text
stringlengths
78
4.36M
title
stringlengths
4
2.14k
len
int64
18
943k
gen
stringclasses
1 value
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 12 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ12 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi Ai mà chẳng biết cây cau. Thân cây cứ thẳng vút lên, chia thành từng dóng ngắn. Ngọn cau xoè ra như chiếc ô để ngược, còn nõn cau như mũi kiếm đâm vút lên trời. Hình ảnh những làng xa xanh ngát màu tre, cao vút là những ngọn cau thưa thớt, rất quen thuộc với mọi người, nhất là những ai từng có một vùng quê để thương, để nhớ. Thỉnh thoảng về thăm quê, sau khi ngắm những ngọn cau từ xa ấy, ta sẽ được uống một ngụm nước mưa trong vắt, mát lạnh, đựng trong chum sành đặt ở gốc cau. Nước mưa từ ngọn cau chây xuống, qua một túm lá cau làm máng, chảy vào chum. Cây cau hứng nước của vòm trời. Nước mưa như còn đọng cá tiếng sấm, tiếng gió và tia chớp, đọng cả bóng mây làm ta sung sướng được trở về thâm lại ngôi nhà xưa có hương cau cứ thoang thoảng trong ánh trăng bàng bạc. Và trong bát nước mưa có cả bóng mẹ ta hàng ngày in hình vào chum nước mưa ấy… (Theo Băng Sơn) a) Tìm những hình ảnh của quê hương được nhắc đến trong bài văn. b) Tình yêu quê hương của tác giả được bộc lộ như thế nào? Câu 2. Điền từ đã, sẽ hay đang vào mỗi chỗ trống trong truyện sau: Khách đi đường và cây ngô đồng Một đoàn khách…………. đi giữa trưa hè nóng bức. Bỗng họ nhìn thấy cây ngô đồng bèn kéo đến nằm nghỉ dưới bóng mát của nó. Một hồi lâu, thấy khoẻ lại, họ ngước nhìn lên cây và kháo nhau: – Loài cây này chẳng có trái nên chẳng có ích lợi gì! Cây ngô đồng đáp lời họ: Các người thật vô ơn! Chính các người còn nương nhờ bóng mát của ta mà lại bảo ta chẳng có ích gì! Những kẻ vô ơn chẳng bao giờ gặp điều tốt đẹp cả. (Theo Truyện ngụ ngôn thế giới) Câu 3. Em hãy nêu tác dụng của dấu ngoặc kép được sử dụng trong các đoạn văn sau: a) Đọc liền một mạch tập thơ “Nhà thơ và hoa cỏ” của Trần Nhuận Minh (Nhà xuất bản Đồng Nai), tôi dừng lại rốt lâu ở bài thơ “Dặn con” rồi tự hỏi: Bài thơ gián dị ấy có gì khiến người ta xúc động và nghĩ suy nhiều đến thế? (Nguyễn Nguyên Tản) b) Dễ thương làm sao giọng đưa em lành lót chớ không ngân dài của miền Nam, những “sông dài cá lội…”, “đĩa muối chấm gừng,..” vút lên đưa trẻ thơ vào giấc ngủ, đưa con người vào niềm vui… (Theo Nguyễn Thi) Câu 4. Đọc đoạn truyện sau và trả lời câu hỏi. Con cò mày đi ăn đêm Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao…” Tôi co đôi chân như hai ống sậy vào lòng bà tôi. Bà ôm lấy tôi, vỗ nhẹ vào lưng tôi, rồi bà khẽ vuốt má tôi bàng đôi bàn tay khô cứng, sạm đen. Bà vừa ru vừa cúi xuống nhìn tôi âu yếm. Vài sợi tóc bạc lưa thưa dưới vành khăn cũ bay bay theo gió từ chiếc quạt nan bà quạt cho tôi. Mắt tôi đã ríu lại. Tôi chìm dần vào giấc ngủ có cánh cò trắng lặn lội bò sông trong ráng chiều đỏ sẫm. Lời ru như lan dần vào tròi đêm sâu thẳm… (Theo Nguyễn Thanh Giang) a) Tìm và ghi lại những từ ngữ tả ngoại ngoại hình người bà. b) Những nét ngoại hình ấy nói lên điều gì về người bà của nhân vật “tôi”? Câu 5. Em hãy viết đoạn văn kể về bà của mình. Tải về file word tại đây. >>Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 12 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 12 (đề có đáp án)
674
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 13 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ13 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi Hát ru Hát ru là bài hát đầu tiên dành cho một con người mới cất tiếng khóc chào đời. Điệu ru vỗ về ấy hoà tan trong sữa mẹ để nuôi con lớn lên từng ngày. Trên đất nước chúng ta, tiếng ru vẫn thánh thót trong phum sóc, bản làng, vẫn mùi mẫn trong xóm vườn sầm uất hay ở một làng chài ven sông. Có thể trẻ thơ những nơi ấy thiếu thốn mọi bề, nhưng tiếng hát ru thì không thiếu. Chẳng mấy ai nghĩ rằng mình nên người là nhờ tiếng ru. Và, cũng chẳng mấy ai nhớ câu ru nào mẹ đã ru mình. Nhưng tiếng “ầu ơi…” bên nhà láng giềng khiến ai cũng mang máng nhớ một tình quê nơi chôn nhau cắt rốn cùng lời ru dịu dàng của mẹ tràn ngập mái ấm thuở ấu thơ. (Theo Lê Giang) a) Vì sao tác giả nói “Điệu ru vỗ về ấy hoà tan trong sữa mẹ để nuôi con lớn lên từng ngày”? b) Tác giả khẳng định lời ru có ý nghĩa như thế nào đối với mỗi người? c) Nêu cảm nghĩ của em về lời ru của mẹ. Câu 2. Cách so sánh trong câu văn dưới đây có gì độc đáo? Nêu tác dụng của biện pháp so sánh trong việc diễn tả giọng hát dân ca. (Theo Nguyễn Trung Thành) Câu 3. Hãy xác định bộ phận chủ ngữ của các câu sau và nêu tác dụng của dấu phẩy trong mỗi câu. a) Chôm chôm, xoài tượng, xoài cát mọc chen nhau. b) Núi đồi, thung lũng, làng bản chìm trong biển mây mù. c) Hoa lá, quả chín, những vạt nấm ẩm ướt và con suối chảy thầm dưới chân đua nhau toả mùi thơm. Câu 4. Em hãy ghi lại cốt truyện của câu chuyện sau đây: Cáo và Sơn Dương Cáo lỡ chân rơi xuống giếng, tìm mọi cách mà không lên được. Sơn Dương đến giếng uống nước, thấy Cáo ngồi dưới đó, bèn hỏi: – Ngài Cáo, nước giếng có mát, có ngon không? Cáo ranh mãnh đáp: – Nước giếng vừa trong lại vừa mát. Ta thích quá nên xuống tận đây uống cho đã. Nếu thích, chú xuống đây tha hồ uống. Đang khát, chẳng cần nghĩ ngợi, Sơn Dương nhảy tòm xuống. Khi đã uống no nước, Sơn Dương mới biết không thể lên khỏi đây. Cuống lên, Sơn Dương hỏi Cáo có cách nào thoát lên được không. Cáo nói: Cáo bắt Sơn Dương đứng thật vững để nó trèo lên. Chân đạp vào sừng Sơn Dương, Cáo leo lên khỏi giếng, chuồn thẳng. – Anh vẫn chưa kéo tôi lên cơ mà? Chớ quên là tôi đã giúp anh lên đấy! – Sơn Dương hỏi vọng lên. – Ta chẳng hơi đâu mà kéo anh lên. – Cáo ranh ma lập tức trở mặt. Sơn Dương đành chịu, hối hận thì đã muộn. (Truyện ngụ ngôn) Câu 5. Sau đây là một đoạn của truyện Đàn kiến con, hãy hình dung ra các sự việc và kể tiếp câu chuyện. Nêu ý nghĩa của câu chuyện em kể. Đàn kiến con Có một bà kiến tuổi cao, sức yếu, ở một mình trong cái tổ nhỏ dưới một mô đất chật hẹp, ẩm ướt. Mấy hôm nay dở trời, bà đau ốm cứ rên hừ hừ. Đàn kiến con đi tha mồi, qua nhà bà kiến, nghe tiếng bà rên… Tải về file word tại đây. >>Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 13 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 13 (đề có đáp án)
624
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 14 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ14 Câu 1. Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi. Vàm Cỏ Đông (Trích) Đây con sông xuôi dòng nước chảy Bốn mùa soi từng mảnh mây trời Từng ngọn dừa gió đưa phe phẩy Bóng lồng trên sóng nước chơi vơi Đây con sông như dòng sữa mẹ Nước về xanh ruộng lúa, vườn cây Và ăm ắp như lòng người mẹ Chở tình thương trang trải đêm ngày. (Hoài Vũ) a) Hãy tả lại vẻ đẹp của con sông trong khổ thơ đầu. b) Tìm những hình ảnh so sánh có trong khổ thơ thứ hai. c) Cách miêu tả con sông trong khổ thơ thứ hai có gì hay? Câu 2. Tìm các tính từ có trong đoạn văn sau: Trong vườn nhà tôi, cây nào cũng xum xuê tán lá, tạo thành một khung trời xanh tươi. Tôi yêu nhất là cây khế mọc cạnh ao. Cành khế sà xuống mặt nước trong vắt. Quả khế chín mọng, vàng rộm như vẫy gọi bọn trẻ chúng tôi. (Theo Phương Trung) Câu 3. Hãy xác định bộ phận vị ngữ của các câu dưới đây và nêu tác dụng của dấu phẩy trong các câu đó a) Cây hồi thẳng, cao, tròn xoe. b) Những làn mây trắng trắng hơn, xốp hơn, trôi nhẹ nhàng hơn. c) Mây bò trên mặt đất, tràn vào nhà, quấn lấy người đi đường, Những buổi bình minh, mặt trời còn bẽn lẽn núp sau sườn núi, phong cảnh nhuộm những màu sắc đẹp lạ lùng. Hòn núi từ màu xám xịt đổi ra màu tím sẫm, từ màu tím sẫm đổi ra màu hồng, rồi từ màu hổng dần dần đổi ra màu vàng nhạt. Cho đến lúc mặt trời chễm chệ ngự trị trên chòm mây, ngọn núi mới trở lại màu xanh biếc thường ngày của nó. (Thẩm Thệ Hà) Câu 5. Dựa vào đoạn thơ dưới đây, em hãy viết bài văn miêu tả cánh diều (có mở bài theo kiểu gián tiếp và kết bài theo kiểu mở rộng) Cánh diều no gió Sáo nó thổi vang Sao trời trôi qua Diều thành trăng vàngCánh diều no gió Tiếng nó trong ngần Diều hay chiếc thuyền Trôi trên sông Ngân Cánh diều no gió Tiếng nó chơi vơi Diều là hạt cau Phơi trên nong trời Trời như cánh đồng Xong mùa gặt hái Diều em – lưỡi liềm Ai quên bỏ lại (Trần Đăng Khoa) Tải file word về tại đây. >>Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 14 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 14 (đề có đáp án)
428
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 15 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ15 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi Quà của bà Bà tôi bận lắm, cặm cụi công việc suốt ngày. Nhưng chả lần nào đi chợ mà bà không tạt vào thăm hai anh em tôi, cho chúng tôi khi thì tấm bánh đa, quả thị, khi thỉ củ sắn luộc hoặc mớ táo. Ăn quà của bà rất thích, nhưng ngồi vào lòng bà nghe bà kể chuyện còn thích hơn nhiều. Gần đây, bà tôi không được khoẻ như xưa nữa. Đã hai năm nay, bà bị đau chân. Bà không đi chợ được, cũng không đến chơi với các cháu được. Thế nhưng lần nào chúng tôi đến thăm bà, bà cũng vẫn có quà cho chúng tôi: khi thì mấy củ dong riềng, khi thì cây mía, quả na, hoặc mấy khúc sắn dây, toàn những thứ tự tay bà trồng ra. Chiều qua, đi học về, tôi chạy đến thăm bà. Bà ngồi dậy, cười cười, rồi tay bà run run, bà mở cái tay nải của bà, đưa cho tôi một gói quà đặc biệt: ô mai sấu! Bà ơi bà! ô mai sấu bà cho, cháu sẽ chia cho bố cháu, mẹ cháu và anh cháu… Cháu biết rồi, bà ơi… Cứ sáng sớm, sau mỗi đêm mưa gió, bà lại lần ra sân, bà nhặt những quả sấu rụng ở quanh gốc cây sấu bà trồng tử thời con gái. Rồi bà rửa, bà ngâm muối, bà phơi. Bà gói thành tùng gói nhỏ, bà đợi các cháu đến, bà cho… a) Những chi tiết nào trong câu chuyện nói lên tấm lòng của bà đối với con cháu? b) Tình cảm của bạn nhỏ đối với bà như thế nào? c) Tác giả muốn nói điều gì qua tên câu chuyện? Câu 2. Chỉ ra các từ ngữ không cùng nhóm trong mỗi dãy từ ngữ sau đây: a) học tập, tính toán, thông minh, suy nghĩ, ghi chép b) chạy nhảy, nhanh nhẹn, tạp luyện, bơi lội, leo trèo c) vui vẻ, tươi tắn, rạng rỡ, đẹp đẽ, chờ đón Câu 3. Tìm trạng ngữ của các câu sau và nêu tác dụng của dấu phẩy trong mỗi câu. a) Ngoài trời, mưa rả rích không ngớt. b) Đêm đêm, bên bếp lửa bập bùng, các cụ già kể lại cho con cháu nghe biết bao kỉ niệm vui buồn. c) Ở Tây Nguyên, suốt mùa phát rẫy trỉa lúa, cho đến khi cây lúa đơm bông, tiếng đàn tơ-rưng luôn vang lên rộn rã. Câu 4. Trong đoạn thơ sau, những sự vật nào được miêu tả? Mỗi sự vật có đặc điểm gì? Đồng làng vương chút heo may. Mầm cây tỉnh giấc, vườn đầy tiếng chim Hạt mưa, mải miết trốn tìm Cây đào trước cửa lim dim mắt cười Quất gom từng giọt nắng rơi Làm thành quả – trăm mặt trời vàng mơ. (Đỗ Quang Huỳnh) Câu 5. Viết bài văn tả cây cối trong mùa xuân. Tải về file word tại đây. Tags:Đề 15 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 15 (đề có đáp án)
535
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 16 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ16 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi Bèo Mưa to, nước dâng ngập đồng, thế là ngày hội của các loài bèo bắt đầu. Bèo tấm, bèo dâu mảnh mai như cánh trấu ; bèo ong, bèo cái, bèo tây phổng phao như cô gái đang tuổi dậy thì. Tất cả, tất cả đều bừng nở, những cánh bèo vươn dài theo sóng, bộ rễ thoả thuê bơi trong dòng nước mênh mang. Ngự trên tầm cao của biển nước dâng, các loài bèo bảo nhau: – Chỉ vài hôm nữa, cả mặt đất bao la này sẻ là màu xanh sinh sôi của bèo. Nhưng, hết mưa tuôn là nắng lửa. Đồng ruộng, ao hồ, kênh rạch đều khô cạn, các loài bèo bị tụt xuống đáy và héo khô. (Theo Dương Văn Thoa) a) Các loài bèo khẳng định điều gì khi ngự trên tầm cao của biển nước dâng? b) Câu chuyện kết thúc như thế nào? c) Câu chuyện khuyên chúng ta điều gì? Câu 2. Tìm trong truyện Bèo các từ: a) Đồng nghĩa với: thanh mảnh, mênh mông. b) Trái nghĩa với: kết thúc, tươi tốt. Câu 3. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi. Tôi nằm trong vòng tay bà tôi. Bà rung tôi, nâng lên, hạ xuống, quay hết bên này sang bên kia. Cứ chốc chốc bà lại cúi xuống, cọ cặp môi ram ráp cấn quết trầu lên má tôi, ríu rít: ôi! Thằng cu của bà, thằng giống của bà, thằng chó con của bà. Âu!… Bà thương, bà quý thằng cún con của bà nha… Cứ thế, bản trường ca trong đó tôi là thằng cu, thằng giống, thằng chó con, thằng cún,… kéo dài mãi, không ngơi nghỉ, không biết mệt. a) Tìm câu nói của người bà trong đoạn văn. b) Theo em, câu nói ấy cần được đặt trong dấu câu gì? Câu 4. Đọc đoạn văn sau và cho biết em học tập được gì về cách viêt văn miêu tả. Những con sơn ca bay, vẽ trên nền mây lăn tăn những chấm li ti chuyển động. Chúng khép cánh lao xuống như những hòn sỏi rơi đột ngột: tới lưng trời chúng bỗng xoè cánh là là, rồi vọt lên cao tít nom giống những mảnh chai ai ném thia lia bay lướt trên mặt hồ khổng lổ. Chỉ khác cái là mảnh chai thì im như cá nhảy, còn sơn ca mỗi lần chạm vào màu xanh da trời lại làm rung lên ngàn vạn âm thanh. Tiếng hót sơn ca đan dệt dọc ngang khắp một khoảng trời rộng lớn, nghe rộn lòng người. (Theo Vũ Tú Nam) Câu 5. Tả một con vật nuôi trong nhà mà em yêu thích Tải bản word tại đây. >>Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 16 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 16 (đề có đáp án)
503
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 17 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ17 Câu 1. Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi Cục nước đá và dòng chảy Mưa đá. Một cục đá to lông lốc như quả trứng rơi bộp xuống đất. Dòng nước dang rộng tay nói: – Chào bạn! Mời bạn nhập vào với chúng tôi! Cục nước đá lạnh lùng đáp: – Các anh đục ngầu, bẩn thỉu như thế, tôi hoà nhập với các anh sao được? Trời cao kia mới là bạn của tôi! Dòng nước cười xoà rồi ào ào chảy ra sông, ra biển. Cục nước đá trơ lại một mình, lúc sau thì tan nát ướt nhoẹt ở góc sân. (Theo Dương Văn Thoa) a) Lời nói của cục đá và dòng nước giúp ta hiểu điều gì về mỗi nhân vật? b) Câu chuyện kết thúc thế nào? c) Câu chuyện muốn nói với chúng ta điều gì? Câu 2. Tìm các từ: a) Tả tiếng sóng. Ví dụ: ào ào b) Tả làn sóng nhẹ. Ví dụ: lăn tăn c) Tả làn sóng mạnh. Ví dụ: cuồn cuộn Câu 3. Những câu nào sau đây là câu ghép chỉ mục đích? a) – Buổi chợ nào bà Xoan cũng mua cho cháu nội mấy đồng quà. b) Mơ cố tỏ ra vui vẻ cho cha mẹ yên lòng. d) Thằng bé Sinh để quên tất cá sách vỏ ở nhà. Câu 4. Đọc bài văn sau và thực hiện theo yêu cầu: Bọ ngựa Trên cành chanh có một ổ trứng bọ ngựa vừa nở. Những chú bọ ngựa bé li ti như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu tinh nghịch cỏ đôi mắt thô lỗ lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng, cố trườn ra, thoát được cái đầu, cái mình.,, rồi nhẹ nhàng tọt khỏi ổ trứng, người treo lơ lửng trên một sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió. Mới ra khỏi ổ trứng, các chú nằm đờ một lát, rồi ngọ nguậy, các chú càng cứng càng cựa quậy thì sợi tơ càng dài ra, từ từ thả các chú xuống phía dưới. Chú bọ ngựa con đầu tiên “nhảy dù” trúng một quả chanh non. Chú đứng hiên ngang trên quả chanh tròn xinh, giương giương đôi tay kiếm nhỏ xíu, mình lắc lư theo kiểu võ sĩ, ngước nhìn từng loạt tùng loạt đàn em mình đang “đổ bộ” xuống hết sức chính xác và mau lẹ. Chú đứng trên quả chanh, mang đầy đủ dòng máu hiệp sĩ của nòi bọ ngựa, hùng dũng như con sư tử đứng vờn quả cầu… Đàn bọ ngựa mới nở chạy tíu tít, lộp tức dàn quân ra khắp cây chanh, mỗi con một ngả bắt đầu một cuộc sống dũng cảm, tự lập. a) Tìm mở bài, thân bài, kết bài của bài văn trên. b) Phần thân bài có mấy đoạn? Nêu ý của mỗi đoạn. c) Em học tập được gì về cách miêu tả con vật qua bài vãn trên? Câu 5. Hãy kể một câu chuyện theo trí tưởng tượng của em về loài vật. Tải file word về tại đây. >>Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 17 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 17 (đề có đáp án)
547
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 18 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ18 Câu 1. Đọc câu chuyện sau và trả lời câu hỏi Sự bình yên Một vị vua nọ treo giải thưởng cho hoạ sĩ nào vẽ được một bức tranh đẹp nhất về sự bình yên. Nhiều hoạ sĩ đã tham gia cuộc thi. Nhà vua ngắm tất cà các bức tranh và ông chọn ra được hai bức ưng ý hơn cả. Một bức tranh vẽ hồ nước yên ả. Mặt hồ là tấm gương lớn có những ngọn núi cao chót vót bao quanh. Bên trên là bầu trời xanh với những đám mây trắng mịn màng. Tất cá những ai ngắm bức tranh đều cho rằng đây là một bức tranh bình yên thật hoàn háo. Bức tranh kia cũng có những ngọn núi, nhưng những ngọn núi này trần trụi và lỏm chỏm đá, ở bên trên là bầu trời cao giận dữ đổ mưa như trút, kèm theo sấm chớp. Đổ xuống bên vách núi là dòng thác nổi bọt trắng xoá. Bức tranh này trông thật chẳng bình yên chút nào. Nhưng khi nhà vua ngắm nhìn, ông thấy đằng sau dòng thác là một bụi cây nhỏ mọc lên từ khe nứt của một tảng đá. Trong bụi cây, một con chim mẹ đang xây tổ. Ở đó, giữa dòng thác trút xuống một cách giận dữ, con chim mẹ đang thản nhiên đậu trên tổ của mình… Bình yên thật sự! (Theo Diễm Tuyết) a) Nêu nhận xét của em về hai bức tranh được miêu tả trong câu chuyện trên. b) Theo em, vì sao bức tranh thứ hai giành giải bức tranh đẹp nhất về sự bình yên? c) Em hiểu thế nào là bình yên? Câu 2. Tìm các tính từ trong đoạn văn sau: Gã Bọ Muỗm kia chẳng phải tay vừa. Người gã xanh rục, vạm vỡ. Bắp chân, bắp càng bóng nhẫy, mập mạp. Lưng gã gò lên, rắn chắc. Đôi cánh màu lá cây làm thành chiếc áo giáp, che kín xuống tận đuôi. Đằng đuôi mắc thêm lưỡi gươm cong hoắt. Đầu gã lớn, mút nhọn lại, húc rất khoẻ. Hai vành râu trắng phau. Đôi mắt to hó như mắt cá. Hai tảng răng đen và nhọn khoằm khoặm. (Theo Tô Hoài) Câu 3. Chuyển đổi các vế câu của các câu sau (theo mẫu). Mẫu: Bà con nông dân rất phấn khởi vì thời tiết năm nay thuận hoà. —> Thời tiết năm nay thuận hoà nên bà con nông dân rất phấn khởi. —>Vì thời tiết năm nay thuận hoà nên bà con nông dân rất phấn khởi. —>Vì thời tiết năm nay thuận hoàcho nên bà con nông dân rất phấn khởi. a) Nó bị ngã liên tục vì đường trơn. b) Cây phát triển tốt vì được chăm bón chu đáo. c) Chị ấy mang theo áo mưa vì trời âm u. Câu 4. Sau đây là một đoạn văn trích trong truyện Sao Sao của tác giả Vũ Hùng, em hãy viết thêm đoạn mở bài và đoạn kết bài để tạo thành bài văn. Ngay từ lúc lọt lòng, được hươu mẹ liếm khô bộ lông, Sao Sao đã sục tìm vú mẹ. Bú no, nó bỗng thấy da săn, chân cứng hẳn lên. Nó nhỏm dậy, ngơ ngác dịu dàng. Ngả người trên những cặp chân thanh thanh, nó lướt cái mõm ẩm ướt trên lưng, nơi mọc rốt nhiều những vì sao trắng. Trong tuần đầu, Sao Sao bú suốt ngày và nhảy tung tăng bên chân mẹ. Lúc mỏi, nó nằm ngủ dưới bóng cây. Chẳng ai nhận ra Sao Sao là một chú hươu non: bộ lông vàng tươi của nó lẫn vào nền đất và những vì sao trên lưng lẫn với những đốm trắng. Khi Sao Sao đủ sức đi theo bây tìm ăn, hươu mẹ dẫn nó trở về với đàn. Thế là từ đây, Sao Sao được cùng gia đình đi khắp nơi: đồng rộng, suối trong, rừng vắng,… Câu 5. Viết đoạn văn tả cảnh trời mưa Tải file word tại đây. >>Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 18 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 18 (đề có đáp án)
711
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 19 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ19 Câu 1. Đọc truyện sau và trả lời câu hỏi Hươu soi mình trong bóng nước Bên dòng suối trong xanh, có một chú hươu đang đứng soi mình trong bóng nước. Ngắm cặp sừng, chú tự hào: ”Cặp sừng của mình mới to và đẹp làm sao? Từng nhánh sừng cong vút, vươn lên cao trông thật là đẹp!”. Nhưng khi ngắm đến hai đôi chân, chú bỗng thấy buồn vì những chiếc chân trông gầy guộc, khẳng khiu, chẳng đẹp chút nào. Đang buồn rầu, chú bỗng giật mình khi thấy bầy chó săn xuất hiện. Chú vội co cẳng chạy. Cặp sùng to, đẹp lúc này trở nên vướng víu quá. Nó mắc lung tung vào những cành cây làm chú suýt ngã mấy lần. Cũng may nhờ hai đôi chân rắn chắc, nhanh nhẹn mà chú đã thoát khỏi bầy chó săn hung dữ. Thoát nạn rồi, chú hươu mới tự nói: ”Ôi! Những đôi chân quý giá của ta! Ta đã nhầm khi không thấy được giá trị thật sự của chúng.”. (Theo La-phông-ten) a) Ban đầu, chú hươu nghĩ thế nào về cặp sừng và những đôi chân của mình? b) Về sau, chú hươu đã thay đổi suy nghĩ như thế nào? c) Câu chuyện khuyên ta điều gì? Câu 2. Tìm các từ láy trong đoạn văn sau: (Theo Đất nước ngàn năm) Câu 3. Chuyển đổi các vế câu của các câu ghép sau (theo mẫu). Mẫu: Ngô sẽ lên xanh nếu được trận mưa như mấy hôm trước. —> Nếu được trận mưa như mấy hôm trước, ngô sẽ lên xanh. —>Nếu được trận mưa như mấy hôm trước thì ngô sẽ lên xanh. —> Nếu như được trận mưa như mấy hôm trước, ngô sẽ lên xanh. a) Tôi sẽ phải thức khuya học bài nếu tôi đi xem phim. b) Ông Ba sẽ chuyển hướng làm ăn nếu năm nay ao có vẫn thất thu. c)Tôi sẽ đi thăm bản Hmông trên núi, nếu trời tạnh ráo. Câu 4. Các câu văn sau đây tả con chim hồng hạc. Hãy sắp xếp lại thứ tự các câu để tạo thành đoạn văn. a) Từ tấm lưng dịu dàng trắng muốt, những chiếc lông dài buông rủ xuống đôi cánh phớt hồng kiêu sa. b) Tất cả hoà với nhau tạo nên một vẻ đẹp thanh cao khiến ai nhìn thấy củng mê đắm. c) Hồng hạc là loài chim kiều diễm nhất trên hành tinh của chúng ta. d) Hồng hạc có cái cổ mảnh mai, mỏ đen tuyền, đôi tròng mắt tròn xoe màu vàng trong trẻo. Tải bản word đầy đủ tại đây. >>Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 19 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 19 (đề có đáp án)
476
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 2 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ 2 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi. Rừng Tây Nguyên đẹp vì cảnh sắc thiên nhiên. Những tháng ngày mùa thu, và nhất là mùa xuân, trời mát dịu, bên mỗi bước chân ta thoang thoảng hương thơm nhiều loại hoa rừng. Cho đến khi những cơn mưa đầu mùa đổ xuống, bầu trời vẫn trong, không mấy khi bị mây vần u ám. Những cơn mưa rừng càng làm cho rừng thêm mát mẻ, xanh tươi. Các đồi gianh vươn lên và cỏ non bò lan ra mạt suối, như choàng cho rừng một chiếc khăn lấp lánh kim cương. Mặt trời xuyên qua kẽ lá, sưởi ấm những con suối trong vắt, thì thầm, và các đàn chim đua hót, các đàn công thi múa. Tây Nguyên có biết bao khu rừng hấp dẫn. Dưới tán cây rậm rạp của rừng già, trên bãi cỏ non của rừng thưa, những đàn thú sinh sôi nảy nở. (Theo Ay Dun và Lê Tấn) a) Cảnh rừng Tây Nguyên đẹp như thế nào? b) Trong đoạn văn trên, câu văn nào sử dụng cả biện pháp nhân hoá và so sánh? Nêu tác dụng của các biện pháp đó trong việc miêu tả cảnh vật. c) Đặt tên cho đoạn văn. Câu 2. Tìm tiếng thích hợp điền vào chỗ trống để tạo thành các từ láy âm đầu. b) chậm…………… c) dềnh………………… d) gấp………………. Câu 3. Các câu trong đoạn văn sau đã bị đảo trật tự. Hãy sắp xếp lại cho đúng. Trời sẽ ngả sang thu. Chẳng còn mấy ngày nữa là mùa xuân đã hết. Rồi mùa hạ cũng qua đi, hoa sen trong đầm nước cũng tàn dần. (Theo Tô Hoài) Câu 4. Mỗi đoạn mở bài sau đây được viết theo cách nào và viết cho bài văn kể câu chuyện gì? a) Trong một đêm Nô-en giá lạnh, có một cô bé nghèo, mồ côi mẹ, phải đi bán diêm kiếm sống. Em không dám trở về nhà vì cả ngày không bán được bao diêm nào. b) Vào đêm Nô-en, khi mọi người vui vẻ đón lễ Giáng sinh, vẫn có những người khốn khổ phải chịu cảnh đói rét, cô đơn, lang thang trên đường phố. Nếu không có lòng thương giữa người với người thì trái đất này chỉ là hành tinh lạnh lẽo, chỉ toàn oán thù và đau khổ. Câu chuyện “Cô bé bán diêm” của nhà văn An-đéc-xen cho ta biết điều đó. Câu 5.Viết đoạn văn tả cảnh buổi sáng nơi gia đình em sinh sống. >Tải về file word tại đây. >>Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 2 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 2 (đề có đáp án)
475
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 20 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ20 Câu 1. Đọc truyện sau và trả lời câu hỏi. Bụi Cục đất bên lề đường hỏi đám bụi: – Tại sao ô tô chạy ngược, các anh cuốn ngược, ô tô chạy xuôi, các anh cuốn xuôi? – Ai muốn thế? – Đám bụi nói. – Nhưng không làm khác được. – Không làm khác được! – Cục đất chì chiết. – Mình phải có bán lĩnh, phải làm chủ mình chứ! Mấy ngày sau, ô tô chạy đúng vào chỗ cục đất, cục đất tơi ra thành bụi. Và cũng ô tô chạy ngược, đám bụi này cuốn ngược, ô tô chạy xuôi, đám bụi này cuốn xuôi. (Theo Dương Văn Thoa) a) Lời nói của cục đất và đám bụi giúp ta hiểu gì về mỗi nhân vật? b) Câu chuyện kết thúc thế nào? c) Câu chuyện muốn nói với chúng ta điều gì? Câu 2. Trong mỗi câu sau đây, những sự vật nào được nhân hoá? Chúng được nhân hoá bằng cách nào? Hãy nêu tác dụng của biện pháp nhân hoá trong các câu văn. a) Con đê quê tôi đã phơi mình ra cần cù hàng ngàn năm mà không hề mệt mỏi. b) Cỏ may sao lưu luyến bước chân người như vậy? Hổn là cỏ may đứng mãi ở chân đê nên muốn theo người về nhà sưởi ấm, ăn bắp ngô non nướng thơm lừng quanh bếp hay một nổi rang hạt dẻ bùi. Câu 3. Chuyển đổi các vế câu của các câu dưới đây theo mẫu. Mẫu: Nó mặc áo mưa nhưng người nó ướt sũng. —> Người nó ướt sũng dù nó mặc áo mưa. —> Người nó ướt sũng cho dù nó mặc áo mưa. a) Chị ấy năng tưới bón mà ruộng rau vẫn cằn. b) Gia đình nó sống ở vùng biển nhưng nó không biết bơi. c) Tròi lạnh cóng nhưng cậu ta chỉ mặc áo cộc tay. Câu 4. Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi. Ngủ rồi Gà mẹ hỏi gà con: -Đã ngủ chưa đấy hả? Cả đàn gà nhao nhao: -Ngủ cả rồi đấy ạ! (Phạm Hổ) a) Câu trả lời của đàn gà con có gì ngộ nghĩnh? b) Theo em, gà mẹ sẽ đáp lại lời các con như thế nào? c) Em hãy viết giúp gà mẹ nội quy để quy định giờ giấc sinh hoạt cho đàn gà con. Câu 5. Trong cuốn sách Chuyện của mùa hạ có viết: Loài chim mỏ dài rất buổn phiền vì mỏ của chúng quá to và dài nên khi bay trong rừng rất hay bị va chạm, dễ gây ra tai nạn giao thông. Trong rừng có một bác khỉ rất khéo tay. Bác mới mở một xưởng chuyên sửa chữa mỏ cho các chú chim mỏ dài. Bác khéo léo chữa mỏ chim bằng cách bào đi một lớp rồi đánh bóng lại như cũ. Bác đang suy nghĩ để viết một thông báo mời các chú chim mỏ dài đến xưởng của mình. Tải file word về tại đây. >.Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 20 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 20 (đề có đáp án)
536
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 21 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ21 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi Cây sim Cây sim chắc là có họ với cây mua, chúng đều mọc ở vùng trung du, trên những mảnh đất cằn cỗi. Cây sim được mọi người nhắc nhở chính vì vẻ đẹp của màu hoa. Hoa mua tím hồng, hoa sim tím nhạt có màu phơn phớt như má con gái. Tuy nó không thơm nhưng lại tươi non như một niềm vui cứ lan toả làm cho sườn đồi sỏi đá cũng thêm đáng yêu, đáng mến. Quả sim giống hệt một con trâu mộng tí hon, béo tròn múp míp, còn nguyên cả lông tơ, chỉ thiếu chiếc khoáy. Cái sừng trâu là cái tai quả, nó chính là đài hoa đã già. Con trâu mộng ấy chỉ bằng đốt ngốn tay, ngọt lịm và có dư vị một chút chan chát nơi đầu lưỡi. Hạt sim thì thật nhiều, không nhai được, đành nuốt chửng. Ăn sim xong, cả môi, cả lưỡi, cá răng ta đều tím. Chốc khi hoa sim tàn đi làm quả, màu tím đọng lại thành thứ một ngọt tím thâm ấy. Đi chơi trên đồi, leo dốc này vượt dốc khác, tìm thấy bụi sim, hái quả chín mà ăn, đúng là bắt được thứ của trời cho, đầy ngon lành, hứng thú, có khi hàng chục năm sau vẫn nhớ. a) Cách miêu tả hoa sim và quả sim có gì hay? b) Em thích chi tiết, hình ảnh nào nhất trong bài văn? Vì sao? c) Tình cảm của tác giả đối với cây sim được bộc lộ qua những chi tiết nào trong bài? Câu 2. Tìm danh từ, động từ, tính từ trong các câu văn sau: Đối với tuổi trẻ Tây Nguyên, nhà Rông như cái tổ chim êm ấm. Trai gái tới đây vui chơi, hẹn hò, ca hát. Con trai cùng bọn bè quen thân đến nhà Rông ngủ như nhà mình. Con gái đến nhà Rông ngồi dệt vải, hong sợi, quay sa… Đêm nào tiếng hát, tiếng đàn, tiếng trò chuyện cũng râm ran đến tận khuya. (Theo Ay Dun và Lê Tấn) Câu 3. Chuyển các câu đơn sau thành câu ghép. a) Cảnh vật thơ mộng. Lòng người phơi phới. b) Người đứng đợi dưới bến đã đông. Thuyền vẫn chưa sang. c) Ông trồng cây ngoài vườn. Bà nấu cơm dưới bếp. Câu 4. Đọc các câu trong đoạn văn sau và cho biết đâu là câu đơn, đâu là câu ghép. Ai mà chẳng biết cây cau. Thân cây cứ thẳng vút lên, chia thành tùng dóng ngắn. Ngọn cau xoè ra như chiếc ô để ngược, còn nõn cau như mũi kiếm đâm vút lên trời. (Băng Sơn) Câu 5. Em hãy đọc đoạn truyện sau đây rồi viết lời đối thoại cho các nhân vật trong truyện để chuyển đoạn truyện thành màn kịch. Trống Choai là một cậu gà rất đẹp trai với chiếc mào đỏ chói trên đầu. Trống Choai rất kiêu ngạo. Mới sáng sớm, cậu ta đã vươn cổ gáy inh ỏi cà một vùng. Bác Mái Vàng sợ đàn con mình thức dậy nên bảo Trống Choai làm ơn hạ giọng xuống một chút. Nhưng Trống Choai không nghe, cậu ta bảo tuổi trẻ phải gáy vang mới oai chứ. Rồi Trống Choai lại cất tiếng gáy rõ thật to, cậu ta còn khoe khoang với bác Mái Vàng mình đã học hết các thế võ của họ nhà gà, bọn cáo đối với câu ta chỉ như một con dế… Vừa lúc đó, trong bụi cây có một con cáo nhảy ra định vồ Trống Choai, Trống Choai sợ quá chưa biết phải làm gì thì bỗng “bốp, xoẹt, xoẹt…”, bác Mái Vàng vung móng sắc nhọn cản đường Cáo. Cáo liền lủi mất. Khi hoàn hồn, Trống Choai vội cảm ơn bác Mái Vàng và xin lỗi vì việc lúc sớm. Bác Mái Vàng ôn tồn khuyên nhủ Trống Choai, Từ đó, Trống Choai hiểu ra và sống vui vẻ, chan hoà với mọi ngưòi. (Theo Nguyễn Đức Huy) Tải về file word tại đây. >>Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 21 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 21 (đề có đáp án)
728
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 22 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ22 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi Bỗng nhiên trời đang nắng đỏ mà tối sầm ngay lại. Ông mặt trời sợ gì mà trốn đâu mất. Thấy vậy, lũ gà nhao nhác chạy vào chuồng vì tưởng trời sắp tối. Từ phía xa xa, em đã nghe thấy tiếng gió rào rào chạy lại. Mây đen cũng rủ nhau ùn ùn kéo đến. Mây như mang hơi nước nặng trĩu che kín đen cả một góc trời. Gió mỗi lúc một giật mạnh, bốc từng đám cát bụi mù mịt táp vào mặt người đi đường ran rát. Lúc đầu, chỉ một vài hạt lách tách, càng về sau mưa càng to. Nước như thể có bao nhiêu trên trời là đổ xuống hết cả. Cây bòng bế lũ con đầu tròn trọc lốc múa may quay cuồng trong gió. Hàng cau nghiêng ngả như người say rượu. Ngoài vườn, những con ếch nhái thi nhau đuổi theo những con mối bị vỡ tổ. Trên đường, lũ trẻ thi nhau đuổi chạy tắm mưa. Hai bên đường, loáng thoáng bóng người trú mưa. Chỉ một lúc sau, sân nhà em đã lưng nước. (Theo Hoàng Thị Ngọc Anh) a) Đoạn văn trên miêu tả hiện tượng thời tiết gì? Những yếu tố thời tiết nào được nhắc đến trong đoạn văn? c) Em thích nhất hình ảnh nào trong đoạn văn trên? Vì sao em thích hình ảnh đó? Câu 2. Gạch dưới những từ láy trong đoạn văn sau: Rồi, sấm nổ đùng đoàng. Chớp như xé toạc bầu trời đen kịt. Mưa bắt đầu rơi lộp bộp trên mái tôn. Tiếng mưa loong boong trong chiếc thùng hứng nước, đồm độp trên phiến nứa, gõ chan chát vào tàu lá chuối… (Theo Hoàng Thị Ngọc Anh) Câu 3. a) Tìm bộ phận chủ ngữ trong câu “Hàng cau nghiêng ngà như người say rượu.” b) Tìm bộ phận vị ngữ trong câu “Trên đường, lũ trẻ thi nhau đuổi chạy tắm mưa.” Câu 4. Câu chuyện dưới đây đã bị đảo trật tự. Hãy sắp xếp lại thứ tự các đoạn cho đúng. Cáo và Quạ [……]Cáo gọi Quạ: ”Chị Quạ ơi, chị thật là xinh đẹp và duyên dáng. Tôi chưa thấy ai đẹp như chị. Tôi đoán chị hát cũng rất hay. Chị hát thử cho tôi nghe, được không? Nếu chị hát tôi dám chốc không có một con chim nào trong khu rừng này có thể sánh được với chị [……]Cáo cười to: ” Chị Quạ này, mặc dù chị rất xinh đẹp, nhưng trong đầu chị chẳng có gì cả!”. [……]Quạ nghe Cáo nói như vậy thì vui lắm. Nó bắt đầu hát cho Cáo nghe. Nhưng khi nó vừa há mỏ ra thì mẩu thức ăn đã rơi thẳng vào chiếc mõm của Cáo đang há to ở dưới gốc cây. (Theo Ngụ ngôn thế giới chọn lọc) Câu 5. Hãy đóng vai con quạ để kể lại câu chuyện Cáo và Quạ. Tải về File word tại đây. >Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 22 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 22 (đề có đáp án)
546
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 23 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ23 Câu 1. Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi. Đất nước mến yêu ơi Người đỡ cho chúng con luỹ tre để có cây đàn báu dân tộc Với cung thăng, cung trầm ngân lên như tiếng khóc ; Đêm mùa hè trắc ẩn tiếng ai ru, Cô Tấm ngày xưa còn sống đến bây giờ Cũng từng đi qua chiếc cầu tre mới trở thành hoàng hậu. À ơi… à ơi… Lời ru không bao giờ là huyền thoại Hoàng hậu cũng ru con mình bằng tiếng hát ru. Tôi xin cảm ơn đất nước đã cho tôi dòng máu Lạc Hồng Để tôi được nghe tiếng trống đồng rung lên trong lồng ngực. Thằng Lý Thông, mày làm sao hiểu được Vì sao công chúa không cười, không nói giữa hoàng cung! Đất nước của tôi ơi! Đất nước anh hùng Có Trường Sơn sau lưng, có biển Đông trước mặt Chàng Thạch Sanh dịu dàng dùng tiếng đàn đánh tan quân giặc Sông nước ngàn xưa còn vọng đến bây giờ. (Theo Hổ Tĩnh Tâm) a) Qua đoạn thơ, tác giả muốn nói lên tình cảm gì với quê hương đất nước? b) Đoạn thơ nhắc đến những nhân vật cổ tích nào? c) Em thích nhất hình ảnh nào trong bài thơ? Vì sao? Câu 3. Gạch dưới các động từ trong đoạn văn sau: Hàng trăm người Bãi Lở, trai gái vừa làm vừa hát – hát ví ăn giải đấy. Đằng kia, các cụ lão bà đương dỡ ra những nồi đại cơm gạo ré thơm phức. Lá chuối ngự đã hơ sẵn xếp lên những chiếc mo cau mỏng vàng căng như khăn lá mộc. Rồi từng nắm cơm mịn bọc lá chuối mở ra đặt lên mâm bồng chen cạnh một chồng bánh dày trắng mỡ, bên những chiếc bánh chưng vuông vắn. (Theo Tô Hoài) Câu 4. Em hãy viết tiếp câu kết đoạn cho đoạn văn sau: Từ hôm có chú chim, cu Dũng quên tất cả để chăm sóc chim. Dũng xin bà đỗ xanh, đem ngâm nước tróc vỏ cho chim ăn. Cu cậu còn bắt cào cào, châu chấu, bọ ngụa hoặc đi kiếm ổi và chuối chín để tẩm bổ cho chim. Được như vậy còn sướng hơn ở rừng. Vậy mà chim vẫn buồn. Những con châu chấu béo mầm vặt cẳng, chim chẳng buồn ngó tới. Nó nằm ủ rũ trong lồng nhìn ra khoảng không gian trong xanh quen thuộc. Chắc nó nhớ rửng, nhớ bố mẹ, nhớ bạn bè. Những khi nghe tiếng hót vang lên như gợi nhớ, chim lại bật dậy nhảy khắp lồng, mong tìm được một chỗ trống. Những thanh tre độc ác đã ngăn chim đến với tự do. Rồi một hôm, có đôi chim từ đâu bay tới kéo theo một đàn chim cùng lứa với chú chim non trong lồng… Câu 5. Em hãy tưởng tượng mình là chú chim non trong câu chuyện trên và kể lại câu chuyện đó. Xem đáp án tại đây. >Tải về file word tại đây. Tags:Đề 23 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 23 (đề có đáp án)
539
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 24 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ24 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi Ra khỏi lạch, thuyền kéo buồm bắt cơn gió tây nam chạy thẳng ra khơi. Chiếc thuyền, dáng hơi nặng nề, lù đù tiến, hai mát tròn trân trân nhìn về trước. Khi một ngọn sóng kéo đến, nó chồm dậy rồi đâm chúi xuống, làm tung nước bạc trắng xóa. Càng xa bờ, sóng càng bớt mạnh, chỉ còn là những cái lượn, lưng cong và rộng, kéo lừ đừ nhưng hùng cường. Những mảnh nước lớn thốc vào dưới mũi thuyền khiến bọt trắng toé, rồi tự rẽ đôi chảy róc rách hai bên mạn. Các bác chài đã gác chèo ngồi bện dây neo, quai chèo và tán chuyện, có vẻ không biết đến sự nhồi lắc của sóng. Gió lồng lộng, thuyền chạy phăng phăng, để lại sau một vạch phổng lì, vĩ nước đã bị khối nặng của thuyền dàn ra. Nhưng chẳng bao lâu, những làn sóng lô nhô hai bên mép tiến vào và xoá mất vạch phẳng. Càng xa bờ, gió càng mạnh, như dậy từ bốn phương của khoảng rộng. Nắng vàng và gay gắt thêm. Khi mặt trời đứng bóng, biển biếc ngả sang màu lục. (Theo Bùi Hiển) a) Cảnh thuyền ra khơi trong đoạn văn trên được miêu tả theo trật tự gì? Hãy lấy dẫn chứng để giải thích. c) Những hình ảnh nào cho thấy vẻ đẹp dũng mãnh của con thuyền lướt sóng ra khơi? Câu 2. Sắp xếp các từ dưới đây thành 3 nhóm: gay gắt, lô nhô, nặng nề, trân trân, tung toé, róc rách, lồng lộng, phăng phăng, lừ đừ. – Từ láy âm đầu và vần – Từ láy âm đầu – Từ láy vần Câu 3. Gạch dưới chân các tính từ trong đoạn văn. Thế nhưng bây giờ, vẻ đẹp ấy dường như đã dần đổi thay: Thay vì những cánh tay cuồn cuộn bắp, giờ đây chỉ còn là một dáng người gầy gầy, teo teo. Đôi mắt sâu dưới hàng lông mày rậm, hai gò má cao cao lại dán nổi lên trên khuôn mặt sạm đen vì sương gió. Tuy vậy, bệnh tật không thể làm mất đi tính cách bên trong của bố, bố luôn là một người đầy nghị lực, giàu tự tin và hết lòng thương yêu gia đình. (Theo Nguyễn Thị Hậu) Câu 4. Mỗi phần mở bài dưới đây được viết theo cách nào và viết cho bài văn kể câu chuyện gì? a) Hôm nay là một ngày rất vui đối với em vì em gặp lại một người bạn thân thiết từ khi còn học mẫu giáo. b) Trong cuộc sống của em, ngày nào cũng có niềm vui. Hôm thì em vui vì được điểm cao, hôm thì em vui vì được bố mẹ cho đi chơi công viên, đi mua sách. Lại có hôm em vui vì mẹ cho em ăn món bánh pizza – món ăn em thích nhất trên đời. Hôm nay cũng là một ngày rất vui đối với em – không phải vì điểm cao, không phải vì pizza, mà vì em gặp lại một người bạn rất thân từ khi còn học mẫu giáo. Xem đáp án tại đây. >>Tải về file word tại đây. Tags:Đề 24 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 24 (đề có đáp án)
586
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 25 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ25 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi Làng ven sông Làng tôi nằm cạnh con sông Châu Giang. Sông nhỏ nhưng nước trong xanh quanh năm và nhiều tôm cá. Phía bên kia là bãi ngô xanh non mỡ màng nằm cạnh vườn đu đủ quả sai lúc lỉu, là những cây đa cổ thụ toả bóng râm mát cho người chờ đò có chỗ trú chân, là bụi râm bụt nở hoa thắm đỏ như chào đón người qua lại. Khi những cây bồ kết bên ấy rụng xuống từng chùm quà già khô đen mẩy, chị tôi sang sông nhặt đem về phơi khô để lên gác bếp, thi thoảng mang ra đun nước gội đầu. Khi nhà thờ bên sông ngân tiếng chuông chiều đầu tiên là tụi trẻ con chúng tôi lại hò nhau vác cây chuối tươi ra sông tập bơi. Làng tôi nước sông trong lắm. Bạn có thể vừa đứng trên đê đón gió vùa soi mình vào trong làn nước. Rất có thể tâm hồn bạn sẽ dạt dào thi từ giữa cảnh sông nước mênh mông và những thanh âm yên bình trong tiếng xôn xao mưa bán chợ chiều. (Theo Trương Thị Oanh) a) Hình ảnh con sông Châu Giang được miêu tả như thế nào? c) Con sông gợi lên những kỉ niệm gì về những người thân của tác giả? Câu 2. Tìm: a) 3 từ đồng nghĩa chỉ màu vàng. b) 3 từ đồng nghĩa chỉ màu đỏ. c) 3 từ đồng nghĩa chỉ màu xanh. Câu 3. Gạch dưới trạng ngữ trong những câu sau. Chúng là những trạng ngữ thuộc loại nào? a) Lúc về nhà, thế nào bà củng mua về cho ba chị em mấy quả nhót chín đỏ hồng, vài cái bánh đa, không thì dăm ba lạng mận. b) Những hôm được nghỉ học, tôi thường theo bà đi bán cá. c) Buổi chiều, tôi theo các anh, chị đi gánh nước. Câu 4. Em học được những gì về cách tả con vật ở đoạn văn sau: Trong những cánh rừng già Trường Sơn sương phủ quanh năm, nơi có những nguồn suối không bao giờ cạn, những bãi chuối ngút ngàn rực trời hoa đỏ, những rừng lau bát ngát ngày đêm giũ lá rào rào, đó là xứ sở của loài voi. Nơi đây, voi sống thành từng bầy rất đông. Chúng ăn rất khoẻ. Mỗi ngày, mỗi con cần đến bốn, năm trăm cân cây cỏ. Vì thế mà chúng phải đi liên tục để tìm ăn: từ trên núi chúng xuống đồng cỏ, rồi từ đồng cỏ chúng lại lên núi. Ban ngày chúng trú nắng trong các cánh rừng rậm ; chiều xuống, đi tắm ở những quãng sông vắng rồi lững thững lên bãi tìm ăn. Vào lúc rạng sáng và chiều tà hoặc những lúc xuống bến nước, chúng rống rền vang, sang sảng, oai nghiêm và đầy uy lực khiến người đi rừng phải ngừng bước và thận trọng lắng nghe. Câu 5. Hãy viết bài văn miêu tả một buổi sinh hoạt tổ của em. Xem đáp án tại đây. >>Tải về file word tại đây. Tags:Đề 25 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 25 (đề có đáp án)
567
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 26 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ26 Câu 1. Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi Tôi tìm thấy ở thiên nhiên… Tôi tìm thấy ở thiên nhiên vị ngọt sắc của những trái mít, ngọt lịm của trái vài quê hương và cái ngọt dịu dàng của nắng chiều tà. Rồi tôi cũng tìm thấy ở thiên nhiên cả vị chua gắt của những trái sấu, màu xanh đầy sức sống của cây lá… Hương vị thiên nhiên chan chứa bao nét đặc trưng mà ở đâu ta cũng có thể đưa nó vào đầu lưỡi, nhấm nháp và thưởng thức một cách thích thú. Tôi tìm thấy ở thiên nhiên tiếng sáo diều vi vu trên những con đê lộng gió và tiếng tu hú tùng đàn theo nhau bay đậu khắp các ngọn cây vải. Âm thanh thiên nhiên lúc rộn ràng niềm vui, lúc lại êm đềm sâu lắng như giai điệu của một bản đàn. Ở thiên nhiên, tôi tìm thấy những hương vị, âm thanh, màu sắc và cả những đường nét thật đẹp đẽ. Quan trọng hơn là tôi tìm thấy tâm hồn tôi hoà hợp với cây cỏ, chim muông, sông nước, đất trời hay bất cứ thứ gì mà tạo hoá đã ban tặng cho thế giới này. (Theo Nguyễn Minh Châu) a) Tác giả tìm thấy những mùi vị gì trong thiên nhiên? c) Theo tác giả, điều quan trọng mà tác giả tìm thấy ở thiên nhiên là gì? Câu 2. Xếp các từ sau thành ba nhóm từ đồng nghĩa: bao la, nhỏ nhắn, ồn ào, mênh mông, bé bỏng, ầm ĩ, thênh thang, tí xíu, ầm ầm, bát ngát. Câu 3. Đặt dấu ngoặc kép vào những chỗ thích hợp trong đoạn văn sau: Bác Các-lô vừa bước vào vùa nói: Chào bác Giô-dép, bác làm gỉ mà bò lê bò càng thế? Bác Giô-dép vừa đớp vừa nhìn thanh củi: Bác ạ, mất cái đinh ốc nhỏ rồi, rơi chỗ quái nào chẳng biết nữa! Còn bác, dạo này ra sao? Bác Các-lô trả lời: Khổ lắm bác ạ. Đã nghĩ nát óc mà chẳng biết sống cách nào. Bác xem có cách gì giúp tôi, hay mách hộ ý kiến.,. Bác Giô-dép vui vẻ bảo bạn: Khó gì! Khó gì! … (Theo A-lếch-xây Tôn-xtôi) Câu 4. Đoạn văn sau đây tả cảnh một bạn nhỏ về quê ông nội chơi và tổ chức sinh nhật ở đó. Em hãy viết phần mở đoạn và phần kết đoạn cho đoạn văn. Từ sáng sớm, các bạn đã tập trung ở nhà ông tôi để cùng nhau làm quà tặng tôi, nào chong chóng, nào diều,.. Trẻ con nông thôn rất khác với trẻ con thành phố, mọi người thân thiện, dễ làm quen lắm, “thời trang” sang nhà nhau chơi cũng đơn giản và thoải mái cực kì. (Theo Nguyễn Thị Huyền) Câu 5. Viết đoạn văn miêu tả một buổi tiệc sinh nhật của em. Xem đáp án tại đây. >>Tải về file word tại đây. Tags:Đề 26 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 26 (đề có đáp án)
536
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 27 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ27 Câu 1. Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi Sắc tím bằng lăng Không rộn rỡ tưng bùng hay khoa trương sặc sỡ, nhưng khi nở, bằng lăng tím rực một góc trời. Cũng như những cánh phượng hồng, bằng lăng là loài hoa “nữ hoàng của mùa hạ”. Hoa bàng lăng chỉ đẹp nhất khi khoe sắc tím trên cây cùng những chiếc lá xanh căng tràn sức sống. Không biết sao cả tôi và bạn đều thích cái màu tím ấy, đó là màu thời gian xa xôi. Vì bằng lăng tím có bao giờ tím mãi, cứ đến hẹn lại lên, những cánh bằng lăng thi nhau nở bung một góc trời, nắng mưa qua ngày, sắc tím phai dần, phai dần theo thời gian. Đã không biết bao nhiêu buổi chiều tôi và bạn đứng ngẩn ngơ nhìn những bông hoa tím đang chuyển sang màu tím nhạt, rồi màu trắng… Một ngày kia, những bông hoa cứ rụng dần rụng dần, thay vào đó là mùa quả, những mùa quả tròn căng mọc thành từng chùm từng chùm… để rồi năm sau lại khô xác đi rụng xuống, nhường chỗ cho những lớp lá non mới nhú. Con gái chúng mình hình như đứa nào cùng có một góc để thương để nhớ. Và tôi biết, màu tím bằng lăng sẽ khiến chúng mình không bao giờ quên được tuổi học trò hồn nhiên một thuở. a) Theo tác giả, hoa bằng lăng đẹp nhất khi nào? b) Hoa bằng lăng được miêu tả theo các sắc độ màu tím và theo thời gian như thế nào? c) Tác giả dùng những hình tượng nào đê nói về hoa bằng lăng và màu tím bằng lãng? Câu 2. Viết tiếp các câu so sánh sau – Đỏ như …………………………………………….. – Vui như…………………………………………….. – Mưa như…………………………………………….. – Nóng như…………………………………………….. – Buồn như…………………………………………….. Câu 3. Điền từ ngữ thích hợp trong ngoặc đơn vào mỗi chỗ trống để các câu trong đoạn văn được liên kết với nhau. (thành phố, em, quê, trẻ em, lớn) Em được sinh ra và lớn lên ở thành phố nhưng em cũng có quê nội, quê ngoại như bao bạn nhỏ khác. Mỗi lần về………………… chơi, em thường nghe các bác, các cô và các bạn bằng tuổi mình chép miệng: “Đúng là người……….. sướng thật. Người lớn thì ăn mộc đẹp, đi xe máy, còn …………….. chỉ việc lo học, chẳng phải lo việc đồng áng, chăn nuôi”. Khi còn nhỏ, nghe vậy,………… thấy tự hào và hãnh diện lắm về cái “mác thành phố” của mình. Nhưng khi ………… rồi, em thấy sự so sánh này không hẳn đã đúng. (Theo Phượng Hồng) Câu 4. Tìm các quan hệ từ có tác dụng liên kết từ ngữ và các vế câu trong đoạn văn trên. Câu 5. Viết tiếp đoạn văn ở câu 3, nêu các lí do giải thích tại sao có ý kiến cho rằng “Người thành phố sướng thật” không hẳn đã đúng. Tải về file word tại đây. Tags:Đề 27 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 27 (đề có đáp án)
541
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 28 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ28 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi Nếu mùa xuân rực rỡ các loài hoa có mưa bay ẩm tóc…, mùa hè chói chang nắng loá, ngút lửa trên cành phượng, tím ngắt trên ngọn bằng lăng, mùa thu có gió heo may nhẹ như nỗi nhớ… thì mùa đông tuy khắc nghiệt vẫn có sắc thái riêng làm lòng người như muốn xích lại gần nhau cho thêm ấm áp. Vào những ngày rét ngọt hanh khô, đi qua phố Tràng Thi, tưởng như nghe thấy tiếng sột soạt của từng trang sách mở ra, trong khi trên đường rặng bàng tung những tờ lá đỏ, như tấm thư trời gửi cho ngưòi báo hiệu mùa đông sắp hết, mà đây là những ánh nắng cuối cùng. Hàng phượng vĩ đưòng Thanh Niên đã tắt hết đèn chỉ còn lại những quả khô như những sợi bấc đen chứa đựng trong đó cái hạt nâu vân vân, đựng lửa cho mùa sau. Hàng cơm nguội phố Lý Thường Kiệt hình như mẫn cảm với sương đông trước hết. Chúng chỉ còn trơ lại những cành trong bàng bạc màu trời. (Theo Băng Sơn) a) Đặc điểm riêng của thời tiết từng mùa được miêu tả như thế nào? b) Những hình ảnh gì trong đoạn văn được coi là đặc trưng của mùa đông Hà Nội? Câu 2. Tìm những cặp từ trái nghĩa trong các thành ngữ, tục ngữ sau. Giải thích ý nghĩa của những thành ngữ, tục ngữ đó. -Trên kính dưới nhường. – Khôn nhà dại chợ. – Chết vinh hơn sống nhục. Câu 3. Trong đoạn văn sau, những câu nào sử dụng biện pháp so sánh? Em thích hình ảnh so sánh nào nhất? Vì sao? Chúng tôi dắt con Luốc đi dọc theo mé nước, rình đập những con cá thòi lòi biển. Những con cá thòi lòi to bằng ngón chân cái, cặp mắt ốc nhồi mọc trên đầu giống như hai hột mồng tơi, hễ nghe bước chân chúng tôi đến gần là y như chúng giương cái kì ngũ sắc trên lưng thành một cánh buồm, phóng ngay trên mặt nước. Giống cá gì mà tinh như quỷ. Bay trên mặt nước như cá thia lia, lặn cũng giỏi, bơi cùng giỏi còn nhảy trên bờ thì thật không thua gì một con ếch. (Theo Đoàn Giỏi) Câu 4. Em hãy lập dàn ý cho bài viết sau: Quê ngoại tôi ở Hải Dương – nơi có những con ngưòi đôn hậu, thật thà và những chiếc bánh gai, bánh đậu thấm ngọt tình người. Để có được chiếc bánh gai ngon, người ta phải chọn gạo nếp hoa vàng, thơm, đem về vo sạch rồi ngâm nước lạnh qua đêm, gạo vớt ra cho vào rá để vào nơi thoáng cho ráo nước rồi đem xay thành bột mịn. Nhân bánh cùng phải chọn nguyên liệu và gia công rất cầu kĩ: đỗ xanh, lạc, dừa, mứt bí, vừng, mỡ lợn, hạt sen, hương liệu thơm như dầu chuối… Mỡ lợn dày khổ đem pha rồi luộc chín, thái con chì, trộn đưòng. Đến khi những miếng mỡ trắng, trong, giòn mới đem dùng. Đậu xanh cũng phải chọn loại ngon, hạt nhỏ, xay vỡ, ngâm đãi sạch vỏ, nấu chín giã nhuyễn. Nếu các bạn muốn được thưởng thức đặc sản quê tôi, hãy một lần ghé thăm vùng quê hiền hoà, mến khách, tôi sẽ đãi bạn thoả thích… (Theo Ngô Thu Phương) Câu 5. Tưởng tượng em là một phóng viên và muốn phỏng vấn người làm bánh gai. Hãy đóng vai phóng viên và ghi lại cuộc phỏng vấn đó. Xem đáp án tại đây. >>Tải về file word tại đây. Tags:Đề 28 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 28 (đề có đáp án)
659
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 29 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ29 Câu 1. Đọc đoạn thơ sau và trả lời câu hỏi Đẹp Hậu Giang Hậu Giang ơi! Hậu Giang! Đây là khúc ruột của miền Nam Nằm trong lòng đất, trong lòng nước… Đất của miền Tây, nước Hậu Giang. Hậu Giang ơi! Hậu Giang! Con sông yêu quý của miền Nam, Đây dòng nước bạc dài rung cảm, Khói sương vương vương dáng xóm làng. Nơi đây dân sống no lành lắm, Với đất miền Tây, nước Hậu Giang, Với trái Cần Thơ, rau Bảy Núi, Với khô Rạch Giá, lúa miền Nam. Muối Bạc Liêu mặn tình biển cả, Tiêu Hà Tiên nồng ý quê hương; Thơm tho khói thuốc mùi Cao Lãnh, Cá cháy bùi ngon vị Sóc Trăng. (Theo Kiên Giang) a) Hậu Giang được so sánh với hình ảnh nào? b) Những sản vật nổi tiếng nào của Hậu Giang được giới thiệu trong bài thơ? c) Tác giả thể hiện tình cảm như thế nào với Hậu Giang? Tình cảm đó được thể hiện qua những từ ngữ nào? Câu 2. Liệt kê các danh từ riêng xuất hiện trong đoạn thơ trên. Câu 3. Gạch dưới các danh từ chung trong khổ thơ sau: Hòn Tre, Phú Quốc dù xa bãi Vẫn nhớ phù sa, mảnh đất liền, Nước biển người ơi là máu đất, Máu nào mà chẳng trở về tim!… Nếu thiếu bóng dừa soi bóng nước, Thiếu bông lúa trổ, búp măng tre; Biển không nổi sóng, rừng không gió… Ta thiếu trong hồn nét đẹp quê. (Theo Kiên Giang) Bác rùa đá đang nằm im như một tảng đá, thò đầu ra khỏi mai lim dim mắt đón nhận từng giọt âm thanh tươi mát của buổi sớm mai. Có việc phải đi đâu là bác đi mải miết cho kịp. Bác đi cả ngày cả đêm, cả mưa cả nắng… Dọc đường, ai gặp khó khăn bác đều dừng lại giúp đỡ. Bác đem theo cả một mái nhà thì đâu chẳng là nhà! (Theo Vân Long) Câu 5. Hãy viết lại một truyện ngụ ngôn hoặc cổ tích mà em biết. Xem đáp án tại đây. >>Tải về file word tại đây. Tags:Đáp án Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 · Đề 29 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 29 (đề có đáp án)
378
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 3 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ 3 Câu 1. Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi. Thanh âm của núi Ai đã một lần lên Tây Bắc, được nghe tiếng khèn người Mông, sẽ thấy nhớ, thấy thương, thấy vấn vương trong lòng… Âm thanh của cây khèn người Mông có thể làm đắm say du khách khó tính nhất. Với người Mông, tiếng khèn là sợi dây tâm linh nối người sống và người đã mất, là “cây cầu” bắc lời tỏ tình đôi lứa, là những chuyện cổ được kể bằng âm thanh. Thân khèn được làm bằng gỗ cùng sáu ống trúc lớn, nhỏ, dài, ngốn khác nhau. Sáu ống trúc tượng trưng cho tình anh em tụ hợp. Chúng được xếp khéo léo, song song trên thân khèn. Tưởng tượng thêm một chút sẽ thấy chúng như dòng nước đang trôi. Dòng nước đó chở thứ âm thanh tuyệt diệu, chảy từ ngọn nguồn lịch sử đến bến bờ hiện tại. Mấy ai từng gặp những nghệ nhân dân gian thổi khèn nơi đỉnh núi mênh mang lộng gió, tóc bị gió thổi ngược, hình bóng họ in trên nền trời xanh, hệt một tuyệt tác của thiên nhiên. Núi cao, rừng rộng chẳng thể làm chìm đi tiếng khèn đầy khát khao, dạt dào sức sống. Đến với tiếng khèn một ngày để nhớ tiếng khèn một đời… a) Tiếng khèn có ý nghĩa như thế nào đối với người Mông? b) Hình ảnh những nghệ nhân thổi khèn được miêu tả như thế nào? Cách miêu tả đó có gì độc đáo? c) Câu văn cuối bài muốn nói điều gì với người đọc? Câu 2. Tìm từ đồng nghĩa với: a) khát khao b) chờ mong c) vui mừng Câu 3. Trong các từ in đậm dưới đây, những từ nào là từ đồng âm, những từ nào là từ nhiều nghĩa? a) đuờng làng, lọ đường, đường biển b) dòng nước trôi, bánh trôi, cá trôi. c) tỏ thái độ, tỏ lòng, sáng tỏ Câu 4. Sắp xếp đoạn văn sau (bằng cách đánh số thứ tự vào ô trống trước mỗi đoạn) để tạo thành bài văn. […..] Hương hoa dẻ có mùi thơm rất dễ chịu. Thú vị nhất là được thưởng thức hương hoa dẻ từ xa, trên con đường mát rượi bóng cây, đang đi bất chợt ta thấy thoang thoảng một mùi thơm ngan ngát, mát dịu. Có thể ta chưa nghĩ ra đó là hương thơm của hoa dẻ. Ngước mắt lên vòm lá kiếm tìm, ta chợt nhận ra những chùm hoa dẻ đầu tiên đã chín vàng treo lủng lẳng, ẩn hiện trong vòm lá xanh biếc. […..] Cứ mỗi độ hè về, con đường làng quê tôi vàng một màu hoa dẻ. […..] Tôi yêu cái vẻ đẹp bình dị, dịu dàng của hoa dẻ. Dẫu đã xa tuổi học trò, nhưng cứ mỗi độ hè về, tôi lại bồi hồi nhớ về một mùa hoa dẻ. (Theo Nguyễn Nhung) Câu 5. Viết đoạn văn tả một loài hoa em yêu thích >Tải về file word tại đây. >Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 3 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 3 (đề có đáp án)
550
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 30 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ30 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi Trước mắt chúng tôi là những đồi cỏ sữa của trung tâm bò giống Môn-ca-đa, thứ cỏ có sức sống mãnh liệt và có hương vị đặc biệt do nước bạn Cu-ba giúp ta gây giống và gieo trồng. Vào ban đêm, mùi cỏ, vốn bị nắng nung khô tái suốt ngày, toả ra mùi hương nồng say, thấm đậm trong không gian, khiến bất kì ai đi qua đây cũng thấy nao lòng. Buổi sớm, sương còn đọng long lanh trên những ngọn cỏ, hương thơm vẫn nồng nàn khiến ta cứ ngỡ chính những giọt sương kia đã toả ra cái hương vị lạ lùng ấy! Nhưng rồi một trời lên, sương tan. Sự hào nhoáng của những giọt sương mỏng manh tan biến ngay dưới ánh nắng một trời nhưng hương cỏ thì vẫn nồng đượm, vẫn lắng đọng, quanh quất đâu đây, êm dịu luồn lách vào tận da thịt, như nhắc ta đừng bao giờ quên cái hương vị diệu kì này. Nhưng làm sao có thể quên, dù chỉ một lần qua đây? (Theo Khuất Quang Thuỵ) a) Đoạn văn miêu tả đặc điểm gì nổi bật của những đồi cỏ sữa? b) Hương cỏ vào ban đêm có gì đặc biệt? Vì sao hương cỏ ban đêm lại đặc biệt như vậy? Câu 2. Tìm từ trái nghĩa với: a) nhanh nhẹn b) lạ lùng c) đặc biệt Câu 3. Chọn các cặp quan hệ từ trong khung rồi điền vào chỗ trống trong đoạn văn sau cho thích hợp: mặ c dù … nhưng …; càng … càng …; sở dĩ… là vì… ; không chỉ… mà … Và tôi khâm phục ………………………….. bởi bố là một ngưòi giỏi giang, tà một người cao cả, đứng đắn, lòng kiên trì, chịu khó…………….. bởi cách sống lạc quan, vô tư của bố……………………………….. những thời gian rảnh rỗi của bố còn lại rất ít …………………………. bố vẫn trồng và chăm sóc khu vườn trước nhà để cho nó bao giờ cũng xanh tươi. Câu 4. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi. Mặc chiếc áo dài đỏ rực đến xem ca nhạc là Hoa Phượng. Hoàng Điệp đội chiếc nón vàng tươi đi cạnh Ô Môi che cây dù tím lịm. Chị em Hoa Giấy mặc áo đủ màu sác. Hoa Sứ đơn giản mà thơm ngát. Hoa Trang dịu dàng và Hoa Quỳnh vô cùng thanh khiết, Sầu Riêng ngồi tít đằng xa vì e các hoa đang phơi phới ấy vô tình chạm phải gai mình sẽ đau. Mít Tố Nữ cũng kín đáo ngồi trong một góc vườn. Dù vậy mùi thơm của hai trái cây này vẫn bắt mọi người đặc biệt chú ý. Kéo đến dự đông nhất, từng chùm, từng chùm là Dâu Da, Bòn Bon, Mận, Khế. Măng Cụt đếm đủ một chục, Xoài chỉ đi một cặp thôi. a) Cách miêu tả các loại hoa trái trong đoạn văn trên có gì độc đáo? b) Đặc điểm riêng của từng loại hoa trái được tác giả miêu tả như thế nào? c) Em hãy viết phần mở đầu và phần kết cho đoạn văn trên. Câu 5. Tả một loài hoa em biết. Xem đáp án tại đây. >>Tải về file word tại đây. Tags:Đề 30 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 30 (đề có đáp án)
590
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 31 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ31 Câu 1. Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi Con suối bản tôi Bản tôi chạy dọc hai bên bờ suối, trên hai sưòn núi tương đối bằng phẳng. Con suối khá to từ những dãy núi xa lắc xa lơ chảy về. Con suối chảy qua bản tôi bốn mùa nước xanh trong. Những ngày lũ, suối cũng chỉ đục vài ba ngày. Để tiện đi lại, người dân bản tôi bắc khá nhiều cầu qua suối, cầu ghép bằng đôi thân cây to hoặc một thân cây cổ thụ. Gần đây, chiếc cầu bằng xi măng cốt thép đã được bắc qua con suối quê tôi. Mặt cầu rộng rãi. Trẻ nhỏ thường tụ tập hai bên thành cầu nhìn xuống nước xem những con cá lườn đỏ, cá lưng xanh…. Cá bơi lên thác ngửa bụng trắng xoá. Cá bơi lượn lấp loáng, như hàng trăm, hàng nghìn ngôi sao rơi xuống lòng suối. Đoạn suối chảy qua bản tôi có hai cái thác, nước cháy khá xiết. Nước gặp những tàng đá ngầm chồm lên thành những con sóng bạc đầu. Hết đoạn thác dài gần chừng trăm mét lại đến vực. Vực khá sâu, nước lững thững như kẻ nhàn rỗi dạo xuôi dòng. Con suối đơn sơ, bình dị ấy đã đem lại cho bản tôi vẻ thanh bình trù phú với bao nhiêu điều hữu ích. a) Những cảnh đẹp gì của suối được tác giả miêu tả trong bài văn? b) Hình ảnh những đàn cá bơi lội trong suối được miêu tả như thế nào? c) Trong bài văn, tác giả sử dụng biện pháp so sánh để gợi nên vẻ đẹp hoang sơ của dòng suối, đó là những hình ảnh nào? Em thích hình ảnh so sánh nào nhất? Câu 2. Tìm từ trái nghĩa với từ in đậm để hoàn thành các thành ngữ, tục ngữ sau: a) No dồn……….. góp. b) Xa thương…………… thường. c) Áo lành đùm áo………………….. Câu 3. Gạch dưới các trạng ngữ trong những câu sau và cho biết chúng là trạng ngữ thuộc loại nào (Chỉ nơi chốn? Chỉ thời gian? Chỉ nguyên nhân? Chỉ mục đích? Chỉ phương tiện?). a) Những ngày lũ, suối cũng chỉ đục vài ba ngày. b) Để tiện đi lợi, người dân bản tôi bắc khá nhiều cầu qua suối. c) Gần đây, chiếc cầu bằng xi măng cốt thép đã được bắc qua con suối quê tôi. Câu 4. Lập dàn ý cho bài văn Con suối bản tôi. Câu 5. Hãy tả một loài cây hoặc loài hoa đặc trưng cho ngày Tết mà em yêu thích. Xem đáp án tại đây. >>Tải về file word tại đây. Tags:Đề 31 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 31 (đề có đáp án)
484
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 32 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ32 Câu 1. Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi Rừng mùa thu Mọi khu rừng đều đẹp với không khí phảng phất mùi nấm và tiếng lá rì rào. Nhưng những khu rừng trên núi và gần biển mới thật là đẹp. Đứng ở đó ta nghe rõ cả tiếng sóng vỗ bờ. Sương mù từ biển cả thường xuyên tràn vào và vì khí ẩm quá nhiều nên rêu mọc rậm rịt. Rêu từ trên cành cây như những mớ tóc xanh xoã dài trên mặt đất. Vào mùa thu, nếu như ta có thể lấy hết đồng và vàng trên trái đất đem đánh đổi thành muôn vàn những chiếc lá cây thật tinh xảo thì những chiếc lá đó cũng chỉ có thể làm thành một phần rất nhỏ tấm áo choàng mà mùa thu đang trải lên trên những ngọn núi kia mà thôi. Vả lại những chiếc lá nhân tạo nọ sẽ rất thô kệch nếu so với những chiếc lá thật, nhất là những lá liễu hoàng diệp. (Theo K. Pau-tốp-xki) a) Trong bài văn trên, đặc điểm chung của mọi khu rừng mùa thu là gì? b) Theo tác giả, những khu rừng trên núi và gần biển có điểm gì khác biệt, làm nên vẻ đẹp độc đáo của chúng? Câu 2. Chọn từ láy thích hợp trong khung, điền vào chỗ trống trong đoạn thơ sau: rào rào, hối hả, lim dim, thưa thớt, lất phất Mầm non mắt…………………. Cố nhìn qua kẽ lá Thấy mây bay …………………. Thấy………………………. mưa phùn ……………………….. trộn lá tuôn Rải vàng đầy mặt đất Rừng cây trông…………………. Như chỉ cội với cành (Theo Võ Quảng) Câu 3. Ghép danh từ ở cột A với tính từ ở cột B cho hợp nghĩa Câu 4. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi. Gặt lúa Những bông lúa vàng mới cắt xong xếp đều rải rác từng hàng trên bờ ruộng, trong đám cỏ xanh mà dày. Mỗi khi gạt được vài lượm lúa, người thợ hái ôm sát bó lúa thêm vào người đem ra xếp vào chỗ lúa trước. Rổi họ lại trở vào ruộng lúa đứng theo hàng với những người gặt. Tiếng hái cứa vào gốc lúa xào xạo như tiếng trâu bò ăn cỏ. Chăm chú vào việc làm, Tân không để ý đến cảnh vật chung quanh. Anh cũng không thấy mệt nữa, tuy ánh nắng chiếu trên lưng nóng rát và mồ hôi đổ từng giọt trên trán xuống. Tân chú ý đến cái hái cho nhanh nhẹn, mỗi lần bông lúa rung động chạm vào mặt người, mùi lúa chín thơm đã làm cho lòng anh say sưa như men rượu. Cánh đồng lúa chín loé vàng dưới một trời buổi trưa. Từng chỗ ở thửa ruộng nào gặt rồi, gốc rạ lấp lánh như dát bạc. Phía xa, làng mạc ở chân trời rung động trong ánh nắng. (Theo Thạch Lam) a) Hoạt động gặt lúa được miêu tả theo trật tự từng bước như thế nào? b) Tác giả sử dụng những chi tiết nào để miêu tả cảnh nhân vật chính (Tân) đứng giữa nắng? Em học được gì từ cách miêu tả này? c) Hình ảnh bông lúa chín được miêu tả trong bài với những chi tiết nào (Ví dụ: màu sắc, mùi vị.)? Câu 5. Hãy viết một đoạn văn tả cảnh trưa hè ở quê hương em. Xem đáp án tại đây. >>Tải về file word tại đây. Tags:Đề 32 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 32 (đề có đáp án)
608
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 33 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ33 Câu 1. Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi Mùa xuân đã về Sương mù tan dần. Mây như một đàn cừu tản đi và dưới bầu trời quang đãng mùa xuân thực sự hiện ra. Mặt trời chói lọi mọc lên, nuốt dần lớp băng mỏng phủ trên mặt nước. Bầu không khí ấm áp rung rinh khắp nơi, mặt đất như hồi sinh, và cỏ già năm ngoái xanh tốt lại. Cỏ non năm nay như những chiếc kim đâm tua tủa trên mặt đất. Những chồi cây sực nức mùi hương căng phồng những nhựa. Và quanh những cây liễu tắm trong ánh nắng vàng tươi, đàn ong thoát ra khỏi túp lều bằng cành cây mà người ta nhốt chúng trong mùa đông lại vo ve bay lượn. Đàn chim sơn ca tuôn tiếng hót trên những đồng cỏ nhung tơ và những ruộng rạ phủ băng. Tít trên trời xanh, đàn sếu và ngỗng trời bay qua, cất tiếng kêu mừng xuân. Đàn súc vật trụi lông mới có đôi chỗ mọc lại vừa rống lên vừa đi đến nơi ăn cỏ. Những chú cừu non chân cẳng leo khoeo nhảy lon ton chung quanh đàn cừu mẹ đỡ bị gọt lông đang kêu be be. Lũ trẻ nhanh nhẹn chạy dọc theo những đường nhỏ. Tiếng nói vui vẻ của tốp phụ nữ vang lên bên bờ đầm nơi họ đang giặt vải, và tiếng rìu của bác nông dân đang chữa lại cày bừa vang lên trong các sân nhà. (Theo Lép Tôn-xtôi) a) Những hình ảnh về thiên nhiên nào cho thấy mùa xuân thực sự đã về? b) Cảnh mùa xuân trở nên sinh động bởi hoạt động của côn trùng, chim muông, gia súc. Em hãy tìm trong bài văn những hình ảnh miêu tả điều đó. c) Những hình ảnh nào cho thấy con người cũng đang đón mùa xuân đến? Câu 2. Tìm ở cột B lời giải nghĩa thích hợp cho từ đầu trong mỗi câu ở cột A: Câu 3. Tìm 2 danh từ, 2 động từ, 2 tính từ trong đoạn thơ sau: Chăn trâu đốt lửa trên đồng Rạ rơm thì ít, gió đông thì nhiều Mải mê đuổi một con diều Củ khoai nướng để cả chiều thành tro (Theo Đồng Đức Bốn) Câu 4. Em hãy lập dàn ý chi tiết cho câu chuyện kể về giấc mơ của một bạn nhỏ dựa theo gợi ý sau: – Một bạn nhỏ ngại học bài, ngủ gật, mơ thấy mình bay lên trời. – Cảnh trên trời rất đẹp. Người nhà trời ai cũng vui vẻ làm công việc của mình. – Bạn định ở lại trời nhưng thấy nhớ bố mẹ, nhớ bạn bè,… đã bay về nhà mình. Câu 5. Viết đoạn văn miêu tả một người thân của em. Xem đáp án tại đây. >>Tải về file word tại đây. Tags:Đề 33 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 33 (đề có đáp án)
519
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 34 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ34 Câu 1. Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi Con và mẹ Con sẽ là giọt nước Còn mẹ là dòng sông Nước ào vào mênh mông Ôi, chứa chan lòng mẹ. Con là thuyền nhỏ bé Mẹ sẽ là đại dương Thuyền lướt đi muôn phương Biển lặng thầm nâng bước. Con là hoa thược dược Mẹ là ánh bình minh Mỗi sớm mai trong lành Bình minh hôn hoa thắm. Con sẽ là giọt nắng Còn mẹ là mây bay Nắng rong chơi mệt nhoài Mây làm mưa dịu mát. Con sẽ là lời hát Mẹ là nốt nhạc hồng Hoà lời ca mênh mông Ôi, thiết tha lòng mẹ! (Theo Đỗ Quỳnh Liên) a) Trong bài thơ, tình cảm thắm thiết giữa người mẹ và người con được so sánh với những cặp hình ảnh nào? b) Những cặp hình ảnh trong bài thơ luôn luôn gắn bó với nhau. Hãy nêu những chi tiết trong bài thơ nói lên điều đó. c) Em có cảm nghĩ gì về lòng mẹ qua những hình ảnh trong bài thơ? Câu 2. Tìm các cặp từ trái nghĩa nhau: – Tả hình dáng: Ví dụ: cao – thấp – Tả hành động: Ví dụ: khóc – cười – Tả trạng thái: Ví dụ: ồn ào – yên tĩnh Tôi nhớ mỗi ngày mẹ mua cho tôi chiếc áo mới vào ngày Tết, chiếc áo vải dày nhưng sờ vào rất mát. Những bông hoa vàng nhụy đỏ làm niềm vui của tôi trong năm mới râm ran. Cả đêm đó, dù không phải thức canh nồi bánh chưng nhưng tôi vẫn cố canh cho mình đừng ngủ. Tôi chỉ sợ nếu nhắm mắt vào thì chiếc áo mới sẽ bị ai đó lấy mất, hoặc rất có thể nó sẽ không cánh mà bay. (Theo Vũ Thị Huyền Trang) Câu 4. Đây là một đoạn trích từ truyện Điều ước đầu năm. Em hãy viết tiếp nội dung truyện theo ý của em. Nêu ý nghĩa em muốn nêu lên trong truyện. Nga chơi thân với Thảo từ đầu năm học. Hồi mới chuyển vào lớp Nga, Thảo là cô bé rất trầm, ít tiếp xúc với mọi người. Nga rất bất ngờ khi biết Thảo mới bằng tuổi Nga mà phải vừa đi học vừa phụ mẹ ra chợ bán đậu phụ. Mặc dù bộn rộn với công việc giúp mẹ nhưng Thảo vẫn học rất giỏi. Không chỉ có thế, Thảo còn rất chân thành và tốt bụng với bạn bè. Có lần, cả lớp Nga đi lao động dọn cỏ phía sau sân trường, Nga bị rắn độc cắn, chính Thảo đã dùng miệng hút máu độc từ vết cân nơi chân Nga… Câu 5. Viết đoạn văn tả về một người bạn thân của em. Xem đáp án tại đây. >>Tải về file word tại đây. Tags:Đề 34 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 34 (đề có đáp án)
495
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 35 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ35 Câu 1. Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi. Nắng tháng Tư Năm nay, mùa hè đến sớm. Nắng tháng Tư tràn trề đổ xuống khắp nơi, dát vàng từng khóm tre già, chan hoà những gốc rạ với đất cày đến nỗi nhìn xa khó có thể phân biệt được đâu là rạ, đâu là đất màu nhuộm nắng. Không khí thơm thơm mùi mật hoa, cây cỏ. Lá tươi xanh hớn hở chuyện trò xôn xao với gió. Con đường nhỏ bao quanh làng sáng lên như một dài bạc, vòng vèo rồi mất hút vào luỹ tre sẫm màu, xa tít. Tôi ngồi trên đám cỏ tóc tiên mềm mại. Tôi chờ mặt trời xuống. Cái mâm đồng rực rỡ kia còn chói chang trên bầu trời xanh ngắt. Bây giờ, nó đang sáng ngời như một tấm kính lửa hừng hực, nhưng lát nữa đây, những tia lửa ấy sẽ thu lại, màu vàng chói sẽ dịu đi, đậm hơn rồi chuyển thành màu vàng cam. Cái vành tròn mặt trời hiện rõ như vành nón lá và sẽ không còn hắt vào mặt tôi những sợi vàng nóng bỏng. Rồi sung sướng biết bao khi nó thua cuộc lẩn trốn dần sau ngọn núi Phước Tường. Cảnh tượng tuyệt vời ấy, niềm vui bí ẩn ấy thu hút tôi không rời cho đến khi bầu trời chỉ còn màu xanh ngự trị với những đám mây vàng đầu núi chuyên chở chút hào quang còn sót lại. a) Hình ảnh nắng tháng Tư bao trùm cảnh vật được tác giả miêu tả như thế nào? b) Hình ảnh mặt trời được tác giả miêu tả theo trình tự nào? c) Tìm trong bài văn những hình ảnh so sánh để miêu tả mặt trời ở mỗi thời điểm khác nhau. Em thích hình ảnh nào nhất? Vì sao? Câu 2. Chọn danh từ thích hợp trong khung rồi điền vào chỗ trống. vườn bách thảo, thị thành, hồ nước, bầu trời, phố phường, người người, mọi người Sau cơn mưa, (1)………………………………. quang đãng, (2) tấp nập, (3)……………. đông vui. Hà Nội những đêm hè,(4)………….. dạo bộ ven hồ và trong các công viên,(5)…….. để hít thở khí trời sau một ngày bộn rộn. Những (6)………….. trong veo mang lại nét thanh bình êm ở cho chốn (7)………………… đông đúc, bon chen. (Theo Võ Thị Ánh Hổng) Câu 3. Gạch dưới bộ phận vị ngữ trong mỗi câu sau: a) Kênh Vĩnh Tế dài gần 100km, nối liền tỉnh Châu Đốc (cũ) với vịnh Thái Lan. b) Đây là kênh đào đầu tiên ở nước ta, cũng là con kênh lớn nhất và quan trọng nhất miền Nam. c) Công việc chỉ huy đào kênh được giao cho Thoại Ngọc Hầu, tức Nguyễn Văn Thoại, quan trấn thủ Vĩnh Thanh (gồm các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long và Kiên Giang ngày nay). d) Ông là một danh tướng thời Nguyễn, cũng là người có công mở mang nhiều vùng đất ở miền Nam. Câu 4. Em hãy viết phần mở đầu và phần kết cho đoạn văn sau: Bức tường yêu thương Bức tường là nơi tôi quay mặt vào “ăn vạ” mỗi khi không được bố mẹ mua cho đồ chơi mới. Bức tường chính là “người” nghe tôi nói những từ “ma ma”, “bà bà” đầu tiên và cũng là nơi để tôi trốn bố mẹ mà mút tay chùn chụt. Bức tường là chiếc bảng để tôi tập viết những chữ cái đầu tiên cùng đủ hình thù ngộ nghĩnh mà tôi có thể nghĩ ra được. Bức tường là người bạn luôn lắng nghe những tâm sự của tôi mà không bao giờ kêu ca, phàn nàn gì hết. (Theo Nguyễn Mai Phương) Câu 5. Viết bài văn miêu tả ngôi nhà thân yêu của em. Xem đáp án tại đây. >>Tải về file word tại đây. Tags:Đề 35 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 35 (đề có đáp án)
681
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 37 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ37 Câu 1. Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi Cây đại trước hiên nhà Này, cây đại trước hiên nhà Lặng lẽ xanh và lặng lẽ hoa Có ông lão nhìn cây ướm tuổi Ai biết đời cây lặng lẽ già.Lặng lẽ cả khi vặn trời cơn bão Cái cây vẫn đứng như là bình yên Bầy trẻ nhỏ nhặt hoa rơi quanh gốc Nhặt cả xác ve sầu ướt sũng mưa đêm. Lặng lẽ cả khi mùa lá úa Chiếc lá rơi tiếc nuối trong chiều Cây gầy guộc khô cằn quá thể Gió run cành lạnh cóng tiếng chim kêu. Ngôi nhà cũ thay cổng và thay mái Cây đại già vẫn đó chẳng dời đi Lặng lẽ đời cây chìm vào góc khuất Có thể nhìn cây gạn lọc được điều gì. (Nguyễn Đức Mậu) a) Đặc tính nổi bật nhất của cây đại trong bài thơ là gì? Vì sao em biết điều đó? b) Hình ảnh cây đại mùa đông và cây đại mùa mưa bão được miêu tả như thế nào? c) Tác giả muốn nói điều gì qua câu thơ “Có thể nhìn cây gạn lọc được điều gì.”? Câu 2. Những từ nào dưới đây đồng nghĩa với từ “thanh bình”? thanh thản, thanh tịnh, hoà bình, bình dị, thái bình, bình yên, bình thường Câu 3. Tìm những câu ghép có dùng quan hệ từ trong đoạn văn sau, và cho biết những quan hệ từ đó biểu thị ý nghĩa gì. (Theo Nguyễn Nhật Ánh) Câu 4. Đọc đoạn truyện sau và trả lời câu hỏi: Sóng sớm, Vịt Trắng và Vịt Nâu lạch bạch đến nhà Gà, gõ cửa gọi: – Bạn Gà ơi, dậy đi! Mau ra bờ ao chúng tớ giúp bạn tập bơi! Tiếng Gà nói vọng ra: – Tớ không có ở nhà đâu! (Theo Vũ Tú Nam) a) Lời đáp của Gà nói lên điều gì về nhân vật này? b) Theo em, Vịt Trắng và Vịt Nâu nên đáp lại câu trả lời của Gà thế nào? Câu 5. Em hãy kể lại câu chuyện đã nghe, đã đọc, sau đó ghi lại dàn ý câu. Xem đáp án tại đây. >>Tải về file word tại đây. Tags:Đề 37 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 37 (đề có đáp án)
389
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 38 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ38 Câu 1. Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi Buổi sáng mùa hè trong thung lũng Rừng núi còn chìm đắm trong màn đêm. Trong bầu không khí đầy hơi ẩm và lành lạnh, mọi người đang ngon giấc trong những chiếc chăn đơn. Bỗng một con gà trống vỗ cánh phành phạch và cất tiếng gáy lanh lảnh ở đầu bàn. Tiếp đó, rải rác khắp thung lũng, tiếng gà gáy râm ran. Mấy con gà rừng trên núi cũng thức dậy gáy te te. Trên mấy cây cao cạnh nhà, ve đua nhau kêu ra rả. Ngoài suối, tiếng chim cuốc vọng vào đều đều… Bản làng đã thức giấc. Đó đây, ánh lửa hồng bập bùng trên các bếp. Ngoài bờ ruộng đã có bước chân người đi, tiếng nói chuyện rì rầm, tiếng gọi nhau í ới. Tảng sáng, vòm trời cao xanh mênh mông, Gió từ trên đỉnh núi tràn xuống thung lũng mát rượi. Khoảng trời sau dãy núi phía đông ửng đỏ. Những tia nắng đầu tiên hắt chéo qua thung lũng, trái lên đỉnh núi phía tây những vệt sáng màu lá mạ tươi tắn… Nắng vàng lan nhanh xuống chân núi rồi rải vội lên đồng lúa. Bà con xã viên đã đổ ra đồng, Trên những ruộng lúa chín vàng, bóng áo chàm và nón trắng nhấp nhô, tiếng nói tiếng cười rộn ràng. (Theo Hoàng Hữu Bội) a) Những chi tiết nào trong đoạn văn cho ta biết đây là khung cảnh “buổi sáng”, “mùa hè”, “trong thung lũng”? b) Buổi sáng mùa hè trong thung lũng bắt đầu bằng rất nhiều âm thanh. Em hãy tìm những câu văn miêu tả các âm thanh đó. c) Khung cảnh thiên nhiên không thể thiếu bóng dáng con người. Em hãy tìm những hình ảnh miêu tả hoạt động của người dân vùng thung lũng trong bài văn. Câu 2. Gạch dưới các từ láy tượng thanh trong nhóm từ sau: phành phạch, bập bùng, nhấp nhô, lanh lảnh, thoăn thoắt, râm ran, te te, ra rả, gay gắt, đều đều, rì rầm, í ới, tươi tắn, rộn ràng, mênh mông. Câu 3. Điền nhỉ hoặc nhé vào các câu sau cho thích hợp, sau đó phân biệt: Câu nào là câu hỏi? Câu nào là câu khiến? a) Phương làm món gì mà thơm thế ……? b) Mai, bạn đến đây rồi ta cùng đi……………………! c) Hoa ơi, đến chợ Ngọc Hà thì rẽ phải ở ngã tư thứ hai, đúng không…? d) Khi nào đi thư viện, nhớ báo trước để mình biết với………………! g) Mẹ cho con mua quyển “Đô rê mon”……………..! Câu 4. Tìm ý của đoạn văn sau: Động Phong Nha Động Phong Nha có rất nhiều nhánh với chiều dài lên đến khoảng trên 20km. Cửa động rộng khoảng 20m, cao 10m, có nhiều nhũ đá. Bơi thuyền qua cửa động, bên trong động rộng như một cái bát úp trên mặt nước. Nước sông trong và phẳng lặng như mặt gương. Động chính của động Phong Nha gồm 14 buồng nối liền nhau bởi một hành lang nước dài đến 1500m. Từ buồng thứ 14, ta còn có thể theo những hành lang hẹp khác đi vào sâu hơn nữa. Thuyền ngược dòng độ 800m thì đến chỗ cạn gọi là Hang nước cạn: nước biến đi nhường chỗ cho đá và cát. Nhũ đá tù trên rủ xuống, măng đó từ dưới nhô lên như cây rừng với nhiều hình dáng kì lạ kích thích trí tưởng tượng của con người. (Theo tạp chí Du lịch) Câu 5. Viết phần mở đoạn và kết đoạn cho đoạn văn trên. Xem đáp án tại đây. >>Tải về file word tại đây. Tags:Đề 38 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 38 (đề có đáp án)
654
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 39 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ39 Câu 1. Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi Chợ hoa Chợ hoa có đủ sắc màu Bao nhiêu hoa thắm từ đâu tụ về? Cúc vàng đọng nắng miền quê Cành đào chớm nụ như khoe với người Hoa đồng tiền tựa môi cười Hoa huệ trắng dáng áo dài thướt tha Hoa hồng níu bước người qua Đâu đây cơn gió như là tẩm hương Này hoa thược dược, lay dơn Chợ hoa kết những chuỗi cười đẹp xinh Bé theo chân mẹ vòng quanh Hoa theo chân bé nối thành đường hoa. (Theo Nguyễn Đức Mậu) a) Bài thơ giới thiệu mấy loài hoa? Là những loài hoa nào? b) Hãy tìm những câu thơ sử dụng biện pháp nhân hoá. Biện pháp này có tác dụng gì khi miêu tả các loài hoa? c) Trong bài thơ, tác giả liên tưởng hình ảnh “cúc vàng” với “nắng miền quê”; “hoa đồng tiền” với “môi cười”, “hoa huệ trắng” với “áo dài thiết tha”. Dựa vào đâu tác giả có được những liên tưởng như vậy? Câu 2. Em hãy cho biết, câu nào dưới đây dùng từ cánh với nghĩa gốc, câu nào dùng từ cánh với nghĩa chuyển? a) Lạ không, rõ ràng hai đô vật vừa vào sới, vươn cái lưng to bè như cánh phản, đương vờn lượn mình, cùng móc tay rồi múa lên đỉnh. c) Trên trời, một đàn chim dang cánh bay mài miết. Câu 3. Xếp các từ in đậm trong đoạn văn sau vào bảng phân loại ở bên dưới. Hai bà cháu đã đi đến cây đa đầu làng. Mới hôm nào, giữa trưa nắng hè, những quả đa chín vàng rụng lộp độp, rơi cả xuống đầu. Nhưng không phải tự dưng có quả đa rơi đâu. Trên cao cao kia, những con chim bồ các đứng len lỏi rúc trong những đám lá đa tìm ăn quả đa chín. Thế mà gió bấc về lúc nào không biết. Cây đa cổ thụ kia đã trơ trọi cả lá chỉ còn nghe tiếng gió à à. Những con quạ phờ phạc trong hốc đa tung cánh bay ra, thế là lại đến Tết. (Theo Tô Hoài) Câu 4. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi. Hai ông cháu tôi đang tưới cây thì bà đi chợ về. Trong làn kĩu kịt bao nhiêu là thứ. Bà thở dốc, mặt tai tái và trán lấp dấp mồ hôi.Ông bảo bà bị cảm nắng và cuống quýt lấy khăn ấm lau mồ hôi, đánh gió cho bà. Một lúc thì bà bảo: “ Tôi đỡ nhiều rồi. Để tôi dạy đi làm cơm cho lũ trẻ kẻo chúng đói lắm rồi!”. ông cháu tôi cùng đáp: “Bà nằm nghỉ đi! Thử để cho ông cháu tôi trổ tài nấu bếp một hôm xem nào!”. Bà đồng ý, nhưng rồi đến bữa, bà phải cười chảy nước mắt vì những món đặc sắc có một không hai của mấy ông cháu tôi: món thịt chiên cháy đen, món cá rán nát nhừ, món canh thừa muối, mặn đến rụt lưỡi… Bà bào: “ Lỗi tại bà rồi. Để bà phải dạy lũ cháu gái môn nữ công gia chánh mới được.”. Ông gật gù: “Bà nói có lí” a) Đoạn văn trên là văn miêu tả hay văn kể chuyện? b) Nhân vật chính trong đoạn văn là những ai? Tính cách các nhân vật được miêu tả như thế nào? c) Viết phần mở đoạn và phần kết đoạn cho đoạn văn. Câu 5. Viết một đoạn văn kể lại một kỉ niệm đáng nhớ trong gia đình em. Xem đáp án tại đây. >>Tải về file word tại đây. Tags:Đề 39 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 39 (đề có đáp án)
643
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 4 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ 4 Câu 1. Đọc bài thơ sau và trả lời câu hỏi. Giọt sương kiều diễm (Trích) Có giọt sương kiều diễm Tính đỏng đảnh, kiêu kì Chẳng coi ai ra gì Luôn nghĩ mình đẹp nhất. Sương bảo chị cỏ Mật: -Đấy, chị cứ nghĩ xem Không có tôi đậu lên Chị làm sao lấp lánh Sương còn bảo chị Nấm: -Nếu tôi không đánh đu Vành nón chị rất thô Chị làm sao duyên dáng? Khoe mãi không biết chán Bỗng nắng ập đến rồi Đang khoác lác liên hồi Sương thấy mình tan chảy… Cỏ cây càng lộng lẫy Hạt sương càng nóng ran Có phải thấy bẽ bàng Mà hạt sương trốn biệt (Nguyễn Trọng Hoàn) a) Trong bài thơ trên, giọt sương được miêu tả bằng cách nào? b) Tính tình giọt sương thế nào? c) Bài thơ khuyên mọi người điều gì? Câu 2 a) Tìm bộ phận chủ ngữ trong câu “Vành nón chị rất thô” b) Tìm bộ phận vị ngữ trong câu “Sương thấy mình tan chảy” Câu 3. Dòng nào dưới đây chỉ gồm các từ láy? a) kiều diễm, đỏng đảnh, kiêu kì, lấp lánh b) lấp lánh, duyên dáng, khoác lác, cỏ cây c) rạng rỡ, khoác lác, lộng lẫy, bẽ bàng Câu 4. Câu chuyện sau đây đã bị đảo trật tự. Hãy sắp xếp lại thứ tự các đoạn cho đúng. [….]Trong lúc ai nấy đều khẩn trương lo việc thì anh chàng nhà giàu chỉ biết chắp tay khấn vái cầu xin thần linh đến cứu mình và hứa sẽ dâng lễ vật rất hậu. [….] Khi cơn dông tan, mọi người khuyên anh ta: Đừng trông chò vào những điếu viển vông. Phải lo tự cứu mình trước khi đợi thần đến cứu. [….] Có một anh chàng nhà giàu đi thuyền qua một con sông rộng cùng với nhiều người. [….]Ra giữa sông, bỗng một cơn dông ập đến. Thuyền tròng trành sắp bị lật. Mọi người trên thuyền cuống quýt lo hạ buồm, ra sức chèo chống đưa con thuyền vào bờ an toàn. (Theo Ngụ ngôn thế giới chọn lọc) Câu 5. Hãy đóng vai một người cùng có mặt trên tàu để kể lại câu chuyện Anh chàng nhà giàu và cơn dông. TẢI VỀ FILE WORD TẠI ĐÂY. Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 4 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 4 (đề có đáp án)
400
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 40 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ40 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi. Đằng kia, các cụ lão bà đương dỡ ra những nồi đại cơm gạo ré thơm phức. Lá chuối ngự đã hơ sẵn xếp lên những chiếc mo cau mỏng vàng căng như khăn lá mộc. Rồi từng nắm cơm mịn bọc lá chuối mở ra đặt lên mâm bồng chen cạnh một chồng bánh dày tráng mỡ, bên những chiếc bánh chưng vuông vắn. Hàng chục cái cối gỗ mít lớn còn đương bì bạch giã thêm bột bánh. Chè kho quấy xong đổ ra để nguội trên những chiếc nia lớn để cắt khúc. Bánh dày ăn với chè kho mật mía ráo như ngói, phảng phất mùi thảo quả. Bánh dày chè kho rắc vừng để dành đến cả tháng, bánh vẫn dẻo, chè vẫn vàng óng… Cối giò hoa, giò lụa, giò mỡ, gói thành chiếc, kẹp hai thanh tre nẹp, treo như lợn con lủng liểng đều một chuỗi dài từng trăm chiếc. Chỉ trông màu lạt tươi lạt chín mới phân biệt được giò luộc rồi hay chưa. Còn chả ướp quế thì đặc biệt không rán. Miếng chả quế đắp vòng quanh cái ống bương to như cột. Bếp xếp từng thanh củi núi đá than hoa đượm cả buổi đương rực hồng. Cái ống đắp miếng chả quế cứ quay đều trên lửa cho đến khi màu vàng hoa sẫm rộp lên, tỏa thơm ngọt mùi quế ngậy sánh như mật ong. a) Đoạn văn miêu tả những món ăn truyền thống nào của người Việt Nam? Hãy tìm những chi tiết tả đặc điểm riêng của từng món ăn. b) Tìm những hình ảnh so sánh xuất hiện trong đoạn văn. Em thích hình ảnh nào nhất? Vì sao? c) Dựa vào đoạn văn, em hãy miêu tả cách làm giò và cách làm chả quế. Câu 2. Tìm từ trái nghĩa với các từ sau: a) (lá) non b) may mắn c) được mùa d) giàu có e) tươi tốt g) (mặt trời) mọc Câu 3. Những từ (cụm từ) in nghiêng trong các câu sau, từ (cụm từ) nào là bộ phận vị ngữ? Đánh dấu x vào […] đúng: Câu Bộ phận vị ngữ -Trời hôm nay rất xanh. […] – Bạn Hoà cao bằng bạn Quang. […] – Em đi cửa hàng để mua sách. […] – Tôi đi họcbằng xe đạp. […] – Bà ngoại em là nông dân. […] Câu 4. Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi. Chiếc áo mới ngày xuân Tôi nhớ mãi ngày mẹ mua cho tôi chiếc áo mới vào ngày Tết, chiếc áo vải dày nhưng sờ vào rất mát. Cả đêm đó, dù không phải thức canh nồi bánh chưng nhưng tôi vân cố canh cho mình đừng ngủ. Tôi chỉ sợ nếu nhắm mắt vào thì chiếc áo mới sẽ bị ai đó lấy mất, hoặc rất có thể nó sẽ không cánh mà bay. Sau này, khi cuộc sống đã bớt khó khăn, Tết nào mẹ cũng sắm cho ba anh em tôi quần áo mới. Tuy nhiên, dù giá những bộ quần áo đó có cao hơn, chất vải có tốt hơn, tôi vẫn yêu chiếc áo mới thời khó, năm nào. (Theo Vũ Thị Huyền Trang) a) Tìm phần mở bài và phần kết bài của bài văn. Phần mở bài được viết theo kiểu trực tiếp hay gián tiếp? Phần kết bài được viết theo kiểu mở rộng hay không mở rộng. b) Ghi lại các ý chính của phần thân bài. Câu 5. Hãy viết một đoạn văn kể về niềm vui của em khi được bố mẹ mua cho một chiếc áo (đồ chơi, đồ dùng học tập) mới. Xem đáp án tại đây. >>Tải về file word tại đây. Tags:Đề 40 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 40 (đề có đáp án)
661
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 5 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ5 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi. Chiếc thuyền vàng Trong giấc mơ, tôi thấy mình được làm chủ một chiếc thuyền vàng. Đó là chiếc thuyền đẹp hơn tất thảy những chiếc thuyền tôi nhìn thấy trên thế gian này. Toàn thân thuyền được dát bàng những tấm vàng mỏng. Khi nắng lên, ánh sáng mặt trời chiếu rọi làm cho màu vàng rực sáng. Mũi thuyền là đầu một con rồng đang tròn xoe đôi mắt bàng hai viên ngọc lớn, sáng rực. Trong đêm hội hoa đăng, chiếc thuyền vàng của tôi bơi giữa những chiếc hoa đăng hình bông sen, ở giữa mỗi đoá sen là một ngọn nến hồng sáng lung linh. Thuyền vàng của tôi cũng thả ngàn ngàn hoa đăng xuống dòng sông Hương để chúc lành cho tất cả những đứa trẻ như tôi. Và tôi đã lấy những mảnh vàng dát trên con thuyền đẹp đẽ của mình tặng cho những người dân nghèo quê tôi cả đời cứ sống theo những con đò. Họ sẽ thôi lênh đênh trên sông nước. (Theo Khuê Việt Trường) a) Bạn nhỏ trong đoạn văn mơ thấy gì? b) Giấc mơ của bạn có gì đẹp? c) Nêu suy nghĩ, cảm xúc của em sau khi đọc đoạn văn trên. Câu 2. Tìm lời giải nghĩa cho từ nhỏ nhắn.Khoanh tròn vào chữ cái trước lời giải nghĩa đúng. a) nhỏ bé, gợi vẻ yếu ớt b) nhỏ bé, không đáng để chú ý tới c) nhỏ và trông cân đối, dễ thương d) nhỏ và trông đáng thương Câu 3. Nối ô chữ ở cột A với ô chữ thích hợp ở cột B và c để tạo thành 3 câu kể theo mẫu Ai làm gì? Câu 4. Mỗi đoạn mở bài sau đây được viết theo cách mở bài nào và viết cho bài văn kể câu chuyện gì? a) Người xưa đã khuyên nhủ chúng ta phải biết “thương người như thể thương thân”, Có biết bao câu chuyện nói về lối sống nhân ái, nghĩa tình để mọi người học tập, noi theo. Truyện “Hai anh em” trong sách Tiếng Việt 2, tập một là bài học quý về sự hoà thuận, lòng thương yêu, đùm bọc của anh em một nhà. Sau đây, tôi xin kể lại câu chuyện này để các bạn cùng nghe. b) Truyện “Hai anh em” của La-mác-tin (trong sách Tiếng Việt 2, tập một) là một câu chuyện rất cảm động về tình anh em. Câu 5.Em hãy viết đoạn văn nêu suy nghĩ của một loài cây còn sống sót trong một cánh rừng bị chặt phá tan hoang. TẢI VỀ FILE WORD TẠI ĐÂY. >Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 5 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 5 (đề có đáp án)
492
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 6 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ6 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi. Cuối đông, lá bàng giống như những tấm thiếp màu đỏ báo tin mùa đông đang tàn và mùa xuân sắp đến. Vậy màu xanh của lá biến đi đâu nhỉ? Có phải suốt mùa hè, những tán bàng chăm chỉ che mát cho đường phố, chịu cái nắng gắt như lửa nên đến mùa đông, nắng đọng lại thành màu đỏ trên lá? Còn màu xanh của lá thì bay lên trời? Rồi mùa xuân đến, màu xanh ấy biến thành những hạt mưa li ti bay về trái đất, đậu xuống những cành bàng khẳng khiu và lớn dần lên thành những búp bàng? Đầu tiên búp cũng có màu đỏ. Không phải màu đỏ chói mà tím hồng, rồi theo độ lớn, biến thành xanh non. Khi những trộn mưa xuân đã hết, cây bàng lại xanh ròn màu xanh của lá mùa hè. (Theo Băng Sơn) a) Đoạn văn trên tả gì? Tác giả đã miêu tả theo trình tự nào? b) Cách tả của tác giả có gì độc đáo? c) Nêu cảm nghĩ của em khi đọc đoạn văn. Câu 2. Từ nào dưới đây đồng nghĩa với từ sửng sốt? a) hoảng hốt b) ngạc nhiên cc) lo lắng Câu 3. Điền dấu ngoặc kép vào chỗ thích hợp trong đoạn văn sau: (Theo Lê Giang) b) Dễ thương làm sao giọng ru em lảnh lót chớ không ngân dài của miền Nam, những sông dài cá lội…, đĩa muối chấm gùng… vút lên đưa trẻ thơ vào giấc ngủ, đưa con người vào niềm vui… (Theo Nguyễn Thi) Câu 4. Đọc bài văn sau và trả lời câu hỏi: Lạc đà Lần đầu tiên tôi được biết một lạc đà không phải ở sa mạc quê hương của lạc đà mà ở trong vườn Giô – vườn Bách thú ở Mát-xcơ-va. Lạc đà đứng cao hơn tôi hẳn hai đầu một với, trông hiền từ mà lại hiên ngang. Nó có bộ lông màu cát, trắng nhợt, nom oách như áo giáp của tay hiệp sĩ thời xưa. Hai cái vấu trên lưng lạc đà như hai chiếc thúng úp. Khi lạc đà nhếch mép, trông nó như đang cười, lại như đương nhai gỉ đỏ trong miệng. Nó có một cãi bìu dự trữ cỏ nhai lại giống như trâu. Lúc nào thong thở, nó sẽựa cỏ ra “nhai trầu”. Lạc đà có thể cõng những bó củi chất cao gấp ba gấp bốn thân mình. Nặng thế mà lạc đà vẫn lừng lững đi, thong thở, bình thường, không một chút mệt nhọc. Lạc đà có tài nhịn nước suốt ngày mà chân vẫn dẻo dai bước đều, lưng vác hàng nặng, khoan thai như lúc mới ra đi. (Theo Tô Hoài) a) Tìm phần mở bài, thân bài, kết bài của bài văn trên. b) Phần thân bài có mấy đoạn? Ý chính của mỗi đoạn là gì? Câu 5. Viết đoạn văn ngắn giới thiệu tờ báo hoặc cuốn sách em yêu thích. Tải file word về tại đây. Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 6 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 6 (đề có đáp án)
551
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 7 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ7 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi. Cây nhãn Nhà tôi có một cây nhãn tơ. Thân nó mập, chắc lẳn. Tán nó xum xuê tròn. Vào cuối mùa xuân, nhìn cây nhãn thật thích. Bắt đầu thì hàng trăm hàng trăm nhánh non màu nâu sậm đua nhau ngoi lên vượt các lớp lá xanh um. Rồi những chùm hoa nhãn nở lấm tấm. Những đàn ong bát đầu kéo đến làm bác nhện bừng tỉnh sau một giấc ngủ triền miên. Anh chị chim sâu có ổ con mới nở, tíu tít bay gần cây cau, cây nhãn như đưa thoi. Nắng sớm chuyển từ màu vàng sáng sang hồng đào. Tiếng ve sầu đột ngột vang lảnh lót,.. Mùa hè đến! Thoát cái, những chùm nhãn mới đậu đã nhú đều như hạt gạo, hàng nghìn hàng nghìn quả. Như một bà mẹ thương con, cây nhãn dồn tất cả sữa ngọt sữa ngon của mình lên các chùm quả. Thế là quả lớn như thổi. Bằng hạt ngô. Rồi bằng hòn bi. Tròn. Và đều, chắc. Những quả nhãn no đầy sữa mẹ ngày lại ngày dầm mưa hè, phơi nắng hè đã chín ngọt lự. Cây nhãn đang đợi tay người hái. (Theo Vũ Tú Nam) a) Tác giả miêu tả cây nhãn theo trình tự nào? c) Em thích những câu văn nào trong bài văn? Vì sao? Câu 2. Mỗi câu tục ngữ sau khuyên chúng ta điều gì? Nêu tình huống sử dụng mỗi câu. a) Có công mài sắt, có ngày nên kim. b) Còn nước còn tát. c) Chân cứng đã mềm. d) Cây cứng không sợ gió lay. Câu 3. Dòng nào dưới đây nêu đúng tác dụng của dấu hai chấm (:) trong câu “Na tròn mắt kinh ngọc: không biết Lụa học lúc nào mà đã viết được những dòng chữ ngay hàng thẳng lối…”? a) Dấu hai chấm để dẫn lời nói trực tiếp. b) Dấu hai chấm báo hiệu những từ ngữ sau đó là lời giải thích. c) Dấu hai chấm báo hiệu những từ ngữ sau đó liệt kẽ sự vật, sự việc… Câu 4. Mỗi đoạn kết bài dưới đây được viết theo cách kết bài nào? Hãy nêu yêu cầu của đề bài. a) Đứng giữa vườn cây ông trồng thuở nào, những kỉ niệm về Ông lại dâng tràn trong lòng tôi… b) Thời gian lặng lẽ trôi. Cây trong vườn bốn mùa lặng lẽ đơm hoa kết trái. Bọn trẻ chúng tôi cứ hồn nhiên thưởng thức hoa thơm trái ngọt từ vườn cây nhà nội. Để rồi một hôm nào đó như hôm nay đây, tôi nghẹn ngào tưởng nhớ người đã nhọc nhằn trồng cây cho chúng tôi náo nức hái quả. Người đó là ông nội yêu quý của chúng tôi. Tải file word về tại đây. >>Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 7 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 7 (đề có đáp án)
516
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 8 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ8 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi. Tiếng đồng quê Về mùa xuân, khi cây gạo ngoài cổng chùa, lối vào chợ quê, bắt đầu bật ra những chiếc hoa đỏ hồng, làm sáng bừng lên một góc trời quê, tiếng đàn sáo về ríu ran như một cái chợ vừa mở, như một lớp học vừa tan, như một buổi đàn ca liên hoan sắp bắt đầu… Ngoài đê, ven ruộng ngô cánh bãi, lại có tiếng chim khác. Nó khoan thai dìu dặt, như ngón tay thong thả búng vào dây đàn thập lục, nảy ra tiếng đổng, tiếng thép, lúc đầu vang to, sau nhỏ dần, rồi tắt lịm. Đó là con chim vít vịt. Nó cứ vang lên như tha thiết gọi một người nào, như mách một điều gì giữa bầu trời trong sáng vừa được rửa sạch sáng nay. Khác thế, bắt đầu nắng lên, tiếng con chim này mới khác khoải làm sao. Nó thổn thức, da diết. Đó là con chim tu hú. Nó kêu cho nắng về, cho rặng vải ven sông chín đỏ, cho cái chua bay đi, cái vị ngọt còn lại… Nó khát thèm gì nhỉ mà năm nào nó cũng gọi xa gọi gần như thế? Con chào mào lích tích, chí choé. Con sơn ca vút lên lành lót như có một sợi tơ nối giữa bầu trời và mặt đất, đó là tiếng hót không thể có gì so sánh. Còn cánh cò thì họa hoằn mới cất lên một tiếng thở dài vang tít vào vô tận thẳm sâu, mà đôi cánh trắng chớp mãi không đuổi kịp… (Theo Băng Sơn) a) Vì sao bài văn có tên bài là “Tiếng đồng quê ”? b) Trong bài có những hình ảnh so sánh hoặc nhân hoá nào? Em thích hình ảnh nào nhất? Vì sao? c) Tình cảm của tác giả đối với quê hương được bộc lộ như thế nào Câu 2. Từ ngữ nào trong bảng dưới đây xếp không cùng nhóm? a) b) Từ ngữ tả vẻ đẹp bên ngoài của con người Từ ngữ tả vẻ đẹp trong tâm hồn, tính cách của con người đẹp, xinh, tươi, xinh đẹp, xinh xắn, xinh tươi, khôi ngô, rạng rỡ, tươi tắn, thuỳ mị, kháu khỉnh, cân đối, dịu dàng, điềm đạm, vui tính, rực rỡ nết na, hiền dịu, bộc trực, ngoan ngoãn, tráng kiện, mảnh mai, quở câm, tươi giòn, cần cù, sáng láng, thông minh, đôn hậu, chăm ngoan, kiên trì Câu 3. Mỗi câu sau khuyên ta điều gì? a) Ăn có thời, chơi có giờ. b) Ăn tuỳ nơi, chơi tuỳ chốn. c) Chọn bọn mà chơi, chọn nơi mà ở. Câu 4. Ghi lại dàn ý của bài văn sau Đàn chim gáy Ông tôi bảo: “Tháng năm chim gáy đi ăn đôi, tháng mười chim gáy về theo đàn”. Thảo nào, bây giờ đang là mùa gặt tháng mười, hàng đàn chim gáy cắn đuôi nhau, lượn vòng rồi sà xuống ruộng gặt. Khi ngoài đổng đã đông người gặt thì chim gáy về, bay vần quanh trên các ngọn tre, rồi từng đàn sà xuống những thửa ruộng vừa gặt quang. Con mái xuống trước, cái đuôi lái lượn xoè như múa. Con đực còn nán lại trong bờ tre, cất tiếng gáy thêm một thôi dài, Xong rổi anh chàng mới thủng thỉnh bước ra, ưỡn cái ngục đầy cườm biếc lượn nhẹ theo. Chim gáy nhặt thóc rụng. Chim gáy tha thẩn, cặm cụi sau người đi mót lúa, Tôi rất thích chim gáy. Con chim gáy phúc hậu và chăm chỉ, con chim gáy mơ màng, con chim no ấm của mùa gặt hái tháng mười. (Theo Tô Hoài) Câu 5. Em hãy nhớ lại buổi lễ khai giảng đầu năm học và ghi lại vắn tắt diễn biến của buổi lễ đó. Tải về file word tại đây. >>Xem đáp án tại đây. Tags:Đề 8 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 8 (đề có đáp án)
686
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 9 (đề có đáp án) Hướng dẫn ĐỀ ÔN LUYỆN MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 5 THI VÀO LỚP 6 ĐỀ9 Câu 1. Đọc đoạn văn sau và trả lời câu hỏi. Áo tơi lá Tôi nhớ chiếc áo tơi lá ngày xưa của mẹ tôi. Đó là chiếc áo được làm bàng lá cọ. Lá cọ non khâu chồng chồng lớp lớp lên nhau dày hàng đốt tay, đuôi lá tua tủa như bộ lông chim khổng lồ. Khoác áo lên người, giống hệt một con chim lớn. Chiều mưa sa trắng đồng, trên bờ cỏ, một con cò lửa lông nâu vàng đứng rụt cổ tránh mưa. Và mẹ tôi cũng đứng đó, áo tơi lá trên ngưòi. Ngày mưa khoác áo tơi lá ra đồng đã đành. Nhưng ngày gió Lào nắng gắt, cũng khoác áo tơi lá. Áo như tấm lá chắn ngọn gió Lào bỏng rẫy luồn vào da thịt, che cái nắng gắt gao trên tấm lưng mẹ tôi cúi lom khom cấy hái. Chiếc áo tơi lá treo đầu hiên nhà nông, thân thiết bao đời. Nắng mưa dầu dãi, lá mòn trơ, rạn rách, trông thương lắm, như biểu tượng đời nhà nông. Nếu tôi biết vẽ, tôi sẽ vẽ hình ảnh mẹ tôi mặc áo tơi lá mòn cũ đứng bên con cò lửa giữa chiều mưa sa. Cho đến nay, chiếc áo tơi lá đã đi vào dĩ vãng. Nhưng với tôi, dù bây giờ có bao nhiêu chiếc áo đẹp, thì mãi mãi hình ảnh chiếc áo tơi lá, cứ nhìn thấy là lòng xao động. Áo tơi lá như có tâm hồn vậy. a) Chiếc áo tơi lá có ý nghĩa như thế nào với nhà nông? b) Vì sao hình ảnh người mẹ mặc áo tơi lá gợi liên tưởng tới hình ảnh con cò lửa giữa chiều mưa sa? c) Em thích nhất hình ảnh nào trong đoạn văn? Vì sao? Câu 2. Mỗi thành ngữ, tục ngữ dưới đây nói điều gì? a) Một người lo bằng kho người làm. b) Tài đức vẹn toàn. c) Tài cao chí lớn. Câu 3. Đặt câu hỏi để: a) Tỏ thái độ khâm phục một bạn học sinh nghèo vượt khó. b) Bày tỏ mong muốn có một món quà mình yêu thích trong ngày sinh nhật. c) Thể hiện sự khẳng định một nhiệm vụ nào đó học sinh nên làm. Câu 4. Dưới đây là các đoạn văn trích trong Tuyển tập văn học thiếu nhi của nhà văn Tô Hoài. Em hãy cho biết mỗi đoạn văn miêu tả gì? Em học tập được gì về cách dùng từ, viết câu của nhà văn? a) Trời đã bắt đầu mưa. Những hạt nước nặng rơi lộp độp trên mái nhà, trên lá mướp, trên lá chuối. Nó kêu lùng tùng như người ta đánh trống. Mưa càng ngày càng mạnh, càng nhiều. Nó rào rào như có người đổ nước ở trên trời xuống. b) Buổi sớm rất mát. Gió thoảng trên cánh đồng lúa rập rờn. Trời xanh trong vắt. Thỉnh thoảng một làn mây trắng trôi qua rất nhanh, ở đằng chân trời, mấy trái đổi tròn và to nổi lên lùng lững. c) Con thuyền lại theo sông xuôi qua những vườn trầu không, lá chín vàng mượt, những rừng bưởi gấc quà chín đỏ, lẫn vườn ổi chín vàng. Từng đàn chim tăng ló bay về những khu vườn thơm lừng mùi ổi chín. Câu 5. Viết đoạn văn nói về cô em gái của nhân vật “tôi” trong bài thơ sau: Tôi yêu em tôi Tôi yêu em tôi Nó cười rúc rích Mỗi khi tôi đùa Nó vui, nó thích.Nó quen ngủ muộn Biết dậy theo tôi Nó sợ mở mắt Mẹ đi làm rồi.Mắt nó đen ngời Trong veo như nước Miệng nó tươi hồng Nói như khướu hót. Hoa lan, hoa lý Nó nhặt cài đầu Hương thơm theo nó Sân trước vườn sau Tôi đi đâu lâu Nó mong nó nhắc Nó nấp sau cây Òa ra ôm chặt Nó đã đi học Cặp sách “vỡ lòng” Điều gì không thích Nó đáp “Khờ…ông” Nó thích vẽ lắm Vẽ thỏ có đôi Nó sợ thỏ một Không có bạn chơi Nó làm cô giáo Kể chuyện “gà con” Bảo cả tôi nữa “Các cháu ngồi ngoan!” Mỗi sáng ngủ dậy Vãi ngô gọi gà Nó đứng nó đếm Con gần, con xa… Nó hát và múa Bài “Chim líu lo…” Trước sân rủ bạn Cùng nhảy lò cò Nó thích tự giặt Khăn mặt, mùi soa Nó thích gấp giúp Áo mẹ, áo cha… Thấy tôi quét nhà Nó giành quét lấy Tay nó bé tí Cái chổi to sù Có phim, có xiếc Dắt nó đi xem Có quà, có bánh Tôi nhường cho em… Hai đứa thương nhau Cha tôi mừng lắm! Hai đứa nghịch đùa Mẹ cười đứng ngắm! Kìa, tiếng nó đấy! Đang ở trường về Cùng bạn bắt bướm Cười dưới hàng tre… Tải về file word. >>Xem đáp án tại đây. Tags:đề 9 · Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi vào lớp 6 · Tiếng Việt 5
Đề ôn luyện môn Tiếng Việt lớp 5 thi lên lớp 6 – Đề 9 (đề có đáp án)
797
Đề ôn tập kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 – Tuần 24 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt 4 Tuần 24 I – Bài tập về đọc hiểu Vẻ đẹp Mát-xcơ-va Với những người đã đặt chan lên nước Nga, Mát-xcơ-va luôn là một thành phố để nhớ như nhớ về những gì lãng mạn và đẹp đẽ nhất. Nơi đó có những giấc mơ của thời tuổi trẻ, nơi đó có những câu thơ lừng danh của Pút-skin và rừng bạch dương nổi tiếng. Bạch dương là loài cây biểu tượng của nước Nga. Những hàng cây trắng thẳng, cao vút lên quanh khu đồi Lê-nin, trải khắp ngoại ô Mat-xcơ-va và triền miên trên những con đường từ thủ đô đi đến những thành phố khác. Bạch dương xanh tuyệt đẹp trong mùa hè, ngả sắc vàng rợi trong mùa thu và toát lên vẻ cô liêu buồn bã nhớ thương giữa tuyết trắng tinh khôi trong mùa đông lạnh giá. Trong khi đó thì lá cây phong vào mùa đông lại đỏ rực lên, phủ khắp công viên một màu đỏ như lửa, như bộ lông khổng lồ, ấm áp của chú cáo lửa trong truyện cổ tích. Khách du lịch đến Mát-xcơ-va đều nhặt một vài chiếc lá phong làm quà lưu niệm để nhớ về nước Nga. ( Theo Trường Giang ) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Mát-xcơ-va là một thành phố như thế nào? a- Lãng mạn và cổ kính nhất b- Sôi động và đẹp đẽ nhất 2. Dòng nào dưới đây nêu đúng và đủ những nét đặc biệt của Mát-xcơ-va? a- Nơi đó có những giấc mơ, con đường và thơ Pút-skin b- Nơi đó có những giấc mơ, thơ Pút-skin, rừng bạch dương c- Nơi đó có rừng bạch dương, những giấc mơ, con đường 3. Hai dòng nào dưới đây miêu tả những điểm nổi bật của cây bạch dương? a- Trắng thẳng, cao vút, triền miên trên những con đường b- Đỏ rực lên, phủ khắp công viên một màu đỏ như lửa c- Xanh tuyệt đẹp mùa hè, vàng rợi mùa thu, buồn bã mùa đông (4). Hai dòng nào dưới đây nêu đúng cảm xúc của tác giả khi nhớ về Mát-xcơ-va? a- Thương nhớ giấc mơ tuổi thơ, bay bổng với vần thơ của đại thi hào Pút-skin b- Ngây ngất nhớ vẻ đẹp gợi buồn của rừng bạch dương và sự ấm áp của lá phong đỏ rực c- Nuối tiếc vẻ đẹp phồn hoa của đường phố thủ đô chạy dài miên man không dứt II- Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. a) Điền tr hoặc ch vào chỗ trống: Mười lăm năm, mỗi sáng…iều Bác Hồ….ăm….út, nâng niu từng cành Cây càng khỏe, lá càng xanh Như miền Nam đó,…ưởng thành nở hoa Dạn dày sương gió nắng mưa ….ái ngon vẫn đậu đợi mùa…ín thơm Mặc….o lửa đạn mưa bom Ong xây bọng mật…ong vòm lá xanh Ngọt mùa vú sữa bờ kênh Tháp Mười. ( Theo Quốc Tuấn ) b) Đặt dấu hỏi hoặc dấu ngã trên chữ in nghiêng: Cây chuối nghiêng ca thân mình Cong cho buồng qua to kềnh không rơi Cây cau chót vót lưng trời Dâu moi cô vân không rời đàn con Qua chuối chín cho ngọt thơm Qua cau tô đo môi son cho bà Cành cong nụ nơ đầy hoa Cây lúa cong hạt cho mùa bông sây Muôn ngàn hoa trái co cây Cong trên vai trái đất này bé ơi! ( Theo Lê Hồng Thiện ) 2. a) Gạch một gạch dưới bộ phận chủ ngữ, hai gạch dưới bộ phận vị ngữ của mỗi câu: (1) Bạn gái mặc chiếc áo màu hồng đứng ở hàng đầu là Thục Anh, lớp trưởng lớp tôi (2) Thục Anh là một học sinh rất gương mẫu (3) Cây hoa lạ lạ, có nhiều bông trắng xinh xinh ấy là hoa mai (4) Hoa mai là thứ hoa quý được nhiều người thích b) Đánh dấu X vào ô thích hợp để nhận xét về các câu ở bài tập a: 3. a) Gạch dưới những câu thuộc kiểu câu Ai là gì? sau đó gạch chéo ( / ) phân cách hai bộ phận chủ ngữ và vị ngữ của câu đó: (1) Hạ Long là niềm tự hào của mỗi người dân Việt (2) Hôm qua, anh Sơn nói như thế là không đúng (3) Tiếng trống buổi sáng trong trẻo ấy là tiếng trống trường đầu tiên âm vang mãi trong đời đi học của tôi sau này. (1) Cao Bá Quát là ……………………………………… (2) Chu Văn An là………………………………………. (3) Tô Hoài là…………………………………………… (4) Trần Đăng Khoa là………………………………….. 4. Đọc dàn ý của bài văn tả cây dừa dưới đây: – Giới thiệu cây dừa – Tả bao quát cây dừa – Tả các bộ phận của cây dừa ( tàu lá, quả dừa, vỏ dừa, cùi dừa, nước dừa….) – Nêu lợi ích của cây dừa Dựa vào dàn ý trên, bạn Hoài Nam dự kiến viết bốn đoạn văn nhưng chưa đoạn nào hoàn chỉnh. Em hãy giúp bạn viết hoàn chỉnh bốn đoạn văn này ( Viết vào chỗ có dấu […] và hoàn chỉnh đoạn văn trong vở nháp ) Đoạn 1: […] Nhưng em thích nhất là được ngồi dưới bóng mát rượi của cây dừa. Đoạn 2: Từ xa nhìn lại, em thấy những cây dừa cao to, trồng rất thẳng hàng. Thân cây được bao bọc bên ngoài bằng lớp vỏ cứng sần sùi màu nâu đen […] Đoạn 3: vào ngày giỗ, tết, trái dừa cũng có mặt trên mâm ngũ quả của mọi nhà […] Đoạn 4: Cây dừa tô điểm cho miền Nam một vẻ đáng yêu […] >> Xem thêm đáp án tại đây >> Tải file word đầy đủ tại đây Tags:Tiếng Việt 4
Đề ôn tập kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 – Tuần 24
930
Đề ôn tập kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 – Tuần 25 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt 4 Tuần 25 I- Bài tập về đọc hiểu Mèo Mẹ và Đại Bàng Mèo Mẹ cùng đàn con đang dạo chơi vui vẻ. Mặt trời mùa xuân tỏa xuống ấm áp và cái gia đình bé ấy rất hạnh phúc. Đột nhiên, không rõ từ đâu, một con chim Đại Bàng khổng lồ xuất hiện. Nhanh như chớp, nó lao từ trên cao xuống và quắp lấy một chú mèo con. Nhưng khi Đại Bàng chưa kịp bay lên, Mèo Mẹ đã túm chặt lấy nó. Con chim dữ bèn buông Mèo Con ra để chống lại Mèo Mẹ. Cuộc chiến đấu vô cùng ác liệt, một mất, một còn. Đôi cánh tay khỏe, cái mỏ cứng, đôi chân chắc với những móng nhọn cong dài đã tạo cho Đại Bàng ưu thế lớn: nó cào toạc da và mổ lòi một mắt Mèo Mẹ. Song Mèo Mẹ vẫn anh dũng bám chặt lấy Đại Bàng bằng những móng vuốt của mình và cắn rách cánh phải của nó. Từ lúc ấy, chiến thắng đã nghiêng về phía Mèo Mẹ. Song Đại Bàng vẫn còn rất khỏe mà Mèo Mẹ thì đã thấm mệt. Tuy vậy, nó vẫn cố thu hết sức, khéo léo nhảy lên và đánh Đại Bàng ngã lăn ra đất. Ngay lập tức, Mèo Mẹ cắn đứt đầu Đại Bàng, và rồi không để ý tới những vết thương mang trên mình, Mèo Mẹ bắt đầu liếm đứa con bé bỏng vừa bị thương bởi móng vuốt của Đại Bàng. Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Mèo Mẹ cùng đàn con đang dạo chơi vui vẻ thì có chuyện gì xảy ra? a- Một con chim Đại Bàng khổng lồ xuất hiện bay ở trên cao b- Chim Đại Bàng khổng lồ lao xuống quắp một chú mèo con c- Bỗng phát hiện ra lạc mất một chú mèo con 2. Chi tiết nào mô tả ưu thế lớn của Đại Bàng? a- Đôi cánh khỏe, mỏ cứng, đôi chân chắc với móng nhọn cong dài b- Lao từ trên cao xuống, quắp lấy một chú Mèo Con c- Bám chặt lấy Mèo Mẹ bằng móng vuốt của mình 3.Hai chi tiết nào dưới đây cho thấy Mèo Mẹ chiến đấu quyết liệt với Đại Bàng để bảo vệ con mình? a- Bị cào toạc da và mổ lòi một mắt vẫn bám chặt lấy Đại Bàng, dùng móng vuốt cắn rách cánh phải của nó b- Dùng đôi cánh tay khỏe, cái mỏ cứng, đôi chân chắc với những móng nhọn cong dài để chiến đấu quyết liệt c- Cố dồn hết sức, khéo léo nhảy lên và đánh Đại Bàng ngã lăn ra đất, rồi cắn đứt đầu con Đại Bàng hung ác. (4). Nhờ đâu Mèo Mẹ chiến thắng Đại Bàng? a- Nhờ lòng yêu thương con, dũng cảm bất chấp nguy hiểm b- Nhờ có sức mạnh kiên cường và sự khôn khéo c- Nhờ nhanh nhẹn và mưu trí tìm ra cách đánh Đại Bàng II- bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn a) d hoặc gi …ân ta gan….ạ anh hùng Trẻ làm đuốc sống,…à xông lửa đồn Chân toạc máu chân dồn đuổi…ặc Tay chém thù, tay sắc như gươm! Củ khoai, củ sắn thay cơm Khoai bùi trong…ạ sắn thơm trong lòng. ( Theo Tố Hữu ) b) ên hoặc ênh Quê em có dòng k…xanh Nước về đồng ruộng dập d…. sóng xao Mặt trời tỏa nắng tr…cao Soi gương mặt nước dạt dào n….thơ. ( Theo Mai Hương ) 2. a) Gạch dưới chủ ngữ trong mỗi câu kể dưới đây và cho biết chủ ngữ đó do danh từ hay cụm danh từ tạo thành ( ghi vào chỗ trống ) (1) Trần Quốc Toản là người anh hùng trẻ tuổi được nhà vua rất yêu quý. Chủ ngữ do ………………..tạo thành (2) Chị Võ Thị Sáu là người nữ anh hùng liệt sĩ trẻ tuổi nhất nước ta. Chủ ngữ do ………………..tạo thành (3) Lãnh tụ của Cách mạng Tháng Mười Nga là Vla-đi-mia I –lích Lê nin Chủ ngữ do ………………..tạo thành b) Đặt câu kể Ai là gì? với các từ ngữ sau làm chủ ngữ (1) Quê hương (2) Việt Nam (3) Bác Hồ kính yêu 3. a) Dòng nào nêu đúng nghĩa của từ dũng cảm (1) Có sức mạnh phi thường, không ai có thể cản nổi (2) Có tinh thần dám đương đầu với hiểm nguy để làm những việc nên làm (3) Kiên trì chống chọi đến cùng, không chịu lùi bước b) Điền từ anh hùng hoặc anh dũng, dũng cảm vào chỗ trống thích hợp trong các câu sau: (2) Những người chiến sĩ giải phóng quân đã nêu cao truyền thống …..của dân tộc trong kháng chiến chống Mĩ cứu nước. (3) Lòng……….. của người chiến sĩ cách mạng đã làm cho kẻ thù phải khiếp sợ. (4).a) Những đoạn văn nào dưới đây mở bài theo lối gián tiếp? ( Khoanh tròn chữ số đầu đoạn văn ) (1) Mở bài tả cây phượng “Tu hú kêu Tu hú kêu Hoa gạo nở Đầy ước mơ hi vọng…” Cứ mỗi khi nghe thấy giai điệu bài hát “ Mùa hoa phượng nở” là lòng em lại xao xuyến nhớ tới cây phượng vĩ trong sân trường em. (2) Mở bài tả cây gạo Mùa xuân cây gạo gọi đến bao nhiêu là chim (3) Mở bài tả cây bàng Tôi sống trong một ngõ nhỏ gắn bó suốt thời thơ ấu. Nơi ấy có bao cảnh vật thân quen đã in đậm trong tôi: bờ rào tre với những chú chuồn chuồn ớt đỏ chót, bức tường vôi hoen ố, xỉn màu đã tróc vữa, rặng dâm bụt chi chít những nụ hoa với trò chơi bán hàng…Nhưng gắn bó với tôi hơn tất cả là cây bàng đầu ngõ. b) Viết đoạn mở bài theo cách gián tiếp cho bài văn tả một cây hoa ( hoặc cây bóng mát, cây ăn quả..) mà em thích. >> Xem thêm đáp án tại đây >> Tải file word đầy đủ tại đây Tags:Tiếng Việt 4
Đề ôn tập kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 – Tuần 25
992
Đề ôn tập kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 – Tuần 26 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt 4 Tuần 26 I – Bài tập về đọc hiểu Thanh gươm báu Hồi ấy, ở Thanh Hóa có một người làm nghề đánh cá tên là Thận. Một đêm nọ, Thận thả lưới ở bến vắng. Tự nhiên trong một lần kéo lưới, chàng thấy nằng nặng, trong bụng mừng thầm chắc có cá to. Nhưng chỉ là một thanh sắt! Chàng vứt xuống nước rồi đi thả lưới ở chỗ khác. Lần này cất lưới, Thận cũng thấy nặng tay. Vẫn thanh sắt ấy mắc vào lưới! Thận bực quá, lại ném xuống sông, đi đến một khúc sông khác xa hơn. Lần thứ ba, kéo lưới lại thấy thanh sắt ấy! Đưa mồi lửa lại gần xem thì ra là một lưỡi gươm. Về sau, anh chàng kéo lưới ấy gia nhập nghĩa quân Lam Sơn. Một hôm, chủ soái Lê Lợi đến chơi nhà Thuận. Trong gian nhà tối om, thanh sắt hôm ấy tự nhiên phát sáng. Lê Lợi cầm thanh săt lên xem, nhận ra hai chữ Thuận Thiên có nghĩa là thuận theo lòng trời, khắc chìm. Nhưng cũng chưa biết là vật báu.Một hôm, bị giặc đuổi, Lê Lợi chạy trốn vào một khu rừng. Bỗng thấy ánh sáng le lói trên cây đa, trèo lên xem, thì ra đó là một chiếc chuôi gươm nạm ngọc. Nhớ tới lưỡi gươm ở nhà Thận, Lê Lợi lấy chiếc chuôi gươm giắt vào lưng. Ba ngày sau, Lê Lợi gặp lại Thận và tất cả nghĩa quân. Lắp lưỡi gươm vào chuôi gươm thì vừa như in. Mọi người hết sức phấn chấn. Thận nâng thanh gươm lên ngang đầu, nói: ( Theo Nguyễn Anh ) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Chuyện gì xảy ra khi anh Thận kéo lưới 3 lần ở ba khúc sông khác nhau? a- Chỉ được một lưỡi gươm sắt b- Chỉ được thanh sắt to nặng c- Không được một con cá nào 2. Lê Lợi phát hiện ra thanh sắt của Thận có điểm gì đặc biệt? a- Phát ra ánh sáng, lấp lánh như viên ngọc b- Rất to và nặng, phải cầm lên bằng cả hai tay c- Phát ra ánh sáng, khắc chìm hai chữ Thuận Thiên 3. Chuyện gì xảy ra khi Lê Lợi chạy vào rừng trốn giặc? a- Được một người dân cứu thoát b- Được cành cây đa che chở, ngụy trang c- Được chuôi gươm nạm ngọc trên cây đa (4). Chi tiết “Lắp lưỡi gươm vào chuôi gươm thì vừa như in” có ý nghĩa gì? a- Lưỡi gươm và chuôi gươm bị rời ra từ một chiếc gươm làm từ trước b- Ý trời muốn trao gươm báu cho Lê Lơi làm việc lớn, cứu dân cứu nước c- Lê Lợi và anh Thận cùng chung một ý chí quyết tâm tiêu diệt giặc II- Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. Điền vào chỗ trống a) l hoặc n Cây….a ra hoa, thứ hoa đặt biệt mang màu xanh của….á…on Cây…a mảnh dẻ, phóng khoáng. Lá không…ớn, cành chẳng um tùm …ắm, nhưng toàn thân…ó toát ra không khí mát dịu, êm ả, khiến ta chìm ngợp giữa một điệu ra thấp thoáng mơ hồ. ( Theo Phạm Đức ) b) in hoặc inh Đã đến mùa ổi ch… Từ lúc b…m…., khắp vườn đã ríu rít tiếng chim. Những chú chim sâu x….x…. có bộ lông m… mượt thoăn thoắt chuyên cành. Mấy cô chào mào khoác trên m….chiếc áo nâu đua nhau v…cành, riả quả. Hương ổi ch….ngọt lựng, nồng nàn phủ k….cả khu vườn. 2. a) Gạch dưới những câu không thuộc kiểu câu Ai là là? và chuyển chúng thành câu kiểu Ai là gì? ( ghi vào chỗ trống ở dưới ): (1) Đà Lạt có những vườn hoa và đồi thông rất thơ mộng (2) Đà Lạt là một thành phố nghỉ mát nổi tiếng của nước ta (3) Đà Lạt được nhiều người xem là thành phố mộng mơ b) Gạch dưới câu đã được phân cách đúng bộ phận chủ ngữ vị ngữ của câu: (1) Cô gái / đang múa trên sân khấu kia là chị của bạn Linh (2) Cô gái đang múa / trên sân khấu kia là chị của bạn Linh (3) Cô gái đang múa trên sân khấu kia / là chị của bạn Linh c) Viết đoạn văn ( khoảng 5 câu ) giới thiệu về một loài cây mà em biết, trong đoạn văn có sử dụng ít nhất 1 câu kể Ai là gì? 3. Chép các thành ngữ sau vào 2 dòng (a, b): gan vàng dạ sắt, run như cầy sấy, vào sinh ra tử, nhát như thỏ đế, lạy như tế sao, gan lì tướng quân a) Nói về lòng can đảm, vững vàng:…………………………….. b) Nói về sự nhút nhát, sợ hãi:………………………………… 4. Viết đoạn kết bài mở rộng cho bài văn tả một cây hoa ( hoặc cây bóng mát, cây ăn quả..) mà em thích Gợi ý: Em có thể viết kết bài mở rộng cho bài văn tả cây bằng cách nêu lợi ích của cây, sự gắn bó, tình cảm, sự chăm sóc của mình đối với cây >> Xem thêm đáp án tại đây >> Tải file word đầy đủ tại đây Tags:Tiếng Việt 4
Đề ôn tập kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 – Tuần 26
879
Đề ôn tập kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 – Tuần 28 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt 4 Tuần 28 A- Kiểm tra đọc I- Đọc thành tiếng và trả lời câu hỏi ( 5 điểm ) Đọc một trong số các đoạn trích dưới đây trong bài Tập đọc đã học ( SGK ) và trả lời câu hỏi ( TLCH ) ; sau đó tự đánh giá, cho điểm theo hướng dẫn ở phần II ( Giải đáp – Gợi ý ) (1) Trống đồng Đông Sơn ( từ Niềm tự hào đến có gạc ) TLCH: Trống đồng Đông Sơn đa dạng như thế nào? (2) Sầu riêng ( từ Sầu riêng đến kì lạ ) TLCH: Hương vị của sầu riêng được miêu tả quyến rũ như thế nào? (3) Hoa học trò ( từ Nhưng hoa càng đỏ đến bất ngờ dữ vậy ) TLCH: Vẻ đẹp của hoa phượng có gì đặc biệt? (4) Đoàn thuyền đánh cá ( 3 khổ thơ cuối ) TLCH: Em thích hình ảnh nào trong 3 khổ thơ trên? Vì sao? (5) Con sẻ ( từ Con chó chậm rãi đến khản đặc ) TLCH: Hình ảnh con sẻ mẹ dũng cảm lao xuống cứu con được miêu tả như thế nào? II- Đọc thầm và làm bài tập ( 5 điểm ) Cậu bé nạo ống khói Trước cổng trường, một cậu bé nạo ống khói đang đứng, tay tựa vào tường, đầu gục vào tay. Người cậu đen ngòm những bồ hóng và cậu khóc nức nở. Có hai, ba nữ sinh đi qua. Họ lại gần hỏi tại sao cậu khóc như vậy. Nhưng cậu bé nạo ống khói không trả lời và cứ khóc mãi. Các bạn nữ sinh lại hỏi ; Cậu bé bỏ tay xuống, để lộ khuôn mặt trông rất hiền hậu. Cậu bé kể lại việc cậu vừa đi nạo ống khói kiếm được ba hào nhưng chẳng may vô ý bỏ tiền vào cái túi quần bị thủng nên rơi mất. Bây giờ cậu không dám về nhà vì sợ chủ đánh. Nói rồi cậu càng khóc thảm thiết hơn, đầu gục vào cánh tay như một kẻ tuyệt vọng. Một nữ sinh đội cái mũ có cắm chiếc lông chim xanh lấy hai đồng xu trong túi ra và nói: – Mình chỉ có hai xu, nhưng chúng ta góp nhau lại. Một bạn khác cũng nói: “Mình cũng có hai xu đây. Thế nào tất cả chúng ta cũng kiếm đủ ba hào!”. Một vài cô nữ sinh mang tiền đi mua vở và mua hoa liền vội vàng đem tiền đến…. Số tiền ba hào đã đủ nhưng xu vẫn tiếp tục đổ ra như mưa. Những em bé không có tiền cũng đem cho những chùm hoa nhỏ, gọi là cũng góp phần mình. Bác gác cổng chạy tới, nói to: “Bà hiệu trưởng đến”. Tức thì các học sinh bỏ chạy tứ tung như một đàn chim sẻ. Cậu bé nạo ống khói còn lại một mình trên đường phố lau nước mắt. Không những hai tay cậu đầy cả xu mà trong túi áo và cả mũ của cậu có không biết bao nhiêu là chùm hoa nho nhỏ. Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng và làm bài tập ( câu 8 ) 1. Dòng nào dưới đây gồm các chi tiết tả ngoại hình cậu bé nạo ống khói? a- Người cậu đen ngòm những bồ hóng ; khuôn mặt trông rất hiền hậu b- Đang đứng, tay tựa vào tường, đầu gục vào tay ; khóc nức nở mãi c- Khuôn mặt trông rất hiền hậu ; khóc thảm thiết, như kẻ tuyệt vọng 2. Chuyện gì xảy ra với cậu bé nạo ống khói? a- Đi nạo ống khói và bị lạc, không tìm được đường về nhà b- Đánh rơi mất tiền, sợ về nhà bị chủ đánh, khóc thảm thiết c- Không kiếm được tiền vì không có ai thuê nạo ống khói 3. Các bạn nữ sinh đã làm những gì để giúp đỡ cậu bé? a- Hỏi cậu vì sao lại đứng khóc ; an ủi cậu, khuên cậu đừng sợ b- Quyên góp tiền để giúp cậu ; đem cho cậu những chùm hoa nhỏ c- Hỏi cậu vì sao lại đứng khóc ; cho cậu những chùm hoa nhỏ 4. Câu chuyện kết thúc như thế nào? a- Các nữ sinh ném cho cậu bé một ít tiền rồi vội vàng chạy đi b- Cậu bé mỉm cười vui sướng ; hai tay đầy xu, túi áo và mũ có nhiều hoa c- Cậu bé lau nước mắt, hai tay cậu đầy xu, túi áo và mũ có nhiều chùm hoa. 5. Câu thành ngữ, tục ngữ nào dưới đây nêu đúng ý nghĩa của câu chuyện? a- Chung lưng đấu cật c- Một miếng khi đói bằng một gói khi no 6. Câu “Bây giờ cậu không dám về nhà vì sợ chủ đánh.” thuộc kiểu câu nào em đã học? a- Ai làm gì? b- Ai thế nào? c- Ai là gì? 7. Dòng nào dưới đây nêu đúng chủ ngữ của câu “Một nữ sinh đội cái mũ có cắm chiếc lông chim xanh lấy hai đồng xu trong túi ra và nói”? a- Một nữ sinh b- Một nữ sinh đội cái mũ c- Một nữ sinh đội cái mũ có cắm chiếc lông chim xanh 8. Gạch dưới 3 tính từ trong dãy từ sau: khóc, hiền hậu, thảm thiết, tuyệt vọng, vội vàng, nho nhỏ, thổi, nhô B- Kiểm tra viết I- Chính tả nghe- viết ( 5 điểm ) Vườn cải Bốn luống cải chạy đều một hàng. Màu xanh tươi tắn giãi lên trên màu đất vàng sẫm. Có luống vừa bén chân, mới trổ được đôi ba tờ lá bé. Những mảnh lá xanh rờn có khía răng cưa chu vi, khum xuống sát đất. Cũng có luống những tàu lá cải đã vổng cao, khía lá rách mạnh vào chiều sâu. Ở giữa chòm lá xòe, vươn lên một cái thân dài mụ mẫm và phấn trắng. Đầu thân lơ thơ những chùm hoa nhỏ. ( Theo Tô Hoài ) II- Tập làm văn ( 5 điểm ) Tả một cây hoa mà em yêu thích (Chú ý: HS viết bài tập làm văn vào giấy ô li ) >> Xem thêm đáp án tại đây >> Tải file word đầy đủ tại đây Tags:Tiếng Việt 4
Đề ôn tập kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 – Tuần 28
1,037
Đề ôn tập kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 – Tuần 34 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt 4 Tuần 34 I – Bài tập về đọc hiểu Tôi tìm thấy ở thiên nhiên Tôi tìm thấy ở thiên nhiên vị ngọt sắc của những trái mít, ngọt lịm của những trái vải quê hương và cái ngọt dịu dàng của nắng chiều tà. Rồi tôi cũng tìm thấy ở thiên nhiên cả vị chua gắt của những trái sấu, màu xanh đầy sức sống của cây lá… Hương vị thiên nhiên chan chứa bao nét đặc trưng mà ở đâu ta cũng có thể đưa nó vào đầu lưỡi, nhấm nháp và thưởng thưc một cách thích thú. Tôi tìm thấy ở thiên nhiên tiếng sáo diều vi vu trên những con đê lộng gió và tiếng tu hú từng đàn theo nhau bay đậu khắp các ngọn cây vải. Âm thanh thiên nhiên lúc rộn ràng niềm vui, lúc lại êm đềm sâu lắng như giai điệu của một bản đàn. Ở thiên nhiên, tôi tìm thấy những hương vị, âm thanh, màu sắc và cả những đường nét thật đẹp đẽ. Quan trọng hơn là tôi thấy tâm hồn tôi hòa hợp với cây cỏ, chim muông, sông nước, đất trời hay bất cứ thứ gì mà tạo hóa đã ban tặng cho thế gian này. ( Theo Nguyễn Minh Châu ) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Tác giả tìm thấy ở thiên nhiên những vị ngọt nào? b- Vị ngọt thanh của trái sấu chín, vị ngọt máu của vú sữa c- Vị chua gắt của trái sấu, màu xanh đầy sức sống của lá cây 2. Những âm thanh nào của thiên nhiên được tác giả nhắc đến trong bài? a- Tiếng gió thổi rì rào, tiếng lá cây cào xạc b- Tiếng sáo diều vi vu, tiếng tu hú từng đàn c- Tiếng tu hú râm ran, tiếng đàn sâu lắng 3. Âm thanh của thiên nhiên được miêu tả bằng những từ ngữ nào? a- Rộn ràng niềm vui, êm đềm sâu lắng b- Êm đềm sâu lắng, rộn rã niềm vui c- Rộn rã niềm vui, dịu dàng êm ái. (4). Bài văn muốn nhắn gửi với chúng ta điều gì? a- Thiên nhiên đem đến cho ta nhiều hương vị, màu sắc, âm thanh thú vị b- Con người cần quan sát, dùng mọi giác quan để cảm nhận thiên nhiên c- Phải biết trân trọng tất cả những gì mà thiên nhiên đã ban tặng cho ta II- Bài tập về Chính tả, Luyện từ và câu, Tập làm văn 1. a) Tìm và ghi lại các từ láy theo yêu cầu sau: (1) Láy âm đầu r ( M: rung rinh ):……………………………… (2) Láy âm đầu d ( M: dập dìu ):………………………………. (3) Láy âm đầu gi ( M: giàn giụa ):…………………………… b) Điền dấu hỏi hoặc dấu ngã trên từng chữ in đậm cho thích hợp: (2) Đi hoi già, về nhà hoi tre. (3) Tháng bay heo may, chuồn chuồn bay thì bao. (4) Ăn qua nhớ ke trồng cây. 2. a) Tìm và ghi vào ô trống trong bảng: b) Đặt 3 câu, mỗi câu có một từ trong mỗi nhóm trên 3. Gạch dưới bộ phận trạng ngữ trả lời cho câu hỏi Bằng cái gì? ( Với cái gì? ) trong mỗi câu sau: (1) Bằng một động tác thuần thục, ông Cản Ngũ thò tay xuống nắm lấy khố Quắm Đen, nhấc bổng anh ta lên, coi nhẹ nhàng như nắm con ếch giơ lên. (2) Với thái độ bình tĩnh, hiên ngang trước giờ xử bắn, người nữ anh hùng trẻ tuổi Võ Thị Sáu đã làm cho kẻ thù phải cúi đầu khiếp sợ. (3) Để bảo vệ môi trường, xã em đã phát động phong trào Phủ xanh đồi trọc. (4) Với nghị lực phi thường, dù đã bị liệt cả hai cánh tay, Nguyễn Ngọc Ký vẫn kiên trì luyện tập và viết được những dòng chữ đẹp bằng chân. 4. Thêm bộ phận trạng ngữ cho câu hỏi Bằng cái gì? ( Với cái gì? ) (1)……………, các nghệ sĩ đã chinh phục được khán giả. (2)…………………., nhà văn Tô Hoài đã miêu tả thế giới loài vật rất sinh động. (3)…………………………., Trần BÌnh Trọng đã thét vào mặt quân xâm lược phương Bắc: “Ta thà làm quỷ nước Nam chứ không thèm làm vương đất Bắc”. >> Tải file word đầy đủ tại đây Tags:Tiếng Việt 4
Đề ôn tập kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 – Tuần 34
724
Đề ôn tập kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 – Tuần 35 Hướng dẫn Đề kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt 4 Tuần 35 Ôn tập cuối học kì II A- Kiểm tra đọc I- Đọc thành tiếng và trả lời câu hỏi ( 5 điểm ) Đọc một trong năm đoạn văn ( thơ ) sau và trả lời câu hỏi: Đường đi Sa Pa ( từ Xe chúng tôi đến lướt thướt liễu rủ ) TLCH: Đường đi Sa Pa được tả trong đoạn văn có gì đẹp? Ăng-co Vát ( từ Toàn bộ khu đền đến các ngách ) TLCH: Phong cảnh khu đền vào lúc hoàng hôn có gì đẹp? Con chuồn chuồn nước ( từ Rồi đột nhiên đến cao vút ) TLCH: Cảnh quê hương hiện lên dưới tầm cánh chú chuồn chuồn nước đẹp như thế nào? Con chim chiền chiện ( cả bài ) TLCH: Tiếng hót của chim chiền chiện được miêu tả như thế nào? Tiếng cười là liều thuốc bổ TLCH: Vì sao nói tiếng cười là liều thuốc bổ? II- Đọc thầm và làm bài tập (5 điểm ) Chính tôi có lỗi Ngoài hành lang nhà ở của Vla-đi-mia I lích Lê-nin, người chỉ huy đội bảo vệ điện Krem-li đặt một trạm gác. Các học sinh trường quân sự được phân công trực gác hằng ngày. Hôm ấy, một học sinh quân trẻ tuổi không biết mặt Lê-nin, được cử làm nhiệm vụ trực gác. Anh ta cản đường Lê-nin không cho vào và nghiêm nghị nói: – Xin đồng chí cho xem giấy ra vào! – Nhưng kia là cửa nhà tôi! – Lê-nin sửng sốt giơ tay chỉ Lê-nin không tranh cãi, trở lại Sở chỉ huy lấy giấy ra vào để về phòng mình. Khi giao ban, anh học sinh quân báo cáo với đồng chí chỉ huy về việc đó. Tất nhiên, cả Sở chỉ huy đều biết câu chuyện ấy. Đồng chí chỉ huy nghiêm giọng hỏi anh học sinh quân: – Cậu có biết cậu không cho ai vào không? – Tôi không biết – Chủ tịch Hội đồng Ủy viên nhân dân Lê-nin đấy! Anh học sinh quân đỏ mặt và bối rối. Ngay lúc đó, anh chạy đến xin lỗi Lê-nin. Lê-nin bình tĩnh và nghiêm trang nghe anh nói, duy trong khóe mắt lấp lánh những đốm lửa tươi vui. Nghe xong, Lê-nin ôn tồn nói: – Không, đồng chí không có lỗi gì cả. Chỉ thị của chỉ huy trưởng là pháp lệnh. Chẳng lẽ tôi là Chủ tịch mà lại có thể vi phạm pháp lệnh hay sao? Chính tôi có lỗi, còn đồng chí đã giải quyết đúng. ( Theo Bô-rít Pô-lê-vôi ) Khoanh tròn chữ cái trước ý trả lời đúng 1. Khi Lê-nin đi qua trạm gác để vào nhà, anh học sinh quân đã làm gì? a- Cản đường không cho vào và yêu cầu cho xem giấy tờ b- Lễ phép mời Lê-nin vào nhà mà không cần xem giấy tờ c- Đọc giấy tờ của Lê-nin và vui vẻ mời lãnh tụ vào nhà a- Vì Lê-nin không có giấy ra vào b- Vì anh không nhớ rõ mặt Lê-nin c- Vì anh không nắm được quy định 3. Khi không được qua trạm gác để về nhà, Lê-nin đã hành động như thế nào? a- Đề nghị chỉ huy phê bình anh học sinh quân b- Nói cho anh học sinh quân biết tên mình c- Trở lại Sở chỉ huy lấy giấy ra vào để về nhà 4. Vì sao khi nghe anh học sinh quân xin lỗi, trong khóe mắt Lê-nin lại “lấp lánh những ánh lửa tươi vui”? a- Vì thấy anh học sinh quân đã nhận ra khuyết điểm và đến nhận lỗi b- Vì tháy anh học sinh quân đã chấp hành pháp lệnh rất nghiêm túc c- Vì thấy anh học sinh quân đã chấp hành mệnh của vị chỉ huy 5. Câu chuyện muốn nói lên điều gì là chủ yếu? a- Lê-nin là người hiền từ và nhân hậu b- Lê-nin rất tôn trọng nội quy chung c- Đi qua trạm gác phải có giấy ra vào 6. Dòng nào viết đúng các danh từ riêng trong bài? a- Vla-đi mia I-lích Lê-Nin, Krem-li, Lê-Nin b- Vla-đi-mia I-lích Lê-nin, Krem-li, Lê-nin c- Vla-đi-Mia I-Lích Lê-nin, Krem-Li, Lê-nin 7. Câu “Hôm ấy, một học sinh quân trẻ tuổi không biết mặt Lê-nin được cử làm nhiệm vụ trực gác.” Có mấy danh từ chung? b- 3 danh từ chung ( đó là:…………………………..) c- 4 danh từ chung ( đó là:…………………………..) 8. (1) Trong câu “Ngoài hành lang nhà ở của Vla-đi-mia I-lích Lê-nin, người chỉ huy đội bảo vệ điện Krem-li đặt một trạm gác.”, bộ phận nào là chủ ngữ? a- Vla-đi-mia I-lích Lê-nin b- người chỉ huy đội bảo vệ c- người chỉ huy đội bảo vệ điện Krem-li (2) Bô phận trạng ngữ trong câu trên trả lời cho câu hỏi nào? a- Bao giờ? b- Ở đâu? c- Vì sao? B- Kiểm tra viết I- Chính tả nghe-viết (5 điểm ) Chú mèo con Mèo con nhảy một cái thật cao theo bướm, rồi cuộn tròn lăn lông lốc giữa san cho đến lúc chạm bịch vào một gốc cau. “Rì rào, rì rào, con mèo nào mới về thế?”. Cây cau lắc lư chòm lá tít trên cao hỏi xuống. “Rì rào, rì rào, chú bé leo lên đây nào!”. Mèo con ôm lấy thân cau, trèo nhanh thoăn thoắt. “Rì rào, rì rào, ừ chú trèo khá đấy!”. Mèo con ngứa vuốt cào cào thân cau sồn sột. “Ấy, ấy! Chú làm xước cả mình tôi rồi. Để vuốt sắc mà bắt chuột chứ”. ( Nguyễn Đình Thi ) II- Tập làm văn ( 5 điểm ) Hãy tả một con vật mà em yêu thích ( Chú ý: HS viết bài tập làm văn vào giấy ô li ) >> Xem thêm đáp án tại đây >> Tải file word đầy đủ tại đây Tags:Tiếng Việt 4
Đề ôn tập kiểm tra cuối tuần Tiếng Việt lớp 4 – Tuần 35
951
Để hướng tới 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, em hãy giới thiệu về một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử của Hà Nội – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Văn Miếu Quốc Tử Giám – Hà Nội Bài làm. Đúng 1000 năm trước, năm 1010, vua Lí Thái Tổ đã dời đô từ Hoa Lư về Đại La và đặt tên thành là thành Thăng Long. Trải qua bao biến cố của thời gian, Hà Nội vẫn lưu giữ trong lòng nó những “đấu xưa oai hùng” cùng với những danh lam thắng cảnh. Một trong những nơi đó là Văn Miếu – Quốc Tử Giám. Văn Miếu được xây dựng từ năm 1070, thời vua Lí Thánh Tông, để thờ tổ sư đạo Nho là Khổng Tử và tứ phối Nhan Tử, Tăng Tử, Tử Tư, Mạnh Tử. Năm 1016, vua Lí Nhân Tông (Lí Càn Đức) cho xây dựng Quốc Tử Giám, nằm sau Văn Miếu. Đây là trường đại học đầu tiên của nước ta. Khởi đầu, trường chỉ dạy cho con cái vua quan, về sau, những học sinh ưu tú của cả nước đều được về đây học tập, luyện tài. Thời Trần Minh Tông, Chu Văn An làm hiệu trưởng trường Quốc Tử Giám. Ông trực tiếp dạy các hoàng tử. Năm 1370, ông mất, vua Trần Nghệ Tông cho thờ ông trong Văn Miếu, cạnh Khổng Tử. Năm 1484, vua Lê Thánh Tông cho dựng bia Tiến sĩ. Hiện nay tổng cộng có 82 bia của 82 khoa thi từ năm 1442 đến năm 1779. Những ai đỗ Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa, Hoàng giáp, Tiến sĩ đều được ghi họ tên, quê quán, lưu danh cho đến đời nay. Khu vực thứ nhất, từ Văn Miếu Môn đến Đại Trung Môn. Hai bên Văn Miếu Môn có hai con rồng từ thời Hậu Lê. Hai bên Đại Trung Môn có hai cổng nhỏ là Thành Đức Môn và Đạt Tài Môn. Khu vực thứ hai từ Đại Trung Môn cho đến Khuê Văn Các. Nơi đây có nhiều cây xanh, không khí thoáng đãng, trong lành. Kiến trúc Khuê Văn Các tuy không lớn nhưng đẹp. Khuê Văn Các có trụ là bốn cột gỗ để nâng lầu. Lầu có kết cấu hai lớp tạo thành tám mái, bốn mặt lầu có bốn cửa sổ to, hình tròn, trông giống mặt trời đang tỏa nắng. Hai bên Khuê Văn Các có hai cổng nhỏ là Bi Văn Môn và Súc Văn Môn dẫn vào khu vực bia Tiến sĩ. Hiện, Khuê Văn Các được coi như biểu tượng của thủ đô Hà Nội. Khu thứ ba có hồ Thiền Quang Tỉnh, hình vuông, nằm giữa. Hai bên hồ là hai dãy bia Tiến sĩ. Khu này nối với khu thứ tư qua Đại Thành Môn. Khu thứ tư là khu vực trung tâm của Văn Miếu, gồm ba dãy nhà. Ở giữa là khoảng sân rất rộng, nơi thường tổ chức đánh cờ người vào dịp lễ hội. Hai bên phải trái là Hữu vu và Tả vu. Thẳng từ Đại Thành Môn vào là khu Đại Bái, thờ Khổng Tử và các vị Nho học. Đằng sau là khu Hậu cung. Quanh khu vực Văn Miếu – Quốc Tử Giám còn có các hiện vật rất quý như quả chuông đồng đúc năm 1768 và tấm khánh đá, trên khắc bài văn nói về cách chơi nhạc cụ này. Văn Miếu – Quốc Tử Giám là một trong những danh thắng – di tích lịch sử lâu đời nhất nước ta, đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới. Văn Miếu – Quốc Tử Giám đã góp phần làm đẹp cho thủ đô Hà Nội, trở thành biểu tượng của thủ đô Hà Nội. Đinh Minh Trý (Trường THCS Ngô Gia Tự) >> Xem thêm Giới thiệu về Nguyễn Trãi tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Văn Miếu Quốc Tử Giám – Hà Nội
Để hướng tới 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, em hãy giới thiệu về một danh lam thắng cảnh hoặc di tích lịch sử của Hà Nội – Bài văn hay lớp 8
658
Để làm tốt bài văn nghị luận lớp 9 Hướng dẫn Để làm tốt bài văn nghị luận 9 I. ĐẶC ĐIỂM VÀ YÊU CẦU CỦA VĂN NGHỊ LUẬN Trong đời sống, người ta luôn luôn phải bày tỏ ý kiến của mình về những hiện tượng tự nhiên, xã hội xảy ra xung quanh. Một cuộc thảo luận, một cuộc họp, một vấn đề trong cuộc sống, một chính sách mới, một tác phẩm nghệ thuật,… đều đòi hỏi mọi người bày tổ thái độ của mình. Khác với lối bày tỏ bằng cảm xúc trong văn biểu cảm, việc bày tỏ ý kiến trong văn nghị luận nhằm giải thích, chứng minh, thuyết phục người nghe, người đọc một tư tưởng, một quan điểm nào đó. Muốn cho người đọc người nghe cũng hiểu như mình, đồng tình và ủng hộ quan niệm của mình, người viết văn nghị luận phải có những luận điểm rõ ràng, có lí lẽ đúng đắn, chặt chẽ đúc rút từ sách vở, từ đời sống ; có những dẫn chứng đáng tin cậy, thuyết phục. Mỗi bài văn nghị luận đều phải có luặn điểm, luận cứ và lập luận để dẫn đến luận điểm. Luận điểm là ý kiến thể hiện tư tưởng, quan điểm của bài văn được nêu ra dưới hình thức khẳng định (hay phủ định), được diễn đạt sáng tỏ, dễ hiểu, nhất quán. Luận điểm là linh hồn của bài viết. Luận điểm đúng đắn, chân thật, đáp ứng nhu cầu thực tế thì mới có sức thuyết phục. Ví dụ trong bài Chống nạn thất học, luận điểm của Chủ tịch Hồ Chí Minh là: Phải nông cao dân trí, muốn nâng cao dân trí thì phải chống nạn thất học, cụ thể là mỗi người Việt Nam phải biết đọc, biết viết. Trong bài Sự giàu đẹp của tiếng Việt, luận điểm chính ià: Tiếng Việt của chúng ta là một thứ tiếng vừa giàu, vừa đẹp. Đó là quan niệm, là cách đánh giá của nhà nghiên cứu Đặng Thai Mai. Lập luận là cách đưa ra lí lẽ, cách sắp xếp các luận cứ để dẫn đến kết luận nêu trong luận điểm. Thủ tướng Phạm Văn Đồng trong bài Đức tính giản dị của Bác Hồ đã nêu lên luận điểm: Bác là nhà cách mạng có sự nhất quán giữa đời hoạt động chính trị lay trời chuyển đất với đời sống vô cùng giản dị và khiêm tốn. Để chứng minh cho luận điểm này, tác giả đã nêu các luận cứ và trình bày theo trình tự: Bác giản dị trong bữa cơm, đồ dùng, cái nhà, lối sống. Mỗi luận cứ đều có các dẫn chứng cụ thể có thể kiểm chứng được dễ dàng. II. CÁCH LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN Bài văn nghị luận cũng được làm theo quy trình chung của một bài tập làm văn gồm 4 bước: tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý, viết bài và sửa bài. Muốn viết được bài văn nghị luận thành công thì phải tìm hiểu đề và tìm được các ý cho đề bài đó. Sau khi tìm được ý (theo cách lập ý thường gặp dưới đây) sẽ lập dàn ý và viết bài. Trong khi viết có thể bổ sung, thêm bớt ý cho dàn bài hoàn chỉnh. Bước cuối cùng là soát lại bài viết, nhất là sửa các lỗi chính tả, lỗi ngữ pháp. 2. Cách lập ý cho bài văn nghị luận Muốn lập ý cho bài văn nghị luận, đầu tiên cần phải đọc kĩ đề bài để xác định luận điểm. Người viết cần xác định đúng vấn đề, phạm vi, tính chất của nó. Luận điểm chính đòi hỏi cần bàn bạc, cho ý kiến là gì? Tuỳ theo đề bài thuộc loại nào (giải thích, ca ngợi, khuyên bảo, nhắn nhủ, suy nghĩ, bàn luận, tranh luận, phản bác,…) mà xác định luận điểm chính cho phù hợp. Tiếp theo là tìm luận cứ cho luận điểm. Thông thường muốn tìm luận cứ phải đưa ra câu hỏi: Vấn đề cần bàn bạc là gì? Định nghĩa như thế nào? Vì sao lại có nhận xét như vậy? Điều đó có lợi hay có hại, lợi hại cụ thể như thế nào? Các lí lẽ và dẫn chứng nào có thể phục vụ cho việc thuyết phục mọi người?
Để làm tốt bài văn nghị luận lớp 9
733
Đọc bài thơ “Mặt trời xanh của tôi”. Hãy tưởng tượng em đang được ở một vùng trung du có rừng cọ xanh tươi như trong bài thơ. Hãy tả lại rừng cọ ấy Gợi ý Mặt trời xanh của tôi Đã có ai lắng nghe Tiếng mưa trong rừng cọ? Như tiếng thác dội về, Như ào ào trận gió. Đó ai lên rừng cọ Giữa một buổi trưa hè, Gối đầu lên thảm cỏ Nhìn trời xanh, lá che… Đã có ai dậy sớm, Nhìn lên rừng cọ tươi? Lá xoè từng tia nắng Giống hệt như mặt trời. Rừng cọ ơi, rừng cọ! Lá đẹp, lá ngời ngời, Tôi yêu, thường vẫn gọi Mặt trời xanh của tôi! Nguyễn Viết Bình Hãy tưởng tượng em đang được ở một vùng trung du có rừng cọ tươi xanh như trong bài thơ. Hãy tả lại rừng cọ ấy. Bài làm “Trên rừng xanh có muôn ngàn cây lá, con chim rừng có muôn ngàn tiếng ca… Riêng mặt trời chỉ có một mà thôi….”, nếu có dịp gặp tác giả của bài hát rất hay ấy, tôi sẽ nói với bác rằng riêng với người dân Phú Thọ, chúng tôi có đến hơn một mặt trời: mặt trời hồng rực rỡ nằm trên bầu trời xa và trăm ngàn mặt trời xanh tươi mát nằm trên những đồi cọ mướt màu. Rừng cọ quê tôi đã có từ lâu lắm. Ông nội kể rằng nó có từ trước khi ông ra đời. Vậy nên, lúc lớn lên, tôi đã thấy rừng cọ bạt ngàn như vậy. Mỗi sớm mai thức dậy, chạy ào lên rừng cọ, trèo lên một cái cây thật cao mà nhìn chỉ thấy từng lớp, từng lớp cọ trập trùng nhấp nhô nối nhau chạy đến tít tắp chân trời. Trăm ngàn lá cọ xòe tròn với rất nhiều tia lá giống hệt mặt trời. Tôi thích thú liên tưởng đến hình ảnh bao mặt trời xanh đang tỏa sáng chốn đất Tổ Hùng Vương của mình. Nhưng phải đến rừng cọ vào một buổi trưa hè mới thấy hết cái đẹp đẽ, rực rõ của nó. Bước vào rừng cọ ta dễ có cảm giác bước vào một ngôi nhà mái bằng rộng thênh thang: mặt đất cỏ mọc xanh rì êm mát, giống như một lớp thảm vậy; phía trên, lá cọ xếp khít nhau lá cây nọ nối lá cây kia như tạo thành một mái nhà khổng lồ. Lũ trẻ chúng tôi thường chơi trò đuổi bắt ở đó. Cứ lách mình qua những thân cây mà chạy zic zắc, cứ nép mình vào những thân cây mà núp thì khó bị phát hiện lắm bởi thân cọ lâu năm đã rất to, lại được bao bọc bởi nhiều lớp bẹ lá khô dày cứng. Khi thấm mệt rồi, thả mình nằm dài trên thảm cỏ dưới những tán cọ rợp bóng mà nhìn lên trời thật thú vị! Ánh sáng được lọc qua những tán lá trở thành một thứ sắc xanh tựa ngọc bích. Chính lúc ấy, chiếc lá cọ như đang tỏa ra loại ánh sáng xanh trong dễ làm say lòng người. Chao ôi! Mặt trời xanh của quê tôi đó! Ngày nắng đã vậy, trong ngày mưa, hình ảnh lá cọ trở thành niềm an ủi của chúng tôi những lúc buồn thiu vì ẩm ướt. Đang chơi vui vẻ, chợt ào ào gió đến, lá cọ tán rộng nên bị gió quật lên đập xuống dữ dội. Ngồi núp dưới gốc cây mà nghe cái âm thanh mưa trút xuống lá đứa nào cũng sợ. Lá cọ khá cứng mà mưa rừng lại mạnh nên tiếng mưa đập xuống lá tạo thành thứ âm thanh rất đanh. Ngước lên vòm cây, nhìn những chiếc lá xòe tròn nghĩ đến hình ảnh mặt trời, lòng đứa nào cũng thấy ấm áp hơn rất nhiều.
Đọc bài thơ “Mặt trời xanh của tôi”. Hãy tưởng tượng em đang được ở một vùng trung du có rừng cọ xanh tươi như trong bài thơ. Hãy tả lại rừng cọ ấy
634
Đọc Gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam, Trong lòng mẹ (trích Những ngày thơ ấu) của Nguyên Hồng, Bố của Xi-mông của Mô-pa-xăng, ta gặp những em bé đáng yêu, đáng quý, đáng thương. Bằng vốn hiểu biết của mình, em hãy chứng minh. Bài làm Trẻ em là những mảnh hồn trong trẻo, là sự khởi đầu của những cuộc đời. Trong những trang văn: “Gió lạnh đầu mùa” của Thạch Lam, “Trong lòng mẹ” của Nguyên Hồng, “Bố của Xi-mông” của Mô-pa-xăng, trẻ em đều rất đáng yêu, đáng quý, đáng thương. Đến với truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa”, người đọc có cảm giác ấm áp khi được chứng kiến sự thơm thảo của những tấm lòng trẻ thơ nhân hậu. Mùa đông đến, đem theo những cơngió lạnh là nỗi lo sợ của những đứa trẻ nhà nghèo. “Chúng ăn mặc không khác ngày thường, vẫn những bộ quần áo nâu bạc rách vá nhiều chỗ”. Và thế là mùa đông lạnh lẽo đã hành hạ chúng: “Hôm nay, môi chúng tím lại và qua những chỗ áo rách, da thịt thâm đi, mỗi cơn gió đến, chúng lại run lên, hai hàm răng đập vào nhau”. Cuộc đời đã không mỉm cười với những đứa trẻ nhà nghèo. Trong đám trẻ nhà nghèo, hình ảnh bé Hiên được mô tả tỉ mỉ nhất. Hiên đứng co ro bên cột quán: “chỉ mặc có manh áo rách tả tơi, hở cả lưng và tay”. Manh áo rách kia không đủ che ấm cho em trong thời tiết mùa đông khắc nghiệt. May mà cuộc sống còn có tình thương. Tình thương của chị em Sơn đem đến cho Hiên. Khi thấy Hiên đứng co ro chịu rét, áo rách tả tơi, Sơn đã động lòng thương. Sơn bàn với chị Lan lấy chiếc áo bông cũ của đứa em đã mất cho Hiên. Khi chị Lan hăm hở chạy về nhà lấy áo, “Sơn đứng lặng yên đợi, trong lòng tự nhiên thấy ấm áp vui vui”. Thì ra cái bản chất tự nhiên của con người là nhân hậu, là hướng thiện. Cái hăm hở của bé Lan mới đáng quý làm sao. Đó không chỉ là biểu hiện ngây thơ của tuổi trẻ mà còn là hành động của một tấm lòng ấm áp tình yêu thương. Giữa bao nhiêu giá rét của mùa đông vẫn còn sự ấm áp của những tấm lòng nhân hậu. Bằng việc làm của mình, bằng sự gần gũi thân thiết, Sơn và Lan đã vượt qua bức tường ngăn cách của hai tầng lớp giàu nghèo đến với đám trẻ nhà nghèo, trong vòng tay bè bạn. Khi cho Hiên áo, hai chị em Lan và Sơn đâu biết rằng đã cho đi một kỉ vật thiêng liêng cùa gia đình. Cho nên khi nghĩ lại, chị em Sơn đâm lo lắng, rồi nảy ra ý định đòi lại áo. Đó cũng là một biểu hiện hồn nhiên rất đáng yêu của chị em Sơn. Dù sao sự thông cảm và tình thương yêu hồn nhiên của chị em Sơn cũng đã làm dịu một phần những ngày đông giá lạnh, đem lại một chút ấm áp cho lòng người. Đọc “Những ngày thơ ấu” của Nguyên Hồng, ta gặp phải một bé Hồng sớm phải chịu những mất mát, thiếu thôn về tình cảm, tuổi thơ của Hồngkhông được sống trong mái ấm gia đình. Từ bé, bé đã mất cha, xa mẹ. Chắc chỉ có Chúa mới biết chú đã khóc bao nhiêu lần trong nỗi đau khổ, dằn vặt. Và trái tim non nớt của chú đã bao lần nức nở trước những lời bàn tán về mẹ không lấy gì làm tốt đẹp, đầy tâm địa xấu xa của bà cô: “Hai tiếng em bé mà cô tôi ngân dài ra thật ngọt, quả nhiên đã xoắn chặt lấy tâm can tôi như ýcô tôi muốn". Tuy vậy, Hồng đã tự khẳng định tình yêu thương mẹ của mình: “Nhưng đời nào tình yêu thương và lòng kính trọng mẹ tôi lại bị những rắp tâm tanh bẩn xâm phạm đến… Mặc dầu nom một năm ròng mẹ tôi không gửi cho tôi lấy một lá thư, nhắn người thăm tôi lấy một lời và gửi cho tôi lấy một đồng quà”. Hồng không ruồng rẫy mẹ. Em xót xa khi thấy mẹ chưa đoạn tang thầy mà đã phải xa quê để chửa đẻ với người khác. “Lòng tôi thắt lại, khóe mắt tôi cay cay”, rồi (nước mắt tôi đã ròng ròng rớt xuống hai hên mép rồi chan hòa và đầm đìa ở cằm, ở cổ”. Nỗi đau đớn ấy đã khiến cho “cổ họng tôi đã nghẹn ứ không khóc ra tiếng”. Hồng đã khóc, khóc bởi thương mẹ bị đọa đày, bị đối xử một cách bất công, vô nhân đạo. Tuy nhiên từ tận đáy sâu tâm hồn Hồng vẫn còn le lói một ngọn lửa của niềm tin, niềm tin thiêng liêng của một người con luôn hướng về mẹ. Hồng đã cất lên tiếng khóc đầy hạnh phúc khi gặp lại người mẹ muôn vàn kính yêu của mình. Ta hiểu rằng để có được tiếng khóc ấy chú bé đã phải chờ đợi mỏi mòn suốt bao tháng ngày dài đằng đẵng. Đọc những trang tác phẩm của Nguyên Hồng, chúng ta cảm thông trân trọng bé Hồng và thấm thìa sâu sắc tấm lòng nhân đạo sáng ngời của nhà văn. Đến với truyện ngắn “Bố của Xi-mông’’ của nhà văn Mô-pa-xăng, ta gặp chú bé Xi-mông không có bố. Em sống và lớn lên trong tình yêu thương và bàn tay chăm sóc của mẹ. Một lần, bị bạn bè chế giễu, quá đau đớn, em đã lang thang ra bờ sông và định tìm đến cái chết. Thế nhưng thiên nhiên đã thức tỉnh em: “Một chú nhái con màu xanh lục nhảy dưới chân em. Em định bắt nó, nó thoát được. Em đuổi theo nó và lại vồ hụt ba lần liền”. Hình ảnh chú nhái gợi cho Xi-mông nhớtới một thứ đồ chơi ở nhà, rồi gợi cho em nhớ đến nhà, đến mẹ và em đã khóc. “Người em run lên, em quỳ xuống và đọc kinh cầu nguyện như trước khi đi ngủ. Nhưng em không đọc hết được bài kinh vì những cơn nức nở lại trở lại, dồn dập, xốn xang, choáng ngợp lấy em”. Xi-mông hiện lên thật đáng thương. Em phải sống trong hoàn cảnh thiếu bàn tay chăm sóc của cha và chịu sự trêu chọc của bạn bè. Nỗi đau ấynhư một bàn tay vô hình bóp lấy trái tim thơ ngây của em. Em chỉ biết khóc. Không biết em đã khóc bao nhiêu lần? Thế nhưng, một niềm vui bất ngờ đã đến với em. Người ta đã cho em một ông bố, một bác thợ rèn khỏe khoắn và tốt bụng. Trong giây phút thiêng liêng ấy, Xi-mông nghẹn ngào xúc động: “Bé Xi-mông đứng dậy mặt tái nhợt nói run run: – Bố tớ đấy, bố tớ là Phi-líp Rê-mi (…) bốtớ hứa sẽ kéo tai tất cả những đứa nào bắt nạt tớ”. Những tiếng nói thật mạnh mẽ và tự hào. Đó cũng là tiếng nói của lòng tin, đem đến cho người đọc cảm giác ngọt ngào, sưởi ấm lòng người, hướng lòng người vươn tới cái thiện, cái đẹp. Thạch Lam, Nguyên Hồng, Mô-pa-xăng đã dẫn ta vào thế giới của trẻ em. Thế giới ấy có nắng nhẹ, trời trong, có cả những giọt nước mắt đau khổ nhưng trội lên là những tâm hồn trắng trong, nhân hậu. Các em thật đáng thương, đáng quý, đáng yêu. Qua hình ảnh các em, các nhà văn đã cất lên một tiếng nói phê phán xã hội xấu xa, vô nhân đạo đã chà đạp lên cả những tâm hồn trẻ thơ hồn nhiên trong trắng, cướp đi cả cuộc sống và ước mơ bình dị của các em. Hôm nay, đọc lại những trang tác phẩm đó của nhà văn, chúng ta càng hiểu thêm những gì tốt đẹp mà xã hội mới đã đem lại cho tuổi thơ chúng ta, chúng ta thấy mình càng phải sống sao cho có ý nghĩa hơn, có ích cho đời hơn. Nguồn:
Đọc Gió lạnh đầu mùa của Thạch Lam, Trong lòng mẹ (trích Những ngày thơ ấu) của Nguyên Hồng, Bố của Xi-mông của Mô-pa-xăng, ta gặp những em bé đáng yêu, đáng quý, đáng thương.
1,397
Đọc truyện Tấm Cám, anh chị suy nghĩ gì về cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người tốt và kẻ xấu trong xã hội xưa và nay? Hướng dẫn Đọc truyện Tấm Cám, anh chị suy nghĩ gì về cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người tốt và kẻ xấu trong xã hội xưa và nay? Cuộc sống ngày càng phát triển, con người cũng chạy theo nhiều thứ lợi nhuận mà làm mờ đi con mắt của tâm hồn, của đạo đức. Không ít kẻ đã bất chấp mọi thủ đoạn để đạt được những điều mình muốn, giống như mẹ con nhà Cám xưa kia trong câu chuyện cổ tích Tấm Cám đã hết lần này đến lần khác tước đi sự sống của Tấm để đoạt lấy ngôi vị Hoàng Hậu của cô. Xuyên suốt câu truyện là sự đấu tranh quyết liệt giữa cái thiện và cái ác, giữa người tốt và kẻ xấu, mà đại diện là hai nhân vật Tấm và Cám. Cuộc đấu tranh ấy cho đến ngày nay vẫn còn đang diễn ra rất rắc rối trong xã hội. Có rất nhiều những quan điểm trái chiều nhau, làm cho mối quan hệ cái ác và cái thiện, giữa người tốt và kẻ xấu chỉ còn là cái ranh giới rất mong manh. Truyện Tấm Cám kể về cuộc đời bất hạnh của Tấm – một cô bé mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Tấm ở với dì ghẻ và người em cùng cha khác mẹ tên là Cám. Hai mẹ con họ hết lần này đến lần khác chèn ép, áp bức Tấm. Thân phận yếu đuối, Tấm chỉ biết ngậm ngùi vâng phục mà không hề phản kháng. Cũng may, tình thương của người xưa đã cho ông Bụt xuất hiện để giúp đỡ Tấm trong những lần tủi hờn, khóc lóc. Cho đến khi Tấm được làm hoàng hậu, mẹ con Cám lại tìm mọi cách để giết chết Tấm, cho Cám thay vị trí của Tấm. Nhưng nhà vua chỉ yêu mình Tấm. Tấm chết, hóa thành chim vàng anh. Cám giết vàng anh, Tấm lại hóa thành cây xoan đào cho vua mắc võng hóng mát, thư giãn. Cám chặt cây làm khung cửi, khung cửi lên tiếng chửi rủa Cám. Cám sợ quá đốt khung cửi. Chỗ Cám đổ tro mọc lên cây thị cao. Kỳ lạ, trên cây chỉ có duy nhất một quả thị. Thị được một bà cụ đi qua xin về để ngửi. Ngày ngày Tấm chui ra từ quả thị nấu nướng, quét dọn cho bà cụ. Một hôm bà rình Tấm ra rồi xé vỏ thị. Từ đó, hai bà cháu sống với nhau tình cảm như ruột thịt. Tình cờ vua đi qua ghé vào chơi, vua nhận ra vợ mình sau bao nhiêu ngày xa cách, ngỡ như Tấm đã chết nhưng nay lại được đoàn tụ. Thấy chị trở về và xinh đẹp hơn xưa, Cám lân la hỏi chị bí quyết làm đẹp thì được Tấm bày cách cho. Tấm bảo Cám đào một cái hố sâu rồi nhảy xuống đó, Tấm dội nước sôi cho Cám chết. Xác Cám Tấm làm mắm gửi về cho mụ dì ghẻ ăn, mụ ăn ngon lành đến hết nhìn thấy cái đầu lâu mới hoảng hồn nhận ra con mình. Mụ lăn đùng ra chết. Câu chuyện là sự phản ánh ước muốn, khát vọng cuộc sống bình yên của nhân dân giữa những kẻ gian ác, xảo quyệt đang ngày ngày hoành hành trong xã hội. Sự chiến thắng của Tấm thể hiện chân lý: cái thiện luôn luôn chiến thắng cái ác. Dù kết thúc câu chuyện, sự trả thù của Tấm đã nhận được nhiều ý kiến trái chiều, có người cho rằng Tấm còn ác hơn cả Cám khi đã lấy xác Cám làm mắm gửi về cho dì ghẻ ăn. Nhưng khi đặt câu chuyện trong hoàn cảnh xã hội xưa ta sẽ thấy kết thúc ấy hoàn toàn hợp lý. Vì sự ác độc của mẹ con Cám không phải chỉ có một lần dành cho Tấm. Bọn họ đã hết lần này đến lần khác giết hại Tấm. Chỉ cần biết Tấm vẫn còn sống thì dù Tấm có hóa thân thành gì đi nữa họ cũng giết cho bằng được, nhất quyết không thể để Tấm tồn tại. Vì thế, họ rất đáng phải trả một cái giá đắt cho những hành động nghịch lý của mình. Nhưng trên thực tế, rất nhiều người hiền lành, lương thiện đã không thể chống lại được kẻ ác. Nhất là khi xã hội phong kiến kẻ cầm quyền cầm cả quyền sống của nhân dân. Bọn chúng bắt ai chết thì người đó phải chết. Và cũng thật đau đớn khi thực tế không có sự hóa thân thành vật nọ vật kia giống như Tấm sau khi chết biến thành chim vàng anh hay khung cửi… Cũng không có ông Bụt nào có thể hiện lên để cứu giúp nhân dân giống như cứu giúp Tấm. Câu chuyện chỉ là sự khát vọng của người xưa. Nếu Tấm không có Bụt giúp đỡ, nàng cũng đã sớm chết dưới bàn tay ác nghiệt của mẹ con Cám. Có rất nhiều nguyên nhân khiến con người ta lầm được lạc lối, quên đi mất cái nguyên bản của con người chính là cái thiện. Bởi khi sinh ra, có ai đã là kẻ tội lỗi đâu? Trong quá trình lớn lên, qua những mưu cầu của bản thân, qua những ham muốn tầm thường, rất nhiều kẻ đã dễ dàng đi vào con đường tội lỗi. Hàng năm, các trại tù, trại cai nghiện tiếp nhận thêm hàng nghìn tội phạm bị bắt vào trả án. Tiếng súng kết liễu cuộc đời kẻ tử tù cũng vẫn chưa đủ để răn đe những kẻ khác hãy dừng bước lại trước khi quá muộn. Có những người vì hoàn cảnh, vì một số lý do đặc biệt mà phải lao vào con đường kiếm tiền phạm pháp. Cụ thể như một tên ăn trộm lấy lý do cần tiền chữa bệnh cho cha cho mẹ nên mới phải làm liều ăn cắp. Có thể hắn khiến người khác mủi lòng mà thông cảm bỏ qua. Nhưng nghĩ đi cũng phải nghĩ lại, đồng tiền mà hắn đã ăn cắp đâu phải tự dưng mà có được? Người ta cũng phải lao động mới làm ra được đồng tiền. Biết rằng, niềm khát vọng cứu sống người thân là rất đáng trân trọng nhưng thể hiện khát vọng ấy bằng hành động cụ thể lại là một vấn đề khác. Nếu bần cùng quá, họ có thể đi xin tiền giống như nhiều trước hợp khác đã từng có trên thực tế. Muốn cho cái thiện chiến thắng, trước hết, bản thân mình phải là một cá nhân lương thiện. Rồi sau đó, hãy là một người thật mạnh mẽ. Mạnh mẽ phản bác kẻ xấu, mạnh mẽ giải trừ những hành động ác. Tuyệt đối không để bản thân mình bị va vấp phải những hành động xấu. Muốn vậy, trước khi nói hay làm bất kỳ một việc gì, mỗi người hãy tự nhìn nhận, tự suy nghĩ thật kỹ càng, làm thế nào để mang lại hiệu quả tốt nhất, để không làm ảnh hưởng tiêu cực đến mọi người xung quanh. Đồng thời, mọi người cũng đừng rời xa, đừng xa lánh hay hắt hủi những kẻ tội lỗi đã biết ăn năn quay trở về con đường lương thiện. Biết sai mà sửa sai mới là người đáng khen. Giữa xã hội này, ai cũng muốn được sống bình yên, được ấm no hạnh phúc. Vậy trước tiên, đừng đi phá hoại cuộc sống đang yên bình của người khác. Hãy chăm lo thật tốt cho bản thân mình, rồi ngăn chặn những hành động xấu, cùng nhau đoàn kết, cùng giải trừ những thói hư tật xấu, hùng hướng đến sự chiến thắng chính đáng của cái thiện như nó đáng được chiến thắng. Mỗi người hãy tự là ông Bụt của cuộc đời mình, tự mình giải cứu mình khỏi những khó khăn, những bế tắc, để không xa ngã, không rơi vào con đường tội lỗi. Hãy là một cô Tấm hiền ngoan, lương thiện, nhưng hãy mạnh mẽ chứ đừng yếu đuối. Mạnh mẽ để cái thiện luôn luôn chiến thắng cái ác.
Đọc truyện Tấm Cám, anh chị suy nghĩ gì về cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người tốt và kẻ xấu trong xã hội xưa và nay_
1,427
Đọc truyện Tấm Cám, anh(chị) suy nghĩ gì về cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người tốt và kẻ xấu trong xã hội xưa và nay? Hướng dẫn Đọc truyện Tấm Cám, anh(chị) suy nghĩ gì về cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người tốt và kẻ xấu trong xã hội xưa và nay? Bài làm Trong tuổi thơ của chúng ta ai cũng đều được nghe đến câu chuyện Tấm Cám. Một câu chuyện cổ tích đã có từ xa xưa nhưng giá trị giáo dục con người thì vẫn còn nguyên vẹn. Tấm một con người hiên lành lương thiện, luôn bị mẹ con Cám những con người độc ác, ích kỉ bắt nạt. Tuy nhiên cái kết của câu chuyện lại là cái thiện chiến thắng cái ác. Chính vì vậy mà nhân dân xưa đã đưa những mơ ước, nguyện vọng, lý tưởng xã hội của mình thông qua chiến thắng tất yếu của cái đẹp, cái thiện vào những câu truyện cổ tích. Cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác trong xã hội xưa được khắc họa qua truyện Tấm Cám.Trong truyện,hoàn cảnh của cô Tấm rất đáng thương,mồ côi mẹ từ nhỏ,phải ở với mẹ con Cám,bị mẹ con Cám bóc lột cả về vật chất lẫn tinh thần.Qua đó,ta phần nào hình dung được sự độc ác,nham hiểm của mẹ con Cám.Khi cô còn ở với họ thì bị tước đọat mọi quyền lợi mà lẽ ra cô xứng đáng được nhận với một nhân cách tốt đẹp như vậy.Sau khi cô trở thành Hoàng hậu,mẹ con họ vẫn không buông tha cho cô,luôn lừa giết cô và cả những lần hóa thân.Từ đó,ta thấy mẹ con Cám là đại diện cho cái ác,cho những điều xấu xa,thấp hèn,trái với lương tâm.Cái ác đó ngày càng lộ liễu,tàn nhẫn với nhiều thủ đoạn.Còn Tấm đại diện cho cái thiện,cho những điều tượng trung cho chính nghĩa,lẽ phải.Cái thiện luôn bị cái ác chèn ép,bắt nạt,hãm hại.Ban đầu,Tấm nhu nhược,bị động,bị hãm hại chỉ biết khóc và trông chờ vào sự giúp đỡ của Bụt.Thế nhưng con người ta khi bị áp bức quá mức,bị dồn vào thế đường cùng,đi quá giới hạn mà lòng chịu đựng cho phép thì sẽ tự vùng lên,đấu tranh kiên quyết với cái ác để giành lại hạnh phúc cho mình. Việc hằng ngày gì ghẻ và Cám luôn ngược đãi cô Tấm đã thể hiện rõ cho chúng ta thấy được mâu thuẫn xã hội đã hình thành từ rất lâu. Từ khi con người hình thành tri thức, cái thiện và cái ác đã cùng song hành trong xã hội. Không nơi nào tồn tại toàn những người tốt, và cũng sẽ chẳng thể có một xã hội với tất cả nhưng công dân xấu cả. Cái tốt cái xấu đã và đang hiện hữu trong mỗi chúng ta, thật sai lầm khi chúng ta sống mà chỉ cố gắng làm điều tốt! Người tốt thật sự là người biết tự nhìn nhận ra những sai lầm của bản thân và tránh lập lại chúng. Trong xã hội hiện đại ngày nay,cuộc đấu tranh ấy vẫn không ngừng nghỉ,vẫn đầy cam go,quyết liệt.Cái thiện và cái ác vẫn song song tồn tại.Cái ác ngày càng nhiều thủ đoạn tinh vi hơn,nham hiểm hơn.Các quan chức nhà nước biến chất dựa vào quyền lực và địa vị để tham ô,ăn hối lộ,vùi dập những người dám đấu tranh.Tiêu biểu như ông Nguyễn Đức Kiên_phó chủ tịch hội đồng quản trị ngân hàng ACB đã có những hành vi thu lợi nhuận bất chính,gây rối loạn thị trường tiền tệ,ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc thực hiện chính sách tài chính của chính phủ.Gới xã hội đen bất chấp luật pháp,dùng bạo lực và đồng tiền để thực hiện các hành vi phạm pháp,khống chế người khác,chà đạp nhằm mục đích buôn bán chất cấm,phụ nữ và trẻ em,… Những kẻ tha hóa,biến chất,lười lao động,ăn chơi xa đọa,sẵn sàng làm ất cứ chuyện gì trái với đạo nghĩa làm người để thỏa mãn mục đích cá nhân ích kỉ,xấu xa,bì ổi của mình mà không thèm quan tâm đến hậu quả về sau.Cuộc đấu tranh trong bản thân mỗi người để chống lại thói hư tật xấu như tham lam,ích kỉ,gian lận,…mới là gay go nhất bởi vì trong mỗi con người luôn tồn tại hai mặt tốt và xấu. Từ khi con người hình thành tri thức, cái thiện và cái ác đã luôn cùng song hành với nhau trong xã hội. Cái thiện là tất cả những gì có vai trò tích cực, có tác động thuận lợi trong đời sống của con người và toàn xã hội. Cái ác là tất cả những gì gây trở ngại và có hại cho con người và xã hội. Cái thiện và cái ác là hai mặt đối lập nhau nhưng lại là một chỉnh thể. Nguồn: Bài văn hay
Đọc truyện Tấm Cám, anh(chị) suy nghĩ gì về cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người tốt và kẻ xấu trong xã hội xưa và nay_
834
Đọc truyện Tấm Cám, em suy nghĩ gì về cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người tốt và kẻ xấu trong cuộc đời xưa nay? Hướng dẫn Đọc truyện Tấm Cám, em suy nghĩ gì về cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người tốt và kẻ xấu trong cuộc đời xưa nay? Bài làm Mỗi người dân Việt Nam không ai là chưa từng biết đến truyện cổ tích Tấm Cám. Đó là một câu truyện cổ tích với nhiều chi tiết đau thương, bi thảm, phản ánh rõ nét sự đấu tranh không khoan nhượng giữa cái thiện và cái ác trong cuộc sống. Từ truyện Tấm Cám, mỗi người đều sẽ rút ra cho mình một suy nghĩ riêng về thiện ác trong cuộc sống, dù là xưa kia hay hiện nay, thì cái thiện và cái ác luôn song hành. Đọc Tấm Cám, ta ấn tượng bởi phẩn đầu của truyện rất gần gũi và giống với cuộc sống của chúng ta: đó là bi kịch cuộc sống của Tấm với đầy nước mắt, một đứa trẻ mồ côi phải sống cùng một mụ dì ghẻ độc ác và người em gái cùng cha khác mẹ được nuông chiều nên bản tính xấu xa. Cô Tấm hiền lành phải làm lụng vất vả từ sáng đến tối nhưng vẫn không được yên, vẫn bị mụ dì ghẻ đánh đập hành hạ. Còn Cám thì không phải làm gì, chỉ suốt ngày ăn trắng mặc trơn, không quan tâm đến mọi việc xung quanh thế nào. Không chỉ vậy, mẹ con Cám còn ghen ghét, đố kị, muốn giành được mọi thứ của Tấm. Vì thế nên chỉ một niềm vui nhỏ bé của Tấm là con cá bống, hai mẹ con Cám cũng giết chết, để cho Tấm không còn nơi trút bầu tâm sự mỗi ngày. Rồi mụ dì ghẻ trộn gạo và thóc lẫn nhau, bắt Tấm phải ngồi nhặt để nàng không được đi hội. Hành động này đã chỉ rõ thói ghen ghét xấu xa, nhỏ nhen của mẹ con Cám. Mụ dì ghẻ chắc mẩm rằng, dù Tấm có kịp đi hội thì nàng cũng không thể đi được, bởi nàng không có quần áo đẹp, chỉ có bộ quần áo rách mặc trên người mà thôi. Mấy đời bánh đúc có xương Mấy đời dì ghẻ lại thương con chồng. Đó là chuyện thường thấy trong xã hội từ xưa đến nay. Dì ghẻ vẫn là những con người độc ác, không có tình thương, lòng bao dung vị tha đối với con chồng. Những người dì ghẻ như mẹ của Cám, là điển hình trong xã hội, và thường bị người đời khinh thường, căm ghét. Khổ sở là thế, nhưng cuộc đời của Tấm vẫn còn có hy vọng, nhờ sự xuất hiện giúp đỡ của Bụt, người đã khiến cho Tấm bớt khổ sở hơn. Bụt đã mang đến chú cá bống cho Tấm làm bầu bạn, rồi chính xương của chú cá bống đó đã trở thành quần áo đẹp cho Tấm đi chơi hội. Nhờ có Bụt mà Tấm có được tất cả, có được hoàng tử và được sống hạnh phúc suốt cuộc đời sau này. Bụt chính là hiện thân của cái thiện, là niềm mơ ước, khát khao của người dân về một cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Chúng ta hãy biết ước mơ những gì chúng ta chưa có, chưa đạt được, và cố gắng thực hiện ước mơ đó. Những mơ ước của Tấm được Bụt giúp đỡ trở thành hiện thực, cũng giống như niềm tin của con người trong cuộc sống, chỉ cần sống lương thiện, chắc chắn chúng ta sẽ nhận được sự giúp đỡ, gặp được may mắn và đạt được điều mình mong muốn. Phần tiếp theo của truyện, ta có thể nhận thấy cuộc đấu tranh không khoan nhượng của cái thiện và cái ác trở nên rõ rệt hơn bao giờ hết, càng về sau càng khốc liệt hơn. Hai mẹ con Cám tìm đủ mọi cách, bày mưu tính kế để hãm hại Tấm, không cho Tấm dành được vinh hoa phú quý và được sống hạnh phúc. Ngày Tấm về quê làm giỗ cho cha, mụ dì ghẻ lừa Tấm leo lên cây cau rồi ở dưới chặt gốc cau, khiến Tấm lộn cổ xuống ao mà chết. Sau đó mụ đưa Cám vào cung thay cho Tấm. Tấm chết cũng không yên lòng, hóa thành chim vàng anh đến bên vua, mang lại niềm vui cho vua mỗi ngày. Thấy thế, Cám liền bắt vàng anh giết thịt rồi đem chôn lông chim ở sau vườn. Chỗ lông chim đó mọc lên hai gốc xoan đào rất đẹp, nhà vua liền cho người mắc võng để nằm hóng mát bên gốc xoan đào. Cám cũng không để yên, liền cho người chặt cây xoan đào, lấy gốc đóng làm khung cửi. Nhưng mỗi lần Cám ngồi vào khung cửi thì chợt nghe thấy tiếng Tấm nguyền rủa mình: Cót ca cót két Lấy tranh chồng chị Chị khoét mắt ra! Sợ quá, Cám liền đốt khung cửi rồi đem tro đi đổ. Đống tro lại mọc lên cây thị xanh tốt, đơm hoa kết trái sum suê. Nhưng cây lại chỉ có một quả thị trên cành, tỏa hương ngào ngạt khắp nơi. Một bà lão hàng nước hiền lành đi qua, thị liền rụng vào bị bà…Và từ đây, cô Tấm hiền hậu, xinh đẹp được tái sinh, bước ra từ trong quả thị, khiến cho bà lão vui vẻ và thương yêu Tấm như con đẻ. Nhà vua cũng nhờ có trầu têm cánh phượng mà nhận ra Tấm, hai người trở về bên nhau sống hạnh phúc suốt đời. “ Tấm Cám” thật sự là một câu truyện thể hiện rõ nét nhất cho sự chiến tranh không khoan nhượng giữa cái thiện và cái ác. Từ “ Tấm Cám” chúng ta rút ra được rằng, cái thiện và cái ác từ bao đời nay vẫn luôn song hành với nhau, nhưng có một chân lý không thay đổi, đó là cái thiện luôn chiến thắng cái ác.
Đọc truyện Tấm Cám, em suy nghĩ gì về cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác, giữa người tốt và kẻ xấu trong cuộc đời xưa nay _
1,033
Đọc truyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng” của Puskin và kể lại theo ngôi thứ nhất lời của ông lão đánh cá Gợi ý DÀN Ý ĐẠI CƯƠNG 1. TÌM HIỂU ĐỀ Đây cũng là một đề làm văn kể chuyện tưởng tượng. Nhưng ở đây câu chuyện nhân vật, sự việc đã có sẵn, điều mà đề yêu cầu là học sinh tưởng tượng mình là người kể chuyện hơn nữa, thay mặt một nhân vật trong truyện kể, cụ thể là ông lão đánh cá, một nạn nhân của bà vợ tham lam. 2. SUY NGHĨ ĐỂ TÌM Ý, LẬP Ý Muốn kể chuyện này theo ngôi thứ nhất của ông lão đánh cá thì trước hết em hãy tập đặt mình vào vai ông lão, tập nhìn theo mắt ông lão, thể hiện những tình cảm khổ sở của ông lão. Nhìn theo mắt ông lão, em vẫn có hai cách kể. Một là kể theo trình tự của truyện từ đầu đến cuối, hai là kể theo kết cục, rồi hồi tưởng lại kể từ đầu. Kể theo lời ông lão thì phải đưa ra những nhận xét từ phía ông lão, nói ra những lời khổ tâm, bất đắc dĩ của ông. 3. DÀN BÀI SƠ LƯỢC a) Mở bài: Ông lão đánh cá (“tôi”) tự giới thiệu về nghề nghiệp và gia đình mình. b) Thân bài: Chuyện con cá vàng và các điều ước. c) Kết bài: “Tôi” tự nhận xét hành động của mình sau khi trở về với cái máng lợn nát. 4. DÀN BÀI CHI TIẾT a) Mở bài: – Tôi tự giới thiệu về nghề nghiệp mình. – Kể chuyện một lần đi, kéo lưới bắt được con cá vàng và được điều ước, nhưng bỏ qua. b) Thân bài – Tôi bị vợ mắng và ra biển gặp cá xin cái máng mới. – Tôi bị mắng và ra biển gặp cá xin được nhà mới. – Tôi bi mắng và ra biển xin cho vợ làm bà lớn nhất phẩm phu nhân. – Tôi bị vợ mắng và ra biển gặp cá xin cho vợ được làm Nữ hoàng. – Tội bị mắng và ra biển xin cho mụ làm Long Vương. – Tôi trở về và trở lại cảnh nghèo với cái máng nát. c) Kết bài: “Tôi” nghĩ về sự đời tham thì thâm, về việc hành động thiếu suy nghĩ của mình. BÀI LÀM Tôi làm nghề đánh cá ở ven biển này đã lâu, nhưng cuộc sống nghèo lắm. Cho đến nay đã già mà gia tài chỉ là ngôi nhà nát, đồ dùng cũ kĩ. Một hôm tôi ra biển đánh cá, kéo lưới mãi mà không được gì. Lần đầu được ít bùn, rác, lần thứ hai được ít rong biển, lần thứ ba được con cá vàng nhỏ bé, nó xin tha mạng và hứa muốn gì nó sẽ cho. Tôi bảo: trời phù hộ cho ngươi, ra bể mà vẫy vùng, rồi thả con cá xuống biển. Tôi về nhà kể lại chuyện đó cho mụ vợ tôi, thì mụ lồng lên, chửi mắng tôi thậm tệ: “Sao ngu thế, sao lại không xin gì, ít ra thì cũng xin một cái máng mới, không thấy cái máng cho lợn ăn nhà ta đã nát rồi sao?” Tôi về nhà thì thấy cái máng mới. Tưởng mụ vợ vui mừng, ai ngờ mụ thấy tôi thì chửi liền: “Ông vẫn ngu quá, đã xin được thì xin luôn cái nhà mới cho rộng rãi, tội gì chui rúc mãi vào cái nhà nát này! Đi mau, đi mà xin nhà”. Tôi lại cặm cụi ra biển, gọi cá vàng lên và nói nguyện vọng của mụ vợ tôi. Cá vàng bảo tôi hãy yên tâm, rồi lặn mất. Tôi vừa về đến nhà thì một ngôi nhà mới, cao, rộng, đã thay thế ngôi nhà rách nát. Mụ vợ đang ngồi bên cửa sổ, thấy tôi vào, lại mắng oang oang: “Sao ngu hoài vậy? Chỉ xin nhà thôi à? Phải xin cho tôi được làm nhất phẩm phu nhân, tôi chán làm mụ nông dân quèn này lâu rồi. Đi mau!”. Tôi lại lóc cóc đi ra biển, gọi cá vàng lên và bảo nó ý muốn của mụ vợ tôi. Cá vàng an ủi tôi: “Đừng băn khoăn quá. Hãy về đi!” Tôi về nhà thì quả nhiên mụ vợ tôi đã thành phu nhân đệ nhất, nhà cửa nguy nga, kẻ hầu người hạ tấp nập, mụ già liền quát tháo: “Lão kia chỉ xin cho ta làm phu nhân thôi à? Ta muốn làm Nữ hoàng kia! Đi mà bảo con cá, không thì ta đánh lão chết”. Tôi hoảng quá, làm Nữ hoàng có phải chuyện đùa đâu? Nhưng chẳng biết làm sao, đành lại đi ra biển. Tôi gọi con cá và bảo nó ý muốn của mụ vợ tôi. Cá bảo tôi đừng hoảng sợ, cứ về đi rồi đâu sẽ vào đấy. Tôi sợ quá, chưa biết làm sao, thì mụ đã sai lính đưa tôi ra biển. Tôi nói với cá ý muốn của mụ vợ, thì cá chẳng nói gì, lặn mất. Tôi chờ hồi lâu rồi trở về. Trước mặt tôi với gian nhà cũ kĩ với cái máng lợn nát. Mụ vợ tôi già nua, cáu gắt ngồi bên thềm nhà. Mụ có vẻ thẹn, không dám nhìn tôi, còn tôi thì vừa mừng vừa chán. Mừng vì chặn được ước mơ ngông cuồng của mụ vợ, nhưng chán vì thân phận nghèo lại vẫn hoàn nghèo. Tôi nghĩ tiếc những lời hứa của con cá vàng mà tôi đã sử dụng một cách phí phạm. Tôi đã quá quen với cuộc sống nghèo túng đến nỗi không có ý muốn đổi đời. Cho nên khi có dịp đã không biết tận dụng. Tôi lại cũng quá hèn, cứ chạy đi chạy lại làm đầu sai cho mụ vợ tham lam mà chẳng nghĩ được việc gì hay hơn, sáng suốt hơn. Việc này không thể chỉ một mực trách cứ mụ vợ tham lam được! “Tôi thật ngốc quá, hèn quá!”.
Đọc truyện “Ông lão đánh cá và con cá vàng” của Puskin và kể lại theo ngôi thứ nhất lời của ông lão đánh cá
1,003
Đọc trên báo thấy một bài viết rất hay của một bạn nhỏ, em hãy viết thư làm quen và hẹn nhau cùng thi đua học tốt Gợi ý Hà Nội, Ngày..tháng… năm… Bạn Nhung thân mến! Chắc bạn sẽ bất ngờ khi nhận được lá thư của tớ, một người bạn chưa hề quen biết. Nhưng tớ tin qua những cánh thư, chúng mình sẽ làm bạn của nhau. Trước hết, tớ xin tự giới thiệu vài nét về mình nhé. Tớ tên là Mi Mi, học sinh lớp 3, hiện tớ đang sinh sống ở Hà Nội. Hôm trước, tớ có đọc báo và rất thích mục “Những trang văn học trò”. Nhung có biết không, khi đọc đến bài “Mẹ em” của bạn, tớ đã bị cuốn hút và suýt bật khóc đấy. Bởi những dòng văn của bạn viết không chỉ hay mà còn chứa đầy cảm xúc chân thành. Tớ tự nhủ, có lẽ ít ai có thể viết lên được những điều đơn giản nhưng hết sức thiêng liêng đó. Tớ cũng rất yêu thích văn và cũng viết khi có thời gian rảnh. Vì vậy, tớ quyết định viết thư cho bạn. Qua lá thư đầu tiên này, tớ hi vọng bọn mình có thể làm bạn của nhau, cùng nhau phấn đấu trong học tập và cùng nhau viết được những trang văn hay, ý nghĩa tặng bố mẹ, thầy cô…. Biết đâu, bọn mình còn gặp nhau trên báo nữa. Tớ rất mong muốn được thực hiện những điều đó. Còn Nhung thì sao? Tớ mong sẽ nhận được thư hồi âm của bạn. Người bạn mới Mi Mi
Đọc trên báo thấy một bài viết rất hay của một bạn nhỏ, em hãy viết thư làm quen và hẹn nhau cùng thi đua học tốt
271
Đọc và tưởng tượng kể về chú ong xa nhà Hướng dẫn Một chú ong mê mải hút nhụy hoa, không hay biết trời đang sập tối, ong không về nhà được. Sớm hôm sau, khi trở về gặp các bạn, ong đã kể lại câu chuyên nó xa nhà đêm qua. Em hãy tưởng tượng và kể lại câu chuyên của chú ong xa nhà đó. GỢI Ý -Phần mở đầu nói về tình huống xảy ra câu chuyên (như đề bài cho) -Phần chính: nói về những sự việc may mắn, những lực lượng hỗ trợ, giúp ong nghỉ ngơi qua đêm: bông hoa mời ong chui vào giữa cánh và khép lại thành ngôi nhà cho ong ngủ. Hoặc nói về những khó khăn thử thách đối với ong khi trời tối, đêm về: Ong bơ vơ không có chỗ ngủ, đến trú tạm ở đâu đó nhưng lại bị kẻ khác quấy rầy, đe dọa. -Phần kết thúc: Bộc lộ thái độ biết ơn của ong đối với người đã giúp đỡ mình hoặc lúc ong vượt qua thử thách rồi bay về nhà khi trời sáng. Chú ý làm rõ ý nghĩa của câu chuyện: Ca ngợi tấm lòng nhân hậu của bông hoa; bài học về ý chí và nghị lực vượt qua thử thách của bạn ong. XEM TIẾP TẠI ĐÂY Tags:tập làm văn 4 · Tiếng Việt 4
Đọc và tưởng tượng kể về chú ong xa nhà
227
Đọc đoạn văn và hình dung để kể điều xảy ra với con chim trong đêm – Tập làm văn 4 Hướng dẫn Suốt đêm trời mưa to gió lớn. Sáng ra, ở tổ chim chót vót trên cành cao, con chim lớn lông cánh ướt, mệt mỏi nhích sang bên để chú chim nhỏ mở bừng mắt đón ánh mặt trời. Chuyện gì đã xảy ra với hai con chim trong đêm qua? Em hãy hình dung và kể lại. GỢI Ý VD đoạn văn viết về diễn biến câu chuyện qua lời “tự kể” của chú chim nhỏ: Trời càng mưa to hơn, gió thổi ào ào ngoài bụi chuối, tiếng sấm nổ vang tai nghe thật hãi hùng. Tôi cảm thấy mình như đang đi giữa một bãi chiến trường ác liệt. Sét chạy loằng ngoằng như một con rắn lửa. Những lão ếch bây giờ đang ngoác miệng gọi nhau tụ họp ở một nơi hồ ao nào đó. Còn những nghệ sĩ dế thì đua nhau kéo vĩ cầm. Xen lẫn vào đó là một thế giới côn trùng kêu loạn xị. Gió càng nổi lên to hơn nghe thật là kinh sợ. Những cây thông khác đang rạp mình vật lộn với gió. Lúc này, tôi cảm thấy chiếc tổ của mình mỏng manh quá, chắc chỉ một cơn gió nữa là nó có thể rơi xuống đất. Tôi sợ quá nhắm nghiền mắt lại XEM TIẾP TẠI ĐÂY Tags:Tiếng Việt 4
Đọc đoạn văn và hình dung để kể điều xảy ra với con chim trong đêm – Tập làm văn 4
240
Đức tính khiêm tốn Hướng dẫn Đức tính khiêm tốn là đức tính cần có ở mỗi con người Mở bài: Muốn được người khác yêu mến và kính trọng ta cần phải khiêm tốn. Khiêm tốn, giản dị là một trong những đức tính quan trọng nhất của con người. Thân bài: Khiêm tốn là gì? Khiêm tốn (hay còn gọi là khiêm nhường, khiêm cung) là sự kính nhường, có ý thức và thái độ đúng mực trong việc đánh giá bản thân. Khiêm tốn là không kiêu căng, tự mãn, không tự cho mình là hơn người khác, luôn hướng về phía tiến bộ. Khiêm tốn cũng là không ngừng học hỏi ở người khác và trong cuộc sống. Người có đức tính khiêm tốn là người như thế nào? Biểu hiện cao nhất của sự khiêm tốn là lòng biết ơn. Người khiêm tốn luôn thể hiện sự trân trọng và tri ân của mình đối với thành quả lao động. Bởi đó là kết tinh của sức lực và tinh thần, của tình yêu thương và trách nhiệm đối với cuộc sống mà bản thân mình phải giữ gìn. Người có đức tính khiêm tốn là người biết kính trên nhường dưới, không tự mãn về những gì mình có. Họ không kiêu ngạo về những gì mình làm, luôn cẩn thận gìn giữ những giá trị mình nhận được. Người có đức khiêm tốn thường rấy nhã nhặn, biết sống một cách nhún nhường, luôn luôn hướng thượng, tự khép mình vào những khuôn thước của cuộc đời. Người khiêm tôn luôn đề cao tri thức và sự hiểu biết, hoài bão của cá nhân là tiến mãi không ngừng. Chủ đích của người khiêm tốn là không khoe khoang, không tự đề cao cá nhân mình với người khác.. Người có lòng khiêm tốn luôn khiêm nhường học hỏi, theo đuổi tận cùng các giá trị tốt đẹp. Họ luôn biết tôn trọng tri thức, con người và đề cao những gì tốt đẹp, chuẩn mực trong cuộc sống. Người khiêm tốn cũng luôn giữ gìn nhân cách lành mạnh và cao thượng. Người có sẵn tính khiêm tốn không bao giờ chịu chấp nhận sự thành công của cá nhân mình trong hoàn cảnh hiện tại. Lúc nào cũng cho sự thành công của mình là tầm thường không đáng kể. Họ luôn luôn tìm đủ mọi phương diện để học hỏi thêm lên. Họ luôn là người giàu khát vọng, có ý chí vươn cao, vươn xa đạt được những thành tựu lớn lao và cống hiến hết mình cho xã hội. Tại sao sống phải có lòng khiêm tốn? Khiêm tốn là một trong những đức tính tiêu biểu, cao quý của con người, là một mẫu đức của dân tộc ta. Đây cũng là một đức tính quý báu của cha ông ta. Người sống có lòng khiêm tốn luôn được người khác kính trọng, yêu thương và giúp đỡ. Bởi thế người có đức tính khiêm tốn luôn dễ thành công trong cuộc sống. Người có đức tính khiêm tốn không bao giờ biểu lộ sự tự mãn về những gì mình có, mình biết. Nhờ vậy dễ tạo được sự đồng cảm và mối quan hệ thân thiện với người khác trong giao tiếp, nên kết giao được với nhiều người. Sống có lòng khiên tốn sẽ giúp ta loại bỏ mọi thói hư tật xấu, thanh lọc tâm hồn, nâng cao nhân cách, tăng cường tình yêu cuộc sống và niềm tin tưởng vào con người. Tri thức là vô tận, bởi thế phải khiêm nhường học hỏi để tiến bộ. Sự kiêu căng có thể làm hỏng cả một thiên tài. Không biết thỏa mãn, đố kị, ghen tuông với thành tự của người khác sẽ khiến ta thấp hèn, đau khổ. Sống có lòng khiêm tốn sẽ khiếm ta bình tâm vượt qua trở ngại, hạn chế được những vấp váp do vội vã trên đường đời. Sống có lòng khiêm tốn sẽ giúp ta có đủ thời gian để cảm nhận và thêm yêu cuộc sống, biết trân trọng các giá trị hiện có và nhìn rõ được những cơ hội ở tương lai. Những tấm gương sáng về đức tính khiêm tốn: Các bậc vĩ nhân đều là những tấm gương sáng ngời về đức khiêm tốn. Dù đạt nhiều thành tựu trong cuộc đời, cống hiến hết mình cho sự tiến bộ của xã hội nhưng hầu hết họ đều xem như thế là chưa đủ. Họ suốt đời học hỏi, tìm tòi và sáng tạo. Bởi thế, nhà bác học Dacuyn đã từng ân cần khiêm tốn nói với con gái: “Bác học không cón gnhiax là ngừng học” biểu hiện rực rỡ tính khiêm tốn ở con người. Bác Hồ của chúng ta là một người khiêm tốn, thậm chí rất khiêm tốn. Giữ chức vụ cao nhất của Nhà nước ta, là một trong những lãnh tụ xuất sắc của phong trào cách mạng thế giới. Người được ghi nhận là “Anh hùng giải phóng dân tộc của Việt Nam, nhà văn hóa kiệt xuất”, nhưng Người vẫn chỉ xem mình là một nhà cách mạng chuyên nghiệp phục vụ nhân dân với lòng khiêm tốn vô hạn. Tấm gương cuộc đời Bác là một định nghĩa hết sức sinh động về sự khiêm tốn. Làm thế nào để rèn luyện đức tính khiêm tốn? Để rèn luyện được tính khiêm tốn trước hết phải sống bao dung. Sống bao dung giúp ta nhận rõ lẽ đúng sai, hơn kém. Người khiêm tốn phải biết trân trọng con người và hành động đúng đắn đem lại lợi ích thiết thực trong cuộc sống. Hãy biết ơn và biết trân trọng những giá trị hiện có trong cuộc sống. Sống biết thể hiện lòng thành kính đối với các bậc cha ông đi trước đã có công tạo dựng cuộc sống cho chúng ta thụ hưởng. Lòng biết ơn giúp ta nhận ra những thiếu sót của mình. Nó giúp ta biết tha thứ cho lỗi lầm của người khác và chân thực nhìn ra những khía cạnh của mình một cách đúng đắn nhất. Biết kính trọng người giỏi (hiểu biết hơn mình) và nhường nhịn giúp đỡ người yếu (chưa biết) hơn mình. Chăm chỉ học hỏi trau dồi bản thân, luôn cầu thị sự hiểu biết, không cầu thị sự thể hiện. Biết ơn những gì mình đã nhận được. Biết ơn mọi người xung quanh mình, vì có họ mới có tổ chức, có môi trường của mình, và mới có sự tồn tại của mình ở đây. Tất cả vì sự hoàn thành mục tiêu công việc, vì đó là thước đo giá trị của bản thân mình, không vì sự thỏa mãn, vì sự thể hiện hay vì lợi ích cá nhân. Ham học hỏi, khiêm nhường học hỏi, chia sẻ kinh nghiệm, giúp đỡ người khác thành công là bí quyết thành công của các thiên tài. Hiểu như thế chúng ta mới thấy rằng, bản chất thật của con người thì quí trọng hơn những giá trị chóng qua bên ngoài. Vì thế, tập luyện sống khiêm tốn đúng mức sẽ giúp chúng ta đi tới sự thật ấy. Khiêm tốn sẽ sinh hoa quả bình an, tự tại. Kết bài: Khiêm tốn là một đức tính cần có ở mỗi người. Mỗi chúng ta ngày nay với những con người có tài năng thì hãy biết xây dựng bồi đắp và rèn luyện cho mình đức tính khiêm tốn này. Bởi vì chỉ có thế thì bạn mới được lòng những người xung quanh mình và nhận lại những cái mình học hỏi từ họ. Kể cả sự kính trọng yêu mến của họ dành cho mình nữa. Nghị luận về đức tính trung thực
Đức tính khiêm tốn
1,293
Đứng giữa đất Côn Lôn (Về bài thơ Đập đá ở Côn Lôn của Phan Châu Trinh) – Bình giảng Ngữ Văn 8 Hướng dẫn Đứng giữa đất Côn Lôn Như ta đã biết, vào những năm đầu thế kỉ XX, cùng hoạt động cứu nước, cùng sáng tác văn chương, bên cạnh cụ Phan Bội Châu có một số chí sĩ yêu nước khác cũng rất đáng kính, trong đó, nổi bật là cụ Phan Châu Trinh. Chặng đường hoạt động của cụ Châu Trinh ngắn hơn cụ Bội Châu. Năm 1908, cụ đã bị giặc bắt, rồi bị đày ra Côn Đảo. Tại đây, Phan Châu Trinh đã sáng tác một số bài thơ nổi tiếng. Trong đó nhiều người biết đến nhất là bài Đập đá ở Côn Lôn. So với bài Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác của Phan Bội Châu, Đập đá ở Côn Lôn ra đời trước sáu năm. Xa cách về thời gian, về không gian, nhưng cảnh ngộ tác giả – người anh hùng chí lớn bị mất tự do – nhất là bản lĩnh làm người của hai nhà thơ thì tương tự, nên tác phẩm có đôi ba nét tương đồng. Nét tương đồng dễ thấy giữa hai bài thơ là về thể thơ, cả hai đều là thơ Nôm thất ngôn bát cú Đường luật ; về đề tài, cả hai đều là thơ viết trong tù vượt trên xiềng xích, nói lên chí hướng, lí tưởng, tự hoạ chân dung nhân cách của chính mình ; về giọng điệu, cả hai đều là thơ khẩu khí hào hùng, mạnh mẽ, đậm chất anh hùng ca,… Tất nhiên, xét về nội dung, ngôn từ, hình ảnh,… cụ thể của tác phẩm, Đập đá ở Côn Lôn khác với Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác. Điểm sáng chói nhất trong bài thơ của cụ Phan Châu Trinh là hình tượng một đấng tài trai hiên ngang, ngạo nghễ vung cao chiếc búa… đứng giữa đất Côn Lôn rải rác đá hòn, đá tảng và bời bời sóng gió đại dương Bài thơ có bố cục quen thuộc của thơ Đường luật: đề, thực, luận, kết. Tuy nhiên nếu ta quan sát kĩ hình tượng nhân vật trữ tình – cũng là hình ảnh nhà thơ – ta thấy có hai nét nổi bật: 1. Bốn câu đầu khắc hoạ dáng vẻ bề ngoài của bức chân dung: Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn, Lừng lẫy làm cho lở núi non. Xách búa đánh tan năm bảy đống, Ra tay đập bể mấy trăm hòn. Hai câu đề trực tiếp miêu tả người đập đá, tư thế, địa điểm, sức mạnh của động tác và hiệu quả công việc, thật rõ ràng. Đó là một đấng nam nhi, đứng hiên ngang giữa “đất Côn Lôn”… Nói tới Côn Lôn, mọi người Việt Nam thuở ấy đều hiểu rằng đây là “Côn Đảo”, mảnh đất giữa đại dương mênh mông, nơi thực dân Pháp dùng để xây nhà tù, giam cầm, đày đoạ những người yêu nước đứng lên chống lại chúng. Cho nên, hình ảnh “Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn” dễ dàng làm cho người đọc nghĩ tới một con người hiên ngang, ngạo nghễ giữa tù ngục, xiềng xích. Người trai ấy đang làm gì? Thì ra người đang đập đá. Câu thứ nhất tĩnh, xuống câu thứ hai chuyển sang nét động. Từ lừng lẫy đầu câu chưa thật rõ nghĩa. Nhưng đến cụm từ sau “làm cho lở núi non” thì ý thơ mở ra, hình tượng nhân vật hiện lên oai phong lẫm liệt như một vị thần. Ngỡ như vị thần ấy đang xẻ núi, khơi sông để sắp xếp lại núi non, trời đất. Trong thực tế, phan Châu Trinh đang phải làm lao dịch khổ sai, đập đá, chuyển đá để làm đường, xây nhà,… theo sự ép buộc của bọn cai ngục, sự quản thúc của bọn lính ngục. Đó là công việc chẳng hứng thụ gì nếu không nói là vô cùng cực khổ. Vậy mà, tác giả lại nói như thế, viết như thế. Thật là những câu thơ lãng mạn của một bản lĩnh người anh hùng vượt lên trên mọi đau khổ của cuộc đời, để khẳng định phong cách làm người, một phong cách sống. Đến hai câu thực, phong cách sống ấy bộc lộ rõ nét hơn nữa: Xách búa đánh tan năm bảy đống, Ra tay đập bể mấy trăm hòn. Về nghĩa tả thực, cũng như nghĩa tượng trưng, bóng bẩy, ta có cảm giác người tù – vị thần ấy đang làm việc hết mình, tung hoành, ngang dọc, đập phá quyết liệt cái đối tượng mà mình đang đối mặt. Hình ảnh đối xứng hài hoà, kết hợp các từ ngữ nôm na vừa chạm khắc chân dung nhân vật, vừa ngân vang âm thanh, nhịp điệu của công việc. Hoá ra, đây đâu phải việc đập đá tầm thường như kẻ địch ép buộc người tù mà chính là việc biến cải càn khôn, vũ trụ của người dũng sĩ phá tan những gò đống, đập vỡ những tảng, những hòn ngăn cản đường đi… Cặp cụm từ đánh tan, đối xứng với đập để vang lên, nghe thật sướng tai! Có thể nói, bốn câu thơ đầu của bài thơ Đập đá ở Côn Lôn thiên về miêu tả ngoại hình nhân vật trữ tình – cũng là hình ảnh Phan Châu Trinh khi phải làm khổ sai ở Côn Đảo. Nhưng nhà thơ không dùng bút pháp tả thực mà phóng bút, dùng tưởng tượng và nghĩ suy để tự hoạ chân dung mình. Do đó, từ một việc bình thường, thậm chí tầm thường, khổ cực, tác giả đã nâng lên miêu tả hình ảnh một con người phi phàm, một anh hùng thần thoại đang thực hiện sứ mệnh thiêng liêng: khai sông, phá núi, vạt đồi, chuyển đá để tạo dựng càn khôn đổi thay vũ trụ… công việc ấy lẫy lừng, vang động cả đất Côn Lôn. 2. Sang đến bốn câu sau – hai câu luận và hai câu kết, nhà thơ chuyển giọng từ miêu tả tung phá sang suy nghĩ lắng sâu: Tháng ngày bao quản thân sành sỏi, Mưa nắng càng bền dạ sắt son. Những kẻ vá trời khi lỡ bước, Gian nan chi kể việc con con! Đây là những lời tự nhủ, tự động viên mình hãy vững vàng trước những khó khăn, thử thách. Hai câu luận cũng có hai cặp đối xứng khá chật chẽ: “tháng ngày” – “mưa nắng” ; “thân sành sỏi” – “dạ sất son”. Ý thơ mở rộng, không chỉ nói việc đập đá mà khái quát thời gian, không gian, những “nắng mưa”, bão tố của cuộc đời đang đợi mình phía trước. Đấy là nhà tù, là gông xiềng, tra tấn, là nối tiếp những lao dịch khổ sai, những cơ cực gấp bội phần việc đập đá. Nhưng, tất cả, mình đều chấp nhận, thậm chí đều coi là điều kiện, là trường học để tôi, luyện cho thân thêm “sành sỏi”, cứng rắn hơn, cho dạ “sắt son”, lòng trung thành với dân với nước càng bền vững hơn. Nghe được những tiếng tự tình như thế của nhà thơ, ta phát hiện thêm một vẻ đẹp nữa của thơ. Đó là hai cặp tiểu đối khá tinh tế: Tháng ngày – biểu tượng cho sự thử thách kéo dài đối chọi với “thân sành sỏi” ; Mưa nắng – biểu tượng cho những gian khổ ở đời đối chọi với “dạ sắt son”. Đồng thời, ta còn nhận ra nghệ thuật ẩn dụ cũng khá thú vị của hai câu thơ. Dùng hai hình ảnh “sành sỏi” và “sắt son”, vốn rất gần gũi cuộc sống đời thường ngầm ví với bản lĩnh tinh thần và sức lực của con người khiến cho thơ mang âm điệu dân dã mà vẫn trang trọng, dễ hiểu. Đến hai câu kết lại xuất hiện một ẩn dụ nữa cũng đậm tính dân gian và cũng rất ấn tượng: Những kẻ vá trời khi lỡ bước, Gian nan chi kể việc con con. Hình ảnh “kẻ vá trời” nhắc người đọc nhớ tới huyền thoại về bà “Nữ Oa đội đá vá trời”. Tự ví mình là kẻ vá trời, tương tự một vị thần kì diệu như thế là cách nói khoa trương, cường điệu. Song ngẫm ra, cũng không phải là quá lời. Bởi vì, sự nghiệp cứu dân cứu nước thoát khỏi ách thống trị của thực dân Pháp hơn nửa thế kỉ mà các cụ Phan Châu Trinh, Phan Bội Châu theo đuổi lúc bấy giờ quả là một việc to lớn, táo bạo, nặng nề và đầy ý nghĩa, chẳng kém gì bà Nữ Oa xưa đội đá vá trời, nhằm đem lại cho nhân dân áo ấm, cơm no. Với hình ảnh vá trời ấy, nhà thơ nhấn mạnh thêm bức chân dung người đập đá ở những câu thơ trên. Đồng thời, cũng muốn ngầm ví công việc khổ sai mà người tù đang phải làm chỉ là việc con con. Như thế, cả về niêm, luật của Đường thi lẫn nội dung, ý nghĩa, hai câu kết đã tô đậm thêm tư thế, bản lĩnh và ý chí của người anh hùng, đấng tài trai đứng giữa đất Côn Lôn. Đốt cho tiêu kiếp tù đầy Cho bừng lửa hận, biết tay anh hùng. Giống cảnh ngộ cụ Phan Châu Trinh, nhà thơ Sóng Hồng khi bị giam ở nhà tù Sơn La phải lên rừng kiếm củi về cho bọn lính ngục đun bếp, đốt lửa,… Từ một việc lao dịch khổ sai như thế, người tù – thi sĩ ấy đã viết nên những vần thơ ngời sáng hào khí anh hùng, thật đáng kính phục. Đọc những vần thơ khẩu khí kiểu Đập đá ở Côn Lôn, Vào nhà ngục Quảng Đông cảm tác hay Lấy củi, chúng ta không chỉ nhìn thấy nét đẹp hình tượng nhân vật trong thơ mà còn ngẫm được nhiều bài học bổ ích từ cách sống, cách nghĩ của tác giả. Hãy sống hết mình, hãy nghĩ phóng khoáng, biến những gian khổ, vất vả trong công việc đời thường thành những hành động hào hứng, những khát khao bay bổng để làm việc hăng hái hơn, sống có ý nghĩa hơn…
Đứng giữa đất Côn Lôn (Về bài thơ Đập đá ở Côn Lôn của Phan Châu Trinh) – Bình giảng Ngữ Văn 8
1,738
Ước nguyện của nhà thơ Thanh Hải qua đoạn thơ “Ta làm con chim hót…Dù là khi tóc bạc” Hướng dẫn Ước nguyện của nhà thơ Thanh Hải qua đoạn thơ “Ta làm con chim hót…Dù là khi tóc bạc” Bài làm Khi đất nước đang trên đà đi lên chủ nghĩa xã hội, hòa nhập với cộng đồng khi cần những con người biết hi sinh, biết cống hiến. Thanh Hải là một trong những nhà thơ tràn đầy nhiệt huyết của tuổi trẻ, dù sức khỏe không tốt. Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” đã phần nào nêu lên ước nguyện nhỏ nhoi nhưng có ý nghĩa lớn đối với đất nước. Đặc biệt trong hai khổ thơ: Ta làm con chim hót Ta làm một nhành hoa Ta nhập cùng hòa ca Một nốt trầm xao xuyến Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi đôi mươi Dù là khi tóc bạc Thật vậy, xuyên suốt bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là niềm vui phơi phới của tác giả trước sự đổi thay mạnh mẽ của đất nước. Một con người đầy nhiệt huyết và khao khát được cống hiến cho đất nước như Thanh Hải thật đáng ngưỡng mộ, trân trọng. Thanh Hải ước nguyện thật đơn giản, mộc mạc nhưng có ý nghĩa khái quát lớn đối với mỗi người, đặc biệt là người trẻ: Ta làm con chim hót Ta làm một nhành hoa Ta nhập vào hòa ca !–> Không mơ ước cao xa, vĩ đại, “ta” chỉ ước những điều nhỏ nhoi, bình dị nhưng không phải người nào cũng có thể làm được. “Con chim hót”, “một nhành hoa”..tưởng chừng là những điều bình dị, đơn giản với vẻ đẹp âm thầm và lặng lẽ nhưng lại có ý nghĩa lớn đối với mạch thơ. Tác giả chỉ nguyện hóa thân thành con chim có thể cất vang tiếng hót làm vui vẻ cuộc sống này, được tự do tung bay đến những chân trời mới phục vụ cho nhân dân. Ước làm một nhành hoa để tỏa hương và khoe sắc làm giàu đẹp và phong phú hơn cho quê hương, đất nước. Mặc dù nguyện ước này có phần lạ kì nhưng nó chân chất và gần gũi với đời sống hằng ngày. Và Thanh Hải còn hi vọng rằng chút cống hiến bé nhỏ của mình sẽ hòa vào biển người rộng lớn, đóng góp vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Ta nhập vào hòa ca Một nốt trần xao xuyến Chỉ là “một nốt trầm” rất nhỏ nhập vào bản hòa ca nhiều thanh sắc cũng đã khiến cho tác giả quá mãn nguyện, quá hài lòng. Chính tấm chân tình của tác giả khiến người đọc không thể kìm được dòng cảm xúc. Và rồi tự Thanh hải nhận mình là “một mùa xuân nho nhỏ” giữa mùa xuân lớn của đất nước. Dù mùa xuân ấy lặng lẽ và âm thầm hi sinh, cống hiến nhưng đó là nguyện ước của một con người khát sống, khát yêu thương. Và những nguyện ước bình dị nhưng lớn lao đó đã thôi thúc tác giả cống hiến mà không đòi hỏi, chỉ lặng lẽ âm thầm như vậy: Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc Một ý niệm về thời gian giàu triết lí nhân sinh. Thời gian là tuổi trẻ hay là tuổi già thì cống hiến vẫn luôn là điều cần thiết, không cần phải có suy nghĩ trẻ mới nên cống hiến. Đó là một tấm lòng rất mực cao cả của Thanh hải. Những lời thơ nhẹ nhàng, chân tình của Thanh hải cùng với nguyện ước bình dị đã lắng lại trong lòng người đọc nhiều dư âm nhất.
Ước nguyện của nhà thơ Thanh Hải qua đoạn thơ “Ta làm con chim hót…Dù là khi tóc bạc”
612
Ước nguyện của Thanh Hải qua hai khổ thơ cuối bài “Mùa xuân nho nhỏ”- Văn lớp 9 Hướng dẫn Ước nguyện của Thanh Hải qua hai khổ thơ cuối bài “Mùa xuân nho nhỏ”- Văn lớp 9 Bài làm Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ của tác giả Thanh Hải được viết những năm cuối đời khi tác giả nằm trên giường bệnh. Lúc này đất nước ta đã hoàn toàn thống nhất, đang trên đà xây dựng xã hội chủ nghĩa, đang trong giai đoạn hòa bình xây dựng mùa xuân sau những năm chiến tranh gian khổ. Trong thân thể nặng nề, bởi sự ốm đau bệnh tật, sức khỏe không được tốt Thanh Hải đang nằm trên giường bệnh, để nhìn ra ngoài cửa sổ sống nốt những ngày cuối cuộc đời. Nhưng Thanh Hải vẫn mong muốn mang những gì tốt đẹp nhất dâng cho đời, như bông hoa ngát hương, như một chú chim ca những khúc ca líu lo, mang niềm vui tới cuộc sống. “Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc Mùa xuân tôi xin hát Câu Nam ai, Nam bình Nước non ngàn dặm mình Nước non ngàn dặm tình Nhịp phách tiền đất Huế” Tác giả Thanh Hải có ước nguyện là một mùa xuân, dù chỉ là một mùa xuân nhỏ bé nhưng cũng là một mùa xuân có nhiều sức sống, mang thái độ sống tích cực lặng lẽ dâng cho đời. Nó lên ý nguyện khiêm nhường bền bỉ của con người muốn cống hiến sức mình cho quê hương đất nước. Thanh Hải muốn chọn cách cống hiến lặng lẽ, âm thầm không phô trương. Chính điệp ngữ dù là ở đây thể hiện sự kiên trì, tinh thần kiên cường bền bỉ, âm thầm cống hiến không cần ai phải biết tới sự cống hiến của mình. Quê hương chính là nơi sinh ra lớn lên của tác giả. Xứ Huế mộng mơ cũng chính là nơi đã nuôi dưỡng cho Thanh Hải nên vóc nên hình chính vì vậy ước mơ được cống hiến sức lực nhỏ bé của mình cho quê hương đất nước là một ước mơ vô cùng chính đáng. Rất đáng ngưỡng mộ của tác giả trước khi lìa đời. Những câu hát của người dân xứ Huế những câu hò ví dặm, những câu Nam Ai, Nam Bình thể hiện chất dân ca thấm đẫm tinh thần dân tộc, thể hiện nét văn hóa truyền thống vốn là bản sắc của người dân xứ Huế mộng mơ khiến cho tác giả Thanh Hải cảm thấy vô cùng xúc động. Nó gợi nhớ cho ông những kỷ niệm đẹp về ý ức tuổi thơ của mình. Thanh Hải chính là một người dân xứ Huế, quê hương của Thanh Hải chính là vùng đất sông Lam, núi Ngự mộng mơ này. Vì vậy, trong những ngày tháng cuối đời của mình ông vô cùng mong mỏi được cống hiến một chút gì đó, dù chỉ là bé nhỏ như một câu ca, một hương hoa tan biến mãi mãi vào hư vô, thì tác giả cũng mong mình sẽ làm được điều gì ý nghĩa cho quê hương xứ Huế của mình.
Ước nguyện của Thanh Hải qua hai khổ thơ cuối bài “Mùa xuân nho nhỏ”- Văn lớp 9
533
Ấn tượng về hình ảnh người trai thời Trần trong “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão Hướng dẫn Ấn tượng về hình ảnh người trai thời Trần trong “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão Bài làm Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: Phạm Ngũ Lão là tướng đời Trần, tham gia cả hai cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông “đánh đâu thắng đấy”. Ông lo việc binh, đồng thời “lại thích đọc sách, ngâm thơ”. Cũng như nhiều danh tướng đời Trần, Phạm Ngũ Lão vừa cầm quân đánh giặc, vừa viết những áng văn thơ để lại muôn đời. Trong đó nổi tiếng hơn cả là bài Thuật hoài. Đọc bài thơ này, chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp hùng dũng cao cả của người trai đời Trần. Cũng như Cảm hoài. Ngôn hoài; Thuật hoài là một loại thơ trữ tình “ngôn chí” khá phổ biến trong thơ ca thời trung đại, để bày tỏ những ý nghĩ, những tình cảm lớn của tác giả (Thuật hoài có nghĩa là Tỏ lòng). Đến nay, chúng ta chưa nắm được đích xác hoàn cảnh sáng tác của bài thơ. Tuy nhiên, dựa vào nội dung của tác phẩm có thể khẳng định bài thơ này ra đời trong không khí quyết chiến, quyết thắng của quân và dân đời Trần, khi lực lượng của nước Đại Việt đã lớn mạnh nhưng trong chiến đấu chống giặc Nguyên 1 Mông chưa đi đến thắng lợi cuối cùng. Bài thơ viết theo thể tứ tuyệt luật Đường, 4 câu, mỗi câu 7 âm tiết. Hai câu đầu được dịch là: Múa giáo non sông trải mấy thâu Ba quân hùng khí át sao Ngưu. Trong nguyên bản, hai câu này là: Hoành sóc giang san cáp kỉ thu Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu. “Hoành sóc” được dịch thành “múa giáo” dễ làm cho người đọc hiểu không hoàn toàn đúng. “Hoành sóc” tức là cầm ngang ngọn giáo, cả câu có nghĩa là “cắp ngang ngọn giáo (bảo vệ) non sông đã mấy mùa thu”. Chỉ cần 7 chữ nhưng câu thơ trên đây đã gợi được hình ảnh của người trai đời Trần và cũng chính là của Phạm Ngũ Lão với tư thế hùng dũng, luôn kiên cường, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, lập nên những chiến công huy hoàng. Dẫu họ đã ngoan cường chiến đấu bao năm tháng (“trải mấy thâu” là mấy mùa thu rồi) nhưng vẫn bừng bừng một khí thế, một sức mạnh hiên ngang bất khuất.. Hình ảnh người tráng sĩ càng trở nên chói lọi bởi hùng khí của ba quân. Ba quân chính là hình ảnh của cả thế hệ Phạm Ngũ Lão, của cả dân tộc đang sống trong hào khí Đông A. Sức mạnh của “ba quân” được ví như sức mạnh ghê gớm của hổ báo làm át sao Ngưu. (Còn một cách hiểu khác không kém phần ý nghĩa: sức mạnh của ba quân như hổ báo có thể nuốt trôi được cả trâu). Như vậy, câu thứ nhất nói về cá nhân người trai đời Trần; câu thứ hai nói về dân tộc, về cộng đổng. Cá nhân có vẻ đẹp hiên ngang của đất trời, sông núi, vượt qua mọi thử thách của thời gian, cộng đồng, dân tộc, có tầm vóc và sức mạnh của vũ trụ. Cá nhân với cộng đồng, với dân tộc có quan hệ mật thiết, hài hoà. Hình ảnh người tráng sĩ oai hùng tạo nên khí thế ngất trời của ba quân; đồng thời khí thế của ba quân lại làm cho hình ảnh người tráng sĩ thêm lộng lẫy. Mỗi con người đều tìm thấy bóng dáng mình trong hào khí chung của dân tộc. Đây là một thời đại cao đẹp của những con người cao đẹp! Hình ảnh người tráng sĩ cắp giáo tung hoành nơi trận mạc, hình ảnh ba quân khí thế ngất trời ta đã gặp nhiều trong văn học trung đại của Việt Nam cũng như của Trung Quốc. (Chàng chinh phu trong Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn cũng từng “Múa gươm rượu tiễn chưa tàn – ngang lưng ngọn giáo vào ngàn hang beo”. Nói về tướng sĩ trong bài Thập giói cô hòn quốc ngữ văn, Lê Thánh Tông cũng có câu “Miệng thòm thèm giương dạ nuốt trâu – Chí hăm hở dang tay bắt vượn”). Song, nếu ở những câu vừa dẫn là những hình ảnh ước lệ nặng tính chất ngao du khoa trương, thì trong Thuật hoài của Phạm Ngũ Lão là những hình ảnh tuy cũng thật kì vĩ nhưng là những hình ảnh chân thực, hiện thực, bởi người đọc biết rằng chúng ra đời trong không khí quyết chiến, quyết thắng vĩ đại của quân dân ta đời Trần. Tại Hội nghị Bình Than, các bô lão Đại Việt đã nhất tể thể hiện tinh thần ấy. Và mỗi binh sĩ thời ấy đều thích hai chữ “sát thát” (giết giặc Nguyên) vào cánh tay. Công danh nam tử còn vương nợ Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu. Người trai đời Trần không chỉ cao đẹp ở tư thế sẵn sàng chiến đấu, mà còn cao đẹp bởi có một. quan niệm nhân sinh tích cực. Lập công chính là làm nên sự nghiệp lớn trong công cuộc bảo vệ và dựng xây đất nước. Có công thì mới được ghi danh (têii). Mỗi con người chân chính, đặc biệt đối với những người làm trai, niềm khao khát làm nên sự nghiệp, lưu lại tên tuổi mình cho hậu thế là niềm khao khát chính đáng. Đây chính là động lực to lớn để không ít người có sức mạnh vượt, qua những thử thách cam go lập nên những kì tích vang dội, thúc đẩy sự tiến bộ của toàn xã hội. Chính vì the mà sau Phạm Ngũ Lão 6 thế kỉ, Nguyễn Công Trứ cũng khẳng định: Làm trai sống ở trong trời đất Phải có danh gì với núi sông. Và không hiểu tự thuở nào ông cha ta vẫn thường khích lệ cháu con: “Làm trai cho đáng nên trai – Xuống đông, đông tĩnh; lên đoài, đoài tan”. Đây chắc chắn không phải là thói hátn danh phàm tục, trái lại là một quan niệm nhân sinh tiến bộ trong truyền thống dân tộc. Ra đời cách chúng ta đã 7 thế kỉ, song bài Thuật hoài luôn luôn mới mẻ và hấp dẫn, lay động con tim của bao thế hệ người đọc. Bởi vì, qua bài thơ, độc giả bắt gặp hình ảnh vừa chân thực vừa hoành tráng của người trai thời Trẩn với vẻ đẹp thật là hùng vĩ cao cả.
Ấn tượng về hình ảnh người trai thời Trần trong “Thuật hoài” của Phạm Ngũ Lão
1,121
“Có thể nói con đường từ dạ dày đến nghĩa địa của mỗi chúng ta chưa bao giờ lại trở nên ngắn và dễ dàng đến thế!” (Trần Ngọc Vinh) và suy nghĩ của em – Ngữ văn 12 Hướng dẫn Nghị luận về vấn đề thực phẩm bẩn Đề bài “Có thể nói con đường từ dạ dày đến nghĩa địa của mỗi chúng ta chưa bao giờ lại trở nên ngắn và dễ dàng đến thế!”. (Dẫn theo Bích Diệp, Con đường từ dạ dày đến nghĩa địa chưa bao giờ ngắn đến thế!) Anh (chị) hãy viết bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về lời cảnh báo trên của đại biểu quốc hội Trần Ngọc Vinh. Hướng dẫn làm bài: Đây là một câu nói có hình ảnh nhằm cảnh báo nguy cơ lương thực, thực phẩm có chứa chất độc hại đang gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khoẻ của cộng đồng. Để giải quyết được đề này, cần hiểu ý nghĩa các hình ảnh: dạ dày, nghĩa địa, con đường và phải trả lời các câu hỏi: Tại sao có thể nói: con đường từ dạ dày đến nghĩa địa chưa bao giờ ngắn đến thế? Trách nhiệm của vấn đề này thuộc về ai? Cần phải làm gì để giải quyết vấn nạn này? Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Hiện nay, trên các phương tiện truyền thông, ta thường xuyên nghe nói đến vấn đề lương thực, thực phẩm bẩn, bị nhiễm độc. Điều nguy hại là tình trạng này đã trở nên phổ biến ở nước ta, và đang ở mức độ đáng báo động. Đã có những cuộc hội thảo, hội nghị bàn về các giải pháp khắc phục, nhưng thực tế, tình hình ngày càng nghiêm trọng. Trong một kì họp quốc hội, đại biểu Trần Ngọc Vinh khi chất vấn Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã có một câu khái quát làm cả hội trường xôn xao: “Có thể nói con đường từ dạ dày đến nghĩa địa của mỗi chúng ta chưa bao giờ lại trở nên ngắn và dễ dàng đến thê?. Câu nói này khiến nhiều người phải giật mình về những nguy cơ đang ẩn náu trong mỗi bữa ăn. – Hằng ngày, con người phải ăn uống để duy trì sự sống, để cung cấp dinh dưỡng cho cơ thể có đủ năng lượng tái sản xuất sức lao động. Hơn thế, ăn uống còn là một khoái thú, ẩm thực được xem là một khía cạnh của nền văn hoá. Vậy mà, thực tế hiện nay, lương thực, thực phẩm bẩn, nhiễm độc đã khiến cho việc ăn uống nhiều khi gây tác hại nghiêm trọng đến sức khoẻ con người, sinh ra biết bao nhiêu bệnh tật, trong đó có những bệnh nan y. – Các loại lương thực và thực phẩm khiến con người mắc nhiều thứ bệnh, trong đó, đáng sợ nhất là bệnh ung thư. Ở nước ta đã có những làng gọi là “làng ung thư”, mà nguyên nhân là do nguồn nước bị ô nhiễm nghiêm trọng. Mỗi ngày, hàng lít nước đi vào cơ thể mỗi người, cứ thế, ngày này sang ngày khác, có biết bao nhiêu chất độc gây ung thư được tích tụ. Nếu như năm 2000, cả nước mói có 3 bệnh viện, 14 khoa ung bướu, thì đến năm 2015, đã có 6 bệnh viện và 50 trung tâm, khoa ung bướu, nhưng chỉ đáp ứng được 70% nhu cầu điều trị. Theo thống kê của Viện Nghiên cứu phòng, chống Ung thư, ngoài các bệnh ung thư khác như xương, phổi thì ung thư đường tiêu hoá đang có xu hướng tăng và bệnh nhân ngày càng trẻ hoá. Giống như các loại ung thư khác, ung thư đường tiêu hoá là sự kết hợp giữa nhiều yếu tố như gen di truyền, tuổi tác, chế độ dinh dưỡng, lối sống. Nhưng nguyên nhân chủ yếu là do thường xuyên ăn phải thực phẩm bẩn, thực phẩm tồn dư hoá chất độc hại. Ngày 20-8-2015, Viện Y tế toàn cầu George công bố nghiên cứu khẳng định: ung thư sẽ trở thành gánh nặng khổng lồ với xã hội và hệ thống y tế các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, nếu không nhanh chóng hành động để thay đổi tình hình (theo Phạm Anh – nguồn VTC). + Trước hết là ở khâu quản lí. Các cơ quan chức năng của nước ta vẫn còn xem nhẹ việc quản lí các loại hoá chất. Nhiều loại thuốc trừ cỏ, trừ sâu, thuốc bảo vệ thực vật, nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi không đảm bảo yêu cầu vẫn tự do lưu hành, Những loại hoá chất độc hại dùng bảo quản thực phẩm có thể mua bán dễ dàng trên thị trường. Có những nhà máy sản xuất thực phẩm, đồ ăn, đồ uống không tuân thủ quy trình đảm bảo vệ sinh. Không ít cửa hàng vẫn công nhiên bày bán những đồ ăn chế biến sẵn đã hết hạn sử dụng… Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp, việc nông dân sử dụng các loại hoá chất hầu như không ai kiểm soát. Những vi phạm trên đây, nếu bị phát hiện thì việc xử phạt còn quá nhẹ, không đủ sức răn đe, cho nên tái phạm là hiện tượng phổ biến. + Sự thiếu hiểu biết hoặc vô lương tâm của người sản xuất, người buôn bán cũng là một trong những nguyên nhân quan trọng góp phần gia tăng tình trạng sử dụng lương thực, thực phẩm bẩn ở nước ta. Phải thừa nhận rằng, có khi do nhận thức yếu kém mà người sản xuất đã vô tình sử dụng những hoá chất độc hại, hoặc người buôn bán trở thành kẻ phân phối những sản phẩm gây nguy hiểm cho sức khoẻ của cộng đồng, trong đó có cả người thân của mình. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi trình độ dân trí không đến nỗi quá thấp và truyền thông đã phát triển, bộ phận trên đây chắc chắn chiếm tỉ lệ không cao. Như vậy, những người vi phạm chủ yếu là những kẻ vô đạo đức, thiếu lương tâm. Ở các vùng quê, có những nông dân chia vườn rau nhà mình làm hai phần: phần phun thuốc trừ sâu, thuốc kích thích sinh trưởng là để bán, phần rau sạch là để gia đình sử dụng. Trong ý thức của họ, thiên hạ có nguy hại về sức khoẻ bởi ăn rau độc của nhà mình không phải là điều đáng bận tâm. Nông dân mà vẫn nhận thức như vậy, nói gì đến những người chế biến các mặt hàng cao cấp hơn. Họ hiểu rất rõ tác hại khủng khiếp của những đồ ăn sẵn được họ sản xuất và tung ra thị trường, nhưng vì lợi nhuận, họ bất chấp tất cả.
“Có thể nói con đường từ dạ dày đến nghĩa địa của mỗi chúng ta chưa bao giờ lại trở nên ngắn và dễ dàng đến thế!” (Trần Ngọc Vinh) và suy nghĩ của em – Ngữ văn 12
1,176
“Mong như mong mẹ về chợ…” Một bữa trong khi mẹ vắng nhà, em mong đợi thì mẹ em về. Em nhớ lại và tả hình dáng cử chỉ của mẹ em trong lúc ấy Gợi ý DÀN BÀI A. MỞ BÀI – Mẹ đi công tác xa. – Mong mẹ về. B. THÂN BÀI – Tiếng chó sủa ngoài cổng. – Em chạy ra: Mẹ đã về! – Mẹ xách hai túi đồ nặng. – Đôi mắt mẹ trìu mến nhìn em. – Hình dáng: + Khuôn mặt lấm tấm mồ hôi. + Có vẻ mệt mỏi. + Mái tóc cháy nắng búi cao. + Chiếc áo ươn ướt mồ hôi. + Dáng đi tất bật vì lo toan gia đình. – Mẹ quan tâm tới gia đình: + Hỏi han để nắm tình hình mọi người. + Mua quà cho mọi người. C. KẾT BÀI – Em rất yêu mẹ. – Thấy được lòng mẹ bao la như biển. BÀI LÀM Mẹ đi công tác xa nhà đã gần một tuần mà đến nay vẫn chưa về. Thiếu vắng bàn tay chăm sóc của mẹ, em mới hiểu mình cần có mẹ như thế nào. Mong quá, chiều nay mẹ sẽ về. Chiều buông dần xuống. Ba và anh Hai vẫn còn đi làm, chỉ có một mình em ở nhà. Có tiếng chó sủa và tiếng người trước cổng, em hồi hộp chạy ra. Hình ảnh quen thuộc của mẹ hiện ra trước ngưỡng cửa, em vô cùng mừng rỡ và cảm động. Mẹ đang xách hai giỏ khá nặng, em vui quá reo to: Mẹ nhìn em, ánh mắt đầy yêu thương trìu mến. Em vội giúp mẹ đem hai giỏ đồ vào nhà. – Mẹ về con mừng quá. Sao mẹ đi lâu quá vậy? Mẹ cười, vẫn khóe mắt ấm áp mà em đã mong đợi và từng gặp trong giấc mơ. Khuôn mặt mẹ lấm tấm những giọt mồ hôi, có lẽ mẹ thấm mệt, vì đường xa. Mẹ gỡ chiếc nón lá tuy cũ nhưng còn lành lặn xuống để lộ mái tóc cháy vàng vì nắng, giờ đây đã được búi cao gọn gàng. Em vội bưng nước ra mời mẹ và quạt mát cho mẹ. Chiếc áo sơ mi trắng cũng ươn ướt mồ hôi. Mẹ uống nước và bước vào nhà trong xem xét dọn dẹp nhà cửa. Em thương mẹ quá. Mẹ còn mệt mà vẫn lo lắng, săn sóc chúng em. Ba thường bảo dáng đi nhẹ nhàng tất bật và bàn tay chai sần của mẹ chứa đựng trong đó một tình yêu thương lớn lao đối với mọi người. Trong lúc đó mẹ vừa soạn đồ đạc, vừa hỏi thăm em chuyện gia đình. Mẹ hỏi em có khỏe không, vẫn học ngoan chứ? Ba với anh Hai vẫn đi làm đều chứ? Công việc vẫn bình thường?… Em không đòi hỏi quà, nhưng vẫn biết mẹ có quà cho mọi người: Tính mẹ rất chu đáo… Mẹ – người em yêu nhất trong cuộc đời này. Hình ảnh mẹ bao giờ cũng làm em cảm động, làm em nhận ra mình rõ hơn mỗi lúc làm việc gì tốt hay xấu. Em rất yêu mẹ. Mẹ là tất cả đối với em. Gần mẹ em cảm thấy một tình yêu thương vô hạn cứ dập dềnh như biển Thái Bình dào dạt.
“Mong như mong mẹ về chợ…” Một bữa trong khi mẹ vắng nhà, em mong đợi thì mẹ em về. Em nhớ lại và tả hình dáng cử chỉ của mẹ em trong lúc ấy
539
“Những ngày thơ ấu là sự rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại” – Phân tích nhân vật bé Hồng để làm sáng tỏ – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Phân tích nhân vật bé Hồng Bài làm Như một mầm non tí tách nhú chồi, như một nõn lá xanh non chưa bị thời gian nhuốm bụi, như một giọt sương mai tinh khiết – đó là tuổi thơ – trong sáng và thánh thiện biết bao. Tuổi thơ là tuổi thần tiên, không có thành kiến và định kiến. Tuổi thơ phải được vui chơi và sống giữa tình thương của cha mẹ. Nhưng có những em bé thì ngay tuổi thơ đã phải chịu nhiều đau khổ. Hồng (Những ngày thơ ấu – Nguyên Hồng) là một em bé như vậy. Em phải chịu mọi sự thành kiến của họ hàng và những lời lẽ cay độc của bà cô với một tấm lòng yêu thương và khát khao tình mẹ. Có lẽ vì thế mà khi nhận định về tác phẩm Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng, Thạch Lam đã nói: “Những ngày thơ ấu là sự rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại”. Đoạn trích Trong lòng mẹ được rút ra từ tác phẩm Những ngày thơ ấu của nhà văn Nguyên Hồng. Đây là tập hồi kí về tuổi thơ đau thương, tủi cực của chính nhà văn. Bởi vậy, “những rung động cực điểm” của Hồng cũng chính là của nhà văn. Hồng sinh ra trong một gia đình không hạnh phúc. Bố nghiện ngập và chết sớm. Mẹ tha phương cầu thực. Xã hội không dung nạp em. Hồng trở thành một em bé mồ côi, lạc lõng giữa dòng người. Cuộc đời của Hồng là một chuỗi ngày dài đong đầy nước mắt. Em bị họ hàng xa lánh. Tuổi thơ Hồng đã phải chịu biết bao nhiêu cay đắng, khổ đau. Cuộc đời đã không mang lại cho em nhiều may mắn. Em phải sống với bà cô đầy cay nghiệt, bà đã dùng những lời độc địa để nói về mẹ em – người phụ nữ mà mọi người coi là không đoan chính. Hồng đã khóc. Em khóc vì tủi thân, khóc vì thương mẹ. Em bất lực trước những thành kiến mà xã hội “dành tặng” cho mẹ. Em thương và yêu mẹ vô cùng. Nhưng khát vọng được gặp mẹ, được nhìn thấy mẹ luôn luôn thôi thúc, trào dâng trong lòng Hồng. Nỗi niềm thương nhớ người mẹ tích tụ, nung nấu qua bao tháng ngày khiến tình cảm đứa con dành cho mẹ giống như một tín ngưỡng, thành kính, thiêng liêng. Trái tim của Hồng như đang rạn nứt, đang rớm máu vì thiếu mẹ. Cho nên, lòng khao khát gặp mẹ, được sống với mẹ của em càng lên cao tới tột điểm. Mẹ của em đã trở về. Bằng linh cảm cực nhạy của đứa con khao khát tình mẫu tử, Hồng nhận ra mẹ ngay. Em vui mừng cất tiếng gọi mẹ – cái tiếng mà bấy lâu nay em cất giấu trong lòng – cái tiếng mà em hãnh diện, tôn thờ. Còn hạnh phúc nào bằng hạnh phúc được lăn xả vào lòng mẹ, được mẹ âu yếm, vỗ về. Hồng yêu mẹ biết bao, em gặp mẹ ví như “người bộ hành giữa sa mạc tìm được bóng râm và nước mát”. Và em nghĩ rằng, nếu đó không phải là mẹ thì đối với em đó là một sự thất vọng ghê gớm: bóng râm và nước mát chỉ còn là ảo ảnh. Và khi mẹ con nhận ra nhau thì bé Hồng oà lên khóc nức nở. Bao nhiêu côi cút, bao nhiêu chờ đợi bỗng vỡ oà trong nước mắt. Dường như những giọt nước mắt của Hồng là những giọt tình cảm mà em dành cho mẹ. Tất cả, tất cả như lan chiếm hết trái tim em. Phải chăng đây chính là cao điểm của những rung động trong tâm hồn trẻ dại của Hồng? Hồng muốn căng hết tất cả mọi giác quan để thâu nhận cho hết, cho hả cái tình mẹ con sau bao năm xa cách. Phút giây gặp lại mẹ đối với Hồng là những phút “rạo rực” bởi Hồng yêu mẹ, tin mẹ và khao khát gặp mẹ. Em cảm nhận được tình thương của mẹ từ bàn tay, từ hơi ấm lòng mẹ toả ra. Tình cảm mẹ con vô cùng thiết tha, sâu nặng. Và bé Hồng thực sự phải được hưởng niềm hạnh phúc lớn lao ấy bởi con người, tâm hồn em là một vì sao nhỏ bé nhưng sáng chói giữa bầu trời bao la. Nếu như tâm hồn trẻ thơ là dây đàn muôn điệu thì sợi dây đàn trong tâm hồn bé Hồng đã biết gạt bỏ những thành kiến xấu xa của xã hội để ngân rung lên khúc ca đầy yêu thương, nhân ái và bao dung. (Phan Linh Chi, Trường THCS thị xã Hà Tĩnh, bài in trong tạp chí Văn học và Tuổi trẻ, tháng 4 năm 2003) >> Xem thêm Nêu ý kiến của em về câu tục ngữ: ” Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng” tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Phân tích nhân vật bé Hồng
“Những ngày thơ ấu là sự rung động cực điểm của một linh hồn trẻ dại” – Phân tích nhân vật bé Hồng để làm sáng tỏ – Bài văn hay lớp 8
894
“Nên thợ nên thầy vì có học…” Hướng dẫn “Nên thợ nên thầy vì có học…” Nguyễn Trãi (1380 -1442) đã từng viết: Nên thợ, nên thầy vì có học No cơm, ấm áo bởi hay làm (Bảo kính cảnh giới – bài 36) GỢI Ý CÁCH LÀM BÀI A. Gợi ý chung – Trước hết học sinh phải hiểu được ý nghĩa hai câu thơ của Nguyễn Trãi từ đó bày tỏ ý kiến của mình về quan điểm sống và học tập của thanh niên hiện nay. – Học sinh có quyền bày tỏ ý kiến cá nhân nhưng phải phù hợp và đúng đắn với chuẩn mực xã hội, với xu thế chung của đất nước. – Vận dụng linh hoạt các phép lập luận giải thích, chứng minh, phân tích, tổng hợp. – Bài viết mạch lạc, bố cục rõ ràng. – Lí lẽ, dẫn chứng chính xác, tiêu biểu, có sức thuyết phục + Kiến thức của nhân loại là mênh mông và không ngừng phát triển, nếu chúng ta không học tập thường xuyên sẽ trở nên tụt hậu, khi đó cơ hội làm thợ hay làm thầy đều rất khó khăn… + Dẫn chứng thực tế, các câu ca dao, tục ngữ (Ví dụ.’ Học ăn, học nói, học gói, học mở…). – – Nói “No cơm ấm áo bởi hay làm” là bởi vì: + Của cải, vật chất không tự nhiên mà có, nó đòi hỏi con người phải đổ mồ hôi công sức, thậm chí cả máu để kiến tạo ra. + Muốn có đời sống vật chất đủ đầy, nuôi sống được bản thân, gia đình và đóng góp một phần cho xã hội không còn con đường nào khác là phải lao động. + Nếu không lao động sẽ thiếu thốn về vật chất, tinh thần, dẫn đến nghèo đói và nhiều hệ lụy khác… + Dẫn chứng thực tế, các câu ca dao, tục ngữ (Ví dụ: Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ…). 3, Bài học rút ra cho thanh niên: – Học tập và lao động là tiêu chuẩn quan trọng của thanh niên thời đại mới. – Xã hội hiện đại, khoa học, kĩ thuật phát triển nhanh như vũ bão. Thanh niên là lực lượng nòng cốt nếu không học tập tu dưỡng, phấn đấu không ngừng sẽ bị đào thải (dẫn chứng). Ads: Tuyển sinh trung cấp dược liên thông cao đẳng dược hà nội chính quy, xét tuyển cao đẳng điều dưỡng và cao đẳng y tế hà nội năm 2016 – Cách học của thanh niên: tiếp thu tinh hoa của nhân loại, học tập theo yêu cầu của đất nước không vì nhu cầu hưởng thụ cá nhân… (dẫn chúng). – Thanh niên là lực lượng trẻ khoẻ, đầy sức sống, phải tích cực lao động với tất cả trí tuệ và sức lục, không phung phí ăn chơi đua đòi… (dẫn chúng). – Cách làm việc của thanh niên: chăm chỉ tích cực nhưng sáng tạo có ứng dụng khoa học kĩ thuật… (dẫn chứng). III. Kết bài Khẳng định lại nội dung giáo dục sâu sắc của hai câu thơ và khái quát thành quan điểm sống, học tập, lao động của thanh niên trong thời đại mới.
“Nên thợ nên thầy vì có học…”
525
“Nếu bạn yêu đời, hãy đừng phung phí thời gian, vì chất liệu của cuộc sống làm bằng thời gian” (Benjamin Franklin) và suy nghĩ của em – Ngữ văn 12 Hướng dẫn Nghị luận xã hội về việc sử dụng thời gian Đề bài Anh (chị) hãy viết một bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về lòi khuyên sau đây của chính trị gia, nhà khoa học Benjamin Franklin: “Nếu bạn yêu đời, hãy đừng phung phí thời gian, vì chất liệu của cuộc sống làm bằng thời gian”. Hướng dẫn làm bài: Để viết bài này, trước hết cần hiểu rằng, thời gian của vũ trụ thì vĩnh hằng mà thời gian của đời người thì hữu hạn. Khi B. Franklin nói: đừng phung phí thời gian, thì thời gian mà nhà bác học đề cập ở đây là thời gian của đời người. Có xác định rõ ràng như vậy, mới thấu suốt điều tiếp theo: chất liệu của cuộc sống làm bằng thời gian, từ đó, mói có thể trình bày thấu đáo suy nghĩ của mình về vấn đề được nêu trong câu danh ngôn. Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Thời gian là vấn đề thu hút sự suy tư của nhiều nhà tư tưởng, bởi đây là phạm trù hết sức quan trọng gắn vói sự tồn tại của con người. Quả vậy, con người tồn tại là tồn tại trong không gian và thời gian. Tuy nhiên, rất cần phải phân biệt rõ hai vấn đề: thời gian của tự nhiên, của vũ trụ và thời gian của đời người. Nếu thời gian của vũ trụ là miên viễn, vĩnh hằng, vô thuỷ vô chung, thì thời gian của đời người là hữu hạn, ngắn ngủi. Dẫu đời người là trăm năm như người xưa quan niệm, thì cũng không là gì so vói sự vô tận của tự nhiên. Với lời khuyên: đừng phung phí thời gian, thì ta hiểu thời gian được nói ở đây là thời gian của một đời người. – Yêu đời hay chán đời là hai trạng thái tâm lí trái ngược nhau. Người yêu đời thì hăm hở sống, hăm hở làm việc, phấn đấu, luôn nhìn cuộc đòi bằng đôi mắt lạc quan. Ngược lại, vói người chán đời, cuộc sống trở nên hết sức nặng nề. Mỗi ngày trôi qua là thêm một sự chịu đựng. Trước mắt kẻ chán đời, cuộc sống thường tối sầm, không có lối thoát. Thời gian vốn khách quan, vô tình, nhưng với người yêu đời hoặc kẻ chán đời, cảm nhận độ dài ngắn cũng như giá trị của nó hoàn toàn khác nhau. Với kẻ chán đời, một ngày có thể dài như “ba thu”, ngược lại, với người yêu đời, một ngày trôi qua chỉ như thoáng chốc. Khi nêu giả thiết: nếu bạn yêu đòi, B. Franklin đã nhận thức đầy đủ những biểu hiện khác nhau của tâm lí con người và những ảnh hưởng của nó đối với mọi ứng xử, trong đó có cách sử dụng thời gian. – Sở dĩ B. Franklin khuyên chúng ta đừng phung phí thời gian, bởi trước hết, thời gian một đi không trở lại. Nó chỉ trôi theo một chiều: quá khứ – hiện tại – tương lai. Ta có thể lần giở kí ức để nhớ về những sự kiện đã qua, nhưng những ngày tháng lùi vào quá khứ thì không bao giờ có thể lấy lại được. Nếu ai đó đã để một đoạn đời của mình hoài phí trôi đi trong nhàn rỗi vô nghĩa, thì cũng coi như phần đời ấy chưa hề tồn tại. Mặt khác, đừng phung phí thời gian, vĩ quỹ thời gian của cuộc đời mỗi con người là có hạn. Vì đời người ngắn ngủi, nên phải biết quý từng khoảnh khắc. Thời gian đời người như một cái “vốn” cố định, “tiêu pha” thế nào cho hợp lí là tuỳ ở từng người. Có người biết dè sẻn, để cho mỗi giây, mỗi phút trôi qua đều rất có ý nghĩa. Ngược lại, có người quá hoang phí, khiến một đời vèo trôi mà chẳng để lại công tích gì. Nghiêm khắc với bản thân và biết vạch ra kế hoạch hành động một cách khoa học, hợp lí là phương cách để tránh phung phí thời gian, cần tỉnh táo để nhận thức được đâu là việc có ích nên làm, đâu là việc vô bổ cần tránh. Phải tự nhận biết năng lực của mình để không phí hoài thời gian chạy theo những ảo tưởng viển vông, những chuyện lớn lao to tát vượt quá khả năng. Biết đặt các mức phấn đấu cụ thể, đặt ra thời hạn hoàn thành công việc và tiến hành một cách chủ động, không để mọi việc trôi nổi ngoài tầm kiểm soát của mình, đó là người sáng suốt, khôn ngoan trong quản lí quỹ thời gian của đời mình. – Giới trẻ hôm nay được thừa hưởng những thành quả của khoa học, của công nghệ; cuộc sống tương đối đủ đầy. Lợi thế này có thể là nguyên nhân dân đến những bất lợi khác. Trong rất nhiều điều người học sinh cần phải học, phải làm, việc quản lí quỹ thời gian của bản thân là chuyện rất hệ trọng. Làm sao để học ra học, chơi ra chơi; làm sao để thoát khỏi tình trạng biếng lười; làm sao để không sa đà vào những trò chơi vô bổ;… đó là những chuyện mà bất cứ học sinh nào thời nay cũng phải quan tâm. Sự phung phí thời gian vào giai đoạn nào của cuộc đời cũng là điều đáng tiếc, nhưng hoài phí thời gian ở thời tuổi trẻ – cái tuổi đẹp nhất, gắn với những mộng mơ, khát vọng, cái tuổi có khả năng tiếp thu tốt nhất kiến thức khoa học – thì thực sự là rất tệ hại. Hiểu như vậy để thấy, lời nhắc nhở của B. Franklin là hết sức cần thiết vớ mỗi chúng ta.
“Nếu bạn yêu đời, hãy đừng phung phí thời gian, vì chất liệu của cuộc sống làm bằng thời gian” (Benjamin Franklin) và suy nghĩ của em – Ngữ văn 12
1,025
“Nếu muốn thành công thì phải không ngừng học hỏi, nâng cao trí tuệ” – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Nếu muốn thành công Bài làm Trong đời sống, con người không phải lúc nào cũng gặp may mắn. Để thành công, chúng ta phải không ngừng học hỏi, phải dựa vào tài năng của mình mà nâng cao tầm hiểu biết. Tuy nhiên, học như thế nào để đạt hiệu quả cũng không phải dễ dàng. Nhiều người không hiểu “không ngừng học hỏi” là thế nào. Thực ra, “không ngừng học hỏi” là luôn tìm tòi, mày mò và nghiên cứu. Căn bản là phải biết lắng nghe và áp dụng những điều học được vào thực tế. Ta phải biết phân biệt những điều hay, lẽ phải, thị phi trắng đen và biết rút ra được những bài học từ cuộc sống. Học không phải chỉ tiếp thu máy móc những gì trong sách báo viết mà phải có ý kiến riêng của mình, luôn sáng tạo và nghĩ ra những cái mới. Có vậy mới khiến mọi người khâm phục. Thử nghĩ xem, một người chỉ biết học thuộc lòng thì lúc nào cũng sẽ ỷ lại vào người khác. Trí óc bị trì trệ, sự thông minh và sáng tạo giảm dần. Sự tư duy biến mất. Con người trở nên ngờ nghệch, đờ đẫn. Thành công là một việc không dễ và cũng không khó. Ta có thể hỏi những giám đốc, những nhà doanh nghiệp,… xem tại sao họ lại thành công. Có lẽ họ cũng có chút may mắn nhưng đó chỉ là phần nhỏ. Họ thành công chủ yếu dựa vào sự cố gắng. Có người nhờ trí tuệ, có người dựa vào tài ăn nói,… nhưng đều phải rèn luyện, có sự hiểu biết thì mới làm được. Họ đều phải vượt qua nhiều thử thách và khó khăn thì mới có ý chí. Những người thành công chỉ nhờ dựa vào tiền bạc, sự nâng đỡ,… thì ra ngoài xã hội cũng bị coi thường. Thử hỏi, có ai muốn gần gũi với họ? Nếu so sánh hai loại người trên thì chúng ta sẽ tôn trọng, kính phục ai hơn? Chắc chắn là người thành công.dựa vào tài năng của mình. Vậy mới nói việc không ngừng học hỏi có vai trò rất quan trọng đối với người muốn thành công… Tuy nhiên, nếu những dẫn chứng trên chưa đủ thì ta có thể lấy dẫn chứng khác. Mọi người thử nghĩ xem, người không có kiến thức, không hoà nhập được với xã hội, không có công ăn việc làm và nơi ở thì sẽ ra sao? Chắc chắn sẽ phải đi lang thang, nghèo khổ như một người ăn xin, cuộc đời trở nên khó khăn, không có ai để chia sẻ và cảm thông. Người đó sẽ chẳng làm nên trò trống gì. Nếu bạn bị như vậy thì bạn sẽ nghĩ sao? Để học một cách có hiệu quả cao nhất, bạn cần có nghị lực và lòng quyết đoán. Nhưng điều cơ bản là phải có lòng tin vào chính mình. Chỉ có tự tin thì bạn mới dám nghĩ, dám làm còn người lúc nào cũng rụt rè, không dám tự mình làm gì thì sẽ trở nên vô nghĩa. Tuy nhiên, tự tin quá vào bản thân sẽ trở nên kiêu ngạo. Vì vậy, cần biết kiềm chế cảm xúc của mình. Ta cần có lòng khiêm tốn và biết nhìn nhận điều gì là đúng, điều gì là sai. Nếu làm như trên, chắc chắn sẽ thành công. Tuy nhiên, mỗi người đều có sự lựa chọn riêng của mình. Các bạn có thể đi các con đường khác nhau nhưng những điều trên ít nhiều cũng giúp ích được cho cuộc sống của mỗi người. Trần Tố Uyên (Trường PTDL Lương Thế Vinh) Tags:Bài văn hay lớp 8 · Nếu muốn thành công
“Nếu muốn thành công thì phải không ngừng học hỏi, nâng cao trí tuệ” – Bài văn hay lớp 8
654
“Sinh ra trong nghèo khó không phải là cái tội. Nhưng nếu bạn chết đi trong nghèo khó thì đó là lỗi của bạn” (Bill Gates) và ý kiến của em – Ngữ văn 12 Hướng dẫn Văn nghị luận xã hội Đề bài Bill Gates nói: “Sinh ra trong nghèo khó không phải là cái tội. Nhưng nếu bạn chết đi trong nghèo khó thì đó là lỗi của bạn”. Viết bài văn (khoảng 600 chữ) trình bày quan điểm của anh (chị) về vấn đề trên. Hướng dẫn làm bài Đề bài yêu cầu thí sinh phân biệt hai vấn đề: sinh ra trong nghèo khó và chết đi trong nghèo khó; bàn luận về trách nhiệm của con người trong việc vượt thoát khỏi hoàn cảnh nghèo khó của chính mình, cần trả lời được các câu hỏi cơ bản: Con người có được, chọn cha mẹ, chọn hoàn cảnh mà mình được sinh ra hay không? Sinh ra trong nghèo khó có phải là cái tội? Giữa việc sinh ra trong nghèo khó và có một cuộc sống nghèo khó khác nhau như thế nào? Con người có thể chọn cho mình một cách sống hay không? Nếu bạn chết trong nghèo khó thì lỗi của bạn hay của ai? Cần làm gì để không vấp phải lỗi lầm, theo cách nói của Bill Gates? Bài viết có thể triển khai các ý chính sau: – Có người nói: “Nghèo là một cái tội”. Câu nói hàm ý rằng, nghèo thì phải chấp nhận thua thiệt, nhỏ bé trong xã hội. Nhưng ở đây có hai vấn đề hoàn toàn khác nhau, cần phân biệt rõ: Sinh ra trong nghèo khó và sống, chết trong nghèo khó. Con người không có quyền chọn nơi mình sinh ra nhưng có quyền chọn cho mình cách sống. Vì vậy, sinh ra trong nghèo khó không có nghĩa kết cục tất yếu là cả đòi sống và chết trong nghèo khó. Tuy nhiên, nếu sống suốt cuộc đòi mà bạn vân chết trong nghèo khó thì lôi lầm là từ phía bạn. Câu nói của Bill Gates: “Sinh ra trong nghèo khó không phải là cái tội. Nhưng nếu bạn chết đi trong nghèo khó thì đó là lỗi của bạn” gợi cho chúng ta suy nghĩ: cần phải xem xét lại trách nhiệm của mình đối với chính cuộc đời mình. – Sinh ra trong nghèo khó không phải là một cái tội. Con người sinh ra không được chọn cha, chọn mẹ, chọn hoàn cảnh gia đình giàu sang phú quý. Nhưng trên tất cả, được có mặt trên cuộc đời này là một niềm hạnh phúc lớn lao không gì so sánh được. Hơn nữa, nghèo về tiền bạc, của cải không phải là cái nghèo đáng sợ nhất. Một con người toàn diện, ngoài tiền tài còn phải hội tụ nhiều yếu tố như: có sức khoẻ, có ý chí, nghị lực, có tư duy, có tình cảm, có các mối quan hệ xã hội tốt… Sinh ra trong giàu có về vật chất nhưng yếu về sức khoẻ cũng khó có thể sống vui vẻ, hạnh phúc. Cha mẹ cho rất nhiều tiền nhưng tinh thần, ý chí bạc nhược, yếu đuối thì trước sau gì cũng rơi vào phiền não. Nghèo về kiến thức, thiếu kém về văn hoá thì dù là một đại gia vẫn bị xếp vào hàng trọc phú. Vì vậy, nghèo về ý chí, tư duy, hoài bão; nghèo về kiến thức và hành động mới là cái nghèo đáng sợ nhất. – Hoàn cảnh nghèo khó là thử thách giúp con người đi đến thành công. Đối vói những con ngưòi giàu ý chí, nghị lực và sức sáng tạo, sụ nghèo khó không phải là lực cản mà ngược lại, là động cơ thôi thúc họ phấn đấu để vươn tới những gì họ đang thiếu và mong muốn. Nhiều nhà tỉ phú thành công trên thế giới đều xuất thân từ gia đình nghèo khó. Steve Jobs, cha đẻ của Apple sinh ra là trẻ mồ côi, được một cặp vợ chồng không mấy khá giả bang California nhận về làm con nuôi và ông từng bỏ ngang đại học vì không đủ tiền đóng học phí. Michael Dell, người sáng lập đồng thời là Chủ tịch Hội đồng quản trị Tập đoàn sản xuất máy tính nổi tiếng thế giới Dell từng là người phục vụ, chuyên rửa chén đĩa trong một nhà hàng Trung Quốc với mức lương 2,3 USD /giờ… Nếu không sinh ra và lớn lên trong gia cảnh nghèo khó, những nhà tỉ phú trên chưa hẳn đã tìm được động lực để thay đổi cuộc đời họ. Với họ, nghèo khó không phải là một cái tội mà là một động lực thôi thúc họ có ước mơ, hoài bão và phấn đấu không ngừng nghỉ để thành công. – Không thể lấy hoàn cảnh nghèo khó để đổ lỗi hay nguỵ biện cho sự lười biếng, dựa dẫm, thiếu ý chí và nghị lực của mình. Mỗi khi công việc không thành, mục tiêu không đạt được, con người thường hay đổ lỗi cho hoàn cảnh, cho số mệnh, ít khi tự kiểm điểm nghiêm khắc bản thân. Người ta than thở rằng, vì nghèo mà họ không có điều kiện để học giỏi, vì nghèo nên phải đi ăn xin, thậm chí ăn cắp để tồn tại, vì nghèo nên bị người khác coi thường, xa lánh, bạo hành… Những điều đó có phần đúng, nhưng không phải là lí do chính đáng. Trong thực tế, nhiều người nghèo vẫn tự lao động kiếm sống và thành công. Trừ trẻ em, những người bất hạnh do bệnh tật, tật nguyền bẩm sinh, còn lại, con người phải tự chịu trách nhiệm về cuộc sống của chính mình, đồng thời đóng góp một phần nào đó cho những người khác. Cuộc sống có thách thức nhưng cũng có cơ hội. vấn đề là con người có chủ động để vượt qua thử thách, nắm bắt cơ hội để thoát nghèo và trở nên giàu có hay không.
“Sinh ra trong nghèo khó không phải là cái tội. Nhưng nếu bạn chết đi trong nghèo khó thì đó là lỗi của bạn” (Bill Gates) và ý kiến của em – Ngữ văn 12
1,026
“Trên con đường đi tới thành công không có dấu chân của những kẻ lười biếng” – Bài văn hay lớp 8 Hướng dẫn Giải thích và chứng minh triết lí Bài làm Trong xã hội ngày càng tiến bộ, phát triển, việc không ngừng nỗ lực vươn lên để đạt được mục đích đã đặt ra chiếm một phần rất lớn đối với thành công. Giống như nhà văn nổi tiếng Trung Hoa Lỗ Tấn đã nói: “Trên con đường đi đến thành công không có dấu chân của những kẻ lười biếng”. Thành công là đạt được một mục đích cao quý, là cái đích cuối cùng của mỗi người trong cuộc đời. Thành công cũng có thể đơn thuần là đạt được một mong ước, khát vọng nhỏ bé nào đó. Một cậu học sinh mong ước thi đậu vào một trường đại học danh tiếng, cậu chăm chỉ học tập và đạt được mục tiêu. Đó là thành công của cậu ta. Một cô bé mong ước tặng cho mẹ một món quà sinh nhật ý nghĩa, cô dành dụm tiền hằng ngày và đạt được mong ước của mình. Không thể phủ nhận rằng đó cũng là thành công đối với cô. “Con đường thành công” là con đường của đỉnh cao vinh quang thắng lợi nhưng cũng có thể là đạt được mục đích nhỏ bé nào đó. Trái ngược với “thành công” là lười biếng. Lười biếng là một ĩhói quen xấu, là trây ì, không làm gì cả mà chỉ dựa dẫm vào người khác. Lười biếng là chọn lựa nghỉ ngơi khi phải làm việc. Lười biếng là chọn lựa việc chỉ ngồi ước mơ khi thực tế phải hành động để thực hiện ước mơ đó. Một chàng thanh niên luôn nghĩ rằng một ngày nào đó mình sẽ lập một công ti lớn. Nhung việc đó sẽ là của quá khứ nếu anh ta không bắt tay vào làm việc. Vậy sẽ “không có dấu chân của kẻ lười biếng” trên con đường đi tới thành công; không có ai thành công mà không do cố gắng nỗ lực. Không có thành công nào đến với ta một cách dễ dàng. Thành công luôn phải trả giá bằng sự lao động không ngừng nghỉ, mồ hôi và công sức đổ ra. Thành công không phải là con đường dành cho những kẻ biếng nhác. Chỉ những người luôn luôn nỗ lực phấn đấu mới có thể bước trên con đường vinh quang này. Vậy, tại sao con đường thành công không có dấu chân của những kẻ lười biếng? Chỉ đơn giản là dọ cuộc sống không phải là con đường trải bằng hoa hồng mà đầy những chông gai, cuộc sống không phải là con sông êm đềm mà cuồn cuộn dữ dội. Tưởng chừng như lí do đó không liên quan tới thành công nhưng thực chất chúng lại gắn bó mật thiết với nhau. Con đường cuộc sống chính là con đường thành công, đó là vinh quang đối với những ai cố gắng hết mình để vượt qua nó nhưng lại chính là vũng lầy chôn vùi những ai dễ từ bỏ, buông xuôi. Việc nhỏ mà không làm thì không bao giờ thành, có ước mơ mà không thực hiện thì chỉ là viển vông. Sự chăm chỉ là một chiếc chìa khoá quan trọng giúp ta mở cánh cửa thành công. Thật đúng như vậy, chỉ những người luôn miệt mài lao động, nghiên cứu, sáng tạo, nỗ lực không ngừng để vươn lên mới có thể đạt thành công. Xung quanh ta cũng không thiếu những tấm gương về lòng quyết tâm, sự kiên trì, cố gắng vượt khó vươn lên. Một tấm gương rất quen thuộc thôi, đó là chuyện về chị học sinh Đào Thu Hương dù bị khiếm thị nhưng vẫn học giỏi. Từ nhỏ, thị lực của chị cũng đã rất kém nhưng chị vẫn cố gắng học tập và trở thành một học sinh giỏi toàn diện. Đến năm học Tiểu học, chị được tư vấn đi phẫu thuật mắt nhưng kết quả cuộc phẫu thuật không như mong muốn nên mắt chị đã lịm hẳn. May mắn thay, khi học Trung học cơ sở, chị được thầy giáo Văn Như Cương nhận thẳng vào trường do kết quả học quá xuất sắc. Chị được nhiều tổ chức, cá nhân trao học bổng, tặng bằng khen. Chị luôn cố gắng vượt lên số phận và gặt hái nhiều thành quả cao. Câu nói đã khẳng định vai trò quan trọng của sự nỗ lực đối với việc gặt hái thành công. Sự nỗ lực là rất cần thiết, nếu bạn có chiến lược, có ý tưởng mà không cố gắng thực hiện nó thì tất cả chỉ là con số 0. Là học sinh, chúng ta cần không ngừng học tập cũng như tu dưỡng đạo đức để đạt được thành công trong cuộc sống. Trần Thuỳ Linh (Trường PTDL Lương Thế Vinh) >> Xem thêm Giải thích và chứng minh lời khuyên: “Có chí thì nên” tại đây. Tags:Bài văn hay lớp 8 · Giải thích và chứng minh triết lí
“Trên con đường đi tới thành công không có dấu chân của những kẻ lười biếng” – Bài văn hay lớp 8
860
Bài làm Tình cảm gia đình là một trong những tình cảm rất cao quý và đáng được trân trọng. Tình cảm gia đình bao gồm tình cảm giữa con cháu với ông bà, giữa con cái với cha mẹ… Và quan trọng nhất chính là tình cảm anh em với nhau trong gia đình. Anh em là những người được sinh ra bởi cùng một người bố và người mẹ. Tình cảm anh em là tình cảm giữa người anh và người em trong gia đình. Vì thế nó khác với tình cảm bạn bè hay tình cảm lứa đôi. Là anh em cùng một gia đình, họ thường hay chăm sóc, yêu thương, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau. Hầu hết các xã hội trên thế giới, anh em được sinh trưởng và nuôi dưỡng chung ở thời thơ ấu và sống gần gũi với nhau, chơi đùa với nhau rất thân thiết. Đôi khi có gây gổ nhưng thực chất là họ rất yêu thương nhau. Tình nghĩa anh em giúp chúng ta vượt lên mọi khó khăn trong cuộc sống. Có anh em bên cạnh như là có những người bạn giúp ta vượt qua sóng gió, luôn bên cạnh ta khi ta cô đơn, luôn giúp đỡ bênh vực cho ta, bảo vệ và chăm sóc cho ta. Kho tàng văn học dân gian Việt Nam có rất nhiều câu ca cao tục ngữ, ca ngợi về tình cảm anh em như là câu:” Anh em như thể chân tay – Rách lành đùm bọc dở hay đỡ đần.” Hay trong truyện Sự tích trầu cau kể về tình anh em cảm động giữa hai anh em họ Cao. Họ đã nhường nhau bát cháo duy nhất, khiến cô con gái thầy đồ cảm động, đem lòng yêu mến và thành vợ người anh. Vì hiểu lầm mà người em đã bỏ đi. Tình nghĩa anh em sâu nặng đã khiến đất trời thương xót, biến anh thành cây cau, em thành hòn đá vôi, mãi mãi bên nhau trong tục ăn trầu của người Việt.Xem thêm: Phân tích bài ”Chiều hôm nhớ nhà” của Bà Huyện Thanh Quan Tuy nhiên không phải anh em nào cũng biết yêu thương nhau. Trên thực tế vẫn có những anh em ruột không biết thương nhau, lại hay cãi cọ, bất hòa và ganh tị vì người này hơn mình. Đó là những là những con người không hiểu tình anh em ruột thịt là quí báu chừng nào, sẵn sàng chà đạp tình cảm an hem chỉ vì lợi ích cá nhân của mình. Nhưng cũng có vài người do không được giáo dục từ nhỏ, dẫn tới không nhận thức được cái quý giá của tình cảm anh em. Trong truyện Cây khế, người anh trai tham lam độc ác đã bị người đời lên án và dành cho hắn một kết cục bi thảm là bỏ xác giữa biển khơi. Đó là cái giá phải trả của kẻ đã không biết trân trọng tình cảm anh em ruột thịt. Chúng ta cần phải học cách nhìn ra giá trị và biết trân trọng tình cảm anh em. Cần rèn luyện tính yêu thương, giúp đỡ và cách chăm sóc bênh vực anh em của mình. Phải biết quan tâm lẫn nhau, không nên so đo tính toán thiệt hơn. Anh em là giọt máu sẻ đôi . Tình cảm anh em là tình cảm ruột rà cho nên biết đùm bọc yêu thương lẫn nhau là việc tất yếu. Tóm lại, tình nghĩa anh em là tình cảm cao quý và cần được trân trọng. Tình cảm anh em có ý nghĩa rất to lớn: Mọi thứ vật chất khác thì ta có thể trao đổi mua bán được, còn về tình cảm thì không bao giờ, và ta không có cách gì để cân, đo, đong, đếm được cái gọi là tình cảm anh em.Xem thêm: Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ngợi ca lòng vị tha, tình đoàn kết. Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên
Suy nghĩ của anh (chị) về tình nghĩa anh em trong gia đình
695
Ai chiến thắng mà không hề chiến bại. Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần? Hướng dẫn Ai chiến thắng mà không hề chiến bại. Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần? (Tố Hữu, Dậy mà đi) Dựa vào hai câu thơ trên, anh (chị) hãy viết bài văn bàn về thắng và bại, khôn và dại trong cuộc sống. Sự thành và bại, dại và khôn là những yếu tố luôn tham gia vào sự tạo thành cuộc sống của từng cá nhân. Trong sự đối lập giữa chiến thắng và chiến bại, giữa dại và khôn, con người vẫn thường tìm tới chiến thắng, sự khôn ngoan để xây dựng cuộc sống tốt đẹp như ý muốn. Nhưng ta có nên chỉ tôn trọng chiến thắng mà coi khinh thất bại, tìm sự khôn ngoan và tránh sự dại khờ trong cuộc sống? về vấn đề này, nhà thơ Tố Hữu đã từng viết: Ai chiến thắng mà không hề chiến bại. Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần? (Dậy mà đi) Những dòng thơ ấy đã gợi ra nhiều cách nghĩ, cách nhìn mới rất đáng trân trọng về mối liên hệ giữa thành – bại, dại – khôn trong cuộc sống. Theo cách nhìn nhận thông thường, sự chiến thắng, khôn ngoan được coi là những yếu tố tích cực mà con người có trách nhiệm phải tìm tới để có một cuộc sống nhiều niềm vui. Còn sự thất bại, dại khờ luôn bị đánh giá là những yếu tố tiêu cực chỉ khiến cuộc sống con người thêm nhiều nỗi buồn, trắc trở. Sự phân biệt giữa các yếu tố được xác lập rất rõ, một bên luôn nhận được nhiều sự trân trọng và một bên chỉ có sự ghẻ lạnh, hắt hủi. Nhưng trong câu thơ của Tố Hữu, sự phân định đó đã được thay bằng một cách nhìn mới. Trong cách nhìn ấy, thành và bại, dại và khôn không chỉ đối lập mà còn tương giao, là sự chuyển tiếp lẫn nhau. Sự thất bại, sự dại khờ không là những điều đáng hổ thẹn mà là những thử thách cần phải vượt qua để tìm đến ánh sáng của sự thành công, sự khôn ngoan. Thành và bại, dại và khôn chỉ là những quá trình, những điểm mốc tiếp nối lẫn nhau trong cuộc sống để làm nên sự trưởng thành của từng người. Thất bại giúp con người tìm được kinh nghiệm để vươn tới chiến thắng, và làm sự thành công có thêm ý nghĩa. Sự dại khờ là điểu ai cũng phải trải qua ở những chặng khác nhau của cuộc đời để thêm khôn ngoan, chín chắn. Qua đó, nhà thơ Tố Hữu cũng ngầm khẳng định giá trị của sự bền lòng, bền chí trong mối tương giao giữa thành, bại, dại, khôn. Chính sự bền chí, kiên nhẫn là điều kiện không thể thiếu để mỗi người từ sự thất bại, dại khờ tìm được con đường đúng để vươn tới sự thành công, sự khôn ngoan. Cũng chính sự bền chí là chìa khoá giúp từng người hiểu được vị thế, khả năng của mình giữa những nẻo đường chuyển giao giữa sự thành, bại, dại, khôn. Xem thêm: Cảm nghĩ về người mẹ thân yêu hay nhấtLịch sử đã từng ghi nhận rất nhiều cuộc đời mà thành quả lớn lao của họ gắn liền với nỗ lực họ phải bỏ ra để từ thất bại, dại khờ tìm tới khôn ngoan, thành công. Trong giai đoạn đầu sự nghiệp, văn hào Ban-dắc đã gặp phải nhiều nỗi khổ hơn là niềm vui, nhiều sự chê cười hơn là sự ngợi khen. Nhưng Ban-dắc không vì thế mà đánh mất đi sự tự hào và niềm tin vào khả năng của mình. Càng gập nhiều thử thách, ông càng rút ra nhiều kinh nghiệm và càng nỗ lực sáng tác hơn. Sự nỗ lực và kiên trì đã giúp Ban-dắc từ thất bại tìm tới thành công, từ một cây bút luôn bị coi thường trở thành một đại văn hào. Hoặc như A-rít-xtốt, ông là một trong những nhà triết học, khoa học vĩ đại nhất của thời đại ông. Nhưng để có được sự thành công và uyên bác ấy, bản thân A-rít-xtốt đã phải trải qua rất nhiều khó khăn từ khi còn trẻ. Ngay chính thiên tài Anh-xtanh cũng gặp phải rất nhiều khó khăn thời tuổi trẻ. Nhưng có ai biết ẩn sau sự dại khờ của đứa trẻ Anh-xtanh khi ấy lại là sự khôn ngoan, uyên bácbậc thầy của nhà khoa học Anh-xtanh sau này. Ở những bước chân đầu tiên vào thế giới của các nhà vật lí, Anh-xtanh đã phải rất vất vả để bảo vệ những nghiên cứu của mình. Nhưng khi ông đã vượt qua mọi sự thất bại và dại khờ, cuộc đời ông trở thành một tấm gương mà nhân loại sẽ mãi còn nhớ đến và trân trọng. Không chỉ Ban-dắc, A-rít-xtốt, Anh-xtanh,… còn rất nhiều danh nhân khác mà nhân loại không thể nào quên được sự cống hiến, những thành tựu của họ. Ai cũng phải trải qua một cuộc đời mà thành và bại, dại và khôn luôn chuyển tiếp lẫn nhau. Thất bại, dại khờ chỉ càng là độnglực cho họ sửa sai. Sự thành công và uyên bác không làm họ quên đi khát khao học tập, cống hiến. Với họ, thành và bại, dại và khôn đều không mang ý nghĩa quá tích cực hay tiêu cực mà là những chặng đường mỗi người đều phải vượt qua cho sự trưởng thành của mình. Thành và bại, dại và khôn luôn đến và đi không một lời báo trước. Đó đều là những bài học cuộc sống đem đến cho con người. Không có người luôn thành công hay thất bại,tuyệt đối thông minh hay dại khờ. Chỉ có những người có thể hay không thể nhận ra những cơ hội và thử thách mình gặp phải, cả khi thành công hay thất bại, thông minh hay dại khờ. Điều đáng quý nhất mà lời thơ trên của Tố Hữu đem đến là thái độ tỉnh táo và kiên trì cần có để nhìn rõ quy luật những dòng chảy của thành, bại, dại, khôn. Dù đang đứng giữa yếu tố nào, con người vẫn cần thái độ sống đó. Bằng cách nhìn cuộc sống như vậy, sự thành, bại, dại, khôn tạm thời góp phần tạo nên những gì vĩnh hằng mà một cuộc đời để lại. Thành, bại, dại, khôn chỉ là những yếu tố luôn đến và đi, điều còn ở lại là sự trưởng thành và chín chắn, sự kiên trì và tỉnh táo mà con người tìm ra được. Nhưng dù thành, bại, dại, khôn luôn chuyển tiếp lẫn nhau, yếu tố quyết định sự chuyển tiếp ấy vẫn là nhận thức của con người. Thất bại sẽ mãi còn đó nếu con người không rút ra những kinh nghiệm hợp lí để tìm tới thành công. Sự dại khờ sẽ ám ảnh một cuộc đời mãi mãi nếu cuộc đời đó không có ý thức tìm đến cơ hội để có sự khôn ngoan. Lúc đó, sự thất bại, dại khờ chỉ còn mang nghĩa tiêu cực như những cách nhìn nhận thông thường. Bên cạnh đó, vẫn còn những cá nhân mang cách nhìn rất sai lầm về thành bại. Họ dựa vào sự chuyển tiếp của thành, bại để biện hộ cho một chuỗi những thất bại, dại khờ của mình. Không phải cuộc sống làm họ thất bại mà chính họ đã khiến mình như vậy ngay khi bước vào cuộc sống. Trong cuộc sống vẫn đầy thay đổi của ngày hôm nay, sự đến và đi của thành, bại, dại, khôn càng không thể báo trước. Điều làm nên bản lĩnh sống của từng cá nhân là thái độ, những bước đi của cá nhân đó trong sự luân chuyển giữa các yếu tố trên. Sự sợ hãi, lúng túng, bi quan những lúc vấp ngã vì thử thách chỉ làm mọi việc tồi tệ hơn. Thái độ sống, sự nhìn nhận đúng đắn các yếu tố thành, bại, dại, khôn luôn cần cho mọi thế hệ vì sự tồn tại và phát triển của xã hội. Sự sống đem cho từng cuộc đời những chuỗi thử thách ngẫu nhiên và bất định. Sự thành, bại, dại, khôn là nhữnghình thái khác nhau của những chuỗi thử thách đó. Nhân cách, tâm hồn của từng người luôn được mài giũa, tôi luyện cho một cuộc sống đẹp, ý nghĩa hơn. Trong sự mài luyện ấy, mọi cách nhìn quá coi trọng thành công, quá khinh rẻ thất bại đều không phải là thái độ sống hợp lí. Mỗi người đều phải trải qua sự thành, bại, dại, khôn của riêng mình. Cách nhìn nhận hợp lí vị thế của bản thân ở từng giai đoạn cũng là một cách tạo nên sự trân trọng, niềm tin vào chính mình. Nguồn: thêm: Hãy viết một đoạn văn ngắn (3, 4 câu) kể về một lần em chăm sóc mẹ ốm
Ai chiến thắng mà không hề chiến bại. Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần_
1,535
Ai cũng biết tàn phá rừng là tự thắt cổ mình, vì sự tàn phá đó chính là sự tàn phá môi trường sinh thái… Từ đó, họ có ý thức tốt hơn trong việc bảo vệ rừng Gợi ý Đề bài: Ai cũng biết tàn phá rừng là tự thắt cổ mình, vì sự tàn phá đó chính là sự tàn phá môi trường sinh thái. Em hãy giải thích và chứng minh điều đó để người có hành động phá rừng hiểu việc làm sai lầm của họ. Từ đó, họ có ý thức tốt hơn trong việc bảo vệ rừng Bài làm: Từ khi có Trái đất, loài người đã sinh sống được nhờ môi trường thiên nhiên xung quanh mình: bầu không khí trong lành, nguồn nước mát và đặc biệt là màu xanh kì diệu của muôn ngàn lá cây khác nhau. Vì vậy, nhân dân ta đã có câu: “Rừng vàng, núi bạc” để khẳng định giá trị của rừng và biển. Trong bài luận văn nhỏ này, ta thử bàn bạc, tìm hiểu về rừng và nạn phá rừng sẽ dẫn đến điều gì? Một số người không biết rằng: tàn phá rừng chính là tự thắt cổ mình; vì sự tàn phá đó chính là sự tàn phá môi trường sinh thái, tàn phá môi trường sống của chính mình. Từ xưa đến nay, rừng lá phổi xanh của con người có vai trò rất quan trọng để duy trì sự sống, để người hít thở sử dụng nhưng hiện nay, nạn phá rừng đang là nỗi lo cho các nhà sinh thái.Xem thêm: Nghị luận xã hội về tự học- Văn 12 Trong thực tế, ai cũng biết rừng là nơi cung cấp nguyên liệu làm giấy, xây dựng nhà cửa và vật dụng trong gia đình. Thậm chí, phút cuối cuộc đời cũng nằm trong mấy tấm gỗ của cây rừng… Rừng còn là kho dược liệu vô giá mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người. Rừng còn là nơi sinh sống, trú ngụ cho biết bao loài động vật, côn trùng khác. Rừng phục vụ cho du lịch, là nơi nghỉ mát, nơi cắm trại lí tưởng cho mọi người… Rừng cần cho cuộc sống biết nhường nào. Nhưng quan trọng hơn hết, rừng chính là môi trường sinh thái, là môi trường sống cho loài người. Các quá trình quang hợp của cây xanh liên tục xảy ra, cây hít khí cacbonic (CO2) vào để rồi tạo ra khí Oxi, một thứ khí rất cần thiết cho cuộc sống. Đơn giản hơn, rừng chính là một “nhà máy lọc bụi tối tân nhất” mà chưa có một nhà máy nào trên thế giới có thể sánh nổi. Rừng điều tiết khí hậu. Rừng là lá chắn vững chắc nhất, là rào cản đầu tiên trước mọi biêh động thiên tai. Rừng cản lũ, cản lụt, rừng chống sa mạc hóa, rừng ngăn cát lấn đất, rừng giữ đất, giữ nước… Khi đã hiểu được vai trò của rừng đốì với môi trường sinh thái, ta mới cảm nhận được hậu quả tai hại của việc tàn phá rừng. Có thích thú gì đâu khi đứng trên một mảnh đất mà xưa kia đã từng là rừng hiện giờ đang bị ánh lửa mặt trời thiêu đốt. Có sung sướng gì đâu khi phải bước chân trên sa mạc cát nóng rát cháy cả đôi chân, đôi môi thì khô khóc đắng cả miệng, khắp nơi chỉ có gió và cát bay mịt mù. Lúc ấy, sao mà thèm., một quảng xanh mát, một bóng râm, một vũng nước trong để có thể dừng chân nghĩ ngơi. Hoặc cảm giác chán chường khi thấy một ngọn núi toàn là đá, (có cây đâu mà giữ đất). Nguy hiểm hơn cả là vấn đề khí thở. Hằng ngày trên thế giới có biết bao nhà máy thải khí độc vào bầu khí quyển, biết bao bụi bặm trên các đường phố biết bao con người đang chia nhau từng hớp không khí ô nhiễm dưới cái nắng chang chang, xung quanh chẳng có một tí bóng râm nào, chỉ toàn là khối bê tông xám xịt, cao ngất, che lấp cả bầu trời. Nếu vắng bóng rừng một khoảng thời gian dài thì cả Trái Đất sẽ khô cứng lại, và cả nhân loại sẽ chết dần chết mòn. Lúc ấy, dầu nhà cao cửa rộng, dẫu bạc vàng chất đống, con người chỉ mong một cánh rừng xanh tốt mà nước mắt ràn rụa, tiếc nuối, xót xa khi nghĩ đến cánh rừng bạt ngàn xưa kia. Còn nữa, rùng vốn để chống thiên tai, bây giờ mất rừng rồi mọi tai họa trước kia ít gây thiệt hại, nay bỗng chốc trở thành đại họa. Lũ lụt, sa mạc hóa, hạn hán; bão lụt xảy ra khắp nơi. Ớ nước ta, lũ lụt và bão hoành hành ở khắp nơi, nguyên do cũng tại phá rùng.Xem thêm: Phân tích bài thơ “Mình về mình có nhớ ta…. nói… Thêm vào đó, thú rừng chẳng còn nơi sinh sống, tràn xuống thành thị, gây biết bao tai họa. Nếu thiếu rừng, thì còn gì là kho thuốc vô tận của thiên nhiên, lấy đâu ra nguyên vật liệu để phục vụ cho các ngành sản xuất, lấy gì làm chỗ nghỉ ngơi… Trước tai họa đó, con người phải làm gì? S.O.S báo động toàn thế giới: Đã đến lúc ta phải bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường sinh thái. Hội nghị quốc tế thượng đỉnh năm qua họp cũng chỉ để bàn về một vấn đề duy nhất: bảo vệ môi trường. Uỷ ban Bảo vệ Môi trường Thế giới đã kêu gọi các quốc gia trên thế giới cùng hợp tác để bảo vệ môi trường sinh thái bằng nhiều cách khác nhau. Đó là vấn đề chung của toàn nhân loại. Riêng cá nhân ta, ta phải làm gì? Quá rõ: giảm tối thiểu việc khai thác rừng, ngăn chặn triệt để việc phá rừng bừa bãi, bảo vệ tốt hơn trong việc bảo vệ rừng… Không quá trễ để ta thực hiện nhiệm vụ bảo vệ rừng. Nhưng cũng không sớm để báo động về việc các cánh rừng đang biến mất khỏi Trái Đất. Chúng ta phải cùng nhau bảo vệ rừng, không thể để nước đến chân mới nhảy, lúc đó là đã quá muộn, con người đã tự giết mình. Vanmau.edu.vn
Ai cũng biết tàn phá rừng là tự thắt cổ mình, vì sự tàn phá đó chính là sự tàn phá môi trường sinh thái… Từ đó, họ có ý thức tốt hơn trong việc bảo vệ rừng
1,079
Ai ngủ trong mùa xuân sẽ phải khóc trong mùa hè. Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về câu nói trên. Hướng dẫn – Giải thích ý kiến: + Câu nói trên giống như một câu chuyện ngụ ngôn. Mùa xuân là mùa gieo trồng, mùa hè là mùa thu hoạch. Mùa xuân cũng có thể hiểu là tuổi trẻ của con người trong khi đó mùa hè có thể hiểu là tuổi trưởng thành. Mùa xuân là giai đoạn trước của mùa hè. Ngủ và khóc cũng có thể hiểu theo nhiều cách. Ngủ là không hoạt động, là nghỉ ngơi, nó gợi cho chúng ta nghĩ đến sự lười nhác. Khóc là sự đau buồn. Nếu trong giai đoạn trước, giai đoạn gieo trồng, trong tuổi trẻ ta lười nhác, ngủ, nghỉ ngơi thì đến giai đoạn sau ta sẽ phải hối tiếc. + Nội dung của ý kiến: câu nói trên cho chúng ta một lời cảnh tỉnh: không nên lười nhác, buông xuôi bởi nếu hôm nay ta lười nhác, ngủ say thì ngày mai ta sẽ phải khóc thương vì nhận hậu quả xấu. – Bàn luận về ý kiến: + Cuộc đời mỗi con người luôn trải qua những giai đoạn nối tiếp nhau, giai đoạn sau kế tiếp giai đoạn trước, giai đoạn sau là kết quả của giai đoạn trước. Việc ngày hôm nay bắt nguồn từ những điều ta làm hôm qua và việc hôm nay ta làm sẽ tác động đến ngày mai. Xem thêm: Tuyên ngôn Độc lập thể hiện phong cách nghệ thuật của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong văn chính luận: ngắn gọn, trong sáng, giản dị mà súc tích, đanh thép, sắc sảo+ Nếu trong giai đoạn trước ta chuẩn bị tốt thì đến giai đoạn sau ta sẽ có hi vọng thu nhận được những kết quả tốt. + Nếu giai đoạn trước ta lười nhác, thiếu ý thức thì đến giai đoạn sau ta sẽ phải nhận những hậu quả xấu. + Tất nhiên, không phải cứ gieo gì là được gặt nấy. Còn có nhiều yếu tố khác chi phối cuộc sống của chúng ta. Có những điều ta đã chuẩn bị chu đáo nhưng vì những nguyên nhân khách quan mà sau đó, ta vẫn có thể thất bại. Ta có thể học hành chăm chỉ chuẩn bị cho một kì thi nhưng đến ngày thi, ta vẫn có thể thất bại vì một nguyên nhân nào đó ví dụ như bị ốm khi đi thi hay vì một điều gì đó làm ta buồn phiền không thể làm tốt bài thi. Mặc dù vậy, điều chắc chắn là nếu hôm nay ta không chuẩn bị thì ngày mai không thể có kết quả tốt đẹp. Nếu hôm nay ta không học hành thì ngày mai ta không thể thi tốt. – Bài học nhận thức và hành động: cần phải sống với ý thức rằng ngày mai đang bắt đầu từ hôm nay, rằng những điều ta làm hôm nay đang là sự chuẩn bị cho ngày mai, chính vì vậy nên không được một phút lười biếng, lơi là, không được ngủ để ngày mai phải khóc. Nguồn: thêm: Kể về một tấm gương tốt trong học tập hay nhất
Ai ngủ trong mùa xuân sẽ phải khóc trong mùa hè. Trình bày suy nghĩ của anh (chị) về câu nói trên.
541
Ai trong đời hẳn đã có ít nhất một lần đi khám bệnh. Hình dung của bạn về nghề thầy thnốc Gợi ý Nghề y là một nghề hết sức đặc biệt, liên quan trực tiếp đến sinh mạng của con người nên phải được luyện rất lâu, rất kĩ, mà giai đoạn đầu đã phải mất ít nhất 6-8 năm ở trường đại học, sau đó còn phải học thêm 3-4 năm nữa để có thể thành một thầy thuốc có đủ năng lực hành nghề. Rồi phải thêm chừng 10 năm kinh nghiệm mới có thể gọi là thấu đáo, vững vàng trong nghề nghiệp. Trong huấn luyện, họ phải rèn tập những kĩ năng gần như “máy móc hóa”: mỗi làn dao, mỗi mũi kim đều không thể ngẫu hứng tình cờ. Họ cũng phải học cả những thái độ, cử chỉ, cách ứng xử với từng trường hợp – giờ giác hoạt động của họ được lên khuôn — chương trình hóa một cách chính xác… Rồi cả cách ăn mặc, cách nói năng. Rồi những tiêu chuẩn, những đòi hỏi trong phẩm chất đạo đức. Họ chịu trách nhiệm về phần xác và cả phần hồn của thân chủ. Một sự chậm trễ, thờ ơ của họ có thể làm chết người. Một sự cẩu thả của họ trong lời ăn tiếng nói có thể gây nỗi đau cho người khác. Chỉ có họ mới đang đêm khuya khoắt người ta có thể dựng dậy để nghe mô tả về phân, về nước ốì, về sự khó ở của mình. Và cũng chỉ có họ mới được người ta tin cậy thổ lộ hết tâm can, những đau đớn về thể chất, tinh thần, cũng như sẵn sàng cởi bỏ quần áo để được thăm khám không chút e dè bởi tin rằng họ đã thề trước ông tể nghề y là không bao giờ tiết lộ bí mật của người bệnh. Có những điều người bệnh không thể nói với ai dù là cha mẹ, vợ chồng, con cái mà chỉ nói được với người thầy thuốc!Xem thêm: "Ý tại ngôn ngoại” là một trong những đặc trưng tiêu biểu của thơ Đường. Anh (chị) hãy chứng minh đặc trưng đó qua các bài thơ Đường đã học trong chương trình Để rèn luyện một nghề nghiệp như vậy, họ – ngay từ những ngày đầu – đã được khoác lên người chiếc áo blouse trắng, bỏ đi bộ quần áo quen thuộc, nếp sông cũ ở ngoài kia. Họ mày mò với xác chết, với các bộ xương người, họ qua lại trong môi trường đầy không khí trang nghiêm, trách nhiệm cao – sơ sẩy là chết người. Họ tập nghe tiếng rên la, tập nhìn con người trần trụi, tênh hênh với những sự thật phũ phàng, với những đớn đau của nó. Để rồi ngày tháng dần qua, họ đổi thay lúc nào không hay, họ nói năng như mệnh lệnh, họ nhìn như quan sát, họ hỏi như điều tra, họ bình tĩnh đến lạnh lùng, họ che giấu cảm xúc rất khéo léo – nghĩa là họ thành một con người khác: một bác sĩ, một người thầy thuốc! Mối quan hệ giữa thầy thuốc và bệnh nhân là một môi quan hệ đặc biệt. Người bệnh đến với thầy thuốc không phải để tìm kiếm thuốc men hay những thông tin liên quan đến bệnh tật, mà còn mang theo cả những nỗi băn khoăn, lo lắng, sợ hãi… Và như vậy, nhiều khi chỉ cần nói một câu nói, một cái nhìn, một bàn tay… của người thầy thuốc cũng đủ giải quyết vấn đề của người bệnh! Một bệnh nhân đang âu lo, sợ hãi, mất ăn mất ngủ vì nghĩ mình bị ung thư chỉ cần bác sĩ chuyên khoa thăm khám kĩ càng rồi kết luận “không phải ung thư đâu!, “đừng lo!” thì gánh nặng tức khắc được đặt xuống, mọi việc hoàn toàn đổi khác mà không cần đến một viên thuốc! Thế nên người có bệnh vẫn sẵn sàng lội suối trèo non tìm đến người thầy thuốc giỏi để chữa, không phải vì cơ ngơi bề thế, trang thiết bị tân kì mà chính vì kiến thức chuyên môn, kinh nghiệm tích lũy và tình người thấm đẫm kia của họ.Xem thêm: Viết một đoạn văn thuật lại ý kiến của các bạn trong nhóm em về những việc cần làm dể bảo vệ môi trường của các bạn nhóm 2 Người thầy thuốc nào khi bước vào trường y cũng với tâm nguyện vì người, đó là một thiên hướng trong việc chọn nghiệp, chứ không phải là một sự đầu tư…! Nghề y không thể coi là một ngành kinh doanh, một mũi nhọn kinh tế, vì nếu như thế người ta sẽ nghĩ đến việc khai thác tôi đa lợi nhuận trên sức khỏe con người! Người thầy thuốc thường mất ăn mất ngủ trước một ca bệnh lí, thường bứt rứt ăn năn dài lâu trước một lỡ lầm đôi khi không sao tránh khỏi trong lúc hành nghề! Xã hội cần tôn trọng và đánh giá đúng sự đóng góp của người thầy thuốc để giúp họ sống xứng đáng với vai trò, chức năng mà xã hội đã giao phó. BS. ĐỖ HỒNG NGỌC. (Tuổi trẻ, 27/2/2008) Vanmau.edu.vn
Ai trong đời hẳn đã có ít nhất một lần đi khám bệnh. Hình dung của bạn về nghề thầy thnốc
894
Anh (chị) Bình luận ý kiến sau đây của triết học gia Hi Lạp Dê – nông (364 – 254 trước Công nguyên): “Chúng ta có hai tai và một miệng để nghe nhiều hơn và nói ít hơn” Gợi ý Ai cũng có miệng để ăn nói, có tai để nghe. Nói như thế nào, nghe như thế nào là cả một nghệ thuật sống trong giao tiếp hằng ngày, trong ứng xử giữa người với người trong cộng đồng. Câu nói của nhà triết học Hi Lạp Dê-nông (346 – 264 trước Công nguyên) là một lời khuyên sâu sắc để chúng ta ghi lòng và suy nghĩ: "Chúng ta có hai tai và một miệng để nghe nhiều hơn và nói ít hơn ”. Câu nói trên đây của Dê-nông hướng tới kẻ bẻm mép. Kẻ bẻm mép còn gọi là kẻ trém mép, những kẻ nói hay mà ít làm, không chịu làm. Hai chữ "chúng ta” trong câu nói của Dê-nông như một lời tâm sự, một điều chiêm nghiệm nên không làm mất lòng đối với người đang đối thoại, dù đó là kẻ bẻm mép. Dê-nông đã từ một hiện thực cụ thể hiển nhiên là "chúng ta có hai tai và một mồm” để rút ra một bài học. một chân lí. một lời khuyên giản dị mà sâu sắc: ai cũng nên nghe nhiều hơn và nói ít hơn. Tại sao trong giao tiếp cần nghe nhiều hơn và nói ít hơn? Kẻ bẻm mép thường ăn nói ba hoa, khoe mẽ; nói dù chuyện trên trời dưới đất. Ăn nói khoe khoang là bản tính của kẻ bẻm mép. Lúc giao tiếp, lúc đối thoại với bất cứ ai, ké bẻm mép bao giờ cũng vậy. ăn nói huyên thuyên, hết đưa ra cái lí lẽ này, lời bình phẩm nọ, tung ra mọi tin tức thông báo, rồi nhận xét, đánh giá. Anh ta cũng có hai tai đấy, nhưng không biết lắng nghe mà chỉ huyên thuyên khoe biết, khoe tài, khoe giỏi. Anh ta có biết đâu, những người đang nghe anh ta nói khó chịu và coi thường anh ta. Xem thêm: Sống như thế nào trong thế kỉ XXI? (đề mở) Trong giao tiếp cần nghe nhiều hơn, nói ít hơm. Nói là để biểu đạt tình cảm, tư tưởng, nhận thức, sự hiểu biết của mình. Phải biết làm chủ bán thân mình nên phải nói ít. Biết mười nói một, làm nhiều nói ít là người khôn. Tục ngữ có câu:. "Người khôn nói ít làm nhiều, Không như người dại lắm điều rởm tai ”. "Khôn ngoan chẳng lo nói nhiều, Người khôn mới nói nửa điều cũng khôn ”. Nói ít nghe nhiều lúc giao tiếp là thể hiện sự khiêm nhường, lịch sự, đức tính chín chắn. Ngay cả lúc tranh luận, bàn cãi về bất cứ chuyện gì, ta cũng phải làm chủ thái độ, làm chủ ngôn ngữ, đừng cướp lời, đừng đỏ mặt tía tai, đừng vừa nói vừa vung tay! Nói ít nghe nhiều thì mới học được điều hay, điều tốt đẹp. Ông bà, cha mẹ thường dạy bảo con cháu: "Học ăn, hoc nói, học gói, học mở”. Học ăn. nói, gói, mở… để ứng xử, để giao tiếp, để tu dưỡng nhân cách, đạo đức. Ngôn ngữ là thước đo là sự phản ánh vốn sống, sự hiểu biết, đạo đức, trình độ học vấn của mỗi người. Trong giao tiếp, bất cứ ai cũng vậy, nên nói ít nghe nhiều, phải suy nghĩ chín chắn rồi mới nói. Nghe nhiều, nói ít mới đúng là người có nhân cách văn hóa. Đó đây trong nhà trường, ở đường phố, trên báo chí;… ta thường bắt gặp những kẻ da sự, nói nhiều. Có kẻ nói nhiều đã trở thành bệnh lí, cố tật. Kẻ bẻm mép có biết đâu bị thiên hạ cười chê. Nói dài, nói dai, nói dại; Đất xấu trồng cây khắng khiu / Những người thô tục nói điều phàm phu – những lời châm biếm ấy của dân gian hình như những kẻ bém mép chưa bao giờ được nghe, chưa bao giờ nghĩ tới. Xem thêm: Cảm nhận về bài thơ Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng Trong xã hội mới, trong nền kinh tế tri thức, bài học nghe nhiều, nói ít vẫn rất thiết thực và bổ ích đối với thế hệ trẻ chúng ta. Học cho rộng, suy cho kĩ, nghĩ cho sâu mới là con người mới. Nói và làm phải đi đôi với nhau, cổ nhân đã từng lưu ý: "Ngôn quá kì hành, bất khà trọng dụng”, nghĩa là nói nhiều hơn làm, không dung việc lớn được. Ngày nay, việc lớn là công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước thì không thể dùng những kẻ bẻm mép nói nhiều hơn làm được. Sau hơn hai nghìn năm, câu nói trên đây của nhà triết học Hi Lạp Dê-nông vẫn còn nguyên giá trị. Nghe nhiều hơn và nói ít hơn là một lời khuyên đẹp, một bài học nhẹ nhàng mà sâu sắc, thấm thía. Nói ít, nghe nhiều, làm giỏi là thước đo giá trị và nhân phẩm. Nhắc lại câu nói của Dê-nông, làm theo câu nói của Dê-nông là để sống đẹp. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) Bình luận ý kiến sau đây của triết học gia Hi Lạp Dê – nông (364 – 254 trước Công nguyên)_ “Chúng ta có hai tai và một miệng để nghe nhiều hơn và nói ít hơn”
886
Anh (chị) có cảm nhận gì về linh hồn sông nước quê hương trong bài Tràng giang của nhà thơ Huy Cận Gợi ý Trước cách mạng, thơ Huy Cận thường biểu hiện nỗi "sầu vạn kỷ". Ông hay nói về vũ trụ, về không gian bao la dường như vĩnh cửu. Thơ Huy Cận hàm súc vừa có chất cổ điển, vừa giàu chất suy tưởng, triết lý. Trong những sáng tác của Huy Cận trước Cách mạng, đáng chú ý hơn cả là tập Lừa thiêng (1940). Ở tập thơ đưa tác giả lên thành một trong những cây bút tiêu biểu cho giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của phong trào Thơ mới. Tràng giang được in trong tập Lửa thiêng (1940) và là một trong những bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Huy Cận. Theo tác giả, tứ thơ Tràng giang, được hình thành vào một buổi chiều mùa thu 1939, khi nhà thơ đứng ở bờ nam bến Chèm (Hà Nội), nhìn cảnh sông Hồng mênh mông sông nước, bốn bể bao la vắng lặng, nghĩ về kiếp người trôi nổi. Tuy sửa đi sửa lại tới 17 lẩn, nhưng hai câu đầu vẫn được giữ nguyên. Mới đọc, có khi nhầm Tràng giang là một bài thơ thuần túy tà cảnh thiên nhiên. Nhưng nghiền ngẫm cho kỹ mới thấy điều tác già muốn nói đến trong bài thơ này tuyệt nhiên không phải là cái hữu hình, nhất thời; mà là cái vô hình, cái vĩnh viễn. Đúng như Hoài Thanh đã khẳng định: ("Huy Cận có lẽ đã sống một cuộc đời rất bình thường, nhưng Người luôn luôn lắng nghe mình sống để ghi lấy cái nhịp nhàng lặng lẽ của thế giới bên trong"). Cái "thế giới bên trong", cái linh hồn của tạo vật trong bài Tràng giang là nỗi buổn xa vầng mênh mông. Dòng sông và con người; không gian bao la và tâm trạng vì thế; đó là một tứ thơ cổ điển: Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp, Con thuyên xuôi mái nước song song, Bài thơ có tựa đế "Tràng giang", câu thư đầu tiên lại nhắc lại tựa đề. Tràng giang chứ không phải Trường giang; mặc dù Trường giang và Tràng giang đểu có cùng một ngữ nghĩa. Cách điệp vần "ang", Tràng giang góp phần tạo nên dư âm vang xa, trầm lắng của câu thơ mở đầu, tạo nên âm hưởng chung cho toàn bộ giọng điệu của cả hài thơ. Mặt khác, "Tràng giang" còn gợi lên được hình ảnh một con sông dài và rộng, vừa là trường giang, vừa là đại giang. Phải chăng, đầy là sông Hồng, hoặc sông Cửu Long, bền bỉ muôn đời, đã từng chứng kiến bao thăng trầm của lịch sử? Và suy cho cùng, sức mạnh của hai câu thơ trên không phải là nghệ thuật, miêu tả, mà ở nghệ thuật khêu gợi; khêu gợi được cả xúc càm và ấn tượng về một nỗi buổn triền miên kéo dài theo không gian (tràng giang), và theo thời gian (điệp điệp). Huy Cận cũng như phần đông các thi sĩ trong phong trào Thơ mới đều chịu ảnh hưởng khá rõ của thơ tượng trưng phương Tây thế kỷ XIX. Trong bài Tình trai, Xuân Diệu đã tự ví mình và Huy Cận như là đôi bạn Rembô và Veclen của thơ ca Pháp "Tôi nhớ Rein-bô với Vec-len. Hai chàng thi sĩ choảng hơi men – Say thơ xa lạ mê tình bạn – Khinh rẻ khuôn mòn bỏ lối quen"… Tuy vậy, Huy Cận còn là người rất thích thơ Đường và trân trọng vốn thơ ca dân tộc. Ngay từ tuổi thiếu niên, tác giả đã thuộc lòng khá nhiêu ca dao, thơ của Nguyễn Du, Đỗ Phủ, Thồi Hiệu… Trong sáng tác của ông, người đọc ít nhiều càm nhận được dấu ấn của Đường thi, cũng như thơ tượng trưng Pháp cổ điều đáng quý là chúng đã được Việt hóa, nói cho đúng hơn là đã được Huy Cận hóaXem thêm: Bàn về chuyện chơi và nghiện game Online Ở khổ thơ đầu, củng như toàn bộ bài Tràng giang, nghệ thuật đối của thơ Đường đã được vận dụng hết sức linh hoạt, chủ yếu đối về ý, chứ không bị câu thúc về niêm, luật như cách đối trong thơ Cổ. Chẳng hạn "Sóng gọn tràng giang buồn điệp điệp", có thể coi là đổi với "Con thuyên xuôi mái nước song song"; "Nắng xuống, trời lên sâu chót vót", đối với: "Sông dài, trời rộng, bến cô liêu". Hoặc, ở một cặp đối khác: "Bèo dạt về đầu, hàng nối hàng; – Mênh mông không một chuyến dò ngang" lại cũng có thể đối với "Không cầu gợi chút niềm thân mật, – Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng"… Nghệ thuật đối ý (và đối xứng) nói trên, một mặt, làm cho giọng điệu của bài thơ uyển chuyển, linh hoạt, (tránh được sự khuôn sáo, cứng nhắc dễ thấy đối vói một số bài thơ Đường luật hồi đầu thế kỷ); mặt khác, vẫn phát huy được một trong nhưng thế mạnh của loại thơ này, tạo nên không khí trang trọng cổ điển. Bên cạnh đó, nghệ thuật dùng tư láy như "điệp điệp", "song song" cùng có hiệu quả nhất định gơi âm hưởng Cổ kính. Nhưng Tràng giang vẫn là một bài thơ hiện đại. Trước hết, hiện đại ở hình ảnh, ờ thi liệu, ở cảm xúc: Thuyền về nước lại sau trăm ngả; Cùi một cánh khô lạc mấy dòng. Vào những nãm 30, đây là những Câu thơ mới mẻ; bởi trong đó xuất hiện cái tầm thường nhỏ nhoi, vô nghĩa như "củi một cành khô". Thơ xưa chủ yếu là địa hạt giành riêng cho những "tao nhân mặc khách"; hầu như thiếu vắng cái hiện thực khô ráp của đời thường. Đến thời Thơ Mới, nó mới xuất hiện, góp phán tạo nên "cuộc cách mạng trong thơ" (Hoài Thanh). Hình ảnh một cành củi khô đơn lẻ trôi bồng bềnh, trên dòng sông mênh mông sóng nước gợi lên nỗi buôn về kiếp người nhỏ bé, vô định. Đến khổ thơ thứ hai, nỗi buồn càng như thấm sâu vào cảnh vật: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Dẫu tiếng làng xa vãn chợ chiều, Nắng xuống, trời lên sâu chót vót; Sông dài, trời rộng, bển cô liêu. Theo Huy Cận, từ "đìu hiu" ông học được trong bản dịch Chinh phụ ngâm: "Non Kỳ quạnh quẽ trăng treo – Bến Phi gió thổi đìu hiu mấy gò". Cặp từ láy "lơ thơ" và "đìu hiu" gợi lên được sự buốn bã, quanh vắng, cô đơn… Chợ chiểu thường buổn tẻ, không có được cái nhộp nhịp, hào hứng của chợ sáng, chợ trưa. Đoàn Văn Cừ đã đặc tả thành cong nét buồn này bằng những câu kết của bài thơ Chợ Tết nổi tiếng- "Ánh dương vàng trên cỏ kéo lê thê – Lả đa rụng tơi bời quanh quán chợ". Trong Tràng giang, tiếng chợ chiều đã vãn từ một làng xa nào vẳng lại đă gợi một không khí buồn vắng, cô tịch:Xem thêm: Trong Hạnh phúc của một tang gia (Số đỏ), Vũ Trọng Phụng viết: "Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”. Hãy chứng tỏ điều đó qua các nhân vật và làm sáng tỏ một thứ "thế thái nhân tình” được xây dựng trên: sự tàn nhẫn và sự dối trá Nắng xuống trời lên sâu chót vót; Sòng dài, trời rộng, bến cô liêu. Đây là mấy câu thơ có giá trị tạo hình không gian được mở rộng, và đẩy cao thêm. "Sâu" gợi lên ở người đọc ấn tượng thăm thẳm, hun hút khôn cùng. "Chót vót" gợi tả chiều cao vô tận. Càng rộng, càng sâu, càng cao, thì cành vật càng thêm vắng lặng, chỉ có sông dài, với bến bờ lẻ loi xa vắng (cô liêu). Nỗi buồn tựa hổ thấm vào không gian ba chiều. Con người trở nên bé bỏng, có phần rợn ngợp trước vũ trụ vĩnh hằng, rộng lớn, không khỏi thấy "lạc loài giữa cái mênh mông của đất trời, cái xa vắng của thời gian). Ấn tượng nói trên lại được tô đậm thêm ở khổ thơ tiếp thơ: Bèo dạt về đâu hàng nối hàng; Mênh mông không một chuyến dò ngang Không cầu gợi chút niềm thân mật, Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng. Vẫn trong mạch cảm xúc ở hai khổ đầu, nỗi buốn càng được khắc sâu qua hình ảnh những cánh bèo trôi dạt lênh đênh. Bên cạnh những hình ảnh thuyền và nước như cũng trôi về cõi vô biên, hình ảnh cành củi khô bập bềnh trên sông nước ở khổ một, đến khổ thơ này, ấn tượng về sự chia ly, tan tác được láy lại một lần nữa, càng gợi thêm một nỗi buồn mênh mông. Toàn cảnh sông dài, trời rộng tuyệt nhiên không có bóng con người; "không một chuyến đò", Đồng thời cũng không có lấy một cây cầu – nhờ chúng có thể tạo nên sự gần giũ giữa con người, với con người; mà chỉ có thiên nhiên (bờ xanh) nối tiếp với thiên nhiên (bãi vàng) xa vắng, hoang sơ. Như vậy, sự cô quạnh đã được thi sĩ đặc tả độc đáo bằng chính cái không tồn tại. Thực ra, điều này còn có thể nhận thấy ở khổ bốn ("Không khói hoàng hồn.."), nhưng rõ nhất vẫn là ở khổ ba. Bởi vậy, có thể nói, thái độ phủ định thực tại của tác già nằm ngay ở trong kết cấu của bài thơ. Khổ kết bài thơ mượn một số cách diễn đạt của thơ Đường, mà vản giữ được nét riêng biệt của Thơ mới, và vẫn thể hiện nét độc đáo của hồn thơ Huy Cận: Lớp lớp mây cao đùn núi bạc Chim nghiêng cảnh nhỏ: bóng chiều sa, Lòng quê dờn dợn vời con nước, Không khỏi hoàng hồn cũng nhớ nhà. Thiên nhiên buổn, nhưng cũng thật tráng lệ. Mùa thu, những đám máy trắng đùn lên trùng điệp ở phía chân trời. Ánh dương phàn chiếu trông lấp lánh như những núi bạc. Nét đặc trưng này của mùa thu đã được Đỗ Phù mô tà trong bài Thu hứng "Giang gian ba lãng kiêm thiên dũng – Tái thượng phong vân tiếp địa âm", Nguyễn Công Trứ đã dịch một cách tài hoa: "Lưng trời sóng gợm lòng sông thẳm – Mặt đất mây đùn cửa ải xa". Lấy lại ý thơ của người xưa, hình ảnh "mây cao đùn núi bạc" tạo được ấn tượng về sự hùng vỉ của thiên nhiên. Trước cảnh sông nước mây trời bao la và hùng vĩ ấy, bỗng hiện lên một cánh chim bé bỏng, nó chỉ cần nghiêng cánh là cả bóng chiều sa xuống Hình ảnh cánh chim đơn lẻ, trong một buổi chiều tà cũng dễ gợi lên một nỗi buổn xa vắng. (Chim hôm thoi thót về rừng – Đóa trà mi đã ngậm trăng nửa vành. Truyện Kiều – Nguyễn Du). Nhưng điều đáng nói hơn ở đây chính là hiệu quả của nghệ thuật đối lập; đối lập giữa cánh chim nhỏ bé với vũ trụ bao la, hùng vĩ. Phải chăng, điều này đã làm cho cảnh thiên nhiên rộng hơn, thoáng hơn, hùng vỉ hơn và đặc biệt cũng buồn hơn?Xem thêm: So sánh gương mặt đất nước trong hai bài thơ cùng tên của Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm Như vậy, đi suốt bài thơ là một nỗi buôn triền miên, vô tận. Nỗi buồn ở bài thơ này cũng như phần nhiều nỗi buồn của các nhà Thơ mới, trước hết, chính là nỗi buồn của cả thế hệ, của cả dân tộc, trong những nôm ngột ngạt, dưới thời thuộc Pháp. Và chẳng, có lẽ nỗi buồn nói trên còn xuất phát từ chính quan niệm mĩ học của các nhà thơ lãng mạn đương thời. Theo họ, cái đẹp thường đi sóng đôi với cái buồn. Bôđơle, người được Rembô mệnh danh là "hoàng đế của các nhà thơ", đã từng có câu thơ nổi tiếng: "Em cứ đẹp, và em mãi buồn". Và chăng, cái buồn của Huy Cận ở bài thơ này, trước sau, vẫn là cái buồn trong sáng, góp phần làm phong phú thêm tâm hồn cùa bạn đoc; nó cũng như "cái buồn đã làm nên sức hấp dẫn mê hồn của thơ ca dân gian Nga", như Biẻlinxki đã nhận xét. Bài thơ có ý vị cổ điển, tạo nên được những vang hưởng kỳ lạ do tác già đã chọn được thể thơ thích hợp (gần với thể Cổ phong), vận dung tự nhiên lối đối, sử dụng có hiệu quả, với tần số cao, hệ thống từ láy (10 lần trong 16 dòng thơ), và cách ngắt nhịp truyền thống… Chất cổ điển đặc biệt rõ ở câu kết. Thôi Hiệu nhìn khói sông nhớ đến quê hương ("Nhật mộ hương quan hà xứ thị? – Yên ba giang thượng sử nhân sầu" – Hoàng Hạc lâu. Tản Đà dịch: "Quê hương khuất bóng hoàng hồn – Trên sông khỏi sóng cho buồn lòng ai?. Huy Cận không cần có khói sóng – không cần có cái gợi nhớ – mà lòng vẫn dợn dợn nhớ nhà. Rõ ràng, nỗi nhớ của Huy Cận da diết hơn, thường trực hơn và cháy bỏng hơn: do dó, hiện đại hơn! Cổ kính, trang nghiêm, Tràng giang còn là một bài thơ rất Việt Nam. Dòng sông sóng gợn, con thuyền xuôi mái chèo, cành củi khô bồng bềnh, cánh bèo lênh đênh, chợ chiều của làng quê, cánh chim trong buổi chiều tà… thật gần gũi với người Việt Nam chúng ta. Đọc bài thơ này, nhiều người nhớ đến cái làng sơn cước heo hút bên bờ sông Thâm, cạnh núi Mồng gà, thuộc đẩt Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nơi chôn rau cắt rốn của nhà thơ. Suy cho cùng, ”Tràng giang là một bài thơ ca ngợi non sông đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn Tổ quốc" Vanmau.edu.vn
Anh (chị) có cảm nhận gì về linh hồn sông nước quê hương trong bài Tràng giang của nhà thơ Huy Cận
2,389
Anh (chị) có suy nghĩ gì về hình tượng dòng sông trong tập trường ca Mặt đường khát vọng? Gợi ý Đề bài: Bình giảng đoạn thơ sau đây trong đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm: Ôi những dòng sông bắt nước từ đâu Mà về đến Đất Nước mình thì bắt lên câu hát Người đến hát khi chèo đò, kéo thuyền vượt thác Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi… ( Văn học 12, tập một, Nxb. Giáo dục, 2000, tr.250 – 251) Anh (chị) có suy nghĩ gì về hình tượng dòng sông trong tập trường ca Mặt đường khát vọng? Gợi ý làm bài – Hình tượng trung tâm của bản trường ca Mặt đường khát vọng là đất nước. Nhưng trong một bản trường ca, hình tượng ấy không tồn tại độc lập mà được bổ sung, thể hiện dưới nhiều dạng thức khác nhau. Dòng sông là một dạng thức của hình tượng đất nước. Vì thế, để hiểu về dòng sông trong tác phẩm này không thể tách rời với hình tượng đất nước, với cảm xúc, tư tưởng của nhà thơ về đất nước và ngược lại, để hiểu về đất nước, không thể không dựa trên cơ sở của nhiều hình tượng khác, mà dòng sông là hình tượng tiêu biểu. – Bên cạnh việc bình giảng đoạn thơ đã nêu trong đề bài, cần chú ý nhiều đoạn thơ, câu thơ khác viết về dòng sông trong cả tập trường ca. Hình tượng dòng sông xuất hiện ở khắp các khúc (chương) của tập trường ca. Mỗi lần xuât hiện, dòng sông mang một gương mặt, ý nghĩa khác nhau:Xem thêm: Nghệ thuật khắc họa tính cách nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử tù“ của Nguyễn Tuân– Ta đã đi qua những năm tháng không ngờ Vô tư quá để bây giờ xao xuyến Bèo lục bình mênh mang màu mực tím Nét chữ thiếu thời trôi nhanh như dòng sông… – Trăm năm rồi ta đến trước sông Hương Vẫn soi thấy niềm đau và nỗi giận Khuôn mặt trẻ bỗng già trên lớp sóng Ngẩng đầu lên, ta thấy mặt quân thù. (Lời chào) – Buổi sáng ấy Ta không quên Hình dáng những chiếc tàu há mồm ngoạm vào thành phố (…) Trườn trên bờ sông Gai góc đầy mình những súng và đạn (…) Ta quay nhìn. Sông đã hóa mênh mông Từ trầm tư, sông sóng vỗ trùng trùng Nối lịch sử những bờ không giới hạn Những cam kết hôm nay với trăm đấng anh hùng… (Báo động) – Khi tên lính Pháp cuối cùng đi đến trước dòng sông Vươn qua thành cầu soi mặt mình dưới nước Nó bỗng nhổ nước bọt vào nơi nó vừa ngắm được Khuôn mặt chủ nghĩa thực dân cũ tan rồi trên sông nước quê ta (Giặc Mỹ) – Sông Hương ơi sông Hương Ngươi còn nguồn với bể Để đi và để đến Còn ta hăm lăm tuổi Trôi cạn trên mặt đường… (Tuổi trẻ không yên) – Những con rồng nằm im góp dòng sông xanh thẳm (…) Ôi đất nước sau bốn nghìn năm đi đâu ta cũng thấy, Những cuộc đời đã hóa núi sông ta… – Những địa danh trôi từ thuở xa xôi Trôi bằng máu và trôi bằng nước mắt Đã đọng lại thành tên người, tên đất Bao năm rồi suốt mặt phá, triền sông (…) – Đêm nay ta lên hết mặt sông Hồng! Nước đánh dộng dưới chân ta rồi Đất Nước Đang gọi ta từng hồi trống thúc (…) Ôi những gốc tre tổ tiên ta từng thấy vẫn còn nguyên trên bờ bãi sông Hồng (…) Nên hôm nay chúng ta Phải lên hết đê sông Hồng mà giữ lấy! … Phải được vai dựa vào vai, đùi gối lên đùi Đẩy đê sông Hồng tiến lên phía trước… Mẹ Việt Nam ơi! Đêm nay con về gối đầu trên cánh tay của mẹ Ôi cánh tay rắn rỏi, dịu hiền Lấm láp bùn lầy nhưng ấm áp niềm tin Đó là hai cánh đê sông Hồng của Mẹ… – Không bao giờ xương máu phải bơ vơ Ôi sông núi uy nghi ngàn dặm đất Có nghe tiếng chúng con: Xin có mặt Nguyện làm người xung kích của quê hương (Đất Nước) – Đạp lên đầu thù! Hành quân, hành quân… Sông núi cài lá ngụy trang xanh Bán đảo uốn mình thành trận lốc Ta lên cao điểm, tràn cao ốc! (Báo bão) – Tham khảo ý kiến của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm về hình tượng dòng sông trong tác phẩm:Xem thêm: Phân lích hình ảnh thơ mộng, trữ tình của những dòng sông Việt Nam qua hai bài tuỳ bút Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân) và Ai đã đặt tên cho dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường)Nhìn trong nghĩa vật chất, những dòng sông là một đặc điểm địa lý riêng của nước ta. Nước Việt có rất nhiều sông. Mỗi con sông chảy qua một vùng châu thổ bao giờ cũng kiến tạo nên cùng với nó một bản sắc văn hóa góp phần làm đa dạng thêm văn hóa nước Việt. Điều này rất dễ hiểu, vì khi làm nông nghiệp, số phận nhân dân đã gắn chặt với số phận dòng sông. Vậy thì văn hóa ắt phải mang gương mặt dòng sông. Ca dao dân ca của ta mang hình ảnh sông rất đậm. Sông đi vào tâm hồn nhân dân, là biểu tượng của nước Việt, như là trống đồng. Hơn nữa từ lâu, dòng sông trong ý thức nhân dân mang ý nghĩa của sự sống, của tình thương yêu, của khát vọng. Gợi trăm màu trên trăm dáng sông xuôi là cách diễn đạt hình tượng của thơ ca. Dân tộc chúng ta có một sức sống đặc biệt, tất cả các tập tục, lối sống khác khi du nhập vào Việt Nam đều được Việt hóa. Cùng với sự đa dạng của các dòng chảy văn hóa trên một Đất nước, nó làm cho nền văn hóa của ta trở nên vô cùng phong phú, nhiều hình thái, nó vừa ổn định, vừa biến thiên, là “trăm màu trên trăm dáng sông xuôi”. Mỗi người Việt yêu nước đều có bổn phận, trách nhiệm gìn giữ sự phong phú, giàu có đó của văn hóa dân tộc.Thơ tôi viết trong hoàn cảnh chiến tranh, cũng để nhằm đánh thức bổn phận đó trong thanh niên đô thị miền Nam. (Tác giả nói về tác phẩm, Nxb. Trẻ, 2000, tr.270 – 271)Xem thêm: Hăy chứng minh rằng một trong những truyền thống, đạo lí đẹp của dán tộc Việt Nam là "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây", "Uống nước nhớ nguồn"Vanmau.edu.vn
Anh (chị) có suy nghĩ gì về hình tượng dòng sông trong tập trường ca Mặt đường khát vọng_
1,077
Anh (chị) có suy nghĩ gì về tiền tài và hạnh phúc trong cuộc sống Gợi ý Mục đích cuối cùng của mọi hoạt động lao động của con người là xây dựng một cuộc sống hạnh phúc. Để có được hạnh phúc mỗi người luôn phải cố gắng hết mình. Và trong sự cố gắng không ngừng nghỉ ấy có sự cố gắng để giải quyết mối quan hệ giữa tiền tài và hạnh phúc. Tiền tài và hạnh phúc là hai mặt luôn sánh cùng nhau của một vấn đề, vấn đề hanh phúc đích thực của con ngưòi. Khi hỏi ai đó Anh thích điều gì nhất chắc chắn người đó sẽ trả lời tôi muốn hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc là gì lại là điều thật khó giải thích. Hạnh phúc theo nghĩa chung nhất là được thoả mãn những nhu cầu của con người. Quan niệm về hạnh phúc không phải ai cũng giống ai, thậm chí với một con người trong những thời điểm khác nhau lại có những quan niệm khác. Nhưng nhìn chung, hạnh phúc là được ăn no, mặc ấm, được thoả mãn những nhu cầu tối thiểu của con người. Muốn có được những điều đó cần một tiền đề rất quan trọng, đó là tiền đề vật chất. Hạnh phúc có thể rất nhỏ nhoi, khi đói khát được ăn, được uống là hạnh phúc. Khi nghèo túng có tiền là hạnh phúc. Có một chút quyền lực trong tay cũng là hạnh phúc. Hạnh phúc là một vấn đề thuộc lĩnh vực tinh thần, nó trừu tượng và biến hoá khôn lường. Tiền tài là một khát vọng không bao giờ thoả mãn của con người. Tiền tài vừa là một phương diện của hạnh phúc, vừa là nhân tố quan trọng quyết định hạnh phúc. Nếu nghèo khó, không có tiền, không có các phương tiện tối thiểu phục vụ cuộc sống chắc chắn chẳng ai hạnh phúc. Một gia đình phải chạy ăn từng bữa, con cái không được cơm no, áo ấm, không được học hành đầy đủ thì chắc chắn sẽ không thể có được cái gọi là hạnh phúc. Người ta vẫn thường nói giàu sang và nghèo hèn là vì thế. Thế nhưng sự giàu có đủ đầy về tiền tài phải được tạo nên từ lao động chân chính và tài năng thực sự thì mới đảm bảo hạnh phúc lâu dài.Xem thêm: Hãy trình bày những suy nghĩ của mình về trách nhiệm với biển đảo quê hương qua bài thơ Nguyễn Việt Chiến – Tổ quốc nhìn từ biển Quan hệ giữa tiền tài và hạnh phúc là mối quan hệ nhạy cảm và phức tạp, nhất là trong xã hội hiện đại. Thời đại này người ta không còn đồng tình với quan niệm một mái nhà tranh hai trái tim vàng như trước nữa. Tiền tài là mục đích phấn đấu của con người và xã hội càng phát triển thì nhu cầu ấy lại càng mãnh liệt. Tiền tài bao gồm tiền bạc và quyền lực. Có tiền và có tài sẽ có điều kiện thuận lợi để xây dựng một cuộc sống hạnh phúc bởi hạnh phúc thường đi kèm với ấm no. Để có tinh thần thoải mái, có một gia đình ấm cúng, trước hết phải đảm bảo đáp ứng đầy đủ ở mức độ nhất định những nhu cầu vật chất. Hạnh phúc chỉ thực sự trọn vẹn khi con người được no đủ về vật chất và thoải mái về tinh thần. Có thể nói tiền tài là điều kiện cần để có hạnh phúc đối với số đông chúng ta. Tiền tài có vai trò quyết định song không phải là điều kiện duy nhất. Đôi khi, tiền tài lại ảnh hưởng xấu đến hạnh phúc gia đình. Tiền bạc và quyền lực là cơ sở vật chất của hạnh phúc song không nên tuyệt đối hóa vai trò của tiền tài. Tiền bạc và quyền lực mang đến cho con người sự no đủ song cũng đi biến con người thành nô lệ của nó. Khi quá ham mê tiền tài, lạm dụng sức mạnh vốn rất mãnh liệt của đồng tiền, con người dễ bị đồng tiền sai khiến. Mải mê kiếm tiền hoặc mải mê hưởng thụ rất dễ dẫn đến những tiêu cực. Khi danh vọng và quyền lợi len lỏi quá sâu vào mối quan hệ người – người thì tiền bạc rất dễ lũng đoạn. Ngày nay, trong xã hội ta đã từng có rất nhiều gia đình rơi vào bi kịch bởi sức mạnh của tiền tài. Ham tiền tài mà dẫm đạp lên luật pháp, lên đồng loại nên phải trả giá. Cha mẹ mải kiếm tiền và sẵn tiền cho con nên con cái hư hỏng. Vì tiền tài và danh vọng mà bao người đã bán linh hồn mình, đã chấp nhận tất cả. Nhiều khi, tiền tài làm con người hư hỏng. Hư hỏng để có tiền và vì tiền mà hư hỏng là cái vòng luẩn quẩn mà bao người đang cố vẫy vùng để thoát ra. Tiền tài và hạnh phúc là hai mặt của một vấn đề. Nếu biết điều hoà một cách hợp lí nó sẽ hỗ trợ nhau, ngược lại tiền tài có thể biến con người thành quỷ dữ. Thực tế cho ta thấy có rất nhiều gia đình, khi nghèo khó thì hạnh phúc, khi có chút ít tiền tài gia đình lại tan vỡ. Xã hội càng phát triển, nhu cầu của con người càng cao, quan niệm về hạnh phúc của mọi người ngày càng thay đổi. Tiền tài và hạnh phúc thống nhất với nhau khi con người có đủ bản lĩnh để chế ngự sức mạnh của nó, biết sử dụng nó như một phương tiện để xây dựng hạnh phúc. Song tiền tài và hạnh phúc có thể mâu thuẫn và đối chọi nhau khi con người biến mình thành nô lệ của đồng tiền. Chỉ có tiền tài chưa đủ gọi là hạnh phúc. Trên cơ sở tiền tài ấy con người có ý thức về hạnh phúc như thế nào mới là điều quan trọng.Xem thêm: Văn nghị luận: Suy nghĩ về tham nhũng Trong văn học, đã có rất nhiều tấn bi kịch của con người mà nguyên nhân bắt đầu từ sự ham muốn danh lợi. Bản thân những khát vọng danh lợi không phải là nguyên nhân trực tiếp. Nguyên nhân nỗi đau khổ của con người xuất phát từ những tham vọng tiền tài quá lớn. Vì quyền lực nhà Trần mà Tướng quốc Trần Thủ Độ – người có công lớn với triều đại nhà Trần bị mang tiếng là người tàn nhẫn, là nguyên nhân gây nên nỗi bất hoà anh em. Vì tham vọng quyền lực, sự ham danh vọng của bọn nịnh thần triều Lê Thái Tổ mà vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi phải chịu cái án oan khiên bi thảm nhất nhì trong lịch sử. Người chinh phụ sầu muộn, héo hon cô đơn trong cảnh cô đơn chẳng qua cũng vì ảo ảnh của vinh quang (Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm). Bi kịch cuối đời của lão Gôriô (Banzăc) là kết quả tất yếu của sự hám tiền hám quyền. Chính lão đã tìm mọi cách đẩy các con gái lão vào xã hội thượng lưu để rồi chúng bị đồng tiền làm hư hỏng. Bộ Tấn trò đời của Banzăc là những ví dụ điển hình cho sức phá hoại của tiền thì đối với hạnh phúc của con người. Sự tanh hôi của những đồng tiền bất chính đã phá huỷ nhân cách lũ con cháu cụ cố Hồng (Số đỏ – Vũ Trọng Phụng), gây nên tấn bi kịch gia đình và đương nhiên họ không thể có cái gọi là hạnh phúc đích thực.Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ về bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương Tiền tài và hạnh phúc là mối quan hệ bản chất của xã hội loài người. Tiền tài và hạnh phúc là khát vọng muôn đời của nhân loại. Phàm đã là người, ai cũng muốn có tiền tài và hạnh phúc. Nhưng để điều hoà cân đối mối quan hệ này quả thực không đơn giản, nhất là trong xã hội hiện đại, khi mà nhu cầu của con người về sự no đủ ngày càng cao hơn, tha thiết hơn. Để có được hạnh phúc thực sự, mỗi người phải biết cách dùng tiền tài như là một phương tiện để gây dựng và bảo vệ hạnh phúc, không nên để đồng tiền điều khiển mình. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) có suy nghĩ gì về tiền tài và hạnh phúc trong cuộc sống
1,470
Anh (chị) có ý kiến gì về nhận định sau: “Thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị” Gợi ý A. DÀN BÀI 1. Mở bài – Thế kỉ XX đối Với dân tộc Việt Nam là một thế kỉ cách mạng. Cách mạng không chỉ đổi thay số phận dân tộc mà còn đem đến cho thơ ca, ván học một nguồn mạch mới. Một khuynh hướng chủ đạo của vàn học thế kỉ này là khuynh hướng thơ trữ tình chính trị mà Tố Hữu là một nhà thơ tiêu biểu. – Đúng như SGK Văn học 12 nhận định “Thơ Tố Hữu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tinh chính trị”. 2. Thân bài Bài làm cần đảm bảo nội dung sau: – Mối quan hệ biện chứng giữa “thơ trữ tình” và “chính trị” trong thời đại cách mạng. – Các kiểu thơ trữ tình chính trị và nét độc đáo trong thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu. – Những biểu hiện của thơ trữ tình chính trị ở thơ Tố Hữu và những đóng góp mới mẻ của nó trong đời sống sáng tác văn học đương thời. Trên cơ sở đó đánh giá và chỉ ra ý nghĩa văn học sử của phong cách thơ Tố Hữu. 3. Kết bài – Từ hiện tượng thơ trữ tình của Tố Hữu rút ra một vấn đề có tính lí luận: mối quan hệ giữa văn học và thực tiễn đời sống chính trị; giữa nhà văn và nhà chính trị. – Khẳng định ý nghĩa và đóng góp quan trọng của thơ Tố Hữu trong dòng văn học cách mạng của dân tộc. B. BÀI LÀM Một hiện tượng thơ khi đã phát triển trọn vẹn, viên mãn cần được xác định và gọi tên. Xác định đúng, gọi tên đúng mới đánh giá đúng. Thơ Tố Hữu thường được gọi bằng các tên khác như thơ tranh đấu, thơ thời cuộc, thơ thời sự, thơ cảm hứng xã hội, thơ chính trị, thơ đặt hàng… Gọi là thơ đặt hàng rõ ràng là không hay vì nó gợi lên một quan hệ hàng hóa, gọi là thơ tranh đấu, thơ thời cuộc tuy chỉ ra tác dụng xã hội nhưng còn chung chung. Gọi là thơ thời sự và thơ cảm hứng xã hội đều chưa xác đáng bởi vì cốt lõi trong thơ Tố Hữu không phải là các sự kiện thời sự hay các vấn đề xã hội khác nhau mà là tình cảm chính trị, ý thức chính trị thường trực. Thơ Tố Hữu là thơ thể hiện các tư tưởng, tình cảm chính trị của thời đại, là thơ phát hiện ý nghĩa chính trị của các hiện tượng đời sống. Điều hết sức thú vị là trong tập thơ Từ ấy, Tố Hữu đề cập hết các hiện tượng xã hội được thể hiện trong Thơ mới lãng mạn và văn học hiện thực phê phán đương thời, và qua mỗi hiện tượng ông đều phát hiện ra ý nghĩa chính trị của chúng. Ông nhìn ra giải pháp cho mọi vấn đề bằng con đường đâu tranh chính trị. Đối với Tố Hữu, các hiện tượng “mồ côi”, “lạc loài”, “lầm than”, “lạnh lùng”, “khổ tủi”, “thảm sầu”, “hắt hủi”, “cô đơn”, “điêu tàn”, “đẹp và thơ”.. đểu có nội dung xã hội cụ thể, chứ không phải là các hiện tượng chung chung, nghiệp dĩ của kiếp người. Tiếng đàn em bé hát rong, theo ông, phải là một hành vi chống lại chế độ cũ. Hai cái chết của hai đứa cháu người hành khất phải là cơ sở để nuôi căm hờn. Nhà thơ hướng mọi vấn đề xã hội vào một hướng duy nhất: Cách mạng.Xem thêm: Vai trò của nhân vật vợ Tràng trong truyện “Vợ nhặt" của Kim Lân Đối diện với văn thơ lãng mạn tiêu cực về mặt chính trị – đúng như Hoài Thanh nhận định – Tố Hữu đã “chọi lại”, “chọi lại trên vấn đề cơ bản là thái độ sống và nhận thức chính trị”. Chọi lại như thế nào? Tô Hữư đã mang lại cho các hiện tượng xã hội ấy một nội dung cụ thể, kéo chúng từ sự nhận thức trừu tượng trở về với mảnh đất hiện thực. Các bài Dửng dưng, Tháo đổ, Điêu tàn, Nhớ người thể hiện rất rõ cho khuynh hướng đó. Ngay bài Lao Bảo mà rất nhiều khi bị xem là bằng chứng của việc nhà thơ “chưa thoát khỏi” ảnh hưởng tiêu cực của thơ mới, ta cũng thấy nhà thơ “chọi lại” bằng cách chỉ ra một hiện tượng điêu tàn, nhưng là do đế quốc Pháp gây nên. Đây cũng có “xương tàn”, “nấm mồ bao khối não”, có “huyết ứ dưới lời than”, nhưng là do “Roi đế quốc, báng súng trường quất xé. Thịt hi sinh của những kiếp đi đày”. Và đó là cơ sở để căm hờn, nung nấu ý chí chiến đấu. Trường hợp này cũng như nhiều trường hợp khác của Từ ấy, không thể căn cứ vào sự giống nhau của hình ảnh mà kết luận là nhà thơ đã chịu ảnh hưởng tiêu cực hay tích cực của Thơ mới. Cái quyết định trong quan hệ ảnh hưởng không chỉ ở tính chất tích cực hay tiêu cực của hiện tượng văn học có trước, mà ở lập trường, bản lĩnh của chủ thể tiếp nhận. Tố Hừu đã cắt nghĩa lại, giải thích lại, đổi mới hẳn nội dung của các hiện tượng dó. Tiếp nhận ở đây có nghĩa là cải tạo và đổi mới. Thơ Tố Hữu cũng có xuân ý, trời hồng, phảng phất của thơ Xuân Diệu. Nhưng Xuân Diệu, mùa xuân gắn với tuổi trẻ hưởng thụ của người cá nhân, còn ở Tố Hữu là “xuân nhân loại”, xuân của thời đại mới – một mùa xuân mang đầy nội dung cách mạng. Vậy thì ở đây, nên nói cái nào ảnh hưởng cái nào? Cái quyết định vẫn là tư tưởng và bản lĩnh người tiếp nhận. Ở đây thể hiện rõ bản sắc vững vàng của một nhà thơ chính trị. Thường có ý kiến cho rằng thơ Tố Hữu có ít những hiện tượng đời thường, ít các chi tiết thường nhật, thơ ông thiên về tổng hợp và về “cối lịch sử”, thơ ông ít viết về tình yêu. Đó là những nhận xét có cơ sở. Tuy nhiên, vấn đề không chỉ ở phương diện ít hay nhiều, mà chủ yếu ở tính chất của khái quát. Thực ra nhiều bài thơ của Tố Hữu không ít các chi tiết đời thường, hình ảnh của thực tại. Ta có thể căn cứ vào chi tiết mà nhận ra là bài thơ viết thời nào.Xem thêm: Trong hội nghị học tốt sắp tới của lớp, em được phân công viết bản tham luận về vấn đề xây dựng phương hướng học tập, rèn luyện của người học sinh. Em hãy viết bản tham luận đó Điều chủ yếu là nhà thơ tập trung khai thác khía cạnh nội dung chính trị của đời thường. Do đó, cái tiêu biểu của thơ Tố Hữu chủ yếu không nằm ở phía tái hiện đời thường, mà ở phía khái quát chính trị sâu sắc, thấm thìa, đậm đà. Chẳng hạn như bài Người con gái Việt Nam hầu như chẳng có chi tiết sinh hoạt đời thường nào, mà rất “Tố Hữu”, và rất hay. Ngay tập thơ Việt Bắc giàu hiện tượng đời thường hơn cả nội dung của nó vẫn là ý thức chính trị của con người kháng chiến, khác hẳn chi tiết đời thường kiểu Na-dim Hi-cơ-mét. Không phải đợi đến bài Quê mẹ nhà thơ mới đưa các chi tiết đời tư vào đây. Ta đã biết Tố Hữu đưa đời tư vào ngay bài thơ đầu tiên của tập bài Mồ côi. Nhà thơ mất mẹ từ khi ông hãy còn bé. Ông nhắc đến mẹ với những lời thơ rất mực thiết tha, nhưng thường bao giờ cũng gắn liền với lòng biết ơn Đảng: “Mẹ không còn nữa, con còn Đảng. Dìu dắt khi con chưa biết gì”, hay “Mẹ ơi, mẹ sinh con ra trong cực khổ. Mẹ chưa hay từ đó có Liên Xô. Có Lê-nin hằng che chở con thơ…”. Nhắc đến con mình, nhà thơ liền nghĩ: “Còn bao nhiêu chưa được ngủ trong nôi. Miền Bắc thiên đường của các con tôi”. Cả tình yêu đôi lứa cũng thấm nhuần nội dung chính trị: “Mà nói vậy: Trái tim anh đó. Rất chân thật chia ba phần tươi đỏ. Anh dành riêng cho Đảng phần nhiều. Phần cho thơ và phần để em yêu..”. Hoặc “Khi âu yếm cùng anh, em hỏi. Tên nào trong muôn ngàn tên gọi. Như mối tình chung thủy không tan? Trong lòng anh, tên ấy: Miền Nam!”. Nhiệt tình chính trị của nhà thơ luôn luôn thường trực trong mọi trường hợp, xâm chiếm vào mọi lĩnh vực đời sống. Và như vậy dẫu cái đời thường có đi vào thơ Tố Hữu nhiều hơn nữa, chất sinh hoạt vẫn không thể tăng lên. Đó cũng là một hiện tượng có quy luật của văn học vô sản trong những thời kì đầu, chẳng hạn như Người mẹ của M. Go-rơ-ki hay Thép đã tôi thế đấy của N. Ôt-xtơ-rốp-xki. Nói về phong cách M. Go-rơ-ki trong Người mẹ, nhà phê bình văn học A. Chi-che-rin cho rằng đó là một chủ nghĩa hiện thực không thể hiện ở “miêu tả các chi tiết sinh hoạt và tâm lí mà ở trong sự tái hiện một cách cụ thể và mạnh mẽ phi thường, nhưng lại khái quát chặt chẽ, tươi tắn, trang trọng về những người công nhân và nông dân Nga trước cách mạng 1905”. Nói về Thép đã tôi thế đấy, có nhà phê bình gọi đó là “một cuộc sống không có đời thường”.Xem thêm: Ý nghĩa của câu "Thất bại là mẹ thành công" Cách tiếp cận ấy rất gần với Tố Hữu. Chính nhà thơ đã nhiều lần liên hệ ngày sinh của mình với ngày sinh của Liên Xô (cũ), của Đảng và của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Có thể nói Tố Hữu là nhà thơ chính trị từ trong máu thịt, cốt tủy. Là một nhà thơ, ông chỉ biết có cuộc sống duy nhất – cuộc sống chính trị. Có thể nói “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ. Mặt trời chân lí chói qua tim” mới thực là ngày khai sinh và điểm khởi đầu của đời ông. Các giai đoạn cách mạng, những ngày lễ lớn, những sự kiện trọng đại của đất nước mới thật sự là những cái mốc trong cuộc đời tình cảm của ông. Ông không chỉ ở tù có mấy năm rồi sau đó vượt ngục. Ông dường như đã tù suốt trăm năm, nghìn năm. Ông không sống cuộc đời có tình yếu đôi lứa, không có dằn vặt đời thường, ông sống trọn vẹn cuộc đấu tranh suốt trăm năm cho tự do, độc lập của nhân dân ta. Trái tim ông đập nơi cảnh đói nghèo, bơ vơ do Xãhội cũ tạo nên, nó rớm máu dưới giày đinh của thực dân đế quốc. Ông nghẹt thở nơi đất nước bị chia cắt làm đôi, ông đau đớn với cỏ cây, rừng núi Việt Nam thấm đầy chất độc màu da cam của Mĩ. Ông bay múa trong ngày Tồ quốc giải phóng, ông trẻ lại cùng đất nước hồi sinh. Bao giờ Tố Hữu cũng giữ cho tình cảm mình rung động mãnh liệt với ý nghĩa chính trị của các hiện tượng đời sống. Ngay thưởng thức phong cảnh thiên nhiên, nhà thơ cũng suy nghĩ tới chính trị. Hoài Thanh có lần nhắc lại: “Tố Hũu có lần nói, nghe chim kêu, thấy nắng đẹp mà không nghĩ do đâu mà có thì đánh giá mọi thứ đều sai”. Khi đứng trước một người ân nhân cách mạng sắp mất, nhà thơ cũng không hề để lộ niềm thương xót riêng tư, mà triền miên trong lẽ sống cách mạng lớn lao: Anh nghe thu rứt lá gọi đời đi Tôi thấy cả một mùa xuân bước lại… (Những người không chết) Như vậy thơ trữ tình chính trị của Tố Hữu dựa trên tiền đề thống nhất hoàn toàn, lắm khi là đồng nhất chủ thể trữ tình cá nhân và chủ thể của hoạt động chính trị là giai cấp, Đảng, Nhân dân, Tổ quốc. Sự thống nhất cao độ ấy tự nó đã thủ tiêu lí do phân biệt tuyên truyền và trữ tình, làm gần lại phút bùng cháy của tâm hồn trữ tình với thời điểm bùng nổ của sự kiện chính trị. Tố Hữu đã kết hợp một tình cảm yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội thuần túy nhất với một tình cảm cá nhân đằm thắm trong sáng nhất. Nhờ thế, ông đã sáng tạo được một thế giới nghệ thuật độc đáo của thơ trữ tình chính trị và nâng nó lên một trình độ mới. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) có ý kiến gì về nhận định sau_ “Thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị”
2,210
Anh (chị) có ấn tượng gì về hình tượng ông Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân Gợi ý Được rút ra từ tập truyện “Vang bóng một thời”, “Chữ người tử tù” là một trong những tác phẩm “viết về một thời còn vang bóng” khi chế độ thực dân Pháp đã đặt xong ách đô hộ lên nước ta, chế độ phong kiến suy tàn, những nho sĩ cuối mùa trở thành người lạc lõng. Trong thời buổi ấy, có những con người buông xuôi theo thời thế nhưng vẫn mâu thuẫn sâu sắc với xã hội đương thời. Họ dường như cố ý lấy cái “tôi” tài hoa, ngông nghênh của mình đôi lập với xã hội phàm tục, phô diễn lối sống đẹp, thanh cao của mình như một cách để phản ứng lại trật tự xã hội đương thời. Trong số những con người tài hoa ấy, nổi bật lên hình tượng Huấn Cao trong “Chữ người tử tù”. Trong tác phẩm, đây là nhân vật được tác giả tập trung nhiều bút lực xây dựng và ngợi ca, đế lại những ấn tượng đặc biệt trong lòng người đọc. Huấn Cao là một nhân vật bi tráng mang màu sắc lãng mạn, mang vẻ đẹp được lí tưởng hoá, thể hiện một cách khác thường trong hoàn cảnh tưởng như không thể xảy ra. vẻ đẹp ấy hiện lên rực rỡ, chói sáng nhờ được tô đậm bằng hàng loạt các hình ảnh tương phản gay gắt. Nguyễn Tuân đã để nhân vật xuất hiện trước tiên qua lời kể, qua tiếng đồn của mọi người. Đó là “cái người mà vùng tỉnh ta vẫn hay khen..”., “nhiều người nhấp nhỏm đến cái danh ấy luôn..”., “một tên tù có tiếng..”, và “thầy có nghe người ta đồn..”.. Và ngay cả những người trong cuộc như ngục quan, thơ lại cũng mới chỉ “kiến kì thanh” mà đã tâm phục Huân Cao, họ trầm trồ: “Người đứng đầu..”., “người mà vùng tỉnh Sơn ta vẫn khen cái tài viết chữ nhanh mà đẹp..”., một tử tù lừng lẫy tiếng tăm, “văn võ đều song, toàn cả”. Một kẻ tử tù mà lại được giành cho nhiều sự ngưỡng mộ, ưu ái đặc biệt như vậy thì quả là rất hiếm. Cách giới thiệu tạo một ấn tượng đặc biệt, khiến người đọc có cảm tưởng như người ta đang chuẩn bị đón không phải một kẻ phạm tội mà là một nhân vật vĩ đại. Tác giả để danh tiếng của nhân vật xuất hiện trước hình hài, sử dụng bút pháp lấy xa để nói gần, lấy bóng làm lộ hình, sử dụng lối nói gián tiếp…, tạo nên sức cuốn hút kì diệu cho nhân vật. Và càng về sau, ta sẽ càng hiểu thêm về nhân cách và tài hoa, nhân cách của nhân vật ấy. Tình cảm yêu mến là một điều hoàn toàn dễ hiểu. Trong cuộc đời ngục quan, có lẽ đó là người đầu tiên khi xuất hiện khiến cho những đường nhăn nheo trên khuôn mặt tư lự của ông được thay bằng “mặt nước ao xuân, bằng lặng, kín đáo êm nhẹ”. Mô’i thiện cảm vô hình ngay từ đầu đã được hình thành.Xem thêm: Quan niệm của Nguyễn Du về đồng tiền trong “Truyện Kiều” và quan niệm của anh (chị) về đồng tiền trong cuộc sống ngày hôm nay Là một nhà nho kiệt hiệt dám chọc trời, quấy nước. Chí lớn không thành mà vẫn hiên ngang, chết chém cũng không sợ. Huấn Cao có một tinh thần gang thép “vô uý” bất khuất. Hành động “dỗ gông” chứng tỏ cái ngang tàng của ông. Ngay cả khi vào trong ngục, ông vẫn giữ được phong thái khiến người ta phải kính nể. Suốt nửa tháng, trước sự biệt đãi của quản ngục, Huấn Cao lấy làm lạ nhưng vẫn thản nhiên nhận rượu thịt xem như là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình lúc chưa bị giam cầm. Nói với ngục quán bằng thái độ thách thức và tỏ ra khinh bạc đến điều mà không hề lo sợ bị trả thù. Điều này có căn nguyên của nó, với một người chọc trời khuấy nước như Huấn Cao thật khó chấp nhận một kẻ ngục quan làm việc cho triều đình, lạí càng khó tin rằng giữa chôn bùn nhơ ấy có thể có một bông sen trắng ngát ‘hương, một người có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài”. Cái bất cần thách thức ấy không hề làm mất đi vẻ đẹp trong hình tượng của ông. Bởi vì ngay sau đó, biết được tấm chân tình của ngục quan, Huấn Cao đã không ngần ngại mà coi ông như một người tri kỉ, trao cho ông những chữ mà bình sinh chỉ “cũng mới viết hai bộ tứ bình và một bức trung đường cho ba người bạn thân”. Một Huấn Cao coi thường vàng ngọc, không vì vàng ngọc hay quyền thế mà “ép mình viết bao giờ” giờ đây lại sẵn sàng viết cho một người có thiên lương trong sáng. Và chính trong lần cho chữ này, Huấn Cao đã thể hiện trọn vẹn vẻ đẹp tài năng và phẩm chất của mình. Nét chữ Huân Cao đẹp không chỉ bởi nó “vuông lắm” mà còn bởi nó thể hiện hoài bão và chí tung hoàng của cả một đời người. Nó là kết tinh cho những lí tưởng cao đẹp. Chữ của Huấn Cao cho thấy cái tài, tầm nhìn của một kẻ sĩ chân chính mà ta ngưỡng mộ, bái phục.Xem thêm: Cảm nghĩ của em về con người Nguyễn Trãi qua văn bản “Côn Sơn ca” Vẻ đẹp của nhân vật Huấn Cao được thể hiện một cách sáng chói, rực rỡ nhất trong cái đêm ông cho chữ viên quản ngục. Cảm hứng mãnh liệt trước một “cảnh tượng xưa nay chưa từng có” đã khiến Nguyễn Tuân say sưa sáng tạo những ngôn từ vừa sắc sảo góc cạnh vừa trang trọng cổ kính như có hồn, có nhịp điệu riêng, giàu sức truyền cảm. Bút phắp dựng người dựng cảnh của nhà văn đã đạt đến mực điêu luyện. Cảnh cho chữ hiện lên như một thựớc phim quay cận cảnh mà chi tiêt nào cũng sinh động, cũng gợi cảm, đầy ám ảnh nghệ thuật. Thi pháp tương phản được sử dụng rộng rãi và có hiệu quả đã làm nổi bật hơn bao giờ hết vẻ đẹp trang trọng, uy nghi, rực rỡ, hào quang bất tử của hình tượng nhân vật Huân Cao. Một người xa nay luôn rất “khoảnh” trong việc cho chữ nay lại chấp nhận cho chữ trong một khung cảnh “xưa nay chưa từng có”, đã bày ra trong một buồng tốì chật hẹp, ẩm ướt, tường đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián”, người cho chừ thì “cổ đeo gông, chân vưởng xiềng”. Chi tiết này đã khắc họa thêm một nét đáng quí nữa trong nhân cách của Huấn Cao. Con người ấy không hề nề hà chuyện hèn sang, mà luôn đặt sự trân trọng cái đẹp lên hàng đầu mà ở đây cái đẹp ấy chính là thiên lương cao cả của viên quản giữa chôn nhà tù. Chức vị đã không ngăn người quản ngục và viên thơ lại giữ được nghĩa khí. Giam cầm đã không ngăn được Huấn Cao thể hiện bản lĩnh. Họ gặp nhau giữa không gian nhà tù nhưng lại bay vượt lên trên khoảng trời tự do của tâm hồn và cái đẹp. Cái đẹp vì thế lại càng toả sáng rực rỡ hơn. Thiên lương vì thế đã cao cả lại càng cao cả hơn. Trật tự được tạo nên từ vị thế ban đầu đã bị đảo ngược. Giờ đây, người tù trở thành người ban phát cái đẹp. Còn viên quản ngục thì khúm núm, vái lạy, “chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ qua kẽ miệng làm cho nghẹ ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.Xem thêm: Thành công của Xuân Diệu trong việc sử dụng hình ảnh và nhịp điệu ở các bài thơ Vội vàng, Đây mùa thu tới, Thơ duyên Với Huấn Cao thì thiên lương là ngọn lửa, là “ánh sáng đỏ rực” như ngọn đuốc kia. Nếu ngục quan tâm phục con người nghĩa khí, tài hoa thì Huấn Cao lại nể trọng con người “biệt nhỡn liên tài”. Suốt đời ông chỉ “cúi đầu vái lạy hoa mai” nên khi nghe viên thơ lại nói lên tâm sự của chủ mình muốn “xin chữ”, Huấn Cao đã ân hận nói: “Thiếu chút nữa ta phụ mất tấm lòng trong thiên hạ”. Đối với một người khí phách ngang tàng, thản nhiên rỗ gông trước mặt quản ngục, một người dám khẳng khái: “Ngươi hỏi ta muôn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là ngươi đừng có đặt chân vào đây” thì cái ân hận này thận đáng trân trọng biết bao. Đêm trước khi lên đoạn đầu đài, ông vẫn ung dung, truyền đạt lại cho viên quản những lời dạy tâm huyết. Một cử chỉ “đỡ viên quản ngục đứng thẳng người dậy”. Một lời khuyên “ở đầy khó giữ thiên lương cho lành vững rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. Với Huân Cao thì thiên lương là cái gốc của đạo lí, có giữ được thiên lương mới biết quí trọng tài năng và cái đẹp ở trên đời. Ở con người Huấn Cao, từ cử chỉ, hành động đến ngôn ngữ, từ nét chữ đến phong thái, đều toát ra một vẻ đẹp vừa phi thường vừa bình dị, vừa anh hùng, vừa nghệ sĩ, bên cạnh cái hùng còn có cái bi, tính vốn khảnh mà lại trân trọng kẻ biệt nhỡn liên tài coi thường vàng bạc, quyền uy mà lại đề cao tình bằng hữu, đến chết vẫn nghĩa khí và giữ trọn thiên lương. Qua hình tượng Huấn Cao, Nguyễn Tuân đã bộc lộ quan niệm về cái đẹp. Như vậy, trong quan điểm của Nguyễn Tuân, cái Tài phải đi đôi với cái Tâm, cái Đẹp và cái Thiện không thể tách rời nhau. Đó là một quan điểm nghệ thuật tiến bộ. Huấn Cao là một hình tượng nhân vật tiêu biểu trong các nhân vật của “một thời vang bóng”.vẻ đẹp tài năng và phẩm cách của ông làm để lại cho ta ấn tượng sâu sắc. Đó là niềm tự hào, cảm phục, trân trọng và có chút gì đó xót thương. Cảnh cho chữ cùng với hình tượng Huấn Cao sẽ đọng lại mãi trong lòng người. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) có ấn tượng gì về hình tượng ông Huấn Cao trong tác phẩm “Chữ người tử tù” của Nguyễn Tuân
1,812
Anh (chị) hiểu như thế nào về hình ảnh ngọc trai – giếng nước và cách đánh giá của nhân dân đối với Trọng Thuỷ? Hướng dẫn Anh (chị) hiểu như thế nào về hình ảnh ngọc trai – giếng nước và cách đánh giá của nhân dân đối với Trọng Thuỷ? Cho biết đâu là “cốt lõi lịch sử” của truyện? Cốt lõi lịch sử đó đã được nhân dân ta thần kì hoá như thế nào? GỢI Ý 1. Nhân dân Việt Nam rất rộng lượng và tỉnh táo, công bằng trong việc đánh giá các nhân vật. Trọng Thuỷ là một nhân vật có mâu thuẫn: với tư cách là một tên gián điệp, một kẻ bội tình, hắn xứng đáng bị lên án. Song nhân dân Việt Nam vẫn thương cảm vì thấy Trọng Thuỷ cũng có tình, nhất là sau khi Trọng Thuỷ nhảy xuống giếng tự vẫn vì thương nhớ Mị Châu. Vì vậy chi tiết: “Ngọc trai biển đông (thể hiện lòng trung thành, trong sáng của Mị Châu) đem về rủa vào giếng nước Trọng Thuỷ thì ngọc trai sẽ sáng lên” đã cho thấy cách đánh giá của nhân dân muốn phần nào cảm thương và tha thứ cho Trọng Thuỷ với tư cách là một chàng rể còn có chút tình người. 2. Hai ý kiến đánh giá về nhân vật Trọng Thuỷ – Quan niệm thứ nhất: Trọng Thuỷ là gián điệp. Tình cảm với Mị Châu là giả dối. Cách đánh giá như vậy là không hoàn toàn đúng, vì nếu không có tình cảm gì với Mị Châu thì Trọng Thuỷ đã không tự tử. – Trọng Thuỷ – MỊ Châu là mối tình tuyệt đẹp và nhân dân đã ca ngợi tình cảm thuỷ chung, trong sáng đó qua chi tiết ngọc trai – giếng nước. Quan niệm này cũng có phần không đúng, vì xuất phát điểm của quan hệ Trọng Thuỷ – MỊ Châu là sự lợi dụng để làm gián điệp. Nhưng mối tình như vậy ít có cơ sở để ca ngợi. Xem thêm: Có ý kiến cho rằng: Thiếu sức tưởng tượng, tri thức không có tiềm năng phát triển. Anh (chị) có suy nghĩ gì? Bàn luận về ý nghĩa của sức tưởng tượng trong quá trình học tập– Quan niệm thứ 2: Căn cứ vào chi tiết: Trọng Thuỷ thương nhớ Mị Châu khôn cùng, khi đi tắm tưởng thấy bóng dáng nàng, bèn nhảy xuống giếng mà chết. Đây là tấn bi kịch tình yêu của nhân vật Trọng Thuỷ, ta thấy Trọng Thuỷ là nhân vật có mâu thuẫn. Với nước Âu Lạc, Trọng Thuỷ là tên gián điệp lợi hại, là kẻ đã lợi dụng tình yêu để đánh cắp bí mật của An Dương Vương, đã phản bội tình yêu trong sáng và thuỷ chung của MỊ Châu. Song, chi tiết trên cho thấy Trọng Thuỷ vẫn là kẻ có tình, nên đã tiếc thương vợ khôn cùng mà tự tử. – Thái độ của nhân gian đối với Trọng Thuỷ: vừa oán giận, vừa độ lượng thương xót. Oán giận vì Trọng Thuỷ là kẻ gián điệp, là kẻ thù của quốc gia Âu Lạc, lợi dụng tình yêu để lấy cắp nỏ thần. Thương xót vì Trọng Thuỷ cũng là con người có tình cảm, là kẻ phải gánh chịu bi kịch giữa nghĩa vụ và tình yêu. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã viết: “Tôi kể ngày xưa chuyện Mị Châu Trái tim lầm chỗ để trên đầu Nỏ thần vô ý trao tay giặc Nên nổi cơ cơ đồ đắm biển sâu" (Tố Hữu) 3. Cốt lõi lịch sử của câu chuyện này là: Vua Thục Phán An Dương Vương xây dựng thành cổ Loa, tổ chức quân đội đánh giặc giỏi, chế tạo được vũ khí tinh xảo khiến cho quân giặc phương Bắc bị thất bại nhiều phen. Nhưng sau đó, nhà vua mất cảnh giác, bị mắc kế giảng hoà, vờ làm thông gia của Triệu Đà nên đã thất bại. Đất nước Âu Lạc rơi vào cảnh bi kịch. Từ cốt lõi thực tế có tính sự thật lịch sử, nhân dân ta đã thần kì hoá bằng các hình tượng: + Rùa Vàng (tự xưng là sứ Thanh Giang) giúp nhà vua xây thành, làm lẫy nỏ để đánh giặc giữ nước. + Khi thất trận, chạy đến đường cùng, An Dương Vương lại được Rùa Vàng rẽ nước đi xuống biển. + Máu Mị Châu hoá thành ngọc trai, ngọc trai biển đông rửa bằng nước giếng Trọng Thuỷ thì sáng hơn lên. Nguồn: thêm: Phân tích hình tượng con sông Đà trong bài tùy bút “Người lái đò Sông Đà" của Nguyễn Tuân
Anh (chị) hiểu như thế nào về hình ảnh ngọc trai – giếng nước và cách đánh giá của nhân dân đối với Trọng Thuỷ_
780
Anh (chị) hiểu như thế nào về quan niệm sau đây của Vũ Trọng Phụng: “Các… thực ở đời”. Phân tích “Hạnh phúc một tang gia’’ để chứng minh cho quan điểm đó Gợi ý Đề bài: Anh (chị) hiểu như thế nào về quan niệm sau đây của Vũ Trọng Phụng: “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và những người cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời”. Phân tích “Hạnh phúc một tang gia’’ để chứng minh cho quan điểm đó Bài làm: Vũ Trọng Phụng là một trong những khuôn mặt độc đáo nhất của văn học tiền chiến. Văn chương ông đối lập với văn chương Tự Lực văn đoàn và cũng khác hẳn lối hiện thực phê phán của những người cùng thời như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng…, tìm đi cho mình một con đường riêng, trở thành nhà văn hiện thực trào phúng. Ông quan niệm: “Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và những nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời”. Tìm hiểu đoạn trích “Hạnh phúc một tang gia” ta sẽ hiểu hơn về nhà văn độc đáo này cũng như quan niệm nghệ thuật của ông. Quan niệm được đưa ra trọng một bài báo tranh luận với những người theo trường phái “nghệ thuật vị nghệ thuật”, một cuộc tranh luận gay gắt, có ảnh hưởng lớn đến đời sống văn học lúc bấy giờ. Vũ Trọng Phụng, người phát ngôn cho trường phái “nghệ thuật vị nhân sinh” – nghệ thuật để phục vụ cho con người, khai thác hiện thực từ con người, không phải là thứ nghệ thuật thuần túy – đã kiên quyết bảo vệ cho quan điểm sáng tác đó. Trong ý kiến của mình, ông nhắc đến tiểu thuyết, là loại hình văn học cụ thể, phản ánh cuộc sống với dung lượng lớn, có khi bao hàm cả cuộc đời, số phận của một con người – loại hình văn học mà tác giả sáng tác – nhưng đồng thời cũng là tiếng nói thể hiện quan niệm về văn chương nói chung. Tiểu thuyết là tiểu thuyết là một lẽ đương nhiên nhưng ở đây điều mà Vũ Trọng Phụng muốn nói đó chính là những tác phẩm mà tác giả của nó chỉ chú trọng đến mặt hình thức của tác phẩm, chú trọng đến việc gò câu đúc chữ, chú ý đến những kĩ năng, kĩ xảo viết tiểu thuyết mà không quan trọng về nội dung phản ánh trong tác phẩm đó. Quan niệm tiểu thuyết chỉ là tiểu thuyết là quan niệm của những nhà văn đi theo khuynh hướng nghệ thuật vị nghệ thuật (mà tác giả gọi là “các ông”), như những nhà văn trong bút nhóm Tự lực văn đoàn “chủ trương nghệ thuật tách rời cuộc sống, nghệ thuật chỉ là để phục vụ nghệ thuật”. Đối lập với nó, Vũ Trọng Phụng khoanh vùng “tôi và những nhà văn cùng chí hướng như tôi”, là chính tác giả và những nhà văn hiện thực cùng thời như Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyên Hồng…, những nhà văn đi theo khuynh hướng tả chân, nghệ thuật nhân sinh, nghệ thuật gắn liền với cuộc sống. Tiểu thuyết phải là “sự thực ở đời”. Điều này thể hiện mối quan hệ khăng khít giữa văn chương và cuộc sống của con người. Tại sao nhà văn lại đưa ra quan niệm như vậy? Có thể giải thích điều này bằng thực trạng của nền văn học Việt Nam thời kì đó. Vãn học Việt Nam giai đoạn này xuất hiện những trào lưu văn học khác nhau. Một số nhà văn trong nhóm Tự lực văn đoàn đi theo hướng nghệ thuật vị nghệ thuật, xa rời cuộc sống. Quan niệm sáng tác chỉ là tìm ra cái đẹp, xây dựng cái đẹp mà không quan tâm đến cuộc sống, số phận của con người. Từ đó dẫn tới tư tưởng tiêu cực, thoát li cuộc sống, ru con người chìm đắm trong mộng ảo không có thực. Trong hoàn cảnh ấy, Vũ Trọng Phụng đưa ra nhận định khẳng định quan niệm của mình dưới dạng phủ nhận quan niệm của thơ vãn lãng mạn, những con người chỉ coi tiểu thuyết thuần là tiểu thuyết, về mặt hình thức. Nhưng bản chất của văn học là xuất phát từ cuộc sống, cuộc sống chính là suối nguồn nuôi dưỡng vãn học. Bởi vậy không thể có văn học thuần túy chỉ có hình thức, chỉ chú ý đến hình thức. Hơn thế nữa, hoàn cảnh nước ta trong giai đoạn này cũng hơn bao giờ hết cần những tác phẩm văn chương phải thực sự là những “vũ khí thanh cao và đắc lực” phục vụ con người, phục vụ cuộc kháng chiến. Văn học cần phải là tiếng nói lên án, phơi bày hiện thực, đồng cảm với nỗi khổ của con người. Người nghệ sĩ không thể chỉ đơn thuần chạy theo cái đẹp mà cần phải gắn liền nó với cuộc sống, đi sâu vào cuộc sống, nói lên những nỗi niềm của con người, tức hướng tới “nghệ thuật vị nhân sinh”.Xem thêm: Bài đọc tham khảo Cần tự giáo dục lấy mình Để có thể nhận thức được một cách đúng đắn vấn đề này không gì khác ngoài cách phải gắn với những đặc trưng, chức năng của văn học: là sự phản ánh hiện thực cuộc sống qua lãng kính chủ quan của con người. Quan niệm của Vũ Trọng Phụng ở đây thực chất là cuộc “đụng đầu” giữa hai quan điểm “nghệ thuật vị nghệ thuật” và “nghệ thuật vị nhân sinh” thể hiện thái độ rạch ròi của những nhà văn đi theo hai trường phái khác nhau. Nhưng có một sự thực là không thể có một tác phẩm nghệ thuật đích thực thuần nghệ thuật và cũng không thể có một tác phẩm văn học đích thực chỉ thuần về nội dung miêu tả cuộc sống. Xét một cách toàn diện và công bằng hơn từ hai quan niệm này chúng ta tìm ra được một quan điểm tiến bộ, tích cực về cái làm nên giá trị của một tác phẩm văn học. Sứ mệnh cao cả và thiêng liêng của văn chương nghệ thuật nói chung và người nghệ sĩ nói riêng xuất phát từ cuộc sống. “Văn chương sẽ là gì nếu không vì cuộc đời mà có?”. Người nghệ sĩ tìm cái đẹp không có nghĩa là nhắm mắt, bịt tai trước nỗi thống khổ của con người mà phải đứng trước cuộc đời để đón nhận tất cả những vang động từ nó. Nhưng tôn trọng sự thật không có nghĩa là sao, chép sự thật, không phải là mang nguyên sự thật sần sùi góc cạnh ngoài đời vào trong tác phẩm văn học. Nghệ thuật luôn phải có hư cấu. Nhà văn từ hiện thực đó, hư cấu thành những chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm. Hiện thực được hư cấu khiến cho ai đọc lên cũng thây mình trong đó. Nhà văn hiện thực có hư cấu tưởng tượng nhưng vẫn dựa trên cơ sở vững chắc là hiện thực cuộc sống. Họ tố cáo những cái xấu, cái ác của xã hội, phản ánh nỗi khổ của con người đồng thời ca ngợi vẻ đẹp của họ, khơi dậy tinh thần đấu tranh, phản kháng, hướng tới một cuộc sống tốt đẹp. Còn đốì với những nhà văn lãng mạn, khi sự hư cấu không chú ý đến hiện thực, tách rời cuộc sống thì chỉ cho ra những tác phẩm là sản phẩm của trí tưởng tượng chủ quan, “làm đẹp những căn lều nát” bằng thứ ánh sáng xanh mờ ảo không có thật. Cái đẹp tách rời hiện thực cuộc sống, nhất là hiện thực cuộc sống đang bộn bề, đầy rẫy những bất công thì sẽ chỉ là những “ánh trăng lừa dối” (chữ dùng của Nạm Cao trong “Ánh trăng”) mà thôi. Quan niệm của Vũ Trọng Phụng đưa ta đến với những suy nghĩ về mốì quan hệ khăng khít giữa cuộc sống và văn học. Văn học với khả năng hư cấu, tưởng tượng của mình làm phong phú thêm cho cuộc sống còn cuộc sống lại đống góp tư liệu cho văn học đưa nó đến với bạn đọc. Ý kiến ấy có những nét tương đồng với quan niệm của Bi – ê – lin – xki: “Tác phẩm nghệ thuật sẽ chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng thét khổ đau hay lời ca tụng hân hoan; nếu nó không đặt ra câu hỏi và trả lời cho những câu hỏi đó…”. Nó là sự kế tiếp và cũng là một minh chứng cho truyền thông văn học của dân tộc ta. Từ xa xưa, cuộc sống lao động và những số phận của con người đã in đậm dấu ấn trong các câu ca dao, tục ngữ, trong những câu chuyện cổ tích về cô Tấm, về chàng Thạch Sanh, Sọ Dừa… Nguyễn Du đã lấy cái tâm của mình để phát hiện và cảm thông cho những số kiếp bất hạnh trong xã hội phong kiến đặc biệt là người phụ nữ để khái quát lên thành tiếng kêu ai oán:Xem thêm: Viết đoạn văn nêu cảm nhận của anh (chị) về hai câu thơ sau trong bài “Tự tình” của Hồ Xuân Hương: “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại, Mảnh tình san sẻ tí con con”“Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh củng là lời chung”… Tất cả họ đều đứng giữa cuộc sống mà hiểu, cảm thông cho những cảnh đời, những số phận. Cùng với tài năng nghệ thuật của họ, những tác phẩm đó mãi là những tác phẩm văn học có giá trị. Đối với Vũ Trọng Phụng, để phục vụ cho quan niệm sáng tác của mình, ông đưa vào trong tác phẩm của mình những hiện thực muôn màu của cuộc sống, thậm chí đó còn là một hiện thực được kệch cỡm hóa đến cao độ để phê phán, để mỉa mai, để gây cười. Tiếng cười bật lên từ đoạn trích “Hạnh phúc một tang gia” trích trong “Số đỏ” là một ví dụ. Vũ Trọng Phụng là một nhà văn trào phúng bậc thầy, một nhà văn hiện thực kiệt xuất. Ông đưa vào trong trang văn của mình những hình ảnh con người gần nhất có thể với bản chất của họ. Bằng tiếng cười trào phúng nhà văn dựng lên hiện thực cuộc sống đồi bại nhố nhăng, mất hết nhân tính trong thời đại Tây – Tàu lẫn lộn, thời đại mà con người bị tha hóa biến chất đên mức không còn lấy một chút liêm sỉ. Cả đoạn trích là một bức tranh hiện thực thời bấy giờ. Sự tràn lan của phong trào Âu hóa đã kéo theo những con người thành thị khiến đánh mất đi những giá trị nhân bản truyền thống của dân tộc. Một tang gia mà lại hạnh phúc, ngay từ tên đề đã phơi bày nghịch lí của cuộc sống bộc lộ bản chất con người. Trong xã hội mất nhân tính đó, tất cả mọi niềm vui, của mọi người đều được khởi phát từ cái chết của cụ cố Tổ. Người dân thàhh phố thì nhân dịp này được chiêm ngưỡng cái cảnh xa hoa của một đám cưới Tây – Tàu lân lộn; người đi đưa đám thì được dịp chim chuột nhau, cười tình với nhau, bình luận người nọ người kia; những anh cảnh sát trước đó là những kẻ vô công rồi nghề thì giờ đây được dịp lăng xăng, chạy đi chạy lại, thể hiện sự mẫn cán… Và đặc biệt, niềm vui thể hiện tập trung trong những đứa con cháu của cụ cố Tổ, những kẻ đang chuẩn bị đám ma cho cụ cố của mình với tất cả niềm hân hoan và sốt sắng. “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”, ông Phán mọc sừng háo hức vì cái món tiền cụ cố Hồng đã hứa chia cho mình, không còn lấy làm phiền lòng về đôi sừng hươu vô hình đang mọc trên đầu mình nữa. Cụ cố Hồng thì nhắm mắt mơ màng đến cảnh mình được mặc đồ xô gai, chống gậy lụ khụ để cho dân làng phẳi thán phục: “úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa”. Bà Văn Minh “sốt cả ruột vì mãi không được mặc những đồ xô gai tân thời, cái mũ mấn trắng viền đen” đang rất thời thượng; Tuyết thì nhân dịp ấy để mặc bộ Ngây thơ mà chứng minh cho thiên hạ rằng mình mới chỉ mất trinh có một nửa, bộ cánh khiến cho biết bao những ông ngực đầy những huy chương Bắc đẩu bội tinh, Long bội tinh, Cao Miên bội tinh… cảm động vì “làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết” hơn là tiếng kèn Xuân Nữ ai oán, não nùng. Cậu Tú Tân vui mừng vì có dịp trổ tài nhiếp ảnh “dựng cảnh” để chụp lấy những bức ảnh kỉ niệm lúc hạ huyệt. Nhưng có lẽ lời nhất vẫn là Xuân “tóc đỏ”, sau cái chết của cụ cố Tổ, uy tín của hắn tăng lên nhanh chóng, mọi người đều biết ơn và coi hắn như một ân nhân.Xem thêm: Em hãy phân tích bài "Mộ” (Ngục trung nhật kí) của Hồ Chí Minh Đám ma cụ cố Tổ là sự đưa ma chút liêm sỉ cuối cùng còn lại trong xã hội. Rồi sau đó, “đám cứ đi” như sự vô xỉ đang được trưng diện một cách công khai, trơ trẽn, và vẫn còn đang tiếp diễn nhức nhối. Hiện thực cuộc sống đã được phơi bày và cường điệu hóa cao độ tạo nên tiếng cười sảng khoái. Vũ Trọng Phụng gọi đó là xã hội “chó đểu”, “vô nghĩa lí”. Đặc biệt, màn kịch cuối cùng giữa ông Phán mọc sừng và Xuân “tóc đỏ” mà Vũ Trọng Phụng đã chớp được khiến cho tất cả những giả dối trước đó bị lật tẩy. Bằng cặp mắt nhìn sâu sắc và tư tưởng muôn “tiểu thuyết là sự thực ở đời”, Vũ Trọng Phụng đã dựng lên một hiện thực xã hội nhố nhãng, trong đó, con người đã mất đi hết tình người và tính người. Không thể phủ nhận một điều là cái nhìn của Vũ Trọng Phụng đôi khi có phần phiến diện và mang màu sắc bi quan chủ nghĩa nhưng sâu xa, nó vẫn bắt nguồn từ một khát vọng, mong muốn hướng tới một xã hội tốt đẹp hơn, con người sống với nhau nhân văn, nhân bản hơn. Điều đặc biệt là cũng cần nói đến ở đây đó là Vũ Trọng Phụng đã tuân thủ một cách nghiêm ngặt quan điểm sáng tác “nghệ thuật vị nhân sinh” của mình nhưng tác phẩm cũng cho ta thấy một ngòi bút nghệ thuật trào phúng điêu luyện. Vũ Trọng Phụng không hề chú ý đến việc chau chuốt về mặt hình thức nhưng tác phẩm của ông vẫn có sức cuốn hút với người đọc bởi hiện thực cuộc sống được thể hiện trong một bút pháp trào phúng điêu luyện. Nếu không có điều ấy, tác phẩm của nhà văn chỉ là những sáng tác miêu tả cuộc sống đơn thuần một cách trần trụi và phản cảm. Điều ấy chứng minh cho tài năng nghệ thuật của ông đồng thời cũng là minh chứng cho quan niệm nghệ thuật tiến bộ: mối quan hệ khăng khít, hài hòa thông nhất giữa vãn học (ở đây bao hàm tất cả những yếu tố làm nên văn học: nội dung và hình thức nghệ thuật) và cuộc sống. Vũ Trọng Phụng là một nhà văn hiện thực tiêu biểu trong nền văn học Việt Nam. Chính nhờ việc đi sâu vào cuộc sống, tìm kiếm và phát hiện bản chất cuộc sống cũng như con người cùng với một ngòi bút nghệ thuật điêu luyện, những tác phẩm của ông đến ngày hôm nay vẫn được người đọc nhiều thế hệ nhiệt tình đón nhận. Những sáng tác gắn với cuộc sống chân thực và đúng đắn, không chỉ thời Vũ Trọng Phụng mà ngay cả thời nay kết hợp với tài năng nghệ thuật của người nghệ sĩ sẽ làm nên những tác phẩm có sức sống bất diệt, vượt qua mọi thử thách của thời gian. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hiểu như thế nào về quan niệm sau đây của Vũ Trọng Phụng_ “Các… thực ở đời”. Phân tích “Hạnh phúc một tang gia’’ để chứng minh cho quan điểm đó
2,840
Anh (chị) hiểu quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm như thế nào? Vì sao nói bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có sự kết hợp giữa trự tình và triết lí Gợi ý HƯỚNG DẪN 1. Quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm là sống thuận theo tự nhiên: “Dẫu nhẫn chê khen dầu miệng thế – Cơ cầu tạo hóa mặc tự nhiên”. Nhàn là đốì lập với danh lợi: “Để rẻ công danh đổi lấy nhàn”, giữ cốt cách thanh cao. Nhàn là triết lí, là thái độ sống, là tâm trạng. – Tuyết Giang Phu Tử yêu và trọng nhân cách, về với thiên nhiên, sống thuận theo tự nhiên là thoát ra ngoài vòng ganh đua của thói tục, là không bị cuốn hút bởi tiền tài, địa vị, để tâm hồn an nhiên, khoáng đạt. Nhân cách ấy rất thuần hậu và thanh cao. Cụ Trạng về sống giữa thôn quê như môt lão nông với bữa cơm đạm bạc, với những sinh hoạt dân dã. Nhưng đạm bạc chứ không khắc khổ. Đạm bạc đi với thanh cao. – Nhân cách Nguyễn Bỉnh Khiêm đối lập với danh lợi như nước với lửa: “Ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ – Người khôn, người đến chôn lao xao”. Ta tìm nơi vắng vẻ là nơi không người cầu cạnh, nơi tĩnh lại của thiên nhiên và nơi thảnh thơi của tâm hồn. Người đến chôn lao xao là đến chôn cửa quyền sang trọng, tấp nập nhưng cũng là chốn hoạn lộ nhiều thủ đoạn bon chen, sát phạt.Xem thêm: Phân tích chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong hai tác phẩm Rừng xà nu và Những đứa con trong gia đình – Tìm đến sự thanh cao, tìm thấy sự thư thái của tâm hồn, nhà thơ vui, niềm vui thốt lên thành lời: “Thơ thẩn dầu ai vui thú nào”. Niềm vui như hiện lên trong bước đi ung dung, niềm vui chi phối cả âm điệu bài thơ, cứ nhẹ nhàng, lâng lâng, cứ “thanh thản, thoải mái một cách kì lạ. Đau khổ ư? Lo toan ư? Mệt mỏi ư? Trút sạch sành sanh” (Lê Trí Viễn, Đến với tha hay, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1997, tr.78). 2. – Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm có sự kết hợp giữa trữ tình và triết lí. Trạng Trình đã đem đến cho văn học Việt Nam một phong cách triết gia. Bài thơ Nhàn là cảm hứng nhàn mà cũng là triết lí nhàn. – Triết lí nhàn thể hiện qua quan niệm của tác giả về dại và khôn. Đó là triết lí sâu sắc mà hóm hỉnh trong cách nói đùa vui ngược nghĩa, dại mà thực chất là khôn còn khôn mà hóa dại. Ớ một bài thơ khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm viết: “Khôn mà hiểm độc là khôn dại – Dại vốn hiền lành ấy dại khôn” (Thơ Nôm – bài 94). Như vậy thì dại, khôn ở Nguyễn Bỉnh Khiêm là xuất phát từ trí tuệ, triết lí dân gian “Ớ hiền gặp lành, ở ác gặp ác”. – Triết lí nhàn của nhà thơ là trở về sống hòa hợp với tự nhiên, phủ nhận danh lợi. “Rượu đến cội cây ta sẽ uống – Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao”. Bậc đại ẩn sống Tuyết này tìm đến say chỉ là để tỉnh. Tỉnh để nhận ra công danh, của cải, quyền quý chỉ là giấc chiêm bao. Nguyễn Bỉnh Khiêm triết lí với mục đích tự cảnh tỉnh mình nhưng lại có tác dụng cảnh tỉnh người đời.Xem thêm: Anh (chị) hãy bình luận câu ngạn ngữ Hi Lạp: Học vấn có những chùm rễ đắng cay nhưng hoa quả lại ngọt ngàoVanmau.edu.vn
Anh (chị) hiểu quan niệm sống nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm như thế nào_ Vì sao nói bài thơ Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm có sự kết hợp giữa trự tình và triết lí
625
Anh (chị) hiểu thế nào là tính truyền miệng của văn học dân gian Gợi ý HƯỚNG DẪN Ngôn từ là chất liệu chủ yếu để tạo nên tác phẩm văn học dân gian, đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nên nội dung, ý nghĩa tác phẩm. Có thể gọi văn học dân gian là văn học truyền miệng vì nó được sáng tác và lưu truyền bằng con đường truyền miệng. Khi văn học viết ra đời, hình thức văn học truyền miệng vẫn tồn tại và phát triển trong tầng lớp bình dân. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Với nhan đề “Hoa hậu nhặt rác và dòng nước thải từ Vê-đan” báo Tuổi trẻ Online (Thứ hai, ngày 15 tháng 9 năm 2008) có đoạn: “Ngẫu... trên biển cần Giờ”. Dòng tin trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì
Anh (chị) hiểu thế nào là tính truyền miệng của văn học dân gian
137
Anh (chị) hiểu thế nào là “ngông”? “Ngông” trong văn chương thường bộc lộ như thế nào? Chứng minh qua cái “ngông” của nhà thơ Tản Đà Gợi ý “Khép lại thời cận đại, Tản Đà đã đến như một sự báo hiệu cho những đổi thay trong thơ ở một chặng mới. Tản Đà chất chứa những mâu thuẫn ở buổi giao thời mà ông là người quy tụ hơn là đổi thay. Thơ Tản Đà chứa một tấm lòng, ông khát khao tìm một thế giới tốt đẹp ở trần giới, hay nơi tiên cảnh, ông sống giữa thực và đời, nhưng cuộc đời thực vẫn day dứt tác giả khôn nguôi” (Nguyễn Đức Mậu). Là một người tài năng, cá tính và đầy bản lĩnh, Tản Đà có một cách thể hiện rất riêng, làm nên một phong cách "ngông" mà người đời sau đến nay vẫn còn phải trầm trồ, ngưỡng mộ. Nhắc đến từ “ngông” là nhắc đến khái niệm chỉ người có những lời nói, việc làm ngang tàng, khác lẽ thường, bất chấp sự khen chê của người đời. Nhưng nói như thế không có nghĩa là mọi sự khác người đều trở thành ngông. Những người mà lời nói và hành động ngang tàng, không quan tâm đến thái độ của người khác một cách mù quáng, không biết mình, biết người, tự biết khả năng của mình để tự chủ thì đó chỉ là một kẻ ngông cuồng. Cái ngông ở đây được nói đến là ngông dựa trên khả năng mình có, nghĩa là chỉ những người tài năng, tự tin bởi cái tài của mình, tự tin để khẳng định nó với đời mới là cái ngông được người đời chấp nhận. Xét theo nghĩa thứ hai này, người ngông thường tạo cho mình được những phong cách riêng, khác người nhưng lại để lại những ấn tượng sâu đậm. Chất ngông thường gặp trong văn chương cũng là trường hợp như thế. Người nghệ sĩ đích thực vốn đã là người có tài và có tình. Với cái tài đó, họ mang ra phục vụ cho đời nhưng cũng là để “đóng dâu” hình ảnh của mình cùng với thời gian, cùng với lịch sử. Họ có thể ngông bởi họ có tài, họ có cái để hãnh diện, để thách thức với cuộc đời, với người đời và cũng bởi, trong cuộc sống, mỗi con người họ đã là một tính cách riêng, một sự phá cách, không thể trộn lẫn với một người nào khác. Nền văn học Việt Nam, khi nhắc đến cái chữ “ngông”, người ta không thể không nhớ đến Nguyễn Công Trứ, Tản Đà, và sau này là Nguyễn Tuân, ớ những tác phẩm của họ, người ta nhận thấy sự ngông được biểu hiện ở nhiều khía cạnh nhưng đều có những điểm chung như ngông trong, cách lựa chọn nội dung, đề tài, ngông trong cách thể hiện những nội dung đề tài đó, ngông trong cách sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh, và đặc biệt, ngông thể hiện ở cái Tôi rất riêng, đầy phong cách. Nguyễn Công Trứ, từ cuốì thế kỷ XIX đã mang cái tài và cái tình của mình ra để chơi ngông với thiên hạ. “Bài ca ngất ngưởng” là tác phẩm tiêu biểu cho cái ngông đó của ông, trong văn chương và ở ngoài đời thực, ông dùng cái ngất ngưởng đó đối lại với cả xã hội. Lên nơi chốn chùa chiền vậy mà vẫn “Gót tiên theo đủng đỉnh một đôi dì”. Nguyễn Công Trứ lấy cái ngông của mình ra để đối lại với miệng đời, mặc kệ những lời khen chê: “Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng”. Từ “ngất ngưởng” được sử dụng rất đắt như chỉ để dành riêng cho Nguyễn Công Trứ, đem vào cuộc đời ông, nó chỉ phong cách sống vượt ra ngoài khuôn phép, không chấp nhận bất cứ một sự áp đặt nào; nó nói hết được tài năng, phong cách sống và quan niệm về nhân sinh của ông. Nguyễn Công Trứ đã thể hiện sự ngông của mình từ cách lựa chọn đề tài (hưởng lạc: Cuộc hành lạc chơi bao là lãi bấy/ Nếu không chơi, thiệt ấy ai bù), đến phong cách ngông nghênh, đạo mạo của một người vượt lên trên tất cả những khen chê của dư luận (Kiếp sau xin chớ làm người/ Làm cây thông đứng giữa trời mà reo). Đặc biệt, cái tôi, cái tài của cá nhân luôn được đề cao, khẳng định: “Trời đất cho ta một cái tài/ Giắt lưng giành để tháng ngày chơi”. Đa tài, đa tình, ông không bao giờ phủ nhận cái tài cái tình ấy của mình cả, ông đưa nó ra, bàn luận về nó, khẳng định nó, để rồi lấy chính nó để thuyết phục những người đang nghe ông nói. Phong cách ngông ấy hết sức phù hợp với thể hát nói đặc trưng thường gặp trong sáng tác của Nguyễn Công Trứ, một thể loại văn học rất tự nhiên, phóng túng và có nhiều sự phá cách.Xem thêm: Cảm nhận của anh (chị) về khổ thơ cuối trong bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mạc Tử. "Mơ khách đường xa khách đường xa/ Áo em trắng quá nhìn không ra/ Ở đây sương khói mờ nhân ảnh/ Ai biết tình ai có đậm đà?’’ Với Nguyễn Tuân, cái ngông cũng trở thành một đặc trưng trong phong cách. Người nghệ sĩ luôn là những người hướng tới cái đẹp trong cuộc sống nhưng tôn thờ cái đẹp, nâng nó lên thành một tôn giáo thì có lẽ chỉ có ở Nguyễn Tuân, ông viết: “Nguyễn sinh ra là để phụng thờ Nghệ Thuật với hai chữ viết hoa”, ở ông với tư cách là một nghệ sĩ lãng mạn có tinh thần dân tộc lại là người ý thức sâu sắc về bản ngã, viết văn là một cách để thể hiện cá tính, một cá tính riêng biệt độc đáo không giông ai. Với Nguyễn Tuân, viết văn là phải thật độc đáo, khác người. Chọn cái đẹp làm đề tài sáng tác chính, tất cả các tác phẩm của Nguyễn Tuân đều hướng tới ca ngợi cái đẹp, thậm chí được nâng lên thành chủ nghĩa. Ông viết về chén trà sương, về hương cuội, về chiếc ấm đất, về nét chữ…. Tất cả đều dược đẩy lên thành nghệ thuật với tất cả sự tinh xảo thể hiện thú chơi đẹp, một cách ứng xử đẹp, một nhân cách đẹp… Không chỉ dừng lại ở đó, ngôn từ nghệ thuật trong các sáng tác của Nguyễn Tuân cũng tiêu biểu cho quan niệm về cái đẹp, về một cách chơi ngông. Nguyễn Tuân không chấp nhận những sự bình thường. Cái đẹp trong sáng tác của ông phải luôn được đẩy lên thành nghệ thuật, và ngôn từ cũng vậy. Người ta có thể thây cái tỉ mỉ trong từng chi tiết để tạo nên một thú chơi, thưởng thức tao nhã của “Hương cuội”, thây cái thanh cao trong thú “Thả thơ”, thây tài năng viêt chữ đẹp và tấm lòng biệt nhỡn liên tài trong “Chữ người tử tù” và đặc biệt với “Người lái đò sống Đà”, cả một lớp sóng của ngôn từ nghệ thuật đặc sắc đã được huy động để miêu tả hình ảnh con sống và người lái đò, dựng nên một bức tranh người và cảnh kì vĩ, thách thức sự nghiệt ngã của thiên nhiên, tạo hóa. Ngông tạo nên phong cách riêng cho Nguyễn Tuân và chính cái ngông ây cũng mang lại cho người đời sự đồng cảm, thích thú và những ấn tượng riêng không thể nào phai.Xem thêm: Giữa bạt ngàn đá xám trên cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang), những mầm ngô xanh vẫn vươn lên trên từng hốc đá… Từ hai trường hợp “ngông” tiêu biểu trong nền văn chương Việt Nam ta quay trở lại với trường hợp của Tản Đà để một lần nữa thấy được sự gặp nhau giữa những tâm hồn, những cá tính độc đáo. Thiếu Sơn, khi nhận xét về Tản Đà Nguyễn Khắc Hiếu đã từng có nhận định: “Tản Đà tiên sinh lại ngông hơn hết thảy. Đời đục tiên sinh trong. Đời tối tiên sinh sáng. Đời quay cuồng trong nhân dục, tư lợi, tiên sinh sống ở thế giới tinh thần”. Ông cũng khẳng định: “Cái đặc sắc trong người tiên sinh là cái tình, cái tình nặng, cái tình sâu, cái tình mộng huyền, cái tình nên thơ, cái tình cùng với nước non cây cỏ mà dung hòa họa vận, cái tình cùng với thế đạo nhân tâm mà lên giọng chua cay”. Có thể từ những nhận định đó mà nhận ra những nét đặc trưng trong cái ngông của Tảm Đà và cắt nghĩa nó. Tản Đà sống trong xã hội thực dân nửa phong kiến. Trong thời điểm giao thời đó, hơn ai hết, ông hiểu rõ bản chất xâu xa của xã hội đương thời. Ông ngông, ông làm ngược đời cũng là một cách để chứng minh rằng mình trong sạch. Ông cũng là một cách để thể hiện nhân cách của mình. Đặt trong thời điểm giao thời mà ông đang sống, một người như thế không thể tránh được việc mang trong mình nhiều tâm sự. Tình và mộng, tỉnh và say, và “Rượu say thơ lại khơi nguồn”. Ông say và không ngần ngại nói đến cái say của mình bởi với ông đời chỉ là giấc mộng. Say đến mức thấy “Đất say đất cũng lăn quay/ Trời say mặt cũng đỏ gay, ai cười”. Tản Đà cũng nằm trong kiếp số của những người đa tài, đa tình. Ông mộng để gặp được người lí tưởng, vì mộng nên ông muôn ngông để khác đời và cũng để khẳng định mình với đời. Giữa cái “ngông” và “cái mộng” có mối quan hệ khăng khít với nhau, cái này làm tiền đề cho cái kia. Chính vì cái ngông ấy mà Tản Đà đã hình thành cho mình một thế giới mộng riêng: viết thư hỏi con gái nhà trời, cho người tình nhân không quen biết, mộng “bồi” lại tấm bản đồ rách trả lại sự vẹn nguyên cho giang sơn, đất nước… Khi ông mộng, ông được sống cuộc đời mới mẻ, đẹp đẽ, tự ông vẽ ra trí tưởng tượng của mình. “Chính trong cuộc đời ấy, Tản Đà mới có thể được tự do trong sạch, đáng độc lập, thanh nhàn” (Lê Thanh – Mộng và mộng – thi sĩ Tản Đà). Vì mộng nên mới ngông. Ngông để mà mộng. Đó nét rất riêng làm nên một phong cách Tản Đà độc đáo. Tản Đà ngông khi ông giới thiệu về bản thân mình trong “Tự trào”:Xem thêm: Bàn về việc bảo vệ môi trường, giữ gìn cảnh quan của đất nước“Cùng đất Sơn Tây này một ông Tuổi chửa bao nhiêu văn rất hùng Sông Đà, núi Tản ai hun đúc Bút thánh câu thần sống vãi vung Chữ chữ nôm nôm nào kém cạnh Khuyên khuyên điểm điểm có hay không Bởi ông hay quá ông không đỗ Không đỗ ông càng tốt bộ ngông” Ngông đến độ mơ cả đến việc một ngày nào đó mình được mang vẩn “Hầu trời”: "Văn dài, hơi tốt ran cùng mây Trời nghe, trời cũng lấy làm hay Tâm như nở dạ, Cơ lè lưỡi Hằng Nga, Chức Nữ chau đôi mày Song Thành, Tiểu Ngọc lắng tai đứng Đọc xong mỗi bài cùng vỗ tay". Ngông đến mức dám tự nhận rằng: “Chư tiên ao ước, tranh nhau dặn/ – Anh gánh lên đây bán chợ Trời” và đến trời cũng phải gật gù tấm tắc: “Trời lại phê cho: Văn thật tuyệt Văn trần được thế chắc có ít”. Tự đề cao cái tôi của mình đến mức tự nhận mình là “bút thánh câu thần” và dám mang văn lên bán ở chợ Trời thì có lẽ chỉ có ở Tản Đà mà thôi. Nó là gì nếu không phải là cái ngông “ngất trời” của người nghệ sĩ đa tài này? Không chỉ vậy, trong sáng tác của Tản Đà, người đọc còn bắt gặp một triết lý, một lẽ sống vượt ra khỏi cuộc đời chật trội, không màng danh lợi mà hướng tới một cõi đời mới, một sự thanh cao, như là lẽ sóng của các nhà nho ẩn dật thời xưa. Ông coi tiền bạc chỉ như những thứ rác rưởi, cốt sao sống cuộc đời tao nhã: “Bạc tiền gió thoảng, thơ dầy túi Danh lợi bèo trôi, rượu nặng nai” Và còn tự phụ về cái nghèo của chính mình: “Người ta hơn tớ cái phong lưu Tớ lại hơn ai cái sự nghèo” Đây chính là sự ý thức về nhân cách, một nhân cách vượt ra khỏi mọi sự ràng buộc về danh lợi. Nó đối lập với cái xã hội nhiều bất công, vụ lợi chạy theo đồng tiền và danh lợi thời bấy giờ. Trong sự ngông của Tản Đà, người ta không thấy cái ngông đến mức lấy thú ăn chơi hưởng lạc có phần tiêu cực như một cách để đối lại với đời như Nguyễn Công Trứ, cũng không thấy cái ngông trong việc đi tìm một phong cách, một lối thể hiện riêng của người tôn thờ cái đẹp như Nguyễn Tuân, cái Ngông của Tản Đà là cái ngông của một người chìm đắn trong mộng: mộng về cuộc đời, mộng về sự đổi thay, say để mộng, mộng để mà ngông với người đời bởi chính cái ngông ấy. Nhưng có thể thấy một điều rằng, họ gặp nhau ở một điểm cơ bản mà nếu như thiếu nó thì sẽ không thể “ngông” được đó là cái tài, cái tình và ý thức về cái tôi bản ngã của chính mình. Họ làm nên những phong cách nghệ thuật riêng độc đáo, những ấn tượng đặc biệt, không thể nào phai trong lòng người đọc về một sự ngông không giông ai và cũng không thể có ai giống được. Và với Nguyễn Công Trứ, với Tản Đà, với Nguyễn Tuân,… “ngông” đã trở thành một khái niệm đặc biệt, quen thuộc và không thể thiếu trong nền thơ ca Việt Nam. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hiểu thế nào là “ngông”_ “Ngông” trong văn chương thường bộc lộ như thế nào_ Chứng minh qua cái “ngông” của nhà thơ Tản Đà
2,410
Anh (chị) hiểu thế nào về tình yêu và khát vọng đối với tự do trong bài thơ tự do của p. Ê-luy-a Gợi ý Trong những năm tháng đen tối của cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai khi đất nước Pháp bị quân phát xít giày xéo, quân đội Đồng minh đã liên tục dùng máy bay rải những vần thơ "Tự do" cháy bỏng của Pôn Ê-luy-a để động viên nhân dân chống quân thù. Tại sao bài thơ ấy của Ê-luy-a lại kì điệu đến vậy? Bởi "Tự do" đã thể hiện sâu sắc tình yêu và khát vọng đối với tự do của hàng triệu con người đang trong vòng bi phẫn. Pôn Ê-luy-a là một nhà thơ cách mạng nổi tiếng của Pháp. Thơ Ê-luy-a ở thời kì nào cũng đầy khát vọng và mơ ước tự do. ông đã đi "từ chân trời một người đến chân trời tất cả mọi người". Thơ của ông từ 1942 thấm nhuần tinh thần nhân đạo chủ nghĩa cao cả, là tiếng nói của tâm hồn trong sáng tuyệt vời, của tình yêu nồng nàn làm xao xuyến con người, là những khúc nhạc dịu dàng, những ước mơ đẹp kết hợp với thực tiễn xã hội. Bài thơ Tự do là một tác phẩm được rút trong tập Thơ ca và chân lí, đúng thời gian quân phát xít Đức đang giày xéo nước Pháp. Tự do là tiếng nói rạo rực của trái tim, tiếng vang động của núi rừng, sông biển; vũ trụ và con người đòi hỏi Tự do: Trên những trang vở học sinh Trên bàn học trên cây xanh Trên đất cát và trên tuyết Tôi viểt tên em… Tự do. Chủ đề của bài thơ đồng thời tên của bài thơ là Tự do. Đây không phải là một thi đề mới mẻ trên thế giới. Song cần lưu ý rằng, trong bài thơ đặc biệt này, tự do không chỉ là tự do cá nhân mà còn là tự do cho đất nước, tự do cho dân tộc. Khi đất nước được tự do, không bị kẻ thù ngoại lai xâm lược thì con người trong đất nước đó mới thực sự được tự do. Đó là thứ tự do chân chính mang phẩm chất nhân văn chứ không phải thứ tự do chém giết của các thế lực thù nghịch bạo tàn, độc ác. Bài thơ miêu tả tâm trạng khát khao, chần thành tha thiết của những người dân nô lệ hướng tới tự do khi cuộc sống của họ không có tự do, bị bọn phát xít giày xéo.Xem thêm: Phân tích nhân vật cô Hiền trong truyện “Một người Hà Nội” của nhà văn Nguyễn Khải Bài thơ có mười hai khổ. Câu kết ở mỗi khổ là “Tôi viết tên em”, ở khổ cuối cùng (khổ mười hai) là “Để gọi tên em”. Vậy tôi là ai? Em là ai? "Tôi" là chủ thể trữ tình, cái tôi thi sĩ. Đấy là tác giả Ê-luy-a đang hướng về tự do với tấm lòng thiết tha cháy bỏng, nỗi niềm chất chứa được dồn nén và toả ra trên trang giấy, bộc lộ với tự do như với người thân yêu nhất. Song thế chưa đủ. Tôi không chỉ là chủ thể trữ tình, cái tôi thi sĩ mà là tất cả mọi người đang rên siết dưới ách nô lệ của bọn phát xít. Vì thế bài thơ đã trở thành thánh ca trong cuộc kháng chiến chống phát xít Đức. Cách dùng đại từ “em” rất độc đáo. “Em” đồng nghĩa với tự do. Tự dọ là điều vô cùng cao quý, thiêng liêng nhưng tác giả gọi đó là “em” rất gần gũi, giản dị và thân thương vô cùng. Dùng đại từ “em” để chỉ tự do, tác giả bày tỏ lòng yêu mến, tình cảm tha thiết chân thành đô’i với tự do. Việc sử dụng thủ pháp điệp cấu trúc câu "tôi viết tên em" làm cho cảm xúc tuôn trào, dào dạt, liên tiếp của một tâm trạng khát khao tự do. Động từ “viết” là ghi, chép. Có thể hiểu là hành động. Nhà thơ sinh ra để ca ngợi tự do, viết về tự do, chiến đấu hi sinh vì tự do. “Viết” là hành động của mọi người để hướng tới tự do, đạt được nguyện vọng sống tự do. Hai tiếng “tôi viết” phải được hiểu như vậy mới nhận ra ý đồ nghệ thuật của tác giả, tạo ra sự đồng cảm lớn lao.Xem thêm: Phân tích đoạn thơ sau trong trường ca Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm: Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi. Đất Nước có trong những cái “ngày xửa ngày xưa” mẹ thường hay kể… Phải biết hóa thân cho dáng hình xứ sở. Làm nên Đất Nước muôn đời Từ “trên” được lặp lại nhiều lần, mười hai khổ thơ có tới mười một khổ từ “trên” xuất hiện. Tổng số ba mươi tư “trên” trong mười một khổ. Trong tiếng Việt từ “Trên” là danh từ chỉ phương hướng. Tiếng Pháp gọi “trên” là giới từ. Tương tự như từ “on" trong tiếng Anh. Từ “trên” trong vãn cảnh (bài thơ) này chỉ không gian. Hàng loạt hình ảnh: ‘Trên những trang vở học sinh", "Trên bàn học, trên cây xanh", "Trên sa mạc trên rừng hoang", "Trên đất cát và trên tuyết", "Trên tổ chim, trên hoa trái", "Trên những mảnh trời trong xanh", "Trên ao mặt trời ẩm mốc", "Trên hồ vầng trăng lung linh", "Trên mỗi khoảnh khắc hừng đông", "Trên đại dương trên tàu thuyền”, "Trên vùng núi non điên dại”,… Có tới mười bảy lần từ "trên" xuất hiện gắn với không gian, người đọc có thế’ nhận biết được qua hình ảnh. Điều đó cho ta thấy tình cảm của tác giả rất đáng trân trọng, đó là tình cảm tha thiết không chỉ của riêng nhà thơ mà còn của bao người khác nữa. Nhưng cũng có không gian được viết ra bằng bút pháp siêu thực: "Trên hình ảnh rực vàng son", "Trên gươm đao người lính chiến", ‘Trên mũ áo các vua quan", "Trên điều huyền diệu đêm đêm", "Trên tất cả họ hàng quây quần",… Đó là không gian qua trí tưởng tượng đã chuyển hoá thành thời gian, không gian và thời gian thể hiện tâm trạng con người. Đó là không gian, thời gian nghệ thuật. Cách hiểu từ “trên” dưới góc độ thời gian nhấn mạnh hơn tình cảm tha thiết vươn tới tự do: thời gian cứ chảy trôi, con người cứ khao khát vươn tới tự do không ngừng nghỉ.Xem thêm: Phân tích vẻ đẹp hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng Từ “trên” gắn liền với những không gian, thời gian giúp người đọc hiểu sâu thêm về hai chữ “tự do”. Tự do đã trở thành khát vọng cháy bỏng, mong mỏi da diết của con người. Dù ở đâu, đang làm gì, tuổi ấu thơ hay đã trưởng thành, thức cũng như ngủ, quan sát hay suy ngẫm, ở núi non hiểm trở hạỹ theo con tàu lênh đênh trên sóng nước, thậm chí cả lúc nguy nan, tôi đều hưởng tới tự đo. Tự do là khát vọng lớn, mãnh liệt của con người. Nó càng có ý nghĩa hơn khi nhân dân Pháp (năm 1942) đang bị bọn phát xít Đức xâm lược. Kết hợp hai cách hiểu trên làm cho ý thơ có sự kết nối về không gian: “tôi viết tên em” khi đang ở đâu đó và làm một việc gì đó. Các từ “trên” xuất hiện khiến bài thơ có kiểu lặp từ xoáy tròn tạo ra nhạc điệu nhằm nhấn mạnh ấn tượng về sự lan toả triền miên không dứt của cảm giác tự do, khát vọng tự do. Bài thơ ra đời vào đúng thời gian quân phát xít Đức đang giày xéo nước Pháp. Sự thực phũ phàng ấy là nỗi nhói đau của hàng triệu con người Pháp chân chính trong đó có nhà thơ. Viết bài thơ Tự do, Ê-luy-a đã cất lên tiếng hát khao khát tự do mãnh liệt thiêng liêng của một con người, của một công dân trên đất nước bị kẻ thù giày xéo. Tình cảm tha thiết của thi sĩ với tự do phải được hiểu là tâm sự yêu nước, nỗi đau mất nước, lòng khao khát tự do cho bản thân và lớn hơn nữa là tự do cho đồng bào, dân tộc. Khi ấy, cái “tôi” trữ tình trở nên vĩ đại và cao thượng nhường nào. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hiểu thế nào về tình yêu và khát vọng đối với tự do trong bài thơ tự do của p. Ê-luy-a
1,460
Anh (chị) hiểu và suy nghĩ như thế nào về ý kiến cho rằng: Xét đến cùng, ý nghĩa thực sự của văn học là nhân đạo hóa con người. Chứng minh bằng các dẫn chứng văn học cụ thể Gợi ý Văn học là một trong những loại hình văn học nghệ thuật có mặt từ rất sớm, gắn bó thiết thân và có tác động sâu sắc đến đời sống con người. V.Huy-gô đã từng nhận định: “Nghiên cứu những dạng xấu những dạng dị tật của xã hội và để chúng lên để sứa chữa là công việc mà trong đó nhà văn không được phép chọn lựa”. Bới vì, xét đến cùng, ý nghĩa đích thực của văn học là nhân đạo hóa con người. Tác phẩm văn học là sự phán ánh thế giới khách quan qua chủ quan của tác giả, bản thân nó đã ẩn chứa trong đó những tư tưởng, tình cảm cúa người viết, những khát vọng sâu sa trước cuộc đời, trước những vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống con người. Nhà văn Nga Tôn-xtôi đã từng viết: “Mỗi tác phẩm nghệ thuật là kết quả của tình yêu”. Nữ văn sĩ Pháp El-sa Tri-sô-lét thì diễn tả tình cảm ấy bằng hình ảnh thật cụ thể: “nhà văn là người cho máu”. Đó là tình yêu thương chân thành nên có ý nghĩa tác động sâu sắc đến độc giả. Một trong những nội dung làm nên giá trị của một tác phẩm văn học chính là giá trị nhân đạo của nó.. Nhân đạo là tình cảm yêu thương gắn bó, quí trọng và bảo vệ con người. Chủ nghĩa nhãn đạo trở thánh một trong những nội dung cư bản để thẩm định giá trị của tác phẩm, ý nghĩa dách thực của văn học là ở việc nhân đạo hóa cho người tức làm cho “người gần người hơn”, nó giúp cho người ta biết yêu thương và được yêu thương. Tại sao văn học lại làm nên được điều kì diệu này? ý kiến đề cập đến những vấn đề thuộc về đặc trưng, chức năng của văn học. Đầu tiên, những tác phẩm đang được chúng ta bàn đến ở đây là những tác phẩm chân chính. Nói điều này bởi văn học nói chung tồn tại vì con người,, nâng cao phẩm giá của con người nhưng cũng không hiếm những tác phẩm văn chương làm hạ thấp phẩm giá con người. Có những tác phẩm là kết quả của sự thao thức trăn trở nhưng cũng có những tác phẩm chỉ là một thứ công cụ phục vụ cho những mục đích bất chính – không hơn. Mặt khác, nói tới quá trình nhân đạo hóa của văn học không phải chí là khả năng gợi lòng trắc ẩn, sự thương cảm đối với những cảnh ngộ trong cuộc sống mà còn bộc lộ ở sự tự ý thức về bản thân, tự nhận diện bản thân trước, những điều xấu, tốt, thiện, ác mà tác phẩm gợi lên. Là sự thanh lọc tâm hồn của văn học hay một hình thức “sám hối” cũng chính là vì lệ đó. Văn học có chức năng nhận thức, mang đến cho con người những hiểu biết về cuộc sống; chức năng giáo dục, giáo dục con người từ những nhận thức đó mà thay đổi cách suy nghĩ, thay đổi hành động cho phù hợp; giá trị thẩm mĩ nhằm hướng con người đến với những cái thuộc về chân, thiện, mĩ, hướng họ đến với cái đẹp. Những giá trị đó, xét cho cùng đều nhằm mục đích làm cho con người và đời sống tâm hồn của họ ngày càng trớ nên tốt đẹp hơn, tức cũng chính là có giá trị nhàn đạo hóa con người. Nhận thức được về cuộc sống, con người sẽ thấy đâu là những hiện tượng tích cực cần ngợi ca, đâu sẽ là những cái tiêu cực, xâ’u xa đành phê’ phấn. Người ta sẽ biết được đâu là cái đúng, là điều nên làm, đâu là cái mình nên tránh… Giá trị giáo dục tác động đến con người chủ yếu theo con đường tình cảm nên rất dễ phát huy tác dụng. Từ các hiện thực của cuộc sống đó, văn học chi ra cho con người cách thay đổi cuộc sống, cách thay đổi bản thân, thay đổi chính mình, làm cho mình ngày càng tốt đẹp hơn, ngày càng tiến gần hơn đến với những tiêu chuẩn thẩm mí của cái đẹp. Người ta sẽ còn chìm trong u mê, tăm tốì nếu như không nhận thức được vấn đề. Bởi vậy nên khi ý thức được về cái đẹp một cách sâu sắc, đồng thời một cách vừa vô thức, vừa có ý thức, người tá sẽ hướng mình theo những cái đẹp đó, nghĩa là xét cho cùng, con người đang ngày càng trở nên nhân đạo hơn. Một lí do nữa khiến cho tác phẩm văn học đích thực có ý nghĩa nhân đạo hóa con người bởi vì tác phẩm văn học chính là sự phản ánh thế giới chủ quan, tâm tư, tình cảm của tác giả. Bàn thân tình cảm lại là một thứ rất dễ lây lan. Một cách nhanh chóng, những tình cảm tốt đẹp cùa tác giả sẽ’ tác động, ánh hưởng đến độc giả, thấm dần vào trong họ và khiến cho họ cũng sẽ nảy sinh tình cảm tương tự. ở đây, nói nhân đọa hóa để nhấn mạnh sức cám hóa mạnh mẽ của nghệ thuật. Nhận thức được vai trò, tấc dụng to lớn này của văn học, càng cần thiết phái sử dụng chúng như một thứ vũ khí “thanh cao và đắc lực” để “ca ngợi tình thương yêu, lòng bác ái, sự công bình”, để làm cho “người gần người hơn”.Xem thêm: Giá trị nhân đạo của truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao Văn học xưa nay vẫn có tác dụng to lớn trong việc tác đông đến nhận thức và tình cảm cúa con người. Nguyễn Đình Chiểu thời’ trung đại đã từng khẳng định ý nghĩa đó của văn học: “Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm Đâm mấy thăng gian bút cliảng tà’’ Sóng Hồng trong những vần thơ của mình luôn sáng tác theo mục đích: “Dùng ngòi bút làm đòn xoay chế độ Mỗi vần thơ bom đạn phá cường quyền” Còn Hồ Chí Minh thì luôn coi “Văn học nghệ thuật là một mặt trận” và “anh chị em nghệ sĩ là chiến sĩ trên mặt trận đó”… Tất cả các ý kiến đó và rất nhiều ý kiến khác nữa đều hướng đến việc khẳng định giá trị to lớn của văn học trong việc thế hiện đời sống, tác động đến tâm tư, tình cảm của con người, mà như đã nói ở trên, cuối cùng, đó củng chính là mục đích nhân đạo hóa con người. Giá trị nhân đạo của văn học thể hiện trước hết ở việc văn học đưa đến cho con người những câu chuyện, những tấm gương đẹp khiến người ta phải nhìn vào đó mà suy nghĩ, mà nhìn nhận lại mình. Hẳn mỗi chúng ta không thể không một lần được nghẹ đến ảnh hưởng của những tác phẩm văn hộc của Nga đến tầng lớp thanh niên Việt Nam thời kì kháng chiến chống thực dân, đế quốc như thế nào. Đã có một thời kì những cuốn sách như “Ruồi trâu”, “Thép đã tôi thế” đấy trở thành cuốn sách gối đầu giường của biết bao thanh niên yêu nước Việt Nam. Họ say sưa đọc, say sưa với lý tưởng cách mạng mà những người thanh niên Nga đã theo đuổi, và cũng từ ảnh hưởng của những cuốn sách đó, đã có rất nhiều thanh niên Việt Nam ra đi tìm đường cứu nước, trong đầu luôn văng vẳng những lời tự nó vớí lòng mình của Pa-ven Cooc-sa-ghin: “Cái quý nhất của con người ta là sự sống. Đời người chỉ sống có một lần, hãy sống sao cho khỏi xót xa ân hận vì những năm tháng đã sống hoài sống phí, cho khỏi hổ thẹn vì dĩ vãng ti tiện và hèn đớn của mình, để khi nhắm mắt xuôi tay có thể nói rằng: Tất cả đời ta, tất cả sức ta, ta đã hiến dâng cho sự nghiệp cao đẹp nhất trên đời, sự nghiệp đấu tranh giải phóng loài người”. Nền văn học Việt Nam xưa nay cũng đã mang đến cho con người biết bao hình tượng văn học trở thành tấm gương cho con người nhận thức lại mình. Là cô Tâm, Thạch Sanh, là những người em tốt bụng, hiên lành.trong câu chuyện cổ tích; là những bậc “nam nhi đại trượng phu” suốt đời đi theo hai chữ trung hiếu nhưng vẫn “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu” và đặc biệt là tấm gương của “Lớp cha trước, lớp con sau. Đã thành chiến sĩ chung câu quân hành” trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc. Đó có thể là câu chuyện cảm động của những cô gái gỡ bom trong “Những ngôi sao xa xôi”, có thể là cả một tập thể anh hùng trong “Rừng xà nu”; có thể là câu chuyện của những con người đang ngày đêm thầm lặng cống hiến cho cuộc chiến đấu của dân tộc trong “Lặng lẽ Sa Pa”; Có thể là những cô gái, chàng trai tré măng đã công hiến tuối thanh xuân cúa mình cho cuộc kháng chiến của dân tộc như chị em việt, Chiến (Những đứa con trong gia đình), như Nguyệt,, Lãm (Mảnh trăng cuối rừng); Có thể là những anh chiến sĩ trên bay Tân Sơn Nhất hi sinh khi đang đứng bắn, để lại “dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ”… Tất cả họ sẽ luôn là những tâm gương ngời sáng khiến cho muôn đời sau người t vẫn phải luôn suy nghĩ, tự nhận, thức về bài học của cuộc sống, tự nhận thức về giá trị đích thực của cuộc sống là sống có nghĩa, từ đó mà nhận thức và thay đổi bản thân mình, để bản thân mình ngày càng hoàn thiện hơn, ngày càng tốt đẹp hơn.Xem thêm: Hãy nói lời đáp của em khi gặp những tình huống không như ý mình Không chỉ có giá trị nhân đạo hóa con người từ những tấm gương sáng, văn học còn có vai trò đặc biệt trong việc phản ánh hiện thực đen tối từ đó lên án, phê phán, khiến người ta biết ghê tởm, xa lánh những cái xấu xa trong xã hội. Vũ Trọng Phụng đưa ra một hiện thực xã hội “chó đểu”, nhố nhăng của thời buổi Tây Tàu lẫn lộn, với nhưng Xuân tóc đỏ, Phó Đoan, Văn Minh, những Nghị Hách, thị Mịch.., bày tỏ sự phản ứng của mình với hiện thực đồng thời qua đó cũng lôi kéọ được ở độc giả những tình cảm tương tự. Chúng ta cưới trước những sự lố bịch ấy nhưng đằng sau tiếng cưỡi là rất nhiều những trăn trở, băn khoăn. Đó cũng là những gì người ta bắt gặp trong những tác phẩm của các nhà văn hiện thực phê phán nổi tiêng thế giới như Sê-khốp, Ban-zăc… Lên án, tố cáo cái xấu vì thế cũng là một cách hữu hiệu để nhàn đạo hóa con người. Việc mô tẳ một cách chân thực cuộc sống bất hạnh của con người như bi kịch của cái nghèo, đói trong tác phẩm Ngô Tất Tố, bi kịch bị cướp đi mất nhân hình và nhân tính, bị cướp đi mất quyền làm người trong tác phẩm của Nam Cao… sẽ mãi là những hình ảnh ám ánh con ngúời ta, bồì dưỡng tâm hồn cort người biết rung động trước cuộc sống đang diễn ra xung quanh mình.Xem thêm: Phân tích đoạn Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)Khó có thể chỉ trong một vài trang văn mà nói hết được khả năng nhân đạo hóa con người của những tác phẩm văn học đích thực. Nhưng quả thực, một tác phấm văn học chân chính luôn mang đến cho con người cho con người rất nhiều những tình cảm, cảm xúc chân thực, có thể là sự phẫn nộ, lên án, hay đồng cảm, xót thương nhưng cuối cùng đều khiến cho tâm hồn học trở nên trong sáng hơn, nhạy cảm và dễ rung động hơn. Một tác phẩm văn học đích thực đến với bạn đọc như một cuộc đối thoại, tâm tình để người sáng tác và độc giả cùng sẻ chia, như một lần M. Gorki đã nói: “Mỗi cuốn sách đều là một bậc thang nhỏ mà khi bước lên, tôi tách khỏi con thú và đến tới gần con người hơn”.. Những tác phẩm văn học chân chính sẽ mãi mang đến cho con người rất nhiều vấn đề của cuộc sống, khiến cho họ vui buồn, giận hờn, căm ghét, xót xa vì nó… Văn học vì thế sẽ mãi là tiếng nói yêu thương, bào vệ và quý. trọng con người, vì hạnh phúc của con người và lảm con người ngày càng trớ nên hoàn thiện hơn. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hiểu và suy nghĩ như thế nào về ý kiến cho rằng_ Xét đến cùng, ý nghĩa thực sự của văn học là nhân đạo hóa con người. Chứng minh bằng các dẫn chứng văn học cụ thể
2,256
Anh (chị) hãy bàn về các từ “vui lòng”, “làm ơn”, “xin lỗi”, “cảm ơn” trong giao tiếp, ứng xử Gợi ý HƯỚNG DẪN Đây là đề nghị luận xã hội về một khía cạnh của lễ tiết trong giao tiếp, đó là việc sử dụng những lời nói lịch sự trong giao tiếp hằng ngày như “vui lòng”, “làm ơn”, “cảm ơn” tỏ ra, mình là người có văn hóa, biết tôn trọng người khác và tự trọng. Sử dụng những từ xã giao lịch sự đó làm cho người mình tiếp xúc được vui vẻ hơn, quan hệ giữa người và người vì thế sẽ trở nên tốt đẹp hơn, thuận lợi hơn. Phải tập sử dụng những từ đó với sự chân thành trong mọi trường hợp thích hợp cho thành thói quen để người ta không cảm thấy khách sáo hay điệu đà và đó cũng là biểu hiện của nếp sống có văn hóa, văn minh của nhân cách. BÀI LÀM ‘‘Lời nói chẳng mất tiền mua / Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau’’ (Tục ngữ). Trong giao tiếp hằng ngày với những người xung quanh, người lịch sự, có văn hóa là người biết dùng những từ “vui lòng”, “làm ơn”, “xin lỗi”, “cảm ơn” khi gặp gỡ chuyện trò hoặc có công chuyện với người ta. Khi ta cần đề nghị người khác một việc gì đấy, dù việc đó nhỏ và không làm phiền hà gì mấy, cũng nên dùng từ “vui lòng” trước lời đề nghị. Ví dụ anh vui lòng cho tôi đi qua chỗ này, chị vui lòng cho tôi đi trước một chút.Xem thêm: Cảm nghĩ về thiên nhiên và đời sống của con người trong thời khắc chuyển mùa sang thu Nếu việc mình đề nghị có làm phiền hà người khác nhiều hơn một chút thì nên dùng từ “làm ơn” để tỏ lòng biết ơn và sự khiêm tốn của minh. Ví dụ “Ông làm ơn ngồi lùi vào một chút cho tôi ngồi nhờ được không ạ?”. “Anh làm ơn cho tôi đọc nhờ tờ báo một lúc”. Từ “xin lỗi”, có thể được dùng trước những lời đề nghị trên để tăng thêm phần lịch sự và khiêm tốn. Còn thường thì từ xin lỗi được dùng khi mình trót gây ra một điều gì phiền hà cho người ta dù chỉ nhỏ. Ví dụ khi mình gọi điện thoại nhầm sô’ làm người ta phải nhấc máy, mình phải xin lỗi ngay, hoặc tưởng nhầm là người quen mình gọi, khiến người ta quay lại, mình phải nói “xin lỗi, tôi nhầm”. Ngay cả khi do hoàn cảnh khách quan mà không giúp được người khác một việc gì cũng phải xin lỗi… Từ “cảm ơn” là từ hay dùng nhất. Đối với bất kể ai dù là một đứa trẻ nếu giúp mình một việc gì dù nhỏ nhất mình cũng phải “cảm ơn”. Ví dụ: cháu đưa ông tờ báo, ông cảm ơn cháu; mình hỏi đường, người ta chỉ, mình phải cảm ơn; người bán hàng giao hàng cho khách, khách cảm ơn, người bán hàng cũng cảm ơn, hai người đều vui vẻ… Người không biết nói những từ “vui lòng”, “làm ơn”, “xin lỗi”, “cảm ơn” trong những trường hợp như trên là người thiếu lịch sự, thiếu văn hóa. Những người không những không biết dùng những từ ấy mà còn dùng những từ tục tằn, thô lỗ là những người thiếu đạo đức, thiếu giáo dục. Xem thêm: Tả một em bé ở tuổi mẫu giáo270 ĐỂ VÀ BÀI VÁN HAY 10 Trong truyện: Một người Hà Nội, nhân vật “tôi”: kể lại khi “tôi” đang đi trên đường phô’ Hà Nội, bị một thanh niên xô vào phía sau xe, anh ta không xin lỗi còn ngoái lại chửi “tôi”: “Tiên sư thằng già”. Nhân vật cô Hiền trong tác phẩm ấy rất coi trọng việc giáo dục con nếp sống thanh lịch của người Hà Nội, trong ứng xử, trong sinh hoạt mà cô coi đó là biểu hiện của lòng tự trọng. – 47 Trong quan hệ giao tiếp giữa người và người, có hàng nghìn lễ tiết, trong hàng trăm môĩ quan hệ, hàng trăm công việc, mấy từ “vui lòng, làm ơn, xin lỗi, cảm ơn” chỉ là một phần nhỏ thuộc về lời nói trong sinh hoạt hằng ngày, “Muôn xứng đáng là con người thì phải hiểu lễ tiết là diện mạo, ăn mặc và đối đáp ứng xử’, một nhà tư tưởng nổi tiếng đời Thanh đã nói thế (theo 100 lễ tiết cần học hỏi trong cuộc đời – Bích Lãnh – Phan Quốc Bảo biên dịch – NXB Văn hóa – Thông tin, tr.5). Lễ tiết vừa thể hiện nhân cách của chủ thể, vừa thích ứng với những yêu cầu cơ bản trong mối quan hệ ứng xử giữa người với người và tạo ra nhiều cơ may quý báu cho cuộc đời và sự nghiệp của mình (theo sách trên). Học sinh là những người có học phải gương mẫu thực hiện lễ tiết trong quan hệ giao tiếp, trước tiên là trong đối đáp, ứng xử, phải tỏ ra là người có văn hóa, có giáo dục. Lễ tiết trong giao tiết, nếu chưa biết thì phải học, học ở nhà, ở trường, ở sách báo, trong cuộc sốhg. Học thì phải vận dụng ngay, vận dụng thường xuyên cho thành thói quen, thành nếp sống, thể hiện một cách chân thành khiến cho mình và người khác không cảm thấy là khách sáo, điệu đà. Thực hiện lễ tiết trong đó có lễ tiết đối đáp, ứng xử, trong các quan hệ giao tiếp không phải là xã giao mà chính là đạo đức, là văn minh. Lễ tiết trong các quan hệ giao tiếp phải trở thành phép tắc, thành nếp sống bình thường của xã hội. Muôn thế phải có sự giáo dục lễ tiết, giáo dục trong gia đình, giáo dục trong nhà trường, giáo dục trong xã hội (bao gồm giáo dục của sách báo, của các cơ quan truyền thông, sự gương mẫu của những người có trách nhiệm) nhưng quan trọng nhất vẫn là sự tự giáo dục của mỗi người.Xem thêm: Phân tích câu ca dao "Thân em như con hạc đầu đình, Muốn bay không cất nổi mình mà bay" Không biết lễ tiết thì luật pháp có thể chưa bắt tội nhưng lương tâm, danh dự của con người không cho phép. Lễ tiết trong cuộc sôhg trong đó có đối đáp, ứng xử trong giao tiếp là một phần của nhân cách, mà người ta có thể nhận biết rõ ngay trong cuộc sống hằng ngày. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy bàn về các từ “vui lòng”, “làm ơn”, “xin lỗi”, “cảm ơn” trong giao tiếp, ứng xử
1,120
Anh (chị) hãy bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến của nhà văn Pháp La Bơ-ruy-e: “Khi một tác phẩm… một nghệ sĩ viết ra” Gợi ý Đề bài: Anh (chị) hãy bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến của nhà văn Pháp La Bơ-ruy-e: "Khi một tác phẩm nâng cao tinh thần ta lên và gợi cho ta những tình cảm cao quý và can đảm, không cần tìm một nguyên tắc nào để đánh giá nó nữa, đó là một cuốn sách hay và do một nghệ sĩ viết ra” Bài làm: Giá trị của một tác phẩm văn học là lí do tồn tại của tác phẩm ấy đồng thời là cơ sở để khẳng định tài năng và tâm huyết của người sáng tạo ra nó. Những tiêu chuẩn nào thường được đưa ra để đánh giá giá trị của tác phẩm? Theo quan niệm của nhà văn người Pháp La Bơ-ruy-e thì “Khi một tác phẩm nâng cao tinh thần ta lên và gợi cho.ta những tình cảm cao quý và can đảm, không cần tìm nguyên tắc nào để đánh giá nó nữa: đó là một cuốn sách hay và do một nghệ sĩ viết ra”. Vậy cần phải hiểu ý kiến này như thế nào? Văn học là sản phẩm nghệ thuật bằng ngôn từ phản ánh hiện thực khách quan qua lăng kính chủ quan của tác giả. Khi đến với độc giả, ở từng thời kì khác nhau lại có những cách tiếp nhận khác nhau. Nhưng có thể nói, tất cả đều tựu trung ở những giá trị mà tác phẩm đó mang lại. Đi vào tìm hiểu ý kiến của La Bơ-ruy-e trước hết cần phải hiểu thế nào là một cuốn sách hay? Đây là một khái niệm cụ thể nhưng cũng được dùng với ý nghĩa chỉ chung cho tất cả các sáng tác văn học nghệ thuật. Có người lấy sự sáng tạo của người nghệ sĩ, lấy sự “phật minh về hình thức và khám phá về nội dung” làm tiêu chí để đánh giá một tác phẩm hay, hoàn thiện; Có người lại lấy nội đung thể hiện cuộc sống, con người trong tác phẩm làm cơ sở xem xét tác phẩm đó như thế nào, có “đáng thờ” hay không?… Còn người nghệ sĩ thực sự, theo họ, phải là người biết đồng cảm với những khổ đau của con người, “tồn tại ở trên đời trước hết để làm công việc giống như kẻ nâng giấc cho những người cùng đường, tuyệt lộ, bị cái ác hoặc số phận đen đủi dồn đến chân tường; bênh vực những con người không còn được ai bênh vực” (Nguyễn Minh Châu), là người “không có phép thần thông để vượt ra ngoài thế giới này nhưng thế giới này trong con mắt nhà văn phải có hình sắc riêng” (Hoài Thanh)… Cũng có sự gặp gỡ trong tư tưởng và quan niệm, La Bơ-ruy-e cho rằng khi tác phẩm “nâng cao tinh thần ta lên và gợi cho ta những tình cảm cao quí và can đảm” thì đó là tác phẩm thực sự, do một nghệ sĩ viết ra. Thực ra cũng không hẳn là “không cần tìm một nguyên tắc nào” khác vì điều mà La Bơ-ruy-e nêu ra xét đến cùng cũng chính là những tiêu chuẩn mang tính hệ quả từ những nguyên tắc đánh giá về văn chương. Mọi tác phẩm đã được coi là có giá trị thì cuối cùng đều hướng tới đích lớn nhất là con người. Đó là việc nâng cao tư tưởng, tình cảm, tức đánh giá tác phẩm dựa vào giá trị nhận thức, thẩm mĩ và giáo đục mà nó mang lại.Xem thêm: Suy nghĩ về tuổi hai mươi Có thể nói, quan niệm của La Bơ-ruy-e là quan niệm đúng đắn được đúc kết từ thực tế sáng tác. Điều hiển nhiên là khi một tác phẩm nghệ thuật đạt được đến những giá trị như La Bơ-ruy-e nói thì nó đã thành công, thế có nghĩa là nó là một tác phẩm, một cuô’n sách hay. Và tất nhiên người sáng tạo ra một tác phẩm như thế phải là người có tài năng và tâm huyết, nghĩa là là một nghệ sĩ đích thực với đúng nghĩa của nó. “Tác phẩm nâng cao tinh thần của ta lên” vì thông qua chức năng nhận thức, văn học cung câp cho con người hiểu biết về thế giới vật chất và tinh thần. Nắm bắt được quy luật cuộc sống, con người sẽ có thể chủ động hơn trong mọi trường hợp. Thế giới tinh thần không chỉ được nâng cao mà còn được bồi dưỡng và làm cho ngày càng trở nên phong phú. Bên cạnh đó, thông qua bản chất thẩm mĩ của thế giới thể hiện trong tác phẩm mà văn học giáo dục, bồi dưỡng tình cảm của con người cũng như phát triển những phẩm chất thẩm mĩ tốt đẹp của họ, làm cho họ ngày càng hoàn thiện hơn. “Tham gia vào hoạt động văn chương cho dù là sáng tác hay thưởng thức, người ta đều được “thanh lọc”, ít nhiều sẽ trở nên tô’t hơn, nhân ái hơn.Trong thế giới xô bồ ồn ã hiện nay, khi con người ta luôn bị lôi ra bên ngoài, bị cuốn vào đám đông và bị nhu cầu vật chất cám dỗ dữ dội thì thi ca, văn chương lại càng cần thiết” (Nguyễn Văn Hạnh – Ý nghĩa của văn chương) Văn học dân gian Việt Nam từ xưa đến nay được biết đến như một kho tàng văn hóa của dân tộc, một đời sống tinh thần vô cùng phong phú và đa dạng. Ngay từ thời xưa cha ông ta đã đùng ca dao, dân ca, tục ngữ một cách phổ biến với tư cách là những kinh nghiệm dân gian trong lao động sản xuất, trong đối nhân xử thế, những lời than thân, những tình cảm,yêu thương tình nghĩa. Chúng không chỉ góp phần nâng cao tinh thần mà còn gợi và bồi dưỡng cho ta những tình cảm yêu thương con người, yêu thương đồng loại. Trước khó khăn vất vả tưởng chừng như có thể gục ngã, ca dao giúp con người trở nên mạnh mẽ. Đó là câu chuyên của “Mười cái trứng” khi tất cả niềm hi vọng, ước mơ của người nông dân dồn vào thứ tài sản quí giá ấy thì bảy quả bị ung, ba quả nở ra ba con: “Con diều tha Con quạ bắt Con mắt cắt xơi" Người nông dân vẫn đầy lạc quan tin tưởng: “Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây”. Mỗi chúng ta tự nhìn nhận lại mình từ đó mà vững vàng, mạnh mẽ hơn trước sóng gió cuộc đời. Ca dao giáo dục quí trọng thành quả lao động vất vả mới-có được: “Ai ơi bưng bát cơm đầy Dẻo thơm một hạt, đắng cay muôn phần” Ca dao còn là những bài ca ca ngợi tình nghĩa thủy chung thương yêu giữa con người với nhau. Ta bắt gặp trong đó tình yêu mãnh liệt nhưng cũng thật tế nhị:Xem thêm: Anh (chị) có ý kiến gì về nhận định sau: “Thơ Tố Hữu tiêu biểu cho khuynh hướng thơ trữ tình chính trị” “Hôm qua tát nước đầu đình Bỏ quên chiếc áo trên cành hoa sen Em được thì cho anh xin Hay là em để làm tin trong nhài” Bắt gặp tình cảm vợ chồng thủy chung son sắt: “Rủ nhau lên núi đốt than Chồng mang đòn gánh vợ mang quang giành Củi than nhem nhuốc với tỉnh Ghi lời vàng đá xin mình chớ quên” Tình cảm gia đình đằm thắm: “Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra” Những bài ca dao ấy gợi lên trong ta thứ tình cảm trong sáng, thủy chung giữa con người với nhau. Đọc ca dao, ta có thêm nghị lực và niềm tin vào cuộc sống mà nuôi dưỡng, phấn đâ’u cho đời sống tinh thần và tình cảm của mình ngày càng tốt đẹp hơn. Trong văn thơ trung đại, những bài học giáo dục được tồn tại trong một hình thức văn học quy ước sẵn và vì thế nên cũng mang nội dung quy ước nhất định. Thấy nhiều trong mảng thơ ca giáo huân, bày tỏ lòng mình, bài học giáo dục mang tính trực tiếp. Thơ ngợi ca thì hào sảng. “Bình Ngô đại cấo” là lời tuyên bố độc lập tự do của dân tộc, khơi dậy trong lòng mỗi người dân Việt Nam niềm tự hào: “Như nước Đại Việt ta từ trước Vốn xưng nền văn hiến đã lâu Núi sống bờ cõi đã chia Phong tục Bắc – Nam cũng khác” Số phận bất hạnh của Kiều (Truyện Kiều – Nguyễn Du) không chỉ giúp chúng ta hiểu hơn về xã hội phong kiến thời bấy giờ cũng như bồi dưỡng thêm những tình cảm con người tốt đẹp: sự đồng cảm, trân trọng, xót thương… “Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” Truyện “Lục Vân Tiên” (Nguyễn Đình Chiểu) xây dựng hai hình tượng nhân vật đạp, lí tưởng là Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga. Tình yêu thủy chung son sắt của Nguyệt Nga một lần nữa bổ sung thêm vào thế giới hình tượng đẹp về người phụ nữ. Còn đức tính hào hiệp “giữa đường thấy chuyện bất bình chẳng tha” của Vân Tiên cũng là một điều đấng cho chúng ta học tập. Với những tác phẩm như vậy, các nhà thơ trung đại như Nguyễn Du, Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu,… xứng đáng là những nghệ sĩ lớn. Bước sang thời kì hiện đại, văn học không chỉ bó mình trong những khuôn mẫu có sẵn mà ngày càng mở rộng và trở nên gần gũi hơn với cuộc sống con người nhưng không vì thế mà làm giảm đi tính giáo dục, thẩm mĩ. Tô Hoài đi vào khai thác thế giới loài vật với những dế mèn, dế chũi, chị bồ nông, anh xén tóc, vợ chồng nhà chuột… gửi gắm sail đó bài học sâu sắc về cách đô’i nhân xử thế giữa con người với nhau, bài học về tình đoàn kết, tinh thần yêu thương đồng loại. Cuộc phiêu lưu của Dế Mèn là một cuộc hành trình vươn tới hoàn thiện mình cả trong suy nghĩ và trong tình cảm, lối sống. “Mùa lạc” (Nguyễn Khải) là câu chuyện thay đổi cuộc đời con người trong cuộc sống lao động mới. Đào, một người phụ nữ kém may mắn, chịu nhiều bất hạnh cuô’i cùng cũng tìm thây hạnh phúc của mình trên mảnh đất Điện Biên. Từ chao chát, chỏng lỏn chị trở thành một con người hoàn toàn khác. Chị chỉ mỉm cười bao dung trước những câu đùa của mọi người, bởi vì giờ đây họ đã trở thành những người “nhà trai, nhà gái” của chị. Ta hiểu thêm rằng trong mọi hoàn cảnh, nghị lực sề giúp chúng ta vượt qụa tất cả.Xem thêm: Bình giảng đoạn thơ sau trong đoạn trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm: "Đất là nơi em đến trường... Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng"“Chiếc thuyền ngoài xa” (Nguyễn Minh Châu) mang đến cho người đọc thông điệp về cái đẹp đích thực. Nghệ thuật không chỉ là khám phá sự vật ở cái bề ngoài mà phải nhìn thấy được cái hiện thực bộn bề nằm ở bề sâu. Đó là chất cuộc sống làm nên giá trị của tác phẩm. Cái đẹp không phải đâu xa lạ mà nằm trong chính những con người đang lăn lộn mưu sinh ngoài kia. Với người vợ chài lưới, điều quan trọng nhất và cũng là lí do để chị hi sinh tất cả những thứ khác đó chính là hạnh phúc và tương lai của những đứa con. Chị chấp nhận những trận đòn roi tàn nhẫn của chồng mà kiên quyết không li dị bởi chị biết trong cuộc sống khốn khổ của họ, anh ta cũng là một người bất hạnh; và cũng còn bởi một lí do khác quan trọng hơn: trên thuyền không thể không có đàn ông cũng như những đứa con của chị không thể không có cha. Người phụ nữ ấy đã nhận hết đau khổ về mình để những người xung quanh mình được hạnh phúc. Biết đồng cảm với số phận bất hạnh của họ, hiểu được ý nghĩa đích thực của cái đẹp trong cuộc sống nghĩa là chúng ta đang làm cho đời sống tinh thần tình cảm của mình phong phú, hoàn thiện hơn. Giá trị của một tác phẩm cũng như tài năng của người nghệ sĩ thường được đánh giá bằng việc tác phẩm đó khai thác gì, đóng góp gì cho cuộc sống con người cũng như tác động như thế nào đến tư tưởng, tình cảm thẩm mĩ của người đọc trong những thời đại khác nhau. Nhận thức sâu sắc điều này có ý nghĩa to lớn đối với người sáng tác (phải làm sao để sáng tác ra được những tác phẩm được coi là “một cuốn sách hay”) và cả đối với quá trình tiếp nhận của bạn đọc: không chỉ tiếp nhận các giá trị của văn học mà còn cần đưa nó vào trong quá trình tự giáo đục bản thân cũng như ảnh hưởng tốt đến những người xung quanh. Khi Đan-cô (Trái tim Đan-cô – M.Gorki) móc trái tim mình ra để soi đường cho đoàn người vượt qua cái tối tăm của rừng thẳm để đến với miền đất chan hòa ánh sáng và sự sống, chàng đã dũng cảm nhận lấy sứ mệnh vinh quang nhưng cũng đầy đau khổ của một người dẫn đường. Và từ đó trái tim Đan-cô mãi trở thành một hình ảnh biểu tượng cho những gì cao cả và đẹp đẽ của con người. Văn học đã thể hiện được những giá trị vĩnh cửu của mình mà nói như La Bơ-ruy-e, nó đã “nâng cao tinh thần ta lên, gợi cho ta những tình cảm cao quí và can đảm”… Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy bày tỏ quan điểm của mình về ý kiến của nhà văn Pháp La Bơ-ruy-e_ “Khi một tác phẩm… một nghệ sĩ viết ra”
2,376
Anh (chị) hãy bình giảng bài thơ Bài ca chúc tết thanh niên của Phan Bội Châu Gợi ý Trong ký ức của nhiều thế hệ người Việt Nam, Phan Bội Châu là một nhà yêu nước nồng cháy thiết tha, một nhân vật lịch sử kiệt xuất, tiêu biểu cho phong trào đấu tranh giành độc lập của dân tộc mấy chục năm đầu thế kỷ XX. Phan Bội Châu có một tiểu sử oanh liệt. Ngay đến những nãm cuối đời, khi bị giặc Pháp giam lỏng ở Huế, Phan Bội Châu vẫn đuợc sự quan tâm đặc biệt của đồng bào, đặc biệt là tầng lớp thanh niên. Ông cũng rất có ý thức bồi dưỡng thế hệ trẻ và đặt vào họ những hy vọng lớn lao. Đầu năm 1927, học sinh trường Quốc học và trường Dòng ở Huế tổ chức chúc thọ ông tròn tuổi 60. Đáp lại tình cảm ấy, Phan Bội Châu đã ứng khẩu đọc bài Bài ca chúc tết thanh niên, theo thể hát nói thông qua những lòi bộc bach chân thảnh, tác giả thiết tha kêu gọi thanh niên hay từ bỏ lối sống tâm thường, quyết, tâm tu dương. vươn tới lý tưởng cách mạng cứu nước, bắt kịp thời đại mới. Đó chính là sự kỳ vọng và sự bàn giao trách nhiệm của thế hệ Phan Bội Châu cho thế hệ thanh niên kế tiếp. Mở đầu Bài ca là tiếng gọi đột ngột, khẩn cấp, giục giã: "Dậy! Dậy! Dậy” Đây là lời của ai? Hãy đọc kỹ những câu thơ tiếp theo: Dậy! Dậy! Dậy! Bên án một tiếng gà vừa gáy. Chim trên cây liên ngỏ ý chào mừng. Cách mở đẩu thật là độc đáo. Tác giả muốn lay tỉnh mạnh mẽ lớp hậu sinh hãy mở mắt nhìn ra một ngày mới bắt đầu: Trời đã sáng, chim chóc đã cất tiếng hót tưng bừng rộn rã. Điều đáng nói ở đây là tiếng gà, tiếng chim kia đếu có sức thôi thúc, giục giã khác thường. Thì ra, những âm thanh đời thường vốn quen thuộc ấy được "nghe" qua tâm trạng hy vọng, mong chờ vào thời cơ mới và thế hệ mới của tác giả bỗng trở thành có tính biểu tượng đầy ý nghĩa của "vận hội mới" Cảm động biết bao khi ta hiểu đây là tâm trạng của một người đang sống trong hoàn cành nghiệt, ngã, bị kẻ thù kìm kẹp hòng cắt lìa khỏi thực tế đấu tranh của dân tộc, nhưng vẫn gắn bó với cuộc sống, tin tưởng ở thế hệ tương lai của đất nước.Xem thêm: Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu Xét đến cùng, tiếng thúc giục "Dậy! Dậy! Dậy" không chỉ là lời kêu gọi tâm huvết của Phan Bội Châu. Đó là tiếng gọi của Tổ quốc, của non sông mà Phan Bội Châu là người đại diện. Tiếng gọi Phan Bội Chân – Tổ quốc ấy, ta còn thấy vang ở nhiều tác phẩm khác của nhà cách mạng. Trong cuốn Trùng Quang tăm sử, ông từng viết "Non sông như cũ, thành quách y nguyên! Chủ nhân là ai? Quốc dân ơi! Đông bào ơi! Dậy! Dậy! Dậy!". Doạn thơ tiếp theo, Phan Bội Châu dành mấy dòng nói về bản thân mình. Lời thơ chân thành, tha thiết khiến cho người đọc vô cùng xúc động: Xuân ơi xuân, xuân có biết cho chăng? Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng, Hai mươi năm lẻ đã từng chua với xót. Trời đất may còn thân sống sót, Tháng ngày khuây khỏa lũ đầu xanh. Khác với giọng vui tươi, phấn khởi ở phần đầu. những câu thơ ở đầy có nhịp điệu chậm rãi, nặng trĩu ưu tư. phiền muộn. Trước "tàn vận hội", Phan Bội Châu cảm thấy chẳng buồn khi tâm sư với mùa xuân của đất. trời và cũng là tâm sự với thế hệ trẻ, những người tri âm, tri kỉ của nhà thơ. ở đây có nhiêu cách hiểu vế từ xuân; xuân vừa có nghĩa là đất nước quê hương vừa để chỉ những lớp ngươi trẻ tuổi. Phan Bội Châu bộc bạch hết nỗi niềm tâm sự. Đấy trước hết là nỗi đau của một người đã từng phải làm "khách không nhà trong bốn biển", suốt hai mươi năm bôn tẩu, nhưng rốt cuộc "trăm thất bại không một thành công". Đúng là trong nỗi đau này không nhưng chỉ có "thẹn" mà còn có thêm nỗi "buồn" và nỗi "tủi" lần cả sự chua xót đắng cay. Đây là nỗi đau xót của một trượng phu, một anh hùng, một nhân vật lịch sử kiệt xuất. Đây còn là nỗi đau của cà một dân tộc, một đất nước. Câu thơ "Thẹn cùng sông, buồn cùng núi, tủi cùng trăng" được ngắt đểu thành ba nhịp, ba vế đối nhau, mỗi trạng thái tình cảm đặt trong quan hệ với một hình ảnh biểu tượng của đất nước, thể hiện nỗi đau có tầm vóc núi sông, tầm vóc thời đại. Ta liên tưởng đến nỗi đau lớn của Đặng Dung thời trước trong bài thơ Cảm hoài đầy bi tráng: "Thu nước chưa xong, đầu đã bạc". Đây là tâm sự của một con người đã từng trải qua mấy chục năm tung hoành, khi ở Nhật Bản, lúc ở Trung Quốc, lúc ở Xiêm La, nay phải sống trong vòng kiềm tỏa của quân thù và tuổi già đã đến, chỉ còn biết trông cậy vào "lũ đầu xanh" để khuây khoà "tháng ngày". Như vậy, Phan Bội Châu ý thức sâu sắc với trò lịch sử của mình đã chấm dứt và cụ nghiêm khắc tự đánh giá bản thân mình. Điều này chứng tỏ sự sáng suốt, nhân cách cao đẹp của nhà cách mạng. Riêng việc hiểu được bản thân mình, thấy được giới hạn của mình cũng đã thể hiện một phần tầm vóc lớn của tác già, khiến người đọc vô cùng cảm phục. Thất bại, nhưng không thất vọng; nhà thơ đặt hi vọng vào thế hệ thanh niên:Xem thêm: Nguyễn Tuân và sự hung bạo của thác dữ sông Đà Thưa các cô, các cậu, lại các anh. Một chữ "thưa" mà hàm chứa bao nhiêu niềm trân trong và tin yêu. Đó vừa là đức khiêm nhường, vừa thể hiện tấm lòng thiết tha của nhà cách mạng lão thành đối với vận mệnh của đất nước. Thì ra, đối với Phan Sào Nam, dẫu ở tuổi 60. dẫu đã là một nhân vật lừng danh, nhưng bất kể già trẻ gái trai, ai cò tình thần cứu nước, biết thương xót giống nòi thì đều phải kính trọng. Ta còn nhớ có lần, Phan đã “ngàn vạn lạy" các chú lính tập để họ quay về với Tô quốc Viêt Nam trong quốc gia. Hơn nữa, cách xưng hồ trịnh trong nêu trên phải chăng còn có dụng ý tạo nên không khí thích hợp để tác giả trình bày những vấn đề trọng đại tiếp theo. Bởi vậy, có thể nói, ờ đây, Cụ Phan đã chọn lựa được nhưng lời lữ và giọng điệu thích hợp nhất để phố diễn ý tưởng của mình Tâm sự với thanh niên, Phan Bội Châu khẳng định "đời đã mới, người càng nên đổi mới". Câu thơ có cách diễn đạt tầng cấp: lúc nào cũng cần đổi mới, huống chi đời đã đổi mới, tức là có cơ hội mới, vận hội mới. Đến câu tiếp theo "Xúm vai vào xốc vác cựu giang sơn", tác già nói cụ thể hơn nhiệm vụ của thanh niên phải cùng nhau doàn kết giành lại chủ quyền cho giang sơn mà cha ông từ ngàn xưa để lại. Công việc này thật khó khăn, nặng nể, vì thế không những phải dũng cảm, mà còn phải khôn khéo kiên trì, nhất là phải biết đoàn kết, biết "liên hiệp lai" thành một khối vững chắc:Xem thêm: Nghị luận xã hội về vấn đề rác thải Đi cho êm, dứng cho vững, trụ cho gan Đây doàn thể quyết ghe phen liên hiệp lại. Trải qua những năm tháng hoạt động cách mạng, cụ Phan ý thức rất rõ về tầm quan trọng của sự đoàn kết. Ngay những năm dẫu ra nước ngoài, trong Thư gửi người trong nước khuyên nhân dân giúp tiền cho học sinh đi học ngoại quốc, Phan Bội Châu đã nêu rõ: "Hễ người đông thì xong công việc, đồng tâm thì sức sẽ khỏe; góp nhiều mảnh da để may áo cứu góp nhiều cây lại để chống nhà. Muôn búa vào rừng cây to cũng ngã; xe cát suốt ngày, biển sâu cũng lấp". Những câu thơ trên đây hấp dẫn người đọc không phải chi ở nội dung mà chính là ờ cách nói, ở bầu nhiệt huyết. Nó còn có sức thuyết phục lớn vì được bảo chứng bằng cả cuộc đời hoạt động cách mạng không mệt mỏi của nhà đại ái quốc. Lời khuyên nhủ có lúc chuyển sang giọng dịu dàng, nhỏ nhẹ, như vỗ về: Ai hữu chí từ nay xin gắng gỏi Xếp bút nghiên mà tu dưỡng lấy tình thần, Đừng ham chơi, đừng ham mặc, ham ăn… Có lúc lại sôi nổi, hào hùng và quyết liệt: Dựng gan óc lên đánh tan sắt lửa Xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ Nhưng đấy mới thực là giọng chủ đạo của thơ Phan Bôi Châu – đúng như Tố Hữu nhận xét: "Phan Bội Châu câu thơ dậy sóng" Qua giọng thơ và hình ảnh thơ, ta thấy hiện lên thật rõ nét một Phan Bội Châu tuy tuổi đã già, thân bị giam cầm nơi Bến Ngư, mà tình thần vẫn hăm hở sục sôi, vẫn khao khát tung hoành và đặc biệt là vẫn muốn chuyển mình theo "tân vận hội". Khát vọng ấy ông muôn truyền tới lớp đầu xanh với tất cả niềm tin của mình: Chữ rằng: nhật nhật tân, hựu nhật tân. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy bình giảng bài thơ Bài ca chúc tết thanh niên của Phan Bội Châu
1,675
Anh (chị) hãy bình giảng bài thơ Chiều tối (trích Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh) Gợi ý Chiều tối là một trong những bài thơ tức cảnh xinh xắn nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong tập Nhật ký trong tù. Thơ của Người thường là vậy, thoạt xem tưởng không có gì sáng tạo, vẫn chỉ là những hình ảnh đã trở thành ước lệ quen thuộc trong thơ cổ: Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không Thực ra đó là những cảnh rất thực trong mắt người tù thi sĩ lúc chiều tối nơi núi rừng. Chiều tối (Mộ) là lúc ánh sáng ban ngày gần tắt hẳn. Lúc ấy ở giữa chốn núi rừng không có chân trời, chút ánh sáng còn sót lại của một ngày tàn chỉ có thể nhìn thấy nơi đỉnh trời một cách tư nhiên, con mắt của nhà thơ phải ngước lên cao để nhận ra một cánh chim mỏi mệt đi tìm chốn ngủ nơi một vòm cây nào ‘tầm túc thụ) và một chòm mây cô đơn (Cô vân) lững thững trôi qua (mạn mạn độ thiên không). Cảnh vật như thế là buồn, phù hợp với tâm sự của người làm thơ cũng không thể nào vui được, nếu ta nghĩ đến hoàn cảnh người tù một mình nơi đất khách, lại trải qua một ngày đầy ải trên đường, trong lòng không lúc nào nguôi nỗi nhớ quê hương… Xem thêm: Bàn về Nghệ thuật gây thiện cảm Tuy nhiên thơ Bác vẫn có một đặc điểm rất độc đáo này: mạch thơ, hình ành thơ cũng như tư tưởng thơ ít khi tỉnh tại, thường luôn luôn vận động một cách khoẻ khoắn và bất ngờ hướng vể sự sống và ánh sáng: Cô em xóm núi xay ngô tối Xay hết lò than đã rực hồng. Nếu nói về cảnh thì sự chuyển cảnh như thế cũng rất tự nhiên. Khi đêm đã buông xuống hẳn tấm màn đen của nó thì con mắt nhà thơ tất nhiên chỉ có thể hướng về nơi nào đó có ánh sáng. Đó là ánh sáng soi tỏ hình ảnh một cô gái xay ngô để chuẩn bị bữa cơm chiều. Ở câu thứ ba, người dịch thơ đã thêm vào một chữ "tối" không có trong nguyên tác. Kể ra lúc ấy trời đã tối thật rồi, thêm vào chữ "tối" hẳn là không sai. Nhưng cái tinh tế của bài thơ quả có vì thế mà mất mát đi chút ít. Không nói tối mà tả được tối vẫn hay hơn. Đấy là cách dùng ánh sáng để miêu tả bóng tối Lò than nơi xóm núi kia hẳn đã được nhóm lên từ trước nhưng nay trời tối hẳn nó mới rực sáng lên như vậy. Lê Tri Viễn còn phát hiện thêm chỗ tinh vi này ở câu ba và câu bốn trong nguyên tắc của bài tứ tuyệt khi lắp lại theo một trật tự đảo ngược, mấy chữ "ma bao túc" và "bao túc ma hoàn".Xem thêm: “Cuộc đời mất đi tình bạn, thế giới mất đi mặt trời” (Cicero) Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc. Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng. Thời gian trôi dần theo cánh chim và làn mây, theo những vòng xoay của cối ngô, quay quay mãi, "ma bao túc. Bao túc ma hoàn"… và đến khi cối xay dừng lại thì "lô dĩ hồng" lò đà rực hồng, lúc trời tối, trời tối thỉ lò rực lên Hai câu trên là cảnh buồn, lòng người cũng không vui, thể hiện ở hình ảnh cánh chim mỏi mệt về rừng và chòm mây cô đơn trôi chầm chậm qua lưng trời Nhưng hai câu sau lại là một niềm vui thể hiện ở ánh lửa hồng bỗng rực lên. chiếu sáng hình ảnh khoè khoắn của một có gai xay ngô. Sự sống, ánh sáng và nỉềm vui cúa con người bỗng hiện lên ở trung tâm của bức tranh thơ để toả âm ra xung quanh, xua tan đi cái cô quạnh, cái mệt mỏi, cái lụi tắt của cảnh chiều nơi núi rừng Nguvễn Du nói: ”Người buồn cánh có vui đâu bao giờ". Chân lý ấy rất ứng với hai câu thơ đầu. Tất nhiên phải nói cho rõ, ờ hai câu này người buồn mà cành cũng buồn Chim mỏi về rừng tim chốn ngủ Chòm mây trôi nhẹ giữa từng không Nhưng ở hai câu sau thì cảnh lại vui. Vậy thì hẳn là người cũng vui. Tất nhiên là như thế. Nhưng như đã nói, vì sao có thể vui được, khi một mình với nỗi nhớ quê, đằng sau lưng là một ngày đường vất và vừa trải qua, còn trước mắt lại là một nhà lao khác đầy muỗi rệp đang chờ đợi. Đã thế, lại đứng giữa một cảnh chiều muộn nơi núi rừng trên đất khách quê người…Xem thêm: Bình giảng bài thơ Đò Lèn của tác giả Nguyễn Duy Mới biết mọi vui buồn của Bác Hồ đều gắn bó làm một với những vui buồn của nhân loại. Quên hẳn nỗi bất hạnh của riêng mình, Người sẵn sàng lấy cái vui nho nhỏ đời thường của gia đình, một cô gái nhà ai nơi xóm núi bên bếp lửa hồng. Người ta nói chủ nghĩa nhân đạo của Hồ Chi Minh đă đạt tới mức độ quên mình là như thế. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy bình giảng bài thơ Chiều tối (trích Ngục trung nhật ký của Hồ Chí Minh)
910
Anh (chị) hãy bình giảng bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu Gợi ý Xuân Diệu làm thơ rất sớm và thơ ông đã gây nên một tiếng vang lớn trong phong trào Thơ mới. Sau khi tập Thơ thơ ra đời vào năm 1938 (Nhà xuất bản Đời nay, Hà Nội) thì vị trí hàng đầu của Xuân Diệu trong làng thơ bấy giờ mặc nhiên được công nhận. Hoài Thanh nhận xét: "Thơ Xuân Diệu chẳng những diễn đạt được cái tinh vi cố hữu của nòi giống… thơ Xuân Diệu cồn là một nguồn sống rào rạt chưa từng thấy ở chốn nước non lặng lẽ này. Xuân Diệu say đắm tình yêu, say đắm cảnh trời… Khi vui cũng như khi buồn người đều nồng nàn, tha thiết… Sự bồng bột của Xuân Diệu có lè đã phát biểu ra một cách đầy đủ hơn cả trong những rung động tinh vi… Xuân Diệu mới nhất trong các nhà thơ mới…" (Thi nhân Việt Nam – Nhà xuất bản Văn học, tái bản năm 1988). Thơ thơ là tập thơ đầu tiên và cũng là tập thơ tiêu biểu hay vào bậc nhất của Xuân Diệu. Bài thơ Đây mùa thu tới trích trong đó. Mùa thu xưa nay đã làm xao động biết bao trái tim và đã hiện thành vô vàn lời thơ trong văn chương nhân loại. Những người yêu văn chương không thể không biết Thu hứng, Đăng cao của Đỗ Phủ, Thu Tâm Dương của Bạch Cư Dị, Bài ca mùa thu của Véc-len, Thu của Bô-đơ-le, và gần hơn là thư trong thơ Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến, Lưu Trọng Lư, Huy Cận… Đủ tình, đủ điệu. Có điều thu trời đất thì vậy nhưng lòng người thì ai dễ giống ai và ai nói giùm cho ai được! Xuân Diệu có cách rung động, cách diễn đạt không giống người xưa. Trong Thơ thơ, có mấy bài nói về mùa thu: Ỹ thu, Thơ duyên… và Đây mùa thu tới. Tuy có nét chung nhưng mỏi bài mang một vẻ đẹp riêng. ở bài Đây mùa thu tới, sau khi miêu tả những cảm nhận của mình trước cảnh thu từ gần đến xa, từ hiện đến ẩn, tác giả đi vào tâm tư con người, từ con người ngoại giới đến con người bên trong. Tất cả đều nhằm biểu hiện nỗi buồn vừa man mác vừa thấm sâu, vừa mênh mông vừa tinh tế; trong cái thế chung của sự sống bên ngoài như nhạt phai, mất mát dần nhưng bên trong lại như chứa chất một sự vươn tới, một ước mong mơ hồ mà tha thiết. Đã tạo thành sáo ngữ những lá vàng, hoa rụng, nhánh khô gầy khi các nhà thơ động đến mùa thu xưa nay. Xuân Diệu cũng lặp lại, không có gì mới mẻ. Mới chăng là ở cách diễn đạt và cách diễn đạt này lại do cách cảm nhận không giống ai của tác giả. Rặng liễu đứng chịu tang, tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng là mới; mùa thu tới với áo mơ phai dệt lá vàng cũng mới. Ngày xưa báo thu tới là lá ngô rụng vàng một chiếc: Ngô đồng nhất diệp lạc – Thiên hạ cộng tri thu (Ngô đồng rụng một lá, thiên hạ biết thu sang). Xuân Diệu không trở lại với hình ảnh đã thành công thức ấy. Nhà thơ cũng không báo thu sang mà cứ mở ra bằng cảnh buồn nơi rặng liễu và sau đó như sực tỉnh nhận ra: mùa thu đã tới đây và lặp lại mùa thu tới như một sự bất ngờ mà quan trọng cần báo cho mọi người hay. Mùa thu đến như một con người khoác áo kết bàng lá vàng nhưng nhuốm màu mơ phai nhạt. Mùa thu ấy đã thành con người và tất cả những gì của mùa thu đều sống kiếp người – thu. Liễu buồn đã đành, hoa cũng rụng cành, sắc đỏ càu nhàu với màu xanh, gió cũng run rẩy và nhánh khô gầy trơ xương mỏng manh. Phong cách học bảo đó là nhân hóa. Không đơn giản như vậy. Nhà thơ đã cảm nhận mùa thu có "cuộc sống" như con người, như lòng người. Lòng thu, hồn thu cũng như chứa chất nỗi niềm gì bên trong mà biểu hiện ra bên ngoài thì toàn là tang, lệ, phai, vàng, úa, đỏ, rụng, rung, khô gầy, mỏng manh… Con người – thu ấy có chỗ nào trùng hợp với con người, tác giả không? Lòng tác giả và lòng thu có chỗ nào gần gũi không? Chưa đi ngay vào vấn đề này. Chỉ biết dùng cách nói như vậy về thu là kiểu riêng của nhà thơ, rất mới.Xem thêm: Giữa bạt ngàn đá xám trên cao nguyên đá Đồng Văn (Hà Giang), những mầm ngô xanh vẫn vươn lên trên từng hốc đá… Sâu xa hơn và tinh vi hơn nhiều là sức cảm nhận của trái tim và trí tuệ nhà thơ. Đó là ở câu: Những luồng run rẩy rung rinh lá. Hoài Thanh nhận xét: "Trong cảnh mùa thu rất quen với thi nhân Việt Nam chỉ Xuân Diệu mới để ý đến: Những luồng run rẩy rung rinh lá”…". Chúng ta có thể nhớ tới chiếc lá rơi (Lá vàng trước gió sẽ đưa vèo) của Nguyền Khuyến, hoặc chiếc lá rơi mà Tiêng rơi rất mỏng như là rơi nghiêng của Trần Đăng Khoa. Các câu thơ ấy đều tả lá chứ không tả gió, nhưng ai không thấy gió trong đó đều rất nhẹ. Đây không có gió hiện ra, chỉ có luồng run rẩy làm rung rinh lá. Lặp bốn phụ âm R là một phụ âm rung mà nghe chẳng thấy dao động mạnh mẽ gì cả, trái lại chỉ rất khẽ, khẽ rung rinh mà run rẩy cũng khẽ, cái rùng mình nhè nhẹ của gió se sẽ chuyển qua lá và lá rung rinh – ai biết lá rung rinh vì gió hay vì lạnh? Mà cái luồng run rẩy kia cùng do đâu? Gió hay lạnh? Có lẽ do cảm quan nhà thơ chỉ thấy run rẩy và rung rinh chứ không phân biệt đó là luồng gió hay luồng lạnh, bởi cả hai đều là của mùa thu. Nhưng sự ngập ngừng mơ hồ chút ít như thế đúng là chỉ hiện ra với độ tinh vi của cảm quan thơ nhanh nhạy nhất của tác giả. Độ tinh vi ấy là một bằng chứng: lòng tác giả đã thấm sâu vào lòng thu, sự thâm nhập không dừng ở bên ngoài mà đã đi xuyên vào bên trong. Đi vào nhưng thực là để đi ra, nói ra được điều kín sâu nhất của lòng mình. Cảnh thu đó là hồn thu, hồn thu đó là hồn nhà thơ. Chưa rõ vì lẽ gì nhưng vẫn đủ buồn, khóc, úa, rụng, run rẩy, khô gầy… Rất đau thương. Từ liễu buồn, lá vàng, hoa rụng, sắc đỏ, lá xanh, nhánh khô gầy đã chuyển sang nàng trăng ngẩn ngơ, non xa nhạt sương mờ, bến đò vắng người sang, tầng không mây vẩn, chim chóc bay đi, khí trời u uất và thiếu nữ tựa cửa không rõ nghĩ gợi gì… Cái cao đã thay vào cái thấp (trăng thay vườn), cái xa đổi cho cái gần (non xa đổi cho hoa vườn), cái hẹp cái nhỏ chuvển sang cái rộng lớn (rặng liễu, tóc buồn, đôi nhánh khô gầy, rung rinh lá chuyển sang non xa, sương mờ, từng không), Cái cụ thể nhòa thành cái mơ hồ, cái xác định tan trong cái vô định (chịu tang, buông lệ, rụng cành, sắc đỏ, màu xanh, run rẩy, rung rinh, khô gầy, mỏng manh là cụ thể, cố định, xác thực; còn ngẩn ngơ, nhạt sương mờ, luồn trong gió, chuyến đò vắng người sang, chim bay đi, hận chia li, buồn không nói, nghĩ ngợi gì đều là mơ hồ, vô định, không bến bờ, phương hướng). Trên kia đang là cảnh vật trong không gian, đây đã thêm thời gian: thỉnh thoảng, khơi sự, đã nghe, đã vắng… mà thời gian cũng mơ hồ, dù có bắt đầu (khởi sự), có đã qua (đã nghe, đã vắng), và lặp đi lặp lại (thinh thoảng).Xem thêm: Nghị luận xã hội về mái ấm gia đình Bao nhiêu sự biến chuyển ấy đưa tới hiệu lực gì? Gần hoá xa, thấp thành cao, hẹp trở nên rộng, nhỏ biến ra to, mơ hồ, vô định thay cho cụ thể, xác định… không gian đã nới rộng ra đến không còn biết đâu là biên giới, thời gian có thuỷ mà chẳng có chung. Tất cả đều là từ bên ngoài đi vào bên trong, không gian, thời gian đều là tâm trạng của cảnh vật và tâm trạng người làm thơ, trên cái thế chung là nhạt dần, phai đi, mơ hồ đi, nghiêng đổ, mất mát một cái gì mà chính mình không biết. Thỉnh thoảng nàng trăng tự ngẩn ngơ. Ngẩn ngơ như vừa mất một cái gì, mong một cái gì mà không tới, lơ lơ, lửng lửng, chưa thật buồn mà không còn vui. Lại là tự ngẩn ngơ. Vậy không có nguyên nhân bên ngoài mà cơ sự là bên trong, tự mình làm cho mình ngẩn ngơ. Đó là "tâm trạng" nàng trăng. Còn đây là của núi: Non xa khởi sự nhạt sương mờ, Núi cũng chẳng còn xanh biếc bình thường. Núi đã nhạt phai trong sương mờ, trở thành lạnh lẽo bên ngoài, còn bên trong ai biêt tình núi ra sao? Mà đây mới là khới sự, mới bắt đầu, còn kéo dài bao lâu, kéo dài tới đâu, ai hay được? Non xa đã trở nên một khối bí mật không sao hiểu nổi. Còn gió? Còn chuyến đò? Thì đây: đã nghe rét mướt luồn trong gió – đã vắng người sang những chuyến đò. Lạnh rồi. Những luồng run rẩy trên kia đã hiện ra là gió rồi. Và gió lạnh. Trăng ngẩn ngơ chưa phải là lạnh. Non nhạt sương mờ cũng chưa hản lạnh. Bây giờ là cả bầu thu quét trong gió, mênh mông và luồn vào, len vào, âm thầm, lặng lẽ cái lạnh của đất trời, không để ai biết ai hay, trừ nhà thơ biết lắng nghe và đã nghe được, bắt được cái hồn ấy của gió, cái tâm trạng của gió. Chính cái bầu trời mênh mông gió lạnh ấy đã khiến cho con đò thưa chuyến và người sang đò cũng ngại ngần mà vắng sang. Tâm trạng sâu kín của gió đã chuyển sang tâm trạng của con đò: gió thì lạnh, đò thì vắng khách sang sông. Đất trời thu đã đầy những ngẩn ngơ, bí mật, những lạnh luồn sâu, những vắng bóng người, như vậy thì làm gì chim chóc chẳng bay di và khí trời không u uất những mối hận chia li? Ai chia li? Liễu chịu tang ai? Lệ rời tóc và tóc buông lệ. Hoa chia tay với cành, màu xanh chia tay với* lá, xương xóc đã thay thịt da. Trăng sáng trăng xa đã đi biệt. Non biếc cũng phai nhạt rồi. Giờ đã trở lạnh. Người đông đã bỏ bến đò. Chim đi. Mà tất cả, nào ai biết vì lẽ gì, chỉ thấy u và uất. Đến con người. Sang đò là con người ngoài đời, đang đi, đang hoạt động, còn thiếu nữ tựa cửa buồn không nói thì mới là con người suy tư, con người tâm trạng. Thế là cả không gian và thời gian đều ăm ắp tâm trạng. Tâm trạng là một gam cảm giác và xúc cảm đi từ ngẩn ngơ đến chia li. Nhưng chẳng rõ nguyên nhân do đâu? Dường như chỉ tại mùa thu. Thu ngoại giới và thu trong lòng. Vậy ý tứ mà nhà thơ đặt vào hình ảnh: ít nhiều thiếu nữ buồn không nói ở cuối bài thơ, cuối chuỗi tâm trạng này là gì? Nếu đúng đây là mùa thu Huế thì phải chăng vì màu mắt của người con gái ////¿ cũng đầy thu trong đó? Dù sao tả mùa thu mà không có bóng dáng con người thì sao đủ? Phải có con người và hơn nữa, tâm trạng con người. Mà cảm thương với thu thì gì bằng lòng thiếu nữ Quả nhiên nhà thơ tính toán không lầm. Không những một cô mà nhiều cô đều cùng một điệu. Thì ra bao nỗi niềm thu ở liễu, ở hoa, ớ cành, ở trăng, ở non, ở tầng không, ở khí trời, ở đò, ở chim… đều dồn lại hiện ra đủ hết ở các cô: ít nhiều thiếu nữ buồn không nói – Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì? Tới đây mới thấy tất cả hồn thu đã đi vào hồn người. Thiếu nữ buồn nhưng không nói, chi tựa cửa nhìn xa y còn nghĩ ngợi gì chẳng ai hay biết. Cái im lặng thật kì diệu. Ngôn ngữ nghệ thuật có cái lại. Cần nói nhiều nhất, có khi đủ nhất, thấm nhất, người ta lại nhờ cái lặng câm. Cái im lặng của các cô lại nói năng nhiều biết bao! Tựa cửa là để nhìn ra mà cũng để đón vào. Nhìn ra và đón vào thì biết bao cảnh vật trước mắt, cái gần cái xa, cái thấp cái cao, cái rộng cái hẹp, cái cụ thể cái mơ hồ, cái xác định cái vô định, cái bên trong cái bên ngoài, cái ngoại giới cái tâm tư… Tất cả đều úa phai, rơi rụng, khô gầy, ngẩn ngơ, nhạt mờ,lạnh vắng, chia li, mà chẳng biết nguyên do gì, hầu như một thứ định mệnh. Nhận hết thấy vào lòng, các cô chỉ có buồn, chứ chẳng nói gì. Nói làm sao được? Bởi các cô tự dưng cũng thấy mình không khác gì trời đất, cũng chỉ thấy buồn mà nào có hiểu từ đâu!Xem thêm: Dạy và học văn đầy nghịch lý Đó, cảnh thu và tình thu là như thế. Thực ra, chìm sâu trong tâm trạng nhà thơ là một nỗi buồn mà biểu hiện là những ngẩn ngơ những chia li, những úa tàn, rụng rơi, mất mát như trên đã phân tích. Nó là một tâm trạng hiện thực, nó có mặt và thấm sâu vào trong xương tuỷ. Cả thế hệ có chút học vấn, nhất là những ai mon men đến với văn chương, đều thấy nó ngự trong tâm hồn mình, không biết tự bao giờ mà mình không hiểu nó từ đâu tới. Hoặc giả như người xưa đã nói: nó là mối xầu vạn cổ lâu bền như loài người, và hễ tài hoa bao nhiêu thì càng bị nó bám chặt bấy nhiêu. Căn nguyên của mối sầu vạn cổ ấy chắc không ngoài niềm thương đối với bao bất hạnh trong xã hội bóc lột. Kẻ có tâm huyết không ai dửng dưng nên sinh ra sầu. Đối với thế hệ Xuân Diệu, trên mối sầu ấy còn chồng lên một nỗi buồn khác mà những kẻ không gặp được Cách mạng đều không nhận thức ra, đó là nỗi buồn mất nước lẩn vào trong xương thịt mà mình không hay, không biết; chỉ thấy nó hiện lên trong tâm hồn mình và thấm vào cảnh vật thiên nhiên một cách bất ngờ khiến mình tưởng đó là nổi buồn tự thân của thiên nhiên. Các cô thiếu nữ trong bài thơ chỉ buồn và ôm ấp mối buồn mà không nói ra được, và dù có nghĩ suy đi nữa cũng chưa dễ đã tìm ra nguyên nhân rất sâu của nó. Bài thơ trên đây đâu chỉ thuần tuý tả cảnh. Nó mang tâm trạng tác giả nhưng tâm trạng ấy tiềm ẩn, bàng bạc ở bên trong… ở một tầng tâm tư sâu kín hơn và mầu nhiệm hơn, cái tâm trạng đau buồn ấy có gốc rễ từ lòng yêu nước, từ thái độ bất mãn với xã hội trước mắt, từ một mong ước tốt đẹp về cuộc đời, nhưng cuộc đời đang bị thực dân phong kiến bao vây, vùi dập không thương tiếc. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy bình giảng bài thơ “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu
2,742
Anh (chị) hãy bình giảng bài: Đây mùa thu tớì của Xuân Diệu Gợi ý Bài Đây mùa thu tới trích trong tập Thơ thơ xuất bản 1938. Đây là tập thơ đầu tay nhưng rất tiêu biểu của Xuân Diệu trước Cách mạng tháng Tám Với tác phẩm này, Xuân Diêu đã mang đến cho thơ ca đương thời tiếng nói thật táo bạo, mới mẻ. và ông trở thành nhà thơ "mới nhất trong các nhà thơ mới" (Hoài Thanh) Xuân Diệu vốn có một năng lực cảm nhận hết sức tình tế bước đi của thờ gian Bài Đây mùa thu tới là một bằng chứng về năng lực này. ở đây, thi sĩ đã cảm nhận mùa thu tới bằng nhiều giác quan nhạy bén và có cách diễn đạt thật mới mẻ. Qua bài Đây mùa thu tới tác giả bộc lộ tâm trạng lo buồn, dơn côi trước sự chuyền dời của đất trời. Đây thực chất củng là một trong nhưng biểu hiện của sự gắn bó thiết tha với cuộc đời của nhà thơ. Trước hết. mùa thu tới được càm nhận bằng thị giác. Hình ảnh đầu tiên tác giả đưa đến cho người đọc là "rặng liễu". Liễu đã từng xuất hiện khá nhiều trong thơ xưa: (Khi về hỏi liễu Chương Đài" – Nguyễn Du; ’’Thuở lâm hoành oanh chưa bén liễu” – Đoàn Thị Điểm). Nhưng lưới con mắt của nhà thơ lãng mạn, thỉ "rặng liễu đìu hiu" như đang "đứng chịu tang", "tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng Nhà phê bình văn học Nguyễn Đăng Mạnh kể lại: ông "đã từng được nghe chính Xuân Diệu đọc và bình hai câu thơ này Nhà thơ đã đọc bằng toàn bộ con người của mình. Tác già muốn diễn tả những cây liễu bên Hồ Gươm hoặc Hồ Tây, cành mềm lả xuống, rũ xuống như nhưng thiếu nừ đứng cúi đầu cho làn tóc dài đổ xuống song song… Là mái tóc mà cũng là những dòng lệ – người ta vẫn gọi là "lệ liễu" những làng lệ tuôn rơi hàng nối hàng, cùng chiều với những mái tóc dài Rặng liêu đìu hiu đứng chịu tang Tóc buồn buông xuống lệ ngàn hàng.Xem thêm: Cùng bộc lộ nỗi nhớ về Tây Bắc, trong bài "Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!... Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn”. Cảm nhận của anh (chị) về hai đoạn thơ trên Ở hai câu thơ trên, nghệ thuật láy vần ("đìu hiu", "chịu"…) và nghệ thuật tả phụ âm ("buồn buông") tạo ra một âm điệu u buồn, gợi tả cái dáng buông xuống, rủ xuống, mềm mại của những hàng tơ liễu. Âm điệu u buồn mà hai câu thơ đầu gợi ra sẽ chi phối toàn bộ bài thơ. Tạo nên một nỗi buồn triền miên vô tận. Song, buồn mà vẫn đẹp; đẹp một vẻ dẹp thật thướt tha yểu điệu trẻ trung và trong sáng: những rặng liễu đứng đìu hiu như những thiếu nữ đứng chiu tang, vẫn choàng tám áo mưa của mùa thu dệt bằng lá vàng phai Mùa thu vốn là một thi đề quen thuộc trong thơ truyển thống Mùa thu trong thơ Xuân Diệu cũng gần gũi với mùa thu trong thơ của Nguyễn Du, Nguyễn Khuyến. Gần gũi ở cái vẻ đẹp – buồn. Tuy vậy, cảnh thu trong thơ Xuân Diệu vẫn có nét riêng. Nó được chiêm ngưỡng bởi một cái nhìn vồ vập, thiết tha đối với tạo vật. Dường như, dưới con mắt "xanh non" của nhà thư mới, đây là lấn thứ nhất cảnh vật được phát hiện, với dáng vẻ trẻ trung tươi mát. Những điều ấy có phần được nhận thấy qua ngay cách diễn đạt bôi thắm: Đây mùa thu tới! mùa – thu tới. Câu thơ dường như vừa là tiếng reo ngỡ ngàng của nhà thơ trước những tín hiệu của mùa thu đã tới, vừa đón tả sự hỏi thúc của thời gian một đi không trở lại… Nghệ thuật láy phụ âm đặc biệt có hiệu quả ở khổ thơ thứ hai: Những luồng run rẩy rung rinh lá… Bốn phụ âm “r” được dùng liên tiếp "run rẩy, rung rinh" để diễn tả cái yếu ớt, sợ hãi của những chiếc lá vàng sắp phải lìa cành. Câu thơ tiếp theo: "Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh" gây ấn tương mạnh, gợi được cả cái cảm giác buốt lạnh từ trong xương cốt của loài thảo mộc. Tất cà thấm một nỗi buồn cô đơn. Trong bài Đây mùa thu tới tác giả đã cảm nhận cuộc chuyển mùa bằng mọi giác quan của mình. Nhưng có lẽ nhạy bén nhất, tình tế nhất là xúc giác. Đầu tiên, cái lạnh đến bằng những đợt gió rét. Nó lan tòa trong không gian, làm cho bao chiếc lá úa vàng "rung rinh" lo lắng, làm cho những cành cây héo hon, khô gầy "run rẩy" Nò cũng khiến cho gương mặt "nàng trăng" trở nẽn nhạt nhòa, ngay khi vừa hiện lên từ một đỉnh núi xa mờ:Xem thêm: Nêu vắn tắt sự nghiệp văn học của Nam Cao. Kể tên những tác phẩm được xem như là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn trước, và sau Cách mạng tháng Tám (ghi rõ năm xuất bản) Thinh thoáng nàng trăng tự ngẩn ngơ… Non xa khởi sự nhạt sương mờ… Cái lạnh thấm từ cảnh vật đến lòng người. Dường như trước cảnh vật biến đổi trở nên buồn vắng kia, con người cũng ít hoạt động hơn, không khí cũng tẻ nhạt hơn: Đã nghe rét mượt luồn trong gió Đã vắng người sang những chuyến đò… Cái chính ở hai câu thơ trên không phải là tả mà là gợi. chung gợi một cảm giác bâng khuâng trước cânh đìu hiu, mênh mông sông nước. Cái rét mướt không chi được cảm nhận bằng xúc giác mà còn được càm nhận bằng thính giác ("Đã nghe rét mướt…"). Ở đây có sự chuyển đổi cảm giác. Nói cho đúng, cái rét đả được cảm nhận qua linh hồn của nhà thơ. Rét "luồn trong gió", chứ không phải gió rét. Như vậy là cái rét vừa tới, có lẽ mới chi đủ làm cho đất trời se lạnh. Đấy chính là cái rét đặc trưng đầu thu ở đồng bằng Bắc Bộ. Và cũng bằng hình ảnh rét "luồn trong gió", tác giả đã cụ thể hóa sự chuyến động vô hình của thời tiết một cách tài tình. Bài thơ có nhiều câu chấm lửng, buông lửng (…) nhà thơ cố tình tạo ra những khoảng trống, những khoảng trống mà chứa đựng bao vang vọng ngân nga của một nỗi buồn xa vầng mơ hồ. Tài hoa của Xuân Diệu, trong phần chính, có lẽ lại là ở chỗ tạo ra những khoảng trống vang vọng này đây. Điều này như Malácmê đã nhận xét: "Sáng tạo sự im lặng hàm súc trong một bài thơ cùng hay như cấu tạo một câu thơ". Bởi cô đơn, lạnh lẽo nên nhà thơ cảm thấy đất trời quạnh quẽ đìu hiu: gió lạnh, đò vắng khách, ngay vầng trăng cũng như ngẩn ngơ… Dường như thiên nhiên đang cùng trong một cuộc chia phôi buồn bã: nhiều loài hoa rụng cánh, cành cây gãy khô ớn lạnh, những chiếc lá sợ hãi run rẩy chờ phút lìa cành, đàn chim củng bay đi tìm một phương trời ấm áp Và ngay đến khí trời cũng u uất một mối hận chia lìa… Người thiếu nữ, trước cảnh vật ấy dĩ nhiên củng không thể không bâng khuâng buồn… Đây là một tâm trạng u buồn không xác định:Xem thêm: Tả cái bút chì mà em đang dùng lớp 4 ít nhiêu thiếu nữ buồn không nói Tựa cửa nhìn xa nghĩ ngợi gì. Tâm sự của nàng phải chăng cũng là tâm sự của không ít thiếu niên vào tuổi trăng tròn rạo rực yêu thương, hết sức nhạy cảm, và dễ rung động mơ Hồ, khi mùa thu tới. Bài thơ kết thúc, nhưng mở ra một khoảng trời bao la cho sự tưởng tượng của người đọc từ hình ảnh những cô gái tựa cửa nhìn ra xa, mà suy nghĩ vấn vương. Quả thật, so với một số bài thơ cùng thời, bài thơ này có cách thể hiện khá Tây. Ngay tựa đề: Đây mùa thu tới đến cách diễn đạt "hơn một loai hoa", "sắc đỏ rủa màu xanh", "nàng trăng tự ngẩn ngơ", "non xa khởi sự". "ít nhiêu thiếu nữ"… thoạt xem có về như thơ dịch. Tuy vậy, thời gian đã cho thấy: đây chính là cách biểu đạt mới mê cùa thơ Việt Nam. Vả lại, những yếu tố "Tây" nói trên xuất hiện ở một bài thơ đậm đà tính dân tộc. Do đó, chúng có phần được Việt hóa và dễ dàng được bạn đọc chấp nhận. Xuân Diệu là thi sĩ rất sợ cô đơn và viết rất hay về nỗi cô đơn, đấy chính là biểu hiện của "niềm khát khao giao cảm với đời" (Nguyễn Đăng Mạnh), của niềm đam mê được sông hết mình với cuộc sống này. Bài thơ đúng là "đầy những lời nhớ nhung, những linh hồn cô đơn đang thả ra những tiếng thở dài để gọi nhau…", như chính cách diễn đạt của nhà thơ Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy bình giảng bài_ Đây mùa thu tớì của Xuân Diệu
1,576
Anh (chị) hãy bình giảng một bài thơ của Xuân Quỳnh mà mình yêu thích Gợi ý Phân tích đề – Đề không nêu cụ thể bài thơ nào của Xuân Quỳnh. Vì thế, người viết có quyền chọn bất kỳ bài nào. Tuy nhiên, nên chọn những bài từng được học trong chương trình Văn trung học. Hoặc chọn một bài thơ đề tài tình yêu của Xuân Quỳnh, vì đây là mảng đề tài mà nhà thơ thể hiện sâu sắc tài năng, tâm hồn của mình và gần gũi với bài thơ Sóng đã được học. – Khi chọn một bài thơ trữ tình của Xuân Quỳnh để bình giảng, cần lưu ý kỹ kiểu bài. Vả lại, đề tương đối tự do, người viết nên chú trọng thể hiện sự cảm nhận sâu sắc riêng của mình đôi với tác phẩm. Dưới đây là bài bình giảng về bài thơ Hoa cúc xanh của Xuân Quỳnh. Bài tham khảo Như mãi là mùa xanh xưa… Hoa cúc xanh Hoa cúc xanh, có hay là không có Trong đầm lầy tuổi thơ của anh xưa Một dòng sông lặng lẽ chảy về xa Thung lũng vắng sương bay đầy cửa sổ Hoa cúc xanh có hay là không có Một ngôi trường bé nhỏ cuối ngàn xa Mơ ước của người hay mơ ước của hoa Mà tươi mát mà dịu dàng đến thế. Cỏ mới mọc con chim rừng thơ bé Nước trong ngần thầm thì với ngàn lau Trái tim ta như nắng thuở ban đầu Chưa chút gợn một lần cay đắng Trên thềm cũ mùa thu vàng gió nắng Đời yên bình chưa có những chia xa Khắp mặt đầm xanh biếc màu hoa Hương thơm ngát cả một vùng xứ sở Những cô gái da mịn màng như lụa Những chàng trai đang độ tuổi hai mươi Người yêu người, yêu hoa cỏ đất đai Những câu chuyện xoay quanh mùa hái quả… Hoa cúc xanh có hay là không có Tháng năm nào ấp ủ ngây thơ Có hay không thung lũng của ngày xưa Anh đã ở và em thường tới đó Châu chấu xanh, chuồn chuồn kim thắm đỏ Những ngả đường phơ phất gió heo may Cả một vùng vương quốc tuổi thơ ngây Bao mơ ước mượt mà như lá cỏ… Anh đã nghĩ chắc là hoa đã có Mọc xanh đầy thung lũng của ta xưa. 1964 – 1987Xem thêm: Cảm nhận về đoạn cuối bài thơ ‘Tiếng gà trưa’ của Xuân Quỳnh Trong đời thơ Xuân Quỳnh (1942 – 1988), hiếm thấy bài thơ nào lại viết lâu đến thế (1964 – 1987). Năm 23 tuổi, làm thơ được vài ba năm. Năm 1987, chị 45 tuổi. Một bài thơ được thai nghén gần trọn đời thơ. Càng hiếm hơn, một bài thơ như thế, lại là thơ hay, bởi thường cảm xúc nồng cháy ban đầu đã nguội lạnh, thi nhân làm người thợ thơ, gọt đẽo ý nghĩ mình cho vừa vẹn câu chữ. Còn ở đây? Nhà thơ viết về một kỷ niệm, mà kỷ niệm ấy được nuôi dưỡng trong tâm hồn. Bao năm, nó vẫn sống, vẫn xanh biếc như thuở ban đầu. Vì thế, 23 năm là thời gian kỷ niệm ở với con người, sống cuộc đời của nó trong trái tim người con gái hôm qua. Hai mươi ba năm trước, chính người con gái ấy, một hôm bắt gặp một bông hoa cúc xanh. Từ giờ phút ấy, kỷ niệm xưa rộn ràng, sống động trong trái tim nàng. Với trái tim thiếu nữ, “hoa cúc xanh” là vùng kỷ niệm được sống lại. Với nhà thơ, là biểu tượng điệp trùng về không gian, lẫn thời gian, về tình yêu trong trắng và đẹp đẽ, là ước mơ rạng rỡ nhưng mãi mãi không còn. Ở đấy, là một không gian có thật: Một dòng sông lặng lẽ chảy về xa Thung lũng vắng sương bay đầy cửa sổ Một ngôi trường bé nhỏ cuối ngàn xa Một thời gian hiển hiện:Xem thêm: Phân tích tình huống độc đáo của truyện Vợ nhặt của Kim Lân để từ đó làm nổi bật tâm lý và số phận các nhân vật, làm nổi bật giá trị nội dung của tác phẩm: hiện thực và nhân đạoTháng năm nào ấp ủ ngây thơ Và tình yêu, mới trong sạch, tươi xinh nhường nào! Cỏ mới mọc con chim rừng thơ bé Nước trong ngần thầm thì với ngàn lau Trái tim ta như nắng thuở ban đầu Chưa chút gợn một lần cay đắng Tất cả lộng lẫy, rộn rịp sắc màu. Chả trách nhà thơ ca ngợi: Cả một vùng vương quốc tuổi thơ ngây! Tình yêu ấy đã qua, trở thành ký ức xưa cũ, thời gian lại phủ lên nỗi nhớ da diết càng khiến lòng người ngơ ngác: có hay không một “mùa thu vàng nắng gió”; có hay không một mùa hoa xanh biếc thuở ban đầu? Kỷ niệm xao động, mạnh mẽ khiến nàng không dám khẳng định, không dám nhận về mình nữa! Hóa ra, không chỉ có nàng là chủ nhân của nó. Theo nàng, người yêu của mình mới thật là chủ nhân của thung lũng huyền diệu kia. Anh là ai, mọi người không hề biết, nhưng trong trái tim của nàng, đã đẹp đẽ, tươi sáng bội phần. Thật kỳ lạ trái tim người phụ nữ Việt Nam, đằm thắm, tha thiết, mãnh liệt là thế, nhưng bao giờ cũng vị tha, cũng sống cho người mình yêu. Mùa xanh xưa bao năm xao xuyến trong lòng, vậy mà nàng vẫn run rẩy với nó, vẫn cố tìm một sự đồng hành để khảng định: Anh đã ở và em thường tới đó Châu chấu xanh, chuồn chuồn kim thắm đỏ Những ngả đường phơ phất gió heo may Cả một vùng vương quốc tuổi thơ ngây Bao mơ ước mượt mà như lá cỏ… Anh đã nghĩ chắc là hoa đã có Mọc xanh đầy thung lũng của ta xưa. Ở đây, dường như chân lý cũng thuộc về “người mình yêu”. Đây cũng là lẽ thường của trái tim người phụ nữ Việt Nam, yêu là dâng hiến, là sống cho người khác. Thơ Xuân Quỳnh không ồn ào, hoa ngữ, nhưng đậm đà hương vị dân tộc và giàu nữ tính bởi trái tim nhà thơ luôn nồng nàn hơi ấm như trái tim bao người con gái Việt Nam.Xem thêm: Nhân vật Nhĩ và những suy nghĩ về cuộc đời, về con người trong truyện ngắn Bến quê của Nguyễn Minh Châu Quang Dũng có những câu thơ: Em mãi là hai mươi tuổi – Ta mãi là mùa xanh xưa! “Hoa cúc xanh” bao năm rồi vẫn xanh biếc và thơm ngát bởi vẫn sống trong trái tim con người bất chấp năm tháng cuộc đời. Và, các bạn hẳn thấy, cùng với thời gian, kỷ niệm cũng rộn ràng, rực rỡ hẳn lên. Hãy nuôi dưỡng những gì tốt đẹp, trong sáng và tươi xinh buổi ban đầu. Tình yêu hôm qua không mất, nếu con người không cố tình chôn vùi trong sương mù của sự lãng quên! Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy bình giảng một bài thơ của Xuân Quỳnh mà mình yêu thích
1,162
Anh (chị) hãy bình giảng đoạn thơ sau, trong bài Việt Bắc của Tố Hữu: “Ta về, mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.” Gợi ý Bộ tứ bình dệt bằng ánh sáng của hoài niệm Việt Bắc là một trong những bài thơ hay nhất của Tố Hữu. Lời thơ như khúc hát ân tình tha thiết về Việt Bắc, quê hương của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, ở đó, bên cạnh những bức tranh hùng tráng, đậm chất sử thi về cuộc sống kháng chiến của dân tộc một thời, còn có những bức tranh về cuộc sống đời thường gần gũi, thân thiết được bao bọc bơi thiên nhiên vô cùng tươi đẹp: Ta về, mình có nhớ ta Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gùi thắt lưng. Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình Rừng thu trăng dọi hòa hình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung. Đây là bức tranh được dệt bằng ngôn từ nghệ thuật toàn bích, có sự hòa quyện giữa cảnh và người, giữa cuộc đời thực với tấm lòng của nhà thơ cách mạng. Mười câu thơ trên nằm trong trường đoạn gồm 62 câu thơ diễn tả tâm tình của người cán bộ sắp sửa rời Việt Bắc, nơi mình đã 15 năm gắn bó với bao tình cảm máu thịt. Đoạn thơ mở đầu bằng một câu hỏi: Ta về, mình có nhớ ta Nhưng thực ra, hỏi chỉ để mà hỏi, hỏi để tạo thêm cái cớ đặng giải bày nỗi lòng của mình: Ta về, ta nhớ những hoa cùng người. Câu thơ có nhịp điệu êm ái nhờ những điệp từ và các thanh bằng (6/8) như một lời ru, một câu hát không chỉ diễn tả tâm trạng tha thiết của nhân vật trữ tình. Đây còn là lời ngợi ca về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Trong ngôn ngữ Việt, hoa còn có ý nghĩa biểu trưng về thiên nhiên, về những gì tươi đẹp. Đặt hoa bên cạnh người là sự tôn vinh về thiên nhiên và con người Việt Bắc. Vả lại, hoa và người hòa quyện, gắn bó với nhau. Nói tới thiên nhiên không thể nói đến con người và ngược lại, những con người ấy đã ở trong một thiên nhiên đẹp, gần gũi. Bốn câu thơ lục bát còn lại là một bức tranh liên hoàn về con người và thiên nhiên Việt Bắc. Nhiều người gọi đây là bộ tứ bình (xuân, hạ, thu, đông). Nhà thơ kế thừa nghệ thuật hội họa cổ truyền của dân tộc trong khi miêu tả thiên nhiên. Mỗi một câu thơ khắc họa một bức tranh cụ thể nhưng cùng có thế ghép lại thành một bộ liên hoàn:Xem thêm: Ông Bá Dương (người Trung Quốc) viết hẳn một cuốn sách "Người Trung Quốc xấu xí" để nêu lên những thói hư, tật xấu của người Trung Quốc. Tương tự người Mĩ có cuốn sách "Người Mĩxấu xí"; người Nhật cũng có cuốn "Người Nhật xấu xí"... Anh (chị) suy nghĩ gì về hiện tượng nêu trên? Hãy viết bài văn phân tích một vài thói hư tật xấu của người Việt Nam mà anh (chị) cho là đáng phê phán, nhất là khi đất nước bước vào thời kì hội nhập quốc tế; tự đặt tên cho bài viết.Bức tranh thứ nhất: Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Câu thơ mở ra một không gian rộng lớn. Trên cái nền xanh bạt ngàn của rừng, nổi bật lên hình ảnh những bông hoa chuối đỏ tươi. Nghệ thuật điểm xuyết trong thơ cổ (Cỏ non xanh rợn chân trời – Cành lê trắng điểm một vài hông hoa, Nguyền Du) tỏ ra rất hữu hiệu. Giữa bạt ngàn xanh của núi rừng Việt Bắc, màu đỏ của hoa chuối bỗng gợi lên sự ấm áp, có sức lan tỏa. Vì thế, thiên nhiên hùng vĩ ấy không xa lạ; trái lại, gần gũi, thân thiêt với con người: Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng Cũng là một cách điểm xuyết nhưng hình ảnh điểm nổi rõ hơn cảnh. Hơn nữa, cách điểm xuyết ấy rất độc đáo: càng chọn điểm nhỏ nhất thì sức gợi càng lớn hơn. Vì thế, câu thơ có sự nhấp nháy (nắng ánh) của hình ảnh và cảnh vật vốn tĩnh lặng, thậm chí tịch mịch, bỗng có sức sống, sự chuyển động. Thơ ca là một nghệ thuật của thời gian. Với những nghệ sĩ tài hoa đó, việc tạo dựng nên những lớp thời gian chồng lấp và không gian không bất động, bất biến mà mang sức sống nhờ sự tái sinh của những lớp ngôn từ. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi, Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng là một câu thơ như thế. Bức tranh thứ hai: Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang Khác bức tranh thứ nhất, bức tranh thơ thứ hai mở đầu có sự định vị về thời gian (Ngày xuân). Nhưng tự thân thời gian ấy cũng đã mở ra không gian: Ngày xuân mơ nở trắng rừng Cách điệp âm (mơ/nở, trắng/ rừng) cùng với hình ảnh của hoa mơ (màu trắng) tạo ra một không gian vừa rộng lớn, vừa có sự rộn ràng, náo nức của thiên nhiên. Nếu ở bức tranh thơ thứ nhất, nghệ thuật miêu tả của tác giả là điểm xuyết, tìm hình ảnh gợi, sắc màu sáng (hoa đỏ, nắng ánh) để diễn tả sự chuyển động của cảnh vật thì ở đây, nhà thơ lại hướng cái nhìn vào sự bao quát điệp trùng để tìm cái rạo rực (tiềm ẩn) của thiên nhiên.Xem thêm: Kể lại việc em nhận được một món quà bất ngờ nhân dịp sinh nhật Trên cái nền không gian rộng lớn và náo nức ấy, nhà thơ hướng mắt nhìn về một hoạt động có vẻ tỉ mỉ: …. người đan nón chuốt từng sợi giang. Nhiều người nói câu thơ ca ngợi “dáng điệu cần mẫn, cẩn trọng và tài hoa” trong “công việc việc thầm lặng” của người Việt Bắc. Có người nói “dưới ánh sáng của rừng mơ mùa xuân, hình ảnh cô gái Việt Bắc hiện lên thanh mảnh, dịu dàng”. Câu thơ có hình ảnh ấy. Con người Việt Bắc trong hoài niệm của Tố Hữu là như thế. Nhưng đó là hình ảnh thực. Trong chuỗi hoài niệm của tác giả, hình ảnh kia chỉ là một điểm gợi nhớ. Câu thơ gợi lên cách cảm, cách nhìn của tác giả hơn là tả thực. Đó là hình ảnh đặc trưng của sinh hoạt đời thường ở Việt Bắc. Với nhiều người, nó có thể nhỏ nhặt, không đáng nhớ. Với một nhà thơ ân tình như Tố Hữu, đó lại là hình ảnh khắc ghi trong tâm khảm. Bức tranh thứ ba: Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình. Câu thơ mở đầu bằng âm thanh (ve kêu), nhưng cũng là cách định vị bằng thời gian (mùa hè). Dòng thơ vừa có âm thanh rộn rã, vừa có màu sắc đặc trưng của rừng Việt Bắc. Âm thanh và màu sắc ấy tạo nên cảnh tưng bừng của thiên nhiên. Nếu nói thiên nhiên cũng có đời sống riêng của nó thì đây quả thực là ngày hội của cảnh vật. Vì vậy, trong “ngày hội” ấy hình ảnh cô em gái hái măng một mình không lẻ loi mà góp phần tạo nên bức tranh thơ hoàn chỉnh: Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình. Như đã nói, hoa và người Việt Bắc trong thơ Tố Hữu hòa quyện, cùng tôn vinh lẫn nhau. Trong hoài niệm này, tác giả dùng bút lực của mình để ca ngợi, tôn vinh sự hài hòa đó. Và chính sự hài hòa đó đã tạo nên chất thơ. Vì thế, không nên suy diễn, giàu chất tượng trưng với những nét sinh hoạt, lao động của cuộc sống thực. Bức tranh thứ tư: Rừng thu trăng dọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung Câu thơ có kiểu mở đầu bằng sự định vị cả không gian lẫn thời gian (rừng thu). Đến đây, ta chú ý các kiểu định vị ở những câu thơ trên: Rừng xanh: => không gian Xem thêm: Hãy dựa vào nội dung bài thơ Tiếng hát con tàu để giải thích ý nghĩa nhan đề của bài thơ. Bình giảng khổ thơ được lấy làm đề từNgày xuân: =>thời gian Ve kêu: => âm thanh (thời gian) Ứng với mỗi câu thơ và cách định vị trên là một mùa của thiên nhiên (mùa đông, mùa xuân, mùa hạ). Câu thơ này cũng là bức tranh về một mùa của thiên nhiên (mùa thu). Nhưng có lẽ vì đó là bức tranh cuối của bộ tứ bình và là tiếng hát cuối của một trường đoạn hoài niệm nên hình ảnh tất thảy đều trở nên tượng trưng, âm hưởng cũng bao quát hơn: Rừng thu trăng dọi hòa bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung Không gian mênh mông nào chẳng khác gì cảnh thu huyền ảo của thơ mới: Nai cao gót lẫn trong mù Xuống rừng nẻo thuộc nhìn thu mới về (Huy Cận) Trời thu nhuộm ánh tà dương Gió thu trong quãng canh trường nỉ non Trăng thu soi bóng cô thôn, Hỏi người lữ thứ mộng hồn về đâu? (Hằng Phương) Rừng thu Việt Bắc trong thơ Tố Hữu mênh mông nhưng không lạnh lẽo. “Trăng dọi hòa bình” vừa mang ý nghĩa ánh trăng của cuộc sống an lành, lại vừa mang ý nghĩa cuộc sống có sự soi rọi ấm áp của niềm tin, tự do. Và, trong cuộc sống ấm áp ấy, có biết bao nghĩa tình sâu nặng. Thơ Tố Hữu là khúc hát của tự do, của ân tình cách mạng. Bản thân cuộc đời ân tình ấy, đối với nhà thơ, luôn là bài ca sâu nặng. Vì thế, nhà thơ không chỉ cảm, nghĩ về cuộc đời mà cất tiếng ca ngợi. Tiếng hát ân tình thủy chung trong bài thơ Việt Bắc là tiếng hát như thế. Bộ tứ bình bằng thơ về cảnh và người Việt Bắc được dệt dưới ánh sáng của hoài niệm da diết. Thông thường, người ta chỉ nhớ những gì mang ấn tượng nhất của quá khứ và thời gian càng lùi xa thì ấn tượng ấy càng trở nên tươi đẹp, huyền ảo hơn. Hàng loạt điệp từ nhớ (5 từ) trong một khổ thơ như là sự nối dài của dòng hoài niệm không dứt. * * * Việt Bắc là bài thơ hay của Tố Hữu. Ở đó, nhà thơ thể hiện sự tài hoa của mình trên nhiều phương diện của nghệ thuật sáng tạo thi ca. Sự tài hoa ấy được dẫn dắt của một điệu tâm hồn giàu tình nghĩa của nhà thơ. Đoạn thơ trên là một trong những đoạn thơ hay nhất của bài thơ Việt Bắc bởi kết tinh một nghệ thơ ca vừa giàu tính dân tộc, vừa mang tính hiện đại trong một điệu tâm hồn say đắm. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy bình giảng đoạn thơ sau, trong bài Việt Bắc của Tố Hữu_ “Ta về, mình có nhớ ta… Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung.”
1,892
Anh (chị) hãy bình luận câu ngạn ngữ Hi Lạp: Học vấn có những chùm rễ đắng cay nhưng hoa quả lại ngọt ngào Gợi ý Hơn một ngàn năm trước, ở nước Trung Quốc xuất hiện Tôn Ngộ Không – con khỉ đá ngỗ nghịch nhưng dám quì suốt ba mùa đông trong mưa tuyết để "tầm sư học đạo" Là Tôn Hành Giả hay chính con ngựời ngộ rã sự cần thiết của học vấn với bản thân mình? Với Tôn Ngộ Không ba năm quỳ trong mưa tuyết và mấy chục năm học tập, vất vả kia là cái giá phải trả cho sự bất tử của "Tề Thiên Đại Thánh". Còn ở nước Anh xa xôi có anh chàng Rô-bin-xơn Gru-xô nhờ có tri thức về các môn khoa học, về trồng trọt, chăn nuôi đã sống được trên đảo hoang suốt hai mươi tám năm trời để rồi trở về trong sự ngạc nhiên, khâm phục của mọi người… Ớ Hi Lạp – xứ sở của những vị thần thông minh, nhân bản đã đúc kết một câu nói rất đơn giản nhưng chính xác chứa đầy một sự thực về học vấn Học vấn có chùm rễ đắng ngắt nhưng hoa quả lại rất ngọt ngào. Từ đẳng ngắt đến ngọt ngào là cả một quá trình vất vả. Chùm rễ kia là cái, gốc, ĩà bước khởi đầu cho cả một con đường gian nan vất vả đi tìm học vấn, đi tìm tri thức nhân loại. Muốn biết phải hỏi, muốn giỏi phải học, trên Trái Đất này mấy nghìn năm qua, từ nền văn minh cổ đại cho đến nay, không một vĩ nhân nào thành danh mà lại không có học vấn cả. Một nhà bác học được người ta kính phục vì đầu óc anh ta chứa đựng nhiều kiến thức hơn người bình thường, cái đầu của anh ta có khả năng cải tạo thế giới. Chính học vân và tri thức đã giúp con người tiến xa hơn trong nấc thang tiến hóa, tránh xa hơn lối sông động vật, cuộc sống của con người ngày một được cải thiện hơn. Như vậy có thể nói học vấn có vai trò hết sức quan trọng đối với con người, một xã hội văn minh và hiện đại.Xem thêm: Tả bản đồ Việt Nam Nhưng học tập là một con đường rất khó khăn đó là tẩu lộ nan mà kẻ nào không có đủ ý chí và nghị lực để vượt qua sẽ ngã qụy và bị tụt lại phía sau mãi mãi. Bởi tri thức thì vô cùng mà sức lực và trí tuệ của con người thì có hạn. Trước một vấn đề khó khăn nan giải liệu anh có đủ kiên nhẫn để giải tỏa vướng mắc hay không? Con đường học vấn sẽ xuất hiện không ít những hòn đá to, những vực sâu mà chỉ có những kiến thức anh mới vượt qua được nhưng biết đâu anh sẽ nản lòng? Thu nhận kiến thức là một quá trình lâu dài và vất vả. Với học vấn, sự quyết tâm và chiến thắng những ham muốn cá nhân của mình là rất quan trọng. Điều đó thật khồ bởi những con số tính toán những con chữ chắc gì có đủ sức giữ được chân ta, tâm trí ta trước những trò vui, những tiếng còi đang hấp dẫn, gọi mời? Chỉ cần buông thả mình một chút, anh sẽ bị bỏ xa biết bao nhiêu và anh sẽ trở thành một kẻ bại trận trước học vấn. Bể học vô cùng, ta không thể một sớm, một chiều mà có thể thu nhận tất cả, học vấn cũng như góp nhặt, tích trữ cần phải cần mẫn thu nhặt từng tí một làm đầy thêm kiến thức của mình. Nếu bắt anh đếm chính xác hàng trăm con cá đang bơi qua lại trong cái bể kia anh không thể chỉ đứng nhìn và đếm mà phải nhẫn nại, phải vớt từng con một sang bể khác như vậy mới đếm đúng được. Học vấn cũng như vậy, mỗi ngày học một ít dần dần tích luỹ lại cứ thế mà học vấn sẽ cao lên. Học không phải chỉ mấy ngày, mấy năm mà có thể sẽ phải học cả đời. Quả thật học vấn là một chùm rễ đắng ngắt mà chúng ta phải. nếm trải dù nhọc nhằn. Ta có quyền phủ nhận, có quyền từ chối không tiếp nhận học thức nhưng rồi ta sẽ là kẻ vô học, kẻ lạc hậu và vô dụng mà thôi. Cho nên dù đắng ngắt tới đâu nhưng nếu muốn có hoa quả ngọt ngào ta phải nếm trải cái chùm rễ ấy, nó là cái gốc, là điều kiện đầu tiên để ta có thể thành công và vững bước trên đường đời. Cuối cùng, sau bao nhiêu năm học tập miệt mài vất vả những kiến thức mà ta thu nhận được dù chỉ như một hạt cát trong sa mạc, một giọt nước trong đại dương học thức, nhưng điều quan trọng là với vốn kiến thức ấy, chúng ta có khả năng đảm bảo cho cuộc sống của chính mình, có khả năng xây dựng hay tái tạo xã hội… và đặc biệt có quyền tự hào mình là người có học là kẻ hiểu biết. Tục ngữ Việt Nam có câu không thầy đố mày làm nên. Vâng, một người dù có tài năng thiên bẩm nhưng nếu không có người thầy dạy dỗ cung cấp cho những hiểu biết cơ bản thì anh ta cũng không thể thành công được. Xã hội đang phát triển từng ngày, con người hiện đại càng phải luôn luôn có ý thức nâng cao học vấn để theo kịp tốc độ phát triển của thế giới. Học tập vì tương lai của mình và vì công cuộc xây dựng đất nước. Mười hai năm ngồi trên ghế nhà trường, tôi cũng đắ thấu hiểu phần nào vị đắng của chùm rễ ấy, nhưng không chỉ tôi mà hàng triệu triệu học sinh khác cũng cố gắng và luôn tự hào vì chùm rễ ấy bởi chỉ có học vấn mới đảm bảo tương lai của các chúng tôi.Xem thêm: Cảm nghĩ của anh (chị) về đoạn thơ: "Bỗng nhận ra hương Ổi .../ Phả vào trong gió se/ Sương chùng chình qua ngõ/ Hình như thu đã về." (Sang thu - Hữu Thỉnh) Ngày nay chất radium và tia X có nhiều ứng dụng quan trọng trong đời sống và khoa học kỹ thuật, chính những phát minh đó đã đưa Ma-ri-e Quy-ri trở thành nhà nữ bác học đạt giải Nô-ben đầu tiên thế giới. Để đạt được thành tựu ấy, người phụ nữ Ba Lan này đã phải vượt qua bao sóng gió tới vương quốc Anh xa xôi để có thêm điều kiện nghiên cứu và tự học. Bà đã hi sinh cả tuổi thanh xuân của mình vì khoa học. Còn ở đất nước Việt Nam chúng ta, hẳn không ai quên bông sen trong giếng ngọc Mạc Đĩnh Chi – chú bé nghèo bắt đom đóm làm đèn để học, vượt qua bao nỗi mặc cảm miệt mài học tập kinh sử để có ngày đỗ bảng vàng vinh quy bái tổ, để có ngày trở thành "Lưỡng quốc trạng nguyên"… Và nơi nơi trên đất nước Việt Nam ta, trên thế giới này có biết bao nhiêu tấm gương nghèo hiếu học và cuối cùng họ đặt chân được vào đỉnh vĩnh quang của thành công. Trong thế giới hiện đại, quan niệm học vấn được mở rộng ra, học vấn không phải chỉ là văn thơ, là kinh sử, là tri thức khoa học mà học vấn bao gồm nhiều vấn đề văn hóa, xã hội… Học vấn là vô cùng nhưng để đạt thành công trong một lĩnh vực nào đó, ta nên am hiểu kiến thức về lĩnh vực ấy. Một diễn viên muốn nổi tiếng ngoài tài năng vốn có thì buộc anh ta phải có nhiều kiên thức về kĩ năng, kỹ xảo diễn xuất, một họa sĩ cần thành thục về kỹ thuật phôi màu và pha màu hay sắp đặt… Những điều ấy hầu như chỉ học tập mới đạt được.Xem thêm: Phân tích đoạn Chí khí anh hùng (Trích Truyện Kiều - Nguyễn Du)Trên bước đường thành công không có dấu chân của kể lười biếng. Nhờ có học vấn, một người vô danh sẽ trở thành một vĩ nhân, chỉ có chùm rễ đắng ấy mới giúp ta có được những hoa trái ngọt ngào. Câu nói trên đã đúc kết nên một quan niệm thật đúng đắn về học tập. Nó giúp tôi có thêm nghị lực, quyết tâm để đi tiếp con đường học vấn đầy vất vả chông gai, đầy đắng chát để rồi trong cuộc đời các mà em nhận được là những hoa trái ngọt ngào của chiến thắng và thành công. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy bình luận câu ngạn ngữ Hi Lạp_ Học vấn có những chùm rễ đắng cay nhưng hoa quả lại ngọt ngào
1,519
Anh (chị) hãy bình luận câu nói sau: “Trong mắt người khác bạn có thể thất bại vài ba lần, nhưng với bản thân bạn không được phép trở nên mềm yếu, vì đấy là sự thất bại thảm hại nhất” Gợi ý Hai hạt giống nọ nằm cạnh nhau trong một mảnh vườn. Hạt thứ nhất tự tin vươn mầm, đón nhận ánh nắng ấm áp và đã trở thành cái cây mạnh. Hạt thứ hai rụt rè ngóc đầu dậy, sau đó lại sợ sệt rúc sâu vào đất bởi nó lo rằng nắng gió dữ dội sẽ quật ngã cơ thể yếu ớt của mình. Rồi một ngày, có con gà vào vườn tìm mồi, vô tình mổ trúng hạt cây kia. Vậy là chỉ vì sự yếu mềm, hạt cây đã thất bại thảm hại. Câu chuyện ấy khiên tôi nhớ đến bài học về sự thất bại của con người như một câu danh ngôn từng đề cập: “Trong mắt người khác bạn có thể thất bại vài ba lần, nhưng với bản thân bạn không được phép trở nên mềm yếu, vì đấy là sự thất bại thảm hại nhất” (Trích Lời cỏ cây – Bàn về thân phận con người trong cuộc đời, Márai Sádor). Thất bại – đó là khi ta không làm được điều ta mong muốn, không đạt được đích ta đề ra. Trong cuộc sống, mỗi người đều có những ước muốn, những cái đích để vươn tới. Nhưng không phải lúc nào đường đến đích cũng dễ dàng. Những mấp mô trên đường đời đâu phải khi nào con người cũng thấy để tránh khỏi vấp ngã. Những mấp mô ấy có thể được tạo nên từ những yếu tố khác nhau: có khi là sự chủ quan như suy nghĩ còn nông cạn, năng lực còn hạn chế, thể lực vốn yếu ớt – có khi lại là do khách quan như hoàn cảnh khó khăn, sự cản trở của người khác… Bởi vậy, thất bại với mỗi người là điều không thể tránh khỏi. Có ai lại dám vỗ ngực khẳng định mình chưa thất bại bao giờ? Có chăng, điều đó chỉ xảy ra với những kẻ không có ước mong gì, chẳng dám thực hiện điều gì, cho dù là điều nhỏ nhất. Những kẻ đó đầu biết rằng đấy lại là thất bại tồi tệ của đời mình. Bởi vậy, như câu nói của Márai Sádor đã khẳng định “trong mắt người khác bạn có thể thất bại vài ba lần…”Xem thêm: Phát biểu cảm nghĩ của em về một nhân vật trong truyện dân gian mà em cho là hay Cùng quan điểm với Márai Sádor, nhà thơ Tố Hữu đã từng viết: Ai chiến thắng mà chưa từng chiến bại Ai nên khôn mà chẳng dại đôi lần Bạn có bao giờ thi trượt hay bị điểm kém? Bạn có khi nào bị cấp trên phê bình vì làm hỏng việc?… Bạn cũng đừng băn khoăn bởi không chỉ riêng bạn thất bại đâu mà ngay cả những chính khách, danh nhân, những con người thành công vượt bậc như Walt Disney, Vangôc, Banzắc, Bác Hồ của chúng ta., cũng từng trải qua nhiều thất bại. Điều quan trọng là chúng ta đã làm gì trước những thất bại ấy mà thôi. Vâng, điều quan trọng không phải tìm ở đâu mà là ở chính chúng ta. Ta có thể “độ lượng” với vài ba that bại của mình nhưng thật khó chấp nhận khi chúng ta trở nên mềm yếu. Thất bại hay thành công, tất nhiên không phải do ta hết cả nhưng trên hết bản thân mỗi người vẫn đóng vai trò quyết định đến hoàn cảnh của mình. “Thiên đường ở chính ta, địa ngục cũng ở lòng ta cả” (Chúa Giêsu) bởi không ai hiểu ta như chính chúng ta. Đứng trước thất bại, đôi khi con người không tránh khỏi sự yếu mềm. Đó là những lúc con người thây lo lắng, thất vọng, chán nản, dễ dãi với bản thân và phó mặc tất cả cho hoàn cảnh hay sô’ phận. Nhưng ta có biết rằng sự yếu mềm sẽ khiến mình trở nên đớn hèn, sự tự ti chi phối sẽ khiến ta thêm mụ mị, bế tắc. Cứ nghĩ mình không thay đổi được sự thất bại, thử hỏi con người còn làm được diều gì? Cứ buồn mãi, khóc mãi chỉ càng khiến thời gian trôi đi vô ích. Và rồi không những thất bại còn đó mà những thất bại tiếp theo sẽ đến với chúng ta. Sự mềm yếu, vì thê’ là “thất bại thảm hại nhất”. Ta hãy để ý, những người lầm lỗi, sa ngã hầu hết đều do mềm yếu. Một kẻ ăn chơi sa đọa đâu phải nguyên nhân chính là sự dụ dỗ của bạn bè, mà là vì anh ta không làm chủ được mình, đã mềm lòng trước lời dụ dỗ đó. Một kẻ suốt đời nghiện ngập có thể thoát khỏi cảnh ấy chứ, nếu như anh ta không chặc lưỡi “một lần này thôi” khi đưa kim tiêm lên tay. Thực tế, cũng có những cán bộ cấp cao sa vào tham ô vì không cưỡng được sức mạnh của đồng tiền. Có những nhân viên suốt đời lận đận trên con đường danh vọng bởi không dám vượt qua những thử thách của công việc.Xem thêm: Phân tích bài ca dao sau “Bắc thang lên tận cung mây, Hỏi sao Cuội phải ấp cây cả đời …” Những con người mềm yếu sao không nghĩ rằng nếu cứng rắn, can đảm vượt qua mọi thất bại, mọi thử thách, cám dỗ thì sẽ có lợi như thế nào? Khi đó con người sẽ thấy thất bại lại là mẹ của thành công. Thất bại cho ta những bài học kinh nghiêm, giúp ta từng trải và chủ động hơn trong cuộc sống. Có nhiều người thất bại nhưng do có ý chí phi thường, lòng quyết tâm cao độ mà đạt tới thành công. Tôi nhớ tới Tổng thông Mĩ A. Lincôn – một tấm gương lớn về nghị lực, niềm tin đã từng tâm sự: “Hai chân tôi không thể bám trên con đường mòn trơn trợt, nên cũng có lúc tôi chao đảo trên cuộc đua của cuộc đời. Nhưng tôi gượng dậy và tự nhủ rằng đó chỉ là một cú trượt và nó không thể làm tôi gục ngã”. Cũng như A. Lincôn, bao nhiêu người khác cũng đã đứng lên từ những “cú trượt” của đời mình như Êđixơn, như Nguyễn Ngọc Ký… Thành công lớn nhất của họ – sự chiến thắng bản thân đã giúp ta nhận ra thất bại thảm hại nhất của con người ấy là sự mềm yếu. Câu nói của Márai Sádor chứa đựng những bài học thật sâu sắc. Nó giúp ta hiểu hơn về sự thất bại, cho ta một lời khuyên: đừng sợ thất bại, hãy dũng cảm đương đầu với chúng! Qua đó, ta còn thây được tầm quan trọng của bản thân mình. Ta nghiệm ra rằng: “Đỉnh núi chẳng phải là nơi chinh phục của ta mà điều ta cần vượt qua là chính bản thân mình”. (S. Hillary). Muôn thế, con người cần nghiêm khắc với chính mình, đặc biệt là trong những phút giây lòng mềm yếu. Đó chính là yếu tố giúp chúng ta thành công.Xem thêm: Đóng vai chú bọ hung kể lại chuyện Thạch Sanh Cũng như mọi người, tôi đã từng thất bại nhiều lần và đã có đôi lần tôi tỏ ra mềm yếu. Một trong những lần đáng nhớ ấy là một bài văn bị điểm sáu, đôi chỗ còn ướt nhòe nước mắt. Nhưng rồi tôi nhận ra những giọt nước mắt càng khiến tôi bị nhiều điểm kém hơn và tôi đã thử cách khác: tôi nhìn lại mình trong gương, lau khô nước mắt, mỉm cười với chính minh và tự nhủ sẽ làm lại từ đầu. Vượt qua sự mềm yếu của mình thật chẳng dễ dàng gì. Nhưng chúng ta đều hiểu rằng đó là lúc ta tránh được thất bại thảm hại nhất của bản thân để chờ đón một ngày mai tươi sáng hơn. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy bình luận câu nói sau_ “Trong mắt người khác bạn có thể thất bại vài ba lần, nhưng với bản thân bạn không được phép trở nên mềm yếu, vì đấy là sự thất bại thảm hại nhất”
1,389
Anh (chị) hãy bình luận về hành động trả thù của Tấm đối với mẹ con Cám Gợi ý HƯỚNG DẪN về cơ bản nêu được: – Để đánh giá về hành động trả thù của Tấm, chúng ta phải có cái nhìn toàn diện, đặt trong môi trường truyện cổ tích chứ không nên đem đôì sánh với cuộc sống thực ở ngoài đời. – Bản thân Tấm bị dồn đuổi đến chết đi sống lại nhiều lần. Mức độ tội ác của mẹ con Cám cứ phát triển ngày càng cao và không có điểm dừng (bị cướp đi từ giá trị vật chất đến giá trị tinh thần và cuốì cùng là mạng sống của mình). Mẹ con Cám không từ một thủ đoạn nào để từ bức hại đến giết hại miễn sao cướp được hạnh phúc của Tấm để cho Cám hưởng. Cuối cùng, Tấm mạnh mẽ, quyết liệt sống dậy trở về với cuộc đời để đòi hạnh phúc và hiểu ra rằng hạnh phúc của cô chỉ trọn vẹn khi cái ác bị diệt trừ. Ngày nào còn mẹ con Cám thì ngày đó Tấm không có hạnh phúc và sẽ còn bị giết hại. Vanmau.edu.vn Xem thêm: Câu ca dao quen mà lạ: Hỡi cô tát nước bên đàng, Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi?
Anh (chị) hãy bình luận về hành động trả thù của Tấm đối với mẹ con Cám
218
Anh (chị) hãy giải thích nguyên lí Tảng băng trôi mà nhà văn Hê – minh – uê đưa ra Gợi ý Ơ-nít Hê-minh-uê là nhà văn Mĩ để lại dấu ấn sâu sắc trong văn xuôi hiện đại phương Tây và góp phần đổi mới lối viết truyện, tiểu thuyết của nhiều thế hệ nhà văn trên thế giới. Truyện ngắn của ông được đánh giá là những tác phẩm mang phong vị độc đáo hiếm thấy. Mục đích của nhà văn là viết một áng văn xuôi đơn giản và trung thực về con người. Dựa vào hiện tượng vật lí, khi một tảng băng trôi trên đại dương, chỉ có một phần nổi lên trên và bảy phần chìm dưới mặt nước, Hê-minh-uê nêu lên nguyên lí Tảng băng trôi. Thông qua nguyên lí này, nhà văn muốn đề cao đặc trưng mạch ngầm văn bản của tác phẩm văn chương (cũng có thể hiểu đối với nhà văn): phải tạo ra được ý tại ngôn ngoại, nói ít hiểu nhiều. Cụ thể hơn, nhà văn không được trực tiếp phát ngôn cho ý tưởng của mình mà phải xây dựng hình tượng có nhiều sức gợi để người đọc tự rút ra phần ẩn ý bên trong. Nghĩa là, nhà văn phải xây dựng những độc thoại nội tâm, những hình ảnh ẩn dụ hay các biểu tượng mang ý nghĩa tượng trưng. Nguyên lí tảng băng trôi, theo Hê-minh-uê thì chỉ thực hiện được khi nhà văn hiểu biết cặn kẽ và làm chủ được các vấn đề mà mình muốn tái hiện, rồi loại bỏ các chi tiết mà nhà văn cho là không cần thiết, chỉ giữ lại phần cốt lõi và sắp xếp thế nào đó để khi tiếp xúc với tác phẩm, người đọc vẫn hiểu được cả những gì bỏ qua, không có trong văn bản. Còn nếu nhà văn không làm được các vấn đề, bỏ qua những gì mà chính nhà văn cũng không biết thì sẽ tạo ra những lỗ hổng trong tác phẩm, người đọc không thể tái hiện lại những mảng trống đó – đấy không phải là lối viết tảng băng trôi. Như thế, điều kiện đầu tiên để tạo ra nghệ thuật tảng băng trôi trong tác phẩm là nhà văn phải nắm rõ những gì liên quan đến việc viết và nội dung cần thiết, có thể bỏ chừng nào thì bỏ, càng nhiều càng tốt. Mục đích của thao tác này là nhằm phát huy khả năng đồng sáng tạo từ phía bạn đọc vì khi tiếp xúc với văn bản, người đọc sẽ tự hình dung (hoặc sáng tạo) nội dung của những chỗ đã được lược bỏ đi. Điều này đã được chính Hê-minh-uê tâm sự: Tôi luôn cố gắng viết theo nguyên tắc “Tảng băng trôi”. Cứ bảy phần tám của nó chìm cho một phần nổi. Bất cứ điều gì bạn biết mà có thể loại bỏ thì nó chỉ làm tăng thêm sức mạnh cho tảng băng của bạn. Đó là những phần không được viết. Nhưng nếu nhà văn bỏ qua điều đó bởi vì anh ta không biết, vậy thì sẽ có một lỗ hỏng trong truyện. Xem thêm: Bình luận câu nói sau đây của nhà văn Pháp Đi - đo - rô: “Nếu không có mục đích, anh không làm được gì cả, anh cũng không làm được cái gì nếu mục đích tầm thường" Loại bỏ để tạo khoảng trống trong tác phẩm là thao tác là Hê-minh-uê thực hiện nguyên lí tảng băng trôi. Những gì xuất hiện trên bề mặt văn bản chỉ là một phần tám của tổng thể văn bản nằm trong đầu tác giả. Vì lẽ này nên ông không chỉ tạo ra cho ngôn ngữ của mình sự chọn lọc nghiêm ngặt mà còn giúp các chi tiết, hình tượng trong tác phẩm dễ quy tụ dưới những hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy giải thích nguyên lí Tảng băng trôi mà nhà văn Hê – minh – uê đưa ra
666
Anh (chị) hãy giải thích và làm sáng tỏ câu nói của Các Mác: “Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian” Gợi ý Tiết kiệm là để làm giàu chính đáng cho bản thân và toàn xã hội. Đó là vấn đề mà tất cả chúng ta đều quan tâm. Các Mác, khi bàn đến vấn đề này đã từng nói: “Mọi tiết kiệm suy cho cùng là tiết kiệm về thời gian”. Vậy, cần phải hiểu câu nói đó của Mác như thế nào? Tiết kiệm là biết sử dụng một cách hợp lý, đúng mức và có hiệu quả của cải vật chất, thời gian, công sức của bản thân, gia đình và xã hội. Tiết kiệm giúp chúng ta chủ động, yên tâm hơn trong cuộc sống. Mục đích cuối cung của việc tiết kiệm đó tích lũy cho con người những điều cần thiết cho cuộc sống. Con người ta tiết kiệm tiền bạc, của cải để làm giàu cho bản thân và xã hội; tiết kiệm sức lực để làm việc một cách hiệu quả, tiết kiệm thời gian để có thể sử dụng chúng vào những công việc khác… Xét đến cùng, mọi sự tiết kiệm đều xuất phát từ sự tiết kiệm thời gian và nhằm để tiết kiệm thời gian. Tại sao vậy? Tiết kiệm thời gian là để trong thời gian ngắn nhất làm được khối lượng công việc lớn nhất từ đó tiết kiệm được sức lực tiền bạc của con người… Trong cuộc sống, thời gian là cái quí nhất, có thời gian là có tất cả, không có thời gian, con người sẽ không có cơ hội để thực hiện bất cứ điều gì; thời gian qua đi không có cách nào lấy lại được và cuộc đời là hữu hạn, mỗi chúng ta chỉ có một quỹ thời gian nhất định để sống, học tập và làm việc… Có nghĩa là nếu như không có thời gian, chúng ta cũng không bao giờ có cơ hội để thực hiện những sự tiết kiệm mà chúng ta định hướng làm sau đó. Có thể khái quát công thức của việc tiết kiệm thời gian bằng sự tiết kiệm công việc, tiết kiệm công sức, tiết kiệm của cải, tiết kiệm sức lực…., và chỉ khi tiết kiệm được thời gian thì ta mới có thể làm được nhiều việc hơn. Thời gian tiết kiệm được sẽ rất có ích để tiến hành những, công việc còn lại. Chúng ta có thể tiết kiệm tiền bạc, của cải nhưng không còn thời gian thì việc đó cũng trở thành vô ích. Như vậy cũng có nghĩa là, “mọi sự tiết kiệm suy cho cùng đều là tiết kiệm thời gian”, ở đây, cần phải hiểu, tiết kiệm thời gian là việc chúng ta phải biết quí trọng thời gian mình đang có, biết dùng thời gian vào những việc làm cần thiết và có ích cho chính mình, cho người thân, cho xã hội. Tranh thủ từng giờ, từng phút để sống một cách có ý nghĩa, đó là cách tốt nhất để sớm đưa chúng ta đạt được kết quả như mong đợi mà không phải cảm thấy nuối tiếc thời gian đã trôi qua một cách vô bổ. Đó là cách tốt nhất để người ta được sở hữu thứ tài sản mà ngay từ xưa cha ông ta đã từng gọi là vàng, là bạc (Thời gian là vàng, là bạc).Xem thêm: Dấu ấn thơ ca dân gian trong bài “Tương tư” của Nguyễn Bính Câu nói của Các Mác rèn luyện cho con người thói quen quí trọng thời gian mà sử dụng nó vào những việc có ích. Có một thực tế đã được chứng minh rằng: tiết kiệm mọi thứ cũng chính là việc tiết kiệm thời gian và thời gian tiết kiệm đó sẽ lại được sử dụng vào những công việc khác, mang lại những công dụng khác. Nó cũng giống như việc, một ai đó lẽ ra dành 2 tiếng trong một ngày cho những trò chơi game giờ đây chỉ dung một nửa trong số đó, một nửa khác dùng cho các hoạt động bổ ích hơn như nghỉ ngơi, học tập, rèn luyện thân thể, giúp đỡ người thân… chúng ta sẽ có nhiều thời gian hơn đành cho bản thân và người khác, nghĩa là tăng thêm khoảng thời gian làm được những việc mang lại nhiều ích lợi. Thời gian là một thứ tài sản vô giá nhưng hữu hạn, bởi vậy, việc tiết kiệm thời gian là luôn luôn cần thiết. Lịch sử xã hội loài người là lịch sử quá trình con người tiết kiệm thời gian. Khi con người không ngừng cải tiến công cụ lao động, khoa học kĩ thuật nâng cao năng suất lao động, họ đang tiết kiệm rất nhiều thời gian trớc đó phải hao tốn do cơ sở vật chất còn thô sơ, dành cho việc tiếp tục đẩy mạnh sản xuất. Thời gian được tận dụng để làm ra những khối lượng sản phẩm lớn hơn, nhiều hơn mà trước đó không thể có được. Trong mọi hoạt động sản xuất vật chất và tinh thần của mình, con người đã luôn nỗ lực, phấn đấu học tập, lao động; không bỏ phí thời gian. Việc chế tạo ra những hệ thống máy móc ngày càng tiên tiến chính là sự đáp ứng cho nhu cầu tiết kiệm thời gian, sức người sức của như thế. Con người đã và không bao giờ ngừng nghỉ tìm kiếm ra các hình thức sản xuất để có thể mang lại hiệu quả cao nhất, tức cũng chính là những hình thức để tiết kiệm và tận dụng thời gian một cách nhiều nhất, triệt để nhất.Xem thêm: Em hãy viết một bài văn ngắn nêu cảm nhận của mình về bài ca dao sau: “Công cha như núi ngất trời, Nghĩa mẹ như nước ở ngoài bể Đông, Núi cao bể rộng mênh mông, Cù lao chín chữ ghi lòng con ơi!” Tiết kiệm là một đức tính cần thiết. Các hình thức tiết kiệm, suy cho cùng cũng là việc tiết kiệm về mặt thời gian. Vậy để đạt được điều này chúng ta phải làm gì? Kêu gọi tiết kiệm thôi không chưa đủ. Điều quan trọng và cần thiết là phải biến đức tính ấy thành một lối sống của mỗi người. Khi chúng ta xem tiết kiệm như một thành tố của lối sống thì có lẽ chúng ta sẽ không cần phải phát động hay kêu gọi tiết kiệm, tiết kiệm sẽ trở thành một điều tự nhiên, một điều tất yếu trong cuộc sống của con người, cần phải biến hành vi tiết kiệm trở thành một hành vi mang tính bản năng và phổ quát trong mỗi con người. Sống trong một môi trường mà mọi người đều biết tiết kiệm, nơi nơi đều có những hành vi tiết kiệm thì con người ta mới hình thành được thói quen tiết kiệm. Khi đó, tiết kiệm trở thành một hành vi mang tính phổ quát có ý nghĩa lớn lao trong việc thúc đẩy xã hội phát triển. Đối với một học sinh còn đang ngồi trên ghế nhà trường tiết kiệm và việc hình thành thói quen tiết kiệm là một điều quan trọng và cần thiết đặc biệt là sự tiết kiệm về mặt thời gian. Thay vì dành quá nhiều thời gian cho những buổi nói chuyện phiếm, cho những buổi online để chát, chơi game,… mỗi chúng ta nên dùng chúng vào những việc có ích hơn như đọc sách, giúp đỡ ông bà cha mẹ, nghỉ ngơi, rèn luyện thân thể. Quỹ thời gian lẽ ra vô nghĩa giờ đây được sử dụng mang đến cho chúng ta sức khỏe, tri thức, và cả những tình cảm yêu mến của những người xung quanh. Tiết kiệm và quí trọng thời gian còn thể hiện ở việc chúng ta làm việc một cách có kế hoạch, khoa học. Hãy luôn biết lên thời khóa biểu cho bản thân và cố gắng để thực hiện đúng theo thời khóa biểu ấy. Nhờ có kế hoạch, thời gian của mỗi người sẽ được sắp xếp một cách hợp lí, tránh được việc giành quá nhiều thời gian cho một hoạt động nào đó một cách vô ích. Làm được điều ấy, chúng ta sẽ không bao giờ phải than thở rằng “tôi rất tiếc…”, rằng “giá như…”..Xem thêm: Nghệ thuật trào phúng bậc thầy của Vũ Trọng Phụng được thể hiện qua chương “Hạnh phúc của một tang gia" Tuy nhiên, cần phải nhận thức rằng, tiết kiệm không có nghĩa là keo kiệt mà chỉ có nghĩa là việc ta sử dụng một cách triệt để nhất, để mang lại hiệu quả cao nhất. Tiết kiệm thời gian cũng vậy: rút ngắn bớt những khoảng thời gian đang được sử dụng một cách vô bổ để đưa nó vào một công việc có ích, giành sự ưu tiên hàng đầu về mặt thời gian cho những công việc cần thiết nhưng không có nghĩa là giành tất cả thời gian cho công việc mà “keo kiệt” đến mức không còn thời gian cho những sự nghỉ ngơi. Vấn đề đặt ra ở đây chỉ là làm sao để có được một sự phân bố thời gian cho phù hợp mà vẫn có hiệu quả cao nhất mà thôi. Câu nói của Mác khiến cho mỗi người trong chúng ta đều phải có những suy nghĩ hết sức nghiêm túc trong việc nhận thức về việc tiết kiệm và rèn luyện cho mình một thói quen tiết kiệm trong mọi việc mà đầu tiên và quan trọng nhất là tiết kiệm về mặt thời gian, bởi: “Mọi sự tiết kiệm suy cho cùng đều là tiết kiệm về thời gian”. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy giải thích và làm sáng tỏ câu nói của Các Mác_ “Mọi tiết kiệm, suy cho cùng là tiết kiệm thời gian”
1,668
Anh (chị) hãy giới thiệu về nhà văn Hê-ming-uê và nguyên lí “Tảng băng trôi” mà ông đề xướng Gợi ý Ơ-nít Hê-minh-uê (1899 – 1961) là nhà văn Mĩ đã để lại một ấn tượng sâu sắc trong văn xuôi hiện đại phương Tây và góp phần đổi mới lối viết truyện, tiểu thuyết của nhiều thế hệ nhà văn trên thế giới nói chung. Hê-minh-uê là con một thầy thuốc. Học xong trung học ông bắt đầu làm phóng viên báo chí. Ông đã từng tự nguyện tham gia đại chiến I, với tư cách cứu thương và bị thương trên đất Italia. Sau chiến tranh, ông tiếp tục làm phóng viên cho báo chí Mĩ ở Châu Âu. ông sống ở Pa­ri cho đến năm 1923. Việc tham gia vào cuộc nội chiến ở Tây Ban Nha và đại chiến thế giới II đã để lại dấu ấn sâu sắc trong thế- giới quan và sáng tác của ông. ông đã từng đi rất nhiều nơi, trải nghiệm cảm giác cúa mình trong những sở thích như săn bắn, câu cá, đấu bò. Những năm cuối đời, ông sống tại Cu-ba, là một trong những người ủng hộ cuộc cách mạng của nước này. Trong một chuyến đi trở về Mĩ chữa bệnh ông tự sát tại nhà riêng của mình. Hê-minh-uê nổi tiếng với những tiểu thuyết như: Mặt trời vẫn mọc (1926), Giã từ vũ khí (1929), Chuông nguyện hồn ai (1940)… song truyện ngắn của ông lại được đánh giá là những tác phẩm mang phong vị độc đáo hiếm thấy, ngay từ tập truyện đầu tay như “Trong thời đại chúng ta”. Dù viết về thể nghiệm của những nhân vật từng tham gia Chiến tranh thê giới thứ nhất và cuộc chiến tranh thê giới chống phát-xít hay viết về những trận đấu bò, săn thú dữ, đấu quyền Anh, dù viết về châu Phi hay châu Mĩ, ông đều nhằm ý đồ “viết một áng văn xuôi đơn giản và trung thực về con người”. Điều trước hết thể hiện ở Hê-minh-uê đó là ông là một người xông xáo, không ngừng lăn lộn trên thực tế, tích luỹ vốn sống và kiến thức của mình về nhiều mặt đế’ sáng tác. Những chi tiết, sự kiện trong tác phẩm của õng luôn tạo cho người đọc cảm giác chân thực như mới ùa từ cuộc sống vào trong trang sách. Tự nhận mình lậ nhà văn thuộc “thế hệ vứt đi” nhưng điều đặc biệt là tác phẩm của Hê-minh-uê đã chông lại sự bi quan, buông xuôi trước cuộc sống. Nội dung chính trong Các tác phẩm của ông là việc phản ánh hiện thực gắn liền với tư tưởng nhân đạo. Nó yêu cầu rất cao ở con người, khẳng định con người có khả năng và cần phải luôn luôn vượt qua mọi trở ngại, chiến thắng hoàn cảnh khắc nghiệt và bi thảm nhất. Về phương diện nghệ thuật, Hê-minh-uê là một người đầy bản lĩnh, luôn luôn say mê, khám phá và sáng tạo. ông nổi tiếng về thi pháp tiểu thuyết độc đáo, là người có năng khiếu biến văn chương báo chí thành văn chương tiểu thuyết với những trang viết ngăn gọn, giản dị, thô ráp, hướng về việc khơi gợi sự thế’ nghiệm nhiều hơn là tả hoặc bình luận. Nghệ thuật đó được ông nâng lên thành một nguyên lí gọi tên là nguyên lí “Tảng băng trôi”.Xem thêm: Hãy tả cảnh mùa hè và nói lên cảm tưởng khi hè đến. “Tảng băng trôi” là hình ảnh những núi băng trôi trên đại dương: Bảy phần chìm xuống nước, một phần nổi. Hê-minh-uê phát biểu về nó trong tác phẩm “Chết trong buổi chiều”: “Nếu như nhà văn biết rõ những gì anh ta viết, anh ta có thể bỏ qua nhiều điều từ những gì anh ta biết trước đó. Nếu như anh ta viết trung thực, người đọc sẽ cảm nhận được tất cả những gì bị bỏ qua cũng rõ ràng như thể nhà vãn đã nói ra điều đó. Sự hùng vĩ của tảng băng trôi là ở chỗ chỉ có 1/8 của nó nổi lên mặt nước. Nhưng nếu như nhà vãn nào bỏ qua nhiều chỗ bởi vì anh ta biết thì sẽ để lại lỗ hổng trong truyện”. Năm 1960, khi trả lời phỏng vấn của tạp chí “Ngọn lửa nhỏ” của Xô Viết ông cũng trả lời: “bảy phần chìm dưới nước cho một phần nhìn thấy được. Phần chìm nền tảng đem lại sức mạnh và sự hùng vĩ cho phần đỉnh mà người ta nhìn thây. Bạn càng biết bao nhiêu phần chìm càng lớn bấy nhiêu và tảng băng của bạn càng hùng vĩ bâ’y nhiêu”. Như vậy, có thể thây, hình ảnh “Tảng băng trôi” thể hiện yêu cầu của Hê-minh-uê đối với tác phẩm văn chương: kiệm lời mà giàu ý nghĩa. Đó là kiểu tác phẩm mở, tác phẩm có mạch ngầm vãn bản, đa nghĩa. Nguyên lí “Tảng băng trôi” yêu cầu phải loại bỏ những điều, những lời chủ quan của tác giả và nhà vãn phải tổ chức văn bản đó thế nào đó để truyền tải cảm nhận của mình về cuộc sống tới người đọc một cách khách quan nhát. Người đọc phải có khả năng liên tưởng, tư duy, tổng hợp để thẩm thấu những mạch ngầm toát ra từ văn bản như một chỉnh thế’ nghệ thuật. Các biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng để phục vụ đắc lực cho nguyên lí “Tảng băng trôi” là nghệ thuật độc thoại nội tâm cùng với những hình ảnh ẩn dụ được nâng lên tính biểu tượng. Ví dụ như trong tác phẩm tiêu biểu góp phần mang lại giải Nô-ben cho nhà văn năm 1954: “Ông già và biên cả”.Xem thêm: Nhân vật Mị trong truyện "Vợ chồng A Phủ” là một thành công của Tô Hoài trong việc xây dựng con người thức tỉnh. Hãy chứng minh nhận định ấy? VớI nguyên lí “Tảng băng trôi”, Hê-minh-uê thực sự là nhà văn nổi tiếng không chỉ của Tây Ban Nha mà còn là trên toàn thế giới, một người thực sự để lại ấn tượng sâu sắc trong việc đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết và truyện ngắn phương Tây hiện đại. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy giới thiệu về nhà văn Hê-ming-uê và nguyên lí “Tảng băng trôi” mà ông đề xướng
1,072
1. Anh (chị) hãy kể tóm tắt truyện Tấm Cám. 2. Anh (chị) hãy phân tích cuộc đấu tranh liên tục và quyết liệt giữa Tấm và mẹ con Cám Gợi ý HƯỚNG DẪN 1. Cần nêu đủ các tình tiết, sự kiện chính sau: – Cám lừa Tâm để cướp giỏ tép. – Bống bị giết chết. – Tấm phải nhặt số thóc và gạo do mụ dì ghẻ trộn lẫn vào nhau. – Tấm đánh rơi giày và trở thành hoàng hậu. – Tấm bị giết chết và hóa thành chim vàng anh. – Chim vàng anh bị Cám hãm hại và hóa thành cây xoan đào. – Cám chặt cây xoan đào, đốt khung cửi và tro khung cửi biến thành cây thị chỉ có mỗi một quả. – Cuộc tái ngộ giữa nhà vua và Tấm tại hàng nước của bà lão và chiến thắng cuối cùng của Tấm. 2. Trong chặng đầu cuộc đấu tranh chống lại mẹ con Cám, Tấm luôn là người thụ động và gánh chịu hậu quả. Tấm quá hiền lành chăm chỉ, luôn bị mẹ con Cám bắt nạt mà vẫn cam chịu không một chút phản kháng: bị Cám lừa trút hết giỏ tép để giành lấy cái yếm đỏ, cá bống cũng bị mẹ con Cám bắt ăn thịt, mẹ con Cám bắt Tấm phải nhặt thóc và gạo trộn lẫn để Tấm không thể đi xem hội. Mỗi lần Tấm gặp khó khăn đều được sự giúp đỡ của Bụt.Xem thêm: Giải thích vì sao Nguyễn Khải lại gọi bà Hiền là hạt bụi vàng trong tác phẩm Một người Hà Nội– Mâu thuẫn không dừng lại ở đó mà ngày càng phát triển từ mức độ thấp đến cao, ngày càng gay gắt. Sự độc ác của mẹ con Cám tăng tiến với mục đích chiếm đoạt tất cả những gì Tấm có, muôn tiêu diệt Tấm đến cùng. Điều này được thể hiện rõ qua các lần hóa thân của Tấm: Tấm chết, chim vàng anh, khung cửi,… Cuối cùng, không thể cam chịu mãi, Tấm đã có sự phản kháng mãnh liệt: dội nước sôi cho Cám chết. Chỉ khi bị hãm hại (cái ác tìm cách tiêu diệt cái thiện), bị tước bỏ quyền sông chính đáng, Tấm mới trở thành lực lượng chông đôĩ mẹ con Cám, dùng quyền tự vệ để bảo vệ mình. – Mâu thuẫn giữa Tấm và mẹ con Cám là mâu thuẫn dì ghẻ – con chồng xuất phát từ xung đột về kế thừa tài sản trong gia đình phụ quyền. Ý nghĩa xã hội của mâu thuẫn là cuộc đấu tranh giữa thiện và ác. Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy kể tóm tắt truyện Tấm Cám. 2. Anh (chị) hãy phân tích cuộc đấu tranh liên tục và quyết liệt giữa Tấm và mẹ con Cám
437
Anh (chị) hãy kể tóm tắt Vợ nhặt của Kim Lân (khoảng 20 – 30 dòng) Gợi ý Vợ nhặt là một truyện ngắn xuất sắc của Kim Lân, in trong tập Con chó xấu xí Tác phẩm ban đầu có tên là Xóm ngụ cư; viết ngay sau Cách mạng tháng Tám. Bản thảo sau này được viết lại. Cái đói tràn xuống chợ, trẻ con ủ rũ, người lớn dật dờ, lặng lẽ. Tràng bỗng dắt người đàn bà xa lạ ấy về. Trẻ con có đứa gào lên chông vợ hài, người lớn bàn tán, những khuôn mặt u tối của họ như rạng rỡ lên. về đến cái nhà vắng teo, bà cụ Tứ, mẹ Tràng về muộn; Tràng loanh quanh hết ra lại vào. Người đàn bà theo Tràng trong hoàn cảnh không ngờ. Hai lần gặp, và câu đùa với bốn bát bánh đúc người đàn bà ăn một chập và cái chặc lưỡi của Tràng. Bà cụ Tứ về, Tràng reo lên, bà ngạc nhiên. Thấy trong nhà có người đàn bà, lại chào bà là u, bà càng ngạc nhiên. Được Tràng giải thích, bà rún lặng. Bao nỗi niềm xáo trộn trong lòng bà. Nói chuyện với con dâu, bà khóc. Tràng bật lửa thắp đèn, bà vội lau nước mắt… mùi đống rấm và tiếng hờ khóc ở những nhà trong xóm có người chết vẳng tới. Sáng hôm sau, Tràng dậy muộn. Từ trong nhà đến ngoài sân đều đổi thay, gọn gàng, sạch sẽ. Tràng thấy có bổn phận với vợ và yêu cái nhà mình hơn. Bữa ăn chỉ có rau chuối rối chấm muối với mỗi người hai lưng bát cháo lõng bõng. Bà cụ Tứ nói toàn những chuyện vui. Bà mừng con dâu mới bằng nồi cháo cám mà bà gọi vui là chè khoán. Tiếng trống thúc thuế ngoài đình nổi lên. Bà cụ Tứ lại khóc. Trong óc Tràng bỗng hiện lên lá cờ đỏ và đoàn người trên đê Sộp đi phá kho thóc. Xem thêm: Nghị luận xã hội về sự lười biếng- Văn 12Vanmau.edu.vn
Anh (chị) hãy kể tóm tắt Vợ nhặt của Kim Lân (khoảng 20 – 30 dòng)
350