987. === 1992-2005 === Renault được coi là sáp nhập với Volvo, nhưng dự án đã bị hủy bỏ vào năm 1993. Việc tư nhân hóa vào tháng 7 năm 1996 đánh dấu một mốc quan trọng trong lịch sử của công ty. Lợi dụng quyền tự do của mình, Renault đã mua cổ phần của Nissan vào năm 1999. Công ty tiếp tục thực hiện đổi mới các dòng xe với các mẫu bao gồm Megane và Laguna. Thành công trong các cuộc đua Công thức 1 đã góp phần nâng tầm thương hiệu Renault. Liên minh Renault-Nissan đã hợp nhất tổ chức của nó và tiếp tục phát triển các hiệp lực mới. Với việc mua lại Samsung Motors và Dacia, Renault đã tăng tốc việc mở rộng ra quốc tế của mình. Sự ra đời của Logan là một phần quan trọng của chiến lược để giành chiến thắng tại các thị trường mới nổi. === Từ năm 2005 === Carlos Ghosn, Chủ tịch của Nissan người kế tục Louis Schweitzer cho vị trí đứng đầu Renault. Ông thực hiện Kế hoạch Cam kết Renault năm 2009, với mục tiêu hướng Tập đoàn vào vị trí là nhà sản xuất ô tô có lợi nhuận cao nhất châu Âu. Kể từ đó, Logan đã đạt được rất nhiều thành công tại các thị trường mới nổi.Trong năm 2008, Renault theo đuổi cuộc tấn công về sản phẩm của mình với sự ra mắt của mẫu xe New Mégane và tung ra nhiều sáng kiến liên quan đến xe điện, hợp tác với Better Place và điện tiện ích EDF và trình bày một nguyên mẫu pin nhiên liệu Scénic và ZE Concept. == Các mẫu xe hiện tại == • Clio Campus (năm 1998 đổi tên thành Clio II) • Clio III • Espace IV • Fluence • Koleos • Laguna III • Latitude • Megane II • Mégane III • Modus • Pulse • Safrane II • Scala • Scénic III • Symbol • Twingo II • Wind • Duster • Logan • Sandero Ngoài ra Renault còn sản xuất nhiều mẫu xe tại hạng nhẹ khác như: • Kangoo Express • Master • Trafic == Xe ý tưởng (Concept car) == Renault đã giới thiệu hàng loạt mẫu xe ý tưởng cho tương lai. Bên cạnh đó, bắt đầu từ năm 2008, hãng này cũng trình làng nhiều mẫu xe điện ý tưởng dưới tên Z.E dựa trên mẫu xe Renault Kangoo. Hiện nay, Renault đã bắt đầu tiến hành sản xuất mẫu xe điện Fluence Z.E và Renault Zoe. == Hãng sản xuất thân thiện với môi trường (Eco²) == Năm 2007, Renault giới thiệu mẫu dây chuyền sản xuất thân thiện với môi trường và đó cũng là nền tảng để hãng hướng đến sau này. Có tối thiểu 5% nhựa tái chế được sử dụng và đến cuối vòng đời của xe thì 95% còn lại đều có thể tái sử dụng được. Chất thải CO2 của hãng không bao giờ vượt quá 140g/km2. Năm 2008, Renault đã được vinh danh với Giải thưởng Môi trường == Sự hợp tác, liên minh với các hãng khác == === Liên minh Renault-Nissan === Liên minh Renault- Nissan được hình thành vào ngày 27/03/1999 và là liên minh đầu tiên giữa 2 công ty của Pháp và Nhật với nền văn hoá cũng như bản sắc thương hiệu hoàn toàn khác nhau. Trong liên minh này, Renault sở hữu 36.8% cổ phần của Nissan (tương đương 3.5 tỉ USD) trong khi đó cổ phần của Nissan tại Renault là 15% (nhưng không có quyền biểu quyết). Năm 2008, Renault- Nissan đã bán được tổng cộng 6.9 triệu xe (bao gồm cả AutoVAZ), đưa liên minh này trở thành tập đoàn ô tô lớn thứ 3 thế giới Vào tháng 3 năm 2010, liên minh khánh thành nhà máy đầu tiên tại Chennai, Ấn Độ với cống đầu tư gần 1.000 tỉ USD. === Liên minh Renault- Nissan và tập đoàn Daimler === Vào ngày 7/04/2010, hai vị chủ tịch của Renault- Nissan là Carlos Ghosn và tập đoàn Daimler AG là Diêtr Zetsche đã công bố về sự hợp tác giữa 3 công ty. Theo đó, Daimler sở hữu 3.1% cổ phần trong liên minh Renault- Nissan còn Renault và Nissan mỗi công ty sẽ sở hữu 1.55% cổ phần của Daimler === Sự hợp tác với Dacia === Renault đã sở hữu 99.43% cổ phần của nhà máy sản xuất ô tô Dacia của Rumani === Renault Samsung Motors === Ngày 01/09/2000 đánh dấu cột mốc chính thức Renault sở hữu thương hiệu ô tô Samsung với tổng vốn là 560 triệu USD tương đương 70% cổ phần (hiện nay mức cổ phần được nâng lên 80.1%) === AvtoVAZ === Tháng 2/2008, Renault nắm giữ 25% cổ phần trong AutoVAZ (vốn nổi tiếng với mẫu xe Lada) === RCI Banque === Hãng này cung cấp toàn bộ các giải pháp tài chính cho cả 3 thương hiệu của tập đoàn Renault. === Renault India Private Limited (RIPL) === Đây là một nhánh hoạt động của Renault tại Ấn Độ. Nhà máy này đã sản xuất 2 mẫu xe là Fluence và Koleos. == Đua xe công thức 1 == Vào cuối thể kỉ 17 đầu 18, Renault đã bắt đầu thâm nhập vào lĩnh vực đua xe thể thao Công thức 1 (Formula One hay còn viết tắt là F1) và sau đó chính thức tham gia vào đầu thế kỷ 20. Đội đua Renault đã giành được chiến thắng đầu tiên trong giải thi đấu tại Mĩ năm 1978. Năm 2012, Renault có 4 đội đua là Red Bull Racing Renault, Lotus Team F1, Williams Team F1 và Caterham Team F1. Trước đó, vào các năm 2010 và 2011, đội Red Bull đã giành được vị trí quán quân toàn đội cũng như tay đua. Không chỉ biết đến với các đội đua danh tiếng, Renault còn được cả thế giới ngưỡng mộ bởi sự thành công trong việc chế tạo động cơ cung cấp cho F1. Tính đến nay, Renault đã 10 lần vô địch với tư cách nhà sản xuất và 9 lần vô địch với tư cách tay đua. == Các giải thưởng đã đạt được == Renault đã nhiều lần giành được giải thưởng European Car of the Year (Mẫu xe trong năm của thị trường châu Âu) trong đó Clio là mẫu xe duy nhất cho đến nay đã 2 lần giành được danh hiệu cao quý này. Chi tiết các mẫu xe đạt được giải thưởng qua từng năm như sau: • 1966: Renault 16 • 1982: Renault 9 • 1991: Renault Clio • 1997: Renault Scénic • 2003: Renault Mégane • 2006: Renault Clio III == Chiến lược Tập đoàn == Vào ngày 10 tháng 2 năm 2011, Carlos Ghosn, Chủ tịch kiêm Giám đốc điều hành của Renault, đã giới thiệu chiến lược mới của Tập đoàn. Renault 2016 – Drive the Change được thành lập dựa trên tham vọng của Renault đem đến sự vận chuyển bền vững có thể đến được cho tất cả mọi người, được thể hiện trong slogan "Drive the Change". Kế hoạch chiến lược này kéo dài trong khoảng thời gian sáu năm với một đánh giá giữa kỳ vào cuối năm 2013. Kế hoạch Renault 2016 – Drive the Change đã được thiết lập để đạt 2 mục tiêu chính sau: • Đảm bảo sự tăng trưởng của Tập đoàn • Tạo ra dòng tiền trên cơ sở lâu dài, với mục tiêu cho giai đoạn 2011-2013: doanh số bán hàng hơn 3 triệu xe trong năm 2013 và ít nhất 2 tỷ Euro trong tổng lưu lượng tiền mặt. Renault sẽ làm việc trên bảy đòn bẩy quan trọng để đáp ứng các mục tiêu này: • Theo đuổi các chính sách đổi mới • Tăng cường cung cấp sản phẩm • Củng cố hình ảnh của thương hiệu Renault • Đảm bảo sự xuất sắc của mạng lưới phân phối trong quan hệ khách hàng • Kiểm soát đầu tư và chi phí Nghiên cứu & Phát triển • Cắt giảm chi phí • Duy trì vị trí ở châu Âu và theo đuổi sự phát triển quốc tế. == Renault tại Việt Nam == Renault khá quen thuộc với người dân Việt Nam đặc biệt là tại Sài Gòn từ đầu những năm 1945. Năm 2010, Renault chính thức có mặt tại Việt Nam thông qua nhà nhập khẩu và phân phối độc quyền là công ty Auto Motors Việt Nam (www.renault.vn) Auto Motors Vietnam là công ty 100% vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, là công ty con của tập đoàn Jean Rouyer có trụ sở tại Cholet (Pháp). Chi nhánh, đại lý "3S" (Showroom, Service, Spare-parts) đầu tiên đã khai trương vào tháng 9 năm 2010 tại Hà Nội. Năm 2012, đại lý "3S" thứ hai đã có mặt tại Phú Mỹ Hưng, Quận 7, TP HCM, khu vực đang phát triển của Nam Sài Gòn. Tháng 5 năm 2014, đại lý Renault Vinh đã được mở tại đại lộ Lê-nin, thành phố Vinh, tiếp đó vào tháng 10, một đại lý khác được khai trương tại trung tâm quận 1, mang tên Renault Sài Gòn. Như vậy cho đến cuối năm 2014, Renault Việt Nam đã có tên trên bản đồ 2 chi nhánh và 2 đại lý độc lập, dự kiến trong tương lai sẽ có thêm các đại lý độc lập khác được mở ra tại các thành phố lớn trên cả nước. Các mẫu xe hiện đang được Auto Motors Việt Nam phân phối chính thức tại Việt Nam là: Koleos, Latitude và Megane hatchback. == Chú thích == == Liên kết == Website chính thức Renault Samsung Motors Renault Sport
karl august folkers.txt
Karl August Folkers (1.9.1906 – 7.12.1997) là nhà hóa sinh người Mỹ, nổi tiếng về việc đã tách được vitamin B12. == Cuộc đời và Sự nghiệp == Folkers sinh tại Decatur, Illinois. Ông đậu bằng cử nhân khoa học ở Đại học Illinois năm 1928 và bằng tiến sĩ ở Đại học Wisconsin năm 1931, sau đó sang nghiên cứu hậu tiến sĩ ở Đại học Yale. Ông vào làm việc trong Công ty dược phẩm Merck & Co. từ năm 1934. == Gia đình == Folkers kết hôn với Selma Leona Johnson ngày 30.7.1932. Họ có 2 người con: Cynthia Carol và Richard Carl. == Giải thưởng và Vinh dự == Huy chương Perkin năm 1960 Chủ tịch Hội Hóa học Hoa Kỳ năm 1962 Huy chương Priestley năm 1986. Huy chương Khoa học quốc gia (Hoa Kỳ) năm 1990 == Tác phẩm == 1931 (với H. Adkins): The catalytic hydrogenation of esters to alcohols. J. Am. Chem. Soc. 53:1095-97. 1934 (với T. B. Johnson): Hydrogenation of cyclic ureides under elevated temperatures and pressures I. 2-keto-1,2,3,4-tetrahydropyrimidines. J. Am. Chem. Soc. 56:1180-85. 1939 (với S. A. Harris và E. T. Stiller): Structure of vitamin B6. II. J. Am. Chem. Soc. 61:1242-44. (với S. A. Harris): Synthesis of vitamin B6. I-II. J. Am. Chem. Soc. 61:1245-47, 3307-10. 1940 (với E. T. Stiller, S. A. Harris, J. Finkelstein, và J. C. Keresztesy): Pantothenic acid. VIII. The total synthesis of pure pantothenic acid. J. Am. Chem. Soc. 62:1785-90. 1942 (với V. du Vigneaud, D. B. Melville, D. E. Wolf, R. Mozingo, J. C. Keresztesy, và S. A. Harris): The structure of biotin: A study of desthiobiotin. J. Biol. Chem. 146:475-85. 1944 (với S. A. Harris, D. E. Wolf, R. Mozingo, R. C. Anderson, G. E. Arth, N. R. Easton, D. Heyl, và A. N. Wilson): Biotin. II. Synthesis of biotin. J. Am. Chem. Soc. 66:1756-57. 1945 (với F. A. Kuehl, Jr., R. L. Peck, và A. Walti): Streptomyces antibiotics. I. Crystalline salts of streptomycin and streptothricin. Science 102:34-35. 1948 (với F. A. Kuehl, Jr., R. L. Peck, và C. E. Hoffhin, Jr.): Streptomyces antibiotics. XVIII. Structure of streptomycin. J. Am. Chem. Soc. 70:2325-30. 1950 (với D. E. Wolf, W. H. Jones, và J. Valiant): Vitamin B12. XI. Degradation of vitamin B12 to Dg-1-amino-2-propanol. J. Am. Chem. Soc. 72:2820. 1952 (với E. A. Kaczka, D. Heyl, và W. H. Jones): Vitamin B12. XXI. Crystalline α-ribazole phosphate and its synthesis. J. Am. Chem. Soc. 74:5549-50. 1953 (với E. A. Kaczka): Vitamin B12. XXII. Relation of α-ribazole phosphate to vitamin B12. J. Am. Chem. Soc. 75:6317-18. 1955 (với F. A. Kuehl, Jr., C. H. Shunk, và M. Moore): Vitamin B12. XXV. 3,3-Dimethyl-2,5-dioxopyrrolidine-4-propionamide: A new degradation product. J. Am. Chem. Soc. 77:4418-19. 1956 (với L. D. Wright, E. L. Cresson, H. R. Skeggs, G. D. E. MacRae, C. H. Hoffman, và D. E. Wolf): Isolation of a new acetate-replacing factor. J. Am. Chem. Soc. 78:5273-75. (với D. E. Wolf, C. H. Hoffman, P. E. Aldrich, H. R. Skeggs, và L. D. Wright): β-Hydroxy-β-methyl-δ-valerolactone (divalonic acid), a new biological factor. J. Am. Chem. Soc. 78:4499. 1958 (với D. E. Wolf, C. H. Hoffman, N. R. Trenner, B. H. Arison, C. H. Shunk, B. O. Linn, và J. F. McPherson): Coenzyme Q. I. Structure studies on the coenzyme Q group. J. Am. Chem. Soc. 80:4752. 1967 (với P. Friis và G. D. Daves, Jr.): Complete sequence of biosynthesis from p-hydroxybenzoic acid to ubiquinone. J. Am. Chem. Soc. 88:4754-56. 1972 (với H. Sievertsson, J.-K. Chang, A. Von Klaudy, C. Bogentoft, B. Currie, và C. Bowers): Hypothalamic hormones. 35. Two syntheses of the luteinizing hormone releasing hormone of the hypothalamus. J. Med. Chem. 15:222-26. 1978 (với J. Y. Choe và A. B. Combs): Rescue by coenzyme Q10 from electrocardiographic abnormalities caused by the toxicity of adriamycin in the rat. Proc. Natl. Acad. Sci. U. S. A. 75:5178-80. 1982 (với J. M. Ellis, M. Levy, S. Shizukuishi, J. Lewandowski, S. Nishii, H. A. Schubert, và R. Ulrich): Response of vitamin B-6 deficiency and the carpal tunnel syndrome to pyridoxine. Proc. Natl. Acad. Sci. U. S. A. 79:7494-98. 1984 (với A. Wolaniuk và S. Vadhanavikit): Enzymology of the response of the carpal tunnel syndrome to riboflavin and to combined riboflavin and pyridoxine. Proc. Natl. Acad. Sci. U. S. A. 81:7076-78. 1985 (với J. Wolaniuk, R. Simonsen, M. Morishita, và S. Vadhanavikit): Biochemical rationale and the cardiac response of patients with muscle disease to therapy with coenzyme Q10. Proc. Natl. Acad. Sci. U. S. A. 82:4513-16. 1988 (với A. Ljungqvist, D.-M. Feng, W. Hook, Z.-X. Shen, và C. Bowers): Antide and related antagonists of luteinizing hormone release with long action and oral activity. Proc. Natl. Acad. Sci. U. S. A. 85:8236-40. 1990 (với P. Langsjoen, R. Willis, P. Richardson, L.-J. Xia, C.-Q. Ye, và H. Tamagawa): Lovastatin decreases coenzyme Q levels in humans. Proc. Natl. Acad. Sci. U. S. A. 87:8931-34. 1995 (với R. Simonsen): Two successful double-blind trials with coenzyme Q10 (vitamin Q10) on muscular dystrophies and neurogenic atrophies. Biochim. Biophys. Acta 1271:281-86. == Tham khảo == Shive, William (2002). “Karl August Folkers, ngày 1 tháng 9 năm 1906 – ngày 9 tháng 12 năm 1997”. Biographical memoirs. National Academy of Sciences (U.S.) 81: 100–14. PMID 12661556. Olson, R E (ngày 1 tháng 9 năm 2001). “Karl August Folkers (1906–1997)”. Journal of Nutrition 131 (9): 2227–30. PMID 11533258. == Liên kết ngoài == Karl August Folkers, biographical memoir by William Shive
bóng đá tại thế vận hội mùa hè 2012 - nữ.txt
Nội dung bóng đá nữ tại Thế vận hội Mùa hè 2012 được tổ chức tại Luân Đôn và năm thành phố khác thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland từ 25 tháng 7 tới 9 tháng 8. Giải có sự tham gia của 11 đội tuyển trực thuộc FIFA vượt qua vòng loại, cùng chủ nhà Vương quốc Liên hiệp Anh. Đây là giải đấu bóng đá nữ lớn đầu tiên của FIFA diễn ra tại Vương quốc Anh, đồng thời đánh dấu lần đầu tiên nước này tham dự một giải đấu bóng đá nữ. Đội tuyển giành huy chương vàng là Hoa Kỳ sau khi thắng Nhật Bản với tỉ số 2–1 trong trận chung kết. == Vòng loại == == Bốc thăm == Lễ bốc thăm diễn ra ngày 24 tháng 4 năm 2012. Anh Quốc, Nhật Bản và Hoa Kỳ là các hạt giống và được xếp riêng lần lượt vào các bảng E, F và G. Các đội còn lại được phân vào bốn nhóm. == Danh sách cầu thủ == == Trọng tài == == Vòng bảng == Hai đội đầu mỗi bảng cùng hai đội thứ ba xuất sắc nhất sẽ tiến vào tứ kết. Múi giờ địa phương: Giờ mùa hè Anh (UTC+1). === Bảng E === === Bảng F === === Bảng G === † Trận đấu bị thay đổi giờ thi đấu do sự phản đối của CHDCND Triều Tiên trước việc ban tổ chức sử dụng nhầm quốc kỳ Hàn Quốc thay cho quốc kỳ nước này. === Xếp hạng đội thứ ba === == Vòng đấu loại trực tiếp == === Tứ kết === === Bán kết === === Trận tranh huy chương đồng === === Trận tranh huy chương vàng === == Xếp hạng chung cuộc == == Thống kê == === Người ghi bàn === 6 bàn Christine Sinclair 5 bàn Abby Wambach 4 bàn 3 bàn 2 bàn 1 bàn Phản lưới nhà Ysis Sonkeng (gặp New Zealand) === Thẻ phạt === Thẻ đỏ Choe Mi-gyong Cấm thi đấu Lady Andrade bị cấm hai trận vì hành vi thô bạo với Abby Wambach. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chính thức Trang chính thức của FIFA RSSSF FIFA Technical Report
khí hậu việt nam.txt
Tuy lãnh thổ Việt Nam nằm trọn trong vùng nhiệt đới nhưng khí hậu Việt Nam phân bố thành 3 vùng khí hậu riêng biệt theo phân loại khí hậu Köppen với miền Bắc là khí hậu cận nhiệt đới ẩm, miền Trung và Bắc Trung bộ là khí hậu nhiệt đới gió mùa, miền Nam và Nam Trung bộ mang đặc điểm nhiệt đới Xavan. Đồng thời, do nằm ở rìa phía Đông Nam của phần châu Á lục địa, giáp với biển Đông (một phần của Thái Bình Dương), nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu khí hậu gió mùa mậu dịch, thường thổi ở các vùng vĩ độ thấp. == Các vùng khí hậu Việt Nam == Việt Nam có bốn miền khí hậu chủ yếu, bao gồm: miền khí hậu phía Bắc, miền khí hậu phía Nam, miền khí hậu Trường Sơn, và miền khí hậu biển Đông. === Miền khí hậu phía Bắc === Bao gồm phần lãnh thổ phía Bắc dãy Bạch Mã. Miền này có khí hậu cận nhiệt đới ẩm nhưng tính chất nhiệt đới bị giảm sút với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông tương đối rõ rệt. Tuy nhiên, miền khí hậu này có đặc điểm là mất ổn định vời thời gian bắt đầu-kết thúc các mùa và về nhiệt độ. Vùng Đông Bắc Bắc Bộ bao gồm đồng bằng Bắc Bộ, miền núi và trung du phía Bắc (phần phía đông dãy Hoàng Liên Sơn). Vùng này có đặc điểm địa hình tương đối bằng phẳng (đồng bằng Bắc Bộ) và thấp. Phía bắc có các dãy núi không cao lắm (1000 m ÷ < 3000 m), nằm theo hình nan quạt trên các hướng Đông Bắc - Tây Nam, Bắc-Nam, rồi Bắc Tây Bắc - Nam Đông Nam, chụm lại hướng về phía dãy núi Tam Đảo (đó là cánh cung Đông Triều, Bắc Sơn,Ngân Sơn, Sông Gâm, và kết thúc là dãy Hoàng Liên Sơn trên ranh giới với vùng Tây Bắc Bộ), không ngăn cản mà lại tạo thành các sườn dẫn gió mùa Đông Bắc và gió Bắc thường thổi về mùa đông. Vùng này tiếp giáp với vịnh Bắc bộ về phía Đông, phía Tây được chắn bởi dãy Hoàng Liên Sơn cao nhất Việt Nam (> 3001 m), nên chịu ảnh hưởng của khí hậu Đại dương nhiều hơn vùng Tây Bắc Bắc Bộ. Vì vậy, vùng Đông Bắc Bộ chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão nhiệt đới, về mùa hè, ít chịu ảnh hưởng của gió Lào (gió foehn). Vùng Tây Bắc Bắc Bộ Mặc dù nền khí hậu chung không có sự khác biệt lớn giữa các khu vực, nhưng sự biểu hiện của nó không giống nhau theo chiều nằm ngang và theo chiều thẳng đứng. Dãy núi cao Hoàng Liên Sơn chạy dài liền một khối theo hướng Tây Bắc - Đông Nam đóng vai trò của một bức trường thành ngăn không cho gió mùa đông (hướng đông bắc - tây nam) vượt qua để vào lãnh thổ Tây Bắc mà không bị suy yếu nhiều, trái với vùng Đông bắc có hệ thống các vòng cung mở rộng theo hình quạt làm cho các đợt sóng lạnh có thể theo đó mà xuống đến tận đồng bằng sông Hồng và xa hơn nữa về phía nam. Vì vậy, trừ khi do ảnh hưởng của độ cao, nền khí hậụ Tây Bắc nói chung ấm hơn Đông Bắc, chênh lệch có thể đến 2-3 OC. Ở miền núi, hướng phơi của sườn đóng một vai trò quan trọng trong chế độ nhiệt – ẩm, sườn đón gió (sườn đông) tiếp nhận những lượng mưa lớn trong khi sườn tây tạo điều kiện cho gió "phơn" (hay quen được gọi là "gió lào") được hình thành khi thổi xuống các thung lũng, rõ nhất là ở Tây Bắc. Nhìn chung, trong điều kiện của trung du và miền núi, việc nghiên cứu khí hậu là rất quan trọng vì sự biến dạng của khí hậu xảy ra trên từng khu vực nhỏ. Những biến cố khí hậu ở miền núi ang tính chất cực đoan, nhất là trong điều kiện lớp phủ rừng bị suy giảm, và lớp phủ thổ nhưỡng bị thoái hoá. Mưa lớn và tập trung gây ra lũ nhưng kết hợp với một số điều kiện thì xuất hiện lũ quét; hạn vào mùa khô thường xảy ra nhưng có khi hạn hán kéo dài ngoài sức chịu đựng của cây cối. === Miền khí hậu phía Nam === Gồm phần lãnh thổ thuộc Tây Nguyên và Nam Bộ. Miền này có khí hậu nhiệt đới xavan với hai mùa: mùa khô và mùa mưa (từ tháng 4-5 đến tháng 10-11). Quanh năm, nhiệt độ của miền này cao. Khí hậu miền này ít biến động nhiều trong năm. Vùng cao nguyên Nam Trung Bộ (Tây Nguyên) Vùng đồng bằng Nam Bộ === Miền khí hậu Trường Sơn === Gồm phần lãnh thổ phía Đông dãy Trường Sơn, kéo dài từ phía Nam dãy Hoành Sơn tới Phan Thiết. Đây là miền khí hậu chuyển tiếp giữa hai miền khí hậu nói trên và mang đặc điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Miền này lại có thể chia làm hai vùng: Vùng Bắc Trung Bộ là vùng Bắc đèo Hải Vân đôi khi có thời tiết lạnh và có những thời kỳ khô nóng do gió phơn tây nam gây nên. Về mùa đông, do hình thế vùng này chạy dọc bờ biển Đông theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, đón trực diện với hướng gió mùa chủ đạo thổi trong mùa này là gió mùa Đông Bắc. Lại bị hệ dãy núi Trường Sơn tương đối cao ở phía Tây (dãy Phong Nha - Kẻ Bàng) và phía Nam (tại đèo Hải Vân trên dãy Bạch Mã) chắn ở cuối hướng gió mùa Đông Bắc. Nên vì vậy vùng này vẫn bị ảnh hưởng bởi thời tiết lạnh do gió mùa Đông Bắc mang đến và thường kèm theo mưa nhiều (đặc biệt là tại Thừa Thiên - Huế) do gió mùa thổi theo đúng hướng Đông Bắc mang theo hơi nước từ biển vào, hơi khác biệt với thời tiết khô hanh của miền Bắc cùng trong mùa đông. Gió mùa Đông Bắc thổi đến đây thường bị suy yếu và bị chặn lại bởi dãy Bạch Mã ít ảnh hưởng tới các vùng phía Nam. Về mùa Hè, khi gió mùa Tây Nam hoạt động mạnh thổi từ vịnh Thái Lan qua vùng lục địa rộng lớn đến dãy Trường Sơn thì bị trút hết mưa xuống sườn Tây Trường Sơn nhưng vẫn tiếp tục vượt qua dãy núi để thổi sang vùng này. Lúc này do không còn hơi nước nên gió mùa Tây Nam gây ra thời tiết khô nóng (có khi tới > 40 °C, độ ẩm chỉ còn 50 ÷ 60), gió này gọi là gió foehn. Vùng Duyên hải Nam Trung Bộ là vùng đồng bằng ven biển Nam Trung Bộ phía Nam đèo Hải Vân tương tự như phía bắc đèo Hải vân, tuy nhiên nhiệt độ có cao hơn và thỉnh thoảng có những đợt lạnh mùa đông tuy không dài, ảnh hưởng của gió Tây khô nóng không lớn như ở Bắc Trung Bộ Một đặc điểm quan trọng của miền khí hậu này là mùa mưa và mùa khô không cùng lúc với mùa mưa và khô của hai miến khí hậu còn lại. Mùa hè, trong khi cả nước có lượng mưa lớn nhất, thì miền khí hậu này lại đang ở thời kỳ khô nhất. === Miền khí hậu biển Đông === Biển Đông Việt Nam mang đặc tính hải dương và tương đối đồng nhất. Tại đây thường xuyên có xoáy lốc đi từ Thái Bình Dương vào, tạo thành các cơn bão lớn == Tham khảo == == Sách tham khảo == Lê Bá Thảo. Việt Nam - Lãnh thổ và các vùng địa lý. Nhà xuất bản Thế giới, Hà Nội, 2001.
san diego comic-con international.txt
San Diego Comic-Con International là hội nghị truyện tranh và giải trí đa thể loại, tổ chức thường niên tại San Diego, California. Chương trình được sáng lập bởi một nhóm người đến từ San Diego vào năm 1970 dưới cái tên Golden State Comic Book Convention, bao gồm Shel Dorf, Richard Alf, Ken Krueger và Mike Towry; sau đó đổi tên thành "San Diego Comic Book Convention". Tựa đề đầy đủ của chương trình là Comic-Con International: San Diego; còn được biết đến đơn giản là Comic-Con hoặc San Diego Comic-Con hay "SDCC". Sự kiện kéo dài 4 ngày (từ thứ 5—Chủ Nhật) trong mùa hè tại San Diego Convention Center, San Diego, California. Trong đêm thứ 4 trước buổi khai mạc, có một buổi xem trước cho nhân vật chuyên ngành, nhà triển lãm và khách mời chọn lọc ghi danh trong 4 ngày. Comic-Con International cũng sản xuất 2 buổi hội thảo khác, WonderCon, diễn ra ở Los Angeles, California; và Alternative Press Expo (APE), xuất hiện tại San Francisco. Kể từ năm 1974, Comic-Con tổ chức giải thưởng hàng năm Inkpot Award đến khách mời và nhân vật có niềm yêu thích đến ngành công nghiệp nghệ thuật đại chúng, cũng như thành viên trong ban đạo diễn của Comic-Con và hội đồng Convention. Đây cũng là nơi trao tặng giải Will Eisner Awards. Ban đầu chỉ trưng bày đa phần là truyện tranh, phim ảnh, truyền hình và văn hóa liên quan đến chủ đề khoa học giả tưởng, hội nghị từ đó đã mở rộng sang nhiều nội dung văn hóa đại chúng và yếu tố giải trí trên khắp thể loại, bao gồm kinh dị, hoạt hình, anime, manga, đồ chơi, thẻ trò chơi, trò chơi điện tử, webcomic và tiểu thuyết giả tưởng. Theo Forbes, đây là "hội nghị lớn nhất trên thế giới;" Publishers Weekly viết rằng "Comic-Con International: San Diego là chương trình lớn nhất Bắc Mỹ;" và cũng là hội nghị lớn nhất diễn ra tại San Diego. Vào năm 2010, chương trình thu hút 130.000 lượt tham gia tại San Diego Convention Center. == Lịch sử hình thành == Hội nghị được sáng lập năm 1970 bởi Shel Dorf, Richard Alf, Ken Krueger, Mike Towry, Barry Alfonso, Bob Sourk và Greg Bear. Người hâm mộ truyện tranh sinh tại Detroit, Michigan Shel Dorf từng tổ chức Detroit Triple-Fan Fairs, một trong những hội chợ đầu tiên của cộng đồng yêu mến truyện tranh vào giữa những năm 1960. Khi dời đến San Diego, California vào năm 1970, ông tổ chức một hội nghị diễn ra vào ngày 21 tháng 3 năm 1970. Dorf tiếp tục tham gia hội nghị như một nhà quản lý trong nhiều năm. Alf đồng quản lý buổi hội nghị đầu tiên cùng Krueger và trở thành chủ tịch vào năm 1971. Hội nghị truyện tranh San Diego dài 3 ngày đầu tiên của Dorf, mang tên "Golden State Comic-Con", thu hút 300 người tham dự tại U.S. Grant Hotel từ ngày 1–3 tháng 8 năm 1970. Những địa điểm khác trong những năm đầu tổ chức bao gồm El Cortez Hotel, University of California, San Diego và Golden Hall, trước khi chuyển về San Diego Convention Center vào năm 1991. Hội nghị được tổ chức bởi 13 thành viên chủ trì, 16 đến 20 nhân viên bán thời gian và toàn thời gian, 80 tình nguyện viên hỗ trợ thông qua các ủy ban. Comic Con International là một tổ chức không lợi nhuận, dẫn đến sự kiện quyên góp cũng như Alternative Press Expo (APE) và WonderCon. Logo của hội nghị do Richard Bruning và Josh Beatman thiết kế năm 1995. Vào tháng 9 năm 2010, hội nghị thông báo sẽ dừng chân tại San Diego suốt năm 2015. Vào năm 2015, hội nghị hợp tác cùng Lionsgate, một kênh video được tạo để chủ trì nội dung liên quan đến Comic-Con. Theo San Diego Convention and Visitor's Bureau, hội nghị này có tác động kinh tế khu vực hàng năm khoảng 162.8 triệu đô-la Mỹ, với khoảng 180 triệu đô-la Mỹ ảnh hưởng kinh tế vào năm 011. == Sự kiện == Bên cạnh hội thảo với nhiều chuyên gia truyện tranh, nhiều trích đoạn của những bộ phim sắp phát hành và danh mục đánh giá cùng những công ty truyện tranh và trò chơi điện tử hàng đầu cũng xuất hiện. Các đêm hội nghị bao gồm những sự kiện như lễ trao giải, cuộc thi hóa trang Masquerade thường niên và Liên hoan phim độc lập quốc tế Comic-Con, nơi trình chiếu những bộ phim chưa có nhà phân phối hoặc phân phối giao dịch. Trong những năm gần đây, số chương trình truyền hình được quảng bá cao hơn số phim điện ảnh. Trong mùa hội nghị 2011, ít nhất 80 chương trình truyền hình được giới thiệu, so với khoảng 35 bộ phim điện ảnh. Nhiều chương trình truyền hình được giới thiệu bao gồm Bones, Burn Notice, Castle, Chuck, Grimm, MythBusters, Nikita, Once Upon a Time, Psych, Supernatural, The Big Bang Theory và The Vampire Diaries. Một vài chương trình khoa học viễn tưởng cũng xuất hiện như Being Human, EUReKA, Fringe, Lost Girl, Sanctuary, Torchwood, Doctor Who và Warehouse 13. Đài HBO thu hút với các chương trình Game of Thrones, Dexter, Shameless và True Blood. Vào năm 2013, có tổng cộng 1075 buổi tọa đàm trong hội nghị, trong đó liên quan đến anime (29%) và truyện tranh (26%). Có ít nhất 17 phòng khác nhau ở Trung tâm Hội nghị được sử dụng cho các buổi đàm thoại và trình chiếu, với 280 đến 6.100 chỗ ngồi. 2 phòng lớn nhất là Ballroom 20, với sức chứa khoảng 4.900 người; và Hall H, với sức chứa khoảng 6.100 người. Hilton Bayfront cũng được dùng để phục vụ chương trình, với khán phòng chính (Indigo) có sức chứa 2.600 người. Một khách sạn khác, Marriott Marquis & Marina, cũng là nơi chủ trì nhiều hoạt động của Comic-Con. == Comic-Con Magazine == Comic-Con Magazine, trước đây là Update, là tạp chí chính thức của San Diego Comic-Con International, WonderCon và Alternative Press Expo, xuất bản miễn phí tại Hoa Kỳ bởi San Diego Comic-Con International. Tiền thân của Comic-Con Magazine bắt đầu từ một ấn bản one-shot của The Spirit, dựa trên Comic-Con, được bán độc quyền tại San Diego Comic-Con International năm 1976. Comic-Con Magazine đổi thành Update vào tháng 7 năm 2015 và chủ yếu dựa trên quán quân giải Eisner Awards. Ấn bản Update cuối cùng ra mắt tháng 8 năm 2008 và không còn xuất bản nữa. Update trở lại dưới cái tên Comic-Con Magazine, với sự hợp tác của WonderCon và Alternative Press Expo, còn được biết đến như APE. Comic-Con Magazine mới còn xuất hiện nhiều bài phỏng vấn và toàn cảnh sự kiện Comic-Con. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức San Diego Comic Convention Souvenir Book 1994 (offline) The "Secret Origin" of San Diego's Comic-Con International San Diego Comic-Con – Frequently Asked Questions
nhôm.txt
Nhôm (bắt nguồn từ tiếng Pháp: aluminium, phiên âm tiếng Việt: a-luy-mi-nhôm) là tên một nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn nguyên tố có ký hiệu Al và số nguyên tử bằng 13. Nguyên tử khối bằng 27 đvC. Khối lượng riêng là 2,7 g/cm3. Nhiệt độ nóng chảy là 660oC. Nhôm là nguyên tố phổ biến thứ 3 (sau ôxy và silic), và là kim loại phổ biến nhất trong vỏ Trái Đất. Nhôm chiếm khoảng 8% khối lớp rắn của Trái Đất. Kim loại nhôm hiếm phản ứng hóa học mạnh với các mẫu quặng và có mặt hạn chế trong các môi trường khử cực mạnh. Tuy vậy, nó vẫn được tìm thấy ở dạng hợp chất trong hơn 270 loại khoáng vật khác nhau. Quặng chính chứa nhôm là bô xít. Nhôm có điểm đáng chú ý của một kim loại có tỷ trọng thấp và có khả năng chống ăn mòn hiện tượng thụ động. Các thành phần cấu trúc được làm từ nhôm và hợp kim của nó là rất quan trọng cho ngành công nghiệp hàng không vũ trụ và rất quan trọng trong các lĩnh vực khác của giao thông vận tải và vật liệu cấu trúc. Các hợp chất hữu ích nhất của nhôm là các ôxít và sunfat. Mặc dù nó có mặt phổ biến trong môi trường nhưng các muối nhôm không được bất kỳ dạng sống nào sử dụng. Với sự phổ biến của nó, nhôm được dung nạp tốt bởi thực vật và động vật. == Thuộc tính == Nhôm là một kim loại mềm, nhẹ với màu trắng bạc ánh kim mờ, vì có một lớp mỏng ôxi hóa tạo thành rất nhanh khi nó để trần ngoài không khí. Tỷ trọng riêng của nhôm chỉ khoảng một phần ba sắt hay đồng; nó rất mềm (chỉ sau vàng), dễ uốn (đứng thứ sáu) và dễ dàng gia công trên máy móc hay đúc; nó có khả năng chống ăn mòn và bền vững do lớp ôxít bảo vệ. Nó cũng không nhiễm từ và không cháy khi để ở ngoài không khí ở điều kiện thông thường. Sức bền của nhôm tinh khiết là 7–11 MPa, trong khi hợp kim nhôm có độ bền từ 200 MPa đến 600 MPa. Các nguyên tử nhôm sắp xếp thành một cấu trúc lập phương tâm mặt (fcc). Nhôm có năng lượng xếp lỗi vào khoảng 200 mJ/m2. Nhôm phản ứng với nước tạo ra hydro và năng lượng: 2 Al + 6 H2O → 2 Al(OH)3 + 3 H2 Tính chất này có thể dùng để sản xuất hydro, tuy nhiên phản ứng này mau chóng dừng lại vì tạo lớp kết tủa keo lắng xuống,ngăn cản phản ứng xảy ra. Khi ngâm trong dung dịch kiềm đặc, lớp màng này sẽ bị phá hủy theo phản ứng Al(OH)3+NaOH → NaAlO2 + 2H2O Tiếp tục Al lại tác dụng với nước như phản ứng trên. Quá trình này lại diễn ra đến khi Al không bị hòa tan hết. == Lịch sử == Tham chiếu đầu tiên tới nhôm (mặc dù không thể chứng minh) là trong Naturalis Historia của Gaius Plinius Secundus (tức Pliny anh): Có một ngày một người thợ vàng ở Roma được phép cho hoàng đế Tiberius xem một chiếc đĩa ăn làm từ một kim loại mới. Chiếc đĩa rất nhẹ và có màu sáng như bạc. Người thợ vàng nói với hoàng đế rằng ông đã sản xuất kim loại từ đất sét thô. Ông cũng cam đoan với hoàng đế rằng chỉ có ông ta và chúa Trời biết cách sản xuất kim loại này từ đất sét. Hoàng đế rất thích thú, và như một chuyên gia về tài chính ông đã quan tâm tới nó. Tuy nhiên ông nhận ngay ra là mọi tài sản vàng, bạc của ông sẽ mất giá trị nếu như người dân bắt đầu sản xuất kim loại màu sáng này từ đất sét. Vì thế, thay vì cảm ơn người thợ vàng, ông đã ra lệnh chặt đầu ông ta. Những người Hy Lạp và La Mã cổ đại đã sử dụng các loại muối của kim loại này như là thuốc cẩn màu (nhuộm) và như chất làm se vết thương, và phèn chua vẫn được sử dụng như chất làm se. Năm 1761 Guyton de Morveau đề xuất cách gọi gốc của phèn chua là alumine. Năm 1808, Humphry Davy xác định được gốc kim loại của phèn chua (alum), mà theo đó ông đặt tên cho nhôm là aluminium. Tên tuổi của Friedrich Wöhler nói chung được gắn liền với việc phân lập nhôm vào năm 1827. Tuy nhiên, kim loại này đã được sản xuất lần đầu tiên trong dạng không nguyên chất hai năm trước bởi nhà vật lý và hóa học Đan Mạch Hans Christian Ørsted. Nhôm được chọn làm chóp cho đài kỷ niệm Washington vào thời gian khi một aoxơ (28,35 g) có giá trị bằng hai lần ngày lương của người lao động. Charles Martin Hall nhận được bằng sáng chế (số 400655) năm 1886, về quy trình điện phân để sản xuất nhôm. Henri Saint-Claire Deville (Pháp) đã hoàn thiện phương pháp của Wöhler (năm 1846) và thể hiện nó trong cuốn sách năm 1859 với hai cải tiến trong quy trình là thay thế kali thành natri và hai thay vì một (chlorure)??. Phát minh của quy trình Hall-Héroult năm 1886 đã làm cho việc sản xuất nhôm từ khoáng chất trở thành không đắt tiền và ngày nay nó được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Nước Đức trở thành nhà sản xuất nhôm lớn nhất thế giới sau khi Adolf Hitler lên nắm quyền. Tuy nhiên, năm 1942, những nhà máy thủy điện mới như Grand Coulee Dam đã cho phép Mỹ những thứ mà nước Đức quốc xã không thể hy vọng cạnh tranh: khả năng sản xuất đủ nhôm để có thể sản xuất 60.000 máy bay chiến đấu trong bốn năm.. == Ứng dụng == Tính theo cả số lượng lẫn giá trị, việc sử dụng nhôm vượt tất cả các kim loại khác, trừ sắt, và nó đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thế giới. Nhôm nguyên chất có sức chịu kéo thấp, nhưng tạo ra các hợp kim với nhiều nguyên tố như đồng, kẽm, magiê, mangan và silic. Khi được gia công cơ-nhiệt, các hợp kim nhôm này có các thuộc tính cơ học tăng lên đáng kể. Các hợp kim nhôm tạo thành một thành phần quan trọng trong các máy bay và tên lửa do tỷ lệ sức bền cao trên cùng khối lượng. Khi nhôm được bay hơi trong chân không, nó tạo ra lớp bao phủ phản xạ cả ánh sáng và bức xạ nhiệt. Các lớp bao phủ này tạo thành một lớp mỏng của ôxít nhôm bảo vệ, nó không bị hư hỏng như các lớp bạc bao phủ vẫn hay bị. Trên thực tế, gần như toàn bộ các loại gương hiện đại được sản xuất sử dụng lớp phản xạ bằng nhôm trên mặt sau của thủy tinh. Các gương của kính thiên văn cũng được phủ một lớp mỏng nhôm, nhưng là ở mặt trước để tránh các phản xạ bên trong mặc dù điều này làm cho bề mặt nhạy cảm hơn với các tổn thương. Các loại vỏ phủ nhôm đôi khi được dùng thay vỏ phủ vàng để phủ vệ tinh nhân tạo hay khí cầu để tăng nhiệt độ cho chúng, nhờ vào đặc tính hấp thụ bức xạ điện từ của Mặt Trời tốt, mà bức xạ hồng ngoại vào ban đêm thấp. Hợp kim nhôm, nhẹ và bền, được dùng để chế tạo các chi tiết của phương tiện vận tải (ô tô, máy bay, xe tải, toa xe tàu hỏa, tàu biển, v.v.) Đóng gói (can, giấy gói, v.v) Xử lý nước Xây dựng (cửa sổ, cửa, ván, v.v; tuy nhiên nó đã đánh mất vai trò chính dùng làm dây dẫn phần cuối cùng của các mạng điện, trực tiếp đến người sử dụng.) Các hàng tiêu dùng có độ bền cao (trang thiết bị, đồ nấu bếp, v.v) Các đường dây tải điện (mặc dù độ dẫn điện của nó chỉ bằng 60% của đồng, nó nhẹ hơn nếu tính theo khối lượng và rẻ tiền hơn Chế tạo máy móc. Mặc dù tự bản thân nó là không nhiễm từ, nhôm được sử dụng trong thép MKM và các nam châm Alnico. Nhôm siêu tinh khiết (SPA) chứa 99,980%-99,999% nhôm được sử dụng trong công nghiệp điện tử và sản xuất đĩa CD. Nhôm dạng bột thông thường được sử dụng để tạo màu bạc trong sơn. Các bông nhôm có thể cho thêm vào trong sơn lót, chủ yếu là trong xử lý gỗ — khi khô đi, các bông nhôm sẽ tạo ra một lớp kháng nước rất tốt. Nhôm dương cực hóa là ổn định hơn đối với sự ôxi hóa, và nó được sử dụng trong các lĩnh vực khác nhau của xây dựng. Phần lớn các bộ tản nhiệt cho CPU của các máy tính hiện đại được sản xuất từ nhôm vì nó dễ dàng trong sản xuất và độ dẫn nhiệt cao. Ôxít nhôm, alumina, được tìm thấy trong tự nhiên dưới dạng corunđum, emery, ruby và saphia và được sử dụng trong sản xuất thủy tinh. Ruby và saphia tổng hợp được sử dụng trong các ống tia laser để sản xuất ánh sáng có khả năng giao thoa. Sự ôxi hóa nhôm tỏa ra nhiều nhiệt, nó sử dụng để làm nguyên liệu rắn cho tên lửa, nhiệt nhôm và các thành phần của pháo hoa. Phản ứng nhiệt nhôm dùng để điều chế các kim loại có nhiệt độ nóng chảy cao (như crôm Cr Vonfarm W...) == Sự phổ biến, điều chế == Đồng vị bền của nhôm được tạo ra khi hydro hợp hạch với magiê hoặc trong các sao lớn hoặc trong các vụ nổ siêu tân tinh. Mặc dù nhôm là nguyên tố phổ biến trong vỏ Trái Đất (8,3% theo khối lượng), nó lại hiếm trong dạng tự do và đã từng được cho là kim loại quý có giá trị hơn vàng (Người ta nói rằng Napoleon III của Pháp có các bộ đồ ăn bằng nhôm dự phòng cho những người khách quý nhất của ông. Những người khách khác chỉ có bộ đồ ăn bằng vàng). Vì thế nhôm là kim loại tương đối mới trong công nghiệp và được sản xuất với số lượng công nghiệp chỉ khoảng trên 100 năm. Nhôm khi mới được phát hiện là cực kỳ khó tách ra khỏi các loại đá có chứa nó. Vì toàn bộ nhôm của Trái Đất tồn tại dưới dạng các hợp chất nên nó là kim loại khó nhận được nhất. Lý do là nhôm bị ôxi hóa rất nhanh và ôxít nhôm là một hợp chất cực kỳ bền vững, không giống như gỉ sắt, nó không bị bong ra. Sự tái chế nhôm từ các phế thải đã trở thành một trong những thành phần quan trọng của công nghiệp luyện nhôm. Việc tái chế đơn giản là nấu chảy kim loại, nó rẻ hơn rất nhiều so với sản xuất từ quặng. Việc tinh chế nhôm tiêu hao nhiều điện năng; việc tái chế chỉ tiêu hao khoảng 5% năng lượng để sản xuất ra nó trên cùng một khối lượng sản phẩm. Mặc dù cho đến đầu thập niên 1900, việc tái chế nhôm không còn là một lĩnh vực mới. Tuy nhiên, nó là lĩnh vực hoạt động trầm lắng cho đến tận những năm cuối thập niên 1960 khi sự bùng nổ của việc sử dụng nhôm để làm vỏ của các loại đồ uống, kể từ đó việc tái chế nhôm được đưa vào trong tầm chú ý của cộng đồng. Các nguồn tái chế nhôm bao gồm ô tô cũ, cửa và cửa sổ nhôm cũ, các thiết bị gia đình cũ, contenơ và các sản phẩm khác. Nhôm là một kim loại hoạt động và rất khó phân lập nó ra từ quặng, ôxít nhôm (Al2O3). Việc khử trực tiếp, ví dụ với cacbon, là không kinh tế vì ôxít nhôm có điểm nóng chảy cao (khoảng 2.000 °C). Vì thế, nó được tách ra bằng cách điện phân – ôxít nhôm được hòa tan trong cryôlit nóng chảy và sau đó bị khử bởi dòng điện thành nhôm kim loại. Theo công nghệ này, nhiệt độ nóng chảy của hỗn hợp chỉ còn khoảng 950-980 °C. Phương trình để điều chế nhôm là: 2Al2O3 -> 4Al + 3O2 Cryôlit nguyên thủy được tìm thấy như một khoáng chất ở Greenland, nhưng sau đó được thay thế bằng cryôlit tổng hợp. Cryôlit là hỗn hợp của các florua nhôm, natri và canxi (Na3AlF6). Ôxít nhôm trong dạng bột màu trắng thu được từ quặng bôxít tinh chế, quặng này có màu đỏ vì chứa khoảng 30-40% ôxít sắt. Nó được tinh chế theo công nghệ Bayer. Trước khi có công nghệ này, công nghệ được sử dụng là công nghệ Deville. Công nghệ điện phân thay thế cho công nghệ Wöhler, là công nghệ khử clorua nhôm khan với kali. Các điện cực trong điện phân ôxít nhôm làm từ cacbon. Khi quặng bị nóng chảy, các ion của nó chuyển động tự do. Phản ứng tại catốt mang điện âm là: Al3+ + 3e- → Al Ở đây các ion nhôm bị biến đổi (nhận thêm điện tử). Nhôm kim loại sau đó chìm xuống và được đưa ra khỏi lò điện phân. Tại cực dương (anode) ôxy dạng khí được tạo thành: 2O2- → O2 + 4e- Cực dương cacbon bị ôxi hóa bởi ôxy. Cực dương bị hao mòn dần và phải được thay thế thường xuyên, do nó bị tiêu hao do phản ứng: O2 + C → CO2 Ngược lại với anốt, các catốt gần như không bị tiêu hao trong quá trình điện phân do không có ôxy ở gần nó. Catốt cacbon được bảo vệ bởi nhôm lỏng trong lò. Các catốt bị ăn mòn chủ yếu là do các phản ứng điện hóa. Sau 5-10 năm, phụ thuộc vào dòng điện sử dụng trong quá trình điện phân, các lò điện phân cần phải sửa chữa toàn bộ do các catốt đã bị ăn mòn hoàn toàn. Điện phân nhôm bằng công nghệ Hall-Héroult tiêu hao nhiều điện năng, nhưng các công nghệ khác luôn luôn có khuyết điểm về mặt kinh tế hay môi trường hơn công nghệ này. Tiêu chuẩn tiêu hao năng lượng phổ biến là khoảng 14,5-15,5 kWh/kg nhôm được sản xuất. Các lò hiện đại có mức tiêu thụ điện năng khoảng 12,8 kWh/kg. Dòng điện để thực hiện công việc điện phân này đối với các công nghệ cũ là 100.000-200.000 A. Các lò hiện nay làm việc với cường độ dòng điện khoảng 350.000 A. Các lò thử nghiệm làm việc với dòng điện khoảng 500.000 A. Năng lượng điện chiếm khoảng 20-40% trong giá thành của sản xuất nhôm, phụ thuộc vào nơi đặt lò nhôm. Các lò luyện nhôm có xu hướng được đặt ở những khu vực mà nguồn cung cấp điện dồi dào với giá điện rẻ, như Nam Phi, đảo miền nam New Zealand, Úc, Trung Quốc, Trung Đông, Nga và Québec ở Canada. Trung Quốc hiện là nhà sản xuất nhôm lớn nhất thế giới (năm 2004). == Đồng vị == Nhôm có chín đồng vị, số Z của chúng từ 23 đến 30. Chỉ có Al-27 (đồng vị ổn định) và Al-26 (đồng vị phóng xạ, t1/2 = 7,2 × 105 năm) tìm thấy trong tự nhiên, tuy nhiên Al-27 có sự phổ biến trong tự nhiên là 100%. Al-26 được sản xuất từ agon trong khí quyển do va chạm sinh ra bởi các tia vũ trụ proton. Các đồng vị của nhôm có ứng dụng thực tế trong việc tính tuổi của trầm tích dưới biển, các vết mangan, nước đóng băng, thạch anh trong đá lộ thiên, và các thiên thạch. Tỷ lệ của Al-26 trên beryli-10 được sử dụng để nghiên cứu vai trò của việc chuyển hóa, lắng đọng, lưu trữ trầm tích, thời gian cháy và sự xói mòn trong thang độ thời gian 105 đến 106 năm (về sai số). Al-26 nguồn gốc vũ trụ đầu tiên được sử dụng để nghiên cứu Mặt Trăng và các thiên thạch. Các thành phần của thiên thạch, sau khi thoát khỏi nguồn gốc của chúng, trong khi chu du trong không gian bị tấn công bởi các tia vũ trụ, sinh ra các nguyên tử Al-26. Sau khi rơi xuống Trái Đất, tấm chắn khí quyển đã bảo vệ cho các phần tử này không sinh ra thêm Al-26, và sự phân rã của nó có thể sử dụng để xác định tuổi trên Trái Đất của các thiên thạch này. Các nghiên cứu về thiên thạch cho thấy Al-26 là tương đối phổ biến trong thời gian hình thành hệ hành tinh của chúng ta. Có thể là năng lượng được giải phóng bởi sự phân rã Al-26 có liên quan đến sự nấu chảy lại và sự sai biệt của một số tiểu hành tinh sau khi chúng hình thành cách đây 4,55 tỷ năm. === Cụm === Trong tạp chí Science ngày 14 tháng 1 năm 2005 đã thông báo rằng các cụm 13 nguyên tử nhôm (Al13) được tạo ra có tính chất giống như nguyên tử iốt; và 14 nguyên tử nhôm (Al14) có tính chất giống như nguyên tử kim loại kiềm thổ. Các nhà nghiên cứu còn liên kết 12 nguyên tử iốt với cụm Al13 để tạo ra một lớp mới của pôlyiốtua. Sự phát kiến này được thông báo là mở ra khả năng của các đặc tính mới của bảng tuần hoàn các nguyên tố: "các nguyên tố cụm". Nhóm nghiên cứu dẫn đầu bởi Shiv N. Khanna (Đại học Virginia Commonwealth) và A. Welford Castleman Jr (Đại học tiểu bang Penn). == Cảnh báo == Nhôm là một trong ít các nguyên tố phổ biến nhất mà không có chức năng có ích nào cho các cơ thể sống, nhưng có một số người bị dị ứng với nó — họ bị các chứng viêm da do tiếp xúc với các dạng khác nhau của nhôm: các vết ngứa do sử dụng các chất làm se da hay hút mồ hôi (phấn rôm), các rối loạn tiêu hóa và giảm hay mất khả năng hấp thụ các chất dinh dưỡng từ thức ăn nấu trong các nồi nhôm, nôn mửa hay các triệu chứng khác của ngộ độc nhôm do ăn (uống) các sản phẩm như Kaopectate® (thuốc chống tiêu chảy), Amphojel® và Maalox® (thuốc chống chua). Đối với những người khác, nhôm không bị coi là chất độc như các kim loại nặng, nhưng có dấu hiệu của ngộ độc nếu nó được hấp thụ nhiều, mặc dù việc sử dụng các đồ nhà bếp bằng nhôm (phổ biến do khả năng chống ăn mòn và dẫn nhiệt tốt) nói chung chưa cho thấy dẫn đến tình trạng ngộ độc nhôm. Việc tiêu thụ qua nhiều các thuốc chống chua chứa các hợp chất nhôm và việc sử dụng quá nhiều các chất hút mồ hôi chứa nhôm có lẽ là nguồn duy nhất sinh ra sự ngộ độc nhôm. Người ta cho rằng nhôm có liên quan đến bệnh Alzheimer, mặc dù các nghiên cứu gần đây đã bị bác bỏ. Cần cẩn thận để không cho nhôm tiếp xúc với một số chất hóa học nào đó có khả năng ăn mòn nó rất nhanh. Ví dụ, chỉ một lượng nhỏ thủy ngân tiếp xúc với bề mặt của miếng nhôm có thể phá hủy lớp ôxít nhôm bảo vệ thông thường có trên bề mặt các tấm nhôm. Trong vài giờ, thậm chí cả một cái xà có cấu trúc nặng nề có thể bị làm yếu đi một cách rõ rệt. Vì lý do này, các loại nhiệt kế thủy ngân không được phép trong nhiều sân bay và hãng hàng không, vì nhôm là thành phần cấu trúc cơ bản của các máy bay. == Hóa học == === Trạng thái ôxi hóa 1 === AlH được điều chế khi nhôm bị nung nóng ở nhiệt độ 1500 °C trong hiđrô. Al2O được điều chế bằng cách nung nóng ôxít thông thường, hoặc Al2O3 với silic ở nhiệt độ 1800 °C trong chân không. Al2S được điều chế bằng cách nung nóng Al2S3 với vỏ nhôm ở nhiệt độ 1300 °C trong chân không. Nó nhanh chóng bị chuyển thành các chất ban đầu. Selenua được điều chế tương tự. AlF, AlCl và AlBr tồn tại trong pha khí khi ba halua được nung nóng cùng với nhôm. === Trạng thái ôxi hóa 2 === Subôxít nhôm, AlO có thể được tồn tại khi bột nhôm cháy trong ôxy. === Trạng thái ôxi hóa 3 === Quy tắc Fajans chỉ ra rằng cation hóa trị ba Al3+ là không được mong chờ tìm thấy trong các muối khan hay trong các hợp chất nhị phân như Al2O3. Hiđrôxít nhôm là một bazơ yếu và muối nhôm của các axít yếu, chẳng hạn như cacbonat, không thể tạo ra. Muối của các axít mạnh, chẳng hạn như nitrat, là ổn định và hòa tan trong nước, tạo thành các hiđrat với ít nhất sáu phân tử nước kết tinh. Hiđrua nhôm, (AlH3)n, có thể sản xuất từ trimêthyl nhôm và hiđrô dư thừa. Nó cháy kèm nổ trong không khí. Nó cũng có thể được điều chế bằng phản ứng của clorua nhôm trên hiđrua liti trong dung dịch ête, nhưng không thể cô lập thành dạng tự do từ dung dịch. Cacbua nhôm, Al4C3 được sản xuất bằng cách nung nóng hỗn hợp hai nguyên tố trên 1.000 °C. Các tinh thể màu vàng nhạt có cấu trúc lưới phức tạp,và phản ứng với nước hay axít loãng tạo ra mêtan. Axêtylua, Al2(C2)3, được điều chế bằng cách cho axêtylen đi qua nhôm nóng. Nitrua nhôm, AlN, có thể được sản xuất từ các nguyên tố ở nhiệt độ 800 °C. Nó bị thủy phân bởi nước tạo ra amôniắc và hiđrôxít nhôm. Phốtphua nhôm, AlP, được sản xuất tương tự, và bị thủy phân thành phốtphin (PH3). Ôxít nhôm, Al2O3, tìm thấy trong tự nhiên như là corunđum, và có thể điều chế bằng cách đốt nóng nhôm với ôxy hay nung nóng hiđrôxít, nitrat hoặc sulfat. Như là một loại đá quý, độ cứng của nó chỉ thua có kim cương, nitrua bo và cacborunđum. Nó gần như không hòa tan trong nước. Hiđrôxít nhôm có thể được điều chế như là một chất kết tủa dạng gelatin bằng cách cho thêm amôniắc vào trong dung dịch của các muối nhôm. Nó là lưỡng tính, vừa là bazơ yếu vừa là axít yếu, có thể tạo ra các muối aluminat với kim loại kiềm. Nó tồn tại trong các dạng tinh thể khác nhau. Sulfua nhôm, Al2S3, có thể điều chế bằng cách cho sulfua hiđrô đi qua bột nhôm. Nó là một chất đa hình. Florua nhôm, AlF3, có thể điều chế bằng cách cho hai nguyên tố tác dụng với nhau hay cho hiđrôxít nhôm tác dụng với HF. Nó tạo thành phân tử lớn, bay hơi không qua pha nóng chảy ở nhiệt độ 1.291 °C (thăng hoa). Nó là một chất rất trơ. Các trihalua khác là các chất dime, có cấu trúc cầu nối. Các hợp chất hữu cơ của nhôm có công thức chung AlR3 tồn tại và nếu không phải là các phân tử lớn, thì là các chất dime hay trime. Chúng được sử dụng trong tổng hợp chất hữu cơ, ví dụ trimêtyl nhôm. Các chất alumino-hyđrua của phần lớn các nguyên tố có khả năng tích điện dương đã được biết, trong đó có giá trị nhất là hiđrua nhôm liti, Li[AlH4]. Khi bị đốt nóng, nó phân hủy thành nhôm, hiđrô và hiđrua liti, nó bị thủy phân trong nước. Nó có nhiều ứng dụng trong hóa hữu cơ. Các alumino-halua [AlR4] có cấu trúc tương tự. == Ảnh hưởng lên thực vật == Nhôm chính là một trong những yếu tố làm giảm sự tăng trưởng thực trên các đất chua. Mặc dù nó không gây hại đối với sự phát triển của thực vật ở các đất có độ pH trung tính, khi nồng độ của cation Al3+ trong đất chua tăng và làm rối loạn sự phát triển và chức năng của rễ. Hầu hết các đất chua được bảo hòa với nhôm hơn là các ion hydro. Độ chua của đất là kết quả của quá trình thủy phân các hợp chất nhôm. Khái niệm dùng vôi để điều chỉnh độ chua để xác định mức độ bảo hòa cơ sở trong các loại đất là cơ sở cho các công đoạn thí nghiệm đất trong phòng thí nghiệm, từ đó xác định lượng vôi cần thiết cung cấp cho đất. == Chú thích == == Tham khảo == Los Alamos National Laboratory – Aluminum World Wide Words – history of the spelling of aluminium Polmear, I. J. (1995). Light Alloys: Metallurgy of the Light Metals. Arnold. ISBN 9780340632079. Dieter G. E. (1988). Mechanical Metallurgy. McGraw-Hill. ISBN 0070168938. Macleod, H. A. (2001). Thin-film optical filters. CRC Press. tr. 158–159. ISBN 0750306882. Gitelman, H. J. "Physiology of Aluminum in Man", in Aluminum and Health, CRC Press, 1988, ISBN 0-8247-8026-4, p. 90 “Elements of Chemical Philosophy By Sir Humphry Davy”. Quarterly Review (John Murray) VIII: 72. 1812. ISBN 0217889476. Truy cập ngày 10 tháng 12 năm 2009. Bremner, John Words on Words: A Dictionary for Writers and Others Who Care about Words, pp. 22–23. ISBN 0-231-04493-3. Wallace, Donald Holmes (1977) [1937]. Market Control in the Aluminum Industry. Harvard University Press via Ayer Publishing via Google Books limited view. tr. 6. ISBN 0-4050-9786-7. Truy cập ngày 27 tháng 10 năm 2007. == Liên kết ngoài == WebElements.com – Aluminium EnvironmentalChemistry.com – Aluminium World Aluminium
máy in laser.txt
Máy in laser (đọc là máy in la-de) là một loại máy in thông dụng có khả năng in rất nhanh các văn bản có chất lượng cao trên giấy trắng. Cùng với máy photocopy kỹ thuật số và máy in đa chức năng (Multifunctionprinters = MFPs), máy in thực thi một quá trình in xerographic nhưng khác với máy photocopy tỷ biến ở chỗ hình ảnh trên giấy được in bằng việc quét trực tiếp các chùm tia la-de hướng sang thụ quan ánh sáng của máy. == Cấu tạo == 1. Nguồn laser. 2.Hộp mực. 3.Gương quét đa giác. 4.Trống in. 5.Trục sấy == Nguyên tắc hoạt động == - Là một trong những máy in tĩnh điện gián tiếp. - Phần quan trọng nhất của máy in laser là trống cảm quang được phủ một lớp phim hợp chất selen nhạy sáng có đặc điểm là trong bóng tối nó có điện trở rất cao và hoạt động như một tụ điện. - Trống được tích điện cao thế khi lăn qua dây tích điện. === Hoạt động === Tia laser được quét lên trống cảm quang qua gương đa giác quay liên tục-> tia laser lần lượt quét lên bề mặt trống.(Tia này có cường độ mạnh hay yếu tùy thuộc vào độ đậm nhạt của từng điểm ảnh và nó chiếu lên bề mặt trống làm giảm điện trở của lớp phim trên đó). Tại những vị trí khác nhau tia laser chiếu có cường độ khác nhau -> có điện trở khác nhau -> khi lăn qua dây tích điện cao thế sẽ có điện tích lớn nhỏ khác nhau. Những vị trí điện tích thấp (~0) thì không hút mực,còn những vị trí có điện tích cao sẽ hút mực. Lượng mực nhiều hay ít tùy vào cường độ của điểm tích điện khi trống lăn qua hộp mực tạo nên nội dung của trang cần in. Khi giấy lăn qua trống, nội dung của trang cần in được truyền lên giấy. Bột mực được nấu chảy khi tờ giấy đi qua trục sấy. Nhiệt độ của trục sấy khoảng 260oC và cùng với lực ép của trục sấy mực in nóng chảy sẽ được ấn chặt lên giấy. Máy in laser màu có nguyên tắc làm việc tương tự như máy in laser đen trắng, chỉ khác là thay vì có hộp mực cho các màu cơ bản: đen, vàng, Magenta và Cyan, phối hợp các màu này sẽ cho phép in màu thần kì. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Is Your Printer Spying On You? (by EFF) Detailed description, modelling and simulation of the electrophotographic print process (technical; 7.2MB) Những điều cần biết khi muốn mua máy in laser màu
đại lộ thăng long.txt
Đại lộ Thăng Long hay Đường cao tốc Láng – Hòa Lạc là tuyến đường cao tốc nối khu trung tâm Hà Nội với quốc lộ 21A cũ, nay là điểm đầu của đường Hồ Chí Minh. Chiều dài toàn tuyến 30 km, nằm gọn trong địa giới thành phố Hà Nội. == Lộ trình == Đại lộ Thăng Long chạy cơ bản theo hướng Đông - Tây, dài 30 km, bắt đầu tại ngã tư giao cắt giữa đường này với đường Phạm Hùng - Khuất Duy Tiến - Trần Duy Hưng nằm trong ranh giới giữa quận Cầu Giấy và quận Nam Từ Liêm, đi qua địa bàn các phường, xã: Trung Hòa (quận Cầu Giấy); Mễ Trì, Phú Đô, Đại Mỗ, Tây Mỗ (quận Nam Từ Liêm); An Khánh, An Thượng, Song Phương, Vân Côn (huyện Hoài Đức); Yên Sơn, thị trấn Quốc Oai, Ngọc Mỹ, Ngọc Liệp (huyện Quốc Oai); Đồng Trúc, Hạ Bằng, Thạch Hòa (huyện Thạch Thất), kết thúc ở xã Thạch Hòa, huyện Thạch Thất, tại ngã ba giao cắt với Km 31+064 – quốc lộ 21A cũ đi thị xã Sơn Tây, nay là đoạn đầu của đường Hồ Chí Minh. == Thông số kỹ thuật == Chiều dài toàn tuyến: 29,264 km. Chiều rộng trung binh tuyến đường 140 mét, bao gồm 2 dải đường cao tốc quy mô mỗi dải 3 làn xe rộng 16,25m; 2 dải đường đô thị 2 làn xe cơ giới rộng 10,5m; dải phân cách giữa 2 đường cao tốc rộng 20m; 2 dải đất dự trữ giữa hai dải đường đô thị. Ngoài ra, còn dải trồng cây xanh và vỉa hè. Toàn tuyến có 2 đường hầm, 13 cầu vượt ngang đường. Tải trọng H30 và XH80 Đây là đường cấp 1 đồng bằng, thiết kế cho xe chạy với vận tốc từ 70 km/h đến 120 km/h. Bảo đảm thông xe tốt 2 mùa; Lưu lượng thông xe từ 1.500 đến 2.000 xe/ngày.đêm. Chủ đầu tư là Bộ Giao thông Vận tải Việt Nam, đại diện chủ đầu tư là Ban Quản lý Dự án Thăng Long Tổng thầu xây lắp là Tổng Công ty CP Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (VINACONEX). Tư vấn thiết kế là Tổng công ty Tư vấn Thiết kế Giao thông Vận tải (TEDI). Tư vấn giám sát là Viện Khoa học Công nghệ Giao thông Vận tải Mức vốn đầu tư 7.527 tỷ đồng. Khởi công ngày 20 tháng 3 năm 2005, hoàn thành ngày 3 tháng 10 năm 2010. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Khởi công dự án đường cao tốc Láng - Hoà Lạc Đại lộ dài nhất Việt Nam mang tên Thăng Long Thông xe đại lộ hiện đại nhất Việt Nam Đại lộ Thăng Long - món quà mừng Hà Nội nghìn năm tuổi