id
stringlengths
1
8
url
stringlengths
31
618
title
stringlengths
1
250
text
stringlengths
11
513k
904603
https://vi.wikipedia.org/wiki/Conoderus%20rubidus
Conoderus rubidus
Conoderus rubidus là một loài bọ cánh cứng trong họ Elateridae. Loài này được Champion mô tả khoa học năm 1895. Chú thích Tham khảo Conoderus
878925
https://vi.wikipedia.org/wiki/Anisocentropus%20fulgidus
Anisocentropus fulgidus
Anisocentropus fulgidus là một loài Trichoptera trong họ Calamoceratidae. Chúng phân bố ở miền Australasia. Tham khảo Anisocentropus
504206
https://vi.wikipedia.org/wiki/Oberhausen
Oberhausen
Oberhausen là một thành phố trong bang Nordrhein-Westfalen của nước Đức. Thành phố có diện tích km², dân số thời điểm cuối năm 2009 là 214.990 người. Thành phố nằm bên sông Emscher trong khu vực Ruhr, Đức, nằm giữa Duisburg (cỡ 12 km) và Essen (cỡ 13 km). Thành phố đăng cai Liên hoan phim ngắn quốc tế Oberhausen và Gasometer Oberhausen của nó là một điểm neo của con đường di sản công nghiệp châu Âu. Trung tâm Đời sống biển của thành phố là nơi ở của bạch tuộc Paul. Lịch sử Oberhausen đã được đặt tên theo ga đường sắt 1847 mà đã ga này lại lấy tên của nó từ lâu đài Oberhausen (tiếng Đức: Schloss Oberhausen). Quận mới được thành lập vào năm 1862 sau dòng người nhập cư vào làm việc tại các mỏ than và nhà máy thép. Khu vực thành thị trấn vào năm 1874, Oberhausen sáp nhập nhiều đơn vị lân cận như quận của Alstaden, các bộ phận của Styrum và Dümpten năm 1910. Sau khi trở thành thành phố vào năm 1901, Oberhausen đã sáp nhập các thị trấn Sterkrade và Osterfeld năm 1929. Nhà máy dầu tổng hợp Ruhrchemie AG ("Oberhausen-Holten" hoặc "Sterkrade / Holten") là một mục tiêu ném bom của Chiến dịch dầu của Thế chiến II, và các lực lượng Hoa Kỳ đã đến nhà máy ngày 4/4/1945. Tham khảo Düsseldorf (vùng)
556492
https://vi.wikipedia.org/wiki/Manhattan%2C%20Kansas
Manhattan, Kansas
Manhattan là một thành phố thuộc quận Riley, tiểu bang Kansas, Hoa Kỳ. Năm 2010, dân số của xã này là 52281 người. Dân số Dân số các năm: Năm 2000: 44831 người Năm 2010: 52281 người Tham khảo Xem thêm American Finder Thành phố của Kansas Quận Riley, Kansas
954780
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ellipteroides%20serenus
Ellipteroides serenus
Ellipteroides serenus là một loài ruồi trong họ Limoniidae. Chúng phân bố ở vùng Tân nhiệt đới. Liên kết ngoài Tham khảo Ellipteroides Limoniidae ở vùng Neotropic
929644
https://vi.wikipedia.org/wiki/Pyrrhalta%20jeanvoinei
Pyrrhalta jeanvoinei
Pyrrhalta jeanvoinei là một loài bọ cánh cứng trong họ Chrysomelidae. Loài này được Laboissiere miêu tả khoa học năm 1929. Chú thích Tham khảo Pyrrhalta
287280
https://vi.wikipedia.org/wiki/Sandrans
Sandrans
Sandrans là một xã ở tỉnh Ain, vùng Auvergne-Rhône-Alpes thuộc miền đông nước Pháp. Xem thêm Dombes Xã của tỉnh Ain Tham khảo Liên kết ngoài La Dombes and the city of Sandrans Xã của Ain
955833
https://vi.wikipedia.org/wiki/Geranomyia%20vindicta%20vindicta
Geranomyia vindicta vindicta
Geranomyia vindicta là một phân loài ruồi của loàiGeranomyia vindicta trong họ Limoniidae. Chúng phân bố ở vùng Tân nhiệt đới. Chú thích Tham khảo Geranomyia Limoniidae ở vùng Neotropic
484122
https://vi.wikipedia.org/wiki/Roussas
Roussas
Roussas là một xã thuộc tỉnh Drôme trong vùng Auvergne-Rhône-Alpes ở đông nam nước Pháp. Xã Roussas nằm ở khu vực có độ cao trung bình 83 mét trên mực nước biển. Tham khảo INSEE commune file Xã của Drôme
95365
https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C3%B4ng%20ty%20M%C3%A1y%20bay%20Beriev
Công ty Máy bay Beriev
Công ty Máy bay Beriev là một nhà sản xuất máy bay của Nga (tiền tố phòng thiết kế Be), chuyên sản xuất máy bay lưỡng cư. Lịch sử phát triển Công ty này được thành lập tại Taganrog năm 1934 với tên gọi phòng OKB-49 bởi Georgy Mikhailovich Beriev (sinh ngày 13 tháng 2 năm 1903), và từ đó đã thiết kế và chế tạo hơn 20 kiểu máy bay cho cả những mục đích dân sự và quân sự, cũng như các kiểu theo đặt hàng. Hiện nay công ty sử dụng 3.000 chuyên gia và đang phát triển và chế tạo máy bay lưỡng cư. Thành tích Từ khi được thành lập, Công ty Máy bay BERIEV đã thiết kế 29 kiểu máy bay cho nhiều mục đích; 14 trong số đó đã được đưa ra chế tạo hàng loạt. 228 kỷ lục hàng không thế giới đã bị phá vỡ bởi những phi công lái những chiếc máy bay BERIEV ở nhiều thời điểm. Các kỷ lục đã được ghi lại và công nhận bởi Liên đoàn Hàng không Quốc tế. Trong quá trình nghiên cứu và phát triển, các chuyên gia của BERIEV đã nhận được hơn 900 giấy chứng nhận tác quyền và bằng sáng chế cho những kiểu thiết kế máy bay cũng như các yếu tố cấu trúc. Tháng 11 năm 1989 Công ty Máy bay BERIEV đã trở thành doanh nghiệp quân sự quốc phòng duy nhất đoạt giải Chất lượng cho Chính phủ Nga trao tặng. Máy bay do Beriev thiết kế Antonov An-30 "Clank", mẫu máy bay không ảnh phát triển từ Antonov An-24. Tupolev Tu-142MR "Bear-F / -J" Beriev A-40 'Albatros', máy bay lưỡng cư chở thư đa dụng lớn nhất thế giới, tên mã NATO "Mermaid". Beriev A-42 Albatros, phiên bản nâng cấp của A-40, sử dụng để tìm kiếm cứu nạn và chống ngầm, sản xuất bắt đầu từ năm 2010. Tên mã NATO "Mermaid". Beriev A-42PE Albatros, máy bay tìm kiếm cứu nạn. Tên mã NATO "Mermaid" Beriev A-50 'Shmel', Ilyushin Il-76 hoán cải thành máy bay chỉ huy cảnh báo sớm trên không, mã NATO "Mainstay". Beriev A-60, Ilyushin Il-76 hoán cải thành phòng thí nghiệm laser trên không vào năm 1981. Beriev Be-1, mẫu thử máy bay ứng dụng hiệu ứng cánh trên mặt đất. Beriev Be-2, thủy phi cơ. Beriev Be-4, tàu bay. Beriev Be-6 "Madge", tàu bay chữa cháy. Beriev Be-8 "Mole", máy bay lưỡng cư chở khách/liên lạc. Beriev Be-10 "Mallow", tàu bay phản lực. Beriev Be-12 'Chayka', máy bay lưỡng cư, tương tự chức năng của Canadair CL-415, dùng chống tàu ngầm, phát triển dựa trên Be-6. Tên mã NATO "Mail". Beriev Be-30 "Cuff", máy bay chở khách và vận tải thông dụng. Beriev Be-32 "Cuff", máy bay chở thư đa dụng. Beriev Be-101, mẫu máy bay lưỡng cư đề xuất với 1 động cơ cánh quạt. Beriev Be-103 Bekas, máy bay lưỡng cư hạng nhẹ. Beriev Be-112, máy bay chở thư lưỡng cư đề xuất. Beriev Be-200 Altair, máy bay chở thư lưỡng cư đa dụng cỡ lớn. Beriev Be-2500 Neptune, máy bay chở hàng lưỡng cư hạng siêu nặng, trọng lượng cất cánh lên tới 2500 tấn (kế hoạch). Beriev MBR-2 "Mote", tàu bay trinh sát. Beriev MBR-7, tàu bay ném bom, trinh sát. Beriev MDR-5, tàu bay ném bom trinh sát tầm xa Beriev R-1, tàu bay thử nghiệm. Bartini Beriev VVA-14, máy bay lưỡng cư chống ngầm. Tham khảo Liên kết ngoài Official site in English Official site in Russian US division Beriev Aircraft Corp. in the Taganrog Business Directory United Aircraft Corporation Công ty sản xuất máy bay Liên Xô Hãng chế tạo máy bay Nga Hãng chế tạo máy bay Liên Xô Hãng chế tạo thiết bị khẩn cấp Công ty sản xuất máy bay Nga
777609
https://vi.wikipedia.org/wiki/Hellinsia%20purus
Hellinsia purus
Hellinsia purus là một loài bướm đêm thuộc họ Pterophoridae. Nó được biết đến ở Nam Phi. Chú thích Tham khảo Hellinsia Côn trùng Nam Phi
166358
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%C6%B0%E1%BB%9Dng%20cao%20t%E1%BB%91c%20Ninh%20B%C3%ACnh%20%E2%80%93%20H%E1%BA%A3i%20Ph%C3%B2ng
Đường cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng
Đường cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng (ký hiệu toàn tuyến là CT.08) là một đoạn đường cao tốc thuộc hệ thống đường cao tốc Việt Nam, dài 109 km và đi qua các tỉnh Vùng duyên hải Bắc Bộ ở miền Bắc Việt Nam. Đường cao tốc này có điểm đầu là nút giao với đường cao tốc Cao Bồ – Mai Sơn và đường cao tốc Mai Sơn – Quốc lộ 45 tại xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình và điểm cuối là nút giao với đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng và đường cao tốc Hải Phòng – Hạ Long – Vân Đồn - Móng Cái tại phường Tràng Cát, quận Hải An, thành phố Hải Phòng. Đường cao tốc này từng được quy hoạch từ năm 2015 đến 2021 là một phần lớn của Đường cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng – Quảng Ninh cũ với ký hiệu là CT.09 trước khi đoạn Hải Phòng – Quảng Ninh được tách ra thành một phần cùa . Tuyến cao tốc này là tuyến cao tốc ven biển, thúc đẩy phát triển các tỉnh Vùng duyên hải Bắc Bộ. Đường cao tốc có đoạn qua Ninh Bình dài 26 km, đoạn qua Nam Định dài 28,7 km, đoạn qua Thái Bình dài 32,7 km và đoạn qua Hải Phòng dài 29 km. Đây là tuyến cao tốc nằm ở cạnh đáy của tam giác đồng bằng sông Hồng, dự án cũng nằm trong chương trình "hai hành lang, một vành đai kinh tế". Tuyến đường có mặt cắt ngang cho 6 làn xe, tốc độ xe chạy thiết kế từ 100 đến 120 km/h. Ngoài bề rộng mặt đường 22 m, đường có dải phân cách giữa, dải dừng xe khẩn cấp, dải an toàn. Sau khi hoàn thành, tuyến cao tốc sẽ thay thế vai trò của Quốc lộ 10, tạo cơ hội để các tỉnh vùng duyên hải châu thổ sông Hồng nối thông thuận tiện với hệ thống đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông. Lộ trình Tuyến cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng đi qua 10 huyện của 5 địa phương gồm: Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng. Cụ thể là qua các xã sau đây: Ninh Bình: Mai Sơn, Khánh Thượng, Khánh Dương, Khánh Thịnh (huyện Yên Mô); Yên Ninh, Khánh Hội, Khánh Mậu, Khánh Cường (huyện Yên Khánh). Nam Định: Nghĩa Sơn, Liễu Đề (huyện Nghĩa Hưng); Trực Thuận, Trực Mỹ, Trực Nội, Trực Thanh, Trực Đạo, Trực Tuấn, Liêm Hải, Phương Định (huyện Trực Ninh); Xuân Ngọc, Xuân Bắc, Xuân Đài, Xuân Tân (huyện Xuân Trường). Thái Bình: Vũ Bình, Quang Minh, Bình Minh, Hòa Bình, Đình Phùng, Thanh Tân, Quốc Tuấn (huyện Kiến Xương); Sơn Hà, Thụy Sơn, Thụy Liên, Thụy Trình, Hồng Dũng, An Tân, Thụy Trường (huyện Thái Thụy). Hải Phòng: Tây Hưng, Đông Hưng, Vinh Quang, Hùng Thắng (huyện Tiên Lãng); Đoàn Xá, Đại Hợp, Tú Sơn (huyện Kiến Thụy) và phường Minh Đức (quận Đồ Sơn). Các dự án thành phần Đường cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng được chia thành 3 đoạn tuyến theo hình thức đầu tư: Tách đoạn qua tỉnh Ninh Bình thành dự án độc lập do UBND tỉnh Ninh Bình là cơ quan chủ quản triển khai theo hình thức đầu tư công. Giao cho UBND tỉnh Thái Bình làm cơ quan nhà nước có thẩm quyền triển khai dự án cao tốc Ninh Bình – Hải Phòng đoạn qua hai tỉnh Nam Định và Thái Bình theo phương thức PPP. Trước năm 2023, thành phố Hải Phòng đã đầu tư xây dựng 22 km, trong đó, đoạn qua Hải Phòng dài 13 km, Thái Bình 9 km. Còn 7 km đoạn qua địa phận thành phố Hải Phòng chưa được nghiên cứu đầu tư. Đoạn qua tỉnh Ninh Bình Dự án có điểm đầu tại nút giao Khánh Hòa giao với đường cao tốc Bắc – Nam phía Đông tại xã Khánh Hòa, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Điểm cuối là cầu vượt sông Đáy (cầu Tam Tòa) để sang Nam Định, thuộc xã Khánh Cường, huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình. Cao tốc có bề rộng nền đường 24 m, bề rộng mặt đường 15 m. UBND tỉnh Ninh Bình đề xuất dự án xây dựng theo hình thức đầu tư công. Trong tổng vốn 8.450 tỷ đồng, chi phí xây dựng tuyến chính và đường gom là hơn 3.650 tỷ đồng, xây dựng cầu, hầm chui là 1.590 tỷ đồng. Tỉnh Ninh Bình dự kiến bố trí 2.000 tỷ đồng để giải phóng mặt bằng, kiến nghị Chính phủ hỗ trợ 6.450 tỷ đồng còn lại theo tiến độ triển khai dự án. Đoạn qua Nam Định – Thái Bình Giao cho UBND tỉnh Thái Bình làm cơ quan nhà nước có thẩm quyền triển khai dự án cao tốc Ninh Bình - Hải Phòng đoạn qua hai tỉnh Nam Định và Thái Bình theo phương thức PPP, hợp đồng BOT, quy mô giai đoạn 1 có 4 làn xe, rộng 19m, vận tốc khai thác 100km/h, giải phóng mặt bằng rộng 24,75m. Dự án dự kiến khởi công năm 2024, hoàn thành năm 2026. Theo tính toán của đơn vị lập dự án, đoạn qua tỉnh Nam Định và Thái Bình đầu tư theo phương thức PPP có tổng mức đầu tư khoảng 15.419 tỉ đồng, nếu tính lãi vay trong thời gian xây dựng là 16.218 tỉ đồng. Vốn nhà nước tham gia hỗ trợ 8.000 tỉ đồng (49% tổng mức đầu tư), thời gian hoàn vốn 24,8 năm. Đoạn qua Thái Bình – Hải Phòng Ngày 5 tháng 9 năm 2014, Tỉnh Thái Bình đã đề xuất Bộ GTVT sớm xây dựng tuyến cao tốc ven biển nối Ninh Bình – Thái Bình – Hải Phòng – Quảng Ninh. Ngày 13 tháng 5 năm 2017, cao tốc Hải Phòng – Thái Bình được khởi công. Hiện tuyến này còn 7 km nữa chưa được nghiên cứu đầu tư. Lộ trình chi tiết IC : Nút giao, JCT : Điểm lên xuống, SA : Khu vực dịch vụ (Trạm dừng nghỉ), TG : Trạm thu phí, TN : Hầm đường bộ, BR : Cầu Đơn vị đo khoảng cách là km. Đoạn qua tỉnh Ninh Bình Đoạn qua Nam Định – Thái Bình Đoạn qua Thái Bình – Hải Phòng Liên kết ngoài Hải Phòng và Quảng Ninh ký kết chương trình hợp tác phát triển Quyết định số 34/2009/QĐ–TTg về Quy hoạch phát triển Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ đến 2020 Quy hoạch phát triển giao thông vận tải vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ đến 2020 Xác lập mạng lưới 22 đường cao tốc ở Việt Nam Quy hoạch phát triển giao thông vận tải đường bộ Việt Nam đến năm 2020 và định hướng đến năm 2030 Ninh Bình - Hải Phòng - Quảng Ninh Giao thông Ninh Bình Giao thông Hải Phòng Giao thông Quảng Ninh
918433
https://vi.wikipedia.org/wiki/Cryptocephalus%20wittmerorum
Cryptocephalus wittmerorum
Cryptocephalus wittmerorum là một loài bọ cánh cứng trong họ Chrysomelidae. Loài này được Lopatin miêu tả khoa học năm 1995. Chú thích Tham khảo W
911369
https://vi.wikipedia.org/wiki/Psiloniscus%20sticticus
Psiloniscus sticticus
Psiloniscus sticticus là một loài bọ cánh cứng trong họ Elateridae. Loài này được Candèze miêu tả khoa học năm 1860. Chú thích Tham khảo Psiloniscus
523137
https://vi.wikipedia.org/wiki/Reimerswaal
Reimerswaal
Reimerswaal () là một đô thị ở tây nam Hà Lan bên Zuid-Beveland, đặt tên theo thành phố đã mất tích. Reimerswaal là một đô thị thuộc tỉnh Zeeland. Dân số năm 2023 là 23.265 người, diện tích 243,70 km² (trong đó 133,89 km² là diện tích mặt nước). Thị xã trung tâm Yerseke nổi tiếng với kinh doanh mussel và oyster. Kruiningen. Đô thị Reimerswaal được lập năm 1970 với việc sáp nhập các đô thị Krabbendijke, Kruiningen, Rilland-Bath, Waarde, và Yerseke. Các trung tâm dân cư Bath Hansweert Krabbendijke Kruiningen Oostdijk Rilland Waarde Yerseke Thành phố Reimerswaal Đô thị này được đặt tên theo thành phố Reimerswaal (trở thành thành phố năm 1374). Thành phố này đã bị nhiều trận lụt phá hủy và cư dân thành phố phải rời bỏ thành phố này vào năm 1632. Tham khảo Liên kết ngoài Trang mạng chính thức (tiếng Hà Lan) Bản đồ Đô thị Zeeland
687111
https://vi.wikipedia.org/wiki/Bulbophyllum%20microthamnus
Bulbophyllum microthamnus
Bulbophyllum microthamnus là một loài phong lan thuộc chi Bulbophyllum. Chú thích Tham khảo The Bulbophyllum-Checklist The internet Orchid species Photo Encyclopedia microthamnus]] M
487321
https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BA%ADn%20Bexar%2C%20Texas
Quận Bexar, Texas
Quận Bexar ( "bear") (tiếng Anh: Bexa County) là một quận trong tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Quận có dân số 1,6 triệu người, là quận đông dân nhất Hoa Kỳ. Quận lỵ đóng ở thành phố San Antonio. Thông tin nhân khẩu Theo điều tra dân năm 2000, quận đã có dân số 1.392.931 người, 488.942 hộ, và 345.681 gia đình sống trong quận. Mật độ dân số là 1.117 người trên mỗi dặm vuông (431/km ²). Đã có 521.359 đơn vị nhà ở với mật độ trung bình là 418 dặm vuông (161/km ²). Cơ cấu dân tộc như sau: 68,86% người da trắng, 7,18% da đen hay Mỹ gốc Phi, 0,80% người Mỹ bản xứ, 1,61% người châu Á, 0,10% người đảo Thái Bình Dương, 17,80% từ các chủng tộc khác, và 3,64% từ hai hoặc nhiều chủng tộc. 54,35% dân số là người Hispanic hay Latino thuộc chủng tộc nào. Đã có 488.942 hộ, trong đó 36,60% có trẻ em dưới 18 tuổi sống chung với họ, 50,50% là các cặp vợ chồng sống với nhau, 15,50% có chủ hộ là nữ không có mặt chồng, và 29,30% là không lập gia đình. 24,00% của tất cả các hộ gia đình đã được tạo thành từ các cá nhân và 7,40% có người sống một mình 65 tuổi trở lên. Bình quân mỗi hộ là 2,78 và cỡ gia đình trung bình là 3,33. Trong quận, độ dân số gồm 28,50% ở độ tuổi dưới 18, 10,70% 18-24, 30,60% 25-44, 19,90% 45-64, và 10,40% người 65 tuổi trở lên. Tuổi trung bình là 32 năm. Cứ mỗi 100 nữ có 94,70 nam giới. Cứ mỗi 100 nữ 18 tuổi trở lên, đã có 91,20 nam giới. Thu nhập trung bình cho một hộ gia đình trong quận đã được 38.328 Mỹ kim, và thu nhập trung bình cho một gia đình là $ 43,724. Nam giới có thu nhập trung bình 30.756 đô la Mỹ so với 24.920 $ cho phái nữ. Thu nhập trên đầu cho các quận được 18.363 USD. Giới 12,70% gia đình và 15,90% dân số sống dưới mức nghèo khổ, trong đó có 22,40% những người dưới 18 tuổi và 12,20% có độ tuổi từ 65 trở lên. Tham khảo Quận của Texas
199378
https://vi.wikipedia.org/wiki/Wola
Wola
Wola là một quận ở phía tây của Warszawa, thủ đô Ba Lan, trước đây là làng Wielka Wola và được sáp nhập vào Vác-sa-va năm 1916. Khu vực này được chuyển thành một vùng công nghiệp đầu thế kỷ 19 và dần chuyển sang khu vực dân cư và văn phòng. Hiện nay có nhiều viện bảo tàng ở quận Wola. Quận Wola có diện tích 19,26 km2, dân số năm 2003 là 143.996 người. Tham khảo Quận của Warszawa
325052
https://vi.wikipedia.org/wiki/Saires
Saires
Saires là một xã, tọa lạc ở tỉnh Vienne trong vùng Nouvelle-Aquitaine, Pháp. Xã này có diện tích 14,05 km², dân số năm 2006 là 145 người. Xã nằm ở khu vực có độ cao trung bình 98 m trên mực nước biển. Hành chính Biến động dân số Liên kết ngoài Saires Trên trang mạng của Viện địa lý quốc gia Saires trên trang mạng của INSEE Saires sur le site du Quid Localisation de Saires sur une carte de France et communes limitrophes Plan de Saires sur Mapquest Tham khảo Saires
700573
https://vi.wikipedia.org/wiki/Omphalotropis%20rubens
Omphalotropis rubens
Omphalotropis rubens là một loài ốc có mài nhỏ sống ở đầm ngập mặn với một nắp, là động vật chân bụng sống dưới nước động vật thân mềm, là động vật chân bụng sống trên cạn động vật thân mềm trong họ Assimineidae. Phân bố Loài này thường gặp ở Réunion. Chú thích Tham khảo Omphalotropis
325720
https://vi.wikipedia.org/wiki/Journet
Journet
Journet là một xã, tọa lạc ở tỉnh Vienne trong vùng Nouvelle-Aquitaine, Pháp. Xã này có diện tích 58,51 km², dân số năm 2006 là 378 người. Xã nằm ở khu vực có độ cao từ 97–153 m trên mực nước biển. Biến động dân số Tham khảo Liên kết ngoài Journet trên trang mạng của Viện địa lý quốc gia Journet
778469
https://vi.wikipedia.org/wiki/Leyviller
Leyviller
Leyviller là một xã trong tỉnh Moselle, vùng Grand Est đông bắc nước Pháp. Xem thêm Commune của tỉnh Moselle Tham khảo INSEE IGN Xã của Moselle
66094
https://vi.wikipedia.org/wiki/Kh%C3%AD%20%28%C4%91%E1%BB%8Bnh%20h%C6%B0%E1%BB%9Bng%29
Khí (định hướng)
Khí có thể là: Trạng thái khí của vật chất. Khí (氣), khái niệm cơ bản của văn hóa và triết học truyền thống Trung Quốc.
439747
https://vi.wikipedia.org/wiki/Marolles-les-Buis
Marolles-les-Buis
Marolles-les-Buis là một xã thuộc tỉnh Eure-et-Loir trong vùng Centre-Val de Loire ở bắc trung bộ nước Pháp. Xã này nằm ở khu vực có độ cao trung bình 175 mét trên mực nước biển. Tham khảo Marolleslesbuis
870310
https://vi.wikipedia.org/wiki/Hydropsyche%20discreta
Hydropsyche discreta
Hydropsyche discreta là một loài Trichoptera trong họ Hydropsychidae. Chúng phân bố ở miền Cổ bắc. Tham khảo Trichoptera miền Cổ bắc Hydropsyche
834885
https://vi.wikipedia.org/wiki/3125%20Hay
3125 Hay
3125 Hay (1982 BJ1) là một tiểu hành tinh vành đai chính được phát hiện ngày 24 tháng 1 năm 1982 bởi Bowell, E. ở Flagstaff (AM). Tham khảo Liên kết ngoài JPL Small-Body Database Browser ngày 3125 Hay Được phát hiện bởi Edward Bowell Tiểu hành tinh vành đai chính Thiên thể phát hiện năm 1982
922845
https://vi.wikipedia.org/wiki/Specularius%20bridwelli
Specularius bridwelli
Specularius bridwelli là một loài bọ cánh cứng trong họ Bruchidae. Loài này được Arora miêu tả khoa học năm 1977. Chú thích Tham khảo Specularius
778048
https://vi.wikipedia.org/wiki/Lannecaube
Lannecaube
Lannecaube là một commune tỉnh Pyrénées-Atlantiques, thuộc vùng Nouvelle-Aquitaine, tây nam nước Pháp. Xem thêm Commune của tỉnh Pyrénées-Atlantiques Tham khảo INSEE IGN Xã của Pyrénées-Atlantiques
290524
https://vi.wikipedia.org/wiki/Saint-Rem%C3%A8ze
Saint-Remèze
Saint-Remèze là một xã ở tỉnh Ardèche, vùng Auvergne-Rhône-Alpes ở đông nam nước Pháp. Xem thêm Côtes du Vivarais AOC Xã của tỉnh Ardèche Tham khảo Saintremeze
40611
https://vi.wikipedia.org/wiki/L%E1%BB%8Bch%20s%E1%BB%AD%20Iraq
Lịch sử Iraq
Bài lịch sử Iraq gồm một khái quát chung từ thời tiền sử cho tới hiện tại ở vùng hiện nay là đất nước Iraq tại vùng đất Lưỡng Hà. Xem thêm Biên niên sử phương đông cổ đại, Lịch sử Trung Đông, và Lịch sử Lưỡng Hà. Tiền sử Người Neanderthal đã sống ở Iraq từ khoảng 60.000 năm trước; Những di tích còn lại của người Neanderthal đã được tìm thấy tại hang Shanidar. Thời cổ đại Trong đa số thời gian lịch sử, vùng đất hiện là Iraq hiện đại hầu như tương đương với vùng Lưỡng Hà. Đồng bằng Lưỡng Hà nằm giữa hai con sông Tigris và Euphrates (trong tiếng Ả Rập, là Dijla và Furat), là một phần của Vùng đất màu mỡ hình trăng lưỡi liềm. Nhiều triều đại và đế chế đã cai trị vùng Lưỡng Hà như Sumer, Akkad, Assyria và Babylon. Lưỡng Hà Nền văn hóa Sumer đã phát triển rực rỡ tại Lưỡng Hà từ khoảng năm 3000 TCN. Cuộc sống văn minh xuất hiện tại Sumer được định hình bởi hai yếu tố đối lập: sự bất thường của hai con sông Tigris và Euphrates, vào bất kỳ lúc nào cũng có thể gây ra những trận lũ lụt lớn quét sạch toàn bộ dân cư, và sự màu mỡ đặc biệt của hai vùng châu thổ, do phù sa lắng đọng hàng thế kỷ của hai con sông mang lại. Cuối cùng, người Sumer phải chiến đấu với các dân tộc khác. Một số cuộc chiến tranh đầu tiên là với người Elam sống ở vùng hiện nay là phía tây Iran. Từ đó vùng biên giới này luôn xảy ra các cuộc xung đột; đó có lẽ là vùng biên giới hay xảy ra chiến tranh nhất trên thế giới. Sự thống trị của người Sumer bị người Akkadian, di cư tới từ Bán đảo Ả Rập đe doạ. Người Akkadian là dân tộc thuộc hệ ngôn ngữ Semit, họ sử dụng một thứ ngôn ngữ có nguồn gốc từ những hệ ngôn ngữ được gọi là các ngôn ngữ Semit. Năm 2340 TCN, vị lãnh đạo vĩ đại của người Akkadian là Sargon chinh phục Sumer và lập ra Đế chế Akkadian bao phủ hầu như toàn bộ các thành bang của người Sumer và kéo dài đến tận Li Băng. Sargon đặt thủ đô của đế chế tại thành phố Akkad, và đây chính là cơ sở nguồn gốc tên của dân tộc ông. Đế chế đầy tham vọng của Sargon chỉ tồn tại trong một thời gian ngắn trong lịch sử lâu dài của Lưỡng Hà. Năm 2125 TCN, thành phố Ur của người Sumer ở phía nam Lưỡng Hà nổi dậy kháng chiến, đế chế Akkadian sụp đổ trước sự hồi sinh của các thành bang Sumer. Những nền văn minh hậu Sumer Sau sự sụp đổ của nền văn minh Sumer, năm 1700 TCN người dân ở đó lại được tái thống nhất bởi Vua Hammurabi xứ Babylon (1792-1750 TCN), đất nước lại hồi sinh và phát triển với cái tên Babylonia. Vùng cai trị của Babylonia gồm những diện tích to lớn bao phủ hầu hết châu thổ sông Tigris-Euphrates từ Sumer và Vịnh Péc xích. Ông mở rộng đế chế của mình lên phía bắc qua châu thổ sông Tigris và Euphrates và về phía tây tới bờ Biển Địa Trung Hải. Sau khi củng cố lại quyền lực trung ương tại Babylon, ông dành tâm sức vào việc bảo vệ các biên giới và nuôi dưỡng sự thịnh vượng bên trong của Đế chế. Dù sao, triều đại của Hammurabi cũng được coi là Triều đại đầu tiên của Babylon, cai trị trong khoảng 200 năm, đến tận năm 1530 TCN. Ở thời này, Babylonia bước vào một giai đoạn phát triển đặc biệt rực rỡ và hòa bình. Tuy nhiên, sau khi Hammurabi qua đời, một bộ tộc được gọi là Kassites bắt đầu tấn công Babylonia ngay từ khi con trai của Hammurabi bắt đầu cai trị đế chế. Trong nhiều thế kỷ, Babylonia bị những người Kassites làm cho suy yếu. Cuối cùng, khoảng năm 1530 TCN (một số nguồn cho rằng năm 1570 hay 1595 TCN), Triều đại Kassite được lập ra ở Babylonia. Mitanni, một văn hóa khác, trong thời gian ấy cũng xây dựng lên đế chế mạnh mẽ của riêng mình. Họ chỉ chiếm được vai trò quan trọng trong thời gian ngắn—họ từng rất mạnh, nhưng chỉ trong vòng khoảng 150 năm. Dù vậy, Mitanni là một trong những đế chế chính ở vùng này trong giai đoạn lịch sử đó, và họ hầu như kiểm soát toàn bộ và chinh phục được người Assyria (những người sống ở phía đông Mitanni và phía tây bắc Kassite Babylonia). Vào thế kỉ thứ 15 TCN, quốc gia này phải đối chọi với những cuộc chinh phạt của quân đội Ai Cập. Sau khi người Assyrian thoát được ách đô hộ của Mitanni, họ trở thành quyền lực tiếp theo ở vùng Lưỡng Hà. Sau khi đánh bại và sáp nhập Mitanni, người Assyrian, thách thức Babylonia. Họ làm Babylonia trở nên suy yếu tới mức Triều đại Kassite đánh mất quyền lực; người Assyrian hiển nhiên chiếm quyền kiểm soát Babylonia, tới khi các cuộc nổi dậy lại hạ bệ họ và lập ra một triều đại mới, được gọi là Triều đại thứ hai của Isin. Nebuchadrezzar I (Nabu-kudurri-usur; kh. 1119 TCN-kh. 1098 TCN) là vị vua nổi tiếng nhất của triều đại này. Nebuchadnezzar đã chứng tỏ ông là một người cai trị tốt, và cuối cùng tấn công Assyria. Người Chaldea Cuối cùng, trong những năm 800s TCN, một trong những bộ tộc mạnh nhất bên ngoài Babylon, người Chaldea (từ Latin là Chaldaeus, Hy Lạp là Khaldaios, Assyri là Kaldu), chiếm ưu thế. Người Chaldea lên nắm quyền lực ở Babylonia và bằng cách ấy, dường như tăng cường sự ổn định và sức mạnh cho Babylonia. Họ dẹp yên nhiều cuộc nổi loạn và những kẻ tấn công từ bên ngoài. Ảnh hưởng của người Chaldea mạnh tới mức, trong giai đoạn này Babylonia bắt đầu được gọi là Chaldea. Năm 626 TCN, Chaldea giúp Nabo-Polassar lên nắm quyền ở Babylonia. Lúc ấy Assyria đang phải chịu nhiều sức ép từ phía một bộ tộc Iran, người Medes (từ Media). Nabo-Polassar liên minh Babylonia với người Medes. Assyria không thể chịu thêm áp lực này, và vào năm 612 TCN, Nineveh, thủ đô của Assyria, sụp đổ. Toàn bộ thành phố, từng một thời là thủ đô của đế chế vĩ đại, bị đốt cháy và cướp bóc. Nebuchadrezzar II xứ Babylon Sau đó, Nebuchadrezzar II (con trai của Nabopolassar) thừa kế đế chế Babylonia. Ông thu thập thêm được một ít lãnh thổ cho Babylonia và xây dựng lại Babylon, vẫn là thủ đô của Babylonia. Trong thế kỷ thứ 6 TCN (586 TCN), Nebuchadrezzar II chinh phục Judea (Judah), phá huỷ Jerusalem; Đền Solomon cũng bị phá huỷ; Nebuchadrezzar II mang đi khoảng 15.000 tù nhân và trục xuất hầu hết dân cư ở đó tới Babylonia. Nebuchadrezzar (604-562 TCN) được cho là người đã xây dựng nên Vườn treo Babylon huyền thoại, một trong Bảy kỳ quan thế giới. Sự thống trị của Ba Tư; 550 TCN tới 652 SCN Nhiều kẻ xâm lược đã chinh phục vùng đất này sau khi Nebuchadrezzar chết, gồm Cyrus đại đế năm 539 TCN và Alexander đại đế năm 331 TCN, ông đã chết ở đây năm 323 TCN. Babylon suy tàn sau khi Seleucia tại Tigris, thủ đô mới của Đế chế Seleucid được thành lập. Trong thế kỷ thứ 6 TCN, nó trở thành một phần của Đế chế Ba Tư, sau đó bị Alexander đại đế chinh phục và tiếp tục nằm dưới quyền cai trị của Hy Lạp dưới triều Seleucid trong gần hai thế kỷ. Sau đó, một bộ lạc vùng Trung Á thuộc dân tộc Iran tên là Parthi sáp nhập vùng này, tiếp sau nó lại bị người Sassanid Ba Tư cai quản đến tận thế kỷ thứ 7, Khi người Ả Rập Hồi giáo chiếm đóng. Năm 600, Iraq là một tỉnh của Đế chế Iran được gọi là tỉnh khvarvaran, Iraq đã thuộc tỉnh này từ thời Cyrus đại đế. Hệ thống tưới tiêu nông nghiệp chằng chịt của vùng hạ Tigris và Euphrates và tiền nộp cống của các dân tộc như Diyala và Karun là nguồn tài nguyên cơ bản của triều đại Sassanid. Thuật ngữ "Iraq" trong tiếng Ả Rập, là một từ có nguồn gốc ở từ Ērāk trong tiếng Ba Tư có nghĩa là "hạ Iran" lúc ấy vẫn chưa được sử dụng; vào giữa thế kỷ thứ 6, Đế chế Iran đang ở triều đại Sassanid và được hoàng đế Khosrow I chia ra thành bốn vùng, trong đó vùng phía tây được gọi là Khvārvarān, gồm đa phần Iraq hiện nay và lại được chia tiếp thành các tỉnh nhỏ hơn như Mishān, Asuristān, Ādiābene và Hạ Media. Thuật ngữ Iraq được sử dụng rộng rãi trong tiếng Ả Rập thời trung cổ để chỉ vùng trung tâm và phía nam nước cộng hòa ngay nay về mặt địa lý chứ không phải là thuật ngữ chính trị, không hề vẽ ra các biên giới chính xác. Vùng Iraq ngày nay phí bắc Tikrit ở thời Hồi giáo được gọi là Al-Jazirah, có nghĩa là "Hòn Đảo" và để chỉ "hòn đảo" nằm giữa sông Tigris và Euphrates. Về phía nam và tây là xa mạc Ả Rập, nơi sinh sống của phần lớn các bộ lạc Ả Rập, những người thỉnh thoảng lại công nhận quyền chúa tể của các vị Hoàng đế Sasanian. Tới năm 602 biên giới xa mạc của Iran đã được các vị vua Al-Hirah xứ Lakhmid coi giữ, những vị vua này là người Ả Rập nhưng cai trị một quốc gia ở vùng đệm. Cùng năm đó Shahanshah (hoàng đế Ba Tư) Khosrow II Aparviz vội vàng hủy bỏ vương quốc Lakhmid khiến cho biên giới đất nước bị bỏ ngỏ trước những bộ lạc du mục ưa chiến tranh. Xa hơn về phía bắc, quận phía tây giáp với biên giới Đế chế Byzantine. Biên giới này dù nhiều dù ít vẫn được Syria và Iraq coi là biên giới hiện đại của mình và tiếp tục chạy xa về phía bắc tới Thổ Nhĩ Kỳ hiện nay, để Nisibis (Nusaybin hiện đại) làm pháo đài bảo vệ biên giới Sasanian trong khi người Byzantines chiếm Dara và Amida (Diyarbakir hiện nay) ở gần đó. Khác biệt dân tộc và tôn giáo Dân cư ở đó rất đa dạng. Quý tộc và quan lại hành chính người Ba Tư thuộc tầng lớp trên, nhưng đa phần dân cư là những người Ba Tư thuộc tầng lớp giữa những người theo Đạo thờ lửa và phần còn lại là những người nông dân nói tiếng Aramaic. Có một số ít người Tāzis (Ả Rập), đa số họ sống bằng chăn nuôi gia súc dọc theo các biên giới phía tây của những vùng định cư, nhưng một số là dân thành thị, đặc biệt tại Hireh (al-Hira). Ngoài ra, còn có một nhóm khác là người Kurds, họ sống dọc theo các đồi thấp dưới chân núi Zagros, và đáng ngạc nhiên là cả một số lượng khá lớn người Hy Lạp, đa số là các tù binh đã bị bắt giữ trong nhiều chiến dịch quân sự của người Sasania vào bên trong Byzantine Syria. Sự khác biệt chủng tộc được thể hiện bởi tính đa tôn giáo. Tôn giáo quốc gia của Sassanid, Đạo thờ lửa, bị người Iran ngăn cấm. Phần còn lại của dân cư, đặc biệt ở phía bắc đất nước, có thể là người theo Thiên chúa giáo. Các tôn giáo đó bị chia rẽ sâu sắc vì những khác biệt về học thuyết của Monophysites, so với nhà thờ Jacobite của Syria, và Nestorians. Nestorians, ban đầu cải đạo từ Đạo thờ lửa, Mani giáo và Mazdakism, là tôn giáo phát triển rộng nhất và được các vị Hoàng đế Sasanian cho phép hành đạo bởi vì tôn giáo này chống lại Thiên chúa giáo của Đế chế Roma, Thiên chúa giáo coi Nestorians là dị giáo. Nhiều người Iran theo Nestorians bị trục xuất tới các tỉnh phía nam, nằm ở nam Vịnh Péc xích, như Mishmāhig (Bahrain và UAE hiện nay), Garrhae (bờ biển Vịnh Péc xích của Ả Rập Saudi hiện nay). Monophysites bị nghi ngại nhiều hơn và thỉnh thoảng bị ngược đãi, nhưng cả hai tôn giáo vẫn giữ được một hệ thống cấp bậc của mình và Nestorians có một trung tâm tri thức quan trọng tại Nisibis. Vùng bao quanh thành phố Babylon cổ lúc ấy có một lượng lớn dân cư là người Do Thái, họ vừa là con cháu của những người đã bị trục xuất từ thời Kinh Cựu Ước vừa là những người địa phương cải đạo. Hơn nữa, ở phần phía nam đất nước có nhiều người Babylon không theo đạo nào cả, cũng như người Mandaeans và Gnostics. Đầu thế kỷ thứ 7, sự ổn định và thịnh vương của xã hội đa văn hoá này bị đe doạ từ hiểm hoạ xâm lăng bên ngoài. Năm 602 Khosrow II Aparviz tung ra cuộc tấn công lớn cuối cùng của người Iran vào Đế chế Byzantine. Lúc đầu ông giành thắng lợi; Syria và Ai Cập sụp đổ, và chính Constantinopolis cũng bị đe doạ. Sau này gió đã đổi chiều, năm 627-628 người Byzantines, dưới sự lãnh đạo của Heraclius, chiếm tỉnh Khvārvarān và cướp bóc thủ đô đế chế tại Tyspawn (Ctesiphon). Những kẻ xâm lược không ở lại, nhưng Khosrow đã bị mất uy tín, bị phế truất và bị hành quyết. Tiếp theo là giai đoạn chiến tranh giữa các vị tướng và các thành viên gia đình hoàng gia khiến đất nước không thuộc quyền lãnh đạo rõ ràng của một phe phái nào cả. Sự hỗn loạn cũng đe doạ tới hệ thống tưới tiêu, và có lẽ ở thời điểm này nhiều vùng rộng lớn phía nam đất nước đã biến trở lại thành đầm lầy, như trước kia. Những kẻ chinh phục Hồi giáo đầu tiên đã tiếp xúc với đế chế chính tại vùng đất bị tàn phá này. Cuộc chinh phục của người Ả Rập và giai đoạn đầu thời kỳ Hồi giáo Cuộc xung đột có tổ chức đầu tiên giữa những bộ tộc người Bedouin Ả Rập và các lực lượng Iran dường như đã diễn ra năm 634, khi người Ả Rập bị đánh bại trong Trận đánh của cây cầu (Battle of the Bridge). Một lực lượng với khoảng 5000 người Hồi giáo dưới sự chỉ huy của Abū `Ubayd ath-Thaqafī, bị quân Iran đánh tan. Khoảng năm 636, một lực lượng Hồi giáo Ả Rập lớn hơn dưới sự chỉ huy của Sa`d ibn Abī Waqqās đánh bại quân đội Iran tại Trận al-Qādisiyyah và tiến tới cướp bóc thủ đô Đế chế Iran là Ctesiphon. Tới cuối năm 638, người Hồi giáo đã chinh phục hầu như toàn bộ các tỉnh phía tây Iran (Iraq hiện nay), và vị Hoàng đế Sassanid cuối cùng, Yazdegerd III, đã phải bỏ chạy tới vùng trung tâm sau đó tới phía bắc Iran, nơi ông bị giết năm 651. Cuộc chinh phục của người Hồi giáo dẫn tới cuộc di cư ồ ạt của người Ả Rập từ phía đông Ả Rập và Mazun (Oman) tới Khvarvārān. Những kẻ mới đến đó không sống phân tán ra khắp nước mà họ lập ra hai thành phố đồn trú mới tại al-Kūfah, gần Babylon cổ đại, và tại Basrah ở phía nam. Ý định của họ là người Hồi giáo phải là một cộng đồng chiến binh tách biệt và gia đình họ sẽ sống nhờ vào tiền thuế do dân địa phương cúng nộp. Ở phía bắc miền Đông bắc Iran, Mosul bắt đầu nổi lên trở thành thành phố quan trọng nhất và là cơ sở căn bản của một địa điểm đồn trú Hồi giáo, nơi trú ngụ của một vị thống đốc Hồi giáo. Ngoài những tầng lớp trên người Iran và những thầy tu Đạo thờ lửa, là những người không chịu cải sang Hồi giáo và do đó đã mất mạng sống cũng như tài sản, đa số người Iran trở thành người Hồi giáo và được cho phép giữ lại tài sản của mình. Khvarvārān, lúc ấy trở thành một tỉnh Hồi giáo, được gọi là `Irāq. Cuộc chinh phục của Thổ Nhĩ Kỳ Ở thời gian cuối thế kỷ 14 và đầu thế kỷ 15, người Black Sheep Turkmen cai trị vùng hiện nay là Iraq. Năm 1466, người White Sheep Turkmen đánh bại Black Sheep và chiếm quyền kiểm soát. Sau đó, đa phần Iraq trở thành một vùng thuộc Đế chế Safavid đã nổi lên ở Iran từ năm 1501. Trong thế kỷ 16 Iraq trở thành một phần của Đế chế Ottoman, dù Đế chế Safavid tạm thời thu hồi loại được phần lớn đất đai Iraq trong nửa đầu thế kỷ 17. Lịch sử hiện đại Thời cai trị của Ottoman trên toàn bộ lãnh thổ Iraq kéo dài tới tận Chiến tranh thế giới thứ nhất khi Ottoman đứng về phía Đức và Liên minh trung tâm. Các lực lượng Anh xâm chiếm nước này và thua một trận lớn trước quân đội Thổ Nhĩ Kỳ trong cuộc Phong toả Kut (1915–16). Các lực lượng Anh được tái lập lại và Chiếm Baghdad năm 1917. Một thỏa hiệp đình chiến được ký năm 1918. Iraq được người Pháp và Anh tách ra khỏi Đế chế Ottoman theo Hiệp ước Sykes-Picot. Ngày 11 tháng 11 1920 nó trở thành một quốc gia thuộc Liên đoàn các quốc gia ủy trị dưới quyền kiểm soát của Anh với cái tên "Quốc gia Iraq". Chính phủ Anh sắp đặt khung chính trị và thể chế cho chính phủ Iraq. Anh Quốc áp đặt một chế độ quân chủ Hāshimite lên Iraq và xác định các biên giới lãnh thổ của Iraq mà không cần biết đến nguyện vọng của các dân tộc và các nhóm tôn giáo khác nhau trong nước, đặc biệt là người Kurd ở phía bắc. Anh Quốc phải đàn áp một cuộc nổi dậy lớn chống lại các chính sách của họ giữa nổ ra năm 1920 và 1922. Trong thời của cuộc nổi dậy này, người Anh đã dùng khí độc và các cuộc tấn công không quân vào các làng Iraq . Trong giai đoạn ủy trị và tiếp sau đó, người Anh ủng hộ quyền lãnh đạo truyền thống của người Sunni (như bộ lạc shaykhs) chứ không phải cho phong trào quốc gia đang phát triển ở thành thị. Đạo luật giải quyết đất đai trao cho bộ lạc shaykhs quyền đăng ký các vùng đất chung của bộ lạc dưới tên riêng của họ. Quy định giải quyết tranh chấp bộ lạc trao cho họ những quyền pháp lý, trong khi Luật về quyền của nông dân và Đạo luật trách nhiệm năm 1933 hạn chế rất nhiều quyền của người nông dân, cấm họ được rời bỏ đất đai trừ khi đã thanh toán sòng phẳng toàn bộ nợ nần với chủ đất. Năm 1941, người Anh lại viện đến sức mạnh quân sự khi những quyền lợi của họ bị đe dọa sau Cuộc đảo chính của Rashīd `Alī al-Gaylānī. Cuộc đảo chính này dẫn tới một Cuộc xâm chiếm Iraq của người Anh sử dụng các lực lượng Quân đội Anh Ấn và quân Lê dương Ả Rập từ Jordan. Iraq quân chủ Emir Faisal, nhà lãnh đạo cuộc nổi dậy của người Ả Rập chống lại vị vua Hồi giáo Ottoman trong Chiến tranh thế giới thứ nhất, và là thành viên dòng dõi Sunni Hashimite từ Mecca, đã trở thành vị vua đầu tiên của quốc gia mới. Ông chiếm được ngôi một phần nhờ ảnh hưởng của T.E. Lawrence. Mặc dù chế độ quân chủ được hợp pháp hóa và được tuyên bố làm Vua bởi một cuộc trưng cầu dân ý năm 1921, nền độc lập thực sự chỉ bắt đầu khi chế độ ủy trị của người Anh chính thức kết thúc 1932. Năm 1927, những giếng dầu vĩ đại được phát hiện gần Kirkuk mang lại sự cải thiện kinh tế. Những quyền khai thác được trao cho Công ty dầu mỏ Iraq, mặc dù có tên như vậy, nó là một công ty dầu của Anh. Vua Faisal I được con trai là Ghazi nối ngôi vào tháng 12 năm 1933. Giai đoạn cai trị của Ghazi kéo dài năm năm rưỡi. Ông tuyên bố chủ quyền của Iraq đối với Kuwait. Vốn là một người ưa tốc độ, nhà vua đã lái xe lao vào một cái cột đèn và chết ngày 3 tháng 4 năm 1939. Con trai ông Faisal tiếp tục kế vị ngai vàng. Vua Faisal II (1935 – 1958) là con trai duy nhất của Vua Ghazi I và Nữ hoàng `Aliyah. Vị vua mới mới chỉ bốn tuổi khi vua cha qua đời. Chú ông là 'Abd al-Ilah trở thành người nhiếp chính (tháng 4 năm 1939 – tháng 5 năm 1953). Năm 1945, Iraq gia nhập Liên hiệp quốc và trở thành thành viên sáng lập của Liên đoàn Ả Rập. Cùng lúc đó, lãnh đạo người Kurd là Mustafā Barzānī tổ chức một cuộc nổi loạn chống lại chính phủ trung ương ở Baghdad. Sau khi cuộc nổi loạn thất bại, Barzānī và những người trung thành chạy trốn tới Liên bang xô viết. Năm 1948, và năm nước Ả Rập khác tiến hành một cuộc chiến tranh chống lại nhà nước mới thành lập là Israel. Cuộc chiến tranh kéo dài đến tận tháng 5 năm 1949 khi một thỏa thuận ngừng bắn được ký kết, nhưng Iraq không tham gia vào đó. Chi phí cho cuộc chiến gây ảnh hưởng xấu tới kinh tế Iraq. Chính phủ phải chi 40% ngân sách cho quân đội và cho những người tị nạn Palestin. Những khoản thu từ dầu khí của chính phủ bị giảm một nửa khi đường ống dẫn dầu tới Haifa bị cắt. Cuộc chiến và việc treo cổ nhiều thương gia Do Thái dẫn tới sự ra đi của hầu hết cộng đồng người Do Thái tại Iraq. Người Do Thái đã sống ở Lưỡng Hà trong ít nhất 2.500 năm. Iraq ký hiệp ước Baghdad năm 1956. Hiệp ước này liên minh Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Pakistan, Hoa Kỳ và Anh Quốc. trụ sở hiệp ước đặt tại Baghdad. Khối hiệp ước gây ra một sự thách thức trực tiếp tới tổng thống Ai Cập Gamal Abdal Nasser. Để trả đũa, Nasser tung ra một chiến dịch tuyên truyền phản bác tính hợp pháp của chế độ quân chủ tại Iraq. Tháng 2, 1958, Vua Hussein của Jordan và `Abd al-Ilāh đề xuất một liên hiệp các chế độ quân chủ Hāshimite để chống lại liên hiện mới được thành lập giữa Ai Cập và Syri. Thủ tướng Nuri as-Said muốn rằng Kuwait phải là một phần của liên hiệp Ả Rập-Hāshimite đó. Shaykh `Abd-Allāh as-Salīm, người cai trị Kuwait được mời tới Baghdad để đàm phán về tương lai Kuwait. Chính sách này khiến chính phủ Iraq rơi vào cuộc xung đột trực tiếp với Anh, vốn không muốn trao lại độc lập cho Kuwait. Lúc ấy, chế độ quân chủ Iraq hoàn toàn bị cô lập. Nuri as-Said chỉ có thể giải quyết sự bất mãn ngày càng dâng cao bằng cách đàn áp chính trị. Xem thêm Danh sách các vị vua Iraq. Cộng hoà Được Nasser xúi giục, các sĩ quan thuộc Đội quân số mười chín được gọi là "Các sĩ quan tự do", dưới sự lãnh đạo của thiếu tướng Abdul-Karim Qassem (được gọi là "az-Zaīm", 'nhà lãnh đạo') và Đại tá Abdul Salam Arif lật đổ chế độ quân chủ Hashimite ngày 14 tháng 7 năm 1958. Vua Faisal II và `Abd al-Ilāh bị hành quyết trong vườn Cung điện ar-Rihāb. Xác họ (và xác nhiều người khác là thành viên gia đình hoàng gia) được đem ra trưng bày trước công chúng. Nuri as-Said chỉ trốn được một ngày, sau khi cố gắng cải trang thành một phụ nữ che mặt để tẩu thoát không thành, ông bị bắt và bị xử bắn. Chính phủ mới tuyên bố Iraq là một nước cộng hoà và từ chối sáng kiến thành lập liên hiệp với Jordan. Các hoạt động của Iraq với tư cách là một thành viên thuộc Hiệp ước Baghdād bị ngừng lại. Khi Qāsim tự cô lập mình khỏi `Abd an-Nāsir, ông phải đối mặt với sự phản đối ngày càng tăng từ phía các sĩ quan ủng hộ Ai Cập trong quân đội Iraq. `Arif, người muốn có những quan hệ gần gũi hơn với Ai Cập, đã bị tước bỏ chức vụ sau một phiên tòa và bị tống vào tù. Khi đơn vị đồn trú ở Mosul nổi dậy chống lại các chính sách của Qāsim, ông đã cho phép lãnh đạo người Kurd là Barzānī về nước để giúp tiêu diệt những kẻ nổi loạn ủng hộ Nāsir. Năm 1961, Kuwait giành lại độc lập từ tay người Anh và Iraq tuyên bố chủ quyền đối với toàn bộ Kuwait. Anh Quốc phản ứng mạnh mẽ với tuyên bố đó của Iraq và gửi quân đội tới Kuwait nhằm ngăn chặn Iraq. Qāsim buộc phải rút lui và vào tháng 12, 1963, Iraq công nhận chủ quyền của Kuwait. Một giai đoạn khá bất ổn diễn ra sau đó. Qāsim bị ám sát tháng 2, 1963, khi Đảng Ba'ath chiếm quyền lực dưới sự lãnh đạo của Tướng Ahmed Hasan al-Bakr (thủ tướng) và Đại tá Abdul Salam Arif (tổng thống). Chín tháng sau `Abd as-Salam Muhammad `Arif lãnh đạo một cuộc đảo chính thành công chống lại chính phủ của đảng Ba`th government. Ngày 13 tháng 4 năm 1966, Tổng thống Abdul Salam Arif chết trong một vụ rơi máy bay trực thăng và được em trai là Tướng Abdul Rahman Arif kế nhiệm. Sau cuộc Chiến tranh sáu ngày năm 1967, Đảng Ba'ath đã cảm thấy đủ sức mạnh để tái chiếm quyền (17 tháng 7 năm 1968). Ahmad Hasan al-Bakr trở thành tổng thống và chủ tịch Hội đồng chỉ huy cách mạng (RCC). Barzānī và người Kurds vốn đã bắt đầu nổi dậy từ năm 1961 và tới năm 1969 vẫn gây ra nhiều vấn đề nghiêm trọng. Tổng thư ký đảng Ba`th Saddam Hussein được trao trách nhiệm tìm ra một giải pháp. Rõ ràng rằng không thể đánh bại được người Kurd bằng các phương tiện quân sự và vào năm 1970 một thỏa thuận chính trị được phe nổi dậy và chính phủ Iraq ký kết. Kinh tế Iraq phục hồi nhanh chóng sau cuộc cách mạng năm 1968. Anh em nhà Arif đã chi tiêu tới gần 90% ngân sách quốc gia cho quân đội nhưng chính phủ Ba'ath đặt ưu tiên cho nông nghiệp và công nghiệp. Độc quyền khai thác của Công ty dầu khí Iraq của Anh bị phá vỡ khi một hợp đồng mới được ký kết với ERAP, một công ty dầu khí Pháp. Sau này IPC được quốc hữu hoá. Nhờ các chính sách đó, Iraq trải qua một thời kỳ phát triển kinh tế nhanh chóng. Trong thập kỷ 1970, những tranh chấp biên giới với Iran và Kuwait gây ra nhiều vấn đề. Việc Kuwait từ chối cho phép Iraq xây dựng một cảng tại vùng châu thổ Shatt al-Arab càng làm Iraq tin rằng những quyền lực bảo thủ trong vùng đang tìm cách nắm quyền kiểm soát Vịnh Péc xích. Việc Iran chiếm nhiều hòn đảo tại Eo biển Hormuz không làm thay đổi những lo ngại của Iraq. Những tranh chấp lãnh thổ giữa Iraq và Iran được giải quyết tạm thời với việc ký kết Hiệp định Algiers ngày 6 tháng 3 năm 1975. Năm 1972 một đoàn đại biểu Iraq tới thăm Moskva. Cùng năm đó các quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ cũng được nối lại. Các quan hệ với Jordan và Syria cũng rất tốt. Quân đội Iraq đóng quân ở cả hai nước đó. Trong Cuộc chiến tháng 10 năm 1973, các sư đoàn Iraq đã chiến đấu với các lực lượng Israel. Nhìn lại, thập kỷ 1970 có thể coi là một thời điểm phát triển cao của Iraq trong lịch sử hiện đại. Một tầng lớp kỹ trị mới, trẻ và sáng suốt điều hành đất nước và kinh tế phát triển nhanh mang lại sự thịnh vượng và ổn định. Nhiều nước Ả Rập coi Iraq là một ví dụ về phát triển. Tuy nhiên, những thập kỷ sau lại không được như vậy. Thời Saddam Tháng 7, 1979, Bakr từ chức, Saddam Hussein người được ông lựa chọn để kế thừa quyền lực đã thâu tóm cả chức Tổng thống và Chủ tịch Hội đồng chỉ huy cách mạng. Trên thực tế Saddam Hussein đã là người lãnh đạo đất nước từ vài nằm trước khi chính thức nắm quyền. Những tranh chấp lãnh thổ với Iran đã dẫn tới cuộc chiến tranh dài tám năm, Chiến tranh Iran-Iraq (1980 – 1988 không phân thắng bại gây tổn hại lớn cho cả hai bên, cuộc chiến này thường đươợcgọi là Qādisiyyat-Saddām. Iraq tuyên bố chiến thắng năm 1988 nhưng trên thực tế đã phải lui quân về biên giới trước chiến tranh (status quo ante bellum). Cuộc chiến khiến cho Iraq có được một tổ chức quân sự lớn nhất trong vùng Vịnh Péc xích nhưng đi kèm theo nó là những khoản nợ lớn và cuộc nổi dậy của những người Kurd ở vùng núi phía bắc. Theo điều được khẳng định, chính phủ, đã đàn áp cuộc nổi dậy này bằng cách sử dụng vũ khí hóa học chống lại dân thường. Một cuộc tấn công trên diện rộng bằng vũ khí hóa học vào thành phố Halabja vào tháng 3 năm 1988 trong cuộc chiến Iran-Iraq thường được cho là do chế độ Saddam gây ra, dù việc ai là người chịu trách nhiệm về vụ này vẫn còn đang bị tranh cãi. (Saddam giữ mình không bị liên lụy vào vụ này.) Dù hầu hết những quan điểm về vụ này đều coi chính quyền Iraq là bên có trách nhiệm liên quan tới vụ tấn công hơi độc (chống lại Iran), và sự kiện này đã trở thành hình tượng khi miêu tả sự tàn bạo của Saddam. Những ước tính về thương vong vào khoảng từ vài trăm cho đến ít nhất 7.000 người. Chính phủ Iraq tiếp tục được ủng hộ rộng rãi từ cộng đồng quốc tế gồm cả nhiều nước phương tây, Liên Xô, và Trung Quốc, và họ tiếp tục gửi vũ khí tới cho Iraq để chiến đấu với Iran. Quả thực, những chuyến tàu từ Mỹ (dù với số lượng nhỏ) đã tăng sau sự kiện đó, và Anh Quốc đã trao cấp 400 triệu bảng tín dụng thương mại cho Iraq chỉ mười ngày sau khi lên án vụ thảm sát . Cuối thập kỷ 1970, Iraq mua một lò phản ứng hạt nhân của pháp, đặt tên là Osirak hay Tammuz 1. Việc xây dựng bắt đầu từ năm 1979. Năm 1980 lò phản ứng bị hư hại nhẹ sau một cuộc tấn công của không quân Iran, năm 1981, trước khi lò phản ứng được hoàn thành, nó bị không quân Israel phá hủy (xem Chiến dịch Opera), đẩy lùi chương trình hạt nhân của Iraq lại một khoảng thời gian lớn. Xâm chiếm Kuwait và Chiến tranh vùng Vịnh Một tranh chấp lãnh thổ trong thời gian dài đã dẫn tới việc Iraq xâm chiếm Kuwait năm 1990. Iraq buộc tội Kuwait xâm phạm biên giới Iraq để bảo vệ các nguồn tài nguyên dầu mỏ, và yêu cầu huỷ bỏ việc trả nợ của họ. Những cuộc thương lượng trực tiếp nhanh chóng thất bại. Saddam Hussein có một cuộc gặp khẩn với April Glaspie, Đại sứ Hoa Kỳ tại Iraq, ngày 25 tháng 7 năm 1990, bộc lộ những lo ngại của mình nhưng vẫn thể hiện ý muốn tiếp tục đàm phán. April Glaspie thông báo cho Saddām rằng Hoa Kỳ không quan tâm tới những tranh chấp biên giới giữa Iraq và Kuwait. Những nhà hoà giải Ả Rập thuyết phục Iraq và Kuwait thương lượng với nhau tại Jiddah, Ả Rập Saudi, ngày 1 tháng 8 năm 1990, nhưng lần gặp gỡ đó chỉ để hai phía đưa ra những lời buộc tội lẫn nhau. Một cuộc gặp thứ hai được lên kế hoạch tại Baghdad, nhưng Iraq đã xâm chiếm Kuwait ngay ngày hôm sau. Quân đội Iraq tràn sang lãnh thổ Kuwait ngay sau nửa đêm ngày 2 tháng 8 năm 1990. Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc và Liên đoàn Ả Rập ngay lập tức lên án vụ xâm lược của Iraq. Bốn ngày sau, Hội đồng Bảo an áp đặt một lệnh cấm vận kinh tế lên Iraq, cấm hầu như toàn bộ hoạt động thương mại với nước này. Iraq đáp trả sự trừng phạt bằng cách sáp nhập Kuwait làm "tỉnh thứ 19" của Iraq ngày 8 tháng 8, khiến gia đình Sabah đang phải chạy trốn ở nước ngoài yêu cầu cộng đồng quốc tế phải có biện pháp mạnh hơn nữa. Trong những tháng tiếp sau, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc đã đưa ra một loạt những giải pháp nhằm lên án sự xâm chiếm Kuwait của Iraq và áp đặt trừng phạt kinh tế toàn bộ chống lại Iraq. Các nước khác sau đó đã ủng hộ "Chiến dịch lá chắn sa mạc". Tháng 11 năm 1990, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc thông qua Nghị quyết 678, cho phép các nước thành viên sử dụng mọi biện pháp cần thiết, kể cả hành động quân sự chống lại các lực lượng Iraq đang chiếm đóng Kuwait, và yêu cầu Iraq phải rút toàn bộ quân đội ra khỏi Kuwait trước ngày 15 tháng 1 năm 1991. Khi Saddam Hussen không tuân theo yêu cầu đó, Chiến tranh vùng Vịnh (Chiến dịch "Bão táp sa mạc") bắt đầu vào ngày 17 tháng 1 năm 1991 (3 giờ sáng theo giờ Iraq), với đội quân liên minh 28 nước, dẫn đầu là Hoa Kỳ tung ra những cuộc ném bom vào Baghdad. Cuộc chiến tranh gây ra thảm hoạ cho Iraq chỉ kéo dài sáu tuần, một trăm bốn mươi nghìn tấn vũ khí đã được đem ra sử dụng tại Iraq, tương đương với bảy quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima. Có lẽ khoảng 100.000 lính Iraq và hàng chục ngàn dân thường đã thiệt mạng. Các cuộc ném bom của quân đồng minh đã phá huỷ đường sá, cầu cống, nhà máy, và các cơ sở khai thác dầu (tiêu diện hệ thống lọc và phân phối dầu quốc gia) và cắt đứt dịch vụ điện, điện thoại và nước sạch. Các trung tâm hội nghị và mua sắm và các vùng dân cư cũng bị thiệt hại. Hàng trăm người Iraq đã bị giết hại trong cuộc tấn công vào kho bom Al-Amiriyah. Bệnh dịch lan tràn qua nước ô nhiễm vì nước sạch và các cơ sở xử lý nước không thể hoạt động khi không có điện. Hoa Kỳ tuyên bố ngừng bắn ngày 28 tháng 2 năm 1991. Tổng thư ký Liên hiệp quốc Javier Pérez de Cuéllar đã gặp Saddam Hussein để bàn thảo về thời gian biểu rút quân khỏi Kuwait. Iraq đồng ý với các điều kiện của Liên hiệp quốc để đạt tới thoả thuận ngừng bắn vĩnh viễn vào tháng 4 năm 1991, và phải chịu các điều kiện khắt khe, buộc phải liệt kê và phá huỷ mọi kho dự trữ vũ khí. Iraq dưới sự trừng phạt của Liên hiệp quốc Xem thêm: Sự trừng phạt Iraq Ngày 6 tháng 8, 1990, sau khi Iraq xâm chiếm Kuwait, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc thông qua Nghị quyết 661 áp đặt trừng phạt kinh tế lên Iraq, chuẩn bị cấm vận kinh tế toàn diện, chỉ trừ cung cấp y tế, thực phẩm và các nhu yếu phẩm khác của con người, những biện pháp này được Ủy ban trừng phạt của Hội đồng Bảo an đưa ra. Sau khi kết thúc chiến tranh và sau khi quân Iraq rút khỏi Kuwait, các biện pháp trừng phạt này được ràng buộc với việc giải trừ Các vũ khí huỷ diệt hàng loạt theo Nghị quyết 687 của Liên hiệp quốc. Hoa Kỳ cho rằng cần thiết phải ngăn chặn cuộc thảm sát người Ả Rập (Marsh Arabs) ở phía nam và người Kurd ở phía bắc Iraq nên đã đặt ra một "vùng cấm bay" từ phía bắc vĩ tuyến 36 và phía nam vĩ tuyến 32. Chính quyền Clinton cho rằng những nhân viên chìm của Iraq đã cố gắng thực hiện cái gọi là ám sát cựu Tổng thống George H. W. Bush vì thế việc trả đũa quân sự ngày 27 tháng 6 năm 1993 là thoả đáng. Trụ sở tình báo Iraq tại Baghdad bị tấn công bằng các Tên lửa hành trình Tomahawk. Trong thời cấm vận của Liên hiệp quốc, những chống đối từ bên trong và bên ngoài đối với chính phủ của đảng Ba'ath rất yếu ớt và bị chia rẽ. Tháng 5, 1995, Saddam sa thải người anh em một nửa dòng máu (khác cha hay khác mẹ), là Wathban, đang giữ chức Bộ trưởng nội vụ và tháng 7 giáng cấp Bộ trưởng quốc phòng, Ali Hassan al-Majid. Những thay đổi nhân sự đó là kết quả của việc hai con trai Saddām Hussein là Uday Hussein và Qusay Hussein tiến lên nắm quyền. Họ chính thức nắm quyền phó tổng thống từ tháng 5 năm 1995. Tháng 8, Thiếu tướng Husayn Kāmil Hasan al-Majīd, Bộ trưởng công nghiệp quân sự và là một chính khách đồng minh với Saddam, đào thoát sang Jordan, cùng vợ (một trong những con gái của Saddam) và anh trai của mình, Saddam, người cũng lấy một con gái khác của vị tổng thống; cả hai kêu gọi lật đổ chính phủ Iraq. Sau vài tuần ở Jordan, và nhận được lời hứa hẹn đảm Bảo an toàn, hai anh em quay trở lại Iraq và bị sát hại. Cuối thập kỷ 1990, Liên hiệp quốc muốn giải toả bớt trừng phạt áp dụng với Iraq vì những hậu quả nặng nề của nó với dân thường Iraq. Theo đánh giá của Liên hiệp quốc, khoảng 500.000 tới 1.2 triệu trẻ em đã chết trong những năm cấm vận. Hoa Kỳ đã sử dụng quyền phủ quyết của mình tại Hội đồng Bảo an để ngăn cản việc dỡ bỏ các biện pháp trừng phạt vì không thể kiểm chứng được việc giải giáp vũ khí của Iraq. Tuy nhiên, một chương trình đổi dầu lấy lương thực được lập ra năm 1996 để giảm bớt những hậu quả của lệnh trừng phạt. Sự hợp tác của Iraq với các đội thanh sát vũ khí của Liên hiệp quốc đã nhiều lần bị đặt câu hỏi trong thập kỷ 1990. Trưởng phái đoàn thanh tra UNSCOM Richard Butler rút đội thanh sát của mình khỏi Iraq vào tháng 11 năm 1998 vì sự hợp tác không đầy đủ của Iraq. Đội thanh sát này đã quay trở lại vào tháng 12.. Butler đã chuẩn bị một bản báo cáo trước Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc sau đó, trong bản báo cáo ấy ông bày tỏ sự không hài lòng về mức độ hợp tác . Cùng tháng đó, tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton cho phép tấn công không quân vào các mục tiêu chính phủ và quân sự. Các cuộc tấn công không quân vào các cơ sở quân sự và những địa điểm được cho là cất giấu các vũ khí huỷ diệt hàng loạt tiếp tục đến tận năm 2002. Cuộc xâm chiếm Iraq năm 2003 Sau các cuộc tấn công khủng bố do nhóm khủng bố của triệu phú Ả Rập Saudi Osama bin Laden vào New York và Washington ở Hoa Kỳ năm 2001, chính sách đối ngoại của Mỹ bắt đầu chuyển hướng sang lật đổ chính phủ của đảng Ba'ath ở Iraq như là một phần của Cuộc chiến chống khủng bố trên toàn cầu. Các cố vấn bảo thủ ở Washington từ nhiều năm đã hối thúc một sự thay đổi chế độ ở Baghdad, nhưng tới tận khi thông qua Luật tự do 1998, chính sách chính thức của Mỹ mới là buộc Iraq phải tuân theo những trừng phạt của Liên hiệp quốc. Hơn nữa, những chính sách không chính thức của Hoa Kỳ, gồm nỗ lực đảo chính được CIA hậu thuẫn, nhằm lật đổ Saddam Hussein khỏi vị trí quyền lực. Việc George W. Bush được bầu làm tổng thống khiến cho nhiều chính khách cứng rắn được bổ nhiệm vào các chức vụ quan trọng trong việc lập chính sách tại chính phủ mới. Sau những cuộc tấn công khủng bố, việc thay đổi chế độ ở Iraq đã trở thành chính sách chính thức. Hoa Kỳ hối thúc Liên hiệp quốc đưa ra hành động quân sự chống lại Saddam. Tổng thống Mỹ George Bush cho rằng Saddām đã liên tục vi phạm vào Nghị quyết số 16 của Hội đồng Bảo an. Chính phủ Iraq phủ nhận những lời buộc tội của Mỹ. Một đội thanh sát Liên hiệp quốc do chính trị gia Thuỵ Điển Hans Blix dẫn đầu được chấp nhận vào Iraq, báo cáo cuối cùng của họ cho rằng khả năng sản xuất "các vũ khí huỷ diệt hàng loạt" của Iraq không khác biệt nhiều so với năm 1992 khi nước này phá huỷ những kho vũ khí của họ theo những điều quy định của thoả thuận ngừng bắn với các lực lượng Liên hiệp quốc, nhưng không thể xác định chính xác khả năng Saddam vẫn sở hữu Vũ khí huỷ diệt hàng loạt. Hoa Kỳ và Anh Quốc buộc tội Iraq vẫn tàng trữ Vũ khí và phản đối yêu cầu cần thêm thời gian của đội thanh sát vũ khí để điều tra thêm về vụ việc. Nghị quyết 1441 được Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc nhất trí thông qua ngày 8 tháng 11 năm 2002, trao cho Iraq "một cơ hội cuối cùng để thực hiện những yêu cầu giải giáp" từng được các Nghị quyết của Liên hiệp quốc nhiều lần đặt ra, đe doạ "những hậu quả nghiêm trọng" nếu những yêu cầu trên không được thoả mãn. Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc không đưa ra một nghị quyết cho phép sử dụng vũ lực chống lại Iraq. Tháng 3, 2003 Hoa Kỳ và Anh Quốc, với sự hỗ trợ quân sự từ nhiều nước khác xâm chiếm Iraq và lật đổ chế độ độc tài của Saddam Hussein. Liên minh chiếm đóng Iraq Năm 2003, sau cuộc giải phóng của Mỹ và Anh, Iraq bị các lực lượng đồng minh chiếm đóng. Ngày 23 tháng 5 năm 2003, Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc nhất trí thông qua một nghị quyết dỡ bỏ trừng phạt kinh tế chống Iraq. Khi đất nước đang phải gắng sức xây dựng lại sau 3 năm chiến tranh và hàng thập kỷ trừng phạt quốc tế, nó lại bị tàn phá bởi tình trạng bạo lực giữa các nhóm nổi dậy Iraq đang ngày càng lớn mạnh và những lực lượng chiếm đóng. Saddām Hussain, biến mất từ tháng 4 đã bị bắt vào ngày 13 tháng 12 năm 2003. Chính quyền lâm thời ban đầu của Mỹ do ông Jay Garner đứng đầu đã được thay thế vào tháng 5 năm 2003 bởi ông L. Paul Bremer, tới lượt ông này lại được John Negroponte thay thế ngày 19 tháng 4 năm 2004, Negroponte rời Iraq năm 2005. Negroponte là người đứng đầu chính phủ lâm thời cuối cùng của Mỹ tại Iraq. Chủ nghĩa khủng bố xuất hiện và trở thành một mối đe doạ đối với người dân Iraq ngay sau khi cuộc xâm chiếm năm 2003 diễn ra. Al Qaeda hiện đã có mặt tại nước này, dưới hình thức nhiều nhóm khủng bố do Abu Musab Al Zarqawi lãnh đạo. Nhiều chiến binh nước ngoài và những thành viên cũ của đảng Ba'ath cũng gia nhập vào lực lượng nổi dậy, mục tiêu chính của họ là tấn công các lực lượng Mỹ và những người Iraq hợp tác với Mỹ. Vùng hoạt động mạnh nhất của các nhóm nổi dậy là Tam giác Sunni, một vùng có đa số dân người Hồi giáo Sunni ở phía bắc Baghdad. Sự rút quân của liên minh Main article: Iraq thời hậu Saddam Hussein Vài ngày sau những vụ tấn công ngày 11 tháng 3 năm 2004 vào Madrid, chính phủ trước chiến tranh tại Tây Ban Nha sụp đổ. Cuộc chiến bị dân chúng phản đối mạnh mẽ và chính phủ Xã hội lên nắm quyền với cam kết rút quân đội khỏi Iraq. Tiếp sau đó, nhiều quốc gia khác từng tham gia vào Liên minh tự nguyện bắt đầu xem lại vai trò của mình. Hà Lan từ chối đề nghị của Hoa Kỳ giữ quân ở lại Iraq sau ngày 30 tháng 6. Hàn Quốc vẫn giữ quân đội ở lại. Ngay sau những quyết định rút quân vào mùa xuân năm 2004, Cộng hoà Dominica, Honduras, Guatemala, Kazakhstan, Singapore, Thái Lan, Bồ Đào Nha, Philippines, Bulgari, Nicaragua và Ý cũng rút quân hay đưa ra kế hoạch rút quân. Các nước khác (như Australia, Đan Mạch và Ba Lan) tiếp tục giữ quân đồn trú tại Iraq. Ngày 28 tháng 6 năm 2004, thời gian chiếm đóng chính thức chấm dứt khi liên minh do Mỹ đứng đầu chuyển giao quyền lực cho chính phủ lâm thời do Thủ tướng Iyad Allawi lãnh đạo. ngày 16 tháng 7 năm 2004, Philippines rút toàn bộ quân đội khỏi Iraq để thoả mãn những yêu cầu của những kẻ khủng bố đang bắt giữ một công dân Philippine là Angelo de la Cruz làm con tin. Nhiều nước khác cũng đã thông báo những kế hoạch rút quân hay cho rằng họ sẽ xem xét về một kế hoạch như vậy nếu Liên hiệp quốc thông qua một nghị quyết trao thêm chủ quyền cho Iraq. Chính phủ Iraq đã chính thức yêu cầu sự giúp đỡ (ít nhất) từ phía quân đội Mỹ cho tới khi có sự thay đổi khác. Ngày 30 tháng 1 năm 2005, Cuộc bầu cử quốc hội Iraq đã diễn ra. Xem: Bầu cử cơ quan lập pháp Iraq, tháng 1 năm 2005. Tham khảo Xem thêm Iraq Tái thiết Iraq Tổng thống Iraq Thủ tướng Iraq Kurdistan Lịch sử người Kurds Yazidism Lưỡng Hà Huyền thoại Lưỡng Hà Liên kết ngoài history of Iraq The 2003- Iraq War & Archaeology Iraq
212080
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng%20Giang
Đồng Giang
Đồng Giang (chữ Hán giản thể: 同江市, âm Hán Việt: Đồng Giang thị) là một thành phố cấp huyện thuộc địa cấp thị Giai Mộc Tư, tỉnh Hắc Long Giang, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Thành phố Đồng Giang nằm ở đông bắc của Hắc Long Giang, nằm bên hữu ngạn của Tùng Hoa Giang và sông Hắc Long, thành phố này có diện tích 6164 km², dân số 160.000 người. Mã số bưu chính của thành phố Đồng Giang là 156400. Chính quyền nhân dân thành phố đóng tại trấn Đồng Giang. Thành phố này trước đây là một huyện nghèo cấp quốc gia của Trung Quốc. Về mặt hành chính, thành phố Đồng Giang được chia thành 4 trấn, 4 hương và 2 hương dân tộc. Trấn: Đồng Giang, Lạc Nghiệp, Tam Thôn, Lâm Giang. Hương: Hướng Dương, Thanh Hà, Kim Xuyên, Ngân Xuyên. Hương dân tộc Hách Triết Nhai Tân Khẩu, hương dân tộc Hách Triết Bát Xóa. Tham khảo Đơn vị cấp huyện Hắc Long Giang Giai Mộc Tư Lịch sử Triều Tiên Vương quốc Bột Hải Thành phố tỉnh Hắc Long Giang Lịch sử Mãn Châu
796339
https://vi.wikipedia.org/wiki/Champasack%20%28huy%E1%BB%87n%29
Champasack (huyện)
Champasak ( ) là một thị trấn nhỏ nằm ở phía nam Lào, bên bờ tây sông Mekong cách Pakxe, thủ phủ của tỉnh Champasak khoảng 40 km về phía nam. Thị trấn từng có thời là trung tâm của Vương quốc Champasak, một quốc gia độc lập trong Lào nhưng đã bị người Pháp thủ tiêu năm 1945 khi thành lập vương quốc Lào, tuy vậy vị vua cuối cùng của Champasak đóng đô ở Pakxe. Ngày nay thị trấn này vô cùng nhỏ bé, gồm chủ yếu là các nhà nghỉ dọc bờ sông, phục vụ khách du lịch đến thăm tàn tích chùa Wat Phu cách đấy khoảng 10 km. Tham khảo Sơ khai địa lý Lào
782072
https://vi.wikipedia.org/wiki/S%26M%20%28b%C3%A0i%20h%C3%A1t%29
S&M (bài hát)
"S&M" là một bài hát của nghệ sĩ thu âm người Barbados Rihanna nằm trong album phòng thu thứ năm của cô, Loud (2010). Nó được phát hành như là đĩa đơn thứ tư trích từ album ở Hoa Kỳ và thứ ba ở những thị trường khác vào ngày 21 tháng 1 năm 2011 bởi Def Jam Recordings và SRP Records. Bài hát được đồng viết lời bởi hai thành viên Mikkel S. Eriksen và Tor Erik Hermansen thuộc đội sản xuất Stargate, Sandy Vee, Ester Dean và Corey-Jackson Carter, trong khi phần sản xuất được đảm nhiệm bởi Stargate, Vee, Kuk Harrell và Veronika Bozeman. Đây là một bản Hi-NRG và eurodance mang nội dung đề cập đến quan hệ tình dục, khổ dâm và bạo dâm, sự trói buộc cũng như tôn thờ tình dục, trong đó cô gái tự mô tả mình là "hư hỏng" và công khai ca ngợi khả năng tình dục của bản thân, đã dẫn đến việc "S&M" bị chỉnh sửa để phù hợp trên sóng phát thanh bằng việc loại bỏ những từ ngữ không phù hợp và được đổi tên thành "Come On" ở Vương quốc Anh. Một phiên bản phối lại chính thức của bài hát, với sự tham gia góp giọng của Britney Spears đã được phát hành, bên cạnh một phiên bản khác hợp tác với J. Cole. Sau khi phát hành, "S&M" nhận được những phản ứng trái chiều từ các nhà phê bình âm nhạc, trong đó họ đánh giá cao giai điệu sôi động cũng như quá trình sản xuất của nó, mặc dù vấp phải nhiều sự chỉ trích xung quanh nội dung lời bài hát khiêu khích. Tuy nhiên, bài hát đã gặt hái những thành công đáng kể về mặt thương mại, đứng đầu các bảng xếp hạng ở Úc, Canada, Hungary và Ba Lan, và lọt vào top 10 ở hầu hết những quốc gia nó xuất hiện, bao gồm vuơn đến top 5 ở nhiều thị trường lớn như Áo, Bỉ, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Ireland, New Zealand, Na Uy, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Thụy Sĩ và Vương quốc Anh. Tại Hoa Kỳ, bản gốc của "S&M" đạt vị trí thứ hai trên bảng xếp hạng Billboard Hot 100, trước khi nắm giữ vị trí số một trong một tuần sau khi kết hợp doanh số tiêu thụ từ bản phối lại với Spears, trở thành đĩa đơn quán quân thứ mười của Rihanna và thứ năm của Spears, đồng thời tiêu thụ được hơn 4 triệu bản tại đây. Tính đến nay, nó đã bán được hơn 8.3 triệu bản trên toàn cầu, trở thành một trong những đĩa đơn bán chạy nhất mọi thời đại. Video âm nhạc cho "S&M" được đạo diễn bởi Melina Matsoukas, trong đó Rihanna phản ứng lại những lời chê bai từ giới phê bình cũng như thể hiện sự trừng phạt đối với những người từng làm tổn thương cô. Sau khi ra mắt, nó đã ngay lập tức bị cấm chiếu hoặc hạn chế phát sóng ở nhiều quốc gia bởi nội dung không phù hợp, mặc dù được giới chuyên môn khen ngợi bởi sự gợi cảm của nữ ca sĩ và những màu sắc rực rỡ trong video. Ngoài ra, nhiếp ảnh gia David LaChapelle đã đệ đơn kiện Rihanna khi cho rằng nó đã sử dụng và kết hợp nhiều ý tưởng từ những tác phẩm của ông mà không có sự cho phép, và dẫn đến việc cô và LaChapelle phải giải quyết vụ việc ngoài tòa án với một khoản tiền không được tiết lộ. Để quảng bá bài hát, nữ ca sĩ đã trình diễn "S&M" trên nhiều chương trình truyền hình và lễ trao giải lớn, bao gồm Today, The X Factor UK, giải Brit năm 2011 và giải thưởng âm nhạc Billboard năm 2011 (với Spears), cũng như trong nhiều chuyến lưu diễn của cô. Kể từ khi phát hành, bài hát đã xuất hiện trong nhiều tác phẩm điện ảnh và truyền hình, như CSI: Miami, Hawaii Five-0, The Office và Pitch Perfect. Danh sách bài hát Đĩa CD "S&M" – 4:04 "S&M" (Sidney Samson Radio phối lại) – 3:18 Tải kĩ thuật số (phối lại) "S&M" (phối lại) hợp tác với Britney Spears – 4:17 Tải kĩ thuật số (EP) "S&M" – 4:03 "S&M" (Dave Audé Club) – 7:27 "S&M" (Sidney Samson Club) – 6:49 Tải kĩ thuật số (phối lại) "S&M" (Dave Audé Radio) – 3:50 "S&M" (Joe Bermudez Chico Radio) – 3:49 "S&M" (Sidney Samson Radio) – 3:19 "S&M" (Dave Audé Club) – 7:27 "S&M" (Joe Bermudez Chico Club) – 5:17 "S&M" (Sidney Samson Club) – 6:49 "S&M" (Dave Audé Dub) – 6:29 "S&M" (Joe Bermudez Chico Dub) – 5:17 "S&M" (Sidney Samson Dub) – 6:50 Thành phần thực hiện Thành phần thực hiện được trích từ ghi chú của Loud, Def Jam Recordings và SRP Records. Thu âm và phối khí Thu âm tại Roc the Mic Studios ở New York, Westlake Recording Studios ở Los Angeles, California và The Bunker Studios ở Paris, Pháp. Phối khí tại The Bunker Studios ở Paris, Pháp và The Ninja Beat Club ở Atlanta. Thành phần Giọng hát – Rihanna Viết lời – Mikkel S. Eriksen, Tor Erik Hermansen, Sandy Wilhelm, Ester Dean Sản xuất – Stargate, Sandy Vee Sản xuất giọng hát và thu âm – Kuk Harrell, Josh Gudwin, Marcos Tovar Hỗ trợ thu âm – Bobby Campbell Hỗ trợ sản xuất giọng hát – Veronika Bozeman Nhạc cụ – Mikkel S. Eriksen, Tor Erik Hermansen, Sandy Vee Phối khí – Sandy Vee, Phil Tan Kỹ sư – Damien Lewis Giọng nền – Ester Dean Xếp hạng Xếp hạng tuần Xếp hạng cuối năm Chứng nhận Xem thêm Danh sách đĩa đơn bán chạy nhất thế giới Danh sách đĩa đơn quán quân Hot 100 năm 2011 (Mỹ) Tham khảo Liên kết ngoài Bài hát năm 2010 Đĩa đơn năm 2011 Bài hát của Rihanna Bài hát của Britney Spears Đĩa đơn quán quân Billboard Hot 100 Đĩa đơn quán quân Billboard Dance/Mix Show Airplay Đĩa đơn quán quân Billboard Hot Dance Club Songs Đĩa đơn quán quân Billboard Mainstream Top 40 (Pop Songs) Đĩa đơn quán quân Canadian Hot 100 Đĩa đơn quán quân tại Úc Đĩa đơn quán quân tại Hungary Đĩa đơn quán quân tại Israel Đĩa đơn quán quân tại Ba Lan Đĩa đơn quán quân UK R&B Singles Chart Bài hát sản xuất bởi Kuk Harrell Bài hát nhạc dance-pop Bài hát về BDSM Bài hát về tình dục Video âm nhạc do Melina Matsoukas đạo diễn
684228
https://vi.wikipedia.org/wiki/Bicilia
Bicilia
Bicilia là một chi bướm đêm thuộc họ Crambidae. Chú thích Tham khảo Asciodini
921790
https://vi.wikipedia.org/wiki/Amblycerus%20flavidus
Amblycerus flavidus
Amblycerus flavidus là một loài bọ cánh cứng trong họ Bruchidae. Loài này được Chevrolat miêu tả khoa học năm 1877. Chú thích Tham khảo Amblycerus
236478
https://vi.wikipedia.org/wiki/Chi%20Ng%E1%BB%97ng
Chi Ngỗng
Chi Ngỗng (danh pháp khoa học: Anser) bao gồm các loài ngỗng xám và ngỗng trắng. Nó thuộc về phân họ chứa các loài ngỗng thật sự và thiên nga, với tên khoa học gọi là Anserinae. Chi này có sự phân bố ở Bắc bán cầu, với ít nhất 1 loài sinh sản tại bất kỳ môi trường sinh sống ẩm ướt và thưa cây cối cận Bắc cực và ôn đới lạnh của Bắc bán cầu về mùa hè. Một vài loài còn sinh sản xa hơn về phía nam, đạt tới vùng ôn đới ấm. Chúng chủ yếu di trú về phía nam khi mùa đông tới, thông thường là tới các khu vực vùng ôn đới có đường đẳng nhiệt trong tháng 1 nằm trong khoảng từ 0 °C (32 °F) tới 5 °C (41 °F). Tên gọi của chúng là ngỗng hay nhạn, với tên gọi nhạn (雁) là sự vay mượn từ tiếng Trung, đặc biệt sử dụng nhiều trong văn chương. Chi này hiện nay được coi là chứa 10 loài còn sinh tồn. Loài có kích thước lớn nhất là ngỗng xám cân nặng 2,5-4,1 kg (5,5-9 pao) và nhỏ nhất là ngỗng Ross chỉ nặng 1,2-1,6 kg. Tất cả các loài có chân màu hồng hay da cam và mỏ màu hồng, da cam hay đen. Chúng có lông bụng và mặt trên lông đuôi màu trắng, một số loài có các vệt màu trắng trên đầu. Cổ, thân, cánh có màu xám hay trắng, với lông bay chính (và thông thường cả lông bay phụ) màu đen hay ánh đen. Các loài ngỗng "đen" có quan hệ họ hàng gần, thuộc chi Branta, khác chúng ở chỗ có chân đen và bộ lông nói chung sẫm màu hơn. Hệ thống, phân loại và tiến hóa Các loài còn sinh tồn Ngỗng thiên nga hay nguyên nga, hồng nhạn, đại nhạn: Anser cygnoides – đôi khi tách ra thành chi Cygnopsis Ngỗng đậu hay hồng, mạch nga, đậu nhạn, đại nhạn: Anser fabalis. Năm 2007, AOU tách ra thành 2 loài khác biệt là: Ngỗng đậu taiga: Anser (fabalis) fabalis hay Anser fabalis nghĩa hẹp (sensu stricto). Ngỗng đậu tundra: Anser (fabalis) serrirostris hay Anser serrirostris. Ngỗng chân hồng: Anser brachyrhynchus Ngỗng ngực trắng: Anser albifrons Ngỗng ngực trắng Greenland: Anser (albifrons) flavirostris Ngỗng ngực trắng nhỏ: Anser erythropus Ngỗng xám hay ngỗng xám, hôi nhạn, sa nga, sa nhạn: Anser anser Ngỗng Ấn Độ hay ngỗng đầu vạch kẻ, ban đầu nhạn, bạch đầu nhạn: Anser indicus – đôi khi tách ra thành chi Eulabeia Ngỗng tuyết, tuyết nhạn, khảo nhạn, bạch nhạn: Anser caerulescens - đôi khi tách ra thành chi Chen Ngỗng Ross: Anser rossii – đôi khi tách ra thành chi Chen Ngỗng hoàng đế, đế nhạn, hoàng nhạn: Anser canagicus – đôi khi tách ra thành chi Chen hay chi Philacte Nhóm ngỗng trắng đôi khi tách ra thành chi Chen, với 1 loài trong đó đôi khi tách ra thành chi Philacte. Chúng không thể phân biệt về mặt giải phẫu, nhưng có một vài chứng cứ về dòng dõi khác biệt trong lượng giá các dữ liệu phân tử. Trong khi phần lớn các công trình nghiên cứu điểu học theo truyền thống đều gộp chi Chen vào trong chi Anser, thì Hiệp hội các nhà điểu học Hoa Kỳ (AOU) và IUCN lại tách chúng riêng ra. Một vài tác giả lại coi một số phân loài như là các loài tách biệt (đáng chú ý là ngỗng đậu tundra) hay như là các "loài" mà có lẽ sẽ tách ra trong tương lai (đáng chú ý là ngỗng ngực trắng Greenland). Hóa thạch Hàng loạt các loài hóa thạch đã được định vị vào chi này. Do các loài ngỗng thật sự gần như không thể gán bằng cách nghiên cứu xương vào chi này nên điều đó cần phải xem xét với sự cẩn trọng. Có thể thừa nhận với độ chắc chắn hạn chế rằng các hóa thạch ở châu Âu từ các khu vực đã biết trong lục địa là thuộc về chi Anser. Do loài liên quan tới ngỗng Canada đã được mô tả từ Hậu Miocen trở đi tại Bắc Mỹ, đôi khi là từ cùng các vị trí như loài ngỗng xám (giả định), nó đưa ra sự nghi vấn lớn về sự chính xác của việc gán theo di truyền đối với vị trí của hóa thạch "ngỗng" giả định ở Bắc Mỹ. Loài từ Tiền Pliocen Branta howardae là một trong các trường hợp trong đó các nghi vấn được thể hiện về sự gán ghép theo di truyền của nó. Tương tự, Heterochen = Anser pratensis dường như khác biệt rõ rệt từ các loài khác trong chi Anser và có lẽ nên đặt trong chi khác; nói cách khác, nó có thể là ví dụ duy nhất về ngỗng xám đã thích nghi với việc đậu trên cây. Short (1970) cho rằng loài chim này hơi giống các loài ngỗng, thiên nga, vịt khoang và "Cairinini" hay "vịt đậu cây". Nhóm cuối cùng này đã biết như là một tổ hợp cận ngành với các loài thủy điểu với các tương tự hình thái của chúng là sản phẩm của tiến hóa hội tụ về phía có khả năng đậu trên cây. Anser atavus (Trung/Hậu Miocen ở Bavaria, Đức) – đôi khi trong chi Cygnus Anser arenosus (Big Sandy Hậu Miocen ở Wickieup, Hoa Kỳ) Anser arizonae (Big Sandy Hậu Miocen ở Wickieup, Hoa Kỳ) Anser cygniformis (Hậu Miocen ở Steinheim, Đức) Anser oeningensis (Hậu Miocen ở Oehningen, Thụy Sĩ) Anser thraceiensis (Hậu Miocen/Tiền Pliocen ở Trojanovo, Bulgaria) Anser pratensis (Valentine Tiền Pliocen ở quận Brown, Hoa Kỳ) – có thể tách ra để đặt vào chi Heterochen Anser pressus (Glenns Ferry Hậu Pliocen ở Hagerman, Hoa Kỳ) – trước đây là Chen pressa Anser thompsoni (Pliocen ở Nebraska) Anser azerbaidzhanicus (Tiền? Pleistocen ở Binagady, Azerbaijan) Loài thiên nga ở Malta (Cygnus equitum) đôi khi cũng được đặt trong chi Anser, và Anser condoni là từ đồng nghĩa của Cygnus paloregonus. Mẫu hóa thạch "ngỗng" từ Tiền-Trung Pleistocen ở El Salvador là khá giống với Anser. Xương cánh trái (mẫu vật MUHNES 2SSAP30-853) và xương đòn trái (mẫu vật MUHNES 2SSAP30-545), dường như là của một con chim. Với niên đại của nó thì dường như nó thuộc về chi đang có loài sinh tồn và địa sinh học chỉ ra rằng Branta cũng có thể là một ứng viên khác. ?Anser scaldii (Hậu Miocen ở Antwerp, Bỉ) có thể là vịt khoang. Sinh thái học Các loài ngỗng chủ yếu là động vật ăn cỏ ở các vùng đất lầy lội, với khả năng bơi lội tốt nhờ các chân màng, mặc dù chúng cũng tích cực gặm cỏ tại các vùng đất khô. Khi kiếm ăn trong nước, chúng thường lặn cắm đầu xuống để tìm kiếm các loại cỏ mọc ngầm dưới nước. Các cặp sinh sản thường là chung sống cả đời. Tổ của chúng thường gần với ao hồ hay các nguồn nước khác, phổ biến nhất trên các đảo nhỏ để có sự bảo vệ tốt hơn trước những loài thú ăn thịt, nhưng một số loài cũng làm tổ trên các vách đá hay núi đá dốc và lởm chởm, gần với mặt nước, hặc đôi khi là các lỗ trên thân cây. Tổ được lót khá dày bằng lông vũ mềm, được con mẹ rỉa ra từ ngực và bụng nó. Mỗi lần chúng đẻ từ 3 tới 8 trứng và ấp trong vòng 21-30 ngày. Ngỗng non được cả ngỗng bố lẫn ngỗng mẹ dẫn xuống nước để kiếm ăn trong ao hồ hay trên mặt đất gần với bờ ao hồ nơi mà chúng có thể nhanh chóng rút lui nếu bị đe dọa; cả ngỗng bố lẫn ngỗng mẹ đều rất hung hãn trong việc bảo vệ các con của chúng. Ngỗng con được ngỗng bố mẹ nuôi trong vòng 40-60 ngày. Ngỗng non thuần thục sinh học khoảng sau 2 năm tuổi và đôi khi có thể sinh sản ở tầm tuổi này, nhưng nói chung chúng không sinh đẻ cho tới khi đạt 3-4 năm tuổi. Kích thước cơ thể, kích thước mỏ, tốc độ phát triển và chiến lược di trú tùy thuộc mạnh theo từng loài, với các loài nhỏ hơn sinh sản trong khu vực cận kề Bắc cực và các loài to lớn hơn trong khu vực ôn đới; các loài nhỏ hơn cũng có mỏ nhỏ hơn và con của chúng phát triển nhanh hơn trong mùa hè ngắn ngủi ở vùng Bắc cực. Các loài nhỏ hơn này cũng di cư xa hơn về phía nam tới các khu vực ấm áp trong mùa đông, trong khi các loài to lớn hơn, do có khả năng chịu đựng tốt hơn trước băng tuyết, chỉ di trú ở khoảng cách ngắn. Một vài quần thể ngỗng xám là định cư, nói chung chúng không di trú. Vì thế các loài chi này tuân theo quy tắc Bergmann dựa trên khả năng thích ứng trú qua đông chứ không phải sự thích ứng sinh sản của chúng. Các cặp sinh sản nói chung có xu hướng giữ lãnh thổ khá mạnh, cụ thể là chúng bảo vệ lãnh thổ kiếm ăn cho các con của chúng, nhưng chúng cũng có thể tạo thành các bầy đàn sinh sản có kích thước đáng kể, cụ thể là ở ngỗng chân hồng. Tất cả các loài có thể sống thành bầy ở các mức độ khác nhau trong mùa đông, khi chúng có thể tạo ra các bầy rất lớn (chẳng hạn tới 800.000 ngỗng tuyết chỉ cư ngụ tại một chỗ) ăn các loại cây trồng và gốc rạ. Quan hệ với con người và tình trạng bảo tồn Hai loài trong chi này có tầm quan trọng thương mại lớn, do chúng đã được thuần hóa để trở thành ngỗng nhà. Đó là ngỗng nhà châu Âu được thuần hóa từ ngỗng xám và ngỗng nhà châu Á cùng một vài giống ngỗng nhà châu Phi có ngồn gốc từ ngỗng thiên nga. Phần lớn các loài ngỗng hoang bị săn bắn ở các phạm vi và mức độ khác nhau; tại một số khu vực, một vài quần thể là nguy cấp do săn bắn thái quá. Đáng chú ý có ngỗng ngực trắng nhỏ được IUCN liệt kê như là dễ thương tổn trong cả vùng phân bố của nó. Do săn bắn thái quá và do sự phá hủy môi trường sống quá mạnh nên quần thể ngỗng thiên nga hiện nay đang trên đà tuyệt chủng và nó được liệt kê như là loài nguy cấp. Các loài ngỗng khác được hưởng lợi từ sự giảm xuống của việc săn bắn kể từ cuối thế kỷ 19/đầu thế kỷ 20, với các loài ở Tây Âu và Bắc Mỹ có sự gia tăng số lượng đáng kể. Trong một số trường hợp, điều này mâu thuẫn với lợi ích của nông dân khi các bầy lớn ăn trụi các loại cây trồng vào mùa đông. Tham khảo và ghi chú Ngỗng, chi
455343
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C3%88vres
Èvres
Èvres là một xã thuộc tỉnh Meuse trong vùng Lorraine đông nam nước Pháp. Xã này nằm ở khu vực có độ cao trung bình 250 mét trên mực nước biển. Tham khảo Xã của Meuse
921850
https://vi.wikipedia.org/wiki/Amblycerus%20scutellaris
Amblycerus scutellaris
Amblycerus scutellaris là một loài bọ cánh cứng trong họ Bruchidae. Loài này được Sharp miêu tả khoa học năm 1885. Chú thích Tham khảo Amblycerus
861603
https://vi.wikipedia.org/wiki/20817%20Liuxiaofeng
20817 Liuxiaofeng
20817 Liuxiaofeng (2000 TT50) là một tiểu hành tinh vành đai chính được phát hiện ngày 1 tháng 10 năm 2000 bởi Nhóm nghiên cứu tiểu hành tinh gần Trái Đất phòng thí nghiệm Lincoln ở Socorro. Tham khảo Liên kết ngoài JPL Small-Body Database Browser ngày 20817 Liuxiaofeng Tiểu hành tinh vành đai chính Thiên thể phát hiện năm 2000
841379
https://vi.wikipedia.org/wiki/W%C3%BCrttemberg-Baden
Württemberg-Baden
Württemberg-Baden là một bang cũ của Cộng hòa Liên bang Đức, thủ phủ là thành phố Stuttgart. Bang được tạo ra vào năm 1945 bởi lực lượng Hoa Kỳ chiếm đóng, sau khi các tiểu bang trước đó là Baden và Württemberg đã được chia ra giữa Mỹ và các khu vực chiếm đóng của Pháp. Năm 1952, Württemberg-Baden sáp nhập với Württemberg-Hohenzollern và Baden vào bang hiện nay Baden-Württemberg. Lịch sử Württemberg-Baden bao gồm phần nửa phía bắc của những tiểu bang trước đây Württemberg và Baden. Biên giới phía nam của phần này của khu vực quản lý của Mỹ đã được thiết lập để Autobahn (đường cao tốc) kết nối Karlsruhe và München (ngày nay là A8) nằm hoàn toàn trong khu vực Mỹ. Ba phân khu chính của khu vực Mỹ - Đại Hesse, Bayern và Württemberg-Baden được tuyên bố vào ngày 19 tháng 9 năm 1945. Ngày 24 tháng 11 năm 1946 một hiến pháp mới được ban hành, và quốc hội đầu tiên của Württemberg-Baden được bầu. Với sự hình thành của Cộng hòa Liên bang Đức thông qua ngày 23 tháng năm 1949, Württemberg-Baden trở thành một thành viên sáng lập. Một cuộc bỏ phiếu thử được tổ chức vào ngày 24 tháng 9 năm 1950 tại Württemberg-Baden, Württemberg-Hohenzollern và Baden về một sự hợp nhất của ba tiểu bang, theo sau một cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức vào ngày 16 tháng 12 năm 1951. Trong cả hai lần, các cử tri trong Württemberg-Baden bỏ phiếu với đa số rõ ràng ủng hộ việc sáp nhập chung. Tất cả ba bang sáp nhập vào bang của Đức hiện đại Baden-Württemberg, được thành lập vào ngày 25 tháng 4 năm 1952. Tham khảo Bang của Đức Chấm dứt năm 1952 ở Tây Đức
783280
https://vi.wikipedia.org/wiki/Opetiophora
Opetiophora
Opetiophora là một chi ruồi trong họ Chloropidae. Tham khảo Europe Nearctic Chloropidae
912124
https://vi.wikipedia.org/wiki/Simodactylus%20guttatus
Simodactylus guttatus
Simodactylus guttatus là một loài bọ cánh cứng trong họ Elateridae. Loài này được Candèze miêu tả khoa học năm 1878. Chú thích Tham khảo biologie|2011|11|13}} Simodactylus
551077
https://vi.wikipedia.org/wiki/Merrilliobryum%20fabronioides
Merrilliobryum fabronioides
Merrilliobryum fabronioides là một loài rêu thuộc họ Myriniaceae. Đây là loài đặc hữu của Philippines. Môi trường sống tự nhiên của chúng là rừng khô nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Chúng hiện đang bị đe dọa vì mất môi trường sống. Chú thích Tham khảo Bryophyte Specialist Group 2000. Merrilliobryum fabronioides. 2006 IUCN Red List of Threatened Species. Truy cập 22 tháng 8 năm 2007. Thực vật Philippines Merrilliobryum
137068
https://vi.wikipedia.org/wiki/Xu%C3%A2n%20Ng%E1%BB%8Dc
Xuân Ngọc
Xuân Ngọc là một xã thuộc trung tâm của huyện Xuân Trường tỉnh Nam Định. Kinh tế Tình hình kinh tế của xã phát triển rất mạnh trong vòng mấy năm trở lại đây. Nghề chủ yếu vẫn là nông nghiệp nhưng bên cạnh đó có các ngành nghề khác:hàng thêu thủ công xuất khẩu sang nước ngoài. Và những công ty mới đầu tư vào khu vực xã đã giải quyết vấn đề việc làm cho thanh niên trong và ngoài xã. Địa danh nổi tiếng Nhà thờ Bùi Chu Nhà thờ Liên Thủy, cổ kính với liên đại hơn 100 năm. Cô nhi viện Thánh An, nơi nhận nuôi dưỡng trẻ em tàn tật, bị bỏ rơi vá những người già neo đơn...từ khắp mọi nơi. Nhà thờ giáo họ Phú An thuộc xứ Trung Linh, nhà thờ Phú An khánh thành ngày 21 tháng 11 năm 2007, Nhà thờ có kiến trúc độc đáo, phong trào đoàn hội ở đây rất mạnh đặc biệt là giới trẻ. Tham khảo
700304
https://vi.wikipedia.org/wiki/Mirandaphera
Mirandaphera
Mirandaphera là một chi ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển trong họ Cancellariidae. Các loài Các loài trong chi Mirandaphera gồm có: Mirandaphera arafurensis (Verhecken, 1997) Mirandaphera cayrei Bouchet & Petit, 2002 Mirandaphera maestratii Bouchet & Petit, 2002 Mirandaphera tosaensis (Habe, 1961a) Chú thích Tham khảo Cancellariidae
916652
https://vi.wikipedia.org/wiki/Cephaloleia%20zikani
Cephaloleia zikani
Cephaloleia zikani là một loài bọ cánh cứng trong họ Chrysomelidae. Loài này được Uhmann miêu tả khoa học năm 1935. Chú thích Tham khảo Cephaloleia
648962
https://vi.wikipedia.org/wiki/Lycophotia
Lycophotia
Lycophotia là một chi bướm đêm thuộc họ Noctuidae. Các loài tiêu biểu Lycophotia cissigma (Ménétriés, 1859) Lycophotia erythrina (Herrich-Schäffer, [1852]) Lycophotia molothina (Esper, 1789) Lycophotia phyllophora (Grote, 1874) Lycophotia porphyrea - True Lover's Knot ([Schiffermüller], 1775) Lycophotia velata (Staudinger, 1888) Chú thích Tham khảo Natural History Museum Lepidoptera genus database Lycophotia at funet Noctuinae
662021
https://vi.wikipedia.org/wiki/Mirosternus%20vestitus
Mirosternus vestitus
Mirosternus vestitus là một loài bọ cánh cứng thuộc họ Ptinidae. Chú thích Tham khảo vestitus
957679
https://vi.wikipedia.org/wiki/Hexatoma%20saturata
Hexatoma saturata
Hexatoma saturata là một loài ruồi trong họ Limoniidae. Chúng phân bố ở miền Tân bắc. Liên kết ngoài Tham khảo Hexatoma Limoniidae ở vùng Nearctic
410980
https://vi.wikipedia.org/wiki/Sulzfeld%20am%20Main
Sulzfeld am Main
Sulzfeld am Main là một đô thị thuộc huyện Kitzingen trong bang Bayern của nước Đức. Tham khảo
87160
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%81n%20B%E1%BA%BFn%20D%C6%B0%E1%BB%A3c
Đền Bến Dược
Đền tưởng niệm Bến Dược - Củ Chi hay còn gọi ngắn gọn là Đền Bến Dược là khu vực tưởng niệm những anh hùng của Việt Minh và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong Chiến tranh Đông Dương và Chiến tranh Việt Nam tọa lạc tại huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. Ngôi đền nằm trong không gian của địa đạo Củ Chi. Lịch sử Đền được khởi công vào ngày 19 tháng 5 năm 1993 nhân kỷ niệm ngày sinh lần thứ 103 của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên một vùng đất rộng 7 ha trong quần thể của khu di tích lịch sử địa đạo Củ Chi. Đền khánh thành giai đoạn 1 vào ngày 19 tháng 12 năm 1995 và bắt đầu đón khách trong và ngoài nước đến tưởng niệm. Đền chọn ngày 19 tháng 12 làm ngày lễ chính thức của đền. Về phong thủy, đền nằm trên một thế đất cực đẹp của vùng Củ Chi. Hiện là đền tưởng niệm lớn nhất Việt Nam. Kiến trúc Cổng tam quan Được thiết kế theo phong cách cổ truyền của dân tộc với các hàng cột tròn, trên lợp ngói âm dương. Cổng có hoa văn, họa tiết, mái cong của những cổng đình làng nhưng được cách tân bởi những vật liệu mới. Chính giữa cổng tam quan là biển đề: Đền Bến Dược và trên các thân cột là những câu đối của nhà thơ Bảo Định Giang: Trải tấm lòng son vì đất nước, Đem dòng máu đỏ giữ quê hương Lòng biết công ơn nhang thơm một nén Đời còn bóng dáng sao sáng ngàn năm Nhà văn bia Là một nhà vuông có hai mái, lợp ngói, ở giữa đặt một tấm bia đá cao 3m, ngang 1,7m, dày 0,25m, nặng 3,7 tấn. Tấm bia đá này được lấy từ khối đá nặng 18 tấn ở Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) và được các nghệ nhân đẽo gọt, chạm khắc những hoa văn độc đáo của dân tộc. Tấm bia đá khắc bài thơ của Viễn Phương, đây được xem là bản hùng ca về đất và người Củ Chi vực dậy lòng tự hào dân tộc, tự hào về quá khứ hào hùng của cha anh. Bản hùng ca giáo dục thế hệ trẻ với ngôn từ giàu sức biểu cảm, hào hùng và là một trong những bài văn bia được rất nhiều du khách khi đến nơi đều ghi chép lại. Nội dung bài văn bia: Vùng đất sáng ở Miền Nam Tổ quốc, nửa tiếp Trường Sơn, nửa nối đồng bằng. Chống xâm lăng từ Trương Định, Trương Quyền, máu dũng sĩ chảy tràn sông suối. Thuở đất nước đắm chìm trong tăm tối, Nguyễn Tất Thành tím ruột xót non sông, tìm hướng tương lai, khói phủ Bến Nhà Rồng. Tiếng máy chém đầu văng trong ánh thép, nhân dân quằn quại dưới xiềng gông, đạn bom rơi xác ngã chất chồng, người chết không yên, tan mồ nát mả. Giặc quyết đẩy dân ta lùi về thời đồ đá. Tiếng Bác Hồ: "Dù đốt cháy dãy Trường Sơn..." Muôn triệu trái tim sôi sục căm hờn. Đôi tay yếu mẹ đẩy lùi máy chém, tấm thân gầy mẹ cản xích xe tăng. Nước mắt chảy vào tim mẹ tiễn con ra trận. "Không có gì quý hơn độc lập tự do" lớp lớp lên đường.Tuổi trẻ! Tuổi anh hùng như đại bàng vỗ cánh "Đâu có giặc là ta cứ đi!" Thành phố Sài Gòn, vì sao lấp lánh: Thề chết đứng chẳng sống quỳ. Những đoàn quân đẹp tợ thiên thần, đạp đỉnh Trường Sơn, vượt sông Cửu Long tiến về Thành phố.Đêm lảnh lót tiếng ca quan họ, nghe ngọt ngào điệu hát cải lương, họ mái đẩy ngân nga dìu dặt, giọng bài chòi tha thiết nhớ thương. Mừng họp mặt bốn phương dũng sĩ, quê hương ta ra ngõ gặp anh hùng.Lính chủ lực về quê mình làm du kích. Cả nước vì Sài Gòn vì cả nước quyết hy sinh.Moi ruột đất ẩn sâu vào lòng đất, trái tim thành chiến hào, ánh mắt hóa vì sao, bàn tay thành lưỡi kiếm.Vũ khí thô sơ ngựa trời, mìn gạt, địa đạo dài theo thế trận lòng dân, du kích lập vành đai diệt Mỹ, bắn tỉa ngày đêm xuất quỷ nhập thần.Biệt động Thành đánh giữa Sài Gòn, tàu chiến sân bay, kho xăng bốc nổ - lòng dân lửa dậy, ngày xuống đường, đêm không ngủ, đạp rào gai, che họng súng, liều thân mình cho Tổ quốc tồn sinh. Lũ giặc nước kinh tâm, bom tấn, pháo bầy, thần sấm, con ma, B52 rãi thảm.Thần, người căm giận. Ầm, Ầm chiến dịch Hồ Chí Minh. Như bão gầm, như thác lũ, dũng tướng, tinh binh, bạt núi, san đèo, tiến về Thành phố. Rạp trời cờ đỏ Trúc chẻ ngói tan Quét sạch hung tàn Quê hương giải phóng Chiến thắng lớn từ hy sinh to lớn. Ai đếm khăn tang, ai đong máu chiến trường? Con của mẹ ra đi không bao giờ trở lại, mẹ khóc mỗi hoàng hôn...chim bay về núi tối rồi. Máu hồng toả hương chính khí Nhân kiệt làm nên địa linh. Đất nước lớn vì nhân dân anh hùng, Nhân dân lớn vì tấm lòng yêu nước. Người đang sống nhớ thương người đã khuất, Khắc đá làm bia dựng giữa đất trời. Những anh liệt như ngàn sao tỏa sáng, Đời đời sau chiếu mãi giữa tim người. Đền chính Kiến trúc mang dáng dấp đền đài cổ của Việt Nam. Điện thờ bố trí theo hình chữ U: trung tâm là bàn thờ tổ quốc trang nghiêm được bố trí theo kiểu đình Việt Nam. Chính giữa có tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh, phía trên ghi: Vì nước quên mình. Tổ quốc ghi công Đời đời ghi nhớ. Tả, hữu là hai hương án thờ các bậc tiền hiền tiên liệt và đồng bào, chiến sĩ đã hy sinh, chưa tìm được tên. Hai bên là 2 bức tượng rùa đội hạc oai nghiêm và linh thiêng. Dọc theo các bậc tường bên trái là tên liệt sĩ khối dân chính Đảng, các bậc tường bên phải là tên liệt sĩ lực lượng võ trang. Đây được xem là nơi ghi danh sách các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống, hy sinh vì đất nước cùng tụ hội về đây. Có tất cả 44.752 tên anh hùng liệt sĩ được tạc tại gian chính điện cùng phối thờ. Trong đó có: 43.777 liệt sĩ, 11 vị lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam, 42 vị Anh Hùng LLVT, 975 Bà mẹ Việt Nam Anh Hùng. Số Liệu tính đến thời điểm ngày 14/12/2012. Phía bên phải chính điện có để một bộ ngũ liên trống, bên trái là một cái Đại hồng chung. Tháp chín tầng Thể hiện cho sự vươn lên đỉnh cao trong tương lai. Tháp có 9 tầng cao 39m, trên vách tháp có nhiều hoa văn, phù điêu thể hiện cuộc sống và chiến đấu của nhân dân Củ Chi Đất thép thành đồng. Hoa viên Hoa viên rộng lớn là nơi sinh hoạt dã ngoại, và là không gian xanh của khu di tích. Tượng Biểu tượng Hồn Thiêng Đất Nước là tượng đài cao 16m, nặng 243 tấn, được làm bằng đá granit đặt giữa vườn hoa mặt hướng ra sông Sài Gòn. Biểu tượng được thể hiện qua hình tượng một giọt nước mắt, khái quát về sự đau thương mất mát của bao thế hệ người Việt Nam đã chiến đấu hy sinh để giữ gìn đất nước. Tầng hầm Tầng hầm của đền có 9 không gian, với chủ đề Sài Gòn Chợ Lớn kiên cường bất khuất, thể hiện lại các sự kiện tiêu biểu trong giai đoạn chiến tranh của quân và dân trong vùng tam giác sắt nói riêng và dân tộc Việt Nam nói chung chống lại cuộc chiến tranh phi nghĩa của đế quốc và bọn tay sai. Các sự kiện ấy được tái hiện sinh động bằng những bức tranh hoành tráng, tượng, sa bàn, hiện vật, mô hình sân khấu hóa, các loại hình nghệ thuật kiến trúc, điêu khắc... Tranh gốm Bức tranh gốm này gồm 3 tấm, ốp trên tường mặt ngoài của đền Bến Dược (Củ Chi) vào tháng 8/2001. Tác phẩm do các giảng viên - họa sĩ trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện qua ba bức tranh tường hoành tráng, ca ngợi lịch sử khai phá, xây dựng và bảo vệ vùng đất Sài Gòn - Gia Định từ xưa đến ngày đại thắng mùa xuân 1975. Tranh được ghép bởi các viên gạch gốm kích thước 20 x 20 cm và 10 x 10 cm. Bức thứ nhất diễn tả nội dung "Dân khai hoang, Thần lập xứ", thể hiện 5 chương: chương thứ nhất: đấu tranh với thiên nhiên trong quá trình chinh phục miền đất mới; chương thứ hai là khai hoang; chương thứ ba: ở giữa là người có công mở đất: Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh, bên phải mô tả sinh hoạt kinh tế: xây thành, lập chợ…, bên trái là sinh hoạt văn hóa như: đám rước, múa lân; chương thứ tư là thành quả trong cuộc sống và chương thứ năm là đấu tranh chống xâm lược. Bức này do 3 giảng viên của trường Đại học Mỹ thuật sáng tác và thi công: Nguyễn Trung Tín, Nguyễn Đức Hòa, Nguyễn Quang Cảnh. Bức thứ hai thể hiện nội dung "Sức tiếp sức chống xâm lăng", tác phẩm này cũng thể hiện năm nội dung: đường Hồ Chí Minh trên biển, chi viện từ hậu phương lớn, xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, lớp lớp thanh niên lên đường, chi viện tại chỗ: miền núi, Tây Nguyên, đồng bằng. Chi viện từ trong lòng địch và cuối cùng là hoạt động nội thành. Tác phẩm này do các họa sĩ: Lê Đàn, Phan Hoài Phi, Phan Phương Trực, Nguyễn Xuân Đông, Đỗ Mạnh Cường thể hiện. Bức cuối cùng thể hiện hai giai đoạn lịch sử. Phần một "Nhân dân ta bị đô hộ áp bức", phần hai là "Đoàn kết, đấu tranh giành thắng lợi". Tác phẩm này do ba giảng viên thực hiện đó là họa sĩ Hoàng Trầm, Nguyễn Quang Vinh, Nguyễn Huy Khôi. Để hoàn thành bức tranh gốm lớn nhất này các họa sĩ đã làm việc liên tục bốn năm với hàng trăm phác thảo, thể hiện trên giấy theo tỷ lệ 1/1, rồi lại thể hiện lên gạch gốm sau đó tô màu, rồi phơi cho khô màu và đem bỏ lò nung thử nghiệm nhiều lần tại lò gốm của ông Nguyễn Hải Bằng, xã Phú Mỹ, tỉnh Bình Dương. Tham khảo Liên kết ngoài Trang chủ Xem thêm Địa đạo Củ Chi Nghĩa trang và khu tưởng niệm Chiến tranh Việt Nam Củ Chi
785270
https://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0%20th%E1%BB%9D%20ch%C3%ADnh%20t%C3%B2a%20Th%C3%A1nh%20Paul%2C%20Lu%C3%A2n%20%C4%90%C3%B4n
Nhà thờ chính tòa Thánh Paul, Luân Đôn
Nhà thờ Thánh Phao-lô (St Paul's Cathedral) là một nhà thờ chính tòa Anh giáo nổi tiếng tại nước Anh. Giáo đường khổng lồ này tọa lạc trên đồi Ludgate, nơi cao nhất tại thành phố Luân Đôn. Nơi đây đã có nhà thờ đầu tiên để dâng hiến Thánh Phaolô Tông đồ từ năm 604. Tòa nhà hiện nay có niên đại từ cuối thế kỷ 17, được thiết kế theo phong cách Baroque Anh bởi kiến trúc sư Sir Christopher Wren. Được hoàn thành lúc Wren còn tại thế, là một phần của một chương trình tái thiết lớn diễn ra tại thành phố sau Đại hỏa hoạn Luân Đôn 1666. Thực tế đã có 5 nhà thờ St. Paul và tất cả đều nằm trên đồi Ludgate. Nhà thờ là một trong những điểm tham quan nổi tiếng nhất và dễ nhận biết nhất của Luân Đôn, với mái vòm đặc trưng, cao 111 m và là công trình cao nhất Luân Đôn trong 300 năm từ năm 1710 đến năm 1962, và mái vòm của nhà thờ cũng là một trong những vòm cao nhất trên thế giới. Về diện tích, Nhà thờ Thánh Phao-lô là nhà thờ lớn thứ hai ở Vương quốc Liên hiệp Anh và chỉ đứng sau nhà thờ chính tòa Liverpool. Nhà thờ Thánh Phaolô giữ một vị trí quan trọng trong bản sắc dân tộc của người dân Anh. Đây là chủ đề trung tâm của nhiều tài liệu quảng cáo, cũng như hình ảnh bưu thiếp của mái vòm đứng trên cao, bao quanh bởi khói và lửa trong cuộc oanh kích Blitz Thế chiến thứ II. Rất nhiều sự kiện quan trọng đã xảy ra tại đây bao gồm đám tang của Tử tước Nelson, công tước Wellington và Winston Churchill, Margaret Thatcher, Lễ kỷ niệm cho Victoria của Anh, dịch vụ hòa bình đánh dấu sự kết thúc của chiến tranh thế giới thứ nhất và thứ hai, lễ tạ ơn cho sinh nhật lần thứ 80 và Đại lễ kim cương của nữ hoàng Elizabeth II. Thông thường các gia đình hoàng gia thường tổ chức các lễ cưới và đám tang ở Tu viện Westminster, nhưng hoàng tử Charles và công nương Diana Spencer đã tổ chức lễ cưới hoàng gia tại đây. Nhà thờ St Paul là một nhà thờ nhiều hoạt động, với các buổi cầu nguyện hàng giờ và dịch vụ hàng ngày. Thiết kế và xây dựng Những bản thiết kế: Nhiệm vụ thiết kế và xây dựng nhà thờ được giao cho kiến trúc sư Christopher Wren vào ngày 30 tháng bảy, năm 1669. Ông đã thiết kế hơn 50 nhà thờ tại nước Anh. Christopher Wren bắt đầu trùng tu nhà thờ trước trận Đại hỏa hoạn năm 1666. Wren đã thiết kế rất nhiều bản vẽ cho chiếc mái mái vòm giữa nhà thờ để thay thế cái tháp chuông cũ và tu bổ lại nội thất trong nhà thờ vào năm 1630. Mặt tiền của nhà thờ được kiến trúc sư Inigo Jones thiết kế. Việc thiết kế của nhà thờ phải trải qua 5 giai đoạn. Ở giai đoạn đầu, nhà thờ được hình thành qua một mô hình và một bản vẽ. Bản vẽ này thường được gọi là Thiết kế đầu tiên, thiết kế này trông có vẻ như Đền Pantheon ở Roma và được nối liền với một tòa nhà nhỏ ở sau để chứa hàng ghế của dàn hợp xướng. Bản vẽ này đả bị phản đối vì nó không được đẹp lắm. Bản vẽ thứ hai dựa trên hình dạng của một chữ thập. Chú thích Liên kết ngoài St Paul's Cathedral official website A Popular Description of St. Paul's Cathedral By Maria Hackett, published 1828, 87 pages. Biographical Illustrations of St. Paul's Cathedral By George Lewis Smyth, published 1843, 284 pages. St Paul's Cathedral by Canaletto (painting) Wren's various designs St Paul's Cathedral Photo Gallery — 125 photos Old St Paul's Cathedral by William Benham – eText from Project Gutenberg S.E. Kelly, editor, 2004. Charters of St Paul's, London in series Anglo-Saxon Charters'' (Oxford University Press) The 'Registrum Statutorum..' of St Paul's – collected charters and other documents from the earliest years until the nineteenth century. Published by the cathedral in 1873, Latin and English. BBC News account of the bombing Bells of St Paul's A history of the choristers of St Paul's Cathedral Mystery Worshipper Report at the Ship of Fools website Central London live webcam showing St Paul's, Westminster and Big Ben The Chapel of the Most Excellent Order of the British Empire – OBE Chapel St Paul's lithographs c. 1647–1817 The Jubilee Cope commissioned for the Bishop of London by St Paul’s Cathedral in honour of the Silver Jubilee of Queen Elizabeth II &. Phao lô Kiến trúc vòm Nhà thờ Anh giáo Công trình kiến trúc ở Luân Đôn Nhà thờ chính tòa Thánh Paul, Anh Nhà thờ chính tòa ở Luân Đôn Giáo phận Luân Đôn Nhà thờ Baroque
328945
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tabanera%20la%20Luenga
Tabanera la Luenga
Tabanera la Luenga là một đô thị ở tỉnh Segovia, Castile và León, Tây Ban Nha. Theo điều tra dân số năm 2004 của Viện thống kê quốc gia Tây Ban Nha (Instituto Nacional de Estadística), đô thị này có dân số 72 người. Tham khảo Đô thị ở Segovia
399175
https://vi.wikipedia.org/wiki/Hergersweiler
Hergersweiler
Hergersweiler là một đô thị thuộc huyện Südliche Weinstraße, trong bang Rheinland-Pfalz, phía tây nước Đức. Đô thị này có diện tích 1,8 km², dân số thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2006 là 240 người. Tham khảo Xã của bang Rheinland-Pfalz Xã và đô thị ở huyện Südliche Weinstraße
148315
https://vi.wikipedia.org/wiki/SEPECAT%20Jaguar
SEPECAT Jaguar
SEPECAT Jaguar (báo đốm SEPECAT) là một máy bay cường kích được Anh và Pháp hợp tác sản xuất, hiện nay nó vẫn còn hoạt động trong một số quân đội các quốc gia như Không quân Ấn Độ và Không quân Hoàng gia Oman. Nó là một trong số những máy bay quan trọng đầu tiên trong chương trình máy bay quân sự giữa Anh-Pháp. SEPECAT Jaguar được dùng làm một trong số những máy bay cường kích/tấn công chính trong Không quân Pháp cho đến khi rời bỏ khỏi biên chế vào 1 tháng 7 năm 2005 (khi Dassault Rafale thay thế SEPECAT Jaguar) và tại Không quân Hoàng gia Anh là đến hết tháng 4 năm 2007. Chiếc Jaguar của RAF thực hiện chuyến bay cuối cùng của nó vào 30 tháng 4 năm 2007, nó ngừng triển khai trong các đơn vị không quân và khi Phi đội số 6 rút chúng khỏi biên chế, tuy nhiên các chuyến bay vẫn còn được tiếp tục. Ít nhất hai chiếc vẫn còn tiếp tục bay cho hãng QinetiQ tại Boscombe Down sau khi Phi đội số 6 rút chúng khỏi biên chế hoạt động. Phát triển Bối cảnh Chương trình Jaguar bắt đầu vào đầu thập kỷ 1960, đây là một câu trả lời đáp lại yêu cầu của Anh cho một máy bay huấn luyện phản lực siêu âm cao cấp, và yêu cầu của Pháp cho một máy bay tấn công và huấn luyện dưới tốc độ âm thanh có giá thành rẻ và hiệu năng tốt trong phạm vi chiến trường hẹp. Từ những mục tiêu rõ ràng khác nhau đã dẫn đến một máy bay có phiên bản được trang bị đầy đủ khác với một phiên bản trang bị hạn chế: cao nghệ cao áp dụng tương đối, siêu âm, và được tối ưu hóa cho khả năng tấn công mặt đất trong điều kiện nguy hiểm cao. Nó được dự kiến như một sự thay thế cho máy bay Hawker Hunter của RAF và F-100 Super Sabre của Armée de l'Air (không quân Pháp). Những sự điều đình theo các đường lối khác nhau đã dẫn tới sự hình thành của SEPECAT (Société Européenne de Production de l'Avion d'École de Combat et d'Appui Tactique) vào năm 1966 như một sự hợp tác mạo hiểm giữa Bréguet—hiện này là Dassault Aviation—và British Aircraft Corporation, để sản xuất khung máy bay, và một nhóm tách rời của Rolls-Royce và Turboméca để phát triển động cơ phản lực cánh quạt đẩy đốt nhiên liệu lần hai Adour. Tuy dựa vào một phần nào của Breguet 121, sử dụng cùng hình dạng cơ bản và một thiết kế có tính đổi mới của Pháp đối với hệ thống bánh đáp, Jaguar được xây dựng hợp nhất với các bộ phận được thiết kế bởi BAC - đáng chú ý là cánh và phương án tạo lực nâng lớn. Nguyên mẫu đầu tiên trong 8 chiếc đã bay vào 8 tháng 9 năm 1968. Nó là thiết kế một chỗ ngồi chính thống, cánh cụp, hai động cơ nhưng với bộ bánh đáp khá cao. Nó có một trọng lượng cất cánh cực đại là 15 tấn và có thể hoạt động trong bán kính chiến đấu với nhiên liệu bên trong là 850 km. Tốc độ tối đa là Mach 1.6 (Mach 1.1 trên biển) và giá treo vũ khí có thể mang đến 10.000 lb (4.500 kg) vũ khí. Thay thế Mẫu máy bay này đã được nâng cấp một số lần và tiếp tục hoạt động trong các đơn vị của Ấn Độ và Oman. Nó sẽ được thay thế bởi Eurofighter Typhoon trong RAF và Rafale trong Armée de l'Air (không quân Pháp). Trong kế hoạch của Ấn Độ, nước này có teher thay thế các phi đội Jaguar của mình bằng Medium Combat Aircraft. Những yêu cầu của Bộ tài chính Vương quốc Anh đòi hỏi cắt bớt ngân sách quốc phòng dẫn đến thông báo rằng Jaguar sẽ là một ứng cử viên khả dĩ có thể sớm bị rút khỏi biên chế. Việc công bố những kế hoạch trong tương lai của Quân đội Anh vào 21 tháng 7 năm 2004, thư ký bộ trưởng quốc phòng Anh Geoff Hoon đã nêu những chi tiết của kế hoạch rút Jaguar khỏi biên chế vào năm 2007. Và thời gian này được ấn định vào 30 tháng 4 năm 2007. . Những nhà phê bình nói máy bay đã gần kết thúc tuổi thọ sử dụng của nó và không có khả năng để đáp ứng những yêu cầu của một máy bay phản lực chiến đấu hiện nay. Những đề xuất được tranh luận nói rằng máy bay mới được nâng cấp gần đầy và là chi phí có hiệu quả nhất trong tất cả các máy bay phản lực của RAF. Ấn Độ đã hiện đại hóa những phi đội Jaguar hiện nay của mình và đã đặt hàng bổ sung nâng cấp 29 chiếc Jaguar IM từ Hindustan Aeronautics vào năm 2005. Medium Combat Aircraft (MCA) sẽ được sản xuất hàng loạt vào năm 2015 và sẽ thay thế những phi đội Jaguar hiện này của Ấn Độ. Không quân Ấn Độ sử dụng hai kiểu khác nhau của động cơ Rolls Royce/Turbomeca là Mk804E và Mk811 (được sản xuất theo giấy phép bởi HAL), động cơ Mk811 có thể sẽ được nâng cấp thành Mk821, động cơ này sẽ kết hợp với một số cải tiến nâng cấp khác rút ra từ kinh nghiệm của Jaguar thuộc RAF vào 5 năm trước. Điều này sẽ cho phép không quân Ấn Độ có một máy bay có năng lực hơn trong hoạt động không chiến tầm trung và tầm xa. Những động cơ này có thể cũng được chia sẻ những bộ phận tương tự của Adour Mk871 mà được trang bị trên những chiếc BAE Hawk thuộc Không quân Ấn Độ được BAES cung cấp. Các giá treo vũ khí trên cánh Jaguar International (cùng với Lightning) được cung cấp các giá treo trên cánh. Lắp được các tên lửa không đối không tầm gần như Matra R550 Magic hoặc AIM-9 Sidewinder (xem ảnh). Tùy chọn này đã giải phòng những giá treo ở dưới cánh để dành cho các loại vũ khí khác. Những chiếc Jaguar của RAF được trang bị các giá treo trên cánh trong Chiến dịch Granby vào năm 1990 trong Chiến tranh vùng Vịnh, nhưng những chiếc Jaguar của Pháp lại không được trang bị các giá treo ngoài cánh này. Những chiếc Jaguar 97 của RAF có thể mang được tên lửa AIM-132 ASRAAM trên giá treo trên cánh, nhưng việc hoàn thành loại tên lửa này không bao giờ được hoàn tất để trang bị cho các máy bay. Lịch sử hoạt động Armée de l'Air (không quân Pháp) nhận những chiếc Jaguar đầu tiên vào năm 1973 trong tổng số 160 chiếc Jaguar A một chỗ ngồi. Với kiểu Jaguar dành cho huấn luyện chuyển đổi, Pháp đã nhận 40 chiếc Jaguar E hai chỗ ngồi. Sau khi Breguet bị mua lại bởi hãng Dassault, phiên bản Jaguar M đã được đề xuất, một phiên bản trên tàu sân bay cho hải quân Pháp, nhưng đã bị hủy bỏ vì lợi ích của Dassault Super Étendard. RAF chấp nhận đợt giao hàng đầu tiên trong tổng số 165 chiếc Jaguar GR.1 một chỗ (hay Jaguar S) trang bị cho 54 phi đội vào năm 1974. Sau đó còn được bổ sung 35 chiếc huấn luyện hai chỗ, Jaguar T2 (hay Jaguar B theo tên gọi của nhà sản xuất). Jaguar S và B có hệ thống tấn công/dẫn đường hoàn thiện hơn so với phiên bản A và E được sử dụng trong Armée de l'Air, nó được trang bị pháo ADEN 30 mm thya cho pháo DEFA 533 30 mm. Một vài chiếc Jaguar của RAF được sử dụng triển khai và tiếp viện cho các khu vực một cách nhanh chóng, hoạt động trong phi đoàn Coltishall, và các đơn vị khác trong vai trò tấn công hạt nhân từ căn cứ RAF Bruggen. Những chiếc Jaguar một chỗ gần đây của RAF chỉ hoạt động trong vai trò tấn công, và đã nhanh chóng bị thay thế bởi những chiếc Tornado. Vào tháng 12 năm 1983, 75 chiếc Jaguar của RAF đã được nâng cấp thành tiêu chuẩn GR.1A và T.2A với hệ thống dẫn đường và tấn công FIN1064 thay thế cho hệ thống cũ là NAVWASS. Vào cùng khoảng thời gian đó, đa số những chiếc Jaguar đã được thay động cơ bằng loại Adour 104. Vào năm 1994, 10 chiếc GR.1A và 2 chiếc T.2A đã được nâng cấp để có thể mang được thiết bị chỉ điểm laser TIALD và có tên gọi là GR.1B hay T.2B theo thứ tự. Việc nâng cấp lên tiêu chuẩn GR.3A (cũng còn được biết đến như Jaguar 97) được thực hiện với việc đưa vào sử dụng thiết bị TIALD LDP tương thích cho cả phi đội, cung cấp cho thiết bị trinh sát số EO GP1 (JRP), một thiết bị hiển thị trên mũ phi công, buồng lái kính với màn hình hiển thị AMLCD lớn và một HUD mới, bộ điều khiển tay mới và cần stick mới, GPS, TERPROM Terrain Referenced Navigation, một đường truyền dữ liệu Improved Data Modem, và tích hợp cải tiến kính nhìn ban đêm. GR.3 (Jaguar 96) được chuyển giao cho các đơn vị theo ba tiêu chuẩn, trinh sát, tấn công và TIALD, nhưng sau đó tất cả đã được chuyển đổi thành tiêu chuẩn Jaguar 97/GR.3A. Tất cả những chiếc GR.3A sau đó được thay động cơ mới bằng loại Adour 106. Một số máy bay huấn luyện T-2 cũng được nâng cấp thành tiêu chuẩn Jaguar 96 và có tên gọi mới là T.4. Những chiếc Jaguar cũng được xuất khẩu cho các nước khác với một số thành công nào đó. Khách hàng lớn nhất của Jaguar là Ấn Độ, họ đã mua khoảng 40 chiếc và cũng mua giấy phép để sản xuất thêm 100 chiếc nữa tại Ấn Độ. Công ty Hindustan Aeronautics Limited là công ty hàng không vũ trụ hàng đầu của Ấn Độ đã chế tạo 100 chiếc Jaguar dưới tên gọi Shamsher. Jaguar International cũng được xuất khẩu cho Ecuador, Nigeria và Oman. Những chiếc Jaguar của Oman cũng được nâng cấp thành tiêu chuẩn GR3A đầy đủ và hoạt động trong Phi đội số 20 và số 8 của Không quân Hoàng gia Oman. Jaguar đã xuất hiện trong các trận không chiến tại Chiến tranh vùng Vịnh lần đầu năm 1991 trong các phi đội của Armée de l'Air và RAF, Chiến tranh Balkan với RAF, Chiến tranh Kosovo với Armée de l'Air và Chiến tranh Kargil trong Không quân Ấn Độ. Tuy nhiên, trong Chiến tranh vùng Vịnh 1991, những chiếc Jaguar của RAF đã hoạt động với những chiếc Bucanner cũng được nâng cấp với TIALD. Một chiếc Jaguar đã được chuyển đổi thành Jaguar Active Control Technology (ACT) với hệ thống điều khiển lái fly-by-wire và những thay đổi khí động học đối với khung máy bay. Khả năng cơ động được cải tiến nhờ vào thử nghiệm khí động học và những dữ liệu thử nghiệm này đã được sử dụng để phát triển Eurofighter Typhoon. Các phiên bản Jaguar A: Phiên bản tiêm kích/cường kích, tấn công chiến thuật mọi thời tiết có một chỗ ngồi cho Không quân Pháp, hai nguyên mẫu và 160 chiếc được chế tạo. Jaguar B hay Jaguar T.Mk 2: Phiên bản huấn luyện hai chỗ cho RAF, một nguyên mẫu và 38 chiếc được chế tạo. Jaguar T.Mk 2A: Jaguar T.Mk 2 nâng cấp tương tự như GR.Mk 1A (xem bên dưới), 14 chiếc được chuyển đổi từ T.Mk 2. Jaguar T.Mk 2B: Hai chiếc Jaguar T.Mk 2A được trang bị khả năng TIALD. Jaguar T.Mk 4: Jaguar T.Mk 2A nâng cấp thành tiêu chuẩn Jaguar 96. Jaguar E: Phiên bản huấn luyện hai chỗ cho Không quân Pháp, hai nguyên mẫu và 40 chiếc được chế tạo. Jaguar S hay Jaguar GR.Mk 1: Phiên bản tiêm kích/cường kích, tấn công chiến thuật mọi thời tiết có một chỗ ngồi cho RAF, 165 chiếc được chế tạo. Jaguar GR.Mk 1A: Jaguar GR.Mk 1 với hệ thống dẫn đường, kim loại gây nhiễu/pháo sáng, nâng cấp khả năng mang ECM và Sidewinder, 75 chiếc được chuyển đổi từ GR.Mk 1. Jaguar GR.Mk 1B: 10 chiếc GR.Mk 1 được sửa đổi để mang TIALD. Jaguar GR.Mk 3: Jaguar 96 nâng cấp điện tử hàng không để thành GR.Mk 1A/B. Jaguar GR.Mk 3A: Jaguar 97 nâng cấp điện tử hàng không để thành GR.Mk 3. Jaguar M: Nguyên mẫu tấn công hải quân một chỗ cho Hải quân Pháp, một chiếc được chế tạo. Jaguar Active Control Technology: Một chiếc Jaguar được chuyển đổi thành một máy bay tìm kiếm. Jaguar International: Phiên bản xuất khẩu dựa vào Jaguar S hoặc Jaguar B. Jaguar ES: Phiên bản xuất khẩu của Jaguar S cho Không quân Ecuador, 10 chiếc được chế tạo. Jaguar EB: Phiên bản xuất khẩu của Jaguar B cho Không quân Ecuador, 2 chiếc được chế tạo. Jaguar OS: Phiên bản xuất khẩu của Jaguar S cho Không quân Hoàng gia Oman, 20 chiếc được chế tạo. Jaguar OB: Phiên bản xuất khẩu của Jaguar B cho Không quân Hoàng gia Oman, 4 chiếc được chế tạo. Jaguar IS: Phiên bản tiêm kích/cường kích, tấn công chiến thuật mọi thời tiết có một chỗ ngồi cho Không quân Ấn Độ, 35 chiếc được chế tạo bởi BAe và 60 chiếc bởi HAL. Jaguar IT: Phiên bản huấn luyện hai chỗ cho Không quân Ấn Độ, 5 chiếc được chế tạo bởi BAe và 10 chiếc bởi HAL. Jaguar IM: Phiên bản chống tàu một chỗ cho Không quân Ấn Độ. Trang bị radar Agave và có khả năng mang tên lửa chống tàu Sea Eagle, 12 chiếc được chế tạo. Jaguar SN: Phiên bản xuất khẩu của Jaguar S cho Không quân Nigeria, 13 chiếc được chế tạo. Jaguar BN: Phiên bản xuất khẩu của Jaguar B cho Không quân Nigeria, 5 chiếc được chế tạo. Các quốc gia sử dụng . Không quân Ecuador Escuadron de Combate 2111 'Aguilas' (Eagles) Armée de l'Air - tất cả đều không còn hoạt động Escadron de Chasse 1/7 'Provence' at St Dizier Escadron de Chasse 2/7 'Argonne' at St Dizier Escadron de Chasse 3/7 'Languedoc' at St Dizier Escadron de Chasse 4/7 'Limousin' at St Dizier Escadron de Chasse 1/11 'Roussillon' at Toul Escadron de Chasse 2/11 'Vosges' at Toul Escadron de Chasse 3/11 'Corse' at Toul Escadron de Chasse 4/11 'Jura' at Toul Escadron de Chasse 3/3 'Ardennes' at Mérignac Không quân Ấn Độ Phi đội số 5 IAF 'Tuskers', IAF Ambala (Jaguar IS, IB Navwass, later DARIN II) từ tháng 8 năm 1981 Phi đội số 6 IAF 'Dragons', IAF Jamnagar (Jaguar IM, IS, IB, DARIN II) từ năm 1987 Phi đội số 14 IAF 'Bulls', IAF Ambala (Jaguar IS, IB Navwass, later DARIN II) tháng 3 năm 1981 Phi đội số 16 IAF 'Rattlers', IAF Gorakhpur (Jaguar IS, IB DARIN) tháng 10 năm 1986 Phi đội số 27 IAF 'Flaming Arrows', IAF Gorakhpur (Jaguar IS, IB DARIN) tháng 6 năm 1985 Một số phi đội khác thích hợp để sử dụng với máy bay mới hiện đang sản xuất Không quân Nigeria (13 Jaguar SN & 5 Jaguar BN) Không quân Hoàng gia Oman (20 Jaguar OS & 4 Jaguar OB) Không quân Hoàng gia Anh - Former users Phi đội số 2 tại căn cứ RAF Laarbruch (tấn công/trinh sát) Phi đội số 6 tại căn cứ RAF Coltishall, later RAF Coningsby(tấn công) Phi đội số 14 tại căn cứ RAF Bruggen (tấn công) Phi đội số 16 (Dự trữ) tại căn cứ RAF Lossiemouth, later Coltishall (OCU) Phi đội số XVIIuadron tại căn cứ RAF Bruggen (tấn công) Phi đội số 20 tại căn cứ RAF Bruggen (tấn công) Phi đội số 31 tại căn cứ RAF Bruggen (tấn công) Phi đội số 41 tại căn cứ RAF Coltishall (trinh sát/tấn công) Phi đội số 54 tại căn cứ RAF Coltishall (tấn công) Đơn vị chuyển đổi hoạt động số 226 tại căn cứ RAF Lossiemouth (OCU) Đơn vị chuyển đội Jaguar tại căn cứ RAF Lossiemouth (ban đầu thuộc OCU) Trường sát hạch phi công Đế chế Thông số kỹ thuật (Jaguar A) Đặc điểm riêng Phi đoàn: 1 Chiều dài: 16.83 m (55 ft 3 in) Sải cánh: 8.69 m (28 ft 6 in) Chiều cao: 4.92 m (16 ft 1 in) Diện tích cánh: 24 m² (258 ft²) Trọng lượng rỗng: 7.000 kg (15.400 lb) Trọng lượng cất cánh: 11.000 kg (24.250 lb) Trọng lượng cất cánh tối đa: 15.700 kg (34.600 lb) Động cơ: 2× động cơ phản lực Rolls-Royce/Turbomeca Adour Mk 102, 32.5 kN (7.305 lbf) mỗi chiếc Hiệu suất bay Vận tốc cực đại: 1.593 km/h hay 1055 dặm/h (Mach 1.6) Tầm bay: 535 km-chiến đấu, 3.525 km-tuần tiễu (335 mi / 2.190 mi) Trần bay: 14.000 m (46.000 ft) Vận tốc lên cao: m/s (ft/min) Lực nâng của cánh: kg/m² (lb/ft²) Lực đẩy/trọng lượng: 0.60 Vũ khí 2x pháo ADEN 30 mm hoặc pháo DEFA với 150 viên đạn mỗi khẩu 5 giá treo dưới cánh mang được 4.500 kg (10.000 lb) vũ khí Tùy chọn cho 2 tên lửa Matra R550 Magic hoặc AIM-9 Sidewinder trên các giá treo (chỉ trên những chiếc Jaguar International và RAF Jaguar) Rocket LAU-5003B/A CRV-7 Thiết bị kết nối trinh sát Thao khảo Liên kết ngoài Video of the SEPECAT Jaguar fas.org faqs.org Website with Jaguar Pictures Taken at RAF Coltishall Who Killed The Cat? The Demise of the Jaguar by Tim Senior and Gary Parsons. Air-Scene UK Issue 435 (ngày 10 tháng 6 năm 2007) Video from cockpit of a flight in the SEPECAT Jaguar Nội dung liên quan Máy bay có tính năng tương đương A-7 Corsair Mikoyan MiG-27 Mitsubishi F-1 Soko J-22 Orao Danh sách Danh sách máy bay quân sự đang hoạt động của Vương quốc Anh Máy bay BAC Máy bay Breguet Máy bay cường kích Quốc tế 1960–1969 Máy bay huấn luyện quân sự Quốc tế 1960–1969 Máy bay trinh sát quân sự Quốc tế 1960–1969 Máy bay chiến đấu Máy bay quân sự Máy bay cường kích Máy bay huấn luyện Máy bay trinh sát Máy bay hai động cơ phản lực Máy bay cánh trên
403744
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ponthaux
Ponthaux
Ponthaux là một đô thị trong huyện Sarine thuộc bang Fribourg ở Thụy Sĩ. Tham khảo Đô thị của bang Fribourg
100449
https://vi.wikipedia.org/wiki/Hertzing
Hertzing
Hertzing là một xã trong vùng Grand Est, thuộc tỉnh Moselle, quận Sarrebourg, tổng Réchicourt-le-Château. Tọa độ địa lý của xã là 48° 41' vĩ độ bắc, 06° 57' kinh độ đông. Hertzing nằm trên độ cao trung bình là 270 mét trên mực nước biển, có điểm thấp nhất là 265 mét và điểm cao nhất là 310 mét. Xã có diện tích 1,54 km², dân số vào thời điểm 2004 là 196 người; mật độ dân số là 130,7 người/km². Thông tin nhân khẩu Tham khảo Xã của Moselle
751373
https://vi.wikipedia.org/wiki/Colpospira%20atkinsoni
Colpospira atkinsoni
Colpospira atkinsoni là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển thuộc họ Turritellidae. Miêu tả Phân bố Chú thích Tham khảo Colpospira
673424
https://vi.wikipedia.org/wiki/Prosopis%20abbreviata
Prosopis abbreviata
Prosopis abbreviata, tiếng Anh thường gọi là Algarrobillo Espinoso, là một loài thực vật có hoa thuộc họ đậu, Fabaceae, là loài đặc hữu của Argentina. Chúng hiện đang bị đe dọa vì mất môi trường sống. Chú thích Tham khảo abbreviata Thực vật mô tả năm 1841 Thực vật Argentina Thực vật dễ tổn thương Thực vật được mô tả năm 1841
903834
https://vi.wikipedia.org/wiki/Cardiophorus%20octonotatus
Cardiophorus octonotatus
Cardiophorus octonotatus là một loài bọ cánh cứng trong họ Elateridae. Loài này được Candèze miêu tả khoa học năm 1878. Chú thích Tham khảo Cardiophorus
97353
https://vi.wikipedia.org/wiki/Grande%20Arche
Grande Arche
Grande Arche tên chính thức Grande Arche de la Fraternité hay còn được gọi Arche de la Défense là một công trình nằm ở khu La Défense, thuộc ngoại ô về phía Tây thành phố Paris trên địa phận hạt Puteaux. Lịch sử Đã có nhiều dự án xây dựng một công trình đánh dấu trên Trục lịch sử Axe historique. Thời Tổng thống Georges Pompidou có đồ án của kiến trúc sư Ieoh Ming Pei, thời Tổng thống Valéry Giscard d'Estaing có đồ án của Jean Willerval, nhưng chưa công trình nào được thực hiện. Vào năm 1983, với sự ủng hộ của Tổng thống François Mitterrand, một cuộc thi mang tên Tête Défense được tổ chức. Công trình xây dựng sẽ kéo dài Trực lịch sử được bắt đầu từ bức tượng vua Louis XIV cưỡi ngựa trong sân Napoléon của bảo tàng Louvre cho tới Khải Hoàn Môn. Cuộc thi đã quy tụ 484 đồ án kiến trúc đến từ khắp thế giới. Cuối cùng, phương án kiến trúc cách tân của kiến trúc sư người Đan Mạch Johann Otto von Spreckelsen đã được lựa chọn. Được xây dựng bởi công ty xây dựng Pháp Bouygues, công trình này khánh thành vào tháng 7 năm 1989, kỷ niệm 200 năm Cách mạng Pháp và cũng là dịp hội nghị thượng định G7. Nằm ở phía Tây-Đông của Paris, Grande Arche có thể nhìn thấy từ vườn Tuileries xuyên qua Khải Hoàn Môn Công trình Johann Otto von Spreckelsen đã tạo ra Grande Arche như một Khải Hoàn Môn của thế kỷ 20, nhưng để chào mừng chiến thắng của ý tưởng con người hơn là một chiến thắng quân sự. Johann Otto von Spreckelsen mất vào ngày 16 tháng 3 năm 1987 và kiến trúc sư Paul Andreu là người hoàn thành công trình. Grande Arche có kích thước gần như một hình lập phương hoàn hảo: Dài: 108 m Cao: 110 m Rộng: 112 m Bề ngoài của Grande Arche được phủ kín bằng những tấm kính dày 5 cm, được thiết kế đặc biệt để ngăn không biến dạng hình ảnh và chịu được gió mạnh cùng các tấm đá cẩm thạch được lấy từ Carrara nước Ý và đá granite xám. Tham khảo Liên kết ngoài Trang chính thức của Grande Arche Công trình xây dựng Paris Khải hoàn môn Pháp Kiến trúc Hiện đại La Défense
774182
https://vi.wikipedia.org/wiki/Scipio%20Africanus
Scipio Africanus
Publius Cornelius Scipio Africanus (235-183 TCN), cũng gọi là Scipio Africanus và Scipio Già, hoặc Scipio Africanus Già, là nhà chính trị, quân sự La Mã. Ông được ghi nhận là một trong những bậc tướng tài của La Mã, nổi bật với những chiến thắng trước quân đội Carthage trong chiến tranh Phoenicia lần thứ hai, điển hình là trận chinh phục bán đảo Tây-Bồ (207 trước Công nguyên) và trận Zama đánh bại triệt để Hannibal, tướng giỏi nhất Carthage (202 trước Công nguyên). Scipio được nhân dân La Mã mến mộ vì những chiến công đánh Carthage nhưng bị các chính khách khác ganh ghét. Cuối đời, Scipio bị cáo buộc tham nhũng và phản bội. Thực ra đây là những lời cáo buộc vô căn cứ chỉ để hạ thấp ông trước dư luận. Scipio giận họ vô ơn, nên rời Roma về ẩn dật đến chết. Tiểu sử Thời niên thiếu Danh tướng Publius Cornelius Scipio, sau này mang tên hiệu Africanus nhờ chiến thắng oanh liệt của ông, ông cũng là người lập nên nhánh Africanus của dòng họ Scipiones Cornelii, và ông được sinh ra bởi mổ đẻ, với tư cách là thành viên của nhánh Scipio của dòng họ Cornelia. Năm sinh của ông được tính toán từ một loạt các ghi chép được thực hiện bởi nhiều sử gia cổ đại khi ông được bao nhiêu tuổi khi sự kiện nào đó trong cuộc sống của ông đã xảy ra. Các ghi chép tất cả dường như đồng ý: nếu ông 17 tuổi khi ông đã dẫn đầu một đội quân để giải cứu cha mình trong trận Ticinus (218 TCN), và 24 tuổi khi ông tình nguyện để tiếp nhận quân đội ở Hispania khi không ai có thể (211 TCN), sau thất bại và cái chết của chú và cha ông, hai quan chấp chính, và 27 tuổi khi ông đã dẫn đầu một chiến dịch chiến thắng tấn công thành phố Tân Carthage trên bờ biển của Hispania (209 TCN), do đó ông phải được sinh ra vào khoảng năm 236 / 5, thường được coi là năm 236 trước Công nguyên. Năm thứ 517 từ ngày thành lập của Rome. Một số tổ tiên của ông đã nhận chức chấp chính quan, và Ông cố của ông, Lucius Cornelius Scipio Barbatus, đã là quý tộc năm 280 trước Công nguyên. Gia tộc Cornelii được coi là một trong sáu tộc lớn gồm gia đình-những gia tộc khác là Manlii, Fabii, Aemilii, Claudii, và Valerii-và vào thời Scipio Africanus sống, gia tộc Scipiones có lẽ nổi bật nhất của chi nhánh, ít nhất trong sự nhận thức muộn màng của các sử gia, những người có chỉ có ghi chép về gia đình và sự nghiệp của ông. Scipio là con trai cả của Publius Cornelius Scipio - Pháp quan và quan Tổng tài - và vợ ông này là Pomponia - bà xuất phát từ một gia đình Kỵ sĩ nổi tiếng và có gốc dân thường. Ông có một em trai, Lucius Cornelius Scipio Asiaticus, và một người bạn từ thời niên thiếu, Gaius Laelius - người đã phục vụ với ông trong quân đội. Sự nghiệp quân sự thời kì đầu Thời thơ ấu của Scipio có thể được coi là đã chấm dứt với việc gia nhập vào quân đội của ông. Ngay thời trẻ, Scipio đã tham gia cuộc chiến tranh của La Mã chống lại Carthage trong Chiến tranh Punic lần thứ hai. Tại một số điểm, ông được cho là đã hứa với cha ông rằng ông sẽ tiếp tục cuộc chiến tranh chống lại Carthage suốt đời mình, cho thấy sự cống hiến tương tự như của kẻ thù của mình, Hannibal. Scipio trẻ tuổi đã sống sót sau một loạt các cuộc chiến thảm khốc tại Ticinus, Trebia, và Cannae. Theo Polybius, ông đã cứu mạng cha mình khi ông 18 tuổi, bởi "một cuộc đột kích vào vòng vây của kẻ thù một cách phi thường một mình với sự liều lĩnh " trong trận Ticinus. cha vợ của Scipio là Lucius Aemilius Paullus đã bị giết chết trong năm 216 TCN, tại trận Cannae. Mặc dù có những thất bại dưới tay của người Carthage, Scipio vẫn tập trung vào việc đảm bảo La Mã chiến thắng. Scipio đã không bao giờ nhìn thấy một lực lượng La Mã bị đánh bại. Khi nghe Lucius Caecilius Metellus và các chính khách khác đang chuẩn bị cầu hòa, Scipio tập hợp những người theo ông và xông vào cuộc họp, tại thời điểm quyết định ông đã buộc tất cả các mặt phải thề rằng họ sẽ tiếp tục phục vụ trung thành với Roma. Ông cũng được cho là có tham khảo ý kiến, hoặc ít nhất là thông báo cho mẹ mình trước khi quyết định để chạy đua vào chức quan coi quốc khố, cách đơn giản mà hầu hết mọi người đã tham gia vào viện nguyên lão. Scipio chạy đua vào chức vụ này ở tuổi 24 và ông đã giữ chức vụ này năm 211 trước Công nguyên sau đó ông nắm quyền chỉ huy quân đội ở Hispania nơi ông đã tìm thấy kẻ thù ở phía tây của sông Ebro . Chiến dịch ở Hispania Năm 211 trước Công Nguyên, cả người cha của Scipio, Publius Scipio, và người chú của ông, Gnaeus Cornelius Scipio Calvus, đã tử trận trong cuộc chiến chống lại em trai của Hannibal, Hasdrubal Barca. Trong năm sau, Scipio tự nguyện nhận chức chỉ huy của đội quân mới mà người La Mã quyết định phái đến Hispania. Mặc dù ông còn trẻ tuổi, phong thái cao quý và sự nhiệt tình của ông đã tạo nên một ấn tượng tuyệt vời giúp cho ông được nhất trí lựa chọn làm quan tổng trấn ở đó. Theo Livy, Scipio là người duy nhất đủ can đảm để chấp nhận chức vụ này, và không có ứng cử viên khác muốn nhận trách nhiệm, họ đều coi đây là một án tử hình. Vào năm Scipio đến Hispania (năm 210 TCN), tất cả các khu vực của Hispania ở phía Nam sông Ebro đều nằm dưới sự kiểm soát bởi Carthage. Những người em của Hannibal, Hasdrubal và Mago, và Hasdrubal Gisco là các tướng lãnh của quân Carthage ở Hispania. Người Carthage cũng đang bận rộn với một cuộc nổi dậy ở châu Phi. Scipio đã đổ bộ tại cửa sông Ebro và đã có thể tạo ra sự bất ngờ, sau đó ông đã chiếm được Tân Carthago (Carthage Nova), trung tâm quyền lực của người Carthage ở Hispania. Ông cũng đã có được một trí nhớ phong phú đối với những vật tư chiến tranh và kho tàng, và cảng tốt và các căn cứ cho chiến dịch. Những hành nhân đạo đối với tù nhân và con tin ở Hispania của Scipio khiến những người La Mã đóng vai là quân giải phóng trái ngược với những kẻ chinh phục. Livy kể câu chuyện về việc bắt giữ một phụ nữ xinh đẹp bởi quân đội của ông, bà đã bị đem dâng cho Scipio như là một chiến lợi phẩm trong chiến tranh. Scipio đã ngạc nhiên bởi vẻ đẹp của bà, nhưng phát hiện ra rằng người phụ nữ đã đính ước với một thủ lĩnh người Celtiberia tên là Allucius. Ông đã trả bà lại cho người chồng chưa cưới của bà, cùng với số tiền đã được nộp bởi cha mẹ bà để chuộc bà. Trong khi Scipio được biết đến với tinh thần cao thượng tuyệt vời của mình, Scipio đã không nghi ngờ gì nhưng cũng nhận ra rằng ưu tiên hàng đầu của viện nguyên lão là cuộc chiến tranh tại Ý, và ở giữa các căn cứ của Carthage ở Hispania, ông có quá ít sự trợ giúp. Điều tối quan trọng là Scipio đã hợp tác với những thủ lĩnh địa phương để giúp cho cả hai và củng cố đội quân nhỏ bé của mình. Vị hôn phu của người phụ nữ kia đã tự nguyện mang bộ lạc của mình tới hỗ trợ cho quân La Mã. Năm 209 trước Công nguyên, Scipio đã đánh đuổi Hasdrubal Barca khỏi vị trí của ông ta tại Baecula ở thượng nguồn sông Guadalquivir. Scipio đã sợ rằng quân đội của Mago và Gisco sẽ tiến vào chiến trường và bao vây đội quân nhỏ của mình. Mục tiêu của Scipio đã đạt được, do đo giúp ông nhanh chóng loại bỏ một đội quân và dễ dàng đối phó với hai người kia. Trận chiến được quyết định bởi một cuộc đột kích của bộ binh La Mã vào trung quân của người Carthage. Hasdrubal đã không nhận thấy lực lượng kị binh dự bị của Scipio ẩn phía sau hàng ngũ của kẻ thù, và một lực lượng kỵ binh La Mã đã đột kích tạo ra một sự bao bọc đôi ở cả hai bên cánh dưới quyền của vị chỉ huy kỵ binh Gaius Laelius và chính bản thân Scipio. Điều này đã phá vỡ phía sau lưng của quân đội Hasdrubal và đánh tan lực lượng của ông ta - một chiến công ấn tượng của vị tướng La Mã trẻ tuổi so với vị tướng Carthage kì cựu. Mặc dù là một chiến thắng cho La Mã, Scipio đã không thể cản trở việc quân Carthage tiếp tục tiến đến Ý. Sau khi giành chiến thắng trước một số tù trưởng Hispania(cụ thể là Indibilis và Mandonius), Scipio đã giành được một chiến thắng quyết định trong năm 206 TCN trước toàn bộ binh lực của người Carthage tại Ilipa (nay là thành phố Alcalá del Río, gần Hispalis, bây giờ gọi là Seville), kết quả là sự rút bỏ khỏi Hispania của các tướng lĩnh Punic. Sau những thành công nhanh chóng của mình trong việc chinh phục Hispania, và với ý tưởng về một cuộc tấn công trực diện vào Carthage ở châu Phi, Scipio đã có chuyến thăm ngắn tới chỗ những ông hoàng Numidia, Syphax và Massinissa. Numidia có tầm quan trọng sống còn đối với Carthage, cung cấp cả lính đánh thuê và lực lượng đồng minh. Ngoài việc cung cấp kỵ binh Numidia (xem trận Cannae), Numidia còn đóng vai trò như một vùng đệm cho Carthage. Scipio đã cố gắng để giành được sự hỗ trợ từ cả Syphax và Massinissa. Syphax sau đó thay đổi quyết định của mình, ông ta kết hôn với một phụ nữ quý tộc xinh đẹp người Carthage, Sophonisba, con gái của Hadrusbal, con trai Gisco, và chiến đấu bên cạnh người cha vợ Carthage của mình chống lại Massinissa và Scipio ở châu Phi. Khi trở về Hispania, Scipio đã dập tắt một cuộc binh biến nổ ra tại Sucro trong quân đội của mình. Trong khi đó, Hasdrubal, em trai của Hannibal đã hành quân tới Ý, và trong năm 206 TCN, bản thân Scipio đã củng cố vững chắc sự chiếm đóng của người La Mã ở Hispania bằng việc chiếm Gades, sau đó ông trao lại quyền chỉ huy của mình và quay trở lại Rome. Chiến dịch châu Phi Năm 205 trước Công nguyên, Scipio đã được nhất trí bầu làm chấp chính quan ở tuổi 31. Scipio đã có ý định đến châu Phi, nhưng một số người trong viện nguyên lão đã ghen tị với ông và chỉ cho phép ông đi đến Sicilia và không giao cho ông bất cứ một đội quân nào. Mặc dù vậy, Scipio bắt đầu xây dựng một đội quân tình nguyện khi ông ở Sicilia. Vào thời gian này, những hoạt động của Hannibal đã bị giới hạn ở mỏm phía tây nam của Ý. Chính vì lý do đó, Scipio đã muốn tiến hành một cuộc chiến ở châu Phi, và danh tiếng tuyệt vời của ông đã giúp ông thu hút một số lượng đáng kể những chiến binh tình nguyện từ tất cả các vùng của Ý. Điều thú vị ở chỗ, trong số những lính tình nguyện lại có những người đã sống sót sau thất bại đáng xấu hổ ở trận Cannae, họ mong muốn được một lần nữa chứng minh giá trị của họ như những người lính. Scipio sau đó đã biến Sicilia trở thành một trại huấn luyện cho quân đội của mình. Scipio nhận ra rằng người Carthage, và đặc biệt là sự vượt trội của kị binh Numidia sẽ là yếu tố quyết định trong việc chống lại phần lớn lực lượng bộ binh của các quân đoàn La Mã. Ngoài ra, một phần lớn kỵ binh của La Mã là những đồng minh có lòng trung thành đáng ngờ, hoặc là những equites quý tộc không muốn bản thân mình trở thành một lính bộ binh thấp kém. Một giai thoại kể về cách Scipio bắt hàng trăm nhà quý tộc Sicilia đi lính để tạo ra một lực lượng kỵ binh. Người Sicilia hầu hết đều phản đối với tình trạng nô lệ dưới sự chiếm đóng của nước ngoài (Sicilia nằm dưới sự kiểm soát của người La Mã kể từ sau Chiến tranh Punic lần thứ nhất), và họ đã phản đối mạnh mẽ. Scipio đã chấp thuận miễn trừ việc đi lính cho họ miễn là họ trả tiền cho một con ngựa, trang bị, và một kị sĩ thay thế cho quân đội La Mã. Chú thích Tham khảo Nguồn cổ đại Livy, Ab urbe condita libri xxvi, xxxviii Orosius, Historiae adversus paganos libri iv Valerius Maximus, Factorum et dictorum memorabilium libri iii, iv, vii, viii Nguồn hiện đại Theodore Ayrault Dodge, Hannibal, Da Capo Press; Reissue edition, 2004. ISBN 0-306-81362-9 H. H. Scullard, Scipio Africanus: Soldier and Politician, Thames and Hudson, London, 1970. ISBN 0-500-40012-1 H. H. Scullard, Scipio Africanus in the Second Punic War Thirlwall Prize Essay (University Press, Cambridge, 1930) B.H. Liddell Hart, Scipio Africanus: Greater Than Napoleon, W Blackwood and Sons, London, 1926; Biblio and Tannen, New York, 1976. ISBN 0-306-80583-9. Liên kết ngoài Tướng La mã Chính khách La mã Mất năm 183 TCN Mất thập niên 180 TCN Năm 183 TCN Năm 236 TCN
68326
https://vi.wikipedia.org/wiki/Paul%20McCartney
Paul McCartney
Ngài James Paul McCartney (sinh ngày 18 tháng 6 năm 1942) là một nam ca sĩ, nhạc sĩ, nhà sản xuất phim và thu âm người Anh, đồng giọng ca chính, đồng sáng tác và là tay guitar bass của ban nhạc The Beatles. Ông cùng với John Lennon là bộ đôi sáng tác vĩ đại nhất lịch sử. Sau khi ban nhạc tan rã vào năm 1970, ông theo đuổi sự nghiệp solo và thành lập ban nhạc Wings cùng với người vợ đầu của mình, Linda, và Denny Laine. Là một nhạc sĩ tự học, McCartney chơi thành thạo các nhạc cụ như bass, guitar, organ và trống. Ông nổi tiếng với phong cách chơi bass du dương (chủ yếu chơi bằng miếng gảy), âm vực giọng nam cao linh hoạt và rộng (kéo dài trên bốn quãng tám), và chủ nghĩa chiết trung (khám phá các phong cách âm nhạc từ pre-rock and roll pop đến cổ điển và electronica). McCartney bắt đầu sự nghiệp với tư cách là thành viên của The Quarrymen năm 1957, nhóm sau đó đổi tên thành The Beatles vào năm 1960. Từ album năm 1967 Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band, ông dần trở thành thủ lĩnh trên thực tế của The Beatles, truyền động lực sáng tạo cho hầu hết các tác phẩm âm nhạc và phim ảnh của họ. Các bài hát của The Beatles "And I Love Her" (1964), "Yesterday" (1965), "Eleanor Rigby" (1966) và "Blackbird" (1968) xếp trong số những bài hát được cover nhiều nhất trong lịch sử. Năm 1970, McCartney ra mắt solo với album McCartney. Trong suốt những năm 1970, ông đã dẫn dắt Wings, một trong những ban nhạc thành công nhất của thập kỷ, với hơn 10 đĩa đơn và album thành công quốc tế. McCartney tiếp tục sự nghiệp solo của mình vào năm 1980. Kể từ năm 1989, ông đã lưu diễn liên tục với tư cách là một nghệ sĩ solo. Năm 1993, ông thành lập bộ đôi The Fireman với Youth of Killing Joke. Ngoài âm nhạc, ông còn tham gia các dự án của nhiều tổ chức từ thiện quốc tế liên quan đến quyền động vật, săn hải cẩu, bom mìn, ăn chay, nghèo đói và giáo dục âm nhạc. McCartney là một trong nghệ sĩ âm nhạc bán đĩa nhạc chạy nhất thế giới. Ông đã viết và đồng sáng tác 32 bài hát đạt vị trí quán quân trên Billboard Hot 100, tính đến năm 2009, đã có 25,5 triệu bản được RIAA chứng nhận tại Hoa Kỳ. Ông được hai lần vinh danh vào Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll (với tư cách là thành viên của The Beatles năm 1988 và với tư cách là nghệ sĩ solo năm 1999), nhận 18 giải Grammy, được bổ nhiệm làm Thành viên Đế quốc Anh năm 1965, và được phong tước hiệp sĩ vào năm 1997 vì những cống hiến trong âm nhạc. Tính đến năm 2020, ông cũng là một trong những nhạc sĩ giàu có nhất thế giới, với tài sản ước tính 800 triệu bảng Anh. Đầu đời James Paul McCartney sinh ngày 18 tháng 6 năm 1942 tại bệnh viện Walton ở khu vực Walton thuộc Liverpool. Cha của cậu, James, hay gọi là "Jim" McCartney không có mặt trong khoảnh khắc ra đời của con trai vì làm lính cứu hỏa tình nguyện trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Paul có một em trai, Michael, sinh năm 1944. Mặc 2 anh em nhà McCartney đều được đặt theo tên thánh tại nhà thờ Công giáo theo tín ngưỡng của mẹ, không khí tôn giáo ít hiện hữu trong gia đình bởi ông Jim từng theo đạo Tin Lành nhưng về sau trở nên bất khả tri. Năm 1947, Paul đi học tại trường tiểu học Stockton Wood Road, trường này bị quá tải nên năm 1949 cậu chuyển sang trường Joseph Williams.. Năm 1953, Paul là một trong số 4 đứa trẻ vượt qua kì thi tốt nghiệp tiểu học của trường (trên tổng số 90 thí sinh). Năm 1954, khi đang ngồi trên chiếc xe bus để đi từ nhà tới khu nội trú của trường nam sinh Liverpool ở vùng Speke, cậu đã gặp George Harrison. Hai người nhanh chóng trở thành bạn, mặc dù sau này McCartney thú nhận: "Tôi có xu hướng nói với giọng kẻ cả với cậu ấy, bởi cậu ta kém tôi một tuổi. Trong gia đình, nguồn thu nhập chính đến từ bà Mary làm nghề đỡ đẻ. Bà thường đến nhà khách hàng bằng xe đạp, và McCartney từng kể lại một ký ức thiếu thời về việc bà đi làm vào "khoảng 3 giờ sáng, con đường... dày tuyết". Năm 1955, nhà McCartney chuyển về số 20 đường Forthlin, Allerton, nơi mà họ sống tới tận năm 1964. Năm 1956, bà Mary qua đời sau một phẫu thuật loại bỏ khối u gây ung thư vú. Mồ côi mẹ ở tuổi 14, Paul nhờ đó dễ dàng có được tình bạn và sự đồng cảm sau này từ John Lennon, một người cũng mồ côi mẹ sau một tai nạn xe hơi khi mới 17 tuổi. Jim McCartney cũng là một nhạc công chơi kèn trumpet cũng như piano, từng là thủ lĩnh một ban nhạc ít tiếng tăm tên là Jazz Jim Mac. Ông động viên hai con trai của mình chơi nhạc, và chính ông là người mua cho Paul chiếc đàn piano ở cửa hàng NEMS của Brian Epstein. Ông tặng Paul một chiếc kèn mạ kền vào ngày sinh nhật thứ 14 của cậu, nhưng trước làn sóng rock and roll đang lên mạnh mẽ, Paul đã đổi nó để lấy chiếc guitar Framus Zenith trị giá 15 bảng. Là người thuận tay trái, cậu thấy rằng chiếc guitar được thiết kế cho người thuận tay phải thực sự khó chơi; tuy nhiên sau khi được xem buổi hòa nhạc của Slim Whitman, cậu đã biết rằng tốt hơn là nên chỉnh dây theo chiều ngược lại. Ca khúc đầu tiên mà Paul viết là "I Lost My Little Girl" bằng cây đàn acoustic này, sau đó là "When I'm Sixty-Four" với chiếc piano. Trái với lời khuyên của cha, cậu ít luyện tập piano mà ưa học ứng tấu (learn by ear) hơn. Ca khúc đầu tiên mà cậu trình diễn là "Long Tall Sally" trong một cuộc thi tài năng ở hội trại. Sự nghiệp 1957–1960: The Quarrymen Paul gặp John Lennon và ban nhạc The Quarrymen lần đầu tại nhà thờ St. Peter ngày 6 tháng 6 năm 1957 khi cậu mới 15 tuổi. Cậu nhanh chóng gia nhập nhóm sau đó, tạo nên một tình bạn - tình đồng nghiệp vĩ đại với Lennon, để sau này trở thành bộ đôi sáng tác xuất chúng nhất thế kỷ XX. The Quarrymen bấy giờ chơi một thứ âm nhạc trộn lẫn giữa rock and roll và skiffle (một thể loại nhạc nhẹ chịu ảnh hưởng của jazz, blues và folk). McCartney gia nhập ban nhạc với tư cách là lead guitar của nhóm vì lúc đó chỉ có mình Paul là biết chơi guitar bài bản nhất, còn John Lennon chơi guitar theo cách chơi đàn banjo do mẹ là bà Julia chỉ cho. Sau này Paul đã dạy cho John các thế bấm hợp âm trên đàn guitar qua một tấm gương vì Paul là người thuận tay trái. George Harrison sau đó vào nhóm vào năm 1958 và người bạn của Lennon ở trường nghệ thuật, Stuart Sutcliffe làm tay guitar bass của ban nhạc. Họ đổi tên rất nhiều lần, trong đó có "Johnny and the Moondogs" và "The Silver Beetles", trước khi quyết định lấy tên "The Beatles" vào giữa tháng 8 năm 1960 và tuyển Pete Best làm tay trống cho nhóm trong chuyến lưu diễn đầu tiên tại Hamburg, Đức. Paul sử dụng tên lót để làm tên chính thức vì không muốn trùng với tên của cha mình, ông James McCartney. 1960–1970: The Beatles Sau chuyến đi Hamburg, ban nhạc nhờ Allan Williams đã có được suất diễn đều đặn tại Cavern Club. Năm 1961, Sutcliffe rời nhóm, McCartney bất đắc dĩ trở thành tay bass của ban nhạc. Một vài thành công từ chuyến lưu diễn tại Hamburg đã tới tai của Brian Epstein, một doanh nhân trẻ người Do Thái ở Liverpool, và anh quyết tâm làm nhà quản lý nhóm vào đầu năm 1962. Tháng 5 cùng năm, Epstein đã thương lượng thành công với Parlophone để ban nhạc có được hợp đồng thu âm đầu tiên. Tới tháng 8, ban nhạc sa thải Pete Best và chọn Ringo Starr làm người thay thế. Thời kỳ Beatlemania bắt đầu, đưa tên tuổi The Beatles ra toàn thế giới. Vào thời điểm đó, McCartney được gọi là "the cute Beatle". Năm 1965, The Beatles được phong tước Thành viên của Hoàng gia Anh (MBE). McCartney là người tìm tòi và liên hệ nhiều nghệ sĩ nổi tiếng tới cộng tác với ban nhạc, trong đó có Dick James, John Cage, Mary Hopkin,... Năm 1966, ban nhạc thành lập công ty thu âm riêng có tên là Apple sau khi kết thúc gần 1.400 tour diễn vòng quanh thế giới suốt từ năm 1962. The Beatles tiếp tục quãng thời gian phòng thu với những thành công vang dội từ Revolver (1966), Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band (1967), Album trắng (1968) và Abbey Road (1969). Cho tới năm 1970, họ đã phát hành ở Anh 12 album phòng thu và 22 đĩa đơn, trong đó 18 đứng số 1 tại bảng xếp hạng. Ban nhạc cũng đứng đầu Billboard Hot 100 20 lần, cùng với đó là 14 album số 1. Những ca khúc nổi tiếng nhất của McCartney có thể kể tới "Can't Buy Me Love" (1964), "Yesterday" (1965), "Paperback Writer" và "Eleanor Rigby" (1966), "Hello, Goodbye" (1967), "Hey Jude" (1968), "Get Back" (1969), "Let It Be" và "The Long and Winding Road" (1970). Tháng 3 năm 1969, anh cưới Linda Eastman, người mà anh gặp từ tháng 5 năm 1967. Tháng 8 năm 1969, họ sinh con gái đầu lòng Mary, đặt theo tên mẹ của Paul. Tháng 10 năm 1969, Paul đối mặt với một tin đồn kỳ quặc rằng anh đã chết được vài năm vì tai nạn ô tô, tới mức đích thân anh phải lên tạp chí Life để thanh minh với độc giả. Năm 1970, trước những đối đầu với các thành viên khác, McCartney tuyên bố giải tán ban nhạc vào ngày 10 tháng 4. Về mặt pháp lý, ban nhạc chính thức tan rã vào ngày 31 tháng 12 năm 1970. Tuy nhiên, một số vấn đề pháp lý vẫn kéo dài, và tai tiếng nhất là vụ việc bố và anh vợ của McCartney cùng với quản lý Allen Klein đã biển thủ một số lượng lớn công quỹ. The Beatles đã phải ra tòa vào ngày 9 tháng 1 năm 1975 để giải quyết những tranh chấp liên quan tới EMI, Klein và mỗi thành viên. Vụ việc chỉ kết thúc vào năm 1989. 1970–1981: Wings Sau khi The Beatles tan rã năm 1970, Paul bắt đầu một sự nghiệp khác của mình. Anh phát hành album solo đầu tay McCartney, trong đó có ca khúc "Maybe I'm Amazed" sáng tác cho Linda. Theo Bill Harry, ngoài Linda, chỉ có một mình Paul McCartney đã chơi tất cả các nhạc cụ rồi thực hiện album. Năm 1971, McCartney và vợ tiếp tục cho ra album Ram thành công với vị trí số 1 tại Anh sau đó. Họ tiếp nhận tay guitar Denny Laine cùng tay trống Denny Seiwell tới cộng tác, từ đó lập ra ban nhạc Wings. Album đầu tay của họ, Wild Life ra mắt vào tháng 12 cùng năm. Paul nói về Wings: "Wings luôn là một ý tưởng khó khăn... mọi ban nhạc kể từ [The Beatles] luôn phải nỗ lực hết mình... Tôi thấy mình có đủ khả năng. Đó là sự lựa chọn giữa một bên là tiếp tục, còn một bên là kết thúc sự nghiệp. Nhưng tôi lại yêu âm nhạc tới mức chưa bao giờ muốn dừng lại." Tháng 9 năm 1971, gia đình McCartney có thêm cô con gái thứ hai, Stella, đặt theo tên bà ngoại của Linda. Năm 1973, McCartney viết ca khúc quán quân đầu tiên cho Wings, "My Love", cùng với đó là bản LP cho album Red Rose Speedway. Anh cộng tác với phụ trách cũ của The Beatles, George Martin thực hiện phần nhạc cho serie James Bond với ca khúc nổi tiếng "Live and Let Die" (Grammy và đề cử Oscar cho nhạc phim xuất sắc nhất cho Martin). Năm 1975, McCartney viết "Band on the Run" cùng với đó ra mắt album cùng tên. Đây là một album vô cùng thành công và là album đầu tiên của Wings đạt chứng chỉ Bạch kim. Họ có thêm những album đứng đầu các bảng xếp hạng sau đó, bao gồm Venus and Mars (1975) và Wings at the Speed of Sound (1976). Tháng 9 năm 1977, McCartney đón chào người con thứ ba có tên là James và tới tháng 11, anh cho ra mắt "Mull of Kintyre" – ca khúc bán chạy nhất lịch sử âm nhạc Anh. Anh cũng phát hành Thrillington, bản hòa âm của Ram theo ý tưởng của Percy "Thrills" Thrillington và phần bìa được thiết kế bởi Hipgnosis. Khi London Town (1978) và Back to the Egg (1979) nhận được nhiều đánh giá trái chiều từ dư luận, số thành viên cộng tác với Wings và McCartney đã là rất lớn, trong số đó có thể kể tới Pete Townshend, David Gilmour, Gary Brooker, John Paul Jones, và John Bonham. Tính tới năm 1981, Wings đã có 7 album phòng thu, trong số đó 5 từng đứng đầu các bảng xếp hạng ở Mỹ, nhất là album Wings over America – album trực tiếp hiếm hoi giành được thứ hạng cao tại Mỹ. Họ cũng có 6 đĩa đơn số 1 tại đây, trong đó có "Listen to What the Man Said", "Silly Love Songs, "With a Little Luck", và "Coming Up". Trong suốt một thời gian dài, McCartney đã từ chối trình diễn những ca khúc nổi tiếng của mình thời The Beatles khi biểu diễn chung với nhóm Wings. Cho đến cuối thập niên 70, anh mới hát lại những ca khúc hit thời Beatles. Năm 1981, McCartney tuyên bố cảm thấy hết hứng thú với Wings và muốn thay đổi. Họ tuyên bố tan rã vào tháng 4 sau những tranh cãi liên miên về tiền lương và thu nhập. 1982–1990 Năm 1980, anh cho ra album solo thứ 2, McCartney II. Cũng giống album đầu tiên, Paul vẫn một tay sáng tác và chơi tất cả các nhạc cụ. Album bao gồm một số ca khúc nổi tiếng như "Coming Up", "Waterfalls" và "Temporary Secretary". Năm 1982, McCartney hợp tác với Stevie Wonder trong ca khúc hit sản xuất bởi George Martin, "Ebony and Ivory", sau này nằm trong album Tug of War của anh. Sau đó anh còn hợp tác với Michael Jackson trong ca khúc "The Girl Is Mine" nằm trong Thriller. Năm tiếp theo, họ thực hiện ca khúc đình đám của Jackson "Say Say Say", còn McCartney có được ca khúc solo đầu tiên đứng đầu tại Anh, "Pipes of Peace". Năm 1984, anh viết kịch bản, sản xuất và đóng phim Give My Regards to Broad Street. Roger Ebert chỉ dành cho bộ phim duy nhất 1 sao trên 5 và viết "bạn có thể bỏ qua nội dung để quan tâm duy nhất tới phần nhạc phim thôi". Album soundtrack này cũng có được vị trí số 1 tại UK Albums Chart với hit "No More Lonely Nights" lead guitar bởi Gilmour. Anh hợp tác với Eric Stewart trong Press to Play (1986) khi cùng viết tới một nửa số ca khúc trong album đó. Năm 1988, Paul phát hành Снова в СССР, một album có nhan đề tiếng Nga bao gồm 18 ca khúc nhạc "oldies" mà anh thu âm chỉ trong 2 ngày. Năm 1989, McCartney ra mắt Flowers in the Dirt hợp tác cùng Elvis Costello, David Gilmour và Nicky Hopkins. 1991–1999 Năm 1990, McCartney cho đĩa LP Tripping the Live Fantastic lấy từ The Paul McCartney World Tour, chuyến lưu diễn đầu tiên của ông trong thập kỷ. Trong những năm sau, Paul thử sức với nhạc cổ điển cùng dàn nhạc Hoàng gia thành phố Liverpool. Ông hợp tác với Carl Lewis để phát hành Liverpool Oratorio, với sự tham gia của Dame Kiri Te Kanawa, Sally Burgess, Jerry Hadley, Willard White, dàn nhạc Hoàng gia và dàn hợp ca thành phố Liverpool. Năm 1990, Paul McCartney được ghi danh vào Sách Kỷ lục Guinness với danh hiệu buổi trình diễn trực tiếp có số lượng người tham dự đông nhất của một nghệ sĩ solo. Buổi diễn ngày 21 tháng 4 năm 1990 của ông ở Rio De Janeiro, Brasil đã bán được 184.000 vé. Trong những năm 90, ông còn 2 lần hợp tác với Martin Glove của Killing Joke tạo nên The Fireman và ra mắt các album nhạc điện tử Strawberries Oceans Ships Forest (1993) và Rushes (1998). Ngoài ra, họ còn có album Off the Ground (1993) từ tour diễn The New World Tour, rồi sau đó là album Paul Is Live. Năm 1994, Paul tạm thời bỏ sự nghiệp solo để cùng George Harrison, Ringo Starr, và đội ngũ của George Martin thực hiện dự án The Beatles Anthology, gồm các cảnh quay và những bản thu âm trực tiếp các bài hát của ban nhạc. Ông cũng tham gia vào chương trình radio "Oobu Joobu" năm 1995, dự án truyền hình Westwood One. Cùng năm, Thái tử Charles trao tặng ông tấm bằng danh dự của Học viện Âm nhạc Hoàng gia Anh. Tháng 3 năm 1997, McCartney được phong tước MBE lần thứ 2. Năm 1997, ông trở lại với rock trong Flaming Pie, rồi lại là nhạc cổ điển với Standing Stone. Run Devil Run (1999) với sự tham gia của Ian Paice và Gilmour là album McCartney tâm huyết thực hiện cùng những tâm sức cuối cùng của Linda, người đã qua đời vào tháng 4 năm 1998 sau 17 tháng chống chọi với ung thư. Với Linda, McCartney đã viết "Nova" rồi sau đó là album A Garland for Linda (2000). Năm 1999, ông tiếp tục với nhạc cổ điển trong Working Classical, cùng lúc đó ông được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll. Tháng 5 năm 2000, ông được mời vào Hiệp hội nhạc sĩ và tác giả Anh, và tới tháng 6, ông phát hành Liverpool Sound Collage cùng Super Furry Animals và Youth, sử dụng những âm thanh và hiệu ứng mà ông yêu thích từ những năm 60. 2000–nay Năm 2001, McCartney cho phát hành album acoustic duy nhất có tên Unplugged (The Official Bootleg). Trước thảm họa 11 tháng 9 năm 2001, ông đã đứng ra tổ chức chương trình tưởng niệm The Concert for New York City, cùng với đó là việc ra mắt album Diving Rain có ca khúc "Freedom" liên quan tới sự kiện trên. Trong tour diễn sau đó, ông cũng phát hành album Back in the U.S. (còn có tên khác là Back in the World). Tháng 11 năm 2002, để kỉ niệm 1 năm ngày mất của Harrison, McCartney đã đứng ra tổ chức Concert for George vô cùng thành công. Ông cũng biểu diễn tại một số trận chung kết Super Bowl của giải National Football League, Mỹ. Năm 2005, Paul tiếp tục ra album Chaos and Creation in the Backyard, rồi sau đó Twin Freaks. Năm 2006, đó là Ecce Cor Meum, năm 2007, Memory Almost Full và năm 2008, Electric Arguments. Năm 2008, ông nhiệt tình tham gia buổi hòa nhạc nhân dịp Liverpool được công nhận là thủ đô Văn hóa châu Âu. Năm 2010, McCartney được tổng thống Mỹ Barack Obama trao giải thưởng Gershwin cho những đóng góp quan trọng tới nền âm nhạc đại chúng. McCartney là một nghệ sĩ vô cùng bận rộn với các tour diễn. Năm 2004, khi biểu diễn tại Cung điện Mùa đông ở St. Petersburg, Nga, Paul đã từng chi tới 36.000$ để thuê ba chiếc phản lực rải nước đá khô lên những đám mây nhằm ngăn chặn cơn mưa. Năm 2009, ông làm show tại Citi Field ở Queens, New York sau đó là album live Good Evening New York City. Năm 2010, ông mở Consol Energy Center ở Pittsburgh, Pennsylvania. Năm 2011, ông có buổi trình diễn tại Sân vận động Yankee, kèm với đó là ca khúc cổ điển "Ocean's Kingdom". Từ năm 2001, theo tour của ông bao gồm guitar Rusty Anderson và Brian Ray, Paul "Wix" Wickens chơi keyboards và tay trống Abe Laboriel, Jr. Trong album tri ân ra mắt vào năm 2012, Kisses on the Bottom, rất nhiều nghệ sĩ như Kiss, Garth Brooks, Billy Joel, Brian Wilson, Willie Nelson, Steve Miller, B.B. King đã hát lại các ca khúc nổi tiếng của McCartney. Tháng 2 năm 2012, ông được MusiCares chọn là nhân vật của năm. Năm 2012 là một năm bận rộn của Paul. Trong 2 buổi diễn ở Mexico City, ông đã chơi trước tổng cộng 100.000 người hâm mộ, thu về khoảng 6 triệu $. Tháng 6, ông trình diễn tại Diamond Jubilee Concert của nữ hoàng Elizabeth với 2 ca khúc "Let It Be" và "Live and Let Die". Ngày 27 tháng 7, Paul chính là người kết thúc Lễ khai mạc của Olympics Luân Đôn 2012 với ca khúc kinh điển "Hey Jude". Ông cũng là một trong những người ủng hộ tích cực cho Ủy ban Olympics của nước Anh với phần đóng góp lên tới 1 triệu $. Vào ngày 12 tháng 12 năm 2012, McCartney cùng với ba thành viên cũ của Nirvana (Krist Novoselic, Dave Grohl và Pat Smear) trình diễn trong màn khép lại của 12-12-12: The Concert for Sandy Relief, thu hút khoảng hai tỷ người trên toàn thế giới theo dõi. Vào ngày 28 tháng 8 năm 2013, McCartney phát hành ca khúc chủ đề của album phòng thu sắp tới của ông New, ra mắt vào tháng 10 năm 2013. Một chương trình đặc biệt vào giờ vàng đã được ghi hình vào ngày 27 tháng 1 năm 2014 tại Nhà hát Ed Sullivan với buổi phát sóng trên đài CBS ngày 9 tháng 2 năm 2014. Chương trình có sự góp mặt của McCartney và Ringo Starr, tôn vinh những di sản của The Beatles và màn trình diễn đột phá năm 1964 của họ trên The Ed Sullivan Show. Chương trình mang tên The Night That Changed America: A Grammy Salute to The Beatles, giới thiệu 22 bài hát kinh điển của The Beatles do nhiều nghệ sĩ khác nhau, bao gồm McCartney và Starr biểu diễn. Vào ngày 19 tháng 5 năm 2014, có thông tin cho rằng McCartney phải nằm liệt giường theo chỉ định của bác sĩ do một loại vi rút không xác định, khiến ông phải hủy chuyến lưu diễn tại Nhật Bản dự kiến bắt đầu vào cuối tuần. Chuyến lưu diễn này diễn ra tại Budokan Hall nổi tiếng. McCartney cũng phải dời lịch từ tháng 6 ở Mỹ sang tháng 10, theo yêu cầu của bác sĩ nghỉ ngơi để hồi phục sức khỏe. Tuy nhiên, ông đã tiếp tục chuyến lưu diễn kéo dài 3 tiếng ở Albany, New York vào ngày 5 tháng 7 năm 2014. Vào ngày 14 tháng 8 năm 2014, McCartney biểu diễn trong buổi hòa nhạc cuối cùng điễn ra tại Candlestick Park ở San Francisco, California trước khi kết thúc. Đây cũng là nơi mà The Beatles đã biểu diễn buổi hòa nhạc cuối cùng của họ vào năm 1966. Năm 2014, McCartney sáng tác và biểu diễn "Hope for the Future", bài hát kết thúc cho trò chơi điện tử Destiny. Vào tháng 11 năm 2014, một album kỷ niệm bao gồm 42 bài hát có tựa đề The Art of McCartney được phát hành, trong đó có sự tham gia của nhiều nghệ sĩ thể hiện lại các tác phẩm solo của McCartney và The Beatles. Cũng trong năm đó, McCartney hợp tác với Kanye West trong đĩa đơn "Only One", phát hành vào ngày 31 tháng 12. Vào tháng 1 năm 2015, McCartney hợp tác với ca sĩ Rihanna và Kanye West trong đĩa đơn "FourFiveSeconds". Họ đã phát hành một video âm nhạc chính thức cho bài hát vào tháng 1 và biểu diễn trực tiếp tại lễ trao giải Grammy lần thứ 57 vào ngày 8 tháng 2 năm 2015. McCartney góp mặt trong đĩa đơn "All Day" năm 2015 của West, cùng với Theophilus London và Allan Kingdom. Vào tháng 2 năm 2015, McCartney xuất hiện và biểu diễn cùng Paul Simon trong chương trình Saturday Night Live 40th Anniversary Special. McCartney và Simon đã thể hiện câu đầu tiên của "I'll Just Seen a Face" trên nền guitar acoustic, và McCartney sau đó đã biểu diễn "Maybe I'm Amazed". Vào ngày 10 tháng 6 năm 2016, McCartney phát hành album tổng hợp Pure McCartney, bao gồm tất cả các bài hát trong suốt sự nghiệp solo của McCartney và sản phẩm của ông với Wings and The Fireman, có sẵn ở ba định dạng khác nhau (2-CD, 4-CD, 4-LP và Digital). Phiên bản 4 CD bao gồm 67 bài hát, phần lớn trong số đó là 40 bài hát hay nhất. McCartney góp mặt trong bộ phim phiêu lưu năm 2017 Pirates of the Caribbean: Dead Men Tell No Tales, với vai diễn khách mời là Uncle Jack. Vào tháng 1 năm 2017, McCartney đã đệ đơn chống lại Sony/ATV Music Publishing lên tòa án quận Hoa Kỳ nhằm đòi quyền sở hữu một phần đóng góp của ông trong danh mục bài hát Lennon–McCartney bắt đầu từ năm 2018. Theo luật bản quyền của Hoa Kỳ, đối với các tác phẩm được xuất bản trước năm 1978, tác giả có thể đòi lại bản quyền đã chuyển nhượng cho một nhà xuất bản sau 56 năm. McCartney và Sony đã đồng ý một thỏa thuận bí mật vào tháng 6 năm 2017. Vào ngày 20 tháng 6 năm 2018, McCartney phát hành hai bài hát, "I Don't Know" và "Come On to Me", nằm trong album Egypt Station của ông, được phát hành vào ngày 7 tháng 9 thông qua Capitol Records. Egypt Station trở thành album đầu tiên của McCartney sau 36 năm đứng đầu bảng xếp hạng Billboard 200 và là album đầu tiên của ông ra mắt ở vị trí số một. Vào tháng 10 năm 2020, McCartney công bố album mới McCartney III, được phát hành vào ngày 11 tháng 12 thông qua Capitol Records. Một album "diễn giải lại, phối lại và cover lại" có tên McCartney III Imagined được phát hành vào ngày 16 tháng 4 năm 2021. Cuốn sách The Lyrics: 1956 to the Present của McCartney dự kiến phát hành vào tháng 11 năm 2021. Cuốn sách được mô tả như một "bức chân dung tự họa của 154 bài hát". Nó dựa trên các cuộc nói chuyện giữa McCartney với nhà thơ Ireland Paul Muldoon. The Lyrics được vinh danh là Quyển sách của năm bởi cả Barnes & Noble và Waterstones. Sáng tác nghệ thuật khác Sau khi có được tấm bằng A-level ở tuổi 19, nghệ thuật là mối quan tâm duy nhất của McCartney. Tới giữa những năm 60, anh bắt đầu quan tâm tới visual art, cùng với đó kết bạn với nhiều ông chủ các phòng tranh, tham gia vào vài dự án phim, kịch và nhạc cổ điển. Ban đầu, Paul làm quen với nghệ sĩ avant-garde John Dunbar, người đã giới thiệu anh với Robert Fraser, người định hướng cho McCartney những cung cách của một nhà văn và nghệ sĩ. Anh là người chỉnh sửa và ra mắt phòng tranh Indica Gallery ở Mason's Yard, Luân Đôn, nơi sau này Lennon gặp gỡ Ono. Indica Gallery giúp McCartney làm quen với Miles, người làm việc ở tờ International Times. Miles sau này là quản lý của một nhãn đĩa nhỏ của Apple, Zapple Records, và là người viết cuốn tự truyện chính thức của McCartney, Many Years From Now (1997). Khi còn ở nhà của Jane Asher, McCartney được chính mẹ của Jane hướng dẫn học đàn piano khi bà là giáo viên của Trường Nhạc kịch Guilddall, nơi mà George Martin từng theo học. Khả năng sáng tác của anh được học từ Karlheinz Stockhausen và Luciano Berio. Về sau Paul cũng thử sức với nhạc tân cổ điển cùng các thể loại điện tử, sau đó là văn học. McCartney là người bảo trợ cho Học viện Nghệ thuật thành phố Liverpool, ngôi trường được xây từ cơ sở hạ tầng của Trường nam sinh Liverpool. Hội họa Qua Robert Fraser – một chủ sở hữu phòng tranh – mà McCartney có được mối quen biết với rất nhiều nghệ sĩ, trong đó có thể kể tới Andy Warhol, Claes Oldenburg, Peter Blake và Richard Hamilton, nhờ đó anh bắt đầu có được những kiến thức đầu tiên về đánh giá nghệ thuật. Anh bắt đầu mua tranh của René Magritte và nhờ ông thiết kế logo cho Apple. McCartney bắt đầu thích vẽ khi xem nghệ sĩ Willem de Kooning thể hiện ở xưởng vẽ của mình. Anh bắt đầu vẽ từ năm 1983 và tới năm 1999, Paul có triển lãm tranh đầu tiên (cùng vài bức của Lennon, Andy Warhol và David Bowie và ảnh chụp của Linda) ở Siegen, Đức. Wolfgang Suttner là người quan tâm tới phong cách của McCartney và những phản ứng tích cực đã thúc đẩy ông thực hiện triển lãm tại Anh. Triển lãm đầu tiên được mở tại Bristol, Anh với 50 bức được trưng bày. Trước đây, McCartney từng tin rằng "chỉ có những người từng học trường nghệ thuật mới có thể vẽ được tranh", như Lennon nói. Tháng 10 năm 2000, Ono và McCartney cùng tổ chức những cuộc triển lãm tranh tại Luân Đôn và New York. McCartney nói: "Tôi đã dành buổi triển lãm của mình cho Walker Art Gallery ở Liverpool, nơi mà Lennon và tôi từng tốn rất nhiều thời gian vào mỗi buổi chiều. Tôi thực sự rất vui vì điều đó. Tôi chưa từng nói với ai rằng tôi đã vẽ suốt 15 năm qua, nhưng giờ đã tới lúc mọi người cần biết điều đó." Chính Paul là người thiết kế serie tem cho Isle of Man Post vào năm 2002, và theo BBC, ông là ngôi sao nhạc rock đầu tiên thực hiện điều này. Văn học Khi Paul còn nhỏ, mẹ luôn đọc thơ cho cậu và giục cậu tích cực đọc sách, trong khi người cha hay chơi đố chữ luôn rủ cậu và em trai Micheal chơi cùng. Sau đó cậu bị ảnh hưởng bởi Alan Durband – thầy giáo dạy văn ở Trường nam sinh. Durband là người đồng sáng lập và gây quỹ cho nhà hát Everyman ở Liverpool – nơi mà Willy Russell cũng từng làm việc – và giới thiệu cho McCartney những tác phẩm của Geoffrey Chaucer. Năm 2001, McCartney cho phát hành cuốn Blackbird Singing bao gồm những phần thơ và lời của những ca khúc của ông. Trong lời giới thiệu cuốn sách, ông nói: "Khi tôi còn là một chú nhóc... trí óc tôi từng bị lấn át bởi ý nghĩ xuất bản một tập thơ cho tờ báo trường. Tôi đã từng viết một vài điều sâu sắc và ý nghĩa, song nó đã bị từ chối, vậy nên tôi nghĩ tôi nên quay lại làm điều mà tôi chưa từng làm được." Vài năm sau, ông có viết một bài thơ tưởng nhớ cái chết của người bạn ấu thơ, Ivan Vaughan. Năm 2005, ông cộng tác cùng Philip Ardagh và Geoff Dunbar để viết cuốn sách High in the Clouds: An Urban Furry Tail. Tờ The Guardian gọi đây là "cuốn sách chống chủ nghĩa tư bản dành cho thiếu nhi". Phim ảnh Khi còn nhỏ, McCartney luôn quan tâm tới phim hoạt hình và tới năm 1981, anh có đề nghị Geoff Dunbar để anh làm bộ phim hoạt hình ngắn có nhan đề Rupert and the Frog Song. McCartney vừa là người viết kịch bản, sản xuất và lồng tiếng cho vài nhân vật của phim. Năm 1992, Paul lại cùng Dunbar tham gia vào một dự án phim nói về nghệ sĩ người Pháp Honoré Daumier - bộ phim giúp họ cùng nhận được giải BAFTA. Năm 2004, họ cùng thực hiện bộ phim hoạt hình ngắn có tên Tropic Island Hum. Năm 1995, McCartney xuất hiện trong tập phim "Lisa the Vegetarian" của serie phim hoạt hình Mỹ The Simpsons và đạo diễn bộ phim tư liệu về ban nhạc Grateful Dead. Năm 2000, McCartney cho ra mắt Wingspan: An Intimate Portrait, bộ phim tài liệu bao gồm ảnh chụp và những thước phim và hình ảnh hậu trường mà ông và Linda thực hiện cùng gia đình và ban nhạc. Xen giữa bộ phim 88 phút là một đoạn đối thoại giữa Mary McCartney với bố. Mary chính là đứa bé trong chiếc áo jacket của Paul ở ảnh bìa của album solo đầu tay của ông, McCartney, và là một trong những người sản xuất bộ phim tài liệu. Các mối quan hệ cá nhân Bạn gái Dot Rhone Bạn gái "thực sự" đầu tiên của McCartney là Dot Rhone, người anh gặp tại một quán bar năm 1959. Khi Paul đi lưu diễn cùng ban nhạc tại Hamburg, anh viết cho Rhone rất đều đặn, và cô giới thiệu Cynthia Powell cho ban nhạc cho lần quay lại đây của họ vào năm 1962. Họ đã có hơn 2 năm rưỡi quan hệ, cho tới khi Rhone bị sẩy thai, mà theo Spitz, McCartney có cớ để hủy đính hôn trước đó. Jane Asher Ngày 18 tháng 3 năm 1963, McCartney lần đầu gặp nữ diễn viên Jane Asher, khi phóng viên hỏi liệu cô có thể chụp ảnh cùng The Beatles trong buổi diễn của họ tại Royal Albert Hall. Cả hai bắt đầu mối quan hệ và McCartney dọn tới ở cùng Asher tại nhà bố mẹ cô ở địa chí 57 phố Wimpole, Luân Đôn. Họ ở đó gần 3 năm cho tới khi anh dọn ra nhà riêng ở St John's Wood. Khi ở nhà Asher, McCartney đã viết rất nhiều ca khúc để đời, trong đó có thể kể tới "Yesterday", "And I Love Her", "You Won't See Me", và "I'm Looking Through You". Họ đã có mối tình kéo dài 5 năm, có kế hoạch kết hôn đàng hoàng, trước khi Asher tuyên bố hủy đính hôn khi phát hiện McCartney có mối quan hệ với một người con gái khác, Francie Schwartz. Hôn nhân Linda Eastman Linda Eastman là một người yêu nhạc thực sự khi từng nói: "Tuổi teen của tôi là dành cho các chương trình radio", và cô cũng từng tìm mọi cách kể từ khi còn đi học để có vé xem Fabian, Bobby Darin, hay Chuck Berry trình diễn. Cô là người chụp ảnh cho rất nhiều nghệ sĩ nổi tiếng như The Jimi Hendrix Experience, The Grateful Dead, The Doors, và The Beatles. Cô nói khi lần đầu gặp họ năm 1966 tại Sân vận động Shea: "John là người hùng của đời tôi, vậy nên tôi luôn chú ý tới anh ấy. Nhưng khi tôi tiếp xúc thì sự cuốn hút đó nhanh chóng biến mất, và tôi lại thấy thích Paul hơn." McCartney và Eastman lần đầu tiếp xúc với nhau tại quán bar The Bag O'Nails năm 1967. Paul nhớ lại: "Cái buổi tối mà tôi và Linda gặp nhau, tôi vốn đã thấy cô ấy qua lại trong quán nhiều, và tôi nghĩ tốt hơn là nên bắt chuyện thử, tôi nghĩ là tôi phải làm vậy..." Linda nói: "Tôi có hơi ngượng ngùng vào tối đó. Tôi có đi cùng với một vài người khác, và tôi thấy Paul ngồi ở một góc quán bar. Anh ấy trông thật bảnh bao, tôi thấy tự tin và muốn nói chuyện thử với anh." Họ kết hôn năm 1969, và anh nói về tình yêu của họ: "Chúng tôi có thật nhiều điều tuyệt vời,... nó tự nhiên như những gì chúng tôi có. Niềm vui của chúng tôi đơn giản là đi chơi. Linda luôn biết cách thể hiện trong mọi khoảnh khắc." Anh cũng thêm: "Chúng tôi đã có lúc điên dại. Chúng tôi đã cãi vã ra trò vào đêm trước khi quyết định kết hôn... và thật kỳ diệu là chúng tôi đã vượt qua được." Hai vợ chồng đã cùng cộng tác trong lĩnh vực âm nhạc sau khi The Beatles tan rã vào năm 1970 với việc lập ra ban nhạc Wings. Họ đều ăn chay trường vì là thành viên của hiệp hội bảo vệ động vật hoang dã. Họ có bốn người con, Heather (con riêng của Linda), Mary, Stella và James. Linda qua đời năm 1998 vì ung thư vú. Sau cái chết của cô, McCartney nói với tờ Daily Mail: "Tôi cần những lời an ủi vì tôi biết tôi thực sự cần những sự giúp đỡ. Cô ấy thật tuyệt vời, giúp tôi vựot qua những sai lầm... Nhưng tôi chợt nghĩ, rằng chúng ta cũng chỉ là những con người. Đám cưới của chúng tôi thực sự hoàn hảo. Chúng tôi chỉ như là những người đang yêu nhau mà có thêm những đứa trẻ." Heather Mills Ông tái hôn cùng Heather Mills, vào tháng 6 năm 2002. Năm 2003, họ có đứa con đầu lòng, Beatrice Milly. Năm 2004, McCartney nói trước truyền thông: "Họ (công chúng) không đánh giá chuyện này như khi tôi với Asher", "Tôi cưới ở New York và đã có con, và có vẻ họ không thích điều đó.". Họ ly thân năm 2006 và chính thức ly dị vào năm 2008 với cái giá 140 triệu đô-la. Nancy Shevell Ông cưới người mẫu người New York, Nancy Shevell, tại Old Marylebone Town Hall, Luân Đôn ngày 9 tháng 10 năm 2011. Cả hai đã hẹn hò từ tháng 11 năm 2007. Là người từng chiến thắng căn bệnh ung thư vú, Shevell cũng là thành viên của New York Metropolitan Transportation Authority và phó chủ tịch của công ty vận tải sở hữu New England Motor Freight. The Beatles John Lennon Dù có một mối quan hệ căng thẳng với Lennon sau khi The Beatles tan rã, họ vẫn trở nên thân thiết kể từ sau năm 1974 khi cùng tham gia vào 2 chương trình ca nhạc. Tuy nhiên chỉ sau đó ít lâu, họ lại trở về trạng thái đối đầu. Ngày 24 tháng 4 năm 1976, cả hai cùng ngồi xem chương trình Saturday Night Live tại nhà Lennon ở thành phố New York. Đây cũng là lần cuối cùng hai người trực tiếp gặp mặt nhau. Sự kiện này được thực hiện thành bộ phim Two of Us, chiếu trên truyền hình năm 2000. Lần cuối McCartney gọi điện cho Lennon là hôm trước khi anh và Ono phát hành Double Fantasy: "Điều đó thực sự an ủi tôi, bởi vì tôi luôn cảm thấy thật buồn khi chúng tôi không còn ngồi bên nhau để cùng nói về sự khác biệt ở mỗi người. Thật may mắn làm sao, rằng lần cuối chúng tôi còn được nói chuyện thực sự tuyệt vời, vì chúng tôi chưa từng có được những khoảnh khắc bùng nổ dữ dội vậy." Sáng sớm ngày 9 tháng 12 năm 1980, McCartney tỉnh dậy với tin Lennon bị ám sát tại nhà riêng đêm hôm trước. Tối ngày hôm đó, McCartney rời phòng thu ở phố Oxford và đối diện trước đám phóng viên đang ngóng đợi những phản ứng từ chính anh. Anh bị chỉ trích dữ dội khi trả lời: "Đó là một vấn đề sao?" ("It's a drag?"). Paul sau đó giải thích: "Khi John bị ám sát bởi ai đó và trước mặt tôi là bao nhiêu chiếc micro với câu hỏi: 'Anh đang nghĩ gì?', vậy nên tôi trả lời như vậy với ý rằng tôi vẫn đang day dứt với từng nỗi đau trong lòng." Anh cũng nói về lần đầu gặp gỡ Ono sau cái chết của Lennon: "Tôi gặp Yoko sau cái ngày định mệnh đó và điều đầu tiên cô ấy nói với tôi: "Có lẽ John quá ngây thơ với anh". Cuộc gọi cuối cùng giữa chúng tôi khẳng định rằng chúng tôi vẫn là những người bạn tốt. Anh ấy luôn là một chàng trai nồng hậu, John. Anh ấy thích hạ chiếc kính râm xuống, và nói: "Chỉ có thể là tôi". Điều đó vững chãi như những bức tường vậy. Một tấm khiên. Đó là những khoảnh khắc mà tôi không bao giờ quên." Năm 1983, Paul bộc bạch: "Tôi sẽ không trở thành một kẻ khó tính và kín đáo như vậy nếu tôi biết là John sắp phải rời xa thế giới. Tôi sẽ cố gắng bỏ đi thứ "mặt nạ" để có mối quan hệ tốt hơn với anh ấy." McCartney nói rằng đêm đó, anh đọc tin trên truyền hình, ngồi với các con, và nằm khóc suốt tối. Năm 1997, anh nói rằng các Beatle khác đều cảm thấy lo lắng khi nghĩ rằng mình có thể là mục tiêu ám sát. Năm 2002, McCartney trả lời trên tờ Mojo rằng Lennon là một "người anh hùng". Tháng 6 năm 1981, McCartney gặp Harrison và Starr để cùng thu âm ca khúc "All Those Years Ago". Năm 1982, McCartney viết "Here Today" tưởng nhớ những năm tháng anh còn bên Lennon. George Harrison Harrison nói về McCartney: "Paul chỉ tận tình giúp đỡ khi bạn giúp anh ấy khoảng 10 bài, đáng lẽ anh ấy nên giúp đỡ các sáng tác của tôi. Điều đó thật buồn. Thực tế nó là sự ích kỷ... Có rất nhiều ca khúc mà tôi phải chơi bass, bởi vì đó là những gì mà Paul muốn làm. Nếu anh ấy là người viết ca khúc, anh ấy sẽ tới phòng thu và nói: "Hãy làm đi". Anh ấy không cho bạn chút cơ hội nào để thể hiện mình." Cuối năm 2001, Paul hay tin George không thể chiến thắng được căn bệnh ung thư phổi. Sau khi George qua đời ngày 29 tháng 11 năm 2001, Paul đã trả lời trước phóng viên ở gần nhà của George ở St. John's Wood, rằng "(George) là một chàng trai tuyệt vời và là một người đàn ông mạnh mẽ vô cùng đa cảm với cuộc sống.""Chúng tôi đã lớn lên bên nhau và chúng tôi đã cùng có rất nhiều kỷ niệm đẹp. Đó là những điều tôi luôn khắc ghi. Tôi luôn yêu cậu ấy như với một người em trai." Những ngày cuối đời, Harrison sống tại một phòng điều trị ở Hollywood do McCartney chính tay trả tiền. Một năm sau ngày mất của Harrison, McCartney đã chơi "Something" bằng đàn ukulele tại chương trình tưởng niệm Concert for George. Anh cũng chơi "For You Blue" và "All Things Must Pass", cùng với đó là chơi piano trong bản hát "While My Guitar Gently Weeps" trình diễn bởi Eric Clapton. Ringo Starr Dù rằng Starr từng nói về McCartney là một kẻ "tốt bụng song không thành thật", cả hai vẫn thường giúp đỡ hoạt động các công ty của nhau, và nhất là từng có một chuyến nghỉ mát gia đình ở Hy Lạp. Starr nhớ lại: "Dù chúng tôi không hề hiểu ca khúc mà khách sạn bật, song tới đêm cuối Paul và tôi trở thành những rocker chơi "What I'd Say"". Đã từng có một số thời gian họ có những khúc mắc, như trong quá trình thu âm Album trắng. Theo Peter Brown: "Thật tệ nếu cữ giữ bí mật rằng khi Starr rời nhóm, Paul đã phải chơi trống cho các sáng tác của mình..." Năm 1968, cả hai đã cãi nhau khi Paul phàn nàn việc chơi trống của Starr trong "Back in the U.S.S.R." và điều đó khiến Starr bực tức rời nhóm trong một thời gian ngắn. Starr trở lại nhóm vào tháng 9 và thấy những lẵng hoa trên dàn trống của anh. Starr nói về tài năng của McCartney: "Một trong những tay bass xuất chúng nhất của thế giới. Tuy nhiên, anh ấy có cá tính rất mạnh... để thể hiện mình... vậy nên những bất đồng là điều không thể tránh khỏi theo thời gian." Đời sống cá nhân Sử dụng chất kích thích McCartney lần đầu sử dụng chất kích thích khi The Beatles biểu diễn tại Hamburg, Đức. Họ dùng preludin để đảm bảo có được năng lượng, và được Astrid Kirchherr ủng hộ. Theo McCartney, thông thường mỗi lần anh chỉ dùng 1-2 viên, trong khi Lennon dùng mỗi lần 4-5 viên mỗi tối. Anh nói rằng đã cảm thấy rất "phê" khi Bob Dylan giới thiệu cần sa cho ban nhạc ở New York năm 1964. Việc lạm dụng nó dần trở thành thói quen, theo Barry Miles, mọi ca từ của The Beatles sau này luôn có hàm ý "thuốc" hoặc "phê", lấy cảm hứng khi họ đang dùng cần sa, điển hình trong ca khúc "Got to Get You into My Life". Khi quay bộ phim Help!, Paul thú nhận rằng anh thường hút thuốc khi lái xe tới trường quay, và điều đó đôi khi khiến anh không biết đang đi đường nào. Đạo diễn Dick Lester từng rủ rê anh dùng heroin tuy nhiên bị anh thẳng thừng từ chối. Tuy nhiên, McCartney đã thử dùng cocaine khi bắt đầu dự án Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band bởi nghệ sĩ Robert Fraser. Anh nói rằng việc anh quyết tâm bỏ chất kích thích là vì anh ghét những cảm giác chán nản, hụt hẫng sau khi những cơn thuốc chấm dứt. Paul bắt đầu thử LSD vào mùa thu năm 1966 qua lời giới thiệu của người bạn thân Tara Browne. Ngày 21 tháng 3 năm 1967, anh có lần thử thứ 2 cùng Lennon tại phòng thu trong quá trình thu âm Sgt. Pepper. Anh trở thành Beatle đầu tiên thú nhận sử dụng chất kích thích trước công chúng khi nói rằng chúng "khai sáng" anh, giúp anh "trở nên một người tốt hơn, trung thực hơn, vị tha hơn với xã hội". Ngày 24 tháng 7, McCartney có bài tranh luận trên tờ The Times về tính hợp pháp của cần sa, yêu cầu phóng thích những người sở hữu và đề nghị những nghiên cứu về giá trị y học của chúng. Anh trở thành nghệ sĩ đầu tiên của Anh thừa nhận mình sử dụng LSD trước công chúng. Một chiến dịch được kêu gọi bởi một nhóm có tên là Soma, bao gồm nhiều nhân vật quan trọng, như một vài Nghị sĩ Quốc hội, The Beatles, Brian Epstein, R.D. Laing, Francis Crick và Graham Greene. Dù trước đó chưa từng bị bắt bởi cảnh sát như Lennon, Harrison hay Mick Jagger đã từng bị, nhưng cuối cùng tới năm 1972, anh bị cảnh sát Thụy Điển điều tra với tội danh tàng trữ cần sa, cùng với đó là bằng chứng chứng tỏ anh đang trông giống cây này tại trang trại của mình. McCartney bị bắt một lần nữa vào năm 1975, rồi 1980 khi cùng Wings biểu diễn tại Nhật Bản. Cảnh sát đã tìm được khoảng 8 ounce (218.3 g) cần sa trong hành lý của anh, và McCartney bị dẫn tới phòng tạm giam chờ quyết định của chính phủ Nhật. Sau 10 ngày, anh được thả ra và liền bị trục xuất. Paul bị bắt một lần nữa vào năm 1984, và tới năm 1997, anh nói: "Người người hút thuốc và việc biến nó thành một tội thực sự là sai lầm." Thiền học Ngày 24 tháng 8 năm 1967, McCartney lần đầu gặp thiền sư Maharishi Mahesh Yogi ở khách sạn Hilton thành phố Luân Đôn, sau đó, anh tới Bangor, phía bắc xứ Wales tham dự một hội thảo mà The Beatles bắt đầu nghiên cứu sâu về thiền siêu việt. "Thiền thực sự là một điều tuyệt vời và tới giờ tôi vẫn sử dụng các chân ngôn. Tôi thấy điều đó thực sự nhẹ nhàng, và khi bạn ngày một hiểu nó, bạn sẽ lại càng quan tâm tới nó hơn." Quãng thời gian sau đó mà McCartney cùng The Beatles dành cho việc tới thỉnh Maharishi ở Ấn Độ chính là lúc anh sáng tác với khối lượng rất lớn ca khúc cho các album Album trắng và Abbey Road sau này. Dù McCartney nói anh không hề tiết lộ các chân ngôn cho bất kỳ ai, song anh đã thừa nhận từng có lần nói cho Linda, và anh đã thiền rất nhiều trong thời gian anh bị giam tại Nhật Bản. Năm 2009, McCartney và Starr cùng tham gia vào buổi biểu diễn tại Radio City Music Hall để gây quỹ David Lynch Foundation nhằm giới thiệu thiền siêu việt cho những trẻ em mắc bệnh hiểm nghèo. Các hoạt động xã hội Bảo vệ quyền động vật là một trong những hoạt động tích cực nhất mà Paul với Linda cùng thực hiện. Họ trở thành những người ăn chay trường, sau khi một lần Paul đang ăn thịt cừu và nhìn thấy những con cừu khác qua cửa sổ. Paul nói anh bắt đầu quan tâm tới vấn đề này sau khi xem cảnh nai mẹ bị bắn trong bộ phim Bambi (1942) của Disney. Sau khi Linda qua đời, anh vẫn tiếp tục các hoạt động bảo vệ quyền động vật. Năm 1999, Paul trả 3.000.000 £ cho công ty Linda McCartney Foods đảm bảo tiếp tục sản xuất các thực phẩm theo công nghệ di truyền. Sau đám cưới với Heather Mills, ông tham gia vào chiến dịch vận động chống bom mìn và cùng làm chủ tịch của Adopt-A-Minefield. Năm 2003, McCartney tổ chức một buổi diễn cá nhân để quyên góp tiền cho chiến dịch của vợ. Ông cũng mặc chiếc áo ghi dòng chữ "no more land mines" trong tour diễn Back in the World của mình. Năm 2006, ông tới đảo Hoàng tử Edward nhằm góp phần huy động sự chú ý của thế giới trước nạn săn bắt hải cẩu. Chuyến đi của ông gây chú ý mạnh mẽ tới tỉnh Newfoundland và Labrador phía bắc Canada, nơi mà săn bắt loài động vật này là nguồn thu nhập chính. Đôi vợ chồng đã cùng tranh luận với chủ tịch tỉnh Newfoundland, Danny Williams, trong chương trình Larry King Live. Tại đây, họ đã cùng thống nhất rằng người ngư dân nên dừng việc săn bắt hải cẩu, thay vào đó nên bắt đầu quan tâm tới chúng hơn. McCartney cũng chỉ trích các công ty sản xuất lông thú của Trung Quốc, cùng với đó ủng hộ chương trình Make Poverty History. McCartney thường xuyên tham gia và tổ chức các buổi trình diễn từ thiện, trong đó có thể kể tới Concerts for the People of Kampuchea, Ferry Aid, Band Aid, Live Aid. Ông cũng ghi âm ca khúc "Ferry Cross the Mersey" (1989) để tưởng niệm thảm họa Hillsborough. Năm 2004, ông đóng góp ca khúc "US Campaign for Burma", ủng hộ nhà hoạt động hòa bình Aung San Suu Kyi, và năm 2008, ông lại đóng góp một ca khúc vào CD của Aid Still Required nhằm giúp đỡ khôi phục châu Á sau thảm họa sóng thần 2004. Năm 2009, ông viết cho Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 Tenzin Gyatso hỏi lý do tại sao ông không phải là một người ăn chay. McCartney nói: "Ông ấy đã trả lời vô cùng lịch sự, nói rằng bác sĩ của tôi khuyên tôi cần phải ăn thịt. Tôi trả lời ông ấy rằng tôi thấy điều đó không hoàn toàn đúng. Chúng tôi đã trao đổi rất nhiều, và giờ tôi nghĩ ông ấy đã giống với một người ăn chay hơn. Tôi nghĩ tới giờ ông ấy... có thể tìm thấy chất đạm từ nhiều nguồn khác. Thực sự là vô cùng cổ hủ nếu ông ấy nghĩ rằng chất đạm chỉ có ở thịt. Và thực tế sẽ là không đúng nếu một Đạt-lại Lạt-ma nói rằng: "Đừng làm hại chúng sinh... Oh, và tôi đang ăn một miếng thịt."" Bóng đá McCartney bị bắt gặp khi xem trận chung kết cúp FA năm 1968 giữa West Bromwich Albion và Everton F.C. Sau trận đấu, anh còn vui vẻ chia thuốc lá cho vài cổ động viên. Dù công khai ủng hộ Everton, anh cũng tuyên bố mình yêu thích cả Liverpool F.C. khi mặc áo đấu của họ trong một bức ảnh chụp cũng vào năm 1968. Một cựu cầu thủ của Liverpool, Albert Stubbins, cũng được xuất hiện trên bìa của Sgt. Pepper. Video ca khúc "Pipes of Peace" (1983) của McCartney tái hiện lại trận đấu đêm Giáng sinh 1915 giữa Đức và Anh hồi Chiến tranh thế giới thứ nhất. Khi kết thúc buổi diễn "Coming Up (Live at Glasgow)", khán giả vẫn hô vang "Paul McCartney!" cho tới khi anh hét to "Kenny Dalglish!" (huyền thoại bóng đá của Scotland và CLB Liverpool). McCartney lại bị bắt gặp lần nữa khi xem trận chung kết cúp FA năm 1986 giữa Liverpool và Everton. Năm 2008, ông biểu diễn tại Anfield trình diễn nhân dịp thành phố Liverpool nhận giải thưởng Thủ đô văn hóa của châu Âu. Dave Grohl của Foo Fighters hát cùng ông ca khúc "Band on the Run", sau đó là chơi trống cho "Back in the U.S.S.R.". Yoko Ono và Olivia Harrison cùng tới tham dự buổi diễn, cùng với đó là HLV của Liverpool, Rafael Benítez. Khi được hỏi về lý do vì sao ông ủng hộ cả hai đội bóng đối địch, ông giải thích: "Thế này, bố tôi sinh ra ở Everton, về lý thuyết gia đình của tôi là những người ủng hộ Everton, vậy nên nếu có trận đấu nào mà 2 đội đối đầu, tôi sẽ ủng hộ Everton. Nhưng sau buổi biểu diễn ở sân vận động Wembley, tôi kết thân với Dalglish và tôi nghĩ sẽ ủng hộ cả hai đội, bởi họ đều tới từ Liverpool!" Công việc doanh nhân McCartney là một trong những người giàu nhất nước Anh, với tổng tài sản ước tính khoảng 475 triệu bảng (năm 2010). Ngoài Apple Corps, công ty MPL Communications của ông sở hữu tới 25.000 ca khúc, trong đó sở hữu quyền phát hành của các nghệ sĩ như Guys and Dolls, A Chorus Line, và Grease. Ông kiếm được 40 triệu bảng vào năm 2003, trở thành người Anh kiếm được nhiều nhất ngành giải trí. Năm 2005, con số đó là 48,5 triệu. Năm 2006, "Paul McCartney" được MPL đăng ký bản quyền và trở thành một thương hiệu riêng. Northern Songs Northern Songs được thành lập vào năm 1963 bởi Dick James nhằm phát hành các sáng tác của Lennon-McCartney. The Beatles ngừng cộng tác với họ sau khi gia nhập Apple Corps vào năm 1968. Năm 1969, Northern Songs bị bán cho Associated Television, rồi được Michael Jackson mua lại vào năm 1985. Trong một thời gian dài, McCartney luôn tỏ rõ thái độ không hài lòng khi Jackson sở hữu Northern Songs. Dù không có hoàn toàn quyền sở hữu các ca khúc của The Beatles, McCartney vẫn nhận được 1/3 giá trị của chúng tại Mỹ, và khoảng 50-55% giá trị trên toàn thế giới. Hai đĩa đơn đầu tiên của họ, "Love Me Do" và "P.S. I Love You", thuộc quyền sở hữu của nhãn đĩa Ardmore & Beechwood, được McCartney mua lại vào giữa những năm 80, và trở thành 2 ca khúc duy nhất của The Beatles thuộc quyền sở hữu của MPL Communications. Đánh giá Là một tài năng âm nhạc, song McCartney lại chủ yếu tự học. Theo Ian MacDonald, "rất tự nhiên thứ âm nhạc của ông ấy không hề được đào tạo... [Ông ấy] thường hoàn thành công việc của mình hầu như hoàn toàn bởi bản năng, khả năng hòa âm của ông chủ yếu dựa vào việc ghi nhớ các cao độ hoàn hảo và đôi tai vô cùng sắc sảo." Về phần mình, McCartney nói: "Tôi thích nghĩ về năng khiếu chơi nhạc của mình... giống như những nghệ sĩ trước kia vẽ tranh trong hang động vậy: họ vẽ mà không cần được chỉ dẫn." Bass McCartney được ngưỡng mộ bởi rất nhiều tay bass lừng danh, trong đó có Sting, Mike Elizondo và Colin Moulding của XTC. Ông được biết đến khi sử dụng thường xuyên gảy, tuy nhiên đôi khi ông cũng chơi fingerstyle rất tuyệt. Trong những năm đầu với The Beatles, Paul hay dùng cây bass Höfner 500/1 trong liveshow cũng như thu âm. Từ năm 1965, ông chuyển sang Rickenbacker 4001s tích hợp với dàn ampli của Vox. Những năm gần đây, ông dùng dàn Mesa Boogie để chỉnh âm bass. McCartney thừa nhận ông bị ảnh hưởng bởi phong cách của James Jamerson, người mà cùng Brian Wilson được ông gọi là 2 "người hùng" của mình. Ông cũng kể thêm Stanley Clarke như là tay bass mà ông ưa thích nhất. Trong khi MacDonald cho rằng ca khúc "She's a Woman" là ca khúc mà McCartney đã có bước tiến rõ rệt trong cách chơi bass của mình, thì người viết sử về The Beatles, Chris Ingham, lại cho rằng Rubber Soul là dấu mốc mà Paul "thực sự điều khiển được" cây bass của mình, đặc biệt trong ca khúc "The Word". Tony Bacon và Gareth Morgan cùng đồng tình với quan điểm đó, cho rằng sự "tiến bộ" của McCartney là một "đỉnh cao mới của cách chơi bass" và là "bằng chứng rõ ràng trong mặt thu âm về tài năng của ông với nhạc cụ này". MacDonald đưa ra kết luận rằng McCartney ảnh hưởng từ "Papa's Got a Brand New Bag" của James Brown, "In the Midnight Hour" của Pickett và nhạc soul của Mỹ, từ đó "bộc lộ một cách tự phát cách chơi bass vào thời điểm đó". Bacon và Morgan miêu tả rằng cách chơi bass của McCartney trong "Rain" "thực sự bất ngờ... [McCartney] nghĩ về cả việc chơi bass làm nền cũng như làm lead [trong khi lựa chọn] vào các đoạn thắt... việc đó giúp ông làm rõ hơn các giai điệu mà không cần phải làm cho âm thanh thêm sắc". MacDonald gọi ca khúc đó là mặt B đĩa đơn mượt mà nhất, "thứ hòa âm lanh lảnh xung quanh tiếng bass của McCartney". Ông cũng miêu tả những tiếng bass đó là "sự đe dọa tiềm tàng có thể áp đảo toàn bộ ca khúc", cùng với đó là sự chú ý tới ảnh hưởng của âm nhạc cổ điển Ấn Độ trong "những đoạn luyến cuốn hút của phần bass". Acoustic guitar Với acoustic, McCartney thường chơi kiểu flatpick với gảy, tuy nhiên đôi lúc ông cũng chơi gảy bằng ngón (fingerpick). Hàng loạt ca khúc của The Beatles mà Paul chơi acoustic vô cùng thuần thục: "Yesterday", "I'm Looking Through You", "Michelle", "Blackbird", "I Will", "Mother Nature's Son" và "Rocky Raccoon". Trong số đó, "Blackbird" là ca khúc ưa thích của ông: "Tôi thường có vài trò khi chơi fingerpick, và trong "Blackbird" đôi lúc tôi đánh đồng thời 2 dây cùng lúc... Tôi thực sự cố bắt chước mấy nghệ sĩ chơi nhạc folk." McCartney hay sử dụng cây Epiphone Texan, cùng với đó là Martin D-28. Guitar điện McCartney chơi lead guitar trong khá nhiều ca khúc của The Beatles, mà theo MacDonald đó là "cách chơi guitar solo vô cùng góc cạnh và dữ dội" trong "Drive My Car" với cây Epiphone Casino; Paul nói: "Nếu tôi được cầm một cây guitar điện thì nó phải chơi như thế." Ông cũng chơi lead trong sáng tác của Harrison "Taxman", mà theo MacDonald là "cách chơi guitar solo gây sốc", cùng với đó là "rền rĩ" trong "Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band" và "Helter Skelter", "sáng lòa" trong "Good Morning Good Morning". Trong "Taxman", McCartney bình luận: "Tôi lấy cảm hứng từ Jimi Hendrix. Đó là trải nghiệm đầu tiên của tôi khi dùng feedback cho guitar." Năm 1990, khi được hỏi ai là tay guitar ông thích nhất trong số Eddie Van Halen, Eric Clapton và David Gilmour, Paul bình thản nói: "Tôi vẫn thích Hendrix nhất." Trong những năm gần đây, ông dùng nhiều cây Gibson Les Paul, nhất là trong các buổi trình diễn trực tiếp. Keyboards McCartney chơi piano trong khá nhiều các ca khúc của The Beatles, tuy nhiên phần nhiều do chính ông sáng tác, như "Every Little Thing", "For No One", "A Day in the Life", "Hello, Goodbye", "Hey Jude", "Lady Madonna", "Let It Be" và "The Long and Winding Road". MacDonald cho rằng phần piano trong "Lady Madonna" rất giống với Fats Domino còn "Let It Be" thì nghe như nhạc phúc âm. MacDonald nói tiếng mellotron mà McCartney chơi trong "Strawberry Fields Forever" là vô cùng phù hợp với nhân vật trong ca khúc. Paul sử dụng máy chỉnh âm Moog trong 2 ca khúc "Maxwell's Silver Hammer" và "Loup (1st Indian on the Moon)" (của Wings). Ingham miêu tả 2 ca khúc của Wings "With a Little Luck" và "London Town" "tràn đầy những nốt nhạy cảm của nhạc pop". McCartney cũng dùng máy chỉnh âm trong một ca khúc khác nữa, "Wonderful Christmastime". Hát Giọng ca của McCartney pha trộn khá nhiều phong cách. Chẳng hạn trong "Call Me Back Again", Benitez đánh giá "giọng McCartney nghe giống giọng solo nhạc blues". Ian MacDonald nói "I'm Down" là "giọng rock and roll cơ bản". Ông cũng cho rằng "Helter Skelter" là tiền đề của heavy metal, trong khi "Hey Jude" là một "huyền thoại của pop/rock" cho thấy rằng McCartney đã dùng cả "những đoạn luyến của nhạc phúc âm" và thêm "đoạn kết bất ngờ theo kiểu nhạc soul". Theo Benitez, "Hope of Deliverance" và "Put It There" là những ca khúc mà McCartney đã cố thể hiện theo phong cách nhạc folk, còn nhà nghiên cứu âm nhạc Walter Everett cho rằng "When I'm Sixty-Four" và "Honey Pie" đã gần giống với vaudeville (một dạng hát nhạc kịch). "Yesterday" được công nhận rộng rãi là một trong những bản ballad hay nhất lịch sử, trong khi MacDonald miêu tả "She's a Woman" như một ca khúc của hard rock "âm thanh đỉnh cao nhất mà họ đã từng thực hiện", và nói về giọng McCartney "đã đi tới giới hạn, ép hơi tới hết khả năng của lồng ngực thậm chí có thể đe dọa vỡ bất kể lúc nào." MacDonald nói "I've Got a Feeling" là "tục tĩu và gần với một rocker" với "một chất giọng mạnh mẽ và có hồn", còn "Back in the U.S.S.R." là "ca khúc cuối cùng [của Beatles] theo nhịp nhanh". Ông cũng đánh giá cao cách McCartney "belting" trong "Drive My Car". Trống Trong một số ca khúc của The Beatles, McCartney trở thành tay trống bất đắc dĩ, ví dụ như "Back in the U.S.S.R.", "Dear Prudence", "Wild Honey Pie" và "The Ballad of John and Yoko". Ông cũng tự mình chơi trống trong 2 album solo đầu tay của mình, McCartney và McCartney II, và trong các album của Wings, bao gồm Band On The Run và Chaos and Creation in the Backyard. Những ảnh hưởng khác Âm nhạc của Paul sớm bị ảnh hưởng bởi nhiều nghệ sĩ khác, bao gồm Elvis Presley, Carl Perkins, Buddy Holly, Chuck Berry và Little Richard. Khi được hỏi tại sao Presley không có mặt trong bìa của Sgt. Pepper, McCartney trả lời: "Elvis quá quan trọng và ở xa phía trên so với những người khác. Tôi nghĩ mọi người đều công nhận điều này, vậy nên chúng tôi không cho ông ấy vào trong danh sách, vì đơn giản ông ấy hơn hẳn mọi nghệ sĩ nhạc pop khác. Ông ấy là Elvis the King." Theo MacDonald, cách chơi bass của McCartney trong "I Saw Her Standing There", đã bị "lấy cắp" bởi Chuck Berry trong "I'm Talking About You". Theo Penkins, McCartney gọi Little Richard là "thần tượng", và thừa nhận rằng cách lấy giọng ngân được lấy cảm hứng từ chính ca sĩ da màu này. McCartney cũng nói viết "I'm Down" theo phong cách của Little Richard. Tôn vinh McCartney được Sách Kỷ lục Guinness miêu tả như "nhạc sĩ và nghệ sĩ thu âm xuất sắc nhất mọi thời đại", với 60 đĩa Vàng, 100 triệu album, 100 triệu đĩa đơn, và đồng tác giả với 43 ca khúc với tổng số lượng đĩa đã bản khoảng 1 triệu. Theo Guinness, ông là "người viết nhạc xuất sắc nhất" trong lịch sử âm nhạc Anh với việc là tác giả và đồng tác giả của "188 ca khúc trong bảng xếp hạng, trong số đó là 129 ca khúc khác nhau. Cùng với đó, 91 ca khúc đã nằm trong Top 10, 33 đã đứng ở vị trí số 1. Tổng cộng, các ca khúc của ông đã có 1,662 tuần trong bảng xếp hạng (tới năm 2007)". Năm 1986, ông nhận Huân chương danh vọng của Guinness là một chiếc đĩa làm bằng rhodi cùng với chứng nhận "nhạc sĩ vĩ đại nhất mọi thời đại". Ở Mỹ, trong vai trò sáng tác (và đồng sáng tác), ông có 31 đĩa đơn số một trong Billboard Hot 100, trong số đó 12 là cùng The Beatles, 9 là solo và/hoặc cùng Wing, 1 là bản cover cùng Elton John ca khúc "Lucy in the Sky with Diamonds", 1 là ca khúc "A World Without Love" đồng tác giả với Peter and Gordon. Tính tới năm 2012, RIAA chứng nhận ông đã bán được ít nhất 15,5 triệu đĩa chỉ riêng tại Mỹ. Dù Elvis Presley được coi là nghệ sĩ thành công nhất tại Anh với 18 đĩa đơn số 1, McCartney thực tế là nghệ sĩ có tận 24 đĩa đơn số 1 tại Anh với 17 ca khúc của The Beatles, 1 ca khúc solo, và 1 ca khúc với mỗi Wings, Stevie Wonder, Ferry Aid, Band Aid, Band Aid 20 và ca khúc "The Christians et all". Ông là nghệ sĩ duy nhất của Anh đạt vị trí số 1 khi vừa solo ("Pipes of Peace"), duo ("Ebony and Ivory" cùng Wonder), trio ("Mull of Kintyre", Wings), quartet ("She Loves You", The Beatles), quintet ("Get Back", The Beatles cùng Billy Preston), và cả hợp ca từ thiện (Ferry Aid). Ca khúc bất tử của McCartney, "Yesterday" được coi là ca khúc được nổi tiếng nhất lịch sử âm nhạc với hơn 2.200 bản cover được biết đến. Theo BBC "đây là ca khúc duy nhất của Anh được chiếu tới hơn 7 triệu lần trên truyền hình và radio Mỹ và giành vị trí số 3 trong danh sách các ca khúc sáng tác bởi một nghệ sĩ Anh được chơi nhiều nhất tại Mỹ". "Hey Jude" sáng tác năm 1968 cũng là điểm sáng trong sự nghiệp của ông. Nó đứng đầu Billboard trong 9 tuần, nhiều hơn bất kể mọi đĩa đơn nào khác của The Beatles. Đây cũng là đĩa đơn dài nhất của họ. Ca khúc này được hát lại bởi rất nhiều danh ca, trong đó có Elvis Presley, Bing Crosby, Count Basie, và Wilson Pickett. Với 5 triệu bản đã bán, đây cũng là đĩa đơn bán chạy nhất của The Beatles. Năm 1990, tiểu hành tinh 4148 được đặt tên theo McCartney. Tháng 7 năm 2005, ông lập kỷ lục khi có đĩa đơn ra mắt nhanh nhất lịch sử với "Sgt. Pepper's Lonely Hearts Club Band" hát cùng với U2 tại chương trình Live 8. Đĩa đơn này được phát hành thậm chí trước khi chương trình kết thúc. Nó đạt vị trí số 6 ở Billboard, và đạt vị trí số 1 ở nhiều nguồn download toàn thế giới. Năm 2008, ông nhận giải thưởng cống hiến tại Brit Awards, cùng với đó là bằng Tiến sĩ âm nhạc danh dự tại Đại học Yale. Năm 2012, ông là người cuối cùng của The Beatles nhận ngôi sao tại Đại lộ Danh vọng Hollywood. Ngày 8 tháng 9 năm 2012, Paul McCartney được tổng thống François Hollande trao huân chương Bắc Đẩu Bội tinh cho công dân nước ngoài – huân chương cao quý nhất của nước Pháp cho những đóng góp về nghệ thuật của ông. McCartney là nghệ sĩ người Anh đầu tiên có được vinh dự này. Danh sách đĩa nhạc Solo McCartney (1970) Ram (1971) McCartney II (1980) Tug of War (1982) Pipes of Peace (1983) Press to Play (1986) Flowers in the Dirt (1989) Off the Ground (1993) Flaming Pie (1997) Driving Rain (2001) Chaos and Creation in the Backyard (2005) Memory Almost Full (2007) New (2013) Egypt Station (2018) McCartney III (2020) Wings Wild Life (1971) Red Rose Speedway (1973) Band on the Run (1973) Venus and Mars (1975) Wings at the Speed of Sound (1976) London Town (1978) Back to the Egg (1979) Khác The Family Way (1967) Thrillington (1977) Give My Regards to Broad Street (1984) Снова в СССР (1988) Run Devil Run (1999) Liverpool Sound Collage (2000) Twin Freaks (2005) Kisses on the Bottom (2012) McCartney III Imagined (2021) Nhạc cổ điển Paul McCartney's Liverpool Oratorio (1991) Standing Stone (1997) Working Classical (1999) Ecce Cor Meum (2006) Ocean's Kingdom (2011) The Fireman (McCartney và Youth) Strawberries Oceans Ships Forest (1993) Rushes (1998) Electric Arguments (2008) Danh sách phim Điện ảnh Truyền hình Lưu diễn Wings Wings University Tour – 11 buổi diễn tại Anh, 1972 Wings Over Europe Tour – 25 buổi diễn, 1972 Wings 1973 UK Tour – 21 buổi diễn, 1973 Wings Over the World Tour – 66 buổi diễn, 1975–1976 Wings UK Tour 1979 – 20 buổi diễn, 1979 Solo The Paul McCartney World Tour – 104 buổi diễn, 1989–1990 Unplugged Tour – 6 buổi diễn vòng quanh thế giới, 1992 The New World Tour – 79 buổi diễn, 1993 Driving World Tour – 55 buổi diễn, 2002 Back in the World tour – 33 buổi diễn, 2003 '04 Summer Tour – 14 buổi diễn vòng quanh thế giới, 2004 The 'US' Tour – 37 buổi diễn, 2005 Summer Live '09 – 10 buổi diễn ở Bắc Mỹ, 2009 Good Evening Europe Tour – 8 buổi diễn, 2009 Up and Coming Tour – 38 buổi diễn vòng quanh thế giới, 2010–2011 On the Run Tour – 38 buổi diễn vòng quanh thế giới, 2011–2012 Out There Tour – 91 buổi diễn vòng quanh thế giới, 2013–2015 One on One – 40 buổi diễn vòng quanh thế giới, 2016 Hợp tác Denny Laine, cựu thành viên của Wings và Moody Blues. Jimmy McCulloch, cựu thành viên của Wings, Thunderclap Newman và Stone the Crows. Geoff Britton, cựu vô địch karate thế giới, tham gia với Wings. Laurence Juber, cựu thành viên của Wings. David Gilmour (Pink Floyd), Pete Townshend (The Who), Phil Collins (Genesis), Hank Marvin (The Shadows), Stevie Wonder, Michael Jackson, Ian Paice (Deep Purple), Elvis Costello, Dave Stewart (Eurythmics) và nhiều tên tuổi khác tham gia vào các dự án của Wings và của riêng Paul. Diana Krall và dàn nhạc. Đọc thêm Danh sách nghệ sĩ được vinh danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll Danh sách ngôi sao ở Đại lộ Danh vọng Hollywood Lennon-McCartney Ghi chú a. Jim McCartney chơi tuba giọng Mi. Ông thường chú ý tới phần bass trong các ca khúc trên đài phát thanh và thường đưa con trai tới xem các buổi trình diễn kèn hơi. b. Trong thời gian này cũng như 2 năm sau, The Beatles cũng biểu diễn tại một số quán bar khác, như The Indra, hay The Kaiserkeller. Dù sao họ vẫn hay biểu diễn định kỳ ở Hamburg và có một địa chỉ chính ở Liverpool đó là The Cavern Club. c. Năm 1963, The Beatles có 2 album Please Please Me và With The Beatles. Ngay năm sau, họ lại có 2 album nữa là A Hard Day's Night và Help!. d. McCartney là người viết các ca khúc "I Saw Her Standing There", "She Loves You", "I Want to Hold Your Hand" (1963) và "Can't Buy Me Love" (1964) (được ghi cùng Lennon). e. Năm 1988, The Beatles được đề cử tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll. McCartney đã không tới tham dự buổi lễ vì cho rằng "thật giả dối khi phải cố tỏ ra vui vẻ và tươi cười [trước Harrison và Starr] trong một cuộc gặp mặt không chính thức". f. McCartney là người viết chính cho 6 đĩa đơn đứng đầu tại Mỹ: "Hello, Goodbye" (1967), "Hey Jude" (1968), "Get Back" (1969), "Let It Be" và "The Long and Winding Road" (1970). g. Album McCartney đứng đầu tại Anh trong 2 tuần và có mặt trong bảng xếp hạng trong tổng cộng 32 tuần. h. Album đầu tay Wild Life của Wings có mặt trong top 10 của Mỹ và top 20 của Anh. i. Có một vài lý do khác dẫn tới việc ban nhạc tan rã, trong đó có việc các thành viên đã cống hiến thiếu nhiệt tình cho album Back to the Egg, cộng với việc McCartney bị bắt tại Nhật Bản vì mang cần sa trong hành lý khiến tour diễn tại đây năm 1975 bị hủy bỏ. Laine có nói rằng việc tan rã là khó tránh khỏi sau khi McCartney bị suy sụp vì cái chết của John Lennon khiến anh luôn cảm thấy lo sợ: "Paul sẽ đi làm việc khác, có thế thôi." j. Wings tổng cộng có 7 album phòng thu, trong đó 2 đứng đầu tại Anh và 4 tại Mỹ. Album live của họ, Wings Over America là album live hiếm hoi đứng đầu tại Mỹ. Họ có 6 đĩa đơn đứng đầu và được RIAA ghi chứng nhận Bạch kim có 6 album. k. Tug of War đều đứng số 1 tại Anh và Mỹ. l. Pipes of Peace là album gần đây nhất của McCartney được RIAA chứng nhận Bạch kim vào năm 2012. n. Memory Almost Full luôn nằm trong top 5 album bán chạy nhất của McCartney. Tham khảo Thư mục Tiếng Pháp Tiếng Việt Tiếng Anh Ray Coleman, Paul McCartney: Yesterday & Today, Genesis Publications, 1995. Liên kết ngoài Paul McCartney – Trang web chính thức Trang web động của Paul McCartney Ecce Cor Meum – Trang web chính thức Phỏng vấn Paul McCartney Sinh năm 1942 Thành viên The Beatles Người được ghi danh tại Đại sảnh Danh vọng Rock and Roll Người đoạt giải Grammy Người đoạt giải Grammy Thành tựu trọn đời Người Liverpool Phim và người giành Giải Oscar cho nhạc phim hay nhất Ca sĩ nhạc rock Người đoạt giải BRIT Ca sĩ nhạc pop Anh Ca sĩ tự sáng tác người Anh Người đoạt giải Ivor Novello Nhân vật còn sống Người đoạt Huy chương Tự do Tổng thống Người hoạt động xã hội vì quyền động vật Nghệ sĩ của Capitol Records Nghệ sĩ của Mercury Records Nghệ sĩ của Parlophone Người được ghi danh tại Đại sảnh Danh vọng Nhạc sĩ Ca sĩ Anh thế kỷ 20 Ca sĩ Anh thế kỷ 21 Nghệ sĩ đa nhạc cụ người Anh Người được vinh danh tại Trung tâm Kennedy Nghệ sĩ của Columbia Records Người ăn chay
204236
https://vi.wikipedia.org/wiki/Charibatia
Charibatia
Charibatia là một thị trấn thống kê (census town) của quận Cuttack thuộc bang Orissa, Ấn Độ. Nhân khẩu Theo điều tra dân số năm 2001 của Ấn Độ, Charibatia có dân số 5232 người. Phái nam chiếm 54% tổng số dân và phái nữ chiếm 46%. Charibatia có tỷ lệ 85% biết đọc biết viết, cao hơn tỷ lệ trung bình toàn quốc là 59,5%: tỷ lệ cho phái nam là 88%, và tỷ lệ cho phái nữ là 81%. Tại Charibatia, 10% dân số nhỏ hơn 6 tuổi. Tham khảo Thành phố thuộc bang Orissa
306277
https://vi.wikipedia.org/wiki/Lantheuil
Lantheuil
Lantheuil là một xã ở tỉnh Calvados, thuộc vùng Normandie ở tây bắc nước Pháp. Dân số Xem thêm Xã của tỉnh Calvados Tham khảo Liên kết ngoài Images et histoire de creully près de Lantheuil Lantheuil sur le site de l'Institut géographique national Lantheuil
509962
https://vi.wikipedia.org/wiki/G%C3%A0%20ti%E1%BB%81n%20x%C3%A1m
Gà tiền xám
Gà tiền xám (danh pháp hai phần: Polyplectron bicalcaratum) là một loài trĩ thuộc chi Gà tiền, họ Trĩ. Loài chim này phân bố ở các vùng đất thấp và rừng đồi ở lục địa Đông Nam Á, nhưng không hiện diện ở phần lớn lãnh thổ Đông Dương cũng như toàn bộ bán đảo Mã Lai. Thức ăn của chúng gồm các loại hạt, mối, trái cây và các loài không xương sống. Con mái mỗi lứa thường đẻ hai quả trứng. Mô tả Đây là một loài chim lớn, dài đến 76 cm, có màu nâu xám có điểm các đốm xanh lá cây, mồng dày và dài, mặt có da đỏ hay hồng, cổ họng có màu tráng, chân màu xám. Con trống và con mái khá giống nhau nhưng con mái nhỏ hơn, màu tối hơn và ít sặc sỡ hơn con trống. Con non có bề ngoài giống con mái. Loài này được liệt kê vào mục ít quan tâm của danh sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Nó được liệt kê vào CITES Appendix II. Chú thích Tham khảo B Chim Trung Quốc Chim Việt Nam Chim Lào Chim Myanmar Chim Bhutan Chim Thái Lan Chim Campuchia Chim Bangladesh Chim Ấn Độ Động vật được mô tả năm 1758
329946
https://vi.wikipedia.org/wiki/Audignon
Audignon
Audignon là một xã trong tỉnh Landes ở Nouvelle-Aquitaine tây nam nước Pháp Xem thêm Xã của tỉnh Landes Biến động dân số Tham khảo Xã của Landes
79376
https://vi.wikipedia.org/wiki/Gi%E1%BA%A3i%20th%C6%B0%E1%BB%9Fng%20H%E1%BB%93%20Ch%C3%AD%20Minh%20%C4%91%E1%BB%A3t%20II
Giải thưởng Hồ Chí Minh đợt II
Ngày 1 tháng 9 năm 2000, Chủ tịch nước Trần Đức Lương đã ký quyết định số 392 KT/CTN trao giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 2 cho 22 công trình, cụm công trình khoa học công nghệ và 39 cụm tác phẩm thuộc lĩnh vực văn học-nghệ thuật, bao gồm: Khoa học công nghệ Khoa học xã hội (9 giải) Giáo sư Đào Duy Anh với các công trình Lịch sử cổ đại Việt Nam (4 tập), Lịch sử Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX (2 tập), Việt Nam văn hoá sử cương và Đất nước Việt Nam qua các đời. Trần Văn Giáp với công trình Tìm hiểu kho sách Hán Nôm. Giáo sư Hoàng Xuân Hãn với cụm công trình Lịch sử và Lịch Việt Nam: 1. Lý Thường Kiệt, 2. La Sơn Phu Tử và 3. Lịch và Lịch Việt Nam. Giáo sư Phạm Huy Thông với các công trình nghiên cứu khảo cổ (Con Moong, trống đồng Đông Sơn và 4 bài dẫn luận thời đại Hùng Vương). Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Hà Văn Tấn với công trình Theo dấu các văn hoá cổ. Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Văn Huyên với các công trình về văn hóa Việt Nam Sự thờ phụng thần thánh ở nước Nam và Văn minh nước Nam, Góp phần nghiên cứu văn hóa Việt Nam (2 tập). Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Tài Cẩn với cụm ba công trình Ngữ pháp và Lịch sử tiếng Việt: Ngữ pháp tiếng Việt – từ ghép, đoản ngữ, Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt và Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán–Việt. Giáo sư Trần Đức Thảo với công trình Tìm cội nguồn của ngôn ngữ và ý thức. Giáo sư Nguyễn Đức Từ Chi với bốn công trình Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ (1984), Hoa văn Mường (1978), Hoa văn các dân tộc Djarai-Bhana (1986) và Người Mường ở Hoà Bình (1995). Khoa học y - dược (4 giải) Giáo sư, Thầy thuốc Nhân dân, Anh hùng Lao động Hoàng Thủy Nguyên với công trình nghiên cứu vắc-xin phòng bệnh bại liệt. Giáo sư Đặng Văn Chung với Cụm công trình nghiên cứu nội khoa. Giáo sư, Thạc sĩ, Nhà giáo Nhân dân Vũ Công Hòe với cụm công trình Đặc điểm tình hình mô hình bệnh tật và tử vong của người Việt Nam qua sinh thiết và tử thiết. Giáo sư, Thầy thuốc Nhân dân Phạm Song chủ trì cùng Giáo sư, Thầy thuốc Nhân dân, Thiếu tướng Bùi Đại và nhóm đồng tác giả thuộc Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng (Đại tá, Tiến sĩ Trần Cảnh Thạc), Trung tâm khoa học Tự nhiên và Công nghệ Quốc gia và Bộ Công nghiệp với công trình Chiết xuất cây thanh hao hoa vàng dùng để sản xuất thuốc chữa bệnh sốt rét. Khoa học tự nhiên và kĩ thuật (2 giải) Giáo sư Nguyễn Văn Đạo với công trình Dao động phi tuyến của các hệ động lực. Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Đình Tứ với cụm công trình Nghiên cứu tương tác của các hạt cơ bản và hạt nhân ở năng lượng cao và phát hiện phản hạt hyperon sigma âm. Khoa học nông nghiệp (7 giải) Nhóm tác giả: Nguyễn Văn Luật; Bùi Bá Bổng; Bùi Chí Bửu; Nguyễn Văn Loãn; Lê An Ninh; Phạm Văn Ro; Lương Minh Châu; Phạm Sĩ Tân; Dương Văn Chín; Lê Văn Bảnh với công trình Giống lúa và cải tiến kỹ thuật thâm canh lúa ở đồng bằng sông Cửu Long. Giáo sư Vũ Tuyên Hoàng với công trình Chọn tạo các giống lúa mới cho một số vùng sinh thái. Tiến sĩ Thái Văn Trừng với công trình khoa học Những hệ sinh thái rừng Việt Nam. Nhóm tác giả: Nguyễn Thiện; Trần Thế Thông; Lê Thanh Hải; Võ Trọng Hốt; Lê Bá Lịch; Vũ Kính Trực; Trần Đình Miên; Lưu Kỷ; Nguyễn Khánh Quắc; Phạm Hữu Doanh; Đinh Hồng Luận với công trình Nghiên cứu lợn lai có năng suất và chất lượng cao ở Việt Nam. Giáo sư, Tiến sĩ Trần Hồng Uy với công trình nghiên cứu tạo giống ngô lai ở Việt Nam. Nhóm tác giả: Lê Duy Thước; Cao Liêm; Vũ Cao Thái; Trần Khải; Vũ Ngọc Tuyên; Tôn Thất Chiểu; Đỗ Đình Thuận và các cộng sự với cụm công trình Điều tra, phân loại, lập bản đồ đất Việt Nam tỷ lệ 1/500.000. Nhóm tác giả: Trần Mai Thiên; Phạm Mạnh Tưởng; Nguyễn Quốc Ân; Phạm Báu với công trình Nghiên cứu nâng cao chất lượng di truyền của một số loài cá nuôi ở nước ngọt. Văn học nghệ thuật Văn học (14 giải) Bùi Đức Ái (Anh Đức) với các tiểu thuyết Một chuyện chép ở bệnh viện, Hòn Đất và tập truyện, bút ký Bức thư Cà Mau. Nguyễn Minh Châu với các tiểu thuyết Dấu chân người lính, Cửa sông, truyện vừa Cỏ lau và tập truyện ngắn Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành. Nguyễn Khải với các tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm, Xung đột, Cha và con.... Nguyễn Bính với các tập thơ Gửi người vợ miền Nam, Đêm sao sáng, Nước giếng thơi, Lỡ bước sang ngang. Nguyễn Văn Bổng với các tiểu thuyết Con Trâu, Rừng U Minh, Tiểu thuyết cuộc đời. Lưu Trọng Lư với các tập thơ Người con gái sông Ranh, Tiếng thu, Tỏa sáng đôi bờ. Nguyễn Quang Sáng (Nguyễn Sáng) với các kịch bản phim Cánh đồng hoang, Mùa gió chướng,tập truyện ngắn Chiếc lược ngà và tiểu thuyết Đất lửa. Hoài Thanh với các tác phẩm phê bình: Phê bình tiểu luận (3 tập), Nói chuyện thơ kháng chiến, Thi nhân Việt Nam. Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn) với các tiểu thuyết Người mẹ cầm súng, Ở xã Trung Nghĩa và các tập truyện ngắn Trăng sáng, Đôi bạn. Lê Khâm (Phan Tứ) với các tiểu thuyết Trước giờ nổ súng, Gia đình má Bẩy, Mẫn và tôi và tập truyện ngắn Về làng. Nông Quốc Chấn với các tập thơ Tiếng ca người Việt Bắc, Đèo gió, Suối và biển, Tuyển tập Nông Quốc Chấn. Trần Đình Đắc (Chính Hữu) với các tập thơ Đầu súng trăng treo, Thơ Chính Hữu. Hồ Trọng Hiếu (Tú Mỡ) với các tập thơ Dòng nước ngược, Nụ cười kháng chiến, Ông và cháu. Hà Nghệ (Hà Xuân Trường) với các các tác phẩm lý luận: Đường lối văn nghệ của Đảng – Vũ khí – Trí tuệ - Ánh sáng, Sự nghiệp văn hóa văn nghệ dưới ánh sáng Đại hội Đảng V, Trên một chặng đường, Văn học – Cuộc sống – Thời đại. Mỹ thuật (10 giải) Nguyễn Tiến Chung với các tác phẩm tranh lụa, tranh khắc gỗ màu, tranh sơn dầu: Được mùa (1958), Mùa gặt (1962), Chợ Nhông (1958), Hợp tác xã Tây Hồ, Phong cảnh Sài Sơn (1970), Nữ dân quân trao đổi kinh nghiệm bắn máy bay (1971). Huỳnh Văn Gấm với các tác phẩm tranh Trái tim và nòng súng, Cô Liên, Ngày chủ nhật, Thừa thắng xông lên. Dương Bích Liên với các tác phẩm tranh Bác hồ đi công tác, Chiều vàng, Mùa gặt, Hành quân đêm. Hoàng Tích Chù với các tác phẩm tranh sơn mài: Tổ đội công (1958), Bác Hồ trồng cây với thiếu nhi (1971), Mùa gặt, Đêm hậu cứ. Nguyễn Văn Tỵ với các tác phẩm tranh sơn mài: Nhà tranh gốc mít (1958), Du kích Bắc Sơn (1958), Bắc Nam thống nhất (1961). Nguyễn Hải với các tác phẩm tượng Nguyễn Văn Trỗi, Gióng, Chiến Thắng Điện Biên Phủ, Mùa xuân chiến thắng, Đài tưởng niệm Hòa Bình, Thủ Khoa Huân. Nguyễn Khang vơi các tác phẩm tranh sơn mài: Đánh cá đêm trăng, Hòa bình và hữu nghị, Hành quân qua suối, Gia đình mục đồn. Nguyễn Sỹ Ngọc với các tác phẩm tranh sơn mài: Tình quân dân (19490, Đổi ca (1962), Chiến dịch Điện Biên Phủ (1980), Một ngày mới lại bắt đầu (1982). Nguyễn Thị Kim với các tác phẩm tượng, phù điêu: Chân dung Bác Hồ, Hạnh Phúc, Chân dung cháu gái, Nữ du kích, 11 cô gái tự vệ thành phố Huế. Lê Quốc Lộc với các tác phẩm tranh sơn mài: Qua bản cũ (1957), Ánh sáng đến (1957), Tiêu thổ kháng chiến (1958), Giữ lấy hòa bình (1962), Từ trong bóng tối (1982). Nhiếp ảnh (1 giải) Đinh Đăng Định Sân khấu (3 giải) Nghệ sĩ Nhân dân Thế Lữ với các vở kịch Đề thám, Cụ đạo sư ông. Đạo diễn Lộng Chương với các vở hài kịch Quẫn, A Nàng. Lưu Quang Vũ với các vở kịch Tôi và chúng ta, Lời thề thứ 9. Âm nhạc (9 giải) Huy Du với các ca khúc Bế Văn Đàn sống mãi, Đường chúng ta đi, Anh vẫn hành quân, Cùng anh tiến quân trên đường dài, Nổi lửa lên em. Xuân Hồng với các ca khúc Xuân chiến khu, Bài ca may áo, Tiếng chày trên sóc Bom Bo, Mùa xuân trên Thành phố Hồ Chí Minh, Người mẹ của tôi. Phan Huỳnh Điểu với các ca khúc Đoàn vệ quốc quân, Tình trong lá thiếp, Những ánh sao đêm, Bóng cây Kơ-nia, Thuyền và biển. Nguyễn Văn Tý với các ca khúc Mẹ yêu con, Vượt trùng dương, Bài ca năm tấn, Tấm áo mẹ vá năm xưa, Một khúc tâm tình của người Hà Tĩnh, Dáng đứng Bến Tre. Đại tá, Nghệ sĩ Ưu tú Nguyễn Đức Toàn với các ca khúc Quê em, Biết ơn chị Võ Thị Sáu, Đào công sự, Nguyễn Viết Xuân cả nước yêu thương, Tình em biển cả, Chiều trên bến cảng. Hoàng Vân với các ca khúc Hò kéo pháo, Quảng Bình quê ta ơi, Tôi là người thợ lò, Hai chị em, Hà Nội – Huế - Sài Gòn và vở vũ kịch Chị Sứ. Giáo sư, Nghệ sĩ Nhân dân Nguyễn Văn Thương với các ca khúc Đêm đông, Bình Trị Thiên khói lửa, Bài ca trong hang đá; các tác phẩm khí nhạc: Giao hưởng thơ Đồng khởi, Trở về đất mẹ, Vũ khúc Tây Nguyên; kịch múa Tấm Cám, Múa ô. Hoàng Hiệp với các ca khúc Câu hò bên bờ Hiền Lương, Cô gái vót chông, Ngọn đèn đứng gác, Trường Sơn đông – Trường Sơn tây, Viếng lăng Bác, Nhớ về Hà Nội Trần Hoàn với các ca khúc Lời ru trên nương, Một mùa xuân nho nhỏ, Giữa Mạc Tư Khoa nghe câu hò vi dặm, Lời Bác dặn trước lúc đi xa, Thăm bến Nhà Rồng. Múa (2 giải) Tập thể lớp biên đạo múa Cục Tuyên huấn, Tổng cục Chính trị cho kịch múa Ngọn lửa Nghệ Tĩnh. Tập thể Nhà hát Ca múa nhạc Việt Nam cho kịch múa Tấm Cám. Trong đợt này các lĩnh vực Điện ảnh, Kiến trúc, Văn nghệ dân gian đều không có giải. Tham khảo Liên kết ngoài Giải thưởng Hồ Chí Minh 2
722558
https://vi.wikipedia.org/wiki/Favartia%20dondani
Favartia dondani
Favartia dondani là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển thuộc họ Muricidae, họ ốc gai. Miêu tả Phân bố Chú thích Tham khảo Favartia
139751
https://vi.wikipedia.org/wiki/Su%E1%BB%91i%20Tranh
Suối Tranh
Suối Tranh là một địa điểm tham quan nổi tiếng đối với khách du lịch trong và ngoài nước khi đến tham quan tại đảo Phú Quốc. Trước kia Suối Tranh còn rất hoang sơ và là một trong những điểm nghỉ ngơi giải trí của dân địa phương sau những ngày làm việc mệt mỏi và mỗi khi có lễ hội lớn trên đảo. Suối Tranh chảy qua nhiều địa hình, vị trí hiểm trở tạo nên những con thác, những hồ nước sâu. Khoảng 30 phút đi bộ, du khách được đến với một ngọn thác cao khoảng 2m. Dưới chân thác, nước đọng lại như một cái hồ, sâu khoảng 1-1,5m.là điểm du lịch của khách và là nét đặc trưng của Phú Quốc sau Dinh Cậu. Tham khảo . Du lịch Phú Quốc Suối tại Việt Nam
751322
https://vi.wikipedia.org/wiki/Turritella%20torulosa
Turritella torulosa
Turritella torulosa là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển thuộc họ Turritellidae. Miêu tả Phân bố Chú thích Tham khảo Turritella
434436
https://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c%20k%E1%BB%B3%20Slovenia
Quốc kỳ Slovenia
Quốc kỳ Slovenia () có ba màu nằm ngang bằng nhau là: màu trắng,xanh da trời và đỏ (giống quốc kỳ Nga). Phía trên bên trái có hình quốc huy có màu xanh da trời, phía dưới tấm lá chắn của quốc huy có gợn sóng trắng-lam xen kẽ nhau, nền là ba ngọn núi. Năm 1992, Slovenia sau khi tách ra thành lập quốc gia riêng từ Nam Tư đã chính thức sử dụng lá cờ này làm quốc kỳ. Lịch sử Tham khảo Slovenia
100990
https://vi.wikipedia.org/wiki/Palawa
Palawa
Palawa là một census town ở quận Hazaribag ở bang Jharkhand của Ấn Độ. Cơ cấu dân số Theo kết quả cuộc điều tra dân số năm 2001 ở Ấn Độ, Palawa có dân số 9757 người. Nam giới chiếm 53% và nữ giới chiếm 47% dân số. Palawa có tỷ lệ biết chữ 60%, cao hơn mức trung bình của cả nước là 59,5%: trong đó tỷ lệ nam giới biết chữ là 66% và nữ giới là 53%. Ở Siuliban, 19% dân số dưới 6 tuổi. Tham khảo Thành phố thuộc bang Jharkhand
835516
https://vi.wikipedia.org/wiki/3760%20Poutanen
3760 Poutanen
3760 Poutanen (1984 AQ) là một tiểu hành tinh vành đai chính được phát hiện ngày 8 tháng 1 năm 1984 bởi E. Bowell ở Flagstaff (AM). Liên kết ngoài JPL Small-Body Database Browser ngày 3760 Poutanen Được phát hiện bởi Edward Bowell Tiểu hành tinh vành đai chính Thiên thể phát hiện năm 1984
881984
https://vi.wikipedia.org/wiki/Megachile%20nigriventris
Megachile nigriventris
Megachile nigriventris là một loài Hymenoptera trong họ Megachilidae. Loài này được Schenck mô tả khoa học năm 1870. Chú thích Tham khảo N Động vật được mô tả năm 1870
920108
https://vi.wikipedia.org/wiki/Euxema%20elgonata
Euxema elgonata
Euxema elgonata là một loài bọ cánh cứng trong họ Chrysomelidae. Loài này được Pic mô tả khoa học năm 1934. Chú thích Tham khảo Euxema
787686
https://vi.wikipedia.org/wiki/Trang%20h%C3%ACnh%20tr%E1%BB%A9ng%20ng%C6%B0%E1%BB%A3c
Trang hình trứng ngược
Trang hình trứng ngược (danh pháp hai phần: Kandelia obovata) là loài thực vật thuộc họ Đước, sống trong rừng ngập mặn. Loài này phân bố ở miền nam Trung Quốc (bao gồm cả Hong Kong, Đài Loan) và ven biển miền bắc và miền trung Việt Nam. Trang hình trứng ngược được chính thức công nhận là một loài riêng biệt tách ra từ loài Trang (Kandelia candel) vào năm 2003. Phân bố Chú thích Tham khảo Sheue C. R., H. Y. Liu, and J. W. H. Yong. 2003. Kandelia obovata (Rhizophoraceae), a new mangrove species from Eastern Asia. Taxon 52: 287-294. Rừng ngập mặn O Thực vật Việt Nam Thực vật Trung Quốc Thực vật ngập mặn Thực vật Hồng Kông
565926
https://vi.wikipedia.org/wiki/Phyllonorycter%20maestingella
Phyllonorycter maestingella
Phyllonorycter maestingella là một loài loài bướm thuộc họ Gracillariidae. Loài này có ở châu Âu. Sải cánh từ 7–9 mm. Loài bướm này bay vào tháng năm và tháng sáu và lại tiếp tục vào tháng tám tùy địa điểm. Ấu trùng ăn các loài sồi cánh. Hình ảnh Tham khảo Liên kết ngoài Lepiforum Fauna Europaea Phyllonorycter maestingella at UKmoths Động vật được mô tả năm 1764 Phyllonorycter Côn trùng châu Âu
551173
https://vi.wikipedia.org/wiki/Melicope%20paniculata
Melicope paniculata
Melicope paniculata là một loài thực vật thuộc họ Rutaceae. Đây là loài đặc hữu của quần đảo Hawaii. Nó đã tuyệt chủng do mất môi trường sống. Chú thích Tham khảo World Conservation Monitoring Centre 1998. Melicope paniculata. 2006 IUCN Red List of Threatened Species. Truy cập 22 tháng 8 năm 2007. paniculata Thực vật tuyệt chủng Hawaii Thực vật đặc hữu Hawaii
586685
https://vi.wikipedia.org/wiki/Acroplectis
Acroplectis
Acroplectis là một chi bướm đêm thuộc phân họ Tortricinae của họ Tortricidae. Các loài Acroplectis haemanthes Meyrick, 1927 Xem thêm Danh sách các chi của Tortricidae Chú thích Tham khảo Liên kết ngoài tortricidae.com Euliini
873830
https://vi.wikipedia.org/wiki/Polyplectropus%20denticulus
Polyplectropus denticulus
Polyplectropus denticulus là một loài Trichoptera trong họ Polycentropodidae. Chúng phân bố ở vùng Tân nhiệt đới. Tham khảo Trichoptera vùng Tân nhiệt đới Polyplectropus
959526
https://vi.wikipedia.org/wiki/Molophilus%20mimicus
Molophilus mimicus
Molophilus mimicus là một loài ruồi trong họ Limoniidae. Chúng phân bố ở miền Australasia. Liên kết ngoài Tham khảo Molophilus Limoniidae ở vùng Australasia
583451
https://vi.wikipedia.org/wiki/Prosotas%20bhutea
Prosotas bhutea
Prosotas bhutea là một loài bướm xanh (Lycaenidae) được tìm thấy ở châu Á. Phạm vi phân bố Loài bướm này được tìm thấy ở Ấn Độ từ Sikkim đến Assam, và kéo dài đến Karens và đến Vân Nam. Miêu tả Mặt trên của con đực có màu nâu tía mờ đục. Cánh trước và cánh sau là những đường thẳng mảnh, tối màu, nhưng khác nhau. Mặt dưới là màu đất tương tự, nhưng nhạt hơn rất nhiều. Mặt trước là một dải ngang có viền nhạt màu sẫm hơn màu mặt đất, như sau: một dải ngang giữa tế bào từ costa đến tĩnh mạch trung gian, một dải khác từ costa qua các đĩa đệm đến đỉnh dưới của tế bào, một dải cong hình đĩa từ costa đến tĩnh mạch ba, một điểm bên dưới nó dịch chuyển vào trong; một loạt các nốt sần rộng dưới cùng nằm ngang của cùng một bóng râm tiếp theo là một đường đốm và một đường mảnh trước gan. Cánh sau có một dải dưới đáy, một dải ngắn dọc theo các đĩa đệm và một dải đĩa không đều, hơi méo mó, tất cả đều có màu tương tự như ở cánh trước. Có các dấu hiệu đầu cuối giống như ở mặt trước, nhưng các điểm cuối của loạt dấu hiệu dưới có phần bên trong hơi gồ ghề (hình ngọn giáo), hàng các điểm bên ngoài chúng, mỗi điểm ở bên trong hình nón; một đốm nhỏ màu đen nổi bật trong khoảng trống thứ hai, bên trong có chất nhờn và bên ngoài lốm đốm các vảy màu xanh kim loại. Ăng-ten, đầu, ngực và bụng có màu nâu tía xám. Ngực có phần hoa râm. Xem thêm Họ Bướm xanh (Lycaenidae) Chú thích Tham khảo B Bướm tại Ấn Độ
74050
https://vi.wikipedia.org/wiki/Carpetbagger
Carpetbagger
Trong lịch sử Hoa Kỳ, carpetbagger (kẻ gói thảm hoặc kẻ mang túi) là một từ có ý tiêu cực chỉ đến những người miền Bắc hoạt động đầu cơ chính trị tại miền Nam vào thời Tái thiết sau khi miền Nam thua cuộc nội chiến. Cụm từ này từ chữ tiếng Anh: Carpet bag là cái túi cho người đi du lịch làm từ chất liệu vải in tương tự thảm phổ biến tại Mỹ và châu Âu trong thế kỷ 19 hoặc những gói làm bằng thảm chứa đựng hành lý mà những người này đem theo khi họ di chuyển đến miền Nam. Nó có dụng ý rằng những người này chỉ là những kẻ lợi dụng thời cơ, không có ý định ở lại lâu dài, mà chỉ muốn bóc lột người bản xứ. Sau cuộc nội chiến Hoa Kỳ khi Liên minh miền Nam Hoa Kỳ thua cuộc, tại miền Nam có nhiều chức vị lãnh đạo bỏ trống nên nhiều người cơ hội trở thành thị trưởng hoặc nắm chức vụ cao hơn trong chính quyền, với sự đồng thuận của chính phủ trung ương, thí dụ như William Pitt Kellogg, thống đốc tiểu bang Louisiana từ 1873 đến 1877. Cụm từ này cũng được dùng cho những nhà chính trị di chuyển đến tiểu bang khác để có cơ hội nâng cao địa vị. Ngày nay, cụm từ này được các nhà sử học sử dụng một cách ít tiêu cực hơn, và cũng được áp dụng cho những người không liên quan đến thời kỳ này. Tham khảo Lịch sử Hoa Kỳ Thuật ngữ chính trị Nam Hoa Kỳ Từ miệt thị
77244
https://vi.wikipedia.org/wiki/Spring%20Framework
Spring Framework
Spring Framework là một framework ứng dụng và bộ chứa đảo ngược điều khiển cho nền tảng Java. Chức năng tính của framework này có thể áp dụng cho bất kỳ ứng dụng Java nào, tuy vậy, nhiều bản mở rộng dành cho việc xây dựng ứng dụng nền web cũng được phát triển trên nền tảng Java EE. Tuy framework không ấn định lên một mô hình lập trình cụ thể nào, Spring Framework đã trở nên phổ biến trong cộng đồng Java như một phương án song hành, thay thế, hoặc thậm chí bổ sung cho mô hình Enterprise JavaBeans (EJB). Đây là framework mã nguồn mở. Lịch sử Phần đầu tiên của Spring Framework ban đầu nguyên được Rod Johnson viết vào năm 2000, trong khi ông đang làm một chuyên viên cố vấn cho các khách hàng trong thị trường kinh tế tài chính tại Luân Đôn. Trong lúc đang viết quyển Expert One-on-one J2EE Design And Development (Programmer to programmer) (Thiết kế và kiến tạo Java EE - tương giao cá nhân một đối một chuyên ngành (lập trình viên với lập trình viên)), ông đã mở rộng thêm phần mã nguồn, hòng biểu đạt ý tưởng của mình về mối tương quan của các trình ứng dụng với những phần khác nhau của J2EE và cho rằng người ta có thể đơn giản hóa mối tương quan của chúng, và mối liên hệ ấy có thể trở nên cố định, bất biến hơn là những gì mà các lập trình viên và các công ty vốn quen sử dụng tại thời điểm đó. Trước đây, vào năm 2001, những mô hình lập trình cho các trình ứng dụng cho mạng WEB được đại đa số sử dụng đều do Java Servlet API và Enterprise JavaBean cung cấp. Cả hai đều là đặc tả do Sun Microsystems kiến tạo với sự cộng tác của các nhà buôn bán phần mềm và các bên quan tâm, và chúng rất được mến chuộng trong cộng đồng Java. Những trình ứng dụng không dùng cho mạng WEB như các ứng dụng trình khách (client-based application) hay các ứng dụng tác vụ (batch application) đều có thể sử dụng các công cụ từ mã nguồn mở, các công cụ trên thị trường hoặc từ các dự án khác là những cái cung cấp những đặc trưng yêu cầu. Rod Johnson được ghi công là người thiết lập framework, dựa trên những thói quen hành nghề được công chúng chấp nhận là những phương pháp tốt nhất, và tạo cơ hội cho chúng có thể được sử dụng trong tất cả các loại hình chương trình ứng dụng, không chỉ cho các trình ứng dụng cho mạng WEB riêng mà thôi. Ý tưởng này còn được biểu lộ trong cuốn sách của ông và, sau khi được độc giả yêu cầu, ông còn cho xuất bản kèm với mã nguồn với giấy phép mã nguồn mở nữa. Một nhóm nhỏ các nhà phát triển đang tiếp tục mở rộng framework này và một dự án đã được thành lập tại Sourceforge vào tháng 2 năm 2003. Sau khi phát triển trền nền tảng ban đầu hơn một năm họ đã phát hành phiên bản đầu tiên (1.0) vào tháng 3 năm 2004. Sau khi phát hành nó đã nhận được nhiều sự quan tâm của cộng đồng Java. Tuy nhiên, Spring Framework cũng chịu nhiều chỉ trích nặng nề năm 2004 và vẫn còn là chủ điểm của những cuộc tranh cãi đôi khi nóng bỏng. Vào thời điểm ra đời phiên bản đầu tiên nhiều lập trình viên cùng một số thành viên tiên phong thấy nhận thấy rằng Spring Framework là một phương hướng mới để thoát khỏi mô hình lập trình truyền thống. Điều này đặc biệt đúng đối với Enterprise JavaBean. Một trong những mục tiêu thiết kế Spring Framework là làm cho nó dễ dàng tích hợp với tiêu chuấn J2EE và các bộ công cụ có sẵn trên thị trường hiện nay. Ảnh hưởng của điều này là nó hầu như góp phần xóa bỏ nhu cầu phải định nghĩa các chức năng đặc trưng trên một bản tài liệu đặc tả chính thức do hội đồng quản lý, cái mà một số người đã từng phê phán. Spring Framework đã làm cho những kỹ thuật vốn không được biết đến mấy trở nên những kỹ thuật được mọi người ưa chuộng trong một thời gian ngắn ngủi. Một trong những kỹ thuật nổi tiếng hơn cả là kỹ thuật đảo ngược quyền điều khiển (Inversion of Control, IoC). Nội trong 2004, Spring Framework được rất nhiều người hưởng ứng và làm theo và cũng do tự chính nó cống hiến khung hình lập trình hướng khía cạnh (aspect-oriented programming) (AOP). Spring Framework đã tạo cơ hội cho mẫu hình lập trình này trở nên được ưa thích trong cộng đồng Java. Năm 2005 cho thấy mức độ hưởng ứng nâng cao hơn những năm trước, nguyên do cũng vì những xuất bản mới được ra với những cột mốc đáng kể và những tính năng mới được thêm vào. Diễn đàn Spring (Spring Forum) ra đời cuối năm 2004 cũng góp phần không nhỏ trong việc nâng cao tính phổ biến của framework hình, và từ đó đến nay đã sinh trưởng trở thành một nguồn thông tin quan trọng, giúp đỡ cho người sử dụng. Trong cùng năm đó, những người phát triển Spring Framework khởi thủy công ty riêng của họ để hỗ trợ về mặt thương mại và đáng kể hơn cả là sự bắt tay cộng tác với BEA . Vào tháng 12 năm 2005, hội thảo đầu tiên về Spring Framework đã được tổ chức tại Miami, Florida thu hút 300 nhà phát triển trong 3 ngày, và tiếp theo đó cuộc hội thảo ở Antwerp vào tháng 6 năm 2006, thu hút hơn 400 người. Lịch sử phiên bản Phiên bản đầu tiên của Spring được viết bởi Rod Johnson, cùng lúc đó ông cũng cho ra cuốn sách Expert One-on-One J2EE Design and Development vào tháng 10 năm 2002. Ban đầu, framework được phát hành dưới Giấy phép Apache 2.0 vào tháng 06 2003. Cột mốc đầu tiên, bản 1.0, được phát hành tháng 03 năm 2004, và lần lượt các mốc phát hành kế tiếp vào tháng 09 năm 2004 và tháng 03 năm 2005. Phiên bản Spring 1.2.6 nhận Giải năng suất Jolt (Jolt Productivity award) và một Giải Cải tiến JAX (JAX Innovation Award) vào năm 2006. Spring 2.0 was released in October 2006, Spring 2.5 in November 2007, Spring 3.0 in December 2009, Spring 3.1 in December 2011, and Spring 3.2.5 in November 2013. Spring Framework 4.0 được phát hành vào tháng 12 năm 2013. Cải tiến đáng chú ý của phiên bản này gồm có hỗ trợ Java SE 8, Groovy 2, một số phần của Java EE7, và WebSocket. Spring Framework 4.2.0 được phát hành ngày 31 tháng 07 năm 2015 và ngay sau đó được nâng cấp lên phiên bản 4.2.1, được phát hành ngày 01 tháng 09 cùng năm. Phiên bản này được mô tả là "tương thích với Java 6, 7 và 8, chú trọng vào những cải tiến cốt lõi và tính năng web hiện đại". Spring Framework 4.3 được phát hành ngày 10 tháng 06 năm 2016. Phiên bản 4.3.0.RC1 có hiệu lực. Nó "sẽ là thế hệ cuối cùng cho những yêu cầu của Spring 4 (Java 6+, Servlet 2.5+), chuẩn bị cho phiên bản mở rộng 4.3.x với thời gian hỗ trợ đến năm 2019". Spring 5 được thông báo rằng sẽ dựng trên Reactive Streams tương thích với Reactor Core. Tính năng chủ yếu Bao gồm bộ quản lý cài đặt rất có hiệu lực dựa trên JavaBeans, áp dụng lý thuyết đảo ngược quyền điều khiển (IoC) làm cho việc mắc nối các chương trình ứng dụng trở nên nhanh chóng và dễ dàng hơn. Việc sử dụng (IoC) trong khung hình Spring Framework còn được ám chỉ đến với cái tên Dependency Injection (DI) (Nghĩa đen: bơm hay tiếp thành phần phụ thuộc, từ bên ngoài vào, lúc cần thiết, thay vì phải tự tạo từ bên trong). Nguyên lý của IoC sử dụng trong Spring Framework là một kỹ thuật nhằm ngoại biên hóa (externalize) việc kiến tạo và quản lý những thành phần phụ thuộc. Lấy ví dụ trường hợp lớp "Foo" phụ thuộc vào một trường hợp cá biệt của lớp "Bar" để thi hình một nhiệm vụ nào đấy. Theo phương pháp cổ truyền, "Foo" phải tự kiến tạo trường hợp cá biệt của lớp "Bar", dùng hành động "new", hoặc phải tiếp nhận trường hợp cá biệt của lớp này từ một lớp chế xuất nào đấy (factory class). Nếu sử dụng tiếp cận của IoC thì một tiến trình ngoại biên sẽ phải cung cấp trường hợp của "Bar" (hoặc một tiểu lớp của nó) cho "Foo" trong thời gian chạy (runtime). Đây chính là nguyên nhân tại sao "DI" là một thành ngữ diễn tả tính năng của Spring Framework rõ hơn "IoC". Bao gồm một mẫu hình chế xuất trừu tượng (abstract factory pattern) Enterprise Java Beans (EJB) nòng cốt, có thể sử dụng trong bất cứ môi trường nào, từ những khung chứa (containers) applet cho đến Java EE. Một lớp trừu tượng chung quản lý giao dịch cơ sở dữ liệu (database transaction), cho phép các bộ phận quản lý giao dịch được bổ trợ theo lối lắp ráp (pluggable), và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân định danh giới các giao dịch (demarcate transactions) mà không cần phải xử lý với những vấn đề ở tầng dưới (low-level issues). Bao gồm một số các chiến lược phổ thông đã được cài sẵn bên trong (Built-in generic strategies) dành cho JTA và một đơn thể nguồn dữ liệu JDBC (DataSource). Đối lập với những giao dịch do khung chứa quản lý (Container-Managed Transactions - CMT) đơn thuần trong JTA hoặc EJB, hỗ trợ giao dịch trong framework Spring không đòi hỏi môi trường Java EE. Tầng liên nối với cơ sở dữ liệu (JDBC abstraction layer ) cung cấp một cơ chế tầng cấp đầy ý nghĩa đối với những ngoại lệ (exception hierarchy) (không còn phải dựa vào việc nắn bóp mã nguồn của nhà sản xuất phần mềm như đối với SQLException nữa), đơn giản hóa việc xử lý lỗi, và cũng đồng thời thuyên giảm số lượng dòng lệnh mà lập trình viên cần phải viết. Lập trình viên sẽ không bao giờ phải viết khối 'finally' trong các dòng mã sử dụng JDBC nữa. Tích hợp với Hibernate, JDO và iBATIS SQL Maps: trên phương diện cầm dữ tài nguyên (resource holders), hỗ trợ phần thực thi DAO (Data Access Object - Đối tượng truy cập dữ liệu), và các chiến lược giao dịch (transaction strategies). Đứng hàng đầu trong việc hỗ trợ Hibernate với rất nhiều tính năng IoC tiện dụng, giải quyết nhiều nan đề trong việc tích hợp với Hibernate. Tất cả những tính năng này đều phục tùng cơ chế tầng cấp giao dịch chung cùng tầng cấp ngoại lệ DAO của Spring. Khung hình mô hình-giao diện-điều khiển (Model-view-controller, hay MVC) linh hoạt dành cho ứng dụng mạng (web application), được gây dựng trên tính năng nền tảng của Spring. Các nhà xây dựng phần mềm (lập trình viên) có quyền khống chế cao độ trong khung hình này thông qua những giao diện chiến lược (strategy interfaces), đồng thời điều tiết với những kỹ thuật đa giao diện (multiple view technologies) như JSP, FreeMarker, Velocity, Tiles, iText, và POI. Nên nhớ là Tầng trung gian của Spring có thể dễ dàng kết hợp với một tầng mạng sử dụng bất cứ một khung hình MVC mạng nào đó (web MVC framework), như Struts, WebWork, hoặc Tapestry. Khung hình lập trình định dạng (Aspect-oriented programming - hay AOP) nhằm cung cấp các dịch vụ như dịch cụ quản lý giao dịch (transaction management). AOP cung cấp khả năng thực thi lôgic đan kết (crosscutting logic) - tức những lôgic tác động đến rất nhiều phần của chương trình ứng dụng - tại cùng một chỗ (nhóm lại) và để cho lôgic ấy áp dụng xuyên suốt chương trình ứng dụng của mình một cách tự động. Vì những khó khăn trong việc kiến lập một cấu trúc mạch lạc để thiết kế phần mô hình (Model part) trong chương trình ứng dụng, khi áp dụng mô hình MVC (design pattern) (ví như Struts), khả năng Spring tạo điều kiện cho người sử dụng làm việc một cách dễ dàng có nghĩa là các nhà xây dựng có thể nhanh chóng điều chỉnh lại những tiếp cận không thành quả của mình để lợi dụng tầng lớp JDBC trừu tượng của Spring Framework. Giới thiệu Spring Framework cung cấp các giải pháp cho nhiều thách thức kỹ thuật mà các nhà phát triển phần mềm Java và các tổ chức muốn tạo ứng dụng dựa trên nền tảng Java phải đối mặt với Java platform. Bởi vì số lượng lớn chức năng của Spring Framework, việc phân loại những bộ phận cơ bản kiến tạo nên framework là một việc rất khó. Spring Framework không chỉ được liên kết riêng biệt với Java Enterprise platform mặc dù sự tích hợp sâu của Spring trong Java EE là một yếu tố quan trọng cho sự phổ dụng, nổi tiếng của nó. Có lẽ Spring Framework nổi tiếng nhất với sự cung cấp một cách hiệu quả các tính năng cần thiết để tạo ra các ứng dụng thương mại phức tạp, vượt lên khỏi các mô hình lập trình từng chiếm vị trí ưu thế trong lịch sử ngành công nghiệp phần mềm. Tiếp theo, nó cũng được ghi nhận về việc đưa các chức năng vốn ít được quen biết vào thực tế, có khi còn vượt cả ra bên ngoài nền tảng Java nữa. Thành quả của việc này là nó đã tạo nên một framework, cung cấp một mô hình nhất quán và làm cho nó có thể áp dụng vào hầu hết các loại ứng dụng được tạo trên nền tảng Java ngày nay. framework Spring được coi như thực thi một cách làm việc dựa trên những thói quen thực hành tốt nhất và những tiêu chuẩn công nghiệp, và đồng thời tạo cơ hội cho những lĩnh vực trong Java sử dụng nó. Các môđun Spring Framework được coi như là một tổ hợp của nhiều khung hình nhỏ, hay nói cách khác, nó là tổ hợp của khung hình trong khung hình. Đại bộ phận các khung hình này được thiết kế để hoạt động biệt lập với các khung hình khác, song lại tạo nên nhiều chức năng tốt hơn khi được phối hợp làm việc với nhau. Những khung hình này được phân loại theo các khối nền cơ bản mà những chương trình phần mềm phức tạp điển hình thường sử dụng: Khung chứa đảo ngược quyền điều khiển (Inversion of Control container): Sự cài đặt các thành phần của chương trình ứng dụng và quản lý chu trình của các đối tượng trong Java (lifecycle management of Java objects). Khung hình lập trình hướng khía cạnh (Aspect-oriented programming framework): Spring AOP module tích hợp chức năng lập trình hướng khía cạnh vào Spring framework thông qua cấu hình của nó. Spring AOP module cung cấp các dịch vụ quản lý giao dịch cho các đối tượng trong bất kỳ ứng dụng nào sử dụng Spring. Với Spring AOP chúng ta có thể tích hợp declarative transaction management vào trong ứng dụng mà không cần dựa vào EJB component. Spring AOP module cũng đưa lập trình metadata vào trong Spring. Sử dụng cái này chúng ta có thể thêm annotation vào source code để hướng dẫn Spring nơi và làm thế nào để liên hệ với aspect.. Khung hình truy cập dữ liệu (Data access framework):Tầng JDBC và DAO đưa ra một cây phân cấp exception để quản lý kết nối đến database, điều khiển exception và thông báo lỗi được ném bởi vendor của database. Tầng exception đơn giản điều khiển lỗi và giảm khối lượng code mà chúng ta cần viết như mở và đóng kết nối. Module này cũng cung cấp các dịch vụ quản lý giao dịch cho các đối tượng trong ứng dụng Spring.. Khung hình quản lý giao dịch (Transaction processing / Transaction management framework): Sự đồng hòa các API quản lý giao dịch và sự điều hợp quản lý giao dịch đối với các đối tượng Java dùng phương pháp cài đặt. Khung hình mô hình-giao diện-điều khiển (Model-view-controller framework): Khung hình dựa trên nền tảng HTTP và Servlet cung cấp rất nhiều móc điểm có thể mở rộng và cải biên (extension and customization). Khung hình truy cập từ xa (Remote Access framework): Xuất nhập khẩu các đối tượng Java trên mạng lưới truyền thông hỗ trợ các giao thức dựa trên nền HTTP, sử dụng phong cách RPC (Remote procedure call) thông qua cài đặt, như RMI (Java remote method invocation - khởi động phương pháp từ xa trong Java), CORBA và dịch vụ mạng (web services - SOAP). Khung hình xác thực và ủy quyền (Authentication and authorization framework): Sự điều hợp các quá trình xác thực và ủy quyền thông qua cài đặt hỗ trợ nhiều tiêu chuẩn công nghiệp và những tiêu chuẩn được sử dụng phổ biến, cũng như các giao thức, công cụ và các thói quen thực hành phổ dụng. Khung hình quản lý từ xa (Remote Management framework): Sự quản lý và quảng bá các đối tượng Java đối với các bố trí địa phương và bố trí ngoại biên thông qua JMX (Java Management Extension - quản lý mở rộng của Java cho phép các phần mềm không trực thuộc Java có thể lắp ráp vào và sử dụng được trong nền tảng Java). Khung hình truyền thông điệp (Messaging framework): đăng ký các đối tượng lắng nghe thông điệp dùng để tiếp thu và sử dụng thông điệp từ các hàng thông điệp (message queue) thông qua JMS (Java Message Service - Dịch vụ Thông điệp của Java), cải tiến việc truyền gửi thông điệp dùng tiêu chuẩn trong API của JMS. Khung hình kiểm thử phần mềm (Software testing framework): Những chủ thể (lớp) hỗ trợ việc viết các kiểm thử đơn vị và các kiểm thử tích hợp (unit tests and integration tests). Khung chứa đảo ngược quyền khống chế Bài chính: Khung chứa cốt lõi của Spring (Spring core container) Trọng tâm của Spring Framework là khung chứa đảo ngược quyền khống chế (Inversion of Control). Nó được sử dụng để cung cấp một phương pháp kiên định cài đặt và quản lý các đối tượng Java. Khung hình này còn được gọi là BeanFactory (Chủ thể chế xuất Bean), ApplicationContext (Ngữ cảnh của chương trình ứng dụng) và "khung chứa cốt lõi" (Core container). Khung chứa có rất nhiều trách nhiệm và nhiều điểm mở rộng, và chúng hầu hết đều được coi như là những hình thức của đảo ngược quyền khống chế, thế cho nên mới có cái tên như vậy. Những ví dụ bao gồm: việc kiến tạo đối tượng, cài đặt đối tượng, khởi động các phương pháp khởi tạo (calling initialization methods) và truyền giao các đối tượng sang cho các đối tượng gọi lại đã đăng ký (registered callback objects). Tổ hợp của các chức năng trong khung chứa tạo nên chu kỳ của đối tượng và đây cũng chính là một trong những đặc trưng trọng yếu mà nó cung ứng. Đối tượng do khung hình kiến tạo còn được gọi là "đối tượng đã quản" (Managed Objects) hoặc chủ thể "Beans". Trong những trường hợp điển hình, khung hình được cài đặt bằng cách đọc các văn bản XML có chứa các "định nghĩa về chủ thể" (Bean definitions). Những bản định nghĩa này cung cấp các thông tin cần thiết để kiến tạo các đối tượng. Một khi các đối tượng đã được tạo dựng và cài đặt mà không có lỗi (without raising error conditions) thì chúng sẵn sàng để sử dụng. Người ta có thể truy cập các đối tượng bằng các phương pháp truy vấn phần phụ thuộc (Dependency lookup) hay DI (Dependency injection). "Truy vấn phần phụ thuộc" là một mẫu hình, trong đó một chủ thể (caller) yêu cầu khung chứa đưa cho nó một đối tượng bằng một cái tên, hoặc một kiểu dữ liệu cụ thể (specific type) nào đấy. DI là một mẫu hình mà trong đó khung chứa truyền giao các đối tượng cho nhau bằng tên của chúng, thông qua những phương pháp khởi tạo (constructor), các đặc tính (properties) hoặc các phương pháp chế xuất (factory methods / Factory method pattern). Trong nhiều trường hợp, khi sử dụng những phần khác của Spring Framework, yêu cầu sử dụng khung chứa không nhất thiết là một việc bắt buộc, song việc không sử dụng khung hình Spring rất có thể sẽ làm cho việc cài đặt và cải biên chương trình ứng dụng khó khăn hơn. Khung hình Spring cung cấp một cơ chế nhất quán ổn định cho việc cài đặt và tích hợp các chương trình ứng dụng với hầu hết các môi trường Java, từ những ứng dụng dùng trong phạm vị nhỏ cho đến các ứng dụng kinh doanh trên phạm vi lớn. Khung chứa có thể được cải biến trở thành một khung hình tương thích với EJB3 bằng cách sử dụng đề án Pitchfork. Bản thân đề án này không làm cho khung chứa hoàn toàn tương thích với đặc tả EJB3. Spring Framework bị một số chỉ trích cho rằng nó không tuân theo các tiêu chuẩn. Interface21 cho rằng việc tương thích với EJB3 không phải là một mục đích chính và tuyên bố rằng Spring Framework cùng khung chứa cho phép các mô hình lập trình có hiệu lực hơn sinh trưởng. Tham khảo Tham khảo Liên kết ngoài Spring Framework Spring.Net Spring Framework
356123
https://vi.wikipedia.org/wiki/V%C6%B0%E1%BB%9Dn%20qu%E1%BB%91c%20gia%20Rokua
Vườn quốc gia Rokua
Vườn quốc gia Rokua (Rokuan kansallispuisto) là một vườn quốc gia ở tỉnh Oulu, Phần Lan. Vườn quốc gia này tọa lạc ở phía nam của đồi Rokuanvaara, nơi có rừng thông già. Xem thêm Danh sách vườn quốc gia Phần Lan Khu vực bảo tồn của Phần Lan Tham khảo Liên kết ngoài Outdoors.fi – Vườn quốc gia Rokua Rokua Rokua
813516
https://vi.wikipedia.org/wiki/Gad%C3%AA
Gadê
Gadê (; , Hán Việt: Cam Đức huyện) là một huyện thuộc châu tự trị dân tộc Tạng Golog (Quả Lặc), tỉnh Thanh Hải, Trung Quốc. Trấn Kha Khúc (柯曲镇) Hương Thượng Cống Ma (上贡麻乡) Hạ Cống Ma (下贡麻乡) Cương Long (岗龙乡) Thanh Trân (青珍乡) Giang Thiên (江千乡) Hạ Tạng Bách (下藏科乡) Tham khảo Liên kết ngoài Trang thông tin riêng trên Tân Hoa xã Đơn vị cấp huyện Thanh Hải Golog
268247
https://vi.wikipedia.org/wiki/Nughedu%20San%20Nicol%C3%B2
Nughedu San Nicolò
Nughedu San Nicolò là một đô thị ở tỉnh Sassari trong vùng Sardinia, có khoảng cách khoảng 180 km về phía tây bắc của Cagliari và cách khoảng 5 km về phía tây bắc của Sassari. Tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2004, đô thị này có dân số 972 người và diện tích là 67,8 km². Nughedu San Nicolò giáp các đô thị: Anela, Bono, Bonorva, Bultei, Ittireddu, Ozieri, Pattada. Quá trình thay đổi dân số Tham khảo Đô thị tỉnh Sassari
205049
https://vi.wikipedia.org/wiki/Godhar
Godhar
Godhar là một thị trấn thống kê (census town) của quận Dhanbad thuộc bang Jharkhand, Ấn Độ. Nhân khẩu Theo điều tra dân số năm 2001 của Ấn Độ, Godhar có dân số 9544 người. Phái nam chiếm 54% tổng số dân và phái nữ chiếm 46%. Godhar có tỷ lệ 52% biết đọc biết viết, thấp hơn tỷ lệ trung bình toàn quốc là 59,5%: tỷ lệ cho phái nam là 63%, và tỷ lệ cho phái nữ là 39%. Tại Godhar, 16% dân số nhỏ hơn 6 tuổi. Tham khảo Thành phố thuộc bang Jharkhand
930203
https://vi.wikipedia.org/wiki/Shairella
Shairella
Shairella là một chi bọ cánh cứng trong họ Chrysomelidae. Chi này được miêu tả khoa học năm 1962 bởi Chûjô. Các loài Chi này gồm các loài: Shairella aeneipennis Chujo, 1962 Chú thích Tham khảo Luperini
676811
https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh%20s%C3%A1ch%20chi%20c%E1%BB%A7a%20Geometridae%3A%20Y
Danh sách chi của Geometridae: Y
Yala Yalpa Yapoma Yashmakia Yermoia Yezognophos Yinchie Tham khảo Natural History Museum Lepidoptera genus database Y
883170
https://vi.wikipedia.org/wiki/Trachusa%20bequaerti
Trachusa bequaerti
Trachusa bequaerti là một loài Hymenoptera trong họ Megachilidae. Loài này được Schwarz mô tả khoa học năm 1926. Chú thích Tham khảo Trachusa Động vật được mô tả năm 1926
882893
https://vi.wikipedia.org/wiki/Osmia%20tricuspidata
Osmia tricuspidata
Osmia tricuspidata là một loài Hymenoptera trong họ Megachilidae. Loài này được Dours mô tả khoa học năm 1873. Chú thích Tham khảo Osmia Động vật được mô tả năm 1873
319400
https://vi.wikipedia.org/wiki/Saint-Sulpice-les-Feuilles
Saint-Sulpice-les-Feuilles
Saint-Sulpice-les-Feuilles () là một xã của tỉnh Haute-Vienne, thuộc vùng Nouvelle-Aquitaine, miền trung nước Pháp. Xem thêm Xã của tỉnh Haute-Vienne Tham khảo INSEE IGN Xã của Haute-Vienne
326565
https://vi.wikipedia.org/wiki/H%E1%BB%93%20Van
Hồ Van
Hồ Van (, , ) là hồ lớn nhất tại Thổ Nhĩ Kỳ, nằm xa về phía đông của quốc gia này. Nó là một hồ nước mặn, nhận nước từ một loạt các con suối nhỏ chảy xuống từ các dãy núi bao quanh. Hồ Van là một trong các hồ nội lưu (nghĩa là không có lối thoát ra) lớn nhất thế giới. Lối thoát ra ban đầu từ bồn địa đã bị phun trào núi lửa thời cổ đại chặn lại. Thủy văn học và hóa học Hồ Van dài 119 km (74 dặm Anh) ngang qua điểm rộng nhất của nó, độ sâu trung bình đạt 171 m (560 ft) và độ sâu tối đa đạt 451 m (1.480 ft). Mặt hồ nằm tại độ cao 1.640 m (5.400 ft) trên mực nước biển và chu vi bờ hồ đạt 430 km (270 dặm Anh). Hồ Van có diện tích mặt hồ là 3.755 km² (1.450 dặm vuông Anh) và dung tích đạt 607 km³ (146 dặm khối Anh). Phần phía tây của hồ là sâu hơn cả, với một bồn địa lớn sâu hơn 400 m (1.300 ft) nằm ở phía đông bắc Tatvan và phía nam Ahlat. Các nhánh phía đông của hồ nông hơn. Phần Van-Ahtamar tạo thềm nâng dần lên, với độ sâu tối đa khoảng 250 m (820 ft) ở mặt tây bắc của nó, nơi nó kết nối với phần còn lại của hồ. Nhánh Erciş là nông hơn, chủ yếu không sâu quá 50 m (160 ft), với độ sâu tối đa khoảng 150 m (490 ft). Nước hồ có độ kiềm cao (pH khoảng 9,7–9,8) và giàu cacbonat natri cùng các muối khác, được tách ra nhờ bay hơi và được sử dụng như là chất tẩy rửa. Địa chất Lối thoát ra của hồ đã bị chặn lại trong thời gian khoảng thế Pleistocen, khi các dòng dung nham từ núi lửa Nemrut Dağı đã ngăn chặn luồng chảy về hướng tây về phía bình nguyên Muş. Hiện nay đang im lìm, núi lửa Nemrut Dağı nằm gần với bờ phía tây của hồ. Ngoài ra, một núi lửa tầng đang im lìm khác là Süphan Dağı nằm ở phía bắc của hồ. Mực nước trong hồ thường thay đổi một cách mạnh mẽ: gần Tatvan, Oswald đã lưu ý tới các bờ hồ đã được nâng cao so với mức hiện tại của hồ cũng như sự phát hiện gần đây về các cây gỗ bị ngập chìm sâu trong nước. Điều tra của Degens và ctv. đầu thập niên 1980 đã xác định rằng mức nước cao nhất của hồ (72 m/240 ft trên mức hiện tại) đã diễn ra trong thời kỳ băng hà gần đây, khoảng 18.000 năm trước. Khoảng 9.500 năm trước đã có sự rút xuống mãnh liệt của mức nước trong hồ tới trên 300 m (980 ft) thấp hơn so với mức nước hiện tại. Sau đó, khoảng 6.500 năm trước đã diễn ra sự dâng lên của nước hồ tới mức gần như ngày nay. Các dao động tương tự nhưng nhỏ hơn cũng được quan sát gần đây. Mức nước trong hồ đã dâng lên ít nhất khoảng 3 m (10 ft) trong thập niên 1990, nhấn chìm nhiều vùng đất đai nông nghiệp và sau một khoảng thời gian ngắn giữ được ổn định và rút xuống thì lại dâng lên. Mức nước đã dâng lên khoảng 2 m (6 ft) trong vòng 10 năm trước năm 2004. Là một hồ sâu không có lối thoát ra, hồ Van đã tích tụ một lượng lớn trầm tích được tẩy trôi từ các bình nguyên và thung lũng xung quanh, và đôi khi trầm lắng như là tro từ các vụ phun trào của các núi lửa cận kề. Lớp trầm tích này được ước tính là dày tới 400 m (1.300 ft) tại đáy hồ và nó thu hút các nhà khí hậu học cũng như các nhà núi lửa học trong việc khoan các lõi để kiểm tra các trầm tích tạo lớp này. Năm 1989 và 1990, một nhóm các nhà khoa học địa chất quốc tế do Stephan Kempe từ Đại học Hamburg (hiện là giáo sư tại Đại học Kỹ thuật Darmstadt) đã thu được 10 lõi trầm tích từ độ sâu tới 446 m (1.460 ft). Mặc dù các lõi này chỉ xuyên qua một vài mét đầu tiên của trầm tích, nhưng chúng cung cấp đủ các lớp trầm tích hàng năm để đưa ra các dữ liệu khí hậu tới 14.570 năm trước đây. Một nhóm các nhà khoa học do nhà cổ sinh vật học Thomas Litt từ Đại học Bonn đã đệ đơn xin tài trợ từ Chương trình Khoan thăm dò Khoa học Lục địa Quốc tế (ICDP) để có thể hoàn thành dự án khoan thăm dò mới và sâu hơn nhằm kiểm tra các trầm tích trong hồ. Litt mong chờ sẽ tìm kiếm thấy "hồ Van lưu giữ lịch sử khí hậu của 800.000 năm gần đây — một tài sản quý giá vô song các dữ liệu mà chúng tôi mong muốn có thể rút ra được ít nhất là 500.000 năm gần đây". Khoan thử nghiệm năm 2004 đã phát hiện ra chứng cứ của 15 lần phun trào núi lửa trong vòng 20.000 năm gần đây. Sinh thái học Loài cá duy nhất đã biết là có thể sống trong nước mặn của hồ Van có tên khoa học Chalcalburnus tarichi (cá phèn trân châu hay inci kefalı), một loài cá trong họ Cá chép (Cyprinidae) có họ hàng gần với cá tuế và cá đác, được đánh bắt trong thời kỳ ngập lụt mùa xuân. Trong tháng 5-6, loài cá này di cư từ hồ tới những vùng nước ít kiềm hơn, đẻ trứng gần cửa các con suối hoặc trong chính các con suối đó. Sau mùa sinh sản chúng lại quay trở lại hồ. 103 loài thực vật phù du đã được ghi nhận trong hồ, bao gồm tảo cát, Bacteriophyta, vi khuẩn lam, tảo lục, trùng roi và tảo nâu. 36 loài động vật phù du cũng được ghi nhận, như luân trùng, Cladocera và động vật chân kiếm trong hồ. Năm 1991, các nhà nghiên cứu thông báo về phát hiện microbialit cao 40 m (130 ft) trong hồ Van. Chúng là các tháp rắn trên đáy hồ được tạo ra bởi các tấm thảm khuẩn cầu của vi khuẩn lam (nhóm Pleurocapsa) tạo ra aragonit trong tổ hợp với canxit đã ngưng đọng khỏi nước hồ. Khu vực ven hồ Van là quê hương của nòi mèo hiếm Van Kedisi. Kể từ khoảng năm 1995 đã có những thông báo về việc nhìn thấy quái vật hồ Van dài khoảng 15 m (49 ft) có tên gọi Van Canavarı (nghĩa là "quái vật hồ Van"). Bao quanh hồ này là các khu vực nông nghiệp trong đó người dân gieo trồng các loại cây lương thực cũng như cây ăn quả. Lịch sử Tushpa, kinh đô của vương quốc Urartu (1350-590 TCN), nằm gần bờ hồ Van, tại chỗ sau này trở thành lâu đài Van thời Trung cổ, phía tây của thành phố Van ngày nay. Các phế tích của thành phố Van thời kỳ Trung cổ vẫn còn được thấy rõ phía dưới các sườn núi phía nam mà trên đó có lâu đài Van. Các vương quốc Armenia Hồ này là trung tâm của vương quốc Ararat của người Armenia vào khoảng 1000 TCN, sau đó là các xatrap Armina, vương quốc Đại Armenia và vương quốc Vaspurakan cũng của người Armenia. Cùng với hồ Sevan thuộc Armenia ngày nay và hồ Urmia thuộc Iran ngày nay, hồ Van là một trong ba hồ lớn của vương quốc Armenia, được nhắc tới như là các biển của Armenia (trong các nguồn thư tịch Assyria cổ đại: "tâmtu ša mât Nairi" (Biển Thượng Nairi), biển Hạ là hồ Urmia). Theo thời gian, hồ này được biết đến với các tên gọi khác nhau trong tiếng Armenia, như . Đế quốc Byzantine Vào thế kỷ XI, khu vực xung quanh hồ Van là biên giới giữa đế quốc Byzantine với kinh đô đặt tại Constantinople và đế quốc Seljuk của người Thổ Nhĩ Kỳ với kinh đô đặt tại Isfahan. Trong hòa bình không dễ dàng giữa hai đế quốc, các lãnh chúa Armenia-Byzantine địa phương đã thuê mướn các gazi Turcoman và akritoi Byzantine để bảo vệ. Tuy nhiên, những người lính đánh thuê này thường gây ra các vụ cướp bóc để thu lợi cho bản thân họ. Trong nửa sau của thế kỷ XI thì tình hình tại biên giới đông nam của đế quốc Byzantine đã xấu tới tới mức mà hoàng đế Romanus IV Diogenes phải đề ra một chiến dịch để tái chiếm Armenia và làm giảm sự kiểm soát của Seljuk đang lớn mạnh. Diogenes và đội quân đông đảo của ông đã vượt qua Euphrates và giao tranh với lực lượng nhỏ hơn của Seljuk do Alp Arslan chỉ huy tại trận Manzikert, phía bắc hồ Van vào ngày 26 tháng 8 năm 1071. Mặc dù có lực lượng áp đảo, nhưng đội quân Byzantine cồng kềnh đã bị đánh thảm bại bởi lực lượng kị binh Thổ Nhĩ Kỳ cơ động hơn và Diogenes bị bắt. Đế quốc Seljuk Alp Arslan phân chia các phần miền đông mới chiếm được của đế quốc Byzantine cho các tướng lĩnh Turcoman của mình, với mỗi vùng đất đều được cai trị bởi các beylik theo kiểu cha truyền con nối, nhưng đều thuộc chủ quyền của đế quốc Đại Seljuk. Alp Arslan chia khu vực quanh hồ Van cho Sökmen el Kutbî (nghĩa đen Sökmen Dũng cảm) và ông này đã thiết lập thủ phủ của mình tại Ahlat trên bờ phía tay của hồ. Triều đại Ahlatshahs (hay Sökmenler) cai trị khu vực này từ năm 1085 tới năm 1192. Triều đại Ahlatshahs bị thay thế bởi triều đại Ayyubid. Kiến trúc Gần lâu đài Van và bờ phía nam, trên đảo Akdamar là nhà thờ Thập giá Thần thánh (tiếng Armenia: Սուրբ Խաչ, Surb Khach), là nhà thờ hoàng gia của vương quốc Vaspurakan của người Armenia. Triều đại Ahlatshahs để lại một lượng lớn các mộ đá lịch sử tại và xung quanh thị trấn Ahlat. Giới hữu trách của thị trấn này hiện đang cố gắng để đưa các ngôi mộ đá này vào danh sách di sản thế giới của UNESCO. Hiện tại chúng vẫn chưa chắc chắn được công nhận hay không. Vận tải Đường sắt nối Thổ Nhĩ Kỳ với Iran được xây dựng trong thập niên 1970 sử dụng phà đường sắt vượt qua hồ Van, nằm giữa hai thành phố Tatvan và Van, thay vì xây dựng các đường ray tàu hỏa xung quanh bờ hồ gồ ghề lởm chởm. Tuy nhiên, việc chuyên chở từ tàu hỏa xuống tàu thủy và ngược lại hạn chế năng lực chuyên chở tổng cộng. Trong tháng 5 năm 2008 các cuộc thương thảo giữa Iran và Thổ Nhĩ Kỳ đã diễn ra nhằm nâng cấp phà thành đường sắt chạy điện đường ray kép. Đảo Arter Lim Akdamar Charpanak Tham khảo Liên kết ngoài Hồ Van Miêu tả hồ Van Hình ảnh hồ Van All_About_Turkey: Hồ Van Hình ảnh với độ phân giải cao về lâu đài Van Hồ Thổ Nhĩ Kỳ Địa mạo tỉnh Bitlis Địa mạo tỉnh Van Vùng Đông Tiểu Á Hồ nội lưu châu Á Hồ nước mặn
924787
https://vi.wikipedia.org/wiki/Longitarsus%20medvedevi
Longitarsus medvedevi
Longitarsus medvedevi là một loài bọ cánh cứng trong họ Chrysomelidae. Loài này được Shapiro miêu tả khoa học năm 1956. Chú thích Tham khảo Longitarsus
284569
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tupolev%20Tu-204
Tupolev Tu-204
Tupolev Tu-204 là một máy bay chở khách tầm trung hai động cơ của Nga có khả năng chở 212 hành khách. Được giới thiệu lần đầu năm 1989,được cho là sao chép với chiếc Boeing 757 của Hoa Kỳ .Nó được phát triển cho Aeroflot như một thay thế cho loại máy bay phản lực thân rộng ba động cơ tầm trung Tupolev Tu-154 . Thiết kế và phát triển Tu-204 được thiết kế như một dòng máy bay hiện đại mới với các biến thể chở khách, chở hàng, hỗn hợp và cả phiên bản có thể chuyển đổi nhanh chóng. Đặc điểm của chiếc máy bay này là chi phí hoạt động thấp, tiếng ồn thấp, và tiêu thụ nhiên liệu ít. Tupolev Tu-204 có thể sử dụng cả động cơ Aviadvigatel PS-90 hay Rolls Royce RB.211. Nó được chế tạo tại hai trong số các nhà máy sản xuất máy bay lớn nhất của Nga tại Ulianovsk (Tu-204 series) và Kazan (Tu-214). Cabin của Tu-204 có thể bố trí theo nhiều khách, gồm kiểu một hạng căn bản với 210 ghế; kiểu hai hay ba hạng với 164-193 ghế, theo yêu cầu của khách hàng. Một phiên bản vận tải Tu-204 đang được nhiều hãng hàng không ở châu Âu và Ai Cập sử dụng thành công. Các khoang hạng thông thường và hạng thương gia đều có ghế hành khách với thiết kế bố trí cải tiến 3+3 và 2+2. Cabin hạng thương gia có khoảng cách ghế 810 mm. Cabin hành khách có thể được chia thành các khoang theo hạng với vách ngăn và rèm di chuyển. Các khoang được chiếu sáng bằng đèn phản chiếu. Các đèn phát quang ẩn được bố trí phía trên và dưới khoang hành lý phía trên dọc theo máy bay tạo ra ánh sáng đồng nhất và dễ chịu. Các khoang hành lý phía trên được thiết kế kín. Khối lượng hành lý ở khoang trên cho mỗi hành khách ở mức 0.052 m³. Năm 1994, chiếc Tu-204 (với động cơ PS-90A) nhận được giấy chứng nhận đầu tiên. Sau đó các giấy chứng nhận khác đã cho phép mở rộng điều kiện hoạt động và cải tiến kiểu thiết kế tổng thể máy bay. Biến thể Tu-204-120, được chứng nhận với động cơ Rolls-Royce RB211-535E4, tương thích với các tiêu chuẩn tiếng ồn được miêu tả trong Chapter 3 của Supplement 16 của ICAO, vì thế tương thích với mọi quy định hiện tại của châu Âu và ICAO. Nó hiện đang trải qua quá trình cấp giấy chứng nhận của JAA. Chiếc máy bay được chứng nhận theo các tiêu chuẩn AP-25 của Nga (đã được kết hợp với FAR-25 và JAR-25). Kỹ thuật Tu-204 là một phần của một thế hệ máy bay Nga mới, gồm các phát triển gần đây khác như chiếc Ilyushin Il-96. Tu-204 mang nhiều cải tiến kỹ thuật như: Fly-by-wire Buồng lái kính, có cả trong các biến thể Nga và phương Tây Cánh siêu tới hạn tân tiến được trang bị với các cánh nhỏ Các hệ thống điện tử tân tiến của Nga và phương Tây Chiếc máy bay đầu tiên do Nga chế tạo sử dụng động cơ của phương Tây (Rolls-Royce RB211-535) Biến thể Tu-204/204C Tu-204 là model máy bay chở khách căn bản, và Tu-204C là model chở hàng hoá căn bản. Các model được sử dụng nhiều nhất là -100C và -120C. Tu-204-100/200 Đây là phiên bản đầu tiên, sử dụng động cơ phản lực cánh quạt đẩy Soloviev (hiện nay là Aviadvigatel) PS90 với lực đẩy 157 kN (35,300 lbf). Nó sử dụng động cơ và hệ thống điện tử Nga. Nó được chứng nhận tháng 1 năm 1995. Tu-204-200 là phiên bản nặng hơn với bình nhiên liệu phụ để tăng tầm hoạt động. Chỉ một chiếc được Aviastar-SP chế tạo tại Ulyanovsk nhưng vẫn chưa được giao hàng (RA64036). Hiện nay phiên bản này chỉ được chế tạo bởi KAPO tại Kazan và được đưa ra thị trường với tên định danh Tu-214. Tu-204-100C và Tu-204-200C là các phiên bản chở hàng với số đuôi -100 và -200, được trang bị cửa chất hàng chính phía trước. Hiện nay Tu-204-100/200 thường được cung cấp với động cơ phản lực cánh quạt đẩy cải tiến của Aviadvigatel PS90-A2, với giai đoạn sử dụng tăng 40% giữa các lần đại tu. Tu-204-100 có trọng lượng cất cánh tối đa 103 mét tấn với tầm hoạt động khi chở 196 hành khách ở kiểu bố trí hai hạng ghế là 4,600 km (2,500 hải lý). Tu-204-120/220/120C/220C Để mở rộng sự hấp dẫn của sản phẩm, Tu-204-120/220 sử dụng các hệ thống điện tử và động cơ phương Tây. Nó sử dụng 2 động cơ Rolls-Royce RB211-535 mỗi chiếc tạo 192 kN (43,100 lbf) lực đẩy. Cairo Aviation của Ai Cập đã trở thành bên sử dụng đầu tiên khi nhận giao hàng một chiếc Tu-204-120 và phiên bản chở hàng của nó Tu-120C, vào tháng 11 năm 1998. Tu-204-220 và Tu-220C, phiên bản chở hàng, là một biến thể trọng lượng lớn của model Tu-204-120 căn bản. Tu-204-120 có trọng lượng cất cánh tối đa 103 mét tấn và tầm hoạt động với 196 hành khách ở 2 hạng là 4,600 km (2,500 hải lý). Tu-204-300 Đây là một biến thể được rút ngắn với tầm hoạt động và hiệu năng lớn hơn của Tu-204. Nó ngắn hơn loại Tu-204 căn bản 6 mét (24 feet). Nó được sản xuất theo hai phiên bản; phiên bản nặng và có tầm hoạt động lớn hơn sử dụng động cơ phản lực cánh quạt đẩy Aviadvigatel PS90-A2 với trọng lượng cất cánh tối đa 103 mét tấn và tầm hoạt động với 166 hành khách lên tới 9,300 km (5,000 hải lý) và phiên bản nhẹ với tầm hoạt động nhỏ hơn có trọng lượng cất cánh tối đa 89 mét tấn và tầm hoạt động với 166 hành khách là 3,500 km (1,900 hải lý). Hãng hàng không Nga Vladivostok Air là bên sử dụng đầu tiên. Những chiếc máy bay của hãng này bố trí hai hạng ghế với 142 hành khách. Air Koryo cũng sử dụng loại máy bay này và hiện điều hành một chiếc Tu-204-300 và đã đặt hàng một chiếc nữa với lựa chọn thay thế 5 chiếc Tu-154 và 4 chiếc Il-62M, những chiếc Tu-204 hoạt động trên tuyến Bình Nhưỡng-Bắc Kinh, Bangkok, Singapore, Vladivostok và Thẩm Dương. Tu-204-500 Đây là một phiên bản của Tu-204-300 được chuyên biệt cho các chặng đường ngắn, với cánh nhỏ hơn, tăng tốc bay tiết kiệm nhiên liệu lên Mach 0.84, khiến nó trở thành một đối thủ cạnh tranh của thế hệ Boeing 737 tiếp theo. Nó được xếp hạng ETOPS và được trang bị APU Honeywell 331-200ER. Tu-206 Biến thể này là một máy bay thí nghiệm của công ty về các loại nhiên liệu thay thế, bay bằng khí tự nhiên hoá lỏng. Tu-214 Tu-214 cũng là một biến thể của Tu-204. Về kỹ thuật nó là một chiếc Tu-204-200, một trong những khác biệt là nó được sản xuất bởi một nhà máy khác. Các máy bay được đặt tên định danh Tu-204 được sản xuất ở Ulyanovsk bởi Aviastar-SP; Tu-214 tại Kazan bởi Liên hiệp Sản xuất Hàng không Kazan (KAPO) . Cả hai nhà máy đều độc lập với phòng thiết kế Tupolev và có một số quyền kiểm soát với bản thiết kế biến thể mà họ chế tạo. Khác biệt chính là một cửa chính rộng hết cỡ ở phía trái thân chính ngay trước cánh. Tu-204 có hai cửa chính và 2 cửa thoát hiểm. Tu-214 có 3 cửa và một cửa thoát hiểm. Tháng 6 năm 2007 tổng cộng 10 máy bay Tupolev Tu-214 đang hoạt động hàng không với 14 chiếc đang được đặt hàng. Các bên sử dụng Tu-214 là: Dalavia (5), KrasAir (1) và Rossiya (3). Transaero có đơn hàng 10 chiếc nữa cho loại này. Hãng này hiện điều hành hai chiếc Tu-214. Một số máy bay trắc đạc địa hình Tu-214-ON của Liên bang Nga đang được chuyển đổi thành máy bay trinh sát quân sự sau khi Mỹ tuyên bố rút khỏi Hiệp ước bầu trời mở. Bên sử dụng Tất cả các bên sử dụng: {| class="wikitable" |- ! Hãng hàng không ! Kiểu máy bay ! Đưa vào sử dụng ! Đặt hàng |- | Cairo Aviation || 204-120 || 3 || 0 |- | Cairo Aviation || 204-120C || 2 || 0 |- | Dalavia || 214 || 5 || 0 |- | Air China Cargo || 204-120CE || 1 || 4 (đã huỷ bỏ) |- | Aviastar-TU Co. Ltd || 204 || 3 || 0 |- | Kavminvodyavia || 204-200 || 2 || 2 |- | KrasAir || 3 x 204-100 / 1 x 214 || 3 || 0 |- | Rossiya || 2 x 204 / 3 x 214 || 5 || 0 |- | Công ty tài chính Ilyushin || 31 x 204 || 0 || 31 |- | Vladivostok Avia || 204-300 || 6 || 0 |- | Cubana || 1 x 204-100CE2 x 204-100E || 3 || 1 |- | Air Koryo || 204-300 || 1 || 1 |- | Syrian Arab Airlines° || 204 || 0 || 2 |- | Transaero°°° || 214 || 2 || 8 |- | Iran Air°°°° cho Iran Air Tours || 204-100 || 0 || 35 |- | Sirocco Aerospace°° || 204-120|| 25 || 0 |- | Blue Wings || 204 CM|| 0 || 5 |- | Red Wings || 204-100 || 8 || 2 |- !Tổng cộng || ||71||67 |} ° Lần giao hàng sớm nhất dự định diễn ra năm 2008.°° Công ty cho thuê Ai Cập.°°° Hãng hàng không này hiện điều hành một chiếc Tu-214 duy nhất.°°°° Được cho thuê bởi Sirocco Aerospace dự định chuyển giao năm 2008.°°°° Tháng 10 năm 2008, cả Iran và Nga thông báo rằng một thoả thuận chế tạo và sử dụng lên tới 100 máy bay Tu-204 / 214 tại Iran đang được xem xét và đang ở giai đoạn cuối'' Đặc điểm kỹ thuật (Tu-204) Phi đoàn: 2 (3 trên Máy bay chở hàng -120CE, Cơ trưởng, Sĩ quan hạng nhất và Kỹ sư máy) Sức chở: Tu-204-200: 212 ở hai hạng, Tu-224/234: 166 một hàng Chất tải: () Chiều dài: 46.10 m (151 ft 3 in) Sải cánh: 41.80 m (137 ft 2 in) Chiều cao: 13.90 m (45 ft 7 in) Diện tích cánh: 182.4 m² (1963 ft²) Trọng lượng rỗng: Tu-204-100: 58,300 kg (128,530 lb) (Tu-204-200: 59,000 kg (130,070 lb)) Trọng lượng chất tải: () Chất tải hữu ích: () Trọng lượng cất cánh tối đa: Tu-204-100: 94,600 kg (208,550 lb) (Tu-204-200: 110,750 kg (244,155 lb)) Động cơ (tuốc bin phản lực cánh quạt)=Tu-204-100: Aviadvigatel PS-90A Số lượng động cơ: 2 Công suất: 158.3 kN (35,580 lbf) Tốc độ tối đa: 900 km/h (560 mph) Tốc độ bay tiết kiệm nhiên liệu tối đa: 810 tới 850 km/h (500 tới 530 mph) Tốc độ chòng trành: Tốc độ không được vượt quá: Tầm hoạt động: (Tu-204-100) 6,500 km (Tu-204-120) 6,300 km (Tu-214) 6,700 km (Tu-204-300) 8,500 km Trần bay: Tốc độ lên: Chất tải: Lực đẩy/trọng lượng: Xem thêm Liên quan Tupolev Tu-154 Tupolev Tu-334 Máy bay tương tự Airbus A320/321 Boeing 737-800/900 Boeing 757 Danh sách Xem thêm Tham khảo Liên kết ngoài Trang chủ của Công ty Tupolev Flight Global, about new contract 31 Tu-204 in 2008. Ilyushin Finance Co.(Tu-204 Family) European Aviation Safety Agency Type Certficate Data Sheet for TU-204-120CE Tu-0104 Máy bay chở khách Liên Xô 1980–1989 Máy bay chỉ huy và kiểm soát trên không Nga 2000–2009 Máy bay dân sự Máy bay quân sự Máy bay chở khách Máy bay chỉ huy và kiểm soát trên không Máy bay hai động cơ phản lực Máy bay cánh dưới
864447
https://vi.wikipedia.org/wiki/24105%20Broughton
24105 Broughton
24105 Broughton (1999 VE10) là một tiểu hành tinh vành đai chính được phát hiện ngày 9 tháng 11 năm 1999 bởi C. W. Juels ở Fountain Hills. Tham khảo Liên kết ngoài JPL Small-Body Database Browser ngày 24105 Broughton Tiểu hành tinh vành đai chính Được phát hiện bởi Charles W. Juels Thiên thể phát hiện năm 1999
359483
https://vi.wikipedia.org/wiki/Rumegies
Rumegies
Rumegies là một xã ở tỉnh Nord ở miền bắc nước Pháp. Xã này có diện tích 7,71 kilômét vuông, dân số năm 1999 là 1402 người. Xã nằm ở khu vực có độ cao trung bình 32 mét trên mực nước biển. Xem thêm Xã của tỉnh Nord Tham khảo INSEE commune file Xã của Nord
543314
https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BB%99ng%20h%C3%B2a%20X%C3%A3%20h%E1%BB%99i%20ch%E1%BB%A7%20ngh%C4%A9a%20X%C3%B4%20vi%E1%BA%BFt%20Moldavia%20Pridnestrovia
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia Pridnestrovia
Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Moldavia Pridnestrovia (Transnistria) là một thực thể chính trị nằm giữa hai quốc gia Moldova và Ukraina. Đây là thực thể chính trị Xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ. Kế tục của nhà nước này là Transnistria. Khí hậu Chú thích Cựu quốc gia châu Âu Moldavia Pridnestrovia Moldavia Pridnestrovia