filename stringlengths 4 100 | text stringlengths 0 254k |
|---|---|
anh bố.txt | Anh Bố (chữ Hán: 英布; ?-195 TCN), hay còn gọi là Kình Bố, là vua chư hầu thời Hán Sở và đầu thời nhà Hán trong lịch sử Trung Quốc. Ông tham gia cuộc chiến lật đổ sự thống trị của nhà Tần và cuộc chiến tranh Hán Sở.
== Thời trẻ ==
Anh Bố vốn là người huyện Lục thuộc quận Cửu Giang. Thời nhà Tần, ông là người áo vải nhà nghèo. Khi ông còn nhỏ, có người xem tướng ông và cho rằng, Anh Bố sẽ bị hình phạt rồi được làm vương.
Khi trưởng thành, Anh Bố bị tội và bị bắt đày đi Ly Sơn. Khi bị bắt, Anh Bố không những không buồn, lại cười hớn hở và cho rằng lời nói của thầy tướng có nghiệm và tin vào tương lại mình sẽ được làm vương. Vì vậy mọi người nghe đều cười nhạo ông.
Do Anh Bố bị hình phạt chạm chữ vào mặt nên mặt ông bị sẹo và bị mọi người gọi là Kình Bố.
Trong thời gian bị đi đày, Anh Bố giao kết với những người cầm đầu trong đám tù bị đày và những người hào kiệt. Được một thời gian, ông cầm đầu những người này bỏ trốn, đến sông Dương Tử làm thành một toán cướp.
== Chống Tần ==
Tháng 7 năm 209 TCN, Trần Thắng khởi nghĩa chống nhà Tần, tự xưng là Trương Sở vương. Anh Bố nhân đó cùng đồ đảng của mình cũng phản lại nhà Tần để hưởng ứng Trần Thắng.
Ông đến yết kiến Bà quân Ngô Nhuế (trấn trị vùng Bà Dương), được Ngô Nhuế gả con gái cho. Anh Bố tụ tập binh sĩ lên đến mấy nghìn người.
Tháng chạp năm 208 TCN, tướng nhà Tần là Chương Hàm diệt Trần Thắng. Khi Chương Hàm rút đi, bộ tướng của Trần Thắng là Lã Thần chiếm lại đất Trần. Bộ tướng của Chương Hàm mang quân đánh đất Trần, Lã Thần bỏ chạy. Đúng lúc đó Anh Bố mang quân đến liên hợp với quân Lã Thần, cùng nhau tiến về phía Bắc quấy rối hai cánh quân tả và hữu của quân Tần, phá quân Tần ở Thanh Ba rồi đem quân đi về hướng Đông.
Anh Bố tách khỏi quân Lã Thần. Nghe tin Hạng Lương đã bình định được vùng Cối Kê thuộc Giang Đông, Anh Bố bèn vượt qua sông Trường Giang đi về hướng Tây. Ông và Bồ tướng quân đem quân đến theo Hạng Lương. Ông được Hạng Lương cử làm tiên phong, vượt qua sông Hoài đi về hướng Tây, đánh lực lượng ly khai của Tần Gia và Sở giả vương Cảnh Câu, tiêu diệt lực lượng này.
Hạng Lương đến đất Tiết nghe tin Trần Thắng đã chết, bèn lập Sở Hoài Vương. Hạng Lương hiệu là Vũ Tín Quân, Anh Bố hiệu là Đương Dương Quân. Sau đó Hạng Lương bại trận chết ở Định Đào, Anh Bố cùng cháu Hạng Lương là Hạng Vũ mang quân về giữ Bành Thành.
Chương Hàm vây đánh nước Triệu rất gấp, Sở Hoài vương sai Hạng Vũ và Tống Nghĩa đi cứu Triệu, Anh Bố cùng đi với cánh quân này. Vì bất đồng ý kiến, Hạng Vũ giết Tống Nghĩa và được Hoài Vương nhân đấy cho làm Thượng tướng quân. Hạng Vũ sai Anh Bố và Bồ tướng quân vượt sông Hoàng Hà để đánh quân Tần. Dù chỉ có ít quân, Anh Bố vẫn đánh thắng quân Tần mấy lần. Thấy tình hình chiến sự thuận lợi, Hạng Vũ bèn đem tất cả binh sĩ qua Hoàng Hà, đại phá quân Tần. Chương Hàm phải đầu hàng.
Hạng Vũ đem binh vào nước Tần, đến Tân An, vì sợ hàng binh Tần nổi loạn nên sai Anh Bố đang đêm đánh và chôn sống hai mươi vạn binh của Chương Hàm.
Khi đến cửa ải Hàm Cốc thì biết tin Lưu Bang đã vào trước và ngăn quân Hạng Vũ. Hạng Vũ lại sai Anh Bố đi trước theo con đường tắt đánh phá quân ở cửa ải. Cuối cùng quân Hạng Vũ qua ải đi đến Hàm Dương.
== Cửu Giang vương ==
Hạng Vũ tự xưng Tây Sở Bá vương, phong các tướng làm chư hầu, trong đó Anh Bố làm Cửu Giang Vương, đóng đô ở đất Lục.
Tháng tư năm 206 TCN, chư hầu bãi binh trở về nước. Hạng Vũ tôn Sở Hoài Vương làm Nghĩa Đế, dời đô đến Trường Sa và ngầm ra lệnh cho Cửu Giang Vương Anh Bố đánh Nghĩa Đế trên đường đi. Tháng tám năm ấy, Anh Bố sai tướng đón đánh Nghĩa Đế, đuổi theo Nghĩa Đế và giết chết ở Sâm huyện.
Năm 205 TCN, vua Tề là Điền Vinh làm phản, Hạng Vương đi đánh nước Tề, sai người triệu tập Cửu Giang Vương đem binh đến giúp. Anh Bố cáo bệnh không đến, sai viên tướng đem mấy ngàn quân đi.
Nhân lúc Hạng vương sa lầy ở Tề, Hán vương Lưu Bang mang quân đánh từ Hán Trung về phía đông, thu phục nhiều nước chư hầu và tiến vào kinh đô Tây Sở là Bành Thành. Hạng vương mang 3 vạn quân từ Tề về đánh Hán, và lệnh cho Anh Bố cùng tiếp ứng để diệt Hán vương. Quân Hán bị Hạng vương đánh cho đại bại ở Bành Thành nhưng Anh Bố lại cáo bệnh không mang quân phối hợp giúp Sở Bá vương. Vì vậy Hạng Vương giận Anh Bố, mấy lần sai sứ giả đến trách ông và triệu tập ông đến. Anh Bố càng sợ không dám đến.
Hạng Vương bấy giờ phía Bắc đang lo về các nước Tề, Triệu; phía Tây lo về Hán, chư hầu đi theo chỉ còn một mình Cửu Giang Vương. Hạng Vương lại quý tài năng của ông nên muốn hậu đãi, vì vậy chưa đánh Cửu Giang.
== Theo Hán ==
Năm 204 TCN, Hán Vương sai mưu sĩ Tùy Hà đi Cửu Giang dụ Anh Bố theo Hán. Nghe lời dụ của Tùy Hà, Anh Bố đồng ý theo Hán phản Sở nhưng chưa dám tiết lộ. Lúc đó sứ giả của Sở cũng đang ở Cửu Giang, giục Anh Bố đem binh giúp Sở, còn nghỉ ở tại trạm xá. Tùy Hà đi thẳng vào ngồi ở trên ghế sứ giả nước Sở và nói:
Cửu Giang Vương đã theo Hán, Sở còn muốn bảo ông ta đem quân đi thế nào được?
Anh Bố hoảng sợ, sứ giả nước Sở đứng dậy. Tùy Hà nhân giục Anh Bố giết sứ nước Sở. Anh Bố làm theo, rồi mang quân theo Hán.
Hạng vương nghe tin Anh Bố phản Sở, bèn sai Hạng Thanh, Long Thư đánh Cửu Giang, còn Hạng Vương ở lại Tề đánh Hạ Ấp. Sau mấy tháng, Anh Bố bị Long Thư đánh bại. Anh Bố muốn đem quân bỏ chạy về với Hán Vương, nhưng sợ Hạng vương chặn đường giết, nên lẻn đi cùng đường với Tùy Hà. Hán vương dùng bổng lộc hậu đãi nên Anh Bố rất mãn nguyện.
Anh Bố sai người vào Cửu Giang dẫn dụ những người cùng cánh theo Hán. Lúc đó Hạng vương đã sai Hạng Bá thu binh sĩ Cửu Giang, giết tất cả vợ con ông, rồi cử Chu Ân giữ Cửu Giang. Tuy vậy, sứ giả ông vẫn thu thập được những người quen biết cũ và những bầy tôi trước kia được tin cậy, đem mấy nghìn người quay về với Hán. Hán Vương cho ông thêm quân và cùng ông đi về hướng Bắc đến Thành Cao.
Tháng bảy năm 203 TCN, Hán Vương lập Anh Bố làm Hoài Nam Vương. Ông sai người vào Cửu Giang lấy được mấy huyện.
Năm 202 TCN, Anh Bố và Lưu Giả vào Cửu Giang dụ đại tư mã của Sở là Chu Ân. Chu Ân phản lại Sở, đem quân của Cửu Giang cùng Hán đánh quân Sở trong trận quyết định ở Cai Hạ. Hạng Vũ bị tiêu diệt.
Do góp công diệt Sở, Anh Bố được phong làm Hoài Nam Vương, đóng đô ở Lục. Các quận Cửu Giang, Lư Giang, Hành Sơn, Dự Chương đều thuộc quyền kiểm soát của ông.
== Phản Hán ==
Hàng năm, Hoài Nam vương vẫn đến chầu Hán Cao Đế ở kinh đô. Năm 196 TCN, Lã Hậu giết danh tướng Hàn Tín. Anh Bố nghe tin, trong lòng lo sợ. Chỉ vài tháng sau, Hán Cao Đế lại giết Lương Vương Bành Việt, muối thịt rồi phân phát cho tất cả chư hầu. Khi người đem thịt muốn đến Hoài Nam thì ông đang đi săn. Hoài Nam Vương thấy thịt muối thì sợ quá, sai bộ hạ tập hợp binh sĩ để cố thủ.
Đúng lúc đó người thiếp Anh Bố yêu quý mắc bệnh, xin đến nhà thầy thuốc điều trị. Nhà thầy thuốc đối diện với nhà quan trung đại phu Bồn Hách. Người thiếp mấy lần đến nhà thầy thuốc, Bồn Hách thân hành theo hầu. Bồn Hách tặng nhiều lễ vật và cùng người thiếp ăn uống ở nhà thầy thuốc. Khi về nhà, người thiếp thường khen ngợi Bồn Hách là người trung hậu. Anh Bố nổi giận, nghi ngờ người thiếp của mình tư thông với Bồn Hách.
Bồn Hách sợ hãi cáo bệnh không đến gặp Anh Bố. Ông muốn bắt Hách. Hách bèn lấy cớ có việc biến cố lên xe trạm đi Trường An. Anh Bố sai người đuổi theo nhưng không kịp. Bồn Hách đến Trường An báo với Hán Cao Tổ rằng Anh Bố có ý định làm phản. Lưu Bang theo kế của Tiêu Hà, chưa vội tin Bồn Hách mà sai sứ đi Hoài Nam dò xét.
Hoài Nam Vương Anh Bố thấy Hách bỏ trốn, sau đó lại thấy sứ giả nhà Hán đến có vẻ dò xét mình, bèn giết cả nhà Bồn Hách và cất quân làm phản.
Hạ Hầu Anh mang người khách là Tiết Công đến gặp Lưu Bang hiến kế. Tiết công khẳng định rằng Anh Bố sẽ làm theo hạ sách là phía Đông lấy Ngô, phía Tây lấy Hạ Thái, chú trọng về phía đất Việt, tự mình về Trường Sa; như vậy Anh Bố sẽ thất bại. Tiết công lý giải việc Anh Bố chọn hạ sách vì ông không có tầm nhìn xa, tính toán nông cạn.
Đúng như Tiết Công đã trù tính, Anh Bố phía Đông đánh đất Kinh. Kinh Vương Lưu Giả bỏ chạy, chết ở Phù Lăng. Anh Bố thu tất cả binh của đất Kinh, vượt qua sông Hoài đánh Sở. Sở vương Lưu Giao đem binh đánh nhau với Anh Bố, đánh ở giữa huyện Từ và huyện Đông. Tướng Sở chia làm ba đạo quân, muốn để cứu lẫn nhau.
Anh Bố dồn binh lực đánh tan một cánh quân. Quân Sở chiến đấu ở trong nước, dễ nhớ nhà, hai cánh quân kia đều bỏ chạy toán loạn. Anh Bố mang quân đánh về hướng tây. Ông cho rằng Lưu Bang đã già, ngại việc binh, sẽ sai tướng khác đi thay. Nhưng Lưu Bang đích thân cầm quân ra trận. Hai bên gặp nhau ở đất Tụy.
Quân của Anh Bố vốn là quân đất Sở từng theo Hạng Vũ, rất tinh nhuệ. Lưu Bang xây thành lũy tại Dung Thành để cố thủ, trông thấy quân của Bố dàn trận như quân của Hạng Vũ nên rất căm ghét. Hai bên dàn quân ác chiến. Anh Bố thua trận, bỏ chạy, vượt qua sông Hoài.
Mấy lần Anh Bố dừng lại đánh nhưng đều bị quân Hán đánh bại. Ông chỉ còn hơn trăm người chạy đến Giang Nam.
Anh Bố vốn là con rể Trường Sa vương Ngô Nhuế nên con Ngô Nhuế là Trường Sa vương Ngô Thần sai người giả vờ cùng chạy trốn với Anh Bố và dụ ông chạy vào đất Việt. Anh Bố tin theo, chạy vào Phiên Dương. Khi Anh Bố vào nghỉ trong một ngôi nhà ở đồng quê, người Phiên Dương giết chết ông.
Lưu Bang lập hoàng tử thứ 7 là Lưu Trường làm Hoài Nam Vương, phong Bồn Hách làm Kỳ Tư Hầu.
Anh Bố theo Hạng Vũ được 4 năm, theo Lưu Bang được 9 năm, chết năm 195 TCN, không rõ bao nhiêu tuổi.
== Xem thêm ==
Chiến tranh Hán-Sở
Hạng Vũ
Lưu Bang
== Tham khảo ==
Sử ký Tư Mã Thiên, các thiên:
Hạng Vũ bản kỷ
Cao Tổ bản kỷ
Trần Thiệp thế gia
Kình Bố liệt truyện
== Chú thích == |
niigata.txt | Niigata (Nhật: 新潟縣 (Tân Tích Huyện), Niigata-ken) là một tỉnh nằm ở phía biển Nhật Bản thuộc tiểu vùng Hokuriku, vùng Chubu trên đảo Honshu. Trung tâm hành chính là thành phố Niigata.
Niigata nổi tiếng vì gạo và rượu ngon, phụ nữ đẹp cũng như vì có nhiều chính trị gia xuất thân từ đây.
== Địa lý ==
== Lịch sử ==
== Hành chính ==
Niigata có 20 thành phố bao gồm cả thành phố Niigata và 13 làng, thị trấn
=== Các thành phồ ===
=== Thị trấn và làng ===
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Đại học Niigata
== Thể thao ==
== Du lịch ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của tỉnh Niigata (tiếng Nhật)
Niigata JET (Chương trình giảng dạy và giáo dục Nhật Bản) Website |
yamaguchi.txt | Yamaguchi (Nhật: 山口県 (Sơn Khẩu Huyện), Yamaguchi-ken) là một tỉnh nằm ở vùng Chūgoku, đầu phía tây nam tận cùng của đảo Honshū. Trung tâm hành chính là thành phố Yamaguchi. Thành phố được xem là lớn nhất của tỉnh này lại là thành phố Shimonoseki.
== Địa lý ==
== Lịch sử ==
Tỉnh Yamaguchi đã từng bị chia ra thành tỉnh Nagato và tỉnh Suō. Khu vực này là một phần của vùng đất thuộc quyền sở hữu của gia tộc Mori trong thời kỳ Sengoku. Sau khi Phó đề đốc Hải quân Hoa Kỳ Matthew C. Perry mở cửa nước Nhật, nhánh vùng Nagato (còn gọi là Chōshū) đã đóng một vai trò quan trọng trong việc làm sụp đổ chế độ mạc phủ Tokugawa và thiết lập một chính phủ quân chủ mới.
== Hành chính ==
Tỉnh Yamaguchi có 19 đơn vị hành chính cấp hạt, gồm 13 thành phố và 6 thị trấn:
=== Các thành phố ===
Hagi, Hikari, Hōfu, Iwakuni, Kudamatsu, Mine, Nagato, San'yō-Onoda, Shimonoseki, Shūnan, Ube, Yamaguchi, Yanai
=== Thị trấn và làng ===
Abu: Abu
Kuga: Waki
Kumage: Hirao, Kaminoseki, Tabuse
Ōshima: Suō-Ōshima
== Kinh tế ==
== Văn hóa ==
== Giáo dục ==
Đại học Yamaguchi
== Thể thao ==
== Du lịch ==
Một trong những cảnh vật thu hút du khách nhất ở đây là cây cầu nổi tiếng Kintai, nằm ở thành phố Iwakuni. Chiếc cầu gỗ có cấu trúc 5 hình cung này được coi là biểu tượng của cả vùng Tây Honshū. Khu vực bờ sông Nishiki, sát cây cầu này, được xem là một trong những khu vực để ngắm hoa đẹp nhất nước. Nhiều gia đình, bạn bè đã cùng nhau đến đây vào đầu tháng Tư để ngắm cảnh hoa anh đào nở rộ.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của tỉnh Yamaguchi (tiếng Nhật) |
hải quân.txt | Hải quân là một quân chủng trong quân đội thuộc lực lượng vũ trang các nước có biển, thực hiện nhiệm vụ trên chiến trường biển, đại dương và sông nước.
Hải quân hiện đại thường được trang bị tàu mặt nước, tàu ngầm, không quân hải quân, tên lửa, pháo bờ biển và hải quân đánh bộ (hay lính thủy đánh bộ).
== Đặc điểm ==
Hải quân có thể tấn công bất kỳ nơi nào trên thế giới do di chuyển bằng đường biển
Khi xảy ra khủng hoảng hoặc sắp nổ ra chiến tranh, với các tuyến giao thông trên biển, hải quân có thể nhanh chóng điều động hạm đội tới khu vực khủng hoảng, tổ chức vận chuyển quy mô lớn; phong toả, cắt đứt các tuyến giao thông trên biển, có thể sử dụng máy bay trên hạm, tên lửa hành trình và các đòn công kích tầm xa vào đối phương
Hải quân là quân chủng kỹ thuật, hoạt động độc lập trên biển và trang bị tác chiến hiện đại, như tàu ngầm mang đầu đạn hạt nhân.
Môi trường tác chiến của hải quân rất đặc biệt, chịu sự uy hiếp từ xa: từ biển, trên không và môi trường điện tử. Vì vậy, hải quân cần có khả năng tác chiến tổng hợp: phòng không, chống hạm, chống ngầm, chống nhiễu...
== Nhiệm vụ ==
Tập kích mục tiêu đối phương trên biển, là phương pháp truyền thống. Vài năm gần đây, việc sử dụng các loại vũ khí có điều khiển để tập kích chiến hạm đối phương đã đạt trình độ rất cao.
Tập kích mục tiêu trên đất liền, chi viện cho cho lục quân tác chiến ở ven biển. Điều này được áp dụng nhiều trong chiến tranh hiện đại.
Vận tải biển: khi xảy ra chiến tranh, cường độ sử dụng binh lực và vũ khí rất lớn, vật tư nhiều nên vận tải biển có tác dụng rất quan trọng đối với việc thắng bại trong chiến tranh.
Phong toả biển: là một trong những nhiệm vụ chủ yếu của hải quân trong chiến tranh cục bộ hiện đại nhằm cô lập đối phương, cắt đứt chi viện trợ của đối phương và đồng minh.
Nghi binh, thị uy: mục đích mở rộng ảnh hưởng, gây tác động tâm lý. Đây là phương pháp của nước lớn khi cần, kết hợp với đấu tranh về kinh tế, chính trị, ngoại giao.
== Các loại tàu hải quân ==
Xem chi tiết: Tàu hải quân
Tàu khu trục (Destroyer)
Tàu thiết hạm (Cuirassé)
Tàu hộ vệ
Tàu đổ bộ
Tàu mặt nước (Croiseur)
Tàu ngầm (Sous-marin)
Tàu sân bay (Porte-avions)
== Xem thêm ==
Lục quân
Không quân
Danh sách hải quân
Hạm đội hải quân
Tàu hải quân
Hải quân Đế quốc Nhật Bản
Hải quân Hoa Kỳ
Hải quân Việt Nam
Chuông tàu
== Tham khảo ==
Lương Tuấn Minh (2008), Lịch sử hải quân thế giới, Tập san Hồ sơ Sự kiện số 43, ngày 10/9/2008
== Liên kết ngoai ==
Naval & Maritime page of the World Wide Web Virtual Library
NOSI (Naval Open Source Intelligence)
U.S. Navy online index
Israeli Navy Special Forces Units at isayeret.com
Military.com
Sea and Navy Daily News about sea and Navy]
Military Search
Haze Gray & Underway
UK Royal Navy
http://users.sisna.com/justinb/unifhome.html (page is down)
http://www.naval-reference.net/index.html |
samsung galaxy ace 3.txt | Samsung Galaxy Ace 3 (GT-S7270/GT-S7272/GT-S7275R) là điện thoại thông minh sản xuất bởi Samsung chạy hệ điều hành Android. Công bố và phát hành bởi Samsung vào tháng 6 năm 2013, Galaxy Ace 3 là sự kế thừa của Galaxy Ace 2.
Galaxy Ace 3 là thiết bị lõi kép, bán cho phân khúc tầm trung; bản LTE có Qualcomm Snapdragon MSM8930 SoC, trong khi bản 3G có Broadcomm BCM21664 SoC với a 1 GHz lõi-kép ARM Cortex-A9 CPU và Broadcomm VideoCore IV GPU.
Vào tháng 6 năm 2013, nó được bán trên Levant.
== Tính năng ==
Galaxy Ace 3 là điện thoại thông minh 3.5G và 4G, với đa băng thông GSM và công bố với hai băng thông HSDPA (900/2100)MHz với 14,4(tải xuống)/5,76(tải lên) Mbit/s. Nó có màn hình cảm ứng điện dung 4.0 inch PLS TFT LCD với 16M màu độ phân giải WVGA (480x800). Nó có máy ảnh 5-megapixel với LED flash và tự động lấy nét, cho phép quay video độ phân giải QVGA (320x240), VGA (640x480) và HD (1280x720) và máy ảnh VGA phía trước. Galaxy Ace 3 có pin Li-Ion 1500 mAh.
Galaxy Ace 3 chạy Android 4.2.2 Jelly Bean, giao diện người dùng TouchWiz Nature UX 2.0 của Samsung.
Galaxy Ace 3 tích hợp mạng xã hội và đa phương tiện. Nó được cài sẵn Google Apps cũng như Google+ và Google Messenger. Galaxy Ace 3 có sẵn màu đen kim loại, trắng và đỏ rượu.
== Xem thêm ==
Samsung Galaxy S series
Samsung Galaxy Ace
== Tham khảo == |
yuguchi eizo.txt | Yuguchi Eizo (4 tháng 7 năm 1945 - 2 tháng 2 năm 2003) là một cầu thủ bóng đá người Nhật Bản.
== Đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản ==
Yuguchi Eizo thi đấu cho đội tuyển bóng đá quốc gia Nhật Bản từ năm 1969 đến 1970.
== Thống kê sự nghiệp ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
National Football Teams
Japan National Football Team Database |
delhi.txt | Delhi (phát âm tiếng Anh: /ˈdɛli/; tiếng Hindi: दिल्ली phát âm tiếng Hindustan: [d̪ɪlliː]), gọi chính thức là Lãnh thổ Thủ đô Quốc gia Delhi, là lãnh thổ thủ đô của Ấn Độ. Trong thời kỳ Ấn Độ thuộc Anh, Delhi là bộ phận của tỉnh Punjab và duy trì liên kết lịch sử và văn hóa với khu vực Punjab và Doab. Dân số Delhi là khoảng 16,3 triệu vào năm 2011, do đó là thành phố và khu kết tụ đô thị đông dân thứ nhì tại Ấn Độ, và là đại đô thị đông dân thứ ba trên thế giới. Phát triển đô thị tại Delhi về bản chất đã vượt khỏi ranh giới hành chính của lãnh thổ, kết hợp với các đô thị thuộc các bang lân cận và tại quy mô tối đa có thể tính đại đô thị có khoảng 25 triệu cư dân vào năm 2014.
Delhi liên tục có người cư trú kể từ thế kỷ 6 TCN. Trong suốt lịch sử của mình, Delhi đóng vai trò là thủ đô của nhiều vương quốc và đế quốc, và từng nhiều lần bị chiếm lĩnh, cướp phá và tái thiết, đặc biệt là thời kỳ trung đại. Delhi hiện đại là một chùm các đô thị trải khắp đại đô thị.
Lãnh thổ Thủ đô Quốc gia và khu vực đô thị của nó được trao vị thế đặc biệt 'khu vực thủ đô quốc gia' theo Đạo luật Tu chính thứ 69 của Hiến pháp Ấn Độ vào năm 1991. Khu vực thủ đô quốc gia gồm các thành phố lân cận là Faridabad, Gurgaon, Noida, Ghaziabad, Neharpar (Đại Faridabad), Greater Noida, Bahadurgarh, Sonepat, Panipat, Karnal, Rohtak, Bhiwani, Rewari, Baghpat, Meerut, Alwar, Bharatpur và các đô thị khác. Là một lãnh thổ liên bang, song chính quyền Delhi ngày nay gần giống với một bang hơn, với cơ quan lập pháp, tòa án tối cao và hội đồng bộ trưởng do thủ hiến đứng đầu. New Delhi chịu sự quản lý đồng thời của chính phủ liên bang Ấn Độ và chính phủ Delhi, và là thủ phủ của Lãnh thổ Thủ đô Quốc gia Delhi.
== Từ nguyên ==
Tồn tại một số truyền thuyết có liên quan đến nguồn gốc của tên gọi Delhi. Một trong số đó là nó bắt nguồn từ Dhillu hay Dilu, vị quốc vương đã xây dựng một thành phố tại địa điểm này vào năm 50 TCN và đặt theo tên mình. Truyền thuyết khác kể rằng tên gọi của thành phố dựa trên từ dhili (mềm) trong tiếng Hindi/Prakrit và được thị tộc Tomara dùng để chỉ thành phố do Cột sắt Delhi có nền móng yếu và phải di chuyển. Các đồng tiền lưu thông trong khu vực dưới quyền thị tộc Tomara được gọi là dehliwal. Theo lời Bhavishya Purana, Quốc vương Prithiviraja của Indraprastha xây dựng một thành mới tại khu vực Purana Qila ngày nay để tạo tiện lợi cho cả bốn đẳng cấp trong vương quốc. Ông ra lệnh xây một cổng cho thành và sau đó đặt tên cho thành là dehali. Một số sử gia cho rằng tên gọi được bắt nguồn từ Dilli, gọi lệch từ dehleez hay dehali—đều có nghĩa là 'cổng vào'—và tượng trưng cho thành phố là một cửa ngõ để đến đồng bằng sông Hằng. Thuyết khác cho rằng tên gốc của thành phố là Dhillika.
== Lịch sử ==
Khu vực quanh Delhi có lẽ có người cư trú từ trước thiên niên kỷ thứ 2 TCN, và tồn tại bằng chứng về cư trú liên tục kể từ ít nhất là thế kỷ 6 TCN. Thành phố được cho là địa điểm của Indraprastha, thủ đô theo truyền thuyết của các Pandava trong sử thi Ấn Độ Mahabharata. Theo sử thi này, vùng đất ban đầu là một khu rừng rất lớn mang tên 'Khandavaprastha' và bị đốt trụi để xây dựng Indraprastha. Các di tích kiến trúc sớm nhất có niên đại từ thời kỳ Maurya (khoảng 300 TCN); vào năm 1966, một câu khắc của Hoàng đế Ashoka (273–235 BC) của Maurya được phát hiện gần Srinivaspuri. Tại Delhi đã phát hiện được tàn tích của tám thành phố lớn, năm thành phố đầu nằm tại phần phía nam của Delhi ngày nay. Quốc vương Anang Pal của triều Tomara lập thành phố Lal Kot vào năm 736, song đến năm 1180 thành phố bị Chauhan chinh phục và đổi tên thành Qila Rai Pithora.
Quốc vương Prithviraj Chauhan chiến bại vào năm 1192 trước một kẻ xâm chiếm người Tajik tên là Muhammad Ghori, đến từ Afghanistan ngày nay, người này thực hiện một nỗ lực có dự tính nhằm chinh phục miền bắc Ấn Độ. Đến năm 1200, sự kháng cự của người Hindu bản địa bắt đầu tan vỡ, địa vị thống trị của các triều đại Hồi giáo Turk gốc ngoại quốc tại miền bắc Ấn Độ kéo dài trong năm thế kỷ sau đó. Đến khi Muhammad qua đời vào năm 1206, tướng người Turk là Qutb-ud-din Aibak ly khai triều Ghur và trở thành Sultan đầu tiên của Vương quốc Hồi giáo Delhi. Ông bắt đầu cho xây dựng tháp Qutb và thánh đường Hồi giáo Quwwat-al-Islam, thánh đường Hồi giáo cổ nhất còn hiện hữu tại Ấn Độ. Qutb-ud-din đối diện với các cuộc khởi nghĩa rộng khắp của người Hindu và người kế vị ông là Iltutmish (1211–36) đã củng cố cuộc chinh phục của người Turk tại miền bắc Ấn Độ.
Trong ba trăm năm sau đó, Delhi nằm dưới quyền cai trị của người Turk và một triều đại gốc Afghan là Lodhi. Họ cho xây dựng một số thành thị, là một bộ phận của bảy thành phố của Delhi. Delhi là một trung tâm lớn của giáo phái Hồi giáo Sufi trong giai đoạn này. Vương triều Mamluk bị vương triều Khilji lật đổ vào năm 1290. Dưới thời quân chủ thứ nhì của triều đại này là Ala-ud-din Khilji, Vương quốc Hồi giáo Delhi bành trướng quyền kiểm soát về phía nam của sông Narmada tại Deccan. Vương quốc đạt đến quy mô lãnh thổ cực đại trong thời gian trị vì của Muhammad bin Tughluq (1325–1351). Trong một nỗ lực nhằm đưa Deccan vào quyền kiểm soát của mình, ông dời đô đến Daulatabad, Maharashtra tại Trung Ấn, song do di dời xa Delhi nên ông mất quyền kiểm soát miền bắc và buộc phải trở lại Delhi để khôi phục trật tự, các tỉnh miền nam sau đó ly khai. Trong những năm sau thời gian trị vì của Firoz Shah Tughlaq (1351–1388), Vương quốc Hồi giáo Delhi nhanh chóng để mất các tỉnh phía nắc, rồi bị Timur Lenk chiếm lĩnh và cướp phá vào năm 1398. Gần Delhi, Timur cho tàn át 100.000 tù nhân. Delhi tiếp tục suy yếu dưới vương triều Sayyid (1414–1451) đến khi chỉ còn lại Delhi và nội địa của mình. Dưới thời vương triều Lodhi (1451–1526), Vương quốc Hồi giáo Delhi khôi phục quyền kiểm soát với Punjab và đồng bằng sông Hằng và một lần nữa giành quyền thống trị với miền bắc Ấn Độ.
Năm 1526, một hậu duệ của Thành Cát Tư Hãn và Timur là Babur, xuất thân từ thung lũng Fergana nay thuộc Uzbekistan, tiến hành xâm chiếm Ấn Độ, đánh bại sultan cuối cùng của triều Lodhi trong trận Panipat thứ nhất và thành lập Đế quốc Mogul, cai trị từ Delhi và Agra. Vương triều Mogul cai trị Delhi trong hơn ba trăm năm, có 16 năm gián đoạn trong thời gian trị vì của Sher Shah Suri và Hemu từ năm 1540 đến năm 1556. Năm 1553, một quốc vương người Hindu là Hemu đoạt hoàng vị tại Delhi sau khi đánh bại quân của Hoàng đế Mogul Humayun tại Agra và Delhi. Tuy nhiên, người Mogul tái lập quyền kiểm soát của họ sau khi quân đội của Akbar đánh bại Hemu trong trận Panipat thứ nhì vào năm 1556. Shah Jahan cho xây dựng thành phố thứ bảy của Delhi, thành này có tên Shahjahanabad theo tên ông, nó đóng vai trò là thủ đô của Đế quốc Mogul từ năm 1638 và nay được gọi là "thành phố cổ" hay "Delhi cổ".
Sau khi Aurangzeb từ trần vào năm 1707, ảnh hưởng của Đế quốc Mogul suy yếu nhanh chóng khi Đế quốc Maratha của người Hindi từ Cao nguyên Deccan nổi lên. Năm 1737, quân Maratha cướp phá Delhi sau khi họ thắng quân Mogul trong trận Delhi thứ nhất. Năm 1739, Đế quốc Mogul đại bại trong trận Karnal trước quân Ba Tư dưới quyền Nader Shah của vương triều Afshar sau đó Nader Shah cướp phá sạch thủ đô Delhi của Mogul, đem đi rất nhiều tài sản như Ngai con Công, các viên kim cương Daria-i-Noor và Koh-i-Noor. Người Mogul càng suy yếu nghiêm trọng, không thể vượt qua thảm bại này, mở đường cho những kẻ xâm chiếm khác tiến đến, trong đó cuối cùng là người Anh. Nader cuối cùng chấp thuận rời bỏ thành phố và Ấn Độ sau khi buộc Hoàng đến Mogul Muhammad Shah I cầu xin khoan dung. Một hiệp ước được ký kết vào năm 1752 đã biến Đế quốc Maratha thành nước bảo hộ cho hoàng vị Mogul tại Delhi.
Năm 1757, hoàng đế người Afghan là Ahmad Shah Durrani cướp phá Delhi rồi trở về Afghanistan sau khi dựng một hoàng đế Mogul bù nhìn để cai trị trên danh nghĩa. Người Maratha lại chiếm lĩnh Delhi vào năm 1758, và kiểm soát thành phố cho đến khi họ thất bại trong trận Panipat thứ ba vào năm 1761, khi Ahmad Shah tái chiếm thành phố. Tuy nhiên, đến năm 1771, người Maratha lập một chế độ bảo hộ đối với Delhi khi hoàng đế của Maratha là Mahadji Shinde tái chiếm Delhi và lập hoàng đế Mogul Shah Alam II làm hoàng đế bù nhìn vào năm 1772. Năm 1783, người Sikh dưới quyền Baghel Singh chiếm lĩnh Delhi và Pháo đài Đỏ, theo hiệp ước người Sikh sau đó triệt thoái khỏi Pháo đài Đỏ và chấp thuận phục hồi đế vị cho Shah Alam. Năm 1803, trong Chiến tranh Anh-Maratha thứ hai, quân của Công ty Đông Ấn Anh chiến thắng quân Maratha trong trận Delhi. Trong Khởi nghĩa Ấn Độ 1857, Delhi thất thủ trước Công ty Đông Ấn Anh sau giao tranh đẫm máu mang tên Bao vây Delhi. Thành phố nằm dưới quyền kiểm soát trực tiếp của Chính phủ Anh từ năm 1858, được lập làm một huyện thuộc tỉnh Punjab. Năm 1911, thủ đô của các lãnh thổ do người Anh quản lý tại Ấn Độ được công bố chuyển từ Calcutta đến Delhi. Tên gọi "New Delhi" được ban hành vào năm 1927, và thủ đô mới được khánh thành trong tháng 2 năm 1931. New Delhi được chính thức tuyên bố là thủ đô của Liên bang Ấn Độ sau khi quốc gia giành được độc lập vào ngày 15 tháng 8 năm 1947. Trong quá trình phân chia Ấn Độ, hàng nghìn tín độ Ấn Độ giáo và Sikh giáo tị nạn, chủ yếu đến từ Tây Punjab chạy đến Delhi, trong khi có nhiều cư dân theo Hồi giáo trong thành phố di cư sang Pakistan. Nhập cư từ phần còn lại của Ấn Độ đến Delhi tiếp tục, góp phần vào tăng trưởng dân số của thành phố trong bối cảnh tỷ suất sinh đang giảm.
Đạo luật (Tu chính số 69) Hiến pháp 1991 công bố Lãnh thổ Liên bang Delhi chính thức được gọi là Lãnh thổ Thủ đô Quốc gia Delhi. Đạo luật cấp quyền cho Delhi có hội đồng lập pháp riêng cùng với các ngành dân sự, song quyền lực có hạn chế. Trong tháng 12 năm 2001, tòa nhà Quốc hội Ấn Độ tại New Delhi bị bị tấn công. Ấn Độ nghi ngờ các tổ chức dân quân có trụ sở tại Pakistan đứng đằng sau cuộc tấn công, gây khủng hoảng ngoại giao giữa hai bên. Delhi sau đó còn bị tấn công khủng bố trong tháng 10 năm 2006 và tháng 9 năm 2008.
== Địa lý ==
Delhi nằm tại tọa độ 28.61°B 77.23°Đ / 28.61; 77.23, thuộc miền Bắc Ấn Độ. Delhi giáp với bang Haryana tại phía bắc, tây và nam và giáp với bang Uttar Pradesh (UP) tại phía đông. Hai đặc điểm địa lý nổi bật của Delhi là bãi bồi ven sông Yamuna và dãy núi Delhi. Sông Yamuna là biên giới lịch sử giữa Punjab và Uttar Pradesh, và bãi bồi ven sông cung cấp đất phù sa phì nhiêu thích hợp cho nông nghiệp song thường bị ngập lụt. Yamuna còn là một sông thánh trong Ấn Độ giáo, là sông chính duy nhất chảy qua Delhi. Sông Hindon tách biệt Ghaziabad khỏi phần phía đông của Delhi. Dãy núi Delhi bắt nguồn từ Rặng Aravalli tại phía nam và bao quanh các phần phía tây, đông bắc và tây bắc của thành phố. Dãy núi có độ cao 318 m (1.043 ft) và là một đặc điểm nổi bật trong khu vực.
Lãnh thổ Thủ đô Quốc gia Delhi có diện tích 1.484 km2 (573 sq mi), trong đó 783 km2 (302 sq mi) được xác định là khu vực nông thôn, và 700 km2 (270 sq mi) được xác định là khu vực đô thị, khiến nó là thành phố lớn nhất về diện tích của Ấn Độ. Delhi có chiều dài 51,9 km (32 mi) và chiều rộng 48,48 km (30 mi).
Delhi nằm trong khu địa chấn IV của Ấn Độ, biểu thị rằng nơi này dễ bị các đại địa chấn tấn công, song động đất không thường diễn ra trong lịch sử gần đây.
Delhi hiện là thành phố ô nhiễm nhất trong số 1.600 thành phố được WTO nghiên cứu và một ước tính cho rằng ô nhiễm không khí là nguyên nhân khiến khoảng 10.500 người tại Delhi tử vong mỗi năm.
=== Khí hậu ===
Delhi mang một phiên bản khí hậu không điển hình của kiểu khí hậu cận nhiệt đớt ẩm (Köppen Cwa). Mùa nóng kéo dài từ 9 tháng 4 dến 8 tháng 7 với nhiệt độ trung bình cao là trên 36 °C (97 °F). Ngày nóng nhất trong năm trung bình là ngày 22 tháng 5. Mùa lạnh kéo dài từ 11 tháng 12 đến 11 tháng 2 với nhiệt độ trung bình cao là dưới 18 °C (64 °F). Ngày lạnh nhất trong năm trung bình là ngày 4 tháng 1. Đầu tháng 3, hướng gió thay đổi từ tây bắc thành tây nam. Gió mùa đến vào cuối tháng 6, kèm theo độ ẩm gia tăng.
Nhiệt độ tại Delhi thường dao động từ 5 đến 40 °C (41,0 đến 104,0 °F), nhiệt độ thấp nhất và cao nhất từng ghi nhận được tương ứng là −6,7 và 47,8 °C (19,9 và 118,0 °F). Nhiệt độ trung bình năm là 25 °C (77 °F); nhiệt độ trung bình tháng dao động từ 13 đến 32 °C (55 đến 90 °F). Nhiệt độ cao nhất ghi nhận được trong tháng 7 là 45 °C (113 °F) vào năm 1931. Lượng mưa trung bình năm là khoảng 714 mm (28,1 in), hầu hết là trong thời kỳ gió mùa tháng 7-8. Ngày trung bình có gió mùa tại Delhi là 29 tháng 6.
== Quản trị công ==
Tính đến tháng 7 năm 2007, Lãnh thổ Thủ đô Quốc gia Delhi gồm chín quận, 27 tehsil, 59 thị trấn thống kê, 300 làng, và ba thành phố pháp định: Hội đồng khu tự quản Delhi (MCD) – 1.397,3 km2 hoặc 540 sq mi, Hội đồng Khu tự quản New Delhi (NDMC) – 42,7 km2 hoặc 16 sq mi và Ủy ban Delhi (DCB) – 43 km2 hoặc 17 sq mi). Ngày 16 tháng 7 năm 2012, Chính phủ Delhi quyết định tăng số quận từ chín lên 11.
Khu vực đô thị Delhi nằm trong Lãnh thổ Thủ đô Quốc gia Delhi (NCT), nó gồm có năm hội đồng tự quản địa phương; Bắc Delhi, Nam Delhi, Đông Delhi, New Delhi và Delhi Cantonment. Hội đồng tự quản Delhi cũ được phân thành ba hội đồng tự quản nhỏ hơn – Bắc Delhi, Nam Delhi và Đông Delhi. Theo điều tra nhân khẩu năm 2011, Hội đồng tự quản Delhi nằm trong số các thực thể đô thị lớn nhất thế giới, cung cấp dịch vụ công cho khoảng 11 triệu người.
Delhi (quản trị công) được xếp hạng 5 trong số 21 thành phố về thực thi quản lý tốt tại Ấn Độ vào năm 2014.
Delhi là nơi đặt Tòa án Tối cao Ấn Độ và Tòa án Cấp cao Delhi, cùng với Tòa án tiểu sự (Small Causes Court) đối với các vụ tố tụng dân sự; Tòa án quan tòa (Magistrate Court) và Tòa án phiên tòa (Sessions Court) đối với các vụ tố tụng hình sự. Thành phố được chia thành 11 khu vực cảnh sát và được chia tiếp thành 95 đồn cảnh sát địa phương.
== Chính phủ và chính trị ==
Lãnh thổ Thủ đô Quốc gia Delhi có hội đồng lập pháp, thống đốc (Lieutenant Governor), hội đồng bộ trưởng và thủ hiến (Chief Minister). Các thành viên của hội đồng lập pháp được bầu trực tiếp từ các đơn vị bầu cử trong lãnh thổ. Hội đồng lập pháp từng bị bãi bỏ vào năm 1956, sau đó Delhi do liên bang trực tiếp quản lý cho đến khi thể chế này được tái lập vào năm 1993. Hội đồng tự quản Delhi (MCD) xử lý quản trị công cho thành với theo Đạo luật Panchayati. Chính phủ Ấn Độ và Chính phủ Lãnh thổ Thủ đô Quốc gia Delhi cùng quản lý New Delhi, và cả hai đều có trụ sở tại đây. Quốc hội Ấn Độ, Rashtrapati Bhavan (dinh tổng thống), Ban thư ký Nội các và Tòa án tối cao Ấn Độ đặt tại New Delhi. Delhi có 70 khu vực bầu cử hội đồng cấp lãnh thổ và bảy khu vực bầu cử Lok Sabha (hạ nghị viện Ấn Độ).
Đảng Quốc Đại Ấn Độ thành lập tất cả các chính phủ tại Delhi cho đến thập niên 1990, khi mà Đảng Bharatiya Janata (BJP) lên nắm quyền. Năm 1998, Đảng Quốc Đại quay lại nắm quyền dưới sự lãnh đạo của Sheila Dikshit, bà sau đó tái cử 3 nhiệm kỳ liên tục. Tuy nhiên, trong kỳ bầu cử năm 2013, Đảng Quốc Đại để mất quyền lực trước Đảng Aam Aadmi (AAP) mới thành lập và nằm dưới sự lãnh đạo của Arvind Kejriwal. Tuy nhiên, chính phủ của đảng này sụp đổ chỉ sau 49 ngày. Delhi từ đó cho đến tháng 2 năm 2015 nằm dưới quyền cai quản trực tiếp của tổng thống. Ngày 10 tháng 2 năm 2015, Đảng Aam Aadmi trở lại nắm quyền sau một chiến thắng lớn, giành 67 trong số 70 ghế tại Hội đồng Lập pháp Delhi.
== Kinh tế ==
Delhi là trung tâm thương nghiệp lớn nhất tại miền Bắc Ấn Độ; trong năm tài chính 2009-10 Delhi có tổng sản phẩm nội địa cấp bang GSDP là 2.176 tỷ Rupee (32 tỷ USD). Theo thống kê năm 2013, thu nhập bình quân đầu người của Delhi là 210.000 Rupee, là mức cao nhất tại Ấn Độ. Tổng sản phẩm nội địa cấp bang của Delhi theo giá hiện hành của năm 2012-2013 ước tính là 3,66 nghìn tỷ Rupee so với 3,11 nghìn tỷ theo giá năm 2011-12.
Theo Khảo sát Kinh tế Delhi (2005–2006), khu vực thứ ba (dịch vụ) đóng góp 70,95% GSDP của Delhi, tiếp đến là khu vực thứ hai và khu vực thứ nhất với lần lượt là 25,20% và 3,85%. Lực lượng lao động chiếm 32,82% dân số Delhi (2005-2006), và gia tăng 52,52% từ năm 1991 đến năm 2001. Tỷ lệ thất nghiệp của Delhi giảm từ 12,57% vào năm 1999–2000 xuống 4,63% vào năm 2003. Trong tháng 12 năm 2004, 636.000 người đăng ký các chương trình trao đổi công việc khác nhau tại Delhi. Các ngành kinh tế chủ chốt là công nghệ thông tin, viễn thông, khách sạn, ngân hàng, truyền thông và du lịch. Xây dựng, năng lượng, y tế và dịch vụ cộng đồng, bất động sản là các lĩnh vực quan trọng khác trong kinh tế thành phố. Delhi là một trong các thị trường bán lẻ lớn nhất và tăng trưởng nhanh nhất tại Ấn Độ. Ngành chế tạo cũng tăng trưởng đáng kể khi các công ty hàng tiêu dùng lập các đơn vị sản xuất và trụ sở của họ tại thành phố. Thị trường tiêu thụ lớn và nguồn lao động có kỹ năng của Delhi cũng thu hút đầu tư nước ngoài. Năm 2001, lĩnh vực chế tạo sử dụng 1,4 triệu công nhân và thành phố có 129.000 đơn vị công nghiệp.
== Dịch vụ công ích ==
Cung cấp nước cho Delhi nằm dưới quyền quản lý của Ủy ban Delhi Jal (DJB). Năm 2005–06, họ cung cấp 650 triệu m³ mỗi ngày (MGD), trong khi nhu cầu tiêu thụ ước tính là 963 MGD. Lượng nước thiếu hụt được đáp ứng thông qua các giếng khoan và giếng bơm. Với công suất 240 MGD, hồ chứa Bhakra là nguồn nước lớn nhất của DJB, tiếp đến là sông Yamuna và sông Hằng. Mực nước ngầm của Delhi đang giảm và mật độ dân số thì đang tăng lên, do đó cư dân thường gặp tình trạng thiếu nước nghiêm trọng.
Tại Delhi, năm 2005-2006 lượng rác thải rắn sinh hoạt mỗi ngày là 8.000 tấn, chúng được MCD đổ ra bãi chôn lấp. Lượng nước thải sinh hoạt mỗi ngày là 470 470 MGD và lượng nước thải công nghiệp là 70 MGD. Một phần lớn nước thải chưa qua xử lý chảy vào sông Yamuna.
Lượng tiêu thụ điện của thành phố trong năm 2005-2006 là khoảng 1.265 kWh/người song nhu cầu thực tế lại cao hơn. Tại Delhi, phân phối điện nằm dưới quyền quản lý của Tata Power Distribution và BSES Rajdhani từ năm 2002. Dịch vụ cứu hỏa Delhi vận hành 43 trạm cứu hỏa. Công ty quốc doanh Mahanagar Telephone Nigam Limited (MTNL) và các doanh nghiệp tư nhân như Vodafone, Airtel, Idea Cellular, Reliance Infocomm, Aircel và Tata Docomo cung cấp các dịch vụ điện thoại cho thành phố. Phủ sóng di động khả dụng trong GSM, CDMA, 3G và 4G.
== Giao thông ==
Sân bay quốc tế Indira Gandhi nằm tại phần tây nam của Delhi, là cửa ngõ chủ yếu đối với giao thông hàng không dân dụng nội địa và quốc tế của thành phố. Năm 2012-13, sân bay có 35 triệu hành khách thông qua, và là một trong các sân bay nhộn nhịp nhất tại Nam Á. Nhà ga số 3 với kinh phí 96,8 triệu Rupee được xây dựng từ năm 2007 đến năm 2010, tăng công suất cho sân bay thêm 37 triệu hành khách mỗi năm.
Xe buýt là phương thức giao thông đường bộ phổ biến nhất, phục vụ khoảng 60% nhu cầu đi lại tại Delhi, hệ thống xe buýt của Delhi thuộc vào hàng lớn nhất của Ấn Độ. Xe buýt nằm dưới quyền điều hành của Công ty Giao thông Delhi (DTC) quốc doanh, sở hữu đội xe buýt chạy bằng khí nén lớn nhất thế giới. Các phương tiện giao thông cá nhân, đặc biệt là ô tô cũng chiếm một phần lớn trên đường phố Delhi. Delhi có số xe ô tô đăng ký lớn nhất so với các đại đô thị khác tại Ấn Độ.
Delhi là một đầu mối lớn trong mạng lưới đường sắt Ấn Độ và là trụ sở của khu vực Đường sắt Miền Bắc. Năm ga tàu hỏa lớn là New Delhi, Old Delhi, Nizamuddin, Anand Vihar và Sarai Rohilla. Delhi Metro là một hệ thống vận chuyển nhanh phục vụ quần chúng do Công ty Đường sắt Delhi Metro (DMRC) xây dựng và vận hành, phục vụ nhiều bộ phận của Delhi và các thành phố lân cận là Faridabad, Gurgaon, Noida và Ghaziabad. Tính đến tháng 8 năm 2011, hệ thống gồm có sáu tuyến hoạt động với tổng chiều dài 189 km (117 mi) và 146 ga, và một số tuyến khác đang được thi công.
== Nhân khẩu ==
Theo điều tra nhân khẩu năm 2011 tại Ấn Độ, dân số Delhi là 16.787.941. Mật độ dân số tương ứng là 11.297 người/km² với tỷ suất giới tính là 866 nữ/1000 nam, tỷ lệ biết chữ là 86,34%. Năm 2004, tỷ suất sinh, tỷ suất tử và tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh tương ứng là 20,03‰, 5,59‰ và 13,08‰. Năm 2001, dân số Delhi tăng 285.000 do nhập cư và 215.000 do tăng trưởng tự nhiên – điều này biến Delhi thành một trong các thành phố tăng trưởng dân số nhanh nhất trên thế giới. Đến năm 2015, Delhi được dự tính sẽ là khu thành phố lớn thứ ba trên thế giới sau Tokyo và Mumbai.
Ấn Độ giáo là tôn giáo chiếm ưu thế tại Delhi, với 81,68% cư dân tin theo, tiếp đến là Hồi giáo (12,86%), Sikh giáo (3,41%), Jaina giáo (1%). Các tôn giáo thiểu số khác gồm có Phật giáo, Bái Hỏa giáo, Cơ Đốc giáo, Baha'i và Do Thái giáo. Tiếng Hindi là ngôn ngữ được nói phổ biến nhất tại Delhi khi là bản ngữ của gần 81% cư dân. Tiếng Anh là ngôn ngữ văn bản chủ yếu trong thành phố và là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến nhất cho các mục đích chính thức. Người nói tiếng Punjab bản ngữ chiếm khoảng 7% dân số và số liệu cho tiếng Urdu là 6%.
Theo một ước tính năm 1999–2000, tổng số người sống dưới mức nghèo khổ, được định nghĩa là sống từ 11 USD/tháng trở xuống, tại Delhi là 1.149.000, chiếm 8,23% tổng dân số, số liệu tương ứng của toàn quốc là 27,5%. 52% cư dân Delhi (2009) sống trong các khu nhà ổ chuột không có các dịch vụ cơ bản như nước, điện, nhà vệ sinh, cống thoát nước hay nhà ở hợp thức. Năm 2005, Delhi chiếm tỷ lệ cao nhất về tội phạm được báo cáo trong số 35 thành phố có từ 1 triệu dân trở lên tại Ấn Độ.
Người Punjab chiếm 35% và người Sikh chiếm 4% tổng dân số của Delhi. Phát hiện từ các cuộc điều tra do Trung tâm Nghiên cứu các xã hội đang phát triển (CSDS) tại Delhi ước tính trung bình 40% cử tri tại Delhi thuộc tầng lớp thượng lưu. Khoảng 12% thuộc đẳng cấp Bà-la-môn, 7% là người Punjab thuộc đẳng cấp Khatri & Arora, 7% là người Rajput, 6% thuộc các cộng đồng Agarwal và Jain và 8% thuộc các đẳng cấp thượng tầng khác. Cộng đồng Jat chiếm gần 5% dân số Delhi và chủ yếu cư trú tại các khu vực nông thôn ở xa trung tâm Delhi. Cộng đồng OBC như người Gujjar, Yadav và OBC hạ lưu chiếm khoảng 18% dân số Delhi. Dalit (tiện dân) chiếm khoảng 17% dân số Delhi.
== Văn hóa ==
Văn hóa Delhi chịu ảnh hưởng từ lịch sử lâu dài của mình và liên kết lịch sử là thủ đô của Ấn Độ. Điều này được chứng minh thông qua nhiều công trình kỷ niệm quan trọng trong thành phố. Delhi cũng được xác định là địa điểm của Indraprastha, thủ đô cổ đại của người Pandava. Cơ quan Khảo sát Khảo cổ học Ấn Độ công nhận 1.200 tòa nhà di sản và 175 công trình kỷ niệm là các di sản quốc gia. Tại khu thành phố cổ, các quân chủ Mogul và Turk cho xây dựng một số tòa nhà quan trọng về phương diện kiến trúc, như Jama Masjid – thánh đường Hồi giáo lớn nhất tại Ấn Độ được xây dựng vào năm 1656 và Pháo đài Đỏ. Ba di sản thế giới là Pháo đài Đỏ, Tháp Qutab và Lăng mộ Humayun nằm trong Delhi. Các công trình kỷ niệm khác là Cổng Ấn Độ, Jantar Mantar – một đài quan sát thiên văn học từ thế kỷ 18 – và Purana Qila – một pháo đài từ thế kỷ 16. Đền Laxminarayan, Đền Akshardham, và Đền Hoa Sen của Bahá'í và Đền ISKCON là các ví dụ về kiến trúc hiện đại. Raj Ghat và các công trình kỷ niệm có liên quan nhằm tưởng nhớ Mahatma Gandhi và các nhân vật xuất chúng khác. New Delhi sở hữu một vài tòa nhà chính phủ và dinh thự chính thức gợi lại kiến trúc thực dân Anh, trong đó có Rashtrapati Bhavan, Secretariat, Rajpath, Quốc hội Ấn Độ và Vijay Chowk. Lăng mộ Safdarjung là những ví dụ về phong cách hoa viên Mogul. Một số havelis (dinh thự tráng lệ) của vua chúa nằm trong khu thành phố cổ. Chandni Chowk là một ngôi chợ có từ thế kỷ 17 và nằm trong số các khu vực mua sắm phổ biến nhất tại Delhi đối với kim cương và sari Zari. Delhi có đồ thêu chỉ vàng Zardozi và nghệ thuật tráng men Meenakari.
Do bao gồm thủ đô liên bang New Delhi, nên tại Delhi các sự kiện và ngày lễ quốc gia tăng tầm quan trọng, như ngày Cộng hòa (26 tháng 1), ngày Độc lập (15 tháng 8) và Gandhi Jayanti (2 tháng 10). Trong ngày Độc lập, Thủ tướng phát biểu với quốc dân từ Pháo đài Đỏ. Hầu hết người Delhi cử hành ngày lễ bằng cách thả diều, hành động này được cho là biểu trưng cho tự do. Diễu hành ngày Cộng hòa là hoạt động diễu hành văn hóa và quân đội lớn, trưng bày tính đa dạng văn hóa và năng lực quân sự của Ấn Độ. Qua nhiều thế kỷ, Delhi trở nên nổi tiếng do đặc tính văn hóa dung hợp của mình, và một lễ hội tượng trưng cho điều này có tên là Phool Walon Ki Sair, diễn ra trong tháng 9. Hoa và pankhe – quạt thêu hoa – được dâng lên đền thờ thánh Sufi là Khwaja Bakhtiyar Kaki và đền Yogmaya, đều nằm tại Mehrauli.
Các lễ hội văn hóa có Diwali (lễ hội ánh sáng), Mahavir Jayanti, sinh nhật Guru Nanak, Raksha Bandhan, Durga Puja, Holi, Lohri, Chauth, Krishna Janmastami, Maha Shivratri, Eid ul-Fitr, Moharram và Phật Đản. Lễ hội Qutub có các nghệ sĩ và vũ công từ toàn Ấn Độ biểu diễn, với hậu cảnh là tháp Qutub. Các sự kiện khác như Lễ hội Thả diều, Lễ hội Xoài quốc tế và Vasant Panchami (Lễ hội mùa xuân) được tổ chức hàng năm tại Delhi. Auto Expo là triển lãm ô tô lớn nhất châu Á, được tổ chức tại Delhi hai năm một lần. Hội chợ Sách Thế giới New Delhi được tổ chức hai năm một lần tại Pragati Maidan, là triển lãm sách lớn thứ nhì trên thế giới. Delhi đường được cho là "Thủ đô Sách" của Ấn Độ do số độc giao cao. Hội chợ Thương mại Quốc tế Ấn Độ (IITF) là hội chợ văn hóa và mua sắm lớn nhất của Delhi, diễn ra trong tháng 11 hàng năm với trên 1,5 triệu lượt khách.
Với vị thế là thủ đô quốc gia và nhiều thế kỷ là thủ đô của Mogul, tập quán ẩm thực của người dân Delhi chịu tác động và đây là nơi bắt nguồn của ẩm thực Mogul. Cùng với ẩm thực Ấn Độ, nhiều trường phát ẩm thực quốc tế phổ biến trong cư dân Delhi. Tình trạng thiếu thốn thực phẩm của cư dân thành phố hình thành một phong cách chế biến độc nhất, trở nên phổ biến khắp thế giới với các món ăm như Kebab, biryani, tandoori. Ẩm thực cổ của thành phố có gà bơ, Aloo Chaat, chaat, dahi vada, kachori, chole bhature, Chole kulche, jalebi và lassi. Thói quen sinh hoạt nhanh của cư dân Delhi đã thúc đẩy các cử hàng thức ăn đường phố phát triển.
== Giáo dục ==
Các trường học tư thục tại Delhi sử dụng tiếng Anh hoặc tiếng Hindi làm ngôn ngữ giảng dạy, chúng là hội viên của một trong ba thể chể quản trị là CISCE, NCERT (CBSE) hoặc (NIOS). Năm 2004–05, khoảng 1,5 triệu học sinh theo học tại các trường tiểu học, 822 nghìn theo học tại các trường sơ trung học và 669 nghìn theo học tại các trường cao trung học tại Delhi. Các học sinh nữ chiếm 49% tổng số học sinh theo học. Trong cùng năm, chính phủ Delhi dành từ 1,58% đến 1,95% tổng sản phẩm nội địa cấp bang cho giáo dục.
Các trường phổ thông và cơ sở giáo dục bậc đại học tại Delhi nằm dưới quyền quản lý của Ban Giáo dục Delhi, Chính phủ Delhi hoặc các tổ chức tư nhân. Năm 2006, Delhi có 165 học viện, 5 học viện y và tám học viện kỹ thuật, bảy đại học lớn và chín đại học chuyên môn. Theo số liệu năm 2008, khoảng 16% toàn bộ cư dân Delhi sở hữu ít nhất một bằng đại học.
== Truyền thông ==
Delhi là trọng điểm trong các tường thuật chính trị, trong đó có phát sóng truyền hình thường xuyên các phiên họp của Quốc hội. Nhiều cơ quan truyền thông quốc gia, trong đó có Press Trust of India, Media Trust of India và Doordarshan, đặt trụ sở tại thành phố. Các chương trình truyền hình gồm có hai kênh truyền hình mặt đất miễn phí do Doordarshan cung cấp, và một số kênh truyền hình cáp tiếng Hindi, tiếng Anh và ngôn ngữ khu vực.
Báo in vẫn là một phương thức thông tin phổ biến tại Delhi, các báo tiếng Hindi trong thành phố có Navbharat Times, Hindustan Dainik, Punjab Kesari, Pavitra Bharat, Dainik Jagran, Dainik Bhaskar và Dainik Desbandhu. Trong số các báo tiếng Anh, The Hindustan Times là nhật báo lớn nhất. Các báo lớn tiếng Anh khác có Times of India, The Hindu, Indian Express, Business Standard, The Pioneer và The Asian Age'Top Story (Daily). Các báo ngôn ngữ khu vực có nhật báo tiếng Malayalam Malayala Manorama và các nhật báo tiếng Tamil Dinamalar và Dinakaran.
Phát thanh là phương tiện ít có tính đại chúng tại Delhi, song đài FM trở nên phổ biến từ khi khánh thành một số đài mới vào năm 2006. Một số đài phát thanh quốc doanh và tư nhân phát sóng từ Delhi.
== Thể thao ==
Delhi từng đăng cai nhiều sự kiện thể thao quốc tế lớn, trong đó có Á vận hội lần thứ nhất và lần thứ chín, Giải vô địch khúc côn cầu thế giới 2010, Đại hội Thể thao Thịnh vượng chung 2010 và Giải vô địch cricket thế giới 2011. Delhi thất bại khi ứng cử đăng cai Á vận hội 2014, và từng dự tính ứng cử đăng cai Thế vận hội Mùa hè 2020.
Đại hội Thể thao Thịnh vượng chung 2010 được tổ chức từ ngày 3 đến ngày 14 tháng 10 năm 2010, là một trong các sự kiện thể thao lớn nhất từng được tổ chức tại Ấn Độ. Ồn ào đằng sau Đại hội thúc đẩy Thủ tướng Manmohan Singh thay thế bộ trưởng Thể thao và Thanh niên.
Cricket và bóng đá là các môn thể thao phổ biến nhất tại Delhi. Thành phố có một số sân cricket, được gọi là maidans, phân bổ khắp các khu vực. Sân Feroz Shah Kotla (thường gọi là Kotla) là một trong các sân cricket cổ nhất tại Ấn Độ và là một nơi tổ chức các trận cricket quốc tế. Đây là sân nhà của đội tuyển cricket Delhi, là đại diện của thành phố trong giải vô địch cricket hạng nhất Ấn Độ Ranji Trophy. Sân vận động Ambedkar là một sân bóng đá tại Delhi với sức chứa 21.000 người. Delhi đăng cai Cúp Nehru vào năm 2007 và năm 2009. Trong Giải vô địch bóng bầu dục Tinh anh Ấn Độ (Elite Football League of India), đội bóng bầu dục kiểu Mỹ đầu tiên của Delhi là Delhi Defenders chơi mùa đầu tiên của họ tại Pune. Vòng đua quốc tế Buddh tại Greater Noida thuộc ngoại ô Delhi tổ chức giải công thức 1 thường niên Indian Grand Prix.
== Thành phố kết nghĩa ==
Delhi kết nghĩa với các thành phố sau:
== Tham khảo == |
dấu lửng.txt | Dấu lửng hay dấu ba chấm (...) là một dấu câu được sử dụng rộng rãi trong các câu văn trên toàn thế giới.
Dấu chấm lửng có rất nhiều công dụng:
Tỏ ý còn nhiều sự vật, hiện tượng tương tự chưa liệt kê hết;
Thể hiện chỗ lời nói bỏ dở hay ngập ngừng, ngắt quãng;
Làm giãn nhịp điệu câu văn, chuẩn bị cho sự xuất hiện của một từ ngữ biểu thị nội dung bất ngờ hay hài hước, châm biếm.
== Tham khảo == |
app store (ios).txt | App Store là nền tảng phân phối kỹ thuật số các ứng dụng cho hệ điều hành iOS, phát triển và duy trì bởi Apple Inc..
== Chú thích == |
magadha.txt | Magadha (Hán-Việt: Ma Kiệt Đà) là một vương quốc hùng mạnh ở miền Trung Ấn Độ từ thế kỷ 6 trước Công nguyên đến thế kỷ 6 Công nguyên. Là một vương quốc cổ đại tập trung ở Đồng bằng sông Hằng thuộc bang Bihar ngày nay, vương quốc này đã vươn lên vị trí nổi trội dưới thời vua đầu tiên Bimbisara (543 - 491 TCN), và nó đã được con trai ông là Ajatashatru (491 - 459 TCN) mở rộng thêm nữa. Đến thế kỷ 4 trước Công nguyên, Magadha đã kiểm soát phần lớn miền Nam Ấn Độ. Trong một thời gian ngắn nó bị rơi vào sự thống trị của Alexandros Đại đế và các vua Macedonia kế tục, đến năm 321 trước Công nguyên Chandragupta Maurya đánh đuổi quân Macedonia, lên ngôi và chọn Magadha trung tâm của triều đại Maurya của mình. Dù Magadha suy giảm sau khi triều đại Maurya suy vong vào năm 185 Công nguyên, nó lại vươn lên đỉnh cao vinh quang dưới triều đại Gupta (320-550? sau Công Nguyên), mà dưới thời trị vì của triều đại này vương quốc này đã trải qua một thời kỳ thái bình thịnh trị, cổ vũ khuyến khích cho những thành tựu về nghệ thuật và tri thức. Với sự tan rã của triều đại Gupta vào thế kỷ 6, Magadha đã đánh mất vị trí hàng đầu là một cường quốc Ấn Độ. Tạm thời hồi sinh dưới thời vua Dharmapala (trị vì khoảng thời gian 770-810 Công nguyên), nó rơi vào tay những người Hồi giáo vào cuối thế kỷ 12, sau đó nó đã trở thành một tỉnh của vương quốc Hồi giáo Delhi.
== Các vua Magadha ==
=== Triều đại Brihadratha (khoảng 1700-799 TCN) ===
Brihadratha
Jarasandha
Sahadeva
Somapi (1678-1618 TCN)
Srutasravas (1618-1551 TCN)
Ayutayus (1551-1515 TCN)
Niramitra (1515-1415 TCN)
Sukshatra (1415-1407 TCN)
Brihatkarman (1407-1384 TCN)
Senajit (1384-1361 TCN)
Srutanjaya (1361-1321 TCN)
Vipra (1321-1296 TCN)
Suchi (1296-1238 TCN)
Kshemya (1238-1210 TCN)
Subrata (1210-1150 TCN)
Dharma (1150-1145 TCN)
Susuma (1145-1107 TCN)
Dridhasena (1107-1059 TCN)
Sumati (1059-1026 TCN)
Subhala (1026-1004 TCN)
Sunita (1004-964 TCN)
Satyajit (964-884 TCN)
Biswajit (884-849 TCN)
Ripunjaya (849-799 TCN)
=== Triều đại Pradyota (799-684 TCN) ===
Pradyota
Palaka
Visakhayupa
Ajaka
Varttivarddhana
=== Triều đại Hariyanka (545-346 TCN) ===
Bimbisara (544-491 TCN), khởi lập đế quốc Magadha đầu tiên
Ajatashatru (491-461 TCN)
Darshaka (461-? TCN)
Uday Bhadra
Anurudhra
Mund
NagDasak
=== Triều đại Shishunaga (430-364 TCN) ===
Shishunaga (430 TCN), thành lập vương quốc Magadha
Kakavarna (394-364 TCN)
Kshemadharman (618-582 TCN)
Kshatraujas (582-558 TCN)
Nandivardhana
Mahanandin (đến năm 424 TCN)
=== Triều đại Nanda (424-321 TCN) ===
Mahapadma Nanda (từ năm 424 TCN), con noài giã thú của Mahanandin, sáng lập triều đại Nanda sau khi vua cha băng hà
Pandhuka
Panghupati
Bhutapala
Rashtrapala
Govishanaka
Dashasidkhaka
Kaivarta
Dhana (Agrammes, Xandrammes) (tới năm 321 TCN), mất đế quốc về tay Chandragupta Maurya sau khi bị ông này đánh bại
=== Triều đại Maurya (324-184 TCN) ===
Chandragupta Maurya (Sandrakottos) (324-301 TCN), sáng lập triều đại Maurya sau khi đánh tan tác quân của cả triều đại Nanda lẫn Đế quốc Seleucid của người Macedonia
Bindusara Amitraghata (301-273 TCN)
Ashoka Vardhana (Ashoka Đại đế) (273-232 TCN), được ghi nhận là hoàng đế kiệt xuất của nước Ấn Độ cổ, vị quân vương đầu tiên thống nhất được toàn bộ Ấn Độ (sau khi chinh phạt được phần lớn Nam Á và Afghanistan), sùng đạo Phật và quyền con người.
Dasaratha (232-224 TCN)
Samprati (224-215 TCN)
Salisuka (215-202 TCN)
Devavarman (202-195 TCN)
Satadhanvan (195-187 TCN), cho thấy triều đại Maurya trở nên suy yếu.
Brhadrata (187-184 TCN), bị Pusyamitra Shunga ám sát
=== Triều đại Shunga (185-73 TCN) ===
Pusyamitra Shunga (185-149 TCN), khởi lập triều đại Shunga sau khi giết Brhadrata
Agnimitra (149-141 TCN)
Vasujyeshtha (141-131 TCN)
Vasumitra (131-124 TCN)
Andhraka (124-122 TCN)
Pulindaka (122-119 TCN)
Ghosha
Vajramitra
Bhagabhadra
Devabhuti (83-73 TCN)
=== Triều đại Kanva (73-26 TCN) ===
Vasudeva (73-? TCN)
Successors of Vasudeva (?-26 TCN)
=== Triều đại Gupta (khoảng 240-550) ===
Sri-Gupta I (240-290)
Ghatotkacha (290-305)
Chandra Gupta I (305-335), sáng lập triều đại Gupta, which is often regarded as the golden age of Indian culture
Samudra Gupta (335-370)
Rama Gupta (370-375)
Chandra Gupta II (Chandragupta Vikramaditya) (375-415), son of Samudra Gupta, the Gupta Empire achieved its zenith under his reign, the Chinese pilgrim Fa-Hsien describes Indian culture during his reign
Kumara Gupta I (415-455)
Skanda Gupta (455-467)
Kumara Gupta II (467-477)
Buddha Gupta (477-496)
Chandra Gupta III (496-500)
Vainya Gupta (500-515)
Narasimha Gupta (510-530)
Kumara Gupta III (530-540)
Vishnu Gupta (kh. 540-550)
== Tham khảo == |
liên đoàn bóng đá châu âu.txt | Liên đoàn bóng đá châu Âu (tiếng Anh: Union of European Football Association; viết tắt: UEFA) là cơ quan quản lý hiệp hội bóng đá ở châu Âu, mặc dù một số nước thành viên chủ yếu hoặc hoàn toàn nằm ở châu Á. Nó là một trong sáu liên minh lục địa của cơ quan quản lý bóng đá thế giới FIFA. UEFA gồm 55 thành viên Hiệp hội quốc gia.
UEFA đại diện các hiệp hội bóng đá quốc gia châu Âu, tổ chức các giải quốc gia và câu lạc bộ bao gồm UEFA European Championship, UEFA Champions League, UEFA Europa League, UEFA Super Cup, và kiểm soát tiền thưởng, quy định và phương tiện truyền thông cho những giải thi đấu này.
Cho đến năm 1959, trụ sở chính được đặt tại Paris, và sau đó ở Bern. Năm 1995, trụ sở chính của UEFA chuyển đến Nyon, Thụy Sĩ. Henri Delaunay là Tổng thư ký đầu tiên và Ebbe Schwartz là chủ tịch đầu tiên. Chủ tịch đắc cử cuối cùng là cựu cầu thủ bóng đá người Pháp Michel Platini, người đã bị xử phạt trong vụ tham nhũng năm 2015.
UEFA được thành lập ngày 15 tháng 6 năm 1954 tại Basel, Thụy Sĩ. Chủ tịch hiện tại của Liên đoàn là Aleksander Čeferin.
== Các giải đấu ==
=== Cấp đội tuyển ===
Giải vô địch bóng đá châu Âu
Giải vô địch bóng đá U21 châu Âu
Giải vô địch bóng đá U19 châu Âu
Giải vô địch bóng đá U17 châu Âu
Giải vô địch bóng đá trong nhà châu Âu
Giải vô địch bóng đá nữ châu Âu
=== Cấp câu lạc bộ ===
Giải bóng đá vô địch các câu lạc bộ châu Âu
Giải bóng đá nữ vô địch câu lạc bộ châu Âu
Cúp UEFA Europa League
Siêu cúp bóng đá châu Âu
== Cầu thủ xuất sắc nhất châu Âu ==
Quả bóng vàng châu Âu
== Các đội tham dự vòng chung kết World Cup ==
Chú thích
• — Không vượt qua vòng loại
× — Không tham dự / Bỏ cuộc / Bị cấm thi đấu
— Chủ nhà
=== World Cup nam ===
=== World Cup nữ ===
== Cúp Liên đoàn các châu lục ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Liên đoàn bóng đá châu Âu |
cành cọ vàng.txt | Cành cọ vàng (tiếng Pháp: Palme d'or) là giải thưởng cao nhất do ban giám khảo Liên hoan phim Cannes trao cho bộ phim hay nhất của năm, bầu trọn trong số các phim tham gia.
Tên Palme d'or bắt đầu được dùng từ năm 1975. Trước đó, từ 1946 tới 1974, giải thưởng cao nhất của liên hoan có tên Giải thưởng lớn (Grand Prix).
== Danh sách phim đoạt giải ==
== Xem thêm ==
Giải Sư tử vàng
Giải Gấu vàng
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
All the Palmes d'Or. Festival-cannes.com.
Cannes Film Festival. IMDB.
Palme d'Or Winners, 1976-nay, by gross box. |
james comey.txt | James Brien "Jim" Comey Jr. (sinh ngày 14 tháng 12 năm 1960) là một luật sư người Mỹ, từng là giám đốc thứ bảy của Cục điều tra Liên bang Hoa Kỳ (FBI) từ ngày 4 tháng 9 năm 2013 cho đến khi ông bị Tổng thống Hoa Kỳ Donald Trump miễn nhiệm vào ngày 9 tháng 5 năm 2017.
Comey là Luật sư Hoa Kỳ cho Quận phía Nam New York từ tháng 1/2002 đến tháng 12/2003, và sau đó là Phó Chưởng lý Hoa Kỳ, từ tháng 12 năm 2003 đến tháng 8 năm 2005. Với tư cách là Phó Chưởng lý, Comey là quan chức cấp cao thứ hai Tại Bộ Tư pháp Hoa Kỳ (DOJ) và điều hành hoạt động hàng ngày. Tháng 12 năm 2003, với tư cách là Phó Tổng Chưởng lý Hoa Kỳ, Comey bổ nhiệm Luật sư Hoa Kỳ ở Chicago, Illinois, bạn thân và cựu đồng nghiệp Patrick Fitzgerald, làm Cố vấn đặc biệt để điều tra CIA Leak Grand Jury Investigation còn được gọi là "Plame affair" Sau khi Tổng chưởng lý John Ashcroft tự hồi ti.
Tháng 8 năm 2005, Comey rời khỏi DOJ và trở thành Tổng Tư vấn và Phó Chủ tịch cấp cao của Lockheed Martin, đặt trụ sở tại Bethesda, Maryland. Năm 2010, ông trở thành Tổng Tư vấn tại Bridgewater Associates, có trụ sở tại Westport, Connecticut. Vào đầu năm 2013, ông rời Bridgewater để trở thành Học viện Nghiên cứu Cao cấp và là thành viên của Hertog về Luật An ninh Quốc gia tại Trường Luật Columbia ở thành phố New York. Ông đã phục vụ trong Hội đồng Quản trị của HSBC Holdings cho đến tháng 7 năm 2013.
Vào tháng 9 năm 2013, Comey được bổ nhiệm làm Giám đốc FBI của Tổng thống Barack Obama. Với tư cách đó, ông chịu trách nhiệm giám sát cuộc điều tra của tranh cãi email của Hillary Clinton trong cuộc điều tra của FBI. Vai trò của ông trong cuộc bầu cử tổng thống năm 2016 của Hoa Kỳ, đặc biệt liên quan đến các cuộc trao đổi công khai của ông, rất gây tranh cãi. Các quyết định của ông đã được nhiều nhà phân tích, trong đó có Nate Silver của FiveThirtyEight, xem là có liên quan đến cuộc bầu cử của Hillary Clinton.
Comey đã bị sa thải bởi Tổng thống Donald Trump ngày 9 tháng 5 năm 2017, vài ngày sau khi Comey đã yêu cầu Bộ Tư pháp tăng ngân quỹ cho cuộc điều tra của FBI vào can thiệp của Nga vào cuộc bầu cử tổng thống Mỹ.
== Thời trẻ ==
Sinh ra ở Yonkers, New York, Comey lớn lên ở Allendale, New Jersey, là con của Joan (Herald) và J. Brien Comey. Cha của ông làm việc trong công ty bất động sản và mẹ ông là một nhà tư vấn máy tính và nội trợ. Comey có gốc Ai Len. Ông học Trường trung học khu vực Northern Highlands ở Allendale. Comey tốt nghiệp từ Cao đẳng William và Mary năm 1982, chuyên về hóa học và tôn giáo. Luận án cao cấp của ông đã phân tích nhà thần học tự do Reinhold Niebuhr, Jennifer Nieweller và Jerry Falwell bảo thủ, nhấn mạnh đến niềm tin chung của họ đối với hành động công cộng. Ông đã nhận bằng Juris Doctor (J.D.) từ Trường Luật Đại học Chicago năm 1985.
== Tham khảo == |
hệ ngôn ngữ tai-kadai.txt | Hệ ngôn ngữ Tai-Kadai, (các tên gọi khác bao gồm: ngữ hệ Tai-Kadai, hệ ngôn ngữ Kradai, ngữ hệ Kradai, ngữ hệ Kra-Dai, hệ ngôn ngữ Thái-Kadai, ngữ hệ Thái-Kadai, ngữ hệ Tráng-Đồng, ngữ hệ Thái-Tạp Đại v.v), là một hệ ngôn ngữ bao gồm khoảng 70 ngôn ngữ tập trung tại Đông Nam Á và miền nam Trung Quốc. Hiện nay ngữ hệ này được coi là bao gồm 5 nhánh chính: ngữ chi Lê (Hlai), ngữ chi Đồng-Thủy (Kam-Sui), Ngữ chi Ngật Ương (Kra), ngữ chi Thái (Tai) và tiếng Ông Bối (OngBe hay Bê) với vị trí chưa rõ ràng.
== Các mối liên quan ngoài ==
Ngữ hệ Kradai trước đây được coi là một phần của ngữ hệ Hán-Tạng (tại Trung Quốc khi đó gọi là ngữ tộc Tráng-Đồng, ngữ tộc Đồng-Thái, ngữ tộc Tráng-Thái, ngữ tộc Thái hay ngữ tộc Kiềm Thái v.v.), nhưng hiện nay nó được phân loại như là một ngữ hệ độc lập. Ngữ hệ này chứa một lượng lớn các từ cùng gốc với ngữ hệ Hán-Tạng. Tuy nhiên, chúng chỉ được tìm thấy một cách ngẫu nhiên trong mọi nhánh của ngữ hệ này, và không bao gồm từ vựng cơ bản, chỉ ra rằng chúng chỉ là các từ vay mượn từ thời cổ.
Tại Trung Quốc, ngữ hệ này trước đây được gọi là ngữ tộc Tráng-Đồng và nói chung được coi là một phần của ngữ hệ Hán-Tạng cùng với Hệ ngôn ngữ H'Mông-Miền (Miêu-Dao). Hiện tại, các học giả về ngôn ngữ học tại Trung Quốc vẫn còn tranh luận về việc liệu các ngôn ngữ trong Ngữ chi Ngật Ương như tiếng Ngật Lão, tiếng Pu Péo và tiếng La Chí có thể được gộp trong ngữ hệ Tráng-Đồng hay không, do chúng thiếu các từ cùng gốc Hán-Tạng, một điều kiện để gộp các ngôn ngữ Tráng-Đồng khác trong ngữ hệ Hán-Tạng.
Một vài học giả phương Tây tin rằng ngữ hệ Kradai có liên quan tới hay là một nhánh của ngữ hệ Nam Đảo (Austronesia), trong một ngữ hệ được gọi là ngữ hệ Nam-Thái (Austro-Tai). Ở đây có một lượng đáng kể nhưng hạn chế các từ cùng gốc trong từ vựng cốt lõi. Vẫn chưa có sự đồng thuận về việc chúng là nhánh ngôn ngữ Nam Đảo trên đại lục, được di cư ngược từ Đài Loan vào đại lục hay chúng là sự di cư muộn hơn từ Philippines tới Hải Nam trong thời kỳ mở rộng của ngữ hệ Nam Đảo.
== Phân loại nội bộ ==
Ngữ hệ Kradai bao gồm 5 nhánh được thiết lập khá vững chắc, bao gồm 4 ngữ chi là Lê (Hlai), Ngật Ương (Kra), Đồng-Thủy (Kam-Sui), Thái (Tai) và tiếng Ông Bối (Ong Be/Bê):
Tiếng Ông Bối (OngBe/Bê) hay phương ngữ Lâm Cao (Hải Nam)
Ngữ chi Ngật Ương hay Tạp Đại trong tiếng Trung (Kra) (gọi là Kadai trong Ethnologue)
Ngữ chi Đồng-Thủy (Kam-Sui): Trung Hoa đại lục.
Ngữ chi Lê (Hlai): Hải Nam.
Ngữ chi Thái (Tai): Hoa Nam và Đông Nam Á.
Dựa trên một lượng lớn từ vựng mà các ngôn ngữ trong ngữ hệ chia sẻ, các nhánh Kam-Sui, Be, Tai thường được gộp cùng nhau. (Xem ngữ tộc Đồng-Thái (hay Kam-Tai)). Tuy nhiên, nó cũng chỉ là chứng cứ phủ định, có lẽ là do sự thay thế từ vựng học ở các nhánh khác, và các nét tương đồng hình thái học gợi ý rằng Kra và Kam-Sui nên gộp cùng nhau như là nhánh Bắc Kradai, còn Hlai và Tai như là nhánh Nam Kradai.
Vị trí của tiếng Ông Bối trong đề xuất này là chưa xác định.
== Nguồn gốc và di cư ==
Nghiên cứu trên 100 quần thể dân cư Đông Á, bao gồm 30 các quần thể dân cư nói các tiếng Kradai đã đạt được các kết luận sau:
Thứ nhất, các quần thể dân cư nói các tiếng Kradai có một lượng lớn các điểm tương đồng di truyền học mặc dù sự pha trộn với cư dân bản địa khu vực đã xảy ra sau sự mở rộng của nó.
Thứ hai, một tỷ lệ đáng kể dân cư miền nam Trung Quốc có các dấu hiệu của dân cư nói các tiếng Kradai.
Thứ ba, thổ dân Đài Loan trông tương tự như các quần thể dân cư nói các tiếng Kradai hơn là giống các quần thể dân cư Austronesia khác, chẳng hạn như người Malay-Polynesia.
Thứ tư, việc tập trung thành cụm của các quần thể dân cư nói các tiếng Kradai tương ứng khá tốt với sự phân chia dựa theo các điểm tương đồng di truyền học, chỉ ra rằng chỉ một luồng gen hạn chế giữa họ sau khi có sự chia tách của các quần thể dân cư này.
Các quần thể dân cư nói các tiếng Kradai có nguồn gốc từ phần phía nam Đông Á và sau đó đã di cư về phía bắc và phía đông với nhánh Kam-Sui có lẽ là cổ nhất.
== Tham khảo ==
Edmondson J.A., D.B. Solnit (chủ biên). 1997. Comparative Kadai: the Tai branch. Dallas: Viện ngôn ngữ Summer (SIL) và Đại học Texas tại Arlington. ISBN 0-88312-066-6
Blench Roger. 2004. Stratification in the peopling of China: how far does the linguistic evidence match genetics and archaeology? Bài viết cho hội nghị chuyên đề "Human migrations in continental East Asia and Taiwan: genetic, linguistic and archaeological evidence". Geneva, 10-13/6/2004. Đại học Geneva.
Sagart Laurent. 2004. The higher phylogeny of Austronesian and the position of Tai-Kadai. Oceanic Linguistics 43. 411-440.
== Đọc thêm ==
Tai-kadai Languages. (2007). Curzon Pr. ISBN 978-0-7007-1457-5
Diller A. (2005). The Tai-Kadai languages. London [etc.]: Routledge. ISBN 0-7007-1457-X
Edmondson J. A. (1986). Kam tone splits and the variation of breathiness.
Edmondson J. A., & Solnit, D. B. (1988). Comparative Kadai: linguistic studies beyond Tai. Summer Institute of Linguistics publications in linguistics, no. 86. [Arlington, Tex.]: Summer Institute of Linguistics. ISBN 0-88312-066-6
Somsonge Burusphat, Sinnott M. (1998). Kam-Tai oral literatures: collaborative research project between. Salaya Nakhon Pathom, Thailand: Institute of Language and Culture for Rural Development, Mahidol University. ISBN 974-661-450-9
== Ghi chú == |
vịnh méxico.txt | Vịnh México (tiếng Tây Ban Nha: golfo de México) hay vịnh Mễ Tây Cơ là hải vực lớn thứ 9 thế giới. Vịnh là một nhánh của Đại Tây Dương, bao bọc phần lớn bởi lục địa Bắc Mỹ và đảo Cuba. Vịnh này giáp Hoa Kỳ về phía đông bắc, chính bắc và tây bắc; phía tây nam và nam vịnh giáp México; phía đông nam giáp đảo quốc Cuba. Hình dáng của vịnh này gầy như oval; rộng khoảng 810 hải lý (1.500 km). Vịnh là lòng chảo trầm tích, đáy vịnh cấu tạo bởi đá vụn.
Vịnh México có hai cửa chính. Eo biển Florida giữa Mỹ và Cuba thông vịnh với Đại Tây Dương ở phía đông còn Eo biển Yucatan giữa México và Cuba thông vịnh với biển Caribe ở phía đông nam. Vịnh México cùng với biển Caribe có thể coi như một nội hải của châu Mỹ.
Thủy triều trong vịnh rất yếu vì đường thông vịnh với đại dương tương đối hẹp. Diện tích vịnh là khoảng 615.000 mi² (1,6 triệu km²) với một nửa thuộc vùng nước nông trong phạm vi của hai cực khi nước lên và nước xuống. Ở điểm sâu nhất có tên là Vực Sigsbee, tầm sâu là 4.384 m. Đó là một rãnh biển hình máng dài hơn 300 hải lý (550 km), hình thành cách đây 300 triệu năm khi lòng vịnh chìm xuống. Có bằng chứng cho rằng Hố Chicxulub là do một khối thiên thạch rớt xuống địa cầu 65 triệu năm trước và tạo ra vết lõm này. Thời điểm đó ăn khớp với sự kiện tuyệt chủng kỷ Creta-phân đại đệ Tam của Trái Đất.
== Tham khảo == |
durham.txt | Durham (phát âm là / dʌrəm /, tại địa phương [dʊrəm]) là một thành phố ở miền Đông Bắc nước Anh. Nó nằm trong hạt Durham. Durham nổi tiếng với Nhà thờ chính tòa Durham phong cách kiến trúc Norman và lâu đài thế kỷ thứ 11 là di sản thế giới UNESCO, và là nơi có Đại học Durham. Nhà tù HM Durham cũng nằm gần trung tâm thành phố. Durham nằm 13 dặm (21 km) về phía tây nam của Sunderland, Anh. Sông Bear chảy theo hướng bắc qua thành phố, tạo thành một khúc uốn khúc nhỏ mà bao quanh trung tâm trên cả ba mặt để tạo thành bán đảo của Durham. Tại cơ sở của bán đảo là Market Place, nơi vẫn còn họp chợ thường xuyên.
== Tham khảo == |
bi đá trên băng.txt | Bi đá trên băng hay ném tạ trên băng (tiếng Anh gọi là curling hay curler) là môn thể thao mà người chơi phải trượt trên một tấm băng hướng tới khu vực mục tiêu được chi thành 4 vòng. Môn thể thao này bắt nguồn từ Scotland.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
World Curling Federation
CBC Digital Archives – Curling: Sweeping the Nation
Bonspiel! The History of Curling in Canada at Library and Archives Canada
Curling Almanac
curling stones, Smithsonian Center for Folklife and Cultural Heritage.
The Game Of The Magic Broom, March 1944 one of the first magazine articles to introduce the game of curling to the American public
The Canadian Curler's Manual transcription of 1840 text |
bonaire.txt | Bonaire là một đặc khu của vương quốc Hà Lan. trước đây đặc khu này là Antille thuộc Hà Lan, bị giải tán vào tháng 10 năm 2010, để cho Curaçao và Sint Maarten trở thành các quốc gia cấu thành của Vương quốc Hà Lan, trong khi Bonaire, Saba, và Sint Eustatius trở thành các đặc khu của Hà Lan.
== Tham khảo == |
14 tháng 10.txt | Ngày 14 tháng 10 là ngày thứ 287 (288 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 78 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
982 – Da Luật Long Tự đăng cơ hoàng đế triều Liêu ở tuổi 11, tức Liêu Thánh Tông, Thái hậu Tiêu Xước nhiếp chính.
1066 – Tại Trận Hastings, quân lực William Nhà chinh phạt đánh bại quân đội Anh và giết Harold Godwinson, vua Anh người Anglo-Saxon cuối cùng lên ngôi.
1756 – Trong Chiến tranh Bảy năm, Cuộc vây hãm Pirna kết thúc với chiến thắng của quân Phổ trước quân Sachsen.
1758: Thống chế Áo Leopold Joseph von Daun đánh tan quân Phổ của nhà vua Friedrich II Đại Đế trong trận đánh tại Hochkirch.
1926 – Cuốn sách đầu tiên kể chuyện về con gấu giả tưởng Winnie-the-Pooh của nhà văn Anh A. A. Milne được xuất bản lần thứ nhất.
1939 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Tàu ngầm Đức U-47 đánh chìm tàu chiến HMS Royal Oak của Hải quân Hoàng gia Anh trong khi tàu Anh đang đậu tại cảng ở Scapa Flow thuộc Orkney, Scotland.
1943 – Đệ nhị Cộng hòa Philippines được thành lập trong khi Nhật Bản chiếm đóng, với tổng thống là José P. Laurel.
1944 – Do liên hệ với âm mưu 20 tháng 7, Thống chế Erwin Rommel của Đức bị buộc phải tự sát.
1949 – Nội chiến Trung Quốc: Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc chiếm Quảng Châu.
1952 – Chiến tranh Đông Dương: Việt Minh bắt đầu tiến hành Chiến dịch Tây Bắc chống lại quân Liên hiệp Pháp.
1964 – Leonid Brezhnev trở thành Tổng bí thư của Đảng Cộng sản Liên Xô trong một hội nghị diễn ra dưới sự vắng mặt của người tiền nhiệm Nikita Khrushchev.
1973 – Đối diện với phong trào phản đối chính phủ của sinh viên Thái Lan, chính phủ quân sự của Thanom Kittikachorn từ chức.
== Sinh ==
1952 - Nguyễn Văn Thạc liệt sĩ, nhà văn
== Mất ==
1970 - Nữ sĩ Cao Ngọc Anh mất tại Sài Gòn
== Những ngày lễ và kỉ niệm ==
Ngày Tiêu chuẩn Thế giới
Ngày bảo vệ Ukraina
Ngày Năm mới trong Lịch Hồi giáo
Ngày thành lập Hội nông dân Việt Nam (1930)
Ngày thành lập tỉnh Thái Bình.
== Tham khảo == |
rheni.txt | Rheni (tên La tinh: Rhenium) là một nguyên tố hóa học có ký hiệu Re và số nguyên tử 75. Nó là một kim loại chuyển tiếp nặng, màu trắng bạc nằm tại hàng ba của nhóm 7 trong bảng tuần hoàn. Với mật độ trung bình cỡ một phần tỷ (ppb), rheni là một trong nguyên tố hiếm nhất trong lớp vỏ Trái Đất. Rheni tương tự như mangan về mặt hóa học và thu được dưới dạng phụ phẩm trong tinh chế molypden và đồng. Ở dạng hợp chất, rheni thể hiện các trạng thái ôxi hóa từ −1 tới +7.
Các lượng nhỏ rheni được thêm vào các hợp kim wolfram, và một số hợp chất của rheni cũng được dùng làm chất xúc tác trong công nghiệp hóa chất. Các siêu hợp kim gốc niken được sử dụng trong các động cơ phản lực chứa tới 6% rheni, làm cho ngành này là nơi sử dụng rheni lớn nhất. Do khan hiếm và nhu cầu cao trong chế tạo động cơ phản lực nên rheni thuộc số các kim loại đắt nhất trên thế giới, với giá của nó có những lúc vượt quá 12.000 USD mỗi kilôgam. Rheni, được phát hiện năm 1925, là nguyên tố có đồng vị ổn định trong tự nhiên cuối cùng được phát hiện. Franxi là nguyên tố nguồn gốc tự nhiên cuối cùng được phát hiện, nhưng nó không có đồng vị nào ổn định. Rheni được đặt tên theo sông Rhine.
== Lịch sử ==
Rheni (từ tiếng Latinh Rhenus, nghĩa là Rhine) là nguyên tố nguồn gốc tự nhiên được phát hiện gần sau cùng nhất, chỉ trước Franxi; đồng thời nó là nguyên tố có đồng vị ổn định được phát hiện cuối cùng. Sự tồn tại của nguyên tố tại vị trí của rheni (khi đó chưa được phát hiện) trong bảng tuần hoàn đã được Henry Moseley dự báo từ năm 1914. Nói chung người ta gán công phát hiện ra rheni cho Walter Noddack, Ida Tacke, Otto Berg ở Đức. Năm 1925, họ thông báo rằng họ đã phát hiện ra một nguyên tố có trong quặng platin và trong khoáng vật columbit. Họ cũng tìm thấy rheni trong gadolinit và molybdenit. Năm 1928, họ đã tách ra được 1 g nguyên tố bằng cách xử lý 660 kg khoáng vật molybdenit. Quy trình này quá phức tạp và tốn kém đến mức việc sản xuất bị gián đoạn tới tận đầu năm 1950 khi các hợp kim wolfram-rheni và molypden-rheni được điều chế. Các hợp kim này được phát biện là có nhiều ứng dụng quan trọng trong công nghiệp tạo ra một nhu cầu lớn đối với rheni được sản xuất từ phần molybdenit của các quặng đồng pocfia.
Năm 1908, nhà hóa học Nhật Bản là Masataka Ogawa thông báo rằng ông đã phát hiện ra nguyên tố số 43 và đặt tên nó là nipponium (Np) theo sau tên của Nhật Bản (là Nippon trong tiếng Nhật). Tuy nhiên, phân tích sau đó chỉ ra sự hiện diện của rheni (số 75), chứ không phải nguyên tố số 43. Ký hiệu Np sau này được sử dụng cho nguyên tố neptuni (số 93).
== Đặc trưng ==
Rheni là kim loại có nhiệt độ nóng chảy thuộc hàng cao nhất trong số mọi nguyên tố, chỉ có wolfram (3.695 K) và cacbon (4.300-4.700 K) là đứng trên nó. Nó cũng là nguyên tố có tỷ trọng riêng thuộc hàng cao nhất, chỉ thua platin (21.450 kg/m³), iridi (22.560 kg/m³) và osmi (22.610 kg/m³).
Dạng thương mại thông thường của nó là bột, nhưng nguyên tố này có thể cô đặc hơn bằng cách ép và thiêu kết trong chân không hay môi trường khí hiđrô. Quy trình này tạo ra sản phẩm chắc đặc với tỷ trọng khoảng trên 90% tỷ trọng riêng của kim loại này. Khi bị ủ kim loại này trở nên rất mềm và có thể uốn cong hay kéo thành cuộn. Các hợp kim rheni-molypden có tính siêu dẫn ở 10 K; còn các hợp kim wolfram-rheni cũng có tính siêu dẫn ở khoảng 4-8 K, phụ thuộc vào từng hợp kim. Rheni kim loại siêu dẫn ở 2,4 K.
=== Đồng vị ===
Rheni nguồn gốc tự nhiên là 37,4% Re185, một đồng vị ổn định, và 62,6% Re187, một đồng vị không ổn định nhưng có chu kỳ bán rã rất dài (~1010 năm); với thời gian tồn tại chịu ảnh hưởng bởi trạng thái tích điện của nguyên tử rheni. Phân rã beta của Re187 được sử dụng để định tuổi rheni-osmi của quặng. Năng lượng cần thiết cho phân rã beta này (2,6 keV) là một trong số những mức năng lượng thấp nhất trong số mọi hạt nhân phóng xạ. Người ta cũng đã biết 26 đồng vị phóng xạ khác của rheni.
=== Các hợp chất ===
Rheni có một khoảng rộng nhất các trạng thái ôxi hóa trong số mọi nguyên tố đã biết: −1, 0, +1, +2, +3, +4, +5, +6 và +7. Các trạng thái ôxi hóa +7, +6, +4 và +2 là phổ biến nhất.
Các hợp chất phổ biến nhất của rheni là các ôxít và các halua, chiếm một phổ rộng các trạng thái ôxi hóa: Re2O7, ReO3, Re2O5, ReO2 và Re2O3 là các ôxít đã biết, ReF7, ReCl6, ReCl5, ReCl4 và ReCl3 là một ít các hợp chất halua đã biết. Các sulfua bao gồm ReS2 và Re2S7.
Rheni có sẵn ở dạng thương mại nhiều nhất là perrhenat natri và perrhenat amoni. Nó cũng có sẵn ở dạng decacacbonyl dirheni; cả ba hợp chất này đều là các chất khởi đầu phổ biến cho hóa học rheni. Các dạng muối perrhenat khác cũng có thể dễ dàng chuyển hóa thành tetrathioperrhenat theo phản ứng của bisulfua ammoni. Cũng có thể khử decacacbonyl dirheni Re2(CO)10 bằng phản ứng với hỗn hống natri thành Na[Re(CO)5], với rheni ở trạng thái ôxi hóa chính thức là -1. Decacacbonyl dirheni có thể phản ứng với brôm để tạo ra bromopentacacbonylrheni (I), sau đó khử bằng kẽm và axít axetic thành pentacacbonylhydridorheni:
Re2(CO)10 + Br2 → Re(CO)5Br
Re(CO)5Br + Zn + HOAc → Re(CO)5H + ZnBr(OAc)
Bromopentacacbonylrheni (I) có thể bị khử cacbonyl để tạo ra tricacbonyl rheni bằng cách cho tác dụng với nước:
Re(CO)5Br + 3 H2O → [Re(CO)3(H2O)3]Br + 2 CO
hay cho phản ứng với bromua tetraetylammoni:
Re(CO)5Br + 2 (NEt4Br → [NEt4]2[Re(CO)3Br3]
Diborua rheni (ReB2) là một chất có độ cứng tương tự như cacbua wolfram, cacbua silic, diborua titan hay diborua zirconi.
Rheni ban đầu được cho là tạo ra anion rhenua, Re−, trong đó nó có trạng thái ôxi hóa −1. Điều này dựa trên sản phẩm khử các muối perrhenat, chẳng hạn như khử perrhenat kali (KReO4) bằng kali kim loại "Rhenua kali" được chỉ ra là tồn tại dưới dạng phức chất ngậm bốn phân tử nước, tương ứng với công thức hóa học KRe•4H2O. Hợp chất này thể hiện tính khử mạnh, và chậm chạp sinh ra khí hiđrô khi hòa tan trong nước. Các hợp chất tương tự của liti và tali cũng được thông báo. Tuy nhiên, nghiên cứu sau này chỉ ra rằng ion "rhenua" trên thực tế là phức hợp hydridorhenat. "Rhenua kali" như thể hiện thực tế là nonahydridorhenat, K2ReH9, chứa anion ReH2−9 trong đó trạng thái ôxi hóa của rheni thực tế là +7. Các phương pháp khác khử các muối perrhenat sinh ra các hợp chất chứa các phức hợp hydrido- khác, bao gồm ReH3(OH)3(H2O)−.
== Phổ biến ==
Rheni là một trong những nguyên tố hiếm nhất trong lớp vỏ Trái Đất với mật độ trung bình 1 ppb; các nguồn khác đưa ra con số 0,5 ppb, làm cho nó chỉ chiếm vị trí thứ 77 về độ phổ biến trong lớp vỏ Trái Đất. Rheni có lẽ không ở dạng tự do trong tự nhiên, nhưng chiếm khối lượng tới 0,2 % trong khoáng vật molybdenit, là nguồn sản xuất thương mại của nó, mặc dù các mẫu molybdenit riêng lẻ có thể chứa tới 1,88% rheni cũng đã được tìm thấy. Chile là nguồn dự trữ rheni lớn nhất thế giới, một phần của các mỏ quặng đồng, và đồng thời cũng là nhà sản xuất hàng đầu tính tới năm 2005. Chỉ gần đây thì người ta mới tìm thấy và miêu tả khoáng vật đầu tiên của rheni (năm 1994), đó là một khoáng vật sulfua của rheni (ReS2), ngưng tụ từ lỗ phun khí trên núi lửa Kudriavy của Nga, nằm trên quần đảo Kuril. Được đặt tên là rheniit, khoáng vật hiếm này có giá rất cao đối với các nhà sưu tập, nhưng nó lại không là nguồn có giá trị kinh tế đối với nguyên tố này.
== Sản xuất ==
Rheni thương mại được tách ra từ khí ống khói lò nung molypden thu được từ các quặng sulfua đồng. Một số quặng molypden chứa 0,001% tới 0,2% rheni Ôxít rheni (VII) và axít perrhenic dễ dàng hòa tan trong nước; chúng được lọc từ bụi và khí ống khói, tách ra bằng cách cho kết tủa với clorua kali hay clorua ammoni dưới dạng các muối perrhenat, và tinh chế bằng tái kết tinh. Tổng sản lượng sản xuất toàn thế giới khoảng 40-50 tấn/năm; các nhà sản xuất chính là Chile, Hoa Kỳ, Kazakhstan. Tái chế chất xúc tác Pt-Re cùng các hợp kim đặc biệt đã sử dụng cho phép thu hồi khoảng 10 tấn mỗi năm. Giá của kim loại này tăng nhanh trong đầu năm 2008, từ khoảng $1.000–$2.000 mỗi kilôgam trong giai đoạn 2003-2006 tới trên $10.000 trong tháng 2 năm 2008. Dạng kim loại được điều chế bằng cách khử perrhenat ammoni với hiđrô ở nhiệt độ cao:
2 NH4ReO4 + 7 H2 → 2 Re + 8 H2O + 2 NH3
== Ứng dụng ==
Rheni được bổ sung vào các siêu hợp kim chịu nhiệt độ cao sử dụng trong chế tạo các bộ phận của động cơ phản lực, chiếm tới 70% sản lượng rheni toàn thế giới. Ứng dụng lớn khác là trong các chất xúc tác platin-rheni, được sử dụng chủ yếu trong sản xuất xăng có chỉ số octan cao và không chứa chì.
=== Hợp kim ===
Các siêu hợp kim trên cơ sở niken có độ dão được cải thiện khi có sự bổ sung rheni. Các hợp kim thường chứa 3% tới 6% rheni. Các hợp kim thế hệ hai chứa 3%; chúng được sử dụng trong các động cơ của F-15 và F-16, trong khi các hợp kim thế hệ ba đơn tinh thể mới chứa 6% rheni; chúng được sử dụng trong động cơ của F-22 và F-35. Mức tiêu thụ năm 2006 được đưa ra là 28% cho General Electric, 28% cho Rolls-Royce plc và 12% cho Pratt & Whitney, tất cả đều là siêu hợp kim, trong khi sử dụng làm chất xúc tác chỉ chiếm 14% và toàn bộ các ứng dụng khác là 18 %. Năm 2006, 77% lượng rheni tiêu thụ tại Hoa Kỳ là trong các hợp kim.
Rheni cải thiện các tính chất của wolfram và vì thế là vật liệu tạo hợp kim quan trọng nhất đối với wolfram. Các hợp kim wolfram-rheni là mềm hơn ở nhiệt độ thấp làm cho chúng dễ dàng hơn trong việc gia công cơ khí, trong khi độ ổn định ở nhiệt độ cao cũng được cải thiện. Tác động này tăng lên theo hàm lượng rheni, và vì thế các hợp kim wolfram được sản xuất để chứa tới 27% Re, nó cũng là giới hạn độ hòa tan. Một ứng dụng cho các hợp kim wolfram-rheni là các nguồn tia X. Điểm nóng chảy cao của cả hai thành phần tạo hợp kim, cùng với khối lượng nguyên tử lớn, làm cho chúng ổn định trước va chạm của các electron kéo dài. Các hợp kim rheni của wolfram cũng được dùng như là các cặp nhiệt điện để đo nhiệt độ lên tới 2.200 °C.
Độ ổn định trước nhiệt độ cao, áp suất hơi thấp, độ kháng mài mòn tốt và khả năng chống lại ăm mòn hồ quang của rheni là hữu ích trong chế tạo các công tắc điện tự làm sạch. Cụ thể, các tia lửa điện xuất hiện trong quá trình chuyển mạch sẽ ôxi hóa các tiếp điểm. Tuy nhiên, ôxít rheni Re2O7 có độ ổn định thấp (hăng hoa ở ~360 °C) và vì thế bị loại bỏ trong quá trình đóng mở mạch.
Rheni có nhiệt độ nóng chảy cao và áp suất hơi thấp tương tự như tantali và wolfram, tuy nhiên, rheni tạo thành các ôxít không bay hơi. Vì thế, các sợi rheni thể hiện độ ổn định cao nếu như chúng được vận hành không phải là trong chân không mà là trong môi trường khí quyển chứa ôxy. Các sợi này được sử dụng rộng rãi trong phổ khối lượng, trong áp kế ion hóa và trong các đèn flash trong nhiếp ảnh..
=== Chất xúc tác ===
Rheni trong dạng hợp kim rheni-platin được sử dụng làm chất xúc tác trong cải tạo xúc tác (catalytic reforming), là một quy trình hóa học chuyển hóa các ligroin xăng dầu với chỉ số octan thấp thành các sản phẩm lỏng với chỉ số octan cao. Trên thế giới, 30% chất xúc tác sử dụng cho quy trình này có chứa rheni. Hoán đổi olefin là phản ứng khác trong đó rheni cũng được dùng làm chất xúc tác. Thông thường Re2O7 trên alumina được sử dụng cho quy trình này. Các xúc tác rheni kháng lại khá tốt trước độc tố hóa học từ nitơ, lưu huỳnh và phốtpho, và vì thế được dùng trong một số loại phản ứng hiđrô hóa nhất định.
=== Khác ===
Các đồng vị Re188 và Re186 có tính phóng xạ và được dùng trong điều trị ung thư gan. Cả hai đều có độ sâu thâm nhập tương tự trong mô (5 mm cho Re186 và 11 mm cho Re188), nhưng Re186 có ưu thế do có thời gian tồn tại lâu hơn (90 giờ so với 17 giờ).
Có liên quan bởi tính chu kỳ, rheni có tính chất hóa học tương tự như tecneti; công việc thực hiện với nhãn rheni về phía các mục tiêu thường có thể được thực hiện giống như với tecneti. Điều này là hữu ích cho dược phóng xạ, trong đó rất khó làm việc với tecneti - đặc biệt là đồng vị Tc99m sử dụng trong y học - do giá thành cao và chu kỳ bán rã ngắn của nó.
== Phòng ngừa ==
Người ta biết rất ít về độc tính của rheni và các hợp chất của nó, do chúng chỉ được sử dụng với các lượng rất nhỏ. Các muối hòa tan, như các halua hay các perrhenat của rheni, có thể là nguy hại do các nguyên tố khác không phải rheni hoặc có thể là do chính rheni. Chỉ một số ít các hợp chất của rheni đã được thử nghiệm về độc tính; hai mẫu thử là perrhenat kali và triclorua rheni, được tiêm ở dạng lỏng vào chuột. Perrhenat có LD50 là 2.800 mg/kg sau 7 ngày và triclorua rheni có LD50 là 280 mg/kg.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
WebElements.com - Rhenium
Hình ảnh rheni tinh khiết (>99,99 %) trong bộ sưu tập nguyên tố của Heinrich Pniok |
ushant.txt | Ushant (tiếng Breton: Enez Eusa, tiếng Pháp: Ouessant) là một đảo trong Kênh Anh. Về mặt hành chính đảo này là một xã thuộc tỉnh Finistère của Pháp.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Article at AllRefer Encyclopedia, based on The Columbia Electronic Encyclopedia
Traditional, Spanish Ladies, credited to Iron Men & Wooden Ships, by Frank Shay
Ushant communal council website (bằng tiếng Pháp)
Tripping Diary - The island of Ouessant
(tiếng Pháp) Cultural Heritage
Ile d'Ouessant - Photo gallery
Storm Island – article about the island by William Langewiesche in the December 2001 issue of The Atlantic |
anzus.txt | ANZUS hoặc ANZUS Treaty (viết tắt của: Australia, New Zealand, United States Security Treaty (Khối hiệp ước An ninh quân sự Úc - New Zealand - Mỹ))
Khối hiệp ước An ninh quân sự Úc- New Zealand - Mỹ là khối quân sự bao gồm Úc và Mỹ, và riêng lẻ giữa Úc và New Zealand. Mục tiêu nhằm hợp tác phòng thủ trước các cuộc tấn công trên Thái Bình Dương, tuy nhiên ngày này nghĩa này được hiểu rộng ra với bất kỳ cuộc tấn công nào trên thế giới.
== Cấu trúc của khối hiệp ước ==
Ban đầu đây là hiệp ước đầy đủ giữa cả 3 nước. Tuy nhiên sau cuộc tranh cãi giữa Mỹ và New Zealand về quyền cập cảng New Zealand của các tàu chiến vũ trang hạt nhân Mỹ năm 1984 thì hiệp ước không còn hiệu lực giữa Mỹ và New Zealand nữa. Mặc dù vậy hiệp ước vẫn còn hiệu lực giữa New Zealand và Úc. Vì thế hiện nay Úc là nước duy nhất duy trì hiệp ước với cả 2 nước còn lại.
Các hoạt động của khối quân sự này chủ yếu diễn ra giữa hai nước Mỹ và Úc. Các cơ quan phụ trách hệ thống phòng thủ của cả 2 nước thường tham gia các cuộc họp thường niên. Cuộc họp này do tổng chỉ huy quân đội Mỹ tại Thái Bình Dương và tổng chỉ lực lượng phòng vệ quốc gia của Úc đứng đầu và chủ trì. Ngoài ra còn có các cuộc thảo luận dân sự và quân sự thường xuyên ở cấp độ thấp hơn. Các cuộc họp hàng năm bàn về vấn đề phòng thủ của ANZUS được diễn ra giữa bộ ngoại giao hai nước, viết tắt là AUSMIN. AUSMIN lần thứ 17 được diễn ra tại Adelaide, Úc và tháng 11 năm 2005
Không giống như NATO, ANZUS không có cấu trúc phòng thủ phối hợp hay một lực lượng chuyên biệt nào. Dù vậy trong hiệp ước quy định một số lượng các hoạt động chung khá đa dạng giữa Mỹ và Úc. Các hoạt động này bao gồm các cuộc tập trận chung trên biển, đối phó với tình huống đổ bộ, tham gia công tác trao đổi và huấn luyện sĩ quan, chuẩn hóa trang thiết bị và học thuyết quân sự. Hai nước cũng tham gia tổ chức vài cơ sở phòng thủ ở Úc, chủ yếu là các trạm mặt đất cho hệ thống cảnh báo sớm qua vệ tinh và trạm thu thông minh thu tin hiệu từ Đông Nam Á và Đông Á, đây là một phần của hệ thống ECHELON.
Trong lịch sử, 3 nước đã cùng nhau tham gia nhiều vấn đề như chiến tranh Việt Nam, Hàn Quốc, Malaysia, ly khai của Đông Timo, phức tạp chính trị ở Đài Loan, hạt nhân của bán đảo Triều Tiên và cuộc chiến chống khủng bố.
== Lịch sử và tình hình hiện tại ==
Khối hiệp ước bắt đầu xuất phát từ mối liên hệ gần gũi về quân sự giữa 3 nước trong thời kỳ chiến tranh thế giới lần thứ II. Vào thời gian khi Úc đang đứng trước nguy cơ bị Nhật Bản xâm chiếm. Kết thúc chiến tranh, Mỹ mong muốn bình thường hóa quan hệ với Nhật Bản, đặc biệt là chiến tranh Nam Bắc Triều Tiên khiến Mỹ và Nhật Bản càng mâu thuẫn. Với sự tham gia của cả Trung Quốc và Liên Xô trong chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh lạnh có nguy cơ trở thành chiến tranh thế giới thứ 3. Tuy nhiên Úc và New Zealand lại cực lực phản đối việc thông qua một hiệp định hoà bình với Nhật Bản, điều mà sẽ cho phép Nhật Bản khả năng tái thiết vũ khí. Cả hai nước chỉ nhượng bộ khi một hiệp ước an ninh ba bên được ký kết với sự chấp nhận của Mỹ.
Hiệp ước được ký kết tại San Francisco vào ngày 1 tháng 9 năm 1951, chuyển thành khối quân sự vào 29 tháng 4 năm 1952. Hiệp ước quy định ba nước sẽ cùng thảo luận và nhìn nhận về bất cứ cuộc tấn công vũ trang nào trong khu vực Thái Bình Dương. Nếu cuộc tấn công được coi là ảnh hưởng đến hòa bình và an ninh của mỗi nước cũng như các nước khác. Hiệp định bắt đầu bằng:"Nhóm sẽ thảo luận chung khi có bất cứ thành viên nào kiến nghị rằng có sự vi phạm toàn vẹn lãnh thổ, độc lập chính trị hoặc an ninh của bất kỳ thành viên nào bị đe trong khu vực Thái Bình Dương ".
Ba quốc gia cũng cam kết sẽ duy trì và phát triển cả riêng lẻ lẫn cùng nhau khả năng chống đỡ các cuộc tấn công.
Đến năm 1985 có sự biến đổi quan trọng trong khối liên minh. New Zealand và Úc đã có mối bất hòa từ lâu với sức mạnh hạt nhân của Pháp và Mỹ, hai nước đã thử nghiệm hạt nhân trên các đảo Nam Thái Bình Dương. Với sự thắng lợi của đảng Lao động ở New Zealand năm 1984, thủ tướng David Lange đã đề ra chính sách ngăn cấm tàu hạt nhân hoặc tàu trang bị vũ khí hạt nhân sử dụng các cảng của New Zealand, trích dẫn về sự nguy hiểm của vũ khí hạt nhân và sự thử bom hạt nhân ở các đảo Nam Thái Bình Dương, đói đầu với chính sách chống lại Liên Xô của tổng thống Mỹ Ronald Reagan. Do Hải quân Mỹ không thừa nhận nhưng cũng không phủ nhận việc có tàu hạt nhân của mình ở các cảng của New Zealand, nên các điều luật có hiệu lực từ chối tất cả các tàu của Hải quân Mỹ. Tháng 2 năm 1985, yêu cầu cập cảng cho tàu USS Buchaman của Mỹ bị New Zealand từ chối do tàu này có khả năng trang bị và phóng ngư lôi hạt nhân. Sau khi thảo luận với Úc và sau khi thương lượng với New Zealand thất bại, Mỹ thông báo đình chỉ vô thời hạn hiệp ước với New Zealand cho đến khi tàu của hải quân Mỹ được phép cập cảng New Zealand trở lại. Cuộc khủng hoảng lúc đó đã trở thành trang đầu của các tờ báo nước Mỹ trong nhiều tuần, trong khi các thành viên nội các cho rằng nước Mỹ đã bị phản bội. Thực tế việc David Lange đã đưa New Zealand rút khỏi ANZUS là không chính xác. Ông không làm gì cả, có điều chính sách của chính phủ New Zealand khiến cho Mỹ quyết định chấm dứt hiệp ước với New Zealand.
Ngày nay Mỹ đang tìm cách nối lại quan hệ với New Zealand, đặc biệt là trong vấn đề Afghanistan và tái thiết Iraq. Trợ lý cho Ngoại trưởng Mỹ về các vấn đề ở Đông Á và Thái Bình Dương phát biểu rằng: "Hơn là cố gắng thay đổi quan điểm của nhau về vấn đề hạt nhân, một vấn đề đã gần như là một di tích, tôi nghĩ chúng ta nên thảo luận về những gì chúng ta có thể làm cùng nhau".
== Tham khảo == |
nam mỹ.txt | Nam Mỹ (hay Nam Mĩ) là phần lục địa nằm ở phía tây của Nam bán cầu Trái Đất thuộc châu Mỹ, bắt đầu từ phía nam kênh đào Panama trở xuống. Vùng này cũng chiếm phần lớn khu vực Mỹ Latinh do người dân ở đây chủ yếu sử dụng tiếng Tây Ban Nha và tiếng Bồ Đào Nha.
== Lịch sử ==
=== Trước thế kỷ 16 ===
Vùng Nam Mỹ trước thế kỷ 16, là khu vực sinh sống của nhiều bộ tộc. Trong đó, bộ tộc Inca là hùng mạnh nhất, họ đã thành lập cho mình một đế chế hùng mạnh với mức độ tổ chức cao. Thời kỳ huy hoàng nhất, diện tích của đế chế đã chiếm phần lớn diện tích của Nam Mỹ. Họ đã xây dựng nên một nền văn hóa nông nghiệp phát triển rực rỡ trên dãy Andes.
Nhưng đến năm 1532, khi Francisco Pizarro đổ bộ vào bờ biển Peru trong tháng 4 năm 1532, thì nền văn hóa Inca cũng như của các dân tộc khác của Nam Mỹ bắt đầu suy tàn. Dẫn đến việc, đến cuối thế kỷ 16, phần lớn Nam Mỹ đã trở thành thuộc địa của thực dân Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Các dân tộc bị tàn sát đẫm máu vì những vũ khí hiện đại mà trước giờ họ chưa từng nhìn thấy.
=== Sau thế kỷ 16 ===
Các thuộc địa Tây Ban Nha giành được độc lập trong khoảng những năm 1804 và 1824, Simón Bolívar và José de San Martín là những người lãnh đạo phong trào. Bolívar là tướng quân dẫn đầu cuộc Nam tiến trong khi Jose de San Martín đã đưa quân bản bộ của mình tiến dọc theo dãy Andes, và hội quân với tướng Bernardo O'Higgins tại Chile. Và từ Chile, các ông lại tiếp tục Bắc tiến sau khi đã tập trung được lực lượng. Hai cánh quân cuối cùng đã liên thủ được với nhau tại Guayaquil, Ecuador khi họ đụng đầu với cánh quân của Hoàng gia Tây Ban Nha. Cánh quân Hoàng gia này bị đánh bại và buộc phải đầu hàng.
Tại Brasil, thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha, chính Dom Pedro I, con trai của vua Bồ Đào Nha Dom Jõao VI, là người tuyên bố "Brasil độc lập" vào năm 1822. Ông này trở thành hoàng đế đầu tiên của Brasil. Hành động của Dom Pedro I nhận được sự chấp thuận của Hoàng gia Bồ Đào Nha.
Dẫu cho Bolivar đã cố gắng kêu gọi và có những hành động nhằm nhất thể hóa về chính trị đối với những khu vực nói tiếng Tây Ban Nha mới giành được độc lập, nhưng sự kì khu của ông hầu như không có kết quả. Các khu vực này nhanh chóng tuyên bố độc lập, tham gia vào các cuộc cạnh tranh lẫn nhau và phần lớn đều giải quyết bằng bạo lực. Các cuộc chiến nổi tiếng trong quãng thời gian này là cuộc Chiến tranh Đồng minh Ba nước và Chiến tranh Thái Bình Dương.
Đây là một trong 2 lục địa trên thế giới (cùng với Nam Cực) không chịu ảnh hưởng từ chiến tranh thế giới thứ hai.
Một vài quốc gia mới giành được độc lập trong thế kỉ 20:
Riêng lãnh thổ Guyane thuộc Pháp vẫn duy trì trạng thái chính trị là một phần nằm trong nước Cộng hòa Pháp, và mới đây lãnh thổ này là nơi mà Cơ quan Không gian châu Âu (European Space Agency) đặt một trong những trạm không gian chính yếu của họ - trạm Centre Spatial Guyanais.
== Cơ quan lập pháp ==
Cơ quan lập pháp tại các quốc gia Nam Mỹ được tổ chức theo hai hệ thống, đơn viện và lưỡng viện. Trong đó đơn viện gồm các quốc gia: Ecuador, Peru, Venezuela, Suriname, Guiana, Guiana thuộc Pháp và Quần đảo Falkland. Lưỡng viện gồm các quốc gia: Brazil, Argentina, Uruguay, Paraguay, Chile, Bolivia và Colombia. Trong các nghị viện tại Nam Mỹ, Quốc hội Brazil có nhiều thành viên nhất, với 616 thành viên, thượng viện có 166 nghị sĩ và hạ viện có 450 nghị sĩ. Nghị viện Quần đảo Falkland có ít thành viên nhất, chỉ với 11 đại biểu, nghị viện Guiana có 65 nghị sĩ, nghị viện Guiana thuộc Pháp có 19 thành viên.
== Địa lý ==
Địa hình Nam Mỹ phân hóa rất rõ nét từ Tây sang Đông: Dãy Andes, trung du, và các đồng bằng phía tây. Ngày nay Nam Mỹ gồm các quốc gia:
== Kinh tế ==
Trong suốt hai thế kỷ, các quốc gia Nam Mỹ đã trải qua một thời kỳ phát triển kinh tế cao, điều này có thể thấy được qua các công trình xây dựng như tòa nhà Gran Costanera ở Chile hay hệ thống tàu điện ngầm Bogota Metro. Tuy nhiên, các vấn nạn truyền thống như tỉ lệ lạm phát cao ở hầu hết tất cả các quốc gia, tỉ lệ lãi suất giữ ở mức cao, đầu tư thấp đang là những cản trở chính cho nền kinh tế các quốc gia Nam Mỹ. Tỉ lệ lãi suất thường cao gấp đôi so với Hoa Kỳ. Ví dụ, tỉ lệ lãi suất ở Venezuela là 22% và ở Surinam là 23%. Trường hợp ngoại lệ duy nhất là Chile, quốc gia đang áp dụng những chính sách kinh tế tự do từ khi thiết lập chế độ độc tài quân sự năm 1973 và gia tăng chi tiêu xã hội khi mô hình dân chủ được khôi phục đầu thập niên 1990. Điều này đã giúp Chile có được sự ổn định về kinh tế và mức lãi xuất ở mức một con số.
Nền kinh tế Nam Mỹ phụ thuộc lớn vào xuất khẩu hàng hóa và tài nguyên thiên nhiên. Theo tỷ giá hối đoái cơ bản, Brazil là quốc gia dẫn đầu về xuất khẩu với 137.8 tỉ USD, tiếp đến là Chile với 58.12 tỉ và Argentina với 46.46 tỉ.
Khoảng cách kinh tế giữa người giàu và người nghèo ở các quốc gia Nam Mỹ được cho là cao nhất trong các châu lục. Ở Venezuela, Paraguay, Bolivia và nhiều quốc gia Nam Mỹ khác, 20% số người giàu nắm giữ 60% tài sản quốc gia, trong khi 20% số người nghèo chỉ chiếm chưa đến 5% tài sản quốc gia. Khoảng cách về thu nhập này có thể thấy ở rất nhiều thành phố lớn ở Nam Mỹ nơi có những lều trại và các khu nhà ổ chuột nằm xen kẽ giữa các tòa cao ốc và trung tâm mua sắm sang trọng.
GDP bình quân đầu người năm 2005
=== Ngôn ngữ ===
Tiếng Bồ Đào Nha (193.,197.164 người sử dụng) và Tây Ban Nha (193.243.411 người sử dụng) là các ngôn ngữ được nói nhiều nhất ở Nam Mỹ. Tiếng Tây Ban Nha là ngôn ngữ chính thức ở hầu hết các quốc gia, cùng với các ngôn ngữ bản địa khác ở một vài quốc gia. Tiếng Bồ Đào Nha là ngôn ngữ chính thức của Brazil. Tiếng Hà Lan là nguôn ngữ chính thức của Suriname; tiếng Anh là ngôn ngữ chính thức của Guyana, mặc dù có ít nhất 12 ngôn ngữ được sử dụng ở quốc gia này như Hindi và Ả Rập. Tiếng Anh cũng được sử dụng ở quần đảo Falkland. Tiếng Pháp là ngôn ngữ chính thức của Guiana thuộc Pháp và là ngôn ngữ thứ 2 ở Amapa (Brasil).
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
"South America". The Columbia Gazetteer of the World Online. 2005. New York: Columbia University Press.
GeoHive: The population of continents, regions and countries
Latin American Network Information Database |
cổ loa.txt | Cổ Loa là kinh đô của nhà nước Âu Lạc, dưới thời An Dương Vương vào khoảng thế kỷ thứ 3 trước Công nguyên và của nhà nước phong kiến dưới thời Ngô Quyền thế kỷ 10 sau Công nguyên.
Hiện nay, di tích Cổ Loa thuộc xã Cổ Loa, huyện Đông Anh, Hà Nội.
== Bối cảnh địa lý ==
Vào thời Âu Lạc, Cổ Loa nằm vào vị trí đỉnh của tam giác châu thổ sông Hồng và là nơi giao lưu quan trọng của đường thủy và đường bộ. Từ đây có thể kiểm soát được cả vùng đồng bằng lẫn vùng sơn địa. Cổ Loa là một khu đất đồi cao ráo nằm ở tả ngạn sông Hoàng. Con sông này qua nhiều thế kỷ bị phù sa bồi đắp và nay đã trở thành một con lạch nhỏ, nhưng xưa kia sông Hoàng là một con sông nhánh lớn quan trọng của sông Hồng, nối liền sông Hồng với sông Cầu, con sông lớn nhất trong hệ thống sông Thái Bình. Như vậy, về phương diện giao thông đường thủy, Cổ Loa có một vị trí vô cùng thuận lợi hơn bất kỳ ở đâu tại đồng bằng Bắc Bộ vào thời ấy. Đó là vị trí nối liền mạng lưới đường thủy của sông Hồng cùng với mạng lưới đường thủy của sông Thái Bình. Hai mạng lưới đường thủy này chi phối toàn bộ hệ thống đường thủy tại Bắc bộ Việt Nam. Qua con sông Hoàng, thuyền bè có thể tỏa đi khắp nơi, nếu ngược lên sông Hồng là có thể thâm nhập vào vùng Bắc hay Tây Bắc của Bắc Bộ, nếu xuôi sông Hồng, thuyền có thể ra đến biển cả, còn nếu muốn đến vùng phía Đông Bắc bộ thì dùng sông Cầu để thâm nhập vào hệ thống sông Thái Bình đến tận sông Thương và sông Lục Nam.
Địa điểm Cổ Loa chính là Phong Khê, lúc đó là một vùng đồng bằng trù phú có xóm làng, dân chúng đông đúc, sống bằng nghề làm ruộng, đánh cá và thủ công nghiệp. Việc dời đô từ Phong Châu về đây, đánh dấu một giai đoạn phát triển của dân cư Việt cổ, giai đoạn người Việt chuyển trung tâm quyền lực từ vùng Trung du bán sơn địa về định cư tại vùng đồng bằng. Việc định cư tại đồng bằng chứng tỏ một bước tiến lớn trong các lãnh vực xã hội, kinh tế trong giao tiếp, trao đổi con người dễ dàng đi lại bằng đường bộ hay bằng đường thủy; trong nông nghiệp có bước tiến đáng kể về kỹ thuật trồng lúa nước, mức độ dân cư cũng đông đúc hơn.
Trung tâm quyền lực của các cư dân Việt ở đồng bằng sông Hồng cũng thể hiện sự phát triển về chiều rộng của Văn hóa Đông Sơn.
== Xây dựng thành ==
Thành Cổ Loa được xây bằng đất do thời ấy ở Âu Lạc chưa có gạch nung. Thành có 3 vòng. Chu vi ngoài 8 km, vòng giữa 6,58 km, vòng trong 1,6 km... Diện tích trung tâm lên tới 2 km². Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4-5 m, có chỗ 8–12 m. Chân lũy rộng 20–30 m, mặt lũy rộng 6–12 m. Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối. Khu vực Cổ Loa được coi là một nền đất yếu nên việc xây dựng thành Cổ Loa có thể khó khăn và thành bị đổ nhiều lần là dễ hiểu. Khi xẻ dọc thành để nghiên cứu, các nhà khảo cổ học phát hiện kỹ thuật gia cố thành của Thục Phán: chân thành được chẹn một lớp tảng đá. Hòn nhỏ có đường kính 15 cm, hòn lớn có đường kính 60 cm. Xung quanh Cổ Loa, một mạng lưới thủy văn dày đặc đã được tạo ra, thành một vùng khép kín, thuận lợi cho việc xây dựng căn cứ thủy binh hùng mạnh. Thuở ấy, sông Thiếp – Ngũ Huyền Khê - Hoàng Giang thông với sông Cầu ở Thổ Hà, Quả Cảm (Hà Bắc) thông với sông Hồng ở Vĩnh Thanh (Đông Anh). Ngay sau khi xây thành, Thục An Dương Vương đã chiêu tập những thợ mộc giỏi, sử dụng gỗ ở địa phương đóng thuyền chiến. Nhân dân cũng được điều tới khai phá rừng đa (Gia Lâm), rừng Mơ (Mai Lâm), rừng dâu da (Du Lâm)... thành ruộng. Những hiệp thợ chuyên rèn vũ khí cũng xuất hiện, chế tạo côn, kiếm, giáo, mác và nỏ liên châu, mỗi phát bắn nhiều mũi tên. Có nhiều bằng chứng khảo cổ về sự tồn tại của hàng chục vạn mũi tên đồng, có thể dùng nỏ liên châu ở đây. Xem thêm truyền thuyết Cổ Loa.
== Cấu trúc Thành Cổ Loa ==
Thành Cổ Loa được các nhà khảo cổ học đánh giá là "tòa thành cổ nhất, quy mô lớn vào bậc nhất, cấu trúc cũng thuộc loại độc đáo nhất trong lịch sử xây dựng thành lũy của người Việt cổ"
Khi xây thành, người Việt cổ đã biết lợi dụng tối đa và khéo léo các địa hình tự nhiên. Họ tận dụng chiều cao của các đồi, gò, đắp thêm đất cho cao hơn để xây nên hai bức tường thành phía ngoài, vì thế hai bức tường thành này có đường nét uốn lượn theo địa hình chứ không băng theo đường thẳng như bức tường thành trung tâm. Người xưa lại xây thành bên cạnh con sông Hoàng để dùng sông này vừa làm hào bảo vệ thành vừa là nguồn cung cấp nước cho toàn bộ hệ thống hào vừa là đường thủy quan trọng. Chiếc Đầm Cả rộng lớn nằm ở phía Đông cũng được tận dụng biến thành bến cảng làm nơi tụ họp cho đến cả hàng trăm thuyền bè.
Chất liệu chủ yếu dùng để xây thành là đất, sau đó là đá và gốm vỡ. Đá được dùng để kè cho chân thành được vững chắc. Các đoạn thành ven sông, ven đầm được kè nhiều đá hơn các đoạn khác. Đá kè là loại đá tảng lớn và đá cuội được chở tới từ các miền khác. Xen giữa đám đất đá là những lớp gốm được rải dày mỏng khác nhau, nhiều nhất là ở chân thành và rìa thành để chống sụt lở. Các cuộc khai quật khảo cổ học đã tìm thấy một số lượng gốm khổng lồ gồm ngói ống, ngói bản, đầu ngói, đinh ngói. Ngói có nhiều loại với độ nung khác nhau. Có cái được nung ở nhiệt độ thấp, có cái được nung rất cao gần như sành. Ngói được trang trí nhiều loại hoa văn ở một mặt hay hai mặt.
Thành Cổ Loa theo tương truyền gồm 9 vòng xoáy trôn ốc, nhưng căn cứ trên dấu tích hiện còn, các nhà khoa học nhận thấy thành có 3 vòng, trong đó vòng thành nội rất có thể được làm về sau, dưới thời Ngô Quyền. Chu vi vòng ngoài 8 km, vòng giữa 6,5 km, vòng trong 1,6 km, diện tích trung tâm lên tới 2 km². Thành được xây theo phương pháp đào đất đến đâu, khoét hào đến đó, thành đắp đến đâu, lũy xây đến đó. Mặt ngoài lũy, dốc thẳng đứng, mặt trong xoải để đánh vào thì khó, trong đánh ra thì dễ. Lũy cao trung bình từ 4 m-5 m, có chỗ cao đến 8 m-12 m. Chân lũy rộng 20 m-30 m, mặt lũy rộng 6 m-12 m. Khối lượng đất đào đắp ước tính 2,2 triệu mét khối.
Thành nội hình chữ nhật, cao trung bình 5 m so với mặt đất, mặt thành rộng từ 6 m-12 m, chân rộng từ 20 m-30 m, chu vi 1.650 m và có một cửa nhìn vào tòa kiến trúc Ngự triều di quy.
Thành trung là một vòng thành không có khuôn hình cân xứng, dài 6.500 m, nơi cao nhất là 10 m, mặt thành rộng trung bình 10 m, có bốn cửa ở các hướng cống song, bắc, tây bắc và tây nam, trong đó cửa đông ăn thông với sông Hồng.
Thành ngoại cũng không có hình dáng rõ ràng, dài hơn 8.000m, cao trung bình 3 m-4 m (có chỗ tới hơn 8 m).
Mỗi vòng thành đều có hào nước bao quanh bên ngoài, hào rộng trung bình từ 10m đến 30m, có chỗ còn rộng hơn. Các vòng hào đều thông với nhau và thông với sông Hoàng. Sự kết hợp của sông, hào và tường thành không có hình dạng nhất định, khiến thành như một mê cung, là một khu quân sự vừa thuận lợi cho tấn công vừa tốt cho phòng thủ.
Sông Hoàng được dùng làm hào thiên nhiên cho thành Ngoại ở về phía Tây Nam và Nam. Phần hào còn lại được đào sát chân tường thành từ gò Cột Cờ đến Đầm Cả. Con hào này nối với hào của thành Trung ở Đầm Cả và Xóm Mít, chảy qua cửa Cống Song nối với năm con lạch có hình dáng như bàn tay xòe, và với một nhánh của con lạch này, nước chảy thông vào vòng hào của thành Nội.
Thuyền bè đi lại dễ dàng trên ba vòng hào để đến trú đậu ở Đầm Cả hoặc ra sông Hoàng và từ đó có thể tỏa đi khắp nơi. Theo truyền thuyết, An Dương Vương thường dùng thuyền đi khắp các hào rồi ra sông Hồng
== Giá trị của thành Cổ Loa ==
Trong cấu trúc chung của thành Cổ Loa còn có một yếu tố khác làm phong phú thêm tổng thể kiến trúc này. Đó là những gò đất dài họặc tròn được đắp rải rác giữa các vòng thành hoặc nằm ngoài thành Ngoại. Không biết được có bao nhiêu ụ, lũy như thế, nhưng một số được dân chúng gọi là Đống Dân, Đống Chuông, Đống Bắn... Các lũy này được dùng làm công sự, có nhiệm vụ của những pháo đài tiền vệ, phối hợp với thành, hào trong việc bảo vệ và chiến đấu. Đây cũng là một điểm đặc biệt của thành Cổ Loa. Cổ Loa cũng được biết đến là một trong những đô thị đầu tiên trong lịch sử nước ta.
Về mặt quân sự, thành Cổ Loa thể hiện sự sáng tạo độc đáo của người Việt cổ trong công cuộc giữ nước và chống ngoại xâm. Với các bức thành kiên cố, với hào sâu rộng cùng các ụ, lũy, Cổ Loa là một căn cứ phòng thủ vững chắc để bảo vệ nhà vua, triều đình và kinh đô. Đồng thời là một căn cứ kết hợp hài hòa thủy binh cùng bộ binh. Nhờ ba vòng hào thông nhau dễ dàng, thủy binh có thể phối hợp cùng bộ binh để vận động trên bộ cũng như trên nước khi tác chiến.
Về mặt xã hội, với sự phân bố từng khu cư trú cho vua, quan, binh lính, thành Cổ Loa là một chứng cứ về sự phân hóa của xã hội thời ấy. Thời kỳ này, vua quan không những đã tách khỏi dân chúng mà còn phải được bảo vệ chặt chẽ, sống gần như cô lập hẳn với cuộc sống bình thường. Xã hội đã có giai cấp rõ ràng và xa hội có sự phân hóa giàu nghèo rõ ràng hơn thời Vua Hùng.
Về mặt văn hóa, là một tòa thành cổ nhất còn để lại dấu tích, Cổ Loa trở thành một di sản văn hóa, một bằng chứng về sự sáng tạo, về trình độ kỹ thuật cũng như văn hóa của người Việt Cổ. Đá kè chân thành, gốm rải rìa thành, hào nước quanh co, ụ lũy phức tạp, hỏa hồi chắc chắn và nhất là địa hình hiểm trở ngoằn ngoèo, tất cả những điều làm chứng nghệ thuật và văn hóa thời An Dương Vương. Hàng năm, vào ngày 6 tháng giêng âm lịch, cư dân Cổ Loa tổ chức một lễ trang trọng để tưởng nhớ đến những người xưa đã có công xây thành, và nhất là để ghi ơn An Dương Vương.
Hiện nay Cổ Loa là một trong 21 khu du lịch quốc gia Việt Nam và vào ngày 6/1/2013 âm lịch cổ loa đã được công nhận là di tích lịch sử quốc gia đặc biệt.
== Di vật khảo cổ ==
Trên địa phận thành, các nhà khảo cổ đã từng khai quật được nhiều mộ cổ, hàng vạn mũi tên đồng ba cạnh, khuôn đúc mũi tên, rìu lưỡi xéo bằng đồng, và trống đồng.
=== Văn hóa Phùng Nguyên (2000 - 1500 TCN) ===
=== Văn hóa Đông Sơn (700 TCN - 100 SCN) ===
== Xem thêm ==
Nam Bình (kinh đô)
Thành Bản Phủ (Cao Bằng)
An Dương Vương
Âu Lạc
Âu Việt
Tây Vu Vương
Phiên Ngung (địa danh cổ)
Ngô Quyền
Nhà Ngô
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Thành Cổ Loa có mấy vòng?
Kiến trúc thành Cổ Loa
Đôi nét về Hà Nội
Phát hiện mới về mũi tên đồng ở thành Cổ Loa
Cổ Loa - Tòa thành cổ có một không hai |
vùng nhiệt đới ẩm ướt của queensland.txt | Vùng nhiệt đới ẩm ướt của Queensland là vùng rừng nhiệt đới ẩm ướt dọc theo miền đông bắc bang Queensland, Úc. Vùng này rộng khoảng 8.940 km², là phần của dãy núi Great Dividing Range, trải dài từ Townsville tới Cooktown, song song sát với Rạn san hô Great Barrier (một di sản thế giới khác). Vùng nhiệt đới ẩm ướt của Queensland đáp ứng tất cả 4 tiêu chí để lựa chọn di sản thiên nhiên như là một di sản thế giới. Di sản thế giới được công nhận vào năm 1988 và là di sản Quốc gia của Úc trong tháng 5 năm 2007.
Rừng nhiệt đới có mật độ cao các loài thực vật có hoa nguyên thủy trên thế giới. Ngoài ra, chỉ ở Madagascar và Nouvelle-Calédonie, do cô lập về địa lý, thì mới có các cánh rừng ẩm ướt vùng nhiệt đới với một mức độ có thể so sánh được về tính đặc hữu.
== Các khu bảo tồn ==
15% khu vực được bảo vệ như là các vườn quốc gia. Trong số đó bao gồm các vườn quốc gia thuộc Vùng nhiệt đới ẩm ướt của Queensland là:
Vườn quốc gia hẻm núi Barron
Vườn quốc gia Núi Black (Kalkajaka)
Vườn quốc gia Vịnh Cedar
Vườn quốc gia Daintree
Vườn quốc gia Girringun
Vườn quốc gia Wooroonooran
Vườn quốc gia Edmund Kennedy
và trên 700 khu vực được bảo vệ ở Queensland, kể cả các khu do tư nhân làm chủ.
Các rừng ẩm ướt vùng nhiệt đới được quản lý bởi cơ quan quản lý rừng được thành lập vào năm 1983. Họ có trách nhiệm quản lý các khu rừng này theo Công ước Di sản thế giới. Cơ quan tuyển dụng 20 nhân viên vào năm 2012 như là một đơn vị thuộc Bộ Môi trường và bảo vệ di sản. Cơ quan này được lãnh đạo bởi một Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước Hội đồng Bộ trưởng Bộ Môi trường, trong đó có cả Bộ của bang Queensland và đại diện Chính phủ Liên bang.
== Các đặc điểm ==
Vùng này có nhiều cái độc đáo, như trên 390 loài cây hiếm quý, trong đó có 74 loài có nguy cơ tuyệt chủng. Có ít nhất 85 loài đặc hữu trong vùng, 13 loại khác nhau của rừng nhiệt đới ưa mưa và 29 loài cây đước, nhiều hơn bất cứ nơi nào trong nước.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Wet Tropics Management Authority webpage
World heritage listing for Wet Tropics of Queensland |
long điền.txt | Long Điền là một huyện của tỉnh Bà Rịa–Vũng Tàu, Việt Nam, có trung tâm hành chính đặt tại thị trấn Long Điền
== Địa lý ==
=== Vị trí Địa Lý ===
Đông giáp huyện Đất Đỏ
Tây giáp thành phố Vũng Tàu và thành phố Bà Rịa.
Nam giáp biển Đông.
Bắc giáp thành phố Bà Rịa.
=== Diện tích, Dân số ===
Diện tích tự nhiên là 7.699,36 ha.
Dân số: 125.179 người [năm 2009] (Trong đó: dân số thành thị chiếm 46,15% ds toàn huyện, Nam giới chiếm 50%)
Mật độ dân số: 1626 ng/km²
== Hành chính ==
Gồm 2 thị trấn: Long Điền (huyện lị), Long Hải và 5 xã: An Ngãi, An Nhứt, Phước Hưng, Phước Tỉnh, Tam Phước.
== Lịch sử ==
Xưa huyện Long Điền là toàn bộ tổng An Phú Thượng.
Năm 1954, huyện Long Điền là quận Long Điền.
Năm 1975, huyện Long Điền một phần của huyện Long Đất tỉnh Đồng Nai, sau là thuộc tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Ngày 1 tháng 1 năm 2004, huyện Long Điền chính thức thành lập từ huyện Long Đất.Nó được thành lập khi Chính phủ chia huyện Long Đất cũ thành hai huyện Long Điền và Đất Đỏ theo nghị định 152/2003/NĐ-CP ngày 9 tháng 12 năm 2003.
== Giao thông ==
Các tuyến Quốc Lộ chạy qua địa bàn huyện gồm:
Quốc Lộ 55 nối thành phố Bà Rịa với huyện Xuyên Mộc
Tỉnh Lộ 44 nối thành phố Bà Rịa qua thị trấn Long Hải đến thị trấn Phước Hải (huyện Đất Đỏ).
== Kinh tế ==
=== Nông nghiệp ===
=== Công nghiệp ===
Nhà máy khí đốt Dinh Cố.
Nhà máy khí đốt Nam Côn Sơn
=== Dịch vụ ===
=== Khu đô thị ===
Khu đô thị Marine City (đặt tại ấp Cửa Lấp, xã Phước Tỉnh).
== Thắng cảnh ==
Núi Minh Đạm
Đèo Nước Ngọt
Quần thể núi Chân Tiên - Dinh Cố
== 'Giáo dục ==
Các Trường THPT:
THPT Trần Văn Quan(TT Long Điền)
THPT Trần Quang Khải(TT Long Điền))
THPT Long Hải-Phước Tỉnh(TT Long Hải)
THPT Minh Đạm(Xã Phước Hưng)
THPT Chuyên Lê Quý Đôn(Thành phố Vũng Tàu)
Các Trường THCS:
tại Thị Trấn Long Điền: THCS Huỳnh Tịnh Của và THCS Văn Lương.
Thị Trấn Long Hải: THCS Phạm Hồng Thái; THCS NGuyễn Công Trứ và trường THCS Hùng Vương
Xã An Ngãi: THCS Phạm Hữu Chí
Xã An Nhứt:(Chưa có trường THCS)
Xã Tam Phước: THCS Mạc Đỉnh Chi
Xã Phước Tỉnh: THCS Trần Nguyên Hãn, THCS Nguyễn Thị Định
Xã Phước Hưng: THCS Nguyễn Trãi, THCS Nguyễn Huệ.
Các Trường Tiểu học:
Tại Thị trấn Long Hải: TH Lê Lợi; TH Lương thế Vinh; TH Nguyễn Bỉnh Khiêm; TH Phạm Ngũ Lão; TH Chu Văn An;
Tại Thị trấn Long Điền: TH Long Điền; TH Long Liên.
Xã An Ngãi: TH Cao Văn Ngọc.
Xã An Nhứt: TH Đặng Văn Dực.
Xã Tam Phước: TH Tam Phước.
Xã Phước Tỉnh: TH Lê Hồng Phong; TH Nguyễn Thị Minh Khai;TH Võ Văn Kiệt; TH.
Xã Phước Hưng: TH Kim Đồng; TH Lý Tự Trong; TH Hoàng Văn Thụ.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Giới thiệu tổng quan – Ủy ban Nhân dân tỉnh Bà Rịa–Vũng tàu
http://thpt-tranvanquan-brvt.edu.vn/ website THTP Trần Văn Quan
http://thpt-tranquangkhai-brvt.edu.vn/ website THPT Trần Quang Khải
Bản mẫu:Xã, phường, thị trấn Bà Rịa-Vũng Tàu |
mirka federer.txt | Miroslava "Mirka" Federer (tên khai sinh là Miroslava Vavrincová, về sau đổi là Miroslava Vavrinec; sinh ngày 1 tháng 8 năm 1978) là một cựu vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Thụy Sĩ gốc Slovakia. Thứ hạng WTA cao nhất của cô trong nội dung đánh đơn là 76 (đạt được ngày 10 tháng 9 năm 2001) và đánh đôi là 215 (24 tháng 8 năm 1998). Cô là vợ của nam vận động viên quần vợt chuyên nghiệp Roger Federer. Cô sớm giải nghệ vào năm 2002 do chấn thương bàn chân dai dẳng. Kể từ đó cô thường tới xem các trận đấu của chồng mình tại các giải đấu thuộc hệ thống ATP.
== Đầu đời và sự nghiệp quần vợt ==
Miroslava Vavrincová sinh ra tại Bojnice, Slovakia và chuyển tới định cư tại Thụy Sĩ khi cô 2 tuổi. Vào năm 1987, cô được bố dẫn tới xem một giải đấu tại Filderstadt, Đức nơi cô gặp gỡ Martina Navratilova, người khuyến khích cô luyện tập quần vợt. Navratilova sau đó gửi cho Mirka một cây vợt và lên lịch cho buổi tập đầu tiên. Vào năm 2002 cô đánh cặp cùng Roger Federer tại Hopman Cup.
Trước khi giải nghệ thứ hạng của cô là khoảng top 80. Thành tích tốt nhất tại Grand Slam của cô là vòng ba Mỹ Mở rộng 2001.
Chấn thương liên tục ở bàn chân khiến Vavrinec không thể thăng tiến trên bảng xếp hạng, và cô buộc phải giã từ quần vợt vào năm 2002. Sau khi giải nghệ, cô giữa vai trò quản lý về mặt quan hệ công chúng cho Federer và đồng hành cùng hành tại các giải đấu.
== Đời tư ==
Mirka kết hôn với Roger Federer vào ngày 11 tháng 4 năm 2009. Họ làm đám cưới tại biệt thự Wenkenhof ở Riehen gần Basel. Vào tháng 7 năm 2009, Mirka sinh hạ hai bé gái song sinh, Myla Rose và Charlene Riva. Nhà Federer có thêm một cặp song sinh nữa, lần này là cặp song sinh nam được đặt tên là Leo và Lennart,
== Thành tích đánh đơn Grand Slam ==
== Tham khảo ==
“Federer's Wife at the Center of His Game”. New York Times. Ngày 12 tháng 1 năm 2012.
== Liên kết ngoài ==
Miroslava Vavrinec tại Hiệp hội quần vợt nữ
Mirka Federer trên ITF
Mirka Federer tại ITF Junior
Mirka Federer tại Fed Cup |
honda.txt | Honda (Tiếng Nhật: 本田, Hán-Việt: "Bản Điền", phát âm như "Hon-đa" hay "Hôn-đa") là nhà sản xuất động cơ lớn nhất thế giới có trụ sở tại Tokyo, Nhật Bản. với số lượng hơn 14 triệu chiếc mỗi năm. Từ năm 2004 hãng bắt đầu chế tạo động cơ chạy diesel vừa êm vừa không cần bộ lọc nhằm đáp ứng tiêu chuẩn ô nhiễm. Tuy nhiên, có thể nói rằng, nền tảng tạo nên sự hành công của công ty này là từ làm xe máy.
Hãng Honda đóng trụ sở tại Tokyo và có niêm yết trên các thị trường chứng khoán Tokyo, Thành phố New York, Luân Đôn, Paris, Hãng Honda Hoa Kỳ đóng tại Torrance, California (Hoa Kỳ). Honda Canada đóng vùng Scarborough của Toronto, Ontario và dời về trụ sở mới tại Richmond Hill, Ontario năm 2008.
== Lịch sử công ty ==
Công ty Động cơ Honda được thành lập ngày 24 tháng 9 năm 1948. Ông Soichiro Honda đã nhân cơ hội nước Nhật có nhu cầu đi lại nhiều, cho dù nền kinh tế Nhật vốn bị hủy hoại sau Chiến tranh thế giới thứ hai lúc ấy rất thiếu thốn nhiên liệu và tiền bạc, để thành lập công ty. Công ty đã gắn động cơ vào xe đạp tạo ra một phương tiện đi lại hiệu quả và rẻ tiền.
Sau chiến tranh, cơ sở sản xuất pít-tông Honda gần như bị phá hủy. Soichiro Honda lập một công ty mới mà tiếng Nhật gọi là "Công ty trách nhiệm hữu hạn nghiên cứu Honda". Cơ sở đầu tiên của công ty có cái tên phô trương này thật ra chỉ là một nhà xưởng bình thường làm bằng gỗ và cũng là nơi ông Honda cùng cộng sự gắn động cơ cho xe đạp. Điều thú vị là cái tên công ty theo tiếng Nhật này vẫn được giữ đến nay để vinh danh nỗ lực của Soichiro Honda. Công ty Honda Hoa Kỳ được thành lập năm 1958.
Honda bắt đầu sản xuất từ xe máy tới xe tay ga. Soichiro Honda nhanh chóng phục hồi lại công ty sau những thua lỗ trong thời chiến. Cuối thập niên 1960, Honda chiếm lĩnh thị trường xe máy thế giới. Đến thập niên 1970 công ty trở thành nhà sản xuất xe máy lớn nhất thế giới và từ đó đến nay chưa bao giờ để mất danh hiệu này.
Hãng bắt đầu sản xuất xe hơi vào năm 1960 với dự định dành cho thị trường Nhật Bản là chủ yếu. Dù đã tham dự nhiều cuộc đua xe máy quốc tế nhưng xe hơi của hãng vẫn rất khó bán được ở Mỹ. Vì xe được thiết kế cho người tiêu dùng Nhật nên nó không thu hút được sự chú ý của người tiêu dùng Mỹ.
Honda rồi cũng có chân trong thị trường xe hơi Mỹ vào năm 1972 khi họ giới thiệu xe Civic—lớn hơn những kiểu xe trước đó nhưng vẫn nhỏ hơn những loại xe theo tiêu chuẩn Mỹ —trong khi cuộc khủng hoảng kinh tế những năm 70 ảnh hưởng đến nền kinh tế trên toàn thế giới. Luật mới về chất thải ở Mỹ yêu cầu các nhà sản xuất xe hơi Mỹ phải gắn thêm bộ phận chuyển đổi chất xúc tác đắt tiền vào hệ thống xả, điều này làm giá xe tăng.. Tuy nhiên khi Honda giới thiệu chiếc Civic đời 1975 với động cơ CVCC (Compound Vortex Controlled Combustion). động cơ này đáp ứng được yêu cầu về khí thải, nên nó không cần lắp bộ phận xúc tác khí thải nữa, đây chính là yếu tố cạnh tranh của Honda Civic.
Năm 1976, xe Accord ngay lập tức được mọi người biết đến với đặc điểm tốn ít năng lượng và dễ lái; Honda đã tìm được chỗ đứng ở Mỹ. Năm 1982, Honda là nhà sản xuất ôtô Nhật Bản đầu tiên xây dựng nhà máy sản xuất xe hơi ở Mỹ, bắt đầu với nhà máy sản xuất xe Accord ở Marysville. Đến nay, hãng đã có bốn nhà máy sản xuất xe ở Ohio: 2 ở Marysville (nhà máy tự động Marysville và nhà máy sản xuất xe gắn máy Marysville), Anna, và Đông Liberty. Hãng còn có các nhà máy ở Lincoln, Alabama (Honda Manufacturing of Alabama), và Timmonsville, Nam Carolina, và gần đây (2006) Honda đã mở một nhà máy mới ở Tallapoosa, Georgia. Honda mở rộng thêm sau khi có thị phần ở Marysville, Ohio, và cơ sở nghiên cứu và phát triển ở Raymond, Ohio. Bộ phận quản lý của Honda Bắc Mỹ đặt ở Torrance, California. Honda Canada và các xe Civic bán cho Mỹ có nhà máy sản xuất ở Alliston, Ontario từ năm 1985. Ngày 27 tháng 6 năm 2006, Honda thông báo đang mở thêm mộ cơ sở sản xuất ở Bắc Mỹ, đặt ở Greensburg, Indiana. Nhà máy này dự kiến sẽ hoàn thành vào năm 2008.
Honda là nhà sản xuất tự động đầu tiên của Nhật giới thiệu nhiều dòng xe sang trọng riêng biệt. Dòng xe Accura ra đời vào năm 1986 đã tạo nên nhiều kiểu xe Honda mạnh hơn và mang tính thể thao hơn so với những loại xe Honda khác.
Năm 1989 Honda đã đưa hệ thống VTEC động cơ piston tự động vào sản xuất, hệ thống này đã làm tăng năng suất và hiệu suất động cơ đồng thời giúp động cơ vận hành với vận tốc lớn hơn. Một trong những động cơ mới này dùng tốt cho xe chở khách, nó hoạt động dựa trên giả thuyết điều chỉnh từ một động cơ vận hành ở 2 chế độ khác nhau tùy thuộc vào trọng tải. Đối với người lái xe thường thì dùng thùy "cam" ngắn hơn sẽ làm tăng năng suất động cơ. "Cam vận hành mạnh trong thời gian dài được gắn vào khi động cơ RPM tăng đến mức quy định làm tăng năng suất khi tăng tốc.
Cho kiểu xe năm 2007, Honda dự định tăng độ an toàn của xe bằng cách thêm vào các bộ phận tiêu chuẩn đối với tất cả các loại xe Honda ở Bắc Mỹ (ngoại trừ loại xe Insight và S2000 sẽ không có side-curtain airbad) như túi khí ở các ghế trước, side-curtain airbag, và bộ chống khóa cho thắng.
== Tham khảo ==
"Move Over, Volvo: Honda Sets New Safety Standard for Itself", an article in the "News" section of the March, 2004 issue of Motor Trend, on page 32
2004 Annual Corporate Report
The story of Honda's entry and growth in the American market is documented in Terry Sanders' film The Japan Project: Made in Japan.
== Liên kết ngoài ==
Honda Global site
Honda Viet Nam
Honda USA
Honda Canada
Honda Cars, India
Honda Two Wheelers, India
Honda Atlas Cars - Pakistan
Honda Atlas Motorcycles - Pakistan
Honda UK
Honda Australia
Honda Press Library (Japanese, but with graphical timelines of car and bike models)
Honda Formula One Team Site |
đảng dân chủ tự do (nhật bản).txt | Đảng Dân chủ Tự do Nhật Bản (自由民主党, Jiyū-Minshutō), còn được gọi là Tự Dân đảng (自民黨 Jimintō) hoặc Tự Dân (自民 Jimin), thường được viết tắt theo tiếng Anh là LDP (Liberal Democractic Party), là một đảng phái chính trị bảo thủ và là đảng chính trị lớn nhất ở Nhật. Đảng LDP đã điều hành Nhật Bản phần lớn các kỳ từ khi thành lập năm 1955 tới 2009. LDP là một đảng phái khác với Đảng Tự do (自由党, Jiyūtō?), một đảng đã sáp nhập với Đảng Dân chủ Nhật Bản, đảng đối lập của LDP, từ tháng 11 năm 2003.
Sau chiến thắng vang dội trong cuộc bầu cử năm 2005, LDP đã nắm phần lớn ghế trong Hạ viện Nhật Bản và thành lập một chính phủ liên hiệp với Đảng Komeito. Abe Shinzo đã thay thế thủ tướng Nhật Koizumi Junichiro giữ chức chủ tịch đảng vào ngày 20 tháng 9 năm 2006. Đảng LDP gặp phải một thất bại nặng nề trong cuộc bầu cử năm 2007, vì vậy mà đã không còn nắm đa số trong thượng viện. Vào ngày 12 tháng 9 năm 2007, Abe đột ngột từ chức thủ tướng và người thay thế là Fukuda Yasuo.
== Tham khảo == |
trịnh hòa.txt | Trịnh Hòa (phồn thể: 鄭和; giản thể: 郑和; Hán ngữ bính âm: Zhèng Hé; Wade-Giles: Cheng Ho), tên khai sinh: Mã Tam Bảo (馬三寶 /马三宝; pinyin: Mǎ Sānbǎo tên Ả Rập: Hajji Mahmud Shams), 1371–1433, là nhà hàng hải và nhà thám hiểm người Trung Quốc nổi tiếng nhất. Ông chính là người đã chỉ huy các chuyến thám hiểm được gọi chung là các chuyến đi của "Thái giám Tam Bảo hạ tây dương" (三保太監下西洋) hay "Trịnh Hòa đến đại dương phía tây" từ năm 1405 đến năm 1433. Tạp chí Life xếp Trịnh Hòa đứng thứ 14 trong số những người quan trọng nhất trong thiên niên kỷ vừa qua. Ông là người Hồi.
== Tiểu sử ==
Trịnh Hòa là một người Hồi và phục vụ bên cạnh hoàng đế thứ ba của nhà Minh - Minh Thành Tổ (trị vì từ 1403 đến 1424). Theo tiểu sử của ông trong Minh sử, ông có tên thật là Mã Tam Bảo (馬 三保) và quê ở Côn Dương (昆阳, ngày nay là Tấn Ninh (晋宁)), tỉnh Vân Nam. Ông có 4 chị-em và một người anh. Gia đình ông là người Hồi. Trịnh Hòa thuộc về đẳng cấp Semur và theo Hồi giáo (gia đình ông theo đạo Hồi). Ông là hậu duệ đời thứ sáu của Sayyid Ajjal Shams al-Din Omar, một viên quan cai trị tỉnh Vân Nam thời nhà Nguyên và đến từ Bukhara, ngày nay thuộc Uzbekistan. Họ "Mã" của ông có từ người con thứ năm của Shams al-Din là Masuh. Cả ông nội và cha của ông, Charameddin và Mir Tekin, đều đã hành hương tới thánh địa Mecca, và một điều không còn nghi ngờ là ông đã được nghe ông và cha mình kể lại các câu chuyện về các chuyến đi tới những vùng đất lạ. Ông có một phần vai trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ giữa Trung Quốc và các quốc gia Hồi Giáo. Sau khi quân đội nhà Minh chiếm đóng Vân Nam, ông đã bị bắt giữ khi còn là một cậu bé con và bị hoạn, vì thế ông đã trở thành một thái giám phục vụ cho hoàng đế. Tên gọi Trịnh Hòa do vua Minh Thành Tổ đặt cho ông để thưởng công giúp đảo chính lật đổ vua Minh Huệ Đế. Ông học tại Nam Kinh Thái học.
Các sứ mệnh của ông đã chỉ ra một minh chứng đầy ấn tượng về khả năng tổ chức và sức mạnh công nghệ, nhưng đã không dẫn tới các hoạt động thương mại đáng kể, vì Trịnh Hòa là một quan chức và người chỉ huy của thủy quân chứ không phải là một nhà buôn. Có những lời đồn cho rằng ông cao ít nhất 2 mét (7 ft).
Trịnh Hòa vượt biển tới Malacca vào thế kỷ 15. Vào giữa thế kỷ 15, công chúa Trung Hoa là Hán Lệ Bảo được gả cho quốc vương Malacca, vua Mansur Shah. Công chúa đi cùng với đoàn tùy tùng của mình - gồm 500 con trai của các quan và vài trăm cung nữ. Đoàn người này cuối cùng định cư tại Bukit Cina ở Malacca. Hậu duệ của những người này, sinh ra từ các cuộc hôn nhân với dân bản xứ, ngày nay được biết đến như là những người Peranak: Baba (tước hiệu của đàn ông) và Nyonya (tước hiệu của đàn bà). (MP)
Năm 1424 Minh Thành Tổ chết. Người kế nghiệp là hoàng đế Minh Nhân Tông (trị vì từ năm 1424 đến năm 1425), đã quyết định hạn chế ảnh hưởng của nội cung. Trịnh Hòa cũng đã thực hiện một chuyến đi nữa dưới thời trị vì của Minh Tuyên Tông (trị vì từ năm 1426 đến năm 1435), nhưng sau đó những chuyến tàu đi tìm của cải của người Trung Quốc đã chấm dứt.
== Các chuyến đi ==
"Tây dương" chỉ những khu vực ở châu Á và châu Phi mà Trịnh Hòa đã thám hiểm, bao gồm:
Đông Nam Á
Sumatra
Java
Tích Lan (Ceylon)
Ấn Độ
Có thể là châu Mỹ
Ba Tư
Vịnh Ba Tư
Bán đảo Ả Rập,
Hồng Hải tới xa nhất là Ai Cập và
xa nhất về phía nam tới eo biển Mozambique
Đài Loan, 7 lần
Đảo Darwin, Bắc Úc
Số lượng chuyến đi của ông tới Tây dương tùy vào cách phân chia, nhưng ông và hạm đội đã "Tây dương" không dưới 7 lần. Ông đã đưa về Trung Quốc nhiều chiến lợi phẩm và các phái viên từ ít nhất 30 vương quốc - bao gồm cả vua Alagonakkara của Tích Lan (Ceylon) đến Trung Quốc để tạ lỗi các hoàng đế Trung Hoa.
Một số suy đoán rằng hạm đội của Trịnh Hòa có thể đã vượt qua mũi Hảo Vọng. Cụ thể, một tu sĩ và một nhà lập bản đồ người Venezia là Fra Mauro đã miêu tả trong bản đồ Fra Mauro năm 1457 các chuyến đi của các con "thuyền lớn từ Ấn Độ" tới 2.000 dặm vào Đại Tây Dương năm 1420.
Bản thân Trịnh Hòa viết về các chuyến đi của mình như sau:
"Chúng tôi đã vượt qua hơn 100.000 lý (50.000 km) các vùng nước mênh mông và ngắm nhìn thấy trên đại dương các con sóng khổng lồ tương tự như các trái núi sừng sững ở phía chân trời, và chúng tôi đã ngắm nhìn các khu vực hoang dã ẩn xa trong làn sương khói màu xanh lam, trong khi các con thuyền của chúng tôi, kiêu ngạo giương cánh buồm giống như các đám mây ngày và đêm, vẫn tiếp tục cuộc hành trình của chúng (rất nhanh) giống như các vì sao, vượt qua các con sóng hung dữ này như thể là chúng tôi đang đi trên một con đường lớn..."
=== Bảy chuyến đi ===
Trịnh Hòa viết về chuyến hành trình của mình:
Chúng tôi đã đi ngang qua trên 100.000 lý những vùng biển bao la và đã gặp những ngọn sóng biển khổng lồ như những dãy núi mọc lên giữa trời, và chúng tôi đã gặp những khu vực dữ dội rất xa, ẩn sau làn hơi nước xanh trong mờ nhạt, trong khi những cánh buồm, giương cao cả ngày và đêm, tiếp nối ngày và đêm nhanh như sao, băng ngang qua những làn sóng ấy như thể chúng tôi đang đi trên đường lộ…
== Hạm đội ==
Theo các nguồn sử liệu Trung Quốc thì hạm đội của Trịnh Hòa gồm 30.000 người và có trên 300 thuyền buồm vào lúc cao điểm nhất.
Chuyến thám hiểm năm 1405 bao gồm 27.800 người và 317 thuyền, trong đó có:
Các "thuyền châu báu" (bảo thuyền), được dùng cho chỉ huy và các phó chỉ huy của hạm đội, có chín cột buồm, dài khoảng 120 mét (400 ft) và rộng khoảng 50 m (160 ft).
Các "thuyền chở ngựa", chở cống phẩm và vật liệu sửa chữa cho hạm đội, có tám cột buồm, dài khoảng 103 m (339 ft) và rộng khoảng 42 m (138 ft).
Các "thuyền hậu cần", chuyên chở lương thực và thực phẩm cho thủy thủ đoàn, có bảy cột buồm, dài khoảng 78 m (257 ft) và rộng khoảng 35 m (115 ft).
Các "thuyền chở quân lính", sáu cột buồm, dài khoảng 67 m (220 ft) và rộng khoảng 25 m (83 ft).
Các "thuyền chiến Phú Xuyên", năm cột buồm, dài khoảng 50 m (165 ft).
Các "thuyền tuần tra", có tám mái chèo, dài khoảng 37 m (120 feet).
Các "thuyền chở nước", với sự đảm bảo cấp nước ngọt trong vòng một tháng.
Các đặc trưng phong phú của tàu thuyền Trung Quốc vào thời kỳ đó đã được các nhà thám hiểm châu Âu trước đó gián tiếp xác nhận, chẳng hạn như Ibn Battuta và Marco Polo. Theo Ibn Battuta, người đã đến Trung Quốc vào năm 1347 thì:
...Chúng tôi dừng lại trên cảng Calicut, trong khi ấy đã có 13 con thuyền của người Trung Quốc đang bốc dỡ hàng. Trên biển Trung Hoa việc đi lại chỉ có thể có được nhờ các con thuyền Trung Hoa, vì thế chúng tôi sẽ miêu tả các sắp xếp của chúng. Các tàu thuyền Trung Quốc có ba loại: loại thuyền lớn được gọi là thuyền mành, loại trung bình gọi là thuyền buồm và loại nhỏ là kakam. Loại lớn có thể có từ 3 đến 12 buồm, được làm từ các thanh tre gắn kết lại như cái mành. Chúng không bao giờ bị hạ xuống, nhưng xoay theo hướng gió; khi bỏ neo thì chúng được thả để tự do xoay theo gió.
Một thuyền có thể chở tới cả ngàn người, sáu trăm người trong số đó là các thủy thủ và bốn trăm người được trang bị vũ khí, bao gồm các cung thủ, những người mang mộc và nỏ để bắn các loại tên có lửa. Ba thuyền nhỏ hơn,..., đi kèm theo thuyền lớn. Các thuyền này được đóng ở Tuyền Châu và Quảng Châu. Thuyền có 4 khoang và chứa các phòng, cabin và phòng lớn cho các thương nhân; trong cabin có các phòng và buồng vệ sinh, và nó có thể đóng lại khi có người sử dụng... (Ibn Battuta).
== Liên quan với lịch sử Trung Quốc đế quốc cận đại ==
Một niềm tin phổ biến cho rằng sau các chuyến đi của Trịnh Hòa thì Trung Quốc lại xa rời biển cả và đi vào thời kỳ trì trệ về công nghệ. Mặc dù các nhà lịch sử như John Fairbank và Joseph Needham đã phổ biến quan điểm này trong thập niên 1950, nhưng phần lớn các nhà sử học hiện đại của Trung Quốc đều đặt câu hỏi về tính chính xác của nó. Họ cho rằng thương mại đường biển của Người Trung Quốc đã không bị dừng lại sau thời Trịnh Hòa, và các con thuyền Trung Quốc vẫn tiếp tục ngự trị trong thương mại vùng Đông Nam Á cho đến tận thế kỷ 19 và các hoạt động ngoại thương tích cực của Trung Quốc với Ấn Độ và Đông Phi vẫn tiếp tục một thời gian dài sau thời Trịnh Hòa. Các chuyến đi của các thuyền buồm lớn của Trung Quốc như Kì Anh tới Hoa Kỳ và Anh trong khoảng thời gian từ 1846 đến 1848 đã chứng tỏ sức mạnh của tàu thuyền Trung Quốc cho đến tận thế kỷ 19.
Mặc dù nhà Minh đã cấm đoán vận chuyển bằng tàu thuyền trên đại dương trong vài chục năm bằng chỉ dụ Hải cấm, nhưng cuối cùng họ cũng đã bãi bỏ lệnh cấm này. Quan điểm khác viện dẫn thực tế là bằng lệnh cấm tàu thuyền này thì nhà Minh (và sau này là nhà Thanh) đã làm gia tăng số lượng người buôn lậu trên chợ đen. Điều này làm giảm nguồn thu thuế của chính quyền và làm gia tăng nạn hải tặc. Sự thiếu vắng của hải quân trên biển đã làm cho Trung Hoa dễ bị tổn thương bởi nạn hải tặc uy khấu (wakou) đã hoành hành vùng bờ biển Trung Quốc trong thế kỷ 16.
Có một điều chắc chắn. Đó là các sự hỗ trợ của chính quyền cho hoạt động hàng hải đã suy giảm nghiêm trọng sau các chuyến đi của Trịnh Hòa. Từ đầu thế kỷ 15 Trung Quốc đã phải chịu áp lực ngày càng tăng từ các bộ lạc Mông Cổ mới trỗi dậy ở phía bắc. Năm 1421 vua Minh Thành Tổ đã dời đô từ Nam Kinh về Bắc Kinh như là một sự thừa nhận sự hiện hữu của mối đe dọa này cũng như là để gần với khu vực quyền lực của dòng họ. Từ kinh đô mới ông có thể kiểm soát tốt hơn các cố gắng nhằm bảo vệ biên cương phía bắc. Với phí tổn đáng kể, Trung Quốc hàng năm tiến hành các cuộc viễn chinh nhằm làm suy yếu người Mông Cổ. Các phí tổn cho các chiến dịch trên bộ này đã cạnh tranh trực tiếp với ngân sách cần thiết dành cho các chuyến thám hiểm hàng hải.
Năm 1449 kỵ binh Mông Cổ đã phục kích cuộc hành quân do đích thân hoàng đế Minh Anh Tông chỉ huy chưa đầy một ngày sau khi đội quân này rời khỏi cổng kinh thành. Trong trận chiến pháo đài Thổ Mộc, người Mông Cổ đã đánh bại quân đội nhà Minh và bắt sống hoàng đế Trung Hoa. Trận chiến này có hai ảnh hưởng nổi bật. Thứ nhất, nó minh chứng một cách rõ ràng mối đe dọa của các bộ lạc miền bắc. Thứ hai, người Mông Cổ đã gây ra khủng hoảng chính trị tại Trung Quốc khi họ trả tự do cho Anh Tông sau khi người em cùng cha khác mẹ là Chu Kì Ngọc tự xưng làm vua với niên hiệu Cảnh Thái. Sự ổn định về chính trị chỉ trở lại vào năm 1457 khi Anh Tông trở lại ngai vàng. Sau khi ông trở lại nắm quyền thì Trung Quốc đã từ bỏ chiến lược thám hiểm các vùng đất mới hàng năm và thay vào đó là bắt tay vào việc củng cố và mở rộng Vạn Lý Trường Thành vô cùng tốn kém. Trong hoàn cảnh đó, ngân khố dành cho các chuyến thám hiểm hàng hải đơn giản không tồn tại nữa.
Một cách cơ bản hơn, không giống như các chuyến thám hiểm sau này của các quốc gia châu Âu, các tàu thuyền chở của cải của người Trung Quốc dường như bị hao hụt dần đến cạn kiệt sau các chuyến đi dài, do các chuyến đi này thiếu động cơ kinh tế. Chúng chủ yếu để làm tăng uy thế của hoàng đế và các chi phí cho chuyến đi cũng như tặng phẩm cho các vị vua chúa và sứ giả nước ngoài còn lớn hơn cả các món lợi thu được từ các cống phẩm. Vì thế khi tài chính của chính quyền nhà nước bị áp lực (giống như các quốc gia thời Trung cổ đã làm), thì các ngân quỹ dành cho các chuyến thám hiểm hàng hải không thể có nữa. Trái lại, vào thế kỷ 16, phần lớn các chuyến thám hiểm của người châu Âu có lãi từ các hoạt động thương mại cũng như từ việc chiếm đoạt các nguồn tài nguyên/đất của thổ dân để có thể tự trang trải, cho phép họ có thể tiếp tục thám hiểm mà không phải viện đến ngân khố quốc gia.
== Khía cạnh văn hóa ==
Một giả thuyết gây mâu thuẫn gần đây (giả thuyết 1421) được Gavin Menzies đưa ra trong cuốn sách của ông đã giả thiết rằng Trịnh Hòa đã đi vòng quanh thế giới và phát hiện ra châu Mỹ trong thế kỷ 15 trước cả Ferdinand Magellan và Christopher Columbus.
Những thương nhân trong đoàn thám hiểm Qeng Ho được nói bóng gió trong truyện khoa học viễn tưởng A Fire Upon the Deep của Vernor Vinge (và sau đó được tưởng tượng rõ nét hơn trong A Deepness in the Sky) phản ánh tên của Trịnh Hòa. Các chuyến đi của Trịnh Hòa và sự từ bỏ thám hiểm hàng hải sau đó của các hoàng đế Trung Hoa đã trở thành biểu tượng trong cộng đồng ủng hộ chương trình thăm dò vũ trụ về các thành công và sự hủy bỏ của chương trình Apollo.
Hình tượng của Trịnh Hòa cũng được miêu tả trong cuốn sách của Kim Stanley Robinson The Years of Rice and Salt.
Một số nhà sử học cũng như trong bài viết gần đây của National Geographic về Trịnh Hòa, cho rằng thuyền trưởng Sindbad (từ tiếng Ả Rập السندباد-As-Sindibad) và tập hợp các câu chuyện về thám hiểm hàng hải đã tạo ra Bảy chuyến đi của thuyền trưởng Sindbad, được tìm thấy trong Nghìn lẻ một đêm chịu ảnh hưởng sâu nặng của các câu chuyện được tích lũy trong nhiều người đi biển đã từng theo, buôn bán và làm việc trong các tàu thuyền hỗ trợ khác nhau cho hạm đội của nhà Minh. Niềm tin này được hỗ trợ một phần bằng sự tương tự trong tên của Sindbad và các diễn giải khác nhau của tên gọi của Trịnh Hòa trong tiếng Ẩ Rập và tiếng Trung (phồn thể: 鄭和; giản thể: 郑和; Hán ngữ bính âm: Zhèng Hé; Wade-Giles: Cheng Ho; tên khai sinh: Mã Tam Bảo (馬三寶 /马三宝; pinyin: Mǎ Sānbǎo tên Ả Rập: Hajji Mahmud Shams) cùng với sự tương tự trong số lần (7) và các khu vực giống nhau trong các chuyến đi của Sindbad và Trịnh Hòa.
Tháng 1 năm 2006, BBC News và The Economist cả hai cùng có bài viết mới liên quan đến triển lãm bản đồ hàng hải Trung Quốc, được cho là có từ năm 1763, trong đó có thông tin là nó được sao chép từ một bản đồ khác vẽ năm 1418. Bản đồ có các miêu tả chi tiết về cả các thổ dân châu Mỹ và Australia. Theo chủ sở hữu của bản đồ, ông Liu Gang-một luật sư Trung Quốc và là một nhà sưu tập đồ cổ, ông đã mua bản đồ này với giá 500 USD từ một người ở Thượng Hải năm 2001.
Sau khi Liu đọc cuốn sách 1421:The Year China discovered the World (1421: Năm Trung Quốc phát hiện ra Thế giới) của Gavin Menzies, ông nhận ra tầm quan trọng của bản đồ này. Tấm bản đồ này hiện đang được kiểm tra để xác định tuổi của mực và giấy dùng để vẽ nó, với kết quả sẽ có trong tháng 2 năm 2006. Nếu như bản đồ được xác nhận là vẽ vào năm 1763, thì câu hỏi còn lại là nó có phải bản sao chính xác của tấm bản đồ sớm hơn vào năm 1418 hay không, hay chỉ đơn giản là sự sao chép cùng thời của các bản đồ của người châu Âu.
Một số học giả về lịch sử Trung Quốc đặt câu hỏi về tính xác thực của tấm bản đồ này. Một số đề cập tới việc sử dụng kiểu ánh xạ tương tự như kiểu Mercator, chính xác là liên quan tới kinh độ và định hướng theo hướng Bắc. Không có đặc trưng nào trong số này đã được sử dụng trong các tấm bản đồ tốt nhất được vẽ ra ở châu Á hay châu Âu trong thời kỳ này (ví dụ, xem Cương lý đồ (năm 1410) và Fra Mauro (1459)). Người ta cũng đề cập tới sự miêu tả sai đảo California, một lỗi phổ biến thường bị lặp lại trong các bản đồ của người châu Âu từ thế kỷ 16 đến thế kỷ 18.
Geoff Wade ở Viện nghiên cứu châu Á của trường Đại học Quốc gia Singapore đã tranh cãi kịch liệt về tính xác thực của tấm bản đồ này và cho rằng nó hoặc là đồ giả mạo ở thế kỷ 18 hoặc thế kỷ 21. Ông cũng chỉ ra một số điểm sai lầm xuất hiện trên bản đồ và các chú giải của nó. Ví dụ, trong đoạn văn bản bên cạnh Đông Âu được dịch ra như sau "Người ở đây phần lớn tin Chúa Trời và tôn giáo của họ được gọi là 'Jing'", Wade lưu ý rằng từ Trung Quốc để chỉ Chúa Trời của người Thiên chúa giáo là "Thượng đế", việc sử dụng từ Jing là do các nhà truyền giáo phương Tây đặt ra vào khoảng thế kỷ 16.
== Trịnh Hòa trong văn hóa hiện đại ==
Trịnh Hòa xuất hiện trong loạt phim truyền hình "Zheng He Xia Xi Yang" do CCTV vào tháng 4 năm 2009, La Gia Lương trong vai Trịnh Hòa và Đường Quốc Cường trong vai Minh Thành Tổ.
=== Ngày Hàng hải ===
Tại Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, 11 tháng 7 là ngày Hàng hải Trung Quốc (中国航海日) để tưởng nhớ chuyến hành trình đầu tiên của Trịnh Hòa.
== Thư viện ảnh ==
== Xem thêm ==
Hạm đội nhà Minh
Trương Khiên
Ban Siêu
Pháp Hiển
Đường Huyền Trang
Chu Mãn
== Ghi chú ==
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
== Liên kết ngoài ==
Economist: Có lẽ Trung Quốc đánh bại Columbus (12/1/2006)
BBC Bản đồ mới của Trung Quốc cho rằng họ tìm ra châu Mỹ (13/1/2006)
Phản bác bài của Economist của Geoff Wade, Viện nghiên cứu châu Á, Đại học quốc gia Singapore
Trao đổi giữa Liu Gang và Geoff Wade
Laputan Logic: Tấm bản đồ Vinland của Trung Quốc Tấm bản đồ của Liu Gang, Bản đồ học Trung Quốc và chuyện tưởng tượng về đảo California.
National Geographic-Bài viết về "hạm đội lớn của Trung Quốc" (7/2005)
TIME- Bài viết về Trịnh Hòa (8/2001)
Nhà hàng hải Trung Quốc vĩ đại Trịnh Hòa (tóm tắt tiểu sử với bản đồ và hình ảnh)
Nhà thám hiểm Trung Quốc-người 'đánh bại Columbus trong tìm kiếm châu Mỹ'
Website chính thức của Gavin Menzies với nghiên cứu của ông về Trịnh Hòa
Bản đồ của Google về các chuyến đi của Trịnh Hòa
Singapore Tourism Board - Triển lãm "1421: The Year China Discovered The World"
1421
Anh hùng của biển cả trong Der Spiegel, của Andreas Lorenz, 29 tháng 8 năm 2005
Triển lãm ảo của elibraryhub.com về Trịnh Hòa |
chiến tranh với pháp và người da đỏ.txt | Chiến tranh với Pháp và người Da đỏ hay còn được gọi là Cuộc Chiến tranh Chinh phạt (tiếng Anh: French and Indian War, tiếng Pháp: Guerre de la Conquête) là chiến trường của chiến tranh Bảy năm trên đất Bắc Mỹ từ năm 1754 tới năm 1763. Đây là một cuộc xung đột giữa thuộc địa của Vương quốc Anh với thuộc địa của Vương quốc Pháp, hai bên đều được hỗ trợ quân đội từ mẫu quốc, cùng với sự giúp đỡ của thổ dân địa phương. Lúc xung đột bắt đầu, thuộc địa của Pháp có khoảng 60 000 người định cư từ Châu Âu, trong khi thuộc địa của Anh có khoảng 2 triệu người định cư.
== Tham khảo ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
The French and Indian War Website
Historical Preservation Archive: Transcribed Articles & Documents
The War That Made America from PBS
FORGOTTEN WAR: Struggle for North America from PBS
French and Indian War study guide, analysis, primary sources, teacher resources
Select Bibliography of the French and Indian Wars compiled by the United States Army Center of Military History |
seoul.txt | Seoul (Hangul: 서울; Phiên âm Tiếng Việt: Xê-un hay Xơ-un, Hán-Việt: Thủ Nhĩ, trước năm 2005 gọi là Hán Thành) là thủ đô của Hàn Quốc, nằm bên Sông Hán ở phía tây bắc Hàn Quốc. Thành phố cách biên giới với Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên 50 km về phía nam (Khu phi quân sự Triều Tiên). Seoul là một thành phố cổ, từng là kinh đô của Bách Tế (18 TCN – 660) và Triều đại Triều Tiên (1392-1910). Thành phố đã trở thành thủ đô của Hàn Quốc sau khi thành lập chính phủ Hàn Quốc năm 1948. Seoul là một thành phố đặc biệt, trực thuộc trung ương. Với dân số hơn 10 triệu, Seoul là thành phố lớn nhất Hàn Quốc và là một trong những thành phố lớn nhất thế giới tính theo dân số. Diện tích chỉ 605 km², nhỏ hơn Luân Đôn hay Thành phố New York, đây là một trong những thành phố lớn có mật độ dân số cao nhất thế giới. Seoul cũng là một trong những thành phố có kết nối số nhiều nhất thế giới với số người sử dụng Internet nhiều hơn tất cả Châu Phi hạ Sahara, trừ Cộng hòa Nam Phi ra. Seoul còn là một trong 20 thành phố toàn cầu. Vùng thủ đô Seoul bao gồm thành phố cảng lớn Incheon và tỉnh Gyeonggi, có tổng cộng 25 triệu dân sinh sống, là vùng đô thị lớn thứ hai thế giới sau Vùng thủ đô Tokyo, chiếm một nửa dân số Hàn Quốc cùng với 632.000 người nước ngoài. Hầu như một nửa dân Hàn Quốc sống ở Vùng thủ đô Seoul khiến nó trở thành trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị của quốc gia này. Thành phố đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của Hàn Quốc và đã được xem là "Kỳ tích sông Hán".
Seoul có 3 triệu xe đăng ký và nạn kẹt xe xảy ra thường xuyên. Những năm gần đây, chính quyền vùng thủ đô đã áp dụng nhiều biện pháp để làm sạch nước và không khí bị ô nhiễm. Sự phục hồi của con suối trong trung tâm thành phố Cheonggyecheon đã là một dự án làm đẹp đô thị lớn.
== Lịch sử ==
Lịch sử của Seoul có thể quay về từ 18 TCN, khi đây là kinh đô của triều đại Bách Tế. Thành phố sau này là kinh đô của nhiều nhà nước trên bán đảo Triều Tiên. Dưới triều đại Cao Ly, thành phố được gọi là Hanseong (Hán Thành). Nó trở thành thủ đô lâu dài của triều đại Triều Tiên. Trong thời kỳ Nhật Bản đô hộ, nhiều phần lịch sử của thành phố bị phá hủy. Thành phố hầu như hoàn toàn bị phá hủy trong Chiến tranh Triều Tiên, nhưng những chính sách kinh tế năng nổ thập niên 1960 và thập niên 1970 đã giúp tái thiết thành phố rất nhanh. Trong thập niên 1990, nhiều công trình lịch sử đã được phục dựng, bao gồm Cung Gyeongbok (Cảnh Phúc), cung điện chính của triều đại Triều Tiên.
=== Tên gọi ===
Thành phố được biết đến trong quá khứ bởi các tên gọi kế tiếp nhau như Wiryeseong (âm Hán Việt: Úy Lễ Thành; 慰禮城; Bách Tế), Hanyang (Hán Dương; 漢陽) và Hanseong (Hán Thành; 漢城; Cao Ly và Triều Tiên). Tên hiện nay lấy từ tên trong từ Hàn cổ Seorabeol hay Seobeol, có nghĩa là "kinh thành", trước kia dùng cho Gyeongju (Khánh Châu), kinh đô của vương quốc Tân La xưa kia.
Không giống như các địa danh khác ở Hàn Quốc, "Seoul" không có chữ Hán tương đương. Ngày 18 tháng 1 năm 2005, chính quyền Seoul chính thức sử dụng tên Shou'er (giản thể: 首尔; phồn thể: 首爾; bính âm: shǒu'ěr, phiên âm Hán Việt là Thủ Nhĩ) thay cho tên gọi lịch sử nhưng không còn phổ biến, Hán Thành (giản thể: 汉城; phồn thể: 漢城; bính âm: hànchéng).
== Địa lý ==
Seoul nằm ở phía tây bắc Hàn Quốc, với diện tích đất đai ước tính khoảng 605,52 km², bị chia cắt thành hai nửa bắc và nam bởi sông Hán, thành phố này được bao quanh bởi 8 ngọn núi cũng như những vùng đất của đồng bằng sông Hán và khu vực phía tây. Sông Hán đã đóng một vai trò quan trọng trong suốt chiều dài lịch sử Triều Tiên. Thời Tam Quốc ở Triều Tiên, ba quốc gia luôn cố gắng giành quyền kiểm soát vùng đất này, nơi mà có con sông được dùng làm trạm thông thương tới Trung Quốc (qua Hoàng Hải). Tuy nhiên con sông này hiện nay không còn được sử dụng với mục đích hàng hải nữa do cửa sông nằm trên biên giới giữa hai miền Triều Tiên và bị chắn không cho dân thường qua lại.
=== Khí hậu ===
Cũng giống như phần lớn các vùng khác ở Hàn Quốc, Seoul có khí hậu ôn hòa và khí hậu lục địa, bất chấp việc Hàn Quốc bị vung quanh bởi ba mặt đều là biển. Mùa hè bình thường khí hậu nóng và ẩm, với mùa mưa kéo dài từ tháng 6 đến tháng 9. Tháng 8, tháng nóng nhất trong năm, có nhiệt độ trung bình từ 22 °C đến 30 °C (72 °F đến 86 °F) và cũng có thể nóng hơn. Mùa đông thường rất lạnh nếu so sánh với các vùng ở cùng vĩ độ, với nhiệt độ trung bình tháng giêng từ -10 °C đến 1 °C (19 °F đến 33 °F), mùa đông thường khô hơn rất nhiều so với mùa hè dù bình thường trong một năm ở Seoul có khoảng 25 ngày là có tuyết.
=== Cảnh quan thành phố ===
Trung tâm cũ của Seoul thời vương triều Triều Tiên hiện nay là một nơi kinh doanh sầm uất, phần lớn những cung điện, văn phòng chính phủ, trụ sở các tập đoàn, khách sạn và chợ truyền thống đều nằm ở đây. Vùng nay bao phủ châu thổ Cheonggyecheon, với một dòng suối nhỏ chạy từ tây tới đông qua châu thổ trước khi đổ ra sông Hán. Trong nhiều năm, dòng suối này đã được tu bổ bằng xi măng và gần đây được khôi phục qua một dự án phục sinh đô thị. Về phía bắc của khu kinh doanh là ngọn núi Bukhan (Bắc Hán), về phía nam là ngọn núi Namsan (Nam Sơn) nhỏ hơn. Tiến sâu nữa về phía nam là vùng ngoại ô khu Yongsan (Long Sơn), khu Mapo và sông Hán. Qua con sông Hán là vùng khu Gangnam, khu Seocho rất phát triển. Trung tâm Thương mại Thế giới Hàn Quốc nằm ở khu Gangnam, rất nhiều triển lãm và hội nghị được tổ chức tại đây. Tại khu Gangnam còn có COEX Mall, một trung tâm giải trí và mua sắm trong nhà lớn ở Seoul. Bamseom là một hòn đảo nằm giữa con sông Hán gần Yeouido và trụ sở của quốc hội cũng như các kênh truyền hình lớn và một vài tòa nhà hành chính. Sân vận động Olympic, công viên Olympic và Lotte World nằm ở khu Songpa, bờ nam sông Hán. phía nam vùng Gangnam là các ngọn núi Namhan (Nam Hán), Cheonggye và Gwanak.
Các công trình đáng chú ý tại Seoul có thể kể đến Tòa nhà Tài chính Hàn Quốc, Tháp N Seoul, và Trung tâm thương mại thế giới Seoul, Tòa nhà 63 và sáu tòa cao ốc dân dụng Tower Palace. Những kế hoạch phát triển đô thị đã trở thành một khái niệm quan trọng khi Seoul được thiết kế để trở thành thủ đô vào cuối thế kỷ 14. Cung điện của vương triều Triều Tiên hiện vẫn nằm ở Seoul, với cung chính, Cung Gyeongbok, hiện đang được khôi phục nguyên trạng. Ngày nay, ở Seoul có 8 đường xe điện ngầm trải dài hơn 250 km.
Con đường đậm chất lịch sử nhất ở Seoul là đường Cái Chuông, trên con đường này người ta có thể thấy Phổ Tín Các (Bosingak), một ngôi đình có một chiếc chuông lớn. Chiếc chuông rung bốn lần trong ngày, vì vậy mà có thể kiểm soát được bốn cổng chính vào thành phố. Bây giờ thì chiếc chuông này chỉ còn được rung vào nửa đêm trong dịp năm mới, khi đó nó sẽ được rung 30 lần.
Con đường ô tô quan trọng nhất của Seoul trước đây chạy dọc đường Cái Chuông, nhưng đến đầu thập niên 1970, nó đã bị thay bởi đường ray số 1 của hệ thống tàu điện ngầm. Một vài con đường nổi tiếng khác ở Seoul bao gồm đường Eulji, đường Teheran, đường Thế Tông, đường Chungmu, đường Yulgong, và đường Toegye.
== Nhân khẩu ==
Hầu hết những người dân của Seoul là người Hàn Quốc cùng với một số ít người Trung Quốc và Nhật Bản. Ngày nay, 200.000 người nước ngoài được ước tính đang sống tại Seoul, những người này bao gồm người từ Nam Á, Đông Nam Á, Trung Á, Châu Phi, Châu Âu, Châu Đại Dương và Châu Mỹ. Tỉ lệ phạm pháp ở Seoul là rất thấp. Dù một nửa dân số không theo đạo, hai đạo phổ biển ở Seoul là đạo Phật và đạo Cơ Đốc (mỗi đạo chiếm khoảng 25%). Những đạo khác bao gồm Shaman giáo và Nho giáo, tuy nhiên hai đạo sau được nhìn nhận như là triết lý phổ biển của xã hội hơn.
== Kinh tế ==
Với việc là nơi đặt trụ sở đầu não của một vài tập đoàn lớn nhất thế giới như Samsung, tập đoàn LG, Hyundai và Xe ô-tô Kia, lĩnh vực dịch vụ tại Seoul đã phát triển nhanh chóng, đóng góp cho nền kinh tế quốc gia cũng như sự phát triển của đất nước. Hàn Quốc thu được 63,2% GDP từ khu vực dịch vụ, trên cả thu nhập quốc gia bình quân. Các sản phẩm xuất khẩu chính là hàng điện tử, ô tô và thiết bị máy móc. Sự phát triển kinh tế này cũng giúp tỉ lệ thất nghiệp chỉ giữ ở mức 3,4%. Vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cũng cao, vào khoảng 2 tỉ dollar Mỹ. Tuy nhiên, Hàn Quốc có thể bị đe dọa với một nền kinh tế đang tăng trưởng chậm và điều này có thể ảnh hưởng tới chính Hàn Quốc cũng như sự phát triển của đất nước này. Là một trong "bốn con hổ của châu Á", Hàn Quốc đã trải qua một giai đoạn phát triển vượt bậc vào những năm 90. Tuy nhiên, tài liệu của CIA đã chỉ ra rằng kinh tế Hàn Quốc đã có dấu hiệu của sự tăng trưởng ở mức vừa phải trong giai đoạn từ 2003 đến 2006 với tốc độ tăng trưởng bình quân 4-5%. Sự suy giảm về tiêu thụ hàng hóa của người tiêu dùng đã hạn chế tốc độ phát triển kinh tế của Hàn Quốc, tuy nhiên sự tiêu thụ cũng đã bắt đầu dần tăng trưởng trở lại. Nhìn chung, kinh tế của Hàn Quốc đã và đang chạy với tốc độ tốt và viễn cảnh của nó là khá khả quan.
== Giao thông ==
Giao thông của Seoul bắt đầu bùng nổ từ thời kỳ Đế quốc Đại Hàn, khi những con đường ô tô đầu tiên được đặt nền móng, một con đường nổi Seoul với Incheon được hoàn thành trong giai đoạn này. Seoul có hơn 3 triệu phương tiện giao thông được đăng ký vì vậy tắc nghẽn giao thông đã trở thành một điều thường nhật tại thành phố này.
=== Tàu điện ngầm ===
Seoul có một hệ thống tàu điện ngầm nối mỗi quận của thành phố và các khu vực xung quanh. Với lượng khánh hơn 8 triệu mỗi ngày, hệ thống tàu điện ngầm của Seoul được xếp vào một trong những hệ thống tàu điện ngầm bận rộn nhất trên thế giới. Tàu điện ngầm vùng đô thị Seoul có 12 tuyến phục vụ Seoul, Incheon, Gyeonggi, tây Gangwon, và bắc Chungnam. Ngoài ra, để đối phó với nhiều hình thức vận chuyển khác nhau,chính quyền vùng đô thị Seoul thuê một số nhà toán học để tính toán việc điều phối tàu điện ngầm, xe buýt, và lịch giao thông theo một thời gian biểu. Nhiều tuyến khác nhau được vận hành bởi Korail, Seoul Metro, Tổng công ty đường sắt cao tốc đô thị Seoul, AREX, Shinbundang Railroad Corporation và Metro 9.
=== Hàng không ===
Có hai sân bay quốc tế nằm ở Seoul. Sân bay quốc tế Gimpo, từng nằm ở Gimpo nhưng đã được xáp nhập vào Seoul từ năm 1963, là sân bay quốc tế duy nhất cho Seoul từ khi được xây dựng lần đầu trong thời Chiến tranh Triều Tiên. Ngoài ra, còn một vài sân bay nội địa khác được xây dựng trong thời chiến, bao gồm một sân bay nằm ở Yeouido.
Khánh thành vào tháng 3 năm 2001, Sân bay quốc tế Incheon tại đảo Yeongjong ở Incheon đã thay thế tầm quan trọng của sân bay Gimpo. Incheon hiện giờ thực hiện hầu hết tất cả các chuyến bay trong nước và quốc tế trừ những chuyến bay tới Sân bay Haneda ở Tokyo và Sân bay Hồng Kiều ở Thượng Hải. Điều này đã làm giảm rất nhiều tần xuất bay của sân bay Gimpo.
Sân bay quốc tế Incheon, cùng với Sân bay quốc tế Hồng Kông và sân bay Changi, đã trở thành những trung tâm vận tải quan trọng ở châu Á. Trong một cuộc đồng điều tra của Hiệp hội Vận tải Hàng không Quốc tế và Hội đồng Sân bay Quốc tế đã bầu chọn Incheon là sân bay tốt nhất thế giới. Skytrax chọn đây là một trong 5 sân bay tốt nhất thế giới năm 2006.
Incheon và Gimpo nối với thành phố Seoul bằng đường quốc lộ, Gimpo còn được nối bằng đường điện ngầm số 5.
== Các đơn vị hành chính ==
Thành phố đặc biệt Seoul được cấu thành từ 25 khu (구 gu), 15.267 động (동 dong). Động tương đương với thôn hoặc làng. Hơn mười lăm nghìn động này lại được chia ra thành 112.734 phiên địa (번지).
== Văn hóa ==
=== Âm nhạc ===
Thành phố là nơi quy tụ các nhóm nhạc và ca sĩ đơn nổi tiếng. Có một số bài hát viết về Seoul như "Seoul Song" (Super Junior & Girls' Generation), "Fly To Seoul" (2PM), "Monster" (EXO), "Girls' generation", "Seoul" (SNSD; Super Junior)
=== Các di tích lịch sử và bảo tàng ===
Triều đại Triều Tiên đã xây dựng Ngũ cung ở Seoul. Hai trong số 5 cung điện được miêu tả trong bức Đông Cung Đồ.
Cung Changdeok (창덕 Xương Đức)
Cung Changgyeong (창경 Xương Khánh)
Cung Deoksu (덕수 Đức Thọ)
Cung Gyeongbok (경복 Cảnh Phúc)
Cung Gyeonghui (경희 Khánh Hy)
=== Bảo tàng ===
Bảo tàng quốc gia Hàn Quốc (국립중앙박물관)
Bảo tàng Dân tộc Quốc lập (국립민속박물관)
Đài tưởng niệm chiến tranh (전쟁기념관)
Ngoại ô vùng đại đô thi:
Sơn thành Namhan (남한 Nam Hán)
Sơn thành Bukhan (북한 Bắc Hán)
Công viên Namsan (남산 Nam Sơn)
=== Chùa và đền ===
Tông miếu (종묘)
Đông miếu (동묘)
Văn miếu (문묘)
Chùa Jogye (조계사 Tào Khê tự)
Chùa Hwagye (화계사 Hoa Khê tự)
Chùa Bongeun (봉은사 Phụng Ân tự)
=== Thể thao ===
Seoul đã từng tổ chức Đại hội Thể thao châu Á 1986, Thế vận hội Mùa hè 1988 và Paralympic Games 1988. Đây cũng là một trong những thành phố chủ nhà của FIFA World Cup 2002. Sân vận động World Cup Seoul là nơi tổ chức lễ mở màn và trận đấu đầu tiên của giải đấu.
Taekwondo (Túc thủ đạo) là môn quốc võ của Hàn Quốc và Seoul chính là nơi đặt trụ sở của Quốc kỹ viện, hay còn được biết đến là Liên đoàn Taekwondo Thế giới.
Thành phố có ba đội bóng chày trong Tổ chức Bóng chày Hàn Quốc là: Doosan Bears, LG Twins, và Woori Heros. Hai đội bóng rổ trong giải bóng rổ Hàn Quốc: Seoul Samsung Thunders và Seoul SK Knights.
Ngoài ra còn có một CLB bóng đá chuyên nghiệp tại Seoul là CLB FC Seoul, đội bóng tham dự giải K-league. Có hai đội bóng Giải K3 đặt tại Seoul là Seoul United và Eungpyeong Chung-goo FC.
== Các thành phố kết nghĩa ==
== Một vài hình ảnh về Seoul ==
== Chú thích ==
== Liên kết ==
=== Trang chủ ===
Chính phủ đô thị Seoul
=== Du lịch và thông tin đời sống ===
i Tour Seoul – Trang hướng dẫn du lịch chính thức Seoul
VisitSeoul – The Official Seoul Tourism Guide YouTube Channel
Seoul Travel Guide – Thông tin du lịch dành cho khách đến Seoul
==== Bản đồ ====
Bản đồ Seoul (từ trang chính phủ đô thị Seoul)
Bản đồ tàu điện ngầm Seoul
=== Hình ảnh ===
Ảnh chụp Seoul
Hình ảnh của Seoul
Ảnh đường phố & Graffiti Seoul |
david bowie.txt | David Bowie (phát âm /ˈboʊ.iː/; tên thật David Robert Jones; 8 tháng 1 năm 1947 - 10 tháng 1 năm 2016) là ca sĩ, nhạc sĩ, diễn viên, nhà sản xuất âm nhạc người Anh. Với gần 5 thập kỉ không ngừng tự làm mới hình ảnh và sáng tác trong lĩnh vực âm nhạc đại chúng, David Bowie và các sáng tác của ông, đặc biệt trong thập niên 70 của thế kỉ XX, được coi là có tầm ảnh hưởng rộng lớn. Ông cũng được nhớ đến bởi chất giọng đặc biệt và chiều sâu tư duy trong sáng tác.
Ngày 10 tháng 1 năm 2016, Bowie qua đời sau 18 tháng chống chọi với căn bệnh ung thư.
== Danh sách đĩa nhạc ==
== Sự nghiệp điện ảnh ==
The Man Who Fell to Earth (1976)
Just a Gigolo (1978)
Christiane F. (1981)
The Snowman (1982)
Baal (1982)
Yellowbeard (1983)
Merry Christmas, Mr. Lawrence (1983)
The Hunger (1983)
Jazzin' for Blue Jean (1984)
Labyrinth (1986)
Absolute Beginners (1986)
The Last Temptation of Christ (1988)
The Linguini Incident (1991)
Dream On (chương trình truyền hình) (1991)
Basquiat (1996)
Gunslinger's Revenge (1998)
Everybody Loves Sunshine (1999)
Mr. Rice's Secret (2000)
Zoolander (2001)
The Prestige (2006)
== Xem thêm ==
Danh sách nghệ sĩ được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll
Danh sách nghệ sĩ âm nhạc bán đĩa nhạc chạy nhất
== Tham khảo ==
Chú thích
Thư mục
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức
David Bowie tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll
Các công trình liên quan hoặc của David Bowie trên các thư viện của thư mục (WorldCat)
David Bowie tại Internet Movie Database
Tài khoản Myspace chính thức
Tài khoản YouTube chính thức
Phim tài liệu – David Bowie: Sound and Vision
Bowieart |
palmyra (rạn san hô vòng).txt | Rạn san hô vòng Palmyra, hay đảo Palmyra, là một rạn san hô vòng đã được hợp nhất và quản lý bởi Chính phủ Hoa Kỳ. Đảo san hô này rộng 4,6 dặm vuông (12 km²) và nó nằm trong Bắc Thái Bình Dương ở tọa độ 5°53′B 162°5′T. Về mặt địa lý thì Palmyra là một đảo trong Quần đảo Line (phía đông nam Rạn san hô Kingman và phía bắc Kiribati thuộc Quần đảo Line). Nó nằm gần như về phía nam của Quần đảo Hawaii, khoảng nữa đường từ Hawaii đến Samoa thuộc Mỹ. Bờ biển dài 9 dặm (14,5 km) có một nơi để neo tàu được biết là Phá Tây (West Lagoon). Đảo gồm có một dãy bờ đá rộng, hai phá nông và khoảng 50 đảo con và cồn bằng đá san hô và cát trên đó có thực vật; đa số là dừa, Scaevola, và cây Pisonia.
Tất cả các đảo con của rạn vòng này nối tiếp với nhau, trừ Đảo Cát (Sand Island) ở phía tây và Đảo Barren ở phía đông. Đảo lớn nhất là Đảo Cooper ở phía bắc, kế đến là Đảo Kaula ở phía nam. Vòng cung phía bắc được tạo bởi Đảo Straw, Đảo Cooper, Đảo Aviation, Đảo Quail, Đảo Whippoorwill, kế đến vòng cung ở phía đông là Đảo Eastern, Đảo Papala và Đảo Pelican, và vòng cung phía nam là Đảo Bird, Đảo Holei, Đảo Engineer, Đảo Tananger, Đảo Marine, Đảo Kaula, Đảo Paradise và Đảo Home (theo kim đồng hồ). Lượng mưa trung bình hàng năm là khoảng 175 in (4,445 mm). Nhiệt độ ban ngày trung bình là 85 °F quanh năm.
== Tình trạng chính trị ==
Palmyra là một lãnh thổ hợp nhất của Hoa Kỳ, nghĩa là nó lệ thuộc vào các điều khoản chứa đựng trong Hiến pháp Hoa Kỳ và luôn luôn nằm dưới chủ quyền của Hoa Kỳ. Tuy nhiên nó cũng là lãnh thổ chưa được tổ chức vì không có một đạo luật tổ chức nào được đưa ra từ quốc hội để chỉ thị làm sao quản trị đảo; luật thích hợp duy nhất và đơn giản là cho Tổng thống tự theo ý mình trong việc quản lý đảo nếu thấy là thích đáng.
Vấn đề cai quản Palmyra là một điểm đáng nói vì không có cư dân và cũng không có lý do nào tin rằng sẽ có cư dân sống trên đảo trong tương lai. Vì thế hiện tại nó vẫn là lãnh thổ hợp nhất duy nhất nhưng chưa được tổ chức của Hoa Kỳ. Nó thuộc sở hữu riêng của Hội Bảo tồn Thiên nhiên và được điều hành như một khu bảo vệ thiên nhiên nhưng được quản lý từ Washington, D.C. qua Phòng Quốc hải vụ Hoa Kỳ thuộc Bộ Nội vụ Hoa Kỳ. Vùng nước xung quanh và bên ngoài 12 hải lý (22,2 km) giới hạn, được chuyển cho Cục Bảo vệ Cá và Hoang dã Hoa Kỳ và được đặt tên là Vùng Bảo vệ Hoang dã Quốc gia Rạn san hô vòng Palmyra năm 2001.
Vì mục đích thống kê, Đảo Palmyra đôi khi được xếp vào nhóm các tiểu đảo xa của Hoa Kỳ.
Hiện tại không có hoạt động kinh tế trên đảo. Nhiều đường sá và đường đê (causeway) trên đảo được xây trong Thế chiến thứ hai. Hiện nay tất cả không còn sử dụng được nữa và xuống cấp. Có một phi đạo không sửa chữa và không rải nhựa dài 2.000 mét. Nhiều kiến trúc thời Thế chiến thứ hai sót lại được tìm thấy trên đảo.
Đảo có người của một nhóm các khoa học gia, nhân viên và tình nguyện viên của Hội Bảo tồn Thiên nhiên, đại diện Cục Bảo vệ Cá và Hoang dã Hoa Kỳ trong những năm qua (tổng cộng từ 4 đến 20). Một loạt các cải tiến trong năm 2004 gồm có những nhà mới kiểu "bungalows" cho hai người ở và vòi nước tắm cho cư dân trên đảo. Nước được thu từ mái các tòa nhà bằng bê tông, không xa khu sinh sống chính của các khoa học gia. Các nhà sinh hoạt cộng đồng nằm ở phía bắc Đảo Cooper (khu duy nhất trên đảo) có nhà nấu/phòng ăn chung, đối diện bến tàu duy nhất của đảo. Nhà kho chứa thuyền kayak và dụng cụ lặn gần bên đường lên xuống tàu thuyền con.
Palmyra nằm trong Thái Bình Dương nơi mà hai dòng nước nam và bắc gặp nhau nên bờ biển của nó có nhiều rác và các vật vụn khác. Phao neo thuyền bằng plastic đầy trên bãi biển Đảo Palmyra cùng các loại chai đựng nước uống và bột giặt plastic, v.v.
Phần lớn của đảo không cho công chúng vào vì sợ nguy hiểm có thể gây ra bởi những đạn pháo thời Thế chiến thứ hai còn sót lại và chưa nổ.
== Lịch sử ==
Palmyra được tìm thấy đầu tiên vào năm 1798 bởi thuyền trưởng Mỹ Edmund Fanning của Stonington, Connecticut trong khi tàu Betsy của ông đang trên đường sang Á châu. Mãi đến ngày 7 tháng 11 năm 1802 mới có người tây phương đầu tiên đổ bộ lên đảo không người này, đó là Thuyền trưởng Sawle của tàu Hoa Kỳ Palmyra bị đắm tại đảo.
Năm 1859, Palmyra được tuyên bố chủ quyền bởi Tiến sĩ Gerrit P. Judd của tàu Josephine cho Công ty Phân chim Mỹ và cho Hoa Kỳ theo Đạo luật Đảo Phân chim năm 1856 nhưng công ty chưa từng khai thác phân chim tại đây vì không có phân để khai thác. Palmyra có nhiều mưa nên phân chim không tích tụ lại được. Trong lúc đó, ngày 26 tháng 2 năm 1862, Kamehameha IV, quốc vương thứ tư của Hawaii, ra chỉ thị cho Thuyền trưởng Zenas Bent và Johnson B. Wilkinson, cả hai là công dân Hawaii, đi tàu lên Palmyra và nhân danh quốc vương chiếm đảo. Ngày 15 tháng 4 năm 1862 đảo chính thức bị sát nhập vào Vương quốc Hawaii.
Thuyền trưởng Bent bán quyền làm chủ Palmyra cho Wilkinson ngày 24 tháng 12 năm 1862 và từ năm 1862 đến 1885, Kalama Wilkinson làm chủ đảo và sau đó chia quyền thừa kế làm ba phần vào năm 1885.
Năm 1898 Đảo Palmyra bị Hoa Kỳ thôn tính vì Hoa Kỳ đã sát nhập cả Quần đảo Hawaii vào lãnh thổ mình trước đó và Palmyra trở thành một phần trong Lãnh thổ Hawaii (tên gọi chính thức trước khi thành tiểu bang) ngày 15 tháng 4 năm 1900. Trước khi Hoa Kỳ chính thức thôn tính đảo, Anh đã biểu lộ ý muốn giành đảo này làm một phần cho "Đế quốc Phân chim" của John T. Arundel & Company; và vào năm 1889 người Anh thậm chí đã chính thức thôn tính đảo. Để chấm dứt nỗ lực sắp tới của Anh hoặc những tranh chấp, một đạo luật thứ hai riêng lẻ về việc thôn tính Palmyra của Hoa Kỳ được cho ra đời năm 1911.
Ngày 21 tháng 2 năm 1912 Chính phủ Hoa Kỳ chính thức tuyên bố chủ quyền trên đảo, lúc đó vẫn còn là một phần của lãnh thổ Hawaii.
Năm 1934, Đảo Johnston, Rạn san hô Kingman và Palmyra được đặt dưới quyền của Hải quân Hoa Kỳ. Khi Hải quân Hoa Kỳ dùng đảo làm trạm không quân của hải quân vào ngày 15 tháng 8 năm 1941, rạn vòng này là thuộc sở hữu riêng của công dân Hoa Kỳ và bao gồm người Hawaii. Đảo thường trực chỉ có các đại diện chính phủ của đảo gọi là Chỉ huy đảo từ tháng 11 năm 1939 đến 1947.
Khi Hawaii trở thành tiểu bang năm 1959, Palmyra, trước đó chính thức là một phần của thành phố và quận Honolulu, bị tách rời khỏi tiểu bang mới thành một lãnh thổ chưa hợp nhất của Hoa Kỳ được Bộ Nội vụ Hoa Kỳ quản lý.
Năm 1962, Bộ Quốc phòng Hoa Kỳ sử dụng đảo như một nơi cất dụng cụ nghiên cứu trong khi thử nghiệm vũ khí nguyên tử cao độ trên Đảo Johnston. Có một đội ngũ chuyên viên khoảng mười người cắm trại trên đảo và ở đó suốt thời kỳ này. Nhưng cũng có trung bình khoảng 40 người ở đó để chạy các thiết bị và phục đội ngũ chuyên viên. Những người này đại diện nhiều đại học và phòng thí nghiệm trên toàn thế giới.
Tháng 7 năm 1990, Peter Savio của Honolulu thuê mướn đảo cho đến 2065 và thành lập Công ty Phát triển Palmyra. Tháng 1 năm 2000, Hội Bảo tồn Thiên nhiên mua đảo cho mục đích nghiên cứu và bảo tồn đá ngầm san hô.
Năm 2005, một nhóm khoa học gia trên thế giới gia nhập vào Hội Bảo tồn Thiên nhiên xây một trạm nghiên cứu mới trên đảo để nghiên cứu sự nóng lên của Trái Đất, sự biến mất các dãy đá san hô, các sinh vật và những đe dọa môi trường địa cầu.
Hiện nay, một cuộc nghiên cứu đã được xuất bản nói về san hô hóa thạch trôi dạt vào bờ biển Đảo Palmyra. San hô hóa thạch được nghiên cứu để tím bằng chứng ảnh hưởng của hiện tượng El Niño trên vùng nhiệt đới Thái Bình Dương trong 1.000 năm qua.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Rạn san hô vòng Palmyra
Đảo Palmyra
Khu Bảo tồn Hoang dã Quốc gia Đảo Palmyra
Hội Bảo tồn Thiên nhiên trên Đảo Palmyra
Lịch sử Đảo Palmyra |
người bí ẩn.txt | Người bí ẩn là chương trình hài thực tế trên truyền hình dựa theo chương trình Odd One In của Đài ITV Anh Quốc, sản xuất bởi Đông Tây Promotion và phát sóng trên HTV7– Đài truyền hình thành phố Hồ Chí Minh, VTVcab1 – Giải trí TV, Kênh 1 – Đài PTTH Hà Nội (nhanh hơn 5 phút đối với HTV). Chương trình được dẫn bởi diễn viên hài Trấn Thành và với sự tham gia thường xuyên của diễn viên hài Việt Hương và NSƯT Hoài Linh trong vai trò đội chủ nhà. Đây là một trong những chương trình truyền hình thực tế có lượng khán giả theo dõi cao và được đánh giá là mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc bên cạnh tính chất giải trí, có thể lấy được cả nụ cười và nước mắt của khán giả.
Mùa giải đầu tiên của chương trình được phát sóng từ ngày 30 tháng 3 năm 2014 gồm 13 tập và 26 nhân vật nổi tiếng được mời. Mùa thứ hai bắt đầu ghi hình vào tháng 1 năm 2015 và lên sóng ngày 15 tháng 3 năm 2015 với 14 cặp khách mời mới vào 21h chủ nhật hàng tuần trên HTV7. Mùa thứ ba của chương trình lên sóng ngày 27 tháng 3 năm 2016.
Mùa thứ ba đội nhà là hai danh hài Vân Sơn và Hồng Đào, thay cho Hoài Linh và Việt Hương của hai mùa đầu tiên.
== Luật chơi ==
Nhiệm vụ của hai đội chơi là tìm ra người bí ẩn trong một nhóm (gồm 5 người ở 4 vòng đầu và 6 người ở vòng cuối cùng). Người bí ẩn là người trùng khớp với miêu tả của người dẫn chương trình và có thể là người thật trong số những người giả hoặc người giả trong số những người thật. Các miêu tả thường gặp là về nghề nghiệp của người bí ẩn hoặc quê quán hoặc sở hữu của người đó với một vật thể. Tất cả những người trong nhóm người bí ẩn đều lần lượt dùng lời nói hoặc các bài biểu diễn theo yêu cầu để chứng minh mình là người bí ẩn. Hai đội chơi được quyền hỏi hoặc chương trình có thể yêu cầu người trong nhóm bí ẩn thực hiện một số thao tác hoặc bài biểu diễn để các đội chơi ra quyết định. Đội đoán đúng người bí ẩn sẽ nhận một điểm. Sau 5 vòng thi nếu đội khách bằng hoặc hơn điểm đội nhà sẽ chiến thắng chung cuộc.
== Các đợt phát sóng ==
Thông tin thêm:
(2): Lần tham dự thứ hai của người chơi.
Cuối mỗi mùa có một hoặc hai tập đặc biệt, với nội dung tổng hợp những khoảnh khắc đáng nhớ nhất trong những tập trước.
Tập 3 mùa 2, Lê Hoàng chơi thay cho cầu thủ Công Vinh (chồng Thủy Tiên), người rút lui do đội tuyển quốc gia tập trung đột xuất.
Vì lý do cá nhân, tập 14 mùa 3, Trinh Trinh (vợ Kim Tử Long) quyết định không tham gia, người chơi thay thế là Phượng Loan.
Tập 4 mùa 4 không có khách mời nam, thay vào đó là hai khách mời nữ.
== Nhận xét ==
Theo Hoài Linh:
"Tôi đã từng ngồi rất nhiều gameshow, cuộc thi... nhưng chưa có nơi nào mang đến nhiều áp lực và hứng thú như chương trình Người bí ẩn. Những show khác, tôi ngồi xong rồi về, không suy nghĩ gì nhiều. Nhưng với riêng Người bí ẩn thì mỗi số là một cuộc đấu trí giữa tôi, Việt Hương và một đội khách gồm hai nghệ sĩ khác. Một trong những yếu tố nữa làm tôi tin tưởng vào sự thành công của chương trình này đó là phát hiện ra những tài năng ẩn dật đâu đó trong cuộc sống.
Họ đã lấy đi rất nhiều nước mắt của tôi, Việt Hương, Trấn Thành, các anh em nghệ sĩ và cả phim trường. Đặc sản của chương trình này là những pha chặt chém giữa 2 đội với nhau và với những người bí ẩn, đôi khi tất cả chúng tôi hùn lại để chặt Trấn Thành".
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Kênh YouTube chính thức của chương trình |
hiến chương asean.txt | Hiến chương ASEAN là một dạng hiến pháp dùng cho Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Ý định của việc thảo ra hiến chương này được chính thức bàn đến ở Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 11 diễn ra tại Kuala Lumpur, Malaysia Tháng 12 năm 2005. Mười lãnh đạo khối ASEAN đã được nhiệm vụ thảo hiến chương này.
Tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12 diễn ra tại Cebu, Philippines vào Tháng Giêng năm 2007, có vài kiến nghị căn bản được đưa ra. Một trong những kiến nghị đó là việc tháo gỡ chính sách không can thiệp lẫn nhau có từ khi ASEAN được thành lập vào năm 1967.
Hiến chương này được thông qua tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 13 vào Tháng Mười một năm 2007. [1]
== Sự phê chuẩn Hiến chương ASEAN ==
Để Hiến chương ASEAN đầu tiên có tính bắt buộc về pháp lý, thì tất cả mười thành viên của khối phải phê chuẩn Hiến chương này trước Hội nghị thượng đỉnh ASEAN diễn ra vào Tháng Mười hai 2008. Hiến chương này sẽ có hiệu lực bắt đầu từ ngày thứ 30 sau khi Văn kiện Phê chuẩn được đệ trình lên Tổng Thư ký, Tiến sĩ Surin Pitsuwan.
Đến nay, những nước sau đây đã phê chuẩn và đệ trình Văn kiện Phê chuẩn theo thứ tự thời gian:
== Nội dung tóm lược ==
Nhấn mạnh tính trung tâm của ASEAN trong hợp tác khu vực.
Tôn trọng các nguyên tắc toàn vẹn lãnh thổ, chủ quyền, không can thiệp và bản sắc quốc gia của các thành viên ASEAN.
Khuyến khích bản sắc và hoà bình khu vực, giải quyết hoà bình các tranh chấp thông qua đối thoại và tham vấn, và bác bỏ gây hấn.
Ủng hộ luật pháp quốc tế với sự tôn trọng nhân quyền, công bằng xã hội và thương mại đa bên.
Khuyến khích hội nhập thương mại vùng.
Chỉ định một Tổng thư ký và các Đại diện thường trực của ASEAN.
Thành lập một cơ quan nhân quyền và một cơ cấu về các tranh chấp chưa giải quyết, để được quyết định tại các Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN.
Phát triển quan hệ thân thiện bên ngoài và một lập trường với Liên hiệp quốc (như Liên minh châu Âu)
Tăng cường số lượng các cuộc Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lên hai lần một năm và khả năng can thiệp vào các tình huống khẩn cấp.
Lặp lại việc sử dụng cờ, bài ca, biểu tượng và ngày quốc gia ASEAN vào 8 tháng 8.
== Ban hành ==
Hiến chương có hiệu lực tháng 12 năm 2008, ba mươi ngày sau khi Thái Lan cung cấp văn kiện cuối cùng về việc phê chuẩn. Đại diện thường trực của Thái Lan tại Liên hiệp quốc, đại sứ Don Pramudwinai, đã đệ trình tài liệu với tổng thư ký ASEAN, Surin Pitsuwan, tại phái bộ của Thái ở New York ngày 14 tháng 11. Ông đã ra một tuyên bố nói, "Đây chắc chắn là một cơ hội để đón mừng cho 570 triệu người dân ASEAN. Điều này có nghĩa khi các lãnh đạo ASEAN tụ họp vào cuộc họp thượng đỉnh hàng năm của họ vào giữa tháng 12, Hiến chương ASEAN sẽ bắt đầu có hiệu lực." Ông đã đề cập tới việc hiến chương bắt đầu có hiệu lực sau Hội nghị Thượng đỉnh thứ 14 tại Chiang Mai, Thái Lan, từ 13 đến 18 tháng 12. Khi đưa ra tuyên bố này ông thêm rằng những hành động chào mừng không chỉ cho việc phê chuẩn toàn bộ hiến chương mà cả việc đưa vào có hiệu lực một cơ sở pháp luật mới cho ASEAN, "Nó sẽ là một tổ chức dựa trên quy định và hướng tới người dân với đặc trưng pháp lý của riêng nó."
== Đưa ra ==
Ngày 15 tháng 12 năm 2008, các thành viên ASEAN gặp mặt tại thủ đô Indonesia Jakarta để đưa ra bản hiến chương, được ký kết tháng 11 năm 2007, với mục tiêu tiến gần hơn tới một "cộng đồng kiểu EU". Hiến chương biến ASEAN trở thành một thực thể pháp lý với các mục tiêu tạo lập một khu vực tự do thương mại duy nhất cho khu vực gồm 500 triệu người. Tổng thống Indonesia Susilo Bambang Yudhoyono nói: "Đây là một sự phát triển quan trọng khi ASEAN đang củng cố, hội nhập và biến mình thành một cộng đồng. Nó đã được hoàn thành trong khi ASEAN tìm kiếm một vai trò lớn hơn trong các vấn đề châu Á và quốc tế ở thời điểm hệ thống quốc tế đang trải qua một thay đổi chấn động," ông thêm, đề cập tới sự thay đổi khí hậu và dịch chuyển kinh tế. Đông Nam Á không còn là một vùng bị chia rẽ, bị chiến tranh tàn phá như trong thập niên 1960 và 1970 nữa." Các mục tiêu của hiến chương gồm:
"Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của các quốc gia thành viên"
"Giải quyết hoà bình các tranh chấp"
"Không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia thành viên"
"Quyền tồn tại không có sự can thiệp từ bên ngoài"
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đang diễn ra đã được coi là một mối đe doạ với các mục tiêu của bản hiến chương, và cũng tạo lập ý tưởng về một cơ quan nhân quyền để thảo luận tại một hội nghị thượng đỉnh tương lai vào tháng 2 năm 2009. Đề xuất này đã gây ra tranh cãi, bởi cơ quan này không có quyền áp đặt cấm vận hay trừng phạt với các nước vi phạm vào quyền của công dân nước mình và vì thế bị hạn chế về tính hiệu quả.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Báo Thanh Niên - Thông qua Hiến chương ASEAN
Vietnamnet - Việt Nam phê chuẩn Hiến chương ASEAN
Hiến chương ASEAN (Tiếng Anh)
Nội dung chính Hiến chương Asean (Tiếng Anh) |
điện thoại di động.txt | Điện thoại di động (ĐTDĐ), còn gọi là điện thoại cầm tay, là loại điện thoại kết nối dựa trên sóng điện từ vào mạng viễn thông. Nhờ có kết nối sóng, còn gọi là "kết nối không dây", mà ĐTDĐ thực hiện trao đổi thông tin khi đang di chuyển.
Phạm vi di chuyển mà vẫn giữ trao đổi thông suốt phụ thuộc vào vùng phủ sóng của nhà cung cấp dịch vụ, gọi gọn là nhà mạng. Nhà cung cấp dịch vụ lắp đặt mạng lưới các trạm thu phát, mỗi trạm đảm bảo kết nối trong phạm vi 8 đến 13 km. Chất lượng sóng phụ thuộc vào thiết bị mạng và phần nào địa hình nơi sử dụng máy chứ ít khi bị giới hạn về không gian.
Vào thời kỳ phát triển đầu tiên, hồi thế kỷ 20, ĐTDĐ được chế tạo chủ yếu phục vụ liên lạc lời nói. Ngày nay ĐTDĐ vẫn được chế tạo với kích cỡ bỏ túi, có thêm phần nghe nhạc, chụp ảnh,...
Khi thiết bị kỹ thuật số hỗ trợ cá nhân (tức PDA) phát triển, thì điện thoại di động được tích hợp vào PDA, "kết nối không dây" đảm nhận chức năng trao đổi dữ liệu số với mạng internet bên cạnh liên lạc lời nói theo truyền thống.
Ngày nay PDA là một thiết bị không thể thiếu trong cuộc sống, phục vụ điện thoại và nhắn tin, duyệt web, nghe nhạc, chụp ảnh, quay phim, xem truyền hình...
== Lịch sử ==
Ngày 10 tháng 3 năm 1876 được coi là mốc son đánh dấu sự ra đời của điện thoại. Cha đẻ của chiếc điện thoại đầu tiên là Alexander Graham Bell. Chiếc máy thô sơ có thể truyền được giọng nói này đã mở ra một kỷ nguyên phát triển mới trong lịch sử thông tin liên lạc, thay thế cho điện tín.
Năm 1967, chiếc điện thoại được coi là "di động" đầu tiên trình làng với tên gọi Carry Phone, rất cồng kềnh cho việc di chuyển vì nó nặng đến 4,5 kg.
Điện thoại di động chính thức ra đời vào ngày 3 tháng 4 năm 1973, mang tên Motorola Dyna Tac, phát minh bởi nhà sáng chế John F. Mitchell và Martin Cooper . Motorola Dyna Tac mang hình dáng gần giống điện thoại di động ngày nay mặc dù vẫn còn khá cồng kềnh (nặng khoảng 1 kg) và không phổ biến.
Từ đó đến nay, chiếc điện thoại di động phát triển không ngừng phát triển theo hướng nhỏ gọn hơn rất nhiều tổ tiên của nó và ngày càng được tích hợp nhiều chức năng hơn chứ không còn đơn thuần là nghe và gọi.
== Sử dụng ==
Thông thường 1 chiếc điện thoại di động hoạt động kèm với 1 thẻ sim. Thẻ sim là nơi lưu trữ số điện thoại và được cung cấp bởi nhà mạng.
Pin và sạc là 2 thiết bị không thể thiếu trong điện thoại di động, Pin là 1 thiết bị dự trữ và cung cấp năng lượng giúp cho chiếc điện thoại có thể hoạt động được trong một thời gian nhất định. Thường thì 1 viên pin có thể cho phép người sử dụng dùng từ 1-7 ngày...(tùy từng loại pin, loại máy khác nhau). Sạc là một thiết bị chuyển điện năng từ mạng điện (hay ăcquy) thành điện năng mà điện thoại có thể sử dụng được và đưa vào dự trữ trong pin. Pin và sạc có thể khác nhau tùy loại điện thoại.
== Đặc tính ==
== Luật pháp ==
== Tác động đến sức khỏe ==
Xem thêm thông tin: Vi ba#Tác động của vi sóng đến sức khỏe
Tác động của điện thoại di động đến sức khỏe con người là vấn đề tranh cãi từ lâu . Các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ cố gắng tuyên truyền rằng nó vô hại. Tuy nhiên điện thoại di động là một nguồn phát sóng điện từ, mà ảnh hưởng sinh học do sóng của lò vi ba, của radar và đài phát radio là có thực và được khoa học kiểm chứng.
Tháng 2/2016 các nhà khoa học Israel công bố nghiên cứu xác định sóng điện thoại di động có ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe sinh sản của nam giới, làm hư hại đến tinh trùng . Tuy nhiên cách đưa tin làm người đọc hiểu là "do sức nóng của điện thoại di động". Sự thật là điện thoại di động gửi mã liên lạc và lời thoại (đã số hóa) lên mạng bằng dãy xung vi ba ngắn liên tiếp nhau và cường độ tức thời khá mạnh, cỡ vài Watt, đủ làm biến tính protein của tinh trùng và của lò sản xuất chúng. Trong quá trình đó thì điện thoại nóng lên không đáng kể.
Nó vô hại nếu bật nhưng không thực hiện liên lạc, tức không phát sóng để trao đổi với trạm chuyển tiếp.
Vì thế trong sử dụng thì không để điện thoại di động ở túi quần, hay túi ngực nếu bạn có những vấn đề về tim mạch. Cũng không nên để trẻ em dùng điện thoại di động quá sớm, duới 15 tuổi, kẻo ảnh hưởng đến phát triển của não.
== Tác động đến môi trường ==
Những nguyên liệu cấu thành lên điện thoại di động có thể ảnh hưởng xấu đến môi trường, như: vỏ nhựa, pin... Các nhà sản xuất điện thoại thường khuyên mọi người nên tái chế những chiếc điện thoại bỏ đi.
== Công nghệ ==
Mạng điện thoại di động của mỗi nhà cung cấp dịch vụ và mỗi quốc gia có sự khác nhau. Tuy nhiên, đều có điểm chung là tất cả điện thoại di động đều kết nối bằng sóng vô tuyến đến một trạm gốc nơi có gắn ăngten trên một trụ cao hoặc tòa nhà.
Điện thoại di động có bộ phát công suất thấp truyền thoại và dữ liệu đến trạm gốc gần nhất, thường không quá 8 đến 13 km. Khi bật máy điện thoại, việc đăng ký với tổng đài sẽ được thực hiện. Khi có cuộc gọi đến, tổng đài sẽ báo cho điện thoại di động. Khi người dùng di chuyển, điện thoại sẽ thực hiện chuyển giao đến các cell khác nhau.
== Thuật ngữ ==
== Một vài hình ảnh về điện thoại di động ==
== Xem thêm ==
Điện thoại
Điện thoại tính năng
Danh sách điện thoại di động thông minh có màn hình hiển thị độ nét cao
Thiết bị kỹ thuật số
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Phương tiện liên quan tới Mobile phones tại Wikimedia Commons
Bản mẫu:HowStuffWorks
"The Long Odyssey of the Cell Phone", 15 photos with captions from Time magazine
Cell Phone, the ring heard around the world—a video documentary by the Canadian Broadcasting Corporation |
1995.txt | Theo lịch Gregory, năm 1995 (số La Mã: MCMXCV) là một năm bắt đầu từ ngày Chủ nhật.
Bản mẫu:Tháng trong năm 1995
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1: Kaspar Villiger trở thành tổng thống liên bang Thụy Sĩ
1 tháng 1: Áo, Thụy Điển và Phần Lan gia nhập Liên minh châu Âu
17 tháng 1: Động đất gần Kōbe, Nhật Bản, giết chết 6.321 và làm bị thương trên 32.000 người
25 tháng 1: Bulgaria. Shan Videnov trở thành thủ tướng
=== Tháng 3 ===
10 tháng 3: Hy Lạp. Konstantinos Stefanopoulos trở thành tổng thống
26 tháng 3: Hiệp ước Schengen bắt đầu có hiệu lực
31 tháng 3: Selena là bị sát hại do Chủ tịch câu lạc bộ fan hâm mộ của cô
=== Tháng 4 ===
9 tháng 4: Bầu cử tổng thống và quốc hội trong Peru
19 tháng 4: Đánh bom trong Oklahoma City, 168 người chết
=== Tháng 5 ===
7 tháng 5: Pháp. Jacques Chirac được bầu là tổng thống Pháp
=== Tháng 6 ===
20 tháng 6: Keith Claudius Mitchell trở thành thủ tướng của Grenada
=== Tháng 7 ===
11 tháng 7: Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton quyết định tái thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam
24 tháng 7: Tel Aviv đánh bom tự sát trong một chiếc xe buýt, giết chết 5 người, 30 người bị thương
25 tháng 7: Nổ bom trong tàu điện ngầm Paris. 7 người chết, 62 người bị thương
28 tháng 7: Việt Nam trở thành thành viên thứ 7 trong ASEAN
=== Tháng 8 ===
24 tháng 8: Gruzia Hiến pháp dân chủ mới
24 tháng 8: Phát hành Windows 95
=== Tháng 9 ===
=== Tháng 10 ===
1 tháng 10: Đức và San Marino thiết lập quan hệ ngoại giao
1 tháng 10: Động đất gần Dinar, Thổ Nhĩ Kỳ, khoảng 100 người chết
8 tháng 10: Hiến pháp mới trong Uganda
25 tháng 10: Nhật thực toàn phần tại Việt Nam
28 tháng 10: António Guterres trở thành thủ tướng của Bồ Đào Nha.
=== Tháng 11 ===
8 tháng 11: Ukraina trở thành thành viên của Hội đồng châu Âu
12 tháng 11: Bầu cử quốc hội tự do đầu tiên trong Azerbaijan
19 tháng 11: Aleksander Kwaśniewski trở thành tổng thống của Ba Lan
25 tháng 11: Gruzia. Hiến pháp mới bắt đầu có hiệu lực
== Sinh ==
5 tháng 2: Adnan Januzaj, cầu thủ bóng đá Bỉ
24 tháng 5: Hoàng tử Joseph Wenzel II của Liechtenstein, con trai của hoàng tử Alois của Liechtenstein và Sophie công chúa của Bayern
1 tháng 7: Hoài Lâm ca sĩ Việt Nam
27 tháng 9: Lena Beyerling, nữ diễn viên Đức
11 tháng 10: công chúa Luisa-Maria của Bỉ, con gái của công chúa Astrid của Bỉ và đại công tước hoàng tử Lorenz của Österreich-Este
6 tháng 12: Joy Gruttmann, nữ ca sĩ Đức
== Mất ==
1 tháng 1: H. E. Erwin Walther, nhà soạn nhạc Đức (s. 1920)
1 tháng 1: Eugene Paul Wigner, nhà vật lý học Mỹ, Giải thưởng Nobel (s. 1902)
2 tháng 1: Siad Barre, tổng thống (s. 1919)
4 tháng 1: Eduardo Mata, nhà soạn nhạc Mexico (s. 1942)
7 tháng 1: Harry Golombek, kỳ thủ Anh (s. 1911)
9 tháng 1: Gisela Mauermayer, nữ vận động viên điền kinh Đức (s. 1913)
11 tháng 1: Heiner Pudelko, ca sĩ nhạc rock Đức (s. 1948)
18 tháng 1: Adolf Butenandt, nhà hóa học Đức, nhận Giải thưởng Nobel (s. 1903)
18 tháng 1: Georg K. Glaser, nhà văn (s. 1910)
19 tháng 1: Hermann Henselmann, kiến trúc sư Đức (s. 1905)
20 tháng 1: Mehdī Bāzargān, chính khách Iran, thủ tướng 1979 (s. 1907)
22 tháng 1: Rose Kennedy, mẹ của John F. Kennedy (s. 1890)
25 tháng 1: Fritz Dorls, chính khách Đức (s. 1910)
27 tháng 1: Jean Tardieu, thi sĩ Pháp và nhà soạn kịch (s. 1903)
29 tháng 1: Đặng Lệ Quân, ca sĩ Trung Quốc (s. 1953)
30 tháng 1: Fritz Buri, mục sư và giáo sư về thần học (s. 1907)
31 tháng 1: George Abbott, tác giả kịch bản Mỹ, đạo diễn phim và diễn viên (s. 1887)
1 tháng 2: Karl Gruber, chính khách Áo và nhà ngoại giao (s. 1909)
4 tháng 2: Godfrey Brown, vận động viên điền kinh Anh, huy chương Thế Vận Hội (s. 1915)
5 tháng 2: Doug McClure, diễn viên Mỹ (s. 1935)
6 tháng 2: Mira Lobe, nhà văn nữ Áo (s. 1913)
7 tháng 2: Massimo Pallottino, nhà khảo cổ học Ý (s. 1909)
8 tháng 2: Joseph Maria Bochenski, triết gia Ba Lan (s. 1902)
9 tháng 2: James William Fulbright, chính khách Mỹ (s. 1905)
10 tháng 2: Heinrich Drerup, nhà khảo cổ học Đức (s. 1908)
12 tháng 2: Nat Holman, cầu thủ bóng rổ Mỹ, huấn luyện viên (s. 1896)
14 tháng 2: Ischa Meijer, nhà báo Hà Lan, nhà văn (s. 1943)
15 tháng 2: Rachid Baba Ali Ahmed, nhạc sĩ Algérie, nhà sản xuất nhạc
23 tháng 2: James Herriot, bác sĩ thú y Anh, nhà văn (s. 1916)
24 tháng 2: Hans Hessling, diễn viên Đức (s. 1903)
25 tháng 2: Rudolf Hausner, họa sĩ Áo (s. 1914)
26 tháng 2: Willie Johnson, nhạc sĩ blues Mỹ (s. 1913)
1 tháng 3: Georges J. F. Köhler, nhà sinh vật học Đức, Giải Nobel (s. 1946)
4 tháng 3: Kurt Ludwig, diễn viên Đức (s. 1924)
6 tháng 3: Barbara Lass, nữ diễn viên (s. 1940)
8 tháng 3: Stephan László, Giám mục Áo (s. 1913)
14 tháng 3: William Alfred Fowler, nhà vật lý học Mỹ (s. 1911)
16 tháng 3: Heinrich Sutermeister, nhà soạn nhạc Thụy Sĩ (s. 1910)
20 tháng 3: Werner Liebrich, cầu thủ bóng đá Đức, huấn luyện viên (s. 1927)
24 tháng 3: Joseph Needham, nhà hóa sinh Anh (s. 1900)
25 tháng 3: James Samuel Coleman, nhà xã hội học Mỹ (s. 1926)
25 tháng 3: Philip Stuart Milner-Barry, kiện tướng cờ vua Anh (s. 1906)
27 tháng 3: Albert Drach, luật gia Áo, nhà văn (s. 1902)
29 tháng 3: Antony Hamilton, diễn viên Anh (s. 1952)
31 tháng 3: Roberto Juarroz, nhà văn Argentina (s. 1925)
2 tháng 5: Agnes Kraus, nữ diễn viên Đức (s. 1911)
11 tháng 5: David Avidan, nhà văn Israel (s. 1934)
12 tháng 5: Mia Martini, nữ ca sĩ Ý (s. 1947)
18 tháng 5: Gustav Lübbe, nhà xuất bản Đức (s. 1918)
18 tháng 5: Elizabeth Montgomery, nữ diễn viên Mỹ (s. 1933)
21 tháng 5: Les Aspin, chính khách Mỹ (s. 1938)
21 tháng 5: Agnelo Rossi, tổng Giám mục của São Paulo, Hồng y (s. 1913)
21 tháng 5: Annie M. G. Schmidt, nữ nhà văn Hà Lan (s. 1911)
21 tháng 5: Nora Minor, nữ diễn viên Áo (s. 1910)
24 tháng 5: Harold Wilson, chính khách Anh, thủ tướng (s. 1916)
24 tháng 5: Jürgen Horlemann, chính khách Đức, nhà xuất bản (s. 1941)
25 tháng 5: Krešimir Ćosić, cầu thủ bóng rổ Croatia (s. 1948)
25 tháng 5: Elie Bayol, tay đua xe Pháp (s. 1914)
26 tháng 5: Friz Freleng, họa sĩ biếm họa Mỹ, nhà sản xuất phim (s. 1905)
31 tháng 5: Pavel Šivic, nhà soạn nhạc Slovenia (s. 1908)
4 tháng 6: Alfred Beni, kỳ thủ Áo (s. 1923)
6 tháng 6: Heinz Lehmann, kỳ thủ Đức (s. 1921)
10 tháng 6: Bruno Lawrence, nhạc sĩ, diễn viên (s. 1941)
12 tháng 6: Arturo Benedetti Michelangeli, nghệ sĩ dương cầm Ý (s. 1920)
14 tháng 6: Els Aarne, nhà soạn nhạc Estonia (s. 1917)
14 tháng 6: Roger Zelazny, nhà văn Mỹ (s. 1937)
14 tháng 6: Rory Gallagher, người chơi đàn ghita Ireland (s. 1948)
18 tháng 6: Karl Atzenroth, chính khách Đức (s. 1895)
18 tháng 6: Robert Schlienz, cầu thủ bóng đá Đức (s. 1924)
20 tháng 6: Émile Michel Cioran, triết gia (s. 1911)
22 tháng 6: Yves Congar, Hồng y của Giáo hội Công giáo La Mã (s. 1904)
23 tháng 6: Jonas Salk, bác sĩ Mỹ, nhà nghiên cứu miễn dịch (s. 1914)
25 tháng 6: Ernest Walton, nhà vật lý học Ireland (s. 1903)
3 tháng 7: Georg Richter, vận động viên thể thao Đức (s. 1905)
3 tháng 7: Ricardo González, vận động viên quần vợt Mỹ (s. 1928)
8 tháng 7: Günter Bialas, nhà soạn nhạc Đức (s. 1907)
10 tháng 7: Văn Cao, nhạc sĩ, tác giả quốc ca Việt Nam (s. 1923).
13 tháng 7: Matti Pellonpää, diễn viên Phần Lan (s. 1951)
15 tháng 7: Robert Coffy, tổng Giám mục của Marseille, Hồng y (s. 1920)
17 tháng 7: Juan-Manuel Fangio tay đua xe Argentina (s. 1911)
17 tháng 7: Rainer Kunad, nhà soạn nhạc Đức (s. 1936)
18 tháng 7: Fabio Casartelli, tay đua xe đạp Ý (s. 1970)
20 tháng 7: Ernest Mandel, nhà kinh tế học, lý thuyết gia (s. 1923)
24 tháng 7: Charlie Rich, ca sĩ nhạc country Mỹ (s. 1932)
24 tháng 7: George Rodger, nhiếp ảnh gia (s. 1908)
25 tháng 7: Osvaldo Pugliese, nhạc sĩ Argentina (s. 1905)
26 tháng 7: Laurindo Almeida, nhạc sĩ jazz Brasil (s. 1917)
26 tháng 7: Heinrich Heesch, nhà toán học Đức (s. 1906)
26 tháng 7: Boy Lornsen, nhà điêu khắc Đức, nhà văn (s. 1922)
29 tháng 7: Leo Kofler, triết gia Đức (s. 1907)
1 tháng 8: Dương Thiệu Tước, nhạc sĩ tiền chiến Việt Nam (s. 1915)
5 tháng 8: Georg Buch, chính khách Đức (s. 1903)
8 tháng 8: František Nepil, nhà văn Séc (s. 1929)
11 tháng 8: Alonzo Church, nhà toán học Mỹ (s. 1903)
13 tháng 8: Mickey Mantle, cầu thủ bóng chày Mỹ (s. 1931)
15 tháng 8: Karel Píč, thi sĩ Séc (s. 1920)
17 tháng 8: Howard Koch, tác giả kịch bản Mỹ (s. 1902)
19 tháng 8: Pierre Schaeffer, nhà soạn nhạc Pháp (s. 1910)
21 tháng 8: Manfred Donike, nhà hóa học Đức (s. 1933)
25 tháng 8: John Brunner, nhà văn thể loại khoa học giả tưởng Anh (s. 1934)
28 tháng 8: Michael Ende, nhà văn Đức (s. 1929)
29 tháng 8: Thomas Strittmatter, tác giả Đức (s. 1961)
30 tháng 8: Fischer Black, nhà kinh tế học Mỹ (s. 1938)
30 tháng 8: Sterling Morrison, nhạc sĩ Anh, người chơi đàn ghita (s. 1942)
31 tháng 8: Horst Janssen, nghệ sĩ tạo hình Đức, tác giả (s. 1929)
2 tháng 9: Václav Neumann, nhạc trưởng Séc (s. 1920)
9 tháng 9: Reinhard Furrer, nhà du hành vũ trụ Đức, nhà vật lý học, phi công (s. 1940)
13 tháng 9: Fritz Bennewitz, đạo diễn sân khấu Đức (s. 1926)
15 tháng 9: Rien Poortvliet, họa sĩ Hà Lan (s. 1932)
17 tháng 9: Astrid Krebsbach, nữ vận động viên bóng bàn Đức (s. 1913)
18 tháng 9: Erwin Waldschütz, triết gia Áo (s. 1948)
19 tháng 9: Rudolf Peierls, nhà vật lý học (s. 1907)
23 tháng 9: Albrecht Unsöld, nhà thiên văn học Đức, nhà vật lý học (s. 1905)
29 tháng 9: Gerd Bucerius, nhà xuất bản Đức, chính khách (s. 1906)
30 tháng 9: Theo Balden, nhà điêu khắc Đức (s. 1904)
5 tháng 10: Alec Douglas-Home, thủ tướng Anh (s. 1903)
7 tháng 10: Gerard Henri de Vaucouleurs, nhà thiên văn học (s. 1918)
9 tháng 10: Kukrit Pramoj, thủ tướng Thái Lan 1975/1976 (s. 1911)
13 tháng 10: Henry Roth, nhà văn Mỹ (s. 1906)
19 tháng 10: Don Cherry, nhạc sĩ nhạc jazz (s. 1936)
21 tháng 10: Hans Helfritz, nhà soạn nhạc Đức, nhà văn (s. 1902)
25 tháng 10: Bernhard Heiliger, nhà điêu khắc Đức (s. 1915)
25 tháng 10: Robert Riggs, vận động viên quần vợt Mỹ (s. 1918)
28 tháng 10: Gisela Schlüter, nữ diễn viên (s. 1919)
3 tháng 11: Mario Revollo Bravo, tổng Giám mục của Bogotá, Hồng y (s. 1919)
3 tháng 11: Otto Rösch, chính khách Áo, luật gia (s. 1917)
4 tháng 11: Jitzhak Rabin, thủ tướng Israel, chính khách, người nhận Giải Nobel về hòa bình (s. 1922)
4 tháng 11: Gilles Deleuze, triết gia Pháp (s. 1925)
5 tháng 11: Ernest Gellner, nhà nhân loại học, nhà xã hội học, triết gia (s. 1925)
22 tháng 11: Elinborg Lützen, nữ nghệ sĩ tạo hình (s. 1919)
23 tháng 11: Louis Malle, đạo diễn phim Pháp (s. 1932)
24 tháng 11: Dominic Ignatius Ekandem, Hồng y (s. 1917)
28 tháng 11: Lydia Roppolt, nữ họa sĩ Áo (s. 1922)
5 tháng 12: Reiner Bredemeyer, nhà soạn nhạc Đức (s. 1929)
12 tháng 12: Herbert Schneider, chính khách Đức (s. 1915)
22 tháng 12: James Edward Meade, nhà kinh tế học Anh (s. 1907)
25 tháng 12: Ferdinand Eckhardt, sử gia về nghệ thuật Canada (s. 1902)
25 tháng 12: Emmanuel Levinas, triết gia Pháp (s. 1906)
25 tháng 12: Marijan Lipovšek, nhà soạn nhạc Slovenia (s. 1910)
29 tháng 12: Nello Celio, chính khách Thụy Sĩ (s. 1914)
29 tháng 12: Richard Langeheine, chính khách Đức (s. 1900)
29 tháng 12: Wolfgang Pietzsch, kỳ thủ Đức (s. 1930)
29 tháng 12: Shura Cherkassky, nghệ sĩ dương cầm (s. 1911)
30 tháng 12: Heiner Müller, nhà soạn kịch Đức, nhà văn, đạo diễn phim (s. 1929)
31 tháng 12: Wilfried Joest, nhà thần học Đức, giáo sư (s. 1914)
31 tháng 12: Fritz Eckhardt, diễn viên Áo, tác giả, đạo diễn phim (s. 1907)
== Giải thưởng Nobel ==
Hóa học - Paul J. Crutzen, Mario J. Molina, F. Sherwood Rowland
Văn học - Seamus Heaney
Hòa bình - Carlos Felipe Ximenes Belo và José Ramos Horta
Vật lý - Martin L. Perl, Frederick Reines
Y học - Edward B. Lewis, Christiane Nüsslein-Volhard, Eric F. Wieschaus
Kinh tế - Robert Lucas, Jr.
== Xem thêm ==
Thế giới trong năm 1995, tình trạng thế giới trong năm này
== Tham khảo == |
hoàng gia nhật bản.txt | Hoàng gia Nhật Bản (kanji: 皇室, rōmaji: kōshitsu, phiên âm Hán-Việt: Hoàng Thất) tập hợp những thành viên trong đại gia đình của đương kim Thiên hoàng. Theo Hiến pháp hiện hành của Nhật Bản, Thiên hoàng là biểu tượng của quốc gia và sự đoàn kết dân tộc (日本国の象徴であり日本国民統合の象徴). Tuy Thiên hoàng không phải là nguyên thủ quốc gia, nhưng ông vẫn thường được coi là một vị nguyên thủ quốc gia. Các thành viên khác trong Hoàng gia mang những trách nhiệm về nghi lễ nhưng không được tham chính.
Nhà Yamato của Nhật Bản là Triều đại thừa tập lâu dài nhất trong lịch sử vẫn còn tồn tại. Hoàng gia công nhận 125 vị Thiên hoàng chính thống kể từ Thiên hoàng hoàng đầu tiên là Thần Vũ (神武天皇, Jimmu) bắt đầu vào ngày 11 tháng 2 năm 660 trước công nguyên cho đến đương kim Thiên hoàng Akihito (明仁, Minh Nhân).
== Các thành viên hiện tại của Hoàng gia ==
Theo Hoàng Thất Điển Phạm (皇室典範) năm 1947, các thành viên của Hoàng gia bao gồm: Hoàng hậu, Hoàng thái hậu, Thái hoàng thái hậu, thái tử, thái tôn, Thân vương, Nội thân vương, Vương và Nữ vương.
Hiện tại Hoàng gia Nhật Bản có 23 thành viên được chia ra thành nhiều cung:
=== Nội Đình ===
Thiên hoàng Akihito. Niên hiệu của thời kỳ từ khi ông lên ngôi là Heisei (平成, Bình Thành). Vì thế, đôi khi người ta gọi ông là Thiên hoàng Bình Thành.
Hoàng Hậu Michiko (美智子 Mỹ Trí Tử): Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1934. Trước khi vào hoàng thất thì bà có tên là Shōda Michiko (正田 美智子 Chính Điền Mỹ Trí Tử). Bà là thường dân đầu tiên được cưới vào Hoàng gia.
=== Đông Cung ===
Thái tử, Thân vương Naruhito (徳仁親王 Đức Nhân Thân Vương): Sinh ngày 23 tháng 2 năm 1960 và trở thành thái tử khi Thiên hoàng Akihito đăng cơ. Ông kết hôn vào ngày 10 tháng 6 năm 1993 với Thái tử phi Masako.
Đức Nhân Thân vương phi Masako (徳仁親王妃雅子 Đức Nhân thân Vương Phi Nhã Tử): Sinh ngày 6 tháng 12 năm 1963, là con gái của cựu bộ trưởng ngoại giao và đại diện thường trực của Nhật tại Liên Hiệp Quốc.
Nội thân vương Aiko (愛子内親王 Ái Tử Nội Thân Vương): Con gái của Hoàng thái tử Naruhito và vương phi Masako. Sinh ngày 1 tháng 12 năm 2001.
=== Thu Điều Cung (秋篠宮 akishinonomiya) ===
Thu Tiểu cung Thân vương Fumihito (秋篠宮文仁親王 Thu Điều Cung Văn Nhân Thân Vương): con thứ hai của đương kim Thiên hoàng, sinh ngày 11 tháng 11 năm 1965. Tên lúc nhỏ của ông là Aya. Ông kết hôn ngày 29 tháng 6 năm 1988 với Thu Tiểu cung Thân vương phi Kiko.
Thu Tiểu cung Thân Vương phi Kiko (文仁親王妃紀子 Văn Nhân Thân Vương Phi Kỷ Tử): Sinh ngày 11 tháng 9 năm 1966. Bà là con của tiến sĩ Kawashima Tatsuhiko, giáo sư môn kinh tế học tại đại học Gakushuin (学習院Học Tập Viện).
Nội Thân vương Mako (眞子内親王 Chân Tử Nội Thân Vương): sinh ngày 23 tháng 10 năm 1991.
Nội Thân vương Kako (佳子内親王 Giai Tử Nội Thân Vương): sinh ngày 29 tháng 12 năm 1994.
Thân vương Hisahito (悠仁親王 Du Nhân Thân Vương): sinh ngày 6 tháng 9 năm 2006.
=== Thường Lục Cung (常陸宮 hitachinomiya) ===
Thường Lục cung Thân Vương Masahito (常陸宮正仁親王 Thường Lục Cung Chính Nhân Thân Vương): sinh ngày 28 tháng 11 năm 1935. Con thứ sáu của Thiên hoàng Chiêu Hòa. Tên lúc nhỏ của ông là Yoshi. Ông kết hôn ngày 1 tháng 10 năm 1961 với công nương Hanako.
Chính Nhân Thân Vương Phi Hanako (正仁親王妃華子 Chính Nhân Thân Vương Phi Hoa Tử): Sinh ngày 19 tháng 6 năm 1940. Bà là con gái của cố Bá Tước Tsugaru Yoshitaka.
=== Tam Lạp Cung (三笠宮 mikasanomiya) ===
Tam Lạp cung Thân Vương Takahito (三笠宮崇仁親王 Tam Lạp Cung Sùng Nhân Thân Vương):
Sùng Nhân Thân Vương Phi Yuriko (崇仁親王妃百合子Sùng Nhân Thân Vương Phi Bách Hợp Tử):
Thân Vương Tomohito (寛仁親王 Khoan Nhân Thân Vương):
Khoan Nhân Thân vương phi Nobuko (寛仁親王妃信子Khoan Nhân Thân Vương Phi Tín Tử):
Nữ vương Akiko (彬子女王 Bân Tử Nữ Vương):
Nữ vương Yōko (瑶子女王 Dao Tử Nữ Vương):
=== Quế Cung (桂宮 katsuranomiya) ===
Quế cung Thân vương Yoshihito (桂宮宜仁親王 Quế Cung Nghi Nhân Thân Vương):
=== Cao Viên Cung (高円宮 takamadonomiya) ===
Hiến Nhân Thân Vương Phi Hisako (憲仁親王妃久子 Hiến Nhân Thân vương Phi Cử Tử):
Nữ vương Tsuguko (承子女王 Thừa Tử Nữ Vương):
Nữ vương Noriko (典子女王 Điển Tử Nữ Vương):
Nữ vương Ayako (絢子女王 Huyền Tử Nữ Vương):
== Việc kế vị trong Hoàng gia ==
Trong lịch sử Nhật Bản, ngai vàng thường chỉ được truyền cho dòng bên nam của hoàng thất. Trước thời Minh Trị Duy Tân, lịch sử Nhật có tám nữ Thiên hoàng, tất cả đều là con gái của bên nam của hoàng gia, không một ai kế vị với tư cách là vợ của vua đã mất cũng như không có bất cứ vị nữ Thiên hoàng nào kế hôn hoặc sinh con sau khi kế vị.
Điều 2 trong hiến pháp hiện hành của Nhật định rằng "Ngai vàng là của hoàng triều và được nhượng theo Hoàng Thất Điển Phạm thông qua bởi Đế quốc Nghị Hội (帝國議会; Teikoku Gikai.) ". Hoàng Thất Điển Phạm năm 1947 thông qua bởi Đế quốc Nghị Hội cuối cùng (sau đó được thay bằng Quốc hội như hiện nay) không chấp nhận phụ nữ kế vị (theo luật kế vị năm 1889). Chính phủ đương thời của cố thủ tướng Yoshida Shigeru (吉田茂) đã thông qua các đạo luật một cách vội vã để tuân theo bản hiến pháp do Hoa Kỳ định ra cho nước Nhật bại trận. Trong bộ luật 1947 này, hoàng thất bị thu nhỏ lại đáng kể. Có 51 thành viên trong Hoàng thất bị phế bỏ tước vị trở thành thường dân. Chỉ có các nam thành viên hợp pháp của hoàng thất có quyền kế vị. Thiên hoàng và tất cả các thành viên khác trong Hoàng gia không được quyền nhận con nuôi. Các Nội Thân Vương (naishinnō) và Công Chúa (nyoō) nếu kết hôn với người ngoài hoàng thất thì sẽ bị phế bỏ tước vị của mình và không được xem là thành viên của hoàng thất. Các Thân Vương (trừ Thái Tử), Công Chúa chưa kết hôn, vợ hoặc chồng của thân vương hoặc công chúa đã mất được phép rút ra khỏi hoàng thất trở thành thường dân với sự chấp thuận của Hoàng Thất Hội nghị (皇室会議 Kōshitsu Kaigi).
Cho đến tháng 9 năm 2006, Hoàng Thất thiếu người kế vị sau Thái Tử Naruhito. Sau khi công chúa Aiko ra đời thì có nhiều cuộc tranh cãi về việc có nên hay không sửa đổi Hoàng Thất Điển Phạm để công chúa trở thành Hoàng Thái Tôn. Tháng giêng 2005, Thủ tướng đương nhiệm là ông Junichiro Koizumi tổ chức một ban cố vấn đặc biệt chuyên trách xem xét lại Hoàng Thất Điển Phạm và nêu lên những điều cần thay đổi. Ban cố vấn này bao gồm nhiều nhà thẩm phán, giáo sư và công chức và công việc của họ kéo dài đến tháng 10 năm 2005 thì chấm dứt. Ban cố vấn đề nghị thay đổi điển lệ để cho con gái của dòng nam trong hoàng thất được phép kế vị. Công chúng rất ủng hộ thay đổi này và công chúa Aiko trở thành Nội Thân Vương. Vào tháng 1 năm 2007, thủ tướng Nhật Bản khi dó là Shinzō Abe đã tuyên bố rằng ông sẽ ngưng một đề xuất sửa đổiđiển phạm Hoàng thất nhằm cho phép nữ giới kế vị. Đề xuất được đưa ra do trên thực tế thì cả hai hoàng nam của Thiên hoàng Akihito đều không có con trai. Với việc thân vương Hisahito chào đời, dường như điển phạm sẽ không bị sửa đổi để cho phép chị họ của Thân vương Hisahito là Nội Thân vương Aiko, con gái duy nhất của Thái tử Naruhito, có thể trở thành nữ Thiên Hoàng và do đó đã chấm dứt cuộc tranh cãi kế vị tại Nhật Bản. Mặc dù trong lịch sử Nhật Bản đã từng có đến tám nữ Thiên hoàng trị vì, song họ chỉ nắm giữ vị trí này tạm thời hoặc để "trông nom". Những người kế vị các nữ Thiên hoàng hầu hết được chọn từ các nam giới thuộc các nhánh xa của hoàng tộc và họ sẽ kế vị các nữ Thiên hoàng khi đủ lớn, đó là lý do vì sao các học giả bảo thủ lập luận việc nữ giới trị vì chỉ là tạm thời và rằng truyền thống nam giới kế vị cần phải được duy trì.
== Tham khảo == |
northern premier league.txt | Giải bóng đá ngoại hạng miền Bắc nước Anh (Tên tiếng Anh: The Football Northern Premier League hay gọi tắt là: Northern Premier League) hoặc có tên gọi hiện nay là: Evo-Stik League (vì lý do nhà tài trợ) là một hệ thống giải đấu của Hiệp hội bóng đá Anh bao gồm các câu lạc bộ bán chuyên nghiệp và nghiệp dư. Về mặt địa lý, bao gồm các đội bóng thuộc miền Bắc nước Anh và các khu vực phía bắc của vùng trung du nước Anh. Cùng với giải Southern League và giải Isthmian League thuộc hạng 7 và 8 của Hệ thống các giải bóng đá ở Anh. Xếp ngay dưới Conference North và Conference South. Trong lịch sử giải đấu này, có rất nhiều nhà tài trợ góp mặt nhưng một bản hợp đồng tài trợ lâu nhất kéo dài 16 năm đó là nhà tài trợ Unibond League. Khi hợp đồng này kết thúc vào năm 2010, một bản hợp đồng mới đã được công bố quảng cáo là Evo-Sti League cho đến khi ít nhất mùa giải 2015-16.
== Lịch sử ==
Giải Northern Premier League được thành lập năm 1968, giải đấu đông hạng với giải Southern Football League. Nhiều thập kỷ sau đó cho đến ngày nay, Giải đấu thuộc hạng 7 trong Hệ thống các giải bóng đá ở Anh cùng với hai giải Southern Football League và giải Isthmian League. Tại thời điểm đó, giải đấu này không có thứ hạng trong Liên đoàn bóng đá Anh nhưng cùng một bậc như các giải đấu khác ở miền Bắc nước Anh.
Từ mùa giải 1992-1993 đến mùa giải 1994-1995 của League Division One bao gồm các câu lạc bộ bóng đá Anh và hai câu lạc bộ khác ngoài nước Anh đó là Caernarfon Town FC của Xứ Wales và Gretna FC của Scotland. Các câu lạc bộ Colwyn Bay FC, Bangor City FC, Newtown AFC và Rhyl FC cũng tham dự vào giải đấu này.
== Nhà tài trợ ==
Các nhà tài trợ đầu tiên cho giải đấu Northern Premier League trước năm 1985. Các nhà tài trợ sau này là: HFS vay (1988-1993), Unibond (1994-2010) và Evo-Sti (2010-nay).
== Thể lệ của giải ==
Từ năm 2007, Giải đấu Northern Premier League đã có hạng: Giải ngoại hạng, hạng nhất miền Bắc và hạng nhất miền Nam. Trước năm 2007, chỉ có một hạng đấu duy nhất đó là hạng nhất.
Giải ngoại hạng (Premier Division) có 22 câu lạc bộ tham dự với 2 suất thăng hạng lên tham dự Football Conference bao gồm một đội vô địch và một đội chiến thắng trận play-off đối với các đội xếp vị trí thứ 2 đến vị trí thứ 5. Có 4 đội xếp vị trí cuối cùng mỗi mùa giải chuyển xuống chơi tại hạng nhất miền Bắc và hạng nhất miền Nam của hệ thống giải Northern Premier League.
== Các câu lạc bộ hiện tại mùa giải 2015-2016 ==
== Những nhà vô địch ==
Đối với mùa giải 1987-1988, Division One đã được bổ sung.
Đối với mùa giải 2007-08, Division One đã được tổ chức lại thành khu vực Bắc và khu vực Nam.
1 Cammell Laird FC thay thế Retford United thăng hạng vì Retford United không đáp ứng được điều kiện tham dự giải cấp cao hơn.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Challenge Cup
President's Cup
Chairman's Cup
Peter Swales Shield
Southern Football League Giải bóng đá liên đoàn phía nam Anh Lv8
Northern Premier League Giải bóng đá ngoại hạng phía bắc Anh Lv8
Isthmian League Giải Isthmian League Lv7
Football League Two Giải bóng đá hạng hai Anh Lv4
Football League One Giải bóng đá hạng nhất Anh Lv3
Football League Championship Giải vô địch bóng đá Anh Lv2
Football League Giải bóng đá liên đoàn Anh
Giải bóng đá Ngoại hạng Anh The Premier League Lv1
== Liên kết khác ==
Official website |
madagascar 3 | |
tháng chín.txt | Tháng chín là tháng thứ chín theo lịch Gregorius, với 30 ngày.
== Những sự kiện trong tháng 9 ==
Ngày 2 tháng 9: Ngày Quốc khánh của Việt Nam (Independence Day of Vietnam)
Ngày 8 tháng 9: Ngày Biết chữ Quốc tế (International Literacy Day)
Ngày 15 tháng 9: Ngày Quốc tế Dân chủ (International Day of Democracy)
Ngày 16 tháng 9: Ngày Quốc tế Bảo vệ Tầng ôzôn (International Day for the Preservation of the Ozone Layer)
Ngày 21 tháng 9: Ngày Quốc tế Hòa bình (International Day of Peace) (trước đây là ngày khai mạc Đại hội đồng Liên hợp Quốc)
Ngày 21 tháng 9: Ngày Thu phân (Autumnal Equinox Day)
Ngày 28 tháng 9: Ngày Hàng hải Thế giới (World Maritime Day)
== Xem thêm ==
Những ngày kỷ niệm
== Tham khảo == |
cửu chân.txt | Cửu Chân (chữ Hán: 玖甄) là địa danh cổ của Việt Nam. Cửu Chân qua các thời kỳ lịch sử như sau
== Bộ Cửu Chân thời các vua Hùng ==
Nước Văn Lang của các vua Hùng bao gồm 15 bộ. Bộ Cửu Chân khi đó gồm địa phận tỉnh Thanh Hóa và một phần tỉnh Ninh Bình.
== Quận Cửu Chân thời thuộc Hán ==
Năm Nguyên Đỉnh thứ 6 (111 TCN) lập quận Cửu Chân, thuộc Giao Châu. Quận Cửu Chân được thành lập là vùng đất bao gồm: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh và một phần Ninh Bình ngày nay. Lúc đó, Quận Cửu Chân gồm 7 huyện: Tư Phố (thời Vương Mãng gọi là Hoan Thành), Cư Phong, Đô Lung, Dư Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết, Vô Biên. Thời Vương Mãng gọi quận Cửu Chân là Cửu Chân đình. Dân số có trên 166.000 người trong hơn 35.000 hộ. Thời Đông Hán, quận Cửu Chân gồm 5 huyện: Tư Phố, Cư Phong, Hàm Hoan, Vô Công, Vô Biên. Dân số có trên 209.890 người trong hơn 46.513 hộ
== Quận Cửu Chân và huyện Cửu Chân từ sau thời thuộc nhà Đông Ngô ==
Quận Cửu Chân thuộc nhà Đông Ngô thời Tam quốc, rồi Nhà Tấn, tiếp đến là Nam Bắc triều (210-581).
Nhà Đông Ngô tách quận Cửu Chân thành hai quận Cửu Chân (Thanh Hóa và một phần Ninh Bình) và quận Cửu Đức.
Thời nhà Tấn, quận Cửu Chân gồm 7 huyện: Tư Phố, Di Phong, Tân Ngô, Kiến Sơ, Thường Lạc, Phù Lạc, Tùng Nguyên. Quận Cửu Đức gồm 8 huyện: Cửu Đức, Hàm Hoan, Nam Lăng, Dương Toại, Phù Linh, Khúc Tư, Phố Dương, Đô Hào.
Thời Lưu Tống, Cửu Chân gồm các huyện: Di Phong (đổi tên từ Cư Phong thời Đông Ngô), Tư Phố, Tùng Nguyên, Cao An, Kiến Sơ, Thường Lạc, Quân An, Vũ Ninh, Đô Lung, Ninh Di, Tân Ngô. Quận Cửu Đức thời Lưu Tống tách thành 11 huyện: Phố Dương, Cửu Đức, Hàm Hoan, Đô Nhân, Tây An, Nam Lăng, Việt Thường, Tống Thái, Tống Xương, Hi Bình.
Thời Nam Tề, quận Cửu Chân gồm 10 huyện: Di Phong, Tư Phố, Tùng Nguyên, Cao An, Kiến Sơ, Thường Lạc, Tân Ngô, Quân An, Cát Bàng, Vũ Ninh. Quận Cửu Đức gồm 7 huyện: Cửu Đức, Hàm Hoan, Phố Dương, Nam Lăng, Đô Hào, Việt Thường, Tây An.
Thời nhà Lương, quận Cửu Chân thuộc về Ái Châu.
Thời thuộc Tùy (581-617), quận Cửu Chân gồm 7 huyện với 16135 hộ: Cửu Chân, Di Phong, Tư Phố, Long An (cũ là Cao An), Quân An, An Thuận (cũ là Thường Lạc), Nhật Nam.
Thời nhà Đường, năm Vũ Đức thứ 5 (622) thời Đường Cao Tổ, lập Ái Châu thuộc Giao Châu tổng quản phủ, bao gồm 4 huyện: Cửu Chân, Tùng Nguyên, Dương Sơn, An Thuận. Trong vùng đất cũ của quận Cửu Chân thời Tùy còn lập ra 7 châu là Tích Châu, Thuận Châu, An Châu, Vĩnh Châu, Tư Châu, Tiền Chân Châu, Sơn Châu. Sau đó đổi tên Vĩnh Châu thành Đô Châu. Năm Vũ Đức thứ 9 (626), đổi tên Tích châu thành Nam Lăng châu. Năm Trinh Quan thứ nhất (627) thời Đường Thái Tông, phế bỏ Đô Châu và nhập vào Tiền Chân Châu. Cùng năm, phế bỏ Tiền Chân Châu, nhập chung vào Nam Lăng Châu. Sau lại phế bỏ An Châu thành huyện Long An, phế bỏ Sơn Châu thành huyện Kiến Sơ. Sau đó bỏ 2 huyện Dương Sơn, An Thuận và nhập vào huyện Cửu Chân. Đổi tên Nam Lăng Châu thành Chân Châu. Năm Trinh Quan thứ 8 (634), bỏ huyện Kiến Sơ và nhập vào huyện Long An. Năm Trinh Quan thứ 9 (635), bỏ huyện Tùng Nguyên và nhập vào huyện Cửu Chân. Năm thứ 10 (636), bỏ Chân Châu, lấy 4 huyện Tư Phố, Quân An, Nhật Nam, Di Phong cho thuộc vào Ái Châu. Năm Thiên Bảo thứ 1 (742) thời Đường Huyền Tông, đổi lại thành quận Cửu Chân. Năm Càn Nguyên thứ 1 (758) thời Đường Túc Tông lại phục hồi tên gọi Ái Châu. Theo Cựu Đường thư, thời kỳ thuộc niên hiệu Thiên Bảo thì quận Cửu Chân có 6 huyện và 14.700 hộ dân.
Như vậy, cuối thời Đường thì Ái Châu bao gồm 6 huyện: Cửu Chân, An Thuận, Sùng Bình, Quân Ninh, Nhật Nam, Vô Biên.
Cửu Chân: Thời Hán Vũ Đế lập quận Cửu Chân, trụ sở đặt tại huyện Tư Phố. Bao gồm 7 huyện Cư Phong, Đô Lung, Dư Phát, Hàm Hoan, Vô Thiết, Vô Biên. Huyện Cửu Chân thời Đường là huyện Cư Phong thời Hán. Nhà Ngô đổi tên thành Di Phong. Nhà Tùy đổi tên thành huyện Cửu Chân, là nơi đặt trụ sở của châu. Từ thời Hán tới Nam Tề là quận Cửu Chân. Nhà Lương cho thuộc về Ái Châu, nhà Tùy lại cho thuộc quận Cửu Chân.
An Thuận: Năm Vũ Đức thứ 3 (620), lập Thuận Châu, chia làm 3 huyện Đông Hà, Kiến Xương, Biên Hà. Sau khi phế bỏ châu, cả 3 huyện nhập lại thành huyện An Thuận, thuộc Ái Châu.
Sùng Bình: thời Tùy là huyện Long An. Năm Vũ Đức thứ 5 (622), tại huyện này lập ra 2 châu là An Châu (gồm 4 huyện Long An, Giáo Sơn, Kiến Đạo, Đô Ác) và Sơn Châu (gồm 5 huyện Cương Sơn, Chân Nhuận, Cổ An, Tây An, Kiến Sơ). Năm Trinh Quan thứ 1 (627), bỏ An Châu, sau lại bỏ Sơn Châu, đổi lại thành huyện Long An thuộc Ái Châu. Năm Tiên Thiên thứ 1 (712), đổi thành huyện Sùng An. Năm Chí Đức thứ 2 (757), đổi thành Sùng Bình.
Quân Ninh: Thời Tùy là huyện Quân An. Năm Vũ Đức thứ 5 (622), lập Vĩnh Châu. Năm thứ 7 (624), đổi thành Đô Châu. Năm Trinh Quan thứ 1 (627), đổi thành Tiền Chân Châu. Năm thứ 10 (636), thuộc về Ái Châu. Năm Chí Đức thứ 2, đổi thành Quân Ninh.
Nhật Nam: Thời Hán là Cư Phong. Thời Tùy là huyện Nhật Nam
Vô Biên: Huyện có từ thời Hán. Thời Hán còn có huyện Tây Vu, ở phía đông của huyện Vô Biên thời Đường.
== Châu Cửu Chân thời Trần, Hồ ==
Năm 1397, vua Trần Thuận Tông đổi làm trấn Thanh Đô, gồm 3 châu và 7 huyện:
Châu Thanh Hóa gồm: Nga Lạc, Tế Giang, Yên Lạc, Lỗi Giang;
Châu Ái gồm: Hà Trung, Thống Bình, Tống Giang, Chi Nga;
Châu Cửu Chân gồm: Cổ Chiến, Kết Thuế, Duyên Giác, Nông Cống;
7 huyện là: huyện Cổ Đằng; huyện Cổ Hoằng; huyện Đông Sơn; huyện Vĩnh Ninh; huyện Yên Định; huyện Lương Giang; huyện Cổ Lôi.
== Về ý nghĩa tên gọi ==
Theo một số nghiên cứu, tên gọi Cửu Chân ban đầu chỉ là một khái niệm.
Cửu Chân, chữ Hán là 九真. Có thể hiểu Chân là gốc (như qui chân là trở về gốc) và Cửu tượng trưng cho trời. Nghĩa "gốc" phải lấy trong từ "qui chân" nhưng nghĩa "trời" của Cửu hiện diện khá rõ trong sách Thuyết Văn: 九: 陽之變也 (Cửu: Dương chi biến dã/ Là dương (mặt trời) biến hình vậy).
Chiếu theo hàm nghĩa thiên văn, Cửu Chân có thể hiểu là vùng đất hai bên gốc mặt trời. Gốc mặt trời tức là vị trí biểu kiến của mặt trời trên thiên cầu trong ngày xuân phân và thu phân. Vùng Cửu Chân tương đương với thuật ngữ hiện đại là vùng Xích Đạo, hoặc cụ thể hơn là vùng đất có khí hậu Xích Đạo và Nhiệt đới.
Thời nhà Chu trở về trước, người Trung Nguyên khái niệm vùng đất tiếp giáp phía nam của mình là Giao Chỉ. Đến Tần Thủy Hoàng đổi thành Tượng quận. Nhà Tây Hán dùng lại từ Giao Chỉ. Ngành thiên văn học phát triển, cùng lúc với việc người Hán đã đi tới Bắc chí tuyến (Ngang Phiên Ngung, quận Nam Hải, nay là thành phố Quảng Châu, tỉnh Quảng Đông), các sử quan của triều đình Hán đã đặt tên vùng tiếp giáp Giao Chỉ là Cửu Chân
== Xem thêm ==
Nhà Triệu
Nam Việt
Triệu Đà
Lữ Gia
== Chú thích == |
quần đảo cát bà.txt | Quần đảo Cát Bà là quần thể gồm 367 đảo trong đó có đảo Cát Bà ở phía nam vịnh Hạ Long, ngoài khơi thành phố Hải Phòng và tỉnh Quảng Ninh, cách trung tâm thành phố Hải Phòng khoảng 30 km, cách thành phố Hạ Long khoảng 25 km. Về mặt hành chính, quần đảo thuộc huyện đảo Cát Hải, thành phố Hải Phòng. Nơi đây đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Cơ sở hạ tầng cũng khá phát triển với tổ hợp nhiều khách sạn, nhà nghỉ, khu nghỉ dưỡng, chùa chiền và đặc biệt là toàn bộ khu vực đảo đã được thành phố Hải Phòng triển khai các trạm thu phát wifi.
== Vị trí, địa lý ==
Quần đảo có tọa độ 106°52′- 107°07′Đông, 20°42′- 20°54′độ vĩ Bắc. Diện tích khoảng gần 300 km². Dân số 8.400 người (năm 1996). Các đảo nhỏ khác: hòn Cát Ông, hòn Cát Đuối, hòn Mây, hòn Quai Xa, hòn Tai Kéo,...
Cát Bà, còn gọi là đảo Ngọc, là hòn đảo lớn nhất trên tổng số 1.969 đảo trên vịnh Hạ Long.Theo truyền thuyết địa phương thì tên Cát Bà còn được đọc tên Các Bà. Vì có một thời các bà, các chị ở đây đứng ra lo việc hậu cần cho các ông đánh giặc trên một hòn đảo lân cận. Đảo có tên là đảo các Ông (Cát Ông). Như vậy, Cát Bà là đọc chệch của các Bà.
Cát Bà là một hòn đảo đẹp và thơ mộng, nằm ở độ cao trung bình 70m so với mực nước biển (dao động trong khoảng 0–331 m). Trên đảo này có thị trấn Cát Bà ở phía đông nam (trông ra vịnh Lan Hạ) và 6 xã: Gia Luận, Hiền Hào, Phù Long, Trân Châu, Việt Hải, Xuân Đám. Cư dân chủ yếu là người Kinh.
Có thể đến Cát Bà bằng hai loại phương tiện giao thông:
Đi tàu thủy từ Bến Bính Hải Phòng hoặc từ Vịnh Hạ Long;
Đi tàu Cao Tốc từ Bến Bính Hải Phòng đến cầu cảng Cát Bà; Đi tàu Cánh Ngầm từ Bến Bính Hải Phòng đến cầu cảng Cát Bà
Đi đường bộ từ Hải Phòng, qua phà biển Đình Vũ nối Hải Phòng với đảo Cát Hải, và phà Bến Gót nối đảo Cát Hải với đảo Cát Bà.
Đi phà biển từ bến phà Tuần Châu (Hạ Long - Quảng Ninh) đến bến phà Gia Luận ở phía tây của đảo Cát Bà. Thời gian phà đi trên biển khoảng 80 phút. Khoảng cách từ bến phà Gia Luận đến bãi tắm Cát Cò 1 khoảng 18 km.
== Lịch sử ==
Tương truyền xưa kia tên đảo là Các Bà, là hậu phương cho Các Ông theo Thánh Gióng đánh giặc Ân. Ở thị trấn Cát Bà hiện nay có đền Các Bà. Các bản đồ hành chính thời Pháp thuộc (như bản đồ năm 1938) còn ghi là Các Bà. Như vậy có lẽ tên gọi Các Bà đã bị đọc trệch thành Cát Bà.
Trước đây đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Bà, năm 1977 mới sáp nhập với huyện Cát Hải thành huyện Cát Hải mới. Trước đây đảo thuộc tỉnh Quảng Yên, sau thuộc khu Hồng Quảng, đến năm 1956 mới chuyển về thành phố Hải Phòng.
Thị trấn Cát Bà hiện nay là huyện lị huyện Cát Hải. Trước năm 1945, thị trấn Cát Bà là phố Cát Bà, rồi đại lý Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, tỉnh Quảng Yên. Sau năm 1945, trở thành thị xã Cát Bà. Đến năm 1957 thị xã Cát Bà đổi thành thị trấn và huyện Cát Bà mới thành lập.
Khí hậu:
Nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng của đại dương nên các chỉ số trung bình về nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa cũng tương đương như các khu vực xung quanh, tuy nhiên có đặc điểm là mùa đông thì ít lạnh hơn và mùa hè thì ít nóng hơn so với đất liền. Cụ thể là:
Lượng mưa: 1.700-1.800 mm/năm, dao động theo mùa. Mùa mưa chủ yếu là tháng 7, 8.
Nhiệt độ trung bình: 25-28 °C, dao động theo mùa. Về mùa hè có thể lên trên 30 °C, về mùa đông trung bình 15-20 °C nhưng có thời điểm có thể xuống dưới 10 °C (khi có gió mùa đông bắc).
Độ ẩm trung bình: 85%.
Dao động của thủy triều: 3,3-3,9 mét.
Độ mặn nước biển: Từ 0,930% (mùa mưa) đến 3,111% (mùa khô)
== Lễ hội ==
Lễ hội của người dân Cát Bà giống như lễ hội của những người Kinh ở khu vực khác, tuy nhiên có thêm ngày 1 tháng 4 dương lịch là lễ hội ngày Bác Hồ vè thăm làng cá.Còn có thêm lễ hội " Đền Bà " ở xã Hiền Hào. Đây cũng là một trong những lễ hội lớn của người dân địa phương. ngoài ra còn rất nhiều lễ hội khác
== Du lịch ==
Trên đảo chính Cát Bà có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi là một nơi đang được đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái. phía đông nam của đảo có vịnh Lan Hạ, phía tây nam có vịnh Cát Gia có một số bãi cát nhỏ nhưng sạch, sóng không lớn thuận tiện cho phát triển du lịch tắm biển, nghỉ dưỡng. Trên biển xuất hiện nhiều núi đá vôi đẹp tương tự vịnh Hạ Long và Bái Tử Long. Ở một số đảo nhỏ, cũng có nhiều bãi tắm đẹp.
Đường xuyên đảo Cát Bà: dài 27 km, có nhiều đèo dốc quanh co, xuống khoăn, qua áng, men theo mép biển, xuyên qua vườn quốc gia, phong cảnh kỳ thú, non nước hữu tình.
Vườn quốc gia Cát Bà: có diện tích 15.200 ha, trong đó có 9.000 ha rừng, 5.400 ha biển tạo nên một môi trường sinh thái lý tưởng.
Động Trung Trang: Nằm cách thị trấn 15 km cạnh đường xuyên đảo, có nhiều nhũ đá thiên nhiên. Động này có thể chứa hàng trăm người.
Động Hùng Sơn: Cách thị trấn 13 km, trên đường xuyên đảo. Động còn có tên Động Quân y vì trong Chiến tranh Việt Nam người ta đã xây cả một bệnh viện hàng trăm giường nằm ở trong lòng núi.
Động Phù Long (Cái Viềng) mới tìm ra, được cho là đẹp hơn động Trung Trang.
Các bãi tắm: Cát Cò 1, Cát Cò 2, Cát Dứa (bãi tắm đảo Khỉ), Cát Ông, Cát Trai Gái, Đường Danh v.v... là những bãi tắm nhỏ, đẹp, kín đáo, có nhiều mưa, che nắng, cát trắng mịn, nước biển có độ mặn cao, trong suốt tới đáy. Một số bãi tắm có các khu resort như Monkey Island Resort ở đảo Khỉ, Nam Cát resort ở đảo Nam Cát, Cover Beach resort ở đảo Vách Đá... Người ta dự định xây dựng ở đây những "thuỷ cung" để con người có thể trực tiếp quan sát các đàn cá heo, tôm hùm, rùa biển, mực ống, cá mập bơi lượn quanh những cụm san hô đỏ.
Cát Bà với vẻ đẹp nguyên sơ và hùng vĩ, nó được mệnh danh là Hòn Ngọc của Vịnh Bắc Bộ
== Khu dự trữ sinh quyển ==
Quần đảo Cát Bà có rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các rặng san hô, thảm rong - cỏ biển, hệ thống hang động, tùng áng, là nơi hội tụ đầy đủ các giá trị bảo tồn đa dạng sinh học, bảo đảm các yêu cầu của khu dự trữ sinh quyển thế giới theo quy định của UNESCO.
Cát Bà đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới ngày 02 tháng 12 năm 2004. Ngày 1 tháng 4 năm 2005 tại đây đã diễn ra lễ đón nhận bằng quyết định của UNESCO và kỷ niệm sự kiện này. Việt Nam hiện có 06 khu dự trữ sinh quyển thế giới được UNESCO công nhận là: Cần Giờ, Cát Tiên, châu thổ sông Hồng, miền Tây Nghệ An, Kiên Giang và quần đảo Cát Bà.
Tổng diện tích khu dự trữ sinh quyển Cát Bà rộng hơn 26.000 ha, với 2 vùng lõi (bảo tồn nghiêm ngặt và không có tác động của con người), 2 vùng đệm (cho phép phát triển kinh tế hạn chế song kết hợp với bảo tồn) và 2 vùng chuyển tiếp (phát triển kinh tế). Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà là vùng hội tụ đầy đủ cả rừng mưa nhiệt đới trên đảo đá vôi, rừng ngập mặn, các rạn san hô, thảm rong và đặc biệt là hệ thống hang động.
=== Sách đỏ Việt Nam ===
Gần 60 loài đã được coi là các loài đặc hữu và quý hiếm đã được đưa vào Sách đỏ Việt Nam như các loài động vật: ác là, quạ khoang, voọc đầu vàng, voọc quần đùi trắng và các loài thực vật như chò đãi, kim giao (Podocarpus fleurii), lá khôi (Ardisia spp.), lát hoa (Chukrasia tubularis),dẻ hương, thổ phục linh, trúc đũa, sến mật. Ngoài ra còn 8 loài rong, 7 loài động vật đáy cũng cần được bảo vệ.
=== Thất bại đề cử di sản thế giới ===
Năm 2014, tại kỳ họp thứ 38 của Ủy ban Di sản thế giới tại Qatar Quần đảo Cát Bà từng được đưa ra bầu chọn là di sản thiên nhiên thế giới nhưng bị thất bại (Hồ sơ Quần đảo Cát Bà được các cơ quan tư vấn của UNESCO đặt ở mức N - Not recommended for inscription, tức không được khuyến khích để ghi danh). Trước đó, Cát Bà ứng cử hồ sơ di sản theo các tiêu chí sau:
Tiêu chí (ix):Di sản Quần đảo Cát Bà là những ví dụ nổi bật, tiêu biểu cho các hệ sinh thái nhiệt đới, cận nhiệt đới điển hình của châu Á. Nổi trội là hệ sinh thái quần đảo đá vôi lớn nhất châu Á. Đây cũng là khu vực có mức độ đa dạng cao nhất của các hệ sinh thái nhiệt đới và cận nhiệt đới điển hình, liền kề, kế tiếp nhau trong một Di sản như rừng mưa nhiệt đới nguyên sinh trên đảo, tiếp theo là rừng ngập mặn, vùng triều, hồ nước mặn, san hô. Các hệ sinh thái này đại diện cho các quá trình sinh thái và sinh học đang tiếp diễn trong quá trình tiến hoá và phát triển của các hệ sinh thái biển và hải đảo, thể hiện qua sự đa dạng cao của các quần xã động vật, thực vật trên đảo và dưới biển cùng với trên 21 loài động vật, thực vật đặc hữu cho khu vực. Trải qua 18000 năm phát triển, di sản vẫn giữ được tính tự nhiên cao, không hề bị xuống cấp, mặc dầu đã có sự xuất hiện của con người cách đây 7000 năm.
Tiêu chí (x): Quần đảo Cát Bà là Trung tâm đa dạng sinh học cao của thế giới với nhiều loài quý hiếm có giá trị toàn cầu được IUCN xếp loại. Tiêu biểu là sự có mặt của 3.860 loài thực vật và động vật trên cạn và dưới biển. Có tới 130 loài được xác định là các loài quý hiếm đưa vào sách Đỏ Việt Nam và thế giới. Trong đó có 76 loài nằm trong danh mục quý hiếm của IUCN, 21 loài đặc hữu. Đặc biệt loài Voọc Đầu vàng Cát Bà (Trachypithecus poliocephalus) là loài đặc hữu hiện nay trên thế giới chỉ còn một quần thể với 63 cá thể phân bố duy nhất ở Cát Bà, được IUCN đánh giá là giá trị bảo tồn ngoại hạng toàn cầu. Ngoài ra còn có nhiều loài thực vật, và động vật cũng được IUCN xếp hạng ở cấp cực kỳ nguy cấp (CR).
== Một số hình ảnh ==
== Xem thêm ==
Vườn quốc gia Cát Bà
khu du lịch trọng điểm quốc gia
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Website chính thức của Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà
Thông tin về Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà trên trang thông tin điện tử của Chương trình Con người và Sinh quyển (MAB)/UNESCO
Cat Ba Archipelago
54°50′0″B 107°00′0″Đ |
hồ thủ lệ.txt | Hồ Thủ Lệ là một trong những hồ đẹp của thủ đô Hà Nội, giáp 2 đường Kim Mã và Nguyễn Văn Ngọc, cạnh khách sạn Deawoo và trong khuôn viên công viên Thủ Lệ.:Bên trong khuôn viên có một hồ lớn, giữa hồ là dải đất lớn hình oval giống giọt nước mắt. Từ đó mới có cái tên Thủ Lệ,hàm ý giữ lấy giọt lệ ở bên trong.
Hồ này vốn thuộc đất làng Thủ Lệ xưa, còn có tên khác là hồ Linh Lang, là tên vị thần được thờ ở đền Voi Phục. Tương truyền thần Linh Lang có công chống giặc ngoại xâm thời Lý nên được dân làng ở đây thờ cúng. Hồ rộng 6 ha, nước trong xanh, có bán đảo.
== Xem thêm ==
Danh sách hồ Hà Nội
Công viên Thủ Lệ
== Tham khảo == |
sprint corporation.txt | Sprint Nextel Corporation (NYSE: S) là một công ty viễn thông có trụ sở ở Overland Park, Kansas. Công ty sở hữu và điều hành mạng di động lớn thứ ba ở Mỹ, với 48.8 triệu khách hàng, sau Verizon Wireless và AT&T Mobility. Sprint là một nhà cung cấp dịch vụ Internet toàn cầu (mạng Tier 1) và tạo nên một phần của xương sống Internet. Ở Mỹ, công ty cũng điều hành mạng không dây băng rộng và là công ty cung cấp mạng lớn thứ ba về độ phủ địa lý.
Công ty được thành lập vào năm 2005 sau khi Sprint mua lại Nextel Communications với giá $35 tỷ. Năm 2006, công ty cho ra doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm phụ điện thoại viễn thông cục bộ, đặt tên là Embarq. Công ty cũng đã hoàn thành việc nhận lại $6.5 tỷ tywf Nextel Partners, một trong những chi nhánh lớn nhất, phần lớn cung cấp dịch vụ viễn thông không dây cho thị trường nông thôn.
Sprint cũng điều hành và bảo trì DCSNet, mạng riêng được giám sát của Chính quyền Hoa Kỳ.
== Xem thêm ==
Embarq
NEXTEL Communications
Open Handset Alliance
Danh sách điện thoại Sprint
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang mạng chính thức Sprint |
sa mạc taklamakan.txt | Sa mạc Taklamakan (Takelamagan Shamo, 塔克拉玛干沙漠, Tháp Khắc Lạp Mã Can sa mạc), cũng gọi là Taklimakan, là một sa mạc tại Trung Á, trong khu vực thuộc Khu tự trị dân tộc Duy Ngô Nhĩ Tân Cương của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Nó có ranh giới là dãy núi Côn Lôn ở phía nam, dãy núi Pamir và Thiên Sơn (tên cổ đại núi Imeon) ở phía tây và phía bắc.
Taklamakan được biết đến như là một trong các sa mạc lớn nhất trên thế giới, đứng hàng thứ 15 về kích thước trong số các sa mạc lớn nhất không ở vùng cực của thế giới. Nó bao phủ một diện tích 270.000 km² của lòng chảo Tarim, dài khoảng 1.000 km và rộng khoảng 400 km. Ở rìa phía bắc và phía nam của sa mạc này là hai nhánh của Con đường tơ lụa do các lữ khách đã tìm kiếm ra để tránh vùng đất hoang khô cằn. Trong những năm gần đây, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa đã xây dựng đường cao tốc xuyên sa mạc để nối liền các thành phố Hòa Điền (Hotan, ở rìa phía nam) với Luân Đài (Luntai, ở rìa phía bắc).
== Khí hậu ==
Taklamakan là mô hình của sa mạc lạnh. Do nó gần với các khối khí lạnh lẽo tại Siberi, nên các nhiệt độ rất thấp đã được ghi nhận trong thời gian mùa đông, đôi khi xuống dưới -20 °C (-4 °F). Trong các trận bão mùa đông đầu năm 2008 tại Trung Quốc thì sa mạc Taklamakan được thông báo là lần đầu tiên bị che phủ hoàn toàn bởi một lớp tuyết mỏng có độ dày 4 cm (1,6 inch) tại một số đài quan sát trong 11 ngày đêm.
Vị trí cực sâu trong nội địa của nó, dường như rất gần với trung tâm của châu Á và xa hàng nghìn kilômét từ bất kỳ vùng nước rộng lớn nào, nên các đặc trưng lạnh ban đêm của nó có thể nhận thấy ngay cả trong mùa hè.
== Ốc đảo ==
Không có nguồn nước tự nhiên trong sa mạc này và vì thế rất nguy hiểm khi muốn vượt qua. Takla makan có nghĩa là "đi vào và ngươi sẽ không bao giờ trở ra". Các đoàn lữ hành của các thương nhân trên Con đường tơ lụa có thể dừng lại nghỉ ngơi tại các thành thị thịnh vượng trong các ốc đảo
Các thành thị ốc đảo quan trọng, được cấp nước do mưa từ các dãy núi, là Ca Thập (Kashgar), Mễ Lan (Marin), Ni Nhã (Niya), Toa Xa (Yarkand) và Hòa Điền (Khotan) ở phía nam hay Khố Xa (Kuqa) và Thổ Lỗ Phan (Turfan) ở phía bắc, cùng Lâu Lan (Loulan) và Đôn Hoàng (Dunhuang) ở phía đông. Hiện nay nhiều thành thị trong số này, như Mễ Lan và Cao Xương (Gaochang) là các thành thị hoang phế trong khu vực thưa thớt dân cư tại Khu tự trị dân tộc Duy Ngô Nhĩ Tân Cương của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.
Các di sản khảo cổ tìm thấy tại các nơi đổ nát bị chôn vùi trong cát đều chỉ ra ảnh hưởng của người Thổ Hỏa La (Tocharian), tiền Hy Lạp, Ấn Độ và Phật giáo. Các tài sản cùng nguy cơ của chúng được Aurel Stein, Sven Hedin, Albert von Le Coq và Paul Pelliot miêu tả khá sống động. Các xác ướp khoảng 4.000 năm tuổi cũng đã được tìm thấy trong khu vực. Chúng chỉ ra một khoảng rộng các sắc tộc đã từng đi ngang qua nơi đây. Một số xác ướp dường như là của người châu Âu. Muộn hơn, khu vực Taklamakan đã là nơi sinh sống của các sắc tộc người Turk. Bắt đầu từ thời kỳ nhà Đường, người Hán luôn tìm cách mở rộng quyền kiểm soát của họ đối với các thành thị ốc đảo tại Taklamakan nhằm kiểm soát hành trình thương mại tơ lụa quan trọng ngang qua Trung Á. Các thời kỳ nắm giữ của người Hán xen kẽ với các thời nắm giữ của người Turk cũng như các sắc tộc Mông Cổ và Tạng. Dân cư hiện nay chủ yếu là người Turk, Duy Ngô Nhĩ.
== Xem thêm ==
Xác ướp Tarim
Động nghìn phật Bezeklik (Bách Tư Khắc Lý thiên phật động)
Hang động Kizil (Khắc Tư Nhĩ thiên phật động)
Tháp Emin
Nguyệt Chi
Danh sách sa mạc theo diện tích
Đô thị dọc Con đường tơ lụa
Núi Imeon
== Ghi chú ==
== Tham khảo ==
Jarring Gunnar (1997). The toponym Takla-makan, Tiếng Turk, Quyển 1, trang 227-240
Hopkirk Peter (1980). Foreign Devils on the Silk Road: The Search for the Lost Cities and Treasures of Chinese Central Asia. Amherst: Nhà in Đại học Massachusetts. ISBN 0-87023-435-8.
Hopkirk, Peter (1994). The Great Game: The Struggle for Empire in Central Asia. ISBN 1-56836-022-3.
Desert Meteorology (Khí tượng học sa mạc), Thomas T. Warner, 2004, Nhà in Đại học Cambridge, 612 trang, ISBN 0-521-81798-6
== Liên kết ngoài ==
Ảnh các khu vực ở Trung Quốc
Hình ảnh vệ tinh từ Trung Quốc
Các kinh nghiệm cá nhân
Hình ảnh xác ướp
38°53′28″B 82°10′40″Đ |
saarland.txt | Saarland là một tiểu bang ở miền tây-nam của nước Cộng hòa Liên bang Đức có biên giới về phía bắc và phía đông với bang Rheinland-Pfalz cũng như về phía nam với các quốc gia Pháp và phía tây với Luxembourg. Saarland về diện tích là bang nhỏ nhất, về dân số ít thứ hai sau Bremen.
Cùng với Lothringen, Luxemburg, Rheinland-Pfalz và vùng Wallonie của Bỉ, Saarland lập thành khu vực đô thị Saar-Lor-Lux.
Các ngành công nghiệp quan trọng trong Saarland là công nghiệp ô tô (Ford Motor Company ở Saarlouis), cung cấp phụ tùng ô tô (Robert Bosch GmbH và Michelin ở Homburg), luyện thép (Saarstahl AG và Dillinger Hütte). Công nghiệp sành sứ (Villeroy & Boch) cũng đóng vai trò quan trọng trong Saarland.
== Lịch sử ==
Saarland là một bang có lịch sử chính trị rất mới, nó được thành lập 1920 từ những vùng đất thuộc Vương quốc Phổ và Bayern. Trong thế kỷ 19, ngoài ra công quốc Oldenburg (công quốc Birkenfeld) và công quốc Sachsen-Coburg và Gotha (công quốc Lichtenberg) cũng có phần nhỏ những vùng đất, mà bây giờ là Saarland. Trong thời kỳ trước cách mạng Pháp bản đồ chính trị vùng này giống như một tấm thảm vá chấp, thuộc quyền cai quản của công quốc Saarbrücken, công quốc Pfalz-Zweibrücken, tuyển hầu quốc Trier và công quốc Lothringen. Điều này có thể nhận ra được trên huy hiệu của bang bây giờ.
== Phân cấp hành chính ==
=== Huyện ===
Saarland có cả thẩy 6 huyện:
=== Thành phố và xã trong huyện ===
Các thành phố được in đậm.
== Tham khảo == |
sariaya, quezon.txt | The Đô thị Sariaya (Filipino: Bayan ng Sariaya) là một đô thị hạng 1 ở tỉnh Quezon, Philippines.
=== Các đơn vị hành chính ===
Sariaya, về mặt hành chính, được chia thành 43 khu phố (barangay).
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Sariaya, Quezon, Website
Sariaya Institute Alumni
Mã địa lý chuẩn Philipin
2000 Thông tin điều tra dân số Philipin |
hypena obesalis.txt | Hypena obesalis là một loài bướm đêm thuộc họ Noctuoidea. Nó được tìm thấy ở châu Âu.
Sải cánh dài ca. 40 mm. Con trưởng thành bay in từ tháng 6 onwards.
Ấu trùng ăn tầm ma.
== Liên kết ngoài ==
Paignton Snout at UKmoths
== Chú thích == |
f.c. barcelona mùa giải 2013–14.txt |
== Cầu thủ ==
=== Đội hình hiện tại ===
=== Gia nhập ===
Tổng chi tiêu: €70 triệu
=== Ra đi ===
Tổng thu: €31 triệu
Lợi nhuận: €39 triệu
== Ban huấn luyện ==
== Các giải đấu ==
=== Tổng quan ===
Lần cập nhật cuối: tháng 6 năm 2013
Nguồn: Các giải đấu
=== Các trận đấu giao hữu và chuẩn bị đầu mùa giải ===
Thắng Hòa Thua
=== Supercopa de España ===
== Tham khảo == |
joseph priestley.txt | Joseph Priestley (13 tháng 3, 1733 – 6 tháng tháng 2 năm 1804) là một nhà thần học ở thế kỷ 18 của Anh. Ông cũng là nhà triết học tự nhiên, nhà giáo dục, và lý thuyết chính trị với hơn 150 công trình được xuất bản. Các nhà khoa học cũng thường coi ông là người đầu tiên phát hiện ra oxy, khi ông đã phân tách được trạng thái khí của nó, mặc dù các nhà hóa học Carl Wilhelm Scheele và Antoine Lavoisier cũng từng tuyên bố họ đã phát hiện ra nguyên tố này trước.
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
=== Tài liệu cơ bản ===
=== Tư liệu ===
=== Tài liệu khác ===
== Liên kết ngoài ==
Links to Priestley's works online
The Joseph Priestley Society
Joseph Priestley House in PA
Joseph Priestley Online: Comprehensive site with bibliography, links to related sites, images, information on manuscript collections, and other helpful information.
Radio 4 program on the discovery of oxygen by the BBC
Collection of Priestley images at the Schoenberg Center for Electronic Text and Image
Short online biographies
"Joseph Priestley: Discoverer of Oxygen" at the American Chemical Society
Joseph Priestley at the Woodrow Wilson National Fellowship Foundation
Joseph Priestley from the Encyclopædia Britannica
Chisholm, Hugh biên tập (1911). “Priestley, Joseph”. Encyclopædia Britannica (ấn bản 11). Nhà in Đại học Cambridge.
Joseph Priestley at the Chemical Heritage Foundation
ExplorePAHistory.com
Bản mẫu:Copley Medallists 1751-1800 |
đài loan (tỉnh của cộng hòa nhân dân trung hoa).txt | Đài Loan (Phồn thể:臺灣省 hay 台灣省, Giản thể:台湾省, Bính âm:Táiwān shěng) là một tên gọi mang tính chính trị được Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và một số nước sử dụng để ám chỉ rằng Đài Loan chỉ là một tỉnh của chính thể này. Tỉnh này bao gồm hòn đảo Đài Loan và các đảo nhỏ xung quanh, cũng như Quần đảo Bành Hồ hiện đang nằm dưới sự kiểm soát của Trung Hoa Dân Quốc. Bởi vậy, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa trên thực tế không kiểm soát các lãnh thổ này và tên gọi này đơn thuần chỉ mang tính lý thuyết.
Vị thế chính trị Đài Loan khá phức tạp và khu vực này chưa từng nằm dưới sự kiểm soát của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Hòn đảo Đài Loan do Trung Hoa Dân Quốc bắt đầu kiểm soát từ năm 1945.
== Hành chính ==
Chính phủ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không công nhận các thay đổi về hành chính của Trung Hoa Dân Quốc sau năm 1949. Theo đó, việc Đài Bắc và Cao Hùng hay gần đây là Tân Bắc, Đài Trung, và Đài Nam trở thành thành phố trực thuộc trung ương không được Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa công nhận, và tất cả các thành phố này đều được coi là thuộc về tỉnh Đài Loan. Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa vẫn coi Đài Bắc là tỉnh lỵ của Đài Loan mặc dù Trung Hoa Dân Quốc đã chuyển tỉnh lỵ tỉnh Đài Loan do họ quản lý về thôn Trung Hưng, thành phố Nam Đầu. Các bản đồ do Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa xuất bản sau năm 1949 đều thể hiện những ranh giới hành chính từ năm 1949 trở về trước.
Tỉnh Đài Loan được chia thành 16 huyện và 7 thành phố:
Chú ý: Trung Hoa Dân Quốc sử dụng phương pháp Wade–Giles để phiên âm tên gọi, còn Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa sử dụng Bính âm nên tên gọi của các đơn vị hành chính trong các thứ tiếng không nằm trong vùng ảnh hướng của văn hóa Hán có sự khác biệt, ví dụ Đài Bắc được THDQ phiên âm là Taipei còn CHNDTH phiên âm là Taibei.
== Đại biểu ==
Tỉnh Đài Loan được bầu Đại hội đại biểu Nhân dân toàn quốc (tức Quốc hội) của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Các đại biểu này đến từ cộng đồng người nói tiếng Phúc Kiến có một số tổ tiên tại Đài Loan hiện đang sinh sống tại Trung Quốc đại lục. Tuy nhiên, các đại biểu đại diện cho tỉnh Đài Loan gần đây hầu hết đều sinh ra ở Trung Quốc đại lục.
== Xem thêm ==
Tỉnh Phúc Kiến (Trung Hoa Dân Quốc)
Lịch sử Trung Hoa Dân Quốc
Vị thế chính trị của Đài Loan
Đài Loan (Trung Quốc)
Đài Loan độc lập
Trung Hoa Đài Bắc
Quốc Dân Đảng Trung Quốc
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Bush, R. & O'Hanlon, M. (2007). A War Like No Other: The Truth About China's Challenge to America. Wiley. ISBN 0471986771
Bush, R. (2006). Untying the Knot: Making Peace in the Taiwan Strait. Brookings Institution Press. ISBN 0815712901
Carpenter, T. (2006). America's Coming War with China: A Collision Course over Taiwan. Palgrave Macmillan. ISBN 1403968411
Cole, B. (2006). Taiwan's Security: History and Prospects. Routledge. ISBN 0415365813
Copper, J. (2006). Playing with Fire: The Looming War with China over Taiwan. Praeger Security International General Interest. ISBN 0275988880
Federation of American Scientists et al. (2006). Chinese Nuclear Forces and U.S. Nuclear War Planning
Gill, B. (2007). Rising Star: China's New Security Diplomacy. Brookings Institution Press. ISBN 0815731469
Shirk, S. (2007). China: Fragile Superpower: How China's Internal Politics Could Derail Its Peaceful Rise. Oxford University Press. ISBN 0195306090
Tsang, S. (2006). If China Attacks Taiwan: Military Strategy, Politics and Economics. Routledge. ISBN 0415407850
Tucker, N.B. (2005). Dangerous Strait: the U.S.-Taiwan-China Crisis. Columbia University Press. ISBN 0231135645
== Liên kết ngoài ==
Trang web Văn phòng sự vụ Đài Loan của Quốc vụ viện Trung Quốc |
vật lý cổ điển.txt | Vật lý cổ điển đề cập đến các lý thuyết của vật lý hiện đại có trước, hoàn thiện hơn các lý thuyết được áp dụng rộng rãi hơn trước đó. Nếu một lý thuyết chấp nhận hiện nay được coi là "hiện đại", và việc giới thiệu của nó đại diện cho một sự thay đổi lớn mô hình, thì các lý thuyết trước đó, hoặc lý thuyết mới dựa trên các mô hình cũ, sẽ thường được gọi là thuộc lĩnh vực vật lý học "cổ điển". Như vậy, định nghĩa về một lý thuyết cổ điển phụ thuộc vào ngữ cảnh. Khái niệm vật lý cổ điển thường được sử dụng khi lý thuyết hiện đại là không cần thiết phức tạp cho một tình huống cụ thể.
== Tổng quan ==
Lý thuyết cổ điển có ít nhất hai ý nghĩa khác nhau trong vật lý. Trong bối cảnh của cơ học lượng tử, lý thuyết cổ điển đề cập đến lý thuyết của vật lý mà không sử dụng các mô hình lượng tử hóa, trong đó bao gồm cơ học cổ điển và thuyết tương đối. Tương tự như vậy, lý thuyết trường cổ điển, chẳng hạn như thuyết tương đối rộng và điện từ cổ điển, là những người mà làm không sử dụng cơ học lượng tử. Lý thuyết cổ điển là những lý thuyết tuân theo thuyết tương đối Galilê, trong khi thuyết tương đối chung và đặc biệt sử dụng khuôn khổ khác nhau, nhưng tất cả đều là một phần của vật lý cổ điển.
Trong số các nhánh của lý thuyết trong vật lý cổ điển là:
Cơ học cổ điển
Các định luật về chuyển động của Newton
Các hình thức Cơ học Lagrange cổ điển và cơ học Hamilton
Điện động lực học cổ điển (phương trình Maxwell)
Nhiệt động lực học cổ điển
Thuyết tương đối hẹp và thuyết tương đối tổng quát
Lý thuyết hỗn loạn cổ điển và động lực học phi tuyến
== Tham khảo == |
korg.txt | Tập đoàn Korg (株式会社コルグ, Kabushiki-gaisha Korugu) là một tập đoàn đa quốc gia của Nhật Bản chuyên trong lĩnh vực sản xuất dụng cụ và thiết bị âm nhạc điện tử. Đây là một trong những công ty uy tín nhất trong lĩnh vực sản xuất dụng cụ âm nhạc trên thế giới.
== Tham khảo == |
sân bay tivat.txt | Sân bay Tivat (tiếng Serbia: Аеродром Тиват/Aerodrom Tivat, tiếng Croatia: Zračna luka Tivat) (IATA: TIV, ICAO: LYTV) là sân bay quốc tế cách Tivat 4 km ở Montenegro.
Đây là một trong hai sân bay ở Montenegro, sân bay kia là sân bay Podgorica. Năm 2007, sân bay này phục vụ 573.914 lượt khách. Sân bay này được xây năm 1971 với đường băng dài 2500 m.
== Các hãng hàng không và các tuyến điểm ==
Các hãng và tuyến điểm (tháng 4 năm 2007):
Austrojet (Banja Luka, Salzburg, Stuttgart)
Jat Airways (Belgrade, Niš)
KrasAir (Moscow-Domodedovo)
LTU International (Düsseldorf)
Montenegro Airlines (Belgrade, Frankfurt, London-Gatwick, Moscow-Domodedovo, Niš, Paris-Charles de Gaulle, Zurich)
Moskovia Airlines (Moscow-Domodedovo)
S7 Airlines (Moscow-Domodedovo)
Air Berlin (Nurenberg, Berlin, Düsseldorf)
Travel Service (Prague)
Austrian Airlines (Innsbruck)
Atlant-Soyuz (Moscow-Domodedovo)
SAS (Oslo)
Ural Airlines (Ekaterinburg) [seasonal]
== Nguồn ==
Montenegrin Aeronautical Information Publication
== Liên kết ngoàis ==
Airport Tivat
Dữ liệu hàng không thế giới thông tin về sân bay cho LYTV
Bản mẫu:Sân bay Montenegro
== Tham khảo == |
mochi.txt | Mochi (tiếng Nhật: 餅, もち) là một loại bánh giầy nhân ngọt truyền thống của Nhật Bản làm từ bột gạo được dùng để ăn trong cuộc sống hàng ngày mà còn là vật phẩm dâng lên thần linh và có ý nghĩa mang lại may mắn. Bánh Mochi là vật cúng không thể thiếu trong các gia đình Nhật Bản nhân dịp năm mới. Họ bày trí bánh giầy Mochi ở hốc tường Toko-noma trang trọng trong phòng khách hoặc trong nhà bếp. Những chiếc bánh này được gọi là Kagami-mochi, tức bánh Mochi dâng lên thần linh. Ngày Tết, Tết Trung Thu, người Nhật cúng bánh Mochi để cầu nguyện cho sự trường thọ. Vào những ngày truyền thống, người Nhật cột bánh Mochi trên thanh tre dài và nướng trong đống lửa họ ăn bánh Mochi nướng tại lễ Dondo-yaki sẽ mang lại sức khỏe suốt cả năm. Bánh Mochi cũng có mặt trong lễ dựng nhà mới Choto-shiki của người Nhật.
== Cách làm ==
Người ta chọn loại gạo nếp ngon, đồ kỹ (có thể đồ hai lượt), rồi giã trong cối tới khi có được một khối bột nếp chín dẻo quánh. chỉ nam thanh niên làm vì bột nếp chín. Nếu giã không nhuyễn hẳn ăn còn hạt gạo sẽ mất ngon, dễ bị hỏng bánh. Đối với loại mochi có nhân:Pha một giọt màu thực phẩm với 1 chén nước sao cho nước có màu sắc như ý (hoặc không cần màu thự phẩm). Trộn đều bột nếp, đường và nước màu, lưu ý bột nếp làm vỏ bánh sau khi hấp sẽ rất dẻo và dính nên mình cho từ từ từng chút nước vào cho đến khi hỗn hợp bột thành 1 khối dẻo nhưng hơi khô. Lấy màng bọc thực phẩm bọc bột đã nhào. Sau đó cho vào lò vi sóng quay 3 phút chế độ high. Sau đó lấy bánh ra và trộn lại lần nữa bằng muỗng gỗ trong 20 giây, rồi lấy màng bọc lại, cho vào lò vi sóng 1 lần nữa và quay trong 1 phút thì lấy ra, nhanh tay khuấy bột theo vòng tròn khoảng 30 giây nữa để làm bột dai.
Nếu không có lò vi sóng thì có thể cho bột vào tô hoặc bọc mang bọc thực phẩm và hấp cách thủy cho đến khi bột chín, trong lại là được. Rắc đều bột nếp rang chín lên thớt, rồi cho phần bột lên, dùng dao cắt hoặc nhúng tay ướt cho bột không dính tay rồi chia bột thành các phần nhỏ.Xoa một ít bột nếp rang lên tay cho đỡ dính. Bắt đầu vào công đoạn nặn bánh,lấy từng phần vỏ bánh, đập dẹt, cho nhân (đậu đỏ, trà xanh,kem viên nhỏ...) vào rồi đóng bánh lại.
== Sử dụng và bảo quản ==
Bánh giầy loại phổ biến nhất là loại bánh giầy trắng không nhân, nhỏ bằng lòng bàn tay, nặn hình tròn dày chừng 1 đến 2 cm.Bánh sau khi nặn xong có thể ăn ngay hoặc cho vào ngăn mát tủ lạnh vài giờ cho mát.
== Tầm ảnh hưởng của Mochi tại Hàn Quốc ==
Người Hàn Quốc có một loại bánh đặc biệt là songpyeon (tiếng Hàn: 송편), tức bánh giầy hình bán nguyệt (tương tự như Mochi của Nhật Bản). Songpyeon được dùng cho ngày Tết Chuseok (tết Trung thu hay lễ Tạ ơn).
== Tham khảo ==
http://en.rocketnews24.com/2014/06/04/this-amazing-water-cake-just-may-be-the-most-delicate-sweet-ever-created/ |
a.s. roma.txt | A.S. Roma, tên đầy đủ là Associazione Sportiva Roma (Hiệp hội Thể thao Roma) là một đội bóng thủ đô của Ý, các biệt danh là Giallorossi (vàng-đỏ), La Magica, I Lupi, Capitolini. Hiện tại đang thi đấu tại Serie A. Trang phục truyền thống là màu mận chín với viền vàng, quần trắng và tất đen.
Sân vận động chính hiện tại của đội bóng là Olimpico có sức chứa 72.700 người, là nơi thường xuyên diễn ra các trận đấu quan trọng của đội tuyển quốc gia Ý. Olympico cũng là sân nhà của câu lạc bộ cùng thành phố SS Lazio và trận đấu giữa hai đội thường là những trận derby căng thẳng.
Câu lạc bộ này thành lập vào năm 1927, muộn hơn kình địch Lazio 27 năm (CLB Lazio thành lập năm 1900). Chức vô địch Scudetto lần đầu tiên họ giành được vào mùa giải 1941-1942.
== Lịch sử ==
Associazione Sportiva Roma được thành lập vào mùa hè năm 1927 bởi Italo Foschi, người đã khởi nguồn cho việc hợp nhất ba câu lạc bộ đã tồn tại ở Roma là: Roman, Alba-Audace và Fortitudo. Người mong muốn sự hợp nhất này là nhà độc tài Benito Mussolini, với mong muốn có một đội bóng mạnh ở thủ đô đủ để cạnh tranh với các câu lạc bộ miền Bắc Italia. Chỉ một mình Lazio là câu lạc bộ lớn duy nhất ở Roma vẫn đứng độc lập vì đã có một vị thế nhất định tại thời điểm đó.
Đội thi đấu những mùa bóng đầu tiên tại sân vận động Motovelodromo Appio, trước khi chuyển về khu lao động Testaccio, thi đấu tại sân Campo Testaccio; với đặc điểm là khán đài hoàn toàn bằng gỗ được khánh thành vào tháng 11 năm 1929. Lần đầu tiên Roma để lại dấu ấn của mình là tại mùa giải 1930–31, khi đội giành ngôi á quân và chỉ chịu đứng sau Juventus. Đội trưởng Attilio Ferraris cùng Guido Masetti, Fulvio Bernardini và Rodolfo Volk là những trụ cột của Roma trong giai đoạn này.
=== Chức vô địch đầu tiên rồi giai đoạn thoái trào ===
A.S. Roma giành chức vô địch Serie A lần đầu tiên và một cách khá bất ngờ vào mùa giải 1941–42. Đóng góp cho danh hiệu này phải kể đến 18 bàn thắng của tiền đạo Amedeo Amadei và sự chỉ đạo của huấn luyện viên Alfréd Schaffer. Trong chiến tranh thế giới thứ hai, Roma thi đấu tại sân vận động Stadio del Partito Nazionale Fascista.
Trong những năm sau cuộc chiến, Roma đã không thể tìm lại vị thế của mình. Đội xếp ở nửa dưới của bảng xếp hạng Serie A trong năm mùa giải liên tiếp, trước khi không tránh khỏi phải xuống chơi tại Serie B vào cuối mùa bóng 1950–51; đây cũng là lần xuống hạng duy nhất của A.S. Roma. Dưới sự dẫn dắt của người sau này sẽ là huấn luyện viên trưởng của đội tuyển Ý, Giuseppe Viani, đội ngay lập tức quay lại Serie A vào năm 1952.
Các danh hiệu tiếp theo mà Roma danh được gồm 1960–61 Cúp các hội chợ liên thành phố (tiền thân của Cúp UEFA) vào năm 1960–61 sau khi đánh bại Birmingham City với tỉ số 4–2 ở chung kết. Đội cũng giành Cúp quốc gia đầu tiên của mình vào năm 1963–64, sau khi vượt qua Torino với tỉ số 1–0 ở trận đấu cuối cùng. Chiếc Cúp quốc gia thứ hai được mang về phòng truyển thống của đội vào năm 1968–69.
=== Ba thập niên 1970-2000 ===
Trong suốt thập niên 1970, Roma hiếm khi xuất hiện ở nửa trên của bảng xếp hạng Serie A. Thành tích cao nhất mà đội đạt được là vị trí thứ ba tại giải năm 1974–75. Các cầu thủ xuất sắc đầu quân cho đội tại giai đoạn này có hai tiền vệ Giancarlo De Sisti và Francesco Rocca.
Roma đánh dấu sự trở lại đỉnh cao của mình bằng chức vô địch Coppa Italia năm 1979–80, họ đánh bại Torino ở trận chung kết năm đó sau loạt sút luân lưu. Một năm sau đội giành ngôi á quân tại Seria đứng sau Juventus. Dẫn dắt đội trong giai đoạn này là huấn luyện viên người Thụy Điển Nils Liedholm, người lúc đó sở hữu một đội hình gồm nhiều tài năng như Bruno Conti, Agostino Di Bartolomei, Roberto Pruzzo và Falcão.
Chức vô địch scudetto thứ hai mà Roma đem về thủ đô là vào giải 1982–83, đúng 41 năm sau lần đầu tiên, toàn thành phố tổ chức ăn mừng lớn. Mùa bóng tiếp theo, Roma kết thúc giải ở ngôi vị á quân đồng thời đoạt Coppa Italia, và lọt vào trận chung kết Cúp C1 châu Âu năm đó. Trong trận đấu đó, đội hòa Liverpool với tỉ số 1–1 trong giờ thi đấu chính thức, trước khi thất bại sau loạt sút luân lưu. Đội tiếp tục giành ngôi á quân tại giải Seria A vào mùa bóng 1985–86 và một chiếc Coppa Italia khác nữa trong thập niên 1980 này trước Sampdoria.
Trong thập niên 1990, thành tích của Roma có phần khiêm tốn hơn. Đội một lần nữa lọt vào chung kết một cúp châu Âu khi đối đầu với Inter Milan tại trận chung kết cúp UEFA năm 1991, Roma thất bại trong trận này với tỉ số 1-2 và đành ngậm ngùi giành ngôi á quân; cùng năm đó đội giành được chiếc cúp Quốc gia thứ 7 của mình, rồi dần thoái trào trong suốt thập kỷ với thành tích tốt nhất tại giải vô địch quốc gia chỉ là vị trí hạng tư tại mùa bóng 1997–98.
=== Thiên niên kỷ mới ===
Roma giành được chức vô địch Serie A thứ ba của mình vào mùa giải 2000–01; đội scudetto chỉ giành được danh hiệu này tại vòng đấu cuối cùng, khi đánh bại Parma với tỉ số 3–1 trên sân nhà, để hơn đội xếp thứ nhì là Juventus đúng hai điểm. Đội trưởng của đội, Francesco Totti, là người góp công lớn cho danh hiệu lần này và có lẽ anh là một trong những cầu thủ vĩ đại nhất trong lịch sử của câu lạc bộ,. Các cầu thủ quan trọng khác đóng góp cho thành công năm đó phải kể đến Aldair, Cafu, Gabriel Batistuta và Vincenzo Montella.
Tại mùa giải năm sau, dù rất nỗ lực nhưng Roma đã không thể bảo vệ thành công danh hiệu của mình khi kém Juventus đúng một điểm vào cuối mùa bóng. Đây là khởi đầu cho hàng loạt ngôi á quân mà câu lạc bộ giành được trong thập niên vừa qua.Từ khi huấn luyện viên Spalletti lên nắm đội năm 2005, ông đã biến AS Roma thành một trong những CLB có lối chơi tấn công quyến rũ vào bậc nhất châu Âu.Bất chấp việc không hề dư dả về tài chính như các đại gia của SeriA, AS Roma liên tiếp về nhì trong các mùa 05-06, 06-07, 07-08.Đội bóng đi vào lịch sử với 11 trận thắng liên tiếp ở SeriA mùa bóng 2005-06 trước khi bị Inter phá vỡ ở mùa bóng sau.CLB cũng vào đến tứ kết Champions League 2 năm liên tiếp 2006-07 và 2007-08, trước khi bị loại bởi Manchester United.
Mùa 2008-2009 được coi là thất bại với đội bóng bã trầu khi họ chỉ đứng thứ 6 và phải đá Europa League mùa 2009-2010.CLB vào đến vòng knock-out của Champions League và bị loại bởi Arsenal bằng loạt đá penalty.
Họ khởi đầu mùa bóng 2009-2010 một cách tồi tệ khi thua 2 trận đầu tiên và huấn luyện viên Spalletti đã từ chức.Thay ông là huấn luyện viên Ranieri.Sau khởi đầu chuệch choạc, đội bóng dần lấy lại sức mạnh và dần đạt mục tiêu trong top 3, khi mùa giải sắp kết thúc.
Mùa giải 2010-2011 cũng là một mùa bóng đáng thất vọng khác khi A.S. Roma chỉ về thứ 6 chung cuộc và xếp sau đại kình địch Lazio ở vị trí thứ 5. Ở Champions League, đội bóng bị loại bởi Shaktar Donezt của Ukraina. Huấn luyện viên Claudio Ranieri bị sa thải và thay cho ông là Vicenzo Montella. Năm 2011, Roma có ông chủ mới người Mỹ là Di Benedetto.
== Đội hình hiện tại ==
Số liệu thống kê chính xác tới 1 tháng 9 năm 2015.
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
=== Cầu thủ cho mượn ===
Ghi chú: Quốc kỳ chỉ đội tuyển quốc gia được xác định rõ trong điều lệ tư cách FIFA. Các cầu thủ có thể giữ hơn một quốc tịch ngoài FIFA.
=== Số áo được vinh danh ===
6 – Aldair, trung vệ, 1990–2003
== Các đời huấn luyện viên trưởng ==
== Chủ tịch Câu lạc bộ ==
== Màu áo, biểu trưng và biệt danh ==
Màu cờ truyền thống của A.S. Roma là sự kết hợp giữa hai màu đỏ hạt dẻ và màu vàng kim loại, đây cũng là màu truyền thống của thành phố Vĩnh cửu Roma. Màu vàng tượng trưng cho Đức chúa trong đạo Thiên chúa giáo La Mã, còn màu hạt dẻ tượng trưng cho quyền lực của các Hoàng đế La Mã. Đội thường mặc áo màu hạt dẻ với quần trắng và tất đen, nhưng trong các trận đấu quan trọng, đội thường chọn trang phục cùng một gam màu làm trang phục thi đấu chính.
Màu áo truyền thống của A.S. Roma trùng với màu áo của Roman Football Club; một trong ba câu lạc bộ đã được sáp nhập vào năm 1927 để tạo thành đội bóng Roma ngày nay. Vì màu áo của mình, đội bóng cũng thường được gọi là i giallorossi có nghĩa là vàng-đỏ. Trang phục phụ của Roma thường là màu trắng, còn trang phục thứ ba thay đổi theo thời gian.
Một biệt danh khác có phần dân dã hơi của đội là i lupi (những con sói), con vật luôn có mặt trên biểu trưng của câu lạc bộ dù nó được thay đổi tương đối nhiều lần trong lịch sử. Hiện nay biểu trưng của câu lạc bộ tương đối giống biểu trưng mà đội sử dụng khi mới thành lập. Gồm hình ảnh một con sói cái cho hai đứa trẻ bú (Romulus và Remus), thể hiện truyền thuyết về sự thành lập thành Roma,.
Theo truyền thuyết, hai anh em sinh đôi Romulus và Remus (con trai của thần Mars và Rhea Silvia) đã bị quảng xuống sông Tiber bởi người chú của họ, Amulius. Hai anh em đã được một con sói cứu sống và mang về chăm sóc. Về sau, hai người trả thù được với Amulius, trước khi quay lại tranh chấp với nhau; Romulus giết chết Remus, và trở thành vua của thành phố được thành lập mang tên ông, Roma.
== Một số biểu trưng trong lịch sử ==
== Thành tích ==
=== Danh hiệu cấp Quốc gia ===
Serie A:
Vô địch (3): 1941–1942; 1982–1983; 2000–01
Á quân (12): 1930–31; 1935–1936; 1954–1955; 1980–81; 1983–84; 1985–86; 2001–02; 2003–04; 2005–06; 2006–07; 2007–08; 2009–10
Coppa Italia:
Vô địch (9): 1963–64; 1968–69; 1979–80; 1980–81; 1983–84; 1985–86; 1990–91; 2006–07; 2007–08
Á quân (7): 1936–37; 1940–41; 1992–93; 2002–03; 2004–05; 2005–06; 2009–10
Siêu cúp bóng đá Ý:
Vô địch (2): 2001; 2007
Á quân (5): 1991; 2005; 2006; 2008; 2010
Serie B:
Vô địch (1): 1951–52
=== Danh hiệu quốc tế ===
UEFA Champions League:
Á quân (1): 1983–84
Cúp Inter-Cities Fairs/Cúp C3:
Vô Địch (1): 1960–61
Á quân (1): 1990–91
== Công ty Associazione Sportiva Roma ==
Năm 1999, khi Franco Sensi điều hanh câu lạc bộ, Associazione Sportiva Roma được cải tổ thành một công ty cổ phần. Hiện nay, cổ phiếu A.S. Roma được phân bổ như sau; 67,1% do Compagnia Italpetroli SpA (holding của gia đình Sensi) nắm giữ, 2,7% thuộc về Banca Monte dei Paschi di Siena SpA, 2,5% thuộc về Danilo Coppola và 27,7% do các cổ đông nhỏ khác nắm giữ.
Cùng với Lazio và Juventus, i Lupi là một trong ba câu lạc bộ bóng đá Ý có cổ phiếu được giao dịch tại Borsa Italiana (trung tâm giao dịch chứng khoán Italia). Theo báo cáo The Football Money League của hãng kiểm toán Deloitte, tại mùa giải 2005–06, Roma là câu lạc bộ có thu nhập đứng thứ 12 trên thế giới với tổng thu nhập ước tính vào khoảng 127 triệu €.
Ngày 17 tháng 8 năm 2008, chủ tịch và là người sở hữu câu lạc bộ Franco Sensi từ trần sau một thời gian dài mang trọng bệnh; con gái của ông, Rosella, thay cha mình lên nắm quyền điều hành A.S. Roma.
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của câu lạc bộ A.S. Roma |
938.txt | Năm 938 là một năm trong lịch Julius.
== Sự kiện ==
Trận Bạch Đằng, 938 do Ngô Quyền lãnh đạo thắng lợi, đánh đuổi quân Nam Hán lần thứ 2, mở ra thời kỳ độc lập tự chủ lâu dài trong lịch sử Việt Nam.
== Sinh ==
== Mất ==
Kiều Công Tiễn, vị Tiết độ sứ thứ năm của Việt Nam trong thời Tự chủ.
Lưu Hoằng Tháo, vị hoàng tử và tướng lãnh nhà Nam Hán thời Ngũ Đại Thập Quốc
== Tham khảo == |
sân bay hòa lạc.txt | Sân bay Hòa Lạc là một sân bay nhỏ nằm ở huyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây cũ. Năm 2008, khi Hà Tây hợp nhất Hà Nội, đây trở thành sân bay thứ tư của thủ đô, sau Sân bay Gia Lâm, Sân bay Bạch Mai và Sân bay quốc tế Nội Bài.
== Hạ tầng ==
Sân bay có 3 đường băng, mỗi đường bay dài khoảng 2200m.
== Hoạt động ==
Hiện nay sân bay được dùng làm sân bay quân sự.
Năm 2010, trong sự kiện 1000 năm Thăng Long, sân bay được dùng để diễn tập diễu binh.
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
melilla.txt | Melilla (Tiếng Berber: Mrič) là một phần tách biệt của Tây Ban Nha trên bờ biển Rif thuộc Địa Trung Hải của Maroc thuộc Bắc Phi. Trước khi có cuộc xâm lăng của người Tây Ban Nha vào năm 1497, nó là thành phố với đa số là người Berber. Nó được xem là một phần của Andalucía thuộc về tỉnh Málaga trước ngày 14 tháng 3 năm 1995, khi Đạo luật tự trị của thành phố được thông qua; nó là cảng tự do trước khi Tây Ban Nha gia nhập Liên minh châu Âu. Vào năm 1994 dân số của thành phố là 63.670 người. Người dân ở đó thuộc các đạo Thiên chúa giáo, Hồi giáo, Do thái giáo và một số ít theo đạo Hindu. Cả tiếng Tây Ban Nha và tiếng Tamazight (tiếng Amazign) đều được nói ở đây.
== Xem thêm ==
Hàng rào biên giới Melilla
Ceuta
UD Melilla
Plazas de soberanía
Maroc thuộc Tây Ban Nha
== Tham khảo ==
Wilkinson, Tracy, "Spain's Little Piece of Africa", Los Angeles Times, 11 tháng 1 năm 2006
== Liên kết ngoài ==
(tiếng Tây Ban Nha) Official pages
Official Tourism
(tiếng Tây Ban Nha) Melilla en Internet Journal
(tiếng Tây Ban Nha) Monuments of Melilla Official
Spain's North African enclaves
A Childhood Lost in the Cracks of Europe's Border
Melilla in Google Maps
Map of Melilla
(tiếng Tây Ban Nha) Easter of Melilla
Melilla - hình ảnh
35°19′B 2°57′T |
liên đoàn bóng đá brasil.txt | Liên đoàn bóng đá Brasil (CBF) (tiếng Bồ Đào Nha: Confederação Brasileira de Futebol) là tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động bóng đá ở nước Brasil. CBF quản lý các đội tuyển bóng đá quốc gia nam và nữ, tổ chức các giải bóng đá như giải vô địch bóng đá Brasil, Cúp bóng đá Brasil,.... Trụ sở của CBF ở Barra da Tijuca, gần Rio de Janeiro.
== Các chủ tịch của CBF ==
Álvaro Zamith (từ 20 tháng 11 năm 1915 đến 4 tháng 11 năm 1916)
Arnaldo Guinle (từ 4 tháng 11 năm 1916 đến 8 tháng 1 năm 1920)
Ariovisto de Almeida Rego (từ 8 tháng 1 năm 1920 đến 26 tháng 4 năm 1921)
Oswaldo Gomes (từ 26 tháng 4 năm 1921 đến 26 tháng 1 năm 1924)
Ariovisto de Almeida Rego (từ 26 tháng 1 năm 1924 đến 20 tháng 6 năm 1924)
Wladimir Bernades (từ 20 tháng 6 năm 1924 đến 19 tháng 12 năm 1924)
Oscar Rodrigues da Costa (từ 19 tháng 12 năm 1924 đến 13 tháng 10 năm 1927)
Renato Pacheco (từ 13 tháng 10 năm 1927 đến 23 tháng 9 năm 1933)
Álvaro Catão (từ 23 tháng 9 năm 1933 đến 5 tháng 9 năm 1936)
Luiz Aranha (từ 5 tháng 9 năm 1936 đến 28 tháng 1 năm 1943)
Rivadávia Correa Meyer (từ 28 tháng 1 năm 1943 đến 14 tháng 1 năm 1955)
Sylvio Correa Pacheco (từ 14 tháng 1 năm 1955 đến 14 tháng 1 năm 1958)
João Havelange (từ 14 tháng 1 năm 1958 đến 10 tháng 1 năm 1975)
Heleno de Barros Nunes (từ 10 tháng 1 năm 1975 đến 18 tháng 1 năm 1980)
Giulite Coutinho (từ 18 tháng 1 năm 1980 đến 17 tháng 1 năm 1986)
Otávio Pinto Guimarães (từ 17 tháng 1 năm 1986 đến 16 tháng 1 năm 1989)
Ricardo Terra Teixeira (từ 16 tháng 1 năm 1989 đến tháng 1, 2008)
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của Liên đoàn bóng đá Brasil (tiếng Bồ Đào Nha) |
simon pegg.txt | Simon John Pegg (họ trước đây là Beckingham; sinh ngày 14 tháng 2 năm 1970) là một diễn viên người Anh, là danh hài, biên kịch, nhà sản xuất, ca sĩ, và đạo diễn. Anh được biết đến nhiều nhất với vai trò đồng biên kịch và đóng vai chính trong bộ ba phim Three Flavours Cornetto: Shaun of the Dead (2004), Hot Fuzz (2007), và The World's End (2013), đồng thời trong sê-ri phim hài Spaced (1999–2001), tất cả đều được đạo diễn bởi bạn anh Edgar Wright.
Pegg cũng đóng vai Montgomery Scott trong Star Trek (2009) và phần hai của nó Star Trek Into Darkness (2013), Thompson trong The Adventures of Tintin: The Secret of the Unicorn (2011), và Benji Dunn trong loạt phim Mission: Impossible (2006–hiện tại). Anh thường làm việc với Wright, Nick Frost, Jessica Hynes, và Dylan Moran.
== Tuổi thơ ==
Pegg lớn lên ở Brockworth, Gloucestershire, con trai của Gillian Rosemary (họ thời con gái là Smith), là viên chức, và John Henry Beckingham, một nghệ sĩ nhạc jazz và cũng là một người bán đàn. Bố mẹ anh li dị khi anh lên bảy và anh đã lấy họ của bố dượng (Pegg) sau khi mẹ anh tái hôn. Pegg học rất nhiều trường, trong đó có Castle Hill Primary School, Brockworth Comprehensive Secondary School và The King's School, Gloucester.
Pegg chuyển đến Stratford-upon-Avon khi anh 16 tuổi và học chuyên ngành Văn Học và Sân khấu Anh tại trường Stratford-upon-Avon College. Anh tốt nghiệp University of Bristol năm 1991 với bằng cử nhân ngành Sân khấu, Phim và Truyền hình và có chủ đề luận văn tốt nghiệp là "Quan điểm của Marxist về điện ảnh những năm 1970s và đàm thoại về giai cấp thống trị". Trong lúc đó, anh cũng đóng một vai trong vở kịch hài "David Icke và những đứa trẻ mồ côi của Jesus", cùng với David Walliams, Dominik Diamond, Myfanwy Moore, Barnaby Power, và Jason Bradbury.
== Sự nghiệp ==
Pegg xuất hiện từ nhỏ trên các chương trình TV và phim bao gồm Asylum, Six Pairs of Pants, Faith in the Future, Big Train và Hippies. Giữa năm 1998 và 2004, Pegg thường xuyên xuất hiện trên chương trình của BBC Radio 4 The 99p Challenge. Pegg còn xuất hiện trong chương trình nhỏ Band of Brothers và những chương trình hài kịch Black Books, Brass Eye và I'm Alan Partridge; và các phim The Parole Officer, 24 Hour Party People, và Guest House Paradiso. Anh đóng nhiều vai trong show diễn của Steve Coogan năm 1998 The Man Who Thinks He's It.
== Đời sống ==
Pegg cưới bạn gái lâu năm Maureen McCann, một người đại diện phát ngôn trong ngành công nghiệp âm nhạc, vào ngày 23 tháng 7 năm 2005 ở Glasgow. Nick Frost là phù rể của anh trong đám cưới. Hai người có một đứa con với nhau, tên Matilda (sinh năm 2009).
== Tham khảo == |
18 tháng 12.txt | Ngày 18 tháng 12 là ngày thứ 352 (353 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 13 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
218 TCN – Chiến tranh Punic lần thứ hai: Quân Carthago dưới quyền Hannibal giành thắng lợi trước quân La Mã trong trận chiến Trebia.
617 – Sau khi đánh chiếm được thành Trường An, Lý Uyên dựng Đại vương Dương Hựu làm hoàng đế của triều Tùy ở Thiên Hưng điện, diêu tôn Tùy Dạng Đế là Thái thượng hoàng, tức ngày Nhâm Tuất tháng 11 năm Đinh Sửu.
757 – Sau một thời gian lánh nạn loạn An Sử, Đỗ Phủ trở về kinh thành Trường An để làm quan trong triều đình của Đường Huyền Tông.
1271 – Đại hãn Hốt Tất Liệt cải quốc hiệu từ "Đại Mông Cổ Quốc" thành "Đại Nguyên", chính thức khởi đầu triều Nguyên.
1642 – Abel Tasman trở thành người châu Âu đầu tiên đặt chân lên New Zealand.
1777 – Hoa Kỳ tổ chức Lễ Tạ ơn đầu tiên nhằm kỷ niệm chiến thắng trước tướng Anh Quốc John Burgoyne trong Trận Saratoga hồi tháng 10.
1787 – New Jersey trở thành bang thứ ba phê chuẩn Hiến pháp Hoa Kỳ.
1886 – Khởi nghĩa Ba Đình: Quân đội Pháp vây hãm và tiến đánh căn cứ Ba Đình ở Thanh Hóa, Trung Kỳ.
1892 – Kẹp Hạt Dẻ của Tchaikovsky được công diễn lần đầu tại Sankt-Peterburg, Nga.
1916 – Chiến tranh thế giới thứ nhất: trận Verdun kết thúc với thắng lợi của Pháp, song cả hai bên tham chiến là Pháp và Đức đều chịu tổn thất nặng nề.
1956 – Nhật Bản gia nhập Liên Hiệp Quốc.
1964 - Tướng Nguyễn Khánh thành lập Hội đồng Quân lực, dọn đường cho phe quân nhân can thiệp vào chính phủ dân sự của Thủ tướng Trần Văn Hương thời Việt Nam Cộng hòa.
1972 – Chiến tranh Việt Nam: Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon tuyên bố rằng Hoa Kỳ sẽ tiến hành Chiến dịch Linebacker II, ném bom miền Bắc Việt Nam, sau khi các cuộc thương thảo hòa bình với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tan vỡ vào ngày 13.
1978 – Dominica gia nhập Liên Hiệp Quốc.
1979 – Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ.
1987 – Larry Wall phát hành phiên bản đầu tiên của ngôn ngữ lập trình Perl.
1989 – Cộng đồng Kinh tế châu Âu và Liên Xô ký kết một thỏa thuận về hợp tác mậu dịch, thương mại và kinh tế.
1997 – W3C phát hành HTML 4.0.
== Người sinh ==
1021 – Vương An Thạch, chính trị gia, tác gia triều Bắc Tống tại Trung Quốc (m. 1086)
1661 – Christopher Polhem, nhà khoa học, nhà phát minh người Thụy Điển (m. 1751)
1707 – Charles Wesley, nhà soạn nhạc người Anh (d. 1788)
1811 – Nguyễn Văn Giao, quan lại triều Nguyễn, (m. 1863)
1829 – Wilhelm xứ Baden, tướng lĩnh và chính trị gia người Đức (m. 1897)
1850 – Kurt von Sperling, sĩ quan quân đội người Đức (m. 1914)
1852 – Karl von Plettenberg, tướng lĩnh người Đức (m. 1938)
1856 – Joseph John Thomson, nhà vật lý học người Anh, đoạt giải Nobel (m. 1940)
1863 – Franz Ferdinand, thái tử của Đế quốc Áo-Hung (m. 1914)
1878 – Iosif Vissarionovich Stalin, lãnh tụ người Liên Xô, dân tộc Gruzia, tức 6 tháng 12 theo lịch Julius (m. 1953)
1879 – Paul Klee, họa sĩ Thụy Sĩ (m. 1940)
1882 – Thái Ngạc, quân phiệt người Trung Quốc, tức 9 tháng 11 năm Nhâm Ngọ (m. 1916)
1913 – Willy Brandt, chính trị gia người Đức, Thủ tướng Đức, đoạt giải Nobel (m. 1992)
1921 – Yury Vladimirovich Nikulin, diễn viên người Liên Xô và Nga (m. 1997)
1931 – Allen Klein, người đại diện tài năng và doanh nhân người Mỹ (d. 2009)
1932 – Băng Sơn, nhà văn người Việt Nam (m. 2010).
1935 – Jacques Pépin, đầu bếp và tác gia người Pháp-Mỹ
1939 – Harold E. Varmus, nhà khoa học người Mỹ, đoạt giải Nobel
1940 – Lôi Phong, chiến sĩ người Trung Quốc (m. 1962)
1943 – Keith Richards, ca sĩ-người viết ca khúc, tay chơi guitar, nhà sản xuất và diễn viên người Anh (The Rolling Stones)
1946 – Steven Spielberg, đạo diễn phim người Mỹ
1947 – Ikeda Riyoko, mangaka người Nhật Bản
1952 – Krystyna Janda, diễn viên người Ba Lan
1963 – Brad Pitt, diễn viên người Mỹ
1964 – Stone Cold Steve Austin, đô vật Wrestling chuyên nghiệp người Mỹ
1966 – Gianluca Pagliuca, Italian footballer
1969 – Santiago Cañizares, cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha
1969 – Hoài Linh, diễn viên hài kịch người Việt Nam
1970 – Rob Van Dam, đô vật Wrestling chuyên nghiệp người Mỹ
1971 – Arantxa Sánchez Vicario, vận động viên quần vợt người Tây Ban Nha
1974 – Moatassem Gaddafi, sĩ quan quân đội người Libya (m. 2011)
1975 – Sia Furler, ca sĩ-người viết ca khúc người Úc
1980 – Christina Aguilera, ca sĩ người Mỹ
1987 – Ayaka, ca sĩ người Nhật Bản
1988 – Noo Phước Thịnh, ca sĩ, nam diễn viên người Việt Nam
1992 – Bridgit Mendler, nữ diễn viên, ca sĩ người Mỹ
== Người mất ==
1737 – Antonio Stradivari, nghệ nhân sản xuất đàn người Ý (s. 1644)
1829 – Jean-Baptiste Lamarck, nhà sinh vật học người Pháp (s. 1744)
1880 – Michel Chasles, nhà toán học người Pháp (s. 1793)
1886 – Leopold Hermann von Boyen, tướng lĩnh quân đội người Đức (s. 1811)
1932 – Eduard Bernstein, chính trị gia người Đức (s. 1850)
1971 – Aleksandr Tvardovsky, tác gia tại Liên Xô (s. 1910)
1980 – Aleksey Kosygin, chính trị gia tại Liên Xô (s. 1904)
1982 – Hans-Ulrich Rudel, phi công người Đức (s. 1916)
1985 – Xuân Diệu, nhà thơ người Việt Nam (s. 1916)
1991 – Phan Trọng Tuệ, tướng lĩnh người Việt Nam (s. 1917)
2006 – Joseph Barbera, họa sĩ biếm hoạ người Mỹ (s. 1911)
2006 – Joseph Barbera, nhà làm phim hoạt hình người Mỹ (s. năm 1911)
2008 – W. Mark Felt, điệp viên người Mỹ (s. 1913)
2011 – Václav Havel, chính trị gia người Séc, Tổng thống Cộng hòa Séc (s. 1936)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
Ngày Người di cư Quốc tế (International Migrants Day)
== Tham khảo == |
frederick ashton.txt | Sir Frederick William Mallandaine Ashton OM CH CBE (17 tháng 9 năm 1904 - 18 tháng 8 năm 1988) là một vũ công ba lê và biên đạo múa người Anh. Ông cũng làm việc như một đạo diễn và biên đạo múa trong opera, phim và revue.
Quyết tâm trở thành một vũ công bất chấp sự phản đối của gia đình trung lưu bảo thủ của mình, Ashton đã được chấp nhận làm học trò của Léonide Massine và sau đó làm học trò của Marie Rambert. Năm 1926 Rambert khuyến khích ông thử sức mình trong lĩnh vực biên đạo múa, và mặc dù ông vẫn tiếp tục làm vũ công chuyên nghiệp khá thành công, nghề biên đạo múa đã giúp ông trở thành nổi tiếng.
Ashton là trưởng biên đạo múa cho Ninette de Valois từ năm 1935 cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1963, trong các công ty Ballet Vic-Wells, Wells Ballet của Sadler và Ballet Hoàng gia. Ông đã kế tục de Valois làm giám đốc của công ty, phục vụ cho đến khi nghỉ hưu vào năm 1970.
Ashton được ghi nhận rộng rãi với việc tạo ra một thể loại đặc biệt kiểu Anh của ballet. Trong số những tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là Façade (1931), Symphonic Variations (1946), Cinderella (1948), La fille mal gardée (1960), Monotones I và II (1965), Enigma Variations (1968) và bộ phim ballet The Tales of Beatrix Potter (1970).
== Tham khảo và chú thích ==
=== Chú thích ===
=== Tham khảo ===
=== Nguồn ===
Anderson, Zoë (2006). The Royal Ballet – 75 years. London: Faber and Faber. ISBN 0571227953. The Royal Ballet – 75 years. London: Faber and Faber. ISBN 0571227953.
Dominic, Zoë; John Selwyn Gilbert (1971). Frederick Ashton: a choreographer and his ballets. London: Harrap. ISBN 024550351X. Frederick Ashton: a choreographer and his ballets. London: Harrap. ISBN 024550351X.
Ford, Boris (1992). Modern Britain. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0521428890. Modern Britain. Cambridge: Cambridge University Press. ISBN 0521428890.
Franchi, Cristina (2004). Frederick Ashton – Founder Choreographer of the Royal Ballet. Royal Opera House heritage series. London: Oberon. ISBN 1840024615. Frederick Ashton – Founder Choreographer of the Royal Ballet. Royal Opera House heritage series. London: Oberon. ISBN 1840024615.
Greskovic, Robert (2002). Ballet 101. London: Turnaround. ISBN 0786881550. Ballet 101. London: Turnaround. ISBN 0786881550.
Haltrecht, Montague (1975). The Quiet Showman: Sir David Webster and the Royal Opera House. London: Collins. ISBN 0002111632. The Quiet Showman: Sir David Webster and the Royal Opera House. London: Collins. ISBN 0002111632.
Jacobs, Laura A (2006). Landscape with Moving Figures – A Decade on Dance. New York: Dance & Movement Press. ISBN 1597910015. Landscape with Moving Figures – A Decade on Dance. New York: Dance & Movement Press. ISBN 1597910015.
Jordan, Stephanie; Grau, Andrée biên tập (1996). Following Sir Fred's Steps: Ashton's Legacy. London: Dance Books. ISBN 1852730471. Following Sir Fred's Steps: Ashton's Legacy. London: Dance Books. ISBN 1852730471.
Kaplan, Fred (1999). Gore Vidal: a biography. New York: Doubleday. ISBN 0385477031. Gore Vidal: a biography. New York: Doubleday. ISBN 0385477031.
Parry, Jann (2010). Different Drummer – The Life of Kenneth MacMillan. London: Faber and Faber. ISBN 0571243037. Different Drummer – The Life of Kenneth MacMillan. London: Faber and Faber. ISBN 0571243037.
Vaughan, David (1999). Frederick Ashton and his Ballets . London: Dance Books. ISBN 1852730625. Frederick Ashton and his Ballets (second ed.). London: Dance Books. ISBN 1852730625.
== Đọc thêm ==
Morris, Geraldine. A Network of Styles: Discovering the Choreographed Movement of Frederick Ashton. Guildford: University of Surrey. OCLC 53605132.
== Liên kết ngoài ==
Ballet.co Ashton pages
Parents
Archive film of Frederick Ashton's Thais Pas de Deux performed by Nina Ananiashvili and David Ananeli in 2010 at Jacob's Pillow |
vũ trường.txt | Vũ trường hay sàn nhảy (tiếng Pháp: Discothèque; phát âm: [diskotɛk]) là một địa điểm vui chơi giải trí hoặc câu lạc bộ tụ tập sinh hoạt vui chơi (thường là vào ban đêm) của một hoặc một nhóm đối tượng với những đặc trưng nổi bật như âm nhạc ồn ào, có nhạc sống được biểu diễn bởi các ban nhạc sống chứ không phải là một ban nhạc trên sân khấu, ánh sáng mờ ảo, chớp nhoáng, nhiều màu và ở trong vũ trường có nhiều đối tượng nhảy múa, hoặc nhảy múa tập thể. Từ vũ trường có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp: vũ trường là theke, hoặc thèque. Vũ trường có thể là một địa điểm độc lập hoặc là một phần trong các hình thức khác như quán bar, khách sạn, nhà hàng... Nói chung vũ trường thường được xây dựng và cách âm với không gian bên ngoài để tránh những ồn ào khi về đêm, ảnh hưởng đến sinh hoạt chung của cộng đồng
== Đối tượng ==
Các vũ trường thường hoạt đồng về đêm, đó là thời điểm hẹn hò, họp mặt của nhiều đối tượng (chủ yếu là giới trẻ), bắt đầu cho một đêm ăn chơi, phung phí tiền bạc để thể hiện mình đồng thời vũ trường thường là những địa điểm vui chơi, giải trí phức tạp và nhạy cảm về an ninh trật tư, hoạt động ở đó dễ phát sinh những tệ nạn xã hội như mại dâm, ma túy, là nơi tội phạm về mua bán ma túy, hút chích, thuốc lắc thường xuyên hoạt động và đây là nơi bị tình nghi là những nơi phức tạp về an ninh, ma tuý, chứa chấp nhiều tội phạm giang hồ.
Theo một số chuyên gia thì nguyên nhân khiến giới trẻ sa đà vào vũ trường "đốt tiền" xuất phát từ nhu cầu của từng nhóm, độ tuổi biểu hiện như: thích tụ tập, thích hào nhoáng, thích màu sắc nổi bật, thích hòa mình vào không gian để bộc lộ, thích hướng đến những thú vui thời thượng, thích biểu hiện cái mà người ta không mong muốn, đơn giản chỉ để được làm nổi, chú ý... rồi làm quen với bia rượu, thuốc lá và các chất kích thích khác... Đó là một cách khẳng định mình, giải tỏa nhu cầu tâm lý một cách lệch lạc cần phê phán.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Hộp đêm
Quả cầu Disco |
10 tháng 12.txt | Ngày 10 tháng 12 là ngày thứ 344 (345 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 21 ngày trong năm.
== Sự kiện ==
1427 – Hội thề Đông Quan được tổ chức giữa quân Lam Sơn và quân Minh, kết thúc cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nước Đại Việt được tái lập.
1799 – Pháp lựa chọn mét làm đơn vị đo chiều dài chính thức.
1817 – Mississippi trở thành tiểu bang thứ 20 của Hoa Kỳ.
1868 – Cột đèn giao thông đầu tiên được dựng lên ngoài Tòa nhà Quốc hội ở Luân Đôn, phỏng theo đèn tín hiệu đường sắt với các cánh semaphore ban ngày và các đèn dầu màu xanh màu đỏ ban đêm.
1884 – Tiểu thuyết Những cuộc phiêu lưu của Huckleberry Finn của tác gia người Mỹ Mark Twain được phát hành lần đầu tiên.
1898 – Chiến tranh Tây Ban Nha–Mỹ chính thức kết thúc với việc ký kết Hiệp ước Paris, theo đó Tây Ban Nha giao nộp quyền kiểm soát Cuba, nhượng Guam, Philippines, và Puerto Rico cho Hoa Kỳ.
1898 – Nghĩa quân Nguyễn Trung Trực tập kích đốt cháy chiến thuyền Pháp L’Esperance tại vàm Nhựt Tảo, Việt Nam.
1901 – Các Giải Nobel được trao lần đầu tiên đúng 5 năm sau cái chết của nhà sáng lập giải thưởng này, nhà hóa học Thụy Điển Alfred Nobel.
1902 – Phụ nữ lần đầu tiên được trao quyền bỏ phiếu tại Tasmania.
1906 – Tổng thống Hoa Kỳ Theodore Roosevelt thắng giải Nobel Hòa bình, trở thành người Mỹ đầu tiên đoạt được một giải Nobel.
1909 – Nhà văn Thụy Điển Selma Lagerlöf trở thành nhà văn nữ đầu tiên chiến thắng trong Giải Nobel Văn học.
1932 – Thái Lan thông qua một bản hiến pháp và trở thành một nước quân chủ lập hiến.
1939 – Thành lập Đại Việt Quốc dân Đảng.
1941 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hải quân Nhật Bản đánh chìm hai tàu chiến Anh Quốc HMS Prince of Wales và HMS Repulse gần bờ biển Mã Lai thuộc Anh.
1948 – Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc thông qua Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền, văn kiện quốc tế đầu tiên đưa ra tiêu chuẩn nhân quyền.
1949 – Nội chiến Trung Quốc: Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc bắt đầu bao vây Thành Đô, buộc Tổng thống Tưởng Giới Thạch và chính phủ Quốc Dân phải triệt thoái đến Đài Loan.
1967 – Chiến tranh Việt Nam: Kết thúc chiến dịch Lộc Ninh với thắng lợi của Quân giải phóng miền Nam
1978 – Xung đột Ả Rập-Israel: Thủ tướng Israel Menachem Begin và Tổng thống Ai Cập Anwar Al-Sadad cùng nhận được Giải Nobel Hòa bình.
1982 – Công ước Liên Hiệp Quốc về Luật biển được ký kết tại Jamaica sau mười năm thương thảo.
1989 – Cách mạng Mông Cổ: Trong cuộc tuần hành công cộng mở ủng hộ dân chủ đầu tiên trong nước, Tsakhiagiin Elbegdorj tuyên bố thành lập Liên hiệp Dân chủ Mông Cổ.
2009 – Avatar, bộ phim khoa học viễn tưởng phá vỡ kỷ lục phòng chiếu Titanic đã giữ trong 12 năm, được công chiếu tại Luân Đôn.
== Sinh ==
1804 – Carl Gustav Jakob Jacobi, nhà toán học người Đức (m. 1851)
1815 – Ada Lovelace, nhà toán học, lập trình viên người Anh (m. 1852)
1816 – August Karl von Goeben, tướng lĩnh người Đức (m. 1880)
1821 – Nikolay Alexeyevich Nekrasov, nhà thơ người Nga, tức 28 tháng 11 theo lịch Julius (m. 1877)
1830 – Emily Dickinson, nhà thơ người Mỹ (m. 1886)
1852 – Felix Graf von Bothmer, tướng lĩnh người Đức (m. 1937)
1870 – Adolf Loos, kiến trúc sư người Áo (m. 1933)
1891 – Nelly Sachs, nhà văn người Đức, đoạt giải Nobel (m. 1970)
1904 – Antonín Novotný, chính trị gia người Tiệp Khắc, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Tiệp Khắc (m. 1975)
1908 – Olivier Messiaen, nhà soạn nhạc, nhà điểu học người Pháp (m. 1992)
1917 – Nguyễn Thị Kim, nhà điêu khắc và họa sĩ người Việt Nam (m. 2011)
1921 – Đỗ Tiến Tài, chính trị gia người Singapore (m. 2012)
1922 – Đỗ Thế Chấp, nhà hoạt động chính trị người Việt Nam (m. 1992)
1934 – Howard Martin Temin, nhà di truyền học người Mỹ, đoạt giải Nobel (m. 1994)
1939 – Phạm Khắc, nhà quay phim, nhà nhiếp ảnh người Việt Nam (m. 2007)
1958 – Phạm Minh Chính, tướng công an Việt Nam
1958 – Cornelia Funke, tác gia người Đức
1958 – Fukumoto Nobuyuki, mangaka người Nhật Bản
1981 – Nguyễn Huy Hoàng, cầu thủ bóng đá người Việt Nam
1985 – Charlie Adam, cầu thủ bóng đá người Anh Quốc
1985 – Raven-Symoné, nữ diễn viên, ca sĩ người Mỹ
1985 – Lê Công Vinh, cầu thủ bóng đá người Việt Nam
1987 – Gonzalo Higuaín, cầu thủ bóng đá người Argentina gốc Pháp
1988 – Neven Subotić, cầu thủ bóng đá người Serbia-Mỹ sinh tại Bosnia và Herzegovina
== Mất ==
1198 – Ibn-Rushd, nhà bác học Hồi giáo sinh tại lãnh thổ nay thuộc Tây Ban Nha (s. 1126)
1603 – William Gilbert, nhà thiên văn học, nhà vật lý học, thầy thuốc Anh (s. 1544)
1867 – Sakamoto Ryōma, samurai và chính trị gia người Nhật Bản, tức 15 tháng 11 nông lịch (s. 1836)
1886 – Eduard Moritz von Flies, sĩ quan người Đức (s. 1802)
1896 – Alfred Nobel, nhà phát minh người Thuỵ Điển, người sáng lập giải Nobel (s. 1833)
1916 – Ōyama Iwao, tướng lĩnh quân đội người Nhật Bản (s. 1842)
1929 – Ngô Đức Kế, nhà thơ và nhà báo người Việt Nam (s. 1878)
1936 – Luigi Pirandello, tác gia và nhà soạn kịch người Ý, đoạt giải Nobel Văn chương (s. 1867)
1947 – Đạm Phương, nhà thơ, nhà hoạt động văn hóa, xã hội, nhà báo người Việt Nam (s. 1881).
1948 – Na Hye-sok, nhà báo, nhà thơ và hoại sĩ người Triều Tiên (s. 1896)
1968 – Điền Hán, nhà hí kịch, nhà thơ, dịch giả người Trung Quốc (s. 1898)
1973 – Wolf V. Vishniac, nhà vi trùng học người Mỹ (s. 1922)
1987 – Jascha Heifetz, nghệ sĩ vĩ cầm người Mỹ gốc Litva (s. 1901)
2000 – Nguyễn Đình Hòa, nhà ngôn ngữ học người Việt Nam (s. 1924)
2006 – Augusto Pinochet, tổng thống Chile (s. 1915)
2007 – Cao Đăng Chiếm, chính trị gia và sĩ quan công an người Việt Nam (s. 1921)
2010 – John Fenn, nhà hóa học người Mỹ, đoạt giải Nobel hóa học (s. 1917)
2010 – Nguyễn Thị Thứ, "Bà mẹ Việt Nam anh hùng" (s. 1904)
== Những ngày lễ và kỷ niệm ==
Liên hiệp quốc - Ngày Nhân quyền
== Tham khảo == |
thế kỷ 6.txt | Thế kỷ 6 là khoảng thời gian tính từ thời điểm năm 501 đến hết năm 600, nghĩa là bằng 100 năm, trong lịch Gregory.
== Tham khảo == |
tội phạm.txt | Tội phạm là hành vi gây nguy hiểm cho xã hội và chịu các hình phạt theo quy định của bộ luật hình sự.
== Ở Việt Nam ==
Bộ luật hình sự năm 1999 quy định:. Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa.
== Đặc điểm của tội phạm ==
Tính nguy hiểm cho xã hội (khác với Tính trái với luật hình sự của Bộ luật Hình sự Việt Nam Cộng Hòa năm 1972)
Tính có lỗi (lỗi cố ý hoặc vô ý).
Do chủ thể có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện (về độ tuổi, năng lực nhận thức...).
Phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi đó (chịu hình phạt tù...).
Tại Việt Nam một hành vi được xem là tội phạm khi nó có đầy đủ các yếu tố sau: hành vi đó phải được quy định (có thể mô tả hành vi) trong bộ luật hình sự năm 1999, người thực hiện hành vi phạm tội phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi đó xâm phạm đến khách thể được pháp luật bảo vệ, lỗi của người thực hiện hành vi phạm tội có thể là lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp) hoặc vô ý (vô ý do cẩu thả hoặc vô ý do quá tự tin). -Tính nguy hiểm cho xã hội: đây là đặc điểm cơ bản nhất, quan trọng nhất.
== Phân loại tội phạm ==
Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, pháp luật hình sự Việt Nam chia tội phạm thành 4 loại. Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.
== Ở các quốc gia khác ==
Hầu hết luật pháp của các quốc gia đều quy định những hành vi được xem là tội phạm trong luật hình sự của nước mình.
== Tội phạm ở nước Mỹ ==
== Tội phạm ở nước Pháp ==
== Xem thêm ==
Tội phạm có tổ chức
Lệch lạc
== Tham khảo == |
toyama (thành phố).txt | Thành phố Toyama (kanji: 富山市, Hán Việt: Phú Sơn thị) là thành phố tỉnh lỵ của tỉnh Toyama (富山縣) và là một đô thị trung tâm vùng của vùng Chūbu, Nhật Bản. Đây còn là một trong những đô thị du lịch hội nghị quốc tế lớn của Nhật Bản.
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, thành phố từng bị 173 đợt máy bay ném bom B-29 của không quân Hoa Kỳ dội bom cháy trong hai ngày 1-2 tháng 8 năm 1945. Tới 99,5 phần trăm của khu vực nội thành thành phố bị phá hủy. Ngày nay, thành phố rộng xấp xỉ 1.242 km², tức là khoảng một phần ba diện tích của toàn tỉnh Toyama. Trong các thành phố tỉnh lỵ của Nhật Bản thì thành phố Toyama đứng thứ hai về độ lớn tính theo diện tích. Tuy nhiên, dân số toàn thành phố tính tại thời điểm tháng 7 năm 2008 chỉ là 420.718 người, khiến cho Toyama đứng thứ ba về mật độ dân số thấp trong các thành phố tỉnh lỵ của Nhật Bản.
Thành phố Toyama giáp với vịnh Toyama ở phía Bắc. Vịnh này là ngư trường quan trọng cho ngành thủy sản của thành phố. Phần phía Tây của thành phố thuộc vùng đồng bằng Toyama. Phần phía Đông Nam của thành phố có rặng núi Tateyama thuộc dãy núi Hida hùng vĩ (còn gọi là Bắc Alps Nhật Bản).
Toyama có nhiều ngày mưa trong năm, kể cả vào mùa đông. Hiện tượng foehn hay xuất hiện vào mùa đông.
Toyama có nhiều di tích lịch sử, chùa chiền, jinja, suối nước nóng (onsen), các bãi trượt tuyết và những thắng cảnh tự nhiên là những nơi hấp dẫn khách du lịch. Thành phố Toyama thường đăng cai tổ chức các hội nghị quốc tế để thu hút khách du lịch tới thưởng thức các điểm tham quan của mình.
== Tham khảo == |
tiền.txt | :Bài này viết về tiền như là một phương tiện thanh toán trong kinh tế và thương mại. Về các ý nghĩa khác của tiền xin xem ở trang tiền (định hướng).
Tiền là vật ngang giá chung có tính thanh khoản cao nhất dùng để trao đổi lấy hàng hóa và dịch vụ nhằm thỏa mãn bản thân và mang tính dễ thu nhận (nghĩa là mọi người đều sẵn sàng chấp nhận sử dụng) và thường được Nhà nước phát hành bảo đảm giá trị bởi các tài sản khác như vàng, kim loại quý, trái phiếu, ngoại tệ... Tiền là một chuẩn mực chung để có thể so sánh giá trị của các hàng hóa và dịch vụ. Thông qua việc chứng thực các giá trị này dưới dạng của một vật cụ thể (Ví dụ như tiền giấy hay tiền kim loại) hay dưới dạng văn bản (dữ liệu được ghi nhớ của một tài khoản) mà hình thành một phương tiện thanh toán được một cộng đồng công nhận trong một vùng phổ biến nhất định. Một phương tiện thanh toán trên nguyên tắc là dùng để trả nợ. Khi là một phương tiện thanh toán tiền là phương tiện trao đổi chuyển tiếp vì hàng hóa hay dịch vụ không thể trao đổi trực tiếp cho nhau được.
Người ta cũng có thể nhìn tiền như là vật môi giới, biến việc trao đổi trực tiếp hàng hóa và dịch vụ, thường là một trao đổi phải mất nhiều công sức tìm kiếm, thành một sự trao đổi có 2 bậc.
Tiền thường được nghiên cứu trong các lý thuyết về kinh tế quốc dân nhưng cũng được nghiên cứu trong triết học và xã hội học.
== Định nghĩa ==
Tiền ra đời từ nhu cầu kinh tế thực tế của loài người khi mà nền sản xuất đạt đến một trình độ nhất định và con người đã có thể tự do đi lại trong một phạm vi lãnh thổ rộng lớn. Khi đó, thay vì phải chuẩn bị hành lý cồng kềnh cho chuyến đi dài ngày, con người chỉ cần mang theo một lượng nhỏ kim loại quý hoặc tiền được ưa chuộng ở nhiều nơi để đổi cho mình những nhu yếu phẩm cần thiết. Từ đó các hoạt động thương mại đã ra đời, tiền tệ được quy ước và ban hành, quản lý bởi nhà nước. Đổi lại, nhà nước có quyền thu thuế từ các hoạt động thương mại. Nói một cách chặt chẽ thì tiền chỉ là những gì mà luật pháp bắt buộc phải công nhận là một phương tiện thanh toán. Trong kinh tế học, có một số khái niệm về tiền.
Tiền mặt: là tiền dưới dạng tiền giấy và tiền kim loại.
Tiền gửi: là tiền mà các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng thương mại nhằm mục đích phục vụ các thanh toán không dùng tiền mặt. Chúng có thể dễ dàng chuyển thành tiền mặt.
Chuẩn tệ: là những tài sản có thể dễ dàng chuyển thành tiền, chẳng hạn như trái phiếu, kỳ phiếu, hối phiếu, tiền tiết kiệm, ngoại tệ.
== Hình thành ==
Tiền hình thành như một phương tiện trao đổi đa năng để đơn giản hóa thương mại. Nếu như trước kia tiền thường được liên kết với các phương tiện trao đổi hiện thực có giá trị ví dụ như đồng tiền bằng vàng thì tiền ngày nay thông thường là từ vật liệu mà chính nó không có giá trị (tiền giấy). Trong trao đổi quốc tế người ta gọi các loại tiền khác nhau là tiền tệ. Giá trị của tiền hình thành từ trị giá đối ứng mà tiền đại diện cho chúng. Ngày xưa vàng và bạc là các vật bảo đảm giá trị của tiền tại châu Âu. Ngày nay việc này không còn thông dụng nữa và tiền là tượng trưng cho giá trị của hàng hóa mà người ta có thể mua được. Chính vì thế mà khi đưa thêm tiền giấy hay tiền kim loại vào sử dụng thì tổng giá trị của tiền lưu thông trong một nền kinh tế không được nâng cao thêm mà chỉ dẫn đến lạm phát.
== Nguồn gốc và lịch sử của tiền ==
Ngày nay, chúng ta sử dụng cả tiền xu và tiền giấy, nhưng thực tế không phải lúc nào cũng vậy. Trước khi những đồng tiền kim loại và tiền giấy có mặt, con người đã sử dụng nhiều thứ khác thường để mua thứ họ cần, Chẳng hạn, ở một nơi nọ trên thế giới, người ta sử dụng răng cá mập như là tiền. Ở nhiều nơi khác, tiền có thể là những chiếc lông chim sặc sỡ và những chiếc vỏ sò quý hiếm. Có nơi người ta còn dùng cộng lông cứng trên đuôi voi để làm tiền. Lông chim là loại tiền nhẹ nhất từ trước đến nay. Chúng được sử dụng trên đảo Santa Cruz. Đá là loại tiền nặng nhất từ trước đền giờ. Chúng được sử dụng trên đảo Yap ở Thái Bình Dương. Có hòn nặng trên 500 cân Anh (1 cân Anh = 0,4536 kg). Loại tiền nhỏ nhất từ trước đến nay được phát hiện ở Hy Lạp. Tiền được làm bằng kim loại, nhưng có kích thước nhỏ hơn hạt táo. Không ai biết chính xác người ta bắt đầu sử dụng tiền dưới những hình thức đồng tiền kim loại từ khi nào. Các nhà khảo cổ đã phát hiện những đồng tiền kim loại có từ năm 600 trước công nguyên, vì thế ta biết chúng đã được lưu hành trong suốt một thời gian dài. Lúc đầu người ta sử dụng những kim loại quý như vàng và bạc để chế tiền xu. Họ in hình người hoặc (con) thú trên mỗi đồng tiền để xác định giá trị của nó. Trong những năm 1200, người Trung Quốc đúc những đồng tiền bằng sắt. Những đồng tiền này giá trị chẳng là bao, cho nên người dân phải sử dụng một số lượng lớn khi mua hàng. Do đó rất bất tiện khi phải mang một số lượng lớn những đồng tiền sắt nặng nề nên chính phủ đã cho in những giấy biên nhận. Người ta mang các biên nhận này đến ngân hàng để đổi ra tiền xu. Đây là ví dụ đầu tiên ta có được về việc phát hành và sử dụng tiền giấy. Ngày nay, hầu hết các nước đều sử dụng cả tiền xu lẫn tiền giấy. Ở Mỹ, các loại tiền giấy đều có cùng kích cỡ và màu sắc như nhau. Chẳng hạn, tờ một đô la có cùng kích cỡ và màu sắc y như tờ một trăm đô la. Ở nhiều quốc gia khác, tiền giấy được in dưới nhiều kích cỡ và màu sắc khác nhau. Tờ có kích thước nhỏ hơn thì có giá trị thấp hơn. Việc này tạo điều kiện cho chúng ta chỉ cần nhìn thoáng qua là có thể xác định được giá trị của chúng. Tất cả những sự kiện này khiến lịch sử tiền tệ trở thành một công cuộc nghiên cứu lý thú.
=== Tối ưu hóa thương mại ===
Người ta tin rằng đầu tiên hàng hóa và các dịch vụ được trao đổi trực tiếp với nhau (thương mại trao đổi). Vì điều này không thực dụng nên hàng hóa và dịch vụ được trao đổi với các loại hàng hóa khác mà có thể được tiếp tục trao đổi một cách dễ dàng. Loại hàng hóa là tiền này là những vật có giá trị đẹp hay hữu ích như bò, lạc đà, lông súc vật, dao, xẻng, vòng trang sức, đá quý, muối và nhiều loại khác. Khi người ta khám phá ra rằng một số vật không còn được sử dụng nữa mà chỉ được tiếp tục trao đổi thì các bản sao chép nhỏ hơn và ít có giá trị hơn của các vật này được sử dụng làm phương tiện thanh toán. Thuộc về các loại hàng hóa trở thành tiền là các vỏ sò cho đến khi người Trung Quốc tiến quân vào năm 1950 (chữ "bối" 貝 trong "bảo bối" 寶貝 chỉ đến con sò).
Đó là các hình thức thanh toán đầu tiên trước khi có tiền. (Tiền trong tiếng La tinh là pecunia bắt nguồn từ pecus có nghĩa là con bò vì đồng tiền kim loại đầu tiên của La Mã tượng trưng cho giá trị của một con bò.) Khả năng có thể đếm được, dễ bảo toàn, dễ vận chuyển đã đóng một vai trò quan trọng trong việc lựa chọn vật liệu cũng như khả năng có thể giữ được giá trị. Các thỏi hay sợi dây bằng đồng thiếc hay bạc đáp ứng được các yêu cầu này vì có giá trị bền vững và có thể bảo toàn dễ dàng.
Các đồng tiền kim loại đầu tiên được người Lydia ở phía Tây của Thổ Nhĩ Kỳ ngày nay đúc từ vàng, trong thời gian giữa 640 và 600 TCN, có nhiều kích thước và giá trị khác nhau và được dùng như là một phương tiện thanh toán để đơn giản hóa việc trả lương cho những người lính đánh thuê. Một lượng nhất định của các hạt bụi vàng được nấu chảy thành đồng tiền và sau đó hình của nhà vua được dập nổi lên trên. Nhà vua người Lydia cuối cùng, Croesus, vì thế mà mang danh là giàu có vô hạn. Các đồng tiền kim loại này đã làm cho việc thương mại dễ dàng đi rất nhiều vì chúng có ưu điểm là bao giờ cũng có kích thước, trọng lượng và hình dáng không thay đổi và thay vì là phải cân thì có thể đếm được.
Các chỉ trích và phê phán về thuyết cho rằng tiền hình thành từ thương mại trao đổi xuất phát từ những người đại diện cho Chủ nghĩa Nợ (tiếng Anh: Debitism), đặc biệt là Paul C. Martin. Lý luận được đưa ra là sử dụng một vật trao đổi thứ ba trước tiên là sẽ làm cho việc trao đổi phức tạp thêm. Từ một giao dịch biến thành hai giao dịch. Điều quyết định chính là chức năng của tiền, dùng để nối tiếp thời gian giữa nhu cầu cần dùng hàng hóa A và sự sản xuất hàng hóa B. Vì thế mà tiền ngay từ đầu không phải là hàng hóa và cũng không phải là một vật trao đổi mà là dấu hiệu cho một mối quan hệ nợ.
=== Tiền kim loại ===
Mãi cho đến trong thế kỷ 18 giá trị của các loại tiền tệ của châu Âu được định nghĩa thông qua lượng kim loại quý. Bên cạnh việc theo dõi sản xuất trong nước, các xưởng đúc tiền quốc gia còn theo dõi cả việc đúc tiền của nước ngoài. Một tiền tệ được đánh giá quá cao hay quá thấp khi đồng tiền được tính trên hay dưới giá trị của kim loại trong lúc tính toán với các tiền tệ khác trên thế giới.
Việc cố tình mài mòn đồng tiền để lấy bớt đi kim loại đã tạo nên nhiều vấn đề rất lớn trong việc sử dụng tiền kim loại. Việc giá trị của các kim loại quý biến động khi so sánh với nhau còn mang lại nhiều vấn đề lớn hơn. Giá trị của các loại tiền tệ khác nhau, bao gồm các đồng tiền bằng vàng, bạc và đồng, không thể giữ ổn định khi so sánh với nhau được. Bạc được mang ra khỏi Tây Ban Nha và Anh vì các thương gia người Tây Ban Nha và người Anh đánh giá các đồng tiền vàng cao hơn một ít so với các đối tác thương mại quốc tế của họ, tạo thành một vấn đề lan rộng khắp trong thương mại quốc tế: Ở châu Á người ta lại không thấy có lý do gì để đánh giá vàng cao hơn như ở châu Âu. Vì thế mà bạc được mang đến châu Á để đổi lấy vàng. Giải pháp cho vấn đề này trong đầu thế kỷ 18 tại Anh là loại tiền tệ về nguyên tắc dựa trên vàng, Ngân hàng Quốc gia Anh (Bank of England) bảo đảm sẽ trả cho người sở hữu đồng tiền Anh quốc giá trị tương ứng với giá trị của vàng trên thị trường tại mọi thời điểm. (Xem: Kim bản vị). Các vấn đề của cuộc cải cách này có thể nhìn thấy ngay trước mắt: Làm sao có thể bảo đảm là ngân hàng không phát hành tiền nhiều hơn là số lượng tiền được bảo chứng bằng vàng của ngân hàng? Trong thập niên 1730 đã có một cuộc khủng hoảng tín nhiệm và Ngân hàng Quốc gia Anh chỉ được cứu thoát khi giới đại thương nghiệp của Luân Đôn sẵn sàng gánh vác lấy sự bảo đảm này. Về mặt khác các thủ đoạn gian lận trong tiền kim loại và biến động giá trị giữa các loại tiền kim loại trong nước không còn nữa.
Mãi cho đến trong thế kỷ 19 một số tiền tệ ví dụ như Đô la Mỹ vẫn được bảo chứng bằng vàng và cho đến ngày hôm nay việc hủy bỏ bảo chứng vàng cũng không phải là một điều tất nhiên.
== Tiền ngân hàng ==
Tiền ngân hàng hay còn gọi là tiền ghi nợ đang được lưu thông phổ biến trong các nền kinh tế hiện đại. Một khoản tiền gửi chính là tiền ngân hàng vì đó là khoản tiền ngân hàng nợ chủ tài khoản. Chủ tài khoản có thể rút tiền mặt hoặc viết séc, ra lệnh cho ngân hàng chuyển tiền để thanh toán cho một bên thứ ba. Tiền ngân hàng là phương tiện thanh toán được chấp nhận rộng rãi.
== Sử dụng tiền và các chức năng của tiền ==
Nếu một người có tiền thì có thể dùng tiền để làm những việc sau đây:
Tiêu tiền (tiêu thụ, phương tiện thanh toán)
Gửi tiền để lấy tiền lãi (đầu tư)
Đổi lấy một loại tiền tệ khác (trao đổi)
Trữ tiền (bảo toàn giá trị)
Sưu tập tiền.
Tổng số tiền trong lưu hành phản ánh sự phân chia của sản phẩm quốc gia: Lượng tiền mà một người sở hữu tương ứng với lượng sản phẩm quốc gia mà người đó có thể có khi tiêu dùng lượng tiền sở hữu.
=== Chức năng là phương tiện thanh toán ===
Trong một nền kinh tế không có một chuẩn mực đo giá trị chung (Ví dụ như là tiền) thì một giao dịch thành công giữa 2 vật trong kinh tế đòi hỏi các nhu cầu trao đổi phải phù hợp với nhau. Một ví dụ: Một người nông dân muốn bán ngũ cốc và cần dụng cụ. Một thợ thủ công muốn đổi dụng cụ để lấy thịt. Giữa 2 người này sẽ không bao giờ có một cuộc mua bán trao đổi vì ý định bán của người nông dân không phù hợp với ý định mua của người thợ thủ công. Cả hai người có thể phải tìm kiếm rất lâu cho đến khi gặp được một người có ý định giao dịch phù hợp. Cùng với tiền quá trình này được đơn giản hóa đi rất nhiều: Người nông dân có thể bán ngũ cốc cho một người thứ ba và dùng tiền thu được để đổi lấy dụng cụ tại người thợ thủ công. Người thợ thủ công có thể dùng tiền thu được mua thịt tại một người thứ tư.
=== Chức năng là đơn vị đo lường giá trị ===
Khi tiền là một chuẩn mực chung để đo giá trị thì tất cả các giá cả của một nền kinh tế có thể được thể hiện bằng đơn vị tiền tệ. Trong một nền kinh tế với 1 triệu loại hàng hóa khác nhau khi so sánh giá trị trao đổi của mỗi hai loại hàng hóa một sẽ có vào khoảng 500 tỷ giá tương đối khác nhau (Ví dụ: 1 giờ lao động = 5 bánh mì; 1 giờ lao động = 1 cái áo; 1 giờ lao động = 1 kg thịt; 5 bánh mì = 1 cái áo; 1 cái áo = 1 kg thịt,...). Khi sử dụng tiền như là một chuẩn mực giá trị chung thì chỉ còn 1 triệu tỷ lệ trao đổi (5 đơn vị tiền = 1 giờ lao động = 5 bánh mì = 1 cái áo = 1 kg thịt =...), vì thế mà khi so sánh giá cả không còn phải tốn nhiều công sức nữa.
=== Phương tiện tích luỹ ===
Một phương tiện thanh toán phải giữ được giá trị của nó. Vì thế mà hầu như chỉ là các loại hàng hóa không hư hỏng mới được thỏa thuận là "tiền" (Ví dụ như là vàng hay kim cương). Nếu tiền không tồn tại thì một người nông dân chỉ có khả năng trao đổi ngũ cốc để lấy các hàng hóa khác cho đến khi ngũ cốc này bị hư hỏng. Vì thế mà người nông dân tốt nhất là nên trao đổi ngũ cốc sớm để đổi lấy tiền "không bị hư hỏng". Điều này còn được gọi là chức năng bảo toàn giá trị hệ quả (consecutiv). Chức năng bảo toàn giá trị tạo thành (constitutiv) là chức năng tạo tài sản từ tiền bằng cách cất giữ, tức là giữ tiền duy nhất chỉ vì muốn bảo toàn giá trị.
=== Tiền là đơn vị đo trọng lượng ===
Trong quá trình trao đổi thương mại xưa và nay, Tiền còn là một đơn vị đo trọng lượng hàng hóa.
Trung Quốc thị chế (Dùng tại Trung Quốc Đại Lục hiện nay):
1 cân = 10 lượng; 1 lượng = 10 tiền; 1 tiền = 5 khắc (=> 1 cân = 500 khắc)
Trung Quốc cựu chế: Dùng trong xã hội Trung Hoa xưa và nay vẫn đang dùng tại Hương Cảng. Riêng tại Việt Nam: hiện vẫn dùng trong thị trường vàng bạc, đông dược:
1 cân 斤 = 16 lượng 两(lạng); 1 lượng = 10 tiền 钱; 1 tiền = 3.73khắc (=> 1cân = 596.8khắc). Trong Đông y hiện vẫn dùng đơn vị tiền = 1/10 lượng (Dân Việt quen gọi TIỀN 钱 là đồng cân hay chỉ). Trên thị trường vàng bạc hiện nay, đơn vị lượng vẫn rất thông dụng: 1 lượng = 10 chỉ (10 tiền).
== Cung cấp tiền ==
=== Quá trình cung cấp tiền ngày nay ===
Trên lý thuyết có thể phân biệt hai loại tiền khác nhau. Loại thứ nhất là tiền của ngân hàng quốc gia, do ngân hàng quốc gia phát hành hay tiêu hủy, tiền mặt thuộc về loại tiền này. Loại thứ hai là tiền xuất phát từ các ngân hàng thương mại mà chính xác thì chỉ là các yêu cầu thanh toán tiền (các khoản phải thu). Phương cách cung tiền thông dụng nhất là cho vay.
Các ngân hàng thương mại cung cấp tiền bằng cách cho khách hàng vay tiền. Sau khi chấp nhận cho khách hàng vay tiền, ngân hàng sẽ ghi khoản tiền này vào tài khoản của khách hàng và người vay có thể chuyển khoản số tiền này đến các khách hàng khác của ngân hàng hay đến khách hàng của các ngân hàng khác. Tiền được tạo thành thông qua chu trình này vì một mặt tiền được đưa vào lưu hành nhưng về mặt khác chỉ hình thành yêu cầu thanh toán của ngân hàng đối với người vay và chỉ là một mục của các khoản phải thu trong bản cân đối kế toán của ngân hàng. Ngược lại khi hoàn trả nợ thì tiền được tiêu hủy đi vì tiền quay về ngân hàng và món nợ được thanh toán.
Vì khoản tiền vừa được tạo thành lại có thể là cơ sở để tạo thành các khoản tiền khác nên trên lý thuyết không có giới hạn tối đa cho các khoản tiền do ngân hàng tạo thành. Để kiểm soát quá trình này ngoài các quy định cân đối kế toán (nợ quá mức, bảo chứng vốn tự có) còn có dự trữ tối thiểu bắt buộc, tức là các ngân hàng thương mại phải ký thác tại ngân hàng quốc gia một tỷ lệ nhất định của số tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng.
Khi vốn tự có của ngân hàng cộng với tiền gửi của khách hàng không đủ để có thể cho vay nhiều như ý muốn ngân hàng thương mại có thể vay tiền từ ngân hàng quốc gia, người ta gọi đó là tái cấp vốn.
Ngân hàng quốc gia cũng có thể tạo thêm tiền mà không cần phải cho vay, ví dụ như bằng cách mua ngoại tệ, kim loại quý hay chứng khoán. Ngoài công cụ này ra ngân hàng quốc gia còn có thể chủ động mua trái phiếu hay cho ngân hàng thương mại vay. Việc cho chính phủ vay tiền đã bị cấm trong vùng Euro từ bước thứ hai của Liên minh Tiền tệ châu Âu trong năm 2004, tức là nhà nước không được phép vay tiền của ngân hàng quốc gia. Tại Mỹ thì lại khác: Ví dụ như vào ngày 17 tháng 11 năm 2004 mục "U.S. Treasury" (trái phiếu của ngân khố Mỹ) đã chiếm đến 89,3% tổng tài sản của Cục dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Nói một cách khác đồng Đô la Mỹ được "bảo chứng" gần như hoàn toàn bằng nợ quốc gia của chính phủ Mỹ.
Để một khách hàng của ngân hàng có thể thanh toán các giao dịch bằng tiền ở bên ngoài hệ thống ngân hàng, ngân hàng quốc gia in tiền giấy và các ngân hàng có thể "vay" (đúng ra là "mua" cùng với một thỏa thuận mua lại của ngân hàng quốc gia) để trả cho khách hàng (tiền mặt). Ngân hàng quốc gia đưa ra một lãi suất nhất định khi đưa tiền cho các ngân hàng thương mại, gọi là lãi suất cơ bản.
Toàn bộ hệ thống tiền tệ có thể được miêu tả dưới dạng của một bản cân đối kế toán. Ở một bên là tiền trong lưu hành, bên kia là các khoản nợ tương ứng, dự trữ vàng và tiền cộng với chứng khoán thuộc về sở hữu của ngân hàng quốc gia. Mỗi một khoản tiền có trong tài khoản và mỗi một tờ tiền giấy đều tương ứng với một mục nợ (khoản phải thu) hay là một mục tài sản trong bản cân đối kế toán của ngân hàng quốc gia.
=== Thị trường tiền ===
Đọc bài chính về thị trường tiền tệ
Cũng giống như cho hàng hóa và dịch vụ, có thị trường tiền với cung và cầu tồn tại cho việc vay tiền. Các tư nhân và doanh nghiệp có nhu cầu tiền và đồng thời cũng là nguồn cung ứng khi gởi tiền tiết kiệm vào ngân hàng. Hệ thống ngân hàng là người môi giới giữa 2 nhóm này và vì thế làm cho thị trường có hiệu quả hơn vì người tiết kiệm tiền và người muốn vay tiền không phải tự tìm kiếm cho từng giao dịch nữa. Ngân hàng lấy tiền công cho dịch vụ này bằng hiệu số giữa lãi suất tiết kiệm và lãi suất cho vay. Lãi suất hình thành từ thị trường này được quyết định bởi cung và cầu và trên nguyên tắc chính là giá phải trả cho việc mượn tiền.
Ngân hàng quốc gia có thể tạo ảnh hưởng lên thị trường tiền bằng cách hoặc là gián tiếp tác động đến cung và cầu thông qua lãi suất dành cho tiền của ngân hàng quốc gia hoặc là chủ động tạo ảnh hưởng đến việc cung ứng tiền trong khuôn khổ của chính sách gọi là chính sách thị trường mở. Trong chính sách này ngân hàng quốc gia mua một số chứng khoán nhất định và trả bằng tiền của ngân hàng quốc gia. Tiền được đưa thêm vào trong hệ thống lưu hành. Ngược lại ngân hàng quốc gia cũng có thể bán chứng khoán và qua đó mà lấy tiền ra khỏi hệ thống. Lãi suất dành cho tiền của ngân hàng quốc gia hay dành cho tiền gửi tại ngân hàng quốc gia chỉ ảnh hưởng gián tiếp đến thị trường tiền vì chỉ khuyến khích các ngân hàng thương mại cho vay tiền hay gửi tiền tại ngân hàng quốc gia.
=== Tiền định danh ===
Tiền pháp định hay tiền định danh(Fiat money) dùng để chỉ tiền được phát hành (thông thường là bởi một ngân hàng quốc gia) mà không có cơ sở bảo chứng đầy đủ, tức là hoặc là bảo chứng không toàn bộ hay lặp thừa (tautologic).
Một bảo chứng là không toàn bộ khi nhận lại những vật mà giá trị thực tế ít hơn là giá trị trên danh nghĩa.
Một bảo chứng là lặp thừa khi những vật nhận lại không có giá trị hay chỉ nhận lại được yêu cầu thanh toán (nợ phải thu) lại dựa trên fiat money.
Fiat money xuất phát từ tiếng La Tinh fiat lux (sẽ có ánh sáng) vì loại tiền như vậy có thể dễ dàng tạo thành khi có nhu cầu (sẽ có tiền) và người tạo ra chúng (thường là ngân hàng quốc gia) không cần phải có hàng hóa để bảo chứng. Tiền pháp định không có giá trị cố định và thường được xác định giá trị thông qua sắc lệnh của chính phủ.
Khả năng tạo ra fiat money chỉ tồn tại cho đến chừng nào mà những người tham gia trên thị trường (tư nhân, ngân hàng và các doanh nghiệp khác) cho là tiền phát hành này vẫn có một giá trị nhất định. Những người ủng hộ fiat money cho rằng hình thức tạo nên tiền này không mang lại nguy hiểm cho kinh tế (vì người phát hành phải có một độ đáng tin cậy cao) trong khi những người chỉ trích lại nhìn thấy đây là một phương thức làm giàu không công bằng của chính phủ.
== Lượng tiền tệ ==
Đọc bài chính về cung ứng tiền tệ.
Khái niệm "tiền" không gắn liền với một vật nhất định. Một vật được định nghĩa là tiền khi thỏa mãn 3 chức năng tiền nói trên. Vì các vật khác nhau thỏa mãn các chức năng trên ở các mức độ khác nhau nên khó có thể xác định ranh giới giữa những gì là tiền và những gì không phải là tiền. Vì lý do này các ngân hàng quốc gia định nghĩa khái niệm tiền và lượng tiền theo nhiều cách khác nhau. Ngân hàng Liên bang Đức định nghĩa:
Lượng tiền M0 là tiền do ngân hàng quốc gia tạo nên, bao gồm các khoản tiền gửi không kỳ hạn của các ngân hàng tại ngân hàng quốc gia và tiền giấy cũng như tiền kim loại trong lưu hành. Lượng tiền này chịu ảnh hưởng trực tiếp của ngân hàng quốc gia. Lượng tiền M1 bao gồm M0 và các tiền có thể sử dụng làm phương tiện thanh toán tức là tiền mặt. Lượng tiền M2 (còn gọi là tiền rộng) bao gồm lượng tiền M1 và các khoản tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dưới 4 năm. Lượng tiền M3 bao gồm lượng tiền M2 và các khoản tiền gửi tiết kiệm có thời hạn báo trước theo quy định của pháp luật.
== Chính sách tiền tệ ==
Đọc bài chính về chính sách tiền tệ.
Nói chung các ngân hàng quốc gia thường theo đuổi một mục đích thực tế và cố định khi điều chỉnh lượng tiền. Mục đích này thường là sự bình ổn giá, tức là chống lại lạm phát. Để có thể giới hạn tỷ lệ lạm phát ở một mức độ hợp lý với nền kinh tế quốc dân, ngân hàng quốc gia cố gắng giữ lượng tiền đồng bộ với sự phát triển kinh tế. Lý thuyết lượng tiền (Quantity Theory of Money) đã nêu ra một mối quan hệ trực tiếp giữa tăng trưởng lượng tiền và mức giá cả.
=== Lạm phát ===
Đọc bài chính về lạm phát.
Lượng tiền tăng quá nhanh hay tốc độ quay vòng của tiền tăng lên trong khi lượng tiền không thay đổi sẽ dẫn đến mất cân bằng giữa tiền đang có và hàng hóa. Sự mất cân bằng này sẽ làm tăng mức giá chung và người ta gọi đó là lạm phát.
Lạm phát có thể được phân loại theo vận tốc (lạm phát vừa phải, lạm phát phi mã, siêu lạm phát) hay theo giai đoạn (giai đoạn tăng tốc – giai đoạn ổn định – giai đoạn giảm tốc). Lượng tiền có thể tăng vì chính sách lãi suất của ngân hàng quốc gia (xem: Siêu lạm phát tại Đức từ 1914 đến 1923) hay vì nợ quốc gia tăng đột ngột.
=== Giảm phát ===
Đọc bài chính về giảm phát.
Khi lượng tiền giảm đi hay tốc độ quay vòng tiền giảm xuống trong khi lượng tiền không đổi thì giá cả có thể sẽ giảm liên tục trong một thời gian, người ta gọi đó là giảm phát. Lượng tiền giảm đi cũng có thể là do các biện pháp của ngân hàng quốc gia gây ra hay khi vận tốc quay vòng tiền giảm đi (khi người dân và doanh nghiệp hạn chế tiêu dùng và đầu tư hơn và tiền được tiết kiệm nhiều hơn là tiêu dùng).
== Đọc thêm ==
Danh sách các loại tiền tệ đang lưu hành
Tiền tệ
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
== Tham khảo ==
Karl Marx: Grundrisse der Kritik der politischen Ökonomie (Đóng góp phê bình về kinh tế chính trị), Berlin (DDR): Dietz 1953 hay Marx Engels Toàn tập, quyển 42
Alfred Sohn-Rethel: Das Geld, die bare Münze des Apriori, Berlin: Wagenbach, 1990
Friedrich August von Hayek: Entnationalisierung des Geldes, J.C.B.Mohr
Helmut Creutz: Das Geldsyndrom (Hội chứng tiền), Wirtschaftsverlag Langen Müller (cũng có thể đọc dưới dạng E-Book không mất tiền tại [1])
Bernd Senf: Der Nebel um das Geld – Zinsproblematik – Währungssysteme – Wirtschaftskrisen (Mơ hồ chung quanh tiền - Vấn đề lãi suất - Hệ thống tiền tệ - Khủng hoảng kinh tế), Lütjenburg: Gauke
Günter Hannich: Sprengstoff Geld. Wie das Kapitalsystem unsere Welt zerstört (Chất nổ tiền. Hệ thống tư bản phá hoại thế giới của chúng ta như thế nào), 2004
Bernard A. Lietaer: Die Welt des Geldes (Thế giới của tiền)
Stephen Zarlenga: Der Mythos vom Geld – Die Geschichte der Macht (Thần thoại tiền - Lịch sử của quyền lực). Zürich: Conzett
Ottmar Issing: Einführung in die Geldtheorie (Giới thiệu lý thuyết tiền tệ), Verlag Vahlen
Wolfgang Weimer: Geschichte des Geldes (Lịch sử của tiền), Suhrkamp Taschenbuchverlag
Egon W. Kreutzer: Wolf´s wahnwitzige Wirtschaftslehre – Band III - Über das Geld, EWK-Verlag
Bernhard Felderer, Stefan Homburg: Makroökonomik und neue Makroökonomik (Kinh tế học vĩ mô và Tân kinh tế học vĩ mô), 7. Auflage, 1999, Springer Verlag
Oliver Blanchard, Gerhard Illing: Makroökonomie (Kinh tế vĩ mô), 3.Auflage, 2003, Pearson Studium
Mishkin, Frederic S. (2007). The Economics of Money, Banking, and Financial Markets (Alternate Edition). Boston: Addison Wesley. tr. 8. ISBN 0-321-42177-9.
Mankiw, N. Gregory (2007). “2”. Macroeconomics (ấn bản 6). New York: Worth Publishers. tr. 22–32. ISBN 0-7167-6213-7.
Boyle, David (2006). The Little Money Book. The Disinformation Company. tr. 37. ISBN 978-1932857269.
Abel, Andrew; Bernanke, Ben (2005). “7”. Macroeconomics (ấn bản 5). Pearson. tr. 266–269. ISBN 0201327899.
Jevons, William Stanley (1875). “XVI: Representative Money”. Money and the Mechanism of Exchange. ISBN 1596052600. Truy cập ngày 28 tháng 6 năm 2009.
Bernstein, Peter (2008) [1965]. “Chapters 4–5”. A Primer on Money, Banking and Gold (ấn bản 3). Hoboken, NJ: Wiley. ISBN 978-0-470-28758-3. OCLC 233484849.
David Laidler, (1997). Money and Macroeconomics: The Selected Essays of David Laidler (Economists of the Twentieth Century). Edward Elgar Publishing. ISBN 1-85898-596-X.
Milton Friedman, Anna Jacobson Schwartz, (1971). Monetary History of the United States, 1867–1960. Princeton, N.J: Princeton University Press. ISBN 0-691-00354-8.
Sullivan, Arthur; Steven M. Sheffrin (2003). Economics: Principles in action. Upper Saddle River, New Jersey: Pearson Prentice Hall. tr. 258. ISBN 0130630853.
== Xem thêm ==
Tiền giấy
Tiền kim loại
Tiền giả
Tín dụng
Tiền Việt Nam
Tiền đô mệnh giá lớn
== Liên kết ngoài ==
Tiền giấy Đông Dương thời Pháp thuộc |
birmingham.txt | Birmingham (pron. IPA: [ˈbɜ:mɪŋˌəm]/Burr-ming-um) là một thành phố và là một metropolitan borough ở vùng West Midlands, Anh. Birmingham cạnh tranh với Manchester để trở thành thành phố thành phố thứ hai. Danh tiếng của thành phố đã được củng cố là một nhà máy điện của Cách mạng Công nghiệp ở UK, một thực tế đã dẫn Birmingham được biết đến như là "phân xưởng của thế giới" hay "thành phố ngàn nghề". Thành phố Birmingham có dân số 1.001.200 người (ước tính năm 2005). Nó tạo thành một phần của Khu vực đô thị West Midlands rộng hơn có dân số 2.284.093 (theo điều tra dân số năm 2001) và bao gồm nhiều thị xã và thành phố lân cận, như Solihull, Wolverhampton và Black Country. Là một trung tâm công nghiệp lớn, Birmingham là thành phố lớn thứ hai ở Vương quốc Liên hiệp Anh (Britain). Đầy là trung tâm của ngành hàng kim loại của Anh và có một hệ thống các xa lộ và đường sắt phục vụ. Các sản phẩm của thành phố là: phụ tùng xe cộ, công cụ máy móc, đồ đồng, các loại hàng kim loại gia dụng, súng thể thao, trang sức. Ngoài ra thành phố Birmingham còn sản xuất các thiết bị điện, kính, sản phẩm cao su và hóa chất. Thành phố Birmingham tọa lạc ở một khu vực khai thác than đá quan trọng.
== Văn hóa và giáo dục ==
Birmingham có các trường đại học: Đại học Birmingham (1900), Đại học Aston ở Birmingham (1895), Đại học miền Trung Anh ở Birmingham (1992, trước đó là một trường cao đẳng công nghệ), và nhiều trường kỹ thuật khác. Thành phố Birmingham có Bảo tàng và Khu triển lãm Nghệ thuật Birmingham lớn (1867), Bảo tàng Khoa học và Công nghiệp, Giàn nhạc Giao hưởng thành phố Birmingham, Nhà hát biểu diễn cố định của một đoàn Birmingham (Birmingham Repertory Theatre) (1913). Birmingham có các nhà thờ như Nhà thờ lớn Saint Philip (1715), Nhà thờ Saint Martin's Parish ở Bull Ring (thế kỷ 13), và Nhà thờ lớn Công giáo La Mã Saint Chad (1841). Các tòa nhà khác có Tòa thị chính Birmingham (1834), Tòa nhà Hội đồng thành phố (1881) theo phong cách thời Phục Hưng và Trung tâm mua sắm Bull Ring hiện đại.
== Lịch sử ==
Năm 1166, thị trấn Birmingham đã được ban một quy chế hiến chương chợ. Đến thế kỷ 16, nó đã trở thành một trung tâm chế tạo chuyên đồ kim loại phát đạt. Vào thời kỳ Cách mạng Anh thập niên 1640, Birmingham đã sản xuất khoảng 16.000 lưỡi kiếm cho các lực lượng Nghị viện, do đó, thị trấn này đã bị bao vây và bị quân Bảo hoàng chiếm giữ. Do năng lực chế tạo của mình, Birmingham đã giữ một vị trí có tầm quan trọng cuối thế kỷ 18, trong thời kỳ Cách mạng Công nghiệp. Thời kỳ này, thành phố này là nơi hoạt động một số nhà đầu tư và nhà khoa học, bao gồm nhà phát minh máy hơi nước James Watt, nhà hóa học Joseph Priestley. Năm 1838 các tuyến đường sắt đã được xây dựng từ Birmingham đến London và Liverpool. Cuối thế kỷ 19, thành phố đã nổi tiếng vì nhiều chương trình cải thiện đô thị nổi bật như các công trình công cộng và xóa bỏ các khu ổ chuột. Trong thời kỳ Chiến tranh thế giới thứ 2 (1939-1945), thành phố bị ném bom nặng nề và đã trải qua một gia đoạn tái thiết sau chiến tranh.
== Thành phố kết nghĩa ==
Chicago, Hoa Kỳ
Frankfurt am Main, Đức
Johannesburg, Nam Phi
Leipzig, Đức
Lyon, Pháp
Milano, Ý
== Tham khảo ==
Alabama |
thời đại đồ sắt.txt | Trong khảo cổ học, thời đại đồ sắt là một giai đoạn trong phát triển của loài người, trong đó việc sử dụng các dụng cụ bằng sắt như là các công cụ và vũ khí là nổi bật. Việc chấp nhận loại vật liệu này trùng khớp với các thay đổi khác trong một số cộng đồng xã hội trong quá khứ, thông thường bao gồm các tập quán canh tác nông nghiệp, các niềm tin tín ngưỡng và các kiểu thẩm mỹ khác biệt nhau, mặc dù nó không phải là luôn luôn như vậy.
Thời đại đồ sắt là thời kỳ chính cuối cùng trong hệ thống ba thời đại để phân loại các cộng đồng xã hội thời tiền sử, nó diễn ra sau thời đại đồ đồng. Niên đại và bối cảnh diễn ra là không đồng nhất theo từng quốc gia hay khu vực địa lý. Theo các tài liệu kinh điển, thời đại đồ sắt bắt đầu vào thế kỷ 12 TCN tại Trung Đông cổ đại, Ấn Độ cổ đại (với nền văn minh Veda hậu-Rigveda) và Hy Lạp cổ đại (với thời đại hắc ám Hy Lạp). Trong các khu vực khác của châu Âu, thời đại này bắt đầu muộn hơn nhiều. Thời đại đồ sắt bắt đầu vào thế kỷ 8 TCN tại Trung Âu và vào thế kỷ 6 TCN tại Bắc Âu. Việc sử dụng sắt, để nấu chảy và rèn thành các công cụ, đã xuất hiện tại nền văn minh Nok ở Tây Phi vào khoảng năm 1200 TCN.
Thời đại đồ sắt thông thường được coi là kết thúc tại khu vực ven Địa Trung Hải với sự bắt đầu của truyền thống lịch sử trong văn hóa cổ Hy Lạp và đế quốc La Mã, sự bắt đầu của Phật giáo và Jaina giáo tại Ấn Độ, sự bắt đầu của Khổng giáo tại Trung Quốc, hay Trung Cổ sớm tại Bắc Âu.
Thời đại đồ sắt tương ứng gần đúng với giai đoạn mà sản xuất sắt là dạng phức tạp nhất trong nghề kim khí. Độ cứng lớn, nhiệt độ nóng chảy cao của sắt cũng như sự phổ biến của các loại quặng sắt làm cho sắt trở thành đáng mong muốn hơn và "rẻ hơn" so với đồ đồng và đóng góp chủ yếu vào việc chấp nhận nó như là kim loại được sử dụng phổ biến nhất. Sự bắt đầu sử dụng sắt trong các khu vực khác nhau được liệt kê dưới đây, chủ yếu là theo trật tự niên đại. Do công việc luyện sắt đã được người châu Âu trực tiếp đưa vào châu Mỹ và Australasia, nên ở các khu vực này hoàn toàn không có thời đại đồ sắt.
== Lịch sử ==
Vào thời đại đồ đồng giữa, một lượng lớn các vật thể làm từ sắt nung chảy (có thể phân biệt được với sắt trong vẫn thạch do thiếu niken trong sản phẩm) đã xuất hiện tại Tiểu Á, Lưỡng Hà, tiểu lục địa Ấn Độ, Levant, Địa Trung Hải và Ai Cập. Tại một số khu vực, việc sử dụng chúng dường như mang tính nghi lễ, và sắt đã là một kim loại quý, đắt tiền hơn cả vàng. Một vài tài liệu cho rằng sắt đã được tạo ra ở một số nơi như là phụ phẩm của việc tinh luyện đồng như là cứt sắt và đã không được nghề luyện kim tái chế vào thời kỳ đó.
Tuy nhiên, tại Tiểu Á (Anatolia), sắt đã được sản xuất có hệ thống từ nguồn lớn chứa sắt trong các vẫn thạch, không xa từ các nguồn thời đại đồ đồng của các kim loại khác. Việc sản xuất có hệ thống và sử dụng các công cụ sắt sớm nhất có nguồn gốc tại đây. Các nghiên cứu khảo cổ gần đây tại thung lũng sông Hằng, Ấn Độ chỉ ra rằng công việc luyện sắt sớm nhất tại khu vực này có từ khoảng năm 1800 TCN. Vào năm 1200 TCN, sắt đã được sử dụng rộng rãi tại Trung Đông nhưng không thay thế cho sự sử dụng còn chiếm ưu thế của đồ đồng đỏ trong một số thời gian. Vào khoảng năm 1800 TCN, vì các lý do mà hiện tại các nhà khảo cổ vẫn chưa thể xác minh rõ, thiếc trở nên khan hiếm tại Levant, dẫn tới khủng hoảng trong sản xuất đồ đồng đỏ. Đồng dường như cũng đã thiếu hụt. Các nhóm "trộm cướp" xung quanh khu vực Địa Trung Hải, từ khoảng 1700-1800 TCN trở đi đã bắt đầu tấn công các pháo thành để tìm kiếm đồng đỏ, nhằm nấu chảy lại để sản xuất vũ khí. Tiểu Á đã từng là nguồn cung cấp đồng đỏ trong một thời gian dài, và việc sử dụng sắt tại đây (từ khoảng 2000 TCN trở đi) đã phát triển mạnh vào khoảng muộn nhất là năm 1500 TCN trong sản xuất vũ khí ưu việt hơn hẳn vũ khí từ đồng đỏ. Sản xuất sắt tại Tây Phi bắt đầu vào cùng khoảng thời gian này, và dường như là một phát minh hoàn toàn độc lập (xem công trình của Stanley J. Alpern trong History in Africa (Lịch sử châu Phi), quyển 2). Các khu vực chứa quặng sắt đã phát triển mạnh mẽ trong thiên niên kỷ cuối cùng trước công nguyên và có lẽ còn kéo dài tới tương lai. Công nghệ quân sự được đưa ra để hoàn thiện việc sử dụng sắt đến từ Assyria. Một cây gậy sắt tìm thấy năm 1902 tại Troia, có niên đại khoảng năm 1200 TCN, có lẽ đã được sản xuất tại Assyria. Trên thực tế, có thể Troia là tiền đồn của Assyria. Ở mức độ nào đó, việc buôn bán sắt giữa hai nơi này cũng đã được thiết lập vững chắc vào thời gian đó, với việc người Assyria luôn tìm cách bảo vệ bí mật sản xuất của mình.
== Trung Đông cổ đại ==
Thời đại đồ sắt tại Trung Đông cổ đại được cho là đã bắt đầu với sự phát hiện ra sắt nóng chảy và kỹ thuật rèn tại khu vực Tiểu Á hay Kavkaz vào cuối thiên niên kỷ 2 TCN (khoảng 1300 TCN). Từ đây nó đã lan truyền nhanh chóng trong cả khu vực Trung Đông và vũ khí sắt đã thay thế cho vũ khí đồng vào đầu thiên niên kỷ 1 TCN. Việc sử dụng vũ khí sắt của người Hittite được coi là nhân tố chính trong việc phát triển nhanh của đế quốc Hittite. Do khu vực mà công nghệ sắt đã phát triển đầu tiên nằm gần Aegean, nên công nghệ này đã được phổ biến tương đối sớm vào cả châu Á lẫn châu Âu, được hỗ trợ bằng sự mở rộng của đế quốc Hittite. Người Sea và có dân tộc có liên quan là người Philistin, thông thường gắn liền với sự giới thiệu công nghệ sắt vào châu Á, cũng như người Doris với Hy Lạp cổ đại
Vào giai đoạn từ thế kỷ 12 TCN tới thế kỷ 8 TCN, khu vực giàu quặng sắt đã tìm thấy nhất là Syria và Palestine. Đồng đỏ đã phổ biến hơn trong giai đoạn từ trước thế kỷ 12 TCN cho đến thế kỷ 10 TCN. Snodgrass, và các tác giả khác cho rằng sự thiếu hụt thiếc, kết quả của sự đổ vỡ thương mại trong khu vực Địa Trung Hải vào thời gian đó đã buộc người ta phải tìm kiếm vật liệu thay thế cho đồng đỏ. Điều này được khẳng định bằng thực tế là trong giai đoạn đó, các đồ vật bằng đồng đỏ đã được tái chế từ công cụ thành vũ khí, chỉ ngay trước khi có sự ra đời của đồ sắt.
Cũng cần lưu ý rằng giai đoạn đầu của đế quốc Assyria, người ta đã có các liên hệ thương mại với các khu vực mà ở đó công nghệ sắt đã được phát triển đầu tiên vào thời gian mà công nghệ này được hình thành và phát triển.
== Tiểu lục địa Ấn Độ ==
Các khu vực khảo cổ tại Ấn Độ, như Malhar, Dadupur, Raja Nala Ka Tila và Lahuradewa tại Uttar Pradesh ngày nay đã cho thấy tồn tại các công cụ bằng sắt trong giai đoạn từ 1800 TCN tới 1200 TCN. Một số học giả tin rằng vào đầu thế kỷ 13 TCN, công việc nung chảy sắt đã là một nghề ở quy mô lớn tại Ấn Độ, cho thấy niên đại của sự khởi đầu công nghệ này có thể là sớm hơn nhiều.
Vào đầu thiên niên kỷ 1 TCN đã có sự phát triển mạnh trong công nghệ luyện sắt tại Ấn Độ. Các tiến bộ công nghệ và sự tinh thông trong công nghệ luyện sắt đã thu được trong thời kỳ này. Trung tâm luyện sắt tại miền đông Ấn Độ có niên đại vào thiên niên kỷ 1 TCN
Tại miền nam Ấn Độ (ngày nay là Mysore) sắt đã xuất hiện sớm nhất vào thế kỷ 11 TCN tới thế kỷ 12 TCN; các phát triển này là quá sớm để có thể có bất kỳ sự liên hệ chặt chẽ đáng kể nào với khu vực tây bắc của nước này.
Trong Áo nghĩa thư của Ấn Độ cũng đã có các đề cập tới công việc dệt, làm gốm sứ và luyện kim
Thời kỳ Maurya tại Ấn Độ cho thấy có các tiến bộ trong công nghệ; thay đổi công nghệ này bao gồm cả luyện kim.
Có lẽ sớm nhất từ khoảng năm 300 TCN, mặc dù chắc chắn là khoảng năm 200, thì thép chất lượng cao đã được sản xuất tại miền nam Ấn Độ bằng phương thức mà sau này người châu Âu gọi là công nghệ nồi nấu. Trong hệ thống này, sắt rèn có độ tinh khiết cao, than củi và thủy tinh được trộn lẫn trong nồi nấu và nung nóng cho đến khi sắt nóng chảy và hấp thụ cacbon.
== Đông Á ==
Các đồ cổ bằng gang đã được tìm thấy tại Trung Quốc có niên đại sớm nhất vào thời nhà Chu trong thế kỷ 6 TCN. Nền văn hóa thời kỳ đồ sắt tại cao nguyên Tây Tạng đã gắn liền một cách không chắc chắn với nền văn hóa Dương Đồng, được miêu tả trong các thư tịch cổ Tây Tạng. Năm 1972, gần thành phố Cảo Thành (藁城) ở Thạch Gia Trang (石家庄) (hiện nay là tỉnh Hà Bắc), một chiếc búa bằng đồng đỏ mũi sắt (铁刃青铜钺), có niên đại vào khoảng thế kỷ 14 TCN đã được khai quật. Sau khi có các khảo nghiệm khoa học, người ta phát hiện ra rằng sắt được chế tạo từ aerosiderit.
Các đồ vật bằng sắt cũng đã dược đưa vào bán đảo Triều Tiên thông qua thương mại với các bộ lạc và các xã hội cấp quốc gia tại khu vực Hoàng Hải trong thế kỷ 4 TCN, vào khoảng thời kỳ kết thúc của giai đoạn Chiến Quốc, nhưng trước khi nhà Tây Hán bắt đầu (Kim 2002; Taylor 1989). Yoon cho rằng sắt đã được giới thiệu lần đầu tiên cho các bộ lạc nằm dọc các thung lũng sông ở miền bắc Triều Tiên chảy vào Hoàng Hải, như các sông Cheongcheon và Taedong (Đại Đồng) (Taylor 1989; Yoon 1989). Việc sản xuất sắt nhanh chóng diễn ra vào thế kỷ 2 TCN và các công cụ sắt đã được nông dân sử dụng vào thế kỷ 1 tại miền nam Triều Tiên (Kim 2002). Các rìu bằng gang đã biết sớm nhất tại miền nam Triều Tiên được tìm thấy trong lưu vực sông Geum (Cẩm Giang). Thời gian sản xuất sắt cũng bắt đầu tương tự khi các bộ lạc phức tạp của Tam Hàn nổi lên. Các bộ lạc này là tiền thân của các nhà nước ban đầu như Tân La, Bách Tế, Cao Câu Ly và Gia Da (Barnes 2001; Taylor 1989). Các thỏi sắt là đồ táng quan trọng và chỉ ra sự giàu có hay thanh thế của người đã chết trong thời kỳ này (Lee 1998).
== châu Âu ==
Công việc luyện sắt đã được giới thiệu vào châu Âu vào khoảng năm 1000 TCN, có lẽ từ Tiểu Á và lan tỏa chậm chạp về phía bắc và phía tây trong vòng khoảng 500 năm.
=== Đông Âu ===
Dấu hiệu sớm nhất trong thiên niên kỷ 1 TCN về thời đại đồ sắt là tại Đông Âu. Trên các thảo nguyên ven Hắc Hải và biển Caspi cũng như khu vực Kavkaz, thời đại đồ sắt bắt đầu với các nền văn hóa Koban, Chernogorovka và Novocherkassk từ khoảng năm 900 TCN. Vào khoảng năm 800 TCN, nó đã lan tỏa tới Hallstatt C thông qua cái được coi là sự di cư "Thrace-Cimmeria".
Cùng với các nền văn hóa Chernogorovka và Novocherkassk, trên lãnh thổ của các nước Nga và Ucraina cổ thì thời đại đồ sắt ở mức độ đáng kể gắn liền với người Scythia, những người đã phát triển nền văn hóa đồ sắt từ thế kỷ 7 TCN. Phần lớn các dấu tích còn lại trong sản xuất đồ sắt và công nghiệp luyện kim đen của họ có từ thế kỷ 5 TCN tới thế kỷ 3 TCN đã được tìm thấy gần Nikopol ở Kamenskoe Gorodishche, được coi là khu vực luyện kim chuyên môn hóa của người Scythia cổ đại .
Từ nền văn hóa Hallstatt, thời đại đồ sắt đã lan tỏa về phía tây với sự bành trướng của người Celt từ thế kỷ 6 TCN. Tại Ba Lan, thời đại đồ sắt đến vào cuối văn hóa Lusatia trong khoảng thế kỷ 6 TCN, tiếp theo trong một số khu vực của nền văn hóa Pomerania.
Các quy kết sắc tộc của nhiều nền văn hóa thời đại đồ sắt đã bị tranh cãi mạnh, do nguồn gốc của người Đức, người Balt và người Slav đều được tìm thấy trong khu vực này.
=== Trung Âu ===
Tại Trung Âu, thời đại đồ sắt nói chung được chia ra thành thời đại đồ sắt sớm của nền văn hóa Hallstatt (HaC và HaD, 800 TCN-450 TCN) và thời đại đồ sắt muộn của nền văn hóa La Tène (bắt đầu khoảng 450 TCN). Thời đại đồ sắt kết thúc với sự xâm lăng của người La Mã.
=== Italy ===
Tại Italy, thời đại đồ sắt có lẽ đã được nền văn hóa Villanova đưa vào, nhưng nền văn hóa này lại được coi là nền văn hóa thời đại đồ đồng, trong khi nền văn minh Etrusci kế tiếp lại được coi như là một phần của thời đại đồ sắt thật sự. Thời đại đồ sắt Etrusci sau đó đã kết thúc với sự nổi lên và xâm lăng của Cộng hòa La Mã, đã xâm chiến thành phố cuối cùng của Etrusci là Velzna vào năm 265 TCN.
=== Quần đảo Anh ===
Tại khu vực quần đảo Anh, thời đại đồ sắt kéo dài từ khoảng thế kỷ 5 TCN cho tới khi người La Mã xâm chiếm và kéo dài tới tận thế kỷ 5 tại các khu vực không bị La Mã hóa. Các công trình phòng thủ có niên đại từ thời kỳ này thường là rất ấn tượng, ví dụ các nhà đá hình tháp tròn tại miền bắc Scotland và các pháo đài trên đồi rải rác trên toàn bộ quần đảo.
=== Bắc Âu ===
Thời đại đồ sắt được chia thành Thời đại đồ sắt tiền La Mã và Thời đại đồ sắt La Mã. Nó diẽn ra theo sự di cư của con người. Miền bắc Đức và Đan Mạch đã chủ yếu là nền văn hóa Jastorf, trong khi nền văn hóa của nửa miền nam bán đảo Scandinavia đã chủ yếu là những gì rất giống với thời đại đồ sắt Gregan.
Sản xuất sắt thời kỳ đầu tại Scandinavia thông thường có liên quan tới việc thu lượm sắt đầm lầy. Bán đảo Scandinavia, Phần Lan và Estonia có sản xuất sắt ở quy mô nhỏ từ rất sớm, nhưng việc xác định niên đại xa hơn nữa thì hiện tại là không thể. Nó dao động trong khoảng từ 3000 TCN-1000. Điều này gắn liền với phần phi-Đức của Scandinavia. Công việc chế biến kim loại và đồ sứ amiăng-gốm ở một mức độ nào đó là đồng thời tại Scandinavia do khả năng của đồ sứ trong việc chống và giữ lại nhiệt. Quặng sắt được sử dụng được cho là cát sắt (như đất đỏ), do hàm lượng phốtpho cao của nó có thể được nhận ra trong xỉ. Chúng đôi khi được tìm thấy cùng với các rìu sứ amiăng thuộc về nền văn hóa Ananjino. Sứ amiăng-gốm vẫn là một bí ẩn, do có các bình, chậu, chai, lọ đoạn nhiệt khác mà chưa rõ dùng làm gì.
== châu Phi hạ Sahara ==
Nền văn minh Nok là khu vực nung chảy sắt đầu tiên tại Tây Phi trước năm 1000 TCN. Luyện sắt và đồng còn lan tỏa về phía nam thông qua lục địa, tới tận khu vực Cape vào khoảng năm 200. Việc sử dụng rộng rãi sắt đã cách mạng hóa các cộng đồng người Bantu làm nông nghiệp, giúp họ loại bỏ các cộng đồng vẫn còn sử dụng các công cụ bằng đá trong săn bắn và hái lượm mà họ trạm chán khi họ mở rộng việc trồng cấy xa hơn về phía các xavan. Ưu thế công nghệ của người Bantu đã lan tỏa dọc theo miền nam châu Phi, giúp họ trở thành giàu có và hùng mạnh hơn, họ đã sản xuất sắt để làm công cụ và vũ khí ở quy mô công nghiệp lớn.
== Trích dẫn ==
== Tham khảo ==
Barnes Gina L. 2001. State Formation in Korea: Historical and Archaeological
Perspectives. Curzon, London.
Kim Do-heon. 2002. Samhan Sigi Jujocheolbu-eui Yutong Yangsang-e Daehan Geomto [A Study of
the Distribution Patterns of Cast Iron Axes in the Samhan Period]. Yongnam Kogohak
[Yongnam Archaeological Review] 31:1-29.
Lee Sung-joo. 1998. Silla - Gaya Sahoe-eui Giwon-gwa Seongjang [The Rise and Growth of
Silla and Gaya Society]. Hakyeon Munhwasa, Seoul.
Taylor Sarah. 1989. The Introduction and Development of Iron Production in Korea. World
Archaeology 20(3):422-431.
Yoon Dong-suk. 1989. Early Iron Metallurgy in Korea. Archaeological Review from
Cambridge 8(1):92-99.
== Xem thêm ==
Danh sách các thời kỳ khảo cổ
Danh sách các khu vực khảo cổ
Lịch sử của sắt
Bảng toát yếu về các nền văn hóa tiền sử chính của Cựu thế giới
Fogou
Sắt
Nung chảy kim loại
Lò cao
== Liên kết ngoài ==
Celtic Britain - A site with a focus on Iron Age Britain từ resourcesforhistory.com
Khai quật di chỉ thời đại đồ sắt, văn hoá Sa Huỳnh tại cồn An Hải - Côn Đảo |
ngô quyền.txt | Ngô Quyền (chữ Hán: 吳權, 897 - 944), còn được biết đến với tên gọi Tiền Ngô Vương (前吳王), là vị vua đầu tiên của nhà Ngô trong lịch sử Việt Nam. Năm 938, ông là người lãnh đạo nhân dân đánh bại quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng nổi tiếng, chính thức kết thúc hơn một thiên niên kỉ Bắc thuộc, mở ra một thời kì độc lập lâu dài của Việt Nam. Sau chiến thắng này, ông lên ngôi vua, trị vì từ năm 939 đến năm 944.
Sinh năm 897 trong một dòng họ hào trưởng có thế lực ở châu Đường Lâm, Ngô Quyền được sử sách mô tả là bậc anh hùng tuấn kiệt, "có trí dũng". Ngô Quyền lớn lên khi chính quyền đô hộ của nhà Đường tại Tĩnh Hải quân đang suy yếu và tan rã, khó lòng khống chế các thế lực hào trưởng người Việt ở địa phương, do đó dẫn tới sự xác lập quyền lực của họ Khúc ở phủ thành Đại La vào năm 905 và họ Dương vào năm 931. Sau khi trở thành con rể cho Dương Đình Nghệ, ông được tin cậy giao cai quản Ái Châu, đất bản bộ của họ Dương. Năm 937, hào trưởng đất Phong Châu là Kiều Công Tiễn sát hại Dương Đình Nghệ, trở thành vị Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ cuối cùng trong thời kì Tự chủ. Nhưng vị tân Tiết độ sứ lại không có chỗ dựa chính trị vững chắc, hành động tranh giành quyền lực của ông bị phản đối bởi nhiều thế lực địa phương và thậm chí nội bộ họ Kiều cũng chia rẽ trầm trọng. Bị cô lập, Kiều Công Tiễn vội vã cầu cứu nhà Nam Hán. Ngô Quyền nhanh chóng tập hợp lực lượng, kéo quân ra Bắc, giết chết Kiều Công Tiễn rồi chuẩn bị quyết chiến với quân Nam Hán. Thắng lợi của Ngô Quyền trên sông Bạch Đằng vào năm 938 đã đặt dấu chấm hết cho mọi âm mưu xâm lược Tĩnh Hải quân của nhà Nam Hán, đồng thời cũng kết thúc thời kì Bắc thuộc của Việt Nam. Năm 939, Ngô Quyền xưng vương, đóng đô ở Cổ Loa, lập ra nhà Ngô. Ngô Vương qua đời ở tuổi 47, trị vì được 6 năm. Sau cái chết của ông, nhà Ngô suy yếu nhanh chóng, không khống chế được các thế lực cát cứ địa phương và sụp đổ vào năm 965.
Ngô Quyền nằm trong danh sách 14 anh hùng dân tộc tiêu biểu của Việt Nam, là vị "vua đứng đầu các vua", là vị Tổ trung hưng của Việt Nam.
== Tiểu sử ==
Theo Phả họ Ngô, Ngô Quyền sinh ngày 12/3 năm Đinh Tỵ (17 tháng 4 năm 897) hoặc 898, người Đường Lâm, đời đời là nhà quý tộc. Cha tên Mân làm chức châu mục ở bản châu.
Khi Ngô Quyền vừa mới sinh có ánh sáng lạ đầy nhà, trạng mạo khác thường, có 3 nốt ruồi ở lưng, thầy tướng cho là lạ, bảo có thể làm chủ một phương, nên mới đặt tên là Quyền. Ngô Quyền lớn lên, khôi ngô, mắt sáng như chớp, dáng đi thong thả như hổ, có trí dũng, sức có thể nâng được vạc.
== Sự nghiệp ==
=== Bối cảnh ===
Năm 907, nhà Đường mất, Trung Quốc rối loạn, lúc ấy Lưu Ẩn chiếm cứ Phiên Ngung, Lưu Ẩn chết, con là Lưu Nghiễm kế lập, xưng quốc hiệu Nam Hán, vùng đất thuộc Quảng Đông ngày nay; phần trung tâm của Trung Quốc tồn tại nhà Hậu Lương.
Năm 907, thổ hào Giao Chỉ là Khúc Hạo nổi lên chiếm giữ, xưng là Tiết độ sứ. Khúc Hạo sai con là Khúc Thừa Mỹ làm Hoan hảo sứ sang dò xét nhà Nam Hán. Ngô Quyền đã lặp công, giết hai tên tướng tài của Lý Tiến là Lý Bưu và Lưu ứng. Sau khi Khúc Hạo chết, Khúc Thừa Mĩ lên thay, cho người sang nhà Lương lĩnh tiết việt, hành động này làm vua Nam Hán tức giận, xua quân chiếm cứ Giao Chỉ. Năm 930, tướng Nam Hán Lý Khắc Chính đem binh đánh, bắt được Khúc Thừa Mỹ, Lý Khắc Chính lưu lại Giao Chỉ.
Một hào trưởng người Ái châu là Dương Đình Nghệ nuôi 3000 con nuôi, mưu đồ khôi phục. Năm 931, Dương Đình Nghệ đánh đuổi Lý Tiến và quân cứu viện do Trần Bảo chỉ huy, xưng là Tiết độ sứ.
Năm 937, nha tướng của Dương Đình Nghệ là Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ để thay chức.
=== Nha tướng cho Dương Đình Nghệ ===
Ngô Quyền lớn lên làm nha tướng cho Dương Đình Nghệ, được Dương Đình Nghệ gả con gái cho và quyền cai quản Ái châu.
=== Trận Bạch Đằng ===
Năm 938, sau khi Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ; Ngô Quyền phát binh từ Ái châu ra đánh Kiều Công Tiễn. Kiều Công Tiễn sai sứ sang đút lót để cầu cứu với nhà Nam Hán. Sách An Nam chí lược viết rằng: Công Tiễn bị Ngô Quyền vây, sức yếu bị thua mới cầu cứu nhà Nam Hán. Vua Nam Hán là Lưu Cung nhân Giao Chỉ có loạn muốn chiếm lấy. Lưu Cung phong con mình là Vạn Vương Hoằng Tháo làm Giao Vương, đem quân cứu Kiều Công Tiễn.
Lưu Cung tự làm tướng, đóng ở Hải Môn để làm thanh viện. Lưu Cung hỏi kế ở Sùng văn sứ là Tiêu Ích, Tiêu Ích nói:"Nay mưa dầm đã mấy tuần, đường biển thì xa xôi nguy hiểm, Ngô Quyền lại là người kiệt hiệt, không thể khinh suất được. Đại quân phải nên thận trọng chắc chắn, dùng nhiều người hướng đạo rồi sau mới nên tiến. Vua Nam Hán không nghe, sai Hoằng Tháo đem chiến thuyền theo sông Bạch Đằng mà vào, muốn đánh Ngô Quyền; nhưng quân chưa đến, Ngô Quyền đã giết Kiều Công Tiễn rồi.
Ngô Quyền nghe tin Hoằng Tháo sắp đến, bảo các tướng tá rằng: Hoằng Tháo là đứa trẻ khờ dại,đem quân từ xa đến, quân lính còn mỏi mệt, lại nghe Công Tiễn đã chết, không có người làm nội ứng, đã mất vía trước rồi. Quân ta lấy sức còn khỏe địch với quân mỏi mệt, tất phá được. Nhưng bọn chúng có lợi ở chiến thuyền, ta không phòng bị trước thì thế được thua chưa biết ra sao. Nếu sai người đem cọc lớn vạt nhọn đầu bịt sắt đóng ngầm ở trước cửa biển, thuyền của bọn chúng theo nước triều lên vào trong hàng cọc thì sau đó ta dễ bề chế ngự, không cho chiếc nào ra thoát.
Ngô Quyền định kế rồi, bèn cho đóng cọc ở hai bên cửa biển. Khi nước triều lên, Ngô Quyền sai người đem thuyền nhẹ ra khiêu chiến, giả thua chạy để dụ quân Nam Hán đuổi theo. Hoằng Tháo quả nhiên tiến quân vào. Khi binh thuyền đã vào trong vùng cắm cọc. Nước triều rút, cọc nhô lên, Ngô Quyền bèn tiếng quân ra đánh, ai nấy đều liều chết chiến đấu. Quân Nam Hán không kịp sửa thuyền mà nước triều rút xuống rất gấp, thuyền đều mắc vào cọc mà lật úp, rối loạn tan vỡ, quân lính chết đuối quá nữa. Ngô Quyền thừa thắng đuổi đánh, bắt được Hoằng Tháo giết đi. Vua Nam Hán đồn trú ở cửa biển để cứu trợ nhưng không làm gì được; thương khóc, thu nhặt quân lính còn sót rút về.
Sử gia Ngô Sĩ Liên nhận định trong sách Đại Việt sử ký toàn thư:
Ngô Thì Sĩ nhận định trong sách Việt sử tiêu án:
=== Xưng vương và trị vì ===
Mùa xuân năm 939, Ngô Quyền xưng là vương, trở thành vị vua sáng lập ra nhà Ngô,sách Đại Việt sử ký toàn thư gọi Ngô Quyền là Tiền Ngô Vương. Sách Đại Việt sử ký toàn thư chép rằng:Mùa xuân, vua bắt đầu xưng vương, lập Dương thị làm hoàng hậu, đặt trăm quan, chế định triều nghi phẩm phục. Sách Việt sử tiêu án chép:Vương giết Công Tiễn, phá Hoằng Tháo, tự lập làm vua, tôn Dương Thị làm Hoàng hậu, đặt đủ 100 quan, dựng ra nghi lễ triều đình, định các sắc áo mặc, đóng đô ở Cổ Loa thành, làm vua được 6 năm rồi mất.
Kinh đô của triều đại mới không nằm ở Đại La mà chuyển sang Cổ Loa, kinh đô của nước Âu Lạc từ thời An Dương Vương một nghìn năm trước. Lý giải cho việc Ngô Quyền không chọn Đại La sầm uất và có truyền thống nhiều thế kỷ là trung tâm chính trị trước đó, các sử gia cho rằng có 2 nguyên nhân: tâm lý tự tôn dân tộc và ý thức bảo vệ độc lập chủ quyền của đất nước từ kinh nghiệm cũ để lại:
Ý thức dân tộc trỗi dậy, tiếp nối quốc thống xưa của An Dương Vương, quay về với kinh đô cũ thời Âu Lạc, biểu hiện ý chí đoạn tuyệt với Đại La do phương Bắc khai lập.
Đại La trong nhiều năm là trung tâm cai trị của các triều đình Trung Quốc đô hộ Việt Nam, là trung tâm thương mại sầm uất nhiều đời chủ yếu của các thương nhân người Hoa nắm giữ. Đại La do đó là nơi tụ tập nhiều người phương Bắc, từ các quan lại cai trị nhiều đời, các nhân sĩ từ phương Bắc sang tránh loạn và các thương nhân. Đây là đô thị mang nhiều dấu vết cả về tự nhiên và xã hội của phương Bắc, và thế lực của họ ở Đại La không phải nhỏ. Do đó lực lượng này dễ thực hiện việc tiếp tay làm nội ứng khi quân phương Bắc trở lại, điển hình là việc Khúc Thừa Mỹ nhanh chóng thất bại và bị Nam Hán bắt về Phiên Ngung. Rút kinh nghiệm từ thất bại của Khúc Thừa Mỹ, Ngô Quyền không chọn Đại La.
Theo Tạ Đại Chí Trường: Chiếm giữ Đại La xong, Ngô Quyền không đóng đô nơi phủ trị cũ mà lại tìm một vị trí bên lề để canh chừng. Tại sao? Vì còn tự ti thấy mình chưa đủ sức thay thế chủ cũ? Vì cái thế Đại La trống trải trong tầm sông nước dễ dàng cho sự xâm lấn của Nam Hán so với Cổ Loa khuất lấp hơn một ít mà vẫn còn có ngôi thành Kén của Mã Viện làm thế đương cự? Dù sao thì sự từ chối Đại La cũng là một dấu vết co cụm để tính chất địa phương nổi lên không những chỉ trong gia đình ông mà còn thấy trong cách ứng xử của các tập đoàn quyền lực khác ở phủ Đô hộ cũ nữa..
== Qua đời ==
Năm 944, Ngô Vương qua đời, hưởng dương 47 tuổi; trước khi chết ông di chúc giao cho Dương Tam Kha phò tá cho con của mình. Ông không có miếu hiệu và thụy hiệu, sử sách xưa nay chỉ gọi ông là Tiền Ngô Vương. Sách Thiền uyển tập anh, phần truyện Quốc sư Khuông Việt có nhắc Ngô Thuận Đế.
== Nhận định ==
Các nhà sử học Việt Nam thời trung đại như Lê Văn Hưu, Ngô Sĩ Liên đánh giá rất cao công trạng của Ngô Quyền. Lê Văn Hưu nhận định về ông rằng:
Ngô Sĩ Liên ca tụng ông là mưu tài đánh giỏi, làm nên công dựng lại cơ đồ, đứng đầu các vua đồng thời cho rằng cách thức cai trị của ông có quy mô của bậc đế vương. Phan Bội Châu và Trần Quốc Vượng đều tôn vinh ông là "vua Tổ phục hưng dân tộc".
== Tồn nghi về quê hương ==
Quê hương của Ngô Quyền từng là vấn đề gây tranh cãi và cho đến nay vẫn không thống nhất hoàn toàn. Bộ chính sử Việt Nam xưa nhất còn lại đến ngày nay, Đại Việt sử ký toàn thư, chỉ ghi rằng Ngô Quyền là người ở châu Đường Lâm nhưng không chú thích gì thêm về địa danh này, khiến cho các sử gia đời sau rất lúng túng. Nó thể hiện sự cẩn trọng của các sử thần đời Hậu Lê đối với những thông tin họ chưa thể kiểm chứng, đối chiếu. Các sử gia đời sau đã đẩy mạnh tìm hiểu để xác định xem châu Đường Lâm nằm ở đâu. Hiện tồn tại 3 thuyết, với 3 địa điểm nằm ở các địa phương ngày nay cách nhau khá xa và với khoảng cách tương đối đều nhau trên trục Bắc-Nam, là
Hà Nội
Thanh Hóa
Hà Tĩnh.
Trong đó một địa điểm đã được thừa nhận nhưng đang bị đặt nghi vấn, là xã Đường Lâm ở thị xã Sơn Tây, Hà Nội. Các ý kiến như sau:
==== Đường Lâm (Hà Nội) ====
Nguyễn Văn Siêu trong sách Đại Việt địa dư toàn biên viết "Nay xét sử cũ chép: Bố Cái Đại Vương là Phùng Hưng. Tiền Ngô Vương Quyền đều là người Đường Lâm. Nay xã Cam Lâm, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ (xã Cam Lâm trước là xã Cam Tuyền) có hai đền thờ Bố Cái Đại Vương và Tiền Ngô Vương. Còn có một bia khắc rằng: Bản xã đất ở rừng rậm, đời xưa gọi là Đường Lâm, đời đời có anh hào. Đời nhà Đường có Phùng Vương tên húy Hưng, đời Ngũ Đại có Ngô Vương tên húy Quyền. Hai vương cùng một làng, từ xưa không có. Uy đức còn mãi, miếu mạo như cũ. Niên hiệu đề là Quang Thái năm thứ ba mùa xuân tháng hai, ngày 18 làm bia này".
Như vậy, Nguyễn Văn Siêu đã khẳng định châu Đường Lâm quê hương của Ngô Quyền nằm ở xã Cam Lâm, tổng Cam Giá, huyện Phúc Thọ, phủ Quảng Oai, tỉnh Sơn Tây tức nay là làng cổ Đường Lâm thuộc Hà Nội. Đại Nam nhất thống chí cũng ghi tương tự. Ý kiến này tiếp tục được Trần Quốc Vượng khẳng định mà theo như chính ông nhận xét thì nó được "tiếp thu ngay", trở thành kiến thức lịch sử chính thống đưa vào giảng dạy trong nhà trường và phổ biến trên các phương tiện thông tin đại chúng. Làng cổ Đường Lâm cũng được mệnh danh là đất hai vua
==== Đường Lâm (Bắc Trung Bộ) ====
Thuộc Hoan Châu (Nam Hoan Châu, tức Hà Tĩnh)
Người đầu tiên nghi ngờ ý kiến cho rằng quê hương Đường Lâm ở Sơn Tây là học giả Đào Duy Anh. Trong sách Đất nước Việt Nam qua các đời xuất bản năm 1964, ông viết "Đại Việt sử ký toàn thư (Ngoại, q. 5) chép rằng Ngô Quyền là người Đường-lâm, con Ngô Mân là châu mục bản châu. Sách Cương mục (Tb, q. 5) chú rằng: Đường-lâm là tên xã xưa, theo sử cũ chú là huyện Phúc-lộc, huyện Phúc-lộc nay đổi làm huyện Phúc-thọ, thuộc tỉnh Sơn-tây. Xét Sơn-tây tỉnh chí thì thấy nói xã Cam-lâm huyện Phúc-thọ xưa gọi là Đường-lâm, Phùng Hưng và Ngô Quyền đều là người xã ấy, nay còn có đền thờ ở đó. Chúng tôi rất ngờ những lời ghi chú ấy và nghĩ rằng rất có thể người ta đã lầm Đường-lâm là tên huyện đời Đường thuộc châu Phúc-lộc (Phúc-lộc châu có huyện Đường-lâm) thành tên xã Đường-lâm ở huyện Phúc-thọ. Huyện Đường-lâm châu Phúc-lộc là ở miền nam Hà-tĩnh. An-nam kỷ lược thì lại chép rằng Ngô Quyền là người Ái-châu, cũng chưa biết có đúng không".
Sau đó, khi phê bình Đại Việt sử ký toàn thư, Văn Tân nhận xét "Ý kiến bạn Đào-duy-Anh rất đáng cho chúng ta để ý.[...] Ngô Quyền là người huyện Đường-lâm thuộc Hoan-châu chứ không phải là người huyện Phúc-thọ tỉnh Hà-tây.[...] Ngô Quyền là quý tộc con Ngô Mân quê ở Hoan-châu (có chỗ nói Ái-châu) đã dấy quân từ Hoan-châu tiến ra bắc phá quân Nam Hán ở cửa Bạch-đằng. Như vậy Ngô Quyền phải là người huyện Đường-lâm châu Phúc-lộc (Hà-tĩnh) chứ không phải người xã Đường-lâm huyện Phúc-thọ (Sơn-tây). Có thế mới phù hợp với tình hình xã hội hồi thế kỷ VIII, IX và X".
Năm 1967, với bài viết Về quê hương của Ngô Quyền, Trần Quốc Vượng đã phản bác lại ý kiến của Đào Duy Anh và Văn Tân, đồng thời khẳng định quê hương Ngô Quyền nằm ở làng cổ Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, Hà Nội hiện thời. Có thể coi đây là tiếng nói quan trọng nhất của giới sử học Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lúc bấy giờ để quyết định vấn đề quê hương Ngô Quyền.
Thuộc Ái Châu (tức Thanh Hóa, khoảng Nam Thanh Hóa - Bắc Nghệ An)
Lê Tắc, người Ái Châu (Đông Sơn, Thanh Hóa), viết trong An Nam chí lược rằng: "Ngô Quyền, người châu Ái", ông sống cách thời Ngô Quyền 300 năm tuy nhiên ý kiến này của ông hầu như không được các sử gia Việt Nam trước thế kỉ XX quan tâm có lẽ vì ông đi theo quân Nguyên Mông.
Trong tập kỷ yếu hội thảo "Quốc sư Khuông Việt và Phật giáo Việt Nam đầu kỷ nguyên độc lập" tổ chức vào tháng 3 năm 2011, các nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vượng, Trần Trọng Dương, Nguyễn Tô Lan thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm, với bài viết Đường Lâm là Đường Lâm nào cùng nhiều luận cứ lịch sử, đã chứng minh tấm bia cổ Phụng tự bi 奉祀碑 (ký hiệu 36002 trong kho lưu trữ bản dập của viện Nghiên cứu Hán Nôm) được coi là có niên đại từ đời Trần mà Nguyễn Văn Siêu đề cập tới, hiện ở đền thờ Ngô Quyền tại xã Đường Lâm ở Sơn Tây, cứ liệu quan trọng mà Trần Quốc Vượng dựa vào trong bài viết Về quê hương của Ngô Quyền, kì thực chỉ được dựng vào đầu thời Nguyễn.
Và cái tên Đường Lâm của xã Đường Lâm hiện thời mới chỉ xuất hiện từ năm 1964, năm mà Quốc hội Việt Nam chính thức ra quyết định đổi tên xã này thành xã Đường Lâm, trước đó, đất này có tên là xã Cam Lâm. Từ đó, các nhà nghiên cứu này khẳng định rằng "quê Ngô Quyền nằm loanh quanh giữa vùng Thanh Hóa – Nghệ An ngày nay mà khó có thể ở vị trí Sơn Tây (khi đó là huyện Gia Ninh của Phong Châu) được".
== Gia đình ==
=== Vợ ===
Dương Hậu: Bà là con gái của Dương Đình Nghệ, kết duyên cùng với Ngô Quyền khi ông trở thành nha tướng của Dương Đình Nghệ, một cuộc hôn nhân mang nhiều ý nghĩa liên minh chính trị. Một số tài liệu ghi rằng bà tên là Dương Thị Như Ngọc, nhưng theo ông Lê Văn Lan thì đây chỉ là một cái tên do người đời sau "đặt", để "phân biệt" với bà Dương hậu khác là bà Dương Vân Nga, bản thân cái tên Dương Vân Nga cũng chỉ là cái tên do giới văn nghệ Việt Nam ở thế kỉ 20 "đặt" cho bà. Chính sử chỉ gọi bà là Dương thị.
Đỗ phi: Bà là người ở làng Dục Tú, huyện Đông Anh, Hà Nội hiện nay. Trước khi có đền thờ bà ở gần cầu Tây Dục Tú nhưng nay đã bị phá. Nhà thờ họ Đỗ ở thôn Hậu Dục Tú vẫn còn đôi câu đối nói về cuộc hôn phối giữa bà và Ngô mang ý nghĩa liên minh chính trị Ngô - Đỗ.
=== Con cái ===
Thiên Sách Vương Ngô Xương Ngập: Là con trai trưởng của Ngô Quyền, được phỏng đoán sinh ra vào khoảng thập niên thứ hai của thế kỉ 10. Tiền Ngô Vương truyền ngôi cho Ngô Xương Ngập nhưng bị Dương Tam Kha cướp ngôi, Xương Ngập phải bỏ trốn. Năm 950, Dương Tam Kha bị lật đổ, ông được em là Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn đón về, hai anh em cùng làm vua. Năm 954, ông mất.
Nam Tấn Vương Ngô Xương Văn: Là con trai thứ hai của Ngô Quyền, mẹ là Dương hậu. Ông đã làm đảo chính, phế truất Dương Bình Vương, trung hưng lại cơ nghiệp nhà Ngô. Trị vì cùng với anh là Thiên Sách Vương từ năm 950 đến năm 954, sau đó, ông một mình trị nước từ năm 955 đến năm 965 thì mất. Nhà Ngô sụp đổ.
Ngô Nam Hưng: Là con trai của Ngô Quyền, mẹ là Dương hậu. Không được sử sách đề cập gì thêm
Ngô Càn Hưng: Là con trai của Ngô Quyền, mẹ là Dương hậu. Không được sử sách đề cập gì thêm
== Tôn vinh ==
Đền thờ và lăng Ngô Quyền ở thôn Cam Lâm, xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây là một địa chỉ du lịch và tâm linh nổi tiếng của làng cổ này. Đền được xây dựng bằng gạch, lợp ngói mũi hài, quay về hướng đông, có tường bao quanh. Qua tam quan, hai bên có tả mạc, hữu mạc, mỗi dãy nhà gồm năm gian nhỏ. Đại bái có hoành phi khắc bốn chữ "Tiền Vương bất vọng". Ngày nay tòa đại bái được dùng làm phòng trưng bày về thân thế, sự nghiệp của Ngô Quyền và nhà triển lãm chiến thắng Bạch Đằng. Hậu cung kiến trúc theo kiểu chữ đinh (丁), có tượng Ngô Quyền, đã được tu tạo vào năm 1877. Lăng Ngô Quyền có mái che, cao 1,5 mét, bia đá được khắc thời Tự Đức, có ghi bốn chữ Hán "Tiền Ngô Vương lăng". Tiền Ngô vương lăng đã được trùng tu năm 2013 với vốn đầu tư trùng tu lăng là 29 tỉ đồng, trong đó gia tộc họ Ngô đóng góp 30%.
Trước năm 1945, đền thờ Ngô Quyền có hai mẫu ruộng do ba xóm Đông, Tây, Nam của làng Cam Lâm thay nhau cấy lúa để sửa soạn tế lễ. Lễ vật gồm một con lợn nặng 50 kg, 30 đấu gạo nếp để thổi xôi, trầu cau, hương hoa… Trong hai ngày tế lớn (14 và 15 tháng 8 âm lịch), làng cử một thủ từ và tám tuần phiên để canh gác nhà thờ .
Phố Nguyễn Công Trứ ở thành phố Hải Phòng có đình Hàng Kênh cũng thờ Tiền Ngô Vương Ngô Quyền. Tương truyền trước khi đánh quân Nam Hán, Ngô Quyền đã đóng quân, chiêu binh tập mã ở An Dương (nay thuộc Hải Phòng). Dân nhiều làng ở đây đã làm quân cận vệ và chuẩn bị những cọc gỗ đóng xuống lòng sông Bạch Đằng để chống quân Nam Hán. Hằng năm vào trung tuần tháng hai âm lịch, đình mở hội, cúng tế, có hát ả đào, hát chèo, múa hạc gỗ và nhiều trò dân gian khác . Quanh khu vực hạ lưu sông Bạch Đằng có đến hơn 30 đền miếu thờ Ngô Quyền và các tướng của ông.
Nhiều đường phố mang tên Ngô Quyền như tại quận Hoàn Kiếm, Hà Nội, thành phố Thanh Hóa, thị xã Quảng Yên,...
Tên ông cũng là tên của một quận nội thành của Hải Phòng. Nhiều trường học ở Việt Nam cũng mang tên Ngô Quyền.
== Ảnh ==
== Xem thêm ==
Trận Bạch Đằng, 938
Nhà Ngô
Dương Tam Kha
Dương hậu
Ngô Xương Ngập
Ngô Xương Văn
Hậu Ngô Vương
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
đội tuyển bóng đá quốc gia hà lan.txt | Đội tuyển bóng đá quốc gia Hà Lan, còn có biệt danh là "Cơn lốc màu da cam", là đội tuyển của Hiệp hội bóng đá Hoàng gia Hà Lan và đại diện cho Hà Lan trên bình diện quốc tế.
Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Hà Lan là trận gặp đội tuyển Bỉ vào năm 1905. Thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là chức vô địch Euro 1988.
== Danh hiệu ==
Vô địch thế giới: 0
Á quân: 1974; 1978; 2010
Hạng ba: 2014
Hạng tư: 1998
Vô địch châu Âu: 1
Vô địch: 1988
Bán kết: 1992; 2000; 2004
Bóng đá nam tại Olympic:
1908; 1912; 1920
Hạng tư: 1924
== Thành tích quốc tế ==
=== Giải vô địch bóng đá thế giới ===
=== Giải vô địch châu Âu ===
== Cầu thủ ==
=== Kỷ lục về bàn thắng và số lần khoác áo ===
In đậm: cầu thủ vẫn còn thi đấu ở đội tuyển quốc gia
Cập nhật lần cuối: 28 tháng 3 năm 2017
Source: voetbalstats.nl (tiếng Hà Lan)
== Huấn luyện viên ==
== Lịch thi đấu ==
=== 2017 ===
== Đội hình hiện tại ==
Các cầu thủ được triệu tập cho vòng loại World Cup 2018 gặp Bulgaria vào ngày 25 tháng 3 và trận giao hữu gặp Ý vào ngày 28 tháng 3 năm 2017.
Cập nhật đến ngày 28 tháng 3 năm 2017 sau trận đấu với Ý.
=== Triệu tập gần đây ===
Các cầu thủ được gọi lên trong vòng 12 tháng.
INJ Cầu thủ rút lui vì chấn thương.PRE Đội hình sơ bộ.
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ của đội tuyển bóng đá quốc gia Hà Lan (tiếng Hà Lan)
Thống kê RSSSF về kết quả của đội tuyển quốc gia Hà Lan từ năm 1908
Thống kê của RSSSF về cầu thủ khoác áo đội tuyển và ghi bàn nhiều nhất
Thống kê RSSSF về các huấn luyện viên
Lịch sử đội tuyển bóng đá quốc gia Hà Lan
Hà Lan tại World Cup 1974
Hà Lan tại World Cup 1978
Hà Lan: "The unbearable Lightness of being Oranje..."
== Chú thích == |
hệ thống luật châu âu lục địa.txt | Dân luật hay luật châu Âu lục địa hay luật Đức-La Mã là tên gọi để chỉ một hệ thống luật thịnh hành nhất trên thế giới. Trong vai trò của một hệ thống luật, nó thường được so sánh với thông luật. Khác biệt chủ yếu thường được đưa ra giữa hai hệ thống này là ở chỗ thông luật đề ra các quy tắc trừu tượng từ các vụ việc cụ thể, trong khi dân luật bắt đầu từ các quy tắc trừu tượng để sau đó các quan tòa hay trọng tài phải áp dụng các quy tắc đó cho các vụ việc cụ thể.
Dân luật có nguồn gốc từ Luật La Mã, luật giáo hội và phong trào khai sáng, cùng với các ảnh hưởng từ các luật tôn giáo khác, chẳng hạn như luật Hồi giáo. Các hệ thống luật pháp tại nhiều quốc gia theo hệ thống dân luật dựa trên một hay vài bộ luật, trong đó đề ra các nguyên tắc chính để hướng dẫn chung về luật. Các ví dụ nổi tiếng nhất có lẽ là bộ luật Dân sự Pháp, mặc dầu Bürgerliches Gesetzbuch của Đức (BGB) và luật Dân sự Thụy Sĩ cũng là các sự kiện mang tính bước ngoặt trong lịch sử dân luật. Các hệ thống dân luật/hỗn hợp của Scotland và Nam Phi là không pháp điển hóa, còn các hệ thống dân luật của các quốc gia khu vực Scandinavia chủ yếu tồn tại dưới dạng không pháp điển hóa.
== Lịch sử ==
Hệ thống dân luật dựa trên luật La Mã, đặc biệt là Corpus Juris Civilis (Dân pháp đại toàn) của Hoàng đế Justinian I, và sau đó được các học giả pháp lý thời Trung cổ phát triển thêm.
Sự chấp nhận luật La Mã có các đặc trưng khác nhau tại mỗi quốc gia. Trong một số trường hợp, hiệu lực của nó được tạo ra từ hành động lập pháp, nghĩa là nó trở thành luật thực chứng, trong khi ở các trường hợp khác nó được chấp nhận bằng các quy trình pháp lý đề ra bởi các nhà lý thuyết pháp lý.
Vì vậy, luật La Mã đã không chi phối một cách tuyệt đối tại châu Âu. Luật La Mã chỉ là nguồn luật pháp thứ cấp chỉ được áp dụng khi các tập quán và luật lệ cục bộ địa phương thiếu sự sửa đổi thích hợp cho từng trường hợp cụ thể. Tuy nhiên, các quy tắc cục bộ địa phương cũng chủ yếu được diễn giải theo luật La Mã (nó là truyền thống pháp lý chung của châu Âu theo kiểu này), kết quả là luật La Mã có ảnh hưởng như là của nguồn luật chính.
Đặc trưng thứ hai, ngoài nền tảng luật La Mã, là sự pháp điển hóa mở rộng cho luật La Mã đã được phê chuẩn, nghĩa là đưa nó vào trong các bộ luật dân sự. Khái niệm pháp điển hóa có nguồn gốc từ luật Hammurabi ở Babylon cổ đại.
Khái niệm pháp điển hóa được phát triển tiếp trong thế kỷ 17 và 18, như là sự biểu lộ của cả luật tự nhiên và các ý tưởng của phong trào khai sáng. Ý tưởng chính trị của thời đại này được thể hiện bằng các khái niệm dân chủ, bảo hộ sở hữu và pháp quyền. Quan điểm như vậy đòi hỏi phải có sự tạo ra một sự chắc chắn của luật pháp, thông qua sự ghi chép luật và sự đồng nhất của nó. Vì thế, sự pha trộn nói trên của luật La Mã và các tập quán, luật lệ địa phương đã ngừng tồn tại để nhường chỗ cho pháp điển hóa luật, để có thể góp phần cho các mục đích của ý tưởng chính trị nói trên.
Một nguyên nhân khác góp phần vào sự pháp điển hóa là ý niệm nhà nước dân tộc (quốc gia dân tộc), được sinh ra trong thế kỷ 19, đòi hỏi phải có sự ghi chép luật pháp mà có thể áp dụng được cho nhà nước đó.
Chắc chắn đã có những phản ứng đối với mục tiêu pháp điển hóa luật. Những người đề xuất ý tưởng pháp điển hóa coi nó như là có lợi cho sự chắc chắn, đồng nhất và việc ghi chép có hệ thống của luật pháp; trong khi những người phản đối lại cho rằng pháp điển hóa có thể gây ra sự cứng nhắc của luật pháp.
Cuối cùng, cho dù có sự phản đối và kháng cự thế nào đi chăng nữa đối với pháp điển hóa thì quá trình pháp điển hóa các bộ luật tư (tư pháp) châu Âu cũng tiến lên. Bộ Luật Dân sự Napoleon năm 1804, Luật Dân sự Đức (Bürgerliches Gesetzbuch) năm 1900 và luật dân sự Thụy Sĩ là các bộ luật dân sự quốc gia có ảnh hưởng nhiều nhất.
Do Đức là một cường quốc vào cuối thế kỷ 19 và hệ thống pháp lý của nước này được tổ chức khá tốt, trong khi nhiều quốc gia châu Á là các nước đang phát triển, nên Luật Dân sự Đức đã trở thành nền tảng cho các hệ thống pháp lý của Nhật Bản và Hàn Quốc. Tại Trung Quốc, Luật Dân sự Đức được giới thiệu vào những năm cuối thời nhà Thanh và tạo thành nền tảng cho luật pháp của Trung Hoa Dân Quốc, hiện nay vẫn có hiệu lực tại Đài Loan.
Một số tác giả cho rằng dân luật cũng phục vụ trong vai trò của nền tảng cho pháp chế xã hội chủ nghĩa được sử dụng tại các quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản, trong đó các nguyên tắc pháp lý dựa trên các nguyên tắc chung của dân luật và sự bổ sung các ý tưởng của chủ nghĩa Marx–Lenin.
Một vài chế định pháp lý trong dân luật cũng được lấy và sửa để thích ứng từ các chế định tương tự trong luật Hồi giáo và luật học Hồi giáo trong thời kỳ Trung cổ. Ví dụ, chế định Hawala của luật Hồi giáo đã ảnh hưởng tới sự phát triển của Avallo trong dân luật Italia và Aval trong dân luật Pháp. Khái niệm commenda thành viên hợp vốn trong công ty hợp danh sử dụng trong dân luật châu Âu cũng mô phỏng theo Qirad và Mudaraba trong luật Hồi giáo. Khái niệm res judicata (vụ việc đã được phán quyết) trong dân luật và chuyển nhượng nợ là không được phép theo luật La Mã nhưng lại được phép trong dân luật hiện đại, có thể có nguồn gốc từ luật Hồi giáo. Khái niệm về đại lý cũng từng là "chế định không được biết đến đối với luật La Mã", trong đó một cá nhân không thể "ký kết một hợp đồng ràng buộc thay mặt cho một người khác trong vai trò của người đại lý." Khái niệm về đại lý được giới thiệu bởi các luật gia Hồi giáo, và vì thế khái niệm đại lý của dân luật có thể có nguồn gốc từ luật Hồi giáo.
Luật Hồi giáo cũng giới thiệu "hai nguyên tắc nền tảng cho phương Tây, mà cấu trúc tương lai của luật dựa theo đó, là: công bằng và thiện ý (bona fide)", để dẫn tới khái niệm pacta sunt servanda (thỏa ước phải được tôn trọng) trong dân luật và luật quốc tế. Ảnh hưởng khác của luật Hồi giáo đối với truyền thống dân luật là giả định vô tội, được Louis IX của Pháp giới thiệu vào châu Âu ngay khi ông trở về từ Palestine sau Thập tự chinh. Trước đó, tố tụng pháp lý châu Âu hoặc là xét xử theo trận chiến hoặc xét xử theo thử thách tội. Ngược lại, luật Hồi giáo dựa trên giả định vô tội từ khi bắt đầu, như được khalip Umar tuyên bố trong thế kỷ 7. Siete Partidas của Alfonso X, được coi là "chiến công của khoa học pháp lý" trong truyền thống dân luật, cũng chịu ảnh hưởng từ luận thuyết pháp lý Hồi giáo Villiyet được viết tại Tây Ban Nha Hồi giáo.
== So sánh với thông luật ==
Dân luật chủ yếu là ngược lại với thông luật, là hệ thống pháp lý được những người nói tiếng Anh phát triển, đặc biệt là tại Anh.
Khác biệt về nguồn gốc ở chỗ, về mặt lịch sử thì thông luật là luật được phát triển theo các tục lệ, bắt đầu trước khi có bất kỳ luật nào ở dạng thành văn và còn tiếp tục được các tòa án áp dụng sau khi đã có các luật thành văn, trong khi dân luật phát triển lên từ luật La Mã, dựa trên Corpus Juris Civilis (Dân pháp đại toàn) của Justinian.
Sau này, dân luật được pháp điển hóa như là droit coutumier hay tập quán pháp là các bản biên soạn địa phương của các nguyên tắc pháp lý được thừa nhận như là quy chuẩn. Được khuấy động bpửi thời kỳ khai sáng, các cố gắng nhằm pháp điển hóa luật tư (tư pháp) đã bắt đầu trong nửa sau của thế kỷ 18 (Xem Luật dân sự), nhưng các bộ luật dân sự với ảnh hưởng kéo dài chỉ được công bố sau Cách mạng Pháp, trong các quốc gia như Pháp (với Luật Napoleon), Áo (xem ABGB), Quebec (xem Luật Dân sự Quebec), Italia (Codice Civile), Bồ Đào Nha (Código Civil), Tây Ban Nha (Codigo Civil), Hà Lan (xem Burgerlijk Wetboek) và Đức (xem Bürgerliches Gesetzbuch). Tuy nhiên, pháp điển hóa không phải luôn là đặc trưng xác định của hệ thống dân luật, chẳng hạn các hệ thống dân luật của các nước khu vực Scandinavia vẫn chủ yếu tồn tại dưới dạng không pháp điển hóa trong khi một số quốc gia thuộc hệ thống thông luật cũng pháp điển hóa phần nào các bộ luật của mình, chẳng hạn như trong Luật Thương mại thống nhất (UCC) của Hoa Kỳ. Cũng tồn tại các hệ thống hỗn hợp, chẳng hạn như luật pháp của Scotland, Louisiana, Quebec, Philippines, Namibia và Nam Phi.
Vì thế, khác biệt giữa dân luật và thông luật không chỉ nằm ở thực tế nhỏ là sự pháp điển hóa, mà còn ở cách tiếp cận về phương pháp cho các bộ luật và đạo luật. Tại các quốc gia dân luật, lập pháp được coi là nguồn chính của luật. Theo mặc định, các tòa án phải dựa trên cơ sở của các điều khoản của các bộ luật và đạo luật để đưa ra các phán quyết của mình nhằm có giải pháp cho từng vụ việc cụ thể. Các tòa án vì thế có lý do lớn để trên cơ sở các nguyên tắc và quy tắc chung của luật, đưa ra tương tự luật từ nội dung của các điều khoản luật định để lấp kín các khiếm khuyết của luật và để đạt được sự chặt chẽ. Ngược lại, trong hệ thống thông luật, các vụ việc là nguồn chủ yếu của luật, trong khi các đạo luật chỉ được coi là sự thêm vào trong thông luật và vì thế chỉ được diễn giải hẹp hơn.
Nguyên lý cơ sở về phân chia quyền lực cũng hơi khác nhau khi so sánh các quốc gia thông luật với các quốc gia dân luật. Ở một số nước theo thông luật, đặc biệt tại Hoa Kỳ, các thẩm phán được nhìn nhận như là để cân bằng quyền lực của các nhánh khác trong quyền lực nhà nước. Ngược lại, ý tưởng nguyên thủy về chia tách quyền lực tại Pháp là gán vai trò khác biệt cho việc lập pháp và cho các thẩm phán, với việc các thẩm phán chỉ áp dụng luật (các thẩm phán là la bouche de la loi; 'miệng của luật pháp'). Điều này được chuyển thành thực tế là nhiều tài phán dân luật từ chối ý niệm hình thức về tiền lệ có liên quan hay ràng buộc (mặc dù có lưu tâm tới luật-vụ việc đã giải quyết), hay hạn chế quyền đưa ra các tiền lệ chỉ dành cho Tòa tối cao.
Cũng tồn tại các khác biệt đáng kể trong các phương pháp luận pháp lý của các quốc gia dân luật khác nhau. Ví dụ, người ta thường cho rằng các phán quyết thông luật thường dài dòng hơn và chứa đựng nhiều lý lẽ phức tạp, trong khi các phán quyết pháp lý của dân luật thường ngắn và có bản chất hình thức hơn. Về nguyên lý, điều này đúng tại Pháp, nơi các thẩm phán chỉ trích dẫn luật, mà không ưu tiên luật vụ việc (Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là các thẩm phán không cân nhắc nó khi sơ thảo phán quyết.). Ngược lại, phán quyết của tòa tại các quốc gia nói tiếng Đức có thể cũng dài dòng như ở các nước nói tiếng Anh.
Tuy nhiên, ở đây cũng có các khác biệt xã hội nhất định. Tại một số quốc gia dân luật, các thẩm phán được đào tạo và thăng tiến một cách độc lập với các luật sư, trong khi tại các quốc gia thông luật các thẩm phán thường được chọn lựa từ các luật sư (tại tòa) có tài năng và danh tiếng. Tại các nước vùng Scandinavia thẩm phán là các luật sư được chỉ định cho vị trí đó, trong khi Pháp có trường chuyên nghiệp dành cho thẩm phán.
Liên quan tới tố tụng hình sự, các hệ thống dân luật cụ thể dựa trên các biến thái của hệ thống thẩm tra chứ không phải hệ thống đối lập. Tại các nước thông luật, kiểu tổ chức xét xử như vậy đôi khi bị phê phán là thiếu giả định vô tội. Tuy nhiên, phần lớn các nước châu Âu đều tham gia Công ước châu Âu về nhân quyền và điều 6 đảm bảo "quyền được xét xử công bằng" và giả định vô tội. Công ước được tất cả các thành viên phê chuẩn và là một phần như thế trong lập pháp của mỗi quốc gia thành viên. Một số quốc gia dân luật có sự lập pháp xảy ra trước khi có Công ước và đảm bảo cho bị đơn có được giả định vô tội. Trong số này, tại Na Uy thì giả định vô tội được bảo đảm bằng tập quán pháp không pháp điển hóa và ý kiến có hiệu lực được thừa nhận bởi Tòa tối cao Na Uy một cách tuyệt đối.
Trong khi giả định vô tội là tồn tại, điều phân biệt hệ thống thẩm tra nhiều hơn là sự thiếu vắng hội thẩm đoàn thường xảy ra, trong khi nó lại được đảm bảo trong nhiều quyền tài phán thông luật. Trong các hệ thống thẩm tra có xu hướng có điều gì đó tương tự như xét xử trước quan tòa ("bench trial") bao gồm một thẩm phán hay quan tòa. Một số quốc gia vùng Scandinavia có quan tòa bao gồm 1 hội thẩm thường và 2 chuyên gia pháp lý lành nghề (thẩm phán). Một kết quả của thiếu vắng xét xử trước hội thẩm đoàn ("jury trial") trong hệ thống thẩm tra là khác biệt đáng kể trong các quy tắc về chứng cứ xét xử. Các quy tắc về chứng cứ trong thông luật dựa trên e ngại rằng hội thẩm đoàn sẽ lạm dụng chúng hay đưa ra tầm quan trọng không thích hợp đối với các chứng cứ không chắc chắn. Trong các hệ thống thẩm tra, các quy tắc về chứng cứ đôi khi là ít phức tạp hơn do các chuyên gia pháp lý được coi là có khả năng nhận ra chứng cứ đáng tin cậy hay không. Đáng chú ý nhất trong số này là thiếu vắng quy tắc về tin đồn. Quy tắc về tin đồn trong thông luật có khoảng 32 ngoại lệ đối với việc cấm sử dụng các tuyên bố ngoài tòa.
== Phân nhóm ==
Thuật ngữ "dân luật" là từ được dùng để gộp đống các truyền thống pháp lý tại các quốc gia không nói tiếng Anh lại với nhau và để tương phản chúng với thông luật của các nước nói tiếng Anh. Tuy nhiên, do các truyền thống pháp lý châu Âu lục địa là không đồng nhất, nên các học giả của khoa học luật so sánh và các nhà kinh tế học cổ vũ cho học thuyết nguồn gốc pháp lý thường chia dân luật ra thành 4 phân nhóm khác nhau:
Dân luật Pháp: Áp dụng tại Pháp, Bỉ, Luxembourg, Italia, Tây Ban Nha và các cựu thuộc địa của các nước này (nếu có) và tỉnh Quebec của Canada;
Dân luật Đức: Áp dụng tại Đức, Áo, Thụy Sĩ, Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan);
Dân luật Scandinavia: Áp dụng tại Đan Mạch, Phần Lan, Iceland, Na Uy và Thụy Điển.
Dân luật Trung Quốc: Là hỗn hợp của dân luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa.
Bồ Đào Nha, Brasil và Italia đã tiến hóa từ ảnh hưởng của Pháp sang Đức, do các bộ luật dân sự của họ trong thế kỷ 19 gần gũi với luật Napoleon còn trong thế kỷ 20 thì chúng lại gần gũi với Bürgerliches Gesetzbuch của Đức hơn. Văn hóa pháp lý và các trường luật cũng trở nên gần gũi với hệ thống của Đức hơn. Các bộ luật khác tại các quốc gia này thường cũng có bản chất lai ghép giữa hai phân nhóm kể trên.
Luật pháp Hà Lan, hoặc ít nhất là bộ luật dân sự Hà Lan (Burgerlijk Wetboek) không dễ dàng đặt vào một trong các nhóm kể trên, và tự bản thân nó cũng có ảnh hưởng nhất định tới tư pháp của các quốc gia khác. Bộ Luật Dân sự Nga hiện nay một phần nào đó có sự tham khảo của bộ Luật Dân sự Hà Lan.
== Xem thêm ==
Luật Dân sự
Luật Dân sự Québec
Luật pháp Hà Lan La Mã
Luật pháp Louisiana
Hệ thống pháp luật trên thế giới
== Lưu ý ==
Trong các tài liệu về luật pháp trước đây của Việt Nam, người ta đôi khi cũng gọi bộ luật dân sự là dân luật, ví dụ bộ dân luật Bắc Kỳ ra đời năm 1931 và bộ dân luật Trung Kỳ (Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật) ra đời năm 1936. Tuy nhiên, hiện nay trong các tài liệu giảng dạy về luật pháp, ví dụ bộ môn Luật so sánh của Đại học Luật Việt Nam, thì từ dân luật không còn được dùng để chỉ bộ luật dân sự nữa mà chỉ thuần túy để chỉ hệ thống luật pháp như đề cập trong bài này.
== Tham khảo ==
MacQueen Hector L. "Scots Law and the Road to the New Ius Commune." Electronic Journal of Comparative Law 4, số 4 (12-2000).
Moustaira Elina N., Comparative Law: University Courses (bằng tiếng Hy Lạp), Ant. N. Sakkoulas Publishers, Athens, 2004, ISBN 960-15-1267-5
== Ghi chú ==
== Liên kết ngoài ==
Tập hợp các tài nguyên luật La Mã do Ernest Metzger duy trì.
Thư viện luật La Mã của Yves Lassard và Alexandr Koptev
Sách vỡ lòng về hệ thống dân luật từ Trung tâm tư pháp Liên bang Hoa Kỳ
Từ điển dân luật và thông luật của N. Stephan Kinsella, Louisiana Law Review (1994) |
đứa mòn.txt | Đứa Mòn là một xã thuộc huyện Sông Mã, tỉnh Sơn La, Việt Nam.
Xã Đứa Mòn có diện tích 136 km², dân số năm 1999 là 5176 người, mật độ dân số đạt 38 người/km².
== Chú thích ==
== Tham khảo == |
nhà hán.txt | Nhà Hán (giản thể: 汉朝; phồn thể: 漢朝; bính âm: Hàn cháo; Wade–Giles: Han Ch'au; Hán-Việt: Hán triều; 206 TCN – 220) là triều đại kế tục nhà Tần (221 TCN - 207 TCN), và được tiếp nối bởi thời kỳ Tam Quốc (220-280). Triều đại này được thành lập bởi Lưu Bang, một lãnh tụ khởi nghĩa chống lại sự cai trị của nhà Tần, được biết đến sau khi qua đời là Hán Cao Tổ (漢高祖). Triều đại nhà Hán bị gián đoạn bởi Vương Mãng, một ngoại thích nhà Hán, tự lập mình lên làm hoàng đế, thành lập nhà Tân (9 - 23). Sau đó, hoàng thân Lưu Tú đã khôi phục lại chính quyền nhà Hán, tiếp tục sự thịnh trị, được biết đến với tên gọi Hán Quang Vũ Đế (漢光武帝).
Chính việc này đã chia nhà Hán thành hai giai đoạn: Tây Hán (西漢; 202 TCN - 9) với kinh đô ở Trường An (長安) và Đông Hán (東漢; 23 - 220) với kinh đô ở Lạc Dương (雒陽).
Kéo dài 4 thế kỷ, nhà Hán được xem như là Triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử Trung Quốc. Cho đến ngày nay, nhóm dân tộc chiếm phần lớn dân số Trung Quốc cũng tự cho mình là người Hán, và chữ viết Trung Quốc cũng được xem là chữ Hán.
Nhà Hán đặt ra các khu vực cai trị được quản lý trực tiếp từ trung ương, thường được gọi là quận và một số nước chư hầu. Tuy nhiên, những nước này đã dần dần bị loại bỏ, đặc biệt là sau Loạn bảy nước xảy ra dưới thời Hán Cảnh Đế Lưu Khải. Năm 200 TCN, một quốc gia du mục ở miền Bắc là Hung Nô đã đánh bại quân đội nhà Hán. Sau khi thất bại, nhà Hán đã bắt đầu dựng lên một cuộc hôn nhân giữa công chúa nhà Hán với vua Hung Nô. Và thực sự, nhà Hán đã chịu thua kém Hung Nô. Mặc dù hai bên đã ký hòa ước với nhau, nhưng người Hung Nô vẫn thường xuyên tấn công biên giới phía Bắc nhà Hán. Đến thời Hán Vũ Đế Lưu Triệt, ông đã phát động nhiều chiến dịch quân sự chống trả, và những chiến thắng trong những cuộc chiến cuối cùng đã khiến Hung Nô phải thần phục và hằng năm nộp cống cho nhà Hán. Những chiến dịch mở rộng cương thổ được thực hiện chủ yếu tại lòng chảo Tarim, Trung Á. Thành lập một hệ thống thương mại rộng lớn tới tận khu vực Địa Trung Hải mà người ta thường gọi là con đường tơ lụa. Nhà Hán chia Hung Nô thành hai nước đối lập nhau, Nam và Bắc Hung Nô qua sông Y Lê. Tuy đã ổn định biên giới phía bắc, nhưng nhà Hán vẫn gặp nhiều cuộc tấn công của người Tiên Ti.
== Tầm quan trọng ==
Người Trung Quốc coi thời gian trị vì của nhà Hán, kéo dài 400 năm, là một trong những giai đoạn vĩ đại nhất trong toàn bộ lịch sử Trung Quốc. Vì thế, đa phần người Trung Quốc ngày nay vẫn tự cho mình là "người Hán", để vinh danh dòng họ Lưu và Triều đại mà họ đã sáng lập ra.
Ở thời Hán, Trung Quốc chính thức trở thành một đất nước theo Khổng giáo và phát triển thịnh vượng: nông nghiệp, thủ công và thương mại tiến bộ và dân chúng đạt tới con số 50 triệu người. Trong lúc ấy, đế chế mở rộng ảnh hưởng văn hóa và chính trị của nó đến toàn bộ Việt Nam, Triều Tiên, Mông Cổ và Trung Á trước khi nó sụp đổ vì cả sức ép bên trong và bên ngoài.
Giai đoạn đầu tiên trong hai giai đoạn của nhà Hán, được gọi là Tiền Hán (前漢) hay triều Tây Hán (西漢) 206 TCN–9 CN, đóng đô ở Trường An. Hậu Hán (後漢) hay triều Đông Hán (東漢) 25–220, đóng đô ở Lạc Dương. Việc quy ước thành Tây Hán và Đông Hán được sử dụng hiện nay để tránh nhầm lẫn với triều Hậu Hán của giai đoạn Ngũ Đại Thập Quốc mặc dù cách gọi tiền và hậu đã từng được sử dụng trong các văn bản lịch sử gồm cả cuốn Tư trị thông giám của Tư Mã Quang.
Trí thức, văn chương và nghệ thuật hồi sinh và phát triển ở thời nhà Hán. Giai đoạn Hán là thời của nhà sử học nổi tiếng nhất Trung Quốc, Tư Mã Thiên (145 – 87 TCN?), cuốn Sử ký Tư Mã Thiên của ông ghi chép biên niên sử chi tiết từ thời kỳ còn huyền thoại là nhà Hạ đến thời Vũ đế nhà Hán (141–87 TCN). Các tiến bộ kỹ thuật cũng ghi dấu ở thời kỳ này. Một trong những phát minh vĩ đại của Trung Quốc: giấy, đã ra đời từ thời Hán.
Cũng khá chính xác khi tuyên bố rằng hai đế chế cùng thời với nhau là nhà Hán và Đế quốc La Mã là hai siêu cường của thế giới. Nhiều phái bộ ngoại giao La Mã đến Trung Quốc và được ghi chép lại trong lịch sử, đầu tiên ở trong cuốn Hậu Hán Thư có ghi chép một phái đoàn La Mã tháp tùng 1 hoàng đế tới kinh đô của nhà Hán lúc đó Lạc Dương năm 166 và được Hán Hoàn Đế tiếp đón.
Nhà Hán nổi tiếng vì khả năng quân sự. Đế chế này mở rộng về phía tây tới tận mép lưu vực Tarim (Khu tự trị Duy Ngô Nhĩ Tân Cương ngày nay), có thể đã kiểm soát được con đường vận chuyển ngang Trung Á. Những con đường này thường được gọi là "Con đường tơ lụa" vì nó được dùng để xuất khẩu tơ lụa của Trung Quốc. Các đội quân Trung Quốc cũng đã tấn công và sáp nhập nhiều vùng ở bắc Việt Nam và bắc Triều Tiên (Vệ Mãn Triều Tiên) ở khoảng gần cuối thế kỷ thứ 2 TCN. Tuy nhiên, các vùng kiểm soát ngoại vi của nhà Hán nói chung là không chắc chắn. Để đảm bảo hoà bình với các lực lượng phi Hán ở các địa phương, triều đình Hán phát triển một "hệ thống chư hầu" lợi ích song phương. Các nước chư hầu phi Hán được phép giữ quyền tự trị với sự chấp nhận quyền lực tượng trưng của nhà Hán. Các mối quan hệ cống nạp được xác định và được tăng cường bằng những cuộc hôn nhân lẫn nhau ở tầng lớp cai trị và những trao đổi quà tặng và hàng hóa thường xuyên.
== Lịch sử Tây Hán ==
=== Cao Đế khai quốc ===
Ba tháng đầu tiên sau cái chết của Tần Thủy Hoàng tại Sa Khâu, các cuộc nổi dậy của nông dân, tù nhân, binh sĩ và hậu duệ của tầng lớp quý tộc cũ tại các nước Chiến Quốc nổi lên khắp nơi. Trần Thắng và Ngô Quảng là hai người nằm trong nhóm 900 binh sĩ bị điều đi đánh Hung Nô đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đầu tiên. Các cuộc nổi dậy liên tục cuối cùng đã lật đổ nhà Tần vào năm 206 TrCN. Lãnh đạo các cuộc nổi dậy là Hạng Vũ, một chỉ huy quân sự xuất chúng nhưng lại không có tài về chính trị, ông đã chia nước thành 19 nước phong kiến theo ý thích của riêng mình.
Cuộc chiến tiếp theo diễn ra giữa các nước đó trong 5 năm (206-202 TCN), gọi là thời Hán Sở tranh hùng. Lưu Bang là người giành thắng lợi cuối cùng, trở thành vị vua đầu tiên của nhà Hán. Ban đầu, "Hán" (là địa giới do Hạng Vũ phân chia) chỉ gồm vùng Tứ Xuyên, Trùng Khánh và phía nam Thiểm Tây và chỉ là một công quốc nhỏ, nhưng dần lớn mạnh thành một đế chế; nhà Hán được gọi theo công quốc này, tên của nó lại được đặt từ chữ Hán Trung (漢中) — phía nam Thiểm Tây hiện nay, vùng bao quanh thành phố Hán Trung. Sự khởi đầu của triều Hán có thể tính từ năm 206 TCN khi nhà Tần sụp đổ và công quốc Hán được thành lập hay từ năm 202 TCN khi vua nước Sở là Hạng Vũ tự sát.
Sự ra đời nhà Hán được lịch sử ghi nhận là có sự góp công rất lớn của 3 người dưới trướng Lưu Bang là: Mưu sĩ Trương Lương, Đại tướng quân Hàn Tín và Thừa tướng Tiêu Hà. Đương thời gọi 3 người họ là Hán sơ tam kiệt (漢初三傑).
Đế quốc mới vẫn giữ lại nhiều phần của cơ cấu hành chính cũ thời nhà Tần nhưng giảm sự cai trị tập trung đi một chút bằng cách lập ra các công quốc chư hầu ở một số vùng để có được thuận lợi về chính trị. Sau khi lập nên triều Hán, Hán Cao Tổ chia nước thành nhiều tiểu quốc phong kiến để thoả mãn một số đồng minh của ông, mặc dù ông đã sắp đặt kế hoạch để trừ khử họ một khi ông đã củng cố xong quyền lực.
Những người kế nghiệp ông từ Hán Huệ Đế đến Hán Cảnh Đế đều tìm cách cai trị Trung Quốc bằng cách tổng hợp các biện pháp của Pháp gia và những tư tưởng triết học Đạo giáo. Trong "thời Đạo giáo giả hiệu" này, một chính quyền tập trung ổn định cai trị toàn bộ Trung Quốc đã được thành lập thông qua sự hồi sinh của các lĩnh vực nông nghiệp và sự tan rã của "các tiểu quốc phong kiến" sau khi đàn áp cuộc Loạn bảy nước (七国之乱) bùng nổ vào năm 154 TCN.
=== Cao Hậu chuyên chánh ===
Năm 195 TCN, Lưu Bang qua đời, thụy hiệu là Hán Cao hoàng đế (漢高皇帝), sau 12 năm ở ngôi. Thái tử Lưu Doanh (劉盈) kế vị, tức Hán Huệ Đế, hoàng hậu của Cao Tổ hoàng đế là Lã hậu (呂后) trở thành Hoàng thái hậu, giữ toàn quyền trong triều đình. Lã hậu từ khi Cao Tổ còn sống đã là người có uy quyền, giúp Cao Tổ dẹp trừ các công thần như Hàn Tín, Bành Việt. Khi Cao Tổ qua đời, trong triều người người đều phục, không ai dám trái.
Vì Hán Huệ Đế kế vị khi còn nhỏ, Lã thái hậu sợ các tướng không phục sẽ làm loạn, do đó bàn mưu với Thẩm Tự Cơ định giết chết các công thần. Tướng Lịch Thương ở kinh thành biết mưu đó, khuyên Thẩm Tự Cơ nên can Lã thái hậu không thực hiện ý định này, vì sẽ kích động các tướng đang cầm quân ở ngoài làm phản. Thẩm Tự Cơ vội đi nói với Lã thái hậu. Lã thái hậu nghe ra, bèn thôi ý định đấy. Vì vậy không xảy ra biến cố nào.
Trong thời gian điều hành của mình, Lã thái hậu là người nhẫn tâm và cứng rắn, bà cho sát hại Thích phu nhân, sủng phi của Hán Cao Tổ và Triệu vương Lưu Như Ý, con của Thích phu nhân. Đối với những người con khác của Hán Cao Tổ, bà cũng nhiều lần gây sức ép, thậm chí khiến họ phải chết như Triệu vương Lưu Hữu, Lương vương Lưu Khôi.
Năm 188 TCN, sau nhiều năm làm hoàng đế bù nhìn, Hán Huệ Đế lâm bệnh qua đời khi mới 22 tuổi, thụy hiệu là Hiếu Huệ hoàng đế (孝惠皇帝).
Trương Yên, hoàng hậu của Huệ Đế không có con. Theo Sử ký, Lã thái hậu mang một đứa trẻ giấu kín vào cung, giả cách rằng Trương Yên có chửa và đến ngày sinh ra đứa bé. Khi Huệ Đế mất, đứa trẻ được đưa lên ngôi, sử gọi là Hán Tiền Thiếu Đế. Bà vẫn nắm quyền điều hành triều chính. Nhiều người con của Cao Tổ hoàng đế bị bà sát hại. Bà phong cho các cháu Lã Đài làm Lã vương, Lã Lộc làm Triệu vương, Lã Thông làm Yên vương.
Năm 184 TCN, Hán Tiền Thiếu Đế dần lớn lên, nghe cung nhân nói mẹ mình bị Lã thái hậu giết bèn sinh ra oán hận. Lã thái hậu sợ, bèn bắt giam lại vào cung rồi bỏ đói cho đến chết. Không ai dám ngăn cản, bà bèn lập một người con khác của Huệ đế là Thường Sơn vương Lưu Nghĩa (hay Lưu Hồng) làm hoàng đế, tiếp tục cầm quyền chính trong triều.
Năm 180 TCN, Lã thái hậu mắc bệnh nặng. Biết mình không qua khỏi, bà phong cháu Lã Lộc làm Thượng tướng quân, thống lĩnh Bắc quân, cho Lã vương Sản làm Tướng quốc, thống lĩnh Nam quân, khống chế lực lượng hộ vệ trong hoàng cung. Sắp xếp xong, bà qua đời, thọ 61 tuổi. Đời sau dâng thụy là Hán Cao hoàng hậu (漢高皇后).
Nhưng Lã Lộc và Lã Sản không phải là đối thủ của các đại thần khai quốc nhà Hán như Trần Bình, Chu Bột. Hai người Trần, Chu đã làm binh biến giết hết các tướng họ Lã mà Lã thái hậu dựng lên để lấy lại thiên hạ cho họ Lưu. Sau khi dẹp loạn họ Lã, các đại thần mời Đại vương Lưu Hằng, con trai thứ của Cao Tổ hoàng đế và Bạc phu nhân.
Lưu Hằng kế vị tức Hán Văn Đế, mở ra thời kỳ thịnh trị yên bình dài lâu cho Triều đại nhà Hán.
=== Văn Cảnh chi trị ===
Từ thời lập quốc, nhà Hán có khả năng giữ được hoà bình với dân tộc du mục phía Bắc Hung Nô bằng cách nộp cống và gả các công chúa cho họ. Tại thời này, mục tiêu của chính quyền là giảm sự hà khắc của hình luật, chiến tranh và các điều kiện sống cho người dân so với thời Tần, hạn chế các đe doạ từ dân du mục bên ngoài và những xung đột sớm bên trong triều đình. Chính phủ giảm bớt thuế và đảm bảo tình trạng cống nộp cho các bộ lạc du mục. Chính sách này giảm can thiệp vào đời sống dân cư, gọi là Dữ dân hưu tức (與民休息) bắt đầu một giai đoạn ổn định.
Hán Văn đế là vị vua chú trọng việc giảm nhẹ thuế khoá và lao dịch cho nhân dân. Năm 178 TCN, ông ra chiếu cho các châu quận giảm thuế, giảm việc làm lao dịch. Năm 177 TCN, Văn Đế cho dân Tấn Dương và Trung Đô được miễn thuế trong 3 năm. Đến năm 168 TCN, ông lại ra chiếu chỉ thu nửa số thuế. Trước thời Hán Văn đế, số thuế thu là 1/15 tổng sản lượng thu hoạch, tới lúc đó giảm đi một nửa tức là chỉ thu 1/30 sản lượng, giảm vài chục lần so với thời nhà Tần. Nhờ chính sách phát triển nông nghiệp, mùa màng bội thu nên việc giảm thuế cũng không làm vơi ngân khố. Sang năm 167 TCN, ông lại hạ lệnh cho dân được miễn trừ thuế ruộng cả năm. Đây là trường hợp ít có trong lịch sử Trung Quốc.
Đối với thuế thân, ông cũng cho giảm từ 120 tiền xuống còn 40 tiền. Với việc lao dịch, trước đây mỗi năm người dân phải đi 1 lần, ông ban chiếu giảm xuống còn 3 năm 1 lần. Mỗi khi có thiên tai, ông thường ra lệnh cho chư hầu không cần tiến cống, lại xoá lệnh bỏ cấm núi đầm, tức là mở cửa những núi đầm của hoàng gia cho nhân dân có thể qua lại hái lượm, đánh bắt trong đó kiếm ăn qua thời mất mùa. Ngoài ra, ông còn nhiều lần hạ chiếu cấm các châu quận cống hiến những kỳ trân dị vật. Trong giai đoạn đầu, nhà Hán đang ở thời kỳ khôi phục kinh tế; tài chính và vật tư đều thiếu thốn. Trước bối cảnh đó, Hán Văn đế chi dùng rất tiết kiệm. Ông trở thành vị vua tiết kiệm nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.
Lúc này ở phương Nam, Triệu Đà lập ra nước Nam Việt, xưng bá một phương, tự xưng là Nam Việt Vũ Đế (南越武帝). Thời Hán Cao hậu còn tại vị, triều Hán đã nhiều lần cử binh đánh dẹp nhưng đều đại bại, nhân đó Triệu Đà đánh luôn lên quận Trường Sa của nhà Hán. Đến thời Hán Văn Đế, ông chủ trương đối đãi mềm dẻo với Triệu Đà. Biết mồ mả tổ tiên Triệu Đà ở Chân Định, ông sai người đến trông coi mồ mả cho tổ tiên Triệu Đà, một năm 4 lần tế lễ trọng thể, lại phong quan tước cho chú bác, anh em Triệu Đà. Nhân Lục Giả là người từng đi sứ Nam Việt thời Hán Cao Tổ, ông sai Lục Giả đi sứ Nam Việt lần nữa để thuyết phục Triệu Đà thần phục nhà Hán như trước. Triệu Đà dần cảm phục Hán Văn Đế, lại xưng thần với nhà Hán như trước, lãnh thổ phương nam được yên bình.
Năm 157 TCN, Hán Văn Đế qua đời, thọ 46 tuổi, tại vị được 23 năm. Ông được dâng thụy hiệu thành Thái Tông Hiếu Văn hoàng đế (太宗孝文皇帝). Con trai là Thái tử Lưu Khải kế vị, tức Hán Cảnh Đế. Hán Cảnh Đế tiếp tục chính sách của Văn Đế, nhà Hán lại được giai đoạn thịnh trị, thời kỳ hoàng kim này được gọi là Văn Cảnh chi trị (文景之治).
=== Loạn bảy nước ===
Thời kỳ trị vì của Hán Cảnh Đế xảy ra cuộc nội loạn gọi là Loạn bảy nước, Thất quốc chi loạn (七國之亂). Từ thời Hán Cao Tổ tại vị, đã ra chế độ thiết lập chư hầu, chia đất nước ra nhiều nước nhỏ và phái người trong hoàng tộc đến cai quản. Đến khi Hán Cảnh Đế lên ngôi, ông thấy rằng duy trì chế độ này sẽ gây ra nguy hiểm cho chính quyền nhà Hán, bèn nghe lời Tiều Thố ra sức thu hẹp quyền lực của các chư hầu.
Tiều Thố từng kiến nghị chia nước Ngô của Lưu Tỵ - con Lưu Trọng là anh của Hán Cao Tổ, tức là anh họ của Hán Văn Đế, chú của Hán Cảnh Đế. Tuy nhiên, Cảnh Đế ngại thế nước Ngô đang mạnh sẽ gây xung đột nên chưa thực hiện. Ngô vương Lưu Tỵ là bậc lão thần, càng tỏ ra kiêu căng hống hách, bỏ việc vào chầu thiên tử đã 20 năm. Năm 154 TCN, Tiều Thố giữ chức Ngự sử đại phu, tiếp tục kiến nghị việc này, cùng việc cắt bớt đất của các chư hầu khác, theo đó sẽ tước bớt quận Đông Hải của Sở vương, tước bớt quận Dự Chương và quận Cối Kê của Ngô vương Tỵ, tước bớt quận Thường Sơn của Triệu vương và 6 huyện của Giao Tây vương.
Khi nghe tin bị tước bớt đất đai, Ngô vương rất tức giận, bèn phát binh làm phản. Để có thêm vây cánh, Lưu Tỵ kêu gọi các chư hầu khác hưởng ứng, với danh nghĩa là diệt trừ gian thần Tiều Thố, "làm sạch chỗ cạnh vua". Sáu nước ủng hộ Ngô vương hợp lại thành 7 nước gồm có:
Ngô vương Lưu Tỵ (吳王劉濞).
Sở vương Lưu Mậu (楚王劉戊).
Triệu vương Lưu Toại (趙王劉遂).
Tế Nam vương Lưu Tịch Quang (濟南王劉辟光).
Tri Xuyên vương Lưu Hiền (菑川王劉賢).
Giao Tây vương Lưu Ngang (膠西王劉卬).
Giao Đông vương Lưu Hùng Cừ (膠東王劉雄渠).
Ngô vương Tỵ còn hiệu triệu thêm Đông Việt và Mân Việt hưởng ứng theo; Triệu vương Toại cũng sai sứ giả đến liên lạc với Hung Nô để xin phát binh ủng hộ.
Thế quân 7 nước rất lớn. Trong triều, Tiều Thố và Viên Áng bất hòa. Viên Áng khuyên Hán Cảnh Đế nên bắt giết Tiều Thố thì quân chư hầu sẽ lui, vì chư hầu chỉ oán một mình Tiều Thố. Hán Cảnh Đế trong tình hình nguy cấp, vội vã nghe theo Viên Áng, bèn sai triệu kiến Tiều Thố rồi bắt giữ và chém ngang lưng ở chợ Đông. Cảnh Đế sai Viên Áng làm Thái thường, lãnh trách nhiệm sứ giả đi báo với Ngô vương việc giết Tiều Thố và phục lại đất đai cho chư hầu. Lúc đó Ngô vương và Sở Vương đang vây đánh nước Lương. Ngô vương không những không lui binh mà bắt luôn Viên Áng, ép phải theo mình làm phản. Viên Áng tìm cơ hội trốn thoát được.
Hán Cảnh Đế bèn ra lệnh cho Chu Á Phu (周亞夫), con trai của Chu Bột lãnh đại quân đánh dẹp các nước chư hầu. Dẹp xong loạn 7 nước, Hán Cảnh Đế ra lệnh xóa bỏ nước phong của các chư hầu này, đưa đất đai về dưới quyền quản lý trực tiếp của Hoàng đế. Ngoài ra, ông còn tiến hành chỉnh lý địa giới một số nước chư hầu, thu nhỏ quyền lực của họ, như nước Sở chỉ có quận Bành Thành, nước Đại chỉ có quận Thái Nguyên.
Năm 141 TCN, Hán Cảnh Đế qua đời, thọ 47 tuổi, ở ngôi được 23 năm. Được dâng thụy hiệu là Hiếu Cảnh hoàng đế (孝景皇帝). Thái tử Lưu Triệt lên kế vị, tức Hán Vũ Đế, nhà Hán bước vào một giai đoạn mới.
=== Hán Vũ thời đại ===
Hán Vũ Đế Lưu Triệt, là con trai thứ 10 của Hán Cảnh Đế và Hiếu Cảnh Vương hoàng hậu. Thời trẻ, Lưu Triệt giành được ngôi thái tử của anh trai Lưu Vinh nhờ vào cuộc hôn nhân cùng với Trần A Kiều, con gái của cô ruột ông là Quán Đào công chúa (館陶公主).
Năm 141 TCN, sau cái chết của cha, ông bước lên ngôi Hoàng đế và cai trị từ năm 140 TCN đến 87 TCN, khoảng 54 năm. Ông là vị Hoàng đế trị vì lâu nhất trong các Hoàng đế nhà Hán và lâu nhất ở Trung Quốc từ sau đời Tần Chiêu Tương vương đến trước đời Khang Hy.
Ông được đánh giá là vị hoàng đế tài ba, đã làm nhiều việc củng cố nền cai trị và mở cửa ra bên ngoài. Dưới thời trị vì của ông, nhà Hán đã phát triển lớn về chính trị và quân đội, tiến hành các cuộc xâm lược vào Vệ Mãn Triều Tiên, Dạ Lang, Hung Nô, Nam Việt, Mân Việt, Đông Âu; kết thân và thiết lập quan hệ với các nước ở phía tây, mở rộng lãnh thổ phía đông đến Bán đảo Triều Tiên, phía bắc đến vùng sa mạc Gobi, phía nam tới miền Bách Việt và phía tây vươn ra tận Trung Á.
Ông chủ trương sử dụng Nho giáo làm tư tưởng trị nước, nhưng cũng tôn sùng Đạo giáo. Sự công nhận chính thức đối với Nho giáo này dẫn tới một hệ thống bổ nhiệm quan chức dân sự duy nhất, nhưng các ứng cử viên cũng bắt buộc phải thông hiểu các tác phẩm kinh điển của Khổng giáo (Tứ thư, Ngũ kinh) đối với hệ thống quan lại của đế quốc.
Về cuối đời, do tin vào thuật trường sinh bất lão, ông đã tiêu tốn rất nhiều vàng bạc để đi tìm thuốc trường sinh và tin dùng gian thần Giang Sung, dẫn đến vụ án Vu Cổ vào năm 91 TCN.
Năm đó, vợ của thừa tướng Công Tôn Hạ sử dụng thuật vu cổ bị phát giác, cả nhà Công Tôn Hạ bị giết. Ngoài ra những thành viên trong thân tộc họ Lưu cũng bị liên lụy, trong đó có Dương Thạch và Chư Ấp công chúa, con gái của Vệ Hoàng hậu. Hán Vũ Đế sau đó quyết định mở rộng việc điều tra, giao việc này cho sủng thần Giang Sung và Án Đạo hầu Hàn Thuyết, vì trước đó Giang Sung nói có cổ khí ở trong cung. Giang Sung vốn có hiềm khích với thái tử Lưu Cứ, con của Vệ hoàng hậu, bèn muốn nhân cơ hội này lật đổ Thái tử.
Tháng 7 năm đó, Giang Sung tìm đến cung của Vệ hoàng hậu và thái tử Lưu Cứ, rao lên rằng có bùa yểm. Lưu Cứ sợ Giang Sung hại mẹ con mình, bèn giả lệnh vua bắt Sung và mang quân chiếm cứ các vị trí trọng yếu trong kinh thành Tràng An. Hán Vũ Đế đang dưỡng bệnh, nghe tin Thái tử làm loạn bèn sai thừa tướng Lưu Khuất Mạo đem quân bắt Thái tử. Cuối cùng thái tử Lưu Cứ bị thua, phải tự vẫn. Vệ hoàng hậu bị buộc phải tự vẫn; 3 hoàng tử, 1 công chúa khác cũng bị xử tử.
Không lâu sau đó thừa tướng Lưu Khuất Mạo cũng bị cho là dính dáng tới chuyện yểm bùa và bị giết.
Cuối cùng Hán Vũ Đế tỉnh ngộ ra rằng những chuyện yểm bùa phần nhiều do Giang Sung bày đặt ra, nên bắt giết cả nhà Giang Sung. Vì thương nhớ thái tử, Hán Vũ Đế cho xây cung Tử Tư (nhớ con).
Hán Vũ Đế lập người con út là Lưu Phất Lăng làm Hoàng thái tử. Lúc đó, ông cảm thấy Thái tử còn trẻ mà mình không sống được bao lâu nữa, sợ sau khi mình chết, Phất Lăng kế vị thì Câu Dặc phu nhân (鉤弋夫人), mẹ ruột của Thái tử sẽ được làm Hoàng thái hậu nhiếp chính, thao túng triều cương. Hán Vũ Đế bắt Câu Dặc phu nhân phải chết, Lưu Phất Lăng được giao cho Ngạc Ấp công chúa (鄂邑公主), con gái của Hán Vũ Đế nuôi dạy.
Tháng 3, năm 87 TCN, Hán Vũ Đế mất, Thái tử Lưu Phất Lăng lên ngôi, tức là Hán Chiêu Đế. Vua mới tuổi còn nhỏ, được Đại tư mã Hoắc Quang giúp sức.
=== Chiêu Tuyên trung hưng ===
Hán Chiêu Đế Lưu Phất Lăng, con trai út của Hán Vũ Đế Lưu Triệt kế vị khi chỉ vừa 8 tuổi. Câu Dặc phu nhân bị bức tử, không có Hoàng thái hậu nhiếp chính, trong triều được điều hành bởi 3 người là Hoắc Quang, Thượng Quang Kiệt (上官桀) và Kim Nhật Di (金日磾). Triều đình nhà Hán tiếp tục sự ổn định.
Năm 80 TCN, xảy ra sự biến Nguyên Phụng chính biến (元鳳政變), Thượng Quan Kiệt âm mưu lật đổ Chiêu Đế bị phát giác, xử tử cả dòng tộc, Hoắc Quang một mình thao túng triều chính. Hoắc Quang là người chính trực, nghiêm minh, đề cao Nho giáo một mực cung kính Hán Chiêu Đế, không có lòng mưu phản như Thượng Quan Kiệt. Bản thân Hán Chiêu Đế cũng là vị hoàng đế có tài, ông ra sức khôi phục kinh tế, quân sự và xã hội sau thời gian bị tàn phá vào cuối đời Hán Vũ Đế.
Năm 74 TCN, Hán Chiêu Đế qua đời sau 13 năm cai trị, không có con nối dõi. Hoắc Quang lại chọn người cháu nội của Hán Vũ Đế, con trai Xương Ấp Ai vương là Lưu Hạ lên kế vị, nhưng Lưu Hạ lại là người dâm loạn vô đạo, khi về Trường An làm vua đã mang theo 200 thủ hạ, đến khi lên ngôi lại ăn chơi sa đọa, làm nhiều việc thất đức, không lo việc triều chính, quan hệ với các cung nữ của Hán Chiêu Đế, lấy xe của Thượng Quang hoàng thái hậu cho nô tỳ dùng, khiến các phép tắc trong triều bị đảo lộn. Chỉ trong 27 ngày, Lưu Hạ đã làm tất cả 1127 việc xấu. Hoắc Quang thấy vậy muốn phế đi, bèn dâng thư lên Thượng Quang hoàng thái hậu.
Sau khi bỏ Lưu Hạ, Hoắc Quang thương nghị với các đại thần và cuối cùng quyết định chọn người cháu chắt của Hán Vũ Đế, cháu nội Lệ thái tử Lưu Cứ là Lưu Bệnh Dĩ (劉病已) lên làm hoàng đế, tức Hán Tuyên Đế.
Năm 73 TCN, Hoắc Quang trả lại quyền làm chủ cho Tuyên Đế, tuy nhiên ông vẫn giữ một quyền hành nhất định trong triều. Năm 68 TCN, Hoắc Quang mất, dòng họ Hoắc lúc đó vì muốn Hoắc Thành Quân lên ngôi Hoàng hậu, đã giết chết Cung Ai hoàng hậu Hứa Bình Quân của Tuyên Đế, khiến Tuyên Đế quyết tâm trừ họ Hoắc. Hơn 1000 người trong gia tộc và liên quan của họ Hoắc bị sát hại.
Sau vụ án họ Hoắc, Hán Tuyên Đế chỉnh đốn lại triều đình, khôi phục kinh tế. Đối với Tây Vực, ông tiếp tục thành lập chế độ đô hộ với 16 nước ở trong khu vực, tiếp tục giữ vị thế hòa hãn và giao lưu, đồng thời khống chế họ không làm loạn, li khai khỏi quốc gia Đại Hán. Đối với Hung Nô, Tuyên Đế tiếp tục sự cường thế có được từ thời Hán Vũ Đế.
Sau hai đời Hán Chiêu Đế, Hán Tuyên Đế, quốc gia Đại Hán đã khôi phục lớn về kinh tế, vốn đã bị tàn phá rất nặng sau nhiều năm chinh chiến dưới thời Hán Vũ Đế. Thời kỳ yên bình và phồn vinh này được gọi là Chiêu Tuyên trung hưng (昭宣中興).
=== Vương Mãng đoạt vị ===
Nhà Tây Hán dưới thời Hán Nguyên Đế (49 TCN - 33 TCN), Hán Thành Đế (33 TCN - 7 TCN), Hán Ai Đế (7 TCN - 1 TCN), Hán Bình Đế (1 TCN - 5) đều dần dần trở nên suy yếu. Trong triều đều bị ngoại thích thao túng. Từ thời Hán Thành Đế, ngoại thích họ Vương, dòng họ của Hiếu Nguyên hoàng hậu Vương Chính Quân (王政君), hoàng hậu của Hán Nguyên Đế đã là trọng thần trong triều, thao túng toàn bộ Triều đại của Hán Thành Đế.
Vương Mãng (王莽), là một quý tộc xuất thân từ dòng dõi ngoại thích họ Vương, là cháu của Hiếu Nguyên hoàng hậu, đã dần nổi lên và cướp ngôi nhà Hán, lập ra nhà Tân mà ông là vị Hoàng đế duy nhất.
Tình hình kinh tế lâm vào nguy ngập ở cuối thời Tây Hán. Vương Mãng vốn tin rằng họ Lưu đã mất thiên mệnh, chiếm lấy quyền lực và muốn quay trở lại thời trước với các cải cách tiền tệ và ruộng đất mạnh mẽ, nhưng những cải cách này còn mang tới kết quả tệ hại hơn. Cuối cùng chính quyền của nhà Tân của ông bị lật đổ bởi Khởi nghĩa Lục Lâm, được phát động bởi chính các hoàng thân nhà Hán.
Cuối cùng, vào năm 25, sau nhiều trận binh đao, Lưu Tú (劉秀), một thành viên của hoàng tộc nhà Hán lên ngôi Hoàng đế, thiết lập lại Hán triều, sử gọi là Đông Hán, đặt kinh đô ở Lạc Dương. Sử sách gọi ông là Hán Quang Vũ Đế.
== Lịch sử Đông Hán ==
=== Quang Vũ trung hưng ===
Khi vừa hoàn thành việc thống nhất quốc gia, Hán Quang Vũ Đế lập tức dẹp bỏ việc võ mà sửa việc văn, chủ trương cai trị thiên hạ bằng nhu đạo. Ông chú trọng tới việc giải phóng cho nô tỳ, tranh thủ sự đồng tình của những người nghèo khổ trong xã hội.
Năm 39, ông xuống chiếu lệnh cho các quận, huyện kiểm tra lại số ruộng đất trồng trọt, hộ khẩu và tuổi tác người dân trong nước, gọi là độ điền. Mục đích của việc làm này là hạn chế việc chiếm hữu quá nhiều đất của địa chủ. Ông thúc đẩy xây dựng thuỷ lợi tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp. Trên thực tế, việc áp dụng không được hiệu quả như mong muốn của ông. Các quan lại e ngại thế lực của các địa chủ nên không dám truy số ruộng đất mà họ chiếm hữu. Tuy Quang Vũ Đế có trừng phạt một số việc làm sai trái nhưng không thay đổi tình hình được nhiều. Việc này chỉ mang lại sự làm dịu mâu thuẫn về đất đai so với trước và điều đó ít nhiều có tác dụng kích thích nông dân tham gia sản xuất, hồi phục kinh tế đất nước.
Một khó khăn cho nhà nước Đông Hán non trẻ là việc tái thiết lại nền kinh tế sau những năm nội chiến và thiên tai hoành hành ở vùng Hoàng Hà dưới thời Vương Mãng. Quang Vũ Đế đã thi hành nhiều chính sách tích cực như giảm thuế từ 1/10 sản lượng xuống 1/30 sản lượng như thời Hán Văn Đế và Hán Cảnh Đế, phục viên binh lính để tăng thêm nhân lực cho khu vực sản xuất nông nghiệp, xây dựng các công trình thủy lợi, không tăng thêm số lính ở vùng biên cương,... nhờ vậy tình hình xã hội tương đối ổn định. Những nông dân tản cư được đưa về quê cũ. Các quan liêu phú hào có nhiều ruộng đất không khai báo trung thực về số đất đai và nhân khẩu sở hữu để trốn thuế.
Nhằm kiểm soát dân số và hạn chế quyền lực của quan lại địa phương, Quang Vũ Đế thi hành chính sách lộ điền, những người sở hữu nhiều ruộng đất không được phép mua bán ruộng và xây dựng lực lượng vũ trang riêng. Quang Vũ Đế xuống chiếu cho các địa phương phải đăng ký lại số ruộng và hộ khẩu thực tế, khi phát hiện ra sự việc gian trá, hơn 10 quan viên cao cấp phạm tội đã bị xử tử. Tuy nhiên do không thực thi triệt để nên về sau tình trạng này vẫn tái diễn. Đến năm 57 khi Quang Vũ Đế qua đời, mới chỉ có 21 triệu người đóng thuế.
Quang Vũ đế phát triển kinh tế bằng cách giảm thuế, nhiều đến mức tối đa mà ông cho là có thể: ở mức 10 hay 13% sản lượng hay lợi nhuận.
Hán Quang Vũ Đế đề xướng việc tiết kiệm, giảm quan, bớt chức, bãi bỏ quân vũ trang địa phương cho về quê làm ruộng. Ông còn giảm bớt chức quận đô uý, tăng trách nhiệm cho thái thú. Hán Quang Vũ Đế thu gọn bộ máy chính quyền từ huyện, ấp, đạo, chỉ giữ lại 1/4 trong số đó. Vì vậy số quan lại hưởng lương chỉ bằng 1/10 thời Tây Hán. Binh lính tại các quận, huyện cũng được cho giải tán bớt về quê để bớt khẩu phần ăn theo; các vùng biên ải cũng không tuyển thêm quân. Do bớt quan chức, gánh nặng chi phí cũng giảm, vì vậy thuế đóng góp của nhân dân cũng bớt đi.
Ông tái lập lại chế độ phong vương cho con cháu (Vương quốc) và phong hầu cho công thần (Hầu quốc), chia lại đất đai cho nông dân và các quý tộc. Tầng lớp thượng lưu được ban cấp nhiều ruộng đất. Chính sách này về sau được Triệu Khuông Dẫn, hoàng đế khai quốc nhà Tống áp dụng. Số người được phong hầu trong vương thất là 125 người, trong các công thần là 365 người. Đối với các công thần, Hán Quang Vũ Đế ban thưởng công lao rất hậu nhưng không để họ can thiệp vào việc triều chính, cũng như không để họ có thực lực, thực quyền làm phát sinh tranh chấp quyền lực giữa thiên tử và chư hầu như đầu thời Tây Hán.
Năm 57, Hán Quang Vũ Đế qua đời, hưởng thọ 63 tuổi. Ông ở ngôi tất cả 32 năm. Thụy hiệu được dâng là Thế Tổ Quang Vũ hoàng đế (世祖光武皇帝).
Thái tử Lưu Trang lên nối ngôi, tức là Hán Minh Đế, tiếp tục cai trị nhà Hán trở lại thời gian cực thịnh.
=== Minh Chương chi trị ===
Nhà Đông Hán dưới Triều đại của Hán Minh Đế (57 - 75), Hán Chương Đế (75 - 88) tiếp tục đạt tới thời kỳ thịnh vượng, thời kỳ này được gọi là Minh Chương chi trị (明章之治).
Dưới Triều đại của 2 vị Hoàng đế này, nhà Hán tiếp tục được mở rộng lãnh thổ, thu phục được Hung Nô và làm chủ Tây Vực. Đặc biệt là việc thành lập Con đường tơ lụa vào thời kỳ này, giúp quan hệ giữa Trung Quốc và các nước phương Đông, Trung Á ngày càng phát triển. Việc Trung Quốc trở nên thịnh vượng lại làm xuất hiện cố gắng mở rộng về phía tây.
Đời Hán Minh Đế, Lư Phương cát cứ vùng An Định được Hung Nô ủng hộ đã chiếm các quận Ngũ Nguyên, Sóc Phương, Vân Trung, Định Tương, Nhạn Môn, giúp cho Hung Nô có cơ sở tiến xuống phía nam. Quang Vũ Đế không đủ sức chống trả nên phải bỏ khu vực từ Hà Sáo đến Tinh Châu và phía bắc U Châu, dời tất cả dân cư vào nội địa.
Khoảng năm 45, Hung Nô bị nhiều nạn hạn hán và một nạn châu chấu, súc vật chết nhiều, dân đói. Nước chia làm hai: Bắc sống độc lập, Nam lệ thuộc Hán; Quang Vũ Đế mưu mô gây sự bất hòa giữa hai bên. Nhằm cắt đứt liên hệ giữa Bắc và Nam Hung Nô nhà Đông Hán cho đặt Độ Liêu Tướng quân xây đồn lũy ở các vùng Ngũ Nguyên, Mang Bá (đông nam của Đạt Lạp Đặc Kỳ thuộc Nội Mông). Qua đời sau Hán Minh Đế làm tuyệt đường giao thông giữa Bắc và Nam Hung Nô, rồi sai Đậu Cố (竇固) đánh Bắc Hung Nô, chiếm đất làm đồn điền.
Năm 73, Đại tướng quân Đậu Cố đã chỉ huy quân Hán tấn công miền Nam Hung Nô. Năm 88, Xa kỵ tướng quân Đậu Hiến (竇憲) đem quân đánh Hung Nô, Bắc Thiền vu bỏ trốn, hơn 2 vạn người đầu hàng. Quân Hán đánh thẳng lên núi Yến Nhiên (núi Hàng Ái, Mông Cổ) lập bia đá kỷ niệm chiến công ở đó. Năm 90, quân Hán đoạt lại Y Ngô Lư, cùng với quân Nam Hung nô tiến đến Kê Lộc Tán (tây Hàng Cẩm Hậu Kỳ, Mông cổ) để tấn công Hung Nô. Năm 91, Đại tướng quân Đậu Hiến dẫn quân Hán bao vây Bắc Thiền vu của Hung Nô tại núi Kim Huy (Antai), một bộ phận người Hung nô bỏ chạy sang Ô Tôn, Bắc Hung nô bị đánh bại triệt để, từ đó dời bỏ Cao nguyên Mông Cổ phải dời sang phía tây.
Năm 97, con trai Ban Siêu là Ban Dũng gửi Sứ thần Cam Anh đến phía tây đến được nước Điều Chi bên vịnh Ba Tư chuẩn bị vượt biển để đến Đế quốc La Mã thì người nước An Tức (Ba Tư) nói: " Biển rất rộng, gặp gió xuôi phải 3 tháng mới vượt qua được, nếu gió ngược thì phải mất 2 năm. Cho nên người vượt biển ai cũng phải chuẩn bị đủ lương thực 3 năm để dùng. Đó là chưa nói sống trên biển rất dễ bị bệnh nhớ quê hương cho nên luôn có người chết ngoài biển". Nghe lời nói đó, Cam Anh không dám vượt biển, đành quay trở về. Tuy nhiên đến năm 166, một phái đoàn La Mã đã thông thương với Đông Hán.
Đến giữa thế kỷ thứ nhất, trải qua sự thống trị của 3 đời hoàng đế Hán Quang Vũ Đế, Hán Minh Đế và Hán Chương Đế thì Vương triều Đông Hán đã từng bước lấy lại sự thịnh vượng của nhà Hán trước đây. Các tướng lĩnh như Cảnh Yểm, Đậu Cố, Ban Siêu mở mang bờ cõi đến tận biển Caspian và nước Ukraina hiện nay, quan hệ trực tiếp với Đế quốc Parthia và gửi các đoàn sứ thần đến Đế quốc La Mã cũng đang thời kỳ hoàng kim tại châu Âu.
=== Thái hậu chuyên quyền ===
Từ đời Hán Chương Đế còn tại vị, họa ngoại thích của hoàng hậu đã bắt đầu nhem nhúm khi Chương Đức Đậu hoàng hậu ra sức tăng cường thế lực dòng họ Đậu (竇), áp chế các quyền thần trong triều.
Việc Hoàng thái hậu toàn quyền nhiếp chính xảy ra liên tiếp trong các đời về sau: Hán Hòa Đế (88 - 105), Hán Thương Đế (106), Hán An Đế (106 - 125), Hán Thuận Đế (125 - 144).
Năm 88, Hán Hòa Đế Lưu Triệu kế vị, Đậu hoàng hậu trở thành Đậu thái hậu, nắm quyền nhiếp chính trong nhiều năm. Đậu Hiến (竇憲), anh trai của Đậu thái hậu được giữ chức Xa kỵ tướng quân (車騎將軍), sau chiến công bình định Bắc Hung Nô lừng lẫy, được phong Đại tướng quân (大將軍). Năm 91, ông truy kích Bắc Hung Nô đại thắng, quyền hành nhất trong triều đình, uy danh lừng lẫy. Thời kỳ tại vị của Hán Hòa Đế, uy danh và quyền lực của nhà Hán đạt đến độ cực thịnh, khi mà Thái Luân chế tạo ra giấy, tạo bước phát triển mới cho văn hóa; Ban Cố viết Hán Thư, Đậu Hiến ra tay dẹp Hung Nô. Đại tướng quân Đậu Hiến sau chiến công đó thì trở nên kiêu ngạo, dựa vào Đậu Thái hậu mà phô trương thế lực, tỏ ra coi thường Hòa Đế, khiến Hòa Đế đem lòng ghét bỏ, mưu trừ Đậu Hiến và ngoại thích họ Đậu. Năm 92, Hán Hòa Đế ra tay dẹp bỏ ngoại thích họ Đậu, giết chết Đậu Hiến, giam lỏng Đậu Thái hậu. Do ông dựa vào hoạn quan Trịnh Chúng (鄭眾) để giết được Đậu Hiến, nên ban thưởng ông ta và trọng dụng thân tín. Họa hoạn quan khiến nhà Hán tàn vong về sau bắt đầu từ đây.
Trong cung, ông sủng ái Quý nhân Đặng Tuy và lập bà làm Hoàng hậu, vì quá thương yêu bà, ông cho bà can thiệp triều chính. Đặng hoàng hậu là người uyên bác, hiểu lễ nghĩa, không can thiệp quá sâu như Đậu hoàng hậu lúc trước. Năm 105, Hán Hòa Đế qua đời, Thái tử Lưu Long (劉隆) kế vị, tức Hán Thương Đế, Đặng hoàng hậu lên làm Hoàng thái hậu nhiếp chính, lại trọng dụng họ Đặng (鄧), phong cho anh là Đặng Chất (鄧騭) làm Xa Kỵ tướng quân (車騎將軍). Hán Thương Đế chết khi còn rất nhỏ, Đặng Thái hậu lại lập Lưu Hỗ - con của Thanh Hà Hiếu vương Lưu Khánh (劉慶), con trưởng của Hán Chương Đế và là anh ruột của Hán Hòa Đế – lúc đó mới 12 tuổi lên ngôi, tức là Hán An Đế. Đặng thái hậu tuy được đánh giá là một vị Hoàng hậu có tài năng, tuy nhiên việc thâu tóm quyền lực về bản thân quá nhiều đã làm mâu thuẫn đối với vị hoàng đế trẻ Hán An Đế, khiến cho sau này An Đế ra tay dẹp trừ hoàn toàn dòng dõi họ Đặng, dẫn đến tuyệt hậu.
Năm 125, Hán An Đế Lưu Hỗ băng hà, Bắc Hương Hầu Lưu Ý được dòng họ Diêm (閻) của An Tư Diêm hoàng hậu đưa lên ngôi, nhưng 7 tháng sau thì ốm chết. Diêm Thái hậu dùng binh biến, chống lại hoạn quân Tôn Trình (孫程) muốn lập hoàng tử Lưu Bảo kế vị. Cuộc chiến xảy ra trong nhiều tháng, cuối cùng Diêm thái hậu và phe cánh họ Diêm đại bại. Lưu Bảo mới 11 tuổi được đưa lên ngôi, tức là Hán Thuận Đế. Cho dù Hán Thuận Đế là người năng lực kém cỏi trong việc cai trị và nạn tham nhũng không bị ngăn chặn, hòa bình vẫn được đảm bảo.
Năm 132, Thuận Đế lấy vợ là Thuận Liệt Lương Hoàng hậu, từ đó họ Lương (梁) bắt đầu tham gia triều chính. Họ Lương có nguồn gốc từ Lương Nhiễu, làm Thái thú quận Tửu Tuyền thời Vương Mãng, cùng Đậu Dung cát cứ đất Hà Tây, sau về hàng Quang Vũ Đế được phong hầu, kết thông gia với Quang Vũ Đế. Năm 135, Thành Thạch hầu Lương Thượng, cha Hoàng hậu được phong làm Đại tư mã chỉ huy quân đội, kiểm soát triều chính. Tuy nhiên Lương Thượng lại là người trong sạch và trung thực, nhiều khi nhân nhượng không muốn trừng phạt những người vi phạm pháp luật. Trong các năm (136 -138) tại miền Nam, nhiều cuộc nổi dậy của dân chúng nổ ra tại miền nam. Vào năm 139, người Khương lại nổi dậy, cuộc nổi dậy kéo dài mãi trong suốt đời Thuận Đế, Triều đình hao tổn rất nhiều quân phí và binh lực đánh dẹp. Năm 141, người Khương đánh bại quân Hán do Mã Hiển chỉ huy và tiến đến gần Trường An, đốt cháy lăng mộ các vua triều Tây Hán. Tại địa hạt Kinh Châu (Hồ Nam, Hồ Bắc, Nam Hà Nam) và Dương Châu (Giang Tây, Chiết Giang, Trung và Nam Giang Tô, An Huy), tình hình cũng không yên ổn bởi các cuộc nổi dậy của các bộ tộc ít người.
Năm 141, Lương Thượng chết, Hán Thuận Đế đưa con ông ta là Lương Ký lên thay, phong làm Đại tướng quân. Em Lương Ký là Lương Bất Nghi làm Hà Nam doãn. Nhà họ Lương có tất cả 7 người được phong tước hầu, 3 người tấn phong Hoàng hậu, 6 người được nạp làm Quý nhân, 2 người làm Đại tướng quân, 57 người tham gia bộ máy chính quyền.
=== Lương Ký lộng hành ===
Đại tướng quân Lương Ký (梁冀), xuất thân từ ngoại thích họ Lương đã thao túng triều đình qua nhiều đời hoàng đế nhà Hán: Hán Xung Đế (145 - 146), Hán Chất Đế (145 - 146), Hán Hoàn Đế (146 - 167).
Năm 144, Hán Thuận Đế chết, Lương hoàng hậu trở thành Hoàng thái hậu, đưa Thái tử Lưu Bỉnh lên kế vị, tức Hán Xung Đế.
Hán Xung Đế làm vua chỉ được một thời gian thì chết yểu. Lương thái hậu ngay lập tức cho phát tang, bố cáo toàn thiên hạ. Bà triệu tập cháu 4 đời của Hán Chương Đế là Thanh Hà vương Lưu Toán (劉蒜) cùng Lưu Toản (劉纘), con của Bắc Hải vương Lưu Hồng (劉鴻) về Lạc Dương để quyết định người kế vị. Các đông đảo đại thần xin lập Lưu Toán vì ông đã trưởng thành, đảm đương được trọng trách nhưng Lương Ký lại muốn lập Lưu Toản để dễ bề điều khiển chính sự. Cuối cùng, Lương thái hậu lập Lưu Toản mới 8 tuổi làm Hoàng đế, tức Hán Chất Đế. Lương Ký thông qua Lương thái hậu nắm toàn bộ quyền hành trong triều.
Hán Chất Đế Lưu Toản tuổi tuy còn nhỏ nhưng lại vô cùng thông minh. Biết Lương Ký lấy thân thế là ngoại thích mà lên chức Đại tướng quân, chuyên quyền nơi triều chính, lấn át đại thần, đến cả Hoàng đế cũng không bỏ vào trong mắt, vì thế Lưu Toản rất khó chịu với Lương Ký. Một lần đương triều, Lương Ký múa may loạn xạ, Lưu Toản bèn nói một câu Thực là ngang ngược tướng quân. Không ngờ câu nói này khiến cho vị hoàng đế trẻ tuổi thành đoản mệnh. Lương Ký sai người hạ độc vào trong thực phẩm của Hoàng đế, lúc đó Hán Chất Đế chỉ vừa 9 tuổi.
Quần thần lại dấy lên kiến nghị, đòi lập Lưu Toán làm Hoàng đế. Nhưng Lương Ký lại kiến nghị với Lương thái hậu, lập Ngô Lễ hầu Lưu Chí làm Hoàng đế, người đã hứa hôn với Lương Nữ Oánh, em gái bà và Lương Ký. Lưu Chí lên ngôi trở thành Hán Hoàn Đế. Lương thái hậu tiếp tục nhiếp chính như trước, nhưng Lương Ký đã có quyền hành quá lớn, đẩy được Lý Cố (李固) ra khỏi triều đình khi ông này phản đối việc lên ngôi của Hán Hoàn Đế.
Năm 147, Hán Hoàn Đế lập Lương Nữ Oánh, em gái Lương thái hậu làm Hoàng hậu. Trong triều, Lương Ký ngày càng lộng quyền, đổ tội cho Lý Cổ và Lưu Toán có ý mưu phản, khiến Lưu Toán phải tự sát. Lý Cổ cùng nhiều đại thần trong triều bị xử tử.
Sau khi không còn thế lực chống đối, Lương Ký tha hồ vơ vét của cải của dân chúng, tài sản có đến 4 tỷ đồng, chiếm một nửa ngân khố của nhà nước, những người bình dân cũng bị Lương Ký bắt làm nô tỳ.
Năm 159, Lương Thái hậu chết, phe cánh họ Lương của Lương Ký bị Hán Hoàn Đế diệt trừ, tài sản bị sung công, dân chúng nghe tin đều vui mừng. Việc điều hành quốc gia bắt đầu rơi vào tay tầng lớp hoạn quan sau khi Hoàn Đế phải dựa vào nhóm này để trừ khử quyền thần Lương Ký. Các hoạn quan gồm Đơn Siêu (單超), Từ Hoàng (徐璜), Cụ Viên (具瑗), Tả Quán (左悺), Đường Hành (唐衡) do có công tiêu diệt Lương Ký được Hoàn đế phong hầu trong một ngày được gọi là Ngũ hầu (五侯). Đơn Siêu được phong Tân phong hầu, ban thực ấp 2 vạn hộ; Từ Hoàng được phong Vũ nguyên hầu, ban thực ấp 1,5 vạn hộ; Cụ Viên được phong Đông Vũ dương hầu, ban thực ấp 1,5 vạn hộ; Tả Quán được phong Thượng thái hầu, ban thực ấp 1,3 vạn hộ; Đường Hành được phong Như dương hầu, ban thực ấp 1,3 vạn hộ.
=== Hoạn quan chuyên quyền ===
Trong thời gian nắm quyền, hoạn quan đã phát động hai đợt thanh trừng lớn, qua đó bức hại và loại trừ hầu hết các bậc trung thần hoặc những người không cùng phe cánh. Lịch sử gọi sự kiện này là Họa đảng cố (黨锢之祸). Triều đình Đông Hán thời kỳ này trở nên vô cùng hủ bại, việc mua quan bán tước được định giá công khai.
Năm 168, Hán Hoàn Đế qua đời, Hoàn Tư Đậu hoàng hậu tuyên bố lên làm Hoàng thái hậu nhiếp chính. Bà thoả thuận lựa chọn một đứa trẻ 12 tuổi ở nông thôn tên là Lưu Hoằng con của Giải độc đình hầu Lưu Trường, chút của Hán Chương Đế. Sau đó, bà cùng với Đậu Vũ (竇武) đón Lưu Hoằng vào cung lập làm hoàng đế, tức Hán Linh Đế. Trong thời Hán Linh Đế một cuộc xung đột xảy ra giữa hoạn quan và các quan chức theo Khổng giáo. Phái Khổng giáo từ lâu vốn không thích các hoạn quan, coi họ là thiếu giáo dục và gây trở ngại cho một triều đình tốt.
Sự bành trướng thế lực của các bè phái cũng dẫn đến việc lôi kéo nhân tài về phía mình để củng cố lực lượng, tầng lớp trí thức bị chia rẽ rõ rệt. Một số a dua với ngoại thích hoặc hoạn quan theo đuổi quyền lợi phe phái được gọi là tầng lớp "trọc lưu". Đối lại với lớp trọc lưu là những phần tử nho học chân chính ủng hộ vương quyền thực sự của hoàng đế, được gọi là phái "Thanh lưu". Những lãnh tụ của phái Thanh lưu có thể kể ra đây như Lý Ưng, Trần Phiên, Vương Sướng, Phạm Bàng, Quách Thái...
Chiến tranh xảy ra giữa các hoạn quan và phái Khổng giáo về sự ảnh hưởng của một vị phù thuỷ Đạo giáo. Vị phù thuỷ Đạo giáo tiên đoán rằng một lòng khoan dung khắp nơi sắp đến và sai con mình đi giết một người nào đó để bày tỏ sự tin tưởng vào sự tiên tri đó. Con trai của ông là người hầu cận của các hoạn quan, và các hoạn quan đã ngăn chặn sự hành hình của vị phù thuỷ. Tuy nhiên vị quan cai trị vẫn hành hình con vị phù thuỷ. Các hoạn quan buộc tội vị quan cai trị vi phạm vào điều luật của đế chế và âm mưu với sinh viên và những bậc trí thức để thành lập một liên minh bất hợp pháp nhằm chống lại chính quyền. Các hoạn quan có được lệnh từ Hán Linh Đế, ra lệnh bắt giữ các sinh viên dám biểu tình và dám tìm cách khấn nguyện lên hoàng đế. Và nhanh chóng, họ giết nhiều sinh viên trong ngục.
Sau nhiều năm tranh chấp chính quyền và các nhà cai trị không có thực lực, nhà Đông Hán dần suy vong. Ở một quốc gia coi Khổng giáo là quốc giáo, là bộ quy tắc ứng xử quan trọng nhất mà quyền lực thật sự lại không nằm trong tay các đồ đệ chân chính của Khổng Tử. Guồng máy nhà nước đã không được vận hành theo một cơ cấu hợp lý bởi thiếu những bộ óc lãnh đạo xứng đáng, và hệ quả tất yếu của nó là sự suy đồi của nền kinh tế. Thương nghiệp thoái hóa, cơ cấu kinh tế, nông nghiệp hoàn toàn bị phá vỡ bởi sự lộng hành của quý tộc địa chủ. Số lượng tiền tệ giảm bớt. Vàng gần như biến mất. Chinh phạt liên miên (đánh người Khương ở miền bắc, dẹp khởi loạn trong nước…) khiến quân phí tăng vọt (mấy mươi năm triều An đế, quân phí lên tới 70 triệu quan), do đó bắt buộc triều đình càng phải gia tăng thuế vụ, nhân dân bị bần cùng hóa.
=== Nhà Hán tàn vong ===
Một người theo Đạo giáo tên là Trương Giác, quê ở quận Cự Lộc (Ký Châu, Hà Bắc) tự cho mình là "đại hiền lương sư", đã đi quanh vùng làng quê giống như Trương Lăng. Ông tập hợp các tín đồ giáo dân ủng hộ mình, làm nên cuộc Khởi nghĩa Hoàng Cân (黃巾之亂), nghĩa là Khởi nghĩa Khăn Vàng, được đặt theo kiểu đội đầu của phong trào – màu vàng biểu thị sự liên kết của họ với yếu tố đất như đối kháng với yếu tố lửa, mà họ coi là của nhà Hán.
Hoảng sợ trước sự đấu tranh của cuộc nổi loạn, chính phủ Ðông Hán và các tập đoàn quân phiệt ở các địa phương đã huy động toàn bộ lực lượng để đàn áp, trong vòng 10 tháng đã bị đánh bại. Dư đảng quân Hoàng Cân còn ở khắp nơi hoành hành quấy nhiễu, quân triều đình qua cuộc chiến cũng bị thiệt hại nặng nề nên không đủ khả năng giúp các địa phương trấn áp triệt để. Tình thế ấy khiến cho Hoàng đế nhà Hán có một quyết sách rất mạo hiểm là mau chóng khuếch đại quyền hạn cho các thứ sử, cho phép họ thành lập quân đội riêng để tự dẹp loạn, đổi chức Thứ sử một số châu thành chức Châu mục (州牧). Chức mục bắt đầu ra đời từ đó, bấy giờ là năm 188. Các châu mục mau chóng có quyền hạn lớn, lực lượng độc lập, triều đình cũng nhanh chóng mất đi quyền chỉ huy khống chế các địa phương, tình trạng quần hùng cát cứ đã manh nha xuất hiện.
Năm 189, Hán Linh Đế qua đời, con trai của Hà hoàng hậu là Lưu Biện lên kế vị, tức Hán Thiếu Đế. Đại tướng quân Hà Tiến (何進) nắm trong tay thế lực ngoại thích, có mâu thuẫn với các hoạn quan trong Thập thường thị (十常侍) là Trương Nhượng (張讓). Hà Tiến vì muốn dẹp trừ thế lực hoạn quan, đã nghe theo lời Viên Thiệu (袁紹), lệnh cho Thứ sử Tây Lương là Đổng Trác (董卓) dẫn đại binh Tây Lương về Lạc Dương. Trong thời gian Đổng Trác đến Lạc Dương, Hà Tiến trong cung bị các hoạn quan giết hại, sau Viên Thiệu là thủ hạ của Hà Tiến đem quân vào cung giết hết các hoạn quan. Đổng Trác vào kinh đô, mau chóng nắm hết đại quyền, đuổi Viên Thiệu phải chạy ra khỏi Lạc Dương, sau đó ông vào cung phế truất Hán Thiếu Đế Lưu Biện, giáng làm Hoằng Nông vương (弘農王), lập Trần Lưu vương Lưu Hiệp (劉協) kế vị, tức Hán Hiến Đế. Năm 192, Đổng Trác bị Lữ Bố (吕布) giết hại, chính quyền nhà Đông Hán bước sang thời kỳ phân liệt hỗn loạn.
Đương thời, Đại Hán bị phân chia thành các thế lực: Tào Tháo (曹操) ở Duyện Châu; Viên Thiệu ở Hà Bắc; Viên Thuật (袁術) ở Hoài Nam; Tôn Sách (孙策) ở Giang Đông; Lưu Biểu (孫策) ở Kinh Châu và Lưu Yên (劉焉) ở Ích Châu. Các sứ quân này đều dùng binh đao chiến đấu với nhau, riêng Tào Tháo nổi lên nắm quyền trong triều, rước Hán Hiến Đế về Hứa Xương, lập triều đình ở đấy, với ý định Hiệp thiên tử dĩ lệnh chư hầu (挾天子以令諸侯), kèm chặt Thiên tử để lệnh các chư hầu thuần phục. Với lợi thế đó, Tào Tháo dần tiêu diệt các phe cánh nhỏ, sau trận Quan Độ tiêu diệt được đại địch là Viên Thiệu, Tào Tháo cơ bản đã thống nhất được miền Bắc Trung Nguyên.
Hán Hiến Đế khôi phục chức vụ Thừa tướng, phong cho Tào Tháo chức vị ấy. Tào Tháo ngày càng quyền thế trong triều. Ông quyết định Nam chinh, thu phục Giang Đông nhưng bị đại bại trong trận Xích Bích, bị liên minh Lưu - Tôn của Lưu Bị (劉備) và Tôn Quyền (孫權) đánh bại. Từ đấy Tào Tháo rút về miền Bắc, không thân chinh Nam tiến lần nào nữa cho đến khi qua đời. Lưu Bị nhân đó chiếm Kinh Châu, làm căn cơ để phát triển thế lực. Cục diện Tào-Lưu-Tôn căn bản hình thành từ đó.
Năm 220, Tào Tháo qua đời, con của ông là Tào Phi (曹丕) đã phế bỏ Hán Hiến Đế, hơn 400 năm của nhà Hán chấm dứt từ đó. Tào Phi lên ngôi Hoàng đế, lập ra Triều đại Tào Ngụy ở miền bắc Trung Quốc, bắt đầu thời kỳ Tam Quốc (Bắc Ngụy, Tây Thục, Đông Ngô) kéo dài 60 năm (220 - 280) nổi tiếng trong lịch sử Trung Quốc.
== Nỗ lực trung hưng của Thục Hán ==
Khi Triều đại nhà Hán suy yếu, Lưu Bị, một người thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Hán, đã tập hợp được lực lượng và nhiều tướng tài, đặc biệt là Gia Cát Lượng. Sau trận Xích Bích năm 208, ông đã chiếm được Kinh Châu rồi sau đó là Ích Châu, Ba Thục và Hán Trung. Với những vùng đất này, Lưu Bị đã có vị thế khá vững chắc ở Trung Quốc lúc bấy giờ. Năm 220, sau khi Tào Phi truất ngôi Hán Hiến Đế, Lưu Bị chính thức xưng đế và lập nên nước Thục-Hán và tuyên bố triều đình của ông là sự kế tục chính thống của nhà Hán, do Lưu Bị cũng có dòng máu Hoàng gia. Lưu Bị mất năm 223, và con là Lưu Thiện nối ngôi tức Thục Hán hậu chủ.
Sau các cuộc chiến tranh với Tào Ngụy, tài nguyên và nhân lực của Thục Hán bị suy yếu, cùng với sự yếu kém của chính quyền trung ương khiến cho sức mạnh của Thục ngày càng đi xuống.
Vào năm 263, Tư Mã Chiêu cho 3 đạo quân tấn công vào nước Thục. Với chiến thuật phối hợp của Đặng Ngải và Chung Hội, quân đội nước Nguỵ nhanh chóng chiếm được Hán Trung và thẳng tiến đến Thành Đô. Hậu chủ Lưu Thiện lập tức đầu hàng, đánh dấu kết thúc cho sự kháng cự cuối cùng của hoàng tộc nhà Hán. Năm 265, đến lượt nhà Tào Ngụy bị Tư Mã Chiêu truất ngôi, nhà Tấn thành lập và sẽ là Triều đại nối tiếp nhà Hán thống nhất được toàn bộ Trung Hoa.
Hậu chủ Lưu Thiện được đưa đến thủ đô của nước Nguỵ là Lạc Dương và được phong làm An Lạc công, sống cuộc đời còn lại một cách thanh bình.
== Mở rộng lãnh thổ ==
=== Người Tây Nam Di và Đông Nam Di ===
Tây Hán chinh phạt các tộc người Tây Nam Di và Đông Nam Di (phía tây và tây nam Tứ Xuyên, nam Cam Túc, tây Quý Châu, Vân Nam) đặt các quận Kiện Vi (năm 135 TCN), Tường Kha (Quý Châu), Việt Tê (Tứ Xuyên), Thẩm Lê (Tứ Xuyên), Văn Sơn (Tứ Xuyên) Võ Đô (Cam Túc), đánh Điền quốc đặt quận Ích Châu (Vân Nam) năm 109 TCN.
Để mở rộng quan hệ thương mại mới hình thành với Miến Điện và Ấn Độ, Hán Vũ Đế còn giao cho Đường Mông nhiệm vụ bảo trì và mở rộng Ngũ xích đạo, đổi tên nó thành "Tây nam Di đạo". Vào thời gian đó, kỹ thuật canh tác trong nông nghiệp ở Vân Nam đã được cải thiện rõ rệt. Người dân địa phương sử dụng các công cụ và cày bừa bằng đồng thau cũng như chăn thả nhiều loại gia súc, như trâu, bò, ngựa, cừu, dê, lợn và chó. Các nhà nhân loại học đã xác định là những người này có quan hệ họ hàng gần với những người mà ngày nay gọi là người Thái. Họ sinh sống theo bộ tộc, đôi khi được những người Hán bị lưu đày đứng đầu.
=== Nước Dạ Lang ===
Đầu đời nhà Hán có một nước Miêu ở về phía nam tên gọi là Dạ Lang chiếm một phần tỉnh Quảng Tây và phần lớn tỉnh Quý Châu hiện nay. Nước Dạ Lang giáp quận Ba Thục và một mặt thì giáp hồ Động Đình về phía tây giáp nước Điền của người Lô Lô miền Tây tỉnh Vân Nam bấy giờ, phía đông hồ Vân Nam. Nước cổ Dạ Lang từng phồn thịnh hàng trăm năm trên cao nguyên Quý Châu.
Thế kỷ thứ 2 TCN, nhà sử học Tư Mã Thiên đi theo sứ giả của nhà Hán đến thực thi sứ mệnh ngoại giao tại các chính quyền dân tộc thiểu số ở miền Tây Nam Trung Hoa. Trong " Sử ký -Tây Nam Di Chí" của Tư Mã Thiên ghi lại rằng, trong các bộ tộc Tây Nam, Dạ Lang có thế lực hùng mạnh nhất, có 100 nghìn lực lượng tinh nhuệ, tàu bè của người Dạ Lang đi lại trên mặt sông, quanh cảnh hết sức tấp nập. Lúc đó Đại Hán thống trị phần lớn khu vực Trung Nguyên, Dạ Lang nằm trong miền núi xa xôi hẻo lánh.
Năm 136 TCN, Hán Vũ Đế cử Đường Mông làm Lang trung tướng dẫn 1000 binh sĩ và mấy vạn dân đem theo lương thực và công cụ sản xuất xuất phát từ Ba quận vượt qua Phù Quan (Hợp Giang, Tứ Xuyên) đến Dạ Lang. Đường Mông tuyên truyền với Dạ Lang hầu Đa Đồng về sức mạnh của Hán triều, ban tặng của cải để Dạ Lang hầu cho phép Đường Mông đặt cơ quan quản lý ở đó và cử con trai Dạ Lang hầu làm Lệnh (tương đương huyện lệnh).
Năm 130 TCN, Hán Vũ Đế xuống lệnh đặt thành quận cả khu vực nói trên và chọn Bậc đạo (An biên trường tây nam thành phố Nghi tân, Tứ xuyên) làm quận lỵ rồi phát động quân sĩ 2 quận Ba Thục tiến hành việc mở đường từ Bậc đạo thông đến sông Tường Kha. Người đất Thục là Tư Mã Tương Như lại dâng thư yêu cầu đặt quận huyện tại Cùng (vùng thành phố Tây Xương, Tứ Xuyên), Trách (vùng huyện Diêm Nguyên, Tứ Xuyên) thuộc Tây Di. Tư Mã Tương Như được Vũ đế cử làm Trung lang tướng. Tư Mã Tương Như tuyên truyền với các thủ lĩnh dân tộc thiểu số tại địa phương được họ đồng ý cho nhà Hán đặt tại khu vực đó mười mấy huyện và 1 đô úy trực thuộc Thục quận.
Sau khi tiêu diệt Nam Việt, nhà Hán cho 8 hiệu úy chỉ huy các tội nhân tấn công Thả Lan (vùng phía tây nam huyện Hoàng Bình, Quý Châu) giết chết mấy vạn người, đặt tại khu vực Nam Di này quận Tường Kha. Dạ Lang hầu thấy Nam Việt bị tiêu diệt liền quy thuận nhà Hán được Vũ đế phong làm Dạ Lang vương.
Nước Dạ Lang đã quy phục nhà Hán năm 111 TCN và gọi là quận Kiện Vi. Sau này quận đó chia làm hai, quận Kiện Vi ở phía bắc và quận Thương Ngô ở về phía nam. Quận Kiện Vi phía bắc và phía tây giáp sông Dương Tử giang ngăn quận Kiện vi với quận Ba. Còn quận Thương Ngô thì phía bắc giáp quận Kiên Vi, phía tây giáp quận Tấn Ninh tức là nước Điền cũ, phía đông bắc giáp quận Vũ Lăng tức là quận Kiến Trung đời nhà Tấn. Ở đó có hồ Động Đình.
=== Tây Vực ===
Thời kỳ Hán Quang Vũ Đế, nhiều nước ở Tây Vực nghĩ rằng thà chịu lệ thuộc Hán ở xa còn hơn là lệ thuộc Hung Nô ở gần, nên xin Quang Vũ Đế bảo hộ. Quang Vũ Đế không nhận vì không đủ quân đưa đi Tây Vực.
Hán Minh Đế lại phái Ban Siêu đi thông sứ các nước Tây Vực.
Ban Siêu người đất Bình Lăng, cha là Ban Bưu, anh cả là Ban Cố nhà sử gia nổi tiếng, em gái là Ban Chiêu, đều là những người học vấn uyên thâm nổi tiếng một thời. Siêu cũng có óc mạo hiểm như Trương Khiên, đến nước Thiện Thiện thuyết phục vua nước đó bỏ Hung Nô mà liên kết với Hán.
Mới đầu Vua Thiện Thiện tiếp ông rất lễ độ, trong khi đó, một phái đoàn của Hung Nô cũng tới, vua Thiện Thiện thay đổi thái độ, lơ là phái đoàn Hán. Ban Siêu cả gan dùng thuật vào hang cọp để bắt cọp con, nửa đêm sai mười người núp sau nhà của phái đoàn Hung Nô, người nào cũng cầm trống; còn 26 người nữa, núp ở phía trước nhà, rồi một mình ông tiến vào đốt nhà. Đêm đó có cơn dông, lửa bốc cao, bọn mười người phía sau đập trống vang trời, phái đoàn Hung Nô hoảng hốt, chạy ra phía trước, bị người Hán bắn chết một phần, phần còn lại chết cháy. Vua Thiện Thiện thấy vậy, vội thề kết thân với Hán. Chưa thấy phái đoàn ngoại giao nào dùng thuật kì dị như vậy.
Sau đó, Ban Siêu tới nước Vu Điền (Khetan) giết một mụ phù thủy quân sư của Nhà vua vì mụ dám nhục mạ sứ giả của nhà Hán, đòi sứ giả phải giết một con ngựa vàng mõm đen rồi hai bên mới thương thuyết. Vua Vu Điền thấy vậy cũng hoảng như Vua Thiện Thiện và vội xin qui phục nhà Hán, giết hết các sứ giả Hung Nô ở trong nước.
Nhờ phương pháp đó mà Ban Siêu thành công mĩ mãn: Nam Hung Nô và trên 50 nước nhỏ ở Tây Vực đều dâng biểu triều cống với nhà Hán. Còn Bắc Hung Nô thì bị Đậu Hiến đánh đuổi qua phía tây. Năm 69 tuổi, sau 30 năm hoạt động ở Tây Vực, Ban Siêu về nước, được Triều đình phong tước Định Viễn hầu, nghỉ được một năm rồi chết năm 102 (đời Hòa Đế).
Năm 74, sau khi đánh bại Hung Nô, một cơ quan quản lý người Hung nô được lập ra gọi là Tây Vực Đô hộ phủ và bị triệt thoái năm 107. Nhà Đông Hán đặt chức Hiệu úy Mậu Kỷ là chức quan võ cao cấp trông coi và giữ gìn vùng Tây Vực. Sau khi Ban Siêu về nước người kế nhiệm là Nhâm Thượng không tiếp thu kinh nghiệm của ông nên dẫn đến sai lầm trong việc cai trị.
Năm 107, Tây Vực Đô hộ phủ phải triệt thoái. Quân tư mã Ban Dũng và Ban Hùng phụng mệnh Nhà vua đón tiếp đô hộ và binh sĩ trú đóng ở Tây Vực trở về. Việc nhà Đông Hán triệt thoái Tây Vực Đô hộ phủ tạo cơ hội cho lực lượng tàn dư của Bắc Hung Nô tại núi Antai nổi dậy chiếm lĩnh Y Ngô, cướp bóc vùng Hà Tây. Một số nước Tây Vực lại đề nghị nhà Đông Hán bảo hộ. Đặng Thái hậu đang chấp chính liền triệu kiến Ban Dũng và chấp nhận kiến nghị khôi phục Tây Vực của ông. Năm 123, Ban Dũng được cử làm Tây Vực Trưởng Lại, đóng ở Liễu Trung (tây nam huyện Thiện Thiện). Chức năng của phủ Trưởng sử cũng giống như của Đô hộ phủ. Ban Dũng đẩy lui tàn dư của Bắc Hung Nô, khôi phục sự thống trị của nhà Đông Hán tại Tây Vực. Ban Dũng thiết lập các đồn điền quân sự phía tây và đưa người Hán đến định cư. Tuy nhiên so với thời Tây Hán thì không mạnh bằng. Cuối đời Đông Hán, nhà Hán không còn đủ sức mạnh để khống chế Tây Vực nữa, phủ Trưởng sử không còn tồn tại.
Cuốn "Tây Vực trường sử" (Sử vùng Tây Vực) do Ban Dũng thực hiện một thời gian ngắn sau năm 127, dựa trên một phần những ghi chép của cha ông là Ban Siêu, là nguồn tư liệu chính về văn hóa và kinh tế xã hội của Tây Vực trong tập 88 cuốn sách này.
Nhà Đông Hán còn giữ được uy quyền ở Tây Vực trong một thời gian nữa, rồi khi suy nhược vì nạn ngoại thích và hoạn quan thì không kiểm soát được miền đó nữa. Nhưng công của những nhà thám hiểm như Ban Siêu, Ban Dũng không phải là vô ích. Nhờ những người đó mà Trung Hoa đã làm chủ và khai hóa được một miền rộng ở châu Á.
=== Đất Cùng, Trách ===
Quân Hán lại giết chết các thủ lĩnh của Cùng làm cho Trách hầu và Nhiễm Manh sợ hãi xin thần phục, bằng lòng cho nhà Hán đặt quận Việt Tê tại kinh đô của Cùng, đặt quận Thẩm Lê tại kinh đô của Trách, đặt quận Văn Sơn tại Nhiễm Manh (phía bắc huyện Mậu Văn, Tứ Xuyên) còn ở Bạch Mã thì đặt quận Võ Đô.
=== Đất Điền ===
Vũ đế phái Vương Thiên Vũ đến đất Điền tuyên truyền sức mạnh của quân Hán nhưng Điền Vương ỷ có mấy vạn binh sĩ lại có những bộ tộc cùng họ ở phía đông bắc là Lao Thâm, Mạc My ủng hộ nên không chịu quy phục. Năm 109 TCN, Vũ đế điều động quân Ba Thục tấn công tiêu diệt Lao Thâm, Mạc My xua quân tiến sát đất Điền. Điền vương xin đầu hàng, nhà Hán giao quyền cho tướng Quách Xương đặt quận Ích châu với 24 huyện trực thuộc. Nơi đặt trụ sở của quận này là huyện Điền Trì (ngày nay là Tấn Ninh). Về sau lại hàng phục được Côn Minh sáp nhập vùng này vào quận Ích châu.
Biên cương nhà Hán mở rộng đến tận núi Cao Lê Cống và núi Ai Lao ngày nay, đồng thời có sự qua lại với người Ai Lao sống ở khu vực sông Lan thương và vùng đông bắc của Miến Điện. Tuy nhiên một số nơi có quá ít người sinh sống nên cuối đời Vũ đế xóa bỏ quận Thẩm lê, năm 67 TCN đời Tuyên đế xóa bỏ quận Văn Sơn. Lãnh thổ 2 quận này được nhập vào Thục quận.
== Ngoại giao ==
=== Các nước phía nam Đông dương và nước Oa ===
Trong phần "Địa lý chí" của Hán thư có ghi chép con đường hàng hải giữa Tây Hán và các nước ở phương nam.
Từ Nhất nam (duyên hải miền trung Việt Nam), Chướng Tái, Từ Văn (tây nam huyện Từ Văn, Quảng Đông), Hợp Phố (Hợp Phố, Bắc Hải, Quảng Tây) đi thuyền 5 tháng thì có thể đến nước Đô Nguyên; lại đi thuyền 4 tháng nữa sẽ gặp nước Ấp Lư Một; lại đi thêm ngoài 20 ngày sẽ đến nước Thầm Ly; nếu đi bộ thì hơn 10 ngày sẽ gặp nước Phù Cam Đô Lư. Từ nước Phù Cam Đô Lư đi thuyền hơn 2 tháng sẽ gặp nước Hoàng Chi; phong tục người dân ở đây cũng giống như người dân ở châu Nhai (đông bắc đảo Hải nam). Từ nước Hoàng Chi đi thêm 8 tháng sẽ tới Bì Tôn, nếu đi 2 tháng nữa sẽ đến Nhất Nam, Tượng Lâm. phía nam của Hoàng Chi có nước Trình Bất. Sứ giả và người thông dịch của nhà Hán đi đến đây thì dừng.
Năm 69, Quốc vương Ai Lao xin nội thuộc vào Đông Hán, nhà Đông Hán lập tại đó 2 huyện đồng thời tách từ Ích Châu 6 huyện lập thành quận Vĩnh Xương. Cương vực nhà Đông Hán mở rộng đến Cao nguyên Vân Quý và phía đông Miến Điện.
Đời Hán Minh Đế, các bộ Bạch Lang, Bàn Mộc phía tây quận Văn Sơn gồm 130 vạn hộ, sáu triệu nhân khẩu, tình nguyện quy thuộc nhà Hán.
Năm 87, vùng Bắc Miến Điện sai sứ đến Đông Hán tiến cống đá quý, chim Trả, bông cây gạo, trâu rừng, ngà voi, minh châu, ngọc sang và mang về tơ lụa. Vào thế kỷ thứ 3, khi kỹ thuật canh tác nông nghiệp Trung Nguyên được Gia Cát Lượng truyền bá cho dân chúng vùng Vân Nam, Quý Châu thì sau đó không lâu những kỹ thuật này cũng được truyền vào Miến Điện. Từ Vân Nam, việc chế tạo rượu, nuôi tằm cũng được truyền sang nước Lào.
Năm 87, nước An Tức triều cống sư tử cho Trung Quốc. Về sau vào niên hiệu Dực Niên, Quốc vương nước An Tức phái sứ giả mang lễ vật triều cống sang Trung Quốc, mở đầu cho sự giao thương giữa hai nước. Năm 101, nước An Tức lại thường mang lễ vật sang triều cống cho triều Đông Hán.
Năm 57, quốc vương nước Na (Nụy Vương) Nhật Bản tiến cống Quang Vũ Đế ở Lạc Dương và nhận ấn thụ Hán Nụy Nô Quốc Vương (Vua nước Na đất Wa thuộc Hán). Cũng theo Hậu Hán thư, năm 180, các tiểu quốc Wa (Oa/Nụy/Uy) thống nhất dưới quyền Nữ hoàng Himiko (Ti Do Hô) của nước Yamataikoku (Tà Mã Đài Quốc) và năm 237, Nữ hoàng gửi sứ tiết sang Trung Quốc.
=== Các dân tộc ở miền Nam ===
Thời Đông Hán có nhiều dân tộc thiểu số ở vùng Hồ Nam, Tứ xuyên, Vân Nam, Quý Châu. Người Diêu ở Quý Châu và tây Hồ Nam dùng các thứ vải gai màu để may quần áo rất đẹp. Người Diêu cũng là một tộc người rất dũng cảm và thiện chiến. Nhà Đông Hán đã bắt họ nộp tô thuế rất nặng, ngoài ra họ còn bị bọn quan lại đánh đập nữa, vì thế họ thường nổi lên chống cự, trong vòng ba năm đã hai lần đánh bại quân triều đình.
Người Điền: Vào thời kỳ đồ đá mới, ở đây đã có sự định cư của con người trong khu vực hồ Điền Trì. Những người nguyên thủy này sử dụng các công cụ bằng đá và đã xây dựng được các công trình đơn giản bằng gỗ.
Vào khoảng thế kỷ 3 TCN, khu vực trung tâm của Vân Nam, xung quanh Côn Minh ngày nay đã được biết đến như là Điền. Một viên tướng nước Sở là Trang Giao hay Trang Kiệu đã từ thượng nguồn Trường Giang tiến vào khu vực này, lập ra nước Điền và tự xưng là "vua nước Điền". Ông và những người kế nghiệp ông đã mang tới Vân Nam ảnh hưởng của người Hán, sự khởi đầu của một lịch sử lâu đời các cuộc di cư và sự mở rộng ảnh hưởng văn hóa. Năm 221 TCN, Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc và mở rộng quyền lực của mình xuống phía nam. Các châu và huyện đã được thiết lập tại đông bắc Vân Nam. Đường giao thông đang có tại Tứ Xuyên đã được mở rộng về phía nam tới gần Khúc Tĩnh ngày nay, ở miền đông Vân Nam - được gọi là "Ngũ xích đạo" (đường 5 thước). Năm 109 TCN, Hán Vũ Đế giao quyền cho tướng Quách Xương đến Vân Nam để thiết lập quận Ích Châu với 24 huyện trực thuộc. Nơi đặt trụ sở của quận này là huyện Điền Trì (ngày nay là Tấn Ninh). Một huyện khác được gọi là "Vân Nam", có lẽ là lần sử dụng đầu tiên của tên gọi này. Để mở rộng quan hệ thương mại mới hình thành với Miến Điện và Ấn Độ, Hán Vũ Đế còn giao cho Đường Mông nhiệm vụ bảo trì và mở rộng Ngũ xích đạo, đổi tên nó thành "Tây nam Di đạo". Vào thời gian đó, kỹ thuật canh tác trong nông nghiệp ở Vân Nam đã được cải thiện rõ rệt. Người dân địa phương sử dụng các công cụ và cày bừa bằng đồng thau cũng như chăn thả nhiều loại gia súc, như trâu, bò, ngựa, cừu, dê, lợn và chó.
Người Điền ở xung quanh hồ Điền đã khai thông ao hồ để tưới tiêu. Người Ai lao ở giữa vùng sông Nộ và sông Lan thương biết dệt một thứ vải bằng gai mịn như gấm. Ở đó họ đá sản xuất đồng, sắt, chì, thiếc và thủy tinh. Nhà Đông Hán đã đặt quận huyện tại khu vực này. Người Hán cũng thường quan hệ giao lưu với người Điền và người Ai Lao. Giữa thế kỷ thứ hai, Doãn Trân người vùng Tang Ca (Quý Châu) có đến Lạc dương học kinh sách rồi trở về quê dạy học có ảnh hưởng lớn đối với văn hóa trong vùng.
=== Nổi dậy ở Tượng Lâm ===
Trong thế kỷ 2 tình hình chính trị ở phía nam huyện Tượng Lâm, luôn dao động.
Mùa hè năm 100, hơn 2.000 dân Tượng Lâm nổi lên phá đồn, đốt thành, giết một số quan quân cai trị. Chính quyền đô hộ Hán phải huy động quân của các quận huyện khác đến dẹp, giết được chủ tướng, cuộc nổi loạn mới tạm yên. Từ đó chính quyền nhà Hán không dám ức hiếp một cách thô bạo dân cư tại đây nhưng đặt vùng đất này dưới quyền cai trị trực tiếp, do một binh trưởng sứ cầm đầu, đề phòng những cuộc nổi loạn sau này. Để lấy lòng dân cư địa phương, quan quân nhà Hán tổ chức phát chẩn cho dân nghèo, miễn thuế hai năm v.v.
Mục đích của chính sách cai trị trực tiếp này là thu thuế và nhận phẩm vật triều cống (vàng, bạc, sừng tê giác, ngà voi, móng chim ưng, hương liệu, vải lụa) càng nhiều càng tốt. Thuế và phẩm vật triều cống do những lãnh chúa địa phương thay mặt nhà Hán thu của dân. Như vậy nhà Hán vừa có thu nhập vừa không hao tốn ngân quỹ, lại duy trì được ảnh hưởng trên vùng đất đó, bù lại lãnh chúa địa phương được sắc phong và được bảo vệ khi bị tấn công.
Theo sử liệu cổ của Trung Hoa (Hậu Hán thư, Lưu Long truyện, Mã Viện truyện) ghi lại thì người huyện Tượng Lâm luôn chống đối lại chính sách cai trị của nhà Hán và thường tranh chấp lẫn nhau về quyền cai trị tại vùng đất này. Tượng Lâm ở quá xa chính quốc nên sự cai trị trực tiếp của những quan đô hộ và binh lực nhà Hán làm hao tốn công quỹ mà lợi ích chính trị và kinh tế không cao, do đó đã rất lơ là.
Năm 136, khoảng 1.000 dân Tượng Lâm nổi lên chống lại sự cai trị của nhà Hán và đánh chiếm huyện Tượng Lâm, họ đốt thành và giết trưởng lại (huyện trưởng). Năm sau thứ sử Giao Chỉ là Phàn Diễn phải điều hơn 10.000 binh sĩ từ hai quận Giao Chỉ và Cửu Chân xuống đàn áp nhưng thất bại. Thay vì đi dẹp loạn, đoàn quân này lại phối hợp với dân quân Tượng Lâm chống lại và chiếm đóng một số thành quách khác trong quận, quan quân Đông Hán phải rút lui khỏi huyện Tượng Lâm.
Năm 138, Giả Xương, quan thị ngự sử nhà Hán đi sứ phía nam, đã cùng với các quan thái thú trong quận Nhật Nam gom quân dẹp những cuộc nổi loạn ở huyện Tượng Lâm. Sau gần một năm, tất cả đều thất bại, và họ còn bị quân địa phương bao vây hơn cả năm trời. Từ đó nhà Hán mất tin tưởng ở đám quan quân địa phương và chỉ tin dùng quan quân từ Trung Hoa đưa xuống. Năm sau Hán Thuận Đế sai tướng Cổ Xương huy động 40.000 quân ở các châu Kinh, châu Dương, châu Duyên, châu Dự xuống đàn áp cuộc nổi dậy. Cổ Xương bị quân nổi loạn đánh bại, nhà Hán sai một tướng khác là Lý Cố mang viện binh tiếp trợ nhưng Lý Cố viện các lý do để hoãn binh. Cuộc tiến quân bị dừng lại.
Những kế sách của Lý Cố là:
Ly gián nội bộ những người nổi loạn bằng cách mua chuộc những lãnh chúa địa phương nhằm làm suy yếu tiềm lực của dân quân Tượng Lâm.
Tránh can thiệp bằng quân sự vào những tranh chấp cục bộ của người địa phương.
Chỉ để lại một quan lại người địa phương thay mặt thiên triều cai trị.
Vấn đề lãnh đạo địa phương để cho người địa phương chọn lấy, người thắng cuộc được thiên triều tấn phong.
Quan cai trị địa phương phải là một lãnh chúa thần phục thiên triều.
Tước Vương hầu (dành cho người Hán) và Liệt Thổ (dành cho người địa phương).
Để thực hiện mưu kế này, nhà Hán phong Trương Kiều làm thứ sử Giao Chỉ và Chúc Lương làm thái thú Cửu Chân; cả hai có nhiệm vụ thu thuế và nhận phẩm vật từ những quan lại được nhà Hán tấn phong. Trương Kiều đã thu phục được hàng chục ngàn dân thường của Nhật Nam và Tượng Lâm quy thuận Hán triều.
Năm 144, dân quận Nhật Nam và huyện Tượng Lâm lại nổi lên chống lại ách cai trị của nhà Hán, nhưng bị thứ sử Hạ Phương đánh bại. Năm 157, Chu Đạt cùng với dân chúng Cửu Chân nổi lên giết huyện lệnh Cự Phong và thái thú Nghê Thức chiếm quyền lãnh đạo. Sự kết hợp tự nhiên giữa dân chúng hai quận Cửu Chân và Nhật Nam gây nhiều bối rối cho các quan quân cai trị. Dưới sự chỉ huy của đô úy quận Cửu Chân là Ngụy Lãng, quân Hán phản công quyết liệt, giết hơn 2.000 dân Cửu Chân, phe nổi loạn phải chạy xuống phía nam chiếm quận Nhật Nam và chống trả lại. Trong ba năm, từ 157 đến 160, quân Tượng Lâm (khoảng 20.000 người) tiến lên đánh quân Hán và chiếm nhiều huyện khác của Nhật Nam. Vài năm sau, năm 178, Lương Long cầm đầu cuộc khởi nghĩa chống lại quân Hán, chiếm được nhiều vùng đất từ Giao Chỉ đến Hợp Phố và từ Cửu Chân đến Nhật Nam; năm 181 Hán vương cử Lã Đại mang quân sang đánh dẹp.
Đến đời Hán Sơ Bình (190-193), nhân nội tình Trung Hoa rối loạn, dân Tượng Lâm, phối hợp với dân 2 quận Cửu Chân và Nhật Nam, nổi lên đánh đuổi quân Hán và giành thắng lợi. Năm 192, tiểu vương quốc Chăm pa đầu tiên phía bắc ra đời, dưới tên gọi Lâm Ấp dưới sự lãnh đạo của Khu Liên. Tiểu vương quốc này mở đầu cuộc đấu tranh giành độc lập của người Kinh ở phía bắc và phong trào thống nhất vương quốc Chiêm Thành ở phía nam.
=== Người Khương nổi dậy ===
Người Khương ở Lương Châu (vùng Cam Túc, Thanh Hải) sinh sống bằng nghề chăn nuôi là một dân tộc thiện chiến, họ xem việc chết trận là một vinh dự. Thời Tây Hán đã có nhiều người Hán đến định cư cùng với người Khương, ở Thanh Hải, Cam Túc, Thiểm Tây, người Khương ở cùng với người Hán.
Năm 106, người Khương sống ở phía tây Ngọc Môn Quan (phía tây bắc Đôn Hoàng, Cam Túc) nổi loạn, xuất quân xâm phạm quận Vũ Đô. Năm 107 nhà Đông Hán bắt người Khương đi đánh Tây Vực, người Khương không muốn xa lìa quê hương nên khi mới ra đi họ đã rủ nhau trốn về. Quan lại Triều đình liền bắt bớ và đốt phá nhà cửa của họ. Năm 110, người Khương phẫn nộ và vùng lên nổi dậy, lấy gậy gộc làm vũ khí, lấy ván làm khiên chống lại Quân đội Đông Hán, giết chết nhiều quan lại và địa chủ Hán. Triều đình và quan lại các châu huyện đều sợ người Khương và bắt buộc dân Hán phải dời vào nội địa nhưng người Hán cũng không chịu đi, sợ khi vào nội địa đời sống không được đảm bảo. Quân đội Đông Hán liền dỡ nhà cửa và đốt lương thực của dân Hán. Bất đắc dĩ, người Hán phải liên hiệp với người Khương chống lại hành động áp bức của Triều đình. Năm 121, người Khương và người Tiên Ti lại nổi dậy, cuộc nổi dậy tiếp diễn trong suốt những năm cuối triều An Đế.
Chiến tranh giữa người Khương với nhà Đông Hán kéo dài hơn 60 năm, cuối cùng nhà Đông Hán cũng dập tắt được cuộc nổi dậy nhưng hao tổn nhiều nhân lực, quân phí lên đến ba bốn chục tỷ lạng, ngân sách bị thâm hụt.
== Sự khởi đầu con đường tơ lụa ==
Từ năm 138 TCN, Vũ đế cũng cử Trương Khiên hai lần dẫn đoàn sứ bộ đi về các vùng phía tây, và quá trình khai phá con đường hiện được gọi là Con đường tơ lụa từ Trường An (Tây An, tỉnh Thiểm Tây hiện nay), xuyên qua Tân Cương và Trung Á tới bờ phía đông Địa Trung Hải.
Tiếp theo các đoàn sứ bộ của Trương Khiên, các quan hệ giữa Trung Quốc và Trung cũng như Tây Á phát triển, khi ngày càng có nhiều đoàn sứ thần Trung Quốc được cử đi trong cả thế kỷ thứ 1 TrCN, khởi đầu sự phát triển của Con đường tơ lụa:
Trung Quốc cũng cử các phái đoàn tới Parthia, và tiếp sau là nhiều phái đoàn đi lại giữa hai nước khoảng năm 100 TrCN.
Nhà sử học La Mã Florus miêu tả sự viếng thăm của nhiều đoàn sứ bộ, trong đó có Seres (người Trung Quốc), tới vị hoàng đế đầu tiên của La Mã là Augustus, cầm quyền từ năm 27 TCN đến năm 14:
Năm 97, một vị tướng Trung Quốc là Ban Siêu đã đi về phía tây tới tận biển Caspi với 70.000 quân và thiết lập các liên hệ quân sự trực tiếp với đế chế Parthia, và cũng sai Cam Anh đi sứ tới La Mã.
Nhiều đoàn sứ bộ La Mã đến Trung Quốc kể từ năm 166, và được ghi chép chính thức trong biên niên sử Trung Quốc. Những sự trao đổi hàng hóa như tơ lụa Trung Quốc, ngà voi châu Phi và hương trầm La Mã làm tăng cường tiếp xúc giữa Đông và Tây.
Các tiếp xúc với đế quốc Quý Sương dẫn tới việc đưa Phật giáo từ Ấn Độ vào Trung Quốc ở thế kỷ 1.
== Xã hội ==
Để có được nhiều tiền cung cấp cho các chiến dịch quân sự thắng lợi chống Hung Nô, Hán Vũ Đế bỏ ngỏ việc kiểm soát đất đai cho các nhà buôn và những người giàu có, và vì thế đã hợp pháp hóa quá trình tư hữu hóa đất đai. Thuế đất đai dựa trên diện tích của mảnh đất chứ không phải trên thu nhập có được từ nó. Thu hoạch từ mùa màng không phải luôn luôn đủ để nộp thuế vì việc bán sản phẩm bị thị trường chi phối nên không thể đảm bảo luôn có được một số thu cố định, đặc biệt sau khi bị thiên tai làm thiệt hại mùa màng. Các lái buôn và các gia đình thế lực dụ dỗ nông dân bán đất của mình, bởi vì sự tích luỹ đất đai giúp đảm bảo cuộc sống sung túc và quyền lực của họ và cả con cháu họ trong xã hội nông nghiệp Trung Quốc. Vì thế có sự tích tụ đất đai vào giai cấp mới, bao gồm các gia đình chủ đất. Triều đình nhà Hán tới lượt họ lại áp thêm thuế đối với những người đầy tớ vẫn còn độc lập để bù vào số thuế thiếu hụt, vì thế lại càng thúc đẩy nhiều nông dân chui vào tay tầng lớp chủ đất hay chúa đất.
Về mặt lý thuyết, nông dân trả cho chúa đất một lượng thu nhập theo chu kỳ (thường là hàng năm), để được bảo vệ khỏi nạn cướp bóc và các mối nguy hiểm khác. Trên thực tế, số lượng nông dân đông đảo ngày càng tăng dưới thời thịnh vượng của nhà Hán và số lượng đất đai hạn chế đã làm cho tầng lớp trên nâng cao đòi hỏi của họ đối với bất kỳ một nông dân phụ thuộc nào. Việc học hành không đầy đủ và thường là hoàn toàn mù chữ của người nông dân buộc họ phải làm việc chân tay để sống, và thường là làm ruộng trong một xã hội nông nghiệp. Các nông dân vì không có nghề nào khác tốt hơn để kiếm sống buộc phải hạ tiêu chuẩn và hạ giá bán sản phẩm nông nghiệp để trả tiền cho các chúa đất. Trên thực tế, họ thường phải trì hoãn việc thanh toán hoặc vay mượn tiền từ các chủ đất của họ sau khi thiên tai làm mất mùa. Để làm tình trạng của họ tồi tệ hơn, một số nhà cai trị thời Hán còn tăng thuế lên gấp đôi. Cuối cùng đời sống của tá điền ngày càng kém sút vì họ bị phụ thuộc vào mùa màng của mảnh đất đã từng thuộc sở hữu của họ.
Về phần mình, tầng lớp chủ đất và lãnh chúa còn đưa ra các thông tin không đúng về các tá điền và ruộng đất của họ để trốn thuế; tình trạng tham nhũng và sự bất lực của tầng lớp trí thức Khổng giáo trong lĩnh vực kinh tế đóng một vai trò rất nguy hiểm trong việc này. Những quan lại nhà Hán nào cố gắng tước đoạt đất đai ra khỏi tay các lãnh chúa đều gặp phải sự kháng cự mạnh mẽ và chính sách của họ không thể thực thi nổi. Trên thực tế chỉ một thành viên trong các gia đình chủ đất, ví dụ như Vương Mãng là có thể đưa các ý tưởng cải cách này thành hiện thực dù nó đã thất bại khi ông tìm cách thực hiện các chính sách "quay lại thời trước".
== Các hoàng đế nhà Hán ==
=== Nhà Tây Hán (202 TCN - 8) ===
=== Thời kì đứt quãng (8 - 25) ===
=== Nhà Đông Hán (25 - 220) ===
=== Nhà Thục Hán (220 - 263) ===
== Thế phả nhà Hán ==
== Xem thêm ==
Lưu Bang
Hán Sở tranh hùng
Con đường tơ lụa
Sử ký
Hung Nô
Tam Quốc
Trận Jushi
== Trích dẫn ==
== Liên kết ngoài ==
Han Dynasty by Minnesota State University
Bản mẫu:Nhà Hán |
cost per action.txt | CPA là viết tắt của Cost Per Action, Còn được gọi là PPA (Pay Per Action) hay CPL (Cost per Lead) hay CPS (Cost per Sales), là một dạng định giá cho quảng cáo trực tuyến, nhà quảng cáo trả tiền cho mỗi hành động đặc biệt (như thanh toán, chấp nhận một bản đăng ký, hoặc tương tự) kết nối tới nhà quảng cáo.
Tương ứng nhà quảng cáo cho chương trình mua bán hàng trực tuyến sẽ lựa chọn CPA là con đường tốt nhất để quảng cáo, nhà quảng cáo sẽ chỉ phải chi trả cho nhà xuất bản quảng cáo khi có một hành động yêu cầu từ phía khách hàng được thông qua. Các hoạt động có thể là thanh toán mua một sản phẩm, bản đăng ký được chấp nhận, v.v. (một hoạt động được thông qua nghĩa là hành động đó được xác định rõ bởi nhà quảng cáo). Google cũng đã xác nhập chế độ quảng cáo này vào chương trình Google AdSense nhưng tắt các bản đăng ký cho nó vào tháng 6 năm 2008. Mới đây eBay cũng công bố một chương trình quảng cáo định giá tương tự, được gọi là AdContext.
CPA còn là hình thức phổ biến nhất trong mô hình Tiếp Thị Liên Kết, nhà phân phối sẽ được trả hoa hồng mỗi khi khách hàng thực hiện một hành động cụ thể được yêu cầu bởi nhà cung cấp, như: cài đặt ứng dụng, tham gia khảo sát, đăng ký tài khoản mới…
Rất nhiều nền tảng Affiliate đang áp dụng hình thức CPA này để xây dựng hệ thống: MasOffer,Lazada, Zanado, … Điều này sẽ dễ dàng hơn cho các Affiliate mới tham gia khi vừa áp dụng CPA và Affiliate tại cùng 1 hệ thống.
CPA có thể được xác định rõ ràng bằng một số đặc điểm khác biệt, phụ thuộc vào nơi quảng cáo trực tuyến được đặt và thanh toán.
== CPA cũng có nghĩa là thanh toán cho một thứ hàng được mua ==
CPA (Cost Per Action) được hiểu là thành toán cho mỗi hành động, nhưng cũng được hiểu là "Cost Per Acquisition" nghĩa là thành toán cho mỗi thứ hàng được mua. Điều này đã được làm hầu hết qua CPA với lời mời từ nhà quảng cáo về việc nhận lấy một thứ gì đó (Điển hình là khách hàng chấp nhận trả tiền cho một sản phẩm). Sử dụng điều khoản của "Cost Per Acquisition" thay cho "Cost Per Action" không hề sai lệch. Điều này thực sự rất rõ ràng, "Cost Per Acquisition" có thể bao gồm cả "Cost Per Action" nhưng không phải tất cả "Cost Per Action" có thể được coi như "Cost Per Acquisition".
== Tác dụng của quảng cáo CPA ==
Tác dụng của quảng cáo CPA là được dùng để đo lường tính hiệu quả của kiểm kê thành toán qua quảng cáo (từ nhà quảng cáo) thông qua các nền tảng quảng cáo CPC, CPI, CPT. Nói theo cách khác, CPA sẽ nói cho nhà quảng cáo biết họ sẽ được trả bao nhiêu nếu họ bán hàng qua quảng cáo CPA (thay cho nền tảng CPC, CPI, CPT)
== Các công ty quảng cáo ==
Google bắt đầu chương trình quảng cáo này vào năm 2006, đến tháng 6 năm 2007 thì phổ biến thành bản dùng thử Beta. Mở cho tất cả người dùng của AdWords.
eBay cũng chuyển thành quảng cáo CPA với hệ thống AdContext vào năm 2006.
Snap tiên phong cho CPA và kết hợp với bản đăng ký từ mạng NBC (NBCi), mời chào khách quảng cáo qua chế độ CPA như việc loại bỏ hoàn toàn các click gian lận.
ViralyticsMedia Tạo bản quảng cáo mạng giao dịch CPA qua email đầu tiên trên Fall vào năm 2007.
Jellyfish.com Lần đầu tiên giới thiệu cỗ máy tìm kiếm mua bán tới hệ thống riêng biệt cho quảng cáo CPA. Nó đã được nhận bằng sáng chế và phát triên cao hơn, vượt qua cả CPA khi một phần lợi nhuận thu được từ người tiêu dùng. Nó đã được mua bởi Microsoft và được thêm vào sự thông mình của cỗ máy tìm kiếm Live Search.
Hydra, LLC đã khởi chạy chương trình độc quyền đầu tiên, chuyển hoàn toàn quảng cáo thành CPA được gọi là Hydra Elite vào năm 2008
PT Media.,JSC bắt đầu chương trình quảng cáo này vào năm 2011, tuy nhiên CPC đang được ưu tiên với nhà cung cấp này. Hiện nhà cung cấp này không cho đăng ký mà họ sẽ xét duyệt qua mạng quảng cáo mobile MAD.
== Xem thêm ==
CPA - Thanh toán mỗi hành động
CPC - Thanh toán mỗi Click
CPI - Thanh toán mỗi ấn tượng
CTR - Click theo tỷ lệ
== Tham khảo == |
nhà khảo cổ.txt | Nhà khảo cổ hay nhà sưu tầm đồ cổ (tiếng Latinh: antiquarius) là một người khám phá, khai quật và sưu tầm các cổ vật và những thứ đồ trong lịch sử. Cụ thể hơn, thuật ngữ này được sử dụng cho những người nghiên cứu lịch sử đặc biệt chú ý đến hiện vật cổ. Nó bao gồm các nhóm nhà khảo cổ học và nhà sử học. Bản chất công việc của nhà khảo cổ là nghiên cứu tập trung vào các bằng chứng thực nghiệm trong quá khứ.
== Lịch sử ==
=== Nhà khảo cổ Trung Quốc cổ đại ===
Trong suốt triều đại nhà Tống (960-1279), các học giả như Âu Dương Tu (1007-1072) đã phân tích hiện vật cổ được cho rằng mang ký tự của tiếng Trung Quốc cổ khắc trên đồng và đá, những thứ mà ông đã bảo quản trong một bộ sưu tập 400 văn bản cổ; Patricia Ebrey đã viết rằng ông là người tiên phong trong ý tưởng đầu tiên về Minh văn.
Sở thích nghiên cứu sưu tầm đồ cổ về chữ khắc và hiện vật cổ suy yếu dần sau khi nhà Tống, nhưng được hồi sinh vào đầu triều đại nhà Thanh (1644-1912), thời này có các học giả như Gu Yanwu (1613-1682) và Yan Ruoju (1636-1704).
=== Khảo cổ La Mã cổ đại ===
Khảo cổ học về La Mã cổ đại đa số là các nghiên cứu về văn bản, ký tự cổ và hiện vật để ghi nhận lại lịch sử. Thời đại này là tâm điểm của nhiểu cuộc khảo cổ lớn, thu hút sự chú ý, quan tâm của nhiều nhà khảo cổ. Trong thời này cũng có nhiều nhà khảo cổ nổi tiếng (hình bên phải).
=== Thời Trung cổ và đầu thời hiện đại ===
Mặc dù tầm quan trọng của những văn bản đồ cổ trong văn học La Mã cổ đại là rất lớn, một số học giả xem ngành khảo cổ học như là một ngành mới xuất hiện ở thời Trung Cổ. Các nhà khảo cổ đôi khi khám phá để hoàn thành bộ sưu tập các văn bia hoặc các hồ sơ di tích của mình, khái niệm Varro lấy cảm hứng từ việc khảo cổ của người La Mã, có tên là "bộ sưu tập có hệ thống của tất cả các di tích của quá khứ". Về ý nghĩa rộng hơn của từ "Antiquarianism" (khảo cổ học) được sử dụng trong thời kỳ Phục hưng là sự đánh giá, phê bình và tìm cách trả lời cho câu hỏi của các văn bản cổ được tạo ra trong lịch sử bởi nhà nhân học. Việc phê bình văn bản đã sớm được mở rộng và trở thành một nhận thức về quan điểm bổ sung của quá khứ, có thể được cung cấp bởi các nghiên cứu về đồng tiền, chữ khắc và di vật khảo cổ khác, cũng như các tài liệu từ thời Trung cổ. Những nhà sưu tầm thường tạo ra các bộ sưu tập của nhiều vật thể khác nhau; các bộ sưu tập đầu tiên thường bao gồm các đồ cổ và tác phẩm nghệ thuật, gần đây hơn là về mục lịch sử tự nhiên, kỷ vật và các mặt hàng từ những vùng đất xa lạ.
=== Thế kỷ 18, 19 và 21 ===
Trong thế kỷ 18, một xã hội nhà khảo cổ mới nổi lên của phong trào chủ nghĩa nhân văn. Người học và những người quan tâm đến lịch sử đã tổ chức làm hình thành nên một xã hội sưu tầm đồ cổ mới. Họ không liên kết với các trường đại học. Chúng được hình thành bởi sự giải trí, chơi và buôn đồ cổ của những người giàu có. Các nhà khảo cổ đã quan tâm ngày càng nhiều về Hy Lạp cổ đại. Một vài sự may mắn, chủ yếu là người Anh và người Pháp, họ có thể đã tham gia vào các nhóm này. Nhiều nhà khảo cổ bắt đầu sự nghiệp của mình với tự học. Những học giả chuẩn bị giấy tờ ghi chép về những phát hiện mới của họ và ghi lại các cuộc tranh luận trong các cuộc họp xã hội. Đôi khi họ không đồng ý với cách tiếp cận học tập mới đối với lịch sử. Đến cuối thế kỷ 19, các ngành khảo cổ học đã được thay thế bởi một số môn học chuyên hơn. Chúng bao gồm các môn khảo cổ học, lịch sử nghệ thuật, ngữ văn, cổ tệ học, văn học và ngoại giao.
== Xem thêm ==
Khảo cổ học
Lịch sử
Văn học
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Antiquarianism and history |
công quốc.txt | Công quốc (tiếng Latinh: ducatus, tiếng Anh: duchy, dukedom) là khu vực đất đai (một nước nhỏ) do một công tước hoặc nữ công tước sở hữu và kiểm soát. Lịch sử châu Âu trong nhiều thế kỷ đã chứng kiến sự ra đời và tiêu vong của nhiều công quốc.
== Nguồn gốc tên gọi ==
=== Thời La Mã cổ đại ===
Tước vị "công tước" có nguồn gốc từ thời Đế quốc La Mã, trong tiếng Latinh được viết là dux (số nhiều: duces). Tận đến thế kỷ 3 thì dux mới chính thức trở thành cấp bậc cụ thể trong hệ thống cấp bậc La Mã, còn trước đó nó chỉ là một từ được dùng để chỉ một người huấn luyện quân sự hoặc vị chỉ huy quân sự. Những cải cách quân sự dưới thời Diocletianus và Constantinus đã giao công tác phòng thủ biên giới cho các dân quân địa phương, đặt dưới quyền hành của dux. Phạm vi lãnh trách nhiệm của dux có thể vượt quá một tỉnh và đôi khi là rất rộng lớn. Khi quản lý dân sự và quản lý quân sự được tách biệt vào thế kỷ 4 và 5, dux (đảm trách phòng thủ các tỉnh biên cương) càng trở nên quan trọng, mở rộng sang quản lý dân sự và tư pháp.
=== Thời Francia ===
Thời Francia (Vương quốc Frank), đất nước được cấu thành từ các lãnh thổ giống với công quốc. Nạn xâm lăng của những tộc người man thực sự đã khiến hầu hết các dux giành được quyền tự chủ. Các thủ lĩnh người man chấp nhận tước vị do La Mã ban và tiếp tục giữ tước vị này cả sau khi Đế quốc Tây La Mã tan rã. Từ thế kỷ 6-7, công tước là nhà lãnh đạo cao nhất của cả vùng, đóng vai trò quan trọng trong sự định hình cấu trúc Francia. Một số công quốc như thế là Công quốc Bayern và Công quốc Alemanni.
Xét về tính chất quyền lực quân sự và tư pháp đối với một nhóm các lãnh địa bá tước, Công tước có quyền hạn tương tự một vị toàn quyền nhân danh quốc chủ. Chẳng hạn, Công quốc Maine (tiếng Latinh: Ducatus Cenomannicus hoặc Cenomannensis) quản hạt 12 lãnh địa bá tước nằm giữa hai con sông Seine và Loire.
== Các công quốc trong lịch sử ==
=== Tại Trung Quốc ===
Vào thời Tây Chu có một số công quốc như Tống, Quắc, Châu và Ngu.
=== Tại Anh ===
Công quốc đầu tiên ở Anh xuất hiện vào thời kỳ nhà Plantagenet. Thân vương xứ Wales cũng là người đứng đầu Công quốc Cornwall.
=== Tại Đức ===
Vào thế kỷ 10, Frank Đông dưới thời Liudolfinger được cấu thành từ năm công quốc, gồm Công quốc Lotharingia (trước đó là Vương quốc Lothair II) và bốn công quốc quốc gia (mỗi công quốc này đại diện cho một quốc gia của người German) là Công quốc Sachsen (người Sachsen), Công quốc Franken (người Frank), Công quốc Schwaben (người Alemanni) và Công quốc Bayern (người Baiern).
Năm 977, Công quốc Lotharingia bị phân thành Công quốc Thượng Lotharingia và Công quốc Hạ Lotharingia. Năm 1101, Bá tước xứ Limburg là Henry I được phong cho đất Hạ Lotharingia và cai trị đất này đến năm 1106. Tuy vậy, ông và các hậu duệ vẫn được gọi là Công tước.
Năm 1011, mark Carinthia được nâng làm công quốc.
Năm 1041, Công quốc Bohemia trở thành đất phong của Đế quốc La Mã Thần thánh. Năm 1156, Áo được nâng làm công quốc.
Năm 1180, Heinrich Sư tử bị lật đổ. Hoàng đế La Mã Thần thánh cắt đất từ các công quốc trước đây do Heinrich Sư tử cai trị để nâng thành các công quốc mới: Công quốc Steiermark tách khỏi Công quốc Bayern, Công quốc Pommern tách khỏi Công quốc Sachsen, một phần phía nam Công quốc Sachsen trở thành một phần của Công quốc Westfalen. Công quốc Sachsen vẫn tồn tại song lãnh thổ chỉ bằng một phần nhỏ trước đó và được ban cho Bá tước Bernhard xứ Anhalt.
Năm 1190, tước vị Công tước Hạ Lotharingia được phong cho Công tước xứ Brabant. Công quốc Hạ Lotharingia mất quyền cai trị lãnh thổ của mình.
Năm 1235, Công quốc Braunschweig-Lüneburg được thành lập.
Năm 1260, Công quốc Sachsen bị chia thành hai công quốc là Sachsen-Lauenburg và Sachsen-Wittenberg.
Năm 1339, Lãnh địa bá tước Geldern được nâng thành công quốc. Về sau, công quốc này bị phân thành các công quốc nhỏ: Mecklenburg-Schwerin, Mecklenburg-Güstrow và Mecklenburg-Strelitz. Lần lượt trong các năm 1354, 1355, 1356, 1380 và 1417, các lãnh địa bá tước gồm Lãnh địa bá tước Bar, Lãnh địa bá tước Luxembourg, Lãnh địa bá tước Jülich, Lãnh địa bá tước Berg và Lãnh địa bá tước Kleve được nâng thành công quốc.
Năm 1442, Công quốc Sachsen-Wittenberg, Lãnh địa bá tước Meißen và Thüringen cùng nhau hợp thành Công quốc Sachsen mới. Về sau, công quốc này lại bị chia thành nhiều công quốc nhỏ: Sachsen-Eisenach, Sachsen-Coburg, Sachsen-Weimar, Sachsen-Gotha, Sachsen-Coburg-Eisenach, Sachsen-Altenburg,...
Năm 1474, Lãnh địa bá tước Holstein được nâng thành công quốc, tương tự cho Lãnh địa bá tước Württemberg vào năm 1495.
Năm 1505, Công quốc Pfalz-Neuburg được thành lập.
Năm 1644, Thân vương quốc Aremberg được nâng làm công quốc.
Năm 1774, Lãnh địa bá tước Oldenburg được nâng thành công quốc.
Năm 1806, Napoléon lập các công quốc: Nassau, Anhalt-Bernburg, Anhalt-Dessau và Anhalt-Köthen.
=== Tại Pháp ===
Các mark và lãnh thổ chính nằm dưới quyền công tước tại Pháp hình thành vào thời kỳ Karolinger, sau trở thành đất phong nằm dưới quyền của nhà vua trong thế kỷ 9, nhưng sang thế kỷ 10 thì càng ngày các công tước càng thu được nhiều quyền tự trị hơn. Louis V băng hà năm 987 mà không nắm trong tay bất kỳ công quốc nào.
Vào thế kỷ 11, tại Pháp có các công quốc là: Công quốc Aquitaine (sau đổi thành Công quốc Guyenne), Công quốc Bourgogne, Công quốc France và Công quốc Normandie. Đến thế kỷ 14, các vùng đất phong được nâng lên cấp công quốc khi được ban làm thái ấp cho các hoàng tử Pháp. Các công quốc đó là: Công quốc Alençon, Công quốc Anjou, Công quốc Berry, Công quốc Bourbonnais, Công quốc Orléans, Công quốc Valois.
Thế kỷ 16, nhiều lãnh địa bá tước và trang viên của những công thần trung thành với nhà vua Pháp được nâng làm công quốc. Một trong các công quốc cổ nhất thuộc loại này là Công quốc Uzès.
Từ thế kỷ 17, rất nhiều lãnh thổ ở Pháp được phong làm công quốc. Về mặt lãnh thổ, Cách mạng 1789 xóa bỏ tất cả các công quốc ở Pháp, chỉ còn sót lại tước vị Công tước xứ Normandy (lãnh thổ là phần hải đảo quần đảo Eo Biển, thuộc địa Hoàng gia Anh) hiện vẫn tồn tại trên danh nghĩa, hiện do Nữ hoàng Elizabeth II của Anh Quốc nắm.
Ghi chú rằng Công quốc Lorraine và Công quốc Bar nhập vào Pháp vào năm 1766, còn Công quốc Savoy nhập vào năm 1860. Đại diện của các công quốc này tại triều đình Pháp từng được xem là thuộc triều đình ngoại bang.
=== Tại Ý ===
Khi người Lombard xâm chiếm Ý, họ chia đất nước thành các công quốc để quản lý. Nhiều công quốc được lập ra ở Bắc Ý (Friuli, Ceneda, Treviso, Vicenza, Verona, Trento, Parma, Persiceto, Reggio, Piacenza, Brescia, Bergamo, San Giulio, Pavia, Turin, Asti, Tuscia, Milan và Ivrea), sau bị người Frank xóa bỏ trong cuộc xâm lược năm 774 hoặc chuyển thành các lãnh địa bá tước như mô hình hành chính Đế quốc Karolinger. Ở Nam Ý, người Lombard chỉ lập có hai công quốc song phạm vi quản hạt rất rộng lớn, đó là Công quốc Spoleto và Công quốc Benevento. Chúng bị người Norman xâm chiếm năm 1053. Năm 1198, Công quốc Spoleto bị sáp nhập vào Lãnh thổ Giáo hoàng.
Thế kỷ 8, các thành thị thương mại thuộc Đế quốc Đông La Mã được tổ chức thành các công quốc tự trị, gồm Công quốc Amalfi, Công quốc Sorrento, Công quốc Napoli, Công quốc Gaeta và đặc biệt là Công quốc Venezia (sau trở thành Cộng hòa Venezia).
Từ năm 1395 trở đi, các trang viên ở Bắc Ý được Hoàng đế La Mã Thần thánh hoặc Giáo hoàng phong tước công, khiến ngày càng có nhiều công quốc được thành lập. Các công quốc được lập năm 1395 là: Công quốc Milan, Công quốc Mantua, Công quốc Lucca, Công quốc Parma, Công quốc Massa và Carrara, Công quốc Urbino, Công quốc Camerino và Công quốc Castro. Lưu ý Công quốc Savoy có quyền quản hạt cả Piemonte. Ở Nam Ý, Giáo hoàng cùng với các vua của Napoli và Sicily dùng tước công như tước vị quý tộc hàng thứ hai, xếp sau thân vương: Công quốc Galliera, Công quốc Genoa và Công quốc Sora.
== Xem thêm ==
Công tước
Đại công quốc
Thân vương quốc
== Ghi chú ==
== Tham khảo == |
cara.txt | Cara hay Carat là đơn vị đo khối lượng sử dụng trong ngành đá quý, nó tương đương với 200 mg (0,2 gam).
== Lịch sử và sử dụng ==
Từ này ở Việt Nam chỉ xuất hiện từ khi người Pháp đến. Trong một số ngôn ngữ châu Âu, chẳng hạn như trong tiếng Anh từ carat (tức cara trong tiếng Việt) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp keration (quả của cây carob-một loại cây xanh lưu niên ở vùng Địa Trung Hải, tên khoa học là Ceratonia siliqua), thông qua các ngôn ngữ như tiếng Ả Rập và tiếng Latinh. Các hạt của quả carob đã được sử dụng như là quả cân trong các phép cân đo chính xác vì kích thước đồng nhất của nó. Trong quá khứ, các quốc gia khác nhau có cara riêng của mình, xấp xỉ bằng trọng lượng của hạt carob. Tuy nhiên, năm 1907 cara có giá trị bằng 200 miligam trong hệ mét đã được chấp thuận, và hiện nay nó được sử dụng rộng rãi trên phạm vi toàn thế giới.
Lưu ý:
Cara có thể chia nhỏ hơn nữa thành các "điểm". Một cara bằng 100 điểm.
Kara - phát âm giống như cara, ký hiệu là K, là đơn vị đo độ tinh khiết của vàng.
== Tham khảo == |
mobile ddr.txt | Mobile DDR, hay DDR di động (còn gọi là mDDR, Low Power DDR, hay LPDDR) làm một loại SDRAM dữ liệu tốc độ gấp đôi cho máy tính di động.
Giống như SDRAM tiêu chuẩn, mỗi thế hệ của LPDDR đã tăng gấp đôi kích thước tìm nạp nội bộ và tốc độ truyền tải bên ngoài. Tốc độ truyền tối đa là:
== Độ rộng bus ==
== LPDDR gốc ==
== LPDDR2 ==
== LPDDR3 ==
Tháng 5 năm 2012, JEDEC công bố tiêu chuẩn thiết bị bộ nhớ năng lượng thấp JESD209-3.
== LPDDR4 ==
=== LPDDR4x ===
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Micron
Elpida
Nanya
Samsung
JEDEC pages: LOW POWER DOUBLE DATA RATE 3 SDRAM (LPDDR3)
Bản mẫu:DRAM |
kubuntu.txt | Kubuntu là một sản phẩm phái sinh chính thức của hệ điều hành Ubuntu, sử dụng môi trường giao diện đồ họa KDE thay vì GNOME. Đây là một bộ phận của dự án Ubuntu và sử dụng cùng hệ thống bên dưới. Người dùng có thể chuyển đổi qua lại giữa màn hình chính KDE (kubuntu-desktop) vừa chạy màn hình chính Gnome (ubuntu-desktop) trên cùng một máy. Các gói phần mềm trong Kubuntu dùng chung kho phần mềm với Ubuntu. Hệ điều hành này cũng được phát hành thường xuyên y hệt như như Ubuntu.
== Tên gọi ==
"Kubuntu", phát âm /kuːˈbuːntuː/, có nghĩa là "hướng tới nhân loại" trong tiếng Bemba, được sinh ra từ chữ ubuntu ("nhân loại"). Chữ K ở đầu đại diện cho giao diện/ứng dụng KDE mà Kubuntu dựa vào đó để vận hành. Một cách tình cờ, Kubuntu cũng có nghĩa là "tự do" trong tiếng Kirundi.
== Khác biệt với Ubuntu ==
Bản cài đặt bình thường của Ubuntu sử dụng môi trường GNOME, các ứng dụng và gói GTK+/GNOME (ví dụ như phần mềm Evolution), và các công cụ quản trị nền GTK+/GNOME (như Synaptic Package Manager). Ngược lại, bản cài đặt bình thường của Kubuntu sử dụng môi trường KDE, các ứng dụng và gói KDE/Qt (như Kontact), và công cụ quản trị KDE/Qt (như KPackageKit). Tuy vậy, người dùng Kubuntu có thể cài đặt và sử dụng bất kỳ gói nền GNOME/GTK nào có trong kho phần mềm Ubuntu, và người dùng Ubuntu/GNOME, tương tự như vậy, có thể cài đặt bất kỳ gói nền KDE/Qt nào. Người dùng có thể cài đặt Ubuntu rồi sau đó thêm KDE vào, hoặc cài đặt toàn bộ gói môi trường Kubuntu 'metapackage' lên trên Ubuntu. (Tuy nhiên, vẫn có một số bất lợi khi cài và sử dụng chung môi trường GNOME lẫn KDE, như tăng lượng sử dụng đĩa và bộ nhớ khi chạy cả GTK/GNOME và Qt/KDE.)
Môi trường Kubuntu hoàn toàn có thể tùy chỉnh được. Ban đầu, nó được thiết kế để thuận tiện cho những người dùng chuyển từ các hệ điều hành khác (như Microsoft Windows) với việc thể hiện cách trình bày giao diện tương tự, đến nay KDE 4 Plasma Desktop đã đưa vào cơ chế gói xoay quanh các widget để cho phép người dùng đưa vào tính năng tương tự như mọi hệ điều hành khác và cũng tạo ra những tính năng mới mới khác chưa từng có ở đâu. Hiệu ứng 3 chiều cũng có trong bản cài đặt KDE4 chuẩn.
== Hình ảnh ==
== Phát hành ==
Kubuntu có cùng hệ thống đặt tên/đánh phiên bản với Ubuntu, mỗi lần phát hành đều có tên mã, và số phiên bản dựa vào năm và tháng phát hành. Canonical là hãng cung cấp sự hỗ trợ và các bản cập nhật bảo mật cho hầu hết các phiên bản Kubuntu trong vòng 18 tháng sau khi phát hành. Có cả Desktop CD và CD thay thế (cài đặt) dành cho nền x86 lẫn AMD64. Có thể đặt hàng CD Kubuntu qua dịch vụ Shipit. Kubuntu có thể cài đặt bằng phiên bản KDE 3.5 hoặc KDE 4.x.
== Yêu cầu cấu hình ==
Phiên bản máy tính của để bàn mà Kubuntu hiện đang hỗ trợ là các kiến trúc Intel x86 và AMD64. Một số bản phát hành còn hỗ trợ thêm kiến trúc SPARC., PowerPC, IA-64 (Itanium), và PlayStation 3 (mặc dù do việc cập nhật chính thức phần dẻo từ Sony vào tháng 4 năm 2010, người dùng PS3 không còn chạy hệ điều hành khác trên máy của họ được nữa - tính năng này trước đây vẫn được OtherOS hỗ trợ). Vì Kubuntu thực chất là Ubuntu sử dụng môi trường để bàn KDE, bất kỳ phiên bản nào có trong Ubuntu đều có trong Kubuntu.
Yêu cầu cấu hình hệ thống tối thiểu để cài đặt trên máy để bàn là bộ xử lý x86 300 MHz, 64 MB RAM, 4 GB ổ cứng còn trống, và cạc video có hỗ trợ VGA ở độ phân giải 640x480. Cấu hình đề nghị dành cho cài đặt trên máy tính để bàn là bộ xử lý x86 700 MHz, 384 MB RAM, 8 GB ổ cứng còn trống, và cạc video hỗ trợ VGA với độ phân giải 1024×768. Bản cài đặt máy chủ đòi hỏi bộ xử lý x86 300 MHz, 64 MB RAM, và một cạc video hỗ trợ VGA ở độ phân giải 640×480.
*Ghi chú: Nếu muốn sử dụng "hiệu ứng hình ảnh", cần phải hỗ trợ GPU.
== Đón nhận ==
Nghị viện Pháp đã thông báo vào năm 2006 rằng họ sẽ chuyển hơn 1.000 máy trạm sang Kubuntu trước tháng 6 năm 2007.
Kubuntu hiện đã được dùng trong tất cả 1100 trường công tại Quần đảo Canary.
Cụm kết xuất của Weta Digital gồm 35.000 máy là những máy tính chạy Kubuntu.
== Xem thêm ==
Debian
KDE
Ubuntu
== Chú thích ==
== Tham khảo ==
Kubuntu Shipit FAQ
Ubuntu Homepage
Kubuntu Homepage
== Liên kết ngoài ==
Trang web chính thức
Hướng dẫn sử dụng Kubuntu (không chính thức)—tài liệu trợ giúp, mẹo, câu hỏi và hướng dẫn phần mềm
Diễn đàn Kubuntu (không chính thức)
Bản mẫu:DistroWatch
Hình chụp màn hình Kubuntu tại TCS
Bản mẫu:Linux distributions |
1959.txt | 1997 (số La Mã: MCMLIX) là một năm thường bắt đầu vào thứ Năm trong lịch Gregory. Bản mẫu:Tháng trong năm 1997
== Sự kiện ==
=== Tháng 1 ===
1 tháng 1: Cách mạng Cuba thắng lợi, nước cộng hòa Cuba thành lập
7 tháng 1: Hoa Kỳ thừa nhận chính quyền cách mạng tại Cuba
=== Tháng 2 ===
4 tháng 2: Trung Quốc và Butan thiết lập quan hệ ngoại giao
7 tháng 2: Trung Quốc và Liên Xố ký kết hiệp định hợp tác kinh tế
19 tháng 2: Anh công nhận Síp độc lập
=== Tháng 4 ===
18 tháng 4: Lưu Thiếu Kỳ nhậm chức chủ tịch Trung Quốc.
=== Tháng 5 ===
6 tháng 5: Việt Nam cộng hòa ban hành luật 10-59 chống cộng sản trên toàn miền Nam Việt Nam.
=== Tháng 6 ===
3 tháng 6: Indonesia giành độc lập từ Anh Quốc.
=== Tháng 8 ===
7 tháng 8: Tại Đài Nam xảy ra trận lụt lớn.
== Sinh ==
== Mất ==
3 tháng 2 - Buddy Holly, ca sĩ. nhạc sĩ, nhạc công người Mỹ, một trong những người sáng lập dòng nhạc Rock and roll (sinh 1936)
== Giải Nobel ==
Vật lý - Emilio Gino Segrè, Owen Chamberlain
Hóa học - Jaroslav Heyrovský
Y học - Severo Ochoa, Arthur Kornberg
Văn học - Salvatore Quasimodo
Hòa bình - Philip John Noel-Baker
== Xem thêm ==
== Tham khảo == |
quần đảo marshall.txt | Quần đảo Marshall, tên chính thức Cộng hòa Quần đảo Marshall (tiếng Marshall: Aolepān Aorōkin M̧ajeļ), là một đảo quốc nằm gần xích đạo trên Thái Bình Dương, hơn chệch về phía tây Đường đổi ngày quốc tế. Vế mặt địa lý, quốc gia này là một phần của nhóm đảo Micronesia lớn hơn. Dân số Quần đảo Marshall là 53.158 người (thống kê 2011), cư ngụ trên 29 rạn san hô vòng, gồm 1.156 đảo và đảo nhỏ. Nước này có biên giới đường biển với Liên bang Micronesia về phía đông, Đảo Wake về phía bắc, Kiribati về phía đông nam, và Nauru về phía nam. Khoảng 27.797 người (thống kê 2011) sống tại Majuro, thủ đô đất nước.
Người Micronesia đến định cư tại Quần đảo Marshall vào khoảng thiên niên kỷ 2 TCN, họ sử dụng bản đồ bằng que truyền thống. Người châu Âu biết đến nơi này từ thập niên 1520, khi nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Alonso de Salazar trông thấy một rạn san hô ở đây năm 1526. Những chuyến viễn chinh của người Anh và người Tây Ban Nha tiếp diễn sau đó. Quần đảo được đặt theo tên nhà thám hiểm người Anh John Marshall, người đã đến đây năm 1788. Người Marshall gọi nơi mình sống là "jolet jen Anij" (Những món quà của Chúa).
Các thế lực châu Âu công nhận quyền quản lý của Tây Ban Nha đối với Quần đảo Marshall năm 1874. Nơi này chính thức là một phần của Đông Ấn Tây Ban Nha từ 1528. Tây Ban Nha bán quần đảo cho Đế quốc Đức năm 1884, và nó trở thành một phần của New Guinea thuộc Đức năm 1885. Vào Chiến tranh thế giới thứ nhất, Đế quốc Nhật Bản chiếm Quần đảo Marshall. Năm 1919, Hội Quốc liên đã kết hợp nó với các cựu lãnh thổ của Đức để tạo nên Ủy thác Nam Dương. Vào Chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kỳ đánh chiếm quần đảo trong Chiến dịch quần đảo Gilbert và Marshall. Cùng với các quần đảo châu Đại Dương khác, Quần đảo Marshall được hợp nhất vào Lãnh thổ Ủy thác Quần đảo Thái Bình Dương do Hoa Kỳ quản lý. Nước này giành được quyền tự quản năm 1979, và độc lập năm 1986, dưới Hiệp ước Liên kết Tự do với Hoa Kỳ. Quần đảo Marshall đã là một thành viên Liên Hợp Quốc từ nằm 1991.
Về chính trị, đây là một nước cộng hòa tổng thống, liên kết tự do với Hoa Kỳ, Hoa Kỳ có trách nhiệm bảo vệ, trợ cấp, và cung cấp đường dây tham gia vào các cơ quan có trụ sở Hoa Kỳ như FCC và USPS. Do chỉ có ít tài nguyên, nền kinh tế quốc gia phụ thuộc vào dịch vụ, cũng như phần nào ngư nghiệp và nông nghiệp; viện trợ từ Hoa Kỳ chiếm một phần đáng kể tổng sản phẩm nội địa quốc gia. Dollar Mỹ là đơn vị tiền tệ chính thức.
Đa số công dân tại Quần đảo Marshall là người Marshall, dù có một số nhỏ người nhập cư từ Hoa Kỳ, Trung Quốc, Philippines, và những đảo Thái Bình Dương khác. Hai ngôn ngữ chính thức là tiếng Marshall (một ngôn ngữ Malay-Polynesia) và tiếng Anh. Gần như toàn bộ dân số theo một tôn giáo nào đó.
== Lịch sử ==
== Chính trị ==
Quần đảo Marshall hiện theo chính thể Chính phủ lập hiến trong liên kết tự do với Hoa Kỳ. Hiệp ước Liên kết Tự do có hiệu lực từ ngày 21 tháng 10 năm 1986.
Theo hiến pháp ngày 1 tháng 5 năm 1979, nhà nước Quần đảo Marshall là nhà nước Cộng hòa và quyền lập pháp nằm trong tay quốc hội gồm 33 thành viên được bầu lại 4 năm 1 lần. Thượng nghị viện gồm 12 thành viên. Các thành viên sẽ bầu ra Tổng thống và Tổng thống bổ nhiệm nội các bao gồm 10 Bộ trưởng, một số Thống đốc và các quan chức khác.
== Địa lý ==
Quần đảo Marshall là quốc gia thuộc nhóm đảo Micronesia, ở châu Đại Dương. Quần đảo san hô này ở vùng Bắc Thái Bình Dương, về phía bắc xích đạo, Nauru và Liên bang Micronesia, cách quần đảo Hawaii khoảng 3.500 km về phía tây nam.
Lãnh thổ gồm 34 đảo, được phân bố thành hai dãy song song cách nhau khoảng 200 km.
Dãy Ratak ("Mặt trời mọc") gồm các đảo san hô vòng Mili, Majuro, Maloelap, Wotje, Likiep;
Dãy Ralik ("Mặt trời lặn") gồm các đảo san hô vòng Jaluit, Kwajalein, Wotho, Bikini, Eniwetok.
== Kinh tế ==
Kinh tế Quần đảo Marshall dựa vào đánh bắt cá biển; du lịch, dừa và viện trợ của Hoa Kỳ. Nông nghiệp (các loại cây trồng nhiệt đới khoai sọ, dừa, sa kê) chỉ đáp ứng vừa đủ nhu cấu tiêu thụ trong nước.
Trong thập kỷ qua, GDP tăng trưởng trung bình chỉ 1% do giảm biên chế chính phủ, nạn hạn hán, ngành xây dựng giảm, sự suy giảm GDP trong ngành du lịch và đầu tư nước ngoài là do bởi những khó khăn tài chính châu Á, và giảm thu nhập từ việc đổi mới giấy phép tàu đánh cá.
== Giáo dục - Y tế ==
Giáo dục phổ cập bắt buộc và miễn phí từ 6 đến 14 tuổi. Sau đó học sinh phải qua kỳ thi quốc gia để vào trung học. Tiếng Anh và tiếng Marshall được sử dụng ở bậc tiểu học, các bậc cao hơn chỉ dùng tiếng Anh. Quần đảo Marshall có một trường cao đẳng ở thủ đô Dalap-Uliga-Darrit. Phần lớn thanh niên sang Mỹ hoặc các nước khác học chương trình đại học.
Chăm sóc y tế ở thành thị khá tốt.
== Tham khảo ==
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Government
Office of the President
Embassy of the Republic of the Marshall Islands Washington, DC official government site
News
Marshall Islands Journal Weekly independent national newspaper
Overviews
CIA World Factbook - Marshall Islands
Digital Micronesia - Marshalls by Dirk HR Spennemann, Associate Professor in Cultural Heritage Management
Plants & Environments of the Marshall Islands Book turned website by Dr. Mark Merlin of the University of Hawaii
Atomic Testing Information
Pictures of victims of US nuclear testing in the Marshall Islands on Nuclear Files.org
http://news.bbc.co.uk/1/hi/world/americas/4798243.stm |
new jersey.txt | New Jersey (phát âm như là Niu Giơ-di, phát âm tiếng Anh là i /njuːˈdʒɜrzi/) là một trong 4 tiểu bang nhỏ nhất của Hoa Kỳ.
Tiểu bang nằm ven bờ Đại Tây Dương, phía bắc giáp New York,nam giáp Delaware, và phía tây là Pennsylvania.
Ðây là nơi sinh của Tổng thống Grover Cleveland (tại Cadwell).
== Nhân khẩu ==
Số liệu thống kê cho thấy, năm 2005, New Jersey có số dân 8.717.925 người, tăng thêm 32.759 người hay 0,4% so với năm trước và tăng thêm 303.578 người hay 3,6% tính từ năm 2000. Số lượng này bao gồm gia tăng tự nhiên 220.220 người (sinh 604.110 và chết 383.890 người) và gia tăng cơ học là 95.293 người nhập cư.
Thành phần dân cư bao gồm:
66.0% người da trắng (không bao gồm gốc châu Mỹ Latinh) 13.6% người da đen 13.3% người gốc châu Mỹ Latinh 5.7% gốc Á 0.2% thổ dân 2.5% chủng pha trộn
== Xem thêm ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài == |
r.txt | R, r là chữ thứ 18 trong phần nhiều chữ cái dựa trên Latinh và là chữ thứ 22 trong chữ cái tiếng Việt. R có gốc từ chữ Rêš của tiếng Xê-mít khi chữ đó biến thành chữ Rho (ρ) của tiếng Hy Lạp. Từ Rho sang R chỉ cần thêm một gạch.
Trong bảng mã ASCII dùng ở máy tính, chữ R hoa có giá trị 82 và chữ r thường có giá trị 113.
R được gọi là Romeo trong bảng chữ cái âm học NATO.
Trong bảng chữ cái Hy Lạp, R tương đương với Ρ và r tương đương với ρ.
Trong bảng chữ cái Cyrill, R tương đương với Р và r tương đương với р.
== Tham khảo == |
tiếng nhật.txt | Tiếng Nhật Bản, hay tiếng Nhật (日本語 (にほんご), Nihongo, Nhật Bản ngữ) là một ngôn ngữ được hơn 130 triệu người sử dụng ở Nhật Bản và những cộng đồng dân di cư Nhật Bản khắp thế giới. Nó là một ngôn ngữ chắp dính (khác biệt với tiếng Việt vốn thuộc vào loại ngôn ngữ đơn lập phân tích cao) và nổi bật với một hệ thống các nghi thức nghiêm ngặt và rành mạch, đặc biệt là hệ thống kính ngữ phức tạp thể hiện bản chất thứ bậc của xã hội Nhật Bản, với những dạng biến đổi động từ và sự kết hợp một số từ vựng để chỉ mối quan hệ giữa người nói, người nghe và người được nói đến trong cuộc hội thoại. Kho ngữ âm của tiếng Nhật khá nhỏ, với một hệ thống ngữ điệu rõ rệt theo từ. Tiếng Nhật cổ nhất được biết đến chủ yếu dựa vào trạng thái của nó vào thế kỷ thứ 8, khi ba tác phẩm chủ yếu của tiếng Nhật cổ được dịch (hai bộ sử Kojiki Cổ Sự Ký, Nihon Shoki Nhật Bản Thư Kỷ và thi tập Manyoshu (Vạn Diệp Tập); nhưng một số lượng tài liệu ít hơn, chủ yếu là chữ khắc, còn cổ hơn. Những chứng thực về tiếng Nhật cổ nhất có thể tìm thấy trong một số tư liệu thành văn của Trung Quốc từ năm 252.
Tiếng Nhật được viết trong sự phối hợp ba kiểu chữ: Kanji (漢字 - "Hán tự" - kiểu Nhật Bản, có một số khác biệt so với Trung Quốc) và hai kiểu chữ đơn âm mềm Hiragana (平仮名 (Bình giả danh)/ ひらがな, Hiragana) và đơn âm cứng Katakana (片仮名 (Phiến giả danh)/ カタカナ, Katakana). Kanji dùng để viết các từ Hán (mượn của Trung Quốc) hoặc các từ người Nhật dùng chữ Hán để thể hiện rõ nghĩa. Hiragana dùng để ghi các từ gốc Nhật và các thành tố ngữ pháp như trợ từ, trợ động từ, đuôi động từ, tính từ v.v. Katakana dùng để phiên âm từ vựng nước ngoài, trừ tiếng Trung và từ vựng của một số nước dùng chữ Hán khác. Bảng ký tự Latinh Rōmaji cũng được dùng trong tiếng Nhật hiện đại, đặc biệt là ở tên và biểu trưng của các công ty, quảng cáo, nhãn hiệu hàng hóa, khi nhập tiếng Nhật vào máy tính và được dạy ở cấp tiểu học nhưng chỉ có tính thí điểm. Số Ả Rập theo kiểu phương Tây được dùng để ghi số, nhưng cách viết số theo ngữ hệ Hán-Nhật cũng rất phổ biến.
Từ vựng Nhật chịu ảnh hưởng lớn bởi những từ mượn từ các ngôn ngữ khác. Một số lượng khổng lồ các từ vựng mượn từ tiếng Hán, hoặc được tạo ra theo kiểu của tiếng Hán, qua giai đoạn ít nhất 1.500 năm. Từ cuối thế kỷ 19, tiếng Nhật đã mượn một lượng từ vựng đáng kể từ hệ ngôn ngữ Ấn-Âu, chủ yếu là tiếng Anh. Do mối quan hệ thương mại đặc biệt giữa Nhật Bản và Hà Lan vào thế kỷ thứ 17, tiếng Hà Lan cũng có ảnh hưởng, với những từ như bīru (từ bier; "bia") và kōhī (từ koffie; "cà phê").
== Đặc điểm ==
Âm vị của tiếng Nhật, ngoại trừ âm "っ" (phụ âm đôi) và "ん" (âm gảy), mang đặc điểm của ngôn ngữ theo âm tiết kết thúc bằng nguyên âm, ngoài ra tiếng Nhật tiêu chuẩn cũng như đa số các phương ngữ tiếng Nhật được nói theo từng nhịp đều nhau. Ngữ điệu trong tiếng Nhật là ngữ điệu cao thấp. Trong bộ từ vựng Đại Hòa (大和 Yamato), các nguyên tắc sau đây được áp dụng
Các âm thuộc hàng "ら" (ra) gồm có /ra/ /ri/ /ru/ /re/ /ro/, không đứng ở đầu một từ (do đó các từ bắt đầu bằng hàng "ら" rất hiếm gặp trong tiếng Nhật. Những từ như raku (楽, "lạc"), rappa (らっぱ, "kèn"), ringo (りんご, "táo"), v.v. không phải là từ trong bộ từ vựng Yamato)
Âm kêu không đứng ở đầu một từ (những từ như daku (抱く, "ôm"), dore (どれ, "cái nào"), ba (場, "nơi chốn"), bara (薔薇, hoa hồng) v.v... là do thế hệ sau sửa đổi)
Các nguyên âm cùng một nguồn gốc không được liền kề nhau (a'o (青, "màu xanh"), ka'i (貝, con sò) trước đây được đọc lần lượt là [awo], [kapi], [kaɸi])
Những nguyên tắc khác được đề cập ở phần Phân loại cũng như Âm vị.
Về câu, thứ tự các thành phần trong một câu là "chủ ngữ - tân ngữ - vị ngữ". Tân ngữ đứng trước từ cần tân ngữ. Ngoài ra, để hiển thị danh từ cách, không chỉ đổi thứ tự và chia từ vĩ (phần đuôi từ), mà còn thêm từ khóa thể hiện chức năng ngữ pháp (trợ từ) vào cuối (chắp dính). Do đó, xét về mặt phân loại ngôn ngữ, theo quan điểm về thứ tự trong câu theo ngôn ngữ kiểu SOV (ngôn ngữ theo dạng "chủ-tân-động" hay subject-object-verb), tiếng Nhật được xếp vào loại ngôn ngữ chắp dính về hình thái (xem thêm phần Ngữ pháp).
Về từ vựng, ngoài bộ từ vựng Yamato, tiếng Nhật sử dụng rất nhiều chữ Hán được du nhập từ Trung Quốc, ngoài ra gần đây từ vựng phương Tây ngày càng nhiều hơn trong kho từ mượn của tiếng Nhật (xem thêm Hệ thống từ vựng).
Về biểu thị thái độ, tiếng Nhật có một hệ thống kính ngữ đa dạng về ngữ pháp và từ vựng để biểu hiện mối quan hệ một cách khôn khéo của người nói đối với người nghe và người được đề cập đến (xem thêm Biểu thị thái độ).
Về phương ngữ, có sự khác nhau lớn giữa miền Đông và miền Tây của Nhật Bản cũng như ở nhóm đảo Ryūkyū. Hơn nữa, nếu nhìn vào chi tiết, ở mỗi địa phương lại có một phương ngữ khác nhau (xem thêm Phương ngữ).
Các đặc trưng của ngôn ngữ còn được thể hiện, đầu tiên là ở sự phức tạp của hệ thống chữ viết rất dễ nhận thấy. Kanji (漢字, Hán tự) (được sử dụng với cả cách đọc âm Hán (音読み, onyomi) lẫn âm Nhật (訓読み, "kunyomi")), hiragana (平仮名), katakana (片仮名) và bảng rōmaji v.v., nhiều người cho rằng một ngôn ngữ thường xuyên phối hợp hơn 3 kiểu chữ khác nhau như vậy là có một không hai (xem thêm Hệ thống chữ viết). Ngoài ra, đại từ nhân xưng rất đa dạng như dùng watakushi, watashi, boku, ore đều để chỉ ngôi thứ nhất và anata, anta, kimi, omae để chỉ ngôi thứ hai, v.v. cũng là một đặc điểm của tiếng Nhật (Xem thêm Đại từ nhân xưng).
== Phân loại ==
Hiện nay việc khẳng định tiếng Nhật thuộc hệ thống nào vẫn nằm trong vòng tranh cãi, cần phải được chứng minh thêm. Có nhiều giả thuyết đã được đưa ra, nhưng chưa có giả thuyết nào đủ mạnh để có thể khẳng định điều này.
Có giả thuyết cho rằng nó thuộc hệ ngôn ngữ Altai, đặc biệt khi quan sát tiếng Nhật từ cuối thời Minh Trị. Về nguồn gốc, trong tiếng Nhật cổ (từ vựng Đại Hòa), có thể thấy rằng âm /r/ (âm nước) không đứng ở đầu từ, và một loại nguyên âm điều hòa (không để hai nguyên âm cùng loại đứng gần nhau để điều hòa cách đọc) đã được sử dụng. Tuy nhiên, bản thân những ngôn ngữ cho rằng mình thuộc hệ ngôn ngữ Altai cũng cần phải chứng minh thêm về sự tương quan đó, do đó, đối với đặc trưng rất dễ thấy của tiếng Nhật cổ được đề cập ở bên trên thì tiếng Nhật là ngôn ngữ thuộc "kiểu Altai", chứ không hoàn toàn thuộc về hệ đó.
Hệ ngôn ngữ Nam Đảo cũng là một hệ âm vị và từ vựng được cho là có sự tương đồng với tiếng Nhật, tuy nhiên, những minh chứng được đưa ra để khẳng định về mặt ngôn ngữ thì không đủ, có rất nhiều ví dụ cho giả thiết trên không thể kiểm chứng được. Cho nên nói về mối quan hệ thì có thể nói rằng nó không rõ ràng.
Có giả thuyết nói rằng tiếng Nhật có quan hệ với hệ ngôn ngữ Dravida, nhưng những nhà nghiên cứu nhận thấy mối quan hệ đó không nhiều. Shin Ono có giả thuyết cho rằng các điểm từ vựng - ngữ pháp của tiếng Nhật có những điểm chung với tiếng Tamil, tuy nhiên đã có nhiều chỉ trích quan điểm này khi xem xét vấn đề theo phương pháp của ngành so sánh ngôn ngữ học (xem tiếng Tamil).
Nếu chúng ta quan tâm đến mối quan hệ đối với cá nhân từng ngôn ngữ, thì ký hiệu, từ vựng v.v. của tiếng Nhật ảnh hưởng mạnh mẽ bởi tiếng Hán từ xa xưa thông qua chữ Hán và Hán ngữ. Nhật Bản thuộc về nhóm các nước có truyền thống sử dụng chữ Hán (các nước đồng văn) mà trung tâm là Trung Quốc. Tuy nhiên, cơ sở từ vựng không có sự tương ứng, ngoài ra đặc trưng về văn phạm - phát âm thì hoàn toàn khác Trung Quốc, do đó sự liên quan về hệ thống là không chính xác.
Đối với ngôn ngữ Ainu, mặc dù cấu trúc câu của ngôn ngữ Ainu tương tự như của tiếng Nhật (kiểu SOV), nhưng văn phạm - hình thái xét theo loại hình thì thuộc về các tổ hợp ngôn ngữ khác nhau, đồng thời cấu tạo âm vị cũng chứng tỏ tồn tại nhiều khác biệt về hữu thanh - vô thanh cũng như việc sử dụng âm tiết đóng. Sự liên quan tương tự về mặt từ vựng cơ bản cũng đã được chỉ ra nhưng những dẫn chứng thì không đầy đủ. Nói chung sự giống nhau về ngôn ngữ thể hiện ở chỗ, có nhiều từ vựng Ainu rất dễ nhận ra là đều được mượn từ tiếng Nhật. Hiện nay, những tài liệu chứng minh ra sự liên quan với nhau của hai ngôn ngữ một cách hệ thống rất thiếu.
Đối với ngôn ngữ Triều Tiên, mặc dù có nhiều điểm giống nhau về cấu trúc văn phạm, cơ sở từ vựng của hai ngôn ngữ khác nhau rất nhiều. Về khía cạnh âm vị, mặc dù có những điểm giống nhau về nguồn gốc cũng như âm nước không đứng ở đầu từ, hay đều dùng một kiểu hòa hợp nguyên âm, v.v., nhưng cũng như hệ ngôn ngữ Altai được đề cập ở trên, sự tương tự không đóng vai trò toàn bộ, âm đóng và phụ âm kép (trong tiếng Triều Tiên thời kỳ giữa) tồn tại sự khác nhau lớn so với tiếng Nhật. Trong Ngôn ngữ Cao Ly đã biến mất của bán đảo Triều Tiên, cách đếm số cũng như từ vựng được cho là tương tự với tiếng Nhật, nhưng sự thật là hiện nay tiếng Cao Ly là biến mất gần như hoàn toàn, do đó khó có thể trở thành tài liệu kết luận giả thuyết trên một cách có hệ thống.
Ngoài ra, tiếng Lepcha - tiếng Hebrew cũng đã được đề cập đến, nhưng về mặt so sánh ngôn ngữ học nó được xếp vào loại các giả thuyết sai.
Ngôn ngữ giống với tiếng Nhật và hệ thống của nó được thấy rõ ràng nhất là ngôn ngữ của nhóm đảo Ryūkyū (thuộc tiểu vương quốc Ryūkyū trước đây). Ngôn ngữ Ryūkyū và tiếng Nhật gần gũi một cách dị thường, do đó có khả năng xếp nó thành một phần của tiếng Nhật (phương ngữ Ryūkyū). Trong trường hợp là ngôn ngữ đặc biệt, tiếng Nhật và tiếng Ryūkyū được xếp chung vào hệ ngôn ngữ Nhật Bản.
== Phân bố theo địa lý ==
Mặc dù tiếng Nhật hầu như chỉ được nói ở nước Nhật, tuy nhiên nó đã và vẫn được dùng ở nhiều nơi khác. Khi Nhật Bản chiếm đóng Triều Tiên, Đài Loan, một phần của Trung Hoa lục địa, và một số đảo ở Thái Bình Dương trong và trước Chiến tranh thế giới thứ hai, những người dân địa phương ở các nước này bị bắt buộc phải học tiếng Nhật trong các chương trình xây dựng đế chế. Kết quả là có nhiều người cho đến thập niên 1970 vẫn có thể nói được tiếng Nhật ngoài ngôn ngữ bản địa. Cộng đồng dân di cư Nhật Bản (lớn nhất là ở Brasil) thường dùng tiếng Nhật để nói chuyện hàng ngày. Dân di cư Nhật có mặt ở Peru, Argentina, Úc (đặc biệt ở Sydney, Brisbane, và Melbourne) và Hoa Kỳ (chủ yếu ở California và Hawaii). Còn có một cộng đồng di cư nhỏ ở Davao, Philippines với nhiều hậu duệ người Philippines gốc Nhật sinh sống, cùng với một số ở Laguna, Philippines và nhiều người khác ở khắp Philippines và ở Nhật Bản và trên 245.518 người Philippines ở Nhật, cộng với số người kết hôn với người Nhật, và ở châu Mỹ cũng có thể nói tiếng Nhật. Con cháu của họ (gọi là nikkei 日系, Nhật hệ), tuy nhiên, hiếm khi nói được tiếng Nhật một cách thông thạo. Hiện nay ước tính có khoảng vài triệu người ở các nước đang học tiếng Nhật; nhiều trường tiểu học và trung học cũng đưa tiếng Nhật vào chương trình giảng dạy.
Ở Việt Nam tiếng Nhật cũng được dạy từ những năm 1940-1945, nhưng chỉ đến khoảng những năm 1960-1965 mới được dạy có hệ thống ở cả hai miền. Trong khoảng 10 năm sau đó có một thế hệ người miền Nam rất giỏi tiếng Nhật làm việc tại Phủ quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Tiểu ban Nhật Văn thuộc Ủy ban dịch thuật. Tuy nhiên, tiếng Nhật chỉ thực sự được giảng dạy mạnh mẽ trở lại trong khoảng 20 năm từ khi bắt đầu đổi mới đến nay khi các trường đại học mở phân khoa tiếng Nhật. Một số trường phổ thông ở Việt Nam cũng có chương trình giảng dạy tiếng Nhật như Trường Trung học phổ thông Chuyên Ngoại ngữ, Trường Trung học phổ thông Chu Văn An (Hà Nội).
Theo báo cáo trong The World Factbook của CIA, bang Angaur của Palau xem tiếng Nhật là một trong ba ngôn ngữ chính thức cùng với tiếng Angaur và tiếng Anh. Tiểu bang này là nơi duy nhất trên thế giới xem tiếng Nhật là ngôn ngữ chính thức về mặt pháp lý, nếu như bản báo cáo đó xác thực. Tuy nhiên, cũng có báo cáo khác nói rằng ngôn ngữ chính thức ở Angaur là tiếng Palau và tiếng Anh, giống như các tiểu bang khác trong nước. Dù thế nào đi nữa, số người dùng tiếng Nhật ở bang đó cũng là con số không, theo điều tra vào năm 2005.
=== Ngôn ngữ chính thức ===
Tiếng Nhật là ngôn ngữ chính thức "không thành văn" ở Nhật Bản, và Nhật là quốc gia duy nhất dùng tiếng Nhật làm ngôn ngữ hành chính chính thức. Có một dạng ngôn ngữ được coi là chuẩn: hyōjungo (標準語, hyōjungo) ngôn ngữ tiêu chuẩn, hoặc kyōtsūgo (共通語, kyōtsūgo) ngôn ngữ phổ thông). Ý nghĩa của hai từ này tương đương nhau. Hyōjungo (kyōtsūgo) là một khái niệm tạo thành từ một bộ phận của phương ngữ. Ngôn ngữ tiêu chuẩn này được tạo ra sau Minh Trị Duy Tân meiji ishin (明治維新, meiji ishin) (1868) từ thứ ngôn ngữ được nói ở khu vực đô thị Tokyo do nhu cầu trao đổi thông tin. Hyōjungo được dạy ở trường học và được dùng trên truyền hình và giao tiếp chính thức, và cũng là bản tiếng Nhật được bàn đến trong bài này.
Trước đây, tiếng Nhật chuẩn trong văn viết (bungo (文語, bungo), "văn ngữ") khác với văn nói (kōgo (口語, kōgo), "khẩu ngữ"). Hai hệ thống này có ngữ pháp khác nhau và có những biến thể về từ vựng. Bungo là cách viết tiếng Nhật chủ yếu cho đến khoảng năm 1900, sau đó kogo dần dần mở rộng tầm ảnh hưởng và hai phương pháp này đều được dùng trong văn viết cho đến thập niên 1940. Bungo vẫn hữu ích đối với các sử gia, học giả văn chương, và luật sư (nhiều điều luật của Nhật có từ thời Chiến tranh thế giới thứ hai vẫn còn được viết bằng bungo, mặc dù hiện đang có những nỗ lực để hiện đại hóa ngôn ngữ này). Kōgo phương pháp được dùng cho cả nói và viết tiếng Nhật chiếm ưu thế hiện nay, mặc dù ngữ pháp và từ vựng bungo thỉnh thoảng vẫn được dùng trong tiếng Nhật hiện đại để tăng biểu cảm.
=== Phương ngữ ===
Ở Nhật Bản có rất nhiều phương ngữ (方言 hōgen). Sự phong phú này đến từ nhiều yếu tố, do một thời gian dài sinh sống ở quần đảo, địa hình đảo, những dãy núi chia cắt từng phần lãnh thổ, và lịch sử lâu dài sống tách biệt với bên ngoài lẫn bên trong của nước Nhật. Các phương ngữ thường khác nhau về ngữ điệu, hình thái biến đổi, từ vựng, và cách dùng các trợ từ. Một vài phương ngữ còn khác nhau ở các phụ âm và nguyên âm, mặc dù điều này không phổ biến.
Năm nhóm phương ngữ chính gồm có 5 nhóm chính:
Higashi-nihon hōgen (東日本方言, phương ngữ Đông Nhật Bản), phương ngữ phía Đông Nhật Bản, bao gồm cả phương ngữ Tokyo.
Hachijō hōgen (八丈方言, phương ngữ Bát Trượng), phương ngữ có ảnh hưởng từ phương ngữ Đông Nhật Bản cổ.
Nishi-nihon hōgen (西日本方言, phương ngữ Tây Nhật Bản), phương ngữ phía Tây Nhật Bản, gồm có Kyoto, Osaka...
Kyūshū hōgen (九州方言, phương ngữ Cửu Châu), gồm Nagasaki, Kumamoto,...
Ryūkyū hōgen (琉球方言, phương ngữ Lưu Cầu), các đảo thuộc nhóm đảo Ryūkyū
Ngày nay, tiếng Nhật chuẩn được dùng phổ biến trên cả nước (bao gồm nhiều phần của nhóm đảo Ryūkyū như Okinawa) do không chỉ truyền hình và radio, mà còn nhờ vào hệ thống đường sá, tàu lửa, và hàng không. Những người trẻ tuổi thường nói được cả tiếng địa phương và ngôn ngữ chuẩn, mặc dù trong đa số trường hợp, tiếng địa phương chịu ảnh hưởng bởi tiếng chuẩn, và tiếng Nhật "tiêu chuẩn" ngược lại cũng bị ảnh hưởng bởi tiếng địa phương.
== Âm vị ==
=== Hệ thống âm vị ===
Trong tiếng Nhật, ippon (一本, "1 cái"), viết theo chữ hiragana là 「いっぽん」, sẽ được đọc theo 4 đơn vị là 「い・っ・ぽ・ん」. Theo âm tiết, nghe như [ip.poɴ] với 2 âm tiết, nhưng nó không giống với cách nắm bắt theo âm vị. Cách chia những phần theo âm thanh học thì khác với âm tiết, theo âm vần luận thì mỗi đơn vị trong 「い・っ・ぽ・ん」 được gọi là mora (phách).
Mora trong tiếng Nhật nói chung có thể hệ thống hóa dựa trên kana (仮名, bảng chữ tiếng Nhật). Ippon và mattaku 「まったく」 theo âm thanh học là [ippoɴ] và [mattakɯ] không có đơn âm nào chung, nhưng trong tiếng Nhật vẫn có một mora chung, đó là 「っ」. Ngoài ra, đối với 「ん」, theo âm thanh học thì tùy theo âm đi sau nó mà có thể được phát âm là [ɴ], [m], [n] hay [ŋ], nhưng những người nói tiếng Nhật đều có thể nhận ra âm giống nhau, do đó theo âm vần luận nó trở thành một loại mora.
Trong tiếng Nhật, phần lớn mora đều kết thúc bằng nguyên âm. Do đó tiếng Nhật mang đặc tính mạnh của ngôn ngữ âm tiết mở. Mặc dù vậy, hai mora đặc biệt 「っ」 và 「ん」 không có nguyên âm.
Về phân loại mora, có 111 kiểu mora như bảng dưới. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu, số lượng mora đang dần thay đổi. Đối với âm của hàng ga 「が」, ở vị trí giữa và cuối từ, nó biến thành âm mũi (còn gọi là âm kêu mũi) thuộc hàng 「か゜」, nhưng với những người trẻ tuổi thì sự phân biệt này đang mất dần. Do đó, nếu ta không đếm hàng 「か゜」, số lượng mora chỉ còn 103. Còn nếu tính luôn cả các âm mượn như 「ファ(fa)・フィ(fi)・フェ(fe)・フォ(fo)」「ティ(ti)・トゥ(tu)」「ディ(di)・ドゥ(du)」, con số này lại thay đổi lên đến 128 mora..
Hơn nữa, bảng chữ cái tiếng Nhật thường được sử dụng để giải thích cho hệ thống âm vị, nhưng thử so sánh với bảng mora tiếng Nhật ở trên, ta thấy có sự khác nhau đáng kể. Đáng chú ý bảng chữ cái tiếng Nhật đã có từ thời kỳ Bình An (平安, "Heian"), do đó nó không phản ánh được hệ thống âm vị của ngôn ngữ hiện đại (xem thêm phần "Trước thời Giang hộ (Eido)" của "Nghiên cứu sử tiếng Nhật").
=== Hệ thống nguyên âm ===
Nguyên âm được thể hiện bằng các ký tự 「あ・い・う・え・お」. Theo âm vần luận, nguyên âm tiếng Nhật có 5 âm được thể hiện theo các ký tự trên, ký hiệu âm tố được viết là:
/a/, /i/, /u/, /e/, /o/
Mặt khác, theo âm thanh học, năm nguyên âm cơ bản được phát âm gần với
[a] [i] [ɯ] [e] [o]
Chữ 「う」 giống như âm tròn môi [u] trong tiếng Việt và một số ngôn ngữ khác, đồng thời cũng là một nguyên âm không tròn môi, nhưng ở phía sau âm môi thì tiến đến âm tròn môi (để hiểu rõ phát âm, xem mục văn tự tương tự).
Theo âm vần luận, những chữ như kōhī 「コーヒー」 (cà phê) và hīhī 「ひいひい」 (tiếng rên), tồn tại một yếu tố gọi là trường âm biểu diễn bằng 「ー」 hay hàng a 「あ」 trong kana (ký hiệu âm tố là /R/). Ở đây, tồn tại một mora độc đáo độc lập được phát âm bằng phương pháp gọi là "kéo dài nguyên âm trước đó thêm 1 mora". Giống như những từ tori (鳥, "chim") và tōri (通り, con đường), việc có hay không có trường âm nhiều khi cũng khác nhau về ý nghĩa. Tuy nhiên, theo âm thanh thì việc có một âm cụ thể được gọi là "trường âm" là không có, vì ở phần nửa sau của nguyên âm dài [aː] [iː] [ɯː] [eː] [oː] cũng chính là âm đó.
Đối với những chữ được viết là ei 「えい」, ou 「おう」 thì cách phát âm giống như ee 「ええ」 hay oo 「おお」 và nói chung đều được phiên âm thành các nguyên âm dài của [eː] và [oː] (những từ như kei 「けい」, kou 「こう」 v.v., trường hợp có phụ âm ở đầu hoàn toàn tương tự). Nói cách khác, eisei (衛星, "vệ tinh") outou (応答, "trả lời") được đọc là 「エーセー」「オートー」. Tuy nhiên, ở Kyuushuu và phía Tây Shikoku, phía nam Bán đảo Kii... thì ei 「えい」 phát âm thành [ei].
Phần cuối của các câu kết thúc bằng desu「です」 và masu「ます」, biến thành vô thanh và, có trường hợp nghe như [des] và [mas] (tùy thuộc vào từng phương ngữ và từng cá nhân). Hơn nữa, trong trường hợp nguyên âm i 「い」, u 「う」 nằm giữa phụ âm vô thanh cũng biến thành vô thanh và thanh đới không rung. Ví dụ như, Kikuchi trong Kikuchi Kan (菊池寛) và kuchikiki trong kuchikiki kōi (口利き行為, cử chỉ phát ngôn) phần nguyên âm thành nguyên âm vô thanh.
Nguyên âm đứng phía trước 「ん」 có xu hướng trở thành âm mũi. Ngoài ra, 「ん」 đứng phía trước nguyên âm thì trở thành nguyên âm mũi.
=== Hệ thống phụ âm ===
Phụ âm phân biệt theo âm vần luận, có các phụ âm thuộc các hàng 「か(ka)・さ(sa)・た(ta)・な(na)・は(ha)・ま(ma)・や(ya)・ら(ra)・わ(wa)」, phụ âm kêu thuộc các hàng 「が(ga)・ざ(za)・だ(da)・ば(ba)」, phụ âm nửa kêu thuộc hàng 「ぱ(pa)」 (về mora đặc biệt, xin tham khảo ở phần cuối phần này). Ký hiệu âm tố như sau:
/k/, /s/, /t/, /h/ (âm điếc)
/g/, /z/, /d/, /b/ (âm kêu)
/p/ (âm nửa kêu)
/n/, /m/, /r/
/j/, /w/ (thường gọi là bán nguyên âm)
Mặt khác, theo âm thanh học, thì hệ thống phụ âm có rất nhiều khía cạnh phức tạp. Các phụ âm được dùng chủ yếu gồm có
Về cơ bản thì các âm hàng ka 「か」 phát âm là [k], hàng sa 「さ」 là [s] (hay [θ], tùy địa phương và người nói), hàng ta 「た」 là [t], hàng na 「な」 là [n], hàng ha 「は」 là [h], hàng ma 「ま」 là [m], hàng ya 「や」 là [j], hàng da 「だ」 là [d], hàng ba 「ば」 là [b], và cuối cùng là hàng pa 「ぱ」 phát âm là [p].
Phụ âm hàng ra 「ら」 khi đứng ở đầu từ thì phát âm như [d], thay vì phát âm như âm bật nhẹ khó đọc. Cũng có người phát âm gần giống như [l] của tiếng Việt. Không có ký hiệu âm thanh thích hợp nhưng cũng có khi được dùng thay thế bằng âm bật uốn lưỡi kêu [ɖ]. Mặt khác, âm ra cùng với 「っ」 như 「あらっ?」, xuất hiện ở giữa hoặc cuối từ sẽ trở thành âm bật lưỡi [ɾ] hoặc [ɽ].
Phụ âm hàng wa 「わ」 có người nói dùng cách phát âm tròn môi [w], nhưng đa số dùng âm không tròn môi [ɰ] (khi tách ra đọc từng âm thì tiếng Nhật lại đọc là [w]). Đối với các âm mượn 「ウィ(vi)」「ウェ(ve)」「ウォ(vo)」 cũng phát âm y hệt nhưng cũng có nhiều người phát âm là 「ウイ(ui)」「ウエ(ue)」「ウオ(uo)」.
Phụ âm hàng ga 「が」 khi xuất hiện ở đầu từ thì dùng [g], nhưng ở giữa từ thì phổ biến cách dùng [ŋ] (âm mũi hàng ga, gọi là âm kêu mũi). Ngày nay, việc dùng âm [ŋ] đang dần biến mất.
Phụ âm hàng za 「ざ」 khi đứng ở đầu từ và sau 「ん」 thì sử dụng âm tắc xát (âm của [ʣ] phối hợp âm bật và âm xát) nhưng ở giữa từ thì thường sử dụng âm xát (như [z]). Cũng có người luôn sử dụng âm tắc xát nhưng ví dụ như shujutsu (手術, "phẫu thuật") sẽ rất khó và đa số sẽ dùng âm xát. Ngoài ra, âm 「ぢ」 và 「づ」 của hàng da 「だ」, ngoại trừ một vài phương ngữ, luôn gây cho ta cảm giác đồng âm với 「じ」「ず」 của hàng za, phương pháp phát âm của chúng giống nhau.
Phụ âm theo sau nguyên âm i 「い」 cho ra âm sắc đặc biệt. Một vài phụ âm biến thành âm vòm, đầu lưỡi gần với vòm miệng cứng. Ví dụ như, phụ âm của hàng ka 「か」 nói chung phát âm là [k] nhưng chỉ có ki 「き」 xảy ra hiện tượng như trên, và được phát âm là [kʲ]. Nếu sau các phụ âm vòm hóa thuộc cột i như trên là các nguyên âm a 「あ」 u 「う」 o 「お」 thì theo phép chính tả các chữ này sẽ biến thành 「ゃ」「ゅ」「ょ」 trong bảng kana và được viết như 「きゃ」「きゅ」「きょ」,「みゃ」「みゅ」「みょ」. Nếu sau nó là nguyên âm 「え」 thì viết thành 「ぇ」 trong bảng kana ví dụ như 「きぇ」, nhưng với những từ mượn thì không có áp dụng theo cách trên.
Phụ âm trên cột âm i 「い」 của các hàng sa 「さ」, za 「ざ」, ta 「た」, ha 「は」 cũng có âm sắc đặc biệt nhưng lúc này không phải chỉ vòm hóa, mà điểm điều âm đã di chuyển đến vòm cứng. Phụ âm 「し」 và 「ち」 phát âm lần lượt là [ɕ] và [ʨ] . Các phụ âm thuộc hàng tương ứng với các âm đó vẫn được phát âm bình thường. Phụ âm của Âm mượn 「スィ(si)」 và 「ティ(ti)」 thì dùng âm vòm hóa [sʲ] và [tʲ]. Phụ âm 「じ」「ぢ」 đứng ở đầu từ cũng như sau 「ん」 thì dùng [ʥ], giữa từ thì dùng [ʑ]. Phụ âm của âm mượn 「ディ(di)」 và 「ズィ(zi)」 thì sử dụng là âm vòm hóa [dʲ] và [ʣʲ] hay [zʲ]. Phụ âm hi 「ひ」 thì có âm vòm cứng [ç] chứ không đọc là [h].
Ngoài ra, phụ âm ni 「に」 được phát âm thành âm vòm hóa [nʲ] nhưng cũng có người sử dụng âm mũi vòm cứng [ɲ]. Tương tự như vậy, ri 「り」 có người sử dụng âm bật vòm cứng, 「ち」 thì lại cũng có người sử dụng âm chẻ vòm cứng vô thanh c.
Bên cạnh đó, hàng ha 「は」 thì chỉ có phụ âm fu 「ふ」 sử dụng âm sát đôi môi vô thanh [ɸ] còn các phụ âm còn lại của hàng ha biến hóa từ [p] → [ɸ] → [h]. Với âm mượn thì có người sử dụng là [f]. Ngoài ra, ở hàng ta 「た」 thì chỉ có phụ âm tsu 「つ」 dùng là [ʦ]. Các nguyên âm 「あ」「い」「え」「お」 theo sau những phụ âm này chủ yếu xuất hiện trong từ mượn, trở thành các chữ kana 「ァ」「ィ」「ェ」「ォ」 và viết thành 「ファ」「ツァ」 (「ツァ」 cũng dùng cho các trường hợp 「おとっつぁん」 hay 「ごっつぁん」). 「フィ」「ツィ」 thì xảy ra sự vòm hóa phụ âm. 「トゥ」「ドゥ」([tɯ], [dɯ]) có người cố gắng phát âm gần với âm mượn [t], [tu], [du].
Âm được gọi là phụ âm đôi 「っ」 (ký hiệu âm tố là /Q/) cũng như âm gảy 「ん」 (/N/), theo khái niệm của âm vần luận, là một mora đặc biệt giống như trường âm được đề cập ở trên. Nói về âm thanh thực thì 「っ」 trở thành các phụ âm liên tục [-kk-], [-ss-], [-ɕɕ-], [-tt-], [-tʦ-], [-tʨ-], [-pp-]. Ngoài ra, 「ん」 thì tùy theo âm ở phía sau mà thành phụ âm [ɴ], [m], [n], [ŋ] (tuy nhiên, nếu ở phía trước nguyên âm thì thành nguyên âm mũi). Ví dụ nếu ở cuối câu thì nhiều người dùng là [ɴ].
=== Trọng âm ===
Trọng âm của tiếng Nhật chủ yếu là trọng âm không đều. Trọng âm được xác định theo từ. Những trường hợp từ đồng âm có thể phân biệt nhờ sự khác nhau về trọng âm không ít. Ví dụ như trong phương ngữ Tokyo, ame (雨, "mưa") và ame (飴, "kẹo") thì được đọc tương ứng là 「a\me」 (phần đầu đọc cao hơn) và 「a/me」 (kiểu âm bằng), được phát âm rõ ràng là khác nhau (từ lúc này trở đi, khi nói về âm thanh đi lên dùng /, âm bằng dùng \). Những chữ đều được phiên âm là hashi o 「端を」 (góc đường), 「箸を」 (đôi đũa), 「橋を」 (cây cầu) thì đọc tương ứng là 「ha/shio」「ha\shio」「ha/shi\o」.
Sự lên xuống của trọng âm nếu nói theo âm nhạc thì giống với sự lên xuống của âm giai. Nhiều nhà soạn nhạc trước đây, khi phổ nhạc cho thơ, đã dựa trên trọng âm của ngôn từ. Ví dụ như, nhạc sĩ Kousaku Yamada đã phổ nhạc cho câu Karatachi no hana ga sai tayo ("hoa cam ba lá đã nở") (phổ thơ 「からたちの花」 của Kitahara Hakushū) đã tận dụng lại trọng âm phát âm là 「ka/ratachi no ha/na\ga sa/itayo」. Do đó, tránh cho ha/na\ga (花が, hoa) bị hiểu nhầm thành "lỗ mũi" 「鼻が」 (ha/naga).
Mặc dù như vậy, không phải lúc nào khác trọng âm cũng là khác nghĩa nhau. Như kyō'iku (教育, "giáo dục") hay zaisei (財政, "tài chính") giọng Tokyo đọc là 「kyo/ーiku」 và 「za/iseー (za/isei)」, nhưng theo các nhà chuyên môn cũng thường được đọc là 「kyo\ーiku」 và 「za\iseー」. Ngoài ra, sự bằng hóa trọng âm dường như đang là xu hướng của thời đại, densha (電車, "xe điện") và eiga (映画, "phim") từ cách đọc 「de\nsha」 và 「e\ーga (e\iga)」 đang dần trở thành 「de/nsha」 và 「e/ーga」. Tuy nhiên, ý nghĩa các từ không hề thay đổi.
Hana ga (花が, "hoa (thì)") ở Tokyo đọc là 「ha/na\ga」, ở Kyoto đọc là 「ha\naga」, cho nên trọng âm ở mỗi từ khác nhau tùy theo địa phương. Tuy nhiên, hệ thống trọng âm các địa phương với nhau không hoàn toàn là không hề tương ứng với nhau. Nhiều trường hợp có thể nhìn thấy sự đối ứng một cách có hệ thống. Ví dụ như, hana ga (花が), yama ga (山が, "núi (thì)") và ike ga (池が, "hồ (thì)") theo giọng Tokyo là 「ha/na\ga」, 「ya/ma\ga」, 「i/ke\ga」, phát âm dạng lồi, còn ở Kyoto thì 「ha\naga」, 「ya\maga」 và 「i\kega」 phát âm dạng phần đầu là âm cao. Theo đó, những từ nào ở địa phương này có cùng một kiểu trọng âm, thì ở địa phương khác, những từ đó cũng thuộc về cùng một kiểu trọng âm khác.
Sự thật là, trọng âm theo phương ngữ của Nhật Bản đều bắt nguồn từ một hệ thống ngôn ngữ có trọng âm hoàn toàn giống nhau trong quá khứ, nhưng sau đó dần dần tách ra và xuất hiện khác biệt. Shirō Hattori gọi nó là trọng âm của tiếng Nhật nguyên thủy, nhưng vấn đề tiếng Nhật nguyên thủy cụ thể ra sao thì có nhiều quan điểm. Ví dụ như Kazuharu Kindaichi và Otsumura Kazuo thì cho rằng trọng âm theo kiểu Kinh Phản (Keihan) của thời kỳ Viện Chính (Insei) (giọng kiểu sao chép tên (meigite)) là hệ thống cổ của trọng âm tiếng Nhật và, hầu hết mọi trọng âm của các phương ngữ hiện tại là kết quả sinh ra từ sau thời đại Nam Bắc Triều.
Hệ thống trọng âm ở miền Đông và miền Tây nói chung là khác nhau, nhưng nếu đi vào cụ thể, sự phân bố trọng âm phức tạp hơn. Ví dụ như, (quận) Aichi, Gifu, Nagano, Niigata về phía đông nói chung có giọng Tokyo, địa phương Kinki (khu vực xung quanh Osaka, Kyoto, Nara), Shikoku v.v. thì có giọng Keihan, xa về phía tây vùng Chūgoku, đến vùng Kyūshū, lại xuất hiện giọng Tokyo. Nói cách khác, giọng Keihan đóng vai trò quan trọng trong khu vực Kinki lại có xen kiểu Tokyo. Hơn nữa, một khu vực gồm một phần của vùng Kyūshū có kiểu trọng âm một hình thức được phát âm với trọng âm như nhau và khu vực từ phía Bắc Kantō (miền Đông) đến phía Nam Tōhoku (Đông Bắc), thì có thể nhận ra kiểu không có trọng âm, các âm đọc theo quy tắc không có âm cao. Một lần nữa, tồn tại những hệ thống trung gian, khác biệt hoàn toàn với đa số các hệ thống khác.
Chi tiết, có các hệ thống trọng âm sau:
Trọng âm kiểu Keihan (Kinh Phản)
Trọng âm kiểu Tokyo
Trọng âm 2 hình thức
Trọng âm 1 hình thức
Không có trọng âm
== Ngữ pháp ==
=== Cấu trúc câu ===
Trật tự từ tiếng Nhật cơ bản là Chủ ngữ - Tân ngữ - Động từ. Sự liên kết Chủ ngữ, Tân ngữ hay các yếu tố ngữ pháp khác thường được đánh dấu bằng trợ từ joshi (助詞) hay teniwoha (てにをは) làm hậu tố cho các từ mà nó bổ nghĩa, do đó các trợ từ này được gọi là các hậu vị từ.
Cấu trúc câu cơ bản là chủ đề-bổ đề. Ví dụ, Kochira-wa Tanaka-san desu. (こちらは田中さんです) Kochira ("đây") là chủ đề của câu, được chỉ ra bởi trợ từ -wa. Động từ là desu, một hệ động từ, thường được dịch là "là" hoặc "nó là" (dù có nhiều động từ có thể dịch nghĩa "là"). Cụm từ Tanaka-san desu là bổ đề. Câu này có thể dịch một cách đại khái là "Người này, (đó) là Ông/Bà/Cô Tanaka". Do đó tiếng Nhật, giống như tiếng Trung, tiếng Hàn, và nhiều thứ tiếng châu Á khác, thường được gọi là ngôn ngữ nổi bật chủ đề, điều này có nghĩa nó có một xu hướng biểu thị chủ đề tách biệt khỏi chủ ngữ và chúng không trùng khớp nhau. Câu Zō-wa hana-ga nagai (desu) (象は鼻が長いです) tạm dịch thô là, "Còn về con voi, mũi (của nó) thì dài". Chủ đề zō "con voi", và chủ ngữ là hana "mũi".
Tiếng Nhật là một ngôn ngữ lược bỏ đại từ, có nghĩa là chủ ngữ hay tân ngữ của một câu không cần phải được nêu ra nếu nó là hiển nhiên trong ngữ cảnh đó. Ngoài ra, người ta thường cảm thấy, đặc biệt trong văn nói tiếng Nhật, câu càng ngắn càng hay. Kết quả của sự dễ dãi và xu hướng giản lược của ngữ pháp là người nói tiếng Nhật có xu hướng loại bỏ các từ ra khỏi câu một cách tự nhiên chứ không dùng đại từ. Trong ngữ cảnh của ví dụ trên, hana-ga nagai sẽ có nghĩa là "mũi [của chúng] thì dài," còn nagai đứng một mình sẽ là "[chúng] thì dài". Một động từ đơn cũng có thể là một câu hoàn chỉnh: Yatta! "[Tôi / Chúng ta /Họ/ …vv] đã làm [điều đó]!". Ngoài ra, do các tính từ có thể tạo thành vị ngữ trong một câu tiếng Nhật, một tính từ đơn có thể là một câu hoàn chỉnh: Urayamashii! "[Tôi] ghen tị [về điều đó]!".
Trong khi ngôn ngữ này có một số từ thường được dịch như đại từ, chúng lại không được dùng thường xuyên như các đại từ ở một vài ngôn ngữ Ấn-Âu, và có chức năng khác hẳn. Thay cho đại từ, tiếng Nhật thường dựa trên các hình thức động từ và trợ động từ đặc biệt để chỉ ra đối tượng nhận hành động: "hướng vào" để chỉ nhóm ngoài làm lợi cho nhóm trong; và "hướng ra" để chỉ nhóm trong làm lợi cho nhóm ngoài. Ở đây, những nhóm trong bao gồm người nói còn nhóm ngoài thì ngược lại, và ranh giới của chúng thì phụ thuộc vào ngữ cảnh. Ví dụ, oshiete moratta (có nghĩa, "giải thích" với người được hưởng hành động là nhóm trong) nghĩa là "[ông ta/bà ta/họ] đã giải thích cho [tôi/chúng tôi]". Tương tự như thế, oshiete ageta (có nghĩa, "giải thích" với người được hưởng hành động là nhóm ngoài) nghĩa là "[Tôi/chúng tôi] đã giải thích [việc đó] cho [anh ta/cô ta/họ]". Do đó, những trợ động từ "có lợi" có chức năng tương tự với các đại từ và giới từ trong các ngôn ngữ Ấn-Âu để chỉ ra người thực hiện hành động và người tiếp nhận hành động.
"Giới từ" trong tiếng Nhật cũng có chức năng khác biệt với phần lớn các đại từ của các ngôn ngữ Ấn-Âu hiện đại (và giống với các danh từ hơn) ở chỗ chúng có thể có bổ từ như danh từ. Ví dụ, chúng ta không thể nói như sau trong tiếng Anh:
*The amazed he ran down the street. (không đúng ngữ pháp)
Nhưng ta có thể về cơ bản nói đúng ngữ pháp câu tương tự trong tiếng Nhật:
Odoroita kare-wa michi-o hashitte itta. (đúng ngữ pháp)
Điều này một phần là do các từ này tiến triển từ các danh từ thông thường, như kimi "cậu (tớ)" (từ 君 "quân", "ngài"), anata "bạn, anh..." (từ あなた "phía đó, đằng kia"), và boku "Tôi, tao, tớ…" (từ 僕 "thị, bầy tôi"). Đây là lý do tại sao các nhà ngôn ngữ học không xếp "đại từ" tiếng Nhật vào nhóm đại từ, mà phân vào danh từ tham chiếu. Những đại từ nhân xưng tiếng Nhật thường chỉ được dùng trong các tình huống yêu cầu nhấn mạnh đặc biệt như ai đang làm gì đối với ai.
Việc lựa chọn từ để sử dụng làm đại từ tương ứng với giới tính của người nói và tình huống xã hội khi đang nói chuyện: nam giới và nữ giới dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất giống nhau, thường gọi mình là watashi (私 "tư") hay watakushi (cũng 私), còn nam giới trong các hội thoại suồng sã thường sử dụng từ ore (俺 "chính mình", "chính tao") hay boku nhiều hơn. Tương tự, các từ khác như anata, kimi, và omae (お前, hay chính thức hơn là 御前 "ngự tiền, người trước tôi") có thể được sử dụng nói đến người nghe tùy thuộc vào địa vị xã hội và mức độ thân mật giữa người nói với người nghe. Khi được sử dụng trong các mối quan hệ xã hội khác, cùng một từ đó có thể có các ý nghĩa tích cực (thân mật hoặc tôn kính) hoặc tiêu cực (không thân mật hoặc bất kính).
Người Nhật thường sử dụng tước vị của người được đề cập mà trong trường hợp đó tiếng Anh sẽ dùng các đại từ. Ví dụ, khi nói về thầy giáo của mình, gọi sensei (先生, "tiên sinh") là cách dùng đúng, còn sử dụng anata là không thích hợp. Điều này là do anata được sử dụng để đề cập những người có địa vị bằng hoặc thấp hơn, và thầy của mình thì có địa vị cao hơn.
Đối với nhiều người nói tiếng Anh, việc đưa watashi-wa hoặc anata-wa vào đầu câu tiếng Nhật là điều thường xảy ra. Dù các câu này về mặt ngữ pháp là đúng nhưng chúng lại nghe có vẻ kỳ cục ngay cả trong hoàn cảnh chính thức. Điều này gần tương tự với việc sử dụng lặp đi lặp lại một danh từ trong tiếng Anh, khi một đại từ đã là đủ: "John sắp đến, vì thế hãy đảm bảo là bạn chuẩn bị cho John một cái bánh sandwich vì John thích bánh sandwich. Mình hy vọng John thích cái váy mình đang mặc..."
=== Biến tố và chia động từ ===
Tiếng Nhật không có số nhiều số ít hay giống. Danh từ hon (本) có thể là một hay nhiều quyển sách; hito (人) có thể có nghĩa "một người" hay "nhiều người"; và ki (木) có thể là "một cây" hay "những cây". Nếu số lượng là quan trọng thì nó có thể được chỉ rõ bằng cách thêm số lượng (thường bằng một từ đếm) hoặc (hiếm khi) bằng cách bổ sung một hậu tố. Những từ dùng cho người thường được hiểu là số ít. Do đó Tanaka-san thường có nghĩa Ông/Bà/Cô Tanaka. Có thể tạo ra các từ nhắc đến nhiều người và nhiều con bằng cách thêm một hậu tố tập hợp để chỉ một nhóm các cá nhân (một hậu tố danh từ dùng để chỉ một nhóm), như -tachi, nhưng đây không phải là một số nhiều thực sự: nghĩa của nó thì gần giống "và người/vật đi cùng". Một nhóm được miêu tả là Tanaka-san-tachi có thể bao gồm những người không có tên là Tanaka. Vài danh từ tiếng Nhật trên thực tế là số nhiều, như hitobito "những người" và wareware "chúng tôi", còn từ tomodachi "bạn bè" thì được xem là số ít dù có hình thức số nhiều.
Động từ được chia để thể hiện thì, có hai thì: quá khứ và hiện tại, hay phi-quá khứ được dùng để chỉ cả hiện tại lẫn tương lai. Đối với các động từ miêu tả một quá trình đang xảy ra, hình thức -te iru chỉ thì tiếp diễn. Đối với các động từ khác miêu tả sự thay đổi trạng thái, hình thức -te iru chỉ một thì hoàn thành. Ví dụ kite iru có nghĩa "Anh ta đã đến (và vẫn đang ở đây)", nhưng tabete iru có nghĩa "Anh ta đang ăn".
Câu hỏi (cả với một đại từ nghi vấn và câu hỏi có/không) có cấu trúc như các câu khẳng định nhưng ngữ điệu lên giọng ở cuối câu. Trong cách nói chính quy, trợ từ nghi vấn -ka được thêm vào. Ví dụ, Ii desu "tốt" trở thành Ii desu-ka "có tốt không?". Trong lối diễn đạt thân mật, đôi khi trợ từ -no được thêm vào thay vì "ka" để biểu thị một sự quan tâm cá nhân của người nói: Dōshite konai-no? "Sao (mày) lại không đến?". Một vài câu hỏi được tạo ra chỉ đơn giản bằng cách đề cập chủ đề với một ngữ điệu nghi vấn để tạo ra sự chú ý của người nghe: Kore-wa? "(Thế còn) điều này?"; Namae-wa? "Tên (của bạn là gì)?".
Thể phủ định được tạo bằng cách biến cách động từ. Ví dụ, Pan-o taberu "Tôi sẽ ăn bánh mỳ" hoặc "Tôi ăn bánh mỳ" trở thành Pan-o tabenai "Tôi sẽ không ăn bánh mỳ" hoặc "Tôi không ăn bánh mỳ".
Hình thức động từ dạng -te được sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau: hoặc là tiếp diễn hoặc là hoàn thành (xem ở trên); các động từ kết hợp theo thứ tự thời gian (Asagohan-o tabete sugu dekakeru "Tôi sẽ ăn bữa sáng và ra đi ngay"), các mệnh lệnh đơn giản, bày tỏ điều kiện và sự cho phép (Dekakete-mo ii? "Tôi ra ngoài được không?"), v.v.
Từ da (suồng sã), desu (lịch sự) là hệ động từ. Nó gần tương tự với từ là, thì, ở trong tiếng Anh nhưng thường có vai trò khác nữa, đó là một từ đánh dấu thì khi động từ được chia ở thì quá khứ datta (suồng sã), deshita (lịch sự). Điều này được sử dụng bởi vì chỉ có hình dung từ và động từ là có thể mang thì trong tiếng Nhật. Hai động từ thông dụng khác được sử dụng để chỉ tình trạng hay thuộc tính, trong một vài ngữ cảnh: aru (phủ định là nai) đối với những vật vô tri giác và iru (phủ định là inai) cho những đồ vật có tri giác. Ví dụ, Neko ga iru "Có một con mèo", Ii kangae-ga nai "[Tôi] không có một ý tưởng hay".
Động từ "làm" (suru, dạng lịch sự shimasu) thường được sử dụng để tạo ra danh động từ (ryōri suru "nấu ăn", benkyō suru "học hành", vv.) và tỏ ra hữu ích trong việc tạo ra các từ lóng hiện đại. Tiếng Nhật cũng có một số lượng lớn các động từ phức để diễn đạt các khái niệm mà tiếng Anh dùng động từ và giới từ để diễn đạt (ví dụ tobidasu "bay đi, chạy trốn," từ tobu "bay, nhảy" + dasu "đuổi ra, thoát ra").
Có ba kiểu tính từ (xem thêm tính từ tiếng Nhật):
形容詞 keiyōshi (hình dung từ), hay các tính từ đuôi i (kết thúc bằng i) (như atsui, "nóng") có thể biến đổi sang thì quá khứ (atsukatta - "nó đã nóng"), hay phủ định (atsuku nai - "[nó] không nóng"). Lưu ý rằng nai cũng là một tính từ đuôi i, có thể trở thành quá khứ (atsuku nakatta - [nó] đã không nóng).
暑い日 atsui hi "một ngày nóng".
形容動詞 keiyōdōshi (hình dung động từ), hay các tính từ đuôi na, được theo sau bởi một dạng hệ động từ, thường là na. Ví dụ hen (lạ)
変なひと hen na hito "một người lạ".
連体詞 rentaishi (liên thể từ), cũng gọi là các tính từ thực, như ano "kia"
あの山 ano yama "núi kia".
Cả keiyōshi và keiyōdōshi có thể làm vị ngữ cho câu. Ví dụ,
ご飯が熱い。 Gohan-ga atsui. "Cơm nóng."
彼は変だ。Kare-wa hen da. "Ông ta lạ."
Cả hai biến cách, dù chúng không chỉ ra tất cả các cách chia, đều có thể tìm thấy trong các động từ thực. Rentaishi trong tiếng Nhật hiện đại rất ít và không giống như những từ khác, chúng bị giới hạn trong các danh từ bổ nghĩa trực tiếp. Chúng không bao giờ làm vị ngữ cho câu. Các đơn cử bao gồm ookina "lớn", kono "này", iwayuru "cái gọi là" và taishita "làm kinh ngạc".
Cả keiyōdōshi và keiyōshi đều có thể trở thành các phó từ, bằng cách cho ni theo sau trong trường hợp keiyōdōshi:
変になる hen ni naru "trở nên lạ",
và bằng cách đổi i sang ku trong trường hợp keiyōshi:
熱くなる atsuku naru "trở nên nóng".
Chức năng ngữ pháp của các danh từ được chỉ ra bời các hậu vị từ, còn được gọi là trợ từ. Các ví dụ là:
が ga cho chủ cách. Không nhất thiết là một chủ ngữ.
Kare ga yatta. "Anh ta đã làm điều đó."
に ni cho tặng cách.
田中さんに聞いて下さい。 Tanaka-san ni kiite kudasai "Làm ơn hỏi Ông Tanaka."
'の no đối với sở hữu cách, hay các cụm chuyển hóa danh từ.
私のカメラ。 watashi no kamera "camera của tôi"
スキーに行くのが好きです。 Sukī-ni iku no ga suki desu "(tôi) thích đi trượt tuyết."
を o đối với đổi cách. Không nhất thiết là một tân ngữ.
何を食べますか。 Nani o tabemasu ka? "(bạn) sẽ ăn gì?"
は wa đối với chủ đề. Nó có thể cùng tồn tại với các trợ từ đánh dấu cách như trên ngoại trừ no, và nó quan trọng hơn ga và o.
私はタイ料理がいいです。 Watashi wa tai-ryōri ga ii desu. "Đối với tôi, đồ ăn Thái thì ngon." Trợ từ chỉ định ga sau watashi được giấu bên dưới wa.
Lưu ý: Sự khác biệt giữa wa và ga nằm ngoài sự khác biệt trong tiếng Anh giữa chủ đề và chủ ngữ câu. Trong khi wa chỉ chủ đề và phần còn lại của câu mô tả hoặc hành động theo chủ đề đó, nó mang ngụ ý rằng chủ ngữ được chỉ định bởi wa không phải duy nhất, hoặc có thể là một phần của một nhóm lớn hơn.
Ikeda-san wa yonjū-ni sai da. "Ông Ikeda 42 tuổi." Những người khác trong nhóm có thể cũng cùng tuổi.
Sự thiếu wa thường có nghĩa chủ ngữ là tiêu điểm của câu.
Ikeda-san ga yonjū-ni sai da. "Chính ông Ikeda là người 42 tuổi." Đây là một câu trả lời một câu hỏi ngầm hoặc hỏi thẳng ai trong nhóm này là người 42 tuổi.
=== Kính ngữ ===
Không giống như phần lớn các ngôn ngữ phương Tây nhưng giống nhiều ngôn ngữ phương Đông, tiếng Nhật có một hệ thống ngữ pháp để diễn tả sự tôn kính và sự trang trọng.
Do phần lớn các mối quan hệ trong xã hội Nhật Bản là không ngang hàng, nên một người nào đó thường có một địa vị cao hơn người kia. Địa vị này được quyết định bởi nhiều yếu tố khác nhau bao gồm: công việc, tuổi tác, kinh nghiệm hay thậm chí tình trạng tâm lý (ví dụ một người nhờ người khác giúp thì thường có xu hướng làm điều đó một cách lịch sự). Người có địa vị thấp hơn thường phải dùng kính ngữ còn người khác có thể dùng lối nói suồng sã. Người lạ cũng phải hỏi người khác một cách lịch sự. Trẻ con Nhật Bản hiếm khi sử dụng kính ngữ cho đến khi chúng đến tuổi thanh thiếu niên, tuổi mà chúng phải nói theo cách của người lớn.
Trong khi teineigo (丁寧語) (đinh ninh ngữ) thường là một hệ thống biến tố, sonkeigo (尊敬語) (tôn kính ngữ) và kenjōgo (謙譲語) (khiêm nhường ngữ) thường sử dụng nhiều động từ kính ngữ và khiêm nhường ngữ đặc biệt: kuru "đến" trở thành kimasu trong đinh ninh ngữ, nhưng được thay thế bằng irassharu trong kính ngữ và mairu trong khiêm nhường ngữ.
Sự khác biệt giữa lối nói đinh ninh ngữ và kính ngữ được phát âm khác nhau trong tiếng Nhật. Khiêm nhường ngữ thường được sử dụng để nói về chính mình hoặc nhóm của mình (người cùng đi, gia đình) trong khi kính ngữ chủ yếu được sử dụng khi miêu tả người đối thoại và nhóm của anh ta/cô ta. Ví dụ, hậu tố -san ("Ông" "Bà." hay "Cô") là một ví dụ về kính ngữ. Nó không được dùng để nói về chính mình hoặc nói về người nào đó trong công ty mình với một người ngoài do người cùng công ty với mình thuộc trong nhóm của người nói. Khi nói trực tiếp với người trên của mình trong nhóm của mình hoặc khi nói với người làm thuê trong công ty về một người cấp trên, một người Nhật sẽ sử dụng từ vựng và biến tố của kính ngữ để đề cập đến người đó. Khi nói với một người ở công ty khác (ví dụ một thành viên của một nhóm ngoài), thì người Nhật sẽ dùng lối văn suồng sã hoặc khiêm nhường ngữ để đề cập đến lời nói và hành động của những người cấp trên trong nhóm của mình. Tóm lại, từ ngữ sử dụng trong tiếng Nhật đề cập đến người, lời nói hoặc hành động của từng cá nhân cụ thể sẽ thay đổi theo mối quan hệ (trong nhóm hoặc ngoài nhóm) giữa người nói và người nghe, cũng như phụ thuộc vào tình trạng quan hệ giữa người nói, người nghe và người thứ ba được đề cập. Vì lý do này, hệ thống tiếng Nhật đối với sự biểu thị từ ngữ xã hội được gọi là một hệ thống "kính ngữ tương đối." Điều này khác với hệ thống tiếng Hàn thuộc "kính ngữ tuyệt đối," mà trong đó từ ngữ như nhau được sử dụng để đề cập đến các nhân vật nói riêng (ví dụ như bố mình, một người chủ tịch công ty mình…) trong bất kỳ ngữ cảnh nào bất kể mối quan hệ giữa người nói và người đối thoại. Do đó, lối nói lịch sự của tiếng Triều Tiên có thể nghe rất táo bạo khi dịch đúng nguyên văn từng chữ một sang tiếng Nhật, do trong tiếng Hàn là điều bình thường và chấp nhận được khi nói những câu như "Ông giám đốc Công ty chúng tôi..." khi nói với một thành viên bên ngoài nhóm, mà điều này thì rất không phù hợp trong ngữ cảnh xã hội Nhật Bản.
Phần lớn các danh từ trong tiếng Nhật có thể trở thành thể lịch sự bằng cách thêm o- hoặc go- làm tiền tố. o- thường được dùng cho các từ có nguồn gốc tiếng Nhật Bản ngữ còn go- được đưa vào tiền tố các từ có gốc Hán. Trong một số trường hợp, tiền tố đã trở thành một phần cố định của từ và được dùng kể cả trong lối nói thông thường như gohan "cơm; đồ ăn." Các tạo từ như thế thường chỉ phụ thuộc vào chủ của đồ vật hoặc chính chủ ngữ. Ví dụ, từ tomodachi 'bạn bè,' sẽ trở thành o-tomodachi khi đề cập đến bạn của ai đó có địa vị cao hơn (dù các bà mẹ thường dùng hình thức này để chỉ các bạn bè của con mình). Mặt khác, một người nói lịch sự có thể thỉnh thoảng đề cập đến mizu "nước" là o-mizu nhằm biểu thị thái độ lịch sự.
Phần lớn người Nhật sử dụng lối nói lịch sự để biểu thị sự thiếu thân mật. Điều đó có nghĩa rằng họ sử dụng lối lịch sự đối với những người mới quen nhưng nếu mối quan hệ trở nên thân mật, họ sẽ không sử dụng lối nói lịch sự này nữa. Điều này xảy ra bất kể tuổi tác, địa vị xã hôi hay giới tính.
== Hệ thống từ vựng ==
Hệ thống từ vựng Nhật Bản khá phong phú, đa dạng. Trong Daijiten (Đại từ điển) do Nhà xuất bản Heibon xuất bản có khoảng 70 vạn từ. Từ điển Kokugo jiten (Quốc ngữ từ điển) của Nhà xuất bản Iwanami có 5 vạn 7 ngàn từ.
=== Đại từ nhân xưng ===
Sự đa dạng của từ vựng mô tả con người trong tiếng Nhật thì rất đáng chú ý. Ví dụ như, ở mục watashi (わたし, "tôi") của Đại từ điển đồng âm liệt kê 「わたし(watashi)・わたくし(watakushi)・あたし(atashi)・あたくし(atakushi)・あたい(atai)・わし(washi)・わい(wai)・わて(wate)・我が輩(wagahai)・僕(boku)・おれ(ore)・おれ様(oresama)・おいら(oira)・わっし(wasshi)・こちとら(kochitora)・自分(jibun)・てまえ(temae)・小生(shousei)・それがし(soregashi)・拙者(sessha)・おら(ora)」, mục từ anata (あなた, "bạn") thì có 「あなた(anata)・あんた(anta)・きみ(kimi)・おまえ(omae)・おめえ(omee)・おまえさん(omaesan)・てめえ(temee)・貴様(kisama)・おのれ(onore)・われ(ware)・お宅(otaku)・なんじ(anji)・おぬし(onushi)・その方(sonokata)・貴君(kikun)・貴兄(kikei)・貴下(kika)・足下(sokka)・貴公(kikou)・貴女(kijo)・貴殿(kiden)・貴方(kihou)」.
Sự thật ở trên là, nếu như so sánh với việc hầu như chỉ có "I" và "you" để chỉ đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai trong tiếng Anh hiện đại, hay đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất của tiếng Pháp là "je", đại từ nhân xưng ngôi thứ hai là "tu" "vous", có thể thấy được sự khác biệt. Mặc dù vậy, thậm chí trong tiếng Nhật, nếu xét đến đại từ nhân xưng cần thiết, thì ngôi thứ nhất chỉ cần wa(re) hay a(re), và ngôi thứ hai là na(re). Những từ được dùng với vai trò đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và thứ hai ngày nay phần lớn là sự thay đổi từ danh từ chung.
Hơn nữa, từ quan điểm thể hiện sự kính trọng, đối với cấp trên thì việc sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ hai có xu hướng lược bỏ. Ví dụ, thay vì hỏi anata wa nanji ni dekakemasuka ("mấy giờ ngài đi"), thông thường sẽ được nói nanji ni irasshaimasuka.
=== Phân loại từ vựng ===
Nếu phân chia theo nguồn gốc sinh ra từ vựng tiếng Nhật, ta có được nhiều nhóm bao gồm wago (和語, "hòa ngữ"), kango (漢語, "hán ngữ"), gairaigo (外来語, "ngoại lai ngữ"), cũng như một loại từ vựng pha trộn các kiểu trên với nhau gọi là konshugo (混種語, "hỗn chủng ngữ"). Cách phân loại của từ theo nguồn gốc như vậy gọi là goshu (語種, "ngữ chủng"). Hòa ngữ là bộ từ vựng Yamato (大和言葉, "Đại Hòa ngôn diệp - từ vựng Đại Hòa") có từ xưa của Nhật Bản, Hán ngữ (từ Hán) là những từ vựng sử dụng âm Hán tự du nhập từ Trung Quốc, Ngoại lai ngữ (từ nước ngoài) là từ vựng được du nhập từ các ngôn ngữ khác ngoài Trung Quốc. Mặc dù vậy, từ ume (ウメ, "mận"), ví dụ, có khả năng là từ mượn từ tiếng Trung Quốc nguyên thủy nên không phải Hòa ngữ, cho thấy biên giới của Ngữ chủng đến nay vẫn chưa rõ ràng.
Hòa ngữ chiếm một phần hạt nhân của từ vựng tiếng Nhật. Những từ vựng cơ sở như kore (これ, "cái này"), sore (それ, "cái kia", kyō (きょう, "hôm nay"), asu (あす, "ngày mai"), watashi (わたし, "tôi"), anata (あなた, "bạn" ngôi thứ hai), iku (行く, "đi"), kuru (来る, "đến"), yoi (良い, "tốt"), warui (悪い, "xấu") hầu hết là Hòa ngữ. Ngoài ra, các trợ từ như te「て」, ni「に」, wo 「を」, wa 「は」 và đại bộ phận trợ động từ và các từ phụ thuộc cần thiết để tạo thành câu đều là Hòa ngữ.
Mặt khác, Hán ngữ và Ngoại lai ngữ được dùng nhiều để biểu thị khái niệm trừu tượng và khái niệm mới sinh ra từ sự phát triển của xã hội. Cũng có những tên sự vật nguyên thủy là Hòa ngữ thì đã chuyển sang Hán ngữ và Ngoại lai ngữ. Meshi (めし, "bữa ăn" hay "cơm") chuyển thành gohan (御飯) hay raisu (ライス); yadoya (やどや, "nhà nghỉ") thành ryokan (旅館) hay hoteru (ホテル) là những ví dụ tiêu biểu cho sự thay đổi này. Đối với những từ đồng nghĩa nhưng thay đổi Ngữ chủng như vậy, có một sự khác biệt nhỏ về ý nghĩa - sắc thái, cụ thể là Hòa ngữ thì tạo ấn tượng đơn giản, suồng sã, Hán ngữ thường tạo ra ấn tượng chính thức, lễ nghi, còn Ngoại lai ngữ thì mang ấn tượng hiện đại.
Một cách tổng quát, có thể nói nghĩa của Hòa ngữ thì rộng, còn nghĩa của Hán ngữ thì hẹp. Một ví dụ, chỉ có một từ Hòa ngữ là shizumu (しづむ) hay shizumeru (しずめる) có nghĩa là "kìm nén", tương ứng với nhiều thành phần từ ghép của hán ngữ như 「沈」「鎮」「静」. Ý nghĩa đa dạng về cách hiểu của shizumu chỉ có thể phân biệt được khi viết xuống sử dụng Hán tự, và có thể là một trong các chữ 「沈む」「鎮む」「静む」. Ý nghĩa biểu thị của Hán ngữ được ghép lại từ hơn hai chữ có tính phân tích, tức là nghĩa của nó có thể suy đoán từ nghĩa của từng từ. Ví dụ, chữ jaku (弱, "nhược") khi ghép với các chữ sei (脆, "thúy", "dễ vỡ"), hin (貧, "bần", "nghèo"), nan (軟, "nhuyễn", "mềm, ủ rũ"), haku (薄, "bạc", "ốm yếu"), tạo thành từ vựng có tính phân tích - giải thích như zeijaku (脆弱, "dễ vỡ"), hinjaku (貧弱, "nghèo", "xơ xác"), nanjaku (軟弱, "ốm yếu"), hakujaku (薄弱, "yếu đuối").
Hán ngữ, với những từ như gakumon (学問, "học vấn"), sekai (世界, "thế giới), hakasei (博士, "bác sĩ"), là những từ vựng được du nhập từ Trung Quốc trước đây, chiếm đại bộ phận từ vựng tiếng Nhật, nhưng từ xa xưa đã có nhiều từ Hán ngữ do người Nhật tạo ra (waseikango, 和製漢語, "Hòa chế Hán ngữ"). Ngay cả ngôn ngữ hiện đại như kokuritsu (国立, "kiều bào"), kaisatsu (改札, "soát vé"), chakuseki (着席, "chỗ ngồi"), kyoshiki (挙式, "tổ chức buổi lễ") hay sokutō (即答, "trả lời ngay") cũng dùng nhiều Hòa chế Hán ngữ.
Ngoại lai ngữ ngoài những từ đang được sử dụng với ý nghĩa gốc của nó, thì trong tiếng Nhật, việc có sự thay đổi ý nghĩa gốc của từ là không ít. "Claim" trong tiếng Anh có nghĩa là "đòi hỏi quyền lợi tự nhiên", còn trong tiếng Nhật kurēmu 「クレーム」 mang nghĩa là "than phiền". Tiếng Anh, "lunch" có nghĩa là "bữa ăn trưa", thì ranchi 「ランチ」 trong nghĩa tiếng Nhật khi nhắc đến ăn uống thì có nghĩa là một kiểu ăn ("tiệc trưa").
Sự kết hợp các Ngoại lai ngữ như aisu kyandē 「アイスキャンデー」 ("ice" + "candy", "kem cây") hay saido mirā 「サイドミラー」 ("side" + "mirror", "kính chắn gió"), tēburu supīchi 「テーブルスピーチ」 ("table" + "speech", "cuộc chuyện trò sau bữa ăn tối") được sáng tạo ra từ nghĩa gốc tiếng Nhật. Ngoài ra, cũng có sự sáng tạo những từ mà dạng từ liên quan không hề là từ nước ngoài như naitā 「ナイター」 ("trò chơi dưới ánh đèn", chuyển tự nighter), panerā 「パネラー」 ("người trả lời trong các chương trình trò chơi dạng hỏi đáp trên ti vi", chuyển tự paneler), purezentētā 「プレゼンテーター」 ("người diễn thuyết", chuyển tự presentator). Thuật ngữ chung để gọi dạng từ này là waseiyōgo (和製洋語, "tiếng Nhật tạo ra từ thành phần tiếng nước ngoài"), nếu từ tiếng Anh thì đặc biệt gọi là waseieigo (和製英語, "tiếng Nhật tạo ra từ thành phần tiếng Anh").
== Hệ thống chữ viết ==
Tiếng Nhật hiện đại sử dụng phổ biến Hán tự (kanji) - hiragana (平仮名) - katakana (片仮名), và được viết dựa trên Hán tự thông dụng - Chính tả kana hiện đại. Số Ả rập và chữ Roma (Romaji - ký tự latinh) cũng được sử dụng khi cần thiết. Về cách đọc của Hán tự thì có cách đọc theo kiểu Trung Quốc (onyomi) và, cũng có cách đọc theo chữ Yamato (kunyomi), tùy theo thói quen mà sử dụng cách đọc nào là hợp lý. Không có phép chính tả chính xác một cách chặt chẽ và những tranh luận về việc có nên quy định một phép chính tả chính xác cùng với sự phản đối nó dần dần không còn được nhắc đến nữa.
Hệ thống kana được phát triển để mô tả từ vựng ở vị trí trung tâm văn hóa. Do đó, kana luôn luôn phù hợp để viết ra hệ thống âm vị của phương ngữ khác.
=== Phân loại chữ viết ===
Hiragana - Katakana thì, hiện nay có 46 chữ được sử dụng
Trong số này, có chữ kana biểu thị âm kêu và âm nửa kêu bằng cách gắn 「゛」 (dấu âm kêu) và 「゜」 (dấu âm nửa kêu) (tham khảo phần Âm vị). Nguyên âm đôi được biểu thị đi kèm với 「ゃ」「ゅ」「ょ」 viết bằng chữ nhỏ và, phụ âm đôi được viết bằng chữ 「っ」 viết nhỏ. Còn những chữ như 「つぁ」「ファ」, có âm đọc được thể hiện đi kèm với 「ぁ」「ぃ」「ぅ」「ぇ」「ぉ」 chữ nhỏ. Theo cách viết kana cổ, khác với ở trên, tồn tại những chữ như 「ゐ」「ゑ」 trong Hiragana và 「ヰ」「ヱ」 trong Katakana. Cũng có 「ー」 để biểu thị trường âm như ký hiệu bổ trợ.
Hán tự có 1945 chữ Hán tự thông dụng, trong đó 1006 chữ được quy định là Hán tự được dạy cho học sinh phổ thông nhưng tại nơi công cộng thì, ngoại trừ Hán tự dùng cho tên người, có khoảng 2000 đến 3000 chữ Hán đang được sử dụng. Với bảng Chữ thông dụng của Hán ngữ hiện đại của Trung Quốc có 2500 chữ thông dụng và 1000 chữ gọi là Chữ thông dụng kế tiếp, do đó có thể nói rằng không có khoảng cách giữa số Hán tự được sử dụng thường xuyên hàng ngày của tiếng Nhật và tiếng Trung.
Ở trong câu nói chung, ngoài việc viết pha trộn các Hán tự - Hiragana - Katakana như ở trên, Romaji - Số Ả Rập cũng được sử dụng cùng lúc khi cần thiết. Một cách cơ bản, đa số dùng Hán tự cho Hán ngữ, với phần biểu thị khái niệm chung của Hòa ngữ (như danh từ và gốc từ biến cách) thì dùng Hán tự, với yếu tố hình thức (như trợ từ - trợ động từ) và một phần của phó từ - từ nối thì dùng hiragana, Ngoại lai ngữ (trừ Hán ngữ) thì sử dụng katakana. Theo tài liệu chính thức thì cũng có trường hợp quy định chữ viết cụ thể, người dân bình thường cũng dùng theo theo cách đó. Tuy nhiên, không có phép chính tả chính xác chặt chẽ và sự linh động về chữ viết đang được chấp nhận rộng rãi. Tùy theo loại văn chương và mục đích mà có các cách viết sau:
さくらのはながさく/サクラの花が咲く/桜の花が咲く
sakura no hana ga saku ("Hoa anh đào nở")
Lợi ích của việc viết trộn lẫn hệ thống chữ viết một cách đa dạng là ở chỗ từng khối từ được nắm bắt dễ dàng và rất có lợi để đọc nhanh. Từ đồng âm dị nghĩa bắt nguồn từ cấu tạo âm tiết đơn thuần của tiếng Nhật được phân biệt bằng Hán tự, số chữ có được cũng được rút ngắn, đó cũng là một lợi ích. Theo lịch sử, đã từng có chủ trương hủy bỏ Hán tự cũng như Quốc tự hóa (kana hóa) Rōmaji nhưng không thể thực hiện rộng rãi. Ngày nay kiểu viết trộn lẫn Hán tự - Hiragana - Katakana đang được thừa nhận rộng rãi như kiểu chữ viết chuẩn.
=== Phương ngữ và chữ viết ===
Hệ thống chữ viết của tiếng Nhật đã phát triển để cho cách viết thống nhất nhưng không phải lúc nào cũng thích hợp để diễn tả âm vị của phương ngữ. Ví dụ, ở khu vực Tūhoku (Đông Bắc) thì việc phát âm theo chữ kaki (柿, "quả hồng vàng") đọc là [kagɨ], kagi (鍵, "chìa khóa") đọc là [kãŋɨ], nhưng viết hai chữ này bằng kana thông thường sẽ là thì sẽ không phân biệt được (theo từ điển trọng âm nếu viết theo cách tương tự với chính tả sử dụng, sẽ trở thành 「カギ」 và 「カンキ゜」). Dù vậy, phương ngữ ít sử dụng ngôn ngữ viết, do đó trên thực tế ít gặp phải sự bất tiện.
Nói về phương ngữ Kesen tỉnh Iwate (tiếng Kesen), theo Harutsugu Yamaura, đã có những thử nghiệm về phép chính tả đúng dựa trên hình thức ngữ pháp. Nhưng đó chỉ là những thử nghiệm mang tính học thuật chứ không được sử dụng thực tế.
Hệ thống chữ viết của tiếng Ryūkyū đang được dùng cũng tương ứng với cách dùng của tiếng Nhật. Ví dụ, bài thơ tensago no hana của Ruka (còn được viết là てぃんさぐぬ花) theo cách viết truyền thống sẽ được viết như sau
てんさごの花や 爪先に染めて 親の寄せごとや 肝に染めれ
Theo cách viết này thì, ví dụ, 2 loại nguyên âm (u và ʔu) của tiếng Ryūkyū không có cách viết tương ứng. Nếu viết theo ngữ âm, có chỗ viết giống như [tiɴʃagunu hanaja ʦimiʣaʧiɲi sumiti, ʔujanu juʃigutuja ʧimuɲi sumiri].
Mặt chữ của cách viết Hán tự có những chữ riêng biệt chỉ tồn tại ở một số địa phương. Ví dụ, chữ 「杁」 trong một địa danh của thành phố Nagoya Irinaka 「杁中」, đó là "văn tự khu vực" của địa phương chỉ có ở Nagoya. Ngoài ra, 「垰」 được đọc với chữ kana là tao hay tawa, cũng là một chữ khác chỉ có ở vùng Chūgoku.
Tiếng Nhật có 2 kiểu viết: viết dọc - "tategaki" (縦書き) và viết ngang - "yokogaki" (横書き). Kiểu viết dọc tategaki là kiểu viết truyền thống theo chữ Hán, viết và đọc từ trên xuống, hàng tính từ phải sang trái. Kiểu viết này cũng được dùng trong tiếng Trung và tiếng Hàn, trong truyện đọc, truyện tranh, thư từ (ví dụ thường thấy là tất cả các bộ truyện tranh Nhật Bản hiện đang phát hành có bản quyền ở Việt Nam đều phải đọc từ phải sang trái, nguyên nhân do các tác giả Nhật Bản đều sử dụng kiểu tategaki khi vẽ và viết lời thoại). Tiếng Việt đã bỏ chữ Hán nên cũng bỏ luôn kiểu đọc viết này (Ở Việt Nam chỉ có thể thấy kiểu viết này ở các di tích lịch sử phong kiến, ví dụ như Bia tiến sĩ ở Văn Miếu - Quốc Tử Giám). Kiểu viết ngang yokogaki theo giống chữ Latin, viết và đọc từ trái sang phải, hàng tính từ trên xuống dưới, thường dùng trong văn bản hành chính.
== Tham khảo ==
== Xem thêm ==
Tiếng Ryūkyū
Văn hóa Nhật Bản
Phương ngữ tiếng Nhật
Tiếng Nhật và máy tính
Văn học Nhật Bản
Tên Nhật
Chữ Yamato
Tiếng Hán - Nhật
Kỳ thi năng lực tiếng Nhật JLPT
Kỳ thi năng lực tiếng Nhật NAT-TEST
== Liên kết ngoài ==
Từ điển RomajiDesu Từ điển Anh-Nhật trực tuyến
Tiếng Nhật Bản bảng chữ cái tập luyện(PDF) |
thanh xuân.txt | Thanh Xuân là một quận phía Tây nam của nội thành Hà Nội, thủ đô của Việt Nam.
Thế kỷ XII, tại huyện Thanh Oai có chùa Thanh Xuân, về sau lấy địa danh này đặt tên quận.
Quận nằm ở cửa ngõ phía tây, là quận mới được thành lập ngày 22 tháng 11 năm 1996, trên cơ sở tách 4 phường: Thượng Đình, Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân, Kim Giang; 78,1 ha diện tích tự nhiên và 20.862 nhân khẩu của phường Nguyễn Trãi, 100,3ha diện tích tự nhiên và 13.030 nhân khẩu của phường Phương Liệt, 98,4 ha diện tích tự nhiên và 5.506 nhân khẩu của phường Khương Thượng thuộc quận Đống Đa; 160,9ha diện tích tự nhiên và 9.229 nhân khẩu của xã Nhân Chính thuộc huyện Từ Liêm và xã Khương Đình thuộc huyện Thanh Trì. Quốc lộ 6 đi các tỉnh miền Tây Bắc bắt đầu từ Ngã Tư Sở đi qua quận này. Những điểm quan trọng nhất về quận Thanh Xuân:
Khu Trung Hòa Nhân Chính nằm một phần tại phường Nhân Chính (phần còn lại tại quận Cầu Giấy) đang phát triển mạnh như một trung tâm mới của thành phố.
Khu đô thị Mandarin Garden: nằm một phần tại phường Nhân Chính, liền kề với khu đô thị Trung Hòa - Nhân Chính.
Khu đô thị Hạ Đình: nằm tại phía tây đường Nguyễn Xiển, thuộc địa bàn phường Hạ Đình.
Khu đô thị Khương Đình: nằm trong khu dân cư Đầm Hồng, thuộc địa bàn phường Khương Đình.
Khu đô thị cao cấp Royal City: nằm tại số nhà 74 đường Nguyễn Trãi, tiền thân là nhà máy Cơ khí Hà Nội.
Khu đô thị Pandora Triều Khúc: nằm tại số nhà 53 phố Triều Khúc, tiền thân là nhà máy Ô tô Hòa Bình.
Khu đô thị Vinhomes Smart City: nằm tại số nhà 235 đường Nguyễn Trãi, xế trước Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, hiện đã được thi công.
Khu tập thể Thượng Đình: là khu nhà ở xây dựng theo phương pháp bê tông lắp ghép tấm lớn, gồm nhiều tòa nhà cao năm tầng, được xây dựng từ những năm 60 của thế kỷ 20, đến nay đã xuống cấp trầm trọng. Khu nhà hiện đang có dự án nâng cấp lên đến 25 tầng. Trong tương lai đây sẽ là một trung tâm hiện đại của quận.
Khu tập thể Thanh Xuân Bắc: nằm tại phía tây nam quận Thanh Xuân, giáp ranh với phường Trung Văn, quận Nam Từ Liêm, được xây dựng từ những năm 80 của thế kỷ 20.
Khu tập thể Phương Liệt: nằm tại phía đông bắc quận Thanh Xuân, nằm cạnh ngã tư Vọng, thuộc địa bàn phường Phương Liệt.
Khu tập thể Kim Giang: nằm tại phố Hoàng Đạo Thành, từ đường Kim Giang đến đường Nguyễn Xiển, thuộc địa bàn phường Kim Giang.
Ngã tư Sở: nổi tiếng về nạn tắc đường ở Hà Nội, đã được cải tạo và mở rộng.
Đường Nguyễn Trãi: tập trung một số trường đại học (như Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Hà Nội (trước là Đại học Ngoại ngữ Hà Nội)...) là một con đường rộng, lượng bụi rất lớn, có nhiều cây xanh nhưng mật độ dân cư và cụm nhà máy cao su, xà phòng, thuốc lá, ôtô nên lưu lượng người tham gia giao thông rất lớn.
Các dự án đường sắt đô thị đi qua địa bàn quận là các tuyến số 1 (Ngọc Hồi - Yên Viên), tuyến số 2 (Nội Bài - Thượng Đình), tuyến số 2A (Cát Linh - Hà Đông), tuyến số 4 (Liên Hà - Bắc Thăng Long), tuyến số 8 (An Khánh - Dương Xá) trong đó tuyến số 2A hiện đang được gấp rút hoàn thành để chạy thử nghiệm vào đầu tháng 10-2017 và chính thức vận hành vào quý I-2018; tuyến số 1 hiện đang được đầu tư xây dựng.
== Hành chính ==
Quận Thanh Xuân có 11 phường: Hạ Đình, Khương Đình, Khương Mai, Khương Trung, Kim Giang, Nhân Chính, Phương Liệt, Thanh Xuân Bắc, Thanh Xuân Nam, Thanh Xuân Trung, Thượng Đình.
== Đường phố ==
== Các trường đại học và học viện ==
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Học viện Quản lý Giáo dục
Trường Đại học Hà Nội
Trường Đại học Công nghệ Giao thông Vận tải
Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài ==
Trang chủ ủy ban nhân dân quận Thanh Xuân
Bản đồ Hà Nội trực tuyến
Quận Thanh Xuân nhìn từ vệ tinh
Tóm tắt trên trang mạng Hà Nội |
chính trị cánh tả.txt | Trong hệ thống chính trị tả-hữu, chính trị cánh tả dùng để chỉ khuynh hướng chính trị trái ngược với cánh hữu, bao gồm các lập trường hay hoạt động chính trị chấp nhận hoặc hỗ trợ Công bằng xã hội, thường phản đối sự phân tầng xã hội và bất bình đẳng xã hội. Chính trị cánh tả thường bao gồm việc quan tâm đến những người trong xã hội được coi là có hoàn cảnh bất lợi khi so sánh với những người khác, đồng thời cũng bao gồm lòng tin là có những bất công trong xã hội cần bị giảm thiểu hay bãi bỏ.
== Nguồn gốc ==
Các từ mang tính chất chính trị "Cánh tả" và "Cánh hữu" được đặt ra trong thời kì Cách mạng Pháp (1789–1799), chỉ sự sắp xếp chỗ ngồi trong Quốc hội Pháp: những người ngồi bên trái thường phản đối chế độ quân chủ và ủng hộ cách mạng, bao gồm sự thiết lập của chế độ cộng hoà và sự tục hoá (phi tôn giáo) trong khi những người ngồi bên phải ủng hộ các thể chế truyền thống của Chế độ Cũ. Việc dùng từ "Cánh tả" trở nên phổ biến hơn sau sự phục hồi của chế độ quân chủ Pháp vào năm 1815.
== Quan điểm ==
Các hệ tư tưởng thường được xem là cánh tả: chủ nghĩa tự do xã hội, dân chủ xã hội, chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản, chủ nghĩa công đoàn, chủ nghĩa vô chính phủ, v.v. Để xem xét cánh hữu hay cánh tả thường dựa vào đường lối thực tế hơn là hệ tư tưởng chính thức, ví dụ tư hữu hóa biểu hiện chính trị cánh hữu, quốc hữu hóa là biểu hiện chính trị cánh tả, nhấn mạnh văn hóa tôn giáo là chính trị cánh hữu, văn hóa thế tục hay vô thần là chính trị cánh tả, mở rộng quyền nhiều hơn xuống tầng lớp dưới là biểu hiện chính trị cánh tả và ngược lại là cánh hữu, cắt giảm an sinh xã hội là biểu hiện chính trị cánh hữu, tăng an sinh xã hội là biểu hiện chính trị cánh tả, cấm nhập cư hay cấm kết hôn với người nước ngoài là biểu hiện chính trị cánh hữu, thông thoáng nhập cư hay cho kết hôn với người nước ngoài là biểu hiện chính trị cánh tả, thông thoáng đầu tư nước ngoài là biểu hiện chính trị cánh hữu, chú trọng bảo vệ kinh tế nội là biểu hiện chính trị cánh tả, gia tăng nhà nước kiểm soát kinh tế là chính trị cánh tả, ngược lại là cánh hữu.v.v...
Ở những nước đa nguyên đa đảng, cánh tả hay được sự ủng hộ của tầng lớp trung lưu lớp dưới và tầng lớp thấp trong xã hội, vì các chính sách của cánh tả thường có lợi cho họ, tuy nhiên điều này không phải là nhất quán, vì nhiều chính phủ cánh tả không thực hiện đúng lời hứa, chính sách kinh tế vấp phải thất bại, tham nhũng...Những người sùng đạo (có thể ở tầng lớp dưới) cũng không hay nghiêng về cánh tả. Trong chính sách quốc tế, cánh tả (ở các nước đa đảng) thường có xu hướng quốc tế hơn, "mềm mại" hơn, ít có tính dân tộc chủ nghĩa hơn so với cánh hữu và do đó ít có nguy cơ xảy ra chiến tranh hơn.
Trong thời kỳ thuộc địa, các đảng cánh tả ở chính quốc và thuộc địa thường muốn mở rộng quyền tự trị hay chấp nhận quyền tự quyết dân tộc hay đấu tranh cho phi thực dân hóa, chống chiến tranh. Năm 1974-1975 khi cánh tả lật đổ độc tài cánh hữu nắm quyền ở Bồ Đào Nha cũng trao trả độc lập cho một số nước châu Phi nhưng các đảng nắm quyền ở đó có ý thức hệ giống họ. Thời gian chiến tranh Việt Nam, hầu hết các phong trào phản chiến, chống chiến tranh, chống quân dịch ở Mỹ và nhiều nước phương Tây do những người vô chính phủ, xã hội, cộng sản, Maoist phát động vì họ ảnh hưởng nhiều của chủ nghĩa quốc tế.
== Chú thích == |
đội tuyển bóng đá quốc gia jamaica.txt | Đội tuyển bóng đá quốc gia Jamaica là đội tuyển cấp quốc gia của Jamaica do Liên đoàn bóng đá Jamaica quản lý.
Trận thi đấu quốc tế đầu tiên của đội tuyển Jamaica là trận gặp đội tuyển Haiti vào năm 1925. Đội đã một lần tham dự World Cup vào năm 1998. Tại giải năm đó, đội chỉ có một trận thắng trước Nhật Bản, thua 2 trận trước Argentina, Croatia và dừng bước ở vòng bảng. Còn ở cấp độ châu lục, thành tích tốt nhất của đội cho đến nay là ngôi vị á quân của Cúp Vàng CONCACAF 2015 và tấm huy chương bạc của đại hội Thể thao liên châu Mỹ 2007.
== Danh hiệu ==
Vô địch CONCACAF: 0
Á quân: 2015
Hạng ba: 1993
Hạng tư: 1998
Vô địch Cúp Caribe: 6
Vô địch: 1991; 1998; 2005; 2008; 2010; 2014
Á quân: 1992; 1993
Hạng ba: 1997; 1999
Bóng đá nam tại Americas Games:
2007
== Thành tích tại giải vô địch thế giới ==
1930 đến 1962 - Không tham dự
1966 đến 1970 - Không vượt qua vòng loại
1974 - Bỏ cuộc
1978 - Không vượt qua vòng loại
1982 - Không tham dự
1986 - Bỏ cuộc
1990 đến 1994 - Không vượt qua vòng loại
1998 - Vòng bảng
2002 đến 2018 - Không vượt qua vòng loại
== Cúp Vàng CONCACAF ==
== Cúp bóng đá Nam Mỹ ==
2015 - Vòng 1
2016 - Vòng 1
== Đại hội Thể thao Liên Mỹ ==
2007: Huy chương bạc
== Cầu thủ ==
=== Đội hình hiện tại ===
Đội hình dưới đây được triệu tập tham dự vòng loại World Cup 2018 gặp Panama ngày 2 và Haiti ngày 6 tháng 9 năm 2016.Số liệu thống kê tính đến ngày 6 tháng 9 năm 2016 sau trận gặp Haiti.
=== Triệu tập gần đây ===
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Đội tuyển bóng đá quốc gia Jamaica trên trang chủ của FIFA |
chủ nghĩa chống cộng.txt | Chủ nghĩa chống cộng sản là tập hợp các quan điểm chính trị chống lại chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa chống cộng có tổ chức đã phát triển để phản ứng với sự lớn mạnh của chủ nghĩa Cộng sản đặc biệt sau Cách mạng tháng Mười ở Nga và đạt được mức toàn cầu trong cuộc chiến tranh lạnh. Trong ý nghĩa đó nó không nhất thiết là có ác cảm với ý thức hệ cộng sản mà là để đối phó với chế độ độc đảng của chủ nghĩa Marx-Lenin tại Liên Xô và các đồng minh của nó, đã bị chỉ trích không phải là xã hội cộng sản, mà chỉ có trên danh nghĩa.
Chống lại chủ nghĩa Cộng sản có thể là những người ủng hộ Chủ nghĩa tự do, chủ nghĩa quốc gia, chủ nghĩa Sô vanh, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa phát xít, chế độ phong kiến, các tổ chức tôn giáo....
Trước và trong Chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều người Mỹ, vô tình hay cố ý, coi nước Nga dưới thời Stalin cũng giống Đức quốc xã. Khi nước Nga còn được giới lãnh đạo Mỹ coi là kẻ thù, người dân Mỹ sẽ chuyển nỗi lo sợ từ nước Đức Quốc xã sang nước Nga thời Stalin, họ gọi đó là Nga phát xít hoặc Phát xít Đỏ, bởi họ thấy lo ngại về một nước Nga không thể đoán trước.. Stéphane Courtois, chủ biên cuốn sách đen của Chủ nghĩa Cộng sản cho cả hai đều là các chế độ toàn trị Tuy nhiên một số nhà nghiên cứu (như Nicolas Werth và Jean-Louis Margolin) thì cho rằng đây chỉ là cách nhìn phiến diện bề ngoài, bởi 2 chủ nghĩa này rất khác nhau về chủ trương Học thuyết của Chủ nghĩa phát xít đối đầu với chủ nghĩa cộng sản vì cho rằng chủ nghĩa này chống lại chủ nghĩa quốc gia và tinh thần yêu nước (do chủ nghĩa cộng sản chủ trương đoàn kết vô sản không phân biệt biên giới, dân tộc; trong khi chủ nghĩa phát xít chủ trương về một } dân tộc thượng đẳng có quyền cai trị các "dân tộc hạ đẳng" khác).
== Lý thuyết chống chủ nghĩa cộng sản ==
Đa số người chống cộng sản từ chối các khái niệm duy vật lịch sử, ý tưởng trung tâm trong chủ nghĩa Marx. Những người chống Cộng từ chối niềm tin rằng chủ nghĩa tư bản sẽ bị thay thế bởi chủ nghĩa xã hội và cộng sản, cũng như chủ nghĩa tư bản đã thay thế chế độ phong kiến. Chủ nghĩa chống cộng đặt câu hỏi về hiệu lực của tuyên bố chủ nghĩa Marx là nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ "tàn lụi đi" khi nó trở nên không cần thiết trong một xã hội cộng sản chân chính.
Nhiều nhà phê bình vạch một lỗi quan trọng trong lý thuyết kinh tế cộng sản , theo đó dự báo rằng trong các xã hội tư bản, giai cấp tư sản sẽ tích lũy vốn và sự giàu có ngày càng tăng, trong khi các lớp thấp hơn phụ thuộc nhiều hơn vào các giai cấp thống trị để tồn tại, hầu hết bán sức lao động với mức tiền lương tối thiểu. Phe chống cộng sản chỉ ra sự gia tăng toàn diện trong tiêu chuẩn sống trung bình ở các nước công nghiệp hóa phương Tây và cho rằng cả người giàu và người nghèo đã liên tục sống tốt hơn. Những người chống cộng sản cho rằng các nước cựu thứ ba thế giới đã thành công thoát khỏi đói nghèo trong những thập kỷ gần đây đã làm như vậy bởi vì họ theo chủ nghĩa tư bản, đặc biệt là những Con Hổ châu Á, Ấn Độ và Trung Quốc. Phe chống cộng sản trích dẫn nhiều ví dụ về các nước kém phát triển theo chế độ Cộng sản mà không đạt được phát triển và tăng trưởng kinh tế, và trong nhiều trường hợp đã dẫn dân tộc của mình vào sự đau khổ thậm chí tệ hơn, ví dụ như chế độ Mengistu ở Ethiopia, Khmer Đỏ ở Campuchia, nhà nước Bắc Triều Tiên.
Tuy nhiên, những người ủng hộ Marx phản bác lại, cho rằng cách hiểu trên là sai lầm. Sự "bần cùng hóa" giai cấp lao động phải được hiểu mang tính tương đối chứ không phải tuyệt đối, tức là khoảng cách giàu-nghèo giữa tư bản với vô sản sẽ tăng lên, chứ không phải mức sống của người lao động sẽ tụt đi. Lý thuyết kinh tế cộng sản được Marx gắn cho xã hội Cộng sản chủ nghĩa, một xã hội chưa nước nào đạt tới, nên không thể lấy ví dụ từ nền kinh tế những nước theo chế độ Cộng sản (nhưng chưa đạt tới xã hội Cộng sản chủ nghĩa) để cho rằng mô hình đó là sai. Thực tế những nước tư bản hiện nay cũng áp dụng một số nguyên lý của Marx, duy trì một bộ phận kinh tế Nhà nước để điều tiết thị trường, thay thế cho kinh tế thị trường tự do cạnh tranh như trước kia.
Những người chống cộng cho rằng đảng Cộng sản khi nắm chính quyền có xu hướng cứng nhắc, không dung nạp đối lập chính trị. Những người phản đối cho rằng nền kinh tế của các nước cộng sản nhất đã cho thấy không có dấu hiệu tiến từ giai đoạn xã hội chủ nghĩa đến một giai đoạn cộng sản lý tưởng. Thay vào đó, chính phủ Cộng sản bị cáo buộc tạo ra một giai cấp thống trị mới (người Nga gọi là Nomenklatura), với quyền hạn và đặc quyền lớn hơn nhiều so với các tầng lớp thượng lưu trong các chế độ trước cách mạng trước đây được hưởng.
Phe chống cộng lập luận rằng sự đàn áp trong những năm đầu của chế độ Bolshevik, tiếp tục diễn ra trong suốt giai đoạn lãnh đạo của Stalin, vô cùng nghiêm trọng nếu xem xét dựa trên bất kỳ tiêu chuẩn đạo đức nào, với các ví dụ như cảnh sát mật Felix Dzerzhinsky đã loại bỏ đối thủ chính trị, hành quyết và nghiền nát một cách tàn bạo cuộc nổi loạn Kronstadt và cuộc nổi loạn Tambov. Theo họ, Trotsky khó có thể chứng minh bất kỳ nền tảng đạo đức cao cả nào trong những nhà lãnh đạo Bolshevik hàng đầu trong những sự kiện này. Trotsky sau đó đã tuyên bố rằng việc đàn áp tàn bạo các phiến quân Kronstadt gắn liền với chủ nghĩa Stalin.
Trong cuốn Sách Đen của Chủ nghĩa cộng sản (Black Book of Communism) do Harvard University Press ấn hành, chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa phát xít đều được sử gia Stéphane Courtois (theo chủ nghĩa Cộng sản Mao từ 1968-71) coi là chủ nghĩa độc tài, nêu bật sự giống nhau giữa các hành động của chính phủ cộng sản và phát xít. Theo tác giả, các chế độ Cộng sản đã giết khoảng 100 triệu người, so với khoảng 25 triệu nạn nhân của chế độ Phát xít. Robert Conquest, một người trước từng theo chủ nghĩa Stalin và cựu viên chức tình báo Anh cho rằng Cộng sản chịu trách nhiệm về hàng chục triệu người chết trong thế kỷ 20.
Quan điểm bản chất thường giải nghĩa bởi những người theo chủ nghĩa khách quan chống cộng sản là không thể đạt được một xã hội bình đẳng lý tưởng. Họ cho rằng đó là bản chất con người được thúc đẩy bởi động cơ cá nhân, và chỉ ra rằng trong khi một số nhà lãnh đạo cộng sản yêu cầu dân chúng cống hiến hết mình cho sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa cộng sản thì chính bản thân họ trở nên tham nhũng và độc tài.
Nhà xã hội sinh học Edward O. Wilson nói: "Karl Marx đã đúng, các công trình chủ nghĩa xã hội, nhưng vấn đề là ông đã chọn những loài không đúng", có nghĩa rằng trong khi kiến và côn trùng xuất hiện để sống trong các xã hội cộng sản. Chúng chỉ làm như vậy bởi vì chúng thiếu khả năng sinh sản độc lập. Kiến thợ là vô sinh, và kiến đực không thể sinh sản mà không có kiến chúa, vì vậy kiến buộc phải sống trong các xã hội tập trung. Con người có khả năng sinh sản độc lập, để họ có thể sinh con mà không cần một "kiến chúa". Theo Wilson, con người được hưởng mức tối đa của họ về sự hợp lý theo Darwin chỉ khi họ chăm sóc bản thân và gia đình của họ, trong khi tìm cách sáng tạo nhất để sử dụng các nguồn lực xã hội nơi họ sống vì lợi ích của mình.
== Nguyên nhân ==
Theo những người cộng sản, nguyên nhân chủ yếu là mâu thuẫn giữa lợi ích của giai cấp lao động và giai cấp tư sản.
Chủ nghĩa tư bản lo sợ sự lớn mạnh của chủ nghĩa cộng sản sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của các nhà tư bản.
Chủ nghĩa cộng sản chủ trương xóa bỏ chủ nghĩa tư bản.
Theo những người chống cộng, chủ nghĩa cộng sản tuy đã đưa quyền lợi của giai cấp lao động, nhưng lại tước bỏ hết lợi ích của giai cấp tư sản.
== Phương thức hoạt động ==
Theo những người cộng sản, có nhiều phương thức hoạt động để thực hiện chủ nghĩa chống cộng như:
Đấu tranh chính trị
Biểu tình nhằm vào sai lầm của nhà nước cộng sản
Truyền bá, cổ vũ lối sống tư sản, ý thức hệ tư sản, các giá trị tư sản
Tuyên truyền tác động vào ý thức của người dân bằng cách phê phán những gì chưa hoàn thiện của chủ nghĩa cộng sản
Các nước tư bản thực hiện gây chiến tranh hoặc cấm vận, cô lập nhằm kìm hãm chủ nghĩa cộng sản.
== Các nhóm và phong trào khác nhau ==
=== Ủy ban châu Âu và Liên minh châu Âu ===
Nghị quyết 1481/2006 của Hội đồng Nghị viện của Ủy hội châu Âu (PACE), ban hành ngày 25 tháng 1 năm 2006 trong kỳ họp mùa đông, kêu gọi các nước thành viên "cực lực lên án tội ác của chế độ cộng sản toàn trị". Các nghị sĩ thuộc Nghị viện châu Âu ủng hộ nghị quyết này đã đề xuất lấy ngày 23 tháng 8 làm ngày châu Âu-rộng nhớ cho thế kỷ 20 tội phạm Đức Quốc xã và Cộng sản.
Tuy nhiên, Nghị quyết đã không giành đủ 2/3 số phiếu cần thiết (chỉ có 99/317 nghị sĩ bỏ phiếu thuận) nên nó không thể thông qua những khuyến cáo cụ thể đối với các nước thành viên trong việc thực hiện nghị quyết này
=== Các nhóm phát xít ===
Chủ nghĩa phát xít và chủ nghĩa quốc xã dựa trên một cơ sở chống cộng kịch liệt vì họ sợ rằng cách mạng cộng sản giành quyền chính trị và họ đã đặt mục tiêu hủy diệt chủ nghĩa cộng sản trong Chiến tranh thế giới thứ hai.
=== Tôn giáo ===
==== Đạo Thiên chúa ====
Giáo hội Công giáo có một lịch sử chống cộng sản. Sách Giáo Lý mới đây nhất của Giáo hội Công giáo viết rằng: "Giáo hội Công giáo đã bác bỏ những tư tưởng vô thần độc tài toàn trị và liên quan trong thời hiện đại của "cộng sản" hay "chủ nghĩa xã hội". Tuy nhiên, quy định hợp lý của thị trường và các sáng kiến kinh tế, phù hợp với một hệ thống các giá trị và các lợi ích chung, là đáng được khen thưởng."
Ngay từ thập niên 1920, Tòa thánh Vatican đã lên án Liên Xô là một "nhà nước vô thần". Năm 1926, Giáo hoàng Piô XI đã cử một linh mục Dòng Tên người Pháp, Michel d'Herbigny, tới Liên Xô để liên hệ với các tổ chức bí mật của giáo hội tại đây, kế hoạch này được ví như Con ngựa thành Troia của Vatican dành cho Liên Xô
Ngày 19/3/1937, Giáo hội Công giáo, đứng đầu là Giáo hoàng Piô XI, đã ra một Thông điệp chống Cộng cho toàn thể giáo dân trên thế giới (Divini Redemptoris), trong đó lên án "chủ nghĩa vô thần được lãnh đạo bởi Bolshevik" (Liên Xô). Các Giáo hoàng kế nhiệm cũng tiếp bước con đường chống cộng quyết liệt của các vị tiền nhiệm.
Ảnh hưởng của Giáo hoàng Gioan Phaolô II đối với sự sụp đổ của chế độ cộng sản Ba Lan đã được diễn tả trong cuốn "His Holiness John Paul II and The Hidden History of Our Time" (Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II và Lịch sử bị che đậy trong Thời Đại Chúng Ta) của Carl Bernstein và Marco Politi... Việc ông được lựa chọn làm giáo hoàng đã làm cho người dân Ba Lan trở nên cam đảm và làm cho điện Kremli trở nên lo lắng. Cựu lãnh tụ Lech Wałęsa của Công đoàn Đoàn kết nói nhân ngày kỷ niệm 25 năm thành lập tổ chức, Gioan Phaolô II đã luôn kêu gọi mọi người hãy quên nỗi lo sợ, và thức tỉnh đất nước. Thành phố Berlin đã tặng ông một mảnh của bức tường Berlin để cảm ơn ông đã góp phần phá sập bức màn sắt. Mikhail Sergeyevich Gorbachyov đã viết trong hồi ký mình, những diễn biến ở Đông Âu sẽ không xảy ra nếu không có Gioan Phaolô II.
== Văn học ==
Boris Pasternak, một nhà văn Nga, tác phẩm của ông Bác sĩ Zhivago từng bị cấm, nó được mang lén ra khỏi nước và ấn hành ở Tây phương năm 1957 và trở nên nổi tiếng. Cùng năm, ông được nhận Giải Nobel Văn học nhưng do những áp lực chính trị, Pasternak đã từ chối nhận giải. Đến năm 1988, tác phẩm Bác sĩ Zhivago của ông mới được xuất bản ở Liên Xô.
George Orwell, một nhà xã hội dân chủ, đã viết 2 cuốn truyện được đọc nhiều và đã gây nhiều ảnh hưởng chống lại những chế độ toàn trị: Một chín tám tư (Nineteen Eighty-Four) và Trại súc vật (Animal Farm), cả hai đều ám chỉ tới Liên Xô dưới thời Joseph Stalin.
Aleksandr Isayevich Solzhenitsyn là một tiểu thuyết gia kịch gia, và sử gia của Liên Xô và Nga. Thông qua bài viết của mình, ông làm cho thế giới nhận thức về các Gulag, hệ thống trại lao động bắt buộc của Liên Xô - đặc biệt là Quần đảo Gulag và Ngày thứ nhất trong cuộc đời của Ivan Denisovich, hai tác phẩm nổi tiếng nhất của ông. Vì những nỗ lực này Solzhenitsyn đã được trao giải Nobel Văn học năm 1970, và bị trục xuất khỏi Liên Xô vào năm 1974.
Herta Müller là một nhà thơ tiểu thuyết gia người Romania gốc Đức, và là nhà bình luận gây chú ý về việc miêu tả các điều kiện khắc nghiệt của cuộc sống dưới chế độ Cộng sản Romania Nicolae Ceauşescu và lịch sử của người Đức ở Banat và chính sách khủng bố của Đức Rumani dân tộc của chủ nghĩa Stalin lực lượng Liên Xô chiếm đóng ở Romania và Liên Xô áp đặt chế độ cộng sản của Romania. Müller, một tác giả đã được quốc tế biết đến từ đầu những năm 1990, và tác phẩm của bà đã được dịch sang hơn 20 ngôn ngữ. Bà đã nhận được hơn 20 giải thưởng, trong đó có giải Kleist 1994, Aristeion giải năm 1995/1998, giải thưởng quốc tế IMPAC Dublin văn học và giải thưởng nhân quyền Franz Werfel năm 2009. Bà đã được trao giải Giải Nobel Văn học năm 2009.
Ayn Rand một nhà văn rất nổi tiếng thế kỷ 20 đã viết Chúng ta còn sống (We the living) về ảnh hưởng của Cộng sản tại Nga thời sau Cách mạng tháng 10.
== Xem thêm ==
Hiến chương 08
Phê phán Chủ nghĩa Xã hội
Phê phán chủ nghĩa Marx
Các vụ thảm sát dưới chế độ Cộng sản
Chủ nghĩa bài Trung Quốc
== Chú thích ==
== Liên kết ngoài == |
bánh cuốn.txt | Bánh cuốn là tên gọi loại thực phẩm làm từ bột gạo hấp tráng mỏng, cuộn tròn, bên trong độn nhân rau hoặc thịt.
== Lịch sử ==
Trong An Nam chí lược, sử gia Lê Tắc chú rằng "vào Tết Hàn thực, đem bánh cuốn tặng nhau". Điểm nữa là trong thi phẩm Tặng bánh xuân cho ngài thiên sứ Trương Hiển Khanh (饋張顯卿春餅), năm 1291, vua Trần Nhân Tông cho hay: "Hôm nay đúng ngày mồng 3 tháng 3, trên chiếc mâm chạm hình mây đỏ bày bánh xuân thái, là phong tục cũ của An Nam xưa nay" (柘枝舞罷試春衫, 況值今朝三月三。 紅玉堆盤春菜餅, 從來風俗舊安南). Còn Chỉ Nam ngọc âm giải nghĩa dẫn rằng, bánh xuân thái cũng chính là tên gọi khác của bánh cuốn, sách này đồng thời nói: "Quyển bính nhiều nhân càng ngon; Hiệu là bánh cuốn lăn tròn khéo thay". Như vậy, vào thời Trần, thậm chí có thể truy lên thời Lý, nhằm tết Hàn thực, người Việt ăn bánh cuốn và có tục đem bánh cuốn tặng nhau, chứ chưa có tục ăn bánh trôi như thời Lê Nguyễn về sau. Bánh cuốn còn được gọi là bánh xuân (春餅) hoặc bánh xuân thái (春菜餅), trong có nhân (có thể gồm cả rau lẫn thịt), được cuốn tròn lại, hình dạng khá gần với bánh cuốn ngày nay.
== Đặc điểm ==
Gạo ngon, xay mịn, hòa với nước. Đặt nồi hấp, căng vải mỏng trên miệng nồi. Mỗi lần cho một muôi bột nhỏ. xoa đều lên bề mặt miếng vải để lá bánh cuốn được mỏng, có thể thoa thêm chút mỡ để dễ lấy ra. Sau khi bánh chín, dùng đũa to hoặc thanh tre gạt ra đĩa, lúc này có thể cuộn thêm nhân gồm một ít thịt vai nửa nạc nửa mỡ, tôm, băm cùng mộc nhĩ, nấm hương đã xào chín với các gia vị như mắm, hạt tiêu... Rắc thêm hành khô phi thơm và dùng với nước chấm đủ các vị chua, cay, mặn, ngọt.
=== Bánh cuốn Hà Nội ===
Bột làm bánh là gạo được xay ướt nên rất mịn. Sau khi đã được làm chín bởi hơi nước, lá bánh sẽ được cuốn lại với nhân thịt, mộc nhĩ và nấm hương đã được làm chín. Sau đó người làm bánh sẽ dùng thanh tre chia bánh vừa cuốn đó ra làm 4 khúc ngắn hơn và bày vào đĩa. Sau khi xếp lần lượt hết vào đĩa, một ít ruốc tôm sẽ được rắc lên trên các miếng bánh cuốn và trên cùng điểm vài cọng rau thơm như rau bạc hà, rau mùi...Bánh cuốn sẽ được thưởng thức cùng với bát nước chấm có vài lát chả và chút hành khô trong đó.
=== Bánh cuốn Thanh Trì ===
Bánh cuốn Thanh Trì là món ăn nổi tiếng của người Hà Nội, là đặc sản của phường Thanh Trì, Quận Hoàng Mai, Hà Nội. Bánh được làm từ gạo gié cánh, tám thơm, tráng mỏng như tờ giấy. Bánh cuốn Thanh Trì không có nhân, thường được xếp thành từng lớp trong lòng một chiếc thúng, trên phủ tờ lá sen hay lá chuối, lá dong. Người bán bánh thường đội thúng bánh trên đầu, di dạo bán trên phố phường Hà Nội. Khi gặp người mua, người bán hàng sẽ hạ thúng xuống, lần giở từng lớp bánh cuốn mỏng, tách từng lớp bánh sao lá bánh cuốn khỏi bị rách. Trên mặt lá bánh cuốn điểm những cọng hành lá màu vàng, nâu đã được phi qua trên chảo. Mỗi lớp bánh cuốn đó sẽ được sắp xếp gọn lại trên đĩa, lần lượt từng miếng bánh một được đặt cạnh nhau. Sau đó, với một nhát kéo, tất cả các lá bánh cuốn được cắt đôi. Công việc tiếp theo là nhấc một nửa đầu bánh cuốn mới cắt đó, đặt lên trên nửa kia để người thưởng thức có thể nhìn thấy rõ từng lớp bánh cuốn tráng mỏng như giấy. Bánh được ăn với thứ nước chấm đặc trưng cho từng người bán bánh riêng, có thể ăn kèm chả quế, giò lụa hoặc đậu rán và rau mùi.
=== Bánh cuốn Lạng Sơn ===
Bánh cuốn trứng Lạng Sơn chỉ bao gồm trứng gà và thịt nạc kho được chà nhuyễn thành từng sợi nhỏ và nước canh là nước được ninh từ xương ống và cho thêm gia vị, hành, mùi, tiêu, ớt. Nhiều cửa hàng tại Lạng Sơn còn dùng nước thịt kho cho vị đậm đà hơn. Trứng gà được hấp bên trong lá bánh, chín tái đủ để tạo một lớp màng mỏng quanh lòng đỏ, giúp trứng không bị vỡ. Ăn món bánh cuốn này không thể gắp và chấm mà phải chan nước canh lên mặt bánh. Khi thưởng thức, người dùng sẽ khéo léo đưa miếng bánh vào miệng làm sao để lòng đỏ trứng vỡ ra trong miệng, hoà lẫn với nước thịt kho và những sợi thịt kho đã chà nhuyễn còn nóng và thơm ngon.
=== Bánh cuốn Hải Dương ===
Bánh cuốn Hải Dương ngon là bánh được làm ở khu phố Hàn Giang và phố Bắc Sơn, bánh được tráng thành từng lá mỏng như tờ giấy pơ-luya, sau đó rưới thêm nước mỡ và hành đã được phi thơm ngào ngạt (Mỡ nước ở đây phải được làm từ mỡ khổ, chứ không được là mỡ lá, hay dầu ăn vì bánh sẽ không được thơm, béo, ngậy). Các lá bánh cuốn được rải chồng lên nhau trong một cái thúng có lót lá chuối và một số bao vải, ni lông cách nhiệt nên đến khi ăn bánh vẫn còn nóng. Khi ăn, phải dùng tay để bóc từng lá bánh ở đầu mép bánh ra, cắt thành miếng nhỏ vừa đủ để bỏ vào miệng. Nước chấm được pha bằng loại nước mắm ngon với các gia vị khác để tạo ra một bát nước chấm vừa có độ trong veo của nước sôi tinh khiết, vừa có màu vàng sóng sánh và mùi thơm đặc trưng của nước mắm, vừa có màu đỏ tươi của ớt, vừa có màu đen nhánh và thơm cay nồng của hạt tiêu xay rối, vừa có vị chua của dấm thanh pha thêm một chút chua hăng nồng của quất. Ăn kèm với bánh cuốn có chả quế. Chả quế được cắt chéo thành từng lát mỏng hình quả trám. Khi ăn vừa có độ dai dai của vỏ, vừa có độ ròn và vị ngọt, bùi, ngậy của ruột.
=== Bánh cuốn Làng Kênh ===
Bánh cuốn Làng Kênh có bí quyết làm riêng và thường chỉ truyền nghề cho con dâu trong gia đình. Gạo làm bột bánh thường là giống gạo Mộc Tuyền. Những người làng Kênh không mang bánh đi bán rong mà họ chỉ ngồi cố định tại một quán bên đường hay một sạp hàng trong chợ.
=== Bánh cuốn Phủ Lý ===
Phủ Lý là thành phố trực thuộc tỉnh Hà Nam, cách Hà Nội chừng 60 km. Bánh cuốn ở nơi đây rất nổi tiếng trong các tỉnh phía Bắc. Các xe du lịch khi đi trên quốc lộ 1A qua thành phố Phủ Lý thường ghé lại thưởng thức món bánh cuốn trứ danh này. Bánh cuốn Phủ Lý có nhiều điểm tương đồng với bánh cuốn Thanh Trì. Bánh cuốn ở đây hoàn toàn không có nhân. Bánh sau khi tráng xong được gấp gọn lại và bày lên đĩa. Nếu như bánh cuốn Hà Nội hoặc ở một số địa phương khác thường được ưa chuộng khi bánh mới tráng xong còn mềm và mướt thì bánh cuốn Phủ Lý không giống như vậy. Các hàng bánh cuốn tráng bánh từ trước rồi để xếp lên nhau trên 1 mâm lớn. Khi có khách tới ăn, họ bóc từng lá bánh ra gấp và bày lên đĩa. Do đó bánh cuốn Phủ Lý khi thưởng thức có phần cứng và dày hơn bánh cuốn Hà Nội. Bánh được ăn kèm với nước chấm và hành phi thơm rắc lên trên. Bánh cuốn Phủ Lý ăn kèm với thịt nướng chứ không ăn với chả quế, giò lụa như nơi khác. Một điều làm tôn thêm hương vị thơm ngon của bánh cuốn ở đây đó chính là thịt nướng hay còn gọi là chả nướng này. Thịt được chọn loại có cả nạc cả mỡ chứ không chú trọng chọn miếng nguyên nạc như thịt ở Hà Nội nên khi ăn cảm thấy thịt ngon, mềm hơn chứ không hề bị khô. Thịt nướng trực tiếp trên than, vừa chín tới, ăn kèm với bánh cuốn.
=== Bánh cuốn ngoài Việt Nam ===
Ở châu Âu, bánh cuốn bán trong các quán ăn của người Việt có cách làm hơi khác. Vỏ bánh thường được tráng trong chảo có láng dầu thay vì được hấp trên nồi nước sôi.
== Xem thêm ==
Bánh ướt
Bánh tráng
Gỏi cuốn
== Tham khảo ==
Bánh cuốn Thanh Trì
Ăn bánh "một gian" nhớ về "hai mươi bốn gian" xưa
Bánh cuốn Làng Kênh |
ủy ban olympic quốc gia.txt | Ủy ban Olympic quốc gia (hay NOCs) là tên gọi chung bao gồm các ủy ban đại diện cho các nước và vùng lãnh thổ trên khắp thế giới tham gia vào các hoạt động Olympic. Dưới sự quản lý của Ủy ban Olympic quốc tế, các ủy ban địa phương có trách nhiệm tổ chức sự kiện và giúp đỡ người dân nước mình tham gia vào các kì Đại hội Thể thao, như Thế vận hội. Các ủy ban này cũng có nhiệm vụ đề cử các thành phố trong khu vực họ quản lý trở thành ứng viên đăng cai các kì Đại hội sẽ diễn ra. NOCs đóng vai trò thúc đẩy sự phát triển của các vận động viên và công tác huấn luyện trong khuôn khổ quốc gia.
Tính đến năm 2008, đã có 205 Ủy ban Olympic quốc gia được công nhật, gồm cả nước độc lập và khu vực địa lý. Tất của 192 thành viên Liên Hợp Quốc đều đã có Ủy ban riêng, cũng như 13 vùng lãnh thổ dưới đây:
Đài Loan (Trung Hoa Dân Quốc), lấy tên Trung Hoa Đài Bắc theo IOC
Quan sát viên Liên Hợp Quốc Palestine
Bốn các lãnh thổ của Hoa Kỳ: Samoa thuộc Mỹ, Guam, Puerto Rico, và quần đảo Virgin thuộc Mỹ (viết thành Virgin Islands theo IOC)
Ba vùng lãnh thổ hải ngoại thuộc Vương quốc Anh: Bermuda, quần đảo Virgin thuộc Anh, và quần đảo Cayman
Hai lãnh thổ của Vương quốc Hà Lan: Aruba. Trước đây Antille thuộc Hà Lan từng được IOC công nhận từ 1950–2011 nhưng không còn nữa do quốc gia này giải thể vào năm 2010.
Hồng Kông, đặc khu hành chính của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa
Quần đảo Cook, liên bang New Zealand
Tất cả các Ủy ban Olympic quốc gia đều là thành viên của Hiệp hội các ủy ban Olympic quốc gia (ANOC), hiệp hội này được chia thành năm khu vực chính:
Xem thêm các tổ chức riêng và xin bổ sung các thành viên mới vào danh sách bên dưới.
== Danh sách thành viên và năm gia nhập ==
Bên dưới là bảng lược sử của 205 Ủy ban thành viên được Ủy ban Olympic quốc tế công nhận từ khi bắt đầu thành lập, năm 1894. Một số Ủy ban được thành lập trước khi được công nhận chính thức, một số khác được công nhận ngay khi thành lập. Một số liên bang, ngày nay không tồn tại (như Liên Xô, Tiệp Khắc, Nam Tư...) không được liệt vào bảng, chỉ những quốc gia tuyên bố ly khai từ chúng được kê tên:
== Ủy ban Olympic quốc gia không được công nhận ==
Ủy ban Thể thao và Olympic Ma Cao: được thành lập từ năm 1987, đang nỗ lực đấu tranh đòi sự thừa nhận của IOC nhưng hiện tại vẫn chưa có kết quả và do đó tổ chức này không được cử đại diện tham gia Thế vận hội với danh nghĩa "Ma Cao, Trung Quốc".
== Chú thích ==
“National Olympic Committees”. International Olympic Committee. Truy cập ngày 21 tháng 1 năm 2008.
website chính thức của Hiệp hội Ủy ban Olympic quốc gia |
tranh chấp quần đảo kuril.txt | Vấn đề tranh chấp quần đảo Kuril (tiếng Nga: Спор о принадлежности Курильских островов), hay Vấn đề Lãnh Thổ Phương Bắc (tiếng Nhật: 北方領土問題), là một tranh chấp giữa Nhật Bản và Nga về vấn đề chủ quyền Quần đảo Kuril. Các hòn đảo tranh chấp bị Hồng quân Liên Xô chiếm vào giai đoạn cuối của Thế chiến thứ 2, hiện dưới quyền kiểm soát của Nga như là Quận Nam Kuril thuộc Sakhalin, tuy nhiên Nhật Bản vẫn tuyên bố chủ quyền và coi đây là một phần của Phó tỉnh Nemuro thuộc tỉnh Hokkaidō.
Các hòn đảo bị tranh chấp là:
Iturup (tiếng Nga: ИтурупIturup)/Đảo Etorofu (tiếng Nhật: 択捉島, Etorofu-tō)
Kunashir (tiếng Nga: Кунашир}}Kunashir)/Đảo Kunashiri (tiếng Nhật: 国後島, Kunashiri-tō)
Shikotan (tiếng Nga: Шикотан}}Shikotan)/Đảo Shikotan (tiếng Nhật: 色丹島, Shikotan-tō)
Habomai (tiếng Nga: острова Хабомаи ostrova Habomai)/Quần đảo Habomai (tiếng Nhật: 歯舞諸島, Habomai-shotō)
== Bối cảnh ==
Thỏa thuận Nga-Nhật đầu tiên có liên quan đến tình trạng của Sakhalin và quần đảo Kuril là Hiệp ước Shimoda năm 1855, lần đầu tiên thiết lập quan hệ chính thức giữa Nga và Nhật Bản. Điều 2 của Hiệp ước Shimoda đưa ra một thỏa thuận về biên giới: "Từ nay ranh giới giữa hai quốc gia sẽ nằm giữa các đảo Etorofu và Uruppu; Toàn bộ Etorofu thuộc về Nhật Bản và quần đảo Kurile, nằm phía bắc và bao gồm cả Uruppu, thuộc về Nga. ". Các đảo Kunashiri, Shikotan và Quần đảo Habomai, đều nằm về phía nam của Etorofu, không đề cập được rõ ràng trong hiệp ước và được hiểu ngầm là lãnh thổ không tranh chấp của Nhật Bản. Hiệp ước cũng quy định rằng đảo Sakhalin / Karafuto không được phân chia nhưng vẫn theo một chế độ quản lý chung của Nga và Nhật Bản..
Năm 1875 theo Hiệp ước Sankt-Peterburg, Nga và Nhật Bản nhất trí rằng Nhật Bản sẽ từ bỏ tất cả các chủ quyền ở Sakhalin để đổi lấy việc với Nga từ bỏ tất cả các quyền đối với quần đảo Kuril.
Cuộc chiến tranh Nga-Nhật năm 1904-1905 là một thất bại quân sự của Nga. Năm 1905, Hiệp ước Portsmouth, kết thúc vào cuối cuộc chiến này, đã phía nam đảo Sakhalin cho Nhật Bản.
Mặc dù Nhật Bản đã chiếm đóng nhiều phần lãnh thổ ở Viễn Đông của Nga trong thời gian diễn ra Nội chiến Nga sau Cách mạng tháng Mười, Nhật Bản đã không chính thức sáp các lãnh thổ này và sau đó đã rút khỏi các vùng này vào giữa những năm 1920.
Thực tế là đã không có hoạt động thù địch nào giữa Liên Xô và Nhật Bản sau trận Khalkin Gol kết thúc Cuộc chiến tranh biên giới Nhật-Xô năm 1939 đến trước khi Liên Xô tuyên chiến với Nhật Bản vào ngày 08 tháng 8 năm 1945. Sau khi lần lượt chiếm được các hòn đảo từ 18/08 đến 03/09/1945, Liên Xô đã trục xuất những người dân Nhật Bản hai năm sau đó..
== Diễn biến ==
Các tranh chấp hiện nay trên quần đảo Kuril phát sinh do hậu quả của chiến tranh thế giới II và kết quả của sự mơ hồ và bất đồng về ý nghĩa của các thỏa thuận Yalta (02/1945), các Tuyên bố Potsdam (07/ 1945) và Hiệp ước San Francisco (9/ 1951). Hiệp định Yalta, chữ ký của Hoa Kỳ, Anh và Liên Xô, cho biết: Các nhà lãnh đạo của ba cường quốc - Liên Xô, Hoa Kỳ của Mỹ và Anh - đã đồng ý rằng trong hai hoặc ba tháng sau khi Đức đã đầu hàng và chiến tranh ở châu Âu bị chấm dứt, Liên Xô sẽ tham gia vào cuộc chiến chống lại Nhật Bản về phía Đồng minh với điều kiện: [....] 2. Các quyền trước đây của Nga xâm phạm bởi các tấn công nguy hiểm của Nhật Bản vào năm 1904 sẽ được phục hồi, đó là: (a) Các phần phía nam của Sakhalin cũng như các đảo lân cận để nó được trả lại cho Liên Xô; [..... ] 3. Quần đảo Kurile sẽ được bàn giao cho Liên Xô. Nhật Bản, cũng như Hoa Kỳ, tuyên bố rằng thỏa thuận Yalta đã không áp dụng đối với các vùng lãnh thổ phương Bắc, vì các đảo không phải là một phần của quần đảo Kuril,
So với các thỏa thuận Yalta, các văn bản của Tuyên bố Potsdam có nhiều mơ hồ liên quan đến các lãnh thổ của Nhật Bản: "Các điều khoản của Tuyên bố Cairo sẽ được thực hiện và chủ quyền của Nhật Bản được giới hạn ở các đảo Honshu, Hokkaido, Kyushu, Shikoku và các đảo nhỏ như chúng tôi xác định ". Các đảo của vùng lãnh thổ phương Bắc không rõ ràng trong danh sách này. Tuyên bố Cairo năm 1943 đã không rõ ràng đề cập đến quần đảo Kuril mà chỉ nói: "Nhật Bản cũng sẽ bị trục xuất khỏi tất cả các vùng lãnh thổ khác mà họ đã có được bởi bạo lực và lòng tham".
Hiệp ước Hòa bình San Francisco được ký và thông giữa các lực lượng thuộc phe Đồng minh là Australia, Canada, Ceylon (nay là Sri Lanka, Pháp, Indonesia, Vương quốc Hà Lan, New Zealand, Pakistan, Philippines, Anh Quốc, và Hoa Kỳ (còn Liên Xô từ chối ký Hiệp ước), theo Hiệp ước, Nhật Bản phải từ bỏ tất cả tuyên bố chủ quyền trên Quần đảo Kuril, nhưng cũng không công nhận chủ quyền của Liên Xô trên quần đảo. Nhật Bản hiện cho rằng ít nhất có một vài hòn đảo tranh chấp không phải là một phần của Quần đảo Kuril, do đó không thể áp dụng Hiệp ước. Nga cho rằng chủ quyền của Liên Xô đối với quần đảo đã được công nhận tại các thỏa thuận sau khi kết thúc Thế chiến thứ hai..
Nghị quyết của Thượng viện Hoa Kỳ ngày 28 Tháng Tư năm 1952, phê chuẩn của Hiệp ước San Francisco, nói rằng Liên Xô không có chủ quyền tại quần đảo Nam Kuril,.
Trong các cuộc đàm phán hòa bình năm 1956 giữa Nhật Bản và Liên Xô, phía Liên Xô đề nghị giải quyết tranh chấp bằng cách trả lại Shikotan và Habomai cho Nhật Bản. Ở các vòng cuối cùng của cuộc đàm phán phía Nhật Bản thừa nhận những yếu thế về chủ quyền của họ tại Etorofu và Kunashiri và đồng ý giải quyết theo đề nghị của Liên Xô để đổi lấy một hiệp ước hòa bình. Tuy nhiên, người Mỹ đã can thiệp và ngăn chặn thỏa thuận. Hoa Kỳ cảnh báo Nhật Bản rằng việc từ bỏ các tuyên bố chủ quyền của Nhật Bản trên các hòn đảo Iturup và Kunashir sẽ dẫn tới việc Hoa Kỳ sẽ không trao trả Okinawa cho Nhật Bản. Hoa Kỳ đã khẳng định rằng Hiệp ước hoà bình San Francisco "không xác định chủ quyền của các lãnh thổ mà Nhật Bản từ bỏ," nhưng "Nhật Bản không có quyền chuyển giao chủ quyền trên vùng lãnh thổ đó.. Tuy nhiên, hai bên Nhật Bản và Liên Xô sau đó đã ra một Tuyên bố chung nhưng không có vấn đề giải quyết tranh chấp. Tình trạng giữa hai bên đã không đáng kể thay đổi kể từ đó, và một hiệp ước hòa bình vĩnh viễn giữa Nhật Bản và Nga vẫn chưa được ký kết.
Ngày 07/10/1964, khi tiếp xúc với phái đoàn của Đảng Cộng sản Nhật Bản, Mao Trạch Đông đã nói rằng các hòn đảo trên phải được trao trả lại cho Nhật Bản, ông cũng nói mình có một ý tưởng để hỗ trợ Nhật Bản về vấn đề các vùng lãnh thổ Phương Bắc.
Tại Hội nghị thượng đỉnh giữa Tanaka và Brezhnev năm 1973, hai bên nhất trí rằng sau khi giải quyết các vấn đề còn tồn đọng sẽ ký kết một hiệp ước hòa bình.
Năm 1981, Nhật Bản lập ra ngày "Lãnh thổ Phương Bắc" vào ngày 07/02 hàng năm. Các tranh thẳng về quần đảo Kuril đã tiếp tục trầm trọng hơn khi ngày 16 tháng 7 năm 2008, khi chính phủ Nhật Bản công bố hướng dẫn học sách giáo khoa mới, trong đó chỉ đạo giáo viên phải nói rằng Nhật Bản có chủ quyền trên quần đảo Kuril. Bộ Ngoại giao Nga công bố vào ngày 18 tháng 7, "những hành động này không phải đóng góp vào sự phát triển của hợp tác tích cực giữa hai nước, cũng như đến việc giải quyết tranh chấp" và tái khẳng định chủ quyền đối với hòn đảo..
Năm 1991, Liên Xô giải thể, Liên bang Nga trở thành một thực thể độc lập, và kế thừa tranh chấp. Ngày 01/11/2010 Tổng thống Medvedev đã đến thăm đảo Kunashir và nói rằng ông chỉ đi thăm "lãnh thổ Nga" và đây là"một khu vực quan trọng của đất nước chúng tôi..Ngày 10 Tháng Hai, năm 2011 nhà lãnh đạo Nga tiếp tục kêu gọi tăng cường triển khai quân sự trên quần đảo Kuril. Khi đưa ra các tuyên bố, Tổng thống Medvedev cho biết, hòn đảo là một phần "không thể tách rời" của đất nước và là một khu vực chiến lược của Nga. Bộ Ngoại giao Nhật Bản chỉ trích tuyên bố của Medvedev, gọi đó là hành vi khiêu khích.Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan gọi là chuyến thăm này là "đáng tiếc"" và sau đó triệu hồi đại sứ của mình tại Moskva. Nhiều nhà phân tích xem chuyến thăm này là có liên quan với các tuyên bố chung gần đây về Thế chiến thứ hai giữa Trung Quốc và Nga, và liên quan với các tranh chấp Quần đảo Senkaku giữa Nhật Bản và Trung Quốc.
Trợ lý Ngoại trưởng Hoa Kỳ Philip Crowley trong một cuộc họp báo ngày 02/11/2010 cho biết "Mỹ công nhận chủ quyền của Nhật Bản về các vùng lãnh thổ phương Bắc," và nói thêm Hiệp ước an ninh Mỹ-Nhật áp dụng đối với Lãnh thổ phương Bắc.
=== Quan điểm của Nhật Bản ===
Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã ra sách trắng về chủ quyền đối với các hòn đảo trên:. Tuyên bố Cairo và Tuyên bố Potsdam không áp dụng cho Lãnh thổ Phương Bắc vì những hòn đảo này chưa bao giờ thuộc về Nga ngay cả trước những năm 1904-1905. Trong Hiệp ước năm 1855 thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước, Nga đã tuyên bố đây là các lãnh thổ không tranh chấp thuộc về Nhật Bản. Vì vậy, các hòn đảo trên không thuộc về Nhật Bản "do bạo lực và lòng tham".Mặc dù theo Điều (2c) của Hiệp ước San Francisco năm 1951, Nhật Bản phải từ bỏ mọi quyền đối với quần đảo Kuril, nhưng Hiệp ước đã không áp dụng đối với các đảo Kunashiri, Etorofu, Shikotan và Habomai kể từ khi chúng không được liệt kê trong Quần đảo Kuril. Ngoài ra, Liên Xô đã không ký vào hiệp ước San Francisco.
Tại Nhật Bản, có tin nói các nhóm khác nhau hợp tác với chính quyền địa phương để khuyến khích người dân Nhật Bản thúc đẩy sự trở lại của quần đảo. Một người đàn ông có gia đình bị đuổi ra khỏi đảo, Kenjiro Suzuki, là chủ tịch của Hội cư dân Chishima Habomai (Chishima là tên tiếng Nhật cho các quần đảo Kuril).).. Trong năm 2008, tổ chức có một ngân sách khoảng 187.000.000 Yên (1.700.000 Đô la Mỹ).
== Xem Thêm ==
Sakhalin
Hokkaido
Quần đảo Kuril
Quan hệ Xô- Nhật và Quan hệ Nga-Nhật
Người Ainu
== Chú thích ==
== Đọc thêm ==
Hasegawa, Tsuyoshi. Racing the Enemy: Stalin, Truman, and the Surrender of Japan. Harvard University Press, 2005. ISBN 0-674-01693-9.
Stephan, John J. The Kuril Islands Russo-Japanese Frontier in the Pacific. Oxford: Clarendon Press, 1974. ISBN 0-19-821563-0
Kimie Hara, 50 Years from San Francisco: Re-Examining the Peace Treaty and Japan's Territorial Problems. Pacific Affairs, Vol. 74, No. 3 (Autumn, 2001), pp. 361–382. Available online at J-STOR.
Seokwoo Lee, Towards a framework for the resolution of the territorial dispute over the Kurile Islands, Boundary and territory briefing, v. 3, no. 6, University of Durham, 2001; ISBN 1-897643-44-6
Seokwoo Lee, The 1951 San Francisco Peace Treaty with Japan and the Territorial Disputes in East Asia. Pacific Rim Law & Policy Journal, vol 11 (2002), no. 1, pp. 63–146
David Rees, "The+Soviet+Seizure+of+the+Kuriles"&q=Nishimura#search_anchor The Soviet seizure of the Kuriles, Greenwood Press, 1985; ISBN 0-275-90154-8
== Liên kết ngoài ==
Kuril Islands dispute Satellite Maps
South Kuriles/Northern Territories:A Stumbling-block in Russia-Japan Relations, history and analysis by Andrew Andersen, Department of Political Science, University of Victoria, May 2001
Chishima: Frontiers of San Francisco (A documentary film about Kuril Island dispute.)
Japan's Northern Territories (Japanese government website)
The convoluted case of the coveted Kurils analysis by Kosuke Takahashi (ngày 25 tháng 11 năm 2004)
Northern Territories dispute highlights flawed diplomacy by Gregory Clark, Japan Times (ngày 24 tháng 3 năm 2005)
Creative thinking on the Kurils analysis by Kosuke Takahashi (ngày 20 tháng 4 năm 2005)
Akaha and Vassilieva, "Lessons for Improved Japan - Russia Relations", Asahi Shimbun, ngày 20 tháng 6 năm 2005, Monterey Institute of International Studies
Little known facts in history of the dispute (in Russian).
Russian view on the history of the dispute (in Russian)
Takahara, Kanako (22 tháng 9 năm 2007). “Nemuro raid survivor longs for homeland”. Japan Times. Bản gốc (Newspaper article) lưu trữ ngày 15 tháng 7 năm 2012. Truy cập ngày 1 tháng 2 năm 2008.
Inventory of Conflict and Environment (ICE), Kurile Islands Dispute |
lahore.txt | Lahore (Urdu: لاہور, Punjabi: لہور) là thủ phủ tỉnh Punjab, và là thành phố đông dân thứ hai ở Pakistan, cũng được biết đến là Những khu vườn của các Mughal hay Thành phố vườn, đặt tên theo các di sản phong phú đáng kể của Đế quốc Mughal. Thành phố nằm gần sông Ravi và biên giới Ấn Độ, Wagah.
Do thành phố Lahore có lịch sử phong phú, các công trình kiến trúc của Mughal và thuộc địa vẫn còn được bảo quản như thời kỳ rực rỡ của nó. Các kiến công trình kiến trúc thời Mughal như: Nhà thờ Hồi Giáo Badshahi, Pháo đài Lahore, các khu vườn Shalimar và các lăng của Jehangir và Nur Jehan. Các tòa nhà được xây dựng thời thuộc địa Anh như tòa nhà Tòa án thượng thẩm Lahore, Bưu điện và nhiều trường đại học khác vẫn giữ kiến trúc theo phong cách Mughal-Gothic.
tiếng Punjabi là ngôn ngữ của tỉnh này, được nói rộng rãi ở Lahore, dù tiếng Urdu và tiếng Anh cũng là ngôn ngữ phổ biến của thế hệ trẻ. Theo thống kê năm 2006, dân số của Lahore ước đạt 10 triệu người, đông thứ 2 sau Karachi, lớn thứ 5 Nam Á và thứ 23 trong các thành phố lớn nhất thế giới.
== Lịch sử ==
=== Lahore cổ đại ===
Theo truyền thuyết, Lahore được đặt tên theo vua Lav (con trai của thần Hindu Rama) người đã được cho là cai trị Lahore từ thời cổ; thành phố Kasur ở phía Nam được đặt tên theo người em sinh đôi của ông là Kush. Ptolemy, nhà địa lý và nhà thiên văn học nổi danh đã việt trong tác phẩm địa lý học của mình - tác phẩm được nhiều hậu duệ làm sách giáo khoa. Ông đã thành công rực rỡ ở Alexandria năm 139 sau Công Nguyên; và có bằng chứng ông vẫn còn sống năm 161 Công Nguyên. Trong tác phẩm địa lý của mình, ông đã đề cập đến một thành phố gọi là Labokla, nằm ở trên con đường giữa Indus và Palibothra, hoặc Pataliputra (Patna), trong một đất nước nằm trên con đường gọi là Kasperia (Kashmir), được miêu tả là kéo dài dọc các sông Bidastes (Jhelum), Sandabal hoặc Chandra Bhaga (Chenab), và Adris (Ravi).
Tài liệu ghi chép cổ nhất có tính xác thực cao của kỷ nguyên trước Hồi Giáo về Lahore được viết bởi một nhà văn vô danh năm 982 Công Nguyên gọi là Hudud-i-Alam, đang nằm ở bảo tàng Anh. Tác phẩm này được dịch qua tiếng Anh và xuất bản ở Lahore năm 1927. Trong tác phẩm này, Lahore được nhắc đến là một 'shahr' nhỏ - thị xã - với "các ngôi đền ấn tượng, các chợ lớn và các vườn cây ăn trái". Nó chỉ ra "hai chợ lớn xung quanh đó có dân sinh sống", và "các tường đất bao bọc xung quanh hai khu dân cư này và làm chúng thành một".
=== Thời kỳ đầu Hồi giáo ===
Có rất ít tài liệu ghi chép về Lahore cho đến khi nó bị vua Mahmud của Ghazni chiếm giữ vào thế kỷ 10. Trong năm 1021, Mahmud đã đưa Ayaz lên ngai vàng, biến Lahore thành kinh đô của Đế quốc Ghaznavid. Malik Ayaz, con trai của Aymáq Abu'n-Najm, là một Người Turkic nô lệ đã nổi lên hành quan chức và một vị tướng của quân đội vua Mahmud của Ghazni (cũng gọi là Mahmud Ghaznavi).
Năm 1021, quốc vương Mahmud của Ghazni đã nâng Ayaz lên ngôi vua, ban thưởng cho ông ngai vàng của Lahore, mà hoàng đế đã lấy lại được sau một thời gian bị bao vây lâu dài và chiến đấu ác liệt làm cho thành bị đốt và giảm dân số. Là thống đốc Hồi Giáo đầu tiên của Lahore, ông đã cho xây lại và tăng dân số thành phố lên. Ông cũng cho xây thành lũy, pháo đài trên tàn tích của công trình cũ trong giai đoạn 1037-1040 và các cổng thành. Pháo đài Lahore hiện nay được xây trên vị trí cũ Dưới thời cai trị của ông, thành phố đã trở thành một trung tâm thi ca, học thuật và văn hóa. Sau khi Đế quốc Ghaznavid sụp đổ, Lahore được cai trị bởi nhiều triều đại Hồi Giáo như Delhi Sultanate bao gồm Khiljis, Tughlaq, Sayyid, Lodhi và Sur. Khi Sultan Qutb-ud-din Aybak lên ngôi năm 1206 ở đây, ông đã trở thành vua Hồi Giáo đầu tiên của tiểu lục địa. Mãi đến năm 1524, Lahore mới trở thành một phần của Đế quốc Mughal.
=== Kỷ nguyên Mughal ===
== Kinh tế ==
Trung tâm của nền kinh tế của Lahore là Sở giao dịch chứng khoán Lahore (LSE), đây là sở giao dịch lớn thứ hai ở Pakistan, sau Sở giao dịch chứng khoán Karachi (KSE). Lahore có văn phòng của các công ty lớn như Deewan Motors, Habib Bank, Pakistan State Oil và Lever Brothers. Lahore cũng có nhiều công ty IT lớn nằm ở một công viên công nghệ thông tin gần Sân bay quốc tế Allama Iqbal, xuất khẩu phần mềm chiếm 70% giá trị toàn quốc.
== Chú thích ==
== Xem thêm ==
Danh sách vùng đô thị châu Á |
chứng khoán.txt | Chứng khoán là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữu đối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành. Chứng khoán được thể hiện bằng hình thức chứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử. Chứng khoán bao gồm các loại: cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư, chứng khoán phái sinh. Thực chất chứng khoán là một loại hàng hóa đặc biệt.
Chứng khoán là một phương tiện hàng hóa trừu tượng có thể thỏa thuận và có thể thay thế được, đại diện cho một giá trị tài chính. Chứng khoán gồm các loại: chứng khoán cổ phần (ví dụ cổ phiếu phổ thông của một công ty), chứng khoán nợ (như trái phiếu nhà nước, trái phiếu công ty...) và các chứng khoán phái sinh (như các quyền chọn, hợp đồng quy đổi - Swap, hợp đồng tương lai, Hợp đồng kỳ hạn). Ở các nền kinh tế phát triển, loại chứng khoán nợ là thứ có tỷ trọng giao dịch áp đảo trên các thị trường chứng khoán. Còn ở những nền kinh tế nơi mà thị trường chứng khoán mới được thành lập, thì loại chứng khoán cổ phần lại chiếm tỷ trọng giao dịch lớn hơn.Trong tiếng Việt, chứng khoán còn được hiểu theo nghĩa hẹp là chứng khoán cổ phần và các chứng khoán phái sinh, ví dụ như trong từ "sàn giao dịch chứng khoán".
Công ty hay tổ chức phát hành chứng khoán được gọi là đối tượng phát hành.
Chứng khoán có thể được chứng nhận bằng một tờ chứng chỉ (certificate), bằng một bút toán ghi sổ (book-entry) hoặc dữ liệu điện tử.
== Chứng khoán cổ phần ==
Chứng khoán cổ phần là những giấy tờ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử, lưu hành trên thị trường và chứng nhận quyền sở hữu một phần tài sản của đối tượng nắm giữ giấy tờ.
== Chứng khoán nợ ==
Chứng khoán nợ là những giấy tờ, chứng chỉ điện tử hoặc bút toán ghi sổ có, lưu hành trên thị trường, chứng nhận mối quan hệ chủ nợ của người nắm giữ giấy tờ, chứng chỉ đó đối với người phát hành.
Chứng khoán nợ thường tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, như trái phiếu (bond), chứng khoán dạng nợ (debenture) và giấy tờ (note), các công cụ thị trường tiền (money market instruments), các công cụ tài chính phái sinh (financial derivatives).
=== Trái phiếu ===
Trái phiếu là dạng nợ do nhà nước (trung ương lẫn địa phương), công ty, thể chế tài chính phát hành mà trên tờ phiếu có xác nhận việc người phát hành nợ người nắm giữ trái phiếu và nghĩa vụ trả nợ cả gốc lẫn lãi vào một thời điểm sau khi phát hành và kỳ hạn tới thời điểm đó.
Và trái phiếu có 2 loại là trái phiếu chính phủ và trái phiếu tư nhân (có thể của tổ chức, công ty...).
=== Chứng khoán dạng nợ ===
Chứng khoán nợ là dạng nợ dài hạn thường do nhà nước hoặc công ty lớn phát hành để huy động ngân sách hoặc vốn. Nó cũng tương tự như trái phiếu, chỉ khác ở điều kiện đảm bảo và các vấn đề liên quan.
=== Công cụ thị trường tiền ===
Công cụ thị trường tiền là những giấy tờ cho phép người nắm giữ chúng quyền được hưởng vô điều kiện một lượng thu nhập cố định bằng tiền, được đảm bảo trong một thời gian nhất định.
=== Công cụ tài chính phái sinh ===
Đây là những công cụ tiền tệ thứ cấp có giá trị thị trường, cho phép người nắm giữ chúng quyền mua hoặc bán các chứng khoán gốc. Những công cụ tài chính phái sinh cơ bản là quyền chọn, tương lai, hoán đổi, v.v.
== Chứng khoán lai ==
Chứng khoán lai là dạng trung gian giữa chứng khoán cổ phần và chứng khoán nợ. Ví dụ như: Cổ phiếu ưu đãi, cố phiếu chuyển đổi, trái phiếu chuyển đổi,...
== Thị trường chứng khoán ==
Thị trường chứng khoán (securities market) là nơi trao đổi các chứng khoán. Thị trường chứng khoán giúp những người thiếu vốn huy động được vốn và người có vốn chuyển vốn của mình thành vốn đầu tư. Vì thế, thị trường chứng khoán còn được gọi là thị trường vốn.
Theo đối tượng trao đổi, thị trường chứng khoán có thể phân làm hai loại cơ bản, đó là thị trường cổ phiếu (stock market) và thị trường trái phiếu (bond market). Về mặt không gian, không có sự phân biệt hai thị trường này. Sở giao dịch chứng khoán và các công ty chứng khoán đều tổ chức trao đổi cả cổ phiếu lẫn trái phiếu và các loại chứng khoán khác.
Theo tính chất của chứng khoán, thị trường chứng khoán có thể phân làm loại thị trường sơ cấp và thị trường thứ cấp.
=== Thị trường cổ phiếu ===
Thị trường cổ phiếu là nơi trao đổi những cổ phiếu do các công ty phát hành và các phái sinh của chúng.
=== Thị trường trái phiếu ===
Thị trường trái phiếu là nơi người ta mua và bán các chứng khoán nợ, chủ yếu là trái phiếu.
== Thuật ngữ chứng khoán ==
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Ủy ban Chứng khoán Nhà nước Việt Nam |
svg.txt | SVG (viết tắt của Scalable Vector Graphics) là một ngôn ngữ đánh dấu (markup language) XML và dùng để miêu tả các hình ảnh đồ họa véc tơ hai chiều, tĩnh và hoạt hình, thường dành cho ứng dụng trên các trang mạng. SVG thuộc tiêu chuẩn mở và được quản lý bởi tổ chức World Wide Web Consortium, một tổ chức quản lý nhiều chuẩn khác như HTML, XHTML... Các tập tin có đuôi ".svg" được mặc định hiểu là tập tin SVG. SVG có thể phóng to thu nhỏ mọi kích cỡ mà không giảm chất lượng hình ảnh. Vì thế, nó được dùng nhiều trong các bản đồ, sơ đồ.
Đối thủ chính của SVG là Macromedia Flash, nhưng Macromedia Flash không phải là một chuẩn mở.
== Ưu điểm ==
Vì là định dạng đồ họa vectơ, lợi điểm của SVG là khả năng hiển thị tốt ở mọi kích cỡ và độ phân giải. Với một kích thước tương tự, một tập tin SVG có thể chứa nhiều thông tin hơn là một tập tin định dạng nhị phân khác (GIF, PNG,...).
SVG là một chuẩn mở, nó cho phép việc tùy biến theo mục đích sử dụng một cách dễ dàng. Các hình ảnh SVG có thể được dễ dàng sửa chữa và phát triển sau này, khác với đồ họa mảng thường là sản phẩm cuối cùng của các xử lý ảnh, không chứa mã nguồn các lớp ảnh.
Các tập tin SVG ở dạng văn bản, việc chỉnh sửa có thể thực hiện bằng các trình soạn thảo đơn giản nhất.
== Nhược điểm ==
SVG là ngôn ngữ không được thiết kế để sửa chữa trực tiếp trên mã nguồn. Để tạo ra các hình ảnh SVG nói chung, cần dùng các công cụ hỗ trợ.
Dù SVG có thể là một lựa chọn cho hình ảnh của các trang mạng trong tương lai không xa, nó vẫn còn khá mới mẻ và cần sự hỗ trợ từ các trình duyệt mạng. Hiện nay Firefox đã hỗ trợ tương đối đầy đủ cho SVG, tuy nhiên Internet Explorer 8 và một số trình duyệt khác cần có plug-in đặt riêng lẻ.
== Trình duyệt và phần mềm hỗ trợ ==
Sự phổ biến của SVG trên mạng mới ở giai đoạn bắt đầu. Lý do là các đồ họa mảng đã là thói quen khó bỏ.
Một số wiki đã thử cho phép người sử dụng thay đổi trực tiếp mã SVG để sửa hình ảnh, tuy nhiên lợi lộc từ việc này hiện còn hạn chế. Hiện Wikipedia chỉ hỗ trợ hiển thị định dạng SVG. Tuy nhiên việc truyền lên các tập tin SVG cho Wikipedia được khuyến khích do chúng có mã nguồn mở, giúp dễ dàng được sửa chữa và phát triển sau này, khác với đồ họa mảng thường là sản phẩm cuối cùng của các xử lý ảnh, không chứa mã nguồn các lớp ảnh.
=== Plugin ===
Một số trình duyệt, như Internet Explorer, cần plugin để hiển thị hình ảnh ở định dạng SVG. Các plug-in hỗ trợ SVG như:
Adobe SVGViewer
Corel SVGViewer
Java-based SVG toolkit
=== Hỗ trợ trực tiếp ===
Trình duyệt Opera từ phiên bản 8.0 Beta 3 trở đi hỗ trợ SVG 1.1 Tiny.
Trình duyệt Mozilla Firefox từ phiên bản 1.5 Beta 1 hỗ trợ không đầy đủ cho SVG 1.1 Full.
Trình duyệt Amaya hỗ trợ một phần SVG.
Trình duyệt Konqueror có hỗ trợ tương đối đầy đủ qua plugin KSVG. Phiên bản 2 của plugin này sắp được cho vào hỗ trợ trực tiếp trong trình duyệt.
Trình duyệt Safari cũng sắp dùng KSVG cho hỗ trợ trực tiếp.
Batik SVG Toolkit có thể được dùng trong các chương trình Java để hiện thị hay xử lý hình ảnh SVG.
=== Trên các phương tiện di động ===
Ikivo và Bitflash hỗ trợ dùng SVG trên điện thoại di động. Bitflash và Intesis có thể dùng cho PDA. Macromedia Flash Lite của Macromedia có thể hỗ trợ SVG Tiny từ phiên bản 1.1.
== Công cụ ==
Các phần mềm xử lý đồ họa véc tơ như Adobe Illustrator hay Corel Draw đều hỗ trợ xuất và nhập dưới định dạng SVG.
OpenOffice.org Draw từ phiên bản 1.1 có thể xuất tập tin SVG. Từ Draw 2.0, có thêm plugin nhập SVG.
Inkscape, một phần mềm mã nguồn mở cho nhiều hệ điều hành xử lý đồ họa véc tơ, dùng định dạng mặc định SVG. Sodipodi một phần mềm tổ tiên của Inkscape, vẫn đang được phát triển.
Skencil một phần mềm mã nguồn mở xử lý đồ họa véc tơ khác, cũng xuất và nhập SVG.
SVGmaker tạo tập tin SVG từ các trình thông thường trong Windows.
Sketsa là một phần mềm xử lý SVG có bản quyền.
== Ví dụ ==
<?xml version="1.0" standalone="no" ?>
<!DOCTYPE svg PUBLIC "-//W3C//DTD SVG1.1//EN" "http://www.w3.org/Graphics/SVG/1.1/DTD/svg11.dtd">
<svg width=100% height=100% version="1.1" xmlns="http://www.w3.org/2000/svg/">
<circle cx="50" cy="50" r="50" stroke="yellow" stroke-width="3" fill="blue" />
</svg>
== Xem thêm ==
Hỗ trợ SVG ở Wikipedia
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
Chính thức
W3C SVG
SVG.org - Cộng đồng SVG
SVG Wiki - Wiki của SVG
SVGX
Phần mềm
Inkscape -
Adobe SVG Plugin
Mozilla SVG
ksvg
Sketsa
BitFlash
Chuyển sang định dạng SVG
ASCIISvg, Javascript để vẽ hình SVG
Thư viện
SVG Salamander
librsvg
SVG Perl
Hướng dẫn
Pike's SVG Tutorial
SVGBasics
SVG Tutorial from W3School
Các hình ảnh SVG
Open Clip Art Library
Sodipodi Clipart Page
GNOME themes extras package
Crystal Icons
Gartoon Icons Theme
BlueSphere Icon Theme |
đường giao thông.txt | Đường là một lộ trình, đường đi có thể phân biệt giữa các địa điểm. Các con đường nói chung đều phẳng, được trải nhựa, hay làm theo một cách nào đó để cho phép giao thông dễ dàng; dù không cần thiết phải luôn như vậy, và trong lịch sử nhiều con đường chỉ đơn giản là những tuyến đường được nhận biết mà không được xây dựng hay bảo dưỡng chính thức.
Thuật ngữ này cũng thường được dùng để chỉ các đường phố, đường thuỷ là nơi đi lại của tàu thuyền.
Tại các khu vực đô thị đường có thể đi xuyên qua một thành phố hay làng và được đặt tên như các con phố, phục vụ cả hai chức năng như không gian giao thông đô thị và đường sá. Kinh tế và xã hội phụ thuộc lớn vào những con đường có hiệu quả. Tại Liên minh châu Âu (EU) 44% của toàn bộ hàng hoá được vận chuyển bằng xe tải qua các tuyến đường và 85% của toàn bộ con người được vận chuyển bằng xe hơi, xe buýt hay xe buýt đường dài trên các tuyến đường.
Hoa Kỳ có mạng lưới đường bộ lớn nhất thế giới với 6,430,366 km (2005). Cộng hoà Ấn Độ đứng thứ hai về mạng lưới đường bộ với 3,383,344 km (2002). Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa thứ ba với 1,870,661 km (2004). Khi xét về đường cao tốc Hệ thống Đường cao tốc Quốc gia (NTHS) tại Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa có tổng chiều dài 45,000 km vào cuối năm 2006, và 60,300 km vào cuối năm 2008, đứng thứ hai chỉ sau Hoa Kỳ với 90,000 km năm 2005.
== Lịch sử xây dựng đường bộ ==
Việc coi những con đường mòn đầu tiên là các con đường nhỏ do các con thú tạo ra nói chung không được chấp nhận rộng, với lý lẽ rằng những con thú không đi theo những con đường thường xuyên. Những người khác tin rằng một số con đường bắt nguồn từ những đường mòn do các con thú tạo ra đó. Đường Icknield là một ví dụ về kiểu nguồn gốc đường bộ này, theo đó cả con người và động vật đều lựa chọn cùng một tuyến đường tự nhiên. Tới khoảng năm 10,000 BC, những con đường mòn gồ ghề đã được những người lữ khách sử dụng.
Các con phố được lát đá đã được tìm thấy ở thành phố Ur tại Trung Đông có niên đại từ 4000 năm trước Công Nguyên
Các con đường Corduroy (log roads) được tìm thấy có niên đại khoảng 4,000 trước Công Nguyên tại Glastonbury, Anh Quốc
timber trackway; Sweet Track đường đắp cao tại Anh Quốc, là một trong những con đường được thi công cổ nhất được phát hiện và là timber trackway cổ nhất được phát hiện ở Bắc Âu. Được xây dựng vào mùa đông năm 3807 trước Công Nguyên hay mùa xuân năm 3806 trước Công Nguyên, niên đại theo vòng gỗ (Khoa nghiên cứu tuổi thọ của cây) cho phép xác định niên đại rất chính xác. Nó từng được tuyên bố là con đường cổ nhất thế giới.
Các con phố lát gạch đã được sử dụng ở Ấn Độ ngay từ năm 3000 trước Công Nguyên
• Năm 500 trước Công Nguyên, Darius I Đại đế đã khởi động một mạng lưới đường sá rộng lớn cho Ba Tư (Iran), gồm cả con Đường Hoàng gia nổi tiếng và là một những tuyến đường cao tốc tốt nhất thời kỳ ấy. Con đường vẫn được sử dụng sau thời La Mã.
Thời cổ đại, việc vận tải bằng đường sông dễ dàng hơn nhiều so với đường bộ, đặc biệt khi xem xét giá thành xây dựng đường và sự khác biệt giữa khả năng vận chuyển của xe ngựa và xà lan trên sông. Một hệ thống lai giữa vận tải đường bộ và đường sông bắt đầu khoảng năm 1740 là tàu ngựa kéo trong đó những chú ngựa đi dọc theo các con đường đã được phát quang dọc bờ sông.
Từ khoảng năm 312 trước Công Nguyên, Đế chế La Mã đã xây dựng những con đường La Mã lát đá thẳng chạy suốt châu Âu và Bắc Phi, để hỗ trợ cho các chiến dịch quân sự của họ. Thời đỉnh cao Đế chế La Mã được kết nối với 29 tuyến đường chính chạy từ Roma và có 78,000 kilômét hay 52,964 dặm La Mã đường lát đá.
Năm 700 sau Công Nguyên, nhiều con đường đã được xây dựng trên khắp Đế chế Ả Rập. Những con đường công phu nhất là những con đường tại Baghdad, Iraq, được trải nhựa đường ở thế kỷ thứ 8. Nhựa đường xuất xứ từ dầu mỏ, có từ các giếng dầu trong vùng, qua các quá trình chưng cất phá huỷ hoá chất.
Những năm 1600 việc xây dựng và bảo dưỡng đường sá tại Anh theo truyền thống được thực hiện bởi các giáo xứ địa phương. Điều này khiến đường sá có chất lượng kém và không đồng đều. Để giải quyết, "Các công ty thu phí đường" đầu tiên được thành lập khoảng năm 1706, để xây dựng những con đường tốt và thu phí từ xe cộ qua lại. Cuối cùng có xấp xỉ 1,100 Công ty tại Anh và khoảng 36,800 km đường được xây dựng. Những cuộc nổi dậy Rebecca tại Carmarthenshire và Rhayader từ năm 1839 tới năm 1844 đã góp phần vào một Hội đồng Hoàng gia dẫn tới việc giải tán hệ thống năm 1844.
== Kinh tế vận tải ==
Kinh tế vận tải là một nhánh của kinh tế có nhiệm vụ bố trí các nguồn tài nguyên bên trong lĩnh vực vận tải và có những liên kết mạnh với xây dựng dân dụng. Kinh tế vận tải khác biệt so với một số nhánh kinh tế khác về mặt sự giả định về một nền kinh tế phi không gian và tức thời là không có. Con người và hàng hoá di chuyển qua các mạng lưới ở một số tốc độ. Nhu cầu tăng. Số lượng vé bán ra nhiều thường dẫn tới hạ giá vé. Chính các mạng lưới có thể hay không thể là cạnh tranh. Một chuyến đi một chiều (hoàng hoá cuối cùng từ quan điểm của người tiêu thụ) có thể đòi hỏi sự liên quan tới các dịch vụ của nhiều công ty, cơ quan và phương thức.
Dù các hệ thống vận tải tuân theo cùng lý thuyết cung và cầu như các ngành kinh tế khác, những sự phức tạp của các hiệu ứng mạng lưới và những lựa chọn giữa các hàng hoá không tương đương (ví dụ đi lại bằng xe hơi và xe buýt) khiến việc đánh giá nhu cầu về các cơ sở vận tải là khó khăn. Sự phát triển của các mô hình để ước tính các lựa chọn có thể giữa các hàng hoá không tương đương có liên quan trong các mô hình quyết định vận tải "lựa chọn riêng rẽ" đã dẫn tới sự phát triển của một nhánh quan trọng của toán kinh tế, và một Giải Nobel cho Daniel McFadden.
Trong vận tải, cầu có thể được tính toán trong các con số của các chuyến đi được thực hiện hay trong tổng số khoảng cách đã đi quan của mọi chuyến đi (ví dụ hành khách/kilômét cho vận tải công cộng hay phương tiện/kilômét đi lại (VKT) cho vận chuyển tư nhân). Cung được coi là một thước đo năng lực. Giá của hàng hoá (đi lại) được đo bằng cách sử dụng chi phí chung của chuyến đi, gồm cả chi phí tiền và thời gian. Hiệu ứng tăng cung (năng lực) được quan tâm đặc biệt trong kinh tế vận tải (xem induced demand), bởi các hậu quả môi trường có thể diễn ra là lớn.
Xây dựng và bảo dưỡng đường sá là một hoạt động kinh tế vẫn chủ yếu thuộc lĩnh vực công (dù thường xuyên qua các nhà thầu tư nhân). Đường (ngoại trừ những con đường thuộc sở hữu thư không thể tiếp cận với đại chúng) nói chung được chi trả bằng thuế (thường là thuế gộp sẵn trong giá mua nhiên liệu), dù một số tuyến đường công cộng, đặc biệt là đường cao tốc lấy chi phí từ phí đi lại.
== Lưu thông thuận-nghịch ==
Việc giao thông bên phía phải hay bên phía trái đường tuỳ thuộc theo từng quốc gia. Tại những quốc gia giao thông bên phải, các bảng hiệu giao thông chủ yếu ở bên phải đường, các điểm đường vòng và vòng xoáy giao lộ đi theo hướng ngược chiều kim đồng hồ, và người đi bộ đi ngang qua một con đường hai chiều đầu tiên phải quan sát dòng giao thông bên trái. Tại các quốc gia lưu thông bên trái, mọi điều hoàn toàn ngược lại.
Khoảng 34% dân số thế giới giao thông bên trái, và 66% theo bên phải. Theo khoảng cách đường bộ, khoảng 28% đi bên trái và 72% bên phải, dù ban đầu hầu hết giao thông trên thế giới là theo bên trái.
Sau khi việc thiết kế, phê chuẩn, lên kế hoạch, pháp lý và các xem xét tới môi trường đã được thực hiện việc gióng đường được thực hiện bởi một giám sát viên. Bán kính cong và độ nghiêng được thiết kế để phù hợp nhất với các cốt đất và giảm thiểu khối lượng đào đắp. (page34) Cần đặc biệt lưu ý tới việc bảo vệ các dấu mốc để tham khảo (page59)
Đường bộ được thiết kế và xây dựng chủ yếu cho giao thông của phương tiện và người đi bộ. Các dự liệu về thoát nước và môi trường cần được đặc biệt quan tâm. Các thiết bị để kiểm soát xói lở và trầm lắng cần được xây dựng để hạn chế các hiệu ứng bất lợi. Các đường thoát nước được thi công với các khớp nối được hàn kín trong kiến trúc phụ của đường với các hệ số và đặc tính thoát thích ứng với vùng đất và hệ thống thoát nước chung. Các hệ thống thoát nước phải có khả năng tiêu thoát lưu lượng thiết kế cao nhất từ các cống phía trên và được sự cho phép của cơ quan chức năng liên quan về việc xả lượng nước đó vào trong một dòng suối, lạch, sông hay biển. (page38 to 40)
Một hố thu (để thu chất trầm lắng, sỏi, và đá) và một nguồn nước phải được bố trí trong hay ở khoảng cách thích hợp với địa điểm xây dựng. Sự cho phép từ cơ quan chức năng địa phương có thể là cần thiết với việc khai thác nước hay với thi công (nghiền và sàng) các loại vật tư cho nhu cầu xây dựng. Đất mặt và cây cối được lấy khỏi hố thu và lưu trữ cho việc khôi phục khu vực thi công sau này. Các dốc nghiêng trong khu vực đào đất không được lớn hơn tỷ lệ một dọc trên hai ngang vì các lý do an toàn. (page 53 to 56)
Các bề mặt đường, hàng rào và toà nhà cũ cần phải bị dời đi trước khi việc xây dựng có thể bắt đầu. Cây cối trong khu vực xây dựng dường có thể được đánh dấu để giữ lại. Không được lấy đi lớp đất mặt của những cây được bảo vệ này và không được để vật liệu và thiết bị quanh khu vực có cây. Việc bồi thường hay thay thế có thể phải thực hiện nếu cây được bảo vệ bị hư hại. Đa số cây phải được che phủ bảo vệ rễ và phải được bảo quản sử dụng trong quá trình tái lập. Đất mặt thường được lột đi và lưu trữ ở gần đó để khôi phục dọc theo hai bên con đường mới được xây dựng. Gốc và rễ cây bị bỏ đi và các hố phải được đổ đầy lại theo yêu cầu trước khi công việc đào đắp bắt đầu. Việc khôi phục cuối cùng sau khi xây dựng đường được hoàn thành với việc gieo hạt, trồng cây, tưới nước và các hoạt động khác để tái lập khu vực thích hợp với các khu vực không bị ảnh hưởng xung quanh. (page 66 to 67)
Các quá trình đào đắp gồm đào đất, loại bỏ các vật liệu đất bùn, đổ đất mới, lu lèn, xây dựng và sắp xếp gọn gàng. Nếu đá nay các loại vật liệu không thích hợp khác bị phát hiện, nó phải bị loại bỏ, độ ẩm được giám sát và được thay thế bằng vật liệu đắp tiêu chuẩn được lu lèn tới 90% độ đặc. Nói chung việc phá nổ đá không nên được áp dụng với đáy đường. Khi một chỗ lõm phải được đổ đầy tới cấp đường đáy nguyên thuỷ được lu lèn chặt sau khi đất mặt đã bị loại bỏ. Việc lu lèn được thực hiện bằng "phương pháp lớp lu nén" theo đó một lớp vật liệu lèn được đổ sau đó được lu đạt các tiêu chuẩn, quá trình này được lặp lại cho tới khi đạt cốt yêu cầu. (page 68 to 69)
Con đường hoàn thành được hoàn thiện bởi lớp phủ hay cứ để nguyên bề mặt đá hay tự nhiên. Các kiểu bề mặt đường phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế và mục đích sử dụng. Các cải tiến an toàn như biển báo giao thông, barrier, vạch kẻ đường, và các hình thức báo hiệu đường bộ khác cũng được lắp đặt.
Theo một báo cáo tháng 5 năm 2009 của American Association of State Highway and Transportation Officials (AASHTO) và TRIP—một tổ chức nghiên cứu giao thông quốc gia—việc lái xe trên đường trung bình khiến người lái xe Mỹ mất khoảng $400 một năm cho các chi phí phụ trội. Những người lái xe sống ở các khu vực đô thị có trên 250,000 dân trả tới $750 một năm bởi sự nhanh chóng xuống cấp xe, tăng chi phí bảo dưỡng, tốn thêm nhiên liệu, và thay lốp do điều kiện đường sá kém.
=== Chi phí xây dựng ===
Theo www.nysthruway.gov, một số chi phí tiêu biểu để xây dựng đường tại nhiều bang ở nước Mỹ gồm: CHI PHÍ XÂY DỰNG Đoạn đường cao tốc Chi phí trên dặm Đường cao tốc có thu phí Connecticut $3,449,000 Đường cao tốc có thu phí New Jersey $2,200,000 Đường cao tốc có thu phí Pennsylvania (Đoạn mở rộng Delaware) $1,970,000 Đường có thu phí Bắc Indiana $1,790,000 Đại lộ Garden State $1,720,000 Đường cao tốc có thu phí Massachusetts $1,600,000 Xa lộ, New York tới Pennsylvania Line $1,547,000 Đường cao tốc có thu phí Ohio $1,352,000 Đường cao tốc có thu phí Pennsylvania (xây dựng ban đầu) $736,000
=== Thêm làn ===
Làn đường tính bằng một đường có chiều rộng mặt lát ít nhất là 5m, vừa đủ cho hai xe ô tô tránh nhau. Khi một đường đơn tuyến (single carriageway) được chuyển thành hai tuyến bằng cách xây dựng một tuyến riêng biệt nữa dọc theo tuyến đầu tiên, nó thường được gọi là duplication hay twinning. Tuyến đường nguyên bản được chuyển từ hai chiều thành một chiều, trong khi tuyến đường bên kia phục vụ chiều ngược lại. Tương tự cách biến các tuyến đường sắt từ đường đơn thành đường đôi, tuyến đường mới không phải luôn luôn được xây dựng dọc theo tuyến đường có sẵn.
== Đường giao thông tại Việt Nam ==
(Tại Việt Nam, hiện nay sử dụng các khái niệm sau:
Quốc lộ (national highway): đường có vai trò quan trọng trong mạng lưới toàn quốc về an ninh, kinh tế được cấp bộ Giao thông Vận tải thông qua Tổng cục đường bộ, đến Khu quản lý đường bộ, đến các Công ty quản lý và bảo dưỡng đường trực tiếp vận hành và quản lý.
Tỉnh lộ (provincial highway): đường có vai trò quan trọng trong mạng lưới toàn tỉnh về an ninh, kinh tế được cấp Sở Giao thông Vận tải thông qua các Công ty quản lý và bảo dưỡng đường trực tiếp vận hành và quản lý.
Đại lộ (boulevard): đường phố có quy mô lớn, có ý nghĩa đặc biệt và giữ vị trí quan trọng trong mạng lưới giao thông đô thị, đáp ứng yêu cầu hạ tầng kỹ thuật, thẩm mỹ và cảnh quan đô thị.
Xa lộ (highway): cách gọi những con đường lớn trên 4 làn xe (mỗi làn rộng ít nhất 5m)
Đường cao tốc (freeway): đường dành cho những phương tiện chạy tốc độ cao trên 80 km/h, đường cao tốc là 1 dạng của xa lộ
Đường ô tô: đường dành riêng cho các loại xe ô-tô, xe máy
Đường liên huyện (huyện lộ): đường có vai trò an ninh, kinh tế trong mạng lưới toàn tỉnh kết nối các huyện với nhau được Sở Giao thông Vận tải xây dựng, quản lý và bảo dưỡng.
Đường liên xã: đường có vai trò an ninh, kinh tế trong mạng lưới toàn huyện kết nối các xã.
Đường liên thôn: đường nối các thôn, làng với nhau.
Đường làng (dirty road): đường trong làng còn gọi chung là đường làng ngõ xóm.
Đường (road): lối đi lại được xác định trong quy hoạch đô thị có quy mô lớn về chiều dài, chiều rộng, gồm các trục chính trên địa bàn đô thị, các tuyến vành đai, liên tỉnh.
Phố (street): lối đi lại được xác định trong quy hoạch đô thị, hai bên phố thường có các công trình kế tiếp nhau như nhà ở, cửa hàng, cửa hiệu.
Ngõ (kiệt) (alley): lối đi lại nhỏ từ đường, phố vào các cụm dân cư đô thị. Từ "kiệt" được dùng ở Huế.
Ngõ cụt (court): lối đi lại nhỏ vào thẳng cụm dân cư đô thị, từ đó không có đường thông sang cụm khác. Muốn thoát ra phải quay lại đầu ngõ.
Ngách (hẻm) (alley): lối đi lại hẹp từ ngõ (kiệt) vào sâu trong các cụm dân cư đô thị.
Đường lánh nạn (emergency lane): là đoạn đường cụt ở những vùng núi cao đèo dốc, được thiết kế cuối đường hơi dốc lên và ụ chắn, để tránh tai nạn cho các loại xe mất phanh, hoặc phải xử lý tình huống tránh gấp.
Đường tránh (bypass): cung đường trên quốc lộ vòng qua một đô thị nhằm tránh cho luồng giao thông trên quốc lộ khỏi xung đột với các luồng giao thông trong đô thị
Đường đê: đường làm trên đỉnh đê cho các loại xe
Đường công vụ: đường phục vụ thi công tại các công trường, thường thì phá bỏ sau khi thi công. Tuy nhiên, cũng có đường công vụ được giữ lại và nâng cấp cho các giai đoạn sau.
Ngầm (tunnel): đoạn đường ngầm ngập dưới nước vượt qua các suối ở vùng núi.
Trên thực tế, quy định nêu trên chỉ được áp dụng chặt chẽ tại Hà Nội và các đô thị phía Bắc. Tại thành phố Hồ Chí Minh, đại lộ được gọi là xa lộ; đường và phố được gọi chung là đường, còn ngõ và ngách được gọi chung là hẻm.
Tại thành phố Thanh Hóa, đường và phố được gọi chung là đường, còn từ phố được dùng để chỉ tổ dân phố hay khu phố. Ví dụ tại phường Đông Vệ có đường Kiều Đại chạy qua các phố Kiều Đại 1 và Kiều Đại 2, hoặc phố Ngô Thị Ngọc Dao nằm hai bên đường Lê Thánh Tông, phía gần quốc lộ 1A.
== Xem thêm ==
Đường cao tốc
Ma sát
== Tham khảo ==
== Liên kết ngoài ==
The Post-Roads of Europe 1781 Map
National Alliance Against Tolls
The Roadex project
The Greenroads Rating System |
Subsets and Splits
No community queries yet
The top public SQL queries from the community will appear here once available.