id
stringlengths
1
8
url
stringlengths
31
618
title
stringlengths
1
250
text
stringlengths
11
513k
870509
https://vi.wikipedia.org/wiki/Hydropsyche%20pictetorum
Hydropsyche pictetorum
Hydropsyche pictetorum là một loài Trichoptera trong họ Hydropsychidae. Chúng phân bố ở miền Cổ bắc. Tham khảo Trichoptera miền Cổ bắc Hydropsyche
404986
https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%9Di%20v%E1%BB%A5%20du%20l%E1%BB%8Bch
Thời vụ du lịch
Thời vụ du lịch được hiểu là những biến động lặp đi lặp lại hàng năm của cung và cầu các dịch vụ và hàng hóa du lịch dưới tác động của một số nhân tố xác định. Đặc điểm của tính thời vụ Thời vụ trong du lịch là quy luật có tính phổ biến ở tất cả các nước và các vùng có hoạt động du lịch. Một nước hoặc một vùng có thể có một hay nhiều thời vụ du lịch, tùy thuộc vào các thể loại du lịch được khai thác ở đó. Cường độ của thời vụ du lịch không đều nhau vào các tháng khác nhau: Thời gian mà cường độ của thời vụ du lịch lớn nhất (cực đại) được gọi là thời vụ chính hoặc chính vụ (mùa cao điểm) Thời gian có cường độ nhỏ hơn vào trước và sau mùa chính có thể gọi là trước mùa chính (đầu mùa) và sau mùa chính (cuối mùa) Thời gian còn lại với cường độ rất nhỏ thì gọi là ngoài mùa (mùa chết) Ở các nước, các vùng du lịch phát triển, thời vụ du lịch kéo dài hơn và chênh lệch cường độ của mùa du lịch chính so với thời kỳ trước và sau mùa vụ chính thể hiện yếu hơn.. Ngược lại, ở những noi du lịch mới phát triển, mùa du lịch thường ngắn hơn và sự chênh lệch cường độ của mùa du lịch chính so với thời gian trước và sau mùa chính thể hiện rõ nét hơn. Độ dài thời gian và cường độ của thời vụ du lịch không bằng nhau đối với các loại hình du lịch khác nhau. Các nhân tố tác động đến sự hình thành thời vụ du lịch Khí hậu Là nhân tố quyết định tính thời vụ du lịch, nó tác động lên cả cung và cầu trong hoạt động du lịch. Về mặt cung: Đa số các điểm tham quan du lịch, giải trí đều tập trung số lượng lớn vào mùa hè với khí hậu ấm áp như các điểm du lịch nghỉ biển, nghỉ núi, chữa bệnh. Về mặt cầu: mùa hè là mùa có lượng khách du lịch lớn nhất. Thời gian rỗi: Con người chỉ có thể đi du lịch vào thời gian rỗi.Tác động của thời gian rỗi lên tính thời vụ trong du lịch được thể hiện: Nếu thời gian nghỉ phép năm ngắn thì chỉ có thể đi du lịch một lần trong năm (vào thời gian chính vụ). Nếu số ngày nghỉ phép dài hơn, có thể cho phép đi du lịch hơn một lần trong năm thì sẽ làm giảm tính thời vụ. Như vậy, sự gia tăng thời gian rỗi góp phần giảm cường độ của thời vụ và tăng cường độ tập trungnhu cầu vào ngoài thời vụ du lịch truyền thống. Việc phân bố thời gian sử dụng phép năm của nhân dân lao động cũng ảnh hưởng đến thời vụ trong du lịch.Ở một số nước có quy định thời gian sử dụng phép nhất định cho nhân viên trong năm, điều này góp phần tập trung nhu cầu vào một thời gian nhất định, tạo nên thời vụ du lịch. Có 02 xu hướng trong thời gian gần đây: Thứ nhất: Số thanh niên, thiếu niên tự đi du lịch ngày càng đông và giới hạn các học sinh đi nghỉ cùng cha mẹ ngày càng giảm.Tuổi thọ trung bình của con người ngày càng cao, vì vậy mà số gia đình có con em trong độ tuổi đi học ngày càng giảm. Thứ 2: Số lượng người ở độ tuổi hưu trí ngày càng tăng, họ là người được sử dụng tùy ý thời gian đi nghỉ. Những xu hướng trên là điều kiện thuận lợi để hạn chế sự tập trung nhu cầu vào thời vụ chính. Sự quần chúng hóa trong du lịch: Là nhân tố ảnh hưởng đến cầu du lịch.Kết quả của sự quần chúng hóa trong du lịch là mở rộng sự tham gia của số đông khách có khả năng thanh toán trung bình và thường ít có kinh nghiệm đi du lịch.Có thể nói, hiện nay cơ hội đi du lịch đến với mọi người chứi không chỉ đối với những người giàu có, tầng lớp thượng lưu.Số du khách ít hiểu biết thị trường và họ thường đi du lịch vào mùa chính, vì các nguyên nhân sau: Vào mùa chính giá tour cao, nhưng do đi du lịch theo đoàn nên được hưởng chính sách giảm giá. Họ ít hiểu biết điều kiện nghỉ của từng tháng trong năm nên chọn thời tiết vào mùa đi du lịch chính để sự rủi ro về thời tiết là ít nhất. Họ chọn thời gian đi nghỉ dưới tác động của tâm lý họ thích đi nghỉ cùng thời gian với các nhân vật danh tiếng đi nghỉ. Như vậy, với sự quần chúng hóa trong du lịch, tính thời vụ đã có sẵn từ trước đó lại có cường độ tăng. Để khắc phục tình trạng này, cần có các biện pháp phù hợp.Ví dụ như có chính sách giảm giá rõ rệt vào trước và sau thời vụ chính, đồng thời mở rộng quảng cáo điều kiện nghỉ ngơi một cách rộng rãi để thu hút khách đi du lịch ngoài vụ chính. Phong tục, tập quán dân cư: là nhân tố có tính bất hợp lý tác động mạnh lên sự tập trung các nhu cầu du lịch vào thời vụ chính. Để khắc phục phần nào ảnh hưởng bất lợi của phong tục làm tăng đột ngột các nhu cầu vào một thời gian ngắn, phương pháp chủ yếu là mở rộng hoạt động thông tin, tuyên truyền, quảng cáo trong thời gian dài. Vì việc thay đổi phong tục của đất nước, của vùng miến rất khó khăn và chậm chạp. Điều kiện và tài nguyên du lịch: các thể loại du lịch cũng tác động đến tính thời vụ du lịch. Sự sẵn sang đón tiếp du khách: Là nhân tố ảnh hưởng đấn độ dài của thời vụ thông qua lượng cung trong hoạt động du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và cách thức tổ chức hoạt động trong các cơ sở du lịch làm ảnh hưởng đến sự phân bổ hợp lý các nhu cầu du khách. Chính sách giá cả, các hoạt động tuyên truyền, quảng cáo của cơ quan du lịch cũng là nhân tố tác động đến thời vụ du lịch. Cần nghiên cứu mối liên hệ hỗ tương, phụ thuộc vào quy định lẫn nhau giữa các nhân tố và tác động của chúng lên độ dài thời vụ của từng thể loại du lịch, tạo cơ sở để làm tăng độ dài mùa du lịch, sử dụng có hiệu quả cao hất các nguồn lực phát triển du lịch, đưa lại nguồn thu nhập cao cho các tổ chức và doanh nghiệp du lịch. Tác động của tính thời vụ đến hoạt động du lịch Thời vụ ngắn trong du lịch làm cho việc sử dụng tài nguyên du lịch, cơ sở vật chất kỹ thuật và lao động không hết công suất gây lãng phí lớn. Nguồn lao động trong cơ sở du lịch không được sử dụng hết dễ gây sự chuyển dịch việc làm. Mối quan tâm của nhân viên trong việc nâng cao trình độ nghiệp vụ bị hạn chế. Do cơ sở vật chất chỉ được sử dụng ít trong năm nên tỷ trọng chi phí cố định trong giá thành của sản phẩm, hang hóa dịch vụ du lịch tăng lên, ảnh hưởng đến chính sách giảm giá thành để tạo lợi thế cạnh tranh. Đối với du khách, tính thời vụ lảm hạn chế khả năng tìm chỗ nghỉ thích hợp với thời gian tự chọn theo ý muốn. Vào mùa du lịch chính, du khách tập trung quá đông tại các điểm du lịch, vùng du lịch làm giảm chất lượng phục vụ cho du khách. Việc phân bổ không đồng đều của hoạt động du lịch theo thời gian cũng gây ảnh hưởng không tốt đến các ngành kinh tế và dịch vụ có liên quan. Tác động của tính thời vụ vào hoạt động du lịch là rất lớn, như với mùa hè du lịch cửa lò, sầm sơn, các du lịch bãi biển rất phát triển, khách đông, nhưng đến 3 mùa còn lại thì rất vắng khách Nhưng ngược lại với khách quốc tế đến VN thì mùa đông lại là mùa đông khách nhất, các điểm đến cho mùa đông như Ha long, Sapa,... Các biện pháp khắc phục Xác định khả năng kéo dài thời vụ du lịch. Hình thành thời vụ du lịch thứ 2 trong năm. Nghiên cứu thị trường để xác định số lượng và thành phần của luồng du khách triển vọng ngoài mùa du lịch chính. Nâng cao chất lượng sẵn sang đón tiếp du khách quanh năm cho cả nước, vùng và khu du lịch. Sử dụng tích cực các động lực kinh tế. Tham khảo Du lịch
343339
https://vi.wikipedia.org/wiki/Mervans
Mervans
Mervans là một xã ở tỉnh Saône-et-Loire trong vùng Bourgogne-Franche-Comté nước Pháp. Thông tin nhân khẩu Theo điều tra dân số năm 1999, xã này có dân số .Dân số năm 2004 ước khoảng người. Xem thêm Xã của tỉnh Saône-et-Loire Tham khảo INSEE IGN Xã của Saône-et-Loire
969331
https://vi.wikipedia.org/wiki/Hoa%20t%E1%BB%A9%20qu%C3%BD
Hoa tứ quý
Hoa tứ quý hay tứ quý có thể là: Thực vật Cây bông ổi, tên khoa học là Lantana camara, còn có tên gọi khác là hoa tứ quý. Mai tứ quý, tên khoa học là Ochna serrulata.
467290
https://vi.wikipedia.org/wiki/Le%20Bouyssou
Le Bouyssou
Le Bouyssou là một xã thuộc tỉnh Lot trong vùng Occitanie phía tây nam nước Pháp. Xã này nằm ở khu vực có độ cao trung bình 440 mét trên mực nước biển. Tham khảo Bouyssou
663253
https://vi.wikipedia.org/wiki/Psilogramma%20jordana
Psilogramma jordana
Psilogramma jordana là một loài bướm đêm thuộc họ Sphingidae. Loài này có ở Fiji. Chú thích Tham khảo Psilogramma Động vật đặc hữu Fiji
304218
https://vi.wikipedia.org/wiki/Courquetaine
Courquetaine
Courquetaine là một xã ở tỉnh Seine-et-Marne, thuộc vùng Île-de-France ở miền bắc nước Pháp. Dân số Người dân ở đây được gọi là Courquetainois. Điều tra dân số năm 1999, xã này có dân số là 173. Xem thêm Xã của tỉnh Seine-et-Marne Tham khảo Liên kết ngoài 1999 Land Use, from IAURIF (Institute for Urban Planning and Development of the Paris-Île-de-France région French Ministry of Culture list for Courquetaine Map of Courquetaine on Michelin Xã của Seine-et-Marne
725224
https://vi.wikipedia.org/wiki/Contrasimnia
Contrasimnia
Contrasimnia là một chi ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển thuộc họ Ovulidae. Các loài Các loài thuộc chi Contrasimnia bao gồm: Contrasimnia formosana (Azuma, 1972) Contrasimnia pagoda (Cate, 1973) Contrasimnia xanthochila (Kuroda, 1928) Chú thích Tham khảo Ovulidae
686866
https://vi.wikipedia.org/wiki/Bulbophyllum%20lanuginosum
Bulbophyllum lanuginosum
Bulbophyllum lanuginosum là một loài phong lan thuộc chi Bulbophyllum. Chú thích Tham khảo The Bulbophyllum-Checklist The internet Orchid species Photo Encyclopedia lanuginosum]] L
214121
https://vi.wikipedia.org/wiki/Mystique
Mystique
Mystique có thể chỉ đến: Mystique (truyện tranh) Mercury Mystique, một xe ô tô của công ty Ford Motor, từ 1995 đến 2000 Matrox Mystique, 2D, 3D and video acceleration card produced by Matrox in 1996/97. Nhân vật trong phim
918489
https://vi.wikipedia.org/wiki/Cyclocassis%20circulata
Cyclocassis circulata
Cyclocassis circulata là một loài bọ cánh cứng trong họ Chrysomelidae. Loài này được Boheman miêu tả khoa học năm 1855. Chú thích Tham khảo Cyclocassis
781908
https://vi.wikipedia.org/wiki/Campatonema%20tapantia
Campatonema tapantia
Campatonema tapantia là một loài bướm đêm thuộc họ Geometridae. Nó được tìm thấy ở provinces of Alajuela, Cartago và Heredia in Costa Rica. Nó được tìm thấy ở khu vực có độ cao từ 1100 đến 1600 mét. Chiều dài cánh trước là 15–16 mm. Con trưởng thành bay quanh năm. Tham khảo Liên kết ngoài New species of the Neotropical genus Campatonema Jones (Geometridae, Ennominae) with the first description of the female Campatonema
182961
https://vi.wikipedia.org/wiki/Bram%20Stoker
Bram Stoker
Abraham 'Bram' Stoker (8 tháng 11 năm 1847 – 20 tháng 4 năm 1912) là một nhà văn người Ireland, tác giả của cuốn tiểu thuyết Gothic kinh dị Dracula. Đương thời, ông được biết đến nhiều hơn với tư cách là trợ lý cá nhân của Sir Henry Irving và quản lý của Sân khấu Lyceum ở West End, mà Irving sở hữu. Bân đầu, Stoker là một nhà phê bình sân khấu của một tờ báo Ireland, và viết truyền cũng như là các bài bình luận. Ông cũng thích du lịch, đặc biệt là tới Vịnh Cruden ở Scotland, bối cảnh của hai cuốn tiểu thuyết của ông. Trong một chuyến đi thăm tới thị trấn ven biển Whitby, Stoker đã có cảm hứng để viết Dracula. Ông mất vào ngày 20 tháng 4 năm 1912 do mất điều hoà vận động và được hỏa táng ở phía bắc Luân Đôn. Kể từ khi qua đời, kiệt tác Dracula đã trở thành một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của nền văn học Anh, và cuốn tiểu thuyết đã được chuyển thể thành nhiều bộ phim, truyện ngắn và vở kịch. Đầu đời Stoker sinh ngày 8 tháng 11 năm 1847 tại 15 Marino Crescent, Clontarf, ở phía bắc Dublin, Ireland. Công viên cạnh căn nhà giờ đây được đổi tên thành Công viên Bram Stoker. Cha mẹ ông là Abraham Stoker (1799–1876) đến từ Dublin và Charlotte Mathilda Blake Thornley (1818–1901), người lớn lên ở Hạt Sligo. Stoker là con thứ ba trong bảy người con, và người con cả là Sir Thornley Stoker, Tòng nam tước thứ nhất Abraham và Charlotte là thành viên của Giáo xứ Clontarf thuộc Giáo hội Ireland và đến nhà thờ giáo xứ cùng với các con, những người được rửa tội tại đây. Abraham là một quan chức công vụ cấp cao. Stoker đã phải nằm liệt giường do một căn bệnh không rõ cho tới khi bắt đầu đi học năm 7 tuổi, khi ông hoàn toàn khỏi bệnh. Ông theo học tại trường Bective House điều hành bởi Mục sư (William Woods). Sau khi khỏi bệnh, ông lớn lên mà không có căn bệnh nào trầm trọng hơn, và còn trở thành một vận động viên xuất sắc tại Đại học Trinity, Dublin, mà ông theo học từ năm 1864 tới 1870. Ông tốt nghiệp với bằng Cử nhân Nghệ thuật vào năm 1870, và nhận bằng Thạc sĩ Nghệ thuật vào năm 1875. Ông được gọi là "University Athlete", tham gia nhiều môn thể thao, ba gồm chơi rugby cho Đại học Dublin. Ông làm kiểm toán viên cho Hội Lịch sử Đại học và chủ tịch của Hội Triết học Đại học (cho tới hiện nay, ông là sinh viên duy nhất giữ cả hai chức vị này). Sự nghiệp ban đầu Stoker bắt đầu quan tâm tới sân khấu khi còn là một sinh viên. Khi còn làm việc cho Công vụ Ireland, ông trở thành nhà phê bình sân khấu cho tờ Dublin Evening Mail mà Sheridan Le Fanu, một tác giả Gothic đồng sở hữu. Các nhà phê bình sân khấu thời đó không được coi trọng lắm, những Stoker gây được sự chú ý nhờ chất lượng các bài phê bình. Vào tháng 12 năm 1876, ông đã viết một bài phê bình khen ngợi vở kịch Hamlet của Henry Irving ở Sân khấu Hoàng gia ở Dublin. Irving mời Stoker tới dự bữa tối ở Khách sạn Shelbourne và họ trở thành bạn bè. Trong thời gian này, Stoker cũng viết truyện, và "Cốc Pha lê" đã được xuất bản vào năm 1872 bởi Hội Luân Đôn, nối tiếp bởi "Chuỗi định mệnh". Vào năm 1876, khi còn là một quan chức công vụ ở Dublin, Stoker đã viết tác phẩm phi hư cấu The Duties of Clerks of Petty Sessions in Ireland (xuất bản năm 1879). Sân khấu Lyceum Bram Stoker ở Vịnh Cruden Sự nghiệp viết lách Stoker ở Thư viện Luân Đôn Qua đời Tín ngưỡng và triết học Tưởng niệm Tác phẩm Tiểu thuyết The Primose Path (1875) The Snake's Pass (1890) The Watter's Mou' (1895) Bờ vai của Shasta (The Shoulder of Shasta1895) Dracula (1897) Cô Betty (Miss Betty, 1898) Bí ẩn của biển cả (The Mystery of the Sea, 1902) The Jewel of Seven Stars (1903) Người đàn ông (The Man, 1905) Phu nhân Athlyne (1908) The Lady of the Shroud (1909) The Lair of the White Worm (1911) Tuyển tập truyện ngắn Under the Sunset (1881), bao gồm tám câu chuyện cổ tích cho trẻ em Snowbound: The Record of a Theatrical Touring Party (1908) Vị khách của Dracula (Dracula's Guest, 1914), xuất bản bởi Florence Stoker sau khi Bram Stoker chét Truyện (không có tuyển tập) "Cô dâu cái chết" (cái kết khác cho The Jewel of Seven Stars) "Kho báu chôn vùi" "Chuỗi định mệnh" "Cốc pha lê" "The Dualitists; or, The Death Doom of the Double Born" "Lord Castleton Explains" (chapter 10 of The Fate of Fenella) "The Gombeen Man" (chapter 3 of The Snake's Pass) "In the Valley of the Shadow" "Người đàn ông từ Shorrox" "Truyện nửa đêm" "The Red Stockade" "The Seer" (chương 1 và 2 của Bí ẩn của biển cả) Phi hư cấu The Duties of Clerks of Petty Sessions in Ireland (1879) A Glimpse of America (1886) Personal Reminiscences of Henry Irving (1906) Famous Impostors (1910) Tham khảo Liên kết ngoài Người County Dublin Dracula Nhà văn Ireland Bram Stoker
770701
https://vi.wikipedia.org/wiki/Agdistis%20nanodes
Agdistis nanodes
Agdistis nanodes là một loài bướm đêm thuộc họ Pterophoridae. Nó được tìm thấy ở Ai Cập, Iran, Pakistan, Sri Lanka, Bahrain, Ả Rập Xê Út, Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, Oman và Yemen. Chú thích Tham khảo Agdistis Bướm đêm Trung Đông Côn trùng bán đảo Ả Rập
385284
https://vi.wikipedia.org/wiki/Ellerdorf
Ellerdorf
Ellerdorf là một đô thị thuộc quận Rendsburg-Eckernförde, bang Schleswig-Holstein. Tham khảo Xã và đô thị ở huyện Rendsburg-Eckernförde
927296
https://vi.wikipedia.org/wiki/Oides%20subtilissima
Oides subtilissima
Oides subtilissima là một loài bọ cánh cứng trong họ Chrysomelidae. Loài này được Duvivier miêu tả khoa học năm 1884. Chú thích Tham khảo Oides
838599
https://vi.wikipedia.org/wiki/%288076%29%201985%20RV4
(8076) 1985 RV4
{{DISPLAYTITLE:(8076) 1985 RV4}} (8076) 1985 RV4 là một tiểu hành tinh vành đai chính. Nó được phát hiện bởi Henri Debehogne ở Đài thiên văn La Silla ở Chile ngày 15 tháng 9 năm 1985. Xem thêm Danh sách các tiểu hành tinh: 8001–9000 Tham khảo Thiên thể phát hiện năm 1985 Được phát hiện bởi Henri Debehogne Tiểu hành tinh vành đai chính
665195
https://vi.wikipedia.org/wiki/Knipowitschia%20caucasica
Knipowitschia caucasica
Caucasian dwarf goby (Knipowitschia caucasica) là một loài cá thuộc họ Gobiidae. Nó được tìm thấy ở Armenia, Azerbaijan, Bulgaria, Hy Lạp, Iran, Kazakhstan, România, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ, Vương quốc Anh, Ukraina, và Uzbekistan. Hình ảnh Tham khảo World Conservation Monitoring Centre 1996. Knipowitschia caucasica. 2006 IUCN Red List of Threatened Species. Truy cập ngày 4 tháng 8 năm 2007. Cá châu Âu Cá Biển Đen Knipowitschia Động vật Hy Lạp Cá biển Caspi Cá châu Á Cá Địa Trung Hải Loài cá xâm lấn
968784
https://vi.wikipedia.org/wiki/Marie-Th%C3%A9r%C3%A8se%20Charlotte%20c%E1%BB%A7a%20Ph%C3%A1p
Marie-Thérèse Charlotte của Pháp
Marie Thérèse Charlotte của Pháp<ref>"Marie-Thérèse-Charlotte de France, fille du Haut et Puissant Seigneur Louis, roi de France et de Navarre, et de Haute et Puissante Princesse Marie-Antoinette-Josèphe de Lorraine, archiduchesse d'Autriche, reine de France..." André Castelot, Madame Royale, chapter Mousseline la sérieuse, p. 19.</ref>Lenotre, G., La fille de Louis XVI, Marie-Thérèse-Charlotte de France, duchesse d'Angoulême, in Mémoires et Souvenirs sur la Révolution et l'Empire, Librairie Académique Perrin, 1908 . (tiếng Pháp: Marie-Thérèse Charlotte de France; tiếng Đức: Marie Thérèse Charlotte von Frankreich; 19 tháng 12 năm 1778 – 19 tháng 10 năm 1851) là trưởng nữ của Quốc vương Louis XVI của Pháp và vợ của ông là Vương hậu Maria Antonia của Áo, thường được biết đến với cái tên Pháp Marie Antoinette. Bà là con gái của Quốc vương Pháp, cho nên được phong Fille de France, đồng thời là con gái cả của nhà vua cho nên bà còn được phong Madame Royale từ khi mới sinh. Bà kết hôn cùng với người anh họ là Louis-Antoine, Công tước xứ Angoulême, trưởng nam của Charles X của Pháp. Sau khi kết hôn, bà mang tước hiệu của chồng và được biết đến như là Công tước phu nhân xứ Angoulême (Duchess of Angoulême). Bà trở thành Trữ phi nước Pháp (Dauphine of France) khi người cha chồng của bà Charles X lên ngôi vào năm 1824. Trên nguyên tắc, thì bà đã là Vương hậu nước Pháp trong vòng hai mươi phút vào năm 1830, vào khoảng thời gian từ khi cha chồng bà ký các công văn thoái vị cho đến khi chồng bà cũng miễn cưỡng ký một văn bản tương tự. Đầu đời Marie-Thérèse sinh tại Cung điện Versailles vào ngày 19 tháng 12 năm 1778, là con đầu lòng (sau tám năm chung sống của cha mẹ bà) và là con gái lớn của Vua Louis XVI và Vương hậu Maria Antonia.  Là con gái của vua Pháp, bà là vương nữ nước Pháp, và là con gái lớn của nhà vua, bà được phong là Madame Royale khi mới sinh. Maria Antonia suýt chết vì ngạt thở trong lần sinh này do căn phòng chật chội và không thông thoáng, nhưng cửa sổ cuối cùng đã được mở để cho không khí trong lành vào phòng nhằm cố gắng cứu mẹ bà. Do trải nghiệm khủng khiếp, Louis XVI đã cấm công chúng xem, chỉ cho phép các thành viên thân thiết trong gia đình và một số cận thần thân tín chứng kiến ​​sự ra đời của những đứa con vương thất tiếp theo. Khi mẹ bà hồi phục, vương hậu chào đón con gái của mình (người mà sau này bà đặt biệt danh là Mousseline ) với niềm vui:Tội nghiệp đứa con bé nhỏ, mọi người có vẻ không muốn con, nhưng con không phải là người kém hơn đối với ta! Một đứa con trai sẽ thuộc về nhà nước - con sẽ thuộc về ta. Marie-Thérèse được rửa tội vào ngày sinh của bà. Bà được đặt theo tên bà ngoại của mình, đương kim Hoàng hậu Maria Theresia của Áo. Tên thứ hai của bà, Charlotte, được đặt theo chị gái yêu thích của mẹ bà, Maria Karolina của Áo, vương hậu Napoli và Sicilia, người được biết đến với tên Charlotte trong gia đình. Hộ gia đình của Marie-Thérèse được đứng đầu bởi người quản lý của bà, Công chúa Victoire của Rohan-Guéméné, người sau đó phải từ chức do chồng phá sản và được thay thế bởi một trong những người bạn thân nhất của vương hậu, Yolande de Polastron, Duchesse de Polignac. Tuy nhiên, việc chăm sóc thực tế đã được thực hiện bởi các nữ phụ, đặc biệt là Nam tước Marie Angélique de Mackau. Louis XVI là một người cha giàu tình cảm, thích chiều chuộng con gái, trong khi mẹ bà nghiêm khắc hơn. Maria Antonia quyết tâm rằng con gái của bà không nên lớn lên trở nên kiêu kỳ như những người cô độc thân của chồng. Bà thường mời những đứa trẻ thuộc cấp thấp hơn  đến dùng bữa với Marie-Thérèse và theo một số lời kể, bà đã khuyến khích đứa trẻ tặng đồ chơi của mình cho người nghèo. Trái ngược với hình ảnh một vương hậu tiêu tiền, bỏ qua hoàn cảnh của người nghèo, Maria Antonia cố gắng dạy con gái mình về nỗi đau khổ của người khác. Một tài khoản, được viết bởi một nguồn tin đảng phái vài năm sau khi bà qua đời, kể rằng vào ngày đầu năm mới năm 1784, sau khi mang một số đồ chơi đẹp đến căn hộ của Marie-Thérèse, Maria Antonia đã nói với bà:Đáng lẽ ra, ta phải thích tặng các con tất cả những thứ này như những món quà năm mới, nhưng mùa đông thật khó khăn, có một đám đông bất hạnh, không có bánh để ăn, không có quần áo để mặc, không có củi để đốt lửa. Ta đã cho họ tất cả tiền của ta; Ta không còn gì để mua quà cho con, vì vậy sẽ không có món nào trong năm nay. Marie-Thérèse có hai em trai và một em gái, Louis Joseph Xavier François, Trữ quân của Pháp, vào năm 1781, Louis-Charles của Pháp, Công tước của Normandy, vào năm 1785, và Sophie Hélène Béatrix, Madame Sophie, vào năm 1786. Hết tất cả em của bà, bà là người thân nhất với Louis Joseph, và sau khi anh qua đời thì chỉ còn lại Louis Charles. Khi còn là một cô gái trẻ, Marie-Thérèse được nhận xét là có ngoại hình khá quyến rũ, với đôi mắt xanh tuyệt đẹp, thừa hưởng vẻ ngoài ưa nhìn của mẹ và bà ngoại. Bà là người duy nhất trong số bốn người con của cha mẹ bà sống sót qua tuổi 10. Cuộc sống trong thời kì Cách Mạng Khi Marie-Thérèse trưởng thành, cuộc hành quân tiến tới Cách mạng Pháp đang trên đà phát triển. Sự bất mãn trong xã hội xen lẫn với thâm hụt ngân sách làm suy yếu đã làm bùng phát tư tưởng chống chuyên chế. Vào năm 1789, nước Pháp đang lao vào cuộc cách mạng do hậu quả của sự phá sản do nước này ủng hộ Cách mạng Mỹ và giá lương thực cao do hạn hán, tất cả đều trở nên trầm trọng hơn bởi các nhà tuyên truyền mà đối tượng trung tâm của sự khinh miệt và chế giễu là Vương hậu nước Pháp, Maria Antonia. Khi các cuộc tấn công vào vương hậu ngày càng ác liệt hơn, chế độ quân chủ ngày càng mất lòng dân. Bên trong Tòa án tại Versailles, ghen tuông là nguyên nhân chính gây ra sự phẫn uất và tức giận đối với Maria Antonia. Việc bà không được lòng một số thành viên quyền lực của Tòa án, bao gồm cả Công tước xứ Orléans, ông đã dẫn đến việc in và phân phối các tập sách nhỏ về bệnh scurrilous buộc tội bà về một loạt các hành vi đồi trụy tình dục cũng như khiến đất nước đổ nát tài chính. Mặc dù hiện nay, mọi người thường đồng ý rằng hành động của vương hậu không gây ra sự thù địch như vậy, nhưng thiệt hại mà những cuốn sách nhỏ này gây ra cho chế độ quân chủ đã chứng tỏ là chất xúc tác cho cuộc biến động sắp tới. Tuy nhiên, tình hình chính trị ngày càng trở nên tồi tệ không ảnh hưởng nhiều đến Marie-Thérèse, vì những bi kịch ngay lập tức xảy ra khi em gái của bà, Sophie qua đời vào năm 1787, hai năm sau đó là Trữ quân Louis Joseph cũng chết vì bệnh lao vào ngày 4 tháng 6 năm 1789, một ngày sau khi khai trương Estates-General. Chuyển đến Tuileries Khi Bastille bị một đám đông có vũ trang tấn công vào ngày 14 tháng 7 năm 1789, tình hình lên đến đỉnh điểm. Cuộc sống của cô bé 10 tuổi Madame Royale bắt đầu bị ảnh hưởng khi một số thành viên trong gia đình vương thất được gửi ra nước ngoài vì sự an toàn của chính họ. Comte d'Artois, chú của bà, và nữ công tước de Polignac, nữ cai quản của những đứa trẻ hoàng gia, đã di cư theo lệnh của Louis XVI.Duchesse de Polignac được thay thế bởi Công chúa Louise-Elisabeth de Croÿ, Marquise de Tourzel, người mà có con gái Pauline đã trở thành bạn suốt đời của Marie-Thérèse. Vào ngày 5 tháng 10, một đoàn quân hỗn hợp bao gồm chủ yếu là phụ nữ lao động từ Paris đã hành quân đến Versailles, với ý định mua thực phẩm được cho là dự trữ ở đó, và để đáp ứng các yêu cầu chính trị. Sau khi cuộc xâm lược cung điện vào đầu giờ ngày 6 tháng 10 buộc gia đình phải trú ẩn trong căn hộ của nhà vua, đám đông đã yêu cầu và yêu cầu nhà vua cùng gia đình di chuyển đến Cung điện Tuileries ở Paris. Khi tình hình chính trị trở nên tồi tệ, Louis XVI và Maria Antonia nhận ra rằng cuộc sống của họ đang gặp nguy hiểm, và thực hiện kế hoạch vượt ngục được tổ chức với sự giúp đỡ của Bá tước Axel von Fersen. Kế hoạch là để gia đình hoàng gia chạy trốn đến pháo đài phía đông bắc của Montmédy, một thành trì của phe bảo hoàng, nhưng chuyến đi đã bị chặn ở Varennes, và gia đình được đưa về lại Paris. Chuyển đến nhà thờ Vào ngày 10 tháng 8 năm 1792, sau khi hoàng gia nương náu trong Quốc hội lập pháp, Louis XVI bị phế truất, mặc dù chế độ quân chủ chưa bị bãi bỏ trước ngày 21 tháng 9. Vào ngày 13 tháng 8, toàn bộ gia đình bị giam trong Tòa tháp Temple, phần còn lại của một pháo đài thời trung cổ trước đây. Vào ngày 21 tháng 1 năm 1793, Louis XVI bị hành quyết trên máy chém, lúc đó em trai của Marie-Thérèse là Louis Charles được gia đình công nhận là Vua Louis XVII của Pháp. Gần sáu tháng sau, vào tối ngày 3 tháng 7 năm 1793,lính canh ập vào căn hộ của gia đình hoàng gia, cưỡng bức Louis Charles lúc đó chỉ mới 8 tuổi, và giao cậu cho Antoine Simon, một giày và ủy viên của Tòa tháp chăm sóc. Những người còn lại trong căn hộ của họ trong Tháp là Maria Antonia, Marie-Thérèse và Madame Élisabeth, em gái út của Louis XVI. Khi Maria Antonia được đưa đến Conciergerie một tháng sau, vào đêm ngày 2 tháng 8, Marie-Thérèse được để lại cho dì Élisabeth chăm sóc, người lần lượt bị bắt đi vào ngày 9 tháng 5 năm 1794 và bị hành quyết vào ngày hôm sau. Trong số các tù nhân hoàng gia ở Đền thờ, Marie-Thérèse Charlotte là người duy nhất sống sót sau Triều đại Khủng bố. Bà ở trong một mình Tòa tháp Temple và cảm thấy cô độc và thường rất chán. Hai cuốn sách mà bà có, cuốn sách cầu nguyện nổi tiếng mang tên The Imitation of Christ và Những chuyến du hành của La Harpe, bà đã được đọc đi đọc lại nhiều lần đến nỗi bà cảm thấy mệt mỏi với chúng. Nhưng lời kêu gọi mua thêm sách của bà đã bị các quan chức chính phủ từ chối, và nhiều yêu cầu khác thường xuyên bị từ chối, trong khi bà thường phải chịu đựng khi nghe tiếng khóc và tiếng la hét của em trai mình mỗi khi bị đánh. Vào ngày 11 tháng 5, Robespierre đã đến thăm Marie-Thérèse, nhưng không có ghi chép về cuộc trò chuyện. Trong thời gian bị giam cầm, Marie-Thérèse không bao giờ được kể về những gì đã xảy ra với gia đình mình. Tất cả những gì bà biết là cha bà đã chết. Những dòng chữ sau đây đã được cào trên tường của căn phòng của bà trong tòa tháp:"Marie-Thérèse Charlotte là người bất hạnh nhất trên thế giới. Cô ấy không thể nhận được tin tức của mẹ mình; cũng không được đoàn tụ với bà ấy, mặc dù cô ấy đã hỏi điều đó hàng nghìn lần. Hãy sống, người mẹ tốt của tôi! Người mà tôi yêu quý, nhưng của người mà tôi không thể nghe thấy một chút tin tức nào. Hỡi cha của tôi! hãy trông chừng tôi từ Thiên đường trên cao. Lạy Chúa tôi! Hãy tha thứ cho những ai đã làm cho cha mẹ tôi đau khổ. " Marie-Thérèse-Charlotte est la plus malheureuse personne du monde. Elle ne peut obtenir de savoir des nouvelles de sa mère, pas même d'être réunie à elle quoiqu'elle l'ait demandé mille fois. Vive ma bonne mère que j'aime bien et dont je ne peux savoir des nouvelles. Ô mon père, veillez sur moi du haut du Ciel. Ô mon Dieu, pardonnez à ceux qui ont fait souffrir mes parents. Cuối tháng 8 năm 1795, Marie-Thérèse cuối cùng cũng được Madame Renée de Chanterenne, người nữ tù cạnh bà cho biết chuyện gì đã xảy ra với gia đình bà. Khi được thông báo về số phận của từng người, Marie-Thérèse đau khổ bắt đầu khóc, bật ra những tiếng nức nở vì đau khổ và đau buồn. Chỉ khi Cuộc khủng bố kết thúc, Marie-Thérèse mới được phép rời nước Pháp. Bà được giải phóng vào ngày 18 tháng 12 năm 1795, vào trước sinh nhật lần thứ mười bảy của mình, được đổi lấy những tù nhân nổi tiếng của Pháp ( Pierre Riel de Beurnonville, Jean-Baptiste Drouet, Hugues-Bernard Maret, Armand-Gaston Camus, Nicolas Marie Quinette và Charles -Louis Huguet de S Pokémonville) và được đưa đến Viên, thành phố thủ đô của anh họ bà, Hoàng đế La Mã Thần thánh Franz II, và cũng là quê hương của mẹ bà. Lưu vong Marie-Thérèse đến Viên vào buổi tối ngày 9 tháng 1 năm 1796, hai mươi hai ngày sau khi bà rời khỏi Nhà thờ. Sau đó bà rời Vienna và chuyển đến Mita, Courland (nay là Jelgava, Latvia), nơi người anh cả còn sống của cha bà, comte de Provence, sống với tư cách là khách của Sa hoàng Paul I của Nga. Ông đã tự xưng là Vua của Pháp với tên gọi Louis XVIII sau cái chết của em trai Marie-Thérèse. Không có con riêng, ông muốn cháu gái kết hôn với anh họ bà, Louis-Antoine, Công tước Angoulême, con trai của em trai mình, comte d'Artois. Marie-Thérèse đồng ý. Louis-Antoine là một thanh niên nhút nhát, hay nói lắp. Cha của ông đã cố gắng thuyết phục Louis XVIII chống lại cuộc hôn nhân. Tuy nhiên, đám cưới diễn ra vào ngày 10 tháng 6 năm 1799 tại Cung điện Jelgava (Latvia ngày nay). Cặp vợ chồng không có con. Ở Anh Gia đình vương thất chuyển đến Vương quốc Anh, nơi họ định cư tại Hartwell House, Buckinghamshire, trong khi cha chồng bà dành phần lớn thời gian ở Edinburgh, nơi ông được cấp các căn hộ tại Holyrood House. Những năm dài lưu vong kết thúc với sự thoái vị của Napoléon I vào năm 1814, và cuộc Khôi phục Bourbon đầu tiên, khi Louis XVIII bước lên ngai vàng của Pháp, 21 năm sau cái chết của anh trai Louis XVI. Khôi phục Bourbon Louis XVIII đã cố gắng hướng một đường lối trung gian giữa những người theo chủ nghĩa tự do và những người theo chủ nghĩa Bảo hoàng cực đoan do comte d'Artois lãnh đạo. Ông cũng cố gắng trấn áp nhiều người đàn ông tự nhận là em trai đã mất từ ​​lâu của Marie-Thérèse, Louis XVII. Những người yêu sách đó đã khiến công chúa gặp rất nhiều đau khổ. Marie-Thérèse nhận thấy sự trở lại của mình cạn kiệt cảm xúc và bà không tin tưởng vào nhiều người Pháp đã ủng hộ Cộng hòa hoặc Napoléon. Bà đến thăm nơi em trai cô đã chết và Nghĩa trang Madeleine, nơi cha mẹ bà được chôn cất. Hài cốt vương tộc được khai quật vào ngày 18 tháng 1 năm 1815 và được quấn lại tại Vương cung thánh đường Saint-Denis, nghĩa địa vương thất của Pháp, vào ngày 21 tháng 1 năm 1815, kỷ niệm 22 năm ngày Louis XVI bị hành quyết. Vào tháng 3 năm 1815, Napoléon quay trở lại Pháp và nhanh chóng bắt đầu có được những người ủng hộ và phát triển một đội quân trong thời kỳ được gọi là Trăm ngày. Louis XVIII chạy trốn khỏi Pháp, nhưng Marie-Thérèse, lúc đó đang ở Bordeaux, đã cố gắng tập hợp quân địa phương. Quân đội đồng ý bảo vệ bà nhưng không gây ra một cuộc nội chiến với quân đội của Napoléon. Marie-Thérèse ở lại Bordeaux bất chấp lệnh của Napoléon bắt bà phải bị bắt khi quân đội của ông ta đến. Tin rằng lý do của mình đã bị thất bại, và để tránh cho Bordeaux bị hủy diệt vô nghĩa, cuối cùng bà đã đồng ý ra đi. Hành động của bà khiến Napoléon nhận xét rằng bà là "người đàn ông duy nhất trong gia đình." Sau khi Napoléon bị đánh bại tại Waterloo vào ngày 18 tháng 6 năm 1815, Nhà Bourbon được khôi phục lần thứ hai, và Louis XVIII trở về Pháp. Vào ngày 13 tháng 2 năm 1820, bi kịch xảy ra khi con trai nhỏ của comte d'Artois, công tước de Berry, bị ám sát bởi Pierre Louvel, một người có cảm tình với chủ nghĩa Bonaparti. Ngay sau đó, vương thất đã được reo hò khi biết rằng nữ công tước de Berry đang mang thai vào thời điểm chồng bà qua đời. Vào ngày 29 tháng 9 năm 1820, bà sinh một con trai, Henri, Công tước Bordeaux, người được gọi là "Đứa trẻ thần kỳ", người sau này, với tư cách là người giả danh Bourbon lên ngai vàng Pháp, đã lấy tước hiệu là comte de Chambord. Madame la Dauphine Louis XVIII qua đời vào ngày 16 tháng 9 năm 1824, và được kế vị bởi em trai của ông, comte d'Artois, là Charles X. Chồng của Marie-Thérèse hiện là người thừa kế ngai vàng, và bà được gọi là Madame la Dauphine. Tuy nhiên, cảm giác chống chế độ quân chủ lại gia tăng. Sự đồng cảm với chủ nghĩa bảo hoàng cực đoan của Charles đã khiến nhiều thành viên của tầng lớp lao động và trung lưu xa lánh. Vào ngày 2 tháng 8 năm 1830, sau Les Trois Glorieuses, cuộc Cách mạng tháng 7 năm 1830 kéo dài ba ngày, Charles X, người cùng gia đình đã đến Château de Rambouillet, thoái vị để ủng hộ con trai mình, người lần lượt thoái vị để ủng hộ ông cháu trai, Công tước Bordeaux khi đó chín tuổi. Tuy nhiên, bất chấp thực tế là Charles X đã yêu cầu ông làm nhiếp chính cho vị vua trẻ, Louis-Philippe đã chấp nhận vương miện khi Chambre des Députés phong ông là Vua của Pháp. Vào ngày 4 tháng 8, trong một cuộc hôn nhân kéo dài, Marie-Thérèse rời Rambouillet để đến một cuộc lưu đày mới với chú của bà, chồng bà, đứa cháu nhỏ của bà và người mẹ, nữ công tước de Berry, và em gái Louise Marie Thérèse d'Artois. Vào ngày 16 tháng 8, gia đình đã đến cảng Cherbourg, nơi họ lên tàu đến Anh. Vua Louis-Philippe đã lo liệu việc thu xếp cho việc ra đi và đi thuyền của những người anh em họ của mình. Cuộc lưu đày cuối cùng Gia đình vương thất sống ở nơi hiện là 22 (sau đó là 21) Regent Terrace ở Edinburgh Newspaper article on sale of 21 Regent Terrace Diggines, Graham "For sale: tragic royals bolthole", The Scotsman, 9 February 2002 Accessed 9 August 2009 cho đến năm 1833 khi cựu vương chọn chuyển đến Praha với tư cách là khách của em họ của Marie-Thérèse, Hoàng đế Francis I của Áo. Họ chuyển đến những căn hộ sang trọng ở Lâu đài Praha. Sau đó, gia đình hoàng gia rời Praha và chuyển đến điền trang của Bá tước Coronini gần Gorizia, khi đó thuộc Áo nhưng ngày nay thuộc Ý. Marie-Thérèse đã tận tình chăm sóc chú của mình qua trận ốm cuối cùng vào năm 1836, khi ông qua đời vì bệnh tả. Chồng bà mất năm 1844 và được chôn cất bên cạnh cha. Marie-Thérèse sau đó chuyển đến Schloss Frohsdorf, một lâu đài theo phong cách baroque ngay bên ngoài Viên, nơi bà dành cả ngày để đi dạo, đọc sách, may vá và cầu nguyện. Cháu trai của bà, người bây giờ tự phong cho mình là comte de Chambord, và em gái của cậu đã sống cùng cùng bà ở đó. Năm 1848, triều đại của Louis Philippe kết thúc trong một cuộc cách mạng lần thứ hai, Pháp trở thành một nước Cộng hòa. Cuối đời Marie-Thérèse chết vì bệnh viêm phổi vào ngày 19 tháng 10 năm 1851, ba ngày sau lễ kỷ niệm 58 năm ngày hành quyết mẹ mình. Bà được chôn cất bên cạnh chú/bố chồng, Charles X và chồng và, Louis XIX, trong hầm mộ của nhà thờ tu viện dòng Franciscan Castagnavizza ở Görz, sau đó ở Áo, nay là Kostanjevica ở thành phố Nova Gorica của Slovenia. Giống như người chú đã khuất của mình, Marie-Thérèse vẫn là một tín đồ Công giáo La Mã sùng đạo. Sau đó, cháu trai của bà là Henri, vương phi của Chambord, người đàn ông cuối cùng của dòng dõi cao cấp của Hạ viện Bourbon; vợ ông, comtesse de Chambord (trước đây là Nữ công tước Marie-Thérèse của Áo-Este, con gái của Công tước Francis IV của Modena và vợ ông, Công chúa Maria Beatrice của Savoy); và em gái duy nhất của ông, Louise, Nữ công tước xứ Parma, cũng được an nghỉ trong hầm mộ ở Görz. Công tước Blacas thời cổ đại nổi tiếng cũng được chôn cất ở đó để vinh danh những năm tháng phục vụ chu đáo của ông với tư cách là bộ trưởng của Louis XVIII và Charles X. Marie-Thérèse được miêu tả trên bia mộ của bà là "Thái hậu của Pháp", ám chỉ đến thời kỳ cai trị 20 phút của chồng bà với tư cách là Vua Louis XIX của Pháp. Bí ẩn "Nữ bá tước Bóng tối" Vào tháng 10 năm 2013, ngôi mộ của một phụ nữ ở Hildburghausen, Thuringia, Đức, đã được khai quật để lấy ADN xét nghiệm, nhằm xác định xem bà có phải là Marie-Thérèse hay không. Người phụ nữ, tên là Sophie Botta, sống trong một lâu đài trong khu vực từ năm 1807 cho đến khi bà qua đời năm 1837, và không bao giờ nói chuyện trước đám đông, hoặc được nhìn thấy bên ngoài mà không che mặt. Cùng đi với cô là Leonardus Cornelius van der Valck, một thư ký của đại sứ quán Hà Lan ở Paris từ tháng 7 năm 1798 đến tháng 4 năm 1799, và họ cùng nhau được biết đến với cái tên Bá tước Bóng tối. Van der Valck gọi Botta là 'Quý ngài' và họ chỉ nói với nhau bằng tiếng Pháp. Một số nhà sử học Đức tin rằng người là Marie-Thérèse thật, đã đổi chỗ cho người chị nuôi, và có thể là em gái nuôi, Ernestine Lambriquet sau cuộc cách mạng. Có thể do bà quá chấn thương để tiếp tục vai trò trong xã hội, nhưng cũng có thể là do mang thai, sau khi bị những kẻ bắt giữ lạm dụng, được đề cập trong một bức thư từ một người bạn của gia đình, tại Tòa án Tây Ban Nha vào năm 1795. Kết quả xét nghiệm DNA cho thấy nữ bá tước bóng tối không phải là Marie-Thérèse, mà là một người phụ nữ khác mà danh tính vẫn còn là một bí ẩn. Vào ngày 28 tháng 7 năm 2014, chương trình 'Interestssenkreis Dunkelgräfin' đã phát sóng kết quả chứng minh rằng Dunkelgräfin không phải là Marie-Thérèse trên truyền hình. Trong văn hóa đại chúng Phim Marie-Thérèse đã được miêu tả trong một số bộ phim chuyển thể từ phim điện ảnh, chủ yếu là về cuộc đời của mẹ bà. Năm 1934, bà được đóng dưới tên Duchess d'Angoulême bởi Gladys Cooper trong The Iron Duke, đối diện với George Arliss trong vai Công tước của Wellington. Năm 1938, bà được Marilyn Knowlden đóng trong Marie-Antoinette, đối diện với Norma Shearer trong vai hoàng hậu. Năm 1975, trong bộ phim truyền hình Pháp Marie-Antoinette, Marie-Thérèse do Anne-Laura Meury thủ vai. Năm 1989, bà được đóng bởi Katherine Flynn trong The French Revolution. Mẹ trên màn ảnh của Katherine, Marie Antoinette, do mẹ ruột của bà, Jane Seymour thủ vai. Năm 2001, Daisy Bevan đóng vai Marie-Thérèse trong một thời gian ngắn trong bộ phim cổ trang The Affair of the Bracelet đối diện với mẹ bà là Joely Richardson trong vai Marie Antoinette. Năm 2006, Marie Antoinette, do Sofia Coppola đạo diễn, được phát hành. Marie-Thérèse do hai nữ diễn viên nhí khác nhau thủ vai. Lúc hai tuổi, bà được đóng bởi Lauriane Mascaro, và sáu tuổi, bà được đóng bởi Florrie Betts. Kirsten Dunst đóng vai chính mẹ bà, Maria Antonia của Áo. Sân khấu và văn học Bà cũng đã được miêu tả như sau: Tất cả những ai đau khổ; một vở kịch của Bắc Ireland về bí ẩn của Louis XVII. Madame Royale, một cuốn tiểu thuyết của Elena Maria Vidal, dựa trên cuộc đời của Marie-Thérèse. The Dark Tower, một cuốn tiểu thuyết của Sharon Stewart, dựa trên Tạp chí Madame Royale, là tác phẩm của Marie-Thérèse. Cuốn tiểu thuyết sau đó đã được tái phát hành như một phần của loạt phim Beneath the Crown với tựa đề Công chúa trong tháp. The Lacemaker and the Princess (2007), một tiểu thuyết dành cho trẻ em của Kimberly Brubaker Bradley Faces of the Dead của Suzanne Weyn (2014) ISBN 978-0545425315 Tổ tiên Chú thích Xem thêm Maria Antonia của Áo Louis XVI của Pháp Liên kết ngoài Nguồn chính Duchess of Angoulême's Memoirs on the Captivity in the Temple Duchess of Angoulême's Memoir on the Flight to Varennes, (1823 English translation, by John Wilson Croker, of a slightly redacted French edition) Duchess of Angoulême's Memoirs on the Captivity in the Temple, (same 1823 English translation) Đọc thêm Castelot, André, Madame Royale, Librairie Académique Perrin, Paris, 1962, ISBN 2-262-00035-2 Desmond, Alice Curtis. " Marie Antoinette's Daughter ". NY: Dodd, Mead & Company, 1967. ISBN 0396056415. Lenotre, G., La fille de Louis XVI, Marie-Thérèse-Charlotte de France, duchesse d'Angoulême, in Mémoires et Souvenirs sur la Révolution et l'Empire'', Librairie Académique Perrin, 1908. Nagel, Susan. " Marie-Therese, Child of Terror: The Fate of Marie Antoinette's Daughter ". NY: Bloomsbury, 2008. ISBN 1-59691-057-7 Tư liệu khác English language site of the franciscan Monastery in Kostanjevica Slovenia, where Marie Thérèse Charlotte is buried, together with the last French kings English and German language site about the substitution theory of Madame Royale and the "Dark Countess of Hildburghausen" The Ruin of a Princess, which contains the life and letters of Madame Élisabeth, Journal of the Tower of the Temple by Cléry and Narrative of Madame Royale. Vương nữ Pháp (Bourbon) Vương nữ Pháp Sinh năm 1778 Mất năm 1851
851879
https://vi.wikipedia.org/wiki/12598%20Sierra
12598 Sierra
12598 Sierra (1999 RC159) là một tiểu hành tinh vành đai chính được phát hiện ngày 9 tháng 9 năm 1999 bởi nhóm nghiên cứu tiểu hành tinh gần Trái Đất phòng thí nghiệm Lincoln ở Socorro. Tham khảo Liên kết ngoài JPL Small-Body Database Browser ngày 12598 Sierra Tiểu hành tinh vành đai chính Thiên thể phát hiện năm 1999
776958
https://vi.wikipedia.org/wiki/Saint-Romain-en-Jarez
Saint-Romain-en-Jarez
Saint-Romain-en-Jarez là một xã trong tỉnh Loire miền trung nước Pháp. Xem thêm Xã của tỉnh Loire Tham khảo INSEE commune file Saintromainenjarez
837902
https://vi.wikipedia.org/wiki/5681%20Bakulev
5681 Bakulev
5681 Bakulev (1990 RS17) là một tiểu hành tinh vành đai chính được phát hiện ngày 15 tháng 9 năm 1990 bởi Zhuravleva, L. V. ở Nauchnyj. Liên kết ngoài JPL Small-Body Database Browser ngày 5681 Bakulev Tiểu hành tinh vành đai chính Được phát hiện bởi Lyudmila Zhuravlyova Thiên thể phát hiện năm 1990
272459
https://vi.wikipedia.org/wiki/Cazalilla
Cazalilla
Cazalilla là một đô thị trong tỉnh Jaén, Tây Ban Nha. Theo điều tra dân số 2006 (INE), đô thị này có dân số là 839 người. Tham khảo Đô thị ở Jaén
424333
https://vi.wikipedia.org/wiki/Saint-H%C3%A9rent
Saint-Hérent
Saint-Hérent là một xã ở tỉnh Puy-de-Dôme trong vùng Auvergne-Rhône-Alpes miền trung nước Pháp. Xem thêm Xã của tỉnh Puy-de-Dôme Tham khảo INSEE commune file Xã của Puy-de-Dôme
441815
https://vi.wikipedia.org/wiki/Proupiary
Proupiary
Proupiary là một xã thuộc tỉnh Haute-Garonne trong vùng Occitanie tây nam nước Pháp. Xã này nằm ở khu vực có độ cao trung bình 425 mét trên mực nước biển. Tham khảo Xã của Haute-Garonne
424337
https://vi.wikipedia.org/wiki/Saint-Romain%2C%20Puy-de-D%C3%B4me
Saint-Romain, Puy-de-Dôme
Saint-Romain là một xã ở tỉnh Puy-de-Dôme trong vùng Auvergne-Rhône-Alpes miền trung nước Pháp. Xem thêm Xã của tỉnh Puy-de-Dôme Tham khảo INSEE Xã của Puy-de-Dôme
959627
https://vi.wikipedia.org/wiki/Molophilus%20parviclavus
Molophilus parviclavus
Molophilus parviclavus là một loài ruồi trong họ Limoniidae. Chúng phân bố ở vùng Tân nhiệt đới. Liên kết ngoài Tham khảo Molophilus Limoniidae ở vùng Neotropic
460828
https://vi.wikipedia.org/wiki/Cramant
Cramant
Cramant là một xã thuộc tỉnh Marne trong vùng Grand Est đông nam nước Pháp. Xã này nằm ở khu vực có độ cao trung bình 146 mét trên mực nước biển. Tham khảo Xã của Marne
138946
https://vi.wikipedia.org/wiki/M4%20Sherman
M4 Sherman
M4 Sherman, tên chính thức là Xe tăng Hạng trung M4 (Medium Tank, M4), là loại xe tăng hạng trung được quân đội Hoa Kỳ và các nước Đồng Minh phương Tây sử dụng rộng rãi nhất trong Chiến tranh thế giới thứ hai. M4 Sherman được đánh giá là có sự cơ động cao, đáng tin cậy, có giá thành khá thấp để sản xuất hàng loạt. Hơn mười nghìn xe tăng đã được cung cấp cho khối Thịnh vượng chung Anh và Liên Xô qua Chương trình Lend-Lease. Xe tăng được người Anh đặt theo tên của vị tướng William T. Sherman trong Cuộc nội chiến Hoa Kỳ. M4 Sherman được phát triển dựa trên những kinh nghiệm từ Xe tăng Hạng trung M3, với sự thay đổi về trang bị vũ khí và vị trí đặt pháo. Thiểt kế của M4 Sherman đưa pháo 75 mm lên một tháp pháo độc lập, có giáp mặt hiệu quả khá tốt, gần bằng so với T-34 của Liên Xô. Về mặt hỏa lực thì pháo M3 có sức công phá ngang ngửa với pháo 76mm F-34, cũng như pháo M1 với sức xuyên phá gần bằng với pháo 85mm D-5T của các dòng T-34, tuy nhiên thì HE của pháo M1 kém hơn hẳn HE của D-5T vì cỡ nòng nhỏ hơn, nhưng bù lại thì Sherman có thêm một tháp súng máy trên nóc để hỗ trợ phòng không và chống bộ binh. Về độ cơ động, Sherman sở hữu động cơ với công suất khá tốt (từ 300 đến 400 mã lực đối với bản M4, M4A1, M4A2 và M4A4, 450 mã lực đối với bản M4A3) giúp xe có thể đạt vận tốc lên đến 48 km/h và tầm hoạt động khoảng 240 km. Những yếu tố này đã giúp Sherman vượt trội hơn các loại xe tăng hạng nhẹ và hạng trung của Đức được trang bị trong giai đoạn 1939–42. M4 là loại xe tăng được sản xuất nhiều nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, với 49.234 chiếc được sản xuất với nhiều biến thể khác nhau, chỉ đứng sau T-34. Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, xe tăng Sherman là một trong những xe tăng xung kích chủ chốt của Đồng minh phương Tây sau năm 1942. Khi xe tăng M4 thực chiến lần đầu tiên ở Bắc Phi tại Trận El Alamein lần hai vào năm 1942, nó đã giúp tăng ưu thế của lực lượng thiết giáp Anh và vượt trội hơn hẳn nhiều loại xe tăng của Đức và Ý. Vì lý do này, Quân đội Hoa Kỳ tin rằng M4 đã đủ để giúp giành chiến thắng trong cuộc chiến, và giúp họ ít gặp áp lực hơn trong việc phát triển các mẫu xe tăng trong tương lai. Những hạn chế về hậu cần và vận chuyển, như đường xá, bến cảng và cầu, cũng làm phức tạp việc phát triển một loại xe có năng lực hơn nhưng nặng hơn. Các tiểu đoàn Pháo Tự hành Chống tăng được trang bị xe dựa trên khung của M4, nhưng có tháp pháo hở nóc và được lắp đặt pháo chống tăng mạnh mẽ hơn. Thậm chí đến năm 1944, hầu hết các phiên bản M4 vẫn được trang bị pháo 75 mm đa dụng. Tại thời điểm đó, dù M4 đã bị các loại xe tăng hạng trung và hạng nặng của Đức vượt trội về giáp và hỏa lực, nhưng chúng vẫn chiến đấu được hiệu quả với ưu thế trang bị bổ sung, độ tin cậy cao, dễ sửa chữa, hậu cần tốt hơn và sự hỗ trợ lớn của các đơn vị máy bay chiến đấu, ném bom và pháo. Một số phiên bản Sherman được lắp đặt pháo M1 76 mm, được tái trang bị lại bằng khẩu pháo chống tăng Ordnance QF 17 pounder cỡ nòng 76,2 mm mạnh mẽ hơn của người Anh (Sherman Firefly) hoặc được lắp đặt lựu pháo 105 mm để hoạt động với vai trò xe thiết giáp hỗ trợ bộ binh. Việc sản xuất dễ dàng đã cho phép M4 được sản xuất với số lượng lớn và dễ dàng khôi phục và sửa chữa các xe bị bắn hỏng trong chiến đấu để quay trở lại chiến trường. Những yếu tố này kết hợp lại đã tạo ra ưu thế lớn về quân số cho Đồng minh trong hầu hết các trận chiến, với nhiều sư đoàn bộ binh được trang bị M4 và pháo tự hành chống tăng. Sau Chiến tranh Thế giới lần hai, Sherman, đặc biệt là những phiên bản cải tiến và nâng cấp, tiếc tục được sử dụng bởi nhiều quốc gia trong các cuộc xung đột khác trên thế giới như Lực lượng Liên Hợp Quốc trong Chiến tranh Triều Tiên, Cuộc xung đột Ả Rập-Israel và Chiến tranh Ấn Độ – Pakistan 1965. Thiết kế ban đầu Xe tăng M4 được Cục Quân khí Lục quân Hoa Kỳ thiết kế nhằm mục đích thay thế cho xe tăng hạng trung M3. M3 là sự phát triển lớn của xe tăng hạng nhẹ M2, được đưa vào hoạt động trong năm 1939. M3 được phát triển như một biện pháp tức thời cho đến khi người Mỹ có thể nghĩ ra cách thiết kế một tháp pháo để lắp pháo 75 mm. Mặc dù M3 là một tích cực lớn khi được người Anh ở châu Phi sử dụng để chống lại các xe tăng Đức, nhưng việc đặt tháp pháo 37 mm lên trên đã khiến xe quá cao, và khẩu pháo chính gắn bên hông có góc bắn hạn chế, chỉ có thể ngắm được ở một góc khác nếu kíp lái phải xoay xe tăng theo hướng cần bắn. Mặc dù các nhà thiết kế Mỹ miễn cưỡng trong việc áp dụng pháo của người Anh vào mẫu xe, nhưng các nhà thiết kế vẫn sẵn sàng đón nhận những đóng góp của kíp lái Anh. Những ý tưởng của người Anh, cùng với thiết kế của Bộ tổng Tham mưu Canada, đã ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển của xe tăng Sherman sau này. Thiết kế chi tiết của M4 đã được Cục Quân khí đệ trình vào ngày 31 tháng 8 năm 1940, nhưng việc phát triển một mẫu thử nghiệm đã bị trì đến khi các mẫu thiết kế cuối cùng của xe tăng M3 được hoàn thành để đưa vào sản xuất hàng loạt. Vào ngày 18 tháng 4 năm 1941, Ủy ban Lực lượng Thiết giáp Hoa Kỳ đã chọn thiết kế đơn giản nhất trong số năm thiết kế. Được biết đến với cái tên T6, thiết kế là thân và khung của M3 đã được sửa đổi, mang theo một tháp pháo được thiết kế mới gắn súng 75 mm của M3. Sau này mẫu thiết kế đó được biết đến qua cái tên Sherman. M4 Sherman là tập hợp của những kinh nghiệm rút ra từ việc thiết kế các loại xe tăng vào những năm 1930, trong số đó có hệ thống treo vòng xoắn dây cót dọc, xích tăng có vỏ bọc cao su, động cơ hướng tâm bố trí đằng sau và đĩa răng kéo đằng trước. Theo như dự định ban đầu thì M4 phải là một loại tăng có thời gian sản xuất nhanh, có độ linh hoạt và hoả lực cao, có tính năng hỗ trợ bộ binh và quan trọng nhất là M4 phải hạ được các loại tăng hạng trung của Đức Quốc xã cũng như các nước thuộc khối Trục. Nguyên mẫu T6 được hoàn thành vào ngày 2 tháng 9 năm 1941. Phần thân trên của T6 là một khối đúc liền lớn. Thiết kế có một cửa sập duy nhất trên thân xe cho người lái và một cửa sập ở bên thân. Trong mẫu M4A1 sau này, kiểu đúc nguyên khối này vẫn được duy trì, cửa sập bên đã bị loại bỏ và cửa sập thứ hai được bổ sung cho người lái phụ. Bản T6 sửa đổi được tiêu chuẩn hóa thành M4 và bắt đầu đua vào sản xuất vào tháng 2 năm 1942. Các mô hình thân xe sau đó sẽ được tiêu chuẩn hóa lại thành M4A1, với các mô hình thân hàn đầu tiên được nhận được định danh M4. Vào tháng 8 năm 1942, một biến thể của M4 đã được Cục quân khí Detroit đưa ra với các lớp giáp nghiêng. Thay đổi này nhằm mục đích cải thiện khả năng bảo vệ của xe tăng mà không làm tăng trọng lượng hoặc làm giảm các đặc tính kỹ thuật khác. Học thuyết Trước khi Hoa Kỳ chính thức tham chiến, học thuyết về lực lượng Thiết giáp của họ đã được điều chỉnh lại trong cuốn Sổ tay Hướng dẫn Thực chiến 100-5 (xuất bản tháng 5 năm 1941) sau một thời gian phát triển mẫu M4. Sổ tay viết rằng: Do đó, M4 ban đầu không được thiết kế với vai trò là xe tăng hỗ trợ bộ binh. Chúng là mũi nhọn của các sư đoàn thiết giáp với sự hỗ trợ của các lực lượng bộ binh tùng thiết, và không nhất thiết chỉ đảm nhiệm nhiệm vụ tiêu diệt xe tăng địch, mà sẽ phụ thuộc vào quyết định của các cấp chỉ huy trên chiến trường. Cuốn sách hướng dẫn sử dụng xe tăng M4 (FM 17-33, "Tiểu đoàn Xe tăng, Hạng nhẹ và Hạng trung" vào tháng 9 năm 1942) viết rằng việc giao chiến với xe tăng địch khi cần thiết chỉ là một trong những nhiệm vụ chính của xe tăng M4, nhưng vấn đề này chỉ được đề cập trong một trang văn bản kèm với bốn sơ đồ mô phỏng về các trận chiến xe tăng, trong tổng số 142 trang. Học thuyết thiết giáp ban đầu phần lớn chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ những thành công ban đầu của chiến thuật Blitzkrieg của Đức. Học thuyết của Hoa Kỳ đồng thời cho rằng công việc quan trọng nhất trong tác chiến chống tăng là ngăn chặn các cuộc tấn công ồ ạt của xe tăng đối phương - chủ yếu được thực hiện bằng pháo chống tăng được kéo và pháo tự hành, được vận hành bởi các tiểu đoàn "Pháo chống tăng", với sự hỗ trợ của các xe tăng khác nếu có thể. Tốc độ là yếu tố quan trọng nhất để triển khai các pháo tự hành chống tăng để tiêu diệt các đợt xe tăng của kẻ thù. Tuy vậy, học thuyết này hiếm khi được áp dụng trong thực chiến vì được cho là thiếu thực tế. Các chỉ huy đơn vị thiết giáp không muốn giữ các đội hình pháo tự hành ở trạng thái dự bị; nếu làm như vậy, đội hình xung kích của đối phương sẽ dễ dàng trọc thủng tuyến phòng ngự của lực lượng thiết giáp đó. Điều đó sẽ không xảy ra nếu người Mỹ cho triển khai lực lượng pháo tự hành ở tuyến đầu ở bất kỳ cuộc tấn công nào. Lịch sử sản xuất Việc sản xuất được bắt đầu lần đầu tiên tại nhà máy Lima Locomotive khi nhà máy đang sản xuất xe tăng cho lực lượng quân đội Anh. M4 được sản xuất cho quân đội Anh và Mỹ. Michael Dewar chính là người đầu tiên qua Mỹ đặt hàng cho quân Anh, và hiện tại vẫn còn một chiếc Sherman tại bảo tàng thiết giáp Bovington. Trong Thế chiến II, quân đội Mỹ có tổng cộng 16 sư đoàn thiết giáp và 70 tiểu đoàn tăng hoạt động độc lập. Trước tháng 9 năm 1942, Tổng thống Franklin D. Roosevelt đã chỉ thị cho các nhà máy phải sản xuất ít nhất 120.000 chiếc xe tăng để thành lập 61 sư đoàn thiết giáp để hỗ trợ cho lực lượng Đồng Minh tại Châu Âu. Mặc dù các nhà máy tại Mỹ không bị lực lượng không quân địch đánh bom nhưng phân nửa số nguyên liệu sản xuất xe tăng phải chuyển cho việc đóng tàu cho Hải quân, khiến cho quá trình sản xuất diễn ra khá lâu và số lượng xe tăng xuất xưởng chỉ được một nửa so với mục tiêu. Theo như tính toán thì số nguyên liệu (sắt, thép,...) chuyển cho các xưởng đóng tàu có thể sản xuất được hơn 67.000 chiếc xe tăng, nên thực tế chỉ có khoảng 53.500 chiếc xe tăng được Mỹ sản xuất từ năm 1942-1945. Có tổng cộng bảy loại biến thể của M4 đưa vào sản xuất: M4, M4A1, M4A2, M4A3, M4A4, M4A5, và M4A6. Mặc dù có nhiều biến thể như vậy nhưng cấu tạo của các phiên bản khác nhau của M4 vẫn khá giống như nhau. Ví dụ điển hình nhất chính là phiên bản biến thể A4 và A3, A4 không có gì hơn A3. M4A1 có hơi khác M4 về phần động cơ, thân tăng của M4A1 hơi cong. Phiên bản M4A4 có hệ thống động cơ dài hơn khiến cho thân tăng của phiên bản này khá dài và có khá nhiều bộ guốc phanh xích. M4A5 được thiết kế cho quân đội Canada. M4A6 có bệ máy giãn dài và chỉ có dưới 100 chiếc được sản xuất.Đa số các phiên bản Sherman đều sử dụng động cơ chạy bằng xăng, có hai phiên bản Sherman là M4A2 và M4A6 sử dụng động cơ diesel. M4A2 được lắp ráp sáu động cơ GMC 6-71 theo cặp sắp xếp theo kiểu thẳng hàng. M4A6 lại sử dụng động cơ Caterpillar RD1820 bố trí toả tròn. M4A4 sử dụng động cơ Chrysler A57 (thường được gửi đến các nước Đồng Minh và Liên Xô thông qua chương trình Lend-Lease). Các phiên bản M4 thường được trang bị động cơ toả tròn Continental. Các biến thể đời sau của nó cũng không thay đổi nhiều mà chỉ chú trọng thay thế hệ thống treo, ngăn chứa đạn mạ thiếc, gia cố lại lớp giáp bọc. Như phiên bản M4 "Composite", nó được lắp ráp thân tăng cong và phần thân tăng - phía sau được hàn dính với nhau qua một lớp sắt. Quân Anh có cách sắp xếp và bố trí máy khác với quân Mỹ. Nhiều chi tiết về hình dạng, trang bị vũ khí và hiệu suất được cải thiện trong quá trình sản xuất mà không có sự thay đổi về số kiểu cơ bản của xe tăng. Chúng bao gồm hệ thống treo mạnh hơn, kho trữ đạn "ướt" (W) an toàn hơn và cách bố trí giáp chắc chắn hơn hoặc hiệu quả hơn, chẳng hạn như mẫu M4 "Composite", có giá thành rẻ hơn. Người Anh đặt tên các mẫu thiết kế khác nhau của Shermans bằng số hiệu cho các mẫu thân khác nhau với các chữ cái chỉ sự khác biệt về vũ khí trang bị và hệ thống treo: A cho mẫu trang bị pháo 76mm, B mẫu trang bị lựu pháo 105mm, C cho mẫu trang bị pháo 17-pdr, và Y cho bất kỳ phương tiện nào được trang bị HVSS; Ví dụ như khẩu M4A1 (76) được người Anh vận hành được gọi là Sherman IIA. Các phiên bản đầu của Sherman được trang bị pháo chính 75 mm. Mặc dù Cục quân khí đã tiến hành thiết kế các mẫu xe tăng T20 để thay thế cho Sherman, Quân đội Hoa Kỳ vẫn hài lòng với Sherman và Bộ chỉ huy Thiết giáp cho rằng một số chi tiết trên các mẫu đầu tiên không đạt yêu cầu của họ. Nhiều yếu tố và thiết kế mới đã được áp dụng vào các phiên bản Sherman mới sau này. Bản M4A1, M4A2 và M4A3 được lắp đặt tháp pháo rộng hơn với pháo 76 mm được lấy từ thí nghiệm xe tăng T23. Bản 76 mm tiêu chuẩn đầu tiên được lắp đặt trên phiên bản M4A1, được đưa vào biên chế vào tháng 1 năm 1944, và được thực chiến vào tháng 7 năm 1944 trong Chiến dịch Cobra. Nhiều biến thể của M4 và M4A3 đựoc sản xuất với lựu pháo 105  mm. Mẫu Sherman đầu tiên được trang bị pháo 105 mm là bản M4, được đưa vào biên chế trong tháng 2 năm 1944. Từ tháng 5 tới tháng 7 năm 1944. Lục quân Hoa Kỳ đã chấp nhận sử dụng 254 xe tăng M4A3E2 Jumbo Sherman, với hệ thống giáp rất dày và mang pháo 75 mm trong tháp pháo T23 mới, chắc chắn hơn, có nhiệm vụ tiêu diệt các cứ điểm, hộ tống đoàn vận tải và tiên phong cho các mũi xung kích thiết giáp. M4A3 là phiên bản đầu tiên được sản xuất với hệ thống lò xo treo ngang HVSS cùng hệ thống bánh xích lớn, được đưa vào sản xuất trong tháng 8 năm 1944. Nhờ sự hiệu quả do hệ thống HVSS mang lại, mẫu thiết kế này được các kíp lái gọi là "Easy Eight", dựa trên định danh của mẫu thiết kế "E8". Các phiên bản M4 và M4A3 trang bị lựu pháo 105 mm, cùng với các phiên bản M4A1 và M4A2 mang pháo 76 mm, đều được trang bị hệ thống HVSS. Các kĩ sư người Mỹ và Anh sau đó phát triển thêm các loại xe chuyên dụng dựa trên thân xe Sherman, mặc dù chỉ có số ít được tham chiến, bao gồm bản Sherman có gắn lưỡi xúc, Sherman Duplex Drive. Sherman "Zippo" và mẫu mang hệ thống pháo phản lực T34 Calliope. Các thiết kế của người Anh (Sherman DD và Sherman quét mìn) góp phần hình thành lên các lực lượng chuyên dụng đặc biệt, được biết đến là "Những gã hề của Hobart" - "Hobart's Funnies", đặt theo tên của Thiếu tướng Percy Hobart, Sư đoàn trưởng Sư đoàn Thiết giáp 79 Anh Quốc. Thân xe của Sherman cũng được sử dụng để phát triển các loại xe hỗ trợ khác, bao gồm pháo tự hành chống tăng M10 Wolverine và M36 Jackson; pháo tự hành M7B1, M12, M40 và M43; xe thiết giáp sửa chữa M32 và M74 trang bị cần cẩu, hệ thống kéo và pháo cối 81 mm; và M34 (phát triển từ M32B1) và M35 (phát triển từ M10A1) có nhiệm vụ chuyên chở pháo. Vũ khí Quá trình phát triển Trong quá trình thiết kế xe, các kỹ sư Mỹ đã lập nhiều phương án để có thể lắp nhiều loại pháo (cụ thể là pháo 75 mm, pháo 3-inch hoặc lựu pháo 105 mm) vào tháp pháo của Sherman. Việc lắp đặt pháo 3-inch M7, pháo chính của xe tăng hạng nặng M6, vào tháp pháo của Sherman, được thử nghiệm đầu tiên, nhưng kích thước lớn và sức nặng của khẩu pháo khiến việc lắp đặt là không khả thi. Đầu năm 1942, quân đội bắt đầu thử nghiệm việc lắp đặt pháo 105 mm vào tháp pháo của Sherman. Lựu pháo M2A1 105 mm được cho là không phù hợp, nên đã được thiết kế lại hoàn toàn với định danh mới là M4 105 mm. Sau nhiều lần sửa đổi tháp pháo (liên quan đến sự cân bằng của súng và tốc độ quay tháp pháo) và thay đổi nội thất của xe (để phù hợp cho việc trữ đạn 105 mm), Cục Quân khí đã bày tỏ sự hài lòng với thiết kế mới này và việc sản xuất xe tăng M4 mang pháo 105 mm được tiến hành vào tháng 2 năm 1944. Sherman trong lần tham chiến đầu tiên vào năm 1942 được trang bị pháo M3 75 mm, có khả năng bắn xuyên thủng được lớp giáp đồng nhất (RHA) dày 88 mm ở góc 90 độ ở khoảng cách 100 mét (110 yd) và 73 mm ở khoảng cách 1.000 mét, bằng đạn M61 APCBC thông dụng. Tại chiến trường Bắc Phi, Sherman có thể hạ gục được cả hai loại xe tăng chính của Đức là Panzer III và Panzer IV ở phạm vi giao chiến thông thường. Tình báo Mỹ cho rằng quân đội Đức Quốc xã sẽ tung ra hai loại tăng mới là Tiger I vào năm 1942 và Panther năm 1943. Họ cho rằng Panther là loại xe tăng hạng nặng tương tự với chiếc Tiger I, và nghi ngờ về việc sẽ có nhiều chiếc được sản xuất. Do quan niệm sai lầm này, cùng với kết quả rút ra từ các buổi thử nghiệm rằng pháo 76 mm có thể tiêu diệt cả Tiger I và Panther, Bộ chỉ huy Quân đội Hoa Kỳ đã không đặc biệt quan tâm đến Tiger I. Tuy nhiên, tiêu chí đánh giá và kết quả của các cuộc thử nghiệm pháo 76 mm sau đó được cho là không chính xác khi so sánh với điều kiện thực tế (các cuộc thử nghiệm đối với các tấm giáp của Mỹ có cấu hình giống với các tấm giáp được tìm thấy trên xe tăng Panther cho thấy pháo M1A1 mới sẽ phù hợp trong việc tiêu diệt xe Panther hơn, nhưng việc thử nghiệm trên một chiếc Panther bị thu giữ chưa bao giờ được thực hiện), thậm chí cả Tướng Eisenhower còn nói rằng Cục Quân khí đã gửi những báo cáo sai cho ông về việc pháo 76 mm có thể hạ gục bất kỳ loại xe tăng nào của Đức. Ban chỉ huy Lục quân Hoa Kỳ cũng không lường trước được việc người Đức có ý định sẽ biến Panther thành xe tăng tiêu chuẩn cho các sư đoàn thiết giáp của họ trong năm 1944, được hỗ trợ bởi một số lượng nhỏ Tiger I và Tiger II. Khi pháo 76 mm, có định danh T1, được lắp đặt trên xe tăng Sherman vào mùa xuân năm 1943, nó được cho là gây mất cân bằng tháp pháo, và việc nòng súng quá dài sẽ gây khó khăn trong việc vận chuyển và có nguy cơ sẽ khiến xe bị lật nếu di chuyển trên khu vực có địa hình gồ ghề. Chiều dài của khẩu pháo được cắt giảm 15-inch (380 mm), và được mang định danh mới là M1. Việc lắp khẩu pháo mới này vào tháp pháo M4 gốc ban đầu được nhận định là không khả thi, vì vậy tháp pháo của dự án xe tăng T23 bị hủy bỏ đã được sử dụng để thay thế cho phiên bản sản xuất cuối cùng của M4 Shermans 76 mm, cùng với một phiên bản nâng cấp mới của pháo M1 là M1A1. Bất chấp việc phát triển các loại pháo chống tăng 76 mm và 90 mm mới của Cục Quân khí, Bộ chỉ huy Quân đội Hoa Kỳ đã từ chối việc sản xuất chúng, và cho rằng đó là không cần thiết. Việc nâng cấp M4 Sherman bằng cách lắp tháp pháo trang bị pháo 90 mm từ dự án xe tăng T26 lên thân chiếc M4 vào tháng 4 năm 1944 đã được dừng lại sau khi họ nhận ra mẫu thử nghiệm này có thể làm trì hoãn việc phát triển xe tăng T26. Thậm chí vào năm 1943, hầu hết các mẫu xe thiết giáp của Đức như Panzer IV, pháo tự hành xung kích StuG III và pháo tự hành chống tăng Marder III, đều được trang bị pháo 7,5 cm KwK 40, đều có khả năng tiêu diệt Sherman ở các khoảng cách thông thường. Sự chênh lệch lớn về hỏa lực giữa xe tăng Đức trong năm 1943 và pháo 75 mm của Sherman là động lực dẫn đến việc phát triển pháo 76 mm vào tháng 1 năm 1944. Trong quá trình thử nghiệm trước thời điểm diễn ra Chiến dịch Overlord, pháo 76 mm được phát hiện là sẽ tạo ra một chớp lửa lớn không thể tránh khỏi, dẫn đến việc bụi đất xung quanh bắn lên mù mịt và cản trở việc tiếp tục bắn của xe. Mẫu pháo M1A1C, được đưa vào sản xuất vào tháng 3 năm 1944, được cắt thêm rãnh xoắn ở đầu nòng pháo để có thể lắp một bộ bù giật ở đó. Bộ bù giật cho mẫu pháo M1A2 được phát triển vào tháng 10 năm 1944 đã giải quyết được hoàn toàn vấn đề chớp lửa bằng cách tạo các lỗ dẫn chớp lửa sang hai bên khẩu pháo. Học thuyết của Lục quân Hoa Kỳ vào thời điểm đó đề cao khả năng đa nhiệm của xe tăng, và việc sử dụng đạn nổ mạnh được coi là quan trọng. Là một loại súng chống tăng chuyên dụng, pháo 76 mm có loại đạn nổ mạnh yếu hơn nhiều so với loại 75 mm hiện có, và ban đầu không được các chỉ huy sư đoàn thiết giáp Hoa Kỳ chấp nhận, mặc dù nhiều khẩu đã được sản xuất và có sẵn. Toàn bộ các xe tăng của Mỹ triển khai tại Normandie vào tháng 6 năm 1944 đều được trang bị pháo 75 mm. Các đợt giao chiến với xe tăng Panther ở Normandie đã nhanh chóng cho thấy sự cần thiết của việc tăng cường khả năng chống tăng, và Sherman mang pháo 76 mm lần đầu tiên được biên chế cho các đơn vị thiết giáp của Tập đoàn quân số 1 vào tháng 7 năm 1944. Chiến dịch Cobra là lần thực chiến đầu tiên của các mẫu Sherman mang pháo 76 mm, có định danh là M4A1(76)W. Tập đoàn quân số 3 của Trung tướng George S. Patton ban đầu chỉ được trang bị Sherman mang pháo 75 mm và chỉ chấp nhận các mẫu xe mang pháo 76 mm sau khi chứng kiến các đợt giao tranh với xe tăng Panther ở Arracourt vào tháng 9 năm 1944. Hỏa lực của pháo 76 mm HV đã giúp Sherman có thể bắn hạ được nhiều loại xe tăng Đức, đặc biệt là Panzer IV và StuG III, nhưng vẫn không đủ để bắn hạ Tiger I hoặc Panther. Pháo 76 mm có thể xuyên thủng được một lớp giáp nghiêng RHA dày 125 mm (4,9 in) ở 100 mét (110 yd) và 106 mm (4,2 in) ở 1.000 mét (1.100 yd) bằng đạn M62 thông thường. Trong khi đó pháo 7,5 cm KwK 40 (75 mm L/48) của Panzer IV có thể xuyên thủng được một lớp giáp nghiêng RHA dày 135 mm (5,3 in) ở 100 mét (110 yd) và 109 mm (4,3 in) ở 1.000 mét (1.100 yd). 76 mm vẫn tỏ ra yếu thế hơn so với pháo 7.5 cm KwK 42 (75 mm L/70) của Panther, có thể xuyên thủng một lớp giáp RHA dày 185 mm (7,3 in) ở cự ly 100 mét (110 yd) và 149 mm (5,9 in) ở 1.000 mét (1.100 yd) bằng đạn PzGr.39 / 42 thông thường. Pháo 76 mm có khả năng hạ gục Panther ở phạm vi chiến đấu bình thường từ bên sườn hoặc phía sau, nhưng không thể bắn xuyên được phần giáp trước của Panther. Do phần giáp trước của Panther có góc nghiêng 55 độ, phần giáp trước dày 80 mm có thể dày đến 140 mm với hiệu quả thực tế thậm chí còn lớn hơn. Một chiếc Sherman thông thường chỉ có thể bắn hạ được Panther ở vị trí trực diện tại cự ly gần, nếu bắn trúng mặt trước tháp pháo hoặc khu vực hở giữa tháp pháo và thân xe của hầu hết các phiên bản Panther (đặc biệt là phiên bản Ausf. D và A). Sherman mang pháo 76 mm có thể bắn xuyên được giáp trước thân xe của Tiger I ở phạm vi chiến đấu dưới 700 mét. Mặc dù sự xuất hiện của pháo 76 mm đã phần nào tăng khả năng chống tăng hiệu quả của xe tăng Mỹ, Tiger I vẫn có khả năng bắn hạ trực diện một chiếc Sherman ở khoảng cách hơn 2.000 m. Vào cuối mùa hè năm 1944, sau khi chiếm được các khu vực quanh Normandie và tiến sâu vào đất liền, các đơn vị thiết giáp Mỹ phải giao chiến với các vị trí phòng thủ của Đức ở vị trí xa hơn do môi trường tác chiến phần lớn là đồng bằng trống. Do phạm vi giao chiến của xe tăng Mỹ với xe tăng đối phương trung bình là từ 800 tới 900 mét, điều này đã khiến nhiều đơn vị phải thiệt hại lên tới 50% trước khi có thể phát hiện được ra vị trí bắn của xe tăng Đức. Các kíp lái của Sherman cũng lo ngại về việc giao chiến ở khoảng cách xa vì vạch cháy của đạn khi bắn dễ khiến chúng bị phát hiện hơn. Điều trên, cùng với chiến thuật giao chiến cơ bản của xe tăng Mỹ, đã góp phần dẫn đến những tổn thất lớn về xe tăng của Quân đội Hoa Kỳ tại Mặt trận phía Tây. Giống như chiếc xe tăng tiền nhiệm M3, Sherman là một trong những mẫu xe tăng đầu tiên trên thế giới được lắp đặt hệ thống ổn định pháo và kính ngắm bằng con quay hồi chuyển. Bộ ổn định này sẽ duy trì góc nâng của súng trong khoảng 1/8 độ, hoặc 1/1000 inch, trong khi xe chạy qua địa hình gồ ghề vừa phải với tốc độ 15 dặm/h (24 km/h). Điều này đã tăng xác suất bắn trúng mục tiên của Sherman lên đến 70% ở khoảng cách 270-1.100 mét. Dù phần lớn các nhà sử học đề cao sự hiệu quả của hệ thống ổn định này, nhiều người cho rằng hệ thống này chỉ giúp ổn định tầm quan sát của pháo thủ khi đang di chuyển. Mặc dù có nhiều loại kính ngắm khác nhau được trang bị cho Sherman, chúng có mức độ phóng đại khá thấp so với các loại kính ngắm được trang bị cho xe tăng Đức, nhưng các pháo thủ vẫn có thể sử dụng một loại kính tiềm vọng thứ cấp có trường nhìn lớn hơn nhiều so với Đức. Đạn T4 HVAP (High-Velocity Armor-Piercing, tương tự APCR) cho pháo 76 mm bắt đầu được cung cấp vào tháng 9 năm 1944. Loại đạn này lắp một đầu xuyên vonfram được bao quanh bởi một thân nhôm nhẹ và chóp chắn gió đạn đạo, giúp viên đạn có vận tốc cao hơn và tạo sức xuyên mạnh hơn. Khả năng xuyên của HVAP cho phép pháo 76 mm có thể sánh ngang với đạn APCR của pháo 7,5 cm KwK 42 trên những chiếc Panther. Tuy nhiên, hiệu suất của đạn bị giảm sút nghiêm trọng do lớp giáp nghiêng của Panther. Ngoài ra, sự khan hiếm vonfram đã khiến nguồn cung HVAP gặp nhiều vấn đề và người Mỹ sau đó đã ưu tiên HVAP cho các đơn vị pháo tự hành chống tăng. Trong số 18.000 viên đạn HVAP được cấp cho các đơn vị Sherman của Mỹ, một nửa trong số đó không tương thích pháo M1 76 mm do nhiều đầu đạn được lắp vào vỏ đạn dùng cho pháo M7 3-inch của pháo tự hành chống tăng M10. Phần lớn các xe Sherman chỉ được trang bị vài viên HVAP, một số đơn vị thậm chí không được cung cấp bất kỳ đạn HVAP nào trong suốt cuộc chiến. nhỏ|Xe tăng Sherman Firefly của Anh tại Namur, năm 1944. Trong khi đó, người Anh đã dự đoán trước được về sự phát triển của xe tăng Đức và đã nghiên cứu pháo chống tăng 3-inch (76 mm) ngay cả trước khi khẩu pháo tiền nhiệm 57 mm của nó đi vào hoạt động. Do không đạt hiệu quả và sự chậm trễ trong việc phát triển các mẫu xe tăng mới, người Anh đã lắp khẩu pháo Ordnance QF 17-pounder mạnh mẽ lên Sherman. Mẫu thiết kế này được biết đến qua cái tên Sherman Firefly. Tương tự pháo M1 của người Mỹ, pháo 17-pounder cũng có cỡ nòng 76 mm, nhưng thiết kế này sử dụng vỏ đạn lớn hơn cho phép chứa một lượng liều phóng rất lớn. Do đó, đạn 17-pounder có khả năng xuyên được lớp giáp nghiêng RHA dày tới 174 mm ở khoảng cách 100 mét và 150 mm ở khoảng cách 1.000 mét bằng đạn APCBC. Tuy nhiên, kết quả thử nghiệm của Quân đội Anh được thực hiện với hai chiếc Firefly vào một mô hình Panther cho thấy độ chính xác của pháo 17-pounder tương đối kém ở tầm xa; với xác suất trúng đích là 25,4% ở 1.500 thước Anh (1.400 m) bằng đạn APCBC và chỉ 7,4% bằng đạn APDS. Vào cuối năm 1943, người Anh đã cung cấp khẩu 17 pounder cho Quân đội Hoa Kỳ để người Mỹ có thể sử dụng trong xe tăng M4 của họ và Tướng Jacob L. Devers đã liên tục yêu cầu một buổi thử nghiệm để so sánh hiệu năng của hai khẩu pháo 17-pounder và pháo 90 mm của người Mỹ. Các cuộc thử nghiệm cuối cùng được thực hiện vào ngày 25 tháng 3 và ngày 23 tháng 5 năm 1944; kết quả cho thấy pháo 90 mm có hiệu quả ngang bằng, đôi khi tốt hơn pháo 17-pounder. Vào thời điểm đó, việc sản xuất xe tăng Sherman mang pháo 76 mm và pháo tự hành chống tăng M36 mang pháo 90 mm được Quân đội Hoa Kỳ dành nhiều sự quan tâm hơn so với pháo 17-pounder. Cuối năm 1944, người Anh bắt đầu sản xuất đạn sabot APDS với đầu xuyên vonfram cho pháo 17-pounder, loại đạn này dù có thể xuyên thủng được lớp giáp Tiger II nhưng chúng kém chính xác hơn nhiều so với các loại đạn thông thường và thường không có sẵn do nguồn cung vonfram hạn chế. Sau thiệt hại nghiêm trọng về xe tăng trong Trận Bulge, vào tháng 1 năm 1945, Tướng Eisenhower yêu cầu không triển khai thêm bất kỳ xe tăng M4 trang bị pháo 75 mm ở chiến trường Châu Âu, chỉ có xe tăng mang pháo 76 mm được yêu cầu cung cấp. Đó cũng là lúc người Mỹ bắt đầu quan tâm tới các khẩu pháo 17-pounder trên những chiếc Sherman Firefly của người Anh. Vào tháng 2 năm 1945, Quân đội Hoa Kỳ bắt đầu gửi các mẫu Sherman mang pháo 75 mm tới Anh để nâng cấp lên pháo 17-pounder. Ước tính khoảng 100 xe đã được nâng cấp tính đến tháng 5 năm 1945. Vào lúc đó, sự kết thúc của cuộc chiến ở châu Âu đã sắp tới, và Quân đội Hoa Kỳ quyết định rằng việc cung cấp loại đạn mới cho các mẫu Sherman được nâng cấp lên pháo 17-pounder là không còn cần thiết. Không có chiếc M4 mang pháo 17-pounder nào được người Mỹ đưa vào chiến trường. Học thuyết pháo tự hành chống tăng Trung tướng Lesley J. McNair, Tư lệnh Lực lượng Mặt đất Lục quân từ năm 1942 tới năm 1944, nguyên là một lính pháo binh, đã ủng hộ mạnh mẽ vai trò của lực lượng pháo tự hành chống tăng trong Quân đội Hoa Kỳ. Theo McNair, xe tăng có vai trò quan trọng trong việc mở rộng các mũi xung kích và hỗ trợ bộ binh, trong khi nhiệm vụ đánh chặn các cuộc tấn công của xe tăng đối phương phải do các đơn vị pháo tự hành chống tăng (bao gồm pháo tự hành và pháo kéo) đảm nhiệm. Các pháo tự hành chống tăng được cho là cơ động hơn, được trang bị pháo chống tăng mạnh mẽ hơn xe tăng (dù trên thực tế, các đơn vị xe tăng thường được cấp xe có pháo mạnh hơn trước các đơn vị pháo tự hành chống tăng) và có tốc độ di chuyển nhanh do các lớp giáp đã được tối giản. Học thuyết của Lực lượng Thiết giáp và Lực lượng Pháo tự hành chống tăng được phát triển riêng biệt: học thuyết của Lực lượng Thiết giáp khuyến nghị xe tăng không nên nghênh chiến với xe tăng đối phương trong quá trình phòng thủ hay tấn công, và việc đó sẽ được các đơn vị pháo tự hành chống tăng đảm nhiệm. McNair sau đó chấp thuận việc trang bị pháo 76 mm cho Sherman và việc sản xuất pháo 90 mm cho pháo tự hành chống tăng M36, nhưng ông ban đầu kiên quyết phản đối việc sản xuất hàng loạt loạt xe tăng hạng trung T20 và các mẫu phát triển tiếp theo là T25 và T26 (sau này sẽ trở thành M26 Pershing) trong giai đoạn quan trọng của năm 1943 vì chúng không đáp ứng được các tiêu chuẩn của Lực lượng Mặt đất Lục quân. Vào mùa thu năm 1943, Trung tướng Jacob L. Devers, Tư lệnh các lực lượng Hoa Kỳ tại Mặt trận Hành quân Châu Âu (ETO), đã đề nghị cấp 250 xe tăng T26 để chuẩn bị cho cuộc đổ bộ vào Pháp; McNair từ chối, cho rằng xe tăng M4 là đủ. Devers đã gửi lời kháng nghị lên Bộ Chiến tranh, và Thiếu tướng Russell L. Maxwell, Phó Tham mưu Trưởng Cục Hậu cần (G-4), thuộc Bộ Tổng tham mưu Bộ Chiến tranh, đã ra lệnh chế tạo 250 xe tăng vào tháng 12 năm 1943. McNair sau đó rút lại lời phản đối, những vẫn kiên quyết từ chối việc sản xuất hàng loạt; thậm chí, Lực lượng Mặt đất Lục quân của ông thậm chí còn yêu cầu "cắt giảm" từ pháo 90 mm xuống 75 hoặc 76 mm vào tháng 4 năm 1944, tin rằng pháo 76 mm đã đủ đáp ứng các yêu cầu của họ. Đại tướng George C. Marshall, Tham mưu trưởng Lục quân Hoa Kỳ, sau đó đã ra lệnh cung cấp xe tăng cho ETO càng sớm càng tốt. Ngay sau khi cuộc đổ bộ vào Normandie được tiến hành, Tướng Dwight D. Eisenhower đã yêu cầu cung cấp khẩn cấp xe tăng hạng nặng, nhưng McNair tiếp tục phản đối việc sản xuất hàng loạt do các vấn đề cơ học nghiêm trọng liên tục xảy ra với phương tiện này đã khiến việc cung cấp của họ bị trì hoãn. Trong cùng tháng, Bộ chiến tranh đã "vượt quyền" quyết định của Bộ chỉ huy Lực lượng Mặt đất Lục quân khi tự lập ra kế hoạch sản xuất xe tăng đến năm 1945. Theo Bộ chiến tranh, sẽ có 7.800 xe tăng được đưa vào hoạt động tính đến năm 1945, trong đó có 2.600 xe tăng T26, được trang bị pháo 105 mm và 3.000 xe tăng M4A3 Sherman được trang bị pháo 105 mm; và người Anh yêu cầu cung cấp 750 xe tăng T26 trang bị pháo 90 mm và 200 xe tăng T26 trang bị pháo 105 mm. Sau khi Trung tướng McNair thiệt mạng trong một cuộc không kích vào tháng 7 năm 1944, việc sản xuất T26 phần nào trở nên dễ dàng hơn. Sau sự can thiệp của Tướng Marshall, những mẫu xe tăng T26 bắt đầu được đưa vào sản xuất. Tuy nhiên, chỉ có một vài chiếc T26 (sau được mang định danh M26) được tham chiến vào tháng 2 năm 1945, quá muộn để có thể tạo được một ảnh hưởng tới cục diện của cuộc chiến. Đạn dược Ngoài các loại đạn chống tăng và nổ mạnh tiêu chuẩn, Sherman mang pháo 75 mm còn được trang bị một loại đạn chống bộ binh là Canister (đạn này không có thuốc nổ, chỉ có các mũi tên hay các đinh loại nhỏ, các vật nhọn để sát thương lên người), có thể hoạt động như một viên đạn shotgun cỡ lớn. Trong các cuộc giao chiến tầm gần tại vùng nông thôn nhiều lùm cây ở Normandie, Pháp, các xe tăng Sherman của Sư đoàn Thiết giáp số 2 đã dùng hệ thống dọn đường CHC (Culin Hedgerow Cutters), để tiến quân qua các rặng cây dày đặc. Các xe tăng ở hai bên sườn sẽ nạp đạn Canister và bắn vào hai bên rặng cây, trong khi ở giữa sẽ tấn công vào các vị trí đã biết của đối phương hoặc các vị trí được nghi ngờ ở những rặng cây tiếp theo. Cách tiến quân này đã giúp quân Mỹ tiến quân nhanh chóng qua các khu vực được đánh giá là cứng và được bảo vệ chặt chẽ tại Normandie. Pháo 75 mm còn sử dụng đạn phốt pho trắng (WP - "Willie Pete"), ban đầu được dùng để đánh dấu các mục tiêu cho pháo binh bắn phá. Các kíp lái của M4 sau đó phát hiện ra loại đạn này cũng có thể được dùng để bắn hạ các xe tăng địch một cách hiệu quả như Tiger và Panther - khi phốt pho trắng cháy bám vào xe tăng Đức, hệ thống kính ngắm quang học của chúng sẽ bị mù và khói chát sẽ bị hút vào bên trong xe, khiến kíp lái bị ngạt thở. Điều này, cùng với những mối lo ngại về việc kho trữ đạn bị bắt lửa và gây nguy cơ nổ xe, đã khiến nhiều kíp lái Đức phải bỏ xe tăng của họ để rút lui. Từ giữa tháng 12 năm 1944, những mẫu xe M4 được trang bị lựu pháo 105 mm bắt đầu được biên chế vào các đơn vị thiết giáp. Mỗi tiểu đoàn thiết giáp tiêu chuẩn sẽ có sáu xe tăng Sherman 105 mm, gồm ba xe biên chế vào đại đội chỉ huy (HQ) và ba xe chia đều cho ba đại đội thiết giáp trong tiểu đoàn, để tăng cường hỗ trợ hỏa lực và đảm nhiệm việc bắn khói bảo vệ tùy theo nhiệm vụ. Các tiểu đoàn bộ binh thiết giáp sau cũng được cung cấp ba xe Sherman mang pháo 105 mm cho đại đội HQ. Pháo 105 mm của Sherman được trang bị đạn M76 HEAT, dù hiệu quả nhưng sơ tốc đầu nòng thấp khiến việc bắn trúng xe tăng địch là khá khó khăn. Những chiếc Sherman mang pháo 105 mm không được lắp đặt hệ thống quay tháp pháo bằng điện, và dù có nhiều kíp lái phàn nàn về điều này, quân đội vẫn không có kế hoạch nâng cấp tới khi chiến tranh kết thúc. Giáp Tháp pháo nhỏ|Mẫu tháp pháo 75 mm đời đầu của Sherman, với duy nhất một cửa sập ở trên nóc tháp pháo. Ngoài ra, còn có một lớp giáp hình chữ nhật được hàn thêm vào thân xe để tăng khả năng bảo vệ khu vực trữ đạn bên trong xe. Giáp của tháp mang pháo 75 mm và lựu pháo 105 mm có độ dày từ 25,4 mm đến 76,2 mm. Mặt trước của tháp pháo dày 76,2 mm, và do có góc nghiêng 30 độ, độ dày hiệu quả của mặt trước tháp pháo lên tới 87,9 mm. Khu vực lắp pháo ở mặt trước tháp được bao bọc bởi một lớp giáp cong dày 50,8 mm. Những mẫu Sherman đời đầu có lắp đặt hệ thống kính tiềm vọng cho pháo chính ở trên nóc tháp pháo, nhô ra ở khu vực giáp dày 76,2 mm, nằm bên trên lớp giáp cong dày 50,8 mm dùng để bọc khu đặt pháo chính. Khẩu súng máy đồng trục, do được đặt ở vị trí khá lộ liễu và dễ bị vô hiệu hóa bởi các loại đạn thông thường hoặc mảnh văng, nên một lớp giáp nhỏ đã được thiết kế để bảo vệ khẩu súng. Khi các mẫu Sherman có hệ thống kính ngắm quang học được lắp đặt bên cạnh pháo chính, lớp giáp 76,2 mm đã được thiết kế rộng hơn để có thể bao trùm toàn bộ tấm chắn bảo vệ rotor bên trong, bao gồm kính ngắm và khẩu súng máy đồng trục. Tuy nhiên, Sherman mang pháo 105 mm không được lắp đặt tấm chắn bảo vệ rotor bên trong này. Giáp ở hai bên sườn tháp pháo dày 50,8 mm và có góc nghiêng năm độ. Giáp sau của tháp pháo dày 50,8 mm, giáp ở nóc tháp pháo dày 25,4 mm và được thiết kế theo góc thẳng. Các phiên bản xe tiếp theo như M4A1, M4A2 và M4A3 được lắp đặt hệ thống tháp pháo T80 (lấy từ thiết kế xe tăng T23) và được lắp đặt khẩu pháo 76 mm đời mới. Tháp pháo này có độ dày 63,5 mm ở hai bên sườn và phía sau tháp pháo, có góc nghiêng 0-13 độ. Giáp bọc nóc tháp pháo dày 25,4 mm và có góc nghiêng 0-45 độ. Mặt trước của tháp pháo T80, tương tự như Sherman mang pháo 105 mm, không lắp đặt tấm chắn bảo vệ rotor và được bảo vệ bởi một lớp giáp cong dày 88.9 mm. Dựa trên những kinh nghiệm thực chiến thu được từ các kíp lái ở Châu Phi rằng một cửa sập đơn lắp trên tháp pháo 75 mm không đủ để ba người (trưởng xe, pháo thủ, nạp đạn viên) có thể thoát ra nhanh chóng, nên từ đầu năm 1943, Cục Quân khí đã cho bổ sung thêm một của sập nữa bên cạnh cửa sập của trưởng xe, bên trên vị trí tác chiến của nạp đạn viện. Tất cả các tháp pháo 76 mm sau đó đều được thiết kế với hai cửa sập trên nóc. Thân xe Tấm giáp trước thân xe của Sherman có độ dày ban đầu là 50,8 mm và do có góc nghiêng 56 độ, nên độ dày hiệu quả của mặt trước lên đến 90,8 mm. Những phiên bản đầu của M4, M4A1, M4A2 và M4A3 có hệ thống cửa sập lắp nhô ra, cho phép người lái xe và phụ lái có thể ngồi vừa vặn và thoải mái trong xe. Do tính năng này nên lớp giáp trước thân xe đã bị ảnh hưởng đáng kể. Điều này đã được khắc phục ở các phiên bản sau của Sherman, khi các kỹ sư đã nâng cấp lớp giáp trước thân xe có độ dày lên đến 63,5 mm và nghiêng 47 độ, tạo ra một độ dày hiệu quả trên toàn bộ lớp giáp trước thân xe là 93,1 mm. Thiết kế này đã cải thiện khả năng chống đạn tổng thể nhờ việc loại bỏ các hệ thống cửa sập nhô ra phía trước mũi xe, thay thế bằng hệ thống cửa sập lớn hơn và hiệu quả hơn cho lái xe và phụ lái. Phần lớn các xe tăng Sherman phiên bản M4A1 vẫn giữ nguyên thiết kế cửa sập ban đầu, ngay cả sau khi hệ thống cửa sập mới được áp dụng cho các phiên bản Sherman khác nhau. Vỏ hộp số được thiết kế theo dạng hình cầu, được tạo ra bằng ba lớp thép được đính lại với nhau để tạo thành một khối hoàn chỉnh. Nó có độ dày từ 50,8 – 108 mm, hai bên thân trên và dưới dày 38 mm và theo chiều thẳng đứng, trong khi phần thân trên phía sau cũng dày 38 mm, thẳng đứng hoặc nghiêng 10 độ so với phương thẳng đứng. Phần thân sau phía dưới, được thiết kế để bảo vệ động cơ, dày 38 mm, nghiêng từ 0 - 22 độ so với phương thẳng đứng tùy thuộc vào biến thể. Phần mái của thân xe dày 25,4 mm. Lớp sàn của thân xe dày từ 25,4 mm ở vị trí lái xe và phụ lái, đến 12,7 mm ở khu vực phía sau. Các phiên bản M4 còn có một cửa sập ở dưới sàn để có thể vứt bỏ các vỏ đạn đã qua sử dụng và được sử dụng như cửa thoát hiểm khẩn cấp. Ở chiến trường Thái Bình Dương, các đơn vị thiết giáp Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đã sử dụng các cửa sập này để giải cứu những thương binh ở trên chiến trường. Tính hiệu quả Hệ thống giáp của Sherman có hiệu quả cao khi chống lại được hầu hết các loại xe tăng và pháo chống tăng của Đức trong giai đoạn đầu của cuộc chiến, nhưng cần phải tạo một số góc nghiêng nhất định để có thể chống lại được thế hệ xe tăng và pháo đời sau của Đức. Hệ thống cửa sập nhô ra ở các phiên bản Sherman đời đầu đã làm suy giảm nghiêm trọng khả năng chống đạn hiệu quả của lớp giáp trước, biến chúng thành điểm yếu do làm giảm góc nghiêng ở giáp trước một cách đáng kể. Vào năm 1943, để tăng cường khả năng bảo vệ hiệu quả tại các khu vực cửa sập này, một lớp kim loại gồm nhiều miếng nhỏ dày 25 mm đã được lắp đặt ở phía trước cửa sập. Các báo cáo của Waffenamt-Prüfwesen 1 (Cơ quan Nghiên cứu và Phát triển Vũ khí Đức Quốc Xã) cho rằng, khi một chiếc Sherman ở chéo góc 30 độ, pháo 8,8 cm KwK 36 L/56 của Tiger I có khả năng xuyên thủng vỏ giáp phía trước của M4 Sherman từ cự ly 2.100 m và mặt trước tháp pháo từ 1.800 m, nhưng sẽ không xuyên thủng mặt trước phía trên thân xe ở bất kỳ phạm vi nào, và pháo 7,5 cm KwK 42 L/70 của Panther phải thu hẹp khoảng cách xuống còn 100 m để có thể bắn xuyên được vị trí đó trong cùng tình huống. Tuy nhiên, các tài liệu khác của Đức cho rằng các lớp giáp trước thân xe của Sherman có thể bị pháo của Tiger I bắn thủng ở cự ly 800 mét. Theo ước tính, Tiger I có thể bắn xuyên thủng hầu hết các lớp giáp của Sherman ở phạm vi hai km hoặc cao hơn, vượt xa khoảng cách Tiger I có thể bị Sherman bắn hạ. Mặc dù các mẫu xe tăng hạng trung và hạng nặng của Đức ở giai đoạn cuối chiến tranh được đánh giá là khá đáng sợ, nhà sử học John Buckley cho rằng "Phần lớn các xe tăng Đức có mặt ở Normandie chỉ kém hơn hoặc chỉ ngang bằng với Sherman." (các loại Panzer III và Panzer IV) Nghiên cứu về thiệt hại xe tăng ở Normandie từ ngày 6 tháng 6 tới ngày 10 tháng 7 năm 1944 do Bộ phận Nghiên cứu Tác chiến số 2 của Anh thực hiện đã kết luận rằng, cứ 40 xe tăng Sherman thì có 33 xe bị cháy (82%) và bảy xe tăng không bị cháy, theo tỷ lệ bị đạn bắn xuyên giáp là 1,89. Trong khi đó, cứ năm chiếc Panzer IV thì có bốn xe bị cháy và một xe không bị cháy, theo tỷ lệ bị đạn bắn xuyên giáp là 1,5. Trong 22 xe tăng Panther thì có 14 xe bị cháy (63%) theo tỷ lệ bị đạn bắn xuyên giáp là 3,24, trong khi Tiger I bị cháy bốn xe trong tổng số năm xe theo tỷ lệ bị đạn bắn xuyên giáp là 3,25. Nhà sử học John Buckley, sau khi tìm hiểu các báo cáo của Lữ đoàn Thiết giáp số 8 và 29 của Anh, đã phát hiện ra rằng trong tổng số 166 xe tăng Sherman của hai lữ đoàn bị bắn hạ tại Normandie, 94 xe bị bắn cháy (56,6%), trong khi tỷ lệ Sherman bị bắn cháy của Mỹ là 65%. Nghiên cứu của Quân đội Hoa Kỳ đã chứng minh rằng lý do chính của điều này là do các khay trữ đạn được lắp đặt tại các vị trí khá "lộ liễu" trong Sherman. Một nghiên cứu của Quân đội Hoa Kỳ vào năm 1945 kết luận rằng chỉ có 10–15% xe tăng Sherman trang bị kho trữ đạn ướt bị cháy sau khi bị đạn bắn xuyên giáp, so với 60–80% Shermans mang kho trữ đạn khô cũ hơn. Vì một chiếc xe tăng bị cháy không thể phục hồi được, nên các kíp lái xe được chỉ đinh là tiếp tục bắn vào một chiếc xe tăng cho đến khi nó cháy. Lúc đầu, người Mỹ có một giải pháp khắc phục một phần hỏa hoạn tại kho trữ đạn đạn trên M4 được áp dụng vào năm 1943, bằng cách hàn các tấm giáp giáp dày 25 mm vào các mặt của các thùng chứa đạn, mặc dù có nghi ngờ rằng những tấm giáp này không có tác dụng gì. Kho đạn tại các phiên bản Sherman mới đựoc chuyển xuống bên dưới sàn xe, với hệ thống túi nước bao quanh mỗi thùng chứa. Với định danh là "kho trữ đạn ướt", việc này đã làm giảm khả năng xe bị cháy sau khi bị trúng đạn xuống còn 15%. Do thiết kế của các mẫu xe tăng Sherman đời đầu không mang gác đạn ướt, Sherman đã nhận được nhiều biệt danh nghiệt ngã như Zippo (tên một loại bật lửa) hoặc Ronson (bởi "nó sáng ngay trong lần đầu tiên, lần nào cũng vậy"). Tuy nhiên các biệt danh này sau đó được phát hiện là được đặt bởi các nhà sử học sau chiến tranh và không có báo cáo hay lời kể nào xác nhận biệt danh này. Lính Đức gọi Sherman là “Tommy Cooker”, nghĩa là “nồi nấu lính Anh” do các mẫu xe tăng Sherman đời đầu được trang bị cho người Anh ở Bắc Phi, ngoài việc không có hệ thống gác đạn ướt, các kíp lái người Anh thường có thói quen chất càng nhiều đạn càng tốt vào xe tăng, khiến nhiều xe tăng bị cháy sau khi bị bắn trúng. Khi các mẫu Sherman trang bị gác đạn ướt được biên chế một cách đại trà, tình trạng nổ xe sau khi trúng kho đạn đã giảm đáng kể. Theo báo cáo của Quân đội Hoa Kỳ sau Thế chiến II, tỷ lệ Sherman của Anh, Mỹ và Canada bị bắn cháy tại Mặt trận phía Tây là 61,4 %, giảm hơn 20% so với tỷ lệ Sherman bị bắn cháy ở Bắc Phi và Sicily. Tỷ lệ sửa chữa xe và tái sử dụng của Sherman cũng cao hơn, khi hơn 50% xe Sherman bị xe tăng Đức bắn trúng có thể sửa chữa và quay trở lại chiến trường. Nâng cấp khả năng bảo vệ Tại chiến trường, các kíp lái Sherman đã sử dụng nhiều loại vật liệu khác nhau để đắp lên Sherman, nhằm tăng khả năng chịu đựng đạn của xe như bao cát, bánh xích xe, bê tông, lưới thép hoặc thâm chí cả gỗ. Mặc dù việc đắp bao cát lên xe không có tác dụng chống lại hỏa lực chống tăng bắn đạn sơ tốc cao, nó được đánh giá là hiệu quả khi có thể chống lại được các vũ khi trang bị đạn HEAT, chủ yếu là từ Panzerfaust và Panzerschreck. Trong một nghiên cứu duy nhất được biết đến là đã thực hiện để kiểm tra tính hiệu quả của bao cát, vào ngày 9 tháng 3 năm 1945, các sĩ quan của Quân đoàn Thiết giáp số 1 Hoa Kỳ đã sử dụng các mẫu Panzerfaust 60 tiêu chuẩn để thử nghiệm trên những chiếc Sherman được đắp bao cát. Những phát bắn vào bên hông xe đã thổi bay tất cả bao cát và xuyên thẳng vào trong xe, trong khi những phát bắn vào lớp giáp trước chỉ thổi bay được một số bao cát, nhưng không xuyên thủng lớp giáp. Trước đó, vào hè năm 1944, Trung tướng George Patton, sau khi được các sĩ quan cố vấn báo rằng việc đắp thêm bao cát không hề tăng khả năng chịu đạn của xe, thậm chí còn khiến xe nặng hơn, đã cấm các kíp lái sử dụng bao cát. Sau khi chứng kiết những thiệt hại nặng nề của xe tăng Đồng Minh tại Trận Bulge, Patton đã cho các kíp lái sử dụng những tấm thép được cắt ra từ xác xe tăng Mỹ và Đức bị bắn hạ và hàn vào xe tăng của họ. Khoảng 36 xe tăng áp dụng kiểu nâng cấp này được cung cấp cho mỗi sư đoàn thiết giáp, trong số ba sư đoàn thiết giáp của Tập đoàn quân số 3 trong mùa xuân năm 1945. M4A3E2 Phiên bản Sherman M4A3E2 "Jumbo", dựa trên mẫu Sherman M4A3(75)W, được lắp đặt thêm một tấm giáp dày 38 mm ở mặt giáp nghiêng phía trước của xe, tăng độ dày tiêu chuẩn của xe lên 101,6 mm và độ dày hiệu quả của xe đạt hơn 180 mm. Các lớp giáp bên được hàn thêm miếng giáp dày 38 mm, tăng độ dày hai bên xe lên 76 mm. Chúng được lắp đặt tháp pháo T23 kiểu mới, lớn hơn với lớp giáp dày 177,8 mm ở các bên và trần tháp pháo dày 25,4 mm. Bệ súng được lắp thêm một lớp giáp dày 88,9 mm, nâng tổng độ dày lên 177,8 mm. Ban đầu, "Jumbo" được trang bị pháo 76 mm, nhưng những khẩu 75 mm được các kíp lái ưa chuộng hơn do tính hiệu quả trong việc hỗ trợ bộ binh. Việc bổ sung giáp vào xe đã khiến trọng lượng xe tăng lên đáng kể, và khiến tốc độ tối đa của xe giảm xuống còn 22 dặm/giờ. 254 chiếc Sherman "Jumbo" đựoc chế tạo tại Cục Thiết giáp Fisher từ tháng 5 tới tháng 7 năm 1944, và được chuyển đến cho các đơn vị xe tăng Mỹ ở Châu Âu vào mùa thu năm 1944. "Jumbo" được đánh giá là "thành công lớn" và được sử dụng rộng rãi với nhiều vai trò khác nhau đến khi chiến tranh kết thúc. Tính cơ động Trong quá trình phát triển M4 Sherman để thay thế cho xe tăng M3, Quân đội Hoa Kỳ đã điều chỉnh toàn bộ thông số kỹ thuật về chiều cao, chiều rộng và trọng lượng của Sherman để nó có thể được vận chuyển qua các cây cầu, đường bộ, đường sắt, tàu đổ bộ thông thường mà không cần đưa ra những quy định đặc biệt về không gian chứa. Điều luật 850-15 của Quân đội Hoa Kỳ ban đầu giới hạn chiều rộng của xe tăng là 103 inch và trọng lượng tối đa là 30 tấn. Việc này sẽ cải thiện sự linh hoạt về mặt chiến lược, hậu cần và chiến thuật, cũng như khả năng cơ động của tấn cả các đơn vị thiết giáp được biên chế xe tăng Sherman. Một cuộc thử nghiệm chạy đường dài sau đó được tiến hành ở Anh vào năm 1943 để so sánh sự hiệu quả giữa động cơ diesel của Sherman, động cơ Rolls-Royce Meteor của Cromwell và động cơ Liberty L-12 của Centaur. Sĩ quan người Anh chịu trách nhiệm cuộc thử nghiệm đã đưa ra kết luận:Sherman có tốc độ tốt ở cả trên đường và ngoài đường, Hiệu suất di chuyển trên các địa hình không phải là đường khá đa dạng. Trên sa mạc, các dây xích cao su của Sherman hoạt động hiệu quả, trong khi ở địa hình đồi núi như của Ý, sự nhỏ nhẹn của Sherman giúp chúng vượt qua được những khu vược mà một số loại xe tăng của Đức không thể đi qua. Albert Speer đã ghi lại trong cuốn tự truyện "Inside the Third Reich" của ông rằng:Tuy nhiên, mặc dù điều này có thể đúng so với các xe tăng Đức thế hệ đầu tiên, chẳng hạn như Panzer III và Panzer IV, thử nghiệm so sánh với các xe tăng Đức thế hệ thứ hai (Panther và Tiger) do quân đội Đức tiến hành tại Kummersdorf, cũng như thử nghiệm của Sư đoàn Thiết giáp số 2 của người Mỹ, đã chứng minh ngược lại. Các loại xích xe ban đầu của Sherman có chiều rộng là 16,5 inch, đồng nghĩa với việc áp lực tạo lên mặt đất sẽ là 14 lbf/in2. Các kíp lái của Mỹ phát hiện ra rằng trên nền đất yếu, các dây xích xe của Sherman thường tạo áp lực lên mặt đất kém hơn so với Panther và Tiger. Do có hệ thống xích rộng hơn và thiết kế bánh xe đan xe và chồng vào nhau (Schachtellaufwerk), Panther và Tiger có khả năng cơ động tốt hơn trên nền đất yếu vì chúng tạo ra sức nổi lớn hơn (hay áp suất lên bề mặt đất thấp hơn). Trung tá Wilson M. Hawkins thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 2 Hoa Kỳ đã ghi lại trong một báo cáo gửi lên Sở chỉ huy Đồng Minh:Điều này đã được minh chứng trong một cuộc phỏng vấn với Trung sĩ Kỹ thuật Willard D. May thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 2 Hoa Kỳ, người đã nhận xét rằng: "Tôi đã tham gia các cuộc thử nghiệm với xe tăng Mark V (Panther) và nhận thấy, thứ nhất, chúng có khả năng cơ động tốt như Sherman, thứ hai, chúng có sức nổi tốt hơn Sherman. Trung sĩ Charles A. Carden, chỉ huy một trung đội xe tăng của Sư đoàn Thiết giáp số 2 đã báo cáo:Quân đội Hoa Kỳ sau đó đã tạo ra những miếng mở rộng xích xe - duckbill, để mở rộng xích xe như một giải pháp tạm thời. Duckbill bắt đầu được cấp cho các tiểu đoàn xe tăng ở tiền tuyến vào mùa thu năm 1944 nhưng phần lớn là mẫu được thiết kế cho xe tăng M4A3E2 "Jumbo", vốn được thiết kế để chịu sức nặng của Jumbo sau khi lắp thêm giáp. Việc này đã được khắc phục trên phiên bản M4A3(76)W HVSS Sherman và các mẫu xe đời cuối khác, nhưng chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ trong số xe tăng Sherman được đưa vào sử dụng đến năm 1945. Lịch sử họat động Chuyển giao cho quân đội các nước khác Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, gần 19.247 chiếc Sherman đã được chuyển giao cho lục quân Mỹ và khoảng 1.114 chiếc được chuyển cho lực lượng Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ. Người Mỹ còn chuyển giao cho quân đội Anh 17.184 chiếc, 4.102 chiếc cho Liên Xô, và ước tính 812 chiếc được chuyển cho Trung Quốc. Số tăng được chuyển đi theo như hiệp ước trao đổi giữa khối Đồng Minh chống phát xít. Lực lượng Thủy quân Lục chiến đã sử dụng phiên bản Sherman M4A2 (sử dụng động cơ diesel) và M4A3 (sử dụng động cơ gas) tại Mặt trận Thái Bình Dương. Tuy nhiên, Trung tướng Jacob L. Devers, Tham mưu trưởng Lực lượng Thiết giáp của Lục quân Hoa Kỳ, không cho phép lực lượng Lục quân sử dụng các phiên bản tăng có động cơ đốt bằng nguyên liệu diesel sẽ được sử dụng ở ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ. Sau đó M4A2 và M4A4 trở thành hai loại tăng được xuất qua các nước khác nhiều nhất thông qua Chương trình Lend-Lease. Lần thực chiến đầu tiên Sherman ban đầu chỉ được sản xuất với số lượng nhỏ để các sư đoàn thiếp giáp có thể huấn luyện và làm quen với xe trước. Tình hình ở Mặt trận Bắc Phi trở nên nguy cấp khi Rommel đã chiếm được Tobruk và đang tiến về Ai Cập, có thể gây những mối đe dọa tới các tuyến tiếp tế của Anh ở Kênh đào Suez. Bộ quốc phòng Mỹ quyết định tập hợp toàn bộ số Sherman lại với nhau và điều vào Sư đoàn Thiếp giáp số 2 của Thiếu tướng George Patton để tiếp viện quân Anh tại Ai Cập. Nhưng việc chuyển giao Sherman trực tiếp cho quân đội Anh diễn ra nhanh hơn và hơn 300 chiếc Sherman - chủ yếu là phiên bản M4A1 và một số lượng nhỏ M4A2, đã được đưa đến Ai Cập vào tháng 9 năm 1942. Những chiếc Sherman được chuyển đến Bắc Phi được sửa đổi để phù hợp với môi trường sa mạc, bao gồm miếng chắn cát lắp trên bánh xích và bổ sung thêm ngăn chứa thứ hai. Sherman tham chiến lần đầu tiên tham chiến trong Trận El Alamein lần hai vào tháng 10 năm 1942 trong biên chế của Tập đoàn quân số 8 Anh. Tổng cộng có 252 chiếc Sherman được huy động vào trận đánh này và chúng được biên chế cho Lữ đoàn Thiết giáp số 9 Anh (thuộc Sư đoàn Bộ binh số 2 New Zealand), Lữ đoàn Thiết giáp số 2 (thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 1 Anh), và Lữ đoàn Thiết giáp 8 và 20 (thuộc Sư đoàn Thiết giáp số 10 Anh). Đối thủ đầu tiên của những chiếc Sherman là các xe tăng Panzer III và Panzer IV của Đức. Trận đánh kết thúc với sự thắng lợi của người Anh. Chiếc Sherman của lực lượng Mỹ, chủ yếu là các phiên bản M4 và M4A1, được thực chiến lần đầu tiên trong Chiến dịch Torch, một tháng sau Trận El Alamein lần hai. Sherman sau đó cũng được cung cấp để thay thế cho các đơn vị Mỹ đang vận hành xe tăng M3 tại Bắc Phi. Mặt trận phía Tây M4 Sherman là một trong những xe tăng xung kích chủ chốt của các đơn vị thiết giáp Đồng Minh tại Mặt trận phía Tây. Tuy nhiên, tại thời điểm diễn ra Chiến dịch Overlord, người Mỹ chỉ điều động phần lớn Sherman mang pháo 75 mm được đưa vào chiến trường, và các đơn vị thiết giáp Anh được trang bị thêm Sherman Firefly, với pháo chống tăng 17-pounder mạnh mẽ. Nên khi đối đầu với đối thủ thiết giáp mới từ Đức là Panther và Tiger I, Sherman mang pháo 75 mm tỏ ra thua kém hơn hẳn. Pháo chính 88 mm L/56 có sức xuyên giáp mạnh hơn Sherman khá nhiều, lớp giáp trước tháp pháo dày đến gần 120 mm của nó không thể bị xuyên thủng bởi pháo chính 75 mm của Sherman. Tuy nhiên, nếu có kíp chiến đấu dày dặn kinh nghiệm tận dụng được độ linh động của xe, Sherman vẫn có thể hạ gục được Tiger I (bằng cách bắn vào hông xe) nhưng với một mức thiệt hại cao. Về đối thủ Panzer IV, pháo chính của Panzer-IV cũng đã được nâng cấp thành pháo 75 mm L/48, lớp giáp bọc dày 80 mm của nó cũng khiến cho pháo chính của Sherman trở nên kém hiệu quả. Số lượng xe tăng Panther và Tiger chỉ chiếm khoảng 126 chiếc trong tổng số 2.300 xe tăng Đức được triển khai ở Normandie; số còn lại là Panzer IV, Sturmgeschütz III và các loại xe tăng khác mà pháo 75 mm của Sherman có thể bắn xuyên được. Tầm quan trọng của thành phố Caen, cùng với các chiến dịch của Thống chế Montgomery, đã cầm chân các đơn vị thiết giáp Đức ở trước phòng tuyến quân đội Anh để các đơn vị của Mỹ có thể tiến công về phía tây, đồng nghĩa với việc các đơn vị Anh và Khối Thịnh vượng chung đang phải đối mặt với hơn 70% lực lượng thiết giáp Đức được triển khai tại Normandie, cũng như hơn một nửa số đơn vị thiết giáp của Waffen-SS. Do đó, Sherman Firefly có lẽ là chiếc xe tăng được các chỉ huy của Khối Thịnh vượng chung Anh và các nước khác đánh giá cao nhất, vì nó là chiếc xe tăng duy nhất trong Quân đội Anh có thể xuyên thủng lớp giáp trước của Panther và Tiger một cách đáng hiệu quả ở phạm vi chiến đấu tiêu chuẩn ở Normandie. Vào tháng 7 năm 1944, phiên bản Sherman mới với pháo chính 76 mm L/55 là M4A1, tiếp sau đó là M4A3. Từ sau năm 1944 đến cuối cuộc chiến, hơn nửa số Sherman mà Mỹ huy động tham chiến đều có pháo chính 76 mm. Chiếc Sherman mang pháo 76 mm chính thức đầu tiên tham chiến là Sherman M4A3(76)W HVSS "Easy Eight", đưa vào hoạt động vào tháng 12 năm 1944. Mặt trận phía Đông Trong Thế chiến 2, Mỹ đã viện trợ cho Liên Xô khoảng 4.100 xe tăng M4A2 Sherman theo Chương trình Lend-Lease, bao gồm 2.007 chiếc mang pháo 75mm và 2.095 chiếc mang pháo 76mm hiệu quả hơn. Số lượng xe tăng Sherman được chuyển giao cho Liên Xô chiếm 18,6% tổng số xe tăng Sherman trong diện Lend-Lease. Chiếc M4A2 Sherman mang pháo 76 mm đầu tiên được chuyển giao cho Liên Xô vào cuối hè năm 1944. Những mẫu M4A2 đầu tiên được Hồng quân Liên Xô coi là thiếu tin cậy do vị trí gác đạn của chúng được lắp theo cách truyền thống khiến hầm đạn dễ bị bắn trúng khi giao chiến với quân Đức. Vấn đề này sau đó được khắc phục bằng cách thay đổi thiết kế tạo gác đạn ướt và chuyển xuống dưới gầm xe để đạn làm giảm khả năng nổ hầm đạn. Ở khí hậu lạnh khắc nghiệt (dưới âm 40 độ C), M4 không thể hoạt động được do nhiên liệu bị đóng băng, còn T-34 thì không gặp vấn đề này vì được trang bị hệ thống làm ấm nhiên liệu. Ngoài ra, M4 thường không được trang bị đạn xuyên giáp cao cấp HVAP (hay APCR theo cách gọi của người Nga). Ở thời điểm đầu năm 1944, quân đội Mỹ chỉ có thể cố gắng trang bị cho mỗi xe tăng Sherman của họ một viên đạn HVAP, đến tháng 12 năm 1944 thì con số nâng lên chỉ khoảng hai viên HVAP mỗi xe. Nguyên nhân chủ yếu là do người Mỹ gặp vấn đề nghiêm trọng về nguồn cung quặng vonfram, do đó tổng cộng chỉ có gần 9.000 quả đạn HVAP được Mỹ sản xuất dành cho pháo 76 mm M1 của Sherman. Trong khi đó, mỗi chiếc T-34/85 thường được trang bị tới 5-6 viên đạn APCR mỗi xe. Đến năm 1945, một số đơn vị thiết giáp của Hồng quân được trang bị hầu hết là xe Sherman. Các đơn vị như vậy bao gồm Quân đoàn Cơ giới Cận Vệ số 1, Quân đoàn Cơ giới Cận Vệ số 3 và Quân đoàn Cơ giới Cận Vệ số 9, và một số đơn vị khác. Sherman được nhiều đội xe tăng Liên Xô đánh giá tích cực về độ tin cậy, dễ bảo trì và hỏa lực tốt (đặc biệt là phiên bản mang pháo 76 mm), cũng như bộ nguồn phụ (APU) để sạc điện của xe tăng mà không cần phải chạy động cơ chính như trên T-34. Tuy nhiên, theo các tổ lái xe tăng Liên Xô, Sherman có một số nhược điểm và điểm yếu lớn nhất của nó là trọng tâm cao, khiến xe tăng dễ lật nghiêng và dễ bị đối phương bắn trúng hơn. Bánh xích tương đối hẹp của Sherman phải vật lộn để vượt qua địa hình lầy lội so với bánh xích rộng hơn của T-34 hoặc xe tăng Panther của Đức. Theo Anh hùng Liên bang Xô viết, Đại tá Dmitry Loza - Chỉ huy Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn Xe tăng Cận vệ 46 trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, sau này nhận xét về xe tăng Sherman: "...Chúng tôi gọi chúng là 'Emchas (M4 theo tiếng Nga). Ban đầu chúng được trang bị pháo chính ngắn, các phiên bản sau có pháo dài hơn và được lắp loa bù giật (muzzle brake). Ở mặt giáp phía trước có một chốt khóa để cố định pháo khi chúng tôi hành quân. Pháo chính khá dài. Nhìn chung, đây là một xe tăng tốt, nhưng như bất kỳ xe tăng khác, nó đều có những điểm cộng và điểm trừ. Khi có người nói với tôi rằng đây là một xe tăng kém, tôi trả lời: 'Xin lỗi! Không thể nói đó là xe tăng kém khi chỉ dựa trên ý kiến của một người. Kém so với cái gì?.." Mặt trận Châu Á - Thái Bình Dương Ở mặt trận châu Âu - nơi diễn ra các cuộc giao chiến với xe tăng của Đức Quốc xã một cách thường xuyên hơn, Mỹ bắt buộc phải huy động phần lớn lực lượng Sherman vào Châu Âu. Trong khi ở Mặt trận Thái Bình Dương, nơi phần lớn diễn ra các cuộc đấu pháo giữa các đơn vị tàu chiến, việc đấu tăng chỉ là thứ yếu, nên chỉ có một số lượng nhỏ Sherman được điều đến mặt trận Thái Bình Dương (nhằm tiếp tế cho cả lực lượng Đồng Minh tại đây). Trong số hơn 16 sư đoàn thiết giáp và 70 tiểu đoàn tăng độc lập của Quân đội Hoa Kỳ, chỉ có khoảng một phần ba tiểu đoàn tăng được điều động đến chiến đấu tại Thái Bình Dương. Trong khi đó, Quân đội Nhật chỉ điều động duy nhất Sư đoàn Thiết giáp số 2 của họ hoạt động trong toàn bộ cuộc chiến. Vì địa hình ở các đảo châu Á - Thái Bình Dương chủ yếu là rừng già, cao nguyên, núi cao hiểm trở với khí hậu ẩm ướt và chỉ thích hợp để bộ binh chiến đấu với nhau nên việc sử dụng xe tăng tại đây là không phù hợp. Do đó, các chỉ huy hai bên đều nhận định triển khai các loại xe tăng hạng nhẹ ở đây là phù hợp, dễ vận chuyển và triển khai vào chiến trường. Bản thân xe tăng Sherman cũng được sử dụng như các loại xe vận chuyển bộ binh, diễn tập và yểm trợ bộ binh trong một số chiến dịch tấn công cơ động có lô-cốt. Trong những giai đoạn đầu của cuộc chiến, đặc biệt là trong Chiến dịch Guadalcanal, quân Mỹ thường sử dụng tăng hạng nhẹ M2A4 để đối đầu với xe tăng hạng nhẹ Kiểu 95 Ha-Go của quân Nhật; cả hai đều được trang bị pháo 37 mm, nhưng M2 (sản xuất năm 1940) vẫn mạnh mẽ hơn Kiểu 95 Ha-Go do M2 được thiết kế và sản xuất sau đến 5 năm. Đến năm 1943, quân Nhật vẫn sử dụng hai kiểu tăng hạng nhẹ chủ yếu của họ là Ha-Go và Chi-Ha Kiểu 97, trong khi đó quân Mỹ đã thay thế M2A4 bằng M4 (có pháo chính 75 mm). Lực lượng Trung Quốc tại Ấn Độ nhận được khoảng 100 chiếc M4 và dùng chúng trong những chiến dịch phản công rất có hiệu quả vào những năm 1943 và 1944.Từ sau năm 1943, lực lượng đế quốc Nhật Bản bắt đầu thay thế các loại tăng hạng nhẹ của họ bằng loại tăng hạng trung mới Chi-Nu Kiểu 3 và Chi-To Kiểu 4, loại tăng này được thiết kế ra nhằm bảo vệ các công trình quân sự trên đảo, yểm trợ bộ binh và phòng thủ các hòn đảo gần Nhật. Tuy nhiên chỉ có 166 xe Kiểu 3 và hai xe Kiểu 4 được sản xuất, và không chiếc nào được đưa vào chiến đấu trên các hòn đảo ở Thái Bình Dương. Thay vào đó, chúng được giữ lại ở Nhật Bản để chuẩn bị cho một cuộc đổ bộ lớn của Đồng Minh. Lực lượng Đồng Minh bắt đầu sử dụng đạn nổ mạnh (HE), và nhờ hệ thống kính ngắm quang học có tầm bắn xa và chính xác hơn so với xe Nhật, họ có thể dễ dàng hạ gục được các loại xe tăng hạng trung và nhẹ của Nhật. Mặc dù các loại pháo tự hành (chống tăng) cũng được đưa vào nhằm hủy diệt các lô-cốt và boong-ke địch, nhưng M4 vẫn được trang bị thêm nòng phun lửa nhằm tiêu diệt lính Nhật ngụy trang trong rừng già và hang động.Zaloga (M3/M5 Stuart) trang 35, "pháo xe tăng không thể xuyên thủng boong-ke" Hoạt động sau Thế chiến II Sau Thế chiến II, quân Mỹ vẫn sử dụng tăng Sherman phiên bản M4A3E8 "Easy Eight", với tên chính thức là M4A3(76) HVSS (được trang bị pháo chính 76 mm) và một số xe tăng Sherman mang pháo 105 mm. Số Sherman còn lại sau Thế chiến II chủ yếu được sử dụng trong Chiến tranh Triều Tiên. Mặc dù không còn đảm nhận vai trò là loại tăng chính trong các cuộc chiến, nhưng Sherman vẫn được phân vào các sư đoàn hoặc tiểu đoàn tăng thiết giáp cùng với tăng hạng nặng M26 Pershing và tăng hạng trung M46 Patton. Trong chiến tranh Triều Tiên, M4A3(76) HVSS là thế hệ tăng M4 duy nhất có thể loại tăng T-34/85 của Triều Tiên ra khỏi vòng chiến. Cả M4 và T-34 đều có thể hạ gục đối thủ chỉ trong phát bắn trúng đầu tiên, nhưng kinh nghiệm vận hành cao của các kíp lái người Mỹ đã đem lại lợi thế rất lớn cho xe tăng Sherman. Mẫu xe tăng M4A3(76) HVSS, được trang bị đạn HVAP 76 mm, đã tiêu diệt 41 xe tăng Triều Tiên từ tháng 7 tới tháng 11 năm 1950. Nhiều kíp lái Mỹ vẫn ưu thích M4A3(76) HVSS hơn do dễ bảo trì và khả năng truyền động tốt hơn so với M26 Pershing. Trong những năm 1950, M4 dần trở nên lạc hậu và bị thay thế toàn bộ bởi dòng tăng M48 Patton và M60 Patton. Mỹ đã tìm cách chuyển toàn bộ số Sherman cho quân Đồng Minh và các nước khác, M4 được sử dụng rất rộng rãi sau thế chiến bởi khá nhiều lực lượng trên thế giới. Lực lượng Phòng vệ Israel (IDF) đã sử dụng xe tăng Sherman từ lúc thành lập vào năm 1948 tới năm 1980. Chiếc Sherman đầu tiên của họ là một chiếc M4A2, nhưng bị thiếu pháo chính, được thu lại từ quân đội Anh sau khi họ rút khỏi Israel. Tính đa dạng của Sherman, với những tính năng hiện đại hơn các xe tăng Renault R35 sản xuất năm 1934 của Pháp với pháo nòng ngắn 37 mm, đã giúp hình thành lên những đơn vị thiết giáp đầu tiên của IDF, sau khi họ đặt mua 30 chiếc M4 không trang bị vũ khí từ các xưởng phế liệu ở Ý. Ba trong số đó, cùng với chiếc M4A2, đã phục vụ liên tục trong cuộc chiến tranh giành độc lập của Israel. Số còn lại sau đó được bảo dưỡng và tái trang bị lại pháo 75 mm và là nòng cốt của lực lượng thiết giáp Israel trong suốt tám năm tiếp theo. Sherman mang pháo 75 mm sau đó được thay thế bằng những chiếc Sherman M4A1 mang pháo 76 mm, được nhập từ Pháp trước khi diễn ra Cuộc khủng hoảng Suez năm 1956, do nhận ra rằng khả năng xuyên giáp của pháo 75 mm không đủ để bắn hạ những mẫu xe tăng đời mới như Centurion cũng như xe tăng T-34-85 trong biên chế lực lượng Ai Cập. Trong quá trình nâng cấp, quân đội Pháp đã giúp người Israel phát triển một gói chuyển đổi để nâng cấp khoảng 300 chiếc Sherman lên pháo CN 75-50 75 mm HV, được lắp đặt trên những chiếc AMX-13 của Pháp. Những chiếc Sherman này sau đó được Israel định danh là Sherman M-50. Trước khi diễn ra cuộc chiến tranh sáu ngày vào năm 1967, Quân đội Israel đã nâng cấp được khoảng 180 xe M4A1(76)W HVSS lên pháo 105 mm Modèle F1 của Pháp, sử dụng động cơ diesel Cummins mới và đặt tên là xe tăng nâng cấp Sherman M-51. Các xe tăng Sherman, cùng Centurion mang pháo 105 mm và M48 Patton, có thể dễ dàng bắn hạ được các xe tăng T-34-85, T-54/55/62 và IS-3 được sử dụng bởi lực lượng Ai Cập và Syria trong Chiến tranh sáu ngày năm 1967. Sherman M4A3 còn được quân đội Anh sử dụng tại Indonesia từ thời điểm diễn ra cuộc Cách mạng Dân tộc Indonesia tới khi chuyển giao chúng cho Quân đội Đông Ấn Hoàng Gia Hà Lan vào năm 1946, và được lực lượng này vận hành tới năm 1949 trước khi chuyển giao cho Lực lượng vũ trang Indonesia. Các biến thể 3in Gun Motor Carriage M10 - Pháo tự hành chống tăng M10 "Wolverine" 90 mm Gun Motor Carriage M36 - Pháo tự hành chống tăng M36 "Jackson" 105 mm Howitzer Motor Carriage M7 - Pháo tự hành 105 mm "Priest" 155 mm Gun Motor Carriage M12 - Pháo tự hành được lắp trên xe Cargo Carrier M30 (phát triển dựa trên thân xe của Sherman) 203/250 mm Motor Carriages - Pháo tự hành 203 mm HMC M43, 250 mm MMC T94 được lắp ráp trên thân xe tăng M4A3 Pháo tự hành 25-pounder (88 mm) Sexton Xe tăng phun lửa M4A2E4-5 POA-CWS-H1-H2 (Lục quân Hoa Kỳ) M4A3R5 (Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ) Mk 1. POA-CWS-H5 (Lục quân Hoa Kỳ), M4A3R8''' (Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ) với súng phun lửa đồng trục H1A-H5A. M4-2B1E9 M4 Crocodile - phiên bản M4 trang bị súng phun lửa của Anh Sherman được lắp Hệ thống phóng tên lửa - T34 Calliope, T40 Whizbang Xe tăng Sherman lội nước - Duplex Drive (DD) - phiên bản Sherman lội nước được thiết kế bởi quân đội Anh Xe dò mìn và sửa chữa - D-8, M1, M1A1 phiên bản máy xúc, M4 Doozit, Sherman MAB (mang cầu di động) và xe quét mìn T1E3 Aunt Jemima Xe sửa chữa - M32 TRV và M74 TRV Xe kéo pháo - M34 và M35 Hoạt động tại các nước khác Ngoài nước Mỹ, các nước Đồng Minh cũng được cung ứng một số lượng lớn M4 Sherman. Anh Quốc chiếm 80% trên tổng số Sherman được Mỹ viện trợ. Từ năm 1942-1945, Liên Xô nhận được hơn 3664 xe tăng Sherman kiểu M4A2 với động cơ diesel, một vài trong số chúng vẫn hoạt động sau thế chiến. Trong chiến tranh Triều Tiên, Sherman được quân đội Mỹ trang bị cho quân đội Hàn Quốc và các nước Đồng Minh. Ngoài ra, M4 Sherman còn được người Israel sử dụng. Các biến thể M4 của quân đội Israel là M-50 mang pháo 75 mm và M-51 Super Sherman mang pháo 105 mm, nó đã chứng tỏ độ tin cậy khi sau nhiều năm vẫn còn được thiết kế các phiên bản mới và sử dụng. Ngoài chiến tranh Triều Tiên, M4 còn được sử dụng trong cuộc chiến tranh 6 ngày, đối đầu với xe tăng T-34/85 của quân đội các nước Ả Rập; chiến tranh Yom Kippur, đối đầu với hai loại tăng mới và mạnh hơn mà các nước Ả Rập mua từ Liên Xô là T-54/55. (chỉ dùng để thử nghiệm) (phiên bản M4A3E4 Sherman) (80 M4, M4A1 Shermans được chuyển giao) (phiên bản M4A3E4 Sherman do Mỹ viện trợ) : 755 (sau Thế chiến thứ hai) (nhận được từ Hà Lan sau khi độc lập từ năm 1949) (sau Thế chiến thứ hai; phiên bản M4A3E8 Sherman do Mỹ viện trợ) (chiến lợi phẩm, biên chế trong Beutepanzer'') (phiên bản M4A1E6 Shermans do Mỹ viện trợ) (loại biên từ tháng 4, 2018) (phiên bản M4A3E4 Shermans) 3,664. (chỉ dùng để thử nghiệm) (chỉ một mẫu M4A1 Sherman không tháp pháo) (nhận 34 chiếc trong tháng 1, 1945) 17,181. (loại biên năm 1957) (599 chiếc M4A3E4 Shermans nhận được trong thời kỳ Informbiro) Xem thêm Sherman Firefly - phiên bản Sherman được trang bị pháo 17-pounder của Quân đội Anh Tham khảo Ghi chú Chú thích Sách tham khảo Liên kết ngoài 'Russian language (translateable) article on Soviet uses U.S. 75mm M61 Tank Round - WWII M4 Sherman Photos and Walk Arounds on Prime Portal Sherman Register OnWar World War II vehicles israeli-weapons.com About.com Military History Xe tăng hạng trung Hoa Kỳ Xe tăng Hoa Kỳ giai đoạn Chiến tranh thế giới thứ hai Xe tăng hạng trung trong Chiến tranh thế giới thứ hai Lịch sử xe tăng
344176
https://vi.wikipedia.org/wiki/Voyennes
Voyennes
Voyennes là một xã ở tỉnh Somme, vùng Hauts-de-France, Pháp. Địa lý Thị trấn này có cự ly khoảng 30 dặm Anh (48 km) về phía tây của Amiens, trên đường D417 ở trong Thung lũng Sông Somme. Dân số Xem thêm Xã của tỉnh Somme Tham khảo Liên kết ngoài Voyennes trên trang mạng của INSEE Voyennes trên trang mạng của Quid Xã của Somme
829488
https://vi.wikipedia.org/wiki/Gelendzhik
Gelendzhik
Gelendzhik (tiếng Nga: Геленджик) là một thành phố Nga. Thành phố này thuộc chủ thể Krasnodar Krai. Thành phố có dân số 50.012 người (theo điều tra dân số năm 2002). Đây là thành phố lớn thứ 329 của Nga theo dân số năm 2002. Dân số qua các thời kỳ: Gelendzhik là một thành phố nghỉ mát nằm ​​trên vịnh Gelendzhik của Biển Đen, giữa Novorossiysk (31 km (19 dặm) về phía tây bắc) và Tuapse (93 km (58 dặm).đông nam). Vùng đô thị Greater Gelendzhik trải dài 102 km (63 dặm) dọc theo bờ biển và bao phủ một diện tích 122.754 ha (trong đó chỉ có 1.926 ha nằm trong ranh giới của nội ô Gelendzhik). Trong thời cổ đại, Vịnh Gelendzhik đã là địa điểm của một tiền đồn nhỏ của Hy Lạp, đã đề cập như Torikos trong Periplus Pseudo-Scylax. Nó đã không được không biết đến từ nguồn Hy Lạp, nhưng lại xuất hiện ở những người La Mã dưới tên của Pagrae tại 64 trước Công nguyên. Thuộc địa đã bị xóa sổ bởi các những người Huns xâm lược, mà đã được kế tiếp bởi các Zygii sau đó. Trong suốt thời Trung Cổ, vịnh của một số tầm quan trọng của buôn cho thương nhân Genoese gọi các ngôi làng ven biển như Maurolaca. Tham khảo Thành phố và thị trấn ở vùng Krasnodar Tỉnh Biển Đen Khu nghỉ mát ven biển Nga
669376
https://vi.wikipedia.org/wiki/Hypsiboas%20lundii
Hypsiboas lundii
Hypsiboas lundii là một loài ếch thuộc họ Nhái bén. Đây là loài đặc hữu của Brasil. Môi trường sống tự nhiên của chúng là rừng ẩm vùng đất thấp nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, vùng núi ẩm nhiệt đới hoặc cận nhiệt đới, xavan ẩm, sông ngòi, và các đồn điền. Hình ảnh Tham khảo Caramaschi, U. & Rodrigues, M.T. 2004. Hypsiboas lundii. 2006 IUCN Red List of Threatened Species. Truy cập 21 tháng 7 năm 2007. Liên kết ngoài lundii Động vật đặc hữu Brasil
585631
https://vi.wikipedia.org/wiki/Panaphelix
Panaphelix
Panaphelix là một chi bướm đêm thuộc phân họ Tortricinae trong họ Tortricidae. Các loài Panaphelix asteliana Swezey, 1932 Panaphelix marmorata Walsingham, 1907 Xem thêm Danh sách các chi của Tortricidae Chú thích Tham khảo tortricidae.com Archipini Loài đặc hữu của Hawaii
909937
https://vi.wikipedia.org/wiki/Paracardiophorus%20litoralis
Paracardiophorus litoralis
Paracardiophorus litoralis là một loài bọ cánh cứng trong họ Elateridae. Loài này được Carter miêu tả khoa học năm 1939. Chú thích Tham khảo Paracardiophorus
275669
https://vi.wikipedia.org/wiki/Martina%20Navratilova
Martina Navratilova
Martina Navratilova (tiếng Séc: Martina Navrátilová; sinh ngày 18 tháng 10 năm 1956 tại Praha, Tiệp Khắc) là cựu vận động viên quần vợt nữ số một thế giới người Mỹ gốc Tiệp Khắc. Billie Jean King đã nhận xét về Navratilova, "Bà là tay vợt đơn - đôi nữ - đôi nam nữ vĩ đại nhất từ trước đến nay." Steve Flink, trong cuốn sách The Greatest Tennis Matches of the Twentieth Century (Các trận đấu quần vợt vĩ đại nhất thế kỉ XX), đã xếp bà là nữ tay vợt thành công thứ 2 trong thế kỷ 20, chỉ sau tay vợt người Đức Steffi Graf. Tạp chí tennis đã chọn bà là tay vợt nữ vĩ đại nhất trong vòng 40 năm từ 1965-2005. Navratilova đã giành tới 18 danh hiệu Grandslam đơn, 31 danh hiệu Grandslam đôi nữ (kỷ lục), và 10 danh hiệu Granslam đôi nam nữ. Bà đã vào chơi trận chung kết đơn nữ giải Wimbledon 12 lần, bao gồm 9 lần liên tiếp từ năm 1982-1990, và hiện đang giữ kỷ lục về 9 lần vô địch Wimbledon. Bà và King mỗi người giành tới 20 danh hiệu Wimbledon, cũng là một kỷ lục nữa. Navratilova là một trong 3 tay vợt nữ đạt được danh hiệu Grandslam ở cả ba nội dung đơn nữ, đôi nữ và đôi nam nữ. Bà còn nắm giữ kỷ lục tay vợt có nhiều danh hiệu đơn nhất (167) và nhiều danh hiệu đôi nhất (177) trong thời kỳ mở. Navratilova, Margaret Court, và Maureen Connolly Brinker chia sẻ kỷ lục về số danh hiệu Grandslam liên tiếp (6). Navratilova đã vào chơi 11 trận chung kết Grandslam đơn nữ liên tiếp, đứng thứ hai so với con số 13 của Steffi Graf. Trong nội dung đôi nữ, Navratilova và Pam Shriver đã thắng 109 trận liên tiếp và giành trọn 4 giải Grandslam năm 1984. Mặc dù xuất thân từ Tiệp Khắc nhưng Navratilova đã mất quyền công dân khi chuyển sang Mỹ sống năm 1975 lúc 18 tuổi. Đến năm 1981 thì bà được nhập quốc tịch Mỹ. Ngày 9 tháng 1 năm 2008, bà được trao trả lại quốc tịch Cộng hòa Séc. Các danh hiệu Grand Slam Đơn nữ Vô địch (18) Á quân (14) Đôi nữ Vô địch (31) Á quân (6) Đôi nam nữ Vô địch (10) Á quân (6) Gia đình Ngày 15.12.2014, Navratilova (58 tuổi) đã làm đám cưới với người bạn gái lâu năm của mình Julia Lemigova (42 tuổi) tại New York. Cả hai hiện sống tại Florida. Lemigova là hoa hậu cuối cùng của Liên Xô, trước khi nước này sụp đổ vào năm 1991. Chú thích Liên kết ngoài Martina Navrátilová - profile Interview with the most celebrated female tennis player Czech.cz, The official Website of the Czech Republic International Tennis Hall of Fame profile BBC profile ESPN.com article outsports.com interview Martina Navratilova Slams ‘Gay Sheep’ Experiments at Oregon State University Vận động viên quần vợt Tiệp Khắc Vận động viên quần vợt Mỹ Vận động viên đồng tính nữ Nhà văn Mỹ thế kỷ 20 Nhà hoạt động quyền LGBT Mỹ Người mắc bệnh ung thư Người khỏi bệnh ung thư vú Nữ nhà văn thế kỷ 20 Người viết tự truyện Mỹ Người Mỹ gốc Séc Người hoạt động xã hội vì quyền động vật Người LGBT từ Florida Vô địch Wimbledon Nữ nhà văn tự truyện Người chống cộng Tiệp Khắc Người chống cộng Séc Vô địch Mỹ Mở rộng Vô địch Úc Mở rộng Vô địch Pháp Mở rộng Vô địch Grand Slam (quần vợt) đơn nữ Tiểu thuyết gia Mỹ thế kỷ 20 Vận động viên quần vợt Thế vận hội Mùa hè 2004
91980
https://vi.wikipedia.org/wiki/Danh%20s%C3%A1ch%20c%C3%B4ng%20ty%20Ph%C3%A1p
Danh sách công ty Pháp
Dưới đây là bản danh sách các công ty, tập đoàn đến từ nước Pháp. Để có thêm thông tin về các loại hình thực thể doanh nghiệp tại quốc gia này và tên viết tắt của chúng, hãy xem "Các thực thể doanh nghiệp tại Pháp". A Alstom Altran Apave Asia Pacific Antefilms Production Arcelor-Mittal Areva Arianespace Arkane Studios Atlas Telecom Atos Origin Auchan Automobiles Venturi AXA B Baccarat Beurger King Muslim BIC BNP Paribas BNP Paribas Hong Kong Bolloré Bouygues Bouygues Télécom Breguet, chủ sở hữu là The Swatch Group Brittany Ferries Bugatti văn phòng tại Pháp nhưng hiện nay có chủ sở hữu là tập đoàn Volkswagen của Đức. Bull C-D Canal+ Capgemini Carrefour Cartier SA Casino Guichard Ceca specialty chemicals Chantelle Christian Dior CMA CGM Crédit Agricole Calyon CLSA Crédit Lyonnais Crédit Foncier de France Cyfac Danone Dassault Group Dassault Aviation Dassault Systemes DCN Dexia Diptyque E-K EADS EADS Astrium EADS Astrium Space Transportation Éditions Philippe Amaury Amaury Sport Organisation Électricité de France (EDF) Essilor Eurotunnel France Télécom Orange Galeries Lafayette Havas Hermès HSBC SA, một phần của tập đoàn HSBC Anh quốc Iliad Free Infogrames JCDecaux Jean-Paul Gaultier Keolis L-Q Lacoste La Poste Lafarge Lagardère Group Hachette Hachette Filipacchi Media Hachette Livre LOOK L'Oréal Lancôme LVMH - sản xuất hàng xa xỉ, chủ sở hữu thương hiệu Louis Vuitton, Moët et Chandon, và Hennessy Mandriva Mecca-Cola Michelin Montagut Nicolas NYCO Pentalog Pernod Ricard Pierre Fabre Group PPR PSA Peugeot Citroën, với các nhãn hiệu: Citroën Peugeot Publicis Quantic Dream R-S RATP Renault SAFRAN Snecma Saint-Gobain Salomon Group Mavic Sanofi-Aventis - sáp nhập với Sanofi-Synthélabo và Aventis năm 2004 Schlumberger Limited - sáp nhập với Netherlands Antilles Schneider Electric SFR SNCF SNCM Société Générale Boursorama SG Cowen Sodexho STMicroelectronics SUEZ T-Y Technip TF1 Group Thales Group Thomson Total Ubisoft Valtech Veolia Environnement VINCI Vivendi Yoplait Công ty cũ Những công ty đã sáp nhập hoặc thay đổi tên hoặc phá sản: Aéropostale Aérospatiale-Matra Aventis - sáp nhập và trở thành Sanofi-Aventis Banque de l'Indochine - hiện là một phần của Crédit Agricole Company of One Hundred Associates Crédit Commercial de France, hiện nay HSBC SA một phần của tập đoàn HSBC Holdings plc Elf Aquitaine - hiện nay là một phần của Total Genset - hiện nay là một phần của Serono Matra, hiện nay là một phần của Lagardere Matra Marconi Space, đổi tên thành EADS Astrium SAGEM - sáp nhập với công ty SNECMA trở thành SAFRAN Sanofi-Synthélabo - sáp nhập và trở thành Sanofi-Aventis SNECMA Moteurs Thomson-CSF, hiện nay là một phần của Thales Vivendi - hiện tách ra thành 2 công ty Vivendi (trước đây là Vivendi Universal) và Veolia Environnement Xem thêm Chỉ số chứng khoán CAC 40 Euronext Tham khảo Pháp
71404
https://vi.wikipedia.org/wiki/Troyes
Troyes
Troyes là tỉnh lỵ của tỉnh Aube, thuộc vùng Grand Est của nước Pháp, có dân số là 60.958 người (thời điểm 1999). Khí hậu Dân số Các thành phố kết nghĩa Alkmaar, Hà Lan Chesterfield, Darmstadt, Đức Những người con của thành phố Thánh Patroclus von Troyes (mất khoảng năm 259) Petrus Comestor (mất khoảng năm 1178), nhà thần học Raschi (Rabbi Schlomo ben Jizchak, 1040–1105), Chrétien de Troyes (sinh khoảng 1140, mất khoảng 1190), tác giả Pierre Pithou (1539-1596), luật gia Pierre Mignard (1610-1695), họa sĩ François Girardon (1628-1715), nhà điêu khắc Félix Gustave Saussier (1828-1905), tướng quân đội và nghị sĩ Émile Coué (1857-1926), người sáng lập Autosuggestion. Édouard Herriot (1872-1957), chính trị gia Đệ tam Cộng hòa, ba lần là thủ tướng Xem thêm Xã của tỉnh Aube Tham khảo Thư mục v.2 Liên kết ngoài Site de la mairie de Troyes Site personnel sur l'histoire de Troyes Xã của Aube Aube
548824
https://vi.wikipedia.org/wiki/Piper%20san-miguelense
Piper san-miguelense
Piper san-miguelense là một loài thực vật thuộc họ Piperaceae. Đây là loài đặc hữu của Ecuador. Chú thích Tham khảo Santiana, J. & Pitman, N. 2004. Piper san-miguelense. 2006 IUCN Red List of Threatened Species. Truy cập 23 tháng 8 năm 2007. Thực vật Ecuador S Thực vật loài thiếu dữ liệu
955842
https://vi.wikipedia.org/wiki/Geranomyia%20zionana
Geranomyia zionana
Geranomyia zionana là một loài ruồi trong họ Limoniidae. Chúng phân bố ở miền Tân bắc. Liên kết ngoài Tham khảo Geranomyia Limoniidae ở vùng Nearctic
283313
https://vi.wikipedia.org/wiki/Saligny-sur-Roudon
Saligny-sur-Roudon
Saligny-sur-Roudon là một xã ở tỉnh Allier thuộc miền trung nước Pháp. Xem thêm Xã của tỉnh Allier Tham khảo ‘‘Dựa trên bài ở Wikipedia tiếng Pháp.’’ Salignysurroudon
62098
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BA%B7ng%20V%C4%83n%20Quang
Đặng Văn Quang
Đặng Văn Quang có thể là: Tướng Đặng Văn Quang, trung tướng của Việt Nam Cộng hòa Nhà thơ Bút Tre Chính khách Đặng Văn Quang (còn có tên Đặng Quang Minh), cựu Đại sứ Cộng hòa Miền Nam Việt Nam tại Liên Xô, là cha của Đặng Mỹ Dung - cựu nhân CIA của Hoa Kỳ
894741
https://vi.wikipedia.org/wiki/Amegilla%20meltonensis
Amegilla meltonensis
Amegilla meltonensis là một loài Hymenoptera trong họ Apidae. Loài này được Rayment mô tả khoa học năm 1951. Chú thích Tham khảo Amegilla Động vật được mô tả năm 1951
346145
https://vi.wikipedia.org/wiki/Saalekreis
Saalekreis
Saalekreis là một huyện ở Saxony-Anhalt, Đức. Lịch sử Huyện đã được thành lập thông qua việc sáp nhập các huyện Merseburg-Querfurt và Saalkreis trong cuộc cải tổ năm 2007 Thị xã và đô thị Tham khảo Huyện của bang Sachsen-Anhalt Saale (huyện)
474547
https://vi.wikipedia.org/wiki/36%20Atalante
36 Atalante
Atalante (định danh hành tinh vi hình: 36 Atalante) là một tiểu hành tinh lớn và tối ở vành đai chính do nhà thiên văn học người Pháp gốc Đức Hermann M. S. Goldschmidt phát hiện ngày 5 tháng 10 năm 1855 và được nhà toán học người Pháp Urbain Le Verrier đặt tên theo tên nữ anh hùng Atalanta trong thần thoại Hy Lạp (Atalante là dạng tiếng Đức của Atalanta). Tham khảo Liên kết ngoài Lightcurve plot of 36 Atalante, Palmer Divide Observatory, B. D. Warner (2007) Asteroid Lightcurve Database (LCDB), query form (info ) Dictionary of Minor Planet Names, Google books Asteroids and comets rotation curves, CdR – Observatoire de Genève, Raoul Behrend Discovery Circumstances: Numbered Minor Planets (1)-(5000) – Minor Planet Center Atalante 18551005 Tiểu hành tinh được đánh số Atalante Tiểu hành tinh kiểu C (Tholen) Tiểu hành tinh vành đai chính
313797
https://vi.wikipedia.org/wiki/Naussannes
Naussannes
Naussannes là một xã của Pháp, nằm ở tỉnh Dordogne trong vùng Aquitaine của Pháp. Thông tin nhân khẩu Tham khảo Liên kết ngoài Naussannes trên trang mạng của Viện địa lý quốc gia Naussannes
353755
https://vi.wikipedia.org/wiki/Urbiztondo
Urbiztondo
Urbiztondo là một đô thị hạng 4 ở tỉnh Pangasinan, Philippines. Theo điều tra dân số năm 2007, đô thị này có dân số 43.430 người trong 7.339 hộ. Barangay Urbiztondo được chia thành 21 barangay. Tham khảo Liên kết ngoài Mã địa lý chuẩn Philipin Thông tin điều tra dân số năm 2007 của Philipin Đô thị của Pangasinan
648966
https://vi.wikipedia.org/wiki/Lysimelia
Lysimelia
Lysimelia là một chi bướm đêm thuộc họ Erebidae. Loài Lysimelia lenis Lucas, 1898 Lysimelia neleusalis Walker, [1859] Chú thích Tham khảo Lysimelia at funet.fi Natural History Museum Lepidoptera genus database Erebidae
920725
https://vi.wikipedia.org/wiki/Chrysolina%20herbacea
Chrysolina herbacea
Chrysolina herbacea là một loài bọ cánh cứng trong họ Chrysomelidae. Miêu tả Con trưởng thành dài 7 đến 11 cm, toàn thân đều có màu sắc, đặc biệt là màu xanh lục ánh kim loại, đôi khi có màu đồng đến đỏ. Chú thích Tham khảo Chrysolina
876238
https://vi.wikipedia.org/wiki/Rhyacophila%20rayneri
Rhyacophila rayneri
Rhyacophila rayneri là một loài Trichoptera trong họ Rhyacophilidae. Chúng phân bố ở miền Tân bắc. Tham khảo Trichoptera miền Tân bắc Rhyacophila
864005
https://vi.wikipedia.org/wiki/C%E1%BA%A9m%20Gi%C3%A0ng%20%28x%C3%A3%29
Cẩm Giàng (xã)
Cẩm Giàng là một xã thuộc huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn, Việt Nam. Địa lý Xã Cẩm Giàng có vị trí địa lý: Phía tây và bắc giáp xã Quân Hà Phía đông giáp xã Nguyên Phúc Phía nam giáp thành phố Bắc Kạn. Xã Cẩm Giàng có diện tích 9,33 km², dân số năm 2019 là 2.246 người, mật độ dân số đạt 241 người/km². Cẩm Giàng có quốc lộ 3 đi qua địa bàn, trên tuyến có cầu Nà Cú bắc qua sông Nà Cú, một phụ lưu chính của sông Cầu hay còn có tên là sông Cẩm Giàng ở đoạn chảy qua xã. Hành chính Xã Cẩm Giàng được chia thành 11 xóm bản: Nà Xỏm, Nà Cù, Nà Pục, Nà Pẻn, Nà Ngăm, Nà Tu, Khuổi Chanh, Khuổi Dấm, Trung Tâm, Bó Bả, Thôn Ba Phường. Chú thích Tham khảo Liên kết ngoài
231187
https://vi.wikipedia.org/wiki/R%C3%A6lingen
Rælingen
Rælingen là một đô thị ở hạt Akershus, Na Uy. Rælingen đã được tách khỏi Fet ngày 1 tháng 1 năm 1929. Đô thị này nằm giữa Fet và Lørenskog, Rælingen bao gồm các khu vực tây bắc của hồ Øyeren. Khu vực cực bắc của quận được xây và phát triển cùng với khu vực Lillestrøm. Các nơi quan trọng của đô thị này là Rælingen, Fjerdingby, Løvenstad và Nordby. Phần lớn đô thị này có dân thưa hoặc không có dân. Hình ảnh Tham khảo Akershus
862344
https://vi.wikipedia.org/wiki/22913%20Brockman
22913 Brockman
22913 Brockman (1999 TO32) là một tiểu hành tinh vành đai chính được phát hiện ngày 4 tháng 10 năm 1999 bởi Nhóm nghiên cứu tiểu hành tinh gần Trái Đất phòng thí nghiệm Lincoln ở Socorro. Tham khảo Liên kết ngoài JPL Small-Body Database Browser ngày 22913 Brockman Tiểu hành tinh vành đai chính Thiên thể phát hiện năm 1999
911806
https://vi.wikipedia.org/wiki/Semiotus%20cyrtomaris
Semiotus cyrtomaris
Semiotus cyrtomaris là một loài bọ cánh cứng trong họ Elateridae. Loài này được Wells miêu tả khoa học năm 2007. Chú thích Tham khảo Semiotus
838
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%E1%BA%A7n%20%C4%90%E1%BB%A9c%20L%C6%B0%C6%A1ng
Trần Đức Lương
Trần Đức Lương (sinh ngày 5 tháng 5 năm 1937 tại xã Phổ Khánh, thị xã Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi) là một chính khách Việt Nam. Ông nguyên là Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam từ năm 1997 đến năm 2006, là Ủy viên Bộ Chính trị khóa VIII, IX và Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị khóa VIII. Sự nghiệp ban đầu Tháng 2 năm 1955: ông Tập kết ra Bắc rồi học sơ cấp, học bổ túc trung cấp địa chất; rồi làm kĩ thuật viên, đội trưởng, đoàn phó kĩ thuật địa chất rồi đến bí thư chi đoàn, chi ủy viên rồi làm bí thư chi bộ, liên chi uỷ viên. Năm 1959, ông gia nhập đảng Lao Động Việt Nam. Tháng 9 năm 1959 đến tháng 3 năm 1964 ông là đội trưởng đội địa chất 4, đoàn địa chất 20, đồng tác giả công trình nghiên cứu lập "Bản đồ địa chất tỷ lệ 1/500.000 miền Bắc Việt Nam" (công trình hợp tác Xô-Việt trong các năm 1960-1965). Trong giai đoạn này ông là ủy viên Ban chấp hành Đoàn Thanh niên Lao động Cục Địa chất, Chi ủy viên (1963-1964). Từ tháng 9 năm 1966, ông học ở Trường Đại học Mỏ – Địa chất Hà Nội, hệ chuyên tu đến tháng 1 năm 1970, ông cũng là đảng ủy viên, bí thư đoàn trường vào năm 1969. Sự nghiệp chính trị Giai đoạn 1970 đến 1987 Từ tháng 2 năm 1970 đến tháng 8 năm 1975, ông là phó cục trưởng Cục Bản đồ Địa chất, ủy viên Thường vụ Đảng ủy cục. Từ tháng 9 năm 1975 đến tháng 7 năm 1977, ông học trường Nguyễn Ái Quốc Trung ương; Bí thư Chi bộ lớp. Từ tháng 8 năm 1977 đến tháng 2 năm 1987: Phó Liên đoàn trưởng, Liên đoàn trưởng Liên đoàn Bản đồ Địa chất; Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất (sau đổi là Tổng cục Mỏ Địa chất); Bí thư Đảng ủy Liên đoàn, Ủy viên Ban Chấp hành Tổng Công đoàn Việt Nam, Bí thư Ban cán sự Đảng Tổng cục; Đại biểu Quốc hội khóa VII, Phó Chủ nhiệm rồi Chủ nhiệm Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật của Quốc hội; Phó Chủ tịch Hội hữu nghị Việt-Xô. Ông trở thành Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa V. Thành viên Chính phủ Năm 1987 ông làm Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, sau khi sửa đổi Hiến pháp chức Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đổi thành Phó Thủ tướng Chính phủ. Giai đoạn này ông là Đại biểu Quốc hội khóa VIII và là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa khóa VI, khóa VII. Ông là đại diện thường trực CHXHCN Việt Nam tại Hội đồng Tương trợ Kinh tế (SEV) (đến năm 1991). Ngày 24 tháng 9 năm 1997 ông được bầu làm Chủ tịch nước kiêm Phó Thủ tướng Chính phủ đến ngày 29 tháng 9 năm 1997. Chủ tịch nước (1997–2006) Ngày 24 tháng 9 năm 1997, Trần Đức Lương được bầu làm Chủ tịch nước, ông là Ủy viên Bộ Chính trị, sau đó Ủy viên Thường vụ Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa VIII, Ủy viên Bộ Chính trị khóa IX, ông kiêm luôn chức Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh. Ngày 24 tháng 7 năm 2002, ông Lương tái đắc cử chức Chủ tịch nước tại kỳ họp thứ nhất của Quốc hội khóa XI. Hoạt động trong nhiệm kỳ Trong nhiệm kỳ của ông đã có cuộc bạo loạn tại Tây Nguyên vào năm 2004. Trong sự kiện vụ án Năm Cam, ông đã bác đơn ân xá đối với các tử tù trong đó có Năm Cam. Năm 2005, ông và các đồng sự trong Cục Đo đạc Bản đồ được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về khoa học công nghệ với 2 công trình: Bản đồ khoáng sản Việt Nam tỉ lệ 1/500.000 (do Tổng cục Địa chất xuất bản năm 1981) Bản đồ địa chất Việt Nam tỉ lệ 1/500.000 (do Tổng cục Mỏ và Địa chất xuất bản năm 1988) Đối ngoại Trần Đức Lương là Chủ tịch nước đầu tiên trong lịch sử đón tiếp Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton vào năm 2000 sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao vào năm 1995, hai bên tin tưởng chuyến thăm sẽ đánh dấu việc mở ra quan hệ mới giữa Việt - Mỹ. Năm 2001, trong chuyến thăm của Tổng thống Nga Putin, hai nước đã xác lập mối quan hệ song phương lên tầm đối tác chiến lược, ông đồng thời cũng trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh cho ông Putin. Ông cũng là Chủ tịch nước đầu tiên thăm Hàn Quốc. Từ chức Ngày 24 tháng 6 năm 2006, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh cho biết Thủ tướng Phan Văn Khải, Chủ tịch nước Trần Đức Lương, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An vì tuổi đã cao và thực hiện chủ trương trẻ hóa đội ngũ cán bộ lãnh đạo đã nêu nguyện vọng xin không tái ứng cử vào Ban Chấp hành Trung ương khóa X, nguyện vọng này đã được Ban Chấp hành Trung ương khóa IX và Đại hội X chấp thuận, sau đó cùng với các ông Phan Văn Khải và Nguyễn Văn An, ông đã đọc đơn xin thôi chức trước khi kết thúc nhiệm kỳ sau đó 1 năm. Trình bày đơn xin thôi giữ chức vụ Chủ tịch nước, ông Trần Đức Lương giãi bày: "Trong hai mươi năm qua, tôi đã hết sức cố gắng, toàn tâm toàn ý thực hiện các chức trách nặng nề mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó, góp phần nhất định cùng toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo đường lối đổi mới của Đảng. Trong tiến trình chuẩn bị Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng, vì tuổi đã cao và thực hiện chủ trương trẻ hóa đội ngũ cán bộ, tôi đã nêu nguyện vọng xin không tái cử vào Ban Chấp hành Trung ương khóa X. Nguyện vọng của tôi đã được Ban Chấp hành Trung ương khóa IX và Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X chấp nhận". Việc miễn nhiệm chức vụ Chủ tịch nước đối với ông Trần Đức Lương, số phiếu xin ý kiến thu về là 465 phiếu, số phiếu đồng ý là 458 phiếu (98,49% số phiếu) thu về và bằng 92,9% so với tổng số đại biểu Quốc hội, có 7 phiếu không đồng ý (1,51% số phiếu) thu về và bằng 1,42% so với tổng số đại biểu Quốc hội, chiều cùng ngày Quốc hội đã miễn nhiệm chức Chủ tịch nước của ông. Ông Lương sau đó vẫn giữ chức Chủ tịch nước đến ngày 27 tháng 6 khi Nguyễn Minh Triết được bầu làm người kế nhiệm, ông mới thôi giữ chức. Nghỉ hưu Sau khi nghỉ hưu, ông vẫn là Chủ tịch danh dự Hội Chữ thập đỏ Việt Nam cho đến năm 2012. Ông chủ yếu dành cuộc sống cho gia đình và tham dự một số sự kiện của Đảng. Năm 2007, ông được tặng thưởng Huân chương Sao vàng. Gia đình Vợ ông là bà Nguyễn Thị Vinh, cả hai người có với nhau hai người con. Con trai ông là Trần Tuấn Anh hiện là Ủy viên Trung ương Đảng khóa XIII, Ủy viên Bộ chính trị khóa XIII, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương. Con gái ông là Trần Thị Minh Anh (1962) hiện là Phó tổng giám đốc Tổng công ty Xi măng Việt Nam. Tham khảo Liên kết ngoài Sinh năm 1937 Nhân vật còn sống Người Quảng Ngãi Cựu sinh viên Đại học Mỏ - Địa chất Hà Nội Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa VII Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Phó Thủ tướng Việt Nam Ủy viên Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Ủy viên Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa X Đại biểu Quốc hội Việt Nam khóa XI Người nhận giải thưởng Hồ Chí Minh Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam Chủ tịch Hội đồng quốc phòng và an ninh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa V Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VI Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VII Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa VIII Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa IX Chủ tịch nước Việt Nam
44782
https://vi.wikipedia.org/wiki/Gentoo%20Linux
Gentoo Linux
Gentoo Linux là một bản phân phối Linux được đặt tên theo loài chim cánh cụt Gentoo. Nó hỗ trợ nhiều kiến trúc máy tính , dễ bảo dưỡng, linh hoạt và có khả năng tối ưu cho một cấu hình máy tính cụ thể .Sáng lập bởi Daniel Robbins Gentoo Linux là một hệ điều hành được xây dựng ở lớp trên của Linux Kernel và dựa trên Hệ thống Quản lý Gói Khả Chuyển(Portable Package Management System). Trong đó, không giống như những bản phân phối thông thường, người dùng sẽ phải tự biên dịch mã nguồn theo cách của họ, với cấu hình của riêng họ. Nói chung thì trong Gentoo không có một phần mềm, ứng dụng nào được biên dịch sẵn ra file Binary nhưng để cho tiện đối với một số người mới tiếp cận thì các ứng dụng phổ biến với mã nguồn đồ sộ như Firefox hay LibreOffice sẽ được biên dịch sẵn. Hệ thống quản lý gói của Gentoo được xây dựng như một module một plug-in rất mềm dẻo dễ bảo trì và độ tương thích phần cứng là gần như không giới hạn. Người dùng Gentoo Linux thuộc nhóm Power user do đó Gentoo không thích hợp cho người dùng mới. Các phiên bản đã có Tham khảo Bản phân phối Linux Phần mềm năm 2002
362337
https://vi.wikipedia.org/wiki/Alicia%2C%20Zamboanga%20Sibugay
Alicia, Zamboanga Sibugay
Alicia là một đô thị hạng 4 ở tỉnh Zamboanga Sibugay, Philippines. Theo điều tra dân số năm 2000 của Philipin, đô thị này có dân số 29.954 người trong 5.663 hộ. Các đơn vị hành chính Alicia được chia thành 27 barangay. Tham khảo Liên kết ngoài Mã địa lý chuẩn Philipin Thông tin điều tra dân số Philipin năm 2000 Đô thị của Zamboanga Sibugay
203839
https://vi.wikipedia.org/wiki/Bhum
Bhum
Bhum là một thành phố và là nơi đặt hội đồng đô thị (municipal council) của quận Osmanabad thuộc bang Maharashtra, Ấn Độ. Địa lý Bhum có vị trí Nó có độ cao trung bình là 602 mét (1975 foot). Nhân khẩu Theo điều tra dân số năm 2001 của Ấn Độ, Bhum có dân số 17.510 người. Phái nam chiếm 52% tổng số dân và phái nữ chiếm 48%. Bhum có tỷ lệ 68% biết đọc biết viết, cao hơn tỷ lệ trung bình toàn quốc là 59,5%: tỷ lệ cho phái nam là 76%, và tỷ lệ cho phái nữ là 60%. Tại Bhum, 14% dân số nhỏ hơn 6 tuổi. Tham khảo Thành phố thuộc bang Maharashtra
662537
https://vi.wikipedia.org/wiki/Allogymnopleurus
Allogymnopleurus
Allogymnopleurus là một chi bọ cánh cứng thuộc họ Scarabaeidae. Chú thích Tham khảo Gymnopleurini
208105
https://vi.wikipedia.org/wiki/Shahganj
Shahganj
Shahganj là một thành phố và là nơi đặt ban đô thị (municipal board) của quận Jaunpur thuộc bang Uttar Pradesh, Ấn Độ. Địa lý Shahganj có vị trí Nó có độ cao trung bình là 303 mét (994 feet). Nhân khẩu Theo điều tra dân số năm 2001 của Ấn Độ, Shahganj có dân số 24.595 người. Phái nam chiếm 53% tổng số dân và phái nữ chiếm 47%. Shahganj có tỷ lệ 64% biết đọc biết viết, cao hơn tỷ lệ trung bình toàn quốc là 59,5%: tỷ lệ cho phái nam là 71%, và tỷ lệ cho phái nữ là 57%. Tại Shahganj, 16% dân số nhỏ hơn 6 tuổi. Tham khảo Thành phố thuộc bang Uttar Pradesh
838425
https://vi.wikipedia.org/wiki/%2824636%29%201981%20QM2
(24636) 1981 QM2
{{DISPLAYTITLE:(24636) 1981 QM2}} (24636) 1981 QM2 là một tiểu hành tinh vành đai chính. Nó được phát hiện bởi Henri Debehogne ở Đài thiên văn La Silla ở Chile ngày 27 tháng 8 năm 1981. Xem thêm Danh sách các tiểu hành tinh: 24001–25000 Tham khảo Thiên thể phát hiện năm 1981 Được phát hiện bởi Henri Debehogne Tiểu hành tinh vành đai chính
868164
https://vi.wikipedia.org/wiki/Nesobasis%20pedata
Nesobasis pedata
Nesobasis pedata là một loài chuồn chuồn kim trong họ Coenagrionidae. Nesobasis pedata được Donnelly miêu tả khoa học năm 1990. Chú thích Tham khảo Nesobasis
329247
https://vi.wikipedia.org/wiki/Sambour
Sambour
Sambour là một huyện nằm ở Tỉnh Kratié, in Campuchia. Huyện Campuchia Tỉnh Kratié
58899
https://vi.wikipedia.org/wiki/Adi%20Shankara
Adi Shankara
Adi Shankara (Devanāgarī: , , IPA: ; tiếng Malayalam: ; sinh khoảng 788 đến 820 CE), cũng được biết đến như là ("Shankara đầu tiên trong dòng họ") và ("người thầy dưới chân của Ishvara"), c. 788 – 820 CE, là triết gia đầu tiên củng cố học thuyết Advaita Vedanta, một trường phái trong Vedanta. Những lời dạy của ông dựa trên sự hợp nhất của linh hồn và Thượng đế, trong đó Thượng đế được xem cùng một lúc là mang tính cá nhân và không có thuộc tính nào cả. Trong truyền thống của Smārta, Adi Shankara được xem là hóa thân của Shiva. Adi Shankara du hành khắp Ấn Độ với mục đích quảng bá những lời dạy của ông thông qua những bài giảng và những cuộc tranh luận với các triết gia khác. Ông lập ra bốn mathas ("tu viện") đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử phát triển và truyền bá Ấn Độ giáo và Advaita Vedanta. Adi Shankara là người sáng lập ra dòng tu Dashanami và truyền thống thờ Shanmata. Những tác phẩm của ông trong tiếng Sanskrit, tất cả còn truyền cho đến ngày nay, liên quan đến việc thiết lập học thuyết Advaita (Sanskrit, "Bất nhị"). Adi Shankara trích dẫn nhiều từ Áo nghĩa thư (Upanishad) và các kinh sách Hindu khác trong những bài giảng của ông. Ông cũng có nhiều bài tranh luận chống lại các trường phái lý luận đối nghịch như Samkhya (Số luận - một trong 6 phái triết học lớn của Ấn Độ) và Phật giáo trong các tác phẩm của ông. Cuộc đời Nguồn trích dẫn truyền thống cho cuộc đời của Adi Shankara là Shankara Vijayams, ("Chiến thắng của Shankara"), là những trường ca chứa đựng những thông tin về tiểu sử được viết ra dưới dạng truyền thuyết. Quan trọng nhất trong những tiểu sử này là (của Mādhava, khoảng thế kỉ 14), (của Cidvilāsa, khoảng giữa thế kỉ 15 và thế kỉ 17), và (của vùng Kerala, khoảng thế kỉ 17). Theo những tài liệu này, Adi Shankara được sinh ra ở Kalady, một làng ở Kerala, Ấn Độ, bởi một cặp vợ chồng brahmin người Namboothiri, Shivaguru và Aryamba sống được ba mươi hai năm. Sinh ra và tuổi thơ Cha mẹ của Adi Shankara không có con trong nhiều năm. Họ cầu nguyện tại đền thờ Vadakkunnathan (cũng được biết đến như là Vrishachala) ở Thrissur, Kerala, để xin được hạ sinh một đứa con. Truyền thuyết kể rằng Shiva xuất hiện trước cả hai vợ chồng trong giấc mơ của họ, và cho phép họ lựa chọn: một đứa con bình thường sẽ sống lâu, hay là một đứa con trai phi thường nhưng không sống được lâu. Cả hai người thích lựa chọn thứ hai; sau đó họ sinh được một đứa con trai. Cậu ta được đặt tên là Shankara (Sanskrit, "người ban cho hạnh phúc"), để vinh danh Shiva (vị thần có một tính ngữ là Shankara). Cha cậu qua đời khi Shankara còn rất nhỏ. của Shankara, lễ nhập môn vào đời sống học trò, được làm ở tuổi lên năm. Lúc còn là một đứa trẻ, Shankara đã có một sức học đáng nể, thông thạo cả bốn Veda lúc lên tám tuổi. Theo những phong tục của thời đó, Shankara học và sống tại nhà của thầy học. Theo phong tục học trò và những học giả có thể nhận ("của bố thí") từ những người thế tục; vào một dịp, trong khi đang nhận , Shankara gặp phải một người phụ nữ chỉ còn lại duy nhất một trái amalaka khô để ăn. Thay vì ăn phần còn lại cuối cùng, người phụ nữ mộ đạo cho Shankara trái amalaka như là . Xúc động, Shankara sáng tác Kanakadhārā Stotram ngay tại chỗ. Truyền thuyết kể rằng sau khi hoàn tất bài stotra, những trái amalaka bằng vàng rơi như mưa lên người phụ nữ bởi , vị Nữ thần của cải. Sannyasa Từ lúc còn nhỏ tuổi, Shankara bị cuốn hút bởi sannyasa ("cuộc sống của nhà tu hành"). Mẹ cậu phản đối việc cậu trở thành nhà sư, và không cho phép chính thức việc đó. Tuy nhiên, một lần khi Shankara đang tắm trên sông Purna ở gần nhà, một con cá sấu cắn lấy chân vào kéo cậu ta xuống nước. Chỉ có mẹ cậu ở gần đó, và bà không thể nào cứu được cậu ta. Shankara hỏi ý mẹ cậu cho phép cậu từ bỏ thế giới trần tục và chết như một thầy tu. Không còn cách nào khác, mẹ cậu bằng lòng. Lập tức Shankara đọc lên những câu mantra xem như lời khấn nguyện trở thành tu sỹ. Con cá sấu liền thả cậu ra và bơi đi. Shankara bước lên khỏi mặt nước mà không bị hề hấn gì. Với sự đồng ý của mẹ, Shankara giã từ Kerala và du hành về phía Bắc Ấn Độ để đi tìm một vị Guru. Trên bờ sông của dòng sông Narmada, cậu ta gặp Govinda Bhagavatpada, đệ tử của Gaudapada. Khi Govinda Bhagavatpada hỏi tên tuổi của Shankara, cậu ứng khẩu trả lời với một bài thơ mang ngụ ý triết lý Advaita Vedanta. Govinda Bhagavatapada hết lời khen ngợi và nhận Shankara làm đệ tử. Adi Shankara được Guru nhờ viết một khảo luận về Brahma Sutra và quảng bá Advaita Vedanta. Madhavīya Shankaravijaya kể rằng Adi Shankara đã làm dịu đi một cơn lũ từ sông Reva bằng cách đặt ("bình đựng nước") của anh trên đường đi của dòng nước lũ, do vậy cứu lấy Guru của anh, Govinda Bhagavatpada, người đang ở trong trạng thái ("tham thiền") trong một cái hang gần đó. Trong nhiệm vụ quảng bá triết lý Advaita Vedanta, Adi Shankara du hành đến Kashi, nơi có một chàng trai trẻ tên là Sanandana từ Choladesha ở Nam Ấn Độ, trở thành đệ tử đầu tiên của ông. Ở Kashi, Adi Shankara đang trên đường đi đến đền thờ Vishwanath, nơi ông gặp một người không thể chạm vào được với bốn con chó. Khi được yêu cầu tránh ra một bên bởi đệ tử của Shankara, người không thể chạm được trả lời: "Ông muốn ta di chuyển Ātman ("the Self") vĩnh cửu của ta, hay là cơ thể này làm từ thức ăn?" Hiểu ra rằng người không chạm vào được không ai hơn cả mà chính là thần Shiva, và những con chó của ông là bốn bộ kinh Vedas, Shankara cúi lạy trước ông ta, sáng tác năm bài shloka được biết đến như là Manisha Panchakam. Khi đến được vùng Badari trong dãy núi Himalaya, ông viết Bhashyas ("những bài bình luận") nổi tiếng và Prakarana granthas ("những luận văn triết học"). Sau đó ông dạy những bài bình luận này cho các đệ tử của mình. Một số, như là Sanandana, nhanh chóng lĩnh hội được những ý tưởng chính; những đồ đệ khác do vậy trở nên ghen tức với Sanandana. Để chứng tỏ với mọi người rằng Sanandana về bản chất là giỏi hơn tất cả, Adi Shankara cho gọi Sanandana từ một bờ của sông Ganga, trong khi anh ta đang ở bờ bên kia. Sanandana băng ngang qua dòng sông bằng cách bước lên những hoa sen nở ra bất cứ nơi nào mà anh bước chân đến. Adi Shankara hết sức khâm phục đệ tử của mình và đặt tên anh là ("người bước trên hoa sen"). Một nhà thông thái, , ghé thăm Adi Shankara giả dạng như là một già. Adi Shankara tranh luận với vị này trong tám ngày và cuối cùng, Vyasa lộ rõ danh tánh của mình và ban phước lành cho Adi Shankara. Gặp gỡ Mandana Mishra Một trong những cuộc tranh luận nổi tiếng nhất của Adi Shankara là với nhà nghi thức chủ nghĩa Mandana Mishra.Guru của Mandana Mishra là triết gia nổi tiếng theo chủ nghĩa Mimamsa (chủ nghĩa hình thức), . Shankara muốn tranh luận với và gặp ông ta ở Prayag nơi ông tự chôn chính mình trong một giàn thiêu cháy chậm để tự sám hối cho những tội lỗi đã phạm phải đối với Guru của ông ta: đã tự học triết lý Phật giáo mà không để thầy biết để có thể phủ nhận triết lý đó. Điều này đã thành một tội theo như kinh Vedas. do đó đã yêu cầu Adi Shankara đi đến (ngày nay được biết đến như là Maheshwar ở Madhya Pradesh) để gặp Mandana Mishra và tranh luận với ông ta. Adi Shankara đã có một cuộc tranh luận nổi tiếng với Mandana Mishra mà vợ của Mandana Mishra, , là trọng tài. Sau khi tranh luận trên mười lăm ngày, Mandana Mishra chấp nhận thất bại. sau đó thách thức Adi Shankara tranh luận với bà ta để có một chiến thắng 'hoàn toàn'. Cuộc tranh luận này là về đề tài ("khoa học tình dục"). Nhưng Adi Shankara, vì là một sannyasi, không có kiến thức về đề tài đó; do vậy, sau khi yêu cầu một ít thời gian chuẩn bị trước khi vào cuộc tranh luận mới này, ông nhập vào cơ thể của một vị vua sử dụng những quyền năng yoga của mình để thu nhận kiến thức về . Tuy nhiên sau đó, khước từ tranh luận với ông và cho phép Mandana Mishra chấp nhận sannyasa với tên tu sỹ (pháp danh) mới, như là đã đồng ý trong điều kiện của cuộc tranh luận. Dig-vijaya Adi Shankara sau đó du hành cùng các đồ đệ đến Maharashtra và Srisailam. Ở Srisailam, ông sáng tác Shivanandalahari, một bài thánh nhạc ca tụng thần Shiva. Madhaviya Shankaravijayam kể rằng khi Shankara chuẩn bị hy sinh bởi một Kapalika, thần Narasimha xuất hiện cứu lấy Shankara theo lời cầu xin của Padmapada. Do đó Adi Shankara sáng tác Laksmi-Narasimha stotra. Sau đó ông du hành đến , đền thờ của Hari-Shankara và đền thờ tại Kollur. Tại Kollur ông thu nhận một cậu bé được tin là bị bỏ rơi bởi bố mẹ cậu, như là đệ tử. Ông đặt tên cậu ta là, ("người với trái amalaka trên lòng bàn tay", nghĩa là, người đã rõ ràng tự nhận ra chính mình). Sau đó, ông ghé thăm để thiết lập và thu nhận làm đệ tử. Sau việc này, Adi Shankara bắt đầu một Dig-vijaya ("du hành truyền đạo") để quảng bá triết lý Advaita và tranh luận với các triết lý đối nghịch. Với vị vua người Malayali tên là Sudhanva như là bạn đồng hành, Shankara đi xuyên qua Tamil Nadu, Andhra Pradesh và Vidarbha. Ông sau đó bắt đầu đi về phía Karnataka nơi ông gặp phải một toán người Kapalika có vũ trang. Vua Sudhanva, cùng với quân đội của ông ta, chống lại và đánh bại toán người Kapalika. Họ đến Gokarna an toàn nơi Shankara tranh luận và thắng cuộc một học giả Shaiva, tên là Neelakanta. Đi về phía tây ở vùng Dwarka, Shankara lại đánh bại trong một cuộc tranh luận. xứ Ujjayini, người ủng hộ triết lý Bhedābeda philosophy, chịu thua. Tất cả các học giả của Ujjayini (cũng được biết đến như là Avanti) chấp nhận triết lý của Adi Shankara. Ông sau đó thắng Jainas tại một nơi gọi là Bahlika. Sau đó, ông gặp một tantrik, Navagupta tại Kamarupa. Navagupta giả vờ xin làm đệ tử của ông, nhưng sau đó đã làm cho phát triển một chứng đau ruột (rectal fistula). Tuy nhiên, Adi Shankara được chữa lành nhanh chóng và Navagupta sau này chết vì cùng một chứng bệnh. Adi Shankara do đó đã du hành khắp Ấn Độ, từ Nam Ấn Độ đến Kashmir và Nepal, truyền bá tư tưởng cho dân địa phương và tranh luận về triết học với các học giả Hindu, Phật giáo và các nhà sư dọc trên đường đi. Lên đến Sarvajnapitha Adi Shankara ghé ở Kashmir (nay là Kashmir thuộc Pakistan). Madhaviya Shankaravijayam kể rằng ngôi đền này có bốn cửa cho các học giả từ bốn hướng khác nhau. Cửa mở về phía nam(tượng trưng cho Nam Ấn Độ) chưa bao giờ được mở, cho thấy chưa có một học giả nào từ phía Nam Ấn Độ đã bước vào Sarvajna Pitha. Adi Shankara đã mở cánh cửa phía nam bằng cách đánh bại các học giả nơi đó trong các trường phái triết học khác nhau như là Mimamsa, Vedanta và các nhánh khác của triết lý Hindu; ông đã lên ngôi thông thái vô lượng của ngôi đền đó. Madhaviya Shankaravijayam kể rằng Nữ thần Saraswati ("nữ thần của kiến thức và văn chương") đã chứng nhận chiến thắng về mặt học thuật của Adi Shankara trong dịp đó. Shankara sau đó du hành đến Kedarnath và đạt được videha mukti ("sự giải thoát cuối cùng") ở tuổi ba mươi hai. Tuy nhiên, có nhiều dị bản khác nhau về những ngày cuối cùng của cuộc đời ông. Những người theo matha Kanchi (đền thờ Kanchi) tin rằng ông đạt được videha mukti ở Kanchi. Một truyền thống khác kể lại bởi Keraliya Shankaravijaya đặt nơi chết của ông ở đền Vadakkunnathan ở vùng Thrissur, Kerala. Niên đại Các học giả hiện đại đồng ý năm sinh - năm mất 788 – 820 CE, mặc dù không thể nào đạt đến sự đồng ý chung về ngày sinh hay ngày mất của Adi Shankara. Một vài Shankara , tuy vậy, đã cho niên đại xưa hơn. Nếu những ngày này là đúng, họ cần phải đẩy lùi lại niên đại của Buddha (được xem như là cột mốc của lịch sử hiện đại Ấn Độ). Một trong những Shankara lớn còn hoạt động ngày nay, những tu viện lớn ở Kanchi, Dwaraka, và Puri cho rằng Adi Shankara sống trong khoảng 509 – 477 TCN. , ngược lại, chấp nhận thời gian 788–820 CE dates. (See also Mathas). Theo như cuốn sách của Swami Niranjanananda Saraswati viết về tiểu sử của Adi Shankara, xuất bản trong cuốn sách Sannyasa Darshan của ông, Adi Shankara sinh ra ở Kalady, Kerala, vào năm 686, và đạt được mahasamadhi tại Kedarnath, Uttaranchal, vào năm 718. Các Matha Adi Shankara thành lập bốn , để hướng dẫn Ấn Độ giáo. Những đền thờ này tại Sringeri ở Karnataka ở phía nam, Dwaraka ở Gujarat ở phía tây, Puri ở Orissa ở phía đông, và Jyotirmath (Joshimath) ở Uttaranchal phía bắc. Truyền thống Hindu nói rằng ông trao quyền điều hành những đền thờ (matha) này cho bốn đại đệ tử: Sureshwaracharya, Hastamalakacharya, Padmapadacharya, và Totakacharya. Những người đứng đầu các matha này có thể lần ngược quyền hạn của họ đến những người này. Mỗi người đứng đầu của bốn matha này có danh hiệu là Shankaracharya ("Shankara thông thái") theo tên Shankara đầu tiên. Matha tại Kanchipuram, Tamil Nadu, nói rằng họ được thành lập bởi chính Adi Shankara. Bảng sau đưa ra tóm tắt tổng quát về bốn Amnaya Mathas thành lập bởi Adi Shankara và các chi tiết của họ. Triết lý và tư tưởng Advaita ("non-dualism", "bất nhị") thường được gọi là một hệ thống suy nghĩ độc thần. Từ "Advaita" chủ yếu là chỉ về danh tính của Bản thể (Atman) (Self) và Toàn thể (Brahman). Các kinh sách chính cho các trường phái của là Prasthanatrayi–các văn bản chính tắc bao gồm Áo nghĩa thư, Bhagavad Gita và Brahma Sutras. Adi Shankara là người đầu tiên trong truyền thống này đã củng cố lại ("học thuyết") của Advaita Vedanta. Ông viết các bài bình luận về Prasthana Trayi. Một câu nói nổi tiếng từ , một trong các prakarana granthas của ông tóm tắt súc tích triết lý của ông là: Brahman là sự thật duy nhất, thế giới này là không có thực, và trên hết là không có sự khác nhau giữa Brahman và từng bản thể cá nhân. Advaita Vedanta dựa trên ("kinh sách"), yukti ("suy luận") và anubhava ("kinh nghiệm"), và được giúp đỡ bởi karma ("các thực hành về tâm linh"). Triết lý cung cấp một cách sống dứt khoát phải được tuân theo. Bắt đầu từ tuổi thơ, khi việc học phải bắt đầu, triết lý này phải được nhận ra trong thực hành trong suốt cuộc đời một người cho đến khi chết. Đây là lý do tại sao triết lý này được gọi là triết lý dựa trên kinh nghiệm, nguyên lý ẩn bên dưới là "Đó chính là bạn", nghĩa là cuối cùng thì không có sự khác nhau giữa người tạo ra kinh nghiệm và người nhận kinh nghiệm (thế giới) cũng như là linh hồn của cả vũ trụ (Brahman). Trong những người theo Advaita, cũng như các học thuyết khác, có những người tin là đã xuất hiện Jivanmuktas, nghĩa là những người đã được giải thoát trong khi vẫn còn sống. Những cá nhân này (thường được gọi là Mahatma, những linh hồn vĩ đại, giữa những người Hindu) là những người đã nhận ra được sự thống nhất giữa cá nhân họ và linh hồn của vũ trụ gọi là Brahman. Về Advaita Vedanta Bhashyas của Adi Shankara (các bài khảo luận) về Áo nghĩa thư, Bhagavad Gita và Brahma Sutra là những tác phẩm chính và không ai chối cãi đó là những tác phẩm của bản thân ông. Mặc dù ông hầu như theo sát những cách thức truyền thống về cách bình luận về Brahma Sutra, có nhiều ý tưởng và lý luận mới của riêng ông để thiết lập rằng điều cốt lõi trong Upanishads là Advaita. Ông dạy rằng chỉ thông qua kiến thức trực tiếp của Brahman mà một người có thể được khai sáng. Những người chống lại Adi Shankara đã buộc tội ông đã giảng dạy Phật giáo trên danh nghĩa của Ấn Độ giáo, bởi vì những lý tưởng nhất nguyên của ông có vẻ hơi đi trước thời đại của triết lý Hindu đương thời. Tuy nhiên, cần chú ý rằng mặc dù những người theo Phật giáo sau này đã đạt đến một sự thật không thay đổi, bất tử, tuyệt đối sau khi hiểu được ảo ảnh của samsara, theo lịch sử những Vedantin (người theo chủ thuyết Vedanta) không bao giờ thích ý tưởng này. Mặc dù Advaita đưa ra lý thuyết Maya, giải thích vũ trụ chỉ là một "trò tinh nghịch của một nhà ảo thuật", Adi Shankara và những người theo ông thấy điều này như là một hệ quả của giả sử căn bản của họ rằng chỉ có Brahman là có thực. Ý của họ về Maya bắt nguồn từ niềm tin của họ về sự thật hiện hữu của Brahman, hơn là theo chiều suy luận ngược lại. Lịch sử và di sản Vào thời điểm mà Adi Shankara sống, Ấn Độ giáo đã bắt đầu suy giảm vì ảnh hưởng của Phật giáo và đạo Jain. Ấn Độ giáo đã bị chia là thành vô số các giáo phái khác nhau, mỗi giáo phái lại tranh cãi với tất cả các phái còn lại. Những người theo triết lý Mimamsa và Sankhya là những người vô thần, đến mức mà họ không tin vào Ishvara như là một bản thể thống nhất. Ngoài những người vô thần, còn có vô số giáo phái khác thuộc trường phái hữu thần. Cũng có những người từ chối kinh Veda, như là Charvaka. Adi Shankara tổ chức những bài nói chuyện và những cuộc tranh luận với các học giả hàng đầu của tất cả các giáo phái này và các trường phái triết học để tranh luận về học thuyết của họ. Ông đã thống nhất các phái hữu thần thành một hệ thống theo khuôn khổ Shanmata thông thường. Trong các tác phẩm của mình, Adi Shankara nhấn mạnh sự quan trọng của Vedas, và cố gắng của ông giúp đỡ Ấn Độ giáo đã mạnh dần lên và ngày càng phổ biến. Nhiều người truy ngược sự phổ biến của Vedanta trên thế giới ngày nay là nhờ vào các tác phẩm của ông. Ông du hành bằng cách đi bộ đến nhiều phần khác nhau của Ấn Độ để khôi phục lại sự nghiên cứu của kinh Vedas. Mặc dù ông chỉ sống được ba mươi hai năm, ảnh hưởng của ông trên toàn Ấn Độ và lên Ấn Độ giáo là hết sức đáng kể. Ông giới thiệu một dạng suy nghĩ Vedic trong sáng hơn. Những lời dạy của ông và truyền thống tạo thành cơ sở cho Smartism và đã ảnh hưởng đến dòng tu Sant Mat. Ông là nhân vật chính trong truyền thống của Advaita Vedanta. Ông là người sáng lập ra chế độ tu của Ấn Độ giáo và của truyền thống Smarta. Ông giới thiệu một dạng thờ phụng. Adi Shankara, cùng với Madhva và Ramanuja, đóng vai trò lớn trong việc khôi phục lại Ấn Độ giáo. Ba vị thầy này làm thành các học thuyết được theo bởi các giáo phái của họ ngay cả đến ngày hôm nay. Họ là những nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử cận đại của triết lý Hindu. Trong các bài viết và các thảo luận của họ, họ đã cung cấp những phản biện chống lại các trường phái phi-Vedantic của Sankhya, Vaisheshika... Do đó họ đã mở đường để cho Vedanta trở thành chủ đạo và là truyền thống được theo một cách rộng rãi nhất trong các trường phái của triết lý Hindu. Trường phái Vedanta nhấn mạnh nhất trên các Áo nghĩa thư (mà chúng được gọi là Vedanta, Kết thúc hay là tích lũy của Vedas), không giống như các trường phái khác đặt sự quan trọng lên các bộ sách viết ra bởi người sáng lập trường phái. Trường phái Vedanta có niềm tin vào kinh Vedas, mà bao gồm cả Áo nghĩa thư, là không có tác giả, tạo thành một truyền thống liên tục với sự thông thái được truyền miệng. Do đó khái niệm apaurusheyatva ("không tác giả") trở thành một lực hướng dẫn đằng sau các trường phái Vedanta. Tuy nhiên, cùng với nhấn mạnh sự quan trọng của truyền thống Vedic, Adi Shankara cũng cho một sự quan trọng tương đương đối với kinh nghiệm bản thân của người học trò. Logic, ngữ pháp, Mimamsa và các môn liên quan khác tạo thành các lãnh vực nghiên cứu chính trong tất cả các trường phái Vedanta. Một câu thơ nổi tiếng, được đọc trong truyền thống Smarta, để ghi nhận công lao của Adi Shankara là: | || | || Ta cúi chào nơi ở đầy tình thương của Vedas, Smritis và Puranas được biết như là Shankara Bhagavatpada, người làm cho thế giới thêm tốt lành. Các tác phẩm Các tác phẩm của Adi Shankara chủ yếu là nói đến sự thiết lập một cách có logic các học thuyết về Advaita Vedanta như là ông nhận thấy trong Áo nghĩa thư. Ông đã hệ thống hóa học thuyết Advaita Vedanta bằng cách dựa các lập luận của mình trên các trích dẫn từ kinh Vedas và cácthánh điển Hindu khác. Ông đặt trọng tâm vào svānubhava ("kinh nghiệm bản thân") của học sinh. Các tác phẩm của ông hầu hết là các bài viết mang tính tranh luận. Ông chủ yếu hướng các tranh luận của mình về phía Sankhya, Phật giáo, Jaina, Vaisheshika và các nhánh không-vedantic khác của triết lý Hindu. Theo truyền thống, các tác phẩm của ông được xếp loại dưới dạng ("bình giảng"), ("khảo luận triết học") và Stotra ("bài thánh nhạc"). Những bài bình giảng cung cấp một diễn dịch nhất quán về các thánh điển Ấn Độ giáo dưới quan điểm của Advaita Vedanta. Những khảo luận triết học cung cấp nhiều phương pháp khác nhau để học sinh hiểu được học thuyết đó. Những bài thánh nhạc giàu tính thơ ca và tôn giáo, đề cao tín đồ và sự vinh quang của thần linh. Trong các tác phẩm của ông, độ xác thật của Viveka Chudamani và một vài Bhashyas còn nghi vấn. Adi Shankara viết Bhashyas về mười tập chính của Áo nghĩa thư, về Brahma Sutra và Bhagavad Gita. Trong các tác phẩm của ông, ông trích dẫn từ Shveshvatara, Kaushitakai, Mahanarayana và Jabala Upanishads, và nhiều người khác. Bhashyas về Kaushitaki, Nrisimhatapani và Shveshvatara Upanishads vẫn còn lưu lại nhưng độ chính xác có nhiều nghi ngờ. Các bình giảng của Adi Shankara về Brahma Sutras là bài sớm nhất nói về đề tài này còn lại hiện nay. Tuy nhiên Adi Shankara đề cập đến những bài bình giảng xưa hơn như là các bài của Dravida, Bhartiprapancha và nhiều người khác. Trong Brahma Sutra Bhashya, Adi Shankara dẫn ra các ví dụ của Dharmavyadha, Vidura và một số người khác được sinh ra với kiến thức về Brahman thu nhận được trong các kiếp sống trước. Ông đề cập rằng ảnh hưởng đó không ngăn cản họ làm việc trên kiếp sống hiện tại của họ. Ông nói rằng kiến thức phát sinh từ việc nghiên cứu kinh Vedas có thể có được thông qua Puranas và Itihasa. Trong Taittiriya Upanishad Bhashya 2.2, ông nói: Tất cả mọi người đều có quyền biết đến kiến thức (của Brahman) và rằng mục đích tối thượng sẽ đạt được chỉ bằng kiến thức đó mà thôi. Chú thích Tham khảo Liên kết ngoài Works Complete Works of Adi Shankara Advaita Vedanta Anusandhana Kendra Complete works of Adi Shankara Advaita Vedanta Library Some major works of Adi Shankaracharya Adi Sankara's Books Historical Guru Parampara of Sringeri Sharada Peetham Guru Parampara of the Kanchi Kamakoti Peetham Sankara's date supporting the 788-820 CE date Material supporting the 509–477 TCN dates (PDF) Life and teachings Biography of Adi Shankara as per Madhaviya Shankaravijayam: from the official site of Sringeri Peetham Brief life history of Adi Shankara with informative additional links Adi Śańkara — short introduction to his life & philosophy (by Peter J. King) Biography of Shankara by Swami Sivananda Kamakoti.org - Sri Adi Sankara Mathas Shringeri Sharada Peetham Kanchi Kamakoti Peetham Shankara, Adi Shankara, Adi Shankara, Adi Shankara, Adi Sinh năm 788 Mất năm 820
245595
https://vi.wikipedia.org/wiki/S%C3%A2n%20bay%20qu%E1%BB%91c%20t%E1%BA%BF%20Yasser%20Arafat
Sân bay quốc tế Yasser Arafat
Sân bay quốc tế Yasser Arafat (; chuyển tự: Matar Yasir 'Arafat ad-Dowaly) , tên trước đây Sân bay quốc tế Gaza và Sân bay quốc tế Dahaniya, là một sân bay ở dải Gaza, ở Rafah gần biên giới với Ai Cập. Sân bay này thuộc sở hữu và vận hành của Chính quyền Palestin, là sân bay nhà của Palestinian Airlines. Sân bay này có thể phục vụ 700.000 lượt khách mỗi năm và hoạt động 24/24h. Sân bay này được khai trương năm 1998 nhưng đã bị đóng cử năm 2001 sau khi bị quân đội Israel phá hủy nặng nề. Sân bay này đã được xây bằng ngân quỹ của Nhật Bản, Ai Cập, Tây Ban Nha, Đức và theo thiết kế của các kiến trúc sư Maroc (theo kiến trúc của sân bay Casablanca). Tổng mức đầu tư là 86 triệu USD. Sau 1 năm xây dựng, sân bay này được khánh thành ngày 24 tháng 11 năm 1998. Vào thời điểm đó, việc khai trương sân bay này được xem như một bằng chứng tiến đến việc lập một nhà nước Palestin. Sân bay này kết nghĩa với Sân bay quốc tế Mohammed V ở Casablanca, Maroc. Trạm radar và đài không lưu đã bị máy bay Các lực lượng phòng vệ Israel phá năm 2001 sau khi bắt đầu al-Aqsa Intifada, và các xe ủi đã cắt đường băng ra nhiều đoạn vào tháng 1 năm 2002. Các hãng hàng không Các hãng dưới đây đã từng hoạt động tại Sân bay quốc tế Yasser Arafat: Egypt Air Palestinian Airlines Royal Air Maroc Royal Jordanian Royal Wings Rusavia Tarom Tham khảo Liên kết ngoài Yasser Arafat International Airport Official website Google Maps aerial photograph Sân bay lãnh thổ Palestin
661349
https://vi.wikipedia.org/wiki/Passalus%20spiniger
Passalus spiniger
Passalus spiniger là một loài bọ cánh cứng trong họ Passalidae. Chú thích Tham khảo Passalus
681555
https://vi.wikipedia.org/wiki/Bathycolpodes
Bathycolpodes
Bathycolpodes là một chi bướm đêm thuộc họ Geometridae. Các loài Bathycolpodes holochroa Prout, 1915 Bathycolpodes marginata (Warren, 1897) Bathycolpodes perdistincta Herbulot, 2003 Chú thích Tham khảo Bathycolpodes at funet.fi Natural History Museum Lepidoptera genus database Geometridae Geometrinae
261620
https://vi.wikipedia.org/wiki/Chies%20d%27Alpago
Chies d'Alpago
Chies d'Alpago là một đô thị ở tỉnh Belluno trong vùng Veneto, có vị trí cách khoảng 80 km về phía bắc của Venice và khoảng 15 km về phía đông của Belluno. Tại thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2004, đô thị này có dân số 1.530 và diện tích 44,9 km². Chies d'Alpago giáp các đô thị: Barcis, Claut, Pieve d'Alpago, Puos d'Alpago, Tambre. Biến động dân số Tham khảo Đô thị tỉnh Belluno Thành phố và thị trấn ở Veneto
328073
https://vi.wikipedia.org/wiki/Georgios%20I%20c%E1%BB%A7a%20Hy%20L%E1%BA%A1p
Georgios I của Hy Lạp
Georgios I hay Georg I (, Geōrgios A', Vasileús tōn Ellēnōn; 24 tháng 12 năm 1845 – 18 tháng 3 năm 1913) là một vị vua của người Hy Lạp, trị vì từ năm 1863 tới 1913. Vốn là một Hoàng tử Đan Mạch, Georgios được Đại hội đồng quốc gia Hy Lạp tôn làm vua ở tuổi 17, sau khi cựu vương Othon bị hạ bệ. Ông lên ngôi với sự hậu thuẫn của các nước đế quốc phương Tây (Vương quốc Liên hiệp Anh và Ireland, Đế chế Pháp thứ hai và Đế quốc Nga). Là vị vua đầu tiên của triều đại Schleswig-Holstein-Sonderburg-Glücksburg Hy Lạp, dưới triều ông, Vương quốc Hy Lạp mở mang lãnh thổ, gây chiến với đế quốc Ottoman. Năm 1913, trong khi chiến tranh Balkan lần thứ nhất đang tiếp diễn, ông bị một người vô chính phủ ám sát. Ông trị vì được 50 năm, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử Hy Lạp cận đại. Thiếu thời Georg được sinh ra vào ngày 24 tháng 12 năm 1845 tại Cung điện Vàng (18 Ameliegade, Copenhagen). Ông là con trai thứ và người con thứ ba của Vương công Christian của Schleswig-Holstein-Sonderburg-Glücksburg với Louise của Hessen-Kassel. Khi được rửa tội, ông được đặt tên là Christian Wilhelm Ferdinand Adolf Georg, và trước khi trở thành Vua Hy Lạp, ông được biết đến với cái tên là Vương tử Wilhelm, được đặt tên theo ông nội Friedrich Wilhelm, Công tước của Schleswig-Holstein-Sonderburg-Glücksburg, và Hoàng tử Wilhelm của Hessen-Kassel. Mặc dù mang trong mình dòng máu hoàng gia (cả cha và mẹ ông đều là chắt của Frederik V của Đan Mạch và chít của George II của Anh), nhưng gia đình ông có một cuộc sống khác xa so với tiêu chuẩn hoàng gia. Tuy nhiên, vào 1853, cha của George được chỉ định làm người thừa kế của vị vua không con Frederik VII của Đan Mạch. Các anh chị em của Georg là Frederik (người về sau trở thành Vua của Đan Mạch, có con trai thứ được bầu làm Haakon VII của Na Uy vào năm), Alexandra (về sau là vợ của Edward VII của Anh và mẹ của George V), Dagmar (về sau là Hoàng hậu Mariya Fyordorovna với tư cách là vợ của Aleksandr III của Nga và mẹ của Nikolai II), Thyra (về sau là vợ của Ernst August, Thái tử của Hannover) và Valdemar. Tiếng mẹ đẻ của Georg là tiếng Đan Mạch, và tiếng Anh là ngôn ngữ thứ hai của ông. Ngoài ra, ông cũng được dạy thêm tiếng Pháp và tiếng Đức. Vua của người Hellen Bối cảnh Thời kỳ đầu trị vì Hôn nhân và con cái Georgios gặp Nữ đại vương công Olga Konstantinovna của Nga lần đầu tiên vào năm 1863, lúc bà 12 tuổi. Cả hai gặp nhau lần thứ hai vào tháng 4 năm 1867, khi ông tới Đế quốc Nga để thăm em gái Dagmar. Trong khi Georgios theo đạo Luther, thì những người nhà Romanov là những người Chính Thống giáo giống như đại đa số người Hy Lạp, và Georgios nghĩ một cuộc hôn nhân với một nữ đại vương công Nga sẽ giải quyết vấn đề về tôn giáo của các con ông trong tương lai. Olga chỉ mới 16 tuổi khi bà cưới Georgios tại Cung điện Mùa đông ở Sankt-Petersburg vào ngày 27 tháng 10 năm 1867. Sau tuần trăng mật tại Tsarskoye Selo, cặp đôi rời Nga tới Hy Lạp vào ngày 9 tháng 11 cùng năm. Trong hai mươi năm tiép theo, họ có với nhau tám người con: Konstantinos (1868–1923), về sau kết hôn với Sophie của Phổ và có với nhau sáu người con; ông là cha của những vị vua Hy Lạp Georgios II, Alexandros, và Pavlos, và là ông của Vua Konstantinos II của Hy Lạp, Vua Michael I của Romania, và Vương hậu Sophia của Tây Ban Nha; Georgios (1869–1957), kết hôn với Công chúa Marie Bonaparte và có hai người con; Alexandra (1870–1891), kết hôn với Đại vương công Pavel Aleksandrovich của Nga và có hai người con; Nikolaos (1872–1938), kết hôn với Nữ đại vương công Yelena Vladimirovna của Nga và có ba người con; Maria (1876–1940), kết hôn lần đầu với Đại vương công Georgiy Mikhaylovich của Nga, cả hai có với nhau hai người con, và lần thứ hai với Perikles Ioannidis; Olga (1880), qua đời khi mới bảy tháng tu; Andreas (1882–1944), kết hôn với Alice xứ Battenberg và có với nhau năm người con; ông là cha của Philip, Vương tế Anh. Kristoforos (1888–1940), kết hôn lần đầu tiên với góa phụ người Mỹ Nancy Stewart Worthington Leeds và lần thứ hai với Công chúa Françoise xứ Orléans, cả hai có với nhau một người con. Mở rộng lãnh thổ Thời kỳ trị vì sau này và bị ám sát Danh hiệu Chú thích Tham khảo Vua Hy Lạp Vương tộc Holstein-Gottorp-Romanov Vương tộc Glücksburg Vua bị ám sát Vương tử Đan Mạch Chính trị gia Hy Lạp bị ám sát Thế vận hội Mùa hè 1896 Người Copenhagen Vua bị giết Vương tộc Glücksburg (Hy Lạp) An táng tại Nghĩa trang Hoàng gia Cung điện Tatoi
901103
https://vi.wikipedia.org/wiki/Agriotes%20propleuralis
Agriotes propleuralis
Agriotes propleuralis là một loài bọ cánh cứng trong họ Elateridae. Loài này được Platia & Gudenzi miêu tả khoa học năm 1998. Chú thích Tham khảo Agriotes
540884
https://vi.wikipedia.org/wiki/78
78
Năm 78 là một năm trong lịch Julius. Sự kiện Sinh Mất Tham khảo Năm 78 als:70er#Johr 78
87207
https://vi.wikipedia.org/wiki/Tavaux
Tavaux
Tavaux là một xã trong vùng hành chính Franche-Comté, thuộc tỉnh Jura, quận Dole, tổng Canton de Chemin. Tọa độ địa lý của xã là 47° 02' vĩ độ bắc, 05° 24' kinh độ đông. Tavaux nằm trên độ cao trung bình là 194 mét trên mực nước biển, có điểm thấp nhất là 189 m mét và điểm cao nhất là 197 m mét. Xã có diện tích 13,86 km², dân số vào thời điểm 1999 là 4.274 người; mật độ dân số là 308 người/km². Thông tin nhân khẩu Xem thêm Xã của tỉnh Jura Tham khảo INSEE IGN Xã của Jura
919258
https://vi.wikipedia.org/wiki/Diabrotica%20guaratiba
Diabrotica guaratiba
Diabrotica guaratiba là một loài bọ cánh cứng trong họ Chrysomelidae. Loài này được Marques miêu tả khoa học năm 1941. Chú thích Tham khảo Diabrotica
124370
https://vi.wikipedia.org/wiki/Sanry-l%C3%A8s-Vigy
Sanry-lès-Vigy
Sanry-lès-Vigy là một xã trong vùng Grand Est, thuộc tỉnh Moselle, quận Metz-Campagne, tổng Vigy. Tọa độ địa lý của xã là 49° 11' vĩ độ bắc, 06° 16' kinh độ đông. Sanry-lès-Vigy nằm trên độ cao trung bình là 238 mét trên mực nước biển, có điểm thấp nhất là 185 mét và điểm cao nhất là 277 mét. Xã có diện tích 5,55 km², dân số vào thời điểm 1999 là 500 người; mật độ dân số là 90 người/km². Thông tin nhân khẩu Tham khảo Xã của Moselle
792045
https://vi.wikipedia.org/wiki/Andrew%20McCollum
Andrew McCollum
Andrew McCollum là họa sĩ đồ họa đầu tiên làm việc tại Facebook, là website được thành lập bởi Mark Zuckerberg và những người bạn cùng phòng ký túc xá tại đại học Harvard. Anh làm việc cho Facebook từ tháng 2 năm 2004 đến tháng 9 năm 2006. Anh là người thiết kế biểu tượng đầu tiên của website, và đã quyết định thêm hình bóng in nghiêng của Al Pacino vào biểu tượng đó. McCollum cũng đã giúp phát triển dự án bên lề của Facebook, Wirehog. Anh tốt nghiệp trường đại học Harvard năm 2007 với bằng cử nhân trong ngành khoa học máy tính. Tham khảo Tài liệu David Kirkpatrick, Hiệu ứng Facebook. Liên kết ngoài Andrew McCollum tại CrunchBase. Facebook Sinh năm 1979 Cựu sinh viên Đại học Harvard Nhân vật còn sống
583822
https://vi.wikipedia.org/wiki/Phyllonorycter%20pseudolautella
Phyllonorycter pseudolautella
Phyllonorycter pseudolautella là một loài bướm đêm thuộc họ Gracillariidae. Nó được tìm thấy ở Nhật Bản (Hokkaidō, Honshū) và vùng Viễn Đông Nga. Sải cánh dài 6-7.5 mm. Ấu trùng ăn Quercus crispula, Quercus mongolica và Quercus serrata. Chúng ăn lá nơi chúng làm tổ. Chú thích Tham khảo Phyllonorycter
881510
https://vi.wikipedia.org/wiki/Megachile%20eulaliae
Megachile eulaliae
Megachile eulaliae là một loài Hymenoptera trong họ Megachilidae. Loài này được Cockerell mô tả khoa học năm 1917. Chú thích Tham khảo E Động vật được mô tả năm 1917
332507
https://vi.wikipedia.org/wiki/Boiry-Saint-Martin
Boiry-Saint-Martin
Boiry-Saint-Martin là một xã của tỉnh Pas-de-Calais, thuộc vùng Hauts-de-France, miền bắc nước Pháp. Dân số Xem thêm Xã của tỉnh Pas-de-Calais Tham khảo INSEE IGN Liên kết ngoài Boiry-Saint-Martin on the Quid website Boirysaintmartin
844880
https://vi.wikipedia.org/wiki/6712%20Hornstein
6712 Hornstein
6712 Hornstein (1990 DS1) là một tiểu hành tinh vành đai chính được phát hiện ngày 23 tháng 2 năm 1990 bởi A. Mrkos ở Klet. Tham khảo Liên kết ngoài JPL Small-Body Database Browser ngày 6712 Hornstein Tiểu hành tinh vành đai chính Thiên thể phát hiện năm 1990
890813
https://vi.wikipedia.org/wiki/Lasioglossum%20kasuloi
Lasioglossum kasuloi
Lasioglossum kasuloi là một loài Hymenoptera trong họ Halictidae. Loài này được Cockerell mô tả khoa học năm 1937. Chú thích Tham khảo Lasioglossum Động vật được mô tả năm 1937
270802
https://vi.wikipedia.org/wiki/Cabra
Cabra
Cabra là một đô thị trong tỉnh Córdoba, Andalucía, Tây Ban Nha. Dân số 20.940 người năm 2005. Đô thị này nằm dọc theo tuyến đường giữa Cordoba và Malaga ở phía nam của Tây Ban Nha. Đây là một điểm lối vào Parque Natural de las Sierras Subbeticas. Mặc dù hoạt động chính trong Cabra là ngành công nghiệp sơ cấp, khu vực này được ghi nhận như một nguồn đá vôi đánh bóng màu đỏ. Tham khảo Liên kết ngoài official Page of the Ilmo. City council of Cabra tourist portal for the City council of Cabra Economic Study of Spain - Cabra climatic data - Cabra Bibliography on Cabra from the Biblioteca Nacional de España Cabra statistics from the Multiterritorial Information System of Andalucía Map of Cabra, Andalucía, Tây Ban Nhafrom GoogleMap Đô thị ở Córdoba
881150
https://vi.wikipedia.org/wiki/Megachile%20apiformis
Megachile apiformis
Megachile apiformis là một loài Hymenoptera trong họ Megachilidae. Loài này được Smith mô tả khoa học năm 1853. Chú thích Tham khảo A Động vật được mô tả năm 1853
388117
https://vi.wikipedia.org/wiki/K%C3%ADch%20th%C6%B0%E1%BB%9Bc%20t%E1%BA%ADp%20tin
Kích thước tập tin
Kích thước tập tin là kích thước của một tập tin máy tính. Thông thường nó được đo bằng đơn vị byte với một tiền tố. Lượng không gian đĩa trên thực tế được sử dụng bởi tập tin phụ thuộc vào hệ thống tập tin.Theo quy ước, các đơn vị kích thước tệp sử dụng tiền tố hệ mét (như megabyte và gigabyte ) hoặc tiền tố nhị phân (như mebibyte và gibibyte). Mặc dù kích thước khu vực nhỏ hơn cho phép sử dụng không gian đĩa dày đặc hơn, nhưng chúng làm giảm hiệu quả hoạt động của hệ thống tệp. Kích thước tập tin lớn nhất mà một hệ thống hỗ trợ phụ thuộc vào số bit đã được lưu trước chứa thông tin kích thước và kích thước tổng của hệ thống tập tin. Ví dụ, với một hệ thống FAT32, kích thước của một file phải bé hơn 4 GB. Một số kích thước tập tin phổ biến là: 1 KB = 1.024 byte 1 MB = 1.048.576 byte 1 GB = 1.073.741.824 byte 1 TB = 1.099.511.627.776 byte . Những đơn vị này thường được mô tả sử dụng tương ứng các thuật ngữ KB, MB, GB và TB. Trên phương diện kỹ thuật, điều này khá mơ hồ, bởi các tiền tố kilo, mega, giga và tera biểu thị phép nhân tương ứng với 10^3, 10^6, 10^9 và 10^12. Tuy nhiên, các tiền tố lũy thừa hai cũng đã được sử dụng rộng rãi, do vậy vẫn còn một số mơ hồ. Ví dụ, một ổ đĩa cứng được nhà sản xuất mô tả có dung lượng 200 GB sẽ có một dung lượng xấp xỉ 200 * 10^9 byte. Thêm nữa, khi một chiếc ổ như vậy vừa được format (định dạng các vùng dữ liệu của ổ) và cài đặt vào một máy tính chạy hệ điều hành Microsoft Windows XP, hệ điều hành này sẽ thông báo kích thước ổ đĩa này là 186 GB. Giá trị này có thể thay đổi chút ít tùy vào dung lượng chính xác của ổ đĩa, hệ thống tập tin được sử dụng, và các điều kiện khác. Điều này là do trên thực tế Windows thông báo kích thức ổ đĩa bằng đơn vị GB, 186 GB xấp xỉ bằng 200 GB. Kích thước tối đa Kích thước tệp tối đa mà hệ thống tệp hỗ trợ không chỉ phụ thuộc vào dung lượng của hệ thống tệp mà còn phụ thuộc vào số lượng bit dành riêng cho việc lưu trữ thông tin về kích thước tệp. Ví dụ: kích thước tệp tối đa trong hệ thống tệp FAT32 là 4,294,967,295 byte. Bảng dưới đây nêu chi tiết kích thước tệp tối đa cho một số hệ thống tệp lịch sử hoặc phổ biến. Bảng các kích thước tệp tin tối đa mà các hệ thống tệp hỗ trợ Đơn vị thông tin Byte là đơn vị cơ sở điển hình của thông tin. Các tệp lớn hơn thường sẽ có kích thước được biểu thị bằng kilobyte, megabyte hoặc gigabyte tùy thuộc vào dung lượng của tệp. Trong khi các đơn vị lớn hơn này không chính xác bằng kích thước byte, hầu hết các hệ điều hành sẽ hiển thị kích thước byte thực của tệp bằng cách kiểm tra trực tiếp các thuộc tính tệp. Các công cụ dòng lệnh cũng có thể hiển thị kích thước byte chính xác. Một hệ thống tệp có thể hiển thị tất cả các kích thước với hệ thống số liệu chỉ có 'kB' trên các tệp nhỏ chỉ ra nó, trong khi một số hệ thống tệp/hệ điều hành sẽ hiển thị kích thước trong, theo truyền thống được sử dụng trên máy tính, hệ nhị phân cho mọi kích thước, ví dụ: 'KB' , trong khi các nhà sản xuất đĩa cứng sử dụng hệ thống số liệu (ví dụ: GB = 1.000.000.000 byte và TB = 1000 GB). Kilobyte (KB) (JEDEC), đôi khi được gọi một cách rõ ràng là kibibyte (KiB) (IEC). Đôi khi kB, với tiền tố SI được viết hoa thấp hơn 'k-' cho kilo (1000), được sử dụng, sau đó luôn bằng 1000 byte. Truyền tệp (ví dụ: "tải xuống") có thể sử dụng tốc độ đơn vị byte (ví dụ: MB/s) trong hệ nhị phân chứ không phải hệ thống số liệu, trong khi phần cứng mạng, chẳng hạn như [[WiFi, luôn sử dụng hệ thống số liệu (Mbit/s, Gbit/s, v.v...). các đơn vị của bit (và nó cần phải gửi nhiều hơn các tập tin bản thân, vì vậy một số nhu cầu trên không được yếu tố trong), làm cho điều kiện bề ngoài tương tự không tương thích. Bảng chuyển đổi đơn vị tập tin Ghi chú Xem thêm Hệ thống tập tin Tiền tố SI Chú thích Kích thước tập tin Tập tin
458863
https://vi.wikipedia.org/wiki/Th%E1%BB%8D%20Ph%C3%BA
Thọ Phú
Thọ Phú là một xã thuộc huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Thọ Phú gồm có 11 thôn. Trụ sở ủy ban nhân dân, trạm xá và Đài tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ trong 2 cuộc đấu tranh chống Pháp và chống Mĩ cứu nước đặt ở xóm 5. Vị trí địa lý Thọ Phú phía đông giáp với xã Thiệu Hoà (huyện Thiệu Hóa), xã Dân Lực; phía tây giáp xã Thọ Vực; phía nam giáp xã Thọ Thế; phía bắc giáp xã Xuân Thịnh. Văn hóa Trên địa bàn xã có Lăng mộ Quận công Lê Thì Hiến được Bộ văn hoá thông tin công nhận là khu di tích lịch sử cấp Quốc gia - xếp hạng 3. Xã Thọ Phú đã đóng góp nhiều công sức trong công cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, có nhiều vị lão thành cách mạng đặc biệt có cố lão thành cách mạng Hoàng Sĩ Oánh (tức Bản Toàn - xóm 3A), ông vừa là lão thành cách mạng vừa là đại biểu Quốc hội khoá 1 - năm 1946. Xã có 1 trường mầm non, 1 trường tiểu học và 1 trường trung học cơ sở đào tạo cho học sinh trong xã. Có Sông Nhà Lê (hay còn gọi là Sông Hào) chạy dọc theo xã chảy qua Cầu Sỹ, Cầu Thiều Có quốc lộ 45 đi qua.Ngoài đền thờ và lăng mộ Hào Quận Công Lê Thì Hiến Thọ Phú còn có cả một Quần thể các di tích như Bia và đền thờ các tướng nhà lê tại xóm trại nay là xóm 3a, Đình rồng thờ Thần Cao sơn là ngôi đình Lớn,uy linh là hồn quê là niềm tự hào của người Thọ Phú,đình họp ở Trung thành nay là xóm 5. Trên xóm Thượng nay là xóm 2 có Phủ Cồn Thuần (Thường gọi Là Phủ Bà) Thờ Mẫu Liễu Hạnh và thờ đức thánh trần.đi về hướng tây cạnh bến sông nhà lê có chùa còn gọi là bến chùa thờ phật,xóm thượng còn có miếu thờ linh thần,có lăng tự lăng phát tích.phủ cồn thuần nay đã được tôn tạo uy linh,làng mỹ hào ở xóm 7 có chùa bản thổ xóm 8 có đình họp. Miếu Bà thờ thành Hoàng Làng Thanh Hoà ở xóm 9 được bà con nhân dân trong vùng thường xuyên đến cầu may, lễ bái - thuyết truyền rằng Miếu Bà thờ công chúa Quỳnh Hoa của Vua rất linh thiêng. Kênh nhà Lê, (cg. sông nhà Lê), là công trình giao thông vận tải đường thủy từ Thanh Hóa vào Nghệ An (lúc đó bao gồm cả Hà Tĩnh) được khơi vét và đào vào các thời Tiền Lê, Lê Sơ và Lê Trung hưng. Năm 983, Lê Hoàn cho đào kênh từ sông Mã qua núi Đồng Cổ đến sông Bà Hoà. Năm 1438, Lê Thái Tông cho đào các kênh ở Thanh Hoá. Năm 1445, Lê Nhân Tông sai các quan đốc thúc quân lính đào các kênh ở lộ Thanh Hoá và Nghệ An. Năm 1744, vua Lê Hiển Tông tiếp tục cho khơi kênh từ Thanh Hoá vào Nghệ An. KNL đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thông, buôn bán từ các tỉnh miền Bắc Trung Bộ ra Bắc Bộ.. Xã này nằm bên tuyến kênh Nhà Lê, là tuyến đường thủy đầu tiên trong lịch sử Việt Nam từ kinh đô Hoa Lư đến Đèo Ngang và được xem là tuyến đường Hồ Chí Minh trên sông vì những đóng góp cho các cuộc chiến tranh của người Việt. Nhân kiệt Cuộc khởi nghĩa Chu Đạt diễn ra từ năm 156 đến năm 160. Năm 156, Chu Đạt, người huyện Cư Phong, Cửu Chân (nay là xã Phú Hào - Thọ Phú, huyện Triệu Sơn, Thanh Hóa), nổi dậy chống chính quyền đô hộ nhà Đông Hán. Chu Đạt chiêu mộ dân binh vây đánh huyện sở Cư Phong (vùng đất các huyện Nông Cống, Quảng Xương, Tĩnh Gia, Như Xuân, Như Thanh thuộc tỉnh Thanh Hóa ngày nay) giết chết huyện lệnh, giải phóng toàn bộ quận Cửu Chân rồi tấn công quận trị Tư Phố giết chết thái thú Nghê Thức nhà Đông Hán. Cuộc khởi nghĩa tập hợp lực lượng có tới 5.000 người, quản trị Cửu Chân được 4 năm từ năm 156 đến năm 160. Năm 158, vua Đông Hán cử đô úy Ngụy Lãng đem quân đàn áp, buộc Chu Đạt phải lui vào Nhật Nam (Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên). Tại đây thanh thế nghĩa quân mạnh lên Chú thích Tham khảo
901041
https://vi.wikipedia.org/wiki/Agriotes%20laevicarinatus
Agriotes laevicarinatus
Agriotes laevicarinatus là một loài bọ cánh cứng trong họ Elateridae. Loài này được Platia & Gudenzi miêu tả khoa học năm 1999. Chú thích Tham khảo Agriotes
649678
https://vi.wikipedia.org/wiki/Palaechthona
Palaechthona
Palaechthona là một chi bướm đêm thuộc họ Erebidae. Chú thích Tham khảo Natural History Museum Lepidoptera genus database Erebidae
952099
https://vi.wikipedia.org/wiki/Amphineurus%20molophilinus
Amphineurus molophilinus
Amphineurus (Amphineurus) molophilinus là một loài ruồi trong họ Limoniidae. Chúng phân bố ở miền Australasia. Tham khảo Amphineurus Limoniidae ở vùng Australasia
208623
https://vi.wikipedia.org/wiki/Udumalaipettai
Udumalaipettai
Udumalaipettai là một thành phố và khu đô thị của quận Coimbatore thuộc bang Tamil Nadu, Ấn Độ. Nhân khẩu Theo điều tra dân số năm 2001 của Ấn Độ, Udumalaipettai có dân số 58.893 người. Phái nam chiếm 49% tổng số dân và phái nữ chiếm 51%. Udumalaipettai có tỷ lệ 81% biết đọc biết viết, cao hơn tỷ lệ trung bình toàn quốc là 59,5%: tỷ lệ cho phái nam là 85%, và tỷ lệ cho phái nữ là 77%. Tại Udumalaipettai, 8% dân số nhỏ hơn 6 tuổi. Tham khảo Thành phố thuộc bang Tamil Nadu
377458
https://vi.wikipedia.org/wiki/Cemboing
Cemboing
Cemboing là một xã thuộc tỉnh Haute-Saône trong vùng Bourgogne-Franche-Comté phía đông nước Pháp. Xem thêm Xã của tỉnh Haute-Saône Tham khảo INSEE Xã của Haute-Saône
956156
https://vi.wikipedia.org/wiki/Gonomyia%20turritella
Gonomyia turritella
Gonomyia turritella là một loài ruồi trong họ Limoniidae. Chúng phân bố ở miền Ấn Độ - Mã Lai. Liên kết ngoài Tham khảo Gonomyia Limoniidae ở vùng Indomalaya
622301
https://vi.wikipedia.org/wiki/Cryptophasa%20rubescens
Cryptophasa rubescens
Cryptophasa rubescens là một loài bướm đêm thuộc họ Oecophoridae. Nó được tìm thấy ở Úc. Hình ảnh Chú thích Tham khảo Cryptophasa
249048
https://vi.wikipedia.org/wiki/B%E1%BB%99%20Song%20gi%C3%A1p
Bộ Song giáp
Bộ Song giáp (danh pháp khoa học: Didymelales) là tên gọi của một bộ trong thực vật có hoa hai lá mầm. Trong hệ thống Cronquist người ta xếp nó trong phân lớp Kim lũ mai (Hamamelidae) và chỉ bao gồm một họ là họ Song giáp (Didymelaceae) với chỉ 1 chi (Didymeles) và 2-3 loài (Didymeles integrifolia, D. madagascarensis, D. perrieri), là các loại cây thân gỗ đặc hữu của Madagascar với các hoa đơn giản và nguyên thủy. Hoa của chúng đơn tính khác gốc. Hoa đực bao gồm 2 bao phấn (túi phấn) không cuống cộng 1-2 vảy nhỏ gắn vào ngay dưới bao phấn. Hoa cái bao gồm 4 vảy cộng 1 lá noãn hình trụ (cấu trúc mang noãn) với bề mặt tiếp nhận phấn nằm xiên, lớn (núm nhụy) và 1 noãn. Hệ thống APG II năm 2003 không công nhận bộ này cũng như họ Song giáp, các loài trong họ/bộ được gộp chung trong họ Hoàng dương (Buxaceae). Tuy nhiên, APG II cho phép một tùy chọn tách riêng họ này ra; và khi đó nó không đặt trong bộ nào mà chỉ được xếp như là nhánh cơ sở (ngoại biên) của thực vật hai lá mầm thật sự (eudicots). Chú thích Tham khảo Bộ Song giáp trên Britannica Online Encyclopedia Song giáp, bộ Song giáp
791671
https://vi.wikipedia.org/wiki/Lissotesta%20liratula
Lissotesta liratula
Lissotesta liratula là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển thuộc họ Turbinidae. Miêu tả Phân bố Chú thích Tham khảo Lissotesta
839501
https://vi.wikipedia.org/wiki/%2813066%29%201991%20PM13
(13066) 1991 PM13
{{DISPLAYTITLE:(13066) 1991 PM13}} (13066) 1991 PM13 là một tiểu hành tinh vành đai chính. Nó được phát hiện bởi Henry E. Holt ở Đài thiên văn Palomar ở Quận San Diego, California, ngày 5 tháng 8 năm 1991. Xem thêm Danh sách các tiểu hành tinh: 13001–14000 Tham khảo Thiên thể phát hiện năm 1991 Được phát hiện bởi Henry E. Holt Tiểu hành tinh vành đai chính
745291
https://vi.wikipedia.org/wiki/Inodrillia%20nucleata
Inodrillia nucleata
Inodrillia nucleata là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển trong họ Turridae. Miêu tả Phân bố Chú thích Tham khảo Inodrillia
750684
https://vi.wikipedia.org/wiki/Davao%20de%20Oro
Davao de Oro
Davao de Oro, trước đây là Compostela Valley, là một tỉnh đảo của Philippines thuộc vùng Davao tại Bắc Mindanao. Tỉnh có thể được gọi tắt là "Comval". Tỉnh là một phần của tỉnh Davao del Norte cho đến khi tách ra năm 1998. Đây là tỉnh mới thứ 2 tại Philippines sau Zamboanga Sibugay. Tỉnh lỵ là Nabunturan. Davao de Oro giáp với các tỉnh Davao del Norte về phía tây, Agusan del Sur về phía bắc và Davao Oriental về phía đông. Phía tây nam là vịnh Davao Nhân khẩu Thành phần dân cư chủ yếu là những người nhập cư đến từ các Cebu, Samar, Bohol và các tỉnh khác thuộc Visayas. Văn hóa thiểu số trong tỉnh có các nhóm người Mansaka, Mandaya, Dibabawons, Mangguangans và nhóm Aeta như Talaingod, Langilan, và Matigsalug. Kinh tế Nguồn thu nhập chủ yếu của tỉnh đến từ nông nghiệp với các nông sản như lúa gạo, dừa và chuối. Một số người cũng nuôi trồng thủy sản. Tỉnh cũng khá về trữ lượng quặng vàng. Hành chính Davao de Oro gồm 11 đô thị tự trị Chú thích Liên kết ngoài Website chính thức của Chính quyền tỉnh Tỉnh của Philippines
743375
https://vi.wikipedia.org/wiki/Prionovolva%20brevis
Prionovolva brevis
Prionovolva brevis là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển trong họ Ovulidae. Miêu tả Loài này có kích thước giữa 6 mm and 22 mm Phân bố Chúng phân bố ở Thái Bình Dương dọc theo Nhật Bản, Đài Loan, Philippines, Papua New Guinea và New South Wales, Australia và ở Ấn Độ Dương dọc theo Somalia. Chú thích Tham khảo Gastropods.com: Prionovolva brevis; truy cập: 20 tháng 1 năm 2011 Prionovolva
307878
https://vi.wikipedia.org/wiki/Albitreccia
Albitreccia
Albitreccia là một xã của tỉnh Corse-du-Sud, thuộc vùng Corse, trên đảo Corse ở Pháp. Dân số Xem thêm Xã của tỉnh Corse-du-Sud Tham khảo Xã của Corse-du-Sud
720741
https://vi.wikipedia.org/wiki/Agladrillia%20flucticulus
Agladrillia flucticulus
Agladrillia flucticulus là một loài ốc biển, là động vật thân mềm chân bụng sống ở biển trong họ Drilliidae. Miêu tả Phân bố Chú thích Tham khảo Agladrillia
969962
https://vi.wikipedia.org/wiki/Bidessonotus%20ploterus
Bidessonotus ploterus
Bidessonotus ploterus là một loài bọ cánh cứng trong họ Bọ nước. Loài này được Young miêu tả khoa học năm 1990. Chú thích Tham khảo Bọ nước Bidessonotus
398630
https://vi.wikipedia.org/wiki/Neroth
Neroth
Neroth là một đô thị thuộc huyện Vulkaneifel, trong bang Rheinland-Pfalz, phía tây nước Đức. Đô thị này có diện tích 7,24 km², dân số thời điểm ngày 31 tháng 12 năm 2006 là 899 người. Tham khảo Xã và đô thị ở huyện Vulkaneifel