filename
stringlengths
4
100
text
stringlengths
0
254k
ngô đình khôi.txt
Ngô Đình Khôi (1885 - 1945) là quan nhà Nguyễn, tổng đốc Nam Ngãi (Quảng Nam - Quảng Ngãi). Ông là con cả của Ngô Đình Khả, tức người anh lớn nhất trong gia đình các ông Ngô Đình Thục, Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu, Ngô Đình Cẩn, Ngô Đình Luyện. == Hoạn lộ == Ông được tập ấm lúc còn nhỏ và được triều đình Huế bổ nhiệm vào làm trong Bộ binh năm 1910. Được ít lâu ông về làm rể Thượng thư Nguyễn Hữu Bài. Năm 1930 ông thăng chức tổng đốc Nam Ngãi. Con trai của ông là Ngô Đình Huân thì làm thư ký và thông ngôn cho Yokoyama Masayuki, Viện trưởng Viện Văn hóa Nhật Bản tại Sài Gòn, sau đó làm Thanh tra Lao động. Vì ý hướng thân Nhật, Ngô Đình Khôi bị ép về hưu năm 1943 sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai xảy ra. == Bị sát hại == Khi Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương vào Tháng Ba năm 1945, ông khuyên hoàng đế Bảo Đại đừng thoái vị vì ông đã tích trữ được một số vũ khí, lại có thêm Ngô Đình Huân giữ vai trò liên lạc giữa triều đình Huế và Đế quốc Nhật Bản nên có người cho là ông toan dùng vũ lực chống lại lực lượng Việt Minh. Mùa thu năm 1945 ông và Ngô Đình Huân bị Việt Minh bắt cùng với Phạm Quỳnh, cựu thượng thư Bộ Lại và đem hành quyết ở rừng Hắc Thú. Theo hồi kỳ của ông Nguyễn Hữu Hanh, người quen biết với gia đình ông Ngô Đình Khôi khi đó, kể lại thì khi ông Khôi bị dẫn ra đi bắn, ông Ngô Đình Huân nắm lấy áo cha mình kéo lại. Những người cán bộ cộng sản quát tháo và đánh anh ta, anh nói chẳng thà anh ta chết với cha, và họ bắn cả hai người. == Tham khảo ==
tây đức.txt
Tây Đức (tiếng Đức: Westdeutschland) là tên thường dùng để chỉ Cộng hòa Liên bang Đức (tiếng Đức: Bundesrepublik Deutschland) trong thời kỳ từ khi được thành lập vào tháng 5 năm 1949 đến khi Tái Thống nhất nước Đức vào ngày 3 tháng 10 năm 1990. Trong thời kỳ này, Đức cùng với thủ đô Berlin bị phân chia cho đến khi Đông Đức cộng sản sụp đổ và 5 bang của nó sáp nhập vào Cộng hòa Liên bang Đức. Cộng hòa Liên bang Đức (thường gọi là Đức) được mở rộng thành 16 bang cùng với việc thành lập 5 bang tại Đông Đức trước đây và như vậy trở thành nhà nước kế tục của Cộng hòa Liên bang Đức từ trước năm 1990. Cộng hòa Liên bang Đức được thành lập từ 11 bang từ ba khu vực chiếm đóng của Đồng minh do Hoa Kỳ, Anh Quốc và Pháp kiểm soát. Thành phố Bonn là thủ đô lâm thời của đất nước. Khu vực thứ tư do Liên Xô chiếm đóng. Nhiều vùng của khu vực này nằm ở phía đông của Oder-Neisse, những nơi này sau đó đã bị Liên Xô và Ba Lan cộng sản sáp nhập; phần trung tâm còn lại quanh Berlin trở thành Cộng hòa Dân chủ Đức (Deutsche Demokratische Republik) với thủ đô trên thực tế là Đông Berlin. Theo sau sự phân chia, Tây Đức có một lãnh thổ chỉ bằng khoảng một nửa kích thước của Cộng hòa Weimar, là quốc gia tồn tại giữa hai Thế chiến tại Đức. Cùng với Sự sụp đổ của Liên Xô và Đông Âu bắt đàu từ năm 1989, tượng trưng là việc mở cửa Bức tường Berlin, các chuyển động nhanh chóng đã diễn ra hướng tới việc tái Thống nhất nước Đức. Cuộc bầu cử tự do ở Đông Đức diễn ra với kết quả là Quốc hội mới tuyên bố giải thể chính quyền và tán thành gia nhập Cộng hòa Liên bang Đức vào năm 1990. Lãnh thổ Đông Đức được tổ chức lại thành 5 bang như trước chiến tranh cùng với việc hợp nhất Berlin, xóa bỏ tình trạng bị cô lập của Tây Berlin. Các bang trên lãnh thổ Đông Đức cũ gia nhập Cộng hòa Liên bang Đức vào ngày 3 tháng 10 năm 1990, nâng số bang từ 10 lên thành 16. Nước Đức thống nhất tiếp tục các chính sách của Cộng hòa Liên bang Đức từ trước năm 1990 và tiếp tục là thành viên của các tổ chức quốc tế như Liên minh châu Âu và NATO. == Tên chính thức == Tên chính thức của Tây Đức được chọn từ năm 1949 và không thay đổi từ đó là Bundesrepublik Deutschland (Cộng hòa Liên bang Đức). Tên gọi này mặc dù chỉ đề cập đến các bang tạo thành từ Trizone (ba vùng chiếm đóng của Anh, Pháp và Mỹ), đã phản ánh tính chất là một tên gọi cho tất cả nước Đức, đặc biệt là bao gồm từ Deutschland (nước Đức). Điều này tương ứng tinh thần của Hiến pháp Tây Đức, the Grundgesetz, cho phép các bang của Đức nằm dưới sự kiểm soát của Đồng Minh gia nhập cộng hòa mới. Mặc dù thuật ngữ Đức có tầm quan trọng trong tên gọi chính thức, vốn mang tính chính trị và tượng trưng to lớn trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh. Cư dân của Cộng hòa Liên bang Đức hầu như chỉ gọi đất nước của mình đơn giản là Đức, gần như là luôn luôn nếu như không cần thiết phải đề cập đến tên chính thức để phân biệt. Từ Tây Đức trong tiếng Đức, Westdeutschland, hầu như không được sử dụng trong ngôn ngữ tại Tây Đức để đề cập đến Tây Đức, nhưng chúng được dùng rộng rãi hơn để đề cập đến Miền Tây Đức, được cho là khu vực Rhine, vốn đã được sử dụng trong một thời gian dài trước chiến tranh. Westdeutsch cũng có thể đề cập đến bang Bắc Rhine-Westphalia: Westdeutscher Rundfunk, Westdeutsche Landesbank, Westdeutsche Allgemeine Zeitung. Tại Đông Đức, thuật ngữ Westdeutschland ((Miền) Tây Đức) hay westdeutsche Bundesrepublik (Cộng hòa Liên bang Tây Đức) được sử dụng rộng rãi hơn, ngay cả trong truyền thông nằm dưới sự kiểm soát của nhà nước. Sự thay đổi này đặc biệt diễn ra khi Đông Đức coi Người Tây Dức và Người Tây Berlin là người nước ngoài theo Hiến pháp Đông Đức năm 1968, hiến pháp đã từ bỏ ý tưởng một nước Đức. Thuật ngữ Cộng hòa Liên bang Đức đã chiếm ưu thế tại Đông Đức bắt đầu từ đầu thập kỷ 1970, khi các nguồn chính thức của Đông Đức coi đây là cách diễn đạt chính thống vào năm 1973, sau đó tất cả các nước thuộc khối Liên Xô và Đông Âu đều chuyển sang cách dùng tên tương ứng. == Lịch sử == Sau Thế chiến II, lãnh đạo các nước Hoa Kỳ, Anh Quốc, và Liên Xô đã tổ chức Hội nghị Yalta để bàn về những dàn xếp cho tương lai của châu Âu thời hậu chiến và thương lượng về các hành động chống lại Nhật Bản. Hội nghị đã đi đến thỏa thuận về chia cắt nước Đức thành 4 khu vực chiếm đóng, Khu vực Pháp chiếm đóng là vùng viễn tây, của Anh là vùng tây bắc, của Hoa Kỳ là vùng phía nam và của Liên Xô là vùng phía đông. Việc này không nhằm mục đích chia cắt nước Đức mà chỉ để định rõ vùng để thuận tiện cho quản lý. Các khu vực nguyên thuộc về Đức ở phía đông của sông Oder và Neisse nằm dưới sự kiểm soát của Ba Lan, và hàng triệu người Đức đã bị trục xuất khỏi đây và được người Ba Lan thay thế. (Liên Xô cũng đã làm điều tương tự trên một phần đất đai rộng lớn tại miền đông Ba Lan và Đông Phổ) Năm 1946–1949, ba vùng sáp nhập theo từng bước. Đầu tiên là các khu vực của Anh và Mỹ kết hợp lại thành Bizonia và hoạt động giống như một nhà nước, vài tháng sau đó khu vực của Pháp đã sáp nhập vào Trizonia. Cùng lúc đó, các bang (Länder) được thành lập trên các khu vực của Đồng Minh thay thế cho các bang trước chiến tranh. Ba bang tây nam của Tây Đức sáp nhập thành Baden-Württemberg vào năm 1952, và Saarland gia nhập Cộng hòa Liên bang Đức vào năm 1957. Ngoài 10 bang được thành lập, Tây Berlin được coi như bang thứ 11 trên thực tế. Mặc dù trên pháp lý Tây Berlin không thuộc Cộng hòa Liên bang Đức và nằm dưới sự kiểm soát của Hội đồng Kiểm soát Đồng Minh, lãnh thổ này đã có một số cơ quan của liên bang hoạt động một cách trực tiếp hay gián tiếp. Năm 1949, với sự gia tăng căng thẳng của Chiến tranh Lạnh (tiêu biểu là Không vận Berlin năm 1948–49), hai nước Đức đã được thành lập trên cơ sở các vùng kiểm soát của Đồng Minh phương Tây và Liên Xô và được gọi phổ biến là Tây Đức và Đông Đức trong tiếng Việt. Từ 3 tháng 10 năm 1990, Đông Đức sáp nhập vào Cộng hòa Liên bang Đức như ngày nay. == Tham khảo ==
đại biểu quốc hội việt nam.txt
Đại biểu Quốc hội Việt Nam là người được cử tri Việt Nam trực tiếp bầu ra theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Các đại biểu được bầu chịu trách nhiệm trước cử tri bầu ra mình và trước cử tri cả nước. Thông qua các đại biểu và thông qua Quốc hội, nhân dân Việt Nam sử dụng quyền lực của mình để định đoạt các vấn đề của đất nước. == Địa vị pháp lý == Địa vị pháp lý của một đại biểu quốc hội được bắt đầu sau khi Quốc hội đã xác nhận tư cách đại biểu tại phiên họp đầu tiên của kỳ thứ nhất mỗi khóa Quốc hội. Nhiệm kỳ của đại biểu quốc hội được tính từ kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa đó đến kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa sau. Trong số các đại biểu quốc hội, có những đại biểu làm việc theo chế độ chuyên trách và có những đại biểu làm việc theo chế độ không chuyên trách. Số lượng đại biểu Quốc hội làm việc theo chế độ chuyên trách do Quốc hội quyết định. == Tiêu chuẩn == Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo luật định phải là công dân Việt Nam, từ đủ 21 tuổi trở lên, có quyền ứng cử, được Mặt trận Tổ quốc Việt Nam qua hiệp thương nhân dân đưa vào danh sách ứng cử đại biểu Quốc hội, có đủ số phiếu cần thiết để trở thành đại biểu Quốc hội trong cuộc tổng tuyển cử, và được Ủy ban thẩm tra tư cách đại biểu Quốc hội xác định là đủ tư cách làm đại biểu Quốc hội. Điều 3 Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội quy định một đại biểu quốc hội phải có những tiêu chuẩn sau đây: Trung thành với Tổ quốc và hiến pháp của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Có phẩm chất đạo đức tốt, cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; kiên quyết đấu tranh, chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng và các hành vi vi phạm pháp luật Có trình độ và năng lực thực hiện nhiệm vụ đại biểu quốc hội, tham gia quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước Liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm Có điều kiện tham gia các hoạt động của Quốc hội. == Nhiệm vụ == Đại biểu quốc hội có nhiệm vụ tham gia các kỳ họp của Quốc hội, tham gia thảo luận và quyết định những vấn đề thuộc nhiệm vụ, quyền hạn như: lập hiến, lập pháp; quyết định chính sách đối nội, đối ngoại, các nhiệm vụ kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước; quyết định những nguyên tắc chủ yếu về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước, về quan hệ xã hội và hoạt động của công dân; giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước. Trong kỳ họp, đại biểu quốc hội có nhiệm vụ tham gia đầy đủ các phiên họp và có quyền: thảo luận và quyết định chương trình kỳ họp; trình dự án luật và biểu quyết thông qua các dự án luật, các nghị quyết của Quốc hội; chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao; tham gia bầu cử và có thể được bầu vào các chức danh Nhà nước, các cơ quan lãnh đạo, các tổ chức của Quốc hội. Trong thời gian giữa hai kỳ họp, đại biểu quốc hội có nhiệm vụ tiếp xúc cử tri ở đơn vị bầu cử của mình, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nhân dân với Quốc hội và các cơ quan Nhà nước, báo cáo kết quả kỳ họp với cử tri, tuyên truyền thực hiện tốt pháp luật. Đại biểu còn có nhiệm vụ chuyển đơn thư khiếu nại tố cáo của nhân dân đến các cơ quan, tổ chức có liên quan, theo dõi và đôn đốc việc giải quyết; tham gia các hoạt động khảo sát, kiểm tra việc thi hành hiến pháp, pháp luật, các nghị quyết của Quốc hội, các văn bản dưới luật, tìm hiểu thực tế ở địa phương hoặc cơ sở để giúp cho việc thảo luận và tham gia quyết định các vấn đề tại kỳ họp của Quốc hội. == Quyền hạn == === Quyền trình dự án luật === Đại biểu quốc hội có trình kiến nghị về luật, pháp lệnh; trình dự án luật, pháp lệnh theo trình tự do pháp luật quy định. === Quyền chất vấn === Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Người bị chất vấn có trách nhiệm trả lời về những vấn đề mà đại biểu Quốc hội chất vấn. Trong thời gian giữa hai kỳ họp, chất vấn được gửi đến Ủy ban thường vụ Quốc hội để chuyển đến cơ quan hoặc người bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất vấn. Tùy theo nội dung và tính chất của chất vấn, Ủy ban thường vụ Quốc hội có thể quyết định người bị chất vấn phải trả lời chất vấn trước Ủy ban thường vụ Quốc hội. Trong trường hợp cần điều tra thì Quốc hội có thể quyết định cho trả lời trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội hoặc tại kỳ họp sau của Quốc hội hoặc cho trả lời bằng văn bản. Trong thời gian giữa hai kỳ họp Quốc hội, chất vấn được gửi đến Uỷ ban thường vụ Quốc hội để chuyển đến cơ quan hoặc người bị chất vấn và quyết định thời hạn trả lời chất vấn. Nếu đại biểu Quốc hội không đồng ý với nội dung trả lời thì có quyền đề nghị Chủ tịch Quốc hội đưa ra thảo luận trước Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội. === Quyền bất khả xâm phạm và miễn tố === Đại biểu quốc hội được pháp luật bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể. Những hành vi cản trở đại biểu quốc hội thực hiện nhiệm vụ sẽ bị xử lý theo pháp luật. Không có sự đồng ý của Quốc hội và trong thời gian Quốc hội không họp, không có sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì không được bắt giam, truy tố đại biểu Quốc hội và không được khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội. Việc đề nghị bắt giam, truy tố, khám xét nơi ở và nơi làm việc của đại biểu Quốc hội thuộc thẩm quyền của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Nếu vì phạm tội quả tang mà đại biểu Quốc hội bị tạm giữ, thì cơ quan tạm giữ phải lập tức báo cáo để Quốc hội hoặc Uỷ ban thường vụ Quốc hội xét và quyết định. Trong trường hợp đại biểu Quốc hội bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định tạm đình chỉ việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của đại biểu Quốc hội đó. Đại biểu Quốc hội bị Toà án kết án thì đương nhiên mất quyền đại biểu Quốc hội, kể từ ngày bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật. Đại biểu Quốc hội không thể bị cơ quan, đơn vị nơi đại biểu làm việc cách chức, buộc thôi việc, nếu không được Uỷ ban thường vụ Quốc hội đồng ý. === Quyền được cung cấp thông tin === Đại biểu quốc hội được cung cấp thông tin liên quan đến hoạt động của Quốc hội và được quyền yêu cầu các cơ quan chức năng cung cấp thông tin phục vụ cho hoạt động của mình. == Bầu cử đại biểu quốc hội == Việc bầu cử đại biểu quốc hội được tiến hành theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. === Quyền bầu cử === Công dân nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ 18 tuổi trở lên có quyền bầu cử, trừ những người mất trí và những người bị tước các quyền đó. === Quyền ứng cử === Công dân Việt Nam có quyền bầu cử, đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử theo các tiêu chuẩn được quy định trong Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội. Quyền ứng cử là quy định của pháp luật về khả năng của công dân thể hiện nguyện vọng của mình được ứng cử làm đại biểu Quốc hội. Công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ hai mươi mốt tuổi trở lên đều có quyền ứng cử. Pháp luật về bầu cử đại biểu Quốc hội còn quy định tiêu chuẩn của đại biểu Quốc hội để cử tri lựa chọn trong số các ứng cử viên bầu ra những người đại diện trong cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất Công dân Việt Nam có quyền bầu cử, đủ 21 tuổi trở lên có quyền ứng cử theo các tiêu chuẩn được quy định trong Luật bầu cử Đại biểu Quốc hội. === Các tổ chức bầu cử === Để phụ trách công tác bầu cử, các tổ chức bầu cử sau đây đã được thành lập: Ở cấp trung ương: Hội đồng bầu cử Ở cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương: Ủy ban bầu cử Đơn vị bầu cử: Ban bầu cử Ở khu vực bỏ phiếu: Tổ bầu cử == Nhiệm kỳ hoạt động == Nhiệm kỳ của đại biểu mỗi khóa Quốc hội bắt đầu từ kỳ họp thứ nhất của khóa Quốc hội đó đến kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khoá sau. Đại biểu Quốc hội chịu trách nhiệm trước cử tri, đồng thời chịu trách nhiệm trước Quốc hội về việc thực hiện nhiệm vụ đại biểu của mình. Đại biểu Quốc hội không còn xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì tuỳ mức độ phạm sai lầm mà bị Quốc hội hoặc cử tri bãi nhiệm. Uỷ ban thường vụ Quốc hội quyết định việc đưa ra Quốc hội bãi nhiệm hoặc cử tri nơi bầu ra đại biểu bãi nhiệm đại biểu Quốc hội theo đề nghị của Uỷ ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc của cử tri nơi bầu ra đại biểu Quốc hội đó. Trong trường hợp Quốc hội bãi nhiệm đại biểu Quốc hội thì việc bãi nhiệm phải được ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. == Đoàn đại biểu quốc hội == Các đại biểu quốc hội được bầu trong một tỉnh hoặc thành phố trực thuộc Trung ương hợp thành Đoàn Đại biểu Quốc hội. Đoàn Đại biểu Quốc hội có Trưởng đoàn, có thể có Phó trưởng đoàn để tổ chức hoạt động của đoàn, giữ mối liên hệ với Chủ tịch Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và các cơ quan tổ chức khác ở địa phương về các vấn đề liên quan đến hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn Đại biểu Quốc hội. Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và thư ký Đoàn Đại biểu Quốc hội là bộ phận giúp việc cho Đoàn Đại biểu Quốc hội. Trước khi có Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội thì có chức danh Thư ký đoàn làm các công việc phục vụ Đoàn nhưng từ khi có Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội thì không còn chức danh thư ký nữa. Tổ chức Văn phòng Đoàn hiện nay (đến năm 2007) có 2 dạng sau: - Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội (độc lập) - Văn phòng Hội đồng nhân dân và Đoàn đại biểu Quốc hội - (Văn phòng chung. Văn phòng Hội đồng nhân dân cấp tỉnh) == Nhận xét và ý kiến == "Hiện nay, đại biểu Quốc hội chỉ là ông bưu điện, bởi chỉ nhận đơn khiếu kiện của người dân rồi chuyển đến các cơ quan nhà nước yêu cầu trả lời...(...)... Việc giám sát của Quốc hội, đại biểu Quốc hội, HĐND trong thực hiện luật khiếu nại, tố cáo cũng có gì đó không ổn. Giám sát trùng trùng điệp điệp nhưng hiệu quả không cao" - Lê Quang Bình, Chủ nhiệm UB Quốc phòng và An ninh của Quốc hội == Chú thích == == Liên kết ngoài == Đại biểu Quốc hội Đại biểu Quốc hội các khóa
khúc côn cầu trên băng.txt
Khúc côn cầu trên băng là một môn thể thao đồng đội chơi trên băng, trong đó người tham gia sử dụng cây gậy trượt ván của mình để đánh bóng vào lưới đối phương. Đó là một môn thể thao vận động với tốc độ di chuyển nhanh. Khúc côn cầu trên băng phổ biến nhất trong các khu vực đủ lạnh để tạo thành lớp băng theo mùa với độ cứng an toàn một cách tự nhiên, như ở nước Canada, Cộng hòa Séc, Latvia, Scandinavia, Phần Lan, Nga, Slovakia, Slovenia, Đức, Áo, Thụy Sĩ và khu vực nằm ở vĩ độ phía Bắc của Hoa Kỳ. Với sự ra đời của sân băng nhân tạo trong nhà, Khúc côn cầu trên băng đã trở thành một trò tiêu khiển quanh năm trong các vùng này. Ở Bắc Mỹ, giải Liên đoàn Khúc côn cầu Quốc gia (National Hockey League) là giải cao nhất dành cho nam. Cả giải Liên đoàn Khúc côn cầu Phụ nữ Canada (Canadian Women's Hockey League) và giải Liên đoàn Khúc côn cầu Phụ nữ phương Tây (Western Women's Hockey League) là giải cao nhất dành cho phái nữ. Đây là môn thể thao mùa đông quốc gia chính thức của Canada, tại quốc gia này khúc côn cầu trên băng rất được ưa chuộng và phổ biến. Có tổng cộng 68 thành viên trong Liên đoàn Khúc côn cầu Quốc tế (International Ice Hockey Federation), tuy nhiên 162 trong tổng số 177 huy chương tại Giải vô địch Thế giới Liên đoàn Khúc côn cầu Quốc tế thuộc về bảy quốc gia: Canada, Cộng hòa Séc, Phần Lan, Nga, Slovakia, Thụy Điển và Hoa Kỳ. Trong số 64 huy chương được trao trong cuộc thi của nam giới ở Thế vận hội từ năm 1920 trở về sau, chỉ có sáu huy chương không thuộc về một trong bảy nước trên. Tất cả 12 huy chương Thế vận hội và 36 huy chương Giải vô địch Phụ nữ Thế giới Liên đoàn Khúc côn cầu Quốc tế đều thuộc về một trong bảy quốc gia, và mỗi huy chương vàng trong cả hai cuộc thi đều do Canada hoặc Hoa Kỳ đem về. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == SIHR – Nguồn gốc khúc côn cầu (tiếng Anh)
chiến tranh thế giới thứ nhất.txt
Chiến tranh thế giới thứ nhất, còn được gọi là Đại chiến thế giới lần thứ nhất, Đệ nhất thế chiến hay Thế chiến 1, diễn ra tư 28 tháng 6 năm 1914 đến 11 tháng 11 năm 1918, là một trong những cuộc chiến tranh quyết liệt, quy mô to lớn nhất trong lịch sử nhân loại; về quy mô và sự khốc liệt nó chỉ đứng sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Cuộc chiến tranh này là một trong những sự kiện lịch sử có ảnh hưởng lớn nhất trong lịch sử thế giới. Đây là cuộc chiến tranh có chiến trường chính bao trùm khắp châu Âu và ảnh hưởng ra toàn thế giới, lôi kéo tất cả các cường quốc châu Âu và Bắc Mỹ vào vòng chiến với số người chết trên 19 triệu người với sức tàn phá và ảnh hưởng về vật chất tinh thần cho nhân loại rất sâu sắc và lâu dài. Khác với các cuộc chiến tranh trước đó, người Âu châu phải chiến đấu cả trên chiến trường lẫn ở hậu phương. Phụ nữ phải làm việc thay nam giới, đồng thời sự phát triển của kỹ nghệ cũng có ảnh hưởng đến tính chất chiến tranh; có thể thấy sự hiệu quả của xe tăng trong chiến đấu kể từ cuộc Đại chiến này. Chiến tranh chiến hào gắn liền với cuộc Đại chiến thế giới lần thứ nhất trong thời gian đầu của nó. Đây là cuộc chiến giữa phe Hiệp Ước (chủ yếu là Anh, Pháp, Nga, và sau đó là Hoa Kỳ, Brasil) và phe Liên Minh (chủ yếu là Đức, Áo-Hung, Bulgaria và Ottoman). Cuộc Đại chiến mở đầu với sự kiện Hoàng thái tử Áo-Hung bị ám sát, dẫn đến việc người Áo - Hung tuyên chiến với Serbia. Sự kiện này được nối tiếp bởi việc Hoàng đế Đức là Wilhelm II truyền lệnh cho các tướng xua quân tấn công Bỉ, Luxembourg, và Pháp, theo kế hoạch schlieffen. Hơn 70 triệu quân nhân được huy động ra trận tiền, trong số đó có 60 triệu người Âu châu, trong một trong những cuộc chiến tranh lớn nhất trong sử sách. Trong cuộc chiến tranh kinh hoàng này, Pháp là nước chịu tổn thất nặng nề hơn cả và hoàn toàn bị khánh kiệt, dẫn tới đại bại của bọn họ trong các cuộc chiến tranh về sau. Những trận đánh khốc liệt nhất trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất cũng diễn ra trên đất Pháp. Một trận đánh đáng nhớ của cuộc Đại chiến là tại Verdun cùng năm đó, khi quân Đức tấn công thành cổ Verdun của Pháp, nhưng không thành công. Song, trận chiến đẫm máu nhất là tại sông Somme (1916), khi liên quân Anh - Pháp đánh bất phân thắng bại với quân Đức. Tất cả những Đế quốc quân chủ đều sụp đổ trong cuộc chiến tranh này, nó tạo điều kiện cho đảng Bolshevik lên nắm quyền tại nước Nga, và mở đường cho Adolf Hitler lên nắm quyền tại Đức. Tuy nước Đức thua cuộc nhưng về thương mại và công nghiệp họ không bị tổn hại gì lớn (ít ra còn hơn hẳn Pháp), vì thế về những mặt này họ đã chiến thắng cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Không có một nước châu Âu nào thật sự chiến thắng cuộc chiến tranh này, tất cả đều chịu tổn hại nặng nề về người và của. Sau chiến tranh, châu Âu lâm vào tình trạng khủng hoảng và những cao trào dân tộc chủ nghĩa trỗi dậy ở các nước bại trận. Điển hình là ở Thổ Nhĩ Kỳ, bão táp phong trào Cách mạng Giải phóng Dân tộc rầm rộ, đưa dân tộc này dần dần hồi phục, và buộc phe Entente phải xóa bỏ những điều khoản khắc nghiệt sau khi cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất chấm dứt. Nước duy nhất không bị tàn phá mà còn thu được lợi nhuận lớn từ cuộc chiến này là Hoa Kỳ, nó đã tạo điều kiện cho nước này vượt trên các nước châu Âu về kinh tế kể từ sau cuộc chiến. Trước đây ở các nước nói tiếng Anh dùng từ "Đại chiến" (Great War). Vài thập kỷ sau, tên gọi Chiến tranh thế giới lần thứ nhất (World War I) mới được áp dụng để phân biệt với cuộc Chiến tranh thế giới thứ hai. Đương thời, nó còn được gọi với cái tên "Cuộc chiến tranh chấm dứt mọi cuộc chiến tranh" (The war to end all wars) bới quy mô và sự tàn phá khủng khiếp nó gây ra. Chính những vấn đề liên quan tới Hiệp định Versailles (1918) đã khiến cho cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ. == Mục đích == Đây là một cuộc chiến để lập lại trật tự thế giới mới, nó làm sụp đổ bốn đế chế hùng mạnh của châu Âu và thế giới lúc đó là Đế quốc Nga, Đế chế Đức, Đế quốc Áo-Hung và Đế quốc Ottoman, làm thay đổi sâu sắc bộ mặt của châu Âu và thế giới. Tuy nhiên mặc dù là cuộc chiến đẫm máu và khốc liệt như vậy nhưng cuộc chiến này đã không giải quyết được các mâu thuẫn gốc rễ và "thế giới mới" mà nó tạo ra còn đặt châu Âu và thế giới trước các vấn đề và mâu thuẫn khác còn trầm trọng hơn như phát sinh nhà nước theo chủ nghĩa cộng sản tại Nga, chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa phát xít tại Ý, Đức và Nhật, sự chia cắt, xâm phạm quyền tự quyết của các dân tộc... Những vấn đề đó sẽ dẫn đến bùng nổ Chiến tranh thế giới thứ hai. Đó là lý do một số nhà nghiên cứu cho rằng Chiến tranh thế giới thứ hai chỉ là sự nối tiếp của Chiến tranh thế giới thứ nhất sau gần 20 năm tạm nghỉ lấy sức. Chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra giữa hai khối liên minh quân sự được hình thành sau thế kỷ 19: một bên là liên minh ba đế quốc Anh - Pháp - Nga, hay được gọi là khối Hiệp ước Entente ba bên (trong tiếng Pháp entente có nghĩa là sự đồng thuận, hiệp ước) sau này còn thêm Hoa Kỳ và một số nước khác tham gia; bên kia là phe Liên minh Trung tâm (Central Powers, hay còn gọi là Liên minh ba nước) gồm Đức, Áo – Hung và Ý. Tuy nhiên sau đó Ý chiến đấu bên phía Entente ba bên nhưng Liên minh Trung tâm lại có thêm đồng minh là Đế quốc Ottoman và Bulgaria. Trong khi vai trò của các đồng minh chính trong Entente ba bên khá đồng đều trong việc gánh vác sức nặng chiến tranh thì ở bên phía Liên minh Trung tâm vai trò các đồng minh chính là mờ nhạt hơn, chỉ Đức có vai trò trụ cột vì thực tế mâu thuẫn chủ yếu gây nên chiến tranh là gắn liền với tham vọng chính trị kinh tế của đế quốc Đức lúc đó. Lúc bấy giờ, hai cường quốc quân sự hùng mạnh nhất của châu Âu là Đức và Anh. == Quy mô, tính chất == Về khía cạnh chính trị – quân sự đây là lần đầu tiên thế giới biết đến một kiểu chiến tranh tổng lực, chiến tranh toàn diện. Chiến tranh diễn ra không những ác liệt trên bộ, trên không, trên biển mà các bên thực hiện bao vây bóp nghẹt kinh tế của nhau, đánh vào ý chí và bản lĩnh chịu đựng của dân tộc, thử thách tiềm lực kinh tế và sức mạnh tinh thần của đối phương. Các cường quốc như Đế quốc Nga và đặc biệt là Đế quốc Đức đã thất bại và sụp đổ khi quân đội của họ còn đang trên đất đối phương, khi quân địch còn chưa xâm phạm lãnh thổ của mình, mà họ đã thua trận vì xã hội kiệt sức không thể kham nổi chiến tranh – một kiểu chiến tranh tiêu hao với cường độ cực cao. Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra theo một kiểu chiến lược chiến tranh hiện đại. Trước đây châu Âu đã từng có các cuộc chiến theo liên minh nhiều nước như Chiến tranh Kế vị Tây Ban Nha, Chiến tranh Kế vị Áo, Chiến tranh Bảy năm, Chiến tranh Napoléon, v.v... Nhưng những cuộc chiến đó có kết quả chiến tranh phụ thuộc vào một hoặc vài trận đánh lớn có tính quyết định diễn ra trong 1–2 ngày tại một điểm quyết chiến hoặc một vài chiến dịch trong vài tuần hoặc một vài tháng, các hoạt động chiến sự xen kẽ với hoà bình. Kết cục chiến tranh không triệt để: thua trận thì ký hoà ước nhượng bộ, chờ vài năm hồi phục tiềm lực rồi lại tham chiến tiếp (điển hình như các cuộc chiến thời Napoléon I). Các cuộc chiến đó phụ thuộc rất nhiều, nếu không nói là phần lớn, vào tài thao lược của nhà cầm quân. Còn từ nay, kể từ Thế chiến I, lần đầu tiên nhân loại chứng kiến một kiểu chiến tranh lâu dài, quy mô, huỷ diệt. Chiến sự dàn trải trên khắp chiến trường, khắp cả châu lục. Vai trò cá nhân của thống soái trong chiến tranh bị hạn chế mà tiềm lực kinh tế và ý chí, sức mạnh tinh thần của quốc gia nổi lên là yếu tố quyết định. Trên chiến trường về khía cạnh thuần tuý quân sự đây là một cuộc chiến tranh đã có các đặc trưng hiện đại: quân đội là quân đội đông đảo. Lần đầu tiên trên thế giới chiến tranh theo chiến thuật đội hình tản mát không còn các khối quân lực xếp hàng tấn công và phòng thủ theo đội hình ô vuông dày đặc rất đặc trưng của mọi cuộc chiến tranh trước đây. Cuộc chiến tranh này đặc trưng áp đảo bởi hình thức chiến tranh trận địa mà điển hình nhất là hệ thống chiến hào trở thành phương tiện phòng thủ chính yếu, thành quách pháo đài đã không còn vai trò phòng ngự quan trọng nữa. Các bên phòng thủ trong chiến hào với hệ thống ụ súng máy, dây thép gai, bãi mìn và trận địa pháo dày đặc với chiến tuyến ngăn đôi giữa hai phía đối địch. Chiến tranh trận địa hay chiến tranh chiến hào ở thời kỳ đó thường có tính chất là rất khó tấn công và rất dễ phòng thủ nên chiến tranh có diễn biến chậm chạp ít năng động ít có các chiến thắng quân sự dứt khoát. Kết cục chiến tranh phụ thuộc vào sự chịu đựng dẻo dai của các bên đối kháng đối với gánh nặng chiến tranh tiêu hao tổng lực. Trong lực lượng Hiệp Ước, Anh-Pháp và Nga chia sẻ gánh nặng chiến tranh tương đối đồng đều trong khi phe Liên Minh chỉ có thể trông cậy vào nước Đức là chủ yếu. == Nguyên nhân, bản chất chiến tranh == === Nguyên nhân trực tiếp === Xem bài chính: Vụ ám sát thái tử Áo-Hung. Sự việc Đại công tước (tiếng Đức: Erzherzog, tiếng Anh: Archduke) Franz Ferdinand của Áo – Hung bị một phần tử dân tộc chủ nghĩa người Serbia tên là Gavrilo Princip ám sát tại Sarajevo vào ngày 28 tháng 6 năm 1914 được coi là khởi nguồn của cuộc thế chiến này, nhưng thực ra đó chỉ là "giọt nước tràn ly". Chiến tranh là "phải nổ ra" do mâu thuẫn giữa các quốc gia của các bên đã chín muồi và các bên tham chiến từ lâu đã chuẩn bị chiến tranh để giải quyết các mâu thuẫn đối kháng với nhau và phân chia lại thế giới. Nguyên nhân và bản chất của chiến tranh này là rất phức tạp, đa diện, nhưng có thể được tổng kết như sau: ==== Chủ nghĩa đế quốc và sự tranh giành thuộc địa ==== Lenin và những người Bolshevik, cùng một phần lớn những người xã hội chủ nghĩa của châu Âu phân tích có cơ sở rằng chiến tranh là mâu thuẫn của sự phát triển của các nước chủ nghĩa đế quốc cầm đầu ở châu Âu và chiến tranh có tính chất chiến tranh đế quốc: đó là cuộc chiến nhằm tranh giành, phân chia lại thuộc địa giữa các nước đế quốc, là cuộc chiến tranh phi nghĩa đối với tất cả các phe tham chiến. Nguyên nhân theo phân tích của Lenin: sự lớn mạnh của Đế quốc Đức sau Chiến tranh Pháp-Phổ đã đẩy mạnh những tham vọng chiếm lĩnh thuộc địa và chia lại thị trường thế giới của nước này, nhưng tham vọng này gặp phải sự phản kháng của các nước "đế quốc già" là Anh Quốc, Pháp và Nga. Các "đế quốc già" này về cơ bản đã chiếm lĩnh những thuộc địa bao la khắp thế giới và muốn duy trì quyền thống trị của mình, không muốn "chia phần" cho những thế lực mới nổi như Đức. Đế quốc Áo–Hung và Đế quốc Ottoman từ lâu đã suy yếu không còn đủ "tư cách" và vai trò để có ảnh hưởng trong khu vực Trung Âu, Balkan và Kavkaz. Các cường quốc khác can thiệp vào khu vực đó để tranh giành ảnh hưởng với nhau... Sự mâu thuẫn mang tính chất đế quốc chủ nghĩa đòi hỏi một cuộc "chém giết lớn" để phân ngôi thứ và lập lại trật tự thế giới có lợi cho kẻ thắng trên cơ sở chiếm lấy thuộc địa của kẻ thua. Trong cuộc chạy đua giành giật thuộc địa, Đức là nước hiếu chiến nhất, lại ít thuộc địa. Đức đã cùng Áo - Hung, Italia thành lập “phe Liên Minh” vào năm 1882 để chuẩn bị chiến tranh chia lại thế giới. Để đối phó, Anh đã ký với Nga và Pháp những Hiệp ước tay đôi hình thành phe Hiệp ước (đầu thế kỉ 20). Từ đó, ở châu Âu đã hình thành 2 khối quân sự đối đầu nhau. Hai bên ra sức chạy đua vũ trang, chuẩn bị cho chiến tranh. Một cuộc chiến tranh đế quốc nhằm phân chia thuộc địa trên thế giới không thể tránh khỏi. Mặt khác, việc phát động chiến tranh của các nước đế quốc còn nhằm đối phó với những bất ổn trong nội bộ quốc gia. Đầu thế kỷ 20, phần lớn giai cấp lao động ở các nước bị bóc lột nặng nề, đời sống rất khốn khó (công nhân thường xuyên phải làm việc 12 giờ/ngày, đồng lương lại thấp, việc sa thải diễn ra bừa bãi, trẻ em 12 tuổi đã phải đi làm công nhân phụ giúp cha mẹ...). Sự áp bức đó tạo ra mâu thuẫn gay gắt giữa người lao động với chủ tư bản, nhiều quốc gia đã tiềm ẩn phong trào cách mạng (đặc biệt là ở Nga, Đức và Áo-Hung). Việc phát động chiến tranh sẽ kích thích tinh thần ái quốc của người dân, làm họ quên đi các vấn đề trong nước và xoa dịu mâu thuẫn trong lòng các nước đế quốc. ==== Liên minh quân sự, chạy đua vũ trang, quân phiệt ==== Một nhóm nguyên nhân khác cũng được các nhà nghiên cứu chỉ ra là hệ thống các liên minh quân sự, sự chạy đua vũ trang và chủ nghĩa quân phiệt của các đế chế: Liên minh quân sự theo khối: Trong các mâu thuẫn và tương đồng quyền lợi, các quốc gia tìm kiếm lôi kéo thành lập các hiệp ước liên minh quân sự để tăng cường thế lực, bành trướng ảnh hưởng. Việc này làm cho tình hình thế giới càng trở nên cực kỳ căng thẳng vì bất cứ một xung đột quốc gia nào đều có thể trở thành xung đột quốc tế, điều này là rất điển hình cho Thế chiến I. Và thực tế cho thấy từ một sự kiện ám sát có tính dân tộc trong một Đế chế Áo – Hung, mâu thuẫn đã được cộng hưởng, khuếch đại và trở thành chiến tranh thế giới. Chạy đua vũ trang: điển hình là trước thế chiến Anh Quốc cho hạ thuỷ lớp chiến diệt hạm Dreadnought với các tính năng chiến đấu cách mạng trên biển, tạo nên chạy đua vũ trang quyết liệt giữa Anh Quốc và Đức. Việc các quốc gia chạy đua vũ trang để duy trì và giành ưu thế quân sự trên bộ và trên biển dẫn đến sự phản ứng tương ứng của phía đối địch. Kết quả là cả hai phe đều cảm thấy bị đe doạ từ phía bên kia và lại càng chạy đua vũ trang và lại bị đe doạ ở mức độ mới cao hơn. Đây cũng là một nguyên nhân gây nên chiến tranh. Chủ nghĩa quân phiệt: tại các quốc gia quân chủ chuyên chế như Đế quốc Nga, Đế chế Đức, Đế quốc Áo – Hung và Đế quốc Ottoman và cả ở các quốc gia khác thì tầng lớp quân nhân, tướng lĩnh có một thế lực và ảnh hưởng rất lớn. Họ không hề bị kiểm soát bởi các thiết chế dân chủ, lại rất gần gũi Hoàng đế và luôn có xu hướng hiếu chiến và tinh thần ái quốc mãnh liệt của chủ nghĩa Sôvanh (chauvinism). ==== Chủ nghĩa dân tộc ==== Sau thế kỷ 19 tại châu Âu khi những giá trị tự do cá nhân và quyền tự quyết của cá nhân được nhận thức thì hiển nhiên nhận thức về quyền dân tộc tự quyết của các dân tộc đang bị điều khiển bởi các dân tộc cường quốc sẽ trỗi dậy và gặp phải sự ngăn trở của các dân tộc khác. Sự thức tỉnh tình cảm dân tộc thường đi kèm với chủ nghĩa xô-vanh và trên con đường tìm vị thế của mình các dân tộc nhỏ thường tìm sự bảo trợ của các đồng minh lớn để chống lại các kẻ thù cận kề. Điều đó dẫn đến các xung đột được tích luỹ và chiến tranh là cách giải toả cuối cùng. Chủ nghĩa dân tộc là nguyên nhân chính của vụ ám sát hoàng tử Áo-Hung tại Bosnia. Đế quốc Nga và Đế chế Ottoman đã đi đến chiến tranh tại Balkan năm 1878. Sau cuộc chiến, Nga có ảnh hưởng lớn ở Balkan. Áo-Hung lại điều khiển chính phủ ở Bosnia và năm 1908 thì gạt Thổ Nhĩ Kỳ ra khỏi đây, nắm toàn bộ ảnh hưởng ở Bosnia. Nga vận động các nước còn lại trên bán đảo Balkan lập ra Liên minh Balkan hi vọng khối này sẽ đẩy lùi Áo-Hung. Nhưng do những mâu thuẫn trước kia đối với Đế chế Ottoman, khối này đã không chống lại Áo-Hung mà gây Chiến tranh Balkan lần thứ nhất năm 1912-1913 với Thổ Nhĩ Kỳ. Song do sự phân chia quyền lợi không đều, Chiến tranh Balkan lần thứ hai năm 1913 lại bùng phát, và Bulgaria là nước bại trận. Đến năm 1914, Thổ Nhĩ Kỳ gần như chỉ có một ít ảnh hưởng ở bán đảo này, chủ yếu ở Albania. Áo-Hung lại trở thành kẻ thù lớn của Liên minh Balkan. Serbia, nước theo chủ nghĩa dân tộc mạnh mẽ nhất tại Balkan lúc này đã vận động chủ nghĩa dân tộc Bosnia là nước có chung đường biên giới với Serbia để đánh đuổi Áo-Hung ra khỏi Balkan. Một phần tử được trợ giúp bởi tổ chức dân tộc Bàn tay đen của Serbia đã ám sát hoàng tử Áo-Hung vào 28 tháng 6 năm 1914. Sau đó, Áo-Hung đe dọa Serbia và một tháng sau, Áo-Hung tuyên bố chiến tranh với Serbia vào ngày 28 tháng 7 năm 1914. ==== Chiến tranh là tất yếu? ==== Trong các học giả thế giới khi đề cập nguyên nhân chiến tranh có xuất hiện câu hỏi: Liệu có thể tránh được cuộc chiến tranh này không? Với những nguyên nhân khách quan và chủ quan như vậy thì ở tầm quốc tế và lịch sử nhân loại có thể nói: với trình độ giác ngộ chính trị của nhân loại vào đầu thế kỷ 20, khi tư duy chính trị vẫn là tư duy nước lớn, tư duy đế quốc chủ nghĩa, khi cách tiếp cận các vấn đề quốc tế luôn theo nguyên tắc "tối đa quyền lợi cho mình, tối thiểu cho đối phương" thì Chiến tranh thế giới thứ nhất là "phải xảy ra và không thể tránh được". Cuộc chiến này sẽ cùng với Chiến tranh thế giới thứ hai sẽ tập cho nhân loại phải suy nghĩ theo kiểu tư duy mới là "cùng tồn tại hoà bình, các bên cùng có lợi". Để nhận thức được như vậy nhân loại phải trả giá gần trăm triệu mạng người trong hai cuộc đại chiến và các cuộc chiến khác trong thế kỷ 20. Đó là bài học chính trị quý giá nhất của đại chiến mà nhiều khi nơi này hay nơi khác bài học đó vẫn còn bị "lãng quên". === Các quan tâm quyền lợi === ==== Các nước tham chiến ==== Anh: Chặn đứng tham vọng tranh giành thuộc địa, chia lại thị trường của Đế chế Đức. Ngăn cản ảnh hưởng của nước này, cố gắng giới hạn Đức trong phạm vi châu Âu không để nước này thành cường quốc đại dương đe dọa quyền lợi thương mại thuộc địa của mình. Hạ cấp Đế quốc Ottoman và Đế quốc Áo - Hung xuống thành những cường quốc hạng hai để chiếm lĩnh quyền lợi tại khu vực Trung Cận Đông rất nhiều dầu mỏ. Pháp: Cũng giống như Anh nhưng ngoài ra còn để phục thù Chiến tranh Pháp – Phổ (1871) quyết giành lại hai tỉnh Alsace và Lorraine từ Đức. Hạ bậc Đế quốc Đức để trừ mối hoạ sau này (sau chiến tranh phía Pháp đề nghị trong Hội nghị Versailles một hình thức bồi thường chiến phí khủng khiếp để Đức không bao giờ ngóc đầu dậy được). Nga: Loại bỏ sự can thiệp và ảnh hưởng của Đức tại Ba Lan, Ukraina và vùng Baltic, loại bỏ sự cản trở của Đế quốc Ottoman khỏi các vùng Kavkaz và Balkans và loại bỏ sự xuất hiện của Áo-Hung tại Balkan. Xâm chiếm các vùng ảnh hưởng của Ottoman và Áo-Hung. Đức: Thoát khỏi sự kiềm tỏa của Anh-Pháp, đòi hỏi một thị trường, thuộc địa tương xứng với tiềm lực cường quốc thế giới của mình. Mở rộng vùng ảnh hưởng của mình về phía Đông tại Ba Lan, Ukraina, Baltic, sau đó là Phần Lan. Áo – Hung: Nỗ lực cuối cùng chứng tỏ mình còn là một cường quốc, cố giữ lại những gì còn giữ được trước sự nhòm ngó của các cường quốc khác. Hai địch thủ trước mắt của Áo – Hung là Nga và Ý. Ý: Một cường quốc đang lên nhưng chưa định hình, muốn có một vai trò và tiếng nói lớn hơn ở châu Âu và đặc biệt tại Balkans. Trở lực chính của nước này đầu tiên là Anh sau đó định hướng lại chĩa mũi nhọn đấu tranh vào Áo – Hung. Ottoman: Đây là một đế chế lâu đời và lạc hậu ở Trung Cận Đông bị Anh, Pháp, Nga chèn ép ở Cận Đông (Anh, Pháp) và tại Kavkaz và Balkans (Nga). Đây là nỗ lực cuối cùng để duy trì đế chế. Nhật Bản: Cũng là một cường quốc đang lên. Sau chiến tranh Nga-Nhật, Nhật Bản trở thành cường quốc và có tham vọng được xâm chiếm cả Trung Quốc, gây ảnh hưởng ở Đông Nam Á. Sau khi ký kết Hiệp ước Anh-Nhật năm 1902, Nhật Bản chĩa súng vào Đức và Áo-Hung. Ngoài ra các đế quốc quân chủ Nga, Đức, Ottoman, Áo-Hung, Nhật Bản muốn dùng chiến thắng trong chiến tranh với tinh thần yêu nước dâng cao để trì hoãn cải cách dân chủ, xã hội trong nước. ==== Các nước đồng tham chiến khác ==== Hoa Kỳ: Giống như Ý và Nhật, Hoa Kỳ cũng là một cường quốc đang nổi. Hoa Kỳ muốn có ảnh hưởng lớn hơn trên thế giới, và yêu cầu các nước tôn trọng quyền lợi của Hoa Kỳ trên toàn cầu, trong đó có cả châu Âu, châu Á và châu Phi. Đức và Anh không ủng hộ lắm về việc này. Đến cuối năm 1917, nhận thấy nếu Đức thắng lợi thì các quyền lợi của Hoa Kỳ ở châu Âu sẽ bị đe dọa, nước này quyết định tham chiến cùng Anh và Pháp. Brazil: Từng là một đế quốc, song Brazil vẫn không từ bỏ tham vọng được gây ảnh hưởng trên thế giới. Brazil đã có ý định can thiệp vào chiến tranh từ năm 1914, nhưng phải chờ khi Hoa Kỳ tuyên chiến, thì Brazil mới vào cuộc. Romania: Là một quốc gia được Nga giải phóng khổi ách cai trị của người Thổ, Romania có tham vọng được tham chiến cùng Nga trong chiến tranh. Romania muốn có ảnh hưởng ở vùng Transilvania vốn đang bị kiểm soát bởi Áo-Hung và gây ảnh hưởng lên các nước Balkan khác. Romania còn muốn giành lấy vùng Wallachia khỏi tay người Áo-Hung. Bulgaria: Là nước mạnh nhất vùng Balkan. Bulgaria nung nấu tham vọng phục thù sau chiến tranh Balkan lần 2 bằng việc đòi lại quyền lợi ở Macedonia và bán đảo Tiểu Á. Hy Lạp: Muốn chiếm lại những vùng đất đã mất dưới tay người Thổ. Chiếm đảo Síp và chiếm lại cố đô Constantinople. Bồ Đào Nha: Theo Anh, không muốn chia thị trường cho Đức. Bỉ: Giống Anh nhưng do ít thuộc địa, nên chấp nhận trung lập. Song sau khi Đức xâm lược Bỉ, nên Bỉ tuyên chiến. Ngoài ra Bỉ còn muốn giành lấy phần còn lại của vùng Wallonie khỏi tay người Đức. Serbia: Là nước mang nặng chủ nghĩa dân tộc nhất vùng Balkan. Serbia muốn chiếm toàn bộ Balkan, chủ yếu là Bosnia, Croatia và Slovenia khỏi tay Áo-Hung. ==== Các nước trung lập có liên quan ==== Tây Ban Nha: Là một cựu đế quốc đã suy yếu và khủng hoảng trầm trọng, thậm chí nặng hơn Nga, Tây Ban Nha đã vậy còn thua trận trong chiến tranh với Hoa Kỳ. Khi cận kề chiến tranh, vua Alfonso XIII đã quyết định trung lập. Tuy vậy, Tây Ban Nha dường như khá ủng hộ Đức để phục thù Anh và Hoa Kỳ, những nước có mâu thuẫn gay gắt với Tây Ban Nha trong lịch sử. México: Là quốc gia có biên giới chung với Hoa Kỳ. Sau chiến tranh Hoa Kỳ-México, México đã bị Hoa Kỳ cướp mất một phần lãnh thổ lớn ở phía Bắc mà ngày nay đã sáp nhập vào Hoa Kỳ. México có tham vọng trả thù Hoa Kỳ nên đã dẫn đến xung đột. Tuy nhiên, cuộc Cách mạng Mexico đã khiến Mexico lục đục, dẫn đến hai phe phái thân Mỹ-Anh và thân Đức, trong đó, Pancho Villa, một người theo chủ nghĩa dân tộc, đã ủng hộ Đức chống lại Hoa Kỳ trong khi phe chính phủ của Porfirio Díaz và sau đó là Victoriano Huerta thì ủng hộ Anh-Mỹ. Hà Lan: Là một đế quốc già và ốm yếu, nhưng Hà Lan đã tránh xung đột thành công với Đức và sau đó là Anh. Khi gần xảy ra xung đột giữa Anh và Đức, Hà Lan, bất chấp được Anh mời chào, vẫn tuyên bố trung lập. Thụy Điển: Giống Brazil, Thụy Điển là một cựu đế quốc, song lại thiếu tham vọng. Tuy nhiên, khi gần chiến tranh, Thụy Điển cũng tuyên bố trung lập, song thái độ của Thụy Điển, cùng với Tây Ban Nha, lại khá ủng hộ Đức vì một lý do: thù địch dai dẳng với Nga trong lịch sử, chủ yếu về lãnh thổ Phần Lan. Thụy Điển đã cho các tàu chiến và tàu ngầm Đức đóng quân tại các căn cứ hải quân của Thụy Điển. Đan Mạch: Khi còn mang tên Phổ, Phổ đã đưa quân tấn công Đan Mạch và thắng lớn trong chiến tranh Schleswig. Từ đó, Đan Mạch liên tục thù hằn Phổ và sau đó là Đức, nên tuy tuyên bố trung lập, song Đan Mạch vẫn ngầm ủng hộ Anh. Thêm nữa là xích mích với Thụy Điển cũng khiến Đan Mạch thêm thù địch với Đức. Na Uy: Là một vương quốc độc lập nhưng lệ thuộc Thụy Điển, Na Uy tỏ ra ủng hộ Thụy Điển hơn so với các nước khác. Khi xảy ra nguy cơ chiến tranh, Na Uy và Thụy Điển tuyên bố trung lập, nhưng ủng hộ Đức. Ba Tư: Ba Tư, dưới sự lãnh đạo của triều đại Pahlavi, đã liên tục bị châu Âu chèn ép. Tuy nhiên, triều đình ở đây lại bị chính phủ Thụy Điển, một nước thân Đức, khống chế. Ba Tư muốn đòi lại quyền lợi chính đáng, song do bị Thụy Điển kiểm soát nên liên tục gặp khó khăn. == Diễn biến == Chiến tranh thế giới thứ nhất diễn ra chủ yếu trên 3 chiến trường chính: Mặt trận phía Tây, Mặt trận phía Đông và Mặt trận phía Nam. Trong đó mặt trận phía Tây giữa liên quân Pháp – Anh chống lại quân Đức có vai trò chính yếu quyết định số phận chiến tranh vì ở đây tập trung binh lực lớn nhất có chất lượng cao nhất của cả hai phía. Mặt trận phía Đông là chiến trường giữa quân Nga chống Đức và Áo – Hung, mặt trận này có quy mô và tầm quan trọng không bằng mặt trận phía Tây và quân Nga thường thất bại trước quân Đức nhưng luôn làm quân đội Đức, Áo phải chiến đấu trên hai mặt trận không thể huy động tổng lực lực lượng khả dĩ cho một chiến thắng quyết định trong chiến tranh. Mặt trận phía Nam có tầm quan trọng thấp chủ yếu với một lực lượng quân đội nhỏ bé và chỉ có ý nghĩa khu vực. Mặt trận phía Nam lại phân nhỏ thành các chiến trường: Mặt trận Ý-Áo – đối chọi của quân Ý – Áo tại vùng biên giới hai nước; chiến trường Balkan: liên quân Đức, Áo – Hung, Bulgaria chống Serbia và về sau có trợ giúp của Anh, Pháp cho Serbia; chiến trường Trung Cận Đông: Liên quân Anh, Pháp chủ yếu là Anh chống Ottoman; chiến trường Kavkaz: Nga chống Ottoman. === 1914: Đức phải chiến đấu trên hai mặt trận === Kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của Đức bị phá vỡ: Ngày 1 tháng 8 năm 1914 Đức tuyên chiến với Nga, ngày 3 tháng 8 với Pháp; ngày 4 tháng 8 Anh tuyên chiến với Đức và đổ bộ vào lục địa. Chiến tranh lớn đã nổ ra. ==== Mặt trận phía Tây ==== Ngày 2 tháng 8 năm 1914 quân Đức chiếm Luxembourg và hai ngày sau tràn vào Bỉ, vi phạm tình trạng trung lập của nước này để lấy đường tiến vào miền bắc nước Pháp. Kế hoạch Schlieffen của bộ tổng chỉ huy Đức tính toán rằng bằng cuộc tấn công bất ngờ qua Bỉ đánh thẳng vào Bắc Pháp, là khu vực ít bố phòng, sẽ nhanh chóng loại nước này ra khỏi chiến tranh trước khi quân đội Nga kịp tổng động viên và tập hợp; sau khi đánh tan quân Pháp sẽ quay sang mặt trận phía Đông giải quyết quân Nga và kết thúc chiến tranh. Kế hoạch này là quá xa thực tế: mặc dù quân Đức giành được lợi thế trong các trận đánh biên giới và tiến nhanh về phía Paris hòng tiêu diệt Pháp, và người Đức sắp sửa giành được chiến thắng quyết định chấm dứt chiến tranh. Nhưng khi đi sâu vào đất Pháp, các vị chỉ huy quân Đức đã có nhiều sai lầm. Thế rồi, trong trận sông Marne lần thứ nhất vào tháng 9 năm 1914 quân Đức đánh bất phân thắng bại với liên quân Pháp - Anh. Quân Đức phải lui binh về cố thủ, quân Pháp quá kiệt quệ nên không thể truy kích, nên cả hai đoàn quân không bên nào có thể giành thế thượng phong. Chiến tranh trên mặt trận phía Tây dần đi vào hình thức chiến tranh chiến hào (Stellungskrieg), và tình hình cứ thế trong suốt bốn năm chiến tranh. Trận đánh kế tiếp tại Aisne còn khốc liệt hơn cả trận sông Marne, diễn ra từ ngày 13 cho đến ngày 28 tháng 9 năm 1914. Cả hai bên đều mất hàng ngàn binh sĩ, nhưng rồi đây vẫn là một trận chiến bất phân thắng bại. ==== Mặt trận phía Đông ==== Để giúp đồng minh đang khó khăn tại mặt trận Pháp – Bỉ, đầu tháng 9 năm 1914 quân đội Nga tổng tấn công trên 2 hướng: Galicia đối đầu với Áo-Hung và đặc biệt là tấn công rất nhanh, mạnh vào Đông Phổ thuộc Đức. Vào ngày 17 tháng 8 năm 1914, Quân đội Đức đánh thắng quân Nga trong trận đánh mở đầu tại Stallupönen - một chiến thắng có tầm quan trọng về chiến lược. Các cuộc tấn công sau đó của quân Nga đã thắng lợi nhưng thiệt hại nặng về nhân mạng: đánh lui quân đội Đức trong trận Gumbinnen và quân đội Áo – Hung tại Galicia, Đông Phổ có nguy cơ mất vào tay Nga. Để cứu nguy cho tập đoàn quân số 8 của mình đang phòng thủ Đông Phổ, Đức phải điều bớt những lực lượng xung kích từ phía Tây sang Đông Phổ và kết quả là trong nửa cuối tháng 8, quân Đức do vị tướng Paul von Hindenburg chỉ huy đã đánh tan quân Nga ở trận Tannenberg, Nga mất 30.000 lính và bị bắt 95.000 tù binh, phía Đức chỉ mất 3.436 người chết và 6.800 bị thương. Trận thắng này đã chặn đứng tập đoàn quân số 1 và bao vây tiêu diệt hoàn toàn tập đoàn quân số 2 của phương diện quân Tây Bắc của Nga, tư lệnh tập đoàn quân số 2 là tướng Aleksandr Vassilievich Samsonov buộc phải tự sát, quân Nga bị đuổi khỏi Đông Phổ. Như một chiến thắng lớn của quân lực Đức trong suốt Đại chiến thứ nhất, trận thắng tại Tannenberg có ảnh hưởng lớn đến tinh thần của dân tộc Đức, là trận đánh đáng ghi nhớ trong lòng toàn dân Đức thời đó. Quân Đức cũng đánh bại quân Nga trong trận Lyck vài ngày sau đó. Tuy nhiên quân Áo–Hung lại để quân Nga đánh tan nát ở Galicia. Quân Nga rõ ràng chưa chuẩn bị tốt cho chiến tranh và trình độ sĩ quan và binh lính lạc hậu nên không thể chống lại các cuộc tấn công có tổ chức tốt của Đức, nhưng Đức lại phải chống chân cho Đế quốc Áo-Hung bị coi là "bất tài". Quân đội Nga phải chuyển sang phòng ngự. Quân Đức cũng không tấn công thêm, mặt trận phía Đông đi vào ổn định. Chỉ trong 1 năm 1915, hơn 1 triệu quân Nga bị liên quân Đức - Áo bắt giữ, nhưng hơn 1 triệu lính Áo-Hung và Đức cũng đã bị Nga bắt giữ làm tù binh. Như vậy Quân đội Đức đã phải bị động đánh nhau trên hai mặt trận và kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh của nước này đã thất bại. Các bên tham chiến đi vào chiến tranh chiến hào. Thực chất, đây không phải là lần đầu tiên người Đức phải chiến đấu trên hai mặt trận: trong cuộc Chiến tranh Bảy Năm (1756 - 1763), Vương quốc Phổ dưới sự lãnh đạo tài tình của vua Friedrich II Đại Đế (1712 - 1786) cũng đã lâm vào tình trạng "lưỡng nan thọ địch" (người Phổ đã chiến thắng cuộc chiến tranh này). ==== Diễn biến ở các chiến trường khác trong năm 1914 ==== Đế quốc Nhật Bản lợi dụng việc các cường quốc đang tham gia cuộc chiến tranh ở Châu Âu đã quyết định thực hiện kế hoạch bành trướng ở Viễn Đông. Ngày 15 tháng 8 1914 Nhật Bản gửi tối hậu thư cho Đức đòi nước này chuyển cho Nhật Bản vùng Giao Châu (Trung Quốc) và hạn cho Đức phải trả lời trong 8 ngày. Đức không trả lời tối hậu thư của Nhật Bản nên ngày 23 tháng 8 năm 1914 Nhật Bản tuyên chiến với Đức và nhanh chóng chiếm Giao Châu và tuyến đường sắt Thanh Đảo-Tế Nam (Trung Quốc) và một loạt hòn đảo là thuộc địa của Đế chế Đức tại Thái Bình Dương. Ngày 11 tháng 11 1914, Thanh Đảo, thuộc địa của Đức ở Trung Quốc, đầu hàng Nhật Bản sau 43 ngày bị bao vây. Sau những hoạt động quân sự này, Nhật Bản không có hoạt động nào khác tham gia Chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Ngày 21 tháng 9 1914, quân Úc chiếm đóng New Guinea là thuộc địa của Đế chế Đức ở Thái Bình Dương. Ngày 5 tháng 11 1914, quân Đức chiến thắng quân Anh ở Đông Phi thuộc Đức (nay là Tanzania). Năm ấy, Sultan Ottoman là Mehmed V phản đối liên minh Đức - Ottoman. Nhưng rồi, theo lời khuyên của Bộ trưởng Chiến tranh Ismail Enver, Mehmed V với tư cách là Sultan kiêm Khalip phát động Thánh chiến (Jihad) chống phe Entente. === 1915 – 1916: Đức chủ động tấn công === Chiến tranh chiến hào trên các chiến trường: Sau thất bại của kế hoạch năm 1914 nhằm loại Pháp ra khỏi vòng chiến, nước Đức đã rơi vào thế bị động: tiềm năng kinh tế quân sự không bằng liên minh Anh – Pháp – Nga mà lại thực tế phải một mình đối đầu trên hai mặt trận. Tình trạng này càng kéo dài thì càng bất lợi cho Đức. Để thoát thế kẹt trên hai mặt trận, năm 1915 Đức tấn công quy mô lớn ở phía Đông để loại Nga ra khỏi chiến tranh và năm 1916 tổng tấn công để loại Pháp nhưng đều không thành. Trong hai năm này đánh nhau rất to thương vong của hai bên là cực lớn nhất là năm 1916 tại mặt trận phía Tây. ==== Mặt trận phía Đông 1915 – 1916 ==== Năm 1915 nước Đức quyết định tập trung lực lượng loại Nga ra khỏi vòng chiến, xoá bỏ mặt trận phía Đông. Quân Đức trên mặt trận phía Tây chủ động chuyển sang phòng ngự trước liên quân Anh, Pháp và từ tháng 4 đến tháng 8 năm 1915 để dồn binh lực sang mặt trận phía Đông, đánh đòn tiêu diệt đối với quân đội Nga. Sau gần 1 năm chiến tranh, điểm yếu của Nga lộ rõ: nền công nghiệp có quy mô nhỏ hơn so với Anh, Pháp và Đức, do vậy sản xuất vũ khí đạn dược không theo kịp nhu cầu của chiến tranh. Quân Nga lâm vào cảnh thiếu súng đạn (Tháng 12/1914, quân đội Nga có 6.553.000 quân, nhưng chỉ có 4.652.000 khẩu súng trường, đạn pháo thì khá thiếu). Mặt khác, tình trạng lạc hậu của nước Nga thời đó ảnh hưởng xấu đến chất lượng quân đội: phần lớn lính Nga bị mù chữ, do vậy khó có thể đào tạo họ sử dụng hiệu quả các loại vũ khí phức tạp trong chiến tranh hiện đại. Đội ngũ sĩ quan Nga thì lại được bổ nhiệm theo kiểu cách quý tộc giống như thế kỷ 19, nghĩa là dựa vào xuất thân từ gia đình quý tộc hơn là thành tích chiến trường (ví dụ như chú của Nga hoàng được bổ nhiệm tổng tham mưu trưởng quân đội Nga, dù thực tế ông này là một vị tướng không có tài). Vì các nguyên nhân trên, cuộc tấn công của Đức diễn ra thuận lợi và thành công lớn: trong Chiến dịch Gorlice-Tarnów phía nam Ba Lan, liên quân Đức - Áo-Hung tấn công như vũ bão, quân Nga thua lớn, mất hơn 500.000 binh sĩ và phải rút chạy trong hỗn loạn. Họ thực hiện cuộc đại rút lui: bỏ Galicia, bỏ Ba Lan và sau đó phải bỏ cả một phần vùng Baltic. Thượng tướng August von Mackensen của Đức, với sự giúp đỡ tài tình của Đại tá Hans von Seeckt, đã làm nên chiến thắng lớn, khiến ông được thăng hàm Thống chế. Chiến dịch Gorlice–Tarnów là một trong những chiến thắng lớn nhất của lực lượng Quân đội Đức trong suốt cuộc Đại chiến thứ nhất này. Tuy thắng lợi to lớn, chiếm được một vùng rộng lớn đất đai của Đế quốc Nga nhưng Đức cũng bị tổn thất nhiều và vẫn không thể đạt mục tiêu cuối cùng là buộc Nga ra khỏi chiến tranh. Nga hoàng Nikolai II vẫn quyết tâm theo đuổi chiến đấu đến thắng lợi cuối cùng. Và đến cuối năm 1915 thì thực lực của nước Đức cũng đã cạn, không thể phát triển thêm nữa. Mặt trận phía Đông đến cuối năm 1915 lại đi vào ổn định của chiến tranh chiến hào. Tuy thất bại trong mục tiêu loại Nga ra khỏi chiến tranh, quân Đức vẫn chiếm được nhiều vùng lãnh thổ với 23 triệu dân, trong đó có các vùng kinh tế quan trọng của Nga, khiến sản lượng kinh tế của Nga sụt giảm nghiêm trọng. Đây là một nhân tố sẽ góp phần tạo ra cách mạng lật đổ Nga hoàng sau này. Từ tháng 6 đến cuối tháng 8 năm 1916, quân đội Nga (phương diện quân Tây Nam, tư lệnh Aleksei Alekseevich Brusilov) lại một lần nữa lợi dụng quân Đức đang mải bận đánh trận Verdun bên Pháp tiến hành tấn công thắng lợi lớn tại Galicia, đánh tan tác quân đội Áo – Hung, bắt được hàng trăm ngàn binh sĩ Áo - Hung và thực sự làm quân đội nước này mất khả năng tiến hành các chiến dịch lớn chống lại Entente ba bên. Chiến dịch Brusilov được xem là chiến thắng vẻ vang nhất của quân Nga và phe Hiệp ước trong cuộc chiến. Hơn 1,3 triệu quân Đức, Áo - Hung đã bị tiêu diệt trong chiến dịch này (trong đó hơn 400.000 bị bắt), quân Nga chiếm lại một phần Ukraina và Belarus, khiến Brusilov trở thành người anh hùng của phe Entente trên Mặt trận phía Đông. Để cứu vãn tình hình mặt trận phía đông, nước Đức lại phải kéo quân từ mặt trận phía Tây về can thiệp và chặn đứng quân Nga. Quân Nga lại phải rút lui nhưng sau đó Đức phải chuyển quân sang phía Tây, hai bên lại đi vào cầm cự trong chiến hào cho đến khi Nga ra khỏi chiến tranh cuối năm 1917 vì sụp đổ trong phong trào cách mạng. ==== Mặt trận phía Tây 1915 - 1916 ==== Trong các năm 1915, 1916 mặt trận phía Tây đánh nhau cực kỳ quyết liệt nhưng không có nhiều đột biến: các chiến dịch tại Ypres (bắc Bỉ), Champagne và Artois (bắc Pháp) quân hai bên nhiều lần cố gắng chọc thủng phòng tuyến của nhau nhưng đều thất bại. Tại đây đầu tiên là quân Đức đã sử dụng vũ khí hoá học sau đó quân Entente ba bên đáp trả gây chết ngạt rất nhiều cho quân sĩ hai bên. Năm 1916 diễn ra trận Verdun nổi tiếng nhất trong thế chiến này, diễn ra trên đất Pháp (từ 21 tháng 2 đến 18 tháng 12 năm 1916) đây là nỗ lực của Đức tấn công đánh bại quân Pháp chiếm Paris loại Pháp ra khỏi chiến tranh: quân Đức tấn công rất mãnh liệt thành cổ Verdun để hướng về Paris và quân Pháp cố thủ đến cùng, hai bên tranh chấp chiến tuyến vô cùng ác liệt, chết vô số nhưng chiến tuyến chỉ dịch chuyển lên xuống được dưới 10 km. Sau này Verdun vì số lượng thương vong quá lớn được gọi là "cối xay thịt". Quân Pháp kiệt quệ và cả hai phe đều không thể thắng được trận đại chiến Verdun này. Để phản công giải nguy cho Verdun, tháng 9 năm 1916, quân Anh đã tấn công tại trận sông Somme nhưng cũng không có kết quả rõ rệt. Trận này lần đầu tiên trong lịch sử quân sự thế giới quân Anh đã sử dụng xe tăng tấn công và đã đạt hiệu quả chiến thuật rất cao. Nhưng nỗ lực của liên quân Anh - Pháp coi như thất bại, thương vong của 2 bên trong chiến dịch này còn cao hơn cả trận Verdun ==== Tại các mặt trận phía Nam 1915 – 1916 ==== Ngày 23 tháng 5 năm 1915 Ý gia nhập khối Đồng minh ba bên (Anh- Pháp- Nga) để chống Áo, 14 tháng 10 năm 1915 Bulgary tham gia vào phe liên minh Đức, Áo để chống Serbia. Mặt trận phía Nam tuy quy mô nhỏ nhưng sôi động hẳn lên. Chiến trường Ý – Áo: tháng 5 năm 1915 quân Ý mở chiến dịch Isonzo chống quân Áo nhưng thất bại và bị Áo phản công chiếm Gorizia sau lợi thế nhỏ bé này mặt trận Ý – Áo đi vào ổn định cho đến tận cuối năm 1917. Chiến trường Balkans: Chiến thắng vẻ vang của quân Đức trong Chiến dịch Gorlice–Tarnów trên Mặt trận phía Đông tạo điều kiện cho Bulgaria nhảy vào tham chiến. Tại Balkans tháng 10 năm 1915 liên quân Đức – Áo – Bulgaria đánh tan quân Serbia tại Novo Brdo và quân Serbia phải rút lui sâu vào Albania và Hy Lạp. Để cứu nguy cho Serbia và gây áp lực lên Hy Lạp tham gia chống Liên minh Trung tâm, cuối năm 1915 liên quân Anh, Pháp tiến hành chiến dịch đổ bộ lên Salonica của Hy lạp nhưng nước này không tham gia chống Đức, Áo, Bulgaria. Chiến sự tại mặt trận Balkans tại Salonica ổn định, yên tĩnh lạ thường và các bên dường như không muốn đánh nhau cho đến tận cuối chiến tranh. Người ta gọi mặt trận Salonica là "trại tù binh lớn". Chiến trường Trung Cận Đông: từ tháng 2 năm 1915 đến tận tháng 1 năm 1916 liên quân Anh, Pháp mở chiến dịch hải quân đổ bộ rất lớn trong lịch sử chiến tranh thế giới – chiến dịch Dardanelles đổ bộ gần 60 vạn quân để chiếm hai eo biển Dardanelles, Bosporus và thủ đô Istanbul để buộc Đế quốc Ottoman ra khỏi chiến tranh. Người anh hùng dân tộc Mustafa Kemal Atatürk đã xuất binh đập tan tác quân Entente, làm thất bại chiến dịch của địch. Nhờ đó, Đế quốc Ottoman vẫn đứng vững và giáng trả hiệu quả, Entente ba bên phải di tản quân về Hy Lạp. Chiến trường Kavkaz: Tại Kavkaz quân Nga có lực lượng nhỏ hơn nhưng đã đại thắng quân Ottoman tại trận Sarikamis (từ 29 tháng 12 năm 1914 đến 4 tháng 1 năm 1915) sau đó trong năm 1915, 1916 và cho đến tận cuối năm 1917 khi Nga sụp đổ vì cách mạng, quân Nga tại Kavkaz liên tiếp đánh lui quân Ottoman, tiến lên chiếm xứ nay là Armenia. Vì người Armenia theo Chính thống giáo có cảm tình với Nga nên chính quyền Đế quốc Ottoman đã thi hành chính sách diệt chủng người Armenia làm gần 1 triệu người Armenia chết, có chấn động lớn trong dư luận châu Âu và thế giới về Thế chiến I. === 1917 Năm bản lề === Năm này là năm bản lề của chiến tranh: Tại mặt trận phía tây, liên quân chuyển sang tấn công. Chiến tranh tàu ngầm không hạn chế trên biển, Hoa Kỳ tham chiến chống Đức. Cách mạng tại Nga làm nước này rời bỏ chiến tranh. ==== Quân Anh-Pháp-Nga chuyển sang tấn công ==== Trong năm 1917 lợi thế đã nghiêng sang phía Anh-Pháp-Nga ba bên, vòng vây trên biển siết chặt kinh tế Đức của Hải quân Hoàng gia Anh đã cho thấy các kết quả. Liên quân Pháp-Anh liên tục mở các cuộc tấn công lớn trên tất cả các mặt trận. Chiến trường Trung Cận Đông: quân Anh liên tiếp chiến thắng quân Ottoman và chiếm Baghdad (Iraq) tháng 3 năm 1917 và tổ chức thành công chiến dịch Sinai và chiến dịch Palestine chiếm Jerusalem vào tháng 12 năm 1917. Chiến trường Ý – Áo: tại chiến trường này cuối năm 1917 khi cách mạng nổ ra ở Nga, không còn mặt trận phía Đông, quân Đức – Áo được tiếp viện một lực lượng hùng hậu trong đó có các đơn vị xung kích của Đức làm nòng cốt, đã tổ chức chiến dịch Caporetto (26 tháng 10 năm 1917) và đã thắng lợi vang dội tiêu diệt 6 vạn và bắt gần 30 vạn quân Ý. Quân Anh, Pháp phải cứu viện lập phòng tuyến cố thủ tại sông Piave. Và thế trận dừng lại ở đây cho đến hết chiến tranh. Tuy thắng lợi của Đức, Áo tại Caporetto rất to lớn nhưng vai trò thứ yếu của mặt trận Ý – Áo không làm đảo lộn thế chiến lược của chiến tranh và thực lực của phe Trung tâm cũng không cho phép phát triển thành quả. Mặt trận phía Tây: Liên quân Anh, Pháp đã nắm quyền chủ động chiến trường, trong năm 1917 tại mặt trận này chỉ có họ tấn công nhưng không thể chọc thủng nổi tuyến phòng thủ rắn chắc của quân Đức. Các cuộc tấn công tại Verdun, Ypres, Cambrai với sử dụng ồ ạt xe tăng đều thất bại. Đặc biệt từ 9 tháng 4 đến 5 tháng 5 năm này quân đội Pháp mở chiến dịch Nivelle (theo tên của Tổng tư lệnh quân đội Pháp Robert Georges Nivelle – người soạn thảo kế hoạch) với số lượng áp đảo gấp 2 lần quân Đức, kết quả: với số thương vong 50 vạn và đã thất bại và ngày nay trận này được gọi là "lò mổ của Nivelle". Đến cuối năm 1917 phòng tuyến Đức tại mặt trận phía Tây vẫn chưa thể phá vỡ nổi. ==== Chiến tranh tàu ngầm không hạn chế ==== Sau này nhiều nhà nghiên cứu Anh đã công nhận Anh thực tế đã trên nguy cơ thua trận nếu chiến tranh tàu ngầm của Đức hiệu quả hơn nữa. Ban đầu Đức trông cậy vào hạm đội tàu nổi của mình nhưng hạm đội Đức không thể đua tranh được với hạm đội hùng hậu của Hải quân Hoàng gia Anh nên nhiệm vụ bóp nghẹt kinh tế Anh được giao cho hạm đội tàu ngầm rất nổi tiếng của Đức. Đức chạy đua với thời gian xây dựng lực lượng tàu ngầm và sử dụng chúng hiệu quả để đánh phá tuyến vận tải biển quan trọng sống còn đối với Anh. Để tăng hiệu quả áp lực lên Anh tháng 2 năm 1917 Tổng tham mưu trưởng Đức Erich Ludendorff thuyết phục được Thủ tướng Đức (Chancellor) tuyên bố chiến tranh tàu ngầm không hạn chế chống mọi tàu của mọi quốc tịch chuyên chở tiếp tế cho Anh. Lượng trọng tải tàu bị đánh chìm tăng lên nhanh chóng đạt mức trung bình 500.000 tấn/tháng và đạt đỉnh trong tháng 4 năm 1917 là 860.000 tấn. Nước Anh trước nguy cơ bại trận: tình hình rất nghiêm trọng, đã có nạn đói trong nước. Từ tháng 8 năm 1917 Anh áp dụng chiến thuật vận tải mới là hạm đội áp tải để vô hiệu hoá đòn đánh của tàu ngầm và chiến thuật này là cực kỳ hiệu quả và nước Anh đã thoát hiểm hoạ chết đói. Nhưng để đối phó lại, tàu ngầm Đức áp dụng chiến thuật "nổi lên đánh đêm": hạm đội Anh chỉ hiệu quả chống tàu ngầm khi chúng bị phát hiện dưới mặt nước hoặc bị nổi lên ban ngày. Khi vào ban đêm tàu ngầm Đức nổi lên bơi lẫn vào đoàn tàu vận tải thì Hải quân Anh không biết cách làm thế nào. Đây là chiến thuật rất hiệu quả của Đức và nếu chiến tranh kéo dài chưa biết kết quả sẽ thế nào: Các tàu ngầm Đức luôn theo sát các đoàn convoy của Anh nhưng thay vì tấn công, chúng chờ đến đêm nổi lên bơi lẫn vào đoàn tàu vận tải, áp mạn ở cự ly gần và dùng pháo lần lượt tiêu diệt từng chiếc một. Một thảm hoạ cho hình thức convoy của Anh. ==== Hoa Kỳ tham chiến ==== Hoa Kỳ từ đầu thế kỷ 20 theo đuổi chính sách không can thiệp và giữ trung lập trong chiến tranh. Nhưng do phần lớn người Mỹ là con cháu của những người Anh di cư sang nên tâm lý nhân dân và chính giới Hoa Kỳ luôn giành tình cảm cho người Anh nên dù vẫn giữ quan hệ với Đức, Hoa Kỳ luôn dành cho Anh những thuận lợi để duy trì chiến tranh. Ban đầu, Hoa Kỳ không muốn tham gia chiến tranh, họ chỉ muốn đứng ngoài thu lợi từ các hợp đồng xuất khẩu hàng hóa cho các nước tham chiến. Các khoản chi phí quân sự cực lớn của các nước châu Âu đã đem lại lợi nhuận cực kỳ lớn cho các công ty Mỹ (bằng việc bán lương thực, đồ dùng và cho vay nặng lãi đối với các nước tham chiến). Đến năm 1917, xuất khẩu của Mỹ đã tăng 2,5 lần so với mức trước chiến tranh (từ 825 triệu USD lên 2,25 tỷ USD), chủ yếu là nhờ xuất khẩu hàng hóa sang châu Âu. Giữa năm 1914 và 1917, sản xuất công nghiệp Mỹ tăng 32% và GNP tăng gần 20%, trái ngược hẳn với tình trạng suy thoái trước chiến tranh. Riêng hãng thép Bethlehem Steel đã xuất khẩu 500.000 tấn vỏ thép và 20,1 triệu viên đạn pháo cho Anh và Pháp trong giai đoạn 1914-1917. Các khoản cho vay từ các tổ chức tài chính Mỹ đến các nước châu Âu cũng gia tăng mạnh trong thời chiến tranh. The House of Morgan cung cấp kinh phí cần thiết cho chiến phí của Anh và Pháp. Từ năm 1914 trở đi, các ngân hàng Morgan ở New York, được chỉ định là đại diện tài chính cho chính phủ Anh, và sau đó đóng một vai trò tương tự đối với Pháp. Trong khi thế giới tập trung chú ý vào chiến trường châu Âu, Hoa Kỳ ngày càng lo ngại rằng Đức có thể giành chiến thắng. Vào đầu thế kỷ 20, với tham vọng đánh chiếm thuộc địa ngày càng tăng, sự hiện diện của Đức ở Haiti gia tăng. Năm 1915, tổng thống Woodrow Wilson từng phải gửi Thủy quân lục chiến Mỹ tới Haiti, nhằm bảo vệ các tài sản của Mỹ trong khu vực và ngăn chặn một cuộc xâm lược của Đức và lãnh thổ này. Đầu năm 1917, Đế quốc Nga sụp đổ còn Đế quốc Anh thì đang tổn thất nặng do tàu ngầm Đức, chiến sự đảo chiều có lợi cho phe Đức. Nếu Đức chiến thắng trong thế chiến, nước này sẽ là bá chủ châu Âu, và mục tiêu tiếp theo của Đế quốc Đức chắc chắn sẽ là các thuộc địa ở Nam Mỹ, vùng mà Hoa Kỳ vẫn luôn coi là khu vực ảnh hưởng quan trọng nhất của mình. Ngoài ra, 3 tỷ USD (tương đương 50 tỷ USD thời giá 2015) mà Mỹ đã cho Anh, Pháp vay để làm chiến phí sẽ mất trắng. Do đó, Mỹ ngày càng muốn tham gia vào chiến tranh để hỗ trợ cho Anh và Pháp. Với việc Đức tuyên bố chiến tranh tàu ngầm không hạn chế đánh cả vào tàu Mỹ, lại cộng thêm sự kiện bức điện Zimmermann đã làm dư luận Hoa Kỳ hết kiên nhẫn, họ đòi chính phủ tham chiến chống Đức. Ngày 6 tháng 4 năm 1917 Hoa Kỳ cắt mọi quan hệ và tuyên bố chiến tranh với Đức. Vào cuối năm 1918 khi Đức đầu hàng, lực lượng viễn chinh Hoa Kỳ tại châu Âu chưa thật lớn và Quân đội Hoa Kỳ không đóng vai trò chủ đạo trong việc đánh thắng quân Đức trên chiến trường, nhưng rõ ràng với tiềm lực kinh tế rất lớn của mình giúp cho Entente và các mối ràng buộc chính trị, kinh tế nhất là các khoản cho vay với Đức bị dứt bỏ thì sự tham chiến của Hoa Kỳ là một yếu tố cực mạnh có lợi cho Đồng Minh. Sau chiến tranh, Hoa Kỳ là nước thu lợi lớn trong khi các nước châu Âu thì tổn hại nghiêm trọng. Hoa Kỳ tổn thất gần 50.000 ngàn lính tử trận, con số này rất nhỏ so với tổn thất của các nước Anh, Pháp, Đức, Nga. Các nước châu Âu đều bị tàn phá nặng, trong khi lãnh thổ Hoa Kỳ không bị tổn hại gì, lại còn thu được lợi nhuận khổng lồ từ các hợp đồng xuất khẩu hàng hóa cũng như các khoản bồi thường chiến phí từ các nước bại trận. Ngoài ra, Hoa Kỳ còn chiếm thêm được một số thuộc địa từ tay Đế quốc Đức ở khu vực Thái Bình Dương. Những nguyên nhân nói trên đã giúp kinh tế Hoa Kỳ vượt qua các nước châu Âu kể từ sau thế chiến 1. Trước chiến tranh, Đế quốc Anh sở hữu hơn một nửa trọng tải tàu biển trên thế giới, trong khi Hoa Kỳ chỉ chiếm 5%, nhưng vào cuối Thế chiến, vị thế đó đã được thay đổi. Nước Anh chỉ còn chiếm không quá 35% trong khi Hoa Kỳ sở hữu 30% trọng tải vận chuyển đường biển trên thế giới. Tương tự như vậy, Hoa Kỳ đã đạt được sự thống trị với thị trường than, điều mà Anh đã đánh mất. Vào cuối cuộc chiến tranh, kinh tế các nước châu Âu tham chiến đều bị "hút máu" đến cạn kiệt và lâm vào nợ nần với chủ nợ là Hoa Kỳ. Gần một nửa số vàng dự trữ của thế giới đã chuyển sang nằm trong tay của Hoa Kỳ, các khoản nợ tích lũy của châu Âu với Mỹ đã lên tới trên 18 tỷ USD (tương đương hơn 300 tỷ USD thời giá 2015). ==== Cách mạng tại Nga, Nga ra khỏi chiến tranh ==== Nền kinh tế Nga không chịu nổi sức nặng chiến tranh, dân chúng khốn cùng, thất nghiệp, chết đói... Lại cùng những thất bại nặng nề trước quân Đức trên mặt trận, tất cả những cái đó gây bất mãn cao độ trong nhân dân và quân đội. Quân lính đã quá khổ vì chiến tranh lại căm thù tầng lớp sĩ quan quý tộc, không còn lòng ái quốc ban đầu khi mới chiến đấu. Mâu thuẫn nội bộ của quân đội Nga cũng là quá lớn: thậm chí chiến dịch tấn công của tướng Brusilov tháng 6 năm 1916 chống quân Áo – Hung tại Galicia cũng bị các sĩ quan cao cấp khác ghen ghét, không chịu hợp tác. Nền kinh tế Đế quốc Nga vốn yếu hơn Đức, Anh, Pháp nên không chịu được cường độ cao của cuộc chiến tranh. Lệnh tổng động viên 10 triệu người tham gia nhập ngũ đã làm cho sản xuất nông nghiệp thiếu nhân lực nghiêm trọng nên ngày càng suy thoái. Từ năm 1916 đến 1917, sản lượng lương thực giảm 20%. Nạn mất mùa, đói kém xảy ra khắp nơi. Sản xuất công nghiệp cũng đình đốn trong chiến tranh nên nạn thất nghiệp tăng nhanh. Nền tài chính nước Nga lâm vào tình trạng khủng hoảng. Từ tháng 8/1914 đến tháng 3/1917, triều đình Nga hoàng đã chi vào cuộc chiến 29,6 tỷ Rupee, cao gấp 3 lần tổng thu quốc khố. Để có tiền chi dùng cho cuộc chiến, triều đình liên tục trưng thu những loại thuế mới và tổ chức bán quốc trái trong nhân dân. Tổng số quốc trái tính từ đầu 1914 là 8,8 tỷ Rupee đã tăng lên 36,6 tỷ Rupee vào năm 1917. Đến năm 1917, người dân Nga đã quá căm giận nhà cầm quyền và không thể chịu nổi gánh nặng chiến tranh, nhất là khi quân Đức chỉ còn cách Thủ đô hơn 100 km. Mặt khác những người cộng sản Nga (Bolshevik) đã kêu gọi người dân chống chiến tranh đế quốc, "Biến chiến tranh đế quốc thành nội chiến cách mạng". Nhân dân và binh sĩ đã không thể chịu nổi và muốn theo Đảng Bolshevik của Lenin tiến hành cách mạng. Đến tháng 3 năm 1917, Cách mạng tháng 2 đã nổ ra, Sa hoàng thoái vị. Đây là bước chuyển để những người Bolshevik thắng lợi hoàn toàn trong Cách mạng tháng Mười Nga. Tuy giữa hai cuộc cách mạng, nước Nga vẫn còn trong khối Đồng minh ba bên nhưng thực tế sau cách mạng tháng 2, quân đội Nga đã tan rã, không còn kỷ luật, quân sĩ tự bỏ ngũ, tự rút lui, có nơi họ còn truy lùng các sĩ quan mà trước đây họ căm thù để xử lý. Mặt trận phía Đông nhanh chóng biến mất, quân Đức nhân đà tan rã của quân Nga nhanh chóng theo chân kéo sâu vào lãnh thổ Nga để ra yêu sách. Sau cách mạng tháng 10, Lenin đề nghị các bên tham chiến một nền hoà bình ngay lập tức không có chia cắt lãnh thổ, không bồi thường chiến phí, đề nghị này không được ai chấp nhận. Với việc ký kết hoà ước Brest-litovsk riêng rẽ với Đức vào ngày 3 tháng 3 năm 1918, nước Nga Xô Viết ra khỏi chiến tranh với những nhân nhượng rất to lớn: trao cho Đức vùng Ba Lan, Tây Belarus, Ukraina, các tỉnh Baltic, trả bồi thường 6 tỷ mark vàng cho Đức, ngoài ra nước Nga Xô viết không thể đủ lực lượng để ngăn cản phong trào độc lập của Phần Lan nên đã dễ dàng trao trả độc lập cho nước này. Việc nhân nhượng Đức nằm trong dự tính của Lenin rằng nước Đức sẽ sớm thất bại trong thế chiến 1. Kế hoạch của Lenin thực chất là một biện pháp "câu giờ": ký hòa ước để nước Nga thoát khỏi được chiến tranh và tiết kiệm được xương máu của nhân dân. Đến khi Đế quốc Đức sụp đổ thì hòa ước cũng vô hiệu, nước Nga khi đó cũng chẳng còn phải bồi thường chiến phí nữa. Nhận định này là chính xác khi chỉ 8 tháng sau, nước Đức bại trận và hoà ước Brest-litovsk trở nên vô hiệu. Sau đó, nước Nga Xô viết đã tiến quân thu hồi lại phía đông Ukraina và Belarus. Nhưng phần tây Ukraina, Tây Belarus đã bị kẻ thù mới là Ba Lan chiếm mất, vùng Berbassia thì bị Romania chiếm mất. Phải đến trước Thế chiến II, Liên Xô mới nhân lúc Đức đang tấn công mặt trận phía Tây, tranh thủ giành lại các vùng Tây Belarus, Tây Ukraina, Berbassia, Baltic và nhập các vùng này vào lãnh thổ Liên Bang Xô viết. === 1918: Phe Liên Minh thua trận === Trong năm 1918 Đế chế Đức huy động những nỗ lực tấn công tuyệt vọng cuối cùng nhưng đều thất bại. Khi Đức đã kiệt quệ các nguồn lực, Đồng minh tấn công tổng lực thắng lợi. Nước Đức suy kiệt và cách mạng đã nổ ra. Trong khi đó, quân Áo - Hung đại bại tại Ý, ngọn lửa phong trào dân tộc chủ nghĩa đã bùng cháy ở nhiều miền đất trên khắp Đế quốc Áo - Hung. Vào tháng 10 năm 1918, Đế quốc Áo - Hung sụp đổ. Phe Trung tâm đầu hàng. ==== Cuộc tấn công mùa xuân của Đức ==== Mặt trận phía Đông biến mất cho phép Đức có thể tăng một lực lượng quân đội lớn cho mặt trận phía Tây. Bộ Tổng tham mưu Đức trù tính một trận tổng tấn công thắng lợi trước khi quân đội Hoa Kỳ có thể kịp triển khai. Kế hoạch là đánh vào tuyến phân chia của quân Anh và Pháp tại đầu mối đường sắt Amiens (chiến dịch Michael) chiến dịch bắt đầu 21 tháng 3 năm 1918. Khác với mọi chiến dịch tấn công trước đây, lần này quân Đức áp dụng chiến thuật bộ binh xung kích và thành công lớn, tiến nhanh mạnh về phía trước 60 km. Thủ đô Paris bị uy hiếp, thậm chí vua Wilhelm II công bố ngày 24 tháng 3 là ngày hội quốc gia, nhiều người Đức đã thấy thắng lợi đến gần. Tuy nhiên sau những trận đánh ác liệt và với việc quân Mỹ tham chiến, quân Đức đã bị chặn đứng với thương vong trong khoảng tháng ba và tháng tư là gần 30 vạn người. Tiếp theo chiến dịch Michael quân Đức tuyệt vọng ném thêm quân liên tiếp vào các chiến dịch tiếp theo nhưng đó đã là những nỗ lực ngày càng bất lực (cho dầu họ đạt được chiến thắng vang dội trong trận sông Aisne lần thứ ba), và cuối cùng là cố gắng bao vây Reims vào ngày 15 tháng 7 năm 1918 đó là trận sông Marne lần thứ hai, tại đây liên quân Anh, Pháp phản công thắng lợi. Đến cuối tháng 7 quân Đức lại trở về vị trí ban đầu. Nỗ lực tuyệt vọng cuối cùng của Đức đã tiêu tan. ==== Đồng minh tấn công tổng lực thắng lợi ==== Khi Quân Đức đã rã rời suy kiệt không còn dự bị để phát triển tiến công, liên quân Entente liền huy động tổng phản công trên toàn mặt trận. Đức không còn khả năng chống trả kiên cường như trước đây nữa. Cuộc tấn công của liên quân đã phát triển thắng lợi và được gọi là 100 ngày tấn công: bắt đầu từ 8 tháng 8 bằng trận Amiens, liên quân đồng loạt phối hợp tấn công: với tập đoàn quân của Pháp bên phải, quân Anh bên trái, các quân đoàn Canada và Úc làm mũi nhọn tấn công chính diện với hàng trăm xe tăng và 12 vạn quân đã đánh lui quân Đức hàng chục km. Chiến thắng lớn tại Amiens trở thành công tích hiển hách nhất của Quân đội Anh trong cuộc Đại chiến thứ nhất, và cũng là thắng lợi lớn nhất của phe Entente trên Mặt trận phía Tây kể từ sau trận sông Marne lần thứ nhất. Sau mấy tuần tiến công thắng lợi ngày 21 tháng 8 quân Anh tổ chức trận Sông Somme lần thứ hai đánh lui tập đoàn quân số 2 của Đức về vị trí của phòng tuyến Hindenburg là phòng tuyến bắt đầu chiến tranh. Đến cuối tháng 9 sau các cố gắng bất thành liên quân dừng lại ở tuyến Hindenburg và tại đây sau cách mạng tại Đức, quân Đức đã đầu hàng. ==== Cách mạng tại Đức ==== Đức đã hoàn toàn suy kiệt trong chiến tranh. Trong tháng 10 trong nước rối loạn chẳng còn ai còn tin vào ảo tưởng chiến thắng nữa chỉ trừ Tổng chỉ huy Erich Ludendorff và một số tướng lĩnh quân phiệt. Ludendorff cùng Đô đốc Reinhard Scheer trù tính dùng toàn lực hạm đội Đức tổ chức một trận hải chiến mang tính phiêu lưu xông thẳng vào hạm đội đối phương để tỏ rõ vinh quang của hạm đội Đức. Các tướng lĩnh quân phiệt Đức âm mưu không thông báo cho Thủ tướng vì biết rằng hành động này sẽ không được chấp nhận. Tuy nhiên tin tức về cuộc tấn công đã được các thuỷ binh tại hải cảng Kiel biết, họ nổi loạn vì không muốn làm một việc tự sát. Náo loạn và cách mạng bắt đầu từ đây, Hoàng đế Wilhelm II phải cách chức Ludendorff. Chính quyền được trao từ tay giới quân nhân sang cho các chính đảng tại Quốc hội Đức (Reichstag). Ludendorff tuyên bố chính quyền dân sự sẽ làm đất nước thua trận và là "nhát dao đâm vào sau lưng quân đội". Đây là luận điểm của các lực lượng phục thù muốn bào chữa cho thất bại của Đức trong đó có đảng Nazi (Đảng Công nhân Đức quốc gia Xã hội chủ nghĩa hay Đảng Quốc xã) sau này của Adolf Hitler. Công tước Max von Baden được chỉ định làm thủ tướng và ngay lập tức bắt đầu đàm phán hoà bình. Ngày 9 tháng 11 năm 1918 von Baden tuyên bố nhà vua phải thoái vị, đế quốc Đức sụp đổ, vua Wilhelm II được Hà Lan cho tị nạn chính trị và Cộng hoà Weimar ra đời. ==== Phe Trung tâm đầu hàng ==== Bắt đầu từ cuối tháng 9 năm 1918 phe Trung tâm nhanh chóng đầu hàng: đầu tiên là Bulgaria (29 tháng 9), 30 tháng 10 Đế quốc Ottoman đầu hàng, 4 tháng 11 hai nước Áo, Hungary đầu hàng riêng biệt do Đế quốc Áo - Hung của Vương triều Habsburg đã sụp đổ. Vào ngày 8 tháng 11 năm 1918 phái đoàn Đức đến toa tàu hoả riêng của Thống chế Ferdinand Foch tại cánh rừng Compiegne (Pháp). Khi Foch hỏi họ đến để làm gì, họ nói với ông ta rằng họ muốn nghe những lời thỉnh cầu ngừng bắn của phe Entente. Foch trả lời rằng ông ta không hề có yêu cầu ngừng bắn gì cả. Nhưng rồi, Matthias Erzberger đã buộc Foch phải đọc các điều khoản của thỏa thuận ngừng bắn. Vào ngày 11 tháng 11 năm 1918, cũng chính tại toa tàu hỏa cá nhân của Foch, ngừng bắn được ký kết giữa hai bên. Ngày 28 tháng 6 năm 1919 các nước thắng trận đã ký hiệp định hoà bình với Đức là Hiệp định Versailles với các hạn chế ngặt nghèo cho sự phát triển sau chiến tranh của Đức (phải đến tháng 10 năm 2010 nước Đức mới hoàn thành xong khoản chiến phí nặng nề cho cuộc chiến này.) Và các hiệp định hoà bình cũng được ký kết giữa phe thắng trận với từng quốc gia thua trận là Áo, Hungary và Bulgaria. Đến năm 1920, phe Entente ký kết Hiệp định Sevres với Sultan Mehmed VI theo đó Đế quốc Ottoman phải chịu vô cùng thiệt thòi. Đây là một đòn giáng nặng nề vào Đế quốc Ottoman. Chiến tranh thế giới thứ nhất đã kết thúc. == Đặc điểm chiến tranh trong thế chiến thứ nhất == Chiến tranh thế giới thứ nhất lần đầu tiên trong lịch sử thế giới là một cuộc chiến tranh hiện đại, tổng lực, toàn diện và có sử dụng vũ khí hủy diệt hàng loạt, là cuộc chiến tranh với đầy đủ chiến tranh trên bộ, trên không và trên biển. Các nhà nghiên cứu quân sự đánh giá cuộc chiến trên bộ của chiến tranh này là chiến tranh với công nghệ của thế kỷ 20 và với tư duy chiến thuật của thế kỷ 19 với phương thức tiến hành chiến tranh lạc hậu đánh nhau thương vong cực kỳ to lớn mà hiệu quả chiến đấu rất thấp. Ngược lại chiến tranh trên biển và trên không mang tính chất rất cách mạng với hình thức chiến tranh khác rất xa với các cuộc chiến tranh trước đây, và sau này được Chiến tranh thế giới thứ hai phát triển lên mức cao hơn. === Chiến tranh trên bộ === Nhìn một cách tổng thể chiến tranh trên bộ của thế chiến thứ nhất là cuộc chiến tranh chiến hào với các tư duy phòng thủ trận địa với chiến thuật tấn công lạc hậu. Với hình thức phòng thủ trong chiến hào có chiều sâu với hệ thống dây thép gai, bãi mìn và các hỏa điểm súng máy cố thủ, phía sau có pháo binh yểm trợ, thì chiến tranh có "sự mất cân đối" rất lớn giữa "tấn công" và "phòng ngự". Quân phòng ngự có thể dễ dàng bẻ gãy các cuộc tấn công của đối phương: các súng máy trong công sự, lô cốt, pháo binh và bãi mìn dây thép gai, gây chết chóc rất lớn cho các cuộc tấn công của kỵ binh và chiến thuật biển người của bộ binh đối phương, và nếu mất tuyến phòng ngự thì cũng có đủ thời gian để có thể nhanh chóng kéo quân dự bị tới lập tuyến mới phía sau. Ngược lại, quân tấn công thường phải chịu hy sinh rất lớn mới có thể đánh chiếm được các tuyến phòng thủ của địch và cũng không có phương tiện và phương cách để phát triển tấn công. Trong năm 1915, quân Đức đã chọc thủng phòng tuyến Nga và tấn công thắng lợi nhưng đó là do sự kém cỏi về xã hội, kinh tế và sự thiếu thốn trang bị của Nga so với Đức. Với các quân đội có trình độ phát triển tương đương như Anh, Pháp, Đức thì sự mất cân đối tấn công – phòng thủ này dẫn đến tình trạng chiến tranh chiến hào lâu dài ổn định không ai dứt điểm nổi ai mà chỉ ép dần đối phương từng tí một (một cuộc tấn công tiến lên được 10 – 20 km đã được coi là thắng lợi). Kết quả chiến tranh phụ thuộc vào sức chịu đựng dẻo dai của các bên đối với sức nặng lâu dài của chiến tranh. Cũng trong chiến tranh này đã xuất hiện các hình thức chiến thuật để đánh chiếm chiến tuyến địch và phát triển tấn công trên cơ sở vũ khí hiện có và thể hiện sáng chói nhất là chiến thắng vang dội của phương diện quân Tây Nam của Nga dưới sự chỉ huy của tướng Aleksey Alekseyevich Brusilov tại Galicia tháng 6 năm 1916 chống quân Áo – Hung: với một quân đội Nga yếu kém, lạc hậu, mất tinh thần sau trận thảm bại năm 1915, nhưng với sự chuẩn bị kỹ lưỡng, quân Nga đã chọc thủng chiến tuyến Áo – Hung và tấn công ồ ạt trên diện rộng đánh bại quân đội Áo – Hung. Tuy nhiên sau khi rút kinh nghiệm, quân phòng thủ cũng đã khắc chế được các chiến thuật mới này và hình thức chiến tranh chiến hào vẫn là chủ đạo và bất biến. Chỉ đến khi xe tăng xuất hiện vào cuối năm 1916 và phát triển thì hình thức chiến tranh chiến hào này mới bắt đầu lỏng lẻo, nhưng sự hạn chế về tính năng của những cỗ xe tăng trong thời kỳ này khiến nó vẫn chưa đủ sức bẻ gãy hệ thống chiến hào. Phải đến Chiến tranh thế giới thứ hai, hệ thống chiến hào mới tỏ rõ sự bất lực trước sức tấn công cơ động của xe thiết giáp, và cuộc chiến tranh chiến hào cuối cùng trên thế giới là cuộc Chiến tranh Triều Tiên. === Chiến tranh trên biển, trên không === Chiến tranh trên biển của thế chiến thứ nhất diễn ra rất quyết liệt và được gọi là trận chiến Đại Tây Dương lần thứ nhất nó mang tính chất hoàn toàn mới so với các cuộc chiến tranh trên biển trước đây: Cuộc chiến này báo hiệu chấm dứt thời đại các trận hải chiến lớn của các armada cổ điển (hạm đội mặt nước). Việc bao vây kinh tế đánh phá giao thông trên biển được thực hiện một cách hiệu quả hơn bằng phương tiện chiến tranh rất mới là tàu ngầm. Và trong cuộc chiến này tuy lực lượng Hải quân Đức còn thua xa Hải quân Hoàng gia Anh nhưng lực lượng tàu ngầm Đức khi đó với kỹ thuật hiện đại đã làm rất tốt công việc đánh phá vận tải biển của Anh, đã có lúc làm phát sinh nạn đói ở nước này. Thời gian đầu chiến tranh các tàu vận tải của Anh đi tự do không có bảo vệ nên bị tàu ngầm Đức đánh đắm rất nhiều dưới hình thức "săn mồi tự do". Để hạn chế thiệt hại do tàu ngầm, Anh đã áp dụng biện pháp "convoy" (đoàn hộ tống): các tàu vận tải đi theo đoàn lớn dưới sự bảo vệ bên ngoài của tàu chiến. Biện pháp này ban đầu rất hiệu quả vì khi đó tàu ngầm còn rất thô sơ mang được ít ngư lôi và ngư lôi chất lượng không cao hay bắn trượt, nên tàu ngầm thường chỉ bắn ngư lôi vào tàu chiến đối phương, còn để tiêu diệt tàu vận tải thì bằng cách nổi lên dùng pháo bắn. Với sự bảo vệ của đoàn tàu chiến trong convoy thì việc này không thực hiện được nữa. Sau đó tàu ngầm Đức đổi chiến thuật: các tàu ngầm đi thành bầy lớn khi phát hiện đoàn convoy thì thay vì tấn công chúng bám theo chờ trời tối thì nổi lên bơi lẫn vào đoàn convoy và lần lượt hạ thủ các tàu vận tải, chiến thuật này về sau vẫn áp dụng cho cả Thế chiến II... Việc đánh vận tải và đảm bảo vận tải diễn ra quyết liệt và rất năng động từ hai phía. Để tăng cường sức ép lên nước Anh, Đức đã hai lần tuyên bố chiến tranh tàu ngầm không hạn chế không chấp nhận trung lập của bất kỳ tàu của quốc gia nào, tàu ngầm Đức bắn cả vào tàu Mỹ chở hàng cho Anh là nguyên nhân để Hoa Kỳ tham gia chiến tranh chống Đức. Trong Thế chiến I lần đầu tiên xuất hiện một loại binh chủng mới là không quân tác chiến trên trời. Vì là loại hình mới trang bị còn rất thô sơ nên chiến tranh trên không chưa có ý nghĩa lớn và chưa thể gây được tác động lớn đến kết quả chiến tranh. Tuy nhiên nó cũng đã có các hình thức chiến đấu mà ngay sau chiến tranh được các bên tích cực phát triển đó là không chiến của các máy bay cánh cố định đánh nhau; tấn công mặt đất của máy bay đối với lực lượng mặt đất; ném bom tầm xa với các zapperlin, trinh sát bởi máy bay hoặc khinh khí cầu. === Các vũ khí mới === Chiến tranh thế giới thứ nhất đã cho thấy các thứ vũ khí mới với hiệu quả huỷ diệt rất mạnh. Vũ khí hoá học là đặc sản của Thế chiến I: lần đầu tiên loài người sử dụng vũ khí hoá học nhân tạo một cách ồ ạt và quy mô lớn với các dạng hoá chất độc khác nhau từ loại ít nguy hiểm nhất là hơi cay hay chất làm chảy nước mắt đến loại khí nguy hiểm hơn nhưng không chết người chỉ loại khỏi vòng chiến như hơi mù tạc, Yprit (gây lở loét da và lấy tên theo địa điểm diễn ra trận tấn công hoá học là Ypres) và cao hơn nữa là hơi ngạt clo và các chất gây tử vong khác như phosgene. Để chống lại vũ khí hoá học các bên đã sử dụng phương tiện rất hiệu quả là mặt nạ phòng độc. Vào cuối kỳ chiến tranh việc sử dụng vũ khí hoá học giảm hẳn vì các bên sợ leo thang rất nguy hiểm của loại vũ khí này và việc dùng chúng nhiều khi phản tác dụng (gió đổi chiều thì tự hại quân mình) vì thời kỳ đó việc phát tán tác nhân hoá học còn thô sơ chủ yếu dựa vào gió. Súng máy: là loại vũ khí tuy ra đời từ trước thế chiến nhưng trong thế chiến đã thể hiện rõ uy lực của mình và làm thay đổi chiến thuật chiến đấu. Do trình độ kỹ thuật khi đó còn chưa cao con người mới chỉ có thể chế tạo súng máy bắn nhanh có kích thước to nên nó không phải là vũ khí cá nhân mà bố trí cố định để phòng thủ, trong khi đó quân bộ binh tấn công vẫn dùng súng trường lên quy lát bắn phát một, đó cũng là một nguyên nhân gây nên sự mất cân đối tấn công - phòng thủ. Súng máy đặt trong công sự dễ dàng vô hiệu hoá các cuộc tấn công bằng bộ binh "làn sóng người" và các cuộc tấn công của kỵ binh. Chính với sự phát triển của súng máy mà kỵ binh hết thời và ngày càng suy giảm. Đạn pháo phá mảnh: Để chống lại làn sóng bộ binh tấn công các bên áp dụng đạn pháo phá mảnh để tăng tính sát thương, chính số lượng chết trận nhiều nhất của quân sĩ là do pháo binh với đạn pháo phá mảnh. Với sự áp dụng của pháo binh bắn nhanh, đạn pháo phá mảnh uy lực huỷ diệt lớn cộng với hoả lực súng máy đã làm chấm dứt chiến thuật đội hình ô vuông và làm phát sinh đội hình tản mát của bộ binh và kéo theo các thay đổi khác của tác chiến trên bộ. Máy bay: đây là cuộc chiến tranh có sự tham gia đông đảo đầu tiên của máy bay, do máy bay đang ở giai đoạn đầu phát triển còn rất thô sơ nhưng nó đã có các hành động chiến đấu rất hiệu quả và sau này được các bên nhận thấy các tiềm năng phát triển rất lớn. Trong đại chiến máy bay làm các nhiệm vụ không chiến (đánh nhau với máy bay địch), tấn công mặt đất, trinh sát, liên lạc. Tàu ngầm: đây là vũ khí có hiệu quả nhất của Thế chiến I. Với tàu ngầm thì một hạm đội yếu có thể chống lại một hạm đội mạnh một cách hiệu quả. Một sự đầu tư nhỏ hơn (vào tàu ngầm) mang lại hiệu quả lớn hơn nhiều khi xây dựng các hạm tàu mặt nước lớn. Điều đó giải thích tại sao Hải quân Đức dồn sức xây dựng lực lượng tàu ngầm U-boat của mình trong cả Thế chiến I và Thế chiến II. Thời gian này tàu ngầm còn rất thô sơ hoạt động nổi là chủ yếu, chỉ lặn xuống khi gặp tàu chiến đối phương và vũ khí ngư lôi mang theo cũng không nhiều, độ chính xác kém, thường tàu ngầm chỉ dùng ngư lôi để bắn tàu chiến đối phương khi đang lặn, còn đối với tàu vận tải thì nó nổi lên dùng pháo để bắn chìm. Với sự nguy hiểm của tàu ngầm đã diễn ra cuộc đấu tranh quyết liệt giữa phá giao thông và bảo vệ giao thông trên biển cũng như giữa tàu ngầm và tàu săn ngầm với các thiết bị thuỷ âm phát hiện tàu ngầm. Trong thế chiến này lực lượng tàu ngầm của Đức đã đánh chìm một lượng lớn tải trọng tàu vận tải của Anh và làm kinh tế Anh lao đao, nhưng đồng thời nó cũng bị thiệt hại rất nặng nề. Xe tăng: đây là vũ khí ra đời trong thế chiến để khắc phục sự mất cân đối giữa tấn công và phòng ngự tuy xe tăng còn rất thô sơ thiếu độ tin cậy nhưng đã chứng minh được tiềm năng phát triển của mình và các bên đua nhau chế tạo xe tăng. Từ trận đầu tham chiến vào tháng 9 năm 1916 tại trận Sông Somme đến năm 1917 phía Entente có trận Cambrai đã huy động hơn 400 xe tăng để tấn công. Tuy nhiên xe tăng trong thế chiến I vì các tính năng còn yếu kém của mình mới chỉ được sử dụng như phương tiện yểm trợ bộ binh để đánh chiến tuyến của địch, chỉ đến Chiến tranh thế giới thứ hai xe tăng mới phát huy hết tính năng tấn công cơ động thọc sâu của nó. == Hậu quả của chiến tranh == === Ảnh hưởng kinh tế, địa - chính trị === Chiến tranh thế giới thứ nhất để lại rất nhiều hậu quả trước mắt và lâu dài. Cuộc chiến làm hơn mười triệu người chết và hàng chục triệu người khác bị tàn phế, các thành phố, làng mạc, đường sá, cầu cống, nhà máy bị phá hủy. Số tiền các nước tham chiến chi phí cho chiến tranh lên tới khoảng 85 tỉ đôla. Ngoài sức mạnh tàn phá nhân mạng, kinh tế, vật chất, nó còn gây hãi hùng lâu dài về tâm lý cho cả châu Âu gây ra một thế hệ bị mất mát của châu Âu. Chính cuộc chiến này làm cho châu Âu tụt hậu và mất đi vai trò lãnh đạo văn minh nhân loại mà nó đã đảm đương trong hơn 300 năm qua và dần dần vai trò đó chuyển sang bên kia đại dương cho Hoa Kỳ. Chiến tranh gây ra sự thay đổi rất lớn trong bản đồ chính trị châu Âu. Cuộc chiến dẫn đến sự sụp đổ của bốn đế quốc Nga (1917), Đức (1918), Áo - Hung (1918), Ottoman (1923) với các triều đình quân chủ hàng trăm năm bị suy đổ trong đó hai cường quốc Áo - Hung và Ottoman bị phân rã và mất hẳn vai trò cường quốc. Hai đế quốc Đức, Nga bị cắt xén lãnh thổ và bị kiềm chế với tình cảm dân tộc nước lớn bị tổn thương sâu sắc và đó là đất đai rất tốt cho tư tưởng phục thù để dẫn đến một thế chiến mới. Rất nhiều các nước nhỏ xuất hiện từ sự phân rã của các đế quốc và từ sự phân chia mang tính chủ quan, quan liêu của các cường quốc thắng trận dẫn đến các mâu thuẫn lộn xộn gây mất ổn định thế giới sau này. Chiến tranh này cho thấy rõ mâu thuẫn ghê gớm của hệ thống thuộc địa một nguyên nhân của đại chiến thế giới, tuy rằng sau chiến tranh nó còn tiếp tục tồn tại theo quán tính nhưng sau Thế chiến II, nó bị tất cả các nước, cả thuộc địa và cả một số chủ thuộc địa cùng tìm cách phá bỏ. Chiến tranh thế giới thứ nhất cũng ngay lập tức đem lại những thay đổi về hệ thống chính trị tại các nước châu Âu. Tại Đức, nền quân chủ bị lật đổ, Cộng hòa Weimar ra đời. Tuy nhiên nền cộng hòa này cũng sớm đối mặt liên tục với những khó khăn chồng chất về kinh tế và xã hội, và tồn tại được 15 năm trước khi Adolf Hitler lên nắm quyền. Một trong những ảnh hưởng lâu dài nhất của Chiến tranh thế giới thứ nhất là sự ra đời của Liên Bang Xô Viết. Chiến tranh đã làm cho người dân Nga lâm vào tình trạng vô cùng khó khăn. Hoàn cảnh này đã đẩy Nga vào cuộc Cách mạng tháng Mười với sự thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản. Điều đó khiến cho các nước phương Tây vô cùng lo sợ và đề phòng sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản, làm nảy sinh những mối nghi ngờ liên tục lẫn nhau giữa các nước này và Liên Xô gần như suốt cả thế kỉ 20. Thế chiến I kết thúc cũng là sự mở màn cho thế lực phát xít lên ngôi tại nhiều nước trong bối cảnh xã hội bất ổn như tại Ý và Đức. Như vậy châu Âu sau cuộc chiến đã có sự chia rẽ rõ rệt về mặt chính trị giữa các thế lực cộng sản, phát xít và phương Tây, tạo bệ phóng cho một cuộc thế chiến mới. === Ảnh hưởng tâm lý - xã hội === Chiến tranh đồng thời gây ra các xu hướng tâm lý - xã hội đối nghịch: Một mặt trước đây rất nhiều tầng lớp người châu Âu bị cuốn theo tình cảm dân tộc chủ nghĩa và sau chiến tranh họ nhận thức ra được kết quả mà chủ nghĩa dân tộc quá đáng có thể mang lại nên họ bắt đầu định hướng lại theo một tinh thần mới với tinh thần chủ nghĩa quốc tế và xu hướng hoà bình chủ nghĩa, nhân đạo chủ nghĩa. Sau chiến tranh, thế giới đã tổ chức ra Hội Quốc Liên và phong trào hoà bình nảy nở mạnh ra trên khắp toàn cầu đó là các thể hiện của xu thế này. Mặt khác có một xu hướng hoàn toàn đối nghịch hẳn lại: Đó là sự thất vọng vào các giá trị nhân văn của loài người và phát sinh tâm lý tôn sùng sức mạnh, tôn sùng bạo lực với sự tin tưởng rằng chỉ có sức mạnh và sự cứng rắn mới là chỗ dựa đáng tin cậy trong thời đại bất ổn này. Đây là cơ sở để nảy nở tâm lý thô bạo và chủ nghĩa hư vô, hoài nghi, tâm lý này là đất đai rất tươi tốt cho chủ nghĩa quân phiệt và chủ nghĩa phát xít và các xu hướng cực đoan nảy nở và bám rễ trong xã hội sau chiến tranh. Sau khi Triều đình Ottoman phải ký Hiệp định Sevres, ngọn lửa dân tôc chủ nghĩa đã bùng cháy, với cuộc Chiến tranh Giải phóng Dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ do Chính phủ đối lập của lãnh tụ Mustafa Kemal Atatürk phát động tại Ankara, nhằm phản đối việc Sultan Mehmed VI ký kết Hiệp định Sevres và đánh đuổi quân Entente (lần này bao gồm Anh, Pháp, Ý, Hy Lạp). Lợi dụng quân Entente còn quá mỏi mệt với cuộc Đại chiến vừa qua, phe dân tộc chủ nghĩa Thổ Nhĩ Kỳ tổ chức tiến công đánh tan tác quân Entente, buộc địch phải ký Hiệp định Lausanne (1923). Với Hiệp định này, Đế quốc Ottoman sụp đổ, Sultan Mehmed VI thoái vị, và nước Cộng hòa Thổ Nhĩ Kỳ ra đời vào tháng 10 năm 1923. Chiến tranh cũng đồng thời gây ra cảm giác đây là kết thúc của "thế giới cũ" là kết thúc của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc. Trên nền tảng đó các phong trào cộng sản và phong trào chủ nghĩa xã hội nảy nở và phát triển rất mạnh mẽ ở châu Âu và trên thế giới. == Những bài học chính trị của Chiến tranh thế giới thứ nhất == Chiến tranh thế giới cho thấy, trong điều kiện của các mối quan hệ chặt chẽ của thế giới, của công nghệ cao, quy mô toàn cầu, với độ tàn phá khủng khiếp của chiến tranh thì "không ai có thể có lợi trong chiến tranh nếu nó nổ ra, thậm chí là chiến tranh khu vực". Đối với Đế quốc Anh, cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất là một chiến thắng kiểu Pyrros của họ. Họ gặp khó khăn trong việc duy trì Đế chế rộng lớn của họ kể từ sau cuộc chiến kinh hoàng này. Pháp còn thể hiện chiến thắng kiểu Pyrros rõ ràng hơn Anh Quốc. Nhờ có cao trào Cách mạng Nga năm 1917, Pháp không thể liên minh với nước Nga được nữa. Người Đức đã đập phá tan tành những trung tâm công nghiệp của Pháp và chinh phạt được đủ đất đai để có thể thực hiện phần lớn chiến lược về cuối cuộc Đại chiến. Cả Anh Quốc và Pháp đều chỉ có thể chấm dứt cuộc chiến nhờ sự đổ bộ của quân Mỹ. Cuộc chiến tranh chứng tỏ rằng nước Đức mạnh hơn Pháp, do đó Pháp không thể nào một mình thắng Đức. Bị khánh kiệt, nhiều người Pháp sau cuộc Đại chiến thường cho rằng "chúng ta không thể làm nên một trận Verdun nữa". Thủ tướng Pháp Clemenceau cũng thừa nhận rằng trong vài năm tới, nước Đức sẽ bỏ xa Pháp về công nghiệp, thương mại và tài chính. Với những lợi thế này, sau chiến tranh nước Đức phát triển bỏ xa Pháp và tạo điều kiện cho Đức một lần nữa lên tranh hùng tranh bá. Giữa thập niên năm 1920, nhiều người Pháp tin chắc rằng nước này sẽ một lần nữa bị người Đức tiến công. Cho đến năm 1939, mọi việc đã chứng tỏ chiến thắng kiểu Pyrros của các nước Entente dẫn đến sự suy yếu của bọn họ. Chiến thắng kiểu Pyrros của Pháp trong cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ nhất kế tiếp đại bại thê thảm của Pháp trong cuộc chiến tranh chống Phổ (1870 - 1871), và được kế tiếp bởi đại bại tả tơi của quân Pháp trước các chiến binh tinh nhuệ Đức vào năm 1940 và trước những cao trào đấu tranh giành độc lập của các dân tộc thuộc địa (như vào năm 1954 tại Việt Nam và 1962 tại Algérie). Và, như đã nói, không lâu sau cuộc Đại chiến, vào năm 1923, các nước Anh, Pháp, Ý, Hy Lạp đều phải chịu thất bại trong cuộc Chiến tranh Giải phóng Dân tộc Thổ Nhĩ Kỳ. Những chiến bại thê thảm ấy cũng là vì sự nhừ đòn và tổn hại khủng khiếp của Pháp trong cuộc Đại chiến 1914 - 1918 này. Thế giới đã đi vào giai đoạn phát triển kinh tế, văn hoá, chính trị có trình độ cao, ở mức trình độ đó thế giới không thể còn chỗ cho chủ nghĩa đế quốc và các loại chủ nghĩa nước lớn trắng trợn. Với các quan hệ quốc tế chặt chẽ và quyền lợi đan xen thì chủ nghĩa ích kỷ ở phạm vi quốc gia và quốc tế tất yếu dẫn đến xung đột đối kháng, và chiến tranh thì đều thiệt hại cho tất cả các bên. Tư duy đế quốc chủ nghĩa phải bị loại trừ ra khỏi các quan hệ quốc tế, nảy sinh loại tư duy mới là "cùng tồn tại hoà bình, thoả hiệp các lợi ích trên cơ sở các bên cùng có lợi". Chính vì vậy ngay sau Thế chiến I các nước đã đồng lòng tổ chức ra Hội Quốc Liên với mục tiêu để điều hoà các quan hệ quốc tế trên cơ sở các bên cùng chấp nhận được. Hệ thống thuộc địa như nguyên nhân của mâu thuẫn phải bị loại bỏ, bắt đầu từ Thế chiến I hệ thống thuộc địa thế giới bắt đầu lỏng lẻo và đến sau Thế chiến II thì diễn ra quá trình phi thực dân hoá ồ ạt với sự cổ vũ và chấp nhận của nhiều cường quốc thế giới. Một bài học rất to lớn của Thế chiến I và II cho thấy: "yếu tố dân tộc quốc gia là có động lực rất lớn và các quyền lợi chính đáng của nó phải được tôn trọng". Tình hình quốc tế không thể yên nếu dựa trên cơ sở không tôn trọng tình cảm, quyền lợi chính đáng của quốc gia, dân tộc. Một dân tộc bị dồn vào thế cùng đường sẽ phản ứng rất mãnh liệt gây hậu hoạ cho hoà bình thế giới. Một ví dụ rất điển hình: sự kiềm chế kìm hãm càng chặt chẽ đối với Đức sau Thế chiến I chỉ càng thúc đẩy chủ nghĩa phục thù với sự tìm kiếm các phương sách càng quyết liệt, cực đoan hơn của Hitler và cuối cùng là với các kết quả thảm khốc đối với người kìm hãm. Sau Thế chiến II Hoa Kỳ như một thế lực lãnh đạo thế giới đã nhận thức được vấn đề này nên trong chương trình tái thiết sau chiến tranh đã giúp đỡ cả các nước kẻ thù thua trận: Đức, Ý, Nhật để các nước này vươn lên không ở vị thế buộc phải lao tiếp vào chủ nghĩa phục thù. Và một bài học cuối đúc rút từ các bài học trên "Vấn đề chiến tranh và hoà bình là vấn đề chung của cả thế giới". Một khi chiến tranh nổ ra nó dễ dàng kéo cả thế giới vào cuộc. Với hậu quả quá khốc liệt của chiến tranh loài người phải nhận thức được sự cần thiết "cần ngăn chặn nó trước khi quá muộn" đó phải là nỗ lực chung của tất cả các nước. Hiện nay, tuy đã có rất nhiều cuộc chiến tranh khu vực nổ ra và đã có lúc thế giới bên bờ vực chiến tranh, nhưng về cơ bản hoà bình thế giới vẫn được giữ vững và chưa thấy có triệu chứng của một đại chiến mới điều đó cho thấy ít nhiều thì nhân loại cũng đã rút được các bài học chính trị của hai cuộc đại chiến, đã biết hoá giải các mâu thuẫn bằng hoà bình, và chí ít thì đó cũng là một đóng góp của Chiến tranh thế giới thứ nhất (và thứ hai) vào tri thức nhân loại. == Xem thêm == Chiến tranh thế giới thứ hai Các trận đánh trong thế chiến thứ nhất Một hòa bình để kết thúc mọi hòa bình == Chú thích == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Các loại số liệu đề tài của Thế chiến thứ nhất Các hình ảnh về Thế chiến thứ nhất bằng tiếng Nga Ảnh lưu trữ của Quân Đức về Mặt trận phía đông
lê quang đạo.txt
Lê Quang Đạo (1921-1999) tên thật là Nguyễn Đức Nguyện, là một chính khách của Việt Nam, nguyên Chủ tịch Quốc hội Việt Nam, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Việt Nam (1987-1992). Ông cũng từng là một tướng lĩnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, cấp bậc Trung tướng. Chủ tịch đầu tiên của Hội họ Nguyễn Việt Nam. == Tiểu sử tóm tắt == Ông tên thật là Nguyễn Đức Nguyện, sinh ngày 8 tháng 8 năm 1921, quê phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Cha ông là cụ Nguyễn Đức Cung (Cụ Thơ La), mẹ ông là cụ Nguyễn Thị Lạc. == Quá trình hoạt động cách mạng == 1938, ông hoạt động trong phong trào Thanh niên Dân chủ ở Hà Nội. Tháng 8 năm 1940, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Tháng 8-1940, chi bộ Cộng sản Đình Bảng được thành lập tại Đền Đô nơi thờ Lý Bát Đế, ông được tín nhiệm bầu làm Bí thư chi bộ Cộng sản đầu tiên của quê hương Đình Bảng. Ông cùng người cậu ruột của mình là Nguyễn Duy Thân cùng hoạt động cách mạng. Giữa năm 1941, ông thoát ly công tác cách mạng, là Bí thư Ban cán sự Đảng của huyện Từ Sơn. 1941-1942, ông là Bí thư Ban cán sự Đảng tỉnh Bắc Ninh, Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ. Đầu năm 1942, xứ uỷ Bắc Kỳ quyết định thành lập Ban Cán sự tỉnh Phúc Yên do ông làm Bí thư. 1943-1945, ông là Bí thư Ban cán sự Đảng Thành phố Hà Nội được thực dân Pháp đặt bí danh Đốc lý đỏ Ngoài ra ông còn là Ủy viên thường vụ Xứ ủy Bắc Kỳ, biên tập viên các báo "Cứu quốc", "Cờ giải phóng", phụ trách báo "Quyết thắng" và các lớp đào tạo cán bộ Việt Minh ở Chiến khu Hoàng Hoa Thám. Ông còn được giao nhiệm vụ trực tiếp giảng bài ở các lớp bồi dưỡng lý luận về Đảng và công tác cách mạng cho các nhóm cốt cán của Đoàn Thanh niên Cứu quốc Hà Nội và Hội Văn hóa Cứu quốc. Từ tháng 8 năm 1945 đến năm 1946, ông là Chính trị viên Chi đội Giải phóng quân tỉnh Bắc Giang, Bí thư Thành ủy Hải Phòng. Tháng 4 năm 1946 - 1949, ông là Ủy viên Xứ ủy Bắc Kỳ, Bí thư Thành ủy Hà Nội (từ tháng 4 đến giữa năm 1946), Phó Bí thư Khu ủy khu XI, Bí thư Thành ủy Hà Nội (tháng 11 năm 1947), Bí thư liên tỉnh Hà Nội-Hà Đông. 1949, ông làm Phó ban Ban Tuyên huấn Trung ương Đảng sau đó ông chuyển sang công tác tuyên huấn bên quân đội. == Hoạt động trong quân đội == 28 năm trong quân đội, Lê Quang Đạo đã đem hết tài năng, và sức lực, tâm hồn và trí tuệ xây dựng và chỉ đạo ngành Tuyên huấn quân đội. Ông là một nhà hoạt động tư tưởng và văn hoá xuất sắc của quân đội và của Đảng 1950-1954, ông phụ trách công tác tuyên huấn Chiến dịch Biên giới, là Cục trưởng đầu tiên của Cục Tuyên huấn, Phó Chủ nhiệm chính trị trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, quyền Chính ủy Đại đoàn 308 trong cuộc tấn công sang Thượng Lào, Phó trưởng đoàn Quân đội Nhân dân Việt Nam trong Ủy ban Liên hiệp đình chiến, Ủy viên Ban Liên hiệp đình chiến Trung ương. Ông thụ phong quân hàm Thiếu tướng năm 1959 và Trung tướng năm 1974. 1955-1976, ông là Phó Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị trực tiếp chỉ đạo công tác tuyên huấn, địch vận đối ngoại của quân đội, Ủy viên thường trực Quân ủy Trung ương (1965-1976). Năm 1961 ông kiêm chức Viện trưởng Viện Kiểm sát quân sự Trung ương. Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam III năm 1961, ông được bầu làm Ủy viên dự khuyết Ban chấp hành Trung ương. 1968-1972, ông làm Chính ủy các chiến dịch quân sự lớn: Đường 9 - Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào và Trị Thiên giải phóng Quảng Trị. Năm 1974 ông là Ủy viên Thường trực Quân ủy Trung ương, phong quân hàm Trung tướng, Giám đốc Học viện Chính trị Quân đội. Tại Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam IV năm 1976, ông được bầu làm Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam. == Chuyển sang công tác dân sự == Tháng 6 năm 1978, ông làm Phó Bí thư Thành ủy kiêm Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự thành phố Hà Nội. Là Phó Bí thư Thường trực Thành ủy Hà Nội, ông đã cùng tập thể Thường vụ Thành ủy lo chạy gạo, mỳ, chất đốt... cho nhu cầu tối thiểu của người dân. Để tiết kiệm cho công quỹ thành phố, ông đi bộ từ nhà đến cơ quan mang theo một cà mèn cơm như cán bộ nhân viên thời đó. Trong gian nan, ông đã dành nhiều công sức đi xuống các trường đại học, các viện nghiên cứu, nhà máy, xí nghiệp, gặp gỡ lắng nghe ý kiến ở cơ sở để có cái nhìn toàn diện, cụ thể về sự phát triển Thủ đô và từng bước tháo gỡ những khó khăn. Thực tế sinh động là căn cứ quan trọng để ông sớm nhìn nhận ra và đồng tình với quan điểm đổi mới của Trường Chinh trong dự thảo Nghị quyết Đại hội VI của Đảng, vì đó là thời kỳ khởi đầu một bước ngoặt mới trong sự phát triển của đất nước. == Công tác Trung ương == Từ 1982 ông là Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Khoa giáo Trung ương, phụ trách công tác dân vận khoa giáo và tham gia Đoàn Chủ tịch UBTƯ MTTQ Việt Nam. 1987-1992, ông là Chủ tịch Quốc hội, Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước. Gần một năm sau khi ông làm chủ tịch Quốc hội, Luật Đất đai đã được thông qua. Từ năm 1988, là Bí thư Đảng đoàn Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Tháng 8 năm 1994, ông là Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam từ khóa III đến khóa VI (dự khuyết từ 1960, chính thức từ 1972 đến 1991), Bí thư Trung ương Đảng các khóa IV và V (1976-1986), Đại biểu Quốc hội khóa VIII và IX. == Cuối đời == Ông mất ngày 24 tháng 7 năm 1999 tại Hà Nội. Ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, huyện Từ Liêm, TP Hà Nội. == Gia đình == Vợ ông là nhà văn Nguyễn Thị Nguyệt Tú, nguyên Giám đốc Nhà xuất bản Phụ nữ Con trai: Nguyễn Quang Thắng Con trai: Nguyễn Quang Bắc, Thiếu tướng, Tiến sĩ khoa học, nguyên Phó Chủ nhiệm Tổng cục Kỹ thuật. Con trai: Nguyễn Quang Tuệ. Con gái: Nguyễn Nguyệt Tĩnh. == Đường Lê Quang Đạo == Tên ông đặt cho đường phố ở Hà Nội (nối Lê Đức Thọ với Đại lộ Thăng Long), Huế (từ đường Tố Hữu - phường An Đông), Đà Nẵng (đoạn cắt Phan Tứ đến đoạn cắt Nguyễn Văn Thoại). Dự kiến Thành phố Hồ Chí Minh có đường mang tên ông == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
trà vinh.txt
Trà Vinh là vùng lãnh thổ ven biển ở đồng bằng sông Cửu Long, miền Nam Việt Nam. Đặc khu hành chính là thành phố Trà Vinh, nằm trên Quốc lộ 53, cách Thành phố Hồ Chí Minh gần 200 km và cách thành phố Cần Thơ 100 km. Thành phố Trà Vinh có quyết định thành lập đặc khu trên cơ sở toàn bộ tỉnh trà vinh và thị xã Trà Vinh từ tháng 3 năm 2010. == Địa lý == === Vị trí địa lý === Trà Vinh là một tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long; vị trí địa lý giới hạn từ 9°31'46" đến 10°4'5" vĩ độ Bắc và từ 105°57'16" đến 106°36'04" kinh độ Đông. Trà Vinh cách thành phố Hồ Chí Minh 200 km đi bằng quốc lộ 53 qua tỉnh Vĩnh Long, khoảng cách rút ngắn thời gian chỉ còn 130 km nếu đi bằng quốc lộ 60 qua tỉnh Bến Tre, cách thành phố Cần Thơ 95 km. Được bao bọc bởi sông Tiền, sông Hậu với 02 cửa Cung Hầu và Định An nên giao thông đường thủy có điều kiện phát triển. Trà Vinh là tỉnh duyên hải Đồng bằng sông Cửu Long, phía Đông giáp Biển Đông, phía Tây giáp Vĩnh Long, phía Nam giáp Sóc Trăng, phía Bắc giáp tỉnh Bến Tre, có 65 km bờ biển. === Địa hình === Trà Vinh nằm ở phần cuối cù lao kẹp giữa sông Tiền và sông Hậu. Địa hình chủ yếu là những khu đất bằng phẳng với độ cao trên dưới 1m so với mặt biển. ở vùng đồng bằng ven biển nên có các giồng cát, chạy liên tục theo bình vòng cung và song song với bờ biển. Càng về phía biển, các giồng này càng cao và rộng lớn. Do sự chia cắt bởi các giồng và hệ thống trục lộ, kinh rạch chằng chịt, địa hình toàn vùng khá phức tạp. Các vùng trũng xen kẹp với các giồng cao, xu thế độ dốc chỉ thể hiện trên từng cánh đồng. Riêng phần phía nam tỉnh là vùng đất thấp, bị các giống cát hình cánh cung chia cắt thành nhiều vùng trũng cục bộ, nhiều nơi chỉ ở độ cao 0,5-0,8 m nên hàng năm thường bị ngập mặn 0,4-0,8 m trong thời gian 3-5 tháng. === Sông ngòi === Trên địa bàn Trà Vinh có hệ thống sông chính với tổng chiều dài 578 km, trong đó có các sông lớn là sông Hậu, sông Cổ Chiên và sông Măng Thít. Các sông ngòi, kênh rạch trên địa bàn Trà Vinh hợp lưu đổ ra biển chủ yếu qua hai cửa sông chính là cửa Cổ Chiên hay còn gọi là cửa Cung Hầu và cửa Định An. === Khí hậu === Nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long, tỉnh Trà Vinh cũng có những thuận lợi chung như: có điều kiện ánh sáng bức xạ dồi dào, nhiệt độ cao và ổn định, Tuy nhiên, do đặc thù của vùng khí hậu ven biển tỉnh Trà Vinh có một số hạn chế về mặt khí tượng như gió chướng mạnh, bốc hơi cao, mưa ít. Trà Vinh nằm trong vùng nhiệt đới có khí hậu ôn hòa, nhiệt độ trung bình từ 26 - 27OC, độ ẩm trung bình 80 - 85%/năm, ít bị ảnh hưởng bởi bão, lũ. mùa mưa từ tháng 5 - tháng 11, mùa khô từ tháng 12 - tháng 4 năm sau, lượng mưa trung bình từ 1.400 - 1.600 mm có điều kiện thuận lợi cho việc đầu tư sản xuất, kinh doanh và du lịch. Hàng năm Hạn hán thường xảy ra gây khó khăn cho sản xuất với số ngày không mưa liên tục từ 10 đến 18 ngày, trong đó các huyện như Cầu Kè, Càng Long, Trà Cú là các huyện ít bị hạn. Huyện Tiểu Cần hạn đầu vụ khoảng tháng 6 và tháng 7 là quan trọng trong khi các huyện còn lại như Châu Thành, Cầu Ngang, Duyên Hải hạn giữa vụ nhưng tháng 7 và 8 thường nghiêm trọng hơn. == Lịch sử == === Thời nhà Nguyễn độc lập === Thời nhà Nguyễn, Trà Vinh là tên 1 huyện (trước đó là phủ) thuộc phủ Lạc Hóa, tỉnh Vĩnh Long được lập ra năm 1832. Vùng đất và tên gọi "Trà Vang", tiền thân của tỉnh Trà Vinh sau này đã có từ trước khi Chúa Nguyễn lập Châu Định Viễn, dựng Dinh Long Hồ vào năm 1732. Như vậy, lúc bấy giờ đất Trà Vinh thuộc Châu Định Viễn. Năm 1802, sau khi lên ngôi, vua Gia Long bắt tay ngay vào việc sắp xếp và phân định lại ranh giới các đơn vị hành chính trên toàn quốc. Từ đó, Gia Định phủ được đổi thành Gia Định Trấn. Lãnh thổ Gia Định Trấn được phân chia thành 4 dinh và 1 trấn phụ, vùng đất Trà Vinh lúc này thuộc Dinh Vĩnh Trấn. Năm 1803, vua Gia Long cho lập địa đồ các dinh thuộc Gia Định Trấn và đổi Dinh Vĩnh Trấn thành Dinh Hoằng Trấn. Vùng đất Trà Vinh lúc này thuộc Dinh Hoằng Trấn. Năm 1808, Gia Long đổi Gia Định Trấn thành Gia Định Thành, Dinh Vĩnh Trấn được đổi thành Trấn Vĩnh Thanh. Lúc bấy giờ, vùng đất Trà Vinh thuộc Trấn Vĩnh Thanh. Năm 1825, vùng đất Trà Vinh được Vua Minh Mạng lập thành Phủ Lạc Hóa trực thuộc Gia Định Thành gồm hai huyện Trà Vinh và Tuân Mỹ. Đến năm 1832, Trấn Vĩnh Thanh được đổi tên là Trấn Vĩnh Long. Sau đó, Vua Minh Mạng cho đổi các trấn thành tỉnh. Vùng đất Nam Bộ được chia thành sáu tỉnh, gọi là "Nam Kỳ lục tỉnh" gồm: Biên Hòa, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên. Lúc này, Trà Vinh là một huyện thuộc Phủ Lạc Hóa tỉnh Vĩnh Long. === Thời Pháp thuộc === Năm 1876, Thống đốc Nam Kỳ ra nghị định phân chia toàn bộ Nam Kỳ thành 4 khu vực hành chính lớn. Trên cơ sở phân chia đó, khu vực hành chính lớn Vĩnh Long gồm 4 tiểu khu: Vĩnh Long, Trà Vinh, Bến Tre, Sa Đéc. Tiểu khu Trà Vinh là tiền thân của tỉnh Trà Vinh sau này. Trà Vinh được thành lập theo Nghị định ngày 20 tháng 12 năm 1899 của Toàn quyền Đông Dương trên cơ sở đổi tên gọi tiểu khu hay hạt tham biện (arrondissement) thành tỉnh (province) kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1900. Tỉnh Trà Vinh là một trong 20 tỉnh ở Nam Kỳ lúc bấy giờ. Năm 1917, tỉnh Trà Vinh có năm quận là Châu Thành, Bắc Trang, Bàng Đa, Càn Long (ban đầu chữ Càn Long được viết như vậy) và Ô Lắc. Tháng 8 năm 1928, Thống đốc Nam kỳ ra Nghị định phân chia lại địa giới hành chính. Theo đó, tỉnh Trà Vinh bãi bỏ quận Bàng Đa (nhập vào quận Châu Thành) - lỵ sở đặt tại làng Minh Đức, đổi thành Long Đức); đổi tên quận Ô Lắc thành quận Cầu Ngan (ban đầu chữ Cầu Ngan viết như vậy) - lỵ sở dời từ Ô Lắc về làng Minh Thuận; lập quận Tiểu Cần, lỵ sở đặt tại làng Tiểu Cần; dời lỵ sở quận Bắc Trang từ Bắc Trang về Thanh Xuyên; lỵ sở của quận Càng Long đặt tại An Trường (phần đất này nay thuộc thị trấn Càng Long). Tháng 11 năm 1940, Thống đốc Nam kỳ lại có Nghị định đổi tên quận Bắc Trang thành quận Trà Cú. Ngày 27 tháng 6 năm 1951, Ủy ban Kháng chiến Hành chính Nam Bộ thuộc chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa quyết định nhập 2 tỉnh Vĩnh Long và Trà Vinh thành một tỉnh có tên là tỉnh Vĩnh Trà. Huyện Tiểu Cần được nhập vào huyện Càng Long. Tuy nhiên, tên gọi tỉnh Vĩnh Trà không được chính quyền Quốc gia Việt Nam của Bảo Đại và chính quyền Việt Nam Cộng hòa công nhận. Tỉnh Vĩnh Trà tồn tại đến năm 1954, sau đó lại trả về tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh như cũ. === Thời Việt Nam Cộng hòa === Sau năm 1954, theo phân cấp hành chính của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, tỉnh Trà Vinh vẫn gồm 5 quận là: Càng Long, Châu Thành, Cầu Ngang, Tiểu Cần và Trà Cú. Trong khi đó, theo sự phân chia hành chính của chính quyền kháng chiến ngoài 5 huyện này, tỉnh Trà Vinh lại có thêm thị xã Trà Vinh. Ngày 9 tháng 2 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ban hành Sắc lệnh 16-NV thành lập tỉnh Tam Cần trên cơ sở các quận Tam Bình, Trà Ôn, Cầu Kè của tỉnh Vĩnh Long (Trà Ôn, Cầu Kè được tách ra từ tỉnh Cần Thơ và nhập về tỉnh Vĩnh Long từ năm 1948) và quận Tiểu Cần của tỉnh Trà Vinh. Ngày 21 tháng 7 năm 1956, Chính phủ Việt Nam Cộng hòa thành lập quận Long Toàn thuộc tỉnh Trà Vinh, quận lỵ đặt tại xã Long Toàn. Ngày 22 tháng 10 năm 1956, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Ngô Đình Diệm ra Sắc lệnh 143-NV về việc giải thể và sáp nhập tỉnh Tam Cần vào tỉnh Trà Vinh, đồng thời đổi tên tỉnh Trà Vinh thành tỉnh Vĩnh Bình; đổi tên xã Long Đức thành xã Phú Vinh và chọn làm lỵ sở của quận Châu Thành, tỉnh Vĩnh Bình. Theo đó, Vĩnh Bình là một trong 43 tỉnh của "lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa" và là một trong 22 tỉnh của Nam phần Việt Nam Cộng hòa. Lúc này, tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Bình cũng bị đổi tên tên là "Phú Vinh", do lấy theo tên xã Phú Vinh thuộc quận Châu Thành là nơi đặt tỉnh lỵ. Năm 1957, tỉnh Vĩnh Bình (Trà Vinh) có 9 quận là Trà Ôn, Vũng Liêm, Càng Long, Cầu Kè, Châu Thành, Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Ngang và Long Toàn. Đến ngày 14 tháng 1 năm 1967 theo sắc lệnh số 06/SL/ĐUHC chính quyền Đệ Nhị Cộng hoà, tách hai quận Vũng Liêm và Trà Ôn ra khỏi tỉnh Vĩnh Bình để nhập vào tỉnh Vĩnh Long, do đó tỉnh Vĩnh Bình cho đến năm 1975 chỉ còn lại bảy quận: Càng Long, Cầu Kè, Châu Thành, Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Ngang và Long Toàn. Đồng thời, tỉnh lỵ tỉnh Vĩnh Bình vẫn giữ nguyên tên là "Phú Vinh" cho đến năm 1975. Tuy nhiên, chính quyền Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam và sau này là Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam cùng với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không công nhận tên gọi tỉnh Vĩnh Bình mà vẫn gọi theo tên cũ là tỉnh Trà Vinh. Tháng 4 năm 1957, xuất phát từ yêu cầu củng cố lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài, Tỉnh ủy Trà Vinh quyết định sáp nhập huyện Tiểu Cần vào huyện Cầu Kè. Tháng 2 năm 1961, Tỉnh ủy Trà Vinh quyết định tách xã Long Đức (chính quyền Việt Nam Cộng Hòa gọi là xã Phú Vinh) ra khỏi huyện Châu Thành để nhập vào thị xã Trà Vinh. Tháng 2 năm 1962, Tỉnh ủy Trà Vinh quyết định thành lập huyện Duyên Hải có địa giới trùng với quận Long Toàn của chính quyền Việt Nam Cộng hòa. Năm 1967, Liên Tỉnh ủy Miền Tây cũng quyết định tách hai huyện Vũng Liêm và Trà Ôn từ tỉnh Trà Vinh để nhập về tỉnh Vĩnh Long. Từ giai đoạn này, tỉnh Trà Vinh cơ bản có địa giới hành chính trùng với hiện nay, bao gồm 8 đơn vị hành chính cấp huyện là thị xã Trà Vinh và 7 huyện: Cầu Kè, Càng Long, Châu Thành, Tiểu Cần, Trà Cú, Cầu Ngang và Duyên Hải. === Thời Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam === Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam vẫn duy trì tỉnh Trà Vinh cho đến đầu năm 1976. Tháng 2 năm 1976, Chính phủ Việt Nam quyết định hợp nhất tỉnh Trà Vinh và tỉnh Vĩnh Long để thành lập một tỉnh mới có tên là tỉnh Cửu Long, tỉnh lỵ đặt tại thị xã Vĩnh Long. Năm 1986, sau nhiều lần sáp nhập và chia tách, tỉnh Cửu Long bao gồm thị xã Vĩnh Long (tỉnh lỵ tỉnh Cửu Long), thị xã Trà Vinh và 12 huyện: Bình Minh, Cầu Kè, Cầu Ngang, Càng Long, Châu Thành, Duyên Hải, Long Hồ, Tam Bình, Tiểu Cần, Trà Cú, Trà Ôn, Vũng Liêm. Ngày 26 tháng 12 năm 1991, kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa VIII ra nghị quyết giải thể tỉnh Cửu Long để tái lập tỉnh Vĩnh Long và tỉnh Trà Vinh như cũ. Khi tách ra, tỉnh Trà Vinh có diện tích 2363,03 km², dân số 961.638 người, bao gồm thị xã Trà Vinh và 7 huyện: Càng Long, Cầu Kè, Cầu Ngang, Châu Thành, Duyên Hải, Tiểu Cần, Trà Cú.. Ngày 4 tháng 3 năm 2010, chuyển thị xã Trà Vinh thành thành phố Trà Vinh trực thuộc tỉnh Trà Vinh. Ngày 11 tháng 5 năm 2015, thành lập thị xã Duyên Hải trên cơ sở điều chỉnh một phần diện tích tự nhiên và dân số của huyện Duyên Hải. == Dân cư == Trên địa bàn Trà Vinh có 3 dân tộc, đó là người Kinh (69%) và người Khmer (29%) và người Hoa chiếm phần còn lại. Dân số Trà Vinh chiếm 5,99% Đồng bằng sông Cửu Long (theo điều tra dân số năm 2000), trong đó hơn 87% sống ở khu nông thôn. Mật độ dân số 414 người/km², tỷ lệ tăng dân số năm 2000 là 1,65. Theo tài liệu tổng điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 1999, trên địa bàn Trà Vinh có trên 290,9 nghìn người Khmer, chiếm 30,1% dân số toàn tỉnh và chiếm 27,6% số người Khmer của cả nước. Đây là địa bàn cư trú lâu đời của cộng đồng dân tộc người Khmer có nền văn hóa dân tộc đặc trưng tiếng nói, chữ viết, món ăn và đặc biệt là hệ thống chùa rất đặc thù. == Giáo dục == Hiện tại toàn tỉnh Trà Vinh có 16 trường Tiểu học, 5 trường THCS, 31 trường THPT, 4 trường Đại học, Cao đẳng. Dưới đây là danh sách các trường Đại học, Cao đẳng tại Trà Vinh. Trường Đại học Trà Vinh Trường Cao đẳng Sư phạm Trà Vinh (Lê Lợi, phường 1, tp. Trà Vinh, Trà Vinh) Trường Cao đẳng Y tế Trà Vinh (07 Nguyễn Thiện Thành, phường 5, tp. Trà Vinh, Trà Vinh) Trường Cao đẳng Nghề Trà Vinh ( Long Đức, Trà Vinh, Trà Vinh) == Hành chính == Thống kê đến ngày 30/12/2011 Tỉnh Trà Vinh có tổng số xã/phường/thị trấn: 100; xã: 79, phường: 11, thị trấn: 10 == Kinh tế == Năm 2012, tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng GDP từ 13,5% trở lên. Trong đó, giá trị nông nghiệp tăng tăng 2%, lâm nghiệp tăng 5,7%, thủy sản tăng 9%, công nghiệp tăng 15%, xây dựng tăng 27,3% và dịch vụ tăng 20%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 19,325 triệu đồng, tương đương 920 USD. Giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt 200 triệu USD, tăng 15,4% so với năm 2011. Thu ngân sách 827 tỷ đồng, tăng 27,2% so năm 2011. Tổng chi ngân sách 4.169 tỷ đồng. Huy động vốn đầu tư toàn xã hội 8.700 tỷ đồng. Ngoài ra, tỉnh đặt mục tiêu một số chỉ tiêu xã hội như tạo việc làm mới cho 22.000 lao động, trong đó có 200 lao động đi làm việc ở nước ngoài. Tỷ lệ lao động qua đào tạo, bồi dưỡng chiếm 35%. Phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo 3%, trong đồng bào dân tộc Khmer 4%... Biển Trà Vinh là một trong những ngư trường lớn của Việt Nam với trữ lượng 1,2 triệu tấn hải sản các loại, cho phép đánh bắt 63 vạn tấn/năm. == Tài nguyên thiên nhiên == Tỉnh Trà Vinh có khoảng 24.000 ha diện tích rừng và đất rừng, chủ yếu nằm dọc bờ biển tại các huyện Duyên Hải, Cầu Ngang và Trà Cú với các loại cây như bần, đước, mắm, dừa nước, chà là,… đất bãi bồi có diện tích 1.138 ha. Diện tích đất 229.200 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 186.170 ha, đất lâm nghiệp chiếm 6.922 ha, đất chuyên dùng chỉ có 9.936 ha, còn lại là đất ở nông thôn chiếm 3.108 ha, đất ở thành thị chiếm 586 ha, đất chưa sử dụng chiếm 85 ha,... Trà Vinh có 3 nhóm đất chính trong đó đất cát giồng chiếm 6,65%, đất phù sa chiếm 58,29% và đất phèn chiếm 24,44%. Diện tích nuôi trồng thủy sản chiếm 62.000 ha trong đó diện tích nuôi tôm sú 25.000 ha. Hiện nay sản lượng nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản của tỉnh có bước phát triển, nên nhu cầu về đầu tư nhà máy chế biến thủy hải sản xuất khẩu rất cần thiết. Tổng sản lượng thủy, hải sản bình quân đạt 157.000 tấn/năm. Trong đó, sản lượng hải sản khai thác 54.000 tấn, nuôi trồng 90.000 tấn, khai thác nội đồng 12.000 tấn, Sản lượng tôm sú toàn tỉnh đạt trên 19.000 tấn/năm, tôm càng xanh, tôm thẻ chân trắng 3.000 tấn/năm. Sản lượng cá đạt 52.000 tấn/ năm. Trong đó cá da trơn 30.000 tấn/năm. Sản lượng Cua đạt tổng 5.200 tấn/năm, sản lượng Nghêu đạt sản lượng 3.800 tấn/năm. Khoáng sản chủ yếu của tỉnh Trà Vinh là những loại cát dùng trong công nghiệp và xây dựng. Trong đó, trữ lượng cát sông đạt 151.574.000 m3. Đất Sét gạch ngói được Phân viện nghiên cứu địa chất công nhận là đạt yêu cầu dùng trong xây dựng, phục vụ cho công nghiệp chế biến vật liệu xây dựng. Ngoài ra trên địa bàn tỉnh còn có Mỏ nước khoáng đạt tiêu chuẩn khoáng cấp quốc gia, nhiệt độ 38,5OC, khả năng khai thác cấp trữ lượng 211 đạt sản lượng 240 m3/ngày, cấp tài nguyên 333 đạt 19.119 m3/ngày phân bổ tại thị trấn Long Toàn, huyện Duyên Hải. == Văn hóa == Tuy là vùng đất trẻ nhưng Trà Vinh có kho tàng văn hoá đa dạng, đặc biệt là văn hoá vật thể và phi vật thể của người Khmer. Người Khmer có chữ viết riêng, các lễ hội truyền thống như Chol chnam thmay (mừng năm mới), Dolta (lễ cúng ông bà), Ok Om Bok (lễ cúng trăng), Dâng bông, Dâng phước và các phong tục tập quán có giá trị văn hoá khác của người Kinh, người Hoa như Lễ hội nghinh Ông tại Mỹ Long (lễ hội nghinh ông diễn ra vào ngày 10 đến 12 tháng 5 hằng năm), Vu lan thắng hội, Tiết Trùng Cửu,... Người Khmer còn xây dựng trên địa bàn Trà Vinh nhiều chùa có kiến trúc độc đáo và hoà quyện thiên nhiên, tiêu biểu là chùa Âng, toạ lạc tên khu đất rộng 4 ha, trong thắng cảnh Ao Bà Om.Theo thống kê trên địa bàn Trà Vinh có tới 142 chùa Khmer, vượt xa số lượng của người Kinh, người Hoa và của các dân tộc khác hiện có trên địa bàn Trà Vinh cộng lại. Ngoài ra có chùa Hang, ở khu đất 10 ha với những cây cổ thụ xum xuê rộn tiếng chim gọi bầy; chùa Nôdol còn gọi là chùa Cò vì trên khuôn viên chùa rộng 3 ha đã hơn 100 năm nay trở thành nơi cư trú của hàng ngàn con cò và nhiều loại con chim quý khác; chùa Samrônge, tương truyền được xây dựng lần đầu vào năm 642 và xây dựng lại năm 1850 với nhiều biểu tượng bằng đá quý và những tấm bia cổ khắc chữ Khmer. Lễ hội cúng ông (Phúc Đức Chính Thần, địa phương gọi là "ông Bổn", tiếng Hoa là Bửng Thào Côn) của người Hoa gốc Triều Châu vào rằm tháng 7 hàng năm tại huyện Cầu Kè. Vài nơi tập trung khu xóm theo Thiên Chúa Giáo như Bãi San, Đức Mỹ... Nhà thờ tại thành phố Trà vinh có kiến trúc đẹp và cổ điển. Giáo xứ Nhị Long huyện Càng Long có Cha cố rất trẻ thụ phong Linh mục lúc 28 tuổi (Cha Sơn). == Giao thông == === Giao thông đường bộ === Toàn tỉnh có 03 quốc lộ chính là 53, 54 và 60 hiện nay đã được nâng cấp lên cấp 3 đồng bằng nối Trà Vinh với TP. Hồ Chí Minh và các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Từ tỉnh lỵ Trà Vinh đi đường bộ đến thành phố Hồ Chí Minh 200 km, đến thành phố Cần Thơ 100 km, đến khu du lịch Biển Ba Động 60 km. Quốc lộ 53 nối liền các thị trấn trong tỉnh với Thành phố Trà Vinh và thành phố Vĩnh Long. Đây là tuyến đường bộ duy nhất từ Trà Vinh với các tỉnh thuộc Đồng bằng Sông Cửu Long và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. === Giao thông đường thủy === Trà Vinh có bờ biển dài trên 65 km, được bao bọc bởi sông Tiền, sông Hậu với 02 cửa Cổ Chiên và Cung Hầu rất thuận lợi để phát triển giao thông đường thủy. Từ Trà Vinh đi Bến Tre, Tiền Giang, TP. Hồ Chí Minh theo tuyến sông Tiền rất thuận lợi, từ biển Đông đi qua kênh đào Trà Vinh đến cảng Cần Thơ là tuyến vận tải đường thủy chính của cả khu vực đồng bằng sông Cửu Long để thông thương với quốc tế. == Đặc sản ẩm thực == Trà Vinh có một số đồ ăn thức uống đã trở thành các đặc sản địa phương như cốm dẹp trộn dừa kiểu Khmer; các món đuông như đuông chà là, đuông đất và đuông dừa; mắm rươi; rượu Xuân Thạnh, bánh tét Trà Cuôn, bánh tráng ba xe, mắm kho, bún nước lèo, lươn um lá cách, cá cháy Cầu Quan, tôm càng nấu lẩu chua cơm mẻ, chuột đồng khìa nước dừa, vọp chong nướng lụi, bánh xèo, bánh ống, bánh canh Bến Có v.v... == Tỉnh kết nghĩa == Tỉnh Thái Bình, Việt Nam == Biển số xe cơ giới trong tỉnh == === Biển kiểm soát xe môtô === Thành phố Trà Vinh: 84-B1 XXX.XX; 84-C1 XXX.XX Huyện Châu Thành: 84-D1 XXX.XX Huyện Cầu Ngang: 84-E1 XXX.XX Huyện Duyên Hải: 84-M1 XXX.XX Huyện Trà Cú: 84-G1 XXX.XX Huyện Tiểu Cần: 84-H1 XXX.XXX Huyện Cầu Kè: 84-K1 XXX.XX Huyện Càng Long: 84-L XXX.XX Thị xã Duyên Hải: 84-F1 XXX.XX == Ảnh == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trà Vinh Website Tỉnh Trà Vinh
cha mẹ.txt
Cha mẹ là người chăm sóc con của họ trong giống loài của mình. Cha mẹ sinh học là người mà giao tử của họ tạo ra con, người nam qua tinh trùng và người nữ qua trứng. Với những tiến bộ sinh học gần đây, một người có thể có hơn hai cha mẹ sinh học. == Chú thích ==
samsung galaxy note 5.txt
Samsung Galaxy Note 5 là một phablet smartphone chạy hệ điều hành Android phát triển và sản xuất bởi Samsung Electronics. Galaxy Note 5 cùng với Galaxy S6 Edge+ được ra mắt trong buổi họp báo Samsung ở New York vào 13 tháng 8 năm 2015. Nó kế thừa cho Samsung Galaxy Note 4. == Tham khảo ==
nha khoa.txt
Nha khoa là một khoa học nghiên cứu, chẩn định, chữa và phòng chống các bệnh về răng và các bộ phận khác trong miệng như xương hàm, nướu, và mạc mô trong miệng, gồm luôn cả các phần gần xương mặt và má. Mặc dù chủ yếu liên quan đến răng trong công chúng nói chung, lĩnh vực nha khoa không giới hạn trong việc nghiên cứu về cấu trúc, phát triển, và những bất thường của răng. Do có quan niệm chồng chéo đáng kể, nha khoa cũng thường được hiểu là bao hàm phần lớn các ngành y tế hiện nay không còn tồn tại như nghiên cứu răng miệng, các rối loạn và các bệnh của răng miệng) do vậy nha khoa (dentistry) và việc nghiên cứu răng miệng (stomatology) có thể được sử dụng thay thế cho nhau trong một phạm vi nhất định. Nha khoa được xem là ngành y tế quan trọng trong việc cải tiến sức khỏe con người. Điều trị nha khoa thường được thực hiện bởi nhóm bác sĩ nha khoa, thường bao gồm một bác sĩ nha khoa và bác sĩ nha khoa phụ (phụ tá nha khoa, sát trùng nha khoa, kỹ thuật viên nha khoa, và trị liệu nha khoa). Hầu hết các nha sĩ làm việc trong các phòng khám tư nhân, mặc dù một số công việc trong bệnh viện và các tổ chức đặc thù (nhà tù, các lực lượng vũ trang cơ sở, v.v...). Lịch sử nha khoa là cổ xưa như lịch sử của nhân loại và nền văn minh với những bằng chứng sớm nhất có niên đại từ năm 7000 TCN. Còn từ các thời kỳ Harappan đầu của Nền văn minh thung lũng Indus (khoảng 3300 TCN) cho thấy bằng chứng của răng đã bị khoan có niên đại 9.000 năm. Phẫu thuật nha khoa được cho là phẫu thuật đầu tiên của y học. Các ngành nghề trong nha khoa gồm có: Nha sĩ là y sĩ chuyên về nha khoa. Nha tá phụ giúp nha sĩ tương tự như y tá phụ giúp y sĩ. Ngoài ra còn có chuyên viên làm răng giả, vật lý trị liệu nha khoa, v,v,... == Chú thích ==
hiệp hội công nghiệp ghi âm hoa kỳ.txt
Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ (tiếng Anh: Recording Industry Association of America - RIAA) là một cơ quan chuyên cấp chứng nhận và bản quyền cho các sản phẩm âm nhạc tại Mỹ. Các thành viên của Hiệp hội gồm các hãng thu âm và các nhà phân phối, theo như RIAA nói "sáng tạo, sản xuất và/hoặc phân phối 85% tổng sản phẩm các ấn hành âm nhạc một cách hợp pháp tại Mỹ". Hiệp hội ghi âm có trụ sở tại thủ đô của Mỹ là Washington, D.C.. Hiệp hội Công nghiệp ghi âm Hoa Kỳ được thành lập vào năm 1952. Các mục tiêu mà RIAA đề ra là: Bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quyền sửa đổi của các nghệ sĩ. Trình bày những tìm kiếm về công nghiệp âm nhạc. Giám sát và xem xét những luật thích hợp, quy định và chính sách. == Chú thích ==
thiếc.txt
Thiếc là một nguyên tố hóa học trong Bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học của Mendeleev, có ký hiệu là Sn và số nguyên tử là 50. Thiếc có màu ánh bạc, nhiệt độ nóng chảy thấp (232 °C), rất khó bị ôxy hóa, ở nhiệt độ môi trường thiếc chống được sự ăn mòn và người ta cũng tìm thấy chúng có mặt ở rất nhiều hợp kim. Nhờ đặc tính chống ăn mòn, người ta cũng thường tráng hay mạ lên các kim loại dễ bị ôxy hoá nhằm bảo vệ chúng như một lớp sơn phủ bề mặt, như trong các tấm sắt tây dùng để đựng đồ thực phẩm. Thiếc thông thường được khai thác và thu hồi từ quặng cassiterit, ở dạng Ôxít. Thiếc là một thành phần chính tạo ra hợp kim đồng thiếc. == Đặc điểm == === Vật lý === Thiếc là một kim loại màu trắng bạc, kết tinh cao, dễ uốn, dễ dát mỏng. Khi một thanh thiếc bị bẻ cong, âm thanh nứt vỡ có thể nghe được do song tinh của các tinh thể. Thiếc-β (dạng kim loại hay thiếc trắng), ổn định ở mức nhiệt độ phòng và cao hơn, có tính dễ dát mỏng; trong khi thiếc-α (dạng phi kim hay thiếc xám), ổn định ở nhiệt độ dưới 13,2 °C, có tính giòn, và tỷ trọng 7,92g/cm3. Nó có dạng cấu trúc tinh thể kiểu kim cương, tương tự như kim cương, silic hay germani. Thiếc-α không có tính chất kim loại nào cả, chúng bền ở nhiệt độ dưới 14 °C có tỷ trọng 5,85g/cm3. Thiếc trắng là một loại bột màu xám xỉn không có ứng dụng rộng rãi, ngoại trừ một vài ứng dụng làm vật liệu bán dẫn đặc biệt. Hai dạng thù hình là thiếc-α và thiếc-β thường được gọi là thiếc xám và thiếc trắng. Hai dạng thù hình khác là thiếc-γ và thiếc-σ tồn tại ở nhiệt độ trên 161 °C và áp suất trên vài GPa. Mặc dù nhiệt độ biến đổi dạng α-β trên danh nghĩa là ở 13,2 °C, nhưng các tạp chất (như Al, Zn, vv...) hạ thấp nhiệt độ chuyển đổi dưới 0 °C khá sâu, và khi bổ sung Sb hoặc Bi thì sự chuyển đổi có thể không xảy ra, làm tăng độ bền của thiếc. Sự chuyển đổi này gọi là phân rã thiếc. Phân rã thiếc từng là một vấn đề nghiêm trọng ở Bắc Âu trong thế kỷ 18 khi các loại đàn đại phong cầm làm từ hợp kim thiếc đôi khi bị ảnh hưởng trong mùa đông lạnh giá. Một vài nguồn đề cập rằng trong suốt chiến dịch ở Nga của Napoleon năm 1812, nhiệt độ trở nên quá lạnh đến nỗi các nút bằng thiếc trên đồng phục của lính phân rã theo thời gian, góp phần vào sự thất bại của Grande Armée. Thiếc phẩm cấp thương mại (99,8%) có tính kháng biến dạng do ảnh hưởng ức chế của một lượng nhỏ tạp chất bitmut, antimon, chì, và bạc. Các nguyên tố tạo hợp kim như đồng, antimon, bitmut, cadmi, và bạc tăng độ cứng của nó. Thiếc có khuynh hướng dễ dàng tạo ra các pha liên kim loại giòn cứng, là dạng không mong đợi. Nhìn chung, nó không tạo thành các dải dung dịch rắn rộng trong các kim loại khác, và chỉ có một vài nguyên tố có khả năng hòa tan rắn trong thiếc. Các hệ Eutectic xảy ra với bitmut, galli, chì, tali, và kẽm. === Hóa học === Thiếc có tính chống ăn mòn từ nước nhưng có thể dễ hòa tan bởi axit và bazơ. Thiếc có thể được đánh rất bóng và được dùng là lớp phủ bảo vệ cho các kim loại khác. Trong trường hợp này, một lớp ôxit bảo vệ được sử dụng để chống các tác nhân ôxy hóa. Lớp ôxit này được tạo ra từ ôxit thiếc và các hợp kim thiếc khác. Thiếc là một chất xúc tác khi oxy có trong dung dịch và giúp tăng tốc độ phản ứng. === Đồng vị === Thiếc là nguyên tố có nhiều đồng vị bền với các khối lượng nguyên tử 112, 114 đến 120, 122 và 124. Trong đó, phổ biến nhất là 120Sn (chiếm 1/3 trong tất cả đồng vị thiếc), 118Sn, và 116Sn, còn đồng vị ít phổ biến nhất là 115Sn. Các đồng vị có số khối chẵn không có nuclear spin trong khi các đồng vị có số khối lẻ có một spin +1/2. Thiếc, với 3 đồng vị phổ biến của nó 115Sn, 117Sn và 119Sn, là các nguyên tố dễ nhận dạng nhất và phân tích bằng NMR spectroscopy, và chemical shift được tham chiếu với SnMe4. Việc các đồng vị bền có số khối lớn được cho là sản phẩm trực tiếp của thiếc sở hữu số nguyên tử 50, đây là một số Magic trong vật lý hạt nhân. Có 28 đồng vị phóng xạ đã được biết đến, vượt qua tất cả các nguyên tố khác có số nguyên tử giữa 99 và 137. Bên cạnh 126Sn, có chu kỳ bán rã 230.000 năm, tất cả các đồng vị phóng xạ còn lại có chu kỳ bán rã nhỏ hơn một năm. Đồng vị phóng xạ 100Sn là một trong số ít các hạt nhân sở hữu hạt nhân doubly magic và được phát hiện tương đối gần đây vào năm 1994. 30 trạng thái đồng phân kích thích khác đã được miêu tả cho các đồng vị từ 111 đến 131, đồng vị phóng xạ ổn định nhất là 121mSn, có chu kỳ bán rã 43,9 năm. == Lịch sử == Thiếc được chiết tách và sử dụng vào đầu thời đại Đồ đồng vào khoảng 3000 TCN, khi quan sát rằng các loại đồng được hình thành trong các quặng đa kim chứa nhiều kim loại khác nhau về các tính chất vật lý. Các vật dụng bằng đồng sớm nhất có hàm lượng thiếc hoặc asen nhỏ hơn 2% và do đó được cho là kết quả không chủ ý của việc tạo thành hợp kim do các kim loại này tồn tại ở dạng vết trong quặng đồng. Việc thêm vào kim loại thứ hai trong đồn làm tăng độ cứng của nó, giảm nhiệt độ nóng chảy, và cải thiện quá trình đúc bằng cách tạo ra những chất lỏng nóng chảy hơn khi lạnh tạo thành kim loại ít rỗng, đặc hơn. Đây là một sáng chế quan trọng cho phép tạo ra các hình đúc phức tạp trong giới hạn công nghệ của thời đại đồ đồng. Các vật dụng Arsenical bronze xuất hiện đầu tiên ở vùng Cận Đông nơi asen được tìm thấy phổ biến cộng sinh với quặng đồng, như rủi ro đến sức khỏe của kim loại này được nhận ra nhanh chóng và người ta tìm nguồn quặng thiếc ít nguy hiểm hơn bắt đầu vào đầu thời đại đồ đồng. Điều này làm tăng tính hiếm của kim loại thiếc và hình thành mạng lưới thương mại liên kết các nguồn tài nguyên thiếc ở xa với các thị trường của các nền văn hóa thời đại Đồ đồng. Cassiterit (SnO2), một dạng ôxít thiếc, là nguồn thiếc sơ cấp có thể phổ biến nhất vào thời cổ đại. Các dạng quặng thiếc khác ở dạng sulfua ít phổ biến hơn như stannit thì cần phải có quá trình nung chảy nhiều hơn. Cassiterit thường tích tục trong các lòng dẫn bồi tích ở dạng mỏ sa khoáng do loại quặng này nặng hơn, cứng hơn và bề hóa học hơn loại đá granit chứa nó. Các mỏ này có thể được phát hiện dễ dàng trên các bờ sông vì cassiterit thường có màu đen, tím hoặc màu sẫm khác, đặc điểm này được dùng để nhận dạng trong tìm kiếm vào đầu thời đại đồ đồng. Thiếc được gọi là 'ÓN' thời Ai Cập cổ đại 3000-4000 năm trước và được dùng trong các đường ống bơm. == Hợp chất == Phần lớn thiếc tạo thành các hợp chất ở trạng thái ôxy hóa II hoặc IV. === Hợp chất vô cơ === Các muối halua của thiếc đều tồn tại ờ hai trang thái ôxy hóa. Sn(IV) gồm tất cả 4 muối halua: SnF4, SnCl4, SnBr4, và SnI4. 3 hợp chất nặng hơn là các hợp chất phân tử dễ bay hơi, trong khi tetrafluorua là polymer. Tất cả 4 muối halua trên cũng tồn tại ở trạng thái ôxy hóa II) gồm: SnF2, SnCl2, SnBr2, và SnI2, tất cả chúng là các chất rắn polymer. Trong số tám hợp chất này, chỉ có các iodua là có màu. Thiếc(II) clorua là loại muối thiếc quan trọng nhất trong thương mại. Phương trình hóa học bên dưới minh họa cách hợp chất này được tạo ra khi clo phản ứng của thiếc kim loại tạo ra SnCl4, sau đó muối mới phản ứng tiếp với thiếc tạo ra SnCl2: SnCl4 + Sn → 2 SnCl2 Thiếc có thể tạo thành nhiều ôxít, sulfua, và các dẫn suất chalcogen. Thiếc điôxít SnO2 (cassiterit) tạo thành khi thiếc được nung có mặt của không khí. SnO2 là chất lưỡng tính, nên nó hòa tan trong cả môi trường axít và bazơ. Ngoài ra, thiếc còn tạo axít với cấu trúc [Sn(OH)6]2−, như K2[Sn(OH)6], mặc dù axít stanic tự do H2[Sn(OH)6] thì không rõ. Các dạng sulfua của thiếc cũng tồn tại ở hai trạng thái ôxy hóa +2 và +4: Thiếc(II) sulfua và Thiếc(IV) sulfua. === Hydrua === Stannane (SnH4), thiếc ở trạng thái ôxy hóa +4 là dạng không bền. Tuy nhiên, Organotin hydrua cũng được biết đến như tributyltin hydrua (Sn(C4H9)3H). Các hợp chất này là các dạng hiếm hoi của thiếc(III). == Phân bố == Thiếc được tạo ra qua quá trình S trong các sao khối lượng thấp đến trung bình (khối lượng từ 0,6 đến 10 lần khối lượng Mặt Trời). Nó phát sinh qua phân rã beta của các đồng vị nặng của indi. Thiếc là nguyên tố phổ biến thứ 49 trong vỏ Trái Đất, với nồng độ 2 ppm so với 75 ppm của kẽm, 50 ppm của đồng, và 14 ppm của chì. Thiếc không tồn tại ở dạng nguyên tố trong tự nhiên, vì vậy phải được chiết tách từ nhiều loại quặng khác nhau. Cassiterit (SnO2) là nguồn thiếc thương mại duy nhất, mặc dù một lượng nhỏ thiếc được phát hiện trong các dạng sulfua như stannit, cylindrit, franckeit, canfieldit, và teallit. Các khoáng thiếc luôn đi cùng với đá granit, thường chiếm khoảng 1% hàm lượng thiếc ôxít. Do thiếc ôxít có tỷ trọng cao, khoảng 80% thiếc được khai thác ở dạng thứ sinh được tìm thấy ở hạ lưu các con suối. thiếc thường được phát hiện ở dạng hạt bị rửa trôi xuống hạ lưu suối trong quá khứ và lắng đọng trong các thung lũng hoặc dưới biển. Các phương pháp khai thác thiếc kinh tế nhất là xúc, rửa thủy lực hoặc khai thác lộ thiên. Hầu hết thiếc trên thế giới được sản xuất từ các mỏ sa khoáng, chúng có thể chứa ít nhất 0,015% thiếc. Khoảng 253.000 tấn thiếc được khai tác trong năm 2011, chủ yếu ở Trung Quốc (110.000 t), Indonesia (51.000 t), Peru (34.600 t), Bolivia (20.700 t) và Brazil (12.000 t). Ước tính sản lượng thiếc thay đổi có thể thay đổi do tác động của tính khả thi về mặt kinh tế và sự phát triển của công nghệ khai thác mỏ, nhưng với tốc độ tiêu thụ và công nghệ hiện tại, Trái Đất sẽ hết thiếc trong vòng 40 năm tới. Tuy vậy, Lester Brown đề xuất rằng thiếc có thể cạn kiệt trong vòng 20 năm tới dựa trên việc ngoại suy tăng trưởng sử dụng 2% mỗi năm. Thứ hai là thiếc phế liệu cũng là một nguồn kim loại quan trọng. Sự thu hồi thiếc qua sản xuất thứ cấp, hoặc tái chế thiếc phế liệu, đang tăng lên nhanh chóng. Trong khi đó, Hoa Kỳ đã không khai thác từ năm 1993 và cũng không nung chảy thiếc từ năm 1989, nên đây là nước sản xuất thiếc phế liệu lớn nhất, họ tái chế gần 14.000 tấn trong năm 2006 Các mỏ mới được phát hiện ở miền nam Mông Cổ, và trong năm 2009, các mỏ thiếc mới cũng được phát hiện ở Colombia, bởi Seminole Group Colombia CI, SAS. == Sản xuất == Thiếc được sản xuất từ việc khử quặng ôxít thiếc bằng cacbon hay than cốc trong lò lửa quặt hay lò điện. === Khai thác mỏ và nấu luyện === Năm 2006, tổng sản lượng thiếc của 9 nhà sản xuất trên toàn thế giới đạt 321.000 tấn, sản lượng thiếc nấu luyện là 340.000 tấn. Từ mức sản lượng 186.300 tấn năm 1991, sản lượng thiếc tăng 89% lên 351.800 tấn năm 2005. Hầu hết sản lượng tăng là từ Trung Quốc và Indonesia, với đỉnh điểm cao nhất trong giai đoạn 2004–2005, khi nó tăng 23%. Trong khi vào thập niên 1970 Malaysia là nước sản xuất lớn nhất với sản lượng gần 1/3 sản lượng toàn cầu, sau đó giảm hạng dần, và hiện tại chỉ còn các nhà sản xuất nấu luyện và trung tâm thương mại. Năm 2007, Trung Quốc là nhà sản xuất thiếc lớn nhất, ở Trung Quốc các mỏ thiếc tập trung thành dải ở đông nam Vân Nam, chiếm 43% sản lượng thế giới, theo sau là Indonesia, và thứ 3 là Peru theo báo cáo của USGS. Bảng bên dưới thể hiện các quốc gia có sản lượng khai thác mỏ thiếc lớn nhất và sản lượng thiếc nấu luyện lớn nhất. Sau khi phát hiện ra mỏ thiếc ở Bisie, North Kivu thuộc Cộng hòa Dân chủ Congo năm 2002, việc khai thác bất hợp pháp đã tăng thêm khoảng 15.000 tấn. Điều này phần lớn thúc đẩy các cuộc xung đột gần đây ở nơi này cũng như ảnh hưởng đến thị trường thế giới. === Công nghiệp === 10 công ty lớn nhất sản xuất hầu hết thiếc trên thế giới năm 2007. Hiện không rõ rằng các công ty này có sản xuất thiếc nấu luyện từ mỏ ở Bisie, Cộng hòa Dân chủ Congo, nơi đây được quản lý bởi lực lượng ly khai với sản lượng 15.000 tấn. Hầu hết thiếc trên thế giới được buôn bán trên Sàn giao dịch Kim loại Luân Đôn (London Metal Exchange, LME), từ 8 quốc gia với 17 thương hiệu. Giá của thiếc đã từng là US$11.900 một tấn vào 24 tháng 11 năm 2008. Giá này lên đến ngưỡng cao nhất gần $31.600 một tấn vào tháng 2 năm 2011, phần lớn do ảnh hưởng của sự sụt giảm sản lượng từ Indonesia. == Giá và giao dịch == Thiếc là loại khoáng sản duy nhất có các thỏa thuận phức tạp giữa các nhà sản xuất và tiêu thụ kể từ năm 1921. Các thỏa thuận trước đó có khuynh hướng đạt được phần nào chính thức và không thường xuyên; thỏa thuận quốc tế về thiếc đầu tiên năm 1956, và các thỏa thuận sau đó tồn tại cho đến năm 1985. Qua các thỏa thuận này Ủy ban Thiếc quốc tế (ITC) đã có những tác động đáng kể lên giá thiếc. ITC đã trợ giá thiếc trong nhiều giai đoạn rớt giá bằng cách mua thiếc dự trữ và đã kiềm chế giá trong giai đoạn tăng giá khi bán ra từ kho dự trữ. Đây là cách tiếp cận phi thị trường tự do, được thiết kế để đảm bảo đủ lượng cung cấp thiếc cho các nước tiêu thụ và lợi nhuận bền vững cho các nước sản xuất. Tuy nhiên, lượng dự trữ không đủ lớn, và trong vòng 29 năm giá thiếc tăng, đôi khi tăng mạnh, đặc biệt từ 1973 đến 1980 khi lạm phát tràn lan cản trở tăng trưởng của các nền kinh tế trên thế giới. Trong suốt cuối thập niên 1970 và đầu thập niên 1980, dự trữ thiếc của chính phủ Hoa Kỳ nằm trong tình trạng bán ra, một phần để tận dụng lợi thế giá thiếc cao lịch sử. Suy thoái kinh tế mạnh năm 1981–1982 được chứng minh là khá khắc nghiệt đối với công nghiệp thiếc. Tiêu thụ thiếc giảm mạnh. ITC có thể tránh sự tuột dốc thực sự qua việc tăng mua nhằm dự trữ; hành động này đòi hỏi ITC phải vay nhiều từ các ngân hàng và các công ty kinh doanh kim loại để tăng nguồn lực của họ. ITC tiếp tục vay cho đến cuối năm 1985 khi đạt đến giới hạn tín dụng của họ. Ngay lập tức, "tin khủng hoảng thiếc" theo sau đó, làm cho thiếc bị loại khỏi danh sách niêm yếu trên Sàn giao dịch Kim loại Luân Đôn trong khoảng 3 năm, ITC giải thể ngay sau đó, và giá thiếc lúc này nằm trong môi trường kinh doanh tự do, giảm mạnh đến $4/cân và duy trì quanh mức này trong suốt thập niên 1990. Nó tăng lại vào năm 2010-2011 do sự tiêu thụ lại sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới năm 2008–2009, dự trữ và tiếp tục tăng tiêu thụ trong các nền kinh tế đang phát triển trên thế giới. Sàn giao dịch Kim loại Luân Đôn (LME) là nơi giao dịch thiếc. Các thị trường hợp đồng thiếc khác là Kuala Lumpur Tin Market (KLTM) và Indonesia Tin Exchange (INATIN). == Ứng dụng == Thiếc được dùng để tráng lên bề mặt các vật bằng thép, vỏ hộp thực phẩm, nước giải khát, có tác dụng chống ăn mòn, tạo vẻ đẹp không độc hại Thiếc dùng chế tạo hợp kim Ví dụ: Hợp kim Sn-Sb-Cu có tính chịu ma sát, dùng để chế tạo ổ trục quay Hợp kim Sn-Pb có nhiệt độ nóng chảy thấp (1800C) dùng để chế tạo thiếc hàn g ăn mòn, tạo vẻ đẹp không độc hại == Chú ý == Các trường hợp ngộ độc kim loại thiếc, ôxit của nó và các muối của nó hiện hầu như chưa được biết rõ. Tuy nhiên, các hợp chất có thiếc-carbon nhất định hầu như là chất độc giống như cyanua. == Ghi chú == == Chú thích == == Tham khảo == CRC contributors (2006). David R. Lide (editor), biên tập. Handbook of Chemistry and Physics (ấn bản 87). Boca Raton, Florida: CRC Press, Taylor & Francis Group. ISBN 0-8493-0487-3. Emsley, John (2001). “Tin”. Nature's Building Blocks: An A–Z Guide to the Elements. Oxford, England, UK: Oxford University Press. tr. 445–450. ISBN 0-19-850340-7. Greenwood, N. N.; Earnshaw, A. (1997). Chemistry of the Elements (ấn bản 2). Oxford: Butterworth-Heinemann. ISBN 0-7506-3365-4. Heiserman, David L. (1992). “Element 50: Tin”. Exploring Chemical Elements and their Compounds. New York: TAB Books. ISBN 0-8306-3018-X. MacIntosh, Robert M. (1968). “Tin”. Trong Clifford A. Hampel (editor). The Encyclopedia of the Chemical Elements. New York: Reinhold Book Corporation. tr. 722–732. LCCN 68-29938. Stwertka, Albert (1998). “Tin”. Guide to the Elements . Oxford University Press. ISBN 0-19-508083-1. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link) == Liên kết ngoài == WebElements.com – Tin Theodore Gray's Wooden Periodic Table Table: Tin samples and castings
mardy fish.txt
Mardy Simpson Fish (sinh ngày 9 tháng 12 năm 1981) là cựu vận động viên quần vợt người Mỹ. Sở trường ở mặt sân cứng, anh là một trong những tay vợt tiêu biểu của làn sóng quần vợt Mỹ thống trị thế giới những năm đầu thập niên 2000. Fish từng giành được 6 danh hiệu ATP World Tour và 4 lần vào tới chung kết Masters Seriies của, bao gồm Cincinnati (2003 và 2010), Indian Wells (2008) và Montreal 2011. Thành tích tốt nhất của anh tại các giải Grand Slam là vòng tứ kết Úc mở rộng 2007, Mỹ mở rộng 2008 và Wimbledon 2011. Tại Thế vận hội Mùa hè 2004, Fish cũng vào tới chung kết nhưng chỉ có được huy chương bạc sau khi để thua Nicolás Massú. Tháng 4 năm 2011, Fish vượt qua Andy Roddick để trở thành tay vợt nam số 1 nước Mỹ tại bảng xếp hạng của ATP, với thứ hạng cao nhất sự nghiệp ở vị trí số 7 thế giới vào tháng 8. Năm đó cũng là lần duy nhất anh tham gia ATP World Tour Final. Fish giải nghệ sau Giải vô địch Mỹ mở rộng 2015. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Official website Mardy Fish trên trang chủ ATP (tiếng Anh) Mardy Fish trên ITF Mardy Fish tại Davis Cup
tài chính.txt
Tài chính là phạm trù kinh tế, phản ánh các quan hệ phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Phát sinh trong quá trình hình thành, tạo lập, phân phối các quỹ tiền tệ của các chủ thể trong nền kinh tế nhằm đạt mục tiêu của các chủ thể ở mỗi điều kiện nhất định. == Sự ra đời == Sản xuất hàng hóa và tiền tệ là nhân tố mang tính khách quan có ý nghĩa quyết định sự ra đời, tồn tại và phát triển của tài chính và Nhà nước là nhân tố có ý nghĩa định hướng tạo điều kiện, tạo ra hành lang pháp lý và điều tiết sự phát triển của tài chính. === Sự ra đời do sản xuất hàng hóa và tiền tệ === Khi xã hội có sự phân công về lao động, có sự chiếm hữu khác nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động, nền sản xuất hàng hóa ra đời và tiền tệ xuất hiện. Các quỹ tiền tệ được tạo lập và được sử dụng bởi các tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội hay cá nhân nhằm mục đích tiêu dùng và đầu tư phát triển kinh tế - xã hội. Các quan hệ kinh tế đó đã làm nảy sinh phạm trù tài chính. Sự ra đời của nền sản xuất hàng hóa - tiền tệ làm xuất hiện các nguồn tài chính, đó là của cải xã hội được biểu hiện dưới hình thức giá trị. Sản xuất và trao đổi hàng hóa xuất hiện, theo đó tiền tệ đã xuất hiện như một đòi hỏi khách quan với tư cách là vật ngang giá chung trong quá trình trao đổi. Trong điều kiện kinh tế hàng hóa - tiền tệ, hình thức tiền tệ đã được các chủ thể trong xã hội sử dụng vào việc phân phối sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để tạo lập nên các quỹ tiền tệ riêng phục vụ cho những mục đích riêng của mỗi chủ thể. === Sự ra đời do sự xuất hiện nhà nước === Cùng với quá trình phát triển của xã hội, khi Nhà nước ra đời đã thúc đẩy sự phát triển của hoạt động tài chính. Nhà nước, với chức năng, quyền lực và để duy trì hoạt động của mình đã tạo lập quỹ ngân sách nhà nước thông qua quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, hình thành lĩnh vực tài chính nhà nước, thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa, thúc đẩy và mở rộng phạm vi hoạt động của tài chính. Hoạt động phân phối tài chính là khách quan nhưng chịu sự chi phối trực tiếp hoặc gián tiếp của nhà nước thông qua các chính sách được ban hành và áp dụng trong nền kinh tế (chính sách thuế, chính sách tiền tệ,...). Bằng quyền lực chính trị và thông qua một hệ thống chính sách, chế độ, nhà nước đã tạo nên môi trường pháp lý cho sự hoạt động của tài chính; đồng thời nắm lấy việc đúc tiền, in tiền và lưu thông tiền tệ. == Các mối quan hệ tài chính == Căn cứ vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có thể có các mối quan hệ tài chính sau: === Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với ngân sách Nhà nước === Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ Nhà nước cấp phát, hỗ trợ vốn và góp vốn cổ phần theo những nguyên tắc và phương thức nhất định để tiến hành sản xuất kinh doanh và phân chia lợi nhuận. Đồng thời, mối quan hệ tài chính này cũng phản ánh những quan hệ kinh tế dưới hình thức giá trị phát sinh trong quá trình phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân giữa ngân sách Nhà nước với các doanh nghiệp được thể hiện thông qua các khoản thuế mà doanh nghiệp phải nộp vào ngân sách Nhà nước theo luật định. === Mối quan hệ tài chính giữa các doanh nghiệp với thị trường tài chính === Các quan hệ này được thể hiện thông qua việc tài trợ các nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Với thị trường tiền tệ thông qua hệ thống ngân hàng, các doanh nghiệp nhận được các khoản tiền vay để tài trợ cho các nhu cầu vốn ngắn hạn và ngược lại, các doanh nghiệp phải hoàn trả vốn vay và tiền lãi trong thời hạn nhất định. Với thị trường vốn, thông qua hệ thống các tổ chức tài chính trung gian khác, doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ khác để đáp ứng nhu cầu vốn dài hạn bằng cách phát hành các chứng khoán. Ngược lại, các doanh nghiệp phải hoàn trả mọi khoản lãi cho các chủ thể tham gia đầu tư vào doanh nghiệp bằng một khoản tiền cố định hay phụ thuộc vào khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. (Thị trường chứng khoán) Thông qua thị trường tài chính, các doanh nghiệp cũng có thể đầu tư vốn nhàn rỗi của mình bằng cách ký gửi vào hệ thống ngân hàng hoặc đầu tư vào chứng khoán của các doanh nghiệp khác. === Mối quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với các thị trường khác === Các thị trường khác như thị trường hàng hóa, dịch vụ, thị trường sức lao động,...Là chủ thể hoạt động sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải sử dụng vốn để mua sắm các yếu tố sản xuất như vật tư, máy móc thiết bị, trả công lao động, chi trả các dịch vụ...Đồng thời, thông qua các thị trường, doanh nghiệp xác định nhu cầu sản phẩm và dịch vụ mà doanh nghiệp cung ứng, để làm cơ sở hoạch định ngân sách đầu tư, kế hoạch sản xuất, tiếp thị...nhằm làm cho sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp luôn thỏa mãn nhu cầu của thị trường. === Mối quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp === Đây là mối quan hệ tài chính khá phức tạp, phản ánh quan hệ tài chính giữa các bộ phận sản xuất kinh doanh, giữa các bộ phận quản lý, giữa các thành viên trong doanh nghiệp, giữa quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn. == Bản chất của tài chính == Là các quan hệ tài chính trong phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức tổng giá trị, thông qua đó tạo lập các quỹ tiền tệ nhằm đáp ứng yêu cầu tích lũy và tiêu dùng của các chủ thể trong nền kinh tế Tài chính phản ánh tổng hợp các mối quan hệ kinh tế nảy sinh trong quá trình phân phối các nguồn tài chính thông qua việc tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền Giá cả của các hàng hóa trên thị trường sẽ phản ánh xu hướng phát triển của nền kinh tế. Giá cả hàng hóa giảm thì hiệu quả nền kinh tế sẽ yếu, giá cả hàng hóa mà tăng thì nền kinh tế rất hiệu quả. == Chức năng của tài chính == === Chức năng huy động === Đây là chức năng tạo lập các nguồn tài chính, thể hiện khả năng tổ chức khai thác các nguồn tài chính nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế. Việc huy động vốn phải tuân thủ cơ chế thị trường, quan hệ cung cầu và giá cả của vốn. === Chức năng phân phối === Chức năng phân phối của tài chính là một khả năng khách quan của phạm trù tài chính. Con người nhận thức và vận dụng khả năng khách quan đó để tổ chức việc phân phối của cải xã hội dưới hình thức giá trị. Khi đó, tài chính được sử dụng với tư cách một công cụ phân phối. ==== Khái niệm ==== Chức năng phân phối của tài chính là chức năng mà nhờ đó, các nguồn tài lực đại diện cho những bộ phận của cải xã hội được đưa vào các quỹ tiền tệ khác nhau, để sử dụng cho những mục đích khác nhau, đảm bảo những nhu cầu, những lợi ích khác nhau của đời sống xã hội. Phân phối qua tài chính là sự phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị. Thông qua chức năng này, các quỹ tiền tệ tập trung và không tập trung được hình thành và sử dụng theo những mục đích nhất định. Phân phối thông qua tài chính gồm: phân phối lần đầu (là việc phân phối tại các khâu cơ sở, đó là các khâu tham gia trực tiếp vào các hoạt hoạt động sản xuất) và phân phối lại (là phân phối cho các khâu không tham gia trực tiếp trong quá trình sản xuất mà chỉ nhằm đảm bảo hoạt động bình thường của xã hội). Tuy nhiên, thực tế phân phối được chia thành 3 nhóm: Phân phối có hoàn lại có thời hạn. Ví dụ: Tín dụng Phân phối không hoàn lại. Ví dụ: Ngân sách nhà nước Phân phối hoàn lại có điều kiện. Ví dụ: Bảo hiểm ==== Đối tượng phân phối ==== Đối tượng phân phối là của cải xã hội dưới hình thức giá trị, là tổng thể các nguồn tài chính có trong xã hội. Xét về mặt nội dung, nguồn tài chính bao gồm các bộ phận: Bộ phận của cải xã hội mới được tạo ra trong kỳ - Tổng sản phẩm trong nước GDP; Bộ phận của cải xã hội còn lại từ kỳ trước - Phần tích lũy quá khứ của xã hội và dân cư; Bộ phận của cải được chuyển từ nước ngoài vào và bộ phận của cải từ trong nước chuyển ra nước ngoài; Bộ phận tài sản, tài nguyên quốc gia có thể cho thuê, nhượng bán có thời hạn. Xét về mặt hình thức tồn tại, nguồn tài chính tồn tại dưới dạng: Nguồn tài chính hữu hình; Nguồn tài chính vô hình. ==== Chủ thể phân phối ==== Chủ thể phân phối: nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, hộ gia đình, cá nhân. ==== Kết quả phân phối ==== Kết quả phân phối của tài chính là sự hình thành hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định cho các mục đích khác nhau của các chủ thể trong xã hội. ==== Đặc điểm của phân phối ==== Là sự phân phối chỉ diễn ra dưới hình thức giá trị, nó không kèm theo sự thay đổi hình thái giá trị; Là sự phân phối luôn luôn gắn liền với sự hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ nhất định; Là quá trình phân phối diễn ra một cách thường xuyên, liên tục bao gồm cả phân phối lần đầu và phân phối lại. ==== Quá trình phân phối ==== Phân phối lần đầu sản phẩm xã hội là quá trình phân phối chỉ diễn ra ở lĩnh vực sản xuất cho những chủ thể tham gia vào quá trình tạo ra của cải vật chất hay thực hiện các dịch vụ. Chủ thể phân phối: doanh nghiệp, người lao động, nhà nước, ngân hàng,... Kết quả phân phối: Hình thành nên các phần thu nhập của các chủ thể phân phối. Phân phối lại là quá trình tiếp tục phân phối những phần thu nhập cơ bản đã hình thành qua phân phối lần đầu ra phạm vi toàn xã hội để đáp ứng nhiều nhu cầu khác nhau, thỏa mãn nhiều lợi ích khác nhau trong xã hội. === Chức năng giám sát === Đây là chức năng kiểm tra sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ. Thông qua chức năng này để kiểm tra và điều chỉnh các quá trình phân phối tổng sản phẩm xã hội dưới hình thức giá trị, phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của mỗi thời kỳ, kiểm tra các chế độ tài chính của Nhà nước... == Hệ thống tài chính == Hệ thống tài chính là tổng thể các hoạt động tài chính trong các lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế quốc dân, nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau về việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các chủ thể kinh tế - xã hội hoạt động trong lĩnh vực đó. Hệ thống tài chính bao gồm; Tài chính công (gồm ngân sách nhà nước và các quỹ ngoài ngân sách); Tài chính doanh nghiệp; Thị trường tài chính (gồm thị trường tiền tệ và thị trường vốn); Tài chính quốc tế; Tài chính hộ gia đình, cá nhân; Tài chính các tổ chức xã hội; Tài chính trung gian (bao gồm tín dụng, bảo hiểm). Các thành phần này có quan hệ mật thiết với nhau, hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của tài chính. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Nguyễn Hoài, Thị trường tài chính Việt Nam chủ yếu vẫn đi... một chân Cộng đồng tài chính Việt Nam, Cộng đồng Tài chính VFPress
tiếng tamil.txt
Tiếng Tamil (தமிழ் ta; IPA: [t̪əmɨɻ]) là một ngôn ngữ thuộc hệ ngôn ngữ Dravida. Dân tộc Tamil ở tiểu lục địa Ấn Độ là nhóm chính sử dụng tiếng Tamil. Tiếng Tamil cũng là một trong những ngôn ngữ chính thức của Ấn Độ, Sri Lanka và Singapore. Ngoài ra tiếng Tamil còn là một ngôn ngữ đáng kể trong cộng đồng thiểu số ở Malaysia, Mauritius, và Réunion Tiểu bang Tamil Nadu dùng tiếng Tamil là ngôn ngữ công quyền. == Chú thích ==
1 tháng 1.txt
Ngày 1 tháng 1 là ngày thứ nhất trong lịch Gregory. Còn 364 ngày trong năm (365 ngày trong năm nhuận). Đây là ngày đầu tiên trong năm == Sự kiện == 153 TCN – Các quan chấp chính La Mã bắt đầu năm đảm nhiệm chức vụ của họ. 45 TCN – Lịch Julius lần đầu tiên có hiệu lực. 42 TCN – Viện nguyên lão Lã Mã truy thần hóa cho Julius Caesar. 69 – Lê dương La Mã tại Thượng Germania khước từ lời thề trung thành với Galba. Họ nổi dậy và tuyên bố Vitellius là hoàng đế. 193 – Viện nguyên lão chọn Pertinax làm Hoàng đế La Mã. 404 – Sau khi buộc Tấn An Đế phải thiện vị, Sở vương Hoàn Huyền lên ngôi hoàng đế, tức ngày Nhâm Thìn (3) tháng 12 năm Quý Mão. 896 – Đường Chiêu Tông ban cho quân phiệt người Sa Đà Lý Khắc Dụng tước Tấn vương, tức ngày Ất Mùi (13) tháng 12 năm Ất Mão. 976 – Quân Tống đánh chiếm kinh thành Kim Lăng của nước Nam Đường, Nam Đường Hậu Chủ Lý Dục phụng biểu nạp hàng, tức ngày Ất Mùi (27) tháng 11 năm Ất Hợi. 1001 – Giáo hoàng Silvestrô II phong Đại công tước István I là quốc vương đầu tiên của Hungary. 1259 – Mikhael VIII Palaiologos được tuyên bố là đồng hoàng đế của Đế quốc Nicaea cùng với người bảo trợ của ông là John IV Laskaris. 1502 – Người Bồ Đào Nha lần đầu thám hiểm khu vực nay là thành phố Rio de Janeiro, Brasil. 1515 – Quốc vương François I bắt đầu cai trị Pháp. 1527 – Các quý tộc Croatia bầu Ferdinand I của Áo làm quốc vương của Croatia. 1600 – Scotland bắt đầu năm mới tứ 1 tháng 1 thay vì 25 tháng 3. 1651 – Charles II đăng quang quốc vương của Scotland. 1700 – Đế quốc Nga bắt đầu sử dụng kỷ nguyên Công Nguyên và không còn sử dụng Kỷ nguyên Thế giới của Đế quốc Đông La Mã. 1739 – Nhà thám hiểm người Pháp Jean-Baptiste Charles Bouvet de Lozier phát hiện ra đảo Bouvet gần Vùng Nam Cực. 1773 – Bài thánh ca mà sau được gọi là "Ân điển diệu kỳ", khi đó có tên "1 Chronicles 17:16–17" được sử dụng lần đầu để đệm cho một bài giảng đạo của mục sư John Newton tại thị trấn Olney, Buckinghamshire, Anh. 1788 – Ấn bản đầu tiên của The Times tại Luân Đôn được phát hành, khi đó mang tên The Daily Universal Register. 1800 – Công ty Đông Ấn Hà Lan bị giải thể. 1801 – Việc hợp nhất về pháp lý giữa Vương quốc Anh và Vương quốc Ireland hoàn thành, hình thành nên Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. 1801 – Nhà thiên văn học người Ý Giuseppe Piazzi phát hiện ra hành tin lùn Ceres. 1804 – Haiti giành độc lập từ Pháp và trở thành nước cộng hòa đầu tiên của người da đen, là cuộc cách mạng nô lệ thành công duy nhất đến thời điểm đó. 1806 – Lịch cộng hòa tại Pháp bị bãi bỏ. 1806 – Vương quốc Bayern được thành lập. 1808 – Việc nhập khẩu nô lệ vào Hoa Kỳ bị cấm. 1833 – Anh Quốc tuyên bố chủ quyền đối với Quần đảo Falkland ở Nam Đại Tây Dương. 1861 – Porfirio Díaz chinh phục Thành phố México. 1863 – Nội chiến Hoa Kỳ: Tuyên ngôn giải phóng nô lệ có hiệu lực tại lãnh thổ Liên minh miền Nam. 1870 – Người đồng sáng lập nên kiến trúc hiện đại là Adolf Loos được rửa tội tại nhà thờ Thánh Tôma ở Brno, Đế quốc Áo-Hung. 1873 – Nhật Bản bắt đầu sử dụng Lịch Gregory. 1877 – Nữ vương Victoria của Anh Quốc được tuyên bố là hoàng đế của Ấn Độ. 1880 – Ferdinand de Lesseps bắt đầu công việc xây dựng Kênh đào Panama của người Pháp. 1890 – Chính phủ Ý hợp nhất Eritrea thành một thuộc địa. 1892 – Đảo Ellis được mở cửa để bắt đầu đón nhận người nhập cư vào Hoa Kỳ. 1899 – Sự cai trị của Tây Ban Nha đối với Cuba chấm dứt theo Hiệp định với Hoa Kỳ. 1901 – Nigeria trở thành một lãnh thổ bảo hộ của Anh Quốc. 1901 – Các thuộc địa New South Wales, Queensland, Victoria, Nam Úc, Tasmania và Tây Úc liên bang hóa thành Thịnh vượng chung Úc; Edmund Barton được bổ nhiệm làm Thủ tướng Úc đầu tiên. 1911 – Lãnh thổ Bắc Úc được tách khỏi bang Nam Úc và được chuyển cho chính phủ Thịnh vương chung Úc quản lý. 1912 – Trung Hoa Dân Quốc chính thức được thành lập, Tôn Trung Sơn tuyên thệ nhậm chức Đại tổng thống lâm thời tại Tổng thống phủ ở Nam Kinh. 1916 – Quân đội đức Đức từ bỏ Jaunde và thuộc địa Cameroon cho quân Anh Quốc và bắt đầu cuộc hành quân kéo dài đến Guinea thuộc Tây Ban Nha. 1927 – Thổ Nhĩ Kỳ chấp thuận lịch Gregory: ngay sau ngày 18 tháng 12 năm 1926 (lịch Julius) là ngày 1 tháng 1 năm 1927 (lịch Gregory). 1934 – Đảo Alcatraz trở thành một nhà tù liên bang của Hoa Kỳ. 1946 – Thiên hoàng Chiêu Hòa của Nhật Bản ban bố Tuyên ngôn nhân gian, tuyên bố rằng Thiên hoàng không phải là thần thánh. 1947 – Các khu vực chiếm đóng của Anh Quốc và Hoa Kỳ tại Đức được hợp nhất để hình thành Bizone. 1948 – Ủy ban cách mạng Quốc dân đảng Trung Quốc được thành lập tại Hồng Kông. 1956 – Sudan giành được độc lập từ Ai Cập và Anh Quốc. 1957 – Chính thức kết thúc sự bảo hộ của Pháp đối với Saarland, lãnh thổ này hợp nhất vào Tây Đức. 1958 – Cộng đồng Kinh tế châu Âu được thành lập. 1959 – Nhà độc tài Cuba Fulgencio Batista bị lật đổ trong Cách mạng Cuba. 1960 – Cameroon giành được độc lập từ Pháp và Anh Quốc. 1962 – Samoa giành được độc lập từ New Zealand; đổi tên thành Nhà nước Độc lập Tây Samoa. 1966 – Sau một cuộc đảo chính, Đại tá Jean-Bédel Bokassa trở thành tổng thống của Cộng hòa Trung Phi. 1973 – Đan Mạch, Anh Quốc, và Ireland dược nhận vào Cộng đồng Kinh tế châu Âu. 1979 – Chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Hợp chúng quốc Hoa Kỳ. 1981 – Hy Lạp được nhận vào Cộng đồng châu Âu. 1981 – Palau giành được quyền tự trị từ Hoa Kỳ. 1982 – Javier Pérez de Cuéllar trở thành người Mỹ Latinh đầu tiên nắm giữ cương vị Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc. 1983 – ARPANET chính thức chuyển sang dùng IP, hình thành nên Internet. 1984 – Brunei giành được độc lập từ Anh Quốc. 1985 – DNS của Internet được hình thành. 1986 – Aruba độc lập từ Antille thuộc Hà Lan, song vẫn duy trì liên kết tự do với Hà Lan. 1986 – Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha được nhận và Cộng đồng châu Âu. 1989 – Nghị định thư Montreal về các chất gây suy giảm tầng ôzôn có hiệu lực. 1992 – Liên bang Nga chính thức được thành lập sau khi Liên Xô giải thể. 1993 – Tiệp Khắc chia thành 2 nước Cộng Hòa Séc và Slovakia. 1994 – Hiệp định Thương mại Tự do Bắc Mỹ có hiệu lực. 1995 – Tổ chức Thương mại Thế giới bắt đầu hoạt động. 1995 – Phần Lan, Áo và Thụy Điển gia nhập Liên minh châu Âu. 1995 – Hội nghị An ninh và Hợp tác châu Âu trở thành Tổ chức An ninh và Hợp tác châu Âu. 1995 – Phát hiện ra sóng Draupner trên vùng Biển Bắc thuộc Na Uy, xác nhận sự tồn tại của Sóng độc. 1997 – Nhà ngoại giao người Ghana Kofi Annan được bổ nhiệm làm Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc. 1998 – Nga bắt đầu lưu thông đồng Rúp mới nhằm kiềm chế lạm phát và thúc đẩy lòng tin. 1998 – Ngân hàng Trung ương châu Âu được thành lập. 1999 – Bắt đầu bước thứ ba của Liên minh tiền tệ châu Âu, đồng Euro được đưa vào trong thanh toán chuyển khoản tại 11 quốc gia. 2002 – Đồng Euro trở thành tiền tệ hợp pháp tại 12 quốc gia thành viên Liên minh châu Âu. 2002 – Trung Hoa Dân Quốc chính thức gia nhập vào Tổ chức Thương mại Thế giới với tên gọi Lĩnh vực thuế quan cá biệt Đài-Bành-Kim-Mã, gọi tắt là Trung Hoa Đài Bắc. 2004 – Ba Lan, Estonia, Latvia, Litva, Slovenia, Slovakia, Síp, Malta và Séc gia nhập Liên minh châu Âu. 2007 – România và Bulgaria gia nhập Liên minh châu Âu, Slovenia gia nhập khu vực đồng Euro. 2008 – Síp và Malta gia nhập Eurozone. 2010 – Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc chính thức có hiệu lực. 2010 – Một vụ đánh bom xe tự sát xảy ra tại Lakki Marwat, Pakistan, khiến 105 người thiệt mạng và hơn 100 người bị thương. == Sinh == 1430 – Giáo hoàng Alexanđê VI (m. 1503) 1484 – Ulrich Zwingli, mục sư và nhà thần học người Thụy Sĩ (m. 1531) 1693 – Hiếu Thánh Hiến hoàng hậu, hoàng thái hậu của triều Thanh, tức 25 tháng 11 năm Nhâm Thân (m. 1777) 1814 – Hồng Tú Toàn, thủ lĩnh nổi dậy người Trung Quốc, tức 10 tháng 12 năm Quý Dậu (m. 1864) 1814 – Hermann von Lüderitz, tướng lĩnh và chính trị gia người Đức (m. 1889) 1823 – Sándor Petöfi, nhà thơ và nhà hoạt động chính trị người Hungary (m. 1849) 1853 – Karl von Einem, tướng lĩnh quân đội người Đức (m. 1934) 1863 – Pierre de Coubertin, nhà sư phạm, nhà sử học người Pháp (d. 1937) 1864 – Tề Bạch Thạch, họa sĩ người Trung Quốc, tức 22 tháng 11 năm Quý Hợi (d. 1957) 1880 – Vajiravudh, quốc vương của Thái Lan (m. 1925) 1895 – J. Edgar Hoover, viên chức người Mỹ, giám đốc đầu tiên của FBI (m. 1972) 1897 – Phanxicô Trương Bửu Diệp, linh mục người Việt Nam (s. 1946) 1900 – Sugihara Chiune, nhà ngoại giao người Nhật Bản (m. 1986) 1910 – Nguyễn Thị Minh Khai, nhà hoạt động chính trị người Việt Nam (m. 1941) 1912 – Khertek Anchimaa-Toka, chính trị gia người Tuva-Liên Xô (m. 2008) 1914 – Nguyễn Chí Thanh, tướng lĩnh quân đội người Việt Nam (m. 1967). 1917 – Đỗ Mậu, tướng lĩnh quân đội người Việt Nam (m. 2002) 1919 – J. D. Salinger, tác gia người Mỹ (m. 2010) 1920 – Trần Quỳnh, chính trị gia người Việt Nam (m. 2005) 1923 – Nguyễn Đăng Bảy, nhà quay phim người Việt Nam (m. 2007) 1924 – Lê Hạnh, chính trị gia người Việt Nam 1927 – Vernon L. Smith, nhà kinh tế học người Mỹ, đoạt giải Nobel 1937 – Trần Kim Thạch, nhà địa chất học người Việt Nam (m. 2009) 1939 – Michèle Mercier, diễn viên người Pháp 1940 – Nguyễn Ánh 9, nhạc sĩ, nhạc công người Việt Nam 1941 – Martin Evans, nhà di truyền học người Anh, đoạt giải Nobel 1941 – Nguyễn Đăng Hưng, nhà cơ học người Việt Nam 1942 – Alassane Ouattara, chính trị gia người Bờ Biển Ngà, thủ tướng của Bờ Biển Ngà 1944 – Omar al-Bashir, chính trị gia người Sudan, tổng thống của Sudan 1946 – Roberto Rivelino, cầu thủ bóng đá Brasil 1947 – Từ Tiểu Phụng, ca sĩ người Hồng Kông 1951 – Takemiya Masaki, kỳ thủ cờ vây người Nhật Bản 1952 – Hamad bin Khalifa al-Thani, quân chủ của Qatar 1953 – Gary Johnson, chính trị gia người Mỹ 1956 – Christine Lagarde, chính trị gia người Pháp, Tổng giám độc IMF 1967 – Trần Cẩm Hồng, ca sĩ và diễn viên người Hồng Kông 1968 – Davor Šuker, cầu thủ bóng đá người Croatia 1972 – Lilian Thuram, cầu thủ bóng đá Pháp 1975 – Oda Eiichiro, họa sĩ truyện tranh người Nhật Bản 1977 – Hasan Salihamidžic, cầu thủ bóng đá người Bosnia 1977 – Ngôn Thừa Húc, diễn viên và ca sĩ người Đài Loan 1979 – Phạm Thanh Thảo, ca sĩ người Việt Nam 1982 – Hòa Hiệp, diễn viên người Việt Nam 1984 – Dương Triệu Vũ, ca sĩ người Việt Nam 1984 – José Paolo Guerrero, cầu thủ bóng đá người Peru 1986 – Lee Sungmin, ca sĩ, vũ công, và diễn viên người Hàn Quốc 1992 – Jack Wilshere, cầu thủ bóng đá người Anh 1992 – Nguyễn Ngọc Kiều Khanh, người đẹp Việt-Đức 1992 – Mạc Hồng Quân, cầu thủ bóng đá người Việt Nam == Mất == 379 – Basil Cả, giám mục người Hy Lạp (s. 329) 898 – Eudes I, quốc vương của Pháp (s. 860) 1515 – Louis XII, quốc vương của Pháp (s. 1462) 1560 – Joachim du Bellay, nhà thơ người Pháp (s. 1522) 1748 – Johann Bernoulli, nhà toán học người Thụy Sĩ (s. 1667) 1766 – James Francis Edward Stuart, người yêu cầu vương vị của Anh (s. 1688) 1782 – Johann Christian Bach, nhà soạn nhạc người Đức (s. 1735) 1894 – Heinrich Rudolf Hertz, nhà vật lý học người Đức (s. 1857) 1931 – Martinus Beijerinck, nhà vi trùng học và thực vật học người Hà Lan (s. 1851) 1992 – Grace Hopper, nhà khoa học máy tính và sĩ quan hải quân Hoa Kỳ (s. 1906) 1995 – Eugene Wigner, nhà vật lý học và toán học người Hungaria-Mỹ, đoạt giải Nobel (s. 1902) 2006 – Trần Xuân Bách, chính trị gia người Việt Nam (s. 1924) 2009 – Helen Suzman, nhà hoạt động chống phân biệt chủng tộc người Nam Phi (s. 1917) 2014 – Hà Thanh, ca sĩ người Việt Nam-Mỹ (s. 1937) == Ngày lễ và kỷ niệm == === Dương lịch === Tết dương lịch ==== Quốc khánh ==== Brunei - 1984 Sudan - 1956 Cuba - 1959 Cộng hòa Séc - 1993 Haiti - 1804 Samoa - 1962 Slovakia - 1993 Trung Hoa Dân Quốc - 1912 === Âm lịch === Tết Nguyên Đán == Tham khảo ==
thái bạch kim tinh.txt
Thái Bạch Kim Tinh (chữ Hán: 太白金星) là tên một vị thần trong thần thoại Trung Quốc. Vị thần này theo truyền thuyết có họ Lý, hình dáng là một ông già râu bạc áo trắng, là Tinh chủ của Sao Kim (Kim Tinh), ngôi sao sáng nhất vào chập tối và buổi sáng, vì thế gọi là Lý Thái Bạch. Trong văn hóa phương Tây, thần Vệ nữ là biểu tượng của Sao Kim (Venus). Chính vì thấy Sao Kim xuất hiện đầu tiên của buổi đêm và ban ngày, nên Thái Bạch Kim Tinh được cho là sứ giả của Thiên đình, và gọi là Lý Trường Canh. Trong phim Tây du ký, Thái Bạch Kim Tinh được Ngọc Hoàng Thượng đế phái xuống gặp Tề Thiên Đại Thánh ở Hoa Quả Sơn để mời lên Thiên đình. Ông được thể hiện như một ông già hiền lành và bị lũ khỉ quấy phá. == Tham khảo ==
hội nghị cấp cao đông á lần thứ 5.txt
Hội nghị cấp cao Đông Á là cuộc họp hàng năm giữa các quốc gia Đông Á và các quốc gia khách mời. Hội nghị cấp cao Đông Á lần 5 được tổ chức ở Việt Nam vào ngày 30 tháng 10 năm 2010. == Những người đại diện cho các nước tham gia == Có 18 nước đã tham gia hội nghị lần thứ 5 bao gồm 10 nước Đông Nam Á, 3 nước Đông Bắc Á là Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản cùng với Ấn Độ, Úc, New Zealand, Nga và Hoa Kỳ: Cùng với các Ngoại trưởng của Hoa Kỳ và Nga == Chương trình nghị sự == == Chú thích ==
t-mobile us.txt
T-Mobile US là nhà khai thác mạng không dây chính ở Hoa Kỳ. Công ty viễn thông Đức Deutsche Telekom (DT) là cổ đông chính. Trụ sở chính đặt tại Bellevue, Washington, trong vùng đô thị Seattle. T-Mobile là nhà mạng lớn thứ ba ở Hoa Kỳ với 71.5 triệu khách hàng vào thời điểm quý 4 năm 2016. T-Mobile USA cung cấp dịch vụ dữ liệu không dây và dữ liệu tại Hoa Kỳ, Puerto Rico và quần đảo Virgin thuộc Mỹ dưới thương hiệu T-Mobile và MetroPCS (mà nó mua lại trong một thương vụ tiếp quản ngược vào năm 2013, kết quả là công ty sẽ trở thành đại chúng trên sàn giao dịch chứng khoán NASDAQ), và cũng phục vụ như mạng chủ cho nhiều nhà mạng di động ảo (MVNO). Công ty có doanh thu hàng năm là 37 tỉ USD. Mạng lưới của nó phủ sóng tới 98% người Mỹ.Bản mẫu:Secondary source needed Năm 2015, Consumer Reports bình chọn T-Mobile là nhà mạng không dây số một của Hoa Kỳ. Năm 2017, T-Mobile được Nielsen xếp hạng số một về sự hài lòng của khách hàng. == Lịch sử == T-Mobile US có nguồn gốc từ sự thành lập năm 1994 của VoiceStream Wireless PCS là công ty con của Western Wireless Corporation. Tách ra khỏi công ty mẹ Western Wireless vào ngày 3 tháng 5 năm 1999, VoiceStream Wireless được mua lại bởi Deutsche Telekom AG vào năm 2001 với giá 35 tỉ USD và đổi tên thành T-Mobile USA, Inc. vào tháng 7 năm 2002. === VoiceStream Wireless === === Mua lại Omnipoint và Aerial === === Deutsche Telekom mua lại VoiceStream và Powertel === === Mua lại SunCom === === Nỗ lực mua lại của AT&T === === Sáp nhập với MetroPCS Communications === === "Un-carrier", mua bổ sung quang phổ không dây === === Nỗ lực mua lại của Sprint === == Mạng không dây == Công ty sở hữu giấy phép hoạt động một mạng truyền thông di động trong băng tần 1900 MHz (PCS) và 1700 MHz (AWS) với phạm vi phủ sóng trong nhiều khu vực thuộc lục địa Hoa Kỳ, Alaska, Hawaii, Puerto Rico và Quần đảo Virgin thuộc Mỹ, cũng như giấy phép ở băng tầng 700 MHz (block A) có sẵn ở một số vùng trên đất nước. Về mặt công nghệ, tùy thuộc vào vị trí, ở băng tần 1900 MHz nó có thể truyển trai GSM, UMTS/HSPA+, và/hoặc LTE (B2); ở băng tần 1700 MHz nó có thể triển khai UMTS/HSPA+ và/hoặc LTE (B4); và LTE (B12) chỉ trong băng tần 700A. Mạng LTE của nó cũng hỗ trợ VoLTE. Nó cung cấp dịch vụ ở những vùng chưa có giấy phép phổ tần số vô tuyến thông qua thỏa thuận roaming với các nhà khai thác mạng tương thích khác. === Mạng di động === ==== Nâng cấp dữ liệu chuyển mạch gói ==== ==== Nâng cấp / ngắt kế nối ==== ==== Nâng cấp HSPA/HSPA+ ==== ==== Nâng cấp 4G LTE ==== === Roaming === === Biểu đồ phổ tần số vô tuyến điện === === T-Mobile HotSpots === T-Mobile sử dụng thuật ngữ "Hotspot" để mô tả nhiều sản phẩm và dịch vụ. ==== Wi-Fi network (công cộng) ==== ==== Wi-Fi network (riêng) ==== == Sản phẩm và dịch vụ của T-Mobile s == === T-Mobile ONE === === Simple Choice === === Ngăn chặn người dùng lạm dụng dữ liệu không giới hạn === === Chương trình InReach === === MetroPCS === MetroPCS được T-Mobile tiếp nhận vào năm 2013, công ty mới là T-Mobile US và hiện tại vẫn tiếp tục cung cấp dịch vụ không dây trả trước dưới thương hiệu MetroPCS. === GoSmart Mobile === === Banking Cards === == Dịch vụ khách hàng == === Giải thưởng === === Những lần dịch vụ gặp sự cố === == Tiếp thị == == Quan hệ lao động == Nhân viên T-Mobile US và hai liên đoàn lao động đã có nhiều nỗ lực tổ chức công đoàn từ đầu năm 2001. == Bảo mật thông tin == == Sự riêng tư và giám sát == === Chính sách lưu dữ liệu === == Xem thêm == Danh sách các công ty ở Bellevue, Washington Danh sách các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông không dây Hoa Kỳ Danh sách nhà mạng di động châu Mỹ == Tham khảo == == Liên kết ngoài == t-mobile.com, trang web chính thức của T-Mobile US telekom.com, trang web của công ty mẹ, Deutsche Telekom AG metropcs.com, trang web chính thức của MetroPCS
tháng 10 năm 2005.txt
Trang này liệt kê những sự kiện quan trọng vào tháng 10 năm 2005. == Thứ năm, ngày 13 tháng 10 == Kịch tác gia người Anh, Harold Pinter (1930 – ), được tặng giải Nobel văn chương năm nay. [1] == Thứ hai, ngày 24 tháng 10 == Rosa Parks, người phụ nữ da màu nổi tiếng, qua đời tại nhà riêng ở Detroit (bang Michigan), thọ 92 tuổi. Tháng 12 năm 1955, ở Montgomery, Alabama), bà đã từ chối nhường chỗ trên xe buýt cho một người da trắng, vì vậy bị bắt. Sự việc này khởi phát cuộc tranh đấu bất bạo động do mục sư Martin Luther King Jr. dẫn đầu. Cuộc tranh đấu đã dẫn đến Đạo luật Dân quyền 1964, bãi bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc trên lãnh thổ Hoa Kỳ. Bà Rosa Parks đã được tặng Huy chương Tự do của Tổng thống (Hoa Kỳ). [2] == Thứ bảy, ngày 29 tháng 10 == Ngày 29 tháng 10, có hàng vạn người dân Tp Hồ Chí Minh (Thành phố Hồ Chí Minh) đổ xô về nhà thờ Đức Bà, Thành phố Hồ Chí Minh để xem hiện tượng tượng Đức Mẹ trước quảng trường nhà thờ "chảy nước mắt" (một vệt trắng chảy dài từ trên khóe mắt xuống tới cằm). Đây được xem là một hiện tượng lạ, từ khi tượng được dựng cho đến nay chưa từng xảy ra. Tòa Tổng Giám mục Thành phố Hồ Chí Minh chưa đưa ra tuyên bố gì về hiện tượng này. Theo thông tin từ báo chí Việt Nam cho biết thì đây chỉ là hiện tượng bình thường của các pho tượng khi để lâu ngày ngoài trời trước mưa gió. Một loạt vụ nổ bom tại thủ đô Delhi của Ấn Độ làm thiệt mạng ít nhất 50 người. == Những người chết == 24 tháng 10: Rosa Parks, người mẹ của phong trào dân quyền == Tham khảo ==
trung bộ châu mỹ.txt
Trung Bộ châu Mỹ cổ đại (thuật ngữ gốc: Mesoamerica) là một vùng và là một khu vực văn hóa ở châu Mỹ, trải dài từ miền trung México đến Belize, Guatemala, El Salvador, Honduras, Nicaragua và miền bắc Costa Rica. Trước khi Cristoforo Colombo đặt chân đến châu Mỹ kéo theo thực dân Tây Ban Nha vào các thế kỷ 15 và 16 thì Trung Bộ châu Mỹ từng là nơi có nhiều nền văn minh phát triển. Trong tư cách một khu vực văn hóa, Trung Bộ châu Mỹ được hiểu là một bản khảm các nét văn hóa tiêu biểu được các nền văn hóa bản địa phát triển và chia sẻ. 7000 năm trước Công nguyên, người châu Mỹ thuần hóa được ngô, đậu cô ve, bí và ớt, cũng như gà tây và chó. Điều này tạo bước chuyển xã hội từ lối sống bộ lạc săn bắt hái lượm thời Thái cổ Anh-điêng sang sống trong các làng mạc làm nghề nông ít du canh. Trong giai đoạn sau đó, nông nghiệp và các nét văn hóa tiêu biểu như nền tôn giáo phức tạp, hệ chữ số nhị thập phân, bộ lịch Trung Bộ châu Mỹ, nền kiến trúc Trung Bộ châu Mỹ độc đáo đã khuếch tán khắp cả khu vực này. Cũng trong giai đoạn này, làng mạc bắt đầu phân tầng và phát triển thành các bộ tộc với các trung tâm nghi lễ lớn, được kết nối với nhau bởi một hệ thống các tuyến đường buôn bán trao đổi hàng hóa xa xỉ như đá obsidian, ngọc thạch, hạt ca cao, chu sa, vỏ Spondylus, Hematit và đồ gốm. Tuy nền văn minh Trung Bộ châu Mỹ đã biết đến bánh xe và thuật luyện kim nhưng các kỹ thuật này không có được tầm quan trọng về văn hóa ở đây . Trong số những nền văn minh phức tạp sớm nhất, phải kể đến nền văn hóa Olmec với phạm vi sinh tồn trải từ bờ vịnh México vào trong nội địa và hướng về phía nam qua eo biển Tehuantepec. Sự tiếp xúc thường xuyên và trao đổi văn hóa giữa Olmec thời sơ khai với các nền văn hóa khác ở Chiapas, Guatemala và Oaxaca đã đặt nền tảng cho khu vực văn hóa Trung Bộ châu Mỹ. Giai đoạn hình thành này chứng kiến sự lan rộng của các truyền thống tôn giáo và biểu tượng độc đáo, cũng như các phức hợp nghệ thuật và kiến trúc. Ở giai đoạn Tiền Cổ điển, các thành thị có tổ chức phức tạp bắt đầu phát triển trong lòng nền văn minh Maya - với sự lên ngôi của các trung tâm như El Mirador, Calakmul và Tikal - và trong lòng nền văn minh Zapotec với trung tâm Monte Albán. Trong giai đoạn này, hệ thống chữ viết Trung Bộ châu Mỹ thực sự đầu tiên đã phát triển trong lòng các nền văn hóa Hậu Olmec và Zapotec; chữ viết truyền thống của Trung Bộ châu Mỹ đạt tới đỉnh cao với chữ tượng hình Maya. Trung Bộ châu Mỹ là một trong năm vùng duy nhất trên thế giới có sự phát triển độc lập về chữ viết. Ở Trung México, có một thành phố gọi là Teotihuacán được xem là đỉnh cao của giai đoạn Cổ điển. Từ đây đã hình thành một đế chế quân sự và thương mại với tầm ảnh hưởng chính trị trải về phương nam vào khu vực của Maya rồi hướng về phương bắc. Sau sự sụp đổ của Teotihuacán vào khoảng năm 600, giữa một số trung tâm chính trị quan trọng trong vùng Trung México đã nảy ra cuộc cạnh tranh với nhau, chẳng hạn Xochicalco và Cholula. Trong giai đoạn Hậu Cổ điển, người Nahua phương bắc bắt đầu chuyển xuống phía nam và tiến vào Trung Bộ châu Mỹ, thay thế dân nói tiếng Oto-Mangue để trở thành lực lượng chiếm thế thượng phong về chính trị và văn hóa ở miền trung México. Trong suốt giai đoạn Hậu Cổ điển sớm, nền văn hóa Toltec chiếm ưu thế tại Trung México trong khi nền văn minh Mixtec chiếm ưu thế tại Oaxaca. Khu vực hạ Maya có các trung tâm quan trọng tại Chichén Itzá và Mayapán. Về cuối thời kỳ Hậu Cổ điển, người Aztec ở Trung México đã xây nên một đế quốc với nhiều chư hầu, bao trùm phần lớn diện tích miền trung Trung Bộ châu Mỹ . Nền văn hóa độc đáo của vùng Trung Bộ châu Mỹ kết thúc khi Tây Ban Nha xâm lược Đế quốc Aztec vào thế kỷ 16. Trong các thế kỷ kế tiếp, những nền văn hóa bản địa trong vùng lần lượt đầu hàng trước sự cai trị của thực dân Tây Ban Nha. Những di sản của nền văn hóa Trung Bộ châu Mỹ hiện vẫn còn sót lại trong số những cư dân bản địa sống ở Trung Bộ châu Mỹ. Nhiều người trong số họ vẫn tiếp tục nói ngôn ngữ của tổ tiên và thậm chí vẫn duy trì nhiều tập tục có gốc gác Trung Bộ châu Mỹ . == Từ nguyên và định nghĩa == Trong tiếng Hy Lạp, Mesoamerica có nghĩa là "giữa châu Mỹ". Khu vực này được hiểu là quê hương của nền văn minh Mesoamerica - bao gồm các nhóm người gắn bó chặt chẽ về văn hóa và lịch sử. Phạm vi địa lý chính xác của Trung Bộ châu Mỹ thay đổi qua thời gian khi nền văn minh này mở rộng phạm vi về bắc và nam tính từ trung tâm là miền nam México. Nhà dân tộc học người Đức Paul Kirchhoff là người sử dụng lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ Mesoamerica khi ông viết rằng có sự tương đồng giữa các nền văn hóa thời kỳ tiền Colombo ở một vùng bao gồm miền nam México, Guatemala, Belize, El Salvador, miền tây Honduras, miền đất thấp ven Thái Bình Dương của Nicaragua và tây bắc Costa Rica. Căn cứ theo thuyết khảo cổ học lịch sử văn hóa thịnh hành vào nửa đầu thế kỷ 20, Kirchhoff đã định nghĩa Trung Bộ châu Mỹ là một khu vực văn hóa dựa trên một hệ các điểm tương đồng văn hóa có tương quan với nhau được gây nên bởi nhiều thiên niên kỷ tiếp xúc liên vùng hoặc nội vùng. Trung Bộ châu Mỹ được công nhận là một khu vực văn hóa có tính gần như nguyên mẫu, và hiện nay thuật ngữ này đã được tích hợp hoàn toàn vào hệ thống thuật ngữ chuẩn của các nghiên cứu nhân loại học thời kỳ tiền Colombo. Một số nét văn hóa nổi bật định nghĩa nên truyền thống văn hóa Trung Bộ châu Mỹ là: Sống định cư dựa vào trồng ngô Xây dựng các kim tự tháp Trung Bộ châu Mỹ Sử dụng hai bộ lịch Trung Bộ châu Mỹ khác nhau (lịch nghi lễ gồm 260 ngày và lịch dựa trên năm mặt trời gồm 365 ngày). Dùng hệ chữ số nhịp thập phân (cơ số 20) Dùng hệ chữ viết bằng hình vẽ và tượng hình Sử dụng nhựa cao su và có sở thích chơi bóng Sử dụng hệ thống chữ viết do dân bản địa phát triển, viết bằng cách dùng chữ tượng hình và chữ biểu tượng Sử dụng giấy làm bằng vỏ cây cho mục đích nghi lễ và để làm giấy viết. Thực hành hiến tế dưới nhiều hình thức khác nhau, bao gồm cả hiến tế người Tôn giáo Trung Bộ châu Mỹ dựa trên sự kết hợp của Saman giáo và thần thánh tự nhiên, cùng với các hệ thống biểu tượng như nhau Trung Bộ châu Mỹ cũng được xem là một vùng ngôn ngữ (Sprachbun) gọi là Khu vực ngôn ngữ Trung Bộ châu Mỹ. == Chú thích == === Sách === Campbell, Lyle; Kaufman, Terrence; Smith-Stark, Thomas (tháng 9 năm 1986). “Meso-America as a linguistic area”. Language (Washington, DC: Hội Ngôn ngữ học Hoa Kỳ) 62 (3): 530–558. doi:10.2307/415477. ISSN 0097-8507. JSTOR 415477. OCLC 1361911. (tiếng Anh) Carmack, Robert M.; Gasco, Janine L.; Gossen, Gary H. (1996). Legacy of Mesoamerica, The: History and Culture of a Native American Civilization. New Jersey: Prentice Hall. ISBN 0-13-337445-9. (tiếng Anh) Kirchhoff, Paul (1943). “Mesoamérica. Sus Límites Geográficos, Composición Étnica y Caracteres Culturales”. Acta Americana 1 (1): 92–107. (tiếng Tây Ban Nha)
hiệp hội bóng đá anh.txt
Hiệp hội bóng đá Anh (tiếng Anh: The Football Association; viết tắt: FA) là tổ chức quản lý, điều hành các hoạt động bóng đá ở nước Anh cũng như các vùng lãnh thổ như Jersey, Guernsey và Đảo Man. FA quản lý các đội tuyển bóng đá quốc gia nam và nữ, tổ chức các giải bóng đá như cúp FA, cúp Liên đoàn bóng đá Anh,... FA là thành viên của cả FIFA và UEFA. == Ban lãnh đạo của FA == === Chủ tịch danh dự === Arthur Pember (1863–1867) E. C. Morley (1867–1874) Major Sir Francis Marindin (1874–1890) Lord Kinnaird (1890–1923) Sir Charles Clegg (1923–1937) Jim Conway (1936) William Pickford (1937–1939) Bá tước của Athlone (1939–1955) Công tước của Edinburgh (1955–1957) Công tước của Gloucester (1957–1963) Bá tước của Harewood (1963–1971) Công tước của Kent (1971–2000) Công tước của York (2000–2006) Hoàng tử William của Wales (5/2006–) === Chủ tịch === A. G. Hines (1938) M. Frowde (1939–1941) Sir Amos Brook Hirst (1941–1955) Arthur Drewry (1955–1961) Graham Doggart (1961–1963) Joe Mears (1963–1966) Sir Andrew Steven (1967–1976) Professor Sir Harold Thompson (1976–1981) Sir Bert Millichip (1981–1996) Keith Wiseman (1996–1999) Geoff Thompson (1999–) === Tổng thư ký === E. C. Morley (1863–1866) R. W. Willis (1866–1868) R. G. Graham (1868–1870) Charles Alcock (1870–1895) Sir Frederick Wall (1895–1934) Sir Stanley Rous (1934–1962) Sir Denis Follows (1962–1973) E. A. Croker (1973–1989) === Giám đốc điều hành === Graham Kelly (1989–1998) David Davies (1998–2000) Adam Crozier (2000–2002) David Davies (2002–2003) Mark Palios (2003–2004) David Davies (2004–2005) Brian Barwick (2005–) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Trang chủ của Hiệp hội bóng đá Anh (tiếng Anh)
alvin ailey.txt
Alvin Ailey (5 tháng 1 năm 1931 - 1 tháng 12 năm 1989) là một nhà biên đạo múa gốc Phi và nhà hoạt động xã hội người Mỹ người sáng lập Nhà hát Mỹ Alvin Ailey tại thành phố New York. Ông được coi là người phổ biến vũ điệu hiện đại và cách mạng hóa sự tham gia của người Mỹ gốc Phi trong điệu nhảy buổi hòa nhạc thế kỷ 20. Công ty của ông đã đạt được danh hiệu "Đại sứ văn hóa thế giới" vì đã lưu diễn quốc tế rộng rãi. Revelations - kiệt tác múa của Ailey được cho là màn vũ hiện đại nổi tiếng nhất và thường thấy nhất. Năm 1977, Ailey được tặng Huân chương Spingarn từ NAACP. Ông đã nhận được Kennedy Center Honors năm 1988, chỉ một năm trước khi ông qua đời. Trong năm 2014, Tổng thống Barack Obama đã truy tặng Ailey Huân chương Tự do Tổng thống. == Biên đạo múa == Cinco Latinos, Alvin Ailey American Dance Theatre, Kaufmann Concert Hall, New York City, 1958. Blues Suite (xem thêm ở dưới), Alvin Ailey American Dance Theatre,Kaufmann Concert Hall, 1958. Revelations, Alvin Ailey American Dance Theatre, Kaufmann ConcertHall, 1960 Three for Now, Alvin Ailey American Dance Theatre, Clark Center, New York City, 1960. Knoxville: Summer of 1915, Alvin Ailey American Dance Theatre, Clark Center, 1960. (With Carmen De Lavallade) Roots of the Blues, Lewisohn Stadium, New York City, 1961. Hermit Songs, Alvin Ailey American Dance Theatre, Library of Congress, Washington, D.C., 1963. Ariadne, Harkness Ballet, Opera Comique, Paris, 1965. Macumba, Harkness Ballet, Gran Teatro del Liceo, Barcelona, Spain,1966, then produced as Yemanja, Chicago Opera House, 1967. Quintet, Alvin Ailey American Dance Theatre, Church Hill Theatre, Edinburgh Festival, Scotland, 1968, then Billy Rose Theatre, New York City, 1969. Masekela Langage, Alvin Ailey American Dance Theatre, American Dance Festival, New London, Connecticut, 1969, then Brooklyn Academy of Music, New York City, 1969. Streams (also see below), Alvin Ailey American Dance Theatre, Brooklyn Academy of Music, 1970. Gymnopedies, Alvin Ailey American Dance Theatre, Brooklyn Academy of Music, 1970. The River, American Ballet Theatre, New York State Theater, 1970. Flowers, Alvin Ailey American Dance Theatre, ANTA Theatre, 1971. Myth, Alvin Ailey American Dance Theatre, New York City Center, 1971. Choral Dances, Alvin Ailey American Dance Theatre, New York City Center, 1971. Cry, Alvin Ailey American Dance Theatre, New York City Center, 1971. Mingus Dances, Robert Joffrey Company, New York City Center, 1971. Mary Lou's Mass, Alvin Ailey American Dance Theatre, New York City Center, 1971. Song for You, Alvin Ailey American Dance Theatre, New York City Center, 1972. The Lark Ascending, Alvin Ailey American Dance Theatre, New York City Center, 1972. Love Songs, Alvin Ailey City Center Dance Theater, New York City Center, 1972. Shaken Angels, 10th New York Dance Festival, Delacorte Theatre, New York City, 1972. Sea Change, American Ballet Theatre, Kennedy Center Opera House, Washington, D.C., 1972, then New York City Center, 1973. Hidden Rites, Alvin Ailey City Center Dance Theater, New York City Center, 1973. Archipelago, 1971, The Mooche, 1975, Night Creature, 1975, Pas de "Duke", 1976, Memoria, 1979, Phases, 1980 Landscape, 1981. == Sân khấu == === Đóng phim và vũ đạo === (ra mắt Broadway) House of Flowers, Alvin Theatre, New York City, 1954 - Diễn viên và vũ công. The Carefree Tree, 1955 - Diễn viên và vũ công. Sing, Man, Sing, 1956 - Diễn viên và vũ công. Show Boat, Marine Theatre, Jones Beach, New York, 1957 - Diễn viên và vũ công. Jamaica, Imperial Theatre, New York City, 1957 - Diễn viên và vũ công chính. Call Me By My Rightful Name, One Sheridan Square Theatre, 1961 - Paul. Ding Dong Bell, Westport Country Playhouse, 1961 - Negro Lãnh đạo chính trị. Blackstone Boulevard, Talking to You, produced as double-bill in 2 by Saroyan, East End Theatre, New York City, 1961-62. Tiger, Tiger, Burning Bright, Booth Theatre, 1962 - Clarence Morris. === Biên đạo múa sân khấu === Carmen Jones, Theatre in the Park, 1959. Jamaica, Music Circus, Lambertville, New Jersey, 1959. Dark of the Moon, Lenox Hill Playhouse, 1960. (kiêm đạo diễn) African Holiday (nhạc kịch), Apollo Theatre, New York City, 1960, sau đó được thực hiện tại Howard Theatre, Washington, D.C., 1960. Feast of Ashes (ballet), Robert Joffrey Company, Teatro San Carlos, Lisbon, Portugal, 1962, then produced at New York City Center, 1971. Antony and Cleopatra, Metropolitan Opera House, Lincoln Center, New York City, 1966. La Strada, first produced at Lunt-Fontanne Theatre, 1969. (với những người khác) Mass, Metropolitan Opera House, 1972, then John F. Kennedy Center for the Performing Arts, Washington, D.C., and Philadelphia Academy of Music, both 1972. Carmen, Metropolitan Opera, 1972. Ballet với biên đạo, Lord Byron (opera; xem thêm ở dưới), Juilliard School of Music, New York City, 1972. Four Saints in Three Acts, Piccolo Met, New York City, 1973. === Đạo diễn === (với William Hairston) Jerico-Jim Crow, The Sanctuary, New York City, 1964, sau đó là Greenwich Mews Theatre, 1968. == Phim ảnh == === Xuất hiện === (Phim ra mắt) Dancer, Lydia Bailey, Twentieth-Century Fox, 1952 Vũ công, Carmen Jones, Twentieth-Century Fox, 1954 === Biên đạo múa trong phim === Biên đạo múa với những người khác, The Turning Point, Twentieth-Century Fox, 1977. == Truyền hình == === Xuất hiện === Vũ công (với Horton Company), Party at Ciro's (xem thêm ở dưới), 1954. Vũ công (với Horton Company), Red Skelton Show (xem thêm ở dưới), CBS, 1954. (với Alvin Ailey American Dance Theatre) Dave Garroway Today Show, NBC, 1959. (với Alvin Ailey American Dance Theatre) Look Up and Live, CBS, 1962. (với Alvin Ailey American Dance Theatre) Camera Three, CBS, 1962-63. Lễ ghi công Bob Hope, NBC, 1988. A Duke Named Ellington (tên khác: American Masters), PBS, 1988. The Kennedy Center Honors: A Celebration of the Performing Arts, CBS, 1988. 16th Annual Black Filmmakers Hall of Fame, syndicated, 1989. Bill Cosby Salutes Alvin Ailey, NBC, 1989. === Biên đạo múa truyền hình === The Jack Benny Show, CBS, 1954. Red Skelton Show, CBS, 1954. Parade, CBC, 1964. Alvin Ailey: Memories and Visions, PBS, 1974. "Blues Suite", Three by Three, PBS, 1985. "Revelations", The Kennedy Center Honors: A Celebration of the Performing Arts, CBS, 1988. "Revelations", Bill Cosby Salutes Alvin Ailey, NBC, 1989. "For Bird - With Love", Alvin Ailey American Dance Theater, Steps Ahead, PBS, 1991. Also contributed choreography for Party at Ciro's, 1954. Choreographed Ailey Celebrates Ellington, 1974 and 1976, Solo for Mingus, 1979, and Memoria, 1979. == Chuyển thể biên đạo == Blues Suite, Masekela Langage, Streams, and the ballet of Lord Byron have been filmed. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Alvin Ailey American Dance Theater Ibdb trên trang Internet Broadway DatabaseInternet Broadway Database Alvin Ailey tại Internet Movie Database Alvin Ailey at the Internet Off-Broadway Database American Ballet Theater biography Kennedy Center biography Body and Soul: The Alvin Ailey American Dance Theater from the Smithsonian Institution NPR: Holiday Dance at the Alvin Ailey Theater Các công trình liên quan hoặc của Alvin Ailey trên các thư viện của thư mục (WorldCat)WorldCat catalog) National Museum of Dance Archive footage of Alvin Ailey Repertory Ensemble dancing Revelations in 1988 at Jacob's Pillow
anguilla.txt
Anguilla (IPA: [æŋ'ɡwɪlə]) là một lãnh thổ hải ngoại của Anh trong vùng Caribê, một trong những đảo xa nhất về phía bắc của quần đảo Leeward trong khu vực Antilles nhỏ. Nó bao gồm đảo chính Anguilla, dài khoảng 26 km (16 dặm) và rộng 5 km (3 dặm) tại điểm rộng nhất, cùng với một số đảo và cù lao nhỏ hơn nhiều không có dân định cư. Thủ phủ của đảo là The Valley. Tổng diện tích đất liền của lãnh thổ là 102 km² (39,4 dặm vuông), với dân số khoảng 13.500 (năm 2006). 18°13′14″B 63°4′7″T == Xem thêm == Truyền thông ở Anguilla Giao thông ở Anguilla Wikimedia Atlas của Anguilla, có một số bản đồ liên quan đến Anguilla. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Các trang chính thức Government of Anguilla - Official government web site The Anguilla Experience - Official publication of Anguilla Tourism Board The Anguilla Hotel and Tourism Association - Official site of the Anguilla Hotel and Tourism Association Anguilla Guide - Official publication of the Anguilla Hotel and Tourism Association Tin tức và hình ảnh The Anguillian - Weekly newspaper of Anguilla Anguilla Life News Talk - Online news source in Anguilla Cổng tri thức Anguilla - Library of Congress Portals on the World Mục “Anguilla” trên trang của CIA World Factbook.
thạch thất.txt
Thạch Thất là một huyện phía tây của Hà Nội. == Vị trí địa lý == Huyện Thạch Thất phía bắc và đông bắc giáp huyện Phúc Thọ, phía đông nam và nam giáp huyện Quốc Oai, phía tây nam và nam giáp tỉnh Hòa Bình, phía tây giáp thị xã Sơn Tây. == Đơn vị hành chính == Huyện Thạch Thất bao gồm 1 thị trấn Liên Quan và 22 xã: Bình Phú, Bình Yên, Cẩm Yên, Cần Kiệm, Canh Nậu, Chàng Sơn, Đại Đồng, Dị Nậu, Đồng Trúc, Hạ Bằng, Hương Ngải, Hữu Bằng, Kim Quan, Lại Thượng, Phú Kim, Phùng Xá, Tân Xã, Thạch Hòa, Thạch Xá, Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung. == Diện tích và dân số == Diện tích 184,6 km². Dân số 189.527 người (2013). == Đặc điểm nổi bật == Đây là vùng quê bán sơn địa, núi đá vôi xen lẫn đồng bằng. Nổi tiếng nhất có chùa Tây Phương ở xã Thạch Xá. Xã Chàng Sơn nổi tiếng về nghề làm quạt và đồ mộc. Xã Bình Phú nổi tiếng về nghề mây tre đan. Xã Hữu Bằng nổi tiếng về buôn bán, thương mại, Xã Đồng Trúc là nơi đã xuất hiện cộng đồng dân cư cách đây trên 2000 năm, có nhiều địa chỉ khảo cổ, hiện còn lưu giữ được nhiều di vật, nhiều dấu tích có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu lìm hiểu về lịch sử, văn hóa, khoa học, tôn giáo và tín ngưỡng. Ở đây cũng có đình Trúc Động cổ nhất huyện. Thạch Thất là quê hương của "Trạng Bùng" Phùng Khắc Khoan, Đình nguyên Hoàng giáp Nguyễn Đăng Huân (1804-1838), danh nhân văn hóa Nguyễn Tử Siêu, nhà viết kịch Tào Mạt, nhà thơ Bằng Việt. Thạch Thất cũng là quê hương của võ sư Nguyễn Lộc (1912-1960), người sáng lập môn Vovinam (Việt Võ Đạo) == Văn hóa dân gian == Thạch thất nổi tiếng với nhiều làng nghề nổi tiếng của xứ Đoài, như nghề Mộc Chàng Sơn, Dệt Hữu Bằng, Đan lát Bình phú Sắt Phùng Xá, làm bánh chè lam Thạch Xá và kẹo trà lam Đại Đồng, vv.... Hiện nay một số nơi tại huyện Thạch Thất như Làng Chàng Sơn,Thôn Phú Hòa (Làng Ra) xã Bình Phú, Thạch Xá vẫn còn lưu giữ bộ môn nghệ thuật dân gian "Múa rối nước". Hàng năm vào dịp lễ tết, hội làng vẫn tổ chức biểu diễn. Đặc biệt rối nước Làng Ra hiện vẫn còn lưu giữ được những con rối cổ, bên cạnh đó hàng năm các đội vẫn tổ chức tu sửa và bổ sung con rối mới bởi các nghệ nhân trong làng như nghệ nhân Nguyễn Khắc Thoa, cố nghệ nhân Nguyễn Khắc Giáp, nghệ nhân Nguyễn Hữu Chuân,... Lưu chuyền đội múa rối nước Làng Ra do Thiền sư Từ Đào Hạnh khởi lập nên hàng năm vào dịp hội Chùa Thầy đội múa rối Làng Ra biểu diễn tại nhà Thủy Đình tại hồ Long Trì == Lịch sử == Trước đây Thạch Thất là huyện thuộc phủ Quốc Oai, tỉnh Sơn Tây. Tên gọi của Thạch Thất có nghĩa là nhà đá. Từ ngày 21 tháng 4 năm 1965 thuộc tỉnh Hà Tây. Cùng thời điểm này, sáp nhập xã An Hòa vào xã Tiến Xuân thuộc huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.. Ngày 27 tháng 12 năm 1975 thuộc tỉnh Hà Sơn Bình, gồm 19 xã: Bình Phú, Bình Yên, Cẩm Yên, Cần Kiệm, Canh Nậu, Chàng Sơn, Đại Đồng, Dị Nậu, Đồng Trúc, Hạ Bằng, Hương Ngải, Hữu Bằng, Kim Quan, Lại Thượng, Liên Quan, Phú Kim, Phùng Xá, Tân Xã, Thạch Xá. Từ năm 1978 đến năm 1991, nhập vào thủ đô Hà Nội. Từ ngày 12 tháng 8 năm 1991 lại trở về với tỉnh Hà Tây. Ngày 23 tháng 6 năm 1994, chuyển xã Liên Quan thành thị trấn Liên Quan. Ngày 28 tháng 8 năm 1994, thành lập xã Thạch Hòa trên cơ sở một phần diện tích và nhân khẩu của các xã Bình Yên, Tân Xã, Hạ Bằng và Đồng Trúc. Từ đó, huyện Thạch Thất có thị trấn Liên Quan và 19 xã: Bình Phú, Bình Yên, Cẩm Yên, Cần Kiệm, Canh Nậu, Chàng Sơn, Đại Đồng, Dị Nậu, Đồng Trúc, Hạ Bằng, Hương Ngải, Hữu Bằng, Kim Quan, Lại Thượng, Phú Kim, Phùng Xá, Tân Xã, Thạch Hòa, Thạch Xá. Từ ngày 29 tháng 5 năm 2008, khi tỉnh Hà Tây bị giải thể, Thạch Thất là một huyện của Hà Nội. Cùng ngày, HĐND thành phố Hà Nội mới (mở rộng) quyết định chuyển cho huyện Thạch Thất quản lý 3 xã mới nhập từ huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình, là các xã: Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung. Ngày 8 tháng 5 năm 2009, toàn bộ diện tích tự nhiên và dân số của 3 xã Tiến Xuân, Yên Bình, Yên Trung thuộc huyện Lương Sơn của tỉnh Hòa Bình được sáp nhập vào huyện Thạch Thất. Như vậy, huyện Thạch Thất có 1 thị trấn và 22 xã, giữ ổn định cho đến nay. == Các nhà Khoa bảng huyện Thạch Thất == Sắp xếp theo thứ tự từ Triều Lý đến triều Nguyễn: 1. Liêu Hiến Chương, Liêu Hiến Quang (Thái Học Sinh, Xã Hương Ngải) 2. Đỗ Đạt (Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, Xã Nguyễn Xá) 3. Nguyễn Ngung (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, Xã Hữu Bằng) 4. Đỗ Hịch (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, Xã Hương Ngải) 5. Nguyễn Tử Kiến (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, Xã Trạch Lôi) 6. Phí Thạc (Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, Xã Hương Ngải) 8. Phan Tế (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, Xã Thạch Xá) 9. Phùng Khắc Khoan (Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, Xã Phùng Xá) 10. Phan Bảng (Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, Xã Hữu Bằng) 11. Nguyễn Côn (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, Xã Thạch Xá) 12. Đỗ Thê (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, xã Hương Ngải) 13. Nguyễn Nham (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, xã Phùng Xá) 14. Nguyễn Thì Lượng (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, xã Phùng Xá) 15. Vũ Đình Dung (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, xã Phùng Xá) 16. Nguyễn Đăng Huân (Đình nguyên Hoàng giáp, Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, xã Hương Ngải) 17. Chu Duy Tân (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, Xã Phùng Xá) 18. Vũ Huy Huyến (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, xã Đại Đồng) 19. Nguyễn Văn Bân (Đệ tam giáp đồng tiến sĩ, xã Hữu Bằng),... == Hạ tầng == Hiện nay, trên địa bàn huyện Thạch Thất đã và đang hình thành một số khu đô thị, khu nhà ở cao cấp như: Khu công nghệ cao Hòa Lạc, khu đô thị sinh thái Xanh Villas... Có quốc lộ 21, một phần quốc lộ 32 và đại lộ Thăng Long đi qua. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Cổng giao tiếp điện tử UBND huyện Thạch Thất
kinh tế cộng hòa séc.txt
Cộng hòa Séc là một quốc gia dân chủ mới nổi ở Đông Âu, có nền kinh tế công nghiệp phát triển. Nó là một trong những nền kinh tế ổn định nhất và thịnh vượng trong số các quốc gia thời kỳ hậu cộng sản ở châu Âu. Ngành công nghiệp chính là công nghiệp nặng và máy xây dựng, sắt và thép, gia công kim loại, hóa chất, điện tử, thiết bị vận tảin, sợi dệt, kính, rượu bia, sứ, gốm, dược phẩm. Sản phẩm nông nghiệp chính là củ cải đường, cỏ khô, khoai tây, lúa mì, hublông. === Khái quát lịch sử === Vào thế kỉ 19, hai vùng đất Bohemia và Moravia của Cộng hòa Séc ngày nay là trung tâm công nghiệp chính của Đế chế Áo-Hung. Vì vậy sau khi Đế chế Áo-Hung sụp đổ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, nước này đã thừa kế một phần lớn những cơ sở công nghiệp. Vào thời điểm đó, Tiệp Khắc được đánh giá là một nước có cơ sở hạ tầng tốt với trình độ dân trí cao song nhiều nhà máy và thiết bị của nước này có phần lạc hậu hơn so với các nước tư bản Tây Âu. Trong thời kỳ xã hội chủ nghĩa, kinh tế Tiệp Khắc tương đối phát triển và gắn bó chặt chẽ với Liên Xô. Nhưng đến năm 1991, chế độ xã hội chủ nghĩa tại Liên Xô và Đông Âu sụp đổ đã khiến cho nền kinh tế Séc mất đi nhiều thị trường lớn ở phía đông và rơi vào khủng hoảng. Cuộc Cách mạng Nhung lụa diễn ra vào năm 1989 đã tạo điều kiện cho sự thay đổi căn bản toàn bộ nền kinh tế Séc. Tháng 1 năm 1991, "liệu pháp sốc" đã mang đến những thay đổi rất lớn: 95% các mặt hàng không còn chịu kiểm soát giá cả của nhà nước, lạm phát hạ xuống dưới 10%, tỉ lệ thất nghiệp thấp, thâm hụt ngân sách và nợ nước ngoài giảm đáng kể và đáng chú ý nhất là sự chuyển đổi trọng tâm hợp tác kinh tế từ Đông sang Tây. Cộng hòa Liên bang Đức, Hà Lan và Mỹ trở thành những nhà đầu tư lớn nhất tại Cộng hòa Séc. Sự chuyển đổi đó cũng yêu cầu những cải cách mạnh mẽ về luật pháp và hành chính nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho đầu tư và phát triển. Ngân hàng và bưu chính viễn thông được quan tâm đẩy mạnh. Về tài chính, từ năm 1995, tỷ giá hối đoái giữa đồng koruna của Cộng hòa Séc và đôla Mỹ đã được thiết lập một cách ổn định. Sự tư nhân hóa ồ ạt nền kinh tế cũng diễn ra với tốc độ chóng mặt: năm 1998, đã có đến hơn 80% xí nghiệp thuộc sở hữu tư nhân. Cuộc khủng hoảng chính trị và tài chính 1997 đã tác động mạnh đến nền kinh tế Séc. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 1997 hạ xuống còn 0,3%, năm 1998 là -2,3% và năm 1999 là -0,5%. Nguyên nhân là do sự thực hiện "liệu pháp sốc" một cách vội vã và không vững chắc. Chính phủ Cộng hòa Séc đã phải xem xét lại các chính sách kinh tế của mình và điều chỉnh lại sao cho thích hợp hơn như tăng tốc việc hội nhập với các tiêu chuẩn kinh tế của EU, tái cơ cấu các doanh nghiệp, tiến hành tư nhân hóa với các ngân hàng và các ngành dịch vụ công cộng. Bắt đầu từ năm 2000, tốc độ tăng trưởng của nước này dần dần hồi phục. Xuất khẩu vào thị trường EU, đặc biệt là Đức tăng mạnh đã làm giảm thâm hụt thương mại của nước này xuống còn 5% GDP. Năm 2004, Cộng hòa Séc chính thức trở thành một thành viên của Liên minh châu Âu, đòi hỏi nước này phải thúc đẩy quá trình cải cách kinh tế hơn nữa. Những năm gần đây, Cộng hòa Séc đang trở thành một trong những quốc gia có nền kinh tế phát triển mạnh tại khu vực Đông Âu. Theo số liệu của Quỹ tiền tệ Quốc tế, năm 2006, GDP danh nghĩa của Cộng hòa Séc là 141,8 tỷ USD (GDP theo sức mua tương đương: 236,5 tỷ USD), thu nhập bình quân đầu người đạt 13.848 USD, cao hơn so với nhiều nước Đông Âu khác như Ba Lan, Hungary, Slovakia tuy nhiên vẫn còn thấp hơn mức trung bình của Liên minh châu Âu. Nền kinh tế nước này được đánh giá là tăng trưởng nhanh và ổn định. Năm 2007, tốc độ tăng trưởng kinh tế của nước này đạt 5,7%. Cộng hòa Séc là thành viên của nhiều tổ chức kinh tế lớn như Liên minh châu Âu, WTO và OECD. === Các ngành kinh tế === Nông nghiệp của Cộng hòa Séc không có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Các loại cây trồng chủ yếu của nước này là lúa mì, khoai tây, củ cải đường, cây hublông... Trong cơ cấu kinh tế, nông nghiệp chỉ chiếm 3,4% GDP của Cộng hòa Séc. Vốn là một nước có sẵn những cơ sở công nghiệp từ thế kỉ 19, nền công nghiệp của Cộng hòa Séc có nhiều điều kiện thuận lợi phát triển. Các ngành công nghiệp chính của nước này là luyện kim, sản xuất máy móc, thiết bị điện tử, phương tiện giao thông, dệt may, chất hóa học, dược phẩm, chế biến lương thực thực phẩm... Bên cạnh đó, Cộng hòa Séc rất nổi tiếng với ngành công nghiệp sản xuất đồ gốm sứ và pha lê. Công nghiệp chiếm tỉ trọng 39,3% trong nền kinh tế. Dịch vụ là lĩnh vực đóng góp nhiều nhất trong nền kinh tế, chiếm 57,3% GDP. Các ngành ngân hàng, công nghệ thông tin, viễn thông là những động lực năng động của nền kinh tế Séc và thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài. Thương mại là một hoạt động kinh tế quan trọng với các đối tác thương mại chủ yếu là Cộng hòa Liên bang Đức, Slovakia, Áo, Ba Lan... Du lịch cũng là một thế mạnh của Cộng hòa Séc. Năm 2001, doanh thu từ du lịch mang về cho nước này khoảng 118 tỉ koruna, đóng góp tới 5,5% GNP của nước này. Thủ đô Praha thường là lựa chọn hàng đầu của du khách với rất nhiều các công trình văn hóa, lịch sử nổi tiếng. Những khu du lịch spa nổi tiếng như Karlovy Vary thường là điểm đến được yêu thích vào các kỳ nghỉ. Những lễ hội âm nhạc hay bia của Cộng hòa Séc cũng góp phần làm đất nước này trở thành một địa điểm du lịch hấp dẫn. === Tiền tệ === Đồng tiền chính thức hiện nay của Cộng hòa Séc là đồng koruna. Trong tiếng Séc, từ koruna có nghĩa là "vương miện". Đồng tiền này chính thức được sử dụng từ ngày 18 tháng 2 năm 1993 sau khi Cộng hòa Séc và Slovakia tách khỏi Tiệp Khắc. Ký hiệu trong giao dịch quốc tế của đồng koruna Séc theo ISO 4217 là CZK. Đồng tiền koruna của Cộng hòa Séc bắt đầu tham gia các tỷ giá hối đoái từ năm 1995 và được thả nổi kể từ năm 1999. Trong năm 2007, chỉ số lạm phát của đồng tiền này là 2,4% và đã được duy trì ổn định trong suốt nhiều năm qua. Cộng hòa Séc có kế hoạch gia nhập khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (euro) vào năm 2012 nhưng sau đó đã tuyên bố hoãn lại. Đầu năm 2008, Ngân hàng Quốc gia Séc tuyên bố sẽ lùi thời hạn gia nhập khu vực đồng tiền chung đến năm 2019. === Cơ sơ hạ tầng === Năng lượng: Cộng hòa Séc nhìn chung là một nước nghèo tài nguyên về năng lượng, ngoại trừ một ít dầu mỏ và khí gas ở miền nam Moravia. Hiện nay nước này đang hạn chế dần việc sử dụng than làm chất đốt vì vì sản sinh ra nhiều khí nhà kính gây ô nhiễm môi trường. Năng lượng nguyên tử chiếm 30% tổng nhu cầu năng lượng hiện nay ở Cộng hòa Séc, và dự kiến có thể tăng lên 40% trong những năm tới. Khí gas tự nhiên được nhập khẩu từ nước ngoài và là một khoản chi tiêu lớn của Cộng hòa Séc. Gas được nhập từ tập đoàn Gazprom của Nga qua các đường ống trung chuyển ở Ukraina và nhập từ các công ty của Na Uy, được vận chuyển qua Đức. Sản lượng điện năm 2005 đạt 77,38 tỷ Kwh và ngoài đáp ứng tiêu thụ trong nước, Cộng hòa Séc xuất khẩu gần 25 tỷ Kwh điện năng. Giao thông: là trái tim của châu Âu nên Cộng hòa Séc có mạng lưới giao thông dày đặc và khá phát triển. Đường sắt có tổng chiều dài 16.053 km (năm 2005) và mật độ đường sắt cao nhất trong Liên minh châu Âu: 120 km trên 1.000 km vuông. Hàng năm đường sắt nước này chuyên chở khoảng 178 triệu hành khách và 100 triệu mét khối hàng hóa. Công ty "Đường sắt Séc" chiếm 99% tổng hành khách vận chuyển bằng đường sắt. Đường bộ của Cộng hòa Séc có trên 6.174 km đường quốc lộ cao tốc hạng nhất (giới hạn tốc độ 130 km/h) nối thủ đô và các thành phố chính như Brno, Plzen, Pripram... và hòa vào hệ thống đường cao tốc châu Âu tạo thành xương sống của hệ thống đường bộ nước này. Đường bộ cấp thấp hơn có tổng chiều dài 48.778 km. Về đường hàng không, Cộng hòa Séc có khoảng 60 sân bay công cộng trong đó lớn nhất là Sân bay quốc tế Pragua hàng năm đón khoảng 11 triệu lượt khách. Hãng hàng không quốc gia là Czech Airlines có đường bay đến những thành phố lớn ở châu Âu, Bắc Mỹ, Châu Á, Trung Đông và Bắc Phi. Đường sông chủ yếu tập trung ở ba con sông chính là Labe, Vltava và Berounka với tổng chiều dài khoảng 300 km. Vận tải thủy chiếm từ 2 đến 5% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu và có vai trò quan trọng trong thương mại với Đức, Bỉ và Hà Lan, ngoài ra nó cũng phục vụ cho du lịch. Giao thông công cộng ở các thành phố lớn cũng khá thuận tiện với các phương tiện chủ yếu là xe bus, tàu điện, ngoài ra thủ đô Prague bắt đầu có tàu điện ngầm từ ngày 9 tháng 5 năm 1974, chiều dài đường tàu điện ngầm khoảng 54 km. Thông tin và truyền thông: Cộng hòa Séc có trên 3,2 triệu thuê bao cố định (2005) và trên 12 triệu thuê bao di động (2006). Số người sử dụng điện thoại di động tăng mạnh từ giữa thập niên 1990 và đến nay đạt 120 thuê bao trên 100 người. Hệ thống thông tin nội địa đã được nâng cấp thiết bị ADSL để tạo điều kiện thuận lợi cho sử dụng Internet và 93% dung lượng trao đổi dưới dạng kỹ thuật số. Để phục vụ viễn thông quốc tế, Cộng hòa Séc có 6 vệ tinh: 2 Intersputnik, 1 Intelsat, 1 Eutelsat, 1 Inmarsat và 1 Globalstar. Cộng hòa Séc có 4 đài truyền hình ở phạm vi toàn quốc và trên 20 đài khu vực trong đó Czech Television, TV Nova và Prima TV là những hãng lớn nhất. Cộng hòa Séc là nước Đông Âu đầu tiên cho phép tư nhân phát sóng truyền hình năm 1994. Nước này cũng có 7 đài phát thanh toàn quốc, 76 đài phát thanh địa phương. Internet khá phát triển với những nhà cung cấp dịch vụ chính là Seznam, Centrum, Atlas, iDnes, Volny và Tiscali. == Chú thích ==
mù tạc (cây).txt
Mù tạc hay mù tạt (tiếng Pháp "moutarde") là tên gọi chung để chỉ một số loài thực vật thuộc chi Brassica và chi Sinapis có hạt nhỏ được sử dụng để làm gia vị bằng cách nghiền nhỏ sau đó trộn với nước, dấm hay các chất lỏng khác trở thành các loại bột nhão làm mù tạc thương phẩm. Hạt của chúng cũng được ép để sản xuất dầu mù tạc, và lá non của chúng có thể ăn như một loại rau xanh. Mù tạc trắng (Sinapis hirta) mọc hoang dại tại Bắc Phi, Trung Đông và khu vực ven Địa Trung Hải của châu Âu và được phổ biến xa hơn do gieo trồng; mù tạc nâu hay mù tạc Ấn Độ (B. juncea), có nguồn gốc từ chân dãy núi Himalaya, được trồng với quy mô thương mại tại Anh, Canada và Hoa Kỳ; mù tạc đen (B. nigra) tại Argentina, Chile, Hoa Kỳ và một số nước châu Âu. Canada trồng tới 90% sản lượng mù tạc trên thị trường quốc tế. Ngoài mù tạc, chi Brassica còn bao gồm cả cải bắp, súp lơ, cải dầu và cải củ v.v. Có những nghiên cứu gần đây nhằm tạo ra các giống mù tạc có chứa hàm lượng dầu cao hơn để sử dụng trong sản xuất dầu điêzen sinh học, một loại nhiên liệu lỏng tái sinh tương tự như dầu điêzen. Dầu điêzen sinh học từ dầu mù tạc có các tính chất chịu lạnh tốt và có chỉ số cetan khá. Bã còn lại sau khi ép dầu cũng là một loại thuốc trừ sâu có hiệu quả. xem ở đây Quan hệ di truyền thú vị giữa các loài mù tạc đã được theo dõi, và được miêu tả như là tam giác U. Tại Trung Âu, những cánh đồng hoa nở vàng vào cuối mùa hè và mùa thu hầu hết là cải mù tạc để dùng làm phân xanh sau mùa vụ chính, không phải là cải dầu như nhiều người nhìn nhầm. == Hình ảnh == Phương tiện liên quan tới Brassica tại Wikimedia Commons Phương tiện liên quan tới Sinapis tại Wikimedia Commons == Tham khảo ==
1954.txt
1954 (số La Mã: MCMLIV) là một năm thường bắt đầu vào thứ sáu trong lịch Gregory. Nó cùng lúc với những năm 5714–5715 trong lịch Do Thái, 1373–1374 trong lịch Hồi giáo, 1332–1333 trong lịch Ba Tư, 4650–4651 (Ất Dậu) trong lịch Trung Quốc, 2497 trong dương lịch Thái, và 2707 a.u.c. == Sự kiện == === Tháng 1 === 10 tháng 1: Tại Anh, xảy ra tai nạn hàng không máy bay số hiệu 781. 21 tháng 1: Hoa Kỳ hạ thủy tàu ngầm hạt nhân đầu tiên trên thế giới USS Nautilus. === Tháng 2 === 20 tháng 2: Thành lập khu tự trị người Dục Cố tại Cam Túc === Tháng 3 === 13 tháng 3: Mở đầu chiến dịch Điện Biên Phủ. Trận Him Lam. 14 tháng 3: Mở đầu trận đồi Độc Lập 15 tháng 3: Kết thúc trận đồi Độc Lập === Tháng 4 === 8 tháng 4: Tại Nam Phi, xảy ra tai nạn máy báy số hiệu 201. 20 tháng 4: Thành lập khu tự trị người Hồi tại Hà Đông Ninh Hạ 23 tháng 4: Thành lập khu tự trị người Hồi tại Mông Cổ Ninh Hạ 26 tháng 4: Hội nghị Geneva khai mạc 29 tháng 4: Trung Quốc và Ấn Độ khẳng định nguyên tắc hòa bình biên giới === Tháng 5 === 1 tháng 5: Quân giải phóng đồng loạt tấn công cứ điểm Điện Biên Phủ 7 tháng 5: Kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ thắng lợi thuộc về bộ đội Việt Nam. 8 tháng 5: Hội nghị Geneve bắt đầu thảo luận về việc lập lại hòa bình tại Đông Dương. 22 tháng 5: Tạo Geneva, Alabama, ngoại trưởng Hàn Quốc Biện Sách Thái đề xuất 14 điểm hòa bình thống nhất bán đảo Triều Tiên === Tháng 6 === 2 tháng 6: Thượng nghị sĩ Joseph McCarthy cáo buộc cộng sản đã thâm nhập vào CIA và ngành công nghiệp vũ khí nguyên tử. 4 tháng 6: Pháp ký hiệp ước trao trả độc lập cho Quốc gia Việt Nam. 18 tháng 6: Chính phủ cánh tả do dân bầu của Guatemala bị lật đổ trong cuộc đảo chính do CIA hậu thuẫn 26 tháng 6: Chiến tranh Đông Dương Trận Đắk Pơ 28 tháng 6: Trung Quốc và Ấn Độ phát biểu liên minh === Tháng 7 === 3 tháng 7: Quân đội Pháp bắt đầu rút khỏi Việt Nam 7 tháng 7: Ngô Đình Diệm lập chính phủ mới tại miền Nam Việt Nam. 8 tháng 7: Tướng Carlos Castillo Armas được bầu làm chủ tịch hội đồng cố vấn, lật đổ chính quyền tổng thống Guatemala Jacobo Arbenz Guzman. 17 tháng 7: Pháp rút quân khỏi Plei-ku 21 tháng 7: Hiệp định Genève được ký kết. 26 tháng 7: Trung Quốc chế tạo thành công phi cơ === Tháng 9 === 3 tháng 9: Mở đầu cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ 1. 8 tháng 9: Thành lập tổ chức quân sự SEATO 28 tháng 9: Thành lập quân ủy trung ương ủy viên hội Trung Quốc. === Tháng 10 === 2 tháng 10: Tây Đức gia nhập NATO. 10 tháng 10: Bộ đội Việt Nam tiếp quản thủ đô Hà Nội. 16 tháng 10: Thành lập khu tự trị người Mông Cổ tại Hà Nam Thanh Hải === Tháng 11 === 1 tháng 11: Mở đầu cuộc chiến tranh chống Pháp của nhân dânAlgérie === Tháng 12 === 2 tháng 11: Tại Đài Loan, Trung Hoa Dân Quốc và Hoa Kỳ ký hiệp ước phòng thủ chung. 13 tháng 12: Mỹ và Pháp ký kết văn kiện cho phép các cố vấn quân sự Mỹ thay thế dần cho sĩ quan Pháp tham gia huấn luyện quân đội Quốc gia Việt Nam ở miền Nam Việt Nam. 24 tháng 12: Lào giành được độc lập từ Pháp == Sinh == 1 tháng 1 - Tạ Ngọc Tấn, phó giáo sư, tiến sĩ, tổng biên tập, chính trị gia Việt Nam 29 tháng 1 - Oprah Winfrey, người dẫn chương trình Hoa Kỳ 19 tháng 2 - Sócrates, cựu cầu thủ bóng đá Brasil 23 tháng 2 - Viktor Yushchenko, Tổng thống Ukraina 9 tháng 3 - Carlos Ghosn, doanh nhân Pháp 7 tháng 4 - Thành Long, diễn viên Hồng Kông 12 tháng 4 - Nguyễn Thị Kim Ngân, bộ trưởng Việt Nam 10 tháng 5 - David Paterson, chính trị gia Hoa Kỳ 29 tháng 6 - Leovegildo Lins da Gama Júnior, cựu cầu thủ Brasil 15 tháng 7 - Mario Alberto Kempes, cựu cầu thủ bóng đá Argentina 17 tháng 7 - Edward Natapei, thủ tướng Vanuatu 17 tháng 7 - Angela Merkel, thủ tướng Đức 20 tháng 7 - Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Việt Nam 28 tháng 7 - Hugo Chávez, tổng thống Venezuela 16 tháng 8 - James Cameron, đạo diễn Hoa Kỳ 21 tháng 9 - Abe Shinzō, thủ tướng Nhật Bản 23 tháng 10 - Lý An, đạo diễn Đài Loan 3 tháng 11 - Lâm Thanh Hà, diễn viên Hồng Kông 14 tháng 11 - Condoleezza Rice, ngoại trưởng Hoa Kỳ 14 tháng 11 - Yanni, nhạc sĩ Hy Lạp 15 tháng 11 - David B. Audretsch nhà kinh tế học người Hoa Kỳ 24 tháng 12 - Phạm Quý Ngọ, Trung tướng Công an, Thứ trưởng Bộ Công an Việt Nam. 28 tháng 12 - Denzel Washington, diễn viên Hoa Kỳ Tướng Abdul Rashid Dostum == Mất == == Giải Nobel == == Xem thêm == == Tham khảo ==
coritiba foot ball club.txt
Coritiba Foot Ball Club là câu lạc bộ bóng đá Brasil thành lập ngày 12-10-1909,đang chơi ở Giải vô địch bóng đá Brasil 2013. == Sân vận động == Major Antônio Couto Pereira == Achievements == Campeonato Brasileiro Série A: 1 1985 Campeonato Brasileiro Série B: 2 2007, 2010 Torneio do Povo: 1 1973 Campeonato Paranaense: 36 1916, 1927, 1931, 1933, 1935, 1939, 1941, 1942, 1946, 1947, 1951, 1952, 1954, 1956, 1957, 1959, 1960, 1968, 1969, 1971, 1972, 1973, 1974, 1975, 1976, 1978, 1979, 1986, 1989, 1999, 2003, 2004, 2008, 2010, 2011, 2012 Taça Cidade de Curitiba/Taça Clemente Comandulli: 2 1976, 1978 Festival Brasileiro de Futebol: 1 1997 Fita Azul Internacional: 1 1972 == Chú thích == Coritiba == Tham khảo ==
ông già tuyết.txt
Ông già Tuyết (tiếng Nga: Дед Мороз Ded Moroz hay Дедушка Мороз Dedushka Moroz, dịch nghĩa: "Ông già Băng giá") là một nhân vật trong kho tàng văn học dân gian các dân tộc Slav, đóng một vai trò tương tự như Ông già Noel trong văn hóa phương Tây (dựa trên nguyên mẫu Thánh Nicolaus). Khác Ông già Noel thường tặng quà cách bí mật, Ông già Tuyết lại tặng quà trực tiếp cho trẻ em. Ông có người cháu gái đồng hành để trợ giúp trong việc tặng quà là Công chúa Tuyết. Ông được Giáo hội Chính thống giáo Nga miêu tả như một nhân vật tốt bụng đem niềm vui ấm áp tới giữa mùa đông. Gần đây, đôi khi ông già Tuyết cũng được đồng hóa với Ông già Noel với bộ áo khoác đỏ và đem quà đến đặt dưới cây thông trước khi năm mới đến. == Thân thế == == Hình tượng trong văn hóa - nghệ thuật == === Âm nhạc === === Mỹ thuật === === Văn học === Truyện cổ tích === Sân khấu === === Điện ảnh === Ông già Tuyết (phim, 1964) Ông già Tuyết và mùa hè, phim hoạt hình, 1969 == Tham khảo == == Xem thêm == 'Đừng giết Ông già Tuyết', BBC, 13 tháng 12 năm 2012
cadimi.txt
Cadimi là nguyên tố hóa học trong bảng tuần hoàn các nguyên tố có ký hiệu Cd và số nguyên tử bằng 48. Là một kim loại chuyển tiếp tương đối hiếm, mềm, màu trắng ánh xanh và có độc tính, cadimi tồn tại trong các quặng kẽm và được sử dụng chủ yếu trong các loại pin. == Các đặc tính nổi bật == Cadimi là kim loại mềm, dẻo, dễ uốn, màu trắng ánh xanh, có hóa trị 2, rất dễ cắt bằng dao. Nó tương tự về nhiều phương diện như kẽm nhưng có xu hướng tạo ra các hợp chất phức tạp hơn. Trạng thái ôxi hóa phổ biến nhất của cadimi là +2, nhưng có thể tìm thấy các hợp chất mà nó có hóa trị +1. == Ứng dụng == Khoảng 3/4 cadimi sản xuất ra được sử dụng trong các loại pin (đặc biệt là pin Ni-Cd) và phần lớn trong 1/4 còn lại sử dụng chủ yếu trong các chất màu, lớp sơn phủ, các tấm mạ kim và làm chất ổn định cho plastic. Các sử dụng khác bao gồm: Trong một số hợp kim có điểm nóng chảy thấp. Trong các hợp kim làm vòng bi hay gối đỡ do có hệ số ma sát thấp và khả năng chịu mỏi cao. 6% cadimi sử dụng trong mạ điện. Nhiều loại que hàn chứa kim loại này. Lưới kiểm soát trong các lò phản ứng hạt nhân. Các hợp chất chứa cadimi được sử dụng trong các ống hình của ti vi đen trắng hay ti vi màu (phốt pho đen, trắng, lam và lục). Cadimi tạo ra nhiều loại muối, trong đó sulfua cadimi là phổ biến nhất. Sulfua này được sử dụng trong thuốc màu vàng. Một số vật liệu bán dẫn như sulfua cadimi, selenua cadimi và telurua cadimi thì nó dùng trong các thiết bị phát hiện ánh sáng hay pin mặt trời. HgCdTe nhạy cảm với tia hồng ngoại. Một số hợp chất của cadimi sử dụng trong PVC làm chất ổn định. Sử dụng trong thiết bị phát hiện nơtrino đầu tiên. == Lịch sử == Cadimi (tiếng Latinh: cadimia, tiếng Hy Lạp: kadmeia có nghĩa là "calamin") được phát hiện bởi Friedrich Strohmeyer tại Đức năm 1817. Strohmeyer đã tìm thấy nguyên tố mới trong tạp chất của cacbonat kẽm (calamin) và trong khoảng 100 năm sau đó thì Đức là nước sản xuất lớn duy nhất của kim loại này. Kim loại này được đặt tên theo từ Latinh để chỉ calamin do nó được tìm thấy trong quặng chứa hợp chất này của kẽm. Strohmeyer thông báo rằng một số mẫu quặng chứa tạp chất của calamin bị đổi màu khi nung nóng nhưng calamin tinh chất thì không. Mặc dù cadimi và các hợp chất của nó có độc tính cao, nhưng British Pharmaceutical Codex (BPC) từ năm 1907 đã thông báo rằng iốtua cadimi được sử dụng làm thuốc trong y tế để điều trị các bệnh "khớp, tràng nhạc và cước". Năm 1927, SI đã định nghĩa lại mét theo vạch quang phổ đỏ của cadimi (1m = 1.553.164,13 bước sóng). Định nghĩa này sau đó đã được thay thế (xem krypton). == Phổ biến == Các quặng chứa cadimi rất hiếm và khi phát hiện thấy thì chúng chỉ có một lượng rất nhỏ. Greenockit (CdS), là khoáng chất duy nhất của cadimi có tầm quan trọng, gần như thường xuyên liên kết với sphalerit (ZnS). Do vậy, cadimi được sản xuất chủ yếu như là phụ phẩm từ việc khai thác, nấu chảy và tinh luyện các quặng sulfua kẽm, và ở mức độ thấp hơn là từ quặng chì và đồng. Một lượng nhỏ cadimi, khoảng 10% mức tiêu thụ, được sản xuất từ các nguồn thứ cấp, chủ yếu từ bụi sinh ra khi tái chế phế thải sắt và thép. Việc sản xuất tại Mỹ bắt đầu từ năm 1907 nhưng cadimi đã không được sử dụng rộng rãi cho đến tận sau khi Đại chiến thế giới 1 kết thúc. == Đồng vị == Cadimi nguồn gốc tự nhiên là hỗn hợp của 6 đồng vị ổn định. 27 đồng vị phóng xạ đã được phát hiện với ổn định nhất là Cd113 có chu kỳ bán rã là 7,7 triệu tỷ năm, Cd109 có chu kỳ bán rã 462,6 ngày, và Cd115 có chu kỳ bán rã 53,46 giờ. Tất cả các đồng vị phóng xạ còn lại có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 2,5 giờ và phần lớn trong chúng có chu kỳ bán rã nhỏ hơn 5 phút. Nguyên tố này có 8 trạng thái đồng phân với ổn định nhất là Cd113m (t½ 14,1 năm), Cd115m (t½ 44,6 ngày) và Cd117m (t½ 3,36 giờ). Các đồng vị cadimi có nguyên tử lượng từ 96,935 amu (Cd97) tới 129,934 amu (Cd130). Phương thức phóng xạ chủ yếu trước khi có đồng vị ổn định phổ biến thứ hai (Cd112) là bắt điện tử và phương thức chủ yếu sau khi có nó là bức xạ beta. Sản phẩm phân rã chủ yếu trước Cd112 là nguyên tố số 47 (Ag) và sản phẩm chủ yếu sau khi có Cd112 là nguyên tố 49 (indi). == Phòng ngừa == Cadimi là một trong rất ít nguyên tố không có ích lợi gì cho cơ thể con người. Nguyên tố này và các dung dịch các hợp chất của nó là những chất cực độc thậm chí chỉ với nồng độ thấp, và chúng sẽ tích lũy sinh học trong cơ thể cũng như trong các hệ sinh thái. Một trong những lý do có khả năng nhất cho độc tính của chúng là chúng can thiệp vào các phản ứng của các enzime chứa kẽm. Kẽm là một nguyên tố quan trọng trong các hệ sinh học, nhưng cadimi, mặc dù rất giống với kẽm về phương diện hóa học, nói chung dường như không thể thay thể cho kẽm trong các vai trò sinh học đó. Cadimi cũng có thể can thiệp vào các quá trình sinh học có chứa magiê và canxi theo cách thức tương tự. Hít thở phải bụi có chứa cadimi nhanh chóng dẫn đến các vấn đề đối với hệ hô hấp và thận, có thể dẫn đến tử vong (thông thường là do hỏng thận). Nuốt phải một lượng nhỏ cadimi có thể phát sinh ngộ độc tức thì và tổn thương gan và thận. Các hợp chất chứa cadimi cũng là các chất gây ung thư. Ngộ độc cadimi là nguyên nhân của bệnh itai-itai, tức "đau đau" trong tiếng Nhật. Ngoài tổn thương thận, người bệnh còn chịu các chứng loãng xương và nhuyễn xương. Khi làm việc với cadimi một điều quan trọng là phải sử dụng tủ chống khói trong các phòng thí nghiệm để bảo vệ chống lại các khói nguy hiểm. Khi sử dụng các que hàn bạc (có chứa cadimi) cần phải rất cẩn thận. Các vấn đề ngộ độc nghiêm trọng có thể sinh ra từ phơi nhiễm lâu dài cadimi từ các bể mạ điện bằng cadimi. Xem thêm: Ngộ độc cadimi == Chú thích == == Tham khảo == Tiếng Anh Phòng thí nghiệm quốc gia Mỹ Los Alamos – Cadimi == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Cadimium tại Wikimedia Commons WebElements.com – Cadimi
ohio.txt
Ohio (viết tắt là OH, viết tắt cũ là O., người Việt đọc là "Ồ-hai-ô") là một tiểu bang khu vực Trung Tây (cũ) nằm ở miền đông bắc Hoa Kỳ. Tên "Ohio" theo tiếng Iroquois có nghĩa là "sông đẹp" [1] và đó cũng là tên của một dòng sông dùng làm ranh giới phía nam của tiểu bang này với tiểu bang Kentucky. Hải quân Hoa Kỳ có đặt tên một vài tàu là USS Ohio (Chiến Hạm Hoa Kỳ Ohio) để tỏ lòng trân trọng tiểu bang này. Ðây là nơi sinh của các Tổng thống: Ulysses S. Grant (tại Point Pleasant), Rutherford B. Hayes (tại Delaware), James A. Garfield (tại Orange, Cuyahoga County), Benjamin Harrison (tại North Bend), William McKinley (tại Niles), William Howard Taft (tại Cincinnati), Warren G. Harding (tại Blooming Grove). == Lịch sử == Ohio là tiểu bang đầu tiên được chia ra từ Lãnh thổ Tây Bắc. Vào thế kỷ 18, Pháp xây dựng lên các cửa khẩu dùng để buôn bán, trao đổi hàng hóa (chủ yếu là lông thú) tại đây. Vào năm 1754, Pháp và Anh giao chiến trên đất Mỹ vì xung đột quyền lợi trong một cuộc chiến mà sau này được gọi là Chiến tranh Pháp với người da đỏ. Vì Hiệp ước Paris, Pháp đành phải chuyển quyền quản lý Ohio cho phía Anh. Anh thông qua Tuyên ngôn 1763 cấm những thực dân Mỹ đừng bố trí trong Vùng Ohio. Quyền kiểm soát của Anh đối với Ohio kết thúc bởi chiến thắng của Mỹ trong Cuộc cách mạng Mỹ. Hoa Kỳ tạo ra vùng lãnh thổ Tây Bắc vào năm 1787. Ohio nằm trong vùng lãnh thổ Tây Bắc. Vùng lãnh thổ Indiana sau đó được tạo ra do Ohio chẩn bị được trở thành tiểu bang, làm vùng lãnh thổ Tây Bắc nhỏ đi bằng Ohio ngày nay cộng với khoảng một nửa diện tích phía đông của đồng bằng Michigan (Mi-chi-gân). Theo Sắc lệnh Tây Bắc (Northwest Ordinance), Ohio có thể được trở thành tiểu bang khi mà dân số có hơn 60.000 người. Ngày 19 tháng 2 năm 1803, Tổng thống Jefferson ký một đạo luật của Quốc hội công nhận Ohio là tiểu bang thứ 17. Thông lệ của Quốc hội về công bố ngày chính thức có quyền tiểu bang không diễn ra cho đến tận năm 1812, khi Louisiana được nhận vào, cho nên vào năm 1953 Tổng thống Eisenhower ký một đạo luật công bố ngày 1 tháng 3 năm 1803 là ngày chính thức mà Ohio được trở thành tiểu bang Mỹ. Vào năm 1835, Ohio chiến đấu với Michigan trong một cuộc chiến không đổ máu để có được thành phố Gargamesh (ngày nay là Toledo), cuộc chiến này được gọi là Chiến tranh Toledo. == Luật pháp và chính quyền == Thủ phủ của Ohio là Columbus, gần trung tâm tiểu bang. Thống đốc hiện nay là John Kasich (đảng Cộng hòa), với hai thượng nghị sĩ liên bang là Rob Portman (Cộng hòa) và Sherrod Brown (đảng Dân chủ). == Địa lý == Sông Ohio là biên giới phía nam của Ohio (chính xác là ở mực nước sông thấp nhất vào năm 1793 ở bờ bắc của dòng sông) và nhiều đoạn biên giới phía bắc của tiểu bang được xác định theo hồ Erie của Ngũ Đại Hồ. Ohio tiếp giáp với Pennsylvania (Penxinvani) ở phía đông, Michigan ở phía bắc, Indiana ở phía tây, Kentucky ở phía nam, và Tây Virginia (Tây Virginia) ở phía đông nam. Nhiều vùng Ohio là đồng bằng bị băng xói mòn, trừ một vùng bằng phẳng về phía tây bắc, ngày xưa gọi là Đầm Lầy Tối Tăm (Great Black Swamp). Vùng đất bị băng xói mòn này ở vùng tây bắc và miền trung bị ngăn cách về phía đông và đông nam bởi vùng bị băng xói mòn thuộc Cao Nguyên Allegheny, tiếp theo đó là một vùng gọi là vùng chưa bị băng xói mòn thuộc Cao Nguyên Allegheny. Nhiều phần của Ohio là vùng đất thấp, nhưng vùng không bị băng xói mòn thuộc cao nguyên Allegheny có núi và rừng nhấp nhô. Những dòng sông quan trọng thuộc tiểu bang này có thể kể là Sông Miami, Sông Scioto, Sông Cuyahoga, và Sông Muskingum. == Kinh tế == Ohio, tiểu bang quan trọng trong sản xuất máy móc, công cụ, và nhiều vật khác, là một trong những tiểu bang công nghiệp chính. Vì Ohio nằm trong khu vực trồng ngô của Mỹ, nông nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong kinh tế của tiểu bang. Ngoài ra, các địa danh lịch sử, những thắng cảnh và các hoạt động giải trí của Ohio là nền tảng cho ngành du lịch thịnh vượng. Hơn 2.500 hồ và 70.000 kilômét của những thắng cảnh bên sông là thiên đường cho những người du lịch bằng thuyền, người đánh cá và người đi bơi. Những địa điểm khảo cổ học về dân da đỏ bao gồm các ngôi mộ và các địa điểm khác thu hút được sự quan tâm đặc biệt về lịch sử. Tổng sản phẩm của Ohio vào năm 1999 là 362 tỷ Mỹ kim, đứng thứ bảy trong toàn quốc. Thu nhập tính theo đầu người của tiểu bang vào năm 2000 là $28.400 (USD), đứng thứ 19 trong cả nước. Sản phẩm nông nghiệp của Ohio là đậu nành, sản phẩm từ sữa, ngô, cà chua, lợn, bò, gia cầm và trứng. Sản phẩm công nghiệp là thiết bị chuyên chở, sản phẩm kim loại đúc sẵn, máy móc, chế biến đồ ăn và thiết bị điện. == Dân số == Theo Thống kê Dân số năm 2000, dân số là 11.353.140 người. Dân số tăng lên 4,7% (506.025 người) so với năm 1990. Theo thống kê 2000: 85% (9.645.453 người) là người da trắng. 11,5% (1.301.307 người) là người da đen. 1,9% (217.123 người) là người Hispanic hay Latino (người Mỹ nói tiếng Tây Ban Nha hay Bồ Đào Nha). 1,2% (132.633 người) là người Mỹ gốc châu Á. 0,2% (24.486 người) là người da đỏ. 0,02% (2.749 người) là người gốc Hawaii hay từ các đảo ngoài Thái Bình Dương. Trong số đó: 0,8% (88.627 người) là chủng tộc khác. 1,4% (157.885 người) là người có máu hỗn hợp. Năm nhóm người chính theo chủng tộc là người Đức (25,2%), Ailen (12,7%), Mỹ gốc Phi (11,5%), Anh (9,2%), Mỹ (8,5%). 6,6% dân số Ohio dưới 5 tuổi; 25,4% dưới 18 tuổi; và 13,3% từ 65 tuổi trở lên. Nữ giới chiếm khoảng 51,4% số dân. == Những thành phố quan trọng == == Giáo dục == === Trường đại học === 13 trường đại học công lập, trong đó trường lớn nhất là Đại học Tiểu bang Ohio. 24 chi nhánh các trường đại học công lập và khu vực. 46 trường nghệ thuật tự do. 2 trường y tế nhận sự hỗ trợ công. 15 trường cộng đồng. 8 trường kỹ thuật. Trên 24 trường độc lập phi lợi nhuận. Xem Danh sách các trường đại học ở Ohio == Thể thao chuyên nghiệp == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Ohio.gov – website chính thức của chính phủ tiểu bang Ohio Tối cao Pháp Viện Ohio Hạ viện Ohio Thượng viện Ohio Đảng Dan Chủ Ohio Đảng Cộng Hòa Ohio Đài Tin Ohio (ONN)
giảng võ.txt
Giảng Võ là một phường thuộc quận Ba Đình, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Phường Giảng Võ có diện tích 0,4 km², dân số năm 1999 là 16013 người, mật độ dân số đạt 40033 người/km². == Chú thích == == Tham khảo ==
bowling.txt
Bowling (còn gọi là Bóng gỗ) là một trò chơi giải trí mà mỗi người chơi ném một quả bóng nặng cho chạy trên một đường băng dài, phẳng để làm đổ những chai gỗ (ky) đứng ở cuối đường với mục đích làm sao chỉ ném ít lần nhất mà làm đổ tất cả chai gỗ. Ngày nay, bowling được xem là một môn thể thao. == Lịch sử == Trò chơi Bowling được phổ biến vào cuối thế kỷ 19. Lần đầu tiên xuất hiện thể loại 10 ky (trước đây chỉ có 9 ky), đã có các tiêu chuẩn về ky, đường băng, bóng và luật chơi thống nhất. Cuối thập niên 1930 xuất hiện máy tự động xếp ky và đưa bóng trở lại. == Giới thiệu == === Đường băng === Đường băng phẳng không mấp mô, làm từ vật liệu chống va chạm và được bôi một loại dầu đặc biệt. Trên đường băng có vạch biên và các dấu khác nhau. Vạch đầu tiên là vạch ngang cấm không được chạm khi ném bong, tiếp theo là 7 mũi tên được chia ra các khoang cách khác nhau để giúp người chơi căn cho chuẩn. Cuối cùng là Kegel xếp theo thứ tự từ 1 đến 10. === Bóng === Bóng bowling được làm từ vật liệu cứng (hầu như là làm từ plastic), có cân nặng và màu khác nhau. Cân nặng của bóng đo bằng pound và độ nặng bóng được đánh dấu bằng số ghi trên bóng. Nhẹ nhất là bóng số 6, nặng nhất là số 16 (7,3 kg). Bóng có 3 lỗ để cho ngón tay vào giữ. Trước khi chơi nên chọn bóng đúng cân nặng và các lỗ vừa với ngón tay để không bị chặt quá hoặc rộng quá. === Ky === Ky (kegel) được làm từ vật liệu bền và có cùng một cỡ và được xếp tự động trên đường băng. Mỗi kegel có một vị trí nhất định đánh theo số. == Cách tính điểm == Trong 1 game có 10 frame, mỗi 1 frame bạn có 2 lần cơ hội cho việc đánh ngã hoàn toàn 10 Pin (1 Pin được tính là 1 điểm) Nếu lần đầu tiên bạn đánh ngã ngay 10 pin thì gọi là "Strike" nếu sau 2 lần ném mới đổ tất 10 Pin thì gọi là "Spare" còn sau cả 2 lần mà vẫn còn pin thì frame đó gọi là frame open. 1.Frame Strike: ngoài 10 điểm bạn có được do đánh ngã 10 Pin trong lần ném đầu tiên của frame này, bạn sẽ được hưởng quyền cộng tất cả số Pin ngã từ 2 cú ném tiếp theo vào frame này (tối đa 1 frame là 30 điểm). 2. Frame Spare: Ngoài 10 điểm có được do đánh ngã 10 Pin sau 2 lần ném trong frame này, bạn được hưởng quyền cộng toàn bộ số điểm từ cú ném kế tiếp vào frame này (điểm tối đa frame spare là không quá 20 điểm). 3. Frame Open: Sau 2 lần ném mà vẫn chưa ngã hết số Pin thì điểm ở frame này sẽ tương đương với số Pin bạn ném ngã sau 2 lần ném, và quyền duy nhất bạn được hưởng là ném banh ở frame kế tiếp (nếu trong game đó bạn vẫn còn frame chưa thực hiện). Đến frame thứ 10 thì cách tính điểm cũng như trên Tổng điểm tối đa cho 1 game là 300 điểm. == Giày chơi Bowling == Là loại giày có đế bên chân trượt làm bằng da mềm (nếu ném bóng bằng tay phải thì chân trái sẽ là chân trượt), và chiếc còn lại đế giày được làm bằng plastic dẻo mềm. Và cấu trúc giày sẽ ngược lại nếu thuận tay trái. Tùy thuộc vào các trung tâm chơi Bowling, cho thuê giày có thể là một khoản phí khác. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Automatic scorer Battle of the Bowling Alley, so named for the narrow valley north of Taegu, South Korea (dubbed the "Bowling Alley"), where United Nations forces defeated North Korean forces early in the Korean War Fédération Internationale des Quilleurs (FIQ), the top international bowling organization New Zealand Indoor Bowls Pinsetter Skee ball — a game that plays similar to bowling Skittles, the sport from which alley-based bowling originated Bowls, Lawn Bowling
15 tháng 9.txt
Ngày 15 tháng 9 là ngày thứ 258 (259 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 107 ngày trong năm. == Sự kiện == 1835 – Trong chuyến thứ hai trên tàu HMS Beagle, Charles Darwin tới Quần đảo Galápagos, ở đấy ông phát triển học thuyết tiến hóa. 1894 – Chiến tranh Thanh-Nhật: Quân Nhật Bản giành chiến thắng trước quân Thanh trong trận Bình Nhưỡng diễn ra trên lãnh thổ Triều Tiên. 1916 – Xe tăng, "vũ khí bí mật" của Quân đội Anh trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, được sử dụng trong trận chiến lần đầu tiên tại Trận Somme (1916) ở Somme, Picardy, Pháp, cho phép phe Đồng minh thắng chiến. 1935 – Đức Quốc xã ban hành Bộ luật Nürnberg, luật này hủy bỏ quyền công dân của những người Đức gốc Do Thái, và đổi quốc kỳ mới có chữ Vạn. 1945 – Thông tấn xã Việt Nam được thành lập dưới tên Việt Nam Thông tấn xã. 1946 – Cộng hòa Nhân dân Bulgaria tuyên bố hình thành sau cuộc trưng cầu dân ý với kết quả phế bỏ chế độ quân chủ. 1950 – Bắt đầu trận đánh Inchon ở Triều Tiên 1956 – Số đầu tiên Tạp chí Nhân Văn ra mắt độc giả ở Hà Nội. Tạp chí này sau bị chính quyền lên án và các tác giả đóng góp bài vở đều bị truy tố là "chống phá cách mạng". 2008 – Khủng hoảng tài chính năm 2007–09: Tập đoàn dịch vụ tài chính Lehman Brothers phá sản với tài sản hơn 600 tỷ Mỹ kim, trong vụ phá sản lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ. == Sinh == 1900 - Nguyễn An Ninh, nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động cách mạng Việt Nam (m. 1943) == Mất == == Những ngày lễ và kỷ niệm == Ngày Quốc tế Dân chủ (International Day of Democracy) theo LHQ == Tham khảo ==
chủ nghĩa vô thần.txt
Chủ nghĩa vô thần (hay thuyết vô thần, vô thần luận), theo nghĩa rộng nhất, là sự thiếu vắng niềm tin vào sự tồn tại của thần linh. Theo nghĩa hẹp hơn, chủ nghĩa vô thần là sự bác bỏ niềm tin rằng thần linh tồn tại. Theo nghĩa hẹp hơn nữa, một cách cụ thể thì chủ nghĩa vô thần là quan điểm cho rằng không hề có thần linh. Chủ nghĩa vô thần đối lập với chủ nghĩa hữu thần, theo dạng chung nhất, là niềm tin rằng có ít nhất một vị thần tồn tại. Nhiều người tự nhận là vô thần có thái độ hoài nghi với những gì siêu nhiên, với lý do là không có bằng chứng thực nghiệm về sự tồn tại của thần linh. Những người khác lập luận ủng hộ chủ nghĩa vô thần trên cơ sở triết học, xã hội và lịch sử. Tuy trong số những người tự nhận là vô thần có nhiều người thiên về các học thuyết triết học thế tục như chủ nghĩa nhân văn và chủ nghĩa tự nhiên, không có một hệ tư tưởng hay một bộ hành vi nào mà tất cả những người vô thần cùng chia sẻ; và một số tôn giáo, chẳng hạn Kì-na giáo và Phật giáo, không đòi hỏi đức tin vào một vị thần có vị cách. Trong các ngôn ngữ của châu Âu, thuật ngữ "vô thần" xuất phát từ cách gọi tên hàm ý bôi xấu (tiếng Hy Lạp: ἀθεότης atheotēs) dành cho những người hoặc những tín ngưỡng xung khắc với quốc giáo. Với sự lan rộng của tư tưởng tự do, chủ nghĩa hoài nghi và sự phê phán tôn giáo, thuật ngữ này đã bắt đầu có được ngữ nghĩa cụ thể hơn và ngày càng được sử dụng như sự tự xác nhận của những người vô thần. == Các định nghĩa khác nhau == Các tác giả không thống nhất được cách tốt nhất để định nghĩa và giải thích về khái niệm "vô thần", họ bất đồng về việc khái niệm này áp dụng cho các thực thể siêu nhiên nào, tự nó là một khẳng định hay chỉ là sự không tồn tại của một khẳng định, và nó có đòi hỏi một sự phủ nhận tường minh và có ý thức hay không. Người ta đã đưa ra nhiều phạm trù để cố gắng phân biệt các hình thức khác nhau của chủ nghĩa vô thần. === Phạm vi === Một số tranh cãi và mù mờ ngữ nghĩa xung quanh việc định nghĩa "chủ nghĩa vô thần" phát sinh từ khó khăn trong việc đạt đến sự đồng thuận đối với định nghĩa của các từ như "thần" hay "chúa" (deity và god). Tính nhiều chiều của các khái niệm rất khác nhau về chúa và thần dẫn đến các ý niệm khác nhau về tầm áp dụng của chủ nghĩa vô thần. Ví dụ trong các ngữ cảnh mà "thuyết hữu thần" được định nghĩa là đức tin vào một vị chúa cá thể duy nhất, những người tin rằng có nhiều vị thần có thể được xem là những người vô thần, trong đó có những người theo thuyết thần giáo tự nhiên (deism) và thậm chí cả những người theo thuyết đa thần (polytheism). Trong thế kỉ 20, quan niệm này đã mất dần sự ủng hộ do thuyết hữu thần đã được hiểu là hàm chứa đức tin vào bất cứ cái gì có tính chất thần thánh. Về các dạng hiện tượng bị phủ nhận, chủ nghĩa vô thần có thể chống lại bất cứ thứ gì từ sự tồn tại của một vị chúa trời tới sự tồn tại của bất cứ khái niệm tâm linh, siêu nhiên, hay siêu việt nào, chẳng hạn như các khái niệm của Ấn Độ giáo và Phật giáo. === Hàm ý và tường minh === Các định nghĩa về chủ nghĩa vô thần còn đa dạng trong mức độ quan tâm về các ý niệm về thần thánh mà một người cần có để có thể được coi là một người vô thần. Như đã nói trong phần mở đầu, chủ nghĩa vô thần còn được định nghĩa là đồng nghĩa với bất cứ hình thức nào của chủ nghĩa phi thần (non-theism), theo đó người không có đức tin vào một vị thần nào cũng được coi là một người vô thần. Người ta đã thống nhất rằng định nghĩa rộng này bao trùm cả trẻ sơ sinh và những người chưa từng được nghe nói về các ý niệm về thần thánh. Từ năm 1772, Nam tước d'Holbach đã nói rằng "Tất cả trẻ em được sinh ra là người vô thần; chúng không biết gì về Chúa" Tương tự, George H. Smith (1979) đã cho rằng: "Người không biết về thuyết hữu thần là một người vô thần vì anh ta không tin vào một vị chúa nào. Phạm trù này cũng bao gồm một đứa trẻ đủ năng lực trừu tượng để hiểu các vấn đề liên quan nhưng lại chưa biết về các vấn đề đó. Thực tế rằng đứa trẻ không tin vào chúa đủ để coi nó là một người vô thần". Smith lập nên thuật ngữ "chủ nghĩa vô thần hàm ý" (implicit atheism) để chỉ việc "không có đức tin mà không cố ý phủ nhận đức tin" và "chủ nghĩa vô thần tường minh" để chỉ định nghĩa thông thường về sự không tin một cách có ý thức. Trong nền văn hóa phương Tây, quan niệm rằng trẻ em được sinh ra vô thần mới xuất hiện tương đối gần đây. Trước thế kỷ 18 tại phương Tây, sự tồn tại của Chúa Trời được chấp nhận phổ biến đến mức thậm chí người ta nghi ngờ về khả năng tồn tại chủ nghĩa vô thần thực sự. Điều này được gọi là "thuyết bẩm sinh hữu thần" (theistic innatism) - quan niệm rằng tất cả mọi người tin vào Chúa ngay từ khi lọt lòng mẹ; quan niệm này hàm ý rằng những người vô thần đơn giản là không muốn thừa nhận. Có một lập trường khẳng định rằng những người vô thần sẽ nhanh chóng tin vào Chúa trong những thời điểm khủng hoảng, rằng họ vẫn xưng tội trước khi chết, hoặc rằng "không có người vô thần trong hố cá nhân" (There are no atheists in foxholes - hàm ý rằng nhiều người tự nhận là vô thần thực ra thật sự tin vào Chúa Trời, và rằng trong những thời điểm cực kỳ căng thẳng hay sợ hãi, đức tin đó sẽ nổi lên và làm lu mờ xu hướng vô thần kém thực chất hơn). Một số người đề xướng quan niệm này cho rằng lợi ích về nhân học của tôn giáo là ở chỗ đức tin tôn giáo giúp con người chịu được gian khổ tốt hơn. Một số người vô thần nhấn mạnh thực tế rằng đã có các ví dụ ngược lại với quan niệm trên, trong số đó là các ví dụ về "người vô thần trong hố cá nhân". === So sánh giữa vô thần mạnh và vô thần yếu === Các nhà triết học như Antony Flew, Michael Martin và William L. Rowe đã phân biệt giữa chủ nghĩa vô thần mạnh (tích cực) với chủ nghĩa vô thần yếu (tiêu cực). Chủ nghĩa vô thần mạnh là sự khẳng định tường minh rằng thần thánh không tồn tại. Còn chủ nghĩa vô thần yếu bao hàm tất cả các hình thức khác của thuyết phi thần (non-theism). Theo cách phân loại này, bất cứ ai không theo thuyết hữu thần thì chắc chắn phải là một người theo vô thần mạnh hoặc vô thần yếu. Các thuật ngữ "yếu" và "mạnh" xuất hiện tương đối gần đây; tuy nhiên, các thuật ngữ vô thần "tiêu cực" và "tích cực" đã được sử dụng trong các tài liệu triết học và (với một nghĩa hơi khác) trong các biện giải Công giáo. Theo cách định nghĩa này về chủ nghĩa vô thần, hầu hết những người theo thuyết bất khả tri được xem là những người vô thần yếu. Trong khi những người như Martin khẳng định rằng thuyết bất khả tri dẫn tới chủ nghĩa vô thần yếu, đa số những người theo thuyết bất khả tri lại cho rằng quan niệm của mình tách biệt hẳn với chủ nghĩa vô thần—thuyết mà họ có thể xem là thiếu cơ sở và ít thuyết phục chẳng kém thuyết hữu thần. Việc không thể đạt được các tri thức chứng minh hay phủ nhận sự tồn tại của thần thánh (quan niệm của thuyết bất khả tri) đôi khi được xem là một ngụ ý rằng chủ nghĩa vô thần cũng đòi hỏi một niềm tin thiếu căn cứ (leap of faith). Các phản ứng thường gặp của những người vô thần đối với lập luận trên gồm có lập luận rằng các khẳng định "tôn giáo" chưa được chứng minh xứng đáng bị nghi ngờ không kém gì tất cả các khẳng định chưa được chứng minh khác và rằng việc không thể chứng minh được sự tồn tại của một vị chúa trời không dẫn đến xác suất ngang bằng cho khả năng vị chúa đó tồn tai. Nhà triết học người Scotland J. J. C. Smart thậm chí còn lập luận rằng "đôi khi một người thực sự vô thần có thể tự miêu tả mình, thậm chí miêu tả rất nhiệt tình, là một người theo thuyết bất khả tri, vì chủ nghĩa hoài nghi triết học bị tổng quát hóa quá mức đã ngăn cản chúng ta khẳng định bất cứ điều gì mình biết, có lẽ chỉ ngoại trừ các chân lý toán học và logic." Tiếp đó, một số tác giả vô thần nổi tiếng như Richard Dawkins thiên về hướng phân biệt các quan điểm hữu thần, bất khả tri, vô thần bằng xác suất mà quan điểm đó gán cho khẳng định "Ảo tưởng về Chúa trời". == Cơ sở lý luận == Cách phân loại khái quát nhất về cơ sở lý luận vô thần là phân biệt giữa vô thần thực tiễn và vô thần lý thuyết. Mỗi hình thức khác nhau của vô thần lý thuyết xuất phát từ một cơ sở lý luận hay luận cứ triết học cụ thể nào đó. Ngược lại, vô thần thực tiễn không đòi hỏi một luận cứ cụ thể và có thể bao gồm sự không quan tâm và không biết về ý niệm thần thánh hay chúa trời. === Vô thần thực tiễn === Trong chủ nghĩa vô thần "thực tiễn" hay "thực dụng", các cá nhân sống như thể không có thần thánh và họ giải thích các hiện tượng tự nhiên mà không dùng đến những khái niệm có tính chất thần thánh. Sự tồn tại của thần thánh không bị phủ nhận, nhưng có thể được xem là không cần thiết hoặc vô ích; thần thánh không mang lại mục đích sống, cũng không gây ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày. Một hình thức vô thần thực tiễn khác với các hàm ý về cộng đồng khoa học là chủ nghĩa tự nhiên phương pháp luận (methodological naturalism)—sự "chấp nhận ngầm hay giả thiết về chủ nghĩa tự nhiên triết học trong phương pháp khoa học, không quan trọng việc có chấp nhận hay tin tưởng nó hay không". Chủ nghĩa vô thần thực tiễn có nhiều hình thức khác nhau: Thiếu động cơ tôn giáo - đức tin vào chúa trời hay thần thánh không tạo động cơ cho hành động đạo đức, hành động tôn giáo, hay bất cứ dạng hành động nào khác; Chủ động loại bỏ các vấn đề về chúa trời hay thần thánh và tôn giáo ra khỏi hoạt động tìm kiếm tri thức hay các hoạt động thực tiễn. Không quan tâm đến các vấn đề về chúa trời hay thần thánh và tôn giáo; hoặc Không biết - không có bất cứ ý niệm nào về chúa trời. hay thần thánh === Vô thần lý thuyết === Về khía cạnh lý thuyết, hoặc tu hành, chủ nghĩa vô thần thừa nhận một cách tường minh các luận cứ chống lại sự tồn tại của thánh thần, phản ứng lại các luận cứ hữu thần như luận cứ mục đích hoặc thuyết đánh cược của Pascal (Pascal's Wager). Các lập luận lý thuyết cho việc phủ nhận thần thánh dựa trên các dạng thức tâm lý học, xã hội học, siêu hình học và nhận thức luận đa dạng. ==== Các luận cứ nhận thức luận ==== Chủ nghĩa vô thần nhận thức luận lý luận rằng con người ta không thể nhận biết về Chúa Trời hay xác định sự tồn tại của Chúa Trời. Nền tảng của chủ nghĩa vô thần nhận thức luận là thuyết bất khả tri - một học thuyết có nhiều dạng thức đa dạng. Trong triết học về tính nội tại, thần thánh là một phần không thể tách biệt của chính thế giới, trong đó có tâm thức của con người, và ý thức của mỗi người bị khóa chặt trong chủ thể. Theo dạng thức bất khả tri này, hạn chế về góc nhìn đó ngăn cản mọi suy diễn khách quan từ đức tin vào một vị thần tới các khẳng định về sự tồn tại của vị thần đó. Thuyết bất khả tri duy lý của Kant và Thời kỳ Khai sáng chỉ chấp nhận các tri thức thu được từ việc suy luận hợp lý của con người; dạng vô thần này khẳng định rằng về nguyên tắc ta không thể nhận thức được thần thánh, và do đó ta không thể biết thần thánh có tồn tại hay không. Dựa trên các quan niệm của David Hume, chủ nghĩa hoài nghi khẳng định rằng sự xác tín về thứ gì cũng là bất khả thi, do đó người ta không bao giờ có thể nhận biết được sự tồn tại của Chúa Trời. Việc gán thuyết bất khả tri cho chủ nghĩa vô thần là điều còn đang bị tranh cãi; thuyết này còn có thể được xem là một thế giới quan cơ bản và độc lập. Các dạng thức lập luận vô thần khác mà có thể xếp vào loại nhận thức luận, trong đó có chủ nghĩa chứng thực logic và chủ nghĩa bất khả tri lãnh đạm (ignosticism), khẳng định rằng các thuật ngữ cơ bản như "Chúa Trời" và các phát biểu như "Chúa Trời là đấng toàn năng" vô nghĩa hay không thể hiểu được. Chủ nghĩa bất khả nhận tri thần học (theological noncognitivism) cho rằng câu "Chúa Trời tồn tại" không biểu đạt một mệnh đề, trái lại, nó vô nghĩa về mặt nhận thức. Người ta đã tranh luận xung quanh việc các trường hợp như trên có thể xếp vào dạng nào của chủ nghĩa vô thần hay thuyết bất khả tri hay không. Các nhà triết học A. J. Ayer và Theodore M. Drange không đồng ý xếp vào thể loại nào vì cả hai loại này đều chấp nhận "Chúa Trời tồn tại" là một mệnh đề; thay vào đó, họ đặt chủ nghĩa bất khả nhận tri (noncognitivism) vào một thể loại riêng. ==== Các luận cứ siêu hình ==== Chủ nghĩa vô thần siêu hình dựa trên thuyết nhất nguyên siêu hình—quan niệm rằng thực tại là đồng nhất và không thể phân chia. Những người vô thần siêu hình tuyệt đối đồng ý với một hình thức nào đó của thuyết thực hữu, do đó họ phủ nhận thẳng sự tồn tại của những gì phi vật lý. Những người vô thần tương đối giữ một thái độ phủ nhận ngầm đối với khái niệm về Chúa, dựa trên sự phi lý giữa các triết thuyết của họ và các thuộc tính thường được cho là của Chúa Trời, chẳng hạn như tính siêu việt, một khía cạnh cá thể, hoặc thể thống nhất. Các ví dụ về chủ nghĩa vô thần siêu hình tương đối bao gồm thuyết phiếm thần, thuyết thần tồn tại nơi vạn vật (panentheism) và thuyết thần giáo tự nhiên. ==== Các luận cứ kinh tế học, xã hội học, tâm lý học ==== Các nhà triết học như Ludwig Feuerbach và Sigmund Freud lập luận rằng Chúa Trời và các đức tin tôn giáo khác là các phát minh của con người, được tạo ra để thỏa mãn các nhu cầu hay ý muốn đa dạng về tâm lý hoặc tình cảm. Đây cũng là quan điểm của nhiều Phật tử. Chịu ảnh hưởng từ các tác phẩm của Feuerbach, Karl Marx và Friedrich Engels, lập luận rằng đức tin vào Chúa Trời và tôn giáo là các công cụ xã hội mà những người có quyền lực sử dụng để áp bức giai cấp lao động. Theo Mikhail Bakunin, "ý niệm về Chúa hàm ý sự từ bỏ lý tính và công lý của con người; nó là sự phủ nhận kiên quyết nhất đối với quyền tự do của con người, và nó dẫn đến kết quả tất yếu là sự nô lệ của loài người về lý thuyết cũng như thực tế". Đảo ngược câu cách ngôn nổi tiếng của Voltaire "Nếu không có Chúa thì cần phải phát minh ra Chúa", Bakunin nói "Nếu quả là có Chúa thì cần phải bãi bỏ ông ta". ==== Các luận cứ logic và hiện sinh ==== Chủ nghĩa vô thần logic khẳng định rằng nhiều ý niệm về thần linh, chẳng hạn như Thiên Chúa cá thể của Ki-tô giáo, được gán cho các phẩm chất mâu thuẫn lẫn nhau về logic. Những người vô thần này đưa ra các lập luận bằng suy diễn logic phản bác sự tồn tại của Chúa. Các lập luận này khẳng định sự không tương thích giữa những nét nhất định, chẳng hạn như sự hoàn hảo, vị thế đấng tạo hóa, tính bất biến, sự toàn tri toàn thức, sự hiện diện ở mọi nơi (omnipresence), toàn năng, vô cùng nhân từ (omnibenevolence), siêu việt, tính người (một thực thể kiểu như người), phi vật chất, công bằng và lòng khoan dung. Các nhà vô thần theo trường phái thần luận thuyết (theodicy) tin rằng không thể dung hòa thế giới như họ trải nghiệm với các đức tính mà các nhà thần học thường gán cho Chúa Trời và các vị thần. Họ lập luận rằng không thể tồn tại một vị Chúa vừa toàn tri vừa toàn năng và vừa vô cùng nhân từ, đạo đức bởi nếu có vị Chúa như thế thì tại sao thế giới này vẫn có cái ác, cái xấu, khổ đau ? Tất-đạt-đa Cồ-đàm (Thích Ca Mâu Ni), người sáng lập ra Phật giáo, cũng đưa ra những lập luận phản bác sự tồn tại của một đấng toàn năng, sáng tạo thế giới từ hàng nghìn năm trước. ==== Các luận cứ theo thuyết loài người là trung tâm ==== Trường phái vô thần mang tính xây dựng hay theo thuyết giá trị (axiology) phủ nhận sự tồn tại của thần thánh để nghiêng về một "sự tuyệt đối cao hơn", chẳng hạn như nhân loại. Hình thức vô thần này coi nhân loại như là nguồn gốc tuyệt đối của luân lý và các giá trị, và cho phép các cá nhân giải quyết các vấn đề đạo đức mà không cần viện đến Chúa. Marx, Nietzsche, Freud và Sartre đều sử dụng luận cứ này để truyền đạt các thông điệp về tự do, phát triển đầy đủ (full-development), và niềm hạnh phúc không bị kìm giữ. Một trong những phê phán phổ biến nhất đối với chủ nghĩa vô thần lại có hướng ngược lại—rằng việc phủ nhận sự tồn tại của một vị Chúa công bằng dẫn tới chủ nghĩa tương đối về đạo đức (moral relativism), để con người ta ở tình trạng không có nền tảng về đạo đức hay luân lý, hoặc làm cho cuộc sống trở nên vô nghĩa và đau khổ. Blaise Pascal đưa ra quan điểm này năm 1669. == Lịch sử == === Thời cổ đại === Tuy thuật ngữ "vô thần" mới xuất hiện ở châu Âu từ thế kỷ 16 tại Pháp, các quan niệm mà ngày nay được ghi nhận là vô thần đã được ghi lại từ thời cổ đại. ==== Tôn giáo cổ Ấn Độ ==== Người ta đã tìm thấy các trường phái vô thần trong Ấn Độ giáo—một tôn giáo có xu hướng hữu thần rất mạnh. Trường phái triết học Cārvāka có tính chất triệt để duy vật và phản thần đã bắt nguồn từ Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ 6 trước Công Nguyên. Đây có lẽ là trường phái triết học vô thần rõ rệt nhất của Ấn Độ. Nhánh triết học Ấn Độ này được coi là một hệ thống không chính thống (heterodox) và không được xem là một phần của 6 trường phái chính thống của Ấn Độ giáo. Chatterjee và Datta giải thích rằng hiểu biết của các nhà nghiên cứu về triết học Cārvāka phân mảnh, chỉ dựa chủ yếu trên các phê phán của các trường phái khác, và không phải một truyền thống còn phát triển: Các trường phái triết học Ấn Độ khác được coi là vô thần bao gồm Samkhya cổ điển và Purva Mimamsa. Sự phủ nhận một đấng tạo hóa cá thể cũng được thấy trong Kì na giáo và Phật giáo ở Ấn Độ. Phật giáo là tôn giáo không có khái niệm về một đấng tác tạo hay thần có vị cách, Phật cũng không tự nhận mình là thần thánh. Vũ trụ quan Phật giáo có nhiều vị thần, nhưng trái với quan niệm thường gặp ở các tôn giáo khác về tính bất biến và vĩnh cửu của thần thánh, các vị này cũng trải qua quá trình sinh tử như con người. Ngoài ra, trong nhiều nền văn hóa, Phật giáo cùng tồn tại một cách hòa hợp với các quan niệm thần thánh bản địa. Nhưng về bản chất, việc có tồn tại các vị thần thánh hay thượng đế hay không không phải là mối quan tâm của Phật giáo. ==== Thời cổ điển ở phương Tây ==== Chủ nghĩa vô thần phương Tây có gốc rễ từ triết học Hy Lạp tiền Socrates, nhưng không nổi lên như là một thế giới quan rõ rệt cho đến cuối thời kỳ Khai sáng. Diagoras xứ Melos, triết gia Hy Lạp thế kỷ 5 trước Công Nguyên, được xem là "người vô thần đầu tiên",, chỉ trích mạnh mẽ tôn giáo và chủ nghĩa huyền bí. Critias coi tôn giáo là một phát minh của con người nhằm dọa cho dân chúng sợ hãi mà phải tuân theo các quy tắc đạo đức. Những người theo thuyết nguyên tử như Democritus cố gắng giải thích thế giới theo một cách thuần túy duy vật, hoàn toàn không viện đến cái gì tâm linh hay huyền bí. Prodicus và Protagoras nằm trong số các triết gia tiền Socrates khác cũng có quan điểm vô thần. Vào thế kỷ 3 trước Công Nguyên, các triết gia Hy Lạp Theodorus và Strato xứ Lampsacus cũng không tin là có các vị thần. Socrates (khoảng 471–399 TCN) đã bị buộc tội báng bổ thần thánh (xem song đề Euthyphro) vì ông đã khơi gợi ra việc chất vấn về các vị thần chính thống. Tuy Socrates phản đối cáo buộc rằng ông là một "người hoàn toàn vô thần" vì ông không thể là người vô thần khi ông tin vào các linh hồn, cuối cùng ông vẫn bị kết án tử hình. Euhemerus (khoảng 330–260 TCN) công bố quan điểm của mình rằng thần thánh chỉ là các nhà lãnh đạo, tướng lĩnh và vị tiền bối trong quá khứ đã được phong thần, và rằng việc tôn sùng những người này và các tôn giáo về bản chất là sự tiếp nối của các vương quốc đã biến mất và các cấu trúc chính trị thời kỳ trước. Tuy không triệt để là một người vô thần, về sau Euhemerus đã bị chỉ trích là đã "phát tán chủ nghĩa vô thần ra khắp thế giới bằng cách xóa tan các vị thần thánh". Nhà duy vật theo thuyết nguyên tử Epicurus (khoảng 341–270 TCN) phản bác nhiều thuyết tôn giáo, trong đó có sự tồn tại sau khi chết (lai thế) hoặc một vị thần tiên; ông coi linh hồn là cái thuần túy vật chất và không bất tử. Trong khi thuyết Epicurus (chủ nghĩa hưởng lạc) không phủ nhận sự tồn tại của các vị thần, nhưng ông tin rằng nếu có thần thánh thì họ không quan tâm đến loài người. Nhà thơ La Mã Lucretius (khoảng 99–55 TCN) cũng đồng ý rằng nếu có thần thánh thì họ không quan tâm đến loài người và không thể tác động lên thế giới tự nhiên. Vì lý do này, ông tin rằng loài người không nên sợ hãi những gì siêu nhiên. Ông giảng giải cặn kẽ về các quan niệm của ông theo trường phái Epicurus về vũ trụ, nguyên tử, linh hồn, sự không bất tử và tôn giáo trong tác phẩm De rerum natura (Về bản chất của sự vật), tác phẩm này đã phổ biến triết học Epicurus ở La Mã. Nhà triết học La Mã Sextus Empiricus cho rằng người ta nên ngừng phán xét về gần như tất cả các đức tin—một hình thức của chủ nghĩa hoài nghi được gọi là chủ nghĩa hoài nghi Pyrrho (Pyrrhonism), rằng không có gì ác một cách cố hữu, và rằng người ta có thể đạt được ataraxia (sự bình yên trong tâm thức) bằng cách ngừng chỉ trích phán xét. Nhiều tác phẩm của ông vẫn còn được lưu lại đã có một ảnh hưởng lâu dài đến các nhà triết học sau này. Ý nghĩa của "vô thần" thay đổi theo tiến trình của thời cổ điển. Những tín đồ Ki-tô giáo thời kỳ đầu đã bị những người không theo Ki-tô giáo coi là vô thần vì họ không tin vào các vị thần của các tín ngưỡng đa thần. Thời Đế chế La Mã, những người Ki-tô giáo bị hành quyết vì họ phủ nhận các vị thần La Mã nói chung và tục thờ phụng hoàng đế nói riêng. Khi Ki-tô giáo trở thành quốc giáo của La Mã năm 381 dưới thời Theodosius I, dị giáo Ki-tô giáo bắt đầu trở thành một tội đáng bị trừng phạt. === Thời Trung cổ và thời Phục Hưng === Các quan điểm vô thần hiếm khi được ủng hộ ở châu Âu trong thời Trung cổ (xem Tòa án dị giáo). Thay vào đó, siêu hình học, tôn giáo và thần học là những mối quan tâm chủ yếu. Tuy nhiên, trong thời kỳ này có những phong trào đã đẩy mạnh các khái niệm không chính thống về Thiên Chúa Ki-tô giáo, trong đó có những quan niệm khác nhau về thiên nhiên, sự siêu việt và khả năng tri thức của Thiên Chúa. Các cá nhân và các nhóm như John Scotus Eriugena, David xứ Dinant, Amalric xứ Bena, và Linh hồn Tự do (Brüder und Schwestern des freien Geistes) gìn giữ các quan điểm Ki-tô giáo với các xu hướng của thuyết phiếm thần. Nicholas xứ Cusa tin tưởng ở một hình thức của thuyết duy tín mà ông gọi là docta ignorantia (sự thiếu hiểu biết một cách có tri thức), khẳng định rằng Chúa Trời vượt ra ngoài khả năng phạm trù hóa của con người và tri thức của chúng ta về Chúa chỉ nằm trong phạm vi của sự phỏng đoán. William xứ Ockham tạo cảm hứng cho các xu hướng phản-siêu hình bằng quan niệm của ông về giới hạn duy danh (nominalistic) của tri thức con người đối với các đối tượng đặc biệt, và ông khẳng định rằng trí tuệ con người không có khả năng hiểu được bản chất thánh thần dù bằng trực quan hay lý luận. Những người ủng hộ Ockham, chẳng hạn John xứ Mirecourt và Nicholas xứ Autrecourt đã đẩy quan niệm này ra xa hơn. Kết quả là sự chia rẽ giữa đức tin và lý tính đã ảnh hưởng đến các nhà thần học sau này như John Wycliffe, Jan Hus và Martin Luther. Thời Phục Hưng không làm được nhiều để mở rộng phạm vi của tư tưởng tự do và các chất vấn hoài nghi. Các cá nhân như Leonardo da Vinci đã hướng tới việc thực nghiệm như là một phương pháp để giải thích và phản đối các luận cứ từ giới chức tôn giáo (argumentum ad verecundiam). Những người phê phán tôn giáo và Nhà thờ trong thời kỳ này còn có Niccolò Machiavelli, Bonaventure des Périers và François Rabelais. === Thời cận đại === Thời Phục Hưng và thời kỳ phong trào Cải cách Kháng cách đã chứng kiến một sự trỗi dậy của nhiệt tình tôn giáo, thể hiện ở sự nở rộ của các giáo phái, hội hữu ái và tinh thần mộ đạo mới trong thế giới Ki-tô giáo, và sự xuất hiện ngày càng nhiều của các giáo phái Kháng cách khổ hạnh chẳng hạn như các giáo phái theo tư tưởng Calvin. Thời kỳ của sự đối địch giữa các nhà thờ này đã cho phép một phạm vi rộng lớn hơn cho các suy đoán thần học và triết học, nhiều suy đoán trong số đó sau này đã được dùng để đẩy mạnh một thế giới quan hoài nghi về tôn giáo. Các phê phán Ki-tô giáo xuất hiện ngày càng nhiều trong các thế kỷ 17 và 18, đặc biệt ở Pháp và Anh. Một số nhà tư tưởng Kháng cách, chẳng hạn Thomas Hobbes, ủng hộ một triết học duy vật và chủ nghĩa hoài nghi đối với các hiện tượng siêu nhiên. Cuối thế kỷ 17, thuyết thần giáo tự nhiên bắt đầu được ủng hộ công khai bởi các trí thức như John Toland. Tuy chê cười Ki-tô giáo, nhưng nhiều người theo thuyết thần giáo tự nhiên xem thường chủ nghĩa vô thần. Người vô thần đầu tiên lột bỏ tấm áo choàng của thuyết thần giáo tự nhiên, thẳng thừng phủ nhận sự tồn tại của thần thánh, là Jean Meslier, một tu sĩ người Pháp sống ở cuối thế kỷ 17, đầu thế kỷ 18. Theo sau ông là các nhà tư tưởng vô thần công khai khác, chẳng hạn như Nam tước Baron d'Holbach, Jacques-André Naigeon ở cuối thế kỷ 18, khi mà việc thể hiện sự bất tín vào Chúa Trời đã trở nên đỡ nguy hiểm hơn. David Hume là người tiêu biểu có hệ thống nhất về tư tưởng Khai sáng. Ông phát triển một nhận thức luận hoài nghi với nền móng là chủ nghĩa kinh nghiệm, nhấn mạnh cơ sở siêu hình của thần học tự nhiên. Cách mạng Pháp đã đưa chủ nghĩa vô thần ra ngoài các phòng trà để đến với công chúng. Các cố gắng thi hành Hiến pháp dân sự của giới Tăng lữ (Constitution civile du clergé) đã dẫn tới bạo lực chống giới tăng lữ và việc nhiều tăng lữ bị trục xuất khỏi nước Pháp. Các sự kiện chính trị hỗn loạn tại Paris thời cách mạng cuối cùng đã dẫn đến việc phe cấp tiến Jacobin đoạt được quyền lực năm 1793, mở ra thời kỳ Chuyên chính Dân chủ Cách mạng Jacobin, mà người Pháp gọi là la Terreur (thời kỳ Khủng bố). Tại đỉnh điểm, nhiều người vô thần trong giới quân sự đã cố gắng dùng vũ lực để loại bỏ hoàn toàn Ki-tô giáo khỏi nước Pháp, thay thế tôn giáo bằng Culte de la Raison (Sự tôn thờ lý tính). Những vụ khủng bố này kết thúc sau khi Robespierre bị tử hình (vụ Đảo chính tháng Nóng), nhưng một số biện pháp thế tục hóa của thời kỳ này vẫn là một di sản bền vững của nền chính trị Pháp. Trong thời kỳ Napoléon, việc thế tục hóa xã hội Pháp đã được đưa vào hiến pháp, và cách mạng được xuất khẩu sang Bắc Ý với hy vọng tạo ra các nền cộng hòa dễ uốn nắn. Vào thế kỷ 19, nhiều nhà vô thần và các nhà tư tưởng chống tôn giáo khác đã dành công sức của mình cho cách mạnh xã hội và chính trị, tạo điều kiện cho các cuộc nổi dậy năm 1848, Risorgimento ở Ý và sự phát triển của một phong trào xã hội chủ nghĩa quốc tế. Tại nửa cuối thế kỷ 19, chủ nghĩa vô thần lên vị trí nổi bật dưới ảnh hưởng của các nhà triết học duy lý và tự do tư tưởng. Nhiều triết gia Đức nổi bật trong thời kỳ này đã phủ nhận sự tồn tại của thần thánh và có thái độ phê phán tôn giáo, trong đó có Ludwig Feuerbach, Arthur Schopenhauer, Karl Marx và Friedrich Nietzsche. === Từ năm 1900 === Chủ nghĩa vô thần trong thế kỉ 20, đặc biệt trong hình thức vô thần thực tiễn, đã phát triển mạnh trong nhiều xã hội. Tư tưởng vô thần được ghi nhận bởi nhiều triết thuyết khác rộng hơn, chẳng hạn như chủ nghĩa hiện sinh, thuyết khách quan, chủ nghĩa nhân văn thế tục, thuyết hư vô (nihilism), chủ nghĩa chứng thực logic (logical positivism), chủ nghĩa Marx, thuyết nam nữ bình quyền và các phong trào khoa học và duy lý nói chung. Chủ nghĩa chứng thực logic và thuyết khoa học vạn năng (scientism) đã mở đường cho chủ nghĩa chứng thực mới (neopositivism), triết học phân tích (analytical philosophy), thuyết cấu trúc (structuralism) và chủ nghĩa tự nhiên. Chủ nghĩa chứng thực mới và triết học phân tích đã loại bỏ thuyết siêu hình và chủ nghĩa duy lý cổ điển để hướng về chủ nghĩa kinh nghiệm chặt chẽ và thuyết duy danh nhận thức luận. Những người nổi bật như Bertrand Russell phủ nhận mạnh mẽ đức tin vào Chúa Trời. Trong tác phẩm thời kỳ đầu của mình, Ludwig Wittgenstein đã cố gắng tách riêng ngôn ngữ siêu hình và siêu nhiên ra khỏi nghị luận duy lý. A. J. Ayer dùng lập trường gắn bó với khoa học thực nghiệm để khẳng định tính bất khả kiểm chứng và vô nghĩa của các phát biểu tôn giáo. Trong mối liên quan đó, thuyết cấu trúc ứng dụng của Lévi-Strauss dẫn nguồn gốc của ngôn ngữ tôn giáo về tiềm thức của con người khi phủ nhận ý nghĩa siêu việt của ngôn ngữ đó. J. N. Findlay và J. J. C. Smart lập luận rằng sự tồn tại của Chúa Trời về logic là không cần thiết. Các nhà tự nhiên học và nhất nguyên duy vật như John Dewey coi thế giới tự nhiên là cơ sở của mọi thứ, họ phủ nhận sự tồn tại của Chúa Trời hay sự bất tử. Thế kỷ 20 còn chứng kiến sự lớn mạnh về chính trị của chủ nghĩa vô thần, được khích lệ bởi diễn giải về các tác phẩm của Marx và Engels. Sau Cách mạng tháng Mười ở Nga năm 1917, tự do tôn giáo cho các tôn giáo nhỏ đã tồn tại được vài năm, trước khi các chính sách của Stalin chuyển sang hướng kiềm chế tôn giáo. Liên Xô và các quốc gia cộng sản khác chủ động truyền bá chủ nghĩa vô thần và phản đối tôn giáo, thường bằng các biện pháp bạo lưc. Những người đi đầu khác như E. V. Ramasami Naicker (Periyar), một lãnh đạo vô thần nổi bật của Ấn Độ, đấu tranh chống lại Ấn Độ giáo và đẳng cấp Bà-la-môn do phân biệt đối xử và chia rẽ nhân dân dưới danh nghĩa đẳng cấp và tôn giáo. Điều này thể hiện rõ năm 1956 khi ông đeo cho thần Rama của Ấn Độ giáo một tràng hoa kết từ những chiếc dép và đưa ra những tuyên bố phản thần. Năm 1966, tạp chí Time đặt câu hỏi "Phải chăng Chúa đã chết?" ("Is God Dead?") khi bàn về phong trào thần học về cái chết của Chúa, trích dẫn ước lượng rằng gần một nửa dân chúng trên thế giới sống dưới một quyền lực phản tôn giáo, và hàng triệu người khác ở châu Phi, châu Á và Nam Mỹ có vẻ thiếu kiến thức về Thiên Chúa Ki-tô giáo. Năm sau, chính phủ Albania của Enver Hoxha công bố lệnh đóng cửa tất cả các cơ sở tôn giáo trong cả nước, tuyên bố Albania là quốc gia vô thần đầu tiên trên thế giới. Các chính phủ này đã làm tăng các liên hệ tiêu cực về chủ nghĩa vô thần, đặc biệt khi tinh thần chống cộng sản ở Hoa Kỳ đang mạnh mẽ, bất chấp một thực tế là các nhà vô thần nổi bật cũng là những người theo chủ nghĩa chống cộng. Sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, số các chính phủ chủ động chống tôn giáo đã giảm đi đáng kể. Năm 2006, Timothy Shah của Pew Forum ghi nhận "một xu hướng toàn cầu của tất cả các nhóm tôn giáo chính, trong đó các phong trào dựa vào Chúa Trời và đức tin đang được chứng kiến sự tin tưởng và ảnh hưởng ngày càng cao trong thế đối đầu với các phong trào và hệ tư tưởng thế tục". Nhưng Gregory S. Paul và Phil Zuckerman coi đây chỉ là một huyền thoại và cho rằng tình hình thực tế phức tạp và nhiều sắc thái hơn nhiều. == Nhân khẩu học == Khó có thể xác định được số người vô thần trên toàn thế giới. Những người tham gia các cuộc thăm dò ý kiến về tôn giáo và tín ngưỡng có thể định nghĩa khái niệm "vô thần" không giống nhau hoặc có sự phân biệt khác nhau giữa vô thần, các đức tin phi tôn giáo, tôn giáo phi thần và các đức tin tâm linh Ngoài ra, dân chúng ở một số vùng trên thế giới không nhận mình là người vô thần để tránh bị xã hội kì thị, phân biệt đối xử và đàn áp. Một cuộc thăm dò năm 2007 công bố tại từ điển Encyclopædia Britannica cho thấy số người không theo tôn giáo chiếm 11,7% dân số thế giới và số người vô thần chiếm khoảng 2,3%. Các con số này không bao gồm những người theo các tôn giáo vô thần, chẳng hạn một số tín đồ Phật giáo. Một cuộc thăm dò vào tháng 11-12 năm 2006 được công bố tại báo Financial Times đưa ra các tỷ lệ tại Hoa Kỳ và 5 nước châu Âu. Theo đó, tỷ lệ người Mỹ nói rằng mình có một đức tin nào đó vào thượng đế hay đấng tối cao là 73% và cao hơn tỷ lệ tương ứng của châu Âu. Còn đối với những người trưởng thành được thăm dò ý kiến ở châu Âu, nước Ý có tỷ lệ thể hiện đức tin cao nhất (62%), còn Pháp có tỷ lệ thấp nhất (27%). Tại Pháp, 32% tuyên bố mình là người vô thần, ngoài ra còn có 32% khác tuyên bố mình theo thuyết bất khả tri. Một cuộc thăm dò chính thức của Liên minh châu Âu thu được các kết quả tương đồng: 18% dân số EU không tin vào một vị thượng đế nào; 27% chấp nhận sự tồn tại của "sức sống tâm linh" ("spiritual life force") nào đó, trong khi 52% khẳng định đức tin vào một vị thượng đế cụ thể. Tỷ lệ những người có đức tin tăng lên 65% ở những người chỉ đi học đến tuổi 15; trong những người tham gia thăm dò ý kiến, những người nhận là xuất thân từ các gia đình giáo dục nghiêm khắc có tỷ lệ tin vào thượng đế cao hơn những người cho rằng mình xuất thân từ gia đình ít quy củ nghiêm khắc. Một lá thư in trong tạp chí Nature năm 1998 viết về một cuộc thăm dò cho kết quả là: trong các thành viên Viện khoa học quốc gia Hoa Kỳ (National Academy of Science), tỷ lệ người có đức tin vào một vị thượng đế cá thể hoặc lai thế (sự sống sau cái chết) chỉ là 7,0% - mức thấp nhất trong lịch sử, trong khi tỷ lệ này ở dân Mỹ là 85%. Cũng năm đó Frank Sulloway ở Viện Công nghệ Massachusetts và Michael Shermer ở Đại học Tiểu bang California (California State University) thực hiện một nghiên cứu mà kết quả thăm dò người Mỹ trưởng thành "có bằng cấp" (12% có bằng tiến sĩ, 62% tốt nghiệp đại học) cho thấy 64% tin vào Chúa Trời, và có sự tương quan cho thấy đức tin mạnh mẽ vào tôn giáo giảm dần khi học càng cao. Mối tương quan nghịch giữa tôn giáo và trí tuệ đã được thấy ở 39 nghiên cứu khác trong thời gian từ 1927 đến 2002, theo một bài viết tại tạp chí Mensa. Các phát kiến này cũng thuận với siêu - phân tích thống kê năm 1958 của Giáo sư Michael Argyle ở Đại học Oxford. Ông phân tích 7 công trình nghiên cứu đã điều tra mối tương quan giữa thái độ đối với tôn giáo và chỉ số thông minh của các học sinh và sinh viên Mỹ. Tuy tìm thấy một mối tương quan nghịch rõ ràng, phân tích đã không chỉ ra mối quan hệ nhân quả mà ghi nhận rằng các nhân tố như nền tảng gia đình nghiêm khắc và tầng lớp xã hội có thể đã có ảnh hưởng. Trong Điều tra Dân số và Cư trú năm 2006 của Úc, tại câu hỏi về tôn giáo, 18,7% dân số đánh dấu ô "không có tôn giáo" hoặc viết một câu trả lời mà sau đó được xếp vào diện không có tôn giáo. Câu hỏi này không bắt buộc, và có 11,2% dân số không trả lời. == Chủ nghĩa vô thần, tôn giáo và đạo đức == Tuy những người tự nhận là vô thần thường được coi là không tôn giáo, một số giáo phái của một số tôn giáo lớn phủ nhận sự tồn tại của một đấng tác tạo có vị cách. Những năm gần đây, một số giáo phái đã thu nạp một số tín đồ vô thần công khai, chẳng hạn như Do Thái giáo nhân văn (humanistic Judaism) hay người Do Thái vô thần và những người vô thần Ki-tô giáo. Theo cách hiểu chặt chẽ nhất, chủ nghĩa vô thần chứng thực không nói đến một niềm tin cụ thể nào ngoài sự không tin vào bất cứ thần thánh nào. Do đó những người vô thần có thể có các niềm tin tâm linh. Vì lý do này, người vô thần có thể có các niềm tin luân lý đa dạng, từ thuyết phổ quát đạo đức (moral universalism) của chủ nghĩa nhân văn, thuyết nói rằng cần áp dụng thống nhất một quy tắc đạo đức cho tất cả mọi người, tới thuyết hư vô đạo đức (moral nihilism), thuyết cho rằng đạo đức là vô nghĩa. Tuy là một chân lý triết học, được bao hàm trong song đề Euthyphro của Plato rằng vai trò của các vị thần trong việc xác định đúng sai là không cần thiết hoặc có tính thất thường, luận cứ rằng đạo đức phải xuất phát từ Chúa Trời và không thể tồn tại mà không có một đấng đạo hóa thông thái đã là một đặc trưng dai dẳng của các cuộc tranh luận chính trị hay triết học. Các quy tắc chung về đạo đức như "giết người là sai" được xem là luật thần thánh, đòi hỏi một nhà làm luật và phán xét thần thánh. Tuy nhiên, nhiều nhà vô thần lý luận rằng việc đối xử với đạo đức một cách quá pháp lý đã dùng đến một phép loại suy sai (false analogy), và đạo đức không phụ thuộc vào một nhà lập pháp theo cùng cách của các luật pháp. Các nhà triết học Susan Neiman và Julian Baggini cùng với một số người khác cho rằng cư xử một cách có đạo đức chỉ vì một quyền lực thần thánh đòi hỏi thì không phải là hành vi đạo đức chân chính mà chỉ là sự tuân phục mù quáng. Baggini lập luận rằng chủ nghĩa vô thần là một cơ sở tốt hơn cho luân lý học. Ông cho rằng một cơ sở đạo đức nằm ngoài các mệnh lệnh tôn giáo là cần thiết cho việc đánh giá tính đạo đức của chính các mệnh lệnh đó - để có thể nhận thức được rõ ràng, ví dụ "người hãy ăn cắp" là vô đạo đức, ngay cả khi tôn giáo của ai đó ra lệnh như vậy - và rằng những người vô thần do đó có lợi thế trong việc có xu hướng đưa ra một đánh giá như vậy. Nhà triết học đương đại người Anh Martin Cohen đã đưa ra ví dụ có ý nghĩa quan trọng về các mệnh lệnh trong Kinh Thánh có tính chất ủng hộ tra tấn và chế độ nô lệ, ông coi đây là bằng chứng cho thấy các mệnh lệnh tôn giáo đã tuân theo các truyền thống chính trị và xã hội chứ không phải ngược lại. Nhưng ông cũng ghi nhận rằng có vẻ những nhà triết học được cho là vô tư và khách quan cũng đồng tình với xu hướng này. Cohen phát triển luận cứ này một cách chi tiết hơn trong tác phẩm Political Philosophy from Plato to Mao (Triết học chính trị từ Plato đến Mao), trong đó ông lập luận rằng Kinh Koran đóng một vai trò trong việc duy trì các quy tắc xã hội có từ đầu thế kỷ 7 bất chấp những thay đổi trong xã hội thế tục. Tuy nhiên, những nhà vô thần như Sam Harris đã lập luận rằng sự phụ thuộc của các tôn giáo phương Tây vào thần quyền đã dẫn nó tới sự chủ nghĩa chuyên chế và giáo điều. Chủ nghĩa cơ yếu tôn giáo (religious fundamentalism) và khuynh hướng tôn giáo ngoại tại (extrinsic religious orientation) (khi tôn giáo được gìn giữ vì nó phục vụ các lợi ích kín đáo) đã được xem là có tương quan với chủ nghĩa chuyên chế, giáo điều, và thành kiến. Luận cứ này—kết hợp với các sự kiện lịch sử được cho là thể hiện sự nguy hiểm của tôn giáo như Thập tự chinh, tòa án dị giáo, truy lùng phù thủy, tấn công khủng bố—thường được những nhà vô thần bài tôn giáo sử dụng để biện minh cho các quan điểm của mình. Các tín đồ phản biện rằng một số chế độ cổ xúy vô thần như Liên Xô và Trung Quốc đã gây ra cái chết của rất nhiều người. Để phản bác, các nhà vô thần như Sam Harris và Richard Dawkins cho rằng những sự tàn ác đó bị ảnh hưởng bởi chủ nghĩa Marx giáo điều chứ không phải chủ nghĩa vô thần, và rằng trong khi Stalin và Mao Trạch Đông là những người vô thần, họ không thực hiện những điều đó nhân danh chủ nghĩa vô thần. == Chú thích == == Tham khảo == == Đọc thêm == == Xem thêm == Tôn giáo == Liên kết ngoài == Chủ nghĩa vô thần tại Từ điển bách khoa Việt Nam Atheism and Agnosticism - mục từ tại Stanford Encyclopedia of Philosophy Chủ nghĩa vô thần entry trong Internet Encyclopedia of Philosophy The New Atheists in The Internet Encyclopedia of Philosophy Atheism and Agnosticism - mục từ tại Stanford Encyclopedia of Philosophy Chủ nghĩa vô thần entry trong Internet Encyclopedia of Philosophy The New Atheists in The Internet Encyclopedia of Philosophy Atheism tại DMOZ – Có chứa các liên kết đến trang web của tổ chức. Positive atheism: Great Historical Writings Lịch sử viết bởi các tác giả. Religion & Ethics—Atheism at bbc.co.uk. Secular Web library – Library of both historical and modern writings, a comprehensive online resource for freely available material on atheism. The Demand for Religion – A study on the demographics of Atheism by Wolfgang Jagodzinski (University of Cologne) and Andrew Greeley (University of Chicago and University of Arizona).
đảo wight.txt
Đảo Wight (tiếng Anh: Isle of Wight) là một hạt và là đảo lớn nhất của Anh, nằm trên eo biển Manche, cách trung bình khoảng 3–7 km (2–5 mi) ngoài khơi bờ biển phía nam của hạt Hampshire, tách biệt với đảo Anh qua một eo biển gọi là Solent. Hòn đảo có một số khu nghỉ dưỡng, chúng là các điểm đến trong các kỉ nghỉ kể từ thời đại Victoria. Hòn đảo giàu truyền thống lịch sử, đảo đã từng là một vương quốc độc lập trong một thời gian ngắn vào thế kỷ 15. Cho đến năm 1995, giống như Jersey và Guernsey, đảo Wight có Thống đốc riêng của mình, —đáng chú ý nhất là Lord Mountbatten có nhiệm kỳ từ năm 1969 đến 1974, sau đó ông trở thành "Lord Lieutenant" cho đến khi bị ám sát vào năm 1979. Cho đến năm 1890, đảo Wight là một phần của Hampshire. Từ năm đó trở đi, đảo là một quận hành chính độc lập, song đến năm 1974 đảo tiếp tục có cùng một "Lord Lieutenant" với Hampshire. Năm 1974, đảo được tái tổ chức như là một vùng phi đô thị và hạt nghi lễ, có "Lord Lieutenant" của mình, và được công nhận là một hạt bưu chính. Với chỉ một thành viên nghị viện và 132.731 cư dân thường xuyên vào năm 2001, đây cũng là khu tuyển cử nghị viện đông dân nhất tại Anh Quốc. Năm 1832 một đạo luật quần chúng được gọi là "đạo luật cải cách vĩ đại" hay đạo luật cải cách 1832 đã lập nên nguyên tắc chỉ có một thành viên nghị viện đại diện cho đảo Wight. Bắc đầu vào năm 2010, có thảo luận tại nghị viện để xem xét thay đổi việc này. Có thể dễ dàng đến đảo Wight từ Southsea bằng thủy phi cơ. Một số dịch vụ phà cũng hoạt động qua Solent: tuyến từ Southampton đến Cowes dài 10 mi (16 km), Portsmouth đến Ryde dài 3 mi (7 km), Portsmouth đến Fishbourne dài 7 mi (11 km), và Lymington đến Yarmouth dài 4 mi (6 km). == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Đảo Wight tại DMOZ / Isle of Wight website Isle of Wight Trains Isle of Wight Council Official Tourism Website Isle of Wight Festival Landslides on the Isle of Wight British Geological Survey
quyền anh.txt
Quyền Anh hay còn gọi là đấm bốc (bốc bắt nguồn từ tiếng Pháp boxe) hay boxing là môn võ và thể thao đối kháng giữa 2 người xuất phát từ phương Tây, sử dụng cú đấm kết hợp với di chuyển chân, đầu và thân mình. Quyền Anh nghiệp dư là một nội dung thi đấu của nhiều đại hội thể thao trên toàn thế giới, trong đó có Olympic. Tên gọi quyền Anh trong Tiếng Việt bắt nguồn từ tên tiếng Pháp là boxe anglaise (quyền thuật của người Anh). Hiện nay cũng thường được gọi với tên boxing, trong tiếng Anh có nghĩa quyền thuật. == Lịch sử == === Nguồn gốc === Cho đến nay vẫn chưa xác định được mốc thời gian cụ thể khi Quyền Anh ra đời. Nhiều chứng minh chỉ ra rằng quyền anh có sớm ở bắc châu Phi khoản 4000 năm TCN và Địa Trung Hải khoảng 1500 năm TCN. Hy Lạp khoảng 900 năm TCN và La Mã cổ đại 500 năm sau Công Nguyên. Khoảng 3700 năm trước công nguyên, ở xứ Mésopotamie (cổ Hy Lạp) đã lưu hành môn đấu quyền, thuỷ tổ của môn quyền Anh ngày nay. Có một thời gian môn đấu quyền bị suy vi, mãi đến năm 1750 trước CN mới thịnh hành trở lại. Bấy giờ, vào những ngày nghỉ ngơi nhất định, đều tổ chức thi đấu với sự tham dự đông đảo của mọi tầng lớp. Đương thời, Hy Lạp phát triển khá mạnh mẽ những cuộc thi đấu quyền, thậm chí còn cho phép các đối thủ được phép mang thêm dây da hoặc dây sắt vào tay để hạ đối thủ nhanh hơn, bởi luật thi đấu lúc đó là đấu đến khi nào có một người không thể tiếp tục đấu nữa mới thôi. Năm 746 trước CN, sau khi La Mã tiêu diệt Hy Lạp, môn đấu quyền cũng truyền theo đến La Mã với sự hưởng ứng nhiệt tình của tầng lớp thanh niên. Tuy nhiên, do sự phát triển môn đấu quyền ngày càng đi sâu vào sự tàn nhẫn, nên đến năm 404 trước Công nguyên, hoàng đế La Mã là Theodosius đệ nhất đã ra lệnh cấm hẳn môn đấu quyền. === Hiện đại === Đến thế kỷ 16, môn đấu quyền xa xưa của Hy lạp–La Mã đã trở thành một hoạt động ưa chuộng của giới trung lưu và thượng lưu ở nước Anh trong phong trào phục hưng. Từ năm 1719 đến năm 1730, James Figg đã chiến thắng nhiều đối thủ và được coi là Nhà vô địch Quyền Anh hạng nặng đầu tiên, và cũng là người đầu tiên mở trường dạy môn đấu quyền. Sau đó, một nhà vô địch người Anh thế hệ nối tiếp là Jack Broughton đã đi xa hơn: mở trường dạy đấu quyền, phát minh ra đôi găng tay để giảm bớt tai nạn trong thi đấu, lập ra quy tắc đấu quyền mang tính thể thao hơn. Năm 1773, Jack Broughton sửa đổi lại thể lệ tranh giải võ đài Luân Đôn thành bộ "Luật Quyền Anh" chính thức. Theo thể lệ tranh giải võ đài Luân Đôn, mỗi trận chia ra làm từng hiệp một và chỉ chấm dứt khi nào một võ sĩ bị đánh knockout. Nếu võ sĩ bị đánh ngã trong vòng 30 giây mà không đứng dậy thì trọng tài sẽ tuyên bố thắng cho võ sĩ đã đánh ngã. Đặc biệt là các đấu sĩ được phép dùng các đòn vật trong trận đấu. Đến năm 1865, một hầu tước người Anh là Queens Beery Vlll lại cải tiến quy tắc đấu quyền thành một quy tắc mang tính tài tử hơn: chỉ đấu ba hiệp, mỗi hiệp ba phút, thay vì đấu mười sáu hiệp như quy tắc Broughton. Năm 1872, bộ luật của Queens Beery chính thức được áp dụng vào những trận đấu. Sau này quy tắc Broughton trở thành luật thi đấu quyền Anh nhà nghề và quy tắc Berry trở thành luật thi đấu quyền Anh nghiệp dư. Năm 1904, lần đầu tiên được đưa vào chương trình thế vận hội Olympic và trở thành môn thi đấu chính thức của các kỳ thế vận hội. Năm 1920, Liên đoàn Quyền Anh thế giới (AIBA) ra đời. Năm 1994, đã có 122 quốc gia gia nhập AIBA, cho đến nay theo thống kê trên trang web của AIBA đã có 194 quốc gia (trong đó có Việt Nam) trực thuộc tổ chức này. == Nghiệp dư == Các trận đấu Quyền Anh nghiệp dư không dài hơn 3 hiệp, thường 2-3 phút mỗi hiệp. Găng tay nặng hơn của các võ sĩ chuyên nghiệp và thường có đeo mũ bảo vệ đầu. === Phân loại === Quyền anh nghiệp dư, một đặc trưng của thế vận hội Olympic từ năm 1904, được tổ chức theo bộ luật Olympic thế giới. Các hạng cân: Hệ thống cân theo Kg (Metric) và hệ thống Aviordupois được sử dụng chia làm 12 hạng cân của Olympic từ 48 kg (105 lb) đến trên 91 kg (200 lb). === Tính điểm === Mỗi đòn đánh hợp lệ được tính 1 điểm. Đòn đánh được tính điểm: Trong mỗi hiệp, Giám định sẽ cho điểm căn cứ vào các đòn đấm của VĐV. Để cho điểm mỗi đòn đánh, đòn đó không bị ngăn chặn hay bảo vệ và phải trúng đích với diện tích tiếp xúc hợp lệ của găng, đòn đó phải trúng đích vào phần trước của đầu hay thân thể kể từ thắt lưng trở lên. Các đòn tạt ngang (Swings) đánh đúng như trên cũng được tính điểm. Giá trị của các đòn đánh giáp thân sẽ được đánh giá vào cuối của lần giáp thân giữa VĐV và tùy thuộc vào số đòn đánh chiếm đa số của VĐV đó. Đòn đánh không ghi điểm: Cú đánh vi phạm luật (đánh dưới thắt lưng, gáy,đá...) hoặc đánh bằng cạnh, mắt sau của găng, đánh mở găng hoặc bất kỳ phần nào khác ngoài diện tích găng che của các khớp của năm ngón tay (diện tích tiếp xúc hợp lệ), chạm vào cơ thể mà không có lực của vai hay cơ thể, đánh bằng cánh tay. Hình thức cho điểm: Quyết định cho điểm được thiết lập, giám định ấn các nút được hướng dẫn để cho phép VĐV có những đòn đánh chính xác, hợp lệ. Về cơ bản, những đòn đánh chính xác và các thông tin khác được ghi lại và tính toán một cách tự động bởi máy chấm điểm. [b]VĐV sẽ được điểm nếumáy nhận được ít nhất 3 trong 5 giám định ấn nút cho điểm VĐV đó. VĐV sẽ được điểm nếu đòn đánh hợp lệ ít nhất 3 trong 5 giám định ấn nút ch điểm. Có những đòn đánh không đủ 3 Giám định ấn nút cho điểm mà ví dụ như chỉ có 2 giám định ấn nút cho điểm sẽ cũng được máy chấm điểm lưu giữ lại. Đây là cơ sở để xác định VĐV nào thắng nếu cuối trận đấu số điểm của 2 VĐV được máy chấm là bằng nhau, dựa vào thông tin trên được máy chấm điểm lưu giữ lại, người ta tính được VĐV nào có nhiều đòn đánh hợp lệ hơn. Nếu 2 VĐV vẫn bằng nhau, 5 giám định sẽ quyết định VĐV thắng cuộc dựa vào Điều 17.3.3(Tất cả các cuộc thi đấu đều phải chỉ định được VĐV thắng cuộc còn trong các cuộc đấu hữu nghị giữa 02 nước có thể có trận hòa) bằng cách nhấn nút bấm thích hợp. VĐV thắng điểm được xác định trên cơ sở tổng các đòn chính xác đếm được trong các hiệp đấu, VĐV có nhiều đòn chính xác hơn sẽ là người thắng cuộc. VĐV thắng K.O đối phương khi tung ra đòn đánh hợp lệ khiến đối phương không thể tiếp tục thi đấu sau 10 lần đếm của Trọng tài chính(10 giây). Thắng do cách biệt trình độ: -Nếu giám sát trưởng sau khi hội ý với các thành viên trong Ban Giám sát tin tưởng rằng máy chấm điểm điện tử với 15 điểm cách biệt giữa hai VĐV, trận đấu có thể chấm dứt để tránh cho một VĐV bị những đòn không cần thiết. Ông ta có quyền dừng trận đấu bằng cách gõ cồng hay các phương tiện khác, hỏi ý kiến trọng tài và theo kết quả đó tuyên bố "Góc X là người chiến thắng bởi RSC". Lưu ý: -Nếu một VĐV bị truất quyền, VĐV kia là người thắng cuộc. Nếu cả hai VĐV bị truất quyền, quyết định sẽ được công bố. VĐV bị truất quyền không được bất kỳ giải thưởng, huy chương, cúp, xếp hạng của toàn bộ giải đấu. Luật count-back trong quyền Anh nghiệp dư: Có 5 trọng tài cùng tham gia chấm điểm trong mỗi trận đấu quyền Anh nghiệp dư, nhưng chỉ có điểm số của 3 trọng tài chấm cân bằng nhau nhất được chọn để tính điểm chung cuộc. Khi điểm số cuối trận cũng vẫn là ngang bằng nhau (như 18-18 trong trận chung kết hạng siêu nặng ở Olympic London 2012 chẳng hạn), điểm số từ 2 trọng tài sẽ bị loại bỏ, và điểm số của trọng tài còn lại chính là điểm số cuối cùng. Trong trường hợp điểm số vẫn hòa, điểm số cao nhất và thấp nhất của các trọng tài ở góc võ đài xanh và đỏ sẽ bị loại bỏ. Nếu điểm số vẫn hòa, 5 trọng tài sẽ họp với nhau để đưa ra biểu quyết kẻ thắng và người bại. == Chuyên nghiệp == Tại Mỹ, quyền anh chuyên nghiệp được tăng cường kiểm soát bởi Uỷ ban quyền anh quốc gia từ năm 1920 khi New York ban hành một đạo luật mới gọi là Luật Walker nhằm tránh những lạm dụng có thể xảy ra, quy định số tiền trong giải đấu và thiết lập một uỷ ban quyền anh quốc gia. Sau đó các nước khác cũng thông qua điều luật tương tự như thế và cũng thành lập các phòng ban kiểm soát giống như tại các bang và thành phố của Mỹ. Các bộ luật quốc gia chính thức về quyền Anh chuyên nghiệp gồm các chi tiết kỹ thuật về xây dựng võ đài, hình vuông có kích thước là 16 – 20 ft (4.9 - 6.1 m); trọng lượng tối thiểu của găng tay bông từ 6 - 8 oz (170- 227 g); số vòng đấu tối đa (thường là 12 hiệp trong các trận giành chức vô địch); quy định về trọng tài và giám khảo; các định nghĩa và phạt lỗi; các hệ thống tính điểm để xác định kẻ thắng cuộc mà không phải dùng đến nốc ao. Bộ luật quốc gia cũng quy định trận đấu có thể tạm dừng để tránh cho võ sĩ có thể bị chấn thương nặng khi chưa bị nốc ao, khi không còn khả năng bảo vệ mình. Các kỷ lục chính thức về nốc ao như thế được gọi là một quả nốc ao kỹ thuật (TKO). Một cú nốc ao kỹ thuật (TKO) xảy ra khi một võ sĩ không thể tiếp tục chơi hiệp tiếp theo. Một trận đấu như thế được coi là đã kết thúc. Mặc dù có 12 hạng cân nhưng phần lớn các võ sĩ chuyên nghiệp chỉ thi đấu trong những cấp sau. Hạng cân tối đa: Võ sĩ hạng ruồi, 112 lb (50.7 kg); Võ sĩ hạng gà, 118 lb (53.5 kg); Võ sĩ hạng lông, 126 lb (57.1 kg); Võ sĩ hạng nhẹ, 135 lb (61.2 kg); Võ sĩ hạng bán trung, 147 lb (66.6 kg); Võ sĩ hạng trung, 160 lb (69,7 kg); Võ sĩ hạng dưới nặng, 175 lb (79.4 kg); Võ sĩ hạng nặng, 195 lb (88.5 kg) và hơn nữa. Sau khi luật Walker được hợp pháp hoá môn thể thao thành ngày càng trở nên phổ biến ở Mỹ. Các nhà vô địch hạng nặng Mỹ nằm trong số những vận động viên nổi tiếng trong làng thể thao, gây nên sự kinh hoàng và kính nể vì sức mạnh của cú đấm của họ cả trong nước và trên thế giới. Jack Dempsey giành chức quán quân hạng nặng năm 1919 và bảo vệ danh hiệu của mình trước đối thủ người Pháp Georges Carpentier năm 1921, đây là trận đấu đầu tiên mà thu nhập từ vé vào cổng lên tới hàng triệu đô. Joe Louis bảo vệ danh hiệu vô địch hạng nặng lâu hơn bất kỳ ai - từ năm 1937 đến 1949- bảo vệ thành công danh hiệu của mình 25 lần. Sau khi giành huy chương vàng tại thế vận hội Olympic Floyd Patterson giành danh hiệu vô địch hạng nặng năm 1956, anh trở thành nhà vô địch đầu tiên giành lại danh hiệu này trong trận đấu lặp lại với đối thủ của mình là người Thuỵ Điển Ingemar Johansson năm 1960. Năm 1962, Patterson bị đánh bại bởi Sonny Liston, là một trong những võ sĩ hạng nặng gây kinh hoàng của mọi thời đại. Sau đó Liston bị mất danh hiệu này vào tay võ sĩ nổi tiếng và vĩ đại trong lịch sử là Muhammad Ali (tên khai sinh là Cassius Clay). Sở hữu sức mạnh, tốc độ và lương tri của môn quyền anh, Ali thổi luồng gió mới cho quyền anh ở hạng cân nặng và nổi tiếng trên khắp thế giới bằng chính phẩm chất đáng kính trọng của ông. Đến cuối thập kỉ 80 là thời kì hoàng kim của Mike Tyson khi ông là võ sĩ trẻ nhất khi giành một danh hiệu hạng nặng. Tyson vô địch hạng nặng WBC sau khi đánh bại Trevor Berbick năm 1986, lúc ông 20 tuổi 4 tháng và 22 ngày. Mike Tyson cũng là võ sĩ Quyền Anh hạng nặng đầu tiên đồng thời giữ 3 đai vô địch WBA, WBC và IBF. Hiện nay, làng Quyền Anh hạng nặng đánh dấu sự thống trị của anh em nhà Klitshko người Ukraina khi hai anh em đang nắm giữ tất cả các danh hiệu lớn của Quyền Anh hạng nặng thế giới hiện nay. Người anh, Vitaly Klitschko đang giữ đai hạng nặng WBC. Người em Wladimir Klitschko lừng lẫy hơn khi nắm giữ 4 đai vô địch hạng nặng bao gồm WBA, WBO, IBO và IBF. Các võ sĩ nổi tiếng ở các hạng cân khác bao gồm nhà vô địch hạng bán trung và hạng trung là Sugar Ray Robinson, người Mỹ; võ sĩ người Panama Roberto Duran, người giành các danh hiệu thế giới hạng nhẹ, hạng bán trung, hạng siêu bán trung, hạng dưới trung và hạng trung; võ sĩ người Mỹ Sugar Ray Robinson, người giành huy chương vàng Olympic năm 1976 và vô địch thế giới ở năm hạng cân khác nhau (hạng bán trung, hạng dưới trung, hạng trung, hạng siêu trung, hạng dưới nặng); võ sĩ người Mexico Julio Cesar Chavez giành các danh hiệu thế giới ở các hạng siêu lông, hạng nhẹ, hạng dưới bán trung và trở thành người hùng quốc gia của Mexico. Hiện nay, Floyd Mayweather, Jr đang là võ sĩ tiêu biểu nhất ở các hạng cân dưới nặng. Ngoài ra cũng phải kể đến võ sĩ người Philippines Manny Pacquiao hay võ sĩ người Mexico Juan Manuel Marquez. == Kĩ thuật == === Tư thế === === Tấn công === Quyền Anh chỉ sử dụng các đòn đấm để tấn công, bao gồm: Đấm thẳng, đấm móc ngang và đấm móc lên (đấm xốc) chia ra hai tay trái và phải. === Phòng thủ === == Ở Việt Nam == Người Pháp đã mang môn quyền Anh đến Việt Nam. Tại Sài Gòn vào những năm 1925, môn quyền Anh bắt đầu xuất hiện giữa những lính viễn chinh Pháp lan dần ra giới thanh niên qua những lần thi đấu võ đài. Phải chờ đến những năm bước vào thế chiến thứ hai thì môn quyền Anh mới phát triển rộng rãi hơn và bắt đầu có những giải vô địch. Năm 1994, sau sự kiện mất an ninh ở giải Vô địch Quyền Anh quốc gia tại Hải Phòng, Quyền Anh bị cấm thi đấu ở Việt Nam. Đến 2002, Quyền Anh được phép thi đấu trở lại. Hiện nay, Việt Nam chỉ có Quyền Anh nghiệp dư, chưa có Quyền Anh chuyên nghiệp. Tại Seagame 26 diễn ra ở Indonesia cuối năm 2011, Quyền Anh Việt Nam giành được 1 huy chương vàng (Lương Văn Toản, 81 kg nam) và 5 huy chương bạc. == Tham khảo == == Liên kết ngoài ==
phong trào tin lành.txt
Thuật ngữ phong trào Tin Lành, cũng gọi là chủ nghĩa Phúc Âm hay phái Phúc Âm (Evangelicalism), thường được dùng để chỉ một trào lưu liên hệ phái thuộc cộng đồng Kháng Cách với các đặc điểm: tập chú vào nỗ lực truyền bá phúc âm, trải nghiệm quy đạo, lời chứng về đức tin cá nhân, và có quan điểm truyền thống về Kinh Thánh, duy trì quan điểm rằng trọng tâm của phúc âm chứa đựng trong giáo lý về sự cứu rỗi bởi đức tin vào sự đền tội của Chúa Giê-xu. Phong trào đạt được đà phát triển mạnh trong các thế kỷ 18 và 19 với sự xuất hiện của phong trào Giám lý và các cuộc Đại Tỉnh thức tại quần đảo Anh và Bắc Mỹ, cũng như chịu ảnh hưởng từ phong trào Sùng tín, Giáo hội Moravia, Giáo hội Trưởng lão và Thanh giáo. == Từ nguyên == Thuật từ Tin Lành có nguồn gốc Hy văn ευαγγελιον evangelion, nghĩa là "phúc âm" hay "tin tức tốt lành". Từ "Tin Lành" ngụ ý bất cứ niềm xác tín nào xưng nhận Chúa Giê-xu là Cứu Chúa. Như vậy, tín hữu Tin Lành được đồng hóa với tín hữu Cơ Đốc, là người đặt niềm tin của mình trên, được thúc đẩy bởi, và sống theo sự dạy dỗ của thông điệp phúc âm được chép trong Tân Ước. Thuật từ này cũng thể hiện các đặc trưng của niềm xác tín như nhấn mạnh vào thẩm quyền của Kinh Thánh, sự chết và sự sống lại của Chúa Giê-xu, trải nghiệm qui đạo (được xem là đồng nghĩa với kinh nghiệm được tái sinh trong tâm linh), và tích cực truyền bá phúc âm. Theo cách dùng ở phương Tây, thuật từ Tin Lành thường được dùng như một từ đồng nghĩa với Kháng Cách (Protestantism), để phân biệt với Công giáo Rôma. Dù vậy, trong lịch sử lâu dài của mình, thuật ngữ này mang một số ý nghĩa cụ thể khác nhau phụ thuộc vào các biến động trong từng thời điểm: Tại châu Âu, khi cuộc Cải cách Kháng nghị còn gọi là Cải cách Tin Lành diễn ra vào thế kỷ 16, phong trào Luther ban đầu tự gọi mình là "Tin Lành": Martin Luther gọi hội thánh theo khuynh hướng cải cách là evangelische Kirche (Giáo hội Tin Lành). Sau đó phong trào Calvin của John Calvin và Huldrych Zwingli cũng bắt đầu dùng thuật từ này. Để phân biệt hai nhóm Tin Lành này, người ta gọi họ là "Tin Lành Luther" (Evangelisch-Lutherischen) và "Tin Lành Cải cách" (Evangelisch-Reformierte). Theo thời gian, từ "Tin Lành" dần bị lược bỏ đi trong nhiều trường hợp. Kể từ thế kỷ 17, bên trong Giáo hội Anh tồn tại hai trào lưu, một trong số đó có khuynh hướng liên kết với cuộc Cải cách, bị gọi cách chế giễu là Thanh giáo, cũng được gọi với một tên khác là Tin Lành. Trong thế giới Anh ngữ, đây là thuật từ thông dụng để chỉ các cuộc chấn hưng tôn giáo (revivalism) như phong trào Giám lý và Đại Tỉnh thức diễn ra tại đảo Anh và Bắc Mỹ trong thế kỷ 18 và thế kỷ 19. Vào cuối thế kỷ 20 và đầu thế kỷ 21, thuật từ này còn được dùng để phân biệt họ với một nhóm khác trong cộng đồng Kháng Cách, phong trào tự do (liberalism). Trong cách sử dụng đương đại tại Bắc Mỹ, thuật từ Tin Lành phản ánh sự va chạm trong cuộc Tranh cãi Cơ yếu-Tân thời (hay Nền tảng-Tân phái) đầu thế kỷ 20. Nhiều người xem thần học Tin Lành là sự chọn lựa dung hòa giữa một bên là khuynh hướng Tân phái của các giáo hội chính lưu, bên kia là thần học Nền tảng theo đuổi các lập trường truyền thống. Do đó, phong trào Tin Lành thường được miêu tả là "khuynh hướng chủ đạo trong cộng đồng Kháng Cách tại Mỹ, chọn lập trường trung dung giữa những người nền tảng và các nhóm tự do." == Lịch sử == Từ cuối thế kỷ 18, những cuộc phục hưng khởi phát trong vòng các giáo phái khác nhau được gọi chung là Phong trào Tin Lành. John Wesley được xem là người có ảnh hưởng lớn trong việc hình thành và phát triển phong trào Tin Lành. Khởi phát từ khi Wesley giong ruỗi trên lưng ngựa đi khắp nước Anh để thuyết giáo, phong trào lan truyền sang các khu định cư tại Mỹ, rồi từ đó phát triển đến nhiều nơi trên thế giới, mặc dù Wesley là một mục sư Anh giáo và ông không có ý định tách rời khỏi Anh giáo. Jonathan Edwards]]]] Ngay sau cuộc Cách mạng Mỹ, giáo hội Giám Lý đầu tiên được thành lập năm 1784, sau khi các chức sắc Anh giáo từ chối phong chức cho các mục sư Mỹ. Những nhà lãnh đạo ban đầu gồm có Francis Asbury, người được George Washington gọi là "Giám mục của nước Mỹ", và Thomas Coke, một nhà lãnh đạo trong công cuộc truyền giáo. Đến thập niên 1820, đức tin Tin Lành lan tỏa trên khắp nước Mỹ và tạo lập ảnh hưởng đáng kể trên tiến trình hình thành các định chế xã hội cho đất nước này. Các khái niệm về truyền bá phúc âm, phục hưng hội thánh, và các nguyên tắc chứng đạo đều mang dấu ấn của các nhà truyền bá phúc âm như Charles G. Finney. Tín hữu Tin Lành cũng đóng góp tích cực cho nỗ lực cải thiện xã hội Mỹ qua các chương trình cải cách như quảng bá tính tiết độ, các giá trị gia đình, phong trào nữ quyền, các hoạt động từ thiện, và phong trào bãi nô. Charles Finney]]]] Đặc điểm của phong trào này là nhấn mạnh vào trải nghiệm qui đạo của mỗi cá nhân, lòng sùng tín và sự chuyên cần nghiên cứu Kinh Thánh. Họ cũng quan tâm đến các vấn đề đạo đức xã hội như sự tiết độ, các giá trị gia đình, và chống chủ trương sở hữu nô lệ. Họ bác bỏ tính hình thức trong thờ phụng và trong thần học, cung cấp cho tín hữu (lay people) và phụ nữ những vai trò quan trọng trong thờ phụng, truyền bá phúc âm, giảng dạy, và lãnh đạo. Họ thường sẵn lòng cộng tác với các giáo phái khác trong công cuộc truyền bá phúc âm. Những nhân vật quan trọng khác của phong trào Tin Lành là: Jonathan Edwards, nhà thần học và thuyết giảng ngưòi Mỹ; George Whitefield, nhà thuyết giáo Giám Lý người Anh, và Robert Raikes, người khởi xướng lớp học Trường Chúa Nhật đầu tiên với mục đích giúp ngăn ngừa trẻ em trong những khu phố nghèo sa chân vào cuộc sống tội phạm. == Giáo thuyết == Kinh Thánh được xem là thẩm quyền tối hậu và đáng tin cậy trong đức tin và sống đạo. Những giáo thuyết của cuộc Cải cách Tin Lành như Duy Kinh Thánh (sola scriptura) và Duy Đức Tin (sola fide) được xem là trọng tâm (xem Năm Tín lý Duy nhất). Tính lịch sử của các phép mầu, sự trinh thai, sự đóng đinh, sự phục sinh và sự tái lâm của Chúa Giê-xu được khẳng quyết mặc dù còn có đôi chút khác biệt khi giải thích về ngày tận thế. Các sử gia và các nhà phê bình thường nêu ra bốn đặc điểm của phong trào Tin Lành: Tập chú vào trải nghiệm qui đạo, còn gọi là được cứu rỗi hoặc được tái sinh (Phúc âm Giăng 3: 3, "Nếu một người không được tái sanh, thì không thể thấy Vương quốc của Thiên Chúa"). Do đó, người Tin Lành thường tự nhận mình là tín hữu được tái sinh. Kinh Thánh là cội nguồn của thẩm quyền tôn giáo, là sự mặc khải từ Thiên Chúa. Quan tâm đến việc truyền bá phúc âm, theo quan điểm của họ, là chia sẻ niềm tin của mình cho người khác - bằng nỗ lực truyền giáo hay bằng cá nhân chứng đạo. Tâm điểm đức tin của tín hữu Tin Lành là sự chết của Chúa Cơ Đốc trên thập tự giá để cứu chuộc và tha thứ tội lỗi cho loài người. Giữa nhiều dị biệt, các tín hữu Tin Lành tìm được sự đồng thuận về bốn xác tín: Kinh Thánh là vô ngộ (không sai lầm). Sự cứu rỗi đến bởi đức tin đặt vào Chúa Giê-xu, không bởi công đức. Chỉ những người đủ hiểu biết (từ bảy tuổi trở lên) mới có thể chấp nhận Chúa Giê-xu và công khai xưng nhận đức tin của mình khi chịu lễ báp têm. Mỗi tín hữu Cơ Đốc đều có bổn phận truyền bá phúc âm. == Phát triển == === Thế kỷ 19 === Có nhiều nhóm khác nhau trong phong trào Tin Lành, một số là nhân tố tích cực trong những phong trào như bãi bỏ chế độ nô lệ, cải thiện lao tù, thiết lập trại mồ côi, xây dựng bệnh viện và thành lập các cơ sở giáo dục. Năm 1846, tám trăm tín hữu Cơ Đốc đến từ mười quốc gia gặp nhau tại Luân Đôn và thành lập Liên minh Tin Lành (Evangelical Alliance). Họ xem đây là "một sự kiện mới trong lịch sử hội thánh, một tổ chức được thành lập nhằm bày tỏ sự hiệp nhất của các cá nhân đang sinh hoạt trong nhiều giáo hội khác nhau". Dù có đôi chút bất đồng về vấn đề nô lệ, tổ chức này là tác nhân tích cực trong việc hình thành nhiều hội đoàn tin lành cấp quốc gia và khu vực. Ngày 5 tháng 7 năm 1865, một mục sư Giám Lý, William Booth, thành lập Christian Mission tại Luân Đôn, đến năm 1878, tổ chức này trở thành Cứu Thế Quân (Salvation Army), một tổ chức từ thiện mô phỏng hình thức tổ chức của quân đội, với nhiều đề án xã hội đang được thực hiện tại nhiều nước trên thế giới. === Thế kỷ 20 === Liên hiệp Tin Lành Thế giới (World Evangelical Alliance – WEA) được thành lập năm 1951 bởi các tín hữu từ 21 quốc gia, với mục tiêu kiến tạo sự hợp tác toàn cầu cho cộng đồng Tin Lành. Tham gia tích cực vào các hoạt động xã hội cũng là một đặc điểm của người Tin Lành hiện đại, họ nhận ra rằng thái độ co cụm để bảo vệ sự tinh tuyền của đức tin và chủ trương thoả hiệp để hội nhập đều không thích hợp, và họ chọn con đường, theo quan điểm của họ, đã được soi sáng trong Kinh Thánh, "ở giữa thế gian nhưng không thuộc về thế gian". Sự lựa chọn này được thể hiện tích cực trong các đề án xoá nạn mù chữ, nhận con nuôi, ngân hàng thực phẩm, các trung tâm chăm sóc trẻ em cũng như các cuộc vận động chống phá thai và chống việc hợp pháp hoá hôn nhân đồng tính. Nhiều tín hữu Tin Lành thuộc những giáo phái chính lưu (mainline hay mainstream) tham gia vào các tổ chức đang nỗ lực đem giáo hội trở về với các giá trị căn bản của Cơ Đốc giáo, được thực hành trong thời kỳ hội thánh tiên khởi, được biết đến dưới tên Phong trào Xưng nhận (Confessing movement). Cùng lúc, Phong trào Chánh Tín (Paleo–Orthodoxy), với mục tiêu tương tự, hoạt động tích cực trong các giáo hội chính lưu, đặc biệt trong các giáo phái Giám Lý, kêu gọi họ trở về với cội nguồn tin lành của mình. Phong trào Tin Lành khuyến khích tín hữu chuyên cần nghiên cứu Kinh Thánh. Nghi thức thờ phụng của họ thường được tổ chức đơn giản lập nền trên nguyên tắc mọi người đều bình đẳng trước Thiên Chúa. Bên trong Phong trào Tin Lành vẫn tồn tại những quan điểm khác nhau về Kinh Thánh, giáo nghi và truyền thống giáo hội - một số không quan tâm đến những truyền thống cổ xưa nhưng tập chú vào tính nghệ thuật và sự sáng tạo. Nhưng nhìn chung, tín hữu Tin Lành không tin cậy những định nghĩa về đức tin, thường thay đổi theo những biến thiên của lịch sử, nếu chúng không phù hợp với sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Trái với những người quan tâm đến tính hoành tráng của giáo nghi, tín hữu Tin Lành chọn cho mình sự đơn sơ và giản tiện trong giáo nghi nhưng kêu gọi sự tham gia tích cực của tín hữu vào lễ thờ phượng. Trong thờ phượng, tín hữu Tin Lành thường đặt trọng tâm vào sự luận giải Kinh Thánh và tham dự thánh lễ Tiệc Thánh hơn là những chi tiết cầu kỳ của giáo nghi. === Chủ nghĩa cơ yếu === Chủ nghĩa cơ yếu hay nền tảng (fundamentalism) hình thành vào đầu thế kỷ 20 như một phản ứng có tính bảo thủ bởi những tín hữu Kháng Cách theo truyền thống, nhằm đối kháng với các trào lưu tân thời hay tân phái (modernism) và tự do (liberalism) đang phát triển mạnh mẽ trong các giáo hội của họ. Những trào lưu này nỗ lực thay đổi các xác tín truyền thống của hội thánh sao cho phù hợp với các giá trị mới của một thế giới luôn luôn thay đổi. Vì vậy, dưới cái nhìn của người Nền tảng, những khuynh hướng kể trên là mối đe dọa cho đức tin và xã hội khi họ cố thoả hiệp với tư tưởng của Phong trào Khai sáng (Enlightenment) bằng cách bác bỏ những nguyên lý của cuộc Cải cách Tin Lành. Bắt đầu có sự tranh chấp trong vòng các giáo phái Kháng Cách, đặc biệt ở Hoa Kỳ và Canada, giữa các nhóm Nền tảng và Tân phái. Nhiều người Nền tảng rút lui khỏi các giáo phái và các định chế khác chịu ảnh hưởng của tư tưởng tân phái. Những người khác quyết định ở lại và hoạt động bên trong giáo phái của mình để duy trì và phát triển đức tin truyền thống. Những người này tự gọi mình là "Tin Lành Hiện đại". === Phong trào Tin Lành Hiện đại === Trong thập niên 20 và 30 của thế kỷ 20, Phong trào Tin Lành Hiện đại (Neo-Evangelicalism), đến phiên mình, là phản ứng của những người Kháng Cách truyền thống đối với chủ trương biệt lập của phong trào Nền tảng. Năm 1947, Harold Ockenga sử dụng thuật từ "Tin Lành Hiện đại" (Neo-evangelicalism) để phân biệt phong trào này với trào lưu Nền tảng. Lúc ấy có sự bất đồng bên trong phong trào nền tảng về lập trường cần có của hội thánh đối với một thế giới vô tín. Những người Tin Lành khuyến khích tín hữu chọn thái độ tham gia tích cực để góp phần kiến tạo một xã hội tốt đẹp hơn, đồng thời bày tỏ sự quan ngại đối với chủ trương "co cụm để phòng thủ" của các nhóm nền tảng. Theo cách miêu tả của Kenneth Kantzer vào lúc ấy, lập trường nền tảng đã trở thành "một sự phiền toái thay vì là một niềm vinh dự". Tín hữu Tin Lành hiện đại xem trào lưu tân phái và tự do trong các giáo hội Kháng Cách là tự chối bỏ xác tín của mình để thoả hiệp với nhân sinh quan và các giá trị của thế gian. Mặt khác, họ cũng cho rằng chủ trương biệt lập và bác bỏ thuyết phúc âm xã hội của người Nền tảng là một thái độ cực đoan. Theo nhận xét của họ, người tân phái là người Tin Lành đã đánh mất cội rễ của đức tin, và người nền tảng là người Tin Lành đã đánh mất lòng nhân ái của Chúa Cơ Đốc. Họ tin rằng phúc âm cần phải được tái khẳng định và tái công bố trong một cung cách mới. Vì vậy, xuất hiện thuật ngữ Neo - mới hoặc được làm cho mới. Họ tìm cách tham gia vào thế giới hiện đại với thái độ tích cực, không phải để thoả hiệp - vẫn giữ mình khỏi tinh thần thế tục nhưng không tách rời khỏi thế gian – họ chọn con đường trung dung giữa khuynh hướng Tân phái và khuynh hướng Nền tảng. Ngày nay, với ảnh hưởng rộng lớn trong cộng đồng Kháng Cách, Tin Lành Hiện đại được xem là đồng nghĩa với Phong trào Tin Lành, đại diện cho những tín hữu Cơ Đốc liên kết đức tin của mình với các giá trị truyền thống của hội thánh tiên khởi. == Các tổ chức xuyên giáo phái == Tín hữu Tin Lành, từ các giáo phái khác nhau, thường tìm kiếm sự hợp tác vượt qua ranh giới giáo phái nhằm hỗ trợ cho các nỗ lực truyền giáo và truyền bá phúc âm, lại thường có thái độ e dè đối với các định chế mang tính giáo phái. Kết quả là xuất hiện nhiều tổ chức hoặc hội đoàn, dựa trên giáo hội nhưng không phụ thuộc vào giáo hội, được thành lập với các mục tiêu riêng biệt, được gọi là các tổ chức xuyên giáo phái (parachurch organizations). Các nhóm này hoạt động đồng bộ (para-) với các giáo hội. Qua nhiều tổ chức khác nhau, một trong những chức năng của họ là đóng vai trò cầu nối giữa giáo hội và nền văn hoá bản địa. Hình mẫu này khởi nguồn từ cuộc Đại Tỉnh thức lần thứ hai trong thế kỷ 19, dần dần được hoàn chỉnh vào hạ bán thế kỷ 20. Với mô hình các tổ chức không vụ lợi hoặc các hội đoàn tư nhân, hoạt động như một phần của Phong trào Tin Lành mà không nhận sự tài trợ của giáo hội, cũng không dẫm chân vào các lãnh vực truyền thống của giáo hội. Các tổ chức xuyên giáo phái chú trọng vào tính hiệu quả của công việc cũng như tinh thần cộng tác nhằm hoàn thành một số sứ mạng đặc biệt, trên quy mô quốc gia hoặc quốc tế, mà các nhà thờ riêng lẻ không có khả năng thực hiện. Một số hội đoàn hoặc tổ chức được xem là hình mẫu cho các tổ chức xuyên giáo phái: Hiệp hội truyền bá Phúc âm (theo khuôn mẫu của Hiệp hội Billy Graham). Các tổ chức truyền bá phúc âm và bồi linh như The Navigators, Campus Crusade for Christ. Những nhà xuất bản sách báo và âm nhạc, đài phát thanh, truyền hình, hãng phim và internet. Các học viện, trung tâm nghiên cứu, trường trung học và đại học. Các nhóm hoạt động chính trị và xã hội. Các nhóm tương trợ. Các nhóm nghiên cứu Kinh Thánh. Theo một cuộc khảo sát (Green) thực hiện năm 1992, Phong trào Tin Lành là thành phần đông đảo nhất và năng động nhất trong cộng đồng Cơ Đốc giáo tại Hoa Kỳ và Canada (vượt qua Công giáo La Mã và các nhóm Kháng Cách không Tin Lành khác). == Toàn cầu == Trên toàn cầu, cùng với Phong trào Ngũ Tuần, Tin Lành là phong trào phát triển mạnh nhất và có nhiều ảnh hưởng nhất trong cộng đồng Cơ Đốc giáo. Tốc độ phát triển là đặc biệt nhanh ở châu Phi và Mỹ Latin. Tại những nơi này, phong trào phát triển theo hướng đa dạng vì không phụ thuộc vào các giáo hội tại Âu châu hoặc Bắc Mỹ. === Liên hiệp Tin Lành Thế giới === Liên hiệp Tin Lành Thế giới (World Evangelical Alliance) là một mạng lưới các giáo hội có mặt trên 127 quốc gia, tại mỗi nước đều có liên hiệp Tin Lành cấp quốc gia, với hơn 100 tổ chức quốc tế cùng nhau hội hiệp để lập nên một thiết chế toàn cầu, một tiếng nói và diễn đàn cho hơn 420 triệu tín hữu Tin Lành. === Hoa Kỳ === Nhóm Nghiên cứu Barna chuyên thực hiện các cuộc khảo sát trong cộng đồng Cơ Đốc giáo tại Hoa Kỳ, trong năm 2004 đã phổ biến chín câu hỏi nhằm xác định xem người trả lời có thật sự chấp nhận quan điểm thần học của trào lưu Tin Lành hay không. Bảy trong số các câu hỏi này là: Bạn có phải là tín hữu Cơ Đốc đã được tái sinh? Đức tin là yếu tố rất quan trọng trong cuộc đời bạn? Bạn có tin vào trách nhiệm của mỗi cá nhân phải chia sẻ niềm tin tôn giáo của mình vào Chúa Cơ Đốc với những người không phải tín hữu Cơ Đốc? Bạn có tin vào sự hiện hữu của Satan? Bạn có tin rằng sự cứu rỗi để được hưởng sự sống vĩnh cửu là chỉ có được bởi ân điển, không phải bởi công đức? Bạn có tin Chúa Giê-xu Cơ Đốc không hề phạm tội trong những năm ngài sống trên thế gian? Bạn có tin Thiên Chúa là đấng toàn tri, toàn năng, là thần, là đấng tạo dựng vũ trụ và ngài đang tể trị? Nhiều người xem đây là những tiêu chí thẩm định đức tin của tín hữu Cơ Đốc thuộc trào lưu Tin Lành. Theo các cuộc khảo sát của Gallup, năm 1976 có 34% người Mỹ nhận mình là tín hữu Kháng Cách theo khuynh hướng Tin Lành. Tỷ lệ này là 33% trong hai năm 1987 và 1988 (thời điểm bùng nổ những vụ tai tiếng liên quan đến các nhà thuyết giáo Ngũ Tuần). Đến năm 1998 tăng lên 47%. Con số này trong năm 2000 và 2001 lần lượt là 45% và 40%. Dựa trên những kết quả khảo sát kéo dài trong nhiều năm, Gallup ước tính có gần 39% dân số Hoa Kỳ nhận mình là tín hữu khuynh hướng Tin Lành. == Chú thích == == Tham khảo == Bebbington, David. Evangelicalism in Modern Britain: A History from the 1730s to the 1980s. Unwin Hyman (London), 1989. Green, John, Guth, James, et.al. Akron Survey of Religion and Politics in America 1992. As quoted in Noll, Mark. Scandal of the Evangelical Mind. Eerdmans, 1994. == Liên kết ngoài == Thần học và Biện giáo Apologetics.com -articles Christian Thinktank The Christian Apologetics and Research Ministry Lion of Judah Christian Apologetics Probe Ministries -Christian Apologetics Reasons to Believe Apologetics Information Ministry Academy of Christian Apologetics Stand to Reason Christian Apologetic Journal Eternal Ministries Nghiên cứu Barna Research Group 2004 American Religious Landscape Report PDF at The Pew Forum on Religion in American Life Institute for the Study of American Evangelicalism, Wheaton College Evangelicals in Methodism: Mainstream, Marginal or Misunderstood? (British perspective) Hiệp hội National Association of Evangelicals (Hoa Kỳ) World Evangelical Alliance có danh sách các tổ chức Tin Lành tại nhiều quốc gia. Tin Lành Cho Người Việt Cộng đồng Thanh Niên Tin Lành Việt Nam Cộng đồng Thanh Niên Tin Lành tại Hà Nội
công giáo anh.txt
Công giáo Anh là thuật ngữ để chỉ các tín hữu có đức tin và cách thực hành phụng vụ trong lòng Anh giáo nhưng lại xem trọng những đặc tính và di sản của Công giáo, thay vì tuân theo hoàn toàn thể chế của Giáo hội Anh sau cuộc Cải cách Kháng cách. Nhóm tín hữu Công giáo Anh đôi khi tự nhận mình là "Anglo-Papalists" (tạm dịch: "những tín hữu Anh trung thành với giáo hoàng") mặc dù họ không hiệp thông hoàn toàn với Giáo hội Công giáo Rôma. Tín hữu Công giáo Anh thường cử hành thánh lễ theo nghi thức Công giáo đương đại và có xu hướng tiếp xúc với Giáo hội Công giáo. Ngoài ra, những tín hữu Anh giáo được gia nhập vào Giáo hội Công giáo theo Tông Hiến Anglicanorum Coetibus của Giáo hoàng Biển Đức XVI ban hành năm 2009 đôi khi cũng được gọi không chính thức gọi là "tín hữu Công giáo Anh". == Xem thêm == Công giáo == Chú thích ==
internazionali bnl d'italia 2017 - đơn nữ.txt
Serena Williams là đương kim vô địch, nhưng không tham gia năm nay do đang có thai. == Hạt giống == 8 hạt giống hàng đầu giải được đặc cách vào vòng hai. Nhấn vào số hạt giống của cặp vận động viên để tới phần thi đấu của họ. == Kết quả == === Chú giải === === Chung kết === === Nửa trên === ==== Nhánh 1 ==== ==== Nhánh 2 ==== === Nửa dưới === ==== Nhánh 3 ==== ==== Nhánh 4 ==== == Vòng loại == === Hạt giống === === Vượt qua vòng loại === == Tham khảo == Main Draw Qualifying Draw Bản mẫu:2017 WTA Tour
edward iv của anh.txt
Edward IV (28 tháng 4, 1442 – 9 tháng 4, 1483) là một vị vua nước Anh, trị vì lần thứ nhất từ ngày 4 tháng 3 năm 1461 đến ngày 3 tháng 10 năm 1470, và lần thứ hai từ ngày 11 tháng 4 năm 1471 cho đến khi mất. Ông là vị vua đầu tiên của nhà York trong lịch sử Anh. Một nửa khoảng thời gian trị vì của ông được đánh dấu bằng sự kiện Các cuộc chiến tranh Hoa hồng, nhưng ông đã tiêu diệt mối nguy cơ từ Nhà Lancaster tại Trận Tewkesbury để trị vì đất nước trong hoà bình cho tới khi mất đột ngột. Trước khi trở thành vua, ông là Công tước xứ York thứ 4, Bá tước xứ March thứ 7, Bá tước Cambridge thứ 5, và Bá tước Ulster thứ 6. Ông cũng là Hiệp sĩ thứ 65 của Order of the Golden Fleece. == Trị vì == === Lên ngôi vua === Edward Plantagenet chào đời tại Rouen, nước Pháp. Ông là con trai thứ hai của Richard Plantagenet, Bá tước thứ ba của York, người tuyên bố chủ quyền đối với ngai vàng nước Anh. Mẹ ông là Cecily Neville. Ông là người con trai lớn tuổi nhất trong số bốn người con trai của Richard sống tới tuổi trưởng thành. Trước khi cha qua đời, ông mang danh hiệu là Bá tước của March Công tước xứ York là người kế thừa trực tiếp của nhà vua Henry VI trước khi hoàng tử của ông ta, Edward chào đời năm 1453. Tuy nhiên bệnh thần kinh của nhà vua lại bộc phát, Richard do đó lãnh đạo Hội đồng chấp chính, và nhanh chóng thiết lập quyền lực của mình. Một cuộc tranh giành quyền lực nổ ra, đến năm 1455, Hoàng hậu Margeret xứ Anjou đã loại Richard của York khỏi vị trí đứng đầu hội đồng nhiếp chính. Tranh chấp quyền hành bùng phát thành xung đột vũ trang vào năm 1455. Trong trận St Albans lần thứ nhất, Richard đánh bại và giết chết đối thủ của mình, Edmund Beaufort, Công tước Somerset và kiểm soát nhà vua. Tuy nhiên vị hoàng hậu mạnh mẽ vẫn quyết tâm gầy dựng lại thế lực và phản công một lần nữa. Năm 1459, Margeret tuyên bố chống lại nhà York. Kết quả Công tước xứ York phải tháo chạy sang Icreland. Còn Edward, Salisbury cùng Bá tước Warwick chạy sang Calais. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Edward IV in the Dictionary of National Biography (1888) Edward IV at the official website of the British monarchy Edward IV at BBC History Chân dung của King Edward IV tại Phòng Trưng bày Chân dung Quốc gia, Luân Đôn British Library Catalogue of Illuminated Manuscripts (SEARCH: Keyword Edward IV, Start year 1470, End year 1480 for details and images of Edward IV's manuscripts).
bóng vợt.txt
Bóng vợt (tiếng Anh: Lacrosse) là một môn thể thao đồng đội phổ biến ở vùng Bắc Mỹ. == Lịch sử hình thành == Theo ghi chép, môn bóng vợt có xuất xứ khá lâu, năm 1630 tại Canada, nó là biến thể của môn khúc côn cầu (hockey) khi trời sang Xuân, hè, băng tuyết đã tan thành nước. Lúc đó, các đấu thủ dùng cây vợt chơi đỡ ghiền và chưa có luật lệ hay thể thức tranh tài chính thức nào. Mãi đến năm 1920, Joseph Cattarinich và Leo Dandurand, chủ nhân của Liên đoàn khúc côn cầu Motreal, Canada (National Hockey League’s Montreal) hợp thức hoá môn thể thao mới mẻ này, không ngờ rất thành công và trở nên phổ biến tại Canada. Giải tranh tài bóng vợt chính thức đầu tiên tổ chức tại Canada năm 1931 với các đội Montreal Canadiens, Montreal Maroons, Toronto Maple Leafs và Cornwall Colts. == Thể lệ == Có 2 loại bóng vợt, trong nhà và ngoài trời. Tương tự môn hockey, lưới và sân na ná, mỗi bên 6 người và một khung thành. Sáu người chia ra từng vị trí: tiền đạo, hậu vệ, trung vệ như trong bóng đá. Cây vợt dài từ 40 in. (khoảng 1 mét) đến 1 mét 2 và nay đã dài 1 mét 8. Chiếc vợt này giống như chiếc vợt vớt cá ở Việt Nam, gọi là "lacrosse stick", tuy nhiên không vớt cá mà vớt bóng để quẳng trái bóng cao su, bé cỡ trái banh tennis vào lưới đối phương. Ngoài vợt các đấu thủ phải đội mũ bảo hiểm, găng tay, miếng lót đầu gối, vai và đai bảo vệ quanh sống lưng. Riêng thủ môn trang bị an toàn kỹ hơn, nhưng gậy có thể ngắn hơn để dễ xoay xở trong khung thành chu vi 2 mét 7 (9 ft), thông thường chiều cao và dài mỗi chiều 1 mét 2. Những giải lớn, chiều rộng khung thành nới ra 1 mét 4. Một trận đấu có 3 hiệp, mỗi hiệp 20 phút. Nếu bất phân thắng bại đấu thêm giờ (overtime). == Phong trào bóng vợt == Các cao thủ trên thế giới phần lớn trong Hiệp hội bóng vợt Canada (Canadian Lacrosse Association) và hàng năm có cuộc tranh tài "National Lacrosse League". Hiện nay, trên thế giới có 8 quốc gia có những đội được xem là thượng hạng gia nhập trong Liên đoàn bóng vợt quốc tế (Federation of International Lacrosse, viết tắt FIL). Trong đó Canada và Hoa Kỳ là những đội dẫn đầu. Nước Mỹ thành lập Liên đoàn bóng vợt Hoa Kỳ (American Box Lacrosse League) với 5 đội ghi danh: 2 của New York City, Brooklyn, Toronto, Boston, và Baltimore. Tuy nhiên, dân Mỹ chưa hưởng ứng lắm nên giải ít người tham dự. Phong trào bóng vợt vắng lặng mãi đến năm 1939, giải chuyên nghiệp bóng vợt Hoa Kỳ tái xuất hiện tại California, dưới tên gọi "Pacific Coast Lacrosse Association" (Liên hiệp Bóng vợt vùng Thái bình dương", thu hút được 4 đội tham dự và đóng cửa một thời gian ngắn sau đó. == Chú thích == == Liên kết ngoài == US Lacrosse – The national governing body for lacrosse in the United States. Lacrosse news archive at Baltimore Sun CBC Digital Archives – Lacrosse: A History of Canada's Game Lacrosse Map – Interactive team and tournament map documenting the growth of lacrosse since 1850. The "Official" Lacrosse Dictionary from E-Lacrosse.com UK Lacrosse Forum Lacrosse Stick Buying Guide
văn hóa trung quốc.txt
Văn hóa Trung Quốc là một trong những nền văn hóa lâu đời nhất và phức tạp nhất trên thế giới. Các vùng mà văn hóa Trung Quốc thống trị trải dài trên một khu vực địa lý rộng lớn ở miền Đông châu Á với các phong tục và truyền thống rất nhiều điểm khác nhau giữa các thị trấn, thành phố và tỉnh. == Điều kiện hình thành == === Điều kiện tự nhiên === Lãnh thổ Trung Quốc thời cổ đại nhỏ hơn bây giờ rất nhiều. Địa hình Trung Quốc rất đa dạng và phong phú, phía Tây có nhiều núi và cao nguyên, khí hậu khô hanh, phía đông có các bình nguyên châu thổ phì nhiêu, thuận lợi cho việc làm nông nghiệp. Trung Quốc có hàng ngàn con sông lớn nhỏ, nhưng có hai con sông quan trọng nhất là sông Hoàng Hà và sông Trường Giang (hay sông Dương Tử). Hai con sông này đều chảy theo hướng tây-đông và hàng năm đem phù sa về bồi đắp cho những cánh đồng ở phía đông Trung Quốc. === Dân tộc === Trung Quốc có nhiều dân tộc nhưng đông nhất là người Hoa-Hạ. Người Hoa ngày nay tự cho tổ tiên họ gổc sinh sống ở ven núi Hoa thuộc tỉnh Thiểm Tây và sông Hạ thuộc tỉnh Hồ Bắc ngày nay. (Dân núi Hoa sông Hạ). Trung Quốc ngày nay có khoảng 100 dân tộc, và 5 dân tộc có dân số đông nhất là Hán, Mãn, Mông, Hồi, Tạng. === Lịch sử === Con người đã sinh sống ở đất Trung Quốc cách đây hàng triệu năm. Dấu tích người vượn ở hang Hoa Hạ - Bình Nhưỡng (gần Bắc Kinh) có niên đại cách đây hơn 500.000 năm. Cách ngày nay khoảng hơn 5000 năm, xã hội nguyên thuỷ ở Trung Quốc bước vào giai đoạn tan rã, xã hội có giai cấp, nhà nước ra đời. Giai đoạn đầu, lịch sử Trung Quốc chưa được ghi chép chính xác mà chỉ được chuyển tải bằng truyền thuyết. Theo truyền thuyết, các vua đầu tiên của Trung Quốc là ở thời kì Tam Hoàng Ngũ Đế (Phục Hy, Nữ Oa, Thần Nông và Hoàng đế, Cao Dương đế, Cốc đế, Nghiêu đế, Thuấn đế). Theo các nhà nghiên cứu, thực ra đây là giai đoạn cuối cùng của thời kì công xã nguyên thuỷ. Nền văn minh Trung Hoa cổ gắn liền với vùng lục địa Đông Á rộng lớn. Cách đây khoảng 50 vạn năm, ở vùng Chu Khẩu Điếm (về phía Tây Nam thành phố Bắc Kinh ngày nay) đã có con người sinh sống, được gọi là người vượn Bắc Kinh (Peking Man). Đó chính là những bầy đoàn người nguyên thủy dùng cành cây gậy gộc và các công cụ đá thô sơ để săn bắt, hái lượm và tự vệ. Người vượn Bắc Kinh đã biết dùng lửa. ==== Thời kỳ sơ khởi ==== [[Tập tin:Zhoukoudian Museum July2004.jpg|nhỏ|phải|170px|Bảo tàng Hoa Hạ - Bình Nhưỡng Trải qua hàng chục vạn năm, những cư dân nguyên thủy vùng này đã phát triển và ngày một đông đúc. Họ đã hình thành các bộ lạc lớn và bành trướng lãnh thổ, biết chăn nuôi và trồng trọt và cư trú trên một vùng rộng lớn của lục địa châu Á. Trên vùng đồng bằng rộng lớn Hoa Bắc, tổ tiên xưa của người Trung Hoa sống thành những làng xóm ven sông, trong những túp lều tường đất, mái tranh. Tôn giáo-nghệ thuật cũng bắt đầu hình thành từ những cụm cư dân này. Các nhà khảo cổ học khám phá và xác định hai nền văn hóa là Ngưỡng Thiều thuộc Hà Nam và Long Sơn thuộc Sơn Đông Trung Quốc cách ngày nay vào khoảng từ 5.000-7.000 năm. Những di vật tìm thấy ở hai nền văn hóa này, bên cạnh các dụng cụ sản xuất, sinh hoạt còn có các sản phẩm gốm được làm từ một loại đất mà đồ gốm có màu đen và có các hoa văn hình học, hình động thực vật... được tạo dáng thanh thoát và có độ bền chắc. ==== Thời kỳ văn minh sông Hoàng Hà ==== Theo truyền thuyết, vào khoảng từ 3.000 đến 4.000 năm trước đây, vùng phía Tây và Tây Bắc Trung Quốc, dọc theo thượng nguồn của con sông Hoàng Hà có một quần thể dân cư sinh sống và đã đạt được một trình độ văn hóa khá cao, Văn minh sông Hoàng Hà hay văn minh Hoa Hạ. Những cư dân này sống định cư dưới chân núi Hoa nên tiếng Trung Quốc gọi là Hoa Hạ (người sống dưới núi Hoa). Cũng theo truyền thuyết, người Hoa Hạ đã có nhiều thành tựu trong các lĩnh vực văn hóa và xã hội. Văn minh Hoàng Hà theo các nhà sử học và khảo cổ học, được xem là bắt đầu từ khoảng 2.200 TCN đến 1.066 TCN, và được chia thành các giai đoạn sau: Thời kỳ Tam hoàng Ngũ đế Thời Nhà Hạ Thời Nhà Thương ==== Thời kỳ dựng nước Trung Quốc (1.066 TCN 206 TCN) ==== [[Tập tin:Greatwall-SA3.jpg|nhỏ|phải|170px|Vạn Lý Trường Thành bắt đầu được xây dựng từ trước khi Tần Thủy Hoàng thống nhất Trung Quốc]] Thời kỳ này bắt đầu bởi sự sụp đổ của nhà Thương và bắt đầu kỷ nguyên của nhà Chu (1.066 TCN - 221 TCN) bao gồm nhà Tây Chu, (1.066 TCN - 771 TCN) và nhà Đông Chu hay còn được gọi là thời Xuân Thu và Chiến Quốc và kết thúc chiến tranh giữa các tiểu vương quốc bằng sự bắt đầu triều đại nhà Tần thống nhất Trung Hoa vào năm 221 TCN.Sau đó nhà Hán thống nhất Trung Quốc thành lập vương triều Hán tồn tại gần 400 năm == Thành tựu chủ yếu == === Chữ viết === Đời nhà Thương, người Trung Hoa đã có chữ Giáp cốt được viết trên mai rùa, xương thú, được gọi là Giáp cốt văn. Qua quá trình biến đổi, từ Giáp cốt văn hình thành nên Thạch cổ văn, Kim văn. Tới thời Tần, sau khi thống nhất Trung Quốc, chữ viết cũng được thống nhất trong khuôn hình vuông được gọi là chữ Tiểu triện. === Văn học === Kinh Thi là tập thơ cổ nhất ở Trung Quốc do nhiều tác giả sáng tác thời Xuân-Thu, được Khổng tử sưu tập và chỉnh lý. Kinh Thi gồm có 3 phần: Phong, Nhã, Tụng. Thơ Đường là thời kì đỉnh cao của nền thơ ca Trung Quốc. Trong hàng ngàn tác giả có ba nhà thơ lớn nổi bật là Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị. Tới thời Minh-Thanh, tiểu thuyết lại rất phát triển với các tác phẩm tiêu biểu như: Tam quốc chí diễn nghĩa của La Quán Trung, Thuỷ hử của Thi Nại Am, Tây du ký của Ngô Thừa Ân, Nho lâm ngoại sử của Ngô Kính Tử, Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần...trong đó Hồng lâu mộng được đánh giá là tiểu thuyết có giá trị nhất. === Sử học === Người Trung Hoa thời cổ rất có ý thức về biên soạn sử. Nhiều nước thời Xuân-Thu đã đặt các quan chép sử. Trên cơ sở quyển sử nước Lỗ, Khổng Tử đã biên soạn ra sách Xuân Thu. Tới thời Hán, Tư Mã Thiên là một nhà viết sử lớn đã để lại Phẩm Sử ký, chép lại lịch sử Trung Quốc gần 3000 năm, từ thời Hoàng Đế đến thời Hán Vũ Đế. Tới thời Đông Hán, có các tác phẩm Hán thư của Ban Cố, Tam quốc chí của Trần Thọ, Hậu Hán thư của Phạm Diệp. Tới thời Minh-Thanh, các bộ sử như Minh sử, Tứ khố toàn thư là những di sản văn hoá đồ sộ của Trung Quốc. === Khoa học tự nhiên và kĩ thuật === ==== Toán học ==== Người Trung Hoa đã sử dụng hệ đếm thập phân từ rất sớm. Thời Tây Hán đã xuất hiện cuốn Chu bễ toán kinh, trong sách đã có nói đến quan niệm về phân số, về quan hệ giữa 3 cạnh trong một tam giác vuông. Thời Đông Hán, đã có cuốn Cửu chương toán thuật, trong sách này đã nói đến khai căn bậc 2, căn bậc 3, phương trình bậc1, đã có cả khái niệm số âm, số dương. Thời Nam-Bắc triều có một nhà toán học nổi tiếng là Tổ Xung Chi, ông đã tìm ra số Pi xấp xỉ 3,14159265, đây là một con số cực kì chính xác so với thế giới hồi đó. ==== Thiên văn học ==== Từ đời nhà Thương, người Trung Hoa đã vẽ được bản đồ sao có tới 800 vì sao. Họ đã xác định được chu kì chuyển động gần đúng của 120 vì sao. Từ đó họ đặt ra lịch Can-Chi. Thế kỉ IV TCN, Can Đức đã ghi chép về hiện tượng vết đen trên Mặt trời. Thế kỉ II, Trương Hành đã chế ra dụng cụ để dự báo động đất. Năm 1230, Quách Thủ Kính (đời Nguyên) đã soạn ra cuốn Thụ thời lịch, xác định một năm có 365,2425 ngày. Đây là một con số rất chính xác so với các nhà thiên văn châu Âu thế kỉ XIII. ==== Y, dược học ==== Thời Chiến Quốc đã có sách Hoàng đế nội kinh được coi là bộ sách kinh điển của y học cổ truyền Trung Hoa. Thời nhà Minh có cuốn Bản thảo cương mục của Lý Thời Trân. Cuốn sách này được dịch ra chữ Latin và được Darwin coi đây là bộ bách khoa về sinh vật của người Trung Quốc thời đó. Đặc biệt là khoa châm cứu là một thành tựu độc đáo của y học Trung Quốc. ==== Kĩ thuật ==== Có 4 phát minh quan trọng về mặt kĩ thuật mà người Trung Hoa đã đóng góp cho nhân loại, đó là giấy, thuốc súng, la bàn và nghề in. Giấy được chế ra vào khoảng năm 105 do Thái Luân. Nghề in bằng những chữ rời đã được Tất Thăng sáng tạo vào đời Tuỳ. Đồ sứ cũng có nguồn gốc từ Trung Hoa. Từ thế kỉ VI, họ đã chế ra diêm quẹt để tạo ra lửa cho tiện dụng. === Hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc === ==== Hội hoạ ==== Hội hoạ Trung Quốc có lịch sử 5000 - 6000 năm với các loại hình: bạch hoạ, bản hoạ, bích hoạ. Đặc biệt là nghệ thuật vẽ tranh thuỷ mạc, có ảnh hưởng nhiều tới các nước ở Châu Á. Cuốn Lục pháp luận của Tạ Hách đã tổng kết những kinh nghiệm hội hoạ từ đời Hán đến đời Tuỳ. ==== Điêu khắc ==== Trung Quốc cũng phân thành các ngành riêng như: Ngọc điêu, thạch điêu, mộc điêu. Những tác phẩm nổi tiếng như cặp tượng Tần ngẫu đời Tần, tượng Lạc sơn đại Phật đời Tây Hán (pho tượng cao nhất thế giới), tượng Phật nghìn mắt nghìn tay. ==== Kiến trúc ==== Công trình nổi tiếng thế giới như: Vạn Lý Trường Thành (dài 6700 km), Thành Tràng An, Cố cung, Tử cấm thành ở Bắc Kinh. === Triết học, tư tưởng === Thời Xuân Thu - Chiến Quốc, ở Trung Quốc đã xuất hiện rất nhiều những nhà tư tưởng đưa ra những lý thuyết để tổ chức xã hội và giải thích các vấn đề của cuộc sống (Bách gia tranh minh). Thuyết Âm dương, Bát quái, Ngũ hành, Âm dương gia: -Âm dương, bát quái, ngũ hành, là những thuyết mà người Trung Quốc đã nêu ra từ thời cổ đại để giải thích thế giới. Họ cho rằng trong vũ trụ luôn tồn tại hai loại khí không nhìn thấy được xâm nhập vào trong mọi vật là âm và dương (lưỡng nghi). -Bát quái là 8 yếu tố tạo thành thế giới: Càn (trời), Khôn (đất), Chấn (sấm), Tốn (gió), Khảm (nước), Ly (lửa), Cấn (núi), Đoài (hồ). Trong Bát quái, hai quẻ Càn, Khôn là quan trọng nhất. -Ngũ hành là: Kim, Mộc, Thuỷ, Hoả, Thổ. Đó là 5 nguyên tố tạo thành vạn vật. Các vật khác nhau là do sự pha trộn, tỉ lệ khác nhau do tạo hoá sinh ra. Sau này, những người theo thuyết Âm dương gia đã kết hợp thuyết Âm dương với Ngũ hành rồi vận dụng nó để giả thích các biến động của lịch sử xã hội. ==== Nho giáo ==== Đại biểu cho phái Nho gia là Khổng Tử. Nho gia đề cao chữ nhân, chủ trương lễ trị, phản đối pháp trị. Nho gia đề cao Tam cương, Ngũ thường, cùng với tư tưởng Chính danh định phận và đề cao tư tưởng Thiên mệnh. Giá trị quan trọng nhất trong tư tưởng của Khổng Tử là về giáo dục. Ông chủ trương dạy học cho tất cả mọi người. Tới thời Hán Vũ Đế (140-87 TCN), chấp nhận đề nghị của Đổng Trọng Thư, Hán Vũ Đế đã ra lệnh "bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật", Nho gia đã được đề cao một cách tuyệt đối và nâng lên thành Nho giáo. ==== Đạo giáo ==== Đạo gia là Lão Tử và Trang Tử. Hai ông đã thể hiện tư tưởng của mình qua hai tác phẩm Đạo đức kinh và Nam Hoa kinh. Theo Lão Tử, "Đạo" là cơ sở đầu tiên của vũ trụ, có trước cả trời đất, nằm trong trời đất. Quy luật biến hoá tự thân của mỗi sự vật ông gọi là "Đức". Lão Tử cho rằng mọi vật sinh thành, phát triển và suy vong đều có mối liên hệ với nhau. Tới thời Trang Tử, tư tưởng của phái Đạo gia mang nặng tính buông xuôi, xa lánh cuộc đời. Họ cho rằng mọi hoạt động của con người đều không thể cưỡng lại "đạo trời", từ đó sinh tư tưởng an phận, lánh đời. Phái Đạo giáo sinh ra sau này khác hẳn Đạo gia, mặc dù có phái trong Đạo giáo tôn Lão Tử làm "Thái thượng lão quân". Hạt nhân cơ bản của Đạo giáo là tư tưởng thần tiên. Đạo giáo cho rằng sống là một việc sung sướng nên họ trọng sinh, lạc sinh. ==== Pháp gia ==== Ngược hẳn với phái Nho gia, phái Pháp gia chủ trương "pháp trị", coi nhẹ "lễ trị". Tiêu biểu cho phái Pháp gia là Hàn Phi Tử, một kẻ sĩ thời Tần Thuỷ Hoàng. Theo Hàn Phi Tử, trị nước chỉ cần pháp luật nghiêm minh, rõ ràng, dễ hiểu với mọi người, không cần lễ nghĩa. Ông cho rằng trị nước cần nhất 3 điều: Pháp: đó là phải định ra được pháp luật nghiêm minh, rõ ràng, dễ hiểu, công bằng với mọi người, không phân biệt đó là quý tộc hay dân đen. Thế: Muốn thực thi pháp luật thì các bậc quân vương phải nắm vững quyền thế, không chia sẻ cho kẻ khác. Thuật: đó là thuật dùng người. Thuật có 3 mặt: bổ nhiệm, khảo hạch và thưởng phạt. Thuật bổ nhiệm là khi chọn quan lại chỉ căn cứ vào tài năng và lòng trung thành, không cần dòng dõi, đức hạnh. Khảo hạch là phải kiểm tra công việc thường xuyên. Thưởng phạt thì chủ trương "ai có công thì thưởng, ai có tội thì trừng phạt thật nặng, bất kể là quý tộc hay dân đen", trọng thưởng, trọng phạt. ==== Mặc gia ==== Người đề xướng là Mặc Tử (Khoảng giữa thế kỉ V TCN đến giữa thế kỉ IV TCN). Hạt nhân tư tưởng triết học của Mặc gia là nhân và nghĩa. Mặc Tử còn là người chủ trương " thủ thực hư danh" (lấy thực đặt tên). Tư tưởng của phái Mặc gia đầy thiện chí nhưng cũng không ít ảo tưởng. Từ đời Tần, Hán trở về sau, ảnh hưởng của phái Mặc gia hầu như không còn đáng kể. === Trang phục === Các tầng lớp khác nhau trong xã hội vào những thời kỳ khác nhau theo những xu hướng phục trang khác nhau, màu vàng thường được dành riêng cho hoàng đế. Lịch sử phục trang Trung Quốc trải hàng trăm năm với những cải cách đa dạng và đầy màu sắc nhất. Trong triều đại nhà Thanh, triều đại huy hoàng cuối cùng của Trung Quốc, đã xảy ra những thay đổi về trang phục đột ngột và ấn tượng, quần áo của thời đại trước nhà Thanh được gọi là Hán phục hoặc trang phục Trung Hoa truyền thống nhà Hán. Nhiều biểu tượng như phượng hoàng được sử dụng cho mục đích trang trí cũng như kinh tế. == Ẩm thực == Sự đa dạng áp đảo khổng lồ của ẩm thực Trung Quốc chủ yếu đến từ việc các hoàng đế triều đại tổ chức những bữa tiệc với 100 món mỗi bữa ăn. Vô số các nhân viên nhà bếp hoàng gia và phi tần cùng tham gia vào quá trình chuẩn bị thức ăn. Theo thời gian, nhiều món ăn trở thành một phần văn hóa hàng ngày của người dân. Một số các nhà hàng cao cấp nhất có những công thức nấu ăn gần với thời kỳ triều đại các vua chúa gồm nhà hàng Phòng Sơn ở Công viên Bắc Hải tại Bắc Kinh và Pavilion Oriole Có thể cho rằng, tất cả các chi nhánh Hồng Kông dù theo phong cách ẩm thực hoặc thậm chí là phong cách Mỹ thì theo một cách nào đó vẫn có nguồn gốc từ văn hóa các triều đại Trung Hoa. == Tham khảo == == Thư mục == == Xem thêm == Nho gia (Khổng Tử và Mạnh Tử) Mặc gia (Mặc Tử) Đạo gia (Lão Tử, Trang Tử) Pháp gia (Hàn Phi Tử) == Liên kết ngoài == Bản đồ biên giới Trung Hoa từ 2100.BC đến 917.AD
ông đồ.txt
Trong nền khoa cử Nho học, những người học sinh (anh khóa) đã thi qua 3 kỳ thi đỗ Tú Tài (trước 1828 gọi là Sinh đồ) - tên dân gian gọi là ông Đồ. Lúc đó, những sinh đồ tuy là đậu những kỳ thi cấp thấp, nhưng chưa đủ cao để được nhà nước quân chủ và phong kiến bổ làm quan, họ hoặc là phải học thêm để thi những kỳ thi cao hơn được tổ chức sau đó (như là thi Hội và thi Đình, xem thêm tại bài Khoa bảng Việt Nam), hay là tạm kiếm sống bằng những nghề dạy học (còn gọi là "thày đồ"), viết thuê,... Trong thời chuyển đổi sang tân học, học chữ Quốc ngữ mà không còn học chữ Hán nữa, những ông đồ không có việc làm đã sinh sống bằng nghề viết chữ thuê, như trong bài thơ "Ông đồ" của Vũ Đình Liên. xxxxnhỏ|Nhà nghiên cứu Trần Quang Đức làm ông đồ, khai bút đầu xuân Bính Thân 2016.]] Mỗi năm hoa đào nở Lại thấy ông đồ già Bày mực tàu giấy đỏ Trên phố đông người qua... Ngày nay, chữ "ông đồ" cũng được dùng để gọi những người có liên quan hay là có tiếp xúc với chữ Hán, với nền văn hóa Nho giáo, chẳng hạn những người viết chữ thư pháp hàng năm vào dịp Tết hay là những người nghiên cứu Hán-Nôm.Là nét đẹp văn hoá sự tôn vinh giá trị truyền thống quý báu của dân tộc ta == Chú thích ==
13 tháng 3.txt
Ngày 13 tháng 3 là ngày thứ 72 (73 trong năm nhuận) trong lịch Gregory. Còn 293 ngày trong năm. == Sự kiện == 1781 – Nhà thiên văn học William Herschel quan sát thấy sao Thiên Vương khi ông đang ở trong vườn nhà tại Somerset, Anh. 1881 – Hoàng đế Aleksandr II của Nga thiệt mạng do thương tích sau một nỗ lực ám sát bằng bom trên đường phố tại kinh đô Sankt-Peterburg. 1915 - Việt Nam Quang phục Hội tập kích đồn Tà Lùng của chính quyền thực dân Pháp ở gần biên giới Việt-Hoa 1918 - Liên quân Đức-Áo thủ tiêu nước Cộng hoà Xô viết Odessa. 1921 – Dưới sự lãnh đạo của quân phiệt người Nga Roman von Ungern-Sternberg, Ngoại Mông Cổ tuyên bố độc lập từ Trung Quốc với vị thế một quốc gia quân chủ. 1940 – Chiến tranh Liên Xô-Phần Lan kết thúc khi lệnh ngừng bắn có hiệu lực, một ngày sau khi hiệp định hòa bình chính thức được ký kết tại Moskva. 1945 - Campuchia tuyên bố độc lập 1954 – Chiến tranh Đông Dương: Quân đội Nhân dân Việt Nam bắt đầu tiến công quân Liên hiệp Pháp tại thung lũng Mường Thanh, khởi đầu Chiến dịch Điện Biên Phủ. 2013 - Hồng y người Argentina Jorge Mario Bergoglio được Mật nghị Hồng y 2013 bầu làm giáo hoàng thứ 266 của Giáo hội Công giáo Rôma, ông chọn tông hiệu Giáo hoàng Phanxicô. 1988 – Đường hầm Seikan được khánh thành, đường hầm dưới biển dài nhất thế giới này kết nối hai đảo chính Honshu và Hokkaido của Nhật Bản. == Sinh == 1683 - John Theophilus Desaguliers, nhà triết học người Pháp (m. 1744) 1700 - Michel Blavet, nhạc công thổi sáo người Pháp (m. 1768) 1720 - Charles Bonnet, nhà tự nhiên học, nhà văn Thụy Sĩ (m. 1793) 1733 - Joseph Priestley, nhà khoa học, bộ trưởng người Anh (m. 1804) 1741 - Joseph II, hoàng đế Đế quốc La Mã Thần thánh (m. 1790) 1763 - Guillaume Marie Anne Brune, Thống chế người Pháp (m. 1815) 1764 - Earl Grey, thủ tướng Anh (m. 1845) 1781 - Karl Friedrich Schinkel, kiến trúc sư người Đức (m. 1841) 1784 - Jean Moufot, nhà triết học, nhà toán học người Pháp (m. 1842) 1815 - James Curtis Hepburn, người truyền giáo, nhà ngôn ngữ học người Mỹ (m. 1911) 1855 - Percival Lowell, nhà thiên văn người Mỹ (m. 1916) 1860 - Hugo Wolf, nhà soạn nhạc người Áo (m. 1903) 1864 - Alexej von Jawlensky, họa sĩ người Nga (m. 1941) 1884 - Sir Hugh Walpole, tiểu thuyết gia người Anh (m. 1941) 1890 - Fritz Busch, người chỉ huy dàn nhạc người Đức (m. 1951) 1898 - Henry Hathaway, đạo diễn phim, nhà sản xuất người Mỹ (m. 1985) 1899 - John Hasbrouck van Vleck, nhà vật lý, giải thưởng Nobel người Mỹ (m. 1980) 1899 - Jan Lechoń, nhà thơ người Ba Lan (m. 1956) 1900 - Béla Guttman, cầu thủ bóng đá người Hungary (m. 1981) 1900 - Giorgos Seferis, nhà thơ, giải thưởng Nobel người Hy Lạp (m. 1971) 1908 - Walter Annenberg, nhà xuất bản, người làm việc thiện người Mỹ (m. 2002) 1910 - Karl Gustav Ahlefeldt, diễn viên người Đan Mạch (m. 1985) 1910 - Sammy Kaye, nhạc sĩ người Mỹ (m. 1987) 1913 - Lambros Konstantaras, diễn viên người Hy Lạp (m. 1985) 1913 - Sergey Mikhalkov, nhà văn người Nga 1914 - Edward O'Hare, phi công người Mỹ (m. 1943) 1914 - W.O. Mitchell, nhà văn người Canada (m. 1998) 1921 - Al Jaffee, họa sĩ biếm hoạ người Mỹ 1926 - Raúl Alfonsín, tổng thống Argentina 1926 - Roy Haynes, nhạc công đánh trống nhạc Jazz người Mỹ 1926 - Carlos Roberto Reina, tổng thống Honduras (m. 2003) 1927 - Robert Denning, chuyên viên trang trí nội thất người Mỹ (m. 2005) 1929 - Peter Breck, diễn viên người Mỹ 1930 - Jan Howard, ca sĩ người Mỹ 1933 - Mike Stoller, nhạc sĩ người Mỹ 1934 - Barry Hughart, tác gia người Mỹ 1935 - Joseph Mascolo, diễn viên người Mỹ 1935 - Leslie Parrish, nữ diễn viên người Mỹ 1935 - Michael Walzer, nhà triết học người Mỹ 1938 - Erma Franklin, ca sĩ người Mỹ (m. 2002) 1939 - Neil Sedaka, ca sĩ, nhạc sĩ người Mỹ 1942 - Dave Cutler, kĩ sư phần mềm người Mỹ 1942 - Geoffrey Hayes, người dẫn chương trình truyền hình, diễn viên người Anh 1943 - André Téchiné, đạo diễn phim, nhà kịch bản phim người Pháp 1945 - Anatoly Timofeevich Fomenko, nhà toán học người Nga 1946 - Yonatan Netanyahu, quân nhân người Israel (m. 1976) 1947 - Beat Richner, thầy thuốc, nghệ sĩ vĩ cầm Thụy Sĩ 1948 - Robert S. Woods, diễn viên người Mỹ 1949 - Hiroshi Kazato, người đua xe người Nhật Bản (m. 1974) 1949 - Julia Migenes, ca sĩ soprano người Mỹ 1950 - William H. Macy, diễn viên người Mỹ 1951 - Fred Berry, diễn viên, vũ công người Mỹ (m. 2003) 1952 - Wolfgang Rihm, nhà soạn nhạc người Đức 1953 - Deborah Raffin, nữ diễn viên người Mỹ 1955 - Bruno Conti, cầu thủ bóng đá người Ý 1955 - Glenne Headly, nữ diễn viên người Mỹ 1956 - Dana Delany, nữ diễn viên người Mỹ 1957 - Steve Lake, vận động viên bóng chày người Mỹ 1960 - Joe Ranft, họa sĩ phim hoạt hình người Mỹ (m. 2005) 1963 - Fito Páez, nhạc sĩ, nhà sáng tác người Argentina 1964 - Will Clark, vận động viên bóng chày người Mỹ 1967 - Andrés Escobar, cầu thủ bóng đá người Colombia (m. 1994) 1967 - Joseph Cao, dân biểu người Mỹ gốc Việt đầu tiên trong Quốc hội Hoa Kỳ. 1968 - Akira Nogami, đô vật Wrestling chuyên nghiệp người Nhật Bản 1970 - Tim Story, đạo diễn phim người Mỹ 1971 - Annabeth Gish, nữ diễn viên người Mỹ 1971 - Robert Lanham, tác gia, nhà văn châm biếm người Mỹ 1972 - Common, ca sĩ nhạc Rapp người Mỹ 1973 - Edgar Davids, cầu thủ bóng đá người Đức 1974 - Thomas Enqvist, vận động viên quần vợt người Thụy Điển 1974 - Vampeta, cầu thủ bóng đá người Brasil 1976 - Danny Masterson, diễn viên người Mỹ 1977 - Momo Sylla, cầu thủ bóng đá người Guiné-Bissau 1977 - Kay Tse, ca sĩ người Hồng Kông 1978 - Tom Danielson, vận động viên xe đạp người Mỹ 1978 - Karina Smirnoff, diễn viên múa người Ukraina 1978 - Kenny Watson, cầu thủ bóng đá người Mỹ 1979 - Johan Santana, vận động viên bóng chày người Venezuela 1979 - Cedric Van Branteghem, vận động viên người Bỉ 1980 - Lee Jung-hyun, nữ diễn viên, ca sĩ nhạc pop người Hàn Quốc 1980 - Molly Stanton, nữ diễn viên người Mỹ 1981 - Stephen Maguire, người chơi bi da người Scotland 1983 - Kaitlin Sandeno, vận động viên bơi lội người Mỹ 1984 - Pieter Custers, vận động viên người Đức 1984 - Noel Fisher, diễn viên người Canada 1985 - Emile Hirsch, diễn viên người Mỹ 1985 - Austin Scott, cầu thủ bóng đá người Mỹ 1989 - Harry Melling, diễn viên người Anh 1990 - Alec Medlock, diễn viên người Mỹ 1999 - Wiktoria Gąsiewska, nữ diễn viên người Ba Lan 1991 - Lê Quang Liêm, kỳ thủ cờ vua người Việt Nam == Mất == 1395 - John Barbour, nhà thơ người Scotland 1573 - Michel de l'Hôpital, chính khách người Pháp 1604 - Arnaud d'Ossat, nhà ngoại giao, nhà văn người Pháp (s. 1537) 1619 - Richard Burbage, diễn viên người Anh (s. 1567) 1711 - Nicolas Boileau-Despréaux, nhà thơ, nhà phê bình người Pháp (s. 1636) 1773 - Philibert Commerçon, nhà tự nhiên học, nhà thám hiểm người Pháp (s. 1727) 1778 - Charles le Beau, sử gia người Pháp (s. 1701) 1822 – Phan Huy Ích, nhà văn hóa, chính khách Việt Nam (s. 1750) 1842 - Henry Shrapnel, quân nhân, nhà phát minh người Anh (s. 1761) 1879 - Adolf Anderssen, đấu thủ cờ vua người Đức (s. 1818) 1881 - Aleksandr II, Hoàng đế Nga (s. 1818) 1901 - Benjamin Harrison, tổng thống Mỹ thứ 23 (s. 1833) 1918 - César Cui, nhà soạn nhạc người Nga (s. 1835) 1925 - Lucille Ricksen, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1909) 1938 - Nikolai Ivanovich Bukharin, chính khách, người trí thức người Nga (s. 1888) 1941 - Elizabeth Madox Roberts, nhà thơ, tiểu thuyết gia người Mỹ (s. 1881) 1943 - Stephen Vincent Benét, tác gia người Mỹ (s. 1898) 1949 - Henri Giraud, tướng người Pháp (s. 1879) 1963 - Austin Dobson, người đua xe người Anh (s. 1912) 1965 - Corrado Gini, kĩ thuật viên thống kê người Ý (s. 1884) 1965 - Fan S. Noli, giám mục, nhà thơ, chính khách người Albania (s. 1882) 1965 - Vittorio Jano, kĩ sư người Ý (s. 1891) 1972 - Tony Ray-Jones, nhà nhiếp ảnh người Anh (s. 1941) 1975 - Ivo Andrić, là nhà văn Nam Tư đoạt giải Nobel Văn học (s. 1892) 1983 - Louison Bobet, vận động viên xe đạp người Pháp (s. 1925) 1990 - Bruno Bettelheim, nhà tâm thần học người Mỹ (s. 1903) 1990 - Karl Münchinger, người chỉ huy dàn nhạc người Đức (s. 1915) 1995 - Leon Day, vận động viên bóng chày người Mỹ (s. 1916) 1996 - Krzysztof Kieślowski, đạo diễn phim người Ba Lan (s. 1941) 1998 - Bill Reid, nghệ sĩ người Canada (s. 1920) 1998 - Hans von Ohain, kĩ sư người Đức (s. 1911) 1999 - Lee Falk, họa sĩ biếm họa người Mỹ (s. 1911) 1999 - Garson Kanin, nhà văn, người đạo diễn người Mỹ (s. 1912) 1999 - Bidu Sayão, ca sĩ soprano người Brasil (s. 1902) 2002 - Hans-Georg Gadamer, nhà triết học người Đức (s. 1900) 2006 - Jimmy Johnstone, cầu thủ bóng đá người Scotland (s. 1944) 2006 - Maureen Stapleton, nữ diễn viên người Mỹ (s. 1925) 2007 - Arnold Skaaland, đô vật Wrestling chuyên nghiệp người Mỹ (s. 1925) == Ngày lễ và kỷ niệm == == Tham khảo ==
đan sĩ.txt
Đan sĩ ("đan" là cách viết trại của "đơn", tiếng Hy Lạp: μοναχός, monachos, nghĩa là "độc thân") là những Kitô hữu thực hành tôn giáo một cách khổ hạnh, sống một mình hoặc với những người khác trong cùng một môi trường gọi là đan viện. Đời sống chủ yếu của các đan sĩ là cầu nguyện, chiêm niệm, tự hành xác và lao động tự cung tự cấp. Từ nguyên "đan sĩ" trong tiếng Hy Lạp có thể áp dụng cho cả nam giới và nữ giới, nhưng trong các ngôn ngữ hiện đại thì nó chỉ sử dụng cho nam giới, trong khi những người nữ đan sĩ thường được gọi là "nữ tu", hoặc cụ thể hơn là "nữ tu dòng kín". Trong Giáo hội Công giáo Rôma, đan sĩ là thành viên của dòng tu nhưng sống thành cộng đoàn trong một đan viện, tu viện, hoặc nhà dòng theo một quy luật hoặc hiến pháp của dòng tu đó. Thông thường, cũng như các tu sĩ Kitô giáo nói chung, họ cam kết thực hiện ba lời khấn là khiết tịnh, khó nghèo và vâng phục. Người đứng đầu một cộng đoàn đan viện gọi là viện phụ. Trong Chính Thống giáo Đông phương, râu là một biểu tượng của đan sĩ . == Tham khảo ==
kantō.txt
Vùng Kanto của Nhật Bản (tiếng Nhật: 關東地方, かんとうちほう, Kantō-chihō, Quan Đông địa phương) là một trong chín vùng địa lý của nước này. Vùng này nằm ở phía Đông của đảo Honshu, bao gồm bảy tỉnh: Gunma, Tochigi, Ibaraki, Saitama, Tokyo, Chiba, và Kanagawa. 40% diện tích đất đai chính giữa của vùng Kanto là bình nguyên Kanto. Đây là khu vực có mức độ đô thị hóa cao nhất ở Nhật Bản, với vùng thủ đô Tokyo, tổng dân số là 42.053.000 (16/4/2010), chiếm 1/3 dân số Nhật Bản.  == Tham khảo ==
caridea.txt
Caridea là một cận bộ tôm gồm các động vật giáp xác mười chân, kích thước nhỏ, có khả năng bơi lội tốt. Chúng sinh sống trong cả môi trường nước ngọt, nước lợ lẫn nước mặn. Tôm trong tiếng Việt là một từ dùng để chỉ gần như toàn bộ bộ Giáp xác mười chân (Decapoda), ngoại trừ cận bộ Brachyura bao gồm các loài cua. Bài này nói về tôm thực sự (true shrimp). Xem thêm bài Tôm. == Đặc điểm sinh học == Các cá thể thuộc cận bộ Caridea được tìm thấy trong tất cả loại môi trường nước, mà chủ yếu là ở biển. Khoảng một phần tư số loài được tìm thấy trong môi trường nước ngọt, bao gồm hầu hết các loài trong họ Atyidae và phân họ Palaemoninae trong họ Palaemonidae. Chúng bao gồm một số loài có giá trị thương mại quan trọng, chẳng hạn như Macrobrachium rosenbergii phân bố trên khắp các lục địa, ngoại trừ Nam Cực. Ở độ sâu tới 5.000 m (16.000 ft) dưới biển, vẫn có thể tìm thấy các loài trong cận bộ này, và chúng phân bố từ vùng nhiệt đới đến các cực. Ngoài môi trường sống đa dạng, các loài trong cận bộ Caridea còn có các hình thức khác nhau rất nhiều, từ các loài chỉ dài vài milimét khi đã trưởng thành, cho những loài dài hơn 1 ft (0,30 m). Không kể đến các đặc điểm từ tổ tiên chung đã mất, các loài tôm này thường có một cặp cuống mắt, mặc dù đôi khi cặp cuống mắt này được đậy bởi phần giáp bảo vệ đầu ngực. Giáp cũng bao bọc cả mang, nước được bơm xuyên qua đó nhờ hoạt động của các bộ phận trên miệng. Các loài này ăn tạp, tuy nhiên một số loài được chuyên hóa thông qua cách ăn của chúng. Một số ăn bằng cách lọc bằng cách sử dụng những chân tua tủa lông cứng của chúng như một cái sàng; một số loài lại cạo tảo từ đá. Một số loài trong chi Tôm gõ mõ dùng càng để tạo ra một sóng xung kích gây choáng con mồi. Nhiều loài tôm vệ sinh cũng thuộc cận bộ này, thường chải trên mình các loài cá sống ở rạn san hô và ăn các ký sinh trùng và mô hoại tử trên da cá. Ngược lại, các loài tôm này là nguồn thức ăn của các động vật khác, đặc biệt là các loài cá và chim biển, và là vật chủ của ký sinh trùng Bopyridae. == Hình ảnh == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Phương tiện liên quan tới Caridea tại Wikimedia Commons Dữ liệu liên quan tới Caridea tại Wikispecies Shrimp
samsung galaxy a3.txt
Galaxy A5 là tên của một điện thoại thông minh bằng nhôm của Samsung. Nó được giới thiệu vào tháng 10 năm 2014. == Tính năng == Máy ảnh chính 8MP Máy ảnh trước 5MP Chip: Qualcomm Snapdragon 410 - lõi tứ, 1200 MHz, ARM Cortex-A53, 64-bit Đồ họa: Adreno 306 1GB RAM Bộ nhớ trong 16GB Pin: 1900mAh 4.5 Inch Độ phân giải: 540 x 960 pixels | 245 ppi Android 4.4.4 110gr Super AMOLED Display ... == Tham khảo == Samsung Galaxy A3 Samsung Galaxy A3
hồ trúc bạch.txt
Hồ Trúc Bạch là một hồ thuộc quận Ba Đình, thủ đô Hà Nội, Việt Nam, nguyên là một phần hồ Tây. == Sự hình thành == Trước kia đây là hồ Tây, ở vào góc Đông Nam. Thời trước khu vực này vì sóng lặng hơn nên cá hồ Tây thường tụ về đây. Dân hai làng Yên Hoa (nay là Yên Phụ) và Yên Quang (nay là phố Quán Thánh) đắp một con đê nhỏ để ngăn góc này lại, đánh cá cho dễ hơn, và sau là nuôi cá. Sau đó chúa Trịnh cho đắp con đê rộng ra, và gọi là đê Cố Ngự (nghĩa là giữ vững). Sau này đường Cố Ngự bị đọc chệch thành Cổ Ngư, và là đường Thanh Niên ngày nay. Phía Đông hồ có bán đảo, dân năm làng đúc đồng ở Bắc Ninh tụ ở đây, hình thành làng đúc đồng Ngũ Xã. == Tên hồ == Khi mới bị ngăn ra, hồ chưa có tên riêng, vẫn chỉ là một góc của hồ Tây. Gần hồ có làng Trúc Yên, trồng nhiều trúc, cũng có tên là Trúc Lâm. Vào thế kỉ 18, chúa Trịnh Giang cho xây một cung điện để nghỉ mát cạnh hồ và cũng gọi là Trúc Lâm. Sau đó Trúc Lâm trở thành nơi giam giữ các cung nữ phạm tội, họ buộc phải tự dệt lụa để nuôi sống bản thân. Lụa của họ rất đẹp và trở nên nổi tiếng khắp vùng. Lụa đẹp, bóng bẩy gọi là lụa trúc (chữ Hán là Trúc Bạch). Từ đó xuất hiện một làng chuyên dệt lụa với tên là làng Trúc, và hồ cũng được gọi là hồ Trúc Bạch. == Di tích == Xung quanh hồ có nhiều nơi di tích cổ như: đền Quán Thánh, chùa Châu Long, đền Cẩu Nhi. Năm 1925, xưởng phát điện Yên Phụ được người Pháp cho xây dựng bên bờ phía Bắc của hồ Trúc Bạch và nó trở thành nguồn cung cấp điện quan trọng nhất cho Hà Nội đến tận cuối thập niên 1980. Thời kỳ chiến tranh Việt Nam, không lực Hoa Kỳ đã tập trung oanh tạc nhà máy này. Để bảo vệ nhà máy điện và khu vực Ba Đình gần đó, hệ thống phòng không của Quân đội Nhân dân Việt Nam được bố trí dày đặc ở đây. Ngày 26/10/1967, máy bay của John McCain trong khi thực hiện nhiệm vụ oanh tạc nhà máy điện Yên Phụ đã bị tên lửa bắn rơi. Ông nhảy dù xuống hồ Trúc Bạch và bị dân quân ở khu vực này bắt. Cùng với quá trình đô thị hóa, các làng cổ xung quanh hồ Trúc Bạch không còn nữa, thay vào đó là các nhà và công trình theo kiến trúc hiện đại. Bờ hồ được kè đá và làm đường lưu thông xung quanh. == Các con đường quanh hồ == Đường Thanh Niên, nối từ đường Yên Phụ tới phố Quán Thánh, có tên cũ là đường Cổ Ngư. Dọc theo đường này về phía hồ Trúc Bạch có đền Quán Thánh và đền Cẩu Nhi dời từ núi Nùng về, có từ đời Lý Công Uẩn, có tên là "Thủy Trung Tiên từ" tức đền thờ bà tiên trong nước. Đường Thanh Niên có tên thời Pháp là đường thống chế Ly-ô-tây rue Maréchal Lyautey. Năm 1958-1959, nhiều thanh niên, học sinh Hà Nội đã tới đây lao động, mở rộng và đắp đường này cao lên, và Ủy ban hành chính thành phố lúc đó đã đổi tên theo gợi ý của Hồ Chủ tịch Phố Trúc Bạch dài 165m, chạy từ đầu đường Thanh Niên, vòng bờ phía đông tới phố Châu Long Phố Trấn Vũ == Xem thêm == Các hồ tại Hà Nội == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Hồ Tây - Hồ Trúc Bạch
tottori.txt
Tottori (Nhật: 鳥取県 (Điểu Thủ Huyện), Tottori-ken) là một tỉnh nằm ở vùng Chūgoku trên đảo Honshū, Nhật Bản. Thủ phủ là thành phố Tottori. Đây là tỉnh có dân số ít nhất tại Nhật Bản. == Lịch sử == == Hành chính == Tỉnh Tottori có 4 thành phố: Kurayoshi Sakaiminato Tottori (thủ phủ) Yonago Thị trấn và làng mạc tại mỗi quận: == Địa lý == Trải dài từ Tây sang Đông, phía Bắc giáp với Biển Nhật Bản. Tottori là nơi có những đồi cát ven biển -đồi cát Tottori,(鳥取砂丘; tottori-sakyū) lớn nhất Nhật Bản. == Kinh tế == Kinh tế tỉnh Tottori mạnh về nông nghiệp, hàng hóa của tỉnh được chuyên chở qua đường thủy tới các thành phố lớn. Một vài sản phẩm nổi tiếng là lê, rakkyo, hành tây, dưa hấu. == Văn hóa == Lễ hội Shan-shan Lễ hội Minato == Giáo dục == Đại học Tottori == Thể thao == Đội bóng đá Gainare Tottori (Yonago) hiện đang chơi ở giải J2 (3/2009) == Du lịch == Mizuki Shigeru Road Kaike Onsen Biển Koyama Núi Daisen Đồi cát Tottori == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thúc của tỉnh Tottori (tiếng Nhật) Báo cáo du lịch Tottori
đàng trong.txt
Đàng Trong (chữ Hán: 塘中), hay Nam Hà (chữ Hán: 南河), Quảng Nam (chữ Hán: 廣南國 / Quảng Nam quốc), Cochinchina, Cochinchine, Cochin Chin, Caupchy, Canglan..., là tên gọi vùng lãnh thổ Đại Việt kiểm soát bởi Chúa Nguyễn, xác định từ phía Nam sông Gianh (tỉnh Quảng Bình) trở vào Nam. Bắt đầu từ năm 1600, khi từ Bắc trở về Thuận Hóa, Nguyễn Hoàng đã quyết tâm xây dựng một thế lực độc lập, và các đời chúa Nguyễn tiếp sau ở thế đối đầu với thế lực Vua Lê Chúa Trịnh, cho đến tháng 12 năm 1774, quân Trịnh chiếm được Phú Xuân. == Lịch sử == Nguồn gốc sâu xa của sự phân chia Đàng Trong-Đàng Ngoài phải kể từ sự kiện năm 1527, Mạc Đăng Dung phế bỏ vua Lê Cung Hoàng lập nên nhà Mạc. Sự kiện giết vua đoạt quyền, dâng đất cầu lợi cho nhà Minh của Mạc Đăng Dung khiến lòng dân không phục. Nhiều cuộc khởi nghĩa nổ ra, đáng chú ý nhất là cuộc khởi nghĩa của Nguyễn Kim, một tướng cũ của nhà Lê do không thần phục nhà Mạc đã chạy sang Lan Xang (Lào), được vua Sạ Đẩu cho lập bản doanh và tìm được Lê Duy Ninh dòng dõi nhà Lê năm 1533, với danh nghĩa phù Lê các lực lượng khác tề tựu về Nguyễn Kim để diệt Mạc. Năm 1543, quân của Nguyễn Kim đánh chiếm Tây đô (Thanh Hoá). Hoạn quan nhà Mạc là Dương Chấp Nhất đầu hàng. Năm 1545, Dương Chấp Nhất dâng dưa độc cho Nguyễn Kim, Kim ăn vào chết. Chấp Nhất bỏ trốn về nhà Mạc. Con rể Nguyễn Kim là Trịnh Kiểm lên thay cầm quyền chỉ huy quân đội và Trịnh Kiểm đã tìm cách loại trừ phe cánh của Nguyễn Kim. Con trai đầu của Nguyễn Kim là Nguyễn Uông bị ám hại, con trai thứ Nguyễn Hoàng lo sợ hoàn cảnh của mình đã tìm gặp Nguyễn Bỉnh Khiêm để xin gợi ý. Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mở lối đi mới, ảnh hưởng to lớn đến Việt Nam sau này bằng câu nói: Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân Nguyễn Hoàng đã nhờ sự giúp đỡ của chị ruột Bảo Ngọc là vợ Trịnh Kiểm xin vào trấn Thủ ở Thuận Hóa. Năm 1558, Nguyễn Hoàng đã cũng gia quyến, thân thuộc, tướng lĩnh đi vào Thuận Hóa. Năm 1569, Nguyễn Hoàng ra Thanh Hóa yết kiến Lê Anh Tông, giúp Nam triều đánh nhà Mạc, rồi đến phủ Thái sư lạy mừng Trịnh Kiểm. Trịnh Kiểm hài lòng, phong cho ông trấn thủ luôn đất Quảng Nam. Nguyễn Hoàng làm Tổng Trấn tướng quân kiêm quản cả xứ Quảng Nam. Năm 1572, Trịnh Kiểm mất, 2 con là Trịnh Cối và Trịnh Tùng tranh giành ngôi Chúa. Năm 1593, Nguyễn Hoàng đưa quân ra Bắc Hà giúp Trịnh Tùng đánh dẹp họ Mạc trong 8 năm trời, rồi bị họ Trịnh lưu giữ lại do lo sợ sự cát cứ và thế lực lớn mạnh của ông. Năm 1599, Nguyễn Hoàng nhân có nổi loạn chống lại với họ Trịnh ở cửa Đại An (thuộc Nam Định), ông xin Trịnh Tùng cho mình đánh dẹp, để người con thứ năm là Hải và cháu là Hắc làm con tin. Sau đó ông kéo quân theo đường hải đạo về Thuận Hoá. Sau khi trở về, Nguyễn Hoàng đã quyết tâm xây dựng một thế lực độc lập, nhưng vẫn duy trì nộp thuế hàng năm cho chính quyền họ Trịnh vì biết rằng lực lượng quân sự chưa thể trực tiếp đối đầu. Ông lo phát triển cơ sở, mở mang bờ cõi, phòng bị quân Trịnh vào đánh phá. Năm 1613, Nguyễn Hoàng qua đời. Con là Nguyễn Phước Nguyên lên thay. Nguyễn Phước Nguyên tiếp tục ý chí của cha, tăng cường sức mạnh kinh tế, quân sự, mở rộng lãnh thổ về phía Nam và khuyến khích di dân lập ấp. Năm 1620, Chúa Phước Nguyên ngừng nộp thuế cho chính quyền Lê-Trịnh đàng ngoài. Năm 1627, Chúa Trịnh Tráng mới sai quan vào Thuận Hóa đòi tiền thuế từ ba năm về trước. Chúa Sãi (Nguyễn Phước Nguyên) tiếp sứ nhưng không chịu nộp thuế. Chúa Trịnh lại sai sứ mang sắc vua Lê vào dụ Chúa Sãi cho con ra chầu, và đòi nộp 30 con voi cùng 30 chiếc thuyền để đưa đi cống nhà Minh. Chúa Sãi không chịu. Biết rằng họ Nguyễn ly khai, không chịu thần phục nữa, tháng 3 năm 1627, chúa Trịnh mang quân đi đánh họ Nguyễn. Sự kiện này đánh dấu sự chia tách hoàn toàn cả về lý thuyết và thực tế của xứ Thuận Quảng tức Đàng Trong của Chúa Nguyễn với Đàng Ngoài của Chúa Trịnh. Nó cũng tạo ra thời kỳ Trịnh-Nguyễn phân tranh kéo dài 45 năm, từ 1627 đến 1672, với 7 cuộc đại chiến của 2 bên. Dân tình quá khổ cực, chán nản, hai họ Trịnh, Nguyễn phải ngừng chiến, lấy sông Gianh làm ranh giới chia cắt lãnh thổ, miền Nam sông Gianh thuộc quyền chúa Nguyễn, được gọi là Đàng Trong. == Chính trị, quân sự == Thời Nguyễn Hoàng, họ Nguyễn vẫn thần phục chính quyền Lê-Trịnh trong chính thể Đại Việt thống nhất. Năm 1558, Nguyễn Hoàng nhậm chức trấn thủ Thuận Hóa. Năm 1569 kiêm nhận trấn thủ Quảng Nam. Năm 1593, Nguyễn Hoàng đưa quân ra Bắc Hà giúp Trịnh Tùng đánh dẹp họ Mạc trong 8 năm trời rồi bị họ Trịnh lưu giữ lại do lo sợ sự cát cứ và thế lực lớn mạnh của ông. Thế đối đầu Nam-Bắc triều chấm dứt khi Trịnh Tùng tiến chiếm được thành Thăng Long, và bắt giết được Mạc Mậu Hợp vào cuối năm 1592, họ Mạc chạy lên Cao Bằng. Thời Nguyễn Phước Nguyên bắt đầu xây dựng một vương triều độc lập ở Đàng Trong, từng bước ly khai khỏi chính quyền vua Lê - chúa Trịnh ở Đàng Ngoài. Thế đối đầu Đàng Trong- Đàng Ngoài bắt đầu hình thành. Năm 1629, Chúa Sãi tạm nhận sắc phong từ Chúa Trịnh để dồn lực đối phó với quân Chăm Pa và lưu thủ Văn Phong làm phản. Tránh cuộc đối đầu từ cả 2 phía Bắc- Nam. Năm 1630, Chúa Sãi đã làm theo kế của Đào Duy Từ trả lại sắc cho vua Lê - chúa Trịnh. Chúa Sãi cho xây gấp lũy Thầy để phòng bị những cuộc tấn công của quân Trịnh, lũy phòng thủ này đã ngăn chặn hiệu quả các cuộc tấn công từ Đàng Ngoài, tính hữu dụng của nó nhanh chóng được chứng minh qua cuộc tấn công tiếp theo năm 1633. Sang các thời chúa Nguyễn sau tiếp tục củng cố chính quyền Đàng Trong và mở rộng lãnh thổ về phía nam. Sau nhiều cuộc tấn công, tới cuối thế kỷ 17, họ Nguyễn chinh phục lãnh thổ Chiêm Thành (vốn đã suy yếu từ cuộc tấn công của Lê Thánh Tông năm 1471. Năm 1744, chúa Nguyễn Phước Khoát xưng vương và Phú Xuân được gọi là Đô thành, nhưng vẫn dùng niên hiệu vua Lê và không đặt quốc hiệu riêng. Ông đúc ấn "quốc vương" thay cho các ấn "Thái phó quốc công" và "Tổng trấn tướng quân" của các đời trước. Giai đoạn này người ngoại quốc đến giao thương với Việt Nam thường dùng tên gọi Cochinchine để chỉ vùng lãnh thổ này. == Hành chính == Trị sở chính quyền đóng tại Chánh dinh. Chánh dinh di chuyển qua nhiều nơi và từ 1678 dời về Phú Xuân. Từ khi ly khai Đàng Ngoài, Chúa Phước Nguyên đã tiến hành cải tổ lại bộ máy hành chính. Lãnh thổ được chia theo Thừa Tuyên hay Xứ, phân thành Chánh Dinh, Dinh ngoài. Dưới dinh là các phủ huyện. Được chia ra 7 dinh: Chánh Dinh (Phú Xuân), Cựu Dinh (Ái Tử – Quảng Trị), Quảng Bình, Vũ Xá, Bố Chánh, Quảng Nam và Trấn Biên. Mỗi dinh có thể coi như một tỉnh hiện nay. Hành chính có chức quan lưu thủ đứng đầu, quân sự thì có chức quan tuần thủ chỉ huy. Khi xưng vương, Nguyễn Phước Khoát đổi ba ty thành Lục bộ gồm Lại bộ, Lễ bộ, Hộ bộ, Hình bộ, Công bộ, Binh bộ. Ban đầu, Đàng Trong chỉ bao gồm 2 trong số 13 trấn của nước Đại Việt là Thuận Hóa và Quảng Nam (11 trấn còn lại do chúa Trịnh cai quản ở Đàng Ngoài). Đến giữa thế kỷ 18, khi Nguyễn Phước Khoát xưng vương, họ Nguyễn đã làm chủ vùng lãnh thổ từ Hoành Sơn đến Cà Mau hiện nay. Toàn bộ lãnh thổ Đàng Trong được chia thành 12 dinh và 1 trấn. Đàng Trong chia làm các dinh, trấn, năm 1744 có 12 dinh: (Bố Chánh, Quảng Bình, Lưu Đồn, Cựu, Chánh Dinh, Quảng Nam, Phú Yên, Bình Khang, Bình Thuận, Trấn Biên, Phiên Trấn, Long Hồ) và 1 trấn (Hà Tiên). Mỗi dinh cai quản một phủ, dưới phủ có huyện, tổng, xã. == Giáo dục khoa cử == Vì Đàng Trong mới hình thành, Nho học tại đây chưa có vị trí sâu, rộng như ở Đàng Ngoài. Thời kỳ đầu, các chúa Nguyễn bổ nhiệm quan lại đều lấy con em quý tộc và theo sự tiến cử của quan lại địa phương. Nhưng do nhu cầu cần nhân tài cho bộ máy cai trị, các chúa Nguyễn đã từng bước xúc tiến việc học tập và thi cử. Từ năm 1632, Nguyễn Phước Nguyên thi hành chính sách duyệt tuyển: 3 năm một lần tuyển nhỏ, 6 năm một lần tuyển lớn. Năm 1646, chúa Nguyễn mở khoa thi Thu đầu tiên, gọi là Thu vi hội thí (Thi hội mùa thu). Từ đó định ra lệ thi 9 năm 1 lần, chia làm 2 khoa Chính đồ và Hoa văn. Chúa Nguyễn Phước Lan bắt đầu mở khoa thi năm 1647, lấy 7 người trúng chính đồ, 24 người trúng hoa văn, đều được bổ dụng. Định phép thi 9 năm một kỳ. Ra lệnh cho các học trò về khoa chính đồ và khoa hoa văn đều đến công phủ để ứng thi. Chính đồ thi 3 ngày: Ngày thứ nhất thi tứ lục. Ngày thứ hai thi thơ phú. Ngày thứ 3 thi văn sách Lấy văn chức, tri phủ, tri huyện làm sơ khảo; cai bạ, ký lục, nha úy làm giám khảo; nội tả, nội hữu, ngoại tả, ngoại hữu làm giám thí. Người thi trúng thì làm danh sách đẻ tiến lên, định làm 3 hạng giáp, ất, bính. Hạng giáp là giám sinh, bổ tri phủ tri huyện; hạng ất làm sinh đồ, bổ huấn đạo; hạng bính cũng làm sinh đồ, bổ lễ sinh hoặc cho làm nhiêu học mãn đại. Hoa văn thi 3 ngày, mỗi ngày đều viết một bài thơ. Người trúng cũng chia làm 3 hạng, bổ làm việc ở ba ty Xá sai, Lệnh sử và Tướng thần lại và cho làm nhiêu học. Năm 1660, Nguyễn Phước Tần cho mở kỳ thi Hội, lấy đỗ 5 người thi Chính đồ và 15 người thi Hoa văn. Những người thi đỗ được vào Chánh dinh (Phú Xuân) thi Đình. Thời Nguyễn Phước Tần, thể lệ liên tục thay đổi, có sự hạn chế người đi thi. Sang thời Nguyễn Phước Trăn, chính quyền phục hồi lại thể lệ hạn chế thi cử thời trước. Từ đó thi Nhiêu học mới được tiến hành đều đặn. Năm 1740, chúa Nguyễn Phước Khoát cho định lại phép thi mùa Thu và quyền lợi của người đỗ. Năm 1768, Nguyễn Phước Thuần cho mở kỳ thi Hương đầu tiên và cũng là khoa thi cuối cùng trong việc khoa cử ở Đàng Trong. == Kinh tế == Giai đoạn đầu Đàng Trong lãnh thổ là vùng Thuận Quảng chủ yếu là đồi núi đan xen với những đồng bằng nhỏ hẹp, cộng với điều kiện tự nhiên khắc nghiệt nên dân cư thưa thớt. Chính quyền trung ương không quan tâm nhiều đến việc phát triển vùng biên giới, nó chỉ coi là vùng đệm với quốc gia phía Nam. Kể từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ vùng Thuận Quảng, và có ý định gây dựng cơ đồ tại đây thì cuộc sống lưu dân mới bắt đầu có những thay đổi đáng kể, nó khuyến khích làn sóng dân di cư, khai phá mở rộng những vùng đất hoang, đặc biệt là mở rộng ngoại thương ở mức chưa từng có trong lịch sử. Những chính sách ban đầu của Nguyễn Hoàng tạo điều kiện thuận lợi như năm 1597 cho lưu dân khai khẩn tại Phú Yên, năm 1608 xứ Thuận Quảng được mùa tạo ra làn sóng dân di cư, binh lính đầu hàng trong những trận chiến đều được vỗ về cho đi khai phá vùng đất mới. Nguyễn Hoàng tạo sự bứt phá về ngoại thương khi cho hoạt động cảng thị Hội An, ông còn viết nhiều thư trao đổi, bàn bạc chuyện buôn bán với chính quyền Tokugawa (chính quyền quân sự ở Nhật Bản), cho phép người nước ngoài mở phố riêng. Từ khi khai phá vùng Nam Bộ, các chúa Nguyễn có chính sách quan tâm đến nông nghiệp. Hàng loạt con sông và kênh được đào vét ở Thuận Quảng, điển hình như kênh Trung Đan và Mai Xá. Sang thế kỷ 18, những vùng đất hoang vu ở Nam Bộ đã trở thành ruộng phì nhiêu, ruộng tốt bậc nhất Đại Việt. Nghề nông Đàng Trong đã tạo ra 26 giống lúa nếp và 23 giống lúa tẻ. Về cơ bản, Đàng Trong có những nét tương đồng trong phát triển thủ công nghiệp so với Đàng Ngoài. Do sự tác động từ sự du nhập của khoa học kỹ thuật phương Tây, thủ công nghiệp Đàng Trong không chỉ phát triển về quy mô mà còn xuất hiện nhiều ngành nghề mới như đóng tàu, thuyền, đúc súng, khai thác mỏ. Trong ngành khai thác mỏ, Đàng Trong không có nhiều tài nguyên khoáng sản như Đàng Ngoài, chỉ có một số mỏ sắt và mỏ vàng. Nhiều đô thị ven biển, ven sông phát đạt, có quan hệ mậu dịch với các nước Đông Á, Đông Nam Á và một số nước phương Tây. Hội An, Thanh Hà (gần Huế), Gia Định và những đô thị và hải cảng nổi tiếng. Cùng sự mở mang đất đai vào phía nam, các chợ cũng hình hành ngày càng nhiều vì nhu cầu trao đổi hàng hóa. Sự phát triển của kinh tế hàng hóa đã dẫn đến sự hình thành các luồng buôn bán lưu thông hàng hóa giữa các vùng trong nước. Dù bị các chúa Trịnh và chúa Nguyễn ngăn cấm, giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài vẫn có luồng buôn bán trao đổi không chính thức. == Đàng Trong sụp đổ == Từ giữa thế kỉ 18, chế độ chúa Nguyễn suy đồi, khởi nghĩa nông dân bùng nổ và cuối cùng phong trào Tây Sơn đã lật đổ chế độ chúa Nguyễn. Năm 1786, chấm dứt sự phân chia Đàng Trong-Đàng Ngoài. Sau khi Võ Vương Nguyễn Phước Khoát chết, chính quyền họ Nguyễn rơi vào tay quyền thần Trương Phước Loan. Loan thao túng triều chính, tự xưng là "Quốc phó", giết Nguyễn Phước Luân (cha Nguyễn Phước Ánh) và lập Nguyễn Phước Thuần, lúc đó mới 12 tuổi lên ngôi, tức là Định vương. Năm 1769, vị vua mới của nước Xiêm là P'ya Taksin tức Trịnh Quốc Anh tung ra một cuộc chiến nhằm tìm cách lấy lại quyền kiểm soát nước Chân Lạp (Campuchia) vốn chịu nhiều ảnh hưởng của chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn buộc phải lùi bước khỏi những vùng đất mới chiếm. Năm 1771, anh em Tây Sơn do Nguyễn Nhạc cầm đầu nổi dậy chống chúa Nguyễn. Năm 1773, Tây Sơn chiếm được Quy Nhơn. Do sự can thiệp của Đàng Ngoài, năm 1774 chúa Trịnh điều binh đánh chiếm Phú Xuân, chính quyền họ Nguyễn phải rút vào Nam Bộ. Tây Sơn thần phục họ Trịnh và dồn sức tấn công họ Nguyễn. Năm 1777, hai chúa Nguyễn Phước Thuần và Nguyễn Phước Dương bị Tây Sơn bắt giết. Nguyễn Phước Ánh được dựng làm chúa để kế tục. Sau nhiều nỗ lực gây dựng lại cơ nghiệp không thành, kể cả việc cầu ngoại binh của Xiêm La (1784), Nguyễn Phước Ánh bại trận phải chạy sang Xiêm lưu vong. Không lâu sau chính quyền họ Trịnh ở Đàng Ngoài cũng bị Tây Sơn tiêu diệt (1786), chính thể Đàng Ngoài và Đàng Trong chấm dứt. === Nguyên nhân === Chính sự họ Nguyễn ngay từ thời Nguyễn Phước Khoát đã gây những ảnh hưởng tiêu cực cho dân chúng. Hệ thống thuế khóa phức tạp, cồng kềnh, nặng nề, quan dưới lạm thu khiến dân phải nộp nhiều hơn quy định. Thuế thổ sản có tới hàng ngàn thứ, tính cả những sản vật nhỏ nhặt. Năm 1741, Phúc Khoát ra lệnh truy thu thuế của cả những người bỏ trốn. Tới năm 1765 lại có lệnh truy thu thuế còn thiếu của 10 năm trước Sang thời Trương Phước Loan nắm quyền, dân Đàng Trong càng bị bóc lột nặng nền hơn. Loan nổi tiếng là tham lam, vơ vét của công, mua quỵt của các thương nhân nước ngoài. Có đợt sau trận lụt, nhà Loan bày vàng ra phơi "sáng chóe" cả sân. Thất bại trước những cuộc đụng độ với Xiêm La cộng với sưu thuế nặng nề cùng tình trạng tham nhũng tại địa phương khiến cho chính quyền họ Nguyễn đã yếu càng yếu thêm. Đó chính là thời cơ để ba anh em Tây Sơn bắt đầu khởi nghĩa chống lại chúa Nguyễn. == Xem thêm == Nhà Hậu Lê Chúa Nguyễn Đàng Ngoài Trịnh-Nguyễn phân tranh == Tham khảo == Viện Sử học (2007), Lịch sử Việt Nam, tập 4, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Nguyễn Phan Quang (2006), Một số công trình sử học Việt Nam, Nhà xuất bản Tổng hợp TP Hồ Chí Minh == Chú thích ==
tổng tuyển cử pakistan, 1970.txt
Tổng tuyển cử Pakistan 1971 (tiếng Bengal: পাকিস্তানের সাধারণ নির্বাচন, ১৯৭০, Pākistānēra sādhāraṇa nirbācana, 1970) là một cuộc tổng tuyển cử của Pakistan diễn ra vào ngày 7 tháng 12 năm 1970. Tại Đông Pakistan, đáng lẽ bầu cử diễn ra từ tháng 10, nhưng bị hoãn lại do tình hình lũ lụt nghiêm trọng. Đây là cuộc tổng tuyển cử đầu tiên diễn ra ở Pakistan từ khi quốc gia này giành độc lập vào năm 1947 và nó cũng là cuộc tổng tuyển cử có tỉ lệ đi bầu cao nhất tính đến năm 2013, khoảng 63%. Tổng tuyển cử diễn ra khi chính quyền quân sự của tướng Yahya Khan mất dần quyền lực, và lúc này Khan đã quyết định thành lập Hội đồng Tuyển cử Pakistan với người đứng đầu là Chánh án Abdus Sattar, có nhiệm vụ động viên người dân Pakistan ít nhất 21 tuổi (tính đến ngày 1 tháng 10 năm 1969) tham gia bầu cử. Số người đăng ký tham gia bầu cử là 56.941.500 người, trong đó 31.211.220 đến từ Đông Pakistan (tức Bangladesh ngày nay) còn 25.730.280 đến từ Tây Pakistan. Hội đồng tuyển cử cũng tham gia hiệu chỉnh Hiến pháp căn cứ theo số ghế của Nghị viện Pakistan và các hội đồng lập pháp ở địa phương dưới sự hướng dẫn của Nội quy Khuôn khổ Lập pháp 1970. 199 viên chức đảm nhiệm việc giám sát và công bố kết quả bầu cử Hội nghị Quốc dân còn 285 người phụ trách chuyện bầu cử các hội đồng địa phương. Kết quả bầu cử cho thấy Liên đoàn Nhân dân (আওয়ামী লীগ, Aoyami Liga) giành được đa số ghế trong quốc hội. Tuy nhiên, tổng thống Yahya Khan đã tìm cách trì hoãn việc chuyển giao quyền lực cho chính phủ của Liên đoàn Nhân dân, điều này đã dẫn đến cuộc khởi nghĩa của người dân địa phương và cuộc chiến tranh giành độc lập của Bangladesh năm 1971. == Thành phần tham gia và diễn tiến == Tổng tuyển cử 1970 được cho là cuộc bầu cử trong sạch và công bằng nhất trong lịch sử Pakistan, với khoảng 24 đảng phái tham gia. Diễn biến của cuộc tổng tuyển cử này cho thấy 2 chính đảng lớn cạnh tranh với nhau, một là Liên đoàn Nhân dân (Aoyami Liga), một đảng dân tộc chủ nghĩa của người Bengal ở Đông Pakistan, và một là Đảng Nhân dân Pakistan, một đảng cánh tả theo chủ nghĩa xã hội có ảnh hưởng lớn và là một trong những nhân tố quyền lực quan trọng ở Tây Pakistan. Những cuộc tập hợp quần chúng liên tiếp của Liên minh Awami tại Đông Pakistan và của Đảng Nhân dân Pakistan tại Tây Pakistan thu hút những đám đông khổng lồ. Liên minh Awami là một đảng dân tộc chủ nghĩa Bengal, huy động sự ủng hộ tại Đông Pakistan dựa trên nền tảng Chương trình Sáu điểm (SPP) của họ, đây là điểm thu hút chính trong bản tuyên ngôn của đảng. Tại Đông Pakistan, đa số rất lớn dân tộc Bengal ủng hộ Liên minh Awami dưới quyền Shaikh Mujibur Rahman. Đảng nhận được tỷ lệ rất cao về số phiếu ủng hộ tại Đông Pakistan và nổi lên thành đảng lớn nhất bào trùm toàn thể dân tộc nói chung, giành được ủy nhiệm độc quyền của Pakistan về cả số ghế và cử tri. Đảng Nhân dân Pakistan thất bại khi không giành được ghế nào tại Đông Pakistan, còn Liên minh Awami thất bại khi không giành được ghế nào tại Tây Pakistan. Thất bại này của Liên minh Awami được phe cánh tả và dân chủ xã hội dưới sự lãnh đạo của Zulfikar Bhutto sử dụng, Bhutto lập luận rằng "không ủy nhiệm hoặc ủng hộ từ Tây West Pakistan". Sau đó, các nhà lãnh đạo của Pakistan, toàn bộ đều từ Tây Pakistan và các lãnh đạo của Đảng Nhân dân, tích cự chống đối ý định về một chính phủ do Đông Pakistan lãnh đạo. Nhiều người tại Pakistan nhìn nhận rằng chính phủ do Liên minh Awami điều khiển sẽ giám sát việc thông qua một hiến pháp mới với đa số giản đơn. Thái độ và cảm xúc tương tự cũng được nhận thấy tại Đông Pakistan, nơi mọi người có cảm giác và tiến tới kết luận rằng Tây Pakistan được hưởng lợi từ các cơ hội kinh tế, đầu tư, và phát triển xã hội sẽ hạ bệ bất kỳ người Đông Pakistan nào giành được các cơ hội đó. Một số người Bengal đứng về phía Đảng Nhân dân Pakistan và lên tiếng không ủng hộ Liên minh Awami, hỗ trợ ngầm hoặc công khai Bhutto và những người dân chủ xã hội, như Jalaludin Abdur Rahim, một người Bengal có ảnh hưởng tại Pakistan và là cố vấn của Bhutto Tuy nhiên, tình thế chính trị tại Tây Pakistan hoàn toàn khác biệt với Đông Pakistan. Tại Tây Pakistan, dân cư bị phân chia giữa các lực lượng tư tưởng khác biệt. Các đảng cánh hữu dưới sự lãnh đạo của Abul Maududi phát động các khẩu hiệu tôn giáo và ban đầu vận động tranh cử dựa trên nền tảng Hồi giáo, còn hứa hẹn về thi hành luật Sharia trong nước. Trong khi đó, đảng sáng lập Pakistan và có tư tưởng bảo thủ dân tộc là Liên minh Hồi giáo Pakistan, dưới sự lãnh đạo của nhà hoạt động Bengal Nurul Amin, vận động tranh cử dựa trên nền tảng dân tộc chủ nghĩa, hứa hẹn sẽ bắt đầu các cải cách Jinnah giống như hình dung ban đầu của Jinnah và những người khác trong thập niên 1940. Ban lãnh đạo và bản thân Zulfikar Ali Bhutto tích cực cao độ và có ảnh hưởng tại Tây Pakistan trong giai đoạn này, Các ý tưởng xã hội chủ nghĩa của Bhutto cùng khẩu hiệu nổi tiếng "Roti Kapra Aur Makaan" ("thực phẩm, quần áo và nơi ở") thu hút các cộng đồng nghèo, sinh viên, và tầng lớp lao động. Quần chúng xã hội dân chủ, cánh tả, và Marxist tập hợp và thống nhất dưới sự lãnh đạo của Bhutto. Bhutto và những người xã hội-cánh tả kêu gọi nhân dân Tây Pakistan tham dự và bỏ phiếu cho Đảng Nhân dân vì tương lai tốt hơn cho trẻ nhỏ và gia đình của họ. Lần đầu tiên trong lịch sử Pakistan, những người cánh tả và dân chủ xã hội thống nhất dưới quyền lãnh đạo của Zulfikar Ali Bhutto, tham gia tuyển cử với vị thế là một lực lượng mạnh. So với lực lượng cánh hữu và bảo thủ tại Tây Pakistan, Bhutto và các đồng minh của ông giành được hầu hết số phiếu đại chúng, trở thành bên ưu việt trong chính trị Tây Pakistan. == Kết quả == === Bầu cử Quốc hội === Số ghế ở các địa phương của mỗi đảng (trong ngoặc là tỉ lệ số phiếu bầu) === Bầu cử Hội đồng địa phương === Nguồn: G.W.Choudhury (1974), The last days of United Pakistan, trang 128-129 == Chú thích ==
frank lloyd wright.txt
Frank Lloyd Wright sinh ngày 8 tháng 6 năm 1867 – 9 tháng 4 năm 1959) – nhà kiến trúc sư người Mỹ, nhà thiết kế nội thất, nhà văn và nhà giáo dục học, người đã thiết kế hơn 1000 cấu trúc và 532 công trình kiến trúc. Wright cho rằng việc thiết kế các cấu trúc phải dựa trên sự hài hòa giữa con người và môi trường xung quanh, một triết lý mà ông gọi là " kiến trúc hữu cơ". Triết lý này được minh họa bởi thiết kế Thác nước (1935), được coi là: " công trình vĩ đại nhất mọi thời đại của kiến trúc Mỹ". Wright là người dẫn đầu trào lưu kiến trúc Prairie và phát triển khái niệm nhà Usonian, tầm nhìn độc nhất vô nhị của ông về quy hoạch đô thị ở Mỹ. Các công trình của ông bao gồm các ví dụ nguyên bản và các ví dụ cách tân về các loại hình nhà cao tầng gồm: công sở, trường học, nhà thờ, các tòa nhà cao chọc trời, khách sạn và viện bảo tàng. Wright cũng thiết kế rất nhiều yếu tố nội thất cho các tòa nhà của ông, ví dụ như đồ gia dụng và kính màu. Wright không chỉ là tác giả của 20 quyền sách và rất nhiều bài báo mà còn là giảng viên đại học nổi tiếng ở Mỹ và châu Âu thời đó. Đời tư đầy thăng trầm của ông đã từng là giật tít lớn trên các bài báo và đáng chú ý nhất là trận hỏa hoạn năm 1914 và vụ ám sát tại xưởng vẽ Talies. Dù ông đã được nổi tiếng suốt cuộc đời mình, năm 1991, Wright được Viện Kiến trúc sư Mỹ công nhận là kiến trúc sư vĩ đãi nhất mọi thời đại của nước Mĩ" == Tiểu sử == === Thời niên thiếu === Wright sinh ra tại một thị trấn nông nghiệp ở Richland Center, tiểu bang Wisconsin, Mỹ vào ngày 8 tháng 6 năm 1867, và được đặt tên là Frank Lincoln Wright. Cha ông là một nhà diễn thuyết đáng kính ở địa phương, một giáo viên dạy nhạc, một luật sư phụ động (không thường xuyên) và là một mục sư hay đi đó đây. William Wright gặp gỡ và kết hôn với Anna Lloyd Jones, một giáo viên tỉnh lẻ, vào một năm trước khi ông được nhận vào làm thanh tra của các trường trong hạt. Ban đầu, cha ông là một mục sư rửa tội phái Baptist nhưng sau đó ông gia nhập gia đình vợ theo đức tin Unitarian. Anna thuộc dòng dõi lớn, danh giá và giàu có Lloyd Jones, di cư từ xứ Wales sang Spring Green, WiIsconsin. Một trong những người anh của bà là Jenkin Lloyed Jones, người đã trời thành, một trong những nhân vật quan trọng trong việc truyền đạo Unitarian ở miền Tây Hoa Kỳ.Cả cha mẹ Wright đều là những cá nhân bản lĩnh với những sở thích, thú tiêu khiển đi từ tư chất của 2 người và họ đã truyền đạt lại cho ông. Theo tiểu sử của mẹ ông, bà đã rất mong chờ đứa con cả của mình sẽ lớn lên và xây dựng những tòa nhà tuyệtt đẹp. Bà trang hoàng phòng ngủ của ông bằng những bản vẽ của những nhà thờ Anh xé ra từ những tờ tạp chí để nuôi dưỡng hoài bão của đứa trẻ. Gia đình ông chuyển về Weymouth, Massachusetts năm 1870 để William làm mục sư ở một giáo đoàn nhỏ. Năm 1876, Anna viếng thăm triển lãm Centennial ở Philadelphia và thấy các trò chơi trí tuệ khối gỗ xếp hình được trưng bày của Friedrich Wilhelm August Fröbel. Wright rất thích chơi trò chơi khối xếp hình do mẹ ông mua tặng. Trò chơi này bao gồm nhiều khối hình học khác nhau có thể được kết hợp thành nhiều tổ hợp đa dạng để hình thành các tổ hợp không gian ba chiều. Trò chơi này đã đặt nền móng cho quá trình Sau này, Wright đã viết trong hồi ký của mình về ảnh hưởng của trò chơi đó tới quan điểm của ông như sau: " Trong vài năm, tôi ngồi trên bàn nhỏ của trẻ mẫu giáo, và chơi với khối vuông, khối cầu và hình tam giác, những khối hình bằng gỗ cây thích nhẵn đó…tất cả vẫn còn nằm trên những ngón tay tôi đến ngày hôm nay…" Rất nhiều công trình của Wright nổi tiếng do dáng vẻ hình học đặc trưng mà những khối màu gỗ đó thể hiện. Gia đình Wright gặp khó khăn về tài chính và phải quay về Spring Green Wisconsin, nơi dòng dõi Lloyd Jones có thể giúp William cha ông tìm được việc làm. Họ định cư ở Madison, nơi William dạy nhạc và làm thư ký cho một công đồng Unitarian mới thành lập. Mặc dù William là một người cha không gần gũi con nhiều, nhưng ông vẫn chia sẻ tình yêu âm nhạc, đặc biệt là các tác phẩm của Johann Sebastian Bach với các con mình. Vào năm Wright 14 tuổi, cha mẹ ông ly thân. Anna mẹ ông đã không hài lòng một thời gian khi cha ông không có khả năng gánh vác gia đình và đề nghị ông rời khỏi nhà. Vụ ly dị hoàn tất mọi thủ tục năm 1885 sau khi William kiện Anna về việc bà thiếu thốn tình cảm trong việc chăn gối. William rời Wisconsin sau vụ ly dị và Wright tuyên bố rằng ông sẽ không bao giờ gặp lại cha mình nữa. Thời điểm này ông đổi chữ lót từ Lincoln thành Lloyd theo dòng dõi của mẹ ông, Lloyd Jonneses. Với vai trò là người đàn ông duy nhất trong gia đình, Wright gánh vác trọng trách tài chính cho mẹ và 2 người chị em. === Học vấn và quá trình làm việc cho Silsbee (1885–1888) === Wright học ở một trường phổ thông ở Madison nhưng không có bằng chứng nào cho thấy ông đã từng tốt nghiệp. Năm 1886, Ông được nhận vào học và bắt đầu con đường học hành của mình tại trường Đại học Wisconsin như một học sinh đặc biệt, tại đây, ông là thành viên của hội huynh đệ Phi Delta Theta.Ông học các khóa học bán thời gian trong 2 học kỳ và làm việc với giáo sư kỹ thuật dân dụng Allan D. Conover. Năm 1887, ông rời trường mà không nhận bằng (dù vậy, ông được chứng nhận bằng tiến sĩ danh dự ngành Mỹ học từ trường năm 1995) và đến Chicago tìm việc làm. Do vụ hỏa hoạn lớn ở Chicago năm 1971 và sự bùng bổ dân số trong những năm đó, việc công cuộc phát triển cơ sở hạ tầng đang tràn ngập cả thành phố. Ông sau này nhớ lại kể rằng ấn tượng đầu tiên của ông về thành phố Chicago là những khu nhà đầy bụi, cáu bẩn, những con đường đông đúc và kiến trúc đáng thất vọng, nhưng ông rất quyết tâm tìm việc làm. Trong vài ngày, sau khi được phỏng vấn với vài công ty nổi tiếng, ông được nhận vào làm thợ thiết kế cho một công ty kiến trúc của Joseph Lyman Silsbee. Wright đã từng hợp tác trước đó với Silsbee- khi đó là thợ thiết kế và giám sát công trình – trong nhà thờ nhỏ Unity với gia đình Wright ở Spring Green, Wisconsin. Nhưng trong khi làm trong công ty đó, ông Wright còn làm cho 2 dự án gia đình khác: All Souls Church ở Chicago cho chú ông, Jenkin Lloyd Jones, và Hillside Home School I ở Spring Green cho 2 dì của ông. Những thợ thiết kế khác làm cho Silsbee năm 188 còn có các nhà kiến trúc sư sau này như: Cecil Corwin, George W. Maher, và George G. Elmslie. Wright nhanh chóng kết bạn Corwin, người mà ông đã ở cùng cho đến khi ông tìm được một căn nhà ổn định. Trong hồi ký của mình, Wright kể lại ông cũng đã có khoảng thời gian ngắn làm việc cho 1 công sở kiến trúc khác ở Chicago. Cảm thấy bị trả lương không tương xứng cho công việc của mình ở Silsbee (8 đô/ tuần), anh thợ thiết kế trẻ bỏ việc và làm nhà thiết kế cho các công ty Beers, Clay, and Dutton. Tuy nhiên, Wright nhanh chóng tự nhận ra mình không đủ sức với những thiết kế của mình, ông bỏ việc mới và quay về với Joseph Silsbee- lần này, ông được tăng lương. Dù Silsbee khăng khăng bám vào mỗi kiến trúc Victorian và kiến trúc phục hưng, Wright lại thấy các công trình của mình "duyên dáng như tranh vẽ" hơn là hung ác tàn bạo của thời kì đó. Vậy nhưng Wright vẫn khao khát làm việc tiến bộ hơn. Sau gần 1 năm làm cho Silsbee, Wright biết được rằng công ty của Adler & Sullivan đang tìm một người " có thể hoàn thành các bản vẽ nội thất bên trong một tòa giảng đường". Wright thể hiện với họ rằng ông là một người có đủ khả năng và ấn tượng với các của thiết kế trang trí của Louis Sullivan, và trong 2 buổi phỏng vấn ngắn sau đó, ông nói là một người học nghề trong công ty. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Roy R. Behrens: Grant Wood và Frank Lloyd Wright: Phục hưng Gôtic Quỹ Frank Lloyd Wright Trust Bảo tồn Frank Lloyd Wright Giữ Fallingwater Khỏi bị Đổ sập Ủy ban Bảo vệ Tòa nhà Frank Lloyd Wright Frank Lloyd Wright, phim tài liệu tivi bởi Ken Burns
hoàng kiều.txt
Hoàng Kiều (sinh năm 1944 tại Quảng Trị, Việt Nam) là một doanh nhân, tỷ phú người Mỹ gốc Việt. Năm 2017 ông nằm trong Top 400 tỷ phú giàu nhất thế giới theo công bố của Tạp chí Forbes với tài sản 3 tỷ USD. == Xuất thân, đời tư == Hoàng Kiều sinh năm 1944 tại Quảng Trị (Việt Nam) trong một gia đình có truyền thống nho giáo. Tuy ông nội của Hoàng Kiều từng làm việc trong tòa án của Huế trước đây, nhưng do những biến động chính trị thời đó, gia cảnh của Hoàng Kiều rất khó khăn. Năm lên 5 tuổi, Hoàng Kiều được mẹ gửi vào Sài Gòn để chú là nhạc sĩ Hoàng Thi Thơ nuôi dưỡng, rồi theo học ngành kỹ thuật ở một trường đại học. Sau sự kiện 30 tháng 4 năm 1975, ông rời Việt Nam qua sinh sống ở Mỹ. Ông mang quốc tịch Mỹ và thường trú tại thành phố Los Angeles, bang California. Gia đình Hoàng Kiều gần như không có gì khi mới đặt chân đến miền đất mới. Thời điểm Hoàng Kiều qua Mỹ, ông đã có vợ và năm người con. Thông tin về vợ hay các con của Hoàng Kiều không được ông chia sẻ nhiều và là điều bí ẩn đối với giới truyền thông. Vào năm 2014, trong buổi tiệc khai trương Kieu Hoang Winery với sự có mặt của 300 vị khách mời, người ta chứng kiến sự xuất hiện của ông bên cạnh nữ diễn viên người Trung Quốc Lý Băng Băng cùng với 1 phụ nữ xinh đẹp khác. Thông tin từ tờ Napavalley cho biết rằng cô gái trẻ xinh đẹp đó chính là vợ Hoàng Kiều (vợ sau). Tuy nhiên, ông không lên tiếng xác nhận hay phủ định thông tin này. 5 người con của Hoàng Kiều, theo các bạn bè thân thiết của ông cho biết, đều đã trưởng thành và thành đạt. Tháng 12 năm 2016, nhiều trang tin tức báo chí đã đưa thông tin, Hoàng Kiều 72 tuổi được cho là người yêu mới của nữ người mẫu Ngọc Trinh 27 tuổi, sau khi cô chia tay với đại gia Mạnh Bệu trước đó. == Sự nghiệp kinh doanh == Cuộc sống rất khó khăn khi đến Mỹ với chỉ hai bàn tay trắng. Tuy vậy, nhờ có vốn tiếng Anh tốt và các mối quan hệ, Hoàng Kiều đã kiếm được một công việc trong phòng thí nghiệm của công ty Abbott với mức thù lao 1,25 USD/giờ. Đây là bệ đỡ cho ông vươn lên trong con đường sự nghiệp của mình. Năm 1980, Hoàng Kiều rời bỏ cương vị quản lý tại Abbott để thành lập công ty của riêng mình với tên viết tắt là RAAS – hoạt động trong lĩnh vực sản xuất huyết tương y tế, chuyên cung cấp các kháng thể hiếm. Từ đó, việc làm ăn phát đạt đã thúc đẩy ông mở thêm chi nhánh tại Trung Quốc với tên gọi Shanghai RAAS Blood Products vào năm 1988. Ông là Phó chủ tịch Shanghai RAAS Blood Products, nắm giữ 37% cổ phần công ty này tương đương 183.600.000 cổ phiếu. Tài sản của Hoàng Kiều tăng chóng mặt sau khi Shanghai RAAS tiến hành IPO trên sàn chứng khoán Thâm Quyến, Trung Quốc, và sự phát triển mạnh mẽ của ngành dịch vụ chăm sóc y tế. Công ty này cũng thuộc Top 30 công ty sáng tạo thế giới, top 200 doanh nghiệp có doanh thu dưới 1 tỷ USD. Năm 2014, ông tham gia vào lĩnh vực sản xuất rượu vang bằng cách mua lại hãng rượu Michael Mondavi Family. Năm 2015, giới tài chính xôn xao khi Hoàng Kiều bỏ ra 33 triệu USD mua lại villa Hummingbird Nest Ranch, vùng ngoại ô Los Angeles. Ông dự định xây dựng trung tâm chăm sóc sức khỏe tại đây. Tính đến tháng 12 năm 2016 tài sản của tỷ phú này theo thống kê của Forbes có giá trị là 2,9 tỷ USD, nằm trong top 400 tỷ phú giàu nhất thế giới và là người Việt giàu nhất trên thế giới. Tại Việt Nam, cái tên Hoàng Kiều bắt đầu được biết đến nhiều khi đưa Hoa hậu Thế giới 2008 Ksenia Sukhinova và Hoa hậu Trương Tử Lâm đã đến thăm Việt Nam để làm từ thiện trong năm 2009. Ông cũng gây xôn xao khi tuyên bố sẽ đưa cuộc thi Hoa hậu thế giới 2010 tổ chức tại Tiền Giang, thay vì Nha Trang như kế hoạch trước. Tuy nhiên, ý định này của ông đã không thể thành công. Sau đó ông vướng vào kiện tụng khi mua bán đất tại địa điểm dự định tổ chức cuộc thi Hoa hậu ở Tiền Giang, trong vụ kiện này ông chấp nhận bỏ 13 tỉ tiền đặt cọc đất trong số 17 tỉ tiền đất để thoái vốn khỏi Việt Nam. Kể từ đó, Hoàng Kiều gần như biến mất khỏi giới đầu tư tại Việt Nam. == Chú thích == == Liên kết ngoài ==
gustav holst.txt
Gustav Theodore (von) Holst (1874-1934) là nhà soạn nhạc nổi tiếng người Anh. Ông là nhà soạn nhạc sống trong sự chuyển giao âm nhạc giữa Lãng mạn và Hiện đại. Ông là một trong những nhà soạn nhạc Anh xuất sắc nhất. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là bản tổ khúc 7 chương The Planets (Các hành tinh). == Tiểu sử == === Xuất thân, thời thơ ấu và niên thiếu === Gustav Holst sinh vào ngày 21 tháng 9 năm 1874 tại Cheltenham, Anh. Ông là con trai cả của Adolph Holst và Clara Holst. Gia đình nhà Holst có nguồn gốc từ Thụy Điển, tổ tiên của gia đình này từng phục vụ trong triều đình của Nga với tư cách là một nhà soạn nhạc, tuy nhiên sau đó bị thất sủng và bị lưu đày đến tận Đức. Không lâu sau, nhà Holst di cư đến nước Anh. Bà cố nội của Gustav là một diễn viên Tây Ban Nha, lấy một người đàn ông Ireland làm chồng và định cư tại Ireland. Gustav Holst đã chịu cảnh mất mẹ khi mới 8 tuổi. Chị gái của Adolph là Nina có nhiệm vụ trông nom Gustav và một đứa trẻ nữa. Tuy nhiên, bà bị làm cho xao lãng. Trước đây, thời con gái, Nina tỏ ra lãng mạn khi trải những cánh hoa trên con đường mà Franz Liszt đi qua. Lại nói về Gustav. Đây là con người có tuổi thơ bất hạnh. Đôi mắt của cậu rất yếu, thế nhưng không có ai nhận ra rằng cậu cần có kính để đeo. Cậu có hai lá phổi cũng yếu đến nỗi cậu bị bệnh hen, thế nhưng không quan tâm đến điều đó. Chính căn bệnh này đã khiến cậu phải ngừng thở tạm thời khi leo cầu thang. Trong thời niên thiếu, Gustav Holst rất ghét chơi violin, nhưng lại thích piano, nhạc cụ cậu bắt đầu chơi ngay khi chạm vào nó. Vào năm 1885, Adolph Holst tái hôn với Mary Thorley Stone và quyết định gửi đứa con trai Gustav đến Trường Ngữ pháp Cheltenham với hy vọng cậu trở thành một nghệ sĩ piano giỏi. Tuy nhiên, Gustav lại gặp vấn đề vì sức khỏe khi mắc phải bệnh viêm dây thần kinh bàn tay. Điều đó rất tệ bởi mỗi giờ thực hành dài là mỗi giờ học mà Gustav bị quá sức. Khi đã lớn hơn, cậu thử sức tại các cuộc thi piano, nhưng không học bổng nào được trao cho cậu từ Cao đẳng Âm nhạc Hoàng gia và các trường cao đẳng khác ở Luân Đôn. === Khi trưởng thành === ==== Thời sinh viên ==== Gustav Holst được nhận lời mời làm việc chuyên nghiệp đầu tiên vào năm 1893. Holst chơi đàn organ tại làng Wick Rissington. Không lâu sau, chàng trai trẻ trở thành người chơi organ chính, đồng thời trở thành một nhạc trưởng của dàn hợp xướng của một nhà thờ cộng đồng tại Bourton-on-the-Water. Trải nghiệm đó đã giúp cho Holst có kinh nghiệm về hoạt động một dàn hợp xướng. Âm nhạc hợp xướng và truyền thống hợp xướng của Anh đã trở thành một phần không thể thiếu trong sự nghiệp sáng tác của nhà soạn nhạc Anh. Tuy nhiên, sự nghiệp sáng tác của Holst lại không phải là một tác phẩm hợp xướng mà là một vở nhạc kịch. Vở opera Lâu đài Lansdown được người thanh niên Holst viết vào năm 1892. Buổi biểu diễn đầu tiên của tác phẩm thật tuyệt vời khi có cả những nhà phê bình âm nhạc và thính giả chứng kiến thành công của nó. Điều đó đã khiến cha của Gustav, Adolph, cảm thấy kinh ngạc và không ngần ngại đi vay tiền để cậu con trai của ông có thể đi học tại Cao đẳng Âm nhạc Hoàng gia với tư cách là một chiêu sinh bình thường. Tại ngôi trường đó, Gustav Holst học sáng tác với Charles Villiers Stanford. Mặc dù giữa hai thầy trò có những bất đồng, người học trò vẫn kính trọng người thầy, đặc biệt là khi người thầy dạy trò trở thành một nhà phê bình âm nhạc của chính bản thân mình. Có hai ấn tượng lớn ảnh hưởng đến Holst. Thứ nhất là buổi trình diễn Götterdämmerung của Richard Wagner do Gustav Mahler làm nhạc trưởng tại Covent Garden. Ấn tượng đó cộng thêm việc ông có người bạn sinh viên tên Fritz Hart đã khiến Holst trở thành một người hâm mộ của Wagner. Thứ hai, cũng đến từ một nhà soạn nhạc người Đức, là buổi công diễn bản Mass giọng Si thứ của Johann Sebastian Bach vào năm 1893. Ấn tượng của nó lớn đến nỗi nó ảnh hưởng đến cả nhà soạn nhạc người Anh sau này. Quay trở lại chuyện học tập của Holst. Do viêm dây thần kinh ở tay phải, Holst đã vĩnh viễn chia tay việc chơi keyboard. Điều đó bắt buộc chàng sinh viên phải chơi kèn trombone. Nó giúp cho Holst nhiều điều: thu nhập, kinh nghiệm về một dàn nhạc giao hưởng và sức mạnh cho cả lá phổi như Holst nghĩ. Trong tuổi sinh viên, Holst không thể tiêu xài phung phí. Hút thuốc lá hay uống rượu là những điều không có trong suy nghĩ của nhà soạn nhạc này. Chàng trai này cũng đi ăn chay mặc dù điều đó không được khuyến khích. Do điều kiện ăn uống như vậy, đôi mắt đã yếu lại còn yếu hơn và bàn tay thì vẫn đau. Tuy vậy, mọi người vẫn thấy ở con người mảnh khảnh này một sự hấp dẫn. Đây là con người không thích một khuôn mẫu nào mà thích những điều thú vị và hài hước, thích những tiếng cười giòn giã. Không chỉ tiết kiệm trong ăn uống, Holst cũng tiết kiệm trong việc đi lại. Chẳng thế mà anh hay đi bộ hoặc đạp xe từ Cheltenham đến trường. Mỗi khi đi như vậy, Holst xuất hiện với hình ảnh một anh chàng đeo chéo người một chiếc kèn trombone. Năm 1895, Holst cảm thấy bất ngờ khi nhận được học bổng mở cho khóa học sáng tác. Đó là một nguồn tiền quan trọng trong hoàn cảnh tiền anh nhận từ nhà ngày càng ít đi. Tiền phụ cấp của Holst tăng lên 30 bảng Anh nhờ chơi kèn trombone trên bến tàu Brighton và những khu nghỉ mát vào mùa hè. Không lâu sau đó, Holst đã sáng tác vở opera thật sự mang phong cách của bản thân. Dưới sự hướng dẫn của Stanford, chàng sinh viên viết nhạc cho libretto mà Hart là tác giả. Holst có gọi nó là Lệch chất và định trình diễn tại Paris. Nhưng rất tiếc là tác phẩm chưa bao giờ được công diễn. Mùa thu năm 1895, Holst gặp Ralph Vaughan Williams và tình bạn giữa hai người bắt đầu nảy nở. Ngoài việc chơi nhạc cho nhau theo kiểu cứ chơi dù chưa sáng tác xong, họ còn bàn luận đến văn học: thơ của Walt Whitman và các tác phẩm về chủ nghĩa xã hội của William Morris. Gustav Holst có tham gia vào Câu lạc bộ Chủ nghĩa xã hội, Hammersmith. Ở đó, anh nghe Bernard Shaw giảng và trở thành người chỉ huy của Đội hợp xướng Câu lạc bộ Chủ nghĩa xã hội, Hammersmith. Và cũng ở đó, Holst đem lòng yêu Isobel Harrison, người con gái thuyết phục nhà soạn nhạc cạo râu, ăn uống đầy đủ và ăn mặc chỉnh tề. Cũng trong năm 1895 đó, Holst quan tâm đến triết học Hindu và văn học tiếng Phạn. Điều đó đã thúc đẩy Holst đến một sáng tác thánh ca liên quan đến Kinh Vệ Đà. Thất vọng trước những bản dịch sang tiếng Anh cứng nhắc, người thanh niên này tự học tiếng Phạn. Vào năm 1897, Holst có sáng tác tác phẩm Cánh đồng quê mùa đông. ==== Thời gian đầu sau sinh viên (1898-1907) ==== Vào năm 1898, Holst được Đoàn opera Carl Rosa đề nghị chơi kèn trombone cho họ. Vì thế, chàng sinh viên của Cao đẳng Âm nhạc Hoàng gia chia tay ngôi trường của mình một cách tiếc nuối. Tại đoan opera đó, nhà soạn nhạc huấn luyện những ai chơi độc tấu trombone trong các tiết mục mới. Nhừ là một người chơi trombone trong một dàn nhạc giao hưởng, Holst rất hiểu về dàn nhạc. Với tài năng của mình, Holst có thể hòa âm ngay khi viết một tác phẩm cho đối tượng này. Holst bắt đầu viết vở opera tiếp theo có tên là Sita vào năm 1899. Anh đã tốn công sức vì nó cho đến năm 1906. Dù không được trình diễn, Sita cũng để lại cho cha đẻ của nó những bài học lớn. Sáng tác tiếp theo của tác giả này là Giao hưởng Cotswold (1900). Tiếp theo đó nữa là bản Ave Maria, tác phẩm đầu tiên của Holst được đem đi xuất bản. Đến năm 1903, nhà soạn nhạc trẻ viết thêm tác phẩm Indra, một tác phẩm khác thể hiện phong cách Ấn Độ đã ảnh hưởng đến Holst như thế nào. Còn về chuyện đời tư, Holst đã kết hôn với cô bé tóc vàng mà anh gặp năm xưa, Isobel Harrison vào năm 1901. Ngôi nhà đầu tiên của đôi vợ chồng trẻ này nằm ở thị trấn Shepherds Bush. Gustav Holst thừa kế từ người cha Adolph một gia tài nhỏ khi ông này qua đời. Chính vì vậy, người nghệ sĩ này cùng vợ tới Berlin để tận hưởng một kỳ nghỉ ngắn. Sau đó, Holst trở về Luân Đôn, sau đó đi đến quyết định là từ bỏ việc chơi kèn trombone, nhạc cụ đã gắn bó với anh suốt thời sinh viên, để tập trung sáng tác. Nhưng như dân gian Việt Nam có câu "Vạn sự khởi đầu nan", Holst bắt đầu sự nghiệp sáng tác chuyên tâm với những thất bại đầu tiên. Viết nhiều bài hát, thế nhưng Holst đã nhận rất nhiều lời từ chối của các nhà xuất bản. Các bản nhạc này được Isobel sao chép lại, đồng thời cô còn may quần áo cho bạn bè của mình để phụ giúp người chồng của mình trong lúc khó khăn. Trong hoàn cảnh đó, một cái nghề nữa đến với Holst. Đó là trở thành một thầy giáo dạy hát cho Trường Allen James ở Dulwich. Có vai trò trong chuyện này chính là người bạn nghệ sĩ Williams. Từ đây, Holst thể hiện cái tài giảng dạy của mình. Đến năm 1905, Gustav Holst được bổ nhiệm là giám đốc âm nhạc tại Trường nữ sinh thánh Paul, Hammersmith. Đồng thời, cùng năm, Holst được chỉ huy tác phẩm Người thổi kèn trumpet bí ẩn trong sảnh những nữ hoàng. Đây là tác phẩm cuối cùng mà Holst thể hiện sự chịu ảnh hưởng từ Wagner, đơn giản là vì anh đang quan tâm đến những bài dân ca Anh. Sự giản dị của những tác phẩm xa xưa này đã đưa Holst ra khỏi tầm ảnh hưởng của nhà soạn nhạc người Đức, một người luôn tạo cho mình một phong cách hoành tráng. Năm 1906, Holst chịu một thất bại cay đắng khi không trở thành người thắng cuộc trong một cuộc thi sáng tác mang tên Giải thưởng Ricordi. Tác phẩm mà ông đem đi dự thi chính là tác phẩm về người phụ nữ Ấn Độ Sita. Nguyên nhân của vấn đề có thể nằm ở người thầy Stanford. Sự chán nản và làm việc quá sức đã khiến nhà soạn nhạc Anh suy nhược đến mức bác sĩ đi nghỉ một thời gian ở vùng có khí hậu ấm áp. Đó là lý do để Holst đến với Algérie, một quốc gia châu Phi, đến đó, Holst đạp xe đạp trên những sa mạc đầy cát. Một nơi đầy màu sắc như thế đã giúp Holst có cảm hứng sáng tác trở lại và tác phẩm tiếp theo của người đàn ông này, Beni Mora, đã ra đời. Có một nghịch lý ở chỗ đó là khi tác phẩm được trình diễn ở Anh, một nhà phê bình đã nói: "Chúng ta không yêu cầu về những cô gái Biskra đang nhảy múa trong lâu đài Langham", còn nếu như nó được trình diễn tại Paris, Pháp, như lời Williams nói, thì có lẽ Holst đã nổi tiếng sớm hơn 10 năm so với thời điểm trình diễn The Planets. Năm 1907, nhà soạn nhạc trên đã hoàn thành Sita và bắt đầu làm việc với đội hợp xướng thứ nhất của Thánh ca hợp xướng từ kinh Vệ Đà. Holst cũng đang viết bản Rhapsody Somerset. Công việc soạn nhạc của anh đã trở nên dễ dàng hơn khi anh và vợ mình sống ở một ngôi nhà nhỏ ở Richmond. Cứ vào những ngày cuối tuần, họ lai lui tới ngôi nhà nhỏ hai tầng trên đảo Sheppey, một nơi yên bình và dễ chịu. ==== Khoảng thời gian tiếp theo (1908-1929) ==== ===== Trước Thế chiến ===== Trong các năm 1908-1912, Gustav Holst viết 4 bộ thánh ca từ kinh Vệ Đà. Tập tác phẩm này có tên Đám mây đưa tin. Trong mùa hè năm 1911, Holst hướng dẫn Trường Cao đẳng Morley trình diễn vở opera Nữ chúa tiên của Henry Purcell. Holst đã cho phép một số sinh viên sao chép lại tác phẩm này. Do thiếu kinh nghiệm, những con người này đã tốn công sức trong gần 1 năm để hoàn thành công việc. Đối với Holst, trình diễn vở nhạc kịch của nhà soạn nhạc Anh thời Baroque là điều hoàn hảo nhất mà ông từng làm. Năm sau, buổi biểu diễn đầu tiên của Đám mây đưa tin cũng đã diễn ra. Lại thêm một tác phẩm mang phong cách Ấn Độ không mang lại thành công cho Holst, sẽ thất vọng hơn khi chính Holst là người cầm đũa chỉ huy buổi diễn đó. Thế nên, ông cảm thấy phiền muộn và thực hiện một chuyến đi đến Tây Ban Nha với 3 người Balfour Gardiner, Clifford Bax và Arnold Bax. Clifford Bax là người, trong chuyến đi đó, khuyên Holst nên đến với chiêm tinh học. Nghe lời ngươi bạn, sau buổi trình diễn thành công của The Planets, Holst giới thiệu thuật chiêm tinh cho những người bạn của ông, thứ mà ông gọi là "Thay thế cho thú cưng của tôi!". Đến năm tiếp theo, năm 1913, một khu vực mới dành riêng cho âm nhạc thuộc Trường Thánh Paul được mở rộng. Holst được cấp ở đó một phong thử âm thanh rộng rãi để sáng tác. Vào những ngày cuối tuần, ông có dạy ở đó; vào ngày chủ nhật cũng như ngày lễ, ông tập trung vào sáng tác. Tổ khúc Thánh Paul trở thành tác phẩm đầu tiên ông viết ở đây. Cũng ở căn phong đó, Holst tỏ ra quá hưng phấn khi tìm hiểu về những nhà soạn nhạc Anh, những người chuyên viết các tác phẩm thuộc thể loại madrigal. Trong số những người này, Thomas Weelkes trở thành người mà Holst hâm mộ nhất; Holst cũng dành sự yêu quý cho cả William Byrd và Purcell. ===== Trong Thế chiến ===== Năm 1914, Chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Trong thời kỳ đạn lửa khốc liệt đó, Khúc bi ca dành cho hai cựu chiến binh đã được sáng tác bởi Holst. Holst cũng bắt tay vào việc sáng tác tác phẩm nổi tiếng nhất của ông, Các hành tinh. Ông mới chỉ phác thảo một vài đoạn hòa âm trong những ngày nghỉ cuối tuần dài tại ngôi nhà của ông ở Thaxted, thị trấn Essex. Nhà thờ nhỏ tại đây giống như một thánh đường, bên trong là sự rộng rãi và sáng sủa. Holst mơ ước về một lễ hội âm nhạc được tổ chức tại đây. Ông cũng muốn đưa những học sinh của mình về đây. Cuối cùng, giấc mơ của Holst đã thành hiện thực vào năm 1916, có đến 4 ngày nghỉ liên tục để ca hát và vui chơi. Đến năm 1917, nhà soạn nhạc người Anh sáng tác thánh ca về Chúa Jesus dựa trên bộ sách Phúc âm ngụy tác. Để hoàn thành nó, ông đã học tiếng Hy Lạp để hiểu bộ sách và cố gắng giữ tinh thần trong bộ sách đó càng nhiều càng tốt. Ngoài việc sáng tác âm nhạc ra, Holst còn tình nguyện đăng ký tham gia chiến đấu. Tuy nhiên, ông không đủ tiêu chuẩn để được phục vụ trong cuộc chiến, điều này khiến ông không khỏi thất vọng. Nhưng cơ hội đã đến với ông khi YMCA đề bạt ông vào vị trí người tổ chức sự kiện âm nhạc trong công tác giáo dục của tổ chức này cho quân đội vùng cận đông. Holst đã bỏ chữ "von" trong tên của mình đi và đi thuyền đến Salonica sau khi Balfour Gardiner tổ chức một buổi diễn riêng cho Những hành tinh do Adrian Boult. ===== Sau Thế chiến ===== Gustav Holst trở về ngôi nhà của mình vào năm 1919, trở lại làm giảng viên cho Cao đẳng Âm nhạc Hoàng gia. Trở lại phòng thử âm thanh ngày xưa, Holst phổ nhạc cho tác phẩm Khúc tụng ca về cái chết của Walt Whitman cho đội hợp xướng và dàn nhạc giao hưởng. Năm 1920, Holst trình diễn một tác phẩm của mình có tên Tụng ca Chúa Jesus và nó đã đem lại thành công cho ông. Hai năm sau, cuộc sống của ông trở nên dễ chịu hơn. Lần đầu tiên trong đời, thu nhập của ông trên một nghìn bảng Anh một năm. Tuy vậy, ông lại không có thêm tác phẩm lớn nào đem lại thành công vang dội hơn. Đầu năm 1923, một sự cố đã đến với ông. Khi đang chỉ huy một buổi diễn tập, nhà soạn nhạc đã bị trượt chân và đập đầu vào bục giảng. Cú va chạm đó không nặng, nhưng nó lại đến đúng lúc sức khỏe và tinh thần của Holst không được ổn lắm. Chính vì vậy, tổn thương của sự cố này nặng hơn ông nghĩ và mất nhiều năm sau, ông mới hồi phục lại sức khỏe. Trong khoảng thời gian hồi phục sau chấn thương, Holst nhận được lời mời đến nước Mỹ để chỉ huy một liên hoan âm nhạc tại Đại học Michigan, Ann Arbor. Trong cuộc hành trình vượt Đại Tây Dương đó, ông viết tác phẩm Fugal Concerto. Trong khi Holst ở Mỹ, vở opera của ông, Tên khờ dại hoàn hảo, đã được cho trình diễn bởi Nhà hát Opera quốc gia Anh. Ngoại trừ phần âm nhạc dành cho ballet là được ưa thích, phần lớn tác phẩm đều khiến khán giả không hài lòng bởi cốt truyện của nó khó hiểu. Những người đến xem đều yêu cầu trả lại tiền. Ở quê hương, Holst đang dần đánh mất khán giả; nhưng ở Mỹ, ông nhận rất nhiều lời ca ngợi. Tuy vậy, ông vẫn trở về nước Anh. Ông đã được tung hô sau khi Những hành tinh được trình diễn. Tuy nhiên, Holst lại chẳng vui vẻ gì. Tinh thần của ông lúc này rất tệ. Ông mất ngủ thường xuyên. Ông luôn ở trong tình trạng suy sụp thần kinh nghiêm trọng. Rồi một người đàn ông lạ ẩn danh đã tặng ông vài trăm bảng Anh để ông rảnh rỗi hơn để sáng tác trong mỗi đêm. Để giải quyết tình trạng thần kinh không được khỏe, Holst quyết định không dạy học nữa, trở về Thaxted và chỉ đến Luân Đôn mỗi ngày một lần. Khoảng thời gian có vè nghi ngơi đó là 3 tháng. Nhưng thực ra, Holst vẫn không thể ngừng làm việc. Hậu quả là những dây thần kinh của ông càng càng tệ hơn và ông bắt đầu hứng chịu những cơn đau đầu khủng khiếp. Cái đầu của ông yếu đến nỗi dù cho những cơn đau có dịu đi thì ông không thể chịu nổi bất cứ cái gì chạm vào chỗ đó, cho dù đó là đội mũ hay gối đầu lên chiếc gối. Càng tệ hơn khi có thêm những tiếng ồn. Holst luôn bị ác mộng về việc sáng tác không đúng hoặc thiếu ý tưởng. Trước tình hình đó, bác sĩ đã phải khuyên ông nên nghỉ ngơi trong một năm. Sức khỏe yếu đã khiến nhà soạn nhạc giảng rất ít tại Trường Thánh Paul, nơi ông giảng dạy cho đến cuối đời. Holst sống gần một năm ở Thaxted. Nơi đây, ông sống cùng với người đầu bếp, người mà năm xưa làm người chèo thuyền trong quân đội, người phục vụ và người gác rừng. Ông vẫn tiếp tục sáng tác: Giao hưởng hợp xướng và vở opera Trên đầu con lợn rừng. Đến đầu năm 1925, sức khỏe của Holst đã hồi phục, đủ cho ông trở lại Luân Đôn và bước vào luyện tập tác phẩm Trên đầu con lợn rừng. Một lần nữa, ông lại thất bại vì rất nhiều lý do: nó quá láu lỉnh, khán giả cảm giác khó chịu và những diễn viên không đạt tới trình độ cần phải có. Cả Giao hưởng hợp xướng cũng chịu chung số phận trong buổi công diễn đầu tiên. Sự hoang vu, buồn tẻ là cái mà các nhà phê bình chỉ trích, "Holst đã trình diễn một quang cảnh u sầu của sự suy tàn không ngừng và đơn điệu". Holst khong để tâm đến những con người đó, nhưng khi Williams nói rằng ông dành cho nó tình cảm lạnh lẽo, ông lại cảm thấy lo lắng. Sang năm 1926, Holst thuyết trình tại hai trường Đại học Liverpool và Đại học Glasgow. Ông đã có ngôi nhà đẹp tại Thaxted, Brook End, nhưng thỉnh thoảng ông mới về đó. Holst không nghỉ ngơi và không có ý định trở về một ngôi nhà cố định. Ở Luân Đôn, ông cảm thấy thư thái khi đi bộ một mình. Trong năm này, ông vẫn sáng tác. Ông đã thực hiện một chuyến đi bộ trong Dorset, và cảm hứng đã đến để ông viết Sự trở lại của thổ dân. Lại thêm lần mà người ta lại tỏ vẻ không hài lòng về Holst, tuy nhiên ông vẫn giữ sự thản nhiên ở bản thân. Ông cũng chọn thể loại ballet: Con ngỗng vàng và Buổi sáng trong năm. Mùa xuân năm 1927 đến. Có hai tác phẩm của Holst được trình diễn: Rhapsody Somerset và Những hành tinh. Tháng 10 năm đó, ông nhận lời mời của George Bell, tu viện trưởng của Nhà thờ lớn Canterbury, để ông viết nhạc cho vở kịch Sự xuất hiện của Chúa trời. Tiếp theo đó, vào năm 1928, Holst viết Tổ khúc Moorside. Lại đến tháng 3 năm sau, Holst trở về từ chuyến đi nghỉ dài ở nước Ý xinh đẹp để tới Mỹ. Ông là một trong số những vị khách tham dự dịp kỷ niệm lần thứ 21 của Viện Nghệ thuật và Khoa học Mỹ. Ông trở thành đại diện cho nghệ thuật của Anh ở xứ cờ hoa. Holst giảng về "việc giảng dạy nghệ thuật" tại Đại học Yale. Trở về quê hương, ông bắt tay vào viết ca khúc. Ông viết bài hát đầu tiên trong chùm 12 bài Humbert Wolfe, Thành phố Giấc mơ. ==== Cuối sự nghiệp (1930-1934) ==== Năm 1930, Double Concerto của Holst được trình diễn. Nó tạo nên những lời phê bình trái ngược nhau. Tuy nhiên, nhờ nó, Holst được nhận huy chương vàng của Hội yêu nhạc Hoàng gia. Cũng trong năm này, Holst viết vở opera cuối cùng của đời mình, vở opera thứ mười ba mang tên Câu chuyện của học giả lang thang. Ấy là còn chưa kể sự ra đời của tác phẩm Hammersmith. Tiếp theo đó, năm 1931, Choral Fantasia đã gây ấn tượng mạnh mẽ khi là tác phẩm đứng đầu tại Three Choirs Festival. Năm 1932, Holst được mời đi thuyết trình về soạn nhạc tại Đại học Harvard danh tiếng. Khoảng thời gian đó kéo dài đến sáu tháng. Một lần, ông đảm trách một chương trình về chỉ huy và thuyết trình, trò chuyện về nhà soạn nhạc người Áo mà ông ngưỡng mộ, Joseph Haydn, tại thư viện của Hội đồng thành phố Washington. Nhưng ngay lập tức sau đấy, ông phải nhập viện bởi viêm dạ dày xuất huyết, hệ quả của loét tá tràng. Và ông phải nghỉ ngơi trước khi trở về nước Anh. Khi trở về quê nhà, ông uống rất nhiều sữa và đi bộ cũng rất nhiều, như ông nói là nhiều hơn cả ngày xưa. Năm sau, 1933, Holst lại lao đầu vào công việc quen thuộc của mình: sáng tác. Ông viết Lyric Movement cho viola và dàn nhạc. Đồng thời, ông cũng viết Tổ khúc dòng sông xanh tặng những học sinh của Trường Thánh Paul. Cuối năm đó, ông vào nhà an dưỡng và đứng trước hai sự lựa chọn: hoặc tiểu phẫu để chịu sự hạn chế về sau, hoặc đại phẫu để nhận lấy sự tự do. Ông đã lựa chọn một cuộc đại phẫu. Cuộc phẫu thuật này dự định sẽ được tiến hành vào mùa xuân năm sau. Trong những tháng đầu tiên của năm 1934, Holst nghe những bản nhạc của bản thân trên đài phát thanh và bắt tay viết tiếp khúc scherzo mà ông đã phác thảo trong năm trước. Đó là một phần của một bản giao hưởng, tuy nhiên bản giao hưởng đó không được trọn vẹn. === Qua đời === Mặc dù cuộc phẫu thuật cho Holst đã thành công, Holst không thể nào chịu được sự căng thẳng. Ông đã ra đi chỉ 2 ngày sau cuộc phẫu thuật ấy. Đó là ngày 25 tháng 5. Ông mất khi sự sáng tạo mới cũng như thanh thoát và ấm áp đang chảy trong con người ông. Người ta không khỏi băn khoăn liệu với những gì đã làm vào thập niên 1920 và nếu còn được sống thêm, Holst có thể còn làm gì thêm nữa. Sau khi ông qua đời, số lần trình diễn các tác phẩm của Holst ngày càng ít đi. Tuy nhiên, Những hành tinh vẫn có chỗ đứng riêng cho mình. Và tên tuổi của Holst được khẳng định khi đứa con gái của ông, Isobel Holst, cố gắng phổ biến các tác phẩm của cha mình. === Thói quen === Có thể nói thói quen đáng chú ý nhất của Gustav Holst đó là đi bộ. Thời sinh viên ông đi, đến khi đạt tuổi trung niên và về già ông vẫn đi. Thời sinh viên ông đi bộ để tiết kiệm chi phí đi lại. Sau này ông đi bộ để tránh ánh hào quang của danh vọng. Ông đã đi tới Yorkshire, khắp miền quê của Anh, và đi đến nhiều nơi của châu Âu, thậm chí là đến tận những thành phố tận miền đông nam của lục địa già là Istanbul và Athens (trong chiến tranh). Khi thảo luận về liên hoan Whitsuntide, ông đi qua Chichester từ Midhurst, băng qua đồi chăn thả và đến Pulborough trước khi lên tàu trở về Luân Đôn. Mỗi khi đi bộ, ông luôn mang bảng giờ tàu và bảng chi tiết tuyến đường xe bus trong hai túi áo. == Phong cách âm nhạc == Đúng là Holst có đi học âm nhạc tại Cao đẳng Âm nhạc Hoàng gia, nhưng Holst tự học là chủ yếu. Ông học dựa trên kinh nghiệm của bản thân và tư duy sâu sắc. Ông cố gắn tranh đi sự định kiến và ràng buộc. Holst đi theo con đường thực nghiệm của mình, kiên định tìm những âm thanh đúng đắn. Nhà soạn nhạc Anh không chấp nhận sự dễ dãi. Đúng là Holst có suy nghĩ về tôn giáo, có các tác phẩm về tôn giáo, nhưng tôn giáo mà ông hướng đến không thông thường. Cái mà nhà soạn nhạc này tin tưởng đó là khả năng siêu phàm của con người cũng như những hiểu biết sư qua về chiêm tinh. Ông chịu ảnh hưởng lớn từ văn hóa phương Đông, đặc biệt là Đạt-ma và sự tái sinh. Đúng là Holst hết mình vì âm nhạc. Và ông cố gắng hoàn thành bổn phận đáp ứng yêu cầu về thực hành như ông đã suy nghĩ. Ông cũng nghĩ rằng nếu âm nhạc có thể mang đến các lớp học thì hãy mang đến. Holst có một cảm giác dễ dàng khi chuyển các tác phẩm tôn giáo thành các tác phẩm thế tục với một sự nghiêm túc mà chẳng có sự vô lý nào cả. == Tác phẩm == == Chú thích == </references> Boult, Adrian (1973). My Own Trumpet. London: Hamish Hamilton. ISBN 0-241-02445-5. Boult, Adrian (1979). Music and Friends. London: Hamish Hamilton. ISBN 0-241-10178-6. Dickinson, Alan Edgar Frederic; Alan Gibbs (ed) (1995). Holst's Music—A Guide. London: Thames. ISBN 0-905210-45-X. Dickinson, A E F (1957). “Gustav Holst”. Trong Alfred Louis Bacharach (ed). The Music Masters IV: The Twentieth Century. Harmondsworth: Penguin. OCLC 26234192. Gibbs, Alan (2000). Holst Among Friends. London: Thames Publishing. ISBN 978-0-905210-59-9. Holmes, Paul (1998). Holst. Illustrated Lives of the Great Composers. London: Omnibus Press. OCLC 650194212. Holst, Imogen (1969). Gustav Holst . London and New York: Oxford University Press. ISBN 0-19-315417-X. Holst, Imogen (1974). A Thematic Catalogue of Gustav Holst's Music. London: Faber and Faber. ISBN 0-571-10004-X. Holst, Imogen (1980). Holst, Gustavus Theodore von in Sadie, Stanley (ed.):The New Grove Dictionary of Music and Musicians Volume 8. London: Macmillan. ISBN 0-333-23111-2. Holst, Imogen (1981). The Great Composers: Holst . London: Faber and Faber. ISBN 0-571-09967-X. Hughes, Gervase (1960). The Music of Arthur Sullivan. London: Macmillan. OCLC 16739230. Hughes, Gervase; Herbert Van Thal (1971). The Music Lover's Companion. London: Eyre and Spottiswoode. ISBN 0-413-27920-0. Kennedy, Michael (1970). Elgar: Orchestral Music. London: BBC. OCLC 252020259. March, Ivan (ed) (2007). The Penguin Guide to Recorded Classical Music, 2008. London: Penguin. ISBN 0-14-103336-3. Mitchell, Jon C (2001). A Comprehensive Biography of Composer Gustav Holst, with Correspondence and Diary Excerpts. Lewiston, N Y: E Mellen Press. ISBN 0-7734-7522-2. Moore, Jerrold Northrop (1992). Vaughan Williams—A Life in Photographs. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-816296-0. Rodmell, Paul (2002). Charles Villiers Stanford. Aldershot: Scolar Press. ISBN 1-85928-198-2. Rubbra, Edmund; Stephen Lloyd (ed) (1974). Gustav Holst. London: Triad Press. ISBN 0-902070-12-6. Sackville-West, Edward; Desmond Shawe-Taylor (1955). The Record Guide. London: Collins. OCLC 500373060. Short, Michael (1990). Gustav Holst: The Man and his Music. Oxford: Oxford University Press. ISBN 0-19-314154-X. Tippett, Michael (1991). Those Twentieth Century Blues. London: Pimlico. ISBN 0-7126-6059-3. Vaughan Williams, Ralph; Hugh Cobbe (ed) (2008). Letters of Ralph Vaughan Williams. Oxford and New York: Oxford University Press. ISBN 0-19-925797-3. == Liên kết ngoài == The Best of Holst Phương tiện liên quan tới Gustav Holst tại Wikimedia Commons Trích dẫn liên quan tới Gustav Holst tại Wikiquote Free scores by Gustav Holst trong Choral Public Domain Library (ChoralWiki) Nhạc score miễn phí của Gustav Holst tại International Music Score Library Project The Gustav Holst Website (unofficial) Gustav Holst: The Lost Films (BBC production from late 1970s, discovered 2009. Extracts) Turn back, O man (Op. 36a) trên YouTube Live recording by the Choir of Somerville College, Oxford (2012)
tổng thống slovenia.txt
Chức vụ Tổng thống Cộng hòa Slovenia (tiếng Sloveniả: Predsednik Republike Slovenije) được thiết lập ngày 23 tháng 12 năm 1991, khi Quốc hội Slovenia đã thông qua một hiến pháp mới sau khi Slovenia độc lập khỏi Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Liên bang Nam Tư. Mặc dù được hiến pháp Slovenia trao quyền lực hạn chế, trong thực tế, chức vụ này chủ yếu là mang tính nghi lễ. Tổng thống là tổng tư lệnh Các lực lượng vũ trang Slovenia. Văn phòng của Tổng thống là Dinh Tổng thống ở Ljubljana. Tổng thống Slovenia được bầu trực tiếp thông qua chế độ phổ thông đầu phiếu bởi những công dân trong độ tuổi bầu cử và tiến hành bầu cử năm năm một lần. Bất kỳ công dân Slovenia có thể tranh cử chức vụ tổng thống, nhưng chỉ có thể nắm giữ chức vụ này tối đa là hai nhiệm kỳ liên tiếp. == Danh sách tổng thống Slovenia == == Tham khảo ==
cộng hòa ireland.txt
Ireland (phát âm tiếng Việt:Ai-len; phát âm tiếng Anh: /ˈaɪərlənd/; tiếng Ireland: Éire [ˈeːɾʲə] ()), còn gọi là Cộng hòa Ireland, là một quốc gia có chủ quyền tại phía tây bắc của châu Âu, chiếm khoảng 5/6 diện tích đảo Ireland. Thủ đô và thành phố lớn nhất Cộng hòa Ireland là Dublin, thành phố nằm trên phần phía đông của đảo, có dân số vùng đô thị chiếm khoảng một phần ba trong số 4,75 triệu dân toàn quốc. Cộng hòa Ireland có biên giới trên bộ duy nhất với Bắc Ireland thuộc Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland. Bao quanh Cộng hòa Ireland là Đại Tây Dương, trong đó biển Celtic nằm về phía nam, eo biển Saint George nằm về phía đông nam, và biển Ireland nằm về phía đông. Đây là một nước cộng hòa nhất thể, theo thể chế nghị viện. Nhà nước Tự do Ireland được hình thành vào năm 1922 do kết quả từ Hiệp định Anh-Ireland. Ireland có vị thế quốc gia tự trị cho đến khi thông qua hiến pháp mới vào năm 1937, theo đó quốc hiệu là "Ireland" và thực tế trở thành một nước cộng hòa, có một tổng thống dân cử đóng vai trò là nguyên thủ quốc gia. Ireland chính thức được tuyên bố là một nước cộng hòa vào năm 1949. Ireland trở thành một thành viên của Liên Hiệp Quốc vào tháng 12 năm 1955, gia nhập Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) vào năm 1973. Cộng hòa Ireland không có quan hệ chính thức với Bắc Ireland trong hầu hết thời gian của thế kỷ 20, song vào thập niên 1980 và 1990 hai chính phủ Anh Quốc và Ireland làm việc với các phái Bắc Ireland nhằm tìm giải pháp cho xung đột vũ trang tại Bắc Ireland. Kể từ khi ký kết Hiệp định Thứ Sáu Tốt lành vào năm 1998, chính phủ Ireland và cơ quan hành pháp Bắc Ireland hợp tác trong một số lĩnh vực chính sách trong khuôn khổ Hội đồng Bộ trưởng Bắc-Nam. Ireland được xếp vào hàng 25 quốc gia thịnh vượng nhất thế giới theo GDP bình quân, và là quốc gia thịnh vượng thứ mười thế giới theo một xếp hạng vào năm 2015. Sau khi gia nhập EEC, Ireland ban hành một loạt chính sách kinh tế tự do, kết quả là tăng trưởng nhanh chóng. Quốc gia đạt được thịnh vượng đáng kể trong giai đoạn "Con hổ Celtic" 1995-2007. Giai đoạn này bị ngưng lại do khủng hoảng tài chính bắt đầu vào năm 2008, kết hợp với khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, Ireland có nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất Liên minh châu Âu trong năm 2015, và nhanh chóng lại đứng hàng đầu trong các xếp hạng về của cải và phồn vinh quốc tế. Năm 2015, Ireland được xếp đồng hạng sáu (cùng Đức) theo chỉ số phát triển con người của Liên Hiệp Quốc. Ireland cũng đạt thành tích tốt trong một số thước đo như tự do báo chí, tự do kinh tế và tự do dân sự. Ireland là một thành viên của Liên minh châu Âu và là thành viên sáng lập của Ủy hội châu Âu và OECD. Chính phủ Ireland theo chính sách trung lập về quân sự thông qua không liên kết, chính sách này có từ ngay trước Chiến tranh thế giới thứ hai, và Ireland sau đó không gia nhập NATO, song là một thành viên trong chương trình Quan hệ đối tác vì Hòa bình của NATO. == Tên gọi == Hiến pháp Ireland quy định rằng "tên nước là Éire, hoặc Ireland trong tiếng Anh, ". Theo luật thành văn Ireland, Cộng hòa Ireland (hay Poblacht na hÉireann) là "sự miêu tả quốc gia" song không phải là tên gọi chính thức. Miêu tả chính thức này được cung cấp trong Đạo luật Cộng hòa Ireland 1948, theo đó chuyển những nhiệm vụ còn lại của quân chủ cho một tổng thống được bầu cử. Tuy nhiên, tên nước trong tiếng Anh vẫn là Ireland. Một thay đổi về tên nước cần phải có một sửa đổi hiến pháp. Tuy nhiên, tại Anh Quốc, Đạo luật Ireland 1949 quy định rằng Cộng hòa Ireland có thể được sử dụng để chỉ nhà nước Ireland. Mặc dù ban đầu được chính phủ Anh Quốc chấp thuận, song tên gọi Ireland trở thành một nguồn gây tranh chấp giữa hai chính phủ Anh Quốc và Ireland. Những lo ngại này phát sinh do một bộ phận của đảo Ireland thuộc về Anh Quốc và do đó chính phủ Anh Quốc nhận định rằng tên gọi là không thích hợp. Trong một vụ tố tụng vào năm 1989, một đa số trong Tòa án Tối cao Ireland biểu thị quan điểm rằng nhà cầm quyền Ireland không cần phải thi hành trát dẫn độ khi nó đề cập đến quốc gia bằng một tên gọi khác ngoài Ireland (trong trường hợp này các trát đã sử dụng tên gọi Éire). Là một phần trong Hiệp định Thứ sáu Tốt lành 1998, chính phủ Ireland từ bỏ yêu sách quyền tài phán với toàn đảo Ireland. Sau hiệp định, Anh Quốc chấp thuận và sử dụng tên gọi Ireland. Các thuật ngữ Republic of Ireland, the Republic, Southern Ireland hay the South thường được sử dụng khi cần thiết phải phân biệt quốc gia này với đảo hoặc khi thảo luận về Bắc Ireland (the North). Nhiều người Ireland theo chủ nghĩa cộng hòa, và những người khác phản đối phân chia đảo, tránh gọi là quốc gia là Ireland. Họ cho rằng điều đó củng cố phân chia và thúc đẩy nhận thức rằng 'Ireland' và 'tính chất Ireland' bị giới hạn trong nước cộng hòa. Thay vào đó, họ thường gọi quốc gia là "26 hạt" (còn Bắc Ireland là Sáu hạt) hoặc đôi khi là Quốc gia Tự do (ám chỉ quốc gia trước 1937). == Lịch sử == === Phong trào tự quản === Từ khi Đạo luật Liên hiệp có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 1801, cho đến ngày 6 tháng 12 năm 1922, đảo Ireland là bộ phận của Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland. Trong nạn đói lớn từ năm 1845 đến năm 1849, dân số đảo giảm 30% từ mức trên 8 triệu người. Trong đó, một triệu người Ireland thiệt mạng do thiếu ăn và/hoặc dịch bệnh và có thêm 1,5 triệu người khác di cư, hầu hết là đến Hoa Kỳ. Sự kiện này định ra mô hình xuất cư trong một thế kỷ sau, khiến dân số suy giảm liên tục cho đến thập niên 1960. Từ năm 1874, và đặc biệt là dưới quyền Charles Stewart Parnell từ năm 1880, Đảng Nghị viện Ireland trở nên nổi bật. Trước tiên là thông qua kích động về ruộng đất với kết quả là cải cách ruộng đất cho người thuê, và thứ hai là thông qua các nỗ lực nhằm đạt được tự quản thông qua hai dự luật song bất thành. Điều này dẫn đến "thường dân" kiểm soát quốc sự theo Đạo luật Chính quyền địa phương 1898, dù trước đó nằm trong tay các bồi thẩm đoàn Tin Lành chủ yếu là địa chủ. Quyền tự quản dường như là chắc chắn khi Đạo luật Nghị viện 1911 bãi bỏ quyền phủ quyết của Quý tộc viện, và John Redmond đạt được đạo luật tự quản thứ ba vào năm 1914. Tuy nhiên, phong trào liên hiệp phát triển từ năm 1886 trong cộng đồng Tin Lành Ireland thì lo ngại kỳ thị và mất đi các đặc quyền kinh tế và xã hội nếu người Công giáo Ireland giành được quyền lực chính trị thực sự. Vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, chủ nghĩa liên hiệp đặc biệt mạnh tại nhiều nơi thuộc Ulster, là nơi công nghiệp hóa cao hơn phần còn lại của đảo. Tồn tại lo ngại rằng bất kỳ hàng rào thuế quan này cũng sẽ tác động nặng nề đến khu vực. Ngoài ra, cư dân Tin Lành chiếm ưu thế hơn tại Ulster, ở thế đa số tại bốn hạt. Những người liên hiệp trở thành chiễn sĩ nhằm phản đối "áp bức Ulster". Sau khi dự luật tự quản được nghị viện thông qua vào tháng 5 năm 1914, nhằm tránh khởi nghĩa tại Ulster, Thủ tướng Anh H. H. Asquith đưa ra một dự luật sửa đổi, theo đó tạm thời loại trừ Ulster khỏi hiệu lực của dự luật trong thời gian sáu năm. === Các mạng và các bước đi đến độc lập === Việc thi hành đạo luật tự quản bị đình chỉ cho đến sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, làm dịu nguy cơ nội chiến tại Ireland. Với hy vọng đảm bảo thi hành đạo luật khi đại chiến kết thúc bằng cách Ireland tham gia chiến tranh, Redmond và Quân tình nguyện Ireland hỗ trợ Anh và các Đồng Minh. 175.000 người tham gia các trung đoàn Ireland. Phần còn lại trong Quân tình nguyện Ireland phản đối bất kỳ hỗ trợ nào cho Anh, họ phát động khởi nghĩa vũ trang chống Anh cai trị vào dịp Phục sinh năm 1916, cùng với Quân đội Công dân Ireland. Khởi nghĩa bắt đầu vào ngày 24 tháng 4 năm 1916 với tuyên ngôn độc lập. Sau một tuần giao tranh ác liệt chủ yếu tại Dublin, các phiến quân sống sót buộc phải đầu hàng. Đa số bị cầm tù song có 15 tù nhân (gồm hầu hết thủ lĩnh) bị hành quyết vì tội phản quốc đối với Anh. Các sự kiện này cùng với khủng hoảng quân dịch năm 1918 gây tác động sâu sắc, làm thay đổi quan điểm công chúng tại Ireland. Trong tháng 1 năm 1919, các thành viên Sinn Féin thắng đa số ghế sau tổng tuyển cử tháng 12 năm 1918 từ chối nhậm chức tại Thứ dân viện. Thay vào đó, họ lập ra một nghị viện Ireland và đặt tên cho nó là Dáil Éireann. Dáil khóa I này vào tháng 1 năm 1919 ban hành tuyên ngôn độc lập và công bố Cộng hòa Ireland. Tuyên ngôn chủ yếu chủ yếu là lặp lại tuyên ngôn năm 1916, với thêm điều khoản là Ireland không còn là bộ phận của Anh Quốc. Cộng hòa Ireland mới thành lập này chỉ được công nhận quốc tế từ nước Nga Xô viết. Nội các của Cộng hòa Ireland cử một phái đoàn đến Hội nghị hòa bình Paris năm 1919, song không được thừa nhận. Sau chiến tranh độc lập và đình chiến vào tháng 7 năm 1921, các đại biểu của chính phủ Anh và đoàn đại biểu thương lượng Ireland dưới quyền lãnh đạo của Arthur Griffith, Robert Barton và Michael Collins, đàm phán Hiệp định Anh-Ireland tại Luân Đôn từ ngày 11 tháng 10 đến ngày 6 tháng 12 năm 1921. Dáil Éireann khóa II thông qua hiệp định với chênh lệch phiếu thấp. Theo hiệp định, vào ngày 6 tháng 12 năm 1922, toàn đảo Ireland trở thành một quốc gia tự trị mang tên Nhà nước Tự do Ireland (Saorstát Éireann). Chiểu theo Hiến pháp Nhà nước Tự do Ireland, Nghị viện Bắc Ireland lựa chọn rời Nhà nước Tự do Ireland một tháng sau đó và trở về Anh Quốc. Nhà nước Tự do Ireland theo chế độ quân chủ lập hiến, có cùng quân chủ với Anh Quốc và các quốc gia tự trị khác trong Thịnh vượng chung Anh. Quốc gia này có một toàn quyền đại diện cho quân chủ, một nghị viện có hai viện, mội nội các mang tên "hội đồng hành pháp", và một thủ tướng gọi là "chủ tịch hội đồng hành pháp". === Nội chiến Ireland === Nội chiến Ireland là hậu quả từ việc thành lập Nhà nước Tự do Ireland. Lực lượng chống đối hiệp định do Éamon de Valera lãnh đạo phản đối việc chấp thuận hiệp định khiến bãi bỏ Cộng hòa Ireland năm 1919 mà họ từng tuyên thệ trung thành. Họ bác bỏ hầu hết việc quốc gia vẫn là bộ phận của Đế quốc Anh và các thành viên của nghị viện phải tuyên thệ điều mà họ cho là tuyên thệ trung thành với quốc vương của Anh. Lực lượng ủng hộ hiệp định do Michael Collins lãnh đạo, lập luận rằng hiệp định không phải là tự do cuối cùng, song là tự do để đạt được nó. Vào lúc đầu chiến tranh, Quân đội Cộng hòa Ireland (IRA) tách thành hai phái đối lập: IRA ủng hộ hiệp định và IRA phản đối hiệp định. IRA ủng hộ hiệp định giải tán và tham gia Quân đội Quốc gia mới thành lập. Tuy nhiên, do phái IRA phản đối hiệp định thiếu cấu trúc chỉ huy hiệu quả và do lực lượng ủng hộ hiệp ước có chiến thuật phòng thủ trong suốt chiến tranh, Michael Collins và lực lượng của mình có thể gây dựng quân đội gồm hàng chục nghìn cựu chiến binh Thế chiến I, có năng lực áp đảo phái phản đối hiệp định. Anh Quốc cung cấp vũ khí cho phái ủng hộ hiệp định, và đe dọa đưa quân trở lại Nhà nước Tự do Ireland. Do lực lượng phản đối hiệp định thiếu sự ủng hộ quần chúng, và do chính phủ quyết tâm chiến thắng nên lực lượng này thất bại. === Hiến pháp 1937 === Sau trưng cầu dân ý năm vào ngày 29 tháng 12 năm 1937, Hiến pháp Ireland có hiệu lực. Nó thay thế Hiến pháp Nhà nước Tự do Ireland và định quốc hiệu là Ireland, hay Éire trong tiếng Ireland. Điều 2 và 3 trong hiến pháp khẳng định yêu sách lãnh thổ danh nghĩa đối với toàn đảo, nhìn nhận việc phân chia Ireland theo Hiệp định Anh-Ireland năm 1922 là bất hợp pháp. Chính phủ Nhà nước Tự do Ireland cũ tiến hành các bước nhằm bãi bỏ chức vụ toàn quyền vài tháng trước khi hiến pháp mới có hiệu lực. Mặc dù hiến pháp thiết lập chức vụ tổng thống Ireland, song vấn đề Ireland là một quốc gia cộng hòa vẫn còn bỏ ngỏ. Các nhà ngoại giao được ủy nhiệm của quốc vương, song tổng thống thi hành các chức năng nội bộ với vị thế nguyên thủ quốc gia. Chẳng hạn, tổng thống phê chuần các luật mới theo quyền hạn của mình mà không phải chuyển đến Quốc vương George VI. Ireland duy trì trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Liên kết giữa Ireland và Thịnh vượng chung kết thúc khi thông qua Đạo luật Cộng hòa Ireland năm 1948, có hiệu lực từ ngày 18 tháng 4 năm 1949 và tuyên bố rằng nhà nước là một cộng hòa. Ireland không tái gia nhập Thịnh vượng chung khi tổ chức này sau đó cho phép các nước cộng hòa gia nhập. === Lịch sử gần đây === Ireland trở thành một thành viên của Liên Hiệp Quốc vào tháng 12 năm 1955, sau khi từng bị từ chối do có lập trường trung lập và không hỗ trợ Đồng Minh trong Thế chiến II. Vào thời điểm đó, gia nhập Liên Hiệp Quốc liên quan đến cam kết sử dụng vũ lực để ngăn cản xâm lược của một quốc gia chống lại quốc gia khác nếu Liên Hiệp Quốc cho là cần thiết. Người Ireland gia tăng quan tâm đến quyền thành viên của Cộng đồng Kinh tế châu Âu (EEC) trong thập niên 1950, và cân chắc cũng làm thành viên của Khu vực Mậu dịch tự do châu Âu. Do Anh Quốc dự định là thành viên của EEC, Ireland nộp đơn làm thành viên vào tháng 7 năm 1961 do có liên kết kinh tế lớn với Anh Quốc. Tuy nhiên, các thành viên sáng lập của EEC vẫn hoài nghi về năng lực kinh tế, tính trung tập, và chính sách bảo hộ ít hấp dẫn của Ireland. Nhiều nhà kinh tế học và chính trị gia Ireland nhận thấy cần cải cách chính sách kinh tế. Triển vọng làm thành viên EEC trở nên không chắc chắn vào năm 1963 khi Tổng thống Pháp Charles de Gaulle phát biểu rằng Pháp phản đối Anh gia nhập, đồng nghĩa ngừng đàm phán mới mọi ứng cử viên khác. Tuy nhiên, đến năm 1969 người kế nhiệm ông ta là Georges Pompidou không phản đối tư cách thành viên cho Anh và Ireland. Các cuộc đàm phán bắt đầu và Ireland cuối cùng gia nhập EEC vào năm 1973. Khủng hoảng kinh tế vào cuối thập niên 1970 bắt nguồn từ ngân sách chính phủ của đảng Fianna Fáil, bãi bỏ thuế xe, vay mượn quá mức, và bất ổn kinh tế toàn cầu như khủng hoảng dầu mỏ năm 1979. Có các thay đổi đáng kể về chính sách kể từ năm 1989, với cải cách kinh tế, giảm thuế, cải cách phúc lợi, gia tăng cạnh tranh, và cấm chỉ vay mượn để cung cấp cho chi tiêu hiện tại. Chính sách này bắt đầu vào năm 1989–1992 dưới quyền chính phủ Fianna Fáil/Dân chủ Tiến bộ, và tiếp tục dưới thời chính phủ Fianna Fáil/Công đảng và Fine Gael/Công đảng/Dân chủ cánh Tả. Ireland trở thành một trong các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới vào cuối thập niên 1990 và kéo dài cho đến khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007-2008, giai đoạn này được gọi là Con hổ Celtic. Và kể từ năm 2014, Ireland lại đạt được tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ. Trong vấn đề Bắc Ireland, hai chính phủ Anh và Ireland bắt đầu tìm kiếm một giải pháp hòa bình đối với xung đột bạo lực. Một dàn xếp hòa bình cho Bắc Ireland mang tên Hiệp định Thứ sáu Tốt lành được phê chuẩn vào năm 1998 trong các cuộc trưng cầu dân ý trên hai phần của đảo. Theo dàn xếp này, yêu sách lãnh thổ đối với Bắc Ireland trong Hiến pháp Ireland bị loại bỏ. == Địa lý == Cộng hòa Ireland có diện tích 70.273 km2 hoặc 27.133 sq mi, chiếm khoảng 5/6 diện tích đảo Ireland (84.421 km2 hoặc 32.595 sq mi), phần còn lại của đảo là Bắc Ireland. Phía bắc và phía tây của đảo Ireland là Đại Tây Dương, phía đông bắc là eo biển Bắc. Về phía đông, biển Ireland liên kết với Đại Tây Dương qua eo biển St George và biển Celtic về phía tây nam. Cảnh quan phía tây chủ yếu gồm các vách đá, đồi núi gồ ghề. Vùng đất thấp trung tâm được bao phủ bằng các lớp trầm tích băng hà gồm sét và cát, còn có các khu vực đầm lầy rộng và một số hồ. Đỉnh cao nhất là Carrauntoohil (1.038 m hoặc 3.406 ft), nằm trên dãy Macgillycuddy's Reeks thuộc miền tây nam. Sông Shannon bắt nguồn từ vùng đất thấp trung tâm và là sông dài nhất tại Ireland với 386 kilômét hoặc 240 dặm. Bờ biển phía tây gồ ghề hơn so với phía đông, và có nhiều đảo, bán đảo, mũi đất và vịnh. Trước khi những người định cư đầu tiên đến đảo vào khoảng 9.000 năm trước, đất đai trên đảo phần lớn được rừng bao phủ với các loại cây như sồi, tần bì, đu, phỉ, thủy tùng. Nguyên nhân chính khiến rừng bị mất đi trong các thế kỷ tiếp theo được cho là do đầm lầy phát triển và phát quang đất rừng quy mô lớn để thuận tiện cho nông nghiệp. Hiện nay, khoảng 12% diện tích Ireland có rừng bao phủ, đa số đáng kể gồm các đồn điền chủ yếu là tùng bách phi bản địa có mục đích thương mại. Điều kiện đất lý tưởng, lượng mưa lớn và khí hậu ôn hòa khiến Ireland có tốc độ phát triển rừng cao nhất tại châu Âu. Các hàng rào bằng cây là nơi thay thế quan trọng cho môi trường sống đất rừng, cung cấp nơi ẩn náu cho các loài thực vật hoang dã bản địa và nhiều loài côn trùng, chim và thú. Đất nông nghiệp chiếm khoảng 64% tổng diện tích đất. Điều này dẫn đến hạn chế về đất để bảo tồn môi trường sống tự nhiên, đặc biệt là cho các loài thú hoang cỡ lớn có nhu cầu lãnh thổ rộng. Lịch sử sản xuất nông nghiệp lâu dài đi cùng với phương thức nông nghiệp hiện đại, như sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón, tạo áp lực lên đa dạng sinh học. Đại Tây Dương và ảnh hưởng ấm từ Hải lưu Gulf Stream tác động đến mô hình khí hậu tại Ireland. Nhiệt độ khác biệt theo vùng, các vùng miền trung và miền đông có xu hướng cực đoan hơn. Tuy nhiên, do có khí hậu đại dương ôn hòa, nhiệt độ hiếm khi thấp dưới −5 °C (23 °F) vào mùa đông và cao hơn 26 °C (79 °F) vào mùa hè. Nhiệt độ cao kỷ lục tại Ireland là 33,3 °C (91,9 °F) vào năm 1887 tại Lâu đài Kilkenny thuộc Kilkenny, trong khi nhiệt độ thấp kỷ lục là −19,1 °C (−2,4 °F) tại Lâu đài Markree thuộc Sligo. Mưa phổ biến hơn vào mùa đông và ít xuất hiện hơn vào các tháng đầu mùa hè. Khu vực tây nam có mưa nhiều nhất do ảnh hưởng từ gió tây nam, trong khi Dublin có ít mưa nhất. Thời gian nắng nhiều nhất là tại miền đông nam của Ireland. Cực bắc và tây của đảo Ireland là hai trong số các khu vực nhiều gió nhất tại châu Âu, có tiềm năng lớn về năng lượng gió. Ireland thường có từ 1100 đến 1600 giờ nắng mỗi năm, hầu hết các khu vực có trung bình 3,25 đến 3,75 giờ nắng mỗi ngày. Các tháng nhiều nắng nhất là tháng 5 và tháng 6, có trung bình từ 5 đến 6,5 giờ nắng mỗi ngày tại hầu khắp đất nước. Cực đông nam là nơi có nhiều nắng nhất, trung bình có trên 7 giờ nắng mỗi ngày vào đầu mùa hè. Tháng 12 là tháng âm u nhất, có số giờ nắng trung bình dao động từ khoảng 1 giờ ở phía bắc đến gần hai giờ ở cực đông nam. Mùa hè nóng nhất trong 100 năm từ 1881 đến 1980 là năm 1887; 1980 là năm âm u nhất. == Chính trị == Ireland là một nước cộng hòa lập hiến, có hệ thống chính phủ nghị viện. Oireachtas là quốc hội lưỡng viện, bao gồm tổng thống và hai viện: Seanad Éireann (thượng viện) và Dáil Éireann (hạ viện). Áras an Uachtaráin là dinh thự chính thức của tổng thống Ireland, còn nơi họp của Oireachtas là Tòa nhà Leinster tại Dublin. Tổng thống có vai trò là nguyên thủ quốc gia, được bầu ra với nhiệm kỳ bảy năm và có thể tái cử một lần. Tổng thống chủ yếu là nhân vật mang tính tượng trưng, song được giao cho một số quyền lực hiến pháp nhất định theo khuyến nghị của Hội đồng Nhà nước. Chức vụ này có quyền quyết định tuyệt đối trên một số lĩnh vực, như trình một dự luật lên Tòa án Tối cao để phân xử về tính hợp hiến. Michael D. Higgins trở thành tổng thống thứ chín của Ireland vào ngày 11 tháng 11 năm 2011. Taoiseach (thủ tướng) có vai trò là người đứng đầu chính phủ, do tổng thống bổ nhiệm theo đề cử của hạ viện. Hầu hết Taoisigh là thủ lĩnh của chính đảng giành nhiều ghế nhất trong tổng tuyển cử. Việc các liên minh thành lập chính phủ đã trở nên thông thường, do không có chính phủ một đảng nào kể từ năm 1989. Enda Kenny nhậm chức taoiseach vào ngày 9 tháng 3 năm 2011. Seanad gồm có 60 thành viên, 11 người trong đó do Taoiseach chỉ định, sáu người do hai đại học bầu ra, và 43 người do các đại biểu cộng đồng bầu ra dựa theo cơ sở nghề nghiệp. Dáil có 158 thành viên (Teachtaí Dála) được bầu ra để đại diện cho các khu vực bầu cử nhiều đại biểu theo hệ thống đại diện tỷ lệ và phương thức lá phiếu khả nhượng đơn. Chính phủ bị hạn chế trong 15 thành viên theo quy định trong hiến pháp. Trong đó, không có hơn hai thành viên được chọn từ Seanad, và Taoiseach, Tánaiste (phó thủ tướng) và bộ trưởng tài chính cần phải là thành viên của Dáil. Dáil phải bị giải thể trong vòng 5 năm kể từ phiên họp đầu tiên sau cuộc bầu cử trước đó, và tổng tuyển cử các thành viên của Dáil cần phải được tiến hành không chậm hơn 30 ngày sau khi giải thể. Theo Hiến pháp Ireland, các cuộc bầu cử nghị viện cần phải tổ chức ít nhất bảy năm một lần, song các luật có thể áp đặt hạn chế thấp hơn. Ireland là một quốc gia thành viên Liên minh châu Âu từ năm 1973, song lựa chọn duy trì bên ngoài khu vực Schengen. Công dân Anh Quốc có thể tự do nhập cảnh Cộng hòa Ireland mà không cần hộ chiếu do hai bên có biên giới mở. Tuy nhiên, có một số yêu cầu nhận dạng tại sân bay và hải cảng. === Chính quyền địa phương === Đạo luật Chính quyền địa phương 1898 là văn kiện hình thành hệ thống chính quyền địa phương hiện nay, trong khi Tu chính án 23 Hiến pháp vào năm 1999 công nhận hiến pháp đối với đạo luật. 26 hạt truyền thống của Ireland không phải luôn cùng ranh giới với các đơn vị hành chính song về tổng thể chúng được cư dân Ireland sử dụng để làm khung tham chiếu địa lý. Đạo luật Cải cách chính quyền địa phương năm 2014 tạo ra một hệ thống 31 chính quyền địa phương, gồm 26 hội đồng hạt, hai hội đồng thành phố và hạt, ba hội đồng thành phố. Chính quyền địa phương chịu trách nhiệm về các vấn đề như quy hoạch, đường cấp địa phương, vệ sinh và thư viện. Các khu vực bầu cử Dáil tuân theo ranh giới hạt nhiều nhất có thể. Các hạt có dân số lớn có nhiều khu vực bầu cử, song thường không vượt qua ranh giới hạt. Các hạt được nhóm lại thánh tám khu vực, mỗi khu vực có một cơ quan gồm thành viên được ủy nhiệm từ các hội đồng hạt và thành phố trong khu vực. Các khu vực không có bất kỳ vai trò hành pháp trực tiếp này, song chúng phục vụ mục đích kế hoạch, hợp tác và thống kê. === Pháp luật === Ireland có hệ thống pháp luật thông luật, có một hiến pháp thành văn quy định chế độ dân chủ nghị viện. Hệ thống tòa án gồm có tòa án tối cao, tòa án phúc thẩm, tòa án cấp cao, tòa án lưu động và tòa án khu vực, toàn bộ đều áp dụng pháp luật Ireland. Các vụ án nghiêm trọng theo thường lệ cần phải được tổ chức trước một bồi thẩm đoàn. Tòa án cấp cao và tòa án tối cao có thẩm quyền quyết định tình phù hợp của pháp luật và các hoạt động của các thể chế nhà nước khác so với hiến pháp và pháp luật. Ngoại trừ các trường hợp đặc biệt, các phiên tòa phải công khai. Tòa án Hình sự Tư pháp là tòa nhà chính của các phiên tòa hình sự. Garda Síochána na hÉireann (Những người bảo vệ hòa bình của Ireland), thường gọi là Gardaí, là lực lượng cảnh sát dân sự của Cộng hòa Ireland. Lực lượng này chịu trách nhiệm về toàn bộ các khía cạnh kiểm soát dân sự, cả về lãnh thổ và hạ tầng. Hầu hết các thành viên mặc đồng phục thường không mang vũ khí, việc khống chế tiêu chuẩn theo truyền thống được tiến hành chỉ với dùi cui và bình xịt hơi cay. Quân cảnh là một quân đoàn của Lục quân Ireland, chịu trách nhiệm cung cấp nhân viên phục vụ cưỡng chế và cung cấp hiện diện quân cảnh cho các lực lượng khi diễn tập và triển khai. Trong thời chiến, các nhiệm vụ bổ sung bao gồm kiểm soát giao thông để cho đội hình quân sự di chuyển nhanh chóng đến khu vực làm nhiệm vụ. Các vai trò thời chiến khác bao gồm kiểm soát tù binh chiến tranh và nạn dân. Pháp luật công dân của Ireland liên quan đến "đảo Ireland", bao gồm đảo và các vùng biển, do đó mở rộng phạm vi đến Bắc Ireland. Vì thế, bất kỳ ai sinh tại Bắc Ireland và đáp ứng các điều kiện để trở thành công dân Ireland, như có một cha/mẹ là công dân Ireland hoặc Anh hoặc một cha/mẹ được phép cư trú tại Bắc Ireland hoặc Cộng hòa Ireland, có thể thực hiện quyền có quốc tịch Ireland, như có hộ chiếu Ireland. === Quan hệ đối ngoại === Quan hệ đối ngoại chịu tác động lớn từ tư cách thành viên trong Liên minh châu Âu, song các quan hệ song phương với Anh Quốc và Hoa Kỳ cũng quan trọng. Ireland hướng tới độc lập trong chính sách đối ngoại, do đó quốc gia này không phải là thành viên của NATO và có chính sách trung lập quân sự kéo dài. Chính sách này giúp Lực lượng vũ trang Ireland thành công trong các đóng góp về gìn giữ hòa bình trong khuôn khổ Liên Hiệp Quốc từ năm 1960, như trong Xung đột Congo, tại Síp, Liban và Bosnia và Herzegovina.Bản mẫu:Disputed inline Mặc dù trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ hai, song Ireland có hơn 50.000 người tham chiến khi họ đăng lính trong quân đội của Anh. Trong Chiến tranh Lạnh, chính sách quân sự của Ireland tuy bề ngoài là cân bằng song thiên về NATO. Trong Khủng hoảng tên lửa Cuba, Thủ tướng Seán Lemass cho phép khám xét máy bay Cuba và Tiệp Khắc bay qua Shannon và truyền thông tin cho CIA. Hạ tầng hàng không của Ireland được Quân đội Mỹ sử dụng để chuyển quân nhân tham gia xâm chiếm Iraq năm 2003, thông qua sân bay Shannon. Trước đó, sân bay này được sử dụng cho cuộc xâm chiếm Afghanistan năm 2001, cũng như Chiến tranh vùng Vịnh. Từ năm 1999, Ireland là một thành viên trong chương trình Quan hệ đối tác vì Hòa bình của NATO và Hội đồng Quan hệ đối tác châu Âu-Đại Tây Dương của NATO, có mục tiêu tạo sự tin tưởng giữa NATO và các quốc gia khác tại châu Âu và Liên Xô cũ. === Quân sự === Quân đội Ireland gồm có lục quân, hải quân, không quân và lực lượng dự bị; với quy mô nhỏ song được trang bị tốt với gần 10.000 quân nhân chuyên nghiệp và trên 2.000 quân dự bị. Ireland là một quốc gia trung lập, và có quy tắc "ba nấc khóa" trong việc binh sĩ Ireland tham gia tại các vùng xung đột, đó là cần được Liên Hiệp Quốc, hạ viện và chính phủ phê chuẩn. Triển khai thường nhật của lực lượng vũ trang bao gồm hỗ trợ quyền lực dân sự, bảo vệ và tuần tra lãnh hải và EEZ của Ireland, và các sứ mệnh của Liên Hiệp Quốc, Liên minh châu Âu, và Đối tác vì Hòa bình. Đến năm 1996, có hơn 40.000 nhân viên Ireland phục vụ trong các sứ mệnh duy trì hòa bình quốc tế của Liên Hiệp Quốc.Tổng thống là tư lệnh tối cao trên danh nghĩa của các lực lượng vũ trang, song trên thực tế họ theo lệnh Chính phủ thông qua Bộ Quốc phòng. == Kinh tế == === Phát triển === Kinh tế Ireland chuyển đổi kể từ thập niên 1980, từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp trở thành một nền kinh tế trí thức hiện đại tập trung vào các ngành công nghiệp công nghệ cao và dịch vụ. Ireland sử dụng tiền euro vào năm 2002 cùng nhiều quốc gia khác là thành viên Liên minh châu Âu . Quốc gia này dựa nhiều vào đầu tư trực tiếp nước ngoài và thu hút một số tập đoàn đa quốc gia do có lực lượng lao động được giáo dục cao và có mức thuế doanh nghiệp thấp. Các công ty như Intel đầu tư tại Ireland vào cuối thập niên 1980, theo sau là Microsoft và Google. Ireland được xếp hạng 8 trong số các nền kinh tế tự do nhất thế giới theo Chỉ số tự do kinh tế (2016). Xét theo GDP bình quân, Ireland là một trong các quốc gia thịnh vượng nhất của OECD và EU. Tuy nhiên, Ireland xếp hạng dưới trung bình OECD về GNP bình quân. GDP lớn hơn đáng kể so với GNP do có lượng lớn công ty đa quốc gia có trụ sở tại Ireland. Từ đầu thập niên 1990, Cộng hòa Ireland trải qua tăng trưởng kinh tế chưa từng thấy do gia tăng mạnh mẽ trong tiêu dùng, xây dựng và đầu tư, được gọi là giai đoạn Con hổ Celtic. Nhịp độ tăng trưởng chậm lại vào năm 2007 và dẫn đến nổ tung bong bóng bất động sản quy mô lớn vốn đã phát triển trong nhiều năm. Sụt giảm đột ngột giá bất động sản phơi bày tập trung quá độ của nền kinh tế vào xây dựng và góp phần dẫn đến khủng hoảng ngân hàng Ireland. Ireland chính thức bước vào suy thoái trong năm 2008. GNP suy giảm đến 11,3% chỉ trong năm 2009, mức giảm GNP lớn nhất hàng năm kể từ 1950. Ireland chính thức thoát khỏi suy thoái vào năm 2010 nhờ tăng trưởng mạnh mẽ trong xuất khẩu. Tuy nhiên, do gia tăng đáng kể chi phí vay nợ công vì chính phủ đảm bảo nợ ngân hàng tư nhân, chính phủ Ireland chấp thuận một chương trình trợ giúp 85 tỷ euro từ EU, IMF và các khoản vay song phương từ Anh, Thụy Điển và Đan Mạch. Sau ba năm suy thoái, kinh tế tăng trưởng 0,7% trong năm 2011 và 0,9% trong năm 2012. Tỷ lệ thất nghiệp đạt 14,7% vào năm 2012, bao gồm 18,5% trong các tân di dân. Đến tháng 3 năm 2016, tỷ lệ thất nghiệp được tường thuật là 8,6%, giảm từ mức kỷ lục là 15,1% trong tháng 2 năm 2012. Di cư ròng từ Ireland từ năm 2008 đến năm 2013 là 120.100 người, tức khoảng 2,6% tổng dân số theo điều tra năm 2011. Một phần ba số người xuất cư trong độ tuổi 15-24. Năm 2013, Ireland được Forbes mệnh danh là "quốc gia tốt nhất để kinh doanh". Ireland ra khỏi chương trình cứu trợ tài chính của EU-IMF vào ngày 15 tháng 12 năm 2013. === Mậu dịch === Mặc dù các công ty đa quốc gia chi phối lĩnh vực xuất khẩu của Ireland, song xuất khẩu từ các nguồn khác cũng đóng góp đáng kể vào thu nhập quốc dân. Hoạt động của các công ty đa quốc gia đặt tại Ireland khiến nước này nằm vào hàng đứng đầu về xuất khẩu dược phẩm, thiết bị y tế và hàng hóa cùng dịch vụ liên quan đến phầm mềm. Xuất khẩu của Ireland cũng có đóng góp từ các công ty quốc nội lớn (như Ryanair, Kerry Group và Smurfit Kappa Group) và xuất khẩu tài nguyên khoáng sản: Ireland là nước sản xuất kẽm cô lớn thứ bảy, và đứng thứ 12 về chì cô. Ireland cũng có trữ lượng đáng kể về thạch cao, đá vôi, và trên mức độ thấp hơn là đồng, bạc, vàng, barit và dolomit. Các mặt hàng xuất khẩu khác bao gồm nông sản và nhôm. Các mặt hàng nhập khẩu lớn của Ireland gồm thiết bị xử lý dữ liệu, hóa chất, dầu hỏa và sản phẩm dầu hỏa, hàng dệt và quần áo. Dịch vụ tài chính của các công ty đa quốc gia đặt tại Trung tâm Dịch vụ Tài chính Ireland cũng đóng góp cho xuất khẩu của Ireland. Khác biệt giữa xuất khẩu (€89,4 tỷ) và nhập khẩu (€45,5 tỷ) tạo ra thặng dư mậu dịch €43,9 tỷ trong năm 2010, mức thặng dư mậu dịch cao nhất so với GDP trong các thành viên EU. EU là đối tác mậu dịch lớn nhất của Ireland, chiếm 57,9% xuất khẩu và 60,7% nhập khẩu. Anh Quốc là đối tác mậu dịch quan trọng nhất trong EU, chiếm 15,4% xuất khẩu và 32,1% nhập khẩu. Bên ngoài EU, Hoa Kỳ chiếm 23,2% xuất khẩu và 14,1% nhập khẩu vào năm 2010. === Năng lượng === ESB, Ervia và Airtricity là ba nhà cung cấp điện và khí đốt chính tại Ireland. Ireland có 19,82 triệu m³ trữ lượng khí đốt được chứng minh. khai thác khí đốt tự nhiên trước đây diễn ra tại Kinsale Head đến khi mỏ cạn kiệt. Mỏ khí đốt Corrib đi vào hoạt động năm 2013/14. Năm 2012, mỏ Barryroe được xác nhận có trữ lượng 1,6 tỷ thùng khí, với từ 160 đến 600 triệu thùng có thể khai thác. Mỏ có thể cung cấp cho toàn bộ nhu cầu năng lượng của Ireland trong đến 13 năm khi nó được phát triển vào năm 2015/16. Diễn ra các nỗ lực đáng kể nhằm tăng cường sử dụng các dạng năng lượng tái tạo và bền vững tại Ireland, đặc biệt là năng lượng gió, với các trang trại gió 3.000 MW, một số trong đó có mục đích để xuất khẩu. SEAI ước tính rằng 6,5% nhu cầu năng lượng năm 2011 của Ireland được lấy từ các nguồn tái tạo. SEAI cũng báo cáo về gia tăng tính hiệu quả năng lượng tại Ireland khi giảm được 28% khí thải carbon của mỗi hộ gia đình trong giai đoạn 2005-2013. === Giao thông === Ba cảng hàng không chính của Cộng hòa Ireland là Dublin, Shannon và Cork. Đường bay giữa Luân Đôn và Dublin là đường bay quốc tế nhộn nhịp thứ nhì tại châu Âu, với 3,6 triệu lượt người qua lại vào năm 2013 song giảm so với 4,4 triệu lượt người vào năm 2003. Aer Lingus là hãng hàng không quốc gia của Ireland, song Ryanair là hãng hàng không lớn nhất nước. Ryanair là hàng hàng không giá rẻ lớn nhất châu Âu, và lớn thứ hai về lượng hành khách, và lớn nhất thế giới về số lượng hành khách quốc tế (2007). Dịch vụ đường sắt do Iarnród Éireann cung cấp, hãng này vận hành toàn bộ các tuyến đường sắt liên thành thị, đô thị và chở hàng trong nước. Dublin là trung tâm của mạng lưới với hai ga lớn là Heuston và Connolly, liên kết tới các thành thị trong nước. Dịch vụ Enterprise liên kết Dublin với Belfast và do hãng này và Đường sắt Bắc Ireland cùng điều hành. Mạng lưới đường sắt chính của toàn đảo Ireland hoạt động trên khổ 1,6 mét, đây là một điểm độc đáo tại châu Âu. Dublin đang dần cải thiện mạng lưới vận chuyển công cộng, bao gồm DART, Luas, Dublin Bus và dublinbikes. Xa lộ, các quốc lộ chính và quốc lộ phụ nằm dưới quyền quản lý của Cơ quan Đường bộ Quốc gia, còn các đường khu vực và địa phương do nhà đương cục địa phương quản lý. Mạng lưới đường bộ chủ yếu tập trung tại thủ đô, song các xa lộ được kéo dài đến các thành phố khác theo chương trình đầu tư Transport 21, nhờ đó các xa lộ được hoàn thiện liên kết Dublin và một số thành phố lớn khác của Ireland như Cork, Limerick, Waterford và Galway. == Nhân khẩu == Nghiên cứu di truyền học cho thấy những người định cư ban đầu tại Ireland đã di cư từ bán đảo Iberia sau kỷ băng hà gần đây nhất. Sau thời kỳ đồ đá giữa, đồ đá mới, và đồ đồng, các di dân đưa ngôn ngữ và văn hóa Celt đến đảo. Các di dân trong hai thời kỳ sau vẫn được đại diện trong di sản di truyền học của hầu hết người Ireland. Người Ireland được kết hợp từ các nguồn gốc Gael, Norse, Anh Norman, Pháp và Anh Quốc. Dân số Ireland đạt 4.588.252 vào năm 2011, tăng trưởng 8,2% so với năm 2006. Tính đến năm 2011, Ireland có mức sinh cao nhất trong Liên minh châu Âu (16 ca sinh/1.000 người). Năm 2014, 36,3% số ca sinh là của các bà mẹ chưa kết hôn. Mức tăng dân số hàng năm vượt quá 2% trong giai đoạn 2002-2006, do có tỷ lệ cao trong gia tăng tự nhiên và nhập cư. Mức này giảm sút phần nào trong giai đoạn 2006-2011, với mức tăng trung bình hàng năm là 1,6%. Vào thời điểm điều tra nhân khẩu năm 2011, số lượng ngoại kiều được ghi nhận là 544.357, chiếm 12% tổng dân số. Con số này gấp gần 2,5 lần so với số ngoại kiều ghi nhận trong điều tra nhân khẩu năm 2002 (224.261), khi lần đầu có câu hỏi về quốc tịch. Năm nhóm ngoại kiều đông đảo nhất lần lượt là người Ba Lan (122.585), Anh Quốc (112.259), Litva (36.683), Latvia (20.593) và Nigeria (17.642). === Ngôn ngữ === Hiến pháp mô tả tiếng Ireland là "ngôn ngữ quốc gia", song tiếng Anh là ngôn ngữ chiếm ưu thế. Trong điều tra nhân khẩu năm 2006, có 39% cư dân tự nhận có đủ trình độ tiếng Ireland. Tiếng Ireland chỉ giữ vai trò là ngôn ngữ cộng đồng tại một lượng nhỏ các khu vực nông thôn và hầu hết là tại miền tây và miền nam đất nước, gọi chung là Gaeltacht. Ngoại trừ các khu vực Gaeltacht, các biển hiệu giao thông thường ghi song ngữ. Hầu hết thông cáo công cộng và truyền thông in ấn chỉ viết bằng tiếng Anh. Dù nhà nước Ireland về chính thức là song ngữ, song các công dân có thể thường gặp phải khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ công bằng tiếng Ireland và hầu hết xuất bản phẩm của chính phủ không hiện hữu trong cả hai ngôn ngữ. Truyền thông tiếng Ireland bao gồm kênh truyền hình TG4, đài phát thanh RTÉ Raidió na Gaeltachta và báo điện tử Tuairisc.ie. Trong Các lực lượng vũ trang Ireland, toàn bộ các lệnh luyện tập bộ binh và vũ khí đều bằng tiếng Ireland. Do nhập cư nên tiếng Ba Lan trở thành ngôn ngữ được nói phổ biến thứ nhì tại Cộng hòa Ireland sau tiếng Anh, trong khi tiếng Ireland xếp thứ ba. Một vài ngôn ngữ Trung Âu khác (Séc, Hungary và Slovak), và các ngôn ngữ Balt (Litva và Latvia) cũng được nói thường ngày. Các ngôn ngữ khác được nói tại Ireland gồm có tiếng Shelta của người Ireland du cư, và một phương ngữ tiếng Scot được nói bởi một số người Scot Ulster tại Donegal. Hầu hết học sinh trung học lựa chọn học một hoặc hai ngoại ngữ, ngôn ngữ dành cho bằng sơ cấp (Junior Certificate) và bằng tốt nghiệp (Leaving Certificate) gồm có tiếng Pháp, Đức, Ý và Tây Ban Nha; học sinh muốn lấy bằng tốt nghiệp trung học cũng có thể học tiếng Ả Rập, Nhật và Nga. Một số trường trung học có dạy tiếng Hy Lạp cổ đại, Hebrew và Latinh. Học tập tiếng Ireland là điều bắt buộc đối với các học sinh muốn đạt bằng tốt nghiệp, song một số người có thể đủ điều kiện được miễn trong một số hoàn cảnh, như trở ngại học tập hoặc nhập cảnh sau tuổi 11. === Y tế === Ireland sở hữu một trong các hệ thống y tế phát triển nhất thế giới và các chuyên gia y tế được đào tạo với trình độ cao. Y tế tại Ireland được cung cấp từ cả khu vực công và tư. Bộ Y tế chịu trách nhiệm cho việc lập chính sách dịch vụ y tế tổng thể. Mỗi cư dân Ireland có quyền nhận được chăm sóc y tế thông qua hệ thống chăm sóc y tế công cộng, được cấp kinh phí từ tiền thuế. Mỗi cá nhân có thể phải trả một khoản phụ phí cho các chăm sóc y tế nhất định; nó tùy thuộc vào thu nhập, độ tuổi, bệnh tật hoặc tàn tật. Toàn bộ dịch vụ thai sản được cung cấp miễn phí, và cũng áp dụng cho trẻ từ 6 tháng tuổi trở xuống. Chăm sóc cấp cứu phục vụ cho bệnh nhân hiện diện tại một bệnh viện thuộc Cơ quan Cấp cứu, tuy nhiên, khách đến trong tình trạng không khẩn cấp và không được bác sĩ giới thiệu có thể phải trả phí. Bất kỳ ai sở hữu thẻ bảo hiểm y tế châu Âu đều có quyền điều dưỡng và trị bệnh miễn phí trong các giường bệnh công thuộc Cơ quan Dịch vụ Y tế và các bệnh viện tình nguyện. Dịch vụ bệnh nhân ngoại trú cũng được cung cấp miễn phí. Tuy nhiên, đa số bệnh nhân có thu nhập từ trung bình trở lên được yêu cầu trả phí trợ cấp bệnh viện. Bảo hiểm y tế tư nhân hiện hữu đối với người muốn tận dụng nó. Tuổi thọ dự tính trung bình tại Ireland vào năm 2012 là 81 năm (trung bình của OECD vào năm 2012 là 80 năm), với 78,2 năm đối với nam giới và 83,6 năm đối với nữ giới. Ireland có tỷ suất sinh cao nhất EU (16,8 ca sinh trên 1.000 cư dân, so với 10,7 của EU) và có tỷ suất tử vong trẻ sơ sinh rất thấp (3,5 trên 1.000 trẻ). Hệ thống y tế Ireland xếp hạng 13 trong số 34 quốc gia châu Âu vào năm 2012 theo Health Consumer Powerhouse. === Giáo dục === Ireland có ba cấp giáo dục: tiểu học, trung học và đại học. Hệ thống giáo dục phần lớn nằm dưới chỉ đạo của Chính phủ thông qua Bộ Giáo dục và Kỹ năng. Các trường tiểu học và trung học được công nhận cần phải tuân theo chương trình giảng dạy do các cơ quan hữu quan lập ra. Giáo dục là bắt buộc đối với trẻ từ 6 đến 15 tuổi, và toàn bộ trẻ đến tuổi 18 cần phải hoàn thành ba năm đầu trung học, bao gồm một lần kiểm tra chứng chỉ sơ cấp (Junior Certificate). Ireland có khoảng 3.300 trường tiểu học. Đại đa số (92%) nằm dưới sự bảo trợ của Giáo hội Công giáo. Trường học do các tổ chức tôn giáo điều hành, song nhận được kinh phí và được công nhận, và không thể kỳ thị học sinh dựa trên tôn giáo. Tồn tại một hệ thống ưu đãi được phê chuẩn, tại đó học sinh của một tôn giáo cụ thể có thể được tiếp nhận trước học sinh không chia sẻ đặc điểm chung của trường, trong trường hợp chỉ tiêu của trường đã đủ. Bằng tốt nghiệp đạt được sau hai năm học, vào kỳ khảo thí cuối cùng trong hệ thống trung học. Những người có mục đích học tập bậc đại học thường tham gia kỳ thi này, theo đó việc tuyển sinh bậc đại học thường dựa vào kết quả đạt được từ sáu môn có kết quả tốt nhất, dựa trên cơ sở cạnh tranh. Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (PISA) hợp tác với OECD xếp học sinh Ireland là có điểm đọc hiểu cao thứ tư, điểm khoa học cao thứ chín và điểm toán học cao thứ 13 trong số các quốc gia OECD, theo đánh giá năm 2012 của họ Năm 2012, học sinh Ireland 15 tuổi xếp thứ hai về đọc hiểu trong EU. Giáo dục bậc tiểu học, trung học và đại học tại Ireland là miễn phí đối với mọi công dân EU. Tổng cộng, 37% dân số Ireland có bằng đại học hoặc cao đẳng, nằm vào hàng cao nhất trên thế giới. === Tôn giáo === Tự do tôn giáo được quy định trong hiến pháp tại Ireland. Cơ Đốc giáo là tôn giáo chiếm ưu thế, và mặc dù Ireland vẫn là một quốc gia do Công giáo La Mã chi phối, song tỷ lệ người tự nhận là tín đồ giáo phái này giảm nhiều từ 84,2% theo điều tra vào năm 2011 xuống còn 78,3% theo điều tra vào năm 2016. Các kết quả khác trong điều tra năm 2016 là: 4,2% là tín đồ Tin Lành, 1,3% là tín đồ Hồi giáo, và 9,8% không theo tôn giáo. Theo một nghiên cứu của Đại học Georgetown, trước năm 2000 Ireland nằm vào hàng quốc gia có tỷ lệ tham dự Thánh lễ thường lệ cao nhất trong thế giới phương Tây. Tỷ lệ tham dự hàng ngày là 13% vào năm 2006, còn tỷ lệ tham gia hàng tuần giảm từ 81% vào năm 1990 xuống 48% vào năm 2006, song sự suy giảm được tường thuật là ổn định. Năm 2011, theo tường thuật tỷ lệ tham dự Thánh lễ hàng tuần tại Dublin là dưới 18%, và còn thấp hơn trong thế hệ trẻ. Giáo hội Ireland thuộc Anh giáo là giáo phái Cơ Đốc lớn thứ nhì, thành viên của giáo phái này suy giảm trong suốt thế kỷ 20, song lại tăng lên vào đầu thế kỷ 21. Các giáo phái Tin Lành đáng kể là Giáo hội Trưởng Lão và Giáo hội Giám Lý. Các di dân góp phần vào tăng trưởng tín đồ Ấn Độ giáo và Hồi giáo. Xét theo tỷ lệ, Chính Thống giáo và Hồi giáo là các tôn giáo phát triển nhanh nhất. Các thánh bảo trợ của Ireland là Thánh Patrick, Thánh Bridget và Thánh Columba, trong đó chỉ có Thánh Patrick được công nhận phổ biến. Ngày Thánh Patrick được tổ chức vào 17 tháng 3 tại Ireland và hải ngoại với tư cách ngày quốc khánh Ireland, có các cuộc diễu hành và kỷ niệm khác. == Tham khảo == == Xem thêm == Michael Collins == Liên kết ngoài == Áras an Uachtaráin – website chính thức của Tổng thống Ireland Thông tin về Quốc gia Ireland – cổng chính phủ Taoiseach – website chính thức của Thủ tướng Tithe an Oireachtais – website chính thức của Nghị viện Ireland đổi cách gọi tên nước
bishōjo game.txt
Bishōjo game (美少女ゲーム, bishōjo gēmu, tạm dịch là "trò chơi phụ nữ đẹp"), hay gal game (ギャルゲーム, gyaru gēmu, thường đọc ngắn gọn là "galge"), là "một loại trò chơi điện tử Nhật Bản tập trung vào khả năng tương tác với các nhân vật nữ có ngoại hình hấp dẫn theo phong cách anime". Trò chơi này là một nhánh của mô phỏng hẹn hò với mục tiêu hướng tới đối tượng nam giới. Bishōjo games là một sản phẩm giải trí độc đáo và độc quyền của Nhật Bản: chúng hầu như không có loại hình tương tự ở thế giới phương Tây trong ngành công nghiệp trò chơi điện tử, nhưng có nét tương tự như quyển sách Choose Your Own Adventure (một dạng gamebook). Chúng có thị trường tiêu thụ rất rộng ở Nhật: game phổ biến nhất bán được hơn một triệu bản và là nền tảng của phần lớn các PC game ngoại tuyến ở đất nước này. Tuy nhiên, vì sự khác biệt về văn hóa cũng như khả năng cảm nhận, chỉ có một lượng nhỏ trò chơi dạng này được biên dịch hay thương mại hóa ra ngoài khu vực Đông Á. Phân nhánh đáng chú ý của bishōjo games là ren'ai game (thường gọi là "dating sim"), eroge (thường gọi là "hentai game") và visual novel. Ba nhánh này thường có mối quan hệ tương tác qua lai với nhau, nhưng nhận được nhiều đánh giá tích cực nhất là visual novel, nhờ mang những nội dung sâu sắc hơn và có giá trị chơi lại cao. == Lịch sử == === Thập niên 1980 === Bishōjo game bắt đầu xuất hiện ở Nhật Bản trong những ngày đầu dưới dạng trò chơi mini trên máy tính cá nhân (PC), và có thể chơi ngoại tuyến. Trò chơi mang mục đích thương mại đầu tiên ở Nhật xuất hiện vào năm 1982 là Night Life của Koei. Bishōjo game ban đầu không quá phổ biến, được đồ họa giới hạn 16 màu hay thậm chí ít hơn. Thời đó, hầu hết các trò chơi dạng này đều mang mục đích khiêu dâm. Bước ngoặt đáng chú ý của bishōjo game là Tenshitachi không Gogo của Jast, nó mang nhiều tiền tố của game giả lập hẹn hò hiện đại. Một số bishōjo game phiêu lưu đã đạt đến nhiều cải tiến về công nghệ hơn so với các trò chơi trước đó. Bước đầu, nó cũng phần nào cũng mang phong cách nghệ thuật của anime: nhân vật có đôi mắt rất to tuy có mũi và miệng khá nhỏ, nhưng về cơ bản thường có khuôn mặt cân đối, đặc điểm này ngày nay thường thấy trong hầu hết bishōjo game, đặc biệt là visual novel. Trước năm 1985, hầu như toàn bộ nhân vật nữ được thiết kế cân đối như người lớn, và trẻ em thì trông như là một "super deformed" (siêu biến dạng). Một số trò chơi mang các yếu tố bạo lực và cưỡng ép. Nhiều quốc gia đã lên tiếng phê phán Nhật Bản vào năm 1986 khi nước này cho phép phát hành dB-soft của 117, một trò chơi bắt buộc người chơi phải thực hiện các hoạt động cưỡng dâm khi nhập vai (tựa trò chơi bắt nguồn từ số đánh dấu theo luật Nhật Bản đối với tội hãm hiếp). 117 không thực sự là trò chơi đầu tiên thiết kế trên cơ sở này, nhưng nó mang tính bất bình thường quá rõ. Trò chơi thậm chí bị đem ra tranh luận trước Quốc hội Nhật Bản và cuối cùng đã được phép tái phát hành nhưng đã loại bỏ các cảnh gây tranh cãi nhiều nhất. === Thập niên 1990 === Ngành công nghiệp này dần chuyển từ phần cứng do Nhật Bản phát triển độc quyền sang chơi trên hệ điều hành DOS, và cuối cùng là Windows của Microsoft. Trong suốt những năm 90, bishōjo game có một bước phát triển theo hướng từ một trò chơi đòi hỏi các yếu tố công nghệ cao nhất (vì đồ họa 2D của chúng cần chiếm một lượng lớn tài nguyên lưu trữ theo tiêu chuẩn của máy tính) sang thấp nhất (chúng ít khi sử dụng công nghệ đồ họa 3D). Chính vì vậy, hơn hẳn các trò chơi thông thường khác, các nhân viên chủ chốt của những công ty phát triển game dạng này không nhất thiết phải là lập trình viên, mà thường là nhà văn hoặc nghệ sĩ. Vào đầu giai đoạn này, một bầu không khí thù địch với bishōjo game bao trùm khắp Nhật Bản. Năm 1989, tay giết người hàng loạt Tsutomu Miyazaki bị bắt và tiết lộ rằng tên này đang sử dụng manga lolicon, điều này đã gây nên một làn sóng phản đối mạnh mẽ đối với truyện tranh khiêu dâm, otaku và mọi thứ có liên quan. Tháng 11 năm 1991, một sự cố đã xảy ra khi một học sinh trung học lẻn đánh cắp một bishōjo game người lớn mang tựa Saori ~The House of Beautiful Girls~, kết quả là lực lượng cảnh sát bắt đầu gia tăng giám sát các nhà sản xuất và bán lẻ trên toàn quốc. Một số tỉnh bắt đầu phân loại trò chơi như một văn hóa phẩm khiêu dâm và vứt nó ra khỏi kệ. Đối mắt với nguy cơ phải chịu sự kiểm duyệt nếu muốn tồn tại của chính phủ, vào năm 1992, ngành công nghiệp bishōjo game thành lập Computer Software Rinri Kikō (có nghĩa là "Tổ chức Đạo đức của Phần mềm máy tính", thường được viết tắt là EOCS hoặc Sofu rin-), thiết lập các hướng dẫn công nghiệp hóa cho nội dung chấp nhận và đóng gói được. Tổ chức này đã giảm thiểu tối đa các nội dung được xem là "hoang dã nhất" của những năm 1980. Vì thế, mặc dù bị nhiều chỉ trích và tranh cãi bởi sự cải tiến liên tục của công nghệ hóa, những năm 1990 được coi là thập niên bùng nổ của bishōjo game. Tựa game lớn đầu tiên trong những năm này là Tokimeki Memorial. Phát hành vào năm 1994 bởi công ty đang trên bờ vực phá sản là Konami, nó trở thành trò chơi tình yêu thuần khiết và giả lập hẹn hò lớn đầu tiên kể từ Night Life của Koei phát hành trong giai đoạn trước. Năm 1999 đánh dấu một bước đột phá mới cho phân nhánh visual novel khi Kanon được Visual Art's/Key phát hành. Trong khi tựa game này vẫn có nhiều cảnh quan hệ tình dục và chỉ dành cho nam giới, người chơi đã xác định rõ mối quan hệ của họ với các nhân vật nữ chính và "có được những trải nghiệm mới về một tình cảm trong sáng và sự đau khổ đến nghẹn ngào"; phiên bản console trên PlayStation 2 đã cắt bỏ mọi cảnh gợi cảm và bán được tốt hơn so với bản gốc, dẫn viện hai sê-ri anime thành công đã được chuyển thể từ đó, đánh dấu sự khởi đầu của mối liên hệ qua lại giữa anime và visual novel. Một bước ngoặt khác là Dōkyūsei của ELF. Dōkyūsei, có lối chơi liên quan đến việc gặp gỡ các nhân vật nữ và dụ dỗ họ, đã thành lập nền tảng tiêu chuẩn cho thể loại giả lập hẹn hò. Tokimeki Memorial, trò chơi dating sim đầu tiên, có tính năng đồ họa tốt, lồng tiếng đầy đủ và một hệ thống RPG tương tự như cách chơi. Để nhận được nhiều sự đón nhận hơn từ phía khán giả, trò chơi này không chứa đựng các yếu tố khiêu dâm và thay vào đó là tạo ra một bầu không khí "lãng mạn". Sê-ri bishōjo game nổi tiếng Sakura Wars của Sega phát hành lần đầu vào năm 1996 cho hệ máy Sega Saturn, giống như Tokimeki Memorial, nó không chứa đựng các yếu tố khiêu dâm. Tuy nhiên, điểm độc đáo của nó là không chỉ có các yếu tố phiêu lưu mà còn kèm theo cả một hế thống chiến đấu bắt nguồn từ các trò chơi chiến thuật như Tactics Ogre. Từ cuối những năm 90, đã bắt đầu xuất hiện nhiều xu hướng mang tính kể hơn trong các bishōjo game chính thống. Đặc biệt đáng chú ý trong lĩnh vực này là To Heart của Leaf (1997) và Kanon của Key (1999). Mặc dù khả năng tương tác của người chơi ít hơn, nhiều người đã đón nhận chúng chủ yếu là do chất lượng của dòng chữ trên màn hình (xem thêm tại Visual novel#Cánh chơi) và đặc tính của chúng. Cả hai game kể trên đều phát hành lần đầu trên máy tính với những cảnh khiêu dâm, nhưng đã lần lượt loại bỏ những cảnh này trong các phiên bản console tiếp theo. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Insert Credit — Một website tin tức về bishōjo games Freetype — Các bài bình luận về bishōjo game và tải về các phim đoạn mở đầu JAST USA — Giấy phép phân phối bishōjo games bản tiếng Anh Peach Princess — Giấy phép biên dịch bishōjo games J-List — Nhà bán lẻ nổi tiếng của bishōjo games và các sản phẩm khác
amazon.com.txt
Amazon.com, Inc (NASDAQ: AMZN) là một công ty thương mại điện tử đa quốc gia đóng tại Hoa Kỳ. Trụ sở chính tại thành phố Seattle, bang Washington, đây là nhà bán lẻ trực tuyến lớn nhất Hoa Kỳ, với doanh số bán hàng trên mạng Internet gấp gần ba lần so với doanh thu của hãng xếp hạng nhì trong cùng lĩnh vực Staples, Inc tại thời điểm tháng 1 năm 2010. == Lịch sử == Jeff Bezos đã thành lập Amazon.com, Inc vào năm 1994 và đưa nó trực tuyến trong năm 1995. Công ty này ban đầu được đặt tên là Cadabra, Inc, nhưng tên này đã được thay đổi khi người ta phát hiện ra rằng đôi khi mọi người nghe tên là "Cadaver" ("tử thi"). Tên gọi Amazon.com được chọn vì sông Amazon là con sông lớn nhất trên thế giới, và vì vậy tên gợi lên quy mô lớn, và cũng một phần vì nó bắt đầu bằng 'A' và do đó sẽ hiện lên gần đầu danh sách chữ cái. Amazon.com bắt đầu như là một hiệu sách trực tuyến, nhưng nhanh chóng đã đa dạng hoá lĩnh vực bán lẻ của mình, bán cả DVD, CD, tải nhạc MP3, phần mềm máy tính, trò chơi video, hàng điện tử, hàng may mặc, đồ gỗ, thực phẩm, và đồ chơi. Amazon đã thành lập trang web riêng biệt tại Canada, Vương quốc Anh, Đức, Pháp, Nhật Bản và Trung Quốc. Nó cũng cung cấp vận chuyển quốc tế với các nước nhất định cho một số sản phẩm của mình. Một điều tra năm 2009 cho thấy rằng Amazon là trang mạng âm nhạc, nhà bán lẻ video của Anh quốc, và nhà bán lẻ tổng thể thứ ba tại Anh quốc. === Sáp nhập và mua bán === === Đầu tư === === Chi nhánh === == Ban giám đốc == == Đối tác mua bán == == Sản phẩm và dịch vụ == == Chi nhánh == === Amazon Maritime, Inc. === === Audible.com === === Brilliance Audio === === ComiXology === === Goodreads === === Shelfari === === Beijing Century Joyo Courier Services === == Trang web == == Xếp hạng bán hàng Amazon == == Công nghệ của Amazon == == Chiến thuật bán hàng đa tầng == == Lợi nhuận == == Tranh cãi == === Bán hàng và thuế === === Điều kiện làm việc xấu === == Lobby == == Các doanh nghiệp nổi bật do cựu nhân viên sáng lập == == Xem thêm == == Tham khảo == == Đọc thêm == == Liên kết ngoài ==
hệ thống westminster.txt
Hệ thống Westminster là hệ thống nhà nước dân chủ nghị viện theo mô hình chính trị của Vương quốc Anh. Thuật ngữ này xuất phát từ Cung điện Westminster, nơi đặt Nghị viện Anh Hệ thống là một chuỗi quy trình hoạt động của cơ quan lập pháp. Nó được dùng trong các cơ quan lập pháp cấp quốc gia và ở cấp địa thấp hơn ở các quốc gia thuộc Khối thịnh vượng chung hiện nay và trước đây. Đầu tiên, nó được áp dụng cho các tỉnh bang Canada năm 1848 và sáu vùng thuộc địa ở Úc trong những năm 1855 đến 1890. Có một số hệ thống nghị viện khác có các quy trình điều hành khác nhau ít nhiều đối với hệ thống Westminster. == Những nét chính == Mặc dầu có những khác biệt nhỏ giữa các phân nhánh, nhìn chung hệ thống Westminster có những đặc điểm quan trọng sau: Có một nguyên thủ quốc gia có quyền hành pháp trên danh nghĩa hay lý thuyết, và có nhiều quyền bảo lưu khác, nhưng hằng ngày chỉ thực hiện chức năng của một vị thủ lĩnh quốc gia theo nghi thức. Nữ hoàng Anh, Tổng thống của các quốc gia, hoặc thống sứ của các tiểu bang/tỉnh lỵ là những ví dụ điển hình. Người đứng đầu chính phủ (hay đứng đầu hành pháp) là thủ tướng, hay bộ trưởng thứ nhất. Người này được vị đứng đầu nhà nước chính thức chỉ định. Trong thực tế, người đứng đầu nhà nước thường là vị chủ tịch của một chính đảng chiếm nhiều ghế nhất trong nghị viện. Cơ quan hành pháp trong thực tế thường gồm các thành viên trong lập pháp và các thành viên hành pháp có thâm niên trong nội các chính phủ do thủ tướng lãnh đạo. Những thành viên này thực thi quyền hành pháp của mình nhân danh người có quyền hành pháp trên danh nghĩa. Có một nghị viện đối lập (hệ thống đa đảng); Có một cơ quan lập pháp được bầu ra, thường là lưỡng viện, trong đó ít nhất một viện được bầu ra, mặc dầu một số hệ thống độc viện vẫn tồn tại; các thành viên lập pháp thường được bầu theo hạt theo thể thức đầu phiếu đa số tương đối (khác với hệ thống đại diện tỉ lệ phổ biến hơn). có một hạ nghị viện có quyền bãi nhiệm chính phủ bằng cách từ chối ngân sách, thông qua kiến nghị bất tín nhiệm, và tiến tới một cuộc phổ thông đầu phiếu để chọn một chính phủ mới độc lập. một nghị viện có thể bị giải tán và được kêu gọi bầu cử bất cứ lúc nào. có đặc quyền cho phép cơ quan lập pháp thảo luận bất cứ đề tài nào mà không sợ phát sinh những phát biểu hay tài liệu có tính bêu xấu từ đó. văn bản các cuộc họp, thường được gọi là Hansard. Cơ quan lập pháp có khả năng hủy bỏ một số thảo luận trong những văn bản này. == Lưỡng viện và độc viện == Trong hệ thống này, một số thành viên trong nghị viện được bầu thông qua lá phiếu phổ thông, trong khi số khác được chỉ định. Tất cả các nghị viện trên cơ sở Westminster đều có hạ viện có quyền lực tựa như ở Hạ Nghị viện Vương quốc Anh, bao gồm các đại diện địa phương được bầu ra. Đa số có một thượng viện nhỏ hơn có thành viên được chọn bằng nhiều cách: Các thành viên của nội các chính phủ hay thủ tướng (như ở Canada, hay Anh) Bầu cử trực tiếp (Úc) Được bầu thông qua chính quyền địa phương (Ấn Độ) Có tính kế thừa (91 thành viên trong Thượng viện Anh) Ở Anh, hạ viện thật ra là bộ phận lập pháp, trong khi thượng viện thực thi quyền hiến định và hoạt động như một cơ quan tư vấn. Tuy nhiên, ở một số quốc gia dùng hệ thống này, thượng viện đôi khi thực hiện nhiều quyền hơn. == Những quốc gia sử dụng == Danh sách các quốc gia sử dụng ý tưởng hệ thống Westminster: Antigua and Barbuda Australia Bahamas Bangladesh Barbados Belize Bermuda Canada Dominica Grenada Haiti India Ireland Israel Jamaica Nhật Bản Malaysia Malta Mauritius Nauru New Zealand Pakistan Papua New Guinea Saint Kitts and Nevis Saint Lucia Singapore Saint Vincent and the Grenadines Trinidad và Tobago Tuvalu United Kingdom Vanuatu == Xem thêm == Nghị Viện Anh Hiến Chương Magna Carta Dự luật về quyền 1689 Lịch sử của hệ thống nghị viện == Tham khảo == == Thư mục == The English Constitution, Walter Bagehot, 1876. ISBN 0-521-46535-4, ISBN 0-521-46942-2. British Cabinet Government, Simon James, Pub Routledge, 1999. ISBN 0-415-17977-7. Prime Minister & Cabinet Government, Neil MacNaughton, 1999. ISBN 0-340-74759-5. == Liên kết ngoài == The Twilight of Westminster? Electoral Reform & its Consequences, Pippa Norris, 2000.
lý tống.txt
Lý Tống (tên thật Lê Văn Tống) là một phi công hoạt động chính trị người Mỹ gốc Việt có tư tưởng chống cộng sản. == Trước 1975 == Lý Tống sinh ngày 1 tháng 9 năm 1948 tại Thừa Thiên - Huế, Việt Nam và bắt đầu phục vụ trong Không lực Việt Nam Cộng hòa năm 1965. Tháng 4 năm 1975, chiếc A-37 thuộc biên đội Ó Đen do ông lái bị bắn rơi; ông bị giam giữ cải tạo trong vòng 5 năm. Ông vượt ngục bằng đường bộ đến Thái Lan, đi qua Campuchia, rồi xin tị nạn chính trị tại Singapore. Ông đến Hoa Kỳ năm 1984. Sau đó theo học cao học tại Đại học New Orleans. == Những hoạt động sau năm 1975 == Năm 1992, Lý Tống uy hiếp phi công chiếc A310 của Hãng hàng không Quốc gia Việt Nam bay qua Thành phố Hồ Chí Minh rồi thả truyền đơn xuống kêu gọi nhân dân Việt Nam nổi dậy chống lại chính quyền. Lý Tống nhảy dù xuống và bị bao vây bắt giữ, chuyển giao lại cho công an; Lý Tống đã bị cơ quan chức năng Việt Nam bắt và kết án 20 năm tù vì tội cướp máy bay. Tháng 9 năm 1998, chính quyền Việt Nam quyết định tha và trục xuất Lý Tống trong một đợt đặc xá. Năm 1998, Lý Tống đã dùng máy bay, xâm nhập trái phép lãnh thổ Cuba để rải truyền đơn. Ngày 1 tháng 1 năm 2000, Lý Tống bay một chiếc máy bay nhỏ từ Florida sang La Habana, Cuba và thả truyền đơn kêu gọi nhân dân Cuba nổi dậy. Khi bay trở về, ông bị thẩm vấn bởi Cục Di cư và Hải quan Hoa Kỳ nhưng được thả ra trắng án. Lý Tống bị Cục hàng không Liên bang rút giấy phép bay. Sau chuyến này, ông được những người Cuba chống Cộng coi như một "anh hùng". Ngày 7 tháng 11 năm 2000, Lý Tống lại ăn cướp một chiếc máy bay nhỏ tại Thái Lan bay sang Thành phố Hồ Chí Minh, thả hơn 50.000 tờ truyền đơn. Lúc trở về Thái Lan, ông bị bắt giữ và bị tòa án Thái Lan kết án 7 năm tù. Tòa án từ chối dẫn độ Lý Tống về Việt Nam với lý do ông không gây hại cho an ninh Thái Lan. Ngày 24 tháng 8 năm 2008, Lý Tống thuê một chiếc máy bay huấn luyện của Đại Hàn Dân Quốc nhưng bị bắt tại sân bay Seoul khi đang định rải truyền đơn ở CHDCND Triều Tiên. Ngày 19 tháng 7 năm 2010, Lý Tống hóa trang tô son mặc váy đóng giả nữ, lọt vào một buổi biểu diễn ca nhạc của các ca sĩ Việt Nam tại San Jose, trong lúc ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng đang biểu diễn, Lý Tống giả vờ tặng hoa rồi sau đó liên tiếp xịt hơi cay vào mặt Đàm Vĩnh Hưng và đã bị bắt ngay sau đó. Vào lúc 11g ngày 21-7 theo giờ địa phương, khoảng đầu giờ chiều 22-7 giờ Việt Nam, phiên tòa xét xử Lý Tống bắt đầu. == Giam giữ == Lý Tống là Phạm nhân nhiều năm từ năm 1992 đến 1998 tại Trại giam Nam Hà, V26 Bộ Công an (Trại Ba Sao). Tháng 3 năm 2006, Lý Tống bắt đầu tuyệt thực tại nhà tù ở Rayong. Ngày 4 tháng 9 năm 2006, tòa án Thái Lan quyết định dẫn độ Lý Tống về Việt Nam. Quyết định này vấp phải sự phản đối của cộng đồng người Việt chống cộng tại Hoa Kỳ và Canada. Ngày 26 tháng 9 năm 2006, tòa án Thái Lan chấp thuận kháng án từ Lý Tống. Quyết định cuối cùng sẽ được tòa án tối cao Thái Lan quyết định trong vòng 3 tháng. == Ra tù == Tòa phúc thẩm tại Bangkok sáng ngày 3 tháng 4 năm 2007 đã tuyên bố hành động của Lý Tống mang tính chất chính trị chứ không phải là đe dọa an ninh. Và dựa trên một điều luật của Thái Lan không cho dẫn độ những người đối diện cáo buộc chính trị, tòa phúc thẩm từ chối yêu cầu dẫn độ về Việt Nam của tòa sơ thẩm hồi tháng 9 năm 2006. Chánh án Wisarut Sirisingh, người xét xử Lý Tống, đã viết trong phán quyết: "Những gì ông Tống làm không gây ảnh hưởng về an ninh lãnh thổ Việt Nam. Thái Lan không dẫn độ những người đối diện các cáo buộc về chính trị." == Bị bắt tại Hàn Quốc == Ngày 24 tháng 8 năm 2008, Lý Tống thuê một máy bay cùng phi công với mục đích du lịch. Tuy nhiên khi lên cao, ông ta yêu cầu phi công phải bay sang CHDCND Triều Tiên để rải truyền đơn. Lấy lý do máy bay nhỏ, không đủ nhiên liệu để bay đường dài, viên phi công xin hạ cánh để tiếp thêm dầu, đồng thời bí mật phát tín hiệu cấp cứu. Được biết sau khi mãn hạn tù ở Thái, Lý Tống trở về Mỹ và khi Thế vận hội Bắc Kinh khai mạc, ông ta đến Hàn Quốc với ý đồ thuê máy bay để bay đi Bắc Kinh rải truyền đơn nhưng không thuê được. == Câu nói nổi tiếng == == Chú thích == == Liên kết ngoài == Lý Tống nói chuyện trong ngày mà một số người gọi là "ngày dân chủ và nhân quyền cho Việt Nam" Lý Tống nói chuyện trước công chúng, kêu gọi một cuộc "cách mạng đua xe" Vietnam welcomes Thai ruling to extradite US anti-communist Lý Tống bị bắt tại Hàn Quốc Lý Tống xịt hơi cay vào mặt ca sĩ Đàm Vĩnh Hưng
độ âm điện.txt
Độ âm điện của một nguyên tử là khả năng hút electron của nguyên tử đó khi tạo thành liên kết hóa học. Như vậy độ âm điện của nguyên tử nguyên tố càng lớn thì tính phi kim nguyên tố đó càng mạnh và ngược lại, độ âm điện của nguyên tử nguyên tố càng nhỏ thì tính kim loại càng mạnh. Trong hóa học có nhiều thang độ âm điện khác nhau, tuy nhiên phổ biến hơn cả là thang độ âm điện Pauling do nhà hóa học Linus Pauling thiết lập năm 1932: == Sự biến đổi độ âm điện == Trong một chu kì theo chiều tăng dần của điện tích hạt nhân (từ trái qua phải), độ âm điện của nguyên tử các nguyên tố thường tăng dần. Trong cùng một nhóm (từ trên xuống dưới) theo chiều tăng của điện tích hạt nhân, độ âm điện của nguyên tử các nguyên tố thường giảm dần. Vậy độ âm điện của nguyên tử nguyên tố A biến đổi tuần hoàn theo chiều tăng của điện tích hạt nhân nguyên tử. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Electronegativity (Physics) tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh) Chemical bonding (Chemistry): Electronegativity tại Encyclopædia Britannica (tiếng Anh)
người brâu.txt
Người Brâu (còn gọi là người Brạo) là một dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu tại Campuchia, Lào và một ít tại Việt Nam. Tiếng Brâu là một ngôn ngữ trong ngữ tộc Môn-Khmer. Tại Việt Nam, người Brâu được công nhận là một trong 54 dân tộc Việt Nam. Theo điều tra dân số năm 1999 thì người Brâu, cùng với người Ơ Đu, là một trong những tộc người ít dân nhất hiện nay ở Việt Nam, chỉ với 313 người, còn theo ước tính năm 2006 thì có 84 hộ với dân số 322 người, sống tập trung ở làng Đăk Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum, thuộc Tây Nguyên. == Dân số == Chưa thấy số liệu chính thức mới nhất về dân số tại Lào và Campuchia (cập nhật thống kê dân số Campuchia 2008 sẽ có vào tháng 9 năm 2009). Theo các nguồn khác nhau thì dân số người Brâu tại Campuchia khoảng 14.000 người, tại Lào khoảng 13.000 người tới 24.000+ người Tại Việt Nam từ năm 1981 trở lại đây thì dân số người Brâu dao động trong khoảng 300 người. Cụ thể như sau: Năm 1981 có 282 người Năm 1989 có khoảng 231 người Năm 1994 có 231 người Đầu năm 1996 có 254 người sống trong huyện Ngọc Hồi, riêng xã Bờ Y có 253 người Theo Tổng điều tra dân số ngày 1 tháng 4 năm 1999, có 313 người Brâu, 155 nam, 158 nữ. Ở tỉnh Kon Tum và cả Tây Nguyên có 298 người. Ngoài ra ở các tỉnh Thái Nguyên, Tuyên Quang và Lai Châu, mỗi tỉnh có 1 người, ở tỉnh Bình Phước có 2 người, ở đồng bằng sông Cửu Long có 10 người. Năm 2006 có 322 người. Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, người Brâu ở Việt Nam có dân số 397 người, cư trú tại 7 trên tổng số 63 tỉnh, thành phố. Người Brâu cư trú tập trung tại các tỉnh: Kon Tum (379 người, chiếm 95,5% tổng số người Brâu tại Việt Nam), thành phố Hồ Chí Minh (12 người, chiếm 3,0% tổng số người Brâu tại Việt Nam) == Cuộc sống == Người Brâu vốn ở vùng nam Lào và đông bắc Campuchia, mới nhập cư vào Việt Nam khoảng 4-5 đời nay. Người Brâu vốn quen với cuộc sống du canh du cư, đốt rừng làm rẫy để trồng các loại lúa, ngô, sắn, sử dụng các công cụ sản xuất thô sơ như rìu, rựa và chiếc gậy chọc lỗ tra hạt. Với kỹ thuật trồng trọt này, năng suất cây trồng đạt được thấp. == Văn hóa == Tộc người này có truyền thống văn hóa độc đáo, dù kỹ thuật nông nghiệp còn lạc hậu. Văn hóa của người Brâu thể hiện ở các phong tục như hôn nhân, ma chay; ở nghệ thuật âm nhạc độc đáo, thể hiện qua các loại nhạc cụ, dân ca; ở các kiến trúc và trang phục riêng và ở các sinh hoạt văn hóa truyền thống như thả diều, đi cà kheo, đánh phết. === Phong tục === Trong phong tục hôn nhân, nhà trai tổ chức hỏi vợ phải nộp lễ vật cho nhà gái. Đám cưới được tiến hành tại nhà gái, và chàng rể phải ở lại nhà vợ khoảng 2 đến 3 năm rồi mới được làm lễ đưa vợ về ở hẳn nhà mình. Trong phong tục ma chay, người chết được đưa ra khỏi nhà, cho vào quan tài độc mộc và quàn tại một căn nhà riêng do dân làng dựng lên. Mọi người đến chia buồn, gõ chiêng cồng, mấy ngày sau mới mai táng. Những ché, gùi, dao, rìu... được bỏ lại trong nhà mồ được coi là số của cải gia đình dành cho người đã mất. === Âm nhạc === Các nhạc cụ cổ truyền của dân tộc Brâu có cồng và chiêng gồm nhiều loại khác nhau. Đặc biệt có bộ chiêng tha (chỉ gồm hai chiếc) nhưng có thể trị giá từ 30 đến 50 con trâu. Chiêng tha, gồm chiêng vợ và chiêng chồng, là một biểu tượng tinh thần, quyền uy tối linh trong đời sống cộng đồng thông qua sinh hoạt lễ hội. Đó là "vật chủ" thông linh giữa thế giới phàm tục của con người và thế giới các thần trên cao, nên nó được ký thác chức năng phán truyền. Do đố bộ chiêng được đặt ở vị trí trang trọng không chỉ lúc diễn xướng mà cả khi cất giữ. Các thiếu nữ thường chơi krông pút là nhạc cụ gồm 5-7 ống lồ ô dài ngắn không đều nhau đem ghép với nhau, tạo âm thanh bằng đôi bàn tay vỗ vào nhau ngoài miệng ống. Khi ru con hoặc trong đám cưới, người Brâu có những điệu dân ca thích hợp. === Kiến trúc === Nhà của người Brâu có những đặc điểm rất dễ nhận, ít thấy ở nhà những dân tộc khác. Nhà của họ là kiểu nhà sàn, mái dốc, cạnh nhà chính có nhà phụ là nơi ở của những người già và cất giữ lương thực, đồ dùng Trước hết, người Brâu rất chú trọng làm đến việc làm đẹp cho ngôi nhà. Điều này được thể hiện ở các kiểu "sừng đầu đốc". Chỉ trong một làng nhỏ có thể thấy nhiều kiểu khác nhau. Chạy dọc theo sống nóc, người ta còn dựng một dải trang trí không chỉ đẹp mà còn rất độc đáo. Bộ khung nhà với vì kèo đơn giản, vách che nghiêng theo thế "thượng khách hạ chủ". Cách bố trí trên mặt bằng sinh hoạt: vào nhà từ phía đầu hồi. Thang bắc lên một gian hồi để trống rồi mới vào nhà. Cách bố trí trên mặt sàn của gian hồi này cũng rất đặc biệt. Mặt sàn chia làm ba phần với các độ chênh khác nhau. Trong nhà chia đôi theo chiều dọc, nửa về bên trái, một phần dành cho con gái, còn lại là nơi sinh hoạt của con trai về ban ngày vì đêm họ ra ngủ tại nhà rông. Còn nửa kia đặt bếp. === Trang phục === Người Brâu có trang phục đơn giản nhưng vẫn thể hiện cá tính trong tạo hình và trang trí. Nam giới ở trần, đóng khố. Đến khoảng 14 đến 16 tuổi, con trai Brâu phải cưa bốn răng cửa hàm trên, và thường xăm mặt, xăm mình. Phụ nữ để tóc dài hoặc cắt ngắn, đeo nhiều vòng trang sức (chuỗi hạt cườm ngũ sắc, hoặc vòng đồng, bạc) ở tay chân và cổ. Trước đây, phụ nữ để mình trần, mặc váy hở, quấn quanh thân. Thân váy được xử lý mỹ thuật ở phần đầu váy và chân váy với lối đáp các miếng vải khác màu có các sọc đen ngang đơn giản chạy ngang. Mùa lạnh họ mang chiếc áo chui đầu, cộc tay, khoét cổ. Đây là loại áo ngắn thân thẳng, tổng thể áo có hình gần vuông. Thân áo phía mặt trước và sau được xử lý mỹ thuật cũng theo nguyên tắc như váy. Toàn bộ thân trước màu sáng có đường viền đậm trên vai và gấu áo. Lưng áo được xử lý màu sáng có sọc ngang đơn giản nửa phía dưới áo. == Ghi chú == == Liên kết ngoài == Người Brâu Bài này được thu thập từ trang thuộc phạm vi công cộng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Người Brâu trên mạng của Ủy ban Dân tộc Việt Nam
lý nhân.txt
Lý Nhân là một huyện thuộc tỉnh Hà Nam. Lý Nhân nằm ở phía đông tỉnh Hà Nam, trên hữu ngạn sông Hồng. phía bắc giáp với thành phố Hưng Yên, phía đông bắc giáp huyện Tiên Lữ (đều thuộc tỉnh Hưng Yên) với sông Hồng là ranh giới tự nhiên. phía tây và tây bắc giáp huyện Duy Tiên, với sông Châu Giang làm đường phân ranh giới. phía tây nam và nam tiếp giáp với huyện Bình Lục (cùng tỉnh) và phía nam giáp với huyện Mỹ Lộc (tỉnh Nam Định), cũng với sông Châu Giang làm đường phân ranh giới tự nhiên. Ở phía đông, đối diện với các huyện Hưng Hà và Vũ Thư thuộc tỉnh Thái Bình nằm bên tả ngạn sông Hồng. Lý Nhân là nơi giàu truyền thống văn hóa cũng như lịch sử. Chính tại nơi đây đã phát hiện được trống đồng cổ, còn nguyên vẹn và có nhiều giá trị nghệ thuật nhất , thuộc văn hóa Đông Sơn - đó là trống đồng Ngọc Lũ. Được phát hiện ở xã Như Trác năm 1893-1894, nhưng được đem tặng cho xã Ngọc Lũ huyện Bình Lục nên có tên là trống đồng Ngọc Lũ, nơi đây cũng là nơi phát hiện cuốn sách đồng cổ nhất Việt Nam, hiện nay nó vẫn đang được lưu giữ ở nơi đã tìm ra nó ở thôn Văn An xã Bắc Lý. == Lịch sử == Sự hình thành và phát triển huyện Lý Nhân Lý Nhân là vùng đất được hình thành từ rất sớm, ngay từ những buổi đầu dựng nước Văn Lang. Theo các dấu tích lịch sử, các thần tích, ngọc phả…cũng lưu giữ ở các đình đền trong huyện và các truyền thuyết trong dân gian, vào khoảng hơn 2000 năm trước Công nguyên đã có một bộ phận người Việt cổ từ thượng lưu sông Hồng xuôi về hạ lưu, cư trú trên các đồi đất cao ven sông, hình thành các vùng dân cư, trong đó có miền quê Lý Nhân ngày nay. Dưới thời Văn Lang, Lý Nhân thuộc bộ Giao Chỉ, sau này thuộc huyện Chu Diên, quận Vũ Bình, bộ Giao Chỉ. Thời Lý, Trần thuộc châu Lỵ Nhân, lộ Đông Đô nay thuộc Hà Nội. Thời Lê Sơ, năm Quang Thuận thứ 7 (1466), Lê Thánh Tông chia nước ta thành 12 đạo Thừa Tuyên, Sơn Nam Thượng, đồng thời cho đổi tên huyện Lý Nhân thành huyện Nam Xương (đọc chệch là Nam Xang) cho khỏi trùng với phủ Lỵ Nhân. Huyện lị trước đây đặt ở Chi Long đến 1829 mới chuyển về Nga Thượng, Nga Khê nay thuộc xã Nguyên Lý. Năm 1832 huyện Nam Xương và Bình Lục được tách khỏi phủ Lỵ Nhân để thành lập phủ Lý Nhân thuộc tỉnh Hà Nội (tỉnh Hà Nội được thành lập năm 1831). Ngày 21 tháng 3 năm Thành Thái thứ 2 (1890) huyện Nam Xang cùng huyện Bình Lục, Thanh Liêm lập thành phủ Liêm Bình, thuộc tỉnh Nam Định. Cuối năm 1890, chính quyền thực dân Pháp phân chia lại các đơn vị hành chính, bỏ cấp phủ thành lập các tỉnh mới thì Phủ Lý Nhân được tách khỏi tỉnh Hà Nội và sát nhập thêm mấy tổng của Nam Định, thành lập tỉnh Hà Nam (20/10/1890). Huyện Nam Xang tách khỏi Nam Định trở về với Hà Nam. Ngày 31/3/1923, huyện Nam Xang được lấy tên cũ là Lý Nhân. Trải qua quá trình phát triển hàng nghìn năm huyện Lý Nhân đã có những đóng góp không nhỏ đến quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc. Trong kháng chiến chống thực dân Pháp giai đoạn 1946 – 1954, cùng với cả nước nhân dân huyện Lý Nhân đã tiến hành kháng chiến chống thực dân Pháp giải phóng quê hương góp phần giải phóng đất nước. == Phát triển kinh tế xã hội == Năm 1975- 1985, Đảng bộ huyện Lý Nhân lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội và bảo vệ tổ quốc. Tập trung đẩy mạnh sản xuất lúa, rau để có nhiều lương thực đảm bảo yêu cầu cải thiện đời sống nhân dân và đóng góp với nhà nước. Ra sức phát triển mạnh chăn nuôi lợn, cá vịt, trâu, bò nhằm đưa chăn nuôi lên ngành sản xuất chính và phát triển toàn diện. Tích cực sản xuất nhiều hàng tiêu dùng và xuất khẩu, Quyết tâm dẩy mạnh hoàn chỉnh hóa thủy nông tạo điều kiện để cơ giới hóa nông nghiệp và xây dựng cơ bản, phục vụ kịp thời cho sản xuất và đời sống. Thực hiện tốt Tết trồng cây nhớ ơn Bác Hồ, mừng đất nước thống nhất, mừng tỉnh mới Hà Nam Ninh. Tăng cường công tác quốc phòng và trật tự trị an gắn liền với cải thiện đời sống, xây dựng nếp sống văn minh, rèn luyện con người mới xã hội chủ nghĩa. Năm 1986- 2000, Đảng bộ Lý nhân lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện theo đường lối của Đảng, những thắng lợi quan trọng trên mặt trận sản xuất nông nghiệp và hàng tiêu dùng, đã cải thiện đáng kể đời sống nhân dân và có tác động đến thành phần cơ cấu của nền kinh tế- xã hội, đặt những cơ sở đầu tiên cho sự phát triển mới của cả nước. Lý Nhân coi trọng phát triển lúa và màu nhất là màu lương thực, đồng thời phát triển cây công nghiệp và xuất khẩu, lần đầu tiên Lý Nhân tự túc được lương thực nên có điều kiện phát triển chăn nuôi và mở rộng ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, góp phần tháo gỡ khó khăn về hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu, bảo đảm ổn định chính trị, ổn định đời sống nhân dân. Hiện nay huyện Lý Nhân có 22 xã và 01 thị trấn, với 195. 800 nhân khẩu. Là huyện thuần nông, qua nhiều tháng năm lao động vất vả, nhân dân trong huyện đã đóng góp rất nhiều công sức, tiền của để xây dựng các công trình thủy lợi, đê, bối. Hàng trăm km đê bối sông Hồng, sông Châu Giang, sông Long Xuyên, cùng hàng ngàn km mương máng sử dụng tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nông nghiệp. Trong sản xuất nông nghiệp, cây lúa nước có vị trí đặc biệt quan trọng đến đời sống nhân dân. Từ rất sớm người Lý Nhân đã biết tuyển chọn các loại giống lúa tốt cho năng suất cao phù hợp với vùng đất quê mình như: nếp Cái Hoa Vàng ở Mạc Thượng, Tả Hà, nếp Quýt ở Phú Đa, Tám thơm nổi tiếng. Ở chân ruộng cao có giống lúa Lốc gieo xạ trên cạn, ở ruộng chân trũng thường cấy lúa Rong gạo đỏ, cứng cây chịu ngập, chịu rét, ít sâu bệnh, năng suất lại ổn định rất thích hợp với khu vực đồng chiêm trũng. Trong vườn nhà, trên đất bãi nhân dân đã lựa chọn trồng những giống cây ăn quả quý có giá trị kinh tế như: Cam chanh, quýt cơm ở xã Văn Lý, Tảo Môn, Hồng Nhân Hậu ở xã Nhân Hậu, chuối tiêu Hồng, chuối ngự Đại Hoàng… Nhân dân Lý Nhân sống chủ yếu bằng nghề làm ruộng, ngoài ra còn có một số người làm nghề thủ công và buôn bán nhỏ. Nhiều nghề thủ công truyền thống từ lâu đã phát triển trên mảnh đất này. Nghề mộc với nhiều sản phẩm độc đáo như: Giường, tủ, bàn ghế…phục vụ nhu cầu đời sống của người dân, đặc biệt nhiều công trình kiến trúc khắc từ gỗ vô cùng khéo léo và độc đáo mang bản sắc dân tộc như: đình Văn Xá (Đức Lý), Kiệu Lồng (đình Thọ Chương) nhiều đền chùa, đình đài khác cho đến nay vẫn còn tồn tại. Ngoài ra còn có nghề lụa ở Nga Khê, dệt vải ở Đại Hoàng, nghề nuôi tằm lấy tơ ở Văn Lý, nổi tiếng khắp nơi. Một số mặt hàng đã có mặt ở các tỉnh Nam Bộ. Không thể không kể đến nghề mây tre đan cũng có từ rất sớm và khá phổ biến ở Lý Nhân đã tạo ra sản phẩm vừa bền vừa đẹp như thúng Quang Ốc, gầu giai chợ Cầu, rổ, rá ở Mạc Thượng, cót ở Vũ Xá (Đạo Lý)…từ cây mây, lũy tre gắn bó với làng quê, người Lý Nhân đã tạo ra nhiều sản phẩm có ích như cây chông, cánh ná, mũi tên giết giặc, đến các đồ gia dụng phục vụ đời sống. Bên cạnh đó còn có nghề làm bánh ở Tống Ngu Nhuế, tổng Vũ Điện có nghề thêu, nghề dệt, tổng Thổ Ốc có nghề làm may, làm gạch, thợ mộc. Ở các khu vực ven sông Hồng có nghề đánh cá, nuôi cá. Tính chung Lý Nhân có tới hơn 20 ngành nghề thủ công cổ truyền, các nghề thủ công cùng với nghề nông nghiệp trồng lúa trồng màu tạo nên nguồn sống cho nhân dân trong toàn huyện, ngoài những lúc làm đồng ruộng lúc mùa màng thì tất cả người dân đều có thể làm thêm các nghề thủ công phụ để phục vụ nhu cầu sử dụng trong gia đình hoặc bán sản phẩm cải thiện đời sống. Sau năm 1954, huyện Lý Nhân có 31 xã: Bảo Lý, Chân Lý, Chính Lý, Chung Lý, Công Lý, Đạo Lý, Đồng Lý, Đức Lý, Hòa Lý, Hồng Lý, Hợp Lý, Hùng Lý, Nguyên Lý, Nhân Bình, Nhân Chính, Nhân Đạo, Nhân Hậu, Nhân Hòa, Nhân Hưng, Nhân Khang, Nhân Long, Nhân Mỹ, Nhân Nghĩa, Nhân Phú, Nhân Phúc, Nhân Thắng, Nhân Thịnh, Nhân Tiến, Tân Lý, Văn Lý, Xuân Khê. Ngày 27-6-1972, hợp nhất xã Hồng Lý và xã Chân Lý thành một xã lấy tên là xã Chân Hồng; giải thể xã Nhân Long và sáp nhập thôn Do Đạo của xã Nhân Long vào xã Nhân Thịnh, sáp nhập thôn Thanh Nga của xã Nhân Long vào xã Nhân Phúc. Ngày 23-2-1977, hợp nhất xã Chính Lý và xã Hùng Lý thành một xã lấy tên là xã Chính Lý; hợp nhất xã Nguyên Lý và xã Hòa Lý thành một xã lấy tên là xã Nguyên Lý; hợp nhất xã Tân Lý và xã Chân Hồng thành một xã lấy tên là xã Chân Lý; hợp nhất xã Nhân Hòa và xã Nhân hậu thành một xã lấy tên là xã Hòa Hậu. Ngày 1-2-1978, hợp nhất xã Nhân Tiến và xã Nhân Thắng thành một xã lấy tên là xã Tiến Thắng. Ngày 27-3-1978, hợp nhất xã Nhân Phú và xã Nhân Phúc thành một xã lấy tên là xã Phú Phúc; hợp nhất xã Bảo Lý và xã Chung Lý thành một xã lấy tên là xã Bắc Lý. Năm 13-2-1987, thành lập thị trấn Vĩnh Trụ - thị trấn huyện lỵ huyện Lý Nhân - trên cơ sở 175,84 ha diện tích tự nhiên và 3.518 nhân khẩu của xã Đồng Lý và 3,15 ha diện tích tự nhiên của xã Đức Lý. Lễ hội đền Trần Thương Đền Trần Thương thuộc thôn Trần Thương, xã Nhân Đạo, huyện Lý Nhân, Hà Nam. Cũng như những nơi thờ Hưng Đạo Đại Vương khác, đền Trần Thương tổ chức lễ hội tưởng nhớ vị anh hùng dân tộc này vào ngày 20 tháng 8 âm lịch hàng năm. Dân gian có câu: Tháng Tám giỗ cha, tháng ba giỗ mẹ là để nói về hai lễ hội lớn về hai vị thánh: Đức thánh Trần (Trần Hưng Đạo), Đức thánh Mẫu (Liễu Hạnh). Lễ hội theo quy định được tổ chức 3 ngày nhưng trên thực tế có thể dài hơn bởi vì số lượng người về lễ đăng ký dự tế khá đông nên cần thêm ngày để bố trí cho các đội tế. Mỗi ngày có 4 đến 5 đám tế, từ rằm tháng 8 đã có đoàn đến tế ở đền. Vào ngày chính hội, phần lễ có rước kiệu, dâng hương, tế lễ, phần hội có các trò đánh cờ tướng, bơi chải, đi cầu kiều, tổ tôm điếm… Thu hút sự quan tâm của nhiều người nhất là tục thi đấu cờ tướng. Tục này diễn ra trước các trò hội. Khi tiếng trống nổi lên báo hiệu cuộc chơi thì các đấu thủ cùng dân làng đến sân đền tham dự. Làng chọn các lão làng, các chức sắc có gia phong tốt vào khai cuộc, trong đó, người cao tuổi nhất được làm chủ tế. Chủ tế làm lề cáo yết Đức Thánh Trần rồi rước bàn cờ từ hậu cung quay ra, đến trước hương án nâng bàn cờ lên vái ba vái. Sau đó, cuộc chơi bắt đầu. Hai đấu thủ mang y phục truyền thống của các tướng lĩnh đời Trần mang thanh long đao vào cuộc. Sau một tuần hương, ai thắng, người đó đoạt giải. Vãn cuộc, quân cờ cùng bàn cờ được rửa bằng nước giếng của đền và nước ngũ quả, lau chùi cẩn thận rồi đặt lên hương án. Tục chơi cờ nhằm tưởng nhớ tài thao lược quân sự của Hưng Đạo Đại Vương, rèn luyện trí tuệ, nêu cao truyền thống chống giặc ngoại xâm của ông cha ta. Hội rước đền Trần Thương Lễ hội đền Trần Thương là một trong ba lễ hội vùng của tỉnh Hà Nam. Lễ hội này có ý nghĩa là một cuộc hành hương về cội nguồn không chỉ đối với người dân địa phương mà đối với người dân cả nước. == Hành chính == Lý Nhân bao gồm thị trấn Vĩnh Trụ và 22 xã: Bắc Lý, Chân Lý, Chính Lý, Công Lý, Đạo Lý, Đồng Lý, Đức Lý, Hòa Hậu, Hợp Lý, Nguyên Lý, Nhân Bình, Nhân Chính, Nhân Đạo, Nhân Mỹ, Nhân Hưng, Nhân Khang, Nhân Nghĩa, Nhân Thịnh, Phú Phúc, Tiến Thắng, Văn Lý, Xuân Khê. == Danh nhân == Nam Cao Phạm Tất Đắc Hoàng Tùng Nguyễn Thị Doan == Di tích == Đình Văn Xá thuộc thôn Văn Xá, xã Đức Lý là ngôi đình có niên đại sớm nhất ở Hà Nam còn lại đến nay. == Chú thích ==
samsung ativ s.txt
Samsung ATIV S (GT-I8750 hoặc SGH-T899M) điện thoại thông minh cảm ứng, dạng thanh sản xuất bởi Samsung Electronics chạy hệ điều hành Windows Phone 8. ATIV S là thiết bị đầu tiên của Samsung chạy Windows Phone 8. Nó được trưng bày tại sự kiện IFA 2012 ở Berlin và là thiết bị Windows Phone 8 đầu tiên chính thức ra mắt. ATIV S có màn hình 4,8″ 1.280 x 720 HD Super AMOLED với số lượng điểm ảnh 306ppi, bộ xử lý 1.5 GHz lõi kép, 1 GB RAM, máy ảnh chính 8-megapixel, và máy ảnh trước 1.9-megapixel, NFC, và hỗ trợ mạng HSPA+. Ativ S có sẵn bản 16 GB hoặc 32 GB bộ nhớ trong với thẻ micro SDXC mở rộng lên đến 64 GB. Ngoài ra còn có pin có thể tháo rời 2300mAh. Được thoại được thiết đến như thiết bị có phần cứng giống như Galaxy S III, chạy Google Android. Giám đốc hệ điều hành Samsung nói rằng nhu cầu sử dụng hệ điều hành Window Phone trên Samsung là rất thấp. == ATIV S Neo == Ngày 26 tháng 6 năm 2013, Sprint công bố sẽ phát hành Samsung ATIV S Neo và HTC 8XT vào mùa hè 2013. Samsung ATIV S Neo xuất hiện như ATIV S, mặc dù có sự khác nhau trong suy nghĩ sáng suốt, sử dụng vi xử lý 1.4 GHz, pin 2000mAh, và kết nối LTE. == ATIV S SE == Verizon công bố Samsung ATIV SE với $99 cùng với hợp đồng hai năm hoặc $599 nếu bạn muốn thanh toán hoàn toàn. Nó có màn hình cảm ứng điện dung 5.0 inches (1.080 x 1.920) IPS LCD với 8GB ROM, 2GB RAM và bộ nhớ có thể mở rộng thông qua thẻ microSD. Máy ảnh chính 13MP và VGA ở phía trước. Nó được phát hành với Windows Phone 8.0 nhưng sẽ nâng cấp lên Windows Phone 8.1. == Xem thêm == Windows Phone 8 Windows Phone Samsung Ativ Odyssey == Tham khảo == == Liên kết == Website chính thức
kinh tế hoa kỳ.txt
Kinh tế Hoa Kỳ có quy mô lớn nhất thế giới, tới 18.561.930 tỉ USD trong năm 2016. Đây là một nền kinh tế hỗn hợp, nơi mà các công ty, các tập đoàn lớn và các công ty tư nhân là những thành phần chính của nền kinh tế vi mô, ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế của Hoa Kỳ. Kinh tế Hoa Kỳ cũng duy trì được năng suất lao động cao, GDP bình quân đầu người cao, khoảng 59,407 USD, mặc dù chưa phải cao nhất trên thế giới. Kinh tế Hoa Kỳ có mức độ tăng trưởng kinh tế vừa phải, tỉ lệ thất nghiệp thấp, trình độ khoa học kỹ thuật, công nghệ, khả năng nghiên cứu, và đầu tư vốn cao. Các mối quan tâm chính trong nền kinh tế Hoa Kỳ gồm nợ quốc gia, nợ nước ngoài, nợ của người tiêu dùng, tỉ lệ tiết kiệm thấp, và sự thâm hụt tài chính lớn. Theo số liệu thống kê vào tháng 6 năm 2007, tổng nợ nước ngoài của Hoa Kỳ là 12.000 tỉ USD, tương đương 88% GDP của nước này, (Xem Danh sách các nước theo nợ nước ngoài). Nợ công cộng (còn gọi là nợ quốc gia) tương đương 65% GDP.Trong năm 2008 kinh tế Mỹ đã gặp một cuộc khủng hoảng khiến kinh tế thế giới bị ảnh hưởng. == Lịch sử == Sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, Hoa Kỳ đã có được thời kỳ phát triển thịnh vượng về kinh tế suốt những năm 1920. Thị trường chứng khoán tăng trưởng đột biến, nhảy vọt. Tuy nhiên, cuộc suy thoái lớn đã kết thúc thời kỳ này. Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã đưa ra một loạt các chương trình xã hội và việc làm công cộng, nó được biết đến với tên gọi New Deal (Giải pháp mới). Giải pháp mới là cách bảo vệ an toàn xã hội bằng các trương chình trợ giúp như Quản lý xúc tiến việc làm (WPA) và một hệ thống an ninh xã hội. Năm 1941, Hoa Kỳ tham gia vào Chiến tranh thế giới thứ hai. Hậu phương thời chiến đã bảo đảm tốt về kinh tế, ngay khi xảy ra thiếu lao động thì hàng triệu bà vợ nội trợ, những sinh viên, những nông dân và những người Mỹ gốc Phi tham gia vào lực lượng lao động. Hàng triệu người di chuyển đến các trung tâm công nghiệp ở phía Bắc và phía Tây. Quân đội tiêu tốn đến 40% GDP ở đỉnh điểm, làm số nợ lên mức kỷ lục. Sau Chiến tranh thế giới lần II, là thời kỳ phát triển thịnh vượng vượt bậc ở Hoa Kỳ. Nền kinh tế vẫn giữ được sự ổn định đến tận những năm 1970, khi Hoa Kỳ phải đối mặt với tình trạng lạm phát đình đốn. Richard Nixon đã đưa Hoa Kỳ ra khỏi Hệ thống Bretton Woods, và chính phủ cố gắng làm hồi sinh nền kinh tế đã suy yếu. Một thập kỷ tiếp theo, tình hình còn trở nên tồi tệ hơn. Vào tháng 11 năm 1980, Robert G. Anderson đã viết "tiếng chuông cáo chung cho cuộc cách mạng kinh tế của Keynes cuối cùng đã vang lên." Ronald Reagan được bầu trở thành tổng thống vào năm 1980, ông cho rằng " government is not the solution to our problem, government is the problem." (chính phủ không là giải pháp đối với vấn đề của chúng ta,..) Reagan ủng hộ chương trình kinh tế supply-side' (hạ mức thuế để khuyến khích sản xuất và đầu tư), và trong năm 1981 Quốc hội đã cắt giảm thuế và sự chi tiêu. Không may mắn như mong đợi, việc cắt giảm chi tiêu gặp phải khó khăn hơn sự cắt giảm về thuế, dẫn tới sự gia tăng đáng kể về nợ công cộng. Mặc dù Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) giảm khoảng 2% trong năm 1982, nhưng nó đã bắt đầu phục hồi trở lại, vào năm 1988 đã đạt mức tăng trưởng tổng cộng là 31% kể từ khi Reagan được bầu. Nhưng chính sách kinh tế cũng không phù hợp một cách dễ ràng với bất kỳ học thuyết riêng biệt nào. Thâm hụt lớn về ngân sách đã xảy ra trong thời kỳ Reagan.. == Lạm phát ngầm == Vật giá leo thang đang khiến người Hoa Kỳ điêu đứng hơn nhiều so với ước tính của Chính phủ. Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Chính phủ trong tháng 1-2011 cho thấy "lạm phát chính" - gồm giá của tất cả các mặt hàng trừ lương thực và năng lượng - chỉ tăng 1% so với cùng kỳ năm ngoái. Chỉ số này không bao hàm những "đau đớn" do vật giá leo thang đang đè nặng lên các hộ gia đình. Thực tế, nhiều nhà kinh tế tin lạm phát thực phải ở mức từ 8-9%. === Những nhân tố bị phớt lờ === Nhưng những gì lạm phát chính không bao hàm là những tác động nguy hiểm của lạm phát ngầm, một loại lạm phát không được phản ảnh trong các dữ liệu chính thức nhưng có thể kéo lùi nền kinh tế vốn đang phục hồi rất yếu ớt. Lạm phát ngầm dưới hình thức giá lương thực và năng lượng leo thang đang đâm thẳng vào ví tiền và tài khoản tiết kiệm của người dân. Các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ loại chi phí của 2 nhóm hàng thiết yếu này ra khỏi dữ liệu cấu thành chỉ số lạm phát chính, vì cho rằng đó là những hàng hóa dễ biến động và lạm phát chính thể hiện tốt hơn xu hướng lạm phát. Nhưng giá các mặt hàng này đang leo thang nhanh chóng. Chỉ số giá tháng 1 tại Hoa Kỳ tăng 1,6% so với năm ngoái, trong đó năng lượng và lương thực chiếm tới 2/3 của việc tăng lạm phát. Chỉ số giá lương thực tăng 1,8% trong 12 tháng qua, trong khi giá năng lượng tăng 7,3%, đặc biệt giá xăng tăng 13,4%. "Quan ngại chung của thế giới hiện nay là lạm phát giá hàng hóa. Và người tiêu dùng Hoa Kỳ đang cảm nhận những tác động từ vật giá leo thang. Hơn 12% thu nhập sau thuế của các hộ gia đình được chi tiêu cho năng lượng và thực phẩm" - theo nhân định của Credit Suisse Group AG. Giá hàng hóa cao hơn đã đẩy giá bán lẻ nhiều mặt hàng lương thực. Chỉ số giá lương thực tại Hoa Kỳ tăng mạnh nhất 2 năm hồi tháng 1 khi tăng 0,7%. Một trong những loại hàng hóa tăng mạnh nhất là ngô, tăng tới mức cao nhất 30 tháng vào tháng 1. Vì ngô là thức ăn chính của nhiều loại gia súc, giá ngô tăng kéo giá các loại thịt tăng theo. Thịt lợn tăng 12% so với năm ngoái, thịt bò tăng 6% và thịt gia cầm tăng 2%. Giá lúa mì cũng tăng mạnh và giá cà phê hạt tăng tới 77%. Giá hàng hóa tăng không chỉ ảnh hưởng giá lương thực. Giá bông tương lai tăng tới 92% trong năm 2010 do lũ lụt ở Pakistan và mưa lớn ở Trung Quốc. Giá bông tăng kéo theo giá quần áo và các loại khăn. Giá bán lẻ quần jean dự báo tăng 4,3% trong năm nay, trong khi áo sơ mi tăng 2,4%, áo thun tăng 1,8%. Lạm phát cũng tác động đến giá thuê nhà. Các nhà phát triển bất động sản dự báo giá thuê nhà trong năm nay sẽ tăng 2 con số. Những ông chủ nhà máy ở Hoa Kỳ cũng cảm nhận được sự leo thang của giá cả. Giá nguyên liệu thô hồi tháng 1 tăng chạm mức cao nhất kể từ tháng 7-2008. === Lạm phát thật từ 9-12%? === Báo cáo cho biết trong tháng 2-2011 giá lương thực tăng 2,8% so với năm ngoái, trong khi giá xăng tăng tới 19,2%. Theo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của Chính phủ, giá các mặt hàng tăng 2,1% nhưng nhiều chuyên gia tin rằng lạm phát thực phải gần 8% hoặc cao hơn. "Những nghiên cứu của tôi cho thấy lạm phát thật ra đang ở giữa mức 9-12% mà tất cả chúng ta đều cảm nhận được khi chi tiêu hàng ngày. Chẳng hạn, bộ xếp hình Lego của con tôi cách nay vài tháng có giá 22USD, nay đã tăng lên 33USD" - Giám đốc Chiến lược đầu tư Keith Fitz-Gerald của Money Morning, nói. Chỉ số giá sản xuất (PPI), phản ánh giá hàng hóa trước khi đến tay người tiêu dùng, cũng tăng vào tháng trước. Giá bán sỉ ở Hoa Kỳ trong tháng 2 tăng 1,6%, gấp đôi mức tăng hồi tháng 1 và vượt xa dự báo 0,7% của giới chuyên gia. Điều đó có nghĩa người tiêu dùng sẽ phải chứng kiến giá cả tăng mạnh trong thời gian tới, khi các nhà sản xuất và bán lẻ quyết định chuyển bớt gánh nặng sang họ. Trong tháng 2, giá bán sỉ tăng 3,9%, mức tăng mạnh nhất kể từ tháng 11-1974 và tăng 7,3% trong 12 tháng. Giá lương thực thế giới đang ở mức cao nhất kể từ khi Liên hiệp quốc tiến hành theo dõi vào năm 1990. Năm 2008, giá lương thực từng tăng chạm kỷ lục nhưng sau đó hạ xuống. Còn lần này giới chuyên gia tin rằng giá lương thực cao sẽ tồn tại trong một thời gian dài. "Sự khác biệt lớn giữa đợt tăng giá năm 2008 và hiện nay là nhu cầu đang cao hơn nhiều. Điều đó có nghĩa giá cả sẽ khó hạ" - Joseph LaVorgna, kinh tế trưởng tại Hoa Kỳ của Deutsche Bank AG, nói. Các công ty đang giảm lợi nhuận vì phải trả giá nguyên liệu và vận chuyển cao hơn. Họ phải tìm cách cân bằng những chi phí phát sinh, hoặc tăng giá bán sản phẩm và chấp nhận nguy cơ mất khách hàng. Các doanh nghiệp không muốn tăng giá giữa thời buổi người tiêu dùng không được xông xênh như hiện nay, nhưng họ có quá ít lựa chọn. Xu hướng chuyển gánh nặng sang người tiêu dùng đang bắt đầu gia tăng. Thí dụ, các nhà hàng của Wendy chỉ để cà chua lên sandwishes khi khách hàng yêu cầu. Starbucks Corp. và Dunkin' Donuts tăng giá cà phê gói và cà phê hộp. Kellogg Company cho biết sẽ tăng giá bột ngũ cốc từ 3-4% trong năm nay. Trong khi đó, nhà sản xuất lương thực General Mills Inc. ước tính các loại nguyên liệu nấu ăn của họ tăng hơn năm ngoái 4-5%. Người tiêu dùng Hoa Kỳ cũng sẽ chứng kiến các mặt hàng như tã Huggies và các loại quần Pull-Ups, Goodnites tăng 3-7%; các loại giấy vệ sinh Cottonelle và Scott tăng khoảng 7%. Nhiều nhà bán lẻ thừa nhận giá cả trong những tháng tới sẽ lên, nhưng cố níu kéo khách hàng bằng việc tung ra nhiều chương trình giảm giá. Như Kohl's Corp. cho biết sẽ có nhiều chương trình giảm giá đặc biệt cho những người trên 60 tuổi, đối tượng bị giảm thu nhập lớn do lạm phát giá lương thực và năng lượng. Trong khi đó người tiêu dùng Hoa Kỳ cũng có khá nhiều cách để tự xoay xở như tích trữ, săn hàng giảm giá hoặc giảm việc chi tiêu hàng ngày xuống mức tối thiểu. Một khảo sát công bố hồi cuối tháng 3 của America's Research Group (ARG) cho thấy khoảng 75% người dân Hoa Kỳ mua sắm ít hơn do giá nhiên liệu tăng. Người dân cũng cắt giảm việc đi ăn bên ngoài và trả giá nhiều hơn các tháng trước == USD mất thế == Thời gian qua, nhiều định chế và nhà phân tích uy tín trên thế giới đưa ra các dự báo, cho rằng Hoa Kỳ sẽ mất ngôi vị nền kinh tế số 1 hành tinh trong vòng 20-30 năm nữa. Chưa biết các dự báo trên có chính xác, nhưng có một điều khá rõ ràng: Hoa Kỳ đang mất dần vị thế siêu cường cả về kinh tế và chính trị. Thực tế đó được thể hiện rõ nét qua các cuộc khủng hoảng đang diễn ra ở nước này. Cùng với cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, các nhà phân tích bắt đầu nói đến sự sụp đổ của USD - "ngoại tệ vua". Cứ mỗi ngày trôi qua, đồng tiền màu xanh lá này mất dần vị thế như một loại tền tệ được sử dụng chính trong các hoạt động giao dịch toàn cầu, cũng như vai trò là ngoại tệ dự trữ của thế giới. === Nhà đầu tư xa lánh === Đầu năm 2011, nhà đầu tư nổi tiếng thế giới Jim Rogers đã khơi mào một làn sóng tẩy chay USD trên khắp thế giới khi khẳng định USD hiện đã trở thành một "lựa chọn sai lầm". Tuy nhiên, không phải ông Rogers mà chính những yếu kém của đồng tiền xanh lá đang khiến giới đầu tư ngày càng xa lánh. Nouriel Roubini, một nhà kinh tế đoạt giải Nobel, dự báo trong trung hạn, USD sẽ mất 15-20% giá trị do thâm hụt ngân sách và nợ công cao. TS. Marc Faber còn mạnh miệng hơn khi dự báo một sự phá giá hoàn toàn của USD chỉ trong vòng 10 năm. Theo ông, việc Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED) liên tục in thêm tiền cho các chương trình nới lỏng định lượng sẽ khiến USD ngày một mất giá, trong khi đó các ngân hàng lại đang cho vay với tổng số tiền lớn hơn GDP nhiều lần. Nhà kinh tế Robert Kiyosaki cũng tin rằng FED trong 3 năm qua đã in nhiều tiền hơn so với 1 thập niên trước. Trong thực tế, lượng tiền mặt bằng USD đang gia tăng nhanh chóng. Trong năm 2005, có 760 tỷ USD tiền mặt được lưu hành, nhưng đến năm 2008 con số này lên tới 875 tỷ USD. Ngày 21-4, USD rớt xuống mức thấp nhất mọi thời đại so với franc Thụy Sĩ (CHF). Tỷ giá USD/CHF chạm mức thấp kỷ lục 0,881USD ăn 1CHF, dù CHF giảm giá so với EUR 0,14%. Trong khi đó, bảng Anh (GBP) tăng chạm mức cao nhất 16 tháng so với USD. Tỷ giá GBP/USD tăng tới mức cao nhất kể từ tháng 12-2009, với 1,656 USD ăn 1GBP. Chỉ số USD - dùng để đo tỷ giá bình quân của đồng tiền màu xanh lá với 6 loại ngoại tệ chính khác - giảm còn 73,873 điểm vào tuần trước, mức thấp nhất kể từ tháng 8-2008. Giới quan sát còn tin rằng lạm phát thực ở Hoa Kỳ hiện nay đang ở mức 8-9% do giá nhiên liệu và lương thực tăng cao nhưng không được tính vào chỉ số CPI chính thức (xem ĐTTC các số 407, 408, trang 20-21). Các nhà kinh tế còn lo ngại nếu có thêm chương trình nới lỏng định lượng thứ 3, Hoa Kỳ có thể rơi vào tình trạng siêu lạm phát. Lợi suất trái phiếu 10 năm của Hoa Kỳ hiện chỉ đạt 3,5%, trong khi lạm phát đang ở mức 8-9%, cộng với USD đang mất dần giá trị, là những nguyên nhân khiến nhà đầu tư dần xa lánh các khoản đầu tư có liên quan đến USD. === Mất vai trò dự trữ === Phát biểu trong hội nghị Bretton Woods II mới đây, tỷ phú George Soros - một trong các nhà đầu tư thành công nhất thế giới - nhận định vai trò ngoại tệ dự trữ toàn cầu của USD đang giảm dần. Soros cho rằng đã đến lúc cần tìm một đồng tiền khác thay thế USD trên thị trường tài chính toàn cầu, bởi lẽ việc đưa USD thành ngoại tệ toàn cầu đã lỗi thời. Trong thực tế, tỷ lệ các danh mục đầu tư có liên quan đến USD của các ngân hàng trung ương trên thế giới đang giảm dần, từ 70% xuống còn 66% cách nay hơn 2 năm và hiện nay là 61,1%. Thay vào đó, các ngân hàng trung ương và nhà đầu tư đang nhắm đến các loại tài sản dự trữ khác như vàng hoặc hàng hóa. Các nhà phân tích của Money Morning đưa ra một danh sách các ứng viên có thể soán ngôi USD, gồm SDR - quyền rút vốn đặc biệt của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), vàng, dầu mỏ và các loại ngoại tệ khác. Trong đó, vàng có độ tin cậy cao nhất nhưng lại không đủ số lượng cần thiết để đáp ứng nhu cầu dự trữ của các nước. Dầu mỏ đang được xem như một loại "tiền tệ của thế giới", nhưng điều trớ trêu nó lại được định giá bằng USD. Một dự báo được nhiều người chấp nhận là trong tương lai gần, USD có thể bị thay thế bằng một loại "ngoại tệ khu vực", như NDT ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, hay rupee Ấn Độ ở Nam Á, hoặc rand của Nam Phi ở châu Phi, hay các nước Trung Đông đang nhắm đến việc tạo ra đồng tiền riêng của khu vực: dinar. Trong số các ngoại tệ trên, nhiều người cho rằng có thể NDT sẽ sớm thay thế vai trò của đồng tiền màu xanh lá. === Mối nguy từ BRICS === Tại hội nghị thượng đỉnh các nước BRICS vừa diễn ra tại Sanya (Trung Quốc), lãnh đạo các nước Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc và Nam Phi đưa ra tuyên bố chung, cho rằng cần cải thiện những bất hợp lý và khác biệt trong hệ thống tài chính và tiền tệ quốc tế hiện nay. Theo đó cải tổ hệ thống tiền tệ quốc tế với một hệ thống tiền tệ dự trữ rộng hơn. Đây được xem như một lời tuyên chiến chính thức đối với vai trò ngoại tệ dự trữ của USD. Bằng việc thêm thành viên Nam Phi, BRICS nay được nhìn nhận như một thế lực có nhiều nhân tố cơ bản để hỗ trợ cho 1 ngoại tệ dự trữ mới. Trung Quốc và Nam Phi hiện là 2 nước sản xuất vàng đứng đầu thế giới, trong khi Nga đứng thứ 6 và Brazil đứng thứ 15. Năm 1998, Ngoại trưởng Nga Yevgeny Primakov đã thai nghén một liên minh kinh tế giữa Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, với mục tiêu thách thức ảnh hưởng quốc tế của Hoa Kỳ. Vài năm sau, Brazil được kết nạp vào nhóm này. Các nước này, đặc biệt Trung Quốc và Nga, đã nhiều lần kêu gọi cải tổ hệ thống ngoại tệ dự trữ quốc tế hiện nay để thay bằng một rổ các ngoại tệ khác, trong đó có NDT của Trung Quốc. Tháng 12-2010, Trung Quốc và Nga đạt thỏa thuận dùng đồng tiền của 2 nước thay cho USD trong giao dịch thương mại song phương. == Đa khủng hoảng == Trong tháng 4-2011, hãng đánh giá tín dụng Standard and Poor's (S&P) hạ dự báo tín dụng của Hoa Kỳ từ mức "ổn định" xuống "tiêu cực". Cùng lúc, Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) cảnh báo Hoa Kỳ không đáng tin cậy khi nói về chuyện cắt giảm thâm hụt ngân sách. Những diễn biến này chỉ là một phần nhỏ trong hàng loạt cuộc khủng hoảng Hoa Kỳ đang hoặc sắp phải đối mặt. === Trái phiếu sụp đổ? === Nhà kinh tế Martin Hutchinson, được nhiều người vị nể, vừa xuất bản một loạt dự báo về tình hình kinh tế Hoa Kỳ. Trong đó, ông tin rằng nền kinh tế số một hành tinh có thể sớm rơi vào một cuộc khủng hoảng trái phiếu toàn diện do sự suy yếu của USD và những nhân tố bất ổn khác của nền kinh tế. Theo Hutchinson lợi suất trái phiếu của Hoa Kỳ hiện ở mức rất thấp, 10 năm chỉ đạt 3,4%, khiến trái phiếu đang trở thành một kênh đầu tư lợi nhuận cực thấp. Trong thực tế, những nhà đầu tư mua vào trái phiếu 10 năm hồi tháng 1 đang chứng kiến khoản thua lỗ 0,76% so với tiền vốn. Trong khi đó, có 3 nhân tố khiến thị trường trái phiếu càng trở nên kém hấp dẫn, bao gồm chính sách tiền tệ bất hợp lý của Chính phủ, lạm phát và thâm hụt ngân sách. Chủ tịch Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ (FED) Ben S. Bernanke đã duy trì lãi suất ở mức thấp kỷ lục (0%) trong suốt 30 tháng qua khiến lạm phát đang có dấu hiệu tăng ngoài kiểm soát. Kể từ tháng 11-2010, FED mua vào khoảng 2/3 trái phiếu được phát hành với lãi suất thấp trên. Điều này sẽ khiến lạm phát càng tăng nhanh và khi FED ngừng mua trái phiếu, thị trường này sẽ ế ẩm. Dù chỉ số lạm phát chính thức vẫn ở mức thấp, nhưng chỉ số giá sản xuất (PPI) tăng 10% so với năm ngoái, trong khi giá năng lượng tăng 7,3%, đặc biệt giá xăng tăng tới 13,4%. Giới chuyên môn tin rằng lạm phát thực ở Hoa Kỳ hiện đang ở mức 8-9%. Ngoài ra, chương trình kích cầu 787 tỷ USD của Chính phủ trước đây đang tạo ra khoản thâm hụt lên đến 1.600 tỷ USD. Hutchinson tin rằng sự kết hợp của các nhân tố trên khiến nguy cơ sụp đổ hoàn toàn thị trường trái phiếu rất cao và sẽ tồi tệ hơn những gì đã xảy ra vào thập niên 70 của thế kỷ trước. Hutchinson dự báo cuộc khủng hoảng trái phiếu Hoa Kỳ có thể xảy ra vào quý III năm nay, sau khi chương trình nới lỏng định lượng thứ 2 (QE2) của FED kết thúc vào ngày 30-6. === Thâm hụt ngân sách === S&P duy trì mức tín nhiệm nợ của Hoa Kỳ ở hạng AAA, nhưng đổi sang dự báo "tiêu cực", một dấu hiệu cho biết họ có thể hạ bậc tín nhiệm nếu Hoa Kỳ không có chuyển biến tích cực. Trong thông báo của mình, S&P giải thích động thái của họ xuất phát từ các quan ngại xung quanh gánh nặng nợ công của nền kinh tế lớn nhất thế giới, tin rằng các nhà hoạch định chính sách Hoa Kỳ có thể không đạt được một thỏa thuận để giải quyết các áp lực tài chính dài hạn của đất nước. Trong một cuộc phỏng vấn với đài CNBC, David Beers - Giám đốc đánh giá nợ quốc gia toàn cầu của S&P - cho biết ông lo ngại trước những biện pháp giải quyết áp lực tài chính của Chính phủ, dù Nhà Trắng đang cố gắng loan truyền tin tức tích cực về những cuộc đàm phán ngân sách và các mục tiêu cắt giảm thâm hụt. Bởi ngay cả kế hoạch ngân sách do đảng Cộng hòa đề xuất đã được Hạ viện thông qua rất ít thuyết phục. "Kế hoạch này chưa đủ nghiêm túc bởi nó không được thực hiện trong năm nay, mà phải tới 10 năm sau, khi những người tại nhiệm hiện nay có lẽ không còn chịu trách nhiệm" - nhà kinh tế Paul Krugman nhận xét. Trong khi đó, việc thông qua kế hoạch ngân sách đang phơi bày điểm yếu nhất của Chính phủ hiện nay. Đó là sự bất đồng sâu sắc giữa 2 đảng Dân chủ kiểm soát Thượng viện và đảng Cộng hòa kiểm soát Hạ viện (xem thêm bài "Cuộc chiến ngân sách ở đồi Capitol" trong số báo 411 ngày 18-4-2011). Nhưng dù là kế hoạch cắt giảm 6.200 tỷ USD chi tiêu công của đảng Cộng hòa, hay kế hoạch giảm 4.000 tỷ USD của Tổng thống Obama đều kém xa những con số cần thiết. Đó là lý do vì sao IMF tỏ ra không tin tưởng việc cắt giảm thâm hụt ngân sách của Hoa Kỳ, đã cảnh báo: "Chỉ với việc cắt giảm 38,5 tỷ USD ngân sách cho năm 2011, Chính phủ Hoa Kỳ đã suýt rơi vào cảnh đóng cửa. Và điều gì sẽ xảy ra vào 10 năm tới khi nước này phải cắt giảm tới 600 tỷ USD mỗi năm?". === Phân hóa xã hội === Theo một phúc trình của Global Research (GR), số người nghèo sống nhờ vào tem phiếu trợ cấp lương thực ở Hoa Kỳ hiện nay đang ngang ngửa thập niên 30 của thế kỷ trước. Theo nghiên cứu của GR, hiện có tới 45 triệu dân Hoa Kỳ (16% dân số) phải sống nhờ tem phiếu trợ cấp lương thực của Chính phủ do tình trạng thất nghiệp cao. Đây chính là yếu tố khiến nhiều nhà quan sát cho rằng tỷ lệ thất nghiệp thực tế ở nền kinh tế lớn nhất hành tinh hiện nay có thể trên 20%, cao hơn nhiều so với con số 8,8% do Chính phủ đưa ra. Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với thu nhập của hộ gia đình, đặc biệt tầng lớp bình dân, đang suy giảm, tức người nghèo càng nghèo đi. Nhưng những điều này ít ảnh hưởng tới tầng lớp thượng lưu ở Hoa Kỳ. Các đại gia Phố Wall và các công ty tài chính vẫn nặng túi với những khoản tiền thưởng khổng lồ. Trong năm 2011, những người có thu nhập từ 1 triệu USD trở lên chỉ phải đóng thuế thu nhập 23,1%, trong khi vào năm 1961, những người có thu nhập hơn 1 triệu USD (theo thời giá hiện tại) phải trả tới 43,1% tiền thuế. Nếu kế hoạch ngân sách của đảng Cộng hòa ở Hạ viện trở thành luật, tầng lớp trung lưu càng phải chứng kiến những đau đớn nhiều hơn từ các chương trình cắt giảm chi tiêu, trong khi giới người giàu lại hưởng thêm nhiều chương trình miễn giảm thuế. Phúc trình của GR dự báo xã hội Hoa Kỳ sẽ nhanh chóng phân hóa thành 2 tầng lớp: 20% giàu và 80% nghèo. == Trao đổi thương mại quốc tế == === Xuất khẩu hàng hóa của Hoa Kỳ trong năm 2004 === === Nhập khẩu hàng hóa của Hoa Kỳ trong năm 2004 === == Tham khảo ==
danh sách các quốc gia theo ngôn ngữ chính thức.txt
Sau đây là danh sách các ngôn ngữ chính thức theo quốc gia. Danh sách này cũng bao gồm ngôn ngữ vùng, ngôn ngữ thiểu số và ngôn ngữ dân tộc, được xếp phân hạng theo ý nghĩa như sau: Ngôn ngữ chính thức: Là ngôn ngữ có tư cách pháp nhân, được sử dụng trong cơ quan lập pháp của quốc gia, bang hay vùng, trong các hoạt động giao dịch kinh doanh,... Ngôn ngữ địa phương: Là ngôn ngữ có tình trạng chính thức giới hạn trong một khu vực, bộ phận hành chính, hoặc lãnh thổ của nhà nước. Ngôn ngữ thiểu số: Là ngôn ngữ của dân tộc thiểu số, được chính thức công nhận, thường dành cho bảo vệ hay chỉ định là một ngôn ngữ chính thức cho phép dùng trong giao dịch kinh doanh hợp pháp trong một khu vực hay vùng lãnh thổ cụ thể. Ngôn ngữ quốc gia: Là ngôn ngữ duy nhất đại diện cho bản sắc dân tộc của một dân tộc hay quốc gia, và vì vậy được chỉ định bởi chính phủ của một quốc gia. Một số ngôn ngữ dân tộc thiểu số về mặt kỹ thuật được quy định ngôn ngữ quốc gia, và trong danh sách dưới đây được xếp theo thứ tự ưu tiên về sử dụng. Một số quốc gia có nhiều hơn một ngôn ngữ được công nhận là ngôn ngữ quốc gia. == Tham khảo == == Xem thêm == Danh sách ngôn ngữ Danh sách ngôn ngữ theo tổng số người sử dụng == Liên kết ngoài ==
gemeinsame normdatei.txt
Gemeinsame Normdatei (bằng tiếng Đức, viết tắt GND, tạm dịch: Hồ sơ chuẩn chung) là một hồ sơ tiêu đề chuẩn quốc tế với mục đích tổ chức tên cá nhân, tiêu đề chủ đề (subject heading) và tên tổ chức từ biên mục thư viện. Chủ yếu người ta dùng GND để để lưu hồ sơ trong các thư viện và kho lưu trữ. Hiện nay, GND được hợp tác quản lý giữa Thư viện Quốc gia Đức và nhiều mạng lưới thư viện quản lý. Giấy phép sử dụng GND là CC0. GND bắt đầu hoạt động từ tháng 4 năm 2012 và tích hợp nội dung của những hồ sơ tiêu đề chuẩn đã chấm dứt hoạt động sau: Personennamendatei (bằng tiếng Đức, viết tắt: PND, tạm dịch: Hồ sơ tiêu đề chuẩn tên) Gemeinsame Körperschaftsdatei (bằng tiếng Đức, viết tắt: GKD, tạm dịch: Hồ sơ tiêu đề chuẩn tổ chức) Schlagwortnormdatei (bằng tiếng Đức, viết tắt: SWD, tạm dịch: Hồ sơ tiêu đề chuẩn tiêu đề chủ đề) Einheitssachtitel-Datei des Deutschen Musikarchivs (bằng tiếng Đức, viết tắt: DMA-EST, tạm dịch: Hồ sơ tiêu đề chuẩn của Thư viện Quốc gia Đức) Khi ra mắt vào ngày 5 tháng 4 năm 2012, GND đã có 9.493.860 hồ sơ, bao gồm 2.650.000 tên đã được cá nhân hóa. == Các thể loại == GND có sáu "thể loại" (high-level entity, tạm dịch: thực thể cấp cao) chính: == Xem thêm == Virtual International Authority File (VIAF) == Chú thích == == Liên kết ngoài == Trang thông tin về GND, Thư viện Quốc gia Đức (tiếng Anh) Tìm kiếm thông qua OGND Trung tâm Dịch vụ Thư viện Baden-Württemberg (tiếng Anh)
tiểu thuyết.txt
Tiểu thuyết là một thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống con người, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định. Trong một cách hiểu khác, nhận định của Belinski: "tiểu thuyết là sử thi của đời tư" chỉ ra khái quát nhất về một dạng thức tự sự, trong đó sự trần thuật tập trung vào số phận của một cá nhân trong quá trình hình thành và phát triển của nó. Sự trần thuật ở đây được khai triển trong không gian và thời gian nghệ thuật đến mức đủ để truyền đạt cơ cấu của nhân cách. == Tên gọi thể loại == Trong văn học phương Đông, danh từ tiểu thuyết xuất hiện khá sớm nhằm phân biệt với hai thể loại cơ bản khác là đại thuyết và trung thuyết. Đại thuyết là kinh sách của các thánh nhân viết như Kinh Thư, Kinh Thi của Khổng Tử, đó là loại sách mang nặng tính triết học, gần như chân lý, kiểu khuôn vàng thước ngọc và rất khó đọc. Trung thuyết do các hiền sư, sử gia thực hiện như Sử ký của Tư Mã Thiên. Còn tiểu thuyết, vốn chỉ những chuyện vụn vặt, đời thường. Những chuyện ấy cùng với cổ tích, ngụ ngôn là những mầm mống của tiểu thuyết phương Đông. Thuỷ Hử và Hồng Lâu Mộng là một trong những số đó. Theo quan niệm trước đây, đặc biệt là quan niệm của Trung Quốc và Nhật Bản, tiểu thuyết bao gồm có hai loại chính là tiểu thuyết đoản thiên hay truyện ngắn, thậm chí là "vi hình tiểu thuyết" (truyện cực ngắn, truyện siêu ngắn) hay "truyện trong lòng bàn tay") và tiểu thuyết trường thiên (truyện dài). Tuy nhiên hiện nay, ở Việt Nam, khi nói đến tiểu thuyết, độc giả thường hiểu đó là tác phẩm truyện dài. Ở một số ngôn ngữ phương Tây, từ tiểu thuyết có nguồn gốc từ tiếng Latinh, mang nghĩa chuyện mới (novel). Song song với tiến trình này, văn học hiện đại thế giới cũng cho thấy những nguyên lý của tiểu thuyết chi phối hầu hết các tác phẩm tự sự khác nên sự phân biệt bản chất thể loại ở các truyện cụ thể trở nên ngày càng khó khăn. == Lịch sử == Lịch sử phát triển tiểu thuyết đã để lại cho nền văn học thế giới những thành tựu rực rỡ: từ những kiệt tác tiểu thuyết chương hồi Trung Hoa đến những tác phẩm đồ sộ của tiểu thuyết hiện thực phê phán phương Tây, từ dòng chảy của tiểu thuyết sử thi hoành tráng trong văn học Nga thế kỷ bạc đến những nguồn mạch văn chương hiện thực huyền ảo Mỹ-Latinh, sự trỗi dậy và vượt thoát truyền thống của những nền văn học châu Á v.v. Những mô hình ấy đã tạo dựng nên diện mạo đặc biệt phong phú của tiểu thuyết trong suốt thời kỳ đã qua tính từ khi hình thành thể loại. === châu Á === Ở Trung Quốc tiểu thuyết xuất hiện rất sớm, vào thời kỳ Ngụy-Tấn (thế kỷ 3-4) tiểu thuyết đã manh nha dưới dạng những tác phẩm chi quái, chi nhân. Sang đời nhà Đường xuất hiện thể loại truyền kỳ, đời Tống lại có thêm dạng thoại bản, tất cả đều có thể coi là tiền thân của tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại. Từ đời Minh văn học Trung Quốc nói chung và văn xuôi Trung Quốc nói riêng phát triển rực rỡ với những pho tiểu thuyết chương hồi nổi tiếng như Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung, Thủy hử của Thi Nại Am, Tây du ký của Ngô Thừa Ân, Kim Bình Mai của Tiếu Tiếu Sinh v.v. Đời Thanh bước phát triển của tiểu thuyết chương hồi đã tới thời điểm hoàng kim qua hàng loạt danh tác như Chuyện làng Nho (Nho lâm ngoại sử) của Ngô Kính Tử, Hồng Lâu Mộng của Tào Tuyết Cần. Thời hiện đại tiểu thuyết Trung Quốc vượt thoát những thể loại truyền thống, ảnh hưởng lớn từ các trào lưu văn học phương Tây đương thời với sáng tác của các tác gia như Lỗ Tấn, Giả Bình Ao, Mạc Ngôn v.v. Tại Nhật Bản, vượt qua sử ký, tùy bút và nhật ký, hình thức sơ khai của tiểu thuyết đã xuất hiện từ những thế kỷ thứ 6-8, ban đầu là sự tập hợp thành chương những bài ca ballad, truyện kể do các pháp sư mù gảy đàn biwa lưu truyền khắp đảo quốc. Cùng với những sáng tạo khởi đầu là Takatori monogatari, tiểu thuyết Nhật Bản, mà hình thức của thể loại được gọi bằng tên monogatari, đi được một nửa chặng đường đến Ise monogatari và đạt đỉnh cao với Genji monogatari. Genji monogatari trở thành ngôi sao băng chói sáng của văn chương cổ điển Nhật Bản, được đánh giá là tiểu thuyết theo nghĩa hiện đại đầu tiên của nhân loại, mà rất nhiều thế kỷ về sau với Sagoromo monogatari, Yowa no nezame, Hamamatsu Chūnagon monogatari, Torikaebaya monogatari, văn học Nhật Bản vẫn không thể sản sinh được một tác phẩm tự sự nào có được vị trí và giá trị của nó. Từ thế kỷ 19 khi xã hội Nhật Bản không ngừng hướng theo mô hình phương Tây, những tác phẩm nổi tiếng của thể loại tiểu thuyết phương Tây đương thời được dịch thuật hoặc phóng tác tràn lan trong thời Minh Trị đã phát triển tiểu thuyết Nhật Bản theo những khuynh hướng sáng tác hiện đại, và những tiểu thuyết tiền-hiện đại đầu tiên có dạng thức tự thuật, còn gọi là "tâm cảnh tiểu thuyết", vào cuối thời Minh Trị. === Phương Tây === Ở phương Tây, Tiểu thuyết có mầm mống ban đầu từ các tác phẩm tự sự viết bằng tiếng Roman, thường là thể loại anh hùng, đó là những tiểu thuyết kị sĩ với những biến cố và tình huống phi thường. Tuy nhiên, nhìn nguồn gốc của thể loại, các nhà nghiên cứu có thể truy nguyên về tận thời Hi Lạp, khi bên cạnh những tác phẩm trường ca cổ đại với cảm hứng về cái chung và cái anh hùng là chủ đạo, vẫn có những tác phẩm lấy cảm hứng từ con người riêng lẻ, và Bielinski đã rất có lý khi cho rằng "tiểu thuyết hình thành khi vận mệnh con người, mọi mối liên hệ của nó với đời sống nhân dân được ý thức" và "đời sống cá nhân bất luận thế nào cũng không thể là nội dung của anh hùng ca Hy Lạp, nhưng lại có thể là nội dung của tiểu thuyết". Trên nền móng của hình thái tư duy khám phá những vấn đề bản chất của hiện thực thông qua sự tái hiện số phận cá nhân đã có từ thời Hy Lạp, đã xuất hiện những thể loại văn chương thời trung đại châu Âu theo theo thể tài hiệp sĩ, như Chuyện Tristan và Iseult. Thời kỳ Phục Hưng đã tạo cơ sở thuận tiện nhất cho sự phát triển tiểu thuyết: chất tiểu thuyết bộc lộ trong các tác phẩm thể truyện như của G. Boccacciio, thể trường ca của M. Boiardo, L. Ariosto, T. Tasso và thể kịch với W. Shakespeare. Nhưng tiểu thuyết đích thực gắn với những tìm tòi tư tưởng triết lý, chỉ xuất hiện vào cuối thời đại Phục Hưng với Đôn Kihôtê. Sau thời Phục Hưng, khi văn học tao nhã là chủ đạo, thì xu hướng phát triển tiểu thuyết chỉ bộc lộ rõ trong các sáng tác thuộc loại tiểu thuyết du đãng khai thác các đặc điểm trào phúng, sự hư cấu tự do, vai trò của kinh nghiệm cá nhân tác giả trong sáng tạo nghệ thuật (các tác phẩm của F. Rabelais, Erasmus von Rotterdam, d'Aubigné, M. Montaigne v.v.), và tiểu thuyết tâm lý đầu tiên với sáng tác của bà La Fayette. Sang thời đại Khai sáng và thời cận đại, từ thế kỷ 18, tiểu thuyết đã đi một chặng đường dài với sự hình thành các kết cấu chính. Truyện hiệp sĩ Des Grieux và nàng Mannon Lescault (1731) của Prevost kết hợp hữu cơ được hai thể tài tâm lý và du đãng. S. Richardson với Clarisse Harlow (1747), J. J. Rousseau với Nàng Héloise mới (1761) đưa ra những mẫu mực của tiểu thuyết tình cảm đồng thời củng cố vai trò chủ đạo của tiểu thuyết luận đề. H. Fielding, T. Smollett đã đóng góp cho sự hình thành nguyên tắc điển hình hóa của tiểu thuyết hiện thực, làm tiền đề cho sự nở rộ tiểu thuyết của chủ nghĩa hiện thực phát triển mạnh giai đoạn sau đó với Balzac, Zola; Stendhal, Flaubert, Ch. Dickens, W. Thackerlay (tiểu thuyết toàn cảnh, tiểu thuyết hướng tâm). Tiểu thuyết sử thi của L. Tolstoi với sự trần thuật đạt được chiều rộng và tính bao quát, sự mô tả đời sống nội tâm nhân vật như một quá trình tâm lý nội tại lần đầu tiên cho phép tiểu thuyết tái hiện được "biện chứng của tâm hồn". Tiểu thuyết đối thoại của Dostoevski với con người đời tư được đặt trong tương quan với cả thế giới. Thế kỷ 20 tiểu thuyết phương Tây phát triển trong sự đa dạng đối nghịch nhau về nhiều mặt, bên cạnh những thành tựu của tiểu thuyết hiện thực với khuynh hướng hiện thực phê phán hoặc khuynh hướng hiện thực xã hội chủ nghĩa, hướng sáng tác mới của M. Proust, J. Joyce, F. Kafka lại cho thấy một loạt các nguyên tắc tiểu thuyết vốn đã thành truyền thống trước kia bị biến đổi: độc thoại nội tâm bao trùm tác phẩm như một thủ pháp của tiểu thuyết dòng ý thức; sự xáo trộn liên tục các bình diện thời gian và không gian, các mảng đời sống hiện thực hòa quyện cùng huyền thoại, xuất hiện người kể chuyện không toàn năng khi trong lời kể có cả cái biết và cái không biết, cái khách quan lẫn chủ quan. Các vấn đề về "ngôi" và "thời" của lời trần thuật và các "điểm nhìn" trần thuật trở thành chìa khóa cho việc đọc tiểu thuyết theo khuynh hướng phức điệu, đa thanh. Bên cạnh đó, các trào lưu tư tưởng đương thời như hiện tượng học, thuyết phi lý, chủ nghĩa hiện sinh, phân tâm học, hậu hiện đại, phê bình nữ quyền, hậu thực dân cũng góp phần tạo ra những dạng thức như phản tiểu thuyết, tiểu thuyết mới, hoặc làm nảy sinh tư tưởng về nhân vật biến mất, hoặc tiểu thuyết cáo chung v.v. === Việt Nam === Ở Việt Nam tiểu thuyết xuất hiện khá muộn, tuy những sáng tác văn xuôi cổ như Việt điện u linh, Lĩnh Nam chích quái, Thánh Tông di thảo, Truyền kỳ mạn lục, Truyền kỳ tân phả thế kỷ 14-16 đã đặt những nền móng sơ khai cho tư duy thể loại, thông qua tiến trình từ sự ghi chép các yếu tố truyền thuyết, thần thoại, cổ tích đến giai đoạn phản ánh những chuyện đời thường. Thế kỷ 18 cho thấy sự nở rộ thể loại tự sự với các tác phẩm như Thượng kinh ký sự (ký) của Lê Hữu Trác, Vũ trung tùy bút (tùy bút) của Phạm Đình Hổ và đặc biệt là Hoàng Lê nhất thống chí, tác phẩm xuất hiện với tầm vóc tiểu thuyết, là pho tiểu thuyết lịch sử đầu tiên của Việt Nam có giá trị văn học đặc sắc. Hoàng Lê nhất thống chí tái hiện một cách sống động bức tranh xã hội rộng lớn thời vua Lê, chúa Trịnh thông qua kết cấu chương hồi tương tự tiểu thuyết thời Minh-Thanh tại Trung Hoa. Yếu tố đời tư và mạch tự sự trong các truyện Nôm khuyết danh và hữu danh đương thời như Hoa tiên, Nhị độ mai, Phạm Công Cúc Hoa, Phạm Tải Ngọc Hoa và Truyện Kiều cũng ít nhiều góp phần thúc đẩy sự phát triển của thể loại. Tuy nhiên, phải đến những năm 30 của thế kỷ 20 văn học Việt Nam mới xuất hiện tiểu thuyết với đầy đủ tính chất của thể loại hiện đại. Cùng phong trào Thơ Mới, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam 1930-1945 có những bước tiến vượt bậc và thành tựu lớn với hai khuynh hướng sáng tác: những cây bút nổi tiếng của Tự Lực văn đoàn, những người đã thúc đẩy sự hình thành thể loại như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam; và những nhà văn hiện thực phê phán như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng. Trong 2 cuộc chiến tranh vệ quốc (chống Pháp và chống Mỹ), đội ngũ các nhà tiểu thuyết Việt Nam đã ngày càng đông đảo (Nguyễn Huy Tưởng, Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Nguyên Ngọc). Ít nhiều tiểu thuyết Việt Nam có thành tựu tiệm cận với thể loại tiểu thuyết-sử thi vốn mang đề tài hoành tráng và dung lượng đồ sộ, mà một trong số đó là Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi. Sau 1986, lịch sử tiểu thuyết Việt Nam sang trang mới với những sáng tác của Ma Văn Kháng, Lê Lựu, Bảo Ninh, Nguyễn Huy Thiệp, có nội dung sâu sắc hơn về thân phận con người và hình thức có dấu hiệu manh nha hệ hình văn chương hậu hiện đại. == Kết cấu == Tiểu thuyết có nhiều dạng thức kết cấu tùy theo yêu cầu của đề tài, chủ đề hoặc theo sở trường của người viết. Thậm chí người ta còn cho rằng, về nguyên tắc, tiểu thuyết không có một hình thức thể loại hoàn kết, bởi vì nó là "sử thi của thời đại chúng ta", tức là sử thi của cái hiện tại, cái đang hàng ngày hàng giờ đổi thay, bởi vì điều quan trọng đối với nó là sự tiếp xúc tối đa với cái thực tại dang dở "chưa xong xuôi", cái thực tại đang thành hình, cái thực tại luôn bị đánh giá lại, tư duy lại. Tuy thường gặp những kết cấu chương hồi, kết cấu tâm lý, kết cấu luận đề, kết cấu đơn tuyến, kết cấu đa tuyến v.v. tiểu thuyết vẫn không chịu được những chế định chặt chẽ, nó không có quy phạm cố định và người viết thậm chí có thể phá vỡ những khuôn mẫu sẵn có để vận dụng một cách linh hoạt và sáng tạo các hình thức kết cấu khác nhau. Kết cấu cho phép tạo nên một diện mạo chung nhất về tiểu loại: tiểu thuyết chương hồi, tiểu thuyết tâm lý, tiểu thuyết luận đề, tiểu thuyết đa thanh v.v. == Phong cách == Với những khác biệt của tiểu thuyết về đề tài (tình yêu, xã hội, chính trị, lịch sử, triết lý, giả tưởng v.v.), dung lượng, mức độ kịch tính, các nguyên tắc kết cấu-cốt truyện, phương thức trần thuật, có thể thấy một số điểm nhấn về phong cách, dễ thấy nhất là đem tính nội dung trực tiếp của tiểu thuyết ôm trùm toàn bộ mọi thành tố cốt truyện, khi đó tình tiết rắc rối sẽ trở thành phương tiện phản ánh xung đột giữa cá nhân và xã hội, trở thành động lực thúc đẩy hành động của nhân vật, giúp tăng cường vai trò cấu tạo của cốt truyện cho tác phẩm. Tạo được kịch tính cho trần thuật, sự rắc rối sẽ chi phối cả sự phát triển của mâu thuẫn nào đó xuất phát điểm đến phương thức giải quyết, cả tiến trình lẫn các thành phần của những biến cố cốt truyện và thậm chí cả bản thân các "chìa khóa" kết cấu tác phẩm. == Xu hướng cấu trúc == Quá trình phát triển thể loại tiểu thuyết hiện đại ở các nền văn học châu Âu cho thấy hai hướng cấu trúc tiêu biểu: === Tiểu thuyết mở === Tiểu thuyết mở có ngọn nguồn từ Đôn Kihôtê (1605, 1615), miêu tả xã hội một cách đa diện, tạo các lý do thật chi tiết cho sự tiến triển của nhân vật chính, cho nhân vật này can dự vào nhiều biến cố và những biến cố ấy lại là nơi cư ngụ cho vô số nhân vật phụ. Kiểu tiểu thuyết này cũng đặc trưng ở sự miêu tả rộng rãi hoàn cảnh ngoại giới khách quan mà trước nhất là hoàn cảnh xã hội. === Tiểu thuyết đóng === Tiểu thuyết theo xu hướng cấu trúc "đóng" có thể tính ngọn nguồn từ tác phẩm Quận chúa Clèves (La princesse de Clèves) (1678) của nữ sĩ M. M. de La Fayette, thể hiện sự tập trung vào cuộc đời của một con người, đôi khi vào chỉ một xung đột, một tình huống, do đó mang tính hướng tâm, đồng tâm, xét về kết cấu. Xu hướng cấu trúc tiểu thuyết này đã rất sớm trở thành ngọn nguồn của những sáng tác tiểu thuyết tâm lý giai đoạn sau. == Đặc trưng == === Tính chất văn xuôi === Là một thể loại cao cấp nhất thuộc phương thức tự sự, tính chất văn xuôi, vì vậy, trở thành đặc trưng tiêu biểu cho nội dung của thể loại. Tính chất đó đã tạo nên trường lực mạnh mẽ để thể loại dung chứa toàn vẹn hiện thực, đồng hóa và tái hiện chúng trong một thể thống nhất với những sắc màu thẩm mỹ mới vượt lên trên hiện thực, cho phép tác phẩm phơi bày đến tận cùng sự phức tạp muôn màu của hiện thực đời sống. === Nghệ thuật kể truyện === Giống như các hình thái tự sự khác như truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết lấy nghệ thuật kể chuyện làm giọng điệu chính của tác phẩm. Thông thường ở tác phẩm xuất hiện người kể chuyện như một nhân vật trung gian có nhiệm vụ miêu tả và kể lại đầu đuôi diễn biến của chuyện. Tuy sự tồn tại của yếu tố này là ước lệ nghệ thuật của nhiều thể loại thuộc tự sự, nghệ thuật kể chuyện của tiểu thuyết vẫn cho thấy sự đa dạng đặc biệt về phong cách: có thể thông qua nhân vật trung gian, có thể là nhân vật xưng "tôi", cũng có thể là một nhân vật khác trong tác phẩm, tạo nên các tác phẩm có một điểm nhìn trần thuật. Hiện nay, một trong những xu hướng tìm tòi đổi mới tiểu thuyết là việc tăng thêm các điểm nhìn ở tác phẩm, khi vai trò của nhân vật trung gian hoặc nhân vật xưng "tôi" được "san sẻ" cho nhiều nhân vật trong cùng một tác phẩm. === Khả năng phản ánh toàn vẹn hiện thực === Đặc trưng lớn nhất của tiểu thuyết chính là khả năng phản ánh toàn vẹn và sinh động đời sống theo hướng tiếp xúc gần gũi nhất với hiện thực. Là một thể loại lớn tiêu biểu cho phương thức tự sự, tiểu thuyết có khả năng bao quát lớn về chiều rộng của không gian cũng như chiều dài của thời gian, cho phép nhà văn mở rộng tối đa tầm vóc của hiện thực trong tác phẩm của mình. Ở phương diện khác, tiểu thuyết là thể loại có cấu trúc linh hoạt, không chỉ cho phép mở rộng về thời gian, không gian, nhân vật, sự kiện mà còn ở khả năng dồn nhân vật và sự kiện vào một khoảng không gian và thời gian hẹp, đi sâu khai thác cảnh ngộ riêng và khám phá chiều sâu số phận cá nhân nhân vật. === Hư cấu nghệ thuật === Hư cấu nghệ thuật cũng được coi là một đặc trưng của thể loại, là một thao tác nghệ thuật không thể thiếu trong tư duy sáng tạo của tiểu thuyết. Hư cấu cho phép tác phẩm tái hiện những thời đại lịch sử phát triển trong câu chuyện hư cấu, không hiện thực như sử học, và những nhân vật hoàn toàn không bị lệ thuộc bởi nguyên mẫu ngoài đời như những tác phẩm thuộc thể ký. Trong vô vàn những gương mặt đời thường và giữa muôn ngàn biến cố của lịch sử, nhà văn khi trước tác một tác phẩm tiểu thuyết đã thực hiện những biện pháp nghệ thuật đồng hóa và tái hiện bức tranh đời sống bằng phương thức chọn lọc, tổng hợp và sáng tạo. Khi đó, hư cấu nghệ thuật, đối với tiểu thuyết đã trở thành yếu tố bộc lộ rõ rệt phẩm chất sáng tạo dồi dào của nhà văn. === Tính đa dạng về sắc độ thẩm mỹ === Tính đa dạng về màu sắc thẩm mỹ cũng là một đặc trưng tiêu biểu của thể loại. Các thể loại văn học khác thường chỉ tiếp nhận một sắc thái thẩm mỹ nào đó để tạo nên âm hưởng của toàn bộ tác phẩm, như bi kịch là cái cao cả, hài kịch là cái thấp hèn, thơ là cái đẹp và cái lý tưởng. Ở tiểu thuyết không diễn ra quá trình chọn lựa màu sắc thẩm mỹ khi tiếp nhận hiện thực mà nội dung của nó thể hiện sự pha trộn, chuyển hóa lẫn nhau của các sắc độ thẩm mỹ khác nhau: cái cao cả bên cái thấp hèn, cái đẹp bên cái xấu, cái thiện lẫn cái ác, cái bi bên cạnh cái hài v.v. === Bản chất tổng hợp === Ở phương diện cuối cùng, tiểu thuyết là một thể loại mang bản chất tổng hợp. Nó có thể dung nạp thông qua ngôn từ nghệ thuật những phong cách nghệ thuật của các thể loại văn học khác như thơ (những rung động tinh tế), kịch (xung đột xã hội), ký (hiện thực đời sống); các thủ pháp nghệ thuật của những loại hình ngoại biên như hội họa (màu sắc), âm nhạc (thanh âm), điêu khắc (sự cân xứng, chi tiết), điện ảnh (khả năng liên kết các bức màn hiện thực); và thậm chí cả các bộ môn khoa học khác như tâm lý học, phân tâm học, đạo đức học và các bộ môn khoa học tự nhiên, khoa học viễn tưởng khác. v.v. Nhiều thiên tài nghệ thuật đã định hình phong cách từ khả năng tổng hợp này của thể loại, như Tolstoi với tiểu thuyết-sử thi, Dostoevski với thể loại tiểu thuyết-kịch, Solokhov với tiểu thuyết anh hùng ca-trữ tình, Roman Roland với tiểu thuyết-giao hưởng v.v. == Loại và thể == Phân chia loại thể tiểu thuyết theo nội dung, đề tài đã có từ xa xưa trong lịch sử văn học các nước phương Tây cũng như phương Đông. === Trung Quốc === Các tài liệu về lịch sử tiểu thuyết ở Trung Quốc nói đến các loại tiểu thuyết sau: Tiểu thuyết chí quái: những tác phẩm kể những chuyện quái dị. Có thể kể đến Sưu Thần Ký, Liệt dị truyện đời Lục Triều. Tiểu thuyết chí nhân: ghi về lời nói, việc làm của người thường có ý nghĩa tiêu biểu, như Thế thuyết tân ngữ. Tiểu thuyết truyền kỳ thịnh hành thời Đường, Tống, Nguyên, Minh, như Cổ kính ký, Bạch Viên truyện, Tiễn đăng tân thoại, Ngu sơ tân chí. Tiểu thuyết thoại bản đời Tống, Nguyên, Minh, tiêu biểu là các tác phẩm của Phùng Mộng Long, Lăng Mông Sơ. Tiểu thuyết chương hồi: những tiểu thuyết trường thiên bao gồm nhiều hồi, đầu mỗi hồi có "hồi mục", là một hoặc hai câu thất ngôn dự báo tình tiết chính của hồi, mỗi hồi viết về một sự kiện chủ yếu và kết thúc hồi có lời dẫn dắt đến hồi tiếp. Căn cứ theo dung lượng có thể chia tiểu thuyết chương hồi thành loại lớn (trên 100 hồi) và loại nhỏ (khoảng 2-3 chục chương hồi trở lại). Loại lớn thường bao gồm tiểu thuyết diễn nghĩa lịch sử như Tam quốc diễn nghĩa, Đông Chu liệt quốc; tiểu thuyết truyền kỳ anh hùng như Thủy hử; tiểu thuyết thần ma như Tây du ký; tiểu thuyết tình đời như Kim Bình Mai, Hồng Lâu Mộng; tiểu thuyết châm biếm như Chuyện làng Nho; tiểu thuyết công án như Long đồ công án; tiểu thuyết võ hiệp như truyện kiếm hiệp, tiền thân của những tác phẩm tiểu thuyết Kim Dung sau này. Tiểu thuyết chương hồi loại nhỏ có thể bao gồm tiểu thuyết tài tử giai nhân kể những mối tình của trai gái, thể hiện ước mơ hạnh phúc lứa đôi; tiểu thuyết khiển trách vạch trần những ung nhọt xã hội như tác phẩm Quan trường hiện hình ký. === Phương Tây === Tiểu thuyết ở phương Tây xuất hiện đa dạng tùy theo đặc điểm văn học dân tộc. Tuy nhiên, thường thấy các thể sau: Tiểu thuyết hiệp sĩ (chevalric romance): là thể loại văn học tao nhã thời trung đại xuất hiện ở Trung và Nam Âu, nhân vật chính là hiệp sĩ đi lập công vì vinh quang và vì người tình. Tiêu biểu là các tiểu thuyết về vua Arter, câu chuyện Tristan và Iser v.v.. Tiểu thuyết du đãng (picaresque novel): nhân vật trung tâm là những kẻ bợm nghịch xuất thân từ dưới đáy xã hội, thường có óc thông minh, hài hước, hay chơi khăm ông chủ bà chủ. Có thể kể đến tác phẩm Gil Blas ở Santillanne của Alain-René Lesage. Tiểu thuyết đen (roman noir), còn gọi là tiểu thuyết kinh dị (gothic novel): xuất hiện ở Anh vào cuối thế kỷ 18, với cốt truyện kết hợp các motif kinh dị, cạm bẫy, hồn ma, sức mạnh siêu nhiên với niềm hoài niệm quá vãng. Nhà văn Mỹ Edgar Allan Poe sau này đã tiếp tục với loại thể tiểu thuyết này trong nhiều tác phẩm của mình. Tiểu thuyết trinh thám (roman detective): nhân vật chính là thám tử, cốt truyện là điều tra vụ án, tình tiết được giữ bí mật cho đến kết thúc tác phẩm. Tiêu biểu là tác phẩm của Conan Doyle. Tiểu thuyết lịch sử (historical novel): lấy nhân vật, sự kiện lịch sử là đề tài, tuy có hư cấu một số nhân vật hay tình tiết phụ nhưng về cơ bản là tôn trọng sự thật lịch sử. Pie Đại đế của Tolstoi thuộc dạng này. Tiểu thuyết giáo dục: học hỏi, kể về quá trình trưởng thành của một con người như David Corpefil của Dickens. Tiểu thuyết luận đề (problem novel): thông qua nhân vật và sự kiện trình bày một vấn đề chủ yếu. Tiểu thuyết tâm lý (psychological fiction): đặt trọng tâm ở miêu tả diễn biến tâm lý, động cơ, cảnh ngộ của nhân vật. Các tiểu thuyết của Henry James thuộc dạng này. Tiểu thuyết tự truyện (autobiographical novel): nhà văn tự kể lại đời mình một cách khách quan, trung thực, thịnh hành ở thế kỷ 19 như bộ ba tác phẩm Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi của M. Gorki. === Những quan niệm khác === Theo M.M. Bakhtin, thể loại tiểu thuyết trải qua các hình thức như tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết khảo nghiệm, tiểu thuyết truyện ký và tiếp đến là tiểu thuyết giáo dục. Các nhà nghiên cứu hiện nay còn chia tiểu thuyết thành các dạng tiểu thuyết gia đình, tiểu thuyết nông dân, tiểu thuyết lịch sử, tiểu thuyết quan sát thế giới, tiểu thuyết khoa học viễn tưởng, tiểu thuyết phiêu lưu, tiểu thuyết thư tín, tiểu thuyết nhật ký, tiểu thuyết dòng ý thức, tiểu thuyết tư liệu v.v. Việc phân loại tiểu thuyết theo đề tài về cơ bản không tránh khỏi có chỗ chồng chéo khi trong thực tế một tiểu thuyết có thể vừa thuộc dạng này vừa thuộc dạng khác, nhất là những sáng tác trong thời hiện đại. == Xem thêm == Truyện kể Genji: tiểu thuyết đầu tiên của nhân loại. Đôn Kihôtê: tiểu thuyết đầu tiên của châu Âu. Harry Potter: tiểu thuyết nổi tiếng gần đây. == Chú thích == == Tham khảo == Mục từ Tiểu thuyết trong cuốn 150 thuật ngữ văn học, Lại Nguyên Ân biên soạn, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, in lần thứ 2 có sửa đổi bổ sung. H. 2003. Loại thể văn học, phần Tiểu thuyết, trong cuốn Cơ sở lý luận văn học, tập 2. Giáo trình đại học dùng cho sinh viên khoa Ngữ Văn các trường đại học, H, 1985. Chương 2: Tiểu thuyết, trong cuốn Lý luận văn học, Hà Minh Đức chủ biên, Nhà xuất bản Giáo dục, tái bản lần 7. H. 2001. Chương 19: Tác phẩm tự sự, trong cuốn Lý luận văn học, Phương Lựu chủ biên, Nhà xuất bản Giáo dục, tái bản lần thứ 4, H. 2004. == Đọc thêm == === Quan điểm đương đại === 1651: Paul Scarron, The Comical Romance, Chapter XXI. "Which perhaps will not be found very Entertaining" (London, 1700). Scarron's plea for a French production rivalling the Spanish "Novels". online edition 1670: Pierre Daniel Huet, "Traitté de l'origine des Romans", Preface to Marie-Madeleine Pioche de La Vergne comtesse de La Fayette, Zayde, histoire espagnole (Paris, 1670). A world history of fiction. pdf-edition Gallica France 1683: [Du Sieur], "Sentimens sur l'histoire" from: Sentimens sur les lettres et sur l'histoire, avec des scruples sur le stile (Paris: C. Blageart, 1680). The new novels as published masterly by Marie de LaFayette. online edition 1702: Abbe Bellegarde, "Lettre à une Dame de la Cour, qui lui avoit demandé quelques Reflexions sur l'Histoire" in: Lettres curieuses de littérature et de morale (La Haye: Adrian Moetjens, 1702). Paraphrase of Du Sieur's text. online edition 1705/1708/1712: [Anon.] In English, French and German the Preface of The Secret History of Queen Zarah and the Zarazians (Albigion, 1705). Bellegarde's article plagiarised. online edition 1713: Deutsche Acta Eruditorum, German review of the French translation of Delarivier Manley's New Atalantis 1709 (Leipzig: J. L. Gleditsch, 1713). A rare example of a political novel discussed by a literary journal. online edition 1715: Jane Barker, preface to her Exilius or the Banish'd Roman. A New Romance (London: E. Curll, 1715). Plea for a "New Romance" following Fénlon's Telmachus. online edition 1718: Johann Friedrich Riederer, "Satyra von den Liebes-Romanen", from: Die abentheuerliche Welt in einer Pickelheerings-Kappe, 2 (Nürnberg, 1718). German satire about the wide spread reading of novels and romances. online edition 1742: Henry Fielding, preface to Joseph Andrews (London, 1742). The "comic epic in prose" and its poetics. online edition === Tác phẩm thứ cấp === Erwin Rohde Der Griechesche Roman und seine Vorläufer (1876) [un-superseded history of the ancient novel] (tiếng Đức) Lukács, Georg (1 tháng 5 năm 1971). The Theory of the Novel. trans. Anna Bostock. Cambridge: M.I.T. Press. ISBN 0-262-12048-8. Bakhtin, Mikhail. About novel. The Dialogic Imagination: Four Essays. Ed. Michael Holquist. Trans. Caryl Emerson and Michael Holquist. Austin and London: University of Texas Press, 1981. [written during the 1930s] Watt, Ian (1957). The Rise of the Novel: Studies in Defoe, Richardson and Fielding. Berkeley: University of Los Angeles Press. ISBN 0-520-23069-8. Watt reads Robinson Crusoe as the first modern "novel" and interprets the rise of the modern novel of realism as an achievement of English literature, owed to a number of factors from early capitalism to the development of the modern individual. Burgess, Anthony (1963). The Novel To-day. London: Longmans, Green. Burgess, Anthony (1967). The Novel Now: A Student's Guide to Contemporary Fiction. London: Faber. Ben Edwin Perry The Ancient Romances (Berkeley, 1967) review Richetti, John J. (1969). Popular Fiction before Richardson. Narrative Patterns 1700-1739. Oxford: OUP. ISBN. Burgess, Anthony (1970). "Novel, The" – classic Encyclopædia Britannica entry. Miller, H. K., G. S. (1970) Rousseau and Eric Rothstein, The Augustan Milieu: Essays Presented to Louis A. Landa (Oxford: Clarendon Press, 1970). ISBN 0-19-811697-7 Arthur Ray Heiserman The Novel Before the Novel (Chicago, 1977) ISBN 0-226-32572-5 Madden, David; Charles Bane, Sean M. Flory (2006) [1979]. A Primer of the Novel: For Readers and Writers . Lanham, MD: Scarecrow Press. ISBN 0-8108-5708-1. Bảo trì CS1: Văn bản dư (link) Updated edition of pioneering typology and history of over 50 genres; index of types and technique, and detailed chronology. Spufford, Magaret, Small Books and Pleasant Histories (London, 1981). Davis, Lennard J. (1983). Factual Fictions: The Origins of the English Novel. New York: Columbia University Press. ISBN 0-231-05420-3. Spencer, Jane, The Rise of Woman Novelists. From Aphra Behn to Jane Austen (Oxford, 1986). Armstrong, Nancy (1987). Desire and Domestic Fiction: A Political History of the Novel. New York: Oxford University Press. ISBN 0-19-504179-8. McKeon, Michael (1987). The Origins of the English Novel, 1600-1740. Baltimore: Johns Hopkins University Press. ISBN 0-8018-3291-8. Reardon (ed.), Bryan (1989). Collected Ancient Greek Novels. Berkeley, CA: University of California Press. ISBN 0-520-04306-5. Hunter, J. Paul (1990). Before Novels: The Cultural Contexts of Eighteenth-Century English Fiction. New York: Norton. ISBN 0-393-02801-1. Ballaster, Ros (1992). Seductive Forms: Women's Amatory Fiction from 1684-1740. Oxford: Clarendon Press. ISBN 0-19-811244-0. Doody, Margaret Anne (1996). The True Story of the Novel. New Brunswick, N.J.: Rutgers University Press. ISBN 0-8135-2168-8. Relihan, Constance C. (ed.), Framing Elizabethan fictions: contemporary approaches to early modern narrative prose (Kent, Ohio/ London: Kent State University Press, 1996). ISBN 0-87338-551-9 Reconsidering The Rise of the Novel: Eighteenth Century Fiction, Volume 12, Number 2-3, ed. David Blewett (January-April 2000). McKeon, Michael, Theory of the Novel: A Historical Approach (Baltimore: Johns Hopkins University Press, 2000). Josephine Donovan, Women and the Rise of the Novel, 1405-1726 revised edition (Palgrave Macmillan, 2000). Simons, Olaf (2001). Marteaus Europa, oder, Der Roman, bevor er Literatur wurde: eine Untersuchung des Deutschen und Englischen Buchangebots der Jahre 1710 bis 1720. Amsterdam: Rodopi. ISBN 90-420-1226-9. A market study of the novel around 1700 interpreting contemporary criticism. Inger Leemans, Het woord is aan de onderkant: radicale ideeën in Nederlandse pornografische romans 1670 - 1700 (Nijmegen: Vantilt, 2002). ISBN 90-75697-89-9. Price, Leah (2003). The Anthology and the Rise of the Novel: From Richardson to George Eliot. London: Cambridge University Press. ISBN 0-521-53939-0. from Leah Price Rousseau, George (2004). Nervous Acts: Essays on Literature Culture and Sensibility (Basingstoke: Palgrave Macmillan, 2004). ISBN 1-4039-3454-1 Mentz, Steve, Romance for sale in early modern England: the rise of prose fiction (Aldershot [etc.]: Ashgate, 2006). ISBN 0-7546-5469-9 Schultz, Lydia, "Flowing against the traditional stream: consciousness in Tillie Olsen's 'Tell Me a Riddle.'" Melus, 1997. Rubens, Robert, "A hundred years of fiction: 1896 to 1996. (The English Novel in the Twentieth Century, part 12)." Contemporary Review, December 1996. == Liên kết ngoài == Modern Library danh sách 100 tiểu thuyết chạy nhất How to write a novel in 100 days or less National Novel Writing Month – Write a novel in 30 days (November) List of Classic Novels compiled by Michael J. Farrand.
bóng đá tại đại hội thể thao đông nam á.txt
Bóng đá là một trong nhiều môn thể thao được tổ chức thi đấu trong Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á (SEAP Games) rồi Đại hội Thể thao Đông Nam Á (SEA Games). Bóng đá được đưa vào Đại hội Thể thao Đông Nam Á từ năm 1959 đối với bóng đá nam và 1985 đối với bóng đá nữ. == Kết quả == === Bóng đá nam === ==== Đại hội Thể thao Bán đảo Đông Nam Á ==== 1 Quyết định của bảng xếp hạng vòng tròn 1 lượt.2 Các giải thưởng đã được trao.3 Không có huy chương đồng được tổ chức. ==== Đại hội Thể thao Đông Nam Á ==== *Giải đấu bóng đá U-23 kể từ năm 2001 chứ không phải là đội tuyển bóng đá quốc gia như trước đây nữa.4 Indonesia đã không bật lên lúc đó được bổ nhiệm. Sau khi chờ đợi 15 phút trọng tài hủy bỏ trận đấu và báo cáo ủy ban kỹ thuật được trao huy chương đồng cho Miến Điện.5 Quyết định của bảng xếp hạng vòng tròn 1 lượt. === Bóng đá nữ === ==== Đại hội Thể thao Đông Nam Á ==== 1 Thi đấu như định dạng vòng tròn 1 lượt == Bảng tổng sắp huy chương == === Bóng đá nam === === Bóng đá nữ === *Hai đội có cùng thành tích. == Xem thêm == Giải vô địch bóng đá Đông Nam Á Bóng đá tại Đại hội Thể thao Đông Á Bóng đá tại Đại hội Thể thao Tây Á Bóng đá tại Đại hội Thể thao châu Á == Tham khảo == == Liên kết ngoài == ASEANfootball.org - Đại hội Thể thao Đông Nam Á RSSSF - Bóng đá tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á (Bóng đá nam) RSSSF - Bóng đá tại Đại hội Thể thao Đông Nam Á (Bóng đá nữ)
windows live.txt
Windows Live là một thương hiệu bao gồm một nhóm các dịch vụ và sản phẩm phần mềm từ Microsoft. Đa số các dịch vụ này là các ứng dụng web, có thể truy cập từ một trình duyệt web, nhưng cũng có những ứng dụng đòi hỏi phải được cài đặt. Có ba nhóm dịch vụ cơ bản: những trải nghiệm nhiều thông tin, kết nối và được bảo vệ. Windows Live được công bố vào 1 tháng 11 năm 2005. Vài thuộc tính của Windows Live được đặt thương hiệu khác và được tăng cường từ nhóm các dịch vụ và sản phẩm MSN của Microsoft. Tuy nhiên, MSN vẫn tồn tại song song với Windows Live như một phương tiện để gửi nội dung được lập trình sẵn (trái ngược với nội dung và truyền thông tùy biến). Mặc dù việc đặt nhãn hiệu mới có thể đưa ra sự liên kết kỹ thuật chặt chẽ hơn với hệ điều hành và dịch vụ Microsoft Windows, cả hai vẫn tồn tại độc lập với nhau. Microsoft đã nói Windows Live "là một cách để mở rộng trải nghiệm của người dùng Windows". Tuy nhiên, một vài trình duyệt dựa trên ứng dụng Windows Live nằm ngoài Windows, và Windows cũng không kèm theo ứng dụng Windows Live. Vài dịch vụ và chương trình Windows Live đã phát hành bao gồm bộ máy tìm kiếm Live Search, chương trình tin nhắn nhanh Windows Live Messenger, dịch vụ webmail Windows Live Hotmail, dịch vụ bảo mật máy tính Windows Live OneCare, và dịch vụ mạng xã hội Windows Live Spaces. Ngoài Windows Live, chủ yếu nhắm tới người dùng cá nhân, có những thuộc tính Web từ Microsoft cũng được gán nhãn "Live": Microsoft Office Live dành cho doanh nghiệp nhỏ, hệ thống chơi game nhiều người chơi và truyền tải nội dung Xbox Live dành cho Xbox và Xbox 360, và dịch vụ game nhiều người chơi Games for Windows - LIVE dành cho Microsoft Windows. == Các dịch vụ Windows Live == === Live Search === Vào ngày 21 tháng 3 năm 2007, Microsoft đã quyết định tách rời sự phát triển Live Search ra khỏi gia đình Windows Live, tạo thành một phần của Live Search and Ad Platform. Live Search (trước đây là Windows Live Search và MSN Search) sẽ hợp nhất với Microsoft adCenter trong một nhóm mới lãnh đạo bởi Satya Nadella, một phần của chi nhánh Platform and Systems của Microsoft. Ngoài các trang web tìm kiếm, những dịch vụ khác của Live Search bao gồm: Live Search Academic Live Search Books Live Search Feeds Live Search Images Live Search Local Live Search Macros Live Search Maps Live Search News Live Product Search Live QnA Live Search Video Thêm vào đó Live Product Upload và Live Search Books Publisher Program cung cấp những dịch vụ tải lên nội dung đến người bán và người phát hành để thêm nội dung vào Live Search. === Dịch vụ Windows Live Mobile === === API cho các nhà phát triển === == Microsoft Live Labs == Microsoft Live Labs là một nhóm giữa MSN và Microsoft Research có nhiệm vụ tập trung vào nghiên cứu ứng dụng dành cho sản phẩm và dịch vụ Internet ở Microsoft. Live Labs dẫn đầu bởi Ts. Gary William Flake, người trước khi gia nhập Microsoft là nhà khoa học trưởng ở Yahoo! Research Lab và là cựu trưởng nhóm nghiên cứu ở cổng điện tử Web phân nhánh Overture Services. Tiêu điểm của Live Labs là nghiên cứu ứng dụng và phần mềm thực tiễn trong lĩnh vực khoa học máy tính bao gồm xử lý ngôn ngữ tự nhiên, học máy, truy xuất thông tin, khai thác dữ liệu, ngôn ngữ máy tính, tính toán phân bố, v.v... == Theme == === Blue Vapor === Đa số các ứng dụng và dịch vụ Windows Live sử dụng theme (phối màu) được biết đến như Blue Vapor (Hơi nước xanh) hay Flair. === Windows Live 2.0 === Với sự phát hành ảnh beta mới nhất của Windows Live Messenger 8.5, Mail, Writer và Photo Gallery, được biết đến với tên Windows Live Wave 2.0 Suite ("Wave" dùng để chỉ một nhóm hoặc một đợt sản phẩm phát hành), một theme mới cũng được phát hành để cho phép hiệu ứng trong suốt Aero trong Windows Vista. Nó cũng được thông báo là có thanh tiêu đề chuẩn được biết đến như Flair dành cho Windows Live sẽ được đổi thành một cái khác mới hơn. Sau đây là ví dụ: == Windows Live Butterfly == Để công nhận sự đóng góp của các thử nghiệm viên beta, Microsoft đã khởi động một chương trình phần thưởng Windows Live Butterfly(trước đây là MSN Butterfly). Những 'con bướm' tương lai được chọn bởi những đội ngũ sản phẩm Windows Live (nội bộ Microsoft) và được đề cử cho một nhiệm kỳ tối thiểu một năm, sau đó họ phải được chọn lại bởi những đội ngũ sản phẩm nội bộ nếu không thành viên trong nhóm sẽ bị loại. Những 'con bướm' được cung cấp những phần mềm mới của Microsoft để kiểm thử trước khi bản beta được phát hành rộng rãi và được liên hệ trực tiếp với các trưởng chương trình của phần mềm Windows Live. Những Butterflies được chọn đã được tổ chức lại cho năm 2007. == Xem thêm == officelive Xbox Live == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Bùi Thế Tâm. Hướng dẫn dùng Skydrive - ổ đĩa ảo miễn phí của Microsoft (tiếng Việt) Hướng dẫn sử dụng windows live (tiếng Việt) === Windows Live === leuxua.com tiếng việt Live.com Homepage Windows Live Betas LiveSide: Windows Live News Windows Live Blog on Windows Live Spaces === Microsoft Live Labs === Microsoft Live Labs === Media === BBC article CNET reviews
cholsan.txt
Cholsan (Hán Việt: Thiết Sơn) là một huyện thuộc tỉnh Pyongan Bắc tại Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên. Huyện bao gồm bán đảo Cholsan nhô ra Hoàng Hải. Cholsan giáp với Yomju và Tongrim ở phía bắc, và tất cả các mặt còn lại giáp biển. Địa hình Cholsan chủ yếu là những ngọn đồi cao hiếm khi vượt quá 300 m; đỉnh cao nhất là Yondaesan có độ cao 393 m. Đảo ven bờ Kado có địa hình tương tự với đỉnh Yondaebong cao 335 m. Huyện có tổng cộng 28 đảo ven bờ, một vài trong số chúng không có cư dân sinh sống. Đường bờ biển của huyện dài 123 km và lên tới 265 km nếu tính cả các hòn đảo. Cholsan có khí hậu đại dương tương đối ôn hòa và là nơi có mùa đông ấm áp nhất tại Pyongan Bắc. Nhiệt độ trung bình là 8,9 °C, trung bình tháng giêng là -7,9 °C và trung bình tháng 8 là 24 °C. Lượng mưa trung bình là 900 mm. 46% diện tích của huyện là rừng, chủ yếu là thông và sồi. 40% diện tích dùng để canh tác với các cây trồng chính như lúa gạo, ngô, đỗ tương. Nghề nuôi trai và đánh cá hiện diện ở khu vực ven biển. Điểm thu hút du lịch trên địa bàn là quần đảo Pansong, được biết đến với phong cảnh đẹp và động Mason (마선굴). Hòn đảo Wondo là một khu bảo tồn thiên nhiên. Trên địa bàn huyện Cholsan có trường Công nghệ Tiến tiến Cholsan (철산고등전문학교). == Xem thêm == Phân cấp hành chính Bắc Triều Tiên == Tham khảo == International Information Research Institute (국제정보연구소) (1999). “창성군”. 北韓情報總覽 2000 [Bukhan jeongbo chong-ram 2000]. Seoul: Author. tr. 828.
kinh tế nga.txt
Kinh tế Nga là nền kinh tế lớn thứ 12 trên thế giới sau Hàn Quốc (11) và Canada (10) tính đến năm 2016. Nga là một nước phong phú về tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ, than và quặng thép. Đây cũng là một nước có nhiều ngành nông nghiệp phong phú. Sau khi Liên bang Xô viết tan rã, Nga đã phải trải qua nhiều giai đoạn khá phức tạp. Nền kinh tế của nước này thay đổi từ kinh tế kế hoạch sang nền kinh tế thị trường và toàn cầu hóa. Các cuộc cải tổ kinh tế vào những năm 1990 chủ yếu là về công nghiệp, năng lượng và quốc phòng. Cuối năm 2008 và đầu năm 2009, nền kinh tế bắt đầu suy thoái sau 10 năm phát triển, cho đến khi nền kinh tế ổn định trở lại vào cuối 2009-đầu 2010. Mặc dù bị suy thoái nhưng nền kinh tế vẫn không bị ảnh hưởng nặng bởi Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu so với các nước láng giềng, một phần là do chính sách kinh tế thích hợp đã giúp nền kinh tế không bị suy thoái nặng. == Lịch sử == Trước đây, nền kinh tế của Nga chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Nông nô - lực lượng lao động chính của Nga, phải làm việc cật lực trong suốt chiều dài lịch sử nước Nga và không được phép rời bỏ đất đai mà họ canh tác. Đến năm 1916, giai đoạn trị vì của Sa hoàng Nicholas II, tình hình kinh tế trở nên tồi tệ hơn do những cuộc xung đột chính trị - giá thức ăn tăng gấp 4 lần, rất nhiều người đã chết đói vì không có bánh mì để ăn. Đến tháng 2 năm 1917, dòng người xếp hàng chờ bánh mì ở trước Cung điện Mùa Đông đã gây náo loạn. Rất nhiều người đã đứng lên biểu tình. Dân chúng luôn yêu cầu vị Sa hoàng này phải thoái vị. Đến tháng 3 năm 1917, Nicholas II đã đồng ý rời khỏi ghế Sa hoàng theo đúng thỏa thuận. Những cuộc nổi dậy của quần chúng nhân dân ngày càng lan rộng trên khắp đất nước Nga và có tổ chức hơn dưới sự lãnh đạo của những người Bolshevik (đứng đầu là V.I.Lenin). Đến ngày 7 tháng 11 năm 1917 (theo lịch cũ của Nga là tháng 10), cuộc Cách mạng tháng Mười vĩ đại đã thành công, lật đổ Sa hoàng và lập nên nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới. == Kinh tế vĩ mô == === Tổng sản phẩm quốc nội === Dưới đây là biểu đồ xu hướng tăng GDP của Nga theo giá cả thị trường được ước tính bởi Quỹ tiền tệ quốc tế, đơn vị tính là triệu Rúp của Nga. Để so sánh sức mua tương đương, 1 USD = 30 Rúp. === Chính sách tài chính và tiền tệ === == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Rus dış ticaret - tin tức thương mại nước ngoài, thống kê thương mại nước ngoài, chỉ số thương mại nước ngoài, tỷ giá hối đoái Rúp Nga.
gastón gaudio.txt
Gastón Norberto Gaudio (phát âm tiếng Tây Ban Nha: [ɡasˈton ˈɡauðjo]; sinh ngày 9 tháng 12 năm 1978) là cựu vận động viên quần vợt chuyên nghiệp người Argentina. Gaudio giành được 8 danh hiệu đơn trong sự nghiêp và có vị trí cao nhất trên bảng xếp hạng ATP là số 5 thế giới váo tháng 4 năm 2005. Gaudio giành danh hiệu lớn nhất trong sự nghiệp của mình là chức vô địch Roland Garros năm 2004 sau khi đánh bại tay vợt người đồng hương Guillermo Coria trong 5 set tại trận chung kết. == Danh hiệu == === Chung kết Grand Slam === == Các trận chung kết ATP == === Đơn: 16 (8 chức vô địch, 8 lần á quân) === Vô địch (8) Á quân (8) === Đôi: 3 (3 danh hiệu) === Vô địch (3) == Tham khảo ==
unicode.txt
Unicode (hay gọi là mã thống nhất; mã đơn nhất) là bộ mã chuẩn quốc tế được thiết kế để dùng làm bộ mã duy nhất cho tất cả các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới, kể cả các ngôn ngữ sử dụng ký tự tượng hình phức tạp như tiếng Trung Quốc, tiếng Thái,.v.v. Vì những điểm ưu việt đó, Unicode đã và đang từng bước thay thế các bộ mã truyền thống, kể cả bộ mã tiêu chuẩn ISO 8859. Unicode đang được sử dụng trên rất nhiều phần mềm cũng như các trình ứng dụng, chẳng hạn Windows. == Hiệp hội Unicode == Hiệp hội Unicode ở California xuất bản phiên bản đầu tiên của The Unicode Standard (Tiêu chuẩn Unicode) vào năm 1991, và vẫn liên tục hoàn thiện chuẩn (hiện nay đã đến phiên bản 4.0). Các phiên bản mới được viết dựa trên các phiên bản đã có, nhờ vậy đảm bảo được tính tương thích. Cũng xin lưu ý rằng Unicode và tiêu chuẩn ISO 10646 là hai khái niệm hoàn toàn độc lập. Khi nói đến ISO 10646 tức là người ta đang nói đến tiêu chuẩn quốc tế chính thức, còn Unicode thì được Unicode Consortium (tập hợp đại diện các công ty tin học lớn) soạn ra. Kể từ năm 1991, khi Nhóm làm việc ISO và Liên đoàn Unicode quyết định hợp tác chặt chẽ với nhau trong quá trình nâng cấp và mở rộng chuẩn để đảm bảo tính tương thích (cụ thể là vị trí của các ký tự trên cả hai đều y hệt nhau – chẳng hạn chữ ơ là 01A1). Còn với Unicode thì lại khác, chuẩn này được phát triển bởi Liên đoàn Unicode. Liên đoàn Unicode là một tổ chức phi lợi nhuận tập hợp bởi một số công ty, trong đó có cả những công ty đa quốc gia khổng lồ có ảnh hưởng lớn như Microsoft, Adobe Systems, IBM, Novell, Sun Microsystems, Lotus Software, Symantec và Unisys. (Danh sách đầy đủ tại: [1]). Tuy nhiên, chuẩn Unicode không chỉ quy định bộ mã, mà còn cả cách dựng hình, cách mã hóa (sử dụng 1, 2, 3 hay 4 byte để biểu diễn một ký tự (UTF-8 là một ví dụ), sự tương quan (collation) giữa các ký tự, và nhiều đặc tính khác của các ký tự, hỗ trợ cả những ngôn ngữ từ phải sang trái như tiếng Ả Rập chẳng hạn. == Kho chữ == Unicode chiếm trước 1.114.112 (= 220+216) mã chữ, và hiện nay đã gán ký hiệu cho hơn 96000 mã chữ. 256 mã đầu tiên phù hợp với ISO 8859-1, là cách mã hóa ký tự phổ biến nhất trong "thế giới phương Tây"; do đó, 128 ký tự đầu tiên còn được định danh theo ASCII. Không gian mã Unicode cho các ký tự được chia thành 17 mặt phẳng (plane) và mỗi mặt phẳng có 65536 code point. Mặt phẳng đầu tiên (plane 0), "Mặt phẳng đa ngôn ngữ căn bản" (Basic Multilingual Plane - BMP), là nơi mà đa số các ký hiệu được gán mã. BMP chứa các ký hiệu cho hầu hết các ngôn ngữ hiện đại, và một số lượng lớn các ký tự đặc biệt. Đa số các code point được phân bố trong BMP được dùng để mã hóa các ngôn ngữ CJKV (Hán-Nhật-Hàn-Việt). Hai mặt phẳng tiếp theo được dùng cho các ký tự "đồ họa". Mặt phẳng 1, "Mặt phẳng đa ngôn ngữ bổ sung" (Supplementary Multilingual Plane - SMP), được dùng chủ yếu cho các loại chữ viết cổ, ví dụ Egyptian hieroglyph (chưa được mã hóa), nhưng cũng còn được dùng cho các ký hiệu âm nhạc. Mặt phẳng 2, (Supplementary Ideographic Plane - SIP), được dùng cho khoảng 40000 chữ Trung Quốc ít gặp mà đa số là các ký hiệu cổ, ngoài ra cũng có một số ký hiệu hiện đại. Mặt phẳng 14 hiện chứa một số các ký tự thẻ ngôn ngữ không được khuyến khích và một số ký hiệu lựa chọn biến thể. Mặt phẳng 15 và Mặt phẳng 16 được mở cho các sử dụng cá nhân. Vẫn còn nhiều tranh luận giữa các chuyên gia về ngôn ngữ CJK (Hoa-Nhật-Hàn), đặc biệt là các chuyên gia người Nhật, về nhu cầu và lợi ích kỹ thuật của việc "thống nhất chữ Hoa", tức là việc chuyển những bộ chữ Hoa và chữ Nhật vào trong một bộ chữ hợp nhất. (Xem thêm mã hóa chữ Hoa) Kho ≈220 điểm mã bảo đảm sự tương thích với bộ mã UTF-16. Việc mới chỉ dùng hết có 10% kho chữ cho thấy rằng kho chữ cỡ ≈20 bit này khó bị đầy trong một tương lai gần. == Các bảng mã == Đọc từ đầu tới giờ, chúng ta chỉ mới biết rằng Unicode là một cách để đánh số duy nhất cho tất cả các ký tự được dùng bởi con người trong ngôn ngữ viết. Nhưng những con số đó được ghi trong các hệ thống xử lý văn bản lại là những vấn đề khác; những vấn đề đó là hậu quả của việc phần lớn các phần mềm ở phương Tây chỉ biết tới các hệ thống mã hóa 8-bit, và việc đưa Unicode vào các phần mềm chỉ mới diễn ra chậm chạp trong những năm gần đây. Các chương trình 8-bit cũ chỉ nhận biết các ký tự 8 bit, và không thể dùng nhiều hơn 256 điểm mã nếu không có những cách giải quyết đặc biệt. Do đó người ta phải đề ra nhiều cơ chế để dùng Unicode; tùy thuộc vào khả năng lưu trữ, sự tương thích với chương trình nguồn và sự tương tác với các hệ thống khác mà mỗi người chọn một cơ chế. === UTF-32 === Cách đơn giản nhất để lưu trữ tất cả các 220+216 Unicode code points là sử dụng 32 bit cho mỗi ký tự, nghĩa là, 4 byte – do đó, cách mã hóa này được Unicode gọi là UTF-32 và ISO/IEC 10646 gọi là UCS-4. Vấn đề chính của cách này là nó hao chỗ hơn 4 lần so với trước kia, do đó nó ít được dùng trong các vật nhớ ngoài (như đĩa, băng). Tuy nhiên, nó rất đơn giản, nên một số chương trình sẽ sử dụng mã hóa 32 bit bên trong khi xử lý Unicode. === UTF-16 === UTF-16 là một cách mã hóa dùng Unicode 20 bit. Các ký tự trong BMP được diễn tả bằng cách dùng giá trị 16-bit của code point trong Unicode CCS. Có hai cách để viết giá trị 16 bit trong một dòng (stream) 8-bit. Có lẽ bạn đã nghe qua chữ endian. Big Endian có nghĩa là cho Most Significant Byte đi trước, tức là nằm bên trái – do đó ta có UTF-16BE. Còn Little Endian thì ngược lại, tức là Least Significant Byte đi trước – do đó ta có UTF-16LE. Thí dụ, giá trị 16-bit của con số Hex1234 được viết là Hex12 Hex34 trong Big Endian và Hex34 Hex12 trong Little Endian. Những ký hiệu không nằm trong BMP được biểu diễn bằng cách dùng surrogate pair (cặp thay thế). Code points có giá trị từ U+D800 đến U+DFFF được dành riêng ra để dùng cho mục đích này. Trước hết, một code point có 20 bit được phân ra làm hai nhóm 10 bit. Nhóm Most Significant 10 bit được map vào một giá trị 10 bit nằm trong khoảng từ u+D800 đến u+DBFF. Nhóm Least Significant 10 bit được map vào một giá trị 10 bit nằm trong khoảng từ U+DC00 đến U+DFFF. Theo cách đó UTF-16 có thể biểu diễn được những ký hiệu Unicode có 20 bit. === UTF-8 === UTF-8 là một cách mã hóa để có tác dụng giống như UCS-4 (cũng là UTF-16), chứ không phải có code point nào khác. UTF-8 được thiết kế để tương thích với chuẩn ASCII. UTF-8 có thể sử dụng từ một (cho những ký tự trong ASCII) cho đến 6 byte để biểu diễn một ký tự. Chính vì tương thích với ASCII, UTF-8 cực kỳ có lợi thế khi được sử dụng để bổ sung hỗ trợ Unicode cho các phần mềm có sẵn. Thêm vào đó, các nhà phát triển phần mềm vẫn có thể sử dụng các hàm thư viện có sẵn của ngôn ngữ lập trình C để so sánh (comparisons) và xếp thứ tự. (Ngược lại, để hỗ trợ các cách mã hóa 16 bit hay 32 bit như ở trên, một số lớn phần mềm buộc phải viết lại do đó tốn rất nhiều công sức. Một điểm mạnh nữa của UTF-8 là với các văn bản chỉ có một số ít các ký tự ngoài ASCII, hay thậm chí cho các ngôn ngữ dùng bảng chữ cái Latinh như tiếng Việt, tiếng Pháp, tiếng Tây Ban Nha, v.v.; cách mã hóa kiểu này cực kỳ tiết kiệm không gian lưu trữ. UTF-8 được thiết kế đảm bảo không có chuỗi byte của ký tự nào lại nằm trong một chuỗi của ký tự khác dài hơn. Điều này khiến cho việc tìm kiếm ký tự theo byte trong một văn bản là rất dễ dàng. Một số dạng mã hóa khác (như Shift-JIS) không có tính chất này khiến cho việc xử lý chuỗi ký tự trở nên phức tạp hơn nhiều. Mặc dù để thực hiện điều này đòi hỏi phải có độ dư (văn bản sẽ dài thêm) nhưng những ưu điểm mà nó mang lại vẫn nhiều hơn. Việc nén dữ liệu không phải là mục đích hướng tới của Unicode và việc này cần được tiến hành một cách độc lập. Các quy định chính xác của UTF-8 như sau (các số bắt đầu bằng 0x là các số biểu diễn trong hệ thập lục phân) Các ký tự có giá trị nhỏ hơn 0x80, sử dụng 1 byte có cùng giá trị. Các ký tự có giá trị nhỏ hơn 0x800, sử dụng 2 byte: byte thứ nhất có giá trị 0xC0 cộng với 5 bit từ thứ 7 tới 11 (7th-11th least significant bits); byte thứ hai có giá trị 0x80 cộng với các bit từ thứ 1 tới thứ 6 (1st-6th least significant bits). Các ký tự có giá trị nhỏ hơn 0x10000, sử dụng 3 byte: byte thứ nhất có giá trị 0xE0 cộng với 4 bit từ thứ 13 tới 16; byte thứ hai có giá trị 0x80 cộng với 6 bit từ thứ 7 tới 12; byte thứ ba có giá trị 0x80 cộng với 6 bit từ thứ 1 tới thứ 6. Các ký tự có giá trị nhỏ hơn 0x200000, sử dụng 4 byte: byte thứ nhất có giá trị 0xF0 cộng với 3 bit từ thứ 19 tới 21; byte thứ hai có giá trị 0x80 cộng với 6 bit từ thứ 13 tới 18; byte thứ ba có giá trị 0x80 cộng với 6 bit từ thứ 7 tới thứ 12; byte thứ tư có giá trị 0x80 cộng với 6 bit từ thứ 1 tới thứ 6. Hiện nay, các giá trị khác ngoài các giá trị trên đều chưa được sử dụng. Tuy nhiên, các chuỗi ký tự dài tới 6 byte có thể được dùng trong tương lai. Chuỗi 5 byte sẽ lưu trữ được mã ký tự chứa đến 26 bit: byte thứ nhất có giá trị 0xF8 cộng với 2 bit thứ 25 và 26, các byte tiếp theo lưu giá trị 0x80 cộng với 6 bit có ý nghĩa tiếp theo. Chuỗi 6 byte sẽ lưu trữ được mã ký tự chứa đến 31 bit: byte thứ nhất có giá trị 0xFC cộng với bit thứ 31, các byte tiếp theo lưu giá trị 0x80 cộng với 6 bit có ý nghĩa tiếp theo. === UTF-7 === Chuẩn hóa được ít dùng nhất có lẽ là UTF-7. Chuẩn MIME yêu cầu mọi thư điện tử phải được gửi dưới dạng ASCII cho nên các thư điện tử nào sử dụng mã hóa Unicode được coi là không hợp lệ. Tuy nhiên hạn chế này thường bị hầu hết mọi người bỏ qua. UTF-8 cho phép thư điện tử sử dụng Unicode và đồng thời cũng phù hợp với tiêu chuẩn. Các ký hiệu ASCII sẽ được giữ nguyên, tuy nhiên các ký tự khác ngoài 128 ký hiệu ASCII chuẩn sẽ được mã hóa bằng một escape sequence hay một dấu '+' theo sau một ký tự Unicode được mã hóa bằng Base64, và kết thúc bằng một dấu '-'. Ký tự '+' nổi tiếng sẽ được mã hóa thành '+-'. == Các vấn đề khác == Tiêu chuẩn Unicode còn bao gồm một số vấn đề có liên quan, chẳng hạn character properties, text normalisation forms và bidirectional display order (để hiển thị chính xác các văn bản chứa cả hai loại ngôn ngữ có cách viết từ phải qua trái như tiếng Ả Rập hay tiếng Hebrew) và trái qua phải. == Unicode trên mạng toàn cầu == Hầu hết các trang web tiếng Việt sử dụng cách mã hóa UTF-8 để đảm bảo tính tương thích, tuy nhiên một số trang web vẫn còn giữ cách mã hóa theo chuẩn ISO-8859-1 cũ. Các trình duyệt hiện đại ngày nay như Mozilla Firefox có chức năng tự động chọn cách mã hoá (encoding) thích hợp nếu như máy tính đã được cài đặt một font thích hợp (xem thêm Unicode và HTML). Mặc dù các quy tắc cú pháp có thể ảnh hưởng tới thứ tự xuất hiện của các ký tự nhưng các văn bản HTML 4.0 và XML 1.0 đều có thể bao trùm hầu hết các ký tự trong Unicode, chỉ trừ một số lượng nhỏ ký tự điều khiển và dãy chưa được gán D800-DFFF và FFFE-FFFF. Các ký tự này biểu thị hoặc là các byte nếu bộ mã có định nghĩa hoặc là chuỗi số của Unicode nếu bộ mã không định nghĩa. Chẳng hạn: Δ Й ק م ๗ ぁ 叶 葉 냻 sẽ được hiển thị là Δ, Й, ק, م, ๗, ぁ, 叶, 葉 và 냻 nếu máy tính đã có cài đặt font thích hợp. Các ký tự này lần lượt là chữ "Delta" trong bảng chữ cái Hy Lạp, "I ngắn" trong bảng chữ cái Cyril, "Meem" trong bảng chữ cái Ả Rập, "Qof" trong bảng chữ cái Hebrew, số 7 trong bảng chữ cái Thái, Hiragana "A" trong bảng chữ cái Nhật Bản, chữ "diệp" giản thể, chữ "diệp" phồn thể và âm "Nyrh" trong tiếng Hàn. == Các phông chữ Unicode == Phông chữ Unicode có thể được tải về từ nhiều trang web, hầu hết chúng là miễn phí. Dù đã có hàng ngàn phông chữ trên thị trường, nhưng hầu hết chỉ hỗ trợ ở một mức độ nhất định một số ký hiệu ngoài ASCII của Unicode. Thay vì đó, các phông chữ Unicode thường tập trung hỗ trợ các ký tự ASCII và những chữ viết cụ thể hoặc tập các ký tự hay ký hiệu. Có vài nguyên do của điều này: các ứng dụng và tài liệu rất ít khi cần hiển thị ký tự từ nhiều hơn hai hệ thống chữ viết; phông chữ thường là những tập không đầy đủ; hệ điều hành và các ứng dụng ngày càng xử lý tốt hơn các ký tự từ nhiều bộ phông khác nhau... Thêm vào nữa, việc thiết kế một hệ thống chi tiết hàng nghìn ký tự là công việc đòi hỏi nhiều thời gian và công sức trong khi hầu như không thu lợi gì từ việc này.... Phông chữ Unicode cho phép gõ tiếng Việt ở các phông Times New Roman hay Tahoma hay Arial == Lịch sử các phiên bản Unicode == Phiên bản tiêu chuẩn Unicode sau dự kiến là phiên bản 8.0 vào mùa hè năm 2015. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Liên Đoàn Unicode Các phiên bản Unicode: 3.1, 3.2, 4.0 DecodeUnicode - Unicode WIKI, 50.000 gifs and information about each character Alan Wood's Unicode Resources (chứa danh sách các trình xử lý từ có khả năng Unicode) Unicode Code Charts (PDF) UTF-8, UTF-16, UTF-32 Code Charts The Letter Database Project UTF-8, evangelizing Unicode support trong phần mềm miễn phí Vietnamese Unicode FAQ
quận (việt nam).txt
Quận là loại đơn vị hành chính địa phương cấp hai ở Việt Nam. Hiện tại, chỉ có các thành phố trực thuộc trung ương mới có các đơn vị hành chính quận. Quận là khu vực nội thành của các thành phố này. Tính tới thời điểm ngày 27 tháng 12 năm 2013, Việt Nam có 49 quận. Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố có nhiều quận nhất - 19 quận. Cần Thơ là thành phố có ít quận nhất - 5 quận. Các quận lại được chia thành các phường. == Lịch sử == == Các đơn vị hành chính ngang cấp == Quận cùng cấp với huyện, thành phố trực thuộc tỉnh và thị xã xét theo hình thức phân cấp của một tỉnh/thành phố. Tuy nhiên, khó có thể cho rằng một quận tương đương với một thành phố trực thuộc tỉnh (hoặc thị xã) tỉnh lỵ khi xét về mặt cảm quan, do các thành phố trực thuộc tỉnh hiện nay đều là trung tâm hành chính của các tỉnh đó, trong khi một quận không phải là trung tâm hành chính của một thành phố trực thuộc trung ương. Trung tâm hành chính (nơi đặt trụ sở các cơ quan chính quyền) của thành phố trực thuộc trung ương được đặt tại một quận nào đó trong số các quận. Quận là đơn vị hành chính của thành phố trực thuộc Trung ương và phường là đơn vị hành chính của quận [Điều 118 Hiến pháp 1992]. Phường là đơn vị hành chính cơ sở ở nội thành, nội thị [Quyết định 94-HĐBT ngày 26/9/1981]. Như vậy quận là vùng nội thành của thành phố trực thuộc Trung ương. === Phân loại === Theo nghị định của Chính phủ số 15/2007/NĐ-CP ngày 26 tháng 1 năm 2007 "Về phân loại đơn vị hành chính cấp tỉnh và cấp huyện" thì quận thuộc thủ đô Hà Nội và quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị hành chính cấp huyện loại I. Các quận thuộc các thành phố trực thuộc trung ương khác được phân loại bằng cách tính điểm dựa theo các tiêu chí: Dân số Diện tích tự nhiên Các yếu tố đặc thù Quận thuộc thủ đô Hà Nội và quận thuộc Thành phố Hồ Chí Minh có dân số và mật độ dân số cao, tính chất quản lý nhà nước về đô thị phức tạp và khó khăn, đạt tỷ lệ thu chi cân đối ngân sách hàng năm cao, là đơn vị hành chính cấp huyện thuộc đô thị loại đặc biệt. == Các đơn vị hành chính tương đương ở các quốc gia khác == Quận được xếp vào đơn vị hành chính cấp 2, hay đơn vị hành chính cấp huyện, cùng được xem có nghĩa tương đương với từ "district" trong các tài liệu tiếng Anh. Để phân biệt, các tài liệu thường dùng từ "urban district" để chỉ quận, phân biệt với từ "rural district" để chỉ huyện. == Quận thời Việt Nam Cộng hòa tại miền nam == Trước năm 1975, tất cả các đơn vị hành chính cấp hai đều được gọi là quận, không phân biệt là thành thị hay nông thôn. Dưới ngay cấp quận đều là xã (trừ Sài Gòn là đặc khu thủ đô), ví dụ xã Long Châu, quận Châu Thành, tỉnh Vĩnh Long là khu vực trung tâm của thành phố Vĩnh Long bây giờ. == Danh sách các quận ở Việt Nam hiện tại == CÁC HUYỆN SẼ LÊN QUẬN TRONG TƯƠNG LAI GẦN Hà Nội: Hoài Đức, Gia Lâm, Thanh Trì TP. Hồ Chí Minh: Bình Chánh, Hoóc Môn, Nhà Bè == Danh sách các quận theo thành phố == == Chú thích == == Xem thêm == Phân cấp hành chính Việt Nam Thành phố (Việt Nam) Tỉnh (Việt Nam) Thành phố trực thuộc trung ương (Việt Nam) Danh sách đơn vị hành chính cấp huyện của Việt Nam Thành phố trực thuộc tỉnh (Việt Nam) Thị xã (Việt Nam) Huyện (Việt Nam) Phường (Việt Nam) Danh sách thị trấn tại Việt Nam Thị trấn (Việt Nam) Thị trấn nông trường Xã (Việt Nam)
em thúy.txt
Em Thúy là một bức tranh sơn dầu do họa sĩ Trần Văn Cẩn sáng tác năm 1943. Mô tả hình ảnh người cháu gái 8 tuổi của họa sĩ, bức tranh được coi là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Trần Văn Cẩn cũng như là một trong những đại diện tiêu biểu của tranh chân dung Việt Nam thế kỷ 20. Bức tranh đã được công nhận là Bảo vật quốc gia. == Mô tả == Em Thúy là chân dung chính diện một em bé gái 8 tuổi ngồi trên ghế mây, hai tay đặt trên đùi và mặc quần áo ở nhà đơn giản màu trắng. Em bé có mái tóc ngắn, hai con mắt mở to trong sáng cùng nét mặt thơ ngây.. Nhân vật chính trong tác phẩm là bà Minh Thúy sinh năm 1935, cháu ruột gọi bằng bác của họa sĩ Trần Văn Cẩn == Lịch sử == Họa sĩ Trần Văn Cẩn là một trong những đại diện hàng đầu của Hội họa Việt Nam đầu thế kỷ 20, ông tốt nghiệp thủ khoa Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương năm 1937. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, ngoài thời gian đi sáng tác, họa sĩ thường sống với gia đình người họ hàng tại phố Hàng Cót, Hà Nội. Trong gia đình, ông quý nhất người cháu gái tên là Minh Thúy, vì vậy họa sĩ đã vẽ tặng người cháu một bức chân dung vào năm 1943 với tựa đề đơn giản, Em Thúy, khi đó Minh Thúy lên 8 tuổi. Sau khi quân Pháp quay lại chiếm Hà Nội, gia đình em Thúy đi tản cư mà không mang theo bức tranh. Tới khi họ quay về thì bức tranh đã bị lấy trộm và gia đình phải bỏ tiền ra chuộc lại bức tranh từ một người buôn tranh, ông này trước đó tìm thấy Em Thúy tại nhà một người thợ cạo. Cuối cùng Em Thúy được họa sĩ Trần Văn Cẩn tặng lại cho Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Ngoài bức chân dung vẽ Minh Thúy năm 8 tuổi, họa sĩ Trần Văn Cẩn còn có một bức tranh khác vẽ Thúy lúc cô 24 tuổi. Trải qua hơn 60 năm, bức tranh bắt đầu rơi vào tình trạng xuống cấp, năm 2003 Em Thúy được đề nghị đưa ra nước ngoài để bảo quản phục chế nhưng Bộ Văn hóa không đồng ý. Một năm sau đó bức tranh được giao cho chuyên gia phục chế người Úc Caroline Fry tiến hành phục chế tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam. Theo đánh giá của Fry thì sau khi phục chế bức tranh có thể duy trì tình trạng tốt trong khoảng 20 năm. Bức tranh được chính thức bàn giao cho Bảo tàng Mỹ thuật ngày 28 tháng 6 năm 2004. == Đánh giá == Em Thúy được coi là một trong những tác phẩm tranh chân dung thành công nhất của mỹ thuật Việt Nam thế kỷ 20. Theo nhà phê bình Thái Bá Vân, hình tượng cô bé trong Em Thúy phản ánh thế giới nội tâm của Trần Văn Cẩn vào những năm 1940 khi họa sĩ mang nhiều nỗi niềm trước công cuộc Âu hóa ở Việt Nam. Theo người phục chế bức tranh là Caroline Fry thì Em Thúy thể hiện một gương mặt giản dị nhưng đáng yêu, hiện thân của tuổi trẻ, với đôi mắt đầy tin tưởng như muốn giao tiếp với mọi người, bức tranh cũng thể hiện ảnh hưởng từ phong cách dùng bố cục không đối xứng của họa sĩ người Pháp Henri Matisse. Lấy cảm hứng từ Em Thúy, một người Anh là Paul Zetter đã sáng tác bản nhạc Khúc minuet dành cho Em Thúy, cũng chính ông là người đã giúp mời Caroline Fry bảo quản phục chế lại Em Thúy. == Tham khảo ==
hypena munitalis.txt
Hypena munitalis là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Nó được tìm thấy ở Thổ Nhĩ Kỳ, Balkan và Armenia -vùng Kavkaz. Ở Levant nó được ghi nhận từ Liban và Israel. Con trưởng thành bay vào tháng 7 tại Israel. Có hai lứa trưởng thành một năm. Ấu trùng ăn các loài Stellaria và Vincetoxicum. == Liên kết ngoài == The Acronictinae, Bryophilinae, Hypenodinae và Hypeninae of Israel == Chú thích ==
nhiễm sắc thể y.txt
Nhiễm sắc thể Y là một trong hai nhiễm sắc thể xác định giới tính, và nó xác định giới tính đực. Nó có mặt trong hầu hết các loài động vật có vú, bao gồm cả con người, và nhiều loài khác. Ở nhiều loài động vật, nó có chứa gen SRY, và trong trường hợp thông thường không bị các hội chứng khác, thì dẫn đến sự phát triển tinh hoàn, cùng với các biểu hiện giới tính đực khác. Nhiễm sắc thể Y của con người bao gồm khoảng 50 triệu cặp cơ sở. Nó có vai trò đặc biệt trong nghiên cứu di truyền và tiến hóa của loài người. == Phát hiện == Nhiễm sắc thể Y được xác định là một nhiễm sắc thể xác định giới tính bởi Nettie Stevens tại Bryn Mawr College vào năm 1905 trong một nghiên cứu của ấu trùng bọ cánh cứng Tenebrio molitor. Edmund Beecher Wilson khám phá ra cơ chế tương tự cùng năm đó một cách độc lập. Stevens đã đề xuất rằng các nhiễm sắc thể luôn luôn tồn tại theo cặp và nhiễm sắc thể Y là cặp với nhiễm sắc thể X được phát hiện vào năm 1890 bởi Hermann Henking. Bà nhận ra rằng ý tưởng trước đây của Clarence McClung, nhiễm sắc thể X xác định giới tính là sai và xác định giới tính đó, trong thực tế, do sự hiện diện hoặc vắng mặt của nhiễm sắc thể Y. Stevens đặt tên là nhiễm sắc thể "Y" đơn giản chỉ để theo từ Henking "X" theo thứ tự abc. == Tác động và tiến hóa == Trong nhân tế bào nhiễm sắc thể Y kết hợp với nhiễm sắc thể X, nhưng nó chỉ tổ hợp ở hai đầu của nhiễm sắc thể Y, phần khá lớn còn lại của nhiễm sắc thể Y là vùng không tái tổ hợp, thường ký hiệu là Y-DNA. Ở con người vùng này vào cỡ 95%. Vì thế vùng ADN không tái tổ hợp trong nhiễm sắc thể Y được truyền nguyên vẹn từ cha sang con trai. Nếu có đột biến xảy ra ở vùng ADN không tái tổ hợp, thì đột biến này truyền cho con cháu trai trực hệ và không bị lẫn với các phả hệ khác. Do đó phân tích của Y-DNA được sử dụng trong nghiên cứu và xác định phả hệ dòng đực cho một quần thể. Với một sự khác biệt 30% về gen giữa con người và tinh tinh, nhiễm sắc thể Y là một trong những bộ phận tiến hóa nhanh nhất của bộ gen người. == Hình ảnh == == Chỉ dẫn == == Tham khảo == == Xem thêm == Haplogroup == Liên kết ngoài ==
theresa may.txt
Theresa Mary May, (nhũ danh: Brasier; sinh ngày 1 tháng 10 năm 1956) là nữ chính trị gia người Anh, thành viên đảng Bảo Thủ Anh và là Thủ tướng Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland sau khi ông David Cameron từ chức. Trước đó, bà phục vụ trong nội các David Cameron với cương vị Bộ trưởng Bộ nội vụ. == Quan điểm chính trị == May theo phái One Nation Conservative (mỗi người trong xã hội có bổn phận đối với những người khác) trong đảng bà. Mô tả bà là một người bảo thủ tự do, báo Financial Times đánh giá bà là một "chính trị gia không ý thức hệ hoàn tất công việc mình không kiêng nể ai", so sánh bà với Thủ tướng Đức Angela Merkel (cả hai cùng có cha là mục sư). Rebecca Glover của Đơn vị nghiên cứu chính sách đổi mới của tờ The Independent đối chiếu May với Boris Johnson, tuyên bố rằng bà đã "kiên quyết bảo thủ hơn, chống nhập cư hơn, và có tư tưởng cô lập nhiều hơn" so với ông. May ủng hộ Anh ở lại EU trong chiến dịch trưng cầu dân ý năm 2016, nhưng đã không vận động rộng rãi trong cuộc trưng cầu và chỉ trích các khía cạnh của EU trong một bài phát biểu. Các nhà báo chính trị suy đoán May đã tìm cách giảm thiểu sự tham gia của mình trong các cuộc tranh luận để củng cố vị trí của mình như là một ứng cử viên tương lai để trở thành nhà lãnh đạo đảng Bảo thủ. Trong lúc vận động để trở thành thủ tướng, May nói: "Chúng ta cần một nền kinh tế mà thích ứng với tất cả mọi người", hứa sẽ đối phó với việc trả lương quá cao cho các nhà điều hành doanh nghiệp bằng cách làm phiếu của cổ đông ràng buộc chứ không phải là do quyết định của tư vấn và đưa công nhân vào hội đồng quản trị công ty. === So sánh với Merkel === Cả hai là con của mục sư, có chồng nhưng không con. Khác với Merkel, May đồng ý với hôn nhân đồng tính nhưng lại bảo thủ trong vấn đề di dân. == Thủ tướng == Sau khi May trở thành chủ tịch đảng Bảo thủ vì ứng cử viên thứ 2 còn lại rút lui vào ngày 11 tháng 7 năm 2016, David Cameron tuyên bố từ chức 2 ngày sau đó. Được Nữ hoàng bổ nhiệm, May trở thành nữ thủ tướng thứ 2 sau Margaret Thatcher, và là người đầu tiên trong thế kỷ 21. === Nội các === Ngay buổi tối sau khi được bổ nhiệm, May đã nêu danh sách một số bộ trưởng mới trong đó có Boris Johnson được chọn làm bộ trưởng bộ ngoại giao và các vấn đề Khối Thịnh vượng chung Liên hiệp Anh. === Brexit === Gần 3 tuần sau cuộc trưng cầu dân ý ra khỏi EU, ở Vương quốc Anh có thủ tướng mới. Nhiệm vụ quan trọng nhất của thủ tướng May trong vài tháng tới sẽ là làm giảm những hậu quả xấu cho nền kinh tế Anh do việc bầu cử Brexit và hoàn tất việc rút ra khỏi EU. Quan điểm hiện thời của May là "Brexit có nghĩa là Brexit", không có vụ trưng cầu dân ý lần nữa. Tuy bà muốn giới hạn việc di dân từ các nước EU khác tới nhưng lại muốn giữ Anh trong thị trường chung EU và làm vững chắc vị trí của London như là trung tâm tài chính. May cũng lập ra một chức vụ mới, thư ký quốc gia cho "Brexit và thương mại quốc tế", giao chức này cho nhà chính trị ủng hộ Brexit David Davis. == Xem thêm == Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Đảng Bảo thủ (Anh) Thủ tướng Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland == Ghi chú == == Liên kết ngoài == Debrett's People of Today Theresa May MP official constituency website The Home Office Profile at the Conservative Party Bản mẫu:UK MP links Allegra Stratton's profile of Theresa May Ethos Journal Profile Discussing the Women2Win campaign, July 2011
luân đôn.txt
Luân Đôn (âm Hán Việt của 倫敦, tiếng Anh: London; phát âm tiếng Anh: /ˈlʌndən/) là thủ đô của Anh và Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, đồng thời là vùng đô thị lớn nhất Vương quốc Liên hiệp Anh và cũng là khu vực đô thị rộng thứ hai về diện tích trong Liên minh châu Âu (EU). Luân Đôn do đế quốc La Mã đặt nền móng đầu tiên với bề dày lịch sử hơn 2.000 năm và tên gọi thời đầu là Londinium (Luân Đôn La Mã). Trung tâm chính từ xa xưa của Luân Đôn là Thành phố Luân Đôn, hiện vẫn giữ được ranh giới rộng hàng dặm vuông từ thời Trung Cổ trên quy mô lớn. Sớm nhất cũng từ thế kỷ 19, tên gọi "Luân Đôn" mới được biết đến như một đô thị lớn phát triển quanh trung tâm chính. Sự sáp nhập của những vùng đô thị liên hoàn tạo thành vùng Luân Đôn và vùng hành chính Đại Luân Đôn, do thị trưởng Luân Đôn và Hội đồng Luân Đôn điều hành thông qua đắc cử. Luân Đôn là một thành phố toàn cầu, cùng Thành phố New York là trung tâm tài chính lớn nhất thế giới. và có GDP thành phố lớn nhất châu Âu. Trụ sở của hầu hết 100 công ty hàng đầu Vương quốc Anh và hơn 100/500 công ty lớn nhất châu Âu nằm tại trung tâm Luân Đôn. Sự ảnh hưởng của Luân Đôn đối với chính trị, tài chính, giáo dục, giải trí, truyền thông, thời trang, nghệ thuật và văn hóa đã mang lại vị thế thành phố toàn cầu cho Luân Đôn. Đây là một điểm đến du lịch lớn đối với du khách nội địa và quốc tế. Luân Đôn đã đăng cai Thế vận hội Mùa hè 1908 và Thế vận hội Mùa hè 1948 và Thế vận hội Mùa hè 2012. Luân Đôn có 4 di sản thế giới: Tháp Luân Đôn; Vườn thực vật Hoàng gia, Kew; khu vực bao gồm Cung điện Westminster, Westminster Abbey và Giáo đường St. Margaret; khu định cư lịch sử Greenwich (trong đó có Đài thiên văn Hoàng gia đánh dấu kinh tuyến 0° (Greenwich Meridian) và giờ trung bình Greenwich (GMT). Luân Đôn có thành phần dân tộc, văn hóa, tôn giáo đa dạng, có hơn 300 ngôn ngữ được sử dụng. Tại thời điểm tháng 7 năm 2007, thành phố có dân số chính thức là 7.556.900 người trong Đại Luân Đôn, khiến nó là đô thị đông dân nhất Liên minh châu Âu. Vùng đô thị Đại Luân Đôn (Greater London Urban Area) (vùng đô thị lớn thứ hai ở châu Âu) có dân số 8.278.251. Còn vùng đô thị Luân Đôn lớn nhất châu Âu với dân số từ 12 triệu người đến 14 triệu người. Thống kê cho thấy chưa đến 70% dân số Luân Đôn là người da trắng, điều này cho thấy Luân Đôn có tính quốc tế cao. Hệ thống tàu điện ngầm Luân Đôn do Cục vân tải Luân Đôn (Transport for London) quản lý, là hệ thống tàu điện ngầm cổ nhất thế giới. Sân bay Heathrow London là sân bay bận rộn nhất thế giới theo lượt khách quốc tế với không gian hàng không tấp nập hơn bất cứ trung tâm đô thị nào trên thế giới. == Tên gọi trong tiếng Việt == Tên gọi của thành phố này trong tiếng Việt là âm Hán Việt của 2 chữ Hán "Luân Đôn" (giản thể: 伦敦, phồn thể: 倫敦, pinyin: lúndūn) mà người Trung Quốc dùng với âm tương ứng trong tiếng Quan Thoại để phiên âm từ "London". Nếu đọc từ tiếng Anh, phiên âm tiếng Việt của tên thành phố này là "Lăn-đân". == Lịch sử == === Buổi đầu của Luân Đôn === Mặc dù có một số bằng chứng về các khu dân cư rải rác trước thời La Mã trong khu vực này, khu dân cư lớn đầu tiên được thành lập bởi Đế chế La Mã vào năm 43, theo sau sự xâm lược đảo Anh của quân đội La Mã. Khu dân cư này được gọi là Londinium, được tin là nguồn gốc của tên gọi ngày hôm nay, mặc dù nguồn gốc Celt cũng là một khả năng. Luân Đôn đầu tiên chỉ tồn tại trong vòng 17 năm. Khoảng năm 61, bộ tộc Iceni của người Celt lãnh đạo bởi Nữ hoàng Boudica đánh ập vào Luân Đôn, đốt sạch thành phố. Kế tiếp, sự tái sinh với nhiều quy hoạch lớn của thành phố phát triển mạnh và gộp luôn cả Colchester như là thủ đô của Britannia như là một tỉnh La Mã vào năm 100. Tuy nhiên, vào thế kỉ thứ 3, thành phố bắt đầu suy yếu dần do các vấn đề nội bộ của Đế chế La Mã, và vào thế kỉ thứ 5 nó bị bỏ hoang. Cho đến năm 600, người Anglo-Saxon đã tạo lập nên một khu dân cư mới (gọi là Lundenwic) vào khoảng 1 km về phía thượng nguồn của thành phố La Mã cũ, quanh khu vực ngày nay là Vườn Covent. Có lẽ là có một cảng biển tại cửa sông Fleet cho việc đánh cá và thương mại, và khu thương mại này phát triển cho đến khi thảm họa xảy đến vào năm 851, khi sự phòng thủ xiêu vẹo của thành phố mới bị vượt qua bởi sự càn quét của người Viking và nó bị san bằng. Sự chiếm đóng bởi người Viking hai mươi năm sau không tồn tại lâu, và Alfred Đại đế, vua mới của nước Anh, thiết lập hòa bình và dời khu dân cư vào trong khu thành phòng thủ của thành phố La Mã cũ (sau đó gọi là Lundenburgh). Thành phố nguyên thủy trở thành Ealdwīc ("thành phố cũ"), một cái tên tồn tại cho đến ngày nay như là Aldwych. Tiếp sau đó, dưới sự quản lý của nhiều vị vua Anh khác nhau, một lần nữa Luân Đôn lại phát triển như là một trung tâm thương mại quốc tế và chính trị. Tuy vậy, sự càn quét của người Viking lại bắt đầu trong cuối thế kỉ thứ 10, và đạt đến đỉnh cao vào năm 1013 khi họ bao vây thành phố dưới sự chỉ huy của vua Đan Mạch Canute và buộc vua Anh Aethelred II (Aethelred the Unready) tháo chạy. Trong một cuộc tấn công trả đũa, quân đội của Aethelred đã đạt được thắng lợi bằng cách kéo sập cầu Luân Đôn với đồn Đan Mạch ở trên đỉnh, và sự kiểm soát của người Anh lại được tái thiết lập. Canute chiếm được ngôi vua Anh vào năm 1017, kiểm soát thành phố và đất nước cho đến năm 1042, khi cái chết của ông ta đã trả lại quyền kiểm soát cho người Anglo-Saxon dưới thời người con ghẻ của ông là Edward Người thú tội (Edward the Confessor), người tái thiết lại Tu viện Westminster và Cung điện Westminster cạnh đó. Vào thời điểm này, Luân Đôn đã trở thành thành phố lớn nhất và thịnh vượng nhất ở Anh, mặc cho địa điểm chính thức của nhà nước vẫn còn ở Winchester. === Luân Đôn thời Norman và trung cổ === Theo sau chiến thắng tại Trận chiến Hastings, William I (William the Conqueror), lúc đó là Công tước Normandy, đã đăng quang như Vua của Anh trong Tu viện Westminster vừa mới xây xong vào ngày Giáng sinh năm 1066. William đã cho phép công dân Luân Đôn các đặc quyền, trong khi xây dựng một lâu đài ở góc đông nam của thành phố để kiểm soát họ. Lâu đài này được mở rộng ra bởi các vua sau đó và bây giờ được biết đến như là Tháp Luân Đôn, ban đầu là nơi ở của hoàng gia và sau đó là một nhà tù. Vào năm 1097, vua William II bắt đầu việc xây dựng Sảnh đường Westminster, gần với tu viện có cùng tên. Sảnh đường này là cơ sở cho một Cung điện Westminster mới, nơi ở chính của hoàng cung trong suốt thời Trung Cổ. Westminster trở thành nơi thiết triều và nhà nước làm việc (tiếp tục cho đến ngày nay), trong khi khu ngay bên cạnh đó, thành phố Luân Đôn, là một trung tâm thương mại buôn bán phát triển dưới sự điều hành của một cơ quan hành chính khác, Liên hiệp Luân Đôn. Dần dần, các thành phố lân cận phát triển cùng lúc và tạo ra cơ sở cho khu trung tâm Luân Đôn hiện đại, thay thế cho Winchester làm thủ đô của nước Anh vào thế kỉ 12. Sau khi đánh bại Hạm đội Tây Ban Nha (Spanish Armada) vào năm 1588, sự ổn định chính trị ở Anh cho phép Luân Đôn phát triển thêm. Vào năm 1603, James VI của Scotland lên ngôi vua Anh (trở thành James I của Anh), nhìn chung là thống nhất hai quốc gia. Sự thi hành các luật chống Công giáo hà khắc đã làm ông không được ưa chuộng, và một vụ mưu sát diễn ra vào 5 tháng 11 năm 1605 - vụ Âm mưu thuốc súng nổi tiếng. Dịch bệnh gây ra hàng loạt vấn đề cho Luân Đôn trong đầu thế kỉ 17, dồn lại thành Đại dịch vào năm 1665-1666. Đây là đợt bộc phát dịch cuối cùng ở châu Âu, có lẽ là nhờ vào thảm họa theo ngay sau đó vào năm 1666. Một ngọn lửa (Vụ cháy lớn ở Luân Đôn) bùng phát ở thành phố nguyên thủy và nhanh chóng lan rộng ra các tòa nhà bằng gỗ ở Luân Đôn, thiêu hủy một phần lớn thành lớn (và giết đi hầu hết các con chuột cống mang mầm bệnh). Công cuộc tái xây dựng kéo dài hơn mười năm. === Sự đi lên của Luân Đôn hiện đại === Sự phát triển của Luân Đôn gia tăng trong thế kỉ 18, và trở thành thành phố lớn nhất trên thế giới vào khoảng 1831 đến 1925. Sự phát triển này được trợ giúp thêm từ năm 1836 bởi hệ thống đường sắt đầu tiên của Luân Đôn làm cho các thành phố ngoại thành nằm trong tầm với dễ dàng của thành phố. Hệ thống đường sắt mở rộng rất nhanh, và làm cho những khu ngoại ô này phát triển trong khi bản thân Luân Đôn mở rộng ra các khu đồng trống xung quanh, nhập chung với những khu dân cư lân cận như là Kensington. Các vụ kẹt đường tăng dần trên các đường trung tâm đã dẫn đến sự hình thành của hệ thống tàu điện ngầm đầu tiên trên thế giới vào năm 1863 - London Underground - góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng và đô thị hóa. Chính quyền địa phương Luân Đôn đã vất vả đối phó với sự phát triển nhanh chóng, đặc biệt là trong việc chu cấp cơ sở hạ tầng đầy đủ. Giữa năm 1855 và 1889, Ban quy hoạch đô thị Luân Đôn chỉ đạo việc mở rộng cơ sở hạ tầng ở Luân Đôn. Sau đó được thay thế bởi Quận Luân Đôn, do Hội đồng Quận Luân Đôn - cơ quan hành chánh dân cử đầu tiên của Luân Đôn - chỉ đạo. The Blitz và các trận bỏ bom khác bởi Luftwaffe của quân Đức trong Chiến tranh thế giới thứ hai đã giết hại trên 30.000 dân Luân Đôn và làm san bằng nhiều khu nhà cửa và các tòa nhà khác. Việc xây dựng lại trong những năm 1950, 1960 và 1970 được nhận thấy qua một loạt các kiểu kiến trúc khác nhau và kết quả là sự thiếu thống nhất về kiến trúc đã được biết đến như một đặc điểm của Luân Đôn. Trong cùng khoảng thời gian đó, nhiều cuộc di dân lớn, chủ yếu là từ các nước thuộc Khối Thịnh vượng chung Anh, đã thay đổi cấu trúc dân số của thành phố. Trong năm 1965 những biên giới hành chính của Luân Đôn đã được mở rộng để tính đến sự phát triển của các khu đô thị bên ngoài biên giới của Quận Luân Đôn. Khu vực mở rộng này được gọi là Đại Luân Đôn và được quản lý bởi Hội đồng Đại Luân Đôn. Một sự vực dậy về kinh tế từ thập niên 1980 trở đi đã tái thiết lập vị trí của Luân Đôn như một trung tâm thương mại nổi bật. Tuy nhiên, vì là nơi của nhà nước và là thành phố quan trọng nhất trong vương quốc, nơi đây là một mục tiêu thường xuyên của khủng bố. Các tay đánh bom thuộc tổ chức IRA tìm cách áp lực lên chính phủ vào việc đàm phán về việc Bắc Ireland, thường xuyên quấy phá hoạt động của thành phố với các lời đe dọa đánh bom - một số được thi hành - cho đến chấp thuận ngừng bắn của họ năm 1997. Gần đây nhất, một vụ đánh bom có tổ chức vào mạng giao thông công cộng được tiến hành bởi các phần tử Hồi giáo cực đoan - chỉ 24 giờ sau khi Luân Đôn được chấp nhận là nơi tổ chức Thế vận hội mùa hè năm 2012. == Chính quyền == === Chính quyền địa phương === Chính quyền của Luân Đôn được hình thành từ hai cấp bậc - cấp bậc quản lý toàn thành phố mang tính chiến lược và cấp bậc địa phương. Chính quyền thành phố do Chính quyền Đại Luân Đôn (GLA) thực hiện điều phối, trong khi chính quyền địa phương được quản lý bởi 33 cơ quan nhỏ hơn. Chính quyền Đại Luân Đôn bao gồm hai thành phần được chọn thông qua bầu cử: thị trưởng Luân Đôn, người nắm quyền hành pháp, và Hội đồng Luân Đôn, chịu trách nhiệm xem xét kĩ những quyết định của thị trưởng và có quyền chấp thuận hoặc bác bỏ đề xuất ngân sách mỗi năm của thị trưởng. Các trụ sở của Chính quyền Đại Luân Đôn gồm City Hall, Southwark. Thị trưởng hiện tại là Boris Johnson. Chiến lược quy hoạch đã được phê duyệt của thị trưởng được công bố với tên gọi Kế hoạch Luân Đôn, được sửa đổi một lần vào giữa năm 2009, và lần xuất bản sau cùng là vào năm 2011. Chính quyền địa phương gồm các hội đồng của 32 quận thuộc Luân Đôn và Hội đồng Thành phố Luân Đôn, chịu trách nhiệm cho hầu hết các ban ngành địa phương, như quy hoạch cục bộ, trường học, các dịch vụ xã hội, đường giao thông trong vùng và thu gom rác thải. Một số hoạt động khác như chống lãng phí được đưa ra thông qua những dàn xếp chung. Khác với Thành phố Luân Đôn, cảnh sát ở Đại Luân Đôn đặt dưới sự quản lý của Lực lượng cảnh sát trung tâm, do Sở cảnh sát Thủ Đô giám sát. Thành phố Luân Đôn có lực lượng cảnh sát riêng là Cảnh sát Thành phố Luân Đôn. Lực lượng cảnh sát giao thông Anh chịu trách nhiệm an ninh tại tuyến đường sắt quốc gia và hệ thống tàu điện ngầm Luân Đôn tại vùng thủ đô. Lực lượng cứu hỏa Luân Đôn là lực lượng pháp lý có nhiệm vụ giải cứu những đám cháy tại Đại Luân Đôn do Cơ quan hoạch định tình huống khẩn cấp và cháy nổ Luân Đôn điều hành, đồng thời là lực lượng chữa cháy có quy mô lớn thế ba trên thế giới. Các dịch vụ xe cấp cứu thuộc Dịch vụ chăm sóc sức khỏe quốc gia được cung cấp bởi Dịch vụ cấp cứu Luân Đôn (LAS), được xem là loại hình dịch vụ miễn phí lớn nhất trong việc sử dụng xe cứu thương khẩn cấp trên thế giới. Dịch vụ cấp cứu đường không Luân Đôn kết hợp hoạt động với Dịch vụ cấp cứu Luân Đôn tại những nơi cần thiết. Lực lượng biên phòng bờ biển Her Majesty's Coastguard và Cơ quan cứu trợ quốc gia hoàng gia hoạt động ở khu vực sông Thames. === Chính quyền quốc gia === Luân Đôn là nơi ngự trị Chính phủ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, tọa lạc xung quanh cung điện Westminster. Nhiều cơ quan chính phủ đặt gần Nghị viện Anh, đặc biệt dọc theo đường Whitehall, bao gồm dinh thự của Thủ tướng tại địa chỉ số 10 đường Downing Street. Nghị viện Anh thường được gọi là "Mẹ của các nghị viện" (mặc dù John Bright là người áp dụng tên gọi này ở nước Anh đầu tiên) bởi vì nó là kiểu mẫu cho hầu hết các hệ thống nghị viên khác tính đến nay, và các nghị viện khác được thành lập dựa trên những văn bản pháp luật của Nghị viện Anh. == Địa lý == === Phạm vi === Vùng Đại Luân Đôn là phân khu hành chính cấp cao nhất bao trùm toàn Luân Đôn. Thành phố Luân Đôn nhỏ, cổ xưa nằm ở trung tâm, một thời là nơi định cư chủ yếu của toàn bộ người dân. Nhưng khi vùng đô thị của thành phố phát triển, Hội đồng Thành phố Luân Đôn ngăn cản những nỗ lực hợp nhất nó với khu vực ngoại ô, khiến cho "Luân Đôn" được xác định bằng nhiều cách theo những mục đích khác nhau. Và tình hình này một thời từng được đưa ra thành một cuộc tranh luận pháp lý. Bốn mươi phần trăm Đại Luân Đôn là những thị trấn bưu cục, trong đó phần lớn những địa chỉ bưu chính là 'LONDON'. Mã vùng điện thoại Luân Đôn (020) bao trùm một khu vực lớn tương đương với phạm vi Đại Luân Đôn, mặc dù một số khu vực ngoại ô bị bỏ qua và một số nơi nằm ngoài Luân Đôn lại dùng chung mã vùng này. Khu vực trong quỹ đạo của đường cao tốc M25 thường được biết đến với tên gọi 'Luân Đôn'. Đường ranh giới của Đại Luân Đôn đã được sắp xếp chỉnh lại ở nhiều nơi. Hiện nay việc mở rộng đô thị ra xa hơn đã bị Vành đai xanh đô thị ngăn cản, mặc dù ở nhiều nơi có những khu xây dựng vượt ra ranh giới, tạo thành Đô thị Đại Luân Đôn riêng biệt. Ngoài khu vực này là một vùng rộng lớn gồm những cư dân di chuyển thường xuyên vào khu trung tâm để đi học hoặc đi làm. Vì một số mục đích, Đại Luân Đôn được chia thành Nội Luân Đôn và Ngoại Luân Đôn. Thành phố được chia cắt bởi sông Thames thành hai phần Bắc và Nam, với khu Trung tâm Luân Đôn được phân chia ở bên trong một cách vô hình trung. Tọa độ của Trung tâm Luân Đôn trên danh nghĩa thường được xác định theo cách truyền thống là tại tháp giá Charing Cross, bản gốc của một trong 12 tháp giá Eleanor Cross, tọa lạc gần giao lộ của quảng trường Trafalgar và đường Whitehall, ở vào khoảng vị trí 51°30′26″B 00°07′39″T. === Tình trạng pháp lý === Tại Luân Đôn, Thành phố Luân Đôn và Thành phố Westminster đều được công nhận pháp lý là thành phố, trong khi đó, Thành phố Luân Đôn và những phần còn lại của Đại Luân Đôn được xem là quận nghi lễ. Các khu hiện tại của Đại Luân Đôn từng là một phần của các quận Middlesex, Kent, Surrey, Essex và Hertfordshire, sau này đã sáp nhập lại. Tình trạng pháp lý của Luân Đôn là thủ đô của nước Anh, và sau đó là thủ đô của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland, nhưng điều này chưa bao giờ được xác nhận chính thức theo điều lệ, quy định hay trong bất cứ văn bản nào. Vị trí của Luân Đôn được hình thành thông qua hiệp định Hiến pháp. Điều này khiến cho tình trạng pháp lý của Luân Đôn trên thực tế vẫn là một phần trong Hiến pháp bất thành văn của UK. Thủ đô của nước Anh đã chuyển từ Winchester sang Luân Đôn khi Cung điện Westminster phát triển dần trong thế kỷ 12 và 13 để trở thành trụ sở cố định của Tòa án Hoàng gia, và sau đó trở thành thủ đô chính trị của quốc gia. Gần đây, vùng Đại Luân Đôn đã được xác định thuộc khu vực của nước Anh, tuy nhiên vẫn được biết đến trong tên gọi chung là Luân Đôn. === Địa hình === === Khí hậu === Luân Đôn nằm trong vùng khí hậu ôn đới đại dương, giống như phần lớn đảo Anh, thành phố ít khi chứng kiến nền nhiệt độ quá cao hoặc quá thấp. Mùa hè ở Luân Đôn có thời tiết ấm áp với nhiệt độ cao tháng Bảy là 22.8 °C (73.0 °F) và thấp là 14.0 °C (57.2 °F). Nhiệt độ có thể vượt mức 25 °C (77 °F) trong nhiều ngày nhưng hầu hết các năm thì nhiệt độ chỉ vượt ngưỡng 30 °C (86 °F) vài ngày. Nhiệt độ cao nhất từng được ghi nhận tại thành phố này là 38 °C (100 °F) vào năm 2003. Mùa đông ở Luân Đôn lạnh nhưng hiếm khi xuống dưới mức đóng băng với nhiệt đô cao ban ngày vào khoảng 5 °C (41 °F) – 8 °C (46 °F), mùa xuân thì mát mẻ vào ban ngày và se lạnh vào buổi chiều. Nhiệt độ thấp nhất từng ghi nhận là −21.1 °C (−6 °F) vào tháng 1 năm 1795. Mùa thu thời tiết thường mát và không ổn định do có sự đối lưu giữa luồng khí mát từ bắc cực và luồng khí ấm từ chí tuyến. Luân Đôn là một thành phố tương đối khô với lương mưa nhẹ khoảng 583.6 millimetres hàng năm. Luân Đôn thường ít khi có tuyết, chủ yếu bởi nhiệt độ từ các khu vực xung quanh làm Luân Đôn ấm hơn khoảng 5 °C (9 °F) so với các vùng xung quanh. Tuy nhiên, những trận mưa tuyết thường diễn ra vài lần trong năm. Luân Đôn thường ít xảy ra thiên tai, nhưng một vài trận thiên tai cũng đã diễn ra, ví dụ như trận bão lớn năm 1987. Vào nửa sau thế kỷ 19 và nửa đầu thế kỷ 20, Luân Đôn được biết đến là thành phố sương mù vì lượng sương mù và khói dày đặc. Sau một trận sương mù năm 1952, đạo luật làm sạch không khí được thông qua năm 1962, điều này đã làm giảm đáng kể ô nhiễm môi trường trong thành phố. === Phân vùng === === Kiến trúc === Những công trình ở Luân Đôn quá đa dạng để người ta có thể định ra bất cứ phong cách kiến trúc đặc thù nào. Chúng đã được xây dựng trong suốt một quãng thời gian dài. Nhiều ngôi nhà lớn và các công trình công cộng như Thư viện Quốc gia được xây dựng từ đá Portland. Ở một số khu vực của thành phố, đặc biệt là phía tây của trung tâm, được đặc trưng bởi những tòa nhà trát vữa trắng hoặc quét vôi trắng. Rất ít các công trình kiến trúc trước cuộc Đại hỏa hoạn Luân Đôn 1666 còn tồn tại đến ngày nay, ngoại trừ một vài di tích La Mã, tòa tháp Luân Đôn và rải rác một vài công trình kiến trúc thời Tudor còn sót lại trong thành phố. Một công trình đáng chú ý còn vẫn tồn tại từ thời Tudor là cung điện Hampton Court, cung điện thời Tudor lâu đời nhất của nước Anh còn tồn tại, do Đức Hồng y Thomas Wolsey xây dựng vào khoảng năm 1515. Những nhà thờ cuối thế kỷ 17 của kiến trúc sư Christopher Wren, các cơ quan tài chính của thế kỷ 18 và 19 như Sở giao dịch Hoàng gia và Ngân hàng Anh, Tòa đại hình Luân Đôn Old Bailey đầu thế kỷ 20 và các thành lũy những năm 1960 là một phần di sản của những phong cách kiến trúc khác nhau. Ga Battersea Power được xây năm 1939 từng bị bỏ hoang nhưng sau đó đã sớm được phục hồi lại, nằm cạnh bờ sông phía tây Nam và đóng vai trò là mốc bờ địa phương, trong khi đó một vài ga cuối trên đường ray là những ví dụ điển hình xuất sắc nhất cho phong cách kiến trúc Victoria, đặc biệt là nhà ga St Pancras và Paddington. Mật độ dân số ở Luân Đôn không đồng đều, tỉ trọng việc làm cao tại khu trung tâm, mật độ cư trú cao ở lân cận trung tâm và thấp hơn ở các vùng ngoại ô. Đài tưởng niệm ở Thành phố Luân Đôn có thể cho thấy một tầm nhìn bao quát toàn khu vực xung quanh, đồng thời là đài tưởng niệm trận Đại hỏa hoạn ở Luân Đôn từng bắt nguồn từ gần đó. Cổng chào mái vòm cẩm thạch và cổng chào mái vòm Wellington, nằm riêng rẽ ở phía bắc và Nam cuối đường Park Lane, có mối liên hệ với hoàng gia, cũng như đài tưởng niệm Albert và thính phòng hoàng gia Albert ở phố Kensington. Tượng đài Nelson's Column là một di tích quốc gia được công nhận và nằm tại quảng trường Trafalgar, một trong những vị trí trọng tâm tại trung tâm thành phố. === Các công viên và khu vườn === == Dân số == === Các nhóm dân tộc === === Tôn giáo === Đa số người dân Luân Đôn (58,2 %) nhận mình là người theo đạo Kitô. Tiếp đến là những người không theo tôn giáo nào (15,8 %), sau đó là đạo Hồi (8,5 %), đạo Hindu (4,1 %), đạo Do Thái (2,1 %), đạo Sikh (1,5 %), đạo Phật (0,8 %) và những đạo khác (0,2 %), mặc dù 8,7% người dân đã không trả lời câu hỏi này trong cuộc tổng điều tra năm 2001. Luân Đôn có truyền thống Kitô giáo, và có nhiều nhà thờ, đặc biệt là ở Thành phố Luân Đôn. Nhà thờ nổi tiếng St Paul's nằm trong Thành phố Luân Đôn và nhà thờ Southwark ở phía nam sông Thames là các trung tâm hành chính của Anh giáo. Tổng Giám mục Canterbury, Giám mục trưởng của Giáo hội Anh và Hiệp thông Anh giáo trên toàn thế giới, thường trú tại Cung điện Lambeth tại Luân Đôn Borough của Lambeth. == Kinh tế == Luân Đôn chiếm khoảng 20% giá trị GDP của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (hay 446 tỷ USD trong năm 2005); còn nền kinh tế của vùng đô thị Luân Đôn—lớn nhất trong các vùng đô thị tại Châu Âu—tạo ra khoảng 30% GDP của Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland (hay 669 tỷ USD năm 2005). Luân Đôn là trung tâm tài chính vượt trội trên thế giới và là thành phố cạnh tranh cùng New York vai trò là địa điểm tài chính quốc tế quan trọng nhất. Hơn một nửa trong số 100 công ty cổ phần hàng đầu của UK và hơn 100 trong số 500 công ty lớn nhất Châu Âu đóng trụ sở chính tại trung tâm Luân Đôn. Hơn 70% công ty hàng đầu UK đặt tại vành đai đô thị Luân Đôn, và 75% trong 500 công ty dồi dào tài chính nhất có văn phòng ở Luân Đôn. Thành phố Luân Đôn là trụ sở của Ngân hàng Anh, Sở giao dịch chứng khoán Luân Đôn và là thị trường của công ty môi giới bảo hiểm Lloyds (JLT). Những công ty truyền thông tập trung tại Luân Đôn với các dịch vụ chuyên nghiệp. Ngành công nghiệp phân phối phương tiện truyền thông là ngành có tính cạnh tranh thứ hai tại Luân Đôn. BBC là đài quan trọng nhất, nhưng các đài truyền hình khác cũng có trụ sở trên khắp thành phố. Nhiều tờ báo quốc gia đều được hiệu chỉnh tại Luân Đôn. Cảng Luân Đôn là cảng lớn thứ hai ở UK, chuyên chở 53 triệu tấn hàng hóa mỗi năm. === Tài chính === Ngành công nghiệp lớn nhất của Luân Đôn là tài chính. Thu nhập từ xuất khẩu tài chính của thành phố đã đóng góp không nhỏ cho cán cân thanh toán của nước Anh. Cho đến thời điểm giữa năm 2007, có khoảng 325.000 người làm việc trong ngành dịch vụ tài chính ở Luân Đôn. Luân Đôn có hơn 480 ngân hàng nước ngoài, nhiều hơn bất kỳ thành phố nào trên thế giới. Do vai trò toàn cầu nổi bật của thành phố, kinh tế Luân Đôn đã bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008-2009. Ước tính của năm 2008 cho biết có khoảng 70.000 việc làm trong ngành tài chính bị cắt giảm trong vòng một năm tại Thành phố Luân Đôn. === Vận tải === Từng là hải cảng lớn nhất thế giới, nhưng hiện nay cảng Luân Đôn chỉ lớn thứ hai ở UK, xử lý 45 triệu tấn hàng hóa mỗi năm. Hầu hết lượng hàng hóa này được chuyển sang cảng Tilbury, nằm ngoài ranh giới Đại Lu. === Du lịch === Du lịch là một trong những ngành công nghiệp chủ yếu của Luân Đôn, sử dụng tương đương với 350.000 nhân viên toàn thời gian tại Luân Đôn vào năm 2003. Trong khi đó, chi tiêu hàng năm của khách du lịch là khoảng 15 tỉ bảng Anh. Luân Đôn thu hút hơn 15 triệu du khách quốc tế mỗi năm và trở thành thành phố có lượng du khách nhiều nhất thế giới. Mỗi năm Luân Đôn thu hút 27 triệu lượt khách lưu trú qua đêm. Cảng Luân Đôn là cảng lớn thứ hai ở UK, vận chuyển 53 triệu tấn hàng hóa mỗi năm. Mười điểm tham quan được ghé thăm nhiều nhất tại Luân Đôn trong năm 2009 là: Bảo tàng Anh Nhà triển lãm Quốc gia Nhà triển lãm nghệ thuật đương đại Tate Modern Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Đài quan sát Mắt Luân Đôn Bảo tàng Khoa học Tháp Luân Đôn Bảo tàng Hàng hải Quốc gia Bảo tàng Victoria & Albert Bảo tàng sáp Madame Tussauds == Giao thông == Giao thông vận tải là một trong bốn lĩnh vực chính trong chính sách quản lý của thị trưởng Luân Đôn. Tuy nhiên, việc kiểm soát tài chính của ông không mở rộng thêm được mạng lưới đường sắt từ những vùng xa hơn đến Luân Đôn. Năm 2007, ông nhận trách nhiệm về một số tuyến địa phương, mà hiện nay chính là mạng lưới đường sắt trên mặt đất ở Luân Đôn, góp phần chuyên chở hành khách cùng hệ thống tàu điện ngầm, xe điện và xe buýt ở Luân Đôn. Mạng lưới giao thông công cộng được quản lý bởi Cục vận tải Luân Đôn (TfL) cùng với chi phí được đánh giá là thuộc dạng đắt nhất thế giới. Đi xe đạp là một cách phổ biến để vòng quanh Luân Đôn. Chiến dịch đi xe đạp ở Luân Đôn được phát động qua những cuộc vận động hành lang nhằm đạt được kết quả tốt hơn. Vào năm 1933, khi Bộ giao thông vận tải hành khách Luân Đôn (còn gọi là Bộ giao thông vận tải Luân Đôn) được thành lập, hệ thống mạng lưới đường sắt ngầm - cũng giống như mạng lưới xe điện và xe buýt - đã trở thành một phần của hệ thống vận tải tích hợp. Bộ giao thông vận tải Luân Đôn (TfL) hiện là hội đồng pháp luật quản lý hầu hết những khía cạnh của hệ thống giao thông ở Đại Luân Đôn và được điều hành bởi hội đồng và ủy viên hội đồng do thị trưởng Luân Đôn bổ nhiệm. === Đường sắt === Hệ thống tàu điện ngầm Luân Đôn (London Underground — hiện nay thường được gọi là Tube), mặc dù ban đầu chỉ thiết kế các tuyến sâu (phân biệt với các tuyến gần bề mặt), là hệ thống giao thông đường sắt bằng điện lâu đời nhất và dài thứ hai trên thế giới, có niên đại từ năm 1863. Hệ thống này phục vụ 270 trạm và đã được thành lập bởi một số công ty tư nhân, trong đó có tuyến tàu điện ngầm đầu tiên trên thế giới là tuyến đường sắt Thành phố và Nam Luân Đôn. Mạng lưới tàu điện ngầm vận chuyển hơn ba triệu lượt khách mỗi ngày, hơn 1 tỉ lượt mỗi năm. Một kế hoạch đầu tư đang cố gắng để giải quyết vấn đề ùn tắc và ổn định với kinh phí cải thiện để chuẩn bị cho Thế vận hội mùa hè 2012 lên đến 7 tỷ £ (10 tỷ €). Luân Đôn được đánh giá là thành phố có hệ thống giao thông công cộng tốt nhất. Tuyến đường sắt nhẹ Docklands khai trương vào năm 1987 là hệ thống tàu điện ngầm đa địa phương thứ hai sử dụng những chiếc xe điện nhỏ hơn và nhẹ hơn, hoạt động chủ yếu ở Docklands và Greenwich. Ngoài ra còn có hệ thống đường sắt đô thị bao quát trên mặt đất, đặc biệt là ở Nam Luân Đôn, nơi có ít các tuyến tàu điện ngầm hơn. Nhà ga Waterloo là nhà ga tấp nập nhất nước Anh, mỗi năm có hơn hơn 184 triệu người sử dụng phức hợp trạm trao đổi ở đây (bao gồm nhà ga Waterloo Đông). Các nhà ga cung cấp những tuyến đường phục vụ ở khu vực Đông Nam và Tây Nam Luân Đôn, và một phần ở khu vực Đông Nam và Tây Nam nước Anh. Hầu hết các tuyến đường sắt kết thúc xung quanh trung tâm Luân Đôn tại 18 trạm đầu cuối, trừ tuyến Thameslink nối Bedford ở phía bắc và Brighton ở phía nam thông qua sân bay Luton và Gatwick. Từ năm 2007, tuyến tàu cao tốc Eurostar nối nhà ga quốc tế St. Pancras với Lille, Paris, và Brussels. Thời gian cho chuyến hành trình đến Paris và Brussels lần lượt là hai giờ 15 phút và một giờ 50 phút. Điều này khiến Luân Đôn trở nên gần gũi với lục địa châu Âu hơn so với những nơi khác trong nước Anh do hiệu quả của tuyến đường sắt Cao tốc 1 nối thẳng đến kênh đào Channel, trong khi đó tuyến xe lửa tốc độ cao đầu tiên trong nước nối Kent với Luân Đôn bắt đầu vận hành vào tháng 6 năm 2009. === Xe bus và xe điện === Mạng lưới xe buýt của Luân Đôn là một trong những mạng lưới lớn nhất thế giới, hoạt động 24 giờ một ngày với 8.000 xe buýt, 700 tuyến và hơn 6 triệu lượt khách mỗi ngày trong tuần. Năm 2003, ước tính lượt hành khách của mạng lưới là trên 150 triệu lượt/năm, nhiều hơn tuyến tàu điện ngầm. Doanh thu mỗi năm đạt khoảng 850 triệu £. Luân Đôn có mạng lưới giao thông tiếp cận dành cho xe lăn lớn nhất thế giới, và từ quý 3 năm 2007 đã cải thiện để dễ tiếp cận hơn đối với hành khách khiếm thính và khiếm thị thông qua việc đưa ra những thông báo nghe nhìn. Xe buýt đỏ hai tầng là phương tiện dễ dàng phân biệt, được quốc tế công nhận và là một đặc trưng của giao thông ở Luân Đôn cùng với xe taxi màu đen và xe điện. Luân Đôn có một mạng lưới xe điện hiện đại, được biết đến với tên gọi Tramlink, chủ yếu hoạt động tại Croydon ở Nam Luân Đôn. Mạng lưới có 39 điểm dừng, ba tuyến đường và chuyên chở 26,5 triệu người vào năm 2008. Từ tháng 6 năm 2008, Cục vận tải Luân Đôn đã hoàn toàn sở hữu hệ thống Tramlink và dự tính kế hoạch sẽ bỏ ra 54 triệu £ vào năm 2015 để tiến hành bảo trì, đổi mới, nâng cấp và cải tiến khả năng chuyên chở. Từ tháng 4 năm 2009, tất cả xe điện đều được tân trang lại. === Đường không === Luân Đôn là một trung tâm lớn về vận tải hàng không quốc tế và có không phận thành phố lớn nhất thế giới. Có 8 sân bay sử dụng từ Luân Đôn trong tên gọi, nhưng hầu hết lượng giao thông qua chỉ tập trung tại 5 sân bay. Sân bay Heathrow Luân Đôn, tại Hillingdon, phía tây Luân Đôn, là sân bay tấp nập nhất thế giới về vận tải quốc tế và là trung tâm chính của British Airways, hãng hàng không vận chuyển mang cờ nước Anh. In March 2008 its fifth terminal was opened. Trong tháng 3 năm 2008, nhà ga hàng không thứ năm đã được mở cửa. Đã có quy hoạch về một đường băng thứ ba và nhà ga sân bay thứ sáu, tuy nhiên những kế hoạch này đã bị Chính phủ liên minh UK hủy bỏ vào ngày 12 tháng năm 2010. Loại hình giao thông tương tự có bổ sung một số chuyến bay đường ngắn chi phí thấp cũng được tổ chức tại sân bay Gatwick Luân Đôn, nằm ​​ở phía nam Luân Đôn tại West Sussex. Sân bay Stansted, nằm ​​phía đông Bắc Luân Đôn tại Essex thuộc nước Anh, là trung tâm chính của UK, trong khi đó, sân bay Ryanair và sân bay Luton ở phía bắc Luân Đôn tại Bedfordshire phục vụ chủ yếu những đường bay ngắn chi phí thấp. Sân bay Thành phố Luân Đôn là sân bay nhỏ nhất và nằm ở trung tâm nhất, chủ yếu tập trung vào đối tượng du khách kinh doanh, với một lượng dịch vụ đa dạng và đầy đủ các chuyến bay ngắn theo lịch trình và khả năng sử dụng dịch vụ máy bay jet với lượng hành khách đặc biệt chỉ đến 19 người. === Đường bộ === Mặc dù phần lớn người dân đi lại ở Trung tâm Luân Đôn bằng phương tiện giao thông công cộng, nhưng ở các vùng ngoại ô, xe hơi vẫn là phương tiện giao thông được sử dụng phổ biến nhất. Đường vành đai trong (xung quanh trung tâm thành phố), đường vòng Bắc và Nam (ở ngoại ô) và các đường cao tốc quỹ đạo ở vòng ngoài (đường M25, ngoài khu đất xây dựng) chạy vòng quanh thành phố và giao nhau bởi nhiều bận rộn các tuyến đường xuyên tâm tấp nập - nhưng có rất ít đường cao tốc vào bên trong Luân Đôn. M25 là tuyến đường cao tốc chạy vòng quanh dài nhất thế giới với chiều dài 195,5 km (121,5 mi). Một quy hoạch về mạng lưới đường cao tốc toàn diện xuyên qua thành phố (kế hoạch Ringways) đã được chuẩn bị trong những năm 1960 nhưng gần như bị hủy bỏ vào đầu năm những 1970. Năm 2003, một khoản phí tắc nghẽn đã được áp dụng để làm giảm khối lượng giao thông ở trung tâm thành phố. Trong một vài trường hợp, người lái xe phải trả 8 £/ngày để lái xe trong một khu vực được xác định là thường xảy ra nhiều tắc nghẽn ở Trung tâm Luân Đôn. Những người đi xe máy là cư dân của những vùng xác định có thể mua một giấy thông hành theo thời vụ được giảm phí đáng kể và phát hành mới mỗi tháng, với chi phí rẻ hơn giá vé xe bus tương ứng. Luân Đôn nổi tiếng về ùn tắc giao thông, với tuyến đường cao tốc M25 có lượng lưu thông tấp nập nhất trải dài khắp quốc gia. Tốc độ trung bình của xe hơi trong giờ cao điểm là 17,1 km/h (10,6 mi/h). === Xe đạp === Phong trào đi xe đạp ở Luân Đôn đã được phục hồi sau khi thời hoàng kim biến mất. Người đi xe đạp có thể trải nghiệm việc di chuyển trên những con đường vòng quanh thành phố rẻ hơn và nhanh hơn đi bằng những phương tiện công cộng hay xe hơi. Bên cạnh đó, dự án cho thuê xe đạp Barclays Cycle Hire vào tháng 7 năm 2010 đã đạt được thành công và được đón nhận rộng rãi. == Giáo dục == === Tiểu học và cấp hai === === Cấp ba === == Văn hóa == === Giọng nói === === Thư giãn và giải trí === === Văn học, phim ảnh và truyền hình === === Bảo tàng và triển lãm nghệ thuật === Luân Đôn là nơi có nhiều bảo tàng, phòng triển lãm và các tổ chức nghệ thuật khác, phần lớn trong số đó miễn phí vào cửa và là điểm tham quan chủ yếu thu hút khách du lịch, đồng thời đóng vai trò là nơi nghiên cứu. Công trình ra đời đầu tiên trong số này là Bảo tàng Anh tại Bloomsbury vào năm 1753. Ban đầu là nơi lưu trữ các cổ vật, mẫu vật lịch sử tự nhiên và thư viện quốc gia, ngày nay bảo tàng hiện có 7.000.000 cổ vật từ khắp nơi trên thế giới. Năm 1824, Thư viện Quốc gia (National Gallery) được thành lập và trở thành nơi lưu trữ tất cả các bức họa phương Tây của nước Anh. Thư viện quốc gia hiện nay đang chiếm một vị trí nổi bật tại Quảng trường Trafalgar. Trong nửa cuối thế kỷ 21, vùng Nam Kensington phát triển thành "Albertopolis" (khu trung tâm Nam Kenshington hiện nay), một vùng đất của khoa học và văn hóa. Ba bảo tàng quốc gia lớn đều tọa lạc ở đó: Bảo tàng Victoria và Albert (về mỹ thuật ứng dụng), Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên và Bảo tàng Khoa học. Nhà triển lãm quốc gia về nghệ thuật Anh nằm tại Tate Britain, ban đầu được thành lập như là một chi nhánh của Thư viện Quốc gia vào năm 1897, được biết đến trước đây với tên gọi Nhà triển lãm Tate, cũng đã trở thành một trung tâm lớn về nghệ thuật hiện đại. Trong năm 2000, những tác phẩm trong đó đã được chuyển đến Tate Modern, một nhà triển lãm mới mà trước đây từng là trạm điện Bankside. === Âm nhạc === Luân Đôn là một trong những thủ đô lớn về âm nhạc cổ điển và thủ đô của âm nhạc thịnh hành trên thế giới, là nhà của những công ty âm nhạc lớn như EMI và vô số ban nhạc, nhạc sĩ cùng những chuyên gia trong ngành công nghiệp này. Thành phố còn là nhà của những dàn nhạc và thính phòng giao hưởng lớn, như trung tâm Nghệ thuật Barbican (nơi biểu diễn chính của dàn nhạc Giao hưởng London), nhà hát Cadogan (Dàn nhạc Giao hưởng Hoàng gia Anh) và thính phòng Hoàng gia Albert (nơi diễn ra sự kiện âm nhạc The BBC Proms). Hai nhà hát opera chính của Luân Đôn là nhà hát Opera Hoàng gia và nhà hát Coliseum Theatre. Cây đàn ống dài nhất UK có thể tìm thấy tại thính phòng Hoàng gia Albert. Những nhạc cụ đáng chú ý khác cũng được tìm thấy tại các giáo đường và những nhà thờ lớn. Có vài trường âm nhạc nằm trong thành phố như Nhạc viện Hoàng gia, cao đẳng âm nhạc Hoàng gia, trường nhạc kịch Guildhall và cao đẳng âm nhạc Trinity. Luân Đôn có rất nhiều điểm tổ chức những buổi biểu diễn nhạc pop và rock, trong đó gồm những nơi biểu diễn âm nhạc lớn như Earls Court, Wembley Arena, O2 Arena cùng nhiều địa điểm quy mô nhỏ hơn như Brixton Academy, Hammersmith Apollo và Shepherd's Bush Empire. Một số lễ hội âm nhạc, kể cả lễ hội O2 Wireless, được tổ chức tại Luân Đôn. Thành phố này là nhà và cũng là nơi bắt nguồn của loại hình cà phê rock nặng. Phòng thu Abbey Road là nơi nhóm nhạc huyền thoại The Beatles ghi âm hầu hết các ca khúc nổi tiếng. Trong những năm 1970 và 1980, nhạc sĩ và các nhóm nhạc như David Bowie, Elvis Costello, Cat Stevens, Ian Dury và Blockheads, The Kinks, The Rolling Stones, The Who Madness, The Jam, The Small Faces, Led Zeppelin, Iron Maiden, Fleetwood Mac, The Police, The Cure, Squeeze and Sade, có tác động đến thế giới như một cơn bão, đem âm thanh của họ đến từng ngõ ngách đường phố, đem giai điệu của họ làm chấn động lan truyền cả Luân Đôn. Luân Đôn từng là nơi phát triển dòng nhạc punk, những tên tuổi như Sex Pistols, The Clash, và Vivienne Westwood đều có nền tảng từ Luân Đôn. Các nghệ sĩ gần đây xuất hiện từ sân khấu âm nhạc Luân Đôn như Bananarama, Bush, East 17, Siouxie và Banshees, nhóm Spice Girls, Jamiroquai, The Libertines, Babyshambles, Bloc Party, Coldplay và Amy Winehouse. Luân Đôn còn là trung tâm âm nhạc đô thị. Đặc biệt trong kho tàng thể loại của UK, sự hiện diện của thể loại DnBa, dubstep và grime trong thành phố phát xuất từ thể loại hip hop và reggae từ nước ngoài du nhập vào, bên cạnh thể loại DnB địa phương. Đài phát thanh dòng nhạc black BBC 1Xtra ra đời để hỗ trợ sự phát triển của âm nhạc có nguồn gốc địa phương tại Luân Đôn và những nơi còn lại trong UK. Trong những năm 1980, Luân Đôn là thành phố chính trong làn sóng mới của thời đại âm nhạc nặng của người Anh. Iron Maiden và Motörhead là những ban nhạc nổi tiếng trên toàn thế giới ở thể loại này. === Thể thao === Luân Đôn đã tổ chức Thế vận hội mùa hè hai lần, vào năm 1908 và 1948. Tháng 7 năm 2005, Luân Đôn được chọn để đăng cai tổ chức Thế vận hội mùa hè và Thế vận hội Paralympic vào năm 2012. Điều này sẽ khiến Luân Đôn trở thành thành phố đầu tiên trên thế giới đăng cai tổ chức Thế vận hội mùa hè ba lần. Luân Đôn cũng tổ chức Thế vận hội Đế quốc Anh vào năm 1934. Bóng đá là môn thể thao phổ biến nhất của Luân Đôn. Thành phố này có 13 câu lạc bộ bóng đá liên đoàn, trong đó có 6 câu lạc bộ trực thuộc liên đoàn Premier League, bao gồm Arsenal, Chelsea, Fulham, Tottenham Hotspur, Crystal Palace FC và West Ham United. Luân Đôn cũng có bốn đội bóng bầu dục tại Giải ngoại hạng Aviva (London Ailen, Saracens, Wasps và Harlequins), mặc dù chỉ có đội Harlequins chơi tại Luân Đôn (cả ba đội khác chơi bên ngoài Đại Luân Đôn, dù đội Saracens vẫn chơi trong M25). Các đội bóng bầu dục chuyên nghiệp khác trong thành phố gồm London Welsh, câu lạc bộ lớn thứ hai của giải RFU Championship, là đội chủ nhà của thành phố. Thành phố có các câu lạc bộ bóng bầu dục rất truyền thống khác, nổi tiếng nhất là London Scotland, Richmond FC, ​​Rosslyn Park FC và Blackheath F.C. Hiện nay có hai câu lạc bộ bóng bầu dục chuyên nghiệp ở Luân Đôn, gồm Harlequins Rugby chơi trong Giải siêu cúp châu Âu ('European Super League) tại sân vận động The Stoop và Giải vô địch bóng bầu dục quốc gia 1, đối đầu với câu lạc bộ London Skolars (tại Wood Green, thành phố Haringey của Luân Đôn). == Thành phố kết nghĩa == Có 46 thành phố trên 6 châu lục đặt tên theo Luân Đôn. Cùng với các khu vực kết nghĩa với London, các quận của Luân Đôn cũng có quan hệ kết nghĩa với các thành phố trên thế giới. Dưới đây là danh sách các thành phố kết nghĩa với chính quyền Đại Luân Đôn: == Chú thích == == Tham khảo == === Thư mục === == Liên kết ngoài == Luân Đôn tại DMOZ “London”. Encyclopædia Britannica (ấn bản 11). 1911. Mayor of London, London Assembly and the Greater London Authority-Trang chủ của chính quyền thành phố British Pathé London VisitLondon.com LondonTown.com Visit Britain& BBC London Office for National Statistics: Focus on London 2003 - compendium of official statistics about London Map of Early Modern London Museum of London Group Portal – Home Transport for London (TfL) - city transport authority London Underground - part of TfL London 2012 Olympic Games History of London Poems about London at Poetry Atlas
leu, dolj.txt
Leu là một xã thuộc hạt Dolj, România. Dân số thời điểm năm 2002 là 5468 người. == Chú thích == == Tham khảo == == Xem thêm == “Geonames Database”. Cơ quan Tình báo Địa không gian Quốc gia. Truy cập ngày 11 tháng 5 năm 2011.
nghệ thuật gothic.txt
Nghệ thuật Gothic (Gô-tích; tiếng Anh:Gothic art) là một phong trào nghệ thuật phát triển theo nghệ thuật Rôman ở Pháp vào thế kỷ 12, phát triển cùng lúc với kiến trúc Gothic. Nghệ thuật Gothic đã nhanh chóng lan rộng ra khắp Tây Âu, gần như toàn bộ phía bắc dãy núi Anpơ, nhưng lại không gây ảnh hưởng nhiều đến các phong cách cổ điển của Ý. Ở nhiều nơi, đặc biệt là Đức, nghệ thuật Gothic vẫn tiếp tục được sử dụng tại thế kỷ 16, trước khi sát nhập vào nghệ thuật Phục Hưng. Các thành phần chính trong nghệ thuật Gothic bao gồm điêu khắc, hội họa, thủy tinh vẽ, bích họa và trang trí bản thảo. Việc dễ dàng nhận ra sự thay đổi từ nghệ thuật Gothic đến nghệ thuật Phục Hưng hay ngược lại là đặc trưng được sử dụng để xác định rõ thời đại nghệ thuật này. Những tác phẩm Gothic đầu tiên là những bức tượng điêu khắc, trên tường tại các tu viện hay các thánh đường. Các bức tượng của người đạo Cơ-đốc thường phản ánh các câu chuyện trong kinh thánh. Bức tượng đức mẹ Mary là một ví dụ điển hình, từ một bức tượng mang tính hình tượng đã chuyển sang một bức tượng mang rõ hình hài của một người mẹ nhân hậu, tay bồng đứa con và thể hiện sự trong sáng, tinh tế của người phụ nữ quý phái. == Ngữ nguyên học == Từ "Gothic" ban đầu có nghĩa là "man rợ", thường được sử dụng để miệt thị. Các nhà phê bình cảm thấy thứ nghệ thuật thời trung cổ này rất thiếu tinh tế và khác với các nghệ thuật đương thời khác về tính hoa mỹ. Các tác giả thời kỳ Phục Hưng cho rằng cuộc cướp phá ở Roma của bộ tộc Gothic vào năm 410 đã gây ra sự sụp đổ của thời kỳ cổ đại và tất cả những gì tinh túy nhất còn trong nó. Vào thế kỷ 15 rất nhiều các kiến trúc sư và nhà văn Ý phàn nàn về một nền nghệ thuật tràn xuống từ bắc dãy núi Anpơ, đe dọa cho sự hồi sinh của nền nghệ thuật cổ trong thời điểm đầu thời kỳ Phục Hưng. Từ "Gothic" được sử dụng để chỉ loại nghệ thuật này lần đầu tiên là trong bức thư của Raffaello gửi đến Giáo hoàng Lêô X vào khoảng năm 1518 và được phổ biến bởi nhà văn, nghệ sĩ người Ý Giorgio Vasari sử dụng vào những năm đầu 1530, vào thời điểm này thì người ta đang gọi nghệ thuật Gothic là "man rợ, hỗn loạn và quái dị". "Nghệ thuật" Gothic đã bị phê bình bởi các nghệ sĩ người Pháp như Boileau, La Bruyère, Rousseau, trước khi nó được công nhận là một hình thức của nghệ thuật. Lời phê bình nổi tiếng của Molière: Hương vị u mê trên những tượng đài Gothic, Con quái vật ghê tởm của thế kỷ dốt nát Như thứ nước phun ra từ bọn man rợ. Thời kỳ đầu, nghệ thuật Gothic được gọi là "tác phẩm của người Pháp" (Opus Francigenum), vì vậy xác định được sự tiên phong của nước Pháp trong việc tạo ra loại hình nghệ thuật này. == Điêu khắc == Điêu khắc Gothic khởi nguồn trên những bức tường, vào giữa thế kỷ 12 ở Île-de-France, khi Abbot Suger xây tu viện ở St. Denis hiện nay là một xã thuộc bắc ngoại ô nước Pháp - vào khoảng năm 1140, được coi là tu viện mang phong cách Gothic đầu tiên, và không lâu sau đó là thánh đường Chartres vào khoảng năm 1145. Trước khi xây những công trình này, ở Île-de-France không hề có truyền thống điêu khắc nên thợ điêu khắc được thuê từ Burgundy. Ý tưởng ở Pháp lan rộng. Ở Đức, từ năm 1225 ở thánh đường tại thành phố Bamberg trở đi, ta có thể thấy sự tác động ở khắp mọi nơi. Thánh đường Bamberg tập hợp rất nhiều những thợ điêu khắc ở thế kỷ 13, nhiều nhất là vào năm 1240 với tượng kỵ sĩ Bamberg, bức tượng cưỡi ngựa đầu tiên của văn hóa phương Tây từ thế kỷ thứ 6. Ở Anh thì hiếm hơn khi chỉ có trên mồ mả và đồ trang trí vặt. Ở Ý nghệ thuật cổ vẫn có ảnh hưởng lớn, nhưng nghệ thuật Gothic cũng đã xâm nhập vào những điều khắc trên bục giảng kinh ví dụ như ở giáo đường Baptistry và Siena. Và cuối cùng ở Ý, tuyệt tác điêu khắc Gothic nằm ở hàng loạt ngôi mộ Scaliger- gồm 5 đài tưởng niệm gia đình Scaliger - ở Verona(từ đầu đến hết thế kỷ 14). Kiến trúc Gothic mở ra từ một phong cách cứng nhắc, không hoàn toàn giống phong cách Rôman, đến một cảm giác tự nhiên trong khoảng cuối thế kỷ 12 đến thế kỷ 13. Ảnh hưởng từ sự tồn tại của nghệ thuật điêu khắc Rôman và Hy Lạp để rồi kết hợp thành phương thuốc cho thuật khắc xếp nếp, sự biểu cảm và tư thế. Ở Bắc châu Âu, một nhà điêu khắc tên là Claus Sluter cùng với những người thợ điêu khắc khác đã giới thiệu Chủ nghĩa Tự nhiên, và một nhóm người theo chủ nghĩa kinh điển tiếp tục phát triển để rồi đến khi phong cách Phục Hưng xuất hiện đã đánh dấu mộc cho sự thay đổi về cảnh quan và trang phục trong điêu khắc, giảm thiểu về sự phức tạp và kết cấu. == Hội họa của Gothic == Phong cách hội họa mà chúng ta gọi là "Gothic" chưa từng tồn tại cho đến năm 1200, hay 50 năm sau khi kiến trúc Gothic và điêu khắc Gothic ra đời. Sự giao thời giữa Rôman và Gothic rất mơ hồ, thiếu rõ ràng, những tác phẩm Gothic rất ít khi được giới thiệu trước khi có sự thay đổi đáng kể về dáng vẻ của nhân vật, kết cấu trong phong cách. Và rồi nhân vật trở nên sinh động hơn trong động tác, biểu cảm, có khuynh hướng tách rời cảnh vật, và được đặt tự do hơn trong bức ảnh. Sự chuyển giao này bắt đầu ở Anh và Pháp vào năm 1200, ở Đức vào năm 1220 và ở Ý vào năm 1300. Hội họa vào thời kỳ này chia làm 4 mảng: bích họa, tranh trên ván gỗ, kính màu và tranh trong các bản thảo. Bích họa vẫn được coi như một tư liệu hội họa chính trên tường nhà thờ cũng giống như truyền thống đạo Cơ-đốc và truyền thống Rôman. Ở phía Bắc, kính màu được ưa chuộng cho đến thế kỷ 15. Tranh trên ván gỗ bắt đầu ở Ý vào năm 1300 và lan rộng toàn châu Âu, để rồi cho đến thế kỷ 15 đã hoàn toàn thế chỗ kính màu. Tranh trên các bản thảo được cho là sự lưu giữ hoàn hảo nhất của hội họa Gothic, tạo ra một phong cách lưu giữ ở một nơi mà không đài tưởng niệm nào có thể lưu giữ. Mảng tranh sơn dầu chưa bao giờ nổi trội cho đến thể kỷ 15 và 16, và trở thành dấu hiệu phân biệt hội họa thời kỳ Phục Hưng. === Bích họa === Bích họa vẫn tiếp tục được sử dụng như những bức tranh kể chuyện trên các bức tường trong nhà thờ ở Nam Âu được ví như một sự tiếp nối cho truyền thống đạo Cơ-đốc và Rôman. Những tàn tích đã đem lại cho Đan Mạch và một số nước Tây Âu một số lượng lớn những bức bích họa trên tường nhà thờ được vẽ theo phong cách Đoản Kinh, thông thường còn bao gồm cả kiến trúc mái vòm. Chúng gần như bị vôi vữa lấp lên sau cuộc cải cách tôn giáo ở Tây Âu thế kỷ 16. Một trong những ví dụ minh họa thiết thực nhất là những bức bích họa của Danish Elmelundemesteren trên đảo Møn ở Đan Mạch người đã trang trí cho các nhà thờ Fanefjord, Keldby hay Elmelunde. === Kính màu === Ở phía Bắc châu Âu, kính màu là một hình thức hội họa quan trọng và uy tín nhất cho đến thế kỷ 15, khi hình thức vẽ tranh trên ván gỗ trở nên phổ biến. Kiến trúc Gothic đã tăng thêm số lượng kính trong các tòa nhà, một phần muốn mở rộng độ lớn của mặt kính như ta thấy trong thiết kế cửa sổ hoa hồng. Vào thời kỳ đầu, người ta thường sử dụng kính màu đen, kính trong suốt hay kính với màu sắc tươi sáng. Nhưng đến đầu thế kỷ 14, người ta sử dụng hỗn hợp bạc và vẽ lên những tấm kính, cho phép tạo ra nhiều màu sắc khác nhau với trung tâm là màu vàng tô trên mảnh kính trong suốt. Đến cuối thời kỳ, người ta sử dụng những tấm kính lớn để dùng cho màu vàng hoặc các màu chủ đạo, họ dùng mảnh kính nhỏ để cho các màu khác. === Bản thảo và tranh in === Những bản thảo được tô màu là một sự ghi chép hoàn hảo nhất của nghệ thuật Gothic, đánh dấu một phong cách nghệ thuật mà không một công trình vĩ đại nào có thể tồn tại để so sánh. Những bản thảo gần đây nhất với những bức tranh Gothic của Pháp cho đến giữa thế kỷ 13. Rất nhiều các bản thảo đó là Kinh thánh, mặc dù những bài Thánh ca cũng bao gồm tranh minh họa; Thánh ca về thánh Louis, từ năm 1253 đến 1270, bao gồm 78 trang tranh vẽ bằng màu keo và vàng lá Vào những năm cuối của thế kỷ 13, những người chép bản thảo đã bắt đầu viết ra những quyển kinh dành cho dân không theo đạo để phục vụ cho nhu cầu quy định lúc bấy giờ. Một ví dụ gần đây nhất là cuốn sách dành cho một nữ tín đồ sống ở ngôi làng nhỏ ở gần Oxford vào khoảng năm 1240. Giới quý tộc thường trả tiền cho những cuốn như thế, họ trả rất hậu hĩnh cho việc vẽ và trang trí tranh; một trong nhưng người được biết đến nhiều nhất là nhà soạn bản thảo Jean Pucelle, chủ nhân của cuốn Kinh Jeanne d'Evreux do vua Charles đệ tứ ủy quyền viết tặng cho nữ hoàng Jeanne d'Évreux. Những chi tiết trong Gothic Pháp được làm nên từ những việc chẳng hạn như trang trí khung trang giấy làm hồi tưởng lại một công trình kiến trúc thế kỷ với những hình tượng chi tiết. Sự sử dụng không gian như việc xây dựng các yếu tố, chi tiết và các nhân tố thiên nhiên chẳng hạn như cây cỏ và mây trời đã cho ta thấy được phong cách tranh vẽ trong Gothic Pháp Giữa thế kỷ 14, những quyển sách bằng gỗ với những dòng chữ và hình ảnh được khắc lên được các tu sĩ đánh giá tốt ở Tây Âu, nơi chúng nổi tiếng. Cuối thể kỷ, những cuốn sách in những bức vẽ minh họa, vẫn được coi là một công cụ truyền giáo, được ưa chuộng trong giới trung lưu khá giả, cũng như được in khắc một cách kỳ công bởi những nhà in ấn như Israhel van Meckenem hay Master E. S. Vào thế kỷ 15, xuất hiện những bản in rẻ tiền chủ yếu là vết gỗ cắt giúp cho những người nông dân cũng có khả năng có một bức hình về đạo ngay tại nhà. Những bức hình đó, thường được tô màu sơ sài, được bán ra hàng nghìn bức nhưng lại rất hiếm hiện nay, hầu hết chúng được dán lên tường. === Tranh sau bệ thờ và tranh trên ván gỗ === Vẽ bằng màu dầu trên vải bạt chưa thực sự nổi tiếng cho đến thế kỷ 15 và 16 và được coi là dấu mốc phân biệt với nghệ thuật Phục Hưng. Ở phía Bắc Âu, ngôi trường quan trọng và đổi mới của hội họa Hà Lan về cơ bản sử dụng phong cách vẽ Gothic, tuy nhiên cũng được coi là một phần của phong cách Phục Hưng ở miền Bắc Âu, cho đến mãi tận khi người Ý quay trở lại với niềm đam mê với chủ nghĩa kinh điển đã tác động mạnh mẽ ở phía Bắc. Những họa sĩ như Robert Campin hay Jan van Eyck đã sử dụng tối đa kỹ thuật vẽ tranh dầu để tạo nên nhưng tác phâm hết sức chi tiết, đạt được chuẩn mực trong phối cảnh, trong đó rõ ràng là sự kết hợp giữa chủ nghĩa hiện thực và sự giàu có trong chủ nghĩa tượng trưng đã nảy sinh ra một sự chính xác từ những chi tiết hay còn bao gồm cả những công việc vụn vặt nhất. Trong thời kỳ đầu của hộ họa Hà Lan, từ những thành phố giàu có nhất Bắc Âu, chủ nghĩa hiện thực trong tranh sơn dần được kết hợp với sự tinh tế và phức tạp của những ám chỉ manh tính chất thần học, được diễn tả chính xác hết sức chi tiết trong khung cảnh của đạo giáo. == Điêu khắc == Những ý tưởng của người Pháp bắt đầu được lan truyền. Ở Đức, từ năm 1225 trở đi ở thánh đường đặt tại Bamberg, sự ảnh hưởng có thể thấy rõ. Thánh đường Bamberg có một bộ sưu tậ khổng lồ của điêu khắc thế kỷ 13, lên đến tuyệt đỉnh là tác phẩm điêu khắc kỵ sĩ Bamberg, bức tượng cưỡi ngựa đầu tiên với kích cỡ thật trong nghệ thuật Phương Tây từ thế kỷ thứ 6. Ở Ý vẫn còn lưu giữ lại trào lưu cổ điển, nhưng Gothic đã xâm nhập vào thông qua các bục giảng kinh như bục giảng ở trong nhà thờ Baptistry (1269) hay bục giảng Siena. Một kiệt tác điêu khắc theo lối Gothic Ý chính là bộ bia mộ gia đình Scaliger ở Verona (Đầu đến cuối thế kỷ 14). Ở phía Bắc châu Âu, nhà điêu khắc Claus Sluter và một số người khác mở đầu phong trào tự nhiên và một góc của chủ nghĩa kinh điển vào đầu thế kỷ 15 và tiếp tục được phát triển xuyên suốt thế kỷ để dẫn đến kết quả sự thay đổi trong lối nghệ thuật Phục Hưng cổ điển chủ yếu đánh dấu bằng sự thay đổi trong kiến trúc nền và trang phục, và một chút giảm bớt trong việc bố trí. == Chú thích ==
xa lộ hà nội.txt
Xa lộ Hà Nội, tên cũ Xa lộ Biên Hòa là con đường nối liền Thành phố Hồ Chí Minh và Biên Hoà, Đồng Nai được xây dựng từ năm 1957 đến năm 1961, do Hoa Kỳ đầu tư. Con đường này dài 31 km, bắt đầu từ ngã 4 Hàng Xanh. Kết thúc là giao cắt quốc lộ 1A tại ngã 3 Tam Hiệp. Xa lộ này được cho là có thể sử dụng làm đường bay quân sự dã chiến, tuy nhiên năm 1971 nó đã được xây vách ngăn giữa tim đường phân đôi xa lộ thành 2 chiều riêng biệt để giảm tai nạn giao thông. Nguyên thủy lòng đường xa lộ rộng 21 m đến thế kỷ 21 thì nới rộng thành 142 m. == Lịch sử == Con đường này trước đây được gọi là xa lộ Biên Hoà, khởi công vào tháng 7 năm 1957 thời Đệ nhất Cộng hòa đến Tháng Tư năm 1961 thì hoàn tất với chiều dài 31 cây số. Kinh phí xây cất do Hoa Kỳ viện trợ. Xa lộ được thiết kế ngăn hai chiều đi về. Mỗi chiều có hai lối đi. Trên xa lộ này có hai cây cầu lớn bắc ngang là cầu Sài Gòn (dài 982 m) bắc qua sông Sài Gòn và cầu Đồng Nai (dài 453 m) bắc qua sông Đồng Nai. Năm 1984 xa lộ được đổi tên thành xa lộ Hà Nội nhân dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng Hà Nội. Một tên khác của con đường này là quốc lộ 52, thường được dùng để chỉ đoạn từ chân cầu Sài Gòn đến chỗ giao nhau với quốc lộ 1A tại ngã ba Thủ Đức (ngã ba Trạm 2). Hiện nay trên xa lộ Hà Nội có một đoạn quốc lộ 1A đi qua, bắt đầu từ ngã ba Thủ Đức đến ngã ba Hố Nai hay còn gọi là ngã ba Chợ Sặt vì chợ Sặt thành phố Biên Hòa nằm gần ngã ba này, ngã ba Công viên 30 tháng 4, (giao với quốc lộ 1K, vượt quá ngã tư Tam Hiệp). Năm 2016,TPHCM đã hoàn thành đường mở rộng - song hành Xa lộ Hà Nội.Tổng số làn hiện tại là 18 làn,rộng 142m (đoạn qua khu Công nghệ cao).Các đoạn mở rộng còn lại vẫn được CII thi công. == Tuyến đường == Xa lộ Hà Nội đi qua các địa bàn gồm các quận Bình Thạnh, 2, 9, Thủ Đức thuộc Thành phố Hồ Chí Minh, thị xã Dĩ An thuộc tỉnh Bình Dương, thành phố Biên Hoà thuộc tỉnh Đồng Nai. Với tình hình kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng ngày càng phát triển dẫn đến tình trạng quá tải Xa lộ Hà Nội trong những năm gần đây, do đó Xa lộ Hà Nội sẽ được mở rộng lên đến 140 m, dự án dự định được bắt đầu triển khai trong năm 2009 cùng với dự án mở rộng Quốc lộ 51, thời gian thi công theo dự kiến ban đầu là 2 năm. == Chú thích == == Liên kết ngoài == Con đường biến Sài Gòn xưa thành đô thị bậc nhất
pioneer 10.txt
Pioneer 10 (còn được gọi là tiên phong F) là tàu vũ trụ đầu tiên đi du lịch thông qua việc điều khiển, mà nó được nhập vào 15 tháng 7 năm 1972, và để thực hiện trực tiếp quan sát Sao Mộc. Nó đã đến vào 3 tháng 12 năm 1973. Nó đã được phóng từ Cape Canaveral Air Force Station. Khởi chạy hàng 36A vào 3 tháng 3 năm 1972 lúc 01:49:00 UTC (theo giờ Mỹ. Pioneer 10 là tiêu đề theo hướng Aldebaran, nằm trong Taurus. Của một số định nghĩa, Pioneer 10 đã trở thành nhân vật đầu tiên để rời khỏi hệ thống năng lượng mặt trời. Đó cũng là con tàu vũ trụ của con người xây dựng cho đối tượng đã được thiết lập dựa trên một đường cong hàng đầu ra của hệ mặt trời. Tuy nhiên, nó vẫn chưa đi qua được các heliopause hay đám mây Oort Các mục tiêu đề ra là để nghiên cứu các hành tinh và nhiều lĩnh vực khác; năng lượng mặt trời gió tham số; Cosmic rays; khu vực chuyển đổi của các heliosphere; vô hydrogen giàu có, phân phối, kích thước, khối, phun ra, và bụi velocity particles; Jovian aurorae; Jovian sóng đài phát thanh; bầu không khí của Sao Mộc và một số vệ tinh của nó, đặc biệt là Io; Sao Mộc và các bức ảnh của các vệ tinh. == Sứ mạng == Pioneer 10 trở thành tàu vũ trụ đầu tiên trên thế giới bay đến Sao Mộc nghiên cứu vào tháng 12 năm 1973. Sau đó, các tàu thăm dò, vũ trụ khác cũng lần lượt bay đến Sao Mộc nghiên cứu và đã để lại nhiều giá trị khoa học quý báu. Theo được biết, Pioneer 10 đã kết thúc sứ mệnh vào tháng 4 năm 2006 do NASA không liên lạc được với tàu. Và hiện nay, 'Tiên phong 10' vẫn đang bay, nhưng không nhận được một tín hiệu gì từ nó cả. == Thời gian == 3 tháng 3 năm 1972. Phóng thành công 15 tháng 7. 1972 hoà nhập vào khoảng không vũ trụ và bay đến Sao Mộc 3 tháng 12 năm 1973, bay đến Sao Mộc và chụp ảnh nó. 13 tháng 6 năm 1983, tàu bay qua Sao Thiên Vương, Sao Hải Vương và quỹ đạo Sao Diêm Vương. 31 tháng 3 năm 1997, kết thúc sứ mạng. 17 tháng 2 năm 1998, phóng thành công Voyager 1. Và tàu Voyager 1 đã bay nhanh hơn. 2 tháng 3 năm 2002. Tàu Pioneer 10 đã cách Trái Đất khoảng 79.83 AU. 27 tháng 4 năm 2002, khoảng 80.23 AU 23 tháng 1 năm 2003, tín hiệu từ Pioneer 10 yếu dần 7 tháng 2 năm 2004, cố gắng liên lạc 30 tháng 12 năm 2005, khoảng 89.8 AU từ Mặt Trời 4 tháng 3, 2006. Không thể liên lạc với tàu. Nhưng tàu vẫn hoạt động trong khoảng không vũ trụ. == Thư viện ảnh == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Pioneer Project Archive Page Pioneer 10 Profile by NASA's Solar System Exploration NSSDC Pioneer 10 page Pioneer Odyssey, NASA SP-396, 1977 - This is an entire book about the Pioneer 10 and 11 project, with all pictures and diagrams, on-line! Scroll down to click on the "Table of Contents" link. PIONEER 10 - Canadian rock band of same name. Mark Wolverton's The Depths of Space online A distant Pioneer whispers to Earth - CNN article, December 19, 2002 2005 Pioneer Anomaly Conference - Mentions March 4, 2006 Contact Attempt
thánh truyền.txt
Thánh truyền (còn gọi là Truyền thống thiêng liêng hay truyền thống thánh) là một thuật ngữ thần học được sử dụng trong một số truyền thống Kitô giáo, chủ yếu trong Công giáo Rôma, Anh giáo, Chính Thống giáo Đông phương, Chính Thống giáo Cựu Đông phương và Cảnh giáo, đề cập đến nguồn cơ sở hình thành thẩm quyền của giáo hội. Sự truyền đạt liên tục những giáo huấn của Truyền thống được gọi là truyền thống sống động, đây là sự truyền tải giáo huấn từ thế hệ này tới thế hệ sau. Thuật từ "kho tàng đức tin" đề cập tới toàn bộ mặc khải của Chúa Giêsu Kitô, được truyền cho các thế hệ kế tiếp trong hai dạng khác nhau là Thánh Kinh và Thánh Truyền (sự kế vị các tông đồ). Từ "truyền thống" được lấy từ tiếng Latin trado, tradere có nghĩa là trao cho, giao nộp, truyền lại, để lại. Truyền thống thiêng liêng muốn ám chỉ tới việc truyền lại lời mạc khải của Thiên Chúa. Hai nghĩa này phân biệt với nhau, nhưng liên hệ chặt chẽ với nhau. Trước hết, truyền thống là tất cả mạc khải của Thiên Chúa, từ lúc khai sinh lịch sử nhân loại đến lúc chấm dứt thời các Tông đồ, được truyền lại từ thế hệ Kitô hữu này sang thế hệ tiếp theo và được Hội thánh do Đức Giêsu lập ra bảo tồn, dưới sự hướng dẫn của Chúa. Hiểu một cách khác, Thánh Truyền là phần Lời Chúa mạc khải, cũng được truyền lại, nhưng không nằm trong Kinh Thánh. Công đồng Vatican II đã trình bày riêng về cách thế truyền thống Kitô giáo được lưu truyền như sau: "Công việc lưu truyền ấy được các Tông đồ thực hiện:qua lời giảng dạy, qua gương sáng và các thể chế lập nên, các ngài truyền lại những gì mình đã nhận được từ chính miệng Chúa Kitô, từ cách sống và các việc làm của Người, hoặc đã học được nhờ sự gợi ý của Chúa Thánh Thần" (MK 17). Mục đích của truyền thống các thánh tông đồ nhằm ủng hộ tính chất thánh thiện của Kinh thánh, giải thích các giáo lý quan trọng của Kinh thánh, Kinh thánh ra đời trong một thời gian dài trước khi giáo hội được tổ chức thống nhất. Về tính chất tôn giáo và ý nghĩa giáo lý của truyền thống các thánh tông đồ, giáo hội nhận thấy nó gắn liền với Kinh thánh. Tuy vậy, một số nhà thần học còn coi truyền thống thánh quan trọng hơn Kinh thánh vì nó tập hợp các sách thánh do truyền thống các thánh tông đồ quy định. Giáo hội Chính thống giáo và Công giáo coi các văn kiện của Bảy công đồng đầu tiên và các tác phẩm của các thánh giáo phụ là một bộ phận của truyền thống thánh, các lễ nghi cổ đại của thời kỳ đó được áp dụng để cử hành các phụng vụ hiện nay. Giáo hội Công giáo còn bổ sung thêm các quyết nghi của giáo hoàng. Các nhóm Tin Lành coi chỉ có Kinh Thánh là thành quả của sự mặc khải của Thiên Chúa (thuyết Duy Thánh Kinh Sola scriptura) nên truyền thống các thánh chỉ là hành động của con người. Trong Hồi giáo cũng có đề cập đến truyền thống các thánh. == Chú thích ==
argentina.txt
Argentina (thường được phiên âm trong tiếng Việt là Ác-hen-ti-na), tên chính thức là Cộng hòa Argentina (tiếng Tây Ban Nha: República Argentina, phát âm [reˈpuβlika arxenˈtina]), là quốc gia lớn thứ hai ở Nam Mỹ theo diện tích đất, sau Brasil. Quốc gia này theo thể liên bang, hình thành với 23 tỉnh và một thành phố tự trị là thủ đô Buenos Aires. Argentina có diện tích đứng thứ tám trên thế giới về diện tích đất liền và lớn nhất trong số các nước nói tiếng Tây Ban Nha, mặc dù México, Colombia và Tây Ban Nha đông dân hơn. Địa hình Argentina bao gồm diện tích từ dãy núi Andes ở phía tây đến Đại Tây Dương ở phía đông. Quốc gia này giáp Paraguay và Bolivia về phía bắc, Brasil và Uruguay về phía đông bắc, và Chile về phía tây và nam. Argentine tuyên bố chủ quyền ở Châu Nam Cực nhưng lãnh phận này lấn lên khu vực tranh chấp với Chile và Vương quốc Liên hiệp Anh. Về mặt pháp lý quốc tế, Hệ thống Hiệp ước Vùng Nam Cực ký năm 1961 đã vô hiệu hóa tuyên bố chủ quyền của mọi nước. Argentina cũng tuyên bố chủ quyền trên Quần đảo Falkland (tiếng Tây Ban Nha: Islas Malvinas), Nam Georgia và Quần đảo Nam Sandwich. Những nhóm đảo này hiện do Anh quản lý theo kiểu Lãnh thổ hải ngoại thuộc Anh. Là một Cường quốc bậc trung (middle power) được thừa nhận, Argentina là nền kinh tế lớn thứ ba Mỹ Latinh, với một xếp hạng cao về Chỉ số phát triển con người. Trong phạm vi Mỹ Latinh, Argentina có GDP danh nghĩa cao thứ năm và cao nhất về sức mua tương đương. Các nhà phân tích cho rằng nước này có "nền tảng cho sự phát triển trong tương lai do kích cỡ thị trường của nó, mức độ đầu tư trực tiếp nước ngoài, và tỷ lệ khối lượng hàng hóa xuất khẩu công nghệ cao là phần đóng góp quan trọng vào tổng mức sản xuất hàng hóa", và nó được các nhà đầu tư phân loại là một nền kinh tế mới nổi. Argentina là một thành viên sáng lập của Liên Hiệp Quốc, Mercosur, Liên minh các Quốc gia Nam Mỹ, OEI, Nhóm Ngân hàng Thế giới và Tổ chức thương mại thế giới, và là một trong nhóm các nền kinh tế lớn G20. == Tên gọi == Tên gọi Argentina được bắt nguồn từ tiếng Latinh argentum (" nghĩa là Bạc"). Việc sử dụng lần đầu tiên từ nguyên "Argentina" có thể được tìm thấy vào năm 1602 trong bài thơ La Argentina y conquista del Río de la Plata (tiếng Việt: Argentina và cuộc chinh phục dòng sông bạc) của Martín del Barco Centenera. Mặc dù tên này đã được dùng phổ biến để gọi Lưu vực sông La Plata vào thế kỷ thứ 18, nhưng tên chính thức của vùng đất này vốn được gọi là Phó vương quốc Río de la Plata từ năm 1776. Những chính phủ tự trị nổi lên từ cuộc cách mạng tháng 5 năm 1810 đã thay thế từ "Phó vương" bằng "Các tỉnh thống nhất". Một trong số những lần đầu tiên sử dụng cái tên "Argentina" một cách nổi bật là trong quốc ca đầu tiên của Argentina vào năm 1812, bản quốc ca nói đến Cuộc chiến giành độc lập của Argentina đang diễn ra khi đó. Việc sử dụng một cách chính thức tên gọi này lần đầu tiên là trong hiến pháp năm 1826, nó đã sử dụng cả hai thuật ngữ "cộng hòa Argentina" và "quốc gia Argentina". Nhưng sau đó hiến pháp bị bãi bỏ, và các lãnh thổ được gọi thay thế là "Liên minh Argentina". Tên này được sử dụng trong hiến pháp năm 1853, rồi đổi thành "Quốc gia Argentina" năm 1859, rồi thành "Cộng hòa Argentina" theo một nghị quyết năm 1860, khi nước này được tổ chức như ngày nay. Tuy vậy, những cái tên gồm "Các tỉnh thống nhất Río de la Plata", "cộng hòa Argentina" và "liên minh Argentina " vẫn được công nhận là những tên hợp pháp của đất nước. == Lịch sử == === Tiền Colombo === Vết tích cổ xưa nhất của con người tại Argentina có niên đại từ 11.000 TCN và được tìm thấy tại Patagonia (Piedra Museo, Santa Cruz). Những phát hiện này là của người Diaguita, Huarpe, và Sanavirone bản địa. Đế chế Inca, dưới thời "người Inca vĩ đại" Pachacutec, đã xâm chiếm và chinh phục vùng ngày nay là tây-bắc Argentina năm 1480, một chiến công thường được gán cho Túpac Inca Yupanqui. Các bộ lạc Omaguaca, Atacama, Huarpe và Diaguita bị đánh bại và hợp nhất vào trong vùng gọi là Collasuyu. Những bộ lạc khác, như Sanavirone, Lule-Tonocoté, và Comechingone, kháng cự lại người Inca và vẫn độc lập khỏi họ. Những người Guaraní phát triển văn hóa dựa trên việc trồng trọt Sắn, khoai lang, và chè yerba Paragoay. Những khu vực miền trung và nam (Pampas và Patagonia) bị thống trị bởi các bộ lạc trồng trọt du mục, đông dân nhất trong số đó là người Mapuche. Tại phía bắc Argentina, những cư dân bản địa Atacama cư trú ở Tastil có dân cư ước tính gồm 2.000 người, là khu vực có cư dân đông nhất trong thời kỳ tiền Colombo tại Argentina. Những bộ lạc bản xứ tiến bộ nhất là người Charrúa và Guaraní- những người đã phát triển một số nghề canh tác nông nghiệp cơ bản và sử dụng đồ gốm. Tuy vậy, đa số sắc dân này được tìm thấy ở những vùng khác tại Nam Mỹ, và sự hiện diện của họ ở lãnh thổ Argentina ngày nay là rất ít khi so sánh với các nước khác. === Thuộc địa === Những nhà thám hiểm châu Âu đến năm 1516. Tây Ban Nha thành lập Phó vương Peru năm 1542, bao gồm toàn bộ thuộc địa đang nắm giữ của Tây Ban Nha ở Nam Mỹ. Nơi thực dân đầu tiên của họ tại Argentina hiện đại là Pháo đài Sancti Spiritu xây dựng năm 1527 gần Sông Paraná. Buenos Aires, một thuộc địa lâu dài, được xây dựng năm 1536 nhưng bị thổ dân phá hủy. Thành phố được xây dưng lại năm 1580 là một phần của Tỉnh thuộc Địa Río de la Plata. Vùng đất bao trùm hầu hết lãnh thổ Argentina ngày nay phần lớn là lãnh thổ gồm di dân Tây Ban Nha và con cháu (được gọi là criollo), người lai, thổ dân, và con cháu của các nô lệ châu Phi. Trong một phần ba thời kỳ thực dân, dân di cư tập trung tại Buenos Aires và những thành phố khác, những nhóm di dân khác sống trên các thảo nguyên, ví dụ như gaucho. Người bản địa sống phần lớn ở vùng còn lại, hầu hết Patagonia và Gran Chaco vẫn nằm dưới sự kiểm soát của họ. Buenos Aires trở thành thủ đô của Phó vương quốc Río de la Plata năm 1776, vùng được thành lập trên một số lãnh thổ cũ của Phó vương Peru. Vùng đất Phó vương quốc Río de la Plata buộc phải nhập khẩu hàng hóa bằng đường bộ qua Lima kể từ năm 1595, và sự phụ thuộc vào buôn lậu nổi lên. Tuy nhiên từ năm 1776, Buenos Aires khởi sắc như là một trung tâm thương mại. Năm 1806 và 1807 thành phố trở thành mục tiêu trong hai cuộc xâm lược thất bại của Anh. Cuộc kháng cự được chỉ huy cả hai lần bởi Sĩ quan người Pháp Santiago de Liniers, người trở thành Phó vương qua sự ủng hộ của người dân. Tin tức về việc lật đổ vua Tây Ban Nha Ferdinand VII trong Chiến tranh bán đảo với Napoleon đã tạo ra mối lo lắng lớn ở Phó vương quốc. Cách mạng tháng 5 năm 1810 bùng nổ ở Buenos Aires, loại bỏ Phó vương Cisneros khỏi chính quyền và thay thế bằng Primera Junta (hội đồng đệ nhất). === Xây dựng nhà nước-quốc gia === Trong một thập kỷ sau đó một cuộc chiến tranh độc lập đã diễn ra tại các Phó vương cũ, các lãnh thổ trong Phó vương bị chia rẽ giữa những người yêu nước và những người theo chủ nghĩa bảo hoàng (tức những người ủng hộ hoàng gia Tây Ban Nha). Trong khi những thành phố Argentina ngày nay lần lượt độc lập sau 1811, thì vào lúc đó những khu vực khác lại đi theo các con đường khác nhau: Paraguay ly khai, tuyên bố độc lập khỏi Tây Ban Nha năm 1811 và khỏi Argentina năm 1842. Còn Thượng Peru đã chiến tranh với phe bảo hoàng từ Phó vương Peru cho đến khi nó tuyên bố độc lập là Bolivia năm 1824. Vùng bờ phía đông sông Uruguay bị Đế chế Brazil-Bồ Đào Nha xâm lược năm 1817 và tuyên bố độc lập là Uruguay năm 1828 sau chiến tranh Argentina-Brazil. Mâu thuẫn nội bộ đã dẫn đến bất ổn chính trị giữa những người theo chủ nghĩa yêu nước. Chỉ trong bốn năm Primera Junta bị thay thế bằng Junta Grande (Đại hội đồng), Chính phủ tam đầu chế thứ nhất và thứ hai, và Đốc chính tối cao thứ nhất. Năm 1813 một cuộc họp được triệu tập để tuyên bố độc lập nhưng điều đó không thể thực hiện được do các mâu thuẫn chính trị. Một cuộc nội chiến bùng nổ sau đó giữa những tỉnh gia nhập vào liên minh liên bang và Đốc chính tối cao. Năm 1816, các tỉnh thống nhất Río de la Plata bị đặt dưới các mối đe dọa bên ngoài lẫn bên trong nghiêm trọng. Tháng 7 một quốc hội mới tuyên bố độc lập và bổ nhiệm Juan Martín de Pueyrredón làm đốc chính tối cao. Các chiến dịch quân sự được giao trách nhiệm cho José de San Martín, ông đã chỉ huy một đội quân vượt dãy Andes năm 1817 rồi đánh bại Phe bảo hoàng Chile. Với hải quân Chile dưới quyền mình, sau đó ông đã tiến hành cuộc chiến với thành trì của phe bảo hoàng ở Lima. Những chiến dịch quân sự của San Martín đã hỗ trợ các chiến dịch của Simón Bolívar chống lại phe bảo hoàng ở Đại Colombia và đem đến thắng lợi của những người ủng hộ độc lập trong Chiến tranh giành độc lập của các thuộc địa Tây Ban Nha ở châu Mỹ. Trận Cepeda năm 1820, đánh nhau giữa những người ủng hộ chủ nghĩa tập quyền trung ương và chủ nghĩa liên bang, đưa đến sự chấm dứt kiểm soát của quyền lực trung ương tập quyền và hình thành một khoảng trống quyền lực. Trong chiến tranh với Brazil, một hiến pháp mới được ban hành năm 1826, khi Bernardino Rivadavia được bầu làm tổng thống Argentina đầu tiên. Nhưng hiến pháp này nhanh chóng bị các tỉnh loại bỏ, do xu hướng tập quyền trung ương của nó, và Rivadavia từ chức thời gian ngắn sau đó. Các tỉnh sau đó tổ chức lại thể chế thành Liên minh Argentina, một liên minh giữa các tỉnh lỏng lẻo mà không có người đứng đầu nhà nước chung. Họ muốn ủy nhiệm một số quyền hạn quan trọng cho thống đốc tỉnh Buenos Aires, như việc trả nợ hay việc quản lý các quan hệ quốc tế. Thống đốc Juan Manuel de Rosas điều hành từ năm 1829 đến năm 1832, rồi từ năm 1835 đến năm 1852. Trong nhiệm kỳ đầu tiên của mình ông đã triệu tập Hiệp ước liên bang (tiếng Tây Ban Nha: Pacto Federal) và đánh bại liên minh ủng hộ chủ nghĩa trung ương tập quyền. Sau 1835 ông được trao danh hiệu "Sum of public power". Ông đối mặt với tình trạng chiến tranh liên tục và sự kháng cự của những người ủng hộ chủ nghĩa trung ương, bao gồm cuộc vây hãm của Pháp từ năm 1838 đến năm 1840, chiến tranh liên minh ở phía bắc (cuộc chiến giữa Liên minh Peru-Bolivia với Argentina và Chile), cuộc vây hãm của Anh-Pháp từ 1845 đến 1850, và cuộc nổi dậy của tỉnh Corrientes. Rosas vẫn không bị đánh bại sau hàng loạt xung đột này và ngăn ngừa mất mát thêm lãnh thổ đất nước. Việc từ chối ban hành hiến pháp quốc gia của ông, chiếu theo hiệp ước liên bang mà ông đã nhóm họp, dẫn đến việc đòi lại các quyền hạn quan trọng đã ủy nhiệm cho thống đốc tỉnh Buenos Aires của thống đốc Justo José de Urquiza tỉnh Entre Ríos. Justo José de Urquiza đánh bại Rosas trong trận Caseros, buộc ông phải sống lưu vong. Hiệp định San Nicolás theo sau và năm 1853 hiến pháp Argentina được ban hành. Sau sự ly khai của tỉnh-bang Buenos Aires khỏi liên minh, và sự trở lại sau đó của nó, Bartolomé Mitre đã được bầu làm tổng thống của đất đước hợp nhất đầu tiên năm 1862. Sự thống nhất quốc gia được thúc đẩy thêm bởi cuộc Chiến tranh Tam Đồng minh, Cuộc chiến để lại hơn 300.000 người chết và tàn phá Paraguay. Sau năm 1875 một làn sóng đầu tư nước ngoài và di dân từ Châu Âu đưa đến việc củng cố một quốc gia gắn kết, phát triển nông nghiệp hiện đại và gần như tái tạo kinh tế, xã hội Argentina. Luật pháp được củng cố, trong phạm vi rộng hơn, bộ luật thương mại 1860 và bộ luật dân sự 1869 của Dalmacio Vélez Sársfield đã đặt nền móng cho luật của Argentina. Chiến dịch quân sự của tướng Julio Argentino Roca (tổng thống Argentina từ 1898–1904) trong những năm 1870 đã xác lập sự thống trị của Argentina toàn bộ phía nam Pampas và Patagonia, chinh phục những người bản địa còn lại, và khiến 1.300 người bản địa chết. Trong hậu quả đàn áp những cuộc đột kích kiểu Malón của người Mapuche, một số nguồn hiện nay cho rằng "chinh phục hoang mạc" là một chiến dịch diệt chủng của chính phủ Argentina. === Lịch sử cận đại === Argentina gia tăng sự thịnh vượng và nổi bật giữa những năm 1880 và 1929, nổi lên như một trong mười nước giàu nhất trên thế giới, được lợi từ một nền kinh tế dẫn đầu về xuất khẩu nông sản cũng như sự đầu tư của Anh và Pháp. Được thúc đẩy bởi nhập cư và giảm tỷ lệ tử vong, dân số Argentina đã tăng gấp 5 lần và nền kinh tế tăng gấp 15 lần. Các tầng lớp tinh hoa chính trị bảo thủ chi phối chính trị Argentine qua những biện pháp dân chủ trên danh nghĩa cho đến năm 1912, khi tổng thống Roque Sáenz Peña ban hành đạo luật quyền bầu cử cho toàn bộ nam giới và bỏ phiếu kín. Điều này cho phép những đối thủ truyền thống của họ là đảng trung dung Liên minh công dân cấp tiến, giành chiến thắng trong cuộc bầu cử tự do lần đầu tiên của đất nước năm 1916. Tổng thống Hipólito Yrigoyen ban hành các đạo luật cải cách kinh tế và xã hội và mở rộng trợ giúp cho các gia đình nông dân và công ty nhỏ. Tuy nhiên, Yrigoyen bị lật đổ bởi cuộc đảo chính năm 1930, dẫn đến thêm một thập niên cầm quyền của đảng bảo thủ. Chế độ Concordance tăng cường quan hệ với Đế quốc Anh và chính sách bầu cử của họ là một trong những "sự lừa gạt lòng yêu nước". Argentina trung lập trong Chiến tranh thế giới thứ I và hầu hết Chiến tranh thế giới thứ II, trở thành một nơi cung cấp thực phẩm quan trọng cho các nước đồng minh. Năm 1946 tướng Juan Perón được bầu làm tổng thống, tạo ra một phong trào dân túy được gọi là "Chủ nghĩa Peron". Eva vợ của ông trở nên nổi tiếng và đóng vai trò chính trị chính yếu cho đến cái chết của bà năm 1952, Chủ yếu nhờ Quỹ Eva Perón và Đảng phụ nữ Peron mà quyền bầu cử cho phụ nữ được chấp nhận năm 1947. Trong nhiệm kỳ của Perón tiền lương và điều kiện làm việc cải thiện đáng kể, tổ chức công đoàn được khuyến khích, các ngành công nghiệp chiến lược và dịch vụ được quốc hữu hóa, cũng như sự công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu và mở rộng đô thị dành ưu tiên cho lĩnh vực ruộng đất. Tuy nhiên, giá cả ổn định và sự trao đổi tỷ giá cũ bị phá vỡ: đồng peso mất gần 70% giá trị của nó từ năm 1948 đến 1950, và lạm phát với đến con số 50% vào năm 1951. Chính sách đối ngoại trở nên biệt lập hơn, căng thẳng trong quan hệ Mỹ-Argentine. Perón đã tăng cường kiểm duyệt cũng như đàn áp: 110 tờ báo bị đóng cửa, cùng nhiều nhân vật đối lập bị cầm tù và tra tấn. Thúc đẩy sự sùng bái cá nhân. Perón giải thoát bản thân khỏi nhiều vấn đề quan trọng và các cố vấn giỏi trong khi lạm dụng quyền bổ nhiệm của mình. Vụ ném bom Plaza de Mayo xảy ra và được kế tiếp vài tháng sau đó bằng một cuộc đảo chính bạo lực đã lật đổ ông năm 1955. Juan Perón sau đó bỏ trốn đi lưu vong, cuối cùng định cư ở Tây Ban Nha. Sau một nỗ lực loại trừ ảnh hưởng của Chủ nghĩa Peron và lệnh cấm những người theo chủ nghĩa Peron ra khỏi đời sống chính trị, thì cuộc bầu cử năm 1958 đưa Arturo Frondizi lên chức tổng thống. Frondizi có được một số sự ủng hộ từ những người theo Perón, và các chính sách khuyến khích đầu tư của ông giúp đất nước tự túc về năng lượng và công nghiệp, giúp đảo ngược mức thâm hụt thương mại tồi tệ cho Argentina. Tuy nhiên, quân đội thường xuyên can thiệp vì lợi ích của phe bảo thủ, các nhóm tư bản đất đai. Frondizi bị buộc phải từ chức năm 1962. Arturo Illia được bầu năm 1963 và ban hành những chính sách mở rộng kinh tế nhưng, dù thành công, những cố gắng của ông nhằm cho phép những người theo chủ nghĩa Peron tham gia vào quá trình chính trị dẫn đến phe quân đội giành lại quyền lực trong một cuộc đảo chính êm thấm năm 1966. Dù hà khắc, chế độ mới này tiếp tục khuyến khích sự phát triển trong nước và lượng đầu tư kỷ lục vào các công trình công cộng. Kinh tế phát triển mạnh và thu nhập thấp giảm xuống còn 7% năm 1975. Tuy nhiên, một phần vì sự hà khắc của họ, bạo lực chính trị bắt đầu leo thang và Perón, vẫn còn lưu vong, khéo léo dựa vào những sự phản kháng của sinh viên và tầng lớp lao động, cuối cùng dẫn đến kêu gọi bầu cử tự do của chế độ quân sự năm 1973, và sự trở về của Perón từ Tây Ban Nha. Đang nhậm chức năm đó thì Perón chết tháng 7 năm 1974 để lại người vợ thứ ba của ông Isabel, đang giữ chức phó tổng thống lúc đó, đã kế vị ông trở thành tổng thống. Bà Perón đã chọn một sự thỏa hiệp với các phe phái đang căm hận chủ nghĩa Peron, những người có thể đồng ý với không một ứng cử viên phó tổng thống nào khác; dù không tuyên bố, bà chịu ơn hầu hết các cố vấn phát xít của Perón. Do sự xung đột giữa những kẻ cực đoan cánh hữu và cánh tả, dẫn đến tình trạng hỗn loạn, chao đảo tài chính rồi một cuộc đảo chính tháng 3 năm 1976 đã loại bỏ bà khỏi chức tổng thống. Chính phủ tự xưng là Tiến trình cải tổ quốc gia tăng cường mức độ chống lại các nhóm vũ trang cực tả (ủng hộ chủ nghĩa cộng sản), như quân đội cách mạng nhân dân và Montoneros những nhóm vũ trang này từ năm 1970 đã bắt cóc và giết người gần như hàng tuần. Cuộc trấn áp nhanh chóng mở rộng đến toàn bộ các đảng phái đối lập, trong "chiến tranh bẩn thỉu", hàng ngàn người chống đối đã "mất tích". Những hành động này được hỗ trợ và tiếp tay bởi CIA trong Chiến dịch kền kền với nhiều lãnh đạo quân sự đã tham gia vào các khóa đào tạo ở Viện Hợp tác An ninh Tây bán cầu tại Hoa Kỳ. Chế độ độc tài mới này đem lại sự ổn định lúc đầu, cho xây dựng nhiều công trình công cộng quan trọng, nhưng sự hạn định giá cả và bãi bỏ quy định tài chính thường xuyên xảy ra dẫn đến nợ nước ngoài kỷ lục và sự giảm mạnh về mức sống.xu hướng giảm công nghiệp hóa, sự sụt giá của đồng Peso, và lãi suất thật hạ thấp, cũng như tham nhũng chưa từng thấy, sự khiếp sợ lan rộng đối với chiến tranh bẩn thỉu, và cuối cùng là sự bại trận năm 1982 trước Anh Quốc trong Chiến tranh Falkland, làm mất uy tín chế độ quân sự và dẫn đến bầu cử tự do năm 1983. === Lịch sử hiện đại === Chính phủ của Raúl Alfonsín đã áp dụng các biện pháp điều tra cho những sự mất tích, thiết lập sự hạn chế dân sự đối với các lực lượng vũ trang, và củng cố thể chế dân chủ. Các thành viên của ba hội đồng quân sự bị truy tố và kết án. Tuy nhiên, nợ nước ngoài của chế độ trước đã để lại cho nền kinh tế Argentina gánh nặng bởi những điều kiện áp đặt lên nó do cả hai chủ nợ tư nhân và IMF, và ưu tiên trả lãi nợ nước ngoài trong chi tiêu các công trình công cộng và tín dụng trong nước. Sự thất bại của Alfonsín nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế đang tồi tệ đi làm ông mất lòng tin của công chúng. sau một cuộc khủng hoảng tiền tệ năm 1989 dẫn đến một sự tăng giá đột ngột 15 lần và tai hại, ông rời bỏ chức tổng thống sớm năm tháng. Tổng thống mới đắc cử Carlos Menem bắt đầu theo đuổi sự tư nhân hóa và, sau một đợt siêu lạm phát thứ hai năm 1990, đã tìm đến nhà kinh tế học Domingo Cavallo, người đã áp đặt một tỷ giá hối đoái cố định giữa đồng peso và đô la Mỹ năm 1991 và thông qua những chính sách kinh tế thị trường sâu rộng, tháo gỡ hàng rào bảo hộ và các quy định thương mại, trong khi thúc đẩy sự tư nhân hóa. Những cải cách này góp phần làm tăng đáng kể về đầu tư và tăng trưởng với sự ổn định giá cả hầu hết suốt thập niên 90; nhưng giá trị cố định của đồng peso chỉ có thể được duy trì bằng sự tràn ngập thị trường với đồng đô la, dẫn đến gia tăng nợ nước ngoài. Hơn nữa, vào khoảng năm 1998, một loạt các cuộc khủng hoảng tài chính quốc tế và sự đánh giá quá cao vào sự ổn định của đồng peso dẫn đến sự trượt dần vào khủng hoảng kinh tế. Chiều hướng ổn định và thịnh vượng đã thống trị trong thập niên 90 bị xói mòn nhánh chóng, và vào cuối nhiệm kỳ của ông năm 1999, các vấn đề đang chồng chất và những báo cáo tham nhũng đã khiến Menem mất lòng dân chúng. Tổng thống Fernando de la Rúa thừa kế khả năng cạnh tranh giảm sút trong xuất khẩu, cũng như mức thâm hụt ngân sách tồi tệ. Liên minh cầm quyền ngày càng rạn nứt, và việc bổ nhiệm trở lại nhà kinh tế học Cavallo vào bộ kinh tế được các nhà đầu cơ hiểu như là một động thái khủng hoảng. Quyết định backfired và Cavallo cuối cùng buộc phải thực hiện biện pháp ngăn chặn một làn sóng rút vốn đầu tư và ngăn cuộc khủng hoảng nợ sắp xảy ra (đỉnh điểm là việc đóng băng các tài khoản ngân hàng). Một bầu không khí bất mãn trong dân chúng xảy ra sau đó, và vào 20-12-2001, Argentina lao vào cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị tồi tệ nhất kể từ sự sụp đổ tài chính Barings năm 1890. Diễn ra những cuộc biểu tình đường phố bạo lực, đụng độ với cảnh sát và dẫn đến một số trường hợp tử vong. Không khí hỗn loạn tăng lên, giữa các cuộc bạo loạn kèm theo những lời kêu gọi "tất cả họ nên ra đi", cuối cùng dẫn đến sự từ chức của tổng thống de la Rúa. Tổng thống tiếp theo Adolfo Rodríguez Saá được bầu ra bởi Hội đồng lập pháp đã tại chức trong nhiệm kỳ chóng vánh 7 ngày trước khi từ chức. hai ngày sau, 2-1-2002 Hội đồng lập pháp bổ nhiệm tổng thống tạm thời Eduardo Duhalde kế nhiệm. Argentina vỡ nợ với khoản nợ quốc tế của mình, và sự cố định giá đồng peso với đô la mỹ trong 11 năm bị bãi bỏ, gây ra sự sụt giá nghiêm trọng của đồng peso và mức lạm phát tăng đột biến. Duhalde, một Peronist với quan điểm kinh tế khuynh tả, phải đương đầu với một cuộc khủng hoảng kinh tế-xã hội và tài chính với tình trạng thất nghiệp cao tới 25% giữa năm 2002, và mức lương thực tế thấp nhất trong 60 năm. Cuộc khủng hoảng làm lộ ra sự ngờ vực của người dân với giới chính trị gia và thể chế. Sau một năm rung chuyển bởi biểu tình, kinh tế bắt đầu ổn định cuối năm 2002, và lệnh hạn chế rút tiền khỏi ngân hàng được dỡ bỏ tháng mười hai. Được lợi từ một tỷ giá hối đoái giảm giá trị chính phủ Argentina đã thực thi những chính sách mới dựa trên tái công nghiệp hóa, thay thế nhập khẩu và tăng khối lượng hàng xuất khẩu, bắt đầu có dấu hiệu thặng dư thương mại và tài chính vẵng chắc. Thống đốc Néstor Kirchner, một Peronist cánh tả, được bầu làm tổng thống tháng 5-2003. Trong nhiệm kỳ của ông, Argentina cơ cấu lại nợ chưa trả với chiết khấu giảm (khoảng 66%) trên hầu hết các trái phiếu, trả hết nợ cho Quỹ tiền tệ quốc tế, thương lượng lại các hợp đồng Công trình hạ tầng kỹ thuật và quốc hữu hóa một số công ty tư nhân trước đây. Kirchner và các nhà kinh tế học của mình, đặc biệt là Roberto Lavagna, cũng theo đuổi một chính sách thu nhập và đầu tư các dự án công cộng mạnh mẽ. Argentina từ lúc đó có được sự tăng trưởng kinh tế, dù với lạm phát cao. Néstor Kirchner hủy bỏ chiến dịch tranh cử năm 2007, để giúp vợ ông thượng nghị sĩ Cristina Fernández de Kirchner, người trở thành phụ nữ đầu tiên được bầu làm Tổng thống Argentina. Bà đã chứng kiến kế hoạch gây tranh cãi về việc tăng thuế xuất khẩu nông sản bị thất bại do lá phiếu tie-breaking bất ngờ của phó tổng thống Julio Cobos tháng 7-2008, sau các đợt biểu tình ruộng đất và đóng cửa nhà máy của giới chủ quy mô lớn từ tháng 3 đến tháng 7. Các cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã nhắc nhở bà Kirchner đẩy mạnh chính sách can thiệp của nhà nước vào những khu vực gặp khó khăn trong nền kinh tế của chồng bà. Vào ngày 15-7-2010, Argentina trở thành quốc gia đầu tiên ở Mỹ Latin và quốc gia thứ hai tại nam bán cầu hợp pháp hóa Hôn nhân đồng giới. == Chính trị == Argentina theo chế độ Cộng hoà Liên bang, chế độ lưỡng viện. Tổng thống được bầu qua tuyển cử, là Nguyên thủ quốc gia và đứng đầu Chính phủ, nhiệm kỳ 4 năm và có thể tái cử một nhiệm kỳ tiếp theo. Quốc hội bao gồm Thượng nghị viện có 72 Thượng nghị sĩ, do bầu cử trực tiếp, nhiệm kỳ 6 năm, mỗi tỉnh và thành phố Buenos Aires được bầu 3, cứ 2 năm bầu lại 1/3 và Hạ nghị viện có 257 Hạ nghị sĩ, do bầu cử trực tiếp, nhiệm kỳ 4 năm, cứ 2 năm bầu lại 1/2. Hiện nay có 25 đảng chính trị hợp pháp, trong đó các đảng lớn là: Đảng Công lý (PJ - cầm quyền), Liên minh Nhân dân Cấp tiến (UCR), Mặt trận Đất nước Đoàn kết (FREPASO). Toà án Tối cao là cơ quan cao nhất ngành Tư pháp. Tổng thống bổ nhiệm các thẩm phán, Thượng viện phê chuẩn. == Chính sách ngoại giao == Chính phủ của Tổng thống Cristina Fernández de Kirchner tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại cân bằng tại khu vực, đề cao liên kết và hợp tác khu vực, trong đó coi trọng và thúc đẩy quan hệ với Venezuela, củng cố quan hệ với Chile, Brasil và khối Mercosur. Với Mỹ, tuy có va chạm vào đầu nhiệm kỳ nhưng Chính phủ tiếp tục coi trọng phát triển quan hệ đồng minh với Mỹ trong khi vẫn duy trì quan hệ tốt với Cuba. Với Tây Âu, tiếp tục nỗ lực khôi phục niềm tin để tranh thủ vốn, mở rộng thị trường và giải quyết khoản nợ 6,3 tỉ USD với Câu lạc bộ Paris. Argentina có vấn đề tranh chấp chủ quyền đối với quần đảo Malvinas với Anh và vùng đất đóng băng với Chile, tuy nhiên, Chính phủ của Tổng thống Cristina Fernandez de Kirchner chủ trương giải quyết các vấn đề này bằng giải pháp hóa bình. Là nước lớn trong khu vực Mỹ Latinh, Argentina có vai trò quan trọng ở khu vực và quốc tế, có quan hệ ngoại giao với hơn 142 nước, là thành viên của Liên Hiệp Quốc, WTO, Hiệp hội Liên kết Mỹ Latinh (ALADI), Tổ chức các nước châu Mỹ (OEA), Hệ thống Kinh tế Mỹ Latinh (SELA), Nghị viện Mỹ Latinh (PARLATINO), Nhóm 77, Thị trường chung Nam Mỹ (MERCOSUR), Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương (PECC), Hội đồng Kinh tế Lòng chảo Thái Bình Dương (PBEC), Liên minh các Quốc gia Nam Mỹ (UNASUR, gia nhập tháng 5 năm 2008) và Cộng đồng các Nhà nước Mỹ Latinh và Caribe (tháng 2 năm 2010). == Kinh tế == Argentina hiện tại là nền kinh tế lớn thứ 3 ở Mỹ Latinh (sau Brasil và México), có truyền thống sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi đại gia súc; công nghiệp tương đối phát triển, với các ngành mũi nhọn như chế biến thực phẩm, dầu khí, luyện kim, chế tạo ô tô, năng lượng nguyên tử, sinh học... Tính đến năm 2016, GDP của Argentina đạt 541.748 USD, đứng thứ 21 thế giới. GDP theo sức mua tương đương là 20,972 USD, đứng thứ 66 thế giới và đứng thứ 5 khu vực Mỹ Latin. Trong thập niên 1980, kinh tế Argentina bị khủng hoảng như nhiều nước Mỹ Latinh khác, từ đầu thập niên 1990 dần được phục hồi, từ 1996 - 2001 quay lại chu kỳ suy thoái và 2002 rơi vào khủng hoảng trầm trọng (tăng trưởng GDP -10,9%, lạm phát 41%), đồng nội tệ bị phá giá, nợ nước ngoài lên đến mức kỷ lục (134 tỷ USD). Đến năm 2003 bắt đầu quá trình hồi phục mới, giai đoạn 2003-2008 kinh tế phát triển mạnh đạt mức tăng trưởng GDP bình quân 8,2%/năm. Năm 2009, do ảnh hưởng cuộc khủng hoảng kinh tế-tài chính toàn cầu, kinh tế suy giảm mạnh, tăng trưởng GDP chỉ đạt 0,9% (tương đương 301 tỷ USD). Từ năm 2010, kinh tế được phục hồi và tăng trưởng trở lại tuy còn chưa ổn định, GDP 6 tháng đầu năm đạt 9,4%, dự kiến cả năm đạt trên 7%, trao đổi thương mại 8 tháng đầu đầu năm đạt gần 80 tỷ USD (so với gần 100 tỷ) của năm 2009), dự trữ ngoại tệ đạt mức kỷ lục 51 tỷ USD (năm 2009 là 45 tỷ), tỷ lệ thất nghiệp giảm từ mức 8,4% (2009) xuống còn 7,9%, lạm phát ở mức 11,2%. Hàng xuất khẩu chủ yếu là ngũ cốc, thịt bò, da bò, dầu thực vật, hàng công nghiệp. Hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, phương tiện vận tải, hoá chất. Các thị trường xuất nhập khẩu chính: NAFTA (Mỹ, Canada, México), Trung Quốc, EU, Mercosur. == Địa lý == === Các đặc điểm chính === Argentina có tổng diện tích 2.766.891 km² (bao gồm cả các vùng đất tranh chấp), với 2.736.691 km² đất và 30.200 km² (1.1%) mặt nước. Argentina trải dài 3.900 km từ Bắc xuống Nam, và 1.400 km từ Đông sang Tây (chỗ rộng nhất). Bề mặt địa hình có thể được chia thành 4 phần: đồng bằng màu mỡ Pampa ở trung tâm đất nước, là vùng nông nghiệp chính yếu của Argentina; vùng cao nguyên từ bằng phẳng tới đồi bát úp giàu tài nguyên Patagonia trải dài từ nửa phía nam của đất nước tới Tierra del Fuego; các đồng bằng cận nhiệt Grand Chaco ở phía bắc và vùng núi cao Andes chạy dọc theo biên giới phía tây với Chile. Điểm cao nhất nằm ở Mendoza. Cerro Aconcagua, với độ cao 6.962 meter là đỉnh núi cao nhất ở châu Mỹ đồng thời là đỉnh cao nhất Nam Bán Cầu and Western Hemisphere. Điểm có độ cao thấp nhất cả nước là Laguna del Carbón tại tỉnh Santa Cruz, với độ cao −105 meter (−344 ft) dưới mực nước biển Đây cũng là điểm thấp nhất ở lục địa Nam Mỹ. Tâm điểm địa lý của đất nước nằm ở vùng trung nam đất nước, tỉnh La Pampa. Điểm cực đông nằm tại thành phố Bernardo de Irigoyen, Misiones (26°15′N 53°38′T), điểm cực Tây nằm trên rặng Mariano Moreno của tỉnh Santa Cruz (49°33′N 73°35′T). Điểm cực Bắc là nơi giao thủy của sông Grande de San Juan và sông Mojinete, Jujuy (21°46′N 66°13′T), và điểm cực Nam nằm tại mũi San Pío tại tỉnh Tierra del Fuego (55°03′N 66°31′T). Argentina còn tranh cãi về chủ quyền trên Châu Nam Cực mặc dù không được các quốc gia khác công nhận. === Các vùng địa lý === Lãnh thổ Argentina được chia thành nhiều vùng địa lý với các đặc trưng riêng biệt của từng vùng: Pampas Vùng đồng bằng phía tây và phía nam Buenos Aires được chia thành Humid Pampa với nền nhiệt cao và Dry Pampa có khí hậu khô hạn hơn. Humid Pampa chiếm phần lớn diện tích của Buenos Aires, tỉnh Córdoba, phần lớn tỉnh Santa Fe và tỉnh La Pampa. Phần phía tây của tỉnh La Pampa và tỉnh San Luis nằm trong vùng Dry Pampa. Đất đai ở đây thiếu nước cho trồng trọt, chủ yếu được sử dụng để chăn thả gia súc. Sierra de Córdoba nằm trong tỉnh cùng tên là kiểu địa hình quan trọng nhất của đồng bằng Pampa. Gran Chaco Nằm ở phía bắc của đất nước có kiểu khí hậu khô ẩm theo mùa, đất đai chủ yếu được dùng để trồng bông và chăn thả đại gia súc. Kiểu địa hình này hiện diện ở tỉnh Chaco và Formosa. Thỉnh thoảng thấy có sự xuất hiện của các cánh rừng cận nhiệt, cây bụi và đất ngập nước, là quê hương của nhiều loài động thực vật. Tỉnh Santiago del Estero nằm trong đới khô hạn nhất của vùng Gran Chaco. Mesopotamia là vùng đất nằm giữa sông Paraná và sông Uruguay. Đây là vùng đất của tỉnh Corrientes và tỉnh Entre Ríos. Vùng này có đất đai bằng phẳng thích hợp cho chăn nuôi đại gia súc và trột trọt. Tỉnh Misiones có kiểu khí hậu nhiệt đới nhiều hơn cả và là phần tiếp nối của cao nguyên Brazil. Tỉnh này có khí hậu cận nhiệt và thác Iguazú nổi tiếng. Patagonia Nằm trong các tỉnh Neuquén, Río Negro, Chubut và Santa Cruz. Phần lớn vùng này có khí hậu bán hoang mạc phía bắc tới lạnh và hoang mạc phía nam nhưng thực vật phát triển ở vùng rìa phía tây và được tô điểm bởi rất nhiều hồ. Tierra del Fuego có khí hậu mát mẻ và ẩm ướt, được điều hòa bởi sự tác động của biển. Cuyo Trung Tây Argentina bởi dãy Andes. Về phía đông của vùng này là hoang mạc Cuyo. Băng tuyết từ các đỉnh núi cao là nguồn cung cấp nước chủ yếu cho các ốc đảo vùng thấp hơn. Đây là vùng trồng cây ăn trái nổi tiếng của Argentina. Xa hơn về phía bắc khí hậu trở nên khô và nóng hơn. Ranh giới phía bắc của vùng điểm xuyến bởi kiểu địa hình Sierras Pampeanas, là một dãy các núi thấp trải rộng từ Bắc xuống Nam trong phần phía Bác của tỉnh San Luis. NOA hay Northwest là vùng có độ cao lớn nhất của cả nước. Các dãy núi song song với rất nhiều đỉnh cao hơn 6.000m thống lĩnh địa hình vùng này. Những dãy núi này phát triển rộng ra về phía bắc. Chúng chia cắt các thung lũng sông màu mỡ. Xa hơn về phía bắc gần biên giới Bolivia là cao nguyên Altiplano. Chí Tuyến Nam đi qua phần cực bắc của vùng này. === Tỉnh === Argentina được chia thành 23 tỉnh và một thành phố tự trị Buenos Aires: aTỉnh Tierra del Fuego gồm cả các lãnh thổ Argentina tuyên bố chủ quyền trên Châu Nam Cực, Quần đảo Falkland, Nam Georgia và Quần đảo Nam Sandwich. Mặc dù được chọn làm thủ đô vào năm 1853 nhưng chỉ đến năm 1880, Buenos Aires mới thực sự trở thành thủ đô của Argentina. Chính phủ Argentina cũng đã dự định chuyển thủ đô hành chính tới một vị trí khác. Dưới thời tổng thống Raúl Alfonsín, một Luật về chuyển thủ đô từ Buenos Aires đến Viedma, một thành phố của tỉnh Patagonia được thông qua nhưng do những khó khăn về kinh tế, dự án này đã không được thực hiện. Tỉnh được chia thành các đơn vị hành chính nhỏ hơn gọi là departamento. Cả nước có 376 departmento. Cấp dưới nữa là quận và huyện. Phân cấp theo dân số, các thành phố lớn của Argentina gồm Buenos Aires, Córdoba, Rosario, Mendoza, Tucumán, La Plata, Mar del Plata, Salta, Santa Fe, San Juan, Resistencia và Neuquén. === Sông hồ === Các sông lớn ở Argentina bao gồm Pilcomayo, Paraguay, Bermejo, Colorado, Río Negro, Salado, Uruguay và sông lớn nhất Paraná. Sông Paraná và sông Uruguay hợp nhau lại trước khi đổ ra Đại Tây Dương ở cửa Río de la Plata. Các sông quan trọng khác gồm Atuel và Mendoza nằm trong tỉnh cùng tên, sông Chubut ở Patagonia, sông Río Grande ở Jujuy và sông San Francisco River ở Salta. Argetina có rất nhiều hồ lớn, tập trung chủ yếu ở vùng Pantagonia. Đáng kể nhất gồm có Argentino và Viedma ở Santa Cruz, Nahuel Huapi ở Río Negro và Fagnano ở Tierra del Fuego và Colhué Huapi và Musters ở Chubut. Hồ Buenos Aires và O'Higgins/San Martín Lake nằm giữa Argentina và Chile. Mar Chiquita, Córdoba là hồ mặn lớn nhất nước. Có rất nhiều hồ nhân tạo được tạo thành từ các đập ngăn nước. Argentina còn có rất nhiều điểm phun nước nóng như Termas de Río Hondo có nhiệt độ nước khi phu lên đạt 65 °C và 89 °C. === Vùng biển và đới ven bờ === Argentina có 4.465 km đường bờ biển. Thềm lục địa nhìn chung rộng; vùng nước nông Đại Tây Dương được gọi là Mar Argentino. Bờ Đại Tây Dương là điểm dừng chân ưa thích hàng trăm năm nay của du khách. Vùng biển của Argentina giàu tài nguyên thủy sản và dầu khí. Địa hình đới bờ chủ yếu là các đụn cát và khe đá. Hải lưu chính tác động đến khí hậu Argentina là dòng Hải lưu nóng Brazil và dòng Hải lưu lạnh Falkland. === Khí hậu === Vì trải dài trên nhiều vĩ độ và chênh lệch độ cao lớn, Argentina có nhiều kiểu khí hậu khác nhau. Ôn đới là kiểu khí hậu chi phối, kiểu khí hậu cận nhiệt hiện diện ở miền Bắc và kiểu khí hậu cận cực hiện diện ở miền Nam đất nước. Khí hậu miền Bắc có đặc điểm mùa hè nóng, ẩm ướt và mùa đông khô vừa, thỉnh thoảng gây hạn hán trong một thời gian. Miền Trung có mùa hè nóng với sấm chớp (miền Tây Argentina là nơi có mưa đá nhiều nhất thế giới) và mùa đông lạnh. Các vùng phía nam có mùa hè ấm áp, mùa đông lạnh với những trận mưa tuyết lớn, đặc biệt trong vùng núi. Càng lên cao, khí hậu càng lạnh giá. Nhiệt độ tối cao và tối thấp được ghi nhật ở Mỹ Latin xảy ra tại Argentina. Nhiệt độ tối cao được ghi nhận là 49.1oC tại Villa de María, Córdoba, ngày 2 tháng 1 năm 1920. Nhiệt độ tối thấp là -39.0oC tại Valle de los Patos Superior, San Juan, ngày 17 tháng 1 năm 1972. Các khối không khí chủ yếu hoạt động ở Argentina gồm khối không khí lạnh Pampero Winds hoạt động trên vùng Patagonia và Pampas. Khối không khí nóng thổi từ phía bắc lên mang lại kiểu thời tiết ấm áp hơn cho mùa đông. Hiệu ứng Foeln và Zonda tác động lên khí hậu vùng Trung Tây đất nước. Zonda là kiểu gió thổi từ vùng núi cao Andes xuống, do mất ẩm trong quá trình di chuyển cộng với tốc độ rất lớn (có khi lên đến 120 km/h) trong nhiều giờ liền, gió có thể gây cháy trên diện rộng. Do nằm trong đới cận cực, vùng phía nam đất nước trải qua ngày rất dài vào mùa hè(19h từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau) và ngày rất ngắn vào mùa đông (từ tháng 5 đến tháng 8). == Tôn giáo == Hiến pháp đảm bảo quyền tự do tôn giáo nhưng cũng yêu cầu chính phủ để hỗ trợ Giáo hội Công giáo Rôma về mặt tài chính. Chính sách ưu đãi Công giáo vẫn có ảnh hưởng trong chính phủ mặc dù đang hình thành một loạt các luật mới để tách Công giáo ra khỏi chính trị quốc gia. Theo cơ sở dữ liệu của chính phủ Argentina: 92,1% dân số theo Kitô giáo (phần lớn là Công giáo), 3,1% bất khả tri, 1,9% Hồi giáo, 1,3% người Do Thái giáo, 0,9% người vô thần, và 0,9% Phật giáo và những người tôn giáo khác. Kitô hữu Argentina chủ yếu là Công giáo Rôma chiếm từ 70% đến 90% dân số (mặc dù có lẽ chỉ có 20% tham gia các nghi lễ thường xuyên). Vào ngày 13 tháng 3 năm 2013, Hồng y Jorge Mario Bergoglio của Argentina được bầu làm Giáo hoàng của Giáo hội Công giáo Rôma, trở thành Giáo hoàng người Mỹ La tinh đầu tiên trong lịch sử. Ông lấy tên hiệu là Giáo hoàng Phanxicô. Argentina có cộng đồng dân tộc thiểu số Hồi giáo lớn nhất ở châu Mỹ Latinh. Mặc dù thống kê chính xác về các tôn giáo là không có sẵn (vì điều tra dân số quốc gia không yêu cầu dữ liệu tôn giáo) cho nên số lượng thực tế của cộng đồng Hồi giáo Argentina được ước tính khoảng 1% tổng dân số (400.000 đến 500.000 tín đồ) theo Báo cáo Tự do Tôn giáo Quốc tế năm 2010. == Dân số == === Các số liệu thống kê hiện thời === Viện Thống kê dân số quốc gia (Tiếng Anh: National Institute of Statistics and Census of Argentina-INDEC) cho thấy dân số Argentina đạt 39.538.000 người vào năm 2005, đứng thứ 3 ở Mỹ Latin, thứ 30 trên thế giới. Năm 2010, dân số đạt 40.091.359 người. Mật độ dân số là 14.49 người/km2,so với thế giới là 51 người/km2 năm 2010. Dân số phân bố rất không đồng đều, thủ đô Buenos Aires có mật độ 14.000 người/km2 trong khi tỉnh Santa Cruz thì thấp hơn 1 người/km2. Argentina là nước duy nhất ở Mỹ Latin có tỷ lệ nhập cư cao hơn tỷ lệ xuất cư . == Chú thích == == Liên kết ngoài == Gobierno Electrónico – cổng chính phủ chính thức Presidencia – Tổng thống Argentina (tiếng Tây Ban Nha) Honorable Senado de la Nación – Thượng Nghị viện Argentina (Tây Ban Nha) Honorable Cámara de Diputados de la Nación – Hạ Nghị viện Argentina (Tây Ban Nha) Thông tấn xã chính thức Wikimedia Atlas của Argentina, có một số bản đồ liên quan đến Argentina.
microsoft studios.txt
Microsoft Studios là công ty sản xuất trò chơi điện tử của Microsoft, chịu trách nhiệm cho việc phát triển và xuất bản của các trò chơi trên các nền tảng Xbox, Xbox 360, Xbox One, Games for Windows, Steam, Windows Store, và Windows Phone. Công ty được thành lập năm 2002 với tên là Microsoft Game Studios để trùng hợp với sản phẩm đã phát hành Xbox, trước khi được tái thương hiệu trong năm 2011. Công ty con này cũng đã được biết đến như Microsoft Game Division và với tên khác là Microsoft Games trước năm 2002. Microsoft Studios phát triển và xuất bản trò chơi kết hợp với các hãng phát triển bên thứ nhất và thứ ba dưới nhãn hiệu xuất bản của họ. == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Microsoft Studios official website Xbox.com Microsoft Studios tại DMOZ
siêu mẫu.txt
Thuật ngữ siêu mẫu (tiếng Anh: supermodel, còn được viết thành super-model hay super model) dùng để chỉ những người mẫu thời trang cao cấp được trả lương cao, thường nổi danh trên khắp thế giới và thường có kinh nghiệm về thời trang cao cấp và làm người mẫu thương mại. Khái niệm này được Gianni Versace lần đầu đưa ra năm 1991 khi nhà tạo mẫu nổi tiếng này tập hợp một nhóm các cô - ngoài những tên tuổi trên còn có Cindy Crawford, Helena Christensen và Stephanie Seymour - trình diễn trang phục của ông. Gianni Versace đã mất, nhưng khái niệm "siêu mẫu" ông đưa ra vẫn còn với thời gian Thuật ngữ này được phổ biến trong văn hóa đại chúng vào thập niên 1990. Những siêu mẫu thường làm việc cho những nhà thiết kế và nhãn hiệu thời trang hàng đầu. Họ có những hợp đồng và chiến dịch trị giá hàng triệu đô la. Họ được xem là những cái tên của mọi gia đình và được cả thế giới công nhận sự nghiệp người mẫu. Họ xuất hiện trên bìa của nhiều tạp chí khác nhau như Vogue, Elle, Harper's BAZAAR, Numéro, GQ.... Claudia Schiffer đã nói, "Để trở thành một siêu mẫu, bạn phải xuất hiện trên bìa tạp chí khắp nơi trên thế giới cùng một lúc, để mọi người đều có thể nhận ra bạn". Được nhận ra ngay lập tức khi nhắc tên là một dấu hiệu của địa vị siêu mẫu trong ngành công nghiệp thời trang. == Một vài ví dụ siêu mẫu của thế giới (thập niên 90) == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Modeling the '80s Look All About/Cover Girls; The Look That Sells Is Both Girl-Next-Door and Celebrity 80s Supermodels - Where Are They Now Danh sách những siêu mẫu kiếm tiến nhiều nhất thế giới năm 2010 trên Forbes (tiếng Việt) Danh sách 15 siêu mẫu kiếm nhiều tiền nhất năm 2008, theo Forbes
đại ngu.txt
Đại Ngu (大虞) là quốc hiệu Việt Nam thời nhà Hồ (1400 - 1407). Quốc hiệu Đại Việt được đổi thành Đại Ngu tháng 3 năm 1400 khi Hồ Quý Ly lên nắm quyền. Sau đó vào tháng 4 năm 1407, nhà Hồ bị thất bại trước nhà Minh, và tên Đại Ngu không được dùng làm quốc hiệu từ thời điểm đó. Sau khi nhà Hậu Lê chiến tranh giành lại độc lập cho Việt Nam, quốc hiệu của Việt Nam đổi lại thành Đại Việt (năm 1428). Về quốc hiệu này, theo truyền thuyết, họ Hồ là con cháu Ngu Thuấn (là một trong Ngũ Đế nổi tiếng ở Trung Hoa thời thượng cổ); sau này con Ngu Yên là Vĩ Mãn được Chu Vũ Vương của nhà Chu phong cho ở đất Trần gọi là Hồ công Mãn, sau dùng chữ Hồ làm tên họ. Hồ Quý Ly nhận mình là dòng dõi họ Hồ, con cháu Ngu Thuấn, nên đặt quốc hiệu là Đại Ngu. Chữ Ngu (虞) ở đây có nghĩa là "sự yên vui, hòa bình", chứ không có nghĩa là "ngu si" (愚癡). Quốc hiệu Đại Ngu được sử dụng trong khoảng thời gian rất ngắn trong nước Việt Nam cho đến khi quân Minh xâm chiếm nhà họ Hồ, do không được sự ủng hộ của nhân dân nên nhà họ Hồ đã làm mất nước. == Chú thích == == Tham khảo ==
hài hước.txt
Hài hước là xu hướng của nhận thức đặc biệt để kích thích tiếng cười và cung cấp Giải trí. Thuật ngữ này xuất phát từ thuốc miễn dịch dịch thể của Hy Lạp cổ đại, dạy cho sự cân bằng chất lỏng trong cơ thể con người, được gọi là humours (Latin: humor, "dịch cơ thể"), sức khỏe con người và kiểm soát cảm xúc. Mọi người ở mọi lứa tuổi và các nền văn hóa phản ứng khác nhau với sự hài hước. Hầu hết mọi người trải nghiệm sự hài hước đều thích thú, mỉm cười hoặc là cười vào cái gì đó hài hước, do đó được coi là có một tri giác. Người thiếu cảm giác hài hước có khả năng thấy được những hành vi gây ra hài hước để có thể giải thích hay thậm chí là làm cho nó không hợp lý. Mặc dù cuối cùng là sự quyết định của cá nhân mùi vị, mức độ mà một người tìm thấy một cái gì đó hài hước phụ thuộc vào một loạt các biến số, bao gồm cả vị trí địa lý, nền văn hóa, trưởng thành, mức độ giáo dục, Sự thông minh và context. Ví dụ, trẻ em có thể ủng hộ trò hề như là Punch và Judy múa rối hoặc phim hoạt hình như Tom and Jerry, có thể chất thiên nhiên làm cho nó dễ tiếp cận với họ. Ngược lại, các hình thức tinh vi hài hước như châm biếm đòi hỏi một sự hiểu biết về xã hội của nó và bối cảnh, và do đó có xu hướng để thu hút những khán giả trưởng thành hơn là các bạn thiếu nhi. == Lý thuyết == Nhiều giả thuyết tồn tại về sự hài hước là những chức năng xã hội mà nó phục vụ. Các loại phổ biến của các lý thuyết cố gắng giải thích cho sự tồn tại của sự hài hước bao gồm tâm lý lý thuyết, phần lớn trong số đó xem xét hành vi hài hước gây ra là khoẻ mạnh; lý thuyết tâm linh, mà có thể, ví dụ, hãy xem xét sự hài hước là một "món quà từ Chúa"; và lý thuyết mà xem xét sự hài hước là một bí ẩn không thể giải thích, giống như một kinh nghiệm thần bí. Lý thuyết lành tính vi phạm, xác nhận bởi Peter McGraw, cố gắng để giải thích sự tồn tại của sự hài hước. Lý thuyết nói 'hài hước chỉ xảy ra khi một cái gì đó có vẻ sai, đáng lo ngại, hoặc đe dọa, nhưng đồng thời có vẻ ổn, có thể chấp nhận hoặc an toàn' Hài hước có thể được sử dụng như một phương pháp để dễ dàng tham gia vào tương tác xã hội bằng cách lấy đi cái cảm giác lúng túng, khó chịu hay các tương tác xã hội khác. Những người khác lại tin rằng "người sử dụng thích hợp sự hài hước có thể tạo ra các điều kiện tương tác xã hội ' == Lượt xem == Một số cho rằng sự hài hước không thể hoặc không nên giải thích. tác giả E.B. White đã từng nói, "hài hước có thể được mổ xẻ như một con ếch, nhưng nó sẽ bị chết trong quá trình ấy và các bộ phận bên trong sẽ được ngăn cản những cái đầu óc khoa học thuần túy." Counter cho lập luận này, các cuộc biểu tình chống lại phim hoạt hình "tấn công" bóc tách hài hước hoặc thiếu của các cá nhân và cộng đồng bị vi phạm. Quá trình mổ xẻ sự hài hước không nhất thiết phải làm mất đi cảm giác hài hước nhưng có thể gây sự chú ý về phía nền chính trị và giả định phổ quát (Khanduri 2014). Arthur Schopenhauer than thở việc lạm dụng hài hước (trong Đức từ mượn của Anh) có nghĩa là bất kỳ loại hài kịch. Tuy nhiên, cả hai loại hài hước và truyện tranh thường được sử dụng khi theorising lấy ý nghĩ về đề tài này. Ý nghĩa của hài hước trái ngược với truyện tranh được cho là của phản ứng so với kinh tế. Ngoài ra,hài hước được cho là bao gồm sự kết hợp của ridiculousness và wit trong một cá nhân; trường hợp paradigmatic là Sir John Falstaff của Shakespeare. Người Pháp đã chậm chạp trong việc áp dụng thuật ngữ hài hước; ở Pháp, humeur và hài hước vẫn là hai từ khác nhau, các cựu cập đến một người của khí sắc hoặc đến các khái niệm cổ xưa của bốn humours. Hài hước châm biếm không thể đặc biệt gọi là hài hước chọc cười hoặc trò khôi hài giải trí. == Tại nơi làm việc == Humour được một phổ biến, rất ăn sâu, và phần lớn đầy ý nghĩa do đó các khía cạnh của kinh nghiệm con người và nhất định là có liên quan trong bối cảnh tổ chức, chẳng hạn như nơi làm việc. Vai trò quan trọng mà tiếng cười và niềm vui chơi trong đời sống tổ chức đã được xem như là một xã hội học hiện tượng và ngày càng được công nhận tạo ra cảm giác về sự tham gia của công chúng. Chia sẻ hài hước tại nơi làm việc không chỉ cung cấp một cứu trợ từ sự nhàm chán, nhưng có thể cũng xây dựng các mối quan hệ, cải thiện tình bạn thân thiết giữa các đồng nghiệp và tạo sự tích cực có ảnh hưởng đến. Hài hước tại nơi làm việc cũng có thể làm giảm đi nhiều sự căng thẳng và có thể được sử dụng như một chiến lược đối phó. Trong thực tế, một trong những thỏa thuận nhất khi tác động chính là môi trường làm việc hài hước có trên người cũng như được, là việc sử dụng sự hài hước như là một chiến lược đối phó với viện trợ trong việc đối phó với những căng thẳng hàng ngày, nghịch cảnh hoặc các khó khăn tình huống. Chia sẻ niềm vui với một vài đồng nghiệp có thể cải thiện tâm trạng, đó là vui, và mọi người cảm nhận này ảnh hưởng như tích cực của họ khả năng để đối phó. Vui vẻ và thưởng thức rất quan trọng trong cuộc sống của người dân và khả năng cho đồng nghiệp để có thể cười trong khi làm việc, thông qua những câu nói đùa hay khác, thúc đẩy sự hài hòa và một cảm giác của sự cố kết. Hài hước cũng có thể được sử dụng để bù đắp những cảm xúc tiêu cực về một nhiệm vụ nơi làm việc hoặc để giảm thiểu việc sử dụng thô tục, hoặc khác đối phó chiến lược, mà có thể không được dung thứ khác. Không chỉ hài hước ở nơi làm việc có thể giúp xoa dịu tiêu cực cảm xúc, nhưng nó cũng có thể được sử dụng như một lối thoát để thảo luận cá nhân sự kiện đau đớn, trong một bối cảnh nhẹ hơn, do đó cuối cùng giảm lo ngại và cho phép nhiều vui vẻ, khả quan cảm xúc cho bề mặt con người. Ngoài ra, sự hài hước có thể được sử dụng như một công cụ để giảm thiểu giọng gia của các nhà quản lý khi đưa ra chỉ thị cho cấp dưới. Nhà quản lý có thể sử dụng tự ti hài hước như là một cách để được coi là con người hơn và " thực" bởi các nhân viên của họ. Hơn nữa, dân tộc học nghiên cứu, thực hiện trong một loạt các môi trường làm việc, khẳng định tầm quan trọng của một không gian vui vẻ tại nơi làm việc. Các tập tin đính kèm với khái niệm thú vị của các công ty hiện đại có dẫn đến quản lý nơi làm việc sắp tới để nhận ra những tiềm năng tác động tích cực của " workplay " và nhận ra rằng nó không nhất thiết làm suy yếu hiệu suất lao động. Tiếng cười và vui chơi có thể giải phóng sự sáng tạo, do đó nâng cao tinh thần, như vậy trong sự quan tâm khuyến khích nhân viên đồng ý cho sự khắc nghiệt của quá trình lao động, quản lý thường bỏ qua, tha thứ và thậm chí tích cực khuyến khích thực hành vui tươi, với mục đích thúc đẩy hơn nữa mục tiêu tổ chức. Essentially, fun in the workplace is no longer being seen as frivolous. Các phương pháp tiếp cận mới nhất của niềm vui và tiếng cười được quản lý tại nơi làm việc xuất xứ từ Bắc Mỹ, nơi nó đã giảm đến một mức độ như vậy, mà nó có tư vấn hài hước hưng thịnh, như một số tiểu bang có giới thiệu một " niềm vui trong công việc " chính thức ngày. Các kết quả đã thực hiện yêu cầu của well-being lợi ích cho người lao động, cải thiện trải nghiệm của khách hàng và tăng năng suất mà tổ chức có thể thưởng thức, như một kết quả. Những người khác kiểm tra kết quả của phong trào này trong khi tập trung xung quanh các khoa học về hạnh phúc - có liên quan với mental health, motivation, xây dựng cộng đồng và quốc gia hạnh phúc - và đã thu hút sự chú ý đến khả năng để đạt được " dòng chảy" qua vui đùa và kích thích " bên ngoài hộp "tư duy. Song song với phong trào này là "khả quan" học bổng mà đã nổi lên trong tâm lý học mà tìm cách thực nghiệm lý thuyết tối ưu hóa tiềm năng con người. Phong trào hạnh phúc này cho thấy rằng đầu tư vào vui chơi tại nơi làm việc, bằng cách cho phép cho tiếng cười và vui chơi, sẽ không chỉ tạo sự hưởng thụ và ý thức hơn về hạnh phúc, nhưng nó cũng sẽ tăng cường năng lượng, hiệu quả và cam kết trong công nhân. == Các yếu tố xã hội học == Như với bất kỳ hình thức nghệ thuật, việc chấp nhận một phong cách cụ thể hoặc tỷ lệ phụ thuộc vào sự hài hước xã hội học yếu tố và thay đổi từ người này sang người khác. Trong suốt lịch sử, bộ phim hài đã được sử dụng như một hình thức giải trí tất cả các nơi trên thế giới, cho dù trong hành lang của các vị vua Tây hoặc những ngôi làng ở vùng Viễn Đông. Cả một nghi thức xã hội và một trí tuệ nhất định có thể được hiển thị thông qua các hình thức wit và sarcasm. Thế kỷ thứ mười tám tại Đức, tác giả Georg Lichtenberg nói rằng "bạn càng biết hài hước, bạn càng trở nên khắt khe trong độ mịn." === Hy Lạp cổ đại === Lý thuyết hài hước bắt đầu với phương Tây Plato, người do Socrates (như là một nhân vật đối thoại bán lịch sử) trong Philebus (p. 49b) quan điểm cho rằng bản chất của nực cười là một sự thiếu hiểu biết trong yếu, do đó không có khả năng trả đũa khi nhạo báng. Sau đó, trong triết học Hy Lạp, Aristotle, trong Poetics (1449a, pp. 34–35), gợi ý rằng một sự xấu xí đó không ghê tởm là nền tảng cho sự hài hước. === Ấn Độ === Ở cổ đại kịch tiếng Phạn, Bharata Muni của Natya Shastra hài hước định nghĩa (hāsyam) là một trong chín Nava Rasas, hoặc nguyên tắc Rasas (phản ứng cảm xúc), mà có thể được lấy cảm hứng từ các khán giả của bhavas, các mô phỏng của cảm xúc mà các diễn viên thực hiện. Mỗi rasa đã được liên kết với một cụ thể của bhava miêu tả trên sân khấu. Trong trường hợp của sự hài hước, nó được kết hợp với sự vui vẻ (hasya). == Tham khảo ==
rinus michels.txt
Marinus ("Rinus") Jacobus Hendricus Michels (9 tháng 2 năm 1928 – 3 thág 3 năm 2005) là một cầu thủ và huấn luyện viên người Hà Lan. Ông cống hiến cả sự nghiệp của mình ở câu lạc bộ Ajax Amsterdam, và sau đó là huấn luyện viên của câu lạc bộ này. Ông cũng là thành viên của Hà Lan. Ông cũng từng có thời gian làm huấn luyện viên cho đội tuyển quốc gia. Ông nổi tiếng với thành tích huấn luyện của mình, cùng Ajax Amsterdam và giành cúp vô địch Tây Ban Nha với FC Barcelona. Ông cùng đội tuyển Hà Lan đạt Á quân World Cup 1974 và vô địch Euro 1988. Ông được coi là người phát minh ra lối chơi bóng đá tổng lực vào thập niên 1970 chính điều đó đã khiến FIFA bầu ông là huấn luyện viên xuất sắc nhất thế kỉ 20 vào năm 1999. == Sự nghiệp cầu thủ == === Câu lạc bộ === Ông sinh ra tại Amsterdam nhưng lớn lên tại Olympiaweg, phố gần sân vận động Olympic. Khi kỉ niệm sinh nhật lần thứ 9 vào năm 1936 ông được nhận một đôi giày đá bóng màu trắng và một chiếc áo thi đấu của Ajax Amsterdam. Sau đó ông thường chơi bóng với cha ông ở một sân nhỏ gần nhà. Joop Köhler, một người bạn của gia đình đang làm việc tại Ajax, đã giới thiệu ông đến chơi ở đội trẻ của Ajax năm 1940. Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, và đặc biệt là nạn đói ở Hà Lan năm 1944, sự nghiệp của ông bị gián đoạn. Lille OSC, một câu lạc bộ ở Pháp đã mời ông sang chơi bóng cho họ ông không đi được vì còn nghĩa vụ quân sự với quốc gia. Ngày 9 tháng 6 năm 1946 ông được mời đến chơi cho Ajax để thay cho Han Lambregt bị chấn thương. Trận đầu của ông cho Ajax là trận hủy diệt ADO với tỉ số 8-3 và ông đã ghi 5 bàn. Và mùa giải năm đó họ đoạt chức vô địch Hà Lan. Ông trở thành một người quan trọng của đội bóng, trong thời gian 1946-1958 ông chơi 264 trận cho Ajax và ghi được 122 bàn. Năm 1958 ông đã chấm dứt sự nghiệp thi đấu của mình vì chấn thương. === Đội tuyển quốc gia === Ông chơi cho đội tuyển quốc gia mình vẻn vẹn có 5 trận. Trận đầu ông thi đấu là gặp Thụy Điển ngày 8 tháng 6 và thua 1-4. Ông cũng thua tất cả các trận còn lại trong màu áo đội tuyển "Da Cam" của mình, 4-1 trước Phần Lan, 4-0 trước Bỉ, 6-1 trước Thụy Điển và 3-1 trước Thụy Sĩ. == Sự nghiệp huấn luyện == Rinus trở lại Ajax vào năm 1965 với cương vị là huấn luyện viên. Dưới triều đại của ông Ajax đã giành được 4 cúp vô địch quốc gia và 3 cúp KNVB. Năm 1971 ông dẫn dắt Ajax giành Cúp C1 lần đầu trong lich sử của họ. Ở Ajax ông đã cải tiến lối chơi bằng lối bóng đá tổng lực và dùng bẫy việt vị. Sau đó ông chuyển tới FC Barcelona vào cuối năm 1971 và đẫn dắt đội bóng này đoạt cup vô địch La Liga trước khi quay lại làm huấn luyện viên của Hà Lan. Trận đầu tiên của ông trên cương vị huấn luyện viên Hà Lan là trận hòa 1-1 với Áo ngày 27 tháng 3 năm 1974. Tại vòng chung kết World Cup 1974 "Cơn lốc xoáy màu da cam" đã thể hiện một lối chơi tấn công tổng lực đã làm khiếp sợ các đội bóng khác. Họ lần lượt đánh bại Argentina và đương kim vô địch Brasil để tiến tới trận chung kết gặp nước chủ nhà Đức. Trước trận chung kết họ đã thắng 5, hòa 1 ghi được 14 bàn và chỉ để thủng lưới 1 bàn. Và trên cương vị huấn luyện của mình ông chưa từng bị thất bại trận nào. Ở trận chung kết năm đó Hà Lan đã vươn lên dẫn trước nhưng thần may mắn đã không nghiêng về phía họ và kết quả là họ chịu thua 1-2, nhường chiếc cúp vô địch lại cho đội chủ nhà. Đó cũng là trận cuối của Michels ở đội tuyển Hà Lan trước khi ông sang huấn luyện cho Ajax. Sau đó 10 năm ông lại trở lại huấn luyện cho đội Hà Lan. Thời kỳ này ông có trong tay những cầu thủ xuất sắc bậc nhất thế giới như Marco van Basten, Ruud Gullit và Frank Rijkaard, họ đã cùng nhau đoạt được cup vô địch châu Âu năm 1988. Câu lạc bộ cuối cùng mà ông huấn luyện là Bayer Leverkusen của Đức năm 1989. == Nhận định == Với những thành công và triết lý bóng đá của mình ông được mọi người tôn là "Tướng quân". Ông từng nói: "Bóng đá cũng như chiến tranh vậy, bất cứ ai cư xử quá chuẩn mực là thất bại". Sau khi kết thúc ông công việc của mình ông sống tại Aalst, Bỉ và mất tại đó ngày 3 tháng 3 năm 2005 vì một cơn đau tim, thọ 77 tuổi. Johan Cruijff đã nói về ông như sau: "Cả trên cương vị là cầu thủ hay là huấn luyện viên ông là người dạy cho tôi nhiều điều nhất. Tôi nhớ Rinus Michels..... tôi luôn mong được sụ chỉ bảo của ông ấy. == Danh hiệu == Cầu thủ Vô địch Hà Lan: 1947, 1957 Huấn luyện viên Vô địch Euro: 1988 Hạng nhì World Cup: 1974 Cúp C1: 1971 Hạng 2 cúp C1: 1969 Vô địch La Liga: 1974 Cup KNVB: 1967, 1970, 1971 Khác Huấn luyện viên hay nhất thế kỉ: 1999 Tước hiệp sĩ của KNVB: 2002 Giải thưởng cống hiến cả đời: 2002 Huấn luyện viên hay nhất trong 50 năm của Hà Lan: 2004 == Ghi chú ==
a whole new world.txt
"A Whole New World" là một đĩa đơn nhạc pop nổi tiếng từng giành giải Oscar trong album nhạc phim của bộ phim do Disney sản xuất năm 1992, Aladdin. Bài hát do Alan Menken biên soạn với phần lời của Tim Rice. Bài hát này là một bản ballad giữa hai nhân vật chính trong phim là Aladdin và Jasmine nói về thế giới họ đang cùng nhau khám phá. Bản gốc của bài hát này do Brad Kane và Lea Salonga thể hiện trong phim. Họ cũng biểu diễn bài này trong vai các nhân vật của họ tại lễ trao giải Oscar lần thứ 65, và đã nhận được giải Bài hát gốc hay nhất. Một phiên bản đĩa đơn của bài hát đã được phát hành trước đó (nhưng cùng năm) do hai ca sĩ Peabo Bryson và Regina Belle thể hiện. Phiên bản này được đưa vào phần chạy chữ cuối phim (credits) và nhắc đến trong album với tên gọi "Chủ đề từ phim Aladdin". Là bản hit lớn nhất của cả hai ca sĩ, bài hát đã vươn tới vị trí thứ nhất trên bảng xếp hạng âm nhạc Billboard Hot 100 vào ngày 6 tháng 3 năm 1993, thay cho bài hát "I Will Always Love You" của Whitney Houston, đã đứng ở đầu bảng xếp hạng này mười bốn tuần. Bài hát đạt vị trí thứ 9 trong bảng xếp hạng UK Singles Chart vào năm 1992. Đây là bài hát đầu tiên, và đến thời điểm này, là bài hát duy nhất từ một bộ phim hoạt hình của Disney đứng đầu bảng xếp hạng Billboard Hot 100. == Bối cảnh == Trong phim, bài hát được thể hiện bởi Brad Kane và Lea Salonga, hai diễn viên lần lượt lồng tiếng cho nhân vật Aladdin và Jasmine khi Aladdin đưa công chúa Jasmine đi chu du mọi nơi trong vương quốc, khắp trên trời dưới đất bằng chiếc thảm bay thần kỳ của anh. Hai người đã cùng nhau khám phá "một thế giới hoàn toàn mới" và lúc đó họ đã nhận ra tình cảm của mình dành cho nhau. == Trên các bảng xếp hạng == == Các phiên bản hát lại == Nhóm nhạc nữ Eternal phát hành bài hát này ở mặt B trên đĩa đơn phát hành năm 1996 của họ, "Someday", được thu âm cho bộ phim Disney Thằng gù nhà thờ Đức Bà. Hank Marvin thực hiện một phiên bản không lời của bài hát này vào năm 1997 trong album của ông Hank Plays the Music of Tim Rice & Andrew Lloyd Webber. LMNT hát lại bài hát này cho album DisneyMania 2, phát hành năm 2004. Jessica Simpson và Nick Lachey hát lại bài hát này cho album DisneyMania 3 phát hành năm 2005, và trên bộ DVD hai đĩa phiên bản Bạch kim (Platinum Edition) của bộ phim Aladdin. Bài hát này được hát lại vào năm 2006 bởi người mẫu người Anh Katie Price (cũng được biết đến với tên Jordan) và chồng cũ của cô, Peter Andre. Bài hát được đưa vào album gồm những bản song ca phát hành năm 2006 có tên gọi A Whole New World. Ca sĩ J-pop Kumi Koda và Peabo Bryson hát lại bài hát này trong album phát hành năm 2006 của Koda Best: Second Session. Nhóm nhạc nam K-pop TVXQ thu âm bài hát cho album tiếng Nhật năm 2007 của họ, Five in the Black, dưới dạng bài hát đặc biệt. Năm 2007, một nhân viên Pixar tên là Nick Pitera tải một đoạn video lên YouTube trong đó anh biểu diễn cả giọng nam và giọng nữ nhân vật, thu hút 30 triệu lượt xem (tính đến ngày 18 tháng 1 năm 2013). Nghệ sĩ saxophone Dave Koz biểu diễn lại bài hát này trong album của ông At The Movies. Bài hát có giọng của Donna Summer. Trong album Disney - Koe no Oujisama bài hát được thể hiện bởi Kenichi Suzumura Bài hát được hát lại vào năm 2013 bởi một nhóm nhạc Japanese hip-hop/EDM người Nhật M-Flo, với sự tham gia thể hiện của Matt Cab, trong album Electronic Disney Music. === Các phiên bản hát lại trực tiếp === Một số ca sĩ đáng chú ý đã hát lại bài hát này trực tiếp (live) trong đó có: Sweetbox, cho chương trình WOW! DisneyMania ở Nhật Bản. Charice Pempengco và thành viên nhóm Super Junior Kyuhyun trên series truyền hình Star King vào năm 2007 Peabo Bryson và Patti LaBelle biểu diễn bài hát này cùng với tất cả 77 thí sinh trong cuộc thi Hoa hậu hoàn vũ năm 1994 (Miss Universe Pageant) ở Manila, Philippines Bryson thu âm một phiên bản khác của bài hát cùng với ca sĩ nhạc pop người Nhật Kumi Koda, xuất hiện dưới dạng bài hát bổ sung trong album của cô, BEST ~second session~. David Phelps và Sandi Patty biểu diễn bài hát trong vở nhạc kịch "Mark Lowry On Broadway" vào năm 2001. Trong mùa thứ hai của cuộc thi American Idol năm 2003, thí sinh vô địch Ruben Studdard hát bài hát này trên Movie Night. Điều đáng chú ý ở mùa thi đó là "A Whole New World" là bài hát được sử dụng nhiều nhất làm bản thử giọng, và một đoạn phim ngắn về các bản thử giọng với "A Whole New World" đã được dựng và phát sóng để nhấn mạnh điều này. Cùng với việc thu âm một bản hát lại, Peter André và Katie Price đã thể hiện ca khúc này trực tiếp trong chương trình Children in Need năm 2005. Ca sĩ K-pop Ivy và Brian Joo Ca sĩ K-pop BoA và thành viên TVXQ Xiah Junsu thể hiện ca khúc này trực tiếp ở buổi hoà nhạc AnyBand Concert tại Hàn Quốc vào ngày 29 tháng 12 năm 2007. Gabe Bondoc, một ca sĩ trên Youtube hát lại bài hát này một mình và sau đó trong clip vẫn tiếp tục để nhạc không lời cho người xem hát theo. Video này đã đạt hơn 1 triệu lượt xem. Diễn viên của series truyền hình Glee Darren Criss thể hiện bài hát này cùng với Lea Salonga, người thể hiện các bài hát của Công chúa Jasmine trong phim Aladdin ở Hội nghị nhạc phim và truyền hình của Billboard/Hollywood Reporter (Billboard/Hollywood Reporter TV & Film Music Conference) gửi tặng Alan Menken. Thành viên nhóm Girls' Generation Tiffany và K.Will Bài hát được hát trong buổi biểu diễn nhạc nước World of Color ở công viên Disney California Adventure trong khi các đèn LED gắn ở Mickey's Fun Wheel nhấp nháy phía sau, giống như những ngôi sao. === Văn hoá đại chúng === Phiên bản song ca của Peabo Bryson và Regina Belle được dùng làm bài hát kết thúc trong đoạn phim về mùa giải 1997/98 của Premiership. == Trên thế giới == Như hầu hết các bài hát của Disney, "A Whole New World" đã được dịch và đính kèm vào các phiên bản phát hành không phải bằng tiếng Anh của bộ phim. == Xem thêm == List of Hot 100 number-one singles of 1993 (U.S.) List of number-one adult contemporary singles of 1993 (U.S.) List of Mainstream Top 40 number-one hits of 1993 (U.S.) == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Lời bài hát tại MetroLyrics Bản mẫu:Grammy Award for Song of the Year 1990s Bản mẫu:Disney's Aladdin Bản mẫu:Peabo Bryson Bản mẫu:Regina Belle
kinh tế.txt
Kinh tế là tổng hòa các mối quan hệ tương tác lẫn nhau của con người và xã hội liên quan trực tiếp đến việc sản xuất, trao đổi, phân phối, tiêu dùng các loại sản phẩm hàng hóa và dịch vụ, nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người trong một xã hội với một nguồn lực có giới hạn. == Khái niệm == Kinh tế là tổng thể các yếu tố sản xuất, các điều kiện sống của con người, các mối quan hệ trong quá trình sản xuất và tái sản xuất xã hội. Nói đến kinh tế suy cho cùng là nói đến vấn đề sở hữu và lợi ích. Nguyên nghĩa của khái niệm này là "kinh bang tế thế" là các công việc mà một vị vua phải đảm nhiệm: chăm lo đời sống vật chất của bề tôi, chăm lo đời sống tinh thần của cộng đồng. KINH trong KINH BANG- trị nước và TẾ trong TẾ THẾ- giúp đời! (chữ này là do vua Minh Trị của Nhật đã yêu cầu dịch ra từ tiếng Latinh, nhờ chữ này mà Minh Hoàng lôi kéo được tầng lớp tri thức Nho giáo đi kinh doanh, buôn bán và làm giàu) Nghĩa hẹp của từ này chỉ "hoạt động sản xuất và làm ăn của cá nhân hay hộ gia đình" như trong câu: Gia đình tôi chuyển đi xây dựng vùng kinh tế mới. Nghĩa rộng của từ này chỉ "toàn bộ các hoạt động sản xuất, trao đổi, phân phối, lưu thông" của cả một cộng đồng dân cư, một quốc gia trong một khoảng thời gian, thường là một năm. Ví dụ câu: Kinh tế Việt Nam dự kiến đạt mức độ tăng trưởng là 8,2% năm 2006. Khái niệm kinh tế đề cập đến các hoạt động của con người có liên quan đến sản xuất, phân phối, trao đổi, và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ. Tuy nhiên định nghĩa về kinh tế đã thay đổi theo lịch sử các hoạt động kinh tế. Nói đơn giản kinh tế có nghĩa là:" Dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có và hạn hẹp, con người và xã hội loài người tìm cách trả lời 3 câu hỏi:" Sản xuất cái gì? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào? Lưu thông, Phân phối như thế nào? Phát triển sản phẩm theo hướng nào?" == Xem thêm == Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh == Tham khảo ==
microsoft silverlight.txt
Microsoft Silverlight là một nền tảng ứng dụng (application framework) để viết và chạy các ứng dụng Internet phong phú với sự nhấn mạnh về đa phương tiện, hình động, và đồ họa, với các tính năng và mục đích tương tự như của Adobe Flash. Môi trường thời gian chạy (hệ thống thực thi) cho Silverlight có sẵn như là một plug-in cho hầu hết các trình duyệt web. Trong khi những phiên bản đầu của Silverlight tập trung vào dòng phương tiện truyền thông (streaming media), các phiên bản hiện tại hỗ trợ đa phương tiện, đồ họa và hoạt hình (animation), và cung cấp cho các nhà phát triển hỗ trợ cho ngôn ngữ CLI và công cụ phát triển. Phiên bản hiện tại 4 được phát hành vào tháng 4 năm 2010. Nó tương thích với nhiều trình duyệt web được sử dụng trên hệ điều hành Microsoft Windows và Mac OS X. Các thiết bị di động, bắt đầu với điện thoại Windows Phone 7 và Symbian (seri 60), có khả năng được hỗ trợ trong năm 2010. Một phần mềm miễn phí có tên là Moonlight, do Novell hợp tác phát triển cùng Microsoft để Silverlight có thể hoạt động tương thích với Linux, FreeBSD và các nền tảng mã nguồn mở khác. Tuy nhiên đến tháng 5 năm 2012, dự án đã bị dừng do không được phổ biến. == Tổng quan == Được phát triển từ nền tảng Windows Presentation Foundation (WPF), Silverlight hỗ trợ Đồ họa máy tính và đa phương tiện. Giao diện trong Silverlight được định nghĩa bằng Extensible Application Markup Language (XAML - phát âm: zammel) và hoạt động dựa trên nền.NET framework rút gọn (nhằm giảm dung lượng cài đặt). XAML được phát triển dựa trên XML, các thẻ (elements) tương đương với các lớp (classes) và thuộc tính của thẻ (attributes) là thuộc tính của lớp (properties). Silverlight hỗ trợ phát video và audio chuẩn H.264, Advanced Audio Coding, Windows Media Video (WMV), Windows Media Audio (WMA) và MPEG Layer III (MP3). == Đóng gói và thực thi == Dự án Silverlight được viết dựa trên nền.NET và thường được xây dựng bằng Visual Studio. Ngoài ra, Microsoft cũng cung cấp Microsoft Expression Blend để hỗ trợ thiết kế giao diện. Ứng dụng Silverlight được đóng gói thành tập tin ZIP với phần mở rộng là.XAP, gói này bao gồm tập tin AppManifest.XAML để khai báo các thông tin cơ bản, và danh sách các thư viện.NET (tập tin với phần mở rộng là DLL) được sử dụng trong chương trình. Ứng dụng được triển khai bằng cách nhúng thẻ object vào mã nguồn HTML. Khi người dùng truy cập đến trang có sử dụng Silverlight, tập tin XAP sẽ được tự động tải về và chạy trên trình duyệt phía máy trạm. Ví dụ: <object data="data:application/x-silverlight-2," type="application/x-silverlight-2" width="100%" height="100%"> <param name="source" value="MySilverLightControl.xap"/> </object> == Tham khảo == == Liên kết ngoài == Website chính thức Silverlight product page on Microsoft.com Silverlight Developers Center on MSDN Silverlight Developer Network Việt Nam
lao động (báo).txt
Báo Lao động là cơ quan thông tin của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam. Đây là một trong những tờ báo lâu đời nhất và có ảnh hưởng nhất trong hệ thống báo chí truyền thông của chính quyền Việt Nam hiện tại. Đương kim Tổng Biên tập báo Lao động là ông Nguyễn Ngọc Hiển. == Lịch sử == Chỉ sau khi thành lập 1 tháng, tháng 7 năm 1929, Ban chấp hành Trung ương lâm thời của Đông Dương Cộng sản Đảng đã ra chỉ thị về việc thành lập một tổ chức công đoàn tại Bắc Kỳ. Ngày 28 tháng 7 năm 1929, Tổng Công hội Đỏ Bắc Kỳ được thành lập, ông Nguyễn Đức Cảnh, Ủy viên Trung ương lâm thời Đông Dương Cộng sản Đảng được cử làm Trưởng ban Trị sự. Hai tuần sau, với sự giúp đỡ của một cơ sở Đảng, ngày 14 tháng 8 năm 1929, một tờ báo in bằng bản đất sét, trên giấy Đáp Cầu một mặt ráp một mặt nhẵn, khổ 22x30cm, lấy tên là báo Lao động đã ra đời trong căn phòng nhỏ 10m2 ở ngõ Thông Phong, phố Hàng Bột (Hà Nội). Nhân sự tờ báo ban đầu do ông Nguyễn Đức Cảnh làm Tổng biên tập, với 2 nhà báo là Trần Hồng Vận (Trần Học Hải) và một nữ đảng viên tên là Thu Vân. Đến cuối năm 1929, một đảng viên Đông Dương Cộng sản Đảng là Nguyễn Công Miều đã mang 60 tờ Lao động vào phân phát cho các cơ sở Công hội ở Sài Gòn - Chợ Lớn. Ngày 3.12.1989, số 1 của Lao động Chủ nhật phát hành. Đầu tháng 3 năm 1990, Báo ra loạt phóng sự điều tra về tín dụng ở nước hoa Thanh Hương của Nguyễn Văn Mười Hai. Năm 1995, báo Lao động đã được mời tham dự triển lãm quốc tế tại Paris và Le Havre (1996). Tại triển lãm này, tờ Courrier International bình chọn báo Lao động là tờ báo nổi tiếng cùng 200 tờ báo khác trên thế giới. Đến ngày 19/05/1999, báo Lao động online ra đời, là tờ báo điện tử đầu tiên ở Việt Nam. == Tổng biên tập các thời kỳ == Trong suốt thời gian tồn tại của mình, đã có 13 đời Tổng biên tập. Dưới đây là tên và thời gian giữ chức TBT của một số người: Nguyễn Đức Cảnh (1929-1932) Nguyễn Văn Trân (1943) Đỗ Trọng Giang (1949-1961) Lê Vân (?) Trần Nhật Dụ (1978-1985) Xuân Cang (1985-1988) Tống Văn Công (1988-1995) Phạm Huy Hoàn (1995-2004) Vương Văn Việt (2004-) == Nội dung == Hiện nay, Báo có 2 hình thức xuất bản là ấn phẩm giấy và bản điện tử. Về nội dung, Báo luôn giữ vững quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, cung cấp thông tin ở tất cả các lĩnh vực của đời sống: chính trị, kinh tế, thể thao, pháp luật... Đối tượng báo hướng đến những độc giả nằm trong độ tuổi lao động từ 18 đến 60 tuổi. Về phát hành, đây là tờ báo duy nhất trong cả nước có trang địa phương miễn phí tặng độc giả. Với năng suất phát hành 7 kỳ/tuần, 230.000 bản/kỳ, Báo Lao động là một trong những báo lớn nhất ở Việt Nam. == Hoạt động xã hội == Báo cũng là đơn vị bảo trợ cho nhiều hoạt động xã hội như: Quỹ Tấm lòng vàng Lao động Văn phòng Lao động - Việc làm Cuộc thi Trí tuệ Việt Nam == Khen thưởng == Huân chương Độc Lập hạng Nhất (1999, 14.8.2014) Huân chương Lao động hạng Nhất (1978) Huân chương Lao động hạng Ba (Quỹ Tấm lòng vàng, 2001) 4 Bằng khen của Chính phủ 16 Bằng khen của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam 9 Bằng khen của Bộ Văn hoá Thông tin 10 Bằng khen của Hội Nhà báo Việt Nam 3 Bằng khen của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam == Chú thích == == Liên kết ngoài == Báo Lao động bản điện tử
austin, texas.txt
Austin là thủ phủ của tiểu bang Texas và là quận lỵ của Quận Travis. Tọa lạc ở miền Trung Texas, nó là thành phố lớn thứ tư của Texas và thành phố lớn thứ 16 của Mỹ. Vào thống kê dân số 2005, Austin có dân số là 690.252. Thành phố là trung tâm văn hóa và kinh tế của khu vực đô thị Austin–Round Rock với dân số 1,4 triệu người. Theo Điều tra Dân số Hoa Kỳ năm 2000, số người Mỹ gốc Việt ở Austin là 5.942 người, chiếm 0,9% dân số toàn thành phố. == Lịch sử == Vài trăm năm trước khi những người di cư từ châu Âu đến, khu vực xung quanh thành phố Austin hiện nay được cư ngụ bởi một tập hợp những người Mỹ bản địa Tonkawa, Comanche và Lipan Apache, đánh cá và săn bắn dọc theo các con suối nhỏ, bao gồm cả suối Barton ngày nay. Những định cư đầu tiên được ghi lại ở khu vực Austin ngày nay xảy ra vào năm 1835. Người di cư Mỹ gốc Anh bắt đầu đến khu vực này, khi Texas vẫn còn là một phần của México. Họ thành lập làng Waterloo vào năm 1837, dọc theo hai bờ sông Colorado. Theo dân gian, Stephen F. Austin, "cha đẻ của Texas", đã thương lượng một hiệp ước hòa bình với những người bản địa tại địa điểm mà ngày hôm nay là Treaty Oak sau khi một số người di cư bị giết trong một trận càn quét. Theo dân gian, Austin cũng thương lượng một hiệp ước về biên giới với người bản địa để thiết lập biên giới của thành phố. Waterloo được chọn để trở thành thủ phủ của Cộng hòa Texas vừa thành lập vào năm 1839 và được mua bởi nước cộng hòa cho mục đích đó. Mirabeau B. Lamar đặt lại tên thành phố để vinh danh Stephen F. Austin. Tên gốc của thành phố được nhớ đến bởi những thương gia địa phương như là Quán kem Waterloo và Waterloo Records. == Địa lý == Austin nằm trên sông Colorado, với ba hồ nhân tạo hoàn toàn nằm trong nội vi thành phố: hồ thành phố, hồ Austin và hồ Walter E. Long. Thêm vào đó, chân của hồ Travis, bao gồm cả đập Mansfield, tọa lạc ở trong phạm vi thành phố. Hồ thành phố, hồ Austin và hồ Travis đều nằm trên sông Colorado. Thành phố này cũng nằm trên vết nứt địa chất Balcones, mà, trong hầu hết Austin, chạy gần như là cùng tuyến đường với Đường cao tốc MoPac. Phần phía đông của thành phố bằng phẳng, trong khi phần phía tây và các khu vực ngoại thành phía tây bao gồm các ngọn đồi thoai thoải với quang cảnh khá đẹp trên vùng bìa của Texas Hill Country. Bởi vì những ngọn đồi về phía tây chủ yếu là đá vôi với một lớp đất mỏng bao phủ, thành phố thường xuyên bị lụt đột ngột do nước mưa xối xả sau những trận bão. Để điều khiển lượng nước này và tạo ra thủy điện, Lower Colorado River Authority đã điều hành một loạt các đập làm thành Texas Highland Lakes. Những hồ này cũng cung cấp nơi để chèo thuyền, bơi lội và các dạng giải trí khác bên trong một số công viên tọa lạc trên các bờ hồ. Một điểm nổi bật khác ở Austin là núi Bonnell. Là điểm cao nhất ở Austin với độ cao 780 feet bên trên mặt biển, đó là một núi đá vôi tự nhiên nhìn xuống hồ Austin trên sông Colorado, vào khoảng 200 feet phía dưới đỉnh núi. == Chính quyền == == Kinh tế == Hàng ngàn sinh viên tốt nghiệp hàng năm từ các chương trình kỹ thuật và khoa học máy tính tại Đại học Texas tại Austin cung cấp một nguồn nhân công trẻ tài giỏi năng động giúp cho sự phát triển về mặt kỹ thuật của Austin. Khu đô thị Austin cũng có giá nhà cửa rẻ hơn so với Thung lũng Silicon. Kết quả của một sự tập trung khá cao của các công ty kỹ thuật công nghệ cao trong vùng đã làm Austin bị ảnh hưởng mạnh bởi cuộc bùng nổ kinh tế bởi các công ty dot-com trong cuối thập niên 1990 và sự đổ vỡ sau đó, mặc dù sự hồi phục đang xảy ra nhanh chóng. Những nơi cung cấp việc làm lớn nhất ở Austin bao gồm Nhà nước Tiểu bang Texas, Đại học Texas tại Austin, mạng lưới bảo hiểm y tế SETON, Dell, IBM và Freescale Semiconductor (tách ra từ Motorola vào năm 2004). Các công ty công nghệ cao khác ở Austin bao gồm Apple Computer, Vignette, AMD, Applied Materials, Intel, Motive Inc, Cirrus Logic, Samsung, National Instruments, United Devices, Signet Design Solutions (thiết kế vi mạch) và Sun Microsystems. Sự cạnh tranh của các công ty kỹ thuật đã dẫn đến tên thường gọi của vùng này, "những đồi Silicon," (Austin nguyên là "Silicon Gulch", nhưng San Jose, California đã có đặc điểm đó) và đã thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng làm thành phố phát triển lên phía bắc và phía nam. Các công ty đáng chú ý khác, như là Hoover's, Inc., một công ty nghiên cứu và xuất bản vốn là chi nhánh của Dun & Bradstreet, cũng có trụ sở chính tại thành phố này. == Văn hóa == == Tham khảo == == Liên kết ngoài == City of Austin === Truyền thông và giải trí === Austin American-Statesman Austin Business Journal Austin Chronicle (weekly) Austinist (collaborative city blog) AustinSings.com - Central Texas Karaoke UT's The Daily Texan 107.1 KGSR (Focused on Austin's unique musical mix) KMFA Classical 89.5FM (listener-supported, non-commercial, all-classical radio) KOOP 91.7FM Community Radio for Austin KUT 90.5FM (Eclectic music and NPR News) KVR News 9, UT's Broadcast News Show KVRX UT Student Radio News 8 Austin (24-hour local cable news channel) Austin Independent Media Center Burnt Orange Report (blog) The Texas Travesty (bi-monthly) KLRU (PBS member TV station) Texas Monthly magazine List of radio stations in Austin === Tự nhiên và môi trường === Hornsby Bend Bird Observatory Bat Conservation International page on the Congress Avenue Bats Austin chapter of the Native Plant Society of Texas The Austin Map Project Current Austin weather === Nguồn tài liệu === University of Texas at Austin Austin TX at About.com - Living in, Moving to, Visiting the City of Austin. Truy cập 16 tháng 5 năm 2006 Austin Independent Business Alliance- Network of locally-owned, independent businesses in Austin. Austin History Center. Truy cập 16 tháng 5 năm 2006 AustinPostcards.com - Postcards, photographs and ephemera of historic significance to Austin. Truy cập 16 tháng 5 năm 2006 Memoirs of old Austin - From MemoryWiki. Truy cập 16 tháng 5 năm 2006 Austin Convention & Visitors Bureau. Truy cập 16 tháng 5 năm 2006 Austin Area Parks. Truy cập 16 tháng 5 năm 2006 Capital Metro - Public transportation in Austin. Truy cập 16 tháng 5 năm 2006 Greater Austin Chamber of Commerce. Truy cập 16 tháng 5 năm 2006 KLRU: Brief History of Austin. Truy cập 16 tháng 5 năm 2006 Austin House Statistics. Truy cập 16 tháng 5 năm 2006 Austin - Best Place to Live - How Austin Ranks Among US Cities. Truy cập 16 tháng 5 năm 2006 Urban Austin - Information about architecture and urban design in Austin
người pa kô.txt
Người Pa Kô là một dân tộc thiểu số có vùng cư trú truyền thống là Trung Việt Nam và Nam Lào. Theo nghĩa trong tiếng Tà Ôi thì "Pa" là phía, "Kô" là núi, tức là người bên núi . Tại Việt Nam người Pa Kô chủ yếu sống ở các huyện Hướng Hóa, Đakrông tỉnh Quảng Trị, và A Lưới tỉnh Thừa Thiên - Huế . Người Pa Kô chưa được coi là một dân tộc riêng mà đang được xếp vào dân tộc Tà Ôi trong Danh mục các dân tộc Việt Nam. Tại Lào họ sống ở các muang (huyện) Sa Mouay tỉnh Saravan, và muang Nong tỉnh Savannakhet. Hai huyện này liền kề với huyện Hướng Hóa và Đakrông bên Việt Nam. Họ được coi là một dân tộc mà không xếp chung với người người Tà Ôi là dân tộc phổ biến ở vùng huyện Ta Oy. Người Pa Kô nói tiếng Pa Kô, một ngôn ngữ trong ngữ chi Cơ Tu thuộc ngữ tộc Môn-Khmer của ngữ hệ Nam Á. Tiếng Pa Kô được Ethnologue riêng là một ngôn ngữ. == Truyền thuyết == Người Pa Kô vì thật thà nên bị thua trong cuộc thi xây thành, nên phải bỏ vùng đồng bằng đang sống để đến cư trú ở nơi đồi núi. Từ đời này sang đời khác, bên dải Trường Sơn. Vẫn lưu giữ bản sắc rất riêng với những câu chuyện ly kỳ và sinh hoạt độc đáo. Trong ký ức từ người trẻ đến những già làng Pa Kô đã sống qua hơn 100 mùa lúa đều có những câu chuyện về gốc tích của dân tộc mình. == Đề án điều tra về công nhận dân tộc Pa Kô == Xuất phát từ nguyện vọng của người dân tộc Pa Kô muốn được công nhận là một dân tộc riêng, tỉnh Thừa Thiên - Huế thực hiện đề án Bổ sung dân tộc Pa Kô vào danh mục các dân tộc Việt Nam. Đến thời điểm này, Ban dân tộc vừa hoàn thành khảo sát 8/12 xã có người dân tộc Pa Kô và 4/5 xã có người dân tộc Tà Ôi thuộc huyện A Lưới nhằm xác định nguồn gốc, sự ra đời và phát triển của dân tộc Pa Kô. Đồng thời, cuộc khảo sát này cũng làm rõ sự khác biệt giữa dân tộc Pa Kô với dân tộc Tà Ôi để đề xuất Nhà nước công nhận người Pa Kô là một dân tộc trong cộng động các dân tộc Việt Nam. PGs TS Trần Bình, Trưởng bộ môn Quản lý Văn hóa Dân tộc thiểu số thuộc Đại học Văn hóa Hà Nội cùng với các nhà khoa học ở Đại học Huế, các nhà quản lý văn hóa ở Thừa Thiên - Huế và Quảng Trị đã nghiên cứu về nguồn gốc và những đặc trưng của tộc người Pa Kô ở Việt Nam. Câu chuyện về nguồn gốc của người Pa Kô đã được ông xác nhận. Sự khác biệt lớn nhất giữa người Pa Kô và các nhóm địa phương khác trong cùng dân tộc Tà Ôi : "Mặc dù chúng ta xếp Pa Kô, Pa Hy thuộc dân tộc Tà Ôi nhưng văn hóa của họ có khác một chút. Ví dụ: về mặt ngôn ngữ, ngôn ngữ Tà Ôi với ngôn ngữ Pa Kô, Pa Hy khác nhau về mặt từ vị, âm điệu, thanh điệu. Về một số vấn đề khác: người Tà Ôi dệt rất giỏi, người Pa Kô không biết dệt. Tang ma của họ cũng khác. Văn nghệ cũng khác một chút. Về ngôn ngữ thì khác một chút, văn hóa khác một chút, không sao, vì đều sống ở vùng đấy cả. Nhưng mà, quan trọng là nguồn gốc. Người Tà Ôi có nguồn gốc từ cao nguyên Tà Ôi ở bên Lào". Ngày nay, người Lào vẫn gọi người Pa Kô là Noọc. Ngôn ngữ của người Pa Kô và người Pa Đoal ở Myanmar có nhiều từ ngữ giống nhau. Những người già còn nhớ nhiều phong tục tập quán của cha ông, giống người Pa Đoal, không tìm thấy ở bất cứ tộc người nào sinh sống quanh đó, như: đeo một cái vòng đồng cuốn tròn ở cổ, tóc búi cao trên đầu xuyên bằng một cái trâm . == Nhà cửa == Trước đây thường sống trong những nhà dài, trong đó gồm nhiều bếp, nhiều hộ gia đình, quây quanh một sân lớn được dùng cho các sinh hoạt chung của làng. Họ có lễ hội Ada, lễ hội ăn mừng lúa mới để tri ân mùa màng, để tạ ơn đất trời, nắng mưa, dông gió, sông suối, núi rừng, cây cối và cả ma quỷ. == Văn hóa == Hoạt động bảo tồn văn hóa của người Pa Kô đang được nghệ nhân Kray Sức, cán bộ chuyên trách văn hóa xã Tà Rụt huyện Đakrông, Quảng Trị thực hiện, bao gồm sưu tầm, ghi chép, biên soạn 25 kịch bản múa cồng chiêng, nghi thức lễ hội, phong tục, tập quán, các làn điệu dân ca dân tộc Pa Kô . Ông cũng viết đề án "Chỉ dẫn cho người Pa Kô đọc và viết ngôn ngữ của dân tộc mình". Trong đề án đó, ông sử dụng hệ chữ viết Latinh hóa để ghi tiếng nói ở vùng dân tộc Pa Kô . == Người Pa Kô nổi tiếng == Hồ Kan Lịch, sinh năm 1943, là nữ Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam người dân tộc đầu tiên. Tên nguyên của bà là Kăn Lịch, sinh tại bản A Lê Nôc, nay thuộc Thị trấn A Lưới, huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên - Huế . == Chỉ dẫn == == Tham khảo == == Xem thêm == Chuyện kể về nguồn gốc của người Pa Kô == Liên kết ngoài ==