filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
ban thường vụ bộ chính trị đảng cộng sản trung quốc.txt
Ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc (Hoa phồn thể: 中國共產黨中央政治局常務委員會, Hoa giản thể: 中国共产党中央政治局常务委员会, bính âm: Zhōngguó Gòngchǎndǎng Zhōngyāng Zhèngzhìjú Chángwù Wěiyuánhuì, Hán Việt: Trung Quốc Cộng sản Đảng Trung ương Chính trị Cục Thường vụ ủy viên hội) hay còn được gọi Ủy ban Thường vụ Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Trung Quốc, Ban Thường vụ Trung ương Trung Cộng do Hội nghị toàn thể Ủy ban Trung ương Đảng bầu ra. Các thành viên được gọi chung là lãnh đạo tối cao Đảng và Nhà nước của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. == Chức quyền == Điều lệ Đảng Cộng sản Trung Quốc quy định khi Ủy ban Trung ương Đảng không họp, Bộ Chính trị và Ban Thường vụ Bộ Chính trị thực hiện chức năng và quyền hạn của Ủy ban Trung ương. Ban Thường vụ Bộ Chính trị thực hiện các nghị quyết của Đại hội Đảng, chỉ đạo toàn bộ công tác Đảng, đại diện cho Ủy ban Trung ương và Đảng trong quan hệ đối ngoại.Thành viênThành viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị phải là Ủy viên Bộ Chính trị. Thành viên Ban Thường vụ nắm tất cả các chức vụ quan trọng và có quyền lực tối cao trong bộ máy lãnh đạo của Trung Quốc. Các thành viên trong Ban Thường vụ được gọi chung là Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị. Độ tuổi cho Ban Thường vụ Bộ Chính trị tương tự với độ tuổi của Ủy viên Bộ Chính trị không quá 68 tuổi tính từ Đại hội Đảng không có trường hợp ngoại lệ. Quy tắc này còn được biết tới là qi-shang, ba-xia (七上八下; "7 lên, 8 xuống", quy tắc này được áp dụng từ năm 2002). Và các ủy viên ứng cử phải ít nhất 50 tuổi (Ngoại lệ có trường hợp của Phó Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào, Phó Chủ tịch Đảng Vương Hồng Văn). Các chức vụ thường xuyên trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị đều là Tổng Bí thư (kiêm nhiệm Chủ tịch nước từ năm 1993 do Giang Trạch Dân kiêm nhiệm), Thủ tướng, Bí thư Thứ Nhất Ban Bí thư, Bí thư Ủy ban Kiểm tra Kỷ luật Trung ương, Phó Thủ tướng Thứ Nhất. Các chức vụ không thường xuyên là: Chủ tịch Nước, Ủy viên Trưởng Nhân Đại Toàn Quốc (quốc hội), Chủ tịch Hội nghị Chính hiệp Nhân dân Toàn quốc, Phó chủ tịch Nước,, Bí thư ủy ban chính Pháp TW, Phó Chủ tịch Chính Hiệp, Phó chủ tịch quân ủy,... Để trở thành Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị các cuộc đấu đá phe nhóm đã xảy ra, điển hình là vụ án Bạc Hy Lai. Xếp hạng trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị được xếp theo chức vụ và quyền lực thực tế nắm giữ. Không giống Bộ Chính trị xếp theo tên. Trong lịch sử tồn tại, chưa từng xuất hiện một nữ chính trị gia nào xuất hiện trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị. Hệ thống các nước cộng sản nói chung đều cơ bản có cơ cấu lãnh đạo gồm Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, tại Trung Quốc Thường vụ Bộ Chính trị là cơ quan cao hơn Bộ Chính trị tuy nhiên nó hoạt động cũng tương tự Bộ chính trị ở các nước cộng sản khác còn cơ quan Bộ Chính trị ở Trung Quốc thì hoạt động hạn chế với tần số họp 1 tháng / 1 lần ít thường xuyên hơn Bộ Chính trị ở các quốc gia: Liên Xô, Đông Âu, Việt nam, Cu ba,... Nhìn chung đây là cơ cấu quyền lực mang "màu sắc Trung Hoa " trong mô hình chính quyền Cộng sản. == Lão Thường ủy == Các ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị sau khi nghỉ hưu thường được gọi là " Lão Thường ủy", tuy đã thôi các chức vụ trong Đảng, Chính phủ, Quốc hội, Quân ủy, Chính Hiệp nhưng các lãnh đạo này vẫn có sức ảnh hưởng to lớn, vẫn tiếp cận các văn kiện cao cấp, cho ý kiến các vấn đề quan trọng. Đặc biệt họ có thể biểu quyết phân định các tranh chấp trong nội bộ lãnh đạo cao cấp đương nhiệm. Tiêu biểu là vụ phế truất Tổng Bí thư Triệu Tử Dương, Sau khi Tổng Bí thư Tập Cập Bình lên nắm quyền và đẩy mạnh chiến dịch chống tham nhũng, thanh trừng lão thường ủy Chu Vĩnh Khang thì cơ chế can dự của tổ chức này lên chính quyền đương nhiệm bị suy giảm nặng nề. == Danh sách Ủy viên hiện tại == Ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị hiện tại được bầu ngày 15/11/2012 do Ủy ban Trung ương Đảng. Ủy viên Ban Thường vụ hiện tại thuộc kỳ Đại hội thứ 18 nên thường gọi là Ban Thường vụ Bộ Chính trị khóa 18. === Đại hội Đảng lần thứ 18 === Xếp theo chức vụ đảm nhiệm == Lịch sử == === Lịch sử ban đầu === Ban Thường vụ Bộ Chính trị được thành lập tháng 7/1928 tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6. Từ tháng 1/1934-9/1956 đổi tên thành Ban Bí thư Trung ương. Từ sau Đại hội 8 thì đổi tên thành Ban Thường vụ Bộ Chính trị và Ban Bí thư vẫn tồn tại nhưng chỉ chịu trách nhiệm xử lý các công việc thường nhật hoặc trong tổ chức. === Cách mạng văn hóa === Trong thời gian đầu của cuộc cách mạng văn hóa, Ban Thường vụ Bộ Chính trị không hoạt động thường xuyên nữa, nhiều ủy viên chủ chốt bị loại khỏi chức vụ như Lưu Thiếu Kỳ, Đặng Tiểu Bình. Quyền lực thực sự thuộc về nhóm cách mạng văn hóa, theo danh nghĩa báo cáo với Ban Thường vụ Bộ Chính trị nhưng thực tế lại là "trung tâm quyền lực" ảnh hưởng đến mọi mặt xã hội. Tại Đại hội 9, ủng hộ triệt để Mao Trạch Đông, Trần Bá Đạt và Khanh Sinh được bổ sung vào Ban Thường vụ Bộ Chính trị, và Ban Thường vụ tiếp tục hoạt động trở lại nhưng không thường xuyên. Cuối thời kỳ cách mạng văn hóa, nội bộ tranh chấp nhau. Giữa năm 1975-1976, các ủy viên Khanh Sinh, Chu Ân Lai, Chu Đức, Mao Trạch Đông đều qua đời. Đặng Tiểu Bình bị thanh trừ. Trong thời gian này nó không trở thành cơ quan hoạch định chính sách hay hành pháp nữa, và chỉ họp trong trường hợp đặc biệt. Sau khi Tứ nhân bang bị bắt trong đó có Trương Xuân Kiều và Vương Hồng Văn là 2 ủy viên Ban Thường vụ Bộ Chính trị, và chỉ còn Hoa Quốc Phong và Diệp Kiếm Anh vẫn đảm nhiệm. Ban Thường vụ được khôi phục lại hoàn toàn sau Đại hội 11. === Sau khi cải cách kinh tế === Sau khi trở lại quyền lực, một trong những mục tiêu của Đặng Tiểu Bình là gia tăng quyền lực của đảng và thể chế hóa các cơ quan như Bộ Chính trị và Ban thường vụ Bộ Chính trị. Trong những năm 1980 Ban Thường vụ Bộ Chính trị trở thành cơ quan tối cao của Đảng. Ban Thường vụ được thiết lập theo cơ chế tập trung dân chủ, tức mọi quyết định phải được đồng thuận và biểu quyết theo đa số. Tuy nhiên Ban Thường vụ vẫn chịu ảnh hưởng bởi Ủy ban Cố vấn Trung ương. Đặng Tiểu Bình là người chuyển giao quyền lực giữa 2 tổ chức này, và quyền lực không chính thức của ông tác động vào chính trị. Năm 1987 Đặng Tiểu Bình và các lão thần cách mạng đã thay thế Hồ Diệu Bang bằng Triệu Tử Dương. Năm 1989 Đặng Tiểu Bình và các lão thần cách mạng đã ra lệnh cho quân đội tiến hành giải tán cuộc biểu tình tại quảng trường Thiên An Môn, mặc dụ Ban Thường vụ Bộ Chính trị không đồng ý. Triệu Tử Dương đã phản đối cuộc giải tán bằng quân đội, gây rạn nứt với các ủy viên thường vụ khác đứng đầu là Thủ tướng Lý Bằng. Kết quả, Triệu Tử Dương và Hồ Khải Lập bị truất quyền và được thay bằng Giang Trạch Dân và Lý Thụy Hoàn. Nhiệm kỳ 1982 - 1989, Ban thường vụ BCT có cư cấu rất tinh giản gọn nhẹ và khoa học, chỉ gồm 5 người tập trung vào 2 cơ quan đầu não Trung ương Đảng và quốc vụ viện, các chức danh có quyền lực thực tế như: Tổng Bí thư, Thủ tướng, Bí thư ban bí thư, bí thư ban kiểm tra, phó thủ tướng thứ nhất. Còn các chức danh mang tính lễ nghi, đại diện cao cấp của nhà nước như: Chủ tịch nước, Chủ tịch quốc hội, Chủ tịch chính hiệp tuy vẫn giữ ghế trong Bộ chính trị nhưng không tham gia ban thường vụ., tuy vậy vẫn tham gia các cuộc họp quan trọng và chỉ đứng dưới chức tổng bí thư nhưng trên các ủy viên thường vụ khác. Kể từ sau Hội nghị lần thứ 4 năm 1989 đây là lần cải tổ cuối cùng trong Ban Thường vụ Bộ Chính trị. Tại Đại hội 14 7 ủy viên thường vụ Bộ Chính trị được bầu và không thay đổi cho đến đại hội 15 khi Kiều Thạch và Lưu Hoa Thanh về hưu được thay thế bằng Úy Kiện Hành và Lý Lam Thanh, cho thấy Ban Thường vụ Bộ Chính trị hoạt động ổn định. Hồ Cẩm Đào là Phó Chủ tịch nước, đâu là lần đầu tiên chức vụ Phó Chủ tịch nước là ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị. Tại Đại hội 16 của Đảng, Ban Thường vụ Bộ Chính trị mở rộng tới 9 ủy viên. Theo một số nhà quan sát cho rằng đây là sự sắp xếp cho những người trung thành với Giang Trạch Dân, vấn đề này còn được tranh cãi. Hồ Cẩm Đào trở thành Tổng Bí thư, Ban Thường vụ Bộ Chính trị có thể hiểu là "tập thể lãnh đạo" và "chủ tịch chung", trong số ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Lý Trường Xuân là ủy viên không có chức danh cụ thể được xác định. Đại hội 18 Ban Thường vụ giảm xuống còn 7 ủy viên. Bí thư Ủy ban chính pháp Trung ương và Phó Chủ tịch nước không được đưa vào Ban Thường vụ.Các chức vụ Bí thư điều hành và chức vụ tuyên truyền hợp nhất và do Lưu Vân Sơn đảm nhiệm == Danh sách Ủy viên các khóa == === Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng khóa 5 === Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng: Trương Quốc Đảo, Lý Duy Hán, Chu Ân Lai, Lý Lập Tam, Trương Thái Lôi. Ngày 9/8/1927 Hội nghị thứ 1 Bộ Chính trị Trung ương lâm thời: Cù Thu Bạch, Lý Duy Hán, Tô Triệu Chỉnh. Tháng 11/1927 Hội nghị Bộ Chính trị mở rộng lâm thời: Cù Thu Bạch, Lý Duy Hán, Tô Triêu Chinh, Chu Ân Lai, La Diệc Nông. === Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 6 === ==== Hội nghị Trung ương lần thứ 1 (7/1928) ==== ==== Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (9/1930) ==== ==== Hội nghị Trung ương lần thứ 4 (1/1931) ==== ==== Hội nghị Trung ương lần thứ 5 (1/1934) ==== ==== Hội nghị Trung ương lần thứ 6 (9/1938) ==== ==== Hội nghị Trung ương lần thứ 7 ==== === Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 7 === === Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 8 === === Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 9 === === Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 10 === === Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 11 === === Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 12 === === Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 13 === === Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 14 === === Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 15 === === Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 16 === === Đại hội Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ 17 === == Xem thêm == Các thế hệ lãnh đạo của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa Chính trị Trung Quốc == Tham khảo ==
sinh thái học.txt
Sinh thái học là môn khoa học nghiên cứu về sự phân bố và sinh sống của những sinh vật sống và các tác động qua lại giữa các sinh vật và môi trường sống của chúng. Các chủ đề mà các nhà sinh thái học quan tâm như đa dạng sinh học, phân bố, giá trị (sinh khối), số lượng (quần thể) của các sinh vật, cũng như sự cạnh tranh giữa chúng bên trong và giữa các hệ sinh thái. Môi trường sống của một sinh vật hàm chứa: Tổng hòa các nhân tố vật lý như khí hậu và địa lý được gọi là ổ sinh thái và Các sinh vật khác sinh sống trong cùng ổ sinh thái. Các hệ sinh thái thường được nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau từ cá thể và các quần thể cho đến các hệ sinh thái và sinh quyển. Sinh thái học là môn khoa học đa ngành, nghĩa là dựa trên nhiều ngành khoa học khác nhau. == Đối tượng nghiên cứu == Đối tượng nghiên cứu tất cả các mối quan hệ giữa sinh vật và môi trường: Đơn vị tổ chức: Nguyên tử - Phân tử - Tế bào - Mô - Cơ quan - Cá thể - Quần thể -Quần xã - Hệ sinh thái.(tế bào là đơn vị cơ bản). Đối tượng: Cá thể, Quần thể, Quần xã, Hệ sinh thái. Nghiên cứu đặc điểm của các nhân tố môi trường ảnh hưởng đến đời sống của các sinh vật và sự thích nghi của chúng với các điều kiện ngoại cảnh khác nhau. Nghiên cứu nhịp điệu sống của cơ thể liên quan đến các chu kỳ ngày đêm và các chu kỳ địa lý của quả đất và sự thích ứng của các sinh vật. Nghiên cứu điều kiện hình thành quần thể, những đặc điểm cơ bản và mối quan hệ trong nội bộ quần thể (như phân bố, mật độ, sinh trưởng, sinh sản, tử vong…) giữa quần thể với môi trường thể hiện trong sự biến động và điều chỉnh số lượng cá thể. Nghiên cứu các đặc điểm cấu trúc của các quần xã, mối quan hệ giữa trong nội bộ quần thể khác nhau, quá trình biến đổi của các quần xã theo không gian và thời gian qua các loại hình diễn thế (succession). Nghiên cứu sự chuyển hoá vật chất và năng lượng trong quần xã, giữa quần xã và ngoại cảnh, thể hiện trong các chuỗi và lưới thức ăn, các bậc dinh dưỡng và sự hình thành những hình tháp sinh thái về số lượng và năng lượng. Nghiên cứu những nhân tố vô cơ cần thiết cho sinh vật, tham gia vào chu trình sinh địa hoá trong thiên nhiên; từ đó xác định rõ mối tương quan trong hệ sinh thái để nghiên cứu năng suất sinh học của các hệ sinh thái khác nhau. Nghiên cứu cấu trúc của sinh quyển gồm những vùng địa lý sinh vật lớn trên trái đất, cung cấp những hiểu biết tương đối đầy đủ về thế giới của chúng ta. Ứng dụng các kiến thức về sinh thái học vào việc tìm hiểu tài nguyên thiên nhiên, phân tích những sai lầm của con người trong việc sử dụng phung phí tài nguyên, làm ô nhiễm môi trường và những hậu quả tai hại; từ đó đề ra các biện pháp phục hồi tài nguyên sinh vật, bảo vệ môi trường đáp ứng nhu cầu cần thiết cho sản xuất, sinh hoạt, thẩm mĩ, nghỉ ngơi…và giữ cân bằng sinh thái. Thông qua các kiến thức về sinh thái học đóng góp tích cực vào công việc giáo dục dân số. === Đa dạng sinh học === Đa dạng sinh học miêu tả sự đa dạng về sự sống từ cấp độ gen đến hệ sinh thái và trải rộng trên nhiều tổ chức sinh học. Thuật ngữ này có nhiều cách giải thích, cũng đồng nghĩa với việc có nhiều cách đo đạc, đặc tính hóa và thể hiện tổ chức phức tạp của nó. Đa dạng sinh học bao gồm đa dạng loài, đa dạng hệ sinh thái, và đa dạng gen và các nhà khoa học quan tâm đến cách mà sự đa dạng này ảnh hưởng đến các quá trình sinh thái phức tạo vận hành trong và giữa các mức tương ứng này. Đa dạng sinh học đóng vai trò quan trọng trong dịch vụ sinh thái mà theo định nghĩa là nhằm duy trì và cải thiện chất lượng sống của con người. Phòng chống tuyệt chủng loài là một cách để bảo tồn đa dạng sinh học và mục đích còn lại là những kỹ thuật được áp dụng để bảo tồn đa dạng gen, môi trường sống và khả năng các loài di trú. Ưu tiên bảo tồn và kỹ thuật quản lý đòi hỏi nhiều cách tiếp cận và sự quan tâm khác nhau để giải quyết phạm vi đầy đủ về sinh thái học của đa dạng sinh học. Nguồn vốn tự nhiên hỗ trợ quần thể trong việc duy trì các dịch vụ hệ sinh thái và sự di cư của loài ám chỉ là một cơ chế mà theo đó sự mất đi cách dịch vụ này xảy ra. Sự hiểu biết về đa dạng sinh học có những ứng dụng thực tế đối với những người quy hoạch bảo tồn ở cấp độ loài và hệ sinh thái khi họ đưa ra các đề xuất quả lý cho các công ty tư vấn, chính phủ và công nghiệp. === Sinh cảnh === Sinh cảnh của một loài miêu tả môi trường theo đó loài được biết là có mặt ở đó và kiểu cộng đồng của loài đó được hình thành. Cụ thể hơn, "các sinh cảnh có thể được định nghĩa là một khu vực trong môi trường mà tập hợp nhiều chiều khác nhau, mỗi chiều đặc trưng cho một biến môi trường hữu cơ hoặc vô cơ; đó là bất cứ thành phần hoặc các đặc tính của môi trường liên quan trực tiếp (ví dụ như sinh khối và chất lượng thức ăn) hoặc gián tiếp (ví dụ như độ cao) để sử dụng một vị trí của động vật " Thay đổi sinh cảnh cung cấp dấu hiệu quan trọng về sự cạnh tranh trong tự nhiên nơi mà những thay đổi về số cá thể liên quan đến môi trường sống mà hầu hết các cá thể khác của loài đó chiếm dụng. Ví dụ, một quần thể loài thằn lằn nhiệt đới (Tropidurus hispidus) có cơ thể phẳng tương đối với các quần thể chính sống ở vùng savan mở. Quần thể sống ở nơi lộ các đá biệt lập ẩn trong các hang hốc thì cơ thể dẹt của nó cung cấp một lợi thế chọn lọc. Những thay đổi về sinh cảnh cũng xuất hiện trong lịch sử phát triển của động vật lưỡng cư và công trùng khi chuyển từ sinh cảnh nước sang trên cạn. === Hốc sinh thái === Khái niệm được đưa ra năm 1917, nhưng G. Evelyn Hutchinson đã đưa ra một khái niệm tiên tiến hơn vào năm 1957 khi giới thiệu khái niệm được chấp nhận rộng rãi: "là một tập hợp các sinh học và phi sinh học mà trong đó các loài có thể tồn tại và duy trì quy mô quần thể ổn định." Hốc sinh thái là một khái niệm chính trong hệ sinh thái của sinh vật và được chia nhỏ thành hốc cơ bản và hốc realized niche. Hốc cơ bản là một tập hợp các điều kiện môi trường mà một loại có thể tồn tại. Hốc thực tế là tập hợp các điều kiệu sinh thái môi trường xét thêm mà theo đó một loài vẫn tồn tại. Hốc sinh thái Hutchinsonian được định nghĩa thiên về mặt kỹ thuật hơn đó là "một không gian Euclid nhiều chiều mà các chiều của nó được định nghĩa là các biến của môi trường và kích thước của chúng là một hàm của các giá trị môi trường mà có thể giả định là một sinh vật có thể phát triển tích cực." == Ý nghĩa của nghiên cứu sinh thái học == Cơ sở khoa học cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên Ngăn ngừa ô nhiễm môi trường Cơ sở khoa học xây dựng mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên == Từ nguyên == Thuật ngữ oekologie được nhà sinh học người Đức Ernst Haeckel nghĩ ra năm 1866 dựa trên từ gốc Hy Lạp là oikos (mang nghĩa "trong nhà") và logos (mang nghĩa "môn khoa học"), hay "môn khoa học nghiên cứu ngôi nhà tự nhiên". Thuật ngữ này là nguồn gốc của tên gọi cho bộ môn sinh thái học trong nhiều ngôn ngữ phương Tây. == Xem thêm == Sinh học Đa dạng sinh học Phong trào sinh thái học Phong trào bảo tồn Danh sách các chủ đề môi trường Danh sách các tổ chức môi trường Giáo dục bảo vệ môi trường (tài liệu tại Wikibooks: b:Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh phổ thông cơ sở, b:Giáo dục bảo vệ môi trường cho học sinh phổ thông trung học) Phong trào môi trường Công nghệ môi trường Môi trường luận == Ghi chú == == Chú thích == == Tài liệu == Từ điển môi trường và phát triển bền vững Anh-Việt và Việt-Anh: Khoảng 2500 thuật ngữ, có giải thích. Đặng Mộng Lân (ch.b), Lê Mạnh Chiến, Nguyễn Ngọc Hải. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 2001, 453tr Tài nguyên môi trường và phát triển bền vững. Lê Huy Bá (ch.b), Vũ Chí Hiếu, Võ Đình Long. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 2002, 522tr == Liên kết ngoài ==
bò.txt
Bò (tiếng Trung: 牛 Niú, Hán- Việt: Ngưu) là tên gọi chung để chỉ các loài động vật trong chi động vật có vú với danh pháp khoa học Bos, bao gồm các dạng bò hoang dã và bò thuần hóa. Chi Bos có thể phân chia thành 4 phân chi là: Bos, Bibos, Novibos, Poephagus, nhưng sự khác biệt giữa chúng vẫn còn gây tranh cãi. Chi này hiện còn 5 loài còn sinh tồn. Tuy nhiên, một số tác giả coi chi này có tới 7 loài do các giống bò thuần hóa cũng được họ coi là những loài riêng. == Tiến hóa == Họ Trâu bò được biết đến trong các mẫu hóa thạch từ Tiền Miocen, khoảng 20 Ma. Các loài dạng bò sớm nhất, như Eotragus, là các động vật nhỏ, hơi tương tự như linh dương Gazelle ngày nay và có lẽ đã sống trong môi trường đồng rừng. Số lượng loài họ Trâu bò gia tăng mạnh vào Hậu Miocen, khi nhiều loài thích nghi với môi trường đồng cỏ và thoáng đãng hơn. Số lượng lớn nhất số loài hiện đại của họ Trâu bò thuộc về châu Phi, trong khi số lượng quần thể lớn chủ yếu nhưng ít đa dạng hơn lại thuộc về châu Á và Bắc Mỹ. Người ta cho rằng nhiều loài họ này đã tiến hóa ở châu Á nhưng không thể sống sót do sự săn bắt của các loài người đến từ châu Phi vào cuối thế Pleistocen. Ngược lại, các loài châu Phi có nhiều nghìn hay vài triệu năm để thích nghi với sự phát triển dần dần trong kĩ năng săn bắn của con người. Tuy nhiên, nhiều loài trong họ này được thuần hóa lại có nguồn gốc châu Á (dê, cừu, trâu và bò TâyTạng). Điều này có thể là do các loài này ít e ngại con người hơn và dễ sai bảo hơn. Một lượng nhỏ các loài hiện đại trong họ Trâu bò thuộc châu Mỹ là tương đối gần đây theo đường cầu đất liền Bering, nhưng chúng vẫn đến khu vực này trước khi con người đặt chân tới đây. == Giải phẫu và hình thái == Phần lớn các loài là động vật gặm cỏ, với lưỡi dài để liếm các loại cỏ mà chúng thích cùng các răng lớn để nhai cỏ. Nhiều loài là động vật nhai lại, với dạ dày có 4 ngăn (túi) cho phép chúng có thể tiêu hóa những loại cỏ khó tiêu nhất. == Phân bố == Hiện nay có khoảng 1,3 tỷ bò nhà được nuôi dưỡng, làm cho chúng trở thành một trong những loài động vật có vú được thuần hóa đông đảo nhất về số lượng trên thế giới. Các thành viên của chi này hiện tại được tìm thấy ở châu Phi, châu Á, châu Âu và châu Mỹ. Môi trường sinh sống của chúng không đồng nhất và phụ thuộc vào từng loài cụ thể; chúng có thể thấy trên đồng cỏ, rừng mưa, vùng đất ẩm, xavan và các khu rừng ôn đới. == Sinh thái, hành vi và lịch sử sự sống == Các loài bò có tuổi thọ khoảng 18-25 năm trong tự nhiên, còn trong tình trạng nuôi nhốt đã ghi nhận có thể sống tới 36 năm. Chúng có chu kỳ mang thai kéo dài 9-11 tháng, phụ thuộc từng loài và sinh ra chủ yếu là 1 con non (ít khi sinh đôi) vào mùa xuân, được gọi chung là bê. Phần lớn các loài di chuyển thành bầy từ 10 tới hàng trăm con. Trong phạm vi phần lớn các bầy có một con đực cho tất cả các con cái. Nói chung chúng là động vật ăn ban ngày, chỉ nghỉ ngơi trong khoảng thời gian nóng bức vào buổi trưa còn tích cực hoạt động vào thời gian buổi sáng và buổi chiều. Tuy nhiên, trong những khu vực mà con người xâm lấn vào lãnh thổ của bầy đàn thì chúng có thể là những động vật ăn đêm. Một vài loài còn di cư, di chuyển theo nguồn cung cấp thức ăn và nước uống. == Lịch sử tiến hóa == Các loài bò hiện đại được cho là đã tiến hóa ra từ một tổ tiên chung là bò rừng châu Âu (B. primigenius). Loài này sống sót cho tới tận thập niên 1600 nhưng rốt cuộc thì chúng đã bị săn bắn đến tuyệt chủng. == Hệ thống và phân loại == Phân chi Bos Bos primigenius (bò rừng châu Âu) † Bos taurus (bò nhà và bò u, dạng thuần hóa của Bos primigenius) Bos aegyptiacus (bò Ai Cập cổ đại; danh pháp này không được ITIS công nhận) † Bos acutifrons (bò rừng tiền sử) † Bos planifrons (bò trán phẳng) † Phân chi Bibos Bos gaurus (bò tót hay bò bison Ấn Độ) Bos frontalis (bò tót nhà hay mithun, dạng thuần hóa của Bos gaurus) Bos javanicus (bò banteng hay bò rừng) Phân chi Novibos Bos sauveli (bò xám) Phân chi Poephagus Bos grunniens (đồng nghĩa Bos mutus, bò Tây Tạng) Năm 2003, Ủy ban quốc tế về danh pháp động vật (ICZN) đã giải quyết tranh cãi tồn tại đã lâu về việc đặt tên cho các loài này (hay các cặp của loài) trong chi Bos mà chứa cả hai dạng hoang dã lẫn thuần hóa. Ủy ban "bảo tồn việc sử dụng 17 tên loài dựa trên các loài hoang dã, mà chúng có trước hay đương thời với những loài dựa trên các dạng thuần hóa", xác nhận Bos primigenius cho bò rừng châu Âu và Bos gaurus cho bò tót. Nếu như bò nhà và bò tót nuôi được coi là các loài tách biệt thì chúng cần được đặt tên khoa học tương ứng là Bos taurus và Bos frontalis; tuy nhiên, nếu chúng được coi là một phần của cùng loài như các họ hàng hoang dã của mình thì tên khoa học chung cho cả loài sẽ tương ứng là Bos primigenius và Bos gaurus. == Trong văn hóa == Trong văn hóa đại chúng, hình tượng con bò được khắc họa trong nhiều nền văn minh lớn và gắn liền với tín ngưỡng thờ phượng xuất phát từ sự gần gũi và vai trò to lớn của bò trong đời sống của loài người. Nhiều dân tộc sùng kính và tôn thờ con bò, nâng hình ảnh con bò lên vị trí Thần Bò và thờ phụng nó là điển hình là ở Ấn Độ người ta thờ con Bò trắng, người Do Thái thờ con Bê Vàng, người Ai Cập thờ con bò... Trong văn hóa phương Tây, bò được đề cập qua nhiều câu chuyện thần thoại của Hy Lạp và bò là một con vật trong 12 cung Hoàng Đạo, ứng với cung Kim Ngưu và cũng là một trong những con vật được nhắc đến trong Kinh Thánh. Trong văn hóa Á Đông, bò cũng là động vật nằm trong lục súc, tuy vậy nó bị lép vế nhiều hơn so với hình ảnh con trâu và nhiều khi là hình ảnh ví von cho sự ngờ nghệch. == Tham khảo == Briggs H.M., Briggs D.M. (1980). Modern Breeds of Livestock. Nhà in Macmillan. International Commission on Zoological Nomenclature. 2003. Opinion 2027 (Case 3010). Usage of 17 specific names based on wild species which are pre-dated by or contemporary with those based on domestic animals (Lepidoptera, Osteichthyes, Mammalia): conserved. Bull.Zool.Nomencl., 60:81-84. Van Vuure Cis. 2003. De Oeros – Het spoor terug, Cis van Vuure, Wageningen University and Research Centrum / Ministry of the Flemish Community, Brussels & Wageningen. Zong G. 1984. A record of Bos primigenius from the Quaternary of the Aba Tibetan Autonomous Region. Vertebrata PalAsiatica, Volume XXII No. 3 pp. 239–245. Jeremy Dehut dịch sang tiếng Anh, tháng 4 năm 1991. Trực tuyến pdf (62 kB) == Tham chiếu == == Liên kết ngoài == Vasey George 1862. A monograph of the genus Bos. Scan of a historic work
grumman f-11 tiger.txt
Chiếc Grumman F11F/F-11 Tiger là một kiểu máy bay tiêm kích một chỗ ngồi hoạt động trên tàu sân bay của Hải quân Hoa Kỳ trong những năm 1950 và 1960. Chiếc máy bay này nguyên được đặt tên là F11F Tiger vào tháng 4 năm 1955 theo cách đặt tên cũ của Hải quân, nhưng được đổi tên thành F-11 Tiger theo Hệ thống định danh máy bay thống nhất được đưa ra áp dụng vào năm 1962. Chiếc F11F/F-11 được đội thao diễn hàng không Blue Angels của Hải quân Mỹ sử dụng từ năm 1957 đến năm 1969. Grumman Aircraft Corporation đã chế tạo khoảng 200 chiếc Tiger, và chiếc cuối cùng được giao hàng vào ngày 23 tháng 1 năm 1959. == Thiết kế và phát triển == Nguồn gốc của chiếc F11F (F-11) Tiger được bắt đầu từ một dự án đầu tư riêng của Grumman vào năm 1952 nhằm hiện đại hóa chiếc F9F-6/7 Cougar bằng cách bổ sung lý thuyết quy luật khu vực và các tiến bộ khác. Dự án này của nội bộ công ty Grumman được biết đến dưới tên G-98, và đến cuối cùng đã hoàn toàn khác biệt so với chiếc Cougar. Tiềm năng của kiểu thiết kế về tính năng bay siêu thanh và giảm lực cản ở tốc độ cận âm đã dấy lên được sự quan tâm của Hải quân. Đến năm 1953, việc tái thiết kế đã đưa đến một kiểu máy bay hoàn toàn mới chỉ mang dáng dấp họ hàng với chiếc Cougar. Kiểu cánh mới có cánh phụ mép trước (slat) suốt bề rộng cánh và cánh nắp ở mép sau cánh, trong khi việc điều khiển lộn vòng lại dựa vào các tấm lái ngang thay vì các bánh lái lượn truyền thống. Để xếp được trên các tàu sân bay, cánh của chiếc F-11 Tiger được gấp bằng tay xuôi xuống. Được chuẩn bị cho tính năng bay ở tốc độ siêu thanh, cánh đuôi được thiết kế di động toàn bộ. Động cơ trang bị là kiểu turbo phản lực Wright J65, một phiên bản chế tạo theo giấy phép nhượng quyền của kiểu động cơ Armstrong Siddeley Sapphire. Cơ quan Hàng không Hải quân đã chịu ấn tượng đáng kể về kiểu thiết kế nên đã đặt hàng hai chiếc nguyên mẫu, đặt tên là XF9F-8 cho dù chiếc máy bay rõ ràng là một thiết kế mới. Làm cho vấn đề càng thêm lẫn lộn, chiếc nguyên mẫu lại được đặt lại tên là XF9F-9 trong khi tên gọi XF9F-8 lại dành cho một kiểu thiết kế gần gũi hơn với kiểu Cougar chính thống. Do phiên bản có đốt sau của loại động cơ J65 chưa sẵn sàng, chiếc nguyên mẫu bay chuyến bay đầu tiên vào ngày 30 tháng 7 năm 1954 với một động cơ không có đốt sau. Cho dù như thế, chiếc nguyên mẫu đã gần đạt được tốc độ Mach 1 ngay trong chuyến bay đầu tiên. Chiếc nguyên mẫu thứ hai được trang bị động cơ đốt sau, đã trở thành chiếc máy bay siêu thanh thứ hai của Hải quân (sau chiếc Douglas F4D Skyray). Vào tháng 4 năm 1955, chiếc máy bay được nhận tên gọi mới là F11F-1 (sau này trở thành F-11A sau khi áp dụng Hệ thống định danh máy bay Thống nhất vào năm 1962). Việc thử nghiệm hoạt động trên tàu sân bay được bắt đầu vào ngày 4 tháng 4 năm 1956 khi một chiếc F11F-1 Tiger hạ cánh và được phóng lên từ tàu sân bay USS Forrestal. Cùng với chiếc máy bay tiêm kích F-11A (F11F-1), Grumman cũng đề nghị một phiên bản tiên tiến hơn trên cùng khung máy bay được biết đến dưới tên gọi F11F-1F Super Tiger. Đây là kết quả của công trình nghiên cứu vào năm 1955 nhằm trang bị kiểu động cơ mới General Electric J79 lên khung máy bay F-11. Hải quân đã quan tâm đến kế hoạch này nên đã chấp thuận cải biến hai chiếc F11F-1 phiên bản sản xuất có cửa hút gió mở rộng hơn và trang bị kiểu động cơ turbo phản lực YJ79-GE-3, và kiểu máy bay này được đặt tên là F11F-2. Chiếc máy bay này bay chuyến bay đầu tiên vào ngày 25 tháng 5 năm 1956, đạt được tốc độ Mach 1,44 ở một trong những chuyến bay của nó. Sau khi bổ sung thêmnhững miếng đệm 60° ở gốc cánh, thân được kéo dài thêm 35 cm (13,5 in), một phiên bản động cơ J79 được nâng cấp, chiếc F11F-2 đạt được tốc độ rất ấn tượng Mach 2,04 và một trần bay 24.466 m (80.250 ft). Không may là Hải quân đã không yêu cầu đưa chiếc này vào sản xuất. Chiếc F11F-2 sau đó được đổi lại tên là F11F-1F, nhằm nêu lên đặc tính phiên bản F11F-1 sản xuất với kiểu động cơ đặc biệt. Thất bại trong việc đạt được hợp đồng sản xuất cùng hải quân Mỹ, Grumman tiếp thị kiểu Super Tiger cho các khách hàng nước ngoài. Không quân Đức, Không lực Phòng vệ Nhật Bản và Không quân Hoàng gia Canada đã tỏ ý định quan tâm đến nó, nhưng sau đó đã đặt mua kiểu Lockheed F-104 Starfighter thay thế. == Lịch sử hoạt động == Trong phục vụ, chiếc Tiger đã hoạt động trên các tàu sân bay USS Ranger, USS Intrepid, USS Bon Homme Richard, USS Forrestal, và USS Saratoga. Sự nghiệp phục vụ của chiếc F-11 chỉ kéo dài được bốn năm vì tính năng bay của nó kém hơn so với chiếc Vought F-8 Crusader và kiểu động cơ J65 tỏ ra kém tin cậy. Do đó, Hải quân đã hủy bỏ mọi đơn đặt hàng cho phiên bản trinh sát hình ảnh F11F-1P và chỉ có 199 chiếc phiên bản tiêm kích F-11A (F11F-1) được chế tạo. Chiếc máy bay được rút khỏi hoạt động trên tàu sân bay vào năm 1961, tuy nhiên chúng tiếp tục được sử dụng trong vai trò huấn luyện tại Beeville và Kingsville, Texas, cho đến cuối những năm 1960. Học viên được huấn luyện bay nâng cao trên những chiếc F-9 Cougar, và sau khi hoàn thành đợt học đó, họ được nếm qua khả năng bay siêu thanh trên chiếc Tiger trước khi chuyển loại sang những chiếc máy bay tiêm kích hạm đội. Chiếc F-11 Tiger đã chịu tiếng xấu là máy bay phản lực đầu tiên đã tự bắn rơi mình. Vào ngày 21 tháng 9 năm 1956, trong khi bắn thử các khẩu pháo 20 mm, phi công Tom Attridge đã bắn hai loạt đạn vào khoảng không trong khi đang bổ nhào nông. Do lưu tốc và đường đạn của đầu đạn giảm dần, chúng sau đó đã giao nhau với đường bay của chiếc Tiger vốn đang tiếp tục hạ thấp, và gây hư hỏng đến mức làm rơi chiếc máy bay. May mắn là phi công đã sống sót. Trong khi sự nghiệp tiêm kích của chiếc F-11 khá ngắn ngủi, Đội thao diễn hàng không Blue Angels đã thao diễn trên những chiếc máy bay này từ năm 1957 cho đến năm 1969, khi những chiếc Tiger được thay thế bởi những chiếc McDonnell Douglas F-4 Phantom II. == Các phiên bản == YF9F-9 Tên ban đầu của chiếc nguyên mẫu. F-11F-1 Phiên bản máy bay tiêm kích một chỗ ngồi dành cho Hải quân Hoa Kỳ, Được đổi tên thành F-11A vào năm 1962. F11F-1P Tên dự định đặt cho phiên bản trinh sát dành cho Hải quân. Bị hủy bỏ. F-11F-1F Super Tiger Phiên bản F11F-1 trang bị động cơ J-79-GE-3 F-11F-2 Tên ban đầu của phiên bản F11F-1F == Các nước sử dụng == Hoa Kỳ Hải quân Hoa Kỳ == Đặc điểm kỹ thuật (F11F-1/F-11A) == === Đặc tính chung === Đội bay: 01 người Chiều dài: 14,3 m (46 ft 11 in) Sải cánh: 9,6 m (31 ft 8 in) Chiều cao: 4,0 m (13 ft 3 in) Diện tích bề mặt cánh: 23 m² (250 ft²) Lực nâng của cánh: 420 kg/m² (85 lb/ft²) Trọng lượng không tải: 6.500 kg (14.330 lb) Trọng lượng có tải: 9.650 kg (21.280 lb) Trọng lượng cất cánh tối đa: 10.900 kg (24.000 lb) Động cơ: 1 x động cơ Wright J65-W-18 turbo phản lực có đốt sau, lực đẩy 7.400 lbf (32,9 kN), lực đẩy có đốt sau 10.500 lbf (46,7 kN) === Đặc tính bay === Tốc độ lớn nhất: 1.170 km/h (Mach 1,1, 727 mph) ở 11.000 m (35.000 ft) Tốc độ bay đường trường: 929 km/h (577 mph) Tầm bay tối đa: 2.050 km (1.110 nm, 1.275 mi) Trần bay: 12.800 m (42.000 ft) Tốc độ lên cao: 27 m/s (5.315 ft/min) Tỉ lệ lực đẩy/khối lượng: 0,49 === Vũ khí === 4 x pháo Colt Mk 12 20 mm, 125 viên đạn mỗi khẩu 4 đế cánh dành cho: tên lửa không-đối-không AIM-9 Sidewinder bom rocket không điều khiển thùng nhiên liệu phụ 577 L (150 US gal) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Jirka Wagner's American postwar aircraft:Grumman F11F-1 Tiger == Nội dung liên quan == === Máy bay liên quan === F-9 Cougar === Máy bay tương tự === F5D Skylancer F-8 Crusader Supermarine Scimitar === Trình tự thiết kế === Trình tự Hải quân (trước năm 1962): F8F - F9F Panther/F-9 Cougar - F10F - F11F - XF12F Trình tự Thống nhất các binh chủng (sau năm 1962): F-8 - F-9 - F-10 - F-11 - YF-12 - F-14 - F-15 === Danh sách liên quan === Danh sách máy bay chiến đấu Danh sách máy bay quân sự Hoa Kỳ
hypena euryzostra.txt
Hypena euryzostra là một loài bướm đêm trong họ Erebidae. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Dữ liệu liên quan tới Hypena euryzostra tại Wikispecies Phương tiện liên quan tới Hypena euryzostra tại Wikimedia Commons
đô la hồng kông.txt
Đô la Hồng Kông (mã ISO 4217: HKD) là tiền tệ của Đặc khu Hành chính Hồng Kông của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Trong tiếng Anh, đồng tiền này thường được viết tắt với ký hiệu dollar là $, hay cách khác là HK$ để phân biệt nó với các đồng tiền có tên gọi đô la khác. Đồng đô la này được chia ra 100 cent hoặc 1000 mil. == Tỉ giá hối đoái hiện thời của đồng HKD == == Tham khảo == Phương tiện liên quan tới Tiền Hồng Kông tại Wikimedia Commons
edward ii của anh.txt
Edward II (25 tháng 4, 1284 – 21 tháng 9, 1327), còn gọi là Edward xứ Caernarfon, là Vua của Anh từ 1307 cho đến khi bị lật đổ vào tháng 1 năm 1327. Là con trai thứ tư của Edward I, Edward trở thành người kế vị sau cái chết của hoàng huynh là Alphonso. Từ năm 1300, Edward cùng phụ thân tham gia vào chiến dịch bình định Scotland, và đến năm 1306 ông được phong tước hiệp sĩ tại Đại yến Thiên nga diễn ra ở Tu viện Westminster. Edward đăng cơ năm 1307, sau khi vua cha băng hà. Năm 1308, ông kết hôn với Isabella của Pháp, con gái của vua Pháp Philippe IV đầy quyền lực, một phần trong kế hoạch lâu dài nhằm giái quyết những căng thẳng vương quyền giữa Anh và Pháp. Edward có một mối quan hệ gần thân thiết gây nhiều tranh cãi với Piers Gaveston, người vào hầu trong gia đình ông từ năm 1300. Bản chất mối quan hệ giữa Edward và Gaveston không rõ ràng, có thể là bạn bè, tình nhân hoặc huynh đệ kết nghĩa. Trở thành sủng thần của Edward, Gaveston kiêu ngạo và nắm nhiều quyền lực, ông khiêu khích và gây bất mãn với các nam tước và đến cả hoàng gia Pháp, khiến Edward buộc phải lưu đày ông ta. Khi Gaveston trở về, các nam tước tạo sức ép buộc Nhà vua phải đồng ý với những cải cách sâu rộng qua việc ban bố Sắc lệnh năm 1311. Các nam tước được trao quyền trục xuất Gaveston, và Edward đáp lại bằng cách thu hồi sắc lệnh cải cách và triệu hồi sủng thần của mình. Được dẫn dắt bởi người em con chú Bá tước Lancaster (thân phụ của Edward II là Edward I, trong khi cha của Bá tước xứ Lancaster là Edmund Crouchback, em trai của Edward I), một nhóm các nam tước bắt giữ và xử tử Gaveston năm 1312, mở đầu nhiều năm đối đầu vũ trang. Lực lượng Anh bị đẩy lui ở Scotland, nơi Edward chiến bại trước Robert the Bruce trong trận Bannockburn năm 1314. Liền tiếp là nạn đói lan rộng cùng với chỉ trích đối với vương quyền Nhà vua. Gia đình Despenser, đặc biệt là Hugh Despenser trẻ, trở thành những người bạn thân và quân sư cho Edward, nhưng vào năm 1321, Lancaster và các nam tước chiếm trang viên của nhà Despenser và ép buộc nhà vua phải lưu đày họ. Để đáp lại, Edward đã lãnh đạo chiến dịch quân sự ngắn, bắt giữ và hành quyết Lancaster. Edward và nhà Despensers tăng cường quyền lực của họ, bãi bỏ cải cách 1311, hành quyết kẻ thù của họ và tịch thu nhiều tài sản. Nhận thấy không thể chiến thắng ở Scotland, Edward cuối cùng phải ký lệnh hưu chiến với Robert. Phản đối chế độ ngày càng hà khắc, nhân dịp Isabella được gửi đến Pháp để đàm phán hiệp ước hòa bình năm 1325, bà quay lưng lại với Edward và từ chối trở về. Isabella lập liên minh với Roger Mortimer đang bị lưu đày, và xâm lược Anh bằng một đội quân nhỏ năm 1326. Vương quyền của Edward sụp đổ và ông đào tẩu sang xứ Wales, để rồi bị bắt vào tháng 11 cùng năm. Edward buộc phải thoái vị vua vào tháng 1 năm 1327 và truyền ngôi cho người con trai 14 tuổi, Edward III, và ông mất ở Lâu đài Berkeley ngày 21 tháng 9, rất có thể là bị các hiệp sĩ của vương triều mới ám sát. Mối quan hệ giữa Edward và Gaveston truyền cảm hứng cho vở kịch trình diễn năm 1592 của Christopher Marlowe mang tên Edward II, cùng với các vở kịch khác, phim ảnh, tiểu thuyết và các loại hình nghệ thuật khác. Nhiều trong số này là các tác phẩm khai thác mối quan hệ đồng tính luyến ái đồn đoán của hai người đàn ông. Nhiều chỉ trích Edward từ những người đương thời về vai trò quân vương của ông, nhấn mạnh những thất bại của ông ở Scotland và những năm cuối đầy áp bức của triều đại, dù cho các học giả cuối thể kỉ XIX lập luận rằng sự tiến triển triển của các tổ chức Quốc hội trong triều đại của ông là sự chỉ dấu tích cực cho đất nước Anh mà trong thời gian dài chưa đạt được. Tranh luận tiếp tục và dai dẳng đến tận thế kỉ XXI là liệu Edward là vị vua lười nhác và thiếu năng lực, hay đơn giản chỉ là một nhà cai trị bất đắc dĩ và hoàn toàn thất bại. == Tình hình triều chính == Edward II là con trai thứ tư của Edward I và người vợ thứ nhất, Eleanor xứ Castile. Thân phụ của ông là vua nước Anh, và cũng là người thừa kế vùng Gascony ở miền tây nam nước Pháp, điều này khiến ông phải giữ chức vụ chư hầu của vua nước Pháp và quyển tể trị Ireland. Thân mẫu ông có xuất thân hoàng tộc từ Vương quốc Castile và nắm giữ Lãnh địa Bá tước Ponthieu ở miền bắc nước Pháp. Edward I đã chứng tỏ ông là một nhà lãnh đạo quân sự tài năng, ông đã chỉ huy quân đội của mình để đàn áp thành công cuộc nổi dậy của các nam tước trong thập niên 1260 và tham gia vào cuộc Thập tự chinh lần thứ chín. Trong những năm 1280, ông chinh phục Bắc Wales, tước quyền cai trị của hoàng thân bản bản xứ Wales và trong những năm 1290, ông đã can thiệp vào cuộc nội chiến ở Scotland, tuyên bố bá quyền đối với nước này. Ông được những người đương thời coi là một nhà cai trị rất thành công, khi ông thể hiện khả năng kiểm soát quyền hành rộng lớn của các bá tước trong hàng ngũ giới quý tộc Anh. Nhà sử học Michael Prestwich miêu tả Edward I là "một vị vua đáng sợ và đáng kính", trong khi John Gillingham lại cho rằng ông là một tên côn đồ hữu dụng. Tuy gặt hái nhiều thành tựu, Edward I cũng để lại nhiều vấn đề cho hoàng đế kế vị khi ông băng hà vào năm 1307. Một trong những việc quan trọng nhất cần giải quyết đó là sự thống trị của Anh ở Scotland, nơi các chiến dịch quân sự do Edward tiến hành diễn ra từ lâu nhưng vẫn chưa tới hồi kết. Việc Edward cai trị vùng Gascony làm mâu thuẫn nảy sinh giữa ông với các vua Pháp. Các vua Pháp nhấn mạnh rằng quốc vương Anh trên cương vị chư hầu cần tỏ lòng thần phục họ, tuy nhiên ông cho rằng yêu cầu đó là một sự lăng mạ đến lòng kiêu hãnh của nhà vua và vấn đề này vẫn chưa được giải quyết triệt để. Edward I cũng đối mặt với nhiều chống đối ngày càng tăng từ các nam tước do ông đánh thuế nặng và yêu cầu cung cấp nhiều nguồn lực phục vụ chiến tranh, khiến vị vua con phải xử lý khoản nợ xấp xỉ 200.000 bảng Anh khi ông qua đời. == Thuở thiếu thời (1284–1307) == === Lúc sinh hạ === Edward II chào đời ngày 25 tháng 4 năm 1284 tại Lâu đài Caernarfon ở miền Bắc xứ Wales, chưa đầy một năm sau khi Edward I chinh phục miền đất này, và hệ quả là đôi khi ông được gọi là Edward xứ Caernarfon. Nhà vua có lẽ đã có chủ ý khi chọn lâu đài này làm nơi hạ sinh Edward, bởi nó là một địa điểm có tính biểu tượng quan trọng đối với người Wales bản địa, gắn liền với lịch sử đế quốc La Mã, và lâu đài Caernarfon cũng là nơi đặt vương quyền mới ở miền Bắc xứ Wales. Sự chào đời của Edward mang theo những tiên đoán mang tính trọng đại của các nhà tiên tri khi ấy, rằng Ngày tận thế sắp đến, và ông là hậu thân của Vua Arthur, người sẽ đưa nước Anh đến bục vinh quang. David Powel, một mục sư thế kỉ XVI, cho rằng hoàng tử bé, người được dâng hiến cho dân xứ Wales, "đã được sinh ra ở Wales và không nói một từ tiếng Anh nào", nhưng không có bằng chứng chứng minh lối biện luận này. Tên Edward có xuất xứ từ tiếng Anh, liên tưởng đến Thánh người Anglo-Saxon là Edward xưng tội, và được lựa chọn bởi cha ông thay cho truyền thống dùng tên tiếng Norman và Castilla đã được đặt cho các anh trai của Edward: Edward có ba vị hoàng huynh: John và Henry chết trước khi Edward chào đời, và Alphonso, qua đời vào tháng 8 năm 1284, để lại cho Edward quyền kế vị ngai vàng. Mặc dù lúc mới sinh, Edward là một đứa trẻ tương đối khỏe mạnh, vẫn có những mối lo ngại trong những năm đầu đời của ông rằng ông có thể chết yểu khiến vương triều cha ông không có hoàng nam kế vị. Sau khi sinh ra, Edward được một nhũ mẫu có tên Mariota hoặc Mary Maunsel chăm sóc trong vài tháng trước khi bà ta phát bệnh, và Alice de Leygrave trở thành dưỡng mẫu của ông. Ông có thể hoàn toàn không biết mặt người mẹ ruột Eleanor đã ở Gascony với cha ông trong những năm đầu đời của ông. Một cung điện mới được hoàn thành với đội ngũ gia nhân dưới sự chỉ huy của mục sư Giles xứ Oudenarde được dùng làm nơi cư ngụ cho hoàng tử bé. === Thời niên thiếu, cá tính và dáng vẻ bên ngoài === Chi tiêu trong căn hộ của Edward tăng lên vì ông ngày càng giàu có, và năm 1293 William xứ Blyborough trở thành quản gia. Edward có thể đã nhận được nền giáo dục tôn giáo bởi các tu sĩ dòng Đa Minh, những người mẹ ông mời đến nhà ông trong năm 1290. Ông được chia một người hầu của bà nội, Guy Ferre, là magister của ông, người chịu trách nhiệm về sự rèn luyện của ông, đào tạo ông về kĩ năng cưỡi ngựa và kĩ năng quân sự. Không rõ là Edward được giáo dục như thế nào, không có nhiều bằng chứng nói về khả năng đọc hoặc viết của ông, mặc dù mẹ ông tự hào rằng những đứa con khác của bà đều được giáo dục tốt, và chính Ferre là một người thầy rất có uy tín trong giai đoạn này. Edward chủ yếu nói tiếng Anglo-Norman Pháp trong đời sống hàng ngày, thêm vào đó là một ít tiếng Anh và có thể là Latin. Edward có một nền giáo dục bình thường đối với một thành viên hoàng tộc. Hoàng tử thích thú với ngựa và chăn nuôi ngựa, và trở thành một tay cưỡi ngựa giỏi; ông cũng thích chó, đặc biệt là giống greyhound. Trong những bức thư của mình, ông đùa về việc gửi những động vật không làm ông vừa ý với bạn bè ông, ví dụ như những con ngựa không thích cho người ta cưỡng, vì những con chó săn lười biến và bắt thỏ quá chậm chạp. Ông không có quan tâm đặc biệt đến săn bắn hay nuôi chim ưng, những hoạt động khá phổ biến trong thế kỉ XIV. Ông thích âm nhạc, gồm cả nhạc Wales và dụng cụ vừa được phát minh là đàn dây, cũng như đàn organ. Ông không tham gia đấu thương, có thể vì ông thiếu khả năng hoặc là do ông bị cấm tham gia để đảm bảo cho sự an toàn, nhưng ông ủng hộ nhiệt thành cho các môn thể thao. Edward lớn lên cao to và vạm vỡ, được coi là đẹp trai theo tiêu chuẩn của thời kì đó. Ông có tiếng là một người diễn thuyết có trình độ và sự hào phóng đối với những người hầu trong gia đình. Một cách bất thuyền, ông thích chèo thuyền, cũng như vượt rào và đào hào, và thích cộng tác với những người lao động và những người thuộc các tầng lớp dưới. Cách ứng xử này bị coi là không bình thường đối với các quý tộc vào thời điểm đó và nhận được nhiều sự chỉ trích từ người đương thời. Năm 1290, cha của Edward ký vào Hiệp ước Birgham, khẳng định hôn sự của ông với cô bé Margaret của Na Uy, người có khả năng bước lên ngai vàng Scotland. Margaret chết vào cuối năm đó, kế hoạch tan vỡ. Mẹ của Edward, Eleanor, chết không lâu sau, rồi đến bà của ông, Eleanor xứ Provence. Edward I quẫn trí vì cái chết của vợ và tổ chức một đám tang linh đình cho bà, con trai ông được thừa hưởng Lãnh địa Bá tước Ponthieu của Eleanor sau cái chết của bà. Tiếp đó, một cuộc hôn nhân với người Pháp được chuẩn bị cho cậu bé Edward, để giúp duy trì nền hòa bình lâu dài giữa Anh với Pháp, nhưng chiến tranh đã nổ ra năm 1294. Ý tưởng ban đầu bị thay thế bằng một cuộc hứa hôn giữa ông và con gái của Bá tước Flanders, nhưng đã bị chặn đứng bởi vua Philippe IV của Pháp. === Những chiến dịch ban đầu ở Scotland === Từ 1297 đến 1298, Edward làm nhiếp chính ở Anh trong khi Nhà vua tham gia chiến dịch Flanders chống lại Philippe IV, người đã chiếm đóng một phần các lãnh địa của vua Anh ở Gascony. Sau chuyến trở về, Edward I ký hiệp định hòa bình, theo đó ông cưới em gái của Philippe, Margaret, làm vợ và tán thành rằng hoàng tử Edward sẽ hứa hôn với con gái của Philippe, Isabella, lúc đó mới có 2 tuổi. Theo lý thuyết, cuộc hôn nhân này có nghĩa là công quốc đang bị tranh chấp Gascony sẽ được thừa hưởng bởi một hậu duệ của cả Edward và Philippe, mở ra một con đường kết thúc cho những căn thẳng lâu năm. Cậu bé Edward dường như có quan hệ tốt đẹp với mẹ kế, người sinh ra hai em trai của ông, Thomas xứ Brotherton và Edmund xứ Woodstock, năm 1300 và 1301. Là quốc vương, Edward về sau đã trao tặng cho các em trai sự hỗ trợ về tài chính và các chức danh. Edward I trở lại Scotland một lần nữa vào năm 1300, và lần này ông đem con trai đi theo, khiến cho Edward trở thành chỉ huy hậu quân trong cuộc bao vây Caerlaverock. Mùa xuân năm 1301, Nhà vua tuyên bố Edward là Hoàng tử xứ Wales, cấp cho ông Lãnh địa Bá tước Chester và những vùng đất trên khắp Bắc Wales; dường như Nhà vua hi vọng rằng điều này sẽ giúp bình định vùng đất kia, và sẽ cung cấp cho con trai ông sự độc lập về tài chính. Edward nhận sự thần phục từ các thần dân Wales và sau đó cùng phụ thân tham gia chiến dịch năm 1301, ông dẫn một đội quân 300 binh sĩ miền bắc và chiếm giữ Lâu đài Turnberry. Hoàng tử Edward cũng tham gia chiến dịch năm 1303 tại đó ông bao vây Lâu đài Brechin, triển khai cuộc bao vây thành công. Mùa xuân năm 1304, Edward tiến hành đàm phán với những nhà lãnh đạo cuộc nổi dậy tại Scotland trên danh nghĩa của Nhà vua, và thất bại, ông lại cùng phụ thân tham gia chiến dịch bao vây Lâu đài Stirling. Năm 1305, Edward và cha ông đã cãi nhau, có thể là do vấn đề tiền bạc. Hoàng tử có một cuộc ẩu đả với Giám mục Walter Langton, người làm thủ quỹ của hoàng gia, rõ ràng là do sự trợ cấp tài chính mà Edward đã nhận từ Quốc vương. Edward I bảo vệ thủ quỹ của ông ta, và tống cổ con trai cùng những người ủng hộ khỏi triều đình, cắt viện trợ tài chính của họ. Sau một vài cuộc đàm phán được các thành viên trong gia đình và bạn bè dàn xếp, hai người đã làm hòa với nhau. Cuộc xung đột ở Scotland bùng lên một năm nữa năm 1306, khi Robert the Bruce giết chết đối thủ của ông ta John Comyn và tự xưng là Vua của người Scot. Edward I đã huy động một lực lượng quân viễn chinh mới, nhưng quyết định rằng thời gian này con trai ông sẽ đảm nhận cuộc chinh phạt. Hoàng tử Edward được tiến phong Quận công Aquitaine và sau đó, cùng với nhiều thanh niên khác, ông được phong hàm hiệp sĩ trong một buổi lễ xa hoa tại Tu viện Westminster gọi là Lễ Thiên Nga. Giữa một bữa tiệc lớn trong hội trường, gợi nhớ đến truyền thuyết vua Authur và các sự kiện thập tự chinh, và tuyên thệ sẽ đánh bại Bruce. Không rõ về vai trò của lực lượng Hoàng tử Edward trong chuyến dịch vào mùa hạ, trong đó, theo lệnh của Edward I, đã có một sự trừng phạt, sự trả thù khủng khiếp đối với phe của Bruce ở Scotland. Edward trở lại Anh vào tháng 9, nơi các cuộc đàm phán về ngày cưới của ông với Isabella tiếp tục. === Piers Gaveston và giới tính === Trong thời gian đó, Edward trở nên thân thiết với Piers Gaveston. Gaveston là con trai của một hiệp sĩ trong gia trang của Nhà vua có đất phong giáp với Gascony, và tự ông bước vào gia trang của Hoàng tử Edward vào năm 1300, có thể do hướng dẫn của Edward I. Hai người trở nên gần gũi hơn; Gaveston trở thành một địa chủ và sớm trở thành một người bạn thân thiết với Edward, trước khi được nhà vua tấn phong tước Hiệp sĩ trong Lễ Thiên nga năm 1306. Sau đó, nhà vua đuổi Gaveston ddeens Gascony năm 1307 mà không rõ lý do. Theo như một quyển lịch sử biên niên, Edward đề nghị phụ thân cho phép ông trao lãnh địa bá tước Ponthieu cho Gaveston, và Nhà vua đáp lại một cách giận dữ, đánh đập và giật tóc con trai mình, trước khi đưa Gaveston đi lưu đày. Biên bản của vụ việc được triều đình ghi chép rõ ràng, tuy nhiên, lúc đó Gaveston chỉ tạm thời bị lưu vong, được cung cấp một khoản thu nhập nhàn nhã; không có lý do gì được đưa ra cho mệnh lệnh này, được cho rằng đây có thể là một hành động trừng phạt hoàng tử theo một cách nào đó. Khả năng Edward có quan hệ kê gian với Gaveston hoặc những kẻ sủng thần sau này đã được các nhà sử học tranh luận rộng rãi, và rất phức tạp bởi những bằng chứng xác định về mối quan hệ chi tiết thực sự còn khá ít ỏi. Giáo hội Anh vào thế kỉ 14 lên án quyết liệt về việc đồng tính luyến ái, coi nó như dị giáo, nhưng quan hệ tình dục với một người đàn ông khác không nhất thiết được xác định như cách xác định tương đương trong thế kỉ thứ 21. Cả Edward và Gaveston đều có quan hệ với vợ họ, và đều có con; Edward cũng có một đứa con ngoại hôn, và có thể đã có cuộc tình với cô cháu gái, Eleanor de Clare. Những bằng chứng hiện nay ủng hộ quan hệ đồng tính giữa họ xuất phát từ một biên niên sử những năm 1320 mô tả cách mà Edward "cảm thấy như tình yêu" dành cho Gaveston, rằng "ông dính dáng vào một giao ước không thay đổi, và ràng buộc chính ông với ông ta trước tất cả những người khác với một tình yêu bất khả phân li, vững bền quyến rũ và buộc chặt bằng một mối ràng". Những gợi ý cụ thể đầu tiên rằng Edward có quan hệ với đàn ông được ghi nhận vào năm 1334 khi Adam Orleton, Giám mục Winchester, bị buộc tội vào năm 1326 đã ghi là Edward là một "người kê gian", mặc dù Orleton tự bào chữa bằng cách nói rằng ý của ông là cố vấn của Edward, Hugh Despenser trẻ, là người kê gian, chứ không phải là vị vua quá cố. Meaux Chronicle từ những năm 1390 chỉ ghi đơn giản rằng Edward tự ông có "quá nhiều hành vi kê gian." Ngoài ra, Edward và Gaveston có thể chỉ là hai người bạn thân thiết. Biên niên sử đương thời chép những bình luận khá mơ hồ; cáo buộc của Orleton xuất phát một phần từ lý cho chánh trị, và rất giống với những cáo buộc kê gian nhắm vào Giáo hoàng Boniface VIII và Hiệp sĩ Templar tương ứng vào các năm 1303 và 1308. Những giải thích sau này bởi nhà biên niên sử trong những hành động của Edward có thể là sao lại những cáo buộc ban đầu của Orleton, và chắc chắn bị ảnh hưởng bởi những sự kiện chính trị vào cuối thời Edward. Các sử gia như Michael Prestwich và Seymour Phillips đã lập luận rằng bản chất công khai trong triều đình hoàng gia Anh sẽ khó có thể làm cho những hành vi đồng tính được giữ kín đáo, không chỉ giáo hội đường thời, cha và cha vợ của Edward dường như cũng có những ý kiến chống đối những hành vi tình dục của Edward. Một giả thuyết gấn đây hơn, bởi nhà sử gia Pierre Chaplais đề xuất, cho rằng Edward và Gaveston có mối quan hệ anh em kết nghĩa. Thực hiện hiệp ước kết nghĩa anh em, theo đó những người tham gia nó cam kết sẽ gắn bó với nhau như "tình anh em thực sự" có thể không được ai biết trong số những người bạn nam với nhau thời Trung Cổ. Nhiều biên niên sử miêu tả quan hệ của Edward và Gaveston như anh em, và những chú thích dứt khoát rằng Edward coi Gaveston là người anh nuôi của ông. Chaplais lập luận răng hai người này có thể đã có một thỏa thuận chính thức trong năm 1300 hoặc 1301, và họ lập ra những lời luyên thệ và về sau, họ bị chia cắt hoặc rời nhau vì bị ép buộc, và vì thế không có hiệu lực. Đó là một tuyên thệ, tuy nhiên, không loại trừ quan hệ của họ có thiên hướng tình dục. == Thời kì đầu (1307–11) == === Đăng quang và hôn nhân === Edward I đã huy động một đội quân khác tham gia chiến dịch ở Scotland năm 1307, trong lần đó hoàng tử Edward tham gia chiến dịch mùa hạ, nhưng Edward I đã già và ngày càng yếu đi và đã qua đời ngày 7 tháng 7 tại Burgh by Sands. Edward khởi hành từ London ngay sau khi tin tức đến tai ông, và ngày 20 tháng 7 ông đã tuyên bố là một quốc vương. Ông tiếp tục chinh phạt Scotland và ngày 4 tháng 8 ông được những người Scotland ủng hộ hoàng gia tuyên thệ xưng thần tại Dumfries, trước khi ông chấm dứt chiến dịch và trở về phía nam. Edward ngay lập tức triệu hồi Piers Gaveston, người đang bị lưu đày, và tấn phong anh ta làm Bá tước Cornwall, trước khi sắp xếp hôn sự của anh ta với một phụ nữ giàu cóm Margaret de Clare. Edward cũng bắt giữ kẻ cựu thù là Giám mục Langton, và cách chức thủ quỹ của ông ta. Di thể của Edward I được quàn tại Waltham Abbey trong nhiều tháng trước khi được đưa đi an táng ở Westminster, tại đây Edward cho xây dựng một ngôi mộ đơn giản bằng đá cẩm thạch cho thân phụ. Năm 1308, hôn sự của Edward và Isabella của Pháp được tiến hành. Edward qua eo biển Anh đến Pháp và tháng 1, để lại Gaveston làm custos regni nắm quyền nhiếp chính trong vương quốc khi ông vắng mặt. Sự sắp xếp này là bất bình thường, và dính dáng đến những quyền hạn chưa từng thấy dành cho Gaveston, ông ta được trao một vật đặc biệt Đại Ấn tín. Edward hi vọng rằng cuộc hôn nhân sẽ gia tăng thế lực của ông tại Gascony và mang lại cho ông những khoản tiền ông cần. Tuy nhiên, những thỏa thuận sau cùng, chứng kiến quá nhiều thử thách: Edward và Philippe IV không ưa nhau, và Nhà vua của người Pháp mặc cả về lượng của hồi môn của Isabella và những chi tiết về việc quản lý đất đai của Edward ở nước Pháp. Như một phần của thỏa thuận, Edward làm lễ phiên thần với Philippe đổi lại Công quốc Aquitaine và đồng ý hoàn thành việc thực thi Hiệp ước Paris, 1303. Hai người kết hôn ở Boulogne ngày 25 tháng 1. Edward tặng cho Isabella một sách thánh thi làm quà cưới, và cha bà cho bà những món quà trị giá tổng cộng hơn 21,000 livre và một mảnh bội tinh thực. Họ trở về Anh quốc vào tháng 2, nơi Edward hạ lệnh trùng tu một cách hoang phí cho Cung điện Westminster để tổ chức lễ đăng qua và đám cưới của họ, đủ bàn đá cẩm thạnh, 40 cái lò và một cái vòi phun rượu vang và ớt Gia-mai-ca, một thức uống gia vị thời Trung Cổ. Sau một số chậm trễ, buổi lễ diễn ra ngày 25 tháng 2, dưới sự chủ trì của Robert Winchelsey, Tổng Giám mục Canterbury. Như một phần của lễ đăng quang, Edward đã thề sẽ suy trì "những điều luật hợp pháp và phong tục mà người dân của vương quốc đã lựa chọn". Không chắc chắn về nghĩa của những lời này: nó có thể là những dự định nhằm buộc Edward chấp nhận những điều luật trong tương lai, cũng có thể nó được đưa ra để việc ngăn chặn việc nếu trong tương lại ông đảo lộn bất cứ thề nguyện nào mà ông từng thề, hoặc cũng có thể là một nỗ lực của Nhà vua nhằm lấy lòng các nam tước. Sự kiện bị phá hỏng bởi đám đông lớn quần chúng đang háo hức đổ xô vào cung điện, làm đổ một bức tường và buộc Edward phải chạy trốn bằng cửa sau. Isabella chỉ mới 12 tuổi vào lúc bà thành hôn, khá trẻ so với tiêu chuẩn của thời này, và Edward có thể đã có quan hệ tình cảm với các tình nhân trong những năm đầu hôn nhân của họ. Trong thời gian đó Edward cũng có một đứa con ngoại hôn, Adam, ông ta chào đời sớm nhất là vào năm 1307. Hoàng trưởng tử của Edward và Isabella, tương lai là vua Edward III, chào đời năm 1312 trong một buổi lễ kỉ niệm lớn, và ba người con tiếp theo thứ tự là: John năm 1316, Eleanor năm 1318 và Joan năm 1321. === Sức ép lên Gaveston === Gaveston trở về từ nơi bị tù đày vào năm 1307 khi được các nam tước đồng ý, nhưng nhiều sự chống đối đã nhanh chóng xuất hiện. Ông ta xuất hiện và đã tạo ra nhiều ảnh hưởng lên chính sách của hoàng gia, dẫn tới những lời than phiền trong một biên niên sử "hai vị vua cai trị một vương quốc, một người trên danh nghĩa và người kia trong những hành vi". Những lời buộc tội, có thể chưa đúng sự thực, đã được gán cho Gaveston rằng ông đã đánh cắp tiền của hoàng gia và những món quà cưới của Isabella. Gaveston có một vai trò quan trọng trong lễ đăng quang của Edward, làm bùng lên sự giận dữ của cả người Anh và người Pháp về việc ưu tiên những lễ nghi và trang phục lộng lẫy cho một bá tước, và về sự ưu ái lộ liễu của Edward dành cho Gaveston còn hơn cả dành cho Isabella tại bữa tiệc. Nghị viện họp vào tháng 2 năm 1308 trong bầu không khí căng thẳng. Edward háo hức thảo luận về khả năng cải cách chính quyền, nhưng các nam tước không sẵn lòng bắt đầu những cuộc tranh luận như vậy cho đến sau khi vấn đề liên quan tới Gaveston được giải quyết. Nguy cơ bạo lực xuất hiện, nhưng tình hình được giải quyết thông qua trung gian Henry de Lacy, Bá tước Lincoln, người thuyết phục được các nam tước lùi một bước. Nghị viện mới được lập vào tháng 4, nơi các nam tước một lần nữa chỉ Gaveston, đòi lưu đày anh ta, lần này họ nhận được ủng hộ từ Isabella và quốc vương nước Pháp. Edward đã phản đối, nhưng cuối cùng bằng lòng, đồng ý gửi Gaveston đến Aquitaine, dưới sự đe dọa rút phép thông công của Tổng Giám mục Canterbury. Vào giờ chót, Edward thay đổi ý định và gửi Gaveston đến Dublin, bổ nhiệm ông ta làm Trung úy Ireland. Edward triệu tập một chiến dịch quân sự mới chinh phạt Scotland, nhưng ý kiến này bị bác bỏ trong lặng lẽ, và thay vào đó Nhà vua cùng các nam tước họp vào tháng 8, 1308 để thảo luận cải cách. Phía sau hậu trường, Edward bắt đầu đàm phán nhằm thuyết phục Giáo hoàng Clement V và Philippe IV cho phép Gaveston trở về Anh, để đổi lại việc ông sẽ ngăn chặn các hiệp sĩ dòng Đền ở Anh, và phóng thích Giám mục Langton khỏi nhà lao. Edward kêu gọi một cuộc họp mới của các thành viên Giáo hội và các quý tộc lớn vào tháng 1 năm 1309, và các bá tước hàng đầu tụ họp vào tháng 3 và tháng 4, có thể là dưới sự lãnh đạo của Thomas, Bá tước Lancaster. Một nghị viện khác theo sau đó, từ chối không cho Gaveston trở về Anh, nhưng đồng ý cấp cho Edward những thứ thuế bổ sung nếu ông đồng tình với chương trình cải cách. Edward gửi những đảm bảo đến đức Giáo hoàng rằng những cuộc xung đột về vai trò của Gaveston đã kết thúc rồi. Dựa trên những lời hứa, và mối quan tâm về việc những thủ tục được thực hiện như thế nào, đức Giáo hoàng đồng ý bỏ lời đe dọa của Tổng giám mục là rút phép thông công của Gaveston, mở ra khả năng trở về của ông này. Gaveston trở lại Anh vào tháng 6, và ông gặp Edward. Trong phiên họp Quốc hội tháng sau, Edward tuyên bố một loạt các nhượng bộ để xoa dịu những người chống đối Gaveston, bao gồm cả đồng ý giới hạn quyền hành của tổng quản và thống chế của gia đình hoàng gia, để điều hòa sự mất tín nhiệm của ngôi vua đối với người dân và tiếp đó là hủy bỏ những diều luật hải quan mới được ban hành; đổi lại, Nghị viện đồng ý thu các loại thuế mới cho cuộc chiến tranh ở Scotland. Ít nhất, trong tạm thời, Edward và các nam tước có vẻ như đã đi đến một thỏa thuận thành công. === Pháp lệnh năm 1311 === Sau khi quay trở lại, quan hệ giữa Gaveston với các nam tước đứng đuầ trở nên căng thẳng hơn. Ông ta bị coi là kiêu ngạo và ông đã nhắc đến các bá tước một cách xúc phạm, bao gồm cả cách gọi một trong số những thành viên có quyền lực là "con chó xứ Warwick". Bá tước Lancaster và những kẻ thù của Gaveston từ chối tham dự hội Nghị viện năm 1310 vì Gaveston có mặt ở đó. Edward phải đối mặt với những vấn đề tài chính, còn nợ địa chủ Frescobaldi ở Italia 22 000 bảng, và đối mặt với các cuộc biểu tình về việc ông sử dụng quyền lực của ông như đòn bẩy để có được nguồn cung cấp cho cuộc chiến ở Scotland. Những nỗ lực của ông nhằm xây dựng một đội quân thường trực ở Scotland sụp đổ và các bá tước đình chỉ thu các loại thuế mới. Nhà vua và Nghị viện họp một lần nữa vào tháng 2 năm 1310, và những cuộc thảo luận về chính sách ở Scotland được thay thế bằng các cuộc tranh luận về những vấn đề trong nước. Edward được kiến nghị phải bãi chức cố vấn của Gaveston và thay vào đó làm theo lời khuyên của 21 nam tước sẽ được bầu cử ra, gọi là Ordainers, thực hiện những cải cách sâu rộng đối với cả chính phủ và gia đình hoàng gia. Dưới áp lực rất lớn, Edward đồng ý với đề xuất này và Ordainers được bầu ra, có sự phân chia đồng đều giữa những người cải cách và những người bảo thủ. Trong khi những người Ordainers bắt đầu kế hoạch cải cách của họ, Edward và Gaveston dẫn một đội quân mới của họ gồm 4,700 người đến Scotland, nơi mà tình hình quân sự tiếp tục xấu đi. Robert the Bruce từ chối tham chiến và chiến dịch tiến triển không có hiệu quả qua mùa đông cho đến khi quân nhu và tài chính cạn kiệt năm 1311, buộc Edward trở về miền nam. Đến lúc này Ordainers đã phác họa kế hoạch pháp lệnh của họ và Edward có không có nhiều sự lựa chọn và chấp nhận nó vào tháng 10. Pháp lệnh 1311 có những điều khoản giới hạn quyền lực của Nhà vua khi gây chiến tranh và phong đất nếu không có sự đồng ý của Nghị viện, đem đến cho Nghị viện quyền kiểm soát chính quyền của hoàng gia, bãi bỏ hệ thống đòn bẩy không bao gồm nhà cái Frescobaldi, và ban hành một hệ thống giám sát việc tuân thủ pháp lệnh. Thêm vào đó, Pháp lệnh một lần nữa lưu đày Gaveston once again, lần này có thêm những chỉ dẫn rằng ông ta không được phép sống ở bất cứ nơi nào bên trong các lãnh địa của Edward, gồm cả Gascony và Ireland, và tước hết các danh hiệu của ông. Edward rút về những bất động sản của ông, Windsor và Kings Langley; Gaveston rời Anh quốc, có thể là đến phía bắc nước Pháp hay Flanders. == Thời kì giữa (1311 – 1321) == === Cái chết của Gaveston === Quan hệ giữa Edward và các nam tước vẫn rất căng thẳng. Các bá tước chống đối việc ông giữ lại quân đội của họ vốn được huy động chiến tranh vào cuối năm 1311. Lúc này Edward trở nên lạnh nhạt với em họ của ông, Bá tước Lancaster, người cai trị Lãnh thổ bá tước Lancaster, Leicester, Lincoln, Salisbury và Derby, với thu nhập khoảng 11 000 bảng mỗi năm từ những vùng đất của mình, gần gấp đôi so với nam tước giàu thứ hai. Được các bá tước Arundel, Gloucester, Hereford, Pembroke và Warwick ủng hộ, Lancaster dẫn đầu một phe phái sừng sỏ ở Anh, nhưng ông không quan tâm đến chính quyền thực tế, ông cũng không phải là một chính trị gia sáng tạo và có năng lực. Edward đáp lại mối đe dọa của các nam tước bằng cách hủy bỏ Pháp lệnh và triệu tập Gaveston trở về Anh, yết kiến Nhà vua tại York vào tháng 1 năm 1312. Các nam tước giận dữ và họp với nhau ở London, nơi Gaveston bị Tổng Giám mục Canterbury rút phép thông công và một kế hoạch bắt giữ Gaveston cũng như ngăn chặn ông ta chạy tới Scotland được đặt ra. Edward, Isabella và Gaveston rời khỏi Newcastle, bị Lancaster và phe cánh của ông ta truy đuổi. Vứt bỏ nhiều đồ đạc của mình, phe hoàng gia bỏ chạy bằng đường tàu và cập bến tại Scarborough, nơi Gaveston ở lại đó trong khi Edward và Isabella trở về York. Sau một cuộc bao vây ngắn hạn, Gaveston đầu hàng các bá tước Pembroke và Surrey, với lời hứa là ông ta sẽ không bị tổn hại. Ông ta có một rương chứa đầy vàng, bạc và đá quý, có thể một phần trong số đó lấy từ kho bạc của hoàng gia, vì thế về sau ông bị Edward buộc tội ăn cắp. Trên đường trở về ở miền bắc, Pembroke dừng chân tại ngôi làng Deddington ở Midlands, để lại Gaveston đang được bảo vệ ở đó trong khi ông ta ghé thăm vợ của mình. Bá tước Warwick chớp lấy cơ hội có thể khống chế được Gaveston, dẫn ông ta tới Lâu đài Warwick, nơi Lancaster và những người còn lại tập hợp vào ngày 18 tháng 6. Trong một phiên tòa diễn ra gấp rút, Gaveston bị tuyên bố là phạm tội phản loạn theo như các điều khoản của Pháp lệnh; và bị xử tử tại Blacklow Hill ngay ngày hôm sau, dưới sự giám sát của Bá tước Lancaster. Thi thể của Gaveston đến năm 1315 mới được an táng. Tang lễ được tổ chức ở Tu viện của vua Langley. === Mâu thuẫn với Lancaster và nước Pháp === Những phản ứng sau cái chết của Gaveston đã thay đổi đáng kể. Edward rất tức giận và đau buồn sâu sắc vì thứ mà ông cảm thấy như là vụ mưu hại Gaveston; ông thiện đãi gia đình của Gaveston, và dự định trả thù các nam tước tham gia vào vụ này. Bá tước Pembroke và Surrey đều hổ thẹn và giận dữ với hành động của Warwick, và kết quả là họ chuyển sang ủng hộ Edward. Đối với Lancaster và những người cốt lõi ủng hộ ông ta, vụ hành quyết là hợp pháp và cần thiết cho sự ổn định của vương quốc. Khả năng nội chiến một lần nữa xuất hiện, nhưng vào tháng 12, Bá tước Pembroke tiến hành đàm phán về một hiệp định hòa bình giữa hai bên, theo đó sẽ tha thứ cho các nam tước đối lập về vụ giết Gaveston, đổi lại đó là sự ủng hộ của họ cho một chiến dịch mới ở Scotland. Lancaster và Warwick, tuy nhiên, đã không thống nhất về các điều khoản của hiệp ước, và cuộc đàm phán vẫn tiếp tục trong hầu hết năm 1313. Trong khi đó, Bá tước Pembroke cũng đã đàm phán với Pháp để giải quyết những tranh cãi lâu dài về sự quản trị Gascony, và một phần trong sự kiện đó, Edward và Isabella đồng ý đến Paris vào tháng 6 năm 1313 để gặp vua Philippe IV. Edward đã hi vọng vừa giải quyết được những vấn đề ở miền nam Pháp và tranh thủ sự ủng hộ của Philippe trong vụ tranh chấp với các nam tước; về Philip đó là một cơ hội để chứng tỏ quyền lực và sự giàu có của ông trước mặt con rể. Đó là một chuyến thăm thu hút nhiều sự chú ý, bao gồm cả một đại lễ mà hai vị vua đã phong hiệp sĩ cho các con trai của Philippe và hơn 200 người khác tại Notre Dame, dự một buổi tiệc lớn dọc bờ sông Seine, và một tuyên bố công khai rằng hai vua và hoàng hậu của họ sẽ tham gia vào một cuộc viễn chinh đến Levant. Philippe đã tỏ ra nhân nhượng trong vấn đề Gascony, và sự kiện này chỉ bị trắc trở do một trận hỏa hoạn nghiêm trọng tại nơi đóng quân của Edward. Trong chuyến trở về từ nước Pháp, Edward nhận thấy địa vị chính trị của ông đã được tăng cường đáng kể. Sau các cuộc đàm phán căng thẳng, các bá tước, bao gồm Lancaster và Warwick, đi đến một thỏa hiệp vào tháng 10 năm 1313, cơ bản là rất giống với bản dự luật thỏa thuận vào tháng 12 năm trước. Tài chính của Edward được cải thiện, nhờ vào việc Nghị viện đồng ý tăng thuế, một khoản vay 160,000 florin (25,000 bảng) từ đức Giáo hoàng, 33,000 bảng ông mượn của Philippe, và các khoản vay mượn thêm bởi giám đốc ngân hàng mới của Edward ở Italia, Antonio Pessagno. Lần đầu tiên trong triều đại của mình, ngân quỹ của Edward ở trong tình trạng ổn định. === Trận Bannockburn === Năm 1314, Robert the Bruce chiếm lại gần hết các lâu đài ở Scotland đã từng bị Edward chiếm cứ, và cố gắng cử những nhóm quân tiến vào những vùng đất nằm sâu vào miền bắc nước Anh như Carlisle. Đáp lại, Edward lên kế hoạch cho một chiến dịch quân sự với sự ủng hộ của Lancaster và các nam tước, tập trung một đội quân lớn khoảng từ 15,000 đến 20,000 quân khỏe mạnh. Trong khi đó, Robert vây hãm lâu đài Stirling, một thành trì then chốt của Scotland; viên chỉ huy người Anh tuyên bố rằng nếu Edward không đến trước ngày 24 tháng 6, ông ta sẽ đầu hàng. Những tin tức này đến tai Nhà vua vào cuối tháng 5, và ông quyết định tăng tốc độ bắc phạ từ Berwick để giải vây tòa lâu đìa. Robert, với khoảng 5,500 đến 6,500 quân, chủ yếu là quân cầm thương, đã chuẩn bị để ngăn chặn lực lượng của Edward ở Stirling. Trận chiến bắt đầu ngày 23 tháng 6 khi quân đội Anh cố gắng kiểm soát vùng núi cao Bannock Burn, được vây quanh bởi các đầm lầy. Giao tranh giữa hai bên nổ ra, dẫn đến cái chết của Sir Henry de Bohun, người bị Robert sát hại trong trận giao đấu của hai người. Edward tiếp tục tiến quân vào ngày hôm sau, và gặp phải một lực lượng lớn quân Scotland khi họ xông ra những khu rừng ở New Park. Edward dường như không lường trước rằng người Scot lại dàn trận ở đó, và do đó ông đưa lực lượng của ông đi với mục đích hành quân chứ không phải là chiến đấu, và các cung thủ - những người thường có nhiệm vụ phá vỡ hệ thống giàn giáo của kẻ thù - lại đứng ở phía sau thay vì phía trước. Các kị binh của ông rất khó khăn khi phải hoạt động trong một địa hình chật hẹp và cuối cùng bị lính cầm thương của Robert nghiền nát. Quân Anh bị choáng váng và những người lãnh đạo không thể nào lấy lại sự kiểm soát. Edward vẫn ở lại để chiến đấu, nhưng Bá tước Pembroke biết rõ ràng rằng thế cục đã mất và ông ta kéo Nhà vua ra khỏi chiến trường, giữa một lượng lớn quân đội Scotland đuổi bắt gắt gao. Edward chỉ vừa chật vật thoát khỏi trận chiến lớn, thề nguyện rằng ông sẽ xây dựng một nhà thờ dòng Carmelite tại Oxford nếu ông sống sót. Sử gia Roy Haines miêu tả thất bại này là "tai họa choáng váng" đối với người Anh, thiệt hại của họ trong trận chiến là rất lớn. Hậu quả sau thất bại, Edward lui về Dunbar, sau đó lên tàu đi đến Berwick, rồi trở lại York; khi ông vắng mặt, Lâu đài Stirling nhanh chóng thất thủ. === Nạn đói và chỉ trích === Sau thất bại ở Bannockburn, Bá tước Lancaster và Warwick nhận thấy ảnh hưởng chính trị của họ đã tăng lên, và họ ép Edward thực hiện lại Pháp lệnh năm 1311. Lancaster trở thành người đứng đầu hội đồng hoàng gia năm 1316, hứa hẹn sẽ thực hiện Pháp lệnh thông qua một ủy ban cải cách mới, nhưng ông dường như bị loại khỏi vai trò này ngay sau đó, một phần vì những bất đồng với các nam tước khác, và một phần vì tình trạng sức khỏe. Lancaster từ chối họp với Edward tại Nghị viện trong 2 năm tiếp theo, khiến cho chính quyền bị bế tắc. Chuyện này cản trở mọi hi vọng cho chiến dịch mới ở Scotland và gây ra lo ngại về cuộc nội chiến. Sau nhiều một cuộc đàm phán, một lần nữa dưới sự dàn xếp của Bá tước Pembroke, Edward và Lancaster cuối cùng chấp thuận Hiệp ước Leake vào tháng 8 năm 1318, ân xá Lancaster và phe cánh của ông ta đồng thời thành lập một hội đồng hoàng gia mới, nhằm tránh cuộc xung đột sắp xảy đến. Những khó khăn của Edward càng trầm trọng thêm bởi vấn đề nông nghiệp của Anh, một phần của một tai họa lan tràn khắp miền bắc châu Âu được gọi là Nạn đói lớn. Nó bắt đầu bằng những trận mưa không ngớt vào cuối năm 1314, tiếp sau là mùa đông vô cùng khắc nghiệp rồi những cơ mưa lớn vào mùa xuân năm sau đã giết chết rất nhiều cừu và ngựa. Thời tiết tiếp tục diễn biến xấu, không hề giảm sút chút nào, đến năm 1321, kết quả là một chuỗi liên tục những năm mất mùa. Những nguồn thu từ xuất khẩu len giảm mạnh và giá lương thực tăng, bất chấp những nỗ lực điều chỉnh mức giá của chính phủ Edward. Edward kêu gọi những kẻ tích trữ xuất lương thực ra, và cố gắng khuyến khích của nội thương và nhập khẩu ngũ cốc, nhưng không có nhiều thành công. Lệnh trung dụng thực phẩm dự trữ cho hoàng tộc suốt những năm đói kém chỉ làm trầm trọng thêm tình hình. Trong lúc đó, Robert the Bruce thừa dịp mới chiến thắng ở Bannockburn để tấn công miền bắc nước Anh, ban đầu là đánh Carlisle và Berwick, và sau đó tiến đến sâu hơn về phía nam, vào Lancashire và Yorkshire, thậm chí đe dọa cả thành York. Edward chiến hành một chiến dịch tốn kém nhưng không thành công nhằm ngăn chặn quân xâm lược năm 1319, nhưng nạn đói gây ra nhiều khó khăn trong việc cung cấp lương thực cho các đơn vị đồn trú của ông. Giữa lúc này, một đoàn thám hiểm người Scot dẫn đầu bởi em trai của Robert đã xâm chiếm được Ireland năm 1315, và Edward Bruce tự xưng là Vua của Ireland. Cuối cùng ông ta bị đánh bại năm 1318 bởi Quan chánh án tối cao Ireland dưới quyền Edward II, Edmund Butler, tại Trận Faughart, đầu Edward Bruce bị chặt xuống và gửi đến cho Nhà vua. Các cuộc nổi dậy cũng diễn ra ở Lancashire và Bristol năm 1315, và ở Glamorgan thuộc xứ Wales năm 1316, nhưng đều bị đán áp. Nạn đói và căng thẳng ở Scotland bị cho là sự trừng phạt của Chúa, và người ta phàn nàn về Edward, một trong những bài thơ đương đại đã mô tả về "Thời đại quỷ dữ của Edward II". Nhiều người chỉ trích Edward "không thích hợp" và ti tiện trong vấn đề nông nghiệp. Năm 1318, một bệnh nhân tâm thần tên là John xứ Powderham xuất hiện của Oxford, tuyên bố ông là Edward II thực sự, và Edward là đứa trẻ thay thế, họ bị tráo đổi lúc chào đời. John bị hành hình đúng lúc, nhưng tuyên bố của ông gây được tiếng vang lớn đối với những ai chỉ trích Edward về việc ông thiếu cử chỉ vương giả và khả năng lãnh đạo vững vàng. Sự chống đối cũng tăng nhanh quanh những cận thần của Edward. Ông cố gắng giữ lại một số cận thần trước kia của mình, mặc dù phe Pháp lệnh nỗ lực loại bỏ họ, và lại phân chia rộng quyền thừa kế de Clare giữa hai sủng thần mới của ông, gia đình của cựu hiệp sĩ Hugh Audley và Roger Damory, ngay lập tức làm cho họ trở nên giàu có. Những người ôn hòa đã từng ủng hộ thỏa hiệp hòa bình năm 1318 bây giờ trở giáo chống lại Edward, làm cho khả năng bạo lực lên tới nguy cơ cao nhất. == Thời kì cuối (1321–26) == === Chiến tranh Despenser === Mối đe dọa về một cuộc nội chiến cuối cùng cũng trở thành sự thực ở Anh vào năm 1321, được khuất động bởi căng thẳng giữa các nam tước với sủng thần của hoàng gia, gia tộc Despenser. Hugh Despenser Già đã phục vụ cả hai cha con Edward, trong khi Hugh Despenser trẻ đã kết hôn với một thành viên nhà de Clare giàu có, trở thành quan thị vệ của Nhà vua, và giành được Glamorgan ở Welsh Marches năm 1317. Hugh trẻ mở rộng vị thế và quyền lực của ông ta khắp xứ Wales, chủ yếu là tại chức danh Lãnh chúa Marcher. Bá tước Lancaster và nhà Despensers là kẻ thù không đội chung trời, và ác cảm của Lancaster được đồng thuận bởi hầu hết các chư hầu láng giềng của Despensers, bao gồm Bá tước Hereford, gia tộc Mortimer và tiếp sau có cả Hugh Audley và Roger Damory. Tuy nhiên, Edward, càng lúc càng dựa vào lời tư vấn và sự hỗ trợ của Despensers, và ông đặc biệt gần gũi với Hugh trẻ, người mà một biên niên sử đã ghi nhận rằng ông "thương ... quý mến bằng cả trái tim và tấm lòng". Đầu năm 1321, Lancaster huy động một liên minh gồm các kẻ thù của Despensers trên các lãnh thổ Marcher. Edward và Hugh trẻ nhận thức được kế hoạch vào tháng 3 và tiến về phía tây, hi vọng các cuộc đàm phán do Bá tước trung lập Pembroke tổ chức có thể xoa dịu khủng hoảng. Lần này, Pembroke từ chối can thiệp, và chiến tranh nổ ra vào tháng 5. Những vùng đất của Despensers nhanh chóng bị khống chế bởi một liên minh của các lãnh chúa Mancher và quý tộc địa phương, và Lancaster tổ chức cuộc gặp cấp cao giữa các nam tước cùng các giáo sĩ vào tháng 6 và lên án Despensers phá hủy Pháp lệnh. Edward đã cố gắng hòa giải, nhưng vào tháng 7 phe đối lập chiếm London và yêu cầu loại bỏ vĩnh viễn nhà the Despensers. Sợ rằng sẽ bị lật đổ nếu như từ chối, Edward đồng ý lưu đày Despensers và ân xá hành động của các lãnh chúa Marcher. Edward bắt đầu kế hoạch trả thù. Với sự giúp sức của Pembroke, Nhà vua thành lập mộ liên minh nhỏ với các anh em khác mẹ của ông, một vài bá tước và một số giáo sĩ cao cấp, chuẩn bị chiến tranh. Edward bắt đầu bằng Bartholomew xứ Badlesmere, và Isabella được gửi đến thành trì của Bartholomew, Lâu đài Leeds, cố ý tạo ra một casus belli (biện minh cho hành động chiến tranh). Vợ của Bartholomew, Margaret, cắn câu và người của bà đã giết chết nhiều tùy tùng của Isabella, đem lại cho Edward một cái cớ để gây chiến. Lancaster từ chối giúp Bartholomew, kẻ thù riêng của ông ta, và Edward nhanh chóng nắm quyền kiểm soát miền đông nam. Hoảng hốt, Lancaster huy động quân đội của mình ở miền bắc nước Anh, và Edward tập trung lực lượng chính của ông ở phía tây nam. Despensers trở về từ nơi lưu đầy và được ân xá bởi hội đồng hoàng gia. Tháng 12, Edward dẫn quân dọc Sông Severn và tiến về Welsh Marches, nơi lực lượng đối lập đã tụ tập lại. Liên minh của các lãnh chúa Marcher sập đổ và Mortimers đầu hàng Nhà vua, nhưng Damory, Audley và Bá tước Hereford hành quân về phía bắc vào tháng 1 và gia nhập lực lượng với Lancaster, người đã bao vây lâu đài của Nhà vua ở Tickhill. Được ủng hộ bởi quân tiếp viện từ các lãnh chúa Marcher, Edward truy kích họ, giáp chiến với quân Lancaster vào ngày 10 tháng 3 tại Burton-on-Trent. Lancaster, có nhiều quân hơn, lại rút lui mà không chiến đấu, về phía bắc. Andrew Harclay dồn Lancaster vào đường cùng ở Trận Boroughbridge, và bắt được Bá tước. Edward và Hugh trẻ gặp Lancaster ở Pontefract, nơi mà, sau một phiên tòa ngắn, bá tước bị kết tội phản quốc và bị chặt đầu. === Edward và Despensers === Edward trừng phạt những người ủng hộ Lancaster bằng việc lập ra một hệ thống tòa án đặc biệt trên toàn quốc, theo đó thẩm phán được làm theo mệnh lệnh kết án bị cáo như thế nào, và các bị cáo không được phép nói chuyện trong phòng riêng của họ. Phần nhiều những bản án như thế này gọi là "Contrariants" đơn giản chỉ là những vụ hành quyết, và những người may mắn hơn cũng bị giam giữ và phạt tiền, đất đai bị tịch thu và người thân bị quản thúc. Bá tước Pembroke, Edward lúc này không còn tin tưởng ông, đã bị bắt và chỉ được phóng thích sau khi giao hết toàn bộ gia tài như là tài sản thế chấp cho lòng trung thành của ông. Edward đã tưởng thưởng cho những người ủng hộ trung thành với ông, đặc biệt là gia đình Despenser, bằng những tài sản tịch thu được và những chức vị mới. Việc phạt tiền và sung công khiến Edward trở nên giàu có: khoảng £15,000 bảng được nhập vào ngân khố trong những tháng đầu tiên, và năm 1326, kho bạc của Edward chứa tới 62,000 bảng. Một Nghị viện được lập ra ở York vào tháng 3 năm 1322 mà tại đó Pháp lệnh chính thức bị thu hồi bằng Quy chế York, và các loại thuế mới được chấp nhận để phục vụ cho chiến dịch mới chống người Scot. Chiến dịch của người Anh chống Scotland được lên kế hoạch với quy mô lớn, với một lực lượng 23,350 người. Edward tiến qua Lothian đến Edinburgh, nhưng Robert the Bruce từ chối gặp mặt ông trên chiến trận, làm Edward tiến xa hơn vào Scotland. Kế hoạch tiếp tế cho quân viễn chinh qua đường biển thất bại, và quân đội đông đúc giờ cạn kiệt lương thực. Edward buộc phải rút về phía nam biên giới, và bị lực lượng Scotland truy đuổi phía sau. Người con ngoại hôn của Edward, Adam, chết trong chiến dịch, và quân truy kích suýt bắt được Isabella, người đang ở Tynemouth và buộc phải đào tẩu bằng đường biển. Nhà vua lập ra một chiến dịch mới, được hỗ trợ bởi những loại thuế mới, nhưng sự tự tin trong chính sách ở Scotland của Edward đã suy giảm. Andrew Harclay, nhân tố vững chắc trong chiến thắng của Edward năm trước vừa gần đây được phong Bá tước Carlisle, đã đơn phương đàm phán một hiệp ước hòa bình với Robert the Bruce, đề xuất rằng Edward sẽ công nhận Robert là Vua của Scotland và, đáp lại, Robert sẽ dừng can thiệp vào Anh quốc. Edward nổi cơn thịnh nộ và lập tức chém đầu Harclay, nhưng đồng ý một thỏa thuận đình chiến 13 năm với Robert. Hugh Despenser Trẻ sống và nắm những chức vụ lớn, nắm vai trò hàng đầu trong chính phủ Edward, và thực hiện các chính sách thông qua lực lượng hậu thuẫn lớn trong gia đình. Được ủng hộ bởi Robert Baldock và Walter Stapledon, Đại pháp quan và Đại thủ quỹ của Edward, Despensers tích lũy nhiều đất đai và tài sản, sử dụng địa vị của họ trong chính phủ để che đậy cho những gì mà nhà sử hậu Seymour Phillips miêu tả là "thực tế lừa đảo, đe dọa bạo lực và lạm dụng pháp lý". Trong khi đó, Edward đối mặt với sự chống đối gia tăng. Những điều thần bí được tường thuật lại ở khu vực quanh ngôi mộ của Bá tước Lancaster quá cố, và giá treo cổ được sử dụng để xử tội những người đối lập ở Bristol. Luật pháp và trật tự bị phá vỡ, do những cuộc bạo động được gây nên bởi sự chiếm đoạt các vùng đất. Phe chống đối cũ bao gồm các cộng sự của các lãnh chúa Marcher tìm cách giải thoát cho những tù nhân của Edward trong Lâu đài Wallingford, và Roger Mortimer, một trong những lãnh chúa Marcher bị bắt giam, trốn thoát khỏi Tháp London và chạy sang Pháp quốc. === Chiến tranh với Pháp === Những bất đầu giữa Edward và Vương quốc Pháp xung quanh Lãnh địa Công tước Gascony dẫn đến Chiến tranh Saint-Sardos năm 1324. Charles IV, anh rể của Edward, kế tự vua nước Pháp năm 1322, và tỏ ra tích cực hơn so với người tiền nhiệm. Năm 1323, ông khăng khăng đòi Edward đến nước Pháp trên địa vị chư hầu Gascony, và yêu cầu người trông coi Gascony cho Edward cho phép các quan chức Pháp ở đó truyền đạt những mệnh lệnh từ Paris. Mọi chuyện lên đỉnh điểm vào tháng 10 khi một nhóm binh sĩ của Edward treo cổ một trung úy người Pháp vốn đang tìm cách dựng lên một tòa thành phòng thủ ở Agenais, một phần thuộc vùng biên giới đang tranh chấp Gascony. Edward từ chối tuyên bố trách nhiệm nào về vụ việc này, nhưng quan hệ giữa Edward và Charles trở nên xấu đi. Năm 1324, Edward cử Bá tước Pembroke tới Paris để dàn xếp một giải pháp, nhưng bá tước bất ngờ qua đời vì bệnh trên đường đi. Charles huy động quân đội của ông và tiến hành xâm chiếm Gascony. Lực lượng của Edward ở Gascony khoảng 4,400 lính, nhưng quân Pháp, được chỉ huy bởi Charles xứ Valois, lên đến 7,000. Valois vào được Agenais và sau đó tiến xa hơn rồi cô lập thành trì quan trọng Bordeaux. Đáp lại, Edward ra lệnh bất giữ bất cứ người Pháp nào ở Anh và phong tỏa đất đai của Isabella, trên căn cứ bà là người Pháp. Tháng 1 năm 1324 ông gặp các Bá tước và các Giám mục Anh, những người này khuyên rằng Edward nên dẫn một đội quân 11,000 người tới Gascony. Edward quyết định không thân chinh, thay vào đó là Bá tước Surrey. Trong khi đó, Edward mở một cuộc đàm phán mới với vua Pháp. Charles yêu cầu thêm những điều khoản khác, chủ yếu trong số đó là đề nghị Isabella và Hoàng tử Edward đến Paris, và hoàng tử phải làm lễ phiên thần với vua Pháp cho vùng Gascony, thì ông sẽ ngừng cuộc chiến và trả lại Agenais. Edward và các cố vấn đã lo ngại về việc đưa hoàng tử sang Pháp, nhưng đồng ý gửi Isabella đi sứ một mình vào tháng 3 năm 1325. == Mất quyền lực (1326–27) == === Rạn nứt với Isabella === Isabella, đặc sứ của Edward, tiến hành đàm phán với Pháp vào cuối tháng 3. Cuộc đàm phán có vẻ khó khăn, và họ chỉ đi đến thỏa thuận được sau khi Isabella đích thân ra nói chuyện với anh trai bà, Charles. Các điều khoản tương đối có lợi cho Vương quốc Pháp: đặc biệt, Edward sẽ làm lễ phiên thần với cá nhân Charles vì vùng đất Gascony. Lo ngại về những hậu quả có thể có nếu chiến tranh nổ ra lần nữa, Edward đồng ý hiệp ước nhưng quyết định trao Gascony cho con trai mình, Edward, và gửi hoàng tử đến Paris làm lễ chư hầu. Hoàng tử Edward con vượt eo biển Anh và đến nơi vào tháng 9. Edward dự định là Isabella và con trai họ trở về nước Anh, nhưng thay vào đó bà vẫn ở Pháp và không cho thấy là có ý định quy trở lại. Cho đến năm 1322, hôn nhân của Edward và Isabella dườnng như là mĩ mãn, nhưng vào thời điểm hoàng hậu xuất ngoại đến Pháp năm 1325, thì nó đã xấu đi. Isabella có vẻ rất ghét Hugh Despenser trẻ, ít nhất không phải vì lời gièm của những phụ nữ có địa vị cao. Isabella lúng túng vì bà đã đào thoát khỏi quân đội Scotland ba lần trong cuộc hôn nhân với Edward, và bà đổ lỗi cho Hugh về sự kiện lần cuối năm 1322. Khi Edward ký hiệp ước ngừng bắn mới đấy với Robert the Bruce, ông bị thiệt thòi một loạt các gia đình quý tộc nắm giữ đất đai thuộc Scotland, bao gồm nhà Beaumonts, những người thân thiết với Isabella. Hoàng hậu cũng giận dữ về chuyện gia trang và đất đai của bà bị cầm giữ năm 1324. Cuối cùng, Edward cướp đi những đứa con của bà và đặt họ dưới sự giám hộ của vợ Hugh Despenser. Tháng 2 năm 1326, mọi chuyện đã phơi bày rằng Isabella đã dính vào mối quan hệ với Lãnh chúa Marcher đang lưu vong, Roger Mortimer. Không chắc chắn về lần đầu tiên gặp gỡ của Isabella và Mortimer hay thời điểm nào mà quan hệ của họ bắt đầu, nhưng họ đều muốn thấy Edward và Despensers bị tước bỏ quyền lực. Nhà vua cho gọi con trai ông trở về, và nhờ Charles giúp ông can thiệp, nhưng cũng không gây được ảnh hưởng gì. Những người chống Edward tụ tập xung quanh Isabella và Mortimer ở Paris, và Edward ngày càng trở nên lo lắng về khả năng Mortimer có thể xâm lược nước Anh. Isabella và Mortimer tìm kiếm sự giúp đỡ của William, Bá tước Hainaut, và hứa hôn cho Edward con với con gái của William, Philippa. Đáp lại một liên minh có vẻ khá có lợi với người kế vị ngai vàng Anh, và tài sản khá lớn dành cho cô dâu sau này, William cung cấp 132 tàu vận chuyển và 8 tàu chiến để hỗ trợ cho cuộc xâm lược nước Anh. Hoàng tử Edward và Philippa đính hôn vào 27 tháng 8, rồi Isabella cùng Mortimer chuẩn bị cho chiến dịch. === Cuộc xâm lược === Suốt tháng 8 và 9 năm 1326, Edward huy động quân phòng thủ dọc theo bờ biển nước Anh để chống lại cuộc xâm lược từ cả phía Pháp hay Roger Mortimer. Các hạm đối được tập họp tại cảng Portsmouth ở phía nam và Orwell ở bờ đông bờ biển, và một đội quân đột kích gồm 1,600 người được đưa băng qua eo biển Anh tới Normandy để tấn công nghi binh. Edward đưa ra lời kêu gọi các thần dân chiến đấu bảo vệ vương quốc nhưng không có nhiều ảnh hưởn. Tác dụng cuar hoàng quyền ở các địa phương khá mỏng manh, nhà Despensers bị nhiều kẻ ghét, và rất nhiều người mà Edward ủy thác trọng trách bảo vệ vương quốc thì không đủ năng lực, hoặc đã quay lưng với chế độ. Khoảng 2.000 người được lệnh tập trung ở Orwell để đối phó cuộc xâm lược, nhưng chỉ có 55 người thực sự đến. Roger Mortimer, Isabella, và Hoàng tử Edward 13 tuổi, cùng với em trai khác mẹ của Vua Edward, Edmund xứ Woodstock, đặt chân lên đất Orwell ngày 24 tháng 9 với một lực lượng nhỏ và không gặp phải sự kháng cự nào. Thế vào đó, những kẻ thù của Despensers nhanh chóng về phe của họ, bao gồm một người em trai khác mẹ khác của Edward, Thomas xứ Brotherton; Henry xứ Lancaster, người kế thừa lãnh địa bá tước Lancaster từ người anh Thomas; và hàng loạt các giáo sĩ cao cấp. Thu mình trong những căn phòng trú ẩn dưới sự bảo vệ và cố gắng kiểm soát Tháp London, Edward cố gắng tìm kiếm sự ủng hộ trong thủ đô. Thành London nổi dậy chống chính phủ của ông, và ngày 2 tháng 10 đức vua rời London, mang theo cả Despensers với ông. London rơi vào tình trạng hỗn loạn, vì qyaanf chúng tấn công các đại thần và các cộng sự còn lại của Edward, giết chết thủ quỹ cũ của ông Walter Stapledon ở Nhà thờ St Paul, chiếm Tòa Tháp và phóng thích những tù nhân trong đó. Edward tiếp tục đi về phía tây đến Thung lũng Thames, tới Gloucester khoảng ngày 9 đến 12 tháng 10; ông hi vọng đến được xứ Wales và từ chỗ đó huy động một lực lượng chống lại kẻ xâm lược. Mortimer và Isabella ở không xa phía sau. Những công bố lên án chế độ của Despensers những năm qua. Ngày qua ngày họ tập hợp thêm người ủng hộ Edward và Despenser trẻ vượt qua biên giới và giong buồm từ Chepstow, có thể dự định ban đầu của họ là tới Lundy rồi tiếp đó là Ireland, nơi mà Nhà vua hi vọng sự tìm được chỗ nương náu và tập hợp quân đội mới. Thời tiết xấu khiến họ phải trợ lại, và họ đặt chân lên Cardiff. Edward rút về Lâu đài Caerphilly và cố gắng tập hợp lực lượng còn sót lại của ông. Uy quyền của Edward sụp đổ ở Anh, và với việc Nhà vua vắng mặt, phe của Isabella giành quyền kiểm soát với sự ủng hộ của Giáo hội. Lực lượng của bà bao vây Bristol, nơi Hugh Despenser già bị tóm cổ từ nơi trú ẩn; ông đầu hàng và vẫn bị hành quyết. Edward và Hugh trẻ chạy khỏi lâu đài của họ vào ngày 2 tháng 11, để lại phía sau nhiều đồ trang sức, vật dụng có giá và ít nhất 13,000 bảng tiền mặt, có thể một lần nữa họ định tới Ireland, nhưng ngày 16 tháng 11 họ bị phản bội và bị bắt giữ bởi một lực lượng miền kiếm ở phía bắc Caerphilly. Edward lúc đầu được hộ tống tới Lâu đài Monmouth, và từ đó trở về Anh, nơi ông bị giam ở pháo đài của Henry xứ Lancaster tại Kenilworth. Lực lượng còn lại của Nhà vua, bấy giờ bị vây ở lâu đài Caerphilly, đầu hàng sau đó 5 tháng vào tháng 4, 1327. === Thoái vị === Isabella và Mortimer nhanh chóng trả thù chế độ cũ. Hugh Despenser trẻ bị đưa ra xét xử, bị tuyên bố là kẻ phản bội và bản án được đưa ra, ông ta bị mổ bụng, thiến và phanh thây; ông bị hành hình ngày 24 tháng 11 năm 1326. Đại pháp quan tiền nhiệm của Edward, Robert Baldock, chết ở Nhà tù Hạm đội; Bá tước Arundel bị chém đầu. Tuy nhiên, vị trí của Edward, là một vấn đề; ông vẫn còn là chồng của Isabella và, trên nguyên tắc, ông vẫn là vua, nhưng phần nhiều thành viên chính phủ mới có thể bị đe dọa nếu ông được thả ra và giành lại quyền lực. Không có thủ tục pháp lý nào làm tiền lệ cho việc truất ngôi một vị vua Anh. Adam Orleton, Giám mục Hereford, lập một danh sách các cáo buộc về những hành động mà Edward đã làm trên cương vị quốc vương, và tháng 1 năm 1327 Nghị viện được triệu tập tại Westminster mà tại đó câu hỏi về tương lai của Edward được đưa ra thảo luận; Edward từ chối tham dự cuộc họp. Nghị viện, ban đầu có nhiều mâu thuẫn, phản ứng lại đám đông quần chúng London đang kêu gọi Hoàng tử Edward con lên ngai vàng. Ngày 12 tháng 1 các nam tước hàng đầu và các giám mục đồng tình rằng Edward II sẽ bị truất ngôi và thay vào đó là con trai ông. Ngày hôm sau hội động các nam tước bàn về chuyện thoái ngôi, với lập luận rằng Edward lãnh đạo yếu kém và đầy rẫy những lỗi lầm cá nhân dẫn đến vương quốc rơi vào thảm họa, và ông không đủ năng lực lãnh đạo quốc gia. Không lâu sau đó, một nhóm đại diện gồm các nam tước, giáo sĩ và hiệp sĩ được gửi đến Kenilworth để nói chuyện với Nhà vua. Ngày 20 tháng 1 năm 1326, Henry xứ Lancaster và giám mục xứ Winchester và Lincoln gặp riêng Edward tại tòa lâu đài. Họ thông báo với Edward rằng nếu ông thoái vị quốc vương, con trai ông Hoàng tử Edward sẽ kế tự ông, nhưng nếu ông không làm như vậy, con trai ông có thể bị tước quyền kế tự, và ngai vàng sẽ trao cho một ứng viên thay thế khác. Trong nước mắt, Edward đồng ý thoái vị, và ngày 21 tháng 1, Sir William Trussell, đại diện cho toàn thể vương quốc, vứt bỏ lòng tôn kính dành cho ông và chính thức chấm dứt triều đại Edward II. Một tuyên ngôn được đưa đến London, tuyên cáo rằng Edward, bây giờ được gọi là Edward xứ Caernarvon, đã tự nguyện từ bỏ vương quốc và Hoàng tử Edward sẽ kế nhiệm ông. Lễ đăng quang diễn ra tại Tu viện Westminster ngày 2 tháng 2 năm 1327. == Qua đời năm 1327 == === Bị sát hại và diễn biến liền sau === Những người chống đối chính quyền mới lập kế hoạch giải thoát cho Edward, và Roger Mortimer quyết định mang Edward đến một nơi an toàn hơn là Lâu đài Berkeley ở Gloucestershire. Cựu vương này đặt chân đến đây khoảng ngày 5 tháng 4 năm 1327. Tại đây, Edward bị đặt dưới sự giám sát của Thomas Berkeley, chàng rể nhà Mortimer và John Maltravers. Berkeley và Maltravers nhận 5 bảng cho mỗi ngày cho việc trông nom Edward. Không rõ là Edward được chăm sóc thế nào; các hồ sơ cho thấy nhiều hàng hóa xa xỉ được mua trên danh nghĩa của ông, nhưng một số biên niên sử gia cho rằng ông thường xuyên bị ngược đãi. Bài thơ Lời than khóc của Edward II, từng được cho là được Edward viết trong thời gian ông bị giam cầm, mặc dù giới học giả hiện đại đặt nhiều nghi vấn về điều này. Lo âu lại tăng lên quanh những kế hoạch giải thoát cho Edward, một số liên quan đến dòng tu Đa Minh và những hiệp sĩ cũ trong gia trang của Edward, và có những cố gắng để ít nhất là đột nhập vào nhà ngục của lâu đài. Để đối phó với các tình huống này, Edward bị di chuyển bí mật tới lui nhiều địa điểm khác nhau trong một khoảng thời gian, trước khi trở về buồng giam cố định ở tòa lâu đài vào cuối mùa hè năm 1327. Tình hình chính trị vẫn chưa ổn định, và những kế hoạch mới được lập ra để giải cứu ông. Ngày 23 tháng 9, Edward III được tin báo rằng phụ thân ông đã tạ thế ở Lâu đài Berkeley vào buổi đêm ngày 21 tháng 9. Nhiều sử gia đồng ý rằng Edward II đã qua đời ở Berkeley vào đúng ngày này, mặc dù vẫn có thiểu số quan điểm, được đề cập dưới đây, cho rằng, ông qua đời sau đó. Cái chết của Edward, như Mark Ormrod chú thích, "hoài nghi đúng lúc", vì nó dẹp bỏ những vấn đề chính trị đáng kể của Mortimer, và phần lớn các sử gia tin rằng Edward có thể đã bị giết theo lệnh của chế độ mới, mặc dù không thể khẳng định chắc chắn. Một số nhân vật bị nghi ngờ dính líu tới cái chết của Edward, trong đó có Sir Thomas Gurney, Maltravers và William Ockley, sau này đã bỏ trốn. Nếu Edward chết do các nguyên nhân tự nhiên, cái chết của ông có thể sẽ bị đẩy nhanh vì chứng trầm cảm sau thời gian ngồi tù. Thời gian cai trị của Isabella và Mortimer không kéo dài lâu sau tin Edward qua đời được công bố. Họ hòa giải với người Scot thông qua Hiệp ước Northampton, nhưng động thái này không được người dân ủng hộ. Cả Isabella và Mortimer tích lũy, tiêu xài trong nhung lụa, và những lời chỉ trích xuất hiện. Quan hệ giữa Mortimer và nhà vua trẻ Edward III trở nên căng thẳng và năm 1330 Nhà vua tiến hành lật đổ Isabella và Mortimer tại Lâu đài Nottingham. Ông bắt được Mortimer và hành quyết ông ta với mười bốn tội danh phản quốc, bao gồm việc hạ sát Edward II. Chính phủ của Edward III tìm cách đổ cho Mortimer tất cả những vấn đề đương thời, phục hồi danh dự chính trị cho cố vương. Nhà vua tha cho Isabella, cho một khoảng trợ cấp hào phóng, và phóng thích bà ta không lâu sau đó. === Chôn cất và thờ tự === Thi hài Edward được ướp tại Lâu đài Berkeley, và được giám sát bởi những nhà lãnh đạo địa phương đến từ Bristol và Gloucester. Ngày 21 tháng 10, thi hài này lại được đưa đến Tu viện Gloucester và ngày 20 tháng 12, Edward được chôn cất với các nghi thức cử hành tại bệ thờ, tang lễ có lẽ đã bị trì hoãn để Edward III có thêm thời gian đến dự. Gloucester được chọn có thể là do các tu viện khác đã từ chối hoặc bị cấm quàn thi thể Nhà vua, và một lý do khác nữa là vì nó gần với Berkeley. Tang lễ này là một sự kiện lớn vào thời đó, với tổng chi phí là 351 bảng, với hình ảnh sư tử hoàng huy mạ vàng, hoàng kỳ thếp vàng và rào chắn gỗ sồi để kiểm soát đám đông đến dự. Có thể triều đình Edward III hi vọng đây sẽ là một tấm bình phong che đi những bất ổn chính trị diễn ra gần đây, tăng tính chính danh cho sự trị vì của vì vua trẻ. Hình nộm Edward bằng gỗ với chiếc vương miện đồng được chế tạo cho nghi thức tang lễ; đây là lần đầu tiên người nộm sử dụng trong đám tang được biết đến ở Anh, và dường như là cần thiết bởi tình trạng thi thể của Nhà vua, vốn đã chết cách đây ba tháng. Quả tim của Edward đã được lấy ra, đặt trong một chiếc hộp bạc, và sau đó chôn cất cùng Isabella tại Nhà thờ Newgate ở London. Ngôi mộ của ông là thí dụ rất sớm của người nộm thạch cao tuyết hoa ở Anh, với một ngôi hòm mộ và một mái che làm bằng đá trứng cá và đá Purbeck. Edward được chôn cất trong trang phục áo sơmi, mũ và găng tay sử dụng trong lễ đăng quang của ông, và hình nộm mô tả ông trong tư cách một quân vương, tay cầm quyền trượng và bảo châu, đầu đội vương miện lá dâu tây. Hình nộm mô tả hình dạng môi dưới khá rõ, và có thể là khá giống với Edward. Mộ phần của Nhà vua nhanh chóng trở thành nơi hành hương ưa chuộng của những người dân đang thiếu những điểm đến cho mục đích này, và có lẽ được cổ súy bởi giới tăng lữ địa phương. Tu viện nhận được khoảng đóng góp hào phòng từ khách hành hương, cho phép các tu sĩ xây lại nhiều nhà thờ trong vùng trong suốt thập niên 1330. Những câu chuyện thần bí diễn ra tại ngôi mộ đã được thuật lại, và ngôi mộ cũng được tu chỉnh nhiều lần để cho phép đông đảo khách có thể viếng thăm. Biên niên sử gia Geoffrey de Baker mô tả Edward là một đức tử đạo thánh thiện, bị hành hạ, và Richard II đã tỏ lòng ủng hộ từ phía triều đình trong nổ lực bất thành vào năm 1395 cho việc tuyên thánh Edward. Ngôi mộ chính thức được khai quật năm 1855, mở nắp quan tài gỗ, vẫn trong tình trạng tốt, và một quan tài được niêm phong chì bên trong. Ngôi mộ ngày nay vẫn tọa lạc tại Nhà thờ Gloucester, và được phục hồi nguyên trạng trong gian đoạn 2007 - 2008 với chi phí hơn 100.000 bảng. === Tranh cãi === Tranh cãi quanh cái chết của Edward nhanh chóng xuất hiện. Với vụ hành quyết Mortimer năm 1330, nhiều tin đồn bắt đầu lan truyền, cho rằng Edward đã bị hạ sát tại lâu đài Berkeley. Những báo cáo rằng ông đã bị giết bằng cách nhét chậm chạp một thanh sắt nóng đỏ hoặc giùi nung vào hậu môn được lan truyền, có thể là kết quả của sự tuyên truyền có chủ ý; các biên niên sử gia trong giai đoạn từ giữa thập niên 1330 tới thập niên 1340 ra sức truyền bá các báo cáo này thêm, sau đó lại được Geoffrey le Baker ủng hộ bằng việc thêm thắt hoa lá vào bản giải trình vụ giết người. Tài liệu này được kết hợp vào nhiều tư liệu lịch sử nghiên cứu sau này liên quan đến Edward, thường dẫn đến nhiều nghi vấn về khả năng đồng tính luyến ái của ông. Hầu hết sử gia hiện đại đã gạt bỏ các báo cáo giải trình này, hoài nghi về tính hợp lý quanh việc những kẻ bắt cóc sao có thể giết chết ông bằng một cách dễ bị phát hiện như thế. Những giả thuyết khác cũng được đưa ra quanh khả năng Edward có thể không thực sự chết trong năm 1327. Những lập luận này liên quan đến "Lá thư Fieschi", được linh mục Manuel Fieschi gửi cho Edward III, trong đó nói rằng Edward được sự giúp đỡ của một người hầu cận đã thoát khỏi lâu đài Berkeley vào năm 1327, và cuối cùng trở thành một ẩn sĩ tại Đế quốc La Mã Thần thánh. Thi thể chôn trong Nhà thờ Gloucester thì được nhắc đến là của một phu khuân vác của lâu đài Berkeley, bị ám sát rồi giao nộp cho Isabella để giả làm xác của Edward nhằm tránh bị trừng phạt. Lá thư thường được ráp nối để giải thích chuyện Edward III gặp một người đàn ông tên William the Welshman ở Antwerp năm 1338, người tự nhận là Edward II. Nhiều phần trong nội dung thư được các sử gia nhìn nhận rộng rãi là khả tín, tuy những phần tường thuật khác vẫn còn bị chỉ trích là không đủ sức tin cậy. Một vài sử gia ủng hộ các bản tường thuật này. Paul Doherty đặt nghi vấn về tính xác thực của bức thư và nhân thân của William the Welshman, nhưng dù sau cũng phải nghi ngờ rằng Edward đã sống sót khỏi cảnh ngục tù. Nhà nghiên cứu lịch sử đại trà Alison Weir tin rằng sự kiện trong bức thư về cơ bản là có thực, khi sử dụng lá thư để lập luận rằng Isabella không phạm tội giết Edward. Sử gia Ian Mortimer cho rằng chuyện kể trong bức thư của Fieschi nhiều phần là chính xác, nhưng cũng cho rằng chính Mortimer và Isabella đã bí mật phóng thích Edward, và sau đó cũng chính họ ngụy tạo ra cái chết của vị cựu vương này, chuyện hư cấu này sau đó lại được Edward III tiếp tục duy trì sau khi lên nắm quyền. Lời tường thuật của Ian Mortimer bị hầu hết các học giả phản bác khi nó được xuất bản lần đầu, đặc biệt là nhà sử học David Carpenter. == Edward trên ngai vàng == === Vương quyền, triều chính và pháp luật === Edward suy cho cùng cũng là một ông vua thất bại; sử gia Michael Prestwich nhận xét rằng ông "lười nhác và bất tài, hay nộ khí xung thiên với những chuyện chẳng đâu vào đâu, nhưng thiếu quyết đoan khi vấn đề nhỏ trở nên nghiêm trọng", sau này được lặp lại trong mô tả của Roy Haines về Edward là "bất tài và độc ác", và "không phải người hữu dụng". Edward không chỉ giao quyền nhiếp chính triều đình cho thuộc hạ mà với những quyết sách có tầm ảnh hưởng lớn hơn cũng thế, và Pierre Chaplais lập luận rằng ông "không hẳn là một người bất tài ở ngôi bất đắc dĩ", khi đa phần giao phó quyền hành cho quan nhiếp chính đầy quyền lực, như Piers Gaveston hay Hugh Despenser Trẻ. Sự sốt sắng của Edward để đề bạt những cận thần của ông mang lại những hệ quả nghiêm trọng, mặc dù ông cũng cố gắng giành lấy lòng trung thành của giới quý tộc thông qua việc ban bổng lộc và đất đai. Edward tỏ ra quan tâm tới những chuyện vặt vãnh trong triều, tuy cũng, thỉnh thoảng bận tâm sâu sắc đến các vấn đề xảy ra trên nước Anh và trên lãnh địa rộng lớn của ông. Edward tỏ ra quan tâm tới những chuyện vặt vãnh trong triều, tuy cũng, thỉnh thoảng bận tâm sâu sắc đến các vấn đề xảy ra trên nước Anh và trên lãnh địa rộng lớn của ông. Khó khăn dai dẳng của Edward trong phần lớn thời gian ông cai trị là thiếu hụt tiền bạc, từ các khoản nợ ông phải nhận lãnh từ vua cha, khoảng 60.000 bảng và vẫn chưa trả hết tới những năm 1320. Nhà vua dùng nhiều thủ quỹ và quan chức tài chính khác, không nhiều người trong số họ tại vị được lâu, để tăng nguồn lợi qua nhiều thứ thuế mất lòng dân, và dùng quyền lực của mình để trưng dụng hàng hóa. Ông cũng có nhiều khoản vay, ban đầu là qua gia đình Frescobaldi, và sau đó thông qua quản lý ngân hàng Antonio Pessagno. Edward có một mối quan tâm mạnh mẽ trong vấn đề tài chính trong những năm cuối tại vị, ngờ vực cả các quan chức riêng của ông và cố gắng tăng doanh thu trực tiếp bằng cách giảm chi tiêu trong tư gia của mình. Edward có trách nhiệm vận hành tư pháp triều đình thông qua mạng lưới thẩm phán và quan chức của ông. Không chắc chắn là Edward đặt quyền lợi cá nhân trong phán xét tư pháp đến mức độ nào, nhưng ông dường như có tư lợi cho mình ở một mức độ nhất định trong những năm đầu trên ngai, và ngày càng can thiệp sâu vào nền tư pháp sau năm 1322. Edward sử dụng nhiều quy định trong hệ thống Dân luật La Mã trong thời gian trị vì khi tranh luận để biện hộ cho những động cơ và ý chí của ông, khiến cho những người cảm thấy đây là sự rời bỏ những nguyên tắc cơ bản của Công Luật Anh chỉ trích. Nhiều nhân vật đương thời cũng lên tiếng chỉ trích Edward khi thấy ông dung dưỡng the Despensers lợi dụng hệ thống tư pháp triều đình cho mục đích riêng; Despensers dường như chắc chắn đã lũng đoạn hệ thống tư pháp, mặc dù hành vi này không rõ là sâu rộng đến đâu. Giữa những bất ổn chính trị, các băng nhóm vũ trang và bạo lực lan tràn khắp xứ Anh Cát Lợi trong thời gian cai trị của Edward, gây ra những náo loạn cho vị trí của nhiều quý tộc địa phương; nhiều khu vực ở xứ Ái Nhĩ Lan lâm vào tình trạng vô chính phủ. Vai trò của Quốc hội tăng lên dưới triều đại Edward, trở thành nơi đưa ra các quyết sách và hồi đáp các kiến nghị, mặc dù như sử gia Claire Valente chú rằng, triệu tập Quốc hội "vẫn như tổ chức sự kiện". Sau năm 1311, Nghị viện bắt đầu được triệu tập, ngoài các nam tước, đại diện của giới hiệp sĩ và thị dân, thành phần mà sau này đã thiết lập nên "Viện thứ dân Anh Cát Lợi". Mặc dù Nghị viện thường chống đối các loại thuế mới, ý kiến chống đối mạnh mẽ Edward đa phần là từ các nam tước, chứ không phải chính Nghị viện, dù các nam tước tận dụng các kỳ họp Quốc hội để hợp pháp hóa các đòi hỏi chính trị lâu dài của họ. Sau nhiều năm đối kháng với Quốc hội, trong nửa cuối giai đoạn trị vì, Edward bắt đầu can thiệp vào cơ quan này để đạt được các mục tiêu chính trị của mình. Chuyện Edward bị phế truất năm 1327 vẫn chưa rõ là được gây ra bởi một Nghị viện được triệu tập chính thức hay chỉ đơn giản là bởi sự nhóm họp của các thành phần chính trị bên cạnh Nghị viện hiện tại. === Hoàng cung === Edward có một hoàng cung lưu động, di chuyển khắp đất nước theo chân Nhà vua. Khi ở Cung điện Westminster, hoàng cung có hai đại sảnh, bảy phòng ngủ và ba nhà nguyện, cùng với những phòng nhỏ nhỏ, nhưng, do cuộc xung đột với Scotland, hoàng cung lại dời về Yorkshire và Northumbria trong phần lớn thời gian diễn ra cuộc xung đột này. Chính giữa hoàng cung là tư thất của Edward, lần lượt được chia thành "đại sảnh" và "buồng ngủ"; quy mô tư thất của Edward thay đổi theo từng thời kỳ, vào năm 1317 là khoảng 500 strong, bao gồm các hiệp sĩ, cận vệ, đầu bếp và phu vận chuyển. Xung quanh tư thất của vua là đông các triều thần, và dường như cũng cuốn hút thành phần gái bán dâm và phạm nhân. Âm nhạc và các ca đoàn rất phổ biến tại hoàng cung của Edward, tuy vậy, hoạt động săn bắt có vẻ không phải là thú tiêu khiển ưa chuộng, các sự kiện duyệt kỵ binh cũng ít được xem trọng. Edward thích những tòa dinh thự và các họa phẩm, nhưng không tỏ ra hứng thú với văn chương, nên các sáng tác văn học không được hỗ trợ nhiều. Các đĩa vàng và bạc, trang sức và vật dụng tráng men được sử dụng rộng rãi để trang trí cung điện thêm lộng lẫy. Edward nuôi một con lạc đà làm thú cưng, là người trẻ tuổi, ông dắt theo một con sư tử trong chiến dịch Scotland. Nhiều kiểu mua vui ngoại lai cũng được tổ chức trong cung của Edward: mời người dụ rắn đến từ Ý vào năm 1312, và đến năm sau thì cho mời 54 vũ công khỏa thân từ Pháp. === Tôn giáo === Trong triều đại của mình, cách tiếp cận tôn giáo của Edward được xem là bình thường, nhà sử học Michael Prestwich mô tả ông là "một người có thái độ tôn giáo hoàn toàn theo thông lệ". Các nghi lễ tại nhà nguyện và bố thí tại hoàng cung được diễn ra hàng ngày, và Edward ban phước lành cho người bệnh, dù là ông cử hành các nghi thức ít hơn các vị tiên vương. Edward vẫn duy trì mối quan hệ thân thiết với các tu sĩ dòng Đa Minh, những người đã giáo dục ông, và ông đã làm theo lời khuyên của họ khi xin phép giáo hoàng cho lễ xức dầu Thánh Thomas thành Canterbury năm 1319; yêu cầu bị từ chối, khiến Nhà vua có chút bối rối. Edward ủng hộ việc mở rộng các trường đại học dưới thời của ông, thành lập King's Hall ở Cambridge để thúc đẩy giáo dục tôn giáo và luật dân sự, Oriel College ở Oxford và một đại học có thời gian tồn tại ngắn ngủi tại Dublin. Edward có quan hệ tốt với Giáo hoàng Clêmentê V, mặc cho sự can thiệp thường xuyên của Nhà vua vào hoạt động của Giáo hội Anh, bao gồm cả trừng phạt các giám mục mà ông không hài lòng. Với sự ủng hộ của Clêmentê, Edward cố gắng kiếm sự hỗ trợ tài chính từ Giáo hội Anh cho các chiến dịch quân sự của ông ở Scotland, bao gồm cả đánh thuế và vay tiền từ các quỹ quyên góp ủng hộ các cuộc Thập tự chinh. Giáo hội Anh có tương đối ít hoặc chỉ có ảnh hưởng vừa phải lên hành vi của Edward của trong suốt triều đại ông, có thể bởi vì lợi ích cá nhân và mối quan tâm của các giám mục đối với sự bảo hộ dành cho họ. Giáo hoàng Gioan XXII, tại vị từ năm 1316, tìm kiếm sự ủng hộ của Edward cho cuộc Thập tự chinh mới, và cũng có xu hướng ủng hộ ông về chính trị. Năm 1317, để đổi lấy sự ủng hộ của Giáo hoàng trong cuộc chiến ở Scotland, Edward đồng ý bắt đầu lại chuyện nộp triều cống thường niên để tỏ lòng tôn kính Giáo hoàng, điều mà ban đầu đã được Vua John đồng ý năm 1213; Edward sớm ngừng nộp thuế, tuy nhiên, Nhà vua không bao giờ bày lễ phiên thần, một phần khác của thỏa thuận năm 1213. Năm 1325, Edward đề nghị Giáo hoàng Gioan hướng dẫn Giáo hội Ireland công khai rao giảng ủng hộ quyền cai trị hòn đảo của ông, và đe dọa trừng phát những ai có ý kiến chống đối. == Di sản == === Chép sử === Trong thời kỳ này, không biên niên sử gia nào hoàn toàn đáng tin cậy và bất thiên vị, công trình của họ được viết để phục vụ cho một động cơ nào đó, nhưng rõ ràng là hầu hết các biên niên sử gia có chỉ trích Edward nặng nề. Polychronicon, Vita Edwardi Secundi, Vita et Mors Edwardi Secundi và Gesta Edwardi de Carnarvon là những bản kết tội nhân cách, thói quen và việc kết giao bạn bè của Nhà vua. Nhiều ghi chép khác trong triều đại Edward cho thấy có những lời chỉ trích Edward đến từ những người đương thời, bao gồm Giáo hội và các thành viên trong chính hoàng cung của ông. Nhiều ca khúc chính trị viết về ông để chê trách những thất bại trong chiến tranh và triều đình áp bức của ông. Sau đó, vào thế kỷ XIV, một vài biên niên sử gia như Geoffrey le Baker và Thomas Ringstead có những động thái để phục hồi danh dự Edward, mô tả ông như một người tử đạo và có tiềm năng được phong thánh, mặc dù truyền thống này bị mất đi trong những năm sau đó. Nghiên cứu của các sử gia thế kỉ XVI và XVII tập trung vào mối quan hệ của Edward với Gaveston, vẽ ra những so sánh giữa ngai vàng Edward với các sự kiện xung quanh mối quan hệ giữa Quận công d'Épernon và Henri III của Pháp, và giữa Quận công Buckingham và Charles I. Trong nửa đầu thế kỉ XIX, các nhà nghiên cứu lịch sử đại trà như Charles Dickens và Charles Knight phổ biến cuộc sống của Edward với công chúng thời Victoria, nhắm mạnh vào mối quan hệ giữa Nhà vua với các cận thần và, hơn thế nữa, ám chỉ đến chuyện tình cảm đồng giới mà ông có thể có. Từ những năm 1870 trở đi, tuy nhiên, các hội thảo của giới học giả về thiên hướng tình dục của Edward đã hạn chế đi vì sự thay đổi nhận thức của người Anh. Cho đến đầu thế kỉ XX, các trường học ở Anh vẫn được chính phủ khuyến cáo tránh thảo luận công khai về các mối quan hệ riêng tư của Edward trong các tiết học lịch sử. Quan điểm về thiên hướng tình dục của Edward tiếp tục thay đổi trong nhiều năm. Cho đến cuối thế kỷ XIX, nhiều hồ sơ quốc gia thời kì này được mở ra cho các sử gia, trong đó có William Stubbs, Thomas Tout và J. C. Davies, những người chuyên nghiên cứu về sự phát triển của hệ thống hiến pháp và chính phủ Anh trong triều đại Edward. Mặc dù chỉ trích về những điều họ xem là thiếu tư cách làm vua của Edward, các sử gia này cũng nhìn thận sự vai trò của Nghị viện được tăng cao trong khi vương quyền cá nhân thời Edward II lại suy giảm, mà họ cho là sự phát triển tích cực. Trong thập niên 1970 người viết sử về triều Edward rời bỏ mô hình nghiên cứu này, được củng cố qua việc xuất bản thêm các bản ghi chép thời Edward trong giai đoạn 25 năm cuối thế kỉ XX. Công trình của Jeffrey Denton, Jeffrey Hamilton, John Maddicott và Seymour Phillips quay lại hướng tập trung về vai trò cá nhân các lãnh đạo trong các cuộc xung đột. Có những trường hợp ngoại lệ như công trình của Hilda Johnstone về những năm đầu vương triều Edward, và nghiên cứu của Natalie Fryde về những năm cuối của triều đại, trọng tâm của các nghiên cứu lịch sử có quy mô lớn trong những năm này là lên những yếu nhân khác hơn là chỉ về bản thân Edward, cho đến khi bản tiểu sử có quy mô khá lớn của Nhà vua được Roy Haines và Seymour Phillips xuất bản năm 2003 và 2011. === Văn hóa đại chúng === Nhiều vở kịch đã khắc họa chân dung đương thời của Edward. Kịch bản của Christopher Marlowe được dựng thành vở Edward II được trình diễn lần đầu khoảng năm 1592 và tập trung vào mối quan hệ giữa Edward với Piers Gaveston, phản ánh mối quan tâm tồn tại ở thế kỉ XVI về quan hệ giữa quân vương và các sủng thần ái thiếp của họ. Marlowe mô tả cái chết của Edward là một vụ ám hại, khắc họa song song việc giết người và tử đạo; mặc dù kịch bản của Marlowe không mô tả bản chất thực sự của việc sát hại Edward, vở kịch thường được trình diễn theo quan điểm truyền thống, rằng Edward bị giết bằng một thanh sắt nóng đỏ. Nhân vật Edward trong vở kịch, đã được so sánh với những vị vua cùng thời với Marlowe là James VI của Scotland và Henry III của Pháp, có thể cũng chịu ảnh hưởng từ vở kịch Richard II của William Shakespeare. Vào thế kỉ XVII, nhà soạn kịch Ben Jonson cũng khai thác chủ đề này cho công trình dở dang của ông, Mortimer His Fall. Nhà làm phim Derek Jarman chuyển thể kịch bản của Marlowe thành phim năm 1991, một phiên bản hậu hiện đại của vở kịch, lột tả Edward với hình ảnh một quân vương cường tráng với xu hướng tình dục đồng giới, và cuối cùng bị thua dưới tay những kẻ thù quyền lực. Trong phim của Jarman, Edward cuối cùng thoát ra khỏi cảnh giam cầm, theo như bức thư của Fieschi. Những hình ảnh phổ biến hiện nay của Edward được hình thành từ sự xuất hiện đầy tương phản của ông trong phim Braveheart của Mel Gibson năm 1995, khi ông bị mô tả là một người yếu đuối và thiên hướng tình dục được thể hiện đầy ẩn ý với hình ảnh mặc quần áo lụa và trang điểm đậm, xa lánh phụ nữ và không thể đối phó với quân của người Scot. Tác phẩm điện ảnh này nhận khá nhiều chỉ trích, về những bóp méo lịch sử và về chân dung một nhân vật đồng tính luyến ái khá tiêu cực. Cuộc đời của Edward cũng là chủ đề được sử dụng rộng rãi trong các loại hình nghệ thuật khác. Đạo diễn David Bintley lấy cảm hứng từ vở kịch của Marlowe làm chất liệu cho vũ kịch ba lê Edward II, được trình diễn lần đầu năm 1995; âm nhạc vở ba lê này được dùng làm một phần của bản giao hưởng Edward II của nhà soạn nhạc John McCabe, phát hành năm 2000. Các tiểu thuyết như The Gascon của John Penford năm 1984 và Gaveston của Chris Hunt năm 1992 tập trung vào khía cạnh tình dục trong mối quan hệ giữa Edward và Gaveston, trong khi Gaveston của Stephanie Merritt năm 2002 truyền tải câu chuyện vào thế kỉ XX. Họa phẩm Edward II và Piers Gaveston của Marcus Stone đã thể hiện bóng gió mối quan hệ đồng giới giữa hai người, trong khi vẫn tránh tả điều này một cách lộ liễu; tác phẩm trưng bày đầu tiên tại Học viện hoàng gia năm 1872, nhưng lại bị gạt ra vào những thập niên sau do vấn đề đồng tính luyến ái trở nên nhạy cảm hơn. == Con cái == Edward II có 4 con với Isabella: Edward III của Anh (13 tháng 11 1312 – 21 tháng 6 1377). Kết hôn với Philippa xứ Hainault ngày 24 tháng 1 năm 1328 và có con. John xứ Eltham (15 tháng 8 1316 – 13 tháng 9 1336). Không bao giờ kết hôn. Không có con. Eleanor xứ Woodstock (18 tháng 6 1318 – 22 tháng 4 1355). Kết hôn với Reinoud II xứ Guelders vào tháng 5 năm 1332 và có con. Joan của Tòa Tháp (5 tháng 7, 1321 – 7 tháng 9, 1362). Kết hôn với David II của Scotland ngày 17 tháng 7 năm 1328 và trở thành Hoàng hậu của người Scot nhưng không có con. Edward cũng có một đứa con ngoại hôn là Adam FitzRoy (c. 1307–1322), người đồng hành với ông trong chiến dịch năm 1322 ở Scotland và chết không lâu sau đó. == Tổ tiên == == Xem thêm == Lịch sử quan hệ đồng giới == Chú giải == == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Edward's tomb at Gloucester Cathedral Tài liệu lưu trữ liên quan đến Edward II của Anh liệt kê tại Cơ quan lưu trữ quốc gia Vương quốc Anh Chân dung của King Edward II tại Phòng Trưng bày Chân dung Quốc gia, Luân Đôn
danh sách các công ty công nghệ lớn nhất.txt
Đây là danh sách các công ty công nghệ lớn nhất thế giới bởi doanh thu. Đây là danh sách các công ty có hoạt động kinh doanh chính liên quan đến ngành công nghiệp công nghệ gồm phần cứng máy tính, phần mềm, điện tử, bán dẫn, Internet, thiết bị viễn thông, e-commerce và dịch vụ máy tính. Ghi chú: Danh sách giới hạn các công ty với tổng doanh thu hằng năm lên đến 50 tỉ USD. == Huyền thoại == == Danh sách == (Tất cả giá trị tiền tệ tính bằng tỷ đô la) == Xem thêm == Tập đoàn Samsung Apple Inc Danh sách các công ty Internet lớn nhất == Liên kết ==
danh sách tổng thống bangladesh.txt
Tổng thống Bangladesh, theo quy định của Hiến pháp Bangladesh, là nguyên thủ quốc gia của Bangladesh. Tổng thống Bangladesh là chức vụ chức vụ cao hơn Thủ tướng, nhưng chỉ giữ chức vụ phần lớn mang tính lễ nghi hình thức. Thủ tướng mới chính là có quyền điều hành thực tế đối với chính phủ, và là người đứng đầu nội các của quốc gia này. Tổng thống có quyền bổ nhiệm và miễn nhiệm Thủ tướng dựa trên tình hình chiếm lĩnh số ghế trong Quốc hội Jatiya Sangsad (Quốc hội Bangladesh). Đương nhiên, Tổng thống luôn phải bổ nhiệm Thủ tướng là người lãnh đạo của đảng lớn nhất (hay liên hiệp) ở trong Jatiya Sangsad Danh sách các Tổng thống Bangladesh: == Thập niên 1970 == Sheikh Mujibur Rahman: 11 tháng 4 năm 1971 đến 12 tháng 1 năm 1972 Abu Sayeed Chowdhury: 12 tháng 1 năm 1972 đến 24 tháng 12 năm 1973 Mohammad Mohammadullah: 26 tháng 12 năm 1973 đến 25 tháng 1 năm 1975 Sheikh Mujibur Rahman: 25 tháng 1 đến 15 tháng 8 năm 1975 Khandakar Mushtaq Ahmed: 15 tháng 8 đến 6 tháng 11 năm 1975 Abu Sadat Mohammad Sayem: 6 tháng 11 năm 1975 đến 21 tháng 4 năm 1977 Ziaur Rahman: 21 tháng 4 năm 1977 đến 30 tháng 5 năm 1981 == Thập niên 1980 == Abdus Sattar: 30 tháng 5 năm 1981 đến 24 tháng 3 năm 1982 Hossain Mohammad Ershad: 24 đến 27 tháng 3 1982 A.F.M. Ahsanuddin Chowdhury: 27 tháng 3 1982 đến 11 tháng 12 1983 Hossain Mohammad Ershad: 11 tháng 12 1983 đến 6 tháng 12 1990 == Thập niên 1990 == Shahabuddin Ahmed (quyền): 6 tháng 12 năm 1990 đến 10 tháng 10 năm 1991 Abdur Rahman Biswas: 10 tháng 10 năm 1991 đến 9 tháng 10 năm 1996 Shahabuddin Ahmed: 9 tháng 10 năm 1996 đến 14 tháng 11 năm 2001 == Thập niên 2000 == A.Q.M. Badruddoza Chowdhury: 14 tháng 11 năm 2001 đến 21 tháng 6 năm2002 Jamiruddin Sircar (quyền): 21 tháng 6 đến 6 tháng 9 năm 2002 Iajuddin Ahmed: 6 tháng 9 năm 2002 đến 2009 Zillur Rahman: 2009 đến 20 tháng 3 năm 2013 Abdul Hamid: Từ ngày 20 tháng 3 năm 2013 đến nay == Xem thêm == Thủ tướng Bangladesh Danh sách các chính đảng Bangladesh == Tham khảo == Rulers - list of rulers of Bangladesh
hypena bijugalis.txt
Hypena bijugalis là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Nó được tìm thấy ở Nova Scotia ngang qua miền nam Canada tới đảo Vancouver, phía nam đến over the whole United States tới Florida. Sải cánh dài 24–31 mm. Con trưởng thành bay từ tháng 4 đến tháng 9 tùy theo địa điểm. There are two generations in much of the east. More generations southward. Ấu trùng ăn Cornus sericea và có lẽ các loài Cornus khác. == Liên kết ngoài == Owlet Caterpillars of Eastern North America (Lepidoptera: Noctuidae) Bug Guide Species info Images == Chú thích ==
phill lewis.txt
Phill Lewis là một nam diễn viên truyền hình người Mỹ chủ yếu trong các phim hài. Anh nổi tiếng với vai quản lý khách sạn Tipton, Moseby, trong bộ phim truyền hình sitcom Cuộc sống thượng hạng của Zack và Cody. == Tiểu sử == Phill Lewis là người Mỹ gốc Phi. Anh sinh ra tại Uganda, là con trai của Delano Lewis, một người Mỹ gốc Phi từng phục vụ cho quân đội Mỹ và từng nắm giữ cương vị đại sứ Mỹ tại Nam Phi. Phill Lewis lần đầu tiên tham gia diễn xuất vào năm 1991 trong bộ phim truyền hình Teech, nhưng bộ phim nhanh chóng bị hủy bỏ sau 4 tập công chiếu do lượng khán giả quá ít ỏi. Sau thất bại đầu tiên trong nghề nghiệp, Lewis liên tiếp dính vào các cáo buộc phạm tội. Tháng 12 năm 1991, anh bị bắt vì tội lái xe trong khi uống rượu và gây ra tai nạn giao thông làm chết cô gái 21 tuổi Isabel Duarte tại Maryland. Tại tòa, Lewis bị tuyên phạt 5 năm tù giam, 2 năm thử thách và 350 giờ lao động công ích cho cộng đồng. Sau đó, thẩm phán đã quyết định cho Lewis hưởng án treo 4 năm, và anh đã làm việc cùng đoàn kịch của nhà tù, tham gia biểu diễn tại các trường học và nhà thờ với mục đích tuyên truyền hậu quả của việc lạm dụng ma túy. Sau những rắc rối pháp luật, Lewis đã quay trở lại nghiệp diễn xuất và thu được nhiều thành công khi đóng vai quản lý khách sạn Tipton nóng nảy và nghiêm khắc, Marion Moseby, trong bộ phim truyền hình sitcom ăn khách Cuộc sống thượng hạng của Zack và Cody. Anh cũng tham gia đóng nhiều phim nữa cho Disney và các bộ phim truyền hình khác với tư cách khách mời. Lewis cũng trở thành người đồng dẫn chương trình của Disney Channel Games lần đầu tiên được tổ chức cùng với bạn diễn Brian Stepanek. Lewis đã tham gia bộ phim Dadnapped của Disney trong năm 2009. == Tham khảo ==
nhà thanh.txt
Nhà Thanh (tiếng Mãn Châu: daicing gurun; tiếng Mông Cổ: Манж Чин Улс; chữ Hán: 清朝; bính âm: Qīng cháo; Wade-Giles: Ch'ing ch'ao; âm Hán-Việt: Thanh triều) là một triều đại do dòng họ Ái Tân Giác La (Aisin Gioro) ở Mãn Châu thành lập. Khi đó, Mãn Châu là một địa danh nằm tại phía bắc bán đảo Triều Tiên và phía Đông Bắc Trung Quốc. Hiện nay, vùng đất này bị phân chia giữa khu vực Viễn Đông Nga với Đông Bắc Trung Quốc. Nhà Thanh cũng là triều đại phong kiến cuối cùng trong lịch sử Trung Quốc và Mông Cổ. Triều đại này từng được tộc người Nữ Chân (đứng đầu bởi Nỗ Nhĩ Cáp Xích) xây dựng với quốc hiệu Đại Kim vào năm 1616 tại Mãn Châu - sử sách gọi là nhà Hậu Kim. Cho đến năm 1636, Hoàng Thái Cực đổi quốc hiệu thành Đại Thanh (chữ Hán: 大清; bính âm: Dà Qīng), và mở rộng lãnh thổ vào lục địa Đông Á cũng như các khu vực xung quanh. Nhà Thanh chinh phục và trở thành triều đình cai trị của: Trung Quốc (1644-1659), Đài Loan (1683), Mông Cổ (1691), Tây Tạng (1751), Tân Cương (1759); hoàn thành cuộc chinh phục của người Mãn Châu. Trong thời gian trị vì, nhà Thanh đã củng cố quyền quản lý của họ đối với Trung Quốc, hoà nhập với văn hoá Trung Quốc, và đạt tới tầm ảnh hưởng cao nhất của Đế quốc Trung Hoa. Tuy nhiên, sức mạnh quân sự của họ đã giảm sút trong thế kỷ 19, và phải đối mặt với sức ép từ bên ngoài, nhiều cuộc nổi loạn và những thất bại trong chiến tranh, nhà Thanh tàn tạ từ sau nửa cuối thế kỷ 19. Nhà Thanh bị lật đổ sau cuộc Cách mạng Tân Hợi khi hoàng hậu nhiếp chính khi ấy là Hiếu Định Cảnh hoàng hậu, đối mặt với nhiều sự phản kháng buộc phải thoái vị nhân danh vị hoàng đế cuối cùng, Phổ Nghi, ngày 12 tháng 2, 1912. == Sự thành lập nhà nước Mãn Châu == Nhà Thanh là một triều đại do người Mãn Châu thành lập, một dân tộc thiểu số ở một số nước Đông Á hiện nay. Vốn là những người du mục bán khai, người Mãn Châu dần chiếm ưu thế tại vùng hiện ở phía đông nam Nga. Quốc gia Mãn Châu được Nỗ Nhĩ Cáp Xích (Nurhaci) thành lập vào đầu thế kỷ 17. Ban đầu chỉ là một nước chư hầu của nhà Minh, ông tự tuyên bố mình là hoàng đế của nước Hậu Kim năm 1609. Cùng năm ấy, ông phát triển các nguồn tài nguyên kinh tế, con người của đất nước cũng như kỹ thuật bằng cách thu nhận những người Hán sống tại vùng Mãn Châu. Năm 1625, Nỗ Nhĩ Cáp Xích lập thủ đô tại Thẩm Dương (tiếng Mãn Châu: Mukden), nhưng năm sau ông phải chịu một thất bại quân sự lớn đầu tiên trước một vị tướng nhà Minh là Viên Sùng Hoán. Nỗ Nhĩ Cáp Xích chết năm đó. Một trong những thành tựu lớn nhất của ông là việc tạo lập hệ thống Bát Kỳ, theo đó mọi người dân Mãn Châu đều thuộc một trong tám "Kỳ", đó vừa là các đơn vị dân sự vừa mang tính chất quân sự. Các Kỳ được đặt tên như vậy bởi vì mỗi nhóm được phân biệt bởi một lá cờ khác nhau. Người kế tục Nỗ Nhĩ Cáp Xích, Hoàng Thái Cực (Huang Taiji), tiếp tục tiến hành công việc dựa trên các nền móng được người cha để lại, sáp nhập các kỳ của người Hán đầu tiên vào quân đội của mình. Hoàng Thái Cực cũng chấp nhận việc áp dụng nhiều cơ cấu chính trị kiểu nhà Minh vào đất nước mình, nhưng luôn giữ ưu thế của người Mãn Châu trong các cơ cấu đó thông qua một hệ thống định mức phân bổ. Khi Lâm Đan Hãn (Ligdan Khan), vị đại hãn cuối cùng của người Mông Cổ, chết trên đường tới Tây Tạng năm 1634, con trai ông Ngạch Triết (Ejei) đã đầu hàng người Mãn Châu và trao lại ấn ngọc truyền quốc của Hoàng đế Nguyên cho Hoàng Thái Cực. Năm 1636 Hoàng Thái Cực đổi tên nước thành Thanh, có nghĩa là thanh khiết, biểu hiện những tham vọng đối với vùng Mãn Châu. Cái tên Thanh được lựa chọn bởi vì tên của nhà Minh (明) được cấu thành từ các ký hiệu của chữ nhật (日, mặt trời) và nguyệt (月, Mặt Trăng), đều liên quan tới hỏa mệnh. Chữ Thanh (清) được cấu thành từ chữ căn bản là thuỷ (水, nước) và từ chỉ màu xanh (青), cả hai đều là mệnh thuỷ. Trong thuyết Ngũ hành, thì thủy khắc được hỏa, ám chỉ việc nhà Thanh sẽ đánh tan toàn bộ nhà Minh. Trong một loạt những chiến dịch quân sự, Hoàng Thái Cực đã khuất phục được vùng Nội Mông và Triều Tiên trước khi tiếp tục chiếm quyền kiểm soát vùng Hắc Long Giang. == Tuyên bố Thiên mệnh == Bắc Kinh đã bị một liên minh những lực lượng nổi loạn do Lý Tự Thành cầm đầu vào cướp phá. Nhà Minh chính thức kết thúc khi Minh Tư Tông (Sùng Trinh Đế) Chu Do Kiểm, vị Hoàng đế cuối cùng của nhà Minh treo cổ tự tử tại Môi Sơn cạnh Tử Cấm Thành. Sau khi chiếm Bắc Kinh vào tháng 4 năm 1644, Lý Tự Thành dẫn đầu một đội quân mạnh gồm 600.000 người chiến đấu với Ngô Tam Quế, vị tướng chỉ huy lực lượng đồn trú 100.000 lính bảo vệ Sơn Hải Quan (山海關) của nhà Minh. Sơn Hải Quan là cửa ải có vị trí trọng yếu ở phía đông bắc Vạn lý trường thành cách Bắc Kinh năm mươi dặm về phía đông bắc và trong nhiều năm lực lượng đồn trú tại đây luôn phải chiến đấu ngăn chặn người Mãn Châu bên ngoài thủ đô Bắc Kinh. Sau khi Lý Tự Thành chiếm được Bắc Kinh, giết cha và cướp thiếp của Ngô Tam Quế, Ngô Tam Quế đã quyết định đánh mở cổng thành đầu hàng nhà Thanh, liên minh với hoàng tử Đa Nhĩ Cổn, khi ấy đang làm nhiếp chính cho Hoàng đế Thuận Trị mới lên sáu, con trai của Hoàng Thái Cực mới chết năm trước. Liên minh này đánh bại các lực lượng nổi loạn của Lý Tự Thành trong trận chiến ngày 27 tháng 5, 1644. Quá trình tiêu diệt các lực lượng trung thành với nhà Minh, những kẻ nhòm ngó ngôi báu và những kẻ phiến loạn khác kéo dài thêm mười bảy năm nữa. Vị vua cuối cùng của nhà Minh, Vĩnh Lịch, chạy trốn tới Miến Điện, tức Myanma hiện nay, nhưng bị bắt và giao lại cho lực lượng viễn chinh của nhà Thanh do Ngô Tam Quế cầm đầu. Vĩnh Lịch bị hành quyết tại tỉnh Vân Nam đầu năm 1662. == Khang Hi và sự củng cố quyền lực == Hoàng đế Khang Hi (khoảng 1662 - 1722) lên ngôi khi mới tám tuổi. Trong những năm cầm quyền đầu tiên ông được bà của mình là Thái hoàng thái hậu Hiếu Trang giữ quyền nhiếp chính trợ giúp rất nhiều. Người Mãn Châu nhận ra rằng việc kiểm soát "Thiên mệnh" là một nhiệm vụ hết sức to lớn. Sự rộng lớn của lãnh thổ Mãn Châu đồng nghĩa với việc triều đình chỉ có đủ quân đội để đồn trú tại những thành phố chính và xương sống của mạng lưới phòng ngự dựa chủ yếu vào những người lính nhà Minh đã đầu hàng. Hơn nữa, các tướng lĩnh nhà Minh đã đầu hàng trước đó cũng được lựa chọn theo mức độ đóng góp vào việc thành lập nhà Thanh, được phong tước trở thành các lãnh chúa phong kiến (藩王- phiên vương), và được quyền cai quản những vùng đất rộng lớn ở phía nam Trung Quốc. Người đứng đầu số đó là Ngô Tam Quế (吳三桂), được trao các tỉnh Vân Nam và Quý Châu, trong khi các vị tướng khác như Thượng Khả Hỉ (尚可喜) và Cảnh Trọng Minh (耿仲明) được giao cai quản các tỉnh Quảng Đông và Phúc Kiến. Ba người này được người Trung Quốc gọi chung bằng cái tên Tam Phiên. Sau một thời gian, ba vị lãnh chúa này và những vùng đất đai của họ cai quản dần trở thành hình thức tự trị. Cuối cùng, vào năm 1673, Thượng Khả Hỉ thỉnh cầu Khang Hi, bày tỏ ước vọng muốn được trở về quê hương tại tỉnh Liêu Đông (遼東) và chỉ định con trai làm người kế nhiệm. Vị hoàng đế trẻ cho phép ông ta về nghỉ nhưng từ chối trao chức vụ cho người con trai. Trước sự kiện đó, hai vị tướng kia cũng quyết định xin về hưu để thử phản ứng của Khang Hi, cho rằng ông ta sẽ không dám liều xúc phạm đến họ. Hành động này mang lại kết quả trái ngược với mong đợi của họ khi vị hoàng đế trẻ tuổi lừa phỉnh họ bằng cách chấp nhận các yêu cầu và đoạt lại ba vùng đất đó cho triều đình. Thấy mình bị tước đoạt quyền lực, Ngô Tam Quế cho rằng ông ta không còn lựa chọn nào khác ngoài cách làm loạn. Ngô Tam Quế cùng Cảnh Trọng Minh và con trai Thượng Khả Hỉ là Thượng Chi Tín (尚之信) thành lập liên minh. Cuộc nổi dậy diễn ra sau đó kéo dài tám năm. Ở thời phát triển mạnh nhất, lực lượng nổi dậy đã tìm cách mở rộng tầm kiểm soát của mình về hướng bắc tới tận sông Trường Giang (長江). Dù vậy, cuối cùng triều đình nhà Thanh tiêu diệt được cuộc nổi dậy và kiểm soát được toàn bộ miền nam Trung Quốc. Trong lịch sử Trung Quốc, sự kiện này được gọi là Loạn Tam Phiên. Để củng cố đế chế, Khang Hi đích thân chỉ huy một loạt các chiến dịch quân sự tấn công Tây Tạng, người Dzungar; và sau này, ông đánh cả Đế quốc Nga, nhưng phần lớn bị Pyotr I tấn công dữ dội cho tới chân thành Bắc Kinh. Ông dàn xếp một cuộc hôn nhân giữa con gái mình với vị Hãn Mông Cổ là Gordhun (Chuẩn Cát Nhĩ) nhằm tránh một cuộc xung đột quân sự. Các chiến dịch quân sự của Gordhun chống lại nhà Thanh đã chấm dứt, giúp tăng cường sức mạnh đế chế. Đài Loan cũng bị các lực lượng nhà Thanh chinh phục năm 1683 từ tay con trai của Trịnh Kinh là Trịnh Khắc Sảng (鄭克塽,) (cháu nội Trịnh Thành Công, người đã đoạt lại quyền kiểm soát Đài Loan từ tay thực dân Hà Lan). Tới cuối thế kỷ 17, Trung Quốc đạt tới đỉnh cao quyền lực của mình kể từ thời nhà Minh. Khang Hi cũng cho phép nhiều nhà truyền giáo thuộc các Giáo hội Thiên chúa tới Trung Quốc để truyền đạo. Dù họ không đạt được mục đích cải đạo cho đa số dân Trung Quốc, Khang Hi vẫn cho họ sống yên ổn tại Bắc Kinh. == Các hoàng đế Ung Chính và Càn Long == Hai giai đoạn trị vì của Hoàng đế Ung Chính (trị vì 1723 - 1735) và con trai ông Hoàng đế Càn Long (trị vì 1735 - 1796) đánh dấu đỉnh cao phát triển quyền lực nhà Thanh. Trong giai đoạn này, nhà Thanh cai quản 13 triệu kilômét vuông lãnh thổ. Sau khi Khang Hi qua đời vào mùa đông năm 1722, con trai thứ tư của ông là Ung Thân vương (雍親王) Dận Chân lên nối ngôi trở thành Hoàng đế Ung Chính. Ung Chính là một nhân vật gây nhiều tranh cãi bởi vì có những lời đồn đại về việc ông cướp ngôi, và trong những năm cuối cùng thời Khang Hi ông đã tham gia vào nhiều cuộc tranh giành quyền lực chính trị với các anh em của mình. Ung Chính là một nhà cai trị chăm chỉ và quản lý đất nước mình bằng bàn tay sắt. Bước đầu tiên của ông nhằm tăng cường sức mạnh triều đình là đưa hệ thống thi cử quốc gia trở về các tiêu chuẩn trước đó. Năm 1724 ông đàn áp thẳng tay những trao đổi tiền bất hợp pháp, vốn bị các quan chức triều đình lợi dụng để kiếm chác. Những người vi phạm vào luật mới về tài chính đều bị cách chức hay trong những trường hợp nghiêm trọng, sẽ bị hành quyết. Ung Chính rất tin tưởng vào các vị quan người Hán, và đã chỉ định nhiều người được ông che chở vào những chức vụ quan trọng. Một trong những trường hợp điển hình là Niên Canh Nghiêu đã được phong làm người chỉ huy chiến dịch quân sự tại Thanh Hải, thay cho người em trai của Ung Chính là hoàng tử Dận Trinh (胤禵). Tuy nhiên, những hành động kiêu ngạo của Niên khiến ông mất chức năm 1726. Trong thời gian cai trị của Ung Chính, sức mạnh của đế quốc được củng cố và đạt tới mức cao nhất trong lịch sử Trung Quốc. Nhiều vùng đất ở phía tây bắc được sáp nhập vào lãnh thổ quốc gia. Một lập trường cứng rắn hơn được thực hiện nhằm mục đích loại bỏ các quan lại tham nhũng, và Ung Chính là người đã lập ra Quân Cơ Xứ (軍機處), trên thực tế là một bộ máy nhằm đảm bảo sự yên ổn của triều đình. Hoàng đế Ung Chính mất năm 1735. Con trai ông Bảo Thân Vương (寶親王) Hoằng Lịch lên nối ngôi trở thành Hoàng đế Càn Long. Càn Long nổi tiếng là một vị tướng có tài. Nối ngôi ở tuổi 24, Càn Long đích thân chỉ huy một cuộc tấn công quân sự gần Tân Cương và Mông Cổ. Các cuộc nổi loạn và khởi nghĩa tại Tứ Xuyên và nhiều vùng ở phía nam Trung Quốc cũng được dẹp yên. Khoảng bốn mươi năm kể từ khi Càn Long lên ngôi, chính phủ nhà Thanh đối mặt với tình trạng tham nhũng nặng nề trở lại. Hòa Thân một vị quan trong triều, là kẻ tham nhũng nhất vương quốc. Ông ta đã bị con trai Càn Long, Hoàng đế Gia Khánh (1796 - 1820) buộc phải tự sát. == Mở rộng đế chế == Sau khi chiếm Trung Hoa của nhà Minh, các hoàng đế nhà Thanh đã từng bước mở rộng đế chế của mình thông qua các cuộc chiến tranh và sát nhập. Họ đã chiếm thêm được Tân Cương, Tây Tạng, Đài Loan, một phần Kazakhstan, Kyrgyzstan, Uzbekistan ngày nay và cùng với Mông Cổ, Triều Tiên trước đó vào đế chế của mình. Họ đã thất bại trước nước Đại Việt và Miến Điện khi tiến xuống Đông Nam Á vào nửa sau thế kỷ 18, cho tới khi Đế quốc Nga xâm chiếm Trung Á vào thế kỉ 19. == Nổi loạn, bất ổn và áp lực ngày càng tăng == Một quan điểm thông thường về Trung Quốc ở thế kỷ 19 cho rằng đây là giai đoạn mà sự kiểm soát của nhà Thanh suy yếu đi và sự thịnh vượng cũng sút giảm. Quả vậy, Trung Quốc phải chịu đựng nhiều cuộc xung đột xã hội, đình đốn kinh tế và sự bùng nổ dân số đặt ra những vấn đề lớn đối với việc phân phối lương thực. Các nhà sử học đã đưa ra nhiều sự giải thích cho những sự kiện trên, nhưng ý tưởng căn bản cho rằng quyền lực nhà Thanh, sau một thế kỷ, đã phải đối mặt với những vấn đề bên trong và áp lực bên ngoài khiến cho hình mẫu chính phủ, tình trạng quan liêu và hệ thống kinh tế của Trung Quốc thời ấy không sao giải quyết nổi. Cuộc khởi nghĩa Thái bình thiên quốc vào giữa thế kỷ mười chín là ví dụ đầu tiên phản ánh tư tưởng chống Mãn Châu đe dọa sự ổn định của nhà Thanh, một hiện tượng còn tăng thêm trong những năm sau này. Tuy nhiên, số lượng thương vong kinh khủng của cuộc khởi nghĩa này - tới 30 triệu người - và sự tàn phá nghiêm trọng các vùng đất rộng lớn ở phía nam đất nước vẫn còn bị che mở bởi một cuộc xung đột khác. Dù không đẫm máu bằng, nhưng thế giới ảnh hưởng của thế giới bên ngoài qua những tư tưởng và kỹ thuật của nó đã có một ảnh hưởng rất lớn và cuối cùng mang lại tác động có tính cách mạng đối với một triều đình nhà Thanh đang ngày càng suy yếu và dao động. Một trong những vấn đề lớn ở thế kỷ mười chín của Trung Quốc là cách thức đối phó với các nước khác bên ngoài. Trước thế kỷ mười chín, Đế chế Trung Quốc là cường quốc bá chủ châu Á. Theo học thuyết đế quốc của họ, hoàng đế Trung Quốc có quyền cai trị toàn bộ "thiên hạ". Tùy theo từng giai đoạn và từng triều đại, họ hoặc cai trị trực tiếp các vùng lãnh thổ xung quanh hoặc buộc các nước đó phải nộp cống cho mình. Các nhà sử học thường đưa ra quan niệm cơ bản của đế chế Trung Quốc, "đế chế không biên giới", khi đề cập tới thực trạng trên. Tuy nhiên, trong thế kỷ mười tám, các đế chế châu Âu dần mở rộng ra khắp thế giới, khi các nước châu Âu phát triển các nền kinh tế hùng mạnh dựa trên thương mại hàng hải. Mặt khác, đế chế Trung Quốc rơi vào tình trạng tù hãm sau nhiều thế kỷ dẫn đầu thế giới. Tới cuối thế kỷ mười tám, các thuộc địa của châu Âu đã được lập nên ở gần Ấn Độ và trên những hòn đảo hiện là các vùng thuộc Indonesia, trong khi Đế chế Nga đã sáp nhập các vùng phía bắc Trung Quốc. Ở thời các cuộc chiến tranh Napoleon, Anh Quốc từng muốn thành lập liên minh với Trung Quốc, gửi các hạm đội tàu tới Hồng Kông mang theo quà tặng gửi tới vị Hoàng đế, gồm nhiều vật phẩm được chế tạo bởi những kỹ thuật và phong cách nghệ thuật mới nhất của châu Âu thời kỳ đó. Khi các phái đoàn Anh nhận được một lá thư từ Bắc Kinh giải thích rằng Trung Quốc không cảm thấy ấn tượng trước những thành tựu của châu Âu và cho rằng triều đình Trung Quốc sẵn lòng nhận sự kính trọng của vua George III nước Anh, chính phủ Anh cảm thấy bị xúc phạm và từ bỏ mọi kế hoạch nhằm thiết lập các quan hệ với nhà Thanh. Khi các cuộc chiến tranh Napoleon chấm dứt năm 1815, thương mại thế giới tăng trưởng nhanh chóng, và bởi vì dân số đông đảo của Trung Quốc là một thị trường vô hạn cho hàng hóa châu Âu, thương mại giữa Trung Quốc và các thương gia châu Âu phát triển trong những năm đầu của thế kỷ mười chín. Khi thương mại tăng trưởng, sự thù nghịch cũng gia tăng giữa các chính phủ châu Âu và nhà Thanh. Năm 1793, nhà Thanh chính thức cho rằng Trung Quốc không cần tới các hàng hóa châu Âu. Vì thế, các lái buôn Trung Quốc chỉ chấp nhận dùng bạc làm vật trao đổi cho hàng hóa của họ. Nhu cầu to lớn của châu Âu đối với các hàng hóa Trung Quốc như tơ, trà, và đồ sứ chỉ có thế được đáp ứng khi các công ty châu Âu rót hết số bạc họ có vào trong Trung Quốc. Tới cuối những năm 1830, các chính phủ Anh và Pháp rất lo ngại về các kho dự trữ kim loại quý của họ và tìm cách đưa ra một phương thức trao đổi mới với Trung Quốc - và cách tốt nhất là đầu độc Trung Quốc bằng thuốc phiện. Khi nhà Thanh tìm cách cấm buôn bán thuốc phiện năm 1838, Anh Quốc đã tuyên chiến với Trung Quốc. Chiến tranh nha phiến lần thứ nhất cho thấy sự lạc hậu của quân đội Trung Quốc. Dù có quân số áp đảo so với người Anh, kỹ thuật và chiến thuật của họ không thể so sánh với các cường quốc kỹ thuật thời ấy. Hải quân nhà Thanh, gồm toàn các tàu gỗ không phải là đối thủ của các tàu chiến bọc thép chạy hơi nước của Hải quân Hoàng gia Anh. Binh sĩ Anh sử dụng súng có rãnh xoắn và pháo binh vượt trội dễ dàng tiêu diệt các lực lượng nhà Thanh trên chiến trường. Việc nhà Thanh đầu hàng năm 1842 đánh dấu một tai họa mang tính quyết định và nhục nhã của Trung Quốc. Hiệp ước Nam Kinh, buộc họ phải trả khoản bồi thường 21 triệu lạng bạc và nhượng đảo Hồng Kông cho Anh Quốc. Nó cũng cho thấy tình trạng bất ổn định của chính phủ nhà Thanh và khiến cho nhiều cuộc khởi nghĩa chống chế độ diễn ra. Các cường quốc phương tây, chưa hài lòng với Hiệp ước Nam Kinh, chỉ miễn cưỡng hỗ trợ nhà Thanh trong việc tiêu diệt các cuộc nổi dậy Thái bình thiên quốc và cuộc khởi nghĩa Niệm Quân. Thu nhập của Trung Quốc giảm sút rõ rệt trong thời gian chiến tranh khi nhiều vùng đất canh tác rộng lớn bị hủy hoại, hàng triệu người thiệt mạng và số lượng binh lính đông đảo cũng như trang bị vũ khí cho họ để chiến đấu. Năm 1854, Anh Quốc tìm cách đàm phán lại Hiệp ước Nam Kinh, thêm vào các điều khoản cho phép các thương gia người Anh đi lại trên sông ngòi Trung Quốc và lập một đại sứ quán thường trực của họ tại Bắc Kinh. Điều khoản cuối cùng này xúc phạm tới chính quyền nhà Thanh và họ đã từ chối ký kết, gây ra một cuộc chiến tranh khác giữa hai bên. Cuộc chiến tranh nha phiến lần thứ hai chấm dứt với một thất bại nặng nề khác của Trung Quốc, khiến cho Nhà Thanh phải ký hiệp ước Thiên Tân với Đế quốc Anh == Sự cai trị của Từ Hi Thái Hậu == Cuối thể kỷ 19, một nhà lãnh tụ mới xuất hiện là Từ Hi Thái Hậu. Xuất thân chỉ là một phi tần của Hàm Phong (1850-1861), nhưng nhờ sinh ra Thái tử Tái Thuần nên sau khi Hàm Phong chết và vị hoàng tử nhỏ tuổi lên ngôi lấy hiệu là Đồng Trị, Từ Hi đã ngấm ngầm tiến hành cuộc đảo chính để tước quyền nhiếp chính của đại thần Túc Thuận theo di chiếu của tiên hoàng. Bà nắm quyền nhiếp chính và trở thành người đứng đầu không chính thức của Trung Hoa suốt 47 năm. Bà còn được biết tới bởi sự nhúng tay vào chính sự kiểu "Thùy liêm thính chính" (垂簾聽政-tức can thiệp chính trị từ sau hậu đài). Tới những năm 1860, triều đình nhà Thanh đã tiêu diệt được các cuộc nổi dậy nhờ sự hỗ trợ của lực lượng dân quân do tầng lớp quý tộc tổ chức. Sau đó, chính phủ Thanh tiếp tục giải quyết vấn đề hiện đại hoá, từng được đưa ra trước đó với Phong trào tự cường. Nhiều đội quân hiện đại được thành lập gồm cả Hạm đội Bắc Hải; tuy nhiên Hạm đội Bắc Hải đã bị tiêu diệt trong Chiến tranh Trung Nhật (1894-1895), khiến cho ngày càng xuất hiện nhiều kêu gọi cải cách sâu rộng hơn nữa. Đầu thế kỷ 20, nhà Thanh rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Nếu tiếp tục theo đuổi cải cách, họ sẽ khiến giới quý tộc bảo thủ mất lòng, nếu ngăn cản việc đó họ lại khiến những người theo đường lối cách mạng tức giận. Nhà Thanh tìm cách đi theo con đường trung dung, nhưng việc này lại khiến tất cả các bên cùng bất mãn. Mười năm trong giai đoạn cai trị của Hoàng đế Quang Tự (1875 - 1908) là những năm Thanh Đình cố gắng tiến hành biến pháp và cải cách nhằm phát triển đất nước. Năm 1898 Quang Tự nỗ lực tiến hành Cuộc cải cách một trăm ngày (百日維新, Bách nhật duy tân), còn được biết dưới cái tên "Mậu Tuất biến pháp" (戊戌變法), đưa ra các luật mới thay thế cho các quy định cũ đã bị bãi bỏ. Những nhà cải cách, với đầu óc tiến bộ hơn như Khang Hữu Vi được tin tường và những người có đầu óc thủ cựu như Lý Hồng Chương bị gạt bỏ khỏi các vị trí quan trọng. Nhưng các ý tưởng mới đã bị Từ Hi dập tắt, Quang Tự bị nhốt trong cung. Từ Hi chỉ tập trung vào việc củng cố quyền lực của riêng mình. Tại buổi lễ sinh nhật lần thứ 60, bà đã chi 30 triệu lạng bạc để trang trí và tổ chức, số tiền đã định dùng để cải tiến vũ khí cho Hạm đội Bắc Hải. Năm 1901, sau khi Đại sứ Đức bị ám sát, Liên quân tám nước (八國聯軍) cùng tiến vào Trung Quốc lần thứ hai. Từ Hi phản ứng bằng cách tuyên chiến với tám nước, nhưng chỉ một thời gian ngắn đã để mất Bắc Kinh và cùng với Hoàng đế Quang Tự chạy trốn tới Tây An. Để đòi bồi thường chiến phí, Liên quân đưa ra một danh sách những yêu cầu đối với chính phủ nhà Thanh, gồm cả một danh sách những người phải bị hành quyết khiến cho Lý Hồng Chương, thuyết khách số một của Từ Hi, buộc phải đi đàm phán và Liên quân đã có một số nhượng bộ đối với các yêu cầu của họ. == Chính phủ nhà Thanh và xã hội == === Chính trị === Bộ máy hành chính quan trọng nhất của nhà Thanh là Đại hội đồng, là một cơ quan gồm hoàng đế và các quan lại cao cấp. Nhà Thanh có đặc trưng bởi một hệ thống chỉ định kép, theo đó mỗi vị trí trong chính phủ trung ương đều có một người Hán và một người Mãn Châu cùng quản lý. Ví dụ, ở thời Hoàng đế Càn Long các thành viên của gia đình ông được phân biệt bởi một loại trang phục với biểu tượng hình tròn ở phía sau lưng, trong khi người Hán chỉ được mặc trang phục với một biểu tượng hình vuông; điều này có nghĩa là bất kỳ người lính nào trong cung đều có thể dễ dàng phân biệt các thành viên gia đình hoàng gia mà chỉ cần quan sát từ phía sau. Đối với Mông Cổ, Tây Tạng và Đông Turkestan, giống như các triều đại trước đó, nhà Thanh vẫn giữ quyền kiểm soát đế quốc với việc hoàng đế kiêm vai trò Hãn Mông Cổ, người bảo trợ của Phật giáo Tây Tạng và người bảo vệ cho Hồi giáo. Tuy nhiên, chính sách của nhà Thanh đã thay đổi với việc thành lập tỉnh Tân Cương năm 1884. Để đối phó với các hành động quân sự của Anh và Nga tại Tân Cương và Tây Tạng, nhà Thanh đã phái các đơn vị quân đội tới và họ đã đương đầu khá tốt với quân Anh. Sự từ bỏ địa vị của hoàng đế Thanh đương nhiên dẫn tới tình trạng tranh cãi về địa thế của các lãnh thổ tại Tây Tạng và Mông Cổ. Quan điểm của những người theo chủ nghĩa quốc gia Tây Tạng và Mông Cổ thời ấy cũng như hiện tại cho rằng bởi vì họ đã trung thành với nhà Thanh thì khi nhà Thanh từ bỏ vị thế của mình họ không còn bổn phận gì nữa đối với nước Trung Hoa mới. Lập trường này bị Trung Hoa Dân Quốc và sau này là Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa bác bỏ dựa trên các yêu sách của họ cho rằng trên thực tế các vùng này từng là các vùng đất thuộc các triều đại Trung Quốc từ trước cả nhà Thanh. Bất kỳ thuộc sắc tộc nào, người Hán, người Mãn Châu, người Mông Cổ hay những nhóm thiểu số khác, tất cả họ đều đã thành lập lên các triều đại với tính chất Hán trung tâm (Sino-centric), và cho rằng lịch sử cũng như tính chính thống của các lãnh thổ này đều là một phần của đế quốc Trung Quốc trong hơn hai ngàn năm qua. Các cường quốc phương Tây chấp nhận lý thuyết sau này, một phần với mục đích tránh tranh cãi với Trung Quốc. === Quan liêu === Hệ thống hành chính của nhà Thanh dựa trên hệ thống trước đó của nhà Minh. Ở tình trạng phát triển nhất, chính phủ Thanh tập trung quanh Hoàng đế với tư cách là người cầm quyền tối cao chỉ huy sáu bộ, mỗi bộ do hai Thượng thư (尚書|Shángshù) đứng đầu và được hỗ trợ bởi bốn Thị lang (侍郎|Shílāng). Tuy nhiên, không giống như hệ thống của nhà Minh, chính sách căn bản của nhà Thanh quy định rằng việc chỉ định chức vụ được phân chia giữa quý tộc Mãn Châu và quan lại Hán, những người đã vượt qua các kỳ thi tuyển ở mức độ cao nhất của nhà nước. Hầu như trong toàn bộ thời gian tồn tại của nhà Thanh, bộ máy quan lại của Hoàng đế đều có sự hiện diện của Quân Cơ Xứ (軍機處), một cơ quan chuyên trách các vấn đề quân sự và tình báo, nhưng sau này nó lại chịu trách nhiệm giám sát mọi bộ của chính phủ. Các vị quan quản lý Quân Cơ Xứ nắm luôn vai trò Tể tướng, và một vài người trong số họ từng được chỉ định làm người đứng đầu Quân Cơ Thủ Phụ (軍機首輔). Sáu bộ và các lĩnh vực quản lý của họ như sau: Lại bộ (吏部) - Quản lý nhân sự hành chính cho mọi chức vụ dân sự - gồm cả đánh giá, bổ dụng, và thải hồi. Bộ này cũng chịu trách nhiệm lập 'danh sách danh dự'. Hộ bộ (户部) - Dịch nghĩa theo từ Trung Quốc, "hộ" (户- 'hú') có nghĩa là 'gia đình'. Hầu như trong toàn bộ thời cai trị của nhà Thanh, nguồn thu chính của chính phủ có từ thuế do các chủ đất đóng và các khoản phụ khác từ độc quyền nhà nước như các vật dụng gia đình thiết yếu là muối và trà. Vì thế, với ưu thế áp đảo của trồng trọt ở thời nhà Thanh, 'gia đình' là gốc cơ bản của nguồn tài chính quốc gia. Bộ này chịu trách nhiệm thu thuế và quản lý tài chính cho chính phủ. Lễ bộ (禮部) - Bộ này chịu trách nhiệm mọi vấn đề liên quan tới nghi thức lễ tân tại triều đình, gồm cả không chỉ những lễ thờ cúng tổ tiên định kỳ và nhiều vị thánh thần khác của Hoàng đế—với tư cách "Thiên tử" (天子 - con trời), để đảm bảo sự hoạt động trơn tru của đế chế—mà còn chịu trách nhiệm cả vấn đề tiếp đãi các sứ đoàn từ các nước tới nộp cống. Quan niệm Trung Quốc về lễ (礼), theo Khổng Tử dạy, được coi là một phần của giáo dục. Từng có quan niệm rằng một học giả phải "tri thư, đạt lễ" (知書達禮) có nghĩa là phải học rộng và cư xử đúng lễ nghi. Vì thế, một chức năng khác của bộ này là giám sát các hệ thống thi cử dân sự trên toàn quốc để lựa chọn quan lại. Bởi vì dân chủ là một vấn đề chưa từng được biết tới ở thời tiền Cộng hòa tại Trung Quốc, các triết lý Khổng Tử mới coi các cuộc thi cử của nhà nước là con đường để chính thống hóa một chế độ bằng cách cho phép nhân tài tham gia vào chính quyền độc đoán và khép kín trước đó. Binh bộ (兵部) - Không giống thời nhà Minh trước đó, vốn kiểm soát toàn bộ các lĩnh vực quân sự, Binh bộ nhà Thanh có quyền lực rất hạn chế. Đầu tiên các Kỳ binh (quân chủ lực) nằm dưới quyền quản lý trực tiếp của Hoàng đế và các hoàng tử người Mãn Châu và Mông Cổ, khiến cho bộ này chỉ có quyền lực đối với các lộ quân địa phương. Hơn nữa, các chức năng của bộ hầu như chỉ đơn thuần là hành chính - các chiến dịch và các đợt diễn tập quân sự được chỉ huy và giám sát bởi Hoàng đế, đầu tiên thông qua hội đồng quản lý người Mãn Châu và sau này là Quân Cơ Xứ (軍機處). Hình bộ (刑部) - Hình bộ xử lý mọi vấn đề pháp luật, gồm cả giám sát các tòa án và nhà tù. Bộ luật hình sự nhà Thanh khá yếu kém so với các hệ thống luật pháp hiện đại hiện nay, bởi vì nó không có sự phân biệt giữa các nhánh hành pháp và lập pháp trong chính phủ. Hệ thống pháp luật có thể mâu thuẫn, và khá nhiều khi tỏ ra độc đoán, bởi vì Hoàng đế cai trị bằng nghị định và là người đưa ra phán quyết cuối cùng đối với mọi vấn đề luật pháp. Các hoàng đế có thể (và đã) đảo ngược các phán quyết của các tòa án cấp dưới tùy theo từng lúc. Sự công bằng trong đối xử cũng là một vấn đề dưới hệ thống phân biệt chủng tộc do chính phủ Mãn Châu áp dụng đối với cộng đồng đa số người Hán. Để giảm bớt các vấn đề không thỏa đáng đó và giữ cho dân chúng sống yên ổn, nhà Thanh áp dụng một hệ thống luật hình sự rất khắc nghiệt đối với người Hán, nhưng không tới mức nghiêm khắc quá đáng như ở các triều đại trước đó. Công bộ (工部) - Công bộ xử lý mọi dự án xây cất của triều đình gồm các cung điện, đền đài và sửa chữa các đường thủy cũng như các kênh tiêu lũ. Họ cũng chịu trách nhiệm đúc tiền. Ngoài sáu bộ kể trên, có một Lý Phiên Viện (理藩院|Lǐfànyuán) và đây là cơ quan chỉ riêng có ở nhà Thanh. Cơ quan này ban đầu chịu trách nhiệm điều hành quan hệ với các đồng minh Mông Cổ. Khi đế chế mở rộng thêm, nó nhận thêm các công việc hành chính đối với tất cả các nhóm thiểu số sống trong và ngoài đế chế, gồm cả những tiếp xúc đầu tiên với Nga - khi ấy còn được coi là một quốc gia triều công. Cơ quan này hoạt động như một bộ thực sự và vị quan đứng đầu cũng có mức hàm tương đương. Tuy nhiên, ban đầu những ứng cử viên lãnh đạo nó chỉ là người thuộc dân tộc Mãn Châu và Mông Cổ. Dù Lễ bộ và Lý Phiên Viện có một số trách nhiệm chung trong ngoại giao, chúng vẫn không được sáp nhập vào nhau. Điều này xuất phát từ quan điểm truyền thống của đế quốc coi Trung Quốc là trung tâm của thế giới và mọi người nước ngoài đều là những kẻ mọi rợ chưa khai hóa không xứng đáng có tư cách ngoại giao tương đương với họ. Chỉ tới năm 1861—một năm sau khi thua trận trong "Chiến tranh nha phiến lần thứ hai" trước liên minh Anh-Pháp—chính phủ nhà Thanh mới lùi bước trước sức ép của nước ngoài và lập ra một bộ ngoại giao thực sự được gọi theo một cái tên dài lê thê là "Tổng lý các quốc sự vụ nha môn" (總理各國事務衙門), hay nói gọn là "Tổng lý nha môn" (總理衙門)). Ban đầu cơ quan này được dự định tạm thời sử dụng các viên chức thuyên chuyển từ Quân Cơ Xứ (軍機處) theo kiểu làm việc bán thời gian. Tuy nhiên, khi việc giải quyết vấn đề với những người nước ngoài ngày càng phức tạp và thường xuyên, cơ quan ngày càng mở rộng và trở nên quan trọng, và càng có ưu thế khi được sử dụng tiền thu từ thuế hải quan. Dù triều đình nghi ngờ về mọi thứ liên quan tới nước ngoài, văn phòng này đã trở thành một trong những bộ có nhiều quyền lực nhất bên trong chính phủ nhà Thanh. === Quân sự === ==== Những sự khởi đầu và sự phát triển đầu tiên ==== Sự phát triển của hệ thống quân đội nhà Thanh có thể được chia ra làm hai giai đoạn rõ rệt trước và sau cuộc khởi nghĩa Thái bình thiên quốc (1850 - 64). Ban đầu quân đội nhà Thanh dựa theo hình thức Bát Kỳ Mãn Châu do Nỗ Nhĩ Cáp Xích phát triển thành một cách thức tổ chức xã hội Mãn Châu căn cứ trên tổ chức các nhóm bộ tộc. Tổng cộng có tám nhóm bộ tộc được gọi là Kỳ (cờ), mỗi kỳ có một màu chủ đạo riêng biệt. Thứ tự ưu tiên của các kỳ như sau: Chính Hoàng (Vàng), Tương Hoàng (Vàng có viền, ví dụ Vàng viền đỏ), Chính Bạch (Trắng), Chính Hồng (Đỏ), Tương Bạch (Trắng viền), Tương Hồng (Đỏ viền), Chính Lam (Xanh) và Tương Lam (Xanh viền). Chính Hoàng kỳ, Tương Hoàng Kỳ và Chính Bạch kỳ thường được gọi là 'Thượng Tam Kỳ'(上三旗) và nằm dưới sự chỉ huy trực tiếp của Hoàng đế. Chỉ những người Mãn Châu thuộc Thượng Tam Kỳ mới được đích thân Hoàng đế lựa chọn vào đội bảo vệ riêng của mình. Những kỳ còn lại được gọi là 'Hạ Ngũ Kỳ' (下五旗) và được chỉ huy bởi các hoàng tử người Mãn Châu trực hệ của Nurhachi theo chế độ cha truyền con nối, và thường được gọi theo nghi thức là 'Thiết mạo tử vương' (鐵帽子王 - Các hoàng tử mũ sắt) hay các 'Hòa Thạc' (和硕). Họ cùng nhau tạo thành một hội đồng quản lý quốc gia Mãn Châu cũng như bộ tư lệnh quân đội có tên gọi là Hòa Thạc Bội Cần. Năm 1730 Hoàng đế Ung Chính thành lập Quân Cơ Xứ (Junjichu|軍機處) ban đầu để chỉ huy trực tiếp các hoạt động hàng ngày của quân đội nhưng dần dần Quân Cơ Xứ lãnh một số trách nhiệm hành chính và quân sự khác của quân đội và chịu trách nhiệm tập trung hóa quyền lực vào triều đình. Tuy nhiên, các Hòa thạc vẫn tiếp tục đóng vai trò có ảnh hưởng to lớn trong các hoạt động chính trị và quân sự của triều đình nhà Thanh cũng như công việc cai trị của Hoàng đế Càn Long. Khi quyền lực nhà Thanh mở rộng về phía bắc Vạn lý trường thành trong những năm cuối triều nhà Minh, hệ thống các Kỳ được con trai và là người thừa kế của Nurhachi là Hoàng Thái Cực phát triển thêm các kỳ Mông Cổ và các kỳ Hán. Khi họ kiểm soát được những vùng lãnh thổ cũ của nhà Minh, các Kỳ đội có quy mô khá nhỏ đó được tăng cường bởi Lục doanh quân (綠營兵 lục doanh binh) vốn có quân số lớn gấp ba các Kỳ. Lục doanh quân là các đội quân người Hán. Các đội quân này được điều khiển bởi một Ban chỉ huy gồm cả các đô thống Lục doanh quân và Kỳ binh. Các Kỳ và Lục doanh là quân thường trực, được chính phủ trả lương. Ngoài ra, các quan lại địa phương từ mức tỉnh trở xuống tới mức xã vẫn giữ một lực lượng dân quân không chính quy làm các nhiệm vụ cảnh sát và cứu nạn. Các đội dân quân đó thường nhận được một khoản lương nhỏ hàng năm lấy từ kho bạc địa phương cho hoạt động của mình. Họ ít khi được huấn luyện quân sự và nếu có được huấn luyện thì cũng không được coi là đội quân chiến đấu. ==== Hòa bình và trì trệ ==== Các Kỳ đội được phân chia theo dòng dõi dân tộc, có nghĩa theo người Mãn Châu và người Mông Cổ. Dù vẫn có một nhánh thứ ba gồm những kỳ binh người Hán từng theo người Mãn Châu trước khi nhà Thanh được thành lập, những kỳ binh Hán không bao giờ được chính phủ đối xử bình đẳng so với hai nhánh kia vì việc họ gia nhập muộn hơn và vì dòng giống Hán Trung Quốc của họ. Chuyên môn quân sự của họ - chủ yếu trong bộ binh, pháo binh và công binh, cũng bị coi là xa lạ so với truyền thống sử dụng kị binh của những người du mục Mãn Châu. Sau khi hoàn thành công cuộc chinh phục, các vai trò quân sự của kỳ binh Hán nhanh chóng bị Lục doanh quân thâu tóm. Các Kỳ binh Hán hoàn toàn chấm dứt tồn tại sau khi Hoàng đế Ung Chính cải cách lại các Kỳ nhằm mục tiêu giảm chi phí triều đình. Các nguồn gốc quân sự-xã hội của hệ thống Kỳ binh có nghĩa là dân cư bên trong mỗi nhánh của hệ thống Kỳ binh cùng như các nhánh phụ của nó tuân theo hệ thống cha truyền con nối và cứng nhắc. Chỉ trong những hoàn cảnh đặc biệt được sự đồng ý theo nghị định triều đình việc di chuyển xã hội giữa các kỳ mới được thực hiện. Trái lại Lục doanh quân ban đầu được dự định xây dựng trở thành một lực lượng chuyên nghiệp. Tuy nhiên, trong những giai đoạn hòa bình lâu dài ở Trung Quốc từ thế kỷ 18 đến giữa thế kỷ 19, việc tuyển dụng lính từ các cộng đồng nông nghiệp đã giảm sút, một phần vì lập trường chống đối của tầng lớp trí thức Khổng giáo mới với nghề binh. Nhằm giữ vững sức mạnh, Lục quân bắt đầu biến đổi, dần trở thành một chế độ kiểu cha truyền con nối. Lực lượng Kỳ binh đông đảo tới gần 200.000 ngàn quân của người Mãn Châu được chia thành; một nửa được chỉ định vào Cấm Lữ Bát Kỳ (禁旅八旗 Jìnlǚ Bāqí) đóng quân tại Bắc Kinh. Họ vừa đóng vai trò đội quân đồn trú của chính phủ nhà Thanh vừa là lực lượng chiến đấu. Số còn lại được chia vào nhiệm vụ canh gác các thành phố quan trọng ở Trung Quốc. Họ được gọi là Trú Phòng Bát Kỳ (駐防八旗 Zhùfáng Bāqí). Tầng lớp cai trị Mãn Châu, nhận thức rõ số lượng nhỏ nhoi của mình so với người Hán, đã áp dụng một chính sách nghiêm ngặt về phân biệt nguồn gốc giữa người Mãn Châu và Mông Cổ với người Hán vì sợ rằng sẽ bị người Hán đồng hoá. Chính sách này được áp dụng trực tiếp tới các đội quân Kỳ đồn trú, đa số họ chiếm giữ một vùng có tường bao kín xung quanh bên trong các thành phố đồn trú của họ. Bên trong các thị trấn chật hẹp như Thanh Châu (青州), một thị trấn pháo đài mới được xây dựng làm nơi sinh sống cho quân Kỳ đồn trú và gia đình họ. Bắc Kinh là thủ đô của đế chế, Nhiếp chính Dorgon (Đa Nhĩ Cổn) buộc toàn bộ dân Trung Quốc phải dời đi sống tại các khu ngoại thành phía nam sau này được gọi là "Ngoại Thành" (外城 wàichéng). Thành phố có tường bao ở phía bắc được gọi là "Nội thành" (内城 nèichéng) được phân chia cho Bát Kỳ Mãn Châu còn lại, mỗi Kỳ chịu trách nhiệm canh gác khu của mình bên trong Nội Thành bao quanh khu dinh thự Tử Cấm Thành (紫禁城 Zǐjìnchéng). Chính sách bố trí quân đội các Kỳ làm quân đồn trú tại các địa phương không phải để bảo vệ mà là để ngăn chặn sự lo ngại của người Mãn Châu thông qua việc nô dịch hóa dân chúng bằng lợi thế kỵ binh của họ. Vì thế, sau một thế kỷ hòa bình và hiếm khi được huấn luyện trên chiến trường, các Kỳ binh Mãn Châu dần đánh mất khả năng chiến đấu. Thứ hai, trước cuộc chinh phục, các Kỳ binh Mãn Châu là một 'công dân' quân đội, và các thành viên của nó là các nông dân và người chăn thả gia súc Mãn Châu bị buộc phải đi lính cho đất nước trong thời gian chiến tranh. Quyết định của nhà Thanh buộc các Kỳ binh phải trở thành một lực lượng chuyên nghiệp khiến cho nhà nước phải chu cấp cho mọi nhu cầu của họ, và với sự tham nhũng xảy ra từ binh lính cho đến sĩ quan khiến họ càng nhanh chóng biến chất không còn đáp ứng được yêu cầu của một đội quân chiến đấu. Điều tương tự cũng xảy ra trong Lục doanh quân. Ở thời bình, việc đi lính chỉ đơn giản là để kiếm thêm một khoản thu nhập. Các binh sĩ và chỉ huy đều không quan tâm tới việc huấn luyện mà chỉ chăm chú vào việc kiếm tiền. Tham nhũng tăng lên khi chỉ huy các đơn vị địa phương đề xuất tài chính và trang bị dựa trên các con số đã được thổi phồng lên để bỏ túi phần chênh lệch. Khi khởi nghĩa Thái bình thiên quốc nổ ra trong thập kỷ 1850, triều đình nhà Thanh mới muộn màng nhận ra rằng Kỳ binh và Lục doanh quân không thể giúp họ dẹp tan nội loạn cũng như bảo vệ đất nước khỏi quân xâm lược. ==== Chuyển biến và hiện đại hoá ==== Sự thất bại của Trung Hoa trong những cuộc chiến tranh với nước ngoài đã làm cho sĩ phu thức tỉnh. Cũng như nhiều quốc gia Á Đông thời kỳ đó, nhiều nho sĩ Trung Hoa đã yêu cầu Thanh đình cải cách về quân sự, chính trị cũng như xã hội. Hai người đi đầu trong việc hoạch định một chính sách mới là Ngụy Nguyên và Phùng Quế Phương. Ngụy Nguyên đưa ra những biện pháp nhan đề Trù Hải Thiên (Kế Hoạch Phòng Thủ Duyên Hải) năm 1842 đại lược như sau: - Cải cách quân đội bằng cách học hỏi cách chế tạo vũ khí, đóng tàu của người phương Tây. Ngoài ra phải đãi ngộ xứng đáng, trả lương hậu hĩ để có được những binh sĩ ưu tú - Tập trung phòng thủ trên đất liền và dụ địch vào trong các thủy đạo để tiêu diệt tại một khu vực đã sắp xếp trước - Liên minh với nhiều nước để họ kiềm chế lẫn nhau và mượn tay kẻ thù này tiêu diệt kẻ thù kia - Mở cửa cho người ngoại quốc vào buôn bán Phùng Quế Phương là học trò của Lâm Tắc Từ. Lúc ở Thượng Hải đã chịu ảnh hưởng của tư tưởng chủ nghĩa tư bản. Năm 1861 ông đã viết quyển sách " Hiệu lư bân" kháng nghị chủ trương học tập khoa học tự nhiên và kỹ thuật sản xuất của các nước tư bản như thiên văn, lịch pháp, công cụ sản xuất va các mặt tri thức khác, mong muốn thông qua biện pháp cải lương chính trị để đưa Trung Quốc tiến lên con đường tư bản. Ông đi sâu hơn vào những cải cách chính trị và xã hội trong đó ông nhấn mạnh: - Học hỏi và tự chế tạo những vũ khí cần thiết, thúc đẩy người học về kỹ thuật để thoát ra khỏi những đe dọa của nước ngoài. - Cải cách giáo dục để đào tạo nhân tài bao gồm nhiều lãnh vực kỹ thuật và khoa học khác đồng thời biến cải kỹ nghệ quốc phòng - Cải cách cách huấn luyện binh sĩ, đào tạo những lực lượng nhỏ nhưng tinh nhuệ hơn là duy trì một đội quân khổng lồ nhưng kém cỏi - Áp dụng lý thuyết Thể Dụng, duy trì tinh thần Khổng Mạnh nhưng áp dụng kỹ thuật mới. Trịnh Quan Ứng, một thương nhân nổi tiếng: chủ trương khai thác mỏ quặng, xây dựng đường sắt, xuất bản báo chí, lập trường học, yêu cầu thành lập nghị viện và xây dựng chế độ quân chủ lập hiến. Những quan điểm mới đó sau này được phát động để trở thành một phong trào dưới cái tên Dương Vụ Vận Động. Tuy nhiên những vận động có tính chất "lửa rơm" đó không đi đến đâu vì chỉ do nhiệt huyết sĩ phu mà không phải là những chương trình được nghiên cứu chu đáo và áp dụng một cách qui củ. Những cải cách quân sự vẫn chỉ hời hợt bề ngoài nên không thành công. Về sau, để đối phó với những tổ chức nổi dậy, nhiều đơn vị quân sự địa phương được thành lập và ít nhiều mang lại những sinh khí mới như Tương quân của Tăng Quốc Phiên, gia tăng lưu động tính, nhấn mạnh vào đức tính của quân sĩ, Hoài quân của Lý Hồng Chương, sử dụng vũ khí phương Tây, Sở quân của Tả Tông Đường nhấn mạnh vào vai trò hệ thống tiếp liệu. Cải cách trong quân đội Đầu cuộc khởi nghĩa Thái bình thiên quốc, các lực lượng nhà Thanh chịu một loạt các thất bại nặng nề dẫn tới việc mất thủ đô hành chính địa phương tại Nam Kinh (南京) 1853. Quân khởi nghĩa giết toàn bộ quân đồn trú Mãn Thanh và gia đình họ sống tại thành phố và biến nó làm thủ đô của họ. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, lực lượng viễn chinh của Thái bình thiên quốc xâm nhập về phía bắc tới tận các vùng ngoại ô Thiên Tân (天津), nơi được coi là vùng trung tâm của đế quốc. Trong tình trạng tuyệt vọng, triều đình lệnh cho một vị quan Trung Quốc là Tăng Quốc Phiên (曾國藩) tổ chức lại lực lượng dân quân tại các vùng và các địa phương (Đoàn Dũng 團勇 và Hương Dũng 鄉勇) thành một lực lượng thường trực để chống lại quân Thái Bình. Chiến lược của Tăng Quốc Phiên dựa trên giới quý tộc địa phương để xây dựng lên một tổ chức quân sự mới từ các tỉnh đang bị quân Thái Bình đe dọa trực tiếp. Lực lượng mới này được gọi là Sương quân (湘軍), được đặt tên theo vùng đất nơi họ được thành lập. Sương quân là một hỗn hợp giữa dân quân địa phương và quân đội thường trực. Họ được huấn luyện chuyên nghiệp, nhưng lĩnh lương từ ngân khố địa phương. Sương quân và lực lượng sau này là Hoài quân (淮軍) được các vị quan đồng triều với Tăng Quốc Phiên cùng người 'học trò' là Lý Hồng Chương thành lập (hai quân này thường được gọi chung là Dũng Doanh (勇營). Trước khi thành lập và chỉ huy Hoài quân, Tăng Quốc Phiên chưa từng có kinh nghiệp quân sự. Là một vị quan được giáo dục theo kiểu cổ điển, kế hoạch thành lập Hoài quân của ông được thực hiện theo kinh nghiệm lịch sử - tướng nhà Minh là Thích Kế Quang (戚繼光) vì thấy sự yếu kém của quân đội triều đình đã quyết định thành lập đội quân 'riêng' của mình nhằm chống lại quân cướp biển Nhật Bản ở giữa thế kỷ 16. Học thuyết của Thích Kế Quang dựa nhiều vào các tư tưởng Tân Khổng giáo ràng buộc tính trung thành của quân đội với cấp chỉ huy trực tiếp và vào vùng đất nơi họ được thành lập. Việc này đầu tiên tạo cho quân đội một số tinh thần đoàn kết. Tuy nhiên, cần phải chỉ ra rằng quân đội của Thích Kế Quang là một giải pháp tình thế cho một vấn đề cụ thể - chiến đấu chống lại cướp biển, cũng như Tăng Quốc Phiên dự định thành lập Hoài quân để chống quân khởi nghĩa Thái Bình. Tuy nhiên theo hoàn cảnh, hệ thống Dũng binh trở thành một cơ cấu thường trực bên trong quân đội nhà Thanh và cùng với thời gian nó lại gây ra những vấn đề cho chính phủ trung ương. Đầu tiên hệ thống Dũng binh báo hiệu sự kết thúc ưu thế của người Mãn Châu bên trong thể chế quân đội nhà Thanh. Dù các Kỳ và Lục doanh quân làm lãng phí các nguồn tài nguyên cần thiết cho bộ máy hành chính của nhà Thanh, từ đó các cơ cấu Dũng binh trên thực tế đã trở thành lực lượng số một của chính phủ Thanh. Thứ hai, các đơn vị Dũng binh được tài trợ từ nguồn tài chính của các tỉnh và tuân theo sự chỉ huy của các tướng lĩnh địa phương. Sự thay đổi này khiến cho quyền lực của chính phủ trung ương có phần giảm sút. Nghiêm trọng hơn cả là khi các Cường Quốc Châu Âu bắt đầu xâm nhập vào Trung Quốc. Tuy nhiên, dù có những ảnh hưởng tiêu cực các biện pháp này tỏ ra rất cẩn thiết ở thời điểm nguồn thu từ các tỉnh đã bị quân khởi nghĩa chiếm không còn tới được ngân khố triều đình. Cuối cùng, cơ cấu chỉ huy của Dũng binh tạo thuận lợi cho các chỉ huy quân sự của nó có cơ hội phát triển quan hệ với nhau vì khi được thăng chức và dần dần triều đình nhà Thanh đã có một chút nhượng bộ họ. Tới cuối những năm 1850 Trung Quốc đã bắt đầu suy sụp. Thậm chí các nhân tố bảo thủ nhất bên trong triều đình nhà Thanh cũng không thể không nhận thấy sự yếu kém quân sự của triều đình đối lập với sự hùng mạnh của quân đội "rợ" nước ngoài đang dần áp chế họ - Năm 1860 trong cuộc Chiến tranh nha phiến lần hai thủ đô Bắc Kinh bị chiếm và Cung điện mùa hè (Cũ) bị một liên minh nhỏ của Anh Pháp với số lượng chừng 25.000 quân cướp phá. Dù Trung Quốc tự kiêu hãnh rằng chính họ là người phát minh ra thuốc súng, và súng ống từng được sử dụng trong chiến tranh ở Trung Quốc từ thời nhà Tống, sự xuất hiện của các loại vũ khí hiện đại từ cuộc Cách mạng công nghiệp ở châu Âu như súng có rãnh xoắn (1855), súng máy (1885), và các tàu chiến chạy bằng hơi nước (những năm 1890) khiến quân đội, hải quân Trung Quốc được huấn luyện kiểu cổ điển và trang bị các loại vũ khí thô sơ mất ưu thế hoàn toàn. Nhiều lời kêu gọi 'Tây phương hoá' và hiện đại hóa các loại vũ khí hiện dùng trong quân đội - đa phần từ phía Hoài quân mang lại rất ít kết quả. Một phần bởi vì họ thiếu vốn, nhưng chủ yếu bởi vì thế lực chính trị trong triều đình nhà Thanh không muốn thực hiện điều đó thông qua các biện pháp cải cách. == Tư bản nước ngoài xâm nhập. == Điều ước Nam Kinh mở đường cho tư bản nước ngoài tràn vào Trung Quốc. Năm 1845 nước Anh mở tuyến đường thủy từ thủ đô Luân Đôn (Anh) đến Trung Quốc, sau đó xây dựng ụ tàu ở Quảng Châu (Quảng Đông) để sửa chữa tàu thuyền, đó là hoạt động công nghiệp đầu tiên của tư bản nước ngoài hình thành ở Trung Quốc. Ít lâu sau các thương nhân Anh, Mỹ cũng mở xưởng sửa chữa tàu và lập ụ tàu ở Thượng Hải, Hạ Môn, Phúc Châu, về sau tư bản nước ngoài lũng đoạn ngành hàng hải của Trung Quốc. Trong thời gian từ năm 1862 đến 1875 số vốn của thương nhân Anh và Mỹ đầu tư trong ngành hàng hải lên tới 256 vạn lạng bạc. Sau khi điều ước Ái huy được ký kết năm 1858 thương nhân Nga được quyền hoạt động ở Trung Quốc. Bắt đầu từ năm 1863 các thương nhân Nga mở xưởng chế biến chè tại Hán Khẩu (Hồ Bắc), Cửu Giang (Giang Tây), Phúc Châu (Phúc Kiến) cạnh tranh mạnh với ngành sản xuất chè truyền thống của Trung Quốc. Hán Khẩu trở thành trung tâm chế biến và xuất khẩu chè của Trung Quốc, năm 1865 số lượng chè xuất khẩu tại Hán Khẩu là 1400 tấn, đến năm 1875 đã tăng lên 11000 tấn, tức tăng lên 8 lần. Năm 1862 các thương nhân Anh mở xưởng ươm tơ tại Thượng Hải, sau đó thương nhân Pháp và Mỹ cũng tham gia sản xuất trong ngành này. Các xưởng ươm tơ của tư bản nước ngoài đã phá hoại ngành ươm tơ thủ công nghiệp truyền thống của Trung Quốc. Bên cạnh đó tư bản nước ngoài còn mở những xí nghiệp làm đường, chế biến bột, thuộc da. == Sự hình thành chủ nghĩa tư bản dân tộc. == Sau chiến tranh thuốc phiện do sự xâm nhập của chủ nghĩa tư bản ngoại quốc nên công nghiệp dân doanh của Trung Quốc bắt đầu sử dụng máy móc để sản xuất. Năm 1861 thương nhân Phúc châu mua máy móc nước ngoài để làm chè khối. Năm 1862 hiệu buôn gạo Hồng thịnh ở Thượng hải bắt đầu dùng máy xát gạo. Năm 1880 thương nhân Nam hải (Quảng đông) mở xưởng ươm tơ máy. Các cơ sở công nghiệp quy mô nhỏ đó là bước đầu của ngành công nghiệp kiểu mới do thương nhân làm. Thương nhân, địa chủ, quan liêu bỏ vốn vào công nghiệp kiểu mới trở thành tiền thân của giai cấp tư sản Trung Quốc. Thương nhân chuyển thành giai cấp tư sản đó là lớp dưới của giai cấp tư sản vì điều kiện khó khăn nên công nghiệp của họ phát triển chậm. Còn địa chủ và quan liêu biến thành giai cấp tư sản là lớp trên vì họ có đặc quyền về chính trị và kinh tế nên công nghiệp của họ phát triển tương đối nhanh. Đối với việc cải cách xã hội giai cấp tư sản lớp dưới có yêu cầu tương đối mạnh. Lúc mới ra đời, tư sản dân tộc Trung Quốc đã phải chịu hai tầng áp chế của tư sản nước ngoài và thế lực phong kiến trong nước. Một công sứ Anh đã từng nói "việc Trung Quốc sản xuất bằng máy móc sẽ ảnh hưởng đến lợi ích của Anh". Mặt khác nhà Thanh cũng sợ công nghiệp phát triển sẽ tập trung nhiều nhân dân lao động làm lung lay nền thống trị phong kiến của mình. Vì vậy tư sản ngoại quốc và phong kiến trong nước có thái độ thù địch với tư bản dân tộc, do đó tư bản dân tộc Trung Quốc phát triển rất khó khăn và chậm chạp. Trong thời gian 1904 – 1908 có 227 công ty được thành lập nhưng trong số đó chỉ có 72 doanh nghiệp có số vốn lớn hơn 100.000 lạng bạc. Công nghiệp dệt phát triển rất nhanh chóng, số vốn từ năm 1881 – 1895 tăng gấp 22 lần lên tới 18.047.544 đô la, các nhà máy dệt chủ yếu tại Thượng hải và Vũ hán (Hồ bắc). Tại Vũ hán có cục dệt vải Hồ bắc. Tại Thượng hải có cục dệt Hoa tân, Hoa thịnh, nhà máy sợi Dụ nguyên. Trương Kiển (1853 – 1926) một trong những nhà doanh nghiệp tiên phong trong hoạt động công thương thời kỳ đó, mở xưởng dệt Đại Sinh ở Nam thông (Giang tô), các công ty khai khẩn chăn nuôi Thông Hải, công ty tàu thủy Đại Đạt, công ty bột mì Phục Tân, ngân hàng thực nghiệp Hoài hải. == Quan đốc thương biện == Nhờ những hoạt động đó, Trung Quốc bước đầu có những cơ sở công nghiệp hiện đại. Sau đó xuất hiện nhiều xí nghiệp do nhà nước quản lý, tư nhân điều hành, nhà nước và tư nhân cùng làm gọi là quan đốc thương biện. Những thương nhân người Quảng đông như Đường Đình Canh, Từ Nhuận, Trịnh Quan Ứng, đều hoạt động mãi biện cho các công ty nước ngoài như Dent & Co, Jardin Matheson nên tích lũy được tiền bạc trước khi tham gia kinh doanh riêng. Tài sản của Từ Nhuận đạt đến 1800 vạn lạng bạc vào năm 1883 trong đó 65% tài sản là thuộc về bất động sản tại Thượng hải, được mệnh danh là vua địa ốc.. Trước năm 1870 hoạt động vận tải hàng hải tại Trung Quốc bị chi phối bởi công ty Russel & Co của Mỹ. Nhận thấy vấn đề đó đạo đài Thượng hải là Đinh Nhữ Xương (về sau là Giám đốc Giang nam công xưởng, đô đốc hạm đội hải quân Bắc dương) cùng với Lý Hồng Chương bàn tính giành lại quyền tự chủ trong hoạt động hàng hải. Năm 1863 Đinh Nhữ Xương dự định thành lập công ty hàng hải dùng tàu thuyền Trung Quốc và được hưởng mức thuế thấp, chủ trương khuyến khích thương nhân bỏ vốn và đóng các tàu hơi nước. Sau khi vượt qua trở ngại về tài chính năm 1872, Lý Hồng Chương và Thịnh Tuyên Hoài cùng xây dựng Cục Kinh doanh Tàu biển (Luân thuyền chiêu thương cục) tại Thượng hải có tính chất dân dụng do thương nhân Đường Đình Thục, Từ Nhuận, Trịnh Quan Ứng góp vốn và tham gia quản lý thực hiện chở lương thực từ Giang nam đến Thiên tân, đặt nền móng cho ngành vận tải hàng hải của Trung Quốc. Lúc đầu Chiêu thương cục có 3 chiếc tàu với lượng vốn 20 vạn lạng bạc, sau 4 năm hoạt động tăng lên 33 chiếc, tổng lượng hàng vận chuyển là 23.967 tấn, lợi nhuận hàng năm đạt 30 vạn lạng bạc. Do lượng vốn ban đầu hạn chế nên trong quá trình kinh doanh những người quản lý kêu gọi vốn góp thêm đạt tới 100 vạn lạng bạc, trong đó Từ Nhuận chiếm tới 50% cổ phần. Năm 1877 Chiêu thương cục mua lại Công ty tàu thủy Thượng hải do người Mỹ góp vốn, tiếp nhận 17 chiếc tàu. Khi Đường Đình Thục chuyển đến làm quản lý mỏ than Khai bình năm 1884, Từ Nhuận lên thay, mua lại Công ty tàu thủy Kỳ xương (Mỹ) có quy mô lớn nhất Đông Á mở rộng phạm vi kinh doanh, độc quyền kinh doanh vận tải vùng Trường giang. Đường Đình Thục còn quản lý Công ty hàng hải liên hợp thành lập năm 1868. Đường Đình Thục liên kết với Trịnh Quan Ứng mở 2 ụ tàu hơi nước ở Phật sơn và Quảng châu. Khai bình môi khoáng thành lập năm 1877 tại phía bắc Thiên tân có sản lượng lên tới 70 vạn tấn/năm do thương nhân Đường Đình Thục quản lý với số vốn 150 vạn lạng bạc, Thiên tân điện báo cục, Nam bắc điện báo cục, Cục đường sắt Bắc dương quan ở Sơn hải quan, Tân Du thiết lộ, Giang tây Công ty Than đá và sắt Hán Dã Bình thành lập năm 1889 dưới sự kết hợp của mỏ sắt Đại dã và mỏ than Bình hương, Ngân hàng Công thương Trung Quốc được thành lập năm 1897 tại Thượng hải, Công ty Xi măng Tangshan Qixin tại Thiên tân thành lập năm 1892 đưa Trung Quốc trở thành một trong những quốc gia đầu tiên ở châu Á sản xuất xi măng. Trước đó ngành bảo hiểm hàng hóa của Trung Quốc do các công ty nước ngoài thực hiện. Để đáp ứng nhu cầu bảo hiểm, năm 1875 Từ Nhuận đã thành lập Công ty bảo hiểm đầu tiên của Trung Quốc là Công ty bảo hiểm hàng hải Nhân hòa với số vốn 50 vạn lạng bạc. Đến năm 1878 lại thành lập thêm Công ty bảo hiểm hàng hải và cháy Ký hòa với số vốn 50 vạn lạng bạc. Đến năm 1886 Từ Nhuận sáp nhập 2 công ty đó thành Công ty Bảo hiểm Nhân Kỳ Hòa, đặt nền móng cho ngành kinh doanh bảo hiểm Trung Quốc. Ngoài ra Từ Nhuận còn góp vốn vào hoạt động khai mỏ. Với 15 vạn lạng bạc chiếm 10% số vốn của mỏ than Khai bình, Từ Nhuận đảm nhận chức Giám đốc, khuyến khích sử dụng nhiều máy móc nhập từ Anh, thuê kỹ sư Anh, dùng công nghệ mới để khai thác than, số nhân công người Quảng đông đã lên tới 5000 người. Sản lượng của mỏ than Khai bình nhanh chóng đáp ứng nhu cầu của thị trường Thiên tân, cạnh tranh với than nhập khẩu. Mỏ than Khai bình cung cấp nhiên liệu cho hạm đội hải quân Bắc dương và các cơ sở địa phương. Để phục vụ cho việc vận chuyển than, đường sắt Thiên tân được xây dựng. Các doanh nghiệp phụ trợ cho than đá và xi măng cũng được thành lập trong khu vực. Chi nhánh Quảng châu của Mỏ than Khai bình do Trịnh Quan Ứng (1842 -1922) làm quản lý. Trịnh Quan Ứng tham gia dịch thuật bộ luật kinh doanh của Anh ban hành tại Hương cảng năm 1865 sang tiếng Hoa. Năm 1880 Trịnh Quan Ứng mở nhà máy dệt tại Thượng hải, nhờ Dung Hoằng lúc đó làm Phó lãnh sự tại Mỹ tuyển dụng kỹ sư người Mỹ. Năm 1881 Trịnh Quan Ứng đầu tư 65000 lạng bạc thành lập Công ty Khai hoang Đường cô Thiên tân làm tiền đề cho việc sản xuất giấy 10 năm sau. Trịnh Quan Ứng còn tham gia quản lý tuyến đường sắt Quảng châu – Hán khẩu và đến năm 1905 thành lập Phòng thương mại Quảng châu. Về sau Trịnh Quan Ứng tái cơ cấu lại Luân thuyền chiêu thương cục cho phù hợp với luật thương mại. Từ Nhuận còn đầu tư vào mỏ đồng Bình tuyền, mỏ vàng Hà phong ở Nghi xương, mỏ bạc Gushanxi, mỏ bạc Tam sơn, mỏ bạc Thiên hoa (Quảng đông), mỏ bạc Đàn châu, mỏ vàng Kiến bình (Nhiệt hà), mỏ than Cẩm châu, mỏ than Quế trì (An huy). Bên cạnh các hoạt động doanh thương Từ Nhuận còn đóng góp vào các hoạt động xã hội, thành lập Hội Chữ thập đỏ Trung Quốc, Đồng văn thư cục, gửi du học sinh sang Mỹ. Nhiều người trong số đó về sau đều có những đóng góp cho sự phát triển của đất nước như nhà chính trị Đường Thiệu Nghi, nhà ngoại giao Lương Như Hạo, nhà kỹ sư Thiên Hựu, Hiệu trưởng trường Đại học Thanh hoa Đường Quốc Ân. Trong việc xây dựng và phát triển nền công nghiệp cận đại của Trung Quốc, công lao của Thịnh Tuyên Hoài rất lớn, được xem như người cha của nền công nghiệp cận đại. Ngoài ra còn phải kể đến các thương nhân như Đường Đình Thục, Đường Đình Canh, Từ Nhuận (1838 -) "vua trà Trung Quốc" và "vua địa ốc". Lý Hồng Chương thành lập Cục Điện báo năm 1882 và giao cho trợ thủ là Thịnh Tuyên Hoài quản lý và góp phần lớn số vốn trong Điện báo cục thực hiện xây dựng đường dây điện tín giữa Thiên tân và Thượng hải. Tới năm 1901 Điện báo cục đã xây dựng 14000 dặm đường dây điện tín giữa các thành phố, thị trấn. Năm 1876 Bưu điện Đại Thanh được thành lập. Trong thời gian 1872 – 1885 có tới 90% dự án hiện đại hóa sản xuất được thực hiện dưới sự bảo trợ của Lý Hồng Chương. Có tới 75 cơ xưởng sản xuất và 33 mỏ than và khoáng sản được thành lập. Các lĩnh vực công nghiệp ứng dụng phương pháp kỹ thuật mới. Năm 1853 nhà thuốc Lão đức ở Thượng hải đã chế được thuốc tây, nhà máy xà phòng Mỹ Tra làm được xà phòng. Năm 1876 nhà máy Đạm thủy Đài Loan bắt đầu dùng máy móc đào than. Năm 1878 dùng phương pháp Tây phương đế khai thác dầu. Năm 1861 người Anh dùng máy kéo tơ. Năm 1889 Cục dệt vải Thượng hải sử dụng kỹ thuật Tây phương để dệt vải. Năm 1892 Cục dệt vải Hồ bắc cũng có xưởng dệt quy mô lớn. Năm 1881 kỹ thuật chế tạo giấy bằng máy được du nhập, năm 1890 nhà máy giấy Long chương được thành lập tại Thượng hải, năm 1882 kỹ thuật chế tạo da được nhập vào. Năm 1880 tại Thượng hải bắt đầu sản xuất hộp quẹt, năm 1891 sản xuất thuốc lá cuốn bằng máy. Năm 1864 nhà máy khí than Thượng hải ra đời, năm 1881 có nhà máy nước, năm 1882 có nhà máy bóng đèn điện. Trước năm 1880 điện báo đã được đưa vào Trung Quốc, năm 1872 đường dây điện tín giữa Hồng Kông và Thượng Hải được khai thông. Ngành in ấn dùng kỹ thuật in của phương tây. Năm 1872 báo Buổi sáng ở Thượng hải đã nhập máy in bánh xe. Năm 1873 Cục in ấn được thành lập. Năm 1906 máy in cuốn chạy điện được nhập vào Trung Quốc. Phương pháp in thạch nhập vào năm 1876, kỹ thuật karô nhập vào đầu thời Quang tự. Thông thương vụ đại thần Tam khẩu Sùng Hậu đề nghị phát triển thủy lợi ở miền đông Trực lệ, và tuần phủ Giang tây Thẩm Bảo Trinh đề nghị thay đổi phương pháp thu thuế đất ở Giang tây, đều nhằm giảm gánh nặng cho dân. Mặc dầu còn có nhiều hạn chế nhưng những hoạt động của phái Dương Vụ trên thực tế đã kích thích phần nào chủ nghĩa tư bản ở Trung Quốc phát triển. Bên cạnh đó các nước Âu Mỹ cũng cho xây nhiều bệnh viện. Năm 1844 Anh xây dựng bệnh viện ở Thượng hải, sau đó ở Bắc kinh, Thẩm dương. Mỹ cũng xây bệnh viện ở Thượng hải, Sán đầu. Các tổ chức giáo hội xây dựng khoảng 70 bệnh viện. Lĩnh vực dân sinh. Năm 1888 Lý Hồng Chương lập Tổng y viện trực thuộc Hải quân Bắc dương, có Tây y học đường, bệnh viện thực hành, kho thuốc, bổ nhiệm một người Anh làm Y quan. Các tổ chức giáo hội mở trường y ở Trung Quốc có Quảng châu Hạt Cát Y học viện năm 1899, Thượng hải Thần đán Y học viện năm 1903, Bắc kinh Hiệp hòa Y học viện năm 1906, Tứ xuyên Thành đô Hoa tây Hiệp hòa Đại học Y học viên năm 1910. Năm 1902 Công ty nước sạch Thiên tân hoạt động, năm 1904 Thiên tân có Công ty Xe điện của Bỉ hoạt động. Năm 1895 Thịnh Tuyên Hoài thành lập trường Trung Tây học đường ở Thiên tân. == Phong trào Tây dương vụ. == Những người hăng hái thực hiện những biện pháp canh tân đều là các quan lại đã trải qua cuộc nội dậy Thái bình thiên quốc cho rằng muốn chống cự với phương Tây thì phải có tàu bè như họ, súng ống như họ, quân đội phải luyện tập theo lối của họ. Vài người Mãn như Cung Thân Vương Dịch Hân, Quế Lương nghĩ đến việc tự cường, bàn với Văn Tường, Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương, Tả Tông Đường, Quách Sùng Đào về sau có Tăng Kỷ Trạch, Tăng Quốc Thuyên, Trương Chi Động... hình thành Dương vụ phái. Họ cùng có chung chủ trương "tân chính", kêu gọi "tự cường" bằng cách học tập phương Tây, trong đó khẩu hiệu "Trung học vi thể, Tây học vi dụng" được phái này xem là tư tưởng chỉ đạo Họ đồng ý với nhau rằng "muốn tự cường thì việc luyện binh là quan trọng nhất, mà muốn luyện binh thì trước hết phải chế tạo vũ khí giới". Ngày 13/1/1861 vua Hàm Phong ra chỉ dụ thừa nhận phong trào Dương Vụ, khuyến khích tự lực tự cường, làm theo phương Tây để tăng cường quyền lực và phát triển kinh doanh. Phong trào Tây dương vụ ra đời, do Cung thân vương Dịch Hân, em vua Hàm Phong giữ chức Nghị chính vương kiêm Quân cơ xứ lĩnh bang đại thần khởi xướng. Phong trào kéo dài từ 1860 – 1895 với mốc khởi đầu là việc thành lập Tổng lý các quốc sự vụ nha môn tháng 1 năm 1861. Năm 1862, họ giao cho Lý Hồng Chương thi hành. Năm 1861 Tổng đốc Lưỡng giang Tăng Quốc Phiên thành lập An khánh quân giới cục tại tỉnh An huy. Năm 1862 Tuần phủ Giang tô Lý Hồng Chương và Tăng Quốc Phiên đồng sáng lập Cục pháo binh và Tổng cục chế tạo cơ khí Giang nam ở Thượng hải, Cục làm pháo Tây dương ở Tô châu, Cục cơ khí Kim lăng ở Nam kinh. Năm 1866 Tổng đốc Mân Triết Tả Tôn Đường mở Cục thuyền Mã vĩ ở Phúc Kiến, do Thuyền chính đại thần Thẩm Bảo Trinh làm Giám đốc, đặt nền móng cho hải quân Trung Quốc. Tả Tông Đường là người đã mở xưởng đóng tàu đầu tiên ở Trung Quốc tại Phúc Kiến mang tên Mã vĩ, và cũng đã thành lập học viện hải quân đầu tiên khi ông làm tổng đốc ở đây. Khi chuyển đến vùng tây bắc giữ chức Tổng đốc Thiểm Cam, Tả Tôn Đường đề xuất lên triều đình nhiều chủ trương chính sách thúc đẩy kinh tế văn hóa vùng Tân Cương có tác dụng tích cực đối với việc khai phá vùng biên giới, thành lập các cơ sở sản xuất kiểu mới ở vùng tây bắc như: Lan châu cơ khí chức ni cục (là xưởng dệt len cơ khí đầu tiên của Trung Quốc dùng máy móc của Đức, thành lập năm 1878), Tổng cục tơ tằm A khắc tô, Lan châu chế tạo cục thành lập năm 1871, Tây an cơ khí cục thành lập năm 1869. Năm 1867 tại Thiên tân Sùng Hậu Thông thương vụ đại thần Tam khẩu mở 2 cơ khí cục chuyên sản xuất cơ khí quân dụng, sau đó năm 1872 Luân thuyền chiêu thương cục mở chi nhánh tại đây, năm 1877 mỏ than Khai bình được đưa vào khai thác, năm 1888 tuyến đường sắt Thiên tân Đường sơn hoàn thành, năm 1896 Bưu điện Đại Thanh hoạt động tại đây, năm 1903 thành lập Tổng cục Công nghệ Trực lệ. Tả Tông Đường là người đã mở xưởng đóng tàu đầu tiên ở Trung Quốc tại Phúc Kiến mang tên Mã vĩ, và cũng đã thành lập học viện hải quân đầu tiên khi ông làm tổng đốc ở đây. === Tổng cục chế tạo Giang Nam === Năm 1865 đạo đài Thượng hải Đinh Nhữ Xương, cựu tướng lĩnh Hoài quân được bổ nhiệm làm Giám đốc Cục chế tạo cơ khí Giang nam (về sau được cử làm đô đốc hạm đội hải quân Bắc dương). Lúc đầu kinh phí mua sắm máy móc chỉ có 25 vạn lạng bạc (35 vạn USD) được lấy từ nguồn thu thuế quan tại Thượng Hải. Tổng cục chế tạo cơ khí Giang Nam mua các máy móc của Mỹ gồm lò nấu, máy hơi nước, động cơ, máy đục, máy vặn ốc đủ các loại máy móc để chế tạo súng trường và pháo, thủy lôi, đạn dược, máy móc đóng tàu, là xí nghiệp quân sự lớn nhất do phái Dương vụ thành lập, về quy mô là một trong những công xưởng quân sự lớn nhất châu Á lúc bấy giờ. Đến giữa năm 1867 mỗi ngày công xưởng sản xuất 14 khẩu súng trường và hàng trăm thùng đạn, cung ứng cho mặt trận Thiểm Cam của Tả Tông Đường. Đến năm 1873 mới sản xuất được 4200 khẩu súng trường Remington. Năm 1874 sản xuất được 110 đại bác theo kiểu của cơ xưởng Amstrong (Anh) với các loại cỡ nòng 120 mm, 170 và 200 mm. Về sau Lý Hồng Chương cho áp dụng kỹ thuật của Đức thay cho của Anh, dùng nhiều sản phẩm của hãng Krupp. Năm 1861 nhà khoa học Từ Thọ (1818 – 1888) người Vô Tích, Giang tô đã nghiên cứu chế tạo tàu hơi nước, đến năm 1862 chế tạo thành công tàu Hoàng cốc là chiếc tàu hơi nước đầu tiên của Trung Quốc được làm bằng gỗ. Máy móc chủ yếu là bánh chuyển động bằng hơi nước, xi lanh dài 2 thước, đường kính dài 1 thước, chiều dài của tàu là 55 thước, nặng 25 tấn, vận tốc đạt 6 hải lý/giờ. Năm 1868 Từ Thọ đến làm việc tại Quảng phiên viện quán (nhà phiên dịch của Tổng cục chế tạo Giang nam) lần lượt dịch 13 loại thư tịch khoa học Tây phương như "Khí cơ phát nhẫn", "Doanh trận đề yếu", "Tây nghệ tri tân". Năm 1868 chiếc tàu đầu tiên của nhà máy tàu thuyền Giang Nam là Huệ Cát được hạ thủy. Đến năm 1876 Giang nam công xưởng cho hạ thủy 7 chiếc tàu hơi nước, trong đó chiếc tàu lớn nhất có tải trọng 2800 tấn. Quy mô của Giang nam công xưởng vượt xa xưởng đóng tàu Yokosuda của Nhật mãi đến năm 1887 mới bắt đầu sản xuất tàu cỡ lớn. Năm 1869 nhà máy chế tạo tàu thuyền Mã vĩ (Phúc châu) bắt đầu đóng loại tàu mới, sử dụng máy móc và kỹ thuật cơ khí của Pháp do Thẩm Bảo Trinh nguyên tuần phủ Giang tây làm Giám đốc. Kinh phí ban đầu là 40 vạn lạng bạc (55 vạn đô la) được huy động từ các tỉnh Phúc kiến, Chiết giang, Quảng đông. Trong thời gian 1866 – 1874 chi phí của xưởng lên tới 540 vạn lạng bạc (750 vạn đô la). Số nhân công của xưởng Mã vĩ lúc cao nhất đạt tới 3000 công nhân, quy mô lớn hơn Giang nam chế tạo cơ khí chế tạo tổng cục. Năm 1890 Tổng cục chế tạo cơ khí Giang nam bắt đầu lập xưởng luyện thép, có lò 15 tấn mỗi ngày luyện được 3 tấn, đó là lò luyện thép (lò thường) đầu tiên của Trung Quốc. Năm 1892 quy mô của Giang nam công xưởng đạt tới diện tích 73 acre đất, 1974 nhà xưởng và 2982 công nhân. Máy móc của công xưởng có 1037 máy, sản xuất ra 47 loại sản phẩm dưới sự giám sát của kỹ thuật viên nước ngoài. Đến những năm 1890 hoạt động của 3 cục quân giới trên đã có những thành tích nổi bật; các kiểu đạn pháo do Tổng cục chế tạo Giang nam chế tạo ra đã tiếp cận được với vũ khí nhập khẩu của phương Tây. Cục cơ khí Thiên tân nổi tiếng với các sản phẩm cơ khí quân dụng. Kinh phí xây dựng 3 cục cơ khí Giang nam, Thiên tân, Kim lăng lên tới 2454 vạn lạng bạc, chiếm 50% chi phí cho công nghiệp quân sự của nhà Thanh. Ngoài ra còn có các công xưởng quân khí khác được xây dựng ở Tây an (Thiểm tây, năm 1869), Lan châu (Cam túc, năm 1871), Quảng châu (năm 1874), Hồ nam và Sơn đông (năm 1875), Thành đô (Tứ xuyên, năm 1877), Cát lâm (năm 1881), Bắc kinh (năm 1883), Vân nam (năm 1884), Hàng châu và Đài Loan (năm 1885). Các trường quân sự cũng được thành lập: năm 1867 trường hải quân được thành lập ở Phúc châu (Phúc kiến), Thiên tân (Trực lệ) năm 1880, Hoàng phố (Quảng đông) năm 1887, Nam kinh (Giang tô) năm 1890, Yên đài (Sơn đông) năm 1903. Kinh phí xây dựng 3 cục cơ khí Giang nam, Thiên tân, Kim lăng lên tới 2454 vạn lạng bạc, chiếm 50% chi phí cho công nghiệp quân sự của nhà Thanh. Đến những năm 1890 hoạt động của 3 cục quân giới trên đã có những thành tích nổi bật; các kiểu đạn pháo do Tổng cục chế tạo Giang nam chế tạo ra đã tiếp cận được với vũ khí nhập khẩu của phương Tây. Cục cơ khí Thiên tân nổi tiếng với các sản phẩm cơ khí quân dụng. Ngoài ra còn có các công xưởng quân khí khác được xây dựng ở Tây an (Thiểm tây, năm 1869), Lan châu (Cam túc, năm 1871), Quảng châu (năm 1874), Hồ nam và Sơn đông (năm 1875), Thành đô (Tứ xuyên, năm 1877), Cát lâm (năm 1881), Bắc kinh (năm 1883), Vân nam (năm 1884), Hàng châu và Đài Loan (năm 1885). Về sau công cuộc Tây dương vụ được Tổng đốc Hồ quảng Trương Chi Động và Bộ trưởng Giao thông Thịnh Tuyên Hoài tiếp tục thực hiện, hai người thành lập nhiều xí nghiệp, riêng Thịnh Tuyên Hoài còn bỏ vốn đầu tư trong nhiều cơ sở kinh doanh. Khi đến Quảng đông nhậm chức tổng đốc Lưỡng quảng, Trương Chi Động cho xây dựng Quảng đông quân giới cục, thành lập trường lục quân Quảng đông, Cục dệt vải và Xưởng luyện thép Quảng đông. Trong thời gian này Trương Chi Động cho thành lập Giang nam tự cường quân là lực lượng lục quân kiểu mới sớm nhất Trung Quốc lúc bấy giờ theo biên chế quân đội phương Tây. Lúc được thuyên chuyển đến Hồ bắc Trương Chi Động cho di dời toàn bộ thiết bị của xưởng súng pháo Quảng đông và cho xây dựng thành xưởng súng pháo Hán dương, Xưởng dệt tứ cục Hồ bắc bao gồm dệt vải, kéo sợi, ươm tơ, chế biến gai, Thư viện Lưỡng Hồ, lập kế hoạch xây dựng đường sắt Lô Hán (sau đổi tên là Kinh Hán, xây dựng từ năm 1896, hoàn thành năm 1905) nối liền hai miền nam bắc. === Công binh xưởng Hán Dương === Công binh xưởng Hán Dương được xây dựng năm 1894 từ nguồn kinh phí của hạm đội Nam Dương là nhà máy sản xuất vũ khí đầu tiên có quy mô lớn với hệ thống kỹ thuật lớn nhất. Công xưởng có diện tích 40 acre. Tháng 8 năm 1895 tại đây bắt đầu sản xuất súng trường M1888 của Đức, và súng trường Mauser, và đạn dược với sản lượng 13000 băng/tháng. Đến năm 1900 công binh xưởng Hán dương đã cung cấp cho lực lượng Nghĩa hòa đoàn hơn 3000 súng trường và 1 triệu băng đạn. Đến năm 1904 công binh xưởng Hán dương đã đạt sản lượng 50 súng trường T88 và 12000 băng đạn mỗi ngày, sản xuất ra súng bộ binh kiểu Hán dương gọi là Hán dương tạo. Năm 1893 ở Hồ bắc xây dựng nhà máy thép Hán dương, lò cao cận đại hóa của Trung Quốc bắt đầu sản xuất vào tháng 5 năm 1894. Nhà máy có 4 lò cao đều mua trang thiết bị nước ngoài, trình độ kỹ thuật tương đối tiên tiến so với thế giới lúc đó. Tháng 2 năm 1908 nhà máy thép Hán dương cùng mỏ sắt Đại dã hợp nhất với nhà máy luyện khoáng và mỏ Bình hương (Giang tây), trở thành một xí nghiệp liên hợp gang thép đầu tiên có quy mô lớn hiện đại nhất châu Á lúc bấy giờ, đạt tới sản lượng 113 ngàn tấn gang và 50 ngàn tấn thép năm 1910. Thua trận trong cuộc Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ nhất năm 1894 - 1895 là một bước ngoặt đối với triều đình nhà Thanh. Nhật Bản, một nước từ lâu bị người Trung Quốc coi là quốc gia mới của những kẻ cướp biển, đã đánh bại một cách thuyết phục Hạm đội Bắc Hải mới được hiện đại hóa của nước láng giềng to lớn khiến triều đình nhà Thanh phải mất mặt. Khi đã đánh bại Trung Quốc, Nhật Bản trở thành nước châu Á đầu tiên gia nhập vào hàng ngũ các cường quốc trước đó chỉ gồm các nước phương Tây. Thất bại này là một sự sửng sốt đối với triều đình nhà Thanh đặc biệt khi họ chứng kiến hoàn cảnh xảy ra của nó chỉ ba thập kỷ sau khi Nhật Bản tiến hành các cuộc Minh Trị cải cách biến nước này có khả năng ganh đua với các nước phương Tây về các thành quả kinh tế và kỹ thuật của họ. Cuối cùng vào tháng 12 năm 1894 chính phủ nhà Thanh đưa ra một số bước kiên quyết nhằm cải cách thể chế quân sự và đào tạo lại một số đơn vị đã được lựa chọn nhằm tây phương hóa trình độ tác chiến, vũ khí và chiến thuật của họ. Các đơn vị đó được gọi là Tân thức lục quân (新式陸軍 Quân đội kiểu mới). Kết quả thành công nhất của việc này là Bắc Dương Quân (北洋軍) nằm dưới sự giám sát và điều khiển của cựu chỉ huy Hoài Quân, vị tướng người Hán Viên Thế Khải (袁世凱), người đã tận dụng vị trí của mình để trở thành một Tổng thống Cộng hòa độc tài và cuối cùng thành một vị hoàng đế trong thời gian ngắn của Trung Quốc. == Sự sụp đổ của triều đại == Tới đầu thế kỷ 20, hàng loạt các vụ náo động dân sự xảy ra và ngày càng phát triển. Từ Hi và Hoàng đế Quang Tự cùng mất năm 1908, để lại một khoảng trống quyền lực và một chính quyền trung ương bất ổn. Phổ Nghi, con trai lớn nhất của Thuần Thân Vương, được chỉ định làm người kế vị khi mới hai tuổi, và Thân Vương trở thành người nhiếp chính. Tiếp theo sự kiện này Tướng Viên Thế Khải bị gạt khỏi chức vụ của mình. Tới giữa năm 1911 Thuần Thân Vương lập ra "Chính phủ gia đình hoàng gia", một hội đồng cai trị của Chính phủ Hoàng gia hầu như gồm toàn bộ các thành viên thuộc dòng họ Aisin Gioro. Việc này khiến các quan lại cao cấp như Trương Chi Động tỏ thái độ bất mãn. Cuộc Khởi nghĩa Vũ Xương diễn ra vào ngày 10 tháng 10, 1911 dẫn đến cuộc Cách mạng Tân Hợi, và tiếp sau đó là sự tuyên bố thành lập một chính phủ trung ương riêng biệt, Trung Hoa Dân Quốc, tại Nam Kinh với Tôn Dật Tiên làm lãnh đạo lâm thời. Nhiều tỉnh bắt đầu "ly khai" khỏi quyền kiểm soát của nhà Thanh. Chứng kiến tình trạng này, chính phủ Thanh dù không muốn cũng buộc phải đưa Viên Thế Khải trở lại nắm quân đội, kiểm soát Bắc dương quân của ông, với mục tiêu nhằm tiêu diệt những người cách mạng. Sau khi lên giữ chức Tể tướng (內閣總理大臣 Nội các tổng lý đại thần) và lập ra chính phủ của riêng mình, Viên Thế Khải còn tiến xa nữa khi buộc triều đình phải cách chức nhiếp chính của Thuần Thân Vương. Việc cách chức này sau đó được chính thức hoá thông qua các chỉ thị của Hiếu Định Cảnh hoàng hậu. Khi Thuần Thân Vương đã buộc phải ra đi, Viên Thế Khải và các vị chỉ huy bên trong Bắc dương quân của mình hoàn toàn nắm quyền chính trị của triều đình nhà Thanh. Ông cho rằng không có lý do gì để tiến hành một cuộc chiến tranh gây nhiều tốn phí, đặc biệt khi nói rằng chính phủ nhà Thanh chỉ có một mục tiêu thành lập một nền quân chủ lập hiến. Tương tự như vậy, chính phủ của Tôn Dật Tiên muốn thực hiện một cuộc cải cách dân chủ, vừa hướng tới lợi ích của nền kinh tế và dân chúng Trung Quốc. Với sự cho phép của Hiếu Định hoàng hậu, Viên Thế Khải bắt đầu đàm phán với Tôn Dật Tiên, người đã cho rằng mục tiêu của mình đã thành công trong việc lập ra một nhà nước cộng hòa và vì thế ông có thể cho phép Viên Thế Khải nhận chức vụ Tổng thống của nền Cộng hoà. Năm 1912, sau nhiều vòng đàm phán, Hiếu Định đưa ra một chiếu chỉ tuyên bố sự thoái vị của vị ấu vương, Phổ Nghi. Sự sụp đổ của nhà Thanh năm 1912 đánh dấu sự kết thúc của hơn 2000 năm phong kiến Trung Quốc và sự khởi đầu của một giai đoạn bất ổn kéo dài, không chỉ đối với quốc gia mà ở một số mặt còn đối với cuộc sống của người dân. Tình trạng lạc hậu rõ rệt về chính trị và kinh tế cộng với sự chỉ trích ngày càng tăng về văn hoá Trung Quốc dẫn tới sự ngờ vực về tương lai của họ. Lịch sử hỗn loạn của Trung Quốc từ sau thời nhà Thanh ít nhất cũng có thể được thấu suốt một phần trong nỗ lực nhằm tìm hiểu và khôi phục lại những mặt quan trọng của văn hoá lịch sử Trung Quốc và tích hợp nó với những ý tưởng mang nhiều ảnh hưởng mới đã xuất hiện trong thế kỷ đó. Nhà Thanh là khởi nguồn của nền văn hoá vĩ đại đó, nhưng những sự hổ thẹn họ phải gánh chịu cũng là một bài học cần quan tâm. == Xem thêm == Vua Trung Quốc Các triều đại trong lịch sử Trung Quốc Hoàng đế Trung Quốc Luật pháp đại Thanh Danh sách vua nhà Thanh Danh sách các họ Mãn Châu Mũ chính thức của người Mãn Châu Thiên mệnh Trang phục quan lại Mãn Châu Lịch sử quân sự Trung Quốc Bảng các vua Trung Quốc == Tham khảo == Thanh Cung mười ba triều của Hứa Tiếu Thiên == Chú thích == == Liên kết ngoài == Thanh tại Từ điển bách khoa Việt Nam Qing dynasty (Chinese history) tại Encyclopædia Britannica Short History of the Qing Dynasty Art of the early Qing dynasty Bộ truyện Thanh cung mười ba triều bản tiếng Việt
danh sách hoàng đế la mã.txt
Danh hiệu ‘"Hoàng đế La Mã"’ được các nhà sử học về sau dùng để gọi người đứng đầu nhà nước La Mã trong thời kỳ đế quốc. Đế quốc La Mã phát triển từ nền Cộng hòa La Mã, sau khi nó từng bước thống trị toàn bộ bờ biển Địa Trung Hải, có điểm đặc trưng là quyền lực tập trung vào một cá nhân, thay vì "Viện nguyên lão và toàn thể công dân La Mã". Augustus, người được công nhận rộng rãi là hoàng đế La Mã đầu tiên, lên cầm quyền sau một cuộc chiến đẫm máu và trong một thời kỳ mà nhiều người dân La Mã còn giữ ý niệm mạnh mẽ về nền cộng hòa, đã cẩn thận duy trì lớp vỏ cộng hòa cho nền cai trị của mình (từ năm 27 tr.CN). Ông không đặt ra một danh hiệu mới, mà tập trung quyền lực vào một chức vụ tồn tại từ trước mà nay ông thâu tóm, ‘’ Princeps Senatus’’ (người đứng đầu Viện nguyên lão). Thể chế chính quyền này, tồn tại gần 300 năm, được gọi là ‘‘Chế độ Nguyên thủ’’ (Principate). Về mặt từ nguyên, từ '’ Hoàng đế’’ trong các ngôn ngữ châu Âu xuất phát từ tiếng Latin ‘’Imperator’’, một danh hiệu dành cho người đứng đầu quân đội. Trong thời kỳ đầu của đế chế, Nguyên thủ không đương nhiên có được danh hiệu này mà phải được phong sau một thành tích quân sự. Tuy nhiên trong thời hiện đại nó được dùng một cách không phân biệt mọi nhà cai trị của đế quốc La Mã trong các giai đoạn khác nhau, với hàm ý nhấn mạnh liên hệ mạnh mẽ giữa nền cai trị và quân đội đế chế. Cuối thế kỷ thứ 3 (sau CN), lên cầm quyền sau một thời kỳ nội chiến và bạo loạn kéo dài, Diocletianus đã chính thức hóa và thêm thắt vào danh hiệu hoàng đế bằng cách thiết lập sự tập trung quyền lực rõ ràng hơn vào cá nhân hoàng đế hay đặt ra tiếng tôn xưng ‘'Dominus Noster'’ (Chúa tể của chúng ta). Điều này đã khởi đầu cho thời kì gọi là Chế độ Quân chủ (Dominate). Từ Diocletianus về sau, thường tồn tại những hoàng đế cai trị đồng thời trong quá trình phân rã đế quốc (có lúc lên tới 4 hoàng đế chia nhau cai trị các phần lãnh thổ La Mã). Từ sau cái chết của Theodosius I năm 395, La Mã có thể xem như được chia tách làm hai thể chế: Đế quốc Tây La Mã và Đế quốc Đông La Mã . Tuy nhiên về mặt hiến pháp chúng không thực sự tách biệt và trong khi miền Tây ngày càng mất ổn định thì các hoàng đế ở Constantinopolis thường áp đặt quyền lực mình lên nửa Tây đế quốc. Đế quốc Tây La Mã suy sụp vào thế kỷ thứ V, hoàng đế cuối cùng đã thoái vị vào năm 476 trong khi đế quốc Đông La Mã phát triền thành Đế quốc Byzantine còn tồn tại được tới năm 1453. Tuy sự kế vị trong hoàng tộc là không đứt đoạn ở Byzantine và bản thân các hoàng cũng như những người đương thời coi họ là những người kế thừa Đế quốc La Mã cổ đại, sự thay đổi tính chất của đế quốc Byzantine như một nền quân chủ phong kiến phương Đông khiến cho danh sách này chỉ dừng lại ở các vị vua triều đại Justinian. Để xem danh sách đầy đủ các Hoàng đế Byzantine, xem: Danh sách Hoàng đế Đông La Mã Như vậy, danh hiệu ‘’Hoàng đế La Mã’’ là không nhất quán như danh hiệu ‘’hoàng đế’’ ở Trung Quốc hay Việt Nam. Trong nhiều trường hợp, việc xác định một người có là hoàng đế ‘’hợp pháp’’ (tiếng Anh: ‘’legitimate’’) hay không là rất khó khăn. Danh sách dưới đây được lập dựa trên nguyên tắc "hoàng đế hợp pháp" phải thỏa mãn một trong các điều kiện: Là người cai trị toàn bộ Đế quốc mà quyền lực thực tế không bị ai tranh cãi (1) Là người được công nhận là người thừa kế hợp pháp hoặc là hoàng đế cùng cai trị hợp pháp bởi một hoàng đế hợp pháp trước đó, và đã kế vị cai trị "theo quyền hạn của mình"(2) Khi có nhiều người cùng tuyên bố đứng đầu Đế quốc, mà không ai trong số đó là người thừa kế hợp pháp, thì người được chấp nhận bởi Viện nguyên lão là Hoàng đế hợp pháp của La Mã(3) Từ sau khi đế quốc phân chia vào năm 395, hoàng đế hợp pháp là người cai trị một phần đế quốc (Đông hoặc Tây) mà không bị tranh cãi. Riêng với đế quốc Tây La Mã, có những giai đoạn để trống ngôi hoàng đế và do sự mất mát sử liệu về giai đoạn sau 455 (khi đế quốc được coi là sụp đổ), tất cả hoàng đế giai đoạn sau đó đều được liệt kê, dù thông thường Romulus Augustus thường được coi là Hoàng đế La Mã cuối cùng (thoái vị vào năm 476). Các chi tiết tranh cãi về vị vua nào là cuối cùng của đế quốc Tây La Mã được liệt kê trong danh sách này. == Chế độ Nguyên thủ == === Triều đại Julio-Claudia === === Năm Bốn Hoàng đế và triều đại Flavian === === Triều đại Nervan-Antonian === === Năm Năm Hoàng đế và triều đại Severan === === Các Hoàng đế trong cuộc khủng hoảng thế kỷ III === == Chế độ Quân chủ == === Tứ đầu chế và Triều đại Constantine === === Triều đại Valentinian === === Triều đại Theodosian === === Các hoàng đế cuối cùng của Đế quốc Tây La Mã === == Hoàng đế Byzantine == === Triều đại Leonid === === Triều đại Justinian === Tiếp nối với Danh sách hoàng đế Byzantine == Niên biểu == Niên biểu chỉ ra tuổi thọ niên dại của các hoàng đế La Mã == Xem thêm == Danh sách hoàng đế La Mã Thần Thánh Danh sách nhà độc tài La Mã (501 – 44 TR.CN) Danh sách những kẻ cướp ngôi La Mã Hoàng đế La Mã Lịch sử Đế chế La Mã == Tham khảo == Trích dẫn Thư mục Chris Scarre,Brandon Shaw, Chronicle of the Roman Emperors, Thames & Hudson, 1995, Reprinted 2001, ISBN 0-500-05077-5 Tacitus, The Annals of Imperial Rome, Penguin Classics, Michael Grant Publications Ltd, 1971, Reprinted 1985, ISBN 0-14-044060-7 Martha Ross, Rulers and Governments of the World, Vol.1 Earliest Times to 1491, Bowker, 1978, ISBN 0-85935-021-5 Clive Carpenter, The Guinness Book of Kings Rulers & Statesmen, Guinness Superlatives Ltd, 1978, ISBN 0-900424-46-X R.F.Tapsell, Monarchs Rulers Dynasties and Kingdoms of The World, Thames & Hudson, 1981, Reprinted 1987, ISBN 0-500-27337-5 == Liên kết ngoài == Hình ảnh các hoàng đế La Mã. Tiểu sử các Roman Emperors. Danh sách các hoàng đế La Mã (27 TR.CN – 395 sau CN) Chân dung và hồ sơ Thư viện Luật La Mã bởi Yves Lassard và Alexandr Koptev. Niên biểu các hoàng đế và hoàng hậu La Mã
29 tháng 12.txt
Ngày 29 tháng 12 là ngày thứ 363 (364 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 2 ngày trong năm. == Sự kiện == 1427 – Sau Hội thề Đông Quan, Tổng binh triều Minh là Vương Thông dẫn bộ binh rút khỏi An Nam, kết thúc thời kỳ triều Minh đô hộ trong lịch sử Việt Nam, tức 12 tháng 12 năm Đinh Mùi. 1845 – Theo thuyết vận mệnh hiển nhiên, Hoa Kỳ sáp nhập Cộng hòa Texas, Texas trở thành tiểu bang thứ 28 của Liên bang. 1911 – Tôn Trung Sơn trở thành tổng thống lâm thời của Trung Hoa Dân Quốc, ông chính thức nhậm chức vào ngày 1 tháng 1 năm 1912. 1911 – Các vương công và lạt ma Mông Cổ tại Khố Luân tuyên bố độc lập từ triều Thanh, lập Jebstundamba Khutuktu làm hoàng đế. 1928 – Phụng hệ quân phiệt Trương Học Lương tuyên bố tiếp nhận quyền quản hạt của chính phủ Quốc dân, thay cờ tại lãnh địa, sử gọi là "Đông Bắc thay cờ". 1939 – Máy bay ném bom Consolidated B-24 Liberator tiến hành chuyến bay đầu tiên. 1942 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Quân đoàn xe tăng 24 của Liên Xô thoát khỏi vòng vây của quân Đức và về đến Ilinka, kết thúc cuộc đột kích Tatsinskaya. 1959 – Nhà vật lý học người Mỹ Richard Feynman đưa ra một bài phát biểu được đặt tên là Còn nhiều chỗ trống ở cấp vi mô, được xem như mốc khai sinh của công nghệ nano. 1989 – Václav Havel trở thành nguyên thủ thứ 9 của Tiệp Khắc. == Sinh == 1709 – Elizaveta, nữ hoàng của Nga, tức 18 tháng 12 theo lịch Julius (m. 1762) 1808 – Andrew Johnson, chính trị gia người Mỹ, tổng thống của Hoa Kỳ (m. 1875) 1899 – Nhiếp Vinh Trăn, tướng lĩnh quân đội người Trung Quốc (m. 1992) 1910 – Ronald Coase, nhà kinh tế học người Anh-Mỹ, đoạt giải Nobel (m. 2013) 1942 – Rajesh Khanna, diễn viên, ca sĩ người Ấn Độ (m. 2012) 1957 – Bruce A. Beutler, nhà miễn dịch học và di truyền học Mỹ, đoạt giải Nobel 1959 – Okazaki Ritsuko, ca sĩ, nhà soạn nhạc người Nhật Bản (m. 2004) 1959 – Hà Gia Kính, diễn viên người Hồng Kông 1960 – Thomas Lubanga Dyilo, thủ lĩnh quân sự người CHDC Congo 1983 – Minh Thư, ca sĩ người Việt Nam 1994 – Kako, thành viên hoàng thất Nhật Bản Không rõ năm – Ayana, ca sĩ người Nhật Bản == Mất == 1208 – Hoàn Nhan Cảnh, tức Kim Chương Tông, hoàng đế của triều Kim, tức ngày Bính Thìn (20) tháng 11 năm Mậu Thìn (s. 1190) 1825 – Jacques-Louis David, họa sĩ người Pháp (s. 1748) 1891 – Leopold Kronecker, nhà toán học người Đức (s. 1823) 1894 – Christina Rossetti, nhà thơ người Anh (s. 1830) 1896 – Wilhelm von Woyna, tướng lĩnh quân đội người Đức (s. 1819) 1910 – Ewald Christian Leopold von Kleist, tướng lĩnh quân đội người Đức (s. 1824) 1916 – Grigori Yefimovich Rasputin, người thần bí Nga, tức 16 tháng 12 theo lịch Julius (s. 1869) 1924 - Carl Spitteler, nhà văn người Thụy Sĩ. đoạt giải Nobel (s. 1845) 1926 – Rainer Maria Rilke, nhà văn người Áo (s. 1875) 1929 – Wilhelm Maybach, kỹ sư và doanh nhân người Đức (s. 1846) 1941 – Tullio Levi-Civita, nhà toán học người Ý (s. 1873) 1951 – Cù Chính Lan, quân nhân người Việt Nam (s. 1930) 2009 – Akmal Shaikh, doanh nhân và người vận chuyển ma túy người Pakistan-Anh (s. 1956) == Những ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
thiết bị đầu cuối.txt
Trong viễn thông (telecommunication), từ thiết bị đầu cuối có những nghĩa sau đây: Thiết bị truyền thông ở hai đầu dây liên kết mối giao thông, giúp cho các trạm thông nối hoàn thành nhiệm vụ định trước. Thiết bị, trong các hệ thống tiếp âm radio, dùng để thu và phát số liệu. Nên phân biệt sự khác nhau của thiết bị này với các thiết bị dùng để tiếp các tín hiệu đã được giải điều biến lại để khôi phuc tín hiệu gốc. Các tổng đài điện thoại và điện tín (switchboards - trung tâm chuyển mạch) cùng những linh kiện trung tâm khác, nơi mạch truyền thông kết thúc. == Xem thêm == Thiết bị cuối xử lý số liệu (Data terminal equipment), một thiết bị ở cuối đường dây chuyển đổi những tin tức của người dùng sang tín hiệu để truyền qua đường dây, hoặc chuyển đổi những tín hiệu thu được thành tin tức người ta có thể dùng được. Thiết bị đầu cuối là những thiết bị như: Máy điện thoại, máy tính, máy fax... Thiết bị đầu cuối có nhiệm vụ giải mã những tín hiệu và mã do tổng đài hoặc trung tâm chuyển mạch chuyển đến, Ta có thể hiểu thiết bị đầu cuối là một trong 3 thành phần quan trọng trong hệ thống viễn thông sau: Hệ thống tổng đài và hệ thống truyền dẫn. Federal Standard 1037C == Tham khảo ==
cúp liên đoàn bóng đá anh 1991–92.txt
Cúp Liên đoàn bóng đá Anh 1991–92, được gọi là Rumbelows Cup vì lý do tài trợ, là mùa bóng thứ 32 của giải Cúp Liên đoàn bóng đá Anh, một giải đấu bóng đá đấu loại trực tiếp cho 93 câu lạc bộ bóng đá hàng đầu của nước Anh. Tên giải đấu được đặt tên theo một hợp đồng tài trợ với Rumbelows. Giải đấu bắt đầu vào ngày 20 tháng 8 năm 1991 và kết thúc với trận chung kết vào ngày 12 tháng 4 năm 1992 tại Sân vận động Wembley. == Vòng đầu tiên == === Lượt đi === === Lượt về === == Vòng 2 == === Lượt đi === === Lượt về === == Vòng 3 == === Trận đầu tiên === === Trận đấu lại === === Trận đấu lại lần 2 === == Vòng 4 == === Trận đầu tiên === === Trận đấu lại === == Vòng 5 == === Trận đầu tiên === === Trận đấu lại === == Vòng bán kết == Đội bốn lần vô địch Nottingham Forest vượt qua Tottenham Hotspur và lọt vào chung kết Cúp Liên đoàn thứ sau trong 15 năm, còn Manchester United thắng Middlesbrough và tìm kếm cơ hội vô địch trong trận chung kết League Cup thứ ba. === Lượt đi === === Lượt về === == Trận chung kết == Xem thêm thông tin: Chung kết Cúp Liên đoàn bóng đá Anh 1992 === Trận đấu === == Tham khảo == === Chính === “English League Cup 1991/1992”. Soccerbase. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2012. “England League Cup Full Results 1960–1996”. Rec.Sport.Soccer Statistics Foundation. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2012. “English League Cup 1991–1992: Results”. Statto. Truy cập ngày 25 tháng 1 năm 2012. === Phụ === == Liên kết ngoài == Carling Cup
quốc hội việt nam khóa ii.txt
Quốc hội Việt Nam khóa II (nhiệm kỳ 1960–1964) là Quốc hội nhiệm kỳ thứ hai của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và là Quốc hội đầu tiên hoạt động trong thời kỳ đất nước bị chia cắt. Quốc hội thứ hai được bầu ngày 8 tháng 5 năm 1960 và diễn ra trong 8 kỳ họp, có vai trò quan trọng thực thi các quyết sách trong thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Việt Nam và kiện toàn các cơ quan trọng yếu trong bộ máy nhà nước. Là khóa Quốc hội đầu tiên hoạt động theo những nguyên tắc của Hiến pháp 1959, Quốc hội khóa II đã thông qua 6 luật và 9 pháp lệnh, trong đó có những đạo luật cơ bản về tổ chức nhà nước như Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Hội đồng Chính phủ, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân. Ngoài ra, cũng trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã thông qua nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân 5 năm lần thứ nhất (1961-1965). Đây cũng là lần đầu tiên cơ quan lãnh đạo Quốc hội được được đặt là Ủy ban Thường vụ Quốc hội (thay thế Ban thường trực cũ), và thủ trưởng cơ quan này gọi là Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Ông Trường Chinh là Chủ tịch Ủy ban Thường vụ khóa II, được bầu tại phiên bế mạc của Kỳ họp đầu tiên diễn ra ngày 15 tháng 7 năm 1960. == Bầu cử == Bầu cử Quốc hội Việt Nam năm 1960 là cuộc tổng tuyển cử mở đầu cho Khóa II của Quốc hội Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhiệm kỳ 1960–1964. Cuộc bầu cử diễn ra ngày 8 tháng 5 năm 1960 tại 22.530 khu vực bỏ phiếu thuộc 42 đơn vị bầu cử ở miền Bắc Việt Nam. Tổng số ứng viên ra tranh cử là 455 ứng cử viên, để chọn lấy 362 đại biểu. Trong tổng số 8.394.987 cử tri có trong danh sách, có 8.192.795 người đã đi bỏ phiếu. Tỷ số đầu phiếu đạt 97,59%. Ngoài 362 đại biểu trên còn có 91 ghế dành cho đại biểu đại diện phần phía nam vĩ tuyến 17. Trong số 91 ghế dành cho đại biểu phương Nam vì không tổ chức bầu cử được nên những đại biểu từ khóa trước tiếp tục nhiệm kỳ. Khi Quốc hội nhóm họp thì hai trong số 91 ghế này bị bỏ trống vì đại biểu đã qua đời nên tổng cộng chỉ có 451 đại biểu. == Kỳ họp == Quốc hội khóa II diễn ra trong 8 kỳ họp. == Chính phủ == Trong nhiệm kỳ này, Quốc hội đã bầu ra Chính phủ nhiệm kỳ II (1960-1964) do Thủ tướng Chính phủ Phạm Văn Đồng đứng đầu. == Ủy ban Thường vụ Quốc hội == === Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội === Trường Chinh === Phó Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội === Hoàng Văn Hoan - kiêm Tổng thư ký Quốc hội Xuân Thủy Nguyễn Xiển Trần Đăng Khoa Chu Văn Tấn Nguyễn Văn Hưởng === Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội: === Tôn Quang Phiệt Trần Huy Liệu Dương Bạch Mai Dương Đức Hiền Trần Đình Tri Nguyễn Thị Thập Nguyễn Xuân Nguyên Nguyễn Công Hòa Vũ Quang Nguyễn Hữu Khiếu Linh mục Hồ Thành Biên Pháp sư Thích Trí Độ Hồ Đắc Di Y Ngông Niê Kđăm === Uỷ viên dự khuyết: === Trương Tấn Phát Lò Văn Hạc Bồ Xuân Luật Nguyễn Khoa Diệu Hồng Bùi Hưng Gia == Tham khảo == == Xem thêm == Văn kiện Quốc hội toàn tập - Tập 2. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia. 2006 Fall, Bernard. "North Vietnam Constitution and Government". Pacific Affairs Vol 23. Sep, 1960.
himalaya.txt
Himalaya (còn có tên Hán-Việt là Hy Mã Lạp Sơn lấy từ "Hi Mã Lạp Nhã sơn mạch", do người Trung Quốc lấy các chữ Hán có âm gần giống "Himalaya" để phiên âm) là một dãy núi ở châu Á, phân chia tiểu lục địa Ấn Độ khỏi cao nguyên Tây Tạng. Mở rộng ra, đó cũng là tên của một hệ thống núi hùng vĩ bao gồm cả Himalaya theo đúng nghĩa của từ này, Karakoram, Hindu Kush và các dãy núi nhỏ khác trải dài từ Pamir Knot. Tên gọi này bắt nguồn từ tiếng Sanskrit himālaya, một tatpurusa từ kép mang ý nghĩa "nơi ở của tuyết" (từ chữ hima "tuyết", và ālaya "nơi ở"; xem thêm Himavat). Tất cả cùng với nhau, hệ thống núi Himalaya là dãy núi cao nhất hành tinh và là nơi của 14 đỉnh núi cao nhất thế giới: các đỉnh cao trên 8.000 m, bao gồm cả đỉnh Everest. Để thấy được kích thước khổng lồ của những dãy núi trong dãy Himalaya, hãy so với Aconcagua, trong dãy Andes, với độ cao 6.962 m, là đỉnh cao nhất bên ngoài Himalaya, trong khi hệ thống núi Himalaya có trên 100 núi khác nhau vượt quá 7.200 m. Dãy Himalaya trải khắp 7 quốc gia: Bhutan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nepal, Pakistan, Myanma và Afghanistan. Nó cũng là nơi khởi nguồn của 3 hệ thống sông lớn trên thế giới, đó là lưu vực các sông như sông Ấn, sông Hằng-Brahmaputra và sông Dương Tử. Khoảng 750 triệu người sống trên lưu vực của các con sông bắt nguồn từ dãy Himalaya, tính luôn cả Bangladesh. == Các đỉnh nổi tiếng == == Sinh thái == Hệ động và thực vật của Himalaya biến đổi theo khí hậu, lượng mưa, cao độ, và đất. Khí hậu thay đổi từ nhiệt đới ở chân núi đến băng và tuyết vĩnh cửu ở những đỉnh cao nhất. Lượng mưa hàng năm tăng từ tây sang đông dọc theo sười phía nam của dải núi. Sự đa dạng về khí hậu, cao độ, lượng mưa, và đất đai tạo điều kiện cho nhiều quần xã động - thực vật phát triển. Ví dụ như ở những cao độ rất cao (áp suất thấp) cùng với khí hậu cực lạnh cho phép các sinh vật chịu được điều kiện sống rất khắc nghiệt sống sót. Sự phát triển hưng thịnh của hệ động thực vật thống nhất của Himalaya đang trải qua những thay đổi về hợp phần và cấu trúc do biến đổi khí hậu. Sự gia tăng nhiệt động có thể làm cho một số loài chuyển lên sống ở những độ cao cao hơn. Rừng sồi bị thông xâm lấn ở khu vực Garhwal Himalaya. Có một số bào cào về các loại cây ăn quả và thực vật có hoa thời kỳ đầu ở dạng loài thân gỗ, đặc biệt là rhododendron, táo và Myrica esculenta. Đặc tính dược của một số loài quan trọng có thể bị ảnh hưởng do biến đổi khi hậu. == Địa chất == Himalaya là một trong những dải núi trẻ nhất trên Trái Đất và bao gồm chủ yếu là các đá trầm tích và đá biến chất được nâng lên. Theo học thuyết kiến tạo mảng, sự hình thành của nó là kết quả của sự va chạm lục địa hoặc tạo núi dọc theo ranh giới hội tụ giữa mảng Ấn-Úc và mảng Á-Âu. Dải núi này được xem là núi nếp uốn. Sự va chạm bắt đầu vào Creta thượng cách đây khoảng 70 triệu năm, khi mảng Ấn-Úc chuyển động về phía bắc với vận tốc khoảng 15 cm/năm và va chạm với mảng Á-Âu.Cách đây khoảng 50 triệu năm, mảng Ấn-Úc này đã đóng kín hoàn toàn đại dương Tethys, sự tồn tại của đại dương này được xác định thông qua các đá trầm tích lắng đọng trên đáy đại dương, và các núi lửa ở rìa của nó. Vì các trầm tích này nhẹ nên nó được nâng lên thành núi thay vì bị chìm xuống đáy đại dương. Mảng Ấn-úc tiếp tục di chuyển theo chiều ngang bên dưới cao nguyên Thanh Tạng làm cho cao nguyên này nâng lên. Cao nguyên Arakan Yoma ở Myanma và quần đảo Andaman và Nicobar thuộc vịnh Bengal cũng được hình thành do sự va chạm này. Mảng Ấn-Úc vẫn đang chuyển động với tốc độ 67 mm/năm, và hơn 10 triệu năm nữa nó sẽ đi sâu khoảng 1.500 km vào châu Á. Khoảng 20 mm/năm của sự hội tụ Ấn-Á theo đứt gãy dọc theo sườn phía nam của Himalaya. Điều này làm cho Himalaya nâng cao khoảng 5 mm/năm. Sự chuyển động của mảng Ấn Độ vào mảng châu Á cũng gây ra các hoạt động địa chấn như động đất thường xuyên ở khu vực này. == Thủy văn == Himalaya là nơi tích tụ băng lớn thứ 3 trên thế giới sau Nam Cực và Bắc Cực. Dãy Himalaya kéo dài qua khoảng 15.000 sông băng với khoảng 12.000 km3 nước ngọt. Các sông băng như Gangotri và Yamunotri (Uttarakhand) và Khumbu (khu vực đỉnh Everest), Langtang (vùng Langtang) và Zemu (Sikkim). Dãy núi nằm gần chí tuyến Bắc, ranh giới băng tuyết vĩnh cửu nằm trong số các đường có độ cao lớn nhất trên thế giới trong khoảng 5.500 mét (18.000 ft). Ngược lại, các núi ở xích đạo thuộc New Guinea, Rwenzoris và Colombia có đường băng tuyết thấp hơn ở độ cao 900 mét (2.950 ft). Các khu vực cao hơn của Himalaya có tuyết phủ quanh năm, mặc dù chúng nằm gần vùng nhiệt đới, và chúng là nguồn của các sông lớn có dòng chảy quanh năm, hầu hết các sông này đề đổ vào hai hệ thống sông lớn: Các sông phía tây, trong đó Sông Ấn là sông lớn nhất, tạo thành thung lũng sông Ấn. Sông Ấn bắt nguồn từ Tây Tạng tại nơi giao nhau của các sông Sengge và Gar và chảy về phía tây nam qua Ấn Độ và sau đó qua Pakistan để vào biển Ả Rập. Nó được cấp nước thêm từ Sông Jhelum, Chenab, Ravi, Beas, và sông Sutlej, cùng với các sông khác. Hầu hết các sông khác của Himalaya chảy vào thung lũng sông Hằng-Brahmaputra. Các sông chính gồm Sông Hằng, Brahmaputra và Yamuna, cũng như các chi lưu khác. Brahmaputra bắt nguồn từ Sông Yarlung Tsangpo ở tây Tây Tạng, và chảy về phía đông qua Tây Tạng và tây qua các đồng bằng Assam. Sông Hằng và Brahmaputra gặp nhau ở Bangladesh, và chảy vào Vịnh Bengal qua châu thổ lớn nhất thế giới Sunderban. === Hồ === Khu vực Himalaya có đến hàng trăm hồ. Hầu hết các hồ được tìm thấy ở độ cao nhỏ hơn 5.000 m, với kích thước hồ giảm dần theo độ cao. Hồ Tilicho ở Nepal thuộc khối núi Annapurna là một trong những hồ ở độ cao cao nhất trên thế giới. Pangong Tso, nằm trên biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc, và Yamdrok Tso, nằm ở trung tâm Tây Tạng, là hai trong số những hồ có diện tích bề mặt lớn nhất theo thứ tự là 700 km², và 638 km². Các hồ nổi tiếng khác như Hồ Phoksundo thuộc Vườn quốc gia Shey Phoksundo của Nepal, Hồ Gurudongmar ở North Sikkim, Hồ Gokyo ở quận Solukhumbu, và Hồ Tsongmo gần biên giới Ấn Độ-Trung Quốc ở Sikkim. Một vài hồ có khả năng gây nguy hiểm do vỡ hồ băng. Hồ băng Tsho Rolpa ở thung lũng Rowaling thuộc quận Dolakha của Nepal, là hồ nguy hiển nhất. Hồ nằm ở độ cao 4.580 mét (15.030 ft) đã phát triển đáng kể trong vòng 50 năm qua do băng tan. Các hồ trên núi được các nhà địa lý gọi là tarn nếu chúng được tạo ra bởi hoạt động của băng giá. Tarn được tìm thấy phổ biến ở các vùng thượng nguồn ở Himalaya có độ cao trên 5.500 m. == Các tôn giáo trong khu vực == Trong đạo Hindu, Himalaya được nhân cách hóa là vị thần Himavat, cha đẻ của Ganga và Parvati. Nhiều nơi thuộc Himalaya thuộc về các tôn giáo có ảnh hưởng như Buddhism, Hinduism, Jainism và Sikhism. Địa điểm tôn giáo nổi tiếng nhất là Paro Taktsang, nơi Padmasambhava được cho là đà thành lập nên Buddhism ở Bhutan. Nhiều vị trí tôn giáo Tibetan Buddhism tọa lạc ở Himalaya, bao gồm cả nơi ở của Dalai Lama. Có hơn 6.000 tu viện ở Tây Tạng. Tibetan Muslims có các thánh đường của họ ở Lhasa và Shigatse. == Xem thêm == Everest Danh sách các núi cao nhất thế giới núi Mai Lý == Tham khảo ==
colombia.txt
Phân biệt với Columbia, tên cũ của Hoa Kỳ Cộng hoà Colombia (tiếng Tây Ban Nha: , IPA [re'puβ̞lika ð̞e ko'lombja], Tiếng Việt: Cộng hòa Cô-lôm-bi-a) là một quốc gia tại Nam Mỹ. Colombia giáp Venezuela và Brasil về phía đông; giáp Ecuador và Peru về phía nam; giáp Đại Tây Dương phía bắc, qua Biển Caribe; và phía tây giáp Panama và Thái Bình Dương. Colombia cùng với Chile là hai quốc gia ở Nam Mỹ giáp cả Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Colombia là một nước lớn và đa dạng, lớn thứ 4 Nam Mỹ (sau Brasil, Argentina và Peru), với diện tích hơn gấp bảy lần New England; gấp đôi Pháp; chỉ nhỏ hơn một chút so với Arizona, California, Oregon và Washington kết hợp lại. == Nguồn gốc tên gọi == Tên gọi "Colombia" lấy theo tên của Christopher Columbus (Cristóbal Colón tiếng Tây Ban Nha, Cristóvão Colombo tiếng Bồ Đào Nha, Cristòfor Colom tiếng Catalan, Christophe Colomb tiếng Pháp, Cristoforo Colombo tiếng Ý). Nhà cách mạng người Venezuela Francisco de Miranda đã dùng tên này cho toàn bộ Tân Thế giới, nhất là các thuộc địa của Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha. Sau đó, vào ngày 15 tháng 2 năm 1819, Hội nghị Angostura đã thống nhất đặt tên Cộng hòa Colombia cho một quốc gia mới bao gồm lãnh thổ của Tân Granada, Quito và Đại Trấn Venezuela, theo đề xuất của nhà cách mạng Simón Bolivar trong Bức thư từ Jamaica. Năm 1830, khi Venezuela và Ecuador ly khai, phần còn lại của vùng Cundinamarca trở thành một quốc gia, Cộng hòa Tân Granada. Năm 1858 quốc gia này đã chuyển sang thể chế liên bang và đổi tên thành Liên bang Granadine; và sau đó năm 1863 đổi tên thành Hợp chủng quốc Colombia. Năm 1886 quốc gia này đã đổi thành tên như ngày nay: Cộng hòa Colombia. Ban đầu quốc hội hai nước Ecuador và Venezuela đã rất phản đối tên gọi này, cho rằng Colombia đã đơn phương chiếm đoạt một di sản lịch sử chung của cả khu vực, nhưng sau đó cuộc tranh cãi đã nhanh chóng kết thúc. == Lịch sử == === Tiền Colombo === Khoảng năm 10000 trước Công Nguyên, các xã hội săn bắn hái lượm đã tổn tại gần nơi hiện là Bogotá (tại "El Abra" và "Tequendama") họ buôn bán với nhau và với các nền văn hóa sống dọc Châu thổ Sông Magdalena. Bắt đầu thiên niên kỷ thứ nhất trước Công Nguyên, các nhóm người Amerindians đã phát triển các hệ thống chính trị gồm các "cacicazgo" với một cơ cấu quyền lực hình kim tự tháp đứng đầu là các tù trưởng. Bên trong Colombia, hai nền văn hóa có hệ thống cacicazgo phức tạp nhất là Tayrona tại vùng Caribe, và Muisca tại các cao nguyên quanh Bogotá, cả hai đều thuộc ngữ hệ Chibcha. Người Muisca được coi là đã sở hữu một trong những hệ thống chính trị phức tạp nhất tại Nam Mỹ, sau người Inca. === Thuộc địa === Những nhà thám hiểm Tây Ban Nha lần đầu khám phá vùng đất ven biển Caribe vào năm 1500 dưới sự lãnh đạo của Rodrigo de Bastidas. Christopher Columbus đã tới gần Caribe năm 1502. Năm 1508, Vasco Nuñez de Balboa bắt đầu chinh phục lãnh thổ này qua vùng Urabá. Năm 1513, ông cũng là người châu Âu đầu tiên khám phá Thái Bình Dương mà ông gọi là Mar del Sur (hay "Biển phương Nam"), con đường trên thực tế sẽ đưa những kẻ chinh phục Tây Ban Nha tới Peru và Chile. Năm 1525, thành phố châu Âu đầu tiên tại lục địa châu Mỹ được thành lập, là Santa María la Antigua del Darién tại Khu Chocó ngày nay. Dân số chủ yếu sống trên vùng này là hàng trăm bộ tộc Chibchan và "Karib", hiện được gọi là dân tộc Caribe, và người Tây Ban Nha đã dùng chiến tranh để chinh phục họ, bệnh dịch, công cuộc khai thác và chính cuộc chinh phục này đã đưa lại một thảm họa về nhân chủng làm giảm sút số lượng người bản xứ. Ở thế kỷ mười sáu, người châu Âu bắt đầu đưa nô lệ từ Châu Phi tới. === Độc lập === Từ đầu những giai đoạn Chinh phục và Thuộc địa, đã có nhiều phong trào phản kháng chống lại ách cai trị Tây Ban Nha, đa số chúng đều bị đàn áp hay quá yếu ớt để có thể mang lại sự thay đổi. Phong trào phản kháng cuối cùng, với mục tiêu đòi độc lập từ Tây Ban Nha, nổ ra khoảng năm 1810, sau khi St. Domingue giành độc lập năm 1804 (Haiti ngày nay), và nước này chỉ có thể cung cấp sự hỗ trợ nhỏ nhoi cho những lãnh đạo phong trào là: Simón Bolívar và Francisco de Paula Santander. Simón Bolívar đã trở thành tổng thống đầu tiên của Colombia/ Fransisco de Paula Santander là Phó tổng thống, và khi Simón Bolívar rút lui, Santander đã trở thành tổng thống thứ hai của Colombia. Cuộc nổi dậy cuối cùng đã giành thắng lợi năm 1819 khi lãnh thổ Phó vương New Granada trở thành nhà nước Cộng hòa Đại Colombia được tổ chức thành một Liên minh cùng Ecuador và Venezuela (Panama từng là một phần của Colombia). === Tranh giành chính trị === Sự chia rẽ chính trị và lãnh thổ trong nội bộ đã dẫn tới sự ly khai của Venezuela và Quito (Ecuador ngày nay) năm 1830. Ở thời điểm này, cái gọi là "Khu Cundinamarca" đã chấp nhận cái tên "Nueva Granada", và giữ nó cho tới tận năm 1856 khi nó trở thành "Confederación Granadina" (Liên bang Grenadine). Sau một cuộc nội chiến kéo dài hai năm năm 1863, "Liên bang Colombia" được thành lập và tồn tại tới năm 1886, khi cuối cùng đất nước này trở thành Cộng hòa Colombia. Sự chia rẽ nội bộ tiếp tục diễn ra giữa các lực lượng chính trị lưỡng đảng, thỉnh thoảng gây ra những cuộc nội chiến rất đẫm máu, nổi bật nhất là cuộc nội chiến nghìn ngày (1899 - 1902) cùng với những ý đồ của Mỹ nhằm thiết lập ảnh hưởng trong vùng (đặc biệt trong việc xây dựng và quản lý Kênh đào Panama) đã dẫn tới sự ly khai của Khu Panama năm 1903 và lãnh thổ này đã trở thành một quốc gia. Colombia sa lầy vào cuộc chiến tranh kéo dài một năm với Peru về tranh chấp lãnh thổ liên quan tới Khu Amazonas và thủ phủ Leticia của nó. === La Violencia === Một thời gian ngắn sau đó, Colombia có nền chính trị khá ổn định, và nó bị ngắt quãng bởi một cuộc xung đột đẫm máu xảy ra trong khoảng thời gian giữa cuối thập kỷ 1940 và đầu thập kỷ 1950, một giai đoạn được gọi là La Violencia ("Bạo lực"). Nguyên nhân của nó là sự căng thẳng gia tăng giữa hai đảng chính trị hàng đầu, cuối cùng đã bùng phát thành bạo lực sau vụ ám sát ứng cử viên Tổng thống Tự do Jorge Eliécer Gaitán ngày 9 tháng 4 năm 1948. Vụ ám sát này đã gây ra những cuộc bạo động tại Bogotá và được gọi là El Bogotazo, tình trạng bạo lực trong những cuộc bạo động lan tràn khắp đất nước và làm thiệt mạng ít nhất 180.000 người Colombia. Từ năm 1953 tới 1964 bạo lực giữa hai đảng chính trị giảm bớt thứ nhất bởi Tổng thống Gustavo Rojas Pinilla đã mất chức Tổng thống Colombia trong một cuộc đảo chính, cuộc đàm phán với phe du kích, và sự xuất hiện của hội đồng quân sự của Tướng Gabriel París Gordillo. === Mặt trận quốc gia === Sau khi Rojas đã mất chức, hai đảng chính trị Đảng Bảo thủ Colombia và Đảng Tự do Colombia đã đồng ý thành lập một "Mặt trận Quốc gia," theo đó hai đảng Tự do và Bảo thủ sẽ cùng điều hành đất nước. Chức tổng thống sẽ được thay thế lần lượt giữa hai đảng với nhiệm kỳ 4 năm trong vòng 16 năm tiếp diễn; hai đảng sẽ chia sẻ quyền lực tương đương ở mọi chức vụ nhà nước. Mặt trận Quốc gia đã chấm dứt "La Violencia", và chính phủ Mặt trận Quốc gia nỗ lực tiến hành các cuộc cải cách kinh tế, xã hội sâu rộng cùng với sự hợp tác của Liên minh vì Tiến bộ. Cuối cùng, những mâu thuẫn giữa các chính quyền Bảo thủ và Tự do nối tiếp nhau khiến kết quả không được như ý muốn. Dù có những tiến bộ ở một số lĩnh vực, nhiều vấn đề bất công xã hội và chính trị tiếp diễn và các nhóm du kích như FARC, ELN và M-19 chính thức thành lập chiến đấu chống chính phủ và các cơ quan chính trị với những ảnh hưởng từ các học thuyết của cuộc Chiến tranh lạnh. === Xung đột vũ trang Colombia === Cuối thập niên 1970 và trong suốt thập niên 1980, 1990 những tổ hợp ma tuý (drug cartel) giàu mạnh và đầy tính bạo lực xuất hiện, nổi tiếng nhất là Medellín Cartel (dưới sự chỉ huy của Pablo Escobar) và Cali Cartel, trong một giai đoạn đã gây ảnh hưởng tới chính trị, kinh tế và xã hội tại Colombia. Những tổ hợp này cũng đã tài trợ tiền bạc và gây ảnh hưởng tới các nhóm vũ trang bất hợp pháp và phe phái chính trị. Một số bên chống đối lại đã liên minh với các nhóm du kích tạo ra hay gây ảnh hưởng tới các nhóm bán quân sự. Để thay thế hiến pháp năm 1886 trước đó, một hiến pháp mới đã được phê chuẩn năm 1991 (Hiến pháp Colombia năm 1991), sau khi được Hội đồng Lập hiến Colombia soạn thảo. Hiến pháp được thêm vào những điều khoản quan trọng về chính trị, sắc tộc, nhân quyền và bình đẳng nam nữ, chúng sẽ dần được thực hiện, dù tình trạng phát triển không đều, tranh cãi, và tụt hậu vẫn tồn tại. Hiến pháp mới cũng ngăn cấm hành động dẫn độ người mang quốc tịch Colombia sang Hoa Kỳ, các tổ hợp ma túy đã tiến hành vận động hành lanh tại Nghị viện và đưa ra một chiến dịch đe dọa vũ lực nhằm ngăn chặn sự phê chuẩn hành động dẫn độ. Nhiều cuộc tấn công khủng bố và hành quyết kiểu mafia đã diễn ra. Các tổ hợp ma túy cũng đã tìm cách gây ảnh hưởng tới chính phủ cũng như cơ cấu chính trị Colombia, như trường hợp vụ sandal Quy trình 8000. Trong những thập kỷ gần đây nước này tiếp tục gặp phải khó khăn từ ảnh hưởng của các hoạt động buôn bán thuốc phiện và những cuộc chiến tranh du kích như của FARC, và các nhóm bán quân sự như AUC (hiện đã được giải ngũ nhưng một số thành viên vẫn còn hoạt động) cùng với các phe nhóm nhỏ khác đã tham dự vào cuộc xung đột vũ trang đẫm máu. Các tổ hợp ma túy giàu mạnh đã giúp Colombia cân bằng thương mại bằng cách tạo ra một luồng thu ngoại tệ lớn và ổn định, chủ yếu là dollar Mỹ. Mặt khác, các thủ lĩnh ma túy cũng làm bất ổn định chính phủ. Những cuộc nổi loạn của các nhóm khác nhau dẫn tới tình trạng sử dụng hành động bắt cóc và buôn lậu ma tuý để kiếm tiền hoạt động, chúng thường hoạt động tại các vùng nông thôn rộng lớn và hẻo lãnh và thỉnh thoảng có thể gây thiệt hại tới các hệ thống viễn thông và giao thông giữa các vùng. Từ đầu thập niên 1980, những nỗ lực nhằm đàm phán một thỏa thuận giữa chính phủ và các phe phiến loạn khác nhau đã được tiến hành, có trường hợp thành công có trường hợp chỉ một phần phe nổi dậy chịu giải giáp. Một trong những nỗ lực gần đây nhất đã diễn ra khi chính quyền của Tổng thống Andrés Pastrana Arango, đàm phán với FARC trong giai đoạn 1998 và 2002. Cuối thập niên 1990, Tổng thống Andrés Pastrana đã đưa ra một sáng kiến gọi là Kế hoạch Colombia, với hai mục tiêu chấm dứt xung đột vũ trang và thúc đẩy một chiến lược chống ma tuý mạnh. Yếu tố gây tranh cãi nhất của Kế hoạch là chiến lược chống ma tuý, gồm việc tăng hoạt động phun thuốc tiêu diệt cây coca từ trên không. Hành động này bị nhiều phe phái phản đối, họ cho rằng phun thuốc diệt cây từ trên không cũng có thể gây hại tới các loại cây khác, và gây ra những hậu quả xấu tới sức khỏe người dân. Những lời chỉ trích sáng kiến này cũng cho rằng kế hoạch thể hiện một cách tiếp cận mang tính quân sự cho các vấn đề nảy sinh từ tình trạng bất bình đẳng trong xã hội. Trong thời cầm quyền của Tổng thống Álvaro Uribe, người được bầu với lời hứa hẹn áp dụng các biện pháp quân sự với FARC và các nhóm tội phạm khác, một số chỉ số an ninh đã được cải thiện, như số vụ bắt cóc giảm (từ 3700 năm 2000 xuống còn 800 năm 2005) và các vụ giết người cũng giảm hơn 48% từ tháng 7 năm 2002 tới tháng 5 năm 2005. Có ý kiến cho rằng những thành công này đã khuyến khích phát triển kinh tế và ngành du lịch. Những nhà phân tích và phê bình bên trong Colombia đồng ý rằng đã có một số tiến bộ trong nhiều lĩnh vực như đề cập ở trên, nhưng lý do mang lại thành công vẫn chưa được đồng thuận và tính chính xác của những con số cũng là một vấn đề. Một số phe đối lập đã chỉ trích chiến lược an ninh của chính phủ, cho rằng chúng chưa đủ để giải quyết các vấn đề phức tạp tại Colombia và rằng nó đã góp phần tạo nên một môi trường thích hợp cho sự tiếp diễn của một số vụ vi phạm nhân quyền. == Địa lý == Địa hình Colombia đa dạng hơn bất kỳ một quốc gia nào khác tại Mỹ Latinh có kích thước tương đương. Nước này là một phần của "Vành đai núi lửa" Thái Bình Dương, một vùng đặc trưng bởi những trận động đất thường xuyên và những vụ phun trào núi lửa. Bề mặt địa hình Colombia khá phức tạp. phía tây đất nước là phần đa dạng nhất. Bắt đầu từ bờ biển Thái Bình Dương ở phía tây và dời về phía đông ở vĩ độ 5 độ bắc, một dải liên tục các hình thể địa hình nối tiếp nhau. Ở cực tây là những đồng bằng thấp ven biển Thái Bình Dương hẹp và đứt quãng, dựa vào Serranía de Baudó, dải núi thấp nhất và hẹp nhất Colombia. Tiếp theo là vùng đất thấp Río Atrato/Río San Juan rộng hơn, địa điểm từng được đề xuất như một vị trí thay thế cho Kênh đào Panama để trở thành con đường nối giữa Đại Tây Dương và Thái Bình Dương nhân tạo. Dãy núi lớn nhất phía tây, Cordillera Occidental, là một dải núi với độ cao trung bình, đỉnh cao nhất lên tới 4.000 m (13.000 ft). Châu thổ Sông Cauca, một vùng nông nghiệp quan trọng với nhiều thành phố bên trong, chia cắt Cordillera Occidental khỏi dải Cordillera Central to lớn. Nhiều núi lửa phủ băng tuyết tại Cordillera Central với các đỉnh cao hơn 5.500 m (18.000 ft). Châu thổ Sông Magdalena nhiều bùn và tốc độ dòng chảy nhỏ, một tuyến đường vận tải quan trọng, chia cắt Cordillera Central khỏi dãy núi chính phía đông, Cordillera Oriental. Các đỉnh của Cordillera Oriental có độ cao trung bình. Đặc điểm tạo sự khác biệt giữa những dãy núi này Colombia với những dãy núi khác là nó tạo ra nhiều lòng chảo lớn. Ở phía đông, nơi dân cư thưa thớt, các vùng đất thấp phẳng tới hơi gồ ghề được gọi là llanos chiếm tới 60 phần trăm tổng diện tích đất canh tác quốc gia. Dải đất vắt ngang đất nước này không bao gồm hai vùng của Colombia: các vùng đất thấp ven biển Caribe và Sierra Nevada de Santa Marta, cả hai đều nằm ở phía bắc đất nước. Các vùng đất thấp phía tây chủ yếu là đầm lầy; các đầm lầy lau sậy trong vùng được người dâm Colombia gọi là ciénagas. Bán đảo Guajira ở phía đông là vùng bán khô cằn. Sierra Nevada là một tam giác đáng chú ý với những đỉnh núi phủ băng tuyết vượt cao lên trên phần phía đông của vùng đất thấp này. Vị trí gần đường xích đạo của Colombia gây ảnh hưởng tới thời tiết nước này. Các vùng đất thấp thường nóng. Những ảnh hưởng độ cao trên nhiệt độ rất lớn. Nhiệt độ giảm khoảng 2°C (3.5°F) với mỗi 300-meter (1.000-foot) tăng độ cao so với mực nước biển. Lượng mưa khác biệt theo từng vùng tại Colombia, có xu hướng tăng khi đi về phía nam. Điều này đặc biệt đúng với các vùng đất thấp phía đông. Ví dụ, lượng mưa tại nhiều phần ở Bán đảo Guajira hiếm khi vượt quá 75 cm (30 in) trên năm. Tuy nhiên, khu vực nhiều mưa phía đông nam Colombia thường xảy ra những trận mưa lớn với lượng mưa hơn 500 cm (200 in) mỗi năm. Lượng mưa ở hầu hết các vùng còn lại của đất nước nằm giữa hai khoảng trên. Độ cao không chỉ gây ảnh hưởng trên thời tiết, mà còn cả thực vật. Trên thực tế, độ cao là một trong những yếu tố gây ảnh hưởng lớn nhất tới các loại thực vật tại Colombia. Các khu vực núi non có thể được chia thành nhiều khu vực thực vật theo độ cao, dù độ cao giới hạn của mỗi vùng có thể khác biệt phụ thuộc theo vĩ độ. "Tierra caliente" (đất nóng), dưới 1.000 m (3.300 ft), là vùng đất với những thực vật nhiệt đới như chuối. Tierra templada (đất ôn hoà), trải dài từ độ cao 1.000 tới 2.000 m (3.300 tới 6.600 ft), là vùng trồng cà phê và ngô. Lúa mì và khoai tây được trồng nhiều tại "tierra fría" (đất lạnh), ở những độ cao từ 2.000 tới 3.200 m (6.600 tới 10.500 ft). Tại "zona forestada" (vùng rừng), nằm ở độ cao giữa 3.200 và 3.900 m (10.500 và 12.800 ft), nhiều loại cây đã bị chặt làm củi. Những đồng cỏ không cây cối bao phủ phần lớn páramos, hay những vùng đồng cỏ trên núi cao, ở độ cao 3.900 tới 4.600 m (12.800 tới 15.100 ft). Trên 4.600 m (15.100 ft), nơi nhiệt độ dưới mức đóng băng, là "tierra helada", một vùng thường có băng tuyết. Thực vật cũng phản ánh lượng mưa. Vùng đất bán khô cằn phía đông bắc với chủ yếu những cây bụi rải rác. Ở phía nam, các savannah (đồng cỏ nhiệt đới) bao phủ phần llano Colombia. Các vùng nhiều mưa phía đông nam với những khu rừng mưa nhiệt đới. Tại vùng núi, là những mô hình thực vật phức tạp. Phía sườn núi nhiều mưa với màu xanh của cây cối sum sê, trong khi ở sườn bên kia, nơi ít mưa, có thể khô nẻ. Canh tác Coca là hoạt động phi pháp chính tại Colombia. Ở nhiều vùng nông thôn, nhiều dải đất lớn được dùng trồng coca. Theo những con số của Hoa Kỳ, năm 2004 ước tính 114.100 hécta (281.947 acres) đất đã được sử dụng cho mục đích này, và đất nước này có tiềm năng sản xuất 430.000 mét tấn cocaine mỗi năm. According to a United Nations Office on Drugs and Crime survey, coca cultivation was estimated at 212.511 acres (86.000 hectares) in tháng 12 năm 2006. Trong năm 2006 Chính phủ Colombia đã phá hủy khoảng 73.000 hécta (180.387 acres) vượt mọi kỷ lục trong trồng cây coca. Chính phủ Colombia hiện có kế hoạch phá hủy khoảng 50.000 hécta (123.553 acres) trồng cây coca năm 2007 và họ tuyên bố sẽ chỉ còn 20.000 hécta (49.421 acres) được dùng cho mục đích này, và chúng cũng sẽ bị tiêu diệt trong năm 2008. Tuy những nỗ lực tiêu diệt cây coca của Colombia đã khiến việc trồng cây phải chuyển địa điểm, chúng vẫn không hạn chế được số lượng diện tích sử dụng trồng loại cây này. [1] Việc này khiến mọi người nghi ngờ kế hoạch triệt hạ toàn bộ cây coca năm 2008 của Colombia. == Chính trị == Colombia theo chế độ Cộng hoà Tổng thống là Nguyên thủ quốc gia và đứng đầu Chính phủ, được bầu trực tiếp nhiệm kỳ 4 năm và có thể tái cử ở nhiệm kỳ tiếp theo. === Nhánh hành pháp === Colombia là một nhà nước cộng hòa với nhánh hành pháp thống lĩnh cơ cấu chính phủ. Cho đến tận gần đây, tổng thống cùng phó tổng thống do dân bầu trực tiếp với nhiệm kỳ bốn năm; tổng thống vừa là lãnh đạo chính phủ vừa là lãnh đạo nhà nước. Tuy nhiên, ngày 19 tháng 10 năm 2005, Nghị viện Colombia đã sửa đổi hiến pháp, cho phép các tổng thống nước này cầm quyền hai nhiệm kỳ bốn năm liên tục. Tuy nhiên, các thống đốc khu, thị trưởng thành phố và thị trấn cùng các quan chức nhánh hành pháp khác chỉ được bầu cho một nhiệm kỳ ba năm, và không được tái ứng cử ngay sau đó. Ngày 28 tháng 5 năm 2006, tổng thống Álvaro Uribe Vélez đã được tái cử với 62% số phiếu, 22% thuộc Carlos Gaviria Díaz của phe Dân chủ Độc lập, và 12% cho Horacio Serpa Uribe thuộc Đảng Tự do. === Nhánh lập pháp === Hệ thống lưỡng viện Colombia là Nghị viện Colombia, (hay Congreso trong tiếng Tây Ban Nha), gồm Viện đại biểu Colombia với 166 ghế và Thượng viện Colombia với 102 ghế. Các thành viên của cả hai viện được bầu theo phổ thông đầu phiếu với nhiệm kỳ bốn nă. Cùng với các nghị sĩ, người dân Colombia cũng bầu các đại biểu Khu và các hội đồng thành phố. === Nhánh tư pháp === Trong thập niên 1990, hệ thống tư pháp Colombia đã trải qua nhiều cuộc cải cách quan trọng và hiện đang trong quá trình chuyển tiếp từ một hệ thống thẩm tra thành một hệ thống đối lập. Nhiều vùng trồng cà phê tại Colombia và Bogotá đã chấp nhận hệ thống đối lập, thủ tục áp dụng tại những khu vực còn lại sẽ bắt đầu ngày 1 tháng 1 năm 2006. Đứng đầu hệ thống tư pháp là Tòa án Hiến pháp và các thành viên được Nghị viện chỉ định dựa trên giới thiệu của Tổng thống và các viên chức cấp cao. === Các viện kiểm soát === Procuraduría General de la Nación (General Procurement of the Nation), Defensoría del Pueblo, (Bảo vệ Nhân dân) Auditoría General de la República (Kiểm toán công cộng chung) và Contraloría General de la República (Kiểm soát chung của nền cộng hoà). === Các viện bầu cử === Consejo Nacional Electoral (Hội đồng bầu cử quốc gia) và Registraduría Nacional del Estado Civil (Cơ quan đăng ký dân sự nhà nước) Colombia cũng là một thành viên của Cộng đồng quốc gia Nam Mỹ == Chính sách ngoại giao == Colombia duy trì quan hệ đồng minh chiến lược với Mỹ, coi Mỹ là bạn hàng chính và nguồn cung cấp viện trợ quan trọng (khoảng 5 tỷ USD trong 8 năm qua, là nước nhận viện trợ nhiều nhất của Mỹ ở Mỹ Latinh). Mỹ tiếp tục thực hiện "Kế hoạch Colombia" thông qua tài trợ, cung cấp thiết bị quân sự dưới danh nghĩa chống ma túy và khủng bố. Tháng 8 năm 2009, Chính phủ Colombia ký thoả thuận cho phép Mỹ sử dụng 7 căn cứ quân sự trên lãnh thổ Colombia. Bên cạnh đó, Colombia chú trọng thúc đẩy quan hệ với các nước Mỹ Latinh, thúc đẩy liên kết khu vực, từng tham gia tích cực vào các quá trình thương lượng hoà bình giải quyết các cuộc xung đột ở Trung Mỹ. Tuy nhiên, quan hệ với các nước Nam Mỹ, đặc biệt là Ecuador và Venezuela, thời gian qua vẫn căng thẳng, thậm chí gián đoạn sau sự kiện Colombia tấn công lực lượng du kích cánh tả trên lãnh thổ Ecuador (2008), ký thoả thuận quân sự với Mỹ (2009) và tố cáo Venezuela chứa chấp và trợ giúp du kích cánh tả (2009-2010)... Từ khi lên nắm quyền, Chính phủ của Tổng thống Santos bày tỏ thái độ mềm dẻo hơn với các nước láng giềng, nối lại quan hệ ngoại giao với Venezuela và Ecuador bị cắt đứt dưới thời Tổng thống Uribe (tháng 7 năm 2010). Colombia chủ trương đa dạng hoá quan hệ với các khu vực khác trên giới, trong đó có khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Colombia là thành viên của Liên Hợp Quốc, Phong trào không liên kết, Tổ chức các nước châu Mỹ (OEA), hiện đang xin gia nhập APEC. == Phân cấp hành chính == Colombia được chia ra thành 32 tỉnh và quận thủ đô. === Các thành phố === Colombia có 32 thành phố lớn (có dân số hơn 120.000 người): được liệt kê dưới đây theo dân số: Bogotá (thủ đô) - La Atenas Suramericana ("Athens của Nam Mỹ") Santiago de Cali - La Sucursal del Cielo, La Sultana del Valle ("Nhánh Thiên đường", "Vua Thung lũng") Medellín - La Ciudad de la Eterna Primavera, Capital de la Montaña ("Thành phố Mùa xuân Vĩnh cửu", "Thủ phủ của núi non") Barranquilla - La Puerta de Oro de Colombia ("Cổng Vàng Colombia") Cartagena - La Heroica ("Anh hùng") Cúcuta - La Hermosa Villa ("Làng đẹp") Bucaramanga - La Ciudad Bonita ("Thành phố xinh đẹp") Pereira - La Querendona, Trasnochadora y Morena ("Người đàn bà da đen đáng yêu không bao giờ ngủ") Santa Marta - La Perla de Oro ("Trân châu vàng") Ibagué - Capital Musical de Colombia ("Thủ phủ âm nhạc Colombia") Bello Pasto - Ciudad Sorpresa ("Thành phố kinh ngạc") Neiva - Neivayork, la Capital Bambuquera de América ("Neivayork, thủ phủ Bambuquo của châu Mỹ") Manizales - La Ciudad de las Puertas Abiertas ("Thành phố với những cánh cổng rộng mở") Soledad Villavicencio - La Puerta al Llano ("Cổng cánh đồng trụi") Soacha Armenia - La Ciudad Milagro ("Thành phố huyền diệu") Valledupar - Capital Mundial del Vallenato ("Thủ phủ Vallenato của Thế giới") Itagüí Montería - La Capital Ganadera de Colombia ("Thủ phủ gia súc Colombia") Sincelejo - La Ciudad de las Corralejas ("Thành phố của những cuộc 'Chạy đua với bò'") Floridablanca, Colombia Palmira Buenaventura - Bello Puerto del Mar ("Hải cảng xinh đẹp") Popayán - La Ciudad Blanca ("Thành phố trắng") Barrancabermeja Dos Quebradas Envigado Tuluá - Corazón del Valle ("Trái tim của Thung lũng") Maicao Florencia, Colombia - La puerta del Amazonas ("Cánh cổng vào Amazones") Cartago Girardot Sogamoso Buga == Kinh tế == Sau nhiều thập kỷ tăng trưởng bền vững (mức tăng GDP bình quân hơn 4% trong giai đoạn 1970-1998), Colombia đã trải qua một thời kỳ giảm phát năm 1999 (năm đầu tiên tăng trưởng âm từ năm 1929), và quá trình hồi phục từ cuộc giảm phát đó khá lâu dài và đau đớn. Kinh tế Colombia gặp vấn đề từ nhu cầu nội địa và nước ngoài thấp, ngân sách chính phủ bị cắt giảm, và nhiều cuộc xung đột vũ trang nội bộ nghiêm trọng. Các chỉ số kinh tế của IMF được đưa ra tháng9 năm 2006, dự đoán GDP Colombia đạt 149.869 tỷ dollar Mỹ năm 2007. Lạm phát dưới mức 6% năm 2004 và 2005, và dự đoán sẽ ở mức dưới 5% trong năm 2006. Các mặt hàng xuất khẩu chính của Colombia gồm hàng chế tạo (41.32% xuất khẩu), dầu mỏ (28.28%), than (13.17%), và cà phê (6.25%). Colombia là một trong những nhà chế tạo pop-up book lớn nhất thế giới. Colombia cũng là nước xuất khẩu chuối lá lớn nhất vào Hoa Kỳ. Bên trong Mỹ Latinh, Colombia nổi tiếng về các sản phẩm đồ lót nữ, ngành công nghiệp này tập trung tại Medellín. Tất cả nhập khẩu, xuất khẩu và cán cân thương mại chung đều đang ở mức kỷ lục, và nguồn tiền thu được từ xuất khẩu đã góp phần quan trọng vào việc tái định giá đồng Peso Colombia. Hiện tại (2016), GDP của Colombia đạt 274.135 USD, đứng thứ 42 thế giới và đứng thứ 5 khu vực Mỹ Latin. Các vấn đề nước này hiện phải đối mặt khá đa dạng từ vấn đề với hệ thống trợ cấp tới thuốc phiện và tỷ lệ thất nghiệp cao. Nhiều định chế tài chính quốc tế đã ca ngợi những chương trình cải cách do Tổng thống hiện tại Alvaro Uribe theo đuổi, gồm các biện pháp nhằm giảm thâm hụt lĩnh vực công cộng xuống dưới 2.5% tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Chính sách kinh tế và chiến lược an ninh dân chủ gây nhiều tranh cãi của chính phủ có gây ảnh hưởng tới sự tin tưởng đang gia tăng vào nền kinh tế, và tăng trưởng GDP năm 2003 nằm trong số những tỷ lệ cao nhất Mỹ Latinh. Colombia là nước giàu khoáng sản và năng lượng: đứng đầu khu vực về trữ lượng than (chiếm 40% tổng trữ lượng của Mỹ Latinh), thứ hai khu vực về tiềm năng thuỷ điện (sau Brasil), dầu lửa có trữ lượng khoảng 3,1 tỷ thùng, ngoài ra còn có vàng, bạc, pla-tin... Điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nhất là cà phê (chiếm 16% xuất khẩu thế giới), hoa, thuốc lá, thịt bò, ngũ cốc, hoa quả... Từ đầu thập kỷ 90, Colombia tiến hành cải cách kinh tế theo hướng tự do hoá, với các biện pháp giảm thuế, bỏ quản lý tài chính, tiến hành tư nhân hoá, thả nổi tỷ giá hối đoái, mở cửa cho đầu tư nước ngoài. Thời gian gần đây, Colombia là nền kinh tế tăng trưởng khá cao trong khu vực (2006: 6%; 2007: 7,5%) và có dấu hiệu phục hồi tích cực trong năm 2010 (quý I tăng 3,34%, dự kiến cả năm tăng 3,8%) sau giai đoạn suy giảm 2008-2009 do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế - tài chính toàn cầu. Sau khi lên nắm quyền, Chính phủ Santos cam kết tiếp tục duy trì chính sách tài chính chặt chẽ, đầu tư mạnh vào xây dựng cơ sở hạ tầng, giữ lạm phát thấp, giảm tỉ lệ thất nghiệp, ổn định đồng nội tệ, tập trung tăng cường tự do hoá thương mại, nâng cao chất lượng giáo dục, y tế; xây dựng hạ tầng, cải thiện nhà ở cho nhân dân...; Xuất khẩu chủ yếu gồm dầu lửa, than, cà phê, hoa tươi, chuối, dược phẩm, xi măng… sang các thị trường chính: Mỹ, Venezuela, Hà Lan. Nhập khẩu chủ yếu gồm máy công nghiệp, phương tiện vận tải, hàng hóa tiêu dùng, lương thực, hoá chất, quặng kim loại…từ các thị trường chính: Mỹ, Trung Quốc, México, Brasil, Pháp, Đức. === Du lịch === Trong những dịp lễ hội nổi tiếng nhất như Hội chợ Cali, Carnival Barranquilla, Liên hoan Nhà hát Iberoamerican và Festival Hoa là những thời gian đông khách du lịch nhất tại Colombia. Nhiều người tới Colombia trong lễ Giáng sinh và các ngày lễ dịp Độc lập của Colombia. Colombia cũng là nước sở hữu số tết nhiều nhất trên thế giới với 1000 ngày tết trong một năm, do Colombia là một đất nước có nhiều sắc tộc và sắc dân khác nhau nên họ sống với một quần thể quốc gia tương đồng nhưng lại có nhiều nền văn hóa truyền thống khác nhau. Dù các văn phòng tư vấn du lịch không chuộng Colombia vì FARC và các nhóm du kích khác tại đây, số du khách tới nước này vẫn tăng trong những năm gần đây. Lý do có lẽ nhờ cách tiếp cận cứng rắn hiện tại của Tổng thống Álvaro Uribe được gọi là an ninh dân chủ để đẩy các nhóm phiến loạn ra xa khỏi các thành phố lớn, các xa lộ và địa điểm du lịch có nhiều du khách quốc tế. Từ khi tổng thống Uribe nhậm chức năm 2002, ông đã giúp gia tăng đáng kể tính ổn định và an ninh bằng cách tăng cường sức mạnh quân sự và sự hiện diện cảnh sát trên khắp quốc gia. Điều này đã mang lại các kết quả rõ rệt cho nền kinh tế đất nước, đặc biệt là ngành du lịch với du khách quốc tế. Năm 2006, các quan chức ngành du lịch hy vọng 1.5 triệu du khách nước ngoài sẽ tới Colombia, con số tăng 50% so với năm trước đó. Thậm chí Lonely Planet, một nhà xuất bản ấn phẩm du lịch thế giới, đã xếp hạng Colombia như một trong mười điểm đến hàng đầu trên thế giới trong danh sách của họ năm 2006. Năm 2004 Tổ chức Du lịch Thế giới báo cáo Colombia đã đạt mức tăng cao thứ ba về số du khách đến tại Nam Mỹ trong giai đoạn 2000 và 2004 (9.2%). Chỉ Peru và Suriname có mức tăng cao hơn trong cùng giai đoạn. ==== Du lịch sinh thái ==== Vườn Cà phê Quốc gia Colombia (Montenegro, Quindío) Vườn quốc gia Nevado del Ruiz (gần Manizales) Vườn PANACA Vườn Tayrona (Santa Marta) Desierto de Tatacoa Vườn Quốc gia Chicamocha Canyon Đảo Gorgona và Malpelo Khác Vườn Thực vật Bogotá (Bogotá) Bảo tàng vàng (Bogotá) == Văn hoá == == Giáo dục == Hơn 93% dân số hơn 15 tuổi biết đọc, viết và con số này liên tục tăng qua từng năm. == Vận tải == Colombia có một mạng lưới đường cao tốc quốc gia do Instituto Nacional de Vías hay INVIAS (Viện Đường bộ Quốc gia) điều hành. Xa lộ Liên Mỹ đi xuyên Colombia, nối nước này Venezuela ở phía bắc và Ecuador ở phía nam. Các sân bay chính của Colombia là Sân bay Quốc tế El Dorado tại Bogotá. Nhiều công ty hàng không quốc gia (Avianca, AeroRepública, AIRES và SATENA), và các công ty hàng không quốc tế (như Iberia, American Airlines, Varig, Copa, Continental, Delta, Air Canada, Aerogal,TAME, TACA) có các chuyến bay đi và đến El Dorado. Sân bay của Bogotá là một trong những sân bay lớn và đắt đỏ nhất Mỹ Latinh. Vì vị trí trung tâm của Colombia tại châu Mỹ, có nhiều công ty dịch vụ vận chuyển đường bộ, đường hàng không quốc gia và quốc tế hoạt động tại nước này. == Nhân khẩu == Với dân số xấp xỉ 43.6 triệu người năm 2006, Colombia là nước đông dân thứ ba tại Mỹ Latinh, sau Brasil và México. Sự di chuyển dân cư từ vùng nông thôn ra thành thị diễn ra nhiều giai đoạn giữa thế kỷ hai mươi, nhưng từ đó đã giảm dần. Dân số thành thị tăng từ 31% trên tổng dân cư năm 1938, lên 57% năm 1951 và khoảng 70% năm 1990. Con số hiện tại khoảng 77%. Ba mươi thành phố có số dân 100.000 người hay cao hơn. Chín khu đất thấp phía đông, chiếm khoảng 54% diện tích Colombia chiếm chưa tới 3% dân số và mật độ dân cư trung bình chưa tới một người trên một kilômét vuong (hai người trên dặm vuông). Tổng dân số Colombia năm 2015 dự kiến sẽ cao hơn 52 triệu người. Nước này có sự đa dạng sắc tộc phản ánh một lịch sử nhiều diễn biến cũng như số lượng các dân tộc đã từng sống tại đây từ những thời tiền sử tới hiện tại. Sự lai tạp sắc tộc từ lịch sử của nhiều nhóm sắc tộc chính đã hình thành nên các cơ bản của nhân khẩu học Colombia hiện nay: người nhập cư Châu Âu, người bản xứ, người Phi, người Á, người Trung Đông và những người nhập cư gần đây khác. Nhiều dân tộc bản xứ đã bị hấp thu vào trong dân cư mestizo, nhưng 700.000 người bản xứ hiện còn đại diện cho hơn tám mươi nhăm văn hóa khác biệt. Những người nhập cư châu Âu chủ yếu là những người thực dân Tây Ban Nha, nhưng một số nhỏ thuộc các nước châu Âu khác (Hà Lan, Đức, Pháp, Thụy Sĩ, Bỉ và ở mức thấp hơn là Ba Lan, Lithuania, Anh và Croatia) đã nhập cư tới đây trong Chiến tranh thế giới thứ hai và Chiến tranh lạnh. Ví dụ, cựu thị trưởng Bogotá Antanas Mockus là con trai một người nhập cư Lithuania. Người Phi trước đây được đưa tới làm nô lệ, đa số tại các vùng đất thấp ven biển, bắt đầu từ đầu thế kỷ mười sáu, và tiếp tục tới thế kỷ mười chín. Sau khi chế độ nô lệ bị hủy bỏ, một ý thức hệ quốc gia về mestizaje đã khuyến khích hòa trộn người bản xứ, người Âu, và các cộng đồng Amerindia vào trong một cộng đồng sắc tộc mestizo duy nhất. Các sắc tộc di cư khác gồm người Á và Trung Đông, đặc biệt là người Liban, Jordani, Syria, Trung Quốc, Nhật Bản và Triều Tiên. === Các nhóm sắc tộc === Tương tự như tất cả các quốc gia Mỹ Latinh khác, các cuộc điều tra dân số tại Colombia không lấy dữ liệu sắc tộc, vì thế con số phần trăm dưới đây chủ yếu là ước tính từ các nguồn khác, và có thể rất khác biệt. Những con số thống kê cho thấy người Colombia chủ yếu là tín đồ Cơ đốc giáo La Mã và đại đa số nói tiếng Tây Ban Nha, và phần lớn trong số họ mang dòng máu lai Âu, Phi, Amerindians. 58% dân số là người mestizo, hay lai Âu và Amerindian, và 20% có tổ tiên là người da trắng châu Âu. 14% là người lai trắng đen, hay lai giữa người da đen châu Phi và người có tổ tiên da trắng, 4% có tổ tiên da đen và 3% lai Phi và Amerindian. Người Amerindians thuần chủng chiếm 1% dân số. Theo dữ liệu phong tục học, tại Colombia có 101 ngôn ngữ được liệt kê, trong số đó 80 ngôn ngữ được dùng trong đời sống hàng ngày. Có khoảng 500.000 người sử dụng các ngôn ngữ bản xứ tại Colombia ngày nay. Hơn hai phần ba người Colombia sống tại các vùng đô thị - một con số lớn hơn khá nhiều so với tỷ lệ trung bình thế giới. Tỷ lệ biết chữ (92.5%) tại Colombia cũng cao hơn mức trung bình thế giới, và tỷ lệ tăng trưởng dân số hơi cao hơn mức trung bình thế giới. Tương tự, một phần lớn người Colombia ở độ tuổi trẻ, chủ yếu vì mức tử vong trẻ em đã giảm gần đây. 33% dân số ở độ tuổi 14 hay thấp hơn, chỉ 4% ở độ tuổi 5 hay già hơn. === Tôn giáo === Sở Thống kê Hành chính Quốc gia không thu thập các số liệu tôn giáo, và những báo cáo chính xác rất khó có được. Dựa trên nhiều cuộc nghiên cứu, hơn 95% dân số là Kitô hữu[2], trong số đó một tỷ lệ lớn dân cư, khoảng 81% tới 90%, theo Giáo hội Công giáo Rôma. Khoảng 1% người Colombia tin theo các tôn giáo bản xứ. Dưới 1% theo Do Thái giáo, Hồi giáo, Hindu giáo và Phật giáo. Dù có số lượng tín đồ đông đảo, khoảng 60% số người đã trả lời trong một cuộc điều tra của El Tiempo rằng họ không thường xuyên thực hiện các lễ nghi tôn giáo. Hiến pháp Colombia đảm bảo quyền tự do tôn giáo, những cũng nói rằng Quốc gia "không phải theo vô thần hay bất khả tri, cũng không phải không quan tâm tới tình cảm tôn giáo của người dân Colombia." Các nhóm tôn giáo dễ dàng được công nhận là những đoàn thể được tổ chức, nhưng một số nhóm tôn giáo nhỏ có gặp phải khó khăn khi muốn được công nhận là các thực thể tôn giáo, vốn bị đòi hỏi phải tiến hành các hoạt động giáo lý tại các cơ sở công cộng. === Tội phạm === Colombia rõ ràng đã trở nên nổi tiếng về hoạt động sản xuất thuốc phiện trái phép, các vụ bắt cóc và tỷ lệ các vụ giết người. Trong thập niên 1990, nước này đã trở thành nước sản xuất cocaine và các dẫn xuất coca số một thế giới. Ước tính diện tích trồng cây coca năm 2000 là 163.300 hécta (402.782 acres).20 tháng 6 năm 2006.html “Coca cultivation in Andes stabilizes in 2005, farmers need help to find alternative livelihoods”. United Nations Office on Drugs and Crime. 20 tháng 6 năm 2006. Truy cập ngày 29 tháng 12 năm 2017. </r> Jose Fernando Torres Varela chịu trách nhiệm tới một nửa các vụ tội phạm tại Colombia. Ở một số thời điểm Colombia cũng có tỷ lệ các vụ giết người cao nhất thế giới với 62 vụ trên 100.000 dân. Tuy nhiên, trong những năm gần đây con số này đã giảm còn 39 vụ trên 100.000 dân giúp nước này giảm thứ hạng trong Danh sách quốc gia theo tỷ lệ vụ giết người trên dân số ở mức dưới trung bình của Nam Mỹ. Hơn 90% người thiệt mạng là nam giới. Các vùng như Putumayo, Guaviare và Arauca vẫn có tỷ lệ 100 hay hơn nữa vụ giết người trên 100.000 dân năm 2005. Trong khi ấy, tại nước Venezuela láng giềng tỷ lệ này đã tăng từ 13 năm 1991 lên 33 vụ trên 100.000 dân năm 2005 và Ecuador đã tăng từ 11 năm 1991 lên 18 năm 2004. Trong giai đoạn 1992 - 1999 tổng cộng 5.181 vụ bắt cóc xảy ra tại Colombia, chiếm hai phần ba số vụ được thông báo trên thế giới. Trong năm 2005, 800 vụ bắt cóc được thông báo, (thấp hơn 73% so với năm 2002) trong số đó 35% nạn nhân được giải thoát trong cùng năm. Năm 2005, 18.960 xe cộ bị ăn trộm (giảm 37% so với năm 2002) và 18.111 người bị giết hại (giảm 38% so với năm 2002). === Tình hình nhân quyền === Tổ chức Ân xá Quốc tế đã tóm tắt trong bản Báo cáo thường niên của họ năm 2006: "Dù số lượng các vụ giết hại và bắt cóc ở một số vùng trong nước đã giảm, nhiều trường hợp vi phạm nhân quyền nghiêm trọng do tất cả các bên trong cuộc xung đột tiến hành vẫn ở mức độ báo động. Đặc biệt lo ngại là các báo cáo về những vụ hành quyết không cần xét xử do các lực lượng vũ trang tiến hành, những vụ giết hại thường dân bởi các nhóm vũ trang đối lập và bán du kích, và việc ép buộc các cộng đồng dân cư phải dời bỏ chỗ ở. Hơn 55 phần trăm số người phải dời bỏ nhà cửa là phụ nữ. Bạo hành tình dục, có thể dẫn tới việc mang thai ngoài ý muốn, thường xảy ra khi phụ nữ phải dời chỗ ở. Các nạn nhân, theo thông báo của Tạp chí Ms. Magazine, thỉnh thoảng phải viện đến cách phá thai bất hợp pháp. Nhưng phá thai hiện đã được cho phép tại Colombia trong trường hợp các vụ hiếp dâm, loạn luân và khi sức khỏe bà mẹ gặp nguy hiểm.http://www.msmagazine.com/winter2007/newrights.asp "New Rights, Old Wrongs." Ms. Magazine, Winter 2007. Những nhóm bán du kích, được cho là đã giải giáp theo các điều khoản của một bộ luật gây nhiều tranh cãi được phê chuẩn tháng 7 vẫn tiếp tục các hành động vi phạm nhân quyền, trong khi các nhóm vũ trang đối lập tiếp tục tiến hành nhiều hành động nghiêm trọng, ở diện rộng vi phạm luật nhân đạo quốc tế. Các cá nhân có thể phải chịu trách nhiệm về các tội ác chiến tranh và tội ác chống lại nhân loại vẫn chưa bị đưa ra trước tòa án."^ [3] == Xem thêm == Xung đột vũ trang Colombia Viễn thông Colombia Các khu Colombia Giáo dục Colombia Quan hệ nước ngoài Colombia Quân đội Colombia Cung cấp nước sạch và vệ sinh tại Colombia Danh sách nhân vật Colombia == Thư mục == === Internet === === Sách === Academia Colombiana de Historia (1986), Historia extensa de Colombia (41 volúmenes). Bogotá: Ediciones Lerner, 1965-1986. ISBN 958-ngày 98 tháng 3 năm 5013 (Obra completa) Barrios, Luis (1984), Historia de Colombia. Quinta edición, Bogotá: Editorial Cultural Bedoya F., Víctor A. (1944), Historia de Colombia: independencia y república con bases fundamentales en la colonia. Colección La Salle, Bogotá: Librería Stella Bushnell, David (1996), Colombia una nación a pesar de sí misma: de los tiempos precolombinos a nuestros días. Bogotá: Planeta Editores. ISBN 958-614-487-9 Caballero Argaez, Carlos (1987), 50 años de economía: de la crisis del treinta a la del ochenta. Segunda edición, Colección Jorge Ortega Torres, Bogotá: Editorial Presencia, Asociación Bancaria de Colombia. ISBN 958-ngày 9 tháng 3 năm 9040 Cadavid Misas, Roberto (2004), Cursillo de historia de Colombia: de la conquista a la independencia. Bogotá: Intermedio Editores. ISBN 958-709-134-5 Calderón Schrader, Camilo; Gil, Antonio; Torras, Daniel (2001), Enciclopedia de Colombia (4 volúmenes). Barcelona: céano Grupo Editorial, 2001. ISBN 84-494-1947-6 (Obra completa) Calderón Schrader, Camilo (1993), Gran enciclopedia de Colombia (11 volúmenes). Bogotá: Círculo de Lectores. ISBN 958-28-0294-4 (obra completa) Cavelier Gaviria, Germán (2003), Centenario de Panamá: una historia de la separación de Colombia en 1903. Bogotá: Universidad Externado de Colombia. ISBN 958-616-718-6 Forero, Manuel José (1946), Historia analítica de Colombia desde los orígenes de la independencia nacional. Segunda edición, Bogotá: Librería Voluntad. Gómez Hoyos, Rafael (1992), La independencia de Colombia. Madrid: Editorial Mapfre, Colecciones Mapfre 1492. ISBN 84-7100-596-4 Granados, Rafael María (1978), Historia general de Colombia: prehistoria, conquista, colonia, independencia y Repúbica. Octava edición, Bogotá: Imprenta Departamental Antonio Nariño. Hernández de Alba, Guillermo (2004), Como nació la República de Colombia. Colección Bolsilibros. Bogotá: Academia Colombiana de Historia. ISBN 958-8040-35-3 Hernández Becerra, Augusto (2001), Ordenamiento y desarreglo territorial en Colombia. Bogotá: Universidad Externado de Colombia, ISBN 958-616-555-8 Hernández Rodríguez, Guillermo (1949), De los Chibchas a la colonia y a la república. Bogotá: Universidad Nacional de Colombia. Sección de Extensión Cultural. Jaramillo Uribe, Jaime; Tirado Mejía, Alvaro; Calderón Schrader, Camilo (2000), Nueva historia de Colombia (12 volúmenes). Bogotá: Planeta Colombiana Editorial. ISBN 958-614-251-5 (Obra completa) Ocampo López, Javier (1999), El proceso ideológico de la emancipación en Colombia. Colección La Línea de Horizonte, Bogotá: Editorial Planeta. ISBN 958-614-792-4 Reichel-Dolmatoff, Gerardo (1998), Colombia indígena. Medellín: Hola Colina. ISBN 958-638-276-1 Restrepo, José Manuel (1974), Historia de la revolución de la República de Colombia. Medellín: Editorial Bedout. Rivadeneira Vargas, Antonio José (2002), Historia constitucional de Colombia 1510-2000. Tunja: Editorial Bolivariana Internacional. Tercera edición. Tovar Pinzón, Hermes (1975), El movimiento campesino en Colombia durante los siglos XIX y XX. Bogotá: Ediciones Libres, segunda edición. Trujillo Muñoz Augusto (2001), Descentralización, regionalización y autonomía local. Bogotá: Universidad Nacional de Colombia. Vidal Perdomo Jaime (2001), La Región en la Organización Territorial del Estado. Bogotá: Universidad del Rosario. Central Intelligence Agency: The World Factbook. 2005. == Liên kết ngoài == Government (tiếng Tây Ban Nha) Portal del Estado - Colombia Online Portal (tiếng Tây Ban Nha) Presidencia de la República de Colombia - President (tiếng Tây Ban Nha) Ministerio de Comercio, Industria y Turismo Banco de la República - Central Bank (tiếng Tây Ban Nha) Departamento Administrativo Nacional de Estadistica - Statistics (tiếng Tây Ban Nha) Instituto Nacional de Vías - Transport and Road Agency (tiếng Tây Ban Nha) Senate of Colombia (tiếng Tây Ban Nha) Colombia's House of representatives (tiếng Tây Ban Nha) Colombia's Judicial branch (tiếng Tây Ban Nha) Policia Nacional - Police Armada Nacional de Colombia - Navy Ejército Nacional de Colombia - Army (tiếng Tây Ban Nha) Departamento Administrativo de Seguridad - Homeland Security Other (tiếng Tây Ban Nha) Colombian Stock Exchange Encyclopaedia Britannica Colombia Country Page CIA World Factbook - Colombia (tiếng Tây Ban Nha) - Maps of Colombia - Major Cities Maps Colombianosenelmundo.com Colombian Radio Stations online...
festival hoa đà lạt 2012.txt
Festival hoa Đà Lạt 2012 là sự kiện lễ hội diễn ra từ ngày 31 tháng 12 năm 2011 đến ngày 03 tháng 01 năm 2012 tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Sự kiện đã thu hút hơn 300.000 du khách trong và ngoài nước tham dự. == Diễn biến == === Chuẩn bị === Trong những ngày đầu trước khi Festival diễn ra, Đà Lạt đã bị quá tải. Theo thống kê của Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Lâm Đồng thì toàn bộ hệ thống nhà nghỉ, khách sạn tại thành phố chỉ đáp ứng được khoảng 30.000 lượt khách/đêm, trong khi theo dự kiến lễ hội sẽ thu hút hàng trăm ngàn du khách. Điều này đã đẩy giá cả một số dịch vụ tăng cao từ 5 đến 10 lần. Trước khi chính thức khai mạc Festival đã có nhiều hoạt động triển lãm hoa, cây cảnh, tượng gỗ, hội thi cắm hoa, tìm hiểu về hoa... === Khai mạc === Đêm khai mạc mang chủ đề "Hoa Đà Lạt, hội tụ thế giới sắc màu" diễn ra bên bờ hồ Xuân Hương vào đêm 31 tháng 12 với sự tham gia nguyên Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Phó chủ tịch Quốc hội, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng các Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ kế hoạch và Đầu tư, Bộ Y tế; lãnh đạo các tỉnh, thành trong cả nước và hơn 20 Đại sứ nước ngoài, hơn 2.000 diễn viên múa học sinh - sinh viên cùng hơn 12.000 người dân địa phương và du khách. Các tiết mục trong đêm văn nghệ được dàn dựng hạn chế tối đa sân khấu hóa, ca múa nhạc mà chú trọng điểm nhấn mang hình tượng nghệ thuật cao, tái hiện Đà Lạt xưa và nay, con người và hoa. Tiếp theo là màn diễu hành các xe hoa và vũ công qua quảng trường. Chương trình kéo dài 90 phút qua 6 cảnh diễn, kết thúc bằng màn bắn pháo hoa cùng lúc tại 2 địa điểm trước khán đài. === Nội dung === Lễ hội diễn ra với tổng cộng 21 chương trình xoay quanh chủ đề về hoa như: những không gian hoa; trưng bày, triển lãm hoa cây cảnh quốc tế; diễu hành xe hoa đường phố; lễ khai mạc; phiên chợ hoa - lễ hội ẩm thực Đà Lạt; lễ hội đường phố "Hoa và ánh sáng"; không gian hoa đẹp; hội thảo khoa học về hoa; đêm hội rượu vang; đường hoa Romance Palace; ngày chủ nhật hoa; hội thi tìm hiểu các loài hoa Đà Lạt; hội chợ triển lãm làng nghề Việt Nam; ngày hội Langbiang; ngày hội vẽ tranh "Đà Lạt, Thành phố Festival Hoa Việt Nam"; đêm hội các vũ điệu đường phố; giải golf "Đà Lạt Festival hoa - 2012"; chương trình nghệ thuật mừng năm mới; vườn tượng gỗ Tây nguyên; hội thi thời trang hoa và hóa trang hoa; du lịch hoa. Riêng phần không gian hoa đẹp bên bờ hồ Xuân Hương, nổi bật nhất là không gian khoảng 200.000 giỏ hoa tulip các loại được trưng bày. Ngoài các tuyến đường hoa, những hộ gia đình tại thành phố còn hưởng ứng Festival bằng cách tạo nên những không gian hoa trong mỗi khuôn viên nhà. Đặc biệt, Hiệp hội hoa Đà Lạt kiến tạo một không gian hoa làm điểm nhấn nổi bật trên đồi Cù. Nơi đây được bố trí những thảm hoa, luống hoa và các tiểu không gian mang chủ đề riêng gắn với những loài hoa cụ thể. Điểm mới so với các Festival trước đó là tại Công viên hoa thành phố có không gian hoa dại rộng lớn quy tụ gần 10.000 cây, chậu hoa dại, nhằm đem lại cảm giác gần gũi với thiên nhiên, tạo ấn tượng hoài niệm về Đà Lạt của nhiều thập niên trước. === Bế mạc === Festival bế mạc bằng lễ hội rượu vang với chủ đề "Vang Đà Lạt, hương vị Festival Hoa", diễn ra tại khu phố đi bộ ở khu trung tâm Hòa Bình dưới hình thức đêm hội đường phố, bao gồm các hoạt động nghệ thuật gắn kết với chương trình "hoa và ánh sáng". Theo Sở Công thương Lâm Đồng, đêm hội có 5 cơ sở, doanh nghiệp sản xuất rượu vang trong và ngoài tỉnh tham gia - bao gồm vang Đà Lạt, vang Vĩnh Tiến, vang Langbiang, vang Thăng Long (Hà Nội) và vang Ninh Thuận. Tổng cộng khoảng 3.500 - 4.000 lít rượu vang được mang đến cho thưởng thức miễn phí. Đêm hội đã thu hút hơn 20.000 người dân cùng du khách tham gia. Lực lượng an ninh cũng được huy động đông đảo từ trước để chuẩn bị cho lễ hội. == Kết quả và ý nghĩa == === Kết quả === Trưởng ban tổ chức cho biết, sau 5 ngày hoạt động, Festival đã thu hút hơn 300 ngàn du khách trong và ngoài nước tới tham dự. Riêng lượng khách đến Đà Lạt tham quan nghỉ dưỡng đạt 170.000 lượt, trong đó lượng khách quốc tế chiếm khoảng 20%. Tuy nhiên, Ban tổ chức còn cho biết, với con số 170.000 người sau bốn ngày diễn ra lễ hội, lượng khách thu hút so với cùng thời điểm trong Festival hoa Đà Lạt 2010 giảm gần 50%. Điều này được cho là trong dịp festival hoa lần trước, du khách phải chịu các phí dịch vụ cao bất thường, không đủ chỗ nghỉ, việc di chuyển khó khăn... Hiện trạng này vẫn diễn ra tại Festival 2012 mặc dù từ Festival năm 2007, Ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt đã thành lập đội kiểm tra liên ngành để kiểm tra, xử lý nhằm ngăn chặn tình trạng "chặt chém" và bán hàng không đảm bảo chất lượng trong suốt thời gian diễn ra Festival. === Ý nghĩa === Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết, những năm qua thành phố Đà Lạt đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong lĩnh vực trồng và xuất khẩu hoa, với lượng hoa xuất khẩu đạt hàng chục triệu cành mỗi năm. Riêng năm 2011, diện tích trồng hoa đạt gần 4.000 ha, sản lượng hoa đạt 1,4 tỉ cành, trong đó xuất khẩu 53 triệu cành với kim ngạch 22 triệu USD. Ngoài các thị trường truyền thống như Singapore, Trung Quốc, Nhật Bản, hoa Đà Lạt bắt đầu được xuất khẩu sang các thị trường châu Âu, Bắc Mỹ. Sau nửa thế kỉ phát triển, hoa Đà Lạt đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng tại thị trường hoa trong nước và quốc tế. Nhiều loài hoa mới du nhập về cho năng suất và chất lượng cao. Festival hoa Đà Lạt 2012 là dịp ghi nhận đóng góp to lớn của những nông dân có những đóng góp xuất sắc, tôn vinh giá trị của hoa và ngành trồng hoa truyền thống, qua đó quảng bá, mời gọi các nhà đầu tư, thu hút thêm nhiều du khách đến Đà Lạt. == Tham khảo == == Xem thêm == Festival Hoa Đà Lạt == Liên kết ngoài == Trang chính thức của Festival Hoa Đà Lạt
danh sách các quốc gia và lãnh thổ ở châu phi.txt
Đây là danh sách các quốc gia có chủ quyền và các vùng lãnh thổ thuộc châu Phi gồm các thông tin về thủ đô, ngôn ngữ, tiền tệ, dân số, diện tích và GDP đầu người (PPP). Malta và những phần thuộc Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Pháp nằm trên mảng lục địa châu Phi, tuy nhiên chúng được xem là thuộc châu Âu theo hiệp ước. Đảo Socotra cũng nằm trên mảng châu Phi, nhưng là một phần của quốc gia châu Á là Yemen. Ai Cập, mặc dù kéo dài qua châu Á ở bán đảo Sinai được xem là quốc gia châu Phi. == Các quốc gia có chủ quyền == === Quốc gia được công nhận === 54 quốc gia sau được công nhận đều là thành viên của Liên Hiệp Quốc, và tất cả các quốc gia trên trừ Maroc đều thuộc Liên hiệp châu Phi. === Các quốc gia được công nhận một phần hoặc không được công nhậ === Các quốc gia sau đây được chính họ tuyên bố thành lập ở Nam Phi như một quốc gia có chủ quyền nhưng vẫn chưa được công nhận chính thức hoặc hạn chế. Cộng hòa Sahrawi là một thành viên của Liên minh châu Phi. == Lãnh thổ không có chủ quyền == Có 9 vùng lãnh thổ không có chủ quyền. === Các lãnh thổ phụ thuộc === Đây là danh sách các lãnh thổ là được điều hành như những vùng phụ thuộc hải ngoại. === Các khu vực khác === This list contains territories that are administered as incorporated parts of a primarily non-African state. == Chú thích == == Tham khảo ==
khu phố cổ hà nội.txt
Khu phố cổ Hà Nội là tên gọi thông thường của một khu vực đô thị có từ lâu đời của Hà Nội nằm ở ngoài hoàng thành Thăng Long. Khu đô thị này tập trung dân cư hoạt động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán giao thương, hình thành lên những phố nghề đặc trưng, mang những nét truyền thống riêng biệt của cư dân thành thị, kinh đô. Ngày nay khu phố cổ Hà Nội là điểm đến hấp dẫn cho những ai muốn tìm hiểu về Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Khu "Hà Nội 36 phố phường" là một cách gọi không chính xác của khu phố cổ, vì 36 phố phường là một cách gọi ước lệ khu vực đô thị cổ, nằm bên trong và bên ngoài cả khu phố cổ. == Vị trí == Theo quyết định số 70 BXD/KT-QH ngày 30 tháng 3 năm 1995 của Bộ Xây dựng, khu Phố cổ Hà nội có phạm vi được xác định: phía Bắc là phố Hàng Đậu; phía Tây là phố Phùng Hưng; phía Nam là các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ và Hàng Thùng; phía Đông đường Trần Quang Khải và đường Trần Nhật Duật. Khu phố cổ Hà Nội thuộc địa bàn quận Hoàn Kiếm tổng diện tích khoảng 100 ha, có 76 tuyến phố thuộc 10 phường: phường Hàng Đào, Hàng Bạc, Hàng Buồm, Hàng Bồ, Hàng Bông, Hàng Gai, Hàng Mã, Đồng Xuân, Cửa Đông, Lý Thái Tổ. Mặc dù các phố cổ của Hà Nội còn nằm cả bên ngoài khu vực này, nhưng do đây là khu vực tập trung phố cổ nhiều nhất và còn giữ được những đặc trưng nên chỉ khu vực theo quy định trên được gìn giữ, bảo tồn là khu phố cổ. == Lịch sử == Khu dân cư sinh hoạt và buôn bán sầm uất này đã được hình thành từ thời Lý - Trần, nằm ở phía đông của hoàng thành Thăng Long ra đến sát sông Hồng. Đầu đời đời Lê, trong sách Dư Địa Chí, Nguyễn Trãi cũng đã đề cập đến tên một số phường nghề tại đây. Dưới thời Lê, đặt phủ Phụng Thiên gồm hai huyện là Vĩnh Thuận và Thọ Xương, thì khu này nằm gọn trong bốn tổng Túc của huyện Thọ Xương là Tiền Túc, Hậu Túc, Tả Túc, Hữu Túc. Bên ngoài khu vực là vòng thành Đại La có trổ các cửa ô. Thời Lê, giữa khu này có một số đầm hồ, lớn nhất là hồ Thái Cực. Sông Tô Lịch nối với hào thành, các đầm hồ, thông với hồ Hoàn Kiếm và sông Hồng cũng ở khu vực này. Đến cuối thế kỉ 19 thì các sông hồ đó hoàn toàn bị lấp, nhưng vẫn còn để lại dấu tích qua các địa danh: Hà Khẩu, Giang Khẩu, Cầu Gỗ, Cầu Đông. Thời Lý - Trần, dân cư từ các làng quanh đồng bằng Bắc Bộ tụ tập về khu vực này sinh sống, tạo thành khu phố đông đúc nhất kinh thành. Đến đời Lê, dần dần đã có một số Hoa kiều buôn bán ở đây, hình thành nên các khu phố Tàu. Thời Pháp thuộc, sau khi lấp toàn bộ các đầm hồ, khu phố được chỉnh trang, người Ấn, người Pháp cũng đến đây buôn bán. Hai chợ nhỏ được giải tỏa để lập chợ Đồng Xuân, Đường ray xe điện Bờ hồ - Thụy Khuê cũng chạy xuyên qua đây. Cho đến nay, đây vẫn là khu buôn bán nhộn nhịp nhất của Hà Nội. Tuyến phố đi bộ cũng được mở tại đây. == Các phố nghề == Đặc trưng nổi tiếng nhất của khu phố cổ là các phố nghề. Thợ thủ công từ các làng nghề quanh Thăng Long xưa tụ tập về đây, tập trung theo từng khu vực chuyên làm nghề của mình. Các thuyền buôn có thể vào giữa phố để buôn bán trao đổi, khiến các phố nghề càng phát triển. Và chính sản phẩm được buôn bán trở thành tên phố, với chữ "Hàng" đằng trước, mỗi phố chuyên môn buôn bán một loại mặt hàng. Hiện nay, một số phố vẫn còn giữ được sản phẩm truyền thống như phố Hàng Mã, Hàng Tre, Hàng Thiếc, Thuốc Bắc... Ngoài ra một số phố tuy không giữ nghề truyền thống, nhưng cũng tập trung chuyên bán một loại hàng hóa như phố Hàng Quạt bán đồ thờ, Hàng Buồm bán bánh kẹo, phố Mã Mây chuyên dịch vụ du lịch... Hàng Bông lấy theo tên đoạn phố chính Hàng Bông Đệm vốn có nhiều nhà làm nghề bật bông, bán mền bông, chăn đệm. Phố Hàng Mã ngày xưa chuyên buôn bán đồ vàng mã để thờ cúng, bao gồm tiền giấy âm phủ, vàng giấy âm phủ, sau mở rộng thêm các tượng giấy hình các quan, hình nhà cửa... để cúng và đốt cho người âm (người chết). Ngày nay phố Hàng Mã tập trung nhộn nhịp vào các dịp lễ, tết Trung Thu, Nguyên Đán với các mặt hàng phong phú về đồ chơi. Ngoài ra, tại đây cũng là nơi bán đồ trang trí phông màn cho đám cưới với các hình cắt làm từ nguyên liệu giấy màu hay bọt xốp nhiều màu sắc. Phố Mã Mây. Phố này nguyên bao gồm hai phố xưa: phố Hàng Mã và phố Hàng Mây. Đoạn phố Hàng Mây nằm giáp phố Hàng Buồm, trên bờ sông Nhị, nơi tập trung thuyền bè miền ngược chở các mặt hàng lâm sản như song, mây, tre, nứa... Phố Hàng Bạc do ông Lưu Xuân Tín được nhà vua cho phép mở lò đúc bạc thành nén cho triều đình, kéo người trong họ hàng và người làng Trâu Khê (hay Châu Khê, xã Thúc Kháng, huyện Bình Giang - Hải Dương) ra đây mở phường đúc bạc, thành lập trường đúc ở số nhà 58 Hàng Bạc. Phố Hàng Đào là nơi buôn tơ, bán vải vóc (chữ vải điều chỉ màu đỏ được đọc chệch thành chữ đào). Phố Hàng Lược nối từ phố Hàng Cót đến phố Chả Cá, vốn là nơi có nhiều nhà buôn bán lược: lược gỗ, lược sừng và sau này là lược nhựa. Phố Hàng Chai không phải là nơi sản xuất, buôn bán chai lọ; phố này là một đoạn ngõ nhỏ nối phố Hàng Rươi và Hàng Cót, đây là nơi tập trung dân nghèo chuyên làm nghề thu lượm các đồ phế liệu, đồ bỏ (rác) Phố Hàng Gà chạy từ phố Hàng Điếu đến phố Hàng Cót, vốn là nơi tập trung các cửa hàng bán đồ gia cầm: gà, vịt, ngan, ngỗng, bồ câu, gà tây... Phố Hàng Chĩnh được người Pháp gọi là Rue des Vases (phố hàng Vại Chậu), vốn thông ra bờ sông, là bến đậu các thuyền chở vại, chậu bằng sành của làng Phù Lãng, nồi đất, chum vại, tiểu sành từ Hương Canh, bằng gốm từ Thổ Hà Phố Hàng Đồng và phố Bát Sứ thời thuộc Pháp có tên chung là Rue des Tasses (phố Hàng Chén). Đoạn Hàng Đồng và Hàng Mã trước thuộc thôn Yên Phú, có nghề gốc bán đồ đồng như mâm, nồi, đỉnh, lư hương, lọ hoa, hạc thờ... == Nhà cổ == Một đặc trưng nữa của khu phố cổ là kiến trúc nhà cổ trong khu phố buôn bán. Những nhà cổ chủ yếu là nhà ống, mái ngói nghiêng, mặt tiền là cửa hàng buôn bán thò thụt không đều. Hình ảnh nhà cổ và mái ngói đã đi vào hội họa, thơ ca. Những ngôi nhà này chủ yếu được dựng vào thế kỉ XVIII - XIX, trước đó hầu hết là nhà mái tranh, chỉ có một số nhà giàu có, nhà của Hoa kiều mới lợp mái ngói. Thời kì toàn quốc kháng chiến, để tránh đụng độ trực tiếp với quân Pháp và lính Lê dương, người dân và Vệ quốc quân đã đục thông tường từ nhà này sang nhà khác. Khi cần người ta có thể đi từ đầu đến cuối phố qua những lỗ hổng giữa các ngôi nhà mà không cần phải xuống đường. Từ cuối thế kỉ XX, các nhà cổ dần dần biến mất. Thay vào đó là các ngôi nhà ống xây mới phá vỡ cảnh quan vốn có của phố cổ. Tuy vậy, bên trong các ngôi nhà vẫn là hệ thống đường đi chằng chịt. == Di tích == Trong khu vực phố cổ có rất nhiều di tích lịch sử lâu đời, gồm đình, đền, chùa, hội quán. Đình: mỗi phố nghề thường có một đình để thờ tổ nghề hoặc thành hoàng làng nguyên quán. Đình ở khu này đặc biệt là tầng dưới vẫn làm cửa hàng cho thuê, tầng trên mới làm nơi thờ cúng. Qua thời gian, các đình bị lấn chiếm nhiều, rất khó tìm ra dấu. Đền: tương tự như đình, nhiều đền cũng chỉ đặt trên tầng, phía dưới làm cửa hàng. Một số đền còn giữ được là: đền Mã Mây, đền Nhân Nội, đền Bà Chúa, Chùa: trong khu phố cổ còn một số ngôi chùa, tuy đã bị lấn chiếm nhiều: chùa Cầu Đông, chùa Kim Cổ, chùa Thái Cam. Hội quán: khi người Hoa đến buôn bán, đã lập ra hai hội quán: Hội quán Quảng Đông và Hội quán Phúc Kiến. Tại khu vực khu phố cổ xưa kia có các cửa ô: ô Phúc Lâm, ô Thanh Hà (ô Quan Chưởng), ô Trừng Thanh, ô Mỹ Lộc. Hiện chỉ còn lại ô Quan Chưởng là còn nguyên vẹn. Chợ: Bên cạnh các phố nghề, khu phố cổ cũng có một số chợ để tập trung bán các loại hàng hóa phục vụ đời sống, như chợ Đồng Xuân - Bắc Qua, chợ Hàng Da, chợ Hàng Bè. == Bảo tồn == Phạm vị nghiên cứu quy hoạch được phân chia hai khu vực bảo vệ, tôn tạo đặc trưng như sau: Khu vực bảo vệ, tôn tạo cấp 1: Được giới hạn bởi các phố Hàng Chiếu, Hàng Đường, Hàng Ngang, Hàng Bạc, Hàng Mắm và Trần Nhật Duật (diện tích khoảng 19 ha). Khu vực bảo vệ, tôn tạo cấp 2: Bao gồm phần còn lại trong ranh giới khu Phố Cổ. Kiến trúc cổ của khu phố này là các ngôi nhà nhỏ bé với mái tranh hay mái ngói, thường có sân chung, lô nhô nối tiếp nhau từ dãy phố này đến dãy phố khác. Khu phố này cũng đã từng là đề tài của nhiều văn nghệ sĩ làm nên những giá trị văn hóa ngày nay của Hà Nội. Ngày nay nhiều khu phố đã xuống cấp, phải trùng tu để nâng cấp lại. Trong dịp Đại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội năm 2010, Ủy ban Nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định dùng khoảng 50 tỷ đồng để tân trang 75 tuyến phố của các quận nội, ngoại thành, trong đó có việc quết vôi lại màu vàng cho mặt tiền các căn nhà trong Khu phố cổ. Tuy nhiên có ý kiến người dân cho biết việc tân trang được thực hiện khá ẩu khiến mặt tiền nhiều ngôi nhà bị lem nhem. == Ca dao == Việt Nam thi văn hợp tuyển của Dương Quảng Hàm có ghi lại ca dao về 36 sáu phố ở Hà Nội như sau: Rủ nhau chơi khắp Long thành Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai: Hàng Bồ, hàng Bạc, hàng Gai, Hàng Buồm, hàng Thiếc, hàng Bài, hàng Khay, Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng Giầy Hàng Lờ, hàng Cót, hàng Mây, hàng Đàn, Phố Mới, Phúc Kiến, hàng Ngang, Hàng Mã, hàng Mắm, hàng Than, hàng Đồng, Hàng Muối, hàng Nón, cầu Đông, Hàng Hòm, hàng Đậu, hàng Bông, hàng Bè, Hàng Thùng, hàng Bát, hàng Tre, Hàng Vôi, hàng Giấy, hàng The, hàng Gà, Quanh đi đến phố hàng Da, Trải xem hàng phố, thật là cũng xinh. Phồn hoa thứ nhất Long thành, Phố giăng mắc cửi, đường quanh bàn cờ. Người về nhớ cảnh ngẩn ngơ, Bút hoa xin chép vần thơ lưu truyền. == Hội họa == Khu phố cổ Hà Nội đã đi vào tranh của một danh họa là Họa sĩ Bùi Xuân Phái, trở thành một trường phái hội họa của Việt Nam, được biết đến với tên là phố Phái. == Tên các phố cổ == Tên phố trong khu phố cổ đa số đầu tiên là chữ "Hàng", sau đó là tên sản phẩm. Bên cạnh đó có một số phố không theo quy tắc đó, và một số phố mới đặt sau này mang tên người. Các phố có chữ "Hàng" trong khu phố cổ (Dấu ** tương ứng với những tên phố hiện không còn dùng). Các phố không có chữ "Hàng" trong khu phố cổ Các phố có chữ "Hàng" nhưng không nằm trong khu phố cổ Các ngõ có chữ "Hàng" == Tên các đường phố Hà Nội thế kỷ 19 – 20 == Ancien canal - Tên cũ phố Đào Duy Từ; Ancien canal nghĩa là Sông đào cũ. Anh Quốc - Tên phố Hàng Khay đặt trong thời tạm chiếm 1947 - 1954. Ấu Triệu - Phố ở cạnh Nhà thờ Lớn: thời Pháp có tên là Ruelle Père Lecornu. Ấu Triệu nghĩa là Bà Triệu nhỏ, tên là Lê Thị Đàn người làng Thế Lại (Quảng Trị) tham gia phong trào Đông Du của Phan Bội Châu (năm 1903). Tên Ấu Triệu do Phan Bội Châu đặt trong tập Truyện Nghĩa liệt. Ba Đình: Quảng trường. Thời Pháp thuộc là Rond point Puginier. Năm 1945 đổi là Quảng trường Ba Đình. Ba Lê - Tên vườn hoa cạnh Nhà hát lớn đặt trong thời tạm chiếm 1947-1954. Bà Triệu - Đường phố có tên cũ thường gọi là Phố Hàng Giò (đoạn phía bắc gần Hàng Khay); thời Pháp thuộc là hai phố boulevard Gia Long và Rue Lê Lợi. Ngõ Bà Triệu - ở đoạn dưới phố Bà Triệu, trước kia được gọi là Ngõ Trường Bắn (nơi binh lính tập bắn). Báo Khánh - Tên phố ở phía tây Hồ Gươm, thời Pháp thuộc gọi là Rue Pottier. Bảo Linh - Tên thôn cũ thuộc khu vực phố Hàng Tre. Borgnis Desbordes - Rue Borgnis Desbordes, tên cũ phố Tràng Thi. Bình Chuẩn - Phố Bình Chuẩn: tên phố Hàng Thùng đặt năm 1945. Bình Chuẩn là tên một chiếc tàu thuỷ được đóng năm 1921 (chiếc tàu đầu tiên của người Việt Nam ở Bắc Kỳ). Cambanère - Rue Cambanère, tên cũ phố Hàng Bút. Cantonnais - Rue des Cantonnais, tên cũ phố Hàng Ngang thời thuộc Pháp (ý nghĩa là phố của người Hoa kiều gốc Quảng Đông). Cao Thắng - Phố Cao Thắng, thời thuộc Pháp gọi là Rue Grappin; năm 1945 là phố Nguyễn Cảnh Chân. Chân Cầm - Phố Chân Cầm thời Pháp thuộc có tên là Rue Lagisquet; tương truyền ngày xưa nơi đây có nghề sản xuất các loại đàn dùng cho âm nhạc cổ truyền. Chí Linh C - Vườn hoa Chí Linh, nằm ở bờ phía đông của Hồ Hoàn Kiếm, tên cũ thời Pháp thuộc là Vườn hoa Paul Bert, có nhà kèn, tượng Paul Bert và là nơi hàng năm diễn ra duyệt binh trong các ngày Hội Tây. Ngõ Chợ Đồng Xuân: một ngõ nhỏ nằm bên cạnh chợ Đồng Xuân. Nơi đây trước kia là chỗ giới thiệu người đi ở cho các gia đình. Chợ Gạo - Phố Chợ Gạo: thời Pháp thuộc gọi là Place du Commerce, là nơi tụ họp của những người buôn bán gạo từ nông thôn vào Hà Nội. Chùa Một Cột - Phố Chùa Một Cột: thời Pháp thuộc có tên là Rue Elie Groleau. Cổ Ngư - Đường Cổ Ngư: Thời thuộc Pháp gọi là Route Maréchal Lyautey, nay gọi là Đường Thanh Niên. Cống Chéo Hàng Lược - Tên gọi thông thường của phố Hàng Lược, thời Pháp thuộc gọi là Rue Sông Tô Lịch. Cột Cờ - Phố Cột cờ: thời Pháp thuộc gọi là Avenue Puginier. Chả Cá - Phố Chả Cá, đất thôn cũ Đồng Thuận. Trước kia phố này gọi là phố Hàng Sơn (tên chữ Pháp là Rue de la laque). Cột Đồng Hồ - Nơi được trồng một cột sắt lớn trên có đặt chiếc đồng hồ điện, ở ngã sáu mấy phố đi ra Bờ Sông, tại đầu đường Trần Nhật Duật. == Hình ảnh Hà Nội xưa == == Xem thêm == Phố Hiến Phố cổ Hội An Cảng thị cổ Thanh Hà Phố cổ Thành Nam Phố cổ Đồng Văn Bùi Xuân Phái Võ An Ninh - một nhiếp ảnh gia nổi tiếng với kho tàng hơn 70 năm chụp ảnh đen trắng, trong đó rất nhiều chụp về Hồ Gươm == Chú thích == == Đọc thêm == Nguyễn Văn Uẩn, HN nửa đầu thế kỉ 20, Nhà xuất bản Hà Nội, 2002 Tô Hoài, Chuyện cũ Hà Nội, Nhà xuất bản Hà Nội Thạch Lam, Hà Nội băm sáu phố phường Sở Cuồng Lê Dư, Hà Thành kim tích khảo. Nam Phong tạp chí số 80 và 81 == Liên kết ngoài == Website chính thức Ban quản lý Phố Cổ Hà Nội Liệt kê các bài về phố cổ Hà Nội trên www.hanoi.gov.vn Khái quát về khu phố cổ Hà Nội Hà Nội 36 phố phường Lịch sử tên các đường phố Hà Nội Giá trị lịch sử, văn hoá, kiến trúc cảnh quan phố cổ Hà Nội Cửa Tây thành Thăng Long Khu vực Cửa Đông Lộ trình tham quan, du lịch khu phố cổ Di tích các nhân vật lịch sử Nhà cổ ở Hà Nội
chủ nhật.txt
Ngày Chủ nhật (người Công giáo Việt Nam còn gọi là ngày Chúa nhật) là ngày trong tuần giữa thứ Bảy và thứ Hai. Chủ nhật trong một số tiếng phương Tây được lấy tên từ thần Mặt Trời. Đây là ngày duy nhất trong tuần có tên gọi trong tiếng Việt. == Tên gọi == Nguồn gốc của tên gọi Chủ Nhật trong tiếng Việt xuất phát từ cộng đồng Ki-tô giáo. Tên gọi gốc là "Chúa Nhật", Nhật có nghĩa là ngày, Chúa Nhật có nghĩa là "ngày của Chúa". Chữ Chúa và chủ đều bắt nguồn từ chữ zhǔ (主) trong tiếng Hán nên có thể gọi là Chúa Nhật hoặc Chủ Nhật đều đúng. Người theo đạo Công giáo buộc phải đi lễ nhà thờ, giữ tâm tịnh và kiêng việc xác thịt vào ngày này. Theo truyền thuyết Do Thái cổ, ngày thứ Bảy là ngày Sabát. Nhiều ngôn ngữ không có từ riêng cho "thứ Bảy" và "ngày Sabát" (tiếng Việt dùng số để đếm và đặt tên ngày thay vì dùng một tên riêng. Trong các ngôn ngữ châu Âu, chỉ có tiếng Bồ Đào Nha dùng các tên ngày giống tiếng Việt vì những nhà truyền giáo đầu tiên tại Việt Nam là người Bồ Đào Nha; các ngôn ngữ châu Âu khác dùng tên gọi có từ trước khi du nhập Ki-tô giáo). Các giáo hội Chính Thống giáo Đông phương phân biệt ngày Sabát (thứ Bảy) và ngày của Chúa (Chủ nhật). Công giáo Rôma không đặt nặng việc phân biệt này đến nỗi nhiều tín hữu theo — nhất là trong ngôn ngữ thường ngày — thói quen của người Tin Lành gọi Chủ nhật là ngày Sabát. == Vai trò của ngày Chủ nhật == Theo quy định của Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế (ISO), ngày Chủ Nhật là ngày cuối cùng của một tuần. Việt Nam và đa số các nước trên thế giới đều theo chuẩn này. Ở một số quốc gia khác như Hoa Kỳ, Chủ Nhật lại là ngày đầu tiên của tuần. Theo truyền thống Do Thái cũng như Công giáo Rôma, ngày Chủ Nhật được gọi là "ngày thứ nhất trong tuần", vì thế nó được xem là ngày đầu tuần, thứ nhất trước thứ hai. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Ngày trong tuần tiếng Việt được so sánh với ngày trong tuần tiếng Trung Hoa và Nhật (tiếng Anh)
đông phương hồng i.txt
Đông Phương Hồng I hay Đông Phương Hồng nhất hiệu (giản thể: 东方红一号; phồn thể: 東方紅一號; bính âm: Dongfanghong Yihao) là vệ tinh không gian đầu tiên của Trung Quốc, được phóng thành công vào ngày 24 Tháng 4 năm 1970 (sau một lần phóng thất bại vào ngày 16 tháng 11 năm 1969 ) là một phần của chương trình truyền hình vệ tinh không gian Đông Phương Hồng của Trung Quốc. Với trọng lượng 173 kg (381 lb), nó nặng hơn so với các vệ tinh đầu tiên của các nước khác. Vệ tinh mang theo một máy phát radio phát sóng các bài hát cùng tên, Đông Phương Hồng; phát sóng kéo dài trong 20 ngày, trong khi ở trên quỹ đạo. Nó được phát triển dưới sự chỉ đạo của Tiền Học Sâm, hiệu trưởng của Viện Công nghệ Vũ trụ Trung Quốc. Vào thời điểm đó, tổng cộng năm vệ tinh giống hệt nhau được tạo ra. Vệ tinh đầu tiên được phóng thành công. Học viện này đã chế tạo theo "Kế hoạch ba vệ tinh" gồm Đông Phương Hồng I, vệ tinh tái nhập, và các vệ tinh thông tin liên lạc quỹ đạo địa tĩnh. Sun Jia-Dong chịu trách nhiệm về các công nghệ Dongfanghong I. Năm 1967, Deng Hongxin chọn một màng ăng ten đồng mà giải quyết những khó khăn phát sóng trên một ăng-ten sóng cực ngắn từ 100 °C và -100 °C. Các kỹ sư lắp đặt một máy nghe nhạc phát bài Đông Phương Hồng trên vệ tinh. == Thiết kế vệ tinh == Vệ tinh này cũng tương tự như trong hình dạng một đối xứng đa diện 72 mặt, đã có một khối lượng 173 kg (381 lb), và có đường kính khoảng một mét (39). Nó xoay 120 lần mỗi phút để ổn định. Bề mặt bên ngoài được phủ một lớp hợp kim nhôm xử lý để kiểm soát nhiệt độ. Phần thân chính của hình cầu có bốn anten roi sóng cực ngắn dài ít nhất là hai mét (6½ ft). Phần dưới được nối vào một giai đoạn có chứa một động cơ tên lửa. Nó có một vòng kim loại sáng bóng thêm vào phía dưới, với cường độ sáng 5-8. Vệ tinh vẫn còn trong quỹ đạo; thời điểm ngày 24 tháng 1 năm 2015 nó được trong một quỹ đạo với một cận điểm 442 km (275 dặm), một đỉnh cao của 2.046 km (1.271 dặm) và độ nghiêng của 68,42 độ. Vệ tinh quỹ đạo elip gần Trái Đất này có chu kỳ 114,09 phút mỗi quỹ đạo. Nó có Số Catalog vệ tinh 4392 và Định danh quốc tế 1970-034A. Với sự ra mắt thành công của Đông Phương Hồng I, Trung Quốc trở thành nước thứ năm sau Liên Xô, Hoa Kỳ, Pháp, và Nhật Bản để khởi động một cách độc lập một vệ tinh. Mặc dù Đông Phương Hồng I đã được phóng 13 năm sau Sputnik I, khối lượng của nó vượt quá khối lượng kết hợp của các vệ tinh đầu tiên của bốn quốc gia khác. Sau khi ra mắt này, Tiền Học Sâm đề nghị chính phủ Trung Quốc rằng Trung Quốc nên phát triển một chương trình không gian có người lái và đệ trình một báo cáo gian cam kết có người lái. Mao Trạch Đông bút phê "phê chuẩn" vào báo cáo. Vào ngày 21 tháng 4 năm 2005, Học viện Trung Quốc Công nghệ Vũ trụ tập hợp các cán bộ khoa học và công nghệ đã tham gia vào việc thiết kế, chế tạo, sản xuất, và giám sát của Đông Phương Hồng I. Nơi chế tạo Đông Phương Hồng I, Nhà máy sản xuất vệ tinh Bắc Kinh, được sử dụng như một tượng đài. Các nhà máy sản xuất, phối hợp với Thần Châu 5 kỷ niệm tàu ​​vũ trụ có người lái, tạo ra 1: 1 bản sao quy mô của các vệ tinh Đông Phương Hồng I. Nó được trưng bày trong thiên văn Bắc Kinh. == Tham khảo ==
đội tuyển bóng đá quốc gia việt nam cộng hòa.txt
Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa là đội tuyển bóng đá đại diện cho nền bóng đá của chính thể Việt Nam Cộng hòa từ 1955 đến 1975, một trong ba chính thể tồn tại ở Việt Nam, bên cạnh Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa là đại diện của nền bóng đá miền Nam Việt Nam trong thời kỳ đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai vùng tập kết quân sự(nhưng không phải hai quốc gia riêng biệt). Trước thập niên 60, Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa được đánh giá là đội bóng khá mạnh trong khu vực. Tuy nhiên, từ khoảng những năm 1964-1965, Đội không còn giữ được vị thế của mình như trước. == Lịch sử == Đội lọt vào vòng chung kết hai giải Cúp châu Á đầu tiên và thành tích tốt nhất của đội là giành vị trí thứ tư trong lần đầu tham dự (1956). Tuy nhiên cần lưu ý là Giải đấu Cúp châu Á năm 1956 chỉ có 4 đội tham dự (thi đấu theo thể thức gặp nhau lần lượt), đội hòa 1 trận (với Hồng Kông) và thua 2 trận (trước Hàn Quốc và Israel) nên xếp cuối (tức là hạng 4). Trong các năm 1964 và 1968, đội lại tham dự Cúp châu Á nhưng đều không vượt qua được vòng loại. Đội đoạt huy chương vàng tại SEAP Games 1959 được tổ chức tại Thái Lan (tuy nhiên cần lưu ý là giải đấu năm đó chỉ có 4 đội tham dự). Cho đến nay, đây là lần duy nhất Việt Nam đoạt huy chương vàng bộ môn bóng đá tại một kỳ Đại hội Thể thao Đông Nam Á mà tiền thân là Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á. Tuy nhiên cần lưu ý là bóng đá Đông Nam Á khi đó còn rất sơ khai, giải đấu năm đó chỉ có 4 đội tham dự chứ chưa có nhiều đội để chia bảng thi đấu như sau này. Tại SEAP Games 1961 (có 6 đội tham dự), đội thua ở bán kết trước Myanmar với tỷ số 2-1. Tại SEAP Games 1965 (có 4 đội tham dự), đội thua ở bán kết trước Thái Lan với tỷ số 2-0, thắng trong trận tranh hạng 3 trước Malaysia với tỷ số 2-0. Tại SEAP Games 1967 (có 5 đội tham dự), đội thua ở chung kết trước Myanmar với tỷ số 2-1. Tại SEAP Games 1969 (có 5 đội tham dự), đội bị loại ở ngay vòng bảng. Tại SEAP Games 1971 (có 7 đội tham dự), đội thua ở bán kết trước Malaysia với tỷ số 3-2, được xếp đồng hạng 3. Tại SEAP Games 1973 (có 6 đội tham dự), đội thua ở chung kết trước Myanmar với tỷ số 3-2. Kể từ năm 1970, thành tích của đội bị suy giảm, số trận thắng ít hơn nhiều so với số trận thua 1975, khi hai miền thống nhất thì đội được hợp nhất với Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Dân chủ Cộng hòa thành Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam. Nhưng do bị cấm vận nên mãi đến năm 1991, Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam mới trở lại trên trường thi đấu quốc tế. Ngoài ra, đội cũng tham gia một số trận đấu giao hữu quốc tế. Trận thắng đậm nhất là 10-0 trước Philipine (năm 1967), trận thua đậm nhất là 10-0 (thua đội Nhật năm 1961) Ngày 31-12-1976, hai câu lạc bộ bóng đá mạnh nhất của mỗi miền là Cảng Sài Gòn (miền Nam) và Tổng cục Đường sắt (miền Bắc), đá giao hữu với nhau. Trận đấu diễn ra với tinh thần thể thao, hòa hợp dân tộc, anh em cùng một nhà. Trong trận đấu này, Đội TCĐS đã chiến thắng với tỷ số 3-1. Chiến thắng này với chiến thuật hiện đại (sử dụng đội hình 4-3-3 đang thịnh hành tại Châu Âu), Đội TCĐS đã khẳng định rằng bóng đá miền Bắc trong những năm 1970 đã có trở nên tiến bộ hơn bóng đá miền Nam (vẫn sử dụng sơ đồ 4-2-4 của thập niên 60) dù rằng bóng đá miền Nam nổi tiếng hơn và có nhiều trận đấu quốc tế hơn. == Danh hiệu == Cúp bóng đá châu Á Hạng tư: 1956; 1960 Bóng đá nam tại Asiad: Hạng tư: 1962 Bóng đá nam tại SEAP Games: 1959 1967; 1973 1965; 1971 == Thành tích tại các giải đấu == === Á vận hội === === Giải vô địch bóng đá thế giới === Đội tuyển bóng đá Việt Nam Cộng Hòa mới chỉ duy nhất một lần tham dự vòng loại Giải vô địch bóng đá thế giới nhưng không thể lọt vào vòng chung kết. === Cúp bóng đá châu Á === Việt Nam Cộng hòa từng 2 lần lọt vào vòng chung kết Cúp bóng đá châu Á ở hai giải đầu tiên và thành tích tốt nhất của đội là giành hạng tư vào hai giải đấu đó (tuy nhiên cần lưu ý là giải này chỉ có 4 đội tham dự vào các năm 1956 và 1960, xếp hạng 4 tức là xếp cuối). Ghi chú: Phần in nghiêng - tham dự với tư cách Đội tuyển bóng đá quốc gia Việt Nam Cộng hòa === Olympic === 1964 - không qua vòng loại === Thành tích tại Giải Đông Nam Á === 1959: Huy chương vàng bóng đá tại SEAP Games (nay là SEA Games) 1966: Vô địch Giải bóng đá Merdeka lần thứ 10 2 lần Huy chương bạc (1967 và 1973) và 2 lần huy chương đồng (1965 và 1971) bóng đá tại Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á 1971: Vô địch giải quân đội tại Thái Lan == Cầu thủ nổi tiếng == == Tham khảo và Liên kết ngoài == South Vietnam - List of Many International Matches Kết quả thi đấu quốc tế của Đội tuyển VNCH Merdeka và trận chung kết "lửa", Tuổi Trẻ, 09/11/2005 Ngã rẽ của ông Weigang và số phận chiếc cúp vô địch, Tuổi Trẻ 10/11/2005 Giải Merdeka ở Malaysia 42 năm trước đây, RFA, 29/12/2008 == Tham khảo ==
bóng chuyền bãi biển.txt
Bóng chuyền bãi biển là một môn thể thao giữa 2 đội với 2 thành viên, với luật gốc từ môn bóng chuyền truyền thống, và đã trở thành một môn thể thao ở thế vận hội từ năm 1996. Giống như bóng chuyền trong nhà truyền thống, nhiệm vụ chính trong một trận đấu của vận động viên là đưa bóng qua lưới và dứt điểm nó trong phần sân đối diện, đồng thời cũng ngăn chặn nhiệm vụ tương tự của đối thủ. Mỗi đội được cho phép chạm vào bóng 3 lần để đưa bóng qua phần sân cần tấn công. Một pha bóng được bắt đầu với cú phát bóng - thực hiện ở sau vạch thi đấu, bóng bay qua lưới và nằm trong sân của đối thủ. Pha bóng kết thúc khi trái bóng chạm phần sân của một đội; bay ra ngoài vạch sân hoặc không được đưa qua phần sân đối thủ đúng cách (đưa bóng dưới lưới, bóng chạm cột giới hạn, tay chạm lưới hoặc đưa bóng qua phần sân bên kia sau 4 lần chạm bóng trở lên). Đội dành điểm trong pha bóng trước đó sẽ được quyền phát bóng. 4 vận động viên thay phiên nhau phát bóng trong suốt trận đấu. Bóng chuyền bãi biển được lần đầu biết đến ở miền nam bang California,Hoa Kỳ, và nay đã được phổ biến trên toàn thế giới. == Điểm khác biệt với bóng chuyền trong nhà == Được chơi trên mặt cát (biển hoặc nhân tạo), không phải sân cứng trong nhà. Vận động viên có thể để chân trần thi đấu. Kích thước sân đấu bóng chuyền bãi biển là 16m dài và 8m rộng, so với 18m dài và 9m rộng của bóng chuyền trong nhà. Sân đấu bóng chuyền bãi biển không có vạch tấn công (vạch 3 mét) Mỗi đội có 2 vận động viên so với 6 vận động viên của bóng chuyền trong nhà, ngoài ra bóng chuyền bãi biển không cho phép thay người. Hệ thống tính điểm: Một đội được tính thắng một set khi được 21 điểm, thắng 2 trong ba sét (sét cuối chỉ tính đến 15) thì thắng chung cuộc. Không được phép chạm bóng bằng lòng bàn tay. Cú chắn bóng trên lưới được tính là một trong ba lần chạm bóng cho phép, trong khi bóng chuyền trong nhà thì không tính. Trong trận đấu bóng chuyền bãi biển không có sự hiện diện của huấn luyện viên. Vận động viên được phép chạy vượt qua phần dưới của lưới sang phần sân bên kia, miễn là điều đó không ảnh hưởng đến lối chơi của đối thủ. Hai đội đổi sân sau mỗi 7 điểm, thay vì mỗi set như bóng chuyền trong nhà. Không có vị trí libero. Điểm giống nhau duy nhất của 2 phiên bản bóng chuyền là lưới, với chiều cao là 2.43 m cho nam giới và 2.24 m cho nữ giới. == Các kĩ năng == Những kĩ năng cần có trong môn bóng chuyền bãi biển là:Phát bóng (serving), Chuyền bóng (passing), Kiến tạo (setting), Tấn công (attacking), Chắn bóng (Blocking) và Bay người đỡ bóng (Digging). == Đặc điểm chạm bóng == Bóng có thể chạm vào bất kì bộ phận nào trên cơ thể (trừ cú giao bóng chỉ được phép thực hiện bằng tay), không được sử dụng hành động bắt bóng hoặc ném bóng. Với một lần chạm bóng, vận động viên chỉ có thể tiếp xúc với bóng một lần. == Thành phần tham dự == Mỗi đội chỉ có 2 vận động viên và không hề có dự bị, vì vậy nên sẽ không có định nghĩa về vị trí thi đấu. Cả 2 vận động viên có thể thay đổi vị trí cho nhau, và khái niệm lỗi vị trí cũng không tồn tại. == Tín hiệu chắn bóng == Vận động viên bóng chuyền bãi biển sử dụng tín hiệu tay để chỉ thị phương án chắn bóng trong pha tấn công của đối thủ. Tín hiệu chắn bóng được đặt ở mông để thuận tay và tránh việc bị đối thủ bắt bài. Tín hiệu thường được đưa ra bằng cả 2 tay (bằng 1 tay rất hiếm, tùy thuộc vào đấu pháp của từng đội), mỗi tay đại diện cho một phong cách chắn bóng cho từng tình huống tấn công nhất định của đối thủ. Người ra tín hiệu có thể "nháy" ngón tay để chỉ hướng phát bóng cho đồng đội. Nếu người phát bóng cũng là người sẽ thực hiện cú chắn bóng thì người đó sẽ chạy đến sát lưới ngay sau khi phát bóng, còn ngược lại chính người ra tín hiệu sẽ ở lại phần sau của sân đấu. Tín hiệu chắn bóng đôi khi cũng được đưa ra ngay trước khi đối phương đập bóng tấn công. ==== Những tín hiệu chắn bóng thông dụng ==== Nắm chặt tay Nắm chặt tay phía nào thì sẽ không thực hiện chắc bóng ở phía đấy, thay vào đó người chắn bóng sẽ "rút lui" đỡ bóng từ phía sau. Một ngón tay Người chắn bóng sẽ chắn theo hướng đối thủ đập bóng dọc sân ứng với vạch kẻ sân gần nhất từ vị trí đứng. Hai ngón tay Người chắn bóng sẽ nhảy chắn bóng theo hương đối thủ đập bóng chéo sân. Để mở lòng bàn tay Người chắn bóng giữ nguyên vị trí, theo sát đường kiến tạo của đối thủ rồi nhảy lên vung tay qua lưới bên kia để tranh chấp bóng trực tiếp với người tấn công bên phía đối thủ. Ở châu Âu, đôi khi tín hiệu "nắm chặt tay" và "mở lòng bàn tay" có cách dùng ngược lại với nhau. Khi thi đấu với đối thủ ở quốc gia khác, các vận động viên có thể đưa ra tín hiệu chắn bóng bằng miệng qua tiếng bản địa. Ngoài ra, trang phục thi đấu cũng có thể được dùng để đưa chiến thuật. Trong các trận đấu, các nhân viên quay phim được phép quay lại tín hiệu phát bóng của các vận động viên và phát sóng nó trên truyền hình, nhưng không được đưa lên màn hình sân đấu để tránh lộ chiến thuật. == Các liên đoàn quản lý == Cơ quan quản lý bộ môn bóng chuyền bãi biển ở mức độ cao nhất là FIVB (Liên đoàn bóng chuyền thế giới). Hệ thống giải đấu thế giới chính thức là FIVB World Tour. Ở cấp châu lục, bộ môn này được quản lý bởi các liên đoàn sau: Châu Á và châu Đại Dương: AVC Châu Phi: CAV Châu Âu: CEV Bắc Mỹ và Caribbean: NORCECA Nam Mỹ: CSV == Tranh cãi về trang phục thi đấu == Năm 1999, FIVB đưa ra chuẩn trang phục thi đấu của môn bóng chuyền bãi biển, với trang phục áo tắm được áp dụng chính thức.. Điều này đã tạo nên một làn sóng lo ngại trong một số vận động viên. Chiếu theo luật chính thức, vận động viên nữ giới sẽ thi đấu với quần bikini và nịt vú thể thao, hoặc bikini một mảnh. Các vận động viên nổi tiếng đương thời như Natalie Cook người Úc hay Holly McPeak người Mỹ đã tỏ ý tán thành với điều luật này, dựa vào sự phù hợp của trang phục thi đấu với điều kiện cát và nhiều nắng của sân đấu. Nhưng vận động viên người Anh Denise John lại cho rằng việc mang bikini và áo ngực thi đấu chỉ nhằm để khiến hình ảnh các vận động viên nữ trở nên "khêu gợi" hòng thu hút khán giả. Một số sự kiện thể thao có bộ môn bóng chuyền bãi biển đã phải điều chỉnh điều lệ trang phục vì không phù hợp với nền văn hóa bản địa. Ví dụ như Đại hội Thể thao Nam Thái Bình Dương năm 2007, ban tổ chức đã bắt buộc các vận động viên mang những trang phục kín đáo hơn (quần đùi và áo có tay). Ở kì Á vận hội 2006, chỉ có một quốc gia Hồi giáo tham dự bộ môn này (Iraq), và việc các vận động viên Đông Á sử dụng nhưng trang phục được cho là "kiệm vải" đã làm giấy lên rất nhiều cuộc tranh luận về văn hóa. Đầu năm 2012, FIVB ra thông báo cho phép các vận động viên được mang quần đùi (cao trên đầu gối 3 cm) và áo có tay nhằm tôn trọng nền văn hóa của nhiều quốc gia. Điều luật sửa đổi này đã có vai trò đáng kể đến chất lượng của Olympics London năm 2012, khi một số vận động viên đã phải mang thêm áo có tay hoặc quần bó khi nhiệt độ buổi đêm ở thành phố này xuống quá thấp. Dù điều luật đã thoáng hơn, nhưng trên thực tế, áo ngực và quần bikini vẫn là lựa chọn phổ biến nhất về trang phục thi đấu của giới vận động viên bộ môn bóng chuyền bãi biển. Điều này không chỉ giúp cho bộ môn này ngày càng phát triển rộng rãi, mà còn tạo thêm rất nhiều cuộc tranh luận, chủ yếu nhằm vào những buổi phát sóng trực tiếp của nó, khi một số ý cho rằng những góc quay thường xuyên tập trung vào cơ thể của các vận động viên hơn là những phá bóng mãn nhãn. == Những chấn thương thường gặp == Chấn thương hay gặp phải ở những vận động viên bóng chuyền bãi biển là đầu gối, cổ chân và ngón tay. Những cơn đau nhất vì vận động đầu gối, gân dưới và vai quá sức cũng rất thường thấy. Nhiều vận động viên đã dùng loại giảm đau băng kinesiology. Loại băng này ngày càng được phổ biến rộng rãi khi các vận động viên bộ môn này luôn mang nó khi thi đấu ở những đấu trường lớn, đặc biệt là Olympic năm 2008 ở Bắc Kinh và 2012 ở Luân Đôn. == Tham khảo ==
newcastle trên sông tyne.txt
Newcastle upon Tyne (thường gọi tắt Newcastle) là một thành phố và đô thị tự quản của Tyne and Mang, ở Đông Bắc nước Anh. Trong lịch sử nó thuộc Northumberland, nó nằm trên bờ bắc của sông Tyne, thành phố phát triển trong khu vực là khu định cư La Mã gọi là Pons Aelius,, mặc dù nó được đặt tên theo tòa lâu đài được xây dựng năm 1080 bởi Robert II, Công tước của Normandy, là con trai cả của William kẻ xâm lăng. Thành phố phát triển thành một trung tâm quan trọng cho mua bán len và nó sau này trở thành một khu vực khai thác than lớn. Cảng phát triển trong thế kỷ 16 và, cùng với nhà máy đóng tàu ở hạ lưu sông, là một trong số các xưởng đóng tàu thủy và sửa tàu lớn nhất thế giới. Các ngành công nghiệp trải qua sự suy giảm nghiêm trọng và đóng cửa, và thành phố ngày nay phần lớn là một trung tâm kinh doanh và văn hóa, với một danh tiếng đặc biệt cho cuộc sống về đêm. Giống như hầu hết các thành phố, Newcastle có một phần đa dạng qua, từ các khu vực của đói nghèo to areas of affluence. đến các khu vực sung túc. [5] Trong số các biểu tượng chính của nó là Newcastle Brown Ale, một thương hiệu hàng đầu về bia, Newcastle United F.C., ​​một đội bóng Premier League, và cầu Tyne. Thành phố là nơi tổ chức giải marathon một nửa, Great North Run, kể từ khi giải này bắt đầu vào năm 1981. Đây là thành phố có dân cư đô thị đông thứ 20 ở Anh, vùng đô thị rộng hơn Tyneside lớn hơn khu vực đô thị, bao gồm cả Newcastle, là khu vực đô thị đông dân thứ sáu đông dân ở Vương quốc Anh. Newcastle là thành viên của nhóm các thành phố cốt lõi Anh và Gateshead mạng lưới Eurocities các thành phố châu Âu. == Tham khảo ==
thành hoàng.txt
Thành hoàng (chữ Hán: 城隍) là vị thần được tôn thờ chính trong đình làng Việt Nam. Vị thần này dù có hay không có họ tên & lai lịch, dù xuất thân bất kỳ từ tầng lớp nào, thì cũng là chủ tể trên cõi thiêng của làng & đều mang tính chất chung là hộ quốc tý dân (hộ nước giúp dân) ở ngay địa phương đó. == Tên gọi == Thành hoàng xuất phát từ chữ Hán: Thành là cái thành, hoàng là cái hào bao quanh cái thành; và khi ghép chung lại thành một từ dùng để chỉ vị thần coi giữ, bảo trợ cho cái thành. Nhà văn Sơn Nam cho biết thêm: Ông thần ở đình làng gọi là thần Thành hoàng, cai quản khu vực trong khung thành. Thoạt tiên là thần ngự trị nơi thị tứ, sau áp dụng (cả) nơi thôn xóm, (vì) vẫn có điếm canh bố trí bao quanh... Cũng theo Sơn Nam, thần Thành hoàng, theo thông lệ, thờ thần đàn ông, vì khí Dương đem sức mạnh cho muôn loài, muôn vật. Và gọi ông Thần hoàng là sai nghĩa, vì cái tên này chỉ là thứ nghi lễ đốt tờ giấy vàng, tức bản sao sắc phong do nhà vua tặng cho cha mẹ, ông bà đã qua đời của quan chức cao cấp thời phong kiến; và tục này ở trong Nam Bộ không có. Bởi vậy, khi trích lại đoạn viết về tục "thờ thần" ở trong sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, nhà văn Sơn Nam đã sửa từ "Thần hoàng" ra "Thành hoàng" cốt để người đọc không còn lầm lẫn giữa hai thứ. Tuy nhiên, xét trong sách Việt Nam phong tục, lễ Thần hoàng được xếp vào mục Phong tục trong gia tộc; còn việc thờ phụng Thần hoàng được xếp vào mục Phong tục hương đảng, thì rõ là tác giả sách đã chỉ ra đó là hai thứ khác nhau. Điểm đáng chú ý khác nữa, vì là vùng đất mới, nên ở Nam Bộ nhiều đình làng, thần chỉ có tên là Bản cảnh Thành hoàng hay Thành hoàng Bản cảnh (神隍本境). Theo sách Minh Mạng chính yếu, quyển thứ 12, năm Minh Mạng thứ 20 (1839), thì nhà vua đã chuẩn y lời tâu của Bộ Lễ xin hạ lệnh cho các địa phương lập thêm thần vị Bản cảnh. Đây là chức vụ mới, lúc trước không phổ biến. Lê Phục Thiện, người dịch sách trên chú giải: Thành hoàng là vị thần coi một khu vực nào. Bản cảnh là cõi đất nơi mình được thờ. Nhà văn Sơn Nam cho biết bởi đây là dạng viên chức được vua ủy quyền trừu tượng, trong rất nhiều trường hợp, không phải là con người lịch sử bằng xương bằng thịt. Do vậy, đa phần không có tượng mà chỉ thờ một chữ "thần" (神) và thường cũng chỉ có mỹ hiệu chung chung là "Quảng hậu, chính trực, đôn ngưng" (tức rộng rãi, ngay thẳng, tích tụ). == Nguồn gốc == Sách Việt Nam phong tục chép: Xét về cái tục thờ Thần hoàng (hiểu là thần Thành hoàng) này từ trước đời Tam Quốc (Trung Quốc) trở về trước vẫn đã có, nhưng ngày xưa thì nhà vua nhân có việc cầu đảo gì mới thiết đàn cúng tế mà thôi. Đến đời nhà Đường, Lý Đức Dụ làm tướng, mới bắt đầu lập miếu Thần hoàng ở Thành Đô; kế đến nhà Tống, nhà Minh, thiên hạ đâu đâu cũng có lập miếu thờ. Nước ta thuở bấy giờ đang lúc nội thuộc, tục Tàu truyền sang đến bên này, kế đến Đinh, Lê thì việc thờ quỷ thần đã thịnh hành rồi. Nhưng cứ xét cái chủ ý lúc trước, thì mỗi phương có danh sơn (ngọn núi có tiếng), đại xuyên (sông lớn); triều đình lập miếu thờ thần sơn xuyên (núi sông) ấy để làm chủ tể (người đứng đầu) cho việc ấm tí một phương thôi. Kế sau, triều đình tinh biểu (làm cho thấy rõ công trạng, tiết tháo) những bậc trung thần nghĩa sĩ và những người có công lao với nước, thì cũng lập đền cho dân xã ở gần đấu thờ đấy. Từ đó dân gian lần lần bắt chước nhau, chỗ nào cũng phải thờ một vị để làm chủ tể trong làng mình...Dân ta tin rằng: Đất có Thổ công, sông có Hà bá; cảnh thổ nào phải có Thần hoàng ấy; vậy phải thờ phụng để thần ủng hộ cho dân, vì thế mỗi ngày việc thờ thần một thịnh... Còn ở trong văn học Việt, theo các nhà nghiên cứu, thì việc thờ Thần hoàng được đề cập lần đầu tiên ở bài Chuyện thần Tô Lịch trong sách Việt điện u linh: Thời Đường Mục Tông, niên hiệu Trường Khánh thứ 2 (năm 822) tên Đô hộ Lý Nguyên Hỷ (hoặc Gia) thấy ngoài cửa bắc thành Long Biên có một dòng nước chảy ngược mà địa thế khả quan, mới tìm khắp, chọn một nơi cao ráo tốt, để có dời phủ lỵ đến đó...Nhân dịp ấy, y mới giết trâu đặt rượu, mời khắp các vị kỳ lão hương thôn đến dùng và thuật rõ là muốn tâu vua Tàu xin phụng Vương (ý nói đến thần sông Tô Lịch) làm Thành Hoàng. Trên dưới đều đồng lòng...Đến khi Cao Biền đắp thành Đại La, nghe đủ sự linh dị, thì lập tức sắm lễ điện tế, dâng cho hiệu là Đô Phủ Thành Hoàng Thần Quân. Đời Lý Thái Tổ lúc dời đô, thường mộng thấy một cụ đầu bạc, phảng phất trước bệ rồng...(Sau khi hỏi rõ lai lịch) nhà vua liền khiến quan Thái Chúc (chức quan lo việc cầu đảo phúc lành) đưa rượu chè đến tế, phong làm Quốc Đô Thăng Long Thành Hoàng Đại Vương. Dân cư (đến) cầu đảo hay thề nguyền điều chi, thì lập tức họa phúc linh ứng ngay... == Các thứ hạng == Cũng theo sách Việt Nam phong tục, thì mỗi làng phụng sự một vị Thần hoàng; có làng thờ hai ba vị, có làng thờ năm bảy vị, gọi chung là Phúc Thần. Phúc Thần có ba hạng: Thượng đẳng thần là những thần danh sơn Đại xuyên, và các bậc thiên thần như Tản viên Sơn thánh, Cao sơn, Quý Minh Đổng thiên vương, Sóc thiên vương, Chử đồng tử, Liễu Hạnh công chúa...Các vị ấy có sự tích linh dị, mà không rõ tung tích ẩn hiện thế nào, cho nên gọi là Thiên thần. Thứ nữa là các vị nhân thần như: Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo...Các vị này khi sanh tiền có đại công lao với dân với nước; lúc mất đi, hoặc bởi nhà vua tinh biểu công trạng mà lập đền thờ hoặc bởi lòng dân nhớ công đức mà thờ. Các bực ấy đều có sự tích công trạng hiển hách và họ tên rõ ràng, lịch triều có mỹ tự bao phong làm Thượng đẳng thần. Cũng có vị là nhân thần nhưng lại không được nhắc tới nhiều trong chính sử mà được nhắc tới nhiều trong dã sử và truyền thuyết như Đức thánh Tam Giang. Trung đẳng thần là những vị thần dân làng thờ đã lâu, có họ tên mà không rõ công trạng; hoặc là có quan tước mà không rõ họ tên, hoặc là những thần có chút linh vị, tới khi nhà vua sai tinh kỳ đảo võ, cũng có ứng nghiệm thì triều đình cũng liệt vào tự điển, mà phong làm Trung đẳng thần. Hạ đẳng thần do dân xã thờ phụng, mà không rõ sự tích ra làm sao, nhưng cũng thuộc về bực chính thần, thì triều đình cũng theo lòng dân mà phong cho làm Hạ đẳng thần. Ngoài ba bực thần ấy, còn nhiều nơi thờ bậy bạ, như: thần bán lợn, thần trẻ con, thần ăn xin, thần chết nghẹn, thần tà dâm, thần rắn, thần rết...Các hạng ấy gọi là tà thần, yêu thần, đê tiện thần vì dân tin bậy mà thờ chớ không được vào tự điển, không có phong tặng gì... Riêng ở đồng bằng sông Cửu Long, theo Sơn Nam thì các hạng tà thần tuyệt nhiên không có, họa chăng chỉ là vài am miếu dựng lên nơi có người chết oan ức vì tai nạn xe cộ, đắm thuyền, hùm tha sấu bắt; cúng sơ sài, không tế lễ. == Các vị thần phổ biến == Thần Núi: Tản Viên, Cao Sơn, Quý Minh Thần Sông: Lạc Long Quân, Linh Lang, Đông Hải Đại vương, Tam Giang Đại thánh, Tô Lịch Giang thần, Thủy Bá Đại vương Thần Đất: Hậu Thổ Phu nhân, thần Bản Cảnh Nhân Thần (Thần Người): Vua Hùng, Lữ Gia, Hai Bà Trưng, Lý Nam Đế, Triệu Quang Phục, Đinh Tiên Hoàng, Lý Thường Kiệt, Đông Hải Đại Vương, Nguyễn Minh Không, Trần Hưng Đạo. == Nơi thờ phụng == Theo nhà học giả Nguyễn Văn Tố, thì khởi đầu đình chỉ là cơ ngơi để dân làng hội họp, là nơi dành để treo những sắc lịnh và huấn dụ của nhà vua... Để thờ phụng Thần hoàng, nhiều làng lập miếu thờ. Rồi theo lệ ngày sóc (mùng 1) và ngày vọng (ngày rằm) dân làng đến miếu để làm lễ Vấn (theo nghĩa kính viếng). Miếu này còn gọi là "nghè", nơi gìn giữ sắc thần. Ngày tế lễ, dân làng rước sắc thần từ miếu đến đình để cử hành việc tế lễ, sau đó đưa trở về miếu. Để đơn giản hóa, sau nhiều làng chỉ xây một cái đình lớn, phía ngoài làm nơi hội họp (đình), phía trong là miếu... == Vai trò và ý nghĩa == Như trên đã nói, thần Thành hoàng dù có hay không có họ tên, lai lịch; và dù xuất thân bất kỳ từ tầng lớp nào, thì cũng là chủ thể trên cõi thiêng của làng & đều mang tính chất chung là hộ quốc tỳ dân (hộ nước giúp dân) ở ngay địa phương đó. Vai trò trên của thần còn có ý nghĩa hơn nữa, nhất là đối với những cư dân từ miền ngoài vào khai khẩn vùng đất hoang Nam Bộ, vì lẽ họ đã gặp không ít khó khăn do thiên tai địch họa, do thú dữ hoành hành...Điều đó có nghĩa, thần Thành hoàng đã trở thành một biểu tượng tâm linh; bởi theo họ, chỉ có thần mới có thể giúp cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt; giúp cho cuộc sống của họ ngày một thêm ổn định, thịnh vượng. Hiểu được nhu cầu tâm linh của người dân, cộng thêm ý muốn tạo lập một thiết chế văn hóa - tín ngưỡng chính thống của vương triều, để nhằm xóa bỏ dần tầm ảnh hưởng của các triều đại trước; nên dưới thời các vua đầu nhà Nguyễn, cứ ba năm xét ban sắc phong thần một lần. Chỉ riêng năm 1852, có lẽ đoán trước thời nguy khổn của đất nước trước thực dân Pháp, cho nên vua Tự Đức đã sai cấp đồng loạt 13.069 sắc phong cho cả nước (nhiều nhất là ở Nam Bộ), cùng với việc "Quốc điển hóa" sự thờ phụng; cũng chính là để nhanh chóng đạt được mục đích trên. == Xem thêm == Thần hoàng Đình làng Đình làng Nam Bộ Lễ Kỳ yên Lễ Xây chầu Hát chầu == Chú thích == == Tham khảo == Sơn Nam, Đình miếu & lễ hội dân gian, Nhà xuất bản TP. HCM, 1992. Sơn Nam, Thuần phong mỹ tục Việt Nam (sách in chung), Nhà xuất bản Trẻ, 2005. Phan Kế Bính, Việt Nam phong tục, Nhà xuất bản TP. HCM in lại năm 1990. Kiến thức phục vụ thuyết minh du lịch (giáo trình cho ngành du lịch, sách do nhiều người soạn), Nhà xuất bản TP. HCM, 1995. Nguyễn Đăng Duy, Văn hóa tâm linh Nam Bộ, Nhà xuất bản Hà Nội, 1997. Hành hương đất phương Nam, Huỳnh Ngọc Trảng chủ biên, Nhà xuất bản TP. HCM, 2002. Võ Thành Phương, Thờ Thần Hoàng - biểu tượng tâm linh của nông dân An Giang, tạp chí Thất Sơn số 57, 2000. Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh, Ngọc Hồ dịch, Nhà xuất bản Cửu Long, 1992. == Liên kết ngoài == Thành hoàng làng trong tín ngưỡng dân gian người Việt.
psammotis.txt
Psammotis là một chi bướm đêm thuộc họ Crambidae. Nó chỉ có một loài, Psammotis pulveralis, có thể thấy ở Nam Âu, mặc dù cũng đôi khi chúng sống xa hơn về phía bắc và đôi khi được thấy một quần thể sống ngắn hạn vào năm 1869 gần Folkestone và đảo Wight. Sải cánh dài 23–25 mm. Con trưởng thành bay từ tháng 6 đến tháng 9 tùy theo địa điểm. Ấu trùng ăn Mentha aquatica và Lycopus europaeus. == Hình ảnh == == Chú thích == == Tham khảo == Dữ liệu liên quan tới Psammotis tại Wikispecies Natural History Museum Lepidoptera genus database == Liên kết ngoài == UK Moths Lepidoptera of Sweden Psammotis at funet
mayotte.txt
12°50′35″N 45°08′18″Đ Mayotte (phiên âm IPA: /majɔt/; tiếng Shimaore: Maore, /maore/; tiếng Kibushi: Mahori ), tên gọi chính thức tỉnh Mayotte (tiếng Pháp: Département de Mayotte), là một tỉnh và vùng hải ngoại thuộc Pháp. Quần đảo này được chia thành 3 phần: Đảo Lớn, Đảo Nhỏ và các đảo phụ rải rác xung quanh. Mayotte nằm ở đỉnh cực Bắc eo biển Mozambique, ở giữa Bắc Madagascar và Bắc Mozambique. Trước kia, vùng lãnh thổ này là một phần của quần đảo Comoro, nhưng sau đó vì lý do chính trị, nơi đây tách ra vào những năm 1970. Ngoài tên gọi Mayotte, nơi đây còn được biết đến với cái tên mang đậm thổ ngữ địa phương, được cả Liên bang Comoros tán đồng - Mahoré. Wikimedia Atlas của Mayotte, có một số bản đồ liên quan đến Mayotte. == Đơn vị hành chính == Mayotte được chia làm 17 commune. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == CIA World Factbook - Mayotte Mayotte tại DMOZ WorldStatesmen- Mayotte (tiếng Pháp) Analysis of the linguistic situation on Mayotte "Voyages...Visages" - Another way of travelling and seeing Comité du tourisme de Mayotte Official tourism website (tiếng Pháp) Bản mẫu:Indian Ocean
vận tốc âm thanh.txt
Vận tốc âm thanh là vận tốc lan truyền sóng âm thanh trong một môi trường truyền âm (xét trong hệ quy chiếu mà môi trường truyền âm đứng yên). Vận tốc này thay đổi tuỳ thuộc vào môi trường truyền âm (ví dụ âm thanh truyền trong nước nhanh hơn trong không khí) và các điều kiện vật lý/hóa học của môi trường này, như nhiệt độ. Trong những môi trường truyền âm dị hướng, vận tốc âm thanh có độ lớn phụ thuộc vào hướng lan truyền. Trong những môi trường đẳng hướng, độ lớn của vận tốc âm thanh (tốc độ âm thanh) không thay đổi theo hướng lan truyền. Trong nhiều lĩnh vực của đời sống, thuật ngữ này thường được dùng để chỉ tốc độ của âm thanh trong không khí (khí quyển Trái Đất); một môi trường truyền âm thông dụng, đẳng hướng. Ở mực nước biển, tại nhiệt độ 21 °C (70 °F) và với áp suất tiêu chuẩn, tốc độ âm thanh trong không khí là khoảng 343.2 m/s (768 mph hay 1236 km/h). Nhưng âm thanh không thể truyền trong chân không, vì do các trong chân không có các hạt cấu để truyền trong âm thanh, còn sở dĩ các chất lỏng khí rắn truyền trong âm thanh vì do các hạt cấu trong chúng chuyển động làm dao động âm thanh. Âm thanh có ý nghĩa lớn với con người và có nhiều ứng dụng trong cuộc sống. Do tác động của con người làm ô nhiễm tiếng ồn, gây nhiều ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người, cho nên con người đã tìm cách chống ô nhiễm tiếng ồn cụ thể như: trồng cây ngay chỗ dân cư vì khi âm thanh đến gặp tán cây sẽ bị phân tán ra theo mỗi hướng, hoặc dùng tấm vải nhung để chống tiếng ồn. == Lịch sử == Isaac Newton đã tính vận tốc âm thanh là 979 foot một giây (298 m/s), bị thấp khoảng 15%, ông đã bỏ qua hiệu ứng biến động nhiệt; cái mà sau này đã được sửa chữa bởi Laplace. Trong thế kỷ 17, đã có những cố gắng trong việc đo tốc độ âm thanh một cách chính xác, bao gồm tính toán Marin Mersenne năm 1630 (1.380 Parisian feet trên giây), Pierre Gassendi năm 1635 (1.473 Parisian feet trên giây) và Robert Boyle (1.125 Parisian trên giây). Năm 1709, William Derham, đã xuất bản một tính toán chính xác hơn, 1.072 Parisian feet trên giây. Derham sử dụng kính viễn vọng từ tháp nhà thờ St Laurence, Upminster để quan sát tia sát từ súng ngắn được bắn ở xa, và sau đó đo thời gian ông ấy nghe thấy tiếng súng với quả lắc nửa giây. Các đo đạc về phát súng đã được thực hiện từ một số địa danh địa phương, bao gồm nhà thờ Bắc Ockendon. Khoảng cách được tính bởi phép đạc tam giác, và do đó tốc độ âm thanh di chuyển được tính. == Công thức == Tốc độ âm thành trong ký hiệu toán học là chữ c, trong tiếng Latin celeritas nghĩa là "vận tốc". Tốc độ âm thanh c được đưa ra bởi phương trình Newton–Laplace: c = K s ρ , {\displaystyle c={\sqrt {\frac {K_{s}}{\rho }}},} trong đó Ks là hệ số của độ cứng, mô đun khối đẳng entropy (hoặc mô đun đàn hồi khối với chất khí); ρ là khối lượng riêng. Do đó Tốc độ âm thanh tăng lên cùng với độ cứng (sự kháng lại biến đổi dưới tác dụng lực của vật đàn hồi) của chất liệu, và giảm khi khối lượng riêng tăng lên. Với khí lý tưởng mô đun khối K đơn giản là áp suất khi nhân với chỉ số đoạn nhiệt, cái mà có giá trị khoảng 1,4 với khí trong điều kiện áp suất nhiệt độ thường. Với phương trình trạng thái tổng quát, nếu cơ học cổ điển được sử dụng, tốc độ âm thanh c là c = ( ∂ p ∂ ρ ) s , {\displaystyle c={\sqrt {\left({\frac {\partial p}{\partial \rho }}\right)_{s}}},} trong đó p là áp suất; ρ là khối lượng riêng và đạo hàm đượng tính theo đẳng entropy, ở hằng số entropy s. Nếu hiệu ứng tương đối hẹp là quan trọng, tốc độ âm thanh được tính theo phương trình tương đối Euler. == Công thức thực hành cho không khí khô == Tốc độ xấp xỉ của âm thanh trong không khí khô (độ ẩm 0%), đơn vị mét trên giây, ở nhiệt độ gần 0 °C, có thể được tính từ c a i r = ( 331.3 + 0.606 ⋅ ϑ ) m / s , {\displaystyle c_{\mathrm {air} }=(331.3+0.606\cdot \vartheta )~~~\mathrm {m/s} ,} trong đó ϑ {\displaystyle \vartheta } là nhiệt độ Celsius (°C). Phương trình này được suy ra từ hai số hạng đầu tiên trong chuỗi Taylor từ phương trình chính xác hơn ban đầu: c a i r = 331 , 3 1 + ϑ 273 , 15 m / s . {\displaystyle c_{\mathrm {air} }=331,3~{\sqrt {1+{\frac {\vartheta }{273,15}}}}~~~~\mathrm {m/s} .} Chia phần đầu tiên và nhân phần thứ hai ở vế phải cho √273,15 được c a i r = 20 , 05 ϑ + 273 , 15 m / s . {\displaystyle c_{\mathrm {air} }=20,05~{\sqrt {\vartheta +273,15}}~~~~\mathrm {m/s} .} Giá trị 331,3 m/s, ở nhiệt độ 0 °C (hoặc 273,15 K), là dựa trên giá trị của tỉ lệ nhiệt dung γ theo lý thuyết (và một vài tính toán), cũng như trên thực tế ở 1 atm không khi thật được mô tả xấp xỉ bằng khí lý tưởng. Giá trị phổ biến của tốc độ âm thanh ở 0 °C có thể thay đổi từ 331,2 đến 331,6 do do các giả định khi nó được tính toán. Nếu cho khí lý tưởng γ là đúng 7/5 = 1,4, tốc độ 0 °C được tính là 331,3 m/s, với các hệ số sử dụng bên trên. Phương trình này đúng với phạm vi nhiệt độ rộng hơn nhiều, nhưng vẫn dựa trên tỉ lệ nhiệt dung xấp xỉ phụ thuộc vào nhiệt độ, và vì lý do này nó không đúng với nhiệt độ cao hơn. Nó đưa ra dự đoán tốt về các điều kiện tương đối khô, mát, lạnh, áp suất thất, ví dụ như tầng bình lưu của Trái Đất. Phương trình không đúng với áp xuất quá thấp và bước sóng ngắn, do sự phụ thuộc vào giả định là bước sóng của âm thanh trong khí lớn hơn nhiều quãng đường tự do trung bình giữa các va chạm phân tử khí. Đồ thị so sánh kết quả của hai phương trình ở phía bên phải, sử dụng giá trị hơi khác là 331,5 m/s cho tốc độ âm thanh ở 0 °C. == Số Mach == Số Mach, một đại lượng hữu ích trong khí động lực học, là tỉ lệ giữa tốc độ không khí và tốc độ âm thanh. Ở độ cao, do một số lý do được giải thích, số Mach là một hàm nhiệt độ. Dụng cụ bay của máy bay, tuy nhiên, sử dụng đạo hàm áp suất để tính số Mach thay vì nhiệt độ. Sự giải định là có một áp suất nhất định ở một độ cao, do đó có nhiệt độ nhất định. Dụng cụ bay của máy bay cần vận hành theo cách này vì áp lực trì trệ được cảm nhận bởi ống Pitot phụ thuộc vào độ cao và tốc độ. == Thông tin == === Bảng === Trong bầu không khí tiêu chuẩn: T0 là 273,15 K (= 0 °C = 32 °F), đưa ra giá trị trên lý thuyết là 331,3 m/s (= 1086,9 ft/s = 1193 km/h = 741,1 dặm/h = 644,0 kn). Tuy nhiên các giá trị trong khoảng 331,3-331,6 có thể tìm thấy trong các tài liệu tham khảo; T20 là 293,15 K (= 20 °C = 68 °F), đưa ra giá trị 343,2 m/s (= 1126,0 ft/s = 1236 km/h = 767,8 mph = 667,2 kn); T25 là 298,15 K (= 25 °C = 77 °F), đưa ra giá trị 346,1 m/s (= 1135,6 ft/s = 1246 km/h = 774,3 mph = 672,8 kn). Trên thực tế, trong khí lý tưởng, tốc độ âm thanh c chỉ phục thuộc vào nhiệt độ, không phải áp suất hay khối lượng riêng. Không khí gần như là khí lý tưởng. Nhiệt độ không khí thay đổi với độ cao, tạo ra thay đổi trong tốc độ âm thanh. Trong điều kiện khí quyển thường, nhiệt độ và do đó cả tốc độ âm thanh thay đổi với độ cao: == Môi trường không có khí == === Vận tốc âm thanh trong chất rắn === ==== Chất rắn ba chiều ==== Trong một chất rắn, có một độ cứng khác không đối với cả biến dạng thể tích và biến dạng cắt. Do đó, có thể tạo là sóng âm với các vận tốc khác nhau phụ thuộc vào kiểu biến dạng. Sóng âm tạo ra biến dạng thể tích (sự nén) và biến dạng cắt (sự cắt) được gọi là sóng áp suất (sóng ngang) và sóng cắt (sóng dọc), lần lượt. Trong động đất, các sóng địa chất tương ứng được gọi là sóng P (sóng sơ cấp) và sóng S (sóng thứ cấp), lần lượt. Vận tốc âm thanh của hai loại sóng này truyền trong một vật rắn ba chiều đồng nhất lần lượt là cchất rắn,p = K + 4 3 G ρ = E ( 1 − ν ) ρ ( 1 + ν ) ( 1 − 2 ν ) , {\displaystyle ={\sqrt {\frac {K+{\frac {4}{3}}G}{\rho }}}={\sqrt {\frac {E(1-\nu )}{\rho (1+\nu )(1-2\nu )}}},} cchất rắn,s = G ρ , {\displaystyle ={\sqrt {\frac {G}{\rho }}},} với K là mô đun khối của vật liệu đàn hồi; G là mô đun cắt của vật liệu đàn hồi; E là mô đun Young; ρ là khối lượng riêng; ν là tỷ lệ Poisson. Đại lượng cuối cùng không phải một đại lượng độc lập, vì E = 3K(1 − 2ν). Chú ý rằng vận tốc của sóng áp suất phụ thuộc vào cả tính chất kháng áp suất và cắt của vật liệu, trong khi vận tốc sóng cắt chỉ phụ thuộc vào tính chất cắt. Điển hình, sóng áp suất di chuyển nhanh hơn trong các vật liệu so với sóng cắt, và trong động đất đây là lý sự bắt đầu của một trận động đất thường được theo trước bởi một chấn động nhanh lên xuống, trước khi sóng mà tạo ra chuyển động từ bên này qua bên kia đi tới. Ví dụ, một hợp kim thép điển hình, K = 170 GPa, G = 80 GPa và ρ = 7,700 kg/m3, đưa ra vận tốc nén cchất rắn,p là 6,000 m/s. Điều này tương đối thỏa mãn với cchất rắn,p đo một cách thực nghiệm ở 5.930 m/s đối với một loại (có thể khác) thép. Vận tốc cắt cchất rắn,s được ước lượng ở 3.200 m/s bằng cách sử dụng các số liệu tương tự. ==== Chất rắn một chiều ==== Vận tốc âm thanh đối với sóng áp suất trong chất liệu cứng như là kim loại đôi khi được tính với một "dây dài" vật liệu cho trước, trong đó vận tốc dễ đo hơn. Trong dây mà có đường kính ngắn hơn một bước sóng, vận tốc sóng áp suất tinh khiết có thể giản ước và tính bởi: cchất rắn = E ρ , {\displaystyle ={\sqrt {\frac {E}{\rho }}},} với E là mô đun Young. Nó tương tự với công thức của sóng cắt, nhớ rằng mô đun Young thay thế mô đun cắt. Vận tốc âm thanh này với sóng áp suất trong dây dày sẽ luôn ít hơn một chút so với vận tốc tương tự trong chất rắn ba chiều đồng nhất, và tỷ lệ vận tốc trong hai loại vật khác nhau phụ thuộc vào tỷ lệ Poisson của vật liệu. === Vận tốc âm thanh trong chất lỏng === Trong chất lỏng độ cứng khác không duy nhất là biến dạng thể tích (chất lỏng không duy trì lực cắt). Do đó vận tốc âm thanh trong chất lỏng là cchất lỏng = K ρ , {\displaystyle ={\sqrt {\frac {K}{\rho }}},} với K là mô đun khối của chất lỏng. ==== Nước ==== Trong nước trong, âm thanh di chuyển khoảng 1481 m/s tại 20 °C (xem Liên kết ngoài). Ứng dụng của âm thanh dưới nước có thể được thấy ở sonar, liên lạc âm thanh và hải dương học âm thanh. ==== Nước biển ==== Trong nước mối không có bọt khí hoặc trầm tích lơ lửng, âm thanh di chuyển khoảng 1500 m/s (1500.235 m/s tại 1000 kilopascal, 10 °C và độ mặn 3% bởi một phương pháp). Vận tốc âm thanh trong nước biển phụ thuộc vào áp suất (do đó là độ sâu), nhiệt độ (thay đổi 1 °C ~ 4 m/s), và độ mặn (thay đổi 1‰ ~ 1 m/s), và phương trình thực nghiện được chứng minh để tính toán chính xác vận tốc âm thanh từ các biến này. Các hệ số khác tác động đến vận tốc của âm thanh không đáng kể. Vì nhiệt độ giảm với độ sâu trong khi áp suất và độ mặn tăng, đồ thị vận tốc với độ sâu thường cho thấy một đường cong đặc trưng mà giảm tới cực tiểu ở độ sâu vài tăm mét, sau đó tăng lại với độ sâu tăng lên (bên phải). Để biết thêm thông tin xem Dushaw et al. Một phương trình thực nghiệm đơn giản cho vận tốc âm thanh trong nước biển với độ chính xác tương đối cho các đại dương trên thế giới do Mackenzie: c ( T , S , z ) = a 1 + a 2 T + a 3 T 2 + a 4 T 3 + a 5 ( S − 35 ) + a 6 z + a 7 z 2 + a 8 T ( S − 35 ) + a 9 T z 3 , {\displaystyle c(T,S,z)=a_{1}+a_{2}T+a_{3}T^{2}+a_{4}T^{3}+a_{5}(S-35)+a_{6}z+a_{7}z^{2}+a_{8}T(S-35)+a_{9}Tz^{3},} trong đó T là nhiệt độ tính theo độ C; S là độ mặn tính theo phần nghìn; z là độ sâu tính theo mét. Hằng số a1, a2, …, a9 là a 1 = 1.448 , 96 , a 2 = 4 , 591 , a 3 = − 5 , 304 × 10 − 2 , a 4 = 2 , 374 × 10 − 4 , a 5 = 1 , 340 , a 6 = 1 , 630 × 10 − 2 , a 7 = 1 , 675 × 10 − 7 , a 8 = − 1 , 025 × 10 − 2 , a 9 = − 7 , 139 × 10 − 13 , {\displaystyle {\begin{aligned}a_{1}&=1.448,96,&a_{2}&=4,591,&a_{3}&=-5,304\times 10^{-2},\\a_{4}&=2,374\times 10^{-4},&a_{5}&=1,340,&a_{6}&=1,630\times 10^{-2},\\a_{7}&=1,675\times 10^{-7},&a_{8}&=-1,025\times 10^{-2},&a_{9}&=-7,139\times 10^{-13},\end{aligned}}} với giá trị kiểm tra 1550,744 m/s đối với T = 25 °C, S = 35 phần nghìn, z = 1.000 m. Phương trình này có sai số tiêu chuẩn 0,070 m/s đối với độ mặn giữa 25 và 40 phần nghìn. Xem Technical Guides. Speed of Sound in Sea-Water đối với tính toán trực tuyến. Các phương trình khác cho vận tốc âm thanh trong nước biển chính xác trong một loạt các điều kiện khác nhau, nhưng phức tạp hợp nhiều, ví dụ phương trình bởi V. A. Del Grosso và phương trình Chen-Millero-Li. === Vận tốc âm thanh trong plasma === Vận tốc âm thanh trong plasma đối với trường hợp phổ biến mà electron nóng hơn ion (nhưng không nóng hơn quá nhiều) được tính bởi công thức (xem ở đây) c s = ( γ Z k T e / m i ) 1 / 2 = 9.79 × 10 3 ( γ Z T e / μ ) 1 / 2 m / s , {\displaystyle c_{s}=(\gamma ZkT_{\mathrm {e} }/m_{\mathrm {i} })^{1/2}=9.79\times 10^{3}(\gamma ZT_{e}/\mu )^{1/2}~\mathrm {m/s} ,} với mi là khối lượng ion; μ là tỷ lệ khối lượng ion trên khối lượng proton μ = mi/mp; Te là nhiệt độ electron; Z là trạng thái điện tích; k là hằng số Boltzmann; γ là chỉ số đoạn nhiệt. Ngược lại với khí, áp suất và khối lượng riêng được cung cấp bởi các thành phần riêng biệt, áp suất bởi electron và khối lượng riêng bởi ion. Hai tính chất được kết hợp qua điện trường thay đổi. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Calculation: Speed of sound in air and the temperature Speed of sound - temperature matters, not air pressure Properties Of The U.S. Standard Atmosphere 1976 The Speed of Sound How to measure the speed of sound in a laboratory Teaching resource for 14-16 yrs on sound including speed of sound Technical Guides - Speed of Sound in Pure Water Technical Guides - Speed of Sound in Sea-Water Did sound once travel at light speed?
tiếng tagalog.txt
Tiếng Tagalog (phát âm tiếng Tagalog: [tɐˈɡaːloɡ]) là một ngôn ngữ Nam Đảo, đây là tiếng mẹ đẻ của một phần tư đân số Philippines và là ngôn ngữ thứ hai của đa số phần còn lại. Dạng chuẩn của tiếng Tagalog, có tên tiếng Filipino, là ngôn ngữ chính thức của Phillipines, cùng với tiếng Anh. Nó là một ngôn ngữ Philippine, và do đó có quan hệ gần với các ngôn ngữ như tiếng Ilocano, tiếng Bikol, các ngôn ngữ Visayas, tiếng Kapampangan và tiếng Pangasinan. Mối quan hệ này xa hơn với các ngôn ngữ Nam Đảo khác, như các ngôn ngữ Formosa, tiếng Indonesia và tiếng Malaysia, tiếng Hawaii, tiếng Malagasy và tiếng Māori. == Tham khảo == == Xem thêm == Danh sách ngôn ngữ Danh sách các nước theo ngôn ngữ nói == Liên kết ngoài ==
từ liêm.txt
Từ Liêm là một huyện cũ của Hà Nội, trước khi Hà Tây được sáp nhập vào Hà Nội, huyện Từ Liêm nằm về phía Tây của thủ đô, nhưng hiện hay thì dường như nằm ở trung tâm của Hà Nội mở rộng. Cuối năm 2013, huyện Từ Liêm được chia tách để thành lập hai quận mới của Hà Nội là Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm. == Lịch sử == Tên Huyện Từ Liêm được đặt năm Vũ Đức thứ 4 (621) thời thuộc nhà Đường, thuộc Từ Châu (sau đổi là Nam Từ Châu, gồm 3 huyện: Từ Liêm, Ô Diên và Vũ Lập). Đường thư, Địa lý chí giải thích: đặt tên huyện Từ Liêm vì có sông Từ Liêm. Thực ra, 2 chữ Từ Liêm là cách phiên âm địa danh Chèm (tlem). Thời Lý-Trần đặt lại huyện Từ Liêm thuộc phủ Đông Đô. Thời thuộc Minh đặt thuộc phủ Giao Châu. Nhà Lê đặt thuộc phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây. Từ Liêm trước năm 1831 là một huyện thuộc phủ Quốc Oai của tỉnh Sơn Tây. Năm Minh Mệnh thứ 12 (1831) đặt thuộc phủ Hoài Đức tỉnh Hà Nội (nay là huyện Từ Liêm thành phố Hà Nội và phần phía nam huyện Hoài Đức). Sau khi thành lập tỉnh Hà Nội thì Từ Liêm là một huyện của phủ Hoài Đức. Sau khi thành Hà Nội bị cắt nhượng cho Pháp, một số xã của huyện Từ Liêm trở thành ngoại thành Hà Nội, phần còn lại thuộc tỉnh Hà Đông. Huyện Từ Liêm được tái lập trên cơ sở sáp nhập hai quận 5 và 6 của Hà Nội cũ (bao gồm các xã Cổ Nhuế, Xuân Đỉnh, Đông Ngạc, Thụy Phương, Xuân La, Nhật Tân, Quảng An, Phú Thượng, Tứ Liên (thuộc quận 5 cũ), Dịch Vọng, Mai Dịch, Nghĩa Đô, Mễ Trì, Mỹ Đình, Nhân Chính, Yên Lãng (thuộc quận 6 cũ)) cùng với một số xã như Trung Văn, Tây Tựu, Liên Mạc, Phú Diễn, Minh Khai, Thượng Cát, Xuân Phương, Hữu Hưng của hai huyện Hoài Đức và Đan Phượng, theo quyết định số 78/QĐ ngày 31 tháng 5 năm 1961 của Chính phủ Việt Nam, gồm 26 xã: Cổ Nhuế, Dịch Vọng, Đông Ngạc, Hữu Hưng, Liên Mạc, Mai Dịch, Mễ Trì, Minh Khai, Mỹ Đình, Nghĩa Đô, Nhân Chính, Nhật Tân, Phú Diễn, Phú Thượng, Quảng An, Tây Tựu, Thượng Cát, Thụy Phương, Trung Hòa, Trung Văn, Tứ Liên, Xuân Đỉnh, Xuân La, Xuân Phương, Yên Hòa, Yên Lãng. Ngày 19 tháng 2 năm 1964, chia xã Hữu Hưng thành 2 xã: Tây Mỗ và Đại Mỗ. Ngày 9 tháng 8 năm 1973, chuyển xã Yên Lãng về quận Đống Đa quản lý (sau chia thành 2 phường: Láng Hạ và Láng Thượng). Ngày 20 tháng 4 năm 1978, 2 xã Phú Diễn và Minh Khai hợp nhất thành xã Phú Minh. Ngày 13 tháng 10 năm 1982, thành lập 3 thị trấn: Cầu Giấy (trên cơ sở tách ra từ xã Dịch Vọng), Cầu Diễn (trên cơ sở tách ra từ các xã Mai Dịch, Mỹ Đình và Phú Minh), Nghĩa Đô (trên cơ sở giải thể xã Nghĩa Đô và tách một phần diện tích xã Cổ Nhuế). Ngày 17 tháng 9 năm 1990, thành lập thị trấn Mai Dịch (trên cơ sở giải thể xã Mai Dịch và điều chỉnh một phần diện tích thị trấn Cầu Diễn) và chia lại xã Phú Minh thành 2 xã cũ là Phú Diễn và Minh Khai. Ngày 17 tháng 4 năm 1992, chia thị trấn Nghĩa Đô thành 2 thị trấn: Nghĩa Đô và Nghĩa Tân. Đến cuối năm 1994, huyện Từ Liêm có 5 thị trấn: Cầu Giấy, Cầu Diễn, Mai Dịch, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân và 24 xã: Cổ Nhuế, Đại Mỗ, Dịch Vọng, Đông Ngạc, Liên Mạc, Mễ Trì, Minh Khai, Mỹ Đình, Nhân Chính, Nhật Tân, Phú Diễn, Phú Thượng, Quảng An, Tây Mỗ, Tây Tựu, Thượng Cát, Thụy Phương, Trung Hòa, Trung Văn, Tứ Liên, Xuân Đỉnh, Xuân La, Xuân Phương, Yên Hòa. Ngày 28 tháng 10 năm 1995, tách 5 xã: Tứ Liên, Nhật Tân, Quảng An, Xuân La, Phú Thượng với tổng diện tích đất tự nhiên 1.619,9 ha và 32.080 nhân khẩu để hợp với 3 phường Bưởi, Thụy Khê, Yên Phụ của quận Ba Đình thành lập quận Tây Hồ. Ngày 22 tháng 11 năm 1996, tách xã Nhân Chính với diện tích đất tự nhiên 160,9 ha và 9.229 nhân khẩu để thành lập quận Thanh Xuân; 4 thị trấn (Cầu Giấy, Mai Dịch, Nghĩa Đô, Nghĩa Tân) và 3 xã (Dịch Vọng, Yên Hòa, Trung Hòa) với tổng diện tích đất tự nhiên 1.210 ha và 82.914 nhân khẩu đã tách khỏi huyện để thành lập quận Cầu Giấy. Từ đó đến đầu năm 2013, huyện Từ Liêm có 16 đơn vị hành chính gồm thị trấn Cầu Diễn và 15 xã: Cổ Nhuế, Đại Mỗ, Đông Ngạc, Liên Mạc, Mễ Trì, Minh Khai, Mỹ Đình, Phú Diễn, Tây Mỗ, Tây Tựu, Thượng Cát, Thụy Phương, Trung Văn, Xuân Đỉnh, Xuân Phương. Ngày 27 tháng 12 năm 2013, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ký ban hành Nghị quyết 132/NQ-CP điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liêm để thành lập hai quận mới là Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm. Từ đó, huyện Từ Liêm bị giải thể. == Địa lý == Từ Liêm giáp hai huyện Hoài Đức và Đan Phượng về phía tây, giáp quận Cầu Giấy, Tây Hồ và Thanh Xuân về phía đông, quận Hà Đông về phía nam, và huyện Đông Anh về phía bắc. == Đường phố == == Tham khảo == Đồng Khánh địa dư chí == Chú thích == == Liên kết ngoài == Cổng giao tiếp điện tử huyện Từ Liêm Cổng giao tiếp điện tử xã Xuân Đỉnh Bản đồ Hà Nội trực tuyến
forbes.txt
Forbes là công ty xuất bản và truyền thông của Mỹ. Sản phẩm xuất bản nổi tiếng nhất của nó, tạp chí "Forbes", xuất bản hai số mỗi tuần. == Lịch sử công ty == Forbes được thành lập năm 1917 bởi B.C. Forbes, dân nhập cư người Scotland, khi đó là nhà bình luận kinh doanh hàng đầu của tờ báo Hearst. Sau khi ông mất năm 1954 con trai ông Bruce trở thành chủ tịch. Bruce chết vào năm 1964 và em trai ông ta Malcolm Stevenson Forbes (1917–1990) trở thành Tổng biên tập và Chủ tờ báo. Sau khi Malcolm chết, con trai cả của ông Malcolm Stevenson "Steve" Forbes Jr. (1947–) trở thành Chủ tịch và Giám đốc điều hành của Forbes kiêm Tổng biên tập của tạp chí Forbes. Những giám đốc khác của Forbes gồm có em trai của Steve Timothy C. Forbes, Giám đốc Hoạt động, Robert L. Forbes Phó chủ tịch kiêm Chủ tịch của ForbesLife và Christopher Forbes Phó chủ tịch. Năm 2006, họ đã bán 40% công ty cho Elevation Partners, một công ty chứng khoán tư nhân, và thành lập một công ty mới, Forbes Media LLC, để xuất bản tạp chí Forbes, Forbes.com và những tài sản truyền thông khác.. === Ngày nay === Forbes có trụ sở ở Đại lộ số năm, thành phố New York. Chủ bút hiện nay là William Baldwin; chủ bút quản lý hiện này là Dennis Kneale; nhà xuất bản là Richard Karlgaard. Ngày 24/6/2013, tạp chí Forbes ra mắt phiên bản tiếng Việt đầu tiên. == Những ấn phẩm khác == Ngoài Forbes và phụ trương về phong cách sống, ForbesLife, những đầu báo khác được phát hành bao gồm Forbes Asia và tám phiên bản ngôn ngữ khác. Công ty cũng cho phát hành tạp chí American Heritage, American Heritage of Invention & Technology và American Legacy. Steve Forbes và những người viết bài cho tạp chí của ông đưa ra những lời khuyên đầu tư hàng tuần trong chương trình TV Forbes on Fox của Fox và Forbes On Radio. Những nhóm khác của công ty bao gồm Nhóm Hội nghị Forbes, Nhóm Cố vấn Đầu tư Forbes và Truyền thông Tùy chọn Forbes. == Trang web == David Churbuck đã thành lập trang web của Forbes, Forbes.com, vào năm 1996. Địa chỉ đã thu hút sự chú ý của người đọc khi nó khám phá ra sự gian lận trong báo chí của Stephen Glass trong The New Republic vào năm 1998, một tin độc quyền tạo ra uy tín của báo chí Internet. Forbes.com tự nhận là "Trang chủ cho những lãnh đạo kinh doanh trên thế giới" và là trang web kinh doanh được thăm nhiều nhất. Nó đề cập sâu đến nhiều lĩnh vực từ sự kiện kinh doanh đến tài chính hiện nay và phong cách sống cao cấp. Chủ tịch kiêm Tổng biên tập hiện nay là James J. Spanfeller; chủ bút là Paul Maidment; quản lý biên tập Daniel Bigman. Forbes.com cũng phát hành những thư thông tin đầu tư theo thuê bao, một trang về xe hơi sang trọng, ForbesAutos, một trang về du lịch cao cấp, ForbesTraveler, quản lý bởi G. Barry Golson, cựu Tổng biên tập Playboy, TV Guide và Tổng biên tập của Yahoo! Internet Life, và một trang web hướng dẫn trực tuyến, Best Of The Web. == Danh sách == Forbes tạo ra nhiều danh sách với những chủ đề khác nhau, danh sách biết đến nhiều nhất có lẽ là Danh sách tỷ phú. === Doanh nghiệp === 200 Doanh nghiệp nhỏ Tốt nhất 400 Doanh nghiệp lớn Tốt nhất Forbes 500 Forbes Global 2000, danh sách những công ty lớn nhất trên thế giới tính theo vốn trên thị trường, lợi nhuận, thu nhập và vốn điều lệ (cái này khác với Fortune Global 500 chỉ dựa trên lợi nhuận). Những Doanh nghiệp Tư nhân Tốt nhất === Nhân vật === Từ "Forbes" có lẽ được biết đến nhiều nhất với danh sách định kỳ về tài sản. Vì nó thường sử dụng những điều tra đáng tin cậy để xác định tài sản thực tế của cá nhân nên những con số của Forbes được trích dẫn rộng rãi như những con số gần chính xác. Executive Pay Forbes 400, danh sách những người giàu nhất ở Mỹ Forbes Midas World's Richest People, danh sách những người giàu nhất thế giới China Rich List, danh sách những người giàu nhất ở Trung hoa Lục địa India Rich List, danh sách những người giàu nhất Ấn Độ Forbes Fictional 15, những danh sách nhại lại những nhân vật liên quan đến văn học, TV, phim ảnh giàu nhất 100 Most Powerful Women in the World (external: [1]), danh sách những người phụ nữ quyền lực nhất thế giới The Celebrity 100, một danh sách hàng năm những người nổi tiếng và có ảnh hưởng tài chính (như diễn viên hài, nhạc sĩ, nhà sản xuất, đạo diễn, và vận động viên) [2] The China Celebrity 100 Top-Earning Dead Celebrities [3] === Địa điểm === Thành phố Tốt nhất cho Người độc thân Thành phố Tốt nhất cho Thương gia Những Mã Zip (thành phố) đắt đỏ nhất Thị trường Thuê mướn Đắt nhất Hoa Kỳ == Mâu thuẫn với Fidel Castro == Năm 2005, Forbes liệt Fidel Castro vào một trong những người giàu nhất thế giới, với tài sản cá nhân ước tính 500 triệu Đô la Mỹ. Trong bài báo "Fortunes Of Kings, Queens And Dictators" (Tài sản của các Vua, Hoàng hậu và nhà Độc tài) vào năm 2006, Forbes đã tăng ước tính lên đến 900 triệu Đô la Mỹ. [4] Bài báo chú ý rằng tài sản ước tính dành cho những người lãnh đạo chính phủ chỉ là "ước đoán" (more art than science - nhiều nghệ thuật hơn là khoa học), và chỉ ra rằng với trường hợp của Castro tác giả đã sử dụng phương pháp tính dòng tiền khấu trừ của một vài công ty nhà nước, và giả sử một phần lợi nhuận đó chảy vào túi Castro. Fidel Castro đã trả lời rằng ông có tài sản cá nhân ít hơn 1 Đô la Mỹ, và thách thức bất cứ ai chứng mình được ông có tiền ở bất cứ tài khoản nước ngoài nào. [5] Castro cũng cho rằng Forbes nên "đặt cái xô lên trên đầu" (place a bucket over their head). [6] == Xem thêm == Danh sách tỷ phú == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức Tạp chí Forbes Tạp chí Forbes Việt Nam Danh sách đầy đủ các danh sách của Forbes Forbes.com Corporate Org Chart Wiki, about the internal network of any company. Forbes Eco-Solutions Forbes Hybrid Cars Buyers Guide.
miami.txt
Miami (phát âm như "Mai-a-mi") là một thành phố ở tiểu bang Florida, Hoa Kỳ. Miami là quận lỵ của Quận Miami-Dade, và là thành phố lớn nhất của vùng đô thị ở phía Nam Florida. Tên gọi của thành phố có nguồn gốc từ bộ tộc Miami, một bộ tộc bản địa từng có địa bàn rộng lớn ở miền Đông Hoa Kỳ nay đã không còn tồn tại. Miami ngày nay là nơi lập nghiệp lớn của người Mỹ gốc Cuba. == Kinh tế == Miami phát triển nhanh chóng đầu thế kỷ 20 nhờ các khu nghỉ mát và dịch vụ của nó. Du lịch đang là ngành mũi nhọn của thành phố với khoảng 10 triệu khách đến Quận Miami-Dade mỗi năm trong những năm gần đây. Nhiều tàu du lịch biển cập cảng thành phố khiến cho cảng này luôn tấp nập. Từ 1980, nhiều ngành kinh tế khác đa dạng hơn đã phát triển ở trong và xung quanh thành phố. Thương mại cũng là một ngành quan trọng khác của Miami do thành phố là cửa ngõ giữa Hoa Kỳ và các nước Trung Mỹ, vùng Caribe và Nam Mỹ. Ngành ngân hàng và tài chính quốc tế cũng đóng góp quan trọng vào nền kinh tế thành phố. Ngoài ra còn có các ngành công nghiệp nhẹ, quần áo. Dân số và kinh tế của thành phố đang không ngừng được kết nối với khu vực Mỹ Latinh. Kinh tế Miami cũng bị ảnh hưởng tiêu cực một phần bởi các dịch vụ bất hợp pháp hoặc bán hợp pháp từ các băng nhóm Mafia và xã hội đen. == Giao thông == Sân bay quốc tế Miami là một trong những sân bay lớn của Hoa Kỳ. Miami cũng có hai đường cao tốc liên bang kết nối. Đường sắt Amtrak nối thành phố với Fort Lauderdale và Tây Palm Beach. Một hệ thống đường sắt nặng (heavy-rail transit system), với tên gọi Metrorail, chạy qua trung tâm Miami. Ngoài ra, còn có ba tuyến tàu điện trên cao (monorail) gọi là Metromover, chạy vòng quanh thành phố. == Khí hậu == Khí hậu của thành phố cận nhiệt đới với mùa Hè nóng ẩm và mùa Đông ấm và khô hơn, nhiệt độ trung bình cả năm 24 °C. Thành phố nằm dọc theo Đại Tây Dương và chính vị trí này khiến thành phố phải chịu những cơn bão nhiệt đới và dông tố. == Thể thao == Hai đội thể thao chuyên nghiệp lớn nhất của thành phố Miami là đội bóng rổ Miami Heat và đội bóng bầu dục Miami Dolphins. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ thành phố
thiểm tây.txt
Thiểm Tây (giản thể: 陕西; phồn thể: 陝西; bính âm: Shǎnxī, ) là một tỉnh của Trung Quốc, về mặt chính thức được phân thuộc vùng Tây Bắc. Thiểm Tây bao gồm nhiều phần của cao nguyên Hoàng Thổ ở trung du Hoàng Hà, dãy Tần Lĩnh chạy ngang qua phần phía nam của tỉnh này. Giản xưng của Thiểm Tây là Thiểm hoặc Tần, tỉnh cũng được gọi là Tam Tần. Tỉnh lị của Thiểm Tây là Tây An. == Từ nguyên == Biến thiên lịch sử và nguồn gốc địa danh Thiểm Tây có quan hệ với nhau. Ngày nay, ở Tây Nam huyện Thiểm của tỉnh Hà Nam, có một địa phương được gọi là Thiểm Nguyên (Thiểm Mạch). Những năm đầu nhà Chu, Chu công và Triệu công hoạch phân lãnh địa đất này, theo đó từ Thiểm về phía đông là đất của Chu công, từ Thiểm về phía tây là đất của Triệu công. Đến thời nhà Tống, triều đình đã thiết lập Thiểm Tây lộ, lãnh địa xứ này ở phía tây của Thiểm Nguyên, vì vậy mới có tên là Thiểm Tây lộ. Trong một thời kỳ lịch sử lâu dài, Thiểm Tây được gọi tắt là "Tần". Trước thời nhà Nguyên, Thiểm Tây không bao gồm các khu vực ở phía nam Tần Lĩnh như Hán Trung, An Khang. Trong bính âm Hán ngữ, Thiểm Tây (shǎnxī) và Sơn Tây (shānxī) sẽ trở nên đồng âm nếu không thể hiện thanh điệu. Để tránh gây nhầm lẫn trong các ngôn ngữ khác, người ta xem Thiểm Tây là một trường hợp đặc biệt và sử dụng quy tắc của Quốc Ngữ La Mã Tự do Triệu Nguyên Nhiệm (趙元任) đề ra, viết Thiểm Tây thành "Shaanxi". Mặc dù cách giải quyết này được sử dụng rộng rãi song không có quy định chính thức. == Lịch sử == === Văn minh Thượng cổ === Khu vực Thiểm Bắc thuộc vùng trung thượng du Hoàng Hà, khu vực phía nam Tần Lĩnh thuộc vùng thượng du Trường Giang, Quan Trung là những vùng phát địa quan trọng của nền văn minh Trung Hoa. Theo phân kỳ khảo cổ, khu vực Quan Trung từ xưa đã có các hoạt động của người Lam Điền (蓝田人, Homo erectus lantianensis). Trong các di chỉ thời đại đồ đá mới, có niên đại sớm nhất là thuộc về văn hóa Lão Quan Đài (khoảng 6000 TCN-5000 TCN), kế tiếp là thuộc văn hóa Ngưỡng Thiều (khoảng 5000 TCN-3000 TCN) nổi tiếng, sau đó là văn hóa Long Sơn (khoảng 3000 TCN-2000 TCN). Về mặt truyền thuyết, Thiểm Tây thời Thượng Cổ là đất Ung châu, là đất phát nguyên và đất an táng của Viêm Đế và Hoàng Đế, mà theo Quốc ngữ thì Viêm Đế và Hoàng Đế đều là hậu duệ của Thiếu Điển. Đồng thời trên địa bàn Thiểm Tây còn có Hoa Tư cổ quốc hoặc Hoa Tư thị ở khu vực Lam Điền của Tây An ngày nay. Hoa Tư thị là tổ tiên của dân tộc Trung Hoa, chữ Hoa Hạ và Trung Hoa bắt nguồn từ Hoa Tư thị (có thuyết nói là bắt nguồn từ Hoa Sơn, cũng thuộc Thiểm Tây). === Thời kỳ Tiên Tần === Chu tộc nguyên là một bộ lạc cổ ở khu vực Quan Trung của Thiểm Tây. Theo Sử ký- Chu bản kỉ, thủy tổ của Chu tộc tên là Khí, do giỏi canh nông nên được vua Nghiêu cử làm Nông sư, được vua Thuấn đặt hiệu là Hậu Tắc, phong cho đất Thai (邰) và ban cho họ Cơ. Ba đời sau, đến đời thủ lĩnh Cơ Công Lưu, ông đã dẫn tộc chúng di cư đến Phân Phụ (分阝). Chín đời sau đó, khoảng thế kỷ 12 TCN, thời thủ lĩnh Cổ Công Đản Phủ, người Chu vượt qua sông Tất Thủy, qua Lương Sơn, đến định cư trên vùng đất tươi đẹp và phì nhiêu phía bắc Vị Hà và chân núi phía nam Kỳ Sơn, thuộc vùng cao nguyên Hoàng Thổ, họ lấy tộc danh để đặt cho vùng đất này là Chu Nguyên. Cổ Công Đản Phủ chỉ huy tộc nhân khai khẩn đất đai, đào rãnh tiêu nước, trồng các loại cây lương thực, phát triển nông nghiệp, xây dựng miếu đường, cung điện, nhà ở, xây đắp tường thành. Bộ lạc Chu thiết lập nên chế độ quan lại, lập quân đội, nhiều lần đẩy lui các cuộc tấn công của những bộ lạc Nhung, Địch. Việc chính thức định quốc hiệu là Chu thể hiện việc người Chu đã tiến vào xã hội giai cấp, thời kỳ đầu của chế độ nô lệ. Đời thủ lĩnh thứ 15 của bộ lạc Chu là Cơ Xương, trong thời gian này, lực lượng của Chu quốc đã phát triển rất mạnh, chiếm toàn bộ bình nguyên Quan Trung. Cơ Xương chuyển quốc đô từ Chu Nguyên đến đất Phong (沣). Sau khi Cơ Xương mất, con là Cơ Phát kế vị. Sau đó, Cơ Phát thiên đô đến đất Hạo (镐) Cơ Phát tôn Khương Tử Nha làm thầy, trọng dụng em trai Cơ Đán, tiếp tục phát triển về phía đông. Sau khi chiến thắng trong trận Mục Dã, Chu quốc diệt vương triều Thương và lập ra vương triều Chu. Tây Chu là triều đại đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc định đô tại địa bàn Thiểm Tây ngày nay. Thời Tây Chu, kinh tế Thiểm Tây, đặc biệt là kinh tế nông nghiệp đã có sự phát triển to lớn, nông cụ có sự cải tiến rõ rệt, xuất hiện các loại cuốc thích hợp với việc canh tác nhanh và làm cỏ. Chế độ cach tác luân canh dần dần thay thế chế độ canh tác quảng canh. Người dân tại Thiểm Tây cũng bắt đầu sử dụng phân xanh và phân trộn, tạo lập một hệ thống mương thủy lợi hoàn chỉnh. Từ sau thời Chu Chiêu Vương, vương triều Chu dần dần xuống dốc. Đặc biệt là Chu U Vương hoang dâm vô đạo, thế nước nhanh chóng suy sụp. Do Chu U Vương phế bỏ Thân hậu và thái tử Nghi Cữu, năm thứ 11 thời Chu U Vương (771 TCN), Thân hầu đã liên hiệp với hai tộc Khuyển, Nhung công phá Hạo Kinh, giết U Vương, lập thái tử Nghi Cữu lên ngôi, tức Chu Bình Vương. Năm sau, Chu Bình Vương thiên đô về phía đông, đến Lạc Ấp. === Thời Tần === Theo Sử ký- Tần bản kỷ, người Tần là hậu duệ của Chuyên Húc- con cháu của Hoàng Đế, đã theo Hạ Vũ bình thủy thổ, lại giúp vua Thuấn chế ngự chim thú, được Thuấn ban cho họ "Doanh". Sau khi bộ lạc Chu nổi lên tại Quan Trung ở Thiểm Tây, người Tần thân thiện với Chu, từng được Chu vương giao cho việc chăn ngựa. Chu Hiếu Vương thấy người Tần có công, phân phong cho đất Tần tộc hiệu là Tần Doanh, làm phụ dung cho nhà Chu. Khi Chu Bình Vương thiên đô về phía đông, Tần Tương công suất binh hộ tống, được Chu Bình Vương phong làm chư hầu, ban vùng đất phía tây Kỳ (岐). Sau khi Tần Tương công thụ phong, bắt đầu tiến hành chiến tranh lâu dài với các tộc Nhung, Địch để tranh đoạt Quan Trung, sau nhiều thập niên, cuối cùng đã củng cố địa vị thống trị tại Quan Trung. Năm thứ nhất thời Tần Đức công (677 TCN), nước Tần dời quốc đô từ Bình Dương (平阳) đến Ung (雍), Ung là quốc đô của Tần trong vòng gần 300 năm. Năm thứ hai đời Tần Hiến công (383 TCN), Tần thiên đô về phía đông, đến Lịch Dương (栎阳). Năm thứ 12 đời Tần Hiếu công (350 TCN), Tần lại thiên đô đến Hàm Dương. Sau khi Tần vương Doanh Chính (Tần Thủy Hoàng) kế vị vào năm 246 TCN, Tần tiến hành chiến tranh thống nhất Trung Quốc, mỗi lần xuất binh diệt một nước, cuối cùng diệt cả sáu nước. Sau khi thống nhất Trung Quốc, Tần Thủy Hoàng lại bắt 12 vạn hộ phú hào trong toàn quốc phải dời đến Hàm Dương, vì thế nhân khẩu tại đây nhanh chóng tăng lên gần một triệu, là thành thị lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Thời Chiến Quốc, nước Ngụy đã lập Thượng quận tại hạ du Lạc Hà, nước Sở lập Hán Trung quận tại trung du Hán Giang. Sau khi Tần thống nhất Trung Quốc, đã phân lãnh thổ của mình thành 36 quận. Khi đó, bắc bộ Thiểm Tây thuộc Thượng quận, trị sở đặt tại Phu Thi (肤施); nam bộ Thiểm Tây thuộc Hán Trung quận, trị sở đặt tại Nam Trịnh (南郑), ở lưu vực Vị Hà thiết lập Nội Sử, quản lý khu vực phụ cận kinh đô. Trước và sau khi nhà Tần thành lập, nông nghiệp vùng Quan Trung tương đối phát triển, đất đai được khai khẩn trên phạm vi lớn, việc nuôi trâu để cày trở nên phổ biến, đã xuất hiện cày sắt, hoàn thành xây dựng kênh Trịnh Quốc (鄭國渠), tưới nước cho 4 vạn khoảnh ruộng. Trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng ở Thiểm Tây, đã khai quật được đội quân đất nung, xe ngựa đồng (銅車馬) và các binh khí. Thể hiện rằng thủ công nghiệp thời Tần đã có sự phát triển rất lớn. Tháng 7 năm 210 TCN, Tần Thủy Hoàng qua đời trên đường tuần du tại Sa Khâu (沙丘) Kỳ tử Hồ Hợi kế vị, tức Nhị Thế hoàng đế. Tháng 7 năm 209 TCN, Trần Thắng, Ngô Quảng bắt đầu khởi nghĩa tại Đại Trạch hương (大澤鄉); đến tháng 9 đến lượt Lưu Bang và Hạng Vũ khởi nghĩa riêng biệt tại huyện Bái và Ngô Tháng 8 năm 207 TCN, tại Hàm Dương, Triệu Cao giết hại Nhị Thế hoàng đế rồi tôn Tử Anh làm vua Tần. Tháng 10 năm 207 TCN, Lưu Bang suất quân tiến theo đường Vũ Quan, Lam Điền đến Bá Thượng, Tử Anh đầu hàng, triều Tần diệt vong. === Nhà Hán === Tháng 2 năm 206 TCN, Hạng Vũ tự lập làm Tây Sở Bá vương, lấy khu vực Quan Trung và Thiểm Bắc của Thiểm Tây phân phong cho ba danh hàng tướng của triều Tần; Chương Hàm được phong làm Ung vương, đất đai từ Hàm Dương về phía tây, đóng đô tại Phế Khâu (廢丘); Tư Mã Hân được phong làm Tắc vương, đất đai ở phía đông Hàm Dương, đóng đô tại Lịch Dương (栎阳); Đổng Ế được phong làm Địch vương, đất đai ở Thiểm Bắc, đóng đô tại Cao Nô (高奴) Do đó, Thiểm Tây còn mang danh là "Tam Tần". Còn vùng Hán Trung ở phía nam Tần Lĩnh thuộc về Hán vương Lưu Bang. Tháng 8 năm 206 TCN, quân của Hán vương Lưu Bang bí mật tiến đến Trần Thương (陳倉), tập kích Quan Trung, Chương Hàm rút về cố thủ ở Phế Khâu (đến năm 205 TCN tự sát) còn Tư Mã Hân và Đổng Ế đầu hàng, toàn bộ Thiểm Tây thuộc quyền kiểm soát của Lưu Bang. Sau đó, đến tháng 2 năm 202 TCN, Lưu Bang thiết lập nên triều Tây Hán, xưng làm hoàng đế ở Phiếm Thủy (氾水), tức Hán Cao Tổ. Đến tháng 5 cùng năm, Hán Cao Tổ nghe theo kiến nghị của Lâu Kính (婁敬), Trương Lương nên chuyển quốc đô triều Hán đến Quan Trung. Tiên đô nằm ở Lịch Dương (櫟陽). Đến năm thứ 7 đời Hán Cao Tổ (200 TCN), quốc đô triều Hán chuyển từ Lịch Dương đến Trường An, cũng gọi là Tây Hán kinh sư. Thời Tây Hán, vùng thuộc quyền quản lý của Nội Sử thời Tần, tức lưu vực Vị Hà, được phân làm 3: kinh triệu duẫn quản lý khu vực phía nam Vị Hà; tả bằng dực quản lý khu vực phía bắc Vị Hà, trung hạ du Lạc Hà; hữu phù phong quản lý khu vực phía tây Hàm Dương ngày nay. Lịch sử gọi đây là "Tam phụ", trị sở đều ở thành Trường An. Thành Trường An, kinh đô của Tây Hán, nằm ở ngay phía tây bắc của Tây An ngày nay. Theo sử liệu ghi lại, chu vi thành Trường An là 65 lý (ước tính tương đương với 26 km), tường thành cao trên dưới 12 m, rộng 12-16 mét, việc thành cao và rộng như vậy được cho là để đối phó với lũ lụt do Vị Hà gây ra. Thành Trường An có 16 cổng thành. Theo Hán thư-Địa lý chí, vào năm 2 SCN, nhân khẩu trong thành Trường An có "80.800 hộ, 246.200 người". Một số chuyên gia hữu quan cho rằng con số này thấp so với thực tế, nếu lấy mỗi hộ có 5 người thì dân trong thành phải trên 400 nghìn người. Thành Trường An là thành thị đại quy mô đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc, trên thế giới khi đó chỉ có thành La Mã là có thể so sánh được. Thời Tây Hán là khoảng thời gian hưng thịnh của Thiểm Tây. Thời Hán Vũ Đế (140 TCN-88 TCN), quốc thế của triều Hán lên đến đỉnh cao. Ngoài sự phồn hoa của kinh thành Trường An, kinh tế nông nghiệp của Thiểm Tây cũng phát triển, chủ yếu là do phát triển sự nghiệp thủy lợi, cải thiện kỹ thuật nông nghiệp. Ở Quan Trung, trước sau đã đào các kênh Tào, Long Thủ, Lục Phụ, Bạch, Linh Chỉ và Thành Quốc, cũng như các đường dẫn nước tưới tiêu khác, hình thành một mạng lưới tưới tiêu ruộng đồng ở bình nguyên Quan Trung. Thời Hán Vũ Đế, đô úy Triệu Quá đã sáng tạo ra "đại điền pháp", sáng chế ra "lâu xa" (một loại công cụ gieo hạt có ba chân), ngẫu lê (một loại cày theo phương thức canh tác ba người hai trâu, thâm canh, lật đất, đắp bờ). Năm 9 SCN, Vương Mãng phế Nhũ Tử Anh, lập ra nhà Tân. Vương Mãng mang hoài bão phục cổ, tái tạo nền văn minh cổ xưa, xây dựng một thế giới lý tưởng. Ông đã thực hiện hàng loạt cải cách ảnh hưởng toàn diện đến xã hội Trung Quốc khi đó. Tháng 2 năm 23, Lục Lâm quân ủng hộ Lưu Huyền lên làm hoàng đế, đến tháng 9 thì công nhập Trường An, Vương Mãnh bị giết. Tháng 2 năm 24, Lưu Huyền thiên đô đến Trường An. Tháng 6 năm 25, Xích Mi quân tại Hoa Âm đã ủng hộ lập Lưu Bồn Tử làm hoàng đế, đến tháng 9 cùng năm công nhập Trường An, lật đổ Lưu Huyền. Sau khi Xích Mi quân làm chủ Trường An, do quân sĩ và số đông tướng sĩ của lực lượng này là nông dân thuần phác, nên bị lực lượng địa chủ rất thù địch, đóng kín cửa không nghênh đón và cấp lương. Xích Mi quân sau đó lại đầu hàng Lưu Tú. Tháng 6 năm 25, Lưu Tú thiết lập triều Đông Hán tại Lạc Dương, tuy nhiên Quan Trung vẫn bảo lưu xưng hiệu "Tam phụ", Trường An duy trì danh nghĩa Kinh Triệu phủ, Hán Trung quận do Ích châu thứ sử tại Thành Đô quản lý, Thiểm Bắc thuộc Tịnh châu thứ sử tại Tấn Dương quản lý. Cuối thời Đông Hán, năm 190, Quan Đông quân phiệt suy tôn Viên Thiệu làm minh chủ, thảo phạt Đổng Trác. Đổng Trác đem Hán Hiến Đế Lưu Hiệp chạy về phía tây, đến Trường An. Tháng 4 năm 192, trong lúc chư hầu đang xung đột ở phía đông thì trong triều đình Trường An, Vương Doãn và Lã Bố mưu sát Đổng Trác. Tháng 6 năm đó, bộ tướng của Đổng Trác là Lý Quyết, Quách Dĩ, Phàn Trù công nhập Trường An. Năm 195, Lý Quyết, Quách Dĩ, Phàn Trù lại công sát lẫn nhau. Trong thời gian này, Thiểm Tây đã phải trải qua đại họa, "trong thành Trường An, không thể ngăn chặn đạo tặc, cướp bóc giữa ban ngày... người ăn thịt nhau, xương trắng lũy tích, xú uế đầy đường". === Tam Quốc === Thời kỳ Tam Quốc, vùng Quan Trung của Thiểm Tây thuộc quyền quản lý của Ung châu thuộc Tào Ngụy, trị sở đặt tại Trường An. Các huyện ở Thiểm Nam nằm ở phía đông của Thạch Tuyền thì thuộc Kinh châu của Tào Ngụy. Khu vực tây bộ Thiểm Nam nằm dưới quyền quản lý của Ích châu thuộc Thục Hán. Các xứ ở Thiểm Bắc là lãnh địa của các tộc du mục. Mùa xuân năm 228, Gia Cát Lượng thống lĩnh 10 vạn đại quân xuất phát từ Hán Trung đi về hướng Bắc để chinh phạt Ngụy. Ông loan tin rằng đại quân của Thục sắp sửa theo đường hẻm Tà Cốc đánh vào My Thành, đồng thời cử Triệu Vân, Đặng Chi đem một bộ phận binh lục đi chiếm Kỳ Cốc và làm ra vẻ như muốn đi theo đường Tà Cốc để tiến lên phía bắc, nhằm thu hút sự chú ý của quân Tào, trong khi đó Gia Cát Lượng tự mình dẫn quân chủ lực tiến phát theo đường Kỳ Sơn về hướng tây bắc. Trong chiến dịch này, quân Thục dụ hàng được danh tướng Ngụy là Khương Duy gây xôn xao cả miền Quan Trung. Sau khi Gia Cát Lượng mất trong khi đang đem quân đánh Tào Ngụy, tướng Khương Duy tiếp tục tiếp hành 9 lần chinh phạt Trung Nguyên trong các năm 247-262, chiến trường chính là hai tỉnh Cam Túc và Thiểm Tây ngày nay. Năm 263-264, khi quân Ngụy tiến hành chiến dịch tiêu diệt Thục, họ phân thành ba mặt trận quân, trong đó mặt phía đông là cánh công kích chính, ban đầu tấn công Hán Trung từ Tà Cốc (斜谷), Lạc Cốc (駱谷), và Tử Ngọ Cốc (子午谷). Sau đó, ba đội quân của mặt trận phía đông hội quân và tiếp tục tiến sâu vào đất Thục. Trung hậu kỳ Đông Hán, người Hung Nô di cư vào gần Trung Nguyên hơn, nuôi ngựa trên Lã Lương Sơn (呂梁山) và lưu vực Phần Hà. Đến thời Tam Quốc, người Hung Nô phân thành 5 bộ, số người đạt đến mấy chục vạn. Ngoài ra, trên địa bàn Thiểm Tây và Cam Túc còn có sự hiện diện của các tộc Yết, Tiên Ti, Đê, Khương, sử gọi chung là Ngũ Hồ. === Tấn, Ngũ Hồ thập lục quốc === Thời Tây Tấn, Trường An là bồi đô của đế chế, Hàm Dương được đổi tên thành Linh Vũ. Cuối năm 311, sau khi con trai của Lưu Thông là Lưu Xán chiếm Trường An, Lưu Diệu được giao phụ trách cai quản vùng Trường An, mặc dù vậy, sau đó ông đã để mất thành vào tay quân Tấn do Khúc Doãn (麴允) chỉ huy. Năm 313, Tấn Hoài Đế bị quân Hung Nô giết, tướng nhà Tấn là Diêm Đỉnh bàn với mọi người quyết định lập Tư Mã Nghiệp làm hoàng đế tại Trường An, tức là Tấn Mẫn Đế. Tháng 8 năm 316, Lưu Diệu cho quân tiến vào Quan Trung, đến tháng 11, Tấn Mẫn Đế bị bắt, triều Tây Tấn cũng diệt vong. Nhờ công trạng này, Lưu Diệu được Lưu Thông phong làm Tần vương. Sau khi lên ngôi hoàng đế Hán, năm 319, Lưu Diệu cải quốc hiệu thành "Triệu", sử gọi là "Tiền Triệu", do Bình Dương đã bị tàn phá, Lưu Diệu đã quyết định dời đô về Trường An. Trong thời kỳ Tiền Triệu, Quan Trung và Thương Lạc của Thiểm Tây nằm dưới quyền quản lý của nước này. Cũng trong thời gian đó, vùng Thiểm Bắc do nước Hậu Triệu chiếm cứ, khu vực thượng du Hán Giang do nước Thành chiếm giữ, khu vực từ Thạch Tuyền về phía đông thuộc quyền quản lý của triều Đông Tấn. Năm 328, Thạch Lặc (tộc Yết) đã bắt sống Lưu Diệu tại Lạc Dương. Năm sau, Hậu Triệu tiến quân vào Quan Trung, nước Tiền Triệu diệt vong. Năm 350, tận dụng thời cơ Hậu Triệu có nội loạn, thủ lĩnh người Đê là Phù Hồng đã tiến quân vào Quan Trung. Năm 351, con trai của Phù Hồng là Phù Kiện đã xưng làm "Thiên vương" tại Trường An, chính thức đoạn tuyệt với Tấn cùng Hậu Triệu và lập nước Tiền Tần. Năm 354, tướng Hoàn Ôn của Đông Tấn phối hợp cùng quân Tiền Lương để mở một chiến dịch lớn chống lại Tiền Tần. Hoàn Ôn đã tiến được đến vùng lân cận của Trường An, đánh bại mọi toán quân Tiền Tần trên đường hành quân. Tuy nhiên, do Phù Kiện đã dự đoán được cuộc tấn công của Tấn nên đã cho thu hoạch lúa mì, quân Đông Tấn bắt đầu cạn nguồn lương thảo và buộc phải rút lui vào cuối mùa hè cùng năm. Năm 357, Phù Kiên trở thành Thiên vương Tiền Tần sau khi giết chết Phù Sinh, trị vì với sự giúp đỡ của Vương Mãnh. Năm 370, sau khi Tiền Tần diệt được nước Tiền Yên của người Tiên Ti, nghe theo kiến nghị của Vương Mãnh, Phù Kiên đã buộc các vương công của Tiền Tần và hơn 4 vạn người Tiên Ti đến vùng Trường An. Năm sau, Phù Kiên lại buộc các cường hào ở Quan Đông (tức bình nguyên Hoa Bắc) và 15 vạn hộ các dân tộc phi Hán khác đến Trường An và vùng Quan Trung, kinh tế Quan Trung vì thế được khôi phục rõ rệt so với trước. Tháng 3 năm 384, một thành viên hoàng tộc Tiền Yên là Mộ Dung Hoằng trú tại Hoa Âm đã tự xưng làm Ung châu mục, Tế Bắc vương, đến tháng 4, Mộ Dung Hoằng cải niên hiệu thành Yên Hưng, lịch sử gọi thế lực của Mộ Dung Hoằng là Tây Yên. Sau khi người Tiên Ti nổi dậy, Phù Kiên đã cho thảm sát người Tiên Ti trong thành Trường An. Năm 385, sau khi Mộ Dung Hoằng bị giết, Mộ Dung Xung kế vị và đã cho quân Tây Yên bao vây được Trường An, và thành này nhanh chóng rơi vào một nạn đói khủng khiếp. Ông cũng cho phép các binh sĩ của mình đi cướp phá vùng Quan Trung theo ý muốn. Trong năm, quân Tây Yên sau đó đã đánh bại được quân Tiền Tần và chiếm được Trường An. Mặc dù những người dân Tiên Ti của ông mong muốn được trở về quê hương ở phía đông, Mộ Dung Xung lại quyết định định cư tại Trường An do ông thích thành này và cũng do ông lo sợ trước thúc phụ Mộ Dung Thùy, người khi đó đã lập ra nước Hậu Yên. Năm 386, người dân Tiên Ti của Tây Yên, dưới sự lãnh đạo của Mộ Dung Nghĩ, gồm 40 vạn người cả nam lẫn nữ, đã từ bỏ Trường An và tiến về phía đông để trở về quê hương. Diêu Trường vốn là một tướng của Tiền Tần, sau khi bại trận trước Tây Yên, do sợ bị trách phạt nên ông đã tập hợp những người Khương trong vùng và bắt đầu nổi loạn, Diêu Trường tự xưng tước hiệu "Vạn Niên Tần Vương" (萬年秦王), lập nước Hậu Tần. Diêu Trường sau đó tạm thời định đô tại Bắc Địa (北地), chiếm được các thành ở bắc bộ Thiểm Tây hiện nay. Sau khi quân Tây Yên dời đi, Trường An đã lọt vào tay một tộc trưởng Hung Nô là Hác Nô (郝奴) trong một thời gian ngắn, song Hác Nô đã đầu hàng khi Diêu Trường tiến đến Trường An. Diêu Trường định đô tại Trường An và xưng làm hoàng đế. Trong thời gian tồn tại của Hậu Tần, Quan Trung và Thiểm Bắc thuộc quyền quản lý của nước này, còn vùng Thiểm Nam thì do triều đình Đông Tấn chiếm giữ. Năm 407, một người Hung Nô là Hách Liên Bột Bột đã phản lại Hậu Tần, lập ra nước Hồ Hạ tại Cao Bình (高平). Năm 409, Diêu Hưng đích thân dẫn quân đi đánh Hách Liên Bột Bột, song khi đến Nhị Thành (貳城), Diêu Hưng đã gần như rơi vào bẫy của Lưu Bột Bột, và trốn thoát sau khi quân Hậu Tần phải chịu thương vương lớn. Đến tháng 3 năm 413, Hách Liên Bột Bột đã xây dựng quốc đô tại thành Thống Vạn (統萬). Năm 418, Hách Liên Bột Bột đem đại quân tiến xuống phía nam, công hãm Hàm Dương, chiếm cứ Trường An, xưng làm hoàng đế và cải niên hiệu thành Xương Vũ. Năm 419, Hách Liên Bột Bột hoàn đô về Thống Vạn, để thái tử Hách Liên Hội trấn giữ Trường An. === Nam-Bắc triều === Năm 426, quân Bắc Ngụy công chiếm hai thành Thống Vạn và Trường An của Hạ. Tháng 4 năm 436, Bắc Ngụy tiêu diệt Bắc Yên, các chế độ ở biên cương cũng phải thần phục, do đó đã thống nhất phương Bắc Trung Quốc. Sau khi Cao Hoan tiếp cận kinh thành Lạc Dương, Bắc Ngụy Hiếu Vũ Đế đã chạy trốn về phía tây, gặp được quân của Vũ Văn Thái trên đường và được hộ tống đến đại bản doanh của Vũ Văn Thái tại Trường An, định đô luôn tại đây. Khoảng tết năm 535, ông uống phải rượu có pha thuốc độc rồi qua đời và có vẻ chuyện này do các sát thủ của Vũ Văn Thái tiến hành. Năm 535, Vũ Văn Thái đã tôn Nam Dương vương Bảo Cự làm hoàng đế, sử coi Bảo Cự là hoàng đế đầu tiên của Tây Ngụy. Thời Tây Ngụy, Quan Trung và vùng thượng du Hán Giang của Thiểm Tây ngày nay do triều đại nay khống chế. Năm 556, Vũ Văn Thái mất, con trai là Vũ Văn Giác kế tập. Đến mùa xuân năm 557, Vũ Văn Giác cần danh hiệu hoàng đế để khẳng định quyền lực nên đã buộc Cung Đế phải nhường ngôi, chấm dứt triều đại Tây Ngụy và lập nên triều đại Bắc Chu. Nhân Bắc Chu Vũ Đế không may đột ngột lâm bệnh mất khi đang sung sức (578), Bắc Chu Tuyên Đế lên thay lại sa vào hưởng lạc, Dương Kiên bắt đầu nắm lấy quyền điều hành triều đình Bắc Chu. Dương Kiên cũng tiêu diệt các lực lượng đối kháng, diệt các chư hầu hoàng tộc Bắc Chu, cuối cùng vào tháng 2 năm 581, Dương Kiên buộc Bắc Chu Tĩnh Đế Vũ Văn Xiển thoái vị, lập ra nhà Tùy. === Thời Tùy === Đầu năm 589, quân Tùy tiêu diệt Nam triều Trần, thống nhất toàn cõi Trung Quốc. Tùy Văn Đế sau khi lên ngôi, muốn xây dựng lại thành Trường An như dưới thời nhà Hán. Năm 582, theo thiết kế của thành viên hoàng tộc Bắc Chu cũ là Vũ Văn Khải (宇文愷), bắt đầu từ ven phía nam của Long Thủ Nguyên (龙首原) triều Tùy cho xây dựng thành mới Đại Hưng thành. Cung thành là hạng mục được xây dựng trước của Đại Hưng thành, năm 583 thì triều Tùy thiên đô đến đó. Năm Đại Nghiệp thứ 9 thời Tùy Dạng Đế (613), triều Tùy cho xây thành ngoại quách, Đại Hưng thành có bố cục rất quy chuẩn. Thành ngoại quách có hình dạng gần như hình vuông, dài 9.721 mét theo chiều đông-tây, dài 8.556 mét theo chiều bắc-nam, chu vi là 36,7 km, tổng diện tích thành nội là 84 km². Đại Hưng thành có 9 cổng thành ở ba mặt đông, tây, nam. Trong thành nội có 14 đường phố theo hướng đông-tây và 11 đường phố theo hướng bắc-nam. Thời Tùy, Tùy Văn Đế bỏ quận giữ lại châu, Tùy Dạng Đế sau đó lại đổi châu thành quận. Khi đó, Thiểm Tây được phân thành 17 quận (châu). Trong đó có 9 quận (châu) nằm hoàn toàn trên địa bàn Thiểm Tây ngày nay: Kinh Triệu (Ung châu), Bằng Dực (Đồng châu), Phù Phượng (Kì châu), Thượng quận (Phu châu), Điêu Âm (Thượng châu), Diên An (Diên châu), Thượng Lạc (Thương châu), Hán Trung (Lương châu), Tây Thành (Kim châu) Có 8 quận (châu) có một bộ phận nằm trên địa bàn Thiểm Tây ngày nay: Du Lâm (Thắng châu), Sóc Phương (Hạ châu), Diêm Xuyên (Diêm châu), Hoằng Hóa (Khánh châu), Bắc Địa (Bân châu), Hà Trì (Phượng châu), Thuận Chính (Hưng châu), Nghĩa Thành (Lợi châu). Năm 604, Dương Quảng giết phụ hoàng và hoàng huynh, đoạt lấy ngai vàng, tức Tùy Dạng Đế. Tùy Dạng Đế thi hành chính sách tàn bạo, khiến các cuộc khởi nghĩa nông dân bùng nổ. Tháng 9 năm 617, Lý Uyên từ nơi khởi binh tại Thái Nguyên đã vượt qua Hoàng Hà, công chiếm Triều Ấp (朝邑), đến tháng 11 thì công chiếm Trường An. Lý Uyên lập Đại vương Dương Hựu làm hoàng đế, tức Tùy Cung Đế, và tự lập mình làm đại thừa tướng. Tháng 5 năm 618, Lý Uyên bức Cung Đế phải thoái vị, bản thân xưng đế, lập ra triều Đường, vẫn định đô tại Trường An. === Thời Đường === Nhà Đường vẫn sử dụng Đại Hưng thành ở Trường An từ thời Tùy, không ngừng xây dựng thêm. Vào tháng 3 và tháng 11 năm Vĩnh Huy thứ 5 đời Đường Cao Tông (654), công bộ thượng thư Diêm Lập Đức (閻立德) đã cho người trùng tu thành ngoại quách. Theo hệ thống đo lường ngày nay, thành ngoại quách của Trường An đời Đường kéo dài 9.500 mét từ đông sang tây, 8.470 mét từ bắc xuống nam, chu vi 35,5 km. Thành nội bao gồm cung thành, hoàng thành và khu cư trú của thị dân. Cung thành nằm ở phía bắc của chính giữa toàn thành, đầu thời Đường chỉ có một Thái Cực cung (Đại Hưng cung của Tùy trước đây), là nơi Đường Cao Tổ Lý Uyên và Đường Thái Tông Lý Thế Dân cư trú trên 30 năm. Năm Trinh Quán thứ 8 (634), trên Long Thủ Nguyên thuộc Cấm Uyển ở góc đông bắc Cung thành, Đường Thái Tông đã cho xây dựng Vĩnh An cung, nhường cho Thái thượng hoàng (Lý Uyên) cư trú, năm sau đổi tên thành Đại Minh cung. Năm Long Sóc thứ 2 (662) thời Đường Cao Tông, triều đình bắt đầu mở rộng thêm Đại Minh cung, năm sau, Đường Cao Tông chuyển từ Thái Cực cung đến Đại Minh cung cư trú và xử lý chính sự. Kể từ đó, các hoàng đế nhà Đường trú tại Đại Minh cung. Năm Khai Nguyên thứ 2 (714) thời Đường Huyền Tông, vị hoàng đế này đã đổi nơi cư trú trước đây của ông thành Hưng Khánh cung, tiến hành vài lần mở rộng. Hoàng thành nằm ở mặt nam của Cung thành, chiều đông-tây tương đương với Cung thành, phía bắc có Thừa Thiên môn với Cung thành, phía nam có Minh Đức môn với thành ngoại quách. Thời Đường, triều đình lập thêm cấp đạo trên các đơn vị châu (quận). Toàn lãnh thổ Đại Đường lúc đầu được chia thành 10 đạo, khi đó khu vực Quan Trung và Thiểm Bắc của Thiểm Tây ngày nay thuộc Quan Nội đạo, Thiểm Nam thuộc địa giới của Sơn Nam đạo. Đến trung kỳ nhà Đường, toàn quốc được chia thành 15 đạo, Thiểm Tây khi đó phân thuộc quyền quản lý của 4 đạo. Kinh Kỳ đạo tách khỏi Quan Nội đạo, quản lý khu vực ở phía nam của một đường từ Trường Vũ đến Hàn Thành, khu vực phía đông của Phượng Tường, có trị sở đặt tại Trường An. Quan Nội đạo do quan ở kinh thành quản lý từ xa. Khu vực phía đông An Khang thuộc Sơn Nam Đông đạo, trị sở đặt tại Tương Phàn của Hồ Bắc ngày nay. Khu vực từ An Khang về phía tây thuộc về Sơn Nam Tây đạo, trị sở đạo này đặt tại Hán Trung ngày nay. Thời Đường, có ba phủ nằm trên địa phận Thiểm Tây ngày nay, đó là Kinh Triệu phủ (trị sở tại Trường An), Phượng Tường phủ (trị sở tại huyện Phường Tường ngày nay), Hưng Nguyên phủ (trị sở tại Hán Trung ngày nay). Thời Đường là khoảng thời gian cực thịnh của Trung Quốc cổ đại, cũng là khoảng thời gian phồn vinh nhất của Thiểm Tây trong thời cổ. Thời Đường, theo sử sách Trung Quốc thì nhân khẩu Trường An ở lúc cao nhất đã vượt quá 1 triệu người, trong khi các ước tính hiện đại cho rằng trong thành nội có 800.000–1.000.000 người. là thành thị lớn nhất thế giới lúc bấy giờ. Thủ công nghiệp trong thành Trường An rất phát triển. Năm 1970, tại thôn Hà Gia ở Tây An, đã phát hiện được hai cái vại được chôn giấu, có trên cả nghìn vật phẩm, trong đó có 270 đồ vật bằng vàng hay bạc, được chế tác rất tinh xảo. Thời Đường, sản xuất đồ sứ đã trở thành một ngành sản xuất độc lập, tam thải (三彩) là một loại sản phẩm mới của nền công nghiệp gốm sứ, gốm xanh Diệu châu của Thiểm Tây rất có danh tiếng, được tìm thấy nhiều khi khai quật các lăng hoàng tộc và mộ quý tộc đời Đường. Năm 755, bắt đầu nổ ra loạn An Sử. Tháng 6 năm 756, quân An Lộc Sơn công phá Đồng Quan, Đường Huyền Tông cùng thừa tướng Dương Quốc Trung hốt hoảng, cùng Dương Quý Phi với 1.000 cấm binh bỏ Trường An rút về đất Thục. Quân phản loạn của An Lộc Sơn sau khi vào Trường An, đã tiến hành đốt phá, giết người, cướp của bừa bãi trong suốt ba ngày đêm, thành Trường An trở nên trống rỗng. Tháng 9 năm 757, danh tướng Quách Tử Nghi (người Thiểm Tây) của Đường đã tái chiếm Trường An. Sau loạn An Sử, quốc thế Đại Đường dần dần suy giảm. Năm 881, Hoàng Sào dẫn quân khởi nghĩa nông dân đánh chiếm Trường An, tại Hàm Nguyên điện của Đại Minh cung, Hoàng Sào lên ngôi hoàng đế, đặt quốc hiệu là "Đại Tề". Tháng 2 năm 883, quý tộc Sa Đà là Lý Khắc Dụng đã dẫn quân tiến vào Quan Trung, họ đánh bại tướng Hoàng Nghiệp của Hoàng Sào ở Thạch Đê cốc, đến tháng 3 lại đánh bại Triệu Chương và Thượng Nhượng ở Lương Điền Pha, đến tháng 4 thì Hoàng Sào phải đưa quân rút khỏi Trường An. Nhờ công lao của Lý Khắc Dụng, triều Đường đã lấy lại được Trường An, song đến năm 904, Chu Ôn đã ép Đường Chiêu Tông phải thiên đô đến Lạc Dương. === Thời Ngũ Đại === Năm 907, Chu Ôn tiếm vị nhà Đường, lập ra nhà Hậu Lương. Lý Mậu Trinh vẫn dùng niên hiệu Thiên Hữu của Đường Ai Đế, đối kháng với Hậu Lương. Lý Mậu Trinh lấy Phượng Tường làm trung tâm, lập ra chính quyền cát cứ tại một phần Thiểm Tây, Cam Túc và Tứ Xuyên hiện nay, sử gọi là nước Kỳ. Vì thế, Thiểm Tây khi đó phân thuộc hai chính quyền khác nhau. Nhà Hậu Lương đổi Kinh Triệu phủ thành Ung châu, thiết lập Đại An phủ tại Thiểm Tây. Năm 924, sau khi Hậu Đường diệt Hậu Lương, Lý Mậu Trinh hướng Hậu Đường xưng thần, được hoàng đế Hậu Đường phong làm Tần vương. Từ đó đến hết thời Ngũ Đại, Thiểm Tây nằm trong quyền quản lý của các vương triều Trung Nguyên: Hậu Đường, Hậu Tấn, Hậu Hán, Hậu Chu. Hậu Đường đã đổi lại Đại An phủ thành Kinh Triệu phủ. Ngoài ra, trong thời Ngũ Đại, một bộ phận phía nam Thiểm Tây cũng từng nằm dưới quyền quản lý của nước Tiền Thục và sau đó là nước Hậu Thục. === Thời Tống, Hạ, Kim, Nguyên === Triệu Khuông Dận sau đó đã tái thống nhất Trung Quốc, lập ra nhà Tống. Thời Bắc Tống, triều đình đổi đạo thành lộ, trong đó, Thiểm Tây lộ đã được thành lập vào đầu thời Tống. Sau đó, phân chia hành chính lại có thay đổi, đại bộ phận Thiểm Tây quy thuộc quyền quản lý của Vĩnh Hưng quân lộ. phía tây, nam của Lân Du và Chu Chí đến Phượng và Lưu Bá thuộc Tần Phượng lộ. Từ Phật Bình, Trấn Ba về phía tây thuộc quyền quản lý của Lợi Châu lộ. Khu vực phía đông của Ninh Thiểm, Thạch Tuyền thuộc về Kinh Tây Nam lộ. Khu vực Thần Mộc, Phủ Cốc, Giai thuộc về Hà Đông lộ. Nhiều huyện nay thuộc Du Lâm do Tây Hạ chiếm hữu. Năm 1038, người Đảng Hạng dưới sự lãnh đạo của Lý Nguyên Hạo đã thiết lập nên triều Tây Hạ, khống chế một bộ phận Thiểm Bắc. Trong nhiều thập kỷ, Tống và Hạ khi chiến khi hòa, Thiểm Bắc là một chiến trường chủ yếu. Từ năm 1040 đến 1042, Phạm Trọng Yêm đã đứng đầu Vĩnh Hưng quân, cùng Hàn Kỳ đảm nhận nhận chức vụ kinh lược an phủ chiêu thảo phó sứ Thiểm Tây, trợ giúp Hạ Tủng đánh Hạ, cai trị Diên châu (nay là Diên An); ngày nay ở dưới núi Gia Lĩnh tại Diên An vẫn còn nhiều di tích liên quan đến ông. Từ năm 1078 trở đi, Thẩm Quát (沈括), một khoa học gia nổi tiếng, đã cai trị Doanh châu trong 4 năm, cai quản biên phòng Thiểm Bắc. Năm 1127, Kim diệt Bắc Tống, đến tháng 12 năm đó, quân Kim tiến công Quan Trung, rồi rút đi sau khi đã cướp bóc trên quy mô lớn. Tháng 8 năm 1128, quân Kim lại tấn công Quan Trung, từ đó, phần lớn Thiểm Bắc và phía đông Quan Trung thuộc quyền cai quản của Kim. Triều đình Kim đã thiết lập Kinh Triệu phủ lộ, Phu Diên lộ, ngoài ra còn có Phượng Tường lộ, Khánh Nguyên lộ, Hà đông bắc lộ, Lợi Châu Tây lộ, Lợi Châu Đông lộ Trong khi đó, khu vực nay thuộc Hoành Sơn, Tĩnh Biên, Định Biên và Du Dương của Du Lâm thuộc về Tây Hạ. Năm 1206, hãn quốc Mông Cổ được thành lập, đến tháng 11 năm 1222, tướng Mộc Hoa Lê của Mông Cổ suất quân lần lượt chiếm lĩnh Đồng Châu, Bồ Thành. Tháng 6 năm 1230, quân Mông Cổ công phá Kinh Triệu (nay là Tây An) của Kim, đến tháng 10 thì chiếm Lĩnh Đồng (nay là Đại Lệ), Hoa và những nơi khác tại tây bắc Thiểm Tây. Tháng 4 năm sau, quân Mông Cổ đánh chiếm Phượng Tường, đến tháng 8 thì công phá Phượng Châu, chiếm Hưng Nguyên (nay là Hán Trung) và Dương Châu (nay là Dương). Năm 1234, Kim bị tiêu diệt. Năm 1253, đại hãn Mông Cổ phân phong chư vương, Quan Trung trở thành đất phong của Hốt Tất Liệt. Năm 1271, Hốt Tất Liệt thiên đô về Yên Kinh, đổi quốc hiệu thành "Nguyên". Năm 1272, Hốt Tất Liệt phong cho con trai thứ ba là Mang Ca Lạt (忙哥剌) làm An Tây vương, lập phiên tại Thiểm Tây. Thời Nguyên, Trung Quốc phân thành các hành tỉnh, Thiểm Tây hành tỉnh có trị sở đặt tại Tây An ngày nay, quản lý toàn bộ Thiểm Tây ngày nay, cũng như khu vực phía đông Lan Châu của Cam Túc ngày nay và phía nam trung bộ Ngạc Nhĩ Đa Tư của Nội Mông hiện nay. Đến giữa thời Nguyên, An Tây vương phủ bị phế trừ, An Tây lộ đổi tên thành Phụng Nguyên lộ. Từ thời Tống đến thời Nguyên, kinh tế Thiểm Tây, đặc biệt là nông nghiệp, đã khôi phục và phát triển tương đối, điểm nổi bật là sự nghiệp thủy lợi. Những năm Khánh Lịch (1041-1048) thời Tống Nhân Tông, diện tích ruộng được tưới đã tăng lên 6.000 khoảng từ mức 2.000 khoảnh vào đầu thời Tống, đạt mức thời kỳ giữa nhà Đường. Việc sử dụng dầu mỏ và khai mỏ tại Thiểm Tây cũng bắt đầu trong thời Tống-Nguyên. Trong thời gian làm quan tại Thiểm Bắc, Thẩm Quát đã tiến hành khảo sát tường tận và kết luận "dầu mỏ rất nhiều, được tạo ra vô cùng trong lòng đất, không như gỗ tùng có thời kỳ và có thể cạn kiệt". === Thời Minh === Tháng 3 năm l369, Từ Đạt đã dẫn quân Minh tiến vào Thiểm Tây. Đến tháng 4, quân Minh chiếm được thành Phụng Nguyên, đổi Phụng Nguyên lộ thành Tây An phủ. Cũng trong tháng 4, quân Minh chiếm được Phượng Tường, tháng 5 chiếm được Diên An, đến tháng 8 thì bình định Thiểm Tây. Trên cơ sở hệ thống hành tỉnh của triều Nguyên, ngoại trừ Bắc Kinh và Nam Kinh ra, triều Minh chia Trung Quốc thành 13 bố chính sứ ti. Thiểm Tây thừa tuyên bố chính sứ ti thời Minh quản lý toàn bộ tỉnh Thiểm Tây ngày nay, cộng thêm vùng phía đông Gia Dục quan của tỉnh Cam Túc ngày nay, đại bộ phận Ninh Hạ và Ngạc Nhĩ Đa Tư của Nội Mông hiện nay, khu vực phía đông hồ Thanh Hải của tỉnh Thanh Hải ngày nay. Triều đình nhà Minh cũng tiến hành phong vương lập phiên, trên địa phận của Thiểm Tây bố chính sứ ti có 7 phiên vương, trong đó có 3 phiên vương nằm trên địa bàn tỉnh Thiểm Tây ngày nay: năm Hồng Vũ thứ 10 (1378), phong Tần vương ở khu vực Tây An; năm Tuyên Đức thứ 9 (1429), phong Trịnh vương ở khu vực Phượng Tường; năm Thiên Khải thứ 7 (1627), phong Thụy vương ở khu vực Hán Trung. Sau khi Đường Chiêu Tông thiên đô về Lạc Dương, thành ngoại quách và Cung thành của Trường An đã bị Chu Ôn phá hủy triệt để, đóng ba cổng thành của Hoàng thành, chỉ để lại Huyền Vũ môn ở phía bắc. Thời Minh, triều đình tiến hành xây dựng thành Tây An với quy mô lớn. Trong khoảng 1374-1378, đô đốc Bộc Anh (濮英) đã chủ trì việc mở rộng thành của thành Tây An. Tường thành hai mặt tây và nam được gia cố trên cơ sở tường thành của hoàng thành từ thời Đường, xây mới tường thành hai mặt đông và bắc, thành Tây An vì thế dài và rộng hơn so với Phụng Nguyên lộ thành của triều Nguyên. Rạng sáng ngày 23 tháng 1 năm 1556, tại huyện Hoa của tỉnh Thiểm Tây đã xảy ra động đất 8 độ Richter, thảm họa này đã giết chết xấp xỉ 830.000 người, ảnh hưởng lan rộng tới tận các tỉnh Hồ Nam và Giang Tô Một khu vực rộng 840 kilômét (520 mi) đã bị phá hủy, và ở một số huyện có đến 60% cư dân thiệt mạng. === Khởi nghĩa nông dân cuối Minh, đầu Thanh === Cuối thời Minh, triều đình trở nên hủ bại, đất nước mất mùa đói kém, người dân nhiều nơi nổi loạn, trong đó có Thiểm Tây. Tháng 11 năm 1628, Vương Gia Dận cùng bọn Ngô Duyên Quý tổ chức nạn dân ở Phủ Cốc khởi nghĩa, trước đó Vương Nhị cũng tổ chức một cuộc khởi nghĩa nông dân tại huyện Bạch Thủy. Đồng thời, Vương Tả Quải cũng kêu gọi hơn vạn người nổi dậy ở Nghi Xuyên. Ở huyện An Tắc, có cuộc khởi nghĩa của Cao Nghênh Tường. Năm 1636, Cao Nghênh Tường rơi vào ổ mai phục của Thiểm Tây tuần phủ Tôn Truyện Đình ở Hắc Thủy Dục thuộc huyện Chu Chí, thua trận bị bắt, giải về Bắc Kinh, bị xử lăng trì. Tàn dư của cuộc khởi nghĩa Cao Nghênh Tường tôn Lý Tự Thành làm Sấm vương. Tháng 1 năm 1643, Lý Tự Thành lập chính quyền tại Tương Dương của Hồ Bắc, đến tháng 10 cùng năm, quân của Lý Tự Thành phân làm hai lộ tấn công Quan Trung, công phá thành Tây An, đến tháng 11 thì chiếm được Quan Trung và Thiểm Bắc. Tháng 1 năm 1644, Lý Tự Thành đổi Tây An thành Trường An, đặt hiệu là Tây Kinh, chính thức kiến quốc, đặt quốc hiệu là "Đại Thuận". Tháng 6 năm 1644, Lý Tự Thành thất bại trước liên quân giữa quân Thanh và quân Ngô Tam Quế nên đã phải rút từ Bắc Kinh về lại Tây An. Tháng 12 năm 1644, quân Thanh chiếm được Thiểm Bắc, đến tháng 1 năm sau thì công phá Đồng Quan, Lý Tự Thành phải đưa quân qua Lam Điền, Thương Châu để rút đến Hồ Quảng. Sau khi đánh bại quân của Lý Tự Thành, quân Thanh chiếm cứ toàn bộ Thiểm Tây vào tháng 2 năm 1645. === Thời Thanh === Thời nhà Thanh, triều đình phế bỏ xưng hiệu "bố chính sứ ti" của triều Minh, đổi sang gọi là hành tỉnh hoặc gọi tắt là tỉnh. Đầu thời Thanh, Thiểm Tây hành tỉnh quản lý toàn bộ Thiểm Tây ngày nay, cộng thêm các vùng phía đông của Cam Túc, Ninh Hạ và Thanh Hải ngày nay. Năm Khang Hy thứ 2 (1663), tách Thiểm Tây hữu chính sứ trú tại Củng Cương, ba năm sau lại đổi thành Cam Túc bố chính sứ và dời đến trú tại Lan Châu. Tả bố chính sử ti vẫn trú tại Tây An, quản lý bốn phủ Tây An, Diên An, Phượng Tường, Hán Trung cùng Hưng An châu. Trong suốt thời Thanh, Tây An là thủ phủ của Thiểm Tây. Vào năm Đồng Trị thứ 6 (1649), triều Thanh lấy đông bắc bộ thành Tây An thời Minh để hình thành một thành phòng thủ, gọi là Mãn thành. Nhiều người Hán đã từ Thiểm Tây di cư đến Tân Cương trong thời Thanh. Họ được phân loại là thương nhân nếu không mang thân phận nô lệ. Do Thiểm Nam còn nhiều đất trống, vùng đã thu hút người nhập cư trên quy mô lớn sau khi Hồ Bắc và Tứ Xuyên xảy ra nạn đói nghiêm trọng và mùa màng thất bát trong thập niên 1770. Đến đầu thế kỷ 19, những người nhập cư đến từ Trung và Nam Trung Quốc đã chiếm đến 90% tại một số nơi ở Thiểm Nam. Trong khoảng thời gian 1796–1804, những người bất mãn với triều đình đã tiến hành Khởi nghĩa Bạch Liên giáo ở vùng giáp ranh giữa Tứ Xuyên-Thiểm Tây-Hồ Bắc-Hà Nam, song bị quân Thanh đàn áp. Trong khoảng thời gian 1853 đến 1868, đông bộ và nam bộ Thiểm Tây trở nên náo động do khởi nghĩa Niệp quân. Cuối thời Thanh, trong các năm 1862-1877, tại khu vực Cam Túc và Thiểm Tây nổ ra nổi dậy Hồi giáo trên quy mô lớn, còn gọi là khởi nghĩa người Hồi Cam-Thiểm Đồng Trị, ảnh hưởng đến phần lớn tây bộ và bắc bộ Thiểm Tây. Mặc dù hoạt động nổi loạn và hành động trấn áp tại Thiểm Tây không nghiêm trọng như Cam Túc song nó đã khiến 600.000 người thiệt mạng. Sau khi cuộc nổi loạn Hồi giáo kết thúc, Thiểm Tây lại bị một nạn đói nghiêm trọng do hạn hán kéo dài, tỉnh hầu như không có mưa từ năm 1876 đến năm 1878, và khi triều đình nhà Thanh cố gắng khắc phục tình hình vào năm 1877 thì những yếu kém về hạ tầng giao thông đã cản trở hoạt động cứu trợ. Có thể đã có từ 4 đến 5 người chết đói chỉ tính riêng ở Thiểm Tây, một số huyện trong thung lũng Vị Hà màu mỡ mất trên 100.000 người mỗi huyện. Do các tai họa vào cuối thế kỷ 19, Thiểm Tây đã trở thành nơi nhập cư của những người mong muốn có ruộng đất từ Tứ Xuyên và Hà Bắc. Năm 1900, do ảnh hưởng từ phong trào Nghĩa Hòa Đoàn, ở Thiểm Tây đã nổ ra hoạt động chống lại tôn giáo phương Tây, trong đó giáo án Yên Tử Biêm (thuộc huyện Ninh Cường), giáo án Tam Biên ở Tĩnh Biên, Định Biên và An Biên là hai cuộc đấu tranh chống lại giáo hội có quy mô lớn nhất. Tháng 8 năm 1900, Liên quân tám nước tiến vào Bắc Kinh, Từ Hi Thái hậu và Quang Tự Đế phải chạy về phía tây, đến ngày 26 tháng 10 thì đến Tây An. Sau khi ký kết điều ước Tân Sửu, Từ Hi bắt đầu khởi hành từ Tây An về kinh thành vào ngày 6 tháng 10 năm 1901. Ngày 10 tháng 10 năm 1911, khởi nghĩa Vũ Xương bùng phát, ngày 22 tháng 10, Tân quân tại Tây An khởi nghĩa hưởng ứng, là cuộc khởi nghĩa hưởng ứng đầu tiên tại các tỉnh phía bắc Trung Quốc. Chiều ngày 23, quân khởi nghĩa công phá Mãn thành, Tây An về tay quân cách mạng. Ngày 27 tháng 10, chính phủ Thiểm Tây quân được thành lập, đến tháng 11 thì đại bộ phận tỉnh Thiểm Tây về tay quân cách mạng. === Sau năm 1911 === Tới tận tháng 11 năm 1926, Thiểm Tây mới thuộc quyền quản lý của chính phủ Quốc dân. Tháng 7 năm 1927, sau khi chính quyền tỉnh Thiểm Tây chính thức được thành lập, chế độ các huyện trong tỉnh dần dần được tổ chức lại, người đứng đầu mỗi huyện được gọi là huyện trưởng. Sau khi liên minh với chính phủ Quốc dân, quân phiệt Dương Hổ Thành (楊虎城) được bổ nhiệm làm chủ tịch tỉnh Thiểm Tây. Năm 1933, Trung Hoa Dân Quốc đổi Tây An thành Tây Kinh, nơi đây được định làm bồi đô của chính phủ Quốc dân. Đầu thế kỷ 20, Thiểm Tây cũng bị thiệt hại từ những nạn đói định kỳ, diễn ra vào các năm 1915, năm 1921, và cuối cùng là năm 1928. Nạn đói cuối cùng cũng có tính chất nghiêm trọng giống như nạn đói 1877–78, người ta ước tính rằng Thiểm Tây đã có tới 3 triệu người chết vì đói, các dịch bệnh sau đó càng khiến số người chết tăng thêm hơn nữa. Tuy nhiên, trong lúc này đã có một số hoạt động cứu giúp, Tổ chức cứu trợ quốc tế về nạn đói đã phục hồi hệ thống thủy lợi bỏ hoang ở thung lũng Vị Hà, trong khi đường sắt Lũng Hải được kéo dài vào trong địa phận của tỉnh Thiểm Tây sẽ giúp vận chuyển đồ cứu trợ được nhanh hơn khi nạn đói tiếp tục xảy ra. Sau thất bại của Cộng hòa Xô viết Trung Hoa, từ tháng 10 năm 1934 đến tháng 10 năm 1935, lực lượng của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã phải tiến hành Vạn lý Trường chinh gian khổ từ Giang Tây đến Thiểm Tây để lập căn cứ mới. Khi khởi đầu cuộc rút lui, Hồng quân Trung Quốc có hơn 86 nghìn người , nhưng khi kết thúc cuộc Vạn lý Trường chinh, số Hồng quân sống sót chỉ còn ít hơn 7 nghìn. Từ năm 1937, Diên An đã trở thành nơi đặt trụ sở các cơ quan đầu não của lực lượng cộng sản Trung Quốc. Nơi này đã trở thành trung tâm đào tạo chuyên sâu của các đảng viên và quân đội cộng sản. Ngày 12 tháng 12 năm 1936, khi Tưởng Giới Thạch đến Tây An, Trương Học Lương và Dương Hổ Thành đã tiến hành binh biến bắt giữ Tưởng Giới Thạch, nhằm gây áp lực buộc Tưởng hợp tác với Đảng Cộng sản Trung Quốc chống Nhật. == Địa lý == Thiểm Tây có tọa độ giới hạn trong 105°29′-111°15′ kinh Đông, 31°42′-39°35′ vĩ Bắc. Thiểm Tây giáp Sơn Tây, Hà Nam ở phía đông; giáp Ninh Hạ, Cam Túc ở phía tây; giáp với Tứ Xuyên, Trùng Khánh ở phía nam; giáp với Nội Mông ở phía bắc. Nguyên điểm của đất liền Trung Quốc nằm ở trấn Vĩnh Lạc, huyện Kính Dương của tỉnh Thiểm Tây. Diện tích Thiểm Tây là khoảng 205.800 km², chiều dài bắc-nam là khoảng 870 km, chiều dài đông-tây là khoảng 200–500 km. Thiểm Tây có hình dạng lãnh thổ hẹp và dài, địa thế cao ở nam và bắc, thấp ở trung gian. Thiểm Tây có nhiều loại địa hình: cao nguyên, núi non, đồng bằng, bồn địa. Có thể phân Thiểm Tây thành vùng cao nguyên Hoàng Thổ ở Thiểm bắc, đồng bằng Quan Trung, vùng núi Tần-Ba và thung lũng Hán Giang ở Thiểm Nam. Trong đó, diện tích cao nguyên là 92.600 km², diện tích vùng núi là 74.100 km², diện tích vùng đồng bằng là 391.000 km². Các dãy núi chủ yếu tại Thiểm Tây là Tần Lĩnh và Đại Ba Sơn. Đoạn Tần Lĩnh trên địa phận Thiểm Tây có độ cao từ 1000-3000 mét với nhiều đỉnh núi nổi tiếng tại Trung Quốc như: Hoa Sơn, Thái Bạch Sơn, Chung Nam Sơn, Ly Sơn. Đại Ba Sơn nằm ở cực nam của Thiểm Tây với độ cao từ 1.500-2.000 mét. Vùng cao nguyên Hoàng Thổ ở Thiểm Bắc có độ cao từ 800-1.300 mét. Vùng đồng bằng Quan Trung kéo dài từ Bảo Kê về phía đông đến Đồng Quan với độ cao trung bình là 520 mét. Khu vực phía bắc Tần Lĩnh của Thiểm Tây thuộc lưu vực Hoàng Hà, chiếm 63,3% diện tích và 29% tổng lượng tài nguyên nước của Thiểm Tây. Các chi lưu của hệ thống Hoàng Hà tại Thiểm Tây chủ yếu có hướng bắc-nam: Quật Dã Hà, Vô Định Hà, Diên Hà, Lạc Hà, Kính Hà (chi lưu của Vị Hà), Vị Hà. Khu vực phía nam Tần Lĩnh của Thiểm Tây thuộc lưu vực Trường Giang, chiếm 36,7% diện tích và 71% tổng lượng tài nguyên nước của Thiểm Tây. Các sông lớn thuộc hệ thống Trường Giang trên địa phận Thiểm Tây là Gia Lăng Giang, Hán Giang, Đan Giang. Tổng lượng tài nguyên nước trung bình năm của Thiểm Tây là 41,649 tỷ m³, có năm lên đến 84,7 tỷ m³ song có năm chỉ được 16,8 tỷ m³. Tần Lĩnh, dãy núi phân định khí hậu phía bắc và Nam Trung Quốc, chạy dọc theo chiều đông-tây của Thiểm Tây. Thiểm Tây được phân thành ba vùng khí hậu, có sự khác biệt lớn giữa bắc và nam. Khu vực Thiểm Nam thuộc vùng khí hậu cận nhiệt đới gió mùa, Quan Trung và đại bộ phận Thiểm Bắc thuộc vùng khí hậu ôn đới ấm, khu vực dọc theo Vạn Lý Trường Thành ở bắc bộ của Thiểm Bắc thuộc vùng ôn đới lạnh (ôn đới trung). Nhìn chung, khí hậu Thiểm Tây có đặc điểm là: mùa xuân ấm và khô ráo, lượng giáng thủy khá thấp, nhiệt độ tăng nhanh song bất ổn định, nhiều gió cát; mùa hè có nhiệt độ cao và nhiều mưa, song cũng có lúc tái khô hạn; mùa thu mát dễ chịu với độ ẩm tương đối thấp, nhiệt độ hạ nhanh chóng; mùa đông rét lạnh lẽo và khô hanh, nhiệt độ thấp, có rất ít mưa tuyết. Nhiệt độ trung bình năm của Thiểm Tây là 13,7 °C, giảm dần từ nam đến bắc, từ đông sang tây: nhiệt độ trung bình năm của Thiểm Bắc là 7 °C-12 °C, nhiệt độ trung bình năm của Quan Trung là 12 °C-14 °C, nhiệt độ trung bình năm của Thiểm Nam là 14 °C-16 °C. Nhiệt độ trung bình tháng 1 của Thiểm Tây là -11 °C đến 3 °C, nhiệt độ trung bình tháng 7 là 21 °C-28 °C. Mỗi năm, Thiểm Tây có từ 160-250 ngày không có sương giá, nhiệt độ thấp kỷ lục là -32,7 °C, nhiệt độ cao kỷ lục là 42 °C. Lượng giáng thủy bình quân hàng năm của Thiểm Tây là 702,1 mm, biến đổi từ 340–1240 mm. Khoảng 60-70% lượng giáng thủy tập trung vào khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 10, thường gây nên lũ lụt, còn hai mùa xuân và hè thường bị hạn hán. Lượng giáng thủy tại Thiểm Tây giảm từ nam lên bắc: Thiểm Nam là vùng ẩm ướt, Quan Trung là vùng bán ẩm còn Thiểm Bắc là vùng bán khô hạn. == Sinh vật == Thiểm Tây có nhiều loài động vật có xương sống trên cạn hoang dã quý hiếm, tỉnh này hiện có 604 động vật hoang dã: 380 loài chim, 147 loài thú. Ngoài ra, Thiểm Tây còn có 77 loài lưỡng cư và bò sát. Trong số các loài động vật hoang dã tại Thiểm Tây, có 69 loài được xác định là loài nguy cấp, gấu trúc lớn, voọc mũi hếch, Trâu rừng Tây Tạng, Cò quăm mào Nhật Bản và 16 loài khác được xếp vào danh mục động vật được bảo hộ cấp quốc gia tại Trung Quốc. Thiểm Tây cũng có sự phong phú và đa dạng về chủng loại thực vật, Thiểm Tây có 12.266.700 ha đất rừng, tỷ lệ che phủ rừng đạt 41,4%. Diện tích rừng tự nhiên của Thiểm Tây là 5.494.300 ha, chủ yếu phân bố tại vùng núi Tần Lĩnh-Đại Ba Sơn, Quan Sơn, Hoàng Long Sơn và Kiều Sơn. Vùng núi Tần Lĩnh-Đại Ba Sơn còn được gọi là "ngân hàng gen sinh vật" với 3.300 loài thực vật có hạt tự nhiên, chiếm 10% toàn Trung Quốc. Thiểm Tây có 30 loài thực vật quý hiếm và 800 loài cây có thể dùng làm dược liệu, mi hầu đào Trung Hoa (Actinidia chinensis), sa cức (Hippophae), giảo cổ lam, Phú Tây trà là những nguồn tài nguyên thực vật có giá trị lớn. Táo tàu, óc chó, trẩu trơn là các sản phẩm xuất khẩu truyền thống của Thiểm Tây. Các loài cây dùng làm dược liệu trên địa bàn Thiểm Tây như thiên ma (Gastrodia elata), đỗ trọng (Eucommia ulmoides), khổ hạnh nhân (Semen Armeniacae Amarum), cam thảo (Glycyrrhiza uralensis) có địa vị quan trọng tại Trung Quốc. Đến năm 2012, Thiểm Tây có 78 công viên rừng với tổng diện tích 304.800 ha. Vùng thảo nguyên của Thiểm Tây chủ yếu là thảo nguyên ôn đới, phân bố tại Thiểm Bắc, tạo điều kiện phát triển chăn nuôi gia súc. == Nhân khẩu == Theo số liệu cuối năm 2011, Thiểm Tây có 37,426 triệu nhân khẩu thường trú, tăng 74.000 so với năm trước, trong đó có 19,304 triệu nam giới (51,58%) và 18,122 triệu nữ giới (48,42%), tỷ lệ giới tính đạt 106,52, giảm so với 108,42 vào năm 2000. Số nhân khẩu thành thị của Thiểm Tây là 17,702 triệu người (47,3%), số nhân khẩu nông thôn là 19,724 triệu (52,7%). Số người trong độ tuổi 0-14 chiếm 15,28% tổng dân số, số người trong độ tuổi 15-64 chiếm 75,68% tổng dân số, số người trên 65% chiếm 9,04% tổng dân số của Thiểm Tây, tỉnh phải đối mặt với tình trạng lão hóa dân số nghiêm trọng. Gần như tất cả những người ở Thiểm Tây là dân tộc Hán, với các nhóm biệt lập người Hồi ở vùng tây bắc (tiếp giáp với Ninh Hạ). Vùng Quan Trung, nơi có thủ phủ của tỉnh Tây An, có dân cư đông đúc hơn so với phần phía bắc. Cư dân khu vực Thiểm Bắc nói tiếng Tấn, cư dân vùng Quan Trung nói phương ngữ Quan Trung của Quan thoại Trung Nguyên, cư dân Thiểm Nam nói phương ngữ Hán Trung của Quan thoại Tây Nam. == Các đơn vị hành chính == Tỉnh Thiểm Tây có 9 địa cấp thị và thành phố Tây An. Đó là: == Kinh tế == Năm 2011, tổng GDP của Thiểm Tây đạt 1.239,13 tỉ NDT, tăng trưởng 13,9% so với năm trước; cũng trong năm này GDP bình quân đầu người của Thiểm Tây đạt 33.142 NDT, tăng 13,7% so với năm trước. Năm 2011, trong cơ cấu kinh tế của Thiểm Tây khu vực một đạt giá trị 122,09 tỷ NDT, chiếm 9,8%; khu vực hai đạt giá trị 683,627 tỷ NDT, chiếm 55,2%; khu vực ba đạt giá trị 433,413 tỷ NDT, chiếm 35%. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu năm 2011 của Thiểm Tây là 14,623 tỷ USD, tăng 20,8% so với năm trước, trong đó kim ngạch xuất khẩu lên tới 7,011 tỷ USD, tăng 12,9%; kim ngạch nhập khẩu đạt 7,613 tỷ USD, tăng 29,2%, thâm hụt thương mại là 602 triệu USD. Tám ngành công nghiệp trụ cột của Thiểm Tây là năng lượng và hóa chất, sản xuất thiết bị, luyện kim màu, công nghiệp thực phẩm, chế phẩm khoáng sản phi kim, sản phẩm y dược, thiết bị điện tử, dệt may. Năm 2009, Thiểm Tây xếp thứ ba Trung Quốc về sản xuất than đá, khí thiên nhiên và dầu thô. Tận dụng lợi thế có một vài đại học và viện nghiên cứu hàng đầu ở miền Tây Trung Quốc, Thiểm Tây cũng nắm giữ một vai trò lớn trong các ngành hàng không và vũ trụ, phần mềm, vật liệu mới đang nổi lên của Trung Quốc, tạo ra trên 50% R&D và thiết bị cho ngành công nghiệp hàng không thương mại nội địa. Tài nguyên khoáng sản ở vùng Thiểm Bắc và Vị Bắc chủ yếu là than đá, dầu mỏ, khí đốt, bô xít, đá vôi làm xi măng, đất sét, cùng các loại khoáng Muối, với chất lượng tốt. Vùng Quan Trung chủ yếu có: vàng, molypden, vật liệu xây dựng, nước nóng dưới lòng đất, nước khoáng. Vùng Tần Lĩnh-Đại Ba Sơn chủ yếu có các loại khoáng sản kim loại màu, kim loại quý, kim loại đen, và khoáng sản phi kim. == Văn hóa- Du lịch == Tần khang, còn gọi là loạn đàn, là một loại hình hí khúc của Trung Quốc bắt nguồn từ khu vực tây bắc của tỉnh Thiểm Tây. Giai điệu của nó có nguồn gốc từ các vùng nông thôn của Thiểm Tây và Cam Túc. Tần khang là thể loại cổ nhất trong số Tứ đại thanh khang của hí kịch Trung Quốc. Tần khang từng bị Khang Hy Đế cấm biểu diễn tại Bắc Kinh do nó được xem là "gợi dục", tuy nhiên người ta cho rằng lý do chính xác của việc này là vì Tần khang có yếu tố phê phán xã hội. Tín thiên du là một loại hình dân ca lưu truyền ở vùng nói tiếng Tấn, bao gồm cả Thiểm Bắc của Thiểm Tây, theo lối đối ứng và lặp lại theo chu kì, câu hát có thể ngắn hay dài. Ẩm thực Thiểm Tây tận dụng lợi thế về mặt lịch sử khi là đất kinh kỳ của nhiều triều đại, kế thừa kỹ nghệ nấu nước cung đình cổ xưa, thu nhận tinh hoa từ các trường phái ẩm thực trên toàn Trung Quốc. Ẩm thực Thiểm Tây chế biến món ăn một cách tinh tế từ các nguyên liệu thông thường, được biết đến nhiều với các món từ thịt lợn hay thịt cừu non hoặc cừu trưởng thành. Ẩm thực Tứ Xuyên có vị mạnh, nhấn mạnh về các loại gia vị có hương vị gắt như muối, tỏi, hành tây, và giấm; đường hiếm khi được sử dụng. Ẩm thực của vùng Hán Trung có sự tương đồng với ẩm thực Tứ Xuyên. Thiểm Tây là một tỉnh có tài nguyên du lịch lớn tại Trung Quốc, có 35.800 di tích, 151 bảo tàng, 900.000 văn vật với mật độ dày đặc, đứng đầu cả nước. Thiểm Tây có các tàn tích kiến trúc thành cổ, cung điện cổ, miếu chùa cổ, lăng mộ cổ. Đội quân đất nung trong lăng mộ Tần Thủy Hoàng còn được gọi là "kỳ quan thứ tám". Càn lăng là nơi hợp táng của nữ hoàng đế đầu tiên trong lịch sử Trung Quốc- Võ Tắc Thiên, và Đường Cao Tông Lý Trị. Chùa Pháp Môn ở Phù Phong là một ngôi chùa nổi tiếng của Phật giáo. Thành Tây An là thành cổ được bảo tồn hoàn chỉnh nhất tại Trung Quốc. Rừng bia Tây An là kho văn kiện bằng đá lớn nhất Trung Quốc. Ngoài ra, Thiểm Tây còn có các phong cảnh đẹp như Tây Nạc Hoa Sơn, thác Hồ Khẩu trên Hoàng Hà, Bát Bách Lý Tần Xuyên rộng vô tận, vùng núi Tần-Ba tươi đẹp ở Thiểm Nam, khu phong cảnh Li Sơn mang sắc thái truyền kì, đỉnh chính Thái Bạch Sơn của Tần Lĩnh có tuyết phủ trong sáu tháng. Đội quân đất nung và lăng Tần Thùy Hoàng là một di sản thế giới của UNESCO, cùng với đó Thiểm Tây còn có 5 khu danh thắng phong cảnh cấp quốc gia: Hoa Sơn, Ly Sơn ở Lâm Đồng, Thiên Thai Sơn ở Bảo Kê, Hoàng Đế lăng ở Diên An, khu danh thắng phong cảnh Hợp Dương Hợp Xuyên. Trong năm 2011, Thiểm Tây đã tiếp đón 184 triệu lượt du khách trong và ngoài nước. == Giao thông == Thiểm Tây có vị trí yết hầu về giao thông, nằm trên tuyến đường từ bình nguyên Hoa Bắc xuống các tỉnh ở Tây Nam như Tứ Xuyên, Trùng Khánh, Vân Nam, Quý Châu, cũng là đầu mối giao thông của khu vực tây bắc. Các tuyến đường sắt trọng yếu trên địa bàn Thiểm Tây: đường sắt chuyên vận chuyển hành khách Trịnh-Tây, đường sắt Lũng-Hải, đường sắt Bảo-Thành, đường sắt Bảo-Trung, đường sắt Ninh-Tây, đường sắt Tây-Khang. Hệ thống đường sắt kéo dài từ bắc xuống nam, từ đông sang tây, nối Thiểm Tây với các tỉnh thành lân cận và với toàn quốc. Năm 2010, tỉnh Thiểm Tây có 8789 km đường sắt, vận chuyển 55.790.000 lượt người và 204.800.000 tấn hàng hóa. Cũng trong năm 2010, tỉnh Thiểm Tây có 147.461 công lộ, thực hiện vận chuyển 874.570.000 lượt khách và 771.230.000 tấn hàng hóa. Thiểm Tây có sân bay quốc tế Hàm Dương Tây An (thay thế sân bay Tây Quan Tây An vào năm 1991), sân bay Ngũ Lý Phố An Khang, sau khi hoàn thành việc nâng cấp thì sân bay Thành Cố Hán Trung sẽ thay thế chức năng hàng không dân dụng của sân bay Tây Quan Hán Trung, sân bay Nhị Thập Lý Bảo Diên An, sân bay Du Dương Du Lâm đã thay thế sân bay Tây Sa Du Lâm từ năm 2008. Năm 2010, Thiểm Tây có 358 đường bay, trong đó có 17 đường bay quốc tế và 9 tuyến đến Hồng Kông và Ma Cao, vận chuyển được 7.830.000 lượt hành khách và 90.000 tấn hàng hóa. == Các trường đại học == == Ghi chú == == Tham khảo ==
cứu thế quân.txt
Cứu Thế Quân (Salvation Army), hoặc Đạo quân Cứu thế, là một hệ phái Tin Lành (Evangelical) thuộc cộng đồng Kháng Cách (Protestant), cũng là một tổ chức xã hội với các hoạt động từ thiện được tổ chức giống mô hình quân đội. Cứu Thế Quân có hơn 1,5 triệu thành viên bao gồm các binh sĩ, sĩ quan, và thiện nguyện viên. Cứu Thế Quân hiện có mặt tại 126 quốc gia, điều hành các cửa hàng từ thiện, các địa điểm cư trú cho người vô gia cư, cứu trợ thiên tai, và trợ giúp nhân đạo cho các nước đang phát triển. Mục tiêu của tổ chức này là "phát triển Cơ Đốc giáo... trong các lãnh vực giáo dục, giảm nghèo, và các hoạt động từ thiện khác..." Trụ sở của Cứu Thế Quân đặt tại 101 đường Nữ hoàng Victoria, Luân Đôn, Anh Quốc. == Lịch sử == Cứu Thế Quân được thành lập ngày 5 tháng 7 năm 1865 bởi William Booth tại Khu Đông Luân Đôn (the East End), như là một phong trào Tin Lành (Evangelical) được gọi là Hiệp hội Phục hưng Cơ Đốc. Khi ấy, William Booth buộc phải rút lui khỏi giáo hội Giám Lý mà ông đang phục vụ trong cương vị mục sư. Năm 1878, tổ chức này được đổi tên thành Cứu Thế Quân với cơ cấu tổ chức và đồng phục được mô phỏng theo quân đội. Cứu Thế Quân được đặt dưới quyền lãnh đạo của một tướng quân (general), hiện nay là André Cox, Tướng quân thứ 20. Ban đầu những người qui đạo từ những nỗ lực của Cứu Thế Quân đa phần là người nghiện rượu, nghiện ma tuý, gái mại dâm và những thành phần bất hảo khác của xã hội. Họ là những người bị các giáo hội khác từ khước hoặc không muốn dính líu đến. Xuất phát từ phương pháp thực tiễn của Booth khi thi hành mục vụ, Cứu Thế Quân quyết định không giữ lại các thánh lễ (báp têm và tiệc thánh) trong nghi thức thờ phụng. Họ tin rằng phần lớn tín hữu Cơ Đốc ngày càng phụ thuộc vào hình thức bên ngoài của ân điển thay vì dựa vào chính ân điển ấy. Về thần học, William và vợ ông, Catherine, chịu ảnh hưởng bởi tư tưởng của Sứ đồ Phao-lô, tin rằng sự cứu rỗi được ban cho chỉ bởi ân điển của Thiên Chúa và được nhận lãnh chỉ bởi đức tin. Cả hai nhận ra rằng hiện trạng của Cơ Đốc giáo hầu hết chỉ là sự tuân giữ nghi thức bên ngoài. Trong số các xác tín truyền thống của Cứu Thế Quân có đòi hỏi các thành viên phải giữ mình khỏi rượu, thuốc lá, ma tuý và cờ bạc. Cứu Thế Quân mau chóng lớn mạnh, và nảy sinh từ tiến trình phát triển này là những va chạm xã hội. Một số người, tụ họp lại dưới cái tên Đạo quân Xương Sọ (Skeleton Army), thuê mướn những kẻ côn đồ đến phá phách các buổi tụ họp của Cứu Thế Quân, chiến thuật thường dùng của họ là ném đá, chuột chết, nhựa đường, và ngay cả tấn công các thành viên của Cứu Thế Quân. Sứ mạng của Cứu Thế Quân là chinh phục thế giới cho Chúa Giê-xu. Tướng quân Booth, nhà sáng lập, đã giải thích, "Cứu thế chỉ đơn giản là thắng hơn và đánh bật cái xấu khỏi thế gian". Ngay từ thời kỳ tiên khởi, Cứu Thế Quân đã đấu tranh không khoan nhượng với những điều họ tin là tội lỗi. Định nghĩa của họ về điều ác đặt nền tảng trên niềm tin của họ vào tính chân xác của Kinh Thánh Cơ Đốc giáo. Đến đầu thế kỷ 21, Cứu Thế Quân phát triển các chương trình hoạt động đến hơn 100 quốc gia. Câu phương châm "Trái tim cho Thiên Chúa, đôi tay cho con người" (Heart to God and Hand to Man) là tâm điểm và là mục tiêu của tổ chức này. Tại Anh Quốc, Cứu Thế Quân hiện là đơn vị cung cấp các loại phúc lợi xã hội lớn thứ nhì, chỉ sau chính phủ. Cứu Thế Quân đôi khi được gọi cách trìu mến là "Sally Ann" (chủ yếu là tại Canada). Tại Anh, tên thân mật của họ là "Sally Army", trong khi tại Úc, họ thường được nhắc đến với tên "Salvos". == Âm nhạc == Khi tiếng tăm của Cứu Thế Quân lan rộng và khi những người lính Cứu thế quân đi ra trên khắp các đường phố Luân Đôn để rao giảng phúc âm và thuyết phục nhiều người qui đạo, họ cũng thu hút những đám đông bạo hành. Cùng lúc, xuất hiện một gia đình nhạc công, tên gọi Fry, bắt đầu cộng tác với Cứu Thế Quân bằng cách chơi nhạc để đánh lạc hướng những người bạo hành. Từ lúc ấy, âm nhạc thường đồng hành với các hoạt động của Cứu Thế Quân, dần dần nhiều ban nhạc được thành lập. Những nhóm nhạc này, đa phần là các ban nhạc kèn đồng hoặc các nhóm nhỏ qui tụ những nhạc công với các loại nhạc cụ khác nhau, xuất hiện tại các chiến dịch, lễ hội và các cuộc diễu hành của Cứu Thế Quân trong mùa Giáng sinh. Các ban nhạc này thường đủ sức đáp ứng các tiêu chuẩn cao về âm nhạc, một số có đẳng cấp quốc tế như International Staff Band, trình độ ngang với các ban nhạc chuyên nghiệp dù họ không tham gia các kỳ tranh tài. Nhiều nhạc công kèn đồng chuyên nghiệp trưởng thành từ Cứu Thế Quân, một số vẫn duy trì mối quan hệ với Cứu Thế Quân như Philip Smith, tay kèn trumpet chính của Dàn nhạc Giao hưởng New York (New York Philharmonic Orchestra). == Sứ mạng == Cương lĩnh "Cứu Thế Quân, một phong trào quốc tế, thuộc trào lưu Tin Lành (Evangelical) của hội thánh chung. Sứ điệp của Cứu Thế Quân đặt nền tảng trên Kinh Thánh. Hoạt động của Cứu Thế Quân xuất phát từ tình yêu Thiên Chúa. Sứ mạng của Cứu Thế Quân là rao giảng phúc âm của Chúa Giê-xu Cơ Đốc và đáp ứng các nhu cầu của con người trong danh của Ngài mà không có sự phân biệt". Phương châm Huyết & Lửa (Huyết biểu trưng sự cứu rỗi của Chúa Giê-xu và Lửa biểu trưng quyền năng của Chúa Thánh Linh). Thần học Xác tín rằng Kinh Thánh gồm Tân Ước và Cựu Ước được ban cho bởi sự soi dẫn của Thiên Chúa; chỉ có Kinh thánh xác lập các điều luật thiên thượng về đức tin và sống đạo Cơ Đốc. Xác tín rằng chỉ có một Thiên Chúa, Ngài là toàn hảo vô hạn – là đấng Tạo hoá, đấng Bảo toàn và đấng Tể trị - chỉ có Ngài là đấng được tôn thờ. Xác tín rằng có Ba Ngôi – Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Linh. Xác tín rằng bản thể thiên thượng và bản thể con người hiệp nhất trong thân vị của Chúa Giê-xu, ngài thật sự là Thiên Chúa, cũng thật sự là con người. Xác tín rằng tổ phụ của chúng ta được tạo dựng trong sự vô tội (innocence), nhưng vì không chịu tuân phục Thiên Chúa, họ đã đánh mất phước hạnh và sự tinh khiết. Vì sự sa ngã của họ, mọi người trở nên tội nhân, hoàn toàn bại hoại, và vì vậy bị đặt dưới sự thịnh nộ của Thiên Chúa. Xác tín rằng Chúa Giê-xu Cơ Đốc, bởi sự thống khổ và sự chết của ngài, đền tội cho toàn thể thế gian hầu cho mọi người đều được cứu rỗi. Xác tín rằng sự hối cải để quay về với Thiên Chúa, đức tin vào Chúa Giê-xu Cơ Đốc, và sự tái sinh bởi Chúa Thánh Linh là cần có để được cứu rỗi. Xác tín rằng chúng ta được xưng công chính bởi ân điển qua đức tin vào Chúa Giê-xu Cơ Đốc, hễ ai tin sẽ nhận được sự xác chứng trong lòng mình. Xác tín rằng muốn được tiếp tục sống trong sự cứu rỗi, cần phải duy trì đức tin tuân phục trong Chúa Cơ Đốc. Xác tín rằng được thánh hoá trọn vẹn là đặc quyền dành cho mọi tín hữu Cơ Đốc, toàn thể tâm linh, linh hồn và thể xác của tín hữu được giữ gìn trọn vẹn cho đến khi Chúa Giê-xu trở lại (1 Thessalonians 5.23, 24) Xác tín vào sự sống vĩnh hằng của linh hồn; sự phán xét dành cho mọi người trong ngày tận thế; cuộc sống phước hạnh vĩnh cửu dành cho người công chính; và sự trừng phạt đời đời dành cho kẻ gian ác. Cứu Thế Quân luôn nhìn xem mình là một giáo hội Cơ Đốc, nhưng quan điểm này trải qua nhiều năm đang bị xói mòn trong cái nhìn của công chúng. Ngày nay thực thể này được biết đến như là một tổ chức thiện nguyện, khiến nhiều người thuộc Cứu Thế Quân muốn tái xác lập vai trò của họ như là một giáo hội Cơ Đốc. == Cứu trợ == Cứu Thế Quân là một trong những tổ chức cứu tế phi chính phủ lớn nhất, những người lính Cứu Thế Quân thường ở trong số những người đầu tiên có mặt tại các địa điểm bị thiên tai hoặc nhân tai để trợ giúp. Những chương trình hoạt động của họ giúp giảm bớt sự thống khổ của các nạn nhân và giúp họ xây dựng lại cuộc sống. Khi xảy ra Thảm họa Sóng thần Ấn Độ Dương năm 2004, Cứu Thế Quân có mặt kịp thời tại những vùng bị ảnh hưởng nặng nề nhất để trợ giúp nạn nhân cũng như tìm kiếm và chôn người chết. Từ lúc ấy, họ tiếp tục giúp xây dựng lại nhà cửa và đóng tàu thuyền mới giúp người dân trở lại nghề mưu sinh của mình. Cứu Thế Quân hoạt động tích cực tại các vùng bị tàn phá bởi các cơn bão Hugo và Andrew, cũng như tại các vùng bị thiên tai ở Hoa Kỳ. Họ tiếp tục duy trì các chương trình trợ giúp tại các trại tị nạn ở Phi châu và các nơi khác. Tháng 8 năm 2005 họ cấp tốc cung ứng nước uống cho dân nghèo bị ảnh thưởng bởi đợt nắng nóng tại Hoa Kỳ. Ngày 29 tháng 8 năm 2005, bão Katrina, thiên tai khủng khiếp nhất và gây thiệt hại lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ kể từ trận động đất tại San Francisco năm 1906, tàn phá các tiểu bang Louisiana, Mississippi, Alabama và nhấn chìm thành phố New Orleans, những người lính Cứu Thế Quân đã có mặt kịp thời để trợ giúp nạn nhân, đồng thời đẩy mạnh chiến dịch quyên góp trên khắp Hoa Kỳ và nhiều nước khác cho các chương trình tái thiết những nơi bị tổn thất do cơn bão. == Cửa hiệu Tiết kiệm và Công tác Từ thiện == Cứu Thế Quân nổi tiếng với mạng lưới các cửa hiệu tiết kiệm (thrift store) nhằm mục đích gây quỹ cho các hoạt động tôn giáo và từ thiện bằng cách bán những món đồ đã qua sử dụng được quyên tặng như áo quần, đồ gia dụng... Tại nhiều nơi khắp Hoa Kỳ và Canada, Cứu thế quân xuất hiện rầm rộ trong mùa Giáng sinh khi những người thiện nguyện đứng bên ngoài các cơ sở kinh doanh, rung chuông quyên góp người đi đường. Chiến dịch này được tiến hành mỗi năm trên khắp Bắc Mỹ, thường thu được vài triệu mỹ kim. Có một truyền thống đặc biệt phát triển tại một vài nơi ở Hoa Kỳ khi những người ẩn danh lặng lẽ bỏ vào thùng quyên góp (kettle) những đồng tiền vàng. Truyền thống này bắt đầu tại Crystal Lake, Illinois, một khu ngoại ô thành phố Chicago. Hầu hết những đồng tiền vàng được quyên tặng trị giá vài trăm mỹ kim. Tại Thành phố New York, những người thiện nguyện đi ra quyên góp trong trang phục của ông già Noel. == Chú thích == == Xem thêm == William Booth Tổ chức Tầm nhìn Thế giới Mục vụ Bạn của Tù nhân Tổ chức Hỗ trợ Gia cư Habitat == Liên kết ngoài == Cứu Thế Quân
quan hệ bulgaria – trung quốc.txt
Quan hệ Bulgaria – Trung Quốc là mối quan hệ ngoại giao giữa Bulgaria và Trung Quốc. Cả hai nước đã thiết lập mối quan hệ ngoại giao vào ngày 4 tháng 10 năm 1949. Bulgaria có một đại sứ quán tại Bắc Kinh, Trung Quốc. Trung Quốc có một đại sứ quán tại Sofia, Bulgaria. == Xem thêm == Quan hệ ngoại giao của Bulgaria Quan hệ ngoại giao của Trung Quốc Người Hoa tại Bulgaria == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bulgarian embassy in Beijing Chinese Ministry of Foreign Affairs about relations with Bulgaria Chinese embassy in Sofia Bản mẫu:Quan hệ ngoại giao Trung Quốc
danh sách vương quốc.txt
Vương quốc in đậm là vương quốc chứa nhiều các vương quốc nhỏ. == Châu Phi == Ai Cập cổ đại - (3150 TCN - 30 TCN) Vương quốc Kerma - (2500 TCN - 1520 TCN) Carthage - (1215 TCN - 146 TCN) Vương quốc Kush - (1070 BC – 350) Vương quốc D'mt - (khoảng 700 TCN - c. 400 TCN) Ai Cập thuộc Hy Lạp - (305 TCN – 30 TCN) Numidia - (202 TCN - 46 TCN) Vương quốc Makuria - (350 - 1276, 1286–1317) Vương quốc Makurian - (thế kỷ 5 – 1517) Vương quốc Nekor - (710 – 1019) Vương quốc Nri - (1043 - 1911) Vương quốc Sine - (1100 - 1969) Vương quốc Mankessim - (1252–1873) Vương quốc Makuria - (350 - 1276, 1286 - 1317) Vương quốc Kaffa - (khoảng 1390–1897) Vương quốc Kongo - (1395–1914) Vương quốc Mutapa - (khoảng 1450–1698) Vương quốc Fez - (1472–1554) Vương quốc Loango - (thế kỷ 15 - thế kỷ 19) Vương quốc Kasanze - (khoảng 1500-1648) Vương quốc Koya - (1505-1896) Vương quốc Denanke - (1514–1776) Vương quốc Baguirmi - (1522-1897) Vương quốc Matamba - (1530 - thế kỷ 19) Vương quốc Cayor - (1549 - 1879) Vương quốc Luba - (1585-1889) Vương quốc Dendi - (1591–1901) Vương quốc Igala - (thế kỷ 16 - 1901) Vương quốc Kasanje - (1620–1910) Vương quốc Kuba - (1625–1900) Vương quốc Ouaddai - (1635–1912) Vương quốc Kénédougou - (c. 1650-1898) Vương quốc Yeke - (khoảng 1856 - 1891) Vương quốc Libya - (1951–1969) === Không rõ niên đại === Akwa Akpa Vương quốc Anziku Vương quốc Ndongo Vương quốc Mandara Vương quốc Garo Vương quốc Whydah Vương quốc Oualo Vương quốc Kotoko Vương quốc Kasa Vương quốc Saalum Vương quốc Dosso Vương quốc Baol Vương quốc N'Goyo Vương quốc Janjero == Châu Á == Vương quốc Kish - (khoảng 2900 TCN - 2296 TCN) Văn Lang - (2879 TCN - 258 TCN) Vương quốc Uruk - (khoảng 2600 TCN - 2048 TCN) Vương quốc Ur - (khoảng 2500 TCN - 1940 TCN) Vương quốc Lagash - (khoảng 2500 TCN - 2046 TCN) Cổ Triều Tiên - (2333 TCN - 108 TCN) Triều đại Trung Quốc - (2070 TCN - 1912) Amorite - (khoảng 2000 TCN - 1595 TCN) Assyria - (khoảng 2000 TCN - 605 TCN) Larsa - (1961 TCN - 1674 TCN) Babylon (1830 TCN - 732 TCN) Vương quốc Mitanni - (khoảng 1500 TCN - khoảng 1300 TCN) Vương quốc Arzawa - (khoảng 1500 TCN - khoảng 1200 TCN) Phrygia - (khoảng 1200 TCN - 696 TCN) Phoenicia - (1200 TCN - 539 TCN) Vương quốc Lydia - (khoảng 1200 TCN - 546 TCN) Philistia - (1175 TCN - 732 TCN) Vương quốc Sabaean - (khoảng 1100 TCN - 275) Vương quốc Liên hiệp Israel và Judah - (1030 TCN – 931 TCN) Vương quốc Ammon - (khoảng 1000 TCN - 332 TCN) Vương quốc Israel - (930 TCN – 720 TCN) Vương quốc Judah - (930 TCN – 586 TCN) Vương quốc Edom - (khoảng 900 TCN - c. 600 TCN) Vương quốc Urartu - (858 TCN – 585 TCN) Vương quốc Orintid của Armenia - (khoảng 600 TCN - 335 TCN) Vương quốc Bosporos - (khoảng 600 TCN - 443 TCN) Vương triều Pandya - (khoảng 600 TCN - 1345 TCN) Vương quốc Scythia - (khoảng 600 TCN - khoảng 100 TCN) Vương quốc Tambapanni - (543 TCN - 505 TCN) Vương quốc Upatissa Nuwara - (505 TCN - 377 TCN) Vương quốc Odrysia - (460 TCN – 46) Điền quốc - (khoảng 300 TCN – 109 TCN) Vương quốc Rajarata - (377 TCN – 1310) (Thủ đô: Anuradhapura, Sigiriya, Polonnaruwa) Vương quốc Armenia (cổ đại) - (331 TCN – 428) Vương quốc Iberia - (302 TCN - 580) Vương quốc Pontus - (291 TCN - 62) Âu Lạc - (258 TCN - 207 TCN) Vương quốc Hy Lạp-Bactria - (256 TCN – 125 TCN) Nhà Attalos - (282 TCN – 133 TCN) Nam Việt - (204 TCN - 111 TCN) Vương quốc Sophene - (khoảng 200 TCN - 94 TCN) Vương quốc Twipra - (khoảng 200 TCN - 1858) Vương quốc Ấn-Scythia - (200 TCN - 395) Vương quốc Ấn-Hy Lạp - (180 TCN – 10) Vương quốc Nabataean - (168 TCN – 106) Vương quốc Commagene - (163 TCN - 72) Vương quốc Hasmoneus - (140 TCN – 37 TCN) Vương quốc Himyarite - (110 TCN – 525) Phù Dư - (khoảng 100 TCN – 494) Vương quốc Kuninda - (khoảng 100 TCN - khoảng 200) Tân La - (57 TCN - 935) Cao Câu Ly - (37 TCN - 668) Bách Tế - (18 TCN - 660) Vương quốc Ấn-Parthia - (12 TCN – 130) Vu Điền - (56 – 1006) Phù Nam - (khoảng 1 - 628) Lâm Ấp - (192 - 605) Chân Lạp - (khoảng 550 - 802) Langkasuka - (khoảng 100 - 1516) Thổ Dục Hồn - (285 – 670) Ngũ Hồ thập lục quốc - (304 - 439) Tarumanagara - (358 - 669) Kamarupa - (thế kỷ 4 - thế kỷ 12) Vương quốc Melayu - (thế kỷ 4 - thế kỷ 13) Deira - (thế kỷ 6) Vương quốc Kedah - (630 - 1136) Vương quốc Sunda - (669 - 1579) Vương quốc Bột Hải - (698 – 926) Nam Chiếu - (thế kỷ 8 - thế kỷ 9) Chăm Pa - (thế kỷ 7 - 1832) Vương quốc Brunei - (thế kỷ 7 đến nay) Vương quốc Medang - (752–1045) Vương quốc Tây Frank - (843 - 987) Triều Pagan - (849-1287) Các quốc gia Môn ở Myanma - (thế kỷ 9 - 11, thế kỷ 13 - 16, thế kỷ 18) Hậu Bách Tế - (900 - 936) Hậu Cao Câu Ly - (khoảng 901 - 918) Đông Đan - (926 - 936) Vương quốc Đại Lý - (937 - 1253) Tây Hạ - (1038 - 1227) Vương quốc Kediri - (1045–1221) Vương quốc Cilicia của Armenia - (1080–1375) Vương quốc Jerusalem - (1099–1291) Vương quốc Sutiya - (1187 - 1673) Vương quốc Jaffna - (1215–1619) Vương quốc Singhasari - (1222–1292) Vương quốc Ahom - (1228–1826) Vương quốc Sukhothai - (1238–1438) Vương quốc Thái Lan - (thế kỷ 14 đến nay) Vương quốc Majapahit - (1293–1527) Vương quốc Ayutthaya - (1351–1767) Nhà Triều Tiên - (1392–1897) Vương quốc Mysore - (1399–1947) Vương quốc Garhwal - (c.1400 - 1814) Vương quốc Kotte - (1412–1597) Vương quốc Lưu Cầu - (1429–1879) Vương quốc Sitawaka - (1521–1594) Vương quốc Đại Đỗ - (thế kỷ 17) Vương quốc Kandy - (1581–1815) Vương quốc Đông Ninh - (1662–1683) Vương quốc Nepal - (1768–2008) Vương quốc Lào - (1953–1975) Vương quốc Campuchia - (1953 đến nay) === Không rõ niên đại === Vương quốc Namayan - (? – 1571) Vương quốc Wajo - (khoảng 1450 - ?) Vương quốc Madra Vương triều Pandya Vương quốc Kachari Vương quốc Kamata Vương quốc Pattani Vương quốc Axumite (Đế chế Aksumite) Vương quốc Kuru Vương quốc Twipra Vương quốc Nakhon Si Thammarat Vương quốc Galuh Vương quốc Pagaruyung Vương quốc Judah Vương quốc tiền Pandyan Vương quốc Shan Vương quốc Awsan Vương quốc Kibi Vương quốc Araba Vương quốc Niya Vương quốc Sunda Vương quốc Cochin (thế kỷ 12-1947) == Châu Đại Dương == Vương quốc Hawaii - (1795–1893) Vương quốc Uvea (Đảo Wallis) - (1767– ?) == Châu Mỹ == Vương quốc Chimor (Chimu) - (900 – 1470) Vương quốc Q'umarkaj của K'iche' - (thế kỷ 13 – 1524) Tân Vương quốc Granada - (thế kỷ 16 – 1739) Vương quốc Haiti - (1811 – 1820) Vương quốc Liên hiệp Bồ Đào Nha, Brasil và Algarves - (1815 – 1822) === Không rõ niên đại === Vương quốc Tlaxcallan == Châu Âu == Thời kỳ Minos - (khoảng 2700 TCN đến 1600 TCN) Thời kỳ Mycenae - (khoảng 1900 TCN đến 1100 TCN) Thành bang Athena - (khoảng 1400 TCN - 338 TCN) Thành bang Sparta - (khoảng 900 TCN – 146 TCN) Vương quốc Macedonia - (808 TCN – 146 TCN) Vương quốc La Mã - (753 TCN – 510 TCN) Thành bang Corinth - (747 TCN – 146 TCN) Thành bang Thebes - (khoảng 500 TCN – 335 TCN) Vương quốc Mide - (76 - 1171) Vương quốc Commagene - (163 TCN – 72) Vương quốc Dacia - (82 TCN - 106) Vương quốc Francia - (thế kỷ 3 - thế kỷ 10) Vương quốc Burgundy thứ nhất - (thế kỷ 4) Vương quốc Galicia (Vương quốc Galicia của Suebic) - (410 – 584, 910 — 1833) Vương quốc Visigothic - (418 – 721) Vương quốc Kent - (450 – 871) Vương quốc Gwynedd - (460 – 1282) Vương quốc Sussex - (477 – 825) Vương quốc Ostrogoth - (493 – 553) Vương quốc Ceredigion - (thế kỷ 5 – đầu thế kỷ 10) Vương quốc Powys - (5th thế kỷ – 1160) Vương quốc Wessex - (519 – 927) Vương quốc Essex - (527 – 812) Vương quốc Mercia - (527 – 919) Vương quốc Ý - (568 - 1806, 1805–1814, 1861–1946) Vương quốc Lombard - (568 - 774) Vương quốc Bernicia - (thế kỷ 6) Vương quốc Đông Angles - (thế kỷ 6 – 917) Vương quốc Northumbria - (654 – 878) Vương quốc Asturias - (718 – 925) Vương quốc Abkhazia - (780 - 1008) Vương quốc Navarra - (824 – 1620) Vương quốc Scotland - (843 – 1707, 1660 — 1707) Vương quốc Armenia của Bagratuni - (845 – 1045) Vương quốc Castilla - (850 – 1230) Vương quốc Jórvík - (876 – 954) Vương quốc Provence - (879 - 933) Vương quốc Na Uy - (thế kỷ 9 đến nay) Vương quốc Alba - (900 - 1286) Vương quốc León - (910 – 1230) Vương quốc Croatia - (khoảng 925 - 1102, 1527 - 1868) Vương quốc Anh - (927 — 1649, 1660 — 1707) Vương quốc Arles (Vương quốc Burgundy thứ hai) - (933 - 1378) Vương quốc Deheubarth - (950 – 1197) Vương quốc Viguera - (970 - 1005) Vương quốc Georgia -(978 - 1223) Vương quốc Lori - (979 – 1118) Vương quốc Thụy Điển - (khoảng thế kỷ 11 đến nay) Vương quốc Hungary thời Trung cổ - (1000–1570) Vương quốc Mann và Isles - (1079–1266) Vương quốc Ba Lan - (1025–1385, 1385–1569) Vương quốc Aragon - (1035–1707) Vương quốc Duklja - (1053–1100) Vương quốc Cyprus - (1192–1489) Vương quốc Sicilia - (1130–1816) Vương quốc Bồ Đào Nha - (1139–1910) Vương quốc Thessalonica - (1204–1224) Vương quốc Bohemia - (1212–1918) Vương quốc Algarve - (1242–1910) Vương quốc Valencia - (1237–1707) Vương quốc Lithuania - (1251 - 1263, 1918) Vương quốc Majorca - (1262–1349) Vương quốc Albania - (1272–1368) Vương quốc Napoli - (1285–1816) Vương quốc Bosnia - (1377–1463) Vương quốc Ba Lan - (1025–1385, 1385–1569) Vương quốc Imereti - (1455 - 1810) Vương quốc Kakheti - (1465–1762) Vương quốc Tây Ban Nha - (1492 đến nay) Vương quốc Đông Hungary - (1526–1571) Vương quốc Croatia - (c.925 - 1102, 1527 - 1868) Hoàng gia Hungary - (1570–1867) Vương quốc Ireland - (1541–1651, 1659–1801) Vương quốc Livonia - (1570–1578) Vương quốc Ireland - (1541–1651, 1659–1801) Vương quốc Scotland - (843 – 1707, 1660 — 1707) Vương quốc Phổ - (1701–1918) Vương quốc Anh (1707-1801) - (1707–1801) Vương quốc Sardegna - (1720–1861) Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland - (1801–1922) Vương quốc Ý - (568 - 1806, 1805–1814 1861–1946) Vương quốc Bayern - (1806–1918) Vương quốc Sachsen - (1806–1918) Vương quốc Hà Lan - (1806–1810) Vương quốc Württemberg - (1806–1918) Vương quốc Westphalia - (1807–1813) Vương quốc Tây Ban Nha - (1808–1813) Vương quốc Hai Sicilia - (1811–1861) Vương quốc Hannover - (1814–1866) Vương quốc Brasil - (1815–1822) Vương quốc Liên hiệp Bồ Đào Nha, Brasil và Algarves - (1815–1822) Vương quốc Hy Lạp - (1832–1924, 1935–1974) Vương quốc Ý (1861-1946) - (568 - 1806, 1805–1814 1861–1946) Vương quốc Romania - (1881–1947) Vương quốc Serbia - (1882–1918) Vương quốc Bulgaria - (1908–1946) Vương quốc Montenegro - (1910–1918) Vương quốc Lithuania - (1251–1263, 1918) Vương quốc Nam Tư - (1918–1943) Vương quốc Iceland - (1918–1944) Vương quốc Hungary Cận đại - (1000 — 1918, 1919 — 1944, 1944 — 1946) Vương quốc Albania - (1928–1939) Vương quốc Hy Lạp - (1832–1924, 1935–1974) Vương quốc Hungary - (1920–1946) Vương quốc Hà Lan - (1954 đến nay) Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland - (1922 đến nay) === Không rõ niên đại === Vương quốc Bosporos Vương quốc Strathclyde Vương quốc Gwent Vương quốc Đức Vương quốc Osraige Vương quốc Breifne Vương quốc Lindsey Vương quốc Dyfed Vương quốc Toledo Vương quốc Đông Frank Vương quốc Tây Frank Vương quốc Ireland Vương quốc Visigoth Vương quốc Fortriu Vương quốc Dumnonia Vương quốc Cait Vương quốc Murcia Vương quốc Đan Mạch == Tiểu vương quốc == Vương quốc Talossa - (1979 đến nay) Vương quốc Torga - (2011 đến nay) == Tham khảo ==
hóa học.txt
Hóa học, một nhánh của khoa học tự nhiên, là ngành nghiên cứu về thành phần, cấu trúc, tính chất, và sự thay đổi của vật chất. Hóa học nói về các nguyên tố, hợp chất, nguyên tử, phân tử, và các phản ứng hóa học xảy ra giữa những thành phần đó. Hóa học đôi khi được gọi là "khoa học trung tâm" vì nó là cầu nối các ngành khoa học tự nhiên khác như vật lý học, địa chất học và sinh học. == Lịch sử == Hóa học phát triển từ giả kim thuật, đã được thực hành từ hàng ngàn năm trước như ở Trung Hoa, Châu Âu và Ấn Độ. Khoa giả kim thuật nghiên cứu về vật chất, nhưng thế giới của những nhà giả kim thuật đều dựa trên kinh nghiệm thực tế và công thức bắt nguồn từ thực hành chứ không dựa vào những nghiên cứu khoa học. Mục đích của họ là một chất gọi là "Hòn đá phù thủy" dùng để biến đổi những chất như chì thành vàng. Các nhà giả kim thuật đã tiến hành rất nhiều thí nghiệm để tìm ra chất này và qua đó họ đã phát triển nhiều dụng cụ mà ngày nay vẫn còn được sử dụng trong kỹ thuật hóa học. Tuy nhiên, không một nhà giả kim thuật nào tìm ra được hòn đá phù thủy và trong thế kỷ thứ 17, các phương pháp làm việc của khoa giả kim thuật được thay đổi bằng những phương pháp khoa học. Một phần kiến thức của các nhà giả kim thuật đang được sử dụng bởi các nhà hóa học, những người làm việc dựa vào kết luận hợp lý dựa trên những gì mà họ quan sát được chứ không dựa vào ý nghĩ biến hóa chì thành vàng. Thuật ngữ 'Hóa học' có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp χημεία chimeía (nghệ thuật về kim loại). Phát âm của từ mang nghĩa Hóa học được sử dụng ngày nay có lẽ lần đầu tiên được sử dụng bởi Johann Joachim Lange khoảng năm 1750-1753. Lịch sử của hóa học có thể được coi như bắt đầu từ lúc Robert Boyle tách hóa học từ khoa giả kim thuật trong tác phẩm The Skeptical Chemist (Nhà hóa học hoài nghi) vào năm 1661 nhưng thường được đánh dấu bằng ngày Antoine Lavoisier tìm ra khí ôxy vào năm 1783. Hóa học có bước phát triển mạnh và phân hoá vào thế kỷ 19. Những nghiên cứu của Justus von Liebig về tác động của phân bón đã thành lập ra ngành Hóa nông nghiệp và cung cấp nhiều nhận thức cho ngành hóa vô cơ. Cuộc tìm kiếm một hóa chất tổng hợp thay thế cho chất màu indigo dùng để nhuộm vải là bước khởi đầu của những phát triển vượt bậc cho ngành hóa hữu cơ và dược. Một đỉnh cao trong sự phát triển của ngành hóa học chính là phát minh bảng tuần hoàn nguyên tố của Dmitri Ivanovich Mendeleev và Lothar Meyer. Mendelev đã sử dụng quy luật của bảng tuần hoàn để tiên đoán trước sự tồn tại và tính chất của các nguyên tố germanium, gallium và scandium vào năm 1870. Gallium được tìm thấy vào năm 1875 và có những tính chất như Mendeleev đã tiên đoán trước. Nghiên cứu trong hóa học đã phát triển trong thời kỳ chuyển tiếp sang thế kỷ 20 đến mức các nghiên cứu sâu về cấu tạo nguyên tử đã không còn là lãnh vực của hóa học nữa mà thuộc về vật lý nguyên tử hay vật lý hạt nhân. Mặc dù vậy, các công trình nghiên cứu này đã mang lại nhiều nhận thức quan trọng về bản chất của sự biến đổi chất hóa học và của các liên kết hóa học. Các động lực quan trọng khác bắt nguồn từ những khám phá trong vật lý lượng tử thông qua mô hình quỹ đạo điện tử. == Tầm quan trọng == === Đời sống === Phản ứng hóa học xảy ra trong cuộc sống hằng ngày ví dụ như trong lúc nấu ăn, làm bánh hay rán mà trong đó các biến đổi chất xảy ra một cách rất phức tạp đã góp phần tạo nên hương vị đặc trưng cho món ăn. Thêm vào đó thức ăn được phân tách ra thành các thành phần riêng biệt và cũng được biến đổi thành năng lượng. === Liên hệ với khoa học khác === Hóa học nghiên cứu về tính chất của các nguyên tố và hợp chất, về các biến đổi có thể có từ một chất này sang một chất khác, tiên đoán trước tính chất của những hợp chất chưa biết đến cho tới nay, cung cấp các phương pháp để tổng hợp những hợp chất mới và các phương pháp đo lường hay phân tích để tìm các thành phần hóa học trong những mẫu thử nghiệm. Mặc dù tất cả các chất đều được cấu tạo từ một số loại "đá xây dựng" tương đối ít, tức là từ khoảng 80 đến 100 nguyên tố trong số 118 nguyên tố được biết đến nhưng sự kết hợp và sắp xếp khác nhau của các nguyên tố đã mang lại đến vài triệu hợp chất khác nhau, những hợp chất mà đã tạo nên các loại vật chất khác nhau như nước, cát (chất), mô sinh vật và mô thực vật. Thành phần của các nguyên tố quyết định các tính chất vật lý và hóa học của các chất và làm cho hóa học trở thành một bộ môn khoa học rộng lớn. Cũng như trong các bộ môn khoa học tự nhiên khác, thí nghiệm trong hóa học là cột trụ chính. Thông qua thí nghiệm, các lý thuyết về cách biến đổi từ một chất này sang một chất khác được phác thảo, kiểm nghiệm, mở rộng và khi cần thiết thì cũng được phủ nhận. Tiến bộ trong các chuyên ngành khác nhau của hóa học thường là các điều kiện tiên quyết không thể thiếu cho những nhận thức mới trong các bộ môn khoa học khác, đặc biệt là trong các lãnh vực của sinh học và y học, cũng như trong lãnh vực của vật lý (Ví dụ như việc chế tạo các chất siêu dẫn mới). Hóa sinh, một chuyên ngành rộng lớn, đã được thành lập tại nơi giao tiếp giữa hóa học và sinh vật học và là một chuyên ngành không thể thiếu được khi muốn hiểu về các quá trình trong sự sống, các quá trình mà có liên hệ trực tiếp và không thể tách rời được với sự biến đổi chất. Đối với y học thì hóa học không thể thiếu được trong cuộc tìm kiếm những thuốc trị bệnh mới và trong việc sản xuất các dược phẩm. Các kỹ sư thường tìm kiếm vật liệu chuyên dùng tùy theo ứng dụng (vật liệu nhẹ trong chế tạo máy bay, vật liệu xây dựng chịu lực và bền vững, các chất bán dẫn đặc biệt tinh khiết,...). Ở đây bộ môn khoa học vật liệu đã phát triển như là nơi giao tiếp giữa hóa học và kỹ thuật. === Trong công nghiệp === Công nghiệp hóa học là một ngành kinh tế rất quan trọng. Công nghiệp hóa học sản xuất các hóa chất cơ bản như axít sunfuric hay amoniac, thường là nhiều triệu tấn hằng năm, cho sản xuất phân bón và chất dẻo và các mặt khác của đời sống và sản xuất công nghiệp. Mặt khác, ngành công nghiệp hóa học cũng sản xuất rất nhiều hợp chất phức tạp, đặc biệt là dược phẩm. Nếu không có các hóa chất được sản xuất trong công nghiệp thì cũng không thể nào sản xuất máy tính hay nhiên liệu và chất bôi trơn cho công nghiệp ô tô. == Phân ngành == Hóa học được chia ra theo loại chất nghiên cứu mà quan trọng nhất là cách chia truyền thống ra làm Hóa hữu cơ (Hóa học nghiên cứu về những hợp chất của cacbon) và Hóa vô cơ (Hóa học của những nguyên tố và hợp chất không có chuỗi cacbon). Một cách chia khác là chia Hóa học theo mục tiêu thành Hóa phân tích (phân chia những hợp chất) và Hóa tổng hợp (tạo thành những hợp chất mới). Một số chuyên ngành quan trọng khác của Hóa học là: Hóa sinh, Hóa-Lý, Hóa lý thuyết bao gồm ngành Hóa lượng tử, Hóa thực phẩm, Hóa lập thể, và Hóa dầu. == Khái niệm quan trọng == Mô hình hiện tại về cấu trúc nguyên tử là mô hình cơ học lượng tử. Hóa học truyền thống bắt đầu với sự nghiên cứu về các hạt cơ bản, nguyên tử, phân tử, hợp chất, kim loại, tinh thể và các tập hợp vật chất khác. Loại vật chất này có thể nghiên cứu ở dạng rắn, lỏng hoặc khí ở dạng riêng biệt hoặc kết hợp. Tương tác hóa học, phản ứng và biến đổi được nghiên cứu trong hóa học thường là kết quả của sự tương tác giữa các nguyên tử làm sắp xếp lại các liên kết hóa học giữ các nguyên tử đi cùng nhau. Phản ứng hóa học là một dạng biến đổi của một số chất thành một hoặc nhiều chất khác. Nền tảng của biến đổi hóa học là tái sắp xếp các electron trong các liên kết hóa học giữa các nguyên tử. Nó có thể được biểu diễn bằng phương trình hóa học. Số nguyên tử bên phải và trái của phương trình biến đổi hóa học là bằng nhau. Tùy loại phản ứng hóa học, một chất có thể diễn ra và năng lượng thay đổi kèm theo tuân thủ theo các nguyên tắc nhất định được gọi là các quy luận hóa học. Năng lượng và entropy là yếu tố quan trọng không thay đổi trong hầu hết các nghiên cứu hóa học. Các chất hóa học được phân loại theo cấu trúc, pha cũng như thành phần hóa học. Các chất này được phân tích bằng các công cụ của hóa phân tích, như quang phổ và sắc ký. Các nhà khoa học nghiên cứu liên quan đến hóa học được gọi là nhà hóa học. Hầu hết các nhà hóa học chuyên nghiên cứu về một hoặc nhiều lĩnh vực. Nhiều khái niệm quan trọng trong nghiên cứu hóa học như: === Thuật ngữ === Bài chính: Thuật ngữ hóa Thuật ngữ là cách đặt tên rõ ràng cho các hợp chất. Các hợp chất hữu cơ có tên theo thuật ngữ hữu cơ, và các hợp chất vô cơ có tên theo thuật ngữ vô cơ. === Nguyên tử === Bài chính: Nguyên tử Nguyên tử là thành phần nhỏ nhất trong hóa học. Nó được xem là nhỏ nhất vì đối với hóa học, nguyên tử không thể bị chia nhỏ hơn được nữa. Nguyên tử bao gồm hơn 100 nguyên tử các loại. === Nguyên tố === Bài chính: Nguyên tố. Nguyên tố là tập hợp những nguyên tử đồng vị, có cùng số proton nhưng khác số nơtron. Có khoảng 110 nguyên tố hóa học, số thứ tự nguyên tố trong bảng tuần hoàn chính là số hạt proton trong hạt nhân nguyên tử. Ví dụ: nguyên tố Hydrô là tập hợp 3 loại đồng vị của nguyên tử hydrô gồm các nguyên tử có 1 proton trong hạt nhân và những nguyên tử có 92 proton trong hạt nhân thuộc nguyên tố urani. === Hợp chất === Bài chính: Hợp chất hóa học. Một hợp chất trong hóa học là một chất có tỷ lệ cố định của các nguyên tố cấu thành và có một cấu tạo nhất định quyết định các tính chất hóa học. Ví dụ như nước là một hợp chất có hiđrô và ôxy với tỷ lệ 2:1. Các hợp chất được tạo thành và biến đổi thông qua các phản ứng hóa học. === Phân tử === Bài chính: Phân tử. Phân tử là phần nhỏ nhất không thể chia cắt được nữa của một hợp chất tinh khiết mà vẫn giữ được các tính chất hóa học đồng nhất. Một phân tử chứa đựng 2 hay nhiều nguyên tử liên kết với nhau. Phân tử biểu hiện sự liên kết của nguyên tử. === Ion === Bài chính: Ion. Ion là một chất có tích điện hay một nguyên tử hay phân tử đã mất đi hay có thêm một điện tử. Cation tích điện dương (Ví dụ như cation của natri Na+) và anion tích điện âm (Ví dụ clorua Cl-) tạo thành muối trung tính (Ví dụ như natri clorua). Hyđroxyt (OH-) hay phosphat (PO43-) là các ví dụ cho ion nhiều nguyên tử không bị chia cắt trong các phản ứng axít-bazơ. === Liên kết hóa học === Bài chính: Liên kết hóa học. Liên kết hóa học là liên kết giữa các nguyên tử trong phân tử hay trong tinh thể. Trong nhiều hợp chất đơn giản, thuyết liên kết hóa trị và khái niệm về số ôxi hóa có thể được ứng dụng để tiên đoán rất nhiều cấu trúc của ion. Tuy nhiên Thuyết liên kết hóa trị không giải thích được cấu tạo của các hợp chất phức tạp hơn như các hợp chất phức của kim loại và người ta phải cần đến các lý thuyết khác dựa trên cơ sở của hóa lượng tử như thuyết quỹ đạo phân tử. === Trạng thái vật chất === Bài chính: Trạng thái vật chất. Trong vật lý và hóa học, một trạng thái vật chất, hay một pha của vật chất, là một tập hợp các điều kiện vật lý và hóa học mà ở đó vật chất có các tính chất lý hóa đồng nhất. === Phản ứng hóa học === Bài chính: Phản ứng hóa học. Phản ứng hóa học là các biến đổi trong cấu trúc của các phân tử. Trong phản ứng hóa học các phân tử liên kết với nhau tạo thành các phân tử lớn hơn hay bị phá vỡ ra thành 2 hay nhiều phân tử nhỏ hơn. Các phản ứng hóa học thường bao hàm việc tạo thành hay phá vỡ các liên kết hóa học. === Hóa lượng tử === Bài chính: Hóa lượng tử. Hóa lượng tử miêu tả vật chất trong thế giới hóa học trên cơ sở của Cơ học lượng tử. Về nguyên tắc có thể dùng lý thuyết này để miêu tả tất cả các hệ thống hóa học. Tuy nhiên, do sự phức tạp của việc giải Phương trình Schrödinger của Cơ học lượng tử, chỉ một số ít các hệ phân tử, nguyên tử đơn giải được nghiên cứu chi tiết. Các hệ thống phức tạp hơn được nghiên cứu qua việc giải gần đúng với các giả thiết điều kiện biên tối giản của phương trình sóng Schrodinger. === Các định luật === Khái niệm cơ bản nhất trong hóa học là định luật bảo toàn khối lượng (không có thay đổi về số lượng của vật chất trong một phản ứng hóa học). Vật lý hiện đại đã chỉ ra rằng chính năng lượng mới được bảo toàn và đồng thời năng lượng và khối lượng có liên hệ trực tiếp với nhau, một thuyết quan trọng trong ngành hóa hạt nhân. Định luật bảo toàn năng lượng cũng là định luật cơ sở của nhiều lý thuyết quan trọng khác của cân bằng hóa học, nhiệt động lực học và động lực học hóa học Các định luật khác của hóa học phát sinh từ định luật bảo toàn khối lượng. Định luật tỷ lệ xác định của Joseph Proust cho rằng các hóa chất tinh khiết được cấu tạo từ nguyên tử của các nguyên tố với một công thức cố định. Định luật tỷ lệ bội số của John Dalton cho rằng các nguyên tử của một nguyên tố này hiện diện trong chất với một tỷ lệ nhất định là các số nguyên nhỏ nhất (Ví dụ O và H tồn tại trong phân tử nước theo tỷ lệ 1:2). Các định luật hiện đại của hóa học định nghĩa mối quan hệ giữa năng lượng và sự biến đổi. Sự biến đổi từ cấu trúc này sang cấu trúc khác cần dùng đến năng lượng để vượt qua rào cản năng lượng, Hóa học gọi là Hàng rào thế năng hay Năng lượng hoạt hóa. Năng lượng cần dùng này có thể là năng lượng nội tại bên trong của chính các phân tử hay từ một nguồn bên ngoài. Tốc độ của sự biến đổi phụ thuộc nhiều vào Năng lượng hoạt hóa. Năng lượng hoạt hóa càng cao thì sự biến đổi xảy ra càng chậm vào ngược lại. Định đề Hammond-Leffler cho rằng cấu trúc của các phân tử tại trạng thái chuyển tiếp trong các phản ứng hóa học sẽ tương tự với sản phẩm hay hóa chất khởi đầu có năng lượng bên trong gần giống nhất. Tất cả các quy trình hóa học đều có thể đảo ngược được mặc dù một vài quy trình cần nhiều năng lượng đến mức về cơ bản chúng không đảo ngược được. Sự cân bằng hóa học là một trạng thái mà ở đó vận tốc của quá trình biến đổi thuận bằng với vận tốc của quá trình đảo ngược, nghĩa là vận tốc sinh ra một chất cân bằng với vận tốc của quá trình làm tiêu hao chất đó thành các sản phẩm ban đầu. Nếu có một sự tác động làm phá vỡ cân bằng này, thì sự biến đổi sẽ được thực hiện theo hướng chống lại sự thay đổi này nhằm thiết lập một cân bằng hóa học mới. == Xem thêm == Bảng tuần hoàn Hợp chất hóa học Nhà hóa học Khoa học tự nhiên == Chú thích == == Tham khảo == (bằng tiếng Việt) Hóa học cho mọi người - mọi nhà: Trọn bộ 4 tập. B.Đ. Stêrin, L.IU Alikberôva; Người dịch: Nguyễn Thị Quyên. Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật, 2000 == Liên kết ngoài == Hoá học tại Từ điển bách khoa Việt Nam Chemistry tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
lục pháp hòa.txt
Lục Pháp Hòa (chữ Hán: 陆法和), tự đặt hiệu là Kinh Sơn cư sĩ (chữ Hán: 荆山居士), không rõ năm sinh năm mất, không rõ thân thế. Ông là cư sĩ thờ Phật , tướng lĩnh, tam công nhà Lương, vào thời Nam Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc. Câu chuyện Lịch sử và câu chuyện Truyền kỳ về Lục Pháp Hòa gần như đồng nhất. Lý Bách Dược đặt truyện kể về ông vào phần Liệt Truyện trong Bắc Tề thư, còn Lý Duyên Thọ lại đặt vào phần Cư Sĩ Truyện trong Bắc sử. == Cuộc đời == === Ở nước Lương === ==== Trước loạn Hầu Cảnh ==== Lục Pháp Hòa ẩn cư nhiều năm ở Bách Lý châu (cù lao), Chi Giang, Giang Lăng, ăn mặc và sinh hoạt không khác một hòa thượng. Già trẻ ở địa phương thấy thần sắc của ông thường hay thay đổi, không thể đoán biết được, ngờ vực cho rằng ông vốn là thần tiên, đồn khắp xa gần. Lục Pháp Hòa từng đến ở sau núi Tử Thạch, huyện Cao An, quận Vấn Dương, Kinh Châu, rồi vô cớ bỏ đi. Không lâu sau, người Man ở trong núi là Văn Đạo Kỳ dấy binh phản Lương, mọi người đều cho rằng ông có tài tiên tri. Khi Hầu Cảnh hàng Lương, Lục Pháp Hòa đến gặp người Nam Quận là Chu Nguyên Anh, nói: "Bần đạo cùng đàn việt đánh đuổi Hầu Cảnh." Chu nói: "Hầu Cảnh mới vì nước lập công, thầy nói muốn đánh đuổi ông ta, sao vậy?" ông đáp: "Nên làm thì làm thôi!" Về sau Hầu Cảnh vượt Trường Giang, Lục Pháp Hòa đang ở núi Thanh Khê, Chu đến tận nơi hỏi ông: "Hầu Cảnh bây giờ đang vây kinh thành, việc này nên làm sao đây?" ông nói: "Người phàm hái trái, nên đợi lúc nó chín, chứ đừng để nó rụng mất. Đàn việt để Hầu Cảnh rụng mất, còn hỏi làm gì nữa?" Chu vẫn cố hỏi, ông đáp: "Có thể được, có thể không được." ==== Trong loạn Hầu Cảnh ==== Hầu Cảnh sai Nhiệm Ước đi đánh Tương Đông vương Tiêu Dịch ở Giang Lăng, Lục Pháp Hòa đến xin Tương Đông vương cho mình đi đánh Ước, Tương Đông vương nhận lời, ông bèn triệu tập 800 đệ tử người Man ở Giang Tân, ngày hôm sau thì xuất phát. Tương Đông vương sai Hồ Tăng Hữu lĩnh hơn ngàn người cùng đi. Lục Pháp Hòa sau khi lên chiến hạm, cười lớn nói rằng: "Binh mã quá nhiều rồi!" Giang Lăng vốn có rất nhiều đền miếu thờ thần tiên, từ sau khi Lục Pháp Hòa mang quân lên đường, dân chúng cho rằng thần tiên đều đi theo ông, việc cầu cúng không còn linh nghiệm, nên không đến các đền miếu nữa. Quân Lương đến hồ Xích Sa, cùng Nhiệm Ước đối trận. Lục Pháp Hòa ngồi trên 1 chiếc thuyền nhỏ, không mặc giáp trụ, thuận dòng mà xuống, cách quân đội của Nhiệm chỉ còn 2 dặm mới trở về. Ông nói với tướng sĩ rằng: "Ta xem quân địch như con rồng đang ngủ mê mệt, không có hành động gì; còn quân ta như con rồng vô cùng linh hoạt, mạnh mẽ, nên lập tức tấn công. Nếu đợi đến ngày mai, cũng chẳng hại gì cho chủ tớ (chúng ta), nhưng không còn địa lợi nữa." Vì thế hạ lệnh nổi lửa đốt những chiếc phảng (một loại thuyền đáy bằng) ở phía trước, nhưng vì ngược gió nên không đẩy đi được. Lục Pháp Hòa bèn vẫy cây quạt lông trắng vài cái, gió tức thì thổi ngược lại. Quân đội của Nhiệm Ước đều cho rằng quân Lương đi trên mặt nước mà đến, nên đâm đầu xuống sông mà chết, toàn quân tan rã. Nhiệm Ước bỏ trốn đi đâu không rõ. Lục Pháp Hòa nói: "Giờ Ngọ ngày mai sẽ bắt được hắn." Đến giờ mà vẫn chưa bắt được, mọi người hỏi, ông đáp: "Ta khi trước ở bến sông này có thấy 1 cái sát , nói cho các đàn việt biết, đây tuy là sát, thực ra là cây cọc của giặc, sao các ngươi không xuống dưới mặt nước chỗ cây cọc mà tìm!?" Theo lời ông, quả nhiên thấy Nhiệm Ước đang ôm lấy sát, ngửa đầu lên, chỉ có lỗ mũi ló ra khỏi mặt nước mà hít thở. Nhiệm Ước bị bắt, xin được chết trước mặt binh sĩ, Lục Pháp Hòa nói: "Đàn việt có phúc tướng, sẽ không phải chết vì việc binh. Mà ngươi lại cùng Tương Đông vương có duyên, tuyệt đối không có chuyện ông ấy để bụng việc cũ. Tương Đông vương về sau còn cần đến đàn việt ra sức rất nhiều." Quả nhiên Tương Đông vương tha chết cho Nhiệm Ước, còn dùng ông ta làm quận thú. Về sau, quân Tây Ngụy vây Giang Lăng, Nhiệm Ước soái binh cứu viện, ra sức chiến đấu. Lục Pháp Hòa bình định xong Nhiệm Ước, đến Ba Lăng gặp Vương Tăng Biện, nói: "Bần đạo đã cắt đứt 1 cánh tay của Hầu Cảnh, hắn còn làm gì được nữa!? Đàn việt nên lập tức ra tay." Rồi xin trở về. Ông lại nói với Tương Đông vương rằng: "Hầu Cảnh xem như đã bình xong, không còn đáng lo nữa! Giặc đất Thục sắp đến, bần đạo xin đi giữ Vu Hạp (eo Vu) để đợi chúng." Lục Pháp Hòa tổng lĩnh các lộ quân đội lên đường, tự mình chuyển đá đắp đập giữa Trường Giang, 3 ngày sau, nước chảy chia dòng, bèn dùng xích giăng ngang mặt sông. Vũ Lăng vương Tiêu Kỷ quả nhiên đưa quân vượt sông, phát hiện địa thế của cửa Hạp quá quanh co, tiến thoái lưỡng nan, Vương Lâm và Lục Pháp Hòa thừa thế tấn công, 1 trận tiêu diệt toàn bộ quân địch. ==== Sau loạn Hầu Cảnh ==== Lương Nguyên đế nhiệm mệnh Lục Pháp Hòa làm Đô đốc, Dĩnh Châu thứ sử, phong làm Giang Thừa huyện công. Lục Pháp Hòa không xưng thần, tấu sớ của ông đều xưng là cư sĩ, về sau lại tự xưng là Tư đồ. Lương Nguyên đế cho rằng công lao của ông rất lớn, nên gia phong làm Tư đồ, còn đô đốc, thứ sử như cũ. Lục Pháp Hòa có mấy ngàn thủ hạ, đều gọi là đệ tử. Ông ta chỉ dùng Phật pháp để giáo hóa, không dùng hình pháp. Ở nơi chợ búa, không đặt các phép thị thừa, mục tá, không có ngươi chuyên trách thu tiền. Chỉ treo 1 cái lồng ở trên đường, trên lồng có 1 cái lỗ, khách buôn và chủ hàng căn cứ vào hàng hóa ít nhiều, tự tính số tiền thuế của mình rồi ném tiền vào trong lồng. Cuối ngày, quan viên phụ trách mở lồng, sắp xếp ngay ngắn vào đưa vào kho. Lục Pháp Hòa bình thường không nói nhiều, khi có việc thì tranh luận không ai theo kịp, nhưng trong giọng nói của ông có âm hưởng của người Man. Lục Pháp Hòa giỏi việc chế tạo công cụ đánh thành. Ở Giang Hạ, ông tụ tập 1 lượng lớn chiến thuyền, muốn tập kích Tương Dương, rồi tiến vào Vũ Quan. Lương Nguyên đế sai người đến cấm chỉ việc ấy, Lục Pháp Hòa nói: "Tôi là người cầu Phật, trên không mong chỗ ngồi của Thích Phạm thiên vương , há lại mưu tính vương vị hay sao? Chẳng qua tôi cùng chúa thượng có mối hương hỏa nhân duyên ở chỗ Không vương phật, thấy báo ứng của chủ nhân sắp đến, bèn ra đời mà giúp đỡ. Nay lại bị hoài nghi, thì báo ứng này không thể cứu vãn rồi!" Sau đó ông cho sắp sửa lương thực, chuẩn bị những cái bánh lớn bằng bột gạo cán mỏng. Khi Tây Ngụy hưng binh nam hạ, Lục Pháp Hòa từ Dĩnh Châu vào Hán Khẩu, muốn đi Giang Lăng, Lương Nguyên đế sai người ngăn lại. Ông trở về Dĩnh Châu, rửa sạch cửa thành, khoác áo trăng vải thô, đội lệch khăn vải, quấn dây thừng quanh hông, ngồi xếp bằng ở trên giường, đến cuối ngày mới cởi ra. Đến khi Lương Nguyên đế thất bại diệt vong, Lục Pháp Hòa mặc lại tang phục, đau đớn khóc lóc, làm lễ cử ai. Về sau có người nhà Lương đến Tây Ngụy, quả nhiên thấy những cái bánh lớn bằng bột gạo cán mỏng. === Ở nước Tề === Mùa xuân năm Thiên Bảo thứ 6 (555), Thanh Hà vương Cao Nhạc nhà Bắc Tề tiến quân đến Trường Giang, Lục Pháp Hòa soái lĩnh quân dân toàn châu đầu hàng. Bắc Tề Văn Tuyên đế nhiệm mệnh cho ông làm Đại đô đốc 10 châu chư quân sự, Thái úy công, Tây nam đạo Đại hành đài; lại nhiệm mệnh cho Đại đô đốc 5 châu chư quân sự, Kinh Châu thứ sử, An Tương quận công Tống Lị làm Dĩnh Châu thứ sử, quan tước như cũ. Em trai Lị là Bồng làm Tán kỵ thường thị, Nghi đồng tam tư, Tương Châu thứ sử, Nghĩa Hưng quận công. Tướng nhà Lương là Hầu Điền tiến quân bức đến Giang Hạ, quân Bắc Tề bỏ thành mà chạy, Lục Pháp Hòa cùng anh em Tống Lị chạy vào Bắc Tề. Văn Tuyên đế đã nghe về bản lĩnh kỳ dị của ông, 1 lòng muốn gặp, bày sẵn nghi trượng dành cho tam công, ở phía nam ngoài thành 20 dặm, đặt cung trướng nghênh tiếp. Lục Pháp Hòa trông xa thấy Nghiệp Thành, bèn xuống ngựa đi bước Vũ . Tân Thuận nói với ông: "Ngài còn cách thành muôn dặm, bệ hạ đã để trống lòng mà đợi, vì sao phải dùng loại phương thuật này!?" Lục Pháp Hòa tay cầm lò hương, đi bộ theo xe đến quán xá. Ngày hôm sau, Văn Tuyên đế triệu kiến, ban cho ông xe Thông hiển Du lạc võng , 100 vệ sĩ theo hầu. Khi thông báo danh tính trước điện, ông cũng không xưng quan tước, không xưng tên, chỉ tự xưng là Kinh Sơn cư sĩ. Văn Tuyên đế bày tiệc ở điện Chiêu Dương, đãi đằng Lục Pháp Hòa và bộ thuộc của ông, thưởng cho Lục Pháp Hòa trăm vạn tiền, 1 vạn tấm lụa, 1 tòa trạch viện, 100 khoảnh ruộng, 200 nô tì, ngoài ra còn có 1 lượng vật dụng đủ dùng dành cho hằng ngày. Thưởng cho Tống Lị 1000 tấm lụa, những người khác tùy theo chức vụ cao thấp mà ban thưởng khác nhau. Lục Pháp Hòa phóng thích toàn bộ nô tì, tiền lụa đều đem bố thí, trong 1 ngày đã phân phát hết; đem tòa trạch viện sửa thành chùa thờ Phật, chỉ giữ lại 1 gian phòng cho mình, sinh hoạt bình thường như mọi người. Trong thời gian 3 năm, Lục Pháp Hòa lại được nhiệm mệnh làm Thái úy, người đời vẫn gọi ông là cư sĩ. Ông không có bệnh, lại thông báo thời điểm chết của mình cho các đệ tử. Thời điểm đến, ông đốt nhang bái Phật, ngồi ở trên giường mà tịch. Đệ tử muốn rửa thấy để khâm liệm, thì thấy thi thể rút lại chỉ còn 3 thước. Văn Tuyên đế hạ lệnh mở quan tài để xem, thì thấy quan tài trống rỗng. == Những dật sự khác == === Ở nước Lương === Khi quân đội của Lục Pháp Hòa đóng quân ở thành Bạch Đế, ông từng nói với mọi người: "Gia Cát Lượng có thể nói là bậc danh tướng vậy! Ta may mắn tìm thấy tung tích của ông ta. Ở mé phải của tòa thành này ông ta có chôn 1 hộc đầu mũi tên." Lục Pháp Hòa cắm cọc làm dấu, cho người đào lên tại chỗ ấy, quả nhiên tìm thấy. Ông từng ở dưới một gốc đại thụ ở phía bắc Tương Dương, tìm được 1 khối đất, đường kính chừng 2 thước; cho đệ tử đào lên, phá ra thấy 1 con rùa, thân dài chừng 1 thước rưỡi. Lục Pháp Hòa dùng gậy gõ lên con rùa mà nói: "Mày muốn ra khỏi đây, không thể được như ý; nếu không gặp ta, sao còn thấy được mặt trời?" Vì vậy sau khi ông truyền thụ tam quy, con rùa mới chui vào bụi rậm mà đi mất. Ban đầu, ở núi Bát Điệp có nhiều người bị bệnh, Lục Pháp Hòa làm thuốc để chữa, dùng thuốc không quá 3 ngày, đều khỏi hẳn. Họ đều xin bái ông làm thầy. Trong núi có nhiều độc trùng, mãnh thú, ông dạy họ cách phòng tránh, mọi người không bị làm hại nữa. Khi Lục Pháp Hòa cưỡi thuyền dạo chơi trên sông hồ, hay neo thuyền lại bên những sườn núi, để lại tiểu ký, nói rằng đây là nơi phóng sinh. Người ta đến những chỗ ấy đánh bắt cá, vừa được một chút, lập tức xuất hiện sấm to gió lớn, khiến nhà thuyền sợ hãi bỏ cá mà đi, mưa gió mới thôi. Về sau ông soái lĩnh quân đội, vẫn cấm bộ hạ đánh bắt cá. Những ai lén trái lệnh, đến chiều nếu không bị mãnh thú ăn thịt, ắt cũng bị mất dây neo thuyền. Có tên đệ tử nhỏ tuổi chơi đùa, chặt đầu 1 con rắn, sau đó đến gặp Lục Pháp Hòa. Ông hỏi: "Sao mày lại giết nó?" Rồi chỉ vào hắn, thì tên đệ tử chợt thấy có 1 cái đầu rắn đang cắn chặt vào trôn quần của mình không buông. Lục Pháp Hòa bảo tên đệ tử hãy sám hối, cái đầu rắn mới nhả ra. Có người lấy bò để thử đao, 1 nhát là đầu rơi, sau đó đến gặp Lục Pháp Hòa. Ông nói: "Có 1 con bò bị chặt đầu đang đòi mạng anh rất gấp, nếu không sám hối, trong vòng 1 tháng, báo ứng sẽ đến." Người này không tin, không lâu sau, quả nhiên vô cớ mà chết. Lục Pháp Hòa từng giúp người ta sắp đặt phòng ốc, tìm đất làm mộ để tránh họa cầu phúc. Ông từng nói với người nọ: "Chớ có buộc ngựa vào cối (giã gạo)." Người này cưỡi ngựa đến nhà người quen, bên cửa có 1 cái cối, nên buộc ngựa ở đấy mà vào nhà, sực nhớ lời dặn của Lục Pháp Hòa, quay trở ra để cởi dây, thì ngựa đã lăn ra chết rồi. Lục Pháp Hòa từng xây dựng chùa Thọ Vương ở Bách Lý châu, rất hài lòng với Phật điện, nhưng lại đem xà trụ cắt ngắn đi 1 đoạn, nói: "40 năm sau, pháp nạn xảy ra, nơi này hoang vu, có thể tránh được tai vạ." Khi Tây Ngụy bình định Kinh Châu, cung thất đều bị tiêu hủy, người ta muốn lấy gỗ của Phật điện chùa Thọ Vương, nhưng hiềm rằng chúng quá ngắn, bèn thôi. Về sau Bắc Chu Vũ đế diệt Phật, chùa Thọ Vương ở nước Trần, cũng tránh được pháp nạn. === Ở nước Tề === Sau khi Lục Pháp Hòa mất, người ta tìm thấy trên vách phòng của ông có chữ, bị trát bùn lên che đi. Gỡ lớp bùn ra thì thấy viết rằng: "thập niên thiên tử vi thượng khả, bách nhật thiên tử cấp như hỏa, chu niên thiên tử đệ đại tọa" (tạm dịch: Làm vua 10 năm thì có thể, làm vua 100 ngày như bị lửa đốt, làm vua 1 năm thì thay nhau làm) Lại viết rằng: "nhất mẫu sanh tam thiên, lưỡng thiên cộng ngũ niên" (tạm dịch: 1 mẹ sanh 3 vua, 2 vua trị vì cả thảy 5 năm). Có người giảng rằng: Lâu thái hậu sinh ra 3 hoàng đế, từ lúc Hiếu Chiêu đế lên ngôi, đến khi Vũ Thành đế truyền vị cho Hậu Chủ, cả thảy 5 năm. == Tham khảo == Bắc Tề thư - Lục Pháp Hòa truyện Bắc sử - Cư sĩ truyện == Chú thích ==
lord byron.txt
George Gordon Noel Byron, nam tước Byron đời thứ 6 (1788 – 1824) là nhà thơ lãng mạn nước Anh, thường được gọi là Lord Byron. Ông được coi là một trong những nhà thơ lớn của thế giới thế kỷ 19. Ông được biết đến với lối sống tai tiếng về tình ái và lỗi lạc về ngôn ngữ thơ. == Tiểu sử == === Đầu đời === Byron sinh ở London, trong một gia đình quý tộc đã sa sút. Năm 1790, người cha qua đời, nên bà Catherine bồng con về Aberdeenshire, Scotland. Năm 1798, George Byron được thừa kế tước hiệu từ người chú tuyệt vời của mình ở tuổi 10 và được chính thức công nhận là Lord Byron. Năm 1801, Byron được gửi đến trường Harrow tại London, nơi ông học cho đến tháng 7 năm 1805. Là một học sinh bình thường, ông đã đại diện cho trường trong trận đấu bóng gậy đầu tiên giữa Eton với Harrow. Byron đã yêu Mary Chaworth - anh em họ xa, người mà ông gặp trong khi ở trường và không được đáp lại này được thể hiện qua một số bài thơ, trong đó có Hills of Annesley và Adieu. Trong hồi ký sau này của Lord Byron, "Mary Chaworth được miêu tả là đối tượng đầu tiên của cảm xúc tình yêu trưởng thành của mình." Từ năm 1805-1808, Byron học Trinity College, mùa thu năm 17 tuổi, ông đã gặp và yêu John Edleston - thành viên dàn đồng ca của Trinity. Byron đã viết một số lời bài hát lãng mạn cho những ca khúc của Edleston, trong đó ông gọi người tình của mình với cái tên phụ nữ Thyrza. Trong thời gian này, cuộc sống quý tộc thái quá và tiệc tùng, quyền anh, cưỡi ngựa và cờ bạc lấn sâu ông vào nợ nần. Trong tháng 6 năm 1807, ông thiết lập một tình bạn lâu dài với John Cam Hobhouse - người mà ông trao đổi thư từ về văn học và được khởi xướng vào chính trị tự do, tham gia câu lạc bộ Whig Cambridge. === Tính cách và ngoại hình === Khi là một cậu bé, Byron được mô tả như một "hỗn hợp của vị ngọt tình cảm và hài hước. Lord Byron bị tật chân từ khi sinh ra khiến ông tự ý thức cuộc đời mình, ông đã bị ảnh hưởng gây ra cả đời đau khổ tâm lý và thể chất, trầm trọng hơn do chữa bệnh đau đớn. Một số tác giả y tế hiện đại cho rằng đó là một hệ quả của bệnh bại liệt, nhưng bù lại ông sở hữu khuôn mặt đẹp tựa như người Hy lạp và sở thích thường hay lọn tóc vào ban đêm. == Chu du và sự nghiệp viết thơ == === Chính trị === Sau khi nhận được sự chỉ trích gay gắt từ người đọc, tập thơ Những giờ giải trí (Hours of Idleness) và năm 1808 là trường ca Những nhà thơ Anh và những nhà phê bình Scotland (English Bards and Scotch Reviewers) phê phán những nhà lãng mạn quá khích. Bài thơ đã tấn công cộng đồng văn học với sự dí dỏm và châm biếm, và ông đã nhận được sự công nhận văn học đầu tiên của mình. Từ năm 1809 là thành viên nghị viện Anh. Ở tuổi 21, ông mất chiếc ghế ở Nghị viện. Sau đó bắt đầu 2 năm đi chu du sang các nước khu vực Địa Trung Hải. Năm 1812 in 2 chương đầu của Chuyến hành hương của Childe Harold (Childe Harold's Pilgrimage) kể lại chuyến đi Nam Âu và Cận Đông. === Mối quan hệ tai tiếng và tác phẩm === Vào tháng 7 năm 1811, Byron trở về London sau cái chết của mẹ mình. Nhận được sự khen ngợi cao của xã hội nước Anh đã kéo ông ra khỏi tình trạng ảm đạm của mình, cũng như một loạt các vấn đề tình yêu. Cuộc sống riêng tư của Byron bắt đầu nổi lên từ 1812, khi ông có cuộc tình với Lady Caroline Lamb - tiểu thuyết gia, vợ của tử tước William Lamb. Mối quan hệ diễn ra khá ngắn ngủi, ông chủ động chia tay để theo một người lớn hơn mình 20 tuổi, bà Oxford, nhưng Caroline thì không bao giờ quên được. Bà theo đuổi ông ngay cả khi ông đã chán nản, mệt mỏi vì bà. Nhà thơ nhẫn tâm phải than phiền với mẹ chồng của Caroline rằng: "Tôi đang bị một bộ xương săn đuổi". Về sau, người phụ nữ quý tộc cay đắng thừa nhận rằng, Byron là một kẻ "rất điên rồ, rất tồi tệ, rất nguy hiểm để quen biết". Khi còn nhỏ, Byron khá gắn bó với Augusta Leigh - chị cùng cha khác mẹ của ông. Mối quan hệ này về sau trở thành tình ái lúc byron trưởng thành và là vụ loạn luận nổi tiếng lúc bấy giờ. Từ năm 1811, Augusta sống ly thân với chồng nhưng đến tháng 4/1814, Augusta vẫn sinh hạ một bé gái tên là Elizabeth Medora Leigh. Một số lời đồn đại Byron là cha của Elizabeth. Sự hỗn loạn và tội lỗi mà ông đã trải qua như là kết quả của những mối tình được phản ánh trong một loạt các bài thơ: Bóng tối, Kẻ vô thần (The Giaour), Nàng dâu của Abydos (The Bride of Abydos), Cướp biển (The Corsair). Byron trở về London làm lại cuộc đời. Ông lập gia đình với một cô gái ngây thơ, trong trắng - Anna Isabella Mibarke, nhỏ hơn ông bốn tuổi. Cuộc hôn nhân không hạnh phúc, ông đối xử tàn nhẫn với cô. Họ đã có một đứa con gái (Ada Lovelace). Ngày 21 tháng 4 năm 1816, họ chính thức ly hôn. Trong một lá thư, Augusta dẫn lời ông nói: Những vết thương do tình yêu gây ra dù không làm cho người ta chết nhưng cũng không bao giờ chữa khỏi được". Cùng năm đó Lady Caroline xuất bản cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của cô là Glenarvon. == Tha hương == Năm 1812, phát biểu trước nghị viện, Byron tố cáo tầng lớp thống trị ở Anh và đòi hủy bỏ luật tử hình những người công nhân phá máy. Đối mặt với áp lực gia tăng là kết quả của cuộc hôn nhân thất bại của mình, vấn đề tai tiếng và khoản nợ khổng lồ, Byron rời nước Anh vào tháng Tư cùng năm 1816 và không bao giờ quay trở lại. Ông đã dành mùa hè tại hồ Geneva ở Thụy sĩ với bạn thân là vợ chồng Percy Bysshe Shelley và Claire Clairmont, người mà Byron đã có thêm một cô con gái. Byron đi đến Ý, nơi ông đã sống trong hơn sáu năm. Năm 1819, trong khi lưu trú tại Venice, ông bắt đầu ngoại tình với Teresa Guiccioli, vợ của một nhà quý tộc Ý. Đó là vào khoảng thời gian này mà Byron đã viết một số tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, bao gồm cả 'Don Juan' (1819-1824). Trong những tác phẩm The Giaour (1813), The Bride of Abydos (1813), The Corsair (1814), Lara (1814), The Siege of Corinth (1816) Byron kêu gọi đấu tranh giành tự do. Những năm 1817-1820 Byron sống ở Venezia, cảm thông với nỗi khổ của người Ý trước ách cai trị của người Áo. Thời kỳ này ông viết một số trường ca và 2 chương tiếp theo của Childe Harold's Pilgrimage. Những năm 1818-1819 ông viết trường ca Don Juan gồm 16 chương và chương 17 viết dở. Năm 1823 ông sang Hy Lạp để tham gia đấu tranh giải phóng Hy Lạp khỏi ách cai trị của Thổ Nhĩ Kỳ nhưng công việc đang dở dang thì ông bị sốt và mất ngày 19 tháng 4 năm 1824 vào tuổi 36 tại Mesolongi, ở Hy Lạp ngày nay. Thi thể của ông đã được đưa trở lại nước Anh và chôn ở Nottinghamshire. == Chủ nghĩa Byron == Lòng say mê mãnh liệt, tính trữ tình sâu sắc, sự bạo dạn về ý tưởng và vẻ sống động của những hình tượng khiến Byron trở thành một trong những nhà thơ lớn và nổi tiếng nhất ở châu Âu thế kỷ 19. Tác phẩm của Byron mở ra những khả năng mới của chủ nghĩa lãng mạn như một phương pháp nghệ thuật. Byron đưa vào thơ ca những nhân vật mới, làm giàu hình thức và thể loại thơ ca. Ông có sự ảnh hưởng rất lớn đến thơ ca thế giới thế kỷ 19, sinh ra một trường phái thơ ca ở nhiều quốc gia khác nhau với tên gọi chủ nghĩa Byron. == Tác phẩm == Những giờ nhàn rỗi (Hours of Idleness,1806) Những nhà thơ Anh và những nhà phê bình Scotland (English Bards and Scotch Reviewers, 1809) Chuyến hành hương của Childe Harold (Childe Harold's Pilgrimage, 1812 – 1818) Kẻ vô thần (The Giaour, 1813) Nàng dâu của Abydos (The Bride of Abydos, 1813) Cướp biển (The Corsair, 1814) Lara (Lara, 1814) Những giai điệu Do Thái (Hebrew Melodies (1815) Cuộc bao vây Corinth (The Siege of Corinth, 1816) Parisina (Parisina, 1816) Người tù Chillon (The Prisoner Of Chillon, 1816) Giấc mơ (The Dream, 1816) Thần Promethus (Prometheus, 1816) Bóng tối (Darkness, 1816) Manfred (Manfred, 1817) Lời than thở của Tasso (The Lament of Tasso, 1817) Beppo (Beppo, 1818) Mazeppa (Mazeppa, 1819) Lời tiên tri của Dante (The Prophecy of Dante, 1819) Marino Faliero (Marino Faliero, 1820) Sardanapalus (Sardanapalus, 1821) Hai cha con Foscari (The Two Foscari, 1821) Ca-in (Cain, 1821) Bóng ma ngày phán xét (The Vision of Judgement, 1821) Trời và đất (Heaven and Earth, 1821) Werner (Werner, 1822) Quái thai biến dạng (The Deformed Transformed, 1822) Kỷ đồ đồng (The Age of Bronze, 1823) Hòn đảo (The Island, 1823) Đông Gioăng (Don Juan (1819 – 1824) == Một vài bài thơ == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Poems by Lord Byron at PoetryFoundation.org Works by George Byron at Project Gutenberg Podcast - Listen Live or download Audio of Childe Harold's Pilgrimage by Lord Byron A Website of the Romantic Movement Các tác phẩm của George Byron tại Dự án Gutenberg The Byron Society The Byron Society's Journal The International Byron Society Byron's Grave Detailed site on Newstead Abbey, Byron's ancestral home, and on Byron's life in general Hucknall Parish Church, Byron's final resting place Statue of Byron at Trinity College, Cambridge Complete list of Byron poetry The Byron Cronology Childe Harold's Pilgrimage Discussion of Byron's homosexuality Byron's Poetical Works, Vol. 1 Byron's Poetical Works, Vol. 6 The Works Of Lord Byron, Letters and Journals, Vol. 1 The Works of Lord Byron: Letters and Journals, Vol. 2 Byron's 1816-1824 letters to Murray and Moore about Armenian studies and translations
chính quyền đơn nhất của anh.txt
Chính quyền đơn nhất của Anh là chính quyền địa phương chịu trách nhiệm về việc cung cấp tất cả các dịch vụ chính phủ địa phương trong huyện. Họ được thành lập theo Đạo luật Chính quyền địa phương năm 1992 (Vương quốc Anh), sửa đổi Đạo luật Chính quyền địa phương năm 1972 để cho phép sự tồn tại của các hạt mà không có nhiều huyện. Họ thường cho phép các thị trấn lớn có chính quyền địa phương riêng biệt từ các phần ít đô thị hóa của hạt của họ và cung cấp một chính quyền duy nhất cho các hạt nhỏ, nơi phân chia thành huyện sẽ là không thực tiễn. Chính quyền đơn nhất không bao gồm cả nước Anh. Hầu hết được thành lập trong những năm 1990 và một đợt tiếp tục được tạo ra vào năm 2009. Chính quyền đơn nhất có quyền hạn và chức năng mà ở nơi khác được quản lý riêng biệt bởi Hội đồng của các hạt không thuộc vùng đô thị và các huyện không thuộc vùng đô thị. == Tham khảo == Bản mẫu:Unitary authorities of England
samsung galaxy grand 2.txt
Samsung Galaxy Grand 2 là điện thoại thông minh phát triển bởi Samsung Electronics, lần đầu tiên công bố vào 26 tháng 11 năm 2013. Điện thoại có vi xử lý lõi-tứ 1,2 GHz và 1,5GB RAM, với bộ nhớ trong 8 GB có thể mở rộng lên đến 64 GB bằng cách sử dụng thẻ nhớ microSD. Điện thoại hỗ trợ kết nối internet thông qua 2G và 3G, ngoài ra còn có Wi-Fi. Hệ thống định vị bao gồm A-GPS và GLONASS với Google Maps. Điện thoại chạy trên hệ điều hành Android 4.3 (Jelly Bean) OS. Galaxy Grand 2 có máy ảnh chính 8 MP có thể chụp ảnh và quay video ở độ phân giải cao. Máy ảnh chính có thể quay video Full HD với 1.920×1.080p 30 khung trên giây. Chất lượng có thể chuyển đổi từ HD ready thành Full HD tùy thuộc vào không gian bộ nhớ của mỗi tập tin video. Máy ảnh có LED flash giúp có thể nhìn thấy đối tượng khá tốt trong điều kiện thiếu sáng. Máy ảnh trước 1,9 MP. Tự động lấy nét, thẻ địa lý, chạm lấy nét và nhận diện khuôn mặt là một số tính năng được hỗ trợ trên điện thoại, cũng như ổn định hình ảnh, nhận diện nụ cười, và chỉnh sửa ảnh cơ bản. Samsung Galaxy Grand 2 có dung lượng pin là 2600 mAh Li-Ion có khả năng kéo dài 17 tiếng. Màn hình 5,25 in (13,3 cm) TFT HD,cảm ứng đa chạm 16 triệu màu. == Tính năng == Galaxy Grand 2 phát hành với Android 4.3 Jelly Bean. Samsung tùy biến giao diện của nó với TouchWiz Nature UX. Cũng như các ứng dụng từ Google, bao gồm Google Play, Gmail và YouTube, có quyền truy cập vào Samsung apps như ChatON, S Suggest, S Voice, Smart Remote (Peel) và All Share Play. Phát hành ra 2 biến thể, SM-G7102 với khe 2 SIM, và SM-G7105 với hỗ trợ mạng LTE, 2 khe micro SIM với cả hai chế độ chờ. Khi so sánh với sản phẩm trước, nó được cải thiện kích thước màn hình, độ phân giải, và Pixel trên inch. Galaxy Grand 2 có sim 3G đơn, biến thể 3G sim đôi với một khả năng biến thể LTE trong tương lai. Bộ nhớ trong 8 GB, với thẻ nhớ microSDXC để mở rộng. Màn hình 5.25-inch TFT với độ phân giải 1280x720 pixel. Máy ảnh trước 1.9 MP không có flash và 8 MP máy ảnh chính. Nó có khả năng quay video HD video. == Tham khảo ==
cộng đồng pháp ngữ.txt
La Francophonie (tên chính thức: Tổ chức Quốc tế của các quốc gia nói tiếng Pháp, Organisation internationale de la Francophonie) là cộng đồng các quốc gia và vùng lãnh thổ có sử dụng tiếng Pháp hay gọi tắt là Cộng đồng Pháp ngữ. Tổ chức này bao gồm 56 thành viên và 19 thành viên không chính thức. Cộng đồng Pháp ngữ đang nhận cương vị quan sát viên tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc. == Nguyên tắc và mục tiêu == Tại Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên của Cộng đồng Pháp ngữ năm 1986 tại Versaille, các nước thành viên cũng thảo ra mục tiêu hoạt động của Cộng đồng Pháp ngữ là sự đoàn kết. Nguyên tắc, mục tiêu hoạt động của Cộng đồng Pháp ngữ: Thiết lập và phát triển dân chủ. Phòng chống, đối kháng các vi phạm về nhân quyền. Tăng cường đối thoại giữa các nền văn hoá và văn minh. Xích các dân tộc lại gần nhau bởi sự hiểu biết lẫn nhau. Củng cố tình đoàn kết bởi các hợp tác đa phương nhằm phát triển kinh tế, giáo dục-đào tạo. Cộng đồng Pháp ngữ hoạt động dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia, ngôn ngữ và văn hoá của mỗi dân tộc, giữ vị trí trung lập, không can thiệp vào các vấn đề chính trị nội bộ. == Lịch sử == Năm 1880, trong tác phẩm "Nước Pháp, nước An-giê-ri và các thuộc địa", nhà địa lý người Pháp Onésime Reclus đã đưa ra thuật ngữ "Francophonie". Cựu tổng thống Sénégal Léopold Sédar Senghor được coi là một trong những người sáng lập ra Cộng đồng Pháp ngữ. Hội nghị thượng đỉnh đầu tiên của Cộng đồng Pháp ngữ diễn ra vào năm 1986 tại Versaille. Tham dự hội nghị có 41 quốc gia có sử dụng tiếng Pháp. Từ hội nghị thượng đỉnh đầu tiên năm 1986 đến nay, Cộng đồng Pháp ngữ đã tổ chức 13 hội nghị. Việt Nam Dân chủ Cộng hòa gia nhập Cộng đồng Pháp ngữ năm 1970. Tổng thư ký đầu tiên của Cộng đồng Pháp ngữ là Boutros-Boutros Gali, được bầu tại hội nghị thượng đỉnh 7 tại Hà Nội năm 1997. == Các quốc gia thành viên == Điều tiên quyết cho việc kết nạp thành viên không phải là mức độ dùng tiếng Pháp mà là sự có mặt của văn hóa và tiếng Pháp trong lịch sử qua tương tác giữa Pháp với nước đó, phần lớn là sự kế thừa các giá trị từ khi là thuộc địa của Pháp. Tiếng Pháp được sử dụng trong một số nước thành viên của tổ chức như là một ngôn ngữ phổ biến, trong khi sự có mặt hiện thời của nó trong những thành viên khác là rất nhỏ, quan trọng là mối quan hệ trong cộng đồng chủ yếu dựa trên phương diện lịch sử và văn hóa. Francophonie hiện đại được thành lập vào 1970. Khẩu hiệu của tổ chức là égalité, complémentarité, solidarité (bình đẳng, tương hỗ, đoàn kết), nói bóng gió tới khẩu hiệu của nước Pháp. == Các kỳ hội nghị thượng đỉnh == Ngày nay, hội nghị thượng đỉnh của Cộng đồng Pháp ngữ được tổ chức hai năm một lần. Những hội nghị thượng đỉnh đã tổ chức: Versailles, Pháp (1986) Thành phố Québec, Canada (1987) Dakar, Sénégal (1989) Paris, Pháp (1991) Mauritius (1993) Cotonou, Bénin (1995) Hà Nội, Việt Nam (1997) Moncton, Canada (1999) Beirut, Liban (2002) Ouagadougou, Burkina Faso (2004) Bucharest, România (2006) Québec, Canada (2008) Montreux, Thụy Sĩ (2010) Kinshasa, Congo (2012) Dakar, Sénégal (2014) == Tham khảo ==
võ hoàng bửu.txt
Võ Hoàng Bửu (sinh năm 1968) là cựu cầu thủ bóng đá của đội Cảng Sài Gòn và đội tuyển Việt Nam. Ông thường chơi ở vị trí tiền vệ phòng ngự. Ông là đội trưởng của đội tuyển Việt Nam tại một số các giải đấu như Tiger Cup 1996 và SEA Games 19 (1997). Sau khi giải nghệ, Võ Hoàng Bửu chuyển sang làm công tác huấn luyện. Võ Hoàng Bửu có tiếng bởi tài đá phạt đền. == Tiểu sử == === Tại câu lạc bộ === Võ Hoàng Bửu khoác áo đội Cảng Sài Gòn từ đầu sự nghiệp bóng đá của mình. Cùng với đội Cảng Sài Gòn, Võ Hoàng Bửu đoạt chức vô địch quốc gia mùa bóng 1993-1994 và 1997, cùng Cúp quốc gia mùa bóng 1992. === Sự nghiệp thi đấu quốc tế === Võ Hoàng Bửu lần đầu tiên được gọi tập trung đội tuyển vào năm 1993 để tham gia vòng loại World Cup 1994. Tại vòng loại này, ông được thi đấu chính thức trong 4 trên tổng số 8 trận. Sau đó, ông có tên trong danh sách đội tuyển tham dự SEA Games 17 (1993) tại Singapore. Tuy nhiên, do chấn thương, Võ Hoàng Bửu đã bỏ lỡ kì SEA Games này. Ông trở thành một trong những thành viên chủ chốt của Đội tuyển Việt Nam giành huy chương bạc tại SEA Games 1995 và huy chương đồng tại SEA Games 1997. Ông cũng tham gia đội tuyển tại Tiger Cup 1996 (đoạt huy chương đồng). Ngoài khả năng phòng ngự xuất sắc, ông còn được biết đến như một chuyên gia sút phạt đền của đội tuyển. Tại SEA Games 95, ông là người ghi bàn thắng đầu tiên cho đội tuyển Việt Nam bằng quả sút phạt đền trong trận gặp Malaysia. Năm 1996, trong trận giao hữu giữa đội tuyển Việt Nam và Câu lạc bộ Juventus của Italia tại sân vận động Hàng Đẫy, ông là người đã ghi bàn thắng rút ngắn tỉ số xuống 1-2 cho đội tuyển Việt Nam từ chấm phạt đền. Giải đấu thành công nhất đối với ông là Tiger Cup 1996, nơi ông được mang băng đội trưởng đội tuyển và ghi bàn thắng gỡ hòa 1-1 cho đội tuyển trong trận đấu cuối cùng của vòng bảng trước Indonesia từ chấm phạt đền. Ông còn ghi được thêm 3 bàn thắng từ chấm phạt đền nữa trong giải đấu này, một bàn trong trận mở màn với Campuchia, một bàn trong trận bán kết với Thái Lan và một bàn trong trận tranh giải ba với Indonesia. Với 4 bàn thắng, ông là cầu thủ Việt Nam ghi được nhiều bàn thắng nhất tại Tiger Cup 1996. Ông đã giành danh hiệu quả bóng vàng Việt Nam năm đó. Năm 1997, ông tiếp tục là đội trưởng đội tuyển Việt Nam tại Sea Games 19 và cùng đội tuyển đoạt huy chương đồng. Năm 1998, do đã lớn tuổi và dính chấn thương, ông không còn được triệu tập vào đội tuyển quốc gia nữa. Tuy nhiên, năm 2000, ông được gọi trở lại đội tuyển tham dự Tiger Cup 2000 nhưng không để lại nhiều dấu ấn và quyết định giã từ đội tuyển ở tuổi 32. === Làm công tác huấn luyện === Sau khi giã từ sự nghiệp cầu thủ, Võ Hoàng Bửu chuyển qua huấn luyện đội trẻ của Cảng Sài Gòn. Mùa bóng 2007, Võ Hoàng Bửu chính thúc trở thành huấn luyện viên trường của đội Thép Miền Nam Cảng Sài Gòn nhưng do sức ép công việc khiến Bửu voi từ chức ngay giữa mùa và nhường lại cho Lư Đình Tuấn. Mùa giải 2008 ông đến dẫn dắt đội Tây Ninh thi đấu ở giải hạng nhất và giúp đội bóng này trụ hạng thành công. Sau đó ông trở về TP.HCM làm bóng đá phong trào thành phố. Năm 2009 được bổ nhiệm làm huấn luyện viên đội U19 Việt Nam thi đấu giải U19 Đông Nam Á và sau đó trở lại dẫn dắt đội TP.HCM nhưng không thành công. == Thành tích == Cấp CLB: Vô địch quốc gia Việt Nam: 1993-1994, 1997 Cúp quốc gia: 1992 Cấp ĐTQG: Á quân SEA Games 18 Huy chương đồng SEA Games 19 Huy chương đồng Tiger Cup 1996 Cá nhân: Quả bóng vàng Việt Nam 1996 == Chú thích == == Tham khảo ==
cơ sở giáo dục.txt
Cơ sở giáo dục là nơi mọi người thuộc mọi lứa tuổi nhận được sự giáo dục, bao gồm trường mẫu giáo, nhà trẻ, các trường phổ thông và đại học. == Tham khảo ==
tam điệp.txt
Tam Điệp là thành phố công nghiệp nằm ở phía tây nam của tỉnh Ninh Bình, trên trục giao thông Bắc Nam Việt Nam. Đây là thành phố duy nhất của khu vực đồng bằng châu thổ sông Hồng không phải là trung tâm tỉnh lỵ. Tam Điệp là một địa danh cổ, nằm bên dãy núi Tam Điệp hùng vĩ, nơi có nhiều di chỉ khảo cổ học từ thời tiền sử và cũng là vùng đất có vị trí quan trọng về quân sự qua các thời kỳ lịch sử. Hiện Tam Điệp vẫn giữ vị trí tiền trạm của miền Bắc, là nơi đặt trụ sở Quân đoàn 1, một Bình đoàn chủ lực của quân đội Việt Nam. Tam Điệp trở thành đô thị loại III năm 2012, và được Quốc hội phê duyệt trở thành thành phố Tam Điệp vào tháng 4 năm 2015 Theo quy hoạch đô thị tỉnh Ninh Bình đến năm 2020, thành phố Tam Điệp sẽ trở thành đô thị loại II.. == Vị trí == Tam Điệp nằm ở vị trí cửa ngõ phía Tây Nam của tỉnh, có vị trí chiến lược quan trọng cả về kinh tế - xã hội và quốc phòng của đất nước nói chung và của tỉnh Ninh Bình nói riêng; là một trong ba vùng kinh tế trọng điểm trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh, thị xã có nhiều tiềm năng lợi thế, đặc biệt là lợi thế trong phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch, phát triển đô thị. Thành phố là đầu mối giao thông cửa ngõ của vùng Bắc Trung Bộ và vùng đồng bằng Sông Hồng, có hệ thống giao thông đối ngoại thuận lợi: Quốc lộ 1A chạy qua trung tâm thị xã với tổng chiều dài khoảng 11 km; Quốc lộ 12B dài 7,1 km đi Nho Quan - Hòa Bình; tuyến đường sắt Bắc - Nam với tổng chiều dài khoảng 11 km và có 2 nhà ga để vận chuyển hành khách - hàng hóa là ga Gềnh và ga Đồng Giao. == Hành chính == Thành phố Tam Điệp có diện tích 10.497,9 ha với dân số 104.175 người (thống kê 2015) gồm 6 phường: Bắc Sơn, Nam Sơn, Tân Bình, Tây Sơn, Trung Sơn, Yên Bình và 3 xã: Đông Sơn, Quang Sơn, Yên Sơn.Danh sách các đơn vị hành chính Địa giới hành chính: Phía đông bắc giáp huyện Hoa Lư, Ninh Bình Phía đông nam giáp huyện Yên Mô, Ninh Bình Phía tây nam giáp thị xã Bỉm Sơn và các huyện Hà Trung, Thạch Thành của tỉnh Thanh Hoá. Phía tây bắc giáp huyện Nho Quan, Ninh Bình. Tam Điệp cách trung tâm thành phố Ninh Bình 14 Km, cách thủ đô Hà Nội 105 km; cách đều 2 thành phố Hạ Long và Vinh với cự ly 188 km. Đây là địa phương có tuyến Đường cao tốc Ninh Bình – Thanh Hóa đi qua đang được xây dựng. == Địa lý tự nhiên == Tam Điệp có địa hình phức tạp. Vùng đồi núi tập trung nhiều ở rìa phía Tây thành phố thuộc dãy núi Tam Điệp. Một số khu vực phía Bắc có núi nằm xen kẽ đồng bằng, một phần thuộc dãy núi Tràng An. Khu vực núi Tam Điệp chứa đựng nhiều tiềm năng khoáng sản như đá vôi, đất sét, quặng. Sông lớn nhất qua Tam Điệp là sông Bến Đang chảy dọc rìa phía đông với chiều dài khoảng 10 km. Thành phố cũng có một số con suối điển hình như: Suối Tam Điệp dài 2 km, chảy qua các phường Tây Sơn, Trung Sơn rồi đổ vào hồ Yên Thắng. Suối Đền Rồng dài 10 km, chảy từ xã Phú Long Nho Quan qua Quang Sơn, Nam Sơn rồi đổ vào sông Tam Điệp ở Bỉm Sơn. Tam Điệp có 8 hồ nước gồm hồ Yên Thắng chung với huyện Yên Mô và 7 hồ khác là hồ Mùa Thu, hồ Lồng Đèn, hồ Núi Vá, hồ Mang Cá, hồ Bống, hồ Lỳ và hồ Sòng Cầu. == Lịch sử == === Lịch sử vùng đất Tam Điệp === Tam Điệp là một vùng đất cổ, những dấu tích người tiền sử ở dãy núi Tam Điệp cho thấy từ xa xưa nơi đây đã là một cái nôi của loài người. Tam Điệp nằm ở vùng giao thoa giữa các khu vực: Tây Bắc, đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ. Đặc điểm đó đã tạo ra một nền văn hóa tương đối năng động, mang đặc trưng khác biệt trên nền tảng văn minh châu thổ sông Hồng. Đây là vùng đất phù sa cổ ven chân núi có con người cư trú từ rất sớm. Các nhà khảo cổ học đã phát hiện trầm tích ở Núi Ba thuộc nền văn hóa Tràng An thời kỳ đồ đá cũ và một số hang động ở Tam Điệp có di chỉ cư trú của con người thời văn hoá Hoà Bình. Về mặt quân sự, Tam Điệp giữ một vị trí quan trọng vì đèo Ba Dội nằm trong dãy Tam Điệp trước đây là một cửa giao thông hiểm yếu giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, dùng đường bộ từ Thăng Long vào Thanh Hóa hay từ Đàng Trong ra Đàng Ngoài, đều phải vượt đèo này. Hiện tại, nơi đây là đại bản doanh của Quân đoàn 1 - Binh đoàn Quyết Thắng, là một trong bốn binh đoàn chủ lực của quân đội nhân dân Việt Nam. Ngoài ra còn đơn vị quân đội khác đóng quân trên địa bàn thành phố là Lữ đoàn công binh 279 ở phường Nam Sơn. Thời thuộc nhà Hán, đèo Tam Điệp được gọi là Cửu Chân Quan, là cửa ải giữa quận Cửu Chân và quận Giao Chỉ. Sau khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, căn cứ Cấm Khê mất, một số nghĩa quân lui xuống vùng Tam Điệp - Thần Phù để tiếp tục cuộc chiến đấu. Đầu thế kỷ 10, Dương Đình Nghệ và Ngô Quyền đã dựa vào sự hiểm trở của Tam Điệp để xây dựng và bảo vệ lực lượng ở Thanh Hóa, rồi tiến ra đánh bại quân xâm lược Nam Hán ở thành Đại La và sông Bạch Đằng. Trong cuộc kháng chiến chống quân Mông- Nguyên, triều đình nhà Trần đã sử dụng bức trường thành Tam Điệp để bảo vệ hậu phương Ái Châu - Diễn Châu và làm chỗ dựa cho căn cứ Thiên Trường - Trường Yên. Năm 1527, nhà Mạc thay nhà Hậu Lê. Nhà Mạc tách lấy hai phủ Trường Yên và Thiên Quan của thừa tuyên Sơn Nam làm Thanh Hoa ngoại trấn. Vì lúc ấy, nhà Mạc chiếm giữ từ dãy núi Tam Điệp trở ra Bắc để chống lại nhà Hậu Lê. Vua Lê Trang Tông đã đắp lũy ở Tam Điệp để chống quân Mạc. Vùng đất Tam Điệp là phòng tuyến kháng chiến của triều đại Tây Sơn thế kỷ 18, mảnh đất gắn với tên tuổi của anh hùng Quang Trung trong sự nghiệp giải phóng Thăng Long. Do ở vào vị trí chiến lược ra Bắc vào Nam, vùng đất này đã chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử oai hùng của dân tộc mà dấu tích lịch sử còn để lại trong các địa danh và di tích. Hệ thống các di tích lịch sử - văn hóa ở Tam Điệp gắn liền với tín ngưỡng thờ phụng vua Quang Trung. Cũng như các vùng miền núi Ninh Bình, Dãy núi đá vôi ở Tam Điệp tạo ra nhiều hang động kỳ thú như: động Trà Tu, động Tam Giao. Một yếu tố khác vô cùng quan trọng, góp phần không nhỏ làm nên diện mạo đa dạng, phong phú của văn hoá Ninh Bình, đó là sự lưu lại dấu ấn văn hoá của các tao nhân mặc khách khi qua vùng sơn thanh thuỷ tú này. Các đế vương, công hầu, khanh tướng, danh nhân văn hoá lớn về đây, xếp gương, đề bút, sông núi hoá thành thi ca như bài "Cửu Chân Quan" của Ngô Thì Sĩ và tấm bia khắc bài thơ "Quá Tam Điệp sơn" của vua Thiệu Trị làm năm 1842 khi đi tuần du qua núi Tam Điệp... Nhân cách bác học và phẩm cách văn hoá lớn của các danh nhân đó đã thấm đẫm vào tầng văn hoá địa phương, được nhân dân tiếp thụ, sáng tạo, làm giàu thêm sắc thái văn hoá Ninh Bình. === Lịch sử đô thị Tam Điệp === Ngày 28 tháng 1 năm 1967, thị trấn nông trường Đồng Giao thuộc huyện Yên Mô được thành lập cùng với thị trấn nông trường Bình Minh thuộc huyện Kim Sơn theo quyết định số: 27-NV của Bộ Nội vụ. Ngày 23 tháng 2 năm 1974, thị trấn Tam Điệp được thành lập trực thuộc tỉnh Ninh Bình, gồm các khu vực cơ quan, xí nghiệp đóng trên đất nông trường Đồng Giao ở dọc quốc lộ 1, nông trường Đồng Giao, nông trường Tam Điệp, hợp tác xã Mùa Thu (xã Yên Đồng, huyện Yên Mô) và hợp tác xã Quang Sỏi (xã Yên Sơn huyện Yên Mô) theo Quyết định 15-BT. Ngày 27 tháng 4 năm 1977, thị trấn Tam Điệp trở thành huyện lỵ huyện Tam Điệp được thành lập do sáp nhập huyện Yên Mô và 10 xã của huyện Yên Khánh (Khánh Hòa, Khánh Phú, Khánh An, Khánh Cư, Khánh Vân, Khánh Ninh, Khánh Hải, Khánh Lợi, Khánh Tiên, Khánh Thiện). Từ đó, huyện Tam Điệp có 1 thị trấn Tam Điệp và 26 xã: Yên Bình, Yên Sơn, Khánh Thượng, Khánh Dương, Khánh Thịnh, Yên Thắng, Yên Hòa, Yên Phong, Yên Từ, Yên Thành, Yên Mỹ, Yên Nhân, Yên Mạc, Yên Lâm, Yên Thái, Yên Đồng, Khánh Hòa, Khánh Phú, Khánh An, Khánh Cư, Khánh Vân, Khánh Ninh, Khánh Hải, Khánh Lợi, Khánh Tiên, Khánh Thiện. Thị xã Tam Điệp được thành lập ngày 17 tháng 12 năm 1982, trên cơ sở tách thị trấn Tam Điệp và 2 xã Yên Bình, Yên Sơn tách từ huyện Tam Điệp. Khi đó thị xã gồm 3 phường: Bắc Sơn, Nam Sơn, Trung Sơn, và 4 xã: Quang Sơn, Yên Bình, Yên Sơn, Đông Sơn. Khi đó, thị xã Tam Điệp thuộc tỉnh Hà Nam Ninh. Ngày 12 tháng 8 năm 1991, tỉnh Ninh Bình được tái lập từ tỉnh Hà Nam Ninh cũ, thị xã Tam Điệp trực thuộc tỉnh Ninh Bình. Ngày 09 tháng 4 năm 2007, Nghị định 62/2007/NĐ-CP của Chính phủ thành lập phường Tân Bình trên cơ sở điều chỉnh 751,80 ha diện tích tự nhiên và 5.205 nhân khẩu của xã Yên Bình; thành lập phường Tây Sơn trên cơ sở điều chỉnh 186,55 ha diện tích tự nhiên và 2.736 nhân khẩu của xã Quang Sơn; 37,71 ha diện tích tự nhiên và 1.429 nhân khẩu của phường Nam Sơn; 46,76 ha diện tích tự nhiên và 853 nhân khẩu của phường Bắc Sơn. Ngày 31 tháng 7 năm 2012, Bộ Xây dựng ban hành Quyết định số 708/QĐ-BXD công nhận thị xã Tam Điệp là đô thị loại III. Ngày 10 tháng 4 năm 2015, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị Quyết số 904/NQ-UBNTQH13 "về việc thành lập phường Yên Bình thuộc thị xã Tam Điệp và thành lập thành phố Tam Điệp, tỉnh Ninh Bình". == Công nghiệp == Tam Điệp là đô thị công nghiệp theo quy hoạch của Ninh Bình. Sau 30 năm kể từ ngày thành lập, Tam Điệp đã trở thành đô thị công nghiệp loại III với 2 khu công nghiệp Tam Điệp 1 và Tam Điệp 2, 10 nhà máy công nghiệp tập trung, 184 doanh nghiệp và cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp… Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm từ 19 - 25% và đang có sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng (75%), dịch vụ (21%), nông nghiệp (4%). === Tiềm năng - thế mạnh === Công nghiệp Tam Điệp nổi bật với ngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng và chế biến nông sản. Với lợi thế về tài nguyên khoáng sản như đá vôi, đôlômit, đất sét, than bùn... và năng lực sản xuất của các chủ thể kinh tế hiện tại như các nhà máy xi măng Hướng Dương, Tam Điệp, The Vissai, Công ty cổ phần bê tông thép Ninh Bình..., Tam Điệp có lợi thế khá lớn về sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng với các sản phẩm như: xi măng, gạch gói, thép xây dựng, bê tông đúc sẵn... Thành phố Tam Điệp thuộc miền núi, nơi có trữ lượng đá vôi lớn dùng cho công nghiệp xi măng và vật liệu xây dựng, hiện tại thị xã có khu công nghiệp Tam Điệp 1 với diện tích 450 ha đã hoạt động và khu công nghiệp Tam Điệp 2. Năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệp của Tam Điệp ước đạt 3.558 tỷ đồng, tăng 54% so với năm 2005, giá trị sản xuất công nghiệp ngoài quốc doanh tăng tới 266%. Tam Điệp phấn đấu đến năm 2015, giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng đạt 8.970 tỷ đồng, Tổng giá trị sản xuất đạt trên 12.000 tỷ đồng, đưa tỷ trọng công nghiệp - xây dựng chiếm 70% trong cơ cấu kinh tế của toàn thị xã. === Công nghiệp - vật liệu xây dựng === Công nghiệp vật liệu xây dựng là ngành kinh tế nổi trội của Tam Điệp, đặc biệt là công nghiệp sản xuất xi măng. Trên địa bàn thành phố có các cơ sở sản xuất lớn như: Nhà máy xi măng Tam Điệp thuộc Công ty xi măng Tam Điệp là thành viên của Tổng Công ty công nghiệp xi măng Việt Nam được xây dựng trên địa bàn xã Quang Sơn, cách thủ đô Hà Nội 110 km về phía nam, cách quốc lộ 1A 1,5 km về phía tây. Nhà máy xi măng Tam điệp có công xuất 1,4 triệu tấn /năm, sản phẩm của nhà máy bao gồm Xi măng PC50, PCB40, PCB30 và Cliker Pcp40, Pcp50. Nhà máy xi măng Hướng Dương công suất 1,8 triệu tấn /1 năm thuộc Công ty cổ phần xi măng Hướng Dương là doanh nghiệp tư nhân có trụ sở và dây chuyền sản xuất nằm trên diện tích 27 ha thuộc địa bàn phường Nam Sơn. Nhà máy cán thép Tam Điệp công suất 36 vạn tấn/năm. Công ty cổ phần sản xuất vật liệu xây lắp Tam Điệp: Sản xuất vật liệu xây dựng và nghiền xi măng; Xây dựng công trình. Công ty giầy Adora: với 100% vốn Đài Loan, thuộc tập đoàn giầy Hongfu chuyên sản xuất các loại giầy thể thao của các hãng nổi tiếng thế giới (Nike, Conveser...). Công ty hiện nay có 9 nhà xưởng, dảm bảo công ăn việc làm ổn định, thu nhập hấp dẫn cho trên 7000 công nhân. Nhà máy may mặc xuất khẩu PHOENIX Công ty thép KYOEI Việt Nam là doanh nghiệp FDI với 100% vốn đầu tư từ Nhật Bản (3 Cổ đông lớn: Tập đoàn thép Kyoei Japan, Tập đoàn Metal One Corporation và Tập đoàn Thép Marubeni - Itochu Inc). KSVC đi vào sản xuất từ tháng 3 năm 2012 với dây chuyền sản xuất hiện đại do hãng VAI POMINI – ITALIA cung cấp với 100% thiết bị mới của các hãng hàng đầu thế giới. Nhà máy có công suất 300.000 tấn/năm, hiện đang cung cấp cho thị trường các loại thép xây dựng chất lượng cao: Thép cuộn từ ф6 đến ф8, thép thanh vằn từ ф10 đến ф40. Tính đến hết tháng 12 năm 2013, KSVC đã vươn lên đứng thứ 4 tại thị trường miền Bắc với sản lượng bán hàng đạt 200.000 tấn/năm. Trong năm 2014, KSVC khởi công xây dựng "Nhà máy Luyện, Cán thép chất lượng cao" có công suất 500.000 tấn/năm tại Khu Công nghiệp Khánh Phú, huyện Yên Khánh, Ninh Bình, nâng tổng công suất của KSVC lên hơn 1 triệu tấn, trở thành đơn vị sản xuất thép có quy mô lớn thứ 2 miền Bắc. Khu công nghiệp Tam Điệp 1 và 2: nhà máy giày da xuất khẩu, Nhà máy sản xuất dụng cụ Y tế, Nhà máy gạch Vườn Chanh, Nhà máy gạch Tam Điệp... Các doanh nghiệp khác: Công ty sản xuất vật liệu giao thông 529, Doanh nghiệp tư nhân Việt Thắng, Công ty khí công nghiệp Ninh Bình, Công ty vật liệu nổ Công nghiệp Bắc Trung bộ, Xí nghiệp Bê tông Bưu điện 3, Công ty Công nghiệp Hóa chất mỏ Bắc Trung Bộ - MICCO, Đoàn Địa chất thuỷ văn - Địa chất công trình 47. === Công nghiệp chế biến thực phẩm === Công ty cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao là một trong những doanh nghiệp chế biến nông sản thực phẩm lớn nhất tại Việt Nam được thành lập từ ngày 26/12/1955 từ thị trấn nông trường Đồng Giao. Nhà máy chế biến rau quả xuất khẩu của Công ty thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao với công suất 10.000 tấn sản phẩm/năm, dây chuyền nước dứa cô đặc 5.000 tấn/năm. Với diện tích canh tác hơn 5.500 hecta, thâm canh nhiều loại rau quả nhiệt đới như: dứa, cam, quýt, đu đủ, vải nhãn, na,ớt, lạc tiên... Tại đây còn trồng và canh tác nhiều loại cây có sản lượng cao như dưa chuột, ngô rau, măng, đậu co ve và nhiều cây ăn trái có chất lượng cao. === Khu công nghiệp Tam Điệp === Tam Điệp có 2 khu công nghiệp tập trung trong danh sách 7 khu công nghiệp chính ở Ninh Bình: Khu công nghiệp Tam Điệp 1 có diện tích: 121 ha. Đây là khu công nghiệp đa ngành, gồm công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, dệt may, gia công chế biến nông sản, thực phẩm... Khu công nghiệp Tam Điệp 2 cách trung tâm Thành phố Ninh Bình 15 km, cách trung tâm thành phố Tam Điệp 3 km. Khu công nghiệp Tam Điệp 2 có diện tích: 357 ha, là khu công nghiệp đa ngành, gồm chế tạo cơ khí, may mặc, vật liệu xây dựng, chế biến nông lâm sản. == Dịch vụ == Chợ Tam Điệp có các chợ sau là được xếp hạng chợ loại 2, 3 ở Ninh Bình: Chợ Đồng Giao hay còn được người dân ở đây gọi là Chợ sáng là chợ trung tâm của Thành phố Tam Điệp. Nằm ngay trên QL 1A, chợ Đồng Giao hàng ngày có rất nhiều người đến mua sắm với nhiều mặt hàng đa dạng. Siêu thị; Hệ thống các siêu thị phát triển khá đồng bộ như: Ngân hàng Hệ thống ATM: Vietinbank (Đường Đồng Giao, Cổng CS1 Trường Cao đẳng Việt Xô; Nhà máy xi măng Tam Điệp; Nhà máy giày da xuất khẩu) AgriBank (Đường Quang Trung, trước PGD Ngân hàng; Đền Dâu) BIDV (Đường Quang Trung; Đường Trần Phú) MB Bank (Khách sạn Xanh - cạnh siêu thị Viettel) TECHCOMBANK (Siêu thị Đồng Giao) Giáo dục Trên địa bàn Tam Điệp có 8 trường Tiểu học, 7 Trường Trung học cơ sở, 2 Trường THPT, 1 trung tâm giáo dục thường xuyên, 1 Trường Trung cấp, 3 Trường Cao đẳng: Trường Cao đẳng nghề Cơ điện Xây dựng Việt Xô (Dự kiến nâng cấp lên Trường Đại học) Trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình (Dự kiến nâng cấp lên Trường Đại học) Trường Cao đẳng nghề số 13 -Tổng cục hậu cần Trường Trung cấp nghề số 14 -Quân đoàn I Trường THPT Nguyễn Huệ, Ninh Bình - được thành lập năm 1980, là trường PTTH đạt chuẩn Quốc gia đầu tiên của Ninh Bình. Hàng năm có 100% học sinh đỗ tốt nghiệp. Vào năm 2009 trường thuộc Top 100 trường THPT có tỉ lệ đỗ Đại học cao trên Toàn quốc. Là lá cờ đầu trong khối thpt của cả tỉnh, chỉ đứng sau trường chuyên Lương Văn Tụy. Trường THPT Ngô Thì Nhậm, trước là trường Bán công của Thành phố. Sau đó trường đã được cho phép chuyển sang hệ công lập. Y tế Thành phố có 3 Bệnh viện, 1 trạm xá quân đội và 9 trung tâm y tế xã phường và hàng chục các phòng khám, điểm khám chữa bệnh khác. Bệnh viện Đa khoa thành phố Tam Điệp (Tổ 10 Phường Bắc Sơn) Bệnh viện Điều dưỡng phục hồi chức năng Ninh Bình (phường Tân Bình) Bệnh viện Chỉnh hình Tam Điệp (Tổ 2, phường Trung Sơn) Bệnh viện Quân y 145 (Dốc Diệm, Phường Trung Sơn) Các Trung tâm y tế xã/phường. Nông lâm nghiệp Thành phố có diện tích lớn đất Feralit đỏ, vàng thích hợp trồng cây công nghiệp và ăn quả. Nông trường Đồng Giao là doanh nghiệp nhà nước đóng tại địa bàn có nhiệm vụ sản xuất và chế biến nông sản. Sản phẩm đặc trưng của Công ty Thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao trồng trọt và chế biến các loại rau quả đóng hộp và rau quả tươi phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa và xuất khẩu như dứa Đồng Giao, lạc, vải, ngô, đu đủ, ớt... Tam Điệp cũng có làng nghề trồng đào Đông Sơn nổi tiếng với thương hiệu đào phai Tam Điệp cung cấp cho thị trường miền Bắc và Bắc Trung Bộ. Trên địa bàn thành phố năm 2014 có gần 224 trang trại với nhiều loại hình trồng trọt, chăn nuôi kết hợp đạt hiệu quả kinh tế cao với diện tích sử dụng gần 1.000 ha, trở thành địa phương phát triển mô hình trang trại lớn nhất tỉnh. Các trang trại ở Tam Điệp đã thu hút hơn 5.000 lao động có việc làm thường xuyên và hàng nghìn lao động thời vụ như chăm sóc, thu hoạch các loại cây trồng. == Quy hoạch - Đô thị == === Định hướng quy hoạch === Tam Điệp lấy trục quốc lộ 1A là trục chính Đông Bắc - Tây Nam của đô thị; trục quốc lộ 12B và đường Đồng Giao là trục chính Đông Nam - Tây Bắc của Đô thị. Quy hoạch đường Đồng Giao từ Quốc lộ 1A đến Công viên động vật hoang dã Quốc gia và rừng Cúc Phương là trục cảnh quan chính của đô thị. Hướng phát triển: 2 bên trục quốc lộ 1A, tỉnh lộ 480D, quốc lộ 12B, quốc lộ 21B một phần xã Quang Sơn, Đông Sơn. === Đô thị === Là thành phố miền núi nhưng Tam Điệp có lợi thế là đường quốc lộ 1A, quốc lộ 12B, quốc lộ 21B, cao tốc và Đường sắt Bắc Nam đi qua. Với những lợi thế đó Tam Điệp đang phát triển vươn lên trở thành một đô thị trung tâm vùng nam Bắc bộ. Một số công trình đô thị đặc trưng của thành phố: Các công trình, dự án đang được triển khai: Công trình dân dụng công nghiệp: Khu đô thị mới tây Đồng Giao; Khách sạn Hồ Yên Thắng; Công trình giao thông: cầu vượt đường sắt tại Ngoặt Kéo; Dự án nâng cấp Quốc lộ 1A đoạn ngã 3 chợ chiều đến Dốc Xây; Dự án đại lộ Đồng Giao; Quốc lộ 12B. Các dự án nâng cấp hệ thống đường đô thị như: đường Quyết Thắng; đường Lê Hồng Phong; đường Kim Đồng; đường Vạn Xuân; đường Lê Đại Hành; đường Ngọc Hồi; đường Trần Hưng Đạo. === Quảng trường Quang Trung === Ngày 21 tháng 12 năm 2013, thành phố Tam Điệp đã tổ chức Hội thảo Lựa chọn địa điểm và xây dựng Quảng trường tượng đài Hoàng đế Quang Trung. Đây cũng là quảng trường trung tâm thành phố Tam Điệp tương lai. Với tổng diện tích Quy hoạch khoảng 1.000.000 m2. Quần thể Quảng trường Hoàng Đế Quang Trung được xây dựng bao gồm các hạng mục: Tượng đài Quảng trường Đền thờ Công viên Đường giao thông == Di tích - Danh thắng == === Phòng tuyến Tam Điệp === Tam Điệp là địa danh lịch sử gắn liền với chiến thắng lịch sử của nghĩa quân nhà Tây Sơn trong sự nghiệp giải phóng Thăng Long. Nơi đây còn lưu giữ nhiều chứng tích lịch sử văn hóa. Quần thể di tích Phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn thuộc thành phố Tam Điệp được công nhận gồm 2 cụm di tích: Cụm A có các di tích: Đèo Tam Điệp (đèo Ba Dội), Kẽm Đó, luỹ Ông Ninh, đoạn đường Thiên lý cũ. Cụm B có các di tích: có luỹ Quèn Thờ. Ngoài ra còn phải kể đến hệ thống núi đá vôi của quần thể di sản thế giới Tràng An nằm trên các phường Tân Bình và xã Yên Sơn. === Di tích khảo cổ === Tam Điệp cũng là vùng đất cổ với hàng loạt các di chỉ khảo cổ học được khai quật là: Di tích khảo cổ học núi Ba (phường Bắc Sơn) là nơi xuất lộ những khối trầm tích cổ sinh cách đây khoảng 300.000 năm cùng một số hang động có dấu ấn của cư dân văn hóa Hòa Bình cách ngày nay trên dưới 10.000 năm. Di tích khảo cổ học thung Lang (phường Nam Sơn) tại đây đã tìm thấy răng người Homo Erectus cách đây khoảng 30.000 năm thuộc nền văn hóa Tràng An cùng một số dấu ấn cho thấy có sự xuất hiện của cư dân cách đây trên dưới 10.000 năm thuộc văn hóa Hòa Bình. Di tích khảo cổ học hang Đáo (xã Đông Sơn) nơi đây có tìm thấy những công cụ đồ đá của cư dân văn hóa Hòa Bình. Di tích khảo cổ học hang Yên Ngựa (phường Trung Sơn) xuất lộ dấu ấn cư dân văn hóa Hòa Bình. Di tích khảo cổ học hang Dẹ (phường Nam Sơn) có dấu ấn của cư dân văn hóa Hòa Bình ở giai đoạn sớm trên 10.000 năm. Di tích khảo cổ học núi hang Sáo (xã Quang Sơn) là hang động và mái đá có dấu ấn của cư dân văn hóa Hòa Bình và cư dân văn hóa Đa Bút sống cách ngày nay từ 5.000 đến 10.000 năm. Cụm di tích khảo cổ học hang ốc; Núi ốp thuộc quần thể danh thắng Tràng An (xã Yên Sơn) xuất lộ dấu ấn cư dân văn hóa Đa Bút và cư dân văn hóa Đông Sơn. Di tích khảo cổ học hang Khỉ (xã Đông Sơn) xuất lộ một số mảnh gốm cùng vỏ nhuyễn thể trên bề mặt nơi đây có dấu ấn văn hóa Đa Bút. Di tích khảo cổ học núi Hai (phường Bắc Sơn) xuất lộ rất nhiều gốm và xương động vật thuộc thời đại kim khí cách đây khoảng 3.000 năm. === Các di tích khác === Bảo tàng Binh đoàn Quyết Thắng: là bảo tàng lịch sử quân sự, trưng bày, tuyên truyền giới thiệu các tài liệu, hiện vật có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, phản ánh quá trình xây dựng, chiến đấu, trưởng thành của Binh đoàn Quyết thắng trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sân golf Yên Thắng được xây dựng ở xã Đông Sơn xã Yên Thắng với quy mô 54 lỗ hứa hẹn trở thành khu du lịch giải trí chất lượng cao ở miền Bắc. Hiện thành phố cũng đang xây dựng hạ tầng khu vui chơi giải trí trung tâm của khu du lịch hồ Đồng Thái nằm ở vùng giáp ranh giới với huyện Yên Mô. Đồi Dù Resort: Khu du lịch đồi Dù được xây dựng tại phía bắc bờ hồ Yên Thắng, thuộc địa phận phường Trung Sơn, gồm có nhà nghỉ sinh thái, câu cá, chòi ăn uống, khuôn viên, bể nuôi cá sấu... Đình Quang Hiển: Đình Quang Hiển thuộc phường Tân Bình thờ ba nhân vật chính là Hoàng Tín Công, Hoàng Đại Công, Hoàng Thống Công là những vị tướng dưới thời Hùng Vương được sắc phong là Thành hoàng làng. Tại đây vẫn còn nhiều di tích mang đậm dấu ấn lịch sử như tấm bia đá ghi việc Thiếu bảo Từ Quận công và Đông Sơn hầu sửa đường núi quan dựng cầu, đặt chợ; khu núi Quan – hang Phật – quèn Ma cho thấy vào khoảng thế kỷ thứ XVI nơi đây đã là nơi cư dân đông đúc, bán buôn sầm uất và cũng là nơi có nhiều doanh trại quân đội đóng. Khu di tích này là những thắng cảnh của địa phương, là tư liệu quý để các nhà nghiên cứu tìm hiểu về lịch sử xã hội vùng Tam Điệp, Yên Mô, Ninh Bình vào giai đoạn Nam – Bắc triều trong thế kỷ thứ 16. Chùa Quang Sơn và đền Mẫu Thượng: Chùa Quang Sơn thuộc địa phận thôn Tân Thượng, xã Quang Sơn, là công trình kiến trúc Phật giáo thờ Phật. Hệ thống tượng thờ trong chùa được bài trí tại tòa Thượng điện và tòa Tiền Đường. Đền Mẫu Thượng có chung khuôn viên với chùa Quang Sơn, đền thờ Mẫu Liễu Hạnh, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu Thoải, đức thánh Trần, ông Hoàng Bảy, ông Hoàng Ba, Ông Hoàng Mười… Trong cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Những năm 1952 – 1953 nơi đây đã từng là bệnh viện Kháng chiến tiền phương, đã đóng góp lớn vào chiến dịch Tây Nam Ninh Bình và mặt trận liên khu 4. Là trụ sở hội họp của Ban Chấp hành Đảng bộ Quân khu 3, điểm giao liên nối liền khu căn cứ cách mạng Quỳnh Lưu, huyện Nho Quan và chiến khu Ngọc Trạo, tỉnh Thanh Hóa. Chùa Lý Nhân: Chùa Lý Nhân thuộc địa phận thôn Lý Nhân, phường Yên Bình. Chùa thờ Phật, hệ thống tượng thờ trong chùa được bài trí tại tòa Thượng điện và tòa Tiền đường. Chùa là nơi giảng đạo cho các tăng ni, phật tử, là nơi sinh hoạt văn hoá tôn giáo cho nhân dân trong phường và các vùng lân cận. Nhóm di tích phía Tây Nam của Quần thể danh thắng Tràng An trên địa bàn Tam Điệp có các di tích; Núi ốc; Núi ốp; Đồi Ông Cẩm (xã Yên Sơn) thuộc giai đoạn Văn hóa Đông Sơn cách ngày nay khoảng 2.000 năm xa hơn nữa về phía Tây Nam có di tích Núi Một; di tích Núi Hai (phường Bắc Sơn, thành phố Tam Điệp), thuộc giai đoạn trước Văn hóa Đông Sơn có niên đại cách ngày nay khoảng 3.000 năm cho thấy nhóm cư dân cổ ở Tràng An có quan hệ qua lại với nhóm cư dân ở khu vực đồi núi đá vôi Tam Điệp. == Thông tin khác == === Khoảng cách từ Tam Điệp đi === Khoảng cách từ thành phố Tam Điệp đi một số đô thị lớn === Hình ảnh === === Lô gô === Ngày 19/5/15, UBND thành phố Tam Điệp đã tổ chức hội nghị công bố biểu trưng (Logo) thành phố Tam Điệp và tiến hành trao giải cuộc thi sáng tác biểu trưng thành phố. Sau gần 2 tháng phát động, cuộc thi sáng tác mẫu biểu trưng thị xã Tam Điệp, nay là thành phố Tam Điệp đã thu hút sự quan tâm và tham gia của đông đảo các họa sĩ, nhà thiết kế đồ họa chuyên và không chuyên trong toàn quốc. Với chủ đề "Thị xã Tam Điệp- quá trình hình thành và phát triển", Ban tổ chức đã nhận được gần 500 tác phẩm của 90 tác giả với nhiều hình thức thể hiện phong phú, đa dạng. Tại vòng chung khảo, Ban tổ chức đã chọn 1 tác phẩm đạt giải nhất và 4 tác phẩm đạt giải khuyến khích. Tại hội nghị, thành phố Tam Điệp đã công bố biểu trưng (logo) của thành phố Tam Điệp là tác phẩm đạt giải nhất của tác giả Nguyễn Thùy Liên (Hà Nội). Đây là tác phẩm hội tụ đầy đủ những đặc trưng tiêu biểu của vùng đất và con người Tam Điệp, thể hiện được truyền thống lịch sử, văn hóa, quá trình hình thành và phát triển của thị xã Tam Điệp qua các giai đoạn lịch sử cũng như tiềm năng của thành phố Tam Điệp văn minh, hiện đại, an toàn và thân thiện với bạn bè và du khách trong nước và quốc tế. === Đặc sản Tam Điệp === Dứa Đồng Giao là thương hiệu nông sản của vùng đất Tam Điệp, Ninh Bình. Quả dứa Đồng Giao có mặt trong sách Top 50 trái cây đặc sản nổi tiếng nhất Việt Nam, đã được Cục Sở hữu trí tuệ bảo hộ chỉ dẫn địa lý Dứa Đồng Giao cùng với cá rô Tổng Trường, dê núi và cơm cháy Ninh Bình được coi là những đặc sản ẩm thực tiêu biểu của Ninh Bình. Ốc núi Tam Điệp: là một loại đặc sản ẩm thực đặc trưng của thành phố này. Loài ốc núi khá hiếm, chỉ có ở vùng núi Nho Quan, Tam Điệp, Yên Mô, chúng sống vùi mình trong đất, trong kẽ đá các khu núi đá vôi, từ tháng 4 tới tháng 8, sau những trận mưa, chúng mới xuất hiện. Vào buổi sáng, chúng bò ra vách núi kiếm ăn, thức ăn của chúng là cỏ hoang và thảo dược trên vách đá. Tam Điệp còn có một số đặc sản làng nghề khác như: hoa đào Đông Sơn, nông trường chè Tam Điệp. == Chú thích == == Liên kết ngoài == [1] Cổng thông tin điện tử thị xã tam điệp Tam Điệp - Đô thị công nghiệp Thị xã Tam Điệp trên Cổng thông tin điện tử Ninh Bình Tam Điệp - cửa ải xung yếu trong lịch sử dân tộc, Đăng Vinh, Báo điện tử Quân đội nhân dân, QĐND - Thứ Hai, 26/05/2008, 21:10 (GMT+7) Bản mẫu:Danh sách phường, xã thuộc thành phố Tam Điệp
lê huỳnh đức.txt
Lê Huỳnh Đức (sinh 20-04-1972) là một cựu cầu thủ và huấn luyện viên bóng đá người Việt Nam. Ông là một trong những cầu thủ xuất sắc nhất của bóng đá Việt Nam trong lịch sử, từng là Đại sứ thiện chí của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF) tại Việt Nam. Hiện tại, ông đang là Huấn luyện viên trưởng câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng. == Thân thế và sự nghiệp == Ông sinh ngày 20 tháng 4 năm 1972 tại Sài Gòn, là người gốc Huế. Thân phụ ông là Lê Văn Tâm, một cựu danh thủ bóng đá lừng danh tại miền Nam Việt Nam trước năm 2002. Sự nghiệp bóng đá của ông bắt đầu vào năm 1994 khi gia nhập Đội bóng đá Quân khu 7, sau đó chuyển sang Đội bóng đá Công an Thành phố Hồ Chí Minh. Ông sớm được đánh giá là một cầu thủ tài năng và trở thành một tuyển thủ của đội tuyển Việt Nam. 1995- Vô địch quốc gia cùng đội bóng Công an Thành phố Hồ Chí Minh. 1995 - Giành danh hiệu Quả bóng vàng Việt Nam. 1996 - Giành danh hiệu Vua phá lưới giải vô địch quốc gia. 1997 - Giành danh hiệu Quả bóng vàng Việt Nam. 1997 - Giành danh hiệu Vua phá lưới giải vô địch quốc gia. 1998 - Giành danh hiệu Quả bóng bạc Việt Nam. 1999 - Giành danh hiệu Quả bóng bạc Việt Nam. 2000 - Giành danh hiệu Quả bóng bạc Việt Nam. 2002 - Giành danh hiệu Quả bóng vàng Việt Nam. 2006 - Chơi cho Câu lạc bộ Trùng Khánh Lực Phàm (Chongqing Lifan) (Trung Quốc) [1] 2006 - Gia nhập câu lạc bộ bóng đá Đà Nẵng 2007 - Vô địch giải bóng đá thuộc Đại hội Thể dục thể thao toàn quốc lần thứ 5 2008 - Làm huấn luyện viên trưởng câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng 2009 - Vô địch V-League 2009 - Vô địch cúp quốc gia huấn luyện viên Trưởng câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng 2009 - Trợ lý Huấn luyện Viên Đội tuyển bóng đá Việt Nam - Đội tuyển U23 Việt Nam 2012 - Vô địch V-League 2012 huấn luyện viên Trưởng câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng 2013 - Á quân V-League 2013 huấn luyện viên Trưởng câu lạc bộ bóng đá SHB Đà Nẵng == Thành tích quốc gia == Cầu thủ giữ kỷ lục dự đủ 5 kỳ Tiger Cup liên tiếp (1996, 1998, 2000, 2002, 2004) Cầu thủ ghi bàn nhiều cho đội tuyển bóng đá quốc gia tại các kỳ Tiger Cup và tất cả các giải đấu khác Cầu thủ có số lần nhận giải thưởng Quả bóng vàng Việt Nam nhiều thứ hai (ba lần: 1995, 1997, 2002), ngang với Lê Công Vinh , và chỉ xếp sau Phạm Thành Lương (bốn lần). Cùng với ba lần giành danh hiệu Quả bóng bạc và hai lần giành danh hiệu Vua phá lưới giải vô địch quốc gia, Lê Huỳnh Đức là cầu thủ giữ kỷ lục về số danh hiệu cá nhân ở Việt Nam. Lê Huỳnh Đức hai lần được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Lao động. Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc chọn Huỳnh Đức làm Đại sứ thiện chí tại Việt Nam vì tầm ảnh hưởng của anh đối với thanh thiếu nhi và xã hội. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Lê Huỳnh Đức trả lời bạn đọc VnExpress, VnExpress
đài tiếng nói việt nam.txt
Đài Tiếng nói Việt Nam (tên tiếng Anh là "Radio The Voice of Vietnam", viết tắt là VOV), còn gọi là Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam, là đài phát thanh quốc gia trực thuộc Chính phủ Việt Nam, có nhiệm vụ truyền tải thông tin, tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật của Nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, góp phần giáo dục, nâng cao dân trí, phục vụ đời sống tinh thần của nhân dân. Đài được sự quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông về hoạt động báo chí, tần số, truyền dẫn và phát sóng. Hiện tại, Đài Tiếng nói Việt Nam sở hữu đủ cả bốn loại hình báo chí: phát thanh, truyền hình, báo in giấy và báo điện tử trực tuyến. == Lịch sử == - 11h30 phút ngày 7/9/1945: Đài Tiếng nói Việt Nam chính thức ra đời. Nội dung buổi phát thanh đầu tiên bằng tiếng Việt bắt đầu bằng câu: "Đây là Tiếng nói của Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. - Ngày 01/6/1946: Đài Tiếng nói Nam Bộ ra đời, Đài có khi lấy tên là Đài Tiếng nói Đồng Tháp Mười hay Đài Tiếng nói miền Nam Việt Nam - Ngày 23/10/1946: Hồ Chủ tịch đã nói chuyện trực tiếp với đồng bào cả nước về Tạm ước 14/9/1946 qua làn sóng của Đài Tiếng nói Việt Nam. - Ngày 21/1/1947: Hồ Chủ tịch đến Đài Tiếng nói Việt Nam đọc thơ chúc Tết gửi đồng bào và chiến sĩ cả nước. Hồ Chủ tịch viết tặng sư cụ chùa Trầm mấy chữ trên giấy hồng điều: “Kháng chiến tất thắng, kiến quốc tất thành”. Cũng tại đây, Đài Tiếng nói Việt Nam đã ghi âm lời Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi đồng bào và chiến sĩ Nam Bộ. - Ngày 22/1/1947: Phát thư Chúc Tết của Bác Hồ bằng tiếng Việt và tiếng nước ngoài (có lời dịch). - Ngày 19/5/1947: Đài lại chuyển đến địa điểm sơ tán mới và chỉ xướng danh: “Đây là Đài Tiếng nói Việt Nam”. - 11h00 ngày 2/9/1947: Đại tướng Võ Nguyên Giáp đến thăm Đài và đọc Diễn văn nhân ngày Quốc khánh. - Tháng 4/1949: Tổ chức bộ phận biên soạn tin trong nước cho các báo và các đài. - Ngày 10/10/54: Khi bộ đội vào giải phóng Thủ đô, Đài Tiếng nói Việt Nam đã phát sóng với xưng danh: “Đây là Đài Tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà”. - Ngày 20/10/1954: Đài Tiếng nói Việt Nam đã thực sự phát sóng từ Thủ đô nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. - Đầu năm 1955: Bác Hồ đến thăm Đài. - Năm 1955: Đài Tiếng nói Việt Nam được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng Nhất. - Năm 1960: Thành lập Ban biên tập miền Nam. - Năm 1960: Đài Tiếng nói Việt Nam được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất. - Tháng 01/1961: Bác Hồ đến thăm khu Trung tâm bá âm - Năm 1962: Chính phủ quyết định chuyển các máy phát sóng phát thanh sang cho Tổng cục Bưu điện để thống nhất quản lý kỹ thuật vô tuyến viễn thông vào một mối và theo cơ chế hạch toán. Đài Tiếng nói Việt Nam tập trung vào khâu biên tập đến ghi âm và truyền tín hiệu đến đầu đường cáp dẫn đến máy phát. Cũng trong năm này, Đài TNVN được nâng cấp thành một cơ quan trực thuộc Hội đồng chính phủ. Tổ chức của Đài Tiếng nói Việt Nam cũng phân thành các ban biên tập tươg đương cấp vụ, cục. - 8/1968: Chưong trình phát thanh dành cho ngưòi Việt Nam ở xa Tổ quốc được bắt đầu vào khoảng 24h (giờ VN). - Sáng ngày 3/9/1969: Phát bản tin đặc biệt: Thông cáo của Ban chấp hành TW Đảng Lao động Việt Nam về sức khoẻ của Hồ Chủ tịch. - 6h00 sáng ngày 4/9/1969: Đài Tiếng nói Việt Nam thông báo tin Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. - Ngày 2/1/1970: Bộ Biên tập triệu tập họp để trao đổi về việc phát thử một Chương trình truyền hình nhân dịp 25 năm thành lập Đài Tiếng nói Việt Nam. - Ngày 7/9/1970: Đài Tiếng nói Việt Nam đã làm truyền hình thử nghiệm. Đây là buổi phát sóng đầu tiên của Đài Truyền hình Việt Nam, chưong trình gồm 15 phút thời sự và 30 phút ca nhạc. - Từ 16/4/1972: Truyền hình phải ngừng phát sóng vì chiến tranh phá hoại của Mỹ bằng không quân. - Ngày 23/12/1972: Máy bay B52 của Mỹ đã rải thảm bom xuống khu vực Đài phát sóng phát thanh Mễ Trì và Đài Bạch Mai (đồng thời là khu tập thể lớn), phá huỷ cả hai cơ sở phát sóng lớn tại Hà Nội. Hơn 100 gia đình cán bộ của Đài bị mất nhà cửa. Đài Tiếng nói Việt Nam phải ngừng phát sóng 9 phút. Sau đó, Đài Tiếng nói Việt Nam lại tiếp tục phát sóng. - Tối 27/1/1973: Công bố tin và Văn kiện đình chiến ký kết tại Pari tới thính giả cả nước và một phần châu lục. - Năm 1973: Đài Tiếng nói Việt Nam được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất. Cục Kỹ thuật phát thanh được tặng Huân chương chiến công hạng Nhất. - Năm 1973: Đài Tiếng nói Việt Nam được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Mỹ hạng Nhất. - Ngày 30/4/1975: Tiếp quản Đài truyền hình Sài gòn. - Trưa ngày 30/4/1975: Phát tin Chiến dịch Hồ Chí Minh toàn thắng. - Năm 1975: Ban Truyền hình tách ra một bộ phận để tiến hành công việc chuẩn bị cơ sở truyền hình ở Giảng Võ. - Ngày 16/6/1976: Đài truyền hình TW chính thức phát sóng hàng ngày. Ban Lãnh đạo đổi tên là Ban Giám đốc. Đài Tiếng nói Việt Nam đổi tên là Đài phát thanh và truyền hình. - 11h30 ngày 02/7/1976: Đài Tiếng nói Việt Nam đổi xưng danh thành: “Đây là Tiếng nói Việt Nam, phát thanh từ Hà Nội, thủ đô nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. - Tháng 9/1977: Chính phủ ban hành Nghị định thành lập Uỷ ban Phát thanh và Truyền hình trong đó có Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam. - Năm 1980: Đài Tiếng nói Việt Nam được tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Nhất. - Năm 1984: Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam được tách ra khỏi cơ cấu của Uỷ ban Phát thanh và Truyền hình, trực thuộc Ban Bí thư TW Đảng. - Năm 1987: Uỷ ban Phát thanh và Truyền hình giải thể, Đài Tiếng nói Việt Nam cùng với Đài Truyền hình Việt Nam và Thông tấn xã Việt Nam trở thành 3 cơ quan độc lập trực thuộc Chính phủ. - Ngày 30/4/1987: Hội đồng Bộ trưởng ban hành Nghị định số 71-HĐBT, qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Đài Tiếng nói Việt Nam. - Ngày 29/6/1988: Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 200 – CT về tổ chức bộ máy của Đài Tiếng nói Việt Nam. - Năm 1990: Đài Tiếng nói Việt Nam được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh. - Tháng 8/1993: Chính phủ giao cho Đài Tiếng nói Việt Nam và Đài Truyền hình Việt Nam quản lý các máy phát sóng của toàn hệ thống do Tổng cục Bưu điện chuyển sang, cũng như quản lý nghiệp vụ hệ thống các Đài phát thanh, hệ thống các Đài truyền hình địa phương trong cả nước. - Ngày 16/8/1993: Chính phủ ban hành Nghị định số 53-CP, qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Đài Tiếng nói Việt Nam. - Ngày 7/9/1995: Đài Tiếng nói Việt Nam được tặng thưởng Huân chương Sao vàng. - Ngày 02/11/1998: Báo Tiếng nói Việt Nam, tờ báo in của Đài Tiếng nói Việt Nam ra số đầu tiên. - 03/02/1999: Tiếng nói Việt Nam chính thức phát thanh trên Internet. - Tháng 03/1999: Khai trương Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Thái Lan. - Tháng 6/2000: Khai trương Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Pari (Pháp). - Tháng 5/2001: Khai trương Cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Nga, Trung Quốc. - 7/9/2001: Đài Tiếng nói Việt Nam được Đảng và Nhà nước phong tặng Danh hiệu “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới”. - Năm 2002: Khai trương cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Ai cập. - Năm 2003: Khai trương cơ quan thường trú Đài Tiếng nói Việt Nam tại Nhật Bản. - Ngày 18/7/2003: Chính phủ ban hành Nghị định số 83/2003/NĐ-CP, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài Tiếng nói Việt Nam. - Ngày 19/11/2003: Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 1287/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch phát triển Đài Tiếng nói Việt Nam đến năm 2010. - Ngày 10/4/2007, tại buổi làm việc với Đài Tiếng nói Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã kết luận một số vấn đề quan trọng đối với Đài Tiếng nói Việt Nam (Thông báo số 67/TB-VPCP). - Ngày 04/02/2008: Chính phủ ban hành Nghị định số 16/2008/NĐ-CP, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Đài Tiếng nói Việt Nam. - Ngày 07/9/2008: Hệ phát thanh có hình chính thức phát sóng, đánh dấu sự trưởng thành của Đài Tiếng nói Việt Nam với đầy đủ các loại hình báo chí hiện tại. - Ngày 18/5/2009: Phát sóng thử nghiệm kênh VOV Giao thông tại Hà Nội và phát sóng chính thức từ ngày 21/6/2009. - Ngày 15/12/2009: Phát sóng thử nghiệm kênh VOV Giao thông tại Thành phố Hồ Chí Minh và phát sóng chính thức từ ngày 02/1/2010. == Nhạc hiệu và lời xướng == Đầu các chương trình thời sự và đầu buổi phát sóng mỗi ngày trên các kênh phát thanh của Đài đều có phát một đoạn nhạc không lời gọi là "nhạc hiệu" của Đài cùng một câu giới thiệu tên gọi và vị trí của Đài được gọi là "lời xướng" do một nam và một nữ lần lượt đọc. Nhạc hiệu của Đài là bài "Diệt phát xít" của Nguyễn Đình Thi, được dùng từ khi thành lập Đài cho đến nay. Lời xướng của Đài dùng từ buổi phát thành đầu tiên năm 1945 đến 1976 (do Việt Khoa và Tuyết Mai thể hiện): Lời xướng dùng từ 11 giờ 30 phút ngày 2 tháng 7 năm 1976 đến nay (do Hà Phương và Hoàng Yến thể hiện): == Các kênh phát thanh, truyền hình, báo chí == === Phát thanh === VOV1 (Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp): Từ ngày 1 tháng 1 năm 2010, VOV1 phát sóng từ 5h05 đến 24h00 mỗi ngày. VOV2 (Hệ Văn hoá - Đời sống - Khoa giáo): Phát cùng ngày 1 tháng 1 năm 2010. Hiện mỗi ngày phát sóng từ 05h15 đến 24h00. VOV3 (Hệ Âm nhạc - Thông tin - Giải trí): Phát sóng lần đầu tiên vào 7 giờ ngày 7 tháng 9 năm 1990 trên sóng FM tần số 102,7 MHz. Hiện mỗi ngày phát sóng 24 giờ. VOV4 (Hệ phát thanh dân tộc): Chính thức phát sóng từ ngày 1 tháng 10 năm 2004. Hiện phát thanh bằng 12 thứ tiếng dân tộc thiểu số là: tiếng H'Mông, tiếng Dao, tiếng Thái, tiếng Ê Đê, tiếng Gia Rai, tiếng Ba Na, tiếng Xơ Đăng, tiếng K’ho, tiếng Chăm, tiếng Khmer, tiếng M’nông, tiếng Cơ Tu và tiếng Việt (trong chương trình Dân tộc và Phát triển phát trên hệ VOV1). VOV5 (Hệ phát thanh đối ngoại): Phát sóng lần đầu tiên vào ngày 7 tháng 9 năm 1945. Hiện nay VOV5 phát thanh bằng 12 thứ tiếng là tiếng Việt (dành cho người Việt Nam ở nước ngoài), tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Nga, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nhật, tiếng phổ thông Trung Quốc, tiếng Đức, tiếng Lào, tiếng Thái Lan, tiếng Khmer (Campuchia), tiếng Indonesia. Các chương trình phát thanh của hệ VOV5 được phát trên sóng ngắn và sóng trung sang châu Âu, Bắc Mỹ, một phần Trung Mỹ, Đông Nam Á, Đông Bắc Á, một phần châu Phi. Tất cả các chương trình phát thanh đối ngoại bằng tiếng nước ngoài của hệ VOV5 cũng được phát sóng ở trong nước trên sóng FM tần số 105,5 MHz tại Hà Nội, sóng FM tần số 105,7 MHz tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Quảng Ninh. Hệ thống kênh VOV Giao thông Quốc gia: Bao gồm: Kênh VOV Giao thông Hà Nội: Phát sóng thử nghiệm từ 11 giờ ngày 18 tháng 5 năm 2009 trên sóng FM tần số 91 MHz tại Hà Nội, phát sóng chính thức ngày 21 tháng 6 năm 2009. Kênh VOV Giao thông TP. HCM: Phát sóng thử nghiệm trên sóng FM tần số 91 MHz tại thành phố Hồ Chí Minh từ ngày 15 tháng 12 năm 2009, phát sóng chính thức ngày 2 tháng 1 năm 2010. Kênh VOV Tiếng Anh 24/7: Bắt đầu phát sóng thử nghiệm tại Hà Nội từ ngày 1 tháng 10 năm 2015 trên sóng FM tần số 104 MHz, chính thức phát sóng từ sáng ngày 6 tháng 11 năm 2015. Kênh VOV89 (sức khoẻ và an toàn thực phẩm) phát sóng từ ngày 27/2/2017 trên tần số 89 MHz, thay thế kênh phát thanh FM Cảm xúc. Thời lượng 17 giờ trong ngày, từ 6 giờ đến 23 giờ hàng ngày. Cung cấp thông tin sức khoẻ và an toàn thực phẩm. === Truyền hình === Buổi phát sóng truyền hình đầu tiên của Đài Tiếng nói Việt Nam diễn ra vào đêm ngày 7 tháng 9 năm 1970. Năm 1971, Đài Tiếng nói Việt Nam thành lập Ban biên tập Vô tuyến truyền hình. Ngày 18 tháng 6 năm 1977, Ban biên tập Vô tuyến truyền hình tách khỏi Đài Tiếng nói Việt Nam, chuyển thành Đài Truyền hình Trung ương. Năm 1987 Đài Truyền hình Trung ương đổi tên thành Đài Truyền hình Việt Nam. Đài Tiếng nói Việt Nam hiện có hai kênh truyền hình và một đài truyền hình trực thuộc là: Kênh Truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam, gọi tắt là VOVTV: Tên gọi ban đầu của kênh là Hệ phát thanh có hình Đài Tiếng nói Việt Nam, viết tắt là VOVTV, bắt đầu phát sóng thử nghiệm từ chiều ngày 7 tháng 9 năm 2008 Sau khi Bộ Thông tin và Truyền thông cấp phép hoạt động truyền hình cho Đài Tiếng nói Việt Nam bằng quyết định số 871/GP–BTTT ký ngày 23 tháng 5 năm 2012, ngày 24 tháng 5 năm 2012, Hệ phát thanh có hình Đài Tiếng nói Việt Nam đổi tên thành Kênh truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam, tên gọi tắt vẫn là VOVTV. Kênh Truyền hình Quốc hội Việt Nam (kênh Quốc hội) : Chính thức phát sóng ngày 6 tháng 1 năm 2015, là cơ quan ngôn luận chính thức của Quốc hội Việt Nam, có nhiệm vụ cung cấp thông tin về các hoạt động của Quốc hội Việt Nam và đời sống chính trị, xã hội. Tháng 6 năm 2012, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam giao cho Đài Tiếng nói Việt Nam tiến hành thành lập Kênh Truyền hình Quốc hội Việt Nam. Trong quá trình chuẩn bị phát sóng chính thức, từ tháng 10 năm 2014 một số chương trình của Kênh Truyền hình Quốc hội Việt Nam sau này đã được phát sóng hàng ngày trên kênh VOVTV. Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC: Trước đây Đài trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam, từ năm 2015 chuyển sang trực thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam. Tháng 1 năm 2015, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng chấp thuận đề nghị của Đài Tiếng nói Việt Nam cho sáp nhập Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC vào Đài Tiếng nói Việt Nam. Ngày 2 tháng 6 năm 2015, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ký quyết định chuyển Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC từ Bộ Thông tin và Truyền thông sang trực thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam. Sáng ngày 27 tháng 6 năm 2015, trong lễ bàn giao Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC từ Bộ Thông tin và Truyền thông sang trực thuộc Đài Tiếng nói Việt Nam tổ chức tại trụ sở Bộ Thông tin và Truyền thông, Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn và Tổng Giám đốc Đài Tiếng nói Việt Nam Nguyễn Đăng Tiến đã ký kết biên bản bàn giao nguyên trạng Đài Truyền hình Kỹ thuật số VTC cho Đài Tiếng nói Việt Nam. === Báo chí - cơ quan ngôn luận của VOV === Báo chí là một trong những cơ quan ngôn luận quan trọng của VOV. Từ năm 1998 (báo Tiếng nói Việt Nam phát số in đầu tiên) cho đến nay, có hai loại báo chí chính thức là báo điện tử trực tuyến và báo in giấy: Báo điện tử VOV [1] là một trong những cơ quan nhà đài trực tuyến của VOV hoạt động từ ngày 03/09/1999 đến nay. Hoạt động cập nhật tin tức mọi đời sống của người dân, tin trong nước, tin quốc tế,... trên 24/24 giờ mỗi ngày. Báo điện tử VTC [2] hoạt động từ 07/07/2008, kể từ khi VTC sáp nhập vào VOV vào tháng 1 năm 2015, báo điện tử này cũng như cả hệ thống cơ quan của VTC trở thành một bộ phận của VOV đến nay. Báo Tiếng nói Việt Nam (báo giấy) là một trong những báo in của VOV, ra số đầu tiên từ ngày 02 tháng 11 năm 1998 đến nay, với cập nhật tin tức đầy đủ trên báo in (cũng như báo mạng VOV và VTC) == Các cơ quan chính == === Khối biên tập === Hệ Thời sự - Chính trị - Tổng hợp (VOV1) Hệ Văn hóa - Đời sống - Khoa giáo (VOV2) Hệ Âm nhạc - Thông tin - Giải trí (VOV3) Hệ Phát thanh dân tộc (VOV4) Hệ Phát thanh đối ngoại (VOV5) Kênh Truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam (VOVTV) Kênh VOV Giao thông Quốc gia Trung tâm tin tức Báo Tiếng nói Việt Nam Báo Điện tử VOV Online Ban Biên tập Thanh thiếu niên (Thuộc Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh) Ban Biên tập Phát thanh Vì an ninh Tổ quốc (Thuộc Bộ Công an) Ban Biên tập Phát thanh Quân đội nhân dân (Thuộc Bộ Quốc phòng) Nhà hát Đài Tiếng nói Việt Nam (trước kia là Đoàn ca nhạc Đài Tiếng nói Việt Nam) === Khối Kỹ thuật === Trung tâm kỹ thuật phát thanh Trung tâm âm thanh Trung tâm ứng dụng tin học và phát triển công nghệ phát thanh (RITC) === Khối Quản lý === Văn phòng Ban tổ chức cán bộ Ban thư ký biên tập và thính giả Ban Kế hoạch - Tài chính Ban hợp tác quốc tế Ban kiểm tra Văn phòng Đảng ủy Ban quản lý dự án Văn phòng công đoàn === Khối Doanh nghiệp === Tổng Công ty phát triển phát thanh truyền hình thông tin EMICO Trung tâm quảng cáo và dịch vụ phát thanh (VOVAS) === Khối Đào tạo === Trường cao đẳng phát thanh truyền hình 1 (tại Phủ Lý, Hà Nam) Trường cao đẳng phát thanh truyền hình 2 (tại thành phố Hồ Chí Minh) Trung tâm Đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ phát thanh (VOVTC) (tại Hà Nội) === Khối Cơ quan thường trú === Cơ quan Thường trú trong nước: Cơ quan thường trú khu vực Tây Bắc (tại thị xã Sơn La, tỉnh Sơn La) Cơ quan thường trú khu vực Đông Bắc (tại thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) Cơ quan thường trú khu vực Miền Trung (tại thành phố Đà Nẵng) Cơ quan thường trú khu vực Tây Nguyên (tại thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk) Cơ quan thường trú khu vực Đông Nam Bộ (tại thành phố Hồ Chí Minh) Cơ quan thường trú khu vực Tây Nam Bộ - Đồng bằng sông Cửu Long (tại thành phố Cần Thơ) Cơ quan thường trú nước ngoài Cơ quan thường trú tại Bangkok, Thái Lan Cơ quan thường trú tại Paris, Pháp Cơ quan thường trú tại Moscow, Nga Cơ quan thường trú tại Bắc Kinh, Trung Quốc Cơ quan thường trú tại Cairo, Ai Cập. Cơ quan thường trú tại Tokyo, Nhật Bản. Cơ quan thường trú tại Washington D.C, Mỹ Cơ quan thường trú tại Campuchia Cơ quan thường trú tại Lào == Ban lãnh đạo hiện tại == Tổng giám đốc: Nguyễn Thế Kỷ Phó Tổng Giám đốc: Vũ Hải Phó Tổng Giám đốc: Trần Minh Hùng Phó Tổng Giám đốc: Vũ Minh Tuấn Phó Tổng Giám đốc: Nguyễn Xuân Huy == Tổng Giám đốc qua các thời kì == Trần Lâm Phan Quang Trần Mai Hạnh Vũ Văn Hiền Nguyễn Đăng Tiến Nguyễn Thế Kỷ == Tặng thưởng == Trải qua hơn 60 năm kể từ lúc hình thành, Đài Tiếng nói Việt Nam đã được Nhà nước Việt Nam tặng thưởng nhiều huân chương và danh hiệu: Huân chương Kháng chiến chống Pháp hạng nhất (1958). Huân chương Lao động hạng nhất (1960). Huân chương Kháng chiến chống Mỹ hạng nhất (1973). Huân chương Lao động hạng Nhất (1980). Huân chương Hồ Chí Minh (1990). Huân chương Sao vàng (1995) Danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới (2001). Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân (2009) Huân chương Hồ Chí Minh (2010) == Xem thêm == Đài Truyền hình Việt Nam Thông tấn xã Việt Nam Báo Nhân dân Đài Truyền hình Kỹ thuật só VTC Kênh Truyền hình Quốc hội Việt Nam Kênh Truyền hình Quốc phòng Việt Nam Kênh Truyền hình Công an Nhân dân == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ của Đài Tiếng nói Việt Nam |}
samsung galaxy tab 4 8.0.txt
Samsung Galaxy Tab 4 8.0 là máy tính bảng 8-inch chạy hệ điều hành Android sản xuất và phân phối bởi Samsung Electronics.Nó thuộc thế hệ thứ tư của dòng Samsung Galaxy Tab series, bao gồm bản 7-inch và 10.1-inch, Galaxy Tab 4 7.0 và Galaxy Tab 4 10.1. Nó được công bố vào 01 tháng 4 năm 2014, và vẫn chưa được phát hành. Không giống như máy tính bảng 7-inch và 10.1 inch, Galaxy Tab 4 8.0 chỉ là phiên bản thứ hai trong các thiết bị 8 inch. == Lịch sử == Galaxy Tab 4 8.0 được công bố vào 01 tháng 4 năm 2014. Nó được ra mắt cùng với Galaxy Tab 4 7.0 và Galaxy Tab 4 10.1 trước Mobile World Conference 2014. == Tính năng == Galaxy Tab 4 8.0 được phát hành cùng với Android 4.4.2 KitKat. Samsung tùy biến giao diện người dùng với TouchWiz UX. Cùng với ứng dụng từ Google, bao gồm Google Play, Gmail và YouTube, cho phép truy cập vào ứng dụng của Samsung như ChatON, S Suggest, S Voice, S Translator, S Planner, Smart Remote, Smart Stay, Multi-Window, Group Play, và All Share Play. Galaxy Tab 4 8.0 có bản WiFi, biến thể 3G & WiFi, và 4G/LTE & WiFi. Bộ nhớ trong 16 GB đến 32 GB tùy theo mẫu, với thẻ nhớ mở rộng microSDXC. Nó có màn hình 8-inch WXGA TFT với độ phân giải 1.280x800 pixel. Nó có máy ảnh trước 1.3 MP không flash và 3.0 MP AF máy ảnh chính. Nó có khả năng quay video HD. == Xem thêm == Samsung Galaxy Tab series Samsung Electronics Samsung Galaxy Tab 4 7.0 Samsung Galaxy Tab 4 10.1 == Tham khảo ==
gordon brown.txt
James Gordon Brown (sinh năm 1951) là Thủ tướng của Vương quốc Anh và là lãnh đạo của Đảng Lao động (Công đảng) từ năm 2007 đến năm 2010. Trước đó, Brown phục vụ trong nội các Tony Blair với cương vị Bộ trưởng Tài chính từ ngày 2 tháng 5 năm 1997 đến ngày 27 tháng 6 năm 2007. Ông cũng là thành viên Quốc hội đại diện khu vực Kircaldy và Cowdenbeath từ năm 1983. Người kế nhiệm ông là David Cameron, lãnh đạo Đảng Bảo Thủ. == Tuổi trẻ == James Gordon Brown sinh ngày 20 tháng 2 năm 1951 tại Govan, Glasgow, Scotland, mặc dù đôi khi các phương tiện truyền thông ghi nơi sinh của ông là Giffnock, Renfrewshire, là con của John Ebenezer Brown, một mục sư thuộc Giáo hội Scotland (Trưởng Lão), John qua đời năm 1998, hưởng thọ 84 tuổi. Brown chịu ảnh hưởng sâu đậm từ cha. Mẹ của Brown, Elizabeth, qua đời năm 2004 ở tuổi 86. Gordon lớn lên cùng hai anh trai, John và Andrew Brown, ở Kirkcaldy. Gordon Brown đã theo học tại trường tiểu học Tây Kirkcaldy và trường trung học Kirkcaldy. Giống nhiều nhân vật nổi tiếng người Scotland khác có xuất thân giống Brown, ông thường được nhắc đến như là "con mục sư". Lúc 16 tuổi, Gordon vào Đại học Edinburg, theo học môn lịch sử. Do bị rách võng mạc trong một trận đấu bóng bầu dục (rugby), Brown bị mù mắt trái, và phải dùng mắt giả. Năm 1972, Brown tốt nghiệp Đại học Edinburg với bằng Thạc sĩ hạng tối ưu, rồi tiếp tục hoàn tất chương trình Tiến sĩ năm 1982, với luận án tựa đề Đảng Lao động và sự Thay đổi Chính trị tại Scotland 1918-29. Năm 1972, khi đang là sinh viên, Brown đắc cử chức Ủy viên (Rector) Đại học Edinburg, tham dự các buổi họp của Hội đồng Quản trị (University Court). Brown phục vụ ở cương vị này cho đến năm 1975. Brown từng giảng dạy tại Edinburg, và là giảng viên môn chính trị học tại Đại học Glasgow Caledonian từ năm 1976 đến 1980. Ông cũng làm việc cho Đài Truyền hình Scotland (Scottish Television) cho đến khi đắc cử vào Quốc hội năm 1983. Trong cuộc tổng tuyển cử năm 1979, Brown ra tranh cử tại hạt bầu cử Edinburg South, nhưng bị thất bại trước ứng cử viên Đảng Bảo thủ Michael Ancram. == Đắc cử vào quốc hội == Trong lần tranh cử thứ hai vào cuộc tổng tuyển cử năm 1983, Brown đắc cử vào Quốc hội với tư cách là Dân biểu Đảng Lao động đại diện khu vực Dunfermline East. Năm 1985, Brown được chọn làm phát ngôn nhân cho phe đối lập về Thương mại và Công nghiệp. Năm 1986, Brown cho xuất bản quyển tiểu sử James Maxton, một chính trị gia Đảng Lao động Độc lập, tác phẩm này trước đây là luận án tiến sĩ của ông. Từ năm 1987 đến 1989, Brown là Quốc vụ Khanh Tài chính, rồi Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp cho phe đối lập, trước khi trở thành Bộ trưởng Tài chính cho phe đối lập vào năm 1992. Sau cái chết đột ngột của lãnh tụ Đảng Lao động John Smith vào tháng 5 năm 1994, Brown được xem là ứng cử viên cho vị trí lãnh đạo đảng, nhưng ông từ chối tranh chấp vị trí này để nhường chỗ cho Tony Blair. Đã có những lời đồn đại cho rằng có một thỏa thuận giữa Blair và Brown khi hai người gặp nhau tại nhà hàng Granita ở Islington, theo đó Blair hứa dành cho Brown quyền kiểm soát chính sách kinh tế, đổi lại Brown đồng ý rút lui khỏi cuộc đua tranh quyền lãnh đạo đảng. Dù những lời đồn đại có thật hay không thì mối quan hệ giữa Blair và Brown là trọng tâm sức mạnh của các "đảng viên Lao động mới", và họ luôn tỏ ra đoàn kết trước công chúng, dù nhiều người tin rằng vẫn còn tiềm ẩn những bất đồng giữa hai người. Trong tư cách Bộ trưởng Tài chính phe đối lập, Brown nỗ lực xây dựng hình ảnh một chuyên gia tài chính tài năng sẵn sàng cho nhiệm vụ chính thức hầu có thể tái khẳng định với giới doanh gia và tầng lớp trung lưu rằng Đảng Lao động xứng đáng với sự tin tưởng của họ để điều hành nền kinh tế trong nỗ lực kìm hãm lạm phát, hạ thấp số người thất nghiệp và cắt giảm chi tiêu – là những vấn nạn của nền kinh tế Anh trong thập niên 1970. Ông công khai thừa nhận đảng Lao động sẽ theo đuổi các kế hoạch chi tiêu của đảng Bảo thủ trong thời gian hai năm kể từ lúc nắm quyền. Sau lần tái tổ chức các đơn vị bầu cử ở Scotland, Brown đại điện cho hạt bầu cử Kircaldy và Cowdenbeath trong kỳ bầu cử năm 2005. == Bộ trưởng Tài chính == Trong thời gian 10 năm 2 tháng đảm trách chức Bộ trưởng Tài chính, Brown đã thiết lập được vài kỷ lục. Ông là bộ trưởng thuộc Đảng Lao động ở chức vụ này lâu nhất từ trước tới nay, cũng là chính trị gia giữ ghế bộ trưởng tài chính lâu nhất trong một thời gian liên tục kể từ Nicholas Vansitart, ông này giữ chức bộ trưởng tài chính từ năm 1812 đến 1823. Tuy nhiên, William Glastone là người có thời gian đảm trách chức vụ bộ trưởng tài chính dài nhất, tổng cộng là 12 năm 4 tháng, nhưng trong bốn nhiệm kỳ riêng biệt trong quãng thời gian từ năm 1852 đến 1882. === Thành quả === Theo website của Thủ tướng, có ba thành tựu đặc biệt trong suốt một thập niên đương chức của Brown: Brown đã dẫn dắt "thời kỳ tăng trưởng lâu dài nhất", biến Ngân hàng Anh Quốc thành một định chế độc lập, và kiến tạo một thỏa ước về nạn nghèo đói và thay đổi khí hậu tại hội nghị thượng đỉnh G8 năm 2005. Ngân hàng Anh Quốc: Sau khi đảm nhiệm chức trách Bộ trưởng Tài chính, Brow dành cho Ngân hàng Anh Quốc quyền điều hành độc lập chính sách tiền tệ, như thế định chế này được trao trách nhiệm ấn định các loại lãi suất. Thuế: Trong kỳ bầu cử năm 1997, Brown cam kết không tăng thuế lợi tức. Sau khi nhậm chức bộ trưởng tài chính, ông cắt giảm mức thuế khởi tính từ 20% xuống còn 10% trong năm 1999 trước khi hủy bỏ mức thuế khởi tính năm 2007, giảm mức thuế căn bản từ 23% xuống 20%. Thuế lợi tức đánh trên các công ty cũng giảm từ 33% xuống 28%, riêng đối với các doanh nghiệp nhỏ từ 24% xuống còn 19%. Tăng trưởng: Một báo cáo của OECD cho thấy từ năm 1997 đến 2006, mức tăng trưởng trung bình của Anh là 2.7%, cao hơn mức trung bình 2.1% của khu vực đồng Euro. Tỷ lệ lao động thất nghiệp tại Anh là 5.5%, giảm từ 7% năm 1997 và thấp hơn mức trung bình 8.1% của khu vực đồng euro. Vàng: Từ năm 1999 đến 2002, Brown cho bán 60% lượng vàng dự trữ của Anh với giá 275 USD một ounce. Quyết định này của Brown bị nhiều người xem là "một thảm họa trong cung cách quản trị tài sản trong thương trường quốc tế" vì Brown tung số vàng ra bán vào thời gian cuối kết thúc giai đoạn kéo dài 20 năm giá vàng đứng ở mức thấp. Brown cũng cố thuyết phục IMF hành động tương tự như bị từ chối. Thương vụ bán vàng này đã mang đến cho ông biệt danh "Brown vàng" nhái theo bài hát The Stranglers.[1] Xóa nợ: Brown tin rằng quyết định xóa những khoản nợ không thể hoàn trả cho các nước thuộc thế giới thứ ba là cần thiết, nhưng không chủ trương xóa tất cả nợ. Ngày 20 tháng 4 năm 2006, trong một bài diễn văn đọc trước đại sứ các nước tại Liên Hiệp Quốc, Brown đã phác họa quan điểm "Xanh" về sự phát triển toàn cầu. === Phân tích Chính sách === Tăng trưởng: Brown tin rằng nhiệm kỳ Bộ trưởng Tài chính của ông là giai đoạn củng cố sự tăng trưởng kinh tế dài nhất trong lịch sử nước Anh. Chống nghèo: Trung tâm Nghiên cứu Chính sách (Centre for Policy Studies) nhận ra rằng thành phần nghèo nhất chiếm một phần năm hộ gia đình toàn quốc chịu 6.8% tổng số thuế trong năm 1996-1997, và 6.9% tổng số thuế thu nộp trong năm 2004-2005 trong khi phần của họ được hưởng trong phúc lợi quốc gia bị cắt giảm từ 28.1% xuống 27.1%. Thuế: Theo OECD thuế của Anh Quốc tăng từ 39.9% tổng sản phẩm quốc nội năm 1997 lên đến 42.4% năm 2006, cao hơn của nước Đức. Nguyên nhân của sự gia tăng này được cho là do chính sách của chính phủ, không phải do tăng trưởng kinh tế. == Kế nhiệm Blair == Tháng 10 năm 2004, Tony Blair tuyên bố rút lui khỏi vị trí lãnh đạo đảng trong cuộc tổng tuyển cử lần thứ tư, nhưng sẽ tiếp tục phục vụ cho đến hết nhiệm kỳ thứ ba. Những tranh cãi về mối quan hệ giữa Brown và Blair tiếp tục kéo dài quá kỳ bầu cử năm 2005 khi Đảng Lao động vẫn duy trì thế đa số nhưng giảm số ghế trong quốc hội. Dù Brown và Blair hợp tác với nhau trong chiến dịch vận động nhưng xuất hiện trên các phương tiện truyền thông nước Anh những tin tức về mối bất hòa giữa hai người. Bị áp lực từ bên trong đảng, ngày 7 tháng 9 năm 2006, Blair tuyên bố sẽ rút lui trong vòng một năm. Như vậy, Brown là ứng cử viên sáng giá nhất cho chức vụ thủ tướng, nhất là khi trong mắt của các đảng viên, ông là một chính khách có tầm nhìn trong cung cách lãnh đạo và có khả năng thích ứng với những biến đổi toàn cầu. Brown là thủ tướng đầu tiên đến từ một hạt bầu cử ở Scotland kể từ Sir Alec Douglas-Home năm 1964. Ông cũng là một trong bốn thủ tướng không theo học tại Đại học Oxford và Đại học Cambridge, ba người kia là Bá tước đảo Bute (Đại học Leiden), Lord John Russell (Đại học Edinburgh), và Neville Chamberlain (Đại học Khoa học Mason, về sau là Đại học Birmingham). Trong khi đó, cũng có những thủ tướng chưa từng tốt nghiệp đại học như Công tước Wellington, Benjamin Disraeli, David Lloyd George, Winston Churchill, James Callaghan, và John Major. Từ tháng 1 năm 2007, báo chí tường thuật rằng Brown "không còn giữ kẽ về ý định muốn dời về ngôi nhà số 10 trong thời gian tới" - mặc dù rõ ràng ông và gia đình thích sống trong ngôi nhà rộng rãi hơn ở số 11 đường Downing (dành cho Bộ trưởng Tài chính). Trong tháng 1 năm 2007, khi nói chuyện ở Hội Fabian về chủ đề "Thập niên kế tiếp" Brown nhấn mạnh đến các vấn đề như giáo dục, phát triển quốc tế, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo ("bình đẳng trong cơ hội và minh bạch trong lợi tức"), chấn hưng tinh thần dân tộc, phục hồi lòng tin trong chính trường, và tìm kiếm sự ủng hộ của người dân cho cuộc chiến chống khủng bố như là những ưu tiên hàng đầu của ông. == Thủ tướng == Ngày 27 tháng 6 năm 2007, với sự chuẩn thuận của Nữ hoàng Elizabeth II, Brown trở thành Thủ tướng Anh. === Chính sách === Trước đây, các quyền truyền thống được ủy nhiệm cho thủ tướng như tuyên chiến và phê chuẩn việc bổ nhiệm các chức vụ quan trọng vẫn được xem những đặc quyền của hoàng gia, nay Brown muốn chuyển các quyền này cho Quốc hội. Ông muốn Quốc hội giành quyền phê chuẩn hiệp ước và thêm quyền giám sát các cơ quan tình báo. Brown cũng muốn chuyển giao một số quyền của Quốc hội cho công dân. Trong khi vận động tranh cử, Brown cam kết: Chấm dứt tham nhũng: Brown nhấn mạnh đến việc bài trừ tham nhũng. Nhiều người tin rằng ông sẽ giới thiệu một bộ luật mới với những quy định rõ ràng về tiêu chuẩn và tư cách của các bộ trưởng. Cải cách Hiến pháp: Trong một bài diễn văn, Brown nói rằng ông muốn có một "hiến pháp tốt hơn" quy định rõ "quyền và trách nhiệm của một công dân Anh hiện đại". Ông dự định tổ chức một hội nghị nhằm tăng thêm quyền cho Quốc hội và thiết lập sự cân bằng quyền lực giữa trung ương và địa phương. Brown cho biết ông sẽ dành cho Quốc hội quyền quyết định tối hậu trong việc điều động quân cho các hoạt động quân sự. Gia cư: Các hạn chế về quy hoạch nhà ở chắc chắn sẽ được nới lỏng. Brown nói ông muốn tung thêm đất đai ra thị trường trong khuôn khổ của các đề án phân phối đất hợp lý. Ông ủng hộ kế hoạch xây dựng thêm năm thị trấn sinh thái, mỗi nơi cung cấp chỗ ở cho 10 000 đến 20 000 cư dân – con số tổng cộng sẽ là 100 000 người. === Ngoại giao === Dù tiếp tục ủng hộ Chiến tranh Iraq, tháng 6 năm 2007 trong một bài diễn văn, Brown cho rằng nên "rút ra những bài học" từ những sai lầm ở Iraq. Trong một lần nói chuyện tại Israel vào tháng 4 năm 2007, Brown cho biết: Nhiều người trong số quý vị có mặt ở đây biết rằng mối quan tâm của tôi đối với Israel và cộng đồng Do Thái đã có từ lâu... Thân phụ của tôi là chủ tịch Ủy ban Israel của Giáo hội Scotland...Quan điểm của tôi là rất rõ ràng... về lịch sử Israel, về những thử thách và khổ nạn mà dân tộc Do Thái đã gánh chịu, về những đau thương và những mất mát khủng khiếp trong vụ Holocaust, cũng như cuộc đấu tranh phi thường của một dân tộc đã tạo dựng cho mình quê hương kỳ diệu này. ==== Bang giao với Hoa Kỳ ==== Những phát biểu của Douglas Alexander, một phụ tá thân cận của Brown, tại Washington, D. C. được xem là chỉ dấu cho sự thay đổi trong chính sách, cũng là một lời nhắn gởi cho Hoa Kỳ,: "Trong thế kỷ 21, khi sử dụng sức mạnh chúng ta cần cân nhắc xem sẽ xây dựng được điều gì... cần phải thể hiện trong lời nói và hành động rằng chúng ta là những người ủng hộ tinh thần quốc tế, không phải là những kẻ chủ trương hành động đơn độc, là những người hợp tác đa phương, không phải hành động đơn phương, tích cực chứ không thụ động, và được thúc đẩy bởi những giá trị nền tảng, chứ không phải vì những ích lợi nhất thời." Tuy nhiên, phát ngôn nhân phủ thủ tướng bác bỏ những suy diễn cho rằng Alexander muốn nước Anh xa lánh Hoa Kỳ, nhưng nhấn mạnh rằng Anh Quốc không nhất thiết phải, theo cách nói của Tony Blair, "chung vai sát cánh" với George W. Bush trong những vụ can thiệp quân sự. Brown cũng từng làm rõ quan điểm của mình: "Không ai được phép phân rẽ chúng tôi với Hoa Kỳ trong những vấn đề liên quan đến các thách thức chung mà hai bên cùng đối đầu trên khắp thế giới. Tôi nghĩ mọi người cần nhớ rằng mối quan hệ giữa nước Anh và nước Mỹ, giữa thủ tướng Anh và tổng thống Mỹ được xây dựng trên những điều hai bên cùng chia sẻ, đó là những giá trị lâu dài về tầm quan trọng của sự tự do, cơ hội, và nhân phẩm. Tôi sẽ tiếp tục làm việc cận kề, như Tony Blair từng làm, với chính phủ Mỹ." == Hôn nhân và Gia đình == Trong số những bạn gái thời trai trẻ của Brown có nhà báo Sheena McDonald, Marion Calder, và công chúa Margarita, trưởng nữ của nhà vua România lưu vong, Michael. Margarita kể lại: "Đó là một mối tình nghiêm túc và lãng mạn. Tôi chưa bao giờ hết yêu anh ấy nhưng vào một ngày tôi nhận thấy có cái gì bất ổn, đó là chính trị, chính trị, và chính trị, và tôi thấy mình hụt hẫng." Brown kết hôn với Sarah Macaulay, hôn lễ được tổ chức riêng tư tại nhà ở North Queensferry, Fife, ngày 3 tháng 8 năm 2000. Ngày 28 tháng 12 năm 2001, Sarah sinh non, con gái của họ, Jennifer Jane chết ngày 8 tháng 1 năm 2002. Gordon Brown nhận xét: Tôi không nghĩ cuộc sống chúng tôi có thể giống như trước, biến cố này khiến chúng tôi biết điều gì là quan trọng. Nó giúp chúng tôi biết tận dụng thì giờ, khiến chúng tôi quyết tâm hơn, và phải hoàn thành điều nên làm, chúng tôi phải sống như thế. Jennifer đã mở mắt cho chúng tôi. Họ có hai con, John và James Fraser. Tháng 11 năm 2006, James Fraser được chẩn đoán mắc chứng xơ nang (cystic fibrosis). Không giống Cherie Blair, Sarah Brown ít khi xuất hiện cùng chồng trước công chúng. Dù muốn bảo vệ cuộc sống riêng tư, bà phải thừa nhận rằng cuộc sống của bà đã thay đổi từ khi dọn đến ngôi nhà số 10 đường Downing. Bà không chịu để báo chí hoặc truyền hình phỏng vấn. Cũng cần biết Brown chưa hề có bằng lái xe. == Xem thêm == Thủ tướng Anh Chính trị Anh Danh sách các Thủ tướng Anh == Chú thích == == Tham khảo == === Tác phẩm === Brown, Gordon (2007). Britain's Everyday Heroes. Mainstream Publishing. ISBN 978-1-8459-6307-1. Brown, Gordon (2007). Courage: Eight Portraits. Bloomsbury. ISBN 978-0-7475-6532-1. Brown, Gordon (2006). Wilf Stevenson, biên tập. Speeches 1997-2006. Bloomsbury. ISBN 978-0-7475-8837-5. Brown, Gordon (ed.); Wright, Tony (ed.) (1995). Values, Visions and Voices: An Anthology of Socialism. Mainstream Publishing. ISBN 978-1-85158-731-5. Brown, Gordon (1989). Where There's Greed: Margaret Thatcher and the Betrayal of Britain's Future. Mainstream Publishing. ISBN 978-1-85158-228-0. Brown, Gordon (ed.); Cook, Robin (ed.) (1987). Scotland: The Real Divide. Mainstream Publishing. ISBN 978-0-906391-18-1. Brown, Gordon (1986). Maxton: A Biography. Mainstream Publishing. ISBN 978-1-85158-042-2. === Tiểu sử === Bower, Tom (2003). Gordon Brown. HarperCollins. ISBN 978-0-00-717540-6. Jefferys, Kevin (2002). Labour forces from Ernie Bevin to Gordon Brown. IB Taurus Publishing. ISBN 978-1-4175-1633-9. Keegan, William (2003). The Prudence of Mr. Gordon Brown. Wiley. ISBN 978-0-470-84697-1. Rosen, Greg (ed.) (2002). Dictionary of Labour Biography. Methuen. ISBN 978-1-902301-18-1. Naughtie, James (2001). The Rivals: The Intimate Story of a Political Marriage. Fourth Estate. ISBN 978-1-84115-473-2. Peston, Robert (2005). Brown's Britain: How Gordon Runs the Show. Short Books. ISBN 978-1-904095-67-5. Routledge, Paul (1998). Gordon Brown: The Biography. Simon & Schuster. ISBN 978-0-684-81954-9. === Sách khác === Pym, Hugh; Kochan, Nick (1998). Gordon Brown the First Year in Power. Bloomsbury. ISBN 978-0-7475-3701-4. Rawnsley, Andrew (2001). Servants of the people:The inside story of New Labour. Penguin Books. ISBN 978-0-14-027850-7. Rosen, Greg (2005). Old Labour to New:The Dreams that Inspired, the Battles that Divided. Politicos Publishing. ISBN 978-1-84275-045-2. Routledge, Paul (2003). Bumper Book of British Lefties. Politicos Publishing. ISBN 978-1-84275-064-3. == Liên kết ngoài == 10 Downing Street - Prime Minister: The Rt Hon Gordon Brown MP Audio and Transcript of Gordon Brown’s First Speech as Labour Party Leader 24 tháng 6 năm 2007 Gordon Brown - full access article in Encyclopaedia Britannica Guardian Unlimited Politics - Special Report: Gordon Brown TheyWorkForYou.com - Gordon Brown BBC News - Gordon Brown in Africa tháng 1 năm 2005 trip about his 'Marshall plan for Africa' Gordon Brown tại DMOZ Observer: How Gordon Brown become the most powerful Chancellor in history Transcript of Gordon Brown's acceptance speech Triple A accessible version John Newsinger: Brown's Journey from Reformism to Neoliberalism, International Socialism — gives a left wing perspective on Gordon Brown's political evolution
iceland.txt
Iceland (tiếng Iceland: Ísland phát âm [ˈistlant], phiên âm tiếng Việt: Ai-xơ-len, tên Hán Việt: Băng Đảo), là một đảo quốc thuộc khu vực châu Âu theo thể chế cộng hòa đại nghị. Đây là một trong những quốc gia thưa dân nhất thế giới; tính đến tháng 4 năm 2012, dân số Iceland là 320.060 người, với mật độ dân số 3,1 người/km². Iceland nằm giáp vòng Cực Bắc nên có khí hậu rất lạnh giá. Tuy nhiên đất nước này lại nằm trên vành đai núi lửa Đại Tây Dương, nên có rất nhiều núi lửa, suối nước nóng và nguồn địa nhiệt khổng lồ. Iceland cũng có rất nhiều sông băng. Nhờ có dòng hải lưu Gulf Stream chảy gần bên, khí hậu Iceland được ôn hòa hơn đôi chút. Lịch sử của Iceland bắt đầu vào năm 874, khi một thuyền trưởng người Na Uy tên là Ingólfur Arnarson đến định cư ở hòn đảo. Trong thế kỷ tiếp theo, người Na Uy và người Celt đã đến sinh sống tại Iceland. Đất nước này là một phần của Na Uy và Đan Mạch từ năm 1262 đến năm 1944. Sau khi giành được độc lập, nền kinh tế quốc gia này đã phát triển mạnh mẽ, cùng với hệ thống phúc lợi xã hội vào hàng tốt nhất thế giới. Đất nước này xếp thứ 5 thế giới về thu nhập bình quân đầu người, và thứ nhất thế giới về chỉ số phát triển con người (HDI). Với một nền kinh tế thị trường, Iceland có các ngành dịch vụ, tài chính rất phát triển. Do có nhiều quang cảnh thiên nhiên độc đáo, Iceland đang ngày càng thu hút khách du lịch quốc tế. Iceland là một thành viên của các tổ chức như Liên hiệp quốc, NATO, EFTA, EEA, OECD nhưng không tham gia Liên minh châu Âu. == Lịch sử == === Thời kỳ đầu tiên === Về mặt địa chất, Iceland là một hòn đảo trẻ. Iceland hình thành từ một chuỗi những vụ phun trào núi lửa cách đây 20 triệu năm tại khe nứt địa mảng Đại Tây Dương. Mẫu vật đá cổ nhất được tìm thấy ở Iceland có niên đại 16 triệu năm. Sau khi hình thành hòn đảo, những vụ phun trào núi lửa vẫn tiếp tục cho đến tận ngày nay ở Iceland. Iceland đã giữ mình như một hòn đảo không có người ở trong một thời gian rất lâu. Có ý kiến cho rằng một thương nhân Hy Lạp cổ đại tên là Pytheas đã tìm ra Iceland và gọi mảnh đất này bằng cái tên Thule, nhưng giả thuyết này không được hợp lý cho lắm vì Iceland hoàn toàn khác với những lời mô tả của Pytheas như một đất nước nông nghiệp với rất nhiều sữa, mật ong và hoa quả. Khoảng thời gian chính xác về ngày con người đặt chân đến Iceland vẫn là một đề tài gây tranh cãi. Những đồng xu La Mã cổ đại vào thế kỉ thứ 3 đã được tìm thấy tại Iceland, nhưng không ai dám chắc thời gian mà những đồng xu này được mang đến, vì người Viking cũng lưu hành những đồng tiền như vậy trong nhiều thế kỉ. Có một số bằng chứng văn học rằng những tu sĩ người Ireland đã đến Iceland trước cả người Na Uy. Tuy nhiên lại không có một bằng chứng khảo cổ đáng tin cậy nào chứng tỏ điều đó. Vào thế kỉ 12, học giả Ari Þorgilsson đã viết trong cuốn sách Íslendingabók của ông rằng những chiếc chuông nhỏ của các tu sĩ Ireland đã được những người dân nhập cư tìm thấy, tuy nhiên cũng không có bằng chứng khảo cổ để xác minh. Một số người Iceland thì cho rằng nguồn gốc của họ là từ vị vua Kjarvalr Írakonungr trong tác phẩm Landnámabók. === 874-930: Những cuộc định cư đến Iceland === Theo tác phẩm Landnámabók, Iceland đã được khám phá ra bởi một thủy thủ người Scandinavia tên là Naddoddr, khi ông ta định đi từ Na Uy tới quần đảo Faroe, nhưng bị lạc đường tới bờ biển phía đông của Iceland. Naddoddr đã đặt tên cho vùng đất này là Snæland (Vùng đất Tuyết). Một thủy thủ người Thụy Điển tên là Garðar Svavarsson cũng bị lạc tới Iceland. Ông đã khám phá ra đây là một hòn đảo và đặt cho nó một cái tên khác là Garðarshólmi (Đồi Garðar). Garðar Svavarsson đã sống tại vùng ngay này là Húsavík qua mùa đông. Người Scandinavia đầu tiên chủ tâm tìm đường đến Iceland là Flóki Vilgerðarson (hay Hrafna-Flóki). Flóki đã sống ở Iceland một thời gian và đặt cho hòn đảo cái tên gọi ngày nay: Ísland, tức là Iceland. Người đầu tiên đến định cư Iceland là một thủ lĩnh Viking người Na Uy, đó là Ingólfur Arnarson. Theo truyền thuyết, ông đã thả hai chiếc cột chạm khắc xuống biển khi gần tới Iceland và tuyên bố sẽ ở lại bất cứ nơi nào là đất liền. Ông cho đi thuyền dọc theo bờ biển Iceland và dừng lại khi tìm thấy những chiếc cột chạm ở bán đảo phía tây nam nước này, nay là bán đảo Reykjanesskagi. Sau đó, Arnarson cùng với gia đình của mình đã sống tại đó năm 874 và đặt tên cho nơi họ đang sống là Reykjavík (Vịnh Khói) do hơi nước nóng bốc lên từ những nguồn địa nhiệt dưới lòng đất. Sau này Reykjavík đã trở thành thủ đô và thành phố lớn nhất Iceland. Tuy nhiên có lẽ Ingólfur Arnarson không phải là người đầu tiên định cư vĩnh viễn ở Iceland mà có lẽ người đó là Náttfari, một nô lệ của Garðar Svavarsson sau khi ông chủ của anh ta trở về bán đảo Scandinavia. Những thông tin trên được tìm thấy trong cuốn Landnámabók, cuốn sách kể về những người nhập cư đến Iceland. Tuy nhiên, các nhà sử học Iceland tránh dùng tác phẩm này như nguồn sử liệu chính thức vì có nhiều điều trong cuốn sách mâu thuẫn. Tuy nhiên, đó cũng là tác phẩm đầu tiên kể về lịch sử của Iceland và các khám phá khảo cổ tại Reykjavík đã cho thấy đúng là những người nhập cư đầu tiên đã đến Iceland vào khoảng năm 870. Ingólfur Arnarson có một đoàn tùy tùng đông đảo đi theo gồm các thủ lĩnh Viking, gia đình và những người nô lệ của họ. Những người dân nhập cư này đã đến sống tại tất cả các khu dân cư trên đảo một thập kỉ sau đó. Những người đến Iceland này chủ yếu là người Na Uy, Ireland và Scotland. Trong đó, đa phần người Ireland và Scotland là những nô lệ bắt được khi người Viking tấn công đất nước của họ. Việc di cư đến Iceland của người Na Uy ngày càng trở nên phổ biến vì họ muốn chạy trốn khỏi ách cai trị tàn bạo của vị vua Na Uy lúc bấy giờ là Haraldur Harfagri, người được cho rằng đã thống nhất các phần của đất nước Na Uy lúc đó. === 930-1262: Liên bang Iceland === Năm 930, các thủ lĩnh cai trị đã thành lập một cuộc họp với tên gọi Hội đồng Chấp chính (tiếng Iceland: Alþingi). Cuộc họp này được tổ chức vào mỗi mùa hè tại Đồng bằng Thing (Þingvellir), đây sẽ là lúc các thủ lĩnh họp bàn để đặt ra luật và giải quyết các tranh chấp. Luật pháp không được viết ra làm văn bản mà chỉ được ghi nhớ bởi các nhà hùng biện. Alþingi được coi là một trong những kiểu quốc hội cổ xưa mà trong đó, luật pháp được thực thi không phải lúc nào cũng chính xác nên thường dẫn đến những xung đột. Tuy nhiên thời kỳ Liên bang ở Iceland phát triển hầu như không bị đứt quãng. Thời gian này, người Viking đã đến được vùng tây nam Greenland và bờ biển phía đông của Canada. Người Iceland ban đầu thờ cúng những vị thần của người Na Uy như thần Odin, Thor, Freyja. Tuy nhiên đến thế kỉ thứ 10, Thiên chúa giáo phát triển mạnh mẽ ở châu Âu đã ảnh hưởng đến tôn giáo ở Iceland và người dân Iceland bắt đầu cải sang tôn giáo mới. Vào khoảng năm 1000, khả năng về một cuộc chiến tranh tôn giáo ở Iceland đã gần kề. Hội đồng Chấp chính Alþingi đã quyết định chọn ra một thủ lĩnh là Þorgeirr Ljósvetningagoði để ông quyết định tôn giáo chính thức của Iceland. Và ông đã chọn Thiên chúa giáo làm tôn giáo chính thức của đất nước này, tuy nhiên một số người ngoại đạo vẫn bí mật tôn thờ những vị thần cũ. Giám mục đầu tiên của Iceland là Ísleifr Gizurarson, được Giám mục Adalbert của Bremen phong năm 1056. Vào thế kỉ 11 và thế kỉ 12, quyền lực chuyển sang tay những dòng họ giàu có. Thời kỳ 1200-1262 được biết đến với tên gọi Sturlungaöld - Thời kỳ của dòng họ Sturlungs, một trong hai thế lực chính tranh giành quyền lực ở Iceland. Năm 1220, Snorri Sturluson đã thần phục vua Hakón của Na Uy, và người cháu trai của ông Sturla Sighvatsson, cũng thần phục Na Uy vào năm 1235. Ông ta đã sử dụng quyền lực và ảnh hưởng của dòng họ Sturlungar để gây chiến chống lại các phe cánh khác ở Iceland. Sau một thập kỉ xung đột, các thủ lĩnh Iceland đã đồng ý công nhận chủ quyền của Na Uy và thành lập một liên minh với vương triều Na Uy. === 1262-1814: Sự cai trị của Đan Mạch === Iceland được đặt dưới vương quyền của vua Na Uy cho đến năm 1380, khi vương triều Na Uy không có người kế vị. Đan Mạch đã nhanh chóng sát nhập cả Iceland và Na Uy vào lãnh thổ của mình. Dưới sự cai trị của Đan Mạch, hoạt động ngoại thương của Iceland bị đình trệ và đến năm 1660, Iceland cũng không còn quyền tự trị và không có luật pháp riêng nữa. Năm 1602, chính quyền Đan Mạch cấm Iceland buôn bán với bất cứ nước nào khác ngoài nước này. Sự độc quyền về thương mại của Đan Mạch đối với Iceland kéo dài đến năm 1854 mới kết thúc. Vào giữa thế kỉ 16, vua Christian III của Đan Mạch đã tiếp thu những giáo lý của Luther (Lutheranism). Các mục sư Thiên chúa giáo là Jón Arason và Ögmundur Pálsson đã chống lại tôn giáo cải cách của nhà vua. Ögmundur Pálsson bị trục xuất khỏi Đan Mạch vào năm 1541 nhưng Jón Arason thì vẫn tiếp tục đấu tranh. Cuộc chiến chống lại tôn giáo cải cách kết thúc năm 1550 khi Jón và hai con trai của ông bị bắt và giết hại. Từ sau sự kiện đó, Iceland trở thành một nước theo Giáo hội Luther cho đến tận ngày nay. === 1814-1918: Phong trào Vận động Dân tộc === Vào thế kỉ 18, khí hậu Iceland trở nên tồi tệ nhất kể từ khi những người dân nhập cư đến hòn đảo này. Năm 1783, ngọn núi lửa Laki ở Iceland phun trào, mang theo 12,5 km³ nham thạch. Lũ lụt, tro bụi và khí độc từ vụ phun trào này đã giết chết 9.000 người và 80% số gia súc. Hậu quả tiếp theo đó là một nạn đói khủng khiếp, giết chết 1/4 dân số Iceland lúc bấy giờ. Hiệp ước Kiel năm 1814 đã tách Na Uy ra khỏi Đan Mạch, rồi sau đó xảy ra cuộc Chiến tranh Napoléon, khiến Đan Mạch cố gắng giữ Iceland như một nước phụ thuộc vào mình. Sang thế kỉ 19, tình hình thời tiết ngày càng trở nên tồi tệ hơn, dẫn đến việc một bộ phận lớn người dân Iceland bỏ sang Tân thế giới, chủ yếu nhập cư vào vùng Manitoba của Canada. Tuy nhiên, ý thức dân tộc đã hồi sinh ở Iceland trong thời kỳ này, được truyền cảm hứng từ chủ nghĩa lãng mạn và chủ nghĩa dân tộc từ châu Âu. Phong trào Vận động Dân tộc tại Iceland được thành lập, dưới sự lãnh đạo của Jón Sigurðsson. Hội đồng Chấp chính Alþingi lỗi thời bị giải thể vào năm 1800 nhưng đến năm 1843, một Hội đồng Tư vấn cùng tên được thành lập lại, kế tục Alþingi của Liên bang Iceland. Năm 1874, Đan Mạch trao cho Iceland quyền tự trị, sau đó được mở rộng hơn vào năm 1904. Một bản hiến pháp riêng đã được biên soạn vào năm 1874, rồi sau đó được sửa chữa lại năm 1903. Đạo luật Liên bang được ban hành ngày 1 tháng 12 năm 1918, với sự đồng ý của Đan Mạch, đã công nhận Iceland là một lãnh thổ có chủ quyền thống nhất với Đan Mạch. Iceland có lá cờ riêng và yêu cầu Đan Mạch đại diện cho nước này trong các vấn đề về phòng thủ quân sự. === 1918-1944: Chiến tranh thế giới thứ hai và sự thành lập nước Cộng hòa === Ngày 9 tháng 4 năm 1940, quân đội Đức xâm chiếm Đan Mạch, cắt đứt sự liên hệ giữa Đan Mạch và Iceland. Kết quả là vào ngày 10 tháng 4, Quốc hội Iceland Alþingi đã quyết định tự kiểm soát vấn đề ngoại giao và chọn Sveinn Björnsson làm người đứng đầu chính phủ lâm thời, sau này trở thành tổng thống đầu tiên của Iceland. Trong năm đầu Chiến tranh thế giới thứ hai, Iceland cố gắng giữ mình như một nước trung lập và chống lại cả Anh và Đức vì cho rằng họ vi phạm sự trung lập của nước này. Ngày 10 tháng 5 năm 1940, quân đội Anh xâm lược Iceland. Chính quyền Iceland phản đối lại và gọi đây là hành động can thiệp trắng trợn vào chính sách trung lập của Iceland. Quân Đồng Minh đã chiếm giữ Iceland trong suốt chiến tranh, sau đó được thay thế bởi quân đội Mỹ. Và chính phủ Iceland đã phải đồng ý cho quân đội Mỹ đóng tại nước này. Theo một cuộc trưng cầu ý dân, Iceland đã trở thành một nước cộng hòa độc lập vào ngày 17 tháng 6 năm 1944. === 1944-nay: Cộng hòa Iceland === Sau khi giành được độc lập, Iceland đã tham gia tổ chức NATO vào ngày 30 tháng 3 năm 1949. Hai năm sau, Hiệp định Phòng thủ giữa Mỹ và Iceland được ký kết và quân đội Mỹ quay trở lại đóng tại Iceland trong suốt Chiến tranh Lạnh cho đến tận mùa thu năm 2006 mới kết thúc. Thời kỳ hậu chiến, Iceland có được sự phát triển kinh tế nhanh chóng do nằm trong Kế hoạch Marshall của Mỹ. Iceland đã tiến hành hiện đại hóa ngành công nghiệp đánh bắt và chế biến cá, xương sống của nền kinh tế nước này và thực hiện các biện pháp tài chính theo thuyết kinh tế của Kaynes. Thập niên 1970 được đánh dấu bởi cuộc chiến tranh Cá tuyết, do những mâu thuẫn với Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland xung quanh việc Iceland mở rộng hải phận đánh bắt cá. Do quá phụ thuộc vào ngành đánh bắt cá, kinh tế Iceland phát triển không ổn định cho đến năm giữa thập niên 1990, khi nước này tiến hành đa dạng hóa và tự do hóa nền kinh tế, rồi gia nhập EEA (Khu vực Kinh tế châu Âu). == Chính trị == Quốc hội Iceland hiện nay, Alþingi, được thành lập năm 1845 như một cơ quan cố vấn cho vua Đan Mạch. Đây được coi là một sự tiếp nối với Hội đồng Chấp chính Alþingi cổ xưa của Iceland, được thành lập vào năm 930 vào thời kỳ Liên bang và bị giải tán năm 1799. Quốc hội hiện nay có 63 đại biểu, được lựa chọn qua những cuộc tổng tuyển cử bốn năm một lần. Tổng thống Iceland là người đứng đầu quốc gia nhưng không có thực quyền. Tuy nhiên ông có thể dừng thông qua một đạo luật và đưa ra trưng cầu dân ý. Thủ tướng Iceland là người đứng đầu chính phủ, cùng với nội các xem xét các công việc hành pháp. Nội các được bổ nhiệm bởi tổng thống sau mỗi cuộc tổng tuyển cử bầu quốc hội, nhưng thường được lựa chọn bởi chủ tịch của các đảng. Quốc hội Iceland thường có sự liên kết giữa hai hoặc nhiều đảng phái với nhau vì không đảng nào giành được đa số ghế trong quốc hội. Nữ tổng thống đầu tiên của thế giới là một phụ nữ người Iceland, bà Vigdís Finnbogadóttir, nhiệm kỳ 1980-1996. Các cuộc bầu cử hội đồng địa phương, quốc hội và tổng thống đều được tổ chức 4 năm một lần và không cùng năm với nhau.). Hiện nay Quốc hội nước này duy trì chế độ lưỡng viện. Nghị viện với 63 thành viên, gồm Thượng nghị viện có 21 thành viên và Hạ nghị viện có 42 thành viên, được bầu bằng tuyển cử phổ thông đầu phiếu theo hệ thống đại diện tỷ lệ, nhiệm kỳ năm. Tổng thống được bầu trực tiếp, nhiệm kỳ 4 năm. Tống thống bổ nhiệm Thủ tướng và các thành viên của Nội các. Thủ tướng và Nội các chịu trách nhiệm trước Quốc hội. Chủ tịch Quốc hội được lựa chọn trong hai Đảng cầm quyền là Đảng Độc lập và Đảng Tiến bộ - Tổng thống đứng trung lập. Trong cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 5 năm 2007, chính phủ mới là một liên minh giữa Đảng Độc lập cánh hữu và Liên minh Dân chủ Xã hội. Thủ tướng là ông Geir Haarde, một người của Đảng Độc lập. Còn tổng thống hiện nay là ông Ólafur Ragnar Grímsson. == Phân chia hành chính == Iceland được chia thành các khu vực bầu cử, vùng, tỉnh và thành phố tự trị. Iceland có tất cả 6 khu vực bầu cử. Cho tới tận năm 2003, các khu vực bầu cử vẫn đồng nhất với các vùng. Sự sửa đổi hiến pháp về các khu vực bầu cử diễn ra nhằm mục đích cân bằng lại quyền lực giữa các vùng trong cả nước, bởi vì theo cách bầu cử cũ, các phiếu bầu ở những khu vực hẻo lánh ít dân được tính cao hơn so với khu vực thành phố Đại Reykjavík (gồm thủ đô và 3 thị trấn lân cận), nơi tập trung đông dân cư nhất cả nước. Iceland có những khu vực bầu cử sau: Bắc Reykjavík và Nam Reykjavík (khu vực thành phố) Tây Nam (ba thị trấn quanh Reykjavík) Tây Bắc và Đông Bắc (hai khu vực phía bắc Iceland) Nam (nửa phía nam Iceland, không gồm khu Đại Reykjavík) Iceland được chia thành 8 vùng, chủ yếu nhằm mục đích thống kê. Dưới vùng là các tỉnh. Iceland có tất cả 23 tỉnh, nhưng lại có 26 tòa án đại diện cho chính quyền tại những khu vực khác nhau. Các tòa án có nhiệm vụ quản lý lực lượng cảnh sát địa phương (trừ Reykjavík), thu thuế, đăng ký kết hôn... Các tỉnh của Iceland được chia tiếp thành 79 thành phố tự trị, quản lý các công việc địa phương như trường học, giao thông. == Địa lý == === Vị trí === Iceland là một hòn đảo nằm ở phía bắc Đại Tây Dương, gần kề phía nam Vòng Cực Bắc. Vòng Cực Bắc đi qua một số hòn đảo nhỏ nằm ở ngoài khơi phía bắc Iceland, tuy nhiên không cắt qua hòn đảo chính của nước này. Không giống như Greenland, Iceland được coi là một phần của châu Âu chứ không phải thuộc Bắc Mỹ, mặc dù về mặt địa chất thì Iceland thuộc về cả hai châu lục. Nếu xét về mặt văn hóa, kinh tế và sự tương đồng ngôn ngữ thì Iceland được xếp vào nhóm Bắc Âu cùng với các nước Scandinavia. Iceland là hòn đảo rộng thứ 18 trên thế giới và rộng thứ nhì châu Âu, sau đảo Anh. Iceland có vị trí chiến lược giữa biển Greenland và châu Âu. === Diện tích === Tổng diện tích của Iceland là 103.000 km², trong đó phần đất là 100.250 km² còn phần nước là 2.750 km². Diện tích các vùng địa hình: Thảm thực vật: 23.805 km² Hồ: 2.757 km² Sông băng: 11.922 km² Đất hoang: 64.538 km² Diện tích đất con người sử dụng: Đất trồng trọt được: 0,07% Đất trồng cây quanh năm: 0% Đồng cỏ quanh năm: 23% Rừng cây gỗ: 1% Mục đích khác: 76% === Địa hình === Khoảng 11% diện tích của Iceland được bao phủ bởi các sông băng với tổng diện tích lên tới 11.922 km², trong đó ba sông băng rộng nhất là Vatnajökull (8.300 km²), Langjökull (953 km²), Hofsjökull (925 km²). Ngoài ra còn có một số sông băng nhỏ hơn như Mýrdalsjökull, Drangajökull, Eyjafjallajökull và Snæfellsjökull. Vào mùa đông, phần lớn diện tích của Iceland bị bao phủ bởi băng và tuyết, như ta có thể thấy trên hình bên. Khu vực trung tâm hòn đảo là Cao nguyên Iceland có khí hậu khắc nghiệt và là nơi không thể sinh sống được. Khu vực ven biển Iceland là những vùng đất thấp. Các vịnh biển fio được tạo thành do nước biển nhấn chìm các thung lũng sông băng cũ ăn sâu vào đất liền làm tăng độ dài đường bờ biển của Iceland lên tới 4.970 km. Khu vực ven biển là nơi sinh sống chủ yếu của người dân Iceland. Điểm cao nhất của Iceland là ngọn núi Hvannadalshnúkur, cao 2.110 m. Còn điểm thấp nhất của Iceland là phá Jölkulsárlón: -146 m. === Hoạt động địa chất === Là một hòn đảo trẻ, lại nằm trên vành đai núi lửa Đại Tây Dương, Iceland là một trong những nơi có hoạt động địa chất mạnh mẽ nhất trên thế giới với rất nhiều núi lửa và các suối nước nóng. Núi lửa phun hoặc động đất có thể gây ra rất nhiều thiệt hại cho hòn đảo. Vụ phun trào của núi lửa Laki vào những năm 1783-1784 đã gây ra nạn đói khủng khiếp khiến cho 1/4 dân số của hòn đảo bị chết. Những đám mây bụi từ vụ phun trào này thậm chí đã được nhìn thấy tại nhiều nơi ở châu Âu và còn bay đến một số nơi thuộc châu Á và châu Phi vài tháng sau đó. Tuy nhiên, người dân Iceland cũng được hưởng nhiều ưu đãi từ núi lửa. Hệ thống sông ngòi và thác nước rộng lớn tại đất nước này cung cấp một nguồn thủy điện lớn cho người dân sử dụng với giá rất rẻ. Người dân Iceland sử dụng hơi nóng từ những nguồn địa nhiệt để sưởi ấm cho nên hòn đảo gần như không phải đốt nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm môi trường. Những suối nước nóng phun lên từ lòng đất là một món quà lớn khác mà thiên nhiên dành cho Iceland. Núi lửa cũng mang lại cho Iceland lượng đất badan màu mỡ và một số khoáng chất như rhyolite và andesite. Iceland được sở hữu Surtsey, một trong những hòn đảo trẻ nhất thế giới được hình thành sau chuỗi phun trào núi lửa dưới biển từ năm 1963-1968. === Khí hậu === Khu vực bờ biển của Iceland có khí hậu ôn đới hải dương lạnh. Dòng biển nóng Bắc Đại Tây Dương đã mang đến cho hòn đảo một khí hậu ấm áp hơn so với những nơi khác cũng vĩ độ. Vùng bờ biển Iceland có một mùa đông tương đối dễ chịu, trời nhiều mây còn vào mùa hạ thì mát mẻ và ẩm ướt. Có những sự tương phản về khí hậu giữa các vùng của hòn đảo. Vùng bờ biển phía nam Iceland thường ấm và ẩm ướt hơn so với bờ biển phía bắc. Còn những vùng đất thấp trong nội địa thì lại vô cùng khô hạn. Tuyết rơi nhiều hơn ở phía bắc của Iceland. Và trong khi vùng bờ biển Iceland có khí hậu tương đối ôn hòa thì khu vực cao nguyên trung tâm lại có khí hậu vô cùng lạnh giá, thường xuyên không có người ở. Nhiệt độ cao nhất ghi được là 30,5 °C vào ngày 22 tháng 6 năm 1939 tại Teigarhorn thuộc bờ biển phía đông nam Iceland. Còn nhiệt độ thấp nhất ghi được là -38 °C ghi được ngày 22 tháng 1 năm 1918 tại Grímsstaðir và Möðrudalur thuộc vùng nội địa đông bắc. Tại thủ đô Reykjavík, nhiệt độ cao nhất ghi được là 24,8 °C vào ngày 11 tháng 8 năm 2004, còn nhiệt độ thấp nhất ghi được là -24,5 °C vào ngày 21 tháng 1 năm 1918. === Thực vật và động vật === Từ sau khi Thời kỳ Băng hà kết thúc, các loài thực vật và động vật chỉ có khoảng thời gian ngắn ngủi 10.000 năm để nhập cư vào Iceland và tiến hóa. Khoảng 3/4 đất đai ở Iceland cằn cỗi không thích hợp cho thực vật sinh trưởng. Loài thực vật chủ yếu ở đây là các loại cỏ mọc trên những cánh đồng chăn nuôi gia súc rộng lớn. Loại cây thân gỗ duy nhất của Iceland là một giống cây bulô phương bắc có tên gọi Betula pubescens. Trước khi con người tới, các rừng cây bulô chiếm 25-40% diện tích đất màu ở Iceland, nhưng qua nhiều thế kỉ, do sự chặt phá của con người, diện tích của rừng giảm dần và đến đầu thế kỉ 20 thì còn lại rất ít. Điều này gây ra nhiều hậu quả khôn lường như xói mòn đất, mà đất lại là một tài nguyên rất quý đối với Iceland. Con người đã cố gắng trồng lại các rừng cây bulô nhưng chất lượng rừng không thể bằng được rừng tự nhiên. Khi con người đến Iceland, họ đã mang đến một số gia súc mà ngày nay ta có thể thấy như cừu Iceland, bò và đặc biệt là giống ngựa rất khỏe của đất nước này. Có rất nhiều cá ở những vùng biển xung quanh Iceland. Đánh bắt cá đóng vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Iceland, chiếm tới hơn một nửa tổng sản phẩm xuất khẩu của nước này. Các loài thú hoang dã ở Iceland gồm có cáo Bắc Cực, chồn, chuột, thỏ và tuần lộc. Chúng di cư đến Iceland vào cuối Thời kỳ Băng hà, khi mặt nước biển còn đang đóng băng. Vào khoảng trước năm 1900, một số con gấu Bắc Cực cũng thỉnh thoảng ghé thăm Iceland trên những tảng băng trôi từ Greenland. Do khí hậu lạnh đặc trưng, Iceland không có bất cứ một loài bò sát hay lưỡng cư nào, vì chúng là những động vật biến nhiệt. Theo ước tính, Iceland có khoảng 1300 loài côn trùng. == Nhân khẩu == === Dân số === Từ khi những người dân nhập cư đầu tiên đến Iceland cho đến tận giữa thế kỉ 19, dân số của nước này dao động trong khoảng từ 40.000 đến 60.000 người. Trong khoảng thời gian đó, các yếu tố như khí hậu khắc nghiệt, những vụ phun trào núi lửa cũng như các dịch bệnh đã ảnh hưởng rất bất lợi đối với dân số của Iceland. Tiêu biểu là vụ phun trào của núi lửa Laki vào cuối thế kỉ 18 khiến 1/4 dân số hòn đảo thiệt mạng. Cuộc điều tra dân số đầu tiên ở Iceland diễn ra vào năm 1703, lúc đó dân số nước này là 50.358 người. Từ giữa thế kỉ 19 đến nay, điều kiện sống được cải thiện cộng với một hệ thống phúc lợi xã hội tốt đã khiến cho dân số Iceland tăng lên nhanh chóng. Dân số Iceland đã tăng nhanh từ 60.000 người (năm 1850) lên 300.000 người (năm 2006). Dân số năm 2007 của Iceland là 301.931 người. Khác với nhiều nước châu Âu khác đang bước vào thời kỳ suy giảm dân số, dân số của Iceland hiện nay được đánh giá là tăng khá nhanh. Tốc độ tăng dân số của Iceland đạt 0,84%, chỉ đứng sau các nước Ireland, Luxembourg và Liechtenstein ở Tây Âu. === Chủng tộc === Người Iceland có nguồn gốc từ những người Na Uy và người Celt nhập cư vào đất nước này từ lâu đời. Người Iceland ngày nay là kết quả của sự hòa trộn đồng nhất giữa tổ tiên Na Uy và Celt của họ. Năm 2004, 20.665 người (tương đương 7% dân số Iceland) được sinh ra ở nước ngoài. Trong khi đó thì 10 636 người (3,6% dân số) có mang một quốc tịch nước ngoài. Những cộng đồng dân cư nước ngoài đông nhất tại Iceland là người Ba Lan, Đan Mạch, Nam Tư cũ, Philippines và Đức, chiếm khoảng 6% dân số. === Tôn giáo === Khi những người dân nhập cư đầu tiên đến Iceland, họ chủ yếu tôn thờ những vị thần của Na Uy. Sau đó, Iceland trở thành một quốc gia theo đạo Cơ đốc từ thế kỉ 10. Đến giữa thế kỉ 16, dưới sự cai trị của vua Christian III của Đan Mạch, Iceland cải theo Giáo hội Luther cho đến tận ngày nay. Theo số liệu năm 2004, khoảng 85,5% dân số Iceland theo Giáo hội Luther, 2,1% theo tôn giáo Tự do Reykjavík, 2% theo Công giáo La Mã, 1,5% theo tôn giáo Tự do Hafnarfjorou. Các nhóm Cơ Đốc giáo khác chiếm tỉ lệ khoảng 2,7%. Số còn lại không rõ hoặc không có tôn giáo. === Những thành phố lớn === Thành phố đông dân cư nhất của Iceland là thủ đô Reykjavík. Reykjavík cùng với các thị trấn lân cận khác là Kópavogur, Hafnarfjörður và Garðabær tạo thành khu vực Đại Reykjavík, chiếm tới hai phân ba dân số nước này. Reykjavík là thành phố duy nhất của Iceland có dân số vượt quá 100.000 người. Dân số của riêng thành phố là 117 099 dân, còn nếu tính cả khu vực Đại Reyljavík thì tổng cộng là 192.996 người. Reykjavík là thủ đô nằm xa nhất về phía bắc của thế giới. Các thành phố có dân số trên 10.000 dân khác là Akureyri, Hafnarfjörður, Keflavík, Kópavogur. == Kinh tế == Iceland là một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển nhất thế giới. Thu nhập bình quân của người Iceland năm 2005 đạt 19.444 USD, xếp thứ 112 thế giới và cao hơn cả nhiều nước công nghiệp phát triển như Mỹ, Anh, Pháp. Nền kinh tế phát triển cộng với hệ thống phúc lợi xã hội tốt đã khiến cho chỉ số phát triển con người của Iceland rất cao, xếp thứ nhất thế giới (xem Danh sách quốc gia theo chỉ số phát triển con người). Iceland là nước có điều kiện sống tốt nhất trên thế giới. Trong cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính thế giới năm 2008, nền tài chính của Iceland đã lâm vào một cuộc khủng hoảng trầm trọng với những khoản nợ lớn bằng 10 lần GDP, đưa đất nước này rơi vào tình trạng "phá sản". Đây là cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất đối với Iceland từ trước đến nay. Cuộc khủng hoảng về tài chính này cũng làm sụp đổ chính phủ liên minh tại Iceland và dự kiến trong năm 2009, kinh tế nước này sẽ tăng trưởng -9,6%. === Các ngành kinh tế === Các sản phẩm nông nghiệp chủ yếu của Iceland là khoai tây, củ cải, rau xanh trồng trong nhà kính, thịt cừu, bơ sữa và cá. Kinh tế Iceland phụ thuộc rất lớn vào ngành đánh bắt và chế biến cá. Cá chiếm tới 40% tổng sản phẩm xuất khẩu của Iceland và cung cấp 8% việc làm cho người dân nước này. Kinh tế Iceland rất dễ bị tổn thương do sản lượng cá đánh bắt được hàng năm giảm dần và do giá cả loại sản phẩm này cũng như các tài nguyên khác của Iceland là nhôm và sắt silicon trên thị trường thế giới giảm sút. Thời gian gần đây, chính phủ Iceland tiến hành đa dạng hóa và tự do hóa nền kinh tế nhằm làm giảm sự phụ thuộc vào ngành đánh bắt cá của nước này, đảm bảo cho sự tăng trưởng kinh tế bền vững hơn. Sản xuất công nghiệp và các ngành công nghệ hiện đại như dịch vụ phần mềm, dịch vụ tài chính, công nghệ sinh học được đẩy mạnh. Thị trường chứng khoán của Iceland được thành lập vào năm 1985. Là một nước thưa dân ở phía bắc với rất nhiều cảnh quan thiên nhiên phong phú, Iceland đang phát triển mạnh ngành du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái. Tỉ trọng các ngành của kinh tế Iceland như sau: nông nghiệp chiếm 8,4%, công nghiệp chiếm 15,6% và dịch vụ chiếm 76% GDP. === Ngoại thương === Năm 2006, xuất khẩu của Iceland đạt 3.587 tỉ USD, chủ yếu là cá và các sản phẩm từ cá (chiếm tổng cộng 70%), các sản phẩm từ động vật, nhôm, một số khoảng sản khác như sắt silicon, diatomite. Các thị trường xuất khẩu chính của Iceland là Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (17,9%), Đức (16,4%), Hà Lan (13%), Mỹ (8,1%), Tây Ban Nha (7,7%), Đan Mạch (4,3%). Nhập khẩu của Iceland năm 2006 đạt 5.189 tỉ USD, cao hơn nhiều so với xuất khẩu. Các sản phẩm mà Iceland nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, dầu mỏ, thực phẩm, vải. Iceland nhập khẩu các sản phẩm trên từ các nước là Đức (13,4%), Mỹ (9,1%), Thụy Điển (8,6%), Đan Mạch (7,3%), Na Uy (7,2%), Vương quốc Liên hiệp Anh và bắc Ireland (5,9%), Trung Quốc (5,3%), Hà Lan (5%)... === Ngành đánh bắt và chế biến cá === Chiếm khoảng 40% tổng thu nhập từ xuất khẩu hàng hóa, chiếm 7% lực lượng lao động, làm việc chủ yếu trong nghề đánh bắt cá và công nghiệp chế biến cá. === Công nghiệp chế biến === Công nghiệp luyện nhôm là ngành công nghiệp sử dụng năng lượng quan trọng nhất tại Iceland và hiện tại đang có 3 nhà máy đang đi vào hoạt động là nhà máy Rio Tinto Alcan, Nordurál và Alcoa. Công nghiệp sản xuất trang thiết bị cho tàu thủy và công nghiệp chế biến cá phát triển, trước hết phục vụ cho nhu cầu trong nước. Các thiết bị tàu đánh cá do Iceland sản xuất được xuất khẩu rộng rãi trên thị trường thế giới bao gồm tàu đánh cá có lưới kéo. === Năng lượng === Iceland có rất nhiều sông suối, thác nước và một nguồn địa nhiệt khổng lồ dưới lòng đất. Những nguồn năng lượng này đã cung cấp 99% sản lượng điện cho Iceland. Nguồn nhiệt để sưởi ấm của Iceland được lấy trực tiếp từ những nguồn địa nhiệt dồi dào trong lòng đất nên giá thành rất rẻ. Iceland gần như không phải đốt các loại nhiên liệu hóa thạch gây ô nhiễm môi trường nào như than hay khí đốt nên là một trong những đất nước sạch nhất thế giới. Nesjavellir là dự án nhiệt điện lớn nhất tại Iceland, trong khi đập Kárahnjúkar là nhà máy thủy điện lớn nhất tại nước này. === Nông nghiệp === Diện tích đất có thể trồng trọt được chiếm 19% diện tích cả nước, nhưng diện tích được canh tác chỉ chiếm 1% diện tích cả nước, chủ yếu là trồng cỏ và chăn nuôi, và hàng năm chỉ canh tác được từ 4-5 tháng. Iceland có khoảng 4.700 nông trại cỡ trung bình là 1.200 ha, trong đó 85% là thuộc tư nhân và khoảng 4,8% lực lượng lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp. === Tiền tệ === Đồng tiền chính thức được sử dụng tại Iceland là đồng Króna hay krónur (íslensk króna, viết tắt là ISK). Một króna bằng 100 xu (aurar hay eyrir). Các mệnh giá tiền xu là 1, 5, 10, 50 và 100 króna, còn các mệnh giá tiền giấy là 500, 1000, 2000 và 5000 króna. Tỷ giá hối đoái giữa Dollar Mỹ và đồng króna là 1 USD/70.195 króna (năm 2006). Tỷ lệ lạm phát năm 2006 là 6,8%. Iceland có thể sẽ gia nhập nhóm các nước sử dụng đồng tiền chung châu Âu euro trong tương lai, mặc dù không phải là một thành viên của Liên minh châu Âu. == Văn hóa == === Phong tục tập quán === Iceland là một trong những nước bình đẳng về giới tính nhất thế giới, rất nhiều phụ nữ Iceland làm việc ở những vị trí lãnh đạo trong chính phủ và các doanh nghiệp. Sau khi lấy chồng, phụ nữ Iceland giữ nguyên tên họ của mình. Iceland có một bộ luật rất khắt khe để bảo vệ quyền trẻ em. Những hành vi ngược đãi thân thể hay tinh thần của trẻ em đều bị trừng phạt rất nghiêm khắc, thậm chí có thể bị bỏ tù. Iceland có tỉ lệ người dân sử dụng internet cao nhất thế giới. Iceland cũng là một trong những nước có thái độ cới mở với người đồng tính nữ, đồng tính nam, song tính và chuyển giới nhất thế giới, vì có liên quan đến văn hóa với những nước Bắc Âu khác như Na Uy, Thụy Điển, Đan Mạch (cả ba nước đều thuộc khối Scandinavia). Luật kết hợp dân sự đã được hợp pháp hóa tại nước này vào năm 1996. Vào năm 2010, Iceland đã trở thành quốc gia thứ 9 trên thế giới và là quốc gia thứ 7 tại châu Âu gia nhập nhóm quốc gia cho phép hôn nhân đồng tính. Người Iceland rất tự hào về đất nước mình. Họ tự hào về di sản văn hóa Viking được thừa hưởng và ngôn ngữ riêng của họ, tiếng Iceland. Người dân Iceland rất quan tâm đến việc bảo vệ truyền thống văn hóa và ngôn ngữ của mình. Những lễ hội phổ biến ở Iceland là Ngày Quốc khánh vào ngày 17 tháng 6 để kỉ niệm ngày Iceland giành độc lập dân tộc năm 1944, lễ hội Sumardagurinn fyrsti được tổ chức ngày đầu tiên của mùa hè và lễ hội Sjómannadagurinn được tổ chức vào mỗi tháng 6 để nhớ ơn những chuyến vượt biển của tổ tiên đến Iceland. === Ẩm thực === Þorramatur là món ăn dân tộc của Iceland, thường được ăn vào tháng 1 và tháng 2 để tưởng nhớ tổ tiên. Món ăn này gồm rất nhiều những thành phần khác nhau. Một số món ăn khác rất phổ biến ở Iceland là Hákarl (thịt cá mập để lâu), graflax (cá hồi ướp muối với cây thì là), hangikjöt (thịt cừu hun khói), slátur (xúc xích làm từ ruột cừu), skyr (một thức uống làm từ sữa thường kèm theo quả việt quất vào mùa hè như một món tráng miệng). === Thể thao === Iceland là một quốc gia của những con người khỏe mạnh. Thanh thiếu niên Iceland tham gia rất nhiều các hoạt động thể thao như bóng đá, điền kinh, bóng rổ. Các môn thể thao khác như golf, tennis, bơi, cờ vua, cưỡi ngựa cũng hết sức phổ biến. Cờ vua là một thú tiêu khiển được yêu thích của tổ tiên Viking của người Iceland. Nước này có rất nhiều kiện tướng cờ vua như Friðrik Ólafsson, Jóhann Hjartarson, Margeir Pétursson, và Jón Arnason. Glíma là một môn vật cổ khởi nguồn từ thời kỳ xa xưa của nước này. Bơi và cưỡi ngựa rất được yêu thích tại Iceland. Và môn golf được 1/8 dân số nước này chơi. Bóng ném được coi là môn thể thao quốc gia ở Iceland và độ tuyển bóng ném Iceland được xếp hạng cao trên thế giới. Đội tuyển bóng đá nữ của nước này cũng nằm trong nhóm tốt nhất thế giới. Bên cạnh đó, còn có một số môn thể thao mạo hiểm khác như leo núi cũng được ưa chuộng. Đội tuyển bóng đá quốc gia Iceland lần đầu tiên tham dự Euro 2016 và đã gây bất ngờ lớn khi lọt vào tứ kết của giải ở ngay lần đầu tham dự. === Văn học === Những tác phẩm văn học kinh điển của Iceland là các truyện dân gian (sagas), đó là các bộ sử thi bằng văn xuôi được viết vào thời kỳ người định cư đến Iceland. Nổi tiếng nhất là tác phẩm Njáls saga, kể về một mối hận thù truyền kiếp và hai tác phẩm Grænlendinga saga và Eiríks saga kể về những chuyến phiêu lưu khám phá và di cư đến Greenland và Vinland (nay là Newfoundland). Egils saga, Laxdæla saga, Grettis saga, Gísla saga và Gunnlaugs saga ormstungu cũng rất nổi tiếng trong các truyện dân gian của Iceland. Đất nước này cũng sản sinh ra nhiều nhà văn nổi tiếng như Halldór Laxness, Guðmundur Kamban, Tómas Guðmundsson, Davíð Stefánsson, Jón Thoroddsen, Guðmundur G. Hagalín, Þórbergur Þórðarson và Jóhannes úr Kötlum. Halldór Laxness là nhà văn đầu tiên của Iceland đoạt giải thưởng Nobel Văn học vào năm 1955. === Kiến trúc === Kiến trúc ở Iceland chịu ảnh hưởng lớn của kiến trúc Scandinavia. Khi những người dân Viking di cư đến Iceland, họ không thể tìm được nhiều gỗ để làm nhà vì Iceland có rất ít rừng cây gỗ, do vậy họ đã sáng tạo ra kiểu nhà cỏ, một nét kiến trúc rất đặc sắc của Iceland. Những ngôi nhà cỏ ngày nay nằm chủ yếu ở thôn quê và không còn được xây dựng tiếp nữa, một số trở thành địa điểm tham quan cho du khách. Tại các thành phố lớn như thủ đô Reykjavík, kiến trúc hiện đại chiếm ưu thế, tuy nhiên vẫn xen lẫn nhiều công trình mang kiến trúc cổ như các nhà thờ. == Tôn giáo == Hiến pháp của Iceland quy định quyền tự do tôn giáo, mặc dù Giáo hội Luther là nhà thờ nhà nước. Trong năm 2013, dân số Iceland được chia thành các nhóm tôn giáo như sau: 76,18% là tín hữu Giáo hội Luther Iceland 11,33% là tín hữu của các giáo phái Kitô giáo khác 5.91% hoặc 5,16% không theo tôn giáo nào 1.42% là tín đồ các tôn giáo ngoài Kitô giáo. Iceland là quốc gia thế tục như các quốc gia Bắc Âu khác. Sự ảnh hưởng của tôn giáo đến chính trị là rất thấp. == Giao thông == Giao thông ở Iceland chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như địa hình gồ ghề, điều kiện khí hậu phức tạp. Iceland hiện nay là một trong số ít quốc gia và vũng lãnh thổ vẫn chưa có đường sắt, mặc dù một dự án xây dựng đường sắt đang được triển khai lần đầu tiên giữa Keflavík và Reykjavík. Iceland có tổng cộng 13.034 km đường bộ, việc xây dựng đường sá được bắt đầu vào năm 1900 và xúc tiến mạnh trong năm 1980. Các dịch vụ đường biển và đường hàng không kết nối Iceland với các nước khác trong khu vực, gồm châu Âu và Bắc Mĩ. Vào năm 1999, Iceland có tổng cộng 86 sân bay. Hãng hàng không quốc gia Iceland, Icelandair là một trong những nơi cung cấp nhiều việc làm nhất tại nước này. == Du lịch == Những năm gần đây, Iceland ngày càng trở nên thu hút khách du lịch quốc tế. Là một nước Bắc Âu dân cư thưa thớt, Iceland có nhiều quang cảnh thiên nhiên tươi đẹp như những vùng đồng cỏ yên bình rộng lớn ở thôn quê, những dãy núi cao, những sông băng lớn hay những thác nước hùng vĩ. Tại Iceland, khách du lịch có thể tham gia loại hình nghỉ dưỡng suối nước nóng. Iceland có rất nhiều các dòng suối nước khoáng nóng chứa nhiều khoáng chất có lợi cho sức khỏe. Du lịch sinh thái với những hoạt động như leo núi, trượt tuyết, cưỡi ngựa cũng rất được ưa chuộng. == Hình ảnh về Iceland == === Tự nhiên === === Các thành phố lớn === == Xếp hạng quốc tế == Xếp thứ 24/190 quốc gia theo dữ liệu năm 2010 của Ngân hàng Thế giới và thứ 21/183 quốc gia về GDP bình quân đầu người theo thống kê năm 2011 của Quỹ Tiền tệ Quốc tế. Xếp thứ 14/187 quốc gia về chỉ số phát triển con người. Xếp thứ 27/179 nước và vùng lãnh thổ về tự do kinh tế năm 2012 theo Heritage Xếp thứ 1/163 nước về Chỉ số Nhận thức Tham nhũng vào năm 2006 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Xem Danh sách các nước theo xếp hạng tham nhũng năm 2006) == Xem thêm == Viking Đan Mạch == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bản đồ Iceland Trang chủ Iceland Trang Tin tức Iceland Trang chủ Chính phủ Iceland (tiếng Anh) Thông tin Iceland Thông tin về lịch sử Iceland
willem de kooning.txt
Willem de Kooning ( /də ˈkuːnɪŋ/; Tiếng Hà Lan: [ˈkoʊnɪŋ]; sinh ngày 24 tháng 4 năm 1904 - mất ngày 19 tháng 3 năm 1997) là một nghệ sĩ biểu hiện được trừu tượng người Mỹ gốc Hà Lan sinh ra ở Rotterdam, Hà Lan. Trong thời kỳ hậu Chiến tranh Thế giới II, de Kooning vẽ theo phong cách được gọi là hội họa theo phong cách chủ nghĩa biểu hiện trừu tượng hay hành động, và là một phần của một nhóm các nghệ sĩ đã được biết đến như trường phái New York. Các họa sĩ khác trong nhóm này bao gồm Jackson Pollock, Elaine de Kooning, Lee Krasner, Franz Kline, Arshile Gorky, Mark Rothko, Hans Hofmann, Adolph Gottlieb, Anne Ryan, Robert Motherwell, Philip Guston, Clyfford Still, và Richard Pousette-Dart. == Chú thích ==
tommy haas.txt
Thomas Mario "Tommy" Haas (sinh ngày 3 tháng 4 năm 1978) là một vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Đức. Anh đã tham gia thi đấu trong hiệp hội quần vợt nhà nghề từ năm 1996. Sau khi lọt vào danh sách 100 tay vợt hàng đầu vào năm 1997 và đạt vị trí đánh đơn số 2 thế giới vào tháng 5 năm 2002 thì sự nghiệp của Haas bị gián đoạn bởi chấn thương: anh đã bị loại khỏi bảng xếp hạng thế giới 2 lần do không có khả năng chơi trong 12 tháng. == Vòng chung kết các giải lớn == === Chung kết Thế vận hội === ==== Đấu đơn: 1 (1 huy chương bạc) ==== === Chung kết Masters Series === ==== Đấu đơn: 2 (1–1) ==== == Chung kết các giải đấu hiệp hội quần vợt nhà nghề == === Đấu đơn: 26 (15–13) === === Đấu đôi: 1 (1–0) === == Chú thích ==
danh sách quốc gia thành viên asean.txt
ASEAN là tổ chức liên kết của khu vực Đông Nam Á, được tạo dựng với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ủng hộ hòa bình khu vực, và phát triển văn hóa giữa các thành viên. Danh sách dưới đây bao gồm các quốc gia thành viên của ASEAN (Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á). ASEAN được thành lập vào ngày 8 tháng 8 năm 1967 với năm quốc gia thành viên đầu tiên là: Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines và Singapore. Tính đến năm 2009, tổ chức này đã kết nạp hầu hết các quốc gia Đông Nam Á làm thành viên (trừ Đông Timor), chấp nhận Đông Timor và Papua New Guinea làm quan sát viên, và đang xem xét đơn xin gia nhập của Đông Timor. Các thành viên của ASEAN +3 và Hội nghị thượng đỉnh Đông Á cũng được đề cập trong bài viết này. Ngoài ra, danh sách này cũng bao gồm thông tin về các quốc gia tham dự Diễn đàn hợp tác khu vực ASEAN (ARF), trong đó các quốc gia của tổ chức (tâm điểm là thành viên ASEAN) sẽ đẩy mạnh đối thoại và hợp tác, đóng góp hiệu quả cho hòa bình, ổn định và hợp tác ở Ðông Nam Á và châu Á-Thái Bình Dương, thực hiện các biện pháp xây dựng lòng tin, kết hợp từng bước triển khai các biện pháp ngoại giao phòng ngừa, lấy xây dựng lòng tin làm nền tảng để củng cố và tăng cường sự tin cậy giữa các nước tham gia. == Thành viên ASEAN == == Không phải thành viên ASEAN == === Quan sát viên ASEAN === === ASEAN +3 === ASEAN+3 là một cơ chế hợp tác bao gồm các thành viên hiện tại của ASEAN và ba nước Đông Á: === Hội nghị thượng đỉnh Đông Á === Hội nghị thượng đỉnh Đông Á còn gọi là Hội nghị cấp cao ASEAN, là hội nghị giữa các nhà lãnh đạo của các quốc gia thành viên ASEAN +3 và các quốc gia: === Diễn đàn Khu vực ASEAN === Diễn đàn khu vực ASEAN là một kênh đối thoại đa phương giữa 27 quốc gia thành viên nhằm tham vấn vấn đề an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Danh sách thành viên bao gồm các quốc gia thuộc Hội nghị thượng đỉnh Đông Á và: == Xem thêm == Hội nghị cấp cao ASEAN Cộng đồng Kinh tế ASEAN Cộng đồng An ninh ASEAN Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương Ủy ban Kinh tế Xã hội châu Á Thái Bình Dương Liên Hiệp Quốc Diễn đàn hợp tác Á–Âu == Chú thích == == Liên kết ngoài == Ban thư ký ASEAN Diễn đàn khu vực ASEAN
halogen.txt
Halogen (tiếng Latinh nghĩa là sinh ra muối) là những nguyên tố thuộc nhóm VII A (tức nhóm nguyên tố thứ 17 theo danh pháp IUPAC hiện đại) trong bảng hệ thống tuần hoàn các nguyên tố hóa học. Nhóm này bao gồm các nguyên tố hóa học là flo, clo, brôm, iốt, astatin và tennessine. == Tính chất vật lý == Trong nhóm Halogen, tính chất vật lý biến đổi có quy luật: Trạng thái tập hợp, màu sắc, nhiệt độ nóng chảy, nhiệt độ sôi,... Flo tác dụng mãnh liệt với nước giải phóng oxi. Các Halogen khác tan tương đối ít trong nước và tan nhiều trong một số dung môi hữu cơ. Nhóm halogen bao gồm: F, Cl, Br, I còn At là nguyên tố phóng xạ. == Tính chất hoá học == Vì lớp electron ngoài cùng có cấu hình tương tự nên các halogen có nhiều điểm giống nhau về tính chất hoá học của đơn chất cũng như về thành phần và tính chất của các hợp chất. Halogen có ái lực electron lớn. Nguyên tử halogen X với 7 electron lớp ngoài cùng dễ dàng thu thêm 1 electron để tạo thành ion âm X- có cấu hình electron của khí hiếm liền kề trong bảng tuần hoàn. Các Halogen đều có độ âm điện lớn. Độ âm điện của Flo (3,98) là lớn nhất trong tất cả các nguyên tố hoá học. Từ flo đến clo, brôm và iốt... bán kính nguyên tử tăng dần và độ âm điện giảm dần. Halogen là những phi kim điển hình, chúng là những chất ôxi hóa mạnh. Khả năng ôxi hoá của các halogen giảm dần từ flo đến iốt. Trong các hợp chất, flo luôn luôn có số ôxi hoá -1, các halogen khác ngoài số ôxi hoá -1 còn có các số ôxi hoá +1, +3, +5, +7. == Các phương trình hóa học == AgNO3 + NaCl = AgCl + NaNO3 AgCl kết tủa màu trắng AgNO3 + NaBr = AgBr + NaNO3 AgBr kết tủa màu vàng nhạt AgNO3 + NaI = AgI + NaNO3 AgI kết tủa màu vàng đậm Dùng AgNO3 để nhận biết muối F-, Cl-, Br-, I- == Phương trình cơ bản == 2Na + Cl2 -> 2NaCl H2 + Cl2 -> 2HCl H2 + Br2 -> 2HBr H2 + F2 -> 2HF 2Na + Br2 -> 2NaBr Br2 + 2NaI -> 2NaBr + I2 Nước Clo: Cl2 + H2O ⇆ {\displaystyle \leftrightarrows } HCl + HClO Clorua vôi Ca(OH)2 + Cl2 -> CaOCl2 + H2O Muối clorat: 3Cl2 + 6KOH -> 5KCl + KClO3 + 3H2O 2Al + 3Cl2 -> 2AlCl3 Dung dịch Javen: 2NaOH + Cl2 -> NaCl + NaClO + H2O == Phương trình điều chế == Điều chế F2 Điện phân nóng chảy hỗn hợp KF và 2HF. H2 thoát ra ở cực âm còn F2 thoát ra ở cực dương. 2HF -(điện phân nóng chảy+KF)-> H2 + F2 Điều chế Cl2 K2Cr2O7 + 14HCl -> 3Cl2 + 2KCl + 2CrCl3 + 7H2O MnO2 + 4HCl -to> Cl2 + MnCl2 + 2H2O CaOCl2 + 2HCl -> CaCl2 + Cl2 + H2O 2NaCl + 2H2O-(điện phân dung dịch có màng ngăn)-> 2NaOH + Cl2 + H2 (Dung dịch muối bão hòa) Điều chế Br2 2KBr + MnO2 + 2H2SO4 -> MnSO4+K2SO4 + Br2 + 2H2O 2AgBr -(ánh sáng)-> 2Ag + Br2 4HBr + O2 -> 2H2O + 2Br2 2HBr + H2SO4 -> Br2 + SO2 + 2H2O Điều chế I2 NaClO + 2KI + H2O -> NaCl + I2 + 2KOH 2KI + MnO2 + 2H2SO4 -> MnSO4+K2SO4 + I2 + 2H2O 8HI + H2SO4 -> 4I2 + H2S + 4H2O 2HI + 2FeCl3 -> 2FeCl2 + I2 + 2HCl 2HI -(to trên 300 độ C)-> H2 + I2 == Xem thêm == Hợp chất của Halogen == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
html.txt
HTML (tiếng Anh, viết tắt cho HyperText Markup Language, hay là "Ngôn ngữ Đánh dấu Siêu văn bản") là một ngôn ngữ đánh dấu được thiết kế ra để tạo nên các trang web với các mẩu thông tin được trình bày trên World Wide Web. Cùng với CSS và JavaScript, HTML tạo ra bộ ba nền tảng kỹ thuật cho World Wide Web. HTML được định nghĩa như là một ứng dụng đơn giản của SGML và được sử dụng trong các tổ chức cần đến các yêu cầu xuất bản phức tạp. HTML đã trở thành một chuẩn Internet do tổ chức World Wide Web Consortium (W3C) duy trì. Phiên bản chính thức mới nhất của HTML là HTML 4.01 (1999). Sau đó, các nhà phát triển đã thay thế nó bằng XHTML. Hiện nay, HTML đang được phát triển tiếp với phiên bản HTML5 hứa hẹn mang lại diện mạo mới cho Web. Bằng cách dùng HTML động hoặc Ajax, lập trình viên có thể được tạo ra và xử lý bởi số lượng lớn các công cụ, từ một chương trình soạn thảo văn bản đơn giản – có thể gõ vào ngay từ những dòng đầu tiên – cho đến những công cụ xuất bản WYSIWYG phức tạp. == Đánh dấu == Có bốn loại phần tử đánh dấu trong HTML: Đánh dấu Có cấu trúc miêu tả mục đích của phần văn bản (ví dụ, == Golf == sẽ điều khiển phần mềm đọc hiển thị "Golf" là đề mục cấp một), Đánh dấu trình bày miêu tả phần hiện hình trực quan của phần văn bản bất kể chức năng của nó là gì (ví dụ, <b>boldface</b> sẽ hiển thị đoạn văn bản boldface) (Chú ý là cách dùng đánh dấu trình bày này bây giờ không còn được khuyên dùng mà nó được thay thế bằng cách dùng CSS), Đánh dấu liên kết ngoài chứa phần liên kết từ trang này đến trang kia (ví dụ, <a href="http://www.wikipedia.org/">Wikipedia</a> sẽ hiển thị từ Wikipedia như là một liên kết ngoài đến một URL) cụ thể, và Các phần tử thành phần điều khiển giúp tạo ra các đối tượng (ví dụ, các nút và các danh sách). == Tách phần trình bày và nội dung == Nỗ lực tách phần nội dung ra khỏi phần hình thức trình bày của trang HTML đã đưa đến sự xuất hiện của các chuẩn mới như XHTML. Các chuẩn này nhấn mạnh vào việc sử dụng thẻ đánh dấu vào việc xác định cấu trúc tài liệu như phần đề mục, đoạn văn, khối văn bản trích dẫn và các bảng, chứ không khuyên dùng các thẻ đánh dấu mang tính chất trình bày trực quan, như <font>, <b> (in đậm), và <i> (in nghiêng). Những mã mang tính chất trình bày đó đã được loại bỏ khỏi HTML 4.01 Strict và các đặc tả XHTML nhằm tạo điều kiện cho CSS. CSS cung cấp một giải pháp giúp tách cấu trúc HTML ra khỏi phần trình bày của nội dung của nó. Xem phần tách nội dung và trình bày. === Định nghĩa kiểu tài liệu === Tất cả các trang HTML nên bắt đầu với một khai báo HTML5. Ví dụ: == Xem thêm == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
thiania.txt
Thiania là một chi nhện trong họ Salticidae. == Các loài == Chi này có các loài: Thiania abdominalis Żabka, 1985 Thiania aura Dyal, 1935 Thiania bhamoensis Thorell, 1887 Thiania cavaleriei Schenkel, 1963 Thiania chrysogramma Simon, 1901 Thiania coelestis (Karsch, 1880) Thiania cupreonitens (Simon, 1899) Thiania demissa (Thorell, 1892) Thiania formosissima (Thorell, 1890) Thiania gazellae (Karsch, 1878) Thiania humilis (Thorell, 1877) Thiania inermis (Karsch, 1897) Thiania jucunda Thorell, 1890 Thiania luteobrachialis Schenkel, 1963 Thiania pulcherrima C. L. Koch, 1846 Thiania simplicissima (Karsch, 1880) Thiania sinuata Thorell, 1890 Thiania suboppressa Strand, 1907 Thiania subserena Simon, 1901 Thiania viscaensis Barrion & Litsinger, 1995 == Chú thích == == Tham khảo == Dữ liệu liên quan tới Thiania tại Wikispecies
hạm đội 7 hải quân hoa kỳ.txt
Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ hay Hạm đội 7 (United States 7th Fleet) là một đội hình quân sự của hải quân có căn cứ tại Yokosuka, Nhật Bản, với các đơn vị đóng gần Hàn Quốc và Nhật Bản. Nó được đặt dưới quyền chỉ huy của Hạm đội Thái Bình Dương. Hiện tại nó là hạm đội lớn nhất trong các hạm đội triển khai tiền phương của Hoa Kỳ, với 50–60 chiến hạm, 350 máy bay và 60.000 nhân sự hải quân và thủy quân lục chiến. Với sự hỗ trợ của các Tư lệnh Lực lượng Đặc nhiệm, nó có ba việc được giao chính đó là: Bộ tư lệnh lực lượng đặc nhiệm hỗn hợp trong một thiên tai hoặc các cuộc hành quân hỗn hợp, Bộ tư lệnh hành quân của tất cả các lực lượng hải quân trong vùng, và Bảo vệ Bán đảo Triều Tiên. == Lịch sử == Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ được hình thành vào ngày 15 tháng 3 năm 1943 tại Brisbane, Úc trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Nó phục vụ trong Vùng Tây Nam Thái Bình Dương (South West Pacific Area, viết tắt là SWPA) dưới quyền của Tướng Douglas MacArthur, và Tư lệnh của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ cũng phục vụ như tư lệnh của các lực lượng hải quân Đồng Minh tại SWPA. Đa số các chiến hạm của Hải quân Hoàng gia Úc cũng là một phần của hạm đội trong suốt thời gian 1943–1945. Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ hình thành một phần lớn lực lượng Đồng Minh tại Trận vịnh Leyte trong tháng 10 năm 1944. Trận đó được xem là trận chiến hải quân lớn nhất trong lịch sử. Sau khi kết thúc chiến tranh, Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ dời về Nhật Bản. Hạm đội cũng tham gia vào Chiến tranh Triều Tiên và Chiến tranh Việt Nam, và sau đó tiến hành hoạt động gần miền Bắc Việt Nam. Tiếp theo sau đó, hành động tác chiến chính kế tiếp là trong Chiến tranh Vịnh Ba Tư nơi mà nó được đặt dưới quyền tư lệnh của Tổng Lực lượng Hải quân, Bộ Tư lệnh miền Trung (Naval Forces, U.S. Central Command). Sau khi chiến tranh kết thúc, nó được trở về Hạm đội Thái Bình Dương. Tiếp theo sau sự kết thúc Chiến tranh Lạnh, hai kịch bản quân sự chính mà Đệ thất Hạm đội sẽ được sử dụng đó là trong trường hợp xảy ra xung đột tại Triều Tiên hoặc một cuộc xung đột giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Trung Hoa Dân Quốc (Đài Loan) tại Eo biển Đài Loan. == Hoạt động == Trong số 50–60 chiến hạm tiêu biểu ủy nhiệm cho Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ, 18 chiếc hoạt động từ các căn cứ phương tiện của Hoa Kỳ tại Nhật Bản và Guam. Các đơn vị triển khai tiền phương này đại diện trung tâm của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ. 18 chiến hạm triển khai tiền phương thường trực của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ là các phần tử chính yếu của sự hiện diện tiền phương của Mỹ tại Á châu. Các chiếm hạm này gần các vị trí ở Á châu hơn các đồng nhiệm của mình có căn cứ ở địa lục Hoa Kỳ đến 17 ngày chạy tàu. Hoa Kỳ phải dùng từ 3 đến 5 lần số chiến hạm thay phiên từ Hoa Kỳ để cân bằng sự hiện diện tương tự và khả năng phản khủng hoảng mà 18 chiến hạm triển khai tiền phương có thể làm được. Trong bất cứ một ngày nào, có khoảng 50% lực lượng của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ được triển khai trên khắp vùng biển trách nhiệm. Soái hạm của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ là USS Blue Ridge (LCC-19) được triển khai tiền phương đến Yokosuka, Nhật Bản. Năm 2004, Blue Ridge được đưa vào sửa chữa và trách nhiệm chỉ huy được tạm thời chuyển sang USS Coronado (AGF-11). Blue Ridge trở lại nhiệm vụ vào ngày 27 tháng 9 năm 2004. == Tổ chức hạm đội == Với mục đích điều hành và hoạt động, Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ, như các hạm đội mang số khác, được tổ chức thành các lực lượng đặc nhiệm chuyên môn. Lực lượng Đặc nhiệm 70 — là Lực lượng Chiến đấu của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ, thực sự có hai thành phần riêng biệt. Một là Lực lượng tham chiến nổi gồm có các tuần dương hạm và khu trục hạm và hai là Lực lượng công kích hàng không mẫu hạm bao gồm ít nhất một hàng không mẫu hạm và không đoàn trên mẫu hạm. Lực lượng Chiến đấu hiện tại tập trung quanh hàng không mẫu hạm USS Ronald Reagan (CVN-76) và Không đoàn 5 mẫu hạm (CVW-5). Lực lượng Đặc nhiệm 71 — bao gồm tất cả các đơn vị Chiến tranh đặc biệt Hải quân (Naval Special Warfare hay NSW) và các Đơn vị Lưu động Tháo gở Chất nổ (Explosive Ordnance Disposal Mobile Units hay EODMU) được ủy nhiệm cho Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ. Lực lượng này có căn cứ tại Guam. Lực lượng Đặc nhiệm 72 — là Lực lượng Tuần tra và Trinh thám của Đệ thất Hạm đội. Chính yếu gồm có các máy bay chống tàu ngầm và các máy bay quan sát trên không phận biển như máy bay trinh sát P-3 Orion và EP-3 hoạt động từ các căn cứ đất liền. Lực lượng Đặc nhiệm 73 — là Lực lượng Tiếp vận Hậu cần của Đệ thất Hạm đội gồm các tàu tiếp vận và các tàu hỗ trợ hạm đội khác. Lực lượng Đặc nhiệm 74 — là Lực lượng Tàu ngầm có trách nhiệm hoạch định và điều hợp các hoạt động tàu ngầm trong khu vực hoạt động của Đệ thất Hạm đội. Lực lượng Đặc nhiệm 75 — là Lực lượng Chiến đấu nổi, có trách nhiệm với các tuần dương hạm và khu trục hạm không làm nhiệm vụ bảo vệ các hàng không mẫu hạm. Lực lượng Đặc nhiệm 76 — là Lực lượng Tấn công đổ bộ, chủ yếu là có trách nhiệm hỗ trợ các cuộc hành quân đổ bộ của Thủy quân lục chiến. Bao gồm các đơn vị có khả năng đưa quân tấn công từ tàu vào bờ. Lực lượng Đặc nhiệm 77 — là Lực lượng Tác chiến thủy lôi của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ, bao gồm các lực lượng và phương tiện dùng để phát hiện, rà phá và thả thủy lôi. Lực lượng Đặc nhiệm 78 — là Lực lượng Hải quân Hoa Kỳ đóng tại Hàn Quốc. Lực lượng Đặc nhiệm 79 — là đơn vị Thủy quân lục chiến viễn chinh hay Lực lượng đổ bộ của Hạm đội, bao gồm ít nhất một tiểu đoàn Thủy quân lục chiến tăng viện và các trang bị cho nó. == Các tàu triển khai tiền phương của Đệ thất Hạm đội Hoa Kỳ == === Yokosuka, Nhật Bản === USS Ronald Reagan (CVN-76), tàu sân bay, thay thế USS George Washington (CVN-73) chuẩn bị đại tu giữa vòng đời 25 năm USS Blue Ridge (LCC-19) USS Cowpens (CG-63) USS Curtis Wilbur (DDG-54) USS John S. McCain (DDG-56) USS Fitzgerald (DDG-62) USS Stethem (DDG-63) USS Lassen (DDG-82) USS Mustin (DDG-89) USS Shiloh (CG-67) USS Gary (FFG-51) === Sasebo, Nhật Bản === USS Essex (LHD-2) USS Juneau (LPD-10) USS Harpers Ferry (LSD-49) USS Tortuga (LSD-46) USS Guardian (MCM-5) USS Patriot (MCM-7) USS Safeguard (ARS-50) === Apra Harbor, Guam === USS Frank Cable (AS-40) USS Buffalo (SSN-715) USS City of Corpus Christi (SSN-705) USS Houston (SSN-713) == Các Tư lệnh của Hạm đội == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Official Seventh Fleet web site Commander Task Force 76 News Task Force 76/Expeditionary Strike Group 7
nhà lương.txt
Nhà Lương (tiếng Trung: 梁朝; bính âm: Liáng cháo) (502-557), còn gọi là nhà Nam Lương (南梁), là triều đại thứ ba của Nam triều trong thời kỳ Nam-Bắc triều ở Trung Quốc, sau thời kỳ của triều đại Nam Tề và trước thời kỳ của triều đại Trần. Kinh đô đặt tại Kiến Khang (nay là Nam Kinh). Nhà Tây Lương (西梁), với kinh đô nằm ở Giang Lăng năm 555 của Lương Tuyên Đế Tiêu Sát, cháu nội của người sáng lập ra nhà Lương (Lương Vũ Đế Tiêu Diễn), được cho là triều đại kế vị hợp pháp của nhà Lương; trên thực tế chỉ là chư hầu của các triều đại kế tiếp nhau như nhà Tây Ngụy, nhà Bắc Chu và nhà Tùy. Cuối cùng, triều đại này bị Tùy Văn Đế xóa bỏ năm 587. Một số học giả cho rằng triều đại này đại diện cho "thời kỳ hoàng kim" của Trung Hoa cổ đại, và sự sụp đổ của triều đại này đã ngăn trở mạnh sự phát triển của Trung Quốc để trở thành một thế lực mạnh. Tuy nhiên, giả thuyết này còn nhiều mâu thuẫn. Thời gian kết thúc của nhà Lương cũng là vấn đề gây tranh cãi giữa các nhà sử học. Nhiều sử gia coi sự kết thúc thời kỳ trị vì của Lương Kính Đế Tiêu Phương Trí năm 557, khi ông bị buộc phải nhường ngôi cho Trần Bá Tiên, người sáng lập ra nhà Trần, là thời điểm kết thúc nhà Lương. Các học giả khác lại coi sự xóa bỏ Tây Lương năm 587 mới là sự kết thúc thật sự của nhà Lương. == Thành lập == Người sáng lập vương triều Nam Lương là Lương Vũ Đế Tiêu Diễn (464-549), tự là Thúc Đạt, tiểu tự là Luyện Nhân, người làng Trung Đô, nam Lan Lăng . Tiêu Diễn là thế gia tử đệ ở Lan Lăng, sinh ra ở Mạt Lăng, là cháu đời thứ 25 của tướng quốc Tiêu Hà đời Hán, cha Tiêu Thuận là em họ của Tề Cao Đế, làm Đan Dương Doãn tri sự, mẹ Trương Thượng Nhu. Tiêu Diễn khởi binh ở Kinh Châu chống lại Đông Hôn Hầu Tiêu Bảo Quyển nhà Nam Tề. Trải qua 2 năm chiến tranh, quân đội của Tiêu Diễn tiến vào Kiến Khang, giết chết Tiêu Bảo Quyển, cải lập Tiêu Bảo Dung làm hoàng đế. Chưa đến một năm, Tiêu Diễn đã phế truất và giết chết (Hòa Đế) Tiêu Bảo Dung, kiến lập Lương triều. == Loạn Hầu Cảnh == Năm 547, tình hình Đông Ngụy có thay đổi, Cao Hoan chết, người kế nhiệm Cao Trừng còn trẻ, không nhận được sự tuân phục của Tư đồ Hầu Cảnh, người trấn Hoài Sóc, Thứ sử Tế Châu (Sơn Đông), Hà Nam đạo Hành đài (tổng chế Hà Nam), đang cai quản 13 châu vùng Nam Hoàng Hà và Bắc Hoài Thủy là Dự, Quảng, Dĩnh, Kinh, Tương, Cổn, Nam Cổn, Tế, Đông Dự, Lạc, Dương, Bắc Kinh, Bắc Dương. Hầu Cảnh xin hàng nhà Lương. Vì muốn tiếp nhận hàng binh và đất đai do Hầu Cảnh quản lý, Lương Vũ Đế đã sai cháu mình Tiêu Uyên Minh thống lãnh 5 vạn quân chủ lực Dương Châu đi đánh Bành Thành (Từ Châu, Giang Tô), nhưng đoàn quân này đã bị tướng Đông Ngụy là Mộ Dung Thiệu Tông đánh cho đại bại. Toàn bộ quân chủ lực gần như chết sạch, Tiêu Uyên Minh bị quân Đông Ngụy bắt. Đạo quân Hầu Cảnh có 10 vạn người thì mất 4 vạn người, 4 ngàn ngựa, vạn xe quân nhu, chỉ còn mấy trăm kỵ binh vượt qua sông Hoài. Hầu Cảnh về hàng nhà Lương, được phong làm Hà Nam Vương. Thấy Lương Vũ Đế mê theo việc tu hành, bỏ bê triều chính, thế lực suy yếu, Hầu Cảnh cất binh làm phản, thu nạp được 800 người. Hầu Cảnh tiến về Thọ Dương, chiếm lấy thành trì, bắt Thứ sử Nam Dự Châu Ngụy An. Lương Vũ Đế phong cho Hầu Cảnh làm Thứ sử Nam Dự Châu. Trong khi đó nhà Đông Ngụy khôi phục lại 9 châu mà Hầu Cảnh đã dâng cho nhà Lương, Cao Trừng cho sứ thần đến gặp Lương Vũ Đế đề nghị giao hảo và giao trả Tiêu Uyên Minh cùng thân thích của Hầu Cảnh. Hầu Cảnh có mưu đồ riêng, tới gặp Tả Vệ Tướng quân Lâm Hạ vương Tiêu Chính Đức, hứa hẹn sẽ đưa Tiêu Chính Đức lên ngôi vua, Tiêu Chính Đức đồng ý. Lúc đó Bá Dương Vương Tiêu Phàn đã biết Hầu Cảnh chuẩn bị làm phản và thông báo cho Vũ Đế biết nhưng bị bỏ qua. Ngày Mậu Tuất (10) tháng 8 năm Thái Thanh thứ 2 (27 tháng 9 năm 548), Hầu Cảnh cử binh phản nhà Lương ở Thọ Dương, tuyên bố mục đích chính là làm trong sạch triều đình, diệt trừ quan tham, rồi chỉ trong một tháng vượt sông Trường Giang, đem quân bao vây Kiến Khang. Vũ Đế chủ quan cho rằng lực lượng của Hầu Cảnh sẽ bị nghiền nát. Lương Vũ Đế hạ lệnh cho Thứ sử Hợp Châu Phần Dương Vương Tiêu Phạm làm Nam đạo Đô đốc, Thứ sử Bắc Từ Châu Phong Sơn Hầu Tiêu Chính Biểu làm Bắc đạo Đô đốc, Tán kỵ Thường thị Bùi Chi Cao làm Đông đạo Đô đốc, Thứ sử Hợp Châu là Thiệu Lăng vương Tiêu Luân làm Thống soái chấp tiết đốc quân thảo phạt Hầu Cảnh. Tháng 3 năm 549, Cảnh đánh vào Kiến Khang, cầm giữ Lương Vũ Đế, Lương Giản Văn Đế Tiêu Cương (503–551), lập Lâm Hạ vương Tiêu Chính Đức lên ngôi vua, đồng thời cưới con gái Tiêu Chính Đức. Tiêu Chính Đức gửi thư cho Bá Dương Vương Tiêu Phàn đề nghị đem quân về Kiến Khang cứu viện. Bức thư rơi vào tay Hầu Cảnh, và đến mùa hè năm 549, Tiêu Chính Đức bị Hầu Cảnh giết. Cho đến tháng 11 năm 551, Hầu Cảnh liên tiếp phế truất các vua: Lâm Hạ Vương Tiêu Chính Đức, Giản Văn Đế Tiêu Cương bị truất làm Tấn An vương, Dự Chương vương Tiêu Đống (con Tiêu Thống, Thái tử Chiêu Minh của Lương Vũ Đế) rồi tự lên làm đế, quốc hiệu là Hán, tồn tại trong thời gian ngắn. == Tông thất nhà Lương xưng hùng == Hầu Cảnh chỉ có ít quân trong khi đó con cháu nhà Tiêu Lương đông đảo, ai nấy đều có quân quyền trong tay, nhưng đều không gắng sức cứu viện cho Kiến Khang mà ngồi đợi Tiêu Lương diệt vong để mưu đồ tranh bá. Lúc đó các tôn thất nhà Lương có thế lực gồm có: Nam Quận vương Tiêu Đại Liên, con trai Tiêu Cương ở Cối Kê (Thiệu Hưng, Chiết Giang). Thứ sử Giang Châu Tầm Dương vương Tiêu Đại Tín, con trai Tiêu Cương ở Tầm Dương (Cửu Giang, Giang Tây). Thiệu Lăng Vương Tiêu Luân. Thứ sử Tương Châu Hà Đông vương Tiêu Dực, con trai Tiêu Thống ở Trường Sa (Hồ Nam). Thứ sử Ung Châu - Nhạc Dương vương Tiêu Sát, con trai Tiêu Thống ở Tương Dương (Tương Phàn, Hồ Bắc). Thứ sử Kinh Châu - Tương Đông vương Tiêu Dịch, con trai Vũ Đế ở Giang Lăng (Kinh Châu, Hồ Bắc). Thứ sử Ích châu - Vũ Lăng vương Tiêu Kỷ, con trai Vũ Đế ở Thành Đô (Tứ Xuyên). Thứ sử Định Châu - Cù Giang hầu Tiêu Bột, con trai Tiêu Bình, em Vũ Đế ở Phiên Ngung (Quảng Châu, Quảng Đông). Trong lúc hỗn loạn này, hạ lưu Trường Giang đã mất luôn hệ thống quân sự. == Tương Đông Vương Tiêu Dịch == Địa thế Hình Châu lúc này trở nên quan trọng, và Tương Đông Vương Tiêu Dịch (508–555), người con thứ 7 của Lương Vũ Đế trấn thủ Hình Châu bắt đầu có ý định xưng đế. Khi lên 6 tuổi, Tiêu Dịch đã được phong tước vương. Tiêu Dịch đồng thời là Đô đốc các châu Hình, Ung, Tương, Ty, Trình, Ninh, Lương, Nam Bắc Tần, Trấn Tây Tướng quân. Địa phận do Tiêu Dịch quản lý gồm: Phía Đông kéo dài đến phần đất tiếp giáp giữa tỉnh Hồ Bắc và Giang Tây ngày nay; phía Nam đến biên giới Hồ Nam, Vân Nam; phía Bắc đến Tương Dương; phía Tây đến Hán Trung thuộc Thiểm Nam, những trấn trọng yếu thuộc thượng lưu sông Trường Giang đều nằm trong sự cai quản của Tiêu Dịch. Từ đời Đông Tấn đến nay, chính quyền Giang Đông đều dựa vào thế lực quân sự của hai châu Dương Châu và Hình Châu mà tồn tại, phát triển. Năm 548, nghe tin Kinh thành Kiến Khang bị bao vây nhưng Tiêu Dịch không hề phái đại binh đến ứng cứu cha và anh mình. Khi Lương Vũ Đế bị vây, viện binh từ phía tây kéo sang đến 2, 3 chục vạn, nhưng Hình Châu chỉ phái đi vẻn vẹn 1 vạn kỵ binh và bộ binh đến tiếp viện Kiến Khang. Nhưng không lâu, Đài Thành bị Hầu Cảnh đánh chiếm, đoàn thủy quân Hình Châu bị Hầu Cảnh bắt hết, chỉ còn Vương Tăng Biện cùng mấy tướng lĩnh chạy thoát về Giang Lăng. Lương Vũ Đế mất, con Vũ Đế ngoại trừ Tiêu Cương đã bị Hầu Cảnh quản thúc, chỉ còn người anh thứ ba của Tiêu Dịch là Thiệu Lăng Vương Tiêu Luân. Lúc Hầu Cảnh khởi binh làm phản, Luân giữ chức Bắc phạt Đại đô đốc thống lãnh ba quân đánh Hầu Cảnh. Đến khi Đài Thành bị phá, Tiêu Luân chạy đến Cối Kê, rồi từ Cối Kê chạy sang Trình Châu (Vũ Xương). Giờ đây, Luân là minh chủ đối địch với Hầu Cảnh. Tiêu Dịch lại sai Vương Tăng Biện dẫn 1 vạn thủy quân vây đánh Trình Châu hòng bắt Tiêu Luân. Tiêu Luân phải chạy đến Hán Đông. Lúc này Tây Ngụy phái Đại tướng Dương Trung tiếp quản Hán Đông. Tiêu Dịch sai sứ đi gặp Tây Ngụy thương lượng cắt đất với mục đích nhờ Tây Ngụy tiêu diệt Tiêu Luân. Dưới sự chỉ huy của Dương Trung, quân Tây Ngụy đã bắt sống được Tiêu Luân, sau đó giết chết vất thây Tiêu Luân bên bờ sông. Tây Ngụy chiếm đất Tứ Xuyên, Vân Nam, Quý Châu của Lương. == Xung đột trong hoàng gia == Sau khi Tiêu Luân chết, Thứ sử Ích Châu Vũ Lăng Vương Tiêu Kỷ (508-553) vốn là em thứ 8 của Dịch lại trở thành đối tượng mà Dịch tiêu diệt. Từ năm Đại Đồng thứ 3 (537), Tiêu Kỷ được bổ nhiệm Đô đốc Ích, Lương,... cả thảy 13 châu, đồng thời làm Thứ sử Ích Châu. Đến năm 552 đã trấn thủ Lương Châu, Ích Châu cả thảy hơn 16 năm, có trong tay 4 vạn tinh binh, 8 nghìn con ngựa. Trong thời gian Tiêu Kỷ cai quản Ích Châu, kinh tế và quân đội tại đây được củng cố. Sau khi Lương Vũ Đế mất, Giản Văn Đế Tiêu Cương cũng bị giết (vào tháng 10 năm 551), ông lên ngôi xưng đế, thống lãnh 3 vạn thủy quân đánh thẳng xuống Giang Đông mong về lại Kiến Khang khôi phục cơ nghiệp. Thấy Tiêu Kỷ xua quân về Đông, Tiêu Dịch liền sai sứ thần đến Tây Ngụy xin binh đánh giết Tiêu Kỷ. Tiêu Dịch ra lệnh cho cháu là Nghi Phong hầu Tiêu Tuân, Thứ sử Lương Châu (Nam Thiểm Tây) rút khỏi thủ phủ Lương Châu là Nam Trịnh (Hán Trung, Thiểm Tây) và nhường thành Nam Trịnh cho Tây Ngụy. Tây Ngụy liền phái đại quân đánh xuống Lương Châu, chiếm được Ích Châu. Tiêu Kỷ chưa đến được Giang Lăng thì hậu quân đã mất, phía trước lại bị Tiêu Dịch chận đánh. Sau đó không lâu, Tiêu Dịch bắt sống được Tiêu Kỷ và giết ông ở cửa khẩu Vu Giáp. Tiêu Dịch thực hiện xong mục đích tiêu diệt thế lực anh em của mình, nhưng giờ đây, Lương Châu, Ích Châu đã mất, Tương Dương bị Tây Ngụy khống chế, Giang Lăng lại rơi vào nguy khốn. Lúc này, Hầu Cảnh dẫn binh đánh chiếm Giang Châu, Trình Châu, xua quân đến Giang Lăng, tiến thẳng vào Ba Lăng (Nhạc Dương, Hồ Nam). Tiêu Dịch sai Trường Ninh công Vương Tăng Biện đánh lui Hầu Cảnh, giành lại Giang Châu, Trình Châu. Tháng 3 năm 552, Vương Tăng Biện đánh thẳng vào Cô Thục (An Huy) rồi thừa thắng xua quân vào Kiến Khang tiêu diệt Hầu Cảnh. Dự Chương vương Tiêu Đống sau khi bị Hầu Cảnh phế truất giáng làm Hoài Âm Vương và quản thúc trong ngục được giải thoát cùng hai người em. Lúc này họ chạy về đầu quân ở Hình Châu, nhưng dưới quyền Tiêu Dịch. Vương Tăng Biện đã bắt cả ba anh em Tiêu Đống nhận nước đến chết. Sau khi Hầu Cảnh chết, nhà Bắc Tề mới thành lập ở phương bắc (cướp ngôi Đông Ngụy) nhân cơ hội chiếm các vùng đất của nhà Lương ở phía bắc Trường Giang; ở phía tây, nhà Tây Ngụy cũng tăng cường các hoạt động quân sự, chiếm của Lương nhiều vùng đất. == Lương Nguyên Đế lên ngôi == Tháng 11 năm 552, Tiêu Dịch xưng đế ở Giang Lăng (Kinh Châu, Hồ Bắc), tức Lương Nguyên Đế. Để thưởng công cho các tướng, Lương Nguyên Đế phong cho Vương Tăng Biện làm Đại tư mã, Thứ sử Dương châu, chịu trách nhiệm vùng phía đông, tướng Vương Lâm được phong làm Thứ sử Tương Châu, tướng Trần Bá Tiên được phong làm Thứ sử Giang Châu, tước Trường Thành Hầu, chịu trách nhiệm phòng thủ Giang Khẩu (Trấn Giang, Giang Tô). Đến khi Lương Nguyên Đế triệu Vương Tăng Biện về Giang Lăng, Trần Bá Tiên được cử thay Vương Tăng Biện. Lúc Tiêu Dịch mới lên ngôi ở Giang Lăng, nhân dân không đầy ba vạn hộ. Các quận Giang Bắc phần nhiều bị Đông Ngụy lấn chiếm. Lương Châu, Ích Châu đã hoàn toàn rơi vào tay Tây Ngụy. Cả một dải Ung Châu lại trở thành đất của Tây Ngụy, phần đất đai của Lương ở phía bắc sông Hán Thủy đều thuộc Tây Ngụy, đất nước thật lâm nguy. Trước đây Tiêu Dịch xưng thần với Tây Ngụy, nhưng sau khi làm Hoàng đế, Dịch không xưng thần nữa. Tây Ngụy sai sứ là Vũ Văn Nhân Thứ đến Giang Lăng thăm hỏi, Lương Nguyên Đế tiếp sứ sơ sài, đồng thời còn biểu lộ cho ông ta thấy nước Lương đã thống nhất, rằng Lương Châu, Ích Châu và những địa phận do Tây Ngụy chiếm lấy nay phải trả lại cho nước Lương. Triều đình Tây Ngụy nghe vậy đùng đùng nổi giận. Họ không nghĩ đến việc trả đất mà còn muốn thôn tính luôn Giang Lăng. Tây Ngụy chuẩn bị sẵn một phương án thành lập một quốc gia chư hầu ở phía nam với con bài Nhạc Dương vương Tiêu Sát (519–552, con Thái tử Chiêu Minh, năm 546 được phong làm Thứ sử Ung Châu, tấn công đại bản doanh Giang Lăng của Tiêu Dịch thất bại, chạy sang hàng phục Tây Ngụy, được Tây Ngụy cho quân bảo vệ) được Tây Ngụy phong làm Lương Vương dự định đưa về làm vua Lương. Mùa đông năm 553, các tướng Vu Cẩn, Vũ Văn Hộ, Dương Trung dẫn 5 vạn bộ kỵ binh tiến đến Tương Dương (Ung Châu), tại đây Tiêu Sát tham qua đội quân này, tiến về Giang Lăng. == Giang Lăng thất thủ == Lúc này lực lượng Vương Tăng Biện và bộ tướng Vương Lâm (526-573), Thứ sử Quảng Châu đều ở xa Giang Lăng không về kịp. Ngày 14 tháng 11, đại quân Tây Ngụy bao vây Giang Lăng, ngày 29 thì phá thành, bắt sống các tướng cùng Lương Nguyên Đế, giao cho Tiêu Sát trông giữ và sau đó hành hình Lương Nguyên Đế cùng các tôn thất nước Lương tại đây (Tiêu Phương Trí, con Nguyên Đế không có ở Giang Lăng nên thoát nạn). Trăm họ Giang Lăng hơn 1 vạn người bị Tây Ngụy chia cho tướng sĩ làm nô lệ và bị dẫn hết về Quan Trung. Khi thành Giang Lăng bị bao vây, Lương Nguyên Đế đã ra lệnh thiêu hủy 14 vạn quyển sách rất có giá trị, gây tổn thất cho kho tàng văn hóa Trung Quốc. Cục diện chính trị Giang Nam thay đổi dữ dội. Tây Ngụy đem Giang Lăng thành không nhà trống này giao cho Tiêu Sát coi giữ, sau đó Tiêu Sát thành lập nước Hậu Lương, tức Lương Tuyên Đế, đóng đô ở Giang Lăng, thần phục nhà Tây Ngụy, tồn tại cho đến năm 587. == Trần Bá Tiên nắm quyền, kết thúc triều Lương == Vương Tăng Biện và Trường Thành hầu Trần Bá Tiên (503 – 559, Thứ sử Giang Châu) là thông gia, không công nhận Tiêu Sát, ở Kiến Khang phò con thứ 9 của Tiêu Dịch là Tân An Vương Tiêu Phương Trí mới 11 tuổi làm vua, đó là Lương Kính Đế. Các nước Tây Ngụy, Bắc Tề không ngừng cho quân đưa tông thất nhà Lương về nước, âm mưu tranh giành ảnh hưởng tại đây. Tây Ngụy đưa Tiêu Sát lên làm vua Hậu Lương nhưng không được các tướng nhà Lương ủng hộ. Lúc này ở phía bắc, Văn Tuyên Đế nhà Bắc Tề phái Thượng Đảng vương Cao Hoàn đưa Trinh Dương hầu Tiêu Uyên Minh về nước lập làm vua. Vương Tăng Biện lúc đầu không chấp nhận việc này, nhưng sau vài trận chiến với Bắc Tề thì thay đổi thái độ và đồng ý việc này với điều kiện Tiêu Uyên Minh phải lập Tiêu Phương Trí làm Thái tử. Mùa hè năm 555, Tiêu Uyên Minh về đến Kiến Khang lên ngôi vua, lập Tiêu Phương Trí làm Thái tử. Vương Tăng Biện và Trần Bá Tiên nắm quyền quân chính. Tuy nhiên Trần Bá Tiên không hài lòng, cho rằng Tiêu Uyên Minh không xứng đáng lên ngôi. Trần Bá Tiên phản đối chấp nhận sự áp đặt của Bắc Tề, nên thành ra mâu thuẫn với Vương Tăng Biện. Mùa thu năm 555, nhận được tin báo Bắc Tề chuẩn bị tấn công, Vương Tăng Biện báo tin cho Trần Bá Tiên biết. Trần Bá Tiên tập trung lực lượng bất ngờ tấn công Vương Tăng Biện. Tháng 9 năm 557, Trần Bá Tiên đánh bại Vương Tăng Biện cấu kết với quân Bắc Tề, sai Hầu An Đô tập kích và bắt sống Vương Tăng Biện ở Thạch Đầu thành, Tăng Biện tự thắt cổ chết. Trần Bá Tiên phế truất Tiêu Uyên Minh và lập Tiêu Phương Trí lên ngôi, tức Lương Kính Đế. Kính Đế phong cho Tiêu Uyên Minh làm Tể tướng, tước Kiến An Công. Trần Bá Tiên được phong Thượng thư lệnh, Đô đốc kiêm Thứ sử Nam Từ và Dương Châu. Ngay lập tức Trần Bá Tiên phải đối mặt với các thế lực quân sự khác được Bắc Tề trợ giúp. Vua Bắc Tề nghe tin con bài Tiêu Uyên Minh bị phế, bèn mang quân đánh Lương, tới Thung Sơn (Tử Kim Sơn, Nam Kinh). Con rể Vương Tăng Biện là Đỗ Kham làm Thái thú quận Ngô Hưng cùng em Tăng Biện là Vương Tăng Trí làm Thái thú Ngô Quận nhân thời cơ cũng hưởng ứng Bắc Tề. Trần Bá Tiên kiên cường chống trả. Gặp lúc nước Lương bị lụt to, ông được các bô lão Giang Nam ủng hộ lương thực, đã đánh bại quân Bắc Tề, tiêu diệt Đỗ Kham và Vương Tăng Trí. Sau chiến thắng đó, uy tín Trần Bá Tiên rất cao. Mặc dù đẩy lui được các thế lực đối nghịch song Trần Bá Tiên vẫn phải gửi một số con tin sang Bắc Tề như Trần Đàm Lãng, Vĩnh Gia vương Tiêu Trang (cháu Nguyên Đế), sau đó quân Bắc Tề mới rút lui. Trong những cuộc thương thuyết hòa bình giữa Trần Bá Tiên với Bắc Tề, Tiêu Uyên Minh đã bị giết hại. Thế lực của Trần Bá Tiên ngày càng lớn, được phong Trường Thành Công, Gia Định Công, Trần Công rồi Trần Vương. Năm 557, Thứ sử Quảng Châu Tiêu Bột tiến quân đánh Trần Bá Tiên, nhưng bị Chu Văn Dục đánh bại, Tiêu Bột bị bộ hạ làm phản giết chết. Khi đó, thứ sử Tương Châu Vương Lâm là bộ hạ cũ của Vương Tăng Biện, lại có chị em gái đều là sủng phi của Lương Nguyên Đế, chiếm cứ Tương Châu, Trình Châu cũng chống lại Trần Bá Tiên, đề nghị Bắc Tề giúp đỡ. Bắc Tề thù hận Trần Bá Tiên, theo lời cầu viện Vương Lâm, lấy danh nghĩa giúp cháu Lương Nguyên Đế (Tiêu Dịch) là Vĩnh Gia vương Tiêu Trang về làm vua ở Dĩnh Châu. Vương Lâm lập Tiêu Trang làm vua ở Trình Châu (Đông Hồ Bắc). Trần Bá Tiên phái quân đón đánh, nhưng thất bại, chủ tướng Hầu An Đô, Chu Văn Dục đều bị Vương Lâm bắt sống (sau đó cả hai đều trốn thoát mà về được). Mùa đông năm 557, Trần Bá Tiên phế truất Lương Kính Đế rồi tự lập làm vua, tức Trần Vũ Đế, giáng Kính Đế làm Giang Âm Vương, kết thúc triều Lương. == Các vị hoàng đế == === Nhà Lương (502-557) === === Hậu Lương 555-587 === == Đọc thêm == Lương thư Nam sử Tư trị thông giám Chu thư Bắc sử == Tham khảo == == Chú thích ==
đại tá.txt
Đại tá là quân hàm sĩ quan cao cấp dưới cấp tướng trong lực lượng vũ trang các quốc gia. Đại tá trong Lục quân và Không quân Mỹ, Pháp và Lục quân Anh là Colonel, ở trên Trung tá và dưới Chuẩn tướng; trong Lục quân Nga là полковник, ở trên Trung tá và dưới Thiếu tướng. Đại tá hải quân ở nhiều nước có tên gọi riêng không trùng với tên gọi Đại tá lục quân nên dễ gây nhầm lẫn, ví dụ: Captain (Anh, Mỹ), Capitain de vaisseau (Pháp, có 5 vạch), капитан 1-го ранга (Nga, có 3 sao, 2 vạch). Đại tá không quân Anh là Group Captain. Việt Nam thời thuộc Pháp thường gọi Đại tá hoặc Trung tá Quân đội Pháp một cách nôm na là quan năm, vì quân hàm đều có 5 vạch (còn gọi là lon, gốc từ chữ galon trong tiếng Pháp). Quan năm đại tá có năm vạch cùng màu nên còn được gọi là quan năm lon vàng, còn quan năm trung tá có 2 vạch khác màu nên còn gọi là quan năm khoanh trắng. Hệ thống này có thể khác đôi chút ở các quốc gia khác. == Quân đội Nhân dân Việt Nam == Theo Luật sĩ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam (1999) thì Đại tá là bậc quân hàm cao nhất của quân nhân giữ chức vụ Sư đoàn trưởng, Tỉnh đội trưởng và tương đương, do Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ký quyết định phong. Một số Đại tá tiêu biểu: Hà Văn Lâu Lê Hữu Thúy, tình báo Mai Văn Vĩnh Bùi Tín, người bất đồng chính kiến Nguyễn Thành Trung, người ném bom Dinh Độc Lập Phạm Ngọc Thảo, Đặng Tính, Chính uỷ Binh đoàn Trường Sơn Hoàng Xuân Vinh, xạ thủ, người mang về tấm huy chương vàng đầu tiên cho Việt Nam tại Thế vận hội Mùa hè 2016 Trong hệ thống quân hàm Quân đội Nhân dân Việt Nam, các quân hàm sĩ quan dưới cấp Đại tá gồm: Thượng tá. Thượng tá thường đảm nhiệm các chức vụ từ Trung đoàn trưởng đến Sư đoàn trưởng. Trung tá. Trung tá thường đảm nhiệm các chức vụ Trung đoàn phó hoặc Trung đoàn trưởng. Thiếu tá. Thiếu tá thường đảm nhiệm các chức vụ từ Tiểu đoàn trưởng đến Trung đoàn trưởng. Đại úy. Đại úy thường đảm nhiệm các chức vụ từ Đại đội trưởng đến Tiểu đoàn trưởng. Thượng úy. Thượng úy thường đảm nhiệm các chức vụ Đại đội phó hoặc Đại đội trưởng. Trung úy. Trung úy thường đảm nhiệm các chức vụ từ Trung đội trưởng đến Đại đội trưởng. Thiếu úy. Thiếu úy thường đảm nhiệm chức vụ Trung đội trưởng. Chuẩn úy. Chuẩn úy trước năm 1981 thường đảm nhiệm chức vụ Trung đội phó hoặc Trung đội trưởng. Hiện nay là sĩ quan chuyên nghiệp. == Công an Nhân dân Việt Nam == Trong Công an Nhân dân Việt Nam, Đại tá thường đảm nhiệm các chức vụ từ Giám đốc Công an tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (trừ Hà Nội, Tp.HCM), Vụ trưởng, Cục trưởng đến Phó Giám đốc Công an thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Tư lệnh cảnh vệ. == Quân lực Việt Nam Cộng hòa (1955–1975) == Trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa năm 1964, cấp Đại tá thường đảm nhiệm các chức vụ Sư đoàn trưởng hoặc Sư đoàn phó, có khi là Tư lệnh Quân đoàn hay binh chủng, được xếp vào hàng sĩ quan cao cấp, dưới cấp Thiếu tướng & trên cấp Trung tá. Từ sau cuộc chỉnh lý của tướng Nguyễn Khánh năm 1964, quân hàm Chuẩn tướng hay còn gọi là tướng một sao được đặt ra để phong cho một số Đại tá có công trong các cuộc đảo chính, bấy giờ cấp Đại tá mới xếp sau cấp Chuẩn tướng. Một số Đại tá tiêu biểu: Hồ Tấn Quyền, Tư lệnh Hải quân (tháng 8, 1959 – 1 tháng 11 năm 1963) Hồ Ngọc Cẩn, Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng tỉnh Chương Thiện Bùi Dzinh, Tư lệnh Sư đoàn 9 bộ binh. (1 tháng 1 năm 1962 – 07 tháng 11 năm 1963) Nguyễn Xuân Vinh, Tư lệnh Không Quân (1958–1962) == Xem thêm == Quân hàm Thiếu tướng Chuẩn tướng Thượng tá Đại tá Gaddafi == Tham khảo ==
isambard kingdom brunel.txt
Isambard Kingdom Brunel (9 tháng 4 năm 1806 - 15 tháng 9 năm 1859) là nhà kỹ sư, công trình sư nổi tiếng người Anh. Ông được biết đến như người sáng lập tuyến đường sắt Great Western, thiết kế đường hầm vượt sông đầu tiên và là người chế tạo con tàu thủy hơi nước đầu tiên có chân vịt. Ông còn thiết kế nhiều cầu và đường hầm mang tính cách mạng, làm thay đổi bộ mặt kỹ nghệ xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải hiện đại. Sự nghiệp của ông tuy ngắn ngủi nhưng ông đã đóng góp nhiều phát kiến công nghệ đột phá, giải quyết nhiều vấn đề thi công nan giải. == Công trình tiêu biểu == === Cầu đường === Đường hầm sông Thames - đường hầm qua sông đầu tiên trên thế giới. Cầu Maidenhead, cầu gạch có nhịp dài nhất lúc bấy giờ. Cầu treo Clifton tại Bristol. Cầu Royal Albert. Cầu Hungerford. Cầu cạn Wharncliffe. Đường sắt Great Western. Đường sắt Cornwall Nhà ga Paddington Nhà ga Bristol Mead Temple. Nhà ga Bath Spa. Đường hầm sông Thames. Đường sắt sử dụng hơi nén. === Tàu thủy === Tàu SS Great Britain, tàu thép đầu tiên sử dụng chân vịt, cũng là tàu lớn nhất thế giới lúc được hạ thủy. Tàu SS Great Eastern, kéo cáp ngầm điện tín đầu tiên qua Đại Tây Dương vào năm 1865. Tàu SS Great Western, tàu hơi nước vượt Đại Tây Dương đầu tiên. == Tham khảo ==
ngày của cha.txt
Ngày Của Cha là một ngày lễ được dùng để tôn vinh những người làm cha, tôn vinh cương vị làm cha, mối quan hệ với người cha và ảnh hưởng của người cha trong xã hội. Ngày này được kỷ niệm vào ngày Chủ nhật thứ ba của tháng 6 tại nhiều quốc gia và có thể rơi vào những ngày khác ở một số nơi khác. Ngày này bổ sung cho Ngày của Mẹ - lễ tôn vinh các bà mẹ. Ngoài Ngày của Cha, còn có Ngày Quốc tế Nam giới được tổ chức tại nhiều quốc gia vào ngày 19 tháng 11 để dành cho những người đàn ông con trai không phải (hoặc chưa phải) là cha. == Lịch sử == Ngày Của Cha được ăn mừng phổ biến từ những năm đầu thế kỷ 20 để bổ sung cho Ngày của Mẹ trong những ngày lễ tôn vinh những bậc làm cha mẹ. Ngày của Cha được cử hành vào nhiều ngày khác nhau trên toàn thế giới và thường liên quan đến việc tặng quà, bữa ăn tối đặc biệt cho cha, mẹ, và các hoạt động mang tính gia đình. Việc ăn mừng Ngày của Cha sớm nhất được biết đến diễn ra ở Fairmont, Tây Virginia vào ngày 5 tháng 7 năm 1908. Sự kiện được bà Grace Golden Clayton tổ chức, với mong muốn vinh danh cuộc đời của 361 người tử nạn trong tai nạn hầm mỏ của Thảm họa Hầm mỏ Monongah ở Monongah, Tây Virginia, vào ngày 06 tháng 12 năm 1907 vài tháng trước, trong số đó có 250 người là cha bị tử thương, để lại khoảng một nghìn trẻ em mồ côi. Có thể Clayton chịu ảnh hưởng bởi việc kỷ niệm Ngày của Mẹ lần đầu tiên trong năm đó, và chỉ cách đó một vài dặm. Clayton đã chọn ngày Chủ nhật gần nhất so với ngày sinh của người cha vừa mới qua đời của bà. Ngày lễ này hiện được tổ chức hàng năm tại nhà thờ Tin Lành Giám Lý Williams Memorial Methodist Episcopal Church và Fairmont nay được đề cử là "Quê hương Ngày của Cha đầu tiên". Tuy nhiên lúc đó, sự kiện này bị lu mờ bởi các sự kiện khác trong thành phố. Tiểu bang Tây Virginia không chính thức công nhận ngày lễ này, và nó không được tổ chức trở lại. Hai năm sau, cô gái Sonora Dodd tại Spokane, Washington đề xuất lễ kỷ niệm ngày của cha vào năm 1909 và được tổ chức lần đầu tiên vào ngày 19 tháng 6 năm 1910 tại trụ sở Hiệp hội Thanh niên Cơ Đốc (YMCA), trước hết nhằm tôn vinh người cha mình là một nông dân và cựu quân nhân trong cuộc nội chiến Hoa Kỳ, người đã một minh nuôi dưỡng 6 người con sau khi vợ ông mất sớm. Sau đó, nhiều người tại nhiều nơi khác cũng có sáng kiến tạo 1 ngày để vinh danh người cha. Một dự luật công nhận Ngày của Cha là ngày lễ quốc gia được đưa lên trình Quốc hội Hoa Kỳ vào năm 1913. Năm 1916, Tổng thống Woodrow Wilson đến Spokane để nói chuyện trong lễ kỷ niệm Ngày của Cha và muốn công nhận nó chính thức, nhưng Quốc hội đã phản đối, vì sợ rằng nó sẽ bị thương mại hóa. Tổng thống Mỹ Calvin Coolidge đề nghị vào năm 1924 rằng nên đưa Ngày của Cha vào diện ngày được kỷ niệm toàn quốc, nhưng chưa phát hành một công bố quốc gia. Năm 1957, Thượng nghị sĩ Margaret Chase Smith viết một kiến nghị buộc tội Quốc hội đã bỏ phớt lờ Ngày của Cha suốt 40 năm, trong khi tôn vinh các bà mẹ, do đó "chỉ tôn vinh 1 trong 2 phụ huynh của chúng ta". Năm 1966, Tổng thống Lyndon B. Johnson đã ban hành công bố tổng thống đầu tiên tôn vinh những người cha, và chỉ định dành ngày Chủ nhật thứ ba trong tháng 6 làm Ngày của Cha. Sáu năm sau, ngày này đã được chính thức trở thành ngày nghỉ lễ trên toàn quốc ở Mỹ sau khi Tổng thống Richard Nixon ký luật vào năm 1972. == Ngày của Cha ở các quốc gia == Những nơi có ăn mừng Ngày của Cha là: thế giới Arab, Argentina, Úc, Brazil, Canada, Costa Rica, Đan Mạch, Đức, Hồng Kông, Ireland, Pakistan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Seychelles, Nepal, New Zealand, Philippines, Romania, Singapore, Tây Ban Nha, Đài Loan, Vương quốc Anh, Mỹ... Ngoài ra, Ngày của Cha còn được nhắc đến trong văn hóa Thiên Chúa giáo, với việc ăn mừng chung với ngày lễ Thánh Giuse. Ngày Chủ nhật thứ ba của tháng 6 là Ngày của Cha tại nhiều quốc gia như Hoa Kỳ, Vương quốc Liên hiệp Anh, Canada, Ấn Độ, Argentina, Hungary, Nam Phi, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Pháp, Philippines, Singapore, Slovakia,... Ở Việt Nam, ngày này chưa được phổ biến rộng, cũng có một vài gia đình tổ chức ngày này để tôn vinh các người cha. Tại Đức, Ngày của Cha (Vatertag) được tổ chức một cách khác với các nơi khác trên thế giới, và luôn luôn tổ chức vào Lễ Thăng Thiên (ngày thứ 40 sau lễ Phục Sinh), và là một ngày lễ liên bang, còn được gọi là Ngày của đàn ông (Männertag) hoặc Ngày quý ông (Herrentag). Theo truyền thống, các nhóm nam giới (già và trẻ, nhưng thường không bao gồm con trai trước tuổi teen) để làm một tour đi bộ đường dài với một toa xe nhỏ gọi là Bollerwagen, kéo bằng sức người. Trong toa xe là rượu hoặc bia (theo vùng) và thực phẩm truyền thống của vùng (Hausmannskost). Nhiều người đàn ông sử dụng lễ này như một cơ hội để có được dịp say xỉn. Theo Văn phòng thống kê Liên bang Đức, tai nạn giao thông liên quan đến rượu tăng gấp 3 vào ngày này. Truyền thống của việc say rượu là đặc biệt phổ biến ở Đông Đức. Tại Ý, Ngày của cha ("Festa del Papa"), tổ chức vào ngày lễ Thánh Giuse (19 tháng 3) theo truyền thống Công giáo, như là một kỳ nghỉ của gia đình. Các trẻ nhỏ thực hiện hoặc mua những món quà nhỏ cho người cha, học thuộc những bài thơ hay là thực hiện những vở kịch nhỏ ở trường mẫu giáo và trường học. Các quốc gia Bỉ, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Bolivia, Croatia, Honduras, Thụy Sĩ (một phần), Liechtenstein cũng kỷ niệm Ngày của Cha vào ngày 19 tháng 3. Tại Hoa Kỳ, thông thường, các gia đình tụ tập để kỷ niệm vai trò của người cha trong cuộc sống của họ. Trong những năm gần đây, các nhà bán lẻ đã thích nghi với ngày lễ bằng cách thúc đẩy thiệp chúc mừng và quà tặng truyền thống nam tính như thiết bị điện tử và công cụ của thợ sửa chữa. Trường học và các chương trình trẻ em khác thường có các hoạt động để làm quà tặng Ngày của Cha. Vào ngày này, nam giới thường tổ chức các sinh hoạt thể thao hay là cắm trại ngoài trời. Tại Thái Lan, Ngày của Cha được thiết lập theo ngày sinh nhật của nhà vua, ngày 05 tháng 12 là ngày sinh của vua hiện tại, Bhumibol Adulyadej (Rama IX). Theo truyền thống, người Thái ăn mừng bằng cách tặng cha hay ông nội của họ một hoa Canna (ดอก พุทธรักษา) thuộc Chi Dong riềng, được coi là một bông hoa nam tính, tuy nhiên, đây không phải là điều thường được thực hiện ngày hôm nay. Người Thái sẽ mặc màu vàng vào ngày này để tôn trọng nhà vua, bởi vì màu vàng là màu của ngày Thứ Hai, ngày vua Bhumibol Adulyadej ra đời. Tại Trung Quốc, vào thời kỳ Trung Hoa Dân Quốc (1912-1949), ngày của cha được tổ chức vào ngày 8 tháng 8, số 8 trong tiếng Hoa đọc âm gần giống như "ba" (tiếng Trung: 八; bính âm: bā), và hai số tám đọc thành ba-ba (tiếng Trung: 爸爸; bính âm: bàba), âm thanh tương tự như các từ ngữ thông tục cho "cha" (ba-ba, 爸爸). Ngày nay vẫn được tổ chức trong khu vực vẫn còn dưới sự kiểm soát của Trung Hoa Dân Quốc, bao gồm cả ở Đài Loan. Tại Úc, New Zealand, Papua New Guinea là ngày Chủ nhật đầu tiên trong tháng 9. Tại Ai Cập, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Li-băng, Uganda, Syria, Jordan là ngày 21 tháng 6. Trong truyền thống Công giáo La Mã, ngày của cha được cử hành vào ngày lễ Thánh Giuse, 19 tháng 3, mặc dù ở một số quốc gia, Ngày của Cha đã dần trở thành một ngày lễ kỷ niệm thế tục. Ngày này cũng được phổ biến cho người Công giáo để tôn vinh "người cha tinh thần", thường là linh mục giáo xứ của họ. == Tham khảo == === Nguồn === Myers, Robert J.; the editors of Hallmark Cards (1972). Celebrations: The Complete Book of American Holidays. Doubleday & Company. tr. 184–187. ISBN 0-385-07677-0. Schmidt, Leigh Eric (1997). Consumer Rites: The Buying and Selling of American Holidays. Princeton University Press. tr. 275–292. ISBN 0-691-01721-2. Larossa, Ralph (1997). The Modernization of Fatherhood: A Social and Political History. University of Chicago Press. tr. 90, 170–192. ISBN 0-226-46904-2. == Liên kết ngoài ==
nguyễn đình thi.txt
Nguyễn Đình Thi (1924–2003) là một nhà văn và nhạc sĩ Việt Nam thời hiện đại. == Tiểu sử == Ông sinh ngày 20 tháng 12 năm 1924 ở Luông Pra Băng (Lào). Tuy nhiên, nguyên quán của ông là ở làng Vũ Thạch, hiện nay là phố Bà Triệu thuộc địa phận phường Tràng Tiền, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Cha ông là một viên chức Sở bưu điện Đông Dương, từng sang làm việc ở Lào. Những năm 1940 ông tham gia Tổ Văn hóa Cứu quốc. Năm 1945 ông tham dự Hội nghị Quốc dân Tân Trào, sau đó được bầu làm Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa 1. Sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Đình Thi làm Tổng thư ký Hội Văn hóa cứu quốc. Ông thuộc thế hệ các nghệ sĩ trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp. Ông viết sách khảo luận triết học, viết văn, làm thơ, soạn nhạc, soạn kịch, viết lý luận phê bình. Ông được nhà nước phong tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật đợt I năm 1996. Sau năm 1954 ông tham gia công tác quản lý văn học nghệ thuật. Từ năm 1958 đến năm 1989 làm Tổng Thư ký Hội nhà văn Việt Nam. Từ năm 1995, ông là Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật. Ông mất ngày 18 tháng 4 năm 2003 tại Hà Nội. == Tác phẩm == === Truyện === Xung kích (1951) Bên bờ sông Lô (tập truyện ngắn, 1957) Vào lửa (1966) Mặt trận trên cao (1967) Vỡ bờ (tập I năm 1962, tập II năm 1970) === Tiểu luận === Mấy vấn đề văn học (1956) Công việc của người viết tiểu thuyết (1964) === Thơ === Người chiến sĩ (1958) Bài thơ Hắc Hải (1958) Dòng sông trong xanh (1974) Tia nắng (1985) Đất nước (1948 - 1955). (Đã được nhạc sĩ Đặng Hữu Phúc phổ thành bản Giao Hưởng - Hợp xướng cùng tên "Đất nước" Biểu diễn lần đầu tiên tại Nhà hát lớn Hà nội ngày 1 tháng 9/2009, Do chính Đặng Hữu Phúc chỉ huy Dàn nhạc - Hợp xướng Nhà hát Nhạc vũ kịch VN) === Kịch === Con nai đen Hoa và Ngần Giấc mơ Rừng trúc Nguyễn Trãi ở Đông Quan Tiếng sóng === Nhạc === Người Hà Nội (1947) Diệt phát xít == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Nguyễn Đình Thi - người nghệ sĩ đa tài Sáu mươi năm vang vọng một bài ca
hollywood.txt
Hollywood là một khu của thành phố Los Angeles, California, Hoa Kỳ, nằm về phía tây bắc của thành phố này. Được biết đến như một trung tâm lịch sử điện ảnh, Hollywood đại diện cho ngành giải trí và điện ảnh của Hoa Kỳ. Ngày nay, những ngành phục vụ cho công nghiệp điện ảnh của nước này cũng được mở rộng ra những vùng lân cận như Burbank và Westside, nhưng những ngành quan trọng như biên tập, kỹ xảo, hậu sản xuất và ánh sáng trong phim ảnh vẫn được duy trì tại Hollywood. == Lịch sử == Trong thập niên 1880, Henderson Wilcox, một người Mỹ ở Kansas bị liệt hai chân do một cơn sốt thương hàn, đã cùng với vợ mình là bà Daeida quyết định chuyển nhà từ Topeka đến Los Angeles. Vào năm 1886, Wilcox mua 0,6 km² đất ở vùng nông thôn phía tây thành phố trên dãy núi Passe de Cahuenga. Chính Daeida Wilcox là người đã chọn tên cho vùng đất mà họ sở hữu, Hollywood. Cái tên mà bà tham khảo từ một vùng đất của những người di dân Đức mà bà từng có dịp đến thăm ở Ohio trong chuyến đi xuyên miền Đông. Cách phát âm của cái tên làm bà hài lòng và bà còn gọi đó là the ranch. Một thời gian sau, Harvey Wilcox bắt tay vào vẽ bản đồ của thành phố và hoàn thành với sự phê chuẩn của chính quyền vào ngày 1 tháng 2 năm 1887. Đây cũng là lần đầu tiên cái tên Hollywood xuất hiện một cách chính thức. Cùng với vợ mình cũng là người cố vấn, Harvey Wilcox đã vẽ nên Prospect Avenue (ngày nay là Hollywood Boulevard) như con đường chính của thành phố. Và cũng bắt đầu tiến hành bán đất theo lô. Cũng trong thời gian này Daeida đã cho lấp các vực nước sâu trong thành phố để xây dựng hai nhà thờ, một trường học và một thư viện. Những người nhà Wilcox cũng đã mang đến một số cây nhựa ruồi Anh (English holly) để trồng nhằm tạo sự hợp lý cho tên của thành phố nhưng do khác biệt khí hậu mà giống cây này đã không thể nào sống được và dự án này đành bở dở. Vào năm 1900, Hollywood đã có thêm một bưu điện, tờ báo của riêng mình, một khách sạn và hai chợ nhằm phục vụ cho một cộng đồng gần 500 người. Los Angeles, trong thời gian này có dân số khoảng 100.000 người nằm cách Hollywood 11 km về phía Đông. Và hai thành phố này bị chia cắt bởi những cultures d'agrumes. Chỉ có một đường tàu điện duy nhất đi từ Prospect Avenue đến Los Angeles nhưng sự phục vụ lại không ổn định và kéo dài đến 2 tiếng đồng hồ. Chính tình hình này dẫn đến nhiều sự chuyển đổi theo hướng tốt đẹp hơn về sau. Năm 1902, chứng kiến sự ra đời của khách sạn nổi tiếng Hollywood Hotel ở cạnh phía Tây Highland Avenue và đối diện Prospect Avenue. Con đường này vào lúc này rất dơ bẩn và không có cả gạch lát nhưng về sau đã cải thiện để xe cộ có thể di chuyển được. Vào những năm tiếp theo dân số thành phố ngày càng đông hơn. Vào năm 1904, cùng với sự xuất hiện của đường tàu điện mới đã cải thiện đáng kể thời gian di chuyển từ Los Angeles đến Hollywood. Và cũng chính trong lúc này cái tên the Hollywood Boulevard đã xuất hiện và nhanh chóng trở thành phổ biến để chỉ Prospect Avenue và đoạn nối liền ở Los Angeles. Và vào năm 1910, các uỷ viên của hội đồng thành phố đã bỏ phiếu cho việc sát nhập Hollywood vào Los Angeles với mục đích chính là có thể tận dụng sự tiếp tế nước sạch cho thành phố. Chính việc này dẫn đến việc hình thành hệ thống dẫn nước Los Angeles. Và một trong những nguyên nhân khác của việc bỏ phiếu là để tiến tới tiếp xúc với hệ thống cống ngầm của Los Angeles. Chính việc sát nhập này đã làm Prospect Avenue được đổi tên thành Hollywood Boulevard và hàng loạt nhà cũng phải thay đổi số theo. == Xem thêm == Điện ảnh Mỹ == Tham khảo == The Academy Awards are held in late February/early March (since 2004) of each year, honoring the preceding year in film. Prior to 2004, they were held in late March/early April. Since 2002, the Oscars have been held at their new home at the Dolby (formerly Kodak) Theater at Hollywood Boulevard and Highland Avenue. The annual Hollywood Christmas Parade: The 2006 parade on Nov 26 was the 75th edition of the Christmas Parade. The parade goes down Hollywood Boulevard and is broadcast in the LA area on KTLA, and around the United States on Tribune-owned stations and the WGN superstation. The Hollywood Half Marathon takes place in April (since 2012) of each year, to raise funds and awareness for local youth homeless shelters. The event includes a Half Marathon, 10K, 5K, and Kids Fun Run along Hollywood Blvd. ^ [1]
beowulf.txt
Beowulf (/beɪ.ɵwʊlf/, trong tiếng Anh cổ, [beːo̯wʊlf] hay [beːəwʊlf]) là tiêu đề thông thường của một trường ca sử thi tiếng Anh bao gồm 3182 dòng thơ lặp âm dài, bối cảnh ở Scandinavia. Đây là anh hùng ca tồn tại lâu đời nhất của tiếng Anh cổ và do đó thường được trích dẫn là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của văn học Anglo-Saxon, và cũng có thể coi Beowulf là tác phẩm văn học Anh bản địa sớm nhất. Bài thơ đầy đủ còn lại trong bản thảo tên Nowell Codex đặt tại Thư viện Anh. Tác phẩm này của một nhà thơ vô danh Anglo-Saxon trong khoảng thời gian giữa thế kỷ 8 và những năm đầu thế kỷ 11. Năm 1731, bản thảo đã bị hư hỏng nặng vì một đám cháy quét qua Ashburnham House tại London, nơi lưu trữ bộ sưu tập các bản thảo thời Trung cổ do Sir Robert Bruce Cotton tổng hợp. Trong bảy thế kỷ đầu tiên, sự tồn tại của Beowulf đã không gây ấn tượng với các nhà văn và học giả: bên cạnh một đề cập ngắn gọn trong một danh sách Humfrey Wanley lập ra năm 1705, tác phẩm đã không được nghiên cứu cho đến cuối thế kỷ 18, và không được công bố toàn bộ cho đến khi Johan Bulow đã tài trợ cho bản dịch ra tiếng Latin năm 1815 của học giả Iceland-Đan Mạch Grímur Jonsson Thorkelin.Sau một cuộc tranh luận căng thẳng với Thorkelin, Bulow đồng ý tài trợ cho một bản dịch mới của NFS Grundtvig - lần này dịch ra tiếng Đan Mạch. Kết quả, Bjovulfs Drape (1820), là bản dịch ra ngôn ngữ hiện đại đầu tiên của Beowulf. Trong bài thơ, Beowulf, một anh hùng ở Geats (Scandinavia), đến trợ giúp Hroðgar, vua của Đan Mạch khi cung điện của vua (trong Heorot) bị một con quái vật tên là Grendel tấn công. Sau khi Beowulf giết chết Grendel, mẹ của Grendel tấn công cung điện và sau đó cũng bị đánh bại. Chiến thắng, Beowulf trở về quê nhà Geatland ở Thụy Điển và sau này trở thành vua của xứ này. Sau một thời gian năm mươi năm, Beowulf đánh bại một con rồng, nhưng người anh hùng cũng bị tử thương trong cuộc chiến. Sau khi ông chết, con cháu đã mai táng ông trong một gò đất ở Geatland. == Tham khảo == == Ghi chú == == Nguồn trích dẫn == Aaij, Michel (2001), “Rev. of Owen-Crocker, The Four Funerals”, South Atlantic Review 66 (4): 153–57, doi:10.2307/3202069 Aaij, Michel (2013), “Rev. of Schulman and Szarmack, Beowulf at Kalamazoo”, South Atlantic Review Abrams, M. H.; Greenblatt, Stephen biên tập (2006), Norton Anthology of English Literature (ấn bản 8), New York: W. W. Norton . Alfano, Christine (1992), “The Issue of Feminine Monstrosity: A Re-evaluation of Grendel's Mother”, Comitatus 23: 1–16 . Anderson, Sarah biên tập (2004), Introduction and historical/cultural contexts, Longman Cultural, ISBN 0-321-10720-9 . Battaglia, Frank. "The Germanic Earth Goddess in Beowulf." Mankind Quarterly 31.4 (Summer 1991): 415–46. Chadwick, Nora K. "The Monsters and Beowulf." The Anglo-Saxons: Studies in Some Aspects of Their History. Ed. Peter ed Clemoes. London: Bowes & Bowes, 1959. 171–203. Carruthers, Leo. "Rewriting Genres: Beowulf as Epic Romance", in Palimpsests and the Literary Imagination of Medieval England, eds. Leo Carruthers, Raeleen Chai-Elsholz, Tatjana Silec. New York: Palgrave, 2011. 139–55. Chance, Jane (1990), “The Structural Unity of Beowulf: The Problem of Grendel's Mother”, trong Damico, Helen; Olsen, Alexandra Hennessey, New Readings on Women in Old English Literature, Bloomington, IN: Indiana University Press, tr. 248–61 . Chickering, Howell D. (2002), “Beowulf and 'Heaneywulf': review”, Kenyon Review, new series 24 (1): 160–78 . Reprinted in Schulman, Jana K.; Szarmach, Paul E. biên tập (2012), Beowulf and Kalamazoo, Kalamazoo: Medieval Institute, tr. 305–21, ISBN 978-1-58044-152-0 . Creed, Robert P, Reconstructing the Rhythm of Beowulf . Damico, Helen (1984), Beowulf's Wealhtheow and the Valkyrie Tradition, Madison: University of Wisconsin Press . Drout, Michael. Beowulf and the Critics. Gillam, Doreen M. "The Use of the Term 'Aeglaeca' in Beowulf at Lines 893 and 2592." Studia Germanica Gandensia 3 (1961): 145–69. Greenfield, Stanley (1989), Hero and Exile, London: Hambleton Press . The Heroic Age, Issue 5. "Anthropological and Cultural Approaches to Beowulf." Summer/Autumn 2001. Horner, Shari. The Discourse of Enclosure: Representing Women in Old English Literature. New York: SUNY Press, 2001. Jensen, SR (1993), Beowulf and the Swedish Dragon, Sydney : available online. ——— (1998), Beowulf and the Monsters , Sydney : extracts available online. ——— (2004), Beowulf and the Battle-beasts of Yore, Allen, Derek illus, Sydney : available online. Kiernan, Kevin (1996), Beowulf and the Beowulf Manuscript, Ann Arbor, MI: University of Michigan, ISBN 0-472-08412-7 . Lerer, Seth (tháng 1 năm 2012), “Dragging the Monster from the Closet: Beowulf and the English Literary Tradition”, Ragazine . Lord, Albert (1960), The Singer of Tales, Cambridge, MA: Harvard University Press . Nicholson, Lewis E biên tập (1963), An Anthology of Beowulf Criticism, Notre Dame: University of Notre Dame Press, ISBN 0-268-00006-9 . North, Richard (2006), “The King's Soul: Danish Mythology in Beowulf”, Origins of Beowulf: From Vergil to Wiglaf, Oxford: Oxford University Press . Orchard, Andy (7 tháng 5 năm 2017), A Critical Companion to Beowulf, Cambridge: DS Brewer ——— (7 tháng 5 năm 2017), Pride and Prodigies: Studies in the Monsters of the Beowulf-Manuscript, Toronto: University of Toronto Press Owen-Crocker, Gale (2000). The Four Funerals in Beowulf: And the Structure of the Poem. New York: Manchester University Press. Robinson, Fred C (2001), The Cambridge Companion to Beowulf, Cambridge: Cambridge University Press, tr. 143 Schulman, Jana K.; Szarmach, Paul E. (2012), “Introduction”, trong Schulman, Jana K.; Szarmach, Paul E., Beowulf and Kalamazoo, Kalamazoo: Medieval Institute, tr. 1–11, ISBN 978-1-58044-152-0 . Stanley, E.G. "Did Beowulf Commit 'Feaxfeng' against Grendel's Mother." Notes and Queries 23 (1976): 339–40. Tolkien, John Ronald Reuel (1958), Beowulf: The Monsters and the Critics, London: Oxford University Press ——— (1983) [1958], Beowulf: The Monsters and the Critics, London: George Allen & Unwin, ISBN 0-04-809019-0 ——— (2006) [1958]. Beowulf: The Monsters and the Critics and other essays. London: Harper Collins. Trask, Richard M. "Preface to the Poems: Beowulf and Judith: Epic Companions." Beowulf and Judith: Two Heroes. Lanham, MD: University Press of America, 1998. 11–14. Waterhouse, Ruth. "Beowulf as Palimpsest", in Monster theory: reading culture, ed. Jeffrey Jerome Cohen. University of Minnesota Press, 1996. 26–39. Zumthor, Paul (1984), Englehardt, Marilyn C transl, “The Text and the Voice”, New Literary History 16 . == Liên kết ngoài == Full digital facsimile of the manuscript on the British Library's Digitised Manuscripts website Beowulf manuscript in The British Library's Online Gallery Annotated List of Beowulf Translations: The List — Arizonal Center for Medieval and Renaissance Studies online text (digitised from Elliott van Kirk Dobbie (ed.), Beowulf and Judith, Anglo-Saxon Poetic Records, 4 (New York, 1953))
nhà hát chuông vàng.txt
Nhà hát Chuông Vàng là một địa điểm dành cho sân khấu cải lương ở Hà Nội. Nhà hát được xây dựng từ thời Pháp thuộc, nằm trong khu vực trung tâm phố cổ Hà Nội. Trước đây, nó vốn là rạp Thăng Long, nơi diễn tuồng và chèo. Khoảng năm 1925, nhà hát truyển sang diễn cải lương nên mang tên Cải lương Hý Viện. Hiện nay Nhà hát Chuông vàng nằm tại 72 Hàng Bạc, Quận Hoàn Kiếm. Nhà hát có 250 ghế ngồi. Vào các tối thứ bảy và chủ nhật hàng tuần, Đoàn cải lương Hà Nội trình diễn các tiết mục dân gian và lịch sử Việt Nam. == Chú thích ==
bo mạch chủ.txt
Thuật ngữ Bo mạch chủ thường dùng nhiều nhất trong ngành công nghiệp máy tính nói chung như một từ dành riêng, mặc dù có rất nhiều thiết bị khác cũng có thể có bản mạch chính được gọi là "bo mạch chủ". Bài viết này nói đến Bo mạch chủ trong các máy tính nói chung mà chú trọng nhiều hơn là của máy tính cá nhân. Bo mạch chủ của máy tính trong tiếng Anh là motherboard hay mainboard và thường được nhiều người gọi tắt là: mobo, main. == Các thiết bị thường có mặt trên bo mạch chủ == Trong các thiết bị điện tử Bo mạch chủ là một bản mạch đóng vai trò là trung gian giao tiếp giữa các thiết bị với nhau. Một cách tổng quát, nó là mạch điện chính của một hệ thống hay thiết bị điện tử. Có rất nhiều các thiết bị gắn trên bo mạch chủ theo cách trực tiếp có mặt trên nó, thông qua các kết nối cắm vào hoặc dây dẫn liên kết, phần này trình bày sơ lược về các thiết bị đó, chi tiết về các thiết bị xin xem theo các liên kết đến bài viết cụ thể về chúng. Chipset cầu bắc cùng với chipset cầu nam sẽ quyết định sự tương thích của bo mạch chủ đối với các CPU và đôi khi là hiệu năng của bo mạch chủ. BIOS: Thiết bị vào/ra cơ sở, rất quan trọng trong mỗi bo mạch chủ, chúng chứa thiết đặt các thông số làm việc của hệ thống. BIOS có thể được liên kết hàn dán trực tiếp vào bo mạch chủ hoặc có thể được cắm trên một đế cắm để có thể tháo rời. Các linh kiện, thiết bị khác: Hầu hết còn lại là linh kiện điện tử (giống như các linh kiện điện tử trong các bo mạch điện tử thông thường). === Kết nối với bo mạch chủ === Nguồn máy tính: Không thể thiếu trong hệ thống, nguồn máy tính cung cấp năng lượng cho hệ thống và các thiết bị ngoại vi hoạt động. CPU: Thường được cắm vào bo mạch chủ thông qua các đế cắm (socket) riêng biệt tuỳ theo từng loại CPU (dùng từ "cắm" chỉ là tương đối bởi các đế cắm hiện nay sử dụng tiếp xúc) RAM: Rất quan trọng trong hệ thống máy tính, RAM được cắm trên bo mạch chủ thông qua các khe cắm riêng cho từng thể loại. Bo mạch đồ hoạ: Sử dụng tăng tốc đồ hoạ máy tính, một số bo mạch chủ có thể không sử dụng đến bo mạch đồ hoạ bởi chúng được tích hợp sẵn trên bo mạch chủ. Bo mạch âm thanh: Mở rộng các tính năng âm thanh trên máy tính, một số bo mạch chủ đã được tích hợp sẵn bo mạch âm thanh. Ổ cứng: Không thể thiếu trong hệ thống máy tính cá nhân. Một số máy tính tuân theo chuẩn PC nhưng sử dụng trong công nghiệp có thể không sử dụng đến ổ cứng truyền thống, chúng được sử dụng các loại ổ flash. Ổ CD, ổ DVD: Các ổ đĩa quang. Ổ đĩa mềm: Hiện nay các máy tính cá nhân thường không cần thiết đến chúng, tuy nhiên trong một số hệ thống cũ ổ đĩa mềm vẫn tồn tại thường dùng để sao lưu hay nâng cấp BIOS. Màn hình máy tính: Phục vụ giao tiếp giữa máy tính với người sử dụng. Bàn phím máy tính: Sử dụng nhập dữ liệu và làm việc với máy tính. Chuột (máy tính): Phục vụ điều khiển và làm việc với máy tính. Bo mạch mạng: Sử dụng kết nối với mạng. Bo mạch mạng có thể được tích hợp sẵn trên bo mạch chủ hoặc được cắm vào các khe PCI hoặc ISA (với các hệ thống máy tính cũ trước kia). Modem: Sử dụng kết nối với Internet hoặc một máy tính từ xa. Loa máy tính: Xuất âm thanh ra loa máy tính; Thiết bị này kết nối trực tiếp với các bo mạch chủ được tích hợp bo mạch âm thanh trên nó. Trong trường hợp khác nó kết nối thông qua giao tiếp USB hoặc bo mạch âm thanh rời. Webcam: Sử dụng cho tán ngẫu trực tuyến, hội họp trực tuyến... Máy in: Dùng trích xuất văn bản, hình ảnh ra giấy. Máy quét: Sử dụng số hoá các bức ảnh hoặc văn bản. === Thiết bị khác liên quan === Vỏ máy tính là thiết bị mà bo mạch chủ cần lắp đặt trong nó cùng với các thiết bị khác (ở trên) cấu thành nên một máy tính hoàn chỉnh. Tuy nhiên đôi khi một số overlocker có thể không cần sử dụng đến thiết bị này nhằm tạo ra hệ thống máy tính dễ dàng cho việc tháo lắp, thay đổi và thuận tiện cho việc làm mát các thiết bị của họ. == Cấu trúc bo mạch chủ == === Cấu trúc sử dụng CPU của hãng Intel === Cấu trúc bo mạch chủ sơ lược giải nghĩa như sau: CPU kết nối với Chipset cầu bắc (North Bridge), tại đây chipset cầu bắc giao tiếp với RAM và bo mạch đồ hoạ. Nói chung, cấu trúc máy tính cá nhân dùng bộ xử lý Intel đến thời điểm năm 2007 CPU sử dụng RAM thông qua chipset cầu bắc. Chipset cầu bắc được nối với chipset cầu nam thông qua bus nội bộ. Do tính chất làm việc "nặng nhọc" của chipset cầu bắc nên chúng thường toả nhiều nhiệt, bo mạch chủ thường có các tản nhiệt cho chúng bằng các hình thức khác nhau. Chipset cầu nam nối với các bộ phận còn lại, bao gồm các thiết bị có tính năng nhập/xuất (I/O) của máy tính bao gồm: các khe mở rộng bằng bus PCI, ổ cứng, ổ quang, USB, Ethernet... === Cấu trúc sử dụng CPU của hãng AMD === Về cơ bản, cấu trúc bo mạch chủ sử dụng CPU của hãng AMD giống như cấu trúc của bo mạch chủ sử dụng CPU của hãng Intel. AMD cũng như nhiều hãng khác đều chưa đưa ra định hướng riêng của mình mà phải theo cấu trúc của Intel bởi sự phát triển của máy tính cá nhân ngay từ thời điểm sơ khai đã phát triển theo cấu trúc nền tảng của các hãng IBM - Intel. Phần này chỉ nói ra những sự khác biệt nhỏ trong cấu trúc bo mạch chủ sử dụng CPU của AMD so với bo mạch chủ sử dụng CPU của hãng Intel: về một số cấu trúc bo mạch chủ cho bộ xử lý AMD có thể cho phép CPU giao tiếp trực tiếp với RAM mà điều này cải thiện đáng kể sự "thắt cổ chai" thường thấy ở cấu trúc bo mạch chủ sử dụng CPU của hãng Intel. Với thế hệ chipset X58/P5x/H5x, Intel đã giảm tải cho chíp cầu bắc bằng việc chuyển các bus giao tiếp với Ram và VGA lên CPU quản lý. == Cấu tạo bản mạch in của bo mạch chủ == Bản mạch in của bo mạch chủ có cấu tạo khác biệt một chút so với các bản mạch in của các thiết bị điện tử thường thấy khác. Đa số các bản mạch in ở các mạch điện đơn giản đều có cấu tạo hai mặt (mặt trước và mặt sau) để chứa các đường dẫn trên nó. Do có rất nhiều các đường dẫn hoạt động với tần số khác nhau nên (theo quy tắc chung) bản mạch phải được thiết kế với các đường dẫn không gây nhiễu sang nhau, đây là một điểm khác biệt khiến việc thiết kế bản mạch của bo mạch chủ khác với các bo mạch thông thường. Ở bo mạch chủ, do chứa nhiều linh kiện với các đường dẫn lớn nên chúng được thiết kế từ 3 đến 5 lớp (thậm chí nhiều hơn): Ngoài hai lớp mặt trước và mặt sau thì ở giữa của bo mạch cũng có các đường dẫn. Ngoài tác dụng để cắm và dán các linh kiện trên bề mặt nó, bo mạch chủ còn được thiết kế để truyền một phần nhiệt từ các thiết bị toả nhiệt trên nó và truyền nhiệt ra một diện tích rộng để được làm mát bằng không khí. ASUS là một hãng phần cứng của Đài Loan thường rất thành công trong việc thiết kế tản nhiệt ra bản mạch của bo mạch chủ. == Tản nhiệt trên bo mạch chủ == Do có nhiều linh kiện có thể phát nhiệt tại trực tiếp hoặc được cắm, gắn trên bo mạch chủ nên vấn đế tản nhiệt rất được coi trọng trong thiết kế. Phương thức tản nhiệt thường thấy trên bo mạch chủ bao gồm: Sử dụng các tấm, phiến tản nhiệt bằng nhôm hoặc đồng độc lập với cách truyền nhiệt tự nhiên ra môi trường xung quanh hoặc tận dụng luồng gió từ quạt CPU thổi ra. Sử dụng quạt tạo sự tản nhiệt cưỡng bức, tuy nhiên cách dùng quạt hiện nay dần ít được dùng bởi sự rủi ro có thể xảy đến khi bo mạch chủ được sử dụng sau vài năm và quạt có thể bị hư hỏng dẫn đến thiết bị được tản nhiệt bằng quạt này sẽ bị hư hỏng. Sử dụng công nghệ ống truyền nhiệt để liên kết các cụm chi tiết cần tản nhiệt với nhau. Các cụm được gắn kết với nhau thường là: Chipset cầu bắc-Chipset cầu nam-Transistor điều tiết điện năng cho CPU và bo mạch chủ. Cho phép sự tản nhiệt bằng nước với các hệ thống tản nhiệt nước gắn ngoài bằng cách thiết kế các đầu cắm ống nước chờ sẵn. Các thiết bị cần tản nhiệt trên bo mạch chủ: Chipset cầu bắc là thiết bị mà bất kỳ bo mạch chủ nào cũng phải tản nhiệt cho nó bởi sự phát nhiệt lớn tỏa ra bởi chúng là cầu nối quan trọng của hệ thống và làm việc liên tục. Nhiều bo mạch chủ tích hợp sẵn bo mạch đồ hoạ trong chipset cầu bắc khiến chúng càng toả nhiệt nhiều hơn. Chipset cầu nam mới được coi trọng sự tản nhiệt trong thời gian gần đây (trước đây chúng thường được để trần mà không được gắn bất kỳ một tấm tản nhiệt nào) bởi các tính năng và thiết năng mở rộng có thể làm nó hoạt động mạnh hơn và phát nhiệt nhiều hơn. Các transistor trường cho phần điều chế nguồn của bo mạch chủ và CPU: Nhiều bo mạch chủ thiết kế áp mặt lưng của các transistor này xuống trực tiếp bo mạch để tản nhiệt ra bo mạch, một số bo mạch chủ thiết kế các tấm phiến tản nhiệt riêng, số ít các bo mạch chủ cao cấp thiết kế ống truyền nhiệt liên kết chúng với các thiết bị tản nhiệt khác. == Thiết kế riêng của các nhà sản xuất phần cứng == Các nhà sản xuất phần cứng luôn tạo ra các sự thay đổi trong thiết kế cấu trúc của bo mạch chủ nên mỗi hãng khác nhau sẽ tạo ra một sự thay đổi nào đó so với các kiến trúc thông thường để hướng sự chú ý của khách hàng. Chính điều đó đã thúc đẩy công nghệ phát triển, tạo ra sự phát triển không ngừng. Sự thay đổi thiết kế có thể kể đến: Tăng số khe cắm PCI-Express X16 lên 3-4 khe để có thể hoạt động với đồng thời 2-4 bo mạch đồ hoạ hỗ trợ công nghệ CrossFire. Tạo ra những phương thức tản nhiệt hiệu quả. Cho phép ép xung của hệ thống. Thay đổi các loại linh kiện truyền thống bằng các linh kiện tốt hơn, bền hơn và chịu đựng được nhiệt độ cao hơn: Ví dụ việc sử dụng các tụ rắn thay cho tụ hoá thông thường. == Các chuẩn bo mạch chủ thông dụng đến năm 2007 == === Chuẩn ATX === ATX là chuẩn bo mạch chủ thông dụng nhất hiện nay, chúng được phát triển có chọn lọc trên nền các chuẩn cũ (Baby-AT và LPX) với sự thay đổi của thiết kế và liên quan nhiều đến việc thay đổi đầu nối nguồn với nguồn máy tính, tính năng quản lý điện năng thông minh và sự thay đổi nút khởi động một phiên làm việc. Một thay đổi khác là sự tập hợp các cổng kết nối vào/ra về phía sau của hệ thống máy tính cá nhân (bao gồm các khe cắm mở rộng ở phía dưới và cụm cổng vào/ra ở phía trên (I/O connector panel) đối với vỏ máy tính kiểu đứng). Hình minh hoạ đầu tiên của bài viết này là một bo mạch chủ theo chuẩn ATX. Đầu nối nguồn cho bo mạch chủ theo chuẩn ATX: Đầu nối nguồn cho bo mạch chủ theo chuẩn ATX bao gồm hai loại đầu: 20 chân và 24 chân. Hình phần trên: Đầu nối 24 chân cung cấp điện năng cho bo mạch chủ; hình dưới: Đầu nối vào bo mạch chủ cung cấp nguồn +12V cho CPU Theo sự quy ước (như hình) thì các đầu nối 20 chân chỉ khác biệt 4 chân dưới cùng. Nếu bỏ các chân 11, 12, 23, 24 (theo quy ước như hình) thì đầu nối 24 chân trở thành đầu nối 20 chân. Chính vì điều này mà một số nguồn máy tính đã thiết kế loại đầu cắm 20+4 chân phù hợp cho cả hai loại bo mạch chủ. Thay đổi nút Power so với các chuẩn cũ: Nút power ở các chuẩn cũ thuộc thể loại "công tắc", chúng có nguyên lý hoạt động giống như các công tắc bật đèn thông thường trong dân dụng (đây là điều tạo nên sự dễ phân biệt các chuẩn ATX và chuẩn cũ). Theo chuẩn ATX thì nút "Power" trên vỏ máy tính là một nút nhấn "mềm" (chúng tự đàn hồi về trạng thái 0 sau khi bấm), nút này có thể được lựa chọn tuỳ biến thành các chức năng khác nhau khi máy tính đã khởi động vào hệ điều hành (Ví dụ có thể trở thành một trong các nút: Stand by, Hibernate, Shutdown). === Chuẩn BTX === BTX là một chuẩn mới xuất hiện và thường chỉ dùng cho các hệ thống máy tính cá nhân cao cấp, điểm đặc biệt của bo mạch chủ theo chuẩn này là sự sắp xếp lại vị trí của các thiết bị trên bo mạch chủ nhằm tạo ra sự lưu thông không khí tối ưu trong thùng máy. CPU được chuyển gần ra phía trước của thùng máy cùng với quạt tản nhiệt CPU thiết kế kiểu thổi ngang (song song với bo mạch chủ) sẽ lấy gió từ phía mặt trước của vỏ máy (được thiết kế bắt buộc các lưới thoáng). Cách thiết kế này cải tiến so với chuẩn ATX bởi CPU theo chuẩn ATX có thể sử dụng luồng gió luẩn quẩn nếu không được thiết kế thông thoáng và định hướng gió hợp lý hoặc sử dụng vỏ máy tính theo chuẩn 38°. Luồng gió đầu vào sau khi làm mát CPU có thể tiếp tục làm mát bo mạch đồ hoạ, một phần thoát ra phía sau theo quạt thông gió của vỏ máy tính phía sau, một phần qua RAM để thoát ra ngoài thông qua nguồn máy tính. Kết nối nguồn của chuẩn BTX không có khác biệt so với của chuẩn ATX 24 chân. BTX hiện nay chưa trở thành thông dụng với đa số người dùng do đó các hãng sản xuất phần cứng cũng chưa cho ra đời nhiều loại bo mạch chủ theo chuẩn này. == Các chuẩn kích thước của bo mạch chủ == Kích thước của bo mạch chủ thường được chuẩn hoá để đảm bảo tương thích với các vỏ máy tính. Có các loại kích thước sau: === Các chuẩn cổ điển trước đây === Baby-AT: 216 mm × 254–330 mm Full-size AT: 305 mm × 279–330 mm LPX: 229 mm × 279–330 mm WTX: 355.6 mm × 425.4 mm ITX: 215 mm x 191 mm === Các chuẩn hiện tại === BTX: 305 x 272mm microBTX: 264 x 267 mm pico BTX: 203 x 267 mm ATX: 305 x 244 mm mini ATX: 284 x 208 mm microATX: 244 x 220 mm flexATX: 229 x 191 mm Mini-ITX: 170 x 170 mm === Kích thước không theo chuẩn === Trong một số trường hợp các nhà sản xuất máy tính có thể sản xuất các bo mạch chủ với kích thước riêng của họ nhưng loại này chỉ được lắp ráp tại các máy tính đồng bộ mà không được bán riêng lẻ ra thị trường == Kết nối thông thường == == Các công ty sản xuất == Supermicro ASUS Gigabyte MSI Asrock Biostar == Tham khảo ==
4 tháng 2.txt
Ngày 4 tháng 2 là ngày thứ 35 trong lịch Gregory. Còn 330 ngày trong năm (331 ngày trong năm nhuận). == Sự kiện == 266 – Ngụy Nguyên Đế Tào Hoán sai sứ giả dâng ngọc tỉ, thiện vị cho Tấn vương Tư Mã Viêm, kết thúc triều Tào Ngụy, tức ngày Nhâm Tuất (13) tháng 12 năm Ất Dậu. 960 – Sau khi tiến hành binh biến và buộc Hoàng đế Hậu Chu Sài Tông Huấn phải thiện vị, Tiết độ sứ Triệu Khuông Dận xưng đế, đặt quốc hiệu là Tống, tức ngày Ất Tị (5) tháng 1 năm Canh Thân. 1276 – Tại Lâm An, Tống Cung Đế dâng truyền quốc tỷ cho quân Nguyên và bỏ đế hiệu, tức ngày Giáp Thân (18) tháng 1 năm Bính Tý. 1567 – Dụ vương Chu Tái Hậu tức hoàng đế vị, trở thành hoàng đế thứ 13 của triều Minh, tức Mục Tông hay Long Khánh Đế, tức ngày Nhâm Tý (26) tháng 12 năm Bính Dần. 1703 – Tại Edo, Bốn mươi bảy Ronin tự sát theo nghi thức Seppuku. 1789 – George Washington được Đại cử tri đoàn nhất trí bầu làm Tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên. 1794 – Cơ quan lập pháp Pháp bãi bỏ chế độ nô lệ trên toàn bộ lãnh thổ Pháp. Tuy nhiên, chế độ nô lệ được tái lập tại Tây Ấn thuộc Pháp vào năm 1802. 1899 – Câu lạc bộ thể thao SV Werder Bremen được thành lập với tên gọi Fußballverein Werder bởi một nhóm gồm 16 học sinh trung học hướng nghiệp. 1932 – Chiến tranh Trung-Nhật: Cáp Nhĩ Tân thất thủ trước Quân đội Đế quốc Nhật Bản. 1943 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Chiến dịch Sa mạc Tây tại Bắc Phi kết thúc với thắng lợi của Đồng Minh. 1945 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hội nghị Yalta với sự tham gia của nguyên thủ ba cường quốc (Churchill, Roosevelt, và Stalin) được tổ chức tại cung điện Livadia gần thành phố Yalta, Ukraina, Liên Xô. 1948 – Ceylon (sau đổi tên thành Sri Lanka) trở thành quốc gia độc lập trong Khối Thịnh vượng chung Anh. 1969 – Yasser Arafat được bầu làm chủ tịch Ủy ban điều hành tổ chức Giải phóng Palestine (PLO). 1977 – Liên minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam giải thể. 1980 – Giáo chủ Ruhollah Khomeini bổ nhiệm Abolhassan Banisadr làm tổng thống của Iran. 2003 – Cộng hoà Liên bang Nam Tư được chính thức đổi tên thành Serbia và Montenegro và thông qua bản hiến pháp mới. 2004 – Mạng xã hội Facebook được Mark Zuckerberg thành lập. == Sinh == 742 - Charlemagne,vua 982-Lê Phụng Hiểu-Tướng nhà Lý (m. 1059). 1553 – Mori Terumoto, đại danh người Nhật Bản, tức 22 tháng 1 năm Quý Sửu (m. 1625) 1778 – Augustin Pyramus de Candolle, nhà thực vật học người Thụy Sĩ (m. 1841) 1795 – Jakob von Hartmann, tướng lĩnh người Đức (m. 1873) 1804 – Philipp Carl von Canstein, tướng lĩnh người Đức (m. 1877) 1841 – Clément Ader, nhà phát minh, kỹ sư người Pháp (m. 1925) 1847 – Remus von Woyrsch, Thống chế Phổ (m. 1920) 1871 – Friedrich Ebert, Tổng thống Đức (m. 1925) 1872 – Gotse Delchev, nhà cách mạng người Macedonia (m. 1903) 1875 – Ludwig Prandtl, nhà vật lý học người Đức (m. 1953) 1881 – Kliment Voroshilov, Nguyên soái Liên Xô, tức 23 tháng 1 theo lịch Julius (m. 1969) 1896 – Friedrich Hund, nhà vật lý học người Đức (m. 1997) 1897 – Ludwig Erhard, Thủ tướng Tây Đức (m. 1977) 1902 – Charles Lindbergh, phi công và nhà hoạt động người Mỹ (m. 1974) 1904 – Đặng Dĩnh Siêu, chính trị gia người Trung Quốc (m. 1992) 1911 – Trần Tiến, võ sư người Việt Nam (m. 2011) 1921 – Lotfi A. Zadeh, nhà toán học, nhà khoa học máy tính người Azerbaijan-Mỹ 1923 – Conrad Bain, diễn viên người Canada-Mỹ (m. 2013) 1925 – Đinh Xuân Lâm, sử gia người Việt Nam 1925 – Stanley Karnow, nhà báo, sử gia người Mỹ (m. 2013) 1928 – Kim Yong-nam, chính trị gia người Triều Tiên 1953 – Kitaro, nhà soạn nhạc người Nhật Bản 1975 – Lưu Chí Hàn, diễn viên người Đài Loan 1978 – Đoan Trang, ca sĩ người Việt Nam 1978 – Thúy Hạnh, người mẫu người Việt Nam 1982 – Kimberly Wyatt, ca sĩ, vũ công, diễn viên người Mỹ (The Pussycat Dolls) 1989 – Shogo Suzuki, diễn viên, nhạc sĩ người Nhật Bản == Mất == 211 – Septimius Severus, Hoàng đế La Mã (s. 145) 708 – Giáo hoàng Sisinniô (s. 650) 1843 – Theodoros Kolokotronis, tướng lĩnh người Hy Lạp (s. 1770) 1894 – Adolphe Sax, nhà thiết kế nhạc khí người Bỉ, phát minh Saxophone (s. 1814) 1906 – Maximilian von Hagenow, tướng lĩnh người Đức (s. 1844) 1928 – Hendrik Lorentz, nhà vật lý học người Hà Lan, đoạt giải Nobel (s. 1853) 1928 – Fritz Raschig, nhà hóa học, chính trị gia người Đức (s. 1863) 1971 – Nguyễn Vỹ, nhà báo, nhà thơ người Việt Nam (s. 1912) 1983 – Karen Carpenter, ca sĩ và tay trống người Mỹ (The Carpenters) (s. 1950) 1987 – Carl Rogers, nhà tâm lý học người Mỹ (s. 1902) 1992 – Lisa Fonssagrives, người mẫu người Thụy Điển (s. 1911) 2001 – Iannis Xenakis, nhà soạn nhạc và kiến trúc sư người Hy Lạp (s. 1922) 2002 – Nông Quốc Chấn, nhà văn người Việt Nam (s. 1923) 2002 – Sigvard Bernadotte, nhà thiết kế công nghiệp, thành viên vương thất Thụy Điển (s. 1907) 2012 – Xuân Tâm, nhà thơ người Việt Nam (s. 1916) == Những ngày lễ và kỷ niệm == Ngày ung thư thế giới == Tham khảo ==
ubuntu touch.txt
Ubuntu Touch (cũng gọi là Ubuntu Phone) là phiên bản di động của hệ điều hành Ubuntu được phát triển bởi Canonical UK Ltd và cộng đồng Ubuntu (Ubuntu Community). Nó được thiết kế chủ yếu cho các thiết bị di động sử dụng màn hình cảm ứng như smartphone và máy tính bảng. == Lịch sử == Ngày 02011-10-31 31 tháng 10 năm 2011Mark Shuttleworth tuyên bố bố Ubuntu 14.04 sẽ hỗ trợ smartphones, tablets, TV các màn hình thông minh. Nền tảng Ubuntu dành cho điện thoại đã được công bố ngày 02013-01-02 2 tháng 1 năm 2013. Ubuntu Touch Developer Preview được phát hành 02013-02-21 21 tháng 2 năm 2013. === Phát hành === Canonical đã phát hành Ubuntu Touch 1.0, phiên bản developer/partner vào 17/10/2013, cùng với Ubuntu 13.10 "chủ yếu hỗ trợ các máy Galaxy Nexus và Nexus 4, mặc dù có những hình ảnh có sẵn cho mẫu điện thoại và máy tính bảng khác", và phát hành một bản phát triển "stable" để thử nghiệm và phản hồi rộng lớn hơn vào ngày 17 tháng 4 năm 2014, cùng với Ubuntu 14.04. Phiên bản preview của các phần mềm để cài đặt trên một số thiết bị cầm tay chạy Android khác bao gồm Samsung Galaxy S4 == Tính năng == Ubuntu Touch dùng Qt 5 dựa trên giao diện cảm ứng và các nền tảng phần mềm khác nhau được phát triển cho Maemo và MeeGo cũng như oFono như telephony stack, accounts-sso for single sign-on, và Maliit cho các thiết bị nhập. Bằng cách sử dụng libhybris hệ thống có thể được làm việc với Linux kernel được dùng trong Android, điều này làm cho nó dễ dàng cài đặt trên các smartphone Android mới. Ubuntu Touch sử dụng các công nghệ tương tự Ubuntu Desktop, giúp các ứng dụng được thiết kế cho các nền tảng sau này có thể hoạt động trên các thiết bị cũ và ngược lại. Ngoài ra, các thành phần Ubuntu Desktop cũng được đi kèm trong Ubuntu Touch; cho phép các thiết bị Ubuntu Touch để cung cấp một trải nghiệm desktop đầy đủ khi kết nối với một màn hình ngoài. có thể được trang bị một phiên Ubuntu đầy đủ và có thể thay đổi thành một hệ điều hành máy tính đầy đủ khi cắm vào dock. Nếu cắm các thiết bị có thể sử dụng tất cả các tính năng của Ubuntu và người sử dụng có thể thực hiện công việc văn phòng hay thậm chí chơi các game ARM sẵn có trên thiết bị. === Các ứng dụng đi kèm === Ubuntu Touch bao gồm các ứng dụng truyền thông xã hội và các ứng dụng media (ví dụ. Facebook, YouTube, và một RSS reader). Các ứng dụng tiêu chuẩn như máy tính, e-mail, đồng hồ báo thức, quản lý file, và thậm chí là terminal được cài sẵn. Nhiều ứng dụng khác cũng đang được phát triển. Một số ứng dụng Ubuntu Touch có thể làm việc trên máy tính để bàn, bao gồm trình duyệt, Lịch, Đồng hồ, Gallery, Ghi chú, Reminders, Terminal, và Thời tiết. === Side Stage === Side Stage Cho phép chạy song song các "tablet apps" và "phone apps" bên cạnh nhau, thay đổi kích thước mỗi phía và khi bạn cần phải xem chi tiết của chúng. Nó nhằm mục đích "đi xa hơn nữa" với ý tưởng đa nhiệm, cho phép không gian màn hình được chia theo cách này. Ví dụ có thể xem video bao gồm một ứng dụng ghi chú được sử dụng cùng lúc với trình duyệt, và người dùng vuốt rì bên phải để mở Facebook và ở dưới là một đoạn video đang chạy. == Thiết kế == Người dùng có thể truy cập vào toàn bộ hệ thống bằng cách vuốt vào rìa màn hình. Cạnh trái cho phép truy cập nhanh đến các ứng dụng gắn vào launcher, giúp hiển thị các ứng dụng, files và danh bạ. Menu này có sẵn từ màn hình chính và bất kỳ ứng dụng đang chạy. Trong cơ chế đa nhiệm của Ubuntu Touch có thể truy cập các ứng dụng đang chạy bằng cách vuốt từ cạnh bên phải sang cạnh trái của màn hình và chuyển sang các ứng dụng khác. Sử dụng launcher ở phía bên trái quay trở lại. Vuốt từ giữa màn hình lên trên để ẩn và hiển thị thanh công cụ, giúp Ubuntu Phone có thể chạy các ứng dụng chiếm màn hình lớn. == Thị trường mục tiêu == Mark Shuttleworth, người sáng lập của công ty đứng sau Ubuntu tin rằng Ubuntu Phone sẽ có những thị phần tốt đầu tiên tại những quốc gia mà Ubuntu được biết đến nhiều; cụ thể hơn là tại các nước đang phát triển như Ấn Độ và Trung Quốc nơi các máy tính có cài đặt sẵn Ubuntu. Tuy nhiên, sự thành công của Ubuntu Phone tại các thị trường là khó dự đoán. Ubuntu phấn đấu để có “smartphone cũng là một PC đầy đủ”. Canonical cho biết rằng phần mềm cho phiên bản di động của Ubuntu cũng tương thích với các phiên bản cho máy tính và TV. Đây là một tính năng hiện chưa được cung cấp bởi các hệ điều hành khác, với mục tiêu đơn giản hóa cả việc sử dụng và phát triển của sản phẩm. Sự kết hợp giữa PC và mobile nói trên cũng có thể hấp dẫn đối với bộ phận IT của các công ty hiện đang sử dụng Ubuntu để chạy máy chủ của họ, vì nó sẽ mở rộng quyền truy cập vào một phạm vi rộng lớn hơn của các thiết bị. Điều này sẽ cải thiện khả năng tiếp cận và quản lý các thiết bị trong công ty. Thiết bị di động có thể được kết nối với màn hình lớn hơn và thiết bị ngoại vi khác như bàn phím không dây. Các ứng dụng Windows có thể được truy cập từ các máy chủ của công ty trên các thiết bị di động, sẽ làm cho việc chuyển giao dữ liệu hiệu quả hơn. Mặc dù sự phổ biến của Ubuntu chỉ dừng trong cộng đồng các nhà phát triển mã nguồn mở, việc thâm nhập vào thị trường kinh doanh truyền thống sẽ tiếp tục có những khó khăn cho Ubuntu. Các công ty sử dụng các phương thức "Bring your own device" đã thích nghi với việc sử dụng các thiết bị Android và iOS, những lợi ích của Ubuntu có thể không được xem xét đầy đủ. == Yêu cầu phần cứng == Ubuntu Touch yêu cầu một số hỗ trợ phần cứng nhất định, đặc biệt là PAE. == Xem thên == HTML5 in mobile devices Comparison of mobile operating systems Ubuntu SDK Ubuntu TV == Tài liệu tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức Ubuntu Touch on the Ubuntu Wiki Design vision | Ubuntu Design Ubuntu Phone in Launchpad The Ubuntu for phones Official Announcement on Canonical UK Ltd. Blog Ubuntu for phones - Industry proposition trên YouTube The Ubuntu Phone Announcement on the Verge, ngày 2 tháng 1 năm 2013 Ubuntu Touch Developer Preview and SDK Alpha | Ubuntu App Developer
samsung galaxy.txt
Samsung Galaxy (viết cách điệu Samsung GALAXY) là một loạt thiết bị điện thoại-máy tính bảng hỗ trợ Android được thiết kế, sản xuất và tiếp thị bởi Samsung Electronics. Các dòng sản phẩm bao gồm Galaxy series của smartphones cao cấp, Galaxy Note series của điện thoại và máy tính bảng thêm chức năng bút S Pen và Galaxy Tab series của tablet. == Phân loại == Từ tháng 9 năm 2013, tất cả các điện thoại thông minh thuộc dòng Galaxy được phân loại như sau: Một số mã hiệu điện thoại thông minh Samsung cho các biến thể: GT-Nnnn0 - mã hiệu Note chính (cách viết của dòng cũ) SM-Nnn0 - mã hiệu Note chính (cách viết của dòng mới) GT-Pnn00/10 - mã hiệu Tab chính (cách viết của dòng cũ) SM-Tnn0/1 - mã hiệu Tab chính (cách viết của dòng mới) GT-Snnn0 - mã hiệu chính GT-Snnn2 - Dual SIM "Duos" model GT-Snnn5/GT-Nnnn5/GT-Pnnn5/SM-Nnn5/SM-Tnn5 - loại 4G/LTE == Lịch sử ra mắt == === Ghi chú === == Smartphones màn hình lớn == Samsung Galaxy Note Samsung Galaxy Note II Samsung Galaxy Note 3 Samsung Galaxy Note 4 Samsung Galaxy Note Edge Samsung Galaxy Mega Samsung Galaxy Mega 2 Samsung Galaxy Note 5 Samsung Galaxy Note 7 Samsung Galaxy S7 == Smartphones tầm cao == Samsung Galaxy S Samsung Galaxy S II Samsung Galaxy S III Samsung Galaxy S4 Samsung Galaxy S5 Samsung Galaxy S6 Samsung Galaxy S6 Edge Samsung Galaxy S6 Edge Plus Samsung Galaxy S7 Samsung Galaxy S7 Edge Samsung Galaxy Round Samsung Galaxy Victory 4G LTE Samsung Galaxy S6/S6 edge/S6 edge plus == Máy tính bảng == === Samsung Galaxy Tab === Samsung Galaxy Tab 7.0 Samsung Galaxy Tab 7.0 Plus Samsung Galaxy Tab 7.7 Samsung Galaxy Tab 8.9 Samsung Galaxy Tab 10.1 Samsung Galaxy Tab 2 7.0 Samsung Galaxy Tab 2 10.1 Samsung Galaxy Tab 3 7.0 Samsung Galaxy Tab 3 8.0 Samsung Galaxy Tab 3 10.1 Samsung Galaxy Tab 3 Lite 7.0 Samsung Galaxy Tab 4 7.0 Samsung Galaxy Tab 4 8.0 Samsung Galaxy Tab 4 10.1 Samsung Galaxy Tab Pro 8.4 Samsung Galaxy Tab Pro 10.1 Samsung Galaxy Tab Pro 12.2 === Samsung Galaxy Tab S === Samsung Galaxy Tab S 10.5 Samsung Galaxy Tab S 8.4 Samsung Galaxy Tab S2 8' và 9.7' Samsung Galaxy Tab S2 Samsung Galaxy Tab S3 === Samsung Galaxy Note === Samsung Galaxy Note 8.0 Samsung Galaxy Note 10.1 Samsung Galaxy Note 10.1 2014 Edition Mùa thu 2013 - SM-P600 (Wifi), SM-P601 (3G & Wifi), SM-P605 (LTE, 3G & Wifi) Samsung Galaxy Note Pro 12.2 Tháng 2 2014 - SM-P900 (Wifi), SM-P905 (LTE, 3G & Wifi) == Máy nghe nhạc == Samsung Galaxy Player == Máy ảnh == Samsung Galaxy Camera Vào 29 tháng 8 năm 2012, Samsung giới thiệu máy ảnh kĩ thuật số thông minh được gọi là Samsung Galaxy Camera. Độ phân giải 16 megapixel, ống zoom quang học 21x, kết nối 4G, va sử dụng hệ điều hành Android 4.1 Jelly Bean. Trong suốt sự kiện IFA 2012 tại Berlin, Samsung xác nhận thêm chi tiết kĩ thuật với bộ xử lý lõi tứ 1.4GHZ và ISO 3200. Samsung Galaxy S4 zoom Samsung Galaxy NX Samsung Galaxy Camera 2 Samsung Galaxy K Zoom == Smart watches == Samsung Galaxy Gear Samsung Gear 2 Samsung Gear S Samsung Gear 2 Neo == Smart Fitness Bands == Samsung Gear Fit == Samsung Galaxy Music == Cùng thời điểm với Galaxy S4, Samsung đã công bố nền tảng âm nhạc của mình gọi là Samsung Galaxy Music, "cung cấp cho bạn sự trải nghiệm âm nhạc thông qua các bài hát GALAXY của nghệ sĩ bạn yêu thích cũng như hình ảnh và videos từ buổi hòa nhạc GALAXY Music vui vẻ và bổ ích nó giúp các bạn quay trở lại nền tảng tương tác trực tuyến". Phối hợp sản xuất cùng với Quincy Jones, nhà sản xuất và rapper Parker Ighile sản xuất riêng phiên bản của mình trong "Over the Horizon", ca khúc chính thức của sản phẩm Galaxy. Video trình diễn ca khúc chính thức phát hành vào tháng 8 năm 2013 trên trang chủ Galaxy Music cho thấy Ighile làm việc trên các sản phẩm Galaxy. == Xem thêm == Samsung Galaxy S series Samsung Galaxy Note series Samsung Galaxy Tab series == Tham khảo == == Liên kết == Trang chủ Samsung Galaxy related sites
13 tháng 12.txt
Ngày 13 tháng 12 là ngày thứ 347 (348 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 18 ngày trong năm. == Sự kiện == 552 – Sau khi tiêu diệt cuộc nổi loạn của Hầu Cảnh, Tiêu Dịch xưng là hoàng đế Lương tại Giang Lăng, tức Lương Nguyên Đế, tức ngày Bính Tý (12) tháng 11 năm Nhâm Thân. 1294 – Giáo hoàng Cêlestinô V từ nhiệm chỉ 5 tháng sau khi được bầu; ông hy vọng có thẻ quay trở lại cuộc sông như một ẩn sĩ khổ tu lúc trước. 1577 – Francis Drake dời Plymouth, Anh với 5 chiếc thuyền và 164 người, bắt đầu cuộc hành trình vòng quanh thế giới của mình. 1642 – Nhà thám hiểm người Hà Lan Abel Tasman đến New Zealand. 1769 – Đại học Dartmouth tại New Hampshire, nay thuộc Hoa Kỳ được thành lập theo một đặc quyền vương thất của Quốc vương George III của Anh 1862 – Nội chiến Hoa Kỳ: Trong Trận Fredericksburg, Tường miền Nam Robert E. Lee đánh bại Tướng miền Bắc Ambrose Burnside. 1888 – Sau khi bị Thực dân Pháp bắt, Hoàng đế Hàm Nghi bị đưa lên tàu để sang an trí tại Algérie thuộc Pháp. 1937 – Chiến tranh Trung-Nhật: quân đội Nhật Bản chiếm được Nam Kinh và bắt đầu các hành động tội ác trong vài tuần sau đó. 1940 – Phan Ngọc Hiển và 10 tay súng tiến hành cuộc nổi dậy ở đảo Hòn Khoai thuộc Nam Kỳ, Liên bang Đông Dương. 1941 – Chiến tranh thế giới thứ hai: Hungary và Romania tuyên chiến với Hoa Kỳ. 1949 – Knesset bỏ phiếu chuyển thủ đô của Israel đến Jerusalem. 1960 – Trong lúc Hoàng đế Ethiopia Haile Selassie I viếng thăm Brasil, đội Cận vệ Hoàng gia chiếm giữ thủ đô và tuyên bố phế truất Haile Selassie I. 1974 – Chiến tranh Việt Nam: Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu tiến hành Chiến dịch Phước Long nhằm thăm dò phản ứng quốc tế. 1974 – Malta trở thành một nước cộng hòa trong Khối Thịnh vượng chung. 2001 – Quốc hội Ấn Độ bị năm tay súng tiến công, kết quả có 12 người thiệt mạng, bao gồm các thủ phạm. 2002 – Liên minh châu Âu tuyên bố rằng, Estonia, Hungary, Latvia, Litva, Malta, Ba Lan, Séc, Síp, Slovakia, và Slovenia sẽ trở thành thành viên của mình từ ngày 1 tháng 5 năm 2004. 2003 – Cựu tổng thống Iraq Saddam Hussein bị bắt giữ gần thành phố Tikrit. 2011 – Một vụ tấn công bằng súng xảy ra tại thành phố Liège của Bỉ, làm thiệt mạng 6 người và làm bị thương 125 người tại một Chợ Giáng sinh. == Sinh == 1521 – Giáo hoàng Xíttô V (m. 1590) 1553 – Henri IV, quốc vương của Pháp (m. 1610) 1559 – Maximilien de Béthune, quý tộc, chính khách người Pháp (m. 1641) 1678 – Ái Tân Giác La Dận Chân, tức Ung Chính Đế, hoàng đế triều Thanh, 30 tháng 10 năm Mậu Ngọ (m. 1735) 1724 – Franz Aepinus, triết gia người Đức (m. 1802) 1797 – Heinrich Heine, nhà thơ người Đức (m. 1856) 1816 – Ernst Werner von Siemens, kĩ sư, nhà phát minh, nhà tư bản công nghiệp người Đức (m. 1892) 1818 – Mary Todd Lincoln, phối ngẫu của Abraham Lincoln, Đệ nhất Phu nhân Hoa Kỳ thứ 17 (m. 1882) 1873 – Valery Bryusov, tác gia người Nga, tức 1 tháng 12 theo lịch Julius (m. 1924) 1887 – George Pólya, nhà toán học người Mỹ gốc Hungary (m. 1985) 1902 – Talcott Parsons, nhà xã hội học người Mỹ (m. 1979) 1911 – Trygve Haavelmo, nhà kinh tế học người Na Uy, đoạt giải Nobel (m. 1999) 1920 – Kaysone Phomvihane, chính trị gia người Lào-Việt, Thủ tướng Lào, Chủ tịch nước Lào 1920 – George P. Shultz, kinh tế gia và chính trị gia người Mỹ, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ thứ 60 1929 – Christopher Plummer, diễn viên người Canada 1929 – Ngô Quang Trưởng, tướng lĩnh người Việt Nam (m. 2007) 1944 – Hwang Jeong-ri, võ sư và diễn viên người Hàn Quốc sinh tại Nhật Bản 1945 – Herman Cain, doanh nhân, chính trị gia người Mỹ 1953 – Ben Bernanke, nhà kinh tế học người Mỹ, Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ thứ 14 1961 – Irene Saez, người mẫu và chính trị gia người Venezuela, Hoa hậu Hoàn vũ 1981 1964 – Hideto Matsumoto, nghệ danh hide, ca sĩ-người viết ca khúc, nghệ sĩ đàn guitar, và nhà sản xuất âm nhạc người Nhật Bản (m. 1998) 1967 – Jamie Foxx, diễn viên người Mỹ 1970 – Võ Văn Thưởng, chính trị gia người Việt Nam 1980 – Hoàng Tông Trạch, ca sĩ và diễn viên người Hồng Kông 1981 – Amy Lee, ca sĩ, người sáng tác bài hát người Mỹ 1982 – Eita Nagayama, diễn viên người Nhật Bản 1982 - Kinoshita Ayumi, diễn viên người Nhật Bản 1984 – Santi Cazorla, cầu thủ bóng đá người Tây Ban Nha 1989 – Taylor Swift, ca sĩ, người sáng tác bài hát người Mỹ 1989 – Trần Tường, ca sĩ, diễn viên người Trung Quốc == Mất == 1124 – Giáo hoàng Calixtô II (s. 1065) 1250 – Frederick II, hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh (s. 1194) 1466 – Donatello, họa sĩ và nhà điêu khắc người Ý (s. 1386) 1521 – Manuel I, quốc vương của Bồ Đào Nha (s. 1469) 1603 – François Viète, nhà toán học người Pháp (s. 1540) 1754 – Mahmud I, sultan của Đế quốc Ottoman (s. 1696) 1784 – Samuel Johnson, nhà văn, nhà từ điển học người Anh (s. 1709) 1909 – Innokentiy Annensky, nhà thơ, dịch giả, nhà phê bình người Nga, tức 30 tháng 11 theo lịch Julius (s. 1855) 1930 – Fritz Pregl, nhà hóa học người Slovenia-Áo, đoạt giải Nobel (s. 1869) 1931 – Gustave Le Bon, nhà tâm lý học người Pháp (s. 1840) 1935 – Victor Grignard, nhà hóa học người Pháp, đoạt giải Nobel (s. 1871) 1944 – Wassily Kandinsky, nghệ sĩ người Nga-Pháp (s. 1866) 1945 – Irma Grese, cai ngục Đức Quốc xã (s. 1923) 1996 – Vạn Gia Bảo, tức Tào Ngu, nhà viết kịch người Trung Quốc (s. 1910) 2009 – Paul Samuelson, nhà kinh tế học người Mỹ, đoạt giải Nobel (s. 1915) 2010 – Richard C. Holbrooke, nhà ngoại giao người Mỹ (s. 1941) == Ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
ban tổ chức trung ương đảng cộng sản việt nam.txt
Ban Tổ chức Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam là cơ quan tham mưu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư về chủ trương và các chính sách lớn thuộc lĩnh vực tổ chức cán bộ của hệ thống chính trị; đồng thời là cơ quan chuyên môn nghiệp vụ về công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên của Trung ương. Ban này quan trọng nhất nên đứng đầu là một Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương. == Lịch sử == Ban Tổ chức Trung ương tiền thân là Bộ Tổ chức Trung ương. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng họp tại Hương Cảng (Trung Quốc) ngày 14/10/1930, Bộ Tổ chức Trung ương được thành lập, sau đó đổi tên thành Ban Đảng vụ Trung ương. Ngày 16/4/1951, Trung ương Đảng ra Nghị quyết về thành lập các Ban và Tiểu ban của Trung ương, trong đó Ban Đảng vụ Trung ương đổi tên thành Ban Tổ chức Trung ương, trưởng ban là Lê Văn Lương, phó ban là Lê Khắc. == Nhiệm vụ == Nghiên cứu, đề xuất: Chủ trì hoặc phối hợp nghiên cứu, cụ thể hoá Điều lệ Đảng, đường lối của Đảng về tổ chức hệ thống chính trị, chiến lược cán bộ, bảo vệ chính trị nội bộ của hệ thống chính trị; chuẩn bị hoặc tham gia chuẩn bị nghị quyết Đại hội, các nghị quyết, chỉ thị và quyết định về các lĩnh vực nêu trên của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Chủ trì xây dựng các đề án về tổ chức bộ máy đảng, đoàn thể về xây dựng cơ sở đảng; về quản lý cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ và chính sách cán bộ thuộc thẩm quyền quyết định của Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Nghiên cứu, đề xuất chủ trương, giải pháp bảo vệ chính trị nội bộ trong hệ thống chính trị; nghiên cứu, đề xuất với các cơ quan nhà nước trong việc thể chế hoá các nghị quyết, quyết định của Đảng về lĩnh vực tổ chức, cán bộ, công chức. Phối hợp nghiên cứu, đề xuất chủ trương, chính sách đối với cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Hướng dẫn, kiểm tra Hướng dẫn và kiểm tra thi hành Điều lệ Đảng trong toàn Đảng. Hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các nghị quyết, chỉ thị, quyết định của Trung ương về tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ đối với các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương. Hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ cho cấp uỷ và cán bộ tổ chức các cấp. Chủ trì, phối hợp với các ban đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ở Trung ương hướng dẫn xây dựng và kiểm tra thực hiện chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế của các cơ quan đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương. Thẩm định, thẩm tra: Thẩm định các đề án về tổ chức, cán bộ, đảng viên mà Trung ương phân cấp cho cấp uỷ, các ngành, các đoàn thể, các cơ quan trực thuộc Trung ương đảm nhiệm; thẩm định hoặc tham gia thẩm định các đề án về công tác bảo vệ chính trị nội bộ trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư. Tham gia thẩm định các đề án lớn về tổ chức, cán bộ, công chức của Chính phủ và các bộ, ngành, cơ quan nhà nước. Thẩm định và trình Bộ Chính trị, Ban Bí thư nhân sự dự kiến đề bạt, bổ nhiệm theo phân cấp quản lý cán bộ. Thẩm tra, xác minh đối với cán bộ, đảng viên có vấn đề về chính trị thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Phối hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, các đảng uỷ trực thuộcTrung ương trong công tác xây dựng Đảng về tư tưởng, tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ. Thực hiện một số nhiệm vụ do Bộ Chính trị, Ban Bí thư uỷ quyền: Quản lý tổ chức bộ máy và biên chế các cơ quan đảng, đoàn thể ở Trung ương và các tỉnh uỷ, thành uỷ. Theo báo cáo, đề nghị của các cấp uỷ, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương, xác nhận quy hoạch các chức danh cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Thực hiện chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức khối đảng, đoàn thể, cán bộ cao cấp, lão thành cách mạng; chính sách tiền lương, khen thưởng huân chương bậc cao, chăm sóc sức khỏe cán bộ diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Quản lý hồ sơ cán bộ theo phân cấp quản lý của Bộ Chính trị và cán bộ, đảng viên có vấn đề về chính trị theo quy định của Bộ Chính trị. Giải quyết các vấn đề về đảng tịch; quản lý cấp phát thẻ đảng viên, giải quyết hoặc phối hợp giải quyết khiếu nại, tố cáo các vấn đề về chính trị của cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý. Được cử cán bộ dự các phiên họp bàn về công tác xây dựng Đảng, về tổ chức, cán bộ, đảng viên, bảo vệ chính trị nội bộ của các tỉnh uỷ, thành uỷ; các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng uỷ trực thuộc Trung ương, == Tổ chức == Bộ máy Văn phòng; Vụ Tổ chức - Điều lệ; Vụ Cơ sở đảng; Vụ Đảng viên; Vụ Tổng hợp cán bộ; Vụ Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ; Vụ Chính sách cán bộ; Cục Bảo vệ chính trị nội bộ; Vụ Địa phương I (tại Hà Nội, theo dõi các tỉnh, thành phố từ Hà Tĩnh trở ra phía Bắc (28 tỉnh, thành phố)); Vụ Địa phương II (tại Đà Nẵng, theo dõi các tỉnh, thành phố từ Quảng Bình trở vào đến Khánh Hòa và các tỉnh Tây Nguyên, trừ Lâm Đồng (13 tỉnh, thành phố)); Vụ Địa phương III (tại Thành phố Hồ Chí Minh, theo dõi các tỉnh, thành phố từ Ninh Thuận trở vào phía Nam và tỉnh Lâm Đồng (22 tỉnh, thành phố)); Vụ IV (Theo dõi các cơ quan Trung ương); Vụ Tổ chức - cán bộ cơ quan; Tạp chí Xây dựng Đảng. == Lãnh đạo Ban khóa XII == Trưởng ban Phạm Minh Chính - Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng Phó Trưởng ban Nguyễn Thanh Bình - Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban thường trực Hà Ban - Ủy viên Trung ương Đảng Mai Văn Chính - Ủy viên Trung ương Đảng Trần Văn Túy - Ủy viên Trung ương Đảng (Kiêm nhiệm) Lê Vĩnh Tân - Ủy viên Trung ương Đảng (Kiêm nhiệm) == Cựu Lãnh đạo == === Trưởng ban === === Nguyên Phó trưởng ban === Phạm Văn Thọ Nguyễn Đình Hương Bùi Quang Tạo Phan Văn Đáng Phan Triêm Nguyễn Văn Chính Lê Quang Thưởng Lê Đức Bình Lê Huy Ngọ Nguyễn Đức Hạt Nguyễn Đông Sương Trần Lưu Hải Nguyễn Tuấn Khanh Nguyễn Văn Quynh Nguyễn Ngọc Lâm == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
thành vatican.txt
Thành Vatican, tên chính thức: Thành Quốc Vatican (tiếng Ý: Stato della Città del Vaticano; tiếng Latinh: Status Civitatis Vaticanae) là một quốc gia có chủ quyền với lãnh thổ bao gồm một vùng đất có tường bao kín nằm trong lòng thành phố Roma, Ý. Với diện tích khoảng 44 hécta (110 mẫu Anh), và dân số khoảng 840 người, khiến Vatican được quốc tế công nhận là thành phố, quốc gia độc lập nhỏ nhất thế giới về góc độ diện tích và dân số. Quốc gia này được thành lập năm 1929 theo Hiệp ước Latêranô với tư cách là hậu thân của Quốc gia Giáo hoàng, vốn rộng lớn hơn, tồn tại từ năm 756 tới 1870 sau Công Nguyên. Vì được vị Giám mục Rôma (tức giáo hoàng) lãnh đạo nên Thành Vatican chính thức là một nền quân chủ thần quyền. Các viên chức cao cấp nhất của nhà nước này đều là các giáo giáo sĩ thuộc Giáo hội Công giáo Rôma xuất thân từ nhiều quốc gia khác nhau. Đây là lãnh thổ có chủ quyền của Tòa Thánh (Latinh: Sancta Sedes), là nơi có Điện Tông Tòa - nơi ở của giáo hoàng, và nơi đặt các cơ quan của Giáo triều Rôma. Dù trụ sở Giáo hội Công giáo theo nguyên tắc là Vương cung thánh đường Thánh Gioan Latêranô - được mệnh danh là nhà thờ mẹ của các nhà thờ Công giáo - nằm ở Rôma, ngoài biên giới của quốc gia, nhưng thuật ngữ Vatican vẫn được cho là trung tâm giáo quyền của Giáo hội Công giáo Rôma. Trong thành phố còn có các công trình quy mô lớn như Vương cung thánh đường Thánh Phêrô với quảng trường của nó, nhà nguyện Sistina và Bảo tàng Vatican. Chúng là nơi lưu trữ một số bức tranh và tác phẩm điêu khắc nổi tiếng nhất thế giới. Nền kinh tế của Vatican độc đáo ở chỗ nó được tài trợ bằng việc bán tem bưu chính và đồ lưu niệm du lịch, lệ phí tham quan bảo tàng và bán các ấn phẩm tôn giáo và văn hóa. Thành quốc Vatican và Tòa Thánh là hai thực thể riêng biệt. Trong khi "Vatican" là thuật ngữ thường để chỉ về lãnh thổ của một quốc gia với vài trăm công dân, gắn bó mật thiết với thành phố Roma thì "Tòa Thánh" lại là thuật ngữ bao hàm ý nghĩa rộng lớn trên khía cạnh tôn giáo và cơ cấu điều hành với trên 1,2 tỷ tín hữu trên thế giới. Văn kiện chính thức của thành phố Vatican được ban hành bằng tiếng Ý, còn của Tòa Thánh được ban hành chủ yếu bằng tiếng Latinh. Hai thực thể này cũng có hộ chiếu riêng biệt: Tòa Thánh cấp hộ chiếu ngoại giao và công vụ, trong khi Thành quốc Vatican cấp hộ chiếu phổ thông cho công dân. == Lãnh thổ == Cái tên Vatican có từ thời xưa, trước khi Kitô giáo ra đời, xuất phát từ chữ La tinh Mons Vaticanus, nghĩa là ngọn đồi Vatican. Lãnh thổ Vatican là một phần của Mons Vaticanus, và sát kề Cánh đồng Vatican nơi Vương cung thánh đường Thánh Phêrô, Cung điện Giáo hoàng, Nhà nguyện Sistine, và nhiều bảo tàng được xây dựng, cùng với nhiều công trình kiến trúc khác. Cho tới năm 1929 vùng này là một phần của rione Borgo Rôma. Tách biệt khỏi thành phố và nằm trên bờ phía tây sông Tevere, đây là vùng mở rộng về sau của thành phố và được bảo vệ khi Giáo hoàng Lêô IV cho gộp vào trong bức tường bao thành phố và sau này được mở rộng thành những bức tường kiểu pháo đài hiện nay bởi các Giáo hoàng Phaolô III, Piô IV, Ubanô VIII. Khi Hiệp ước Latêranô năm 1929 quy định hình dạng hiện nay của Thành phố được khởi thảo, thực tế rằng đa phần lãnh thổ đề nghị đều nằm bên trong vòng tường này khiến nó được dùng để định nghĩa ranh giới. Ở một số đoạn biên giới không có tường xây khiến những dãy nhà ở đó trở thành một phần biên giới, và một phần nhỏ biên giới được xây dựng mới ở thời hiện đại. Lãnh thổ bao gồm Quảng trường Thánh Phêrô, không thể tách rời với phần còn lại của Rôma, và vì thế một đường biên giới ảo với Ý được quy định chạy dọc giới hạn bên ngoài của quảng trường nơi nó giáp với Piazza Pio XII và Via Paolo VI. Via della Conciliazione nối Quảng trường Thánh Phêrô với Rôma qua Cầu Thiên Thần (Ponte Sant'Angelo). Con đường nối to lớn này được Mussolini xây dựng sau khi ký kết Hiệp ước Latêranô. Theo Hiệp ước Latêranô, một số tài sản của Tòa Thánh nằm trong lãnh thổ Ý, mà nổi tiếng nhất là Castel Gandolfo và Nhà thờ Thánh Phêrô, được trao quy chế lãnh thổ bên ngoài tương tự như đối với các đại sứ quán. Những tài sản đó, rải rác trên toàn bộ Rôma và Ý, nơi đóng trụ sở và làm việc của các định chế cần thiết cho tính chất và nhiệm vụ truyền đạo của Tòa Thánh. === Vườn === Trong lãnh thổ của thành Vatican là những khu vườn thành Vatican (tiếng Ý: Giardini Vaticani), chiếm hơn một nửa diện tích lãnh thổ. Những khu vườn được thành lập từ thời đại Phục Hưng và thời kỳ Baroque. Chúng chiếm xấp xỉ 23 hecta (57 acres), chiến phần lớn đồi Vatican. Điểm cao nhất là 60 mét (200 ft) trên mực nước biển. Những bức tường đá bao quanh khu vực trên ở phía Bắc, Nam và Tây. == Lãnh đạo nhà nước == Giáo hoàng là ex officio nguyên thủ quốc gia và lãnh đạo chính phủ của Thành Vatican. Giáo hoàng đồng thời là Giám mục Giáo phận Rôma, và là nhà lãnh đạo Tòa Thánh và Giáo hội Công giáo Rôma. Danh hiệu chính thức của Giáo hoàng tại Thành Vatican là Quốc trưởng Nhà nước Thành Vatican. Giáo hoàng là một vị vua không truyền tử, nắm quyền lực tuyệt đối, có nghĩa là quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tối cao đối với Thành Vatican. Giáo hoàng là vị vua chuyên chế duy nhất tại Châu Âu. Giáo hoàng được bầu với quyền lực trọn đời bởi Mật nghị Hồng y gồm các Hồng y dưới 80 tuổi. Các quan chức chính phủ chính của Thành Vatican là Quốc vụ khanh (đồng thời đóng vai trò ngoại trưởng), Chủ tịch Ủy ban lễ nghi Thành quốc Vatican (đồng thời là Thủ hiến), và Chưởng ấn Thành Vatican. Giáo hoàng hiện tại là Giáo hoàng Phanxicô, tên khai sinh là Jorge Mario Bergoglio và là người Argentina. Quốc vụ khanh hiện nay là Pietro Parolin. Thủ hiến hiện nay là Giuseppe Bertello. == Lịch sử == Tên gọi "Vatican" đã được dùng trong thời đại của Cộng hòa La Mã là một vùng đầm lầy vên bờ tây sông Tiber cắt qua thành phố Rome. Dưới thời kỳ Đế quốc La Mã, nhiều ngôi làng được xây dựng ở đây, sau khi Agrippina the Elder (14 TCN – 18 tháng 10, 33) tháo khô vùng này và xây dựng các khu vườn của bà vào đầu thế kỷ 1. Năm 40, con trai bà là hoàng đế Caligula (31 tháng 8, 12–24 tháng 1, 41; r. 37–41) xây dựng trong các khu vườn của bà một đấu trường (năm 40) mà sau này được Nero hoàn thiện, có tên gọi Circus Gaii et Neronis, hay gọi tắt là "Rạp xiếc của Nero"]. Ngay trước sự chuyển đến của Kitô giáo, nó được cho rằng đây là phần đất hoang, không có người sinh sống của Rome. Vùng đất ấy được thần thánh bảo vệ chu đáo, hoặc ít nhất là nơi không thích hợp để sinh sống. Khu vực này cũng đã là nơi trước kia thờ phượng nữ thần Phrygian Cybele và người chồng là Attis suốt thời gian của Đế quốc La Mã Cổ đại. Agrippina Cả (14 trước Công nguyên - 18/10 năm 33 sau Công nguyên) đã rút nước ở ngọn đồi và những khu vực lân cận để xây khu vườn của bà từ trước thế kỉ thứ nhất sau Công nguyên. Hoàng đế Caligula (31/8/12 - 24/1/41 sau Công nguyên, triều đại: 37 - 41 sau Công nguyên) bắt đầu xây dựng một trường đấu vào năm 40 sau Công nguyên và được hoàn thành bởi Nero, trường đấu Gaii et Neronis. Tháp kỉ niệm Vatican được sáng tạo một cách độc đáo bởi Caligula đến từ Heliopolis để trang hoàng trường đấu và cũng là vật còn sót lại đến ngay nay. Khu vực này trở thành nơi tử đạo của nhiều Kitô hữu bởi ngọn lửa lớn ở Rome vào năm 64. Truyền thuyết cổ xưa kể rằng nơi này Thánh Phêrô bị đóng đinh treo ngược vào thập giá. Đối diện đấu trường là một nghĩa trang tách ra bởi Via Cormelia. Những công trình chôn cất, lăng tẩm và mồ mả nhỏ cũng như bàn thờ thần ngoại của những tôn giáo khác được xây dựng kiên cố trước khi công trình quảng trường Constrantinian Thánh Peter được xây dựng một nửa vào thế kỉ 4 sau Công nguyên. Những tàn tích của nghĩa trang ngày một tăng dần lên qua các triều đại Giáo hoàng khác nhau suốt thời kì Phục Hưng, cho đến khi chúng được khai quật có hệ thống theo lệnh của Giáo hoàng Piô XII từ năm 1939 đến năm 1941. Vào năm 326, ngôi thánh đường đầu tiên, quảng trường Constantinian, được xây dựng trên mộ của thánh Peter. Từ khi xuất hiện thánh đường, bắt đầu có dân cư nhưng thưa thớt quanh quảng trường. Nơi ở của Giáo hoàng nằm gân quảng trường, được xây dựng ngay từ thế kỉ V trong suốt triều đại Giáo hoàng Symmachus (? - 19/6/514, triều đại: 498 - 514). Các Giáo hoàng trong một vai trò không thuộc tôn giáo đã đến cầm quyền các khu vực lân cận, lập ra Nhà nước của Giáo hoàng, có quyền lực trên phần lớn bán đảo Ý hơn một nghìn năm đến giữa thế kỷ 19, khi lãnh thổ của Nhà nước của Giáo hoàng bị tịch thu bởi sự thành lập của Vương quốc Ý. Trong thời gian ấy, Vatican, nhưng đúng hơn là điện Lateran, những thế kỉ gần đây là lâu đài chính phủ Ý, không phải là nơi ở thường xuyên của Giáo hoàng, mà là tại Avignon, Pháp. Vào năm 1870, tài sản của Giáo hoàng bị bỏ lại trong một trường hợp không rõ ràng khi Rome tự sáp nhập bởi Piedmontese sau sự kháng cự yếu ớt của lính Giáo hoàng. Giữa năm 1861 và 1929, uy tín của Giáo hoàng được đề cập trong quyển "Những câu hỏi về Giáo hội Công giáo Rôma". Giáo hoàng không bị làm phiền tại nơi ở của các Ngài, và được công nhận bởi sự bảo lãnh của pháp luật. Nhưng các Ngài không được vua Ý công nhận khi ra luật ở Rome, và họ từ chối cho phép vùng đất Vatican cho đến khi sự bất hòa của đôi bên được giải quyết vào năm 1929. Các nước khác tiếp tục duy trì sự công nhận quốc tế rằng Tòa Thánh là một thực thể tối cao. Ý không có ý định can thiệp vào Tòa Thánh trong thành Vatican. Tuy nhiên, họ đã tịch thu tài sản của Giáo hội ở nhiều nơi, đặc biệt bao gồm lâu đài chính phủ Ý, nơi ở chính thức trước kia của Giáo hoàng. Giáo hoàng Pius IX (13/3/1792 - 7/2/1878, triều đại: 1846 - 1878), quốc trưởng cuối cùng của Nhà nước của các Giáo hoàng, đã nói rằng sau khi Rome sáp nhập, Ngài là "Người tù của Vatican". Mốc quan trọng là vào ngày 11/2/1929 giữa Tòa Thánh và vương quốc Ý. Hiệp ước được ký kết giữa Benito Mussolini và Pietro Cardinal Gasparri thay mặt cho vua Victor Emanuel III, và Giáo hoàng Pius XI (31/5/1857 - 10/2/1939, triều đại: 1922 - 1939) thay mặt cho Tòa Thánh. Hiệp ước Lateran và giáo ước (hiệp ước giữa Giáo hoàng và chính phủ một nước) đã thành lập Thành Quốc Vatican (nước Vatican), cùng với việc công nhận Công giáo có vai trò quan trọng tại Ý. Năm 1984, một giáo ước mới giữa Tòa Thánh và Ý sửa đổi một số điều khoản của giáo ước trước đây, bao gồm vị thế của Công giáo như quốc giáo của Ý. == Quân đội == Quân đội thành Vatican rất đặc biệt vì nó là đội quân chính quy nhỏ nhất và lâu đời nhất trên thế giới, Đội cận vệ Thụy Sĩ. Được thành lập vào ngày 22 tháng 1 năm 1506 bởi Giáo hoàng Julius II, nó trước tiên được cấu thành bởi lính đánh thuê Thụy Sĩ từ Liên bang Thụy Sĩ. Quân số hiện nay vào khoảng trên 100 người đồng thời kiêm luôn công tác cận vệ Đức Giáo hoàng. Việc tuyển mộ lính mới rất hạn chế, chỉ đàn ông Công giáo Thụy Sĩ mới được đăng ký. Palatine Guard of Honor and the Noble Guard đã bị giải tán dưới triều đại Giáo hoàng Phaolô VI. Body of the Gendarmeria (Corpo della Gendarmeria) hoạt động như lực lượng cảnh sát của vùng. Vatican không có lực lượng không quân cũng như hải quân. Việc phòng thủ bên ngoài được đảm nhận bởi những bang nước Ý xung quanh. == Quản trị == Thống đốc Vatican, thường được biết đến như Thủ hiến hay Thủ tướng Vatican, có trách nhiệm như một thị trưởng, tập trung vào các vấn đề lễ nghi và đối nội Vatican, trong đó có an ninh quốc gia. Hiện nay Vatican có hai lực lượng giữ gìn an ninh là Đội Cận vệ Thụy Sĩ cho Giáo hoàng (Guardia Svizzera Pontificia) và Đội Hiến binh Thành Quốc Vatican (Corpo della Gendarmeria dello Stato della Città del Vaticano). Quyền lập pháp được trao cho các Hội đồng thuộc Giáo hoàng. Các thành viên là những Hồng y được Giáo hoàng bổ nhiệm, nhiệm kì 5 năm. Về tư pháp, Thành Vatican có Tòa án riêng của thành quốc, bên cạnh ba tòa án thuộc Giáo triều Rôma: Tòa Ân giải Tối cao, Tòa Thượng thẩm Rota, và Tối cao Pháp viện. Hệ thống pháp luật dựa trên cơ sở Giáo luật. Nếu Giáo luật không thích hợp, một bộ luật đặc biệt của khu vực sẽ được áp dụng, thường theo sự cung cấp của nước Ý. == Địa lý == Thành Quốc Vatican, một trong những nước châu Âu nhỏ, nằm trên ngọn đồi Vatican, ở phía tây bắc của Rome, vài trăm mét phía tây sông Tiber. Vatican có đường biên giới (tổng cộng dài 3.2 km hay 2 dặm, tất cả đều nằm trong nước Ý) là một bức tường thành được xây dựng nhằm bảo vệ Giáo hoàng khỏi các thế lực tấn công từ bên ngoài. Tình hình biên giới phức tạp hơn tại quảng trường thánh Peter đối diện thánh đường thánh Peter, nơi đường biên giới chính xác phải nằm cắt ngang quảng trường, vì thế có một đường biên giới ảo được Ý quy định chạy dọc giới hạn bên ngoài quảng trường được quy định bởi cột Basilica, giáp với Piazza Pio XII và Via Paolo VI. Thành Quốc Vatican là quốc gia nhỏ nhất trên thế giới với diện tích khoảng 0.44 km2 (108.7 mẫu Anh (acres)). Khí hậu Vatican giống như khí hậu Rome; nhiệt độ, thời tiết Địa Trung Hải êm dịu, những cơn mưa tuyết bắt đầu từ tháng 9 đến giữa tháng 10 và mùa hạ khô nóng từ tháng 5 đến tháng 8. Một nét đặc trưng của khí hậu Vatican là thường có sương mù đọng lại nhiều. == Văn hóa == Vatican, chính thành phố đã là một công trình văn hóa có ý nghĩa rất lớn, rất quan trọng. Những công trình như Vương cung thánh đường Thánh Phêrô và nhà nguyện Sistine là nơi tập hợp nhiều tác phẩm nghệ thuật nổi tiếng trên thế giới, trong đó có những tác phẩm của những nhà nghệ thuật lừng danh như Botticelli, Bernini và Michelangelo. Thư viện Vatican và những bộ sưu tập của viện bảo tàng Vatican có tầm quan trọng rất lớn về lịch sử, khoa học và văn hóa. Năm 1984, Vatican được UNESCO công nhận là Di sản thế giới, đặc biệt là chỉ một Vatican thôi nhưng lại bao gồm cả đất nước (Vatican là một thành phố, nhưng cũng là một đất nước). Dân số thường trực của Vatican, nam chiếm ưu thế hơn, mặc dù có hai dòng tu của các sơ ở Vatican. Một bộ phận chiếm số dân nhỏ là các tu sĩ cao niên và các thành viên còn lại (thường là người dân) của các giáo phận, giáo xứ. Những công dân, nhân viên tòa đại sứ ở Vatican thường sống ngoài thành. Du lịch và các cuộc hành hương là các nhân số quan trọng trong đời sống hằng ngày của Vatican. Giáo hoàng thường làm lễ Misa hàng tuần và các lễ khác, và thường xuất hiện vào các ngày lễ lớn như lễ Phục sinh. Trong những sự kiện đầy ý nghĩa, như những nghi thức ban phước lành, các lễ tấn phong (Giám mục, phong Chân phước...), Ngài thường làm lễ ngoài trời ở quảng trường Thánh Phêrô. == Thể thao == Vatican không có một liên đoàn thể thao hay sân vận động nào. Đôi khi nó được xem như có một đội tuyển bóng đá quốc gia. Đội tuyển chơi tại Stadio Pio XII ở Ý. == Tội phạm == Theo một kết quả khảo sát, Vatican có số dân thường trú nhỏ, nhưng với hàng triệu khách du lịch mỗi năm, Thành Vatican có tỷ lệ tội phạm trên đầu người thuộc hàng cao nhất trên thế giới, hơn gấp hai mươi lần so với Ý. Năm 2002, một kết quả từ Tòa án Giáo hoàng, chánh công tố Nicola Picardi trích dẫn từ những thống kê cho thấy: có 397 vụ vi phạm pháp luật dân sự và 608 vụ vi phạm pháp luật hình sự. Mỗi năm, hàng trăm khách du lịch trở thành nạn nhân của nạn móc túi và giật giỏ, giật tiền. Thủ phạm gây ra, không ai khác chính là các du khách, nhưng ngoài ra còn đến 90% vụ vi phạm chưa được giải quyết. Lực lượng cảnh sát Vatican là Corpo Della Vigilanza. Như theo Hiệp ước Lateran 1929 giữa Tòa thánh Vatian và Ý, chính quyền Vatican có quyền khởi tố và giam giữ các nghi can. Vụ giết người gần đây nhất ở Vatican xảy ra vào năm 1998, khi một thành viên của quân Swiss Guard giết hai người trước khi tự sát. Vatican đã bãi bỏ việc kết án tử hình vào năm 1969, nhưng nó vẫn được thực hiện vào thời gian trước, Nhà nước của các Giáo hoàng vào ngày 9 tháng 7 năm 1870 tại Palestrina, khi Agabito (Agapito) Bellomo bị chém đầu (bởi máy chém) vì tội giết người. == Văn hoá == Kiểu trang phục sử dụng khi vào Vương cung thánh đường Thánh Phêrô phải là kiểu được thiết kế nhã nhặn và thích hợp cho việc viếng thăm các khu vực tôn giáo. Các du khách và người hành hương đều được nhác nhở về việc đó, vì Tòa thánh Vatican không chỉ là công trình kiến trúc nghệ thuật mà còn là một nhà thờ. Sau đây là các kiểu trang phục bị ngăn cấm (khi bước vào thánh đường) Nón mũ Quần short hay váy ngắn trên đầu gối Áo không có tay áo Áo hở rốn Áo (phụ nữ) hở giữa Áo in/mang những lời tục tĩu, báng bổ Có quá nhiều đồ trang sức == Hệ thống chính trị == Do những lý do lịch sử, hệ thống nhà nước của Vatican rất đặc biệt, một hệ thống nhà nước "độc nhất vô nhị". Dưới Giáo hoàng, những người đứng đầu là Quốc vụ khanh và Thủ hiến Vatican. Ở đây, giống như những viên chức khác, tất cả đều được sự bổ nhiệm của Đức Giáo hoàng, cũng như có thể bị cách chức bởi Ngài bất kì lúc nào. Khi Tòa thánh trống ngôi, một Mật nghị Hồng y được triệu tập để bầu giáo hoàng mới. == Đọc thêm == Morley, John. 1980. Vatican diplomacy and the Jews during the Holocaust, 1939-1943. New York: KTAV Pub. House. ISBN 0-87068-701-8 Nichols, Fiona (ngày 1 tháng 8 năm 2006). Rome and the Vatican. New Holland Publishers. tr. 85–. ISBN 9781845375003. Truy cập ngày 4 tháng 3 năm 2010. Chadwick, Owen. 1988. Britain and the Vatican During the Second World War. Cambridge University Press Kent, Peter. 2002. The Lonely Cold War of Pope Pius XII: The Roman Catholic Church and the Division of Europe, 1943–1950. Ithaca: McGill-Queen's University Press. ISBN 0-7735-2326-X Ricci, Corrado. "Vatican: Its History Its Treasures" Contributor Ernesto Begni. © 2003 Published by Kessinger Publishing, ISBN 0-7661-3941-7, ISBN 978-0-7661-3941-1 == Tham khảo == === Ghi chú === === Chú thích === == Liên kết ngoài == Tiếng Anh The Holy See — The Vatican's Official Website Vatican City official website Vatican Radio station Vatican TV CIA - The World Factbook - Holy See (Vatican City) Detailed map of Vatican City Encyclopaedia Britannica's Vatican City page History of Vatican City: Primary Documents Lateran Pacts of 1929 Agreement Between the Italian Republic and the Holy See, 18 Feb. 1984 Piazza San Pietro in Vaticano Virtual Tour with map and compass effect by Tolomeus The Pope's Walls stpetersbasilica.org Largest online source for St. Peter's in the Vatican The Vatican City on Google Maps. UNESCO site Vatican Philatelic Society Premier online source of information about Vatican City postage stamps Vatican Secret Archive Walls of Rome World Heritage Site
chiến tranh biên giới tây nam.txt
Chiến tranh biên giới Tây Nam là cuộc xung đột quân sự giữa Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Campuchia Dân chủ. Cuộc chiến có nguyên nhân từ các hoạt động quân sự của quân Khmer Đỏ tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, giết chóc người dân và đốt phá làng mạc Việt Nam trong những năm 1975-1978. Cuộc chiến có thể chia làm 3 giai đoạn: Giai đoạn 1: Từ giữa năm 1975 đến cuối năm 1978: Khmer Đỏ tổ chức nhiều cuộc tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, phá hủy nhiều ngôi làng và giết hại hàng ngàn thường dân Việt Nam. Phía Việt Nam chỉ tổ chức phòng ngự và cố đàm phán tìm giải pháp hòa bình, nhưng Khmer Đỏ bác bỏ. Giai đoạn 2: Từ tháng 12/1978 đến tháng 5/1979: Khmer Đỏ tổ chức cuộc tấn công lớn nhất vào lãnh thổ Việt Nam với 19 sư đoàn nhưng bị phía Việt Nam bẻ gãy. Sau cuộc tấn công, Việt Nam thấy không có cơ hội để đàm phán hòa bình nên đã tổ chức tấn công lớn vào Campuchia, lật đổ Khmer Đỏ và lập nên chế độ mới do Hun Sen đứng đầu. Tàn quân Khmer Đỏ chạy sang ẩn náu bên kia biên giới Thái Lan. Giai đoạn 3: Từ giữa năm 1979 đến cuối năm 1985: Khmer Đỏ với sự trợ giúp về lương thực, vũ khí của Thái Lan, Trung Quốc và Hoa Kỳ đã tổ chức đánh du kích và đe dọa sự tồn tại của chế độ Hun Sen. Năm 1982, Việt Nam rút bớt quân khỏi Campuchia, ngay sau đó Khmer Đỏ hoạt động mạnh trở lại và chiếm một số khu vực. Nhận thấy quân đội Hun Sen còn rất yếu ớt nên không thể tự chống cự được, Việt Nam buộc phải tiếp tục đóng quân tại Campuchia để bảo vệ chế độ Hun Sen và truy quét Khmer Đỏ. Mùa khô 1984 - 1985, cuộc tấn công quyết định của Việt Nam đã phá hủy các căn cứ chính của Khmer Đỏ, khiến Khmer Đỏ suy yếu đi nhiều và không còn đủ sức đe dọa chế độ mới của Hun Sen. Giai đoạn 4: Từ 1986 tới 1989: Sau chiến dịch mùa khô năm 1985, nhận thấy chế độ Hun Sen đã tự đứng vững được, từ năm 1986, Việt Nam rút dần quân khỏi Campuchia và đến năm 1989 thì rút hết. Nhân việc Việt Nam rút quân, các lực lượng tàn quân của Khmer Đỏ định tái hoạt động, nhưng bị quân đội Hun Sen đánh bại. Khmer Đỏ dần tan rã, các lãnh đạo bị bắt và bị đưa ra xét xử ở tòa án quốc tế. == Bối cảnh == Sau Chiến tranh Việt Nam, Việt Nam và Campuchia xuất hiện nhiều mâu thuẫn. Tranh chấp và xung đột biên giới xảy ra liên tục trong các năm 1977 và 1978, nhưng cuộc xung đột thực ra đã bắt đầu ngay sau khi giải phóng Sài Gòn. Ngày 4 tháng 5 năm 1975, một toán quân Khmer Đỏ đột kích đảo Phú Quốc, sáu ngày sau quân Khmer Đỏ đánh chiếm và hành quyết hơn 500 dân thường ở đảo Thổ Chu. Tức giận vì hành vi gây hấn của Khmer Đỏ, Hà Nội phản công giành lại các đảo này. Trận đánh ở Phú Quốc làm nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam mới thành lập lo ngại, vì cùng thời gian đó, quan hệ Việt Nam và Trung Quốc đang xấu đi. Mối lo ngại này càng tăng thêm vì sự hiện diện của cố vấn Trung Quốc ở Campuchia và Trung Quốc tăng cường viện trợ quân sự cho lực lượng vũ trang Khmer Đỏ. Tiếp theo cuộc đột kích vào các đảo Thổ Chu và Phú Quốc, bên cạnh nhiều cuộc đột kích nhỏ, Khmer Đỏ tiến hành hai cuộc xâm nhập quy mô lớn vào Việt Nam. Cuộc tấn công lớn đầu tiên diễn ra vào tháng 4 năm 1977, quân chính quy Khmer Đỏ tiến sâu 10 km vào lãnh thổ Việt Nam, chiếm một số vùng ở tỉnh An Giang và tàn sát một số lớn dân thường. Cuộc tấn công thứ hai diễn ra vào ngày 25 tháng 9 cùng năm, lần này 4 sư đoàn quân Khmer Đỏ đánh chiếm nhiều điểm ở các huyện Tân Biên, Bến Cầu, Châu Thành (tỉnh Tây Ninh), đốt phá 471 ngôi nhà, làm gần 800 người dân bị giết, bị thương hoặc mất tích. Để trả đũa, ngày 31 tháng 12 năm 1977, sáu sư đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam đánh vào sâu trong đất Campuchia đến tận Neak Luong rồi mới rút lui từ ngày 5 tháng 1 năm 1978, mang theo một số nhân vật quan trọng bên phía Campuchia, trong đó có cả Thủ tướng tương lai Hun Sen. Cuộc tấn công này được xem là lời "cảnh cáo" cho Khmer Đỏ. Phía Việt Nam đề nghị một giải pháp ngoại giao nhằm thiết lập một vùng phi quân sự dọc biên giới, nhưng Pol Pot từ chối, và giao tranh tiếp diễn. Ngày 1 tháng 2 năm 1978, Trung ương Đảng Cộng sản của Pol Pot họp bàn chủ trương chống Việt Nam và quyết định thành lập 15 sư đoàn. Trong nghị quyết của họ có ghi: "Chỉ cần mỗi ngày diệt vài chục, mỗi tháng diệt vài ngàn, mỗi năm diệt vài ba vạn thì có thể đánh 10, 15, đến 20 năm. Thực hiện 1 diệt 30, hy sinh 2 triệu người Campuchia để tiêu diệt 50 triệu người Việt Nam". Pol Pot đã điều 13 trong số 17 sư đoàn chủ lực và một số trung đoàn địa phương liên tục tấn công vào lãnh thổ Việt Nam, có nơi vào sâu tới 15–20 km. Trong các đợt tấn công đó, Khmer Đỏ đã thực hiện thảm sát đối với người Việt Nam, một ví dụ là vụ thảm sát Ba Chúc vào tháng 4 năm 1978 với 3157 dân thường bị giết hại. Từ năm 1975 cho tới năm 1978, có tới 30 ngàn người Việt Nam bị Khmer Đỏ sát hại trong các cuộc tấn công dọc biên giới. Việt Nam cố gắng giải quyết cuộc xung đột một cách hòa bình thông qua đàm phán ngoại giao, nhưng Khmer Đỏ từ chối đàm phán, Trung Quốc không chịu làm trung gian hòa giải, còn Liên Hợp Quốc không có biện pháp gì phản hồi lại các phản đối của chính quyền Việt Nam về các hành động gây hấn của Khmer Đỏ. Việt Nam phải chuyển sang sử dụng vũ lực để giải quyết cuộc xung đột. Từ tháng 12 năm 1977 đến 14 tháng 6 năm 1978, hơn 30 vạn thường dân Việt Nam phải tản cư vào sâu trong nội địa, bỏ hoang 6 vạn ha đất sản xuất. Theo cuốn "Cuộc chiến tranh bắt buộc" của Đại tá Quân đội Nhân dân Việt Nam Nguyễn Văn Hồng, trong các trận đánh dọc biên giới trong giai đoạn này, Việt Nam bị thương vong 8.500 bộ đội, trong đó số chết là gần 3.000 người. Ngày 13 tháng 12 năm 1978, được sự trang bị và hậu thuẫn của Trung Quốc, Khmer Đỏ đã huy động 19 trong 23 sư đoàn (khoảng 80.000 đến 100.000 quân) tiến công xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới. Ba sư đoàn đánh vào Bến Sỏi với mục tiêu chiếm thị xã Tây Ninh, 2 sư đoàn đánh vào Hồng Ngự (Đồng Tháp), 2 sư đoàn đánh khu vực Bảy Núi (An Giang), 1 sư đoàn đánh Trà Phô, Tà Teng (xã Phú Mỹ huyện Giang Thành tỉnh Kiên Giang). Tại những vùng chiếm đóng, Khmer Đỏ đã thực hiện sách lược diệt chủng đối với người Việt, như đã làm với người Khmer. Quân đội Việt Nam đã chống trả quyết liệt và đã kìm chân bước tiến, đồng thời tiêu hao sinh lực của quân Khmer đỏ. Các hướng tiến quân của Khmer Đỏ bị chặn lại và không thể phát triển được. Ngoại trừ Hà Tiên bị chiếm giữ trong thời gian ngắn, không một thị xã nào của Việt Nam bị chiếm. Theo thống kê từ Việt Nam, từ tháng 6-1977 đến tháng 12-1978, họ đã tiêu diệt 38.563 quân Khmer đỏ, bắt sống 5.800 lính khác. Theo Tạp chí Time, quân Việt Nam tiến hành các cuộc không kích và giao tranh trên bộ, đánh vào các đơn vị quân Khmer Đỏ dọc biên giới nhằm làm suy yếu quân Khmer Đỏ trước khi quân Việt Nam bắt đầu chiến dịch đã tiêu diệt khoảng 17 ngàn quân Khmer Đỏ. == Lực lượng hai bên == Việt Nam Chỉ huy trực tiếp chiến dịch là trung tướng Lê Trọng Tấn, lực lượng được huy động bao gồm: Quân đoàn 2 do thiếu tướng Nguyễn Hữu An làm tư lệnh và thiếu tướng Lê Linh làm chính ủy, gồm các Sư đoàn 304, 325, được bổ sung Trung đoàn bộ binh 8, cũng từ Tịnh Biên (An Giang - Hà Tiên) đánh theo hướng tây để hỗ trợ lực lượng Quân khu 9 đánh về Phnom Penh, chiếm Kampot và vùng duyên hải Đông Nam Campuchia. Sư đoàn 306 mới thành lập không kịp tham gia chiến dịch vì chưa hoàn thành công tác huấn luyện. Cũng như tại mặt trận Tây Ninh, tại An Giang, quân Việt Nam cũng chia quân tấn công hai hướng. Hướng thứ nhất theo Quốc lộ 2 tiến về hướng Bắc đánh về Phnom Penh. Hướng thứ hai tiến theo duyên hải về hướng Tây đánh chiếm hải cảng Kompong Som, Sư đoàn 304 được dùng làm trừ bị, cố thể được dùng tăng cường trong trường hợp Quân đoàn 4 tấn công Phnom Penh gặp khó khăn. Quân đoàn 3 của thiếu tướng Kim Tuấn, gồm các Sư đoàn 10, 31, 320, được bổ sung Sư đoàn 302, đánh từ Tây Ninh, vượt qua tỉnh Kampong Cham đến sông Mê Kông và vùng lãnh thổ đông bắc Campuchia. Quân đoàn 4 của thiếu tướng Hoàng Cầm, gồm các Sư đoàn 7, 9, 341, được bổ sung thêm Sư đoàn 2, cùng Lữ đoàn 22 thiết giáp, Lữ đoàn 24 pháo binh, Lữ đoàn 25 công binh và 3 tiểu đoàn Khmer của Mặt trận Đoàn kết Dân tộc Cứu nước Campuchia (UFNSK) thân Việt Nam, hướng tấn công từ hướng tây và tây nam Tây Ninh, sau khi đã tái chiếm những vị trị trên tỉnh lộ 13, theo đường 1 qua tỉnh Svay Rieng nhắm đánh bến phà chiến lược Neak Luong để đến Phnom Penh. Quân khu 5 của thiếu tướng Đoàn Khuê: gồm hai Sư đoàn 307, 309 và Lữ đoàn đặc công 198, đánh từ Pleiku theo đường 19 về hướng Tây để tiêu diệt quân Khmer Đỏ ở Đông Bắc Campuchia. Quân khu 7 của trung tướng Lê Đức Anh: gồm hai Sư đoàn 5, 302, 303, Trung đoàn đặc công 117, được tăng cường thêm một số đơn vị của Quân đoàn 3 như Lữ đoàn 12 thiết giáp, những trung đoàn chủ lực các tỉnh Tây Ninh, Long An, Sông Bé, Trung đoàn 262 pháo binh, Trung đoàn 26 thiết giáp, Trung đoàn công binh E25 QK7 (gồm các tiểu đoàn D739 cầu đường trong đó tiểu đoàn D739 gồm các đại đội C10, C11, C12, D278 bom mìn, D98 xe máy, D741 cầu phà), 3 tiểu đoàn Khmer UFNSK từ phía bắc tỉnh Tây Ninh và khu căn cứ của UFNSK quanh Snuol tiến quân dọc theo Quốc lộ 13 và Quốc lộ 7 đánh chiếm Kratié và Kampong Cham. Quân khu 9 của thiếu tướng Nguyễn Chánh: gồm các Sư đoàn 4, 330, 339, tấn công từ khu vực Tịnh Biên ở hướng Bắc, qua tỉnh Ta Keo, hướng về Phnom Penh Lực lượng đổ bộ đường biển gồm Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 và Lữ đoàn hải quân đánh bộ 101 đổ bộ vào vùng duyên hải Đông Nam Campuchia để chiếm Ream và cảng Sihanoukville trên bán đảo Kampong Som. Đoàn 901 không quân: gồm Sư đoàn không quân 372 được trang bị máy bay F-5, A-37, máy bay trực thăng UH-1,Mi-24, máy bay vận tải C-130, C-119, C-47, và một phân đội MiG-21 từ Trung đoàn 921. Các sư đoàn Việt Nam đều có các đơn vị cơ hữu thiết giáp, pháo binh, pháo phòng không và một lữ đoàn công binh. Theo phía Việt Nam, có 10.000 - 15.000 quân UFNSK tham gia chiến dịch, tuy nhiên theo các phân tích viên quốc tế, đây là con số phóng đại, chỉ có chừng vài trăm quân UFNSK trực tiếp tham gia chiến dịch, còn lại đại bộ phận làm công tác liên lạc, đảm bảo hậu cần, phiên dịch... Khmer Đỏ Theo phía Việt Nam, lực lượng Khmer Đỏ gồm có 23 sư đoàn, theo tác giả Steven Heder, quân Khmer Đỏ gồm chừng 15 sư đoàn. Các sư đoàn này được trang bị tốt bằng vũ khí của Trung Quốc, được chỉ huy bởi các chỉ huy dày dạn kinh nghiệm trong các cuộc chiến tranh vừa qua, gồm nhiều binh lính trung thành đến cuồng tín, nhưng các sư đoàn này cũng đã bị nhiều hao tổn trong những lần giao tranh trước, và quân số mỗi sư đoàn chỉ chừng 4.000 - 7.000 người, bằng một nửa quân số của sư đoàn Việt Nam. Các sư đoàn: 164, 170, 290, 310, 450, 703, 801, 902 Một số máy bay chiến đấu T-28. Một phân đội MiG-19 do Trung Quốc sản xuất, số MiG-19 này không kịp tham chiến vì không có phi công và rơi vào tay quân Việt Nam khi họ chiếm Phnom Penh Một sư đoàn thủy quân lục chiến Một sư đoàn hải quân Một sư đoàn không quân, nhưng chiến đấu như bộ binh khi giao tranh nổ ra. Nhiều đơn vị xe tăng và trọng pháo. == Chiến dịch phản công == === Diễn biến chiến dịch === Tới đầu tháng 12 năm 1978, quân đội Việt Nam được hỗ trợ bởi một số tiểu đoàn Khmer thân Việt Nam đã kiểm soát một vùng đệm dọc biên giới trong lãnh thổ Campuchia, từ Mimot đến Snuol ở các tỉnh Kampong Cham và Kratié. Ở phía Bắc, quân Việt Nam cũng kiểm soát một vùng rộng thuộc lãnh thổ Campuchia dọc theo đường 19. Ngày 23 tháng 12 năm 1978, sau khi được tăng viện, với 80.000 quân, quân đội Việt Nam đã tiến hành phản công trên toàn bộ mặt trận, đẩy lùi quân Khmer Đỏ. Sư đoàn 2 cùng trung đoàn chủ lực tỉnh Tây Ninh mở cuộc tấn công nhằm đánh bật các Trung đoàn 23 thuộc Sư đoàn 304 và Trung đoàn 13 thuộc Sư đoàn 221 của Campuchia ra khỏi các vị trí dọc theo tỉnh lộ 13 sát biên giới. Tuy nhiên chiến cuộc chưa chấm dứt, quân đội Việt Nam quyết định mở cuộc tấn công phòng ngừa vào Campuchia. ==== Đánh chiếm bờ đông sông Mekông ==== Sau khi đánh tan sức kháng cự của quân Khmer Đỏ, các lực lượng Việt Nam thuộc Quân khu 5 nhanh chóng hành tiến theo đường 19, sư đoàn 309 quét sạch tỉnh Ratanakiri, phía Bắc tỉnh Mondolkiri và tiến vào phía Bắc tỉnh Stung Treng. Sư đoàn 307 tiến theo đường 19, dùng cầu phao vượt sông Srepok và sông Mekong. Tới ngày 1 tháng 1 năm 1979, lực lượng Quân khu 5 tiến dọc sông Mekong chiếm được Stung Treng. Cùng thời gian, Sư đoàn 5 thuộc Quân khu 7 tiến từ hướng đông, cùng Sư đoàn 303 tiến theo hướng tây bắc từ Snuol cùng đánh vào Kratié do Sư đoàn 260 và 2 trung đoàn địa phương của đặc khu 505 phòng thủ. Các sư đoàn này gặp phải sức kháng cự quyết liệt từ phía quân Khmer Đỏ. Trong cuộc tiến quân, hai Tiểu đoàn 1 và 2 Trung đoàn 316 Sư đoàn 303 bị tập kích bất ngờ nên bị tiêu diệt. Trung đoàn này, cũng như Trung đoàn 33, sau một tháng hành quân, quân số hao hụt mất một nửa. Các đơn vị quân Khmer Đỏ tấn công Sư đoàn 303 gây nhiều tổn thất và suýt chiếm được sở chỉ huy sư đoàn. Tuy nhiên, sau khi không chặn được quân Việt Nam, quân Khmer Đỏ phải rút lui, và tới ngày 29 tháng 12, thành phố Kratié rơi vào tay quân đội Việt Nam. Cùng lúc, Sư đoàn 302 tiến về phía Tây đã chiếm được Kampong Cham. Sau đó, hai Sư đoàn 302 và 303 cùng quay lại đánh chiếm thị xã Chhlong do Sư đoàn 603 Khmer Đỏ chống giữ. Ngày 4 tháng 1, họ chiếm được Chhlong. Kể từ lúc đó, toàn bộ lãnh thổ Campuchia ở phía đông sông Mekong coi như bị mất. Sáng ngày 31 tháng 12, được pháo binh bắn yểm trợ, xe tăng và bộ binh Quân đoàn 3 Việt Nam tiến công và nhanh chóng đánh tan 5 sư đoàn quân Khmer Đỏ trên toàn tuyến phòng thủ dọc theo biên giới ở tỉnh Kampong Cham. Tới cuối ngày, trừ sở chỉ huy quân Khmer Đỏ, toàn bộ các cứ điểm còn lại thất thủ, quân Khmer Đỏ rút chạy về thị trấn Kampong Cham ở bờ tây sông Mekong, bị quân Việt Nam truy kích ráo riết. Không quân Việt Nam cũng tham chiến, tấn công vào tuyến phòng thủ của Khmer Đỏ và ném bom phá hủy một sân bay mà từ đó máy bay T-28 Khmer Đỏ xuất kích ném bom vào các toán quân tiền phương Việt Nam. Sáng ngày 1 tháng 1 năm 1979, sau khi tập hợp lại lực lượng, Quân đoàn 3 đánh chiếm sở chỉ huy Khmer Đỏ sau một giờ giao chiến quyết liệt. Tướng Kim Tuấn hạ lệnh cho các đơn vị dưới quyền truy quét và tiêu diệt các lực lượng Khmer Đỏ còn sót lại. Tới ngày 3 tháng 1, Sư đoàn 320 đã tiến tới bờ đông của bến phà Kampong Cham bên bờ sông Mekong. Tại đây sư đoàn dừng lại, rồi dùng 2 đại đội xe bọc thép mở đường, đánh về phía nam chiếm thủ phủ tỉnh Prey Veng. Trong thời gian đó, ngày 28 tháng 12, ở hạ lưu đồng bằng sông Mekong, lực lượng Khmer Đỏ thuộc Quân khu Đông Nam mở cuộc tấn công phòng ngừa dọc biên giới. Quân Khmer Đỏ tiêu diệt một số đơn vị Quân khu 9 bảo vệ biên giới và chiếm một vùng rộng lãnh thổ Việt Nam dọc theo kênh Vĩnh Tế. Cuộc tấn công này làm cho tình hình Quân đoàn 2 của tướng Nguyễn Hữu An trở nên rất khó khăn. Quân Khmer Đỏ đã chiếm được khu vực đầu cầu mà Quân đoàn 2 và lực lượng Quân khu 9 định dùng để tiến vào Campuchia, đồng thời giành được một chiến lũy tự nhiên cản đường tiến của quân Việt Nam. Sau khi nhận được sự chấp thuận từ Bộ chỉ huy, sáng ngày 31 tháng 12, sư đoàn 4 của Quân khu 9 và Trung đoàn 9 của Sư đoàn 304 phối thuộc mở cuộc phản công. Sau 24 giờ giao tranh kịch liệt, quân Việt Nam đã đánh lui quân Khmer Đỏ khỏi bờ tây kênh Vĩnh Tế. Chiều ngày 1 tháng 1, được pháo binh và không quân yểm trợ, Lữ đoàn công binh 219 thuộc Quân đoàn 2 bắc cầu phao vượt sông. Sư đoàn 304 và Lữ đoàn xe bọc thép 203 mở đường tiến vào đất Campuchia. Tới trưa ngày 3 tháng 1, Quân đoàn 2 và Quân khu 9 đã tiêu diệt hoặc đánh tan tất cả các lực lượng Khmer Đỏ ở hạ lưu sông Mekong dọc biên giới. Sở chỉ huy Quân khu Tây Nam của Khmer Đỏ phải rút về Takéo. Sau ba ngày tấn công, tại hướng chủ yếu Tây Ninh, Quân đoàn 4 với sự yểm trợ của không quân, trực thăng, pháo binh, hải quân, thiết giáp... quân Việt Nam đánh bật được quân Khmer Đỏ khỏi các vị trí Năm Căn, Hòa Hội dọc theo tỉnh lộ 13, và các đơn vị của các Sư đoàn 703, 340, 221 của Khmer Đỏ phải rút về thành lập một tuyến phòng thủ mới tại Svay Rieng, tập trung ở cầu Don So. Được 15 xe tăng và xe bọc thép mở đường, cùng với pháo 105mm, 155mm bắn yểm trợ, Sư đoàn 7 của Quân đoàn 4 mở cuộc tấn công vào quân Khmer Đỏ ở Don So. Tuy nhiên sau hai ngày giao chiến với nhiều tổn thất, Sư đoàn 7 vẫn chưa chọc thủng được tuyến phòng phủ của Khmer Đỏ. Tới đêm ngày 1 tháng 1, tướng Hoàng Cầm hạ lệnh cho Sư đoàn 7 tung hết lực lượng dự bị vào trận. Quân Khmer Đỏ kháng cự dữ dội, nhưng sau khi bị đánh thua ở Tây Ninh, quân Khmer Đỏ đã bị mất tinh thần, hơn nữa, do phải chấp nhận một trận đánh quy ước với một địch thủ có hoả lực, quân số và kinh nghiệm chiến trường trội hơn quá nhiều, nên quân Khmer Đỏ bị tan rã. Tuyến phòng thủ Svay Rieng bị vỡ ngày 2 tháng 1 năm 1979, quân Khmer Đỏ phải rút về Prey Veng và Neak Luong, chỉ để lại một số đơn vị đánh cầm chân Quân đoàn 4. Tới ngày 2 tháng 1 năm 1979, quân đội Việt Nam đánh tan các sư đoàn chủ lực của Khmer Đỏ án ngữ các trục đường số 1, 7 và 2 ở lối vào Phnom Penh. Chiều ngày 3 tháng 1, Sư đoàn 7 chiếm được cầu Don So và tới ngày 4 tháng 1 đã làm chủ toàn bộ vùng phía đông sông Mekong. Tới ngày 5 tháng 1, Sư đoàn 7 tiến đến Neak Luong. ==== Đánh chiếm Phnom Penh ==== Ngày 6 tháng 1, các đơn vị Việt Nam vượt sông Mekong qua ngả Neak Luong và bắc Kompong Cham. Chín sư đoàn quân Việt Nam làm thành hai gọng kìm tiến vào Phnom Penh từ phía Đông Nam và phía Bắc: Sư đoàn 7 và Sư đoàn 2 di chuyển theo quốc lộ 1, Sư đoàn 9 tiến song song bảo vệ sườn phía nam và Sư đoàn 341 bảo vệ sườn phía bắc. Một toán đặc công nhảy dù xuống Phnom Penh để giải cứu Hoàng thân Sihanouk nhưng bị Khmer Đỏ phát hiện và tiêu diệt hết, chỉ duy nhất một người sống sót. Tại Kompong Cham, Quân đoàn 3 của tướng Kim Tuấn cũng giao tranh quyết liệt với quân Khmer Đỏ để vượt sông. Quân Khmer Đỏ thiết lập trận địa phòng ngự dọc bờ tây sông Mekong với nhiều ổ súng máy, súng cối bắn trùm lên mặt sông để ngăn thuyền chở quân Việt Nam đổ bộ. Xa hơn một chút, quân Khmer Đỏ bố trí xe tăng, xe bọc thép, pháo 105mm, 122mm và 155mm để bắn vào quân Việt Nam đang tập trung ở bờ đông sông Mekong. Đêm ngày 5 tháng 1, một toán quân gồm lính trinh sát, công binh và bộ binh định vượt qua bờ sông chiếm một đầu cầu nhỏ, nhưng quân Khmer Đỏ đánh bật họ lại. Tướng Kim Tuấn quyết định dùng hỏa lực áp đảo bắn vào trận địa phòng thủ của quân Khmer Đỏ, rồi cho thả khói mù, dùng thuyền chuyển quân sang bờ tây. Mặc dù rất nhiều thuyền bị trúng đạn của quân Khmer Đỏ, Quân đoàn 3 cuối cùng cũng đã thiết lập được một đầu cầu. Một đại đội xe lội nước vượt sông và tỏa ra để đánh vào thị trấn; 2 tiểu đoàn bộ binh cũng vượt được sông, đến 8:30 sáng, Kampong Cham thất thủ. Ngay trong sáng ngày 6 tháng 1, lực lượng đột kích Phnom Penh, gồm Trung đoàn 28 của Sư đoàn 10 và các đơn vị phối thuộc, dẫn đầu bởi 6 xe lội nước và một số xe thiết giáp M-113 vượt sông, tổng cộng lực lượng lên đến 120 xe quân sự. Lực lượng đột kích vừa hành quân vừa giao chiến với các ổ phục kích của quân Khmer Đỏ, tới chiều tối đã tới bờ sông Tonglé Sap và tổ chức đánh vượt sông để tiến vào Phnom Penh. Trong khi đó, ngày 6 tháng 1 năm 1979, những đơn vị đầu tiên của Sư đoàn 7 Quân đoàn 4 được 1 tiểu đoàn UFNSK hỗ trợ chiếm được bờ phía đông của bến phà Neak Luong. Quân Campuchia trong khi rút lui vội vã đã không kịp thiết lập công sự phòng thủ. Trong đêm, cách bến phà khoảng hai cây số về phía nam, Trung đoàn 113 cùng Trung đoàn 14 của Sư đoàn 7 được tàu đổ bộ đưa sang bên kia sông, tiến chiếm bờ phía tây của bến phà. Ngày 7 tháng 1, toàn bộ đội hình Quân đoàn 4 tiến hành vượt sông. Do sự tan rã nhanh chóng của lực lượng phòng thủ biên giới và sự chủ quan của Pol Pot, quân đội Việt Nam tiến vào Phnom Penh từ Neak Luong mà không gặp sức chống cự đáng kể nào. Trưa ngày 4 tháng 1, Quân đoàn 4 đã có thể bắt tay với Quân đoàn 3 ở ngoại ô phía bắc Phnom Pênh. Tuy nhiên Quân đoàn 3 đã đến muộn, không kịp chặn đường Chính phủ Polpot rút chạy khỏi Phnom Penh. Việc quân Việt Nam tiến quá nhanh khiến cho Khmer Đỏ chỉ kịp sơ tán bộ máy lãnh đạo. Son Sen chạy xuyên qua mặt trận ngược về phía Việt Nam để tập hợp tàn quân của các sư đoàn thuộc quân khu miền Đông. Pol Pot, Nuon Chea và Khieu Samphan được vài xe Jeep chở quân bảo vệ chạy về Pursat. Ieng Sary chạy về Battambang trên một chuyến xe lửa đặc biệt chở vài trăm nhân viên Bộ ngoại giao. Việc rút lui khẩn khiến nhiều Bộ khác cùng hàng ngàn nhân viên không được thông báo về cuộc rút lui. Các chuyến xe tiếp theo sơ tán Phnom Penh bị tắc nghẽn bởi quá nhiều người tìm cách bỏ chạy. Như vậy với việc ban lãnh đạo sơ tán, khoảng 40 ngàn dân chúng và binh lính Khmer Đỏ tại Phnom Penh, cũng như các đơn vị quân phòng thủ các mục tiêu lân cận bị bỏ mặc tự thân vận động. Ngày 7 tháng 1, quân Việt Nam chiếm sân bay Kampong Chonang và bắt được mười máy bay A-37, ba C-123K, sáu C-47, ba Alouette III cùng một số T-28. Ngoài ra Khmer Đỏ cũng bỏ lại hàng trăm xe tăng và xe bọc thép, rất nhiều đạn dược và lương thực dự trữ chiến lược mà họ không kịp mang theo. Ngày 8 tháng 1, Hội đồng Nhân dân Cách mạng Campuchia do Heng Samrin làm Chủ tịch đã được thành lập với sự hậu thuẫn của Việt Nam. Ở phía Bắc, các sư đoàn của Quân đoàn 3 cũng tiến xuống Phnom Penh, sau đó Sư đoàn 320 theo quốc lộ 4 xuống bình định các tỉnh phía nam. Các sư đoàn còn lại theo các quốc lộ 5 và 6 tiến về hướng Tây và hướng Bắc. Họ gặp sức chống cự đáng kể của quân Khmer Đỏ tại Battambang và Siem Reap. ==== Hướng nam, Sihanoukville ==== Tại mặt trận phía nam, từ An Giang, quân Việt Nam bắt đầu vượt biên giới vào ngày 3 tháng 1 năm 1979 và tấn công theo hai hướng. Hướng thứ nhất, Sư đoàn 325 và Sư đoàn 8 tiến về phía Tây, dọc theo quốc lộ số 2. Ngày 5 tháng 1 năm 1979, trong khi lực lượng Quân khu 9 tiến đánh Takéo, sư đoàn 325 bắt đầu hành tiến theo hướng Tây Bắc. Lực lượng Khmer Đỏ của Quân khu Tây Nam do Ta Mok chỉ huy khét tiếng cuồng tín đã chuẩn bị công sự phòng thủ ở Tuk Meas trên đường 16, ở khoảng giữa biên giới và Chhuk. Phải mất hai ngày giao chiến, Sư đoàn 325 mới có thể đánh tan tuyến phòng ngự của Khmer Đỏ và chiếm được khu vực Tuk Meas. Cùng lúc đó tướng Nguyễn Hữu An cũng tung Sư đoàn 8 theo hướng tây để đánh chiếm quận lỵ Kampong Trach, nằm ở giao điểm với đường quốc lộ ven biển. Nắm quyền chỉ huy trực tiếp trung đoàn xung kích 24, tướng Nguyễn Hữu An dẫn trung đoàn tiến từ Tuk Meas về Chhuk. Các quân xa của Việt Nam gồm xe tăng hạng nặng, xe tải và trọng pháo di chuyển khó khăn trên đường đất và ruộng lúa nên đã bị quân Khmer Đỏ phục kích phá hủy một số xe và pháo, sở chỉ huy của tướng An cũng bị tổn thất và tạm thời mất liên lạc với các lực lượng còn ở phía sau. Tới chiều ngày 7 tháng 1, lực lượng xung kích đã ra đến đường số 3, và trong quá trình tiến công đã đánh tan sư đoàn quân Khmer Đỏ phòng ngự Chhuk. Trong hai ngày 4, 5 tháng 1 năm 1979, từ đảo Phú Quốc, hai phân đội Hải quân Việt Nam gồm một số tàu tuần tiễu loại lớn của Mỹ, hai tàu khu trục Petya của Nga, cùng nhiều tàu chiến nhỏ chuẩn bị chuyển Lữ đoàn Hải quân 101 và 126 đổ bộ. Hải quân cũng lập trận địa pháo 130mm ở mũi đảo Phú Quốc để yểm trợ cho lực lượng đổ bộ. Sẩm tối ngày 6 tháng 1, toán quân đặc công gồm 87 người bí mật đổ bộ và tấn công chiếm một trận địa pháo Khmer Đỏ bảo vệ bờ biển, cùng lúc, pháo 130mm bắt đầu bắn phá các vị trí quân Khmer Đỏ. Lập tức các thuyền tuần tiễu loại nhỏ của Khmer Đỏ xuất kích từ quân cảng Ream và các bến cảng nhỏ tấn công vào Hải quân Việt Nam. Sau một trận giao chiến trên biển, do có ưu thế về số lượng và hỏa lực, Hải quân Việt Nam đẩy lùi hoặc đánh chìm hầu hết các tàu Khmer Đỏ, nhưng một tàu của Việt Nam cũng bị trúng đạn, khiến nhiều thủy thủ bị thương vong. Số tàu phóng lôi Khmer Đỏ chạy thoát khỏi cuộc hải chiến và các cuộc không kích của không quân Việt Nam, đến ngày 16 tháng 1 lại bị Hải quân Việt Nam chặn đánh trong vịnh Thái Lan và bị tiêu diệt gần hết. Tối ngày 7 tháng 1, Lữ đoàn hải quân đánh bộ 126 tiến hành đổ bộ ở chân núi Bokor, nằm ở khoảng giữa thị xã Kampot và cảng Sihanoukville. Lữ đoàn đổ bộ được toàn bộ 3 tiểu đoàn và số xe lội nước, xe bọc thép, nhưng do thủy triều lên cao, không có đủ chỗ triển khai đội hình, nên không đổ bộ được số xe tải, và đến tối, 3 tiểu đoàn nữa theo dự định cũng sẽ đổ bộ lại phải rút ra ngoài. Theo kế hoạch, lực lượng Hải quân đánh bộ phải triển khai một lực lượng lớn, theo vùng ven biển đánh chiếm cùng lúc hai cây cầu quan trọng và giao điểm Veal Renh dẫn về bán đảo Kampong Som. Tuy nhiên, một chỉ huy lực lượng lính thủy đánh bộ do nóng vội, đã tập hợp tiểu đoàn của mình, chở trên 12 xe tăng và xe bọc thép tiến về Sihanoukville trước khi trời sáng. Đơn vị này bị một lực lượng lớn Khmer Đỏ vây đánh từ chiều, qua đêm đến suốt ngày hôm sau và cuối cùng bị tiêu diệt gần như hoàn toàn. Đến đêm ngày 7 tháng 1, Hải quân mới đổ bộ thêm được 3 tiểu đoàn của Lữ đoàn 126 và 2 tiểu đoàn của Lữ đoàn 101 lên bãi biển, nhưng số xe tải phải đến ngày 8 tháng 1 mới lên bờ được. Sư đoàn 304 vốn được dùng làm dự bị để tham gia đánh về Phnom Penh, nhưng do Quân đoàn 3 và 4 đã đánh được Phnom Penh từ ngày 7 tháng 1, nên tướng An dùng sư đoàn này để nhanh chóng giải cứu lực lượng lính thủy đánh bộ và đánh chiếm Sihanoukville. Dẫn đầu bởi một đơn vị xe M-113, Trung đoàn 66 của sư đoàn, kế tiếp là Trung đoàn 9 hành quân suốt đêm ngày 9. Ngày 9 tháng 1, Trung đoàn 66 sau khi gặp lực lượng Hải quân đánh bộ, chuẩn bị giao chiến: không lặp lại sai lầm của Hải quân, Trung đoàn 66 tổ chức chiếm cao điểm xung quanh thành phố trước khi phối hợp với hải quân đánh bộ đánh vào thành phố. Sau khi đánh tan được Sư đoàn 230 Campuchia, quân Việt Nam chiếm được Kampot. Trung đoàn 9 không đến kịp vì một cây cầu sụp đổ khi xe tăng dẫn đầu trung đoàn đi qua. Khi Trung đoàn 9 và Lữ đoàn xe tăng 203 đến thành phố thì Kampot đã rơi vào tay quân Việt Nam, nên lực lượng này được đưa đi đánh quân cảng Ream. Được sự trợ lực của pháo hải quân bắn từ bến cảng lên, cánh quân này chiếm được quân cảng Ream và hải cảng Kampong Som. Tuy nhiên, vì không chuẩn bị kịp về tiếp liệu, quân Khmer Đỏ đã có thể phản công chiếm lại Kampong Som ngày 14 tháng 1, nhưng quân Việt Nam tái chiếm lại vào ngày hôm sau. Hướng thứ hai, Quân khu 9 phụ trách, tiến về phía Bắc đánh chiếm hai thị xã Tan và Takéo. Các sư đoàn Khmer Đỏ trấn giữ quân khu Tây Nam như Sư đoàn 2, 210, 230, 250, bị tan rã và rút lui vào rừng. Cuối tháng 1 năm 1979 cuộc phản công kết thúc thắng lợi. Đến ngày 17 tháng 1 thị xã cuối cùng là Ko Kong rơi vào tay quân đội Việt Nam và chính quyền mới của Campuchia. Cho tới cuối tháng 3, quân đội Việt Nam coi như chiếm được hết những thành phố và tỉnh lỵ quan trọng của Campuchia và tiến sát tới biên giới Thái Lan. Tuy nhiên tàn quân Pol Pot vẫn tiếp tục chống cự và quấy nhiễu, gây ra nhiều thương vong cho quân đội Việt Nam đồn trú tại Campuchia. === Truy quét tàn quân Khmer Đỏ === ==== Đánh Siem Reap và Battambang ==== Trên chiến trường Campuchia, vì quân Việt Nam tiến quá nhanh chóng, nên quân Khmer Đỏ chỉ bị tan rã chứ chưa bị tiêu diệt hẳn. Nhiều đơn vị đã tập trung lại thành những đơn vị nhỏ, tiếp tục đánh du kích và quấy phá. Sau khi Quân đoàn 4 chiếm được Phnom Penh, các đơn vị của Quân đoàn 3, Quân khu 5 và Quân khu 7 cũng vượt sông Mekong tiến chiếm và bình định lãnh thổ phía bắc Biển Hồ và sông Tonlé Sap. Quân Khmer Đỏ đã cố gắng kháng cự gần tỉnh Battambang nhưng cũng chỉ có thể làm chậm đà tiến quân của Việt Nam. Họ đã phân tán thành nhiều đơn vị nhỏ tiếp tục đánh du kích. Quân đoàn 2 và các sư đoàn của Quân khu 9 sau khi chiếm được vùng duyên hải cũng tiến dọc theo quốc lộ 4 về hướng Bắc. Mấy ngày sau khi Trung Quốc tiến đánh biên giới Việt-Trung, Quân đoàn 2 rút về bảo vệ Hà Nội. Việt Nam bắt đầu tổng động viên, một số các trung đoàn độc lập được tăng cường lên thành cấp sư đoàn, như các trung đoàn Gia Định 1 và 2, Quyết Thắng 1 và 2, trở thành các Sư đoàn 317, 318 để gửi sang tăng cường mặt trận Campuchia. Trách nhiệm chính trong công tác hành quân vẫn là các đơn vị của Quân đoàn 4. Ngày 8 tháng 1, Sư đoàn 10 theo lệnh của tướng Kim Tuấn thực hiện cuộc hành quân chớp nhoáng truy kích quân Khmer Đỏ. Tới ngày 9, Trung đoàn 24 đã chiếm được Kampong Thom, Trung đoàn 26 cũng đã kiểm soát được đường 6 nối Kampong Thom và Phnom Penh, Trung đoàn 66 được lệnh vượt lên trước hai đơn vị này đánh chiếm thành phố Siem Reap ở phía tây bắc biển hồ Tongle Sap. Dùng 36 xe tải chở quân, được xe tăng yểm trợ, trung đoàn nhanh chóng hành quân, tiến được 100 km chỉ trong vòng 2 giờ, đồng thời đánh tan các trạm kiểm soát của Khmer Đỏ dọc đường. Trên đường đi, một đoàn xe chở quân Khmer Đỏ cũng nhập vào đội hình trung đoàn do tưởng nhầm là tàn quân Khmer Đỏ tháo chạy. Do trời tối, không ai phát hiện ra sự nhầm lẫn này. Mãi đến khi hai bên nhận ra nhau thì một trận đánh khốc liệt mới nổ ra, quân Việt Nam tiêu diệt và chiếm toàn bộ đoàn xe gồm 23 xe tải chở quân Khmer Đỏ. Rạng sáng ngày 10, quân Việt Nam đến Siem Reap, quân Khmer Đỏ bị bất ngờ, phải tháo chạy ra bốn phía. Tới khi trời tối thì Trung đoàn 24 thuộc Sư đoàn 10 và Sư đoàn 5 của Quân khu 7 cũng đã tới nơi. Ngày hôm sau, Trung đoàn 24 lại hành quân 100 km nữa đánh chiếm thị xã Sisophon nằm cách biên giới Thái Lan 50 km. Ngày 12 tháng 1, (sau khi trao lại thị xã cho lực lượng Quân khu 5) trung đoàn 24 một tiểu đoàn của Trung đoàn 66 cùng một đại đội xe M-113, pháo phòng không và trọng pháo theo theo đường 5 phía nam Sisophon đánh vào các lực lượng Khmer Đỏ đang tập trung về Battambang và chiếm thành phố ngay trong ngày hôm đó. Ngày 13 tháng 3 năm 1979, tướng Kim Tuấn di chuyển Bộ chỉ huy Quân đoàn 3 đến Battambang để trực tiếp chỉ huy chiến dịch truy quét tàn quân Pol Pot tập trung ở vùng tây nam gần biên giới Thái Lan. Ba ngày sau, ông rời Battambang để đi Siem Reap, trên đường đi khoảng 40 km về hướng bắc Battambang, đoàn xe của ông bị Khmer Đỏ phục kích. Mặc dù lực lượng phục kích bị đè bẹp, chiếc com-măng-ca thứ 3 có Tư lệnh Kim Tuấn ngồi bên cạnh người lái xe bị trúng đạn M79 khiến ông bị thương nặng vùng cột sống và mất ngày hôm sau, ngày 17 tháng 3. Ông là sĩ quan cao cấp nhất của Quân đội Nhân dân Việt Nam hy sinh khi tham chiến ở Campuchia. Ba tháng sau, tháng 6 năm 1979, Quân đoàn 3 của ông rời Campuchia để tham gia phòng thủ biên giới phía bắc với Trung Quốc. ==== Khu vực Tây Nam ==== Trận đánh quan trọng đầu tiên trong chiến dịch bình định diễn ra tại Kampong Speu, nằm trên quốc lộ 4 nối hải cảng Kampong Som với Phnom Penh, cách Phnom Penh khoảng 50 km. Thị xã này, sau khi quân Khmer Đỏ di tản vội vã, do Trung đoàn 10 thuộc Sư đoàn 339 Việt Nam chiếm đóng. Nhưng ít ngày sau, các lực lượng còn lại của các Sư đoàn 703, 340, 221 từ tuyến phòng thủ Svay Rieng chạy về đã tập trung lại và dự định tái chiếm thị xã. Được tin, Bộ tư lệnh Quân đoàn 4 điều động Sư đoàn 341 đến tăng cường. Trận đánh bắt đầu ngày 21 tháng 1 năm 1979 đến ngày 7 tháng 2 mới kết thúc. Dù bị tổn thất nặng, quân Việt Nam vẫn giữ được Kampong Speu, các lực lượng của 3 sư đoàn Campuchia bị tan rã, chỉ còn là những nhóm nhỏ hoặc tiếp tục đánh du kích, hoặc rút về biên giới Thái Lan. Giữ vững được Kampong Speu, bảo đảm được giao thông trên quốc lộ 4, quân Việt Nam tiến đánh căn cứ Amleng, nơi mà bộ chỉ huy quân sự của Pol Pot từ Phnom Penh rút về trú đóng. Căn cứ này nằm trong một vùng rừng núi hiểm trở, cách Phnom Penh khoảng 100 km về phía tây nam. Lực lượng tấn công gồm Sư đoàn 2, Sư đoàn 7, Sư đoàn 9, Sư đoàn 341 của Quân đoàn 4, được tăng cường thêm Sư đoàn 5 của Quân khu 7. Vì lực lượng tấn công quá hùng hậu, quân Khmer Đỏ rút lui, bỏ lại căn cứ Amleng, nhưng họ tìm đủ cách để gây khó khăn và tổn thất cho quân Việt Nam khi họ rút lui khỏi căn cứ bằng đủ mọi cách như phục kích, bắn tỉa, gài mìn, đốt rừng... Chiếm xong được Amleng, quân Việt Nam mở chiến dịch đánh chiếm thị xã Leach. Leach là một thị xã nhỏ nằm gần quốc lộ số 5 là con đường từ Phnom Penh đi Battambang, cách biên giới Thái Lan khoảng 80 km. Trước ngày 7 tháng 1, Leach được Khmer Đỏ sử dụng làm căn cứ tiếp liệu. Sau khi Phnom Penh thất thủ, khi quân Việt Nam chưa có đủ thì giờ để chiếm đóng hết các vị trí, Khmer Đỏ dự định biến Leach thành một căn cứ phản công. Một phần lớn những lực lượng còn lại được tập trung tại đây. Tuy quân số gồm nhiều sư đoàn (104, 210, 260, 264, 460, 502), nhưng trên thực tế, mỗi sư đoàn chỉ còn chưa tới một ngàn quân. Lực lượng phòng thủ cũng có vài khẩu pháo 105 ly và vài xe thiết giáp. Để tấn công Leach, quân Việt Nam đã sử dụng một lực lượng lớn và tấn công làm bốn hướng. Hướng thứ nhất, do Sư đoàn 341 thay thế Sư đoàn 330 đã bị hao hụt quân số quá nhiều khi giải toả quốc lộ số 5, đánh chiếm thị xã Pursat để từ đó đánh vào mặt bắc của Leach. Hướng thứ hai do Sư đoàn 9 từ căn cứ Amleng mới chiếm được đánh vào phía đông. Hướng thứ ba do Quân khu 9 phụ trách được tàu đổ bộ chở đến tỉnh Kokong, rồi từ đó, tấn công mặt nam. Hướng thứ tư, do Sư đoàn 31, Quân đoàn 3, từ biên giới Thái Lan theo tỉnh lộ 56 đánh ngược về mặt tây của Leach. Vì đây là một trận quyết định, nên trận đánh đã kéo dài trên một tháng. Tất cả các sư đoàn tham chiến đều bị tổn thất nặng. Cuối cùng, vì hoả lực thua kém, bệnh tật, bị hao hụt lực lượng mà không được bổ sung nên căn cứ Leach của Khmer Đỏ bị Sư đoàn 9 chiếm được ngày 29 tháng 4 năm 1979. Trận đánh tại căn cứ Leach là trận đánh có quy mô lớn cuối cùng trên đất Campuchia. Sau khi Leach bị mất, các đơn vị còn lại của Khmer Đỏ rút về các mật khu ở Pailin và Tasanh sát biên giới Thái Lan. Một số khác phân tán thành những đơn vị nhỏ tiếp tục đánh du kích. Giữa tháng 3, quân Việt Nam mở chiến dịch mới đánh chiếm căn cứ Tasanh, nằm ở phía nam Pailin. Tới 28 tháng 3, căn cứ này thất thủ, khiến cho "đại sứ quán" Trung Quốc đóng tại đây phải sơ tán về vùng núi cao. Ban lãnh đạo Khmer Đỏ tại đây cũng bỏ chạy, bỏ lại một phần tài liệu, xe cộ, vũ khí, lương thực dự trữ và 3.000 tấn đạn dược. Các đơn vị của Việt Nam bắt đầu phân nhiệm để hành quân bình định. Nhiều sư đoàn thiện chiến đã bị hao hụt nặng được rút về nước. Những sư đoàn tân lập được gửi qua tăng cường hay thay thế. Phía Việt Nam cho biết, tới cuối tháng 1 năm 1979, quân Việt Nam đã có tới 8.000 thương vong. Về phía quân Khmer Đỏ dù bị thiệt hại nặng vẫn còn khoảng 30.000 quân có còn khả năng quấy phá, phục kích, gây mất ổn định khiến Việt Nam phải duy trì một lực lượng quân sự lớn tại Campuchia. === Thành lập chính quyền mới === Ngày 5 tháng 1 năm 1979, 66 đại biểu Campuchia được triệu tập họp ở Mimot để bàn về việc thành lập một đảng cộng sản Campuchia mới. Đảng này lấy lại tên Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia có từ thời 1951. Pen Sovann, một cán bộ Campuchia tập kết về Hà Nội năm 1954, được đề cử giữ chức chủ tịch đảng. Những Uỷ viên thường vụ của đảng gồm Hun Sen, Bou Thang, Chan Kiri, Heng Samrin và Chia Soth. Ngày 8 tháng 1 năm 1979, đài phát thanh Phnom Penh loan báo Phnom Penh đã được giải phóng bởi những lực lượng cách mạng và nhân dân Campuchia. Một Hội đồng cách mạng được thành lập do Heng Samrin làm chủ tịch. Khoảng mười ngày sau, hội đồng này ký một hiệp ước với Việt Nam, hợp thức hóa sự hiện diện của quân đội Việt Nam trên đất Campuchia. Tới mùa xuân 1981, hiến pháp mới của Campuchia được thông qua, sau đó là cuộc bầu cử toàn quốc để chọn ra 117 đại biểu quốc hội. Hun Sen được bầu làm Bộ trưởng Ngoại giao, Heng Samrin làm Chủ tịch nước. Ba sư đoàn mới được thành lập và đặt dưới Bộ Quốc phòng, nhưng an ninh vẫn được duy trì chủ yếu dựa vào sự hiện diện của 180.000 quân Việt Nam (mà lực lượng chủ chốt là Quân đoàn 4) do thượng tướng Lê Đức Anh chỉ huy. Chính quyền mới của Campuchia chỉ được một số nước thuộc khối xã hội chủ nghĩa công nhận. Chính phủ của Pol Pot tiếp tục được các nước phương Tây, Trung Quốc và khối ASEAN công nhận và vẫn là thành viên Liên hiệp quốc. === Căng thẳng biên giới với Thái Lan === Campuchia bị mất, Thái Lan trở nên một địa bàn chiến lược quan trọng để Trung Quốc có thể giúp đỡ cho Khmer Đỏ tiếp tục cuộc chiến. Sau khi họp xong với Ieng Sary, Đặng Tiểu Bình bí mật cử Cảnh Biểu, Ủy viên Bộ Chính trị, cùng Thứ trưởng ngoại giao Hàn Niệm Long sang Bangkok hội đàm với Thủ tướng Thái Kriangsak Chomanan tại căn cứ không quân Utapao. Sau khi Việt Nam liên minh với Liên Xô và tấn công Campuchia, Thái Lan không còn giữ thái độ trung lập nữa, Kriangsak đồng ý để Trung Quốc dùng lãnh thổ Thái Lan tiếp tế cho Khmer Đỏ. Thủ tướng Thái Kriangsak cũng tìm kiếm hỗ trợ từ Washington nhằm ngăn ngừa Hà Nội. Để biểu thị sự ủng hộ Thái Lan, Hoa Kỳ chuyển giao cho Thái số lượng đạn dược trị giá $11.3 triệu dollar tồn kho tại Thái từ thời chiến tranh Việt Nam. Chính quyền Carter cũng hứa hẹn thúc đẩy việc chuyển giao chiến đấu cơ F-5E và các loại vũ khí hiện đại khác mà Thái đã đặt mua, và tăng lượng vũ khí bán cho Thái từ mức 30 triệu dollar một năm lên 50 triệu. Tuy vậy, trong trường hợp chiến tranh nổ ra, quân Thái vẫn không phải là đối thủ của Việt Nam. Với lực lượng 141.000 quân, số lượng quân Thái chỉ bằng 1/4 quân Việt Nam, và họ không có được kinh nghiệm chiến đấu như quân Việt Nam. == Giai đoạn bình định lãnh thổ (1980-1989) == === Hoa Kỳ, Trung Quốc và Thái Lan hỗ trợ Khmer Đỏ === Việt Nam hy vọng có thể nhanh chóng truy quét và tiêu diệt tàn quân Khmer Đỏ trước khi mùa khô 1979-1980 kết thúc, nhưng tàn quân Khmer Đỏ đã phân tán rải rác trong các trại tị nạn dọc biên giới Thái Lan-Campuchia. Tổ chức cứu trợ khẩn cấp Campuchia của Mỹ, dựa vào đại sứ quán Mỹ tại Bangkok, đã nuôi dưỡng và hỗ trợ Khmer đỏ để tiếp tục chống lại chính phủ mới của Campuchia do Việt Nam hậu thuẫn. Dưới sức ép của Mỹ, Chương trình Lương thực thế giới đã cung cấp lương thực cho 20.000 đến 40.000 lính Khmer đỏ. Suốt một thập kỷ sau đó, cơ quan tình báo quân đội Mỹ đã giúp Khmer đỏ do thám qua vệ tinh, đồng thời các lực lượng đặc nhiệm của Mỹ và Anh hướng dẫn quân Khmer đỏ đặt hàng triệu quả mìn bộ binh khắp miền Tây Campuchia Hoa Kỳ và Trung Quốc cũng dùng quyền của mình ở Liên Hiệp quốc để giữ ghế đại diện cho Khmer Đỏ. Chính quyền Pol Pot dù chỉ còn là một nhóm du kích trong rừng nhưng lại được coi là đại diện hợp pháp duy nhất của người dân Campuchia. Trung Quốc tích cực hỗ trợ Khmer Đỏ với ngân khoản 80 triệu dollar hàng năm, và vận động Hoa Kỳ viện trợ cho các phe đối lập. Hoa Kỳ tiếp tục tiến hành cấm vận kinh tế với Việt Nam, và từ khi quân Việt Nam tiến vào Phnom Penh, hủy bỏ đàm phán bình thường hóa quan hệ với Việt Nam. Các khoản viện trợ cho Việt Nam và chính quyền Phnom Penh đều bị ngưng lại. Hoa Kỳ và đồng minh gây áp lực để cả Ngân hàng phát triển châu Á (Asian Development Bank) và Ngân hàng thế giới (World Bank) ngưng các khoản vay cho Việt Nam và Campuchia. Thái Lan đồng ý cho lực lượng Khmer Đỏ thiết lập căn cứ tại vùng biên giới. Để hỗ trợ Khmer Đỏ, liên minh không chính thức giữa Trung Quốc và Thái Lan đã thiết lập một tuyến đường bí mật trên đất Thái tiếp tế cho Khmer Đỏ. Tàu Trung Quốc chở vũ khí đạn dược đến các cảng Sattahip và Klong Yai, từ đó, quân đội Thái chuyển hàng đến cho các trại đóng quân của Khmer Đỏ dọc theo biên giới Thái Lan - Campuchia. Sứ quán Trung Quốc tại Bangkok phối hợp với các thương gia người Thái gốc Hoa cùng quân đội Thái chịu trách nhiệm cung cấp lương thực, thuốc men, và hàng dân dụng cho Khmer Đỏ. Đổi lại, Trung Quốc trả phí vận chuyển cho quân đội Thái và cho phép quân đội Thái giữ lại một phần vũ khí. Trung Quốc cũng chuyển giao cho Thái công nghệ chế tạo vũ khí chống tăng với điều kiện một phần sản lượng sẽ được chuyển cho Khmer Đỏ. Ngoài hỗ trợ khổng lồ mà Bắc Kinh dành cho Khmer Đỏ, Trung Quốc cũng cung cấp viện trợ cho các phe phái đối lập khác ở Campuchia như KPNLF. Nhờ đó, lực lượng quân sự của các phái này có lúc đã phát triển lên gần 30 ngàn. Lực lượng Việt Nam vừa phải chống lại Khmer Đỏ, vừa phải chống lại quân đội của các phe phái đối lập này. Nhờ có sự giúp đỡ về vũ khí, lương thực của Trung Quốc, Hoa Kỳ và các căn cứ do Thái Lan cung cấp, từ tình trạng chỉ còn là những nhóm du kích hồi cuối năm 1979, đến cuối năm 1980 lực lượng Khmer Đỏ đã hồi phục sức mạnh, với quân số tăng lên khoảng 20.000 tới 40.000. Đến cuối năm 1981, chiến tranh du kích của Khmer Đỏ thực hiện tại Campuchia đã lan rộng mạnh mẽ tại những khu vực rộng lớn. === Việt Nam hỗ trợ chính quyền mới và truy quét quân Khmer Đỏ === Được Việt Nam hậu thuẫn, ngày 8 tháng 1 năm 1979 Hội đồng Nhân dân Cách mạng nước Cộng hòa Nhân dân Campuchia do Heng Samrin làm Chủ tịch đã được thành lập. Đảng Nhân dân Cách mạng Campuchia về danh nghĩa là đảng cầm quyền tại Campuchia. Nhưng tổ chức này mới được thành lập nên chưa đủ sức bảo vệ chính phủ mới khỏi trước sức mạnh quân sự của Khmer Đỏ. Hàng ngàn công chức và kỹ thuật viên Việt Nam đã được đưa sang Campuchia để khôi phục hệ thống điện, nước ở Phnom Penh, đưa hệ thống đường sắt vào hoạt động trở lại. Các bệnh viện và trạm xá được mở lại với các bác sĩ dân y và quân y Việt Nam cùng một số bác sĩ Campuchia còn sống sót qua thời Khmer Đỏ. Hàng trăm người Campuchia được gửi sang Việt Nam học các khóa cấp tốc về chăm sóc sức khỏe, giáo dục, ngân hàng, ngoại thương, và an ninh. Từ năm 1979 đến giữa năm 1985, quân đội Việt Nam thực hiện các chiến dịch quân sự truy quét đánh phá các căn cứ của Khmer Đỏ. Tháng 1 năm 1980, chiến dịch quân sự nhằm vào Khmer Đỏ tại Phnom Chhat bắt đầu. Các cuộc đụng độ giữa các lực lượng NCR và quân Việt Nam cũng diễn ra và lan sang cả lãnh thổ Thái Lan. Thời gian này, Khmer Đỏ bắt đầu tái xâm nhập Campuchia từ Thái Lan với khoảng 3-4 ngàn quân. Khi mùa mưa tới, Khmer Đỏ đã tái tổ chức lực lượng, chỉ huy và huấn luyện, bắt đầu các cuộc giao tranh quy mô nhỏ như đánh du kích, phục kích, pháo kích quấy rối. Lực lượng Việt Nam và chính phủ Phnom Phênh tiếp tục truy đuổi và giáng những đòn nặng nề vào các nhóm chống đối. Năm 1982, trong một chiến dịch dữ dội nhất kể từ khi quân Việt Nam tiến vào lật đổ Khmer Đỏ, sư đoàn 7 Việt Nam đánh vào trại Sokh San của KPNLF, buộc họ phải bỏ chạy vào Thái Lan. Tới tháng 7 năm 1982, Việt Nam tuyên bố sẽ rút quân từng phần khỏi Campuchia đơn phương và vô điều kiện. Ngay lập tức, các lực lượng đối lập tăng cường các hoạt động quân sự. Quân Khmer Đỏ tăng cường hoạt động vũ trang tại các tỉnh Kampot, Takeo, Kampong Cham và Kampong Thom Sự yếu ớt của quân đội chính phủ Phom Penh khiến họ không thể chống đỡ được sự trỗi dậy của Khmer Đỏ. Tình hình quân sự tại Campuchia trong năm 1983 trở nên xấu đi, buộc Việt Nam phải ngừng việc rút quân khỏi Compuchia. Tương quan lực lượng năm 1984 là Việt Nam có khoảng 180 ngàn quân tại Campuchia, so với khoảng 17 ngàn quân của KPNLF, và khoảng 30-50 ngàn quân Khmer Đỏ và khoảng 5 ngàn quân thuộc lực lượng Sihanouk. Tới mùa khô năm 1984 - 1985, Việt Nam huy động khoảng 60 ngàn quân cho chiến dịch tấn công quyết định nhằm triệt hạ các căn cứ của Khmer Đỏ nằm gần Thái Lan, cùng với hàng chục ngàn dân công Campuchia xây đường và mở rộng các sân bay dã chiến tại khu vực biên giới. Cuối tháng 12 năm 1984, khoảng 1.000 quân Việt Nam đánh hạ căn cứ Nong Samet. Tháng 1 năm 1985, khoảng 4.000 quân Việt Nam, với hơn 30 xe tăng và xe bọc thép hỗ trợ, đánh vào căn cứ Ampil của lực lượng Mặt trận Nhân dân Giải phóng Quốc gia Campuchia (KPNLF) với 5.000 quân phòng ngự và triệt hạ hoàn toàn căn cứ này sau 36 giờ. Quân Việt Nam và quân chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia cũng mở chiến dịch tấn công căn cứ lớn có gần 10.000 quân Khmer Đỏ đóng giữ tại Phnom Malai, nơi mà họ từng định đánh chiếm năm 1982 nhưng bất thành, và đã triệt hạ căn cứ này sau 2 ngày giao tranh. Chiến dịch mùa khô năm 1984-85 là chiến dịch lớn chưa từng có của Việt Nam kể cả về quy mô, thời gian và mức độ thành công. Sau các chiến dịch 1984-85 của Việt Nam, lực lượng đối lập bị nhiều tổn thất. Liên quân KPNLF và Khmer Đỏ ước tính đã bị mất khoảng 1/3 lực lượng do thương vong và đào ngũ. Liên minh này mất toàn bộ các căn cứ trên đất Campuchia, trong đó có thủ đô lâm thời đặt tại một ngôi làng có tên Phum Thmei trong rừng sát biên giới Thái Lan. Khmer Đỏ rút một phần về Thái Lan, một phần chia nhỏ và ẩn trong nội địa. Hai phe Sihanouk và Son Sann rút hẳn vào trong lãnh thổ Thái Lan. Chiến dịch truy quét quy mô lớn kéo dài 5 tháng của Việt Nam đã chấm dứt hy vọng lật ngược tình thế của Khmer Đỏ và KPNLF. Kể từ cuối năm 1985, các lực lượng này về cơ bản không thể là mối đe dọa lớn đối với chính phủ Cộng hòa Nhân dân Campuchia được nữa. Ngày 16 tháng 8 năm 1985, thông cáo của cuộc họp các bộ trưởng ngoại giao ba nước Đông Dương tại Phnom Penh tuyên bố Việt Nam sẽ rút quân hoàn toàn khỏi Campuchia, quá trình rút quân sẽ hoàn thành năm 1990. Tháng 06 năm 1988, trên cơ sở trưởng thành của quân đội Campuchia và với sự thỏa thuận của giữa Việt Nam và Campuchia, Việt Nam đã rút toàn bộ chuyên gia dân sự và đến tháng 9 năm 1989, Việt Nam rút toàn bộ quân tình nguyện và chuyên gia quân sự Việt Nam về nước. Sau khi quân tình nguyện Việt Nam rút hết, lúc đầu phía Campuchia có lúng túng trước các hoạt động giành dân, chiếm đất của Khmer Đỏ và đồng minh nhưng dần dần Campuchia vươn lên làm chủ tình hình, kiểm soát trên 90% lãnh thổ. Năm 1992-1993, lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc Campuchia (UNTAC - United Nations Transitional Authority in Cambodia) tạm thời quản lý Campuchia. == Hoạt động hỗ trợ dân sự của quân tình nguyện Việt Nam == Trong thời kỳ đóng quân tại Campuchia, quân đội và chuyên gia Việt Nam đã giúp hàng chục vạn, hàng triệu dân tiều tụy đói khát, trở về quê cũ, khôi phục sản xuất, làm lại nhà cửa, trường học, chùa chiền. Nhân dân Cam-pu-chia đã dấy lên một cao trào quần chúng hồi sinh từng người, từng gia đình, từng thôn ấp và hồi sinh toàn dân tộc. Quân đội và chuyên gia Việt Nam đã giúp những người dân này sửa lại nhà, ai không còn nhà thì dựng lại nhà, làm sạch giếng cho người dân Campuchia uống, nhường gạo cho người dân Campuchia ăn, khôi phục và sửa chữa lại trường học. Lực lượng ngành y của Việt Nam đi cùng bộ đội thời bấy giờ thì chữa bệnh cho người dân Campuchia. Dần dần trường lớp, làng mạc, bệnh viên, trường học… được khôi phục lại. Bộ quốc Phòng đã chỉ đạo hành động theo từng giai đoạn. Theo đó, giai đoạn đầu do người dân Campuchia chưa có gì, Việt Nam sẽ thực hiện “Việt Nam làm giúp Campuchia”- nghĩa là đánh giặc cũng Việt Nam, giúp dân sản xuất cũng Việt Nam, xây dựng chính quyền cũng Việt Nam (bởi khi đó chính quyền của Campuchia đã bị Khmer Đỏ phá hủy). Khi người dân Campuchia đã có cơ sở, Việt Nam chuyển sang khẩu hiệu “Ta, bạn cùng làm”. Giai đoạn ba là “Bạn làm ta giúp”- nghĩa là người dân Campuchia đã đủ khả năng, người dân Campuchia yêu cầu tới đâu Việt Nam giúp tới đó. Cuối cùng, khi người dân Campuchia thực sự lớn mạnh thì Việt Nam rút toàn bộ quân tình nguyện về nước để người dân Campuchia tự đảm đương. == Hội nghị Paris về Campuchia == Theo hồi ký của Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam - Trần Quang Cơ, cơ bản lập trường của phái đoàn Việt Nam gồm 10 điểm sau Vạch trần tội ác của Khmer Đỏ đối với nhân dân Campuchia và hành vi xâm lược của Khmer Đỏ đối với các tỉnh Tây Nam Bộ của Việt Nam Đưa ra các bằng chứng về những tội ác chiến tranh, tội ác diệt chủng, tội ác xâm lược, tội ác chống lại loài người của Khmer Đỏ và hành động của Việt Nam là tự vệ và là can thiệp nhân đạo Kiên quyết loại trừ bọn diệt chủng Polpot (trong khi Trung Quốc đưa ra yêu sách phe Pol Pot phải có ghế trong chính phủ liên hiệp) Coi sự tham gia của Khmer Đỏ tại Hội nghị là vật cản chính và duy nhất của Hội nghị...do phe này phục vụ lợi ích của một số nước tham gia Hội nghị chứ không phục vụ lợi ích của người Campuchia Tôn trọng nguyên tắc nước ngoài không được can thiệp vào công việc nội bộ Campuchia Tôn trọng nguyên trạng ở Campuchia có 2 chính quyền, Tôn trọng quyền của nhân dân Campuchia tự quyết định chế độ chính trị của mình và lập chính phủ của mình, thông qua tổng tuyển cử tự do. Phía Việt Nam chấp nhận sự đóng góp của Liên Hiệp Quốc nếu Liên Hiệp Quốc chấm dứt những nghị quyết thiên vị, ủng hộ 1 bên chống 1 bên. Những tội ác của Khmer Đỏ buộc Việt Nam phải tự vệ và có những hành động mang tính can thiệp nhân đạo tại Campuchia Việt Nam cam kết sẽ rút quân khi các bên đạt được thỏa thuận chính trị ở Campuchia và việc rút quân chậm nhất là năm 1990 Cũng theo Hồi ký của Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam - Trần Quang Cơ, ngoài Trung Quốc và Singapore, tất cả các thành viên trong cuộc họp ngày 16/08/1989 đều thừa nhận hành vi diệt chủng của Khmer Đỏ . Theo cựu ngoại trưởng Singapore Bilahari Kausikan thì Singapore đã bị Mỹ cảnh báo rằng sẽ có “máu đổ trên sàn nhà” nếu Singapore không chịu ủng hộ Khmer Đỏ, nói cách khác Singapore bị Mỹ ép phải ủng hộ Khmer Đỏ để bảo vệ lợi ích tối cao của Mỹ. Trong Tuyên bố của chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhân dịp ký kết hiệp định hòa bình về Campuchia, phía Việt Nam nhấn mạnh "Với lập trường thiện chí và xây dựng, với lòng mong muốn hòa bình Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã làm hết sức mình để góp phần vào việc sớm đạt được một giải pháp chính trị toàn bộ, công bằng, hợp lý cho vấn đề Campuchia...Hơn 12 năm qua, với truyền thống đoàn kết, hữu nghị lâu đời giữa hai dân tộc Việt Nam và Campuchia, Quân đội Nhân dân Việt Nam không quản muôn vàn hy sinh gian khổ đã hết lòng ủng hộ và giúp đỡ nhân dân Campuchia trong cuộc đấu trong vì độc lập, chủ quyền và sự sống còn của dân tộc. Những cống hiến to lớn của quân tình nguyện Việt Nam đã giúp nhân dân Campuchia từng bước hồi sinh và góp phần vào sự nghiệp hòa bình và hợp tác ở Đông Nam Á. Những cống hiến đó đã và sẽ mãi được lịch sử hai dân tộc ghi nhận và trân trọng... Xuất phát từ nguyên tắc "nhân dân các nước tự quyết định vân mệnh của mình". Việt Nam tôn trọng những thỏa thuận của Hội đồng Dân tộc tối cao Campuchia về những vấn đề thuộc chủ quyền Campuchia. Chính phủ Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam khẳng định lại quan điểm của mình về việc thực hiện Hiệp định Hòa bình về Campuchia, nhất là các điều khoản liên quan đến vai trò của Liên hợp quốc ở Campuchia, trong thời kỳ quá độ phải dựa trên cơ sở tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, tôn trọng chủ quyền của Campuchia và chủ quyền của các nước láng giềng của Campuchia... Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam sẵn sàng cùng các bên tham gia ký kết và Liên hợp quốc làm đầy đủ trách nhiệm thi hành Hiệp định nhằm bảo đảm một nền hòa bình lâu dài, bền vũng ở Campuchia; tôn trọng chủ quyền, độc lập, toàn vẹn lãnh thổ và bất khả xâm phạm lãnh thỏ, thống nhân dân tộc của Campuchia; tôn trọng nền trung lập và không liên kết của Campuchia; tôn trọng chủ quyền của các nước láng giềng của Campuchia, góp phần vào hòa bình, ổn định hữu nghị và hợp tác ở khu vực Đông Nam Á. Việt Nam mong rằng nhân dân Campuchia tỏng tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc sẽ vượt qua mọi khó khăn, thử thách, xây dựng đất nước Campuchia giàu mạnh, đạt tới cuộc sống bình yên, ấm no, hạnh phúc" Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng cho rằng Hiệp định hòa bình tại Campuchia sẽ tạo cơ hội để nhân dân Campuchia khôi phục và phát triển đất nước, xây dựng một nước Campuchia hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ và tiến bộ xã hội. Hòa bình được lập lại tại Campuchia cũng mở ra triển vọng về một thời kỳ mới cho các nước trong khu vực xây dựng một Đông Nam Á hòa bình, ổn định hợp tác và phồn vinh, góp phần quan trọng vào hòa bình, an ninh và hợp tác ở khu vực châu Á-Thái Bình Dường và trên toàn thế giới. == Hiệp định Paris về vấn đề tái lập hòa bình tại Campuchia == Hiệp định có tến đầy đủ là Hiệp định về một giải pháp chính trị toàn diện cho cuộc xung đột Campuchia. Tham gia hiệp định gồm Úc, Brunei, Campuchia, Canada, Trung Quốc, Pháp, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản, Lào, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Liên Xô, Anh, Hoa Kỳ, Việt Nam và Cộng hòa Liên bang Xã hội chủ nghĩa Nam Tư, đại diện Tổ chức quốc tế có Liên hợp quốc. Hiệp định có 9 chương, 32 điều. Nội dung cơ bản bao gồm: 1. Về mặt nội bộ của Campuchia: Hội đồng Dân tộc tối cao Campuchia trao tất cả quyền lực cần thiết cho Liên Hiệp Quốc thi hành hiệp định Liên Hiệp Quốc đưa một lực lượng, trong đó có bộ phận quân sự vào Campuchia kiểm soát ngừng bắn, rút quân nước ngoài, chấm dứt viện trợ quân sự nước ngoài Với lý do bảo đảm cho Tổng tuyển cử được tự do và công bằng Liên Hiệp Quốc trực tiếp kiểm soát 5 bộ: Quốc phòng, Nội vụ, Ngoại giao, Tài chính, Thông tin và một số cơ quan, tổ chức khác nếu xét thấy có thể trực tiếp ảnh hưởng tới kết quả bầu cử Liên Hiệp Quốc là người tổ chức Tổng tuyển cử tại các tỉnh Liên Hiệp Quốc tiến hành giải ngũ 70% quân đội các bên, kiểm soát số lượng cảnh sát được phép giữ lại, 30% quân đội còn lại sẽ được giải ngũ trước Tổng tuyển cử hoặc chính phủ mới quyết định số quân này vào quân đội quốc gia hay giải thể nốt Hội đồng Dân tộc tối cao Campuchia chỉ đưa ra những khuyến nghị với đại diện Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc về các hoạt động ở Campuchia, còn quyền quyết định tối hậu thuộc về đại diện đặc biệt của Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. 2. Về mặt quốc tế: Nước ngoài rút quân khỏi Campuchia, các nước cam kết chấm dứt viện trợ quân sự cho các bên Campuchia Nhà nước Campuchia trong tương lai sẽ thi hành một chính sách trung lập, không có quân đội (trên thực tế Campuchia tái lập quân đội năm 1993), không có căn cứ quân sự nước ngoài, quan hệ hữu nghị với tất cả các nước Các nước cam kết tôn trọng quy chế trung lập đó của Campuchia == Đánh giá == Theo nhà nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, bản chất của các cuộc tấn công vào lãnh thổ Việt Nam do Khmer Đỏ là các đợt xâm lược khác nhau. Năm 1979, Việt Nam tiến hành chiến dịch phản công. Cơ sở pháp lý của Việt Nam trong xung đột với Campuchia (1978-1990) đã thể hiện rõ rằng đây là một cuộc phản kích tự vệ khi bị xâm lược, đặc biệt Khmer Đỏ đã tấn công các tỉnh biên giới Tây Nam Bộ của Việt Nam và gây ra Thảm sát Ba Chúc trước khi Việt Nam phản kích. Việt Nam đã thực hiện các quyền tự vệ chính đáng khi bị tấn công được ghi trong Điều 51 Hiến chương Liên Hợp Quốc. Đây còn là cuộc giải cứu nhân đạo của Việt Nam nhằm giúp Campuchia thoát khỏi nạn diệt chủng do Khmer Đỏ gây ra. Lực lượng Quân tình nguyện Việt Nam có mặt ở Campuchia trong 10 năm để giúp chính quyền mới của Campuchia xây dựng đất nước. Hành động của Việt Nam xuất phát từ nhu cầu tự vệ chính đáng, trách nhiệm quốc tế cũng như lương tâm của một dân tộc từng chịu nhiều áp bức và ngoại xâm.. Sự đóng góp, hy sinh của Việt Nam tại Campuchia vừa vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc vừa với tinh thần quốc tế trong sáng và cao cả. Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Vương quốc Campuchia coi phiên toàn Xét xử những tội ác của Khmer Đỏ là minh chứng rõ nét rằng việc Việt Nam đưa quân vào Campuchia là tự vệ và can thiệp nhân đạo chứ không phải là hành vi xâm lược mà phía tiến hành hành động xâm lược là Khmer Đỏ và nạn nhân bị xâm lược là Việt Nam.. Ngay cả Thủ tướng Hun Sen cũng thừa nhận Việt Nam đã cứu Campuchia khỏi họa diệt chủng và việc quân tình nguyện Việt Nam ở lại Campuchia là theo yêu cầu của chính quyền mới == Chú thích == == Tham khảo == Tiếng Việt Binh đoàn Hương Giang, Sư đoàn Sông Lam, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 1984 Sư đoàn 7, Quân đoàn Cửu Long, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 1985 Sư đoàn 303, Đoàn Phước Long, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 1989 Lịch sử không quân Việt Nam, Nhà xuất bản Quân đội Nhân dân, Hà Nội 1993 The Pol Pot Regime: Race, Power, and Genocide in Cambodia Under the Khmer Rouge, Ben Kiernan, 1996 Chiến tranh Đông Dương III, Hoàng Dung, Nhà xuất bản Văn Nghệ Califonia USA, 2000 Cuộc chiến tranh bắt buộc, Đại tá Nguyễn Văn Hồng, Nhà xuất bản Bến Tre, Thành phố Hồ Chí Minh, 2004. Mặt thật, Thành Tín Tiếng Anh Elizabeth Becker (1998). When the war was over: Cambodia and the Khmer Rouge revolution. Public Affairs. ISBN 9780671417871. Nayan Chanda (1986). Brother Enemy. The War after the War.. Harcourt Brace Jovanovich. ISBN 0-15-114420-6. David P. Chandler: A History of Cambodia (Westview Press 2000); ISBN 0-8133-3511-6. David P. Chandler (5 tháng 3 năm 1999). 'Brother Number One: A Political Biography'. Westview Press 1999. ISBN 0813335108. David P. Chandler: Facing the Cambodian past: Selected essays, 1971–1994 (Silkworm Books 1996); ISBN 974-7047-74-8. David P. Chandler, Ben Kiernan etc, Revolution and Its Aftermath in Kampuchea: Eight Essays (Yale University Press 1983); ISBN 0-938692-05-4. Michael Clodfelter (1995). Vietnam in Military Statistics. McFarland & Company, Inc Publishers. ISBN 0-7864-0027-7. Michael Haas (1991). Cambodia, Pol Pot, and the United States: the Faustian pact. Praeger Publishers. ISBN 0275940055. Ben Kiernan (19 tháng 8 năm 2008). The Pol Pot Regime: Race, Power, and Genocide in Cambodia under the Khmer Rouge, 1975-79. Yale University Press; 3rd ed. ISBN 0300144342. Ben Kiernan (11 tháng 8 năm 2004). 'How Pol Pot Came to Power: Colonialism, Nationalism, and Communism in Cambodia, 1930-1975;'. Yale University Press; 2nd ed. ISBN 0-300-10262-3. Sorpong Peou (1997). 'Conflict neutralization in the Cambodia war: from battlefield to ballot-box'. Oxford University Press, USA (27 tháng 3 năm 1997). ISBN 9835600112. Merle L. Pribbenow II, A Tale of Five Generals: Vietnam's Invasion of Cambodia, The Journal of Military History, Volume 70, No. 2, tháng 4 năm 2006, pages 459-486. Philip Short (1999). 'Pol Pot: Anatomy Of A Nightmare'. USA: Univ Pr of Kentucky. ISBN 9780813121215. Spencer Tucker (13 tháng 1 năm 2005). Vietnam. USA: Henry Holt and Co.; 1st edition. ISBN 0805066624. Michael Vickery: Cambodia 1975–1982, South End Press (tháng 3 năm 1984), ISBN 0896081893 The Khmer Rouge National Army: Order of Battle, tháng 1 năm 1976 Chương trình về Diệt chủng Campuchia, Đại học Yale. == Xem thêm == Chiến tranh biên giới phía Bắc Cộng hòa Nhân dân Campuchia Lịch sử Campuchia (1979-1993)
dvd.txt
DVD (còn được gọi là "Digital Versatile Disc" hoặc "Digital Video Disc") là một định dạng lưu trữ đĩa quang phổ biến. Công dụng chính của nó là lưu trữ video và lưu trữ dữ liệu. DVD có nhiều điểm giống CD: chúng đều có đường kính 12 cm cho loại tiêu chuẩn, hay 8 cm cho loại nhỏ. Nhưng DVD có cách lưu dữ liệu khác, với cách nén dữ liệu và các lớp quang học có khả năng chứa nhiều dữ liệu hơn CD gấp 7 lần hoặc hơn thế nữa. Về cấu trúc phần mềm, DVD cũng khác CD ở chỗ chúng đều chứa hệ tập tin, gọi là UDF, một phiên bản mở rộng của tiêu chuẩn ISO 9660 cho CD chứa dữ liệu. Sự khác nhau về thuật ngữ DVD thường được mô tả phương pháp dữ liệu được lưu trư trễn đĩa: DVD-ROM có dữ liệu chỉ có thể đọc mà không thể ghi, DVD-R và DVD+R có thể ghi một lần và sau đó có chức năng như DVD-ROM, và DVD-RAM, DVD-RW, hoặc DVD+RW chứa dữ liệu có thể xóa và ghi lại nhiều lần. DVD-Video và DVD-Audio được dùng để nói đến hai định dạng khác hẳn nhau, một bên là cấu trúc video và một bên là nội dung audio. Các dạng đĩa DVD khác, bao gồm nội dung video, có thể được hiểu như là đĩa DVD-Data. Khái niệm "DVD" thường được sử dụng sai để chỉ các định dạng đĩa quang độ nét cao, như Blu-ray và HD-DVD. == Lịch sử == Năm 1993, hai tiêu chuẩn lưu trữ quang học mật độ cao (high-density) bắt đầu được phát triển, một là đĩa MultiMedia Compact Disc, được hỗ trợ bởi Philips và Sony, và định dạng còn lại là Super Density Disc, hỗ trợ bởi Toshiba, Time Warner, Matsushita Electric, Hitachi, Mitsubishi Electric, Pioneer, Thomson, và JVC. Tổng giám đốc IBM, Lou Gerstner, đóng vai trò như một người "mai mối", đã tạo nên một nguồn lực thúc đẩy hai bên tạo nên một định dạng chuẩn chung duy nhất, khi ông thấy trước sự tái hiện cuộc chiến định dạng videotape giữa VHS và Betamax vào những năm 1980. Philips và Sony từ bỏ định dạng MultiMedia Compact Disc của họ và đồng ý hoàn toàn với định dạng SuperDensity Disc của Toshiba với một sự thay đổi duy nhất, đó là việc chuyển đổi thành EFMPlus modulation. EFMPlus được chọn bởi vì nó có khả năng đàn hồi chống lại những va chạm giống như vết xước và dấu vân tay. EFMPlus, được tạo ra bởi Kees Immink, cũng chính là người đã thiết kế EFM, là 6% kém hiệu quả hơn 6% so với công nghệ nguyên thủy của Toshiba, dẫn đến kết quả tạo nên dung lượng 4.7 GB thay vì nguyên gốc là 5 GB. Kết quả là bản ghi chi tiết kỹ thuật của DVD, định dạng cho các đầu xem phim DVD và các DVD-ROM ứng dụng cho máy vi tính, ra đời tháng 12 năm 1995. Vào tháng 5 năm 1997, Liên hiệp DVD (DVD Consortium) được thay thế bởi Diễn đàn DVD (DVD Forum), được mở ra cho mọi công ty. == Phân loại == Có nhiều loại định dạng DVD: DVD-ROM: Định dạng này thường được sử dụng để lưu phim. Chúng thường được "nén" nghĩa là có tồn tại một ma trận gốc được sử dụng làm khuôn để ghi thông tin và chúng không thể ghi đi ghi lại được. DVD-R: còn được viết -R (cho recordable: ghi) là định dạng xuất hiện đầu tiên và mục đích ban đầu là để dùng cho việc lưu trũ phim video. DVD+R: cũng giống như định dạng -R nhưng ra đời sau và phù hợp hơn -R trong việc lưu trữ dự liệu. Nó cho phép xem phim bất kỳ lúc nào, không cần đĩa phải hoàn chỉnh. Loại đĩa này có những khả năng kỹ thuật tốt hơn -R. Chúng ta không thể thấy sự khác biệt giữa đĩa -R và đĩa +R nếu nhìn bằng mắt thường. DVD-RW và DVD+RW: Loại đĩa này giống loại đĩa -R và +R nhưng cho phép ghi và xóa nhiều lần. Thông số hai loại đĩa DVD thông dụng. == Khả năng lưu trữ == Ban đầu có 4 loại DVD: DVD-5: có một mặt và một lớp lưu thông tin, khả năng lưu trữ là 4.7 gigabyte DVD-9: có một mặt và hai lớp lưu thông tin, khả năng lưu trữ là 8.5 gigabyte DVD-10: có hai mặt và mỗi mặt có một lớp lưu trữ thông tin (phải lật đĩa DVD lại để xem mặt thứ hai), khả năng lưu trữ là 9.4 gigabyte DVD-18: có hai mặt và hai lớp lưu thông tin mỗi mặt, khả năng lưu trữ là 17 gigabyte == Công nghệ == DVD sử dụng ánh sáng laser diode có bước sóng 650nm, khác với bước sóng 780 nm đối với CD,tuy nhiên,hầu như mọi đầu đĩa dvd đều sử dụng cả hai loại LD(laser diode) trên để đọc được cả dvd và cd. Việc làm này cho phép tạo nên những điểm nhỏ hơn trên bề mặt đĩa (1.32 micromet cho DVD còn 2.11 micromet đối với CD). Tốc độ ghi của DVD là 1X, là 1350 kB/s (1318 KiB/s), trong ổ đĩa và những mẫu DVD đầu tiên. Các mẫu gần đây hơn đã đạt tốc độ 18X hoặc 20X, nghĩa là 18 hoặc 20 lần nhanh hơn. Lưu ý là đối với ổ đĩa Cd, 1X có tốc độ 153.6 kB/s (150 KiB/s), 9 lần chậm hơn. === Công nghệ ghi dữ liệu lớp kép === Ghi dữ liệu lớp kép cho phép đĩa DVD-R và DVD+R lưu trữ được nhiều dữ liệu hơn, gần 8.5 Gigabyte mỗi mặt, so với 4.7 gigabyte đối với một đĩa đơn lớp. DVD-R lớp kép được phát triển cho Diễn đàn DVD bởi tập đoàn Pioneer, DVD+R lớp kép được phá triển cho khối liên minh DVD+RW bởi Philips và Mitsubishi Kagaku Media (MKM). Một đĩa lớp kép khác với những đĩa DVD lớp đơn ở điểm là thêm một lớp vật lý vào trong đĩa. Ổ đĩa lớp kép truy xuất đến lớp thứ hai bằg cách chiếu tia laser xuyên qua lớp thứ nhất một nửa trong suốt. Sự thay đổi cơ học giữa các lớp có thể làm cho các đầu đọc DVD có một khoảng dừng, dài khoảng 2 giây. Điều này làm người xem lo lắng rằng đĩa lớp kép của họ có thể bị hư hoặc có thiếu sót, và kết quả cuối cùng là các hãng sản xuất phải lên tiếng rằng việc có khoảng dừng đó là kết quả tất yếu trên tất cả các gói đĩa lớp kép. Đĩa DVD recordable hỗ trợ công nghệ này có thể tương thích ngược với một vài đầu chơi DVD và ổ đĩa DVD-ROM. Nhiều đầu ghi DVD hiện nay đều hỗ trợ công nghệ lớp kép, và về so sánh giá giữa ổ đĩa lớp đơn, và các đĩa trắng lớp đơn thì giá của ỗ đĩa và đĩa lớp kép vẫn còn quá đắt. Tốc độ ghi dữ liệu cho lớp kép hiện tại nhanh vẫn tốt hơn những đĩa lớp đơn. == Bảng tốc độ đọc và truyền dữ liệu của đĩa DVD-ROM == Tốc độ đọc và truyền dữ liệu đĩa DVD-ROM. == Sự tương thích == Ổ đĩa DVD và sự tương thích. == Đĩa DVD recordable và rewritable == HP đầu tiên phát triển định dạng DVD có thể ghi (DVD recordable) từ yêu cầu của việc lưu dữ liệu để lưu trữ và vận chuyển. DVD recordable còn được sử dụng cho khách hàng trong việc lưu trữ nhạc và phim. Ba định dạng được phát triển: DVD-R/RW (minus/dash), DVD+R/RW (plus), DVD-RAM. == DVD-Video == DVD-Video là một tiêu chuẩn để lưu trữ nội dung video. Ở Mỹ, số đĩa DVD-Video bán ra hàng tuần đã vượt xa số băng cassette VHS bán ra tháng 6 năm 2003, cho thấy sự chấp nhận đông đảo bởi thị trường. Mặc dù có nhiều định dạng và nhiều độ phân giải được hỗ trợ, đa số khách hàng mua đĩa DVD sử dụng 4:3 hoặc anamorphic 16:9 tỉ lệ góc nhìn (aspect ratio) MPEG-2 video, lưu trữ với độ phân giải 720x480 (NTSC) hoặc 720x576 (PAL) với tốc độ 29.97 hoặc 25 khung hình/giây (FPS). Âm thanh được sử dụng chung nhất là Dolby Digital (AC-3) hoặc định dạng Digital Theater System (DTS), có khoảng từ 16-bits/48 kHz đến 24bits/96 kHz với dạng đơn loa (monaural) đến trình diễn âm thanh 7.1 "Âm thanh vòm" (Surround Sound), và/hoặc MPEG-1 lớp 2. Mặc dù bản mô tả chi tiết cho video và audio thay đổi từ theo vùng lãnh thổ và theo hệ tivi, nhưng nhiều đầu DVD vẫn hỗ trợ tất cả định dạng có thể. DVD-Video cũng hỗ trợ các mục như menu, lựa chọn phụ đề (subtitle), nhiều góc nhìn camera, và nhiều track âm thanh khác nhau. == DVD-Audio == DVD-Audio là một định dạng âm thanh độ trung thực cao lưu trữ trên DVD. Nó cho phép lưu trữ nhiều cấu hình kênh khác nhau (từ mono sound cho đến hệ thống âm thanh 7.1) với nhiều tần số lấy mẫu khác nhau (cho đến 24-bits/192 kHz đối với CDDAs 16-bits/44.1 kHz). So sánh với định dạng CD, dung lượng lớn của DVD cho phép sự bao gộp nhiều âm thanh hơn (với khía cạnh là chạy được nhiều bài nhạc hơn) và/hoặc những bản nhạc chất lượng cao hơn (phản xạ bởi phương pháp lấy mẫu tuyến tính và các bit-rate cao, và/hoặc thêm vào các kênh để tạo nên âm thanh không gian (spatial sound). Mặc dù các bản mô tả tiêu chuẩn cao của DVD-Audio, nó vẫn tồn tại cuộc tranh luận để phân định các kết quả hỗ trợ âm thanh phân biệt trong môi trường nghe cơ bản. Định dạng DVD-Audio hiện tại đang đi vào hốc tường của thị trường, gây ra bởi cuộc chiến định dạng sống còn với chuẩn SACD mà DVD-Video tránh. == Bảo mật == Đĩa DVD-Audio tạo nên cơ cấu phòng chống sao chép mạnh mẽ, gọi là Bảo vệ Nội dung đĩa ghi trước (Content Protection for Prerecorded Media - CPPM), được phát triển bởi nhóm 4C (IBM, Intel, Matsushita và Toshiba). Cho đến hôm nay, CPPM vẫn chưa bị "phá vỡ" trên khái niệm rằng DVD-Video’s CSS đã bị phá vỡ, nhưng mưu mẹo để phá vỡ nó đã được phát triển. Bằng cách thay đổi các phần mềm chơi nhạc DVD để giải mã các dòng âm thanh đã được mã hóa vào đĩa cứng, người dùng có thể, thực chất, có thể lấy nội dung từ đĩa DVD-Audio cũng như có thể lấy từ đĩa DVD-Video. == Những công nghệ kế thừa == Có một vài định dạng thừa kế của DVD được phát triển bởi nhiều liên hiệp khác nhau. Sony/Panasoic có Blu-ray (BD) và Toshiba thì phát triển HD DVD bắt đầu tạo nên một sức kéo công nghệ vào năm 2007, và thế hệ tiếp theo như Maxell’s Holographic Versatile Disc (HVD) và công nghệ lưu trữ dữ liệu quang học 3D đã bắt đầu được phát triển khá mạnh. Vào ngày 19 tháng 11 năm 2003, Diễn đàn DVD quyết định bầu chọn 8 /6 rằng HD DVD sẽ trở thành HD thừa kế chính thức của DVD. Mặc dù vậy, cả BD lẫn HD DVD đã làm vướng víu bất kỳ sự chấp nhận của các công nghệ thừa kế khác của DVD mặc dù sự thiếu hụt của một sự hợp tác đã tạo nên sự thành công của DVD. Vào ngày 4 tháng 1 năm 2008, sau khi hãng phim Warner Bros tuyên bố sẽ chỉ sản xuất phim theo định dạng Blu-ray, và hãng bán lẻ Wal-Mart chỉ phân phối sản phẩm Blu-ray, vào tháng 2 cùng năm, sau 8 năm dai dẳng, cuộc chiến định dạng độ nét cao chính thức ngã ngũ. Đại diện của Toshiba đã tuyên bố "xem xét đến việc rút lui hoàn toàn". Dưới đây là bảng so sánh chi tiết ba loại đĩa quang: DVD và hai hậu duệ của nó Blu-ray và HD-DVD == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chủ của Diễn đàn DVD Trang chủ của Liên minh DVD+RW Đĩa DVD đạt dung lượng terabyte 6 mẹo ghi đĩa DVD hoàn hảo
nô lệ.txt
Chế độ nô lệ là chế độ mà trong đó con người được xem như một thứ hàng hóa. Nô lệ là người bị bắt buộc phải làm việc không lương cho người chủ, bị mất quyền con người, tự do và cuộc sống phụ thuộc hoàn toàn vào người chủ. Nhiều người trở thành nô lệ vì bị bắt sau những cuộc chiến (một hình thức tù binh), hoặc những cuộc càn quét của lực lượng xâm lăng hoặc giai cấp thống trị. Một số khi sinh ra đã bị coi như là nô lệ vì cha mẹ là nô lệ. Trong lịch sử, chế độ nô lệ đã được công nhận bởi hầu hết các xã hội; còn trong thời gian gần đây, chế độ nô lệ đã bị cấm ở tất cả các nước, nhưng nó vẫn tiếp tục tồn tại thông qua các việc gán nợ, chế độ nông nô, người làm trong nhà bị nuôi nhốt, nhận con nuôi giả trong đó trẻ em bị buộc phải làm việc như nô lệ, binh lính trẻ em, và hôn nhân cưỡng ép. Nô lệ chính thức được coi là bất hợp pháp ở tất cả các nước, nhưng vẫn còn khoảng 20 đến 30 triệu nô lệ trên toàn thế giới. Chế độ nô lệ có trước chữ viết và đã tồn tại trong nhiều nền văn hóa. Hầu hết các nô lệ hiện nay là nô lệ do gán nợ, chủ yếu là ở Nam Á, đang bị gán nợ phát sinh do người cho vay nặng lãi, thậm chí kéo dài nhiều thế hệ. Buôn người chủ yếu được sử dụng để buộc phụ nữ và trẻ em tham gia vào các ngành công nghiệp tình dục. Chỉ riêng nước Mauritanie có khoảng 600.000 nô lệ (dưới hình thức lao động trả nợ), gồm nam, nữ và trẻ em - tức gần 20% dân số. Đến tháng 8 năm 2007 nạn nô lệ mới được chính thức coi là phạm pháp. Nạn nô lệ cũng phổ biến tại Niger với khoảng 800.000 người bị bắt làm nô lệ - 8% dân số. == Định nghĩa == Nô lệ là những người thuộc sở hữu và điều khiển của người khác, gần như không có quyền hạn gì, không có tự do đi lại, và không được trả lương, ngoài những nhu cầu tối thiểu như thức ăn, quần áo và chỗ ở. Theo Quy ước về Nô lệ năm 1926, chế độ nô lệ là "... tình trạng hay hoàn cảnh của một người phải gánh chịu một phần hay tất cả những quyền làm chủ từ người khác...". Người nô lệ không có quyền tự do bỏ trốn, bỏ chủ, hay bỏ khu vực mình đang sống nếu không có phép hay giấy thông hành, và nếu làm thế sẽ bị bắt đem về trả về lại cho chủ nhân. Chế độ này cần một hệ thống xã hội chấp thuận nó, từ liên kết giữa các tay chủ nhân nhiều thế lực hay tài chánh đến các cơ quan điều hành chính quyền địa phương. Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) định nghĩa "cưỡng ép lao động" là "những công việc hay dịch vụ do một người làm dưới sự đe doạ của hình phạt và người đó không muốn tình nguyện làm", trừ một số trường hợp ngoại lệ như: quân đội, tù nhân, trường hợp khẩn cấp và những công tác cộng đồng nhỏ. Từ người hầu không đồng nghĩa với nô lệ, ở chỗ đây là người, có nhân quyền, trong khi nô lệ không được coi là người mà là một vật, một thứ tài sản, tương đượng với dụng cụ hay súc vật. === Những từ ngữ liên hệ === Theo ILO, sử dụng trẻ em cho lao động được coi như tương đương với cưỡng ép lao động. Một số người theo chủ nghĩa Vô chính phủ, Xã hội và Cộng sản chống đối nạn nô lệ tài chánh, là trường hợp người làm công bị buộc vào thế cùng, phải làm việc với mức lương quá thấp hoặc không lương (và chấp nhận nghèo đói) vì đe doạ thất nghiệp (còn gọi là khủng bố kinh tế). Nhiều nhà đấu tranh tự do cho việc áp đặt thuế của chính phủ là một hình thức nô lệ hoá dân chúng. Nói hơn nữa, ngay cả việc nuôi gia súc như chó, mèo, bò, ngựa, v.v cũng bị nhiều người coi như là giữ nô lệ. == Chú thích == == Sách tham khảo == Bales, Kevin, Disposable People: New Slavery in the Global Economy (1999) Campbell, Gwyn, Suzanne Miers, and Joseph C. Miller, eds. Women and Slavery. Volume 1: Africa, the Indian Ocean World, and the Medieval Atlantic; Women and Slavery. Volume 2: The Modern Atlantic (2007) Davies, Stephen (2008). “Slavery, World”. Trong Hamowy, Ronald. The Encyclopedia of Libertarianism. Thousand Oaks, CA: SAGE; Cato Institute. tr. 464–9. ISBN 978-1-4129-6580-4. LCCN 2008009151. OCLC 750831024. Davis, David Brion. The Problem of Slavery in the Age of Revolution, 1770-1823 (1999) Davis, David Brion. The Problem of Slavery in Western Culture (1988) Drescher, Seymour. Abolition: A History of Slavery and Antislavery (2009) highly regarded history of slavery and its abolition, worldwide Finkelman, Paul, ed. Encyclopedia of Slavery (1999) Gordon, M. Slavery in the Arab World (1989) Greene, Jacqueline. Slavery in Ancient Egypt and Mesopotamia, (2001), ISBN 0-531-16538-8 Joseph, Celucien L. Race, Religion, and The Haitian Revolution: Essays on Faith, Freedom, and Decolonization (CreateSpace Independent Publishing Platform, 2012) Joseph, Celucien L. From Toussaint to Price-Mars: Rhetoric, Race, and Religion in Haitian Thought (CreateSpace Independent Publishing Platform, 2013) Lal, K. S. Muslim Slave System in Medieval India (1994) ISBN 81-85689-67-9 Miers, Suzanne, and Igor Kopytoff, eds. Slavery In Africa: Historical & Anthropological Perspectives (1979) Morgan, Kenneth. Slavery and the British Empire: From Africa to America (2008) Postma, Johannes. The Atlantic Slave Trade, (2003) Rodriguez, Junius P., ed., The Historical Encyclopedia of World Slavery (1997) Rodriguez, Junius P., ed. Slavery in the United States: A Social, Political, and Historical Encyclopedia (2007) Shell, Robert Carl-Heinz Children Of Bondage: A Social History Of The Slave Society At The Cape Of Good Hope, 1652–1813 (1994) Westermann, William Linn The Slave Systems of Greek and Roman Antiquity (1955), ISBN 0-87169-040-3 Hogendorn, Jan and Johnson Marion: The Shell Money of the Slave Trade. African Studies Series 49, Cambridge University Press, Cambridge, 1986. The Slavery Reader, ed. by Rigas Doganis, Gad Heuman, James Walvin, Routledge 2003 Berlin, Ira. Many Thousands Gone: The First Two Centuries of Slavery in North America (1999), most important recent survey Blackmon, Douglas A. Slavery by Another Name: The Re-Enslavement of Black Americans from the Civil War to World War II Doubleday (ngày 23 tháng 3 năm 2008), ISBN 0-385-50625-2 ISBN 978-0-385-50625-0 Boles, John. Black Southerners: 1619–1869 (1983) brief survey Engerman, Stanley L. Terms of Labor: Slavery, Serfdom, and Free Labor (1999) Genovese Eugene D. Roll, Jordan Roll (1974), classic study Richard H. King, "Marxism and the Slave South", American Quarterly 29 (1977), 117–31, a critique of Genovese Escott, Paul D. "Remembering Slavery: African Americans Talk about Their Personal Experiences of Slavery and Freedom" Journal of Southern History, Vol. 67, 2001 Mintz, S. Slavery Facts & Myths, Digital History Parish, Peter J. Slavery: History and Historians (1989) Phillips, Ulrich B. American Negro Slavery: A Survey of the Supply, Employment and Control of Negro Labor as Determined by the Plantation Regime (1918; paperback reprint 1966), southern white perspective Phillips, Ulrich B. Life and Labor in the Old South (1929) Sellers, James B. Slavery in Alabama (1950). Sydnor, Charles S. Slavery in Mississippi (1933) Stamp, Kenneth M. The Peculiar Institution: Slavery in the Ante-Bellum South (1956), a rebuttal of U B Philipps Trenchard, David (2008). “Slavery in America”. Trong Hamowy, Ronald. The Encyclopedia of Libertarianism. Thousand Oaks, CA: SAGE; Cato Institute. tr. 469–70. ISBN 978-1-4129-6580-4. LCCN 2008009151. OCLC 750831024. Vorenberg, Michael. Final Freedom: The Civil War, the Abolition of Slavery, and the Thirteenth Amendment (2001) Weinstein, Allen, Frank O. Gatell, and Lewis Sarasohn, eds., American Negro Slavery: A Modern Reader, third ed. (1978) Jesse Sage and Liora Kasten, Enslaved: True Stories of Modern Day Slavery, Palgrave Macmillan, 2008 ISBN 978-1-4039-7493-8 Tom Brass, Marcel van der Linden, and Jan Lucassen, Free and Unfree Labour. Amsterdam: International Institute for Social History, 1993 Tom Brass, Towards a Comparative Political Economy of Unfree Labour: Case Studies and Debates, London and Portland, OR: Frank Cass Publishers, 1999. 400 pages. Tom Brass and Marcel van der Linden, eds., Free and Unfree Labour: The Debate Continues, Bern: Peter Lang AG, 1997. 600 pages. A volume containing contributions by all the most important writers on modern forms of unfree labour. Kevin Bales, Disposable People. New Slavery in the Global Economy, Revised Edition, University of California Press 2004, ISBN 0-520-24384-6 Kevin Bales (ed.), Understanding Global Slavery Today. A Reader, University of California Press 2005, ISBN 0-520-24507-5freak Kevin Bales, Ending Slavery: How We Free Today's Slaves, University of California Press 2007, ISBN 978-0-520-25470-1. Mende Nazer and Damien Lewis, Slave: My True Story, ISBN 1-58648-212-2. Mende is a Nuba, captured at 12 years old. She was granted political asylum by the British government in 2003. Gary Craig, Aline Gaus, Mick Wilkinson, Klara Skrivankova and Aidan McQ­ e (2007). Contemporary slavery in the UK: Overview and key issues, Joseph Rowntree Foundation. ISBN 978-1-85935-573-2. David Hawk, The Hidden Gulag - Slave Labor Camps in North Korea, Washington DC: Committee for Human Rights in North Korea, 2012, ISBN 0-615-62367-0 Somaly Mam Foundation Thomas Sowell, The Real History of Slavery, in: Black Rednecks and White Liberals, San Francisco: Encounter Books, 2005. ISBN 978-1-59403-086-4. == Liên kết ngoài == Bản mẫu:NIE Poster === Lịch sử === Slavery Resource Guide, from the Library of Congress Digital Library on American Slavery African Holocaust Emory and Oxford College Slavery Fact Sheets, Digital History The West African Sqron and slave trade Slavery – PBS Understanding Slavery Slavery Slavery Museum. Great Britain. Archives on slavery held by the University of London Mémoire St Barth (archives & history of slavery, slave trade and their abolition), Comité de Liaison et d'Application des Sources Historiques. Archives of the Middelburgsche Commercie Compagnie (MCC) 'Trade Company of Middelburg' (Inventory of the archives of the Dutch slave trade across the Atlantic) === Hiện đại === news-politics, modern-slavery Modern Slavery - slideshow by The First Post Slavery – PBS Walk Free Foundation – Global Slavery Index 2013 | Explore the Index
nguyên tử khối.txt
Nguyên tử khối của một nguyên tử là khối lượng tương đối của một nguyên tử nguyên tố đó, là tổng của khối lượng electron, proton và neutron, nhưng do khối lượng electron rất nhỏ nên thường không được tính, vì vậy có thể nguyên tử khối xấp xỉ số khối của hạt nhân. Đơn vị khối lượng nguyên tử là đơn vị Carbon (AMU-Atomic mass unit) = 1/12 khối lượng nguyên tử cacbon đồng vị C12 (12C). Một số tài liệu cho đơn vị nguyên tử lượng là u. Nguyên tử khối cũng là khối lượng, tính theo đơn vị gam, của một mol nguyên tử. == Tham khảo ==
giáo hội các thánh hữu ngày sau của chúa giê su ky tô.txt
Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê Su Ky Tô (tiếng Anh: The Church of Jesus Christ of Latter-day Saints, viết tắt LDS), còn được biết với tên Giáo hội Mặc Môn, là một giáo hội Kitô giáo lớn và nổi tiếng nhất trong phong trào Thánh hữu ngày sau (một hình thức của phong trào Phục hồi Kitô giáo). Trụ sở chính của giáo hội đặt tại thành phố Salt Lake, tiểu bang Utah, Hoa Kỳ. == Đặc điểm == Một số đặc điểm chính của Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê Su Ky Tô: Có những người truyền giáo tình nguyện, phục vụ toàn thời gian trong vòng 18 tháng cho đến 2 năm để tích cực rao truyền phúc âm của Chúa Giê Su Ky Tô trên toàn cầu. Tin các vị tiên tri thời hiện đại, bắt đầu với Joseph Smith, Jr., và tiếp tục cho đến ngày nay với Thomas S. Monson. Các tín hữu trong giáo hội này học hỏi phúc âm và tin rằng Kinh thánh, Sách Mặc Môn, Giáo Lý và Giao Ước và Trân Châu Vô Giá là những sách thánh. Họ tuân giữ chế độ ăn uống gọi là Lời thông sáng. Gồm có việc: kiêng rượu, thuốc lá, cà phê, ma túy hoặc các chất gây nghiện làm hại đến sức khỏe nhưng những thức uống nhẹ có chứa caffein thì tuỳ từng cá nhân. Tin Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh tồn tại như ba nhân vật riêng biệt. Những tín hữu sống xứng đáng và đã tiếp nhận giáo lễ Thiên Ân sẽ mặc lễ phục Đền Thờ bên dưới trang phục hằng ngày. Làm lễ hôn phối cho thời vĩnh cửu trong đền thờ qua quyền năng và thẩm quyền của chức tư tế từ Chúa. Thực hiện phép báp têm cho người chết (người sống làm thay cho người chết chưa có cơ hội nghe phúc âm) và các giáo lễ cho tổ tiên theo phả hệ của những tín hữu đang sống. == Lịch sử == Joseph Smith, Jr., người được các tín hữu trong Giáo hội xem như một vị tiên tri của ngày sau, đã cùng 5 cộng sự của mình, đã thành lập giáo hội vào ngày 6 tháng 4 năm 1830, với con số tín hữu gồm 56 nam và nữ tại Fayette, New York. Ban đầu, giáo hội mang tên là Giáo hội của Chúa Giê Su Ky Tô (Church of Jesus Christ), với ý nghĩa do niềm tin vào sự phục hồi của giáo hội nguyên thủy. Cũng trong năm này, "Sách Mặc Môn: Một Chứng Thư Khác Về Chúa Giê Su Ky Tô", một trong những sách thánh của Giáo hội được xuất bản. Bốn năm sau, vào tháng 4 năm 1834, giáo hội được đổi tên thành Giáo hội Các Thánh Hữu Ngày Sau (Church of the Latter Day Saints). Các tín hữu cho rằng việc đổi tên này là để phân biệt giáo hội của họ là một giáo hội của thời kỳ sau cùng, ngay trước ngày tái lâm của Đấng Kitô, với giáo hội của Tân Ước. Đến tháng 4 năm 1838, giáo hội một lần nữa đổi tên, thành Giáo hội Các Thánh Hữu Ngày Sau Của Chúa Giê Su Ky Tô (The Church of Jesus Christ of Latter Day Saints). Tuy nhiên, cũng trong khoảng thời gian đó, các tín đồ Kitô giáo cho rằng với những giáo lý, nguyên tắc và tập tục đa thê, họ cho rằng đây chỉ là một giáo phái tà đạo. Họ thường sử dụng tên gọi Mặc Môn để chỉ giáo hội này và các tín hữu của họ với ý nghĩa miệt thị. Tuy nhiên, danh xưng "người Mặc Môn" đến thế kỷ 20 cũng được chấp nhận dùng rộng rãi bên trong giáo hội, bên cạnh danh xưng "Thánh hữu Ngày sau". Một số người quan sát bên ngoài xếp họ là một giáo phái Tin Lành, trong khi những người khác lại không thừa nhận đức tin của Giáo hội các Thánh Hữu Ngày Sau thuộc Kitô Giáo. Như trong tên gọi, các tín hữu của giáo hội tin rằng Chúa Giê Su là Đấng lãnh đạo giáo hội và các tín hữu là những Thánh hữu của Ngài ở thời kỳ hiện tại và không xem mình thuộc về các truyền thống Chính Thống giáo, Công giáo hay Tin Lành. Giáo lý của giáo hội này nêu ra rằng Giáo hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô là cùng một giáo hội nguyên thủy mà Chúa Giê Su đã tổ chức khi còn tại thế. Giáo hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô nhanh chóng phát triển bởi tính chất đơn giản và lòng nhiệt thành truyền giáo của các tín hữu. Sau đó, trong 2 năm 1843 và 1844, Joseph Smith, Jr., người cũng được các tín hữu xem như một vị tiên tri của ngày sau, đã chỉ định và thiết lập ra Nhóm Túc số Mười hai Vị Sứ đồ (Anointed the Quorum of the Twelve Apostles) để lãnh đạo giáo hội. Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê Su Ky Tô và các tín hữu đã thường xuyên gặp phải sự cấm đoán, ngược đãi của chính quyền và dân chúng tại một số tiểu bang của Hoa Kỳ, trong đó nghiêm trọng nhất là lệnh từ Thống đốc Missouri. Ngày 27 tháng 6 năm 1844, vào khoảng 5 giờ chiều, một đám đông người bôi đen mặt và có vũ trang đã tấn công vào ngục thất Carthage, Illinois, và sát hại vị tiên tri Joseph Smith, khi ông mới 38 tuổi, và tộc trưởng Hyrum Smith. Mặc dù vậy, Nhóm Túc số Mười hai Vị Sứ đồ, đứng đầu bởi Brigham Young, đã kế tục điều hành giáo hội trong khoảng thời gian đó. Brigham Young đã lãnh đạo những một số lớn các tín hữu, còn được gọi là "Những người Mặc Môn tiên phong" (Mormon pioneers), để đi về vùng đất hứa, một nơi rộng lớn không được chỉ định trước ở phía tây. Cuối cùng, họ đã dừng lại và xây dựng vùng đất hứa cho mình tại một nơi mà ngày nay bao gồm bang Utah và các phần của Arizona, California, Nevada, Idaho và Wyoming. Vùng đất ban đầu được đặt tên là bang Deseret, thành lập năm 1849. Năm 1851, Brigham Young đã đăng ký tên chính thức của giáo hội là The Church of Jesus Christ of Latter-day Saints, tức Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê Su Ky Tô với một dấu gạch nối và một chữ "d" viết thường. Tuy vậy, sự cấm đoán đối với giáo hội này cũng không vì thế mà giảm đi. Năm 1887, Đạo luật Edmunds–Tucker được thông qua, quyết định giải thể Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê Su Ky Tô với lý do vì tục đa thê của các nam tín hữu trong Giáo hội. Vào kỳ Đại hội Trung ương Bán Niên của Giáo hội lần thứ 61, ngày 6 tháng 12 năm 1890, tiên tri thứ tư Wilford Woodruff đã gửi bản tuyên ngôn đến tất cả tín hữu với thông điệp về việc chấp dứt tập tục đa thê theo như điều mà ông cho là mặc khải nhận được từ Chúa vì sự an nguy của các Thánh Hữu và sự phát triển của giáo hội. Năm 1978, Đạo luật Edmunds–Tucker được bãi bỏ. Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê Su Ky Tô trở thành một giáo hội chính thức, phát triển khắp nơi trên thế giới và gần như một tôn giáo lớn thứ 4 tại Hoa Kỳ. == Ngày nay == Tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2010, bản thống kế của giáo hội này cho biết đã có 2.896 giáo khu, 340 phái bộ truyền giáo, 614 giáo hạt, 28.660 tiểu giáo khu và chi nhánh. Có 52.255 người truyền giáo phục vụ trên khắp thế giới. Tổng số tín hữu của Giáo hội này là 14.131.467 và trong đó có 120.528 trẻ em mới được ghi danh vào hồ sơ và 272,814 tín hữu mới chịu phép báp têm (lễ rửa tội). Đây là tôn giáo lớn thứ tư ở Hoa Kỳ. Báo cáo này bao gồm những người đã chịu phép báp têm của giáo hội cho dù họ có tham dự hoặc tự xem là thành viên của giáo hội hay không. Theo "Khảo sát định danh tôn giáo Hoa Kỳ" năm 2001, ước tính có khoảng 2,8 triệu người lớn theo đạo Mặc Môn tại Hoa Kỳ. Giống với tất cả giáo hội Kitô giáo khác, nhà thờ là nơi thờ phượng, tất cả mọi người đều có thể đến để tham quan, sinh hoạt, tham dự Lễ Tiệc Thánh và các lớp học thánh thư để hướng về Cha Thiên Thượng. Ngoài ra, Giáo hội các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê Su Ky Tô còn xây dựng nên những kiến trúc đặc biệt và thiêng liêng được gọi là Đền Thờ và xem là Ngôi Nhà của Chúa. Các nghi lễ tôn giáo thiêng liêng đều được thực hành tại đây. Khách tham quan hoặc tín hữu không có giấy giới thiệu vào đền thờ đều không thể vào tham dự hoặc thực hiện những nghi lễ tôn giáo bên trong đền thờ. Tuy nhiên, họ có thể tham quan khung cảnh bên ngoài đền thờ và thăm "Khu trung tâm dành cho khách thăm viếng" (Visitors' Center). == Chú thích == == Liên kết ngoài == (tiếng Anh) Trang mạng chính thức của Giáo hội Các Thánh Hữu Ngày Sau của Chúa Giê Su Ky Tô (tiếng Anh) Ý nghĩa của công việc xây dựng những ngôi Đền thờ đối với các Thánh Hữu Ngày Sau Trang mạng cung cấp một số tài liệu tham khảo phúc âm của Giáo hội bằng tiếng Việt
blackburn ripon.txt
Blackburn T.5 Ripon là một loại máy bay ném bom thả ngư lôi/trinh sát hai tầng cánh trên tàu sân bay của Anh. Nó bay lần đầu vào năm 1926. Không quân Hải quân Hoàng gia sử dụng nó làm máy bay ném bom thả ngư lôi từ năm 1930 tới năm 1935. Ngoài ra nó còn được bán cho Phần Lan, nó được sử dụng trong Chiến tranh Mùa đông và Chiến tranh Tiếp tục cho đến năm 1944. == Variants == Ripon I: Mẫu thử, 2 chiếc. Ripon II: Phiên bản sản xuất đầu tiên - 20 chiếc (nhiều chiếc hoán cải thành biến thể Mk IIC). Ripon IIA: 40 chiếc. Ripon IIC: Cánh làm hoàn toàn bằng kim loại - 30 chiếc. Ripon III: Mẫu thử với mũi dài hơn và cánh mới. 1 chiếc. Ripon IIF: Phiên bản trinh sát/ném bom-ngư lôi cho Không quân Phần Lan. == Quốc gia sử dụng == United Kingdom Hải quân Hoàng gia Không quân Hải quân Hoàng gia Finland Không quân Phần Lan == Tính năng kỹ chiến thuật (Ripon IIC) == Dữ liệu lấy từ The British Bomber. Đặc điểm tổng quát Kíp lái: 2 Chiều dài: 36 ft 9 in (11,20 m) Sải cánh: 44 ft 10 in (13,67 m) Chiều cao: 12 ft 10 in (3,91 m) Diện tích cánh: 683 ft2 (63,45 m2) Trọng lượng rỗng: 4.132 lb (1.878 kg) Trọng lượng có tải: 7.282 lb (3.310 kg) Động cơ: 1 × Napier Lion X, XI hoặc XIA, 570 hp (425 kW) Hiệu suất bay Vận tốc cực đại: 96 kn (111 mph, 179 km/h) Tầm bay: 356 nmi (410 mi, 660 km) Trần bay: 10.000 ft (3.050 m) Lên độ cao 6.500 ft: 15 phút 30 giây Trang bị vũ khí Súng: 1 × súng máy Vickers.303 in (7.7 mm) (không phải Mk II) và 1 × súng máy Lewis.303 in (7.7 mm) Bom: Hoặc 1 quả ngư lôi 18 in (457 mm) hoặc mang tới 3 quả bom 530 lb (240 kg) hoặc 6 quả bom 230 lb (104 kg). == Xem thêm == Máy bay có sự phát triển liên quan Blackburn Baffin Danh sách khác Danh sách máy bay quân sự giữa hai cuộc chiến tranh thế giới Danh sách máy bay trong Chiến tranh Thế giới II Danh sách máy bay ném bom == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Photos of Blackburn Ripon III in Flight
bắc ngà.txt
Bắc Ngà là một xã thuộc huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La, Việt Nam. Xã Bắc Ngà có diện tích 65,27 km², dân số năm 1999 là 4764 người, mật độ dân số đạt 73 người/km². == Chú thích == == Tham khảo ==
bến cảng.txt
Bến cảng, cũng có khi gọi là cầu cảng, là một nơi trong cảng chuyên dụng để tàu thuyền neo đậu chờ hành khách hay bốc xếp hàng hóa lên xuống. Tùy theo loại tàu thuyền phục vụ, độ dài có thể từ 4-5 mét đến vài trăm mét, có thể làm thô sơ bằng gỗ đến kiên cố bằng bê tông. Tùy theo loại hàng hóa được bốc xếp lên tàu, có thể có các loại bến chuyên dụng làm hàng rời, hàng kiện, hàng container, hàng lỏng, khí, v.v... == Tham khảo == == Xem thêm == Khu bến cảng Cảng
phố (tiểu thuyết).txt
Phố là một tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai nói về cuộc sống của những người Hà Nội giai đoạn đầu Đổi mới (đầu những năm 1990). Tác giả đã dựa trên truyện ngắn Phố nhà binh viết năm 1991 để viết tiểu thuyết Phố một năm sau đó. Phố được coi là một trong những tác phẩm đặc sắc nhất của Chu Lai viết về cuộc sống của những người bộ đội thời hậu chiến. Tác phẩm đã được dịch sang tiếng Pháp với tên Rue des soldats (Phố nhà binh) và được chuyển thể thành bộ phim truyền hình được yêu thích Người Hà Nội. == Nội dung == Bối cảnh của Phố là cuộc sống của những người lính hoặc cựu chiến binh sống trên phố Lý Nam Đế, con phố tập trung các cơ quan và khu tập thể của quân đội ở Hà Nội, giai đoạn đầu những năm Đổi mới. Đó là giai đoạn mà hoàn cảnh kinh tế khó khăn buộc những người bộ đội mới bước ra khỏi cuộc chiến hoặc chỉ làm việc và sống trong môi trường quân ngũ phải làm quen với việc kiếm tiền để đảm bảo cuộc sống. == Nhân vật == Gia đình của Nam: Nam là một sĩ quan công binh có trình độ, chiến đấu dũng cảm nhưng lại hiền lành, không biết cách tính toán, bươn chải. Vợ anh là Thảo, con gái vị tướng cấp trên của Nam và là một thiếu tá quân y, cô có vẻ đẹp cổ điển, dịu dàng theo kiểu con gái Hà Nội xưa. Hai người có một con gái là bé Niên Thảo. Gia đình của Lãm: Xuất thân là lính trong đơn vị của Nam và từng tham gia Chiến tranh Biên giới, Lãm gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, sau khi giải ngũ anh bị bố anh, ông Khang, vốn là một hiệu trưởng trường Đảng, đuổi khỏi nhà vì cưới một cô gái người miền ngược có nhiều điều tiếng. Hai vợ chồng anh phải sống tạm bợ ngay trên vỉa hè của con phố Lý Nam Đế, thậm chí họ còn cho ra đời hai đứa con ngay trên chính con phố này. Trọng Bình, biên kịch điện ảnh, cựu phóng viên quay phim chiến trường và là bạn thân của Nam: Luôn quan tâm đến người khác và nói rất hay về triết lý cuộc sống nhưng Bình lại có cuộc sống riêng không hạnh phúc. Vợ anh ly dị chỉ sau một thời gian chung sống ngắn với lý do Bình không thể trở thành một người chồng tốt. Sau này người phụ nữ thứ hai có tình cảm với anh cũng nhắc lại câu nói này, đó là Loan, em gái của Thảo. Trái ngược với tính cách hiền dịu của chị, Loan là người thẳng tính, ăn nói mạnh mẽ tuy vậy vẫn luôn có những nhận xét tinh tế về những người xung quanh. Hùng, cựu sĩ quan, một giám đốc doanh nghiệp thành đạt trong thành phố Hồ Chí Minh: Thành đạt trong công việc nhưng Hùng luôn lảng tránh khi Loan, trợ lý của anh, nhắc lại câu hỏi vì sao anh chưa có vợ. == Chuyển thể == Phố đã được chuyển thể thành bộ phim truyền hình Người Hà Nội phát trên Đài Truyền hình Việt Nam. Vai Nam được giao cho diễn viên Hồng Sơn, Lê Khanh là người đảm nhận vai Thảo còn Lãm được giao cho diễn viên miền Nam là Quyền Linh. Bộ phim được đánh giá là thành công khi được chiếu đi chiếu lại nhiều lần. Bài hát chủ đề của phim, Chị tôi của nhạc sĩ Trọng Đài, phổ thơ Đoàn Thị Tảo, do ca sĩ Mỹ Linh thể hiện cũng là bài hát được ưa thích. == Tham khảo ==
giới tính.txt
Trong sinh vật học, giới tính là một quá trình kết hợp và pha trộn những đặc điểm di truyền học của sinh vật, thường dẫn đến kết quả là sự chuyên môn hóa thành giống đực và giống cái (các giới). Sinh sản hữu tính là sự kết hợp các tế bào chuyên biệt (giao tử) định hình thành một hình thể con mang đặc điểm kế thừa từ cả hai cá thể bố và mẹ. Các giao tử có thể có hình dạng và chức năng đồng nhất (được biết với tên gọi "đồng giao tử"), nhưng trong nhiều trường hợp lại tiến hóa thành không đồng nhất là hai dạng giới tính đặc trưng của giao tử (dị giao tử): giao tử đực thì nhỏ, có khả năng di chuyển, và tiến hóa để vận chuyển thông tin di truyền của chúng đi xa hơn; trong khi giao tử cái lại lớn, không có khả năng di chuyển và chứa các chất dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển lúc mới đầu của sinh vật con. Một giới của sinh vật được xác định bằng giao tử mà nó sản sinh: giới đực sinh ra các giao tử đực (tinh trùng hay tinh dịch) còn giới cái sinh ra những giao tử cái (tế bào trứng hay noãn tử), các cá thể sinh vật sản sinh ra cả giao tử đực và cái được gọi là sinh vật lưỡng tính. Thường thì sự khác biệt về thể chất đi đôi với sự khác biệt về giới tính; việc quan hệ tình dục lưỡng tính có thể phản ánh sự khác biệt trong chức năng sinh sản của từng giới tính. == Giới tính ở người == == Bài liên quan == Phân biệt giới tính Giáo dục giới tính Vốn giới tính Thể hiện giới tính Nhận thực giới tính Giới == Liên kết ngoài và đọc thêm == Giới tính tại Từ điển bách khoa Việt Nam Quá trình phân chia giới tính con người - tác giả P. C. Sizonenko Bài viết khoa học mới về nhiễm sắc thể giới tính ở thú mỏ vịt Maynard-Smith, J. The Evolution of Sex (Sự tiến hóa của giới tính). Cambridge University Press, 1978. Arnqvist, G. & Rowe, L. (2005) Sexual conflict (Xung đột giới tính). Princeton University Press, Princeton. ISBN 0-691-12217-2 == Tham khảo ==
komatsu (công ty).txt
Komatsu Limited (株式会社小松製作所, Kabushiki-gaisha Komatsu Seisakusho) hoặc Komatsu (コマツ) (TYO: 6301) là một công ty đa quốc gia của Nhật Bản chuyên sản xuất thiết bị cho các ngành xây dựng, khai thác khoáng sản, và quân sự như các khí cụ hiện đại: súng máy, lasers hay thiết bị phát điện sử dụng nhiệt. Công ty đặt trụ sở tại 2-3-6, Akasaka, Minato, Tokyo, Nhật Bản. Tên của công ty được đặt theo tên thành phố Komatsu, Ishikawa, nơi nó được thành lập vào năm 1917. Komatsu là công ty cung cấp thiết bị xây dựng, khai thác khoáng sản lớn thứ 2 thế giới chỉ sau Caterpillar. Tuy nhiên, Komatsu có thị phần lớn hơn Caterpillar ở một số khu vực như Nhật Bản, Trung Quốc. Công ty hiện đặt nhiều nhà máy, chi nhánh tại Nhật Bản, Châu Á, Châu Mỹ và Châu Âu. Họ đang có kế hoạch tiếp tục mở rộng quy mô. Từ 小松 ko matsu có nghĩa là "cây thông nhỏ", theo tên thành phố Komatsu của tỉnh Ishikawa. == Tham khảo ==
giải quần vợt roland-garros.txt
Giải quần vợt Roland-Garros(tiếng Pháp: Tournoi de Roland-Garros), hay còn gọi là Giải quần vợt Pháp mở rộng, là một trong 4 giải Grand Slam quần vợt trong năm. Đây là giải Grand Slam thứ 2 trong năm, thường diễn ra vào khoảng thời gian nửa cuối tháng 5 và đầu tháng 6 tại Paris, Pháp. Giải đấu được đặt theo tên của anh hùng phi công người Pháp - Roland Garros. Đây là giải đấu trên mặt sân đất nện lớn nhất thế giới. Giống như tại Australian Open hay Wimbledon luật thi đấu tại Roland Garros theo thể thức 5 set thắng 3 (đối với nội dung đơn nam) và theo thể thức 3 set thắng 2 (đối với nội dung đơn nữ), không có ván giải hòa (tie-breaker) ở hiệp cuối cùng (trừ Mỹ Mở rộng), ngoài ra còn có nội dung đánh đôi nam, đôi nữ và đôi nam nữ phối hợp. Roland-Garros được coi là giải đấu đòi hỏi nền tảng thể lực khắc nghiệt nhất. Đương kim vô địch hiện tại là Novak Djokovic. == Lịch sử == Giải đấu lần đầu tiên được khởi tranh vào năm 1891. Tại thời điểm đó, giải có tên gọi Championat de France International de Tennis (Giải vô địch quần vợt quốc tế Pháp). Trong những năm đầu tiên, chỉ các tay vợt nam người Pháp, hoặc người nước ngoài có thẻ hội viên trong một câu lạc bộ quần vợt Pháp mới được quyền tham gia giải. Phải đến năm 1897, giải đấu dành cho nữ mới được tổ chức và mãi đến năm 1924 ban tổ chức mới cho phép mọi tay vợt nước ngoài đến tranh tài. Năm 1927, Bộ tứ huyền thoại, 4 chàng Ngự lâm pháo thủ hay Bộ tứ Philadelphia (René Lacoste, Jean Borotra, Henri Cochet, và Jacques Brugnon) chấn động làng bóng nỉ toàn cầu khi giành chức vô địch Cúp Davis năm 1927 ngay trên đất Mỹ, sau khi đánh bại đội tuyển Hoa Kỳ. Đội tuyển Pháp giành quyền tổ chức trận bảo vệ chức vô địch năm sau tại Paris. Để chuẩn bị cho giải Cúp Davis năm 1928, các nhà lãnh đạo Pháp đã quyết định xây dựng một sân thi đấu quần vợt tại Porte d’Auteuil, sau khi CLB Stade de France đã tặng chính quyền 3 hectare để xây dựng sân vận động mới với một điều kiện duy nhất: Sân sẽ mang tên anh hùng không quân Pháp trong Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, Roland Garros, một thành viên của câu lạc bộ. Từ đó giải còn mang tên gọi Roland Garros. Năm 1968, Roland Garros là giải Grand Slam đầu tiên chuyển thành giải "open," (mở rộng), cho phép tất cả các tay vợt nghiệp dư cũng như chuyên nghiệp tham gia thi đấu. Bắt đầu từ năm 2006, ngày thi đấu khai mạc giải là ngày Chủ nhật. Thêm vào đó, trước ngày khai mạc một ngày, một số tay vợt sẽ tham gia thi đấu biểu diễn ở ngày Benny Berthet, lợi nhuận từ việc bán vé của ngày Benny Berthet sẽ được trao cho các tổ chức từ thiện. == Đặc điểm mặt sân == Trên mặt sân đất nện, bóng đi chậm hơn và nảy rất cao khiến các tay vợt có lối chơi giao bóng mạnh và lên lưới mất đi lợi thế, vì vậy lối chơi tại Roland-Garros thích hợp với những tay vợt thích đánh từ cuối sân mà không hay lên lưới. Do đó có không ít các tay vợt huyền thoại như các cựu số 1 thế giới John McEnroe, Pete Sampras chưa từng 1 lần giành ngôi quán quân tại đây hay ngay cả Roger Federer cũng chỉ từng 1 lần vô địch, trong khi họ có thể vô địch nhiều lần tại 3 giải Grand Slam còn lại. Ngược lại, có khá nhiều các tay vợt giành chức vô địch ở Roland-Garros nhưng không thể chiến thắng tại các giải Grand Slam khác. == Mở rộng hay di dời vị trí == Từ năm 2004-2008, người ta đã có những kế hoạch xây dựng một sân quần vợt có mái che nhưng sau đó không có gì được thực hiện. Đã có những đề xuất mở rộng cơ sở hoặc di chuyển giải đấu đến một địa điểm mới ở vùng ngoại ô thành phố Paris. Sau nhiều tranh cãi, đến năm 2011, Liên đoàn quần vợt Pháp quyết định Roland Garros vẫn tiếp tục được tổ chức tại thủ đô Paris chứ không chuyển tới các vùng ngoại ô. Roland Garros sẽ xây thêm một sân vận động mới và mở rộng thêm các sân vận động hiện tại. Ngày 9 tháng 6 năm 2015, Thị trưởng Paris - Anne Hidalgo tuyên bố các giấy phép xây dựng đã được ký kết. Công việc dự kiến bắt đầu vào tháng 9 và kết thúc vào năm 2019. Tuy nhiên có nhiều người vẫn không ủng hộ phương án này. == Thống kê kỷ lục == == Tiền thưởng và điểm thưởng == Từ năm 2007, lần đầu tiên trong lịch sử, tiền thưởng dành cho các tay vợt nam và nữ bằng nhau. Năm 2015, tổng số tiền thưởng cho các vận động viên là 28,028,600 € *dành cho 2 người == Xem thêm == Danh sách vô địch đơn nam Pháp Mở rộng tranh Coupe des Mousquetaires. Danh sách vô địch đơn nữ Pháp Mở rộng tranh Coupe Suzanne Lenglen. Danh sách vô địch đôi nam Pháp Mở rộng tranh Coupe Jacques Brugnon. Danh sách vô địch đôi nữ Pháp Mở rộng tranh Coupe Simone Mathieu. Danh sách vô địch đôi nam nữ Pháp Mở rộng tranh Coupe Marcel Bernard. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang chính thức của Giải quần vợt Roland-Garros
kilômét vuông.txt
Ki-lô-mét vuông, ký hiệu km², là một đơn vị đo diện tích. Trong hệ SI, là diện tích của một hình vuông có cạnh chiều dài 1 km. Kilô mét vuông là đơn vị đo thứ cấp trong hệ SI. Một km² tương đương với: Diện tích của một hình vuông các cạnh có chiều dài 1 kilômét. 1 000 000 m² 100 hecta 0,386 102 dặm vuông (thường) 247.105 381 mẫu Anh Ngược lại: 1 m² = 0,000 001 km² 1 hecta = 0,01 km² 1 dặm vuông = 2,589 988 km² 1 mẫu Anh = 0,004 047 km² == Tham khảo ==
geisha.txt
Geisha (tiếng Nhật: 藝[芸]者 - Nghệ giả, nghĩa đen là "con người của nghệ thuật") là nghệ sĩ vừa có tài ca múa nhạc lại vừa có khả năng trò chuyện, là một nghệ thuật giải trí truyền thống của Nhật Bản. Thời thế kỷ 18 và 19 đã có rất nhiều geisha. Ngày nay các geisha vẫn còn hoạt động, tuy số lượng ngày càng giảm. Có nhiều nhầm lẫn, đặc biệt ở bên ngoài Nhật Bản, về bản chất của nghề geisha, coi đây là một hình thức mại dâm bị bóp méo. Mặc dù nhiệm vụ của geisha thường bao gồm cả tán tỉnh và đùa cợt khêu gợi (tuy được mã hóa theo các cách truyền thống), nhưng họ không bao giờ có quan hệ tình dục với khách hàng. Geisha là một loại hình biểu diễn tài nghệ văn hoá lành mạnh, cao cấp, hoàn toàn không có hành vi bán dâm, dung tục, rẻ tiền, tức chỉ "mãi nghệ, không mãi dâm". Một số geisha có thể quyết định có quan hệ với một trong những nhà bảo trợ hoặc khách quen của mình, nhưng đó là khi họ không làm việc với tư cách của một geisha (tương tự như việc có những diễn viên bán dâm ngoài giờ làm, nhưng không vì thế mà có thể đánh đồng nghề diễn viên với mại dâm). Geisha có vài nét tương đồng với ả đào trong văn hóa Việt xưa, hay ca kỹ trong văn hóa Trung Quốc. == Từ nguyên và các tên gọi == Từ "nghệ giả" được hình thành từ hai chữ gei (藝 nghệ) và sha (者 giả) xuất phát từ phương ngữ Tokyo, được các ngôn ngữ phương Tây tiếp nhận dưới dạng geisha. Tiếng Nhật chuẩn gọi là "nghệ kĩ", Geigi (藝妓, "nữ nghệ sĩ"), và họ được gọi theo phương ngữ Kansai (関西 Quan Tây) là "nghệ tử", Geiko (藝子). Geisha trong thời gian học việc được gọi là "bán ngọc", Han'gyoku (半玉) (tại Tōkyō) hay "vũ tử", Maiko (舞子), hoặc "vũ kĩ", Maigi (舞妓), (tại Kyoto). Geisha, phát âm /ˈgeɪ ʃa/ (gei- phát âm như gây), là thuật ngữ quen thuộc nhất đối với người nói tiếng Anh và cũng thường được sử dụng ở Nhật Bản. Phát âm tiếng Anh /ˈgi ʃa/ (gei- phát âm như ghi), như trong nhóm từ geisha girl, mang nghĩa rộng là gái mại dâm. Điều này liên quan đến thời kỳ Hoa Kỳ chiếm đóng Nhật Bản sau Chiến tranh thế giới thứ hai, khi những phụ nữ trẻ cần tiền đã tự gọi mình là geisha và bán dâm cho lính Mỹ. Ở Việt Nam, có người dịch geisha là "kỹ nữ Nhật". Tuy nhiên, cách dịch này dễ gây hiểu nhầm, vì trong tiếng Việt, từ "kỹ nữ" có ý chỉ phụ nữ hoạt động mại dâm . Có từ điển dịch geisha là "vũ nữ Nhật". Tuy nhiên, cách dịch này không chính xác vì múa chỉ là một trong các loại hình nghệ thuật truyền thống mà geisha biểu diễn. Ngoài ra, có ít người sử dụng cách dịch này.. == Lịch sử và sự tiến hóa == Văn hoá Bushido đã góp phần đưa tới sự ra đời văn hoá Geisha. Võ sĩ đạo là một hệ thống luân lý đạo đức hoàn mỹ – một bộ giới luật bất thành văn mà người võ sĩ (samurai) phải tuân theo: ngay thẳng, quang minh chính đại, cao thượng, nghĩa hiệp... Là tầng lớp quý tộc Nhật, các samurai sống rất có văn hoá, lấy thi ca, nhã nhạc, thư pháp làm trò giải trí. Họ ưa được hưởng sự phục vụ từ phía nữ giới dưới hình thức văn hoá lành mạnh hợp với tâm hồn võ sĩ, chứ không phải hình thức phục vụ tình dục. Nhu cầu giải trí tao nhã ấy dẫn tới sự ra đời của Geisha, chứ hoàn toàn không phải để thỏa mãn ham muốn tình dục. Geisha khởi nguồn là những người giải trí chuyên nghiệp, ban đầu họ hầu hết là nam giới. Geisha sử dụng kỹ năng nghệ thuật truyền thống Nhật Bản, trong đó có âm nhạc, múa và kể chuyện. "Geisha thành phố" (machi geisha) hoạt động tự do tại các buổi tiệc bên ngoài các khu phố giải trí, trong khi các "geisha khu phố" (kuruwa geisha) làm giải trí cho khách trong các buổi tiệc trong các khu phố giải trí. Trong khi các kỹ năng nghệ thuật của gái điếm hạng sang suy giảm, thì kỹ năng của các geisha, cả nam lẫn nữ, trở nên được yêu cầu cao hơn. Geisha nam (đôi khi được gọi là hōkan) đã dần dần suy giảm, và cho đến năm 1800, sô lượng các geisha nữ (ban đầu được gọi là onna geisha với nghĩa là "geisha nữ") đã gấp ba lần số geisha nam, và tên gọi geisha bắt đầu được hiểu với nghĩa như ngày nay là người phụ nữ làm nghề giải trí với trình độ cao. Theo truyền thống, geisha bắt đầu được huấn luyện từ khi còn nhỏ. Một số cô gái đã được bán cho các nhà geisha từ khi còn là trẻ con và bắt đầu học nhiều thể loại nghệ thuật truyền thống gần như ngay lập tức. Trong thời thơ ấu, giai đoạn đầu tiên, đôi khi geisha làm việc với vai trò người hầu gái hay người giúp việc cho các geisha có kinh nghiệm, và tiếp theo, trong giai đoạn huấn luyện là vai trò geisha học việc (maiko). Kiểu đào tạo này cũng tồn tại trong các truyền thống khác của Nhật Bản, khi học viên sống trong nhà, bắt đầu với việc làm việc nhà và giúp đỡ người thợ chính, và cuối cùng chính người đó sẽ trở thành một người thợ chính. Theo truyền thống, geisha không được liên quan đến các hoạt động tình dục. == Geisha hiện đại == Các geisha hiện đại vẫn sống trong những ngôi nhà geisha truyền thống gọi là okiya tại các khu vực gọi là hanamachi (花街 - "hoa nhai" - khu phố hoa), đặc biệt trong thời gian học việc của họ. Tuy nhiên, nhiều geisha giàu kinh nghiệm lại chọn cách sống trong những căn hộ của chính mình. Thế giới thanh lịch và văn hóa cao mà các geisha là một phần trong đó được gọi là karyūkai (花柳界, "hoa liễu giới" - thế giới của hoa và liễu). Hiện nay, những người phụ nữ trẻ muốn được trở thành geisha thường bắt đầu đợt đào tạo sau khi đã hoàn thành trung học cơ sở hay thậm chí trung học phổ thông hoặc đại học, nhiều người bắt đầu nghề nghiệp của họ khi đã ở tuổi trưởng thành. Geisha vẫn học những nhạc cụ truyền thống như shamisen, shakuhachi (sáo trúc), và trống, cũng như những bài hát truyền thống, múa cổ điển Nhật, trà đạo, ikebana (cắm hoa Nhật), văn học và thơ ca. Từ việc quan sát các geisha khác cùng với sự giúp đỡ của chủ nhà geisha, những người học việc cũng trở nên điêu luyện trong các truyền thống phức tạp xung quanh việc lựa chọn và mặc kimono, cũng như cách cư xử với khách hàng. Ngày nay, Kyoto là nơi có truyền thống geisha còn lại mạnh nhất. Hai trong số các khu phố geisha truyền thống và danh tiếng nhất là Gion và Pontochō đều ở Kyoto. Geisha trong các khu phố này được gọi là geiko. Các "khu phố hoa" Shimbashi, Asakusa và Kagurazaka tại Tokyo cũng nổi tiếng. Ở Nhật Bản hiện đại ngày nay, người ta hiếm khi nhìn thấy geisha và maiko. Vào năm 1920, tại Nhật Bản có trên 80 nghìn geisha, nhưng ngày nay chỉ còn dưới 1000 người. Tuy nhiên, các du khách đến khu Gion ở Kyoto rất dễ nhìn thấy một maiko đang trên đường đến hoặc về từ một cuộc hẹn. Sự suy tàn của truyền thống geisha có nguyên nhân từ nền kinh tế ì trệ, sự suy giảm của mối quan tâm đến các loại hình nghệ thuật truyền thống, bản chất khó nhìn thấu được của thế giới hoa liễu, và chi phí cao cho việc được geisha giải trí. Geisha thường được thuê để tham dự các buổi tiệc và tụ họp, theo truyền thống là tại các quán trà (茶屋, chaya) hoặc tại các nhà hàng Nhật Bản truyền thống (ryōtei). Thời gian làm việc của họ được đo theo thời gian một cây hương cháy hết, và được gọi là senkōdai (線香代, tuyến hương đại) hoặc gyokudai (玉代 ngọc đại - "giá ngọc"). Một từ khác để miêu tả chi phí là "ohana", hay phí hoa. Khách hàng thỏa thuận sắp xếp qua văn phòng hiệp hội geisha (検番 kenban), nơi quản lý lịch làm việc của từng geisha và sắp xếp các cuộc hẹn của cô trong cả việc huấn luyện lẫn tiếp khách. == Geisha và nghề mại dâm == Vẫn có một số nhầm lẫn, đặc biệt ở bên ngoài Nhật Bản, về bản chất của nghề geisha. Vấn đề này đã bị làm cho thêm phần rắc rối bởi gái mại dâm Nhật, đặc biệt tại các bể tắm onsen, những người muốn bám vào hình ảnh ưu thế của geisha bằng cách tự quảng cáo với các khách du lịch (cả người Nhật và người nước ngoài) rằng mình là "geisha". Các miêu tả không chính xác về geisha trong văn hóa đại chúng phương Tây, chẳng hạn trong tiểu thuyết và bộ phim Hồi ức của một geisha (Memoirs of a Geisha), cũng góp phần gây ra các hiểu nhầm về geisha. Theo truyền thống, geisha không được kết hôn (hoặc khi kết hôn thì phải kết thúc sự nghiệp), tuy việc họ có con không phải là chuyện đặc biệt. Mặc dù nhiệm vụ của geisha thường bao gồm cả tán tỉnh và đùa cợt khêu gợi (tuy được mã hóa theo các cách truyền thống), nhưng họ không bao giờ có quan hệ tình dục với khách hàng và không được trả tiền cho hoạt động đó. Tuy nhiên, một số geisha có thể quyết định quan hệ với một trong những nhà bảo trợ hoặc khách quen (patron) của mình bên ngoài thời gian làm việc với vai trò geisha. Và vì những mối quan hệ đó có liên quan đến việc một khách hàng có khả năng trả tiền để được hưởng các phục vụ truyền thống của một geisha, người ta có thể lập luận rằng đây chẳng qua chỉ là một hình thức mại dâm bị bóp méo. Cũng theo truyền thống, một geisha đã được công nhận có thể có một danna, hay người bảo trợ. Một danna thường là một người đàn ông giàu có, đôi khi đã có gia đình, người có điều kiện tài trợ những khoản chi tiêu rất lớn cho việc huấn luyện truyền thống và các chi phí đáng kể khác. Ngày nay, việc này đôi khi cũng xảy ra. Mặc dù một geisha và người bảo trợ của mình có thể yêu nhau, nhưng theo tục lệ, mối quan hệ này phụ thuộc vào khả năng cung cấp tài chính của người bảo trợ cho geisha. Các truyền thống và giá trị bên trong quan hệ này rất phức tạp và khó hiểu, ngay cả đối với nhiều người Nhật. == Ngoại hình == Ngoại hình của một geisha thay đổi theo nghề nghiệp, từ kiểu trang điểm trẻ trung, đậm của một maiko, cho đến diện mạo được trang điểm trầm hơn của một geisha lớn tuổi và đã có tiếng. === Trang điểm === Ngày nay, việc trang điểm truyền thống của một geisha tập sự là một trong những nét đặc trưng có thể nhận ra họ, tuy nhiên, chỉ trong các buổi trình diễn đặc biệt, các geisha từng trải nói chung vẫn được trang điểm với bộ mặt dày lớp phấn trắng mà tạo nên tính cách của maiko. Trang điểm truyền thống của một geisha tập sự bao gồm một lớp phấn nền dày, màu trắng với thỏi son màu đỏ và phần sắc đỏ và đen quanh mắt và lông mày. Việc trang điểm này khó có thể đạt đến sự hoàn hảo và là một quá trình bị chi phối bởi thời gian. Trang điểm được thực hiện trước khi mặc trang phục để tránh làm bẩn bộ kimono. Đầu tiên, một ít sáp ong hoặc dầu, được gọi là bintsuke-abura, được bôi lên da. Tiếp theo, phấn trắng được trộn với một ít nước để tạo thành một hỗn hợp sền sệt và được bôi lên mặt với một cây cọ được làm từ tre. Lớp phấn trắng này sẽ bao phủ khắp mặt, cổ, ngực và đôi bàn tay, và để lại hai hoặc ba vùng tối (vùng có dạng hình chữ "W" hoặc "V") bên trái gáy, để làm nhấn mạnh vùng gợi dục truyền thống, và có chừa lại một đường viền không đánh xung quanh chân tóc, đường này tạo nên cảm giác "mặt nạ" của khuôn mặt sau khi trang điểm. Sau khi đã phủ xong lớp phấn nền, một miếng bọt biển sẽ được sử dụng để dặm cho phấn đều khắp mặt, cổ, ngực và gáy để làm mất độ ẩm dư thừa và lớp phấn được mịn. Tiếp theo, phần mắt và lông mày được vẽ lại. Bút chì than truyền thống được sử dụng để vẽ mắt, nhưng ngày nay, người ta sử dụng các dụng cụ trang điểm hiện đại. Lông mày và các viền mắt được tô màu đen; một maiko thường tô một màu đỏ quanh mắt. Người ta sử dụng một cây cọ nhỏ để tô đôi môi. Màu đỏ để tô lấy từ một ống nhỏ, màu có thể tan trong nước. Đường kết tinh sau đó được cho thêm vào để đôi môi được bóng hơn. Trong ba năm đầu tiên, một maiko luôn phải trang điểm dày như thế này. Trong giai đoạn khởi đầu của mình, maiko sẽ được một "người chị" giúp đỡ phần trang điểm (một geisha kinh nghiệm sẽ cố vấn cho cô) hoặc "mẹ" (okami) của ngôi nhà mà geisha đang ở và tập sự. Dần dần, maiko sẽ tự trang điểm lấy cho bản thân. Sau khi geisha đã làm việc được ba năm, cô sẽ thay đổi trang điểm sang phong cách dịu hơn. Lý do cho việc làm này là cô đã trở thành một geisha thuần thục, và kiểu trang điểm đơn giản sẽ cho thấy nét đẹp tự nhiên của cô. Trong một vài buổi tiệc trang trọng các geisha thuần thục sẽ vẫn trang điểm kiểu lớp phấn trắng dày. Đối với các geisha trên ba mươi tuổi, việc trang điểm dày chỉ được thực hiện khi biểu diễn múa đặc biệt vì tính chất buổi diễn đòi hỏi như vậy. === Trang phục === Geisha thường xuyên mặc kimono. Geisha tập sự mặc bộ kimono có nhiều màu sắc với nơ lưng (obi) rất to. Geisha lớn tuổi hơn mặc trang phục với kiểu dáng và hoa văn dịu nhẹ hơn. Màu sắc, hoa văn và kiểu kimono cũng phụ thuộc vào mùa trong năm và sự kiện mà geisha tham dự. Vào mùa đông, bên ngoài áo kimono, geisha có thể khoác một chiếc áo choàng có chiều dài khoảng bằng 3/4 so với kimono, áo choàng này được lót bằng lớp vải lụa có hoa văn vẽ bằng tay. Áo kimono có trần thêm vải lót sẽ được mặc khi thời tiết lạnh hơn, còn áo không trần được mặc vào mùa hè. Để may một chiếc kimono có thể cần đến 2 hoặc 3 năm do phải thêu và vẽ lên vải. Khi ra ngoài, geisha đi dép có đế phẳng zori, còn khi ở nhà chỉ đi tabi (tất chân có sẻ ngón màu trắng). Vào lúc thời tiết khắc nghiệt, geisha sẽ đi một đôi guốc bằng gỗ, được gọi là geta. Maiko thường đi đôi guốc gỗ được sơn màu đen, gọi là okobo === Kiểu tóc === Kiểu tóc của geisha đã thay đổi nhiều qua các thời kỳ lịch sử. Trong quá khứ, có thời kỳ phụ nữ thường để xoã tóc, có thời kỳ họ lại vấn tóc lên. Trong thế kỷ 17, những người phụ nữ lại bắt đầu cột tóc lên lần nữa và trong thời gian này đã phát triển kiểu tóc truyền thống shimada - một dạng của kiểu tóc chignon mà đa số geisha thực thụ sử dụng. Có 4 loại kiểu tóc shimada chính: kiểu taka shimada, kiểu này thường có búi tóc cao, được những cô gái trẻ, chưa chồng sử dụng; kiểu tsubushi shimada, có búi tóc thấp hơn được những người phụ nữ nhiều tuổi hơn sử dụng; kiểu uiwata, kiểu tóc có búi tóc được vấn với một mảnh vải bông màu; và kiểu tóc mà được chia múi tương tự như quả đào, chỉ được các maiko sử dụng. Các kiểu tóc được trang điểm cầu kỳ với lược và trâm. Vào thế kỷ 17 và thời kỳ sau cải cách Minh Trị, những chiếc lược khá to và dễ thấy, nói chung là với phụ nữ thuộc tầng lớp càng cao thì kiểu dáng lược càng lộng lẫy hơn. Sau thời kỳ cải cách Minh Trị và đến giai đoạn hiện đại, những chiếc lược nhỏ hơn và ít lộ liễu hơn đã trở nên thông dụng hơn. Trước đây, các geisha đã được huấn luyện việc ngủ không dùng gối mà chỉ kê gáy lên một cái kệ nhỏ (takamakura), để họ có thể giữ cho kiểu tóc của mình được hoàn hảo sau giấc ngủ. Để rèn luyện thói quen này, những người hướng dẫn của họ rắc gạo quanh cái kê gáy. Nếu trong khi ngủ, đầu của geisha lăn khỏi kệ, những hạt gạo sẽ dính vào tóc và mặt họ. Nhiều geisha hiện đại sử dụng tóc giả trong cuộc sống chuyên nghiệp của họ. Các bộ tóc giả đó phải được bảo dưỡng định kỳ bởi các nghệ nhân có kỹ năng cao. Làm tóc theo kiểu truyền thống là một nghệ thuật đang lụi tàn dần. == Geisha trong văn hóa đại chúng == Sự quan tâm ngày càng cao đối với geisha và ngoại hình đặc biệt của họ đã khơi lên nhiều hiện tượng văn hóa đại chúng ở cả Nhật Bản và phương Tây. Gần đây nhất là phong cách trang điểm "kiểu geisha" đã được đề xướng sau thành công và sự nổi tiếng của tiểu thuyết "Hồi ức của một geisha" (Memoirs of a Geisha) và bộ phim cùng tên. Năm 1999, ca sĩ Mỹ Madonna đã xuất hiện trong video âm nhạc Nothing Really Matters trong trang phục kiểu geisha với bộ áo giống một chiếc kimono và trang điểm rất đậm với phấn nền màu trắng. == Chú thích == == Tham khảo == Dalby, Liza Crihfield (1983). Geisha. Berkeley, California, United States: University of California Press Foreman, Kelly M. (2002). "The Role of Music in the Lives and Identities of Japanese Geisha." Ph.D. dissertation. Kent, Ohio, United States: Kent State University. Foreman, Kelly M. (2005). 'Bad Girls Confined: Okuni, Geisha, and the Negotiation of Female Performance Space,' in Bad Girls of Japan, edited by Laura Miller and Jan Bardsley. Palgrave MacMillain Press. Manabu Miyazaki (2005). Toppamono: Outlaw. Radical. Suspect. My Life in Japan's Underworld. Kotan Publishing. ISBN 0-9701716-2-5. Phim tài liệu của BBC Geisha Girl. Công chiếu lần đầu trên kênh BBC Four tháng 1 năm 2006. Naomi Graham-Diaz. "Make-Up of Geisha and Maiko". Immortal Geisha (2001). [1]. == Xem thêm == == Hình ảnh == == Liên kết ngoài == Geisha.co.jp Hanami Web - Geisha Geisha, kỹ nữ Nhật Bản qua tài liệu và phim ảnh Graham-Diaz, Naomi, "Immortal Geisha" The flower and willow world "Hanamachi" (German) Cohen, Kathleen, "Geisha History". School of Art and Design. San Jose State University. Patterson, Sofia, "Karyukai" Japonismo.com Văn hóa truyền thống và hiện đại Nhật Bản, với một phần dành cho geisha "Geisha, arte y tradición" (tiếng Tây Ban Nha). Ảnh của các geisha tại Tokyo Kagurazaka tại photoguide.jp Geisha tại Whatever.net Ảnh các Geisha và Maiko Kiharu Nakamura (1913-2004), Geisha... (sau khi bấm vào liên kết thì cuộn màn hình xuống) "Memoirs of a Geisha" (2005) tại cơ sở dữ liệu phim IMDB Ả đào Việt Nam và ả đào và Geisha Nhật Bản, Nguyễn Hoàng Anh Tuấn, Tạp chí Văn hóa Nghệ thuật số 331, tháng 1-2012 === Geisha nam === Japan's Traditional Male Entertainer (Houkan/Taikomochi) ARA Taikomochi or Houkan, the Male Counterpart to the Geisha... === Video === Japanese Geisha Dance Japanese Geisha Dance II Japanese Geisha Dance III
quan hệ tình dục.txt
Quan hệ tình dục, còn gọi là giao hợp hay giao cấu, thường chỉ hành vi đưa bộ phận sinh dục nam/đực vào bên trong bộ phận sinh dục nữ/cái. Đây là phương pháp duy trì nòi giống cơ bản của động vật nói chung (con người nói riêng). == Đối tượng thực hiện == Quan hệ tình dục cũng có thể là giữa những thực thể khác hoặc cùng giới tính hoặc lưỡng giới. == Phân loại quan hệ tình dục == === Theo đường quan hệ === ==== Hành vi tình dục thâm nhập ==== Tình dục đường âm đạo, đường miệng, đường hậu môn được coi là tình dục thâm nhập. Những năm gần đây, việc thực hiện với những bộ phận không phải là bộ phận sinh dục (quan hệ đường miệng, đường hậu môn, hoặc dùng ngón tay) cũng được bao gồm trong định nghĩa này. ==== Hành vi tình dục không thâm nhập ==== Những hành vì tình dục không có sự tiếp xúc dương vật vào trong âm đạo và thủ dâm lẫn nhau được coi là hành tình dục không thâm nhập. === Theo ảnh hưởng sức khỏe === ==== Tình dục an toàn ==== Là cách thức phù hợp để giảm các nguy cơ nhiễm bệnh. Sử dụng bao cao su và dụng cụ che chắn được khuyến khích rộng rãi như là cách thức để ngăn ngừa nguy cơ nhiễm các bệnh lây qua đường tình dục. Theo các báo cáo của Viện Sức khỏe Quốc gia và Tổ chức Y tế Thế giới, việc sử dụng bao cao su thường xuyên và đúng cách giảm thiếu 85%–99% nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS so với nguy cơ khi không được bảo vệ. Khi cảm thấy ham muốn tình dục (horny/sexual arousal) có thể thủ dâm để tự thỏa mãn bản thân lại vừa tiết kiệm chi phí, an toàn cho sức khỏe, tuy nhiên nếu thủ dâm quá độ (6-7 lần/tuần tùy theo đối tượng, độ tuổi) có thể ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe của bản thân: Hao tổn sức lực, Nghiện thủ dâm, Rối loạn cương dương, Những vấn đề về thần kinh, Xuất tinh sớm, Rụng tóc, lão hóa sớm, Thường xuyên uể oải, mệt mỏi, Giảm sút trí nhớ, Mất hứng thú với tình dục, đau lưng, mỏi gối,... ==== Tình dục không an toàn ==== Quan hệ với nhiều đôi tượng bừa bãi và không có biện pháp bảo vệ an toàn (bao cao su). == Ở động vật == Ở động vật, giao cấu hầu như xảy ở thời điểm động dục (khoảng thời gian mà con cái có khả năng thụ thai cao nhất) để tăng khả năng thụ thai. Tuy nhiên, cá heo và tinh tinh được biết là quan hệ tình dục ngay cả khi con cái không động dục và thực hiện cả hành vi tình dục đồng giới. Trong hầu hết trường hợp, con người quan hệ tình dục chủ yếu là vì mục đích khoái cảm. Quan hệ tình dục ở hai loài vừa kể cũng được coi như vì mục đích khoái cảm điều đem lại sự gắn kết giữa chúng. Con người, tinh tinh và đặc biệt là cá heo là các loài thực hiện hành vi tình dục không những vì mục đích truyền chủng mà còn để tìm kiếm khoái cảm. Cả ba loài đó đều có các thói quen tình dục khác giới thậm chí khi con cái không ở tình trạng estrus (rụng trứng), có nghĩa là thời điểm trong chu kỳ sinh đẻ của giống cái có tỷ lệ thụ thai cao nhất. Tương tự, cả ba loài đều có thói quen tình dục đồng giới. Con người, tinh tinh và cá heo đều là các giống vật thông minh, và cách hợp tác (đực-cái) của ba loài minh chứng rằng chúng hiệu quả hơn nhiều so với bất kỳ một cá nhân đơn độc nào. Đối với con người, bonobo và cá heo, tình dục ngoài ý nghĩa truyền chủng còn có thêm các ý nghĩa chức năng xã hội. Có lẽ tình dục thúc đẩy tình thân mật giữa các cá nhân để hình thành nên các cơ cấu xã hội lớn hơn. Sự hợp tác lại dẫn tới khả năng thực hiện các nhiệm vụ tập thể lớn hơn tăng khả năng tồn tại của mỗi cá nhân trong nhóm. == Ở loài người == === Mục đích === Trong khi kết quả tự nhiên của quan hệ tình dục đường âm đạo là sinh sản, người ta thường quan hệ tình dục vì mục đích khoái cảm và/hoặc thể hiện tình yêu và sự thân mật. Quan hệ tình dục có tác dụng đặc trưng là tạo ra sự gắn kết mạnh mẽ. Trong nhiều xã hội, các cặp đôi thường quan hệ tình dục có sử dụng biện pháp tránh thai, cùng nhau đạt khoái cảm và làm cho mối quan hệ tình cảm thêm mạnh mẽ. Khi xuất tinh, thường là đi kèm với cực khoái ở nam, một loạt cơ co rút làm cho tinh dịch phóng vào âm đạo. === Tôn giáo === Do Thái giáo, Ki-tô giáo và Hồi giáo hiện đại coi quan hệ tình dục giữa người chồng và người vợ như một hành động tinh thần và soi sáng. Truyền thống về hôn nhân và vợ lẻ thay đổi theo thời gian cùng với những quan điểm tương đồng về những hành vi tình dục được chấp nhận. Lời dạy trong đạo Hindu và đạo Phật về tình dục có những giải thích khác nhau. Phật giáo dạy "kiềm chế ngoại tình", điều này có những cách giải thích và định nghĩa khác nhau tùy theo từng cá nhân. Tuy nhiên, có nhiều nhóm tôn giáo nhỏ với các quan điểm khác nhau về hành vi tình dục được chấp nhận và vài nhóm cấm thầy tu hoặc ni cô quan hệ tình dục. === Văn hóa nghệ thuật === Việc quan hệ tình dục của con người cũng được miêu tả trong các tác phẩm văn hóa nghệ thuật khiêu dâm: Hội họa khiêu dâm Nhật Bản gọi là Shunga, Trung Quốc gọi là Xuân họa, Xuân cung đồ. Hoạt hình khiêu dâm Nhật Bản gọi là Hentai (trong Anime và Manga). === Các giai đoạn === Quan hệ tình dục bắt đầu bằng giai đoạn khởi động để kích thích bạn tình nhằm làm cho dương vật cương cứng và bôi trơn âm đạo. Để quan hệ, dương vật được đưa vào âm đạo và một hoặc cả hai cử động hông để di chuyển dương vật tới lui trong âm đạo để tạo ma sát. Bằng cách này, họ tự kích thích và kích thích lẫn nhau thường là đến khi một hoặc cả hai đạt cực khoái. Tinh trùng từ âm đạo đi đến cổ tử cung và vào tử cung rồi đến ống dẫn trứng. Có hàng triệu tinh trùng trong một lần xuất tinh để tăng khả năng thụ tinh. Khi trứng có sẵn ở ống dẫn trứng, tinh trùng kết hợp với trứng, thụ tinh xảy ra và phôi thai hình thành. Trứng sau khi thụ tinh rơi xuống tử cung được niêm mạc tử cung giữ lại và nuôi dưỡng. Quá trình mang thai bắt đầu. Xem bài chi tiết: Phóng tinh Không giống hầu hết các loài khác, hoạt động tình dục ở con người không gắn kết với giai đoạn động dục và được thực hiện ở bất cứ thời điểm nào trong chu kỳ sinh sản, ngay cả khi đang mang thai. === Những khó khăn trong quan hệ tình dục === Lãnh cảm là tình trạng khó đạt được cực khoái sau khi đã kích thích đầy đủ dẫn đến lo lắng. Lãnh cảm thường xảy ra ở nữ hơn nam. Vì cấu tạo cơ thể mà hành động quan hệ tình dục tạo ra kích thích ở dương vật hơn ở âm vật. Vì vị trí của âm vật nằm phía ngoài nên cần phải kích thích bằng tay để người nữ đạt cực khoái. Khoảng 15% phụ nữ cho biết có khó khăn để đạt cực khoái và 10% phụ nữ ở Hoa Kỳ chưa bao giờ đạt cực khoái. Ngay cả đối với những phụ nữ đạt cực khoái, việc này chỉ xảy ra khoảng 50-70% số lần. Vài nam giới bị rối loạn cương dương, còn gọi là liệt dương hay bất lực, ít nhất là trong một số thời điểm. Đối với liệt dương vì vấn đề sức khỏe, có thể dùng thuốc như Viagra, Cialis, hoặc Levitra. Tuy nhiên, bác sĩ khuyến cáo không dùng nếu không thực sự cần thiết bởi vì chúng làm tăng nguy cơ nhồi máu cơ tim. Hơn nữa, thuốc làm che đi nguyên nhân gây ra liệt dương và không thể giải quyết được. Tình trạng càng trầm trọng nếu không chữa trị. Một rối loạn chức năng tình dục phổ biến hơn là xuất tinh sớm. Cơ quan kiểm soát thực phẩm và thuốc Hoa Kỳ (FDA) đang nghiên cứu thuốc dapoxetine để trị xuất tinh sớm. Trong các thử nghiệm lâm sang ở những người bị xuất tinh sớm, dùng thuốc này có thể kéo dài quan hệ thêm ba đến bốn phút trước khi đạt cực khoái so với không dùng thuốc. Một dạng rối loạn xuất tinh khác là chậm xuất tinh do tác dụng phụ của thuốc chống trầm cảm như Fluvoxamine. Hiệp hội tiết niệu Hoa Kỳ (AUA) ước tính có 27-34% đàn ông Mỹ bị xuất tinh sớm. AUA cũng ước tính 10-12% đàn ông Mỹ bị rối loạn cương dương. Co thắt âm đạo (vaginismus) là tình trạng co thắt cơ sàn chậu, làm cho việc quan hệ đau đớn và đôi khi không thể thực hiện được. Giao hợp đau (dyspareunia) chỉ tình trạng quan hệ đau đớn và không thoải mái. Mặc dù những rối loạn liên quan đến đau đớn hoặc cương cứng có thể làm cho quan hệ tình dục khó khăn, trong nhiều trường hợp khó khăn quan trọng nhất chính là yếu tố tâm lý. Đặc biệt, những người gặp khó khăn có thể cảm thấy chán nản vì họ tự quan niệm rằng họ là con người với chức năng sinh dục hoặc bạn tình cảm thấy không thoải mái. Những khó khăn nhất thời có thể do quan hệ sau khi uống rượu bia vì rượu bia làm tăng sự thích thú đối với tình dục (vì mất phản xạ có điều kiện) nhưng giảm khả năng tình dục khi uống nhiều. == Ảnh hưởng của tình dục với sức khỏe == === Lợi ích tình dục an toàn === Đối với con người, quan hệ tình dục được cho là có nhiều lợi ích như tăng khứu giác, giảm stress và giảm huyết áp, tăng cường khả năng miễn dịch và giảm thiếu nguy cơ về ung thư tiền liệt tuyến. Những cử chỉ thân mật trong chăn gối và sự đạt cực khoái tăng cường hormone oxytocin, còn được gọi là "hormone tình yêu", một loại hormone giúp tăng cường lòng tin của con người. Một nghiên cứu với 3.500 người ở độ tuổi từ 30 tới 101 của nhà tâm lý học thần kinh David Weeks, trưởng khoa tâm lý Bệnh viện Hoàng gia Edinburgh, cho thấy "tình dục giúp bạn nhìn trẻ hơn từ bốn đến bảy tuổi", theo các đánh giá các bức ảnh của chủ thể. Tuy nhiên, nguyên nhân cụ thể thì không rõ, những lợi ích này có thể là liên quan trực tiếp tới tình dục hoặc cũng có thể là do sự giảm stress, tạo ra sự mãn nguyện và giấc ngủ sâu mà quan hệ tình dục mang lại. Tư thế quan hệ tình dục đóng một phần vai trò trong tình dục con người. === Tác hại của tình dục không an toàn === Đối lập với lợi ích thì quan hệ tình dục cũng có thể là một trung gian truyền bệnh. Ở Mỹ hàng năm có 19 triệu trường hợp bị lây bệnh qua đường tình dục, trên thế giới con số này là 340 triệu trường hợp. Hơn một nửa trong số các bệnh lây qua đường tình dục có đối tượng là thanh niên và người trưởng thành từ 15–24 tuổi. Ở Mỹ thì cứ một trong bốn cô gái tuổi teen có bị bệnh lây qua đường tình dục. Ở Mỹ, 30% thanh niên độ tuổi 15-17 có quan hệ tình dục, nhưng chỉ có 80% thanh niên độ tuổi 15-19 sử dụng bao cao su trong lần quan hệ đầu tiên. AIDS gây ra bởi HIV lây truyền chủ yếu qua quan hệ tình dục, được mệnh danh căn bệnh thế kỷ. Tổ chức Y tế Thế giới cho biết trong năm 2008 có 33,4 triệu người có HIV (2/3 ở khu vực cận Sahara-châu Phi và 1,1 triệu người ở Mỹ), hàng năm AIDS cướp đi mạng sống của 2 triệu người trên thế giới. Chlamydia là một bệnh đặc biệt nguy hiểm vì nhiều người nhiễm bệnh không có triệu chứng. Khi không được chữa trị kịp thời, Chlamydia có thể dẫn đến nhiều biến chứng, đặc biệt là với phụ nữ (có thể làm mất khả năng sinh đẻ sau này). Giang mai là bệnh liên quan đến 21% tỉ lệ tử vong của bào thai và trẻ sơ sinh ở khu vực cận Sahara châu Phi. Giang mai gây ra đau đớn đối với cơ quan sinh dục, điều này làm cho nó trở nên dễ gây truyền nhiễm HIV hơn. Viêm gan siêu vi B có thể bị lây nhiễm qua quan hệ tình dục. Bệnh này phổ biến ở Trung Quốc và các khu vực khác của châu Á, nơi mà 8-10% số người trưởng thành bị nhiễm viên gan B. Khoảng một phần ba dân số thế giới, hơn 2 tỉ người, đã bị nhiễm virus viêm gan B. == Đạo đức và luật pháp tình dục == Có nhiều luật, quy định đạo đức và những cấm kỵ liên quan tới quan hệ tình dục. Xem đạo đức tình dục để biết thêm chi tiết. Mọi người tin rằng tất cả các nền văn hoá ngăn cấm quan hệ tình dục đều không còn tồn tại, Shakers, một nhóm tín ngưỡng của Ki-tô giáo có rất ít người tham gia, dù có nhiều cộng đồng bên trong các tôn giáo cấm các thích hợp" và "không thích hợp" từng rất phổ biến trong các xã hội loài người. Chúng gồm cả những điều cấm đối với một số tư thế làm tình, đối với quan hệ tình dục giữa các bạn tình không hôn nhân (được gọi là thông dâm hay gian dâm), khi ít nhất một trong hai người đã có gia đình nhưng không phải với người kia (được gọi là ngoại tình), chống lại quan hệ tình dục với một người họ hàng gần, tức quan hệ tình dục cận huyết (gọi là loạn luân), và chống lại quan hệ tình dục với một phụ nữ đang ở thời kỳ kinh nguyệt. Thông thường một cộng đồng sử dụng các quy định của nó để phân xử những tranh cãi. Ví dụ, năm 2003 Toà án tối cao New Hampshire, trong vụ Blanchflower v. Blanchflower, đã phán xử rằng các quan hệ cùng giới không cấu thành "quan hệ tình dục", dựa trên một định nghĩa năm 1961 từ cuốn từ điển Webster's Third New International Dictionary, và vì thế không buộc tội người vợ trong vụ xử ly hôn tội "ngoại tình" dựa theo định nghĩa đó. Đa số các nước có luật về tuổi nhận thức xác định rõ tuổi tối thiểu để có thể quan hệ tình dục mà không trái pháp luật. Quan hệ tình dục với một người mà không được người đó đồng ý, hoặc không có được sự đồng ý từ trước theo pháp luật, được gọi là hãm hiếp và bị coi là một tội ác nghiêm trọng trong đa số nền văn hoá. Các tôn giáo thường lập ra các tiêu chuẩn và tập tục về quan hệ tình dục, thường khuyến khích một vợ một chồng và hôn nhân. Trong đức tin Thiên chúa giáo, tình dục bên ngoài hôn nhân bị chính thức lên án theo nhiều mức độ nghiêm trọng khác nhau. Sự cấm đoán đối với tình dục chỉ nhằm mục đích tìm kiếm khoái cảm dẫn tới việc Công giáo La Mã lên án nghiêm khắc bất kỳ hình thức tránh thai nào. Lý do thích đáng nhất bên trong Nhà thờ Thiên chúa giáo để không cho phép quan hệ tình dục giữa những người không hôn nhân bởi vì tình dục không bị coi là xấu, như một số người tin tưởng, mà là nó được coi là hành động thiêng liêng nhất mà một người đàn ông và một người phụ nữ có thể chia sẻ với nhau. Vì thế, để dâng hiến toàn bộ cho sự thiêng liêng này, hành động tình dục của một người chỉ được dành cho một người khác mà họ định chung sống cả cuộc đời. Trong các xã hội Hồi giáo, quan niệm chặt chẽ về quan hệ tình dục được thể hiện bởi vì có những ngăn cấm đối với những cuộc tụ họp hỗn tạp, nơi đàn ông và phụ nữ có thể không được giao tiếp cởi mở với nhau. Trong Hồi giáo Shia, có sự áp dụng một Mut'a, một hình thức hôn nhân tạm thời có thể ở thời hạn ngắn chỉ một ngày và cũng có thể dài đến vài năm. Thuật ngữ Mut'a bắt nguồn từ một từ trong tiếng Ả Rập để chỉ khoái cảm, và nhiều lần được dùng trong thời gian tìm hiểu tình dục giữa những người trẻ tuổi trong các xã hội như Iran. Với sự gia tăng tự do tình dục trong các xã hội Hồi giáo, cũng có sự gia tăng những kiểu hôn nhân tạm trong thế giới Hồi giáo Sunni. Những cuộc hôn nhân đó được thực hiện theo kiểu Misyar và 'Arfi và hiện đang tạo ra một sự hồi phục xã hội trong giới trẻ. Theo lý thuyết Hồi giáo, tình dục được coi là một nhu cầu cần thiết giống như ăn. Trong tháng chay Ramadan, người Hồi giáo không được ăn và quan hệ tình dục từ khi Mặt Trời mọc đến lúc Mặt Trời lặn. Trong Do Thái giáo, tình dục được coi là một hành động tự nhiên như ăn và uống. Nó cho rằng nếu thực hiện hành vi đó một cách đúng đắn, như ăn một bữa lúc Purim, hay bốn chén rượu trong Lễ quá hải, thì nó có thể được coi là một hành động thiêng liêng. Tương tự như vậy, nó cũng bị coi là trái phép và tội lỗi nếu các hành động tình dục không theo đúng các lời răn của Luật Do Thái. Torah cho rằng "...một người đàn ông không nên ở một mình" (Gen 2:18) gián tiếp đề cập đến tầm quan trọng của sự riêng tư, tình yêu và quan hệ tình dục lành mạnh. Có một cách tốt để giải quyết tranh cã viết về trinh bạch, diễn tiến tâm lý và đạo đức tình dục. == Xem thêm == Nghệ thuật khiêu dâm == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Tiếng Anh: Janssen, D. F., Growing Up Sexually. Volume I. World Reference Atlas Biology of sexual intercourse Dutch Society for Sexual Reform article on "sex without intercourse" UK legal guidance for prosecutors concerning sexual acts Resources for parents to talk about sexual intercourse to their children Planned Parenthood information on sexual intercourse Medical Resources related to sexual intercourse W. W. Schultz, P. van Andel, I. Sabelis, E. Mooyaart. Magnetic resonance imaging of male and female genitals during coitus and female sexual arousal. BMJ 1999;319:1596-1600 (18 December).
microsoft.txt
Microsoft là một tập đoàn đa quốc gia của Hoa Kỳ đặt trụ sở chính tại Redmond, Washington; chuyên phát triển, sản xuất, kinh doanh bản quyền phần mềm và hỗ trợ trên diện rộng các sản phẩm và dịch vụ liên quan đến máy tính. Công ty được sáng lập bởi Bill Gates và Paul Allen vào ngày 4 tháng 4 năm 1975. Nếu tính theo doanh thu thì Microsoft là hãng sản xuất phần mềm lớn nhất thế giới. Nó cũng được gọi là "một trong những công ty có giá trị nhất trên thế giới". Được thành lập để phát triển phần mềm trình thông dịch BASIC cho máy Altair 8800, Microsoft vươn lên thống trị thị trường hệ điều hành cho máy tính gia đình với MS-DOS giữa những năm 1980. Cổ phiếu của công ty sau khi được phát hành lần đầu ra thị trường đã tăng giá nhanh chóng và tạo ra 4 nhà tỷ phú và 12.000 nhà triệu phú trong công ty. Kể từ thập kỷ 90, công ty bắt đầu đa dạng hóa hoạt động và tiến hành mua lại nhiều công ty khác. Trong năm 2011, Microsoft mua thành công Skype với giá lớn nhất từ trước đến nay là 8.5 tỷ $. Trong năm 2012, Microsoft chiếm ưu thế trên cả hai thị trường hệ điều hành PC và bộ phần mềm văn phòng (đứng thứ hai với Microsoft Office). Công ty sản xuất trên quy mô lớn những phần mềm cho máy tính để bàn và máy chủ, hoạt động trong lĩnh vực tìm kiếm trực tuyến (với Bing), tham gia ngành công nghiệp video game (với máy chơi game Xbox 360), thị trường dịch vụ kỹ số (với MSN), và điện thoại di động (với hệ điều hành Windows Phone). Trong tháng 6 năm 2012, Microsoft tuyên bố họ sẽ trở thành nhà cung cấp PC cho thị trường với sự kiện cho ra đời máy tính bảng Microsoft Surface. Xuyên suốt lịch sử, tập đoàn này luôn là mục tiêu của rất nhiều sự chỉ trích, bao gồm các thủ đoạn độc quyền kinh doanh. Trong đó có từ phía Ủy ban công lý Hoa Kỳ (Bộ Tư pháp Hoa Kỳ), và Ủy ban châu Âu (European commission), đã làm Microsoft dính vào rất nhiều vụ kiện tụng về chống độc quyền. == Lịch sử == === Thuở đầu === Paul Allen và Bill Gates, hai người bạn thân từ thuở nhỏ có cùng niềm đam mê với lập trình máy tính, đã vươn đến thành công bằng cách kết hợp những kỹ năng của nhau. Tháng 1 năm 1975, tờ báo Popular Electronics đăng bài nói về chiếc máy vi tính Altair 8800 của hãng Micro Instrumentation and Telemetry Systems (MITS). Allen để ý rằng họ có thể viết chương thông dịch BASIC cho máy này; sau khi Bill Gates gọi điện cho MITS nói rằng họ có một chương trình thông dịch có thể chạy được, MITS yêu cầu được tận mắt kiểm chứng. Để chuẩn bị cho buổi kiểm chứng, hai người đảm nhiệm hai nhiệm vụ khác nhau, Allen làm chiếc máy mô phỏng Altair 8800 trong khi Gates phát triển chương trình thông dịch. Mặc dù được phát triển trên một máy mô phỏng nhưng chương trình lại hoạt động hoàn hảo trên máy thật trước sự chứng kiến của MITS tại Albuquerque, New Mexico, tháng 3 năm 1975. MITS đồng ý phân phối chương trình và họ tiếp thị nó với cái tên Altair BASIC. Sau thành công này, Paul Allen và Bill Gates thành lập Microsoft vào tháng 4 năm 1975, Gates giữ vị trí CEO. Allen chính là người đặt cho công ty cái tên "Microsoft". Vào tháng 1 năm 1977, công ty đạt được thỏa thuận với Tạp chí ASCII tại Nhật Bản, đặt văn phòng quốc tế đầu tiên tại đây với cái tên "ASCII Microsoft". Còn trụ sở chính tại Mỹ được dời đến Bellevue, Washington vào tháng 1 năm 1979. Microsoft gõ cửa ngành kinh doanh hệ điều hành vào năm 1980 với các phiên bản phân phối hệ điều hành Unix mang tên Xenix. Tuy nhiên, MS-DOS mới chính là nền tảng cho sự thống trị của công ty. Hãng IBM trao hợp đồng cho Microsoft để cung cấp phiên bản của hệ điều hành (HĐH) CP/M, sẽ được sử dụng trong máy tính sắp tung ra của hãng là Máy tính cá nhân IBM (IBM PC). Vì thời gian gấp rút nên Microsoft mua lại HĐH mô phỏng CP/M tên là 86-DOS từ hãng Seattle Computer Products, đặt tên mới là MS-DOS. Sau khi IBM PC được tung ra vào tháng 8 năm 1981, Microsoft giữ lại quyền sở hữu MS-DOS. Nhiều lý do khác nhau khiến MS-DOS thành công, như bộ phần mềm chọn lọc có sẵn của nó, và Microsoft trở thành nhà cung cấp HĐH dẫn đầu. Tiếp đó, họ bước vào những thị trường mới với việc tung ra Chuột Microsoft vào năm 1983, và thành lập một bộ phận xuất bản mang tên Microsoft Press. Paul Allen rời Microsoft vào tháng 2 vì bệnh ung thư hạch tiến triển. === 1984-1994: Windows và Office === Năm 1984, trong lúc cùng IBM phát triển HĐH mới mang tên OS/2; vào ngày 20 tháng 11, Microsoft cho ra đời Microsoft Windows, HĐH mở rộng của MS-DOS sử dụng giao diện đồ họa. Vào ngày 26 tháng 2 năm 1986, Microsoft dời trụ sở chính tới Redmond, và tiếp đó vào tháng 3, công ty chuyển sang loại hình cổ phần, sự tăng giá nhanh chóng của cổ phiếu công ty đã tạo ra 4 tỷ phú cùng 12000 triệu phú trong đội ngũ nhân viên công ty. Vì mối quan hệ đối tác với IBM, trong năm 1990, Ủy ban Thương mại Liên Bang đã để mắt tới Microsoft vì nghi ngờ có sự cấu kết thương mại, đánh dấu khởi đầu cho cuộc đụng độ pháp lý giữa công ty với Chính phủ Mỹ trong hơn một thập kỷ. Ngày 2 tháng 4 năm 1987, Microsoft tuyên bố OS/2 sẽ chỉ được bán cho nhà sản xuất OEM, trong khi đó, công ty phát triển Microsoft Windows NT, HĐH 32-bit sử dụng ý tưởng của OS/2, với môđun nhân hệ điều hành mới và giao diện ứng dụng Win32 (API), có cổng cho phép chuyển đổi dễ dàng sang Windows 16-bit (nền tảng MS-DOS), HĐH này được bán lần đầu vào ngày 21 tháng 7 năm 1993. Khi Microsoft thông báo cho IBM về NT, mối quan hệ đối tác giữa hai công ty nhằm mục đích phát triển OS/2 đã bị suy yếu. Trong năm 1990, Microsoft giới thiệu bộ phần mềm Microsoft Office bao gồm các ứng dụng văn phòng với chức năng riêng biệt, như Microsoft Word và Microsoft Excel. Vào ngày 22 tháng 5, Microsoft cho ra đời Windows 3.0 với giao diện đồ họa tương tác người-máy, tăng cường khả năng cho "chế độ bảo vệ" của bộ vi xử lý Intel 386. Hai sản phẩm Office và Windows trở nên chiếm ưu thế trên thị trường. Novell, đối thủ cạnh tranh của Word giai đoạn 1984-1986 đã để đơn kiện trong những năm sau đó cáo buộc Microsoft cố tình dấu diếm đặc điểm kỹ thuật để triệt hạ khả năng cạnh tranh của đối thủ. Vào ngày 27 tháng 7 năm 1994, Bộ phận Chống độc quyền thuộc Bộ Tư pháp Mỹ đã nộp một Báo cáo Ảnh hưởng Cạnh tranh, trong đó có đoạn: "Bắt đầu từ năm 1988, và tiếp tục cho đến 15 tháng 7 năm 1994, Microsoft đã tác động đến nhiều nhà sản xuất OEM để thực hiện hành vi chống cạnh tranh mang tên: giấy phép "mỗi bộ vi xử lý". Theo giấy phép này, mỗi nhà sản xuất sẽ phải trả Microsoft tiền bản quyền cho mỗi máy tính chứa một vi xử lý bán ra, dù máy đó dùng HĐH của Microsoft hay không dùng HĐH của Microsoft. Tác động của nó, phải trả tiền cho Microsoft khi không hề được sử dụng sản phẩm của Microsoft chẳng khác nào một hình phạt, hoặc nộp thuế đối với các nhà sản xuất sử dụng HĐH của đối thủ cạnh tranh. Kể từ năm 1988, Microsoft đã gia tăng việc sử dụng giấy phép mỗi bộ vi xử lý". === 1995-2005: Internet và kỷ nguyên 32-bit === Sau khi Bill Gates tiên đoán về "Cơn Đại hồng thủy Internet" vào ngày 26 tháng 5 năm 1995, Microsoft bắt đầu xác định lại mục tiêu của mình và tiến hành mở rộng dòng sản phẩm liên quan đến mạng máy tính cũng như World Wide Web. Ngày 24 tháng 8 năm 1995 công ty tung ra Windows 95 - HĐH đa nhiệm, hoàn thiện giao diện người dùng với nút Bắt đầu (Start), có khả năng tương thích 32 bit và cung cấp giao diện Win32 API tương tự NT. Ngoài ra, Windows 95 còn đi kèm dịch vụ trực tuyến MSN, và trong những phiên bản dành cho đối tác OEM còn có Internet Explorer, một trình duyệt web. Internet Explorer không có mặt trong bản Windows 95 hộp bán lẻ vì nó được hoàn thành sau khi vỏ hộp được in, thay vào đó được cung cấp thông qua gói Windows 95 Plus!. Rẽ nhánh vào thị trường mới trong năm 1996, Microsoft hợp tác với NBC Universal lập đài thông tin 24/7 mang tên MSNBC. Microsoft cũng đưa ra Windows CE 1.0, HĐH rút gọn dành cho các thiết bị có bộ nhớ thấp như PDA. Tháng 10 năm 1997, Bộ Tư pháp Mỹ thực hiện một bản kiến nghị lên Tòa án Liên Bang, tuyên bố Microsoft vi phạm thỏa thuận ký năm 1994 và yêu cầu dừng việc cài sẵn Internet Explorer vào Windows. Bill Gates rời khỏi vị trí CEO ngày 13 tháng 1 năm 2000, bàn giao lại cho Steven Ballmer – bạn học cũ và là nhân viên công ty từ năm 1980 với vai trò Trưởng Kiến trúc sư Phần mềm. Cũng trong giai đoạn này, Microsoft cùng nhiều công ty thành lập Liên minh Tín nhiệm Nền tảng Điện toán, trong số những mục tiêu có tăng cường bảo mật và bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thông qua việc đồng nhất hóa những thay đổi ở phần cứng và phần mềm. Nhiều người chỉ trích coi liên minh như một cách thực thi giới hạn bừa bãi việc sử dụng phần mềm và can thiệp, thay đổi cách hoạt động của máy tính; giống như một hình thức quản lý số, có thể hình dung đến kịch bản trong đó máy tính có khả năng bảo mật tốt nhưng cũng bí mật cả với chủ nhân. Vào ngày 3 tháng 4 năm 2000, một phán quyết từ tòa án cáo buộc Microsoft "lạm dụng vị thế độc quyền", vụ việc chỉ lắng vào năm 2004 khi Tòa án Phúc thẩm Mỹ nhất trí phê chuẩn thỏa thuận dàn xếp giữa Bộ Tư pháp với công ty. Vào ngày 25 tháng 10 năm 2001, Microsoft tung ra Windows XP, HĐH có giao diện thân thiện với mã nền tảng NT. Công ty đưa ra Xbox trong năm sau đó, gia nhập thị trường máy chơi game trong lúc hai hãng Sony và Nintendo đang chiếm ưu thế. Microsoft tiếp tục dính rắc rối khi tháng 3 năm 2004, Ủy ban châu Âu thực hiện hành động pháp lý chống lại công ty với lý do lạm dụng vị thế thống trị của HĐH Windows, dẫn đến công ty phải nộp phạt 497 triệu € (khoảng 613 triệu $) và sản xuất hai phiên bản mới của Windows XP không đi kèm Windows Media Player là Windows XP Home Edition N và Windows XP Professional N. Ngày 4 tháng 2 năm 2014, Satya Nadella trở thành CEO, trong khi John W. Thompson trở thành chủ tịch. Bill Gates trở thành nhà cố vấn kỹ thuật cho Nadella. Vào ngày 16/9/2014, Microsoft đã công bố đạt thỏa thuận mua lại Mojang - nhà phát triển trò chơi Minecraft nổi tiếng của Thụy Điển với mức giá 2,5 tỉ USD. == Sản phẩm nền tảng và bộ phận dịch vụ == === Windows === Sản phẩm trụ cột của Microsoft. Công ty đã cho ra đời nhiều phiên bản gồm Windows 3.1, Windows 95, Windows 98, Windows 2000, Windows Me, Windows XP, Windows Vista, Windows 7, Windows 8, Windows 8.1. Mới đây nhất, Microsoft đã cho ra mắt toàn thế giới phiên bản mới nhất của Windows: Windows 10. === Dành cho hệ thống máy chủ === Microsoft đưa ra bộ phần mềm dành cho máy chủ là Microsoft Servers, HĐH máy chủ Windows Server 2008, Windows Server 2012 và các sản phẩm như: SQL Server Exchange Server BizTalk Server Systems Management Server Small Business Server === Công cụ phát triển === Microsoft Visual Studio - bộ công cụ môi trường phát triển tích hợp, giúp đơn giản hóa các chức năng tạo, sửa lỗi và triển khai phần mềm cho Windows, Microsoft Office và trang web. === Dịch vụ trực tuyến === Bao gồm MSN và nhóm dịch vụ Windows Live gồm: Bing, Windows Live Mail, Windows Live Messenger,.... == Phạm vi hoạt động == Microsoft có mặt tại hầu hết các quốc gia và đặt chi nhánh ở hơn 102 quốc gia (2007) và được phân loại thành 6 khu vực: 1. Bắc Mỹ. 2. Châu Mỹ Latinh. 3. Châu Âu, Trung Đông, châu Phi. 4. Nhật Bản. 5. Châu Á-Thái Bình Dương (APAC). 6. Trung Quốc. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Công ty Microsoft Microsoft Việt Nam Outlook.com Nhận biết phần mềm giả mạo (tiếng Anh) Windows 7 Windows
ilie năstase.txt
Ilie "Nasty" Năstase (phát âm tiếng Romania: [iˈli.e nəsˈtase], sinh 19 tháng 7 năm 1946 tại Bucharest, Romania) là một cựu vận động viên quần vợt số một thế giới người România, từng là một trong những vận động viên hàng đầu thế giới vào những năm 1970. Năstase được xếp hạng một thế giới từ 1973 (23 tháng 8) đến 1974 (2 tháng 6). Ông là một trong năm tay vợt trong lịch sử đã giành được hơn 100 danh hiệu ATP chuyên nghiệp (58 danh hiệu đánh đơn và 45 đánh đôi). Năm 1991, ông được ghi danh tại Đại sảnh danh vọng quần vợt quốc tế. Năstase đã có được cho mình 7 danh hiệu Grand Slam: hai đơn nam, ba đôi nam và hai đôi nam nữ. Ông cũng đạt được bốn danh hiệu vô địch cuối năm giải Masters Grand và bảy danh hiệu Grand Prix Championship Series (1970–73), là tiền thân của ATP World Tour Masters 1000. Năm 2005, Tạp chí quần vợt xếp ông ở vị trí 28 trong số những tay vợt xuất sắc nhất trong vòng 40 năm tính tới thời điểm đó. Năstase cũng là tay vợt nam thứ 2 chiến thắng một giải Grand Slam mà không để thua một set nào và là người đầu tiên làm được điều này ở giải Pháp Mở rộng (1973). == Chung kết Grand Slam == === Đơn:5(2-3) === === Đôi: 5 (3–2) === == Tham khảo ==
27 tháng 2.txt
Ngày 27 tháng 2 là ngày thứ 58 trong lịch Gregory. Còn 307 ngày trong năm (308 ngày trong năm nhuận). == Sự kiện == 907 - Da Luật A Bảo Cơ trở thành thủ lĩnh liên minh bộ lạc Khiết Đan, tức hoàng đế vị, được xem là mốc khởi đầu của triều Liêu, tức ngày 13 tháng 1 năm Đinh Mão 1329 - Hòa Thế Lạt lên ngôi tại thảo nguyên Mạc Bắc, trở thành hoàng đế thứ 9 của triều Nguyên và đại hãn thứ 13 của đế quốc Mông Cổ. 1594 - Henri IV tiến hành nghi lễ đăng quang quốc vương của Pháp tại Chartres. 1801 - Chiến tranh Tây Sơn-Nguyễn: Quân Nguyễn giành chiến thắng trước quân Tây Sơn trong trận Thị Nại tại Bình Định. 1870 – Hinomaru lần đầu tiên được thông qua làm quốc kỳ sử dụng trên các thương thuyền của Nhật Bản. 1940 – Martin Kamen và Sam Ruben phát hiện ra đồng vị phóng xạ Cacbon-14 tại một phòng thí nghiệm thuộc California, Hoa Kỳ. 1966 - Tập san Sử Địa ra số đầu tiên ở Sài Gòn. 1976 - Mặt trận Polisario tuyên bố thành lập Cộng hòa Dân chủ Ả Rập Xarauy tại cựu thuộc địa Tây Sahara của Tây Ban Nha. 1980 - Thành lập Ủy ban Cứu người vượt biển 2010 - Một trận động đất xảy ra ở Chile với cường độ 8,8Mw, khiến 525 người thiệt mạng. == Sinh == 1917 - Vũ Khắc Khoan, nhà viết kịch Việt Nam 1939 - Nguyễn Chí Thiện, nhà thơ (m. 2012) == Mất == 1628 - Nguyễn Văn Giai, danh sĩ, đại thần thời Hậu Lê (Việt Nam) 1931 - Hoàng Văn Hợp, liệt sĩ cách mạng Việt Nam kháng chiến chống Pháp (s. 1902) nguyên Huyện ủy viên Huyện ủy Quỳnh Lưu - Nghệ An == Ngày lễ và kỷ niệm == Ngày Thầy thuốc Việt Nam == Tham khảo ==
nấm.txt
Giới Nấm (tên khoa học: Fungi) bao gồm những sinh vật nhân chuẩn dị dưỡng có thành tế bào bằng kitin (chitin). Phần lớn nấm phát triển dưới dạng các sợi đa bào được gọi là sợi nấm (hyphae) tạo nên hệ sợi (mycelium), một số nấm khác lại phát triển dưới dạng đơn bào. Quá trình sinh sản (hữu tính hoặc vô tính) của nấm thường qua bào tử, được tạo ra trên những cấu trúc đặc biệt hay quả thể. Một số loài lại mất khả năng tạo nên những cấu trúc sinh sản đặc biệt và nhân lên qua hình thức sinh sản sinh dưỡng. Những đại diện tiêu biểu của nấm là nấm mốc, nấm men và nấm lớn (nấm quả thể). Giới Nấm là nhóm sinh vật đơn ngành (monophyletic) mà có nguồn gốc hoàn toàn khác biệt với những sinh vật có hình thái tương tự như nấm nhầy (myxomycetes) hay mốc nước (oomycetes). Nấm có mối quan hệ gần với động vật hơn thực vật, cho dù thế thì môn học về nấm, hay nấm học, lại thường được xếp vào thành một nhánh của thực vật học. Trên Trái Đất, đa phần các nấm đều không thể nhìn thấy được bằng mắt thường, chúng sống phần lớn ở trong đất, chất mùn, xác sinh vật chết, cộng sinh hoặc ký sinh trên cơ thể động, thực vật và nấm khác. Vi nấm đóng một vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, chúng phân hủy các vật chất hữu cơ và không thể thiếu được trong chu trình chuyển hóa và trao đổi vật chất. Một số loài nấm có thể nhận thấy được khi ở dạng quả thể, như nấm lớn và nấm mốc. Nấm được ứng dụng rất rộng rãi trong đời sống lẫn sản xuất. Nhiều loài được sử dụng trong công nghệ thực phẩm, sử dụng làm thức ăn hoặc trong quá trình lên men. Nấm còn được dùng để sản xuất chất kháng sinh, hoóc môn trong y học và nhiều loại enzym. Tuy vậy, nhiều loại nấm lại có chứa các chất hoạt động sinh học được gọi là mycotoxin, như ancaloit và polyketit-là những chất độc đối với động vật lẫn con người. Một số loại nấm được sử dụng để kích thích hoặc dùng trong các nghi lễ truyền thống với vai trò tác động lên trí tuệ và hành vi của con người. Vài loại nấm có thể gây ra các chứng bệnh cho con người và động vật, cũng như bệnh dịch cho cây trồng, mùa màng và có thể gây tác động lớn lên an ninh lương thực và kinh tế. == Sự đa dạng == Nấm phân bố trên toàn thế giới và phát triển ở nhiều dạng môi trường sống khác nhau, kể cả sa mạc, nơi tập trung nồng độ muối cao hay có phóng xạ ion hóa, cũng như trầm tích biển sâu. Đa phần nấm sống ở trên cạn, nhưng một số loài sống ở môi trường nước (như Batrachochytrium dendrobatidis - ký sinh và làm suy giảm số lượng động vật lưỡng cư toàn cầu). Nấm thủy sinh còn sống ở vùng nhiệt dịch đại dương. Nấm và vi khuẩn là những sinh vật phân huỷ chính có vai trò quan trọng đối với các hệ sinh thái trên cạn trên toàn thế giới. Dựa theo sự theo tỉ lệ giữa số loài nấm với số loài thực vật ở trong cùng một môi trường, người ta ước tính giới Nấm có khoảng 1,5 triệu loài. Khoảng 100.000 loài nấm đã được các nhà phân loại học phát hiện và miêu tả, tuy nhiên kích cỡ thực sự của tính đa dạng của giới Nấm vẫn còn là điều bí ẩn. Đa phần nấm phát triển dưới dạng các sợi đa bào gọi là sợi nấm, cấu tạo nên thể sợi (hay khuẩn ty), trong khi những loài khác thì lại phát triển dưới dạng đơn bào. Cho đến gần đây, nhiều loại nấm đã được miêu tả dựa trên những đặc điểm hình thái, như kích cỡ và hình dạng các bào tử hay quả thể, hay dựa trên khái niệm loài sinh vật với sự trợ giúp của các công cụ phân tử, như phương pháp Dideoxy, đã gia tăng mạnh cách thức và khả năng ước tính sự đa dạng của nấm trong phạm vi các nhóm phân loại khác nhau. == Hình thái == == Vòng đời == == Sinh thái == Dù không dễ thấy, nhưng nấm lại có mặt ở tất cả các môi trường trên Trái Đất và đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ sinh thái. Cùng với vi khuẩn, nấm là sinh vật phân hủy chính ở hầu hết các hệ sinh thái trên cạn (và một số là ở dưới nước), bởi vậy nên chúng cũng có vai trò quan trọng các chu trình sinh địa hóa và ở nhiều lưới thức ăn. Khi sống hoại sinh hay cộng sinh, chúng phân hủy những vật chất hữu cơ thành những phân tử vô cơ, rồi sau đó những chất này sẽ được đồng hóa ở thực vật hay những sinh vật khác . === Cộng sinh === Nấm có mối quan hệ cộng sinh với hầu hết tất cả các giới . Quan hệ của chúng có thể hỗ trợ hoặc đối nghịch nhau, hay với những nấm hội sinh thì không đem lại bất cứ lợi ích hay tác hại rõ ràng nào đối với vật chủ . ==== Với thực vật ==== Nấm rễ là một hình thức cộng sinh giữa thực vật và nấm, chia làm hai loại: nấm rễ trong (endomycorrhiza, tức nấm ký sinh đơn bào sống bên trong tế bào rễ cây) và nấm rễ ngoài (ectomycorrhiza, tức rễ của nấm bám dày đặc xung quanh đầu rễ cây và xâm nhập vào giữa các tế bào rễ cây). Đây là quần hợp nấm-thực vật được biết nhiều nhất và đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển của thực vật cũng như nhiều hệ sinh thái, hơn 90% các loài thực vật có quan hệ với nấm theo hình thức nấm rễ và phụ thuộc vào mối quan hệ này để tồn tại. Sự cộng sinh nấm rễ đã có lịch sử xa xưa, ít nhất là từ hơn 400 triệu năm về trước . Chúng thường làm tăng khả năng hấp thu các hợp chất vô cơ của thực vật, như nitrat và photphat, từ những đất có nồng độ những nguyên tố thiết yếu thấp. Ở một số nấm rễ, thành phần nấm có thể đóng vai trò trung gian giữa thực vật với thực vật, vận chuyển carbohydrate và các chất dinh dưỡng khác. Những cộng đồng nấm rễ đó được gọi là "mạng lưới nấm rễ chung". Một số nấm có khả năng kích thích sự sinh trưởng của cây bằng cách tiết ra các hoóc môn thực vật như axít idolaxetic (IAA) . Địa y là dạng cộng sinh giữa nấm (hầu hết các loài nấm nang và một số nấm đảm) với tảo hay vi khuẩn lam (gọi chung là đối tác quang hợp), trong đó những tế bào quang hợp được gắn vào những mô nấm . Giống với nấm rễ, những đối tác quang hợp sẽ cung cấp cacbohyđrat được tạo ra trong quá trình quang hợp, đổi lại nấm cung cấp cho chúng các chất khoáng và nước. Những chức năng của toàn bộ cơ thể địa y gần như giống hệt với một cơ thể đơn độc. Địa y là những sinh vật tiên phong và xuất hiện ở những nơi nguyên thủy như đá tảng hay nham thạch núi lửa đã nguội. Chúng có thể thích nghi cực tốt với những điều kiện khắc nghiệt như giá lạnh hay khô hạn và là những ví dụ tiêu biểu nhất của sự cộng sinh. Một số loài nấm sống trong cây có thể tiết ra những độc tố nấm để ngăn cản những động vật ăn cỏ ăn vật chủ của chúng. ==== Với côn trùng ==== Nhiều côn trùng có mối quan hệ hỗ trợ với nhiều loại nấm. Vài loại kiến trồng những loài nấm thuộc bộ Nấm mỡ (Agaricales) để làm nguồn thức ăn chính, trong khi đó những loài bọ cánh cứng Ambrosia trồng nhiều loài nấm trong lớp vỏ cây mà chúng cư trú . Loài mối ở xavan châu Phi cũng được biết có khả năng trồng nấm . ==== Mầm bệnh và ký sinh ==== Tuy vậy, nhiều loại nấm lại ký sinh trên con người, thực vật, động vật và nấm khác. Những loài nấm gây bệnh trên cây trồng có thể gây thiệt hại rộng lớn cho ngành nông nghiệp và lâm nghiệp, ví dụ như nấm đạo ôn (Magnaporthe oryzae) gây bệnh cho lúa, Ophiostoma ulmi và Ophiostoma novo-ulmi gây ra bệnh du Hà Lan, còn Cryphonectria parasitica là nguyên nhân của bệnh thối cây dẻ. Những loài gây bệnh cho cây thuộc các chi Fusarium, Ustilago, Alternaria và Cochliobolus, còn những loài có khả năng gây bệnh cho người lại thuộc các chi như Aspergillus, Candida, Cryptoccocus, Histoplasma và Pneumocystis . Chúng có thể gây ra những bệnh ngoài da ở người như nấm chân hay hắc lào cho đến những bệnh nguy hiểm có thể gây chết người như viêm màng não (nấm Cryptococcus neoformans) hay viêm phổi. Nấm gây ra nhiều bệnh cơ hội, tức những bệnh tấn công những người bị suy giảm miễn dịch , trong đó có những người bị HIV/AIDS , ví dụ như bệnh candidiasis (nấm Candida, gây ra chứng lở miệng ở trẻ em và âm đạo phụ nữ), histoplasmosis (Histoplasma capsulatum), cryptococcosis (Cryptococcus neoformans), aspergillosis (Aspergillus), coccidioidomycosis (Coccidioides immitis hay C. posadasii), viêm phổi pneumocystis (Pneumocystis jirovecii)... và rất nhiều bệnh khác. Có khoảng 70 loài nấm sinh bào tử là những tác nhân gây dị ứng. Chúng có thể là nấm mốc trong nhà hay ngoài trời, đa phần là nấm sợi như các chi Alternaria, Asperillus, Cladosporium, Helminthosporium, Epicoccum, Penicillium, Fusarium..., chỉ có vài loài là nấm đơn bào như Candida, Rhodotorula, có một số loài là nấm lớn như Agaricus, Coprinus, Fomes, Ganoderma... Bào tử nấm có thể gây ra những chứng như hen suyễn, viêm mũi dị ứng, các bệnh nấm dị ứng phế quản phổi và viêm phổi quá mẫn. === Săn mồi === Một số loài nấm là những kẻ săn giun tròn. Chúng có thể biến đổi sợi nấm để tạo thành những cấu trúc đặc biệt có chức năng bẫy giun tròn, nên được gọi với tên chung là nấm bẫy mồi. Những loại bẫy thường thấy là: mạng dính (hay lưới dính), bọng dính, vòng không thắt, cột dính, vòng thắt và bào tử dính. Các loài nấm bắt mồi theo kiểu này thường thuộc các chi Arthrobotrys, Dactylaria, Dactylella và Trichothecium. Có vài loài như Zoopage phanera thì lại tiết chất dính ra toàn bộ mặt ngoài sợi nấm và cũng có khả năng bẫy mồi tương tự. === Dinh dưỡng và khả năng tự dưỡng === Sự phát triển của nấm dưới dạng sợi nấm ở những môi trường rắn cũng như dưới dạng đơn bào ở môi trường nước, đều được điều chỉnh để hút các chất dinh dưỡng hiệu quả nhất từ môi trường, bởi chúng đều có tỉ lệ diện tích bề mặt trên thể tích cao. Sự thích nghi hình thái đã được bổ sung bởi những enzym thủy phân trong những môi trường tiêu hóa có phân tử hữu cơ lớn, như polysaccarit, protein, lipit và những chất nền dinh dưỡng khác. Những phân tử này bị thủy phân thành những phân tử nhỏ hơn, sau đó trở thành những chất dinh dưỡng được hấp thụ vào tế bào nấm. Thông thường nấm được coi là những sinh vật dị dưỡng, tức những cơ thể chỉ có thể lấy cacbon từ những sinh vật khác cho quá trình trao đổi chất. Tuy nhiên, nấm đã tiến hóa khả năng chuyển hoá mà cho phép chúng sử dụng đa dạng những loại chất nền hữu cơ để phát triển, bao gồm các hợp chất đơn giản như nitrat, amoniac, axetat hay êtanol. Những nghiên cứu gần đây cho thấy khả năng rằng nấm đã sử dụng sắc tố melanin để lấy năng lượng từ những phóng xạ ion hóa, như tia gamma, gọi nôm na là "vô tuyến dưỡng". Người ta cho rằng quá trình này có điểm tương đồng với quá trình quang hợp ở thực vật. Tuy nhiên, hiện nay đang thiếu những bằng chứng sinh hóa có giá trị ủng hộ cho giả thuyết này. == Vai trò đối với con người == Nấm đã được con người sử dụng để chế biến và bảo quản thức ăn một cách rộng rãi và lâu dài: nấm men được sử dụng cho quá trình lên men để tạo ra rượu, bia và bánh mì, một số loài nấm khác được sử dụng để sản xuất xì dầu (nước tương) và tempeh. Trồng nấm và hái nấm là những ngành kinh doanh lớn ở nhiều nước. Nhiều loại nấm được sử dụng để sản xuất chất kháng sinh, gồm các kháng sinh β-lactam như penicillin và cephalosporin. Những loại kháng sinh này đều được sử dụng rộng rãi trong việc chữa trị các bệnh do vi khuẩn gây ra như: lao, phong cùi, giang mai và nhiều bệnh khác ở đầu thế kỷ 20, tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong hóa học trị liệu kháng khuẩn. Môn khoa học nghiên cứu về lịch sử ứng dụng và vai trò của nấm được gọi là nấm học dân tộc. === Chế biến thực phẩm === Nấm men bánh mì với loài chính là Saccharomyces cerevisiae, một nấm đơn bào, được sử dụng rộng rãi trong việc làm bánh mì và những sản phấm từ bột mì khác, như pizza hay bánh bao . Trong quá trình lên men rượu dưới điều kiện yếm khí, nấm men sẽ sản sinh ra rượu etanol và khí cacbonic (CO2) có vai trò làm nở bột mì. Một số loài nấm men của chi Saccharomyces cũng được sử dụng để sản xuất đồ uống có cồn, như bia hay rượu vang thông qua quá trình lên men rượu. Nấm men và vi khuẩn acetic được sử dụng trong quá trình chuẩn bị Kombucha, một loại trà ngọt lên men. Những loại men tìm thấy trong trà rất đa dạng, như Brettanomyces bruxellensis, Candida stellata, Schizosaccharomyces pombe, Torulaspora delbrueckii và Zygosaccharomyces bailii. Ngoài ra, Vegemite và Marmite, những chiết xuất nấm men, đã được sử dụng rộng rãi làm gia vị để chế biến thức ăn trong đời sống. Một số loài nấm sợi thường được sử dụng để sản xuất sinh khối protein. Mốc Aspergillus oryzae được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước, như sản xuất nước tương (xì dầu), súp miso và rượu sake ở Nhật Bản hay làm tempeh ở Java. Mốc hoa cau được dùng để sản xuất tương, loại thực phẩm phổ biến ở Việt Nam, cũng chính là A. oryzae, tuy nhiên tương sản xuất thủ công lại có độ an toàn không cao, bởi những loại mốc tốt và không độc như A. oryzae và Aspergillus sojae lại rất dễ lẫn lộn với những loại mốc nguy hiểm có độc tố gây ung thư khác là A. flavus và A. parasiticus. Quorn là loại thực phẩm giàu protein được sản xuất từ mốc Fusarium venenatum, và được dùng trong việc chế biến đồ ăn chay. Nhiều loại thực phẩm khác cũng được chế biến bởi mốc như chao (ủ nhờ mốc Actinomucor elegans, Mucor racemosus hay Rhizopus), ang-kak (gạo lên men với mốc đỏ Monascus purpureus), salami (một loại xúc xích, lên men nhờ P. nalgiovense, P. chrysogenum). Trong sản xuất pho mát, một kinh nghiệm thông thường là cấy bào tử nấm vào sữa đông để tạo mốc, việc này sẽ cho ra hương vị và kết cấu đặc biệt độc nhất của pho mát. Ở những loại pho mát xanh, như Stilton hay Roquefort, thì những vân xanh được tạo ra bởi loài nấm Penicillium roqueforti. === Nấm ăn và nấm độc === Những loài nấm quả thể được biết đến với hai dạng: nấm ăn được và nấm độc. Nấm ăn được sử dụng rộng rãi làm thực phẩm, chúng có thể sử dụng trong rất nhiều món ăn, ở nhiều nền ẩm thực khác nhau. Nấm là thực phẩm có giá trị dinh dưỡng cao, có độ đạm cao và ít chất béo, chứa nhiều vitamin nhóm B và C. Dù nấm không phải là nguốn vitamin D đáng kể, nhưng hàm lượng vitamin D có thể tăng lên khi được phơi với ánh sáng (nhất là tia cực tím) dù điều này làm thẫm lớp vỏ của chúng. Nấm cũng chứa nhiều nguyên tố vi lượng, như sắt, selen, natri, kali, magiê và phốt pho. Những loại nấm ăn được thường xuyên bày bán ở các chợ và siêu thị đều được trồng ở các trang trại nấm. Loại nấm phổ biến nhất là nấm mỡ (Agaricus bisporus), được trồng ở ít nhất 70 quốc gia trên thế giới. Những dạng khác của A.bisporus là portabella và nấm mũ (crimini) cũng được trồng thương mại. Nhiều loại nấm châu Á cũng được trồng và tiêu thụ rộng rãi là nấm rơm (Volvariella volvacea), nấm hương (Lentinula edodes), nấm sò (Pleurotus ostreatus), mộc nhĩ (Auricularia auricula-judae), enokitake (nấm kim châm, Flammulina) và nấm múa (Grifola frondosa). Có nhiều loại nấm được thu hoạch từ tự nhiên để cho cá nhân hay để bán như nấm sữa (Lactarius deliciosus), nấm nhăn (nấm bụng dê, Morchella), nấm mồng gà (Cantharellus), nấm cục (Tuber), nấm kèn đồng (Cantharellus) và nấm thông (Boletus edulis), chúng thường đắt tiền và dành cho những người sành ăn. Hái nấm là hoạt động phổ biến ở nhiều vùng của Châu Âu và tây bắc Hoa Kỳ. Tuy nhiên những người đi hái nấm phải rất chú trọng về việc phân biệt nấm ăn và nấm độc. Có nhiều loại nấm đặc biệt độc đối với con người, độc tính của nấm có thể nhẹ và gây ra bệnh tiêu hóa hay dị ứng cũng như ảo giác, nhưng cũng có thể đủ mạnh để gây liệt các cơ quan và chết người. Có khoảng 10.000 loại nấm thịt, trong đó có một nửa là ăn được và 100 loài có độc tố cao. Những loại nấm gây chết người thuộc về các chi Inocybe, Entoloma, Hebetoma, Cortinarius và nổi tiếng nhất là Amanita. Những loài thuộc chi cuối như "thiên thần hủy diệt" A. virosa hay nấm tử thần A. phalloides là những loại nấm độc chết người thông dụng nhất. Loại nấm moscela giả (Gyromitra esculenta) khi nấu chín là một thức ăn ngon, nhưng lại độc khi ăn sống. Nấm Tricholoma equestre đã từng được cho là ăn được cho đến khi nó bị phát hiện là gây ra bệnh Rhabdomyolysis (hủy hoại cơ bắp). Nấm màu đỏ Amanita muscaria gây độc không thường xuyên, khi ăn vào nó có thể trở thành loại thuốc kích thích và sinh ảo giác. Trong lịch sử, những tu sĩ cổ đại người Celt ở Bắc Âu và người Koryak ở Siberi đã sử dụng loại nấm này với mục đích tôn giáo và làm phép. Cũng có nhiều loài nấm gây ảo giác khác, chúng được gọi là "nấm ma thuật", "mush" hoặc "shroom", thuộc nhiều chi khác nhau như Psilocybe, Panaeolus, Gymnopilus, Copelandia, Conocybe... Chúng có thể tác động lên trí tuệ và hành vi của con người, tạo cảm giác hư ảo hưng phấn, và cũng có vai trò trong việc chữa trị truyền thống ở một số địa phương. Để phân biệt được nấm ăn được và nấm độc thì có nhiều kinh nghiệm cùng với các cơ sở nghiên cứu: không ăn nấm sặc sỡ, có mùi hắc, không ăn nấm quá non hay quá già, không ăn nấm có chảy sữa... Tuy nhiên có rất nhiều trường hợp ngoại lệ, như có nấm độc có màu sắc và hình dạng giống nấm thường. Vì thế rất khó để có thể nhận biết được nấm an toàn và nấm độc nếu không có đủ kinh nghiệm và kiến thức, và lời khuyên tốt nhất là hãy coi tất cả nấm ở trong rừng là nấm độc và bỏ qua nó. === Dược liệu và chiết xuất === Nhiều loại nấm ăn đã được sử dụng trong y học truyền thống hàng ngàn năm nay. Những loại nấm như nấm múa, nấm hương (đông cô), nấm chaga, nấm linh chi... đã được tập trung nghiên cứu bởi khả năng chống ung thư, chống virus và tăng cường hệ miễn dịch của chúng. Loài nấm Đông trùng hạ thảo (Cordyceps sinensis) được coi là một dược liệu quý hiếm và đã được sử dụng ở Trung Quốc từ lâu . Loài nấm cổ linh chi (Ganoderma applanatum) cũng từng được coi là một "thần dược" ở Việt Nam, mặc dù không có bằng chứng cụ thể nào về khả năng trị bệnh của nó . Psilocybin và LSD, những chất gây ảo giác được chiết xuất từ nấm, có thể dùng để chữa các bệnh về tâm thần, như chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế (OCD), và cũng được dùng (với lượng nhỏ) để chấp dứt những cơn nhức đầu hàng loạt (cluster headache) hay đau nửa đầu. LSD mạnh gấp 100 lần psilocybin , được tổng hợp vào năm 1938, và là một loại ma túy quen thuộc. Trong số 12.000 loại kháng sinh được biết năm 1995 có khoảng 22% được sản xuất từ nấm sợi. Trong số đó, kháng sinh Penicillin, được Alexander Fleming tổng hợp từ nấm Penicillium chrysogenum vào năm 1928, được sử dụng rất rộng rãi trong chữa trị y học thế kỷ 20. Chúng có thể chữa được các bệnh vi khuẩn như bạch hầu, viêm phổi, viêm màng não, hôi miệng, giang mai, lậu và kể cả vi khuẩn Staphylococcus gây ra nhiễm trùng huyết . Một loại kháng sinh β-lactam phổ biến khác, Cephalosporin, cũng được tổng hợp năm 1948 từ nấm Cephalosporium acremonium. Áp dụng công nghệ ADN tái tổ hợp, nhiều gen đã được chuyển vào những loại nấm như nấm men S. cerevisiae, Pichia pastoris, Schizosaccharomyces pombe, Kluyveromyces lactis, Candida albicans, Hansenula polymorpha, Yarrowia lipolytica.. và nấm sợi Aspergillus niger, A. nidulans, A. oryzae, Neurospora crassa, Trichoderma reesei... với mục đích sản xuất công nghiệp. Nhờ khả năng phát triển nhanh, chúng được nuôi trồng và cho ra nhiều loại sản phẩm protein đa dạng giá trị rất lớn trong y học như insulin, vắc-xin viêm gan B, interferon, nhân tố tăng trưởng biểu bì, hemoglobin người, superoxide dismutase, interleukin... Ngoài ra các nấm chuyển gen cùng với các vi khuẩn còn những nguồn chính cho các enzym sử dụng trong công nghệ thực phẩm. Việc nuôi cấy nấm men trong sản xuất công nghiệp ngoài những sản phẩm có được do chuyển gen, còn có rất nhiều sản phẩm khác sử dụng trong thực phẩm, dinh dưỡng và y tế như cồn, các axít hữu cơ (axít citric, axetic, lactic, malic, gluconic, fumaric, itaconic..), vitamin (β-carotene, riboflavin, axít béo thiết yếu), enzym (protease, amylase, glucoamylase, men dịch vị..), pullulan, các este, polysaccarít, lipid, glycolipid, các hoạt chất thứ cấp như kháng sinh, chất ức chế miễn dịch (Ciclosporin A từ Tolypocladium inflatum), chất làm giảm cholestrol (lovastatin, pravastatin), chất chống ung thư (Taxol), chất màu... và nhiều chất hóa học khác. Thậm chí những cellulase và xylanase mà nấm tiết ra còn được sử dụng trong sản xuất quần jeans stone-washed cũng như trong công nghiệp sản xuất giấy và bột giấy. Ngành công nghiệp nuôi cấy nấm đã trở thành một bộ phận quan trọng trong nền công nghiệp toàn cầu. === Phục hồi sinh học === Thuật ngữ phục hồi sinh học bằng nấm (mycorestoration) đã được nhà nấm học Paul Stamets sử dụng trong cuốn sách Mycelium Running: How Mushrooms Can Help Save the World (Ten Speed Press, 2005) , trong đó ông nêu 4 dạng: lọc sinh học bằng nấm (mycofiltration), lâm nghiệp bằng nấm (mycoforestry), cải tạo sinh học bằng nấm (mycoremediation) và thuốc trừ sâu bằng nấm (mycopesticide). Về nấm được dùng làm thuốc trừ sâu sinh học, có thể xem ở điều khiển sinh học bằng nấm. Cải tạo sinh học được hiểu là sử dụng các vi sinh vật, nấm hay cây xanh để đưa môi trường tự nhiên bị ô nhiễm trở về trạng thái ban đầu. Nấm tiết ra bên ngoài các enzym và axít có khả năng phân giải lignin và cellulose, hai thành phần chính của gỗ, và có cấu trúc tương tự với nhiều chất ô nhiễm hữu cơ. Một số loại nấm, đặc biệt là nấm mục trắng (Phanerochaete chrysosporium), có thể phân giải các chất độc hại cho môi trường như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, pentachlorophenol, creosote, nhựa than đá và những nhiên liệu nặng thành CO2, nước và những nguyên tố cơ bản . Chúng có thể phân giải hay loại trừ các nguyên tố độc hại như chì, asen, xêzi, cadmi, thủy ngân, những vũ khí và chất độc hóa học như thuốc nổ TNT, chất độc thần kinh VX và sarin. Những nghiên cứu gần đây cho thấy nấm có khả năng bao bọc urani vào trong những dạng khoáng. ==== Điều khiển sinh học ==== Nấm rất tích cực trong cạnh tranh về dinh dưỡng và không gian với những sinh vật khác, thông qua định luật Gause (nguyên tắc ức chế cạnh tranh), và điều này đôi khi có lợi cho con người. Ví dụ, nấm có thể ngăn chặn sự tăng trưởng hay loại trừ kẻ thù nguy hiểm của thực vật và con người, như kiến đục gỗ, mối, châu chấu, muỗi, ve bét , cỏ dại, giun tròn hay nấm khác mà có thể gây hại cho mùa màng và nhà cửa . Khả năng điều khiển sinh học các loài gây hại cho nông nghiệp của nấm đã được quan tâm và ứng dụng thực tế. Loài nấm ký sinh côn trùng đã được sử dụng làm thuốc trừ sâu sinh học vì khả năng ký sinh và tiêu diệt côn trùng của chúng . Một số ví dụ về những nấm loại này là Beauveria bassiana, Metarhizium anisopliae, chi Hirsutella, chi Paecilomyces và Verticillium lecanii. Có ít nhất 14 loại nấm có khả năng chống rệp . Loài nấm thuộc chi Trichoderma cũng có khả năng ngăn chặn những loài nấm gây bệnh cho cây . Những loài nấm sống trong cây thuộc chi Neotyphodium như N. coenophialum tiết ra các ancaloit có độc tính với các loài động vật ăn thực vật có xương sống hay không xương sống, mặc dù một số chất có thể độc với những loài gia súc như cừu . Đặc tính của các loại nấm này đã được sử dụng trong các chương trình gây giống cây, nhằm tăng khả năng chống chịu và phòng ngự của cây trồng với các loài ăn thực vật. === Kẻ phá hoại === Mặc dù có rất nhiều lợi ích, nhưng nấm cũng có không ít tác hại. Ngoài mầm bệnh và chất độc, nấm còn có thể là những kẻ phá hoại ghê gớm. Dưới điều kiện độ ẩm thích hợp, nấm mốc sẽ phát triển và sinh sôi trong các căn nhà. Chúng tiết ra các enzym và acid để phân huỷ các chất hữu cơ, do đó nên chúng có thể phá hoại áo quần, tranh vẽ, phim ảnh, đồ da, sáp, chất cách điện trên dây điện hoặc dây cáp, các chất phủ máy ảnh, máy quay phim và cả chất khởi động máy bay. Chúng là nguyên nhân phổ biến gây thối rữa thức ăn dự trữ, tạo ra những sản phẩm độc hại cho con người và làm suy giảm chất lượng không khí trong nhà. Người ta ước tính có khoảng 40% gia đình ở Mỹ có vấn đề với nấm mốc. Bởi tính năng phân giải cellulose và lignin, nên nhiều loại nấm có thể phá huỷ hay làm mục gỗ ở nhà cửa và công trình xây dựng, gây thiệt hại lớn về kinh tế hàng năm. Có ba dạng nấm làm mục gỗ chính: mục khô (dry rot), mục ẩm (wet rot) và mục mềm (soft rot) dựa theo đặc điểm của gỗ bị mục. Ngoài ra còn có mục nâu (brown rot) - chuyên tấn công và phá hủy các loại quả hạch, như đào, lê, táo, mận - và mục trắng (white rot), dựa theo màu sắc gỗ mục. Những loài nấm phá huỷ gỗ phổ biến nhất là Serpula lacrymans, Coniophora putana, chi Antrodia, Phellinus Contiguous, chi Asterostroma... Để nhằm ngăn chặn quá trình này, một trong số các phương pháp là sử dụng điều khiển sinh học như dùng thông Pinus radiata hay kể cả loại nấm như Phlebiopsis gigantea. == Nguồn gốc và phân loại == Trong một thời gian dài, các nhà phân loại học đã xếp nấm là thành viên của giới Thực vật. Sự phân loại này chủ yếu được dựa trên sự tương đồng trong cách sống giữa nấm và thực vật: cả nấm và thực vật chủ yếu đều không di động, hình thái và môi trường sống có nhiều điểm giống nhau (nhiều loài phát triển trên đất, một số loại nấm quả thể giống thực vật như rêu). Thêm nữa, cả hai đều có thành tế bào, điều mà giới Động vật không có. Tuy nhiên, hiện nay nấm lại được công nhận là một giới riêng biệt, khác biệt hẳn với thực vật hay động vật, chúng đã tách ra và xuất hiện xấp xỉ hơn một tỷ năm trước. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra những sự giống và khác về đặc điểm hình thái, sinh hóa và di truyền giữa Nấm và các giới khác. Vì những lý do đó, nấm đã được đặt vào giới riêng của mình. === Lịch sử tiến hóa === Những cơ thể đầu tiên mang những đặc trưng của nấm xuất hiện vào khoảng 1200 triệu năm (Ma) trước đây, ở Liên đại Nguyên Sinh. Tuy nhiên, những hóa thạch nấm thì không phổ biến cho đến đầu kỷ Devon, khi chúng xuất hiện ở đá Rhynie. Cho dù được xếp cùng với thực vật trước kia, nhưng hiện nay nấm được cho là có quan hệ gần gũi với động vật hơn thực vật, và chúng cùng động vật được xếp vào thành các nhánh của Opisthokonta. Ở Đại Cổ Sinh, nấm xuất hiện trong môi trường nước nước, bao gồm những sinh vật tương tự có mang tiên mao (flagella) tương tự như nấm Chytrid. Những ghi nhận về hóa thạch đầu tiên của nấm rất rời rạc và ít ỏi. Những loài nấm bắt đầu xâm lấn mặt đất trong kỷ Cambri, một thời gian dài trước thực vật. Những lớp nấm hiện đại xuất hiện ở cuối kỷ Than Đá (phân kỷ Pennsylvania). "Fungal spike", một cum từ được đặt ra bởi các nhà cổ sinh vật học, để nói lên sự phong phú của bào tử nấm trong những trầm tích được tạo ra ngay sau sự kiện tuyệt chủng kỷ Permi-Trias; người ta cho rằng nấm là những dạng sống chủ yếu trong thời kỳ này - khi chúng chiếm đến gần 100% các dữ liệu hóa thạch được tìm thấy . Tuy nhiên thuật ngữ này đã gây ra nhiều tranh cãi: hình dạng của những bào tử nấm (như Reduviasporonites) đôi khi lại tương đồng với bào tử tảo và rất khó để xác định, "spike" không xuất hiện trên toàn cầu và ở nhiều nơi nó lại không rơi vào giai đoạn Permi-Trias. Những nghiên cứu sử dụng phát sinh loài phân tử củng cố nguồn gốc đơn ngành (monophyletic) của giới Nấm. Hệ thống phân loại nấm thường xuyên thay đổi, đặc biệt bởi những nghiên cứu gần đây dựa trên sự đối chiếu ADN. Những phân tích phát sinh chủng loài hiện hành thường xuyên đánh đổ những hệ thống phân loại mà dựa trên những cách thức cũ và đôi khi kém rõ ràng, ví dụ như dựa trên đặc điểm hình thái và khái niệm loài sinh vật thu được từ những giao phối thực nghiệm. Không có bất cứ một hệ thống phân loại nấm ở bậc cao duy nhất nào được công nhận, và những tên gọi thường thay đổi ở mọi cấp độ, kể từ loài trở đi. Dù vậy, những nỗ lực của những nhà nghiên cứu nấm đang được thực hiện để có thể thiết lập và khuyến khích việc sử dụng một danh pháp ổn định và duy nhất. Những loài nấm có thể có nhiều tên khoa học dựa trên vòng đời và phương thức sinh sản. Những trang web như Index Fungorum và ITIS thường xuyên cập nhật những tên gọi mới nhất lẫn tham khảo những tên gọi cũ, nhưng lại không phải lúc nào cũng thống nhất với nhau. ==== Cây phát sinh ==== === Các nhóm phân loại === Các ngành chính của nấm được phân loại chủ yếu dựa trên cấu trúc cơ quan sinh sản hữu tính của chúng. Hiện tại nấm được chia làm 7 ngành: Ngành Chytridiomycota hay Chytrid (Nấm roi - nấm trứng): chúng tồn tại rải rác khắp nới trên thế giới. Chytrid sẽ sản sinh ra những bào tử động mà có khả năng di chuyển linh động trong môi trường nước với một tiên mao duy nhất. Vì thế một số nhà phân loại học đã phân loại chúng là những động vật nguyên sinh. Sự phát sinh loài phân tử, dựa trên chuỗi operon rARN tương ứng ở những tiểu đơn vị ribosome 18S, 28S và 5.8S, cho thấy rằng Chytrid là nhóm nấm căn bản tách ra từ những ngành nấm khác, bao gồm cả bốn ngành chính với những dấu hiệu cho thấy tính cận ngành (paraphyly) hoặc có thể cận ngành của nấm Chytrid. Ngành Blastocladiomycota trước đây từng được cho là một nhánh phân loại của Chytridiomycota. Những dữ liệu phân tử và đặc điểm siêu cấu trúc gần đây đã đưa Blastocladiomycota vào một nhánh riêng giống như với các ngành Zygomycota, Glomeromycota và Dikarya. Lớp nấm Blastocladiomycetes là những sinh vật hoại sinh hoặc ký sinh của tất cả các nhóm sinh vật nhân chuẩn và chúng giảm phân tạo bào tử, không giống với chytrid, họ hàng gần của chúng, là những loài chủ yếu giảm phân tạo hợp tử. Ngành Neocallimastigomycota đầu tiên cũng đặt vào ngành Chytridiomycota. Những thành viên của ngành nhỏ này là những sinh vật kỵ khí, sống trong hệ thống tiêu hóa của những động vật ăn cỏ lớn và cũng có thể sống ở môi trường nước và mặt đất. Chúng không có ty thể nhưng lại chứa những hydrogenosome là nguồn gốc của ty thể. Giống như chytrid, neocallimastigomycetes có thể tạo ra những bào tử động mà có một hay nhiều tiên mao ở phía sau. Ngành Zygomycota (nấm tiếp hợp) có hai lớp: Zygomycetes và Trichomycetes. Chúng sinh sản hữu tính với những bào tử giảm phân được gọi là bào tử tiếp hợp và vô tính với túi bào tử. Loài mốc bánh mỳ đen (Rhizopus stolonifer) là loài phổ biến thuộc ngành này, một chi khác là Pilobolus, có khả năng bắn ra bào tử xa đến vài mét trong không khí. Những chi liên quan đến y học bao gồm Mucor, Rhizomucor và Rhizopus. Những nghiên cứu phát sinh loài phân tử đã chỉ ra rằng Nấm tiếp hợp là nhóm đa ngành và có thể có cận ngành trong nhóm phân loại này. Những thành viên của ngành Glomeromycota là những nấm tạo ra nấm rễ mút phân nhánh (arbuscular mycorrhizae) ở thực vật bậc cao. Sự cộng sinh này đã có từ cổ đại, với những bằng chứng cho thấy đã có từ 400 triệu năm về trước. Phân giới Dikarya bao gồm hai ngành Ascomycota và Basidiomycota khi cả hai ngành đều có nhân kép, chúng có thể dạng sợi hoặc đơn bào, nhưng không bao giờ có lông roi. Dikarya được gọi là "Nấm bậc cao", cho dù có nhiều loài sinh sản vô tính được phân loại vào nấm mốc trong các tài liệu trước đây. Deuteromycota (Nấm bất toàn), trước đây từng được coi là một ngành của Nấm, nhưng hiên nay chỉ được sử dụng để chỉ những loại nấm sinh sản vô tính trong Dikarya. Ngành Ascomycota (nấm túi hay nấm nang), là nhóm phân loại đông nhất trong Eumycota (Nấm thật). Chúng tạo ra những bào tử giảm phân gọi là bào tử nang, mà được chứa trong một cấu trúc đặc biệt có dạng giống túi gọi là nang (ascus). Ngành này bao gồm nấm nhăn (moscela), vài loại nấm lớn và nấm cục, những nấm men đơn bào (như các chi Saccharomyces, Kluyveromyces, Pichia và Candida) và nhiều nấm sợi sống hoại sinh, ký sinh và cộng sinh. Nhiều loài nấm nang chỉ trải qua quá trình sinh sản vô tính (ở nấm gọi là anamorph), tuy nhiên, những dữ liệu phân tử đã giúp nhận dạng được những giai đoạn hữu tính (teleomorph) gần nhất của chúng ở nấm nang. Bởi những sản phẩm của quá trình giảm phân được chứa trong nang nấm, nên vài loài nấm nang (như Neurospora crassa) được sử dụng để giải thích những nguyên lý của di truyền học. Ngành Basidiomycota (Nấm đảm), sản xuất ra những bào tử đảm chứa trong những thân hình dùi gọi là đảm. Đa phần những loài nấm lớn đều thuộc ngành này, cũng như nấm than hay nấm gỉ sắt là những mầm bệnh chính ở ngũ cốc. Những loài nấm đảm quan trọng khác bao gồm nấm Ustilago maydis gây bệnh cho ngô, chi nấm cộng sinh Malassezia gây nên gàu ở người, và nấm cơ hội gây bệnh viêm màng não, Cryptococcus neoformans. Một số hình ảnh về các ngành Nấm === Mối quan hệ với những sinh vật giống nấm khác === Bởi vì có những sự tương đồng giữa hình thái và vòng đời, nên nấm nhầy (myxomycetes) và mốc nước (oomycetes) trước đây đã được đặt vào giới Nấm. Tuy nhiên, không giống nấm thật (Eumycota), thành tế bào của những sinh vật này có chứa cellulose và thiếu kitin. Nấm nhầy cũng là Unikont giống như nấm, nhưng lại thuộc giới Amoebozoa. Mốc nước là những Bikont lưỡng bội thuộc giới Chromalveolate. Cả mốc nước và nấm nhầy đều không có quan hệ gần gũi với nấm thật và vì thế những nhà phân loại học hiện nay đã không xếp chúng vào giới Nấm. Dù vậy, ngành học nghiên cứu về myxomycete và oomycete vẫn thường được xếp nào nấm học trong những sách giáo khoa và tài liệu nghiên cứu sơ cấp. Trước đây đã có giả thuyết cho rằng Nucleariid có thể là nhánh chị em với mốc nước, và vì thế cho rằng có thể thuộc giới Nấm. Tuy nhiên, hiện tại thì Nucleariid vẫn đang nằm trong giới Choanozoa. == Xem thêm == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Comparative Analysis of Fungal Genomes (at DOE's IMG system) Tree of Life web project: Fungi Nấm tại Encyclopedia of Life Mushroom Observer (mushroomobserver.org), a collaborative fungus recording and identification project
phiên âm hán-việt.txt
Phiên âm Hán-Việt là cách đọc chữ Hán theo âm tiếng Việt. Theo giả thuyết một số học giả, cách phiên âm này (chỉ là học cách đọc mà không có chữ viết) có thể đã tồn tại từ rất xưa, trước khi được ghi chép chính thức thành từ Hán Việt khi người Việt có chữ Quốc ngữ. Một số nhà ngôn ngữ học Việt Nam coi âm Hán-Việt chỉ là âm chữ Hán vào thời nhà Đường, là giai đoạn hình thành cách đọc Hán-Việt có hệ thống. Một số ý kiến khác lại cho rằng cách đọc Hán-Việt là dựa vào cách đọc theo phiên thiết. == Phát âm của chữ Hán == Chữ Hán là một loại chữ biểu ý, không phải là loại chữ biểu âm, nên không thể nhìn vào mặt chữ mà đọc được. Do đó trong tự điển tiếng Hán người ta phải ghi chú cách đọc. Bản thân chữ Hán được phát âm khác nhau, ngay tại Trung Quốc, tuỳ từng vùng mà có nhiều giọng/âm đọc khác nhau, như tiếng Quảng Đông, tiếng Phúc Kiến, tiếng Triều Châu, tiếng Bắc Kinh... Các nước lân cận như Triều Tiên có cách đọc riêng của người Triều Tiên, gọi là Hán-Triều (漢朝); người Nhật có cách đọc riêng của người Nhật, gọi là Hán-Hoà (漢和); người Việt có cách đọc của mình gọi là Hán-Việt (漢越). Ngoài ra bản thân ngữ âm tiếng Hán cũng chịu sự biến đổi nhất định trong lịch sử phát triển của nó. Một số kết quả được phản ánh trong các nghiên cứu của các nhà ngữ âm học Trung Quốc đối với tiếng Hán cổ đại và trung đại. == Phiên âm Hán-Việt == Một số nhà ngôn ngữ học Việt Nam coi âm Hán-Việt chỉ là âm chữ Hán vào thời nhà Đường, đọc theo quy luật ngữ âm tiếng Việt. Do quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ Hán và Việt bắt đầu từ lâu, và tiếng Hán đã được du nhập vào Việt Nam từ khi nhà Hán xâm chiếm Việt Nam. Tuy nhiên quá trình tiếp nhận các từ ngữ tiếng Hán giai đoạn đầu chỉ diễn ra một cách lẻ tẻ, không hệ thống và chủ yếu bằng đường khẩu ngữ. Đến giai đoạn nhà Đường thì tiếng Hán được du nhập một cách có hệ thống, với số lượng lớn và chủ yếu thông qua con đường sách vở. Theo quan điểm này thì phiên âm Hán-Việt là cách thức đọc tiếng Hán theo âm tiếng Hán thời nhà Đường qua đường sách vở, được những người Việt sử dụng chữ Hán đặt ra, Việt hóa ít nhiều cho phù hợp với hệ thống ngữ âm của tiếng Việt vào thời kỳ đó. Theo Henri Maspéro, Benhard Kalgren, Torosu Mineyra, âm Hán-Việt đại diện cho phương ngữ Tràng An thế kỷ 9-10, vào thời kỳ cuối Đường. Đây là giai đoạn hình thành cách đọc Hán-Việt có hệ thống. Cũng theo quan điểm này, những từ Hán được du nhập từ giai đoạn trước hay các từ Hán cổ không được đọc theo âm Hán-Việt (đời Đường) mà theo âm Hán cổ, và đã được Việt hóa tương đối, hoặc là để làm phong phú nguồn từ vựng cho tiếng Việt cổ dùng trong dân gian, lúc đó người dân giả không được đi học còn dùng tiếng Việt cổ và chưa có chữ viết (hoặc là một số ít có thể dùng chữ Nôm). Ví dụ: 房: buồng (âm Hán cổ)/ phòng (âm Hán-Việt); 沈: chìm (âm Hán cổ)/ trầm (âm Hán-Việt)... Một số từ Hán-Việt sau khi được du nhập vào tiếng Việt đã chiu sự tác động của quy luật biến đổi ngữ âm của tiếng Việt, do vậy có một số từ đã bị thay đổi diện mạo so với dạng ngữ âm Hán-Việt ban đầu. Ví dụ: 印: ấn (Hán-Việt)/ in (Hán-Việt Việt hóa); 種: chủng (Hán-Việt)/ giống (Hán-Việt Việt hóa), 正: chính, chinh (Hán-Việt)/ giêng (Hán-Việt Việt hóa)... Ngoài ra còn có các từ gốc Hán được tiếp nhận bằng con đường khẩu ngữ với phát âm của một phương ngữ nào đó của tiếng Hán hiện đại: ca la thầu, mì chính, quẩy... Cách đọc Hán Việt gắn liền với việc sử dụng văn tự: ban đầu là văn tự Hán, sau là chữ Hán và chữ Nôm và cuối cùng là ghi bằng chữ quốc ngữ. Trong các tự điển Hán-Việt, bên cạnh ghi chú bính âm do người Trung Quốc đặt ra để đọc âm của họ, còn có ghi chú âm tiếng Việt dành riêng cho người Việt. Tức là âm tiếng Quan thoại chuẩn (nay gọi là "phổ thông thoại", tức tiếng Hán phổ thông dựa trên phương ngữ Bắc Kinh) được phiên sang âm tiếng Việt. Ví dụ chữ 北京 đọc theo âm Quan thoại là Pẩy Chinh, chú âm theo bính âm (pinyin) là Běijīng, còn người Việt đọc là Bắc Kinh. == Phiên âm Hán-Việt và phiên thiết Hán-Việt == Một số ý kiến cho rằng cách đọc Hán-Việt là dựa vào cách đọc theo phiên thiết. Các ý kiến này cho rằng âm Hán-Việt không phải do người Việt đặt ra mà là các âm phiên thiết, ghi trong các cuốn tự điển Hán. Theo cách lý giải này, một số tác giả cực đoan còn cho rằng, những từ đọc không đúng với phiên thiết là sai và phải bị loại bỏ khỏi các từ Hán Việt. Nhiều ý kiến phân biệt rõ ràng giữa phiên âm Hán-Việt và phiên thiết Hán-Việt. Phiên âm là bản thân âm (cách đọc) Hán-Việt của chữ Hán, còn phiên thiết chỉ là một trong những phương pháp ghi cách đọc chữ Hán do người Trung Quốc đặt ra để người đọc biết cách đọc. Phiên thiết là dùng âm của hai chữ khác (được coi là đã biết cách đọc) ghép lại để chú âm cho một chữ thứ ba, nghĩa là lấy phụ âm đầu (thanh mẫu) của chữ thứ nhất ghép với vần (vận mẫu) của chữ thứ hai đọc nối liền lại, còn thanh điệu thì tuân theo một quy tắc nhất định. Phiên thiết của người Trung Quốc được chuyển (quy chiếu) sang âm Hán-Việt và lấy đó làm chuẩn để đọc âm Hán-Việt. Trước khi có cách dùng ký tự Latin để ghi cách đọc chữ Hán, thì ngoài cách phiên thiết, còn có các phương pháp khác như chú âm bằng cách dùng chữ đồng âm, gọi là "trực âm" (直音), hay dùng những chữ có âm gần giống, gọi là "độc nhược" (讀若), "độc như" (讀如) hay "độc vi" (讀為). Ngoài ra, còn phương pháp chú âm dùng 37 ký tự dựa vào chính chữ Hán gọi là "chú âm phù hiệu" (chữ Hán phồn thể: 注音符號; chữ Hán giản thể: 注音符号; bính âm: Zhùyīn fúhào), được soạn ra vào đầu thế kỷ 20, hiện nay thỉnh thoảng vẫn được sử dụng nhưng ít phổ biến hơn bính âm, chủ yếu sử dụng tại Đài Loan. Ngoài ra, không phải bao giờ phiên âm Hán-Việt cũng trùng với phiên thiết Hán-Việt, nghĩa là âm Hán-Việt không đọc theo phiên thiết Hán-Việt, vì phiên thiết của người Trung Hoa dùng cho người Trung Hoa chứ không phải dùng cho người Việt. 因 theo phiên thiết là ân, nhưng xưa nay người Việt vẫn đọc là nhân, 一 theo phiên thiết là ất, nhưng xưa nay vẫn đọc là nhất, 比 theo phiên thiết là bỉ, nhưng xưa nay vẫn đọc là tỉ 扇 theo phiên thiết là thiến, nhưng xưa nay vẫn đọc là phiến 轟 theo phiên thiết là hoanh, nhưng xưa nay vẫn đọc là oanh 昇 theo phiên thiết là thưng, nhưng xưa nay vẫn đọc là thăng 激 đúng ra đọc là kích nhưng tiếng Việt quen đọc là khích v.v. Phiên thiết Hán Việt có thể giúp định âm Hán Việt của một số từ Hán chưa có âm tương đương trong các tự điển Hán-Việt của tiếng Việt. Tuy vậy, phiên thiết trong tiếng Hán cũng khá phức tạp, vì là âm đọc trong một giai đoạn lịch sử và của một vùng lãnh thổ trong tiến trình ngữ âm của Hán ngữ, tạo nên một hệ thống thiết vận không ổn định nên có thể góp phần làm phức tạp việc định âm Hán-Việt cho các từ Hán. Do đó, có thể tồn tại các kiểu phiên thiết khác nhau. == So sánh âm Quan thoại chuẩn và âm Hán-Việt == Âm Quan thoại chuẩn (dưới đây gọi tắt là Quan thoại) có 4 thanh điệu: âm bình, dương bình, thượng thanh và khứ thanh, trong khi âm Hán-Việt có 6 thanh điệu: ngang (không dấu), huyền, sắc, hỏi, ngã và nặng. Một âm Quan thoại thường tương ứng với nhiều chữ Hán, và đôi khi một chữ Hán cũng có 2-3 âm khác nhau, nhưng nói chung tổng số âm Quan thoại ít hơn nhiều so với tổng số chữ Hán. Một âm Quan thoại cũng thường tương ứng với nhiều âm Hán-Việt và đôi khi một âm Hán-Việt cũng tương ứng với 2 hoặc vài âm Quan thoại, nhưng tổng số âm Quan thoại ít hơn tổng số âm Hán-Việt (tiếng Quan thoại có 1280 âm trong khi tiếng Việt có từ khoảng 4500 đến 4800 âm đọc, tùy theo phương ngữ, và 6200 âm viết trong quốc ngữ). Ví dụ: âm Quan thoại yù (được biểu thị bằng bính âm) tương ứng với các âm Hán-Việt và chữ Hán sau (chữ viết nghiêng là âm Quan thoại, chữ viết đậm là âm Hán-Việt): ẩu 嫗 dụ 喻, 愈, 瘉, 癒, 芋, 吁/籲 (còn có âm là hu/xū), 裕, 誘, 谕/諭, 峪 (có sách phiên là dục) dũ 愈/癒, 羑 duật 聿, 矞, 燏, 繘, 谲/譎, 遹, 鴥, 鷸 dục 育, 淯, 堉, 毓, 谷 (còn có âm là cốc/gǔ), 浴, 峪 (có sách phiên là dụ), 欲/慾, 鹆/鵒, 昱, 煜, 翌, 鬻 dự 与 (còn có âm là dư/yú, dữ/yǔ), 预/預, 澦, 蓣/蕷, 誉/譽, 豫 ngọc 玉, 鈺 ngộ 遇 ngụ 寓/庽 ngục 狱/獄 ngữ 语/語 (còn có âm là yǔ) ngự 御/禦, 驭/馭 quắc 阈/閾 (còn có âm là vực) uất 熨 (còn có âm là úy/yùn), 黦, 郁/鬱 (còn có âm là úc), 菀 (còn có âm là uyển/wăn), 尉 (còn có âm là úy/wèi), 蔚 (còn có âm là úy/wèi) úc 噢, 澳 (còn có âm là áo/ào), 隩 (còn có âm là áo/ào), 燠, 郁/鬱 (còn có âm là uất), 彧 (có sách phiên là vực) ứ 淤 瘀 饫/飫 燠 vũ 雨 (còn có âm là yǔ) vực 域 棫 淢 緎罭 蜮/㟴魊 阈/閾 (còn có âm là quắc) 彧 (có sách phiên là úc) Dưới đây đưa ra ví dụ về các trường hợp một chữ Hán có nhiều âm khác nhau hoặc các trường hợp không tương ứng một đối một giữa âm Quan thoại và âm Hán-Việt. === 2 âm Quan thoại và 2 âm Hán-Việt === Một số ví dụ: 蔭 (yīn) âm và (yìn) ấm 谷 (yù) dục, và (gǔ) cốc 台(tái) đài (trong Đài Loan), và (tài) thai (trong Thiên Thai, Thai Châu) 曾 (zēng) tăng, và (céng) tằng === 2 âm Quan thoại và 1 âm Hán-Việt === Một số ví dụ: 泊 (bó /pō) bạc === 1 âm Quan thoại và 2 âm Hán-Việt hoặc nhiều hơn === Ta thường gặp các biến thể: Chu Ân Lai - Châu Ân Lai (周恩来/來, Zhōu Ēnlái), trong trường hợp này âm Châu gần âm gốc Zhōu hơn. Tuy nhiên âm Chu chủ yếu được dùng ở miền Bắc Việt Nam trước kia nay trở nên phổ biến hơn Châu Giang - Chu Giang (珠江, Zhū Jiāng) (sông), Châu Hải - Chu Hải (珠海; Zhūhǎi) (thành phố), trong trường hợp này âm Chu gần âm gốc Zhū hơn Càn Long - Kiền Long (乾隆; Qiánlóng) (vua nhà Thanh), trong trường hợp này âm Càn được coi là chính tắc hơn Phủ Điền - Bồ Điền (thành phố thuộc tỉnh Phúc Kiến) Đông Hoản - Đông Quản (thành phố thuộc tỉnh Quảng Đông), trong đó âm Hoản được coi là chuẩn hơn Sái Luân - Thái Luân, người phát minh ra một loại giấy Chu Đệ - Chu Lệ, tức Minh Thành Tổ, trong đó âm Đệ hiện nay được dùng phổ biến trong các từ /tự điển và sách vì gần âm gốc hơn Tiền Kỳ Tham - Tiền Kỳ Thâm - Tiền Kỳ Sâm (钱其琛, Qián Qíchēn), cựu Bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc, v.v. Điển hình cho trường hợp này là tên hồ 鄱阳湖 (Póyáng Hú), tọa lạc tại tỉnh Giang Tây của Trung Quốc. Các sách và tự điển gọi hồ này bằng nhiều cái tên khác nhau: hồ Bà Dương, hồ Phàn Dương, hồ Phiền Dương, hồ Phiên Dươnghoặc có khi là hồ Phồn Dương. Chữ 土 chỉ có 1 âm gốc là tǔ và trong mọi nghĩa đều được phiên là thổ, nhưng người ta lại đặt thêm âm độ chỉ dành riêng cho cụm từ Tịnh độ tông. Tuy nhiên âm thổ cũng được dùng cho trường hợp này, tuy ít phổ biến hơn: Tịnh thổ tông. Trong khi đó âm độ thông thường, ứng với âm gốc dù, gồm các chữ 度 (còn có âm là đạc/duó), 渡, 鍍, 镀. == Sự thiếu nhất quán trong phiên âm Hán-Việt == Bên cạnh các trường hợp một chữ Hán có 1 âm Quan thoại nhưng có thể có 2 âm Hán-Việt khác nhau được ghi chú trong cùng một từ/tự điển, còn có nhiều trường hợp mỗi sách ghi một âm Hán-Việt khác nhau. Bản thân chữ bính, trong thuật ngữ "bính âm", xuất xứ từ một số sách cũ ở miền Nam Việt Nam, trong khi nhiều từ/tự điển hiện nay chỉ phiên là phanh, và cũng có một số người dùng phanh âm. Ung Châu (雍州), một trong chín châu của Trung Quốc thời cổ (vùng Thiểm Tây 陝西, Cam Túc 甘肅, Thanh Hải 青海 ngày nay), có chữ đầu đều được phiên là Ung trong hầu hết các từ/tự điển Hán-Việt và các sách truyện như Đông Chu liệt quốc, Tam quốc, chỉ riêng tự điển Thiều Chửu phiên là Úng. Chữ Ung này cũng nằm trong niên hiệu Ung Chính 雍正 của vua Thanh Thế Tông. Trong cuốn Chuyện Đông chuyện Tây, Nhà xuất bản Trẻ, An Chi Võ Thiện Hoa đã so sánh một số trường hợp phiên âm không thống nhất giữa 2 quyển Hán-Việt tự điển của Thiều Chửu và Hán-Việt từ điển của Đào Duy Anh (câu 438, trang 140-145, tập 3) như: chữ 膾 (bính âm: kuài), là khoái theo Đào Duy Anh và quái theo Thiều Chửu. Theo An Chi, khoái là âm Hán-Việt thông dụng, còn quái là âm Hán-Việt chính thống, phản ánh cách phát âm đời nhà Đường. chữ 炙 (bính âm: zhì), là chá theo Đào Duy Anh và chích theo Thiều Chửu. Trong từ điển của Trung Quốc có cả 2 âm này. chữ 僣 (bính âm: tiĕ), là tiếm theo Đào Duy Anh và thiết theo Thiều Chửu. Âm thiết là đúng, còn âm tiếm dành cho chữ 僭 (jiàn, zèn) cũng gần giống mà từ điển của Đào Duy Anh không có chữ này. Người ta vẫn có thói quen lấy chữ 僣 thay cho chữ 僭 nhưng làm như thế là không chuẩn. Nhân vật họ Mã trong Tam quốc làm thất thủ Nhai Đình, lỡ kế hoạch của Gia Cát Lượng có tên là 马/馬謖 (bính âm: Mǎ Sù), được phiên khi thì là Mã Tốc, khi thì là Mã Tắc, thậm chí có khi là Mã Thốc, còn theo An Chi thì phải đọc là Mã Sốc theo đúng âm Hán-Việt chính thống xuất xứ từ đời Đường. Tương tự như vậy, nhân vật Chu Du (周瑜, Zhōu Yú) quen thuộc có lúc lại biến thành Châu Do (âm Do không đúng nhưng âm Châu lại sát âm gốc hơn) chỉ vì cách phiên âm Hán-Việt khác nhau. Hai viên tướng Trung Quốc thời cổ thường được nhắc đến trong sử sách Việt Nam dưới tên gọi Đồ Thư (屠睢) và Nhâm Ngao (壬嚣), nếu theo phiên âm hiện đại thì phải là Đồ Tuy và Nhậm/Nhiệm/Nhâm Hiêu (任嚣). Ở đây họ 壬 (Nhâm - Rén) thời xưa đã được viết thành 任 có hai âm Nhâm - Rén và Nhậm/Nhiệm - Rèn. == Chữ (tự) đồng âm == Trong tiếng Hán, có rất nhiều chữ (tự) đồng âm, tức là đọc giống nhau nhưng viết (mặt chữ) khác nhau và nghĩa khác nhau. Tuy nhiên chữ đồng âm Quan thoại (pinyin) thường không nhất thiết là chữ đồng âm Hán-Việt, còn chữ đồng âm Hán-Việt nói chung thường là đồng âm Quan thoại. Lấy ví dụ âm nguyên Hán-Việt có khoảng 11 chữ đồng âm là 元, 原, 姩, 嫄, 沅, 源, 羱, 芫, 螈, 騵, 黿 (và đều đồng âm Quan thoại: yuán). Còn nếu xét chữ đồng âm Quan thoại (âm yuán) thì có thể kể thêm: Các chữ đồng âm Hán Việt viên: 員 (giản thể 员) (còn có các âm yún /vân, yùn /uẩn), 園(giản thể 园), 圓 (giản thể 圆), 圜 (còn có âm huán /hoàn), 垣, 媛 (còn có âm yuàn /viện), 湲, 爰, 猿 (còn viết là 猨), 蝯, 袁, 轅 2 chữ đồng âm Hán Việt viện: 援, 瑗 (chữ 媛 đã tính ở mục âm viên) Chữ ngoan: 鼋 4 chữ đồng âm Hán Việt duyên: 缘, 橼, 櫞, 蝝 Tuy nhiên cũng có một số chữ đồng âm Hán-Việt nhưng có tới 2 (thậm chí nhiều hơn) âm Quan thoại. Chẳng hạn, có (ít nhất) 7 chữ đồng âm cát, nhưng có tới 4-5 âm Quan thoại: 吉 (jí), 佶 (jí), 割 (gē), 葛 (gé /gě), 轕 (gé), 噶 (gá), 釓 (gá). Đó là chưa kể các chữ kiết 鮚 (giản thể 鲒), 拮, 桔 (kiết / kết) với âm Quan thoại là jié, mà có từ điển còn phiên là cát. == Chữ "tác" đánh chữ "tộ" == Thành ngữ có câu chữ "tác" đánh chữ "tộ" (chữ "tác" tưởng là chữ "tộ") để chỉ sự lẫn lộn giữa các chữ do mặt chữ gần giống nhau, qua đó chê người học kém. Một số cặp chữ gần giống nhau làm cho người dịch dịch nhầm, chẳng hạn, các cặp chữ: 作 tác (zuò) thuộc bộ nhân (亻) – 怍 tộ (zuò) thuộc bộ tâm (忄) 博, 搏 bác (bó) – 傅 phó (fù) – 溥 phổ (pǔ) 亳 bặc (bó) – 毫 hào (háo) 准 chuẩn (zhǔn) thuộc bộ băng (冫) – 淮 hoài (huái) thuộc bộ thủy (氵) 翼 dực (yì) – 冀 ký (jì) 党 đảng (dǎng) – 觉 giác (giản thể) (jiào) 浩 hạo (hào) – 洁 khiết (jié) 桐, 桐 đồng (dòng /tóng, tóng) – 坰, 炯 quýnh (jiōng) 遇 ngộ (yù) – 過 quá (guò) 幸 hạnh (xìng) – 辛, 莘 tân (xīn) 沫 mạt (mò) – 沬 muội (mèi) 遇 ngộ (yù) – 過 quá (guò) 土 thổ (tǔ) – 士 sĩ (shì) 并 tính, tịnh (bìng) – 井 tỉnh (jĭng) 万 vạn (giản thể) (wàn) – 方 phương (fāng) Những chữ tên riêng bị phiên sai có thể kể: Bặc /Bạc /Bột Châu (亳州), quê hương của đạo sĩ Trần Đoàn, ông tổ tử vi, bị phiên sai thành Hào Châu (毫州), do nhầm Bạc (亳; pinyin: bó) thành Hào (毫; pinyin: háo). Ví dụ: [1]. Cuốn Almanac những nền văn minh thế giới có bài về Trần Đoàn do Nguyễn Tiến Đoàn - Trần Thanh Loan - Hoàng Điệp viết (bài được chép ở đây) cũng nói rằng ông người huyện Hào Châu (nay là Tây Nam huyện Hào, tỉnh An Huy). Đất Bạc ở đây trước kia là một vùng rộng lớn, nằm ở vùng Thương Khâu, Lộc Ấp (Hà Nam) và tây bắc An Huy, từng là kinh đô nhà Thương thời vua Thành Thang, nhưng nay chỉ thu lại là thành phố Bạc Châu thuộc tỉnh An Huy. Rất nhiều sách, kể cả cuốn Tinh hoa văn hóa Trung Quốc, dịch và in tại Nhà xuất bản Thế giới cũng ghi là đất Hào! Trí Di, hay bị phiên là Trí Khải. == Tham khảo == == Xem thêm == Phiên thiết Hán-Việt Từ Hán-Việt Bính âm Hán ngữ
phà.txt
Phà hay bắc (phương ngữ Nam bộ, gốc tiếng Pháp: bac) là một chiếc tàu thủy (hoạt động trên sông hoặc ven biển) chuyên chở hành khách cùng phương tiện của họ trên những tuyến đường và lịch trình cố định. Có phà chỉ chuyên chở người, nhưng cũng có loại phà được thiết kế để chở tàu lửa hay xe hơi. Phà là một trong những phương tiện vận tải hữu ích nối liền nhiều điểm với nhau ở những thành phố vùng sông nước và, trong nhiều trường hợp, rẻ hơn nhiều so với việc xây dựng cầu hay đường hầm. == Các bến phà Việt Nam == Bến phà Mỹ Thuận qua sông Tiền, thường gọi là bến bắc Mỹ Thuận, nay không còn hoạt động vì tại đây đã xây cầu Mỹ Thuận qua sông. Bến phà Cần Thơ qua sông Hậu, thường gọi là bắc Cần Thơ, hiện nay là bến phà lớn nhất Nam Bộ. Hiện nay đã ngừng hoạt động do cầu Cần Thơ được khánh thành vào ngày 24/04/2010. Phà Bính qua sông Cấm, Hải Phòng nay không còn hoạt động vì đã xây dựng cầu Bính (khởi công 1 tháng 9 năm 2002- khánh thành 13 tháng 5 năm 2005 do Chính phủ Nhật Bản giúp đỡ 943 tỷ đồng) cách phà Bính cũ 1300 m. Bến phà Rạch Miễu bắt qua sông Tiền, nối Bến Tre và Mỹ Tho là bến phà khá hiện đại, do có Đan Mạch tài trợ đóng các phà mới, hiện nay không còn hoạt động vì tại đây đã xây dựng xong cầu Rạch Miễu năm 2009. Ngoài ra Bến Tre còn có phà Cổ Chiên. Bến phà Thủ Thiêm vượt sông Sài Gòn, nối quận 1 và quận 2 của Sài Gòn, nay không còn hoạt động vì tại đây đã có cầu Thủ Thiêm và hầm Thủ Thiêm để vượt sông Bến phà Hàm Luông qua sông Hàm Luông, nối Bến Tre và Trà Vinh, nay không còn hoạt động vì tại đây đã xây xong cầu Hàm Luông qua sông Bến phà Cổ Chiên qua sông Cổ Chiên, nối 2 tỉnh Trà Vinh và Bến Tre, nay không còn hoạt động vì tại đây đã xây xong cầu Cổ Chiên qua sông Bến phà Mỹ Lợi qua sông Vàm Cỏ, nối 2 tỉnh Long An và Tiền Giang, nay không còn hoạt động vì tại đây đã xây cầu Mỹ Lợi qua sông Bến phà Trà Ôn qua sông Măng Thít, nối 2 huyện Bình Minh và Trà Ôn của tỉnh Vĩnh Long nay không còn hoạt động vì tại đây đã xây cầu Trà Ôn năm 2013. Bến phà Vàm Cống nối 2 tỉnh Đồng Tháp và An Giang Bến phà Cao Lãnh qua sông Tiền, nối 2 tỉnh Đồng Tháp và An Giang Bến phà Đình Khao qua sông Tiền, nối 2 tỉnh Vĩnh Long và Bến Tre Bến phà Long Toàn vượt sông Láng Sắt, cả 2 bờ đều thuộc tỉnh Trà Vinh Bến phà Cát Lái vượt sông Đồng Nai, nối quận 2 Sài Gòn với tỉnh Đồng Nai Bến phà Bình Khánh, nối 2 huyện Nhà Bè và Cần Giờ của Sài Gòn Bến phà Tân Long qua sông Cửa Tiểu Bến phà Ngũ Hiệp Bến phà Kinh Nước Mặn, huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Bến phà Bà Nhờ, huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Bến phà Xã Bảy, huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Bến phà Long Sơn, huyện Cần Đước, tỉnh Long An. Bến phà Băng Tra, tỉnh Bến Tre. Bến phà An Phú Đông, nối quận Gò Vấp và quận 12 qua sông Vàm Thuật, Sài Gòn. Bến phà Năng Gù, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang Bến phà Châu Giang, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang. Bến phà Thạnh Thới, nối thị xã Hà Tiên và huyện đảo Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang. Bến phà Tuần Châu vượt biển, nối Tuần Châu (Quảng Ninh) và đảo Cát Bà (Hải Phòng) Bến phà Tắc Cậu qua sông Cái Bé, nối 2 tỉnh Cà Mau và Kiên Giang Bến phà Đình Vũ nối liền quận Hải An và huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng Bến phà Đông Xuyên nối hai huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh và huyện Hiệp Hoà tỉnh Bắc Giang Bến phà Đại Ngãi nối liền 2 huyện Cù Lao Dung và Long Phú, tỉnh Sóc Trăng Bến phà Cầu Quan đã có kế hoạch được bộ GTVT tỉnh Trà Vinh xây dựng Bến phà Vạn Phúc nối huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên và huyện Thanh Trì Hà Nội Bến phà Sa Cao nối huyện Xuân Trường, tỉnh Nam Định và huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Bến phà Thịnh Long nối huyện Nghĩa Hưng và huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Bến phà Mễ Sở nối tỉnh Hưng Yên và thành phố Hà Nội Bến phà Phước Khánh nối huyện Nhà Bè, Sài Gòn với huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai Bến phà Âu Lâu, nay không còn hoạt động, thuộc thành phố Yên Bái Bến phà Xóm Chài, thành phố Cần Thơ Bến phà Vạn Yên, tỉnh Sơn La Bến phà Phú Định, quận Bình Tân, Sài Gòn == Phân loại == Thường có hai loại chính: Phà không tự hành là phà không được lắp nguồn động lực đi cùng, mà khi muốn phà hoạt động thì phải dùng đầu kéo, ca nô hoặc máy đẩy kèm phà. Phà tự hành là phà có lắp nguồn động lực đi cùng. == Ảnh == == Tham khảo ==
guinea xích đạo.txt
Cộng hòa Guinea Xích Đạo (phiên âm tiếng Việt: Ghi-nê Xích Đạo; tiếng Tây Ban Nha: República de Guinea Ecuatorial) là một quốc gia ở khu vực Tây Phi. == Lịch sử == Vùng đất liền là nơi định cư của người Pygmy. Người Fang và người Bubi di cư đến đây trong thế kỉ 17 và đến đảo Ferdinan Po (Bioko ngày nay) thế kỉ 19. Người Bồ Đào Nha khám phá ra các đảo Fernando Po (Bioko) và Pagalu (Annobón) vào thế kỉ 15, và nhượng lại cho Tây Ban Nha năm 1778. Từ năm 1840, Pháp và Tây Ban Nha đều muốn giành quyền kiểm soát vùng Rio Muni ở lục địa. Năm 1885, cả hai vùng này trở thành thuộc địa của Tây Ban Nha cho đến khi giành được độc lập năm 1968. Đây là quốc gia duy nhất ở châu Phi nói tiếng Tây Ban Nha. Kể từ khi cầm quyền, Tổng thống Francisco Macias Nguema được xem là cha đẻ của nền độc lập, lập chế độ độc tài, tàn phá nền kinh tế của đất nước còn non trẻ và lạm dụng nhân quyền. Tự phong là "sự thần kì duy nhất", Nguema được coi là một trong những người cầm quyền chuyên chế và bạo ngược nhất trong lịch sử châu Phi. Tháng 8 năm 1979, Nguema bị một người cháu là Trung tá Teodoro Obiang Nguema Mbasogo lật đổ và hành quyết. Mbasogo dần dần hiện đại hóa đất nước nhưng vẫn giữ lại nhiều thông lệ độc tài của cựu Tổng thống Nguema. Năm 1996, Mbasogo giành thắng lợi trong cuộc bầu cử Tổng thống với 99% số phiếu. Năm 1999, một số các nhà lãnh đạo đối lập bị bắt giữ vì yêu cầu hủy bỏ kết quá bầu cử lập pháp trong đó đảng của Mbasogo giành chiến thắng áp đảo. Mbasogo tái đắc cử Tổng thống năm 2002 với 97% số phiếu. == Chính trị == === Đối nội === Trước khi độc lập tại Guinea Xích Đạo có nhiều đảng phái nhưng trong những năm 1970 và 1980 chỉ có 1 đảng duy nhất hợp pháp là Đảng Lao động Thống nhất toàn quốc (Partido Unico Nacional de Trabaladores) thành lập tháng 4 năm 1970 do Tổng thống Nguéma Biyogo làm Chủ tịch. Tháng 6 năm 1972, ông Nguéma Biyogo được đề cử làm Tổng thống suốt đời kiêm Thủ tướng. Tháng 6/1973, Hiến pháp mới được thông qua, quy định Guinea Xích Đạo là quốc gia thống nhất gồm Fernando Pô và Rio Muni. Guinea Xích Đạo chủ trương củng cố độc lập dân tộc, tự lực cánh sinh xây dựng và phát triển kinh tế. Tháng 8 năm 1979, ông Teodoro O.N. Mbasogo làm đảo chính lật đổ Francisco M. Ngúema, thành lập Đảng Dân chủ Guinea Xích Đạo (PDGE). Ngày 16 tháng 11 năm 1991, Guinea Xích Đạo thông qua Hiến pháp mới chấp nhận chế dộ đa đảng song quá trình dân chủ hoá gặp nhiều khó khăn, chưa tổ chức được bầu cử Quốc hội (dự kiến vào năm 1998), lực lượng chống đối mạnh. Ngày 7 tháng 7 năm 1997, chính quyền đã phải kêu gọi Tây Ban Nha, Pháp, Mỹ, OUA và Liên Hiệp Quốc can thiệp nhằm chấm dứt đổ máu do lực lượng binh biến gây ra. Thể chế nhà nước: Chế dộ Tổng thống nhưng do giới quân sự nắm quyền. Đảng cầm quyền: Đảng dân chủ Guinea Xích Đạo (PDGE) Đảng đối lập: Liên đoàn Lực lượng đối lập Guinea Xích Đạo. === Đối ngoại === Guinea Xích Đạo theo đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, không liên kết, ủng hộ phong trào giải phóng dân tộc ở châu Phi. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh Guinea Xích Đạo có quan hệ gắn bó với các nước xã hội chủ nghĩa và đã từng cắt đứt quan hệ ngoại giao với Israel (tháng 10 năm 1973) và với Mỹ (tháng 3 năm 1976). Tuy nhiên hiện nay bạn mở rộng quan hệ với tất cả các nước trong đó ưu tiên quan hệ với các nước láng giềng ở khu vực Tây Phi, coi trọng quan hệ với Tây Ban Nha và Pháp. Guinea Xích Đạo là thành viên của 26 tổ chức quốc tế lớn trong đó có IMF, G-77, ACCT, FAO. == Địa lý == Nước này nằm ở Tây Phi, bên bờ vịnh Guinea. Lãnh thổ gồm hai phần: phần lục địa là cao nguyên Mbini và vùng đồng bằng ven Đại Tây Dương; phần kia là quần đảo núi lửa nằm chếch lên ở phía Tây Bắc, ngoài khơi Cameroon, trong đó các đảo chính gồm đảo Bioko và đảo Annobón. Thủ đô Malabo đóng tại đảo Bioko. == Hành chính == Guinea Xích Đạo được chia thành 2 khu vực và bảy tỉnh. === Khu vực === Khu vực thứ nhất: Khu vực đảo của Guinea Xích Đạo bao gồm các cựu lãnh thổ của Tây Ban Nha là đảo Poo, cùng với đảo Annobón, nằm trong Vịnh Guinea và trong vịnh Corisco. Khu vực này rộng 2.052 km² và có dân số khoảng 265.000 người. Nó được chia thành tỉnh: Annobón Bioko Norte Bioko Sur Khu vực thứ 2: Río Muni là khu vực lục địa của Guinea Xích Đạo, rộng 26.017 km². Tên gọi của khu vực này có nguồn gốc từ sông Muni. Có dân số khoảng 300.000 người thuộc sắc tộc Fang. Khu vực này có 4 tỉnh: Centro Sur Kie-Ntem Litoral Wele-Nzas === Tỉnh === Guinea Xích Đạo gồm có 3 tỉnh nằm ở các đảo và 4 tỉnh nằm ở đất liền. Annobón Province (San Antonio de Palé) Bioko Norte Province (Malabo) Bioko Sur Province (Luba) Centro Sur Province (Evinayong) Kié-Ntem Province (Ebebiyín) Litoral Province (Bata) includes the islands of the Corisco Bay. Wele-Nzas Province (Mongomo) Các tỉnh lại được chia tiếp thành các huyện. == Kinh tế == Quốc gia này thuộc vào nhóm các nước kém phát triển. Kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp (cây lương thực, cây xuất khẩu) và dầu mỏ. Gỗ, cà phê, ca cao và dầu mỏ là các mặt hàng xuất khẩu chính. Việc phát hiện và khai thác các mỏ dầu có trữ lượng lớn đã góp phần thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển trong những năm gần đây. Tuy nhiên, các nguồn tài nguyên khác như titan, sắt, măng gan, uranium chưa được chú trọng khai thác. Lâm nghiệp, nông trại, đánh bắt cá chiếm tỉ trọng lớn trong GDP. Mặc dầu độc lập khá sớm, Guinea Xích Đạo vẫn dựa vào sản xuất ca cao để kiếm lượng ngoại tệ mạnh. Tình trạng tồi tệ của kinh tế nông thôn dưới các chế độ tàn bạo nối tiếp nhau đã làm giảm tiềm năng phát triển nông nghiệp vốn luôn dẫn đầu. Từ năm 1993, Ngân hàng thế giới (WB) và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đình chỉ viện trợ do chính phủ tham nhũng và quản lý yếu kém. Lĩnh vực kinh doanh hầu như nằm trong tay các viên chức chính phủ và các thành viên gia đình. Guinea Xích Đạo đã tận dụng được sự phá giá đồng franc CFA (1-1994). Thúc đẩy sản xuất phát triển, giá dầu lửa tăng là hai yếu tố chính kích thích tăng trưởng kinh tế năm 2000-2001. Hiện nay, Guinea Xích Đạo đang phát triển trồng lúa, thăm dò khai thác dầu lửa ở vịnh Corisco. Tây Ban Nha và Mỹ nắm toàn bộ ngành khai thác dầu lửa của nước này. Nông nghiệp chiếm 20%GDP, công nghiệp chiếm 60% GDP, dịch vụ chiếm 20% GDP. Xuất khẩu chủ yếu là dầu, ca cao, cao su sang Mỹ 62%, Nhật 3%, Tây Ban Nha 17%, Trung Quốc 9%. Nhập chủ yếu thực phẩm, quần áo, máy móc, thiết bị của Cameroon 10%, Tây Ban Nha 10%, Pháp 15%, Mỹ 35% và Anh 6% (1997). GDP thực tế: 22,86 tỷ USD (2009) GDP đầu người thực tế: 36.100 USD (2009) Tăng trưởng: -1,8% (2009) (Theo CIA) == Dân số == Đa số người dân Guinea Xích Đạo có nguồn gốc thuộc sắc tộc Bantu. Các nhóm dân tộc lớn nhất là người Fang, là bản địa ở đất liền, nhưng di cư đáng kể đến đảo Bioko đã dẫn đến số lượng người Fang đông hơn trước người Bantu trước đó. Người Fang hiện chiếm 80% dân số và bao gồm 67 dòng họ. Những người Fang sống ở phần phía bắc của Río Muni nói tiếng Fang-Ntumu, trong khi những người ở miền Nam nói tiếng Fang-Okah, hai tiếng địa phương có sự khác biệt nhưng là có hiểu lẫn nhau. Tiếng địa phương của người Fang cũng được sử dụng tại các bộ phận của nước láng giềng Cameroon (Bulu) và Gabon. Ngoài ra, còn có người Bubi, hiện đang chiếm 15% dân số, là dân tộc bản địa đến đảo Bioko. Ngoài ra, có những nhóm dân tộc ven biển, đôi khi được gọi là Ndowe hoặc "Playeros" là: Combes, Bujebas, Balengues, và Bengas sống trên các hòn đảo, và người Fernandinos, một cộng đồng người Krio trên đảo Bioko. Cùng với nhau, các nhóm này chiếm khoảng 5% dân số. Một số người châu Âu (chủ yếu là người Tây Ban Nha hoặc người Bô Đào Nha) - trong đó pha trộn với dân tộc châu Phi - cũng sống trong nước. Hầu hết người Tây Ban Nha đều ở lại sau Guinea Xích Đạo khi độc lập. Có một số lượng ngày càng tăng của người nước ngoài đến từ các nước lân cận như Cameroon, Nigeria và Gabon. Theo Bách khoa toàn thư của Liên Hiệp Quốc (2002) có khoảng 7% người dân đảo Bioko là sắc tộc Igbo, một dân tộc thiểu số đến từ miền đông nam Nigeria. Guinea Xích Đạo cũng nhận người châu Á và người châu Phi da đen đến từ các quốc gia khác làm công nhân đồn điền ca cao và cà phê. Nhóm người châu Phi da đen đến từ Liberia, Angola và Mozambique. Còn hầu hết người châu Á là gốc Trung Quốc, với số lượng nhỏ người Ấn Độ. Guinea Xích Đạo cũng cho phép người dân đến định cư tại quốc gia châu Âu, trong đó có Anh, Pháp và Đức. Sau khi độc lập, hàng ngàn người Guinea Xích Đạo đã đến Tây Ban Nha. Thêm 100,000 người Guinea Xích Đạo nữa đã đi đến Cameroon, Gabon và Nigeria vì tránh chế độ độc tài của Francisco Macías Nguema. Một số cộng đồng Guinea Xích Đạo cũng sẽ được tìm thấy ở châu Mỹ Latinh, Mỹ, Bồ Đào Nha, và Pháp. Khai thác dầu đã góp phần tăng gấp đôi dân số ở Malabo. Các tôn giáo chính ở Guinea Xích Đạo là Kitô giáo chiếm 93% dân số. Đây là chủ yếu Công giáo La Mã (87%) còn lại là thiểu số người Tin Lành (5%). Thêm 5% dân số theo tín ngưỡng bản địa và cuối cùng là 2% dân số theo có tôn giáo khác bao gồm bao gồm người Hồi giáo, Đức tin Bahá'í, và niềm tin khác. == Ngôn ngữ chính thức == +Tiếng Tây Ban Nha +Tiếng Bồ Đào Nha == Giáo dục và văn hóa == Phần lớn trẻ em đều được học tiểu học, tuy nhiên chỉ có khoảng 21% học lên trung học. Giáo hội Công giáo đóng vai trò quan trọng trong giáo dục tiểu học và trung học. Guinea Xích Đạo có một số trường đại học ở thủ đô Malabo và ở Bata. == Khối lượng phương tiện truyền thông == == Thể thao == == Guinea xích đạo trong tưởng tượng == == Xem khác == == Ghi chú và tham khảo == == Sách vở == == Liên kết ngoài == === Tin tức === === Tổng quan và những thư mục === === Nhóm dân tộc === === Du lịch === === Kinh tế === === Tây Ban Nha và châu Phi === == Chú thích ==
1937.txt
1937 (số La Mã: MCMXXXVII) là một năm thường bắt đầu vào thứ Sáu trong lịch Gregory. == Sự kiện == === Tháng 5 === 6 tháng 5: Khinh khí cầu Hindenburg cháy rụi khi đang hạ cánh ở New Jersey. 36 người chết. === Tháng 6 === 1 tháng 6: Đại biểu cộng sản đảng Trung Quốc Chu Ân Lai đàm phán với Tưởng Giới Thạch === Tháng 7 === 7 tháng 7: Xảy ra sự kiện Lư Câu Kiều. 17 tháng 7: Tưởng Giới Thạch phát biểu diễn thuyết kháng chiến chống Nhật. 29 tháng 7: Quân Nhật công chiếm Bắc Bình. 30 tháng 7: Quân Nhật công chiếm Thiên Tân. === Tháng 8 === 22 tháng 8: Thành lập Bát Lộ quân. === Tháng 10 === 13 tháng 10: Thành lập Tân Tứ Quân. === Tháng 11 === 11 tháng 11: Quân Nhật chiếm tô giới tại Thượng Hải 20 tháng 11: Trùng Khánh trở thành thủ đô kháng Nhật. === Tháng 12 === 13 tháng 12: Nhật Bản đánh chiếm Nam Kinh, xảy ra Nam Kinh đại đồ sát. == Sinh == 15 tháng 2 - Trần Hồng Quân, Chính trị gia, nhà khoa học Việt Nam. Sheikh Ahmed Yassin == Mất == == Giải Nobel == Vật lý - Clinton Joseph Davisson, George Paget Thomson Hóa học - Walter Haworth, Paul Karrer Y học - Albert von Szent-Györgyi Nagyrapolt Văn học - Roger Martin du Gard Hòa bình - Robert Cecil == Xem thêm == == Tham khảo ==
quyền phụ nữ.txt
Quyền phụ nữ, gọi khái quát là quyền nữ giới hay nữ quyền, là các quyền lợi bình đẳng giới được khẳng định là dành cho phụ nữ và trẻ em gái trong nhiều xã hội trên thế giới. Tại một số nơi, những quyền này được định chế hóa hoặc hỗ trợ bởi luật pháp, phong tục và tập quán địa phương, trong khi tại một số nơi khác, chúng bị phớt lờ hoặc hạn chế. Các quyền này khác biệt với các khái niệm rộng hơn về quyền con người thông qua các nhận định về thành kiến truyền thống và lịch sử cố hữu chống lại việc thực hiện quyền của phụ nữ và trẻ em gái trong khi thiên vị nam giới và trẻ em trai. Các vấn đề thường liên quan tới khái niệm về quyền nữ giới gồm các quyền: toàn vẹn và tự chủ thân thể, bỏ phiếu (bầu cử), nắm giữ chức vụ công, làm việc, nhận mức lương bình đẳng hoặc công bằng, nắm giữ tài sản riêng, tiếp nhận giáo dục, phục vụ trong quân ngũ, ký kết hợp đồng pháp lý, và các quyền trong hôn nhân và làm phụ huynh. == Xếp hạng quyền nữ giới theo quốc gia == Ngày 26 tháng 9 năm 2011, một nghiên cứu của tạp chí Newsweek được xuất bản dựa trên các quyền và chất lượng cuộc sống của phụ nữ ở các nước trên thế giới. Các yếu tố được đưa xét là công lý, sức khỏe và chăm sóc sức khỏe, giáo dục, cơ hội kinh tế và quyền lực chính trị. Bảng xếp hạng được xác định bởi Lauren Streib theo các tiêu chí đồng nhất và thống kê đã có. Theo nghiên cứu, là tốt nhất và tồi tệ nhất là: == Bài viết liên quan == Phân biệt đối xử theo giới tính Trọng nam khinh nữ Công ước loại bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ Chủ nghĩa nữ giới == Chú thích ==
cưỡi ngựa tại thế vận hội mùa hè 2008.txt
Giải cưỡi ngựa tại Thế vận hội Mùa hè 2008 diễn ra từ ngày 9 đến ngày 21 tháng 8 năm 2008 tại Hồng Kông. == Xếp hạng theo quốc gia == == Bảng huy chương == == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==