id
stringlengths
1
8
url
stringlengths
31
618
title
stringlengths
1
250
text
stringlengths
11
513k
586532
https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%B8dingen
Lødingen
Lødingen là một đô thị ở tỉnh Nordland phía đông Hà Lan. Nó là một phần của khu vực truyền thống Ofoten. Trung tâm hành chính của đô thị này là làng Lødingen. Lødingen được thành lập như khu đô thị ngày 1 tháng 1 năm 1838 (xem formannskapsdistrikt). Hai đô thị khác sau này được tách ra từ nó: Tysfjord (năm 1869) và Tjeldsund (năm 1909). Khu vực Efjorden được chuyển giao cho các đô thị của Ballangen ngày 1 tháng 1 năm 1962. Tham khảo Thành phố của Na Uy Đô thị của Nordland
349087
https://vi.wikipedia.org/wiki/Aitrach
Aitrach
Aitrach là một đô thị ở huyện Ravensburg ở bang Baden-Württemberg thuộc nước Đức. Đô thị này có diện tích 30,2 km², dân số thời điểm 31 tháng 12 năm 2020 là 2737 người. Tham khảo
203809
https://vi.wikipedia.org/wiki/Bhuban
Bhuban
Bhuban là một thị xã và là nơi đặt ủy ban khu vực quy hoạch (notified area committee) của quận Dhenkanal thuộc bang Orissa, Ấn Độ. Địa lý Bhuban có vị trí Nó có độ cao trung bình là 64 mét (209 foot). Nhân khẩu Theo điều tra dân số năm 2001 của Ấn Độ, Bhuban có dân số 20.134 người. Phái nam chiếm 52% tổng số dân và phái nữ chiếm 48%. Bhuban có tỷ lệ 68% biết đọc biết viết, cao hơn tỷ lệ trung bình toàn quốc là 59,5%: tỷ lệ cho phái nam là 76%, và tỷ lệ cho phái nữ là 60%. Tại Bhuban, 11% dân số nhỏ hơn 6 tuổi. Tham khảo Thành phố thuộc bang Orissa
302359
https://vi.wikipedia.org/wiki/Varennes-sur-Seine
Varennes-sur-Seine
Varennes-sur-Seine là một xã ở tỉnh Seine-et-Marne, thuộc vùng Île-de-France ở miền bắc nước Pháp. Dân số Người dân ở Varennes-sur-Seine được gọi là Varennois. Điều tra dân số năm 1999, xã này có dân số là . Xem thêm Xã của tỉnh Seine-et-Marne Tham khảo Liên kết ngoài 1999 Land Use, from IAURIF (Institute for Urban Planning and Development of the Paris-Île-de-France région French Ministry of Culture list for Varennes-sur-Seine Map of Varennes-sur-Seine on Michelin Xã của Seine-et-Marne
645676
https://vi.wikipedia.org/wiki/Euthrix%20potatoria
Euthrix potatoria
Euthrix potatoria là một loài bướm đêm thuộc họ Lasiocampidae. Nó được tìm thấy ở châu Âu. Sải cánh dài 45–65 mm. Con trưởng thành bay từ tháng 6 đến tháng 8 tùy theo địa điểm. Ấu trùng ăn nhiều loại cỏ và reeds. Hình ảnh Chú thích Tham khảo Drinker at UKmoths Động vật được mô tả năm 1758 P P Côn trùng châu Âu
888765
https://vi.wikipedia.org/wiki/Xenorhiza%20carinata
Xenorhiza carinata
Xenorhiza carinata là một loài Hymenoptera trong họ Colletidae. Loài này được Hirashima mô tả khoa học năm 1996. Chú thích Tham khảo Xenorhiza Động vật được mô tả năm 1996
575512
https://vi.wikipedia.org/wiki/Kim%20C%C6%B0%C6%A1ng%20Tr%C3%AC
Kim Cương Trì
Kim Cương Trì là một vị Bụt trong Mật Tông – tên tiếng Phạn Vajradhara – hay Đức Bụt nguyên thủy là tinh túy của Tam Thân, hóa thân của ba đời chư Bụt. Vajradhara là biểu trưng Pháp Thân Bụt, vì vậy cũng chính là biểu trưng sự chứng ngộ tuyệt đối. Trong Tạng Mật – Kim Cương trì xuất hiện trong hầu hết trong các tác phẩm điêu khắc và hội họa của Đạo Bụt Tạng truyền với nhiều hình dáng và ứng thân khác nhau. Thân thế và nhân dáng Đức Bụt Vajradhara là hóa thân chân thực của tinh túy Vô Thượng quả Bụt. Hai tay Ngài bắt chéo trước ngực, tay phải cầm chày kim cương hay kim cương chử (Phạt Chiết La - tượng trưng phương tiện), tay trái cầm chuông (Kim Cương Linh - tượng trưng trí tuệ). Vajradhara biểu trưng hữu không bất nhị cùng cứu kính bất nhị cũng chính là Đại Hợp nhất Mahamudra. Đức Kim Cương Trì biểu thị trí lực kiên nghị của Bồ Tát ở Kim Cương bộ hàng phục ác ma. Kim Cương Chử cũng tượng trưng cho trí tuệ bền sắc như Kim Cương của Như Lai. Kim Cương Trì trong các hóa thân Kim Cương Trì là Đức Bụt nguyên thủy (Đức Đa Kiệt Khương Như Lai), Bụt Kim Cương Trì là nguồn mạch của mọi tantra trong Truyền thống mới (Sakya, Kagyu và Gelug). Ngược lại – trong Truyền thống cũ (Nyingma), Bụt Vajradhara tượng trưng cho nguyên lý của vị Thầy như bậc trì giữ giác ngộ của giáo lý Kim Cương Thừa.Trong đạo Bụt Mật thừa. Đức Bụt Kim Cương Trì là vị Bụt tối cao của dòng truyền thừa Kagyu bởi vì yếu tổ của dòng là Đức Tilopa đón nhận trực tiếp giáo pháp Kim Cương Thừa từ Đức Kim Cương Trì, Đức Báo thân Bụt. Trong dòng Nyingma, Đức Kim Cương Trì được coi là bất khả phân với Đức Liên Hoa Sanh. Trong Hiển thừa, ngài chính là vị cư sĩ vĩ đại Duy Ma Cật đã giúp Bụt Thích Ca dạy dỗ các đại đệ tử và Bồ Tát 2500 năm trước. Đức Kim Cương Trì diễn tả sức mạnh vũ trụ tối cao xuất phát từ cõi giới Pháp thân, Vajradhara tượng trưng sức mạnh hợp nhất tối cao và lòng từ bi. Ở Trì Kim Cương – một vị thể hiện hết mọi hình tướng của Báo thân, mọi phẩm chất và công năng được thống nhất. Từ đó Đức Vajradhara được diễn tả là sự thống nhất của mọi thuộc tính giác ngộ. Tham khảo Mùi Hương Trầm - Nguyễn Tường Bách - Nhà xuất bản Trẻ. Mật Tông Phật giáo - Nhà xuất bản Tôn Giáo. Phật giáo Tây Tạng Phật Ca-nhĩ-cư phái
329829
https://vi.wikipedia.org/wiki/Odongk%20%28huy%E1%BB%87n%29
Odongk (huyện)
Huyện Odongk () là một huyện nằm ở tỉnh Kampong Speu miền trung Campuchia. Huyện Odongk được chia thành 15 xã (khum) Tham khảo Tỉnh Kampong Speu Huyện Campuchia
708048
https://vi.wikipedia.org/wiki/Clathromangelia%20rhyssa
Clathromangelia rhyssa
Clathromangelia rhyssa là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển trong họ Clathurellidae, họ ốc cối. Miêu tả Phân bố Chú thích Tham khảo rhyssa
385417
https://vi.wikipedia.org/wiki/Westerr%C3%B6nfeld
Westerrönfeld
Westerrönfeld là một đô thị thuộc quận Rendsburg-Eckernförde, bang Schleswig-Holstein. Tham khảo Xã và đô thị ở huyện Rendsburg-Eckernförde
411475
https://vi.wikipedia.org/wiki/K%C3%B6nigs%20Wusterhausen
Königs Wusterhausen
Königs Wusterhausen là một thành phố ở huyện Dahme-Spreewald, bang Brandenburg của Đức. Thành phố này nằm bên kênh đào Notte và sông Dahme về phía đông nam Berlin. Xa hơn về phía Tây là Potsdam. Tham khảo Liên kết ngoài Thành phố Königs Wusterhausen Friends of the Königs Wusterhausen transmitter Schloss Königs Wusterhausen Map of Königs Wusterhausen
30712
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%C3%A2n%20lo%E1%BA%A1i%20nh%E1%BB%8B%20ph%C3%A2n
Phân loại nhị phân
Phân loại nhị phân (tiếng Anh: Binary classification) là nhiệm vụ phận loại các phần tử của một tập hợp các đối tượng ra thành 2 nhóm dựa trên cơ sở là chúng có một thuộc tính nào đó hay không (hay còn gọi là tiêu chí). Một số nhiệm vụ phân loại nhị phân điển hình: kiểm tra y khoa xem một bệnh nhân có bệnh nào đó hay không (thuộc tính để phân loại là căn bệnh đó) quản lý chất lượng trong nhà máy, ví dụ: xác định xem một sản phẩm làm ra là đủ tốt để bán chưa, hay nên loại bỏ nó (thuộc tính để phân loại là tính đủ tốt) xác định xem một trang hay một bài báo có nên nằm trong tập kết quả của một truy vấn hay không (thuộc tính là độ liên quan của bài báo - thường là sự hiện diện của một số từ nào đó trong bài báo đó) Phân loại nói chung là một trong những vấn đề được nghiên cứu trong khoa học máy tính với mục đích học tự động các hệ thống phân loại. Một số phương pháp thích hợp cho việc học phân loại nhị phân gồm có: cây quyết định, mạng Bayes, support vector machine, và mạng nơron. Đánh giá bộ phân loại nhị phân Để đánh giá độ hiệu quả của một xét nghiệm y khoa, người ta thường sử dụng các khái niệm độ nhạy và đặc trưng. Những khái niệm này rất hữu ích cho việc đánh giá bộ phân loại nhị phân. Giả sử chúng ta xét nghiệm xem một vài người nào đó có bệnh hay không. Một số người có bệnh, và kết quả xét nghiệm là dương tính (positive). Họ được gọi là các dương tính đúng. Một số người có bệnh, nhưng kết quả xét nghiệm âm tính (negative). Họ được gọi là các âm tính sai. Một số không có bệnh, và kết quả xét nghiệm cũng là âm tính. Họ được gọi là các âm tính đúng. Một số không có bệnh, nhưng kết quả xét nghiệm lại là dương tính. Họ được gọi là các dương tính sai. Tổng số người dương tính đúng, âm tính đúng, dương tính sai, âm tính sai chiếm 100% tổng số người được xét nghiệm. Độ nhạy (sensitivity) là tỉ lệ của số người bị bệnh được xác định đúng là có bệnh trên tổng số người bị bệnh, nghĩa là (dương tính đúng)/(dương tính đúng + âm tính sai). Nó có thể được coi là "xác suất xét nghiệm cho kết quả dương tính khi người được xét nghiệm có bị bệnh". Độ nhạy càng cao, càng ít khả năng bệnh không được phát hiện (hoặc, trong trường hợp quản lý chất lượng ở nhà máy, càng ít sản phẩm lỗi được đưa ra thị trường). Đặc trưng (specificity) là tỉ lệ của số người không bị bệnh có kết quả xét nghiệm âm tính trên tổng số người không có bệnh (thực), nghĩa là (âm tính đúng)/(âm tính đúng + dương tính sai). Nó còn được coi là xác suất xét nghiệm cho kết quả âm tính đối với người không có bệnh. Độ đặc trưng càng cao, càng ít người mạnh khỏe được coi là bị bệnh (hoặc trong trường hợp nhà máy, càng ít tiền bị tốn phí do loại bỏ các sản phẩm chất lượng tốt thay vì đem bán chúng). Về mặt lý thuyết, độ nhạy và đặc trưng là độc lập, tức là cả hai đều có thể đạt đến 100%. Trong thực tế, chúng ta phải đánh đổi cái này để được cái kia - cái này tốt lên thì cái kia xấu đi, không thể đạt được cả hai. Một điểm cần chú ý nữa, là độ nhạy và đặc trưng là độc lập với tỉ lệ giữa số cá thể âm tính và số cá thể dương tính. Tuy nhiên, giá trị của chúng thì lại phụ thuộc vào tổng số cá thể kiểm tra (population). Ví dụ: kiểm tra có kết quả: độ nhạy 99%, đặc trưng 99%. Giả sử số người kiểm tra là 2000 người, trong đó 1000 có bệnh và 1000 khỏe mạnh. Như vậy, ta phát hiện đúng 990 người dương tính đúng, 990 người âm tính đúng, và 10 âm tính sai, 10 dương tính sai. Cuối cùng, tỉ lệ dự đoán trúng là 99% cho cả kết quả dương tính và âm tính. Như vậy, hệ thống này được coi là khá đáng tin cậy. Giả sử số người kiểm tra là 2000 người, trong đó chỉ có 100 là thực sự bị bệnh. Giả sử ta có 99 dương tính đúng, 1 âm tính sai, 1881 âm tính đúng, và 19 dương tính sai. Trong số 19+99 người xét nghiệm dương tính, chỉ có 99 người thực sự có bệnh. Như vậy, tỉ lệ dự đoán trúng dương tính là 99/(99+19)= 84%, còn dự đoán trúng âm tính là 1881/(1881+1)= 99,9%. Nghĩa là, nếu bạn đi xét nghiệm được kết quả dương tính thì khả năng bạn bị bệnh là 84%, còn nếu kết quả là âm tính thì khả năng bạn bị bệnh chỉ là 1/1881, hay 0,05%. Xem thêm prosecutor's fallacy Ví dụ về suy diễn Bayes Tham khảo Thống kê he:מדדים לבדיקות אבחון
899525
https://vi.wikipedia.org/wiki/Xylocopa%20andica
Xylocopa andica
Xylocopa andica là một loài Hymenoptera trong họ Apidae. Loài này được Enderlein mô tả khoa học năm 1913. Chú thích Tham khảo Chi Ong bầu Động vật được mô tả năm 1913
641599
https://vi.wikipedia.org/wiki/Dysgonia%20erectata
Dysgonia erectata
Dysgonia erectata là một loài bướm đêm thuộc họ Erebidae. Nó được tìm thấy ở Châu Phi, bao gồm Kenya, Nam Phi và Zambia. Tham khảo Dysgonia
842305
https://vi.wikipedia.org/wiki/%2820170%29%201996%20VM30
(20170) 1996 VM30
{{DISPLAYTITLE:(20170) 1996 VM30}} (20170) 1996 VM30 là một tiểu hành tinh vành đai chính. Nó được phát hiện bởi Seiji Ueda và Hiroshi Kaneda ở Kushiro, Hokkaidō, Nhật Bản, ngày 7 tháng 11 năm 1996. Xem thêm Danh sách các tiểu hành tinh: 20001–21000 Tham khảo Thiên thể phát hiện năm 1996 Được phát hiện bởi Hiroshi Kaneda Được phát hiện bởi Seiji Ueda Tiểu hành tinh vành đai chính
628723
https://vi.wikipedia.org/wiki/Xanthoneura
Xanthoneura
Xanthoneura là một chi bướm ngày thuộc họ Bướm nâu. Tham khảo Natural History Museum Lepidoptera genus database Liên kết ngoài Erionotini
549426
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ouratea%20quintasii
Ouratea quintasii
Ouratea quintasii là một loài thực vật thuộc họ Ochnaceae. Đây là loài đặc hữu của São Tomé và Príncipe. Chú thích Tham khảo World Conservation Monitoring Centre 1998. Ouratea quintasii. 2006 IUCN Red List of Threatened Species. Truy cập 23 tháng 8 năm 2007. Thực vật São Tomé và Príncipe q Thực vật dễ tổn thương
473041
https://vi.wikipedia.org/wiki/Saint-Cirgues-la-Loutre
Saint-Cirgues-la-Loutre
Saint-Cirgues-la-Loutre là một xã thuộc tỉnh Corrèze trong vùng Nouvelle-Aquitaine miền trung Pháp. Xem thêm Xã của tỉnh Corrèze Tham khảo INSEE commune file Saintcirgueslaloutre
272878
https://vi.wikipedia.org/wiki/Gonnosfanadiga
Gonnosfanadiga
Gonnosfanadiga là một đô thị ở tỉnh Sud Sardegna, Sardegna của Italia. Đô thị này có diện tích 125,23 km2 và dân số là 7011 người (31/12/2004). Quá trình biến động dân số Tham khảo Thành phố và thị trấn ở Sardegna
78443
https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%A2n%20bay%20qu%E1%BB%91c%20t%E1%BA%BF%20Ignacio%20Agramonte
Sân bay quốc tế Ignacio Agramonte
Sân bay quốc tế Ignacio Agramonte là một sân bay quốc tế ở tỉnh miền trung Camaguey, Cuba. Sân bay này phục vụ các thành phố Camaguey và Santa Lucia. Các hãng hàng không và các điểm đến American Airlines American Eagle (Miami) Air Transat (Montreal, Toronto-Pearson) Cubana de Aviación (La Habana, Montreal, Toronto-Pearson) Skyservice (Toronto-Pearson) Sunwing Airlines (Montreal, Toronto-Pearson) Zoom Airlines (Montreal) Liêbn kết ngoài Tham khảo Sân bay Cuba
953490
https://vi.wikipedia.org/wiki/Dicranomyia%20euryrhyncha
Dicranomyia euryrhyncha
Dicranomyia euryrhyncha là một loài ruồi trong họ Limoniidae. Chúng phân bố ở miền Ấn Độ - Mã Lai. Liên kết ngoài Tham khảo Dicranomyia Limoniidae ở vùng Indomalaya
895660
https://vi.wikipedia.org/wiki/Centris%20hoffmanseggiae
Centris hoffmanseggiae
Centris hoffmanseggiae là một loài Hymenoptera trong họ Apidae. Loài này được Cockerell mô tả khoa học năm 1897. Chú thích Tham khảo Centris Động vật được mô tả năm 1897
555623
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i%20L%E1%BB%99c%20%28x%C3%A3%29
Đại Lộc (xã)
Đại Lộc là một xã thuộc huyện Hậu Lộc, tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam. Diện tích và dân số Xã Đại Lộc có diện tích 5,71 km². Dân số của xã Đại Lộc: Theo Tổng điều tra dân số năm 1999: 4.837 người. Theo Tổng điều tra dân số năm 2009: 4.549 người với 1.227 hộ gia đình, gồm 2.233 nam và 2.316 nữ. Địa giới hành chính Xã Đại Lộc nằm ở phía tây bắc của huyện Hậu Lộc, thuộc hữu ngạn sông Lèn. Phía đông giáp xã Thành Lộc, huyện Hậu Lộc; Phía nam giáp các xã Tiến Lộc và Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc; Phía tây giáp xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc; Phía bắc giáp xã Hà Ngọc, thị trấn Hà Trung, huyện Hà Trung và xã Đồng Lộc, huyện Hậu Lộc. Từ xa xưa trên địa bàn xã này có tuyến kênh Nhà Lê nối từ kinh đô Hoa Lư đến Đèo Ngang đi qua, là tuyến đường thủy đầu tiên trong lịch sử Việt Nam và được coi là tuyến đường Hồ Chí Minh trên sông vì những đóng góp cho các cuộc chiến tranh của người Việt (hiện là một đoạn của sông Lèn theo tên gọi địa phương). Hành chính Xã Đại Lộc được chia thành 5 thôn: Ngọc Trì, Phú Lý, Phú Ngọc, Tân Thành, Y Ngô. Giao thông Quốc lộ 1 chạy qua xã. Chú thích
842200
https://vi.wikipedia.org/wiki/%2817641%29%201996%20SW7
(17641) 1996 SW7
{{DISPLAYTITLE:(17641) 1996 SW7}} (17641) 1996 SW7 là một tiểu hành tinh vành đai chính. Nó được phát hiện qua chương trình tiểu hành tinh Beijing Schmidt CCD ở trạm Xinglong ở tỉnh Hồ Bắc, Trung Quốc ngày 18 tháng 9 năm 1996. Xem thêm Danh sách các tiểu hành tinh: 17001–18000 Tham khảo Thiên thể phát hiện năm 1996 Tiểu hành tinh vành đai chính
763819
https://vi.wikipedia.org/wiki/Odorrana%20hainanensis
Odorrana hainanensis
Odorrana hainanensis là một loài ếch trong họ Ranidae. Nó là loài đặc hữu của Trung Quốc. Các môi trường sống tự nhiên của chúng là các khu rừng ẩm ướt đất thấp nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới và sông. Loài này đang bị đe dọa do mất môi trường sống. Chú thích Tham khảo Odorrana Động vật lưỡng cư Trung Quốc Động vật châu Á Động vật lưỡng cư châu Á Động vật đặc hữu Trung Quốc Động vật được mô tả năm 2001
723862
https://vi.wikipedia.org/wiki/Nassarius%20vibex
Nassarius vibex
Nassarius vibex, tên tiếng Anh: bruised nassa, là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển thuộc họ Nassariidae. Miêu tả Phân bố Chú thích Tham khảo Nassarius Động vật được mô tả năm 1822
789914
https://vi.wikipedia.org/wiki/Amphiplica%20plutonica
Amphiplica plutonica
Amphiplica plutonica là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển thuộc họ Pseudococculinidae. Phân bố Miêu tả Độ dài vỏ lớn nhất ghi nhận được là 10.8 mm. Môi trường sống Độ sâu nhỏ nhất ghi nhận được là 6600 m. Độ sâu lớn nhất ghi nhận được là 7225 m. Chú thích Tham khảo Amphiplica
445872
https://vi.wikipedia.org/wiki/Meung-sur-Loire
Meung-sur-Loire
Meung-sur-Loire là một xã trong tỉnh Loiret, vùng Centre-Val de Loire bắc trung bộ nước Pháp. Xã này nằm ở khu vực có độ cao từ 82-113 mét trên mực nước biển. Đây là nơi đã xảy ra trận Meung-sur-Loire năm 1429. Tham khảo Meungsurloire
548588
https://vi.wikipedia.org/wiki/Polycarpaea%20paulayana
Polycarpaea paulayana
Polycarpaea paulayana là một loài thực vật thuộc họ Caryophyllaceae. Đây là loài đặc hữu của Yemen. Môi trường sống tự nhiên của chúng là vùng cây bụi khô khu vực nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Chú thích Tham khảo Miller, A. 2004. Polycarpaea paulayana. 2006 IUCN Red List of Threatened Species. Truy cập 23 tháng 8 năm 2007. Thực vật Yemen Polycarpaea Thực vật dễ tổn thương
244542
https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%A2n%20bay%20Tunoshna
Sân bay Tunoshna
Tunoshna (cũng viết là Tunoshnoye, hay Tunoschna) () là một sân bay ở Yaroslavl Oblast, Nga, cách Yaroslavl 18 km về phía đông nam. Sân bay này có thể phục vục các loại máy bay cỡ vừa. Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh đây đã là một căn cứ máy bay tiêm kích đánh chặn, là nơi đóng quân của 415 IAP với máy bay MiG-23P trong thập niên 1980 và 1990. Đơn vị này bị ngưng hoạt động ở đây năm 1992 và được chuyển đến Rzhev. Tham khảo Căn cứ không quân Liên Xô Căn cứ không quân Nga Sân bay Yaroslavl Oblast Sân bay xây dưới thời Liên Xô
262511
https://vi.wikipedia.org/wiki/L%C6%B0%C6%A1ng%20Nh%C6%B0%20H%E1%BB%99c
Lương Như Hộc
Lương Như Hộc (Bách khoa toàn thư Việt Nam gọi là Lương Nhữ Hộc, ở đây lấy theo Khâm định Việt sử Thông giám cương mục và Đại Việt sử ký toàn thư) (chữ Hán: 梁如鵠, 1420 - 1501), tự Tường Phủ, hiệu Hồng Châu, là danh sĩ, quan nhà Lê sơ. Ông là người hai lần làm sứ giả sang Trung Quốc và đã có công truyền lại nghề khắc bản gỗ in cho dân làng Liễu Tràng, Hồng Lục và được dân làng tôn xưng là "ông tổ nghề khắc ván in". Tuy nhiên, từ trước đó khá lâu, người Việt đã biết đến nghề này, nổi bật là Hồ Quý Ly đã cho in tiền giấy trong thời gian trị vì đầu thế kỷ 15. Quan trường Lương Như Hộc quê ở xã Hồng Liễu, huyện Trường Tân (nay là khu Thanh Liễu, phường Tân Hưng, thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương). Ông đỗ thám hoa khoa Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442 - đời Lê Thái Tông), cùng khoa với Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đổ và Ngô Sĩ Liên.Ông làm quan đến chức Thị lang, Gia trung thư lệnh và Đô ngự sử. Ông đã từng hai lần đi sứ sang nhà Minh. Lần thứ nhất vào ngày 16 tháng 11 âm lịch năm Thái Hòa thứ nhất (Quý Hợi, 1443), đời Lê Nhân Tông, khi đang là Ngự tiền học sinh cục trưởng, ông cùng với Tri chế cáo Nguyễn Như Đổ và Ngự sử trung thừa Hà Phủ được sung vào đoàn sứ bộ sang Minh đáp tạ về việc tế điếu. Lần thứ hai vào tháng 10 âm lịch năm Thiên Hưng thứ nhất (1459), sau khi Lê Nghi Dân tiếm ngôi vua, đã sai Lương Như Hộc cùng Trần Phong, Trần Bá Linh sang nhà Minh cầu phong. Trong hai cuốn sách Khâm định Việt sử Thông giám cương mục và Đại Việt sử ký toàn thư, ông đã được nhắc đến nhiều lần: Tháng 11 âm lịch năm Thái Hòa thứ 7 (1449) thời Lê Nhân Tông, ông được thăng từ An phủ phó sứ lộ Quốc Oai Hạ lên Hàn lâm trực học sĩ. Tháng 3 âm lịch năm Quang Thuận thứ 4 (1463) thời Lê Thánh Tông: Môn hạ hữu ti lang trung Hoàng Thanh mất. Ông (khi đó là Lễ bộ tả thị lang) đã làm bài tán đề di tượng (tượng truyền thần) của Hoàng Thanh rằng: "Nói về đạo lý, thì uẩn súc bên trong được đầy đủ, thi thố ra ngoài được chu đáo; nói về bổn phận, thì làm con giữ hết đạo hiếu, làm tôi giữ hết đạo trung, từng trải thờ bốn triều vua, tiết tháo một lòng, trước sau không bao giờ thay đổi". Tháng 12 âm lịch năm 1463, vua Thánh Tông ban cho ông sắc dụ: ""Mới rồi, Nguyễn Vĩnh Trinh không học thể thơ quốc ngữ, làm thơ không đúng phép. Ta tưởng là ngươi biết, nên mới hỏi thử ngươi, nhưng ngươi cũng không biết nốt. Vả ta xem Hồng Châu quốc ngữ thi tập của ngươi còn nhiều chỗ thất luật, ta chắc là ngươi chưa biết nên mới nói ra. Vũ Lãm thường không muốn ta nói cho ngươi biết đâu". Tháng 7 âm lịch năm 1466: Trung thư sảnh bí thư giám học sĩ Lương Như Hộc tâu rằng: "Các bản chương tấu của các nha môn, nếu gặp lúc viên quan chính thức hiện khuyết hoặc công xuất, thì viên quan tá nhị thừa lệnh giữ ấn tín được phép ký tên ở dưới chỗ đề năm tháng" (Khâm định Việt sử thông giám cương mục chép việc này vào tháng 8 âm lịch năm 1462). Nhà vua theo lời tâu này. Tháng 5 âm lịch năm 1467, câu chuyện đối đáp của ông và một vệ quân có tên Văn Lư đã được hai sách Toàn thư và Cương mục (Cương mục chép là tháng 4) chép lại: Các tác giả sách Cương mục đã có lời phê rất nặng: "Xem việc này có thể rõ được: vua thì mắc bệnh hay thay đổi; bầy tôi chỉ quen thói bợ đỡ đón trước cái ý của nhà vua." Tháng 8 âm lịch năm 1467, Lễ bộ thị lang Lương Như Hộc và Nguyễn Đình Mỹ cho là thời tiết thuận hòa, mùa màng bội thu, dân chúng yên vui, muôn vật dồi dào, dâng biểu xin vua tiến tôn phong hiệu. Nhà vua không nhận lời (Cương mục chép là tháng 10). Tháng 12 âm lịch năm 1467, do tiến cử Trần Quý Huyên, vua không coi là người giỏi, nên ông bị giam vào ngục. Quý Huyên bị thu mất chức. Cũng tháng 12 năm đấy, Bảo tỉ truyền quốc đã khắc xong, lấy chữ Hoàng đế thụ mệnh chi bảo do ông tham khảo đề xướng. Trong suốt cuộc đời làm quan của mình, ông đã làm quan đến Thị lang, Gia trung thư lệnh và Đô ngự sử. Lương Như Hộc mất vào năm Tân Dậu (1501), hưởng thọ 82 tuổi. Công lao truyền bá nghề in Nhờ hai lần đi sứ sang Trung Quốc, ông đã học được nghề in mộc bản ở đây. Khi về nước, ông đã truyền bá nghề này cho nhân dân hai làng Liễu Tràng, Hồng Lục ở quê ông, khiến nghề in nơi đây trở nên phát triển. Chính vì lẽ đó, ông đã được coi là ông tổ sáng lập ra nghề in ở Việt Nam. Tuy nhiên, trên thực tế thì nghề in ở Việt Nam đã có từ lâu đời, ít ra là đã xuất hiện từ đời Nhà Lý. Sách Thiền uyển tập anh ngữ lục chép: "Thiền sư Trí Học họ Tô, người làng Chu Minh phủ Thiên Đức vốn làm nghề khắc bản in kinh. Ông mất ngày 12 tháng 5 năm 1190, vào đời Lý Cao Tông" . Hay như đời vua Trần Anh Tông cho in các sách Phật giáo pháp sư, Đạo trường tân văn, Công văn cách thức để ban bố cho dân chúng biết. Đến đời Hồ Quý Ly (1400 - 1401) còn cho in tiền giấy và phát hành rộng rãi, cho thấy kĩ thuật in ấn đã đạt đến trình độ cao. Chính vì thế việc coi Lương Như Hộc là người đầu tiên truyền bá nghề in vào Việt Nam là không đúng. Cũng có thể ông đã dạy dân những cải tiến quan trọng trong nghề in ấn, giúp nó được phổ biến. Mặc dù nghề in đã có trước đó, nhưng nó chỉ lưu hành trong phạm vi Phật giáo và quản lý nhà nước. Nhờ có sự truyền dạy của ông, làng Liễu Tràng - Hồng Lục đã trở thành trung tâm khắc ván in chữ và sau là tranh khắc của cả nước. Nhiều bộ sách đã được in khắc ở đây, trong đó phải kể đến bộ Đại Việt sử ký toàn thư đồ sộ đã được những người thợ làng Hồng Lục, Liễu Tràng khắc đầy đủ lần đầu tiên vào năm Chính Hòa thứ 18 (1697). Để ghi nhận công lao, dân làng Hồng Lục, Liễu Tràng đã tôn ông làm Thành hoàng và coi là tổ nghề (tổ sư) của họ. Hiện nay vẫn còn ngôi đình thờ Thám hoa ở làng Liễu Tràng, đã được xếp hạng năm 1992, thường tổ chức lễ hội vào ngày 13 - 15 tháng 9 (âm lịch) hàng năm. Đầu thế kỷ 20, những nghệ nhân của làng Thanh Liễu (Hồng Lục) đã tham gia khắc in bộ tranh dân gian gồm 4.577 bức, nhan đề Kĩ thuật của người An Nam do Henri Oger, một người Pháp, tổ chức. Ngoài vẽ về các nghề dân gian và đời sống hàng ngày của người Việt Nam, bộ tranh còn có hình các nhân vật lịch sử như Lương Như Hộc và Kỳ Đồng. Tên ông đã được đặt cho một con đường ở Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng lại bị đặt sai tên là Lương Nhữ Học. Tác phẩm Ông đã biên soạn một số tập sách như Cổ kim chế từ tập, tập hợp các bài từ từ thời cổ đến thời Lê; và sáng tác Hồng Châu quốc ngữ thi tập là tập thơ chữ Nôm. Hiện nay cả hai đều đã thất truyền. Ông cũng phê điểm cho tuyển tập thơ Tinh tuyển chư gia luật thi của Dương Đức Nhan (gồm 472 bài của các nhà thơ đời Trần - Lê). Hiện nay chỉ còn lại 6 bài phú chữ Hán trong Quần hiền phú tập (Hoàng Sằn Phu) và 6 bài thơ chữ Hán trong Trích diễm thi tập (Hoàng Đức Lương) và Toàn Việt thi lục (Lê Quý Đôn). Vinh danh Tên ông được người ta đặt cho một con đường ở Quận 5, Thành phố Hồ Chí Minh nhưng ghi sai là "Lương Nhữ Học". Việc sửa chữa đã được bàn bạc nhiều lần nhưng vẫn như cũ. Từ cuối thập niên 2010, con đường này thường được giới báo chí gọi là "phố đèn lồng" vì buôn bán nhiều đèn lồng dịp Trung thu. Tham khảo Xem thêm Liên kết ngoài Quan lại nhà Lê sơ Thám hoa Việt Nam Người Hải Dương Người họ Lương tại Việt Nam Tiến sĩ nhà Hậu Lê
385469
https://vi.wikipedia.org/wiki/Auge-Saint-M%C3%A9dard
Auge-Saint-Médard
Auge-Saint-Médard là một xã của tỉnh Charente, thuộc vùng Nouvelle-Aquitaine, tây nam nước Pháp. Xem thêm Xã của tỉnh Charente Tham khảo Xã của Charente
953425
https://vi.wikipedia.org/wiki/Dicranomyia%20clivicola
Dicranomyia clivicola
Dicranomyia clivicola là một loài ruồi trong họ Limoniidae. Chúng phân bố ở vùng nhiệt đới châu Phi. Liên kết ngoài Tham khảo Dicranomyia Limoniidae ở vùng Afrotropic
592467
https://vi.wikipedia.org/wiki/Hemileuca%20hera
Hemileuca hera
Hemileuca hera là một loài bướm đêm thuộc họ Saturniidae. Nó được tìm thấy ở miền nam Saskatchewan phía tây đến British Columbia, phía nam đến Arizona và New Mexico. Sải cánh dài 71–93 mm. Con trưởng thành bay từ tháng 7 đến tháng 9 tùy theo địa điểm. Ấu trùng của Hemileuca hera hera ăn Artemisia tridentata, A. tripartita, Lupinus và Eriogonum. Ấu trùng của Hemileuca hera marcata ăn A. tridentata. Phụ loài Hemileuca hera hera (Great Basin) Hemileuca hera marcata (Nam Oregon) Tham khảo Liên kết ngoài Species info Moths of North Dakota Butterflies và Moths of North America Hemileuca
805906
https://vi.wikipedia.org/wiki/T%C6%B0%20t%E1%BA%BF
Tư tế
Tư tế hay thầy tế là người được giao phụ trách trông coi thực hiện các tế tự, lễ nghi, cúng tế, thờ phụng của một tôn giáo hoặc giáo phái khác nhau như Công giáo, đạo Do Thái, đạo Hindu, đạo Hồi... Tư tế cũng là một chức quan trong triều đình Ai Cập cổ đại. Tư tế là người kết nối giữa người bình thường với đấng tối cao nào đó, tùy theo từng tôn giáo. Thầy tế cũng là người trả lời những thắc mắc của các giáo dân về đạo lý của mình. Từ nguyên Linh mục là người có nhiệm vụ thực hiện chức năng truyền đạt những lễ nghi tôn giáo. Linh mục được biết đến từ thời kỳ xa xưa và trong xã hội đơn giản nhất (xem shaman). Kitô giáo Khi nói đến chức tư tế là nói đến chức linh mục duy nhất của Chúa, chỉ có Chúa Kitô là Thầy Cả hay Linh mục Thượng phẩm duy nhất. Đây là chức tư tế của hàng giáo sĩ phẩm trật hay thừa tác xuất phát từ bí tích truyền chức thánh. Cuối thế kỷ I, chức tư tế thừa tác được thể hiện trong các cộng đoàn theo ba cấp: mỗi cộng đoàn có một giám mục (episcopos), nhiều linh mục (presbuteroi) và các phó tế, tức là các trợ tá (diakonoi). Ngược lại, chức tư tế chung của mọi Kitô hữu hay giáo dân là chức phát sinh từ bí tích Rửa tội và Thêm sức. Như vậy ở Công giáo có 3 dạng tư tế. Chức Tư tế Thượng phẩm của Chúa Kitô, chức tư tế chung của các tín hữu và chức tư tế thừa tác hay phẩm trật, tuy khác nhau không chỉ về cấp bậc mà còn cả về yếu tính, song cả hai bổ túc cho nhau, đều tham dự vào chức tư tế duy nhất của Chúa Kitô theo cách thức riêng của mình. Tư tế thừa tác, nhờ có quyền do chức thánh đào tạo và cai quản dân tộc tư tế, đóng vai trò Chúa Kitô cử hành Hy tế Tạ ơn. Các tư tế thừa tác hay phẩm trật, cụ thể là các giám mục, linh mục và phó tế, thay mặt Chúa Kitô giảng dạy và cử hành các bí tích, nhất là bí tích Thánh Thể để diễn lại Hy tế Thập giá trên bàn thờ ngày nay. Chức tư tế chung của người tín hữu chỉ cho phép mọi giáo hữu được hiệp thông với các tư tế thừa tác trong việc dâng đời sống của mình với mọi vui buồn, sướng khổ để kết hợp với Hy tế của Chúa Kitô dâng lên Thiên Chúa để xin ơn cứu chuộc cho mình và cho người khác trong Thánh lễ. Ngoài ra, chức tư tế của người tín hữu cũng đòi hỏi mọi giáo hữu sống nhân chứng cho Chúa Kitô trước mặt người đời để góp phần mở mang Nước của Chúa. Chức tư tế của người tín hữu hay giáo dân có sự khác biệt với chức tư tế của hàng giáo sĩ thừa tác (giám mục, linh mục, phó tế). Tuy nhiên sự khác biệt này không có nghĩa là ai cao trọng hơn mà chỉ nói lên sự khác nhau về chức năng. Ngày nay tư tế vẫn có vai trò quan trọng chủ yếu trong Kitô giáo. Công giáo Rôma Chức vụ thầy tế lễ trong Giáo hội Công giáo Rôma gọi chung là tư tế. Họ là những giáo sĩ gồm ba bậc theo thứ tự tấn phong từ thấp đến cao: phó tế, linh mục và giám mục; là những người có quyền và nhiệm vụ thực hiện chức năng quản trị và cử hành những lễ nghi tôn giáo cho cộng đoàn tín hữu được bề trên trao phó. Khi linh mục được Giám mục địa phận sai đến với một cộng đoàn để phụ trách việc thờ phụng ở các giáo xứ hoặc giáo họ hay quản trị một giáo xứ nhất định, thì còn được gọi là linh mục quản xứ, linh mục quản nhiệm, hoặc cha xứ. Khi đó, linh mục quản xứ có thêm chức năng ban các bí tích, và trách nhiệm mục vụ, chăm sóc phần tâm linh cho các giáo dân (Kitô hữu), thăm viếng kẻ liệt, giữ gìn lễ nghi cũng như sự bình an trong giáo xứ với sự chỉ dẫn của vị Giám mục. Trong các nhánh khác của Công giáo Trong một số cộng đồng Kháng Cách, chức vụ linh mục hoặc tương đương được gọi là mục sư (pastor). Tuy nhiên, trong Giáo hội Giám Lý Cơ Đốc, từ "mục sư" lại để chỉ chức vụ tương đương với Giám mục, áp dụng cho chức danh quản nhiệm (người lãnh đạo các giáo đoàn địa phương, không phân biệt nam nữ). Tham khảo Chức Tư tế trong quan điểm Kitô học Dòng Thánh Phanxio Việt Nam Vai trò lãnh đạo tôn giáo Thuật ngữ tôn giáo Chức danh giáo hội
687278
https://vi.wikipedia.org/wiki/Bulbophyllum%20oxycalyx
Bulbophyllum oxycalyx
Bulbophyllum oxycalyx là một loài phong lan thuộc chi Bulbophyllum. Chú thích Tham khảo The Bulbophyllum-Checklist The internet Orchid species Photo Encyclopedia oxycalyx]] O
918247
https://vi.wikipedia.org/wiki/Cryptocephalus%20kermanicus
Cryptocephalus kermanicus
Cryptocephalus kermanicus là một loài bọ cánh cứng trong họ Chrysomelidae. Loài này được Lopatin miêu tả khoa học năm 1979. Chú thích Tham khảo K
922080
https://vi.wikipedia.org/wiki/Bruchidius%20orchesioides
Bruchidius orchesioides
Bruchidius orchesioides là một loài bọ cánh cứng trong họ Bruchidae. Loài này được Hayden miêu tả khoa học năm 1892. Chú thích Tham khảo O
89142
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%A1i%20h%E1%BB%8Dc%20Qu%E1%BB%91c%20d%C3%A2n%20H%C3%A0n%20Qu%E1%BB%91c
Đại học Quốc dân Hàn Quốc
Đại học Quốc dân Hàn Quốc hay Đại học Kookmin (hangul: 국민대학교, hanja: 國民大學敎, Hán-Việt: Quốc dân đại học hiệu) là một trường đại học nằm ở Seongbuk-gu, Seoul, Hàn Quốc. Các cựu sinh viên nổi tiếng có Tổng giám đốc điều hành HITE Yoon Jong-Woong, phát thanh viên của MBC Son Seok-Hee, ca sĩ nhạc pop Lee Hyo-Ri, diễn viên Ahn Hyo-Seop. Các thành viên của chính phủ lưu vong (Chính phủ lâm thời Thượng Hải) dưới thời cai trị của Nhật Bản đã thành lập Đại học Quốc dân để đào tạo các lãnh đạo để tái thiết đất nước. Haikong Shin Ik-Hee, người sau này trở thành chủ tịch Quốc hội Hàn Quốc là chủ tịch và hiệu trưởng của trường đại học này. Hiện nay, trường đại học này được xem là một trong 20 trường hàng đầu của Hàn Quốc, có 20.000 sinh viên và 400 giảng viên. Tham khảo Liên kết ngoài website của trường Kookmin Trường đại học và cao đẳng Seoul Triều Tiên 1946 Tổ chức thành lập năm 1946
886849
https://vi.wikipedia.org/wiki/Colletes%20linsleyi
Colletes linsleyi
Colletes linsleyi là một loài Hymenoptera trong họ Colletidae. Loài này được Timberlake mô tả khoa học năm 1951. Chú thích Tham khảo Colletes Động vật được mô tả năm 1951
871245
https://vi.wikipedia.org/wiki/Synoestropsis%20vitrea
Synoestropsis vitrea
Synoestropsis vitrea là một loài Trichoptera trong họ Hydropsychidae. Chúng phân bố ở vùng Tân nhiệt đới. Tham khảo Trichoptera vùng Tân nhiệt đới Synoestropsis
702557
https://vi.wikipedia.org/wiki/Fusinus%20boucheti
Fusinus boucheti
Fusinus boucheti là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển trong họ Fasciolariidae. Miêu tả Phân bố Chú thích Tham khảo Fusinus
725038
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ancilla%20ordinaria
Ancilla ordinaria
Ancilla ordinaria, tên tiếng Anh: White-banded Ancilla, là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển trong họ Olividae, ốc ôliu. Miêu tả Loài này có kích thước giữa 8 mm and 21 mm Phân bố Loài này phân bố ở Ấn Độ Dương dọc theo Nam Phi và Mozambique Chú thích Tham khảo Reeve L.A. (1864). The genus Ancillaria. Conch. Icon., vol. 15 page(s): Plate 9, fig. 44 Liên kết ngoài Gastropods.com: Ancilla (Sparella) ordinaria; accessed: 1 tháng 2 năm 2011 Ancilla
280172
https://vi.wikipedia.org/wiki/Follina
Follina
Follina là một đô thị ở tỉnh Treviso trong vùng Veneto, có cự ly khoảng 60 km về phía tây bắc của Venice và khoảng 35 km về phía tây bắc của Treviso. Tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2004, đô thị này có dân số 3.919 người và diện tích là 24,2 km². Follina giáp các đô thị: Cison di Valmarino, Farra di Soligo, Mel, Miane, Pieve di Soligo. Biến động dân số Tham khảo Đô thị tỉnh Treviso Thành phố và thị trấn ở Veneto
328386
https://vi.wikipedia.org/wiki/Saint-Gilles-Croix-de-Vie
Saint-Gilles-Croix-de-Vie
Saint-Gilles-Croix-de-Vie là một xã ở Côte de Lumière, tỉnh Vendée trong vùng Pays de la Loire, Pháp. Xã này có diện tích 10,25 kilômét vuông, dân số năm 2006 là 7281 người. Xã này nằm ở khu vực có độ cao trung bình mét trên mực nước biển. Danh xưng dân địa phương trong tiếng Pháp là Gillocruciens / Gillocruciennes. Biến động dân số Tham khảo Liên kết ngoài Site officiel de l'OT de Saint-Gilles-Croix-de-Vie Site officiel du Pôle Touristique International Vendée Côte de Lumière Saint-Gilles-Croix-de-Vie trên trang mạng Viện địa lý quốc gia Xã của Vendée
874780
https://vi.wikipedia.org/wiki/Allogamus%20gibraltaricus
Allogamus gibraltaricus
Allogamus gibraltaricus là một loài Trichoptera trong họ Limnephilidae. Chúng phân bố ở miền Cổ bắc. Tham khảo Trichoptera miền Cổ bắc Allogamus
614801
https://vi.wikipedia.org/wiki/Asiaephorus%20extremus
Asiaephorus extremus
Asiaephorus extremus là một loài bướm đêm thuộc họ Pterophoridae. Nó được tìm thấy ở Mindanao. Sải cánh dài khoảng 16 mm. Con trưởng thành bay vào tháng 8. Từ nguyên học Tên loài diễn tả quá trình cucullar rất lâu trong cơ quan sinh dục nam. Chú thích Tham khảo Asiaephorus
553993
https://vi.wikipedia.org/wiki/Argusia
Argusia
Argusia là một chi thực vật thuộc họ Boraginaceae. Chi này có các loài sau (tuy nhiên danh sách này có thể chưa đủ): Argusia argentea, (L.f.) Heine Argusia gnaphalodes Tham khảo Heliotropioideae
706057
https://vi.wikipedia.org/wiki/Pusionella%20lirata
Pusionella lirata
Pusionella lirata là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển thuộc họ Clavatulidae. Miêu tả Phân bố Chú thích Tham khảo Pusionella
972022
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ilybius%20meridionalis
Ilybius meridionalis
Ilybius meridionalis là một loài bọ cánh cứng trong họ Bọ nước. Loài này được Aubé miêu tả khoa học năm 1837. Chú thích Tham khảo Bọ nước Ilybius
879101
https://vi.wikipedia.org/wiki/Afranthidium%20immaculatum
Afranthidium immaculatum
Afranthidium immaculatum là một loài Hymenoptera trong họ Megachilidae. Loài này được Smith mô tả khoa học năm 1854. Chú thích Tham khảo Afranthidium Động vật được mô tả năm 1854
120033
https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B3c%20%28%C4%91%E1%BB%8Bnh%20h%C6%B0%E1%BB%9Bng%29
Sóc (định hướng)
Sóc có thể chỉ: Sóc (động vật). Sóc (khu dân cư). Sóc (lịch). Sóc, phiên âm tiếng Việt của srok - cấp huyện trong phân cấp hành chính Campuchia. Một loại vũ khí lạnh
932373
https://vi.wikipedia.org/wiki/Long%20Ph%C3%BA%20%28%C4%91%E1%BB%8Bnh%20h%C6%B0%E1%BB%9Bng%29
Long Phú (định hướng)
Long Phú có thể là một trong số các địa danh Việt Nam sau: Huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Phường Long Phú, thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang Thị trấn Long Phú, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Xã Long Phú, thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Xã Long Phú, huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng. Xã Long Phú, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
721554
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ziba%20bacillum
Ziba bacillum
Ziba bacillum là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển trong họ Mitridae, họ ốc méo miệng. Miêu tả Phân bố Chú thích Tham khảo Ziba
903882
https://vi.wikipedia.org/wiki/Cardiophorus%20pubicollis
Cardiophorus pubicollis
Cardiophorus pubicollis là một loài bọ cánh cứng trong họ Elateridae. Loài này được Buysson miêu tả khoa học năm 1918. Chú thích Tham khảo Cardiophorus
784522
https://vi.wikipedia.org/wiki/Elaphoidella%20jeanneli
Elaphoidella jeanneli
Elaphoidella jeanneli là một loài động vật giáp xác thuộc họ Canthocamptidae. Đây là loài đặc hữu của Slovenia. Chú thích Tham khảo Sket, B. 1996. Elaphoidella jeanneli. 2006 IUCN Red List of Threatened Species. Truy cập 9 tháng 8 năm 2007. Elaphoidella Động vật giáp xác nước ngọt châu Âu Động vật được mô tả năm 1928
569644
https://vi.wikipedia.org/wiki/Maneki-neko
Maneki-neko
Maneki Neko (kanji: 招き猫 hiragana まねきねこ, có thể hiểu là Mèo vẫy tay, chữ 招 âm Hán-Việt là Chiêu, chữ 猫 là Miêu[neko ねこ],có thể hiểu là mèo chiêu tài Maneki Neko) là một loại tượng phổ biến ở Nhật (gốc) và những nước Đông Nam Á, thường được làm bằng gốm, được cho là mang lại may mắn cho chủ nhân của nó. Đó là hình tượng một chú mèo đang vẫy gọi bằng một chân trước, thường được đặt ở cửa ra vào ở các của hàng, nhà hàng, cửa hàng trò chơi điện tử và các dịch vụ kinh doanh khác. Vài loại tượng Maneki neko điện tử có gắn pin ở bên trong có thể vẫy chân chầm chậm để mời mọc khách. Ngoài ra hình tượng Maneki Neko còn được dùng để làm móc khóa, ống heo, máy điều hòa... Đền Gotoku được xem là nơi xuất xứ nguyên gốc của Maneki Neko. Đặc điểm cơ bản Hình dáng bên ngoài Đối với người phương Tây, điệu bộ của Maneki Neko giống như đưa chân lên xuống hơn là vẫy tay ra hiệu. Điều này cũng giống như người Việt Nam muốn gọi ai đó thì úp lòng bàn tay xuống khi ra hiệu muốn ai đó đi về phía mình, trong khi người phương Tây lại ngửa lòng bàn tay lên khi ra hiệu. Đôi khi Maneki Neko còn được làm vẫy chân trái hoặc cả hai chân trước. Sự quan trọng của việc vẫy bên trái hay bên phải tùy thuộc vào thời gian và địa điểm. Người ta tin rằng vẫy chân trái sẽ rước được nhiều khách hàng, vẫy chân phải sẽ mang lại may mắn và tài lộc, còn vẫy cả hai chân tượng trưng cho sự bảo vệ. Nhưng vẫn có những ý kiến trái ngược nhau về vấn đề này. Vòng cổ, yếm, và chuông Maneki Neko thường có vài thứ trang trí ở xung quanh cổ. Nó có thể là khăn quàng cổ, nhưng thông dụng nhất vẫn là vòng cổ, chuông và yếm để trang trí. Những thứ trang trí này có nhiều khả năng là bắt chước của trang phục phổ biến cho mèo trong các hộ gia đình giàu có trong thời kỳ Edo. Đồng tiền Maneki Neko đôi khi được thể hiện cầm một đồng tiền vàng cổ của Nhật Bản (được gọi là koban), được sử dụng trong suốt thời kỳ Edo. Một đồng Koban có giá trị một ryō (両, Hán-Việt: lạng), điển hình thì Maneki Neko giữ một đồng vàng Koban trị giá mười triệu lượng (千万両 (せんまんりょう), Hán-Việt: thiên vạn lượng). Chất liệu Maneki Neko thường được làm bằng gốm. Tuy nhiên nó cũng có thể được làm bằng nhiều vật liệu khác nhau từ nhựa, đến gỗ, giấy bồi cho đến đất sét. Một số tượng mèo thần tài Maneki Neko đắt tiền có thể làm bằng vàng. Còn loại chuyển động được đa phần làm từ nhựa. Ý nghĩa của mèo thần tài Maneki Neko Trong phong thủy, mèo thần tài có nghĩa gì? Với tính chất là loại đồ vật đem đến nhiều may mắn, mèo Maneki Neko được thiết kế với nhiều đồ vật đi kèm, màu sắc cũng có sự thay đổi theo từng loại. Cùng tìm hiểu ý nghĩa của loài mèo này ngay sau đây. Theo màu sắc Mỗi màu sắc lại mang đến một ý nghĩa khác nhau. Cụ thể: Mèo tam thể: Đây là loại phổ biến nhất, đem lại may mắn, hạnh phúc, bình an đến mọi nhà. Mèo trắng: Loại mèo này tượng trưng cho sự trong sạch, thuần khiết trong tâm hồn. Mèo đỏ: Trưng bày mèo đỏ trong nhà có tác dụng tránh quỷ dữ, xua đuổi bệnh tật. Mèo đen: Những chú mèo thần tài màu đen được người dân Nhật Bạn sử dụng khá nhiều. Mục đích là bảo vệ gia đình khỏi những kẻ quấy rối, xua đuổi tà ma và cầu chúc sức khỏe an khang. Mèo xanh lá cây: Loài mèo này đem lại nhiều may mắn trong việc học hành. Mèo hồng: Đây là màu sắc mang đến sự may mắn trong con đường tình duyên, giúp gia chủ nhanh chóng tìm được “một nửa” của cuộc đời mình. Mèo vàng: Những chú mèo vàng tượng trưng cho sự giàu sang, phú quý, tiền tài đầy nhà. Theo hình dáng Ý nghĩa mèo thần tài trong phong thủy còn phụ thuộc vào hình dáng bên ngoài. Mèo giơ tay trái, tay phải hay cả hai tay đều mang một ý nghĩa riêng. Mèo giơ tay phải: Thường những chú mèo giơ tay phải là mèo cái được dùng để đặt tại văn phòng làm việc, địa điểm kinh doanh, nhà ở… nhằm đem lại phúc khí. Mèo sẽ giúp các thành viên gắn kết, hòa thuận và vui vẻ. Nếu có nảy sinh mâu thuẫn, rất nhanh sau đó, mâu thuẫn sẽ được giải quyết. Mèo giơ tay trái: Loại này giúp thu nạp tài khí, lợi lộc, giúp công việc kinh doanh thuận buồm, xuôi gió. Thậm chí cơ hội giàu sang là điều hoàn toàn có thể xảy ra. Sự nghiệp cá nhân của gia chủ cũng sớm thành đạt, công thành, danh toại. Mèo giơ 2 tay: Những chú mèo giơ 2 tay mang đến nhiều ý nghĩa tốt đẹp trong công việc, cuộc sống gia đình. Mọi mong ước đều đúng theo ý nguyện. Mèo giơ 2 tay ôm thỏi vàng, chuông vàng: Chú mèo này mang ý nghĩa về nhân duyên, kêu gọi phúc khí, thu hút tài lộc. Theo đồ vật đi kèm Ngày nay, những chú mèo thần tài không chỉ được dùng để làm tượng mà còn làm vòng cổ, yếm, chuông, in trên quần áo… Chúng còn đi kèm thêm với các loại đồ vật như đồng Koban, quạt, câu đối, rìu, trống, cá chép… Ý nghĩa như sau: Mèo cầm đồng Koban: Đồng Koban là loại vàng cổ, tượng trưng cho tài lộc. Mỗi đồng Koban tính là 1 đồng ryou. Đồng tiền chú mèo thần tài cầm trên tay có giá trị hơn 10 triệu ryou. Mèo cầm rìu, trống, câu đối, quạt: Các đồ vật này mang ý nghĩa khai vận, mang đến may mắn, gọi niềm vui tới. Mèo cầm cá chép hoặc cá Koi: Đây là biểu tượng của sự sung túc, thu hút tài khí, gặp nhiều may mắn trong thi cử. Mèo cầm hồ lô: Mang đến sự bình an, hóa giải mọi tai ương, đảm bảo sức khỏe của các thành viên trong gia đình. Mèo thần tài cầm đá quý: Đây là biểu tượng của sự khôn khéo, khôn ngoan trong công việc và cuộc sống. Dù với ý nghĩa nào, mèo thần tài Maneki Neko luôn đem lại tài lộc, may mắn, sức khỏe và bình an. Chính vì thế, nó được rất nhiều gia đình, công ty lựa chọn. Chú thích Mèo trong văn hóa đại chúng Sưu tập Tín ngưỡng Nhật Bản Văn hóa đại chúng Nhật Bản May mắn
899380
https://vi.wikipedia.org/wiki/Triepeolus%20rufoclypeus
Triepeolus rufoclypeus
Triepeolus rufoclypeus là một loài Hymenoptera trong họ Apidae. Loài này được Fox mô tả khoa học năm 1891. Chú thích Tham khảo Triepeolus Động vật được mô tả năm 1891
960735
https://vi.wikipedia.org/wiki/Phyllolabis%20pallidivena
Phyllolabis pallidivena
Phyllolabis pallidivena là một loài ruồi trong họ Limoniidae. Chúng phân bố ở miền Ấn Độ - Mã Lai. Liên kết ngoài Tham khảo Phyllolabis Limoniidae ở vùng Indomalaya
117817
https://vi.wikipedia.org/wiki/N%E1%BB%AF%20Nhi%20sinh%20H%C6%B0%E1%BB%9Bng%20%C4%91%E1%BA%A1o
Nữ Nhi sinh Hướng đạo
Nữ Nhi sinh Hướng đạo (Rainbow Guide) là một bé gái từ 3 đến 7 tuổi (tùy theo mỗi quốc gia) và là một thành viên nữ của phong trào Hướng đạo. Chương trình ngành Nhi nói chung cho nam và nữ là ngành nhỏ tuổi nhất và mới nhất trong các ngành của Hướng đạo. Hướng đạo Việt Nam không có ngành Nhi, cả nam và nữ, trừ Hướng đạo Việt Nam tại các quốc gia có ngành Nhi cho nam hoặc nữ. Tên gọi ở các nước Vương quốc Anh: từ 5-7 tuổi gọi là Rainbow Guides (Bắc Ireland từ 4-7 tuổi) Hoa Kỳ: từ 5-6 tuổi gọi là Daisy Scouts Ireland: từ 5-7 tuổi gọi là Ladybirds Nam Phi: từ 4,5-7 tuổi gọi là Teddies. Canada: từ 5-6 tuổi gọi là Sparks. Ấn Độ: từ 3-6 gọi là Bunnies Xem thêm Tham khảo Nữ Hướng đạo Giáo dục tuổi thơ
910222
https://vi.wikipedia.org/wiki/Penia%20pallida
Penia pallida
Penia pallida là một loài bọ cánh cứng trong họ Elateridae. Loài này được Fleutiaux miêu tả khoa học năm 1936. Chú thích Tham khảo Penia
867992
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ischnura%20ariel
Ischnura ariel
Ischnura ariel là một loài chuồn chuồn kim trong họ Coenagrionidae. Ischnura ariel được Lieftinck miêu tả khoa học năm 1949. Chú thích Tham khảo Ischnura
743937
https://vi.wikipedia.org/wiki/Oxymeris%20gouldi
Oxymeris gouldi
Oxymeris gouldi là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển trong họ Terebridae, họ ốc dài. Miêu tả Phân bố Chú thích Tham khảo Oxymeris
846716
https://vi.wikipedia.org/wiki/8488%20d%27Argens
8488 d'Argens
8488 d'Argens (1989 SR1) là một tiểu hành tinh vành đai chính được phát hiện ngày 16 tháng 9 năm 1989 bởi E. W. Elst ở Đài thiên văn Nam Âu. Tham khảo Liên kết ngoài JPL Small-Body Database Browser ngày 8488 d'Argens Tiểu hành tinh vành đai chính Được phát hiện bởi Eric Walter Elst Thiên thể phát hiện năm 1989
870010
https://vi.wikipedia.org/wiki/Diplectrona%20klytie
Diplectrona klytie
Diplectrona klytie là một loài Trichoptera trong họ Hydropsychidae. Chúng phân bố ở miền Ấn Độ - Mã Lai. Tham khảo Diplectrona
213590
https://vi.wikipedia.org/wiki/Methyl%20salicylat
Methyl salicylat
Methyl salicylat (công thức hóa học C6H4(HO)COOCH3 còn được gọi là salicylic acid methyl ester, methyl-2-hydroxybenzoat) là sản phẩm tự nhiên của rất nhiều loại cây, được dùng làm thuốc giảm đau, chống viêm. Methyl salicylat có tác dụng gây xung huyết da, thường được phối hợp với các loại tinh dầu khác dùng làm thuốc bôi ngoài, thuốc xoa bóp, cao dán giảm đau. Sinh tổng hợp và xuất hiện Hợp chất methyl salicylat lần đầu tiên được phân lập (từ cây Gaultheria procumbens) vào năm 1843 bởi nhà hóa học người Pháp Auguste André Thomas Cahours (1813–1891), người đã xác định nó là một ester của acid salicylic và methanol. Loài cây Gaultheria procumbens tổng hợp chất này. Sinh tổng hợp methyl salicylat phát sinh thông qua quá trình hydroxyl hóa của acid benzoic bởi một cytochrome P450 tiếp theo là methyl hóa bởi một enzyme methylase. Methyl salicylat có thể được sản xuất như một cách chống động vật ăn cỏ. Nếu cây bị côn trùng ăn cỏ ăn, việc tiết ra methyl salicylat có thể hoạt động như một sự trợ giúp trong việc tuyển dụng côn trùng có lợi để tiêu diệt côn trùng ăn cỏ. Ngoài độc tính của nó, methyl salicylat cũng có thể được sử dụng bởi thực vật như một pheromone để cảnh báo các loại thực vật gây bệnh khác như vi rút khảm thuốc lá. Tham khảo Liên kết ngoài MedlinePlus - Methyl salicylat overdose MedlinePlus - Sports cream overdose CNN - Medical examiner: Sports cream caused teen's death NLM Hazardous Substances Databank – Methyl salicylat Xem thêm Thuốc chống viêm non-steroid Aspirin Thuốc chống viêm không steroid Hương liệu
568836
https://vi.wikipedia.org/wiki/Puyallup%2C%20Washington
Puyallup, Washington
Puyallup là một thành phố nằm trong quận Pierce thuộc tiểu bang Washington, Hoa Kỳ. Thành phố này được đặt tên theo. Theo điều tra dân số của Cục điều tra dân số Hoa Kỳ năm 2000, thành phố có dân số người. Lịch sử Địa lý Theo Cục điều tra dân số Hoa Kỳ, thành phố có diện tích km2, trong đó có km2 là diện tích mặt nước. Thông tin nhân khẩu Kinh tế Giáo dục Tham khảo Liên kết ngoài Thành phố của Washington (tiểu bang)
947955
https://vi.wikipedia.org/wiki/Idiotipula%20confluens
Idiotipula confluens
Idiotipula confluens là một loài ruồi trong họ Ruồi hạc (Tipulidae). Chúng phân bố ở vùng nhiệt đới châu Phi. Tham khảo Idiotipula
445444
https://vi.wikipedia.org/wiki/Richard%20Edwin%20Shope
Richard Edwin Shope
(25.12.1901– 2.10.1966) là nhà virus học người Mỹ, người đầu tiên đã cách ly được virus bệnh cúm, đồng thời cũng là người đầu tiên đã tiêm ngừa bệnh cúm cho động vật. Ông cũng là người đầu tiên xác định virus là tác nhân gây ra trận dịch cúm lớn Tây Ban Nha trong các năm 1918-1919. Ông được thưởng Giải nghiên cứu Y học lâm sàng Lasker-DeBakey năm 1957 Tham khảo Sinh năm 1901 Mất năm 1966 Nhà khoa học Hoa Kỳ Nhà virus học
37564
https://vi.wikipedia.org/wiki/Cabo%20Verde
Cabo Verde
Cabo Verde ( (), , phiên âm: "Ca-bô Ve-đê" hay "Cáp-ve", nghĩa là "Mũi Xanh"), tên chính thức là Cộng hòa Cabo Verde (tiếng Bồ Đào Nha: República de Cabo Verde) là một quốc đảo gồm một quần đảo san hô 10 đảo nằm ở trung tâm Đại Tây dương, cách bờ biển Tây Phi khoảng 570 km, gồm 10 đảo núi lửa với tổng diện tích đất khoảng . Các đảo này có khoảng cách giữa về phía tây Cabo Verde nằm ở điểm cực tây của lục địa Châu Phi. Các đảo Cabo Verde là một phần của vùng sinh thái Macaronesia, cùng với Azores, quần đảo Canary, Madeira và quần đảo Savage . Quần đảo Cabo Verde đã không có người ở cho đến thế kỷ 15, khi các nhà thám hiểm của Bồ Đào Nha khám phá và thuộc địa hóa quần đảo này, do đó thiết lập khu định cư đầu tiên của người Châu Âu ở vùng nhiệt đới. Vì các đảo ở Cabo Verde nằm ở một vị trí thuận tiện để đóng một vai trò trong buôn bán nô lệ Đại Tây Dương, Cabo Verde trở nên thịnh vượng về kinh tế trong suốt thế kỷ 16 và 17, thu hút các thương gia, các tàu lùng và cướp biển. Quần đảo này suy giảm kinh tế vào thế kỷ 19 do sự đàn áp của việc buôn bán nô lệ ở Đại Tây Dương, và nhiều cư dân của quần đảo đã di cư trong thời kỳ đó. Tuy nhiên, Cabo Verde dần dần phục hồi kinh tế khi trở thành một trung tâm thương mại quan trọng và điểm dừng chân hữu ích dọc các tuyến đường vận tải biển chính. Năm 1951, Cabo Verde được hợp nhất như một bộ tỉnh hải ngoại của Bồ Đào Nha, nhưng cư dân của quần đảo vẫn tiếp tục chiến dịch giành độc lập mà họ đã đạt được vào năm 1975. Kể từ đầu những năm 1990, Cabo Verde đã là một quốc gia theo thể chế dân chủ đại diện ổn định, và vẫn là một trong những quốc gia dân chủ và phát triển nhất ở châu Phi. Thiếu tài nguyên thiên nhiên, nền kinh tế đang phát triển của quốc gia này chủ yếu theo hướng dịch vụ, với trọng tâm ngày càng tăng vào du lịch và đầu tư nước ngoài. Dân số khoảng 483.628 người vào năm 2021 chủ yếu là người gốc Phi và châu Âu di sản và chủ yếu là Công giáo, theo phản ánh di sản của sự cai trị của Bồ Đào Nha. Một cộng đồng ngoại kiều Cabo Verde lớn tồn tại trên khắp thế giới, đặc biệt là ở Hoa Kỳ và Bồ Đào Nha, và đông hơn đáng kể cư dân trên các hòn đảo. Cabo Verde là một quốc gia thành viên của Liên minh châu Phi. Ngôn ngữ chính thức của Cabo Verde là tiếng Bồ Đào Nha. Nó là ngôn ngữ của sự hướng dẫn và chính phủ. Nó cũng được sử dụng trên báo chí, truyền hình và đài phát thanh. Lịch sử Trước đây, quần đảo này không có cư dân. Người Bồ Đào Nha đến Cabo Verde năm 1460 và chiếm Cabo Verde làm thuộc địa từ năm 1495. Phần lớn dân cư ngày nay là người lai giữa người Bồ Đào Nha và người châu Phi. Với vị trí nằm ngay trên thương lộ nối châu Phi, châu Âu và châu Mỹ, Cabo Verde từng là trung tâm buôn bán nô lệ sầm uất, nhưng đến năm 1876 khi chế độ nô lệ bị bãi thì vị thế quần đảo này phai nhạt dần. Năm 1951, về mặt hành chánh Cabo Verde trở thành một tỉnh hải ngoại của Bồ Đào Nha. Năm 1961, chính phủ Bồ Đào Nha trao quyền công dân cho mọi người dân Cabo Verde, xem họ bình đẳng trước luật pháp như dân ở chính quốc. Phong trào độc lập dưới sự lãnh đạo của Đảng châu Phi vì Độc lập Guiné-Bissau và Cabo Verde (PAIGC), thành lập từ năm 1956. Biến cố đảo chính năm 1974 ở Bồ Đào Nha đánh dấu một trang sử mới khi chính phủ Lisboa theo đuổi chính sách "giải thực" trao độc lập cho các xứ thuộc địa. Sự việc này diễn ra ngày 20 tháng 12 khi Bồ Đào Nha chính thức ký kết trả độc lập cho Cabo Verde. Cabo Verde tuyên bố độc lập ngày 5 tháng 7 năm 1975. Đảng châu Phi vì Độc lập Guiné-Bissau và Cabo Verde nắm quyền lãnh đạo đất nước. Năm 1977, Đại hội lần thứ 3 PAIGC chủ trương liên kết kinh tế Guiné-Bissau và Cabo Verde, tiến tới hợp nhất 2 nước thành 1 nước cộng hoà nhưng tháng 11 năm 1980, tướng Joao Bernado Vieira (người Guiné-Bissau) tiến hành đảo chính lật đổ Tổng thống Louis Cabral và lên nắm quyền. Sau sự kiện này, Guiné-Bissau và Cabo Verde cắt quan hệ, bộ phận Đảng của Cabo Verde trong PAIGC tách thành PAICV (Đảng người Phi vì Độc lập của Cabo Verde). Năm 1990, Cabo Verde tiến hành cải cách hiến pháp, tách chức năng của đảng ra khỏi chức năng Nhà nước, chấp nhận chế độ đa đảng. Cuộc tuyển cử đa đảng đầu tiên kể từ khi độc lập diễn ra ngày 13 tháng 1 năm 1991. Đảng Phong trào vì dân chủ giành được đa số phiếu, ứng cứ viên đảng này, Antonio Monteiró trở thành Tổng thống và tái đắc cử năm 1996. Tháng 12 năm 1995, đảng Phong trào Dân chủ (MPD) lại giành được thắng lợi trong cuộc bầu cử Quốc hội, chiếm 59% số phiếu bầu (50/72 ghế Quốc hội). Trong cố gắng phát triển ưu thế về vị trí thuận lợi cả đường biển và đường không xuyên Đại Tây Dương, Nhà nước Cabo Verde tiến hành mở rộng các phi cảng và hải cảng. Các đoàn tàu đánh bắt cá biển và công nghiệp chế biến cá cũng được hiện đại hóa. Tình trạng nghèo đói, thất nghiệp tiếp tục gia tăng, chương trình tư nhân hóa của Chính phủ không mấy thành công đã làm cho đảng Phong trào vì dân chủ thất bại trong cuộc bầu cử năm 2001, José Maria Neves thuộc đảng châu Phi vì Độc lập của Cabo Verde trở thành Thủ tướng. Chính trị Cabo Verde là nước cộng hòa nghị viện. Hiến pháp được phê chuẩn vào năm 1980 và sửa đổi năm 1992, 1995 và 1999. Tổng thống là người đứng đầu nhà nước và được người dân bầu chọn với nhiệm kỳ 5 năm. Thủ tướng là người đứng đầu chính phủ. Thủ tướng được đề cử bởi Quốc hội và được tổng thống chỉ định. Các thành viên của Quốc hội được bầu theo phổ thông đầu phiếu cho nhiệm kỳ 5 năm. Ba đảng phái hiện có ghế trong Quốc hội là PAICV 40 ghế, MPD 30 ghế, và Liên minh Dân chủ Cabo Verde độc lập (UCID) 2 ghế. Hệ thống tư pháp bao gồm một Tòa án tối cao mà các thành viên được bổ nhiệm bởi Tổng thống, Quốc hội và Hội đồng quản trị của ngành Tư pháp và các tòa án khu vực. Tòa án riêng biệt khác nhau sẽ xét xử các vụ dân sự, vi phạm hiến pháp và hình sự. Đối ngoại Cabo Verde theo đường lối độc lập dân tộc, không liên kết, quan hệ mật thiết với các nước thuộc địa cũ của Bồ Đào Nha, chú trọng quan hệ với Bồ Đào Nha, Pháp. Địa lý Cabo Verde là một quần đảo nhỏ ở Tây Phi, nằm ở phía Tây Sénégal. Cabo Verde là một quần đảo núi lửa ở Đại Tây Dương, được chia thành hai nhóm: nhóm Ilhas do Barlavento ở phía Bắc, gồm các đảo Santo Antão (754 km²), Boa Vista (622 km²), São Vincente (246 km²), Sal (298 km²) và Santa Luzia (34 km²); và nhóm Ilhas do Sotavento ở phía Nam gồm có các đảo São Tiago (992 km²), Fogo (477 km²) có một núi lửa còn đang hoạt động, Maio (267 km²) và Brava (65 km²). Địa hình ở các đao này chủ yếu là núi với các vùng đất có nhiều rãnh sâu do xói mòn và nhiều đảo nhỏ. Khí hậu Khí hậu tương đối ôn hòa, mùa hè nóng và ẩm. Lượng mưa thấp và thất thường. Trung bình nhiệt độ hàng ngày dao động từ 23 °C (73 °F) trong tháng 2 đến 29 °C (84,2 °F) trong tháng 9. Cabo Verde là một phần của vành đai khô cằn Sahel. Mưa không đều giữa tháng 8 và tháng 10 với những trận mưa lớn thường xuyên nhưng không kéo dài. Môi trường Nạn phá rừng để lấy gỗ làm nhiên liệu; đất bị xói mòn do tình trạng chăn thả quá mức và sử dụng đất không đúng cách; sa mạc hóa; môi trường bị hủy hoại đe dọa đời sống một số loài chim và bò sát; tình trạng đánh bắt cá quá mức. Hành chính Cabo Verde được chia thành 22 thành phố (concelhos) và 32 giáo xứ (freguesias), các giáo xứ này đã tồn tại trong thời kỳ thuộc địa trên cơ sở giáo xứ của Công giáo: Kinh tế Kinh tế hướng tới các ngành dịch vụ: thương mại, giao thông vận tải và dịch vụ công cộng chiếm khoảng 70% GDP. Mặc dầu gần 70% dân số sống ở nông thôn nhưng nông nghiệp chỉ chiếm 8% GDP, trong đó ngư nghiệp chiếm khoảng 15% (năm 1995). Cabo Verde phải nhập khẩu đến 90% lương thực. Tiềm năng nghề cá, chủ yếu là tôm hùm và cá ngừ, còn chưa được quan tâm khai thác. Tình trạng thâm hụt hàng năm cao, phải nhờ vào viện trợ của quốc tế và tiền gửi của khoảng 60.000 người di cư (số tiền gửi này đóng góp hơn 20% GDP). Những cải cách kinh tế do Chính phủ dân chủ mới đưa ra năm 1991 đã hướng vào phát triển khu vực kinh tế tư nhân và thu hút đầu tư nước ngoài để đa dạng hóa nền kinh tế. Trước đây Cabo Verde là vùng núi lửa, nay là bán sa mạc, khô cằn, ít mưa, luôn bị hạn, kinh tế nghèo nàn, thiếu lương thực. Nguồn thu nhập chính là thuê sân bay, hải cảng, muối. Đóng góp của kiều dân Cáp-ve ở nước ngoài là nguồn thu nhập ngoại tệ đáng kể của nền kinh tế nước này. Từ năm 2000 đến năm 2009, GDP tăng trung bình hơn 7% một năm, cao hơn mức trung bình so với các nước tiểu vùng Sahara và nhanh hơn so với các nền kinh tế ở các quốc đảo nhỏ nhất trong khu vực. Hoạt động kinh tế phất triển mạnh mẽ do sự góp phần của ngành công nghiệp du lịch được xem là phát triển nhanh nhất trên thế giới, cũng như dòng vốn đầu tư nước ngoài đáng kể cho phép Cabo Verde phát triển mạnh kinh tế. Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm nhanh chóng, và đất nước đang đi đúng hướng để đạt được hầu hết các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ do Liên Hợp Quốc đề ra, bao gồm giảm một nửa mức nghèo đói trong năm 1990. Trong năm 2007, Cabo Verde gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và trong năm 2008 thoát khỏi danh sách Các quốc gia kém phát triển nhất (LDC) trở thành nước có thu nhập trung bình (MIC). GDP (thực tế): 1,68 tỷ USD (2009). GNP bình quân: 3.900 USD (2009). Tăng trưởng: 1,8% (2009). Giáo dục Giáo dục tiểu học tại Cabo Verde là bắt buộc trong độ tuổi từ 6 đến 14 và miễn phí cho trẻ em từ 6 đến 12 tuổi. Năm 2008, tỷ lệ nhập học tiểu học là 84%. Khoảng 85% tổng dân số trên 15 tuổi biết chữ. Sách giáo khoa được cung cấp miễn phí tới 90% học sinh, và 90% các giáo viên được tham dự dịch vụ đào tạo giáo viên. Mặc dù hầu hết trẻ em được tiếp cận với giáo dục, nhưng cũng còn một số vấn đề lớn trong việc giáo dục. Ví dụ, nhiều sinh viên và một số giáo viên nói tiếng Creole ở nhà và họ nói không rành tiếng Bồ Đào Nha (ngôn ngữ giảng dạy); không có đủ chi phí cho dụng cụ học tập, và có một tỷ lệ lưu ban cao. Y tế Dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng miễn phí, tuy nhiên chất lượng y tế không cao (thiếu thốn trang thiết bị và nhân viên). Khu vực nông thôn chỉ có khoảng 1/2 số dân được sử dụng nước sạch. Tỷ lệ tử vong trẻ sơ sinh tại Cabo Verde là 18 trên 1.000 ca, và tỷ lệ tử vong ở mẹ là 53,7 ca tử vong trên 100.000 ca. Tỷ lệ nhiễm AIDS là thấp - có khoảng 1.700 bệnh nhân HIV/AIDS trong cả nước, với hơn một nửa trong số này nằm ở Praia. Nhân khẩu học Số liệu thống kê nhân khẩu học của ESA nói Cabo Verde có dân số 567.000 trong năm 2010. Dân tộc Phần lớn dân số là người Creole (lai giữa người da đen và da trắng). Một nghiên cứu di truyền cho thấy tổ tiên của người Cabo Verde chủ yếu là người châu Âu trong dòng nam và Tây Phi trong dòng nữ; tính với nhau tỷ lệ này là 57% châu Phi và 43% châu Âu. Tôn giáo Khoảng 95% dân số là Kitô giáo. Hơn 85% dân số là trên danh nghĩa là Công giáo La Mã,. Các giáo phái Tin Lành lớn nhất là Giáo hội Nazarene;. Các nhóm khác bao gồm Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm, Mặc Môn, Phong trào Ngũ Tuần và Tin Lành khác. Có một cộng đồng Hồi giáo nhỏ. Những người vô thần được ước tính ít hơn 1% dân số. Văn hóa Văn học đất mũi Verdean Âm nhạc Âm nhạc đảo quốc này là sự kết hợp giữ âm nhạc Bồ Đào Nha, Caribe, châu Phi, và ảnh hưởng của âm nhạc Brazil. âm nhạc quốc gia tinh túy của Cabo Verde là Morna, một hình thức hát u sầu và trữ tình thường hát bằng tiếng Creole. Thể loại âm nhạc phổ biến nhất sau morna là coladeira tiếp theo funaná và âm nhạc batuque. Thế giới biết đến nền âm nhạc Cabo Verde qua những ca sĩ nổi tiếng thế giới như Ildo Lobo và Cesária Évora mà các bài hát của họ đã trở thành một biểu tượng và nền văn hóa của đất nước. Ngoài ra còn có các nghệ sĩ nổi tiếng thế giới được sinh ra ở Cabo Verde. Trong số đó có các nghệ sĩ như nghệ sĩ piano và jazz Horace Silver, nghệ sĩ saxophone Paul Gonsalves Duke Ellington, Paul Pena, anh em Tavares và ca sĩ Lura. Ngôn ngữ Ngôn ngữ chính thức của Cabo Verde là tiếng Bồ Đào Nha. Nó là ngôn ngữ được giảng dạy và là ngôn ngữ chính thức của chính phủ. Tuy nhiên, tiếng Creole được sử dụng một cách thông dụng và được xem là tiếng mẹ đẻ của hầu như tất cả người Cabo Verde. Giao thông vận tải Ở Cabo Verde, giao thông vận tải giữa các đảo được thực hiện bằng máy bay. Có các chuyến bay thường xuyên đến và đi từ các đảo chính (Santiago, Sal và São Vicente), với các chuyến bay ít hơn đối với các đảo khác. Giao thông vận tải bằng thuyền cũng có sẵn, mặc dù không được sử dụng rộng rãi cũng như sự an toàn không được bảo đảm. Trong các thành phố lớn, xe buýt công cộng chạy theo định kỳ và taxi là phương tiện di chuyển phổ biến. Ở các thị trấn nhỏ, phương tiện giao thông vận tải chủ yếu là xe khác Toyota hiaces hoặc taxi. Báo chí Báo chí trực tuyến Chủ đề hỗn hợp Xem thêm Quốc kỳ Cabo Verde Quốc huy Cabo Verde Tham khảo Liên kết ngoài Thời tiết ở Cabo Verde Tổng quan về Cabo Verde Hình ảnh về Cabo Verde Cộng hòa Đảo tại Bắc Đại Tây Dương Đảo của châu Phi Quần đảo Macaronesia Đảo quốc Quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc Quốc gia và vùng lãnh thổ nói tiếng Bồ Đào Nha Macaronesia Cộng đồng Kinh tế Tây Phi Quốc gia Tây Phi Quốc gia thành viên Cộng đồng các nước nói tiếng Bồ Đào Nha
970461
https://vi.wikipedia.org/wiki/Copelatus%20pantosi
Copelatus pantosi
Copelatus pantosi là một loài bọ cánh cứng trong họ Bọ nước. Loài này được Guignot miêu tả khoa học năm 1958. Chú thích Tham khảo Bọ nước Copelatus
796265
https://vi.wikipedia.org/wiki/B%C3%AD%20m%E1%BA%ADt%20B%C3%BAt%20k%C3%BD%20ng%C6%B0%E1%BB%9Di%20%C4%91i%20s%C4%83n
Bí mật Bút ký người đi săn
Bí mật Bút ký người đi săn ( / Lạp nhân bút ký chi mê, tiếng Nga: Последний секрет Мастера / Bí mật cuối cùng của một nghệ nhân, Последний секрет самурая / Bí mật cuối cùng của một võ sư) là một bộ phim hình sự - tâm lý xã hội của đạo diễn Ưu Tiểu Cương, ra mắt lần đầu năm 2010. Nội dung Truyện phim xoay quanh cuốn bản thảo viết tay Bút ký người đi săn của đại văn hào Ivan Turgenev. Phía sau cuốn bản thảo ấy có một tấm bản đồ kho báu bí mật chứa một tài sản khổng lồ. Trước đây cuốn bản thảo nằm trong Viện Bảo tàng quốc gia Pháp nhưng một ngày nọ nó được chuyển đến Nga để triển lãm. Các tập đoàn tội phạm đã lên kế hoạch đánh cắp. Mọi việc bắt đầu bằng cuộc truy lùng, tranh giành và điều tra tấm bản đồ. Dưới sự giám sát chặt chẽ của nhân viên an ninh Pháp, Nga và Trung Quốc, cuốn bản thảo vẫn rơi vào tay một nhóm cướp ở núi Võ Đang rồi luân phiên qua tay nhiều nhân vật bí ẩn trong quá trình di chuyển trưng bày đến triển lãm. Diễn xuất Viktor Loginov... Fyodor Karavayev Tatyana Abramova... Varvara (vợ Fyodor) Trần Tiểu Xuân... Lý Đại Ngưu (võ sư, ảo thuật gia) Nadezhda Gorelova... Đại úy Nina Diveyeva Lưu Xán... Vệ Bình (võ sư, nhân viên Interpol) Yegor Pazenko... Bayan Aleksandr Sheludko... Neyman (nhà Sử học, thợ săn bản thảo) Gennady Vengerov... "Sa Hoàng" Tatyana Polezhaykina... Natalia Ogneva (ca sĩ, nhân tình của "Sa Hoàng") Lôi Mục... Lý Hổ (võ sư) Boris Mironov... Sherkhan Fyodor Dobronravov Vạn Ni Ân Marina Orlova... Yelena Sarayeva Sergey Pinchuk... Grigory Pustovey (Cảnh sát trưởng) Aleksey Agryzkov Olga Ivolgina... Monika (vệ sĩ của "Sa Hoàng") Anatoly Shutov Sergey Bondarev (III)... Gorin Viktor Chayka Andrey Isayev (III)... Sergey Trofimov (Giám đốc trại trẻ mồ côi) Mikhail Shmakov... Mikhail Shmakov (Chủ tịch Liên đoàn Kickboxing) Valery Lebedinsky Vladimir Dombrovsky Vitas Irina Allegrova Ê-kíp Hậu trường Xem thêm Clip hậu trường: 1 2 3 4 Xem phim trực tuyến: Tiếng Nga Tiếng Trung Quốc Tiếng Việt Thông tin trên Website Điện ảnh Nga Thông tin trên Website KinoPoisk Thông tin trên Website Kino-Teatr Bí mật Bút ký người đi săn: Mở đầu đã gay cấn - 24H.com.VN // Thứ Năm, 9-6-2011, 00:02 Bí mật Bút ký người đi săn - Phim hợp tác Nga-Trung đầu tiên Phim của Trung tâm Nghệ thuật Truyền hình Bắc Kinh Phim của REN-TV Phim truyền hình Nga Phim truyền hình Trung Quốc ra mắt năm 2010
842586
https://vi.wikipedia.org/wiki/%2813228%29%201997%20SJ25
(13228) 1997 SJ25
{{DISPLAYTITLE:(13228) 1997 SJ25}} (13228) 1997 SJ25 là một tiểu hành tinh vành đai chính. Nó được phát hiện bởi Yoshisada Shimizu và Takeshi Urata ở Đài thiên văn Nachi-Katsuura ở Nachikatsuura, Wakayama, Nhật Bản, ngày 29 tháng 9 năm 1997. Xem thêm Danh sách các tiểu hành tinh: 13001–14000 Tham khảo Thiên thể phát hiện năm 1997 Được phát hiện bởi Takeshi Urata Được phát hiện bởi Yoshisada Shimizu Tiểu hành tinh vành đai chính
19971
https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A3ng%20ARM
Hãng ARM
ARM Holdings, tên đầy đủ là Advanced RISC Machines (ARM) Ltd., là một hãng thiết kế vi xử lý có trụ sở ở nước Anh. ARM Holdings được thành lập bởi Hermann Hauser vào năm 1990 và được niêm yết trên thị trường chứng khoán Luân Đôn với ký hiệu là ARM và trên sàn chứng khoán NASDAQ với ký hiệu là ARMHY. Hãng này nổi tiếng với họ vi xử lý kiến trúc ARM được dùng khá phổ biến trong các thiết bị nhúng và các ứng dụng cầm tay nhờ vào đặc tính ưu việt là ít tiêu thụ điện năng. Hầu hết máy điện thoại di động và máy PDA hiện nay đều có CPU theo kiến trúc ARM. Không giống như các tập đoàn sản xuất vi xử lý khác như AMD, Intel, Motorola hay Hitachi, ARM chỉ thiết kế và bán các bản thiết kế của họ mà không sản xuất các vi mạch CPU hoàn chỉnh. Do vậy, có khoảng vài chục hãng sản xuất các bộ xử lý dựa trên thiết kế của ARM. Lịch sử Tên gọi Từ viết tắt ARM được dùng lần đầu năm 1983 và ban đầu là viết tắt của "Acorn RISC Machine". Vi xử lý RISC đầu tiên của Acorn Computers first RISC được sử dụng trong Acorn Archimedes ban đầu và là một trong những bộ vi xử lý RISC đầu tiên được sử dụng trong các máy tính nhỏ. Tuy nhiên, khi công ty được thành lập vào năm 1990, là các chữ được đổi thành "Advanced RISC Machines", tên gọi đầy đủ của công ty là "Advanced RISC Machines Ltd." Tại thời điểm IPO năm 1998, công ty đã đổi tên thành "ARM Holdings", và thường được gọi tắt là ARM tương tự các vi xử lý. Thành lập Công ty thành lập tháng 10/1990 với tên gọi Advanced RISC Machines Ltd và cơ cấu như là một liên doanh giữa Acorn Computers, Apple Computer (bây giờ là Apple Inc.) và VLSI Technology. Công ty mới nhằm đẩy mạnh sự phát triển của bộ vi xử lý Acorn RISC Machine, ban đầu được sử dụng trong Acorn Archimedes sau đó được Apple chọn cho dự án Newton của họ. Năm công ty có lợi nhuận đầu tiên là năm 1993. Văn phòng của công ty tại Silicon Valley và Tokyo được mở năm 1994. ARM đầu tư vào Palmchip Corporation năm 1997 để cung cấp hệ thống trên nền tảng chip và nhập vào thị trường ổ cứng. Năm 1998 công ty đổi tên từ Advanced RISC Machines Ltd thành ARM Ltd. Công ty IPO lên sàn London Stock Exchange và NASDAQ năm 1998 và tháng 1/1999, cổ phần của Apple đã giảm xuống còn 14.8%. Năm 2010, ARM gia nhập với IBM, Texas Instruments, Samsung, ST-Ericsson và Freescale Semiconductor (bây giờ là NXP Semiconductors) thành lập một công ty phi lợi nhuận nguồn mở, Linaro. Thay đổi chủ sở hữu Tập đoàn viễn thông Nhật Bản SoftBank Group đã đạt được thỏa thuận mua lại ARM ngày 18/7/2016, được sự chấp thuận của các cổ đông của ARM, định giá công ty ở 23,4 tỷ bảng Anh. Các giao dịch được hoàn tất vào ngày 5/9/2016. Xem thêm Kiến trúc ARM Tham khảo Liên kết ngoài Website của Hãng ARM ARM projects and information Công ty điện tử Công ty được niêm yết trên NASDAQ Apple Công ty niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán Luân Đôn
916129
https://vi.wikipedia.org/wiki/Calomicrus%20scutellatus
Calomicrus scutellatus
Calomicrus scutellatus là một loài bọ cánh cứng trong họ Chrysomelidae. Loài này được Jacoby miêu tả khoa học năm 1897. Chú thích Tham khảo Calomicrus
587103
https://vi.wikipedia.org/wiki/Epinotia
Epinotia
Epinotia là một chibướm đêm rất lớn, thuộc tông Eucosmini, phân họ Olethreutinae, họ Tortricidae. Các loài Có 166 loài thuộc chi này, tính đến năm 2009. Epinotia abbreviana (Fabricius, 1794) Epinotia abnormana Kuznetzov, 1973 Epinotia absconditana (Walker, 1863) Epinotia aciculana Falkovitsh, 1965 Epinotia albangulana (Walsingham, 1879) Epinotia albicapitana (Kearfott, 1907) Epinotia albiguttata (Oku, 1974) Epinotia algeriensis Chambon in Chambon, Fabre & Khemeci, 1990 Epinotia aquila Kuznetzov, 1968 Epinotia araea Diakonoff, 1983 Epinotia arctostaphylana (Kearfott, 1904) Epinotia aridos Freeman, 1960 Epinotia atacta Diakonoff, 1992 Epinotia autonoma Falkovitsh, 1965 Epinotia autumnalis Oku, 2005 Epinotia balsameae Freeman, 1965 Epinotia biangulana (Walsingham, 1879) Epinotia bicolor (Walsingham, 1900) Epinotia bicordana Heinrich, 1923 Epinotia bigemina Heinrich, 1923 Epinotia bilunana Epinotia bricelus Diakonoff, 1992 Epinotia brunneomarginata (Razowski & Wojtusiak, 2006) Epinotia brunnichana Epinotia bushiensis Kawabe, 1980 Epinotia canthonias (Meyrick, 1920) Epinotia caprana (Fabricius, 1798) Epinotia castaneana (Walsingham, 1895) Epinotia cedricida Diakonoff, 1969 Epinotia celtisana (Riley, 1881) Epinotia cercocarpana (Dyar, 1903) Epinotia chloana Razowski & Wojtusiak, 2006 Epinotia chloizans Razowski & Wojtusiak, 2006 Epinotia cineracea Nasu, 1991 Epinotia clasta Diakonoff, 1983 Epinotia columbia (Kearfott, 1904) Epinotia contrariana (Christoph, 1882) Epinotia corylana McDunnough, 1925 Epinotia coryli Kuznetzov, 1970 Epinotia crenana (Hübner, [1817]) Epinotia criddleana (Kearfott, 1907) Epinotia cruciana – Willow Tortrix Epinotia cuphulana (Herrich-Schäffer, 1851) Epinotia dalmatana (Rebel, 1891) Epinotia demarniana Epinotia densiuncaria Kuznetzov, 1985 Epinotia deruptana Kennel, 1901 Epinotia digitana Heinrich, 1923 Epinotia dorsifraga Diakonoff, 1970 Epinotia emarginana (Walsingham, 1879) Epinotia ethnica Heinrich, 1923 Epinotia evidens Kuznetzov, 1971 Epinotia exquisitana (Christoph, 1882) Epinotia festivana (Hübner, [1799]) Epinotia fraternana (Haworth, [1811]) Epinotia fujisawai Kawabe, 1993 Epinotia fumoviridana Heinrich, 1923 Epinotia gimmerthaliana (Lienig & Zeller, 1846) Epinotia granitana (Herrich-Schäffer, 1851) Epinotia granitalis (Butler, 1881) Epinotia hamptonana (Kearfott, 1875) Epinotia hesperidana Kennel, 1921 Epinotia heucherana Heinrich, 1923 Epinotia hopkinsana (Kearfott, 1907) Epinotia huroniensis Brown, 1980 Epinotia hypsidryas (Meyrick, 1925) Epinotia illepidosa (Razowski & Wojtusiak, 2006) Epinotia immaculata Peiu & Nemes, 1968 Epinotia immundana Epinotia improvisana Heinrich, 1923 Epinotia infessana (Walsingham, 1900) Epinotia infuscana (Walsingham, 1879) Epinotia intermissa (Meyrick, 1931) Epinotia johnsonana (Kearfott, 1907) Epinotia kasloana McDunnough, 1925 Epinotia keiferana Lange, 1937 Epinotia ketamana (Amsel, 1956) Epinotia kochiana (Herrich-Schäffer, 1851) Epinotia lanceata Razowski, 1999 Epinotia lindana – Diamondback Epinotia Moth Epinotia lomonana (Kearfott, 1907) Epinotia maculana Epinotia madderana (Kearfott, 1907) Epinotia majorana (Caradja, 1916) Epinotia medioplagata (Walsingham, 1895) Epinotia medioviridana (Kearfott, 1908) Epinotia melanosticta (Wileman & Stringer, 1929) Epinotia mercuriana Epinotia meritana Heinrich, 1923 Epinotia miscana (Kearfott, 1907) Epinotia mniara Diakonoff, 1992 Epinotia momonana (Kearfott, 1907) Epinotia monticola Kawabe, 1993 Epinotia myricana McDunnough, 1933 Epinotia nanana Epinotia nemorivaga (Tengstrom, 1848) Epinotia nigralbana (Walsingham, 1879) Epinotia nigralbanoidana McDunnough, 1929 Epinotia nigricana (Herrich-Schäffer, 1851) Epinotia nisella Epinotia nonana (Kearfott, 1907) Epinotia normanana Kearfott, 1907 Epinotia notoceliana Kuznetzov, 1985 Epinotia parki Bae, 1997 Epinotia pentagonana Kennel, 1901 Epinotia penthrana Bradley, 1965 Epinotia phyloeorrhages Diakonoff, 1970 Epinotia piceae (Issiki in Issiki & Mutuura, 1961) Epinotia piceicola Kuznetzov, 1970 Epinotia pinicola Kuznetzov, 1969 Epinotia plumbolineana Kearfott, 1907 Epinotia pullata (Falkovitsh in Danilevsky, Kuznetsov & Falkovitsh, 1962) Epinotia pulsatillana (Dyar, 1903) Epinotia purpuriciliana (Walsingham, 1879) Epinotia pusillana Epinotia pygmaeana – Pygmy Needle Tortricid Epinotia radicana (Heinrich, 1923) Epinotia ramella Epinotia rasdolnyana (Christoph, 1882) Epinotia rectiplicana (Walsingham, 1879) Epinotia removana McDunnough, 1935 Epinotia rubiginosana Epinotia rubricana Kuznetzov, 1968 Epinotia ruidosana Heinrich, 1923 Epinotia sagittana McDunnough, 1925 Epinotia salicicolana Kuznetzov, 1968 Epinotia seorsa Heinrich, 1924 Epinotia septemberana Kearfott, 1907 Epinotia signatana Epinotia signiferana Heinrich, 1923 Epinotia silvertoniensis Heinrich, 1923 Epinotia slovacica Patocka & Jaro, 1991 Epinotia solandriana Epinotia solicitana (Walker, 1863) Epinotia sordidana Epinotia sotipena Brown, 1987 Epinotia sperana McDunnough, 1935 Epinotia subocellana (Donovan, [1806]) Epinotia subplicana (Walsingham, 1879) Epinotia subsequana (Haworth, [1811]) Epinotia subuculana Rebel, 1903 Epinotia subviridis Heinrich, 1929 Epinotia tedella Epinotia tenebrica Razowski & Wojtusiak, 2006 Epinotia tenerana Epinotia terracoctana (Walsingham, 1879) Epinotia tetraquetrana (Haworth, [1811]) Epinotia thaiensis Kawabe, 1995 Epinotia thapsiana (Zeller, 1847) Epinotia tianshanensis Liu & Nasu, 1993 Epinotia transmissana (Walker, 1863) Epinotia trigonella (Linnaeus, 1758) Epinotia trossulana (Walsingham, 1879) Epinotia tsugana Freeman, 1967 Epinotia tsurugisana Oku, 2005 Epinotia ulmi Kuznetzov, 1966 Epinotia ulmicola Kuznetzov, 1966 Epinotia unisignana Kuznetzov, 1962 Epinotia vagana Heinrich, 1923 Epinotia vertumnana (Zeller, 1875) Epinotia vorana (Strand, 1920) Epinotia walkerana (Kearfott, 1907) Epinotia xandana (Kearfott, 1907) Epinotia xyloryctoides Diakonoff, 1992 Epinotia yoshiyasui Kawabe, 1989 Epinotia zamorata Razowski, 1999 Epinotia zandana (Kearfott, 1907) Synonyms Các tên đồng nghĩa gồm Acalla Hübner, [1825] Astatia Hübner, 1825 Asthenia Hübner, 1825 Cartella Stephens, 1852 Ccalla (lapsus) Curtella (lapsus) Epinotis (lapsus) Evertia (lapsus) Evetria Hübner, 1825 Griselda Heinrich, 1923 Hamuligera Obraztsov, 1946 Hikagehamakia Oku, 1974 Hypermecia Guenée, 1845 Lithographia Stephens, 1852 Neurasthenia Pierce & Metcalf, 1922 Paedisca Treitschke, 1830 Pamplasia (lapsus) Pamplusia Guenée, 1845 Panoplia Hübner, 1825 Paragrapha Sodoffsky, 1837 Phlaeodes Guenée, 1845 Phloeodes (lapsus) Podisca (lapsus) Poecilochroma Stephens, 1829 Proteopteryx Walsingham, 1879 Steganoptera (lapsus) Steganoptica (lapsus) Steganoptycha Stephens, 1834 Halonota cũng từng được liệt kê có tên đồng nghĩa Epinotia. Nhưng các loài đăa5c biệt của nó, Pyralis populana ngày nay được xếp vào Pammene, và chi Halonota là một tên đồng nghĩa của chi Pammene. Chú thích (2009a): Online World Catalogue of the Tortricidae – Epinotia genus account. Version 1.3.1. Truy cập 2009-JAN-20. (2009b): Online World Catalogue of the Tortricidae – Epinotia species list. Version 1.3.1. Truy cập 2009-JAN-20. (2005): Markku Savela's Lepidoptera và some other life forms – Griselda. Version of 2005-SEP-13. Truy cập 2010-APR-15. (2009): Markku Savela's Lepidoptera và some other life forms – Epinotia. Version of 2009-JUL-07. Truy cập 2010-APR-19. Eucosmini
522516
https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%C3%A0nh%20ph%E1%BB%91%20Oklahoma
Thành phố Oklahoma
Thành phố Oklahoma là thủ phủ và là thành phố lớn nhất của tiểu bang Oklahoma. Quận lỵ của quận Oklahoma, đây là thành phố xếp thứ 31 trong danh sách các thành phố lớn nhất của Mỹ về dân số. Dân số ước tính của thành phố năm 2008 là 551.789 người, dân số vùng đô thị Oklahoma là 1.206.142 người, khu vực thống kê kết hợp của vùng đô thị Oklahoma là 1.275.758 người. Thành phố này đứng thứ 8 trong danh sách các thành phố lớn nhất của Mỹ về diện tích. Đây là thành phố lớn nhất về dân số ở các bang đồng bằng cũng như ở Trung Nam Hoa Kỳ ngoài Texas. Thành phố Oklahoma là một thị trường thú nuôi quan trọng của Hoa Kỳ và là một trong những thị trường thú nuôi lớn nhất thế giới. Dầu, khí tự nhiên là các sản phẩm chính của nền kinh tế thành phố. Một vài công ty năng lượng lớn có trụ sở tại Oklahoma City. Đây là thành phố có những ngành công nghiệp đa dạng, bao gồm cả công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ. Ghi chú Liên kết ngoài Oklahoma City section of Oklahoma's official travel and tourism site with photos, videos, articles and listings about Oklahoma City. Wimgo Oklahoma City Events, Restaurants, Movies and Business Directory New York Times travel story on Oklahoma City Convention & Visitors' Bureau Official City Website American Factfinder/Census page City-Data page Oklahoma City Film Exchange District Website Voices of Oklahoma interview with Ron Norick. First person interview conducted on ngày 28 tháng 7 năm 2009 with Ron Norick, mayor of Oklahoma City during the Oklahoma City bombing and first MAPS Projects. Original audio and transcript archived with Voices of Oklahoma oral history project. Quận Canadian, Oklahoma Quận Cleveland, Oklahoma Quận Oklahoma, Oklahoma Quận Pottawatomie, Oklahoma Thành phố của Oklahoma
687064
https://vi.wikipedia.org/wiki/Bulbophyllum%20matitanense
Bulbophyllum matitanense
Bulbophyllum matitanense là một loài phong lan thuộc chi Bulbophyllum. Chú thích Tham khảo The Bulbophyllum-Checklist The internet Orchid species Photo Encyclopedia matitanense]] M
912493
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tropihypnus%20namsooa
Tropihypnus namsooa
Tropihypnus namsooa là một loài bọ cánh cứng trong họ Elateridae. Loài này được Stibick miêu tả khoa học năm 1968. Chú thích Tham khảo Tropihypnus
76439
https://vi.wikipedia.org/wiki/Climbach%2C%20Bas-Rhin
Climbach, Bas-Rhin
Climbach là một xã trong tỉnh Bas-Rhin, thuộc vùng Grand Est của nước Pháp, có dân số là 516 người (thời điểm 1999). Thông tin nhân khẩu Điểm tham quan Tuyến phòng thủ Maginot tại Climbach Tham khảo Xã của Bas-Rhin
922402
https://vi.wikipedia.org/wiki/Caryedes%20inaequalis
Caryedes inaequalis
Caryedes inaequalis là một loài bọ cánh cứng trong họ Bruchidae. Loài này được Boheman miêu tả khoa học năm 1829. Chú thích Tham khảo Caryedes
928847
https://vi.wikipedia.org/wiki/Platyxantha%20elodiae
Platyxantha elodiae
Platyxantha elodiae là một loài bọ cánh cứng trong họ Chrysomelidae. Loài này được Fairmaire miêu tả khoa học năm 1883. Chú thích Tham khảo Platyxantha
828640
https://vi.wikipedia.org/wiki/Gary%20Speed
Gary Speed
Gary Andrew Speed (08 tháng 9 năm 1969 - 27 tháng 11 năm 2011) là một cựu cầu thủ bóng đá xứ Wales và từng là huấn luyện viên đội tuyển bóng đá xứ Wales. Tai giải Ngoại hạng Anh, Gary Speed giữ kỷ lục thi đấu 535 trận cho đến năm 2009. Năm 2011, Gary Speed bị phát hiện đã chết trong tư thế treo cổ ở nhà riêng của ông tại Huntington, Chester, miền Bắc xứ Wales. Sự nghiệp Câu lạc bộ Gary Speed là cầu thủ thuộc lứa những cầu thủ đầu tiên của Premier League (kể từ khi giải đấu này mang tên mới năm 1993). Gary Speed trưởng thành từ lò đào tạo của Leeds United. Ông có trận ra mắt chính thức năm 19 tuổi, và là một thành viên của đội bóng giành chức vô địch quốc gia Anh First Division năm 1992 - trước thời điểm Premier League khai sinh. Ông khởi nghiệp trong màu áo Leeds năm 1988 và cùng đội bóng này lên ngôi vô địch hạng đấu cao nhất nước Anh mùa giải 1991 và 1992, giải Ngoại Hạng đầu tiên và duy nhất trong sự nghiệp Gary Speed rời khỏi sân Elland Road năm 1996 trước khi di chuyển qua nhiều đội bóng khác ở giải Premier League như Everton (1996-1998), Newcastle United (1998-2004), Bolton Wanderers (2004-2008). Sau đó, ông xuống giải Hạng nhất cùng Sheffield United (2008-2010). Năm 2010, Gary Speed dẫn dắt đội tuyển quốc gia xứ Wales cho đến khi qua đời. Cụ thể là vào năm 1996, Gary Speed chia tay Leeds sau 312 lần ra sân để đầu quân cho Everton với giá 3,4 triệu bảng Anh. Tại đó ông lập tức được tín nhiệm và trở thành đội trưởng. Năm 2004, Gary Speed chuyển đến chơi cho Bolton với giá 750.000 bảng. Tại đây ông trở thành cầu thủ đầu tiên trong lịch sử đạt mốc 500 trận đấu ở Ngoại hạng Anh. Sau đó ba năm, với pha làm bàn vào lưới Reading, Gary Speed trở thành cầu thủ đầu tiên ghi bàn trong mọi mùa giải đã qua của Ngoại hạng Anh. Tháng 01 năm 2008 ông chuyển sang chơi cho Sheffield United với giá 250.000 bảng, nhưng chỉ một năm sau đã quyết định treo giày ở tuổi 40. Đội tuyển Quốc gia Về sự nghiệp Quốc tế, ông được gọi vào đội tuyển xứ Wales năm 20 tuổi, trong trận thắng Costa Rica tháng 5 năm 1990. Cho đến trước khi treo giày ông tổng cộng 85 lần khoác áo đội tuyển quốc gia, ghi 6 bàn và 44 trận đeo băng đội trưởng. Năm 2004, Gary Speed chia tay đội tuyển quốc gia. Trận đấu cuối cùng của ông trong màu áo đỏ là thất bại 2-3 trước Ba Lan ở vòng loại World Cup vào tháng 10 năm 2004. Tháng 12 năm 2010 ông quyết định chia tay Sheffield để trở lại xứ Wales dẫn dắt đội tuyển quốc gia với hợp đồng 3 năm rưỡi, thay thế John Toshack. Dù màn ra mắt khá tồi tệ, thất bại 0-3 trước Cộng hòa Ireland, nhưng Speed và các học trò sau đó đã có chuỗi trận ấn tượng. Trận đấu cuối cùng trước khi ông ra đi là trận thắng Na Uy với tỷ số 4-1. Cái chết Ngày 27 tháng 11 năm 2011, Làng bóng đá Anh rung động khi hay tin Gary Speed qua đời tại nhà riêng. Vào lúc 7 giờ 08 phút, cảnh sát Cheshire được thông báo về cái chết đột ngột tại một địa chỉ ở Huntington, Chester. Gary Speed bị phát hiện đã chết trong tư thế treo cổ ở nhà riêng của ông tại Huntington, Chester, miền Bắc xứ Wales. Các dấu hiệu tại hiện trường cho thấy ông đã treo cổ tự sát. Thi thể của Gary Speed được tìm thấy tại nhà sáng Chủ nhật hôm sau và các nguồn tin của cảnh sát khẳng định không có nghi vấn nào khác. Phát ngôn viên cảnh sát Cheshire Police khẳng định. "Không có dấu hiệu khả nghi nào xung quanh cái chết này. Gia đình nạn nhân đã yêu cầu được yên tĩnh trong thời khắc khó khăn này". Gary Speed ra đi để lại vợ và hai con. Danh hiệu Cầu thủ Leeds United Football League First Division: 1991–92 Football League Second Division: 1989–90 FA Charity Shield: 1992 Football League Cup á quân: 1995–96 Newcastle United FA Cup á quân: 1997–98, 1998–99 Chú thích Cầu thủ bóng đá Anh Người tự sát Cầu thủ bóng đá Everton F.C. Cầu thủ bóng đá Premier League Cầu thủ bóng đá Wales Sinh năm 1969 Mất năm 2011 Tiền vệ bóng đá Cầu thủ bóng đá Newcastle United F.C. Cầu thủ bóng đá Bolton Wanderers F.C. Cầu thủ bóng đá English Football League Cầu thủ bóng đá Leeds United F.C. Nam giới tự sát Cầu thủ bóng đá Sheffield United F.C. Cầu thủ đội tuyển bóng đá quốc gia Wales Cầu thủ đội tuyển bóng đá U-21 quốc gia Wales Cầu thủ đội tuyển bóng đá trẻ quốc gia Wales
702369
https://vi.wikipedia.org/wiki/Fusus%20pleurotomoides
Fusus pleurotomoides
Fusus pleurotomoides là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển trong họ Fasciolariidae. Miêu tả Phân bố Chú thích Tham khảo pleurotomoides
812973
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ph%E1%BA%A1m%20Nh%E1%BB%AF%20D%E1%BB%B1c%20%28nh%C3%A0%20th%C6%A1%29
Phạm Nhữ Dực (nhà thơ)
Phạm Nhữ Dực (chữ Hán: 范汝翊, ? - ?) tự: Mạnh Thần, hiệu: Bảo Khê; là nhà thơ, nhà giáo trong khoảng thời Hồ đến thời thuộc Minh trong lịch sử Việt Nam. Tiểu sử Phạm Nhữ Dực là người làng Đa Dực, nay thuộc huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình. Năm sinh, năm sinh đều chưa rõ, chỉ biết ông sống cùng thời với Nguyễn Phi Khanh, và đã đỗ thi Hương. Đời Hồ Quý Ly (1400), ông làm Giáo thụ huyện Tân An (có lẽ là Tân Yên, nay là Tiên Yên, tỉnh Quảng Ninh). Năm 1406, lấy cớ "Phù Trần diệt Hồ", vua nhà Minh (Trung Quốc) sai quân sang đánh nước Việt. Khi ấy, Phạm Nhữ Dực phải bỏ vào núi lánh nạn. Thời kỳ thuộc Minh (tức thời Bắc thuộc lần 4), ông được cử làm Huấn đạo. Phạm Nhữ Dực mất năm nào không rõ. Hiện còn 61 bài thơ chữ Hán của ông được chép trong Toàn Việt thi lục. Nhận xét Giáo thụ là chức quan lo về việc học, ít bổng lộc, nên cả đời Phạm Nhữ Dực rất nghèo. Mặc dù vậy, ông vẫn sống trong sạch, thường say mê đọc sách, chứ không chạy theo danh lợi. Về thơ ông, đặc điểm nổi bật nhất đó là chất tự sự, ký sự và hiện thực. Tuy nhiên, hiện thực trong thơ ông chật hẹp, không phản ánh được những vấn đề lớn của thời đại trong lúc đất nước bị quân Minh giày xéo . Giới thiệu một bài: Sách tham khảo Phạm Tú Châu, mục từ "Phạm Nhữ Dực" in trong Từ điển văn học (bộ mới). Nhà xuất bản Thế giới, 2004. Nguyễn Đăng Na (chủ biên), Văn học thế kỷ X-XV, mục: "Phạm Nhữ Dực". Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2004. Chú thích Năm sinh thiếu Năm mất thiếu Người Thái Bình Nhà thơ Việt Nam thời Hồ Nhà giáo Việt Nam Quan lại nhà Hồ
378265
https://vi.wikipedia.org/wiki/Palau-del-Vidre
Palau-del-Vidre
Palau-del-Vidre là một xã ở tỉnh Pyrénées-Orientales trong vùng Occitanie, phía nam nước Pháp. Xã này nằm ở khu vực có độ cao trung bình 19 mét trên mực nước biển. Tham khảo INSEE Xã của Pyrénées-Orientales
904070
https://vi.wikipedia.org/wiki/Cardiorhinus%20plagiatus
Cardiorhinus plagiatus
Cardiorhinus plagiatus là một loài bọ cánh cứng trong họ Elateridae. Loài này được Germar miêu tả khoa học năm 1824. Chú thích Tham khảo Cardiorhinus
578817
https://vi.wikipedia.org/wiki/Sukagawa%2C%20Fukushima
Sukagawa, Fukushima
là một thành phố thuộc tỉnh Fukushima, Nhật Bản. Tham khảo Liên kết ngoài Thành phố tỉnh Fukushima
682723
https://vi.wikipedia.org/wiki/Lophosticha
Lophosticha
Lophosticha là một chi bướm đêm thuộc họ Geometridae. Chú thích Tham khảo Natural History Museum Lepidoptera genus database Nacophorini Geometridae
86603
https://vi.wikipedia.org/wiki/C%C6%A1n%20s%E1%BB%91t%20v%C3%A0ng%20California
Cơn sốt vàng California
Cơn sốt vàng California (tiếng Anh: California Gold Rush) 1848–1855 bắt đầu tháng 1 năm 1848, khi James W. Marshall phát hiện vàng ở Sutter's Mill, Coloma, California. Thông tin về việc tìm vàng đầu tiên từ những người ở Oregon, Sandwich Islands (Hawaii), và Mỹ Latin, họ là những người đầu tiên đổ xô đến bang Calofornia vào cuối năm 1848. Khi tin này lan ra, khoảng 300.000 người đã đến California từ khắp nơi trên nước Mỹ và từ nước ngoài. Trong số đó, khoảng phân nửa là đến bằng đường biển và phân nửa từ đồng bằng California Trail và đường thủy sông Gila. Những người tìm vàng đầu tiên được gọi là "forty-niners", dân 49, đến California bằng thuyền buồm và bằng xe có mui che (covered wagons) xuyên lục địa, thường phải trải qua nhiều gian khổ trên đường đi. Trong khi phần lớn dân mới đến là người Mỹ, cơn sốt vàng cũng thu hút hàng ngàn người từ Mỹ Latin, châu Âu, châu Úc và châu Á. Ban đầu, những người tìm kiếm đãi vàng từ các con suối và lòng sông với các kỹ thuật đơn giản, như đãi, và sau đó phát triển các phương pháp chiết vàng tinh vi hơn mà sau này được cả thế giới áp dụng. Vàng có giá trị hàng tỷ dollar Mỹ theo thời giá hiện nay đã được khai thác, dẫn đến sự giàu có đối với một số người, nhưng không ít người phải quay về quê cũ với vỏn vẹn một chút vàng nhiều hơn so với lúc khởi đầu. Hiệu ứng cơn sốt vàng California khá lớn. San Francisco phát triển từ một ngôi làng lều trại thành một thị trấn bùng nổ (boomtown), với đường sá, nhà thờ, trường học và các thị trấn khác mọc lên. Một hệ thống luật lệ và chính quyền được tạo ra, dẫn đến việc năm 1850 California gia nhập làm một bang của Hoa Kỳ. Các phương thức vận tải phát triển mạnh khi tàu hơi nước được đưa vào hoạt động thường xuyên, đường sắt đã được xây dựng. Công việc kinh doanh nông nghiệp, lĩnh vực tăng trưởng chính của California đã được bắt đầu trên quy mô rộng khắp bang. Tuy nhiên, Cơn sốt vàng California cũng gây ra ảnh hưởng tiêu cực: thổ dân Mỹ bị tấn công và bị đẩy ra khỏi vùng đất cha ông của mình và việc khai thác vàng gây ra tổn hại môi trường. Ước tính có khoảng 100.000 người da đỏ ở California chết trong khoảng 1848 - 1868, và khoảng 4.500 trong số đó là bị giết hai . Lịch sử Cơn sốt vàng California bắt đầu ở Sutter's Mill, gần Coloma. Ngày 24 tháng 1 năm 1848, John Marshall, một quản đốc làm việc cho Sacramento pioneer John Sutter, đã tìm thấy ánh kim loại trong một bánh xe nước của nhà máy gỗ Marshall trên sông America. Marshall đã mang mẫu mà ông tìm thấy đến cho John Sutter, và cả hai đã kiểm nghiệm mẫu kim loại. Kết quả kiểm tra cho thấy đó là vàng, Sutter bày tỏ sự thất vọng rằng ông muốn giữ kín tin tức ấy vì ông sợ những điều không hay có thể xảy ra đối với kế hoạch của ông về một viễn cảnh nông nghiệp nếu người ta lật tung vùng đất này để tìm vàng. Tuy nhiên, các tin này sớm phát tán rộng rãi và được nhà xuất bản báo San Francisco và Samuel Brannan xác nhận chính thức là có thật vào tháng 3 năm 1848. Câu nói nổi tiếng nhất về Cơn sốt vàng California là của Brannan; sau đó ông xây dựng nhanh chóng một cửa hàng bán các vật tư phục vụ cho tìm kiếm vàng, Brannan rảo quanh các đường phố San Francisco, cầm trên tay một hủ vàng và hô to "Gold! Gold! Gold from the American River!" Vào lúc vàng được phát hiện, California là một phần lãnh thổ México của Alta California, được nhượng lại cho Hoa Kỳ sau khi kết thúc chiến tranh Mexico-Hoa Kỳ bởi Hòa ước Guadalupe Hidalgo ngày 2 tháng 2 năm 1848. Ngày 19 tháng 8 năm 1848, New York Herald là tờ báo lớn đầu tiên ở bờ đông thông báo về việc phát hiện ra vàng. Ngày 5 tháng 12 năm 1848, Tổng thống James Polk xác nhận việc phát hiện ra vàng này đến Quốc hội Hoa Kỳ. Không lâu sau đó, các làn sóng di dân từ khắp thế giới, mà sau này gọi là "forty-niners", đến Gold Country of California hay "Mother Lode". Đúng như lo sợ của Sutter, ông ta đã phá sản; các công nhân của ông bỏ việc để đi tìm váng, và những người chiếm đất đã lấy đất của ông và ăn cắp mùa màng và gia súc của ông. San Francisco từng là một khu định cư nhỏ trước khi cơn sốt tìm vàng bắt đầu. Khi người dân đã học được cách tìm vàng, nó là nơi đầu tiên trở thành thị trấn ma do tàu và việc kinh doanh bị bỏ hoang, nhưng không lâu sau lại bùng phát khi những người mới di cư đến. Dân số của San Francisco bùng nổ từ khoảng 1.000 năm 1848 đến 25.000 người năm 1850. Thợ mỏ sống trong các lều, wood shanties, hoặc boong cabin tháo dỡ từ tàu bỏ hoang. Bất cứ nơi nào vàng được phát hiện, hàng trăm thợ mỏ có thể hợp tác để xây một trại và đặt cọc tuyên bố của họ. Với các tên gọi như Rough và Ready và Hangtown (Placerville, California), mỗi trại thường sở hữu một saloon riêng và sòng bạc. Như những gì đã từng được xem là "cơn sốt vàng bậc nhất thế giới", không có một cách dễ dàng nào để đến California; forty-niners phải đối mặt với những khó khăn và thậm thí là cái chết trên đường đi. Đầu tiên, hầu hết Argonaut họ đi bằng đường biển. Từ bờ biển đông, các tàu buồm đi vòng qua mũi Nam Mỹ phải mất từ 5 đến 8 tháng, và trải qua 33.000 km (18.000 dặm). Một cách khác là đi tàu buồm qua phía Đại Tây Dương của Isthmus of Panama, dùng canoe và bằng la mất một tuần qua rừng rậm, và sau đó đến bờ Thái Bình Dương, chờ tàu buồm để đến San Francisco. Cũng có một tuyến đường khác qua Mexico bắt đầu từ Veracruz. Nhiều người tìm vàng sử dụng các tuyến đường trên bộ trên khắp nước Mỹ, đặc biệt là dọc theo California Trail. Các tuyến đường như thế này có những hiểm họa chết người như sốt thương hàn và dịch tả. Để đảm bảo việc vận chuyển những người đến đây, các tàu chở hàng hóa từ khắp thế giới cũng đến San Francisco. Thuyền trưởng các tàu này đã nhận thấy rằng thủy thủ của họ cũng có tham vọng tìm vàng. Các cảng của San Francisco trở thành "rừng buồm", khi hàng trăm tàu bè bị bỏ phế. Giới kinh doanh San Francisco biến các tàu bỏ phế thành nhà kho, cửa hàng, quán rượu và khách sạn và một nhà tù. Nhiều tàu trong số đó sau này bị phá hủy và được sử dụng cho san lấp để có đất xây dựng ở boomtown. Trong vòng vài năm, cũng có một số lượng lớn người thăm dò đi về phía bắc của Bắc California, đặc biệt là các quận Siskiyou, Shasta và Trinity ngày nay. Việc phát hiện ra vàng cốm tại vị trí mà ngày nay là Yreka năm 1851 đã khiến hàng ngàn người tìm vàng đến đây bằng Siskiyou Trail và trên khắp các quận phía bắc của California. Những người định cư ở khu vực tìm vàng như Portuguese Flat trên sông Sacramento, bắt đầu xuất hiện và sau đó thì giảm dần. Thị trấn của thời kỳ Cơn sốt vàng của Weaverville ven sông Trinity River ngày nay vẫn còn chùa Đạo giáo cổ nhất ở California, một biểu tượng của các thợ mỏ Trung Quốc đã đến đây. Trong khi không có nhiều các thị trấn ma trong thời kỳ Cơn sốt vàng vẫn còn tồn tại, phần còn lại của thị trần từng nhộn nhịp Shasta đã được bảo tồn trong Công viên lịch sử bang California ở miền bắc California. Vàng cũng được tìm thấy ở Nam California nhưng có quy mô nhỏ hơn. Vàng được phát hiện đầu tiên ở Rancho San Francisco ở phía bắc của dãy núi thuộc Los Angeles, năm 1842, trước phát hiện của Marshall 6 năm, trong khi California vẫn còn là một phần của Mexico. Tuy nhiên, các mỏ đầu tiên này, và sau các mỏ được phát hiện sau đó ở các dãy núi thuộc Nam California được thông báo rằng có ít giá trị kinh tế. Đến năm 1850, hầu hết loại vàng ở những nơi dễ thu hồi đã được khai thác, và người ta chuyển hướng đến những nơi khó khăn hơn. Khi độ khó tăng cao, người Mỹ bắt đầu đuổi những người nước ngoài ra khỏi những nơi dễ khai thác còn lại. Một đạo luật bang California mới được thông qua theo đó các thợ mỏ người nước ngoài phải đóng thuế 20 đô la mỗi tháng ( USD mỗi tháng theo giá trị năm ), và những người tìm kiếm thăm dò người Mỹ bắt đầu tổ chức tấn công người nước ngoài, đặc biệt là Mỹ Latin và Trung Quốc. Thêm vào đó, một lượng lớn những người mới đến đã đuổi những người Mỹ bản địa ra khỏi khu vực săn bắn, đánh bắt cá và hái lượm truyền thống của họ. Để bảo vệ nhà cửa và sinh kế, một số người Mỹ bản địa tấn công lại những người thợ mỏ. Chính điều này đã tạo nên các cuộc tấn công vào các làng của người Mỹ bản địa, ngoài một số bị bắn còn bị tàn sát. Những người thoát khỏi cuộc tàn sát nhiều lần không thể sống sót vì không có khu vực hái lượm thức ăn và họ chết vì đói. Nhà văn và cũng là nhà viết tiểu thuyết Joaquin Miller đã miêu tả một cách sinh động các cuộc tấn công như thế này trong quyển bán tự truyện của ông, Life Amongst the Modocs. Dân 49 Người đầu tiên đến các vùng vỉa vàng vào đầu xuân năm 1848 là những cư dân của California, là những người Mỹ và châu Âu làm nghề nông sống ở Bắc California, cùng với những người Mỹ bản địa và một số người Californio (người California nói tiếng Tây Ban Nha). Những người thợ mỏ đầu tiên này có khuynh hướng thân thiện với mọi người, thường giúp đỡ lẫn nhau. Phụ nữ và trẻ em của các sắc tộc thường thấy đãi vàng cùng với nam giới. Các gia đình kinh doanh xây các nhà trọ _thường chỉ dành cho nam giới; trong những trường hợp này, phụ nữ thường có thu nhập ổn định trong khi chồng họ thì đi tìm vàng. Thông điệp "Cơn sốt vàng" ban đầu được truyền bá rất chậm. Những người đi tìm vàng đầu tiên nhất là những người sống gần California hoặc những người nghe tin được từ các tàu trên các chuyến hàng hải nhanh từ California. Một nhóm lớn người Mỹ đầu tiên đã đến California từ vùng Oregon bằng Siskiyou Trail. Sau đó là những người đến từ quần đảo Sandwich, và hàng ngàn người Mỹ Latin như từ México, Peru và tận Chile, bằng tàu và đường bộ. Đến cuối năm 1848, 6.000 người đã đến California. Chỉ một số ít (dưới 500 người) đã đi đường bộ Hoa Kỳ vào năm đó. Một vài người "dân 49", là những người tìm kiếm vàng đầu tiên được gọi như thế, vì họ có thể kiếm được một lượng lớn vàng; trong một số trường hợp họ có thể kiếm được hàng ngàn đô la mỗi ngày. Thậm chí những người tìm vàng thông thường có thể có thu nhập bằng vàng trung bình gấp 10 đến 15 lần so với thu nhập thuần lao động chân tay ở bờ biển Đông Hoa Kỳ. Một người làm việc sáu tháng trong mỏ vàng có thể có thu nhập tương đương 6 năm khi làm việc ở nhà. Một số người hy vọng rằng có thể giàu lên nhanh chóng và trở về nhà, và một số khác mong muốn ở lại California để bắt đầu sự nghiệp kinh doanh. Vào đầu năm 1849, "Cơn sốt vàng" đã lan rộng khắp thế giới, và số lượng người đi tìm vàng và nhiều nhất là thương nhân đến từ khắp các châu lục trên thế giới. Nhóm lớn nhất là "dân 49" (năm 1849) là những người Mỹ. khoảng 10.000 người đã đến đây bằng đường bộ và dọc theo các tuyến đường thủy khác nhau (tên gọi "forty-niner" bắt đầu xuất hiện từ năm 1849). Một số đến từ Bờ Đông đã băng qua dãy núi Appalachian, sử dụng tàu đi sông ở Pennsylvania, đi keelboats trên sông Missouri, và sau đó bằng tàu chở hàng dọc theo California Trail. Những người khác đi bằng đường qua eo đất Panama và tàu hơi nước của Pacific Mail Steamship Company. Những người Úc và những người Tân Tây Lan (New Zealand) thì nhận được tin tức từ các tàu chở những nhà báo người Hawai, và hàng ngàn người bị "nhiễm cơn sốt vàng" đã đón tàu đi California. Những người "forty-niners" đến từ châu Mỹ Latin, một số từ những mỏ của Mexico gần Sonora. Những người tìm vàng và thương nhân từ châu Á, chủ yếu là Trung Quốc, cũng bắt đầu đến năm 1849, số lượng người đầu tiên đến Kim Sơn (Gum San, theo cách gọi của người Trung Quốc chỉ California - tức "Núi Vàng") rất khiêm tốn. Những người châu Âu đầu tiên là những người chịu ảnh hưởng từ cuộc cách mạng năm 1848 và họ phải vượt qua quảng đường dài hơn để đến California vào cuối năm 1849, chủ yếu là từ Pháp, một số người Đức, Ý, và Anh. Hầu hết họ đến bằng đường biển ở các vùng ven biển. Ước tính có khoảng 90.000 người đã đến California năm 1849—nửa trong số họ đến bằng đường bộ và nửa bằng đường thủy. Trong số đó, có khoảng 50.000 đến 60.000 là người Mỹ, số còn lại đến từ các quốc gia khác. Đến năm 1855, ít nhất là 300.000 bao gồm người tìm vàng, thương nhân và những người di cư khác đã đến California từ khắp nơi trên thế giới. Nhóm lớn nhất vẫn là người Mỹ, nhưng có khoảng hàng chục ngàn là người Mexico, Trung Quốc, Anh, Úc Pháp, và Mỹ Latin, cùng với một số nhóm nhỏ hơn gồm các thợ mỏ là người Filipin, Basque và Turk. Những người từ các ngôi làng nhỏ ở các đồi gần Genova, Ý nằm trong nhóm những người định cư lâu dài ở chân đồi Sierra; họ mang theo những kỹ năng nông nghiệp truyền thống và phát triển chúng để sống sót qua các mùa đông lạnh giá. Một số ít thợ mỏ là người gốc Phi (khoảng ít hơn 4.000) đã đến từ miền nam Hoa Kỳ, Caribe và Brazil. Số lượng đáng kể nhất là người di cư từ Trung Quốc. Hàng ngàn người Trung Quốc đã đến California vào các năm 1849-1850, và năm 1852 có hơn 20.000 đã đến San Francisco. Trang phục đặc trưng và vẻ bề ngoài của họ rất dễ nhận ra trong các mỏ vàng, và tạo ra một mức độ tâm lý thù địch đối với người Trung Quốc. Cũng có mặt những người phụ nữ trong "Cơn sốt vàng", và họ có nhiều vai trò khác nhau như mại dâm, kinh doanh nhỏ lẻ, người đã kết hôn, phụ nữ nghèo và giàu. Họ thuộc nhiều nhóm sắc tộc khác nhau như Anglo-American, Hispanic, người da đỏ, châu Âu, Trung Quốc, và Jewish. Có nhiều lý do khiến họ đến đây như: đi cùng chồng, không muốn bị tụt hậu là cách bảo vệ họ, chồng họ gởi họ đến, và một số khác (độc thân và quả phụ) xem như là cơ hội kiếm tiền và phiêu lưu. Trên đường mòn nhiều người đã chết do tai nạn, dịch tả, sốt, và các nguyên nhân khác, và một số phụ nữ trở thành quả phụ trước khi đến được California. Trong lúc ở California, phụ nữ trở thành quả phụ là chuyện thường tình do các tai nạn mỏ, bệnh dịch, hoặc tranh chấp trong khai thác của chồng họ. Cuộc sống trong khu vực mỏ vàng tạo cho phụ nữ cơ hội để bứt phá hay phá bỏ những công việc bình thường của họ. Quyền khai thác hợp pháp Khi "Cơn sốt vàng" bắt đầu, California không có bất kỳ một luật lệ nào cả. Vào ngày mà vàng được phát hiện tại Sutter's Mill, California vẫn còn là một phần của Mexico mặc dù quân đội Hoa Kỳ chiếm đóng theo sau chiến tranh Mexico–Hoa Kỳ. Theo hòa ước chấm dứt chiến tranh ký giữa hai bên ngày 2 tháng 2 năm 1848, California trở thành sở hữu của Hoa Kỳ, nhưng nó chưa trở thành lãnh thổ chính thức và không phải là một bang của Hoa Kỳ cho đến ngày 9 tháng 9 năm 1850. California trở thành một vùng thuộc sự kiểm soát của quân đội, và không có cơ quan tư pháp, hành pháp hoặc lập pháp dân sự nào trong toàn khu vực này. Người dân địa phương hoạt động trong tình trạng chuyển giao hỗn độn và chồng chéo giữa các luật lệ Mexico, Hoa Kỳ và mệnh lệnh cá nhân. Theo hiệp ước kết thúc chiến tranh Mexico-Hoa Kỳ, Hoa Kỳ được nhượng lại phần đất của Mexico, trong khi hầu như tất cả các mỏ vàng đều nằm ngoài phần chuyển nhượng này. Thay vào đó, các mỏ vàng về cơ bản thuộc "public land", tức là phần đất được chính phủ Hoa Kỳ sở hữu chính thức. Tuy nhiên, không có bất kỳ luật lệ nào ở đây, và cũng không có các cơ chế thực thi thực tế. Lợi nhuận mà những người 49 thu được từ vàng chỉ đơn giảm là "thích thì lấy". Lúc bắt đầu khai thác ở các mỏ vàng, không có bất kỳ sở hữu tư nhân nào cả, không có lệ phí cấp phép, và cũng không có thuế. Những người đào vàng gần như sử dụng luật khai thác mỏ của Mexico vẫn còn tồn tại ở California. Ví dụ, các quy định nhằm cân bằng các quyền của người đến khu mỏ trước và người đến sau; việc tuyên bố sở hữu có thể là một người tìm được, nhưng tuyên bố đó chỉ hợp lệ trong khoảng thời gian mà có hoạt động tìm kiếm hay khai thác một cách liên tục. Những người đào vàng làm việc tại nơi họ tuyên bố sở hữu đủ lâu dài để xác định tiềm năng của nơi đó. Nếu việc tuyên bố được xác định là có giá trị thấp đối với hầu hết thợ mỏ đã từng làm việc thì nơi đó có thể bị bỏ phế để tìm kiếm nơi tốt hơn. Trong trường hợp bỏ hoang hoặc không có ai làm việc, những người thợ mỏ khác có thể nhảy vào để tuyên bố sở hữu vị trí đó. Tức là những người đến sau này bắt đầu làm việc tại vị trí mà họ mới tuyên bố sở hữu. Việc tranh chấp thỉnh thoảng cũng xảy ra theo kiểu xích mích cá nhân hoặc dữ dội, và đôi khi phải giải quyết qua một nhóm những người làm trọng tài. Điều này thường dẫn đến những căng thẳng sắc tộc gay gắt . Ở một vài nơi dòng người tìm kiếm có thể yêu cầu giảm diện tích tuyên bố hiện hữu chỉ đơn giản bằng cách gây sức ép. Phát triển kỹ thuật thu hồi vàng Do vàng ở California nằm trong các lớp cuội nên có hàm lượng rất cao, do đó các forty-niner thế hệ trước chỉ việc đãi lấy vàng từ các sông và suối ở California. Tuy nhiên, việc đãi không thể thực hiện được ở quy mô lớn, các thợ mỏ cần cù và các nhóm thợ mỏ sử dụng thành thạo cá máng đãi có thể xử lý một lượng cuội lớn hơn. Vấn đề phức tạp nhất trong khai thác sa khoáng là phải đổi hướng dòng nước từ một con sông vào một kênh chạy dọc sông, và sau đó là đào lấy vàng khi đáy sông lộ ra. Các ước tính sau này của USGS cho thấy lượng và ở đây vào khoảng 12 triệu ounce (370 tấn) vàng đã được khai thác trong vòng 5 năm đầu của Cơn sốt vàng (trị giá hơn 16 tỉ USD theo giá tháng 12 năm 2010). Giai đoạn tiếp theo từ năm 1853, khai thác mỏ thủy lực đã được ứng dụng đối với các lớp cuội cổ chứa vàng trên các sười đồi và các vách dốc trong các vĩa vàng. Phương pháp khai thách thủy lực hiện đại được phát triển đầu tiên ở California là sử dụng vòi phun nước áp lực để phun vào lớp cuội chứa vàng. Cuội và vàng bị đánh tơi ra sau đó đi qua máng dẫn, vàng lắng đọng dưới đáy sẽ được thu hồi. Vào giữa thập niên 1880, người ta ước tính có khoảng 11 triệu ounce (340 t) vàng (trị giá khoảng 15 triệu US$ theo giá tháng 12 năm 2010) đã được thu hồi bằng phương pháp nước áp lực. Phương pháp này sau đó được phổ biến trên khắp thê giới. Một phương pháp thay thế "hydraulicking" và "coyoteing". Phương pháp này liên quan đến việc đào một hầm 6 đến 13 m vào trong đá gốc dọc theo bờ sông. Từ hầm chính này sẽ đào các hầm khác theo nhiều hướng để đến được thân mạch. Các sản phẩm phụ của các phương pháp khai thác này là thải ra một lượng lớn cuội, bột, kim loại nặng, và các chất ô nhiễm khác dọc theo các sông và suối. Cho đến năm 2012, một số khu vực vẫn còn những dấu vết của việc sử dụng phương pháp khai thác mỏ thủy lực, vì cuội và đất lắng dọng không hỗ trợ cho sự sống của thực vật. Sau khi cơn sốt vàng kết thúc, các hoạt động thu tận thu vẫn được tiếp tục. Giai đoạn cuối cùng để thu hồi vàng là những nơi mà vàng có thể đã bị rửa trôi và lắng đọng ở những đáy sông bằng phẳng và các đê cát của Thung lũng trung tâm California và những khu vực có vàng khác của California (như Scott Valley ở quận Siskiyou). Vào cuối thập niên 1890, công nghệ nạo vét (cũng được phát minh ở California) trở nên có hiệu quả kinh tế, và người ta ước tính đa thu hồi được hơn 20 triệu ounce (620 tấn) từ phương pháp này (trị giá khoảng 28 triệu USD theo giá tháng 12 năm 2010). Trong suốt thời kỳ sốt vàng và các thập kỷ sau đó, những người đi tìm vàng cũng sử dụng phương pháp khai thác mỏ trong "đá cứng", đó là tách vàng trực tiếp từ đá chứa nó (đặc biệt là thạch anh), thường bằng cách đào và dùng chất nổ để bám theo và lấy đi thân quặng thạch anh chứa vàng. Vào năm 1851, kha thác mỏ thạch anh trở thành một ngành công nghiệp chính ở Coloma. Sau khi các đá chứa vàng được đưa lên bề mặt đất, chúng được nghiền nhỏ, và vàng ra được tách ra bằng nước, hoặc lọc ra, đặc biệt sử dụng arsen hoặc thủy ngân (cũng là một nguồn gây ô nhiễm môi trường). Cuối cùng, khai thác mỏ đá cứng hay khai thác vàng trong đá gốc đã trở thành một nguồn cung cấp vàng lớn nhất ở Quận Vàng (Gold Country). Lợi nhuận Một số nghiên cứu gần đây xác nhận rằng những người bán hàng kiếm tiền nhiều hơn những người đào mỏ trong suốt thời gian Cơn sốt vàng. Người đàn ông giàu nhất California vào những năm đầu của Cơn sốt vàng là Samuel Brannan, ông làm nghề tự quảng bá, bán hàng và nhà xuất bản báo. Brannan mở các cửa hàng đầu tiên ở Sacramento, Coloma, và các cửa hàng khác trong các khu mỏ. Khi Gold Rush vừa bắt đầu, ông đã mua tất cả các vật dụng phục vụ tìm kiếm ở San Francisco và bán lại chúng với mức lời đáng kể. Tuy nhiên, một lượng tiền đáng kể cũng được tạo ra từ những người đi tìm vàng. Ví dụ, trong vòng một vài tháng, một nhóm tìm kiếm làm việc trên sông Feather năm 1848, có thể kiếm được tổng lượng vàng có giá trị hơn 3 triệu USD theo giá năm 2010. Trung bình, một nửa những người tìm vàng kiếm được lợi nhuận khiêm tốn sau khi đã trừ tất cả chi phí. Tuy nhiên, hầu hết đặc biệt là những người đến sau, kiếm được ít. Tương tự như thế, một số thương gia kém may mắn, các khu định cư của họ bị thiêu rụi trong các trận cháy quét qua các thị trấn. Ngược lại, các thương gia đã thành công như Levi Strauss, người bán denim đầu tiên trên khắp San Francisco năm 1853. Các thương gia khác, từ mai mắn và làm việc cật lực, đã gặt hái được những thành quả xứng đáng trong việc bán lẻ, vận chuyển, giải trí, cho thuê chỗ ở, hoặc vận tải. Boardinghouses, cung cấp thức ăn, may vá, và gặt ủi là những việc kinh doanh có lợi nhuận cao thường do phụ nữ vận hành (người lập gia đình, độc thân và hóa), họ nhận thấy rằng đàn ông có thể trả nhiều tiền cho các dịch vụ do phụ nữ thực hiện. Các nhà thổ cũng mang lại lợi nhuận lớn, đặc biệt kết hợp với các quán rượu và nhà đánh bạc. Đến năm 1855, tình hình kinh tế đã thay đổi đáng kể. Vàng có thể sinh lợi từ các mỏ vàng chỉ từ các nhóm thợ mỏ trung bình đến lớn, hoặc các đối tác hoặc người làm thuê. Đến giữa thập niên 1850, tiền chỉ từ các chủ của các công ty khai thác vàng. Bên cạnh đó, dân số và kinh tế của California trở nên lớn mạnh và đa dạng đủ để tiền có thể tham gia vào nhiều ngành nghề kinh doanh thông thường. Đường đi của vàng Sau khi được khai thác, vàng có nhiều con đường được tiêu thụ khác nhau. Thứ nhất, hầu hết vàng được dùng để chi trả tại chỗ cho thực phẩm, tiêu dùng và chỗ ở của các thợ mỏ. Nó cũng có thể chi trả cho giải trí như đến nhà hát, quán rượu, đánh bạc và mại dâm. Các giao dịch này thường sử dụng vàng vừa khai thác được với sự cân nhắc cẩn thận. Những người buôn bán và cung cấp dịch vụ sau đó lại dùng vàng này để trả cho việc mua hàng từ các thuyền trưởng hoặc những người chở hàng hóa đến California. Vàng sau đó rời khỏi California ra nước ngoài theo các con tàu hoặc la để đến tay của những người sản xuất hàng hóa trên khắp thế giới. Con đường thứ hai là Argonauts (người tìm vàng), họ kiếm được một lượng vàng vừa đủ để gởi về nhà hoặc họ mang vàng về nhà sau thời gian đào đãi cực nhọc. Ví dụ, một ước tính rằng có khoảng một lượng vàng ở Califorina trị giá 80  triệu USD đã gởi đến Pháp từ những người đi tìm vàng và kinh doanh người Pháp. Trong quá trình diễn tiến của Cơn sốt vàng, các ngân hàng địa phương và những người kinh doanh vàng phát hành "tiền giấy" hoặc "hối phiếu" được chấp nhận trong giao dịch địa phương để đổi lấy vàng, và các cơ sở đúc tiền tư nhân đúc ra các đồng vàng cho họ. Vời việc xây dựng Sở đúc tiền San Francisco năm 1854, vàng thỏi được chuyển thành các đồng vàng lưu hành chính thức của Hoa Kỳ. Vàng sau đó cũng được gởi từ các ngân hàng California đến các ngân hàng quốc gia Hoa Kỳ để đổi thành tiền giấy quốc gia phục vụ cho sự bùng nổ kinh tế của California. Ảnh hưởng ngắn hạn Hàng trăm ngàn người mới đến so với dân số khoảng 15.000  người châu Âu và người California bản địa (được gọi là Californios) ở đó, đã có nhiều ảnh hưởng lớn. Phát triển về chính quyền và thương mại Cơn sốt vàng đã đánh thức California từ một vùng đất đang ngủ yên, ít được biết đến trở thành một trong tâm di cư toàn cầu và là đích đến của hàng trăm ngàn người dân. Những người nhập cư mới thường thể hiện sự sáng tạo và thích nghi đáng chú ý. Ví dụ, trong giai đoạn giữa của Cơn sốt vàng, thị xã, và thành phố được chartered, một quy ước mang tính hiến pháp đã được đưa ra, hiến pháp bang được đưa ra, tổ chức các cuộc bầu cử, và cử đại diện đến Washington, D.C. để thương lược về việc chấp nhận California là một tiểu bang của Hoa Kỳ. Hoạt động nông nghiệp quy mô lớn (được xem là "Cơn sốt vàng" lần thứ hai của California) cũnng bắt đầu trong suốt thời gian này. Đường sá, trường học, nhà thờ, và các tổ chức dân sự nhanh chóng được thành lập. Phần lớn dân nhập cư là người châu Mỹ. Áp lực đến phát triển về thông tin liên lạc và các liên kết chính trị tốt hơn đến những nơi khác của Hoa Kỳ đã dẫn đến sự thành lập tiểu bang California ngày 9 tháng 9 năm 1850, là bang thứ 31 của Hoa Kỳ như nêu trong Compromise of 1850. Trong khoảng năm 1847-1870, dân số San Francisco đã tăng từ 500 lên 150.000. Sự giàu có của Cơn sốt vàng và sự tăng dân số đã dẫn đến sự phát triển giao thống đáng kể giữa California và bờ biển Đông Hoa Kỳ. Đường sắt Panama, bắt qua eo đất Isthmus, đã hoàn thành năm 1855. Các tàu hơi nước, bao gồm những tàu do Pacific Mail Steamship Company sở hữu, đã bắt đầu phục vụ thường xuyên từ San Francisco đến Panama, nhờ đó hành khách, hàng hóa và thư từ có thể vận chuyển bằng tàu (tàu lửa) qua Isthmus và đón các tàu hơi nước để đến bờ biển Đông Hoa Kỳ. Một cuộc hành trình bất hạnh đó tà S.S. Central America, đã kết thúc trong thảm họa khi chuyến tàu này bị chìm trong bão ở ngoài khơi bờ biển Carolinas năm 1857, làm mất khoảng 3 tấn vàng của California. Tác động tiêu cực Cái giá phải trả về con người và môi trường của Cơn sốt vàng là rất lớn. Các thổ dân châu Mỹ, phụ thuộc nhiều vào săn bắn, hái lượm và nông nghiệp, đã trở thành những nạn nhân bị đói khi mà cuội sỏi, bùn, và các chất độc hóa học từ hoạt động thăm dò đã giết các loài cá và phá hủy môi trường sống. Sự biến động về số người khai thác mỏ cũng gây ra sự biến mất của các loài thú săn mồi và những loài đi tìm thức ăn trong khu vực khi các láng trại và các khu định cư khác được xây dựng trong những nơi này. Sau đó là việc mở rộng canh tác nông trại để đảm bảo nguồn cung cấp lương thực cho các láng trại, điều này đã chiếm nhiều đất mà những người bản địa đã sử dụng. Nạn đói thường thúc giục những bộ tộc bản địa ăn cắp thức ăn hoặc dùng bạo lực để giành thực phẩm và gia súc từ những thợ mỏ, làm dấy lên sự thù địch và trả thù của những người thợ mỏ đối với dân bản địa. Những người bản địa cũng mắc phải nhiều bệnh du nhập vào như đậu mùa, cúm và sởi. Một vài ước tính chỉ ra rằng có khoảng 80–90% dân số người Mỹ bản địa tử vong trong suốt thời kỳ diễn ra dịch đậu mùa. Đạo luật The Act for the Government and Protection of Indians, được thông qua ngày 22 tháng 4 năm 1850 bởi California Legislature, cho phép những người định cư bắt giữ người Californio và sử dụng người bản địa làm lao động. Nó cũng là cơ sở cho việc bắt giữ nô lệ và buôn bán lao động là người Mỹ bản địa, đặc biệt đối với phụ nữ và trẻ em, được xúc tiến như một ngành kinh doanh hợp pháp. Các làng của người Mỹ bản địa thường xuyên bị bố ráp để cung ứng nhu cầu, và phụ nữ trẻ và trẻ em được mang đi bán, trong khi đó đàn ông và những người còn lại thường bị giết. Theo chính quyền California, có khoảng 4.500 người Mỹ bản địa bị chết do bạo lực trong khoảng 1849 và 1870. Cơn sốt vàng trở thành một "Triều đại khủng bố" ảo chống lại các bộ lạc trong hoặc xung quanh khu vực khai thác mỏ. Sau các xung đột khác nhau, dân số người Mỹ bản địa ở California năm 1845 khoảng 150.000 đã giảm xuống dưới 30.000 năm 1870. (Dân số người Mỹ bản địa trước khi người châu Âu đến ước tính khoảng 300.000, đã bị giảm hầu như do các bệnh của người Tây Ban Nha mang đến.) Peter Burnett, người đứng đầu chính quyền California tuyên bố rằng California từng là một chiến trường giữa các chủng tộc và chỉ có 2 lựa chọn đối với những người da đỏ bản địa hoặc là chết hoặc là phải rời khỏi. California, ngoài việc hợp thức hóa chế độ nô lệ đối với người Mỹ bản địa cũng phải trực tiếp chi trả 25.000 USD tiền cho việc buôn đi bán lại người bản địa với các giá khác nhau đối với đàn ông, phụ nữ trưởng thành và độ tuổi của trẻ em. California cùng với nhóm các bang mới phía Tây đã đứng về một phe đối lập trong việc phê chuẩn 18 điều ước được ký giữa lãnh đạo các bộ tộc và đại diện liên bang năm 1851. Sau khi cuộc bùng nổ đầu tiên kết thúc, các cuộc tấn công người nước ngoài và phân biệt chủng tộc, các luật, và trưng thu thuế đã đuổi những người nước ngoài ra khỏi các mỏ đặc biệt là người di cư Trung Quốc, Mỹ Latin hầu hết đến từ Sonora, Mexico và Chile. Tỷ lệ tử vong của những người Mỹ nhập cư có thể rất cao: một phần 12 người forty-niners chết, cũng như tỷ lệ tử vong và tội phạm trong suốt Cơn sốt vàng dặc biệt cao, đây là kết quả của việc trả thù lẫn nhau giữa những người đào vàng. Kích thích kinh tế thế giới Cơn sốt vàng đã kích thích các nền kinh tế trên khắp thế giới. Các nông dân ở Chile, Úc, và Hawaii đã tìm kiếm được một thị trường lớn mới để cung cấp các thực phẩm của họ; các hàng hóa sản xuất từ Anh có nhu cầu tiêu thụ cao; quần áo và thậm chí là nhà làm sẵn cũng đến từ Trung Quốc. Dòng (tiền) vàng lớn thu được từ việc bán hàng đến California của các quốc gia trên đã làm tăng các chi phí và kích thích đầu tư và tạo công ăn việc làm trên khắp thế giới. Người tìm vàng Úc Edward Hargraves ghi nhận sự tương đồng giữa địa lý California và quốc gia quê hương ông, nên ông đã trở về Úc để phát hiện ra vàng và gây nên Cơn sốt vàng Úc. Chỉ trong vòng vài năm sau khi kết thúc Cơn sốt vàng, năm 1863, lễ động thổ cho nhánh phía tây của đường sắt xuyên lục địa đầu tiên (First Transcontinental Railroad) đã được tổ chức ở Sacramento. Tuyến đường sắt này được hoàn thành khoảng 6 năm sau đó từ một phần chi phí của Cơn sốt vàng, đã kết nối California với miền trung và đông Hoa Kỳ, rút ngắn thời gian đi lại từ vài tuần hoặc thậm chí vài tháng xuống còn vài ngày so với trước đó. Ảnh hưởng lâu dài Tên gọi California không thể bị lãng quên với tên gọi Cơn sốt vàng, và thành công nhanh chóng trong thế giới mới nổi tiếng với cách gọi "giấc mơ California." California được xem là nơi cho những người khởi nghiệp, nơi mà sự giàu có chỉ dành cho những người làm việc cật lực và may mắn. Nhà sử học H. W. Brands viết rằng trong những năm sau Cơn sốt vàng, Giấc mơ California đã lan rộng trên toàn quốc: Overnight California đã đạt được danh tiếng là "bang vàng". Các thế hệ nhập cư được thu hút từ California Dream. Các nhà nông California, khoan dầu, movie makers, sản xuất máy bay, và "dot-com" entrepreneurs đã từng có thời kỳ bùng nổ hoạt động của họ trong vài thập kỷ sau Cơn sốt vàng. Lịch sử văn học về Cơn sốt vàng được phản ảnh qua các tác phẩm của Mark Twain (The Celebrated Jumping Frog of Calaveras County), Bret Harte (A Millionaire of Rough-and-Ready), Joaquin Miller (Life Amongst the Modocs), và một số tác phẩm khác. Trong số những di sản hiện đại của Cơn sốt vàng California là khẩu hiệu của bang California, "Eureka" ("tôi đã tìm ra nó"), những hình ảnh về Cơn sốt vàng trên con dấu của bang California, và tên gọi khác của bang này, "The Golden State", cũng như một số địa danh như Quận Placer (Placer có nghĩa là sa khoáng, một dạng tồn tại của vàng ở đây), Rough and Ready, Placerville (tên trước đây là "Dry Diggings" và sau đó đổi thành "Hangtown" trong suốt thời gian diễn ra cơn sốt vàng), Whiskeytown, Drytown, Angels Camp, Happy Camp, và Sawyers Bar. The San Francisco 49ers National Football League team, and the similarly named athletic teams of California State University, Long Beach, are named for the prospectors of the California Gold Rush. Ngày nay, tuyến đường State Route 49 đi qua chân đồi Sierra Nevada, nối một số thị trấn của thời kỳ Cơn sốt vàng như Placerville, Auburn, Grass Valley, Nevada City, Coloma, Jackson, và Sonora. Tuyến cao tốc này cũng đi qua rất gần Columbia State Historic Park, một khu vực được bảo vệ bao gồm khu thương mại mang tính lịch sử của thị trấn Columbia; công viên này lưu giữ một số tòa nhà thời kỳ Cơn sốt vàng, hiện được khai thác phục vụ du lịch. Địa chất Các hoạt động địa chất diễn ra hơn hàng trăm triệu năm tạo ra sự tập trung vàng ở California. Chỉ khi vàng được tập trung thì việc khai thác mới mang lại giá trị kinh tế. Cách đây khoảng 400 triệu năm, California nằm ở đáy của một biển lớn; các núi lửa dưới đáy biển làm lắng đọng dung nham và các khoáng vật (gồm cả vàng) ở đáy biển. Cách đây 200 triệu năm, lực kiến tạo đã đẩy đáy biển xuống bên dưới mảng Bắc Mỹ. Khi nó bị nhấn chìm hay hút chìm bên dưới vị trí California ngày nay, đáy biển bị nóng chảy thành các khối mácma rất lớn. Khối mácma nóng này bị đẩy dâng lên bên dưới khu vực mà ngày nay là California, nó nguội dần khi dâng lên, và khi bị hóa rắn, các mạch vàng hình thành cùng với thạch anh. Các đá và khoáng vật này sau đó bị lộ ra trên bề mặt ở Sierra Nevada, và bị bóc mòn. Nước mang vàng bị lộ trên bề mặt xuống các dòng suối và lắng đọng trong các lớp cuội ở những vùng nước yên tĩnh dọc theo các bờ sông và suối. 49 người đầu tiên tập trung khai thác các loại vàng này, chúng được tích tụ trong các lớp cuội hàng trăm triệu năm do hoạt động địa chất. Tham khảo Tài liệu Bancroft, Hubert Howe (1884–1890) History of California , vols. 18–24. Harper's New Monthly Magazine March 1855, volume 10, issue 58, p. 543, complete text online. Liên kết ngoài California Gold Rush trên PBS Gold Rush! at the Oakland Museum of California Marshall Gold Discovery State Historic Park California Gold Rush timeline The University of California, Calisphere, 1848-1865: The Gold Rush Era Oakland Museum of California, "California's Untold Stories: Gold Rush!" Lịch sử khai thác mỏ Hoa Kỳ năm 1848 Lịch sử hàng hải California Lịch sử tự nhiên Nevada Lịch sử kinh tế thập niên 1840 Lịch sử hàng hải Kỹ thuật thủy lợi California 1848 Lịch sử chủ nghĩa đế quốc Mỹ Lịch sử tiền bang California
244186
https://vi.wikipedia.org/wiki/Batavia%20Air
Batavia Air
Batavia Air (mã IATA = 7P, mã ICAO = BTV) là hãng hàng không của Indonesia, trụ sở ở Jakarta. Hãng có căn cứ ở Sân bay quốc tế Soekarno-Hatta. Batavia Air do Công ty PT Metro Batavia làm chủ và hiện có các tuyến đường quốc nội cùng vài tuyến quốc tế. Theo tuần báo "Air & Cosmos" của Pháp ngày 9.11.2007 thì Batavia Air chiếm gần 12% thị phần quốc nội. Lịch sử Batavia Air được thành lập và bắt đầu hoạt động từ tháng 1 năm 2002. Chuyến bay đầu tiên của hãng là chuyến bay quốc nội giữa Jakarta và Pontianak bằng máy bay Fokker F27 thuê cả phi hành đoàn của hãng Sempati. Tháng 3 năm 2007 Bộ Vận tải Indonesia - do sức ép chính trị về an toàn hàng không - đã cảnh báo là có thể đóng cửa 7 hãng hàng không của Indonesia, trừ phi các hãng này cải thiện vấn đế an toàn trong vòng 3 tháng. Bộ cũng đã phân loại các hãng hàng không của Indonesia thành 3 nhóm (về an toàn) và Batavia Air nằm trong nhóm thứ ba. Tuy nhiên từ cuối tháng 6/2007, mọi hãng hàng không của Indonesia đều bị đưa vào Danh sách các hãng hàng không bị cấm ở Liên minh châu Âu. Các nơi đến (tháng 6/2008): Indonesia Ambon Bali Balikpapan Banjarmasin Batam Bengkulu Denpasar Jakarta Jambi Jayapura Kendari Kupang Manado Manokwari Mataram Medan Padang Palangkaraya Palembang Palu Pangkalpinang Pekanbaru Pontianak Semarang Samarinda Surabaya Tanjung Pandan Tarakan Ujung Pandang Yogyakarta Trung Quốc Quảng Châu Malaysia Kuching Đội máy bay (Tháng 2/2008): 2 Airbus A319-100 2 Airbus A320-200 6 Boeing 737-200 16 Boeing 737-300 4 Boeing 737-400 1 Fokker F28 Tham khảo Liên kết ngoài Batavia Air Đội máy bay của Batavia Air htm. Thông tin về Đội máy bay của Batavia Air Hàng không Indonesia
651877
https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%B4ng%20Kherlen
Sông Kherlen
Sông Kherlen (, Kherlen gol; ) là con sông dài 1.254 km chảy trên lãnh thổ Mông Cổ và Trung Quốc. Dòng chảy Con sông này bắt nguồn từ sườn phía nam của dãy núi Khentii, trong Vùng bảo tồn nghiêm ngặt Khan Khentii, cách Ulan Bator 180 km về phía đông bắc. Từ đấy, Kherlen chảy gần như theo hướng đông qua tỉnh Khentii, qua Ulaan Ereg và Choibalsan, và vào lãnh thổ Trung Quốc tại , chảy thêm 164 km thì chảy vào hồ Hulun Nuur. Kherlen-Argun-Amur Có những năm, mực nước hồ Hulun cao hơn bình thường và tràn qua bờ phía bắc rồi chảy vào sông Argun cách đó 30 km. Sông Argun lại chảy vào sông Amur. Hệ thống Kherlen-Argun-Amur có tổng chiều dài 5052 km. Tham khảo Sông của Mông Cổ Sông của Trung Quốc Amur
443060
https://vi.wikipedia.org/wiki/Le%20Poujol-sur-Orb
Le Poujol-sur-Orb
Le Poujol-sur-Orb là một xã thuộc tỉnh Hérault trong vùng Occitanie phía nam nước Pháp. Xã này nằm ở khu vực có độ cao trung bình 180 mét trên mực nước biển. Dân số thời điểm năm 1999 là 890 người. Tham khảo Poujolsurorb
671894
https://vi.wikipedia.org/wiki/Parhoplophryne%20usambarica
Parhoplophryne usambarica
Parhoplophryne usambarica là một loài ếch trong họ Nhái bầu. Chúng là đại diện duy nhất của chi Parhoplophryne. Đây là loài đặc hữu của Tanzania. Các môi trường sống tự nhiên của chúng là các khu rừng ẩm ướt đất thấp nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới và các khu rừng vùng núi ẩm nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới. Loài này đang bị đe dọa do mất môi trường sống. Chú thích Tham khảo Parhoplophryne Động vật được mô tả năm 1928
969922
https://vi.wikipedia.org/wiki/Bidessodes%20acharistus
Bidessodes acharistus
Bidessodes acharistus là một loài bọ cánh cứng trong họ Bọ nước. Loài này được Young miêu tả khoa học năm 1986. Chú thích Tham khảo Bọ nước Bidessodes
485173
https://vi.wikipedia.org/wiki/Gerland%2C%20C%C3%B4te-d%27Or
Gerland, Côte-d'Or
Gerland là một xã ở tỉnh Côte-d’Or trong vùng Bourgogne, phía đông nước Pháp. Xã Gerland, Côte-d'Or nằm ở khu vực có độ cao trung bình 217 mét trên mực nước biển. Tham khảo Xã của Côte-d'Or
488922
https://vi.wikipedia.org/wiki/Les%20Hogues
Les Hogues
Les Hogues là một xã thuộc tỉnh Eure trong vùng Normandie miền bắc nước Pháp. Xem thêm Xã của tỉnh Eure Tham khảo Hogues
685167
https://vi.wikipedia.org/wiki/Rupela
Rupela
Rupela là một chi bướm đêm thuộc họ Crambidae. Các loài Rupela adunca Heinrich, 1937 Rupela albina Becker & Solis, 1990 Rupela antonia Heinrich, 1937 Rupela bendis Heinrich, 1937 Rupela candace Heinrich, 1937 Rupela canens Heinrich, 1937 Rupela cornigera Heinrich, 1937 Rupela drusilla Heinrich, 1937 Rupela edusa Heinrich, 1937 Rupela faustina Heinrich, 1937 Rupela gaia Heinrich, 1937 Rupela gibbera Heinrich, 1937 Rupela herie Heinrich, 1937 Rupela horridula Heinrich, 1937 Rupela imitativa Heinrich, 1937 Rupela jana Heinrich, 1937 Rupela labeosa Heinrich, 1937 Rupela lara Heinrich, 1937 Rupela leucatea (Zeller, 1863) Rupela liberta Heinrich, 1937 Rupela lumaria Heinrich, 1937 Rupela maenas Heinrich, 1937 Rupela monstrata Heinrich, 1937 Rupela nereis Heinrich, 1937 Rupela nivea Walker, 1863 Rupela orbona Heinrich, 1937 Rupela pallidula Heinrich, 1937 Rupela procula Heinrich, 1937 Rupela saetigera Heinrich, 1937 Rupela scitula Heinrich, 1937 Rupela segrega Heinrich, 1937 Rupela sejuncta Heinrich, 1937 Rupela spinifera Heinrich, 1937 Rupela tinctella Walker, 1863 Rupela vexativa Heinrich, 1937 Chú thích Tham khảo Natural History Museum Lepidoptera genus database Schoenobiinae
902776
https://vi.wikipedia.org/wiki/Aphricus%20chilensis
Aphricus chilensis
Aphricus chilensis là một loài bọ cánh cứng trong họ Elateridae. Loài này được Fleutiaux miêu tả khoa học năm 1940. Chú thích Tham khảo Aphricus
704434
https://vi.wikipedia.org/wiki/Enigmatocolus
Enigmatocolus
Enigmatocolus là một chi ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển trong họ Buccinidae. Các loài Các loài trong chi Engoniophos gồm có: Enigmaticolus auzendei (Warén & Bouchet, 2001) Enigmaticolus desbruyeresi (Okutani & Ohta, 1993) Enigmaticolus monnieri Fraussen, 2008 Chú thích Tham khảo Buccinidae